Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:05:01 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quốc Triều chính biên toát yếu  (Đọc 101083 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #130 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 11:20:35 pm »

nước qua ở Xiêm La. Khi Triều Minh Mạng, nó có dâng mật thơ xin nước mình đã đem quân đánh Xiêm, nó xin làm nội ứng; Triều đình đã bắt đi rồi; coi vậy thời biết tâm tích tên Run cũng không phải thiệt ý theo Xiêm. Nếu bây giờ các ngươi ở quân thứ sai người đi mật thám đem những đại ý đã nói đó mà nói cho người Xiêm và người Lạp biết rõ, để cho chúng nó ngờ nhau; ấy cũng là một chước phản gián đó". Trương Đăng Quế tâu rằng: "tình hình Chân Lạp và Xiêm La, thiệt như lời Ngài dạy, xin đem việc ấy mật tư cho các đạo quân thứ biết".

Khiến các quan đại thần bàn việc xử trí thành Trấn Tây1. Tạ Quang Cự và các quan đều tâu rằng: "nay gặp lúc tải lương không tiếp, ngồi giữ thời quan lính uổng công; chi bằng hãy tạm lui quân về An Giang; rồi sẽ coi thế xét cơ mà làm thời hơn. Nhưng mà khi lui quân về, phải nên im lặng: quan quân thời phân phái đóng giữ; Nặc Yêm, Ngọc Vân và Hán dân, Thổ dân, thời lựa chỗ phân tháp; còn như voi đem về không tiện, xin làm thịt cho quân sĩ ăn". Ngài cho cứ vậy mà làm.

Tháng 9, quan quân ở Trấn Tây lui về An Giang; ngày về tới đó, Trương Minh Giảng mất! Nguyên khi trước việc kinh lý xứ Trấn Tây, công Trương Minh Giảng nhiều hơn; đến bây giờ lui quân về, Giảng thẹn và giận, cáo đau, không chịu tiếp các tướng; về đến An Giang thời mất ngay. Kinh lược là Phạm Văn Điển đem việc Giảng mất tâu lên, Ngài ban rằng: "Trương Minh Giảng mình đương việc lớn lao, thế mà xử trí không nhằm, đến nỗi dân Thổ đua nhau dấy loan; ta đã giao xuống đình thần định tội cho nặng, để nghiêm phép Triều đình, ai ngờ đại quân mới về, mà Giảng đã đau mất! Nhưng nghĩ Giảng năm trước làm chức Tham tán quân vụ, đánh tại Biên Hòa, Vĩnh Long thời giặc sợ mất hồn; đánh tại cửa biển Thuận Cảng thời Xiêm thua bỏ chạy; công lao rực rỡ, bia đá còn ghi, chẳng nên mai một. Vậy cách chức Tướng quân, nhưng gia ân cho chiếu hàm Hiệp tá mà cấp tuất, lại thưởng cẩm sa và tiền lụa; còn việc giao đình thần nghị tội thời tha".

Quân đã lui về An Giang, Phạm Văn Điển phân phái tướng sĩ phòng triệt các chỗ yếu hại, lại ủy Đoàn Văn Sách và Nguyễn Công Nhờn đem 3.000 quân thẳng tới Lạc Hóa hội đánh. Cho bọn Quận chúa Ngọc Vân ở làng Châu Phú, rồi phái quân giữ đó.

Nguyễn Tấn Lâm, Nguyễn Tri Phương2 đem quân tới Hậu Giang đánh phá các Súc3, người Hán, người Tàu xin hàng cọng 88 tên; hai ông lại sai người hiểu dụ dân thổ tên nào đầu thú thời cấp gạo cho về. Rồi đem quân tới đánh tại Trà Điêu, giặc Súc thua chạy, bắt được người Tàn, người Thổ đều giết hết, của giặc còn chứa để bao nhiêu đều lấy phát cho dân nghèo. Ngài nghe, khen rằng: "vừa đánh giặc vừa yên dân, làm một lần mà được hai việc hay". Liền ban thưởng Nguyễn Tấn Lâm và Nguyễn Tri Phương.

Tháng 10, truyền chỉ sửa lại hiệu thần trong các tỉnh. (Khi trước hiệu thần là Đại vương, Thánh phi, Công chúa, Công hầu, Quý phủ, bây giờ theo nghĩa hoặc đổi ra Tôn thần, hoặc đổi ra Chi thần, hoặc đổi ra Phủ quân, hoặc đổi ra Phu nhơn. Chỉ có vị Liễu Hạnh công chúa và các thần đã được phong tước rồi, với các vị đế vương, các ông hoàng thần, các người khai quốc công thần, mấy độ trước đã phong tước rồi, thời cứ để như cũ).

Nguyễn Tấn Lâm, Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Công Trứ phá tan giặc Lâm Sum tại xứ Sâm Đô, phủ Lạc Hóa đều yên. Từ khi tên Lâm Sum chiếm giữ Trà Vang, đảng nó có tên thầy tu mọi đem yêu thuật phỉnh chúng, nên dân Thổ theo nó nhiều lắm; quan quân đánh mãi không được; đến bấy giờ các đạo quân hội tiễu, giặc thua chạy tan.

Tướng giặc là Kiên Hồng, Trần Hồng, Thạch Đột tới trước cửa quân xin hàng; bỏ cũi giải về Kinh (rồi làm tội cực hình). Quân thứ chạy cờ đỏ về báo tiệp. Ngài rất mừng; ban thưởng bọn Tân Lâm mỗi người một cấp quân công, người nào trước có bị giáng, nay đều cho khai phục nguyên hàm; lại ban cho các đồ ngọc đeo và tiền vàng; còn các tướng hiệu hoặc được ban thưởng, hoặc cho phục chức. Sau tên Lâm Sum cũng bị bắt được chánh pháp.


-----------------
1 Khi ấy ngoài thành Trấn Tây bị quân giặc ngăn trở hết thảy.
2 Khi ấy Nguyễn Tri Phương bổ thọ Tuần phủ Vĩnh Long, hộ lý Tổng đốc Long Tường.
3 Chỗ Mường Mọi ở, lớn gọi là Bộ, nhỏ gọi là Lạc, Xiêm Lào gọi là Mường, Cao Man gọi là Súc; Súc cũng như Phủ, nước Cao Man cả thảy 26 Súc.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #131 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 11:38:58 pm »

Bộ Lại và bộ Binh làm sách kê những sự trạng các quan lớn ở Kinh và ở các tỉnh dâng lên. Ngài ngự lãm, dụ rằng: "ba năm hội nghị xét công các quan, lựa dùng quan nhỏ quan lớn, thăng giáng người hay người dở. Aáy là đức Hoàng Khảo ta bắt chước chánh sự hay đời xưa, lập ra phép tốt. Ta nay noi theo phép cũ, một niềm công chánh, châm chước cân nhắc, thưởng phạt hẳn hoi, tuỳ tài tùy việc mọi người, làm khuyên làm răn cho chúng. Vậy trong từ Khanh, Sĩ, ngoài tới địa phương, nên càng hết sức hết lòng, kính noi lời răn dạy; sao cho quan nhỏ liêm, quan lớn giữ phép, ngỏ đặng phía ngoài trị, phía trong an, mới hay dài đội ơn trên, lâu nhờ lộc nước".

Mới đặt đàng quan và thuộc viên ở Sứ quán. (1 Tổng tài, 1 Phó tổng tài, 4 Toản tu, 8 Biên tu, 4 Khải hiệu, 6 Đằng lục, 4 Thu chưởng).

Tháng 11, Thượng thơ bộ Lễ là Phan Huy Thực hồi hưu. Huy Thực ở bộ Lễ đến 30 năm, bây giờ già yếu xin về; Ngài thương là người kỳ cựu; cho con là thự Lang trung Phan Huy Vịnh đưa Thực về.

Có tầu Đại Pháp đậu tại vũng Sơn Chà thuộc tỉnh Quảng Nam, rồi đi ngay.

Nguyễn Tấn Lâm, Nguyễn Tri Phương phá tan giặc Thổ tại Súc Sâm. Nguyên khi trước giặc Thổ ở xứ Ba Xuyên lại nổi lên, Lâm và Phương từ Lạc Hóa đem quân thừa thắng đánh luôn, giặc đều trông chừng chạy trốn, lại về Súc Sâm lập đồn hiệp giao chống cự; Tấn Lâm và Tri Phương hai mặt đánh giáp lại, giặc liền tan. Ngài nghe báo tiệp, liền phân hạng ban thưởng; rồi truyền Tấn Lâm ở lại đồn đó tùy cơ đánh giặc yên dân, còn Tri Phương cứ ở tỉnh An Giang hội đồng với Phạm Văn Điển, Nguyễn Công Trứ làm việc.

Có người con trai tự xưng là con ông Anh Duệ Hoàng Thái tử ngụy hiệu Hoàng Tôn, ở thành Nam Vang (Pnompenh) nhóm họp những quân Xiêm, Lào, Hán, Thổ đến vài ngàn người; những đứa trốn tội theo nhiều lắm.

Bộ Hộ tâu: năm nay hộ khẩu nhơn đinh trong nước được 925.184 người.

Năm Nhâm Dần thứ II (1842), tháng Giêng, lãnh Tuần phủ Hà Tiên là Lương Văn Liễu tâu rằng: "giặc Xiêm đem 93 chiếc thuyền binh hoặc ở bãi biển Tiêu Liễu, hoặc ở cù lao Ô Mai Lam thả neo đậu lênh đênh. Bây giờ đồn Châu Nham mình đã có phòng bị, đắp thêm canh giữ cũng đã vững rồi; chỉ còn từ Giang Thành đến Đà Khẩu hai bên đều là rừng rậm, giặc thường vô ra. Xin lập thêm một đồn nữa nhơn tên đất đó gọi là đồn Tiên Mỹ, để phái quân đóng giữ. Ngài phê rằng: "Quân Xiêm khác gì một con muỗi đội núi, một con sâu lộisông, thế cũng không làm gì được".

Tỉnh Hà Tiên lại tâu có 40, 50 chiếc tàu Xiêm và 1 chiếc tàu thức tây, xâm bức bãi Thiển Môn thuộc về cù lao Phú Quốc; lại thấy thuyền giặc chừng 30 chiếc tới cù lao Hùng Chưởng (tức là hòn Móng Tay) đuổi lính thú mình. Rồi có vài mươi chiếc thuyền giặc đến đánh đồn Phú Quốc. Ngài sai Nguyễn Công Trứ đem quân tới đánh; sai Lê Văn Đức đi thuyền qua tiếp, nhưng bị sóng gió ngăn trở.

Đảng ngụy ở Nam Vang (là tên ngụy xưng Hoàng Tôn) nhóm họp quân Xiêm, quân Lào đến
5.000 người kéo lén quan Sách Số (thuộc về phủ Nam Ninh). Lại có thuyền giặc Thổ hơn 10 chiếc tới đồn Cần Thăng  có ý rình lén. Tổng đốc An Hà là Phạm Văn Điển phi tư cho Đoàn Văn Sách quản lãnh viện binh mau qua Hà Tiên điều độ, Nguyễn Văn Nhờn ngăn giữ đồn Vĩnh Thông, Nguyễn Công Trứ qua Tiền Giang đi tuần sát, còn Điển thời ở lại An Giang điều độ các việc. Việc ấy tâu lên, Ngài dụ rằng: "Nguyễn Tri Phương phải  dự bị binh thuyền, đợi bao giờ nghe báo khẩn cấp, lập tức kéo tới đánh giặc; Lê Văn Đức (hiện ở Gia Định), Trương Văn Uyển (hiện ở Định Tường) cũng phải chỉnh bị quân lính, chứa nuôi sức mạnh và thám xét tình thế giặc hư thiệt thế nào". Rồi Nguyễn Tri Phương lại tâu rằng: "các tỉnh trong Nam Kỳ đều là liên tiếp với đất giặc; chỉ có một giải sông Tiền Giang là thông với giữa trung tim An Giang, Vĩnh Long, và Định Tường; xin đem binh thuyền qua những đồn Thông Bình, Hùng Ngự (thuộc về Định Tường) Tân Châu, Định Lạc (thuộc về An Giang) duyệt binh để nghiêm phòng bị". Ngài khen rằng: "làm vậy phải lắm, thiệt nhằm cơ nghi".

Quan thự Hữu quân đô thống chưởng phủ sự tước Vân Hội Nam và Nguyễn Tăn Minh mất! Ngài nghĩ Minh là người kỳ cựu; gia ân cho thiệt họ.

Ngày Aát Sửu, đem việc bắt tuần ban chiếu trong ngoài. Ngày Tân Vị, đạo ngự từ Kinh khởi trình, đem Hoàng tử thứ hai đi theo.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #132 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 11:40:46 pm »

Tháng 2, ngài ngự tới Hà Tĩnh, thuyền ngự từ sông Đại Nại qua núi Hồng Lĩnh, đòi quan tỉnh Võ Đức Nhu hỏi thắng tích núi ấy thế nào. Nhu tâu rằng: "núi này bắt đầu từ huyện Nghi Xuân qua huyện Thiên Lộc (hiện bây giờ là huyện Can Lộc), quanh co dài dắc cả thảy 99 ngọn; người ta thường truyền ngày xưa có bầy huyền hạc đậu trên núi nầy, cho nên gọi là Hồng Lĩnh.

Ngài ngự tới Thanh Hóa, yết Nguyên Miếu; tới núi Triệu Tường, vọng bái lăng Trường Nguyên1 và sai quản  tới cáo miếu ngài Trừng Quốc Công. Ngài dạy chuyện cùng các Hoàng thân và Thị thần rằng: "Tốt thay núi sông này ! Trời đất đúc khí thiêng, nước nhà gây phúc tốt; cũng như đất Thai, đất Mân đời Châu, đất Phong, đất Bái đời Hán2".

Ngài ngự tới Ninh Bình, lên núi Dục Thúy, ngự xem khắp đỉnh núi đầu non; truyền đổi tên núi là núi Hộ thành.

Tướng Xiêm là bọn Ca La Hâm, Phì Phạt đem quân binh thuyền đậu tại cửa ấn phủ Quảng Biên. Quan quân thứ Hà Tiên là Đoàn Văn Sách phi tư tỉnh An Giang hội tiễu. Rồi Nguyễn Công Trứ đem quân qua; Đoàn Văn Sách đóng giữ trên đàng bộ, lại sửa sang binh thuyền đóng phòng triệt tại cửa ấn tấn Kim Dự.

Binh thuyền của Ô Thiệt Vương nước Xiêm đậu tại mặt biển Quảng Biên, hòn Nhĩ Dự và núi Bạch Mã; binh hơn vài vạn, mưu trước đánh lén lấy Lư Khê rồi lấy Tô Môn, sau kéo thẳng đến vây thành Hà Tiên. Quan tỉnh Hà Tiên sợ hãi, phi tư qua tỉnh Vĩnh Long mau mau đem binh thuyền tới cứu. Rồi giặc tràn ra khuấy rối miền sông Vĩnh Tế; Nguyễn Công Trứ lại trở về An Giang, Nguyễn Tấn Lâm và Nguyễn Lương Nhờn chia nhau qua Tiền Giang và Hậu Giang đánh giặc, Tôn Thất Nghị đón cự tại đồn Vĩnh Thông. Bọn Đoàn Văn Sách lại tâu rằng: "thuyền giặc càng ngày càng đông, xin tư qua Gia Định phái thêm binh thuyền mau qua hội với binh thuyền Kinh phái, trước sau hai mặt ra sức đánh". Ngài liền cho Tổng đốc Định Biên  Lê Văn Đức thăng Thự Hiệp tá đại học sĩ sung Tổng thống tiễu bộ quân vụ, Thống chế Lê Văn Phú sung Tham tán đại thần, Đề đốc Kinh thành Tôn Thất Tường sung Tán lý đại thần, Thừa Thiên phủ thừa Lê Khắc Nhượng sung Tán tương quân vụ, đem binh thuyền tại Kinh chạy tới Gia Định hiệp với lính thú Quảng Nam, Quảng Ngãi, đều giao cho Đức và Phú thống quản, cho phép tiện nghi hành sự. Cho Đặng Văn Thiêm thay Đức quyền Tổng đốc Định Biên.

Ngày Đinh Dậu, Ngài ngự tới Hành Cung tại bến đò Hà Nội. Ngày Mậu Tuất, vừa sáng mai, Ngài vào thành tỉnh, các quan đi sứ Tàu là Lý Văn Phức từ Bắc Kinh trở về, vào chầu.

Khiến Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Tấn Lâm cự giặc tại Tiền Giang, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Công Nhờn cự giặc tại Vĩnh Tế; Phạm Văn Điển, Nguyễn Lương Nhờn cự giặc tại Hậu Giang.

Đoàn Văn Sách, Lương Văn Liễu đánh đuổi giặc Xiêm, chạy cờ đỏ về báo tiệp. Ngài truyền chia hạng ban thưởng.

Tháng 3, lãnh An Hà Tổng đốc Tín võ hầu Phạm Văn Điển phá tan giặc Thổ tại Hậu Giang. Ngài nghe báo tiệp, khen rằng: 'Tín võ hầu đánh được trận lớn, nên khen; thiệt xứng đáng một người tướng cũ".

Phạm Văn Điển, Nguyễn Công Nhờn phá tan giặc Xiêm và giặc Thổ tại xứ Hà Âm. Nghe báo tiệp, Ngài thưởng Phạm Văn Điển thặng thọ Tả quân đô thống, nhưng lãnh Tổng đốc; Nguyễn Công Nhờn thăng Đề đốc An Giang và một gia cấp quân công; còn mấy người dưới cũng chia hạng ban thưởng. Nguyễn Tri Phương đánh tại Tiền Giang cũng phá tan giặc. Ngài mừng, ban rằng: "Hà Tiên, Vĩnh Tế, Tiền Giang, Hậu Giang, giặc đều lần lần dẹp hết, thiệt thư lòng ta lo lắng việc Nam Kỳ!". Nguyễn Tri Phương và tướng sĩ ở quân thứ đều được phân hạng ban thưởng.

-------------
1 Trường Nguyên là Lăng đức Triệu Tổ.
2 Xưa ông Hậu Tắc ở đất Thái, ông Thái Vương ở đất Mân; hai ông ấy là tổ tôn gây dựng cơ nghiệp nhà Châu. - Phong Bái là nơi vua Cao Tổ đời nhà Hán gầy dựng cơ nghiệp.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #133 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 11:42:35 pm »

Khiến các đại thần ở Kinh và ở các tỉnh trù nghĩ việc đàng đê sông Cửu An. Quan tỉnh Hưng Yên tâu xin đắp đập ngang cửa sông để ngăn giữ nước. Ngài cho. Từ đó dân ở về bên hữu sông ấy làm ăn mới được hơi thư.

Sứ Tàu là Bửu Thanh đến Hà Nội. Ngài Bính Tý làm lễ sách phong. Lễ xong rồi; Ngài sai Hậu mạng sứ là Đào Trí Phú đưa Bửu Thanh ra cửa ải. Ngài Mậu Dần, Ngài ngự về đàng thủy.

Bộ Hộ làm sách tâu việc ân điển bắc tuần cả thảy 32 điều. Ngài truyền rằng: "bang giao là một lễ mừng, nhơn mừng ban ơn, lễ vẫn nên thế; huống chi Thiên Gia1 vui lòng thờ phụng, Chánh cung tuổi thọ ngày thêm, góp phước thiên hạ để dâng phước, hiệp vui thiên hạ để làm vui, tuy tốn mấy ngàn mấy vạn cũng không tiếc. Trên thời quan kính vâng, dưới thời dân theo trị, vui nào còn hơn vui nầy!".

Tháng 4, ngày Canh Thìn, Ngài ngự tới Hành cung tỉnh Ninh Bình, khiến các quan Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chánh, Aùn sát ngoài Bắc Kỳ ai về tỉnh nấy làm việc. Trước khi về, Ngài đòi đến đinh nỉnh khuyên dạy, lại ban bài thơ2 mà dạy rằng: "bài thơ nầy cốt có bốn chữ "Trung, Tín, Thanh, Cần mà thôi; các ngươi phải nên ghi lòng đừng quên mới đặng".

Ngày Canh Dần, Ngài ngự về tới Kinh Đô, ban thưởng các quan văn, võ theo hầu và các quan ỡ giữ Kinh thành, hoặc kỷ lục, hoặc gia cấp, hoặc tiền bạc khác nhau.

Thiếu bảo hậu quân đô thống phủ chưởng sự Hoằng Trung Bá Nguyễn Văn Trọng mất!, Ngài nghe, khóc rằng: "Nguyễn Văn Trọng là tôi huân cựu ba triều, trung thành đáng khen, ai ngờ một phút chán đời, lòng ta thiệt thương tiếc. Vậy cho truy tặng Thái bảo, phong tước Hoằng trung hầu".

Đề đốc Vĩnh Long, Diên Hựu Nam, Đoàn Văn Sách mất ! Sách khi ở quân thứ Hà Tiên bị đau về An Giang. Nay Ngài nghe Sách mất, bùi ngùi hồi lâu ! Cho tặng  Tiềp phong đô thống anh dõng tướng quân, tấn phong Diên hữu bá.

Tổng thống Lê Văn Đức tấn binh tới Thất Sơn hội với binh Phạm Văn Điển, Điển ở lại Cấm Sơn phòng triệt phía sau, Lê Văn Đức và Lê Văn Phú kéo quân tới Núi Voi. Giặc nghe tiếng chạy trốn hết.

Lãnh Tổng đốc An Hà Phạm Văn Điển mất ! Điển ở quân thứ Thất Sơn bị đau về tới An Giang rồi mất, Ngài nghe thương tiếc lắm ! Cho truy tặng Tả quân đô thống phủ chưởng phủ sự.

Cho Nguyễn Công Nhờn làmTổng đốc An Hà, Nguyễn Lương Nhờn làm Đề đốc An Giang.

Tháng 5, mới làm lịch Thất chánh (Khi ấy tòa Khâm Thiên tra cứu phép làm lịch và thiên văn, suy xét Nhật, Nguyệt, Tinh thần, ngày sóc, độ số và sao Ngũ hành ẩn hiện, làm thành lịch nầy. Ngài khen, truyền cho in phát).

Lê Văn Đức kéo quân tới Xà Tốn, vừa gặp Tán lý Tôn Thất Tường tới, liền chia thành 5 đạo, mỗi đạo 1.000 quân, đem súng lớn bắn phá đồn lũy giặc, giặc đều chạy tan. Rồi Nguyễn Tấn Lâm, Nguyễn Tri Phương cũng tới quân thứ, cùng nhau tấn binh tới Tô Sơn, giặc lại sợ trốn, người Tàu người Thổ ra thú rất nhiều. Đức và Phú qua kinh lược tỉnh Hà Tiên, rồi lại trở về An Giang; còn Tấn Lâm và Tri Phương cứ ở lại đó đàn áp và kiêm việc chiêu an.

Giặc ở Thất Sơn đã yên, người Tàu người Thổ đầu thú kể đến số ngàn. Ngài sai bọn Nguyễn Công Trứ thay đổi nhau qua đó sắp đặt; chia làng, lập ấp, khẩn ruộng, cho dân yên lòng làm ăn.

Tháng 6, Lê Văn Đức, Nguyễn Tri Phương kéo quân tới  Sách Sô, từ cưa biển Thuận cảng qua Tiền Giang, theo ngược dòng sông đi lên, qua Tân Châu, An Lạc, và cửa biển Ba Nam; giặc đã bỏ đồn chạy tan rồi; quân đạo tiền phong ta vừa đến bến đò Sách Sô, thấy còn vài trăm tên giặc núp đó, liền đem súng lớn bắn vào, giặc tan ngay. Quân ta chia đạo tầm nã, bắt được 6 tên giặc Thổ, Tra nó, nó xưng rằng: "Trận đánh tại Hà Âm, quân Xiêm thua dữ, chết và bị thương nhiều lắm, tướng Xiêm là Chất Tri đã đem tên ngụy xưng Hoàng tôn giải về Trấn Tây". Bọn Lê Văn Đức liền tìm đàng kéo tới mấy chỗ đón mọi, thời giặc đã trốn xa, truyền quân đốt phá những lương thảo giặc còn chứa để. Rồi đem binh

-------------
1 Thiên Gia nghĩa là nhà trời, nghĩa bóng là nhà vua; đây là nói Ngài vui thờ đức Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu.
2 Bài thơ ấy có biên trong tập thơ Thánh Chế.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #134 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 11:44:54 pm »

thuyền trở về An Giang. Nguyễn Công Nhờn, Nguyễn Tri Phương, Tôn Thất Nghị đều về tỉnh lỵ làm việc, còn Lê Văn Đức, Lê Văn Phú, Lê Khắc Nhượng thời trở về Gia Định.

Lê Văn Đức đem quân về. Bao nhiêu lính mới đi thú thời để lại giữ An Giang và Hà Tiên, còn lính đi thú cũ vì đi đánh giặc đã lâu thời cho về nguyên ngũ.

Tháng 7, Thái bảo Tiền quân chưởng phủ sự lãnh Hà Ninh Tổng đốc Tân phước hầu Phạm Hữu Tâm1 mất gia phong Tân phước quận công.

Tháng 8, Nghệ An bão to, nước biển tràn lên, nhà cửa đổ nát, người bị chết đè và chết đuối nhiều lắm. Ngàisai Thượng thơ bộ Lại Tôn Thất Bạch ra Nghệ An và Hà Tiên chẩn cấp, xong rồi mới về. (Tỉnh Hà Tĩnh cũng bị bão).

Tháng 9, tỉnh Hà Tiên và An Giang đem việc thám xét biên tình tâu lên. Tỉnh Hà Tiên báo rằng: "quân Xiêm hơn 500 tên ngày đêm kết mây làm khiên, (để dỡ khí giới) ước giặc Tàu tới sanh sự với mình. Còn tương Xiêm là Chất Tri khi trước bị thua tại Hà Âm, vua Xiêm đã bãi chức cho về ở phủ Chân Bôn. Tỉnh An Giang báo rằng: "Chất Tri đương ở thành Trấn Tây, đắp thêm đồn bảo; nghe quân sẽ kéo tới đánh, nó sai người đốc thúc quân Xiêm, quân Lào, quân Thổ tới thêm; lại đương đóng chiến thuyền tại cửa Quảng Biên". Hà Tiên lại báo rằng: "người Tàu và người Anh Cát Lợi toan mưu đánh Xiêm". Ngài nghe việc ấy, ban rằng: "Quả thiệt như lời tâu đó thời nó đương lo cơ nạn nước nó không rồi, còn lúc nào mưu xâm người ta nữa? Huống chi Ô Thiệt đã chạy về Xiêm thời Chất Tri còn ở lại Trấn Tây làm gì? Nhưng nay đã gần mùa đông, cần phải canh giữ, không nên nhơn vậy mà sơ phòng. Vậy nên phái người thám nữa, để cho rõ hết tình hình giặc".

Thự Hiệp tá đại học sĩ sung Sư bảo Hoàng tử hoàng đệ là Nguyễn Đăng Tuân xin cáo hưu. Ngài cho; Đăng Tuân là sư bảo cựu thần, Ngài rất kính trọng.

Tháng 10, truyền khắc mấy bài thơ Ngài ngự chế Bắc tuần trong các địa phương. Vì Nội các có tâu rằng: "Chúng tôi trộm nghĩ: núi cao sông chảy, ngang dọc xen bày, là văn chương thánh nhơn. Nước ta bờ cõi muôn dặm, cảnh tốt núi sông, chỗ nào cũng có. Năm nay ngự giá Bắc tuần, thăm mùa màng, hỏi nông sự, xem dân phong, xét quan lại, ban ơn xuống phước, dạy chánh sự, duyệt binh nhung. Ngài ngự tới đâu đều có thơ ghi đó, cả thảy 173 bài. Xin giao các tỉnh sở tại khắc bia, khiến cho núi sông thêm tươi tốt, quản hạt2 càng vẻ vang, mà đại văn chương Thánh nhơn cùng với sông chảy núi cao lâu dài mãi mãi". Ngài cho.

Có người dâng cái nghiên xưa. (Dài 7 tấc 4 phân, rộng 4 tấc 7 phân, dày 5 phân). Chất bền mà láng bóng, kiểu xưa mà đơn sơ; rõ ràng một phiến ngói âm dương mà người xưa đã nhơn hình dạng đục ra chỗ chứa nước, chỗ mài mực. Đầu nghiên có khắc bài minh rằng: Kỳ sắc ôn nhuận, kỳ chế cổ phác, hã dĩ tri chí, Thạch cừ bí các, cải phong Tức mặc, Lan đài liệt tước, vĩnh nghi bữu chi, thơ hương thị thác. Nghĩa là: sắc nghiên ôn nhuận, kiểu nghiên cổ phác; nên đặt chỗ nào? Thạch cừ bí các. Tức mặc đổi phong, Lan đài dự tước;3 quý báu đời đời, thơ hương phú thác. Sau bài minh, ông Tô Thức4 xưa có khắc hai cái ấn: một cái khắc hai chữ "Kỳ trân" nghĩa là quý lạ; một cái khắc hai chữ "Tàng bửu" nghĩa là báu kín. Sau lưng nghiên có khắc 4 chữ "Thạch từ các ngõa" nghĩa là ngói các Thạch cừ. Dưới lạc khoản mấy chữ rằng: "nghiên nầy chế tại tháng 8 năm thứ 3 hiệu Nguyên Phù". Ngài truyền đem nghiên ấy dâng vào Kinh diên. Rồi Ngài bảo Nội các rằng: "nghiên nầy là nghiên các Thạch cừ xưa. Nguyên các ấy từ Tiêu Hà lập ra để chứa đồ tịch; đến năm thứ 3 hiệu Cam Lộ, vua Tuyên Đế nhà Hán hội các nho thần giảng ngũ kinh tại đó; từ năm thứ 3 hiệu Cam Lộ, đến năm thứ 3 hiệu Nguyên Phù đời Triết Tôn nhà Tống, Tô Thức mới được phiến ngói ấy đục làm thành nghiên, cả thảy 1.149 năm; từ khi ấy đến nay

------------
1 Phạm Hữu Tâm là người làng Cổ Lão phủ Thừa Thiên.
2 Quản hạt là chỗ địa hạt mình coi sóc.
3 Đời xưa phong cái nghiên là Tức mặc hầu. Tức mặc là tên đất; mà nghĩa chánh: tức là tới, mặc là mực. Vậy nên đời xưa nhơn tên đất mà phong hầu cho cái nghiên; lại có ý nghĩa riêng là cái đựng mực. - Lan đài là nơi làm sách, nơi ấy phải cần nghiên, bút. v.v... nghiên là Tức mặc hầu, bút là Quản thành tử, đều dự tước trong Lan đài cả.
4 Tô Thức là người hay chữ đời Tống.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #135 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 11:46:42 pm »

được hơn 740 năm nữa; thời nghiên nầy gốc tích từ đời Hán, làm thành ở đời Tống, mà xuất hiện ra đời nay, thiệt là một báu vật về hàn mặc. Bây giờ cách sau Hán, Tống đến hơn 2.000 năm, mà văn minh thạch hội cũng như Hán, Tống trước; há chẳng phải là vật quý báu trời đất để dành đợi thời mới bày tỏ ra hay sao? Trọng đạo chuộng văn, khác thời thế mà chung một vật báu, đời nầy cùng đời Hán đời Tống xưa, chừng có cơ duyên khế hiệp với nhau chăng? Âu Dương Tu đời Tống xưa có câu rằng: "Ai ưng vật gì, thời vật ấy thường tụ hội tới, nghĩa là vậy đó".

Tháng 11, sai Hiệp tá Thượng thơ bộ Lễ là Lê Văn Đức sung Kinh lược đại thần trong Nam Kỳ. Thự Hữu quân đô thống Tôn Thất Bật sung Tham tán đại thần, Tả tham tri bộ Binh Lâm Duy Thiếp sung Tán lý cơ vụ. Đức vào chầu xin đi, Ngài trao cây gươm báu và ban áo ngự. Đức đi vừa tới Quảng Nam, đau rồi mất ! Ngài thương chảy nước mắt, truy tặng Thiếu bảo. (Đức ở trong Triều, ra ngoài tỉnh, đến 30 năm; không bao giờ nói gắt, có sắc dữ, người ta khen là nhả lượng.

Tháng 12, tha 3 tên tướng Cao Man là Trà Long, Nhâm Vu, La Kiến, giao cho Đại thần Phủ đô thống quản thúc, tùy việc sai phái chuộc tội.

Năm Quý Mão thứ III (1843), tháng giêng, quan tỉnh Hà Tiên tâu rằng: "Thuyền buôn nước Xích Mao chở nha phiến qua Xiêm, người Xiêm đốt thuyền lấy hết hàng hóa, nước Xích Mao lấy làm xấu hổ, lại mưu khởi quân đánh Xiêm báo thù; người Xiêm sợ, chở đá lấp cửa Bắc Nam để chận đàng tàu Xích Mao tới". Ngài dụ khiến các quan tỉnh phải hết lòng thám hỏi cho chắc, để rõ hết tình trạng ngoài biên.

Tháng 2, Tổng đốc Sơn Hưng Tuyên là Nguyễn Đăng Giai tâu rằng: "trong 2 phủ Lâm Thao và Đoan Hùng cả thảy 7 huyện, những dân ở trong rừng rú lâu nay bị tên Nhờn tên Thạch nạt dỗ, hoặc đưa tiền của, hoặc chứa gian ngụy, thành ra một nơi ổ giặc. Tôi trộm nghĩ: dân cực khổ đã lâu, chưa có thể trong năm bảy ngày cứu đặng, giặc trốn tránh đã lâu, chưa có thể trong một vài hôm bắt đặng". Ngài phê rằng: "Lời tâu phải lẽ. Cho phát của kho cứu dân cực khổ". Được ít lâu, giặc trốn là Nguyễn Thạch với hai tên đồ đảng tới thú trước cửa quân.

Ngày Nhâm Thìn, có một dây bạch khí giăng ngang trời, (đầu từ tây bắc đuôi trỏ đông nam). Ngài không ngự chánh điện, bớt đồ thương thiện, bãi âm nhạc; xuống dụ cầu trực ngôn.

Tháng 3, giặc Sổ Lao ở tỉnh Sơn Tây là Nguyễn Thạch bị chánh pháp, Ngài ban thưởng Nguyễn Đăng Giai một cấp quân công, một đồng tiền vàng chạm hai con rồng và một cái đồng hồ.

Tháng 4, Ngài nghĩ rằng: xứ Tây Ninh là chỗ rất quan trọng, liền sai Đề đốc Gia Định là Ngô Văn Giai lập sở đồn điền, mộ dân lập ấp.
Tháng 6, Ngài khiến làm sách Đại nam hội điển1.

Mọi Đá Vách tới cửa ải xin cầu thông thương và xin trả hết thảy những súc vật tài sản mà chúng nó đã ăn cướp. Việc ấy tâu lên, quan tỉnh và quan Sơn Phòng đều được ban thưởng.

Tháng 7, gặp khoa thi hương trường Thừa Thiên, Nguyễn Đăng Hành đậu cử nhơn thứ hai. Ngài ban rằng: "Thầy Thận Trai (là Nguyễn Đăng Tuân) là thầy học ta khi ở Tiềm để; nay tuổi già về dưỡng nhàn; con trưởng là Nguyễn Đăng Giai làm Tổng đốc ba tỉnh, tiếng giỏi khen rầm; nay cháu là Đăng Hành lại nối nghiệp nhà, ta khen lắm". Rồi ban một bài thơ đặng cho vinh hiển. (Sau Đăng Hành đậu Tấn sĩ).

Giặc trốn ở tỉnh Sơn Tây là Nguyễn Văn Nhờn bị giết. Nhờn là người Hưng Hóa, đảng tên Nùng Văn Vân. Khi tên Vân đã thua rồi, Nhờn lại hiệp với tên Thạch, trốn tránh không ở một nơi. Đến bây giờ người tỉnh Sơn Tây mật báo, phái người thám nã bắt được. Ngài nghe việc ấy, đều cho tùy công thăng thưởng.

Tháng 7 nhuận, lại truyền dụ xuống các nha tra việc hình án tại Kinh và các tỉnh rằng: "Quan viên tra án phải thân hành đến nơi nhơn mạng, y phép khám nghiệm biên thương, không được khinh suất giao cho lại dịch".

--------------
1 Hội điển là biên chép những thể lệ Lại, Hộ, Lễ, Học, Binh, Hình để làm phép thường.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #136 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 11:47:52 pm »

Tỉnh Nghệ An tâu rằng: "4 huyện1 thuộc về phủ Tương Dương dân Thổ đã hơi thấm nhuần giáo hoá. Xin chiếu theo như lệ phủ Quỳ Châu cứ 7 tên lựa một tên lính, cả thảy được 53 tên, sung làm lính phủ Tương Dương". Ngài cho.

Tháng 12, dời đồn Tĩnh Tuyên ở tỉnh Tuyên Quang qua phố Vân Trung. (Thuộc về tỉnh Ân Quang, huyện Để Định), đổi tên là đồn Ân Quang, cho người Thổ trước là Chánh đội Nguyễn Văn Biểu coi đồn ấy và mộ binh canh giữ. Aáy là theo lời Nguyễn Đăng Giai xin. Nguyên khi trước Giai có tha tên tù tội lưu là Ma Doãn Dưỡng, bị bộ Hình hạch tham; Ngài truyền Giai phải cho rõ. Giai tâu rằng: "giặc sót trong tỉnhTuyên Quang nhiều đứa còn sợ tội trốn tránh; nếu không đem giặc tìm giặc, như chèo thuyền tìm thuyền, cỡi ngựa tìm ngựa, thời khác gì tìm loài thú vật trong rừng sâu, chưa dễ bắt được. Ma Doãn Dưỡng là người Thổ trước, tôi tha nó để khiến bắt giặc, cũng như thả chim trong lồng để dụ chim ngoài lưới mà thôi; tội thiện tiện vẫn tôi chẳng dám kêu oan, nhưng gấp vì dẹp giặc yên dân, nên dẫu biết tội cũng không thể tránh được". Ngài nghĩ Giai có công, cũng khoan dung cho.

Năm Giáp Thìn thứ IV (1844) tháng 3, sử Liệt Thánh thiệt lục tiền biên làm rồi.

Tháng 4, mới lập sở buôn bán tại miền Thượng du đồn Đa Lộc về tỉnhAn Giang; lại định nhựt kỳ mỗi tháng 2 lần, mỗi lần 2 ngày, cho người Hán, người Thổ, người Tàu, người Chàm (là người Chiêm Thành) tới buôn bán.

Đặt lại Huất đạo huyện An Giang (khi trước học trò ít, nên giảm Huấn đạo; bây giờ học trò xứ Lạng Xuyên ngày càng đông, quan tỉnh xin đặt lại).

Sông Tân Châu trong tỉnh An Giang đào rồi. Tuần phủ Nguyễn Công Trứ xin dời đồn Châu Giang tới trên bờ sông ấy để tuần sát cho tiện. Ngài cho.

Dựng bia nơi mộ con voi Ô Long. Voi ấy là voi ngự; triều Minh Mạng nghĩ nó có công đánh giặc, sắc cho dựng bia. Ngài lại ban rằng: "thịt voi đủ mùi thịt trăm giống thú; nên chi cọp, beo, chó sói nghe hơi đều run sợ cả; nhưng người Thổ dùng mưu dụ nó, thời lui tới đều theo ý người. Vậy mới biết trị nó đúng phép, chỉ một thằng nài khiến dễ như chơi; trị nó chẳng nhằm, tùy ngàn người chế cũng không lại; việc trị dân nên coi đó làm gương".

Cho Trà Long, Nhâm Vua lại làm tùng tỉnh Suất đội. Nguyên khi trước bọn Trà Long đựơc tha về Tây Ninh sai phái, chúng nó thiệt lòng làm tôi. Đến bây giờ Triều đình lấy vì cớ Long cứ ở Tây Ninh, còn Nhâm Vua cho về An Giang sai phái.

Tháng 5, cho Nguyễn Tri Phương bổ thọ Tổng đốc An Hà, Doãn Uẩn cải thọ Tuần phủ An Giang, Nguyễn Bá Nghi thăng thự Bố chánh An Giang. (nguyên khi ấy Tổng đốc Nguyễn Công Nhờn, Tuần phủ Nguyễn Công Trứ, Bố chánh Phùng Nghĩa Phương, Đề đốc Đoàn Tiêm Mật, Bố chánh Lê Quốc Trịnh đều bị tội bãi chức).

Cho Nguyễn Đăng Tuân thiệt thọ Hiệp tá đại học sĩ và cho tại quán ăn nửa bổng.

Khi trước Trấn Tây khởi loạn, tên Rum đem quân Xiêm tới chiếm giữ đất Cao Man, người Cao Man ghét quân Xiêm bạo ngược; có chức An phủ xứ Tuy Lạp là tên Bang không chịu theo Xiêm, đem dân vào rừng ở. Đến tháng 6 năm nay, nó lén sai tên Thổ mục đem hàng hóa tới buôn bán, tỏ ý muốn trở về nước cũ. Cao Hữu Dực đem việc ấy tâu lên, Ngài dụ Nguyễn Tri Phương nên yên nuôi chúng nó.

Tháng 7, Phái viên đi chiếc tàu Phấn Bằng là Tham tri Đào Tri Phú từ nước Tây về, dâng một chiếc tàu hỏa giá 230.000 quan tiền, gọi là Điện phu hóa cơ đại thuyền. Ngài ngự cửa Thuận An, thấy tàu ấy máy chạy mau mắn, qua lại như bay; Ngài ban khen, truyền các qua thị thần rằng: "Đời xưa nói rằng vua Hoàng đế mới chế ra tàu thuyền, cũng có người nói từ ông Bá Ích, phân vân không nhứt định; lại xem trong sử Tây Tuần có phép vua Hiếu Võ đời Tống qua cửa biển Lục Hiệp, tàu rồng tàu phụng cả thảy 3.045 chiếc; tàu thuyền nhiều, dẫu đến Hạ, Thương, Châu xưa và Đông Kinh, Tây Kinh cũng không sánh bằng. Xưa nay lại có khen tàu nước Lương, thuyền nước Ngô đi trên mặt nước rất hay. Nay xem

-----------
1 4 huyện là Tương Dương, Vĩnh Hòa, Kỳ Sơn, Hội Nguyên.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #137 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 11:48:55 pm »

một bộ máy chiếec tàu hỏa nầy rất khéo, không cần buồm gió màngựa chạy thua xa, tuy người đời xưa khéo mấy cũng không bì kịp".

Tháng 8, mới đặt tên các tổng trong mấy châu thuộc tỉnh Hưng Hóa, mỗi tổng đặt chức Tổng mục.
 
Ngoài Bắc Kỳ mưa mấy ngày luôn, nước sông Nhị Hà cao lên hơn 10 thước, huyện Giao Thủy và huyện Tiền Hải bị nước ngập, dân chết đuối rất nhiều.

Cái kênh ở cửa biển Lân thuộc tỉnh Nam Định mới khai ra. (Nguyên kênh ấy trước là sông nhỏ, nước từ sông Ba Lạt chảy xuống; nhưng vì cát ngày càng bồi cạn, đến bây giờ nước mưa xoi thành sâu, thuyền ghe ra vào tiện lắm).

Tháng 9, ngày Quý Dậu, Kinh thành gió mưa to lắm, (khởi từ tây băc chuyển qua đông bắc). Cột cờ trước cửa Ngọ Môn gãy, đất bằng nước sâu hơn 10 thước, sở công nhà tư và ghe thuyền phần nhiều bị đổ nát và chìm úp, dân phủ Thừa Thiên chết đuối hơn 1.000 người. Cũng một ngày ấy, tỉnh Quảng Trị nước lên 16 thước, dân chết đuối cũng nhiều. Ngài sai quan chẩn thại và xuống chiếu cầu lời nói trực.

Tổng đốc An Hà Nguyễn Tri Phương và Tuần phủ An Giang Doãn Uẩn điều trần 3 việc:

1. Xin lược bớt các điều lệ thanh tra. 2. Xin tước trừ ngạch hư trước trong sổ bộ dân. 3. Xin tha các hạng thuế thiếu lâu nay.

Ngài ban rằng: "Sang năm tới lễ khánh tiết, lời tâu đó đợi tới dịp ấy sẽ cho thi hành". Tháng 10, khiến các văn võ đại thần bàn việc biên tình thành Trấn Tây.
Tháng 11, định lại lệ "cho thuê cho mướn công điền công thổ" (cứ theo như lệ triều Gia Long). Mở mỏ vàng Phúc Vượng huyện Văn Quan tỉnh Lạng Sơn. (Mỗi năm lấy thuế 6 lượng kim sa). Tháng 12, Hiệp tá đại học sĩ hưu trí Nguyễn Đăng Tuân mất !.
Định lại nghạch thuế các cửa ải và các bến tàu. Bởi vì Ngự sử Võ Trọng Bình, Nguyễn Cư Sĩ tâu rằng: "từ tỉnh Hà Tĩnh trở ra các tỉnh ngoài Bắc, lâu nay thuế các cửa ải cứ mỗi năm ai đấu giá cao hơn thời cho lãnh trưng, vậy nên đua nhau lo lót, rồi thời trái phép đánh thuế cho nặng, rất là bệnh dân. Xin sắc cho bộ Hộ chiếu theo mấy năm trước già nào trung bình thời lập thành lệ nhất định; còn như nghị định mỗi năm đấu giá thời xin đình bãi". Ngài giao đình thần hội nghị, đình thần đều xin y vậy thi hành, nhưng ai lãnh mãi phải theo y giá, nếu không thời giao thỉnh sở tại phái thuộc trưng thâu.

Năm Ất Tỵ thứ V (1845) tháng giêng, Ngài ngự điện Đông Các, đòi đình thần vào chầu, cho ngồi, ban trà. Ngài ngự viết 4 chữ: "Trung, Cần, Phúc, Thọ" cho coi, rồi sắc xuống khắc in ban cấp, Ngài lại sai quan Thượng thơ bộ Lễ là Nguyễn Trung Mậu tuyên đọc bài thơ ngự chế "Nguyên đán kỷ thắng". Trong bài thơ có câu rằng: Lộ bất thập di y thực túc; gia vô bế hộ quản huyền dinh. Nghĩa là: của rớt chẳng màng, cơm áo đủ; cửa ngoài không đóng sáo đờn vang. Ngài ban rằng: "nay trong yên ngoài lặng, mấy lâu chốn Kinh kỳ văn phong rất thạnh, con em nhà nào cũng theo đòi việc học, tiếng đờn tiếng sách dẫn ngoài giao giá cũng nghe rỡ rỡ văn học ngày càng tấn tới".

Tháng 2, định lại phẩm phục các quan văn võ: mũ, đai, hoặc bằng vàng, bằng bạc, bông lớn, bông nhỏ khác nhau. Aùo xiêm, hoặc thêu tứ linh, hoặc hình con giao, hoặc các thứ bông; chất dùng đoạn hoặc trừu; săc dùng đỏ hoặc tía khác nhau. Hốt thời tam phẩm trở lên dùng hốt ngà, tứ phẩm trở xuống dùng hốt gỗ thếp bạc.

Tháng 3, khiến hỏi tìm con cháu họ Mạc. Bởi vì Đại học sĩ Trương Đăng Quế tâu rằng: "khi trước mở mang tỉnh Hà Tiên, công Mạc Thiên Tứ rất nhiều; xin nên lục dụng con cháu học Mạc". Ngài khiến xét hỏi con cháu Mạc Thiên Tứ có tên nào dùng đặng không? Lãnh Tuần phủ Hà Tiên Nguyễn Lương Nhờn cử tên Mạc Văn Phong là cháu chánh phái Mạc Thiên Tứ. Ngài cho Aám thọ Chánh thất phẩm đội trưởng tùng tỉnh sai phái.

Cấm chỉ sở buôn bán tại Tây Ninh. (Bởi vì khi ấy người Mọi sanh sự khởi hấn, cho nên cấm).
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #138 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 11:51:24 pm »

Thự tuyên phủ sứ xứ Tây Ninh là Cao Hữu Dực tâu rằng: "chiêu mộ được dân bao nhiêu, xin chia lập làng, ấp, để cấp cho trâu bò, cày, bừa đốc sứ chúng nó ra công khai khẩn, để cho vững chốn biên cương". Ngài cho.

Tháng 4, Đề đốc ở quân thứ Tuyên Quang Nguyễn Văn Đức triệt binh về; rồi bị đau mất ! (Đức vì tội thiện tiện rút quân về, phải cách chức).

Tháng 5, Ngài ngự lễ cày ruộng tịch điền. Lễ xong rồi, Ngài ngự nhà Chỉ Thiện. Bộ Lễ dẫn người con hiếu ở tỉnh Phú Yên là Nguyễn Văn Thiệu vào chiêm bái. Ngài khen rằng: "Cha tên Thiệu là tên Tựu xưa có tiếng hiếu, nay con lại nối theo chữ hiếu, một nhà nối tốt, nhà khác khó tày; Triều đình dạy hiếu làm trung, cốt để sửa nhơn tâm chánh phong tục; không nên cho nó là một tên dân mà bỏ qua đi". Bèn ban thưởng tiền bạc và áo sa, cho về.

Xét dùng những con cháu các người trung hưng công thần và các người tiết nghĩa.

Tháng 6, sai đại thần là Võ Văn Giai đi kinh lược trong Nam kỳ. Nguyên khi trước quan Tổng đốc An Hà Nguyễn Tri Phương và Tuần phủ Doãn Uẩn có tâu việc ở Trấn Tây, xin phái đại thần tới đó xử trí trước. Đến bây giờ các tên Thổ mục Chân Lạp đứa thời tới cầu cứu, đứa thời đem cả gia quyến tới xin ở nước mình. Ngài nghĩ rằng cơ hội có thể làm được, rồi sai quan Hậu quân đô thống kiêm quản kỳ võ dinh Võ Văn Giải cứ nguyên hàm mà quyền lãnh Tổng đốc Định Biên, Thượng thơ bộ Công Tôn Thất Bạch cải bổ Thượng thơ bộ Binh quyền lãnh Tuần phủ Gia Định, Tổng đốc Định Biên cũ là Lê Văn Phú cải bổ Đề đốc Gia Định, nhưng phải hội đồng với Võ Văn Giải, Tôn Thất Bạch thương thỏa việc trong tỉnh. Bọn Văn Giải vào chầu xin đi, Ngài truyền rằng: "Gia Định, Biên Hòa là hai tỉnh lớn trong Nam Kỳ, phủ ngự Xiêm La Chân Lạp là việc rất quan hệ; các người nếu có trù nghĩ sắp đặt việc gì, nên một lòng thương thỏa với nhau rồi sau sẽ làm. Cốt là trong dân có yên thời ngoài giặc mới phục; vậy các ngươi phải lấy việc vổ yên chúng dân làm trước".

Tuần phủ An Giang Doãn Uẩn và Đề đốc Nguyễn Văn Hoàng phân đạo đánh giặc Chân Lạp; giặc bỏ đồn chạy. Nghe báo tiệp, Ngài xuống dụ ban thưởng. Lại truyền dụ Võ Văn Giải, Tôn Thất Bạch, Tôn Thất Nghị rằng: "Bây giờ quân ta tới đánh, oai thanh rầm rộ, cơ hội có thể làm đặng. Các ngươi phải lập tức kéo quân qua hội đồng với Nguyễn Tri Phương ở An Giang tuỳ cơ thương thỏa, vừa đánh giặc vừa yên dân, đừng để cho chúng nó dự bị được, rồi lại sanh ra  một sự khó. Các ngươi phải làm thế nào cho chắc được muôn phần, mau cáo thành công, đặng lãnh trọng thưởng".

Ngày Giáp Thìn, Ngài ngự chơi bờ biển, vừa rạng sáng, Ngài ngự kiệu lên chiếu lâu thuyền Thanh Yên, buổi sớm qua phá Hà Trung1, ngự lên đỉnh núi Linh Thái2 xem cửa biển Tư Hiền3 đến ngày mai ngự về.

Doãn Uẩn phá tan mọi Chân Lạp tại vũng Sách Nô. Mấy lâu quân ta tới đâu được đó, bây giờ lại nghe báo tiệp nữa, Ngài khen và ban thưởng. Lại dụ bọn Võ Văn Giải rằng: "nay giặc thường bị thua luôn, các ngươi phải nên xét kỹ cơ nghi đốc thúc hai đạo quân, tùy thế đánh giặc yên dân, cho mau im lặng; rồi lại nên phân đạo kéo tới lấy thành Nam Vang đặng lập công lớn".

Mới đặt hai đội quân Bình Hải, Định Hải ở tỉnh Nam Đinh, để khiến khai khẩn những ruộng đất bỏ hoang và di lâu.

Tháng 7, Nguyễn Tri Phương và Tôn Thất NGhị tới quân thứ Ba Nam, sai người chiêu người Mọi, người Thổ. Chúng nó phần nhiều bị mấy tên đầu mục kiềm chế, nên không chịu ra. Giặc lại lập đồn đắp

-----------
1 Tục truyền rằng: hơn 100 năm về trước, phá Hà Trung có 3 vị sóng thần: thuyền ghe qua đó, gặp sóng đều bị chìm cả.
2 Linh Thái trước gọi là núi Hòa Vang, sau lại gọi là núi Quy Sơn và núi Hãn Môn.
3 Cửa biển Tư Hiền ở phía đông nam huyện Phú Lộc cách 41 dặm; đời Lý gọi là cửa Ô Long, đời Trần đổi là cửa Tư Dung; đời Mạc đổi là cửa Tư Khách; đến đời Lê đổi tên Tư Dung lại; lại có một tên gọi là cửa Ông, một tên gọi là cửa Bợn. Vua Thái Tôn, Thánh Tôn đời Lý và vua Anh Tôn đời Trần đi đánh Chiêm Thành, có đóng quân tại đó. Vua Thánh Tôn đời Lê đi đánh Chiêm Thành qua đó than rằng: "Tốt thay sông núi! Đời sau chắc có anh hùng giữ chỗ này". Đến năm thứ 1 triều Thiệu Trị, mới đổi tên là Tư Hiền. Cửa ấy rộng 8 trượng, khi thủy triều lên thời sâu 3 thước, khi thủy triều xuống thời chỉ sâu 2 thước; nước cạn thuyền lớn không vô đặng, vậy nên không lập đài thành, chỉ đặt một sở để binh ở canh giữ ngoài biển. Bên phía tây cửa ấy có lập sở Hành Cung ở trên núi Thúy Vân. Năm Minh Mạng thứ 6 có lập miếu thờ Thần cửa ấy.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #139 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 11:52:53 pm »

lũy và giăng ngang giây sắt về phía thượng lưu vũng Ba Nam để giữ thành Nam Vang. Nguyễn Tri Phương và Doãn Uẩn muốn phân đạo đánh gấp để cho dân Thổ hết lòng trông nom, rồi tư các quan Kinh phái đại thần thương nghĩ. Võ Văn Giải và Tôn Thất Bạch nghĩ rằng: bọn dân Thổ chưa hàng. Thời tới lấy thành Nam Vang e còn khó; liền đem việc ấy tâu lên. Ngài ban dụ khiến đem quân tới đánh. Rồi thời giặc Thổ lại tụ hội tại phía thượng lưu xứ Sách Sô, lập đồn giữ vững. Nguyễn Tri Phương và Doãn Uẩn đem quân tới đó bắn chết hơn 10 tên giặc, giặc thua chạy; ta liền phá đồn, sai quân ở đó canh giữ.

Tuần phủ Hà Tiên là Nguyễn Lương Nhờn tâu có thám được tên đầu mục Chân Lạp là Nặc Ông Run tụ đảng khuấy rối đồn Vĩnh Điều và Tiên Mỹ. Ngài truyền dụ khiến đem quân tới đó thị oai và lừakhi bấy ý xông đột ra đánh, đừng nên làm bộ yếu ớt. Rồi giặc Mọi hơn 100 tên tới xâm nhiễu đồn Trường Lũy, quân ta đánh, chúng nó thua.

Tháng 8, Ngài truyền Nội các rằng: "theo lệ cũ, Hoàng Tôn từ 3 tuổi trở lên mới được ăn bổng. Nay Hoàng Trưởng tôn là Ưng Phước sanh ra vừa gặp khánh tiết đức Thái hoàng Thái hậu, ngũ đại đồng đàng nên ban ơn hậu, để tỏ điềm tốt lành nước nhà. Vậy cho gia ân Hoàng trưởng tôn Ưng Phước được chiếu lệ cấp bổng".

Khiến Hữu tư1 chế đồ ký: khắc hiệu tàu và hạng tàu để cấp phát cho các tàu đồng và tàu máy làm tin. (Khi ấy tàu đồng đại hạng thời có hiệu: Bảo Long, Thái Loan, Kim Ưng, Linh Phụng, Phân bằng; nhứt hạng thời cóhiệu: Vụ phi, Vân bằng, Thân giao, Tiên ly, Thọ hạc; nhị hạng thời có hiệu: Tĩnh dương, Bình dương, Định dương, Điềm dương; tam hạng thời cóhiệu: Thanh hải, Tĩnh hải, Bình hải, Định hải, An hải. Tàu máy thời có chiếc lớn hiệu Điện phi, chiếc trung hiệu Yên phi, chiếc nhỏ hiệu Vân phi. Sau có đóng thêm tàu nữa, cũng theo các ấy mà làm.

Các quan quân thứ ở Ba Nam là Nguyễn Tri Phương và Doãn Uẩn đánh lấy đặng đồn Thiết Thằng, (đồn ấy giăng giây sắt). Thừa thắng lấy lại thành Trấn Tây. Khi trước mình đã lấy đặng thành Sách Sô, giặc chỉ cậy còn đồn Thiết Thằng liều mạng giữ đó. Các quan quân thứ bàn nên đánh cho gấp. Nguyễn Tri Phương và Tôn Thất Nghị đem 3.000 quân từ sông con kéo tới, Doãn Uẩn và Nguyễn Văn Hoàng đem 2.000 quân từ sông Tiền Giang kéo tới; đều đem theo các tên Thổ mục dẫn đàng, chia quân tới thành Nam Vang, giặc đều bỏ thành ban đêm chạy trốn. Nghe báo tiệp, Ngài truyền các quan Đại thần rằng: "Lấy đặng không khó, giữ đặng là khó; các ngươi phải nghĩ mưu kế cho trọn vẹn hồi sau". Đại học sĩ Trương Đăng Quế tâu rằng: "Bây giờ đất cũ chưa lấy lại hết; xin đợi khi nào việc đánh giặc yên rồi sẽ liệu". Ngài cho là phải.

Xét công các tướng lấy lại đặng thành Trấn Tây; ban thưởng từ Nguyễn Tri Phương trở xuống hoặc gia hàm, hoặt thăng thọ, hoặc thăng thự. Lại phát tiền bạc giao cho bọn Võ Văn Giải thân hành tới nơi quân thứ thưởng cấp và ban yến ủy lạo. Còn tướng sĩ có công trạng thời giao bộ Binh phân biệt nghĩ thưởng.

Ngài nghĩ rằng giặc Mọi đã bị thua, liền truyền dụ bọn Nguyễn Tri Phương và Doãn Uẩn đem đại binh lập tức tới Vĩnh Long tùy cơ đuổi bắt. Lại sai Võ Văn Giải, Tôn Thất Bạch và Nguyễn Văn Hoàng đi khắp trong các xứ hiểu thị Thổ mục và Thổ dân nên đem nhau ra thú, hễ gặp người Xiêm thời bắt ngay giải nạp; còn việc nên sắp đặt thế nào là phải thời cho phép hội đồng trù nghĩ với nhau, rồi tâu lên Ngài xét. Được ít lâu, bọn Võ Văn Giải tâu xin lập con Nặn Yêm là Nặc Ong Bướm làm vua Cao Man, nước mình phái binh phòng hộ; nhưng lấy xứ Vĩnh Long làm chỗ địa đầu, để quân ở lại giữ đó. Ngài giao xuống cho Đình thần hội bàn. Nhưng sau không thấy thi hành.

Kinh phái Đại thần là Võ Văn Giải, Tôn Thất Bạch đã tới thành Trấn Tây, liền thưởng ủy Nguyễn Tri Phương và Doãn Uẩn hiệp với Chánh lãnh binh Hồ Đức Tú, Phó lãnh binh Nguyễn Công Nhờn kéo quân tới Vĩnh Long; còn Giải và Hoàng thời ở lại Trấn Tây để hiểu thị chiêu dụ. Được ít lâu, Thổ mục và Thổ dân đem nhau đầu thú hơn 23.000 người. Chúng nó đều nói: "vì bị quân Xiêm hiếp chế". Bọn Văn Giải cho chúng nó hàng. Việc tâu lên, Ngài ban rằng: "Triều đình dấy quân, chú ý để trừ đứa dữ, yên dân lành; cho nên việc dẹp giặc cứu dân, chỉ nên giết đứa cừ khôi, còn những đứa bị hiếp theo thời không nỡ

----------------
1 Hữu tư nghĩa là quan chuyên coi mỗi việc.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM