Midaxudavo
Thành viên

Bài viết: 605
|
 |
« Trả lời #180 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2009, 10:37:31 pm » |
|
đành theo giặc sao?". Lính nghe tháo lui tan đi hết, chỉ còn đảng nghịch ước chừng 30 người; Oai lướt tới đâm Trực, Chánh đội Cáp Văn Sum đâm tiếp luôn, Trực nhào xuống. Lính bỏ biền chạy tới Trực Trưng đều bị bắt, Ái chạy vào nhà bếp sở Hộ vệ tự đâm cổ, đảng nghịch là tên Võ nhảy xuống ao Thái Dịch. Võ cử Nguyễn Văn Thích chạy theo bắt được. Đạo hậu giặc đến bờ phía nam sông Hương Giang, Nguyễn Văn Quý nghe việc không xong, trốn về; Trương Trọng Hòa còn chưa biết, đem đảng nó thẳng vào trại lính Thần cơ thâu lấy đồ binh trương, Hiệp quản vệ ấy là Võ Giác, đánh trống làm lệnh, bọn Nguyễn Hùng, Lê Bình suất binh ra ngoài cửa Chương Đức hiệp cùng Lê Sĩ bắt đặng nghịch Hòa, lại phái người qua chùa Pháp Vân soát bắt Nguyễn Văn Quý giải về, đảng nó còn bao nhiêu tan hết, hoặc lui về đội cũ, hoặc tan về chỗ công sở. Khi ấy đóng hết các cửa thành, quan binh chia từng đạo soát bắt hết cả.
Đinh Đạo mắc bọn nghịch phạm chiêu xưng, xử tội giảo quyết và thân thuộc con trai con gái cũng đều bị tội; Nguyễn Cúc1 tự tử, truyền chỉ đem thầy làm tội; bọn nghịch phạm đều bị chánh pháp Nguyễn Văn Xa, Nguyễn Văn Chất giao bộ nghị tội, quan phủ Thừa Thiên cùng quan Hộ thành đều bị cách giáng.
Khiến Giám mục Hậu cùng học trò là Nguyễn Trường Tộ và Nguyễn Điều qua Tây thuê thợ và mua đồ máy.
Lập nhà dạy học võ tại Kinh, ở góc thành phía tây đặt quan Chánh Phó học chánh.
Quan quân thứ Đông bắc là Nguyễn Tri Phương, Võ Trọng Bình thâu quân về, vào chầu. Ngài ban lời phủ ủy, sắc chế đồ y phục ban cấp; rồi cho Tri Phương lãnh Thượng thơ bộ Binh, kiêm kinh kỳ hải phòng sứ, Trọng Bình lãnh Thượng thơ bộ Lại kiêm Quốc tử giám; 2 ông đều sung Cơ mật viện đại thần.
Truyền khiến Đình thần xét tâu công trạng các viên biền bắt được bọn nghịch Trưng. Cho Hồ Oai thăng chức Đô thống dinh Long Võ, tấn phong Nghĩa dõng tử, nhưng sung Quản lãnh Thị vệ đại thần, thưởng thêm bài vàng, ngọc đeo các hạng; còn từ Lê Sĩ trở xuống, đều được thăng thưởng cả.
Tháng 9, quan Soái Đại Pháp ở Gia Định là Gia Lăng Gi Y về Tây, Ô Khởi qua thay.
Quan Khâm sứ Thượng thơ Đại Pháp ở Gia Định là Vi An cùng cố đạo Dương đến Kinh, lại xin đất 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Đình thần nói rằng: "Hình thế 3 tỉnh ở xa cách, khó giữ lắm, chỉ vì việc quan hệ về thổ địa nhơn dân, không nên dễ dàng; xin khiến Phan Huy Vịnh, Phạm Phú Thứ qua Sứ quán, tuỳ cơ đối đáp cho khéo. Khi qua đến nơi, Phan Huy Vịnh và Phạm Phú Thứ thương nói với Khâm sứ Pháp Vi An hoài; Vi An trả lời rằng: "nếu bây giờ không chịu giao cho xong, e những người ứng mộ ngày càng thêm lung, rồi gây ra việc binh cách". Vi An đã về Gia Định, Ngài dạy Hoàng thân, Đình thần hội nghị, lại hỏi các tỉnh nghị thế nào phúc về, và tư cho Phan Thanh Giản, Trương Văn Uyển cùng quan tỉnh An Giang và Hà Tiên châm chước trù nghĩ cho kỹ lưỡng rồi phúc tấu lên.
Khi ấy những người Lục tỉnh mộ nghĩa lần lần đầu thú tại nha Dinh Điền ở Bình Thuận, Khánh Hòa cả thảy 500 người. Ngài khiến đều cấp cho tiền gạo đi khẩn ruộng.
Tháng 10, thưởng người có công đánh dẹp giặc phía Tây Bắc, hoặc gia cấp kỷ lục, hoặc cho tiền vàng, tiền bạc khác nhau.
Cho Tham tri Nguyễn Chánh sung Dinh điền sứ ở Nam Định, Hương lộ tự khanh là Đỗ Phát làm Phó sứ. Quan soái Đại Pháp phú thơ xin định tờ hòa ước mới cho mau. Đình thần xin phái Tổng đốc Nguyễn Hữu Cơ cùng quan Kinh lược qua thương nghị. Ngài ban rằng: "Nguyễn Hữu Cơ là người thế nào mà chống với người ta nổi?. Ngài không theo lời Đình thần xin.
Ngài nghĩ võ công xứ Bắc Kỳ đã xong rồi, tướng sĩ kéo về, chuẩn cho Nguyễn Tri Phương và Võ Trọng Bình phục mạng. Khi hai người vào chầu, Ngài rót ngự tửu ban cho, và cho ăn yến, tấu nhạc, tướng sĩ biền binh đều cho dự yến, coi hát, cho thỏa tình trên dưới; lại ban tiền vàng và ngọc đeo các
------------------- 1 Nguyễn Cúc là Tôn Thất Cúc, vì có tội bị đổi theo họ mẹ.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Midaxudavo
Thành viên

Bài viết: 605
|
 |
« Trả lời #181 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2009, 11:46:29 pm » |
|
hạng cho các quan Quân thứ và các quan Tỉnh mà có dự việc đánh giặc. Nhơn ban ân chiếu cả thảy 22 khoản.
Lập cửa Nhu Viễn tại sông Cấm (ở tỉnh Hải Dương) định ngạch thuế, lựa chọn người giỏi để coi việc (vì cớ các thuyền bang nước Tàu lúc trươc có giúp đánh giặc bây giờ xin ở lại buôn bán).
Tháng 12, đình bãi lệ "quyên tiền cho thăng hàm, cho phục chức và cho ra làm việc quan".
Phục lại lệ "Phủ cống Giám sanh" từ Quảng Bình trở vào Nam. (Lệ cũ thời các tỉnh trong phía Nam, mỗi phủ hạt được phép cống 1 người Giám sanh; đến năm Tự Đức thứ 6, lệ ấy đình bãi; bây giờ truyền dụ cho phục lệ lại cũ, cũng các tỉnh ngoài Bắc).
Năm Đinh Mão thứ XX (1867), tháng 2, các tướng giặc lần lần tới hàng; Ngài khiến phân tháp mỗi đứa ở mỗi nơi.
Mới mở trường thi Võ tại Hà Nội và Bình Định.
Mọi ở Quảng Nghĩa thường nhiễu hại dân, Tiễu phủ sứ Nguyễn Tấn sai người chiêu dụ, các Mọi đều hàng, chỉ Mọi Nước Tố chưa phục, Tấn liền đem quân đi tuần tiễu. Khi ấy nhơn đứa Man đinh là tên Mông trốn đi, Tấn đòi các Mọi đến hiểu dụ chúng nó an nghiệp, rồi đem quân về. Ngài khen phái đi hiểu dụ có công, tuỳ hạng ban thưởng tiền bạc.
Khi trước Kinh lược Phan Thanh Giản có đem 2 khoản mật thương với quan Pháp Soái cũ: 1. Chuộc lại 3 tỉnh; 2. Đổi tỉnh Biên Hòa. Quan Soái cũ trả lời rằng: "việc đó khó tính trước đặng". Đến đây quan Soái mới tới thay, viện Cơ mật xin sai Thanh Giản vào Gia Định thám thính ý quan Soái mới thế nào phúc tấu.
Tháng 3, Dinh điền sứ Trần Đình Túc xin mở mỏ sắt ở làng Lưu Biểu về huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên. Ngài truyền đem nấu thử, sắt tốt dùng được. Ngài cho làm.
Nguyễn Tri Phương và Võ Trọng Bình từ khi về tham dự việc Cơ mật, cùng các quan Đại thần nghị luận có điều trái ý không hòa nhau. Ngài nghe, ban rằng: "người Quân tử hòa mà có chỗ không đồng, chớ không phải việc chi cũng đồng mới gọi lên điện cãi nhau, đến khi xuống điện vẫn hòa như thường, kẻ làm tôi phải bắt chước như thế, nếu trên dưới lôi đồng, không phải là phước nhà nước. Các ngươi bàn việc, nếu có ý kiến gì khá, cứ cãi lẽ không hại gì, nhưng chỉ trong khi đó mà thôi, không nên có hơi hình tích". Nhơn khi ban trái vải cho đình thần dạy rằng: "trái nầy ngọt lắm, đức Tiên đế từng tự tay lấy ban cho Thân công và Đình thần, cũng là rõ ý thân nhau, các ngươi nên nhớ chuyện ấy".
Tháng 6, thưởng Tán lý Ông Ích Khiêm thăng Binh bộ Thị lang và cho một cái khánh vàng chạm 2 chữ "Hiếu nghĩa". Vì Ông Ích Khiêm trước ở quân thứ Hải Dương mộ binh dõng đánh giặc có công.
Nước Đại Pháp lấy 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Khi ấy quan Pháp Soái đem tàu binh nhiều lắm, chạy đến bến Vĩnh Long, khiến người đem thơ mời Phan Thanh Giản tới nói chuyện; Thanh Giản xuống tàu bàn nói thế nào, quan Pháp Soái cũng không nghe. Thanh Giản mới thương rằng: "xin Quý Soái chớ cho nhiễu hại nhơn dân, còn tiền lúa trong kho cứ để nước tôi coi ngó". Quan Pháp Soái thuận nghe. Trong giây phút Thanh Giản trở về, thời binh Đại Pháp đã vào bốn phía thành rồi. Quan Pháp Soái lại chia binh qua An Giang, Hà Tiên, cũng làm giống như tỉnh Vĩnh Long vậy; rồi đem các quan 3 tỉnh ấy để ở tại dinh Tổng đốc Vĩnh Long và sai tàu ra cửa Thuận báo tin. Ngài khiến Cơ mật và Thương bạc làm thơ thương thuyết, xin họ đưa các quan 3 tỉnh về Kinh. Thanh Giản nghĩ mình không công, đem tiền lúa 3 tỉnh chiếu khâu số bạc bồi năm ấy; rồi đem triều bào ấn triện và làm tờ sớ để lại gởi về dâng, liền không ăn mà chết.
Cho Phan Khắc Thận khởi phục hàm Binh bộ Thượng thơ lãnh Tuần phủ Nam Ngĩa. Vì lúc trước Khắc Thuận bị tội cách chức, đến đây sự thế hơi khác, Ngài đòi Khắc Thuận về Kinh để hỏi tình hình ngoài biên. Khi Khắc Thuận vào chầu, Ngài hỏi việc nước Cao Man gần đây thế nào? - Khắc Thuận tâu rằng: "Việc Cao Man đều là quan Đại Pháp coi ngó, tô thuế cũng phái người coi thâu".
Tháng 7, quan tỉnh Bắc Ninh tâu rằng: "Giặc trốn người nước Tàu là bọn Vi Tái Thọ thông mưu sanh sự, xin thêm binh để phòng giữ". Ngài khiến phái lính Thanh, Nghệ 500 tên lập tức ra Bắc Ninh; lại sai Ông Ích Khiêm sung Tiễu phủ sứ (sau Ông Ích Khiêm bắt giặc được 65 tên).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Midaxudavo
Thành viên

Bài viết: 605
|
 |
« Trả lời #182 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2009, 11:47:42 pm » |
|
Tháng 8, bãi ty Bình Chuẩn và Dinh Điền Sứ ở Bắc Kỳ (vì cớ hại kẻ buôn và hại dân).
Làm Khiêm Cung rồi. Ngài ngự chế bài ký để chạm vào đá dựng nhà bia. Ngài nhơn làm bài minh để răn mình, lời minh rằng: "Dương Xuân chi thượng hề, duy dư chi trạch hỹ, sơn ti nhi địa tịch hề, diệc trạng dư khiêm ý dỉ tự trách hỹ, thù dữ dư đồng tâm dĩ hoàn dư chí bề, y cầu chi nhi vị hoạch hỹ, duy thiên kỳ giám hề, ngã tâm hữu như thử hạch hỹ". Nghĩa là: Trên Dương Xuân kia, kiểng nhà ta ở đấy ! Núi thấp mà đất quạnh xa, cũng giống ý ta khiêm ty để trách mình vậy. Ai cùng ta đồng tâm cho thỏa chí ta? Tha ôi ! Cầu mà chưa được đấy ! Xin Trời soi xét cho, lòng ta có như vừng đá ấy !.
Tháng 9, khiến phủ Tôn Nhơn và Đình thần nghị công tội bọn Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản. Ngài dụ rằng: "Xứ Nam Kỳ 6 tỉnh, khi đầu bởi tại Nguyễn Tri Phương, Tôn Thất Cáp, Phạm Thế Hiển và Nguyễn Bá Nghi tiễu phòng không hết sức; khi giữa bởi tại Phan Thanh Giản và Lâm Duy Thiếp nghị hòa khinh bỏ; khi sau bởi tại Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ và Ngụy Khắc Đản đi sứ không được việc gì; khi sau hết lại bởi tại bọn Phan Thanh Giản, Trương Văn Uyển, Nguyễn Hữu Cơ và Trần Hoán nhơn tuần nhác nhớm; nên đến nỗi mất 6 tỉnh ấy. Truyền lập tức nghị tội bọn ấy dâng lên, ta sẽ đoán định".
Tháng 10, đặt thêm huyện Hương Khê. Vì quan tỉnh Nghệ An tâu rằng: "Trong huyện Hương Sơn, nguồn Phố và nguồn Sâu chia ra 2 ngã, địa thế xa cách, mà trên nguồn Sâu đàng sông chảy qua huyện Minh Chánh thuộc tỉnh Quảng Bình. Bây giờ muốn mở thông đàng đi bộ và dự trù đàng vận chở, xin chia huyện Hương Sơn làm 2 huyện (Hương Sơn và Hương Khê) để tiện phòng giữ". Ngài cho.
Tỉnh Thái Nguyên thế giặc lừng lẫy, quan quân bị thua. Ngài cho phái quân giỏ ở tỉnh Bắc và lựa một viên Phó lãnh binh qua cho gấp, còn Tổng đốc Phạm Chi Hương thời ở xa điều độ. Chi Hương lại xin đổi Ông Ích Khiêm sung Ninh Thái Tiễu Phủ sứ, hội đồng Đề đốc Nguyễn Hữu Thận, Lãnh binh Lê Quang Nhung đem hết lính và voi đi tuần tiễu; lại đòi lính Hưng Yên và Ninh Bình 500 tên đi theo sai phái. Ngài cho.
Tháng 11, Ngài theo lời bộ Hộ tâu, cho đặt sở đánh thuế muối tại Bình Định và Bình Thuận. Vì mấy tỉnh ấy muối nhiều.
Lúc trước Ngài có truyền chỉ các xã thôn ở Phủ Thừa Thiên: mỗi 100 mẫu ruộng công, lấy 10 mẫu giao dân làm chung, lúa chín thâu cắt, làm kho chứa riêng, để phòng cứu năm mất mùa. Đến năm nay quan phủ Thừa Thiên tâu rằng: "lúa kho thâu trữ, lý dịch trong làng không khỏi na đi lấy lời. Xin xét hỏi các xã dân lâu nay đã cày ruộng trữ lúa, làng nào ưng để tại xã thương đặng đều nhờ lợi, thời cho như cựu; làng nào không tình nguyện, thời số ruộng nguyên trích bao nhiêu, giao lại quân cấp cho dân". Ngài dạy làm cho thỏa đáng, để cho được thuận tiện mà có thành hiệu.
Ngài khiến Hiệp tá đại học sĩ Trần Tiễn Thành vào Gia Định, Bang tá huyện Thanh Hóa là Nguyễn Văn Tường sung tùy phái, đều ban cho bạc. Vì Ngài nghĩ nước ta cùng Đại Pháp đã định hòa ước, bây giờ việc Nam Kỳ nên châm chước nghị lại, mà giấy tờ tư qua lại không bằng diện thương thời hơn, nên khiến Tiễn Thành sung Khâm sai vào định lời ước mới. Khi đi, Ngài lại cho một bài ca để khuyên gắng. (bài ca ấy chép trong văn tập).
Năm Mậu Thìn thứ XXI (1868), tháng giêng, ngày 1. Ngài ngự đền Cần Chánh, cho Đình thần làm lễ mừng Tứ tuần đại khánh tiết; rồi ban ân chiếu 15 điều khắp trong ngoài.
Quan quân thứ Thái Nguyên là Phạm Chi Hương tâu việc khu xử bọn giặc hàng. Lời tâu rằng: "bọn Châu Tường Lân, Đặng Vạn có lòng thiệt đầu thú, xin cho chúng nó hàm Bát phẩm bá hộ và cấp cho tư bản để mở mỏ và khẩn ruộng". Ngài dạy rằng: "giặc hàng hiện hơn 300 tên, phải lượng chỗ phân tháp, chớ cho nhóm ở với nhau; và lập điều ước rõ ràng, bắt chúng nó hết sức ngăn giữ giặc ngoài".
Giặc Cổ phỉ nước Tàu là Bàn Văn Nhị, Lương Văn Lợi treo hiệu cờ trắng cướp phá châu Lục An. (thuộc tỉnh Tuyên Quang).
Tỉnh Ninh Bình bị bão lụt. Ngài khiến đong lúa xã thương 10.600 hộc và lúa kho 15.000 hộc cho dân mượn.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Midaxudavo
Thành viên

Bài viết: 605
|
 |
« Trả lời #183 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2009, 11:50:10 pm » |
|
Tháng 2, nghiêm định trình hạn về việc đình nghị. Ngài dụ rằng: "từ Tham tri, Chưởng vệ đến Tán lý, đều phải hết sứ lo nghĩ, việc khó mà gấp, hạn trong 2 ngày phải cho rồi; việc khó mà hoãn trong ba ngày phải cho rồi; nếu đại thần có ức chế, mà đình thần nhơn tuần làm thinh, đến nỗi việc lâu không quyết được; như việc ấy không phải việc mật, thời cho Ngự sử và quan đương trực đàn hạch, nếu việc mật thời giao cho Bộ chủ thảo1 chỉ tên người có lỗi mà nghiêm tham. Đến như người ở chỗ công thời làm thinh, lui về thời bàn riêng, đem việc bật tiết lậu ra ngoài, sẽ bị tội năng".
Khiến các, tỉnh đạo, tìm mỏ than đá. Quan tỉnh Thái Nguyên đem kiểu than đá làng Sa Lung và làng Phú Xuân thuộc huyện Phú Lương đệ về, rồi qua đó đào lấy. Sau nhơn công trình hơi khó, than đá không đặng bao nhiêu, lại cho đình bãi.
Ngài nghĩ Nguyên khâm mạng toàn quyền đại thần Phan Thanh Giản công tội thế nào lâu nay chưa định rõ, bèn dạy định tội Phan Thanh Giản; còn các quan Đốc, Phủ, Bố, Aùn, Lãnh binh, nguyên lỵ 4 tỉnh Vĩnh Long, Định Tường, An Giang, Hà Tiên, người nào chưa cách chức thời cách ngay, nhưng tuân theo chỉ trước nghiêm nghị.
Giặc hàng là Ngô Côn lấy tỉnh Cao Bằng, Bố chánh Nguyễn Văn Vĩ bị bắt. (Vì giặc hàng là bọn Tạ Tịnh Xuyên lén dẫn Ngô Côn và đoàn binh giả đò vào yết, Văn Vĩ tin lầm, bọn nó nhơn khi không phòng bị kéo vào đánh, thành liền mất). Việc ấy tâu lên, Đình thần tâu xin giao cho Phạm Chi Hương đốc quân tiền đạo đánh giặc, đợi Văn Vĩ như thoát về được sẽ xét trị tội. Ngài nghe theo. (Ngô Côn trước ở Tàu nhiễu hại xứ Quy Thuận, quan quân Tàu đuổi bắt, nó mới trốn theo giặc Cổ phỉ, đã xin đầu thú nước mình, đấy đây lại phản).
Khi ấy binh dân phần nhiều bị giặc bắt bán cho ngoại quốc. Thông ngôn Nguyễn Đức Hậu tìm được 92 người chở về Hương Cảng (khi ấy Hậu tùy phái qua Tây), Tổng đốc nước Anh thuê giúp tàu chở về Quảng Nam. Quan tỉnh tâu lên, Ngài thưởng Hậu hàm Cửu phẩm hành nhơn, lại khiến Thị lang bộ Hộ là Trần Đình Túc đem đồ thổ sản qua Hương Cảng đáp ơn.
Tháng 3, đào lấy mỏ than đá ở núi thuộc tỉnh Quảng Yên.
Lúc trước quan Pháp Soái đã láy 3 tỉnh An Giang, Hà Tiên, Vĩnh Long, đổi làm hòa ước mới ép ta áp ký, rồi sẽ sai sứ qua Tây luôn. Đình nghị cho Lễ bộ thượng thơ Nguyễn Văn Phong, Thị lang Phan Đình Bình, Thị độc học sĩ Thành Hóa huyện Bang tá Nguyễn Văn Tường sung sứ bộ qua Đại Pháp và qua luôn Anh Cát Lợi, Y Pha Nho, xét hiện tình về phúc tấu. Nhưng rồi không đi. Ngài khiến tòa Thương bạc làm thơ đưa cho quan Pháp Soái biết và gởi tờ quốc thơ nhờ quan Soái đưa về Pháp đình.
Tháng 4, phái bọn Lê Văn Hiển cả thảy 5 người vào trường Gia Định học tập chữ Pháp với giáo sư Trương Vĩnh Ký.
Tướng giặc Ngô Côn vây đồn Lạc Dương. Ngài dụ khiến Phạm Chi Hương tư cho quan quân Tàu hội tiễu.
Nước Tàu sai biền binh hơn 4.000 người đến xứ Khâu Thường thuộc tỉnh Lạng Sơn hội tiễu. Ngài khiến lựa lính tinh tráng tới gấp hội với quân Tàu đánh giặc.
Truy phục chức hàm cho các ông Vọng Các Công thần là Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt đềeu cho liệt tự miếu Trung hưng công thần. (ông Thành truy phục Chưởng trung quân đại tướng quân Quận công, ông Duyệt truy phục Chưởng tả quân đại tướng quân).
Tháng 4 nhuận, Tán lý Ông Ích Khiêm và Đề đốc Nguyễn Viết Thành đem quân hội đồng với Phó tướng Tàu là Tạ Kế Quý đánh phá giặc ở xứ Thất Khê, giải vây đồn Lạc Dương. Đặng tin thắng trận, Ngài dụ ra khen thưởng và khiến qua gấp lấy lại tỉnh Cao Bằng.
Tỉnh Sơn Tây mưa đá giọt to như trứng gà, giọt nhỏ như bột ngô đồng.
Quan phủ Thừa Thiên là Tôn Thất Tư dâng lộc nhung làm lễ chúc hộ. Ngài khước đi, dạy rằng: "các người làm cho xứng chức, không để lo cho ta, thời hơn chúc hộ nhiều lắm".
-------------------- 1 Bộ chủ thảo là bộ làm giấy mực về việc ấy.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Midaxudavo
Thành viên

Bài viết: 605
|
 |
« Trả lời #184 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2009, 11:53:00 pm » |
|
Khiến tỉnh Khánh Hòa đào lấy than đá ở núi Diên Cơ, rồi nhơn than ấy nhiều đá cứng, lửa đốt không cháy, liền đình bãi.
Tháng 5, mở mỏ sắt Phố Lý thuộc tỉnh Thái Nguyên, mỗi năm lấy thuế 300 cân.
Ngài nghĩ mấy khoa thi Hội mới rồi, từ tỉnh Quảng Bình vào Nam người đậu Tấn sĩ ít lắm, vả lại thi Hương thời bên lương bên giáo hay làm náo trường, bèn sức các học thần phải thường dạy học trò những điều binh, tài, thao lược, nông điền, thủy lợi; nhưng giao cho các thượng ty ở phủ Thừa Thiên, Quốc tử giám, các tỉnh, các đạo, xét hạch những giá chức tâu lên.
Ngài nghĩ gần đây trong nước nhiều việc, dụ rằng: "tháng 8 năm nay gặp lễ Tứ tuần đại khánh tiết, những việc chi cáo1 đàm ân2 đều theo lệ cũ mà làm, còn lễ triều, hạ, tấn hiến, Yên nhạc, trần thiết mấy sự phù phí ấy đều bãi cả".
Thủy Xá và Hỏa Xá dâng lễ hạ, xin đến ngày lễ vào lạy khánh tiết. Ngài chuẩn giao cho đạo Phú Yên nhận đệ phẩm nghi mà tha hai nước ấy khỏi tới Kinh làm lễ.
Đào lấy than đá núi Hoàn Ngạc, thuộc tỉnh Quảng Yên (chất đá bền chắc, khi đốt cháy có ngọn lửa).
Giặc Cổ phỉ cướp phá, tỉnh Lạng Sơn tư qua phủ Thái Bình thuộc tỉnh Quảng Tây đem binh tới hội tiễu.
Lưu Vĩnh Phúc, Hoàng Thắng Lợi hiệp với giặc trốn là Hoàng Tân Hưng toan đánh phố Bảo Thắng (thuộc tỉnh Hưng Hóa). Ngài khiến quan tỉnh là Nguyễn Huy Kỹ và Tổng đốc thống hạt là Nguyễn Bá Nghi phải điều độ cho yên. (Vĩnh Phúc tiết thứ đánh giặc, được thưởng Bá hộ, Thắng Lợi đánh được giặc một trận; rồi chúng nó lại đem bè bạn qua Hưng Hóa).
Phát chẩn cho dân châu Tiên Yên thuộc tỉnh Quảng Yên (dân tổng Bác Vọng bị giặc đốt nhà cướp của).
Tháng 6, khiến Lê Toán, Nguyễn Tư Giản, Hoàng Tịnh đi sứ Tàu. Khi ra đi, Ngài cho bài thơ khuyên gắng.
Tàu nước Xích Mao vào đậu cửa Quy Nhơn thuộc tỉnh Bình Định.
Định lệ "thăng trật cho Các sĩ, Nhã sĩ, văn võ Tấn sĩ và Phó bảng". Ngài dụ rằng: "phàm Cát sĩ, Nhã sĩ, văn võ Tấn sĩ, Phó bảng, trừ người nào đã xét đáng thăng ngoại, còn bao nhiêu thời tại chức đủ 3 năm mà can công tội hoặc tư tội chưa đến giáng điệu trở lên, quan thượng ty phải tâu cho thăng 1 trật, đến ấn quan thời thôi, từ đó về sau thăng trật sẽ theo lệ khác; còn như người bị tội giáng điệu, hoặc đới giáng mà thuộc về công tội, không phải các tội nặng như tội "thất thủ" và tội "thua giặc", thời cũng cho đủ 3 năm tâu xin khai phục, từ đó về sau cũng lần lần thăng được; nếu can tội về mấy khoản nặng đó, thời phải có thiệt trạng hiệu lực chuộc tội, mới đặng khai phục, rồi cũng chiếu thứ thăng lên. Từ nay về sau lấy đó làm lệnh".
Tháng 7, quan quân bị thua tại đồn Tú Sơn thuộc tỉnh Lạng Sơn, Tham tán Nguyễn Mại (Tấn sĩ, người tỉnh Sơn Tây) và Phó đề đốc Nguyễn Viết Thành đều tử tiết, Thống đốc Phạm Chi Hương bị giặc bắt. Nay Nguyễn Tri Phương xin đi ra bắc. Ngài nghĩ Tri Phương đã từng khó nhọc, muốn để ở triều cho trân trọng, nên không cho đi.
Đảng giặc đánh lấy đồn Lạc Dương. Ngài khiến Thảo nghịch hữu tướng quân Phan Khắc Thận tới Lạng Sơn thương đồng với Tuần phủ và đạo quan quân mới phái hết sức phòng giữ, đợi Bình khấu tướng quân Đoàn Thọ tới, rồi sẽ về Tuyên Quang.
Tỉnh Hải Dương đói. Ngài khiến quan tỉnh chia chỗ lập nhà tạm cho dân đói ở, chiếu lệ cấp nuôi. (Đàn ông và đàn bà mỗi người mỗi tháng cấp 1 quan tiền, 15 bát gạo; con trẻ 5 tiền, 10 bát gạo).
--------------- 1 Chi cáo là kính cáo nhà Tôn Miếu. 2 Đàm ân là ban ơn cho thần dân.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Midaxudavo
Thành viên

Bài viết: 605
|
 |
« Trả lời #185 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2009, 11:54:04 pm » |
|
Thưởng Ngự sử đạo Hà Ninh là Phạm Doãn Địch gia 2 trật. Vì khi trước Doãn Địch làm Tri huyện Nông Cống, (thuộc tỉnh Thanh Hóa) mộ dân đinh mới và chiêu dụ dân cũ xiêu tán về lập đặng 9 ấp, số đinh được 41 người, trưng thêm ruộng đất lậu và khai hoang được 1.579 mẫu, lập Nghĩa thương 37 sở, chứa tiền được hơn 3.400 quan, lúa hơn 4.700 hộc. Đến bây giờ quan tỉnh tâu lên. Ngài khiến gia thưởng để khuyên kẻ làm Phủ Huyện xứng chức.
Khi ấy công tác luôn luôn. Quan Tổng đốc Bình Phú là Thân Văn Nhiếp tâu rằng: "Tôi xem sự thế ngày nay, đất cũ phía Nam bị mất, giặc giã phía Bắc càng nhiều, bão lụt và hạn chỗ nào cũng báo, mà làm sở Vạn Niên cơ tốn xấp mười lăng Thiên Thọ; vả lại, ngói sắt mua ở Hạ Châu, hia hốt mua bên Hương Cảng, gấm tốt và đồ đựng rượu năm nào cũng phái người đi mua, đờn tây và đồ vẽ tây năm nào cũng có giấy trả tiền; nay lâu trong cung vừa rồi, lại làm lầu ngoài bờ sông, hay là Ngài nghĩ rằng làm vậy cũng không hại chi chăng? - Ngài ban rằng: ngươi trách mấy chuyện, đều là lỗi tại ta, chỉ vì nay nhiều việc, ta lại lắm bệnh, nếu câu thúc quá, thời ta chịu không kham, còn có sức nào trị nước được? Hễ người ta đến khi thác rồi thời tâm tích hay dở mới rõ, không đợi ai nói. Nhưng đạo làm tôi thường nên can gián khiến ta được nghe điều lỗi là phải, chớ lòng ta giữ gìn vốn không dám sai, lúc bình sanh ta đã học thế nào mà bây giờ ta toan dối ai?
Ngài thường có bài thơ "thuật hoài" rằng: "Tuy vô Đàng thái tài, diệc hữu Hán văn chất. Nan tỉ Nhan tử ngu, cảm vị Bá Ngưu tật, Thậm quý Y Xuyên dưỡng. An đắc Võ Hầu bật. Hạnh ngộ Tạ Huyền hạc, Hựu phùng Giản dịch ất. Miễn như Phi tướng số, duy vọng Linh y thuật, Thâm giới Lý Quý ngôn, nguyện giám Thành Thang thất". Nghĩa là: Tuy không tài Đàng Thái, cũng có chất Hán văn. Nhan Tử ngu, khôn kịp: Bá Ngưu tạ, chửa từng. Hổ với Trình hàm dưỡng. Cầu đặng Lượng trung thuần. Tiếng hạc reo quân Tấn. Trứng én nở lòng Ân. Khói như người số lẻ, mong được thuật y thần. Kiệt lời kiêu, nào dám; Thang trách lỗi, xin tuân. "Kinh dịch ý bài thơ - Ngài nói: Ngài tuy không tài dẹp loạn như Đường Thái Tôn, cũng có tư chất tốt như Hán Văn đế. Ngu đâu sánh thầy Nhan Tử, nghe một biết mười; bệnh không đến như Bá Ngưu, người ấy tật ấy. Hổ với Y Xuyên, chủ lý học để dưỡng tánh trời. Ước đặng Võ hầu, tài vương tá để ra giúp nước. Đánh giặc Tần có tướng Tạ Huyền, mượn tiếng hạc mà trợ oai quân Tấn. Sanh ông Khiết là bà Giản Định, nuốt trứng chim mà mở nghiệp nhà Ân. Tài giỏi số cùng, khỏi như Phi Tướng (Lý Quảng); thuốc hay chữa bệnh, trông được linh y. chỉ mặt trời nói khoe, dám răn lời Hạ Kiệt; cầu trời mưa tự trách, xin bắt chước Thành Thang".
Mùa thu trời lạnh, Ngài thương tướng sĩ xông pha sương tuyết, rồi sai thị vệ đem áo mắc lạnh ra ban cho hưởng soái 3 đạo quân thứ và những tướng tá văn từ Thất phẩm võ từ Suất đội trở lên, mỗi người 1 cái. Lại khiến 6 tỉnh ngoài Bắc Kỳ may áo mặc lạnh cấp cho binh dõng.
Khâm phái Trần Đình Túc từ Hương Cảng về (trước qua tạ ơn nước Anh), Ngài khiến lại coi việc đồn điền. Trần Đình Túc và Nguyễn Huy Tế tâu rằng: "chúng tôi xét cửa biển Trà Lý thuộc tỉnh Nam Định, bãi cát cao rộng, nhà cửa ở được yên ổn; cửa biển hơi sâu, tàu thuyền đậu được vững vàng; đàng thủy thông với tỉnh Nam Định, cũng là một chỗ rất quan yếu; còn đàng biển thời thuyền Thanh Hóa, Nghệ An, Hải Dương và các xứ Nam Bắc đều tới đó nhóm đậu được; đàng sông thời từ Nam Định đến mấy hạt miền thượng du các tỉnh Hưng Yên, Ninh Bình, Bắc Ninh, Hà Nội, Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang, qua lại đều được tiện lợi. Gần đây tàu buôn các nước tới đậu nhiều, chỗ ất cũng là chỗ tốt. Vậy xin cho mở hàng buôn bán, cho dân tới buôn và nhóm cửa thiên hạ để tính việc lâu dài". Ngài giao đình thần nghị, nhưng rồi không thấy thi hành.
Gặp lễ Vạn thọ tứ tuần đại khánh tiết, ban ân chiếu cả thảy 34 điều. Sách Đại Nam hội điển sự lệ in rồi, truyền ban cấp cho các nha môn ở Kinh và ngoài các tỉnh. Tháng 9, thưởng tên Bùi Đức Trường người làng Tam Đăng tỉnh Nam Định. Vì Đức Trường lập xã thương có thành hiệu. (Đức Trường xướng suất người lành lập nghĩa thương, để gặp năm mất mùa trích tiền lúa chẩn cấp cho dân nghèo khỏi xiêu tán, mà việc binh lương cũng không thiếu. Quan tỉnh tâu lên, Ngài thưởng Tùng cửu bá hộ).
Tháng 10, cho Võ Trọng Bình lãnh Tổng đốc Hà Ninh, nhưng sung Khâm sai đại thần 3 đạo quân thứ Tuyên, Thái, Lạng. Vì Ngài nghĩ Trọng Bình khi trước đã làm Tổng đốc Ninh Thái và Kinh lược Lạng Bằng, tình thế giặc và địa thế vẫn rõ hơn, nên Ngài sai đi.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Midaxudavo
Thành viên

Bài viết: 605
|
 |
« Trả lời #186 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2009, 11:57:07 pm » |
|
Giáo dân Đinh Văn Điền, người huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình, mật tâu sự nghi như sau nầy: "lập sở Dinh Điền, mở mỏ vàng, làm tàu hỏa, rước người Thái tây qua dạy; kết với nước Anh làm viện, lập nhà thông thương hàng hóa; tha cấm binh thơ binh pháp, cho người trong nước học tập; quân lính thời khiến chuyên tập nghề bắn, bớt làm việc quan và thêm lương ăn để chúng nó duyệt tập cho siêng, khi lâm sự thời thưởng phẩm hàm cho hậu, tử trận thời xét cho cháu mà dùng, tên nào bị tật bị thương thời cấp lương nuôi trọn đời". Đình thần nghị rằng mấy điều ấy chưa hiệp thời thế, bỏ qua không làm.
Đào các đàng sông thuộc 2 làng An Phú và Lương Điền về phủ Thừa Thiên.
Lại khoa cấp sự trung Nguyễn Tạo trước làm Tri huyện Phù Cát, (thuộc tỉnh Bình Định) thanh liêm, công bằng, lại và dân đều tín phục, ruộng đất ngày càng mở mang, trộm cướp cũng đều yên lặng; trong huyện có 2 làng An Lạc và Vĩnh Thắng dân nhiều ruộng ít, Nguyễn Tạo hiểu khuyên làng Chánh Lợi nhượng ruộng công cho làng An Lạc 15 mẫu, làng Vĩnh Thắng 10 mẫu, cộng 25 mẫu. Quan tỉnh là Thân Văn Nhiếp tâu lên, Ngài thưởng 1 cái khánh tử kim hạng nhứt, trong khắc 4 chữ "liêm bình cần cán" và cho thăng Tri phủ nơi tối yếu khuyết; lại truyền thông lục việc ấy cho các phủ huyện trong ngoài đều biết để mà gắng sức. Còn làng Chánh Lợi cũng được thăng thưởng 1 bức biển ngạch khắc 4 chữ "Mỹ tục khả phong".
Tháng 11, Ngài nghĩ việc hình án trong ngoài phần nhiều thường để trì trệ, truyền các quan Bộ, Phủ, Tỉnh, Đạo đem các án liền tra xét lại, y kỳ hạn kiết nghĩ cho rồi, hễ tên nào còn giam lại, để chờ án, cũng phải làm cho mau xong, tên nào không tội, nên tha cho về làm ăn. Lại sức các nha môn coi việc hình án tại Kinh và các tỉnh cứ tuân vậy mà làm.
Đình thần tâu công tội Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Bá Nghi, Võ Trọng Bình. Sớ ấy chia làm 2 tập: 1 tập nghị xử tội về việc mất 3 tỉnh Nam Kỳ, 1 tập nghị thưởng công về việc dẹp yên giặc Bắc Kỳ. Ngài nghĩ đình nghị chưa được minh chánh, mới sửa lại rằng: Tri Phương và Bá Nghi cho khỏi giáng, nhưng đình phong tước; Phan Thanh Giản và Lâm Duy Thiếp đều bị truy đoạt chức quan, lại đục tên trong bia Tấn sĩ, ghi tội "trảm giam hậu" đời đời; Võ Trọng Bình xử trí giặc hàng không xong, cũng đình phong tước.
Lựa con thứ hai ông Hoàng đệ Kiến thụy công Hường Y vào ở viện Tập Hiền cũ, khiến quan Nội các dạy học. Khi ấy ông đã 17 tuổi (tức là ngài Cung Huệ hoàng đế).
Tháng 12, ba người Giám mục là Đông, Hậu, và Bình do bộ Lễ kêu đơn xin tha gọi Giáo dân bằng "Dậu dân"1. Bộ Lễ nghĩ tâu rằng: "Triều đình thương dân như một, xin đừng phân biệt Lương Giáo làm gì". Ngài cho.
Lại định lệ thuế nhập cảng ở sông Cấm. Vì lệ mới hơi nặng, người Tàu không muốn buôn bán, cho nên định lại.
Năm Kỷ Tỵ thứ XXII (1869), tháng giêng, mở rộng đàng sông huyện Hương Trà (Từ cửa Nham Biều đến làng Vân Cù).
Lại định lệ "các quan Phủ, Huyện lỵ chức triệt lưu:" (Phàm các quan Phủ, Huyện, Châu thăng bổ chức khác hễ có việc quan khẩn lắm, mới cho ly chức cũ, quan thượng ti liền phái người quyền nhiếp; như được thăng, khi tiếp chỉ lục, quan thượng ti liền sức cứu 3 viện Binh, thuế, án kiện, xem khi ở nguyện lỵ có làm thanh thỏa hay không, đáng lỵ chức hay là đáng triệt lưu, lập tức tư cho Bộ biết; nếu quan nguyên lỵ lệ đáng ly chức, thời chỗ khuyết đó quan thượng ti lựa người bảo cử, hoặc tư lựa bổ, khi có chỉ rồi liền sức quan mới mau đến, hai bên giao nhận cho xong, quan cũ mới đặng lỵ chức; như quan cũ lệ đáng triệt lưu, thời hạn cấp cho ở lại, sẽ chiếu theo lệ mà làm).
Khi ấy Phùng Tử Tài nước Tàu vâng lời dụ qua cửa ải đi hội tiễu giặc Ngô Côn. Ngài nghĩ quân tình bấy lâu báo chậm, bèn khiến các quan 3 đạo quân thứ Tuyên, Thái, Lạng, cứ 10 ngày một lần đem hiện tình tâu lên.
------------- 1 Dậu nghĩa là cỏ lác, thường làm hại lúa.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Midaxudavo
Thành viên

Bài viết: 605
|
 |
« Trả lời #187 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2009, 11:58:24 pm » |
|
Tháng 3, khiến Lang Trung Lê Huy qua Hạ Châu mua tàu máy. (Sau vì không biết tàu máy hạng cũ mới thế nào, lại đưa thơ nhờ Pháp Soái chiếu cố).
Đề đốc Tàu là Phụng Tử Tài đánh phá 2 đồn giặc ở Khô Châu và Lăng Mẫn thuộc Cao Bằng, đưa thơ khiến ta hội quân phá đồn Thông Huề, tới đánh Mọc Mã và Kỳ Lừa, Bản Đại, thẳng lấy đất Phong Lạc. Ngài khiến Võ Trọng Bình, Nguyễn Hiên đem binh đến hội.
Tháng 4, lại cấm chở gạo bán ra ngoại quốc.
Lại định lệ "sát hạch người học chữ Tây" chia hạng thưởng phạt.
Tháng 5, lại định lệ "thưởng phạt người cử tri": (người được cử như sau làm việc giỏi, được thưởng 2 cấp, thời người đứng cử được thưởng 1 cấp; nếu người được cử sau bị tham tang tội nặng, thời người đứng cử chiếu theo tư tội giáng 1 cấp điệu; còn đình thần công cử, thời thưởng phạt cứ người đứng đầu giấy và người chuyên cử).
Lấy lại tỉnh Cao Bằng. Lập nhà Dục Đức ở ngoài cửa Hiển Nhơn. Tháng 7, Ngài cho Hoàng trưởng tử ra ở đó đọc sách. Thủy Xá và Hỏa Xá khiến Chánh sứ Kiều Linh và Phó sứ Sơn Lý dâng phẩm nghi mừng lễ Đại khánh tiết. (Mỗi nước dâng 1 ngà voi).
Tháng ấy gặp lễ Lục tuần đại khánh tiết đức Hoàng thái hậu, ban ân chiếu 21 điều khắp trong ngoài. Đào kênh sắt ở Nghệ An, 4 tháng mới rồi (từ tháng 5 đến tháng 9). Ngài khiến quyền lãnh Thượng thơ bộ Công là Nguyễn Chánh ra đó phúc khám. Tháng 6, cho Aùn sát Hải Dương là Tôn Thất Thuyết sung Tán tương đạo quân thứ Thái Nguyên. Tháng 7, Viên ngoại bộ Binh Trương Văn Đễ và Tú tài Trương Quang Đản (con quan Cần chánh đại học sĩ Trương Đăng Quế) xin ra Sơn Tây, Bắc Ninh mộ quân nghĩa dõng đánh giặc. Ngài cho.
Tháng 8, quan quân đánh phá giặc Thổ ở phủ Phú Bình, Hiệp quản Phan Văn Đồng được thăng Vệ úy (vì chém được quân cờ đầu giặc).
Tháng 9, lựa lập Hoàng tử: con trưởng tử Ngài Kiên quốc công (tức là đức Cảnh Tôn) năm Tự Đức thứ XVIII, Ngài vào cung mới có 2 tuổi, bây giờ Ngài đã 6 tuổi; với con thứ 2 Ngài Kiến thuỵ công (tức là đức Cung Huệ) lúc ấy đã 18 tuổi.
Phú Yên, Bình Định, Quảng Nghĩa, Bình Thuận lại bị tai Hoàng trùng.
Thương tá Nam Định Hải Phòng lãnh Đốc học Doãn Khuê xin từ chức Đốc học để đi khuyến quyên mộ dân khẩn đất Long Sai gần biển, hễ trong 3 năm thành điền, thời để một phân làm ruộng công, hai phần làm ruộng tư nhưng chiếu số quyên nhiều ít xin thưởng phẩm hàm và bổ làm việc. Ngài cho. Cho Doãn Khuê làm Dinh điền sứ, Đỗ Phát làm Phó sứ.
Tháng 10, đình thần tâu rằng: "đạn trái phá là đồ lợi khí việc binh, xin hỏi cả các địa phương có người nào quen nghề chế đạn và tính chừng độ đạn đi được mấy, đều cho tới bộ Binh đầu đơn, Bộ sẽ xét Công xảo tại sở Đốc công, hễ người nào biết rõ máy móc tàu hỏa, chế máy cưa và biết nấu đồ đồng đúc súng, thời không nệ nội ngoại tịch dân, đều mộ cho đông để sung vào sở ấy". Ngài cho.
Tán lý quân thứ Tuyên Quang là Trần Đình Túc tâu: "phố Bảo Thắng là một chỗ buôn bán có lợi, mà Lưu Vĩnh Phúc tánh dữ tợn khó kiềm chế; vậy xin giao Tổng đốc Sơn Tây là Nguyễn Bá Nghi thương với Phùng Tử Tài sức Lưu Vĩnh Phúc về Tàu". Ngài cho.
Bộ Hộ tâu rằng: "Lợi trong 10 năm chi bằng trồng cây, xin tư các quan địa phương sức khắp trong hạt lựa mấy chỗ đất hoang để trồng chè, dừa, mít, hạn trong 50 năm giao cho quan địa phương khám thiệt thành hiệu sẽ nghĩ cách thưởng". Ngài cho.
Tháng 11, nước Đại Pháp sai Quan Năm đến Kinh đưa quốc thơ nói việc giao lại 3 tỉnh An Giang, Hà Tiên và Vĩnh Long. Phủ Tôn Nhơn và đình thần xin làm thơ đáp lại, mà trong thơ nên nói 2 nước phải
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Midaxudavo
Thành viên

Bài viết: 605
|
 |
« Trả lời #188 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 12:00:57 am » |
|
định ước cùng nhau cho hiệp lẽ công bằng và xin trả tỉnh Biên Hòa cho ta quản hạt, còn thiếu bạc bồi bao nhiêu cũng xin đừng tính nữa". Ngài y theo.
Năm Canh Ngọ thứ XXIII (1870), tháng giêng, quan Pháp Soái mới ở Gia Định là Co No đưa thơ nói nghị định ước mới. Ngài truyền hỏi Tổng đốc Bình Phú Thân Văn Nhiếp và Tổng đốc An Tĩnh Hoàng Tá Viêm. Hai ông đều tâu: "Xin đưa thơ cãi lẽ và xin nhờ các nước hội đồng làm chứng (như các Trấn mục ở Hạ Châu, Hương Cảng, hoặc các nước bên Thái Tây) để cho lời hòa ước được chắc chắn". Đình thần là bọn Trần Tiễn Thành đều tâu: "Xin đợi nước Đại Pháp đáp thơ lại, mới hiệp sự cơ; lại xin đợi định lời ước rồi, giao cho quan Khâm sứ thương với quan Pháp Soái". Ngài y theo.
Lựa con thứ ba ngài Kiến quốc công đem vào trong cung và truyền bà Khiêm phụ họ Nguyễn Văn nuôi làm Hoàng tử, (tục là đức Giản tôn Nghị hoàng đế).
Tháng 3, quyển Hình bộ tiểu sách làm rồi (trong quyển ấy chép các điều lệ mới nghị lại hay là bổ thêm), dâng Ngài ngự lãm. Quyển sách ấy làm từ năm Tự Đức thứ 8 đến năm thứ 12 lại làm nối theo.
Nước Y Pha Nho sai sứ A Đôn Pho Bắc Xu đến Kinh đáp lễ. Sứ thần xin vào chầu dâng tờ quốc thơ, trong thơ đại ý nói rằng: "nước ta năm thứ 16 và năm thứ 21 có đưa thơ qua nước ấy, vậy nay đến đáp lễ và xin thông thương; vả lại các nước có vào ước hội thời mới tin nhau mà giúp nhau vân vân". Nước ta nghĩ thơ ấy nói không chắc chắn việc gì, nên không trả lời.
Tháng 4, mua chiếc tàu đồng máy hiệu Đằng Huy giá bạc 72.824Đ.
Tùng Thiện công Miên Thẩm mất. (Tên tự ông là Trọng Uyên, hiệu là Thương Sơn, ham học, làm thơ nhiều lắm; sau được tặng Quận vương).
Tháng 5, An Tĩnh Tổng đốc Hoàng Tá Viêm vào chầu. Khi ấy Ngài thường ngự bắn nơi Thuận Trực, Tá Viêm dâng sớ can; rồi lại ở Kinh vài tháng đợi thương thuyết việc Thái Tây, sau mới về trấn.
Đổi 4 tổng Đan Niệm, Trú Bảo, Bắc Lũng. Trạm Điền nguyên thuộc về huyện Lục Ngạn, nay cho thuộc về phủ Lạng Giang tỉnh Bắc Ninh.
Tuần phủ Quảng Tây nước Tàu đưa công văn nói rằng:
"Từ nay phàm dân Tàu đem hàng hóa tới nước ta buôn bán, ta phải xét có giấy tờ quan địa phương bổn xứ nhận thiệt mới được; nếu không giấy tờ mà lén vào địa phận nước ta, thời không kể có phải bọn giặc hay không, đều bắt trị tội". Ngài khiến sao công văn ấy giao ra Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hưng Hóa, Quảng Yên, Thái Nguyên mỗi tỉnh một tờ, đặng biết mà làm.
Tháng 6, khi ấy giặc trốn còn chưa yên hết, nhưng quan Soái Phùng Tử Tài sợ chỗ hiểm trở lam chướng, đã phá được đồn Hà Dương, nhơn gặp hồi mưa lụt, quân khó kéo tới, mới tư cho ta xin triệt quân về Tàu.
Truyền chỉ từ nay phàm các nhà giam ở trong Kinh và ngoài các địa phương, hễ gặp mùa đông lạnh đều phải kiểm soát tù phạm, đứa nào cùng nghèo, cho trích tiền công may áo quần ban cấp, để rõ lòng thể tất.
Tháng 7, hiệp 2 đạo quân thứ Lạng Sơn và Bắc Ninh làm một, cho Đoàn Thọ làm Tổng thống Bắc Kỳ quân vụ.
Tháng 9, nước Đại Pháp đánh với Phổ Lỗ Sĩ, quan Pháp soái hương ta cho biết, Ngài khiến quan Thương bạc làm thơ hỏi thăm.
Tháng 10, sai sứ qua Tàu: Ngài nghĩ tên Ngô Côn đã chết. Nên khiến bọn Nguyễn Hữu Lập đệ biểu văn và thổ sản qua tạ.
Lại định lệ "xã thương và nghĩa thương" (trích ruộng cày cấy thân lúa trữ lại, gọi là xã thương; quyên tiền lúa chức lại gọi là nghĩa thương. Quan tỉnh hoặc quan đạo tùy thời thâu phát, chẩn cấp cho dân; hễ làng nào làm có thiệt hiệu, thời thưởng cho bức biển ngạch khắc 4 chữ "Thiện tục khả phong").
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Midaxudavo
Thành viên

Bài viết: 605
|
 |
« Trả lời #189 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 12:03:08 am » |
|
Đảng giặc Tô Tứ ban đêm lấy tỉnh Lạng Sơn, Đoàn Thọ bị chết, Võ Trọng Bình, Nguyễn Văn Tường và Đặng Toán trèo thành chạy; liền đưa thơ qua Tuần phủ Quảng Tây và Đề đôc Phùng Tử Tài nhờ thỏa liệu cho.
Cho Hoàng Tá Viêm sung Lạng Bằng Ninh Thái Thống đốc quân vụ đại thần, Tôn Thất Thuyết sung Tán tương. Ngài ban cho Tá Viêm 1 cây gươm Thượng phương và 5 lá cờ Quân lệnh mà dụ rằng: "Ta ban gươm cho Khanh, cũng như vua Thái tổ nhà Tống ban gươm cho Tào Bân vậy1.
Tháng 11, Định An Tổng đốc Nguyễn Hiên tâu rằng: "sông Ngự Long và sông bán Thuý về huyện Tiền Hải, đều hấp nước cửa biển Lân, xin ngăn đắp lại cho nước mặn đừng tràn vào; vả lại sông Liêm trên từ cửa sông Nguyệt Lâm suốt đến cửa khe Trình Phố, chảy xiên ra sông Bán Thuý, xin mở đào từ đoạn về rộng cho được 8 trượng, bề sâu cho được 5 thước, hai bên đều đắp bờ nhỏ, để phòng nước lụt; chỗ nào lấn vào công tư điền thổ bao nhiêu, thời trừ ngạch thuế cho dân".
Năm Tân Vị thứ XXIV (1871), tháng giêng, khiến các quan văn võ ấn quan ở Kinh đều phải xét kẻ thuộc viên.
Tỉnh Quảng Bình đói, Ngài khiến 2 tỉnh Thanh, Nghệ, trích 20.000 phương gạo chở vào chẩn cấp và sức thuyên buôn chở gạo tới bán.
Tháng 2, dân làng Ngoại Lãng Điền thuộc tỉnh Nam Định cảm mộ quan An tây mưu lược tướng quân Hiệp tá đại học sĩ Doãn Uẩn là người khi sống làm quan có tiếng danh tiếng, xin lập nhà thờ. Quan tỉnh đem việc tâu lên, Ngài truyền cho.
Hoàng Hữu Tài đánh giặc Bắc ở xứ Quán Tư, bị chết trận. Ngài cho truy tặng Thị giảng học sĩ, ban tiền tuất xấp hai và cho con cháu chiếu lệ khai ấm.
Hoàng Tá Viêm cùng Bố chánh Bắc Ninh là Phạm Thận Duật phá tan đảng giặc.
Tháng 3, Ngài ngự duyệt binh thủy, binh bộ sởo sông Kim Long với càu Bạch Hổ; trước diễn thủy trận, sau diễn voi trận.
Lãnh Án sát Cao Bằng là Đặng Duy Trinh lấy lại thành tỉnh. Ngài cho thăng Bố chánh, Lãnh binh và các tướng hiệu đều được thăng thưởng.
Tháng 4, cho quan thự Hình bộ Thượng thơ Lê Toán sung Khâm sai thị sư.
Tháng 5, quân Tàu tới đồn Quang Lang thuộc tỉnh Lạng Sơn, giặc Cổ phỉ sợ, chạy tan, đàng chở lương mới thông.
Ngài truyền quan phủ Thừa Thiên là Nguyễn Hanh rằng: "Đất bồi ở sông còn có chỗ cày được, ngươi phải hết lòng khuyên dân khẩn trị, nếu chúng có tư bổn không đủ, thời cho lãnh tiền công mà làm, khiến có thành hiệu, để được lợi ích muôn đời.
Khiến các văn võ ấn quan trong ngoài xét cử người hiều tài, chia làm 8 hạng (Ngài nghị khoa mục còn có khi làm sót kẻ nhơn tài, vậy nên Ngài khiến xét: 1. Những người đức hạnh hiền lành; 2. Tài trí rộng sâu; 3. Giỏi việc trị dân; 4. Giỏi việc trị binh; 5. Giỏi việc thương thuyết; 6. Giỏi việc Lý tài; 7. Văn học rộng thông; 8. Kỹ nghệ khéo, biết chế đồ khí vật, hay là tinh nghề thuốc, nghề bói, coi thiên văn và làm lịch. Những mấy hạng ấy các quan phải hết lòng xét kỹ tâu lên).
Thị lang Tham tá Nội các Trần Hy Tăng tâu xin thân sức trong ngoài phàm cử ấn quan và phủ huyện các nơi rất phiền kịch phải tuân chỉ dụ khi trước: "Người nào chắc có tài đức xuất chúng, đáng bổ nha nào hoặc bộ nào, hay là có sự trạng thiết thiệt làm được nơi phủ huyện phiền kịch, thời đừng phân biệt trung châu hay là biên châu; tựu trung có điều gì kém chũng nên chỉ nói rõ ràng; như không người bậc ấy thời thôi. Khi nào cần lựa người bổ, thời những kẻ tài thức cao xa lâm thời hầu chỉ Ngài lựa dùng, còn những phủ, huyện, giáo, huấn ở ngoài, cũng xin hạn đủ 3 năm mới được thăng chuyển; như khuyết
------------------ 1 Xưa vua Thái tổ ban gươm cho Tào Bân mà dạy rằng: "Từ phó tướng trở xuống, ai không nghe lời thời chém ngay".
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|