Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:11:37 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quốc Triều chính biên toát yếu  (Đọc 100898 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #150 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2009, 11:04:00 pm »

Tháng 12, định lệ "quan viên cách trừ", (người nào khoa mục, ấm sanh xuất thân, nhơn việc công bị cách chức quan nhưng đều cho đứng vào hạng khoa mục, ấm sanh, khỏi phải chịu thuế).

Năm Canh Tuất thứ III (1850), tháng giêng, Ngài chăm việc chánh trị; cách một ngày lại ngự triều bàn việc chánh thi hành. Aáy là muốn cho trên dưới tình thông mà không việc gì cản trở.

Nước Ma-li-căn (Amétique) sai Ba-ly-rì chạy tàu đến cửa Đà Nẵng, (thuộc tỉnh Quảng Nam) nói rằng đệ tờ quốc thơ tạ lỗi (vì năm trước lỗi phép giết người) và xin thông thương. Quan Hậu quân lãnh Tổng đốc là Tôn Thất Bật xin quyền nhận tờ thơ, tùy cơ bẻ bác, Ngài không cho Ba-ly-rì xin lên chơi núi Ngũ Hành, rồi chạy tàu đi.

Tả Hữu trực kỳ và Nam Kỳ lục tỉnh lâu nay dân nhiễm bệnh dịch hơi nặng; (bộ Hộ thông tính cả Nam, Bắc các hạng bị bệnh hơn 589.460 người), lại bị mất mùa, Ngài thương lắm.

Cho Thượng thơ bộ Công là Nguyễn Tri Phương sung Kinh lược đại sứ Nam Kỳ, lãnh Tổng đốc Định - Biên, kiêm Tổng đốc Long - An; cho Thượng thơ bộ Hình là Nguyễn Đăng Giai sung kinh lược đại sứ Hữu Kỳ, lãnh Tổng đốc An - Tịnh, kiêm Thanh Hóa; cho Thượng thơ bộ Lại là Phan Thanh Giản sung kinh lược đại sứ Tả Kỳ, lãnh Tổng đốc Bình - Phú, kiêm Thuận - Khánh; đều lãnh cờ tiết mao tới lỵ, cốt để bày điều lợi, trừ điều tệ, cấm trấp quan lại, chiêu yên nhơn dân. Ngài lại khiến quan Phủ doãn và quan tỉnh Nam, Nghĩa phải xét trong dân đều chi lợi hại, quan lại người nào hay dở, tâu lên.

Tháng 2, lại mở mỏ vàng Gia Hưng. (Thuộc Hưng Hóa).

Tháng 3, Thự Tri phủ Tuy Biên (thuộc An Giang) là Võ Văn Hiệu (Tấn sĩ), Tri huyện An Xuyên là Nguyễn Duy Quang (Cử nhơn) đều hết lòng về việc trị dân. Người nào bệnh cho thuốc, người nào chết lo chôn, đứng bảo lãnh mượn của nhà giàu giúp cho nhà nghèo, thám bắt trộm cướp cho yên dân, dân đều tin và thương; Tổng đốc là Cao Hữu Bằng đem sự trạng tâu lên. Ngài ban khen, cho Văn Hiệu thiệt thọ tri phủ; Duy Quang gia hàm Tri phủ, đều thưởng bạc và lụa khác nhau; Ngài khen Hữu Bằng có lòng tiến cử người giỏi, thưởng cho 3 cây sa.

Định lệ "quan lại về đinh gian". (Văn võ quan viên, gặp tang cha mẹ, người nào chức trách long trọng và đương sai phái đánh giặc, nên đoạt tình1 đòi ra làm việc quan, thời phải có lời đặc chỉ2; còn từ Cửu phẩm trở lên và Hậu bổ, Cử Nhơn, Aám sanh, Giám sanh, đều cấp hạn 12 tháng về nhà chịu tang).

Tháng 5, ngài mới ngự cày ruộng Tịch Điền.

Tháng 6, dồn bớt các phủ, huyện, châu ở tỉnh Nghệ, Thanh và Quảng Yên. (Thuộc tỉnh Nghệ An: đem huyện Yên Thành giao về phủ Diễn Châu kiêm lý; huyện Nghĩa Đàn, Quế Phong, Túy Vân đều giao về phủ Quỳ Châu kiêm lý; 4 huyện Tương Dương, Kỳ Sơn, Hội Nguyên, Vĩnh Hòa đều giao về phủ Tương Dương kiêm lý. Thuộc tỉnh Thanh Hóa; đem huyện Hậu Lộc giao về phủ Hà Trung kiêm lý; hai huyện Quảng Tế, Thạch Thành giao về phủ Quảng Hóa kiêm lý; hai châu Lương Chánh, Thường Xuân giao về phủ Thọ Xuân kiêm lý; hai huyện Hoằng Hóa, Mỹ Hóa hiệp làm huyện Hoằng Hóa, nhưng thuộc phủ Hà Trung huyện Cẩm Thủy và châu Quan Hóa hiệp làm huyện Cẩm Thủy, nhưng thuộc về phủ Quảng Hóa. Thuộc tỉnh Quảng Yên: đem châu Vạn Ninh đặt làm phủ Hải Ninh, nhưng trích châu Tiên An, nguyên thuộc phủ Sơn Định, bây giờ đổi thuộc phủ Hải Ninh; còn huyện Nghiêu Phong, An Hưng và Hoành Bồ, nguyên thuộc phủ Hải Ninh, bây giờ đổi thuộc phủ Sơn Định, nhưng cho quan huyện Hoành Bồ kiêm lý cả ba huyện).

Tháng 7, định lệ: các địa phương phàm bắt linh, phải nghiêm hạn cho sở tại dải đến, không được sai lính về các làng.

Tháng 12, giảm viên dịch các Bộ, nha ở Kinh và ở các phủ Hoàng thân.

Năm Tân Hợi thứ IV (1851), giáng giêng, mới định lệ "mỗi năm đến tháng 2, quan trên xét cử người thuộc viên". (Mỗi năn đến tháng 2, văn võ các quan trên đều phải xét ty thuộc, văn từ tứ phẩm

--------------
1 Đoạt tình là đương ở chịu tang mà đòi ra làm việc quan.
2 Đặc chỉ là vua phán ra một cách riêng.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #151 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2009, 11:06:15 pm »

đến lục phẩm, người nào có học hành, làm việc thanh liêm siêng giỏi; võ từ Quản vệ đến Suất đội, người nào võ nghệ am luyện, sai phái được việc, mà đều tại chức lâu năm, không tội lỗi gì, quan trên xét thiệt, làm tập tấu bảo cử).

Ngài ngự sông Lợi Nông xem ruộng lúa.

Tháng 2, đổi Phan Thanh Giản làm Kinh lược phó sứ Nam Kỳ, nhưng lãnh Tổng đốc Gia Định, kiêm Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang, Hà Tiên.

Định lệ "thuế các cửa ải, bến tàu ở các tỉnh Bắc Kỳ".

Tháng 4, lập nhà Tôn học (sau nhơn học trò nhác học, triệt đi; đến năm thứ 19 lập lại).

Định lệ "Tôn sanh, Ấm sanh khiêu bổ". (6  năm hạch khiêu một lần).

Định lệ thuấ ruộng công phủ Thừa Thiên, trong 10 phần tha 3 phần, kể từ năm nay làm đầu. (Là theo quan phủ Thừa Thiên Võ Trọng Bình xin).

Tháng 5, mới mở thi Chế khoa, (trường nhứt: 9 đề kinh nghĩa; trường nhì: 1 đề phú, 1 đề thi ngũ ngôn và 1 đề thi thất ngôn; trường ba: chiếu, biểu, luận, mỗi món 1 đề; trường tư: 1 đề văn sách; 4 trường đều ngự đề), Lấy đậu 7 người cho vào Đình, Ngài ngự ra đề văn đình. Đến khi ngự duyệt xong rồi, sắc cho Võ Duy Thanh Bác học hoành tài, cát sĩ cập đệ1 nhị danh, Võ Huy Dực đệ tam danh2; còn mấy người kia, Ngài đều cho Xuất thân3 và Đồng xuất thân4 có thứ tự.

Tháng 6, định lệ "Quan viên phụ": văn lục phẩm, võ ngũ phẩm trở lên, cha được Quan viên phụ, tha khỏi đi lính, làm xâu và nạp thuế thân cước mể các hạng; văn thất phẩm, võ lục phẩm, cha cũng được Quan viên phụ, nhưng chỉ tha khỏi đi lính và làm xâu, còn các hạng thuế cũng nạp như dân tráng.

Tháng 7, đổi tên núi Tá Ly làm núi Tá Linh, đem vào lệ quốc tế (núi ấy thuộc huyện Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị, cao lắm, mạch núi nguồn sông trong hạt đều từ núi ấy mà ra).

Truyền quan bộ Hộ xét rõ sổ chi tiêu tấn lãm. Ngài bảo rằng: "tiền của là cội gốc trong thiên hạ, dân nhờ đó mà sống, nước nhờ đó mà đủ dùng, rất làhệ trọng, những người coi việc ấy, phải nghĩ cho xa, tính cho kỹ, nếu làm thinh không biết lo liệu, thời phụ chức trách nhiều lắm".

Năm ấy chuẩn cho phủ Thừa Thiên cùng các tỉnh những ruộng đất hoặc bị lở, hoặc bị bỏ rậm, hoặc bị nước mặn hoặc đất sỏi, hoặc cát bồi bỏ hoang mà còn biên trong sổ thuế, tổng cộng là 104.016 mẫu, đều cho xóa sổ mà đem vào hạng khỏi thuế.

Truyền dụ thưởng Nguyễn Đăng Giai đồng quân công gia một cấp và ngọc đeo, tiền vàng, đoạn, sa, dâm, quế các hạng. Vì Đăng Giai từ khi lãnh cờ tiết mao tới lỵ sở, xét hỏi tình dân, sửa sang việc châu quận, cử người liên giỏi, truất người tham nhũng, tha thuế thiếu, vỗ yên chỗ điêu háo; bây giờ dân được đủ ăn, khỏi bị trộm cướp. Ngài cho là không kém với bực Tuần lương5 đời xưa, nên ban lời dụ khen tốt lắm.

Ngài nghĩ sứ Hữu Kỳ dân đã bớt khổ, đổi Nguyễn Đăng Giai lãnh Tổng đốc Hà Ninh, nhưng sung Kinh lược các tỉnh Hà Nội, Ninh Bình, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng. Ngài truyền dụ phải chăm việc điều tể binh dân và sửa trị bờ cõi.

Đổi phép thi Hương, thi Hội. (Thi Hương đậu 3 trường là Tú tài, 4 trường là Cử nhơn, thi Hội 4 trường đều đậu mà thông kể được được 8 phân trở lên là trúng cách, hoặc 3 trường kể được 9 phân trở lên, mới cho vào thi Đình).

--------------------
1 Cập đệ nhị danh là Bảng nhãn.
2 Đệ tam danh là Thám hoa.
3 Xuất thân là Hoàng giáp.
4 Đồng xuất thân là Tấn sĩ.
5 Tuần lương là ông quan địa phương giỏi.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #152 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2009, 11:08:57 pm »

Dân tỉnh Hà Tĩnh là Hoàng Kim Thanh (người huyện Nghi xuân) ra sức cày ruộng, ham làm điều phải, như là khẩn ruộng hoang để phân cấp người trong làng, xuất của tư cấp cho dân nạp thuế, cho mượn không lấy lời, đắp đập giúp việc làm ruộng. Quan Tuần phủ đem việc tâu lên, Ngài khen, ban thưởng.

Tháng 11, có một chiếc tàu Đại Pháp tự phía đông chạy đến cửa Phước Thắng tỉnh Biên Hòa, thả neo đậu lại; người dưới tàu hoặc khi lên bờ mua đồ ăn, hoặc khi dạo bắn chim các làng gần biển, rồi liền xuống tàu.

Tháng 12, dồn các phủ, huyện, châu thuộc tỉnh Vĩnh Long, Lạng Sơn, Hưng Yên, Hưng Hóa. (Thuộc tỉnh Vĩnh Long: đem huyện Duy Minh nhập về huyện Tân Minh; huyện Bảo An nhập vào huyện Bảo Hựu, quan phủ Hoằng Trị cứ kiêm lý huyện Bảo Hựu như cũ và nhiếp huyện Bảo An, lại thống hạt hai huyện Tân Minh và Duy Minh. Thuộc tỉnh Lạng Sơn: đem huyện An Bác giao về phủ Trường Khánh; châu Thoát Lãng giao về phủ Trường Định kiêm nhiếp. Thuộc tỉnh Hưng Yên: đem huyện Thiên Thi giao về huyện Phù Cừ, huyện Hưng Nhơn giao về giao về huyện Diên Hà kiêm lý; còn nguyên Khoái Châu phân phủ thời bớt đi. Thuộc tỉnh Hưng Hóa: đem châu Đà Bắc hiệp về châu Mai, châu Yên hiệp về châu Mộc, Quỳnh Nhai hiệp về châu Lai; huyện Thanh Thủy nhập vào huyện Thanh Sơn; còn 3 làng Cao Phong, Thạch An, Quỳnh Lâm, nguyên thuộc về huyện Thanh Thủy, nhưng xét địa phận gần huyện Bất Bạt tỉnh Sơn Tây, cho nhập vào huyện Bất Bạt).

Năm Nhâm Tý thứ V (1852) tháng giêng, tướng giặc Tàu hiệu Quảng Nghĩa Đàng là Lý Đại Xương, hiệu Lục Thắng Đàng là Hoàng Thị Văn, hiệu Đức Thắng Đàng là Lưu Sĩ Anh đều tới hàng.

Lập phường1 để thờ người xử sĩ Gia Định là Võ Trường Toản. Trường Toản đương hồi loạn Tây Sơn, ở ẩn dạy học, học trò thành lập đông. (Ngô Tùng Châu, Trịnh Hoài Đức, Phạm Đăng Hưng đều học trò cả). Trong năm Gia Long, đức Thế Tổ cho hiệu "Sùng Đức tiên sanh". Bây giờ Nguyễn Tri Phương lại xin sanh biểu. (Hiệu Sùng Đức sau đổi làm Tố Đức).

Khi trước sai Hiệp tá lãnh Hình bộ là Đặng Văn Thiêm vào tỉnh Bình Định tra việc quan tỉnh gây lộn nhau và xét hỏi lợi hại trong dân gian tùy việc sửa sang. Đến đây về phục mạng, Ngài hỏi: "ruộng công ruộng tư tỉnh Bình Định sự thể thế nào?"- Văn Thiêm tâu: lối trước chia ruộng, trong 10 mẫu lấy 5 mẫu làm ruộng công, 5 mẫu làm ruộng tư; nhưng lâu nay ruộng công chỗ nào tốt thời hào cường chiếm lấy, hoặc có lẽ loi đám nào, lại bị Hương, Lý bao choán, còn dân thời chỉ được ruộng xấu mà thôi, nên tôi khiến sửa lại bờ bạn phân minh, để làm cho dân được lợi".

Kinh lược là Nguyễn Đăng Giai tâu xin phái trọng thần đặng giúp việc ngoài biên. Ngài liền cho Tổng đốc Sơn - Hưng - Tuyên là Ngụy Khắc Tuần sung Kinh lược phó sứ, kiêm lãnh Tổng đốc Ninh - Thái - Lạng - Bình. (Rồi Khắc Tuần liền thôi chức ấy, chỉ coi việc Sơn, Hưng, Tuyên; sau lại đổi làm Thượng thơ bộ Hộ).

Tháng 2, Đông các đại học sĩ là Võ Xuân Cẩn về hưu, (tuổi 80) được gia hàm Thái bảo, cấp cho bán bổng, ngài ban cho bài thơ, (bài thơ ấy chép trong Thánh chế thi sơ tập) có câu rằng: "thiên hạ trung dung2 suy Bá Thỷ3 thế gian đức vọng trọng Văn Công4; nghĩa là: thiên hạ trung dung tày Bá Thỷ, thế gian đức vọng sánh Văn Công. Tháng 4 năm ấy Xuân Cẩn mất. Ngài khiến dựng nhà bia ở cửa làng, chạm 4 chữ "Tứ triều nguyên lão", lại điếu bài thơ nữa.

Ngài dạy quan bộ Hộ là Hà Duy Phiên rằng: "ruộng công và ruộng tư các tỉnh sự thể thế nào?- Duy Phiên tâu: Thừa Thiên, Quảng Trị, ruộng công nhiều hơn ruộng tư; Quảng Bình ruộng công ruộng tư ngang nhau; còn các tỉnh khác ruộng tư nhiều ruộng công ít; Bình Định ruộng công càng  ít hơn; nên chi năm trước Võ Xuân Cẩn xin chia hai ruộng tư, 10 phần lấy 5 phần làm ruộng công, quân cấp binh dân, để cho có chỗ ăn nhờ. - Ngài lại hỏi: lệ nạp thuế thế nào? - Tâu rằng: Hà Tĩnh trở ra Bắc, thuế ruộng

------------
1 Phường là xóm. Đời xưa các người có danh tiếng, đến khi mất rồi, Triều đình cho lập nhà thờ tại chỗ ở cũ, để tỏ người giỏi.
2 Trung nghĩa là chánh giữa, không lệch phía nào; dung là đạo thường không khi nào đổi.
3 Hồ Quảng tên chữ là Bá Thỷ người nhà Hán.
4 Văn Công là thầy Tiên nho Châu Hy nhà Tống.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #153 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2009, 11:10:41 pm »

công nặng hơn ruộng tư; Quảng Bình trở vào Nam, công và tư thuế bằng nhau. - Ngài dạy rằng: lợi cho Nhà nước không mấy, vả lại chia ruộng tư sung làm ruộng công, chỉ làm một tỉnh Bình Định, còn các tỉnh thời không, e chưa được công bằng; ta muốn trả lại hết số ruộng tư cho dân Bình Định, nên chăng? - Tâu rằng: ruộng công đã cấp cho binh dân rồi, nếu lấy lại gấp, e chúng nó mất sanh lý. - Ngài lại hỏi: như lấy 6 phần làm ruộng tư để 4 phần làm ruộng công, được không? - Tâu rằng: thêm bớt không bao nhiêu, sợ làm thêm rối". Nhưng Ngài còn muốn bộ Hộ, bộ Binh hội nghị thế nào cho binh dân đều lợi. Duy Phiên cùng Đăng Giai cố xin như cựu, Ngài cho.

Tháng 3, Ngài nghĩ việc chánh cốt tại nước giàu dân mạnh, mà nay tiền thời ít, lính thời thiếu, truyền Đình thần nghĩ thế nào để cứu tệ ấy. Đình thần nghĩ rằng: "tiền đồng kh6ong tiêu thời mòn, tiền kẽm đúc thời ít không đủ; bây giờ xin tiền đồng và tiền kẽm đều cho tiêu cả, mà đúc cho nhiều, để cho tiền đủ dùng. Còn như việc quân chánh, đặt lệ nhiều mà không kiểm hết, thời lính thường khuyết ngạch; số dân điêu mà không xét rõ, thời lấy ai mà điền lính. Xin phân biệt làng nào trù mật thời tăng ngạch lính, làng nào điêu háo thời giảm; xét trong thể lệ, mà sức thị rõ ràng, thời tệ lính thiếu có thể khỏi được". Ngài theo lời xin.

Tháng 5, trong Kinh kỳ hạn lâu, Ngài lập đàn cầu mưa, đình việc công tác, ban ân dụ 10 khoản; lại khiến các quan tâu những việc lầm lỗi. Sáng ngày trời mưa.

Tháng 6, định giới hạn tỉnh Tuyên Quang. (Làng Bình Di tỉnh Tuyên Quang giáp giới với làng Đông Anh nước Tàu, lấy núi Đại Lãnh Can Làm giới hạn).

Tháng 8, định lại lệ "An tứ thọ quan, thọ dân" (tùy hạng ban cho hoặc lụa hoặc vải).

Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản dân sớ tâu 8 việc: 1. Xin Thánh thể nên thận trọng; 2. Bãi hát xướng; 3. Xin ức chế kẻ hầu cận; 4. Xin chuộng điều tiết kiệm; 5. Xin giảm bớt cận thần; 6. Xin chăm việc tuyển cử; 7. Xin khoan việc làm xâu cho dân; 8. Xin thêm bổng hướng các quan. "Ngài dạy rằng: các ngươi đã tỏ lòng trung ái, sẵn có mưu kế gì hay, nên thường thường vào tâu. Tri Phương và Thanh Giản nhơn xin nạp cờ tiết mao từ chức kinh lược. Ngài dụ rằng: các ngươi phải gắng ở đó, nghĩ việc sắp đặt về sau, khi nào thành hiệu, ta sẽ đòi về cũng không muộn chi".

Tháng 11, Ngài hỏi việc các cửa ải bến tàu trong nước. - bộ Hộ tâu: "nguyên trước 60 sở, gần đây giảm bớt, chỉ để 21 sở, hiệp cọng số bạc thuế hơn 455 lượng, số tiền thuế hơn 384.969 quan".

Truyền dụ quan phủ Thừa Thiên, chẩn tuất dân cùng và nã bắt trộm cướp. Lời dụ rằng: "Sách Châu Quan nói việc cấm kẻ dữ, trước trọng chốn Bang Kỳ; phép nhà Hán chăm việc trị người gian, đầu nghiêm chỗ Kinh triệu; truyền phủ thần phải xét người nào cùng khổ, tâu xin chẩn cấp; còn đứa nào chơi bời, nhác nhớn, thời bắt mà trừng trị".

Tháng 12, ban thưởng bạc và lụa cho quan viên thọ phụ là Trương Quốc Hiền (thân phụ ông Trương Quốc Dụng, đã 80 tuổi). Nhơn truyền chỉ từ nay quan tứ phẩm trở lên, ai còn cha được 80 tuổi, phải tâu Ngài biết.

Hiệp tá lãnh Thượng thơ bộ Hộ là Hà Duy Phiên mất. Ngài nghĩ Duy Phiên là đại thần kỳ cựu, bèn tặng hàm Thiếu bảo, Văn minh điện đại học sĩ, ban tiền tuất, cho tế rất hậu.

Năm Quý Sửu thứ VI (1853), tháng giêng, định lệ "khiếu bổ Anh danh và Giáo dưỡng". (3 năm khiêu bổ 1 thứ).

Chuẩn cho xứ Nam Kỳ làm phép đồn điền lập ấp. Đình thần tâu: "xin cho xứ Nam Kỳ cùng các tỉnh từ Bình Thuận trở ra Bắc, thông sức người bổn hạt, cho tình nguyên ứng mộ; mộ được bao nhiêu, giao cho 2 tỉnh An Giang và Hà Tiên; còn dư cho qua Vĩnh Tế, Ba Xuyên, Tĩnh Biên, chỗ nào đất hoang thời cứ ở mà cày. Như mộ người đồn điền, thời thúc lính đồn điền, chia 50 người Hán dân làm 1 đội, cho bổ Suất đội, được 1 cơ cho bổ Chánh đội thí sai phó quản cơ; Ngày sau thành căn cước, 1 đội làm ấp, 1 cơ làm tổng, còn Quản cơ, Suất đội đều lãnh chức Tổng trưởng, Aáp trưởng. Người nào mộ dân lập ấp, được 30 người thời tha xâu thuế trọn đời, được 50 người thời thưởng chánh cửu phẩm, được 100 người thời thưởng chánh bát phẩm, nhưng lãnh chức Tổng lý. Còn thuế ruộng đất hiện khẩn và thuế đinh, đều cho khoán hạn để khuyến khích cho người ứng mộ". Nguyễn Tri Phương lại tâu: "phủ Ba Xuyên và phủ Tĩnh Biên, dân Thổ mới theo về, nay chẳng cho hết lục tỉnh làm, mà chỉ cho 2 phủ, e hoặc sanh sự
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #154 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2009, 11:11:36 pm »

chăng? Xin thông sức lục tỉnih, bao nhiêu người ứng mộ, ai muốn qua Tĩnh Biên, Ba Xuyên, ai muốn tìm đất không khoáng trong bổn hạt, khai khẩn lập ấp, đều cho tình nguyện, nhưng phải thuộc vào các tổng đã lập thành rồi. Lại xin cho tù phạm ở lục tỉnh, như có đứa nào xin  mộ lập 1 đội, hoặc 1 thôn, đều được 50 người, thời cho làng họ chúng nó đứng bảo kết, sẽ tha tội, giao cho tỉnh An Giang phân tháp về chỗ Vĩnh Tế, hoặc giao Hà Tiên phân tháp về chỗ Giang Thành, ở đó cày ruộng, sau xét quá được thành hiệu sẽ nghĩ". Ngài đều cho thi hành cả.

Tháng 2, mở mỏ vàng Thượng Ân tỉnh Thái Nguyên.

Định lại lệ "hạch thuộc viên văn võ". (Lệ cũ: võ ban tạm phẩm trở xuống mà tại chức 3 năm, đều phải xét hạch ghi vào sách. Nay nghị lại 3 năm, đều phải xét hạch ghi vào sách. Nay nghị lại 3 năm một lần cống, văn cũng như võ).

Ban 2 bài thơ ngự chế cho các quan ở Kinh và ở ngoài các tỉnh. Trước khi ấy, ít mưa, Ngài lo lắm, làm bài thơ "vọng võ thuật hoài", đến khi tế Nam Giao rồi, Ngài ngự về, được trận mưa to luôn mấy ngày, lúa ruộng đều sanh sắc. Ngài mừng lắm; làm bài thơ "đắc vũ", để ghi nhớ ơn Trời. Trong hai bài thơ ấy là tỏ lòng kính sợ, và có ý vua tôi nên tu đức. Ngài tự viết giao ra khắc bản in, in ban khắp trong ngoài, văn từ Tứ phẩm ấn quan trở lên, võ từ Đốc phủ trở lên, ban mỗi người 1 tờ, để xem cho biết xét mình sợ trời.

Mở các mỏ kẽm ở tỉnh Thái Nguyên, Bắc Ninh, Lạng Sơn, để đúc tiền cho nhiều.

Mới định ngạch học sanh từ Quảng Bình trở vào Nam. (Tú tài, học trò, người nào tư chất tốt và ham học, hạch đậu bổ vào học sanh cho ăn lương học tập).

Đổi 3 tỉnh Quảng Trị, Phú Yên, Hà Tĩnh làm 3 đạo (vì nhiều người nói 3 tỉnh ấy nhỏ, việc ít, nên đổi làm đạo, để giảm bớt quan lại).

Tháng 3, khiến Nguyễn Tri Phường chuyên làm Kinh lược đại sứ trong Nam Kỳ, Tham tri Phạm Thế Hiển làm Tuần phủ Gia Định Tham tá kinh lược sự vụ. (Rồi sau Thế Hiển được thăng thọ Tổng đốc Định - An). Ngài đem 5 việc quan yếu xứ Nam Kỳ hỏi Thế Hiển: 1. Chiêu dụ lưu dân; 2. Luyện tập quân lính; 3. Bày mưu kế hay để giữ chốn biên cảnh; 4. Cấm hút nha phiến; 5. Trừ nhũng tệ các quan lại. Thế Hiển kê khoản tâu lên, đại lược rằng: "lập ấp khẩn ruộng để dụ lưu dân về; cấm sách nhiễu; chăm luyện tập để đổi lần thói lính nhác; tính việc biên phòng, chi bằng mộ dân quan chốn biên c3nh, đóng đồn tập võ nghệ; muốn cấm nha phiến thời trước phải cấm quan lại hút; muốn trừ lại tệ thời trươc nên bớt việc". Ngài dạy rằng: "người tâu vậy đã nhằm cội gốc đó, nhưng biết vậy mà nói không khó gì, chỉ có làm được như vậy là khó mà thôi".

Định lệ "cày mướn ruộng". (Phàm nhà giàu cho người ta cày mướn ruộng, gặp năm mất mùa, Triều đình giảm thuế, thời người cày mướn cũng được chiếu theo đó mà giảm số lúa nạp cho nhà giàu).

Chuẩn cho các Địa phương có làng nào xin trích ruộng công hoặc ruộng tư đặt làm ruộng hương học để nuôi thầy dạy con em trong làng, thời đều cho dân tuỳ tiện.

Tháng 11, An viễn hầu Võ Văn Giải mất, được tặng hàm Thiếu bảo.

Tháng 12, giảm 10 việc phí tổn công nhu. (Bãi thưởng sa khi Ngài cày ruộng Tịch điền, ban yến khi thi Hội, Hậu bổ ngoại ngạch và đúc bạc thức mới cả thảy 4 điều: giảm mỗi năm tiền dầu, sáp, thuốc bắc, cấp cho các sở cả thảy 5 điều; còn 1 điều là áo cứ 6 năm cấp 1 lần).

Năm Giáp Dần thứ VII (1854), tháng giêng, đào ruộng sông Nguyện Đức (thuộc Bắc Ninh) để trổ bớt nước sông Nhị Hà.

Hường Bảo mưu nghịch, tự tử. (Vì không được lập cho nên mưu ngịch. Khi có tội, Triều đình đổi ra họ  Đinh). Con trai, con gái Hường Bảo và người dự mưu là Tôn Thất Bật đều bị xóa tên trong sổ Tôn Thất.

Ngài ngự nhà Văn Miếu làm lễ xuân tế; rồi ngự qua Quốc Tử Giám, lên nhà Di Luân  giảng học, xem lễ, ban yến cho Học thần và Sanh viên. Khi về, Ngài ngự chế 14 bài "Nhã thi" và bài tự (chép ở trong Thi văn sơ tập), truyền đem tuyên đọc tại trường Giám, cho tỏ ý răn dạy; rồi truyên in ban từ Học
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #155 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2009, 11:12:42 pm »

thần, nho thần đến sanh viên mỗi người 1 bổn. Lại  chuẩn cho các quan mỗi người làm bài thơ hoặc bài tụng dâng lên, Ngài sẽ lựa bài nào hay hơn cho in tiếp theo các bài Ngự chế, đặt tên là "Bích ung canh tập"; rồi khắc vào bia dựng ở trường Quốc Tử Giám.

Giảm Viên dịch ở ti Phiên, ti Niết, và các phủ, huyện xứ Nam Kỳ lục tỉnh cả thảy 168 người. Tháng 4, Ngài truyền dụ răn dạy quan lại từ Quảng Nam trở vào, phải do việc nước trị dân.
Tháng 5, Bắc Ninh, Sơn Tây bị hoàng trùng làm hại. Ngài dạy tra phép bắt sâu đời xưa, lục ra các tỉnh ấy tuân hành.

Ban thưởng làng An Nghiệp và làng Mậu Tài thuộc tỉnh Phú Yên, mỗi làng 1 bức biển khắc 4 chữ "Thiện tục khả phong", thưởng Hương trưởng Nguyễn Văn Sĩ và Lê Văn Quang hàm Tùng cửu phẩm bá hộ. Vì dân 2 làng ấy, góp lúa mua ruộng, lập kho, nhường nhịn nhau, không tranh kiện, phong tục thuần lắm; là nhờ Văn Sĩ và Văn Quang xướng suất cho nên được vậy.

Tháng 7, Nghệ An tra đệ 1 án về việc mạo nhận dân phiêu lưu. Thượng thơ bộ Hộ Ngụy Khắc Tuần nhơn xin phép cả các tỉnh, hễ làng nào dân phiêu lưu từ triều Gia Long về sau, thời phải để ruộng đất ở đó, chờ lưu dân trở về; còn làng nào phiêu lưu từ lúc Tây Sơn về trước, thời cho dân ở hạt đó lập bộ khẩn ruộng nạp thuế, để cho dân cùng có chỗ làm ăn, mà ruộng hoang ngày càng thêm khẩn trị. Ngài theo.

Khi trước xứ Nam Kỳ lục tỉnh làm việc đồn điền, nhiều người nói bất tiện, Ngài có truyền dụ quan kinh lược Nguyễn Tri Phương xét kỹ thế nào tâu lên. Đến đây Nguyễn Tri Phương tâu: "đất Nam Kỳ liền với giặc mọi, dân xiêu tán nhiều. Nay mượn điều chiêu mộ để dụ dân về, đốc việc khai khẩn để nuôi dân ăn, thiệ là một cách quan yếu giữ giặc và yên dân đó. Hiện bây giờ dân mới hồi phục đã thúc thành cơ, đội, được 21 cơ, lập thành làng xóm phỏng chừng 100 làng, chia ra đồn khẩn, thể đã nghiêm, hình đã vững, không đến nỗi ly tán; nhưng tôi xét việc đồn điền, vẫn lợi nước lợi dân, mà không lợi cho Tổng, Lý, vậy nên Tổng, Lý đặt điều để phỉnh dân, những người nói bất tiện đó, chẳng qua bị chúng phỉnh mà thôi". Ngài khen lời nói khẩn thiết, nghe theo; còn chương trình xét công thưởng phạt, chuẩn cho Tri Phương kê khoản tâu lên. Tri Phương tâu: "Chương trình mộ khẩn, xin chờ sắp đặt xong sẽ nghĩ, chỉ cần về tuần phủ, huyện khuyên đốc, hoặc siêng hoặc nhác phải nên xét, đáng thưởng đáng phạt phải nên định". Tri Phương nhơn dân chương trình xét công phủ, huyện, Ngài cho thi hành. (Các phủ, huyện đều chiếu hiện số mộ đinh khẩn điền nhiều ít, chia làm 4 hạng, mỗi hạng chia làm 10 thành, hạng trong 3 năm, lập cho thành căn cước).

Tháng 7 nhuận, quan tỉnh Định - An tâu: "Phủ huyện khuyên dạy dân trong hạt dự trữ lúa được 48.000 phương, chờ khi phát mãi, lại sức dân trồng khoai lang, bắp, nưa, so với năm trước hơn xấp ba xấp bốn". Ngài ban thưởng quan tỉnh và quan phủ, huyện kỷ lục hoặc gia cấp.

Giảm Viên dịch ở ty Phiên, ty Niết và các phủ huyện từ Bình Thuận trở ra Bắc, cả thảy 679 người. Kinh lược Bắc Kỳ Nguyễn Đăng Giai mất, (cử nhơn Quảng Bình) được tặng hàm Thái bảo.
Tháng 10, Thượng thơ bộ Hộ Ngụy Khắc Tuần mất, (Tấn sĩ Hà Tĩnh) được tặng hàm Hiệp tá.

Tháng 12, Phó lãnh binh Sơn Tây Lê Thuận phá hết đảng giặc ở núi An Sơn; Cao Bá Quát thua rồi chết, quân Triều bắt sống được tướng giặc và đảng giặc đem về. (trước khi ấy, Bá Quát làm giáo thọ phủ Quốc Oai, ỷ mình có tài làm quan nhỏ, bèn mưu nghịch, cùng người trong đảng tôn Lê Duy Cự làm minh chúa, mà mình làm quốc sư, rủ nhau làm giặc ở miền Hà Nội, Sơn Tây, được vài năm, đảng ấy dần dần bị bắt giết hết).

Năm Ất Mão thứ VIII (1855), tháng 3, lại cho mở mỏ kẽm ở tỉnh Thái Nguyên và mỏ than ở tỉnh Hải Dương để đánh thuế.

Tháng 4, định lại lệ "bổ" quan các Tấn sĩ, Phó bảng, Tôn, Giám, Aám sanh". Phàm đậu Tấn sĩ, Phó bảng, sơ thọ Viện hàm một năm, Tôn, Giám, Ấm sanh, tọa Giám đậu Khiêu sơ thọ Viện hàm ba bốn năm, rồi bộ Lại chiếu theo số phủ, huyện, châu, trong các tỉnh lượng chỗ phân phái làm Hậu bổ, gặp việc sai phái, hoặc phái quyền nhiếp phủ, huyện, để học tập việc quan, rồi Tấn sĩ, phó bảng trong một năm, Tôn, Giám, Aám sanh trong 2 năm, gặp có chỗ khuyết, nên thăng, chiếu lệ xét bổ chỗ khác, cho khỏi   
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #156 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2009, 11:14:50 pm »

yêm trệ. Lại xét lệ cũ: Phó bảng lệ thự Đồng tri phủ, hoặc bổ Tri huyện, có hơi khác nhau; nay đều cho bổ Đồng tri phủ, hoặc bổ Tri huyện, có hơi khác nhau; nay đều cho bổ Đồng tri phủ, hoặc hàm Đồng tri phủ nhưng lãnh phủ huyện, hoặc quyền nhiếp để cho nhứt định).

Ngài bảo quan Nội các rằng: lúa là cây quý trong nước, dân nhờ đó mà sống. Bởi vậy đời xưa trọng việc nông. Nay nên thống dụ các địa phương, hết lòng khuyên dạy, làng nào dân xiêu tán, ruộng bỏ hoang, thời mộ dân cày làm, hoặc ruộng đất nào cày được mà còn bỏ hoang, thời sức người khẩn trị, mỗi đến cuối năm, làm sổ tư về bộ Hộ, chia hạng tâu lên, sẽ định thưởng phạt, để khuyên người siêng mà răn kẻ nhác".

Ngài nghe trong dân tục đua nhau ăn mặc xa xỉ, lễ hôn giá cũng chưa được đúng, truyền bộ Lễ xét khi trước định lễ hôn giá và cách ăn mặc thế nào, sau nghị định đổi lại thế nào, tâu lên. Bộ Lễ lấy luật lệ và nghị định trong năm Minh Mạng thứ 8 và thứ 19 tâu lên. Ngài dạy rằng: "lệ ấy chưa được đủ, phải nghị lại". Bây giờ mới chuẩn định lại cách thức quan dân ăn mặc khác nhau và lễ tang, tế, hôn thú, cùng các điều cấm quan hệ về việc phong tục, rõ và kỹ lắm.

Tháng 7, tàu Anh Cát Lợi tới đậu vũng Sơn Chà, người trong tàu lên coi núi Ngũ Hành.

Nguyễn Tri Phương ở Nam Kỳ lâu ngày, thường lấy điều nhớ cung khuyết tâu xin về Triều. Ngài muốn khiến tại chức cho lâu, để trông thành hiệu, mới ban lời dụ và bài thơ khuyên gắng ở lại.

Định lệ "tuyển cử Học thần". (Người nào khoa mục xuất thân, làm mực thước cho học trò được, mới đặng lựa bổ).

Ban cấp bài "Ngự chế quan châm", bài "Khuyết liêm châm" và sắc dụ cho phủ Thừa Thiên cùng các tỉnh, đạo, phủ, huyện, châu (mấy bài ấy đã chép trong Ngự chế văn tập).

Mới định lệ "thưởng phạt về sự chiêu dụ lưu dân". (Trong 10 thành mà thiếu đến 6 thành, thời quan địa phương bị phạt; trong 10 thành mà chiêu dụ được 6,7 thành trở lên, thời quan địa phương được thưởng).

Sách "Đại Nam hội điển" làm rồi.

Thêm ân bổng cho quan ở Kinh, cấp tiền dưỡng liêm1 cho các quan tỉnh và cho thâu tiên tụng lệ. (Kiện lớn 6 quan tiền, kiện nhỏ 4 quan).

Tháng 10, ban 2 bức Biển ngạch thưởng phong tục làng Liêm  Công tỉnh Bình Thuận, và làng Diên An tỉnh Hưng Yên; (bức biển khắc 4 chữ "Thiện tục khả phong" lại thưởng người xướng suất cho trong làng làm điều phải. (Người làng Liêm Công là Nguyễn Văn Thơ trọng điều phải, hay châu cấp người cùng, lại đem lễ nghĩa dạy người làng, nên tục làng tốt lắm, được thưởng hàm Chánh cửu phâm bá hộ. Người làng Diên An là Trần Tú Dĩnh cấp ruộng và lập kho cho làng, lại dạy kẻ con em, giúp người nghèo cực, trong làng nhờ được thạnh vượng, Triều đình cho khai phục Cử nhơn).

Mới đặt ngạch Học sanh ngoài biên tỉnh. (Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hưng Hóa, Quảng Yên, mỗi tỉnh 3, 4 tên hoặc 5,6 tên).

Mọi Đá Vách ở tỉnh Quảng Nghĩa xin hàng. (Buổi ấy giặc mọi làm loạn, quan quân đánh đã lâu, đến đây mới hàng).

Năm Bính Thìn thứ IX (1856), tháng 2, đến kỳ 3 năm xét công các quan. Bộ Lại làm sổ xét quan văn thời chỉ kẻ người tại chức mãn 3 năm, chớ không nệ trong 3 năm ấy hoán bổ những chức gì; còn bộ Binh làm sổ xét quan võ thời cũng kể người tại chức mãn 3 năm, nhưng trong 3 năm ấy phải thủy chung một chức mới được. Quan Nội các thấy hai bộ làm khác nhau, xin y theo lệ bộ Binh. Ngài nghe theo.

Truyền các quan coi làm bộ sách Việt sử.

-----------
1 Dưỡng liêm là tăng bổng cho quan, để quan khỏi lấy của dân.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #157 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2009, 11:16:26 pm »

Định lệ "Lang trung, Viên ngoại được tùy ban tâu việc". (Người nào do khoa mục hoặc Tôn, Aám, Giám sanh, Tú tài xuất thân, đều được tùy ban tâu việc; còn Lại điển xuất thân thời chỉ cho chiếu ban vào trực mà thôi).

Truyền chỉ đổi Điện thí gọi là Phúc thí (chuẩn cho các Cống sĩ ngồi làm bài tại tả hữu trường lang, trước đền Khâm Văn. Lại định lệ: ai thi Hội 4 trường được 10 phân trở lên, thời được dự hạng trúng cách; 4 trường được 8,9 phân cùng 3 trường được 12 phân trở lên, đều phải trích ra, để hầu chỉ Ngài định).

Tháng 4, định lại chương trình xét công các quan. (Người nào hiền năng mẫn cán, hoặc ốm yếu, lâm thời sẽ xét nghĩ lại; lại lấy việc trị lại dân, việc binh, lương, hình, thông kể làm 4 điều, khấu tính thưởng phạt).

Định niên hạn cho các quan thự hàm được thiệt thọ, nhưng chia làm 2 hạng: 1 hạng ở phiên nha, 1 hạng ở giản nha1; và định niên hạn các quan mắc tội công phải đình thăng. (Văn tứ phẩm, võ tam phẩm ấn quan trở lên, không kể chỗ phiên chỗ giản, thư hàm được 2 năm mà không mắc xử phân khoản chi nặng, đều cho thiết thọ; văn tứ phẩm, võ tam phẩm thuộc viên trở xuống, ở phiên nha 2 năm, ở giản nha 3 năm, không có xử phân khoản chi nặng, đều cho thiệt thọ. Còn trong số các quan nhơn mắc tội công mà phải đình thăng, người khoa mục hoặc võ cử xuất thân, và có công đánh giặc, thời mãn 2 hạng cũng cho thiệt thọ, còn ngoài ra thời mãn 3 hạn mới cho).

Ban lời chiếu khiến quan địa phương phải chiếu dụ dân và khuyên dạy làm ruộng (vì các tỉnh số đinh thiếu, ruộng bỏ hoang).

Lãnh Thượng thơ bộ Hộ Đặng Văn Thiêm mất. Ngài cho thiệt thọ Văn minh điện đại học sĩ, tặng hàm Thiếu bảo.

Tháng 7, xứ Bắc Kỳ mưa lụt lớn, các tỉnh báo tai. (Bao nhiêu đàng đê bị phá lở nhiều, làng xóm đều nước ngập cả). Ngài thương xót lắm, truyền quan chẩn cấp.

Tháng 8, tàu Đại Pháp sanh sự tại vũng Sơn Chà, thuộc cửa Hàn tỉnh Quảng Nam. Khi ấy có một chiếc tàu chạy đến xưng rằng: "đệ tờ Quốc thơ, xin qua buôn bán mà thôi". Rồi lại đến cửa Thuận phủ Thừa Thiên đưa một tập giấy rồi chạy đi. Ngày bữa sau, tàu ấy trở lại cửa Hàn, nói rằng: "đưa thơ xong rồi, chạy tới đây chờ quan chánh, phó sứ đến thương thuyết; nếu không chịu hòa thời trở về rủ nước Xích Mao qua, chắc sanh việc không tốt". Việc ấy tâu lên, Ngài giao quan bộ Binh nghị, lại truyền tỉnh ấy phái binh tuần phòng. Liền thấy tỉnh ấy dâng sớ tâu: "tàu Đại Pháp đã bắn phá các đài bảo ở vũng Sơn Chà rồi". Ngài dụ quan bộ Binh rằng: "cửa Hàn có việc, ta đã chuẩn cho quan tỉnh Quảng Nam đòi nhóm biền binh, tùy cơ chống cự; chỉ có ải Hải Vân là nơi thông với cửa Hàn, phải sai lính qua đó cho mau mà canh giữ.

Sai Hường lô tự khanh Nguyễn Duy hiệp với quan Hữu dực Đào Trí trù nghĩ việc ngăn giữ ngoài biển.
 
Hôm trước chiếc tàu Đại Pháp đưa thơ tại cửa Thuận An, Ngài đã chuẩn trả thơ lại, tỏ ý không
 
chịu nhận lời, rồi tàu Pháp lại tư giấy cho quan giữ cửa Hàn, xin đệ tờ thơ giao hảo thông thương: bây giờ lại có một chiếc tàu 3 cột buồm tiếp tới, cùng chiếc tàu trước hạ neo đậu một nơi. Ngài chuẩn phải thêm lính tuyển phong hiệp đồng toán quân trước, đóng giữ cho tráng thanh thế. Được vài ngày, chiếc tàu  máy ra cửa chạy qua phía đông.

Bốn mỏ vàng xứ La Sơn, Phước Vượng, Na Ba, Đồng Bộc thuộc tỉnh Lạng Sơn, vàng lại sanh vượng như cũ. Ngài chuẩn cho mở mỏ trưng thuế.

Tháng 10, định lại kệ "con các quan Văn, võ được khai ấm thọ". (Văn, Võ về người Tôn Thất, từ tứ phẩm trở lên, cùng quan Văn bách tánh từ tùng tam phẩm trở lên và quan Võ lục đẳng, thất đẳng, các công thần phong tước Nam, đều cho chiếu lệ khai người ấm thọ).

----------------
1 Phiên nha là chỗ công việc nhiều; giản nha là chỗ công việc ít.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #158 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2009, 11:18:05 pm »

Tháng 11, quan Trấn dương đại thần1 tâu: "2 chiếc tàu tây tới khi trươc đó, một chiếc thời đậu giữa vũng, 1 chiếc thời lui tới không thường; chúng tôi đã sai người tới hỏi, thời họ thường kiếm điều nói rằng: "tới hỏi thăm quan Chánh, Phó sứ". Ngài khiến phải phòng bị cho nghiêm (2 chiếc tàu ấy là chiếc tàu 3 cột buồm và 1 chiếc tàu máy).

Kinh lược Nguyễn Tri Phương và Phạm Thế Hiển tâu: "trong các cửa biển ở Nam Kỳ lục tỉnh, như cửa Cần Giờ, tỉnh Gia Định, đã sâu lại rộng, tàu lớn đi được, chỗ ấy quan yếu lắm; còn thứ nữa thời cửa Nhỏ tỉnh Định Tường. Vậy chúng tôi xin lựa chỗ hẹp dưới đồn Tam Kỳ (bờ bên tả thuộc làng Lương Thiện tỉnh Biên Hòa, bờ bên hữu thuộc làng Bình Khánh tỉnh Gia Định) lập 2 đồn ở phía tả và phía hữu để nương đỡ nhau; còn cửa Nhỏ tỉnh Định Tường, thời xin cho quan Tổng đốc Long - Tường tới khám chỗ nào nên lập đồn bảo thêm, tâu lên sẽ xét". Ngài nghe theo.

Tháng 12, Ngự sử Đặng Toán đem tình thế các đàng sông xứ Bắc Kỳ ngăn lấp tâu lên, xin truyền chỉ khởi đào cho thông đàng nước chảy. Ngài dụ rằng: "các tỉnh Bắc Kỳ thường bị nước sông làm hại, lòng ta thương dân, chưa khi nào nằm yên, muốn tìm cách sửa trị, cốt tại đào thông dòng dưới. Nay Toán xin vét cửa biển và cấm ngăn đắp đàng nước, nói cũng có lý; vậy phải lục cho các tỉnh có sông, phàm chỗ nào có thể dẫn nươc sông ra biển, đều phải vét đào cả".

Năm Định Tỵ thứ X (1857), tháng giêng, bọn Đào Trí tâu: "tàu Đại Pháp đến, xin ta phái quan giao hội hòa hảo, mà quan tàu tự xưng là quan nhứt phẩm mình hội nghị. Vậy xin lựa phái quan Đại thần tới hội". Ngài dạy rằng: "lời đó câu nệ quá chừng; truyền bộ phải lập tức cho Đào Trí hết lòng lo liệu làm sao cho nhằm sự cơ, mới xứng lòng ta ủy dùng, phải mượn người nhác làm gì nữa".

Quan phủ Thừa Thiên tâu xin đắp 2 bờ lũy vòng câu ở cửa Thuận An, bên bãi cát, phía nam và phía bắc để giúp việc phòng giữ. Ngài nghe theo.

Hai chiếc tàu đậu tại cửa Hàn khi trươc, đến nay ra cửa chạy đi. Bọn Đào Trí tâu: "xin chia phái biền binh để lại cho đủ số phòng giữ, còn bao nhiêu đều triệt về cho nghĩ". Ngài cho; chỉ để 2 ban lính Long Võ và Hùng Nhuệ ở lại phòng bị.

Ngài nghĩ cửa Hàn là chỗ cửa biển hệ trọng, bây giờ tàu Pháp tuy chạy đi rồi, mà những việc làm cho vững về sau, phải nên tính trước. Bèn khiến bọn Đào Trí hội với quan tỉnh kê khoản tâu lên, hậu chỉ thi hành. Bọn Đào Trí đem các sự nghi dâng sớ tâu: (1. Đặt đồn Trấn Dương ở chóp núi, để 20 khẩu sung đại bác; 2. Xin từ thành An Hải đến núi Sơn Chà, từ thành Điện Hải đến cửa Thanh Khê đều đắp lũy cát, trồng gai gốc ngăn giữ; 3. Xin triệt bãi đồn nhứt đồn nhì). Ngài truyền về Kinh ứng hậu.

Trung quân đô thống chưởng phủ sự, Võ lao Hầu Tạ Quang Cự (người phủ Thừa Thiên) xin về hưu. (Tuổi 86, được ăn nửa bổng). Ngài dụ rằng: "làm tôi thờ vua, phải cử người giỏi, ngươi ở Triều đã lâu, xét người đã nhiều, Thống quản có tên nào xuất sắc, cho cử lên". Quan Cự cử 4 người là Đoàn Thọ, Đào Trí, Nguyễn Sơn, Hoàng Ngọc Chung. Ngài lại ngự chế bài thơ ban cho.

Tháng 4, truyền dụ răn dạy các quan trong ngoài, phàm việc gì chớ nên dối trá.

Kinh lược sứ Nguyễn Tri Phương vào chầu, Ngài hỏi hết tình trạng đồn điền. Lại hỏi: "tuổi khanh đã cao, được khoẻ mạnh không? - Tâu rằng: "tôi nay 58 tuổi, sức trong mình hơi yếu". Ngài ban cho 1 tráp áo mặc mát. Tri Phương lại đem các điều trù nghĩ bổ cứu về việc đồn điền, kê khoản tâu lên. Ngài dạy rằng: "Thôi ! Cũng y cho ngươi, để cầu cho nên việc".

Sai quan bộ Hộ Tôn Thất Cáp vào cửa Hàn, khám xét trù nghĩ các công việc. Khi trở về, Cáp tâu: "cửa ấy thiệt là chỗ hệ trọng, mấy khi đặt thêm các đồn nhứt, nhị, tam, tứ, xin nên để nguyên như cũ". Cáp lại tâu: "phía bắc thành Điện Hải, ngoài lũy cát, cát biển bồi ngầm dưới mặt nước, gần đến giữa vũng, xin đắp thêm một pháo đài tại chỗ ấy, để khi bắn dùng cho thong thả, mà pháo đài liên tiếp với Điện Hải thành, khi có việc cũng dể giúp nhau". Ngài giao bộ nghị, Bộ xin theo cả, chỉ có khoản xin đặt pháo đài, thời công trình nặng nề quá, vả lại chỗ ấy cát mới bồi, làm gấp chưa tiện, xin chờ ít lâu sẽ làm. Ngài cho phải.

-------------
1 Trấn dương nghĩa là trấn giữ ngoài biên.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #159 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2009, 11:19:52 pm »

Ngài nghĩ Hà Nội, Bắc Ninh thường năm bị đê vỡ, đã biết trời có khi lụt lội, nhưng vì người chưa hết sức dự phòng, mới dụ khiến Đình thần rằng: "trù nghĩ thế nào, cho nướcsông khỏi hại dân ở đặng yên, chút thư lòng ta lo việc phía Bắc Kỳ. Ta cũng cho Nguyễn Tri Phương được hội nghị, để cho nhiều người nhóm trí khôn với nhau, thời lo việc mới được chín chắn". Đình thần tâu: "bây giờ cứu nước lụt, nếu không đắp đê, thời cũng không có chước gì; xin đặt riêng nha Đề chánh, để chuyên trách cho nên việc". Bọn Phạm Chi Hương lại biệt nghị rằng: "phép trị hà trổ nước với đắp đê, hai cách đều nên làm cả; vả lại, 2 con sông Thiên Đức và Hàm Long, từ phía bắc chảy đến, chừng hia ba ngày mới tới biển, trong đàng sông cũng có chỗ cạn hẹp ngăn lấp, nay nhơn đàng cũ xoi thông ra, đễ cho tiêu bớt nước sông Nhị Hà, còn bao nhiêu chảy xuống biển, thời thế nước đi tiện lắm". Ngài dạy rằng: "việc trị hà khó lựa người lắm, phải cần người siêng giỏi quen việc, mới xứng chức ấy. Lại như lời Phạm Chi Hương xin đó, sự thể nên làm vậy. Chờ lựa được người, sẽ giao xét nghĩ". Khi ấy các quan cử Hộ đốc Ninh, Thái là Võ Trọng Bình, Aùn sát Hà Nội là Nguyễn Văn Vĩ, Ngài cho Trọng Bình lấy hàm Tuần phủ quản lý Đề chánh tham tá. Lại truyền dụ rằng: "các ngươi phải hết lòng sắp đặt, cho được thành hiệu, thời công các ngươi đời đời hãy còn, chẳng những là được hậu thế thưởng mà thôi".

Trương Đăng Quế, Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản, Tôn Thất Cáp tâu công việc Nam Kỳ rằng: "các hạt Nam Kỳ, mấy năm trước nhờ ơn Triều đình điều tể, đã hơi sanh sắc, chỉ có một hai khoản nên tuỳ thời sửa sang". Nhơn lệ xin 4 việc: 1. Số thuyền tàu công trong Nam Kỳ, xin chiếu theo ngạch lính hiện tại để đủ dùng; 2. Xin đào rộng đàng sông ở 2 huyện Long Xuyên và Kiên Giang để cho thêm hiểm trở; 3. Tỉnh Gia Định, Vĩnh Long, Định Tường gạo nhiều, mà các tỉnh Nam Trực, Tả Kỳ kho tàng chứa gạo ít lắm, xin thuê thuyền buôn vận chở gạo Nam Kỳ ra, trữ cho đủ dùng; 4. Bình Thuận, Khánh Hòa, dân ở bìa núi, thường bị hổ hoạn khổ lắm, xin làm nhiều cách cứu giúp, cho dân khỏi cực. Còn như khoản giao hảo nước Xiêm, (quan Tuần phủ Nguyễn Tường Vĩnh xin giao hảo với Xiêm) thời xét ý Xiêm vẫn muốn giảng hoà, nhưng chưa có mối manh rõ ràng, xin chờ xét kỹ sẽ tâu). Ngài đều theo cả.

Tháng 7, định lại lệ "quan lại bị cách lưu1 cho khai phục2" (trừ khi gặp Khánh tiết cho khai phục ngoại, còn thời chờ đủ 3 năm kê tâu lên, hậu chỉ).

Hai chiếc tàu máy Đại Pháp từ phía nam đế, ghé hòn La Dự tỉnh Quảng Bình, rồi trở ra cửa Ba Lạt tỉnh Nam Định đậu vài ngày chạy đi.
Tháng 8, gặp lễ Vạn thọ, nhưng khi ấy xứ Bắc Kỳ bị lụt bão, Ngài truyền giảm yến hạ, hát múa. Khi trước Tri huyện Kỳ Anh (thuộc Hà Tĩnh) Nguyễn Mẫn được phép vào chầu, có điều dâng
rằng: "trong hạt nguyên có 1 con sông nhỏ, từ làng Hữu Lễ liên tiếp các huyện Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Can Lộc, rồi chảy xuống biển, xin đào cho sâu, cho tiện việc nông thương". Tháng trước quan khoa đạo Nguyễn Đức Trức lại tâu: "từ Ninh Bình qua Thanh Hóa, Nghệ An, đàng Cảng đời Trần, đời Lê đào, dấu cũ đương còn, nhơn đó mà xoi vét ra, thời ghe thuyền đi thông được". Ngài nghĩ lời Nguyễn Mẫn và lời Nguyễn Đức Trứ tâu hơi giống nhau, rồi khiến quan tỉnh khám mà làm. Đến đây qua tỉnh Nghệ An tâu: "đàng Cảng cũ ở hạt ấy, phía bắc từ cửa Xước cảng tiếp giáp biển Quảng Bình, nếu cho đào thời công từ đều tiện; chỉ có công trình trọng đại lắm, mà dân trong hạt cực khổ đã lâu, chưa được bình phục, xin hoãn 3 năm sẽ làm". Ngài ban rằng: Việc ấy tiện lợi lắm, ngày nào có thể khởi công được, cho phép phúc tấu, không cần chờ đến 3 năm".

Định lệ "trong ngoài phải đem 3 điều: đức, tài, lao mà xét cử các thuộc viên". Lại định lệ "bổ quan". (Cũng chiếu theo 3 điều trên mà làm).

Quang Lộc tự khanh Nguyễn Tư Giản (người Bắc Ninh) điều trần công việc trị hà: 1. Xin đắp đê ở biển để bớt thế nước, 2. Xin sửa bờ đập, cửa cống, để phòng khi nước to, 3. Xin ngăn con nhánh, để giữ đàng sông cái chảy cho mạnh; 4. Xin vét đàng cũ để trổ nước; 5. Xin lấp đàng nước đục, cho khỏi bùn lầy; 6. Xin trữ của cho sẵn, để trù việc chi phí; 7. Xin hậu cấp tiền công, để cứu dân khổ; 8. Xin quyên của cho nhiều, để giúp những công việc lớn; 9. Xin đặt hà đinh để coi việc canh giữ cho chuyên). Ngài cho Nguyễn Tư Giản lấy bổn chức sung Hiệp lý đề chánh sự vụ để cho được tỏ hết tài học.

--------------
1 Cách lưu là bị cách mà còn để ở chức đó.
2 Khai phục là cho phục lại chức cũ mà đã bị cách
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM