Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:07:26 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quốc Triều chính biên toát yếu  (Đọc 100952 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #190 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 12:04:32 am »

ấn quan, thời lựa mấy người đương làm Lang trung, Chưởng ấn mà bổ". Hy Tăng dâng sớ lên, Ngài dạy rằng: "Lời tâu ấy hiệp ý ta lắm, giao bộ Lại và bộ Binh phúc lại rồi cho thi hành".

Tháng 6, ban cấp bài ca "Diễn nghĩa ngự chế huấn địch" 10 điều khắp trong ngoài.

Tháng 7, Bố chánh Khánh Hòa là Đoàn Văn Hội lại xin đặt thầy học và lượng trích học điền trong dân gian (mỗi tổng đặt 2, 3 thần hoặc 5, 6 thầy, mỗi thầy cấp ruộng công hoặc ruộng tư 3 mẫu). Quan bộ Lễ xin y cho (đó là theo nghị định về việc hương học năm Tự Đức thứ 1 châm chước mà làm) Ngài dụ rằng: "lúc trước Văn Ông nhà Hán đem văn học trị đất Thục mà dân hóa theo, thế thời chỗ nào không người tài, người nào lại không học, cốt ở thú mục vàhọc thần hay giở đó thôi".

Chánh tổng Trần Văn Y ở tỉnh Hà Tiên khiến người đem đồ sản vật (chiếu bông, mật ong, sáp, nước mắm, cá khô, lông chim) nhờ đạo Phú Yên dâng lên. Ngài dạy rằng: "Lòng dân như thế, thiệt bởi đức trạch Triều đình đã sâu". Ngài nhơn làm bài phú "Nam Kỳ thổ sản".

Tháng 9, Hoàng Tá Viêm và Lê Toán tâu việc đáng làm cả thảy 9 khoản (1. Đắp thành cũ tỉnh Cao Bằng; 2. Lựa người thổ trước bổ làm châu, huyện; 3. Kết tổng đoàn để cứu ứng nhau; 4. Cho tổng đoàn nhóm ở với nhau để phòng giữ cho tiện; 5. Thúc lính các bảo, đặt chức Bảo mục, khiến ở thường canh giữ; 6. Mộ lính thổ sung vào cơ vệ, để ở tỉnh chực sai phái; 7. Các tỉnh ở chốn biên nên mua lúa của dân trữ lại; 8. Lựa người Bắc Kỳ và người Thanh, Nghệ sung bổ văn võ ấn quan và phủ, huyện hiện khuyết ở các tỉnh ngoài biên; 9. Các đàng thủy bộ quan yếu nên xét hỏi người Tàu ai có giấy thông hành mới cho qua). Ngài chuẩn cho làm.

Tháng 11, giặc Hoàng Tề quán thông với đảng giặc Tô Tứ dụ bọn giặc biển người Tàu hơn 70 chiếc thuyền đến đậu vũng Cát Bà (về Hải phận Nghiêu Phong) tràn vào trong sông cướp hại nhiều lần. Ngài sai đem tàu hỏa hiệu Mẫn Thỏa, hiệu Đằng Huy và tàu đồng hiệu Tịnh Hải, hiệu Tường Nhạn kéo tới hội tiễu.

Cho bán ruộng đất công lưu hoang làm ruộng đất tư, để lấy tiền trợ quân phí. Đó là theo lời quan Thị sư Lê Toán nghị tâu. (Ngài chuẩn từ nay phàm các tỉnh ngoài Bắc Kỳ, có ruộng đất công và các hạng đất lưu hoang, không nệ người trong làng hoặc   người làng khác huyện khác, như có ai tình nguyện mua mà khẩn được bao nhiêu, chiếu mỗi mẫu giá là mấy mà nạp tiền, việc xong rồi sẽ phái khám, quan tỉnh cho bằng, biên vào điền bộ, y theo ngạch cũ đánh thuế, chiếu theo chỗ khó dễ hạn cho mấy năm thành ruộng khởi thâu thuế, biên theo hạng ruộng tư  để làm của mình. Hễ mua ruộng đã thành thuộc mỗi mẫu giá 120 quan tiền, ruộng hoang để khẩn giá 60 quan, khó khẩn giá 30 quan; từ Thanh Hóa trở vào Nam, đất nhiều chỗ xấu, giá đều đều chước giảm một nữa).

Tháng 12, tỉnh Bắc Ninh động đất, tiếng kêu như sấm.

Đảng giặc nhiễu hại phủ Từ Sơn, lãnh Tri phủ Trương Quang Đản đem binh dõng đi đánh, bắt được tướng giặc tên Chích. Ngài cho đặc cách thưởng thăng Tu soạn.

Năm Nhâm Thân thứ XXV (1872), tháng giêng, cấp tiền gạo quần áo và bổ trợ buồm lái cho tàu nước Lưu Cầu bị gió xiêu đến hải phận nước ta, rồi phái tàu hỏa đưa quan tỉnh Quảng Đông đặng về nước nó cho tiện.

Xử trí lưu dân châu Khâm nước Tàu (hễ đứa lương thiện cho ở làm thuê, đứa bất lương đuổi về nguyên quán).

Ngài ngự tới làng Kim Đôi và làng Vân Trình thuộc phủ Thừa Thiên, thấy đàng sông chảy thẳng ra tỉnh  Quảng Trị, trong sông Vĩnh Định nhiều chỗ bồi cạn, thuyền bè qua lại không tiện, bên bờ sông ruộng đất thời khô. Ngài truyền quan tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên mở đào cho rộng.

Tháng 2, Ông Ích Khiêm, Nguyễn Di đánh phá sào huyệt giặc tại Quán Tư, lấy lại huyện lỵ Trấn An. Ngài khen, ban thưởng.

Đạo quân thứ Hải Dương đánh giặc ở xứ Thanh Lâm, bắn chết giặc Hoàng Tề. Quan Thị sư Lê Toán và các quan ở quân thứ khi trước bị giáng nay đều cho khai phục.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #191 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 12:06:17 am »

Tháng 3, Tham tán Ông Ích Khiêm vẽ địa đồ tỉnh Hưng Hóa, giáp 2 tỉnh Sơn Tây và Tuyên Quang dâng lên. Ngài xem rồi dạy rằng: "nay tính mưu đánh giặc, nên trước tỉnh Hưng, sau tới tỉnh Tuyên".

Quan Pháp soái ở Gia Định là Du Bi Lê về Tây, quan Quyền Soái Đa (hay là Bờ Ra) tới thay.

Các tỉnh Sơn Tây, Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên và Hải Dương dân đói xiêu tán, Ngài dạy quan tỉnh lo việc chẩn cấp.

Tháng 4, Ngài sắc các quan địa phương miền duyên hải từ nay về sau phải nghiêm sức các cửa tấn trong thuộc hạt hết lòng tra xét dân trong hạt không được dỗ đàn bà con gái đem bán cho thuyền nước Tàu.

Đạo quân thứ Bắc Ninh nã được tên Ngụy Tịch, đóng cũi giải về Kinh. Từ quan Tổng đốc trở xuống đều được thưởng.

Tháng 6, bờ đê mới ở huyện Văn Giang thuộc tỉnh Bắc Ninh bị lở hơn 20 trượng.

Quan quyền soái Đa ở Gia Định đưa thơ cho Thương bạc xin sao cấp luật lệ để các quan tra án trong hạt ấy coi đó làm phép. Ngài nghĩ các nha trong 6 tỉnh Nam Kỳ đã có luật lệ để lại, không phải sao biên làm gì, truyền làm thơ đáp lại.

Quản đạo Phú Yên là Lê Văn Phổ tâu rằng: "Tổng lý và các chủ ruộng huyện Đồng Xuân xin mỗi mẫu ruộng nạp 2 thăng lúa, mỗi mẫu thổ nạp 2 tiền, làm huyện thương thâu trữ lại, để phòng khi phát chẩn". Ngài cho.

Tháng 7, Ngài khiến Nguyễn Tri Phương sung Tuyên sát đổng sức đại thần thẳng tới quân thứ Sơn Tây và Hải Dương truyền nhóm các quan, từ Thống đốc Hoàng Tá Viêm đến Đổng vận, Thương tá, sắp hàng quỳ trước bàn án, tuyên lời dụ răn dạy khiến thêm gắng sức, cốt làm sao cho trong tiết thu, đông dẹp yên hết giặc.

Đốc binh Nghệ An là Tạ Hiên đánh phá giặc Tàu tại sông Cam Giang. Nghe tin thắng trận, Ngài thưởng thăng Phó quản cơ.

Tàu Đằng Huy hư, Ngài khiến đem qua Hương Cảng tu bổ lại.

Tháng 9, mua tàu hỏa nước Phổ, đặt tên là tàu Viễn Thông (Lúc ấy nước Phổ qua Hương Cảng, quan Lãnh sự Măng Cờ đưa thơ qua Thương Bạc ý muốn thông hòa hảo với nước ta. Ngài khiến Thị lang Nguyễn Chánh qua Hương Cảng thương thuyết, đến đây mua tàu đem về).

Khi ấy, các tỉnh ngoài Bắc Kỳ đều điều trần vê việc đàng đê, nhưng ý kiến khác nhau: (Hà Nội xin nhơn đê cũ sửa đắp, đợi sau sẽ tính dời bờ đê cách bờ sông vài trăm dặm. Sơn Tây xin miền thượng du thời sửa đắp đê cũ, nhưng trước phải mở thông mấy chỗ dòng nước hạ du, đợi trong 2,3 năm sẽ lần thôi. Nam Định xin buộc đồ máy vào tàu hỏa và tàu đồng, đem vét đào cửa biển để cho nước chảy thông, đợi năm sau sẽ lần lần thôi đắp đê. Hưng Yên xin nhơn vũ đắp thêm. Bắc Ninh xin tùy thế bồi đắp, ở miền hạ lưu các đàng sông có chỗ nào ngăn lấp thời nhơn đàng cũ mở đào thêm ra để nước chảy cho thông, không nên mở đàng mới nữa). Ngài nghĩ lời tỉnh Bắc Ninh tâu xin tiện hơn, y cho làm.

Tháng 10, chuẩn cho các tỉnh đạo xét các viên biền binh dõng mấy lâu đánh giặc và chở vật hạng ra đàng biển, hoặc bị chết trận, chết bệnh, chết chìm, người nào còn cha mẹ và ông nội, bà nội, thời mỗi tháng quan sở tại phải cấp mỗi người 1 quan tiền và 1 phương gạo; đến khi chết, lại tuỳ bậc lương cấp tiền và vải. (Cha mẹ thời cấp 5 quan tiền, ông nội, bà nội 3 quan tiền, còn vải đều mỗi người nửa cây). Con trẻ mồ côi từ 15 tuổi trở xuống, mỗi đứa mỗi tháng cấp 5 tiền và nửa phương gạo.

Khiến Nghệ An đúc súng thần công 500 khẩu, súng điểu thương 2.000 khẩu.

Tri phủ Hoài Nhơn thuộc tỉnh Bình Định là Tôn Huy Diệm và Binh dõng Quản cơ Nguyễn Đức Thận đốc khẩn ruộng thôn Định Bình và thôn Thiết Đính thành điền được 114 mẫu. Ngài cho phân hạng thưởng cấp.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #192 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 12:07:27 am »

Tháng 11, người Đại Pháp là Đồ Phổ Nghĩa đi 3 chiếc tàu đến cửa Cấm thuộc tỉnh Hải Dương xin mượn đàng qua tỉnh Vân Nam. (3 chiếc tàu ấy tự xưng là hiệu tàu Đô Phối; chủ tàu là một người tự xưng Lãnh sự nước Pháp tên Đồ Phổ Nghĩa, một người tự xưng là người nước Anh mà làm quan võ nước Tàu tên Kiều Nhĩ Trì, một người tự xưng Tri phủ nước Tàu tên Lý Ngọc Trì). Ngài khiến tư tờ qua Lưỡng Quảng nhờ tư hỏi Vân Nam, chờ trả lời lại sẽ hay.

Tàu Đồ Phổ Nghĩa từ Hải Dương qua Bắc Ninh, đến Hà Nội, phát súng, rồi thuê thuyền qua Vân Nam. Thự Tổng đốc Bùi Thức Kiến đem việc thuê tàu tâu lên. Ngài dụ các quan quân thứ từ Hà Nội trở lên các tỉnh tuỳ cơ ứng tiếp, tuân thể lời dụ mà làm cho khéo.

Chẩn cấp cho người nước Anh Cát Lợi đi tàu bị gió tên là Xa Le.

Tháng 12, Cơ mật và Thương bạc xin mở sở buôn bán ở 3 cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt, và Đồ Sơn. Đình thần bàn mở cuộc buôn bán có 5 điều lợi mà cũng có 8 điều khó, chưa nên làm vội; việc ấy bèn thôi. (5 điều lợi: 1. Nhóm dân ở bờ biển, nhơn đó bền vững bờ cõi ta; 2. Chứa của ở nơi dân, ngụ binh ở việc buôn; 3. Hãng buôn dọc bờ biển, tin tức thông nhau, đông tây tiếp ứng, ngăn được giặc biển; 4. Hãng buôn lập ra, thuyền chiến phải nhóm tại đó, đã đuổi được giặc cũng bảo hộ được tàu vận tải nữa; 5. Ta với ngoại quốc thông thương, chức các hàng hóa, lâu ngày tin nhau, nhơn đó màxét được tình trạng các nươc. -8 điều khó: 1. Mở hãng buôn, nhóm kẻ giàu, tất phải có thành quách, súng ống, binh bộ, tàu thủy, mới nương cậy được, mà ta nay của hết sức cùng, chi phí không đủ; 2. Binh thủy và binh bộ phòng ngoài biển, phải cấp lương hậu hơn cách thường, nay lính theo đánh giặc lương ăn như lệ cũ, thành ra kẻ hậu người bạc sanh điều ta oán; 3. Phải cần người tài giỏi trí cao quản đốc việc buôn, mới có thể phủ ủy các người buôn xa và ứng tiếp các nước; 4. gắng gượng mở hàng, linh tinh từng phố, sao cho bền vững được; 5. Vượt biển buôn bán phải xuất tiền công bổn thời dân mới vui theo, mà bây giờ nhiều việc, không nên phí của kho và ép dân; 6. Chức của nơi xa xôi, chắc chắn là dân giàu sợ không tới, chỉ những nhà buôn nho nhỏ chịu mở cửa hàng, thời lại làm mồi cho giặc; 7. Nhóm dân ở bờ biển mà không người trọng tấn để giữ trị, nếu có người khác tới giành, ở trong bọn buôn chắc có kẻ tỏ tình với giặc, để lo cho nhà nước về sau; 8. Lâu nay ta chưa lập cuộc buôn, mà còn có kẻ chở trộm đồ quân trang vào sông và đem lén đồ cần thiết cấm ra biển, huống chi nay mở cuộc buôn tụ hội người các xứ, thời chứa kẻ gian dối sẽ gây họa chiến tranh).

Năm Quý Dậu thứ XXVI (1879), tháng giêng, quyền Pháp soái Đa về Tây, quan Soái cũ Du Bi Lê tới thay.

Ngài dụ khiến các đại thần trong ngoài xét kỹ nếu có người nào học thức tài trì, hiểu hết tình thế công việc, chữ nghĩa và tiếng nói ngoại quốc, hoặc bàn nói, hoặc ra làm, có thể cáng đáng được việc lúc bấy giờ, thời phải tâu lên.

Tháng 2, khiến sứ qua Tàu dâng đồ cống (Phan Sĩ Thuộc, Hà Văn Quan, Nguyễn Tu sung sứ bộ). Ngài nghĩ một dải duyên biển ngoài Bắc Kỳ tiếp giáp với Tàu, mấy lâu quan quân Tàu qua ta không chịu hết sức giúp đỡ đánh giặc. Ngài khiến làm biểu văn nói việc phía Bắc, giao cho bọn Sĩ Thuộc đệ tâu vua Tàu.

Tháng 3, khiến quan quân thứ vẽ toàn bộ giáp giới bốn bên xứ Tam Tuyên (Tuyên Quang, Hưng Hóa, Sơn Tây) dâng lên. Trong đồ bản ấy phải ghi rõ chổ phủ, huyện, châu, tổng, đồn quân; với chỗ giặc ở, đàng núi, sông cho rõ.

Tháng 5, mới định ngạch thuế quế châu Quan Hóa thuộc tỉnh Thanh. (Quế thượng hạng 1 cân, nhứt hạng 1 cân, nhị hạng 2 cân, tam hạng 3 cân).

Quan Soái Pháp đưa thơ xin lập ước mới, ép ra nhượng tỉnh Vĩnh Long, Hà Tiên và An Giang. Đình thần bàn xin cho sứ qua Tây hỏi cho rõ, trở về sẽ hay. Ngài cho phải, mới đòi bọn Lê Toán, Nguyễn Văn Tường, Trần Hy Tăng về Kinh hậu phái.

Tháng 6, lại định lệ "cấm nói quan lại quân binh, chưa từng nói các danh sắc. Đến đây lại định: hễ Cử nhơn, Tú tài, học trò có hút, thời cho hạn trong một năm phải chừa ngay, ai không tuân thời tước tịch bắt chịu xâu thuế, học trò không được dự thi khóa nữa).
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #193 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 12:09:23 am »

Cho Lê Toán, Nguyễn Văn Tường, và Nguyễn Tăng Doãn sung sứ bộ qua Tây; nhưng trước phải qua Gia Định cùng quan Pháp soái Du Bi Lê hội định hòa ước.

Tháng 6 nhuần, tàu Đồ Phổ Nghĩa ở Hà Nội đã lâu, quyết ý thông thương; vừa gặp quan tỉnh Nghệ An là Tôn Thất Triệt được thơ Phổ Nghĩa trả lời cho Giám mục Hậu nói rằng: "hiệp vốn mở sự buôn bán, tự Bắc Kỳ đến Vân Nam" Triệt liền dịch thơ ấy tâu lên. Ngài khiến sao thơ ấy giao cho Nguyễn Tri Phương và các tỉnh Bắc Kỳ hết lòng phòng bị, rồi tàu ấy chạy lên thượng du tỉnh Hưng Hóa.

Tháng 7, Cơ mật tâu rằng: "tàu Từ Phổ Nghĩa từ mùa đông năm ngoái chạy tới Hà Nội, bởi bọn khách buôn Bành Lợi Ký và Quan Tá Đình mưu lợi làm võ dực cho nó, mấy lâu nay ta đã gởi thơ cho quan Pháp soái và tư di cho quan Lưỡng Quảng xử trí. nay xin sắc cho Khâm mạng Nguyễn Tri Phương xét bọn Bành Lợi Ký quả thiệt đồng đảng, liền xiềng lại giao tỉnh Sơn Tây nghiêm cấm, thời Đồ Phổ Nghĩa không người chỉ dẫn, may bớt việc chăng?". Ngài dạy giao Nguyễn Tri Phương xét kỹ mà làm cho phải.

Tháng 8, Nguyễn Tri Phương ủy Võ Đàng mời Đồ Phổ Nghĩa tới công quán hội nghị, Phổ Nghĩa đi khỏi, Lý Ngọc Trì bị bệnh, thuộc viên ở trong tàu là bọn Uông Sư Gia, Hà Sần thay mặt tới hội. Võ Đàng nói: "Đồ quân khí lệ phải triệt để lại, các ông bằng lòng. Việc ây tâu lên, Ngài quở quan Khâm mạng không được khiêu khích sanh sự.

Khiến Binh bộ Tham tri Phan Đình Bình sung Khâm phái ra Hà Nội hiệp đồng Nguyễn Tri Phương xử trí việc Đồ Phổ Nghĩa.

Tàu Đồ Phổ Nghĩa chở súng ống và gạo muối lên Vân Nam, rồi chạy đếen Hạ Hòa thuộc tỉnh Sơn Tây.
 
Gần đây quan Pháp soái có đưa thơ nói rằng ông ấy ủy phái một viên Pháp quan đem 60 người chạy tàu ra Bắc Kỳ bảo hiệu tàu Đô Phối (là tàu Đồ Phổ Nghĩa) lui ra và bà định điều lệ thông thương. Đến đây, nước Pháp sai quan Ba An Nghiệp (Francis Garnier) đi tàu tới cửa Đà Nẵng, rồi chạy ra bến Hà Nội.

Quan Khâm mạng Nguyễn Minh Phương, Bố chánh Võ Đàng, Lãnh binh Nguyễn Đăng Nghiễm qua trú quán đón rước. Ngài khiến quyền tạm dọn dẹp nơi trường thi để khoản đãi An Nghiệp.

Quan Năm nước Pháp đem 5 chiếc tàu hỏa tiếp đến Đồ Sơn nói rằng: "1 chiếc chạy lên Hà Nội, còn 4 chiếc rồi cũng tới đó". Bọn Trần Tiễn Thành tâu rằng: "nên giao cho Khâm mạng trách An Nghiệp rằng: quý quốc khi mới tới chỉ vì việc đuổi tàu Đồ Phổ Nghĩa, nếu tàu ấy muốn đi tới buôn, hãy chờ điều ước xong mới tiện; quý phái nên sức gấp cho tàu ấy lui ra, như trái phép cấm, làm điều cướp hại, thời xin quý phái đuổi bọn ấy đi cho rõ phép công". Ngài nghe theo.

Tháng 10, quan Pháp là An Nghiệp đánh hãm thành Hà Nội. Khi trước An Nghiệp muốn mau mở việc buôn, thường bị quan ta ngăn trở (Khâm mạng, Khâm phái và quan tỉnh), không bằng lòng, mới dự định hòa ước (trong tờ ước nói việc thông thương) giao tỉnh niêm yết, quan ta đáp lại rằng: "chưa có Triều mạng, không dám thiện hành". An Nghiệp giận, mùng 1 tháng ấy thình lình đánh tỉnh thành, Khâm mạng Nguyễn Tri Phương với con là Phò mã Nguyễn Lâm (Lâm ra thăm cha) giữ của đông nam, binh Pháp phá cửa ấy trước, Lâm bị đạn chết, Tri Phương bị thương, thành liền mất. Việc tâu lên, Ngài khiến giao lại thành Hà Nội mới tiện định ước. Vừa gặp báo rằng An Nghiệp xin đặt quan mới làm việc tỉnh Hà Nội, để tiện bàn việc thông thương. Ngài giao đình thần lựa người giỏi đặt làm quan tỉnh để coi việc, còn quan tỉnh Hà Nội cũ và quan Khâm mạng, Khâm phái, không kể người còn kẻ mất, đều phải cách chức tra cứu; lại khiến Trần Đình Túc, Trương Gia Hội cùng Giám mục Bình, Linh mục Đăng qua tỉnh ấy hội nghị. Nhưng binh Đại Pháp đã đặt quan trị tỉnh Hà Nội và làm lời hịch báo các tỉnh cả thảy 3 khoản: 1. Triệt lính giữ cửa ải bến tàu; 2. Nhổ cừ dưới sông; 3 Yết điều thông thương. Rồi lại toan mưu tới lấy các tỉnh. Ngày 15, đánh lấy tỉnh Hải Dương; ngày 16, đánh lấy tỉnh Ninh Bình; ngày 21, hãm tỉnh Nam Định; 4 tỉnh nối nhau thất thủ. Ngài khiến Hoàng Tá Viêm kiêm sung Tiết chế Bắc Kỳ quân vụ, thương đốc việc phòng giữ các tỉnh chờ coi Đình Túc thương thuyết thế nào.

Phát giao sắc phong cho Sứ thần Lê Toán làm quyền đại thần, Nguyễn Văn Tường làm Phó sắc ấn phát đến Gia Định, quan Pháp soái nghe tin liền tới mừng. Sứ thần thương rằng: "điều ước mới nay có thể định được, nhưng xin xử trí việc ngoài Bắc cho mau xong, sẽ định điều ước". Quan Soái liền chạy
 
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #194 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 12:10:52 am »

giấy sức An Nghiệp lui quân để quân ta vào thành làm việc. Lại thương nhờ Nguyễn Văn Tường dẫn quan Thống sát Hoác Đạo Sanh (Philastre) đi tàu hỏa đến cử Đà Nẵng. Khi đến Kinh, Ngài khiến Nguyễn Văn Tường sung Khâm sai đại thần, hiệp đồng Hoắc Đạo Sinh hẹn đến ngày 1 tháng 6 lại tới Đà Nẵng đi tàu ra Hà Nội thương thuyết; nhưng khiến làm thơ báo cho quan Soái biết, và làm thơ giao cho quan Thống sát cứ đó mà làm.

Ngài nghĩ Kinh sư là nơi căn bổn, từ Kinh Thành, Hoàng thành, đến Hải Phòng (là cửa Thuận) khiến đều phải hết lòng phòng giữ cho được mười phần vững bền.

Tháng 11, quan Tổng đốc mới Hà Ninh là Trần Đình Túc tuân lời chỉ chuẩn trước đương bệng gắng đi, cùng quan Tuần phủ mới là Nguyễn Trọng Hiệp đến thành Hà Nội; quan Án mới là Trương Gia Hội, Lãnh binh Hoàng Đồn Điển và Giám mục Bình, Linh mục Đăng  cũng đều tới một lần. An Nghiệp rước vào thành cùng nhau thương thuyết.

Nguyên Hiệp tá đại học sĩ sung Khâm mạng đại thần bị cách Nguyễn Tri Phương mất ở nhà trú thự thành Hà Nội. Trước nhơn bị thương ở tại đó, đến đây không chịu ăn uống, người Đại Pháp đưa cháo và thuốc, ông đều phun ra cả, rồi mất.

Đạo quân thứ đồn Hương Canh lén đánh giết An Nghiệp ở ngoài La Thành. Việc tâu lên, Ngài nghĩ gần đây thương thuyết đã gần thành, toàn cuộc xử trí không phải cậy bọn quân Lưu Vĩnh Phúc mà làm xong được, nên khiến bọn quân ấy về phòng triệt miền thượng du là phải. (Binh đồn Hương Canh tức là quân quan hai biền coi việc, tới thương với Trần Đình Túc rằng: "Xin Đình Túc nghĩ người ta đã thôi đánh, ta đã triệt quân Lưu Vĩnh Phúc về quân thứ giữ bờ cõi, để nghị hòa ước cho tiện. Liền ủy Nguyễn Trọng Hiệp, Trương Gia Hội đến quân thứ diện thương với bọn Hoàng Tá Viêm, Tôn Thất Thuyết, Viêm và Thuyết đều thuận nghe, đóng quân không đánh nữa. Gặp khi quan nước Đại Pháp là quan ba E Mê từ Gia Định tới. (Quan Soái nghe An Nghiệp chết. Sai E Mê đi tàu hỏa tới thay). Bọn Đình Túc hội thương với công E Mê và ông Biên).

Cho Trần Đình Túc vẫn lãnh Tổng đốc Hà Ninh mà sung chức Khâm sai phỏng định thương ước Toàn quyền đại thần, Nguyễn Trọng Hiệp nhưng lãnh Tuần phủ, hội đồng với Khâm sai đại thần Nguyễn Văn Tường nghị định thương ước.

Khâm sai Nguyễn Văn Tường đi tàu với quan Thống sát Hoắc Đạo Sinh đến cửa Cấm. (Ngày 3 tháng 11 từ Đà Nẵng ra đi, đến ngày 5 tới nơi). Vừa lúc ấy quan Pháp ở Hà Nội đem thơ báo rằng quân ta đánh thành, An Nghiệp với quan Một, quan Hai ra đánh đều bị chết. Hoắc Đạo Sinh và quan dưới tàu đều đập tay tức giận, bảo Văn Tường rằng: "Việc chắc không xong, phải phi báo quan Pháp Soái, không nên ở lâu". Văn Tường thấy đương giận lắm, e hư việc lớn, mới thong thả nói: "Việc lấy Hà Nội, Quý soái đã nói không phải bổn ý; còn như sức binh cả 4 tỉnh cũng mạnh, mà nước tôi cũng không đem ra tranh hoành, thiệt là hai bên đều không trái ý nhau; đến như việc An Nghiệp chết, hoặc tại kẻ trộm cướp nơi khác đến, hoặc tại dân bổn xứ khích giận, việc chưa rõ ràng; huống chi trả thành để mau định ước, là lệnh Quý soái; nhận thành rồi mới nghị hòa, là mạng vua nước tôi; chúng ta chỉ nên cần mạng lệnh ấy; còn như việc Hà Nội giết An Nghiệp, cũng như An Nghiệp giết Tri Phương, đều là việc tình hình không phải chúng ta làm ra, nay chưa từng tới nơi biết việc thế nào, mà chỉ truyền nghe báo khống, không những Quý soái ở xa khó tính trước, mà chúng ta đi chuyến nầy thiệt là phụ chức trách lắm. Chi bằng phi thơ ra Hà Nội đem tàu hỏa nhỏ rước chúng ta tới nơi như nên theo mạng lệnh trước, hội đồng mà làm thời càng hay, hoặc nên hỏi rõ cớ An Nghiệp vì sao mà chết, rồi sẽ báo, vậy chẳng ổn tiện lắm sao?". Hoắc Đạo Sinh muốn đi tàu ấy mà cho chiếc tàu đưa mình ra là hiệu Đát Tờ Gi về Gia Định báo. Văn Tường lại thương rằng: "Tàu quý quốc đã tới lại lui ra, e sĩ dân nghe tin, ắt bắt chước làm như Hà Nội, ai cấm ngăn được, sợ khi sau tổn hại càng lắm, lấy gì thưa lại với quý soái?. Nay nên khiến tàu Đề Ta Gi ra cửa đón triệt giặc biển, còn chiếc tàu Đát Tờ Gi nên cứ chạy luôn tới Hải Phòng, trước giao lại thành Hải Dương, hiểu thị sĩ dân để rõ tình tin thiệt, rồi qua Hà Nội giao hết các tỉnh thành và hỏi việc An Nghiệp, xong sẽ chạy giấy báo cả một lần, mới trọn vẹn". Hoắc Đạo Sinh nghe theo, mới chạy tàu ra Hải Phòng đánh dẹp giặc biển, liền giao lại 4 tỉnh cho quan ta coi trị, quan quân Đại Pháp ra thành lui về ở Hải Phòng, đoàn tàu Đồ Phổ Nghĩa cũng qua đó. Hoắc Đạo Sinh định ngày về, còn việc thương ước thời về Gia Định sẽ định. (Vì Pháp Soái kỳ về Tây gấp quá, nên chi muốn mau vào Gia Định định ước, không được lâu).
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #195 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 12:12:22 am »

Tháng 12, quan Pháp soái định qua đầu năm sau về Tây, phái Lê Na ra thay cho Hoắc Đạo Sinh về và dục Nguyễn Văn Tường đi luôn cho kịp định ước.

Việc nước đã yên, Ngài nhớ đến Nguyễn Tri Phương một nhà tử tiết, truyền quan tỉnh Hà Nội sai dân phu hộ tống quan tài ông Tri Phương và Phò mã Lâm về làng an táng; và tặng Phò mã Lâm hàm Binh bộ Thị lang để khuyên người trung hiếu.

Lúc ấy Khâm sai Nguyễn Văn Tường đi tàu đã về, nhưng vì đau nên trễ, mà đã gần kỳ Pháp soái về Tây. Ngài dụ Sứ thần Lê Toán, Nguyễn Tăng Doãn phải chờ Văn Tường đến thương thuyết định ước sẽ hay; đến như khoản đặt Khâm sứ ở Kinh, thời nên thương với Pháp soái ở trong tờ ước nói rõ các sắp đặt, nhưng đợi các cửa biển ngoài Bắc đặt chức Lãnh sự xong rồi, trong một vài năm nữa tình ý qua lại tin nhau, khi ấy ở Kinh nên đặt Lãnh sự hay là Khâm sứ tùy đó mà làm.

Năm Giáp Tuất thứ XXVII (1874); tháng giêng, chuẩn phong con cháu nhà Lê là Lê Duy Kiến (hiện tháp ở Bình Định) làm Phó quản cơ, Diên Tự Nam, cho đi trạm về Thanh Hóa để chủ tự nhà Lê. Duy Kiến tâu rằng: "năm trước tháp ở Bình Định, chỗ đã yên, nay cho về Thanh được gần tiên tổ, vẫn là muốn lắm, nhưng e hoặc có kẻ nhơn đó sanh sự, lại thêm tội cho tôi. Phụ ơn triều đình châu toàn. Tôi xin ở lại Bình Định để nhờ ơn lâu dài". Ngài cho, nhưng đình việc tập tước và giám tự, còn việc tế tự miếu vua Lê với các đời vua trước, thời thuộc về quốc tế. Rồi chuẩn cho Lê Duy Kiến được tha thuế trọn đời.

Quan Thống soái Hoắc Đạo Sinh với Khâm sai Nguyễn Văn Tường từ Bắc Kỳ đến sứ quán. Ngài sắc các quan Cơ mật, Thương bạc, tới hỏi thăm và ban cho một đạo sắc dụ để tỏ công lao.

Ngài nghĩ Hà Nội ở giữa coi ngó bốn phía, việc quan nhiều lắ, mà Tổng đốc Trần Đình Túc già yếu, cho Bố chánh Bắc Ninh là Phạm Thận Duật thự Tuần phủ Hà Nội để giúp việc.

Hoắc Đạo Sinh và Nguyễn Văn Tường lại vào Gia Định hội đồng Lê Toán cùng Pháp soái định ước.
 
Nghệ An có bọn Trần Tấn, Đặng Như Mai nhóm đảng làm giặc, rồi đều tan hết. (Hai tên ấy trốn lên trên Mọi, Tấn bị chết, Mai bị bắt).

Hòa ước mới đã thành. Quan soái Du Bi Lê về Tây, Quyền soái Ga Răng tới thay.

Ngài rất lo nghĩ về việc nuôi dân, nhơn coi sách Đại Thanh khâm định khương tế lục (Hiệu Càn Long thứ 4 nhà Thanh, quan Cấp sự trung Nghê Quốc Liển dâng sách Cứu cơ của nguyên Giám sanh Lục Tăng Vũ làm ra; trong sách ấy đầu thời thuật việc cứu cơ đời xưa; thứ thời thuật việc phòng bị trước khi hoang khiểm, việc cần làm đương khi hoang khiểm, việc làm sau khi hoang khiểm; mà sau cùng thời trích lục những điều ước để dễ xem; mỗi khoản trước dẫn kinh sử, sau thêm lời bàn, đại ý đều nói việc cứu dân; vua Tàu đặt tên là "Khương tế lục", 1 bộ 6 quyển). Ngài liền trích việc nào làm được châu điểm tiêu lên, tất cả 116 khoản, khiến sao lục những chỗ có châu điểm chia từng loại làm 3 quyển giao Sứ quán in cấp các bộ, nha, tỉnh, đạo mỗi nơi mỗi bộ (mỗi bộ 3 quyển).

Tăng quan Pháp soái 1 đồng tiền vàng nhứt hạnh (vì Bắc Kỳ nghị hòa đã rồi). Lại nghĩ Giám mục Bình và Linh mục Đăng có giúp đỡ việc ấy nhiều, đều hậu thưởng để đền công lao.

Sắc quan Cơ mật và Thương bạc vẽ 2 bức địa đồ nước ta: 1 bức để ngự lãm, 1 bức đưa cho Pháp soái.

Tháng 2, lãnh Hình bộ Thượng thơ sung như Tây Chánh sứ Lê Toán mất ở Gia Định. Ngài tặng hàm Hiệp tá và ngự chế bài văn điếu, sai Hoàng trưởng tử đến tế. Sau cho Lê Toán liệt tự vào nhà thờ Hiền Lương.

Tháng 3, tướng giặc Trần Quang Cán khởi loạn ở huyện Hương Khê (cán là người huyện Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh).

Man tù tỉnh Quảng Bình là Trương Quang Thủ làm giặc ở Tân Ve mưu đánh thành Hà Tĩnh để cứu thoát tên Nguyễn Huy Điển (tục danh là Tú Khanh).
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #196 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 12:14:32 am »

Viện Cơ mật tâu rằng: "tên Hoàng Anh cướp hại các hạt, binh dõng ở quân thứ Tuyên Quang kể vạn người, không phải thiếu người đánh giặc, thế mà quân thứ Tam Tuyên lại trù nghĩ muốn đòi binh dõng tỉnh Cao, tỉnh Lạng; Hà Nội thời muốn mượn binh thuyền Đại Pháp; tỉnh  Lạng Sơn thời tư nói Lưu Ngọc Thành thác từ triệt binh về Tàu; lời chúng nghị phân vân, thiệt là khó tính. Viện tôi trộm nghĩ kế An Biên chỉ có đánh dẹp và vỗ yên mà thôi; nay xin: 1. Truyền Nguyễn Uy phúc thơ cho Lưu Ngọc Thành nói rằng: "nước ta kết hòa với Đại Pháp mới hơn 10 năm, mà quan Pháp soái còn muốn đem binh đánh giặc giúp, ấy là quân giặc thời ai cũng giận; quý Tổng thống trước sau coi việc đó, nay muốn vội triệt binh về, sao gọi là tình nghĩa hai nước ta đã đến trăm ngàn năm nay?. 2-. Truyền tỉnh Hà Nội tư hỏi quan Đại Pháp là Lê Na có ưng giúp ta đánh giặc để thông đàng buôn bán không? Để xem đáp lại thế nào sẽ nghĩ". Ngài chuẩn y.

Tháng 4, Sứ thần Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Tăng Doãn dâng 20 tập sách tây. Ngài ban rằng: "Hai người dâng sách ấy thiệt có lòng và có ích; giao viện Cơ mật giữ, dịch cho rõ ràng tấn lãm". (20 tập sách ấy là: 4 tập Khung giang hác vật đồ chí, 3 tập Đại pháp kỳ tăng hiệu, 11 tập Nam Kỳ điều lệ, 1 tập Thuế lệ, 1 tập Binh thuyền).

Khiến thông sức các địa phương từ nay dân Tàu nếu có ai xin ở lại nước ta, hễ số nhiều thời do Bang trưởng ký sổ phát giấy, số ít thời do Lý trưởng nhận thiệt biên riêng ra.

Vì lâu nay số người Tàu kiều ngụ chưa rõ.

Tướng giặc Trần Quang  Cán hiệp với giặc mọi Trương Quang Thủ đánh hãm thành Hà Tĩnh, mở giam cho tên Nguyễn Huy Điển, cùng nhau chiếm giữ tỉnh thành. Ngài khiến Lễ bộ Thượng thơ Lê Bá Thận đem binh đánh; lại khiến quan binh đón giữ tỉnh Quảng Bình. Rồi bắt đặng Quang Cán và Huy Điển đều đem chánh pháp.

Tháng 5, Ngài nghĩ Lê Bá Thận cầm binh mấy tháng dùng dằng không tới, mới sai Nguyễn Văn Tường sung Khâm sai ra quân thứ Quảng Bình hiệp cùng Lê Bá Thận trù tính việc phòng tiễu.

Tháng 6, lấy lại thành Hà Tĩnh, Ngài khiến thưởng quân công cho Văn Tường và Bá Thận.

Khiến Hình bộ Thượng thơ Nguyễn Văn Tường, Lại bộ Thị lang Nguyễn Tăng Doãn đều sung giảng định thương ước.

Toàn quyền đại thần Nguyễn Trọng Hiệp lại vào Gia Định, cùng quan Toàn quyền Ga Răng, Du Ly Phi Lang Sa E My Ly hội định thương ước.

Giặc biển Hải Dương là tên khách Công kết đảng vào sông ăn cướp, Án sát Nguyễn Hữu Hoán đem binh cùng với viện binh các tỉnh hiệp đánh; Đại Pháp phái La Đăng đánh giúp, giặc lui chạy ra biển.

Tháng 7, Pháp soái Ga Răng sai Tham tá Sô Ma Rô đem thơ đi với Nguyễn Tăng Doãn đến Kinh nói trong khoản thương ước xin bổ thêm việc mở phố buôn và đặt Lãnh sự ở Hà Nội. Ngài cho. Khi ấy thương ước mới rồi.

Tháng 8, khiến Nguyễn Tăng Doãn làm Khâm phái đem thơ của Pháp soái ra Hải Dương thương thuyến với La Đăng. (Trong thơ nói giúp đánh giặc biển). Rồi liền xét địa thế Hải Dương và ngoài thành Hà Nội lựa chỗ làm nhà để Pháp binh ở.

Nguyễn Văn Tường tâu rằng: "Hà Nội là nơi người Tàu tụ hội buôn bán, như mở chợ chứa đồ hàng hoá ở Ninh Hải và Cấm Giang, lập phố buôn bán làm thành chỗ vui, người Tàu đã ở đó thời người Tây không lẽ bỏ nơi ấy mà tìm nơi khác. Xin mật tư Hà Nội và Nam Định sức khách buôn trong hạt ai có tình nguyện lập phố buôn bán ở cửa biển Ninh Hải, hạn trong 3 tháng do quan tỉnh Hải Dương đầu đơn mà xin lập phố mở chợ từ đồn Ninh Hải trở lên, theo hai bên bờ sông cấm". Lại xin lựa người đổng lý việc buôn. Ngài cho.

Khi trước miền thượng du hạt Tuyên Qung giặc thường khuấy rối,vậy nên miều sông Lô sông Thao đều cấm không cho thuyền bè đi lại. Đến đây Thống đốc Hoàng Tá Viêm tâu xin tha cấm cho thông thương. Ngài dụ rằng: "như quả kh6ong ngại gì thời ch tha cấm". (Nguyên lời Tá Viêm xin tha) Cấm dòng sông Thao mà giao quân Lưu Vĩnh Phúc xem coi; còn dòng sông Lô từ thành Tuyên Quang trở lên, xin cứ cấm nghiêm như cũ. Từ thành trở xuống thời cho thông thương).
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #197 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 12:15:47 am »

Tháng 9, ban cấp bổn hòa ươc và bổn thương ước ra các địa phương.

Khiến Hải Dương Khâm phái Nguyễn Tăng Doãn khám xét chỗ quan Đại Pháp đóng quân ở Hải Phòng hình thể thế nào, giáp giới tỉnh nào, cửa biển nào, xa hay gần; vẽ hết toàn đồ tỉnh ấy và bốn phía tiếp giáp dâng lên ngự lãm.

Tháng 10, cho thự Hộ bộ Thượng thơ Phạm Phú Thứ cải thự Tổng đốc Hải Yên, kiêm sung Tổng lý thương chánh đại thần; cho Khâm phái Hải Dương Nguyễn Tăng Doãn lãnh Tuần phủ Hải Dương; cho lãnh Trị, Bình Tuần phủ Trần Hy Tăng cải lãnh Tuần phủ Hà Nội; phàm việc buôn bán do Tăng Doãn và Hy Tăng phải trình với Phạm Phú Thứ thương thoả mà làm. (Khi ấy Ngài nghĩ việc buôn bán mới làm, các nước nhóm họp chắc nhiều, mà qua lại ứng tiếp sự thể khó khăn, phải được người thông hiểu siêng năng mới mong có lợi mà không tê. Vậy nên Ngài mới sai Tăng Doãn và Hy Tăng sung chức ấy).
Tháng 11, sắc các quan Thương bạc đưa thơ nhờ Đại Pháp soái mua tàu hỏa để đánh giặc biển. Phạm Phú Thứ từ Quảng Nam tới Kinh bái mạng (trước xin về nhà tỉnh thám 1 tuần) sẽ tới Hải Dương cung chức, dâng sớ xin cho Ông Ích Khiêm theo đến tỉnh ấy, quyền cấp cho hàm Tán tương hay
là Đốc binh để ủy phái chuộc tội. Ngài cho.

Án định tội các quan tỉnh Nghệ An đã làm rồi. (Vì tên Mai tên Tấn làm giặc).Tổng đốc Tôn Thất Triệt phải tội trượng, phát viễn biên sung quân, ( là tội không khéo xử đến nỗi sanh giặc); Bố chánh Phạm Hy Lượng và Án sát Nguyễn Đôn đều bị tội trượng đồ.

Quyền soái ở Gia Định là Ga Răng về Tây, quan Soái cũ Du Bi Lê tới thay.

Tháng 12, cho đoàn tàu Đồ Phổ Nghĩa chở thuê hàng hóa nước Tàu để lấy lợi làm lộ phí, nhưng phải chiếu lệ nạp thuế.

Mới đặt huyện Minh Hóa ở Quảng Bình (miền thượng du phủ Quảng Trạch có nguồn Kiêm Linh và nguồn Cơ Sa cả thảy 2 nguồn 7 sách, địa thế xa cách, phủ ấy khó coi khắp. Gần đây quan tỉnh xin đem 2 nguồn 7 sách ấy hiệp với mấy tổng thượng du huyện Minh Chánh đặt làm huyện Minh Hóa. Đến bây giờ mới dùng người thổ trước bổ quan).

Lúc ấy sứ bộ là những Phan Sĩ Thuộc từ Tàu về vào tạ (Sĩ Thuộc chưa phục mạng mà đã ghé về thăm nhà, vả lại mua vật hạng nhiều đồ không trúng dụng; Ngài chuẩn đều giáng 1 trật). Ngài hỏi việc nuớc Tàu xử trí các nưóc Âu Châu và chánh sự vua Đồng Trị hay dở, quan ại giỏi không, thế nước thạnh hay suy thế nào? Sĩ Thuộc tâu đủ cả, nhơn dâng ngọc trai và phương thuốc tiên để chưa bệnh đau mắt. (Ngọc trai đem soi ngọn đèn hoặc mặt trời mà thấy trong ngọc có 2 bóng ấy là thiệt, dùng rửa mắt khỏi được khí nhiệt. Phương thuốc tiên nói: Người già đau mắt mù đã lâu, dùng vị Thanh Bì rửa xong vài ngày, sạch bụi trong con mắt, dùng đến hơn trăn ngay, mạng che trong mắt đều tan; phương ấy nhiều người dùng nghiệm lắm).

Lúc ấy quan tỉnh Hải Dương trích những làng bị tàn phá chia làm 2 hạng: hạng thiệt hại lắm và hạng thiệt hại vừa, cộng 126 xã thôn, tâu xin tha thuế và những tiền lâu nay còn thiế. Ngài đã có chỉ chuẩn khoan tha; nhưng ý Ngài còn chưa ưng, liền dụ khiến từ nay phàm các xã thôn trong mấy tỉnh Bắc Kỳ như quả giắc không xâm được và không theo giặc, xét có thiệt trạng, tâu cho tha thuế, để khuyên kẻ hiếu nghĩa; còn xã thôn nào ngày thường có dẫn giặc và theo giặc, dung ẩn cho nhau, đến nỗi bị giặc cướp hại, đều không được tâu xin, để tỏ ý khuyên kẻ lành răn kẻ dữ.

Năm Ất Hợi thứ XXVIII (1875), tháng giêng, khiến bộ Binh tư ra tỉnh Thanh, Nghệ, Tĩnh, Bình đều vẽ địa đồ các miền thượng du chỗ châu, phủ mọi thổ, đến các nơi tiếp giáp. (Như là giáp sông Khung, Nam Chưởng, Vạn Tượng, Xiêm La, Ai Lao, Tàu ... ), vẽ cho kỹ, chú cho rõ những tên núi sông và đàng xá xa gần, đệ vẽ tấn lãm.

Ban cân, trượng, thước, cho các nha Thương chánh. (Vì trong thương ước có nói: các sở lấy thuế cửa ải và bến tàu đều phải lăn cân, trượng thước bộ Hộ nước ta).

Cho Ông Khích Khiêm quyền cấp Tán tương ra quân thứ Bắc Kỳ đánh giặc. Ngài nghĩ Ông Khích dõng mà không lễ, nhơn rằng: "Người có lễ thời mới được yên, phải hiểu nghĩa lý Thi Thơ mới cho là nho tướng".
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #198 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 12:17:43 am »

Khi trước bộ Lại đem dâng 16 bổn sách tây: Cổ kim võ bị 1 bộ 2 quyển, Tây thơ quốc ngữ luật lệ
1 bộ 2 quyển, Binh thơ tập yếu 1 quyển, Thẩn lao thơ 1 quyển, Chế phá tữ đạn phát hỏa 1 quyển, Kỵ mã pháo thủ luật pháp thơ 1 bộ 4 quyển, Bộ binh luật pháp 1 bộ 2 quyển, Thao luyện kỵ mã binh luật pháp thơ 1 bộ 3 quyển. Ngài khiến bộ Lễ sức bọn Nguyễn Hoằng (Chủ sự ty Hành Nhơnn) phiên dịch. Bọn Nguyễn Hoằng bẩm rằng: "Những bộ sách ấy đều là nói kỹ nghệ cơ xảo, chữ nghĩa khó, không hiểu được, xin giao viện Cơ mật nhận giữ, chờ các người đi học bên Tây về sẽ dịch". Bộ tâu lên , Ngài cho.

Tháng 2, cho nguyên Cần chánh điện đại học sĩ Trương Đăng Quế tùng tự Thế Miếu.

Quan tỉnh Tuyên Quang trước đã đem tình hình trong thuộc hạt 3 châu huyện là: Hàm Yên, Thân Châu, Chiêm Hóa bị giặc phá, dân tan trốn đi các nơi, xin tha thuế mùa hạ năm trước. (Lệ thuế các hạt ấy tiền nạp về mùa hạ, bạc và lúa nạp về mùa đông) với thuế năm trước thiếu lại. Tháng 10 năm ngoái, Ngài đã chuẩn cho tha cả. Đến đây quan tỉnh lại đem tình hình thiệt hại hiện bây giờ (3 huyện châu ấy dân cực khổ không lấy đâu nạp thuế được; vả lại 5 xã về châu Triêm Hóa số đinh điêu háo, hạn tiêu không điền được), xin tha thuế mùa đông năm ngoái, 1.449 hộc lúa, 311 lượng bạc, Ngài gia ân tha cho; nhưng nghĩ quan tỉnh ấy không được việc gì, ngồi xem dân tan thuế thiếu, cũng là khoáng chức lắm. Quan tỉnh ấy là  Mai Quý, Ngô Xuân Quỳnh, Tôn Thất Môi cùng các quan huyện châu trong 3 hạt ấy đều phải giáng lưu, khiến thêm gắng sức.

Tháng 3, khiến quan Khâm phái đại thần Nguyễn Văn Tường, Phó khâm phái Phạm Ý cùng quan Chánh Khâm sứ nước Pháp là Ba Lông Bô và Phó Khâm sứ Lê Na giao hòa ước với nhau ở trước Ngọ Môn.

Khiến Quốc tử giám Tế tửu Nguyễn Quang Bích kiểm duyệt sách Khâm định việt sử cương mục. Khiến định 14 khoản sự nghi về việc quan Khâm sứ nước Pháp ở Kinh.
Khiến quan Thương bạc làm thơ đưa cho Pháp soái nói 3 việc: 1. Nhờ Đại Pháp đánh đuổi giặc biển; và nay Bắc Kỳ đói, nhờ sức cho Nam Kỳ chở nhiều gạo ra bán. 2. Lưu Vĩnh Phúc cũng là tôi con trong nước, xin đừng nghi ngại. 3. Tuần phủ tỉnh Quảng Tây có đưa thơ nói chờ Tam Tuyên yên rồi, quân Tàu mới về Vân Nam.

Tháng 4, khiến Lang trung Cao Hữu Sung vào Quảng Nam hội khám tỉnh thành và đàng sông. Khi trước Phạm Phú Thứ nói hạt ấy xây tỉnh thành và đào sông Vĩnh Điện không hiệp phép địa lý, nên người và vật không yên. Sơn Phòng sứ tỉnh Quảng Nam là Nguyễn Tạo dâng sớ xin dời tỉnh thành về địa phận huyện Quế Sơn, hoặc huyện Duy Xuyên; lại xin lấp sông Vĩnh Điện đào sông Ái Nghĩa. Nên Ngài sai Hữu Sung hội khám.

Khiến giải nguyên quyền Tán tương quân thứ Bắc Ninh là Ông Ích Khiêm về Kinh chờ án. (Đến sau Ích Khiêm về Kinh bị chứng điên, rồi cho về nhà).

Mở đàng cảng bãi Vạn Phước, đào cho thông nước để phòng khi lụt (cảng ấy thuộc phía đông bắc huyện Thượng Phước tỉnh Hà Nội).

Khiến các quan và dân ai có phương thuật tài năng cho phép tự tiến.

Tháng 5, người Pháp làm nhà Thương chánh ở Hải Dương, tại làng Gia Viên để cho quan Lãnh sự và quân lính ở.

Lúc trước Cử nhơn tỉnh Bình Thuận là Nguyễn Hữu Huân là Âu Dương Lân hội văn thân 6 tỉnh với người Tàu tụ chúng đến 3.000 người, thường chống cự binh Pháp, cũng có trận được. Bây giờ Pháp soái bắt được giết ngay.

Khiến in tờ hòa ước và thương ước cả thảy 200 bổn, cấp cho Quảng Nam, Quảng Nghĩa, Bình Định, Phú Yên, Nam Định, Hà Nội, Hải Dương để phát cho các thuyền buôn người Tàu.

Làm sở Thương Bạc ở cửa đông nam.

Tháng 6, khiến các tỉnh từ nay thuyền dân trong hạt có qua Nam Trung và thuyền Nam Trung có đến các hạt buôn bán, mỗi năm mấy chiếc, tư về bộ Hộ tâu lên.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #199 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 12:20:26 am »

Lập nhà thờ Trung hiếu tại Đàng Long phủ Thừa Thiên. Khi ấy Ngài nghĩ Nguyễn Tri Phương (tặng Binh bộ Tả Tham tri) và em là Nguyễn Duy (tặng Binh bộ Tả tham tri) con là Nguyễn Lâm (tặng Binh bộ Tả thị lang), hoặc vì nước bỏ mình, hoặc vì cha tuẫn tiết, trung hiếu tiết nghĩa nhóm về một nhà, họ Bợn1 đời xưa cũng không hơn được, cho nên đặc mạng lập nhà thờ ở làng, tuế thời khiến quan Huyện sở tại đến tế.

Lại định lệ "phái thuyền qua các nước thông thương". Khi trước triều Minh Mạng, Thiệu Trị, thường phái thuyền qua ngoại quốc buôn bán và thám xét. Từ khi ấy đến nay đình bãi, cho nên không rõ việc các nước giao hội. Nên bây giờ Ngài mới sắc các quan Cơ mật, Thương bạc, bộ Hộ, bộ Công, bàn cho thỏa đáng, định sang năm lại làm.

Sứ nước Pháp là ông Lê Na tới Huế, do sở Thương Bạc đệ giao tờ quốc thơ.

Tháng 7, Ngài nghĩ quan phủ Nam Sách (thuộc tỉnh Hải Dương) là Võ Túc vốn có tiếng giỏi xuất sắc hơn các phủ, huyện, giữ lòng không nhiễu hại dân, làm việc siêng năng, cho thưởng thọ Thị độc nhưng lãnh, để khuyên kẻ hết lòng trị dân.

Khiến trong ngoài nghiêm cấm đánh bạc: (Bộ Hình nghị định: nhà oa chủ phải tịch gia sản; kẻ oa chủ ở trong Kinh thành thời bắt tội "trượng bát thập đồ nhị niên"; tội bọn đánh bạc giảm tội oa chủ một bậc, quan dân cũng thế).

Khiến từ Hà Tĩnh ra Bắc thuế ruộng công và ruộng tư y theo lệ thuế từ Quảng Bình vào Nam mà thâu, định sang năm là đầu. (Từ Quảng Bình vào Nam, ruộng công và tư, nhứt đẳng mỗi mẫu nạp 40 thăng lúa, nhị đẳng 30 thăng, tam đẳng 20 thăng. Từ Hà Tĩnh trở ra bắc, ruộng công nhứt đẳng mỗi mẫu nạp 80 thăng lúa, nhị đẳng 56 thăng, tam đẳng 33 thăng; ruộng tư nhứt đẳng 26 thăng, tam đẳng 13 thăng; so với Quảng Bình vào nam, thuế ruộng công nặng quá, mà ruộng tư hơi nhẹ; nên nay lấy thuế cho đều nhau).

Khiến Thương bạc đại thần Nguyễn Văn Tường cùng Khâm sứ Lê Na giao tờ thương ước ở sở Thương Bạc.

Tháng 8, đạo quân thứ Tuyên Quang bắt sống được tướng giặc Hoàng Anh, đem chém rồi đưa đầu rao khắp xứ Bắc Kỳ, bỏ và thùng phát qua Tàu.

Khiến làm thơ đưa qua Lưỡng Quãng Tổng đốc nhờ phái viên đốc đồng với quan ở Châu Khâm mau tới tỉnh Quảng Yên hội với quan Tuần phủ xử trí bọn lưu dân. (Lưu dân nguyên tháp ở Châu Khâm, từ khi qua ở Hải Ninh, cướp giết bình dân, chiếm đoạt ruộng đất).

Tháng 9, định lệ "thưởng bọn nghiệp hộ dệt nhung ở Hà Nội". (Khiến quan tỉnh Hà Nội hiểu sức dân làng Giao Cầu: hễ người nào dệt hàng tinh xảo thời nguyên cấp Tùng cửu phẩm hộ trưởng, cho mộ dân lập thành hộ; xét trong một năm dệt được tinh xảo sẽ thưởng Tùng cửu phẩm, còn hộ phụ tha khỏi binh diêu; nhưng mỗi năm phải nạp thuế mỗi tên 4 thước nhung).

Tháng 10, mới định thuế vải và bông.

Mở mỏ bạc Thạch Lâm thuộc về Cao Bằng.

Hình bộ Thượng thơ Trần Bình tâu về việc bỏ đê (xin thôi đê mà nhưng cựu đắp ngăn các chỗ nước xung phá và đào cho sâu rộng các sông ngoài gần cửa biển). Ngài nghĩ lời tâu rõ ràng, truyền lục giao những tỉnh có đàng đê xét kỹ, có thể làm được không, tâu lên Ngài định. Từ đó quan tỉnh Hải Dương, Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên hội tâu xin làm như thế, nhưng xin đắp đập tại chỗ lở. (Trên từ làng Công Luận huyện Văn Giang, dưới đến làng Hương Trù huyện Đông An, dài hơn 3.800 trượng) để giữ lúa mùa hạ, còn nước lụt mùa thu thời để cho chảy tràn qua. Ngài giao các quan Đình thần duyệt lại. Đình thần tâu rằng: "Đắp đập dài quá, sau chưa chắc vững, xin cứ chỗ đê cũ bị vở từ làng Phi Liệt (thuộc tỉnh Bắc Ninh) đến làng Nhạn Tháp (thuộc tỉnh Hưng Yên), lập thế đắp lại, dài chỉ 70.80 trượng, còn dọc mé

-----------------
1 Bợn Khổn đời Tấn đương đau gắng ra đánh giặc bị chết, hai con là Chẩn và Hu thấy cha tử trận, liền ra đánh, đều bị hại cả. Vợ Bợn Khổn là Bùi Thị vỗ thây hai con khóc rằng: "cha là trung thần, con là hiếu tử, còn phàn nàn gì"!.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM