Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:32:01 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quốc Triều chính biên toát yếu  (Đọc 101176 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #210 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 12:39:51 am »

Tháng 4, quan Đại Pháp coi thủy là Vi Ê (lại một tên là Lý Bà Lợi) khiến người bán gạo hiện trữ ở cuộc Chiêu thương tỉnh Hải Dương và thâu các thuế nha phiến thuế gạo xuất cảng, nhập cảng.

Quan quân ở quân thứ Sơn Tây đánh quân Pháp tại Cầu Giấy, quân Lưu Vĩnh Phúc đi tiên phong; quan năm là Vi ê bị chết trận.

Tháng 5, quan Pháp sai người về Gia Định đem thêm tàu binh ra Bắc Kỳ.

Tháng 6, Khâm phái Gia Định là Nguyễn Thành Ý về Kinh. (Quan Pháp Soái sai người bảo Thành Ý rằng: "Mấy lâu ông làm việc ở đây, không bớt được sự biến gì cả; nếu để ông ở lại, sợ hại việc trong 6 tỉnh nầy, xin ông về ngay". Ngài cho Thành Ý cải thự Binh bộ hữu tham tri).

Ngài se, dự làm tờ Di chiếu lập ông Hoàng trưởng tử nối ngôi. Ngày 16, giờ thìn, Ngài băng tại chánh điện Càn Thành.
Đọc tờ Di chiếu tại điện Cần Chánh, Tự quân Hoàng trưởng tử khóc lậy thọ mạng, rồi vào điện Hoàng Phúc cư tang.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #211 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 12:42:47 am »

QUỐC TRIỀU CHÍNH BIÊN TOÁT YẾU

Quyển thứ VI 
-----------------------

Phế  Đế

Niên hiệu Hiệp Hòa.

Tên húy Ngài là Hường Dật, con thứ 29 đức Hiến tổ (Thiệu Trị), bà Thụy Tân họ Trương sanh Ngài trong tháng 9 năm thứ 7 triều Thiệu Trị (1847). Ngài trước được phong tước Lãng quốc công, nhơn khi tự quân là ông Dục Đức bị bỏ, đình thần lập Ngài làm vua, đặt niên hiệu Hiệp Hòa. Được ít lâu, cũng bị thí. Đến năm thứ 2 triều Đồng Khánh (1887), có chỉ cho được phép đời xưa biên là Phế Đế.

Năm Quý Vị hiệu Tự Đức thứ XXXVI (1883), tháng 6, ngày Mậu Thìn, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết phế Ngài Dục Đức mà lập Ngài. Khi ấy có quan Ngự sử Phan Đình Phùng can ngăn việc ây, phải bị Tường và Thuyết bắt giam vào ngục Cẩm Y, rồi cách chức cho về nguyên tịch1.

Ngày Ất Hợi, làm lễ tấn hôn tại đền Thái Hòa. Khi các quan đương sắp hàng lạy, có một con chim đậu trên ngọn cây trước đền kêu bốn tiếng lớn. Đến khi đọc di chiếu, lại có một đoàn dê đi qua cầu Kim Thủy. Người ta cho là điềm không tốt.

Đòi Đề đốc ở quân thứ Bắc Kỳ là Trần Xuân Soạn và Thương tá Thanh Hóa là Trương Văn Đệ về Kinh. Bởi vì khi ấy trong Kinh phòng bị khẩn lắm, choi nên đòi về. Được ít lâu Trần Xuân Soạn được bổ Kinh thành phó Đề đốc.

Cho Đề đôc Lưu Vĩnh Phúc được phong tước Nghĩa lương nam; vì nhơn lễ tấn tôn, nên ban ơn phong tước.

Tháng 7, cho Tuần phủ Lạng Bình là Lã Xuân Oai làm chức Hậu mạng sứ, Trực học sĩ Toản tu sử quán là Nguyễn Khuyến làm Phó sứ.

Tàu binh Đại Pháp tới Trà Úc thường đi gần cửa Thuận An. Ngài sai Chưởng vệ Nguyễn Văn Sĩ đem một cây cờ lệnh và một cái bài "dùng việc binh" giao tướng quân Tôn Thất Thuyết được phép tùy tiện làm việc.

Tàu binh Đại Pháp đánh thành Trấn Hải (ở cửa Thuận An), Harmand đưa thơ giảng hòa. Ngài sai Hiệp tá hưu trí là Trần Đình Túc làm Toàn quyền đại thần, Thượng thơ bộ Lại là Nguyễn Trọng Hợp làm phó Toàn quyền, qua lầu sứ giảng định hòa ước, khi ấy thương thuyết đến 2,3 lần, mãi đến tháng 5 hiệu Kiến Phước (1884) mới giao tờ hòa ước với nhau.

Quan quân ở quân thứ Sơn Tây hiệp cùng quân Tàu đánh nhau với binh Đại Pháp tại xứ Hương Canh và xứ Phú Diễn đều được thắng trận. Nhưng khi ấy Hải Phòng đã mất rồi, nên nghe báo tiệp cũng không lấy chi làm mừng.

Ông Sâm Bô (Paiasne de Champeaux) bên Đại Pháp lại qua làm Trú kinh Khâm sứ.

----------------------
1 Nguyên tịch nghĩa là danh sắc khi mới xuất thân. Thí dụ: như người Tấn sĩ xuất thân, sau ra làm quan bị tội cách mất chức quan, cho về nguyên tịch Tấn sĩ, Phó bảng, Cử nhơn, Tôn sanh, Ấm sanh xuất thân cũng vậy.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #212 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 12:46:14 am »

Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết xin sắc phế Ngài tự quân là Thụy Quốc công xuống Công tử, cho ra ở nhà Giảng Đàng viện Thái Y.

Truy tặng những tướng sĩ tử trận tại các cửa biển, cho chiếu theo hàm tặng mà cấp tiền tuất và khai ấm cho con cháu, lại cấp thêm tiền lụa, khiến các tỉinh cho tế một lần nữa; sau lại cho mấy người tử tiết ấy đều được dự miếu Trung Nghĩa.

Quân Đại Pháp vào huyện An Dương (Hải Dương) bắt Tri huyện Trần Đôn xuống tàu; Trần Đôn nhảy xuống sông.

Ngày Bính Thìn, mặt trời biến ra sắc xanh. (Buổi mai sắc xanh, rồi đổi ra sắc trắng; người đi không có bóng, suốt ngày không sáng).

Khi ấy các sở Quân thứ Bắc Kỳ chưa lui hết binh. Ngài ban rằng: "nếu Hoàng Tá Viêm làm không khéo, e lại sanh ra một sự khó khăn". Ngài lại truyền dụ: "lập tức triệt binh dõng lui, để tỏ điều tin với Đại Pháp. Còn như toán quân Lưu Vĩnh Phúc và quân Tàu, không phải quyền mình sai khiến được, nên đã giao ước để mặc quân Đại Pháp làm sao thời làm, không can thiệp gì nước mình; nên đem thiệt tình viết thơ cho quý Toàn quyền rõ. Như vậy mới hiệp thời thế".

Cho quan Thượng thơ bộ Lại là Nguyễn Trọng Hợp làm Khâm sai đại thần, Thượng thơ bộ Công là Trần Văn Chuẩn và Tham tri bộ Lại là Hường Phì làm Phó Khâm sai. Tá lý bộ Lễ là Đinh Văn Giản làm Tham tá, ra Bắc Kỳ thương thuyết với quan Toàn quyền Đại Pháp về việc giao nhận tỉnh thành, hiểu trấp chúng dân và triệt bãi binh dõng.

Đại Pháp sai quân bắt các quan tỉnh Hải Dương đem xuống Hải Phòng; Bố chánh là Võ Túc1 tức giận mà chết.

Các quan Sơn Phòng tỉnh Nghệ là bọn Lê Doãn Nhã mộ được 90 tên dân mọi, khai khẩn được hơn 2.070 mẫu ruộng đất. Ngài ban thưởng Lê Doãn Nha kỷ lục 2 thứ, Nguyễn Tài Tuyển gia 1 cấp, Hồ Duy Tỉnh thăng 1 trật. Các quan tỉnh cũng được thưởng kỷ lục 2 thứ. Ngài lại truyền cho quan tỉnh và quan Sơn Phòng xét kỹ các hạt trên miền thượng du, tùy chỗ lập đồn, phái lính giản và lính mộ tới đó tùy thế khai khẩn, và hiểu dân Thổ, dân Mọi nhóm thành thôn ấp, biên vào sổ đinh, để chúng cày ruộng nạp thuế; cho đặng thành hiệu.

Quan Tuần phủ Quảng Tây (nước Tàu) là Nghê Văn Úy phúc thơ báo tin có Sứ Tàu qua phong2; Nguyễn Văn Tường và Nguyễn Hữu Cư đem việc ấy qua lầu Sứ thương cùng quan Đại Pháp biết.

Đòi Đề đốc Nam Định là Tạ Hiện, Đề đốc Hải Dương là Tôn Thất Hòe về Kinh. Tạ Hiện liền theo quân Tàu làm Đề đốc, đi chiêu tập những quân nghĩa dõng, không chịu về.

Quan Tán tương quân thứ Sơn Tây là Nguyễn Thiện Thuật3 lãnh bằng quan Tàu đem quân Tàu về Hải Dương củ tập những quân nghĩa dõng. Khi ấy các xứ khởi nghĩa đều nhờ Nguyễn Thiện Thuật đem lãnh bằng cấp quan Tàu.

Ngày Đinh Sửu, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết thí Ngài Hiệp Hòa và giết đại thần là Trần Tiễn Thành. Rước ông Hoàng tử thứ ba vào ở đền Hoàng Phước.

--------------
1 Võ Túc quê ở Nam Định.
2 Nguyên khi trước nước mình có báo quốc tang với Tàu.
3 Nguyễn Thiện Thuậ quê ở Hải Dương.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #213 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 12:49:31 am »

Giản  Tôn  Nghị  Hoàng  Đế

Niên Hiệu Kiến Phước

Tên húy : Trên chữ, dưới chữ.
Tên chữ   
1. Bên tả chữ, bên hữu chữ.
2. Bên tả chữ, bên hữu chữ

Hai tên chữ đều có chữ đứng trên làm chữ lót.

Ngài là Hoàng tử thứ 3 đức Dực Tôn, nguyên Ngài là con thứ 3 ngài Hoàng thúc phụ Thuần Nghị Thái Vương, phủ thiếp là Bùi Thị Thanh sanh ngày trong năm Kỷ Tỵ (1869). Năm thứ 23 triều Tự Đức, tháng giêng, đức Dực Tôn truyền đem vào cung nuôi làm Hoàng thiếi tử. Khi ấy ngài mới 2 tuổi, bà Học phi Nguyễn Văn Thị phụng mạng nuôi Ngài. Đến năm Tự Đức thứ 35, Ngài ra đọc sách tại Giảng đàng bên tả nhà Duyệt Thị; Giảng đàng ấy đức Dực Tôn mạng danh là Dưỡng Thiện đàng. Năm thứ 36 hiệu Tự Đức (1883), tháng 10, Lãng Quốc công bị phế, Ngài đương ở Khiêm cung, các quan rứơc về tôn làm vua. Ngài trị vì 1 năm; Lăng Ngài là Bồi Lăng.

Năm Quý Vị (1883), tháng 11, mùng 3 là ngày Canh Thìn, Ngài lên ngôi Hoàng đế tại đền Thái Hoà, đặt niên hiệu là Kiến Phước, kể từ sang năm Giáp Thân làm đầu; ban ân chiếu cả thảy 26 điều.

Truyền chỉ các quan Cơ mật  và Thương bạc qua thương với quan Khâm Sứ Đại Pháp là ông Sâm Bô về việc thông đàng vận tải các cửa biển. (Bởi vì năm ấy cửa Thuận An bị quân Đại Pháp cấm giữ không cho các nơi tàu buôn vào ga, cón ở cửa Hàn thời thâu cả bộ máy tàu đồng và các hiệu súng).

Truyền chỉ ra ân tha tội hay giảm tội các quan bị thất thủ tỉnh Hà Nội, Nam Định, Hải Dương và thua tại cửa Thuận An, cửa Hải Phòng. (Bởi vì Triều đìng nghĩ rằng: Khi ấy nên đánh hay nên hoàchưa có nhứt định, vả vại sự biến thình lình giữ gìn cũng khó, cho nên gia ân khoan giảm). Quan Tổng đốc Hà Ninh là Hoàng Diệu đã tử tiết rồi, cho cứ nguyên hàm được thờ trong miếu Trung Nghĩa, để tỏ người tiết liệt.

Truyền dụ đòi Tổng thống ở quân sứ Bắc Kỳ là Hoàng Tá Viêm, Tổng đốc  Ninh Thái kiêm việc quân thứ làTrương Quang Đản, các Đề đốc là Ngô Tất Ninh, Lê Văn Hổ Nguyễn Vă Chư, Tán lý là Lương Quy Chánh, Tán tương là Nguyễn Thiện Thuật đều phải về kinh. Bởi vì từ khi quân Đại Pháp đã lấy Hà Nội rồi, nước Tàu thường phái quân đóng tại giáp giới đất Tàu và hai tỉnh Sơn Tây, Bắc Ninh, tuy đánh tiếng cứu viện nước ta, mà thiệt chủ giữ nước nó. Đến nay tàu binh Đại Pháp tới đánh cửa Thuận, định hoà ước, Triều đình đã truyền các tỉnh và các sở quan thứ đều triệt binh về, nhưng mà các quan tỉnh vàcác quan quân thứ còn bị quân Tàu giữ lại. Bây giờ quan toàn quyền Đại Pháp là Hà Rờ Măng hai lần đưa thư về quan Khâm sứ Sâm Bô ở Huế nói rằng: "Đại Pháp toan đánh quânTàu xin Triều đình truyền các quan mình đừng giao thông với các qua Tàu nữa; nếu còn ở lại giúp chúng nó, ấy là trái mạng triều đình. Còn các quan ở quân thứ Sơn Tây và Bắc Ninh xin cũng kê tên định tội giáng cách". Quan Khâm sai là Nguyễn Trọng Hợp cũng tâu rằng: "cự Đại Pháp hay là cự Tàu cũng đều nguy hiểm, nhưng xin chọn điều nào nguy hiểm nhẹ hơn thời dùng. Vậy xin đòi Hoàng Tá Viêm về Kinh, để  mặc quân Đại Pháp tự liệu, thế mới bớt việc". Các quan Cơ mật tâu xin lấy lẽ phải cải lại; nhưng xin đòi Hoàng Tá Viêm về Kinh để cho người ta khỏi nói. Ngài cho. Cơ mật liền tuần chỉ trả lời cho quan Khâm sứ, quan Khâm sứ cũng bằng lòng. Cho nên mới có chỉ đòi mấy ông ấy về. (Nhưng các ông ấy cũng vì quan Tàu nên còn ở lại; mãi đến khi Đại Pháp lấy tỉnh Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng Hóa, các ông ấy mới dần dần trở về hoặc có người bỏ đi xứ khác).

Quan Đề đốc Nam Định là Tạ Hiện, Án sát Phạm Vụ Mẫn, Tri phủ Kiến Xương là Hoàng Văn Hòe đều nạp ấn bỏ đi.
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Tám, 2009, 07:08:47 am gửi bởi Midaxudavo » Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #214 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 12:53:27 am »

Cho quan Hộ lý Tổng đốc Lạng Bằng là Lã Xuân Oai làm Chánh sứ, Aùn sát Hoàng Xuân Phong làm Phó sứ, đệ biểu qua Tàu. Nhưng rồi quan Đại Pháp thương rằng: ta nên tuyệt giao với Tàu, rồi không sai hai ông ấy đi nữa.

Quân Đại Pháp đánh tỉnh Sơn Tây, quân Tàu thua. Quân Đại Pháp vào tỉnh, quan Tổng thống là Hoàng Tá Viêm trở về đóng tại đồn Thuộc Luyện. Từ khi tỉnh Sơn Tây mất rồi, quan tỉnh bỏ đi không ai về tỉnh. Quan tướng Đại Pháp là Cô Bê (Courbet) tư dục quan Tổng đốc Hà Nội là Nguyễn Hữu Độ lựa cử quan khác. Hữu Độ tư cử Trực Học sĩ là Nguyễn Khuyến lãnh Tổng đốc. Thị độc Thành Ngọc Uẫn quyền lãnh Bố chánh; nhưng hai ông ấy không đến. Mới cho Tú tài là Nguyễn Hậu làm quyền sung; việc ấy tâu lên, Cơ mật xin đừng cho. Thương với quan Khâm sứ Sâm Bô nhờ gởi thơ ra đình bãi việc ấy.

Tháng 12, lại xuống dụ truyền khắp Nam Kỳ, Bắc Kỳ khiến bình dân và giáo dân đều nên yên phận. Bởi vì khi ấy Công tử Hường Thành (con Ngài Trấn Định Quận công) tụ đảng đốt nhà giết giáo dân làng Dương Hòa, (thuộc về huyện Hương Trà), việc ấy phát ra, Hường Thành nghĩ án trảm quyết. Triều đình nghĩ rằng trong Nam ngoài Bắc bình dân và giáo dân phần nhiều còn đương phân đảng ghét nhau, cho nên xuống lời dụ ấy.

Quan Khâm sứ Bắc Kỳ là Lại bộ Thượng thơ Nguyễn Trọng Hợp và thự Công bộ Thượng thơ Trần Văn Chuẩn nghĩ rằng vâng mạng đi thương thuyết không được việc gì, đều xin nhận lỗi. Ngài truyền chỉ trước phải giải chức về Kinh, đợi Triều đình sẽ nghĩ.

Dời nha Sơn phòng Quảng Trị và lỵ sở phủ Cam Lộ tại làng Bảng Sơn. Bởi vì các quan Sơn Phòng tâu rằng: "Làng Bảng Sơn đất rộng, xin dời nha Sơn Phòng tới đó và phủ lỵ cũng xin dời về trong Sơn Phòng". Ngài cho.

Xuống chỉ cho các biền binh tử trận tại cửa Thuận An được tặng hàm, cấp tuất, khai ấm tử và nhiêu ấm. Bởi vì các quan tử tiết tại trận ấy như Lê Sĩ, Lê Chuẩn, Lâm Hoành, Nguyễn Trung đã được tặng hàm cấp tuất rồi, còn từ Hiệp quản, Suất đội trở xuống, đến bây giờ bộ Binh mới cứu rõ tân lên cả thảy 256 người. Cho nên mới có chỉ ấy.

Xuống chỉ cho các quan quân có công đánh giặc tại tỉnh Hà Nội được thưởng hàm và được truy tặng. Tỉnh ấy từ tháng 10 tới nay, bọn giặc thừa cơ xâm cướp, hai lần vây phủ Ứng Hòa, quan Phủ đem binh dõng giữ vững thành trì; rồi sau giặc tự giải vây bỏ đi. Mấy lần đánh giặc, bắt sống và chém chết đều có thiệt trạng. Cho nên có chỉ cho chiếu lệ nghĩ thưởng: (lãnh Tri phủ Cao Xuân Dục được thăng thọ Tri phủ, Suất đội Nguyễn Văn Nhung được tha tội cách lưu, tên Phó tổng Nguyễn Đình Toán bị chết trận được truy tặng hàm tùng bát phẩm bá hộ).

Sao chổi mọc ra: (đầu ở phương tây na, đuôi trỏ qua đông bắc; sắc hơi mờ mờ; dài 6,7 tấc, giáp cung Tí Hợi và ở dưới sao Bích. Được vài ngày rồi lặn).

Năm Giáp Thân hiệu Kiến Phước thứ 1 (1884), tháng giêng, khiến các quan Thống chế, Chưởng vệ đem quân các dinh vệ sửa bốn mặt Kinh thành, các cửa thành và cửa Trấn Bình đài.

Cho quan Thượng thơ bộ Lại kiêm quản bộ Binh là Nguyễn Văn Tường đổi qua Thượng thơ bộ Lại, Phạm Thận Duật đổi qua Thượng thơ bộ Hộ, Châu Đình Kế đổi qua Tả tham tri bộ Hộ, Nguyễn Thành Ý qua thự Tả tham tri bộ Công.

Tháng 2, Hộ lý Tổng đốc Thanh Hóa là Tôn Thất Trường, Chánh sứ Sơn Phòng là Hồ Tư Cung, Phó sứ Đỗ Huy Toản bị tội về việc phá đốt giáo dân.

Tướng Đại Pháp là My Lô đánh quân Tàu hiện đóng tại tỉnh Bắc Ninh, rồi vào thành tỉnh, lại kéo tới đánh tỉnh Thái Nguyên, đem hết cả tiền, bạc, đồ đồng chở về Bắc Ninh. Từ đó trong tỉnh Thái Nguyên bị quân Tàu tan ra tàn phá rất cực khổ. Đến tháng 5, Đại Pháp mới chia binh đóng giữ.

Phủ Tương phủ Quỳ thuộc về tỉnh Nghệ bị giặc Xá thông đồng với giặc Tàu kéo tới xứ ấy ăn cướp.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #215 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 12:56:12 am »

Tháng 3, quân Đại Pháp đánh lấy tỉnh Hưng Hóa. Ngài truyền đòi quan quân thứ Sơn Tây là Hoàng Tá Viêm, Lương Tư Thứ, Ngô Tất Ninh, Nguyễn Đình Nhuận và quan tỉnh Hưng Hóa là Nguyễn Quang Bích1 đều phải về Kinh đợi chỉ. Nguyễn Quang Bích sai người nạp ấn, bỏ lên thượng du để qua nước Tàu, rồi mất tại trên miền rừng tỉnh ấy; còn Hoàng Tá Viêm, Lương Tư Thứ, Ngô Tất Ninh thời dần dần về Kinh, Nguyễn Đình Nhuận qua Tàu; Nguyễn Văn Giáp và Nguyễn Thiện Thuật cũng đều bỏ đi.

Định lệ phúc hạnh thi Hương và thêm số giải ngạch Tú tài nguyên lệ một Cử nhơn thời hai Tú tài; bây giờ một Cử nhơn thời ba Tú tài, để rộng đàng cho học trò.

Định lại lệ thi đình và thi hội.

Tháng 4, truy thụy vua Xuất Đế2 nhà Lê là Mẫn Hoàng đế. Trong bài Sách phong có câu rằng: Mạng thường giả mạng, nan vi phục Hạ chi Thiếu Khương3. Bất tử kỳ tâm4, vô quý tuẫn Minh chi Trang Liệt5  nghĩa là: mạng có thường đâu, khôn sánh Thiếu Khương đem lại Hạ; tim còn sống đó, nào thua Trang Liệt thách theo Minh.

Tháng 5, quan Đại Pháp đem quân tới đóng tại tỉnh Tuyên Quang. Tuần phủ là Hoàng Tướng Hiệp bị tướng tàu là Hoàng Thủ Trung đem qua Long Châu, rồi mất. Đến triều Đồng Khánh, Tướng Hiệp được truy tặng hàm Lễ bộ Thượng thơ.

Quan Toàn quyền Đại Pháp là Ba Đức Na và Giám đốc là Lê Na tới định hòa ước mới. Nguyên khi trước đức Giám quốc Đại Pháp tiếp thơ nước ta rồi trả lời thăm và nói hòa ước đã định trước đó xin châm chước lại cho đặng công bình; và lại nói việc ấy tháng trước đã cho quan Toàn quyền tới nói rồi. Ngài bèn sai quan Thượng thơ bộ Hộ là Phạm Thận Duật làm Khâm sai toàn quyền đại thần, Tham tri bộ Công là Tôn Thất Phan quyền sung Thượng thơ bộ ấy mà làm Phó toàn quyền đại thần, Tham tri Châu Đình Kế và Thị lang Lương Thành đều làm chức Hộ tiếp để phòng khi tiếp ứng. Lại cho dự nghĩ các sự nghi cả thảy năm điều để đợi khoản tiếp quý Toàn quyền. Đến bây giờ ông Ba Đức Na và ông Lê Na đem các quan tùy phái và quân lính tới lần sứ, rồi đem sắc thơ Đại Pháp dâng lên ngự lãm. Ngài sai Phạm Thận Duật và Tôn Thất Pham đem sắc thơ ra tiếp, hai bên so sánh in nhau, rồi truyền chỉ hỏi thăm, thương định hòa ước. Ngày 13 tháng ấy là ngày Đinh Hợi hòa ước rồi. Liền ngày ấy hội đồng đem phá cái ấn Tàu phong cho mình khi trước. Rồi quan Toàn quyền cho ông Lê Na ở lại làm Khâm sứ Huế, thay ông Ba Rô.

Quan Lãnh sự Đại Pháp là ông Na lại tới làm việc tại sở Thương chánh Quy Nhơn. (thuộc về tỉnh Bình Định). Nguyên trước khi ấy ông bổ đi làm việc sở khác, thuế sở Quy Nhơn quan mình cứ thâu; bây giờ ông ấy trở lại, biểu các quan biên bạc thuế mấy lâu mình đã thâu giao lại cho ông ấy.

Khiến đặt thêm chức Tham tá và chức Lãnh binh nha Sơn Phòng Quảng Trị. Bởi vì khi ấy việc dẹp giặc yên dân hơi phiền, cho nên đặt thêm.

Quan Khâm sứ Đại Pháp ở Huế là ông Lê Na đưa tờ điện báo của Hải bộ Thượng thơ nước Pháp điện qua nói rằng: "Đại Pháp với Tàu hiện đương giảng hòa ở Thiên Tân; tờ hòa ước mới quy định, còn chưa giao nhận với nhau". Nhờ Cơ mật đem việc ấy tâu lên Ngài rõ.

Quân Đại Pháp đánh nhau với quân Tàu tại cầu Quan Âm, (thuộc về tỉnh Lạng Sơn) lấy lại được đồn Bắc Lê.

Tháng 6, cho các quan tỉnh và quan Quân thứ bị tội mất thành tỉnh Lạng Sơn, Bắc Ninh, Hưng Hóa, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hải Dương được khỏi tội giáng tội cách khác nhau.

Ngài se, ngày 10 là ngày Nhâm Ngọ Ngài băng ! Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết truyền lời chỉ rước Ngài Hoàng đệ Ưng Lịch vào nối ngôi.

--------------------
1 Nguyễn Quang Bích là người làng Trình Phố, tỉnh Nam Định.
2 Xuất Đế là vua Chiêu Thống.
3 Vua Thiếu Khương xưa chỉ còn có một đám đất và một đạo quân mà khôi phục được cơ nghiệp Hạ.
4 Khi đưa tang vua Chiêu Thống từ bên Tàu về, còn trái tim cứ đỏ không tan.
5 Trang Liệt là vua Sùng Trinh nhà Minh, khi Minh mất nước tự tử theo nước.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #216 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 01:00:26 am »

HÀM  NGHI  ĐẾ

Tên chữ Ngài là Ưng Lịch.

Ngài là con  thứ 5 đức Hoàng thúc phụ Thuần Nghị Kiên thái vương. Bà sanh mẫu húy là Phạm Thị Nhờn sanh Ngài trong năm Tân Vị (1871).

Năm Giáp Thân (1884), Ngài lên ngôi tại đền Thái Hòa. Đặt niên hiệu Hàm Nghi, lấy sang năm làm Hàm Nghi năm đầu.

Tháng 7, sửa nha Sơn phòng Quảng Nam. Bởi vì quan Đốc tiểu sứ là Trần Văn Dư xin sửa cho kỹ để vững mặt tả kỳ, cho nên có chỉ cho sửa.

Tháng 8, truyền cho đặt Bang tá châu Lương Chánh và châu Thường Xuân1 cho con tên Thổ ti tổng Trịnh Vạn là Cầm Bá Thước làm chức ấy. Đó là theo lời quan Tổng đốc Tôn Thất Triệt tâu xin.

Tháng 9, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đem tự quân cũ là ngài Thụy quốc công giam cấm, rồi thí tại ngục kín.

Quan Khâm sứ Lê Na ở Kinh đưa thơ nói rằng: "Đại Pháp và nước Tàu giảng hòa tại Bắc Kinh, nhờ có nước Nga điều đình. Xin các quan Cơ mật và các quan Thương bạc tâu lên Ngài rõ".

Chủ buôn người Tàu là tên Lý Thành Long chở trộm tiền đồng dị dạng tới vũng tàu Yên Vĩnh thuộc về tỉnh Quảng Nghĩa; việc ấy phát giác, tên Long bị tội trảm quyết. Sau lại có mấy người buôn Tàu là bọn La Dậu cũng đem tiền ấy ra buôn bán, đều bị tội trảm cả.

Quan Khâm sứ kiêm chức Bắc Kỳ toàn quyền là ông Lô Mi Ơ tới Huế làm Khâm sứ thay cho ông Lê Na về Đại Pháp.

Tháng 12, quan Thống binh Đại Pháp là ông My Lô đánh được quân Tàu tại đồn Đống Hoàn thuộc về tỉnh Lạng Sơn; rồi vào đóng trong thành tỉnh ấy.

Năm Ất Dậu (1885), bãi chức Chánh, Phó sứ nha Hải Phòng Quảng Nam. Bởi vì tháng chạp năm ngoái Đại Pháp phái quan lập sở Thương Chánh tại đó, để thâu thuế xuất cảng nhập cảng các thuyền buôn Tàu và thuế nha phiến. Nha Hải Phòng mình không dự nữa; cho nên đình bãi.

Tháng 2, triệt mấy khẩu súng đại bác để trên mặt Kinh thành mà chỉ qua lầu sứ. Vì nhơn khi ấy Đại Pháp sai người đóng đinh lấp các lỗ ngòi súng bác cả thảy 45 khẩu.

Tháng 4, quan Khâm sứ Đại Pháp ở Huế là ông Sâm Bô đưa thơ nói: "Đại Pháp và Đại Thanh giảng hòa tại Bắc Kinh, ngày 28 tháng nầy hai bên đã ký tờ hòa ước giao nhận xong rồi; nhờ tư ra các tỉnh ngoài Bắc Kỳ biết".

Tháng 5, ngày 23 là ngày Ất Mão, Kinh thành hữu sự. Tôn Thất Thuyết đem ngài và Tam cung2 ra Bắc. Ngày 24, Ngài vàTam cung tới tỉnh Quảng Trị đóng tại Hành cung. Ngày 27, Ngài ngự tới Sơn Phòng Quảng Trị; còn Tam cung thời cứ trú tại Hành cung. Nguyễn Văn Tường tâu xin Tam cung ngự về Khiêm cung để cho yên lòng thần dân. Khi ấy Nguyễn Văn Tường ở lại thương thuyết với quan Đại Pháp, hẹn trong hai tháng xin rước ngự giá về Kinh.

Tháng 6, ngày 3, Tam cung từ Quảng Trị ngự về, ngày 5 tới Khiêm cung. Tôn Thất Thuyết phò Ngài ở lại Sơn Phòng Quảng Trị. Thuyết thiện tiện truyền  mạng Ngài dụ khắp trong nuớc khởi nghĩa cần vương; lại truyền một tờ dụ cho Nguyễn Văn Tường, một tờ dụ cho các Hoàng phái ở Kinh, đều phát trạm đưa về Kinh cả. Mấy việc ấy đều là việc từ ngày 7 tháng 6 trở về trước.

Tam cung truyền dụ chỉ sai người tới Sơn Phòng Quảng Trị rước Ngài về Kinh.

------------
1 Lương Chánh là Thường Xuân thuộc về phủ Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa.
2 Tam cung là đức Từ Dũ thái hoàng thái hậu, đức Thuần Hiếu hoàng thái hậu và bà Học Phi.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #217 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 01:02:08 am »

Ngày 9, Ngài ngự tới Bửu Đài, nghe tàu Đại Pháp đóng tại cửa Nhựt Lệ (Quảng Bình), đạo ngự liền trở lại Sơn Phòng để đi đàng Thượng Đạo. Ngày 11, ngự tới thành cũ phủ Cam Lộ.

Ngày 15, Ngài ngự đàng Thượng Đạo qua Mai Lãnh tới Lao Bảo.

Ngày 20, Ngài ngự tới sách Bạn Cạn; rồi ngự tới xứ Hàm Tháo (Hàm Tháo ở gần phía Bắc sông Không (Mékông), từ đó tới Sơn Phòng Hà Tĩnh đàng đi 7 ngày); truyền sắc các quan Sơn Phòng Hà Tĩnh chở lương lên và dọn đàng rước Ngài về Sơn Phòng. Các quan tỉnh Hà Tĩnh đem việc ấy tâu vào Huế; Tam cung phê rằng: mừng lắm, và truyền ý chỉ ai mà rước Ngài về đặng sẽ được hậu thưởng tiền bạc, để cho đua nhau rước Ngài về mau, khỏi điều quan ngại. Quan Khâm sai là Tôn Thất Phan đem 350 tên quân Hà Tĩnh và 1 quan Lãnh binh tới Sơn Phòng rước Ngài. Người ta đồn rằng quân Đại Pháp tới, Thuyết phò Ngài đi nơi khác, nên rước không được.

Tam cung truyền chỉ dụ trong Kinh và các tỉnh hết thảy thân hào và Giám mục, lương dân giáo dân, đều nên yên phận.

Quan Đô thống Đại Pháp là ông Cô Ra Xy (De Courcy) bắt Nguyễn Văn Tường xuống tàu chở vào Gia Định. Rồi chở Nguyễn Văn Tường và Phạm Thận Duật, Lê Đính1 qua nước Đại Pháp; nhưng đi giữa đàng, Phậm Thận Duật bị bệnh mất, ném thây xuống biển.

Tam cung xuống chỉ nhờ quân Đại Pháp đóng giữ các tỉnh. Bởi vì quan Đô thống Đại Pháp thương xin chia quân đóng phía nam từ tinh Quảng Nam đến Bình Thuận, phía Bắc từ tỉnh Quảng Trị đến Thanh Hóa, để canh giữ cho đặng yên dân; đợi khi nào giao lại Kinh thành và đủ ngạch lính giản, thời sẽ triệt binh Pháp về, để khỏi người ta nghi hoặc. Cho nên mới có dụ chỉ ấy.

Rước ngài Kiên Giang quận công vào nối ngôi.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #218 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 01:03:45 am »


Cảnh  Tôn  Thuần  Hoàng  Đế

Niên Hiệu Đồng Khánh

Tên húy Ngài là: Trên chữ, dưới chữ.
Tên chữ Ngài:
1. Bên tả chữ, bên hữu chữ.
2. Bên tả chữ, bên hữu chữ

Hai tên chữ đều có chữ đứng trên làm chữ lót.

Ngài là con trưởng đức Hoàng thúc phụ Thuần nghị Kiên Thái vương. Sanh mẫu là bà Bùi Thị sanh Ngài năm thứ XVII triều Tự Đức là năm Giáp tý (1864). Đến  năm thứ XVIII (1865), Ngài mới có hai tuổi, đức Dực Tôn truyền Bà Thiện phi họ Nguyễn nuôi Ngài tại trong cung làm Hoàng tử thứ hai. Năm thứ XXXII triều Tự Đức (1879) Ngài ra đọc sách tại Chánh Mông đàng. Năm thứ XXXVI (1883), tháng giêng, phong tước Kiên Giang quận công. Năm Ất Dậu (1885), Ngài lên ngôi trị vì được 3 năm; hưởng thọ 25 tuổi; lăng Ngài là Tư lăng.

Tháng 8, ngày Đinh Sửu, Ngài lên ngôi tại đền Thái Hòa. Đặt niên hiệu Đồng Khánh, kể từ năm Bính Tuất (1886) làm đầu. Ban ân chiếu 12 điều.

Truyền làm quốc thơ đưa qua Đại Pháp cám ơn. Tặng Toàn quyền là ông Cô Ra Xi tước Bảo hộ quận vương, Khâm sứ là ông Sâm Bô tước Bảo hộ công.

Quan Đại Pháp giao lại 20.000 lượng bạc và 20.000 quan tiền đồng. Trong số tiền bạc ấy dâng lên trong Nội một nửa, dâng lên Lưỡng cung một nửa. (Khi ấy Kinh thành mới chỉnh đốn lại, nên quan Đại Pháp giao lại số tiền bạc ấy để dâng trong Nội dùng. Còn kho tàng thời quan quân Đại Pháp canh giữ, cứ mỗi tháng chiếu số lương bổng hết bao nhiêu tiền gạo, thời giao cho các người giữ kho nhận phát).

Phong ông Nguyễn Hữu Độ làm Cố mạng lương thần, gia hàm Thái tử Thái sư, Cần chánh điện đại học sĩ, Bảo quốc huân thần, nhưng kiêm Cơ mật đại thần, sung Bắc Kỳ Kinh lược đại sứ, tấn phong Vĩnh Lại Bá; Phan Đình Bình làm Cố mạng lương thần, thăng thọ Hiệp tá đại học sĩ, thự Văn minh điện đại học sĩ, Tá quốc huân thần, lãnh Lại bộ Thượng thơ, nhưng sung Cơ mật đại thần, quản lý Khâm thiên giám sự vụ, tấn phong Phò nghĩa tử.

Thân hào tỉnh Quảng Nam kết nhau làm nghĩa hội, cử Chánh sứ Sơn Phòng là Trần Văn Dư làmThủ hội nhóm chứng chiếm giữ tỉnh thành. Quân Đại Pháp kéo tới đuổi đi. Hà Tĩnh Lê Ninh (người huyện La Sơn, con Bố chánh Lê Kiên) nhóm chúng chiếm giữ thành. Quan Bố chánh Lê Đại bị giết, Án sát Trịnh Văn Bưu bị bắt, rồi phát bệnh mất; các quan phủ, huyện bỏ thành chạy trốn; cả tỉnh đều khởi binh ứng tiếp nhau. Tỉnh ấy bị nạn binh hỏa so với các tỉnh khác thiệt là khổ hơn.

Thân hào tỉnh Phú Yên chiếm giữ tỉnh thành, quan Bố Chánh Phạm Như Xương bị chúng nó bắt giam, còn Án sát và Lãnh binh đều bỏ trốn.

Đức Hàm Nghi tới Sơn Phòng Hà Tĩnh, quan Chánh sứ Sơn Phòng là Nguyễn Chánh đem quân tới rước, thân hào cũng nhiều người tới chầu, rước Ngài về đóng tại nha Sơn Phòng. Khi ấy các quan chức bắt dân dõng, lập thêm tạm xá để toan ở lâu. (Được ít hôm, Nguyễn Chánh trốn bỏ về tỉnh Nghệ).

Quan Khâm sứ Đại Pháp là ông Sâm Bô về nghỉ, ông Ba Duy Đam quyền Khâm sứ.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #219 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 01:06:39 am »

Tặng quan quyền Khâm sứ Đại Pháp là ông Ba Duy Đam tước Bảo quốc công, quan Tham tán Đại Pháp là ông Phan Nê tước Dực quốc công, quan Thượng thơ Đại Pháp là ông Sanh Bích tước Vệ quốc công.

Thổ tù ở tỉnh Thanh Hóa là Hà Văn Mao đem giặc Tàu về huyện Cẩm Thủy dụ dân Thổ lừa dịp khuấy rối ăn cướp.

Giặc Bãi sậy hiệp đảng với những tên bị tội bỏ trốn tại huyện Thanh Trì, Thanh Oai, phủ Ứng Hòa, Thường Tín, về khuấy rối tỉnh Hà Nội, quan Bố chánh là Cao Xuân Dục thân hành đốc suất người trong tỉnh là tên bát phẩm Nguyễn Chúc, tên cửu phẩm Phùng Văn Thoan, đem các toán binh đánh nhau với giặc, giặc thua trốn, chém và bắt sống rất nhiều, lấy lại đặng các phủ, huyện. Việc ấy tâu lên, Ngài truyền chỉ thưởng Cao Xuân Dục quân công kỷ lục  2 thứ, 1 cáci khánh vàng quân công và giây đeo; bọn tên Chúc tên Thoan cũng được thưởng mỗi tên 1 cái bài tử kim và thăng trật. Ngài lại truyền chỉ thông lục việc ấy khắp cả Tả Kỷ, Hữu Kỳ1 đều biết.

Ngài truyền từ ngày 1 tháng 10 năm ấy cho tới cuối năm, niên hiệu viết: "Đồng Khánh Ất Dậu niên", thông lục trong ngoài đều biết.

Truyền tước tên Tôn Thất Thuyết trong sổ Tôn Phổ.

Tháng 10 năm ấy, Ngài khiến từ Thanh Hóa trở vào Bình Thuận phải kén lính tập. Đó là theo điều khoản trong hòa ướ mới.

Tỉnh Quảng Trị phái quân hiệp với quân Đại Pháp đánh đặng thân hào tại miền rừng phủ Cam Lộ và huyện Do Linh. Từ đó đàng cái quan mới đi thông được. Đầu mục thân hào là Trương Đình Hội, Nguyễn Tự Như đều chạy trốn cả.

Thân hào trong các phủ, huyện tỉnh Nghệ đều khởi nghĩa, cử Đốc học Nguyễn Xuân Ôn và Chánh sứ Sơn Phòng là Lê Doãn Nhã làm đầu. Quan Đại Pháp kéo quân tới đánh, được luôn. Ngài truyền Cơ mật làm thơ ủy lạo các quan Đại Pháp.

Ngài nghĩ rằng khi Kinh thành hữu sự, vua Hàm Nghi ngự ra ngoài, cho  nên thân hào sĩ dân có lòng cần vương khởi nghĩa, không phải ưng làm loạn; mới xuống dụ hiểu thị bọn ấy phải mau tỉnh ngộ, trở đầu về với Triều đình. Lại truyền dụ sĩ, dân Bắc Kỳ đều biết những việc Tôn Thất Thuyết chuyên quyền trộm phép giả danh nghĩa mà nói dối dân.

Thân hào ở phủ Quảng Trạch, huyện Tuyên Hóa, huyện Bố Trạch, thuộc về tỉnh Quảng Bình đều khởi nghĩa; cử Tri phủ Nguyễn Phạm Tuân làm đầu, dựng hiệu cờ "Cần Vương" và cờ "Cử nghĩa". Bố chánh Quảng Bình là Nguyễn Đình Dương bị hại.

Chế 8 lá cờ Bảo hộ (phát cho sáu Bộ, Cơ mật, ti Hành Nhơn để dùng treo khi lễ mừng, lễ Nguyên đán, lễ Chánh trung).

Quân Đại Pháp kéo tới Sơn Phòng Hà Tĩnh. Tháng trước đức Hàm Nghi tới đó, truyền chiếu chỉ đòi các thân hào, đặt quan đóng đồn giữ các nơi hiểm yếu để toan ở lâu. Đến bây giờ tên Thuyết phò đức Hàm Nghi về cửa Ve2, để Ngài ở đó; còn Thuyết với Trần Xuân Soạn thời ra Bắc. Các người mới giữ tỉnh đó nghe nói Sơn Phòng mất rồi, đều bỏ tỉnh chạy trốn; tỉnh thành cũng lấy lại được, mấy người khởi nghĩa biết việc không thể làm được, đều về nhà làm ăn, cũng có người tới tỉnh đầu thú. Chỉ có Phan Đình Phùng không chịu về.

Quân Đại Pháp đánh lấy lại nha Sơn Phòng Quảng Nam, bắt được Chánh sứ Trần Văn Dư giết ngay. Nguyên khi ấy Trần Văn Dư  toan về Kinh đợi chỉ, vừa tới tỉnh Quảng Nam, bị quân Đại Pháp bắt được.

Hà Văn Mao khuấy rối phủ Thọ Xuân và huyện Cẩm Thủy. Quan tỉnh Thanh và quan Đại Pháp đánh phá tan được.

----------------
1 Tả Kỳ là từ Bình Định đến Bình Thuận; Hữu Kỳ là từ Hà Tĩnh đến Thanh Hóa.
2 Cửa Ve thuộc tỉnh Quảng Bình, chỗ tên Thổ Ty Trương Quang Thủ ở.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM