Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:43:17 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quốc Triều chính biên toát yếu  (Đọc 101033 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #160 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2009, 11:23:24 pm »

Tháng 10, dụ các quan cử người có văn, võ tài lạ.

Tháng 12, ban cấp Kinh, Truyện, Sử cho các ông Hoàng đệ mỗi ông 1 bộ. Ngài dụ rằng: "xưa ông Đông Bình1 ham học, vua nhà Hán ban cho sách Bí thơ, ta cho việc ấy đáng khen lắm. Nay các em nếu thiệt hay dụng tâm trong mấy bộ sách nầy, thời nghĩa đã rõ, đủ thấu biết tinh thần; nghe lại nhiều, đủ tu nên đức nghiệp; chớ để Đông Bình được tiếng tốt một mình, thời vui gì còn hơn "!.

Kinh lược xứ Nam Kỳ và Đốc phủ tỉnh An - Hà dâng sớ tâu: "tỉnh Hà Tiên là chỗ địa đầu quan yếu; (gần sát bờ biển, tiếp giáp nước Xiêm, nước Lạp) mà xưa nay chỗ Tỉnh, Phủ chỉ đặt tạm lỵ, chưa có đắp thành, bảo. Nay xin lập tỉnh bảo ở sau bảo Trấn Biên, dưới núi Ngũ Hổ; lập phủ bảo ở dưới núi Tô Châu cho vững bờ cõi". Ngài nghe theo.
Định lại lệ "đắp uynh mả các quan viên". (Mộ quan nhứt phẩm, được 90 thước2.

Năm Mậu Ngọ thứ XI (1858) tháng giêng, quan Đề chánh Võ Trọng Bình xin trù kê công phí về việc đào sông Thiên Đức và đắp bờ đê ở Hà Nội, Bắc Ninh, Nam Định, Hưng Yên, Ninh Bình tâu lên, nhưng xin để tới năm sau sẽ khởi công, Ngài nghe theo.

Trương Đăng Quế tâu: "bờ đê Bắc Kỳ, chỉ có Hà Nội xung yếu hơn, tôi trước đã đến khám, (nguyên Đăng Quế đi Khâm sai về) thời các bờ đê tại Hà Nội, Hưng Yên thường bị xoi lở, tuy địa thế thấp, ngọn nước xung chọi nên thếe, mà cũng tại bờ đê chưa được bền chặt, không nên đổ tại nước mà làm hại. Bây giờ phải lấy việc sửa bờ đê làm gấp, mà các bờ đê Hà Nội, Hưng Yên nên sửa trước, thuê dân làm công để thay việc chẩn thại, hễ sửa đắp bền chặt cũng giữ được vài năm, rồi sẽ tính mở đàng sông khác, mưu việc trăm năm lâu dài, mới là vững vàng; còn như đàng cũ sông Thiên Đức, phải nên vét đào, mà cũng phải tùy thế mở cửa sông khác, dẫn nước về phía đông, mới giữ được cái lợi vô cùng; nếu chỉ lo đào một sông Thiên Đức, e chưa đủ bớt sức nước chảy; đến như sông Thanh Hương vẫn nên mở thông, nhưng chẳng qua đỡ bớt một ít mà thôi; chỉ có nghị đào sông Hoạch Giang tỉnh Ninh Bình, để trổ bớt nước sông Hát Giang, việc ấy nên làm lắm". Ngài cho phải, khiến lục giao cho quan Đề chánh biết mà làm.
 
Tháng 6, truyền dụ quan địa phương phải mở điều lợi, trừ điều hại, cử người hiền, bỏ người tham.

Tháng 7, có 12 chiếc tàu Đại Pháp vào cửa Hàn, bắn phá các bảo đài. Việc ấy tâu lên, Ngài sai
 
Đào Trí hội đồng với quan Tổng đốc Nam Nghĩa là Trần Hoằng cự đánh. (Rồi sau Trần Hoằng nhơn Hải
Thành bị hãm, phải cách hiệu, Đào Trí được quyền Tổng đốc).

Quân Đại Pháp hãm lấy 2 thành An Hải và Điện Hải. Ngài sai Hữu quân Lê Đình Lý làm Tổng thống, đem cấm binh 2.000 cự đánh. (Từ khi 2 thành ấy thất thủ, lòng Ngài nóng nảy lắm, tiết thứ nghiêm dụ: hoặc khiến lựa chỗ đóng đồn, hoặc khiến lựa thế quyết đánh, hoặc khiến nhơn ban đêm vây đánh, hoặc quở trách các tướng dùng dằng. Ngài chỉ bảo, phương lược cũng đã nhiều lần).

Lính Đại Pháp vào làng Mỹ Thị nhổ rào đồn, phá núi đất; Lê Đình Lý cự đánh tại làng Cẩm Lệ, bị đạn, thương nặng, lính tráng sảng sốt chạy hết; Đình Lý về tỉnh Quảng Nam trị bệnh, rồi mất. Ngài sai Thống chế Châu Phước Minh đến thay, rồi lại dùng Kinh lược Nguyễn Tri Phương sung chức Tổng thống, đổi Phước Minh làm Đề đốc.

Tháng 10, lính Đại Pháp vào sông Hàn và sông Thị Nại, bọn Đào Trí chia binh phục đánh, đuổi chạy.

Tháng 11, lính Đại Pháp thình lình xông phá 2 đồn Hóa Quê và Nại Hiên, Hiệp quản Nguyễn
 
Triều và Nguyễn An cự đánh hết sức, bị chết; bọn Phước Minh cứu viện không kịp. Việc ấy tâu lên, Ngài ban rằng: "quân đã cô, cứu viện lại không có, 1 quan Tướng đã khó tìm, huốn chi chết đến 2 ! Bọn Tổng thống không đau lòng hay sao?" Các Tổng thống đều bị giáng phạt, còn mấy người tử trận đều được tặng cấp. Bấy giờ Nguyễn Tri Phương phái lính sửa đồn lại, chia đặt vọng lâu xích hậu, để cứu ứng cho

-----------------
1 Đông Bình vương tên là Thương, em vua Hán Minh đế.
2 90 thước là kể từ nơi mộ trở ra, thành ra bề ngang và bề dài đều 180 thước.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #161 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2009, 10:06:01 pm »

mau. Bọn Phước Minh mỗi ngày chia quân qua các đồn, gặp lính Đại Pháp, quân mình cự bắn đuổi được. Ngài than rằng: "chưa được trận gì hơn, luống nhọc lòng ta trông đợi mà thôi !".

Nguyễn Tri Phương mới đến quân thứ, mật xét tình trạng, tâu sự nên đánh nên giữ. Ngài dụ khiến Tri Phương vẽ địa đồ và bày mưu mẹo dâng Ngài xem. Tri Phương tâu: "bên họ đánh thời lợi, bên mình giữ thời hơn, bây giờ xin giữ cho vững để làm cách cự chiến: đắp thêm đồn lũy, lần lần xông tới". Ngài ban rằng: "bên đánh kh6ng bình, họ dễ cử động, mà mình khó châu đáo. Vậy việc giữ có 6 điều hại: (1. Động tĩnh không cẩn mật; 2. Khí cụ không tinh xảo; 3. Thám tử báo lầm; 4. Đồn, lũy không coi khắp; 5. Quân tâm nhút nhát, tướng lệnh không nghiêm; 6. Binh chia thời sức yếu, phòng chỗ nọ bỏ chỗ kia). Ngài đã ban lời dụ chỉ vẽ rồi, lại truyền Tri Phương phải tùy việc khuyên răn quân tướng, và nghĩ mưu này lập thế kia, phòng giữ các đạo binh, cho khỏi lo về sau, rồi sẽ chuyên ý xông tới, lần hồi dẹp yên, mới nên công lớn được.

Tháng 12, bọn Nguyễn Tri Phương đắp đồn Liên Trì. Lính Đại Pháp chia đạo đến đánh đồn Thạc Giảng và Nại Hiên; quân phục ta bắn lui được. Việc ấy tâu lên, Ngài ban rằng: "từ trước đến giờ chưa thấy dùng mưu gì lạ, từ nay về sau, nếu có giao chiến, phải chia lính mạnh phục các nẻo, để triệt đàng quân họ trở lui".

Ngài ban cho Nguyễn Tri Phương 1 thanh ngự kiếm và sâm quế hạng. Tri Phương đắp lũy dài từ Hải Châu đến Phước Minh, Thạc Giản, ngoài lũy đào hầm hình chữ phẩm, cắm chông, đổ cát và lấp cỏ lên trên, chia đặt quân phục, sát tới thành Điện Hải. Lính Đại Pháp chia 3 tiền đạo đến đánh, quan quân giữ lũy bắn, quân Pháp phải lui.

Khiến quan tỉnh Quảng Nam sắm đồ trâu rượu khao quân. (Tiết thứ đã thưởng bạc tiền quần ao, đến đây lại đãi trâu rượu).

Học trò tỉnh Bắc Ninh là Nguyễn Đức Y xuất của nhà lập nghĩa thương. Đặt hương điền giúp nuôi binh dân, châu cấp người nghèo, tiền lúa dùng được rộng rãi, các làng bàn cận đều tin phục. Quan Tỉnh đem việc ấy tâu lên, Ngài thưởng 1 đồng tiền bạc và cặp áo, tha binh diêu thân thuế 8 năm.

Năm Kỷ Vị thứ XII (1859) tháng giêng, lính Đại Pháp bắn phá các đồn Lương Thiện thuộc tỉnh Biên Hòa, Phước Vĩnh, Danh Nghĩa thuộc tỉnh Gia Định; vào cửa Cần Giờ chận sông Phu Giang thuộc tỉnh Biên Hòa, hãm lấy các đồn Tả Định, Tam Kỳ thuộc tỉnh Biên Hòa, Bình Khánh, Phú Mỹ, Hữu Bình thuộc Gia Định, liền tới bức thành Gia Định. Quan Hộ đốc Võ Duy Ninh chạy giấy các tỉnh hội binh cứu viện, Duy Ninh tự tử.

Lính Đại Pháp đánh hãm thành tỉnh Gia Định. Khi ấy luôn mấy ngày lính Đại Pháp đã bắn phá các đồn gần sông, nhơn chạy tàu thẳng tới bến sông trước mặt tỉnh thành bắn vào; lại có 1 toán quân lên bộ quanh thành đuổi đánh, quan quân mình thua chạy hết, thành bị hãm, lại bắn phá thành, đốt dinh trại kho tàng, rồi lui tàu đậu tại con sông phía dưới đồn Hữu Bình. (Trước khi ấy, Ngài nghe báo thành Gia Định bị vây, lập tức sai các đạo quân binh tới cứu, quân mới ra đi thành đã hãm rồi).

Tháng 2, truyền dụ Nam, Bắc các địa phương phải dạy tập biền binh.

Khi ấy quan Thống đốc quân vụ đại thần Tôn Thất Cáp đóng binh tại Biên Hòa, Ngài truyền dục quân qua tỉnh Gia Định phòng liệu.

Đặt súng đồng, địa lôi tại các đồn ở cửa Thuận An và thêm lính phòng giữ.

Tháng 4, tàu Đại Pháp bức tới bờ biển trước đồn Phước Minh và Thạc Giản, (tàu máy 9 chiếc, xam bản hơn 20 chiếc) chia binh bọc bắn, đạn xuống như mưa, tới hãm đồn Du Xuyên. Hiệp quản Phan Hữu Điển ra sức cự đánh bị chết, các đồn bị mất luôn. Bọn Nguyễn Tri Phương lui về đồn Nại Hiên, Liên Trì. Việc ấy tâu lên, Ngài dụ quan Thứ thần phải khích khuyến tướng sĩ, quyết đánh một trận để báo thù, nếu coi thế không được thời phải cố giữ, cho vững lòng quân.

Tháng 6, Đại Pháp sai người đến nghị hòa, xin ta phái quan tới hội. Quan quân thứ tâu lên, Ngài khiến Nguyễn Tri Phương chuyên coi việc ấy; lại truyền quan bộ Binh rằng: "Nước Pháp đã sai người đến nghị hòa, mà còn dung túng quân lính đốt phá (Quảng Nam Khánh Hòa) làm như vậy mà muốn nên hòa
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #162 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2009, 10:08:31 pm »

cuộc được đâu?" Liền truyền dụ quan Quân thứ lấy điều ấy hỏi lại; quan Tướng nước Pháp trả lời rằng: "từ rày về sau không làm thế nữa".

Ban thưởng Nghĩa dân tỉnh Vĩnh Long và Gia Định. (Mỗi làng 1 bức biển khắc 4 chữ "Hiếu nghĩa khả phong" vì dân ấy quyên tiền gạo giúp quân).

Tháng 7, Nguyễn Tư  Giản dâng mật sớ tâu không nên nghị hòa. Ngài hỏi quan Cơ mật. Trương Đăng Quế, Phan Thanh Giản tâu rằng: "người Pháp nguyên xin có 3 khoản: 1. Khoản xin đất cắt, điều ấy quyết không nên cho; 2. Khoản thông thương, thời từ khi Quốc sơ đến nay, đã có định lệ; 3. Khoản dạy đạo Thiên Chúa, thời từ Trần, Lê cũng đã thế, nhơn gần đây cấm ước nghiêm quá, nên chi họ phải xin, bây giờ ta nên tha điều nghiêm cấm, mà được nghỉ binh yên dân, thời hòa là tiện hơn".

Tổng đốc An Hà Cao Hữu Bằng mất (Hương cống phủ Thừa) Hữu Bằng trải thờ 3 Triều, một lòng kính cẩn từng đương chốn biên khổn, dân và mọi đều mến phục, Ngài thương lắm, cho tặng hàm Hiệp tá.

Truy tặng các quan tuẫn tiết1 rốt triều Lê từ Lê Quýnh trở xuống, cả thảy 23 người, (đều được ban thuỵ hiệu lập nhà thờ tại Hà Nội).

Truyêèn chỉ dựng bia Liệt Nữ Phan Thị Thuấn tại làng Thúy Aùi tỉnh Hà Nội. (Thị Thuấn là người huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, vợ hầu quan Quản tiền trạch đội nhà Lê là Ngô Cảnh Hoàn; khi ấy có giặc Tây Sơn, Cảnh Hoàn cự giặc tại sông Thúy Aùi, bị tử trận. Thị Thuấn nghe tin không khóc cũng không để tang; hoặc có kẻ chê cười, Thị Thuấn đáp rằng: "chồng tôi chết vì việc nước, chết vậy là sướng, còn buồn rầu làm chi nữa". Được hơn một tháng, Thị Thuấn đến bờ sông ấy, đặt bài vị chồng lạy khóc, rồi nhảy xuống sông tự tử).

Tỉnh Quảng Nam dân đói, lòng Ngài thương xót lắm, truyền các quan rằng: "giời dân, giời lúa2, đời xưa cũng có làm việc ấy". Liền truyền dụ các tỉnh Bình Định, Phú Yên chở lúa ra Quảng Nam, lại đem dân đói vào Nam Kỳ.

Trước đã truyên dụ ân quan xét người có tài văn võ, mà các quan địa phương cử chưa được người. Nay Ngài lại truyền dụ rằng: "trong mười bươc chắc có một bụi cỏ thơm, trong ngàn ngựa có một con ngựa hay, lẽ đâu trong đời không có nhơn tài, e các người chưa biết mà thôi. Xưa Bách Lý Hề3 nếu không gặp Công Tôn cử lên, đến già cũng cứ nuôi trâu: Gia Cát Lượng4  nếu không có Thủy Cảnh tiến lên, trọn đời ở trong lều cỏ. Nên chi các tôi đời xưa như Ngu Doãn Văn5 có tài quán lục, Lữ Mông Chánh6 có giáp đại thơ, khăng khăng cầu  người hiền, để dâng cho vua. Nay các ngươi đã chẳng hay lấy mình đương việc, làm cho có công nghiệp to, lại chẳng hay vì nước cử người hiền, thời lấy ai giúp ta? Các ngươi phải hết lòng hỏi xét, được người nào giỏi cử lên, chớ nên không".

Tháng 10, truyền trong ngoài bớt việc văn án. (Nếu chẳng phải việc gì trọng, án gì trọng, đều cho để đến rốt năm kê sách một lần).

Lính Đại Pháp bắn phá pháo đài Định Hải tỉnh Quảng Nam, chiếm đồn Chơn Sảng, đàng Hải Vân ngạnh trở. Ngài sai quan Thống chế Nguyễn Trọng Thao sugn chức Đề đốc quân vụ, đem binh cự đánh.
Nguyễn Tri Phương sửa đắp đồn lũy, chia quân đóng các nơi. Tháng 12, truyền lập Nghĩa thương.

------------------
1 Tuẫn tiết là vì nước mà bỏ mình.
2 Giời dân, giời lúa là cưu khi mất mùa dân đói việc ấy xưa vua Long Huệ Vương ở đời Chiến Quốc có làm, sách Mạnh Tử đã nói rõ.
3  Bách Lý Hề đời Xuân Thu, khi còn hàn vi phải nuôi trâu, Công Tôn Chi biết là người hiền cử lên vua Tần Mục Công dùng làm tướng.
4 Gia Cát Lượng tên chữ là Khổng Minh, đời Tam Quốc ở ẩn thảo lư, Tư Mã Huy hiệu Thủy Cảnh biết có  tài, tiến cho Lưu Bị dùng làm Quân sư.
5 Ngu Doãn Văn làm tướng nhà Tống, nghe ai có tài, đều chép tên vào sổ, để cử dùng, kêu là Tài Quân lục.
6 Lữ Mông Chánh cũng làm tướng nhà Tống, nghe ai hiền biên tên bỏ đãy, tức là Giáp đại thơ, để nhớ mà cử lên.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #163 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2009, 10:09:34 pm »

Buổi ấy Cao Man ý muốn làm phản, Ngài khiến quan tỉnh An Giang, Hà Tiên, Vĩnh Long, Định Tường, Gia Định, phòng bị các chỗ địa đầu quan yếu.

Năm Canh Thân thứ XIII (1860), tháng giêng, tàubinh Đại Pháp ở vũng Sơn Chà chạy đi, nhưng còn ở lại Chơn Sảng và Đà Nẵng. Ngài dụ khiến 2 đạo quân thứ Quảng Nam và Hải Vân nhắm thế mà chỉnh bị.

Quan soái Đại Pháp Ba Dụ nhờ các quan Quân thứ Gia Định đưa tờ hòa thơ nói 11 khoản: (1. Đại Pháp cùng Đại Nam giao hiếu muôn năm cho tỏ nghĩa lớn; 2. Như có tờ quốc thơ thời sẽ giao tại cửa Hàn rồi đi đàng bộ để đến Kinh; 3. Nước ta giao hiếu với nước nào, thời Pháp cũng đãi như nước anh em; 4. Dân ngu đã chịu làm thuê với Pháp, xin đừng bắt tội; 5. Đại Pháp cùng Nguyên soái nước ta đóng ấn vào tờ hòa ước, rồi tàu binh liền ra khỏi cửa; 6. Người đạo Gia Tô làm quấy, thời theo luật trị tội, nếu biết giữ phép thời không được tra bắt; 7. Nếu bắt được cố đạo, xin tha xiềng giao về nước Pháp. 8. Tàu Pháp vào cửa buôn bán, không được ngăn đón bức sách; 9. Xin cấp một bổn hòa ước cho nước Y Pha Nho (Espagne); 10. Cho cố đạo qua lại các làng theo đạo khuyên dạy; 11. Xin đặt quan Sứ ở cửa biển lập phố buôn bán). Quan Quân thứ chước nghĩ trong mấy khoản, chỉ có 8 khoản trên không quan ngại chi lắm, quyền tạm biên nhận xin y; còn 3 khoản sau (cấp tờ hòa ước cho Y Pha Nho; cho cố đạo qua lại dạy đạo; quan Sứ lập phố buôn bán). Không dám y theo. Đem việc ấy tâu lên, Ngài khiến Đình thần hội nghị, mỗi người bàn mỗi khác.

Sách Khâm định nhơn sự kim giám làm rồi. (Luân lý, hình thể, phẩm hạnh, cảnh ngộ, ngôn ngữ, văn học, võ lược, nghệ thuật, cả thảy 8 mục).

Nước Cao Man xâm tỉnh An Giang, Hà Tiên. (Khi ấy các tướng giặc ngoài Bắc đã bắt giết nhiều, mà An - Hà lại sanh giặc).

Tháng 3, Đại Pháp sai đốt các đồn An Hải, Điện Hải tại núi Sơn Chà, rồi những tàu binh đậu vũng Sơn Chà đều chạy đi hết. Ngài dụ quan Quân thứ và các địaphương chỗ nào có hải phòng phải phòng bị chi nghiêm ngặt.

Đốc học Nam Định là Phạm Văn Nghị khi trước có xin đem thân biền, binh dõng ứng mộ hơn 300 người, vào quân thứ Quảng Nam đánh giặc. Bây giờ Văn Nghị đem quân tới Kinh, vừa gặp tàu Đại Pháp đi rồi, Ngài truyền lệnh cho về hết, nhưng ban tiền bạc để khuyên người có lòng ứng mộ giúp nước.

Tháng 4, sao Thái Bạch hiện ban ngày, đến tháng 6 mới lặn.

Có 23 làng trong tỉnh Quảng Nam quyên tiền lúa, đặt xã thương, Ngài ban thưởng có phân biệt. Truyền đòi Tổng thống Nguyễn Tri Phương, Tham tán Phạm Thế Hiển thâu quân về Kinh.
Tháng 5, tỉnh Bình Định gió bão.

Sao Chổi mọc phía tây bắc, dài 5 thước, mỗi đêm cao lần lên.

Tháng 6, cho 5 người cháu các quan văn võ (Nguyên Thượng thơ Nguyễn Đình Đức; tặng Hiệp tá Hoàng Kim Xán; tặng Chưởng cơ Nguyễn Văn Tín và Ngô Thành) viện theo tổ ấm vào trường Giám học tập. Trước chưa định lệ ấm tôn, đến nay bộ Lễ tâu xin, Ngài gia ơn đều giao cho quan trường Giám hạch bổ vào Giám.

Tháng 7, cho quan Đông các đại học sĩ, Tráng Liệt Bá Nguyễn Tri Phương sung chức Gia Định quân thứ Tổng thống quân vụ đại thần, đổi Tôn Thất Cáp làm Tham tán. Trước khi ấy, Ngài đem việc trong Gia Định nên đánh nên hòa, hay là nên giữ, và những mưu mẹo nên xử trí thế nào mật hỏi Nguyễn Tri Phương và Phạm Thế Hiển - hai ông ấy tâu rằng: vừa giữ vừa đánh tiện hơn; lại đem những việc cần kíp nên xử trí thế nào bày tâu cả. Ngài cũng cho là phải. Đến nay Ngài bảo Tri Phương rằng: "Nguyên soái Nam Kỳ, hiện bây giờ không ai bằng ngươi, từ Đình thần đến quân sĩ đều nói như thế, ngươi không nên chối từ; còn như Quảng Nam nếu gặp việc gì, phải có 1 Đại viên vào đó coi sóc, ngươi nên lựa người giỏi cử lên. - Tri Phương tâu: sự thế hồi nay, so với ngày trước khó xấp 3 xấp 5; vả lại, quân dân của đã hết, sức đã yếu, lại không ví như lúc trước được; khi tôi còn ở Quảng Nam, nghĩ thẹn không công trạng gì, nhưng chức phận làm tôi, dẫu sai đi đâu cũng phải vâng mạng còn coi sóc việc trong Quảng Nam, tôi xét có Phan Thanh Giản và Nguyễn Bá Nghi ở Chánh phủ đã lâu, quân cơ biết rõ, thiết tưởng 2 người ấy
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #164 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2009, 10:10:24 pm »

sung chức ấy được". Ngài khiến Tri Phương đi. Lúc ra đi, Tri Phương lại mật tấu 6 việc: (1.Xin chăm việc binh, tài; 2. Xin yên ủy xứ Bắc Kỳ; 3. Xin bày cách chở súng; 4. Xin phái thêm Phạm Thế Hiển; 5. Xin kết hiếu với Xiêm La; 6. Xin trách hỏi Cao Man). Ngài đều nghe cả, lại dụ rằng: "việc ngoài biên khổn, ta giao cho ngươi, phải hết lòng đánh dẹp, khiến cõi Nam êm lặng, để khoan lòng ta lo lắng đêm ngày". Ngài ban cho bài thơ để khuyến miễn và ban gấm, the, sâm, quế các hạng.

Truyền quan lại Bắc Kỳ phải chăm an dân và làm cho đủ thuế nhà nước. Lại truyền lục bài Lại Châm ban khắp cả trong ngoài. (Bài ấy chép ở trong Ngự chế văn sơ tập).

Trương Đăng Quế dâng sớ xin về hưu trí, Ngài chuẩn cho lấy nguyên hàm Quản lý Binh bộ, sung chức Cơ mật viện đại thần, Kinh diên giảng quan Đăng Quế duyệt trước, thự lên rồi sẽ tâu, nhưng cho ở nhà tư dưỡng bệnh; hoặc 10 ngày hay 5 ngày một lần vào chầu; nếu có việc chánh sự lớn cũng dự nghị; Ngài lại cho phép được đi võng đến ngoài cửa Nhựt Tinh, Nguyệt Anh, để tiện tới chầu cho khỏi mệt nhọc.

Quan binh tỉnh An Giang đánh đuổi quân Cao Man ở núi Thất Sơn.

Ngài thường kính đọc tờ Di chiếu mỗi tháng vài lần. Trong tờ chiếu có 16 chữ: kỉnh thiên, pháp tổ, cần chánh, ái dân, thân hiền, đồ trị, chỉ thiện; đôn thân; nghĩa là: kính trời, bắt chước Liệt thánh, siêng việc chánh, thương dân, thân người hiền, lo trị nước, giữ điều phải, yêu bà con. Ngài nghĩ mấy chữ ấy là rất thiết yếu, nhơn làm bài thơ kính ghi, để cho dễ đọc và nhớ lâu. (Bài thơ chép ở Thi sơ tập).

Tháng 10, mọi Quang Nghĩa thường xuống cướp bình dân, quan Tỉnh là Nguyễn Tăng Tín trù nghĩ những cách phòng giữ tâu lên và nói một mình coi ngó không khắp, xin sung lãnh chức Tuần phủ, tới đó phòng giữ.

Tháng 11, binh Đại Pháp đánh lũy mới Gia Định, quân ta thắng trận, ngài chuẩn thưởng bọn Nguyễn Tri Phương và truy tặng cấp tuất các người tử trận.

Khiến trong và ngoài từ nay về sau không được mạo đặt các danh mục (như là các Tuần tổng, Tuần huyện, Cán tổng, Cán huyện. Nếu còn trái phép, trị tội.

Ngài nghĩ rằng an trên trị dưới, chẳng chi hay hơn lễ, truyền bộ Lễ châm chước nghĩ định trong Triều đình các Hoàng thân và các quan Văn, Võ khi yết kiến thế nào, khi gặp nhau thế nào; và lễ ngoài dân gian hương ẩm vị thứ thế nào, nam nữ hôn thú thế nào; kê khoản dâng lên. Ngài chuẩn cho biên làm lệ.

Có 4 chiếc tàu Đại Pháp chạy đến ngoài cửa Bân Côn tỉnh Vĩnh Long thả neo đậu lại; rồi đến thêm 5 chiếc nữa đậu lại cửa biển Ngao Châu. Ngài nghe báo, truyền các cửa phòng bị cho nghiêm.

Năm Tân Dậu thứ XIV (1861), tháng giêng, quan Đề chánh Nguyễn Tư Giản xin vét thẳng sông mới (từ Phước Lại đến Tư Cang) cho thông đàng nước. Ngài nghe theo.

Khiến các quan sung khởi cư chú ở viện Tập Hiền hội làm sách sử yếu (khởi đầu từ Ngũ đế đến đời Nguyên, Minh, đại lược như thể sách Giám toát) mỗi 5 ngày một lần tấn lãm.

Quân Đại Pháp tới đánh đồn Gia Định, quan quân ta lui đóng ở tỉnh Biên Hòa. Khi ấy tàu Pháp đến thêm 30 chiếc, lính hơn 10.000 người, chầu súng bắn vào đồn, bắc thang leo lên lũy, quan quân đối địch không nổi, đồn bị phá, Nguyễn Tri Phương lui về tạm tỉnh1; Đại Pháp lại đem vài ngàn lính ngày nào cũng bắn, quan quân ta không chống nổi, lại lui đóng tại tỉnh Biên Hòa, quan Tỉnh cũng dời tới đó ở chung. (Vừa rồi trận ấy, Phạm Thế Hiển mất).

Lính Đại Pháp đánh phá thành tỉnh Định Tường. Trước khi ấy có 14 chiếc tàu vào đậu vũng Cù Oác; sau vài ngày lại tới thêm một chiếc nữa; còn cửa Bé, cửa Lớn, đều có tàu Pháp đậu ở ngoài biển. Lãnh Tổng đốc Nguyễn Công Nhờn đưa thơ qua lại, quyền làm kế hoãn binh. Tàu Đại Pháp lại tới thêm 3 chiếc, đều vào đậu phần biển làng Tường Khánh. Bọn Công Nhờn xuất binh dõng qua đồn Tân Hương cứu viện; đạo binh Pháp xông đến ngào lũy bắn luôn mấy ngày, quân ta bắn không lại, lui giữ đồn Tịnh

------------------------
1 Tạm tỉnh là đặt ra 1 chỗ như tỉnh lỵ để ở tạm, chớ không phải thiệt tỉnh thành.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #165 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2009, 10:12:09 pm »

Giang, rồi cũng chạy tan, binh Pháp liền bức tới thành tỉnh, Công Nhờn nhảy xuống chiếc thuyền con lánh đi chỗ khác, quân lính chạy trốn hết thảy; lãnh Tuần phủ Nguyễn Hữu Thành mở cửa thành chạy. Ngài nghe việc 2 thành thất thủ, truyền đình thần định tội quan Quân thứ và quan tỉnh; nhưng trách giao mấy ông quan đó phải thâu nhóm quân sĩ, để lo báo phục trận khác.

Ngài ngự cửa Thuận An, xem thấy cửa biển bồi cạn quanh co, ngày thêm yêu biển, cho là Thần biển linh thiên giúp nước, truyền quan tế miếu Long Vương; qua ngày sau ngự về.

Tháng 4, cho Tổng đốc Trương Văn Uyển, Tuần phủ Phan Khắc Thận sung chức Phòng tiễu quân vụ, Tả lý Đỗ Thúc Tĩnh Phủ thừa Nguyễn Túc Trưng sung chức Khâm phái quân vụ (rồi Văn Uyển, Khắc Thận, thúc Tịnh được lãnh Đốc, Phủ 4 tỉnh Long, Tường, Định,Hà).

Truyền dụ đem mười việc sau này xét cử những người có tài lạ: (1. Thuộc binh Pháp; 2. Mạnh bạo hơn người; 3. Võ nghệ hơn chúng; 4. Biết thiên văn; 5. Tinh địa lý; 6. Cơ biến tinh tường; 7. Nói phô lanh lợi; 8. Học thuốc giỏi; 9. Thánh thính hay; 10. Kỹ nghệ khéo).

Khi trước Ngài cho Thượng thơ bộ Hộ Nguyễn Bá Nghi làm Khâm sai đại thần. Bá Nghi đến Biên Hòa, nghĩ rằng đánh giữ chưa tiện, có xin ủy người tới giảng hòa, làm kế hoãn binh. Bây giờ Bá Nghi đem hiện trạng tâu lên, Ngài đưa sớ ấy cho Trương Đăng Quế. Đăng Quế tâu: "người Pháp muốn ở Gia Định, lại toan lấy Định Tường, Biên Hòa, e hòa cuộc không xong; trừ việc đánh việc giữ, thời không có chước gì khác". Ngài lại dụ Bá Nghi hoặc có chủ ý gì cho phép tâu ngay. Bá Nghi lại tâu: "Sự thế Nam Kỳ, chỉ có hòa mới được, chẳng thế còn sanh điều ngại khác". Ngài truyền rằng: "sự thế khó làm, ta đã rõ rồi, ngươi phải hết lòng hết sức, để cho tỏ tài giỏi trong lúc nguy biến, cũng như biết có cứng trong lúc gió to".

Tháng 5, mới định lệ "Tú tài tuổi 40 trở lên, hạch đậu được bổ quan". (Ai đậu ưu, đầu bổ chánh cửu, thăng đến chánh thất là chỉ hàm; hạng bình, đầu bổ tùng cửu, thăng đến chánh bát là chỉ hàm; hạng thứ, đầu bổ Thừa phái thăng đến chánh cửu là chỉ hàm; đã chỉ hàm rồi, thời sau theo lệ "quan nhơn" mà thăng).

Bản Thực lục chánh biên chép việc triều Thánh tổ Nhơn Hoàng đế đã làm rồi.

Nước Y Pha Nho phái 1 chiếc tàu tới nhờ quan Quân thứ Biên Hòa đệ thơ cầu hòa. Quan quân thứ đem thơ dâng lên. (Tờ thơ nói: xin ở núi Đồ Sơn, lập sở Tuần ty tại huyện Nghiêu Phong tỉnh Quảng Yên, trong 10 năm sẽ trả lại; nếu không cho, thời gây việc tới Bắc Kỳ). Ngài không cho, dạy thơ trả lại thơ; rồi tàu ấy ra cửa Cần Giờ (thuộc tỉnh Gia Định) chạy đi. Việc ấy tâu lên, Ngài khiến quan Cơ mật lường xét chú ý họ thế nào. Cơ mật tâu: "cứ như tin vừa báo đây, hoặc sanh sự ở hòn Cát Bà (thuộc tỉnh Quảng Yên) để chia thế quân ta, mà cho thiệt lời họ nói trước". Ngài khiến quan sở tại phải lo phòng bị.

Bạch khí và sao Trường tinh hiện ra trên trời.

Tháng 6, quan quân thứ Biên Hòa Nguyễn Bá Nghi cùng quan soái Đại Pháp thương thuyết, rồi đem việc cầu hòa mật tâu lên. (Cả thảy 14 khoản). Ngài dụ rằng: "Bá Nghi từ sai ra đến nay, chỉ thấy chú ý nghị hòa, bởi vì không biết lo giữ về sau là cốt tại lúc đầu, mà khinh suất nhận lời, nên chi việc càng thêm khó".

Nghiêm sức các quan địa phương phân tháp giáo dân.

Sao Thái bạch mọc ban ngày, đến tháng giêng năm thứ 15 mới lặn.

Tháng 7, cho Đoàn Thọ thăng Trung quân đô thống, sung chức Phòng hộ sứ cửa Thuận An, Tôn Thất Hàn thăng Hậu quân đô thống, Võ Phẩm gia thủy sư đô thống đều sung chức Phó sứ.

Bọn Nguyễn Bá Nghị dâng tập tâu: "tình hình tỉnh Biên Hòa suy yếu, đánh giữ đã không được, mà hòa lại không xong, xin giảm bớt quân thứ, phái người đi cầu viện nước khác". Ngài truyền dụ quở trách. (Sau tỉnh Biên Hòa thất thủ, Bá Nghị bị giáng Tham tri, hiệp cùng Nguyễn Tri Phương thương tá Bình Thuận quân vụ).
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #166 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2009, 10:13:17 pm »

Phó quản cơ Gia Định là Trương Định, (người huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Nghĩa, con quan Lãnh binh Trương Cầm mộ binh dõng đông lắm, thường cự đánh binh Pháp. Việc ấy tâu lên, Ngài cho thăng Quản cơ, rồi lại cho lãnh Phó lãnh binh.

Tháng 9, nghiêm cấm các quân không được đóng góp.

Vua Cao Man là Ong Run chết, hai người con trai tranh chấp rồi trong nước nổi loạn.

Sanh biểu "trung tiết" cho người Gia Định là cử nhơn Phan Văn Đạt và Hương thân Lê Cao Dõng. Khi trước Văn Đạt và Cao Dõng mộ nghĩa dõng đánh giặc, chẳng may đều bị bắt, chẳng chịu khuất phục mà chết. Việc ấy tâu lên, nên Ngài cho sanh biểu, (Văn Đạt được truy thọ hàm Tri phủ, Cao Dõng được truy thọ hàm Suất đội).

Tháng 10, truyền chỉ các quan Tỉnh, Phủ, Đạo lựa lính trong các cơ, đội, tên nào sức vóc mạnh khoẻ, thúc làm lính Võ sanh.

Thúc quân Nghĩa Dõng tỉnh Vĩnh Long.
Tháng 11, binh Đại Pháp đến chỗ Suối Cầu tỉnh Biên Hòa, lính bộ biền ta 2 lần đánh lui được cả. Binh Đại Pháp lại đến 2 làng An Thạnh và Bình Chuẩn thuộc Biên Hòa, Phó Đề đốc quân thứ là Lê Quang Tiến lừa ban đêm lén đánh.

Quân Đại Pháp đánh đuổi đạo quân thứ Biên Hòa, vào chiếm thành tỉnh. Khi ấy Nguyễn Bá Nghi ý chăm về việc giao hòa, nên không lo phòng giữ; đến đây Đại Pháp đem tàu binh đón đàng qua Gia Định, Định Tường, lại giữ 2 cửa Cần Giờ và Phước Thắng, bắn luôn mấy ngày, phá chỗ Đá Hàn; đạo quân thứ rút lui giữ phủ Phước Tuy, tàu Pháp nhơn khi nước lên, chạy thẳng tới thành tỉnh, lấy súng bắn vào, quan Tỉnh thế không chống nổi, cũng lui đóng tại đồn mới Hố Nhĩ, Đại Pháp liền chiếm giữ thành, lại đánh phủ Phước Tuy; Bá Nghi lui quân ở rừng Long Kiên, Long Lập, (thuộc phủ Phước Tuy). Việc ấy tâu lên, Ngài thiết trách quan quân thứ và quan tỉnh, rồi gia ân cho cách lưu, và cho lập công chuộc tội. Lại đòi Nguyễn Tri Phương, Tôn Thất Cáp ra sung chức Đổng nhung quân thứ Biên Hòa. (Khi ấy Tri Phương và Cáp hiện đương hầu án, truyền chỉ đòi ra. Đến năm 15 Tôn Thất Cáp bệnh mất).

Tháng 12, tỉnh Quảng Yên nổi giặc biển. (Cố đạo Trường làm mưu chủ giặc, tôn Tạ Văn Phụng làm Minh chúa; Văn Phụng mạo xưng con cháu Lê tên là Lê Duy Minh; bọn tên Ước, tên Độ làm tướng giặc, sau hiệp với các Thổ phỉ tỉnh Hải Dương, Bắc Ninh, Sơn Tây, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Thanh Hóa, Nghệ An, lại thông với giặc Cổ phỉ Tàu). Chúng nó tụ hội ở các phần biển châu Tiên Yên phủ Hải Ninh, ăn cướp của dân, quan binh đánh cũng có khi hơn, mà giặc ấy ngày càng thêm nhiều.

Chuẩn định lệ "nạp của chuộc tội" (các tù quân, lưu, đồ, người nào bị tội rủi ro, hay là bị can liên, đều cho nạp của chuộc tội có phân biệt).

Năm Nhâm Tuất thứ XV (1862) tháng giêng, cho Tổng đốc Nam-Nghĩa là Đào Trí sung chức Kinh lược đại thần, đốc việc lương hướng khí giới, phòng bị từ Quảng Nam đến Bình Thuận.

Quảng Nam trở vào nam, dân bổn hạt vàdân Minh, Thanh quyên của giúp quân nhu, đều được thưởng phẩm hàm.

Truyên chỉ hỏi các tỉnh cử người biết chữ và tiếng nước Pháp. Quan tỉnh Nghệ An và Lạng Sơn, Cao Bằng, tâu cử Nguyễn Trọng và Nguyễn Văn Thự. (Nguyễn Trọng người Nghệ An, đã theo qua Tây về nói: sách Tự vị Pháp chỉ có 27 chữ cái; từ đó bổ thêm, mới thành chữ khác; Văn Thự nguyên người Giáo dân, phạm tội ở tỉnh Lạng Sơn). Ngài khiến giao về Bộ xét hạch.

Ngài nghĩ giặc cướp biển hại, khiến quan Tổng đốc Định, An là Nguyễn Đình Tân sung chức Hải An kinh lược đại thần, Nguyễn Tư Giản làm Tham tá quân vụ. (Được ít lâu, Đình Tân bị triệt về, Tư Giản bị cách hiệu).

Bãi nha Đề chánh, khiến sở tại chiếu trường sửa đắp.

Tháng 2, khiến Phó lãnh binh Gia Định là Trương Định kiêm làm đầu mục mộ nghĩa. Trương Đăng Định đóng đồn tại Gò Công, thường lừa đánh quân Pháp, thân sĩ theo nhiều.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #167 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2009, 10:14:54 pm »

Truyền dụ Nam, Bắc lựa lập dân dõng, hương dõng, thổ dõng để chờ khi cần dùng.

Binh Đại Pháp lấy thành tỉnh Vĩnh Long. Khi ấy tàu Pháp hơn 10 chiếc đến đậu ở phía trên đồn Vĩnh Tùng (các đồn, bảo từ Vĩnh Tùng trở xuống đều thuộc tỉnh Vĩnh Long, đắp để phòng bị). Lính Pháp hơn 1.000 người lên bộ đắp lũy. Tổng đốc Trương Văn Uyển liền sức Lãnh binh Tôn Thất Thoan hết sức giữ đánh, còn Văn Uyển cùng Bố chánh Lê Đình Đức sắp binh chực ứng tiếp. Quân Đại Pháp luôn mấy ngày bắn các đồn lũy, quan quân mình cự đánh không lại, lần lần chạy tan; tàu Pháp chạy thẳng đến bến Thành tỉnh, bắn hỏa hổ vào; Văn Uyển liệu thế khó giữ, nhơn ban đêm đốt binh trại kho tàng, rút binh lui ra đồn Vĩnh Trị, qua đình trú tại huyện Duy Minh. Việc ấy tâu lên, bọn Văn Uyển đều bị cách lưu, nhưng khiến lựa chỗ mà đóng quân, để toan lập công ngày sau.

Tháng 3, có tên Chánh tổng là Nguyễn Thạnh ở Bắc Ninh, tự xưng Nguyên soái, tôn giặc trốn là tên Huân làm nịnh chưa. (Khi trước năm thứ 8, tên Huân đã mạo xưng con cháu Lê, tự lập làm minh chúa, rồi sau đảng nó tan hết, nó trốn đi, nhiều thứ nã bắt chưa được). Lại thông với đảng giặc biển Quảng Yên, tụ hội đến vài ngàn người, xâm các phủ, huyện Lạng Giang, Yên Dũng, rồi tới vây thành tỉnh. Bố chánh Hà Nội Nguyễn Khắc Thuật, Bố chánh Sơn Tây Lê Dủ, Phó lãnh binh Hưng Yên Võ Tảo hội 3 đạo binh tới đánh. Võ Tảo đánh tiếp hơn 10 trận đều thắng cả, Tảo liền kéo quân lướt tới, quân trong thành ra giáp đánh, Thạnh thua chạy, rồi giải vây Bắc Ninh. Tờ báo tiệp tâu lên, Ngài cho Võ Tảo tới trước đáng công đầu, thưởng thọ Lãnh binh, gia thưởng bài vàng, tiền vàng, nhưng lãnh chức cũ; lại truyền chỉ Tổng đốc quân vụ đại thần Tôn Thất Hàn thống quản biền binh lập tức đuổi theo, dẹp yên giặc ấy.

Tháng 4, lãnh Tuần phủ Định Tường Đỗ Thúc Tĩnh mất (Tấn sĩ Quảng Nam) được truy tặng hàm Tuần phủ. Khi trước Thúc Tĩnh thấy thành Gia Định thất thủ, tâu xin quan đó hiểu thị tướng sĩ, chiêu dụ binh dân, để toan khôi phục; có chí mà làm chưa nên. Ngài tiếc lắm.

Quan soái Đại Pháp là Phố Na khiến Xuy Mông chạy tàu vào cửa Thuận An, đưa thơ nghị hòa. Việc ấy tâu lên, Ngài hỏi Đình thần; bọn Trương Đăng Quế xin sai Sứ quan giao thông là phải. Khi ấy Phan Thanh Giản, Lâm Duy Thiếp xin đi, Ngài chuẩn cho sung Nghị hòa chánh phó sứ toàn quyền đại thần; lại khiến Đình thần nghị định đại ý trong điều ước rồi Ngài lại định thêm, giao cho 2 ông. Đến khi đi, Ngài rót tửu ban cho. Lúc 2 người đến Gia Định, đem đất Gia Định, Định Tường, Biên Hòa nhường cho Pháp, lại chịu bồi 4.000.000 đồng bạc, và cho lập nhà Giảng đạo, mở phố thông thương, cả thảy 12 khoản, biên vào hòa ước; vừa 20 ngày chạy tàu về, đem sự trạng tâu lên. Ngài cho Thanh Giản lãnh Tổng đốc Vĩnh Long, Duy Thiếp lãnh Tuần phủ Thuận Khánh, để cùng quan soái Pháp thương thuyết cho tiện.

Tri huyện Gia Lộc thuộc Hải Dương là Đăng Lang (cử nhơn, người Nam Định) gốc binh đánh giặc, bị bắt, giặc muốn để sống, Lang nhịn ăn đến 7 ngày mà không chết tức lắm, mắng chửi giặc hết sức, bị giặc giết. Khi gần chết, Lang viết tờ thủ thơ có câu rằng: "Ngữ viết thành nhơn, Mạnh vân thủ nghĩa, tích hữu Văn Sơn1, kim khả vô quý. Nghĩa là: trong sách Luận ngữ đức Khổng có nói: chịu liều chết để trọn điều nhơn; trong sách Mạnh Tử thầy Mạnh có nói: thà bỏ sống mà được điều nghĩa; xưa Văn Sơn cũng không hổ gì". Việc ấy tâu lên, Ngài cho truy tặng Hàm lâm thừa chỉ.

Tháng 5, quan Soái Đại Pháp vào cửa Hàn. Tổng đốc Đào Trí xin để lính hạ ban ở lại nghiêm giữ. Ngài truyền rằng: "quan Soái Pháp đến lúc nầy, chỉ coi tình hình mình mà thôi, mình không nên bức họ, cũng không nên sợ hãi, chớ để binh nhiều, nên cho về nghỉ, để dưỡng sức quân". Lại truyền dụ từ Nghệ An trở vào Nam, mộ lính dõng để chực sai phái.

Giặc vây thành tỉnh Hải Dương, quan tỉnh dâng sớ cáo cấp, Ngài sai Thượng thơ bộ Hộ là Trương Quốc Dụng làm Thống đốc Hải An quân vụ đại thần, Thị lang bộ Hộ Phan Tam Tỉnh  làm Hộ lý tổng đốc, Chưởng vệ Đặng Hạnh, Lê Xuân đều sung chức Đề đốc, đem lính Kinh và lính Thanh Nghệ đi đánh giặcc. (Có cử nhơn Trương Quốc Quán là con Quốc Dụng đem lính mộ theo quân thứ, Ngài đặc cách cho thăng chức Chủ sự) Ngài lại sai Đào Trí làm Hải Yên tham tán đại thần, đem lính thứ ra Bắc, còn Tổng đốc Nam Nghĩa thời cho Nguyễn Hiên làm Hộ lý.

--------------------
1 Văn Sơn là hiệu ông Văn Thiên Tường làm Thừa tướng nhà Tống.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #168 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2009, 10:15:40 pm »

Truyền dụ cho bọn giặc Hải Yến, Bắc Ninh, Cao Bằng, Thái Nguyên ra đầu thú và lập điều khoản minh bạch giao quan Quân thứ và quan Tỉnh sao niêm yết khắp nơi, để chiêu dụ quân giặc.

Tháng 6, cho Nguyễn Bá Nghi (Bá Nghi từ Quân thứ Bình Thuận đòi về) sung chức Bắc thứ tham tán đại thần, lại cho lãnh Tổng đốc Sơn-Hưng-Tuyên.

Giặc biển vây phá thành tỉnh Quảng Yên, Thương tá Nguyễn Tấn Lục vì giặc đông mà quân mình ít, địch không lại, lui về Nam Định, tâu xin làm mưu nửa đêm đánh lén. Ngài truyền rằng: "Tấn Lục còn biết bày mưu, vậy giao cho Tấn Lục thâu thập quân thất tán qua đánh giải vây cho mau".

Dựng nhà thờ Trần Xuân Hòa (con Trần Tuyên, cử nhơn tỉnh Quảng Trị) mùa đông năm ngoái, lính Đại Pháp vào xứ Mỹ Trang và xứ Bang Lãnh thuộc tỉnh Định Tường, quan binh chia đạo tới đánh. Thị độc học sĩ Trần Xuân Hòa coi đạo binh phòng bị, bị lính Pháp bắt được, Xuân Hòa cắn lưỡi chết. Đến đây Ngài cho truy tặng Quang Lộc tự khanh, lại truyền quan Tỉnh Quảng Trị lập nhà thờ, khiến quan đến tế.

Tháng 7, Phan Thanh Giản, Lâm Duy Thiếp thương thuyết việc trả 3 tỉnh, quan Soái Pháp không chịu; Trương Đăng Quế xin phái người qua hỏi thăm vua nước Pháp, nhơn đưa ra cái lẽ cho rõ ràng việc Pho Na cưỡng bức và Phan Thanh Giản khinh suất nghe lời; nhưng việc ấy rồi bỏ lơ.

Từ khi đã định hòa ước rồi. Ngài truyền dụ Nam Kỳ nghỉ binh và đòi Trương Định ra Phú Yên. Khi ấy trong các tỉnh Gia Định, Định Tường, Biên Hòa những người ứng nghĩa rủ nhau đoàn kết, tôn Trương Định làm Đại đầu mục, xin cho ra đánh, Đình thần nghị rằng: "bây giờ việc Bắc Kỳ đương khẩn, mà Nam Kỳ chưa có cơ hội gì, xin giao Phan Thanh Giản hiểu dụ". Nhưng Trương Định đã lâu mà không chịu về cung chức, bị cách chức hàm.

Nguyễn Tri Phương từ Bình Thuận về chầu.

Các giặc Mán giặc Nồng bên Tàu qua cướp huyện Tùng Hóa và Đại Từ, quan binh thua chạy, giặc liền vây tỉnh Thái Nguyên, đánh phủ Bình Phú, Tri phủ là Doãn Chánh (con Doãn Uẩn) cự đánh, hơn 3 tháng giặc không lấy được thành. Khi ấy phía tây bắc đàng đi ngạnh trở, quân cứu đã không mà lương lại hết, Doãn Chánh nhơn ban đêm ra khỏi vây, nhảy xuống sông Hanh Giang mà chết. Ngài nghe, khen rằng: "Tri phủ như vậy, thiệt ít có lắm ! Không thẹn với người đời xưa, cũng không thẹn là con nhà danh thần". Cho truy tặng Thị độc học sĩ.

Bọn Trương Quốc Dụng, Đào Trí, Phan Tam Tĩnh từ Hưng Yên đem quân qua phía đông, tiếp đánh 1 trận, đại thắng, lấy lại phủ Bình Giang rồi tới cứu tỉnh; quân tỉnh ở trong thành ra giúp đánh, giặc thua chạy, liền mở cửa thành phía tây rước quân mình vào. Khi ấy, 4 mặt thành nhiều ụ súng và hầm chông của giặc, quân thủy quân bộ nó còn đông, đàng trạm chưa thông được, quan quân mới vào thành, sắp bàn việc đánh, thời giặc đã tới vây lại.

Tháng 8, giặc Huân cùng Nông Hùng Thạc là Thổ phủ tỉnh Tuyên Quang và bọn Hoàng Anh là giặc Cổ Phỉ bên Tàu, hiệp đảng lõa hơn 10.000 người vây tỉnh Tuyên Quang. Bố chánh Nguyễn Tất Tố, Aùn sát Nguyễn Văn Tố nạp thành cho giặc, rồi chạy; giặc liền vào cứ thành. (Rồi sau Tất Tố và Văn Tố đều chết, Ngài dạy dựng bia nơi mả để răn người sau).

Khiến Nguyễn Tri Phươn sung chức Tây bắc tổng thống quân vụ đại thần (rồi thăng Hiệp tá), Phủ doãn Phan Đình Tuyển làm Tán lý, Chưởng vệ Tôn Thât Huệ làm Đề đốc (rồi sau Huệ chết, Ngài nghĩ có công đánh giặc, cho truy tặng Thống chế. Đình Tuyển nhơn gặp binh phục giặc mà chết, Ngài cho thiệt thọ hàm Tuần phủ).

Bọn giặc Cổ phỉ Tàu là tên Lý Hiệp Thắng vây tỉnh Cao Bằng, quan tỉnh là bọn Lê Văn Phổ lui giữ đồn Kho, (rồi dời tỉnh lỵ qua đó) để toan xin quân cứu viện. Tuần phủ Lạng Bình là Phạm Chi Hương đem binh tới cứu, lấy lại thành tỉnh, dâng tờ báo tiệp, Ngài thưởng kỷ lục gia cấp và tiền bạc.

Bọn Trương Quốc Dụng, Đào Trí ở thành Hải Dương đem quân ra đánh, phá giặc tan hết, giải vây tỉnh thành. Trước khi ấy, đã hai lần chia quân đánh phá từng ngả; nhưng không hơn được; các quan lập mưu; ngày nào cũng chia quân làm 2 hàng, hàng trước thời bắn giặc, hàng sau thời lần lần phá ụ đất, lấp hầm chông của giặc, như vậy trót 1 tháng mới rồi; khi ấy quân mình đã có nơi xuất trận, liền ra sức đánh 2 trận, thế mạnh như gió mưa, chém hơn 450 đầu giặc, bắt sống giặc hơn 100 người; rồi đàng
 
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #169 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2009, 10:16:48 pm »

đi từ thành tỉnh đến phủ Bình Giang mới thông được; chạy cờ đỏ báo tiệp. (Quốc Dụng liền được thăng Hiệp tá, Đào Trí được thăng Thống chế).

Tháng 9, Ngài cho Cần chánh điện đại học sĩ Trương Đăng Quế thôi coi việc bộ Binh, nhưng còn sung Cơ mật viện đại thần (vì Đăng Quế từ đã 2,3 lần); rồi nhơn Đăng Quế đến thất thập thọ, Ngài cho 1 bài thơ (chép trong Thi sơ tập), và các đồ phẩm hạng để dưỡng, coi sách.

Bọn giặc Thanh lại vây tỉnh Bắc Ninh, dân phụ quách chẳng chịu theo giặc hơn 2.200 người, cùng người ở chung quanh thành trươc bị giặc đốt phá tan đi, nay mới về; quan tỉnh và quan quân thứ đều cấp lương cho. Rồi các quan lại đem quân ra đánh đuổi giặc.

Quan Soái Pháp là Phô Na tư tờ nói: "vua 2 nước (Đại Pháp và Y Pha Nho) đã đóng ấn vào tờ hòa ước rồi, hẹn đến tháng 11, sai Sứ đệ tới Kinh, dâng Ngài ngự xem, rồi để 2 đàng giao tờ cho nhau". Ngài bảo rằng: "trong tờ hòa ước, nhiều chỗ không tiện, mới rồi đây ta đã trách Phan Thanh Giản và Lâm Duy Thiếp phải ra sức lo liệu cho xong, mà chưa thấy làm được việc gì; nay đã vội hẹn giao tờ hòa ước, thời chẳng biết 2 người ấy thương nghị thế nào"?.

Tháng 10, Võ lao hầu Tạ Quang Cự mất. (Tuổi hơn 90, được tặng hàm Thái bảo).

Tháng 11, dựng nhà thờ Bố chánh Trần Tuyên và Tri phủ Hoàng Hữu Quang. (Năm đầu hiệu Thiệu Trị, giặc thổ dấy loạn, 2 người ấy hết sưc đánh, bị chết). Trần Tuyên người tỉnh Quảng Trị, sanh ra Trần Xuân Hòa. Ngài thường dạy bộ Lễ rằng: "cha con Trần Tuyên đều có danh thơm tiết nghĩa, rực rỡ sử biên, thiệt làkhó đặng lắm"!.

Định lại lệ "thăng trật các quan"; vì mới gần đây, các quan hàm thấp mà sung lãnh chức cao, có người 2 năm được thăng thự, có người 3 năm được thăng thọ, đến đây đổi định lại: (người nào mà không có quan trên xét cử, thời ở phiền nha được 3 năm, hay là ở giản nha được 4 năm, hạn châu đều được thăng thọ; còn lệ 2 năm thăng thự thời bãi; nhưng người nào đã có quan trên xét cử, thời cứ chiếu lệ cũ mà làm).

Thự Tổng đốc An Tĩnh là Võ Trọng Bình dâng sớ tâu 3 khoản đều thuộc về việc tuy phủ xứ Bắc Kỳ: (1. Trừ lệ quan lại; 2. Tha binh lương; 3. Tha tội người ra thú). Ngài cho phải. (Trọng Bình rồi được đổi về Thượng thơ bộ Hộ, sau lại đổi làm Tổng đốc Ninh Thái, sung Kinh lược Lạng Bình).

Đạo quân thứ tỉnh Đông (Hải Dương) đánh giặc tại phủ Nam Sách và phủ Kinh Môn, đến đâu được đó; quân giặc thủy bộ đều trốn hết, quan quân liền kéo thẳng đến tỉnh Quảng Yên. Khi ấy tỉnh đã giải vây, giặc tới hàng nhiều lắm, tên Minh, tên Ước, tên Độ trốn ra chiếm cứ Đồ Sơn, Cát Bà; Trương Quốc Dụng, Đào Trí đóng quân ở thành tỉnh Quảng Yên, sai Nguyễn Dõng và Nguyễn Tấn Lục phòng triệt con đàng giặc tỉnh Bắc Ninh trốn xuống (khi ấy quân thứ tỉnh Bắc đương đánh giặc tại phủ Lạng Giang). Lại sai đạo quân thủy là Lê Quang Tiến và Bùi Huy Phiên chạy tâu ra đánh bọn giặc trốn ngoài cù lao.

Tháng 12, giặc Huân, giặc Trịnh đóng đồn ở làng Thượng Gia, chận sông Bình Kỳ, Nguyễn Tri Phương nghĩ rằng đồng giặc mặt trước có đàng thông với tỉnh Thái Nguyên, chắc nó phòng giữ kỹ, chi bằng tìm con đàng tắt lén đánh phía sau; Tri Phương liền kéo binh tới đò Kim Anh phía trên sông Bình Giang đánh phá được giặc, lần tới các hạt Hiệp Hòa, Việt An, An Thế, đến phủ Lạng Giang bắt được tên Cận và 7 tên tướng giặc, nhơn dời phủ lỵ Lạng Giang qua làng Cao Thượng, rồi chia 3 đạo binh đánh đảng giặc còn sót.

Năm Quý Hợi thứ XVI (1863) tháng giêng, quan Soái Pháp sai người đến báo rằng: "trong tháng
2 An Nam, Sứ sẽ tới Kinh, và nói những điều khoản Sứ bộ nên làm. Ngài xét trong mấy điều khoản, còn có chỗ chưa thỏa, liền sai Phạm Phú Thứ sung Khâm sai tới Nam Kỳ hội với Phan Thanh Giản, Lâm Duy Thiếp để thương thuyết cùng quan Soái Pháp, hễ thương xong rồi, thời 3 người đều phải đi trạm về trước cho gấp, đặng sung làm chức Tiếp sứ. Đến Gia Định, 3 người hội thương với quan Soái Pháp và quan đại thần nước Y Pha Nho hội bàn phép tắc vào chầu thế nào, rồi về tâu trước. Ngài chuẩn y nghị mà làm.

Tháng 2, Sứ Đại Pháp và Sứ Y Pha Nho là Phô Na, Pha Lăng Ca đến Kinh làm lễ triều yết. Trước 1 ngày, 2 quan Sứ đều đem tờ quốc thơ và phẩm hạng của vua 2 nước nhờ  các quan ta dâng lên, lại xin
 
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM