Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:34:30 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quốc Triều chính biên toát yếu  (Đọc 100981 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #120 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 10:55:37 pm »

làm huyện Lương Sơn; Trích bảy tổng ở huyện Quỳnh Lưu (Hạ Sưu, Thuần Cam, Phác Lỗ, Đàng Khê, Lâm La, Nhiêu Xá, Nghĩa Hưng) và một tổng Cự Lâm ở huyện Yên Thành cả thảy tám tổng đặt ra huyện Nghĩa Đàn.

Tổng đốc An Tĩnh là Mai Công Ngôn tâu rằng: "hai huyện Cam Cát và Cam Môn ở Trấn Định, Thổ dân khổ vì quan mọi thường khuấy nhiễu, phải đem nhau tránh ở xứ Hà Trai thuộc tỉnh Hà Tĩnh, chỗ ấy núi rừng liền lạc và rộng rãi, xin cho chúng nó ở tạm đó, khai khẩn thành điền, sẽ khám thiệt chiếu theo như lệ thuế dân Hà mà chước định, xin giao bộ Hộ, bộ Binh trù nghĩ", Ngài y theo. Ngài lại nghĩ rằng: hai phủ Trấn Ninh và Lạc Biên đều ở địa đầu tỉnh Hà Tĩnh, còn về tỉnh Nghệ thời đàng sá xa, bèn cho cải thuộc về Hà Tĩnh cho tiện.

Tháng 4, ngày 23 là ngày Ngũ tuần đại khánh tiết, ban ơn điển cả thảy 26 điều.

Tháng 5, phong Quận chúa nước Chân Lạp là Ngọc Văn làm Mỹ Lâm quận chúa; Ngọc Bợn, Ngọc Thu, Ngọc Nguyên đều được thăng Huyện quận, cấp cho lương bổng, kể tự tháng 7 năm nay làm đầu.

Khiến lập miếu thờ vua nước Chân Lạp.

Tháng 6, sai quan đi kinh lý thành Trấn Tây: Lê Văn Đức sung Khâm sai đại thần, Doãn Uẩn làm phó, đi hội đồng với Tướng quân và Tham tán xét trong toàn hạt những chỗ bãi, đầm, mà thường qua lại buôn bán, nên lượng đặt sở quan tân, định rõ ngạch thuế; còn như điền thổ, sản vật, đánh thuế vật gì cho đem vật ấy mà nạp. Từ Quận chúa trở xuống đến các quan Thổ đã có bổng lương rồi, thời những thổ tục khi trước đánh thuế các hạng linh tinh nay đều cấm cả.

Truyền chỉ giáng bọn thuộc tướng ở Trấn Tây: Chưởng vệ là Trà Long giáng Chánh đội, Nhâm Vu giáng Chánh đội trưởng, Vệ úy La Kiên giáng Đội trưởng, phát giao ra Hà Nội, Bắc Ninh và Hưng Yên quản thúc vì tội ẩn giảm số dân đến hơn 15.000 suất.

Định lại lệ "quân cấp khẩu phân điền thổ": phàm xã dân cung cấp quân điền, công thổ, thời lương điền của lính đáng được bao nhiêu cứ y theo lời Bộ nghị trong năm Minh Mạng thứ 17 mà chiếu cấp; còn ngoài ra cứ số điền thổ hiện tại chiếu theo số quan, lại, binh, tượng, và các hạng dân thiệt nạp, biệt nạp, cấp mỗi người một phần khẩu phân, không kể phẩm trật hạng bậc gì; còn lão nhiêu lão hạng và phế tật, đốc tật, đều chiếu số một phần chia làm hai thành, mỗi một người cấp một thành; hạng cô nhi, quả phụ, cũng chiếu số một phần chia làm 3 thành, mỗi người cấp một thành: tựu trung quan, lại, cùng các hạng người, có kẻ nào đã trót lập gia cư ở chỗ công điền thổ, thời phải kể số mẫu sào khấu trừ phần khẩu phân mình đáng được, thời sẽ tính cấp thêm; nếu chỗ đất ở quá hơn số khẩu phân, thời các số thắng đó phải nạp thuế xấp hai; trong số tiền thuế ấy đem một nửa sung công, một nửa cho dân; xã dân không được thấy người ta đã thành cơ chỉ mà bảo là công điền công thổ cứ nhứt khái đuổi người ta đi mà lấy đất quân cấp. Ngài y theo.

Tháng 7, Lễ bộ tâu: "tỉnh Bắc Ninh tư rằng trong tỉnh ấy xã Đình Bảng có lăng tẩm các vua Triều Lý, nhưng không biết lăng nào là hiệu vua nào? Và lăng vua Kinh Dương Vương, lăng ông Sĩ Vương có nên tuân lời ân chiếu sửa sang lập bia hay không?". Ngài truyền rằng: "các lăng vua đời Lý để chung một đám, nên thuê dân sửa đắp tử tế, chọn chỗ sảng khoái dựng chung một cái bia khắc chữ: "lăng các nhà vua Lý". Vua Kinh Dương là vua khai sáng nước An Nam, cũng nên tuân ân chiếu sửa sang lăng tẩm lại; còn ông Sĩ Vương đã cho tùng tự Văn miếu ở hàng Tiên nho, kh6ng nên viện lệ như các vị Đế vương kia, nhưng nghĩ ông ấy có công về nho giáo, nên sức dân thủ hộ phần mộ, cấm không được tới đó đốn củi".

Dời nàng Mỹ Lâm quận chúa là Ngọc Vân, Thâu trung huyện quân là Ngọc Thu, Tập ninh huyện quân là Ngọc Nguyên sang ở Gia Định. Trước khi ấy Nặc Yêm ở Xiêm về, có tên Mao là em tên nghịch Ma lại là cậu nàng Ngọc Bợn, cũng ở lộn với dân mới tháp vào huyện Hải Bình. Huyện quân là Ngọc Bợn, thường đem tài vật cho lén. Mao nhơn lén dẫn người mật thám của tên Ma đem mật thơ tới thành La Kết dặn Ngọc Bợn trốn qua đất giặc để đoàn tụ với mẹ là thị Tiếp, Ngọc Bợn phúc thơ lại, trong thơ đại lược nói: "tình cảnh nhà mình, không bằng trước nhiều, tôi thường muốn trốn đi, chỉ vì quan quân phòng bị đàng thủy và đàng bộ rất nghiêm mật, chưa được tự tiện; nhờ cậu thỏa liệu giúp cho"; có một đứa tớ gái nói rằng: "việc này nếu có Nhâm Vu ở nhà tính liệu mới yên". Chánh đội Dương Quang Thảo xét được thiệt trạng, mật báo với quan Phủ Hải Tây. Quan Phủ sai Phủ úy là Sa Mộc Tinh nã được tên Mao đem nạp. Tướng quân Trương Minh Giảng liền mật sớ xin đem Ngọc Bợn trị tội; còn Ngọc Vân, Ngọc Thu,
 
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #121 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 10:57:02 pm »

Ngọc Nguyên cũng nên chọn nơi cho ở. Khi làm án dâng lên, Ngọc Bợn, tên Mao và đảng nó là tên Tiền, tên Ô đều chiếu theo luật mưu phản xử quyết; Nhâm Vu và vợ con ở Trấn Tây Hải để giam cấm, bọn Ngọc Vân phải dời qua ở Gia Định, mỗi năm cấp tiền gạo; tên Dương Quan Thảo thám báo đắc thiệt, thưởng hàm Phó quản cơ.

Lại đánh thuế mỏ vàng Bản Lỗ và Yết Ong ở Hưng Hóa; lại phái thuộc khai mỏ vàng Gia Nguyên, tiền cố công y theo lệ mỏ Tiên Kiều ở Tuyên Quang.

Cấp cho tấn Đà Nẵng ở Quảng Nam 10 chiếc tàu trận (5 chiếc lớn, 5 chiếc vừa, đồ dùng trong tàu và khí giới đủ cả) giao cho Lãnh binh canh giữ thành An Hải và thành Điện Hải là Lương Văn Liễu nhận giữ, phòng khi sai phái. Vì Ngài nghe Anh Cát Lợi gây với Tàu, nước ta là tiếp giới, nên phải dự bị chỗ Hải Phòng cho vững.

Đặt tên 3 chiếc tàu máy hơi; chiếc lớn gọi là Yên Phi, chiếc vừa là Vân Phi, chiếc nhỏ là Vũ Phi. Xây Hải Phòng pháo đài ở tỉnh Quảng Nam, cấp đèn hiệu cho thành Trấn Hải.
Cấp đồ binh trượng cho năm dinh quân ở thành Trấn Tây.

Cấp lương bổng cho lính Thổ ở Trấn Tây, kể từ ngày 1 tháng 8 làm đầu. Xây pháo đài Hổ Cơ và đắp đồn Thi Nại ở Bình Định.
Lại đánh thuế mỏ vàng tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng.

Tháng 8, quan tỉnh Ninh Bình tâu: "phủ An Khánh có xã Bồng Hải, đinh số hơn 900 người, điền thổ hơn 0.000 mẫu, công điền phần nhiều bị kẻ cường hào cho thuế mưu lợi, thường sanh tranh kiện, đến nỗi ngạch thuế để thiếu. Vậy xin chia làm 9 xã, đặt tên là tổng Bồng Hải". Ngài cho.

Quan Khâm sứ thành Trấn Tây là Lê Văn Đức hội đồng với Tướng quân, Tham tán tâu rằng: "những sông, ngòi, đập, bãi trong hạt nầy, chỗ nào mà Quận chúa và Thổ mục đã mua rồi, nên trách cứ bọn Thổ quan truy thâu tiền thuế nạp vào kho; chỗ nào chưa bán, xin chiếu giá năm ngoái mà bán. Đậu khấu thời sức Thổ và người Xiêm. Thuế thổ không mấy, nếu cho Thổ mục chiếu thâu chưa chắc thiệt cả, chờ cho thành mẫu sào, định thuế khóa, kể từ sang năm khởi trưng". Ngài cho.

Lính Thổ và dân Thổ ở Trấn Tây nổi lên làm phản. Từ khi Ngọc Bợn bị giết, lại nghe bọn Trà Long, Nhâm Vu cũng mắc tội, Thổ dân và Thổ binh càng đem oán vọng, đều nổi lên làm phản, những người Thổ mục và Lưu quan bị hại nhiều. Giảng nghe báo, thương đồng với Lê Văn Đức chạy giấy về tâu.

Cho Tham tán Dương Văn Phong thăng thự qua An Hà Tổng đốc, Khâm sai Lê Văn Đức kiêm Tham tán, Doãn Uẩn sung chức Bang tá, hội với Trương Minh Giảng lo việc đánh giặc.

Cho Thống chế Bùi Công Huyên đốc Long Tường.

Tháng 9, phủ Tĩnh Biên tỉnh Hà Tiên ció bọn Thổ mục là Kỳ La, Việt Tốt theo bọn giặc Thổ ở Thượng Phong np63o loạnm quan Tri phủ bỏ chạy, chúng nó lại đánh hãm đồn Châu Nham, ngày càng thêm loạn, quân binh nhiều kẻ bị hại.

Tháng 10, cho quan Tả quân Chưởng phủ Phạm Văn Điển sung Trấn Tây kinh lược đại thần, Thống chế Nguyễn Tấn Lâm sung Tham tán đại thần.

Tháng 11, Trương Minh Giảng, Bùi Công Huyên, Lê Văn Đức đem đại đội binh thuyền qua Hải Đông đánh giặc; vừa đến bờ bên tả Hồ Hải, tiếp giáp phủ Hải Tây, nghe phi báo rằng: "quân Xiêm La chừng hơn 6.000 người chia đạo quân khuấy rối phủ hạt, vậy xin thêm binh ứng tiếp". Các quan quân thứ là bọn Doãn Uẩn, Cao Hữu Dực tâu rằng: "Hải Đông, Hải Tây đều là chỗ khẩn yếu, chúng tôi đã phi tư Kinh lược Phạm Văn Điển, Tham tán Nguyễn Tấn Lâm lập tức đến hai hạt ấy hội tiễu".

Ngài lâm triều dạy Thị thần rằng: "Vua Minh Thái Tổ tánh nghiêm minh, hay giết người, khi bà Mẫu hậu đau mà mất, vua Thái Tổ thương xót không nguôik, giết hết bọn thầy thuốc; đến ngày tống táng, gặp trời mưa giông, không táng được, vua Thái Tổ đòi bọn thầy tu giỏi tụng kinh cầu tạnh, mà đã sẵn lòng muốn giết thầy tu; thầy tu tụng câu kệ rằng: "Võ thấp thiên thùy lụy, lôi minh địa cứ ai, thập phương chư Bồ Tát, tương tống Mã Như Lai" nghĩa là: mưa đổ trời xa lụy, sấm vang đất cử ai, mười
 
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #122 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 10:57:50 pm »

phương phận Bồ Tát, đưa đám Mã Như Lai. Ông Thái Tổ nghe, không nỡ giết bọn thầy tu; may mà trời tạnh, đòi thầy tu muốn ban thưởng, thời thầy tu sợ đã trốn đi hết. Lại lúc trước Thái Tổ mới khởi binh, vào chơi một chùa kia, thầy tu già hỏi tên họ Ngài. Ngài đề bài thơ trên vách rằng: "Sát tận Giang Nam bách vạn binh, thủ trung bửu kiếm huyết gio tinh, Lão tăng bất thức anh hùng hán, thượng cảm ngao ngao vấn tánh danh". nghĩa là: giết hết Giang Nam trăm vạn binh, trong tay gươm báo huyết còn tanh, sư già chẳng biết người Anh kiệt, còn dám nghêu ngao hỏi tánh danh. Sau ông Thái Tổ lên ngôi, đòi thầy tu già muốn giết, thời đã chết rồi; nhơn hỏi bọn tăng chúng rằng: "thơ ta đề trên vách cớ sao không còn? - Thưa rằng: thầy tu già đã rửa đi rồi, chỉ để một câu kệ rằng: "Ngự bút đề thi bất cảm lưu, lưu lai duy khủng quỷ thần sầu, cố tương pháp thủy khinh khinh tẩy, thượng hữu Long Quang xạ Đẩu Ngưu" nghĩa là: Ngự bút đề thơ chẳng dám lưu, lưu thời chỉ sợ quỷ thần sầu, vậy đem nước phép hơi hơi rửa, còn khí Long Quang gọi Đẩu Ngưu". Thái Tổ rằng: "chưa biết thiệt khôn, nhưng ta mới hỏi đến mà tăng chúng ứng khẩu đọc thành bài kệ được thời tha tội cho". Thái Tổ lại nghe họ Trịnh người Phố Giang đã mấy đời ở chung, phép nhà rất nghiêm, đòi đến ban khen, rồi cho về. Bà Mã hậu nói rằng: "nhà ấy ở chung hơn 2.000 người, không hề trái nhau chút gì, thiệt là hòa thuận; nhưng nếu âm mưu làm điều tiếm nghịch, há chẳng dễ lắm à?". Ông Thái Tổ gật đầu, lại cho đòi họ Trịnh đến ngay, hỏi: "cớ sao mà ở chung với nhau được lâu vậy?" - Trịnh thưa rằng: "dân mọn nầy trị nhà, không chước gì lạ, chỉ không nghe lời đàn bàn mà thôi" - Thái Tổ cười rằng: "phải đó", lại cho về.

Khiến quan Tả đô ngự sử Nguyễn Công Trứ sung chức Tán lý quân vụ thành Trấn Tây, hiệp đồng với Phạm Văn Điển, Nguyễn Tấn Lâm đem binh đánh giặc. Bởi vì CôngTrứ nghĩ rằng: giặc Thổ nổi lên, đánh dẹp nhiều ngã, nên lại xin đi.

Tướng giặc tỉnh Hà Tiên là tên Chân Triết sai đảng nó là tên Thúy Sanh, Ngọc Thâm kéo hơn 2.000 quân tự núi Thất Sơn tới phá huyện Kiên Giang, quan huyện và dân Hán đều sợ chạy, giặc liền đắp đồn ở hai bên bờ Giá Đà như thành ngăn lấp cửa cảng, lại quần tụ ở các sơn phận Xuy Tôn và Ba Xuy (đều thuộc về huyện Hà Dương, tiếp giáp huyện Kiên Giang) để khuấy rối dân.

Tháng 12, quyền Tuần phủ Hà Tiên Lê Quang Huyên tâu: "Người mậ thám lượm được cái thơ mọi dịch ra chữ Hán rằng: quan Tướng quân muốn cưới Quận chúa làm vợ, bọn nó không bằng lòng; quan Tướng quân lại dùng tên Dương Quang Thảo làm người tai mắt, Triều đình xa cách, lâu nay bị quan Tướng quân ức chế; vả lại những phái viên đi đạc điền làm nhiều điều tình lệ, như việc mua vàng của dân đánh tiếng đệ nạp về Bộ". Ngài dụ: "như việc mua vàng thời Lê Quang Huyên nguyên ở An Giang biệt hạt, chẳng kiêng sợ gì; cho phép Huyên tra cứu cho ra, người nào có tình lệ ấy, nghiêm tham trị tội".

Nguyễn Công Trứ dâng sớ tâu: "tự khi chúng tôi tới Nam Kỳ, hỏi kỹ tình trạng giặc Thổ, so với sự thế đảng giặc Nồng Văn Vân, thời việc dẹp yên giặc Thổ nầy e hơi khó mà chậm; bởi vì ngày trước theo giặc Vân chỉ có một xứ Bảo Lạc, còn các Thổ mục đều theo quan binh; nay giặc Thổ dậy khắp nơi, trong chỗ hoang mãng, trông bốn mặt đều là tre gai rậm rạp, nước sâu bùn lầy, không phải như cây lớn núi cao, có thể đốn phá tìm đàng đi băng được. Bây giờ từ An Giang đến Trấn Tây, từ An Giang đến Hà Tiên, quân giặc đóng đồn cả; quân ta vận lương hướng về đệ công văn thường gặp giặc ra đón bắn; bốn bên thành Trấn Tây quân giặc ngày thường reo la vây đánh; chỗ này chỗ khác, giặc tụ hội như muỗi kêu. Lại nghe tướng Xiêm là Phi Nhã Chất Tri cầu hòa với phủ Hải Tây và Chất Tri khiến đảng nó là tên nghịch Huống, nghịch Hiên đi các phủ Thổ dân lập đồn bảo, đánh tiếng sẽ lập Nặc Ông Run. Vả chăng người Xiêm quen thói xảo trá, hoặc giả hòa để mưu hoãn binh, mà tùng trung xui dục dân Thổ; dân Thổ bị phỉnh lừa, đem nhau theo Xiêm, không thể phá đảng no được; huống chi đàng đem lương từ Trấn Tây đến chỗ quân thứ, một lần đi đến 8 ngày đàng, mà chỉ đủ ăn một tháng, nếu chở lương giữa đàng gặp sự trở ngại, e sinh điều nguy hiểm lớn. Chúng tôi trộm nghĩ trước phải đánh được giặc Xiêm, rồi giặc Thổ mới dần dần dẹp được. Chúng tôi lại xin giải tên Yêm và thuộc nó là tên Giao tới Gia Định, sẽ khiến tên Giao và 3 người cậu Ngọc Vân về báo Thổ Mục, Thổ dân, khiến phải thuận theo Triều đình; và xin tha những tù phạm bị tội quân trong các địa phương giải tới Nam Kỳ để chực sai phái, khi nào sự bình sẽ tùy chỗ cho chúng nó ở, lập thành đồn ấp,lúc yên thời làm ruộng, lúc động thời làm binh, khéo dùng chúng nó, tưởng cũng được việc". Ngài dụ: "tên Yêm tội không tha được, cứ giam cấm không cho đi, còn tù phạm quân lưu các hạt, cho đi tùng quân, hoặc có thể lập công chuộc tội được".
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #123 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 10:59:24 pm »

Đề đốc Hải Tây Võ Đức Trung, Tuyên phủ Nguyễn Song Thành, Lãnh binh Tôn Thất Quỳ, Ban tá phủ vụ, Quản cơ Triệu Văn Bửu, có tội bị cách. Bởi vì khi trước tướng Xiêm là Phi Nhã Chất Tri đem binh vài vạn tới xâm đồn Hải Tây; ngoài đồn cách sông hai dặm, giặc lập đồn vây bốn mặt, ở đàng trước đặt trạm Ca Nâu và vũng Đại Song, đàng thủy đàng bộ giặc đều đóng binh đóng đàng viện binh ta; bọn Đức Trung đã ra đánh vài lần, nhưng liệu bên mình ít bên giặc nhiều không địch nổi, rồi đóng cửa thành giữ vững. Có một bữa, giặc treo thơ ngoài đồn nói rằng: muốn giảng hòa; bọn Đức Trung nói; rằng: "việc ấy chúng tôi không dám tự chuyên; sẽ đợi báo quan Thủ hiếu chỉ thị". Giặc thêm bốn đồn gần thành, đắp một cái núi rất cao, châu súng đại bác bắn vào thành, đạn như lửa cháy, nhà cửa trong đồn bị cháy nhiều, quân lính cũng nhiều kẻ bị thương chết, phải đào hầm tránh đạn; giặc lại thả tên hương binh bị bắt vào đồn mình hẹn rằng: "mai các quan ra giáp mặt nói chuyện, thời mới thôi đánh". Bọn Đức Trung bàn nhau rằng: "việc ngặt lắm rồi, hãy chịu hòa để toàn mạng quân sĩ trong một đồn". Liền khiến Tôn Thất Quỳ ra trước. Chất đã lập sẵn sở Công quán ở bên đồn. Đức Trung và Song Thành đến, cúi đầu lạy, Chất Tri đứng dậy không chịu, mời ngồi nói chuyện. Chất Tri rằng: "Quý quốc chúng tôi vốn là lân hiếu; xưa đức Thế tổ Cao Hoàng đế qua nước tôi, đã từng giao ước với vua tôi "hai nước giúp nhau lâu dài", có chữ vàng để lại làm ghi, nước tôi chưa từng quên lời trái ước; chỉ có năm trước tôi vì cớ nước Vạn Tượng, rồi lại nghe lầm tờ thơ tên nghịch Khôi, vậy mới thành ra hấn khích; nay nếu hòa như xưa, khiến Chân Lạp làm tôi thờ cả hai nước, ta đều nghỉ việc binh cách, há chẳng phải là vui vẻ ích lợi chung sao?". Đức Trung xin vâng. Từ đó thường qua lại với Chất Tri, nó cũng không phòng giữ chi nữa; bọn Đức Trung cáo về Trấn Tây để báo quan Thủ hiến. Khi ấy Song Thanh bị đau. Chất Tri sai sửa sang thuyền bè súng ống, phái 400 lính Xiêm hộ tống Song Thanh và 600 binh ta, 300 dân Hán ở quanh thành, đều đi đàng thủy đến bến đò Sá Tân; còn Đức Trung, và Quỳ, Bửu đem hơn 1.200 quân và đồ binh tượng đi đàng bộ, Chất Tri cũng phái quan Ba Lặc (1) đem 1.000 quân, 30 voi, hộ tống đến vũng Xà Năng. Khi Đức Trung ra đik, Chất Tri gởi quốc thơ nước Xiêm nhờ đem về dâng lên đức Hoàng thượng ta, lại đem một ít vàng tặng hảo bọn Đức Trung mỗi người một hột, dặn rằng: "lời giao ước nên vững bền như vàng nầy mới phải". Bọn Đức Trung nhận lấy rồi trở về. Tướng quân Trương Minh Giảng và Tham tán Lê Văn Đức đem hai đạo quân tự Xĩ Cảng chuyển qua Hồ Hải, đến bến đò Bông Lông, phá những cây ngăn bờ sông cho quân qua đò lên bộ; đi mới độ nửa giờ, trông xa thấy quân tiền đạo giặc chạy ngựa la to rằng: "xin quan binh chớ đánh, bọn ông Võ Đức Trung đã hòa với quân Xiêm tôi rồi, tướng Xiêm tôi sai quân hộ tống mấy ông ấy về, đã gần tới đây". Bọn Minh Giảng chưa lấy làm tin, cứ đánh trống thúc quân thẳng tới, quân tiền đạo Xiêm lui chạy. Một hồi lâu quả thấy một người binh Hán chạy tới trước quân nói rằng: "quan Ba Lặc nước Xiêm nghe có quan binh tới, còn cầm đạo binh bọn Đức Trung ở đồn Ca Âu, xin quan Tướng quân và quan Tham tán hãy tạm lui cho toán quân bọn Đức Trung được trở về toàn vẹn". Bọn Minh Giảng nhìn nhau lấy làm lạ quá; vì việc tới thình lình, nếu mình vội đánh ngay, thời tánh mạng hơn 1.000 người của đạo quân Đức Trung chưa ra thoát khỏi trong vòng giặc. Khi ấy Minh Giảng tới khó mà lui cũng khó, nhân trời đã tối rồi, bất đắc dĩ lui quân đóng tại bến đò. Ngày mai, bọn Đức Trung đến nói hết tình trạng, bọn Minh Giảng chạy giấy về tâu và nói: "Chất Tri là Đại tướng Xiêm, nhơn giặc Mọi cầu cứu mà tới, quân nó đông như vậy, đồn nó vững như vậy, bức vây thành phủ, rồi lại cầu hòa, đưa quan quân mình trở về, tiền lương súng ống chẳng xâm phạm chút gì, ý chúng nó giả làm cách thể hiện để choán nước trên, chớ không phải là thế yếu mà cầu hòa đâu; huống chi xét những lời tham báo đều nói: thấy nó âm mưu biểu dân Thổ lập tên Nặc Ông Run làm vua Chân Lạp; lời báo tuy chưa chắc, song coi nó đều xảo quyệt, cũng đáng ngờ. Nhưng nay hai đạo binh mình không đầy 4.000 mà hơn 1.000 binh Đức Trung từ Hải Tây mới kéo về đã khốn đốn; nếu tấn quân ngay, thời tự Bông Lông đến thành phủ hơn 2 ngày đàng, quanh rừng đều là giặc cả, binh ta chỉ đem lương ăn chỉ đủ 3,4 ngày; còn giặc thời giữ đồn chống cự, nó thời khỏe, mình thời mệt, chưa để đánh phá ngay được; nếu chậm lại mười ngày, thời binh mình không đủ lương ăn, e nhiều điều không tiện. Chúng tôi trót đã sai người tới chỗ Chất Tri xét quả nó thiệt cầu hòa hay không và thám tình hình giặc mạnh yếu thế nào, sẽ dần dần tấn quân, tùy cơ đánh dẹp. Vả lại đảng giặc ở Sa Tôn, nay đã trốn xa, mà quân mình đã phái giữ Hải Đông, lại phái qua Sa Tôn, e phiền phí lắm, xin triệt quân ở Sa Tôn về Hải Đông, đặng phòng giữ cho tiện". Sớ dâng vào, Ngài truyền dụ Kinh lược Phạm Văn Điển và Tướng quân Trương Minh Giảng rằng: "nước Xiêm với ta xưa nay vốn tình lân hiếu, thủy chung quyết không phụ ước, mà nước Xiêm làm nhiều điều bất nghĩa, lắm

----------------
(1) Ba Lặc là chức quan nước Xiêm.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #124 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 11:02:11 pm »

phen giúp kẻ bạn nghịch, trái lời thề xưa; nay đã muốn hòa, phải triệt binh lui về Bắc Tầm Bôn, nước nào giữ bờ cõi nước ấy, thời hòa nghị mới thành, chúng tôi mới dám tâu lên đức Hoàng thượng; nếu không đành vậy, thời nên đánh nhau một trận để quyết được hơn thua. Các ngươi phải sai người đưa thơ ấy xem nó xử trí làm sao, và nhứt diện sửa sang binh ngũ, dự bị việc đánh nhau. Còn Võ Đức Trung và Nguyễn Song Thành phải cách chức đi tiền quân hiệu lực". Bọn Minh Giảng làm thơ đưa tới, Chất Tri liền dẫn binh về Bắc Tầm Bôn.

Ngày Ất Hợi, Ngài se; ngày Giáp Thân bệnh nặng, Ngài đòi Trương Đăng Quế lãnh tờ di chiếu rước Hoàng trưởng tử là Ngài Trường Khánh Công nối ngôi; ngày ấy đứcThánh tổ băng!

Lời sử thần kính bàn. Đức Thánh tổ ta thiên tư là bậc thượng thánh, nối nghiệp lúc thiên hạ đại định rồi, chăm lo chánh trị, sửa sang thái bình, xét điển xưa, sửa lễ nhạc, cẩn thận đồ cân lượng, xét kỹ các pháp độ, đặt khoa thi để lựa kẻ sĩ, cày tịch điền để khuyên việc nông, thường tuần hành để xem địa phương, năng khảo sát để xét quan lại, chăm việc võ thời mùa xuân duyệt binh, cẩn việc hình thời mùa thu thẩm án, quy mô kỹ càng, phẩm tiết đều đủ. Đến như ức quyền những người cấm cận, nghiêm răn các bọn hoạn quan, không cho Hoàng thân quốc thích tự dự việc chánh sự, ý chăm lo việc thường như một ngày; những giấy tờ phê phó dụ chỉ chế cáo ban ra, đều là Ngự chế thức mới; văn giáo khắp cả dân Mường dân Thổ, Võ oai vang đến nước Xiêm, nước Lào; thánh đức thần công không thể hình trạng hết được! Vả lại lúc vạn cơ thong thả, lưu ý về việc văn chương; ngự chế 5 tập thơ, 2 tập văn và các bài Thiên cơ dự triều, Cổ khí minh văn, đều là phát minh đạo mầu, mở rộng phép học. Ngài thiệt là bậc Đại thánh chế tác khác xa tầm thường, đổi hết những thói quê mùa từ Lê, Lý trở về trước, mở lối trị văn minh ngàn muôn đời cho nước Đại Nam ta. Tốt thay! Thạnh thay!
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #125 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 11:05:49 pm »

QUỐC TRIỀU CHÍNH BIÊN TOÁT YẾU

Quyển thứ IV 
-----------------------

Đức  Hiến  Tổ  Chương  Hoàng  Đế

Niên hiệu Thiệu Trị

Tên húy Ngài là:
1. Bên tả chữ, bên hữu chữ.
2. Trên chữ, dưới chữ.
3. Trên chữ, dưới chữ mà trên có chữ làm chữ lót.

Ngài là con trưởng đức Thánh Tổ Nhơn Hoàng Đế. Bà Thuận Đức Nhơn Hoàng Hậu họ Hồ sanh Ngài trong năm Đinh Mão, tại ấp Xuân Lộc về phía đông Kinh thành (sau ấp ấy lập chùa Diệu Đế). Ngài sanhh được 13 ngày thời Đức Mẫu Hậu băng! Đức Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu nuôi Ngài tại trong cung. Năm đầu triều Minh Mạng, mới ra học đàng sách. Đến năm thứ XI, Ngài được phong tước Trường Khánh Công.

Ngài thông minh nhơn hiếu, Đức Thánh Tổ yêu mến khác thường. Mỗi khi tế Nam Giao, Đức Thánh Tổ đều đem Ngài mật cáo Trời xin sau truyền ngôi cho Ngài. Coi vậy thời lựa người nối ngôi để yên xã tắc, Đức Thánh Tổ đã định trước rồi.

Năm thứ XXI triều Minh Mạng (1840), tháng 12, Đức Thánh Tổ se, đòi Ngài vào chầu. Ngày 28
Đức Thánh Tổ đòi Ngài đến trước sạp ngự cầm tay Ngài truyền lời ngọc dũ khiến Ngài nối ngôi. Ngày ấy
Đức Thánh Tổ thăng hà. Ngài bèn lên ngôi. Trị vì 7 năm; hưởng thọ 41 tuổi. Lăng Ngài là Xương Lăng.

Năm Tân Sửu hiệu Thiệu Trị thứ I (1841), tháng giêng, ngày Bính Ngọ, Ngài lên ngôi Hoàng Đế
tại điện Thái Hòa, gia ân đại xá; đổi niên hiệu; lấy năm ấy làm năm Thiệu Trị thứ I.

Ngài đã coi việc chánh trị, mỗi ngày buổi mai buổi chiều mặc đồ trắng ngự đền Văn Minh, đòi các quan bàn việc chánh. Các thân công vào chầu, Ngài đều cho ngồi ban trà; đại thần như Trương Đăng Quế, Võ Xuân Cẩn, Tạ Quang Cự, Ngài đều kêu chức quan mà không kêu tên.

Cho Hiệp tá đại học sĩ Trương Đăng Quế thăng thự Văn minh điện đại học sĩ, gia hàm Thái bảo, nhưng lãnh Binh bộ thượng thơ, sung Cơ Mật viện viện đại thần; cho Thị lang bộ Binh là Trương Minh Giảng khai phục hàm Hiệp tá đại học sĩ, nhưng lãnh chức Trấn Tây tướng quân; cho quyền Tổng đốc An Hà (1) là Dương Văn Phong khai phục hàm Thị lang bộ Binh nhưng lãnh chức An Hà Tổng đốc; cho Tả tham tri bộ Binh là Lê Văn Đức thăng Thượng thơ bộ Binh, nhưng lãnh chức Trấn tây Tham tán.

Tướng quân Trương Minh Giảng, Tham tán Lê Văn Đức dâng sớ tâu: "Khi trước đầu mục nước Xiêm (Siam) là Phi Nhã Chất Tri đưa thơ xin hòa; Thành thần và Trần  thần đã phúc thơ hối nó trước phải lui quân, để xem tình hình thiệt hay dối. Thơ ấy giao cho Viên ngoại Lê Quốc Hương đưa qua, Chất Tri tiếp rước rất vui vẻ, nó đưa thơ đại ý nói rằng: Hòa thời quân dân hai nước đều được hưởng phước. Nó đều triệt quân về Bắc Tâm Bôn (Battembang) rồi". Ngài nghĩ rằng nó đã biết lý khuất xin cầu hòa,

--------------------
(1) An Hà: An Giang và Hà Tiên.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #126 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 11:10:02 pm »

thời ta cũng nên đừng đánh nữa, khiến nó tâm phục là hơn. Mới sai Tướng quân và Tham tán làm thơ trả lời cho Chất Tri.

Nghĩ thưởng công đánh giặc tại xứ Hà Âm. Nguyên khi trước giặc tụ ở xứ Lẹt Đẹt (thuộc về Hà Tiên). Tổng đốc Long Tường là Dương Văn Phong sai Cẩm phó vệ úy Hoàng Văn Quý chia đạo tới đáng, phá luôn 4 đồn, thừa thắng qua đánh Cần Sư. Dương Văn Phong lại tới đánh các núi thuộc về Hà Dương. Vừa gặp Thự tuần phủ tỉnh Hà Tiên là Lê Quang Huyên từ Giang Thành đem quân tới, liền chia đạo đánh những đảng giặc tại Hà Âm, giết và bắt sống nhiều lắm. Rồi Phong ở lại đánh giặc xứ Tĩnh Biên, còn Huyên trở về Giang Thành. Được ít lâu, giặc lại lén về Hà Âm lập đồn tại thành Cổ Man hiệp sức chống cự, quân nó đến vài ngàn tên, thế cũng hung dữ; Phong liền đem Thự lãnh binh Nguyễn Duy Tráng dọn dẹp mấy chỗ đàng tắt hiểm yếu trong xứ Hà Âm trước phá nơi sào huyệt giặc, rồi phục binh tại Chân Chiêm và Cổ Thành dụ giặc tới, ba đạo quân mình bọc đánh, giết và bắt sống rất nhiều. Ngài nghe thắng trận luôn luôn, khen lắm, đều cho tùy công gia thưởng. Lại truyền dụ Dương Văn Phong rằng: "Nay ổ giặc tại miền Hà Âm, Hà Dương đã bị quân mình phá tan rồi, các ngươi nên thừa thắng thám nã mấy tên tướng giặc và chiêu yên chúng dân". Rồi thời giặc lại tụ nhau ăn cướp phía thượng du xứ Châu Đốc, Phong nhơn lúc ban đêm thình lình tới đánh, phá tan quân giặc.

Sai Tổng đốc Định Biên là Nguyễn Văn Trọng, thự Bố chánh Định Tường là Trương Văn Uyển và Phó lãnh binh Tạ Văn Linh hội đánh giặc Thổ tại Nam Ninh, Nam Thái. Nguyên khi trước dân Thổ xứ Trấn Tây không yên, Ngài đã sai Nguyễn Văn Trọng tới đó hội xử việc ấy. Rồi lại đòi Trọng về, khi ở Tây Ninh, khi ở Nam Ninh qua lại dẹp giặc trong 2 xứ ấy. Lúc ấy có tên tướng giặc Đinh Tuân tự xưng Thiên thượng tướng, nhóm những quân Mọi và quân Chàm hơn 700 tên tới vây đồn phủ Tây Ninh; Quyền tri phủ Phan Khắc Thận bắn chết tên Tuân, giặc đều tan hết. Việc ấy tâu lên, Ngài ban thưởng Phan Khắc Thận một cấp quân công và một đồng tiền vàng nhỏ. Nguyễn Văn Trọng đem quân tới Nam Ninh hiệp với quân tỉnh Định Tường chia đạo đánh giặc. Rồi Trọng nghĩ rằng: dân Thổ đều theo giặc, mà rừng rú mênh mông, không thể đuổi cho cùng được; mới tư qua Trấn Tây xin phái quân từ đồn Lư Yên kéo xuống hiệp với quân mình hai mặt đánh lại. Ngài nghe việc ấy; ban quở.

Thự Tuần phủ Hà Tiên là Lê Quang Huyên đánh phá giặc tại xứ Tre Dừa (thuộc tỉnh Hà Tiên), Ngài nghe báo tiệp, ban thưởng bọn Quang Huyên mỗi người một thứ quân công kỷ lục.

Thưởng các binh dõng đánh giặc tại Gia Định, Định Tường, An Giang, Hà Tiên, Trấn Tây, mỗi tên một tháng lương tiền.

Bộ Hình làm sách kê những tù phạm bị án tù tội quân lưu trở xuống, tên nào nên lưu giam, tên nào nên tha, chia hạng tâu lên. Ngài dụ rằng: "Ta mới lên ngôi, đầu ban ơn điển, không phải như ơn tầm thường, vốn nên nhứt luật giảm tha; nhưng trong xứ Trấn Tây giặc Thổ chưa yên, mà những tên tù phạm khi trước can án phát quân, hiện đương sai phái ở đó, phải đợi khi giặc yên rồi sẽ nghĩ. Lại như con cháu nhà Lê trước đã cho tháp vào các tỉnh Quảng Nam trở vô, cấp cho tiền của ruộng đất làm ăn. Ấy là đức Tiên đế thương con cháu đời trước, vậy nên cho ở chỗ vui để cho phân biệt. Nay chúng nó đã yên lòng làm ăn, nỡ nào lại dời đổi chỗ khác. Với lại người xã Sơn Âm, người Cao Man, người Thổ bị tù và mấy tên tù phạm đày tại cù lao Thảo Dự, nếu tha hết thảy e chúng nó lại làm hại dân. Bộ Hình tâu xin những loại ấy đều cứ để vậy, ta xét cũng đã phải rồi. Còn mấy tên thân thuộc Lê Chất, Lê Văn Duyệt bị tội can lien, đày tại các biên tỉnh, ta nghĩ rằng ông và cha chúng nó đều đã chịu tội, phép nước cũng đã rõ ràng; huống chi chúng nó trẻ dại biết gì, vậy cho gia ân lập tức tha tội. Đến như cơ Định Man ở Quảng Trị, đội Ninh Biên ở Hưng Hóa và những đứa có tội cho tháp từ Quảng Nam đến Bình Thuận, bộ tâu xin cứ để như cũ, nhưng ta xét những đứa có tội linh tinh cho ở các nơi khác và cho đi đồn điền trong các tỉnh, cũng hãy còn nhiều, không những mấy tỉnh nói đó mà thôi; huống chi tội phát binh nhẹ hơn tội quân lưu, nếu mấy đứa bị tội quân lưu được tha mà mấy đứa bị tội phát binh phải ở lại, thời sao cho tỏ lòng ta thương người như một? Vậy nên ta định thế nầy: trừ những tên đã tháp vào xã, thôn nào mà đã thành ngạch lính, ngạch dân; và những tên binh ngụ xuất thân, sau bị can án phải lui về ngạch lính, thời cứ để y như cũ; còn những tên khác thời không kể nguyên là quan hay là dân mà bị tội, đều cho về quê quán chịu xâu thuế; tựu trung tên nào đã thành gia sản tình nguyện ở lại, thời cũng cho tháp vào ngạch dân làng sở tại đó; tên nào chịu đi lính, thời mỗi tháng chiếu lệ cấp phát lương tiền và một lần quần áo; còn tên nào nguyên trước làm quan bị tội, mà xét tội ấy không phải là tội lâm tang, mà tuổi trẻ, sức
 
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #127 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 11:13:17 pm »

mạnh, có thể làm việc được, thời cho phép các quan địa phương ở chánh quán tâu lên, ta sẽ tùy tài dùng lại để tỏ lòng ta châm chước cân lường cho đặng công bằng đích đáng".

Tháng 2, cho quan Tham tri gia hàm Thượng thơ hưu trí là Nguyễn Đăng Tuân thăng hàm Lễ bộ thượng thơ. Tuân mới nghe đức Tiên đế thăng hà, liền từ Quảng Bình vào chầu tang; rồi bài ban đứng lạy với các quan. Ngài đòi cho vào, phủ ủy hỏi chuyện hồi lâu, lại ban dụ rằng: "Tiên sanh mình ở nhà quê, lòng nhớ đế khuyết, ta khen lắm". Vậy nên có chỉ thăng. Đặng Tuân tâu lên già yếu xin về, Ngài lại ban thêm vàng lụa cho về hưu trí. Đăng Tuân dâng bài biểu tạ ơn. Trong bài biểu ấy có mấy câu rằng: "Tôi xét mình tôi, không công mà được thăng quan, có bệnh mà được hưu trí. Sống thừa được vậy, cũng đã thỏa rồi!  Chỉ trông Thánh hoàng rộng một điều hiếu để dạy dân, sáng chín đạo thường (1) mà trị nước; siêng năng, tằn tiện, khoan thứ, nhơn từ; để cho thiên hạ thần dân đều đội thái bình hạnh phước". Ngài truyền Nội các rằng: "Xưa đời Hán có hai chú cháu họ Sở (2) khi đã từ chức rồi, không nghe lại tới Kinh đô nữa, cũng không thấy lời nói gì hay chép để trong sử. Nay Nguyễn tiên sanh chống gậy vào chầu tang, thiệt là trong lòng cảm khích; lại nhơn dâng biểu tạ bày lời khuyên can, lòng trung thành lại càng chí thiết lắm. Coi vậy thời hai người họ Sơ xưa, e còn thua xa".

Truyền các quan địa phương tiến cử những người hiền lành, ngay thẳng, dám nói, dám can.

Khoa đạo Lưu Quy, Ngô Bỉnh Đức dâng sớ tâu 10 việc: 1) can điều ham chuộng. 2) suy lòng thành tín; 3) xét trị thể; 4) tin dùng người; 5) thương chúng dân; 6) cẩn tiền của; 7) đừng chuộng vật lạ; Cool hình phát công bằng; 9) tỏ điều giáo hóa; 10) cho phép nói can. Ngài ban thưởng mỗi người một bó lụa.

Trương Minh Giảng, Lê Văn Đức đem quân về Trấn Tây. Nguyên khi trước Giảng ở Hải Tây nghĩ rằng việc đánh giặc đã gần như thế, mới để Tôn Thất Quỳ ở lại giữ đó, mà mình lui quân về Hải Đông, đắp lũy đất và núi đất, chia đạo bắt giặc, giặc đều trốn vào rừng. Bây giờ Giảng nghe phía sau thành Trấn Tây giặc lại khuấy rối, mới khiến Đoàn Văn Sách ở lại giữ đồn Sa Tôn, Giảng đem quân về bổn hạt. Quân giặc đóng đồn chỗ này, tụ đảng chỗ kia, quan lại ngạnh trở; Giảng và Nguyễn Tấn Lâm, Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ, đem 5.000 quân chia làm 4 đạo tới đánh, trước phá lũy Thuyết Nội, lại đi xuyên sơn kéo tới, giặc bị thương và chết rất nhiều, đều chạy tan cả. Quân mình thừa thắng đuổi bắt, phá hết đồn lũy; nhưng vì lương hướng đem không kịp, rồi phải rút quân về. Ngài nghe việc ấy, thưởng bọn Trương Minh Giảng mỗi người một cấp quân công và tiền vàng.

Ngài sai khoa đạo Đặng Quốc Lang, Mai Khắc Mẫn vào khám việc chia ruộng trong tỉnh Bình Định, Nguyên khi triều Minh Mạng đã có sai quan vào chia ruộng tỉnh ấy, nhưng vì lương hào riêng chiếm, chỗ tốt chỗ xấu không đều, nên dân tranh dành kiện cáo mãi, cứ nói rằng người nhiều, người ít, chỗ rộng, chỗ hẹp không cân, xin chia cấp lại. Bây giờ quan Tổng đốc Bình Định là Đặng Văn Thiêm tâu xin cứ số ruộng một tên dân hiện có đó chia làm 2 phần: 1 phần làm ruộng công, 1 phần làm ruộng tư; nhưng phải sửa hết địa bộ lại. Lại xin Ngài sai hai người Ngự sử giỏi và công bằng tới hội đồng làm việc ấy; Ngài mới sai Lang và Mẫn đi. Hai người đến đó, trích những việc không thiệt hại lắm, dân mới không tranh nhau. Khi hai người về Kinh, Ngài ban khen rằng: khéo làm bớt việc.

Đặt thêm phủ Hòa Thạnh và huyện Tân Thạnh huyện Bình Long trong tỉnh Gia Định. Bởi vì các quan tỉnh ấy nghĩa rằng đất rộng người đông , tâu xin chiếu tùy địa thế đặt thêm, để trị cho tiện. Ngài cho.

Lê Quang Huyên phá tan giặc Thổ tại xứ Kiên Giang. Nguyên khi trước Thổ dân ở Kiên Giang dấy loạn, quân mình đã dẹp yên rồi. Có hai tên giặc trốn là tên Xuy và tên Súc (2 tên ấy trước làm An phủ sứ) lại kết đảng lập đồn mưu toan sanh sự. Bây giờ quân mình tới đánh phá tan sào huyệt, đốt hết đồn bảo, đánh ba trận được luôn. Quân giặc tới thú cả thảy người Thổ, người Hán, người Tàu hơn 700 tên. Ngài truyền sức chúng nó được tùy tiện an nghiệp. Tháng 6 Huyên mất, tặng hàm Tuần phủ.

--------------------
(1)  Chín đạo thường là chữ trong sách Trung Dung. 1. Sửa mình. 2. Thân yêu trong họ. 3.Tôn trọng người hiền. 4. Kính trọng đại thần. 5. Thế tất quần thần. 6. Thương yêu muôn dân. 7. Khuyên lơn trăm họ. 8. Phủ ủy người phương xa. 9. Bao dung nước chư hầu.
(2) Sở Quảng, Sở Thọ là hai chú cháu làm quan đời Hán, đều cáo về một lần.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #128 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 11:16:23 pm »

Tổng đốc Định Biên là Nguyễn Đăng Trọng, Bố chánh Định Tường là Trương Văn Uyển hội quân đánh giặc Thổ tại huyện Nam Thái, thắng trận luôn. Ngài nghe báo tiệp, chia hạng ban thưởng, rồi sau Ngài nghĩ Trọng đã nhiều tuổi nên cho về Gia Định.

Tha Quận chúa nườc Cao Man là Ngọc Vân và huyện  quân là Ngọc Thu, Ngọc Nguyên về thành Trấn Tây.

Tháng 3, cải chánh tên nước Thủy Xá và nước Hỏa Xá. Hai nước hiệp nhau tiến cống từ đây là đầu. Hai nước ấy là dõng dõi Nam Bàn, Chiêm Thành đời xưa. Năm thứ 2 triều Minh Mạng, nước Thủy Xá mới vào cống, mà thông ngôn dịch lầm là Hỏa Xá. Bây giờ các quan tỉnh Phú Yên tâu rằng: "nước Thủy đã cống hiến nước ta, mà thông ngôn dịch lầm chữ Thủy làm chữ Hỏa, nên vua Thủy Xá là Vĩnh Liệt trong lòng không an, nó xin sửa chữ Hỏa làm chữ Thủy cho đúng. Còn Hỏa Xá lâu nay cũng mến phong hóa Triều đình, nhưng chưa được tới cống, vua nước ấy là Ma Thát cũng muốn chung với Thủy Xá tới cống như xưa". Ngài truyền: Thủy Xá dịch lầm cho sửa lại. Hỏa Xá muốn cống, cũng cho.

Dương Văn Phong thua giặc tại Sóc Trăng. Ngài nghe, liền sai tham tán Lê Văn Đức lập tức coi quân thay cho Phong; vừa gặp Đức đau, ủy Tổng đốc Bùi Công Huyên qua thế. Ngài cho Huyên cứ nguyên chức mà quyền lãnh Tổng đốc An Hà. Rồi sau vì Huyên gặp việc luống cuống, Ngài sai Huyên chỉ chuyên coi việc đánh giặc; lại cho Tham tri bộ Công Nguyên Tri Phương bổ thụ Tuần phủ An Giang, hộ Lý Tổng đốc An Hà, lập tức đi trạm tới lỵ sở. (Dương Văn Phong cách hiệu, rồi bị bệnh mất).

Sắc cho các tỉnh, đạo, phủ, huyện, tổng, xã, thôn, cửa ải, bến tàu, nguồn, tấn, chỗ nào nguyên tên đặt trùng với quốc húy, hoặc chữ viết giống chữ húy đều phải đổi cả. (Như huyện Ba Xuyên đổi làm huyện Cẩm Xuyên, huyện Phù Dung đổi làm huyện Phù Cừ, v.vẦ Chỉ có tỉnh Thanh Hóa là nơi Hoàng Triều phát tích, cho cứ để như cũ).

Cho Tán lý Nguyễn Công Trứ quyền sung Tham tán Đại thần thành Trấn Tây, Tham tán cũ  là Lê Văn Đức đau, cho về Gia Định.

Triệt quân đóng miền thượng du tỉnh  Biên Hòa về. Nguyên khi trước giặc Mọi thường tràn xuống miền thượng du, quan quân đã phá tan hết, cho nên triệt quân về.

Tháng 3 nhuận, nước Xích Mao đánh tỉnh Quảng Đông bên Tàu. Quan tỉnh Quảng Yên đem việc tâu lên, Ngài ban rằng "việc ngoại quốc mà hay thám rõ tâu báo, quan lại giữ chốn biên cương như vậy mới phải".
Giặc Thổ tỉnh Vĩnh Long xâm phủ Lạc Hóa1. Ngài truyền dụ Bùi Công Huyên đem quân tới đánh. Tháng 4, sai Tham tán thành Trấn Tây là Nguyễn Tấn Lâm hội đánh giặc Thổ tại Ba Xuyên, Lạc Hóa.
 
Nguyễn Tri Phương đánh giặc tại Trà Lâm, Sóc Trăng, Tượng Sơn đều thắng trận, giặc tan.

Ngài nghĩ rằng sang năm gặp lễ bang giao với Tàu, Ngài sẽ ngự Bắc tuần; truyền chỉ từ Thừa Thiên tới Hà Nội, từ Hà Nội tới Lạng Sơn, phàm những việc gì thuộc về lễ ấy nên sắp đặt lần lần, phải bàn tâu lên. Rồi lập Hành Cung tại Hà Nội, lập nhà tiếp sứ tại Bắc Ninh và Lạng Sơn; từ Thừa Thiên đến Hà Nội chia khoảng lập 41 sở. Trưa, tối để Ngài trú tất.

Giặc Thổ phủ Lạc Hóa vây đánh đồn Nguyệt Lãng. Bùi  Công Huyên đem quân đánh đuổi. Cách vài ngày Huyên lại đem quân phá luôn 3 sở đồn giặc; vừa gặp Nguyễn Tấn Lâm tới hội tiễu, giặc thua chạy tan.
Đổi 2 phủ Trấn Tĩnh, Lạc Biên cho thuộc về tỉnh Hà Tĩnh2.

Tháng 5, Ngài yết lăng Trường Cơ. Khi về, Ngài ngự chiếc bồng Yêu Nguyệt xem đánh cá tại sông Hương Giang. Bọn phường chài và Thị vệ lén bỏ cá trước vào trong lưới; khi cất lưới lên, cá nhảy


-------------------
1 Lạc Hóa thuộc về Chân Lạp, triều Minh Mạng cải Thổ quan làm Lưu quan.
2 Nguyên 2 phủ ấy thuộc về tỉnh Nghệ An.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #129 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 11:18:39 pm »

lao xao. Ngài biết là dối, dạy các quan theo hầu rằng: "Xưa Hiệu Nhơn nuôi cá vì Tử Sản không thấy, nên mới dối Tử Sản 1; nay phường chày đánh cá, thời ta đã trông thấy mà dám dối ta. Coi một việc cá, mà cũng đủ biết bọn hãnh thần đáng ghét". Ngài nhơn ngự chế bài thơ để ghi việc ấy. Trong bài thơ có câu rằng: "ngư tiều tu trừng, viễn hãnh thần" nghĩa là: việc cá tuy là nhỏ nhen, cũng nên coi đó mà xua đuổi xa đứa hãnh thần.

Tha tên Yêm cho về Trấn Tây.

Mới đặt phủ Điện Biên thuộc về tỉnh Hưng Hóa: đem 3 châu Ninh Biên, Lai Châu, Tuần Giáo thuộc về phủ ấy.

Sắc xuống bộ Hộ phàm các sở đồn điền ở tỉnh Sơn Tây, Định Tường, Khánh Hòa, Biên Hòa, đều giao dân sở tại cày nạp thuế để làm ruộng công; còn những lính đồn điền trước, thời đều triệt về tỉnh.

Có 7 xóm mọi lậu ở Bình Thuận xin theo về ngạch dân nước mình. Ngài truyền cho thuộc về huyện Hòa Đa, biên vào sổ đinh chịu thuế.

Tháng 6, định lệ "thưởng về việc mộ dân lập ấp trong Nam Kỳ". (Mỗi ấp mộ được 5 suất đinh lậu; khai khẩn được 10 mẫu ruộng đất hoang trở lên, thời thưởng 40 quan tiền; mộ được 15 suất đinh lậu, khai khẩn được 150 mẫu ruộng đất hoang trở lên, thời thưởng 60 quan tiền; như khai khẩn hiểu mộ được thêm nữa, thời cứ vậy mà thưởng thêm).

Nguyễn Tấn Lâm đánh lấy lại được huyện Trà Vinh. Nguyên khi trước tướng giặc Lâm Sum giữ lấy huyện ấy, quân mình đánh mãi không được. Bây giờ các đạo quân hẹn nhau hội đánh, giặc bỏ chạy.

Tháng 7, tướng giặc là Quách Công Trấn, Đinh Thế Đức ra thú. Ngài truyền tha cả, bắt dân lãnh về quản thúc.

Cho thượng thơ bộ Lại và Lê Đăng Dinh kiêm lãnh chức Sư bảo dạy Hoàng tử và Hoàng đệ. Lại đòi Thượng thơ bộ Lễ hưu trí là Nguyễn Đăng Tuân ra sung chức Sư bảo. Ngài đòi Trương Đăng Quế, Võ Xuân Cẩn truyền rằng: "Ta giao chức Sư bảo cho Đăng Tuân và Đăng Dinh thế nào? - Quế và Cẩn tâu rằng: hai người ấy tuổi tác đức vọng đều hơn, thiệt là xứng chức".

Từ tỉnh Quảng Nam trở vào nam trời hạn, gạo mắt. Ngài khiến phát lúa hoặc cho dân mượn, hoặc cho dân mua; trong dân ai có đường, gỗ, cau, dầu, thời Triều đình thế lúa mua trước cho. Lại khiến các nhà giàu xuất của lạc quyên để chẩn cấp cho dân. Triều đình sẽ chiếu cố quyên nhiều ít phân hạng nghĩ thưởng.

Nguyễn Tấn Lâm, Tôn Thất Nghị đánh giặc tại Cần Chung đại thắng trận; quan quân thừa thắng kéo thẳng đến xứ Bắc Trang.

Ngài nghĩ rằng việc giặc thành Trấn Tây, đều vì người nước Xiêm sanh sự, giận quá, hỏi Đại thần Trương Đăng Quế rằng: "gốc tích đầu đuôi nước Xiêm, ngươi có rõ không? - Quế tâu rằng: Tôi chỉ nghe đại lược mà thôi. - Ngài dạy rằng: Xiêm La nguyên xưa là nước Xích Thổ, đến sau chia làm 2 nước: 1) Nước Xiêm, 2) Nước La Hộc; nước Xiêm đất xấu cày cấy không được; nước La Hộc thời đất bằng mà tốt, cày cấy được mùa, nước Xiêm thường ăn nhờ đó. Lúc đầu triều Nguyên, nước La Hộc mạnh, gồm lấy nước Xiêm, mới gọi là nước Xiêm La Hộc. Đến triều Minh, nó vào cống Tàu cho nó cái ấn "Xiêm La", từ đó mới gọi là nước Xiêm La. Khi mới lập nước ra, nước Xiêm La nhỏ mà Chân Lạp lớn, Xiêm phải phục tùng Chân Lạp. Đến hiệu Vạn Lịch, Xiêm La ngày càng mạnh lớn, mới bắt Chân Lạp hàng phục mình, mà làm đàn anh cả mấy xứ Mọi. Đất Chân Lạp bị Xiêm La dày đạp đã lâu; Triều đình ta thương Chân Lạp mắc tai nạn, nên giúp đỡ cho nguy, bảo hộ giữ gìn cho còn nước, thiệt là có công ơn với Chân Lạp quên ơn gây thù, thiệt là ngu lắm! Vả lại, các xứ Bắc Tâm Bôn nguyên là đất của Chân Lạp, nay Xiêm La lấy rồi, lại còn lập tâm quỷ quyệt mưu lấy thêm nữa; nó mượn tiếng lập Run làm vua Chân Lạp, để âm mưu làm cách lấy dần, chớ nó thiệt sẵn lòng bảo hộ Chân Lạp đâu?. Lại như tên Run là đứa phản anh bội

---------------
1 Đời xưa Tử Sản nước Trịnh sai Hiệu Nhơn nuôi cá, Hiệu Nhơn nấu mà ăn ! Tử Sản nói dối rằng: "khi mới thả cá thời thấy nó lừ đứ,
được một lúc thấy nó vùng vẫy; rồi thấy bơi vụt đi mất". Tử Sản tin là thật.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM