Midaxudavo
Thành viên

Bài viết: 605
|
 |
« Trả lời #140 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2009, 11:55:56 pm » |
|
làm tội. Mấy tên Thổ mục Thỗ dân đã ra hàng thú đó đều gia ân tha tội, phân tháp các nơi, đặng an sanh nghiệp".
Tháng 9, Nguyễn Tri Phương và Doãn Uẩn đem quân tới Vĩnh Long. Giặc ở hai bên bờ sông, núp trong rừng bắn ra, quân ta không kéo tới được. Nguyễn Tri Phương truyền quân bỏ thuyền lên bờ mà đánh, giặc tan hết, lui về giữ thành Ô Đông (Oudong). Việc ấy tâu lên, Ngài dụ khiến các quan quân thứ đều nên hết lòng gắng sức đánh đuổi cho gấp, làm sao bắt cho hết bọn tướng Xiêm là Chất Tri và đầu mục Cao Man Ong-Run cho đặng thành công.
Ngài ngự chế 4 bài châm "Kính thiên, Pháp tổ, Cần chánh, Ái dân". Nghĩa là: kính trời, bắt chước Liệt thánh, siêng chăm chánh sự, thương yêu chúng dân. Ngài đòi các Đại thần vào chầu, cho ngồi; truyền Lâm Duy Thiệp tuyên đọc bốn bài châm ấy. Rồi Ngài ban rằng: "đó là bốn việc rất lớn về đạo làm vua; ta từ mai tới xế và tới nửa đêm, siêng năm lo sợ, cũng chỉ có bốn việc ấy mà thôi". Nước Anh Cát Lợi khiến sứ qua tạ ân1. Ngài ban chiếu thơ đáp lại rất tử tế.
Cho tên Nặc Ong Bướm làm chức Tuyên phủ sứ. Bởi vì tên Bướm theo quân Triều đi chiêu dụ có công, các quan quân thứ tâu lên; cho nên được phong chức ấy.
Quân mình vây thành Ô Đông rất nguy cấp. Tướng Xiêm là Chất Tri hai ba lần sai người đem thơ xin hòa. Các quan quân thứ là bọn Võ Văn Giai đem việc tâu lên. Ngài truyền các Đại thần hội bàn việc ấy cho mau. Các Đại thần đều nói trước nên định ước nó đã, sau đó sẽ cho hòa. Ngài y theo. Bèn truyền dụ các quan quân thứ cứ theo vậy mà làm.
Tháng 10, cho quan Tổng đốc Định Biên là Lê Văn Phú làm chức Tổng thống tiễu bộ quân vụ và cho đem thuyền tốt binh mạnh lập tức qua tỉnh Vĩnh Long đánh giặc. Aáy là theo lời Nguyễn Tri Phương và Doãn Uẩn tâu xin.
Nguyễn Tri Phương, Doãn Uẩn tâu rằng: "dân Thổ thành Trấn Tây mới phục, xin chọn trong bọn Thổ biền Thổ mục chừng 20 người giỏi, cấp bằng cho làm chức Phủ uý và Huyện úy (6 phủ 14 huyện) để sai khiến chúng nó phủ dụ dân Thổ". Ngài cho.
Nguyễn Tri Phương và Doãn Uẩn đánh được giặc Cao Man tại ngoài thành Ô Đông.
Khiến ngự Tổng đốc Long Tường Ngô Văn Giai qua thành Trấn Tây hội đồng với Tôn Thất Bạch tham tán việc quân cơ, thự Đề đốc Nguyễn Văn Hoàng qua Vĩnh Long hiệp đồng với Lê Văn Phú và Doãn Uẩn đốc binh đánh giặc. Lãnh binh Lê Đình Lý cũng lập tức tới quân thứ để chực sai phái.
Tháng 11, Nguyễn Tri Phương và Doãn Uẩn với tướng Xiêm là Chất Tri ước hoà tại Hội Quán. (Khi trước Chất Tri đã sai người xin hòa, bây giờ lại xin hoãn binh, các quan quân thứ mới cho). Đến mai sau, tên Run sai người đem thơ tới trước cửa quân xin thứ tội; các quan nhận lời. Ngài nghe việc ấy, ban rằng: "tên Chất Tri giúp Cao Man làm điều bạo ngược, thường bị quân mình đánh thua; bây giờ sức đuối kế cùng, bất đắc dĩ phải xin hòa, còn có tên Rum nay đã trói mình thú tội, nên tha cho nó". Rồi sau tên Run và mấy tên Thổ mục đều được tha tội.
Bọn Nguyễn Tri Phương ở Vĩnh Long tâu rằng: "tên Chất Tri đã chịu triệt dồn lui quân, nay hai bên đều cho quân nghỉ". Bọn Tôn Thất Bạch ở Trấn Tây tâu rằng: "có hơn 2.000 giặc Thổ khuấy rối đồn Ba My; người quản đồn đánh liều bị chết, quân lính nhiều tên bị thương". Ngài sai trách hỏi Cao Man. Chúng nó lấy đều chưa kịp báo cáo khắp, thưa lại: Triều đình cũng bỏ qua không hỏi nữa. Rồi Ngài truyền Nguyễn Tri Phương lui quân về Trấn Tây, để xem chúng nó động tĩnh thế nào. (Ngô Văn Giai về An Giang, Tôn Thất Bạch về Gia Định). Ngài lại truyền dụ phải trù nghĩ việc nên xử trí thế nào tâu lên Ngài xét.
Tháng 12, Đề đốc Vĩnh Long, Tán lý quân vụ, Long Bình nam là Tôn Thất Nghị mất ! Tặng hàm đô thống, truy phong Long bình tử.
------------ 1 Bởi vì năm ngoái tàu nước Anh gặp gió bão, trôi vào cửa biển Bình Thuận nước mình sai quân đưa về, cho nên bây giờ qua tạ ơn.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Midaxudavo
Thành viên

Bài viết: 605
|
 |
« Trả lời #141 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2009, 10:40:43 pm » |
|
Định lại lệ "thưởng phạt về việc khẩn điền trong Nam Kỳ": (quan Tỉnh, Phủ, Huyện, Chánh, Phó tổng, Lý trưởng, ai khai khẩn thêm, thời được thưởng, nếu đã khẩn mà lại bỏ hoang, thời bị phạt; nhưng cách thưởng phạt nhẹ nặng phải đối chiếu theo số mẫu phân thành mà nghĩ định).
Năm Bính Ngọ thứ IV (1846) tháng giêng, gặp tiết Nguyên Tiêu, ngự chơi vườn Cơ Hạ. Nguyên trước Hoàng tử có dâng biểu xin Ngài ngự chơi tết đặng làm lễ chúc thọ. Ngài ban rằng: "Ta đương sức mạnh, chánh lá lúc thức khuya dậy sớm chăm lo, dẫu đến bữa ăn cũng không thong thả; lẽ nào bắt chước đời Đàng đời Tống xưa, làm bình núi ngao, làm cây treo đèn, để chú thọ sao? Nhưng nghĩ rằng chầu nuôi vui cười là đạo con hiếu thờ thân; vả lại bây giờ trong ngoài yên lặng, chánh sự đơn giản, theo lời Hoàng tử xin, cũng không hại gì".
Triệt lính đóng các đồn bên bờ sông tỉnh Vĩnh Long về sở quân thứ Trấn Tây. Nguyên khi trước Chất Tri cầu hòa, nó có chạy giấy về tâu vua nước nó; đến bây giờ nước nó đưa thơ biểu nó phải tính liệu thế nào cho mẹ, con, vợ, cháu tên Nặc Ông Run được một nhà đoàn tụ, để mau rút quân về Xiêm. Chất Tri sai người tới xin việc ấy. Bọn Võ Văn Giải tâu rằng: "Chất Tri bị thua tại đồn Thiết Thằng, thế cùng sức đuối, kêu cầu xin hòa; đã mấy phen qua lại nói năng, chắc lòng nó cũng đã là chơn thành. Vả lại quân ta đóng tại bờ sông đó cũng không phải là chỗ ở lâu đặng. Vậy xin triệt quân thứ Vĩnh Long về đóng tại thành Trấn Tây đặng xem tình thế; nhưng để Lãnh binh An Giang là Lê Đình Lý, thự Phó lãnh binh Lê Viên quản đốc quân lính ở đó trấn áp. Lại xin tha mẹ tên Run về, để cho nó đem đức ý Triều đình báo cáo với nhau; còn vợ và cháu tên Run bãi đợi khi nào Chất Tri về Xiêm rồi sẽ tha, để cho Chất Tri không có thể làm ơn riêng nó. Nếu Cao Man oán Xiêm bạo ngược, vui mình khoan dung, thời nó sẽ bỏ Xiêm mà Xiêm giận nó; đến lúc ấy ta muốn khiến nó làm sao cũng đặng. Chúng tôi trộm nghĩ như vậy cũng là một mưu nghĩ sự binh cách mà yên lặng được lâu". Ngài phê "cho". Được ít lâu, Oâng Run sai 5 tên quan Cao Man thay mặt tới quân thứ tạ ơn. Võ Văn Giải tha mẹ Ông Run tên là Đột cho về Cao Man và dâng sớ xin chịu tội thiện tiện. Ngài truyền dụ rằng: "Cứ các ngươi tâu rằng tên Ông Run thấy mẹ nó chưa được tha về, nó sợ hãi lắm; thời các người làm vậy cũng không hại gì, để xem ý hướng nó thế nào cũng đặng. Chỉ có tình giặc khó lường. Mà chức trách các ngươi giữ một phương diện là rất nặng; nên thường thường phòng bị thêm; nếu ngày sau nó sanh ra việc gì nữa, các ngươi cũng nên biết trước chế ngự cho mau và cứ thiệt tâu lên, Triều đình sẽ có cách xử trí. Các ngươi phải kính tuân điều ấy". Khiến bộ Lễ chước nghĩ lập miếu Hiền Lương và miếu Trung Nghĩa1 (hai miếu ấy đến triều Tự Đức năm đầu mới tuân chỉ lập ra).
Truyền khắp hầu ngự chơi vườn Cơ Hạ, đòi các Hoàng thân và quan văn vào chầu thưởng bông mẫu đơn làm thơ tức cảnh. Ngài ban rằng: "nay làm thơ ứng chế2 cả thảy 18 người, vừa đúng số 18 học sĩ đời nhà Đàng, được lên cõi Dĩnh Châu3. Ngài vui lòng, làm bài thơ có câu: "tán trị thần lân sum hội thương, nặng thi tử đệ bán diên trung", nghĩa là: thần lân giúp trị vầy trong việc, tử đệ hay thơ choán nửa giòng. Rồi Ngài ban cho mỗi người bút, giấy, mực và nghiên. Ngài lại truyền Nội các rằng: "Ta nay tuổi thọ bốn mươi, tháng năm gặp lễ Vạn thọ, mà năm nay lại thêm tháng năm nhuận nữa; nên chi ta lúc rảnh việc có nghĩ đặng câu rằng: "thụy ứng giai niên, trùng ngũ nhật, tăng trùng ngũ nguyệt; tường trưng thọ đán, bát thiên xuân hựu bát thiên thu" nghĩa là: năm tốt ứng điềm hay, ngày trùng ngũ, tháng thêm trùng ngũ; phước lành được tuổi thọ, xuân tám ngàn, thu lại tám ngàn. Lại có câu rằng: "kiết thái trương đăng, phi tại nhứt nhơn chi dật lạc; hành khánh thi huệ, phổ triêm vạn tính chi thừa hưu kết đèn treo, chẳng phải một mình sung sướng. Ơn ban phước xuống, muốn cùng muôn họ vui vầy. Rồi Ngài truyền lục các bài ấy ra, khiến Thị thần tuyên đọc. Đình thần đều lạy mừng.
Quan Quân thứ thành Trấn Tây là bọn Võ Giải dâng sớ tâu rằng: "hiện bây giờ thành Trấn Tây không có việc gì; chỉ có hai tỉnh An Giang và Hà Tiên báo có một vài trăm giặc Thổ kéo tới lũy dài sông Vĩnh Tế; quân ta giữ lũy chống cự, giặc liền kéo đi. Vả chăng tình giặc khó lường, chúng tôi đã trích 4 vệ lính thú cho về An Giang để làm thanh thế cứu viện". Ngài xuống dụ trách quở.
--------------------- 1 Hiền Lương là miếu thờ các quan giúp vua trị nước có danh tiếng. Trung Nghĩa là miếu thờ các quan tử tiết. 2 Ứng chế là vâng mạng vua mà làm văn chương. 3 Lên cõi Dĩnh Châu nghĩa là lên cõi trên. Đời Đàng xưa, 18 người quan văn được lựa vào chầu phủ Thiên Sách, người ta cho là vinh hiển cũng như lên cõi tiên vậy
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Midaxudavo
Thành viên

Bài viết: 605
|
 |
« Trả lời #142 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2009, 10:44:23 pm » |
|
Thượng thơ bộ Lễ Nguyễn Trung Mậu mất ! Mậu người Nghệ An; làm quan hơn 40 năm, thanh thận giữ mình, quen thuộc việc lễ. Khi mất, tặng Hiệp tá đại học sĩ.
Ngài sắc xuống Nội các khiến thợ in Võ kinh1 45 bộ đặng ban phát cho các viên chức trong mấy Cơ, Đội, Dinh, Vệ ở Kinh và ngoài các tỉnh học tập. Bởi vì khi ấy bàn định lập khoa thi võ, cho nên Ngài xuống sắc ấy.
Tháng 3, Mỹ Lâm Quận chúa ở Trấn Tây là Ngọc Vân xin phép cho các quan Cao Man tới Kinh bái khánh. Ngài cho. Tháng 4, hai nước Thủy Xá và Hỏa Xá khiến sứ tới cống, lại dâng đồ phẩm nghi làm lễ khánh hạ. Lãnh tuần phủ Hà Tiên Nguyễn Lương Nhờn vào chầu. Ngài ban hỏi rằng: "tên Chất Tri còn ở O Đông là cớsao vậy?- Nhờn tâu rằng: nguyên trước Chất Tri tới giúp Cao Man, thường bị quân mình đánh thua, khí giới mất hết, cho nên dùng dằng chưa về, là muốn bắt Cao Man đền bồi binh phí mà thôi; lâu nay hòa nghị chưa xong cũng vì cớ ấy.- Ngài ban rằng: lời người tâu cũng đúng như ý ta nghĩ".
Tháng 5, ngày Giáp Tý, rước đức Thái hoàng Thái hậu ngự trên Thái Lâu, tấu đủ các thứ âm nhạc. Đến ngày mai là ngày Ất Sửu, Ngài ngựn đền Thái Hòa, Hoàng tử Hoàng thân, các quan trong Kinh và các tỉnh. Thổ ty các hạt, Sứ thần các thuộc quốc, người Quý Hương, người Thích Lý, đều dâng biểu chúc mừng. Truyền đọc ân chiếu trước cửa Ngọ Môn cả thảy 30 điều. Ngày Bính Dần ban yến tại đền Cần Chánh; lại cho mấy người kỳ lão trong sáu huyện Thừa Thiên uống rượu 3 ngày.
Tháng 5 nhuận, bộ Hộ tâu lên: năm nay Thừa Thiên, Quảng Trị, Thanh Hóa, Ninh Bình, Bắc Ninh, Nam Định, Hải Dương, Quảng Yên, Thái Nguyên, Hưng Hóa, lúa mùa hạ mười phần an, Hà Tĩnh, Hà Nội, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, mười phần được đến tám, chín. Ngài thấy tâu, vui lòng ! Bèn ngự chế bài thơ để ghi việc ấy; có câu rằng: "Cửu quận giai trung nẫm, thập châu cánh thượng phong", nghĩa là: chính quận mùahơi khá, mười châu lúa được nhiều.
Nghệ An và Hà Tĩnh bão lụt lớn: nhà cửa đổ nát, thuyền ghe chìm đắm. Truyền phát tiền gạo chẩn cấp cho dân. Ngày Ất Vị, gặp lễ Trùng Khánh2 Ngài ngự đền Cần Chánh, các quan lạy mừng.
Truyền dụ các quan quân thứ thành Trấn Tây là bọn Võ Văn Giải rằng: "Tướng giặc Chất Tri khi trước thấy người Cao Man thường tới buôn bán với ta, sợ ta được lòng Cao Man; nên nó xui dục Cao Man bắt người nước ta, đánh đồn bảo ta, ra vào dòm ngó, làm cho ta giận Cao Man; đó là mẹo khôn quyệt của Chất Tri. Các người nên nghĩ cho kỹ".
Tháng 6, Tuần phủ Biên Hòa là Hà Thúc Lương tâu rằng: "Lúc triều Minh Mạng, có 66 xóm mọi, số đinh 519 tên, tình nguyện xin theo về ngạch dân mình. Tinh thần trước đã phụng chỉ chia làng đặt tổng, hiện được 4 tổng, 48 xã thôn; xin đặt làm huyện Phước Bình; lại xin trích 16 xã thôn ở tổng Chánh Mỹ Hạ (thuộc về Huyện Phước Chánh) phụ vào đó; thuế thân dân Mọi 4 tổng ấy thời xin từ năm sau trở đi chiếu theo lệ dân Hán mà thâu; còn ngạch thuế nó nạp lâu nay thời xin tha hết; ruộng đất xin đợi đủ 6 năm, khám đạc rồi, mới đánh thuế; ngạch lính xin triển hoãn 10 năm rồi mới chiếu lệ bắt điền. Nay đã tới kỳ khám đạc, tôi khám ruộng đất hiện được hơn 40 mẫu, xin chiếu theo số đó đánh thuế; đợi khi nào người sanh trưởng thêm, ruộng khai khẩn thêm; sẽ tùng thiệt biên vào sổ thuế". Ngài cho.
Ngài truyền Cơ mật và Nội các rằng: "Chánh sự Triều đình nên có phép nhứt định. Nay làm bộ Hội điển, công phu khảo cứu vẫn cũng thiệt phiền; nhưng bộ ấy làm rồi, thời phép lớn phép nhỏ phân binh, gặp việc theo đó mà làm, thiệt ích lợi về việc chánh trị lắm. Các ngươi phải cứu hết thảy những chánh lệnh từ năm đầu triều Gia Long đến bây giờ, việc gì đã phụng chỉ thi hành nhứt nhứt chia từng loài biên thành sách. Lại phải định lập trình hạn thưởng phạt, cho rõ người nhác kẻ siêng".
------------------ 1 Võ kinh là sách dạy nghề võ. 2 Trung Khánh nghĩa là: mừng hai lần. Bởi vì ngày lễ Vạn Thọ về tháng 5 trước; đến tháng 5 nhuận lại lập ngày lễ nữa, cho nên gọi là lễ Trùng Khánh.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Midaxudavo
Thành viên

Bài viết: 605
|
 |
« Trả lời #143 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2009, 10:46:46 pm » |
|
Tháng 7, mới mỏ mỏ vàng Hội Hoan tại tỉnh Lạng Sơn. Mới mở trường thi Võ tại Kinh thành. Tháng 8, thự Hiệp tá đại học sĩ lãnh Tổng đốc Hà Ninh Tôn Thất Lương mất ! Ngài thương tiếc lắm, cho thiệt thọ Hiệp tá và cho Lương sẽ được dự tên trong miếu Hiền Lương.
Tháng 9, mới đặt chức Tấn thủ tấn Đại Giang và tấn Hiệp Phố1 thuộc về tỉnh Hà Tiên, mà giám sở Tân Thú ở Giang Thành. Nguyên Hà Thiên có 5 cửa biển; thuộc về huyện Kiên Giang 2 cửa; cửa Cái Lớn và cửa Cái Bé; thuộc về huyện Long Xuyên 3 cửa: cửa Thông Đàm, cửa Cự Môn và cửa Bái Đáp. Các thuyền mành hay ra vào mấy cửa ấy. Khi trước nguyên lập 3 nơi tấn thủ: Nghi Giang, Trấn Di và Giang Thành. Đến bây giờ quan tỉnh là Phan Tùng xin đặt 1 chức Tấn thủ tại huyện Kiên Giang và huyện Long Xuyên: Tấn thủ Đại Giang (Cái Lớn) thời kiêm coi cửa Tiểu Giang (Cái Bé); Tấn thủ Hiệp Phố thời kiêm coi cửa Cự Môn; còn Tấn thủ Nghi Giang kiêm coi cửa Thông Đàm; đến như sở Tấn thủ Giang Thành cũ thời bây giờ đã có Tấn Thủ Trấn Di cũng đủ tra xét, vậy xin giảm bớt sở Giang Thành. Ngài cho. Tháng 10, tướng cướp là Trương Trinh bị giết2.
Tháng 11, bọn Võ Văn Giải tâu: "chúng tôi đã sai người tới thành Ô Đông, đem chuyện phân thiết3 nói cho Ông Run và Chất Tri hiểu; mà Chất Tri còn cứ kêu xin cho mấy tên cháu Ong Run được sum họp một nhà". Ngài truyền dụ rằng: "Chất Tri vốn là một thằng xảo trá, bụng nó khó lường; việc xin hòa đã hơn một năm, nó cứ thường thường bày việc kêu nài, quân thứ đem việc tâu lên, Triều đình thương đến binh dân, đã chiều theo lời nó. Nay nó lại than vãn cố xin cho đặng một nhà Ong Run sum họp, qua lại nói năng, rày lần mai lữa, là có ý đợi dịp gió thuận nước êm để sanh sự, tình nó thiệt, dối, cũng chưa biết được. Còn như việc chia đất lập châu huyện, nó có kiếm điều kêu xin chi nữa, các ngươi nhứt thiết đừng nghe; nếu chiều theo lời nó xin, thời mai sau dẫu đánh dẫu hòa, chẳng khỏi thêm phiền một lần trù nghĩ nữa".
Võ Văn Giải tính đã đến kỳ nước Xiêm xin hòa4, liền sai người qua Hải Tây hỏi nó, để xem ý làm sao. Chất Tri trả lời: nó đã tục thơ về Xiêm, chừng trong một tháng, không dám sai hẹn. Bọn Võ Văn Giải còn chưa tin, rồi tâu rằng: "nếu nó sai hẹn, chúng tôi xin đến tháng sau chia đạo đem hết quân sĩ, thẳng tới đánh thành Ô Đông, để yên bờ cõi". Ngài khen lời tâu khẳng khái. Chất Tri nghĩ rằng đã hết hạn một tháng, sợ nói không thiệt, sai một tên đầu mục nước Xiêm, 3 tên đầu mục Cao Man, tới xin các quan quân thứ kiểm xét trước, và xin sai Thổ mục tới Kinh xưng thần dâng đồ cống; còn xin nạp lại. Bọn Võ Văn Giải nghĩ rằng trước nó đã xin trước hãy dâng đồ cống, rồi sau sẽ trả lại dân mình, nếu y lời nó xin, cũng không hại gì. Đem việc tâu lên. Ngài cho là phải.
Định lệ "đinh gian" cho các quan lại có làm con thừa tự người khác: (hễ các quan viên có ai làm con thừa tự người khác, gặp tang cha mẹ nuôi hay là tang cha mẹ sanh, nhứt phẩm được về 6 tháng trị tang; nhị phẩm 5 tháng, tam phẩm 3 tháng, tứ ngũ phẩm đến quan văn lục thất phẩm và Hành tẩu, Hậu bổ đều được về 2 tháng; Đốc học, và Giáo, Huấn đều được về 6 tháng; còn như văn từ bát phẩm, võ từ lục phẩm trở xuống, đều được về 1 tháng).
Tháng 12, vua Cao Man là Nặc Ong Run sai bầy tôi đem bài biểu và đồ phẩm nghi, tới quân thứ Trấn Tây, xin dâng biểu về Kinh xưng nạp thần cống. Võ Văn Giải, Nguyễn Tri Phương dịch bài biểu dâng lên, Ngài truyền cho.
Bộ Hộ tâu rằng: "Cửa ải, bến tàu, thuế khóa quan hệ tại đó. Lâu nay ở ngoài Bắc Kỳ thuế ấy định theo giá hàng hóa; trong Nam Kỳ thuế ấy chiếu theo số thuyền bè. Chỉ có từ Thừa Thiên trở vô Biên Hòa, trở ra tới Quảng Bình, những sở Tuần Ti lập tại nguyên đầu; đánh thuế không có định lệ. Nay bộ tôi
------------------ 1 Tấn Đại Giang nguyên gọi là cửa Cái Lớn, thuộc về huyện Kiên Giang; Tấn Hiệp Phố nguyên gọi là cửa Bãi Đắp, thuộc về huyện Long Xuyên. 2 Trương Trinh đã nhiều phen chống cự quân Triều, nay mới bắt được chánh pháp. 3 Phân thiết là chia đất Cao Man đặt thành châu huyện. 4 Chất Tri hẹn đến tháng 11, xin trả những người mình mà nó đã lừa bắt và xin sai người tới dâng đồ cống.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Midaxudavo
Thành viên

Bài viết: 605
|
 |
« Trả lời #144 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2009, 10:48:22 pm » |
|
xét các tỉnh nguyên đầu trong năm tỉnh: Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Nghĩa, Bình Định, Khánh Hòa hoặc cứ mấy tên lãnh trưng xuất đồ hàng hóa bán mà nạp, hoặc cứ dân Mọi chiếu theo thuế lệ nguyên chịu mà nạp, vẫn không đánh thuế như các chỗ khác. Vậy 5 tỉnh ấy xin cứ theo lệ cũ. Còn mấy sở đồn tuần các nơi nguyên đầu trong 5 tỉnh: Thừa Thiên, Quảng Trị, Bình Thuận, Phú Yên, Biên Hòa thời xin hễ thấy khách buôn từ nguyên đầu chở hàng hóa xuống đi qua sở tuần, trừ chở gạo và các vật tầm thương tha khỏi chịu thuế, còn chở các đồ hàng hóa trên Mọi và sản vật trên rừng, thời xin trong mỗi vật chia làm 10 phần, thâu thuế một phần; nếu ai muốn nạp tiền cũng cho. Còn các hàng hóa ở dưới hạ lưu mà chở lên nguyên đầu, xin tha khỏi thuế, để tỏ phép nhứt định". Ngài cho.
Năm Ất Vị thứ VII (1847), tháng giêng, Ngài ngự đền Văn Minh; các quan đồ các phục vào lạy. Lễ xong rồi, Ngài tùy bậc ban thưởng. Ngày ấy phủ Thừa Thiên tâu lúa má xanh tốt, Quảng Bình và Quảng Trị tâu dân gian ninh thiếp. Ngài ban rằng: "lúa là vật quý nuôi người, dân là cội gốc nhà nước; đầu năm tiếp phước, tốt gì lại hơn ! Được một hồi, tỉnh Gia Định tâu rằng: năm ngoái trong tỉnh ấy 4 phủ, 9 huyện đều được mùa, so với mấy năm khác lúa được xấp hai, xưa nay chưa có năm nào được mùa như vậy". Ngài xem lời tâu vui lòng, dạy bộ Hộ rằng: "Nam Kỳ khổ việc giặc giã đã lâu, 4,5 năm nay giá gạo cao lắm. Nay được tin tốt, coi một tỉnh ấy cũng đủ biết mấy tỉnh khác. Ta rất mừng cho dân xứ ấy"!.
Cho Nguyễn Cửu Trường, làm Bố chánh Hà Nội. (Cửu Trường nguyên thự Tả thị lang bộ Lại, Sung tá Các vụ). Ngài ban dụ rằng: "ngươi làm quan đã lâu, mà chưa bổ ra ngoài. Nay ta cho ra tỉnh ấy là xứ tiền của tụ hội, bốn phương ai cũng trông vào. Người là thanh giá đại khoa, lại là quan Nội các bổ ra trị tỉnh lớn. Phải nên gắng, không những chẳng phụ lòng ta ủy dụng, mà cũng không thẹn với khoa danh. Nếu được như vậy chẳng tốt lắm sao ! (Cửu Trường sau lại đổi về Thị lang bộ Hộ, sung tá Các vụ).
Khiến đình thần xét bàn về việc các đàng sông ngoài Bắc Kỳ. Nguyên khi ấy quyền Tổng đốc Hà Ninh là Nguyễn Đăng Giai dâng sớ xin bỏ đàng đê tiện hơn. Ngài giao đình nghị, rồi không thấy thi hành.
Tháng 2, Ngài ngự đền Cần Chánh. Sứ Cao Man vào làm lễ triều cống.
Ngài truyền Cơ mật đại thần rằng: "Phản phúc không thường là thói quân Mọi, thiệt hư không định là chước dùng binh. Cho nên xa ngàn dặm khó nổi liệu lường, dẫu trăm nghe không bằng một thấy. Vậy thời mưu phải cho tròn, hỏi phải cho kỹ mới đặng. Nhơn bây giờ hiện có sứ Cao Man ở đây, thời tình hình Xiêm La và Cao Man các ngươi phải nên tùy sự đặt câu hỏi cho rõ hết thiệt trạng. Như hỏi mấy câu này: tên Ong Run phản anh bỏ nước trốn qua Xiêm, bây giờ trở về mà người trong nước phục lòng, ấy quả thiệt tình phục chăng? Hay là sợ Xiêm La bạo ngược mà phải vậy chăng? Xiêm cứu Cao Man, chắc cầu lợi to; Cao Man nhờ Xiêm, chắc phải báo hậu; núi Đậu Khâu thuộc về đất Cao Man, phía tây bắc giáp nước Xiêm, phía đông nam giáp nước mình; người Xiêm thèm núi ấy đã lâu; nay núi ấy còn thuộc về Cao Man hay là đã về Xiêm rồi? - Người trong nước đã lập Ong Run làm vua, mà chúa nó là nường Ngọc Vân vốn con vua trước, tuy là đàn bà, nhưng đã làm Quận chúa; Ong Run đó, Ngọc Vân cũng còn đó, trong nước toan theo ai? Nếu bây giờ ta phong cho chúng nó coi chung việc nước, chúng nó sẽ chia đất mà ở, một người ở Ô Đông, một người ở Ba Nam, hay là trị nước chung nhua như thói Xiêm trước có Vua Phật, vua thứ hai và vua thứ ba chăng? - Ong Yêm là anh Ong Run, Ong Bướm là con Ong Yêm cháu Ong Run; nay Ong Run đã được làm vua, thời ở với cha con Ong Yêm quả thiệt lòng giúp nhau thương nhau mà không việc giúp Ong Run làm điều, nay Ong Run đã làm vua, thời Chất Tri sẽ về Xiêm hay là cứ ở Cao Man đánh tiếng bảo hộ? Các ngươi nên sai một người thuộc viên nói giỏi đem điều ta đã nghĩ đó thử hỏi Sứ Cao Man xem thế nào. "Khi ấy mình hỏi gì, sứ Cao Man thưa nấy, không có chút nào ngập ngừng. Ngài ban rằng: "xét lời nói nó thiệt quả chơn thành, không nên ngờ người Cao Man nữa".
Phong Ong Run làm Cao Man quốc vương, Mỹ Lâm quận chúa Ngọc Vân làm Cao Man quận chúa. Ban thưởng các quan đại thần ở quân thứ Trấn Tây (Võ Văn Giải và các ông khác).
Hai chiếc tàu binh nước Đại Pháp đậu tại cửa Hàn (Đà Nẵng) đưa một phong quốc thơ bằng chữ Nho. Tháng 3, tàu Đại Pháp gây việc tại cửa Hàn; rồi đi.
Ban chiếu truyền các tướng ở Trấn Tây đem quân về An Giang để nghỉ. Bọn Võ Văn Giải đem việc đánh giặc đã yên làm sớ bằng giấy đỏ dâng lên. Ngài ban khen, đòi các tướng về Kinh vào chầu.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Midaxudavo
Thành viên

Bài viết: 605
|
 |
« Trả lời #145 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2009, 10:52:32 pm » |
|
Ngài nghĩ rằng: giặc mới vừa yên, các việc cần sắp đặt phải có trọng thần mới trấn tĩnh đặng, liền sai thự Binh bộ thượng thơ An tây mưu lược tướng là bọn Doãn Uẩn chia nhau kinh lý việc trong 6 tỉnh Nam Kỳ, những quân lính nguyên phái ở đó, nay lên lượng số để lại canh giữ, còn bao nhiêu cho về nghỉ.
Mới định lệ "các quan viên thừa trọng1 phải về đinh gian": (hễ các quan viên thừa trọng cho ông bà nội, gặp tang ông hay bà, thời nhứt phẩm được về 6 tháng; nhị phẩm 5 tháng; tam phẩm 3 tháng; từ tứ ngũ phẩm đến văn lục thất phẩm và Hành tẩu, Hậu bổ, đều được về 2 tháng; Đốc học, Phủ, Huyện, Giáo, Huấn, 6 tháng; văn từ bát phẩm, võ từ lục phẩm trở xuống đều 1 tháng).
Tháng 4, khiến lập 7 đồn giữ các bờ biển tỉnh Quảng Nam. (Vì Ngài lưu ý phòng bị các cửa biển, cho nên xuống chỉ ấy).
Bộ Hộ làm sổ tâu số đinh năm ấy cả thảy là 1.014.388 người, Thừa Thiên 42.751 người, Quảng Nam 65.486 người, Quảng Nghĩa 25.766 người, Bình Định 52.110 người, Phú Yên 9.696 người, Khánh Hòa 10.426 người, Bình Thuận 17.570 người, Biên Hòa 16.949 người, Gia Định 51.788 người, Định Tường 26.799 người, Vĩnh Long 41.336 người, An Giang 22.998 người, Hà Tiên 5.728 người, Quảng Trị 33.169 người, Quảng Bình 22.438 người, Hà Tĩnh 45.678 người, Nghệ An 56.870 người, Thanh Hóa 63.353 người, Ninh Bình 30.350 người, Hà Nội 64.201 người, Hải Dương 49.475 người, Sơn Tây 51.304 người, Bắc Ninh 63. 774 người, Nam Định 78.268 người, Hưng Yên 20.584 người, Tuyên Quang 6.734 người, Hưng Hóa 11.219 người, Quảng Yên 3.639 người, Lạng Sơn 11.224 người, Cao Bằng 11.013 người, Thái Nguyên 11.710 người. Cả thảy là được 1.024.388 người, so với số đinh cuối năm ngoái chỉ có 986.321 người, thời năm nay thêm được 38.157 người.
Các quan văn tại Kinh và ngoài các tỉnh từ tam phẩm trở lên ai còn cha, mẹ tuổi đến 70, Ngài đều ban cho sâm, quế, bạc, lụa; cả thảy được 12 người. Ngài dụ rằng: "Triều đình phép lớn: dạy hiếu làm trung. Nhơn tử lòng vui: còn thân hưởng lộc. Năm ngoái gặp lễ Tôn sùng là lễ lớn, không phải như lễ tầm thường. Vậy nên ban ơn không nệ cách thường, để tỏ nước nhà dùng "Hiếu" mà trị thiên hạ".
Ong Run đã được phong vương, liền sai Phiên mục (một người thập phẩm, một người bát phẩm) qua quân thứ dâng biểu xin tới Kinh tạ ơn. Quận chúa Ngọc Vân cũng xin dâng biểu tạ. Việc ấy tâu lên, Ngài cho. Nhưng định lệ cho 3 năm tới cống một lần, kể từ năm Mậu Thân làm đầu, (mỗi năm ban cho Cao Man 1 quyển quan lịch, 100 quyển dân lịch).
Tháng 5, các tướng soái đánh Cao Man là bọn Võ Văn Giải thân quân về Kinh phục mạng. Ngài rót rượu ban cho và yên ủy hồi lâu, rồi thưởng các đồ vàng, ngọc; tì tướng và quân lính cũng được yên thưởng.
Định Thái Địa2 phong cho mấy người công thần" (tước Quốc công và Quận công thời lấy tên phủ mà phong, tước Hầu lấy tên huyện, tước Bá lấy tên tổng, tước Tử lấy tên xã, tước Nam lấy tên thôn. Nếu sau được tấn phong, cũng cứ để tên đất nguyên phong khi trước, không được đổi tên khác).
Tháng ấy gặp lễ Vạn Thọ, vừa nhằm lúc ấn ngọc khắc rồi. Nguyên ngày lễ Vạn Thọ năm ngoái, có người dâng hòn lương ngọc lớn, Ngài truyền thợ ngọc dũa thành hình cái ấn. Ngày tế Giao năm nay, Ngài đem việc ấy mật cáo Trời, Đất; liền ngày ấy khởi công khắc 9 chữ: "Đại Nam thọ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỉ". Hơn một tháng khắc rồi. Nội các tâu rằng: "Ngọc lành xuất hiện, ứng về năm tốt; ấn thần khắc rồi, lại gặp lễ vui". Rồi đem ấn và sớ dâng lên. Ngài lấy làm vui lòng.
Ngày Giáp Ngọ, Ngài ngự cửa Thuận An, lên lần Lưỡng Kiên xem tập thủy trận; ngày ấy ngự về. Ngày mai, ban ra tám bài thơ vịnh cảnh Thuận An cho các quan xem: (1. Viên Thành trấn hải. 2. Kiểu Các quan lan. 3. Cao Lâu lưỡng đắc. 4. Hành Điện song thanh. 5. Cáp Châu biểu tấn. 6. Giải chữ nhà dân. 7. Sa Cương bảo chướng. 8. Gia Thọ thanh tâm).
------------------- 1 Thừa trong nghĩa là cha đã mất rồi, mình là cháu đích tôn phải thay cha mà để tang ông, bà nội. 2 Thái Địa là nơi phong cho các quan để làm lộc điền.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Midaxudavo
Thành viên

Bài viết: 605
|
 |
« Trả lời #146 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2009, 10:55:57 pm » |
|
Tháng 6, định lệ cho dân Cao Man thông thương. Từ đó người Hán người Thổ lại cứ buôn bán
Tháng 7, 12 khẩu súng bửu bác đúc rồi.
Khiến đình thần bàn định công trạng dẹp yên thành Trấn ấy, để khắc đá dựng bia. (Đến năm thứ 4 triều Tự Đức nghị định xong rồi, mới dựng bia).
Tháng 8, Ngài làm rồi tập thơ Ngự Chế nói về việc võ công (vịnh về mưu lược dẹp yên Xiêm La và Chơn Lạp, cả thảy 129 bài, 12 bài minh; vịnh về mưu lược dẹp giặc Mọi, giặc biển, giặc Thổ, cả thảy 12 bài. Cơ mật và Nội các dâng biểu xin cho khắc in ban cấp).
Tháng 9, ban 9 bài Hoàng huấn1. Ngài thưởng nhơn khi rảnh việc theo thể thức Kinh Thi làm ra 9 bài thơ: 1. Cao Minh (nói về Trời), 2. Bác Hậu (nói về Đất), 3. Sủng Tuy (nói về đạo làm vua). 4. Trung Lương (nói về đạo làm tôi), 5. Từ Aùi (nói về đạo làm cha), 6. Hiếu Đễ (nói về đạo làm con em), 7. Tạo Đoan (nói về đạo vợ chồng). 8. Hữu Vu (nói về đạo anh em), 9. Chỉ Tín (nói về đạo bầu bạn). Khiến Nội các chú thích biên chép.
Sắc bộ Hộ làm sổ tổng cộng năm thứ XXI triều Minh Mạng và năm thứ VII triều Thiệu Trị (từ tháng 8 trở về trước), trong nước số đinh, điền thổ; và sổ tiền, lúa, vàng, bạc, trừ chi tiêu rồi còn lại bao nhiêu. (Năm thứ XXI triều Minh Mạng số đinh được 970.516 người, điền thổ 4.063.892 mẫu, lúa 2.804.740 hộc, tiền 2.852.462 quan, vàng hơn 1.470 lượng, bạc 121.114 lượng. Năm ấy gia số thâu vào rồi trừ số chi tiêu đi, hiện còn lại lúa gạo 6.544.376 hộc và phương, tiền 14.335.337 quan, vàng và các hạng tiền vàng 37.480 lượng, trong số vàng ấy để tại kho Nội vụ 31.261 lượng 2 đồng, các hạng bạc 2.506.670 lượng, trong số bạc ấy để tại kho Nội vụ 2.000.169 lượng. -năm Thiệu Trị thứ VII số đinh được 1.029.501 người, điền thổ 4.278.013 mẫu, lúa 2.960.134 hộc, tiền 3.108.162 quan, vàng 1.608 lượng, bạc 128.773 lượng. Kể từ tháng 8 trở về trước, gia số thâu vào rồi trừ đi số chi tiêu đi, hiện còn lại lúa va gạo 9.466.460 hộc và phương, tiền 12.234.358 quan, vàng 48.741 lượng 1 đồng 1 phân, trong số vàng ấy để tại kho Nội vụ 42.709 lượng 4 đồng 8 phân, bạc 3.265.346 lượng 9 đồng 7 phân, trong số bạc ấy để tại kho Nội vụ 3.000.169 lượng 3 đồng.
Có hai chiếc tàu binh nước Anh Cát Lợi tới cửa Hàn. (Người chủ tàu muốn tới Kinh dâng thơ, Triều đình không cho, cải lẽ đến hơn 10 ngày). Triều đình đưa tiễn rất hậu, rồi 2 chiếc tàu ấy nhổ neo chạy đi).
Ngài se, đòi Cố mạng lương thần Trương Đăng Quế và đại thần Võ Văn Giải, Nguyễn Tri Phương, Lâm Duy Thiếp vào chầu. Ngài truyền đuổi mấy người tả hữu, rồi ban rằng: "Ta nối nghiệp lớn đã 7 năm nay, ngày đêm lo lắng không dám thong thả vui chơi; mấy lâu se mình, hôm nay mệt lắm ! Ta lo nghiệp lớn tổ tông phó thác cho ta, nên ta phải lựa người nối nghiệp để yên xã Tắc. Trong mấy người con ta, Hường Bảo tuy lớn, nhưng vì thứ xuất2, mà lại ngu độn ít học, chỉ ham vui chơi, nối nghiệp không đặng; con thứ 2 là Phước Tuy Công thông minh ham học giống in như ta, đáng nối ngôi làm vua; hôm trước ta đã phê vào tờ Di chiếu3 để tại trong long đồng4. Các ngươi phải kính noi đó ! Đừng trái mạng ta !". Các đại thần đều khóc lạy vâng mạng, rồi lui ra. Đến ngày Quý Mão bệnh nặng lắm, Ngài băng tại cung Càn Thành ! Ngài có 64 ông Hoàng tử và Hoàng nữ. Liền ngày ấy các Hoàng thần và các quan văn, võ hội đồng tuyên đọc tờ Di chiếu tại đền Cần Chánh, Hoàng tử thứ hai là Ngài Phước Tuy công khóc lạy vâng mạng.
---------------- 1 Hoàng huấn nghĩa là vua ban lời dạy. 2 Thứ xuất nghĩa là con các bà hầu sanh ra. 3 Di chiếu là tờ chiếu vua để lại khi Ngài gần băng. 4 Long đồng là ống chạm rồng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Midaxudavo
Thành viên

Bài viết: 605
|
 |
« Trả lời #147 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2009, 10:58:56 pm » |
|
QUỐC TRIỀU CHÍNH BIÊN TOÁT YẾU
Quyển thứ V ----------------------- Dực Anh Tôn Hoàng Đế
Niên hiệu Tự Đức Tên húy Ngài viết bằng chữ Hán: Bên tả chữ Bên hữu chữ. Trên chữ Ngài viết bằng chữ Hán. Bên tả chữ Bên hữu chữ mà trên có chữ Hường làm chữ lót. Ngài là con thứ 2 đức Hiến Tổ Hoàng Đế; đức Từ Dũ Hoàng thái hậu họ Phạm Đăng sanh Ngài trong năm Kỷ Sửu, niên hiệu Minh Mạng thứ 10 (1829). Đến năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), Ngài được phong tước Phước Tuy Công. Khi ấy An Phong Công là Hường Bảo tuổi tuy lớn, nhưng về con giòng thứ, lại ít học ham chơi; còn Ngài thời tánh nhơn hiếu thông mẫn lại ham học; đức Hiến Tổ thương lắm, thường đòi vào chầu, dạy Ngài những đạo học Đế, Vương, đời trước, cho đến việc dân gian cày cấy khó nhọc, lại cho một bộ sách "Thánh chế chỉ thiên đàn thi văn hội tập", và dụ rằng: "bộ sách ấy là ý chỉ của đức Hoàng Tổ ta để lại, phép trị thiên hạ đều ở đó". Đức Hiến Tổ khi ấy đã có ý lập Ngài rồi. Tháng 9, năm Thiệu Trị thứ 7 (1847), đức Hiến Tổ se, di chiếu lập Ngài nối ngôi. Ngài ở ngôi được 36 năm, thọ 55 tuổi. Lăng Ngài là lăng Khiêm Lăng. Tháng 10, ngày Kỷ Sửu, Ngài lên ngôi tại điện Thái Hòa; đặt niên hiệu là Tự Đức, kể từ sang năm là năm Mậu Thân làm đầu, ban ân chiếu khắp trong ngoài. Cho Cố mạng lương thần phụ trách chánh đại thần Trương Đăng Quế thăng Cần chánh điện đại học sĩ, tấn phong Tuy thạnh quận công; Phụ chánh đại thần Võ Văn Giải tấn phong An Viễn Hầu; Nguyễn Tri Phương phong Tráng Liệt Bá; Lâm Duy Thiếp thăng Hiệp tá đại học sĩ. Truyền các quan địa phương tâu rõ tình trạng khốn khổ ngoài dân gian. Tháng 12, thự Tả tham tri bộ Công là Trương Quốc Dung dâng sớ tâu 5 điều: 1. Bớt việc chi tiêu, 2. Cẩn việc hình ngục, 3. Chỉnh đốn quan lại, 4. Giảm bớt văn án, 5. Sửa sang phép học. Trong sớ ấy lại nói: "tài lực trong dân, so với năm trước mười phần kém đến năm sáu, mà các quan địa phương thường hay trau giồi tiếng tốt: hỏi số dân thời tâu rằng tăng, hỏi mùa màng thời tâu rằng được, chỉ muốn cho mình được tiếng khen, mà lòng thiệt vì nước vì dân thời ít. Mới rồi đây, mống trên trời thường hiện ra, e khí âm dương hoặc có chưa hòa; vậy xin Hoàng thượng sắc cho các quan, bớt phiền văn, bỏ thói đối mà chăm điều thiện, cho đến việc công dịch, việc thâu thuế, đều nên khoan giảm cho binh dân ít tốn của nhọc công, để cố kết lòng người thời khí hòa ứng mà tai dị khỏi được". Ngài dụ đình thần xét lời sớ ấy phúc tấu thi hành.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Midaxudavo
Thành viên

Bài viết: 605
|
 |
« Trả lời #148 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2009, 11:00:28 pm » |
|
Mới lập nhà thờ Hiền Lương để thờ các hiền thần giúp trị, và nhà thờ Trung Nghĩa để thờ các trung thần. Hai nhà thờ ấy lập tại bên tả chùa Thiên Mụ.
Năm Mậu Thân hiệu Tự Đức thứ 1 (1848), tháng giêng, quan Nội các là bọn Nguyễn Bá Nghi thấy khi ấy các quan tâu việc thường dâng mật sớ, bèn tâu rằng: "các quan tâu việc, nếu không phải việc binh nhung, việc đại chánh trong nước và các việc không nên tiết lậu, thời xin không được dâng mật sớ, để cho khỏi tệ lén cáo giác nhau". Ngài chuẩn cho biên để làm lệ thường.
Cấp cho thuyền buôn nước Tàu bị gió xiêu, mỗi người một phương gạo. Ngài truyền chỉ từ nay về sau có thuyền bị tai nạn, đều chiếu lệ ấy chẩn cấp.
Vua Cao Man là Sá Ong Run sai sứ đệ đồ phẩm nghi làm lễ dâng hương, lễ khánh hạ và lễ tuế cống. Ban sắc thơ, hàng lụa cho nước Thủy xá và Hỏa Xá. Hai nước ấy đều xin sai sứ đến làm lê dâng hương và lễ khánh hạ. Ngài cho.
Tháng 2, Tuần phủ Ninh Bình là Ngô Kim Liên dâng sách Đại học diễn nghĩa bổ.
Quan tỉnh Bình Thuận dâng tập sổ "khẩn ruộng đất hoang". Ngài truyền dụ quan tỉnh phải gia tâm chuyên đốc khẩn trị, làm cho đất không bỏ hoang, dân được giàu có.
Tháng 3, tỉnh Hà Tĩnh gạo mắt lắm, Ngài truyền phát lúa gạo kho, giảm giá bán cho dân; lại truyền dụ khiến nghiêm trấp người giữ kho không được kiếm điều lôi thôi, tổng lý hương hào không được mão lãnh bao lợi, để cho dân nghèo được nhờ ơn.
Đông các đại học sĩ là Võ Xuân Cẩn dâng sớ xin ban ơn cho con cháu ông Anh Duệ thái tử (ông là con đức Thừa Thiên cao hoàng hậu, khi ông mới 4 tuổi, vâng mạng quan Tây, đến 6 năm mới về, đức Cao hoàng phong ông làm Nguyên soái và lập làm Đông Cung. Oâng có công giữ thành Gia Định, trấn thành Diên Khánh, lấy tỉnh Bình Thuận, thâu phục Phú Yên, công nghiệp rực rỡ, chẳng may mất sớm; con là Mỹ Đàng đã bị tội, Mỹ Thùy lại bị bệnh mất, chỉ còn một mình Lệ Chung là con Mỹ Đàng được phong Cảm Hóa Hầu để làm thừa tự. Xuân Cẩn thấy vậy nên mới tâu xin). Ngài chuẩn cho bộ Lễ phải ghi tên Lệ Chung, rồi sẽ nghĩ. Xuân Cẩn lại xin lục dụng những con cháu Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt và Lê Chất. Trong lời sớ đại lược rằng: "bọn Văn Thành đều là gặp hội gió mây, xông trường tên đạn, mình làm đại tướng, tước đến quận công; trong năm Gia Long, Văn Thành vì cớ chẳng hay cấm ước người con, tức giận tự tử, sau con cháu lại mắc án làm giặc, đều bị giết cả; còn Văn Duyệt, Lê Chất đều chết rồi mới phát ra án nặng, truy cách chức quan, từ đó về sau chưa đặng nhờ ơn nghĩa tới. v.v". Ngài thấy tâu vậy, cũng cảm động lắm, khiến hỏi con cháu bọn Văn Thành còn ai thời phải tâu lên. Được ít lâu Lệ Chung tấn phong quận công; con cháu bọn Văn Thành cũng đều bổ chánh đội. Đó là theo lời Võ Xuân Cẩn tâu xin.
Hiệp tá đại học sĩ Lê Đăng Dinh mất; truy tặng Thiếu sư Văn minh đại diện đại học sĩ. Đăng Dinh là cử nhân tỉnh Quảng Trị, trải thờ 4 triều, tuổi cao đức dày, từng giúp Ngài học nhiều điều bổ ích, vậy nên Ngài lễ trọng hơn.
Tháng 4, Thị lang, sung Nội các Nguyễn Văn Trường dâng sớ tâu 3 việc: 1. Xin chuẩn tiền công phí cho lính; 2. Xin tha việc hòa mãi cho dân; 3. Xin tăng giá thuê cho các thuyền chở, tờ sớ ấy thi hành cũng nhiều.
Tháng 5, Thự hiệp tá Nguyễn Đăng Giai (con quan Hiệp tá Nguyễn Đăng Tuân) điều trần 10 khoản về việc hình án: 1. Tội làm giặc; 2. Tội ăn cướp; 3. Tội đánh chết người; 4. Nghiêm sức các sở tra án; 5. Lệ tra xét án kiện; 6. Phép đoán định tội danh; 7. Nghiêm nghĩ tội các quan viên; 8. Các án ban ra xét; 9. Quan viên bị kiện; 10. Quan viên can nghĩ. Ngài đều y cả.
Tháng 6, lập lại trường thi Thanh Hóa (năm Minh Mạng, tỉnh Thanh Hóa đặt riêng một trường thi chung với tỉnh Nghệ; đến đây quan tỉnh xin thi riêng, nên cho lập trường lại).
Ngài truyền dụ các quan rằng: "quan vui thời dân khổ, trên ích thời dưới tổn, chẳng qua vì quan lại võ văn lộng pháp, tạ sự hại dân; hoặc nhơn đoán ngục xét hình dụng tâm làm nặng nhẹ, mà sách người lấy của; hoặc nhơn bắt lính đòi thuế, giả đốc sức để kiếm miếng chia nhau; hoặc đem đồ thỉnh
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Midaxudavo
Thành viên

Bài viết: 605
|
 |
« Trả lời #149 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2009, 11:02:05 pm » |
|
thác quan trên, để nhờ nâng đỡ; hoặc sanh việc góp lướm người dưới, để lấy tiền riêng; tình tệ còn nhiều, ta thiệt lấy làm buồn lắm ! Người xưa có nói: "bày một điều lợi không bằng trừ một điều hại, sanh ra một việc không bằng giảm đi một việc". Bây giờ việc nên làm trước chi hơn hình thời khoan, chánh thời giảm, quan thời thanh, lại thời liêm. Các ngươi phải nghĩ thế nào cho quan lớn giữ phép, quan nhỏ thanh liêm, đều bỏ hết thói tệ; thức khuya dậy sớm, lòng lo cẩn thận siêng năng; trên giúp ta những điều nghĩ chưa tới, dưới khiến cho trăm họ đều được yên vui; ấy là ta trông lắm mà thiên hạ càng may lắm !!!".
Cho thêm ngạch cử nhơn các trường thi.
Bọn Nguyễn Đăng Giai tâu 13 việc, như là định lệ duyệt tuyển dân đinh, báo khẩn ruộng đất hoang, vỗ yên dân điêu háo, bắt điền lính thiếu ngạch, v.vẦ Ngài đều theo cả.
Tháng 7, Tri huyện Duy Xuyên là Hà Học Hải (cử nhân Hà Tĩnh) được thăng Trước tác sung Biên tu Sử quán. Dân huyện ấy đến kinh kêu xin lưu lại; Ngài liền đòi Học Hải vào chầu, ban hỏi phép "trị dân". Học Hải tâu lên, Ngài bằng lòng lắm, khen là hết lòn làm việc quan, có chánh trị hay, nên dân tín ái; liền cho thăng Thừa chỉ, nhưng lãnh huyện Duy Xuyên. Sau Học Hải mấy tại lỵ, dân huyện ấy lập nhà thờ; ít lâu lại cho truy thọ Thị độc.
Tháng 9, lập lại trường Đốc học tỉnh Phú Yên. (Tỉnh ấy trước đặt Đốc học, sau đổi đặt Giáo thọ; năm ấy quan tỉnh xin đặt Đốc học và làm nhà trường lại). Tháng 10, khiến các quan tỉnh trong kinh và ngoài các tỉnh, mỗi ông đều phải cử tri một người. Mới lập viện Tập Hiền (vì năm sau sẽ mở Kinh Diên, nên lập viện ấy, chức hàm mấy ông quan Khởi cư chú phải để ba chữ "Tập Hiền Viện" lên trên).
Tháng 11, định chương trình dạy lính Tuyển phong (trước dạy phép bắn súng trường thương và điểu thương, sau dạy phép tàu bắn súng).
Năm ấy đến kỳ thu thẩm1 Ngài dạy rằng: "ta mới nối ngôi, ban ơn khắp cả thiên hạ, mà đến việc hình, lại thương xót hơn". Ngài cho khoan giảm và hoãn tội phần nhiều.
Năm Kỷ Dậu thứ II (1849), tháng giêng, giảm thuế vàng mỏ Tịnh Đà tỉnh Cao Bằng.
Mới định lệ "Aám thọ con các quan Tôn Thất" (phàm Tôn Thất người nào có công lao, đã được phong tước, thời con cháu cho tập phong; còn văn tứ phẩm, võ tam phẩm trở lên, đều chiếu hàm cho một người con ấm thọ: chánh nhứt con được ấm thọ chánh ngũ; tùng nhứt con ấm thọ tùng ngũ; nhị, tam, tứ phẩm cứ thứ giảm lần).
Tháng 2, mới mở sở Kinh Diên. Mỗi ngày giảng sách, Ngài cùng các quan bàn sách nghĩa, Ngài đều cắt nghĩa rõ ràng; nhơn bàn chánh sự thi chương, thiệt là thạnh điển xưa nay chưa có.
Tháng 6, dựng bia "An Tây võ công". (Võ Văn Giải, Nguyễn Tri Phương, Doãn Uẩn, Đoàn Văn Sách, Nguyễn Hoàng, Tôn Thất NGhị, cả thảy 6 người đều có công đánh giặc tại thành Trấn Tây; nên Ngài cho khắc bia ghi công.
Tháng 7, Sứ Tàu là Lao Sùng Quang đến Kinh làm lễ Tuyên phong. Lễ ấy giao tiếp rất thành, thể thống ra tôn, lâu nay chưa từng có. (Từ Thiệu Trị về trước, đều là lễ Tuyên phong tại thành Hà Nội; đến đây xin mời Sứ tới Kinh, vua Tàu nghe theo, tháng ấy Sứ bộ qua tới).
Tháng 8, Tham tri bộ Binh là Hoàng Tế Mỹ (hoàng giáp Hà Nội) mất. Tế Mỹ là văn thần chầu sở Kinh Diên, một lòng siêng năng cẩn thận. Ngài tiếc lắm, tặng hàm Thượng thơ.
Tháng 10, Tổng đốc An Hà là Doãn Uẩn (cử nhơn Nam Định) mất. Ngài nghĩ Doãn Uẩn vì nước chịu khó nhọc, có tiếng liêm năng, cho tặng hàm Hiệp tá, cấp tuất và tứ tế rất hậu lại cho tiền gạo về đưa đám và nuôi vợ con, để khuyến kẻ thanh liêm, tỏ người tài giỏi.
----------------- 1 Thu thẩm nghĩa là mùa thu khí trời nghiêm thẩm, nên vua theo lệnh trời đến mùa ấy thời xét việc hình.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|