Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:39:12 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quốc Triều chính biên toát yếu  (Đọc 101026 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #200 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 12:21:53 am »

ngoài đê dài hơn 600 trượng, thời lấy thêm ống tre đựng đất, hoặc lấy đá đắp vào, ngoài cắm cừ gỗ để
giữ chơn đê và đắp mũi hàn để ngăn nước xung vào, thời công trình cũng bớt mà tiện". Ngài cho làm.

Nguyễn Hữu Độ từ Hải Dương về Kinh, vào chầu. (Hữu Độ làm Quản lý Thương chánh và coi việc Hải phòng). Ngài nghĩ Hữu Độ ở ngoài đã lâu, nhơn hỏi việc Bắc Kỳ. Hữu Độ có tâu 3 điều khó làm: 1. Đề chánh, 2. Lưu dân, 3. Thương Chánh. Lại điều trần những việc nên làm và nói ngày sau chắc phải khai khoáng, đến khi ấy xin phái nhiều người siêng năng thạo việc hiệp với Đại Pháp đốc làm, cốt khiến cho ta giữ lấy lợi quyền. Ngài khen phải, cho thăng thư Hường lô tự khanh sung Tham tá Thương bạc sự vụ.

Tháng 11, tàu Đại Pháp ở Hà Nội thẳng qua miền thượng du vẽ địa đồ, rồi qua núi Kim Bôi (gọi là Bến Thị) đào thăm được mỏ vàng. Quan tỉnh sở tại tâu lên, Ngài khiến từ nay tàu Pháp có xin qua nữa, nên thương cho khéo, đừng để họ đi.

Mới định thuế dầu cây hồi ở Lạng Sơn (cây hồi trồng 1 năm trổ bông, 1 năm có trái; giáp giới phủ Bằng Tường bên Tàu trồng thứ Đại Hồi làm dầu bán, nước Tàu được lợi nhiều lắm.

Đặt nha Sơn Phòng ở Hà Nội (sau đổi làm đạo Mỹ Đức).

Tha thuế chở bạc nhập cảng cho những người Tày buôn, để người buôn cho đông và hàng hóa cho nhiều.

Tàu hỏa hiệu Mẫn Thỏa bị vỡ ở tấn Thai Dương (cửa Thuần, thuộc phủ Thừa Thiên).

Khi trước quan Thương bạc tiếp thơ người nước Ý Đại Lợi nói về khoản thông thương ở Địa Trung Hải, quan Thương bạc đã đem việc hỏi quan Sứ Đại Pháp, quan Sứ Đại Pháp nói rằng: "Tên ấy là người làm thuê không biết lai lịch thế nào". Lại tiếp thơ người làm công ở tàu Đồ Phổ Nghĩa tên là Ba Rang xin coi giúp việc tàu hỏa cho ta, quan Thương bạc hỏi quan Pháp sứ nếu co chịu kết nhận thời ta mới thuê". Quan Thương bạc đem việc tâu lên, Ngài phê rằng: "Nước ta giao tiếp thấy nghe chưa rộng, nên phải người ta ngăn chế; ta vốn không muốn người ngoài đến, cũng như người các nước muốn đến mà lại bị kẻ khác ngăn trở đó thôi".

Lại đổi 3 đạo Quảng Trị, Phú Yên, Hà Tĩnh làm tỉnh. (3 hạt ấy triều Minh Mạng đã cải trấn làm tỉnh, đến triều Tự Đức năm đầu, xét các tỉnh ấy ít việc, lại cải tỉnh làm đạo, quyền phép đã khinh, kiềm chế lại khó; đến đây đình thần bàn xin như cựu cải làm tỉnh, Ngài cho).

Năm Bính Tý thứ XXIX (1876), tháng giêng, Hưng Yên Tuần phủ Nguyễn Đức Đậu tâu ngạch thuế ruộng mới định đó, xin khoan cho 3 năm sẽ thi hành. Ngài không cho, giáng Đức Đạt 2 cấp lưu. Rồi Đức Đạt cáo bệnh.

Tháng 2, Pháp soái ở Gia Định là Du Bi Lê về Tây, quyền Soái Bô Giăng đến thay.

Lập đồn ở Cù Lao Cát Bà thuộc tỉnh Quảng Yên (Cát Bà là nơi hình thắng, làm đồn ở chỗ cao trông bốn phía phòng giữ được, lại có binh Đại Pháp giữ giúp, tiếp ứng cùng nhau).

Cho đem 2 chiếc tàu hỏa hiệu Thuận Thiên và hiệu Đằng Huy đi tuần tiễu biển Nam và biển Bắc (vì giặc biển thường cướp thuyền buôn, thuyền tải).

Tháng 3, Lãnh sự Đại Pháp ở Hải Dương xin qua huyện Đông Triều và tỉnh Quảng Yên để tìm mỏ than. Ngài cho.

Đắp đê giữ nước mặn tại huyện Giao Thủy dài hơn 3.000 trượng. Lại lấp cửa sông Ngư Dũng (về huyện Tiền Hải) để ngăn nước mặn, và mở cổng ở phía bắc nơi Long Hầu để tiêu nước ứ.

Trích huyện Phong Dinh và huyện Ý Yên cải thuộc tỉnh Ninh Bình (1 huyện ấy nguyên thuộc Nam Định, đến đây xét địa thế liền với Ninh Bình, nên trích về đó, do phủ Yên Khánh kiêm lý).

Cho tất cả các hạt xét kỹ các hạng tù sung quân và phát lưu, có đứa nào nên tha cho đi khai khẩn, thời đều giao cho Sơn Phòng Điển nông sứ ở các tỉnh gần quanh, phân tháp cho đi khẩn ruộng.

Tha cấm "ra biển đi buôn".
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #201 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 12:23:58 am »

Đào sông Ba Sát ở Nam Định (vì nước ứ lại ruộng).
Khiến thuê người đóng tàu hỏa để chuyên chở; còn thuyền dân cho về đi buôn, đánh thêm thuế. Tháng 4, cho y quan Khâm sứ Lê Na làm Sứ quán ở phía nam sông Hương Giang, ngoài Kinh thành. (Bốn bên vừa 6 mẫu 6 hào 14 thước 6 tấc).

Đại Pháp đưa thơ xin ủy quan Lãnh sự Hà Nội qua xét miền thượng du. Ngài cho.

Tháng 5, khiến các địa phương sửa sang phong tục; lại răn cấm những thói tệ như bọn đồng bóng, thầy bói, và thói dâm loạn, xa xỉ.

Tháng 5 nhuận, khiến Thương bạc Tham tá Nguyễn Hữu Độ vào Gia Định nhận chiếc tàu trận của Đại Pháp tặng hảo. (Khi ấy Đại Pháp tặng chiếc tàu máy và súng ống, thuốc đạn, hiện ở Gia Định, xin ta phái quan tới nhận).

Quyền Pháp Soái ở Gia Định là Bô Giăng về Tây, quan Soái cũ Du Bi Lê tới thay. Tháng 6, khiến Bùi Ân Niên, Lâm Hoằng, Lê Cát sung  Sứ bô qua Tàu dâng đồ cống. Tháng 7, phủ Thừa Thiên có bệnh dịch, ai đau thời cho thuốc, ai chết thời cho tiều tuất. Tàu hỏa hiệu Đằng Huy mắc cạn, chìm vỡ tại Vũ Áng thuộc hải phận Hà Tĩnh.
Tháng 8, lãnh Sơn phòng Dinh điền sứ tỉnh Quảng Nam là Nguyễn Tạo dâng sớ xin đào sông Ái Nghĩa, lấp sông Vĩnh Điện. Ngài khiến quan Nội các là Nguyễn Thuật duyệt lại; Thuật tâu xin theo như lời quan Khâm phái Cao Hữu Sung năm ngoái đi khám về có xin: "Trước hãy đào xứ Tam Bào thuộc sông Ái Nghĩa, để cho nước thượng lưu chảy bớt về sông Cẩm Lệ; lại đào một đoạn cảng ở làng Cẩm Lậu và làng Thi Lai cho nước chảy thẳng về sông Chợ Củi; lượng đắp 2 đoạn mũi hàn để chia thế nước và cho xoi cát bồi lên". Như thế thời tốn công không bao nhiêu; còn như sông Vĩnh Điện thời chờ bốn năm năm sau bồi cát bồi lắp, cửa sông cạn lần, rồi sẽ lấp, mới có thể thành công được. Ngài khen phải.

Tháng 9, Lãnh sự Pháp ở Hà Nội là Kê La Đích định ngày qua sông Thao xem đàng sông thông thương. Ngài khiến đưa thơ qua Quảng Tây để cho biết trước mà liệu.

Đặt tên 5 chiếc tàu hỏa của nước Pháp tặng hảo: 1. Lợi Tải, 2. Lợi Tế; 3. Lợi Đạt, 4. Lợi Dụng, 5. Lợi Phiếm. Sau Ngài ngự chế bài ký "Ngũ lợi thuyền".

Lại định lệ "Bình dân kêu điện": Phàm bình dân và giáo dân có sự gì oan ức, trước phải do tổng lý và huyện nha mà kêu; nếu xử không minh mới được tới phủ, tỉnh mà kêu; phủ và tỉnh cũng còn xử chưa minh, thời cho niêm đơn tới kêu tòa Tam pháp; như việc khống hay là không tới quan sở tại mà tới kêu nơi khác, thời chiếu luật "Việt khống" trị tội; nếu nó đã kêu mà quan trên không minh xử cho, thời chiếu luật "Cáo trạng bất thọ lý" mà xử phân các quan. Đến Giáo, Huấn, Giám mục, Linh mục đi kiện thế hay là xin việc giúp cho ai, thời chiếu luật "Giáo tòa từ tụng" và luật "Thuyết sự", luật "Thính tụng hồi tỵ" mà nghĩ xử. Như phạm mấy điều trên đó, thời đã chiếu bổn luật ấy mà lại gia đẳng làm tội.

Khiến trong ngoài tìm thầy thuốc hay. (Không kỳ quan, lại, sĩ, dân xa hay gần, đàn ông hay đàn bàn, người nào chữa được bệnh đau mắt và làm thuôc cầu tự mà chắc khiến hiệu, thời thưởng cho chức quan tam phẩm và cho 5.000 lượng bạc).

Phái Lại bộ Lang trung Nguyễn Hữu Thanh vào tỉnh Quảng Nam thám xét các mỏ vàng, bạc, đồng, sắt.

Lãnh sự Đại Pháp đến cửa Thi Nại (Quy Nhơn) thuộc tỉnh Bình Định lập sở Thương Chánh.

Đặt thêm huyện Đông Anh, thuộc phủ Từ Sơn. Vì khi ấy bọn giặc ở miền thượng du tỉnh Bắc Ninh nhóm họp, nên đặt thêm huyện ấy để phòng giữ.

Khiến quan tỉnh Hải Dương và tỉnh Quảng Yên khu xử lưu dân làng Hà Cối.

Tháng 10, cho Tả tham tri bộ Lại là Phạm Thận Duật sung Khâm sai kinh lý hà đề sứ, (Đến tháng 8 năm thứ 31, Thận Duật tâu rằng: "liệu làm không nổi", Ngài mới dụ bãi nha Đề chánh).
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #202 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 12:25:56 am »

Quyền Khâm sứ Hoắc Đạo Sinh đến ở Kinh, (vì Lê Na đau về Tây).

Mới đánh thuế cánh kiến và hoàng thảo ở Nghệ An (hoàng thảo tục danh thạnh hộc, là vị thuốc

Tháng 11, Hoắc Đạo Sinh muốn học sách nho, đưa thơ qua Thương bạc xin rước thầy dạy. Ngài cho thuộc viên nha Thương bạc là Cao Hữu Trung (Cử nhơn) qua Sứ quán ở dạy học; lại tặng những đồ dùng về việc học như: nghiên mực, giá, gác bút v.v... để khuyên gắng học.

Tháng 12, đào các sông ở làng Ái Nghĩa, Cẩm Lậu, Thi Lai, thuộc tỉnh Quảng Nam. Tha thuế các làng bị tàn phá thuộc tỉnh Nghệ An.
Năm Đinh Sửu thứ XXX (1877), tháng giên, Ngài ban dụ khuyên răn các thần công trong ngoài.

Tháng 2, khiến đình thần hội nghị cho rõ phép "thẩm bình". Đình thần tâu xin: "từ nay phàm các nha coi việc hình, mỗi kỳ thẩm tù phạm nên chiếu theo lệ cũ chia làm 3 sổ: 1. Sổ Tình chơn. 2. Sổ Hoãn quyết, 3. Sổ Căng nghi; hễ mưu sát, cố sát, hung cường, cố phạm1 mà tang chứng đã xác thiệt, hoặc cướp trộm hộ chung2 làm hại đã nhiều lần, hoặc gian hoạt vũ văn3 xâm của kho nhiều, các khoản ấy tình tội không còn ngờ, thời biên vào sổ Hoãn quyết, giam lại chờ thẩm. Hễ tình nên thương, tội nên giảm, thời biên vào sổ Căng nghi mà xin giảm, chước định từng việc cho thỏa đáng mà đệ về; đến khi tòa Pháp tư xét bàn dâng lên và đình thần phụng chỉ xét lại, hễ tình tội nên giảm hoặc nên quyết, mà nguyên án nghĩ chưa hiệp, thời cứ trích từng khoản tâu lên. (Như tình tội thiệt nên thương nên giảm, mà nguyên á nghĩ lưu giam, thời tâu xin xử trị, không được theo nguyên án làm cẩu thả cho rồi việc, cũng không kỳ đã phát thẩm mấy lần hay chưa, phải cứ trích từng khoản tâu lên). Còn bao nhiêu tội nên lưu giam thời làm riêng ra một sổ, tâu lên chờ chỉ. Đến như các phạm tội chưa nên quyết (như bệnh điên giết người, nên giam cấm lâu, và nguyên án định tội trảm giảm mà tạm tha về nuôi cha mẹ, với lại can bồi chưa thanh thời do các địa phương và tòa Pháp tư làm riêng ra một sổ, để đăng án đình thẩm cho bớt phiền, đợi sau sẽ hay. (Các phạm bệnh điên, khi nào khỏi thời tha ngay; các phạm tạm tha về nuôi cha mẹ, xong rồi thời giải tới quan giam lại) Ngài y theo.

Tháng 3, tỉnh Sơn Tây có mưa đá to như nắm tay, như cái đấu, sấm gió nổi lên, dân gian tổn hại nhiều.
 
Tháng 4, có 1 chiếc tàu hỏa nước Xích Mao chạy vào cửa biển Hải Dương. Khi ấy Thương Chánh
 
làm rồi, tàu các nước đến buôn, y trong lời ước kiểm hàng hóa mà đánh thuế.

Mới định lệ "thuế đinh điền bốn ban lưu dân" (Tân Mỹ, Tân Hỷ, Tân An, Tân Bình ở Quảng Yên). Tháng 5, tỉnh Cao Băng mưa xuống như hột gạo đen.
Tháng 6, Pháp Soai sai chiếc tàu hỏa hiệu Bô lim đi tuần trấp giặc biển.

Khiến các tỉnh Bắc Kỳ thân sức các cửa Ải, cửa Biển xét hỏi những người buôn nước Tàu, không có văn bằng thời bắt giải ngay.

Đưa một bộ luật cho quan Khâm sứ Hoắc Đạo Sinh. Ông ấy có nói bộ luật nước ta tinh tường và đích đáng lắm, muốn mua mà học, nên Ngài truyền đưa cho một bộ.

Tháng 7, bộ Ngự  chế việt sử tổng vịnh làm rồi, ban cấp cho trong ngoài.

Tháng 8, khiến Lãnh sự ở Gia Định là Nguyễn Thành Ý đem các đồ thổ nghi qua nước Pháp đấu xảo (trường đấu xảo tại thành Pha Lê); nhưng chờ đến tháng 10 đi với Sứ bộ qua tặng hảo một lần cho luôn.

Tháng 9, Pháp soái ở Gia Định là Du Bi về Tây, ông La Phong tới thay.

---------------
1 Mưu sát: lập mưu giết người. -Cố phạm: cố tâm giết người. - Cố phạm: cố ý phạm phép luật.
2 Hộ: cây thế làm hại người. - Chung: phạm tội nhiều lần.
3 Vũ văn: sính nghề văn án.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #203 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 12:28:05 am »

Ngài nghĩ quan Khâm sứ Hoắc Đạo Sinh biết ham học, khiến đưa bộ Ngự chế việt sử tổng vịnh qua tòa Sứ.

Tháng 10, cho Nguyễn Tăng Doãn và Tôn Thất Phan Hoàng Văn Vân sung sứ bộ qua Tây. (Khi trước đình thần cử Trần Hy Tăng làm Chánh sứ, rồi bị đau mất); cho đem theo đạo sắc dụ Toàn quyền đại thần để phòng khi giao thiệp cho tiện. (Ngài nghĩ năm trước nước Pháp tặng cho tàu, súng, ta chưa có lễ đáp lại, nên nay mới khiến sứ qua).

Tháng 11, thự Tuần phủ Hà Nội Nguyễn Hữu Độ tâu sửa chánh trị trong nước và phòng bị giặc ngoài. Đại lược rằng: "việc nước cũng như việc nhà, trong nhà mà rào dậu bền vững, con em khỏe mạnh, thời nếu trộm cướp ở bên, cũng phải xếp mưu gian. Hiện bây giờ giặc giã luôn năm, của hết sức yếu, mà ý người ta lại muốn trái lời thề, kiếm chuyện sanh hiềm khích, thế ta chưa làm chi được. Vậy xin mở lòng thành thiệt, tỏ lẽ công bằng, ngoài thời khoản tiếp cho khéo để yên lòng người ta, trong thời nuôi dân ta và vững bờ cõi ta, để dưỡng cho con em sức mạnh, giữ cho rào dậu vững vàng. Lại xin chia trong nước làm 5 đạo: Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Nghĩa, làm đạo Kinh trực; Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa làm một đạo; Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang, Hà Nội, Ninh Bình làm một đạo; Bắc Ninh, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Quảng Yên làm một đạo; Bình Định trở vào nam làm một đạo; mỗi đạo xin đặt quan Tuyên sát kinh lược truất đại thần, phàm việc thuộc về đạo nào giao cho quan Tuyên sát kinh lược đạo ấy coi xét, những kẻ thân hào thổ trước người nào dùng được thời quan tuyên sát kinh lược tâu xin lục dụng; khiến cho trong ngoài có người ký thác, giữ gìn mà tiếp ứng với nhau". Ngài khen. Nhưng rồi không thấy thi hành.

Tháng 12, khiến tư các tỉnh Nam, Bắc hỏi tìm những sách sót của các đế vương nước ta xưa làm ra. (Vua Nhơn Tôn nhà Trần khi ở chùa làm ra bộ Đại Hương Hải ấn thi tập, vua Anh Tôn làm bộ Thủy vân tùy bút 2 quyển, vua Thánh Tôn nhà Lê làm bộ Văn minh cổ xúy 2 quyển).

Năm Mậu Dần thứ XXXI (1878), tháng giêng, ngày mùng 1, bân ân chiếu Ngũ tuần cả thảy 17 điều ra khắp trong ngoài.

Cấp phát ra Hà Nội những súng, đạn, của Đại Pháp tặng hảo (100 khẩu súng).

Tháng 2, cho Phạm Văn Nghị khai phục Hàn Lâm viện thị giảng, vì Văn Nghị là người có học hạnh tiết nghĩa, làm khuôn phép cho tỉnh Nam.

Tháng 3 đào sông Thông Thương ở tỉnh Hưng Yên. (Theo trong thương ước khoản thứ 10, thuê đào hết mấy, trích khâu tiền thuế).

Tỉnh Quảng Trị có Linh mục người nước ta tên là Lê Án can án "mưu tụng giao thoan1 tụ chúng hiếp quan", (làng Xuân Hòa kiện, tra ra tên Aán thú nhận). Triều đình theo luật "giáo toa" định tội mãn trượng lưu2. Khi ấy các Cố đạo và dân đạo phạm phép, quan Soái nước Pháp thường đưa thơ xin ta tra hỏi, cứ chiếu theo lời hòa ước và luật lệ mà trị tội).

Mới đánh thuế mỏ than tỉnh Quảng Yên (khách buôn nước Tàu là Ngô Nguyên Thành xin lãnh trưng. Triều đình lại khiến quan tỉnh Thái Nguyên khám các mỏ vàng, bạc, chì, diêm khi trước đã cấp lại, nay có nên mở, thời cho người lãnh trưng, để thâu hết địa lợi).

Tháng 4, mới mở nha Thương chánh và trường học chữ Tây ở Hải Dương.

Bùi Ân Niên đi sứ Tàu về. (Tháng 8 năm Bình Tý qua Nam Quan, tháng 3 năm nay về đến Nam Quan).
 
Người nước Pháp là Bô Đi, Mã Đô, người nước Y Ta Ly là Lạc Ô, Kha Na Cờ Ly Ô, mấy lần đưa
 
thơ đến. (Bô Đi xin khai trưng mỏ than ở Quảng Yên, Ma Đô xin làm đàng, nấu rượu và làm rượu mạch nha (là rượu bia), nhưng xin cấp tiền công, sau sẽ làm đồ máy dâng nạp; Lạc Ô xin nước ta đặt chức Lãnh sự coi việc nước nó; Ly Ô xin đặt nó làm Thống lãnh sự nước nó). Đều do quan Khâm sứ Đại Pháp

------------
1 Giao thoan: là thầy kiện; mưu tụng: mưu cho người ta đi kiện.
2 Mãn thượng lưu: tội đánh một 100 trượng và phát lưu 3.000 dặm.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #204 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 12:29:08 am »

đệ qua quan Thương bạc, quan Thương bạc hỏi quan Khâm, quan Khâm trả lời: "bọn ấy nói không căn cứ vào đâu, không cần phúc thơ làm gì". Rồi bọn ấy lại đưa thơ xin ta phúc cho, ta lại thương qua Khâm, quan Khâm phúc lại bảo ta đừng cho.

Tháng 6, Tổng đốc Hải Dương Phạm Phú Thứ xét con sông chảy qua làng Quang Dực, Đông Lôi (thuộc tỉnh Bình Giang) nhỏ hẹp và quanh co, bắt dân đào để thông đàng vận tải, đào rồi mới tâu. Ngài quở rằng: "Phạm Phú Thứ nghĩ của dân và sức dân là nhỏ mọn hay sao?". Truyền chỉ giáng lưu.

Tháng 7, Tuy Lý quận vương Miên Trinh soạn dâng thơ "Tự Đức thánh đức" và bài tựa để chúc khánh tiết. Ngài ban khen.

Tháng 8, Sứ bộ qua Tây về. Gặp tiết Đại Khánh, Ngài ngự điện Cần Chánh làm lễ Khánh hạ, ban 34 điều ân chiếu ra khắp trong ngoài.

Tháng 9, bọn tướng nước Tàu là Lý Dương Tài (nó nguyên là Hiệp trấn châu Tằm, khi trước sai người qua Hà Nội, Sơn Tây hỏi việc mật mà không có văn bằng, ta đưa thơ qua quan Đốc phủ Quảng Đông và Quảng Tây tra hỏi, vậy nên nó phải cách chức) đánh cướp thành Lạng Sơn, quan quân ta đánh đuổi được.

Tháng 10, cho thông lục các điều khoản nghị định học chữ và tiếng nói các ngoại quốc (tử đệ nhà quan chừng 20 tuổi, hễ qua Hương Cảng và Tây đi học, thời chiếu theo lệ cấp tiền lộ phí, hạn cho 5 năm thời về; Triều đình sẽ xét như học được chữ, tiếng một nước, hay là học được một nghề như: đóng tàu, đúc súng, chế đồ binh khí, khai mỏ, tập quân, thời chiếu lệ Tú tài hạch đậu bổ cửu phẩm; học được chữ và tiếng 2 nước hay là học được 2 nghề, thời chiếu lệ "cử nhơn không phân số" mà bổ; học được chữ và tiếng 3 nước hay là học được 3 nghề, thời chiếu lệ "Cử nhơn có phân số" mà bổ; đều cho ra làm quan ngay).

Tháng 11, cho Nguyễn Hiệp làm Chánh sứ qua Xiêm. (Vì mới rồi đây tỉnh Nghệ An có sai Cao Bỉnh Tâm qua Trấn Ninh, bị binh Xiêm bắt lầm, Xiêm khoản đãi đưa về, đến đây lại đưa thơ xin hòa hảo như cũ, nên ta khiến Sứ qua).

Tháng 12, mới đánh thuế mỏ sắt Bàn Giảng thuộc về huyện Lập Trạch tỉnh Sơn Tây (đồng niên nạp 300 cân sắt).

Ngài hỏi Nguyễn Tăn Doãn, Nguyễn Thành Ý việc qua Tây thế nào, hai ông ấy đem đầu đuôi phúc tâu lên.

Cấp tiền gạo cho người Bút Tu Kê bị phong nạn. (Bút Tu Kê là nước Bồ Đào Nha, tiếp giáp với nước Y Pha Nho).

Quan Đề đốc tỉnh Quảng Tây Phùng Tử Tài đem 26 đinh quân qua cửa ải hội đánh giặc Lý Dương Tài.

Năm Ký Mão thứ XXXII (1879), tháng giêng, nhơn năm ấy gặp tiết Hoàng thái hậu thất tuần đại khánh, ban xuân thu ân chiếu 14 điều.

Khiến nguyên Khâm phái qua Tây đấu xảo là Nguyễn Thành Ý đem đồ đệ qua học trường Cơ khí ở cửa Thu Long nước Pháp.

Tháng 2, cho ngài Hoàng tử thứ 2 ra ở nhà Chánh Mông (Làm ở mé tả nhà Duyệt Thị). Ngày Bính Thân, Hoàng Tôn Sanh. (Tức là đức Thành Thái).
Tháng 3 nhuận, Ngài nghĩ năm nay gặp thánh nhuận, lúa cấy sớm tổn nhiều, sắc xuống Khâm thiên giám phải dự tính lịch năm sau, như nhuận về tháng nào, thời trong  tháng 6, tháng 7 năm nay phải xét trước tâu lên, rồi chuẩn cho thông lục khắp trong ngoài, để biết thời hậu mà làm ăn. Ngài lại nghĩ các sách Tây như: sách Bác vật tân biên nói thiên văn địa khí có quan hệ với phép làm lịch; cùng các sách Vạn quốc công pháp, Hàng hải kim châm, Khai môi yếu pháp đều là học thiết thời vụ, khiến quan tỉnh Hải Dương in cho nhiều mà bán, để quan, lại và học trò học tập cho biết mà dùng. (Đến năm thứ 34, tháng 7 nhuận, lại khiến tỉnh Hải Dương khắc in bốn bộ sách ấy ban cấp cho các trường học trong ngoài).
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #205 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 12:30:54 am »

Tháng 4, lại nghiêm cấm gạo Bắc Kỳ không cho chở xuất cảng.

Tháng 5, Nguyễn Hiệp đi sứ Xiêm về, Ngài hỏi tình thế nước Xiêm, Hiệp tâu: "chúng tôi hỏi thăm nước ấy khi trước có người nước Bút Tu Kê ở đó buôn bán, thời tình thế phương Tây cũng đã hơi biết; đến  khi người nước Anh đến cầu thông thương, nước ấy hòa với nước Anh, nên Anh không gây oán được; vì thế đã không mất đất, mà lại được giảng hòa với chín nước (Pháp, Y, Phổ, Ý, Tây Ba Nha, Hà Lan, Bút, và Anh). Chức Lãnh sự thời cho Anh làm đầu, qua lại giao tiếp, không trở ngại gì cả, mà nước Xiêm vẫn giữ quyền, người ngoài không hiếp chế được." Ngài truyền rằng: "bọn Nguyễn Hiệp đi sứ chuyến nầy khó nhọc". Cho tùy bậc ban thưởng.

Tháng 6, quan Pháp soái ở Gia Định là La Phong về nước, Lư My Đa đến thay; quan Khâm ở Kinh là Hoắc Đạo Sinh về nước, Lê Na đến thay.

Khi trước đình thần trù nghĩ việc xử trí giặc Tàu: hoặc xin trích giao quan Tàu xét nghĩ, hoặc xin giao các tỉnh ngoài biên nghiêm nghĩ, cả thảy 5 khoản: 1. Rõ bày phép quan cấm; 2. Xử trí bọn lưu dõng; 3. Lượng để quân lại đóng giữ; 4. Chiêu dụ bọn giặc đầu thú trở về; 5. Ngăn rào từng đám, để dân dõng ở đoàn kết với nhau. Ngài khiến giao cho Tổng đốc Hoàng Tá Viêm duyệt lại, Tá Viêm xin theo như lời đình thần bàn; Ngài mới truyền làm thơ đưa qua tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và quan Đề đốc Phùng, xin xét từng khoản mà làm.

Khiến các địa phương xét mộ người nào ưng học tập chữ và kỹ nghệ nước Pháp thời kê tên tâu lên. ruộng.
 
Tháng 7, cho làng Bồ Đề tỉnh Quảng Nghĩa quyên mượn 350 quan tiền kẽm để chế xe nước làm Sách Thiệt lục chánh biên triều Hiến Tổ Chương Hoàng đế làm rồi. Tháng 8, khiến các địa phương khuyên dân khẩn ruộng.
Tháng 9, sứ nước Ý là Đôn Man Cô Ra Đô Nê đến Kinh. Ngài cho Thượng thơ Đỗ Đệ và Tham tri
 
Hoàng Diệu sung làm Chánh, Phó Toàn quyền đại thần, hội bàn thương ước.

Cấp tự điền để thờ quan Trung quân Nguyễn Văn Thành và Tả quân Lê Văn Duyệt.

Quan quân ta cùng quân Tàu bắt sống được tướng giặc Lý Dương Tài ở sau núi Giả Nham (Thái Nguyên) giải về Tàu.

Tháng 10, tha giảm thuế ruộng mùa thu bị tai cho các địa phương. Tháng 11, cấm tiêu hiệu tiền ngụy của khách buôn nước Tàu.
Tháng 12, nươc ta cùng nước Y Pha Nho định thương ước rồi (12 khoản).

Năm Canh Thìn thứ XXXIII (1880), tháng giên, ngày mùng 1, quan Khâm sứ Lê Na vào làm lễ mừng.
 
Mới đặt cho Lạng Giang và đạo Đoan Hùng; cho Hoàng Tá Viêm kiêm làm Tịnh Biên sứ hai đạo ấy. (Trương Quang Đản làm Tịnh Biên phó sứ đạo Đoan Hùng).

Tháng 2, Tổng đốc Quảng Đông, Quảng Tây đưa thơ nói việc thám bắt những giặc còn sót. Ngài khiến đình thần phúc thơ lại cho khéo.

Quân Khâm sứ xin lập sở Điện báo tại Bắc Kỳ.  (Từ Hà Nội qua Hải Dương và Ninh Hải thẳng đến Đồ Sơn). Ngài khiến Viên ngoại bộ Công Lê Văn Xuân quan hội đồng với phái viên các tỉnh khám mà làm.

Tháng 5, quan Soái Pháp ở Gia Định là Lư My về nước, Lê My đến thay.

Tháng 6, khiến Sứ qua cống Tàu. (Cho Nguyễn Thiện Thuật, Trần Khánh Tiến, Nguyễn Hoang sung Sứ bộ).

Sứ nước Y lại đến, cùng nước ta hai bên giao tờ thương ước.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #206 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 12:32:34 am »

Tháng 9, Tổng dốc Sơn Tây Võ Trọng Bình vào chầu, Ngài hỏi: "Khanh trị dân thế nào mà dân yêu?- Tâu rằng: tôi chỉ cấm ngăn thuộc lại, nghiêm trấp trộm cướp và sức phủ huyện phàm tạp tụng không được giam lâu; mỗi năm đến kỳ thuế, cũng phải đi đi đến nơi mà coi ngó; tôi chỉ làm những việc tôi biết đó mà thôi".

Tháng 10 ở tổng Canh Nông tỉnh Hưng Yên, lúa đã cắt rồi lại mọc lên, ước chừng năm sáu mẫu, tốt lạ lắm. Tuần phủ Nguyễn Văn Thận đem việc lúa ngoài đồng sanh lại tâu lên. Đến khi lúa chín, Tú tài Nguyễn Hữu Đôn đem dâng, Ngài ban thưởng tiền bạc.

Mới đặt đạo Mỹ Đức, bãi 2 nha Sơn Phòng ở Hà Nội, Sơn Tây.

Chức Quảng đới đạo Tuyên Quang là Hoàng Thủ Trung đánh phá đồn giặc ở Đông Viên. Tháng 11, khiến quan quân thứ Thái Nguyên vẽ đồ xứ Ba Để dâng Ngài xem.
Truy thọ cho Thị giảng Nguyễn Mậu Kiến hàm Bố chánh sứ. Vì khi trước Kiến có xin quyên hơn 200 mẫu ruộng tư để làm lương điền nuôi lính, việc chưa rồi mà mất, người con cứ số ruộng ấy đem cho các làng. Quan tỉnh Nam Định tâu lên, Ngài khen có lòng hiếu nghĩa, nên truy thọ để khuyến khích người khác.

Năm Tân Tỵ thứ XXXIV (1881), tháng giêng, khiến bộ Hộ trù nghĩ lấy các mỏ vàng, bạc, đồng trong nước.

Tháng 2, quan Khâm sai nước Pháp Lư Kỳ Lô đến Hải Dương thương thuyết việc buôn.

Hàn Lâm viện tu soạn Phan Liêm mật tâu các việc như là: mở thưởng cuộc hợp vốn đi buôn, mở các mỏ, học tập tiếng nói và kỹ nghệ cơ xảo ngoại quốc. Ngài khiến Cơ mật duyệt lại. Rồi Cơ tâu: "khoản khai thương không tiện, còn các khoản kia xin tư các tỉnh hiểu xét, có ai xin đi mở mỏ và đi học thời tâu về sẽ nghĩ". Ngài ban rằng: "kẻ lão thành lo việc nhà nước, chẳng việc gì là chẳng xét kỹ, nhưng nên làm thế nào cho nàgy càng tấn tới, nếu không tới thời tấp phải lui".

Tháng 3, quan Đại Pháp là Cư  Cờ Rút đến cửa biển Bình Định kiểm xét thuế lệ.

Người coi thuộc Chiêu Thương là Đàng Đình Canh đến Kinh xin lãnh việc vận chở, Ngài khiến đãi yến ở bộ Lễ và ban cho vật hạng.

Nguyên Hiệp đốc Tôn Thất Thuyết (năm Tự Đức 32 xin về Thanh Hóa dưỡng bệnh) từ Thanh Hóa, về, xin vào chiêm bái. Ngài nghĩ Thuyết còn thác cớ tránh việc, chưa chịu biết lỗi. Không cho vào chầu. Thuyết sợ, liền tâu xin chịu tội. Ngài ban rằng: "tánh mầy kiêu căng mà lượng mầy nhỏ, nên cố công học vấn hàm dưỡng, mới thành người khác được".

Khiến Thị lang bộ Lễ Phạm Bính qua Hương Cảng bán tàu hiệu Lợi Tải, hiệu Thuận Tiếp, mà đặt làm tàu hỏa hạng trung, đem 12 tên học trò nhỏ giao cho người Tàu ngụ ở Hương Cảng là Thạch Thanh Tuyên dẫn tới học trường nước Anh.

Khiến Tu soạn Phan Liêm qua Quảng Yên hội khám mỏ than.

Tháng 6, tạm tha cấm thuyền buồm mua gạo (từ tháng 7 nhuận đến tháng 8 hết hạn) ở các tỉnh: Nam Định, Hải Dương, Ninh Bình, Hà Nội; sau vì sứ nước Pháp thương thuyết lại, thì cấm thêm một tháng nữa.

Tháng 7, nước Y Pha Nho đưa thơ cho quan Thương bạc nước ta. (Trong thơ nói việc bồi bạc và điều ước việc buôn mới định đó) vua nước ấy còn chờ bộ Bách tánh cộng đồng nghị định lại, rồi sẽ trả lời).

Khâm sứ Lê Na đến cửa Thuận. (Ông Sâm Bô đổi làm Lãnh sự Ninh Hải). Khi đến sứ quán rồi, có dâng tờ chúc, Ngài khiến quan ban trú đáp tạ lại.

Tháng 7 nhuận, quan Thủy sư Tổng thống Pháp là Đa Phù Cô đến Hải Phòng, Hải Dương làm việc quan; rồi qua Hà Nội, Ninh Bình, Nam Định, Sơn Tây, Hưng Hóa, Mỹ Đức đi du thám, lại khiến quan Thương tá Ô Một qua Lạng Sơn.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #207 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 12:34:07 am »

Khiến các quan chánh khanh thường khi qua lại thăm viếng quan sứ Đại Pháp (mỗi tháng một lần, hoặc hai tháng một lần).

Tháng 8, bàn định việc chiêu thương và thâu tải đồ hàng hóa. Vì năm sau quan Tàu là Đàng Đình Canh lãnh việc vận chở, nên Ngài khiến các quan bộ định trước.

Tháng 9, xét hạch các người được dự cử có văn học là Võ Như, Nguyễn Hoàn Hoành, Đỗ Huy Liêu để siêu thăng bổ dụng.

Tháng 10, Phái viên đi khám mỏ Quảng Yên là Phan Liêm đem phép thí nghiệm than mỏ trình viện Cơ mật, (nói than mỏ có 2 thứ: một thứ than cứng, một thứ than mềm; lại nói than khô nên dùng dầu thông và dầu hoặc ngào luyện thành miếng mà dùng). Quan Cơ mật tâu xin chờ lấy được sẽ giao cho tàu hỏa y phép thí nghiệm.

Khiến Tả thị lang bộ Lễ Trần Thúc Nhẫn vào Gia Định. Khi ấy thơ nước Pháp nói quân Lưu Vĩnh Phúc trở việc buôn, nên Ngài khiến Thúc Nhẫn vào cãi lẽ.

Nước Pháp phái người quan xem các mỏ ở Quảng Nam và Bắc Kỳ.

Tháng 11, khiến Thống đốc Tam Tuyên là Hoàng Tá Viêm xử trí việc Lưu Vĩnh Phúc; là vì sứ Pháp nói trở việc buôn.

Khiến Thượng thơ bộ Hình Phạm Thận Duật kiểm lại bộ Việt sử cương mục. (Đến tháng 5 năm thứ 35 kiểm xong, xin giao tỉnh Hải Dương khắc bản in phát).

Tháng 12, nước Y dâng tặng khánh vàng hạng nhứt, lại gởi tặng khánh vàng cho các quan đại thần là Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường, Phạm Phú Thứ, Hoàng Diệu.

Khoa đạo Lê Đỉnh từ Hương Cảng về. (Khi trước cùng với Phạm Bính qua Hương Cảng) Ngài hỏi: "có nghe thấy gì và người ta có nói đến việc gì ở nước ta không?. Đỉnh tâu: các nước bên Thái tây giàu mạnh chẳng qua nhờ việc buôn và việc binh mà thôi; dùng binh để giữ nghề buôn, dùng nghề buôn để nuôi binh, nên chỉnh đốn việc thông thương là cần thấp hơn. Gần đây nước Nhật Bản bắt chước Thái Tây, thông thương khắp các nước, nước Tàu cũng làm theo cách ấy, lần làn cường thạnh được, hoặc có kẻ nói sản vật nước ta vẫn nhiều. (Như vàng, bạc, than mỏ), người thông minh cũng đông, nếu hay gắng sức mà làm, thời việc giàu mạnh cũng chẳng khó gì, chỉ vì văn thơ phiền quá và việc làm hay câu nệ lắm thôi".

Khi trước Tổng đốc Quảng Đông, Quảng Tây là Trương Thụ Thanh tư tờ nói ủy Đàng Đình Canh đốc đồng với tỉnh thuộc là bọn Mã Phúc Bý qua xét đàng sông và tính việc vận chở. Đến đây Đình Canh tới Kinh, Ngài khiến quan Thương Bạc là Trần Thúc Nhẫn khoản tiếp. Đình Canh nói: "quan Khâm sai nước Tàu tới trú ở nước Anh tên là Tăng Ký Trạch có báo rằng: Lãnh sự Pháp là Thoát Lãng đã xin một hai ngàn quân đánh lấy đất Đông Kinh nước Nam, Nghị viện đã y rồi; nay mai sẽ đem binh Pháp qua và các đạo binh ở Tây Cống đến một lần, đánh tiếng nói đuổi Lưu Vĩnh Phúc chẳng qua thác từ đó thôi; nước Nam nên chóng bàn mưu mà giữ nước".

Năm Nhâm Ngọ thứ XXXV (1882), tháng giêng, tàu nước Pháp đến cửa Lục tỉnh Quảng Yên tìm lấymỏ than ở Hà Lâm.

Khiến Lang trung bộ Binh là Nguyễn Lịch đi từ Quảng Nam trở vào, vẽ hình thế núi sông và đàng sá các tỉnh, hạn 6 tháng thời về; nhưng khi về lại phải vẽ đồ phủ Thừa Thiên từ núi đến biển và tiếp giáp Quảng Trị, Quảng Nam rồi đều biên rõ ràng.

Tàu Pháp đến Bình Định, Phú Yên thám đo cửa biển và vẽ đồ.

Tháng 2, nước Xiêm đưa thơ và dâng đồ thổ sản. (Thuê thuyền chở vàng, bạc, vải, dầu, chiếu, đến nước ta đáp lễ).

Tàu hỏa nước Xích Mao đến cửa Cù Mông (Phú Yên) xét đo vẽ đồ.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #208 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 12:35:28 am »

Quan Soái nước Pháp sai tàu binh qua Bắc Kỳ đánh tiếng đuổi bọn Lưu Vĩnh Phúc bảo hộ việc buôn. Ngài khiến Tả thị lang bộ Hộ là Nguyễn Thành ý vào Gia Định đem nguyên ủy phải trái về việc Lưu Vĩnh Phúc và lợi hại ở Bắc Kỳ bàn nói với quan Soái Pháp.

Ba chiếc tàu hỏa của Pháp đậu ở núi Nẹ (về biển Ninh Bình).

Tháng 3, khiến quan tỉnh Ninh Bình đưa thơ trách quan Pháp bội ước, còn ở Kinh thời cũng khiến quan Thương Bạc đem việc hiện tại trách quan Khâm sứ.

Binh Pháp hãm thành Hà Nội, Tổng đốc Hoàng Diệu tử tiết. (Khi ấy binh Pháp xông bắn, Hoàng Diệu chia binh cự chiến đã lâu, quân ta cùng quân Pháp đều có bị thương và chết, rồi cháy kho thuốc súng, quân loạn, thành hãm. Hoàng Diệu đến thắt cổ dưới gốc cây trước miếu quan Thánh). Rồi quan Pháp rước quan Aùn sát tỉnh ấy là Tôn Thất Bá về. (Bá chạy qua làng Nhân Mục mà giao thành tỉnh lại, Bá vào thành cùng Tuần phủ Hoàng Hữu Xứng cố sức thương thuyết quyền nhận tỉnh thành. (Hữu Xứng chạy vào thành cũng bị quân Pháp bắt giữ lại). Khi ấy binh Pháp cư trú ở hành cung. Ngài nghĩ Hà Nội đã sanh sự, khiến Nguyễn Chánh lập tức về đạo Mỹ Đức hoặc phủ Nho Quan chọn nơi trú, cùng Hoàng Tá Viêm kiêm coi việc phòng tiễu.
Ngài nghĩ địa đầu tỉnh Bình Thuận là nơi quan yếu, mới khiến quan tỉnh phòng ngự cho cẩn mật. Khiến quan nguyên Tổng đốc Hà Ninh về hưu trí là Trần Đình Túc sung Khâm sai đại thần đi tàu hỏa Đại Pháp ra Hà Nội, Tịnh Biên phó sứ Nguyễn Hữu Độ làm phó Khâm sai, hội đồng thương thuyết nhận lại tỉnh thành. (Khi ấy Lê Na đưa thơ cho Thương bạc nói: nước Pháp vốn muốn mau xong hòa hảo, xin khiến Tổng đốc mới đi tàu hỏa ra mau mà nhận tỉnh thành).

Khi bấy giờ Pháp phái tuy đã trả thành Hà Nội, mà quân vẫn còn đóng giữ; Thống đốc Hoàng Tá Viêm, Kinh lược Nguyễn Chánh, Bùi Ân Niên dâng sớ xin đánh, Ngài không cho.

Đòi Ông Ích Khiêm đến Kinh. (Khi ấy Ông Ích Khiêm đang cáo bệnh ở nhà, đòi đến Kinh khởi phục hàm Hường lô tự khanh làm Tá lý bộ Hộ).

Truyền dụ quan tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, hiểu dụ bình dân và giáo dân khiến đều an phận.

Khâm sứ Lê Na đưa thơ nói việc phòng bị cửa Thuận An, quan Cơ mật và Thương bạc là Trần Tiễn Thành tâu rằng: "làm rõ hình tích ra, e chỉ thêm điều người ta ngờ; vậy xin thôi việc đắp lũy, mà luyện tập quân ta, khiến cho người ngoài không lường được". Ngài nghe theo.

Tháng 4, Nguyễn Thuật đi sứ Tàu về.

Truyền tứ tế cho quan Tổng đốc Hà Ninh tử tiết là Hoàng Diệu và cấp 1.000 quan tiền.

Khi ấy quan Đại Pháp thường nói: "phải đuổi Lưu Vĩnh Phúc để thông đàng buôn bán, mới chịu triệt binh". Ngài khiến Hoàng Tá Viêm tuân lời dụ về đồn Thuộc Luyện, Lưu Vĩnh Phúc đem hết quân về tỉnh Thái, để tính việc giặc Khách hiểu sức đồn Bảo Thắng dời đi nơi khác.

Tháng 5, Ngài khiến giải quan tỉnh Hà Nội về Kinh hầu án. (Cho Hoàng Diệu được liệt tế nhà thờ Trung Nghĩa; còn Tuần phủ Hoàng Hữu Xứng, Aùn sát Tôn Thất Bá đều bị cách chức hiệu lực, Bố chánh Phan Văn Tuyển cách về làm dân).

Tháng 6, khiến Cửu phẩm Y sanh Nguyễn Văn Tâm qua Hương Cảng học phép trồng đậu ở viện Y Đông Ba.

Mới đặt nha Sơn Phòng tỉnh Hà Tĩnh. (Thuộc địa phận huyện Hương Sơn và Hương Khê, ở khoảng giữa đồn Quy Hợp và đồn Hà Tân).

Bản thảo bộ "Đại Nam nhất thống chí" làm rồi. Ngài nghĩ bản ấy làm từ năm Tự Đức thứ 18 về trước, còn tứ đó về sau, các địa phương xếp đặt thay đổi mới và trung thần nghĩa sĩ cũng còn nhiều, chưa kịp biên nối vào, rồi khiến chép thêm từ năm Tự Đức 34 trở về trước.

Nước Pháp xin lập đồn ở sông Bạch Hạc, Ngài không cho.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #209 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 12:38:02 am »

Tháng 7, biển Bình Thuận có tiếng kêu như súng lớn, (tiếng vang suốt ra Bắc Kỳ).

Khi bấy giờ nước Tàu nghe tỉnh Hà Nội có việc, Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam đều đem đại binh đóng giữ các nơi dọc biển Tàu; quan Vân Nam Tạ Kỉnh Bưu đem dinh quân qua đến Quán Ty (về huyện Trấn An tỉnh Hưng Hóa), quan Pháp nghe binh Tàu đóng nhiều, cũng đem thêm tàu binh tới đậu tại Sơn Tây, Hưng Hóa và Bạch Hạc. Hoàng Tá Viêm lại gấp đòi Lưu Vĩnh Phúc về đồn Thuộc Luyện.

Tháng 8, ngày Quý Hợi sao sa có tiếng như sấm.

Sao cờ (sao phướn) mọc ở phương đông. (Nửa canh năm mọc ở phận dã sao Dực, sao Chẩn, từ dười mà lên, dưới sắc đỏ trên sắc trắng, dài như tấm lụa, hơn một tháng mới vắn lần, đi đến sao Thiên Lang  thời lặn).

Cho ông Hoàng tử thứ ba ở nhà Dưỡng Thiện.

Bộ sách "Minh mạng chánh yếu" thảo lại rồi. Trong sách ấy cả thảy 20 mục: 1. Kính trời; 2. Bắc chước tổ tiên; 3. Hậu đãi kẻ thần; 4. Thể tất các quan; 5. Cầu người hiền tài; 6. Đặt chức quan; 7. Chăm việc chánh; 8. Thương dân; 9. Trọng việc làm ruộng; 10. Chuộng điều kiệm ước; 11. Lễ, nhạc, giáo hóa; 12. Chỉnh đốn việc binh; 13. Cẩn việc hình; 14. Chăm tài chính; 15. Định pháp độ; 16. Chuộng việc văn;
17. Sửa việc võ; 18. Rộng phép cho người ta can nói; 19. Giữ vững bờ cõi; 20. Vỗ yêu chốn biên thùy và khoan đãi người nước xa.

Tháng 10, cho quyền Tổng đốc Hà Ninh Trần Đinh Túc lại được về nhà hưu trí như trước; Tịnh Biên phó sứ Nguyễn Hữu Đổ đổi qua Hộ lý tổng đốc Hà Ninh.

Tu chỉnh miếu các đế vương đời trước ở tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Bắc Kỳ.
Tướng giặc Đàm Chí Thành (tức là Đàm Tứ Tỷ) tới đầu thú tại dinh quan Tàu là Tạ Hữu Công. Tháng 11, khiến quan tỉnh Lạng Sơn gởi qua Hương Cảng mua 200 khẩu súng tây, 2 rương thuốc đạn dùng để dùng việc quân.

Năm Quý Vị thứ XXXVI (1883), tháng giêng, quan Pháp soái ở Gia Định là Lê Mi về Tây, Tăm Xung đến thay.

Phong ông Hoàng Trưởng tử làm Thụy Quốc Công, ông Hoàng tử thứ hai làm Kiên Giang quận công.
 
Tháng 2, thuyền binh nước Pháp đánh hãm thành Nam Định (Đề đốc Lê Văn Điển, Án sát Hồ Bá Ân) ra ngoài thành đánh với quân Pháp từ giờ mão đến giờ ngọ; còn Kinh lược Nguyễn Chánh đóng quân ở làng Đặng Xà (về huyện Mỹ Lộc không dám cứu viện; Điểm chết trận, Oân bị thương, thành liền hãm).
 
Quân Khâm sứ Lê Na hạ cờ Khâm sứ về nước.

Hai chiếc tàu hỏa nước Pháp tới đậu ở cửa Lục tỉnh Quảng Yên, quân Pháp lên núi lập đồn dựng cờ.

Tổng đốc Bắc Ninh Trương Quang Đản, Phó kinh lược Bùi Ân Niên đánh quân Pháp ở Gia Lâm, tàu binh Đại Pháp chạy về đồn Thủy Hà Nội.
Tháng 3, đặt thêm súng lớn ở cửa đông bắc kinh thành và hai đồn trước và sau bãi Lộ Châu. Giáng Nguyễn Chánh làm Quang lộc tự khanh, còn Võ Trọng Bình, Đồng Sĩ Vịnh thời cách chức hiệu lực; truy tặng Đề đốc Lê Điểm hàm Thống chế và cho dự thờ trong miếu Trung Nghĩa, cấp cho Bá Oân 30 lượng bạc để uống thuốc. Ngài lại nghĩ tuy chưa lấy lại được thành tỉnh, nhưng các quan coi việc không nên để khuyết, cho Tuần phủ Hà Tĩnh là Tôn Thát Trường làm Hộ lý Định An Tổng đốc, còn Bố chánh, Aùn sát, Lãnh binh thời cũng lựa đặt cho đủ chức quan, khiến lập tức tới Nam Định lựa nơi mà ở, để làm việc quan.

Bố chánh Quảng Tây nước Tàu là Từ Diên Húc đem quân đóng giữ tại cửa Ải.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM