Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 11:07:06 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tên anh chưa có trong danh sách  (Đọc 44698 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #70 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2009, 09:59:58 am »

Đôi mắt diệu kỳ
Chinh phục lòng em
Đó là sức sống, đó là yêu thương
Đó là nghị lực, ngọn lửa cháy bừng
Đối với anh, tiếng hát đau buồn bị cắt đứt một cách bi thảm anh vừa được nghe trong đường hầm lúc nãy với tiếng hát dịu dàng, ngọt ngào của giọng con gái lúc này có sự trái ngược rõ ràng. Tim anh thắt lại và anh phải cố kìm lòng để khỏi phải rên lên vì đau xót.
Em dù phải lao xuống biển
Em dù phải trèo lên non
Em sẽ dành cho anh tất cả
Miễn là được anh yêu em…
Chỉ có người thật hạnh phúc mới hát được như vậy. Con người đó thật hạnh phúc. Chính sự khám phá này làm tim anh đau quặn. Chiến tranh đã làm bộc lộ tất cả những gì thầm kín nhất trong con người, kể cả tình yêu đầu tiên của họ.
Anh rón rén chui vào hầm và dựa sát người vào tường, tay ghì chặt súng, không để gây ra tiếng động, sợ làm cho tiếng hát ngừng bặt. Anh lắng nghe, cố kìm chế tiếng thở khò khè vì không khí ngột ngạt thuốc súng và ngực tức chỉ chực bật ra thành tiếng ho. Anh khát khao điều gì đó chính anh không hiểu nổi. Sau đó, anh nhận ra mình muốn khóc, nhưng anh lại mỉm cười. Anh không còn nước mắt nữa.
Không hiểu sao anh lại để súng chạm vào vật gì đó, và Mira im bặt. Anh bước đến cạnh bàn, Mira lao tới với tất cả vẻ ngây thơ mềm yếu, chân thật, nhiệt thành và niềm tin cậy của mình.
- Em sẽ cho anh ăn ngay đây – Cô đi qua khoảng trời tối tới bên cái giá gỗ - Anh ạ, lũ chuột kinh tởm này đã ăn hết bánh mì, khó lòng còn sót lại miếng nào nguyên vẹn.
- Em học bái hát vừa rồi ở đâu vậy?
- Bác Ruvim Xvítxki dạy em đấy. Bác ấy được thưởng một cái máy hát và cả đĩa hát hôm mồng một tháng năm. Bác ấy là người chơi vĩ cầm rất tuyệt… - Mira cười – Nhưng em kể với anh chuyện ấy làm gì nhỉ? Anh đã biết bác ấy rồi còn gì.
- Anh biết thật à?
- Tất nhiên anh biết – Mira đã mang thức ăn ra và đặt xuống bàn. Đấy là thói quen cô rất coi trọng - Nếu không có bác ấy, có lẽ chẳng bao giờ chúng ta gặp nhau. Chẳng bao giờ, anh tưởng tượng xem, thật kinh khủng, thật kỳ lạ, đôi khi hạnh phúc bắt nguồn từ trong những điều vụn vặt. Nếu không có bản nhạc anh thích tối hôm đó…
- Nếu hôm ấy anh không muốn kiếm cái gì ăn chứ - Anh cười vang.
- Hoặc nếu hôm ấy anh đi chuyến tàu khác.
- Đúng, hôm ấy anh đã chuyển sang chuyến tàu khác – Plugiơnhicốp nói sau một lát im lặng và nhớ lại cái ngày gàn như xa xôi vô tận ấy, cái ngày đã mở đầu con đường dẫn anh tới căn hầm tối tăm này – Em có biết tại sao anh lại đổi tàu không?
- Tại sao vậy? – Cô ngồi lên, trước mặt anh, tỳ cằm vào bàn tay lắng nghe.
- Anh đã yêu em say đắm, trọn vẹn ba mươi sáu giờ.
Anh kể cho Mira nghe về Valia, về những giấc mơ trắng, khi anh đang rất khát nước. Mira lắng nghe và thở dài.
- Cô Valia có lẽ là cô gái rất tốt.
- Sao em lại quả quyết như vậy
- Vì cô ấy rất yêu anh – Mira nói, thầm đoán rằng nhận định như vậy là hoàn toàn đúng – Nhưng này, ngày mai em biết lấy gì cho anh ăn đây? Khi không có hạt anh túc trong nhà thì không có nghĩa là đói. Nhưng nếu không có bánh mì thì đói thật đấy.
- Bánh mì à? – Plugiơnhicốp giở bản đồ của chuẩn uý ra – Em còn nhớ lò bánh mì ở chỗ nào không?
- Ở bên kia sông Mukhavét. Còn đây là nhà ăn và nhà kho chính – Mira chỉ khu doanh trại liên hoàn nằm dọc theo bờ sông Mukhavét – Em vẫn đến đấy với thím Khơrixchia.
- Vậy là cậu ấy lấy thức ăn ở đấy – Plugiơnhicốp trầm ngâm.
- Ai hở anh?
Plugiơnhicốp đang nghĩ đến Vônkốp, người anh đã gặp ở gần khu nhà ăn và nhà kho Mira vừa chỉ. Nhưng anh không muốn nhắc đến Vônkốp nên đã nói khác đi.
- Anh chợt nhớ đến trung sĩ Nêbôgatốp.
Mira không hỏi thêm gì nữa.
Cuộc sống được tạo nên bởi những niềm vui nho nhỏ. Một lần, thím Khơrixchia còn sống, anh tình cờ tìm thấy một cái mũ calô có gài kim và sợi chỉ đen rất dài ở vành mũ, suốt ngày hôm ấy, hai người phụ nữ rất vui mừng vì sợi chỉ đen đó. Sau lần ấy, Plugiơnhicốp bắt đầu mang về bất cứ thứ gì anh nhặt được - một cái lược, một cái khuy áo, một sợi dây hay một cái cà mèn móp. Anh thích tìm kiếm những thứ lặt vặt nhưng có ích ấy, và bây giờ anh sẵn lòng nhận lấy trách nhiệm đi tìm bánh mì.
Tuy nhiên, suốt mấy ngày sau, loay hoay mãi, anh vẫn không làm gì được vì bọn Đức trong pháo đài rất đông. Chúng kéo những cỗ súng lớn của quân ta bị chúng chiếm đoạt và dẹp quanh cạnh cổng Têretxpôn, đi tuần tiễu khắp các ngả đường, càn quét những khu nhà đổ nát, ném lựu đạn và bắn súng phun lửa vào bất cứ căn hầm tối nào đáng ngờ. Một hôm quan sát từ xa, Plugiơnhicốp trông thấy chúng giải ba người đàn ông tay không, quân phục rách rưới, râu ria tua tủa ra khỏi khu nhà đổ trong khu vực phía đông pháo đài, nơi anh không biết và chưa đến lần nào. Họ là người Xô viết, người của ta, và Plugiơnhicốp cảm thấy vô cùng đau đớn với nỗi ân hận sâu sắc vì chưa lần nào đặt chân đến khu vực đó.
- Không bánh mì nào hết – Mira nghiêm cấm khi cô biết sau một thời gian yên tĩnh ngắn ngủi, bọn Đức càn quét các khu vực đổ nát – Chúng ta sẽ thu xếp được.
- Chúng ta sẽ phải thu xếp. Nhưng đằng nào anh cũng phải lên xem sao đã. Chúng có thể làm gì được?

- Nhưng anh phải hứa với em là sẽ hết sức cẩn thận cơ.
- Anh xin hứa.
- Không, anh phải thề cơ – Cô nói giọng bực bội – Anh thề bằng cả cuộc đời anh. Anh thề đi.
- Được rồi. Anh xin thề.
- Không, anh nói như em vừa rồi ấy.
- Anh thề bằng cả cuộc đời anh – Anh ngoan ngoãn nhắc lại, hôn cô, rồi xách súng đi ra.
Hôm ấy bọn Đức nháo nhác. Chúng rải quân ra các ngả đường, chỗ nào cũng có lính tuần tra và một lực lượng lớn đã tập trung quanh cổng Têretxpôn. Plugiơnhicốp không đi được đến đâu, anh muốn quay về, nhưng đến phút cuối cùng, anh quyết định lẩn vào khu nhà thờ. Nếu như lọt vào nhà thờ, anh có thể trèo lên cao để xem bọn Đức đang định làm trò gì.
Anh kiên nhẫn bò rất chậm chạp và thận trọng, nằm ẩn sau trong từng hố đạn đại bác. Anh bò như chưa bao giờ bò như vậy một lúc lâu, mình trườn trên mặt đất, tay và đầu gối tỳ sát trên những hòn gạch vỡ. Quanh đâu đấy, bọn Đức vẫn ồn ào đi lại, anh nghe thấy tiếng chúng nói, nghe thấy tiếng giày của chúng và cả tiếng vũ khí chạm vào nhau nữa. Anh liều lĩnh khẽ ngẩng đầu lên nhìn để xác định phương hướng, thậm chí khi đến được nhà thờ, anh vẫn không chạy mà chỉ bò thận trọng vào một hốc tường gần nhất, người lạnh cứng.
Mùi xác chết chưa được chôn cất khẳm lặm, toả trong nhà thờ. Bóp chặt mũi, anh cố nhịn thở và kìm cơn nôn mửa cứ chực tung ra. Anh nhìn quanh. Mắt đã quen với ánh sáng tù mù – trên thực tế, anh có thể nhìn rõ trong bóng tối hơn là ngoài sáng. Anh xem xét các khẩu đại liên bị hỏng nằm ngay cạnh lối vào và bảy cái xác nằm xung quanh đấy. Hầu hết đều đeo phù hiệu lính biên phòng màu xanh lá cây. Rõ ràng họ đã bắn đến viên đạn cuối cùng, vì xung quanh họ chẳng có gì ngoài những băng đạn không và hòm đạn rỗng còn cả dây chằng. Khẩu đại liên vẫn đặt ngay chỗ anh đứng lần trước, nhưng cái lỗ thủng trên tường lúc này rộng hơn.
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #71 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2009, 10:00:19 am »

Anh nhận ra ngay những thứ đó và không để mất thời giờ, anh tiếp tục đi sâu vào. Mùi xác chết làm anh lợm giọng, cứ chực nôn oẹ, và thỉnh thoảng anh có cảm giác mình sắp bị ngất. Anh bước đến một bậc cầu thang hẹp, đổ nát rồi bắt đầu trèo lên. Ở chân thang gác có hai cái xác đã rữa. Anh bước qua rồi trèo lên cao hơn cho đến gần nóc.
Cứ như vậy, anh lên dến sân thượng, ở đây có gió trong lành, anh có thể hít thở không khí trong sạch và nghỉ ngơi chốc lát. Sau đó, anh bám vào gờ tường, lần sang khoang cửa sổ bị đổ. Từ đây, anh nhìn thấy toàn cảnh khu phía nam pháo đài và cổng Têretxpôn.
May sao anh chưa kịp rời khỏi chỗ nấp thì có tiếng chân vọng từ chỗ cái giếng đen ngòm phía dưới lên. Anh lặng đi và ép chặt người vào tường. Tư thế của anh rất bất lợi, không thể nằm hoặc ẩn nấp vào đâu được. Nếu bọn Đức ngẩng lên – rõ ràng đây là một đội tuần tra - để trèo lên cầu thang, chúng sẽ nhìn thấy anh ngay ở đầu chỗ ngoặt, và thấy anh đang ở vào một vị trí không thể nổ súng được.
Tiếng nói vang vọng ở phía dưới, không sao phân biệt rõ là tiếng gì, và Plugiơnhicốp cũng không có ý định nghe xem bọn Đức nói gì. Anh đứng im, nín thở và lặng đi trong tư thế bất lợi, cố nghe ngóng nhưng không sao đoán chắc được tiếng chân đang đến gần hay vẫn còn ở cửa ra vào. Tiếng người nói vẫn còn, và một đốm lửa toé lên, sau đó mùi giẻ cháy toả lên cầu thang. Thoạt đầu, Plugiơnhicốp không rõ bọn Đức đốt giẻ làm gì, nhưng anh thở phào nhẹ nhõm khi hiểu ra: bọn Đức đốt giẻ để xua tan mùi hôi thối. Như vậy thì chúng sẽ chẳng dại gì vào sâu hơn phia trong, vì ở đấy mùi hôi thối còn nồng nặc, kinh tởm hơn. Tiếng chân im bặt, chỉ còn lại tiếng xì xồ. Rõ ràng vì một lý do nào đó, bọn Đức đã quyết định dừng lại ở lối ra vào để canh giữ cái nhà thờ đầy xác chết và trống rỗng tan hoang này. Plugiơnhicốp thở từng hơi thận trọng và trông chừng chúng.
Cái gờ tường rất hẹp và đầy vôi vữa, nhưng anh không có sự lựa chọn nào nữa. Anh không thể ở trên đỉnh cầu thang này mãi được, những tên Đức ngoan cố và lọc lõi sớm muộn cũng phát hiện ra anh. Nấp trong khoang cửa sổ kia, anh có thể ẩn mình được và sẽ mạo hiểm quan sát xem có chuyện gì ở phía dưới.
Trèo qua được cái gờ tường chật hẹp phải mất nhiều phút giây căng thẳng. Anh bấm ngón tay vào từng kẽ nứt, từng gờ gạch, người dán chặt vào tường, giữ thăng bằng trên cái miệng giếng sâu thẳm ấy. Đôi lần, vôi vữa dưới chân anh rơi rào rào, và anh lại phải nín thở, nép mình chết lặng, nhưng tiếng nói chuyện ở dưới vẫn oang oang. Cuối cùng, anh bám vào được khung cửa sổ nép mình thật kín, và đến lúc ấy, anh mới thận trọng ngó ra ngoài.
Anh trông thấy những mái nhà rách nát của khu doanh trại liên hoàn và dải bờ bên kia sông Bug cùng những toà nhà đổ nằm phía bờ bên ấy. Anh trông thấy con đường chạy từ chiếc cầu nằm cạnh cổng Têretxpôn, ở cổng đó và khoảng đất nằm trước cổng có nhiều súng lớn. Một số lớn quân Đức được rải dọc con đường, và bên này khoảng đất, có những khẩu súng xếp thành từng dãy. Nhưng ở trên đường thì lính đứng xếp hàng cả hai bên, tạo thành một hành lang dài, trên khoảng đất trống thì chúng bố trí theo hình vuông, và ở giữa hình vuông đó, thấp thoáng những bóng người có lẽ là bọn sĩ quan. Cuộc diễu binh trọng thể này không giống buổi lễ gắn huân chương chữ thập của bọn Đức đã bị anh và chuẩn uý phá tan dạo nào. Lần này đội ngũ đông hơn, nhiều nghi thức hơn, có vẻ nghiêm trang hơn, Plugiơnhicốp không sao đoán được bọn Đức bày trò này làm gì.
Từ đâu đó vang lên tiếng kèn, anh không thấy rõ dàn nhạc đứng ở đâu, nhưng anh đoán có lẽ đây là một bài hành khúc. Giữa lúc ấy có hai nhân vật xuất hiện trên đường và đi giữa hai hàng rào lính. Một tên mặc áo đi mưa đen còn tên cao to và mập mạp hơn ăn mặc kỳ quặc, nửa thường phục, nửa quân phục. Theo sau hai tên này là một số tên khác, Plugiơnhicốp khẳng định chúng là bọn tướng lĩnh hoặc sĩ quan cao cấp. Hai tên đi đầu trống không có vẻ là tướng, nhưng cuộc diễu hành cũng như tiếng quân nhạc trọng thể đều chứng tỏ bọn Đức đang đón tiếp nhân vật quan trọng nào đấy đến pháo đài của anh.
Trời ơi! Giá lúc này có một khẩu súng trường - thậm chí không phải loại súng có kính ngắm – mà chỉ là một khẩu súng trường bình thường thôi. Anh là một xạ thủ giỏi, cho dù không bắn trúng một trong những tên tướng lĩnh quan trọng do cự ly quá xa thì anh cũng làm cho chúng hoảng sợ, phá vỡ cuộc duyệt binh và những nghi thức của chúng để một lần nữa nhắc cho chúng biết rằng pháo đài này không phải là của chúng mà là của anh, nó không đầu hàng và vẫn đang chiến đấu. Nhưng anh không có súng trường, mà dùng súng tiểu liên thì không có hiệu quả trước một cự ly như thế này. Vì vậy, anh tự xỉ vả mình thiếu con mắt nhìn xa, anh đấm tay vào gạch và tiếp tục quan sát.
Những nhân vật đang tiến về phía trước khuất sau cái tháp đổ nát trên cổng Têretxpôn rồi lại xuất hiện phía trong pháo đài, giữa những khối hình vuông của bọn lính đang đứng nghiêm như tượng. Tiếng nhạc ngừng bặt và một viên sĩ quan bước lên, đập gót chân và báo cáo với hai nhân vật cao cấp vừa bước tới. Plugiơnhicốp không nghe được hắn nói gì, nhưng anh nhìn thấy những cánh tay giơ lên chào theo kiểu phát xít. Hai tên khách tiếp nhận báo cáo, đi duyệt hành quân, rồi đi dọc theo dãy pháo, chăm chú nhìn từng khẩu một trong khi tên sĩ quan vừa báo cáo, giới thiệu một cách kính trọng.
Plugiơnhicốp không biết và sẽ chẳng bao giờ biết tên tướng nào đã đến pháo đài vào cái ngày cuối mùa hạ năm bốn mốt ấy. Nếu biết, hẳn anh đã bắn cả một băng đạn dài vào buổi lễ duyệt binh của bọn Đức. Anh không biết tên Đức anh đang thấy lúc này ở một cự ly khá xa chính là tên đã trực tiếp hạ lệnh nổ loạt súng đầu tiên vào pháo đài lúc 3 giờ 15 phút theo giờ địa phương ngày 22 tháng 6. Anh không biết anh đang nhìn thấy Adolf Hitler, quốc trưởng nước Đức quốc xã và tên thủ lĩnh phát xít Ý Benito Mussolini ngay trước mắt mình.
Plugiơnhicốp thu dọn gạch ngói suốt mấy ngày liền. Mỗi viên gạch đều phải nâng lên nhẹ nhàng và khi đặt xuống càng phải gượng nhẹ hơn. Anh làm thế không hẳn chỉ vì lo gây sự chú ý của bọn lính tuần tra – sau lễ duyệt binh hôm ấy, số quân Đức trong pháo đài đã giảm đi rất nhiều – mà còn lo tiếng động cản trở anh, làm anh không nghe được tiếng giày, tiếng trò chuyện và tiếng vũ khí va lách cách. Trong khi làm việc, anh vẫn phải hết sức lắng nghe và sau khi nậy được viên gạch lên, anh giữ nó trong tay, nghe ngóng một lúc rồi mới đặt xuống. Anh đã bới được nhiều đống đổ nát, nhưng vẫn không tìm được gì ngoài những xác chết và những vũ khí bị hư hỏng, gãy nát. Anh không tìm thấy dấu vết nào của nhà kho hoặc nhà ăn, trong khi đó, thức ăn, bánh bít cốt của anh và Mira đã hết từ lâu, chỉ còn lại một chút đường kính và Mira khó khăn lắm mới nuốt nổi những miếng thịt hộp. Vì lẽ đó, hằng ngày anh phải lầm lũi, kiên trì bới từng viên gạch đáng nguyền rủa này.
Mùa thu đến sớm với những cơn mưa dai dẳng. Đó là những trận mưa phùn nhè nhẹ nhưng buốt thấu xương. Cứ đến tối là chiếc áo bông của anh lại ướt sũng, nhưng không có chỗ nào để hong khô cả. Anh đã kiếm thêm được bốn cái áo, Mira luôn chăm sóc, nhắc nhở anh thay áo, nhưng càng ngày cái ẩm ướt trong hầm cứ tăng lên và bây giờ anh phải lau súng hai lần trong một ngày.
Tuy nhiên, số quân Đức đã giảm đi rõ ràng. Chúng vẫn tiếp tục đi tuần trong khu pháo đài lúc ban ngày, còn tại những khu đổ nát, hầu như đã thành lệ, chúng không ngó ngàng gì tới và khi có hai tên phá lệ này thì chúng đã không thể kể với ai về điều đó vì Plugiơnhicốp đã khử chúng bằng một phát súng xuyên táo. Ngay sau đó, anh phải lủi chạy thật nhanh vì bọn Đức đổ xô lại để lùng sục vào những khu nhà đổ, nhưng anh đã nấp sâu dưới đường hầm chờ đến tối mới quay về chỗ Mira.
- Đừng bắn, anh! – Mira vừa thì thào van nài, vừa âu yếm xoa vuốt anh đang lả đi vì mệt và đói – Giá anh biết em lo sợ cho anh như thế nào. Em lo lắm!
Rồi một hôm, có những người dân xuất hiện trong pháo đài. Họ đi theo từng tốp, thậm chí mang theo cả ngựa. Họ dọn dẹp những đống gạch đổ nát, mang xác chết và chuyển gạch đi. Plugiơnhicốp quan sát họ dọn dẹp khu nhà thờ và chuyển xác bảy chiến sĩ biên phòng còn lại lên xe ngựa. Anh có ý định thử bắt liên lạc với những người này, nhưng lúc nào bọn Đức cũng kè kè bên cạnh để giám sát họ. Ngắm nhìn họ, anh xác định họ là những nông trang viên các làng bên cạnh bị lùa đến đây. Nhưng một hôm, anh phát hiện một tốp đông phụ nữ ở bên kia toà Điện Trắng, nơi anh đã dự trận chiến đấu đầu tiên. Tốp phụ nữ này cũng có lính gác. Họ đang nậy những viên gạch lành và chất đống bên lề đường. Gần tối, có xe vận tải tới, họ xếp gạch vào xe rồi những chiếc xe chạy đi, còn những người phụ nữ xếp theo hàng và bọn lính gác xua họ về cổng lớn. Sáng hôm sau, họ lại bị lùa đến và lại dọn gạch. Anh quan sát họ suốt một ngày và chỉ phát hiện được một điều: họ có nửa giờ nghỉ ăn trưa. Nhưng anh không có cách nào để gọi được hoặc ra ám hiệu cho họ, mặc dù đã chờ đợi suốt ngày để có được dịp may làm việc đó. Mira rất hồi hộp khi được anh kể cho biết về tốp phụ nữ này.
- Có lẽ họ từ trong thành phố tới! Trời, giá báo được cho mẹ biết em còn sống!
Nhưng anh không thể bảo gì cho những người đàn ông hoặc đàn bà. Cuối cùng, anh từ bỏ ý định vô ích ấy. Trước hết cẩn phải đi tìm bánh mì đã.
Anh ngồi dưới một cái hố sâu do anh đào và xung quanh chất đầy những gạch. Lúc này tốc độ làm việc của anh chậm hẳn, không những vì phải nghe ngóng mà còn phải thường xuyên chú ý nhìn lên miệng hố để tránh những bất trắc không may. Lúc này anh thấy ớn lạnh, mệt mỏi và khó thở, lúc lúc tim anh lại đập rộn lên, nhanh đến nỗi như muốn phá cả lồng ngực. Những lúc ấy, anh phải dừng tay, nhẫn nại nằm đợi cho đến khi tim đập bình thường trở lại.
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #72 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2009, 10:00:51 am »

Qua những miếng gạch vỡ, anh trông thấy vật gì tròn tròn giống như những cái hộp. Anh vội vàng đào bới đến nơi, nhưng hầu hết đều bẹp dúm. Một thứ bột trắng mịn vãi ra ngoài hộp. Anh cẩn thận vét một nắm, đưa lên mũi ngửi. Anh giật mình: một hương thơm man mát làm anh bỗng nhớ đến mẹ.
- Phấn thơm! – Mira mỉm cười khi anh mang về cho cô một hộp còn nguyên lành – Có thật trên cõi đời này còn những phụ nữ đánh phấn, bôi son và uốn tóc không nhỉ? Có lẽ đây là lần đầu tiên trong đời, em xoa phấn lên mũi!
- Ở đấy còn vô khối, đủ cho em xoa cả trán lẫn má.
- Còn vô khối à? – Cô chau mày cố nhớ lại – Khoan đã, khoan đã. Trong nhà ăn có một gian buồng. Đúng rồi, em vẫn nhớ. Như vậy là nhà kho phải nằm ở một chỗ nào sát đấy. Ngay gần đấy là nhà kho.
Anh cặm cụi đào bới chỗ ấy, đôi lúc quên cả nguy hiểm. Anh vừa đào vừa thở, vừa thở vừa bới cho đến lúc những ngón tay bầm tím. Anh vứt những mảnh bát, mảnh chai sang một bên. Và cuối cùng, dưới những hòn gạch, ngón tay anh đụng phải mặt bao tải to sợi.
Anh vật lộn cho đến tận khuya để lôi cái bao tải lên. Hai lần gạch đổ xuống làm anh mất công toi, nhưng cả hai lần, lồng lộn trong tuyệt vọng, anh lại bới được đến nơi bằng cách xếp gọn từng viên gạch một. Cuối cùng, anh lôi được nó lên một cách nguyên lành, nút buộc còn rất chắc. Anh lấy dao con cắt đứt dây, thọc tay vào bao và sờ thấy những thỏi bánh mì khô vuông và dầy.
Trời phủ đầy những đám mây rất thấp và dưới hố tối om. Anh lấy thỏi bánh ra và đưa lên sát mặt. Không nhìn thấy gì cả nhưng anh lại ngửi thấy mùi bánh mì khô thơm tho,ngon lành. Anh hít ngửi không biết chán, người anh run lên lúc nào không biết, run vì quá mừng vui chứ không phải vì rét. Anh liếm thỏi bánh, lưỡi anh chạm phải chỗ trơn ướt và mặn mặn, anh lại liếm lần nữa, người đờ dại và sau mới nhận ra thỏi bánh đã ướt đẫm nước mắt, những giọt nước mắt xa lạ đến nỗi anh không cảm thấy.
Suốt ngày hôm sau, anh và Mira ngồi nhai bánh, có lẽ đây là một ngày vui sướng nhất trong đời họ. Plugiơnhicốp cảm thấy hạnh phúc vì chính anh đã mang niềm vui ấy đến cho Mira. Gần đây anh thường hay bắt gặp cô hay khóc thầm. Khi gặp anh, cô hay mỉm cười và cô đùa vui, nhưng anh đã thấy có điều gì đó xảy ra ở cô. Mira chẳng bao giờ phàn nàn, cô thường im lặng, thậm chí còn tươi tỉnh nữa. Nhưng cứ đêm đến, chờ lúc anh ngủ say, cô vừa vuốt ve anh vừa thổn thức, vừa yêu thương, vừa tuyệt vọng. Đôi khi, Plugiơnhicốp cũng thấy cô khổ sở che giấu cơn nôn oẹ và anh cho rằng do chỉ có một món ăn đơn điệu nên mới gây ra hiện tượng ấy. Anh muốn tìm kiếm cho cô một món gì khác ngoài bánh mì khô và đồ hộp, nhưng lại không biết tìm ở đâu và tìm món gì.

- Chúng ta giả vờ anh là một tên phù thuỷ nhé!
- Nhưng anh là phù thuỷ thật – cô nói – Anh đã làm cho em hạnh phúc, nếu không là phù thuỷ thì ai làm được vậy?
- Được rồi, anh đang là phù thuỷ và anh cho em một điều ước. Em thích gì nào? Hãy ước điều ước khó nhất đi.
- Một con cá măng nhồi thịt và một quả dưa chuột muối thật to.
Một ý nghĩ điên khùng xâm chiếm lòng anh. Anh không nói gì với Mira, nhưng sáng hôm sau, anh mang bốn thỏi bánh và ra đi sớm hơn mọi ngày, lúc này trời còn tối.
- Hôm nay đừng đi anh ạ! – Mira van nài – Anh ơi, đừng đi.
- Hết ngày chủ nhật rồi mà – Anh nói vui.
- Đừng, anh – Mira nhắc lại, giọng lo âu đến lạ lùng - Ở lại với em. Em ít được nhìn thấy anh quá.
- Dù anh ở lại dưới này em cũng có nhìn thấy mặt anh đâu.
Những ngày này, để tiết kiệm mỡ, họ chỉ dùng một bấc đèn. Bóng tối dầy đặc bọc kín lấy họ từ mọi phía, suốt một thời gian dài họ toàn dò dẫm.
- Anh không trông thấy em thì càng hay – Mira thở dài – Trông em bây giờ khủng khiếp lắm.
- Em xinh đẹp nhất – anh âu yếm hôn cô rồi đi ra.
Khi anh lên khỏi hầm thì trời vừa vặn sáng. Anh đứng lại nghe ngóng, nhưng không nghe thấy gì ngoài tiếng mưa rơi đều đều. Anh thận trọng đi về phía Điện Trắng. Anh vượt qua đường một cách an toàn và trèo qua những đống gạch vỡ để chui xuống đường ngầm.
Hình như đây là chỗ để thương binh trong những giờ đầu của cuộc chiến tranh. Chính ở chỗ này, đồng chí thượng uý đã qua đời – anh nhớ có lúc nào đó chính anh cũng không muốn tin thượng uý đã hy sinh. Những xác chết đã được đưa ra khỏi đường ngầm, nhưng mùi tử khí vẫn phảng phất trong không khí hầu như có thể sờ thấy được giữa bóng tối. Plugiơnhicốp di chuyển rất cẩn thận dường như sợ vấp phải xác người đã nằm lại đây trong những giờ đầu của chiến tranh. Anh tìm một lỗ châu mai để quan sát, nhưng bên ngoài không nhìn thấy được. Nhiều vết vá xám xịt chỉ rõ những chỗ thích hợp nấp vào đấy, súng đặt bên cạnh và chuẩn bị chờ đến cùng.
Có điều lạ là anh vỗn dĩ không được kiên nhẫn và hay xốc nổi, nhưng bây giờ mối nguy hiểm thường xuyên đã dạy anh phải chờ đợi và nằm im như một con vật bất động. Anh nhớ cách đây khá lâu, từ trước chiến tranh, anh đã phải chờ để ông giám đốc trường huấn luyện tiếp anh. Anh nhớ đến tính xốc nổi trẻ trung, nhớ đôi ủng bóng lộn, đến cái áo chẽn lưng mềm mại và sạch sẽ, mặc vào rất dễ chịu của mình. “Một năm nữa chúng tôi sẽ gọi đồng chí về trường huấn luyện …â€. Một năm! Những ngày vô tận đã qua đi kể từ ngày ấy và không biết bao giờ mới hết năm… Sự bất tận hoá ra ngắn hơn ngày tháng trên cuốn lịch, vì sự bất tận có thể cảm thấy còn ngày tháng thì phải sống qua mới biết được.
Anh nghĩ đến mẹ và Vêra. Anh biết bọn Đức đã tiến sâu vào nước Nga, nhưng không bao giờ, dù chỉ là giây phút, anh nghĩ rằng chúng có thể chiếm được Mátxcơva. Chúng có thể chọc thủng Minsk, thậm chí chúng có thể đánh đến Smolensk, nhưng ý nghĩ về sự xuất hiện của chúng ở Mátxcơva thì thật là ngu xuẩn. Anh phác hoạ ra cảnh tượng trong khi tiếp tục chiến đấu ngoan cường: Hồng quân đang nghiền nát sư đoàn phát xít. Anh đảm bảo chắc chắn Hồng quân sẽ nghiền nát quân Đức và tiến công. Rồi một ngày nào đó trong mùa xuân, Hồng quân sẽ trở lại đây, trở lại pháo đài Brét này. Từ giờ đến mùa xuân là cả một khoảng thời gian bất tận, nhưng anh quyết sống cho đến ngày đó. Phải sống để gặp lại quân mình và báo cáo pháo đài đã không đầu hàng. Sau đó, anh gửi Mira về Mátxcơva cho mẹ anh. Còn anh, anh cùng với Hồng quân tiếp tục tiến về phía tây, tiến vào nước Đức.
Cuối cùng, anh nghe thấy tiếng chân, không phải là tiếng ủng đều đặn của nhà binh, mà là tiếng chân lộn xộn không đều của thường dân. Anh nhìn ra ngoài. Toán phụ nữ từ từ xuất hiện trước Điện Trắng. Ba tên lính gác đi phía trước, bốn tên khác đi phía sau, và ở mỗi bên hàng người chập chững, lộn xộn ấy còn ba tên nữa. Chỉ có bọn đi trước và đi sau có súng tiểu liên, còn bọn đi hai bên mang súng trường. Khi còn ở xa, những khẩu súng trường này trông dài lạ nhưng khi chúng đến gần anh, anh thấy đó là những khẩu súng của Hồng quân có lưỡi lê bốn cạnh. Qua đó, anh nhận ra không phải chỉ có bọn lính Đức lác toán phụ nữ này mà còn những kẻ đến với quân Đức như kiểu Phêđôrôtruc.
Có tiếng hô và hàng người đứng lại. Bọn lính gác tản ra các vị trí, toán phụ nữ tiếp tục tiến đến khu nhà đổ, đi thẳng về phía anh, vì vậy anh phải rút sâu vào chỗ tối. Họ trò chuyện rì rầm và nghỉ ngơi trước khi bắt tay vào việc. Một vài người ngồi, một vài người buộc lại giầy, số khác thì sửa lại khăn trùm đầu. Họ ở rất gần, Plugiơnhicốp nhìn thấy tất cả những giọt nước mưa chảy trên áo bông và áo choàng của họ. Mặt họ ẩn kín dưới những tấm khăn trùm đầu kéo sụp xuống tận mắt. Anh nghe thấy tiếng họ, nhưng không phân biệt được họ già hay trẻ và họ là ai. Tất cả những khuôn mặt đều phờ phạc, buồn rầu. Ngoài tiếng Nga ra, anh còn nghe thấy tiếng Bêlôruxia và một vài thứ tiếng khác anh không hiểu, có lẽ là tiếng Ba Lan hay tiếng Do Thái. Giờ đây anh có thể gọi họ, thậm chí có thể nói chuyện với họ, vì không có bọn lính gác đứng cạnh đây. Song hôm nay, anh không muốn liều lĩnh. Anh hoãn việc này đến hôm sau, khi đã thăm thú căn hầm cẩn thận và tìm được lối rút an toàn.
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #73 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2009, 10:04:15 am »

Tia sáng lọt qua lỗ quan sát của anh đột nhiên biến mất. Thoạt đầu anh không hiểu đầu đuôi ra sao bèn lùi sâu vào góc tối hơn. Nhưng sau đó cái lỗ lại sáng mờ mờ, nhưng hình thù của nó khác hẳn. Anh nhìn sát vào lỗ và thấy một gói nhỏ ở đấy, một cái gói bình thường bằng khăn trùm đầu buộc túm bốn góc: một phụ nữ nào đó trong toán đã để nó trên gờ cửa sổ hầm ngầm để tránh những cơn mưa thu nặng hạt.
Ngay sau khi toán phụ nữ bắt tay làm việc, anh thận trọng với lấy bọc vải. Anh giở khăn bọc ngoài ra, rồi giở đến miếng vải trắng sạch sẽ bên trong và cười thầm sung sướng: chưa bao giờ trong đời anh gặp may như thế này. Quả thực là chưa bao giờ: sáu củ khoai tây luộc, một củ hành và một nhúm muối bọc trong gói phơi ra trước mắt anh.
Anh sung sướng và biết ơn những thân hình ủ rũ, lom khom của những người đàn bà kia, người họ ướt súng vì phải phơi mình dưới làn mưa thu dai dẳng. Một người nào đó trong bọn họ, rõ ràng không biết gì cả, đã cho anh món quá quý giá nhất. Ngẫm nghĩ giây lát, anh đặt ba cái bánh mì khô vào khăn, gói vuông vắn như cũ và đặt vào hốc. Anh đút miếng vải trắng gói mấy củ khoai tây và củ hành vào áo và đi sang một dãy ngầm xa nhất. Anh cứ ngồi như vậy đến tận đêm, vừa gặm bánh vừa hình dung xem Mira sẽ mừng như thế nào.
- Anh đúng là phù thuỷ thật ư?
Anh kể cho Mira nghe về những hầm ngầm của Điện Trắng, về toán phụ nữ và cái bọc vải. Mira vừa nghe vừa ăn khoai, nhưng cô không ăn với vẻ sung sướng như anh mong muốn. Đôi lúc hình như có điều gì đó ngăn niềm vui của cô lại, hình như cô đang lo lắng vì những ý nghĩ dai dẳng nào đó.
- Hình như em không được vui?
- Không. Sao lại thế? Cám ơn anh! Phần của anh đây, ăn đi anh!
- Của em tất cả đấy, đừng cãi nữa! Anh ăn gì chả được, còn em thì lại đang ốm, anh thấy rõ lắm.
- Anh chàng ngốc ơi – Mira thở dài, giọng đau xót rất khó hiểu - Trời ơi, anh vẫn ngây thơ quá đi thôi!
Cô nép sát vào anh, úp mặt vào ngực anh và oà khóc. Nước mắt cô chảy xuống mấy củ khoai chưa ăn.
- Có chuyện gì vậy em, Mira? Trời, có chuyến gì xảy ra với em vậy?
Mira ngước mặt lên và chăm chăm nhìn anh rất lâu. Ánh sáng tù mù chiếu lên mặt cô. Anh nhìn vào đôi mắt to u buồn đầy những giọt nước mắt long lanh trước ánh đèn yếu ớt.
- Mira…
- Chúng ta sắp phải xa nhau – cô thì thào một cách gượng gạo – Anh thân yêu! Người chồng thân yêu của em! Người yêu duy nhất của em! Chúng ta sắp phải xa nhau.
- Xa nhau? – anh hoàn toàn bối rối, chẳng hiểu gì cả - Nhưng vì sao mới được chứ? Tại sao vậy? Nói đi em! Em ốm à? Đừng khóc thế. Nói đi!
- Chúng ta sắp có con.
- Có con? Sao? Con nào?
Tin đó đổ sập xuống người anh như một bức tường, khi anh chưa hiểu ra hoặc nhận thấy gì cả nhưng anh bỗng thấy sợ hãi, sự cô độc, sự sợ hãi làm người ta tê dại, mất cả lý trí.
- Anh biết đấy, em là một phụ nữ bình thường - giọng Mira vừa chua xót vừa pha vẻ tự hào xa lạ - Em là một phụ nữ bình thường, cái điều bình thường ấy sẽ phải xảy ra và giờ đây phải xảy ra. Có lẽ là do hạnh phúc, thậm chí còn là niềm hạnh phúc lớn lao nhất trong đời em, nhưng đòi hỏi chúng ta phải trả giá.
- Không đi đâu cả - giọng anh khản đặc và tuyệt vọng – Dù xảy ra điều gì, em cũng đừng đi.
Anh không biết mình đang nói gì, đấy là tiếng nói tuyệt vọng. Mira uể oải lắc đầu:
- Em phải đi thôi anh à!
- Anh hiểu. Anh hiểu. Thôi được!
Anh có cảm giác đã xa cô và đang đắm chìm trong nỗi cô đơn. Cô xích lại gần anh hơn, ép sát người vào anh, sờ soạng, xoa vuốt, hôn lên đôi gò má hốc hác và xồm xoàm của anh, còn anh, anh vẫn ngồi im như pho tượng đá.
Họ ngồi rất lâu như vậy, Mira không giải thích và cũng không thuyết phục. Cô biết rồi đây, cũng như cô, anh sẽ phải quen với ý nghĩ đó. Nhưng Plugiơnhicốp lại muốn hét lên, muốn lao ra khỏi hầm và xả cả một băng đạn đầy ắp vào bọn Đức rồi hy sinh, bởi lẽ nỗi đau đớn anh phải chịu đựng còn tồi tệ, đáng sợ hơn cái chết. Nhưng anh vẫn kiên nhẫn ngồi chờ nỗi đau ấy qua đi, vì anh biết mọi cái đều sẽ qua đi. Anh đã biết cách chịu đựng tất cả, anh cũng có thể chịu đựng được những điều không chịu đựng nổi.
Cuối cùng, anh thở dài và cựa quậy. Mira đang chờ đợi tiếng thở dài ấy, rồi mới cất giọng nhỏ nhẹ và buồn rầu như thể đây là cuộc chia tay vĩnh viễn:
- Anh Kôlia, nếu không vì con, không vì đứa con của chúng ta, em sẽ chẳng bao giờ rời bỏ anh. Em đã nghĩ, dù có làm sao, dù có phải chết trước anh, thì em cũng được chết trong niềm hạnh phúc. Anh là cả cuộc đời em, là mặt trời nhỏ của lòng em, là niềm vui của em. Anh là tất cả, là tất cả những gì em có được. Nhưng dù sao đứa con của chúng ta cũng phải ra đời, anh Kôlia ạ. Nó phải được chào đời, nó không có gì phải xấu hổ trước con người. Nó phải được ra đời một cách đường hoàng, một cách mạnh khoẻ. Nhưng ở đây… Anh ơi, ở đây, em cảm thấy sức khoẻ của nó mòn mỏi đi từng giây phút. Sức khoẻ của nó, chứ không phải của em đâu, Kôlia ạ. Thượng đế đã dành cho mỗi người phụ nữ nềm hạnh phúc nhỏ nhoi và trách nhiệm lớn lao. Em lại là người phụ nữ có hạnh phúc. Hạnh phúc hơn tất cả những người phụ nữ trên đời này. Bời vì chính anh đã tạo cho em niềm hạnh phúc ấy. Chỉ một mình anh cho riêng em niềm hạnh phúc này thôi. Anh trao nó cho em bất chấp chiến tranh, bất chấp tất cả bọn Đức, bất chấp số phận cuả em và bất chấp tất cả mọi thứ trên đời này! Em biết rồi đây anh sẽ phải chịu khó khăn hơn em nhiều, anh sẽ bị bỏ lại một mình, nhưng em sẽ mang theo em một phần tương lai của anh. Em biết bây giờ là giờ phút hãi hùng nhất trong cuộc đời chúng ta, nhưng chúng ta phải và nhất định phải vượt qua được, để cho nó, đứa con bé bỏng của chúng ta được sống. Đừng lo nghĩ cho em, em đã nghĩ kỹ cả rồi. Chỉ cần anh đưa em đến với toán phụ nữ kia, họ sẽ mang em đi cùng với họ ra khỏi pháo đài.
- Rồi sau đó thế nào?
- Sau đó đã có mẹ. Anh đừng lo chuyện đó. Mẹ và tất cả gia đình em. Trên trái đất này, không có ai nhiều quan hệ ruột thịt như người Do Thái đâu.
- Toán phụ nữ được áp giải theo từng hàng.
- Thừa ra một người, ai chú ý? Đừng lo, anh thương yêu, mọi sự đều tốt đẹp cả thôi mà! Mọi sự đều sẽ tốt đẹp. Bác Mikhaxi vẫn nói thế, anh còn nhớ bác ấy chứ gì? Bác ấy đã đưa chúng ta tới pháo đài. Chúng ta đã thấy cái cột ấy bên cạnh đường, và lần đầu tiên em đã đụng phải tay anh…
Cô nói, nói rất dài, cô gượng cười trong lúc nước mắt vẫn trào ra không sao kìm được. Những giọt nước mắt rơi xuống tay anh, nhưng anh không khóc được nữa, những giọt nước mắt cuối cùng của anh đã nhỏ xuống thỏi bánh khô. Anh không còn nước mắt để khóc nữa. Lòng anh bừng bừng như đang ngồi trên bếp than hồng.
- Em phải ra đi - giọng anh khàn khàn – em phải về chỗ mẹ, và nuôi nấng đứa con của chúng ta. Nếu anh còn sống sót…
- Kôlia!
- Nếu còn sống sót – anh nhắc lại, giọng chắc nịch – anh sẽ tìm em. Nếu không… Em hãy kể cho con nghe về chúng ta, về tất cả những người đã hy sinh ở dưới những tảng đá này.
- Nó sẽ cầu nguyện trước những tảng đá ấy.
- Không, không cần phải cầu nguyện. Chỉ cần ghi nhớ thôi.
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #74 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2009, 10:04:41 am »

Họ ra khỏi hầm giữa bóng tôi dầy đặc và đến được khu nhà đổ của Điện Trắng một cách an toàn, mặc dù việc đó rất khó khăn đối với Mira. Cô rất yếu, lại không quen đi bộ, đường lại khó đi, không hợp với người có chân giả như cô. Thỉnh thoảng Plugiơnhicốp phải bế cô lên. Anh không cảm thấy khó khăn nặng nhọc gỉ cả, tấm thân yêu quý và nóng hổi của cô sao gầy và nhẹ quá thế. Đến được đường hầm, trong khi dò xét kỹ lối ra vào và chỉ cho cô cái lỗ hổng mà từ đấy anh có thể quan sát cô lần cuối cùng. Rồi tại nơi này, họ cất lời chào tạm biệt và Mira thận trọng chui ra

Cô mặc chiếc áo lót bông như phần đông những người trong toán phụ nữ, trên đầu cũng quấn khăn, nên chẳng ai để ý. Toán phụ nữ đang cắm cúi làm, cô cũng bắt tay vào công việc.
- Cô tự hành hạ mình làm gì? - Một phụ nữ càu nhàu hỏi - Một chân cô bị tật phải không?
Người thứ hai thở dài cay đắng:
- Trời ơi, chúng nó bắt cả người què. Bọn súc sinh! Đừng có đi loanh quanh, hãy đến xếp gạch ở đây này.
Những đống gạch được xếp cạnh đường, Mira không muốn tới đấy vì sợ phải xa Plugiơnhicốp. Nhưng cô nghĩ, khôn nhất là đừng cãi lại họ và cô mừng thầm vì hình như đám phụ nữ đã nhận cô là người của họ. Cố dấu dáng đi khập khiễng, cô đi xếp những viên gạch thành từng chồng.
Plugiơnhicốp lặng lẽ nhìn theo cô đi ra và bắt đầu làm việc. Nhưng sau đó bóng những người đàn bà khác che lấp mất tầm nhìn của anh. Anh không thấy Mira nữa. Anh đã nhìn thấy cô nhưng cuối cùng anh để mất hẳn cô. Anh không tài nào phân định rõ bóng cô đâu nữa mặc dù vẫn cố dõi mắt tìm kiếm. Anh lo sợ trong nỗi tuyệt vọng: anh sẽ chẳng bao giờ gặp lại cô, anh cũng không ngờ số phận đã giành cho anh cái đặc ân không phải chứng kiến một cảnh tượng vô cùng rùng rợn và hết sức man rợ.
Khi những tên lính gác đến thì trờ về chiều. Trước đó, Mira chỉ nhìn thấy chúng từ xa khi chúng sưởi bên các đống lửa hoặc đứng dựa vào tường. Giờ đây những tên lính vạm vỡ vì vô công rồi nghề ấy đã xuất hiện và đang lăng xăng quát tháo.
- Đứng vào hàng! Nhanh lên! Nhích lên, các mụ này!
Những tên Đức chỉ huy chưa chịu rời khỏi đống lửa, còn bọn lính gác mặc quần áo màu xanh xám và đeo súng trường có cắm lưỡi lê thì đang sốt sắng đốc thúc tập hợp đội ngũ. Chúng chạy lăng xăng quanh đám đàn bà đang chậm chạp đứng vào hàng và ra lệnh bằng tiếng Nga.
- Xếp hàng bốn!
Mira cố chen vào giữa hàng người. Nhưng trong khi xếp hàng bốn, những người đàn bà buộc lòng phải đẩy cô sang bên cạnh, cho đến khi cô tụt lại cuối hàng, phía bên trái. Cô lại cố chen vào giữa một cách tuyệt vọng, nhưng những người đàn bà mệt mỏi càu nhàu với cô rằng cô không thuộc tốp bốn người của họ và lại đẩy cô ra khỏi hàng bốn, nên cô đứng trơ một mình.
- Sao lại xô đẩy thế? – tên lính gác cao lớn bực tức quát to: hắn là tên hung hăng hay quát tháo hơn những tên khác - Xếp hàng bốn! Mấy con mụ này. Đứng sát lại đi!
- Hàng bốn của chúng tôi đây – có tiếng ai càu nhàu – nhưng thừa ra một người kia kìa.
- Sao lại thừa một? Con ấy ở đâu ra? Không thể thừa được. Hãy xếp hàng ngay ngắn lại xem nào!
- Đấy, cô kia…
Trống ngực Mira đập dồn dập và tuyệt vọng. Tên lính gác bước dọc theo hàng đến chỗ cô, cô cố dồn hết sức lực còn lại mỉm cười với hắn.
- Mày ở đâu đến? - hắn ngạc nhiên hỏi và dừng lại trước mặt cô.
- Từ thành phố đến. Ông không nhận ra tôi ư?
- Từ thành phố hở?
- Thôi, thôi, để cho chúng tôi đi! – Mira tuyệt vọng kêu lên và đau lòng trước ý nghĩ: Plugiơnhicốp đang phải chứng kiến cảnh này - Chả lẽ trên đường đi, chúng tôi không trình bày được hay sao?
- Đúng đấy, hãy để cho chúng tôi đi – đám phụ nữ tức tốc kêu lên - Chịu rét mướt suốt ngày ở đây đủ rồi! Tại sao ông bắt bẻ cô ta! Không phải thiếu một mà là thừa một cơ mà!
- Thừa à?… - tên lính gác bần thần nhắc lại - Thừa một phải không? Mày chui từ đâu ra?
- Hắn túm lấy áo cô và lôi sát về phía hắn. Mira cố ghìm chân lại.
- A ha! Con vật hôi thối trong đường ngầm hả? Phải không? Thưa ngài sĩ quan! Đồ chó đẻ! Đồ chuột cống! Mò lên phơi nắng hẳn? Thưa ngài sĩ quan!
- Để cho tôi đi! – Mira lẩm bẩm, cô gần như tắc thở mỗi khi cánh tay hộ pháp của tên lính gác giật áo cô mạnh đến nỗi đầu cô lắc lư lia lịa – Xin ông để cho tôi đi! Xin ông…
- Mày ở đâu ra? Ở đâu?
Đột nhiên hắn buông cô ra và chạy về phía tên lính Đức nhiều tuổi đang đủng đỉnh đi từ đầu hàng xuống. Còn Mira, cô đứng lặng giây lát rồi chạy khập khiễng theo hắn để khuất vào hàng người cho Plugiơnhicốp khỏi trông thấy.
- Nó đây, thưa ngài sĩ quan, thừa ra một mình nó. Nó có lẽ bò dưới đường hầm lên.
Mira không nghe tên lính nói nữa. Cô chỉ nhìn khuôn mặt bé choắt, kinh tởm của tên sĩ quan Đức và thấy khuôn mặt tầm thường, mệt mỏi ấy qua quen thuộc. Cô hãi hùng chấp nhận điều đó với mình và vẫn hy vọng ở phép màu nhiệm nào đó, nhưng không có phép màu nhiệm nào cả, chỉ có tên lính Đức ấy. Nhưng không phải là tên Đức có cái mũi tím bầm vì rét, mà là tên Đức cô đã gặp trước đây ở hầm, tên Đức có đôi tay run rẩy vì sợ hãi khi hắn cố nhặt mấy tấm ảnh của con hắn từ trên bàn lên.
- Jude! – tên Đức quát và chỉ tay vào mặt cô – Jude! Bunker! Jude! Bunker! (- Do Thái! Hầm trú ẩn! -)
- Không thể để cô ấy yên được à? – toán phụ nữ nhao nhao trong khi tên lính gác hết chạy lên đầu hàng lại chạy xuống cuối hàng và giơ lưỡi lê đe doạ họ - Đến giờ về rồi! Chúng tôi đang chết cóng đây này! Hãy để cô ấy yên, cô ấy là người trong đám chúng tôi! Phải, phải! Người của chúng tôi đấy… Không phải…
- Jude! Bunker! Jude! Bunker! – tên Đức tiếp tục quát và lùi lại sau khi Mira bước thẳng đến trước mặt hắn, cô không nhìn ai và cũng không nghe ngóng gì hết. Cô cứ bước đi với ý nghĩ duy nhất là càng cách xa được lỗ quan sát của Plugiơnhicốp chừng nào hay chừng ấy.
Có lẽ toán phụ nữ đã bị giải đi. Không, hình như chưa, có lẽ cô tưởng thế thôi. Tai cô kêu vo vo, và qua tiếng vo vo ấy cô chỉ nghe thấy mấy tiếng kinh khủng: “Judeâ€, “Bunkerâ€. Tim cô khi thì như ngừng đập và ớn lạnh trước một linh cảm về một điều gì đó rất khủng khiếp sắp xảy ra, khi thì đập rất dữ dội, làm cho cô nghẹt thở. Cô phải hổn hển há mồm đớp từng ngụm không khí, và vẫn bước đến chỗ tên Đức đang lùi lại.
Thậm chí, ngay cả lúc chúng giơ báng súng thúc vào người cô với một sức mạnh man rợ của bọn vũ phu, cô cũng không cảm thấy đau đớn gì cả. Cô chỉ cảm thấy đầu mình bi hất ngửa ra sau bởi một cú giáng mạnh vào sau lưng, và mồm mình có chút gì mằn mặn, sền sệt. Nhưng sau cú đòn ấy, cô vẫn tiếp tục tiến lên, cô chẳng hiểu vì sao mình không nhổ máu ra, và cảm thấy hình như không một sức mạnh nào có thể buộc được cô dừng lại lúc này. Những trận mưa báng súng cứ tiếp tục giáng xuống vai cô tới tấp: cô cúi gập người mỗi lúc một thấp hơn và cố ôm chặt lấy bụng một cách bản năng, không phải vì nghĩ đến cái thai trong bụng mà nghĩ đến người vĩnh viễn ở lại phía sau, cô cố mang hết sức tàn để che chở cho anh. Cuối cùng, khi chúng đánh gục cô, dù đã ngất lịm, nhưng với chút ý thức còn lại, cô vẫn ngoan cường bò lên phía trước và kéo lê cái chân gỗ một cách vụng về.
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #75 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2009, 10:05:02 am »

Cô bò cho đến khi bị lưỡi lê đâm bồi thêm hai nhát. Hai mũi đâm đau nhói là nỗi đau đớn đầu tiên và cũng là cuối cùng cô cảm thấy và chấp nhận với toàn bộ sự mảnh mai của cơ thể còn nóng ấm. Một tia sáng chói chang loé lên trước đôi mắt nhắm nghiền của cô và trong tia sáng tàn nhẫn ấy, cô đột ngột nhận ra: mình sẽ chẳng bao giò có con, có chồng và có cuộc sống của chính mình. Cô muốn thét lên thì từ trong miệng cô tuôn trào một dòng máu đặc, nhầy nhụa.
Dù cô đã mất hết cảm giác, dù đang trôi bồng bềnh trong nỗi hãi hùng dai dẳng và lạnh lùng của phút giây hấp hối, cô vẫn cảm thấy những cú đòn đang rơi như mưa xuống vai, xuống đầu và xuống lưng mình. Nhưng chúng không đánh cô nữa mà đang vất những viên gạch xuống người cô giữa cái hố nông choẹt nằm ngoài bức tường của Điện Trắng để chôn sống cô.
Những đám mây vẫn sà thấp trên đầu suốt những ngày qua, giờ vỡ ra từng mảng. Một mảnh trời đã lặn từ lâu miễn cưỡng chiếu xuống con đường gồ ghề, một góc nhà đổ, một mảnh tường vỡ toác và một hố đạn đại bác đổ trút chằng chịt. Lát sau, ánh sáng lại tắt và những đám mây mùa thu xám xịt lại phủ kín bầu trời….


… Một lần nữa anh lại không tính được ngày tháng. Anh nằm trong bóng tối dầy đặc, lắng nghe tiếng chuột gặm bánh mà không sao đủ sức nhỏm dậy để cất bánh vào chỗ kín hoặc cố nhớ hôm này là ngày mấy. Anh không biết mình sẽ sống được bao lâu trong tình trạng không có nước, không có thức ăn, thu mình trong tấm áo khoác và tám áo độn bông. Khi hơi tỉnh lại, anh cố lê đến chỗ có nước, uống ừng ực rồi lại đắm chìm trong cơn mê kỳ lạ. Tỉnh dậy, anh lại uống nước. Cuối cùng, anh lê đến cạnh bàn, tìm đường và tìm những miếng bánh chưa bị chuột ăn. Anh bốc đường cho vào miệng và nhai bánh mặc dù không thấy đói gì hết. Nhưng anh cứ phải ăn bởi vì lúc này bệnh anh đã lui và anh phải đứng dậy.
Do không tính được ngày tháng, nên khi thấy tuyết trắng xuất hiện, anh không hề ngạc nhiên. Lúc này đang là nửa đêm, sao lấp lánh trên bầu trời đen thẫm, nhưng cả pháo đài lại phủ một màu trắng xoá. Anh ngồi bên cửa hầm, thu mình trong chiếc áo bông dày, khao khát hít thở khi trời giá lạnh, tinh khiết và mừng thầm vì mình còn sống.
Anh gần như đã hồi phục mặc dù vẫn hay chóng mặt vì còn yếu. Anh đun một ống bơ nước bằng thuốc nổ, nhúng cả hộp thịt vào đấy và lần đầu tiên anh ăn thấy nhon miệng. Ăn xong, anh nằm thu mình trong tấm áo bông dày cộm. Giờ đây, một lần nữa, anh tin vào sức khoẻ của mình, và lại tính ngày tháng, nhưng mặc dù đã cố gắng, anh vẫn không sao nhớ được hôm này là ngày mấy.
Cả ngày hôm sau, anh ngồi lau chùi vũ khí và nạp đạn vào đầy các băng. Anh đã lâu không đi kiểm tra khu vực của anh và săn lùng bọn lính tuần tra. Bây giờ anh đang chuẩn bị cho một cuộc phá vây với tâm trạng bồn chồn, háo hức. Anh còn sống, và cảm thấy mình vẫn là người chủ của pháo đài Brét đang im lìm nằm dưới tuyết.
Nhưng ngoài nhiệm vụ chính cơ bản nhất, anh còn một nhiệm vụ riêng tư nữa. Nó lởn vởn trong ý nghĩ một cách thầm kín tựa như anh muốn giấu kín nó, tựa như nó đang vi phạm một mệnh lệnh quan trọng mà anh chính thức được giao, và một người nào đó có thể đang kiểm tra anh thực hiện. Nhưng anh đã sống nghiêm túc tựa hồ trước mặt anh luôn có một vị thanh tra vô hình đang theo dõi, và lúc này, trong ý nghĩ anh, có một điều gì đó phải được giữ kín, không để cho vị thanh tra ấy biết. Điều thầm kín ấy tự đến và anh thực hiện niềm khát kháo đó như một điều bí mật đối với mình.
Anh bỗng quyết định phải tìm bằng được khẩu súng lục riêng của anh, không phải bất cứ khẩu súng nào mà là khẩu súng có ghi rõ số trong giấy phép sử dụng, khẩu súng đầu tiên anh được giao trong buổi lễ bế giảng của trường huấn luyện và đã đánh mất trong trận giáp lá cà thứ nhất. Giờ đây, anh nhớ rất rõ trận chiến đấu ấy, bởi vì một tên Đức khủng khiếp có cái cằm giập nát, đã hiện lên với anh trong cơn hôn mê, nó lôi chân anh, hàm răng nhăn nhở ghê rợn nhe ra. Thế mà Xannhikốp vẫn không thấy đến cứu. Trong cơn hôn mê anh có cảm tưởng Xannhikốp sẽ chẳng bao giờ đến cứu anh ra khỏi cơn ác mộng ấy. Mồ hôi vã ra lạnh toát, anh đau lòng nhớ lại mọi chi tiết của ngày hôm ấy. Cuộc gặp gỡ với Xannhikốp và Đênhisich, cuộc giáp chiến và trận đánh đầu tiên cùng với nỗi hổ thẹn vì đã đánh mất khẩu súng lục được phát riêng cho mình.
Anh đến được khu nhà thờ mà không gặp trở ngại gì. Nhưng theo thói quen mỗi khi bước vào cửa, anh đưa mắt nhìn quanh và vội sững người lại vì phát hiện một điều sơ xuất chứa đựng những hậu quả nặng nề. Tuyết rơi không nhiều, và mặc dù đã cố ý bước lên những hòn gạch song anh vẫn để lại sau mình những dấu vết không thể nào xoá hết được. Chỉ có một cơn mưa tuyết mới làm nổi việc ấy, nhưng bầu trời lại sáng suả đến mức đáng nguyền rủa. Niềm vui mừng vì đã đến được nhà thờ của anh bay biến mất, nhưng bây giờ mà quay trở lại thì càng nguy hiểm hơn, tất cả dấu vết đều còn kia. Sau giây phút chần chừ, anh quyết định sẽ ở suốt ngày trong nhà thờ và chỉ trở về hầm vào ban đêm, anh hy vọng một may mắn nào đó sẽ làm cho tuyết rơi nhiều hơn để phủ kín những dấu vết kia trước khi trời sáng.
Những ngọn gió đông trong lành thổi qua khu nhà thờ, xua tan mùi hôi thối đã có lần cứu sống anh bằng cách giữ chân bọn Đức trước cửa ra vào. Quả thực lần ấy, anh buộc lòng phải nép mình trên khung cửa sổ trống trải, đợi đến khi trời tối hẳn. Lễ duyệt binh đã kết thúc trước đó, những nhân vật quan trọng đã ra về, những tên lính cũng đã giải tán. Sau đó, anh lần theo gờ tường giữa bóng đêm dày đặc, thoát được trót lọt. Song lúc này, những bông tuyết trong lành và vui mắt kia lại là đồng minh của kẻ thù.
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #76 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2009, 10:05:29 am »

Luôn thấp thỏm về điều đó, anh lo lắng nghe ngóng mọi thanh âm của buổi bình minh vắng lặng. Trong không khí giá lạnh, tiếng động truyền đến tai anh rất rõ: tiếng máy nổ, tiếng tuyết rơi lạo xạo, tiếng cười đùa của bọn lính Đức đang chơi vốc tuyết ném vào nhau trước cổng ba vòm.Thoạt đầu, mỗi âm thanh đều làm anh sợ hãi, nhưng dần dà anh nghĩ nhiều đến những điều đã giữ khu nhà thờ này cho riêng anh. Càng nhìn xung quanh, anh càng thấy bóng dáng những người đã mất quần tụ quanh mình gần hơn, họ không còn nữa, chỉ còn lại những ký ức trong anh mà thôi.
Anh nhận ra ngay khoang cửa sổ mình đã nhảy qua để vào nhà thờ hôm đầu tiên. Đúng cái cửa sổ này, không cần phải tìm kiếm lâu la gì hết. Chính anh đã chọn cái cửa này và đã hơi chần chừ khi đứng trước nó. Anh nhớ tới anh chiến sĩ biên phòng đã phải trả cả cuộc đời mình cho một phút nao núng ngắn ngủi. Những chuyện như vậy không dễ gì quên được, do thực sự không run sợ nên anh nhớ kỹ tất cả. Thậm chí, anh còn nhớ cả tia máu phun vào người anh khi viên đạn lẽ ra dành cho anh nhưng lại cắm vào người anh lính biên phòng đã chết ấy.

Nhưng chuyện đó sau này mới xảy ra. Còn lúc đầu, anh lao vào ngôi nhà thờ mù mịt khói, húc phải người nào đó, bắn một tên Đức, và tại đây, tên Đức khủng khiếp có cái cằm vỡ toác đã túm lấy chân anh. Nhưng anh đã đánh mất khẩu súng lục trước lúc đó… Trước hay sau? Không, trước đó, vì khi ấy có người thúc báng súng vào người anh, anh ngã xoài sang một bên, và khi tỉnh lại thì khẩu súng đã mất. Như vậy là mọi việc đều diễn ra tại đây, trên khoảng nền nhà chỉ vẻn vẹn mấy thước vuông, và bây giờ thì bừa bộn vôi vữa, gạch ngói và những vỏ đạn đã bắn.
Anh đi loanh quanh trong nhà thờ, gạch vỡ lạo xạo dưới chân. Những băng đạn rỗng của súng tiểu liên và súng máy, những bi đông bẹp dúm, những khẩu súng trường toác nòng và gãy báng, những ổ đạn súng liên thanh, tất cả những rác rưởi đó của chiến tranh đều xảy ra trước mặt anh. Anh sờ mó những thứ phế thải đó, chúng như chứa đầy những tiếng nói vang vọng muôn đời, những tiếng nói mà anh phải nâng niu gìn giữ trong tâm khảm. Nhưng anh không biết anh đang nắm giữ những tiếng nói đó mà không biết chúng đang vang lên trong lòng anh. Anh đã tưởng anh lẻ loi, cô độc trong im lặng, song sự im lặng ấy đã bị phá vỡ, sự lẻ loi ấy đã bị thủ tiêu, và đột nhiên anh hiểu rằng quá khứ là của anh, là di sản của anh, là niềm tự hào của anh. Không có sự cô độc câm lặng vì trong anh vẫn còn quá khứ. Nó là mảng dữ dội nhất, vang động nhất của cuộc đời anh.
- Không có cái chết nào hết – anh nói to một mình – Không có cái chết nào hết, anh bạn ạ!
Giọng nói nhỏ nhẹ của anh có sức vang kỳ lạ trong ngôi nhà thờ trống trải. Nó truyền qua bầu không khí lạnh giá, dội nhẹ vào tường và lan lên mái vòm vỡ toác. Anh im lặng lắng nghe như dõi theo tiếng nói của mình, và lúc ấy, anh cũng lọc được những âm thanh khác lạ từ ngoài vọng vào. Chưa kịp hiểu rõ và nhận ra là những âm thanh gì, anh chạy bổ ra cửa sổ, nép người vào một bên và thận trọng nhìn ra ngoài. Trong khoảnh khắc đó, quá khứ vụt biến mất: bọn Đức đang lặng lẽ bao vây nhà thờ.
Chúng chưa kịp khép kín vòng vây, do có tính toán trước, hoặc do quá vội vã mà chúng chừa cho anh kẽ hở duy nhất: một lối nhỏ lách qua khoảng đất trơ trụi để sang khu nhà đổ bên toà Điện Trắng. Một bóng đen nổi bật trên nền tuyết trắng giữa ban ngày: anh không còn tia hy vọng nào nữa cả. Nhưng anh không muốn trông chờ vào hy vọng, anh muốn sống, hoặc nếu phải chết thì sẽ chết trong tự do. Vì vậy, anh lao qua cửa sổ để ra ngoài.
Anh chạy thục mạng, không quay đầu lại nhìn và cũng không chạy vòng vèo, thậm chí cũng không cúi người xuống nữa, anh không được để mất giấy phút nào cả. Chạy được nửa đường, tuy nghe thấy tiếng quát và tiếng súng, nhưng anh không nằm xuống mà vẫn tiếp tục chạy, bất chấp những viên đạn bắn tung bụi tuyết dưới chân. Anh lao vào khu nhà đổ, thục mạng chạy sâu vào phía trong, đầu húc cả vào tường vì đang từ chỗ sáng chạy vào nên không thấy gì hết. Anh chạy, mang hết sức tàn ra mà chạy, rồi bất thần ngã gục xuống vì kiệt sức. Anh không còn sức, không còn không khí để thở, không còn gì hết ngoài trái tim đang đập dồn dập, điên loạn.
Nhưng anh không thể dừng lại lâu được, đâu đẩy vẳng lên tiếng quát, tiểng ủng chộn rộn, tuy xa nhưng cũng đã ở trong đường hầm, ngay dưới mái vòm. Anh buộc mình phải đứng dậy, lặc lè chạy sâu vào bóng tối, không cần biết đây là đâu, chỉ cốt làm thế nào thoát khỏi khu vực có tiếng quát tháo và tiếng giày ủng.
Anh không thông thuộc con đường hầm này. Trước đây, anh đã chần chừ không cho người đi trinh sát, và sau khi đưa Mira đi, anh lại bị ốm nên chưa đến đây lần nào. Bởi vậy mà giờ đây anh phải chạy một cách mò mẫm, luôn sa vào ngõ cụt hoặc đâm vào những chỗ bị sập đổ, và luôn nghe thấy những âm thanh đang rượt đuổi theo mình.
Rõ ràng bọn Đức không sợ anh, chúng biết chắc anh chỉ có một mình nên cứ đường hoàng lùng sục kỹ từng đường hầm một.
Đến một đoạn đường vòng, anh trông thấy một khe hở và chạy về phía ấy. Bằng bất cứ giá nào, anh phải thoát khỏi nơi này, phải phá được vòng vây đang khép chặt, phải đến được khu vực đổ nát của doanh trại liên hoàn, vì bọn Đức không thể vây kín khu vực ấy. Nhưng khu doanh trại đổ nát quen thuộc của anh đã bị cắt đứt, cho nên, sau khi luồn qua khe hở, anh chạy thẳng về hướng đối diện phía đông nam pháo đài.
Rõ ràng bọn Đức không ngờ anh dám liều lĩnh chạy ra chỗ trống: anh đã chạy được nửa sân thì có tiếng súng bắn sau lưng. Một lần nữa, anh không nằm xuống hoặc chạy theo hình chữ chi, mà lao thẳng lên phía trước, thậm chí chẳng cần cúi thấp xuống, như đang cố tình tìm đến cái chết. Nhưng một lần nữa cái chết đã không đến với anh, bọn Đức bỗng nhiên thôi bắn, chúng chỉ quát tháo, và ngay lúc ấy anh trông thấy những tên khác chạy dọc theo khu doanh trại để chặn đường anh. Chúng không bắn – rõ ràng chúng định bắt sống anh.
Dù sao, anh vẫn kịp đến được một cái lỗ hổng khá rộng và chạy nấp vào đấy. Anh đến trước vì anh đang chạy tìm sự sống, tìm tự do và anh có thể giành được cái giây phút quý giá ngắn ngủi, đủ cho anh quan sát xung quanh và nhận ra có chạy nữa cũng vô ích. Anh lao người vào kẽ hở, nâng súng lên và bắn từng loạt ngắn. Nòng súng nảy mạnh trên cánh tay bất lực của anh, và dĩ nhiên anh không bắn trúng tên nào, nhưng bắt được bọn Đức tản ra tìm chỗ nấp. Đợi chúng bắn trả xong, anh bắn thêm mấy phát nữa và giấu khẩu súng không đạn vào hốc tường, lấp sạch lại, rồi chạy lao vào khu nhà bên cạnh.
Chỗ này trước đây là chuồng ngựa. Khói và tuyết đều không khử hết được mùi hôi cố hữu của nó. Một đống phân khô rất to nằm ngay trong góc tường. Không kịp suy nghĩ gì hết, anh cố đào bới lớp phân trên cùng đã cứng khô lại. Súng vẫn nổ ở bên ngoài, còn anh, như một con chuột chũi, anh cố đào bới, cố thục sâu vào đống phân khô ấy. Anh chỉ ngừng tay khi nghe thấy có tiếng chân và tiếng người trong ngôi nhà bên cạnh.
Bọn Đức tìm kiếm khá lâu, chúng len lỏi hết khu vực xung quanh: tiếng người lúc xa, lúc lại oang oang ở ngay hầm bên cạnh. Anh không cựa quậy và hết sức nín thở, mặc dầu việc đó rất khó khăn, vì tim anh cứ đập liên hồi, không chịu đập chậm lại. Do hoảng sợ và mệt lả, người anh đầm đìa mồ hôi, bất cứ viên đạn vu vơ nào bắn vào đống phân cũng có thể là sự kết liễu đối với anh. Thậm chí với một cái nhìn tò mò ngẫu nhiên cũng có thể phát hiện được ra anh. Song đối với bọn Đức, sự có mặt của anh ở đây hình như là điều khó lòng xảy ra.
Nhưng dù sao, đây vẫn là sự thức hiển nhiên khi mọi cuộc tìm kiếm của chúng đều không mang lại kết quả. Anh thấy có tiếng chân đạp ngay trên đầu mình và vội co tròn người lại. Sau đó, có tiếng huýt sáo là lạ. Đang hoang mang chưa hiểu chuyện gì thì bỗng anh cảm thấy đau nhói: mũi lưỡi lê xỉa xuống đâm vào sườn anh. Toàn thân anh ớn lạnh – khi rút lưỡi lê lên, bọn Đức sẽ trông thấy vết máu, và tất cả sẽ kết thúc. Nhưng mũi lưỡi lê vừa được rút thì đã lại xỉa xuống, chỉ cách vai anh môt phân. Rồi lại được rút lên, xỉa xuống. Cuối cùng, sức nặng đè xuống lưng anh bỗng hẫng hẳn đi, anh nghe thấy tiếng chân huỳnh huỵch và biết bọn Đức đã nhảy xuống nền nhà.
Khi tiếng người và tiếng chân mất hẳn, anh vẫn chưa dám nhúc nhích. Vết đâm bên sườn anh đau nhói, anh cảm thấy máu mình đang rỉ ra và tay chân dần tê dại, nhưng anh vẫn không dám nhúc nhích. Anh tin, rồi sợ không dám tín, rồi lại tin mình đã thoát chết. Một lần nữa anh suýt chết. Nhưng anh không dám liều lĩnh. Trong tráng thái nửa tỉnh nửa mê, anh chịu đựng cơn tê dại đang lan dần trên cơ thể. Anh chịu đựng, có lúc ngất đi mấy phút rồi lại tỉnh, để sau đó lại ngất lịm đi. Toàn thân anh mất hết cảm giác, đến nỗi không biết vết thương của mình còn chảy máu nữa hay không. Đôi khi, anh sợ người bị cứng lại không thể bò ra khỏi đống phân được nữa. Vậy mà, anh vẫn phải nằm tại chỗ cho đến lúc bóng tối trùm xuống.
Chui ra khỏi đống phân một cách khó nhọc, anh ngồi đấm bóp chân tay rất lâu cho người ấm lại. Vết thương của anh không thấy chảy máu nữa, tay áo anh đã dính bết vào miệng nó, nhưng anh không có ý định xem vết thương sâu nông thế nào: dù sao lúc này cũng không có người băng bó và cũng không biết băng bó bằng gì. Anh đứng dậy, cố lê lên mấy bước, nhưng phải vội ngồi thụt xuống – chân anh cứng đờ, một cơn đau dữ dội thít chặt lấy những bắp thịt tê dại, đến nỗi anh phải cắn tay để khỏi hét lên thành tiếng. Nhưng rồi anh buộc lòng phải cất bước. Anh cần quay về hầm, bò vào hầm và đợi ở đấy cho đến khi tuyết lại rơi.
Anh bắt buộc phải đứng dậy tuy đầu gối vẫn rất run và cơn đau tuy đã giảm nhưng vẫn dữ dội. Anh lảo đảo lần tìm lối ra. Sau khi tìm lại được khẩu tiểu liên dưới đống gạch, anh thay băng đạn mới. Anh ít khi mang theo băng đạn dự trữ, nhưng không hiểu sao hôm nay anh lại cầm theo, nhờ vậy giờ đây súng anh vẫn có đạn. Anh xem lại băng đạn cũ – còn tám viên – anh tháo hết đạn ra cho vào túi và nhét băng rỗng xuống đống gạch như cũ.
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #77 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2009, 10:05:56 am »

Thật may mắn cho anh là không có vết máu lưỡi lê, có thể bọn Đức đã rút lên nhanh quá, hoặc đống phân ngựa đã chùi sạch máu trên lưỡi lê. Dù sao anh cũng hết sức may mắn, anh mỉm cười một mình, mặc dù mỗi bước chân là một cơn đau nhói.
Song, lúc này anh đang trên đường trở về nhà, và chỉ có điều này mới tăng thêm sức mạnh cho anh. Anh đang trở về nhà, ở đây có lương ăn, có nước uống, có đạn dược và áo ấm, ở đấy có tất cả mọi thứ còn đượm nồng hơi ấm của Mira.
Lúc nào anh cũng nghĩ đến cô, thậm chí cả trong lúc anh mê sảng. Anh thấy cô lần cuối cùng là lúc cô xếp gạch bên cạnh đường. Sau đó, anh để cô mất hút, nhưng vẫn biết rõ cô đang đứng đấy - giữa toán phụ nữ, những người đã tiếp nhận cô như người của họ. Anh đã thấy rõ, không hiểu sao họ xếp hàng khá lâu, anh cố dõi tìm Mira trong hàng người. Nhưng vì trời đã nhập nhoạng tối, mọi hình bóng đều mờ đi, anh không nhận ra cô đứng chỗ nào nhưng anh vẫn yên chí là cô đang cố lên vào giữa hàng người. Sau đó bọn Đức dẫn họ đi và khu sân trở nên vắng lặng. Anh nán đợi thêm lát nữa rồi trở về hầm. Suốt chặng đường ngắn ngủi, trong lòng anh chộn rộn cả niềm vui lẫn nỗi buồn. Song niềm vui đã át được nỗi buồn khi anh nghĩ Mira đã thoát ra khỏi pháo đài. Và giờ đây, anh càng thấy vui sướng hơn bởi vì ngoài niềm vui của quá khứ, anh không còn gì khác.
Đột nhiên, anh đứng sững lại và tở ra bối rối: anh không nhận ra chỗ ở nữa. Anh không thể nhận ra khu vực của anh trong pháo đài, nơi mà trước đây anh đã thông thuộc từng tảng đá. Nhưng bây giờ đã khác hẳn - trước mắt anh là những viên gạch ngổn ngang và không dính tuyết do bị bay đi vì sức nổ.
Ngách dẫn vào hầm ngầm đã biến mất. Cả đường ngách, hầm ngầm, lương ăn, vũ khí lẫn quá khứ và niềm hy vọng của anh đối với tương lai, đều bị chôn vùi dưới đống gạch ngổn ngang.
Dấu chân trên tuyết không những đã phản bội anh mà còn phải bội cả nơi ẩn náu của anh, bọn Đức đã tìm thấy ngách hầm và đã cho nổ tung lên tất cả nhưng anh không nghe thấy tiếng nổ đó. Tất cả những gì anh còn lại lúc này là khẩu tiểu liên với một bằng đĩa đầy đạn, tám viên đạn trong túi, chiếc áo trên vai và hai miếng bánh khô trong túi quần. Ngoài ra không còn gì nữa, tự nhiên đầu gối anh rời ra và anh ngồi phịch xuống đống gạch. Anh ngồi bất động như vậy một hồi lâu, cố nghĩ xem mình còn có thêm được thứ gì nữa.
Anh chỉ còn lại niềm khát khao muốn sống, còn lại khu pháo đài đã chết và lòng căm thù của chính anh. Vì vậy, cuối cùng anh đứng dậy và quay về căn hầm của khu doanh trại liên hoàn.
Đêm ấy anh chợp mắt trên nền hầm giá lạnh của một khu vực cách biệt. Đang gà gật, anh choàng tỉnh và đi đi lại lại, rồi sau đó lại ngồi xuống và ngủ thiếp đi cho đến lúc rét quá phải đứng dậy. Anh phải tìm nơi ẩn nấp, tìm thức ăn, đạn dược và quần áo. Anh hy vọng tìm được thứ gì, và khi trời vừa hửng sáng, anh liền vùng dậy xem xét khu hầm ngầm xa lạ này.
Giờ đây anh cóp nhặt tất cả những thứ trước đây anh không bao giờ bận tâm đến: một cái hộp với chút dầu cạn lau súng, một cái áo lót bông rách nát cháy sém một bên tay và những viên đạn. Anh nhặt nhạnh mọi loại đạn, cả đạn Đức lẫn đạn Nga, lau chùi sạch sẽ từng viên và cho vào những túi khác nhau chia theo từng loại một, rồi tính đếm lại. Bây giờ anh phải hết sức dè sẻn, tiết kiệm đạn, anh bấm chốt hãm của khẩu súng tiểu liên và đặt nấc bắn từng viên một.
Mỗi thứ tìm được đều khiến anh mừng rỡ không kém gì những miếng bánh khô anh đã tìm thấy hôm nào. Nhưng lần này, thứ anh tìm thấy lại là khẩu súng trường tự động với một ổ đạn đầy. Anh tháo rời khẩu súng ra, lau dầu cẩn thận, lắp lại và thử cơ bẩm. Kim hoả còn tốt như mới, nhưng anh không dám chắc bộ phận tự động của nó có tốt không. Loại súng này hay dở chứng, anh biết điều đó từ những ngày còn học ở trường huấn luyện, vả lại, khẩu súng đã bị vứt dưới đống gạch vụn khá lâu. Song điều nghi ngờ này chỉ có thể thử nghiệm trong chiến đấu mà thôi, vì vậy anh lại lắp ổ đạn vào và cho đạn lên nòng. Sau đó, anh ăn mừng bằng miếng bánh khô cuối cùng - miếng thứ nhất anh đã ăn đêm qua.
Anh xách súng, lặng lẽ đi trong căn hầm chưa quen biết, những tia sáng u ám của mùa đông lọt vào hầm qua một kẽ hở nhỏ. Vừa lúc nuốt xong miếng bánh khô cuối cùng, anh nghe thấy tiếng người nói văng vẳng từ xa, vừa lạ tai vừa khó hiểu. Anh lần ra chỗ hở và nhìn ra ngoài. Có ba tên lính Đức đang đứng cách đó một đoạn. Một tên có chiều cao và khổ người quen quen.
Hình như vì một lẽ nào đó anh có cảm giác đã được biết cái tên mặc áo màu xanh ghi ấy. Không, anh không biết và không thể biết về tên lính đó cả, có điều chính vào lúc ấy, anh đột nhiên cảm thấy cái sức nặng đang đè xuống vai mình giống cái sức nặng hôm qua anh đã thấy trong khi nằm dưới đống phân khô. Khẩu súng trường của hắn rất dài và cắm lưỡi lê bốn cạnh.
Nhìn màu thép lưỡi lê xám lạnh, anh cảm thấy đau nhói ở mạng sườn, đúng chỗ giẻ xương bị sây sát. Cái lưỡi lê bốn cạnh đã cắt nghĩa vì sao trên lưỡi lê không có máu, nó đâm xuyên qua chứ không làm rách thịt, và mấy giọt máu rỉ ra đã được áo anh lau sạch. Cái may mắn đối với anh hôm qua chính là cái lưỡi lê ấy không phải là loại lê của bọn Đức mà là cái lưỡi lê của Nga có bốn cạnh và nó không giữ giọt máu của anh, nó không phản bội anh, không tố giác anh cho bọn Đức. Cái lưỡi lê ấy không có tội, kẻ có tội chính là đôi bàn tay đã xỉa nó xuống người anh.

Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #78 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2009, 10:06:55 am »

Anh nâng khẩu súng trường lên – may mà hôm nay anh đã tìm thấy nó – nó được sử dụng ngay nếu nó không xỏ ngầm anh, bởi vì đây là loại súng đã quá cổ. Anh nheo mắt lại, kéo thằng Đức cao to đang quay lưng về phía anh vào tầm ngắm. Nhưng khi anh nhắm mắt trái lại thì mục tiêu biến mất, trên khe ngắm mờ mờ không còn nhìn thấy ánh sáng nữa. Anh dụi mắt rồi lại ngắm, mục tiêu lại biến mất. Trường hợp này chưa bao giờ xảy ra với anh trước đây vì thị lực của anh vào loại xuất sắc, nhưng lúc này anh nhận thấy mắt mình đã kém hẳn, nhất là mắt bên phải.
Anh không vì thế mà nản lòng. Anh mở mắt bên trái ra và ngắm bằng cả hai mắt. Không quen ngắm hai mắt như thế, nhưng anh vẫn nhằm trúng mục tiêu anh muốn và nhè nhẹ siết cò. Cùng một lúc với tiếng nổ, anh thấy cái bóng to lớn giật mạnh, chới với hai tay rồi ngã ập xuống đống gạch. Anh lại siết cò, nhưng bộ phận tự động đã hỏng nên phát súng thứ hai không nổ. Không đủ thời gian để lên đạn lần nữa, anh phải chạy đi ngay. Anh biết rất ít về căn hầm ngầm này.
Anh chạy rất nhanh, nhưng luôn phải đứng lại để tìm lối vào các ngóc ngách và lối vòng, phía sau có tiếng người nói và vang lên mấy loạt súng. Bọn Đức đang rượt theo, nhưng anh hy vọng có thể chạy thoát giữa những căn hầm ngầm chằng chịt, nếu không bị lạc vào một ngõ cụt không có đường thoát. Lúc đó anh buộc lòng phải chiến đấu, và có thể đây là trận chiến đấu cuối cùng của anh cũng nên. Thực ra, trước đây đã có lúc anh lọt vào một căn hầm tương tự như thế này, song anh đã rút ra kịp thời và sau đó cân nhắc cẩn thận. Đồng thời bọn Đức cũng phải tiến chậm lại khi thì để soi đèn, khi thì để bắn vào từng hốc tối một.
Dù sao, điều cấp thiết nhất vẫn là tìm một chỗ nào đó có thể nằm nghỉ được. Anh không thể chạy mãi như vậy được nữa vì sớm muộn bọn Đức cũng sẽ dồn anh vào ngõ cụt. Để tìm kiếm một chỗ nghỉ, anh sờ soạng kỹ từng bức tường trong hành lang, hy vọng tìm được một khe ngách nào đó để có thể trở về hoặc để ẩn náu cho đến khi bọn Đức đi qua rồi lùi đến chỗ chúng đã lục soát.
Anh tìm thấy cái hốc tường này chỉ vì anh đã tìm kiếm rất cẩn thận. Trong hốc tối như bưng, nó nằm ngang với nền hầm, sau cái gờ nhô ra giữa một ngách hầm ngắn đến nỗi không ai có thể ngờ được lại có một lối ra vào ở đấy. Cái hốc này rất hẹp, nằm vắt ngang ngay lối cửa ra vào, chỉ cách góc tường chừng một mét. Anh phải nghiêng người để bò vào phía trong lạnh lẽo và tối bưng như một nấm mồ. Không nghĩ gì đến chuyện hình dung kích thước nơi anh vừa tìm đến, anh lập tức quay mặt ra phía cửa, súng lăm lăm trong tay. Cái hốc này rất tiện lợi, anh đánh giá như vậy mà không cần phải xem xét thêm cái hành lang tuyệt diệu của nó. Anh hầu như không nghe thấy tiếng nói chuyện của bọn Đức, nền cát anh đang nằm rất êm, thậm chí còn ấm áp nữa, tất cả đều hoàn hảo, quá ức anh tưởng.
Tiếng súng làm rung nền cát, anh cảm nhận điều đó bằng cả cơ thể mình. Lúc này, có lẽ tên thứ nhất đang đi vào dãy hành lang tối, nền cát dày làm cho tiếng súng bớt đanh giòn. Bọn Đức đã bắn và bây giờ chúng sẽ tiếp tục lùng sục khu vực bên cạnh. Chúng chạy, bỏ dở đường hành lang tối.
Tiếng giày đã nhẹ đi và xa dần. Anh thở phào nhẹ nhõm và hãm chốt an toàn trên súng.
- Bọn chó đẻ đi rồi phải không?
Một giọng nói hổn hển và khàn khàn từ góc tối vọng ra. Anh giật mình quay về phía ấy, tim đập liên hồi.
- Ai đấy?
- Anh là ai?
- Quân ta!
- Tôi cũng thế. Các anh có mấy người?
- Một mình!
- Người cuối cùng à?
- Tôi không rõ. Nhưng anh ở đâu đấy?
- Đợi một lát. Tôi thắp nến lên đây. Còn rất ít, tôi phải dùng tiết kiệm, nhưng trong trường hợp này thì…
Que diêm xòe lửa, soi rõ cánh tay khẳng khiu và bộ râu rậm bạc phếch. Bàn tay đưa que diêm vào đầu mẩu nến cắm trên một cái hòm gỗ, khi ngọn nến bừng sáng, anh trông thấy một thân hình gày đét phủ trong cái áo độn bông được nai nịt gọn gàng. Anh trông thấy mái tóc đen xỉn dài chớm vai, đôi mắt bừng bừng lấp lánh và cánh tay chìa ra cho anh. Anh chạy xô đến.
- Khoan, khoan, anh bạn, đừng ôm mình. Chân mình đau và chúng ta đã quên mất hôn nhau như thế nào rồi. Hãy đưa tay cho mình, anh chiến sĩ Xô viết, anh bạn cùng cảnh, anh chàng đồng hương của tôi. Hãy đưa tay đây. Thế. Và hãy đứng im lặng cho mình ngắm cậu một lát. Thế là bọn chó đẻ không bắt được chúng mình. Với toàn bộ súng ống, thuốc nổ, súng phun lửa, chúng vẫn không bắt nổi chúng mình. Không thể bắt nổi chúng mình!…
Con người ốm yếu chỉ còn da bọc xương ấy cười chua xót nhưng trang trọng, mặc cho nước mắt chảy xuống râu. Anh cười, người run run và vẫn mải mê nói mãi:
- Tha lỗi cho mình, cậu nhé! Tha lỗi cho mình vì đã khóc. Nhưng mình tự cho phép có quyền như vậy. Ba tuần nay mình không nhìn thấy một ai và không được nghe tiếng nói. Mình bắt đầu nói chuyện một mình. Và mình đã yếu đi một chút. Đấy là sự thực. Vì vậy hãy cho phép mình nói và ngắm cậu, sau đó chúng mình sẽ tự giới thiệu với nhau. Nhưng, trước tiên mình muốn ngắm cậu đã. Cậu làm thế nào mà vẫn sống được, anh chàng thân yêu của tôi? Những gì đã xảy ra với cậu suốt thời gian qua? Cậu có chịu đựng được mọi thử thách không?
- Tôi chịu đựng được – Plugiơnhicốp trả lời và cảm thấy tiếc là mình không còn nước mắt để khóc trước niềm hạnh phúc như người bạn râu bạc này đang khóc - Thế ra anh chỉ còn một mình?
- Lúc đầu chúng mình đông. Chúng mình tìm thấy cái hốc này và mở đường ra vào. Sau đó, còn lại bốn người. Ba tuần trước đây, người cuối cùng không thấy quay về. Từ hôm ấy đến nay, mình đã nằm lại đây. Chân mình không đứng nổi, cậu thấy chưa? Mình có thể lê chút ít bằng đầu gối, nhưng không đi được. Mình không bao giờ đi được nữa.
- Nhưng anh là ai?
- Mình đã nghĩ đến điều đó. Lúc này mình là người thế nào. Mình sẽ xưng hô như thế nào nếu bị bọn Đức bắt được và mình không kịp bắn. Rồi mình quyết định tự gọi mình là: lính Nga. Lính Nga là tên của mình và lính Nga cũng là họ của mình. Cậu thấy thế nào, mình nghĩ đúng chứ?
- Đối với bọn Đức như thế là đúng, nhưng tôi là người của các anh, tôi là trung úy Plugiơnhicốp.
- Trung đoàn nào?
- Tên tôi chưa có trong danh sách – Plugiơnhicốp cười gượng – Nào, bây giờ tới lượt tôi nói nhé?
- Đúng, đúng. Đến lượt cậu đấy!
Plugiơnhicốp kể về mình, không dài dòng chi tiết, nhưng cũng không bỏ sót điều gì. Người chiến sĩ bị thương không cho biết tên ấy im lặng lắng nghe, không ngắt lời, tay vẫn nắm lấy tay Plugiơnhicốp, và qua bàn tay lạnh dần ấy, Plugiơnhicốp biết rằng người đồng chí mới của mình không còn mấy sức lực.
- Nào, bây giờ chúng ta làm quen với nhau nhé – Khi Plugiơnhicốp nói xong, người chiến sĩ bị thương nói – Mình là chuẩn uý Xêmisnưi, quê ở Môghilép.
Chuẩn uý Xêmisnưi đã bị thương từ lâu, một viên đạn chạm vào xương sống và chân anh dần teo lại. Bây giờ anh không cử động được chân nữa, nhưng vẫn gượng bò dậy, anh chống tay lên, thậm chí còn mỉm cười. Các đồng chí của anh đã ra đi và không trở về, nhưng anh vẫn sống và gắn bó với cuộc sống bằng tất cả ý chí ngoan cường của mình. Anh còn ít lương ăn và ít đạn, nhưng nước đã hết từ ba ngày hôm nay. Đêm ấy Plugiơnhicốp bê vào hai xô tuyết.
- Cậu phải tập thể dục đi, trung uý ạ - Sáng hôm sau, Xêmisnưi nói – Chúng ta không thể để sức khoẻ hao mòn đi được. Chúng ta chỉ có một mình, không có trạm xá nào cả.
Một ngày anh tập thể dục ba lần. Anh ngồi gập người lại rồi ưỡn thẳng lên và cử động hai tay cho đến khi thở dốc.
- Thế là chỉ có anh và tôi – Plugiơnhicốp thở dài – Anh biết không, nếu mọi người đều tự ra lệnh cho mình và hoàn thành mệnh lệnh thì chắc hẳn chiến tranh đã chấm dứt từ trong mùa hè rồi. Chấm dứt tại đây, tại biên giới này.
- Cậu tưởng chỉ có chúng mình mới là những con người giỏi giang hẳn? - chuẩn uý
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #79 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2009, 10:07:20 am »

Xêmisnưi cười gằn – Không đâu, anh bạn ạ. Mình không tin như thế. Mình không tin. Không thể tin được. Từ đây đến Mátxcơva bao nhiêu dặm, cậu biết không? Một ngàn. Và trong mỗi dặm đều có những người như chúng ta. Không hơn và không kém. Còn những mệnh lệnh thì anh bạn hiểu nhầm rồi. Không phải là thi hành mệnh lệnh của chính mình mà là thực hiện lời thề. Lời thề của chính mình tuyên thệ dưới cờ. Mặt anh trở nên nghiêm trang và anh kết thúc một cách hơi dữ tợn: - Hiểu chưa? Thôi, hãy thực hiện lời thề của cậu đi. Hãy tiêu diệt bọn Đức rồi sau đó trở lại đây. Cứ mỗi tên rắn độc, cho phép cậu nghỉ hai ngày. Đấy là mệnh lệnh của tôi.
- Sao cậu không hỏi mình có quyền gì ra lệnh cho cậu?
- Vì anh là chỉ huy khu hầm này – Plugiơnhicốp pha trò.
- Mình có quyền ấy - chuẩn uý Xêmisnưi nói khẽ, nhưng rất cứng cỏi – Mình có quyền đưa cậu đến chỗ chết. Đi đi.
Và anh thổi tắt ngọn nến.
Lần này Plugiơnhicốp không thực hiện được mệnh lệnh của chuẩn uý. Bọn Đức ở rất xa mà anh lại không muốn bắn khi chưa chắc đúng. Thị lực của anh đã sút đi trông thấy, không thể ngắm đúng mục tiêu được và anh hiểu rằng mình sẽ bắn trượt. Anh chỉ còn trông mong vào những cuộc chạm trán bất ngờ.
Nhưng anh không được gặp ai lần tới phía bên này khu doanh trại liên hoàn. Bọn Đức ở phía bên kia, và quá về phía sau chúng, anh chỉ lờ mờ phân biệt được những hình bóng đen đen. Anh đoán đấy chính là toán phụ nữ mà Mira đã trà trộn vào để ra khỏi pháo đài và anh quyết định tiến đến gần hơn. Chưa chừng anh có thể gọi họ lại, trò chuyện với họ, hỏi thăm Mira, báo cho cô biết anh vẫn sống và vẫn mạnh khoẻ.
Anh chạy qua khu nhà đổ bên cạnh, mà anh thì không thể liều lĩnh vượt qua khu vực đầy tuyết ấy lúc ban ngày. Anh đang định quay lại thì trông thấy những bậc thang đầy gạch vỡ dẫn xuống một căn hầm ngầm, anh quyết định chui xuống xem xét. Dù sao anh cũng đã để lại dấu chân từ khu doanh trại liên hoàn đến khu vực đổ nát này nên anh bắt buộc phải tìm một nơi nào đó có thể ẩn nấp được.
Anh lê bước một cách khó nhọc trên những đống gạch gần như chặn mất lối đi và lần xuống một hành lang ngầm phía dưới. Ở đấy nền hành lang cũng ngổn ngang những gạch rơi từ trên vòm hầm xuống, buộc anh phải cúi lom khom. Anh chỉ cần xem xét qua loa rồi quay lại và vội vã đi lên trước khi bọn Đức chưa phát hiện ra dấu chân của anh. Trời gần tối, anh dò dẫm lần theo chân tường và bất ngờ đến một chỗ trống, đường hành lang rẽ sang bên trái. Anh đi dọc theo mấy bước, vòng qua một góc và trông thấy một hầm ngầm khô ráo có lối vào mờ sáng qua một kẽ hở chật hẹp ở bên trên. Anh nhìn quanh: căn hầm trống rỗng trừ một xác chết khô queo trong bộ quân phục rách nát và bẩn thỉu, nằm sát chân tường, đối diện với lỗ hổng.
Plugiơnhicốp ngồi xổm và nhìn xem cái xác ấy là ai. Một đám tóc còn xót lại trên sọ, một chòm râu dài và đen còn vương trên cái áo đã gần mủn. Qua chỗ rách ở gần cổ, anh trông thấy có nhiều vết thương rách nát quanh ngực, anh hiểu rằng người chiến sĩ đã chết do những vết thương ấy, đối mắt vẫn nhìn trừng trừng mảnh trời u ám qua kẽ hở chật hẹp. Cố không đụng đến cái xác, Plugiơnhicốp sờ tìm vũ khí hoặc đạn dược, nhưng không thấy. Rõ ràng khi anh chiến sĩ hy sinh vẫn còn những người khác ở bên trên cần đến số đạn của anh ta.
Anh định đứng dậy và đi ra, nhưng chợt để ý đến chiếc áo ca pốt dưới cái xác trơ xương kia. Chiếc áo còn tốt, có thể dùng cho người còn sống. Chuẩn uý Xêmisnưi đang lạnh cóng trong hầm, Plugiơnhicốp cảm thấy rất rét khi chỉ đắp một tấm áo ngoài trong khi ngủ. Anh chần chừ giây lát, không muốn động đến cái xác khô, nhưng tấm áo chỉ là tấm áo và người đã hy sinh không cần đến nó nữa.
- Tha lỗi cho tôi, đồng chí nhé.
Anh cầm lấy cái gạt, gượng nhẹ lôi lên và kéo nhẹ tấm áo ra khỏi xác anh chiến sĩ.
Anh giũ cho bay hết mùi hôi thối, giơ nó lên và thấy một vệt máu khô đã xỉn. Anh gấp áo lại, nhưng trong khi gấp, anh lại nhìn vào vết xỉn ấy. Anh bỏ thõng tay xuống và chăm chú nhìn quanh căn hầm. Đột nhiên anh nhận ra chỗ này, nhận ra chiếc áo khoác và người chiến sĩ nằm trong góc tường, nhận ra bộ râu đen. Bằng một giọng run run, anh nói:
- Chào Vôlôđia.
Anh đứng lặng giây lát, rồi thận trọng đắp cái áo lên thi thể Vôlôđia Đênhisich, chặn gạch lên xung quanh và ra khỏi hầm.
- Người chết không cảm thấy lạnh đâu – Xêmisnưi nói khi nghe Plugiơnhicốp kể lại - Người chết không biết lạnh đâu, trung uý ạ!
Chuẩn uý đang tê cóng dưới mấy tấm áo choàng và áo khoác ngoài, khó mà biết được anh đang khiển trách Plugiơnhicốp hay tán thành với anh. Anh chờ đón cái chết một cách bình tĩnh và nói rằng anh không rét mà chỉ đang tàn héo đi.
- Cái chết đang đến với mình từng phút một, Nikôlai ạ. Nó giá lạnh, một tấm áo không làm nó ấm lại được.
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM