Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:10:43 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quốc Triều chính biên toát yếu  (Đọc 101072 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #170 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2009, 10:20:16 pm »

lãnh tờ quốc thơ nước ta. Đến ngày vào triều, Ngài ngự đền Thái Hòa, 2 quan Sứ làm lễ chiêm cẩn rồi, đãi yến tiệc tại Sứ quán, trả bạc bồi 186.111 đồng, đem phẩm vật tặng hảo vua 2 nước và từ quan Soái Sứ trở xuống. Hai quan Sứ xin về Gia Định, Ngài sai Phan Thanh Giản đi theo. Vì khi ấy quan Sứ có nói: "rồi sẽ giao lại tỉnh Vĩnh Long, vậy nên Ngài sai Phan Thanh Giản theo quan giao nhận cho rồi việc trước. (Sau Phan Thanh Giản thương thuyết không được việc gì, bị cách lưu).

Tháng 3, quân thứ Sơn Tây lấy lại được thành tỉnh Tuyên Quang. Khi ấy Đề đốc Phạm Hữu Xuân, Phó đề đốc Võ Tảo, Thương tá Nguyễn Hữu Tạo chia đạo tấn binh, xông tới thành tỉnh, đảng giặc không kịp vào thành, chạy tan hết thảy, giặc ở trong thành cũng đều chạy trốn; quan quân vào thành, bắt tên Huân bỏ vào cũi giải nạp. Rồi để bọn Võ Tảo ở lại đạo quân thứ Tuyên Quang. Ít  lâu, Đề đốc đạo quân thứ tỉnh Bắc Ninh là Nguyễn Diện, bắt được những đảng giặc còn sót, giặc ấy đều yên. (Võ Tảo sau bị giặc bắt, được truy tặng Thống chế).

Lãnh Tuần phủ Lâm Duy Thiếp mất. Sau Triều đình nghĩ Duy Thiếp thương thuyết không được việc gì, truy cách chức hàm.

Trương Đăng Quế về hưu, Ngài ban cho 1 bài thơ và sâm, quế, vàng, lụa, các hạng. Khi về, Ngài khiến Đình thần làm tiệc đưa; lại cho lúc về nhà rồi, mỗi năm được lãnh bán bổng, quan Tỉnh sở tại phải thường tới thăm hỏi. Ngài lại dạy Đăng Quế từ rày nếu có biết điều gì, hay là nghĩ ra điều gì, mà quan hệ về việc lợi hại lớn trong nước, cho phép phát trạm tâu lên. Rồi sau Đăng Quế tâu 5 điều: (1. Dùng người giỏi giúp việc chánh trị; 2. Lo Ngài chưa có Hoàng tử; 3. Các Tri huyện nhiều người chưa thuộc việc; 4. Tiền của nhà nươc chưa đủ dùng; 5. Nên tùy thời định ngạch quân lính lại). Ngài đều xem cả. Khi về Ngài ban cho bài thơ rằng: "Kê đồn hữu thực thượng phi an, thẩn thị hi ngưu sức mĩ quan; hác hiểm giang thâm hoàn hải khoát, xuân thư hạ mậu phục đông hàn; lâm trung dị thể trường sanh được, lâu thượng nan cầu bất lão đơn; vị thức chi cùng sơn thủy tú, Long Thanh Trúc dự khẳng hồi khan. Nghĩa là: gà lợn vì nuôi sợ có ngày, huống gì trâu tế trọng lâu nay; khe, sông đến biển càng lai láng, xuân, hạ rồi đông vẫn đổi thay; hái thuốc trường sanh về núi dễ, tìm phương bất lão ở lâu gay; biết chăng chống gậy vui non nước, còn nhớ Thành Long, dự Trúc nầy?1".

Tháng 4, chuẩn cho Định An Tổng đốc Nguyễn Đình Tân (thân phụ bà Thiện phi) chiêu hàm Binh bộ Thượng thơ vâng lễ Triều sảnh2; vì Đình Tân là người thân trong Nội đình, nên không được dự việc chánh sự.

Cho Thống chế Nguyễn Doãn sung Hải Yên quân thứ Thống quản thủy đạo đại thần.

Tá lý Trần Đình Túc (người Quảng Trị) xin mộ người khẩn ruộng hoang trong hạt Thừa Thiên và Quảng Trị. Ngài cho Đình Túc làm Dinh điền sứ.

Thành tỉnh Thái Nguyên khi trước bị giặc Cổ phỉ Tàu hiệp với quân Mán, Nồng, vây đã 8 tháng, đến đây Nguyễn Tri Phương đã dẹp yên phía Bắc, mới cùng Bang tá Nguyễn Văn Vĩ đem quân tới đánh lấy thành tỉnh lại, bắt sống ngụy Thanh, ngụy Đắc đem về, lại bắt được giặc trốn ở Bắc Ninh là bọn ngụy Vân, đều đem giết cả.

Bọn Nguyễn Văn Vĩ đem lính và voi tới phá sào huyệt giặc tại núi Ma Hiên châu Bạch Thông.

Phía tây bắc giặc đều yên cả, thâu quân về, từ Đề đốc đến  lính tráng đều được thưởng 1 tháng lương, rồi lính cho về đội vệ, dân tráng cho về làm ăn.

-----------------
1 Kinh Dịch ý bài thơ: câu thứ 1 là ám chỉ các quan nhỏ, nói: ga lợn vì ăn của người, còn sợ có ngày không yên được. - Câu thứ 1 chỉ các quan khanh tướng, hi ngưu là con trâu để tế Giao; chữ sách Trang Tử nói: huống chi con trâu tế Giao nuôi đến vài năm, mặc gấm vóc, sự thể trang trọng thời lo sợ biết chừng nào. -Câu thứ 3 chỉ thời cuộc, nói: càng mở rộng chừng nào, thời càng hiểm nghèo chừng nấy, chẳng khách chi khe hiểm, sông sâu; đến biển lại càng rộng lắm. - Câu thứ  4 là ám chỉ vận nước có lúc thạnh thời có lúc suy, người sanh có hồi tráng thời có hồi lão, chẳng khác chi mùa xuân khí trời thư hòa, mùa hạ vật thạnh tốt, qua mùa đông thời lại lạnh rồi. - Câu thứ 5 nói: ông về chốn lâm hạ, thong thả dưỡng được tuổi trời, tức là hái thuốc trườg sanh dễ. - Câu thứ 6 nói: Ngài lo việc quân quốc khó nhọc, thêm mau già, tức là cầu thuốc bất lão khó. - Câu kết là nhơn khi ấy Nam, Bắc đương có việc, Long Thành là thành Thăng Long ở Hà Nội ngoài Bắc Kỳ. Trúc dự là hòn cù lao ở Nam Kỳ, nói: chẳng biết ông từ rày về sau ở nhà chống gậy dạo chơi non nước, có còn ngó lại chốn Long Thành, Trúc dự hay không?.
2 Triều sảnh là triều kiến vua, hoặc thỉnh mạng việc gì.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #171 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2009, 10:22:27 pm »

Tháng 5, Ngài nghĩ tướng giặc trốn ở hòn Cù Lao đã lâu, sai Nguyễn Tri Phương đổi làm Tổng thống Hải Yên quân vụ, nhưng cho đem lính Bắc và thuộc viên hiện phái đi qua tỉnh Đông, đổi Trương Quốc Dụng làm Hiệp thống. Ngài dạy phải giúp nhau cho mau rồi việc đánh giặc.

Hải Yên thủy đạo thống chế Lê Quang Tiến đuổi giặc tại phủ Hà Nam thuộc tỉnh Quảng Yên.

Sai Hiệp tá đại học sĩ Phan Thanh Giản, Tả tham tri bộ Lại Phạm Phú Thứ, Aùn sát Quảng Nam Ngụy Khắc Đản qua Sứ  Tây, truyền đem đồ thượng phương làm đồ tặng hảo. Trần Đình Túc tâu rằng: "phen nầy, cốt việc gì xin trả lại 3 tỉnh và triển bạc bồi, vậy xin phải chi thêm vàng bạc trong kho, giao cho Sứ trữ riêng, để tùy cơ thương thuyết, cốt làm sao cho được việc". Ngài nghe theo. Ba quan sứ vâng mạng đến Gia Định, cùng Sứ nước Pháp và nước Y Pha Nho đều xuống tàu đi.

Tháng 7, Đề đốc Sơn Tây, Tân Phước Bá, Phạm Hữu Xuân mất, được tặng Thống chế. (Hữu Xuân có tài làm Tướng).

Tháng 8, mới lập trường thi Văn và thi Võ ở tỉnh An Giang. Tháng 9, tàu Đại Pháp vào cửa Bình Thuận, đo nước cạn sâu.
Giặc biển Hải Yên từ khi bị thua tại Hà Nam, đem hơn 500 chiếc thuyền chia ở hòn Cát Bà và Đồ Sơn, 2 lần gặp gió bão, thuyền giặc bị chìm hư nhiều lắm, rồi tên Độ chết. Đề đốc Lê Quang Tiến, Tuần phủ Bùi Huy Phiên nghĩ rằng: bây giờ thẳng tới sào huyệt giặc, thời có thể mau dẹp yên; 2 người  mới chia binh mạo hiểm mà tới, không dè binh Hậu đạo gặp giặc đã bỏ chạy trước, Trung đạo và Tiền đạo bị giặc giáp đánh, Quang Tiến và Huy Phiên nhảy xuống biển tự tử. Ngài nghe tin, tiếc lắm, cấp tuất rất hậu, lại trọng trị những người chạy trước (rồi đảng giặc cũng bị quan binh bắt nhiều).

Tháng 12, mới đặt chức Tịnh man tiễu phủ sứ ở tỉnh Quảng Nghĩa, dùng người bổn hạt là Nguyễn Tấn làm chức ấy, Nguyễn Tấn trước làm Aùn sát Thái Nguyên, nghe tin trong tỉnh nhà giặc Mọi dữ tợn, (đốt cướp Hán dân, đón giết lính tựu ban) xin về giúp việc, ước 1, 2 năm có thể dẹp yên. Ngài cho thăng Thị độc sung lãnh Tiễu phủ. Nguyễn Tấn tâu bày mưu mẹo nói về việc binh dân đồn bảo, lại xin cho Kiều Lâm (Tấn sĩ Quảng Nghĩa) thự hàm Thị giảng sung Bang tá quân thứ, ngài cho cả).

Quan Soái Đại Pháp là Phô Na về Tây, Gia Lăng Gi Y đến thay.

Năm Giáp Tý thứ XVII (1864), tháng 2, khiến quan Địa phương Bắc Kỳ chiêu dụ dân điêu háo.

Sứ bộ qua Tây về đến Kinh. Ngài cho Phan Thanh Giản lãnh Thượng thơ bộ Lai, Phạm Phú Thứ làm Tả tham tri, Ngụy Khắc Đản làm Tá lý bộ Binh.

Tháng 3, Dinh điền sứ Trần Đình Túc xin mộ dân lập ấp để khai khẩn các chỗ ruộng hoang làng Lương Điền huyện Phú Lục và xin cho mỗi tên đinh mượn 20 quan tiền. Ngài cho.

Nguyên Cửu Phẩm Lê Văn Giai, Thông phán bị cách Võ Đăng Thiệu, Tú tài Bùi Duy Liễn xin mở mỏ sắt, khẩn ruộng hoang tại các chỗ gần núi sông tỉnh Quảng Bình. Ngài truyền cấp lương cho làm, nhưng giao nha Dinh Điền chuyên đốc.

Định lại lệ "thưởng người khẩn ruộng" (chiếu theo số đinh điền mộ khẩn đó; hễ số ít thời người mộ khẩn được tha binh thuế; số nhiều thời được thưởng chức hàm).

Tháng 4, định lại lệ "khẩn ruộng trước tịch". (Người nào xuất của nhà ra làm, cho nhận làm ruộng tư; còn người nào quan cho mượn tiền mà làm, thời trong số ruộng đã khẩn đó, lấy 2 phần làm ruộng công, 1 phần làm ruộng tư).

Định lại lệ "bổ ấm". (Quan viên tử chiếu phẩm hàm cha mà tập ấm; hễ người nào đáng bổ ấm, mà đã thi đậu, hoặc đã bổ quan rồi, thời người em thứ được phép tập ấm; còn ông quan nào chỉ có 1 người con, mà chẳng may chết đi, chưa được thừa ấm cha, thời cho người cháu tập ấm, nhưng thua 1 trật).

Hiểu sức quan lại phải chia nhau đi phát chẩn cho dân, vì bấy giờ tại Kinh và các tỉnh đều mất mùa.
 
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #172 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2009, 10:23:32 pm »

Ngài truyền sắc từ rày những tâu sớ các Bộ Viện và các tỉnh phải nói cho hiệp thể và cho gọn (nếu muốn dẫn lệ thời phải lựa lệ nào cho thiệt đáng, không vậy thời thôi).

Tháng 5, Toàn quyền Đại Pháp Hà Ba Lý (Aubaret) đến Kinh định hòa ước. Ngài khiến Phan Thanh Giản sung Toàn quyền chánh sứ, Trần Tiễn Thành, Phan Huy Vịnh sung Phó sứ hội thương. Khi trước Thanh Giản đi Sứ Tây về (nói việc chuộc lại 3 tỉnh), đem dâng 2 tờ quốc thơ của nước Pháp và nước Y Pha Nho, ước thêm về việc sanh lý. (Mỗi tờ 31 khoản). Nên bây giờ Ngài sai 3 người ấy hội thương lại với Hà Ba Lý. Rồi 3 người tâu rằng: "tiết thứ cùng Hà Ba Lý bàn nói, việc cắt đất, bồi bạc, đã có châm chước, đến như khoản đặt Lãnh sự ở Huế, thời họ cố chấp không chịu đổi, còn trong các khoản khác, họ cũng sửa đổi 1,2 điều mà thôi".

Tháng 6, Pháp sứ đến Kinh, thường thường cố xin y theo bản nghị đó. Các thuộc viên Bộ, Viện, Quán, Các đều tâu: "hòa ước sau rất quan ngại, không bằng cứ giữ hòa ước cũ, (12 khoản) còn việc chuộc lại 3 tỉnh, thời chờ sau sẽ tính". Ngài dạy quan bộ Công là bọn Nguyễn Văn Phong rằng: "thuộc viên đều có mật tấu, ta há lại chẳng biết giữ việc thường là phải; nhưng sự thế cũng nên theo thời châm chước mà làm". (Rồi đến năm thứ 18, cũng vẫn theo hòa ước cũ).

Trả bạc bồi quân phí năm trứơc cho Đại Pháp 400.000 đồng.

Bọn Phan Thanh Giản cùng Hà Bá Lý đem sắc văn giao cùng nhau. Quý sứ xin vào chầu, từ giã về nước, Ngài khiến đem phẩm hạng gởi tặng vua Đại Pháp. Ngài ngự đền Cần Chánh, Hà Bá Lý và thuộc quan tới trước sân làm lễ 3 khấu, Ngài truyền mời lên đền, cho ngồi, ban trà. Ngài dạy rằng: "gởi lời thăm quốc chúa an hảo, từ nay về sau, 2 nước ta giữ điều hòa hảo". Quý sứ thưa rằng: "xin vâng lời". Rồi khấu từ lui ra.

Tiễu phủ sứ Nguyễn Tấn đem lính hơn 2.000 tới đánh giặc Mọi, hàng Man là tên Cấp xin đem hơn 200 quân Mọi theo đánh giặc. Nguyễn Tấn xin trích tiền gạo của dân lạc quyên cấp cho chúng nó, (lúc ấy gạo mắt, nên cho quyên).

Đạo quân thứ Hải Yên đánh giặc tại La Khê và Hà Bắc. Vì quân giặc đông mà quân mình ít, không thể địch lại, bọn Hiệp thống Trương Quốc Dụng (sau truy tặng Đông các), tán lý Văn Đức Khuê (Tấn sĩ Nghệ An) Tán tương Trần Huy Sách đều bị hại; biền binh bị thương chết và thất lạc nhiều lắm; Chưởng vệ Hổ Thiện bị giặc bắt không chịu khuất mà chết. Việc ấy tâu lên, Ngài cho táng tế và truy tặng rất hậu.

Tháng 7, sai Thị lang bộ Hộ Trịnh Lý Hanh qua quân thứ Hải Yên, hội đồng với quan quân thứ thuê tàu khách đánh giặc. Ngài thấy các nha việc dồn chứa nhiều, truyền dụ các quan trong ngoài rằng: "đời xưa có nói: cha tuy lành, chẳng thương chi con vô ích; vua tuy nhơn, chẳng nuôi chi tôi vô dụng; cho nên vua không đặt quan ở nể, mà quan không chịu chức ăn không; các ngươi phải sâu nghĩ lời ấy, chớ nên theo đòi lui tới; nếu xét mình không kham, chẳng bổ ích gì, thời phải nhường người hiền, cử người tài, mong giúp việc nước, trừ điều loạn, làm điều trị, ấy cũng là tôi trung. Vả lại, chỗ quan trường không phải là nơi nạp của lót và nuôi người dở, các người phải nghĩ, có lỗi thời đổi đi, không thời gắng thêm".

Truy tặng Tri huyện Lục Ngạn là Đinh Hữu Hoạch hàm Hàn Lâm Viện thị giảng. Vì Hữu Hoạch bị giặc bắt, mắng giặc hết sức, giặc giận giết ngay.

Tháng 8, định lệ thưởng phạt người học tập chữ và tiếng Đại Pháp. (Người thông hiểu được thưởng tiền, người trễ nhác bị đánh đòn).

Tháng 9, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Nghĩa, Quảng Trị, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An bị bão lụt, dân bị thương và chết nhiều lắm, Ngài cho chẩn cấp.

Ngài nghĩ của dùng không đủ, truyền dụ các quan trong ngoài hết lòng việc quan, chỉnh đốn các việc làm, có điều lời phải làm hẳn, có điều tệ bỏ ngay.

Chuẩn định lệ "quyên tiền được thưởng hàm và được chuộc tội", kể từ Hoàng thân, Công chúa, quan, lại, đến tổng, lý, sĩ, dân.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #173 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2009, 10:25:47 pm »

Ngài thấy mấy năm bị mất mùa luôn, đã cần phải chẩn cấp cho dân, lại tốn về việc giao thiệp cũng nhiều, khiến Đình thần trù tính, làm cách nào cho đủ dùng. Các quan tâu: "việc cho quyên, tuy không phải là vương chánh, nhưng còn hơn kiếm điều để bác tước1 người dưới. Ngài mới chuẩn nghĩ định điều khoản cho thi hành, đợi khi nào việc yên và năm được mùa thời thôi. (Chiếu theo số quyên tiền lúa nhiều ít, hoặc gia trật, hoặc gia ấm, hoặc tha binh diêu, hoặc chuẩn khai phục nguyên hàm, đều có phân biệt).

Chuẩn lựa Vạn Niên cát địa2 tại núi Dương Xuân thượng huyện Hương Thủy, sắc cho quan Đốc công khởi làm, đặt tên là Khiêm cung.

Chuẩn cho Trần Hoán thiệt thọ Thị lang lãnh Tuần phủ Hà Tiên, kiêm sung chức Dinh điền An Giang, Hà Tiên, Vĩnh Long.

Tháng 10, các quan tỉnh Thái và tỉnh Lạng tâu: "trong hạt đã gần yên lặng, dân xiêu lưu đã dần dần trở về". Ngài truyền chỗ nào còn đáng chẩn cấp cứ phải làm, chớ nên tiếc của.

Định lại lễ "giá thú ngoài dân gian" (từ lễ hỏi đến lễ cưới, hạn cho 6 tháng, các lễ đều nên giản ước, không được xa xỉ quá; còn tiền cheo thời bậc giàu nạp 1 quan 2 tiền, bậc thứ thời 6 tiền, bậc nghèo thời 3 tiền, người làng khác phải nạp xấp hai).

Nghiêm cấm bán riêng ruộng công. (Ruộng công không được bán riêng; như có việc công khẩn trọng, thời Lý trưởng được phép hội đồng dân mà cho thuê mướn, nhưng không được quá hạn 3 năm).

Tháng 11, khiến vệ Thủy sư  và sở Võ khố lựa 8 người hào cẩn thận siêng khéo và mạnh mẽ, để phái theo tàu máy học tập chế tạo; cho Viện ngoại Hàng Văn Xưởng, Chánh đội Lê Văn Mân sung chức Chánh, Phó, Quản lý.

Tháng trước Ngài nghĩ giặc biển đã gần đến lúc túng đói, thế tất chia nhau đi ăn cướp, Ngài đã sắc các tỉnh duyên hải phòng giữ. Đến bây giờ, thuyền giặc phần nhiêu chạy qua phía nam.

Tháng 12, quan tỉnh Nam Định đem việc lập xã thương (thông tính được hơn 20.000 quan tiền) và việc đào dòng nước các khe hói, đắp bờ đập, vẽ đồ tâu lên. Ngài khen, khiến quan Bộ nghĩ thưởng để khuyên trước, chờ đến khi có thành hiệu, lại thưởng thêm nữa.

Công tử Hường Tập mưu làm việc trái phép, bị xử trảm quyết; các người đồng mưu cũng bị tội, (mưu giết Phan Thanh Giản và Trần Tiễn Thành, nhưng việc chưa làm, đã bị quan Phủ doãn trích giác).

Năm Ất Sửu thứ XVIII (1865), tháng giêng, tiết nguyên đán, Ngài ngự triều, ban các quan 1 bài thơ, (chép ở Thi sơ tập) chú ý khuyên các quan về việc "thọ quốc thọ dân3. Ngài lại nhơn mấy năm bị mất mùa luôn, ban ân dụ cho trong ngoài cả thảy 14 khoản, ngụ ý thể nguyên dục vật4.

Ban thể thứ xe trâu kéo nước vào ruộng. (Khiến sở Đốc công phỏng theo cách Tây, chế tạo 27 cỗ, chia phát từ Bình, Phú, đến Thanh, Nghệ, sức các nhà làm ruộng y thức mà làm, để cứu ruộng bị hạn).

Quan Pháp soái là Gia Lăng Hy Y khiến Sơ Ba Ly chạy tàu đến cửa Thuận, đưa thơ xin làm lễ triều yết và tâu việc định hòa ước. Ngài ban rằng: "quan Pháp soái phái người đến, chắc là cố giữ lời trước mà thôi". Bèn khiến bọn Phan Thanh Giản; phủ ủy. Sơ Ba Ly lại nói: "chuyến nầy cứ giữ lời hòa ước năm Nhâm Tuất, (năm Tự Đức thứ 15) xin  Ngài dụ cho các tỉnh cấm mộ dân và giao bạc bồi; nhưng giấy tờ làm ngày nào rồi, xin trả lời mau để về nước". Thanh Giản tâu lên, Ngài chuẩn đem 12 khoản ước cũ, hiểu thị sĩ dân 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, khiến đều an nghiệp; lại sức trong hạt có người nào đánh tiếng tùng mộ thời cấm không được vào trong cõi; hễ thấy người nào thời bắt giải liền, ai mà dung ẩn cũng trị tội.

------------------
1 Bác tước nghĩa là lấy của dân, chẳng khác lột da xẻ thịt.
2 Vạn niên cát địa là sở lăng của vua.
3 Thọ quốc thọ dân làm cho nước được lâu dài, làm cho dân khỏi tật bệnh đói rách, để dài hưởng tuổi đời.
4 Thể nguyên dục vật là mùa xuân đầu năm, khí trời ôn hòa, sanh nuôi vật, Vua thể theo trời mà gia ơn cho thiên hạ.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #174 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2009, 10:28:48 pm »

Mới đánh thuế Nha phiến, (năm ấy khởi trưng thuế đồng niên cộng tiền 302.200 quan. Khi trước có lệ cấm Nha phiến, nay tha cấm mà đánh thuế rất nặng, để cho người bán ít mà người hút cũng ít, ấy là không cấm mà cấm).

Tháng 2, thưởng quan Thông phán hưu trí thọ đến 100 tuổi, người tỉnh Quảng Nam là Nguyễn Văn Ninh.

Kiêm Dinh điền sứ Trần Hoán xin đặt viên dịch nha Dinh điên và lựa tùy binh. Bộ Lại tâu: "Vĩnh Long, An Giang nhiều chỗ đất hoang, mấy năm nay gạo mắt, người ta ai cũng ưng làm ruộng, nhơn chỗ chúng nó ưng mà chỉ vẽ lần, thiết tưởng cũng là một cơ hội nhóm đông dân và mở ruộng đất đó. Số người làm việc và tiền bút chỉ đồng niên màTrần Hoán xin, thời nên giao cho tỉnh Vĩnh Long chi cấp". Ngài nghe theo.

Buổi áy trời hạn lâu, (từ đông qua xuân) cầu mưa nhiều lần mà chưa ứng, dân có sắc đói, Ngài khiến chẩn cấp. Ngài lại xuống dụ trách mình và lời nói trực, liền đặng mưa to. (Sau vì mưa lạnh, ruộng lại bị tổn).

Định lại lệ "Tấn sĩ, Phó bảng bổ quan". (Tôn, Âm, Giám sanh, Cử nhơn, và Huấn đạo, Giáo thọ mà thi đậu Tấn sĩ Phó bảng, khi bổ quan đều có khác nhau).

Cần chánh điện đại học sĩ, Tuy Thạnh quận công trí sĩ Trương Đăng Quế mất. Ngài bãi triều 3 ngày, tặng hàm Thái sư, cấp thêm tiền lụa, sai đem rượu Thượng phương và bài thơ (chép ở Thi sơ tập) tới nhà ban tế, dựng bia ở phần mộ khắc 11 chữ: "Lưỡng triều cố mạng lương thần Trương Văn Lương chi mộ". (Thụy hiệu ông là Văn Lương). Và truyền chỉ chờ kết tang sẽ vâng lời Tiên đế cho tùng tự Thế Miếu.

Tháng 3, định lại lệ "thi Hội trúng cách" (4 trường thông tính đặng 8 phân trở lên, đều cho Trúng cách; đặng 7 phân đến 4 phân và 3 trường đặng 10 phân trở lên, đều cho Phó bảng; khoa nào số Trúng cách ít, sẽ lấy thêm Phó bảng cho vào Đình thí, hễ quyển Đình được 3 phân trở lên, thời cho đậu Tấn sĩ, còn 1,2 phân thời để xuống Phó bảng, bất cập phân thời truất về nguyên hạng).

Ngài bảo quan bộ Lại rằng: "quan không nên năng đổi, phải để ở chức cho lâu, mới thấy hay dở, nếu thường cử người trong ý riêng mình, thời làm không được việc gì; chi cho khỏi bệnh dân". Rồi chuẩn lời Bộ nghị, cứ y phép cũ 3 năm xét công 1 lần, nếu Bộ xét có người nào nên để lại chức cũ, thời phải tâu lên.

Khiến Tổng đốc Vĩnh Long Trương Văn Uyển kiêm việc giao thiệp An - Hà.

Mọi Đá Vách lại xuống cướp phá, Nguyễn Tấn đem binh đánh tại sách Lang Lui, đuổi được. Rồi Nguyễn Tấn lại tới đánh các mọi Nước Sông, Nước Trang, Nước Nể; chúng nó trốn xa, chạy lên núi Cao Muôn.

Tuyên Quang, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Cao Bằng, Quảng Yên, Sơn Tây đều đói. Ngài khiến dùng nhiều cách để chẩn cấp.

Tháng 4, tỉnh Hải Yên bị hạn. Nguyễn Tri Phương cầu mưa tại núi Đàng Sơn, liền được mưa mấy ngày luôn. Tri Phương dâng sớ tâu rằng: "Ngài có lòng thành cảm động, vậy nên Trời và Thần phò giúp". Lại đem bài văn cầu võ dâng lên. Ngài phê rằng: "đọc bài chúc văn của khanh, thấy khanh lòng thành chan chứa, đến nỗi ta phải chảy nước mắt, nức nỡ, cảm thương trong dạ. Ta lúc bình nhựt đọc sách, mỗi gặp việc tôi trung con hiếu, thường thường cảm khóc, bởi vì lòng ấy lẽ ấy, ai cũng như ai; vả lại khanh vốn xưng trung liệt, không từ khó nhọc; nếu ta đặng nhiều người như khanah, bổ ra các chức, nào còn lo chi việc nước chẳng nên, dân sanh chẳng thỏa". Liền ban cho 1 bài thơ (chép ở Thi sơ tập), gia thưởng 1 cấp "Trác dị"1 để tỏ người giỏi.

--------------
1 Trác là giỏi hơn cả; dị là khác bật tầm thường.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #175 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2009, 10:31:12 pm »

Tàu giặc biển hơn 300 chiếc từ các cù lao Phò Long, Cát Bà, chia 3 đạo đến nỗi nhiễu hại. Nguyễn Tri Phương khiến Nguyễn Văn Vĩ đốc thuyền nước Tàu đến đánh, bắt sống và chém nhiều lắm, giặc sợ hãi chạy tan. Ngài nghe tin thắng trận, ban dụ khen.

Hậu quân đô thống lãnh Tổng đốc Hà Ninh Tôn Thất Hàn mất, được tặng Chưởng phủ sự.

Vua thứ 2 nước Xiêm là Ô Thiệt đưa thơ chiêu dụ vua Cao Man là Ong Lân; vua Cao Man nghi sợ, cầu cứu với quan Soái Đại Pháp; Pháp Soái đem tàu binh đến cửa Cần Bột bảo hộ.

Giặc biển tràn vào sông Võ Định xứ Lang Thâm thuộc tỉnh Hải Dương, dùng mưu hỏa công đánh đạo quân thủy ta ở nơi sông Cấm, quan binh chạy tan cả, Thống chế Nguyễn Doãn bị bắt (rồi bị hại được tặng Đô thống), Nguyễn Tri Phương đốc lính bộ đánh đuổi giặc lui.

Thị lang bộ Công Lê Đình Đức tâu rằng: "hạt Ba Xuyên tỉnh An Giang, lợi muốn gạo hơn các tỉnh, nước Cao Man nhận làm đất cũ, xui dân mọi nhơn dịp sanh việc, nay vua Cao Man là Ong Lân cậy nước Đại Pháp cứu viện. Chúng tôi nghe phong thanh rằng quan Pháp soái sắp sanh việc ở An Giang, thâu lại đất cũ giao cho Cao Man, việc ấy hư thiệt chưa biết được, mà sự thể cũng nên lo lắm; tỉnh Hà Tiên gần biển, một xứ xa cách, mà liên tiếp với hạt Ba Xuyên, nếu có việc chi phải vận lương đòi lính, tưởng cũng mau hơn. Xin dời thành tỉnh Hà Tiên qua xứ Sóc Trăng hạt Ba Xuyên, Vĩnh Định, Phong Thạnh, Phong Phú, thuộc An Giang, với 2 huyện Long Xuyên, Kiên Giang, thời xin hiệp về phủ An Biên (nguyên thuộc Hà Tiên), đặt quan Lãnh binh, quan Tri phủ và 200 lính giữ đó, hiệp với hòn Phú Quốc giao về tỉnh An Giang quản hạt. Nếu Đại Pháp xin đất ấy cho Cao Man, thời ta lấy điều đặt tỉnh thành mà trả lời". Việc ấy giao xuống Đình nghị. Đình thần tâu : "chuyện dời đổi người ta dễ sanh nghi, xin giao qua Tỉnh xét lại cho kỹ, rồi sẽ nhơn chỗ hào lũy cũ xứ Ba Xuyên, chiếu theo quy thức thành tỉnh phái lính trù làm". Ngài nghe theo.

Tháng 5, giặc biển phạm các đồn Quỳnh Lâu, An Trì thuộc tỉnh Quảng Yên, Tán lý Đặng Trần Chuyên đánh đuổi được luôn. Đốc binh là Ông Ích Khiêm lại đánh đuổi được giặc tại khe Vị Dương. Bọn Đề đốc Mai Thiện chia quân đón các xứ Hạ Đoạn, Lang Thâm, lớn nhỏ đánh hơn 10 trận đều được cả. Việc ấy tâu lên, Ngài khen.

Chuẩn định lệ "thi Hội trúng cách và thứ trúng cách". (Quyển nào 4 trường cọng được 8 phân thời đem vào hạng Trúng cách, 7 phân đến 4 phân và trường được 10 phân đều đem vào hạng Thứ trúng cách, cũng đều dán tên chung một bảng nội, nhưng có thứ tự trước sau; đều cho vào Đình thí, chớ không được xưng trước rằng Phó bảng, chờ Đình thí rồi mới định Chánh, Phó).

Tháng 5 nhuần, tấn phong Hoàng đệ Kiến quận công làm Kiên quốc công; Hường Diêu làm Phú Lương quận công; Hường Dật làm Văn  Lãng quận công. Từ năm Tự Đức thứ 1 đến nay, các Hoàng đệ mới phong, đều tước Quận công; nhưng nay 3 ông Hoàng đệ ứng chế1, Ngài xét ông Kiên quốc công học hạnh hơn hết, nên cho đặt cách ấy. Ngài lại ban lựa con trưởng ông Kiên quốc công (là đức Cảnh Tôn Thuần Hoàng đế) nuôi tại trong cung. Khi ấy đức Cảnh Tôn mới 2 tuổi, bà Thiện phi họ Nguyễn Đình phụng mạng nuôi làm con.

Ban sách Nông tang y thực và Châu huyện đề cương, sách Bổ hoàng khảo (dạy phép bắt sâu keo) cho các hạt Nam, Bắc. Ngài dụ khiến các phủ huyện phàm những chuyện Tuần lương2 mà bình nhật đã đọc, phải gắng làm cho được như lời trong truyện dạy.

Mới định niên lệ phong tặng cha mẹ các quan viên. Lệ cũ định rằng: ân điền phong tặng phải chờ khi Đại khánh tiết mới cho. Mùa đông năm ngoái, Ngài nghĩ rằng nếu chờ năm Đại Khánh, thời có người gặp, có người không gặp, ân điển chưa đều; nên Ngài mới chuẩn; phàm đến năm sửu vị, thìn, tuất, Bộ phải hội kê sách văn, võ ân quan trở lên, người nào được phong tặng cha mẹ; tựu trung có người hoặc đã về, hoặc đã chết, cũng cho cha mẹ đặng dự, nhưng lấy hiện hàm năm ấy làm chừng; còn người nào nhơn có tội lỗi bị giáng, đến hàm thuộc viên, thời sắc phong tặng truy đoạt lại3, chờ khai phục

-----------------
1 Ứng chế là được xướng họa thơ với Hoàng thượng.
2 Tuần lương là chỉ về quan Phủ, Huyện đời trước, trị dân có tiếng tốt.
3 Truy đoạt đó nghĩa là cha mẹ đã được phong tặng rồi, nhơn con bị giáng phải thâu sắc lại.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #176 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2009, 10:32:05 pm »

đến hàm được phong tặng, sẽ chiếu lệ cho lại; kể từ năm nay làm đầu, sau có ai đặng phong tặng thêm nữa, thời phải chờ năm khánh tiết sẽ cho. Việc ấy biên để làm lệ.

Mới mở khoa thi Tấn sĩ võ, cho bọn Võ Văn Đức cả thảy 2 người đậu Võ tấn sĩ, Đồng võ tấn sĩ xuất thân, khoa Võ Tấn sĩ mở đầu từ đây.

Tế tửu trường Quốc Tử Giám là Nguyễn Dục cáo bệnh xin về. Ngài dụ rằng: "nghe nhà ngươi có học hạnh, làm thầy được, người phải gắng siêng tác thành nhơn tài, cho Nhà nước dung, chức trách Tế tửu chẳng phải nhỏ đâu, chớ cho là một chức quan lãnh đạm".

Tháng 6, Ngài nghĩ giặc biển ở Hải Yên (là bọn ngụy Phong ngụy Ước) vẫy vùng ba bốn năn nay, gần đây nghe đã cùng ngặt, cố giữ hạt Hải Ninh; phía ngoài có thuyền nước Tàu và thuyền dân đón đánh, phía trong có quan binh Đoàn Dõng, thổ Dõng đi đàng bộ kéo tới. Bây giờ phải quyết đánh, khiến chúng nó trước sau bị địch, thời một trận chắc là bắt được. Nhơn dụ Nguyễn Tri Phương, Phạm Chi Hương phải nghiêm tướng lệnh, tính chước hay, đốc quân thủy đạo là bọn Nguyễn Văn Vĩ, quân lục đạo là bọn Mai Thiện để tấn tiện cho mau.

Sai Tổng đốc Trương Văn Uyển vào Gia Định hội thương và kiểm kho 3 tỉnh An Giang, Hà Tiên, Vĩnh Long. Kiểm được hơn 10.000 đồng bạc, hơn 100.000 quan tiền, 500.000 hộc lúa, định giá khấu bạc bồi khoản. Lại khiến quan Thương bạc viết thơ thăm Quý soái.

Định lại lệ "quân cấp công điền" (lâu nay đều định hạn 3 năm cấp lại một lần, đến đây chuẩn định 3 năm hoặc 6 năm, tuỳ theo dân nguyện).

Mới đặt nha Dinh Điền trong các tỉnh Bình Thuận, Khánh Hòa, Phú Yên; cho Ngự sử Nguyễn Văn Phương làm Khâm sai dinh điền, đốc làm việc ấy.

Tháng 7, khiến bộ Hộ và Nội vụ kiểm đồ khí mãnh và các hạng bạc khối bạc đính (cọng 72.000 lượng, tính thành 100.000 đồng) rồi tư cho quan Soái đến Kinh tính khấu được phần nữa bạc hồi 1 kỳ. Nhưng sai quan Thương bạc viết thơ phủ ủy.

Lại sai Trương Văn Uyển vào Gia Định kiểm kho 3 tỉnh, kiểm được vàng hơn 920 lượng, bạc lượng hơn 2.220 lượng, bạc đồng 10.500 đồng, chiếu theo tờ thương ước định giá khấu bạc bồi còn thiếu. Ngài lại truyền viết thơ phủ ủy.

Tàu giặc biển 100 chiếc đậu tại sông Thác Hàn ngoài thành Hải Ninh. Tán lý quân thứ Đặng Trần Chuyên (nguyên Tri phủ phái đi) khiến Đốc binh Ông Ích Khiêm, Phó vệ úy Phan Đình Thảo đem binh nhơn ban đêm phục lại La Phù, ước với quan Tàu ở Khâm Châu là Lý Yên Văn giáp đánh. Sáng ngày tới lấy lại được thành Hải Ninh, Ích Khiêm thừa thắng đuổi giặc đến núi Thác Hàn, giặc thua, lui thuyền đậu vũng Ngọc Sơn. (Ước chừng 70, 80 chiếc). Chạy cờ đỏ về báo tiệp, Ngài vui lắm, thưởng Trần Chuyên hàm Tham Tri, Ích Khiêm hàm Thị độc sung Tán tương, Đình Thảo hàm Vệ úy, đều gia thưởng kim khánh kỷ công.

Tháng 8, định thuế đồng niên người Minh Hương; người nào vật lực thời nạp 2 lượng bạc, người vô lực nạp 1 lượng; nhưng phải nạp thiệt sắc như lệ thuế người Tàu.

Tiễu phủ sứ Nguyễn Tấn lại chia đạo đánh phá giặc mọi Lang Y, từ khi ấy dân hơi được yên.

Định lại lệ "các quan được phong tước thời con cháu được tập tước"; (người phong tước Công, thời con cháu được tập tước 5 đời; tước Hầu thời 4 đời, tước Bá thời 3 đời, tước Tử thời 2 đời, tước Nam thời 1 đời, nhưng đều thua lần).

Đạo quân thứ Hải Yên đuổi giặc biển tại sông Gia Luận xứ Hà Lai. (Bọn ngụy Phụng, ngụy Ước trốn ở biển Thanh, Nghệ, bọn nguỵ Sắt, ngụy Vinh lén ẩn ở các cù lao). Nguyễn Tri Phương phái Tri huyện Nguyễn Hữu Thuận đem binh thuyền đi đàng sông thám thính, thình lình gặp thuyền Đô thống giặc là Phan Văn Khương, quân mình đánh bắt được, lại bắt được bọn ngụy Oánh và đảng lõa, thuyền, pháp. Tri Phương giết ngụy Oánh, còn ngụy Khương nhốt cũi giải về Kinh. Ngài dạy thưởng trước Hữu Thuận 1 cái kim khánh, còn bao nhiêu sẽ nghị thưởng; lại sắc Tri Phương dẹp yên đảng giặc còn sót và nghĩ mưu giữ yên hồi sau.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #177 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2009, 10:33:08 pm »

Mới mua chiếc tàu đồng lớn hiệu Mẫn Thỏa giá 135.000 đồng bạc.

Chuẩn cho Võ Ban thuộc viên tùng tam phẩm trở lên đặng dự phong tặng cha mẹ.

Giặc Cổ phỉ Tàu khuấy rối các phủ huyện tỉnh Cao Bằng. Lãnh binh Bùi phó đem binh tấn tiễu, giặc liền kéo binh đánh hãm thành tỉnh. Bố chánh Nguyễn Mẫn, Aùn sát Dương Gia Huấn lui đóng ở làng Cung Cao, nhóm lại những quân còn sót; thự Tuần phủ Lạng Bình Trịnh Lý Hanh nghe báo, liền phái 400 lính đóng triệt chỗ Bông Phong và đem việc ấy tâu lên. Ngài nghiêm dụ Kinh lược Võ Trọng Bình và Tuần phủ Trịnh Lý Hanh phái gấp đại binh qua Cao Bằng hiệp cùng đạo binh Bùi Phó mà đánh giặc, hoặc qua Bông Phong điều độ; còn Nguyễn Mẫn, Dương Gia Huân hãy cho tùng quân hiệu lực, nếu 2 người ấy xét sức chẳng kham, thời phải cử người giỏi khác, chớ để sanh rối chốn biên cảnh.

Tháng 9, mới định lệ "Ấm tôn" (phàm Văn, Võ người nào tiết liệt huân lao đặng tùng tự ký công, và người nào tháo hạnh đoan trang lương đặng dự thờ miếu Hiền Lương, thời cháu được tập ấm: chánh nhứt đến chánh nhì, cháu được 2 người, tùng nhì đến đến chánh tam, cháu được 1 người; còn tằng tôn thời chánh nhứt đến tùng nhì, được khai ấm 1 người. Lệ ấm tôn từ đây là đầu).

Võ Trọng Bình đem đại binh qua tỉnh Lạng, xin cho nguyên Aùn sát Ngô Văn Độ sung chức Tán lý, Tri phủ Nguyễn Cao Bính, Trần Văn Mỹ sung Tán tương, Đốc đồng bọn tuỳ phái Võ Huy Thụy, Đốc binh Hoàng Ninh chia coi các đạo quân. Ngài cho, nhơn dụ rằng: "nay binh đã nhóm đông, phải hết lòng hiệp sức dẹp yên, cho thư lòng ta lo lắng phía Bắc".

Nước Y Pha Nho phái A Răng Đa đưa thơ xin cho đặt Lãnh sự ở cửa Đà Nẵng. Ngài khiến quan Thương bạc viết thơ khước đi.

Bang thuyền nước Tàu đánh giặc biển ở ngoài Hải Ninh và hòn thảo Dự ở Quảng Bình, bắt hết bọn tướng giặc bỏ cũi giải về Kinh (ngụy Phụng, ngụy Ước và đảng lõa đều bắt được, rồi đem về chánh pháp cả).

Cho lính Kinh và lính Tỉnh ở Thủy quân Hải Yên đều về đội ngũ và thưởng tiền.

Nguyễn Tấn điều trần cách sửa sang 6 cơ lính và việc xử trí trên mọi. Trong tờ điều trần đại lược nói: "trên mọi ruộng đất tốt, vật sản trong rừng núi nhiều; xét chỗ lợi hại, thời nên lập sở buôn trầu, đánh thuế mọi và bãi các nhà lái buôn". Ngài cho làm thử để xem thành hiệu.

Tháng 10, Võ Trọng Bình đến thành tỉnh Lạng Sơn, làm lời hịch báo cho Thân, Biền, Hào mục ở tỉnh Cao Bằng nhóm quân Hương dõng án cứ địa phận. Trọng Bình liền đem đại binh đóng đồn tại Bông Phong, phái Ngô Văn Độ, Nguyễn Cao Bính tới đóng ở trạm Cao Nhã và Cao Phước, hội lính tỉnh Cao Bằng định ngày đánh lấy thành tỉnh.

Khiến quan tỉnh Vĩnh Long sức khách buôn là Nha Vạn Hiệp nạp bạc thuế 300.000 đồng, tư tờ cho quan Soái Đại Pháp nhận khấu số bạc bồi.

Nguyễn Tri Phương phái Phó đề đốc Nguyễn Hữu Thận, Đốc binh Nguyễn Văn Tư đem 500 binh, 1 con voi, qua tỉnh Thái Nguyên bắt giặc. (Khi ấy Nguyễn Văn Vĩ ở Bang Thuyền nước Tàu chưa về).

Mới mở khoa Nhã sĩ, cho Đặng Văn Kiều cả thảy 5 người đậu Nhã sĩ và Đồng nhã sĩ xuất thân. (Khoa nầy là Đặc cách).

Trương Văn Uyển mật đem lời quan Soái Đại Pháp và tình hình 3 tỉnh trong Nam Kỳ vào tâu. Ngài liền sai Phan Thanh Giản cứ nguyên hàm Hiệp tá bộ Hộ, sung Kinh lược đại thần 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.

Tháng 11, làm nhà nuôi tằm ở chỗ Thái Thường Tự.

Mới đặt quan Điển học 3 đạo Hà Tĩnh, Quảng Trị và Phú Yên. (Trật tùng lục phẩm, được địch thể với quan Đạo như quan Đốc học các tỉnh).

Mới định lệ "Ấm sanh các tỉnh đạo" (con quan văn mà đàng xa nhà nghèo, nhập Giám không được, cho phép do quan Học thần tỉnh, đại hội hạch).
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #178 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2009, 10:34:45 pm »

Nguyễn Tri Phương tâu xin khiến Đặng Trần Chuyên qua tỉnh Thái Nguyên cho gấp, thương tá quân vụ, để tỏ ý chăm lo tỉnh Cao Bằng, tuỳ cơ tính việc đánh giữ. Ngài cho.

Tháng 12, các quan quân thứ   Hải Yên đánh giặc trở về, Ngài cho Bộ nghị người nào đáng thưởng công, người nào đáng phong tặng cứ theo lệ mà làm.

Trịnh Lý Hanh cùng Lãnh binh Đặng Văn Hợi đem binh đánh giặc tại phố Đồng Bộc, thắng trận, lại tới đánh đồn Khôn Quang, đảng giặc đều lui ra khỏi bờ cõi.

Định lại chương trình "con các quan viên được ấm thọ". (Văn tùng tam, Võ tùng nhị trở lên, đều chiếu nguyên hiệu chức hàm, phân biệt người có công, hoặc người không công, cho 1 người con Aám thọ).

Năm Bính Dần, thứ XIX (1866), tháng giêng, quan quân lấy lại phố Bông Phong (thuộc tỉnh Cao Bằng) chạy cờ đỏ báo tiệp. Ngài mừng, ban rằng: "phố Bông Phong là đàng sau phía sau tỉnh Cao Bằng, nay đã lấy lại, thời tỉnh thành cũng lần lần yên được". Nhơn khiến lấy cờ báo tiệp truyền ra cho thần dân biết; và dụ khen thưởng các quan binh. (Võ Trọng Bình, Phạm Chi Hương và từ Đề đốc đến binh dõng đều được thưởng cả).

Tháng 2, quan tướng nước Xiêm là La Hàm tỉnh Hà Tiên đưa thơ tới trình; Quan cơ mật tâu xin phái người qua lại, để tỏ tình thân thiết, còn thuyền Xiêm như có đến buôn, xin khoan các điều cấm ước, để rõ ý mình không nghi nghờ chi. Ngài nghe theo, khiến lục co tỉnh Hà Tiên tuân làm, để thông hảo với nước lân quốc.

Đại binh ở Cao Bằng tới lấy được 2 đồn Thượng Hà và Thổ Sơn, chỉ còn đồn Kho, đất hiểm thành bền, lấy chưa được; xin thêm binh Thanh, Nghệ 1.500, cho Định Hội quyền làm Đề đốc quản đem lính ấy qua quân thứ sai phái. Ngài cho. Lại khiến quan quân thứ phủ ủy khuyến khích người Thổ, lo giữ gìn lấy, khỏi phiền lính xa kéo tới; công đã gần nên phải gắng cho rồi mới được.

Đặt quyển sách1 cho dân Thổ cơ Tịnh Nam tỉnh Quản Nghĩa. Vì khi trước Nguyễn Tấn nghĩ dân Thổ ở gần lũy, nhàcửa linh tinh, đất đã cách, người lại sưa, gặp hồi giặc giã, tiếp ứng không tiện, xin y theo dân chỗ tỉnh Lạng Sơn đặt quyền sách, sức dân nhóm ở. Đến bây giờ Ngài mới cho làm.

Quan Soái Pháp phái tàu đến cửa Thuận đưa thơ nói rằng: "3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, địa thế xa cách, bọn trộm cướp thường qua lại, hai Nhà nước đều không tiện, xin cho Đại Pháp quản luôn đất ấy đặng trừ hết giặc biển và đình hết khoản bạc bồi". Ngài liền sai bọn Phan Huy Vịnh, Phạm Phú Thứ qua Sứ quán tặng hảo phủ ủy, nhưng xin giữ ước cũ lâu dài; lại tư cho Kinh lược Phan Thanh Giản đến Gia Định thương thuyết với Pháp Soái. Tàu quan Pháp phải ở vài ngày rồi xin chạy ra Quảng Bình chở Giám mục Ngô Gia Hậu qua Nghệ An, rồi mới về.

Khiến 2 tỉnh Vĩnh Long, An Giang lựa thuộc viên công tượng hoặc học trò, người nào siêng giỏi, có tứ khéo, chừng 20 người, cấp cho lương ăn, áo mặc rất hậu, tới Gia Định học tập các nghề công xảo.

Tướng giặc là Trương Cẩn Bang tới hàng; quan quân lấy lại tỉnh Cao Bằng, chạy cờ đỏ về báo tiệp. Trước khi ấy, giặc chiếm trạm Cao Phước, Cao Nhã, quan quân thứ là bọn Võ Trọng Bình, Phạm Chi Hương mật sai các tướng hiện giữ đồn Lạc Dương là bọn Nguyễn Cao Bính đón chỗ hiểm yếu, trong thời phòng giữ rất nghiêm, ngoài thời giả bộ thong thả; bởi thế bọn giặc đánh cướp lấy không được mấy, người đông lương thiếu, đưa thơ xin hàng, quan quân thứ cho. Bây giờ bọn Trương Cẩn Bang đến cửa quân chịu tội, nạp lại thành tỉnh, đại binh vào thành đóng giữ, quân giặc lui ra, đều cho về Tàu, chỉ cho bọn Cẩn Bang ở lại làm dân, cày ruộng buôn bán để sanh lý; khi nào có việc, sẽ cho hiệu phái. Ngài được tin báo tiệp, liền làm bài thơ "hỉ tiệp" (chép ở Thi sơ tập); lại truyền dụ khen thưởng các quan binh.

Năm ngoái Bang tá huyện Thanh Xuyên2 là Trần Tấn, Phó tổng Phan Điểm nghe Linh mục Châu qua dạy đạo tại các buôn Bàu Thạch, Mai Vĩnh, bên xướng suất dân phu ngăn đón không cho giảng đạo. Việc phát ra, Tấn và Điểm đều phải xử tội.

---------------
1 Quyền là rào ngăn từng ô; sách là rào cây xung quanh để giữ cho dân.
2 Thanh Xuyên là huyện Thanh Chương thuộc tỉnh Nghệ An.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #179 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2009, 10:35:53 pm »

Tháng 4, mọi Mèo ở tỉnh Hưng Hóa đem nhau tới hàng (khi ấy mọi Mèo biến động, quan binh chiêu dụ mới phục).

Tháng 5, quan Pháp Soái mở trường Đấu xảo, đưa thơ muốn cho dân ta đến hội.

Tá lý bộ Hộ Đặng Huy Trứ tâu xin đặt nha Bình chuẩn sứ. Trong tờ tâu nói: "việc buôn bán từ nghề mọn, mà ích nước lợi dân, thiệt là việc chánh lớn Triều đình". Ngài nhơn cho Huy Trứ lãnh chức ấy.

Quan quân thứ Võ Trọng Bình, Phạm Chi Hương về Băc Ninh nghĩ tâu 4 việc nên làm, để giữ cho tỉnh Cao Bằng về sau cho được yên lặng: (1. Cho dân mượn tiền để mua đồ làm ruộng; 2. Phái lính Bắc Ninh đóng giữ, đổi lính Nghệ về; 3. Triển nghạch hương binh thiếu và lập đồn bảo canh giữ; 4. Khuyên kẻ thổ hào nạp lính đồn điền). Ngài chuẩn cho làm.

Tháng 6, sai Dinh điền sứ ở Thuận Khánh là Nguyễn Văn Phương hội đồng quan Pháp soái khám địa giới đồn Bảo Chánh ở tỉnh Bình Thuận, vẽ sơ đồ dâng lên Ngài xem. Vì quan Soái nói địa giới không phân minh, xin quan ta hội khám. (Rồi khiến dời các người đầu mục qua khẩn đất Khánh Hòa, Phú Yên cho Đại Pháp khỏi nghi).

Ngài bảo Viện Cơ mật rằng: "Ta xem dịch sách Tây cùng sách chữ Hán hơi khác, ấy là một việc khó lắm, phải làm thế nào cho tiện"? Cơ mật tâu: "sách Thái Tây dịch ra chữ Hán phải trước dịch ra tiếng La Tinh, lại dịch ra tiếng Đại Pháp rồi mới dịch ra tiếng nước ta, sau mới dịch ra chữ Hán mà cách chữ Tây, đặt câu không giống chữ Hán; có chỗ nó trùng nhau mà cũng một ý. Nay người tập thuộc chữ Tây, không phải cố đạo thời cũng học trò đạo; chúng tôi xét chỉ có Nguyễn Hoằng là người đạo hơi biết chữ Hán và lại thông chữ Tây, xin sức đòi đến Kinh dịch sách Tây, kiêm dạy học trò". Ngài cho.

Tháng 7, mới đánh thuế rượu trong 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. (Khi ấy người buôn Tàu xin trưng đồng tiền 2.500 quan. Triều đình cho chước định điều ước, trong 40 phần lấy thuế 1 phần).

Đổi quan Tham tán Lạng Bình là Phạm Chi Hương làm Tổng đốc Ninh Thái, kiêm coi việc biên phòng 2 tỉnh Lạng, Bình.

Năm ấy, các hạt ruộng đất bỏ hoang mấy lâu biên sổ không mà bây giờ khẩn thêm, trưng thuế lại, và ruộng đất ngoại lật báo trưng, cát bồi cải trưng, cả thảy được 12.326 mẫu; còn ruộng đất hiện trưng bị lở, và chỗ đất lập huyện lỵ với đào đàng sông lấn vào ruộng đất, cho khỏi nạp thuế, cọng 759 mẫu.

Tháng 8, nghịch dân là Đoàn Trưng cùng đảng nó phạm chốn cung khuyết, đều bị chánh pháp. Nguyên khi trước Trưng với em là Đoàn Hữu Aùi, Đoàn Tư Trực cùng Trương Trọng Hòa, Phạm Lương kết làm hội Đông Sơn thi tửu, để tìm mưu làm loạn, mượn tiếng phò lập Đinh Đạo1, lại có Hữu quân Tôn Thất Cúc làm nội ứng. Tên Aùi mật giao với thầy tu chùa Long Quang là Nguyễn Văn Quý chiêu dụ đồ đảng tại chùa Pháp Vân. Lúc ấy Tá lý Nguyễn Văn Chất đốc công làm sở Khiêm cung, nghiêm khắc quá, quân lính ta oán, bọn Đoàn Trưng nhơn cớ ấy tính rằng: "rao một tiếng thời có thể nên việc được". Nó mới nhóm chúng tại chùa Pháp Vân, mật ước với Tôn Thất Cúc khắc kỳ khởi sự, trước khiến người qua chỗ công sở chực làm tiếp ứng. Ngày mùng 8 tháng ấy, Cúc vào trực, bọn tên Trưng đêm ấy suất đồ đảng qua công sở, tìm Nguyễn Văn Chất không được, liền trói Đổng lý Nguyễn Văn Xa và giả truyền lời sắc: "bãi việc công tác, rút quân về thành, phò lập Đinh Đạo". Lính theo nó kể đến 1.000 người; Trưng chia từng đạo qua sông, nhơn khi súng nổ mở cửa thành, chúng nó từ cửa Chánh nam vào cửa Ngọ môn, chia qua 2 dãy trại thâu lây đồ khí giới; Tôn Thất Cúc từ cửa Đại cung qua môn đi ra, gặp giặc, rồi trở qua cửa Tả Dịch; tên Trực xuất đảng nó đi theo, vừa có quan Phó vệ úy Nguyễn Thạnh lướt đến cùng Chỉ huy Phạm Viết Trang đóng cửa giặc, giặc chặt cửa, bọn Thạnh đều bị thương, giặc phá cửa kéo quân vào, đếnnhà Duyệt Thị, có Quyền Chưởng Long võ dinh Hồ Oai cản cự, Trực chém oai đứt tai bên hữu, Oai la to, kêu Nội giám; "đóng cửa Tả Sương cho vững". Trực tìm bắt trung quân Đoàn Thọ, có người nói Thọ ở điện Thái Hòa, Trực liền trở lui, hiệp nhau với Trưng ở đạo trung; khi ấy Hồ Oai chạy ra kêu Thị vệ và Cẩn Tín tới cho mau bắt giặc, bọn Trưng đương ở trước sân Thái Hoà sắp hàng, Trưng kêu quân Loan giá, lấy kiệu ra rước Đinh Đạo, kiệu ra được nửa đàng, Hồ Oai nạt lui, lại chỉ lính công sở rằng: "bọn mày

-----------------
1 Đinh Đạo là con Đinh Ngốc.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM