Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:58:57 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quốc Triều chính biên toát yếu  (Đọc 100969 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #110 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 03:07:50 am »

Xây pháo đài Ninh Hải ở tỉnh Khánh Hòa. Bởi vì tỉnh ấy biển rộng lại nhiều cù lao, có một đám núi ở vũng Nha Trang đàng trước có đầm sâu, tàu đậu đông, quan tỉnh xin xây đài ở đỉnh núi ấy, đặt súng đại bác phái quân canh giữ kiêm 3 phía đông nam bắc, khiến bộ Công đưa thức mà làm.

Trấn Tây tâu: "bọn Võ Toán cả thảy 8 người mấy lâu tùy phái ở Trấn Tây, chúng tôi đã từng phái đi dạy các con em bọn dân thổ trong các phủ Nam Vang, Sơn Phủ, Hải Đông, Hải Tây, Kha Lâm, Quảng Biên, ChơnThành, Ba Nam. Nay xét dân đã hơi biết chữ mình và tiếng mình, xin lượng bổ giáo chức cho 8 người ấy hư hàm Huấn đạo, cứ ở lại đó dạy vẽ cho dân".

Cho Trương Đăng Quế sung Kinh lược sứ tỉnh Thanh Hóa, Doãn Uẩn và Nguyễn Đăng Giai sung chức Phó sứ. Lại truyền dụ tỉnh Hà Tĩnh lượng phái một vệ lính tỉnh tùy theo sai phái.

Tàu binh nước Đại Pháp vào đậu ở hòn Mỏ Diều thuộc tỉnh Quảng Nam. Khiến người ra hỏi, họ trả lời rằng: "tàu ở thành Tu Lông, đức Quốc trưởng khiến đi thao diễn đàng biển đã hơn một năm; nay tự Mã Cao trở về, xin ở lại một vài ngày lấy củi". Qua ngày mai, bắn một phát súng lớn rồi chạy đi.

Năm Đinh Dậu thứ XVIII (1837), tháng giêng, mới đặt huyện Tuy Hòa thuộc tỉnh Phú Yên, trích tổng Xuân Thượng cải về huyện ấy.

Tổng đốc An Tĩnh là Phạm Văn Điển tiếp phủ Quỳ Châu bảo: "quân ta đánh giặc ở Nông Cống bị thua, giặc xâm tới hạt Quỳ Châu". Điển phái Lãnh binh Nguyễn Văn Đức từ Quỳ Châu thẳng tới địa đầu tổng Lâm Tự tỉnh Thanh Hóa để hội tiễu.

Đề đốc Hà Ninh là Tôn Thất Bật đánh phá giặc ở Cao Trĩ, đuổi theo đến thẳng địa đầu châu Lang Chánh.

Có thuyền chở thuê của người Tàu ở Gia Định đi buôn tại Nam Kỳ và Bắc Kỳ; quan tỉnh tâu xin.
 
Ngài dụ rằng: "người buôn nước Tàu dối trá trăm cách, tùng trung chở lúa gạo và bán trộm nha phiến, thường bắt được; từ nay người Tàu ở ta không được đóng thuyền đi biển, quan địa phương không xét kỹ thời có tội".

Đặt 9 cái đỉnh ở trước Thái miếu. Phàm các giống vậy bay trên trời, lặn dưới nước, động vật, thực vật và đồ binh khí xe thuyền của nước ta, cho đến thiên văn địa lý lớn nhỏ, đều chạm hình vào đỉnh, để làm báu nước muôn đời. Tên 9 đỉnh là: Cao, Nhơn, Chương, Anh, Nghị, Thuần, Tuyên, Dủ, Huyền.

Kinh lược Thanh Hóa là Trương Đăng Quế đóng ở Lang Chánh, nghe tin quân giặc từ khi bị thua, thời những toán giặc ở Tam Lư (1) và Tứ Động (2) đều chạy về sào huyệt cả, còn toán giặc ở Lang Chánh thời trốn vào rừng rú. Đăng Quế liền thương ủy Nguyễn Đăng Giai tới Tứ Động, Tôn Thất Bật tới Tam Lư, để nuôi theo giặc, còn mình cùng Doãn Uẩn cứ ở lại đó yết thị chiêu an. Đăng Quế đem hết tình trạng tâu lên và xin rằng: "Động Khương Chánh đàng đi thông 4 ngã, rất là xung yếu, xin lập một đồn lớn để trấn áp và sau để làm Châu lỵ ở đó luôn; chúng tôi đã sức đòi châu huyện Lôi Dương 300 tên hiệp với quan binh xây đắp rồi, đặt tên là đồn Ninh Lương, phái quân đóng giữ". Ngài liền cho quan bị cách là Lê Nguyên Trung làm Tri châu Lang Chánh.

Đắp đập Vệ Nông ở bên núi Túy Hoa và Linh Thái. Bời vì Ngài ngự đi chơi núi, thấy hai bên ruộng lúa, giữa có một khe nước mặn đầy tràn, khiến quan Phủ doãn hỏi dân sở tại, chúng nó đều xin đắp đập. Ngài phái một Quản vệ đem300 quân tới cửa khe đắp một đoạn đập ngăn nước mặn. Từ đó nông dân được tiện lợi lắm.

Tháng 2, đặt chức Tri phủ An Biên ở tỉnh Hà Tiên.

Kinh lược sứ Ninh Bình là Tạ Quang Cự,Tham tán Hà Duy Phiên tự Phù Liễn đem quân trở về, chia đạo tấn tiễu giặc Sơn Âm.

--------------------
(1) Tam Lư là thượng du châu Lang Chánh, tiếp giáp huyện Man Duy và Trình Cố.
(2) Tứ Động là thượng du châu Quang Hóa, tiếp giáp tỉnh Hưng Hóa.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #111 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 10:40:28 pm »

Chia phủ Kinh Môn (thuộc tỉnh Hải Dương) làm 2 phủ: Kinh Môn và Kiến Thụy. Trích 4 huyện Nghi Dương, An Dương, Kim Thành, An Lão đem thuộc về phủ Kiến Thụy.

Đặt 2 sở đồn điền ở Bình Hòa và Đại An thuộc tỉnh Khánh Hòa, đòi lính hạ ban tới đó đóng đồn cày ruộng mà cấp cho ngưu canh điền khí và lúa giống.

Tháng 3, Kinh lược Phó sứ Thanh Hóa là Nguyễn Đăng Giai, đề đốc Tôn Thất Bật đóng binh ở Ái Chữ, bắt được tướng giặc Phạm Công Nho đóng cũi đưa về Kinh giết ngay. Án sát Nghệ An là Trần Ngọc Diêu dâng tập thỉnh an có tâu rằng: "trong nước được mùa, không trộm cướp, dân gian yên ổn, trong tỉnh không phát án gì, việc hình không phải dùg tới". Ngài ban rằng: "Nghệ An là tỉnh lớn, dân tục chẳng đến nỗi khinh bạcc, nhưng vì dân đông đất rộng, việc kiện cũng nhiều, vậy mà hình án bớt đi chẳng phải là dễ; nay thiệt như lời tâu đó, không những nên mừng cho ngươi mà thôi, mà cũng nên mừng cho dân xứ ấy. Nhưng ta chưa chắc việc ấy thiệt không, vậy truyền cho quyền Tổng đốc Phạm Văn Điển, Bố chánh Nguyễn Đình Tân sát thiệt tâu lên". Rồi bọn Văn Điển tâu rằng: "tỉnh ấy dân thuần thói tốt, kiện cáo không bao nhiêu, án cũ để lại cũng đã làm rồi, so với mấy năm trước thiệt là giảm bớt nhiều lắm". Ngài khen, thưởng Trần Ngọc Diêu gia 2 cấp, 3 cây sa, 1 đồng tiền vàng Phi Long hạng lớn, để khuyên người làm việc giỏi. Khiến bộ Lại thông lục việc ấy ra các tỉnh để cho người khác bắt chước.

Quan binh đạo Ninh Bình bắt được tướng giặc Quách Tất Tại đóng cũi đưa về Kinh làm tội.

Mới đặt châu Thường Xuân thuộc tỉnh Thanh Hóa. Bởi vì Trương Đăng Quế tâu: "trong châu Lang Chánh, các xứ Trịnh Vạn, Mậu Lộc, Quân Thiên, Lâm Lư (ở phía tả sông Lương) dân cư giữa núi, mỗi đám một hai nhà, chẳng thành làng xóm, mà rừng rứ núi khe đi lại rất là gian hiểm và cách xa châu lỵ, thiệt khó xem xét; huống chi xứ ấy hai mặt Tây, Bắc tiếp giáp Quỳ Châu tỉnh Nghệ và xứ Sầm Tộ, Trấn Biên, cũng là một nơi quan yếu, nếu giữ gìn nơi ấy, thời xứ Lâm Lự và Quân Thiên không cậy hiểm được nữa. Vậy xin chia Trịnh Vạn làm hai xã với xã Thọ Thắng, xã Mậu Lộc đặt tên là Tổng Trịnh Vạn; chia 8 xã thôn ở Lâm Lự và Quân Thiên đặt làm tổng Quân Nhơn; lại trích tổng Như Lăng ở huyện Nông Cống, tổng Luận Khê ở huyện Lôi Dương đặt làm châu Thường Xuân, đắp thành ở tỉnh Vạn để làm châu lỵ; còn huyện Cẩm Thủy chưa có huyện lỵ mà xét huyện ấy dân cư trù mật, lại không núi khe hiểm cách; xin bắt lính đắp thành tại xã Thạch Lãm (về phía tả sông Mã) cho huyện viên tới ở đó làm việc". Ngài cho.

Kinh lược Ninh Bình là Tạ Quang Cự, Hà Duy Phiên lại bắt được vợ con hai tên giặc Quách Tất Công, Quách Tất Tề đều đem chánh pháp.

Ngự sử đạo Bình Phú là Ngô Văn Địch và Ngự sử đạo An Hà là Ngô Văn Thạc tâu rằng: "những gò đất ở Sơn Âm nhiều chỗ như hình súng hình gươm, họ Quách đời nào cũng có kẻ bạn nghịch, cũng tại phong thổ xui khiến ra vậy; xin cho phá bằng mấy gò đất ấy để khỏi sanh giặc".

Tháng 4, Trương Đăng Quế giao cho thổ ty Quan Hóa là Hà Văn Vân đi bắt giặc, Vân bắn chết tên tướng giặc Phạm Bá Nho ở rừng Lực Canh, bỏ đầu vào thùng phát về Kinh.

Tạ Quang Cự, Hà Duy Phiên bắt được thủ phạm Lê Duy Hiển, chạy cờ đỏ về báo tiệp; tên Hoàng Đồng Nguyệt (ngụy quốc sư) cũng bị binh dân bắt giải, nó cắn lưỡi tự tử.

Nguyễn Đăng Giai bắt được Đinh Kim Bảng đóng cũi đưa về Kinh, lại bỏ đầu Phạm Phúc Hiển vào thùng đệ về luôn.

Trương Đăng Quế đem những Kinh lược sự nghi bày tâu, Ngài dụ: "thuế đinh thuế điền năm nay và tiền lúa trích khiếm mấy năm trước trong 6 huyện châu bị giặc bắt, đều gia ơn tha hết; trong 7 tổng về huyện Lôi Dương, huyện Nông Cống, huyệnThụy Nguyên cũng vậy".

Tháng 5, thuyền giặc Đồ Bà thường ẩn phục các cù lao ngoài biển. Ngài khiên quan tỉnh Hà Tiên phái người đi vẽ đồ bản, chỗ nào nên lập đồn, hoặc nên phái binh đón phục, phải chỉ bày minh bạch. Quan tỉnh tâu: "trong các cù lao thuộc  về tỉnh tôi, chỉ  có cù lao Phú Quốc có dân ở, đã lập đồn đóng giữ rồi, còn ngoài ra những nơi khác như là hòn Ông, hòn Bà, Vu Dự, Thổ Châu Dự, Cổ Lôn Dự, Thát Dự đều không dân cư, cách xa đàng bộ, không có hình thế lập đồn; còn như binh thuyền mình đi tuần tiễu, xin tuân lời dụ trước: cứ tháng 4 phái đi, tháng 10 triệt về, không cần đóng đồn làm gì". Ngài cho.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #112 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 10:41:41 pm »

Mới đặt chức Quản thủ An Ninh thuộc về tỉnh Tuyên Quang, đắp đồn Tuyên Định ở làng Niên Sơn. Bởi đó giáp giới tỉnh Cao Bằng, đất liền với nước Tàu, rất là quan yếu, lập đồn phái binh đóng giữ, để giúp đỡ đồn Tuyên Tỉnh, lại tiếp ứng huyện Để Định.

Trương Đăng Quế nghiêm đốc bọn thú đinh bắt lần đem nạp cả thảy 10 người thân thích bọn tướng giặc Hà Công Tư, Lê Phi Hiếu, Lê Phi Ất, Lê Phi Bài, Hà Công Kim, Phạm Thúc Liêm. Rồi Ngài đòi Đăng Quế về Kinh. Có tên động trưởng xứ Trịnh Vạn là Cầm Bá Hiên theo quan binh sai phái, bị giặc bắt, không chịu theo giặc, nên bị giặc giết; Quế đem việc tâu lên, Ngài khen, truy tặng tên Hiển chức Chánh đội tùng ngũ phẩm, cho lập nhà thờ nơi ấp và cho biển ngạch khắc hai chữ: "Trung tiết" để bày tỏ người trung.

Khiến các quan làm sách Minh Mạng chánh yếu.

Định Biên Tổng đốc Nguyễn Văn Trọng tâu: "Phủ Tây Ninh mới đặt, thuế thân các xã thôn chiết nạp, bằng dầu hỏa và dầu rái; xin tuân lời ân chiếu nhứt luật quyền hoãn, cũng như Hán dân". Ngài cho; lại chuẩn cho người xứ Tây Ninh phải đặt họ bằng chữ Lý, Đào,Dương, Hạnh, Ngưu, Dương, Tượng, Mã, vân, vân... Mấy chữ ấy Ngài đã truyền Bộ lục ra một tờ giấy giao quan tỉnh ban cấp.

Đem việc đã dẹp yên đảng giặc trong hai tỉnh Ninh Bình,Thanh Hóa thông dụ trong ngoài đều biết.
 
Việc Kinh lược tỉnh Ninh Bình đã xong, Tạ Quang Cự và Hà Duy Phiên về Kinh phục mạng. Ngài
 
truyền đổi huyện Lạc Thổ làm huyện Lạc An, tước tên xã Sơn Âm, dời dân xã ấy cả thảy 133 người ra ở các xã Duyên Hải tỉnh Ninh Bình, mà phải quản thúc một cách rất nghiêm, còn ruộng đất Sơn Ân thời cấp cho các xã lân cận nhận lãnh cày và ở.

Tháng 7, trường thi Hương Nghệ An lấy đậu chỉ 5 người; bộ Lễ duyệt lại lấy thêm được 15 người; quan trường là Võ Đức Khuê, Lâm Duy Nghĩa đều bị giáng một cấp.

Làm xe máy để dùng cưa ván (bắt chước theo cách Tây). Ngài ngự xem, truyền: "xe nầy dùng trâu kéo, con trâu kéo quen thời dẫu gầy ốm mà kéo cũng mạnh, con trâu ở nể dầu to béo mà thở mệt kéo không nổi; cho nên ta thiệt ghét những người ở nể mà không làm việc" ( Sau đó dùng máy cưa chạy bằng nước, đặt lại thác dài làng Dương Hòa nơi Hữu Trạch nguyên).

Dời con cháu nhà Lê vào Tả trực kỳ tự Quảng Nam trở vào 3 tỉnh trong, cho ở mỗi huyện 15 người, mỗi người một cấp 10 quan tiền, 1 mẫu ruộng công.

Tháng 8, bộ Binh tuân lời chỉ dụ nghị phép thi võ cử.

Quan thành Trấn Tây tâu rằng: "dân Chân Lạp ở phủ Hải Đông, năm trước bị tên giặc Minh bắt qua Xiêm ở súc.

Tà La, nay nghe người Xiêm muốn dời chúng nó qua Vọng Các, nên chúng nó đem vợ con trở về đất cũ hơn 1.000 người, xin phân tháp cho ở những chỗ gần hơn, cho đặng yên nghiệp". Ngài cho.

Tháng 9, quan Trấn Tây tướng quân Trương Minh Giảng đến Kinh làm lễ bảo tất. Ngài ban yếu ở bộ Lễ, cho các Văn Võ đình thần bồi tiệc, để tỏ cách vinh sủng. Giảng nhơn dâng các thứ ngọc lấy trong loài trùng và loài thú của thổ quan tặng cho. Ngài lại cho Giảng một con cọp bằng vàng, nghĩa là khen thiệt một người võ thần có oai như cọp.

Thân dụ dân tự Hà Tĩnh trở ra phải đổi cách ăn mặc.

Quan đề đốc đem binh thành Trấn Tây đi khám các con đàng quan yếu trong địa hạt.

Tháng 10, khiến văn võ đại thần là Trương Minh Giảng và Phạm Hữu Tâm bàn việc sắp đặt thành Trấn Tây (Bọn ông Giảng hội nghị điều trần 5 điều lợi, như là xin đặt chức Thự phủ và Phó sứ coi việc 3 phủ Hải Đông, Hải Tây, Sơn Định, mà phải lấy việc đồn điền, sắm khí giới lương thực, dạy quân lính, làm việc cần nhứt). Ngài khen phải cả, cho Gỉng tới đó theo từng khoản làm cho thành; lại sai các quan đàng 6 bộ phải lựa 20 người làm được Tri huyện, không nệ người có văn học, chỉ cốt là quen thuộc thiệt thà, trị được dân Mọi mà thôi.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #113 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 10:44:28 pm »

Người tỉnh Phú Yên là Nguyễn Văn Tựu trước có tiếng khen hiếu tử, đã được thưởng; nay con Tựu là Nguyễn Văn Thiệu, tuổi đã 40, thuận thờ cha mẹ không trái ý chút nào, người làng ai cũng khen là hiếu. Ngài khen là một nhà 3 đời thói tốt danh thơm, truyền ban bức biển ngạch khắc 4 chữ: "Thiệu thuật hiếu phong". Còn những người hiếu tử tiết phụ khác dự thưởng được 4 người nữa.

Truy thọ Nguyễn Đăng Huân chức Lễ bộ Lang trung. Huân trước làm Tri phủ Điện Bàn, giữ lòng thanh liêm kiệm ước, lại dân yêu như cha mẹ. Quan Khoa đạo đem việc tâu lên và tâu rằng: "trước đã có Tri phủ Anh Sơn là Nguyễn Hữu Hoàng; nay lại có Nguyễn Đăng Huân, so với người xưa thiệt chẳng kém gì". Ngài thưởng 200 quan tiền để nuôi vợ con; lại nghe Huân còn mẹ, thưởng thêm 100 quan nữa, truyền chỉ quan địa phương phải tới thăm hỏi.

Tháng 11, Quận chúa nước Chân Lạp là Ngọc Vân sai người dâng đồ phẩm nghi chúc mừng Thất tuần khánh tiết.

Người Chân Lạp hiện làm Chưởng vệ ở thành Trấn Tây là bọn Trà Long, Mộc Tiết đến Kinh dâng đồ châu ngọc, Ngài tùy hạng ban thưởng, lại cho Trà Long một bộ áo mão tam phẩm võ giai và cho lập ban đứng dưới các quan tam phẩm Triều đình.

Tháng 12, tỉnh giảm 2 huyện Vĩnh Hòa và Hội Nguyên thuộc phủ Tương Dương tỉnh Nghệ An; lại chia huyện Đông Thành làm 2 huyện: Đông Thành và An Thành. Vì phủ Tương Dương ít việc đơn giản; huyện Đông Thành địa thế rộng rãi, đinh điền sấp hai (số điền 76.430 mẫu, số đinh 12.570 người), vậy nên cho huyện Vĩnh Hòa hiệp vào Tương Dương cho quan phủ kiêm lý; huyện Hội Nguyên hiệp vào huyện Kỳ Sơn cho quan huyện quản nhiếp trong huyện Đông Thành trích 5 tổng: Cao Xá, Lý Tai, Quan Trung, Vân Tụ, Thái Xá, đem thuộc về phủ Diễn Châu kiêm lý, còn 5 tổng (1); Quỳ Trạch, Quan Hóa, Hoành Trường, Vạn Phần, Cự Lâm thời đặt thêm làm huyện Yên Thành, đặt chức Tri huyện và Huấn đạo.

Khiến các địa phương trù nghĩ bớt các việc chi phí.

Truyền dụ cấm quan địa phương không được sai quân lính làm việc riêng.

Truyền dụ từ Hà Tĩnh trở ra, chỗ nào có những ruộng nhà Lê đã cấp làm ruộng thờ công thần, nay phải trả lại cho dân.

Năm Mậu Tuất thứ XIX (1838), tháng giêng, chức An Phủ ở phủ Khai Biên thuộc tỉnh Hà Tiên là tên Di làm phản. Trước có tên Khống (Khống người phủ Khai Biên, năm trước qua Xiêm làm chức Ba Lật) tự Xiêm trốn về, tên Di giấu đi; Di lại thông mưu với Thổ mục là tên Châu, dụ bọn mọi cao làm đồ khí giới, toan làm loạn, chúng nó vừa nghe tên Đô Y ở Hải Đông năm ngoái khởi biến, liền tụ đảng 500 người qua đồn Long Tôn; Quản cơ phủ Khai Biên là bọn Sô Mịch, Ân Ôn theo nó cả, giết quân trú phòng người mình, rồi phân đạo đi nhiễu các xứ. Án sát Phạm Ngọc Quang, Lãnh binh Nguyễn Tấn Phúc và Phiên mục vệ úy Nhâm Trật đều đem quân đi tuần tiễu; đánh giặc ở Kha Sơn, tên Y chạy thoát, Nhâm Trật đánh phá tên Châu ở sóc Cầm Lịch; Di ở LongTôn nghe thua chạy trốn.

Đặt sở đồn điền ở Tả hữu trạch nguyên, khiến quan Phủ doãn thuê dân 2.000 người hết sức khai khẩn, phá cây bụi, đuổi cọp beo, hạn trong một tháng làm cho đất núi rộng bằng cày trồng được, cho dân lãnh canh, đợi đến 6 năm thành ruộng thành vườn rồi sẽ chiếu lệ đánh thuế.

Giặc Hải Đông tên là Đô Y họp đảng hơn 1.000 người vây đồn Cần Đa, Thổ binh trong đồn đều cầm khí giới theo giặc, quan ở TrấnTây là Đoàn Văn Phú tâu lên và xin qua Hải Đông coi việc nhung vụ.

Tháng 2, bãi chức Quản phủ các phủ, đổi đặt làm Trú phòng, chuyên coi việc chống trộm cướp, giam tù phạm.

Tuần phủ An Giang sung Tham Tán Trấn Tây là Lê Đại Cương có tội, bị cách, phái theo quân thứ Hải Đông hiệu lực.

-------------------
(1) 5 tổng ấy đinh số được 5.470 người, điền thổ được 37.115 mẫu.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #114 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 10:46:45 pm »

Trương Minh Giảng mậ tâu rằng: "binh Xiêm 1.000 mẫu chia làm hai đạo: một đạo ở Sa Đâu, một đạo ở Viên Chăn, ý muốn xâm bờ cõi nước mình; mà những tên Thổ mục, Thổ dân ở đó, phần nhiều đem lòng trông mong, không nên tin dùng sai khiến chúng nó".

Quan coi đạo Hải Đông đuổi đánh giặc ở xứ Trừng Thụy, xứ BìnhTiêm, bắn giết rất nhiều, đảng giặc tan hết. Ngài truyền dụ Trương Minh Giảng rằng: "việc dẹp giặc gần xong, thời công việc kinh lý nên nhơn dịp mà làm, gặp dịp lúc nầy sửa sang có thể dễ hơn. Ngươi phải tuân lời nghị định trước, chước lượng theo thứ đệ thi hành".

Tên tù ở ngục Gia Định là Nguyễn Văn Quang toan vượt ngục, đem cháu Lê Văn Duyệt là Lê Văn Sơn giữ thành làm phản. Việc ấy phát giác ra, Triều đình bắt cháu Lê Văn Duyệt là Lê Văn Yên phải tự tử; còn Văn Tề, Văn Phúc, Văn Phẩn, Văn An cả thảy 8 người đều bị chém, con Văn Yên là Diễn, Minh, con Văn Tề là Hiệp, Nam đều an trí tại Cao Bằng. Bộ Hình lại tâu xin đem những người họ hàng Lê Chất là bọn Lê Luận cả thảy 8 người phát đày ra ngoài Lạng Sơn, Tuyên Quang.

Án sát tỉnh Vĩnh Long là Hà Thúc Văn dâng tập thỉnh an tâu rằng: "bốn huyện ở trong thuộc hạt đều có dân Thổ, chữ viết và tiếng nói khác mình; nay xin cho dân Hán học chữ Thổ, lại khiến con em dân Thổ tới trường Huấn, Giáo, học chữ Hán, để cho tập nhiễm thói mình".

Trương Minh Giảng, Dương Văn Phong đem tình hình đánh giặc tâu rằng: quan bị cách là Lê Đại Cương đóng ở đạo Trà Di chia quân kéo tới đánh giặc. Ngài xem tờ sớ không bằng lòng, truyền rằng: "Đại Cương bị tội cách hiệu, sao dám tư tôn mình là Đại tướng? Chẳng sợ phép nước, chẳng kể công luận. Vậy Đại Cương phải tội trảm giam hậu; còn Trương Minh Giảng giáng xuống làm Binh bộ Thượng thơ, Dương Văn Phong giáng 3 cấp".

Tháng 4, định lệ "lấy quế nạp thuế" ở tỉnh Thanh Hóa, tỉnh Nghệ An (Thanh Hóa mỗi năm nạp 7,8 cây quế, bì nặng chừng 60 cân; còn Nghệ An mỗi năm nạp 5,6 cây quế, bì nặng chừng 50 cân; còn thừa bao nhiêu quan phải nhận mua cả; nếu thiếu số ấy, cứ quế hộ trách bồi; còn như ẩn lậu, gia đẳng trị tội).

Tháng 4 nhuận, đặt thêm huyện Vĩnh Bảo về tỉnh Hải Dương; trích lấy 3 tổng ở huyện Vĩnh Lại và 5 tổng ở huyện Tứ Kỳ đặt ra huyện ấy.

Tháng 5, ban yến các Tấn sĩ mới đậu ờ vườn Thư Quang. Khoa ấy cho Nguyễn Cửu Trường, Phạm Văn Nghị đậu nhị giáp, bọn Đinh Nhật Thận đậu tam giáp, Tấn sĩ cỡi ngựa dạo phố xem hoa, từ đó là đầu.

Vệ úy đạo An Biên là bọn La Kiên, Nhâm Trật sai Thổ mục là Ốc Tri Nha, Liêm Mộc bắt được tướng giặc là Ân On và vợ con cả thảy 7 người; La Kiên, Nhâm Trật được thưởng kỷ lục một thứ, Ốc Tri Nha được thưởng thất phẩm Đội trưởng; Liêm Mộc bát phẩm Đội trưởng, và ban tiền bạc, thẻ bạc, quần áo.

Tháng 6, định lại điều lệ: "xét công phủ huyện" trong các địa phương: trong hạn 3 năm, ai không phải làm án gì là bậc nhứt, ai phải làm án ít là bậc nhì.

Tháng 7, đặt thêm huyện Mỹ Hóa thuộc về phủ Hà Trung tỉnh Thanh; lại trích tổng Thần Phù ở tỉnhThanh giáp về huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình.

Khiến các Biên Tỉnh ở Bắc Kỳ phải  cử những người dân anh tú trong hạt. Dụ rằng: "mấy tỉnh Tuyên,Cao, Thái, Lạng, Hưng Hóa, tự đời Lê về trước, chỉ giao về người Thổ mục quản nhiếp, nhứt luật cho là mọi rợ mà ngăn cách ra, cho nên trong dân có người giỏi cũng chẳng có khi nào được nhà nước dùng; cách đãi người như vậy thiệt chẳng rộng rãi. Bản triều ta khoan nhơn, coi trong ngoài như một; gần đây đã đổi thổ quan làm lưu quan, không phải còn như cũ nữa, ai cũng có lòng bay nhảy bỏ lối mọi theo lối mình. Nay truyền cho quan tỉnh phải xét những thổ quan hoặc dân gian tử đệ, ai là anh tú cho tới Kinh vào trường Giám học tập, ai ma có tài coi quân và làm việc quan được, do bộ phân phái, tùy tài bổ dụng". Tỉnh Lạng Sơn liền đem người Thổ là Nồng Đăng Tuyển tâu cử lên. Khi Tuyển đến Kinh, cho vào trường Giám cấp lương học tập.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #115 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 10:48:21 pm »

Tháng 8, Ninh Bình bị bão lụt; huyện Kim Sơn thiệt hại hơn, quan tỉnh phát tiền kho khẩn cấp; Chánh tổng huyện Yên Mô là Trần Văn Phán tự xuất lúa nhà 100 hộc chẩn cho dân đói; Ngài nghe, khen lắm, khiến tỉnh thần pháty lúa kho trả lại và ban thưởng dê rượu hoa hồng. Truyền dụ các quan ngoài tỉnh Tuyên, Cao, Thái, Lạng, phải lựa đặt mỗi phủ một hay là hai ba người làm chức quyền Tổng giáo để dạy học trò, bất câu con nhà Thổ mục, Thổ dân đều phải mỗi ngày tới bọc, khiến cho biết chữ biết viết.

Đắp đập ở đầm của làng Tô Đà và làng La Bích về phủ Thừa Thiên. Hai đầm ấy liền với sông Lợi Nông, trước đã đắp một cái đê nhỏ để ngăn nước sông, thành ruộng được hơn 400 mẫu; cho nên bây giờ thuê dân làm đập.

Tháng 9, 4 trại Man Lãng, Tân Na, Cống Diềm Đàng, Hắc Ba y thuộc về động Phong Châu, châu Chiêu Tấn tỉnh Hưng Hóa, năm trước bị họ Điêu chiếm làm phần riêng, đem cố cho người Tàu mà lấy bạc; đến nay phát giác ra, Ngài khiến quan tỉnh khám thiệt làm sổ bộ; Động mục là Điêu Quốc Ngoan, Điêu Doãn Long đều cách chức phát binh.

Tổng đốc An Hải là Nguyễn Công Trứ đem binh thuyền chia đạo đến thẳng Chàng Sơn vây bắt giặc biển, chém được một tên, giặc bỏ thuyền lên bờ chạy; quan quân đuổi theo, bắt chém rất nhiều, được cả tàu thuyền súng ống; xét thấy nhà giặc ở hơn 50 nóc đều có tang vật ăn cướp, trong núi trồng hoa lợi và lúa hơn 500 mẫu. Trứ đều đốt phá hết thảy. Việc ấy tâu lên, Ngài thưởng Quản vệ, Quản cơ kỷ lục 2 thứ, Suất đội 1 thứ, binh dõng thưởng tiền 300 quan.

Nghệ An Án sát Phùng Đắc Ninh dâng sớ tâu: "Tấn Quy Hợp là yết hầu chỗ Trấn Biên, Trấn Tĩnh, xin đặt chức Tri châu quản trị", Ngài truyền rằng: "Quy Hợp địa thế tuy rộng, mà thuộc tấn chỉ có 7 động, dân số không đầy 100 người, đặt một Thủ ngự và một Thơ lại cũng đủ làm việc".

Ngài lại truyền cho các động đổi làm xã, định thuế lệ lại, khiến đem 7 xã ấy đặt làm tổng Quy Hợp, thuộc về huyện Hương Sơn, đặt một Chánh tổng theo Trấn sai phái.

Mới đặt chức kiêm lãnh Quốc tử giám sự vụ đại thần.

Cấm thành Trấn Tây không đuợc bày cuộc nha phiến và cờ bạc. Khi trước Quận chúa là Ngọc Vân cho các khách nấu thuốc phiện bán, để lấy tiền lợi; và thổ dân thuộc hạt oa trữ cờ bạc nhiều. Chân Lạp chi cấp lương lính và sắm thuyền bè khí giới đều lấy vào món tiền ấy; đến bây giờ truyền cấm.

Định lệ: phàm các quan địa phương phải hỏi thăm cha mẹ già các ngươi làm quan (tại Kinh và ngoài các địa phương như có người làm quan ở xã, văn từ tứ phẩm, võ từ tam phẩm trở lên, mà còn có lão thân ở nhà, thời cứ quan tỉnh nên thỉnh thoảng sai người tới hỏi thăm, hoặc có bệnh tật, phải đòi thấy thuốc đến chữa, để khiến người con yên tâm làm việc quan. Lại đem dụ ấy thông dụ khắp trong ngoài đều biết).

Tháng 10, đặt thêm Hà Trung phân phủ thuộc tỉnh Thanh Hóa, kiêm lý huyện Hoàng Hóa thống hạt huyện Mỹ Hóa.

Khiến từ Quảng Bình đến Bình Thuận xét kẻ nào thông văn tự, thơ, toán, muốn ra làm việc, cho kê tên dâng lên. Học trò tình nguyện làm việc hơn 50 người, Ngài đều truyền chỉ cho tùy phái ở thành Trấn Tây.

Bộ Binh tâu rằng: "các trạm ở Nam Kỳ lâu nay công văn công hóa đều đệ thuyền, nay đã có đàng quan, xin cấp mỗi trạm 2 con ngựa, phàm gặp những việc quan khẩn, nên phát đệ đi ngựa cho mau, chỗ nào gió nước thuận tiện cho đi thuyền, chỗ nào nước ngược cho đi ngựa; còn những việc khẩn vừa và việc thường đều cứ đệ thuyền đi". Ngài y theo.

Tháng 11, Tổng đốc Bình Phú là Võ Xuân Cẩn dâng tập thỉnh an, nhơn định việc quân điền (1): "phàm ruộng tư cứ 5 mẫu làm hạn, còn thừa bao nhiêu thời làm ruộng công, phân cấp cho dân, để làm lương điền khẩu phân". Ngài dụ rằng: "việc ấy chắc nhiều người không bằng lòng, e khó làm được".

------------
(1) Quân điền nghĩa là chia ruộng dân cho cân.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #116 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 10:49:24 pm »

Nguyễn Công Trứ đem tuần bổ binh thuyền đi tới phần biển Ba Phong, Chân Châu gặp hơn 60 chiếc thuyền giặc người Tàu, quân ta cự đánh, bọn Quản vệ Nguyễn Văn Ngữ lấy được 3 chiếc thuyền nhỏ và khí giới, vừa gặp gió đông thổi to, Trứ lại chạy thuyền qua Vân Đồn đợi gió thuận sẽ đi. Việc ấy tâu lên, Nguyễn Văn Ngữ được thưởng gia kỷ lục một thứ. Ngài lại dụ Công Trứ phải thẳng đến sào huyệt giặc ở chỗ Chàng Sơn, tính làm những việc giữ yên về sau.

Tháng 12, Trứ ở làng Vựng thuộc châu Vân Đồn, nghe ngoài núi Ỷ Cầm có hơn 50 chiếc thuyền giặc người Tàu, liền chia quân mình làm 5 toán, nhơn đêm kéo tới, gặp lúc gió đông nổi to, sóng dữ quá, gần sáng, giặc dương buồm chạy thoát, có một chiếc tàu chạy chưa kịp, Suất đội toán tiền quân là Nguyễn Công Khuyến đi chiếc thuyền nhẹ đuổi kịp, chém được một tên giặc, còn bao nhiêu đều nhảy xuống biển mà chết. Trứ tâu lên và xin tạm Quảng Yên, chờ khi gió thuận lại qua đánh giặc núi Chàng Sơn.

Tổng đốc An Tĩnh là Tạ Quang Cự hỏi thăm mới biết Nghệ An là tổ quán mình, tâu xin hồi ty. Ngài dụ rằng: "Ngươi là người tôi tâm phúc chơn tay ta, chẳng phải ví như chức nhỏ, ngươi nên bỉnh công làm việc cho xứng công ta ủy thác, chẳng nên lấy điều ấy làm ngại lòng".

Đắp thành phủ Ninh, Thuận và phủ Hàm Thuận ở tỉnh Bình Thuận.

Khắc bia Võ công dựng trước sân Võ miếu; cả thảy 20 người đều khắc tên vào bia để tỏ bày chiến công (Trương Minh Giảng, Trương Phúc Đỉnh, Phan Văn Thúy, Nguyễn Xuân, Phạm Hữu Tâm, Trần Văn Trí, Hồ Văn Khuê, Nguyễn Công Hoán, Mai Công Ngôn, Phạm Văn Điển, Tạ Quang Cự, Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ, Võ Văn Từ, Nguyễn Tấn Lâm, Tôn Thất Bật, Võ Đình Quang, Lê Văn Thụy, Phạm Phi, Phạm Văn Lý.

Năm Kỷ Hợi XX (1839), tháng giêng, dân hạt Hà Tiên là Nguyễn Văn Xung đem vợ con từ Xiêm trốn về. Nguyên nó ở Xiêm đã hơn 30 năm, bây giờ mới về, Ngài nghe nói, truyền đòi về Kinh, sắc xuống bộ Binh hỏi tình trạng nước Xiêm thế nào tâu lên. Ngài nghĩ tên Xung là người biết giặc tình, quen thổ tục, cho bổ làm chức Hành nhơn ty ở Trấn Tây, tùy sự sai phái.

Khiến tỉnh Khánh Hòa hỏi mua voi ngựa tại các xứ Mọi; lại khiến Thị vệ và vài người đội Kinh tượng phân phái đi tự Quảng Nam tới Gia Định, Quảng Trị tới Sơn Tây, chọn lựa voi công, con nào cao từ 6 thước trở lên, mạnh lớn hiền lành, cỡi êm, không sợ súng đạn, hay là  mạnh và lanh, đều đem về Kinh chựa lựa.

Nguyễn Công Trứ lại tới Chàng Sơn đánh giặc biển, dâng sớ xin lập đồn; một sở ở làng Vựng thuộc châu Vân Đồn, một sở ở làng Vĩnh Thực thuộc châu Vạn Ninh, một sở ở làng Xuân Áng thuộc huyện Ba Phong, Ngài cho.

Tháng 2, truyền định lại các danh sắc trong sổ đinh: trước chỉ có hạng tiên sai và hạng biệt tính;bây giờ đổi làm hạng chức sắc, hạng miễn sai, hạng miễn diêu.

Khiến Nghệ An phái người qua Nam Chưởng và Vạn Tượng mật thám tình hình.

Khiến Ngự sử Nguyễn Văn Chấn đi khám xét các mỏ ở những biên tỉnh Bắc Kỳ, chỗ nào khí mạch vượng hơn trước thời tăng thuế, chỗ nào chưa vượng mấy thời cứ theo ngạch thuế cũ; còn các mỏ mà trước có lệnh cấm, bây giờ xét chỗ nào khí mạch vượng lại, thời cho khai (cả thảy tăng ngạch thuế 8 sở, y ngạch thuế cũ 4 sở, trước cấm nay lại khai 9 sở).

Tháng 8, vua nước Chiêm Vạn Tượng là A Nỗ có 3 người con là Chiêu Thiển, Chiêu Miễn, Chiêu Xang, trước cho tháp ở huyện Cam Cát, năm trước đem gia quyến tới ở tấn Nùng Khai (thuộc về Vạn Tượng), nay Chiêu Xang củ dụ đảng lõa hơn 100 người ra cướp địa hạt tấn Quy Hợp. Ngài khiến Nghệ An, Hà Tĩnh hội nã hơn một tháng không được, quân lính ở lâu cảm mạo lam chướng đều triệt về.

Nguyễn Công Trứ đem binh thuyền đóng ở Vân Đồn. Hai đàng người Tàu làm nghề cá là bang Khai Vĩ và Hà Cổ bắt được tên tướng giặc Lý Công Tống và bắt sống đồ đảng 16 tên, giết chết 50 tên, cùng thuyền tàu khí giới giải nạp tại quân thứ, xin Công Trứ đem việc tâu lên, cho hai bang đặng ở ngoài biển đánh cá chịu thuế. Công Trứ xuất 100 đồng bạc và 100 phương gạo cấp thưởng, lại biểu chúng nó nên về Tàu cả; nhưng chúng nó xin tình nguyện ở lại làm dân mình, theo lệ như người Minh Hương.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #117 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 10:50:20 pm »

Công Trứ đem việc tâu lên, Ngài cho thưởng thêm 500 quan tiền; khiến Công Trứ đòi hết thảy mà hiểu dụ và chọn chỗ cho chúng nó ở; nếu chỉ ưng ở trên mặt biển, sớm đi tối về, thời phải đuổi ngay, chớ để chúng nó được sanh lòng xảo trá.

Truyền đòi các xứ Thổ dân Bình Định gọi là Xã dân. Triều đình nghĩ rằng: chỗ Thuận Thành đã đặt phủ huyện, người Thổ đã dần dần học theo thói người mình, quen tập việc quan, theo giáo hóa rất mau, vậy nên truyền chỉ đòi làm Xã dân, để cho biết Triều đình coi dân Hán và dân Thổ như một.

Tháng 4, Ngài ngự chơi cầu Bến Ngự, xem thí nghiệm tàu máy hơi. Khi trước khiến sở Võ Khố chế tạo tàu ấy, đem xe chở ra sông, giữa đàng vỡ nồi nước, máy không chạy, người Đốc Công bị xiềng, quan bộ Công là Nguyễn Trung Mậu, Ngô Kim Lân vì cớ tâu không thiệt, đều bị bỏ ngục. Bấy giờ chế tạo lại, các máy vận động lanh, thả xuống nước chạy mau, Ngài ban thưởng người Giám đốc là Hoàng Văn Lịch, Võ Huy Trinh mỗi người một cái nhẫn pha lê độ vàng, một đồng tiền vàng Phi Long hạng lớn; Đốc công và binh tượng được thưởng chung 1.000 quan tiền. Ngài truyền rằng: "tàu này mau bên Tây cũng được, nhưng muốn khiến cho công tượng nước ta tập quen máy móc cho khéo, vậy nên chẳng kể lao phí gì".

Nguyễn Công Trứ đem binh thuyền lại qua Chàng Sơn tìm bắt được 4 tên giặc, chém ngay, chiêu phủ binh dân được cả thảy 180 người, lập làm làng Hướng Hóa, lại tùy chỗ ở chia làm 4 giáp; giáp đông, giáp tây, giáp nam, giáp bắc; đặt Lý trưởng và Giáp trưởng để quản trị, cho thuộc về châu Vân Đồn, trước bộ chịu thuế. Công Trứ dâng sớ tâu việc ấy, Ngài cho. Công Trứ lại tuân lời dụ đòi các tên Bang trưởng bang Khai Vĩ và bang Hà Cổ khiến khai trình hiện số thuyền và số người, để vào sổ đánh thuế. Chúng nó thưa rằng: "Chúng tôi quen sanh nhai trên mặt nước, nếu lên ở trên mặt đất, thời không tiện việc làm ăn". Chỉ có tên Tẩy Thành Đức thuộc về bang Khai Vĩ xin ở lại, gia quyến nó đàn ông đàn bà cả thảy 5 người chia làm hai nhà. Công Trứ cho ở dưới chân núi Đông Sơn (thuộc về làng Quan Lan, châu Vân Đồn, giáp xứ Sa Châu, mỗi nhà cấp 1 mẫu đất) rồi đòi Công Trứ hồi Kinh.

Khiến hiểu thị dân 6 tỉnh Nam Kỳ có ai tình nguyện nạp lúa xay gạo để làm quân nhu trên thành Trấn Tây, sẽ được thưởng phẩm hàm và miễn thâu thuế binh diêu (người nào xuất 2.500 hộc được thưởng tùng cửu; 3.500 hộc được thưởng chánh cửu).

Tháng 5, truyền Hộ bộ Tá lý Phan Thanh Giản đi ra Thái Nguyên khai mỏ bạc Tống Tinh (thuộc phủ Thông Hóa). Khi trước Ngài xem nhật báo Tàu, thấy nói quan Tổng đốc Trực Lệ nước Tàu tên là Kỳ Thiện có nói: mỏ bạc Tống Tinh nước ta rất vượng, mà chỉ trưng thuế buôn, cho người Tàu lấy mỗi năm được hơn 2.000.000 lạng bạc tốt đem lén về Tàu. Vậy nên Ngài đã phái Nguyễn Văn Chấn đến nơi khám xét, thời thấy công việc làm cũng dễ. Bấy giờ Ngài sai Giản đem Thị vệ tới nơi thuê thợ đào lấy. Rồi bởi vì công trình khó nhọc, lấy không được mấy, lại bãi đi mà giao cho Khoáng trưởng lãnh trưng.

Tháng 6, cho cấp thêm tiền cố công và định cách thưởng, để khuyên những người khai mỏ Tiên Kiều thuộc tỉnh Tuyên Quang. Chỗ núi Phú Bác và Nội Chiêm thuộc tỉnh Cao Bằng cũng có kim khí phát vượng, Ngài truyền tỉnh thần hội đồng với quan phủ sở tại (phủ Hòa An) mộ người khai mỏ, làm y theo lệ Tuyên Quang).

Tháng 7, khiến Hiệp tá đại học sĩ Hình bộ Thượng thơ kiêm Đô sát Võ Xuân Cẩn, Tham tri bộ Hộ Doãn Uẩn qua Bình Định làm phép quân điền. Bộ nghị: "phàm các thôn ấp, số công điền hơn số tư điền, hoặc số công tư ngang nhau, thời không phải lấy ra quân cấp nữa; còn chỗ nào số tư hơn công, thời tư điền phải trích lấy một nửa sung công. Lại xét thôn ấp nào có nhơn đinh không có điền thổ, hoặc có thổ không điền, hoặc nhơn số nhiều mà điền số ít, thời lượng trích quan tiền, hoặc nhơn số nhiều mà điền số ít, thời lượng trích quan điền trại điền hay là công điền các nơi gần đó để cấp cho dân; như vậy thời binh dân đều được lợi". Ngài quyết ý làm, cấp thêm tiền lộ phí cho Xuân Cẩn, Doãn Uẩn. Ông Cẩn lại tâu rằng: "ruộng ở trong hạt chẳng có thể nhứt luận chia cho đều nhau, vậy xin làng nào mà có ruộng hơi nhiều, thời đến kỳ quân cấp, tuân phép phân hạng cấp khắp cả; làng nào số ruộng hơi ít, thời xin trước cấp ruộng lương điền cho lính, còn thừa sẽ cấp ruộng khẩu phần cho dân; làng nào số ruộng ít quá, thời xin chỉ cấp lương điền cho lính mà thôi; tựu trung làng nào ở xa cách không có ruộng quan, trại, cấp được, thời xin xét các làng chung quanh, làng nào có công điền nhiều, trích trong số điền bộ cũ, hoặc trong số ruộng mới chiết cấp, hoặc trong số lưu hoàng mới khẩn trưng lại, lấy 1,2 mẫu phân cấp cho làng kia làm công điền; còn như tư điền thời dẫu của công thần tế tộc cũng lấy một nửa sung công".
 
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #118 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 10:53:39 pm »

Ngài cho, nhưng ruộng hương hỏa của ông Đào Duy Từ, nếu có trích lấy bao nhiêu làm ruộng công, thời mỗi mẫu cấp cho 50 quan tiền giao cho cháu là Đào Duy Du làm việc tế tự. Ngài lại nghĩ rằng: xã dân tu bổ, chẳng khỏi chi phí, chuẩn cho đại xã 8 quan, trung xã 6 quan, tiểu xã 4 quan; lại nhơn tại tỉnh giấy mắt, khiến phát giấy kho cấp cho làm sổ.

Bố chánh Gia Định là Hoàng Quýnh đi xét việc Trấn Tây trở về, vào chầu. Ngài hỏi Sơn Xuyên hình thế Gia Định, Quýnh tâu: "Cù lao Côn Lôn cách Gia Định xa mà đến Vĩnh Long gần, cho nên thuộc về Vĩnh Long là tiện; còn tấn Cần Thơ đối ngạn với Phúc Thắng truyền tàu nào vào cửa, phải trước từ Phúc Thắng rồi mới đến Cần Thơ vậy thời Phúc Thắng là chỗ bảo chướng cho Cần Thơ, cũng nên phòng bị". Ngài truyền tỉnh Biên Hòa xây đắp pháo đài ở bảo Côn Lôn thời cho thuộc về Vĩnh Long quản hạt.

Mấy lâu các tỉnh ngoài Bắc Kỳ bị lệ khí, đến bây giờ mới yên. Triều đình theo lời nghị định cấp tiền tuất cho những người bị bệnh mất và hoãn binh diêu thuế khóa cho dân. Lại truyền các quan tỉnh lập đàn lễ tạ.

Tháng 8, Trương Minh Giảng tâu rằng: "mấy lâu mộ dân mình lập ấp tại thành Trấn Tây cả thảy được 25 xã thôn, đinh được hơn 470, điền được hơn 340 mẫu; đến bây giờ đã đủ hạng 3 năm rồi, xin chiếu lệ đánh thuế". Ngài nghĩ rằng: dân mới mộ lập, chưa nỡ đánh thuế, vả lại qua năm sau gặp lễ Ngũ tuần khánh tiết, vậy nên Ngài gia ân tha thuế. Trương Minh Giảng lại tâu rằng: "người Tàu ở thành Trấn Tây mà có sản nghiệp cả thảy được 220 người, xin lập làm 5 bang, chiếu lệ thâu thuế cho thống thuộc về đạo Lương Sừ". Ngài cho.

Định lại lệ "Thổ binh phân ban" ở trên thành Trấn Tây. Truyền chỉ tỉnh Thanh Hóa sửa miếu nhà Lê ở làng Bố Vệ.
Tháng 9, ruộng đất ở huyện Tuy Hòa tỉnh Phú Yên vì xa cách khe sông, bỏ thành ruộng hoang, Quan thự Tổng đốc Tôn Thất Lang đào cừ dẫn nước, khai khẩn thành điền được hơn 1.000 mẫu. Ngài khen Lang biết chăm việc ích lợi cho dân, thưởng gia một cấp.

Tháng 10, chế thêm một chiếc tàu máy lớn, phí tổn hơn 11.000 quan tiền. Ngài truyền bộ Hộ rằng: "Ta muốn công tượng nước ta đều biết tập nghề máy móc, vậy nên không kể phí tổn".

Phân phái quan thuyền ra ngoại dương làm việc công: Trần Tú Đỉnh, Đào Trí Phú qua Giang Lưu Ba; Trần Bưu, Cao Hữu Tán qua Tam Ba Răng; Nguyễn Đức Long, Lê Bá Tú qua Tiểu Tây Dương; Nguyễn Đãi Bản, Nguyễn Du, Lê Văn Thu, Đỗ Mậu Thường qun Hạ Châu.

Ngài nghe nước Đại Tây vốn gọi là nơi Đô hội, khiến Trần Viết Xương, Tôn Thất Thường đem hai người Thông ngôn đến Giang Lưu Ba rồi đi tàu Tây qua Đại Tây mua đồ.

Tháng 11, khiến cầu những văn xưa nước ta chọn những bài hay làm thành sách đặt tên là "Nam Thổ Anh Hoa Lục". Ngài đọc 10 bài vịnh Hà Tiên của Nguyễn Cư Trinh, trong bài thơ Kim Dự Lang Đào có câu phá rằng: "Đế nộ Dương hầu sác phạm biên, cố tương sơn cửu trấn Tiền Xuyên", nghĩa là: Trời giận Dương hầu (1) khuấy biển đông, vậy đem hòn núi chận ngang sông. Xem lời thơ có khí vững vàng như cột đá, cảnh trí thiên nhiên, bút lực cứng cát. Lại sắc bộ Lễ hỏi rõ những bài Mạc Thiên Tứ làm ra, trừ 10 bài thơ vịnh cảnh Hà Tiên, còn có tập văn chương nào nữa, nên tìm kiếm viết lại dâng lên ngự lãm.

Khiến chế thước mộc, thước may, thước đo ruộng; bằng đồng, ban cấp cho các phủ huyện.

Việc quân điền ở Bình Định đã rồi. Võ Xuân Cẩn và Doãn Uẩn về Kinh phục mạng. Ngài hỏi quan bộ Hộ là Hà Duy Phiên việc tô thuế tỉnh Bình Định tăng giảm thế nào? - Tâu rằng: "hạt ấy nguyên số công điền gần 6,7 ngàn mẫu, tư điền hơn 70.000 mẫu; nay lấy nửa tư điền làm công, thời số công điền lên đến chừng 40.000 mẫu; tính đại lược thời thế điền bớt ít mà thuế đinh thêm nhiều; vì lâu nay các tỉnh phía nam thuế công điền ngang với tư điền, chỉ có thuế quan điền hơn công điền; nay quan điền thuế nạp vào lại giảm; còn thuế thân trong xã, thời khi trước kẻ nào có công điền phải nạp nhiều hơn kẻ hông, nay đã đem công điền quân cấp, thời dân trong sổ bộ đều có công điền, cho nên thuế quan điền

--------------
(1) Dương hầu là sóng thần.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #119 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 10:54:50 pm »

tuy giảm mà thuế dân đinh lại thêm". Ngài truyền rằng: "vốn muốn lợi chung cho dân, còn như thuế hoặc thêm lên hay là bớt đi, chẳng sá kể gì".

Phủ Thái Bình ở nước Tàu phát tờ công văn của bộ Lễ nước Tàu qua nước ta; trong tờ nói rằng: "nước Tàu định lệ lại rằng nước ta với Lưu Cầu, Xiêm La đều cứ 4 năm qua triều cống một lần". Triều đình lại tư sang hỏi quan Tuần phủ Quảng Tây, thời quan Tuần phủ trả lời: cứ chiếu nguyên lệ, nhưng đồ phương vật giảm bớt một nữa. Từ đó giữ làm lệ thường.

Định lại bổng các quan viên: chánh nhị phẩm thời bớt bổng, tùng nhị phẩm trở xuống thời lượng gia, kể từ tháng giêng năm thứ 21 triều Minh Mạng làm đầu.

Tháng 12, cải cấp quan lịch cho thành Trấn Tây (khi trước chỉ cấp quan lịch một chuyến, dân lịch 100 quyển, nay cấp thêm).

Em Nặc Chân (vua Chân Lạp cũ) là Nặc Yêm ở Bắc Tầm Bôn mưu về Chân Lạp; nhơn lúc tướng Xiêm là Chất Tri về thành Vọng Các, Yêm lừa lúc không phòng bị tụ đảng giết binh Xiêm, trói chức Quản thủ Xiêm là Ba Lặc Đột, đem bà con và thổ dân, hơn 9.000 người, hơn 800 chiếc tàu với voi ngựa súng ống khí giới, đi đàng biển về xứ Hải Tây; trước sai người đem thơ xin binh mình tiếp viện. Trương Minh Giảng tâu lên; vừa gặp có Đề đốc Võ Đức Trung, Tuyên phủ Nguyễn Song Thanh, Lãnh binh Tôn Thất Quỳ hội tại xứ đó; Yêm đem tình trạng kêu với 3 ông ấy và đem kẻ Đầu mục Xiêm là bọn Ba Lặc Đột nạp cho quân mình. Bọn Võ Đức Trung phủ ủy tử tế. Yêm nghe lời, tiếp dẫn về thành. Trương Minh Giảng trích bọn quyến thuộc tùng đảng tên Yêm hơn 200 người, đưa qua Gia Định và Vĩnh Long giam cấm, còn Thổ dân giao cho phủ huyện sở tại chiếu quản, tùy tiện an tháp; đem việc tâu lên, Ngài khiến giải Nặc Yêm, Ba Lặc Đột với một người đầu mục mọi am hiểu tình giặc, xiềng giản về Kinh; còn vợ con thân quyến tên Yêm và bọn tùng đảng truyền cứ nghiêm cấm đợi án, gia sản tên Yêm nạp vào kho; bọn đầy tớ phân tháp ra các tỉnh Biên Hòa, Vĩnh Long, giao dân quản thúc; những thổ dân theo mình, thời phân hạng chuẩn cấp; đầu mục thời lượng cho sa đoạn ngân tiền (sau Ba Lặc Đột bị giết, còn bao nhiêu thời nghiêm giam).

Cho những thổ dân thuộc về các phủ huyện trong tỉnh An Giang và Hà Tiên mà hiện ở trong các hạt huyện Hán, đều được đặt tên họ như dân Hán và theo về huyện Hán quản nhiếp.

Tổng đốc Hải An là Tôn Thất Bật dâng sớ xin thuê dân đào lấy mỏ than (núi Đông Triều và An Lãng có mỏ than, khi trước bộ đã tư lấy 100.000 cân chở về Kinh). Trong sớ nói: "thiên tai mới rồi, dân không lấy gì mà ăn, đều muốn tới làm công kiếm tiền nuôi miệng". Ngài cho.

Năm Canh Tý thứ XXI (1840), tháng giêng, đặt tên những dân mới về Trấn Tây gọi là Tân dân cho thuộc về sở tại. Lưu quan quản trị, Thổ quan không được sai phái đánh thuế; lại chọn chỗ phân pháp, hoặc cho ở lộn với Thổ dân, nhưng đặt ra tổng, xã, thôn, và Tổng trưởng, Lý trưởng cho chúng nó quản trị lấy nhau; lại đặt họ đặt tên làm sổ đưa về bộ lưu chiếu, còn diêu dịch năm ấy đều tha.

Tháng 2, giảm thuế cho Thổ dân ở Trấn Tây. Vì gặp lễ Ngũ tuần khánh tiết, mà ân chiếu xuân thủ chưa kịp đến dân Thổ, vậy nên nhứt luận thi ân, khiến Thổ dân cùng Hán dân đều được vui vẻ ích lợi. Truyền dụ chiếu theo ngạch thuế thổ trong 10 phần giảm 3 phần, còn 7 phần y lệ thâu đủ để sung quân hướng.

Tham tán Trấn Tây là Dương Văn Phong đem theo Chưởng vệ người Thổ là Trà Long và Nhâm Vu, Vệ úy La Kiên, Quản cơ Lư Khiêm tới Kinh vào chầu, Ngài ban cho mỗi người Quan thổ 1 bộ áo mão Đại triều.

Tháng 3, Khai mỏ sắt ở xã Thượng Kết thuộc tỉnh Thái Nguyên (mỗi năm nạp 1.000 cân sắt).

Đánh thêm thuế mỏ vàng ở tỉnh Tuyên Quang.

Người đầu mục nước Xiêm là Ba Lặc Yết lại tụ đảng lén tới vũng Phủ Ấp ở Hải Đông, bắt Thổ dân hơn 70 người mà đi. Lãnh binh giữ đồn là Nguyễn Công Nhờn bị giáng hai cấp, Hải Đông Lãnh binh Đoàn Văn Sách bị giáng một cấp, Tuyên phủ sứ Trần Thông phạt bổng một năm.

Đặt thêm hai huyện Lương Sơn và Nghĩa Đàn thuộc tỉnh Nghệ An. Trích 4 tổng ở huyện Nam Đàn (Đô Lương, Thuần Trung, Bạch Hà, Lang Điền) và một tổng ở huyện Thanh Chương (Đặng Sơn) đặt
 
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM