Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:05:43 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Liên bang Xô Viết và chiến tranh Việt Nam  (Đọc 62623 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoabinh101
Thành viên
*
Bài viết: 90



« Trả lời #60 vào lúc: 01 Tháng Giêng, 2008, 10:20:27 am »

Về mặt công khai, Kremlin nhiều lần từ chối bất kỳ một đề nghị nào yêu cầu Liên Xô làm trung gian ở Việt Nam. Ngay sau khi các cuộc Hội đàm Paris bắt đầu, Matxcơva vẫn giữ thái độ cực kỳ thận trọng tránh xuất hiện không chính thức hay hợp thức, vì Matxcơva biết rằng cả hai loại vai trò đó đều phải gánh vác nhưng bổn phận và chịu những hiểm hoạ nhất định. Ban lãnh đạo Liên Xô không muốn cả hai việc đó. Họ không muốn từ bỏ vị trí của mình đối với Việt Nam và các đồng minh khác trong phong trào Cộng sản thế giới. Đồng thời, bằng việc tránh công khai hoá vấn đề đã giúp Liên Xô có thể thực hiện được mục tiêu giải quyết hoà bình cuộc xung đột ở Đông Dương.
Do đó, khi kế hoạch giai đoạn một ,giai đoạn hai tưởng chừng nhiều hy vọng nhưng không thúc đẩy được các cuộc hội đàm tiến triển, Matxcơva thông qua Zorin đề nghị có một điều chỉnh nhỏ. Đại sứ Zorin đề nghị với phía Mỹ rằng Liên Xô đồng ý chấm dứt vô điều kiện việc ném bom, đồng thời hai bên thoả thuận danh mục rút lực lượng quân sự để bàn bạc sau khi ngừng ném bom. Nói cách khác, như Thứ trưởng quốc phòng Mỹ, Paul Waruke đã viết trong báo cáo lên Clifford rằng: "Nhân tố chủ chốt là việc giảm các hoạt động quân sự sẽ đưa ra bàn bạc phải có tính chất có đi có lại, mỗi bên phải chấp thuận các biện pháp xuống thang chiến tranh nhất định. Do đó, các hành động có đi có lại có thể thực hiện sau khi chứ không phải trước khi ngừng ném bom". Waruke cho rằng Mỹ cần vạch ra một thể thức nào đó có thể đáp ứng được những yêu cầu mà Đại sứ Liên Xô đưa ra.
Nhóm đàm phán của Mỹ ở Paris thuận theo đề nghị trên của Liên Xô, nhưng Harriman và Vance kiên quyết đòi phải đàm phán về các hành động hai bên cùng tiến hành trước khi Mỹ tuyên bố ngừng ném bom. Theo Harriman thông báo cho Zonn biết, tuy ông Hà Văn Lâu tỏ ra quan tâm đến kế hoạch trên của Mỹ, nhưng phía Bắc Việt Nam vẫn khăng khăng đòi Mỹ chấm dứt ném bom trước khi tiến hành bất kỳ một cuộc đàm phán nào. Một lần nữa vấn đề này lại đi vào ngõ cụt.
Rusk giải thích cho Đại sứ Liên Xô Dobrynin rằng đối với Washington, việc chấm dứt ném bom và sau đó đàm phán về các hành động cùng xuống thang chiến tranh khác với việc chấm dứt ném bom và tiếp tục thực hiện xuống thang chiến tranh. Ông ta biện luận rằng: "Đó phải thực sự là vấn đề xuống thang chiến tranh để đáp ứng việc thực hiện chấm dứt ném bom". Dobrynin không tin và hỏi lại rằng liệu đối với Mỹ, việc ngừng ném bom có thể quá khó khăn đến thế không.
Trong lúc ở Paris, các nhà đàm phán đang lâm vào bế tắc thì chiến trường Nam Việt Nam yên lặng lạ thường. Quân đội Sài Gòn ngừng pháo kích, việc chuyển quân và trạng thiết bị chiến tranh vào khu phi quân sự (DMZ) chậm lại. Phải chăng Hà Nội đánh tín hiệu đáp ứng lại lời kêu gọi của Mỹ hay đó chỉ là khoảnh khắc yên tĩnh trước một cuộc tấn công quân sự sắp xảy ra. Harriman hiểu sự yên tĩnh này là dấu hiệu thể hiện phía Bắc Việt Nam muốn hợp tác trong việc giải quyết Cuộc chiến tranh Việt Nam. Sau khi tham kiến William Brundy và Nicholas Katezeubaeh, Thứ trưởng Bộ Ngoái giao Mỹ đang ở Paris đã gửi một báo cáo cho Washington đề xuất rằng Tổng thống Mỹ nên chấm dứt ném bom và cho sự im lặng trên là sự kiềm chế hành động quân sự theo yêu cầu của Mỹ.
Thật đáng ngạc nhiên, hầu hết các thành viên hay hoài nghi nhất trong chính quyền Mỹ lại ủng hộ rất tích cực sự diễn giải tình hình chiến trường nói trên. Walt Rostow đã chuẩn bị một báo cáo cho Tổng thống. Trong đó, mặc dù dự đoán rằng khoảng yên tĩnh trong tháng 7 có thể là bão tố trong tháng tám, ông vẫn đề nghị cho phía Liên Xô biết Mỹ sẵn sàng ngừng ném bom vào ngày X, trên cơ sở đánh giá chiến trận đang giảm đi ở Nam Việt Nam. Bằng cử chỉ này chính quyền Mỹ hy vọng sau khi ngừng ném bom, các hành động quân sự của Sài Gòn không bị tấn công và cả hai bên tham chiến tái lập ngay khu phi quân sự. Đồng thời, Washington có thể nói cho phía Liên Xô hiểu hơn về sự dàn xếp này.
Rostow thừa nhận: "Đây là ván bài mạo hiểm và tốt nhất là đợi xem trên thực tế liệu Hà Nội có đáp ứng trực tiếp đề nghị của Zorin không. Nhưng sự thật bức thư ngày 5 tháng 6 của Kosygin đã mở đầu ván bài cho chúng ta nếu phải quyết định vấn đề thì nên mạnh dạn thúc đẩy tình hình tiến triển".
Thật là một sự trùng hợp ngẫu nhiên, cùng lúc với đề nghị của Harriman và kế hoạch cụ thể về các bước đi của Mỹ đưa ra ở Washington, tờ Thời báo New York cũng đưa ra một đề nghị tương tự. Phó Tổng thống Hubert Humphrey cũng phụ hoạ bài ca này của “những người yêu hoà bình". Theo Harriman, Johnson "đã phá bĩnh". Johnson gọi báo cáo của Harriman là "viển vông" và cho nó là một phần âm mưu bày đặt để buộc ông ta phải ngừng ném bom. Ngày 30 tháng 7, Tổng thống đã lệnh cho Rusk phải tổ chức họp báo Harriman gọi đây là: "Cuộc họp theo đường lối cứng rắn đã phá bỏ mọi thành quả công việc mà Vance và tôi đã và đang làm ở Paris từ đầu tháng 5. Điều này được phía Bắc Việt Nam coi là một thay đổi về lập trường. Trên thực tế, ông Hà Văn Lâu đã hỏi Vance nếu chúng tôi có thực sự đại diện cho Tổng thống không, vì các tuyên bố của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao khác biệt với những gì mà tôi và Vance đang nói”. Trong hoàn cảnh như vậy đàm phán lại đi vào bế tắc và triển vọng vốn mờ nhạt về mặt thoả hiệp trên cơ sở kế hoạch giai đoạn một, giai đoạn hai đã tan biến thành mây khói. Đàm phán trì trệ kéo dài suốt tháng 8 và hết tháng 9 mà không đạt được một kết quả đáng kể nào.
Sau hàng loạt sự kiện này, Matxcơva giờ đây đã giảm bớt sự tham gia vào hội đàm. Ban lãnh đạo Liên Xô quá bận rộn đối phó với khủng hoảng ở Tiệp Khắc nên không quan tâm nhiều đến tình hình ở vùng Đông Nam Á xa xôi này.
Các sự kiện ở Tiệp Khắc hồi tháng 8 năm 1968, và việc Liên Xô xâm lược nước này gắn chặt với Cuộc chiến Việt Nam không chỉ vì những sự kiện này đã làm phân tán chú ý của Liên Xô đối với các cuộc Hội đàm ở Paris, mà vì Mỹ dính líu vào Cuộc chiến Việt Nam, Liên Xô có thể cảm thấy rảnh tay hơn để xâm lược Tiệp Khắc mà không chịu một hậu quả nghiêm trọng nào ảnh hưởng đến vị trí của Matxcơva trong cộng đồng thế giới, hoặc chịu sự cấm vận nào của phương Tây. Cuộc khủng hoảng ở Tiệp Khắc cũng đánh dấu một bước ngoặt trong việc tăng cường ảnh hướng của Liên Xô ở Đông Nam Á so với ảnh hưởng của Trung Quốc, do đó đã tạo điều kiện cho Matxcơva rảnh tay hành động trong khu vực này.
Ảnh hưởng này tạo cho Matxcơva triển khai mạnh mẽ hơn chính sách của mình. nhằm chiếm quyền lãnh đạo kiểm soát các sự kiện quốc tế dù chúng diễn ra ở đâu trong một thế giới hai cực. Ngăn cách giữa Matxcợva và Bắc Kinh ngày càng lớn cũng góp phần củng cố tham vọng của Liêu Xô trong cuộc đấu tranh giải phóng thế giới loài người khỏi hiểm hoạ của chủ nghĩa đế quốc. Để đập lại việc Trung Quốc câu kết với phương Tây, lên án Liên Xô xét lại, phản bội chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, Kremlin phải kiên quyết bảo vệ chinh sách của mình không chỉ bằng những lời lẽ cứng rắn mà còn bằng hành động.
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Gromyko, trong bài diễn văn đầu năm 1966, đã khuyến cáo rằng "Liên Xô không thể bỏ quá mọi diễn biến tình hình ở bất cứ khu vực nào trên thế giới". Gromyko nói thêm: "Chính sách không can thiệp công việc nội bộ của bất kỳ quốc gia nào của Liên Xô không có nghĩa là Liên Xô bỏ qua và trung lập trước những hành động can thiệp của các nước khác". Rõ ràng là Liên Xô đã cố ý gán ghép ý nghĩa trên cho khái niệm "can thiệp" theo hệ thống giá trị riêng của mình. Đồng thời, Gromyko còn tuyên bố thẳng thừng: "Vấn đề biên giới ở Châu Âu đã được giải quyết triệt để và vững chắc. Biên giới quốc gia của bè bạn và đồng minh của chúng ta đều được đảm bảo an ninh như biên giới của riêng chúng ta". Đây là lời cảnh báo dứt khoát rằng Kremlin sẽ không nương tay để bảo vệ các vị trí của Liên Xô ở châu Âu. Do vậy, khi Đảng Cộng sản Tiệp Khắc mất quyền kiểm soát tình hình đất nước trong những năm 1967-1968, thì Liên Xô thấy rõ mối đe doạ đối với chủ nghĩa xã hội trong một khu vực kề cận biên giới Liên Xô cũng là mối đe doạ đối với vị trí đại chiến lược của mình.
Các nhà lãnh đạo Liên Xô coi quan hệ với Tiệp Khắc là một trong những yếu tố chủ yếu trong chính sách Châu Âu của mình và cân bằng lực lượng Đông-Tây. Đặc biệt, theo Trợ lý chính sách đối ngoại Andrei Alexanderov Ageiltov thì ông Brezhnev coi Tiệp Khắc với Ba Lan, Đông Đức là xương sống của khối Vác-sa-va. Nhưng Tiệp là đồng minh đáng tin cậy và giá trị nhất trong ba nước trên. Quan điểm này chịu ảnh hưởng các kinh nghiệm chủ quan của các nhà lãnh đạo Liên Xô đặc biệt là của Brezhnev.
Tuy Matxcơva đã theo dõi chặt chẽ các sự kiện xảy ra ở Tiệp Khắc từ 1967 và đã tiến hành nhiều hoạt động phòng ngừa tình hình bùng nổ nhưng các nhà lãnh đạo Liên Xô không ngờ lại xảy ra một cuộc khủng hoảng có quy mô và tính chất nghiêm trọng như vậy trong mùa xuân và mùa hè 1968. Trong hoàn cảnh đó, Kremlin đã cố gắng kiểm soát tình hình bằng mọi phương tiện kể cả hoạt động quân sự. Kremlin đã họp các nước trong khối Vác-sa-va để cùng các nước này thuyết phục các đồng minh Tiệp Khắc kéo lại tình hình theo hướng có lợi cho Liên Xô. Khi các hoạt động ngoại giao này thất bại vì bị sức ép từ phía những người theo đường lối cứng rắn ở Kremlin và lãnh đạo các nước xã hội chủ nghĩa khác, Kremlin đã sử dụng vũ lực giải quyết tình hình vì họ sợ việc Tiệp Khắc li khai sẽ làm suy yếu vị trí của Liên Xô.
Quyết định can thiệp vào Tiệp Khắc được Bộ chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô thông qua một cách miễn cưỡng. Theo các tài liệu hiện được tiết lộ lần đầu tiên, gần như đến phút chót Brezhnev vẫn không đồng ý thông qua một quyết định hành động như vậy. Nhưng tầm quan trọng của Tiệp Khắc đối với việc thống nhất phe xã hội chủ nghĩa và ảnh hưởng của Liên Xô trong khu vực, cũng như sức ép của các đồng nghiệp đã xoá đi mọi suy tính khác. Vào đêm 20 và 21 tháng 8, lực lượng vũ trang của năm nước khối Vác-sa-va gồm cả lực lượng của Liên Xô đã xâm lược Tiệp Khắc. Ngày hôm sau, tờ Pravda đăng bài của hãng TASS viết về "yêu cầu của Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Tiệp Khắc kêu gọi các đồng minh giúp đỡ và đưa quân đội vào lãnh thổ của mình.
 
Ban lãnh đạo Liên Xô không thể không tính đến bước đi này, có thể gây ra phản ứng ở phương Tây. Đó chính là sự vi phạm trắng trợn nguyên tắc không can thiệp công việc nội bộ nước khác, nhưng Liên Xô ngoan cố bám lấy biện giải của mình về nguyên tắc này. Trong khi quyết định can thiệp, Kremlin luôn tin rằng sẽ không có phản ứng mạnh mẽ nào xay ra.
Các nước Tây Âu rõ ràng là không thể chống đỡ được hành động này của Liên Xô, mà chỉ có thể có những biện pháp trả đũa từ phía Mỹ. Nhưng Washington không thể trả đũa bằng vũ lực vì hai lí do: Trước hết từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, giới lãnh đạo Mỹ đã thừa nhận Đông và Trung Âu thuộc khu vực ảnh hưởng của Liên Xô. Thứ hai là chính quyền Johnson không hề muốn từ bỏ việc bình thường hoá quan hệ với Liên Xô và việc Liên Xô giúp giải quyết cuộc chiến ở Việt Nam, để đáp ứng lại những nguyên tắc quan trọng khác. Hay nói một cách khác, các chính trì gia Mỹ không thể để những chuẩn mực đạo đức lấn át những hành động chính trị thực tiễn mà họ phải tiến hành.
Từ lâu Washington đã nhận thức rõ hiểm hoạ của việc Liên Xô xâm lược Tiệp Khắc nhưng trước khi sự việc xảy ra, Chính phủ Mỹ không hề làm gì để ngăn chặn hiểm hoạ đó. Song liệu chính quyền Mỹ muốn ngăn chặn hiểm hoạ đó không? Johnson đã thừa nhận trong hồi kí của mình "Chúng ta không thể làm được gì nhiều ngoài đứng xem và lo ngại". Ông ta nói vì không có kí kết hiệp ước gì với Tiệp Khắc-những tia hy vọng mong manh để NATO ủng hộ bằng các hoạt động quân sự, chính những người Tiệp Khắc cũng không muốn kháng cự. Phản ứng chính thức duy nhất của Mỹ đối với hành động xâm lược này là việc Johnson hoãn chuyến thăm Matxcơva để bắt đầu các cuộc hội đàm về vũ khí chiến lược.
Phản ứng đối với việc Liên Xô vi phạm Luật pháp quốc tế rất yếu ớt. Không có một cuộc thảo luận nào được tổ chức ở Liên Hợp quốc, cũng không có cấm vận trong kinh tế hoặc văn hoá với Liên Xô. Đối với việc Tổng thống Mỹ huỷ bỏ chuyến thăm Liên Xô, Johnson thực sự muốn đi thăm vì ông ta muốn tô điểm cho ghế Tổng thống của mình bằng một hành động mạnh mẽ cuối cùng nào đó, có thể là một cuộc họp cấp cao với phía Liên Xô nhằm thoả thuận các cuộc đàm phán về kiểm soát vũ khí. Như Clark Clifford đã tường trình, Tổng thống Mỹ "không muốn từ bỏ mục tiêu to lớn cuối cùng của mình và tìm mọi cách tránh huỷ bỏ đó". Tuy nhiên, sau khi tuyên bố huỷ bỏ chuyến viếng thăm nói trên, Johnson đã nhiều lần đề cập lại ý tưởng về một chuyến thăm Matxcơva.
Ngay khi cuộc xâm lược của Liên Xô đã trở thành một việc đã rồi, Mỹ đã biến Tiệp Khắc thành lợi thế mặc cả trong nhiều lĩnh vực khác nhau trong quan hệ Xô-Mỹ. Ngày 17 tháng 9, chính quyền Mỹ thông báo kín cho phía Liên Xô biết rằng "Họ có thể giảm sức ép ở Tiệp Khắc bằng các cuộc Hội đàm về Trung Đông". Rõ ràng là Washington có thể sử dụng các chiến thuật tương tự trong đàm phán với Việt Nam.
Trong khi phương Tây không chống lại hành động xâm lược Tiệp Khắc của Liên Xô, thì ở phương Đông, Kremlin được sự ủng hộ mạnh mẽ của Hà Nội vì Liên Xô đã nỗ lực bảo vệ sự thống nhất của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Việc Bắc Việt Nam đồng ý ủng hộ cuộc xâm lược này thể hiện một bước ngoặt quyết định đối với Liên Xô nhưng là một đòn mạnh mẽ đánh vào Bắc Kinh. Các tờ báo hàng đầu của Bắc Việt Nam không những chỉ đăng toàn văn tuyên bố của TASS về việc quân đội khối Vác-sa-va tiến vác lãnh thổ Tiệp Khắc, mà còn phụ hoạ các lập luận của Liên Xô biện minh cho hành động nói trên với tuyên bố rằng: "Đó là hành động được tiến hành vì mục đích cao cả”.
Logged

Chân lý thuộc về kẻ chiến thắng
hoabinh101
Thành viên
*
Bài viết: 90



« Trả lời #61 vào lúc: 01 Tháng Giêng, 2008, 10:21:11 am »

Khi Bắc Kinh phát động chiến dịch rộng lớn phản đối hành động xâm lược của Liên Xô, thì sự ủng hộ của Bắc Việt Nạm đã nhanh chóng được chú ý và đánh giá cao ở Matxcơva. Nhân dịp kỷ niệm hai mươi ba năm thành lập Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, một bài bình luận của tờ Pravda-luôn phản ánh quan điểm chính thức của Chính phủ-với nhan đề "Nhân dân Việt Nam anh hùng" và thừa nhận quan điểm của Hà Nội đối với cuộc khủng hoảng Tiệp Khắc rằng: “Nhân dân Việt Nam, qua kinh nghệm của riêng mình, tin tưởng vào sức mạnh vĩ đại của tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản. Nước của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ủng hộ hành động của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác. Nhân dân lao động Việt Nam đang tiến hành một cuộc đấu tranh quyết liệt chống đế quốc và luôn thấy rõ những hoạt động đen tối, nhơ bẩn chống các nước xã hội chủ nghĩa của chúng".
Việc Hà Nội công khai ủng hộ Matxcơva là một dấu hiệu tích cực đối với các nhà lãnh đạo Liến Xô để định hướng, đánh giá chính sách của Bắc Việt Nam ngày càng liên minh chặt chẽ hơn với Liên Xô và độc lập hơn với Trung Quốc. Nhưng dẫu sao thì Hà Nội cũng sẵn sàng bỏ qua ý kiến của "nước láng giềng phía Bắc vĩ đại của mình", nên Kremlin rất hài lòng vì những ảnh hưởng ngày càng tăng đối với chính sách của Việt Nam, đặc biệt là trong vấn đề hội đàm. Do đó, Matxcơva đã vội vã đáp lại biểu hiện mới về lòng trung thành của Việt Nam bằng cách thúc đẩy thắng lợi của các cuộc Hội đàm ở Paris ngay khi sự kiện Tiệp Khắc đã dẹp yên vào cuối tháng 9.
 
Trong tháng 9, các cuộc Hội đàm Bắc Việt Nam Mỹ đã có bước tiến nhất định. Sau nhiều tháng hè dài đàm phán không có kết quả, dù đã có các cuộc trao đổi chính thức, công khai hay có các cuộc họp kín giữa Cyrus Vance và Hà Văn Lâu, hoặc đã có các cuộc hội đàm bí mật cấp cao giữa Harriman và Lê Đức Thọ tại một trong nhũng "nhà an toàn" thiết kế riêng cho những cuộc gặp gỡ như vậy, nhưng cũng chỉ có những thay đổi nhỏ trong lập trường không khoan nhượng của các nhà đàm phán Hà Nội. Harriman và Vance đã nhanh chóng nhận thấy điều này. Ngày 17 tháng 9 tại Washington, Harriman đã nói với Tổng thống Mỹ rằng theo ông ta thì đoàn đại biểu của Hà Nội tại Paris "rất nghiêm túc tạo ra những bước tiến triển", Vance khẳng định ý kiến này
của Harriman khi ông trở lại Mỹ và gặp Johnson ngày 3 tháng 10. Vance dự đoán rằng "phía Bắc Việt Nam có thể cho là tình hình quân sự của họ có thể suy giảm trong những tháng tới". Vào lúc phía Nam Việt Nam đang nhận được những khối lượng lớn vũ khí và phương tiện chiến tranh và tỏ ra ngày càng tự tin, "Hà Nội có thể muốn giải quyết tình hình càng sớm càng tốt". Mặc dù có ý kiến lạc quan như vậy, Johnson vẫn hoài nghi về triển vọng gần để đạt được tiến bộ trong hội đàm.
Tuy nhiên, các cuộc họp bí mật diễn ra liên tiếp giữa các nhà đàm phán chủ chốt của hai phía cũng không phải là hoàn toàn không có kết quả. Harriman và Vance xác định quan điểm của Mỹ dựa trên ba vấn đề cơ bản và những điểm này đã được làm sáng tỏ vào mùa hè năm đó. Mỹ sẵn sàng chấm dứt ném bom Bắc Việt Nam, nếu tổ chức ngay các cuộc hội đàm nghiêm túc có sự tham gia của các đại diện chế độ Sài Gòn, và nếu Hà Nội đồng ý không xâm phạm khu phi quân sự giữa Bắc và Nam Việt Nam. Nhưng Washington không thể duy trì ngừng ném bom nếu phía Bắc Việt Nam và Việt cộng tiến hành tấn cống quy mô lớn chống phía Nam Việt Nam ở các thành phố như Sài Gòn, Huế hoặc Đà Nẵng.
Các đại biểu phía Bắc Việt Nam dường như đã sẵn sàng chấp nhận quan điểm của Mỹ về khu phi quân sự và các cuộc tấn công các thành phố chính của Nam Việt Nam. Chí ít họ cũng thể hiện sự thông hiểu các quan tâm của Mỹ về những vấn đề này. Nhưng việc đưa cả chế độ Sài Gòn vào bàn đàm phán đã thực sự trở thành trở ngại lớn. Vance đưa vấn đề này ra khi trao đổi với Valentin Oberemko, thái độ của phía Bắc Việt Nam đối với vấn đề này "hoàn toàn không thực tế”.
Trong buổi gặp gỡ Oberemko ngày 21 tháng 9, Vance thúc giục Chính phủ Liên Xô gây sức ép đối với Hà Nội nhằm làm cho Bắc Việt Nam nhận thấy rõ ràng họ đang bám giữ một lập trường không thực tế và hoàn toàn vô lí "đối với việc ngăn cản chế độ Sài Gòn tham gia quá trình đàm phán". Vance lưu ý Oberemko rằng Mỹ phản đối Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam tham gia các cuộc hội đàm, mặc dù dư luận chung đều phản đối. Vance nhấn mạnh: "Các nhà đàm phán đang “ở một thời điểm quan trọng" và cơ bản là Liên Xô phải sử dụng ảnh hưởng của mình ở thời điểm này để giúp chúng ta vượt qua những cản trở và tiến lên".
Oberemko hứa sẽ chuyển tải các quan điểm này về Matxcơva nhưng lại chất vấn liệu đưa các đại diện Sài Gòn vào hội đàm có là trở ngại chính cho các cuộc đàm phán nghiêm túc không. Vance trả lời là có, vì tất cả các vấn đề khác làm Việt Nam không phản đối. Sau khi tham kiến Harriman, để nhấn mạnh tầm quan trọng của vấn đề này, Vance đã gửi một bức thư cho Oberemko chỉ rõ rằng đối với Mỹ, không thể tính đến việc chấm dứt ném bom mà không có các đại diện chính quyền Sài Gòn tham gia vào các cuộc Hội đàm ở Paris. Đồng thời, các nhà đám phán Mỹ yêu cầu Rusk xem xét lại công thức của Mỹ đối với việc tham gia của chế độ Sài Gòn. Đoàn Mỹ đã tuyên bố với phía Bắc Việt Nam rằng việc hiểu rõ vấn đề thiết yếu này "có thể là một yếu tố chính trong việc tạo thuận lợi đi đến quyết định chấm dứt ném bom". Lê Đức Thọ và Xuân Thuỷ không hài lòng với lối nói đó. Họ e ngại điều này còn có thể bao hàm các nhân tố khác nữa. Oberemko cũng nghĩ như vậy.
Harriman và Vance kết luận rằng các chỉ thị của Washington đã hướng dẫn cho các sứ giả của mình ở Paris là "quá hẹp hòi" và cần phải mở rộng hơn nữa, thay cách diễn đạt về công thức cũ . nói trên nhằm làm rõ nghĩa câu "hiểu rõ về vấn đề này có thể là một nhân tố chính tạo điều kiện thuận lợi đi đến quyết định chấm dứt ném bom. Các đại diện Mỹ yêu cầu rằng cách diễn giải mới này phải được thực hiện càng sớm càng tốt, vì họ hy vọng sẽ đạt được một phản ứng tích cực từ phía Hà Nội về vấn đề này. Tuy nhiên, phía Bắc Việt Nam trong nhiều tuần lễ không trả lời về vấn đề chế độ Sài Gòn tham gia đàm phán.
Trong khi đó, Matxcơva cố vận động hậu trường để giải quyết vấn đề này: Mạt,xcơva rõ ràng đại diện cho phía Bắc Việt Nam, cho nên khi thăm Mỹ đầu tháng 10, Gromyko đã chất vấn Rusk liệu thoả thuận về việc đưa cả đoàn của nguỵ Sài Gòn vào bàn đàm phán có lẽ là điều kiện tiên quyết cần thiết để đi đến việc chấm đứt ném bom hay không và liệu có thể thay thế Thiệu và Kỳ bằng những người khác có thể chấp nhận đối với Hà Nội như là một thoả hiệp được không. Tuy nhiên, Gromyko nhấn mạnh rằng câu hỏi của ông ta không hàm ý chính trị mà chỉ là một câu hỏi đơn thuần, nhưng rõ ràng là theo gợi ý của Hà Nội lòng căm thù đối với “lũ bù nhìn của Mỹ" là lý do tại sao Hà Nội từ chối không đồng ý cho chế độ Sài Gòn tham gia hội đàm.

Cuối cùng thì với những tác động của Liên Xô, Bắc Việt Nam đã thay đổi thái độ. Ngày 9 tháng 10, trong lúc nghỉ giải lao uống trà, sau khi Harriman và Vance khẳng định việc đưa các đại điện của Chính phủ Nam Việt Nam vào đàm phán là "hoàn toàn không thể thay đổi được" , Xuân Thuỷ và Lê Đức Thọ đã thông báo với phía Mỹ rằng Bắc Việt Nam sẵn sàng đàm phán chủ đề này trong một cuộc họp kín. Hai ông nói thêm rằng điều cần thiết liên quan đến vấn đề này cần có "thiện chí và suy nghĩ nghiêm túc" thì hai ông sẵn sàng. Khi cuộc họp kín được tổ chức tại một "nhà an toàn" do CIA bố trì ở ngoại ô Paris, các đại diện Bắc Việt Nam đã chất vấn phía Mỹ ràng liệu Mỹ có chấm dứt ném bom hay không nếu Hà Nội đồng ý để Chính phủ Sài Gòn tham gia hội đàm. Harriman lảng tránh trả lời trực tiếp câu hỏi trên hứa sẽ báo cáo về Washington.
Báo cáo của Harriman đã gợi lên hy vọng ở Washington như Lyndon Johnson đã viết: "Băng giá bắt đầu tan”. Nhưng chính quyền Mỹ thận trọng không vội đẩy đến một bước đi quyết định. Washington tham khảo ý kiến các Đại diện Mỹ ở Sài Gòn là Đại sứ Ellsworth Bunker và Tướng Crerghton Abrams-Tư lệnh quân đội Mỹ ở Việt Nam. Cả hai ông này đều đồng ý với ý kiến phải nói cho Bắc Việt Nam biết rằng Chính phủ Mỹ sẵn sàng sớm định một ngày để chấm dứt hoàn toàn các cuộc tấn công chống Bắc Việt Nam.
Ngày hôm sau, đồng nghiệp của Vance trong Đại sứ quán Liên Xô là Oberemko đã đưa cho Vance một bức điện khẩn của Matxcơva, nội dung nói rằng nếu Mỹ chấm dứt ném bom Bắc Việt Nam, Hà Nội sẽ đồng ý cho Chính phủ Sài Gòn tham gia đàm phán ngay tức khắc. Một lần nữa Washington tỏ ra thận trọng. Johnson và Rusk muốn có sự khẳng định trực tiếp từ phía Matxcơva. Ngày 13 tháng 10, Rusk gặp Dobrynin và đưa cho ông ta nội dung bức điện mà Oberemko chuyển hôm trước. Ông nói với Đại sứ Liên Xô rằng chính quyền Mỹ muốn biết đích xác nguồn gốc bức điện. Rusk cho rằng một mặt có thể ông Oberemko chỉ muốn nhắc lại bức điệu nào đó nhận được từ phái đoàn Bắc Việt Nam ở Paris. Mặt khác có thể ông ta đã hành động theo chỉ thị của Chính phủ Liên Xô chăng. Rõ ràng là Washington muốn có thêm sự bảo đảm từ phía Matxcơva. Ngày hôm sau, Dobrynin chuyển lời đáp của Chính phủ Liên Xô cho phía Mỹ: "Ngài tham tán của chúng tôi (ông Oberemko) đã thực hiện theo chỉ thị của Chính phủ Liên Xô. Sự thể hiện thiện chí mới của phía Bắc việt Nam, mà chúng tôi nói ở đây, đang tạo ra khả năng thực tế đạt được những tiến bộ nhanh chóng theo hướng này".
Khi nhận được khẳng định từ Matxcơva, Johnson họp các thành viên nội các và các cố vấn để tham khảo ý kiến về các bước đi tiếp theo. Washington chỉ thị cho Harriman và Vance thông báo cho Hà Nội biết rằng phải bắt đầu trong vòng hai mươi bốn giờ sau khi ngừng ném bom.
Nhưng sau sự khởi đầu đáng hứa hẹn này, tiến trình hoà bình lại bế tắc; lần này không những do phía Bắc Việt Nam cản trở mà chủ yếu vì phía Nam Việt Nam phản đối. Xuân Thuỷ nói với Vance rằng "yêu cầu ngay tiếp theo" của Washington là phi thực tế vì mặc dù các sứ giả của Hà Nội sẵn sàng gặp gỡ đoàn Mỹ, nhưng họ không thể đảm bảo sự hiệu diện của đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng chỉ trong một thời gian gắn như vậy. Đối với Sài Gòn, triển vọng đàm phán với một kẻ thù như Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, là cái cớ để trì hoãn đàm phán.
Mặc dù bi quan trước thất bại ở Sài Gòn và Paris, Johnson không hề mất hy vọng. Rusk gửi một bức điện cho Trưởng đoàn đàm phán Mỹ ở Paris chỉ thị không cố ép về điều kiện "ngày tiếp theo" mà nên đổi thành "trong hai hoặc ba ngày sau khi ngừng ném bom". Đồng thời. Rusk sẽ gặp Dobrynin để thuyết phục chính quyền Liên Xô về tầm quan trọng phải đạt được thời gian dừng ngắn nhất giữa việc ngừng ném bom và bắt đầu đàm phán. Dobrynin hứa sẽ báo cáo ngay việc này về Matxcơva.
Đối với chính quyền Johnson, việc thuyết phục được Sài Gòn đồng ý ngồi vào bàn đàm phán còn khó khăn hơn nhiều. Trong khi Hà Nội tích cực tiến tới một giải pháp vì đã thấy thắng lợi có thể đạt được trong bầu cử Tổng thống của Nixon năm 1968 và, tình hình bất ổn trong quá trình chuyển giao chính quyền ở Washington, thì ngược lại Sài Gòn lại cho rằng nếu Johnson thất cử và Nixon thắng cử, chính quyền của Đảng Cộng hoà có thể sẽ quan tâm hơn tới nhu cầu của các đồng minh Nam Việt Nam và nỗ lực hơn để đi đến một giải pháp có thể chấp nhận được đối với Sài Gòn. Với những hy vọng được sự ủng hộ từ một số thành viên trong nội các của Nixon, Thiệu từ chối hợp tác với Johnson và cố ý cản trở quá trình đàm phán.
 
Hạ tuần tháng 10 là một giai đoạn đàm phán căng thẳng ở Paris để giải toả một số bế tắc giữa các bên tham chiến. Một trong những bên tích cực nhất trong vở bi kịch này là Liên Xô. Ngoài việc luôn thấy rõ mối hiểm hoạ đổ vỡ trong quá trình hội đàm, các nhà lãnh đạo Liên Xô còn thấy rõ triển vọng thắng cử của Nixon. Theo quan điểm của Matxcơva, Nixon là người quá khó đánh giá trước được. Liên Xô muốn đạt được một hiệp định giữa Washington và Hà Nội trước khi diễn ra cuộc bầu cử-Tổng thống Mỹ, vì vậy, Matxcơva đã can thiệp vào tất cả những vấn đề có thể làm chậm hoặc thậm chí làm gián đoạn tiến trình ký kết hiệp định.
Kremlin chỉ thị cho các quan chức ngoại giao Paris, Washington và Hà Nội nghiên cứu tìm kiếm khả năng thoả hiệp giữa các bên đàm phán. Các nhà lãnh đạo Xô Viết đã dính líu sâu vào cuộc đàm phán, thúc đẩy Mỹ và Bắc Việt Nam đưa ra những nội dung cơ bản cho hiệp định cuối cùng. Các quan chức Mỹ còn được thông báo rằng Chính phủ Liên Xô đã chỉ thị cho giới báo chí Xô Viết đặt các tin viết về Việt Nam ở vị trì thật thấp nhằm đạt được thế chủ động đối với Hà Nội ở Hội nghị Paris.
Một cản trở mới giữa Washington và Hà Nội sau cản trở về việc tham gia của Nam Việt Nam đó là khoảng thời gian cần thiết từ lúc tuyên bố ngừng ném bom đến khi bắt đầu đàm phán. Mỹ khăng khăng đòi khoảng thời gian đó không quá ba hoặc bốn ngày Bắc Việt Nam đề nghị phải "một vài tuần” mới đủ để Mặt trận Dân tộc Giải phóng phái đại diện của mình đến thủ đô Paris. Khi các bên vẫn khăng khăng giữ quan điểm đã tuyên bố thì người Mỹ lại "gõ cửa" Liên bang Xô Viết.
Ngày 18 tháng 10, Harriman và Vance gặp Oberemko để thuyết phục Matxcơva tham gia vào việc định ngày cho cuộc đàm phán. Sau khi nghe tóm tắt về tình trạng cuộc đàm phán, Oberemko cho rằng cả hai bên Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đều nhấn mạnh quá mức về tầm quan trọng của thời gian ngừng đàm phán. Ông ta nói: "Nên có cách đi đến thoả hiệp". Sau khi đã có sụ đồng ý kéo dài thời gian ngừng đàm phán từ hai tiếng lên hai hoặc ba ngày thì người Mỹ không thoả hiệp nữa. Harriman và Vance khuyên rằng: "Cách tốt nhất là cả Oberemko và Liên Xô hãy dùng ảnh hưởng của mình để buộc Bắc Việt Nam" đưa ra ngày cụ thể cho các cuộc hội 1 đàm "quan trọng".
Logged

Chân lý thuộc về kẻ chiến thắng
hoabinh101
Thành viên
*
Bài viết: 90



« Trả lời #62 vào lúc: 01 Tháng Giêng, 2008, 10:21:46 am »

Trong khi Oberemko báo cáo về xin chỉ thị Matxcơva và Matxcơva đang cố gắng tìm cách thuyết phục Hà Nội thì một số vấn đề mới lại nẩy sinh. Cơ cấu đàm phán sắp tới và sự cần thiết ra thông cáo chung về Hiệp định giữa Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Người Mỹ đề nghị đàm phán "hai bên, bốn phái", nghĩa là Mỹ và Sài Gòn đại diện cho "bên chúng tôi", Việt Nam Dấn chủ Cộng hoà và Mặt trận Dân tộc Giải phóng đại diện cho "bên các ngài". Bắc Việt Nam phản đối đề nghị này và kiên quyết giữ quan điểm Hội nghị "bốn bên". Washington không đồng ý với công thức "bốn bên" vì "bốn bên" có nghĩa là mặc nhiên công nhận Việt cộng là một lực lượng độc lập và có chủ quyền, ngang hàng với Sài Gòn.
Hơn nữa, phái đoàn Hà Nội đề nghị ra một thông cáo đặc biệt, công khai hoặc bí mật, trong đó, Mỹ phải chấp nhận ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam vô điều kiện. Chính quyền Jonhson lại càng tránh đề nghị trên của Hà Nội, vì chấp nhận ngừng ném bom vô điều kiện là một đòn sấm sét giáng vào uy tai nước Mỹ và như vậy, rõ ràng là Bắc Việt Nam sẽ giành được lợi thế, vì ngay từ đầu cuộc chiến, Việt Nam đã tuyên bố sẵn sàng đàm phán với “bọn xâm lược Mỹ" chỉ sau khi Mỹ ngừng ném bom vô điều kiện.
Oberemko gặp Vance vào ngày 22 tháng 10. Rõ ràng là Oberemko rất quan tâm đến tiến triển của cuộc đàm phán, đặc biệt là sau khi ông nhận thấy rằng Bắc Việt Nam “cảm động" và "nghi ngờ" vì cuộc gặp riêng của người Nga với người Mỹ. Song Oberemko vẫn cố gắng làm giảm căng thẳng và đảm bảo với Vance rằng sở dĩ Bắc Việt Nam có thái độ như vậy đơn giản là do hiểu nhầm qua phiên dịch. Oberemko nói rằng ông ta đã từng bị hiểu nhầm trong tiếp xúc với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Quay sang vấn đề có tính chất nghiêm trọng hơn, Oberemko nói với Vance rằng cần phải có một "bên thứ ba" để cố gắng giải quyết tình hình bằng cách đưa ra "một giải pháp chung phù hợp". Với lời lẽ như vậy, ông ta ngầm tự cho phép Liên bang Xô Viết đảm trách vai trò trung gian giữa hai bên, trong đó Oberemko "với vai trò đại diện cho Chính phủ Xô Viết đưa ra những lời khuyên chung", đề nghị Mỹ ngừng ném bom vào ngày 24 hay 25 và đại diện của bốn bên tham chiến sẽ gặp nhau vào ngày mồng 1 hoặc mồng 2. Rõ ràng là Liên Xô đã đưa ra một giải pháp thoả hiệp vừa phù hợp với yêu cầu của Mỹ "hai hoặc ba ngày" vừa thoả mãn đòi hỏi của Việt Nam "một vài tuần" cho thời gian ngừng đàm phán.
Đề cặp đến thông cáo chung. Oberemko nói: "Đó không phải là trách nhiệm của Chính phủ Xô Viết tuy nhiên, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mỹ nên đạt được sự hiểu biết lẫn nhau bằng văn bản hoặc thoả thuận miệng". Về cơ cấu đàm phán, Oberemko đề nghị gọi đích danh tên bốn đoàn đàm phán chứ không dùng từ "bên" như vậy sẽ phù hợp với cả công thức của Mỹ và của Bắc Việt Nam.
Cuộc đàm thoại giữa Oberemko với Vance đã chứng minh vai trò của Liên Xô là hỗ trợ cho cả hai bên đạt được hiệp định chứ không trực tiếp tham gia đàm phán với trách nhiệm và nghĩa vụ. Một vấn đề đáng lưu ý là trong khi khẳng định vai trò "bên thứ ba”, Oberemko nhấn mạnh ông ta làm việc đó là theo "chỉ thị” của Chính phủ Liên Xô, có nghĩa là chính Liên Xô sẽ quyết định những vấn đề cần đến vai trò tham gia của Matxcơva. Oberemko tuyên bố: "Liên Xô đang cố gắng để đạt được một hiệp định trên nguyên tắc”.
Đồng thời, Oberemko còn nói rõ rằng Kremlin mong muốn có một giải pháp toàn bộ. Ông ta yêu cầu chuyển đề nghị này về Washington càng sớm càng tốt và gợi ý Vance cần quan tâm một vấn đề cần thiết đó là việc phái đoàn Mỹ phải tiến hành hội đàm với Bắc Việt Nam ngay sau khi có lệnh từ Washington. Oberemko giải thích: “Từ sau cuộc gặp gần đây nhất với Bắc Việt Nam, chúng tôi không thể đưa ra sáng kiến cho cuộc gặp riêng rẽ sắp tới với Bắc Việt Nam”. Trong bức tiệp báo cáo về Washington, Harriman và Vance đề nghị chấp nhận về nguyên tắc giải pháp do Liên Xô đưa ra.
 
Trong cuộc gặp tiếp theo, Oberemko nói với Vance rằng ông đã trao đổi với Bắc Việt Nam những vấn đề mà ông đã đề cập với Vance trong lần gặp trước. Theo ý Oberemko, phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đồng ý với công thức do Liên Xô đưa ra, chỉ đơn-giản gọi tên bốn phái đoàn tham gia đàm phán. Họ cũng chấp nhận thời gian ngừng đàm phán do Liên Xô đưa ra. Nhưng phái đoàn đàm phán Hà Nội kiên quyết đòi ngừng ném bom hoàn toàn vô điều kiện, Oberemko còn thổ lộ với Vance rằng ông ta đã thuyết phục Hà Nội không đòi hỏi một thông cáo chung về hiệp định giũa Mỹ và Bắc Việt Nam, đây là một bước tiến tới thoả hiệp. Nhưng Hà Nội vẫn khăng khăng đòi một văn bản bí mật. Kết thúc buổi đàm đạo với Vance, Oberemko nói rằng Đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hoà "rất coi trọng diễn biến trong hai mươi tư giờ qua” có ý khẳng định thoả hiệp cuối cùng của các bên đàm phán đã hy vọng trong tầm tay.
Các cuộc đàm phán về những vấn đề cơ bản tiếp tục diễn ra cho đến ngày 27 tháng 10. Liên Xô thường can thiệp trong suốt thời gian này cố gắng hoà giải quan điểm của hai bên. Họ thậm chí gợi ý các bên đưa rá giải pháp thoả hiệp, và còn tác động đến cả cấp cao nhất.
Trong một cuộc đàm đạo với Vance, Oberemko tiết lộ rằng Chính phủ Xô Viết "quan tâm sâu sắc đến việc tìm kiếm một giải pháp" và rằng chính ông ta "đang thi hành chỉ thị của Chính phủ Xô Viết". Để hỗ trợ cho "những lời tâm tình" của Oberemko với Vance, ngày 25 tháng 10 Kosygin đã gửi thư cho Tổng thống Mỹ Johnson bày tỏ mối quan tâm và băn khoăn vì chưa đạt được hiệp định. Thủ tướng Liên Xô thúc giục Mỹ phải có một quyết định sớm đối với "các chi tiết không quan trọng-những chi tiết không có ý nghĩa gì trên thực tế”. Không nghi ngờ gì nữa, lá thư này không chỉ nói lên ý đồ của Liên Xô muốn thuyết phục Mỹ từ bỏ các đòi hỏi của mình mà còn là một sự thị uy của Matxcơva đến Tiến trình đàm phán Paris.
Ngày 27 tháng 10, hai ngày sau khi Kosygin gửi thư cho Harnman và Vance báo cáo về Washington rằng Bắc Việt Nam đã chịu từ bỏ tất cả những đòi hỏi không mang tính quyết định và đề nghị Mỹ chấm dứt ném bom vào ngày 30 tháng 10 và bắt đầu đàm phán giữa Mỹ, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Sài Gòn và Mặt trâu Dân tộc Giải phóng vào 3 tháng 11. Khi nhận được báo cáo này, Johnson đã triệu tập các cố vấn đến để phân tích đánh giá tình hình. Rusk nhận xét Bắc Việt Nam "đã có bước đi quan trọng". Rusk nói với Tổng thống rằng: "Nếu có mười bước đi quan trọng đối với chúng ta thì họ tiến hành được tám, ta chỉ có hai". Rusk và các cố vẩn khác đã hướng tổng thống chú ý đến vai trò to lớn của Matxcơva trong quá trình đám phán. Song, Tổng thống Johnson vẫn hoài nghi và ông quyết định phải thông báo đầy đủ cho Liên Xô ba vấn đề cơ bản liên quan đến điều kiện ngừng ném bom của Mỹ. Mặc dù Rusk đảm bảo với Tổng thống rằng các quan chức Mỹ đã nhiều lần nêu vấn đề này ra với phía Liên Xô trong các lần gặp gỡ, nhưng Johnson vẫn không hài lòng. Tổng thống muốn Matxcơva đảm bảo rằng Hà Nội sẽ tôn trọng tất cả các điều khoản liên quan đến khu phi quân sự và các thành phố Nam Việt Nam. Tổng thống nghi ngại, "Liệu Liên Xô có thực sự cho rằng Hà Nội sẽ tôn trọng? Họ có hiểu rằng nếu khu phi quân sự và các thành phố Nam Việt Nam không được tôn trọng thì chúng ta sẽ ném bom trở lại? Hãy buộc Liên Xô phải đảm bảo với chúng ta rằng Chính phủ Việt Nam Cộng hoà sẽ được chấp nhận".
Johnson quyết định sẽ khẳng định lại quan điểm của Mỹ cho Liên Xô biết. Với mục đích đó, Tổng thống đã triệu Dobrynin đến và trao cho ông ta một ván bản trong đó phân tích khá chi tiết những điều kiện này của Washington. Tổng thống đề nghị Liên Xô chuyển các điều kiện này của Washington đến Bắc Việt Nam "nhằm tránh bất kỳ sự trả giá nào vì bị lừa gạt và sự mạo hiểm nào do hiểu lầm". Ngày hôm sau, Johnson nhận được câu trả lời của Matxcơva trong đó nói rõ rằng Bắc Việt Nam đang làm mọi việc để đạt được hiệp định và vì vậy bất kỳ sự nghi ngờ nào về quan điểm của Hà Nội cũng đều "không có căn cứ". Johnson còn yêu cầu phái đoàn Mỹ ở Paris phải có báo cáo tường trình để xem họ có hiểu rõ quan điểm của Hà Nội hay không. Harriman và Vance báo cáo với Tổng thống rằng họ đã nếu vấn đề khu phi quân sự và không tấn công vào các thành phố lớn cùng quan điểm của Mỹ mong muốn. Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đáp ứng hai vấn đề này trong mười hai cuộc họp kín. Họ đảm bảo chắc chắn với Johnson rằng công thức nêu trong tuyên bố của phía Mỹ "hoàn toàn phù hợp" với chỉ thị của Washington. Ngoài ra, Harriman và Vance đã đề cập vấn đề khu phi quân sự và tấn công vào các thành phố lởn trong bốn cuộc họp với đại diện Xô Viết ở Paris. Phía Mỹ nói với người Nga rằng Mỹ sẽ ném bom trở lại nếu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà không tôn trọng những vấn đề đã cam kết. Từ đó, đại diện người Nga thường xuyên và định kỳ gặp gỡ phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, chắc chắn là Bắc Việt Nam đã hiểu được những ý chính của phía Mỹ do Liên Xô truyền đạt lại.
Trong bản báo cáo, các Sứ giả Mỹ ở Paris đã khẳng định một cách chắc chắn rằng: "Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ thi hành những gì chúng ta đã yêu cầu họ là tôn trọng khu phi quân sự và không tấn công vào những thành phố lớn. Mặc dù hiện tại chúng ta không nhận được sự đảm bảo trực tiếp rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ tôn trọng các đề nghị của chúng ta-song, chúng ra tin tưởng rằng họ hiểu rõ những gì chúng ta muốn". Tuy nhiên, Harriman và Vance cũng dự kiến một tình huống xấu: "Nhiều khả năng sẽ có một số vi phạm nhỏ như chuyển một số lượng quân và trang thiết bị không đáng kế qua khu phi quân sự". Nhưng họ tin tưởng rằng những vi phạm xảy ra như vậy sẽ được giải quyết thoả đáng trong bối cảnh chung.
 
Mặc dù còn những trục trặc này, song, Johnson vẫn hài lòng với tất cả những lời đảm bảo mà ông ta đã nhân được. Điều làm ông ta thất vọng là sự không thoả hiệp của đồng minh, từ khi Sài Gòn từ chối đàm phán với Mặt trận Dân tộc Giải phóng, nguy cơ đe dọa phá vỡ thỏa hiệp của người Mỹ càng lớn: Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phớt lờ tất cả sự cảnh báo và đe doạ của Washington và viện hết lý do này đến lý do khác để trì hoãn đàm phán với đối phương. Thậm chí, bức điện riêng của Johnson cũng không lay chuyển được quan điểm của Sài Gòn.
Washington đã tự thấy một viễn cảnh đen tối. Trong nhiều tháng, Washington đã cố gắng tìm cách buộc Hà Nội phải nhượng bộ về vấn đề chính quyền Sài Gòn tham gia đàm phán và về một hiệp định, ít nhất thoả thuận ngầm cũng được gồm các điều khoản chắc chắn đảm bảo an ninh cho Nam Việt Nam sau khi Mỹ ngừng ném bom. Cuối cùng, khi Bắc Việt Nam đã chịu nhượng bộ thì cản trở chính trong việc giải quyết vấn đề lại do phía chính quyền Sài Gòn gây nên.

Johnson chờ phản ứng tích cực của Nguyễn Văn Thiệu trong nhiều ngày. Ngày bắt đầu đàm phán mồng 2 tháng 11 phải lùi lại đến mồng 4 tháng 11. Không thể ngừng cuộc đàm phán vô thời hạn. Tổng thống bị sức ép mạnh mẽ không chỉ từ phía Bắc Việt Nam mà còn từ phía Matxcơva-nơi mà theo các quan chức ngoại giao Xô Viết ở Paris nói, Thủ tướng Kosygin "đang chờ đợi tin đàm phán". Mặt khác, các cố vấn thân cận còn thúc giục Tổng thống xúc tiến, không cần biết Sài Gòn có chấp nhận hay không. Tuy vậy, Tổng thống vẫn kiên quyết từ chối và ngày bầu cử Tổng thống 5 tháng 11 đang đến gần làm cho Tổng thống càng mong muốn tiến hành đàm phán.

Cuối cùng, Tổng thống quyết định đơn phương hành động. Tám giờ tối ngày 31 tháng 8, một mệnh lệnh được gửi cho lực lượng không quân và hải quân ngừng toàn bộ việc ném bom Bắc Việt Nam trên không và trên biển. Chậm nhất trong vòng mười hai tiếng đồng hồ lệnh này phải được thực hiện. Đồng thời Tổng thống tuyên bố trên đài truyền hình quốc gia nhấn mạnh rằng cuộc Hội đàm Paris sẽ được tổ chức vào tuần sau. Đối với Nam Việt Nam, Johnson nói Chính phủ Sài Gòn được "tự do tham gia đàm phán".
Kể từ khi bắt đầu cuộc đàm phán tháng 5 năm 1968 đến nay, đây là kết quả đáng mừng sau nhiều lần thảo luận ở Paris cũng như ở Washington ở Hà Nội và ở Matxcơva. Liên Xô rất hài lòng với những cố gắng của mình trong việc thúc đẩy một giải pháp hoà bình cho cuộc chiến tranh kéo dài ở Đông Nam Á. Báo Pravda đăng đầy đủ những tin. về Hội nghị Paris. Ngày 2 tháng 11, báo này đã đăng bài bình luận của đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ở Paris về việc Mỹ ngừng ném bom và đăng bài phát biểu của Tổng thống Johnson trên truyền hình.
Cùng ngày 2 tháng 11, Chính phủ Liên Xô đã tuyên bố trong đó nêu rõ Hội nghị Paris là một "thắng lợi quan trọng trên con đường tìm giải pháp hoà bình ở Việt Nam". Nhiều tiếng nói lên án và đòi chấm dứt Cuộc chiến tranh đẫm máu ở Việt Nam, rút toàn bộ quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, và tìm một giải pháp chính trị cho toàn bộ vấn đề Việt Nam. Nhưng thực tế lại cản trở các mong muốn chính trị. Thiệu vốn tiếp tục khước từ đàm phán với Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Nhiều tuần đã trôi qua nhưng không có "cuộc hội đàm phán quan trọng" nào được diễn ra ở Paris.
Matxcơva không giấu nổi nỗi thất vọng với các cuộc chạy đua trong các sự kiện vừa qua. Vào ngày 7 tháng 11, báo Pravda thông báo với độc giả rằng lẽ ra giai đoạn quan trọng của cuộc đàm phám Paris đã được nối lại sau một thời gian tạm ngừng nhưng đến phút chót Washington đã quyết định hoãn vì chính quyền Sài Gòn không chấp nhận ngồi đàm phán với Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Các cơ quan tuyên truyền của Đảng Cộng sản Liên Xô đã giễu cợt rằng sự lý giải này là "không có căn cứ." Matxcơva đã đổ lỗi cho người Mỹ kéo dài thời gian ngừng đàm phán. Washington không tin vào sự đảm bảo của Liên Xô và Kremlin không thể khống chế được Hà Nói, vì vậy Matxcơva mới nghi ngờ về khả năng dàn xếp của Mỹ với chính quyền Sài Gòn.
Logged

Chân lý thuộc về kẻ chiến thắng
hoabinh101
Thành viên
*
Bài viết: 90



« Trả lời #63 vào lúc: 01 Tháng Giêng, 2008, 10:26:40 am »

Báo Pravda số ra ngày 13 tháng 11, đã đăng bài phản bác lại sự lý giải của Mỹ rằng tiến trình đàm phán bị gián đoạn kéo dài là do chính quyền Sài Gòn từ chối đàm phán với Mặt trận Dân tộc Giải phóng trong đó viết: "Không cần thiết phải có bình luận gì thêm về sự lý giải không có căn cứ này. Điều rõ ràng là Mỹ có thể độc lập giải quyết vấn đề chấm dứt xâm lược Việt Nam, rút lực lượng quân sự Mỹ và thủ tiêu căn cứ quân sự Mỹ trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam mà không cần phải tham khảo chính quyền Nguỵ Sài Gòn nhưng có điều gì đó khác thường buộc chúng ta phải cảnh giác. Bên cạnh "tính bảo thủ” của chính quyền Sài Gòn là sự phản đối của lực lượng quân sự Hợp chủng quốc Hoa Kỳ-những người không bằng lòng với những thay đổi quan trọng trong tiến trình giải quyết hoà bình cho vấn đề Việt Nam.
Các nhà lãnh đạo Xô Viết bày tỏ sự thất vọng của họ không chỉ trên các tờ báo chính của họ mà còn được chuyển trực tiếp đến giới lãnh đạo Hoa Kỳ. Trong suốt cuộc hội đàm với Nghị sĩ Mỹ đến thăm Matxcơva, Kosygin nói thẳng ra rằng: Cuộc đàm phán Paris "không tiến triển nhanh chóng và thuận lợi như Paris mong muốn". Ông nhấn mạnh thêm: "Đây là lỗi của Hoa Kỳ, Việt Nam (Hà Nội) muốn có giải pháp và chúng tôi cũng muốn đóng góp vào giải pháp này".
Suốt trong những tuần cuối năm 1968, Matxcơva đã liên tiếp bắn tín hiệu sẵn sàng giúp đỡ kể cả bằng con đường chính thức và bí mật. Thậm chí, họ vẫn tiếp tục bắn tín hiệu khi Hà Nội không đồng tình. Họ biết rõ quan điểm của Bộ Chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cho rằng đến khi Nixon nhậm chức, Cuộc đàm phán Paris không có giá trị thực tế. Đánh giá kết quả chuyến thăm gần đây của đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đến Bắc Kinh và Matxcơva, trong báo cáo trình bày trước các nhà lãnh đạo Bắc Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh nhấn mạnh qua các Cuộc hội đàm ở Matxcơva các Sứ giả của Hà Nội thấy rõ các nhà lãnh đạo Xô Viết có ý định "gây sức ép với chúng ta".
Mặc dù vậy, Matxcơva vẫn rất muốn Đàm phán Paris được nối lại trước khi Tổng thống mới Hoa Kỳ làm lễ nhậm chức và Gromyko đã nói rõ ý định này với ĐạI sứ Mỹ Llewellyn Thompson. Với ý định sẽ đưa vấn đề ra thảo luận trong chuyến thăm Matxcơva với Tổng thống Johnson "đang được chuẩn bị ở cả Washington và Matxcơva", Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Xô Viết nói rằng Kremlin tin tưởng vào tác dụng của việc trao đổi quan điểm về những vấn đề đáng quan tâm ở Đông Nam Á. Gromyko nói tiếp: "Theo quan điểm của chúng tôi vấn đề chính hiện nay của khu vực này vẫn là chấm dứt cuộc chiến tranh đẫm máu ở Việt Nam và đạt được một giải pháp hoà bình dựa trên cơ sở tôn trọng quyền hợp pháp và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam".
 
Đó là những gì mà các nhà lãnh đạo Xô Viết không thể nói một cách chính thức với các nhà lãnh đạo Mỹ mà phải thông qua các kênh riêng. Vào tháng 11, một nguồn tin từ Sứ quán Mỹ ở Luân Đôn thông báo cho người Mỹ biết về cuộc tọa đàm của ông ta với Van Kouhkov, Bí thư thứ hai Sứ quán Liên Xô về nhiều vấn đề khác nhau trong quan hệ Mỹ-Xô trong đó có vấn đề liên quan đến Việt Nam. Koulikov đã tâm sự với ông ta vì sự dàn xếp tương lai ở Đông Nam Á mà Matxcơva đã dự kiến một viễn cảnh cho thời kỳ sau khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc. Theo Koulikov, Liên Xô không muốn thúc giục Mỹ rút khỏi khu vực này. Đặc biệt, Liên Xô không chống lại các Hiệp định quân sự song phương giữa Mỹ với Thái Lan, Indonesia, Phihppines và Singapore. Liên Xô cũng không chống lại các căn cứ quân sự Mỹ ở các nước này. Koulikov cho rằng sự có mặt của Mỹ ở Đông Nam Á là mong muốn của Liên Xô vì "đừng quên rằng chúng ta đang phải đối mặt với một kẻ thù chung ở Châu Á”.
Trong cuộc tọa đàm này, Koulikov đã tiết lộ hai ý định quan trọng trong quan điểm của Liên Xô đạt được sự hiểu biết lẫn nhau với người Mỹ về ảnh hưởng toàn cục ở Đông Nam Á và trên cơ sở này sẽ thiết lập một liên minh chống lại Trung Quốc. Ý đồ này của Liên Xô nhằm ngăn chặn khả năng Washington chơi con bài Trung Quốc để chống Liên Xô-một mối lo ngại tiềm tàng của Matxcơva. Vì vậy, cuối năm 1968, Matxcơva tỏ quyết tâm cao độ giúp đỡ Washington tìm kiếm một giải pháp toàn bộ cho cuộc hội đàm Paris.
Thậm chí, sau khi Sài Gòn đồng ý cử một phái đoàn sang Paris và đại diện của Nam Việt Nam đến thủ đô nước Pháp vào ngày 8 tháng 12, cuộc đàm phán vẫn không được bắt đầu vì các nhà ngoại giao bất đắc dĩ của chính quyền Sài Gòn nêu lên nhiều vấn đề thủ tục rườm rà. Vấn đề lớn nhất là vị trí ngồi trên bàn Hội nghị. Từ khi Nam Việt Nam muốn Hà Nội và Mặt trận Dân tộc Giải phóng chỉ là một bên trong cuộc hội đàm thì họ yêu cầu việc bố trí nơi ngồi, hình thức kê bàn, vị trí đặt quốc kỳ, danh thiếp phải đáp ứng được quan điểm của họ. Song, Hà Nội kiên quyết đòi Bắc Việt Nam và Mặt trận Dân tộc Giải phóng phải được bố trì ngồi như hai đoàn đại biểu riêng biệt trên một bàn vuông với hai danh thiếp khác nhau và hai lá cờ khác nhau. Mỹ đưa ra một thoả hiệp: Bốn đoàn đại biểu, bàn tròn, không cờ, không danh thiếp. Nhưng cả hai bên Việt Nam không chấp nhận giải pháp của Mỹ. Để tháo gỡ tình trạng bế tắc này, Harriman và Vance đưa ra một số kiểu bàn khác nhau như: vuông, chữ nhật, ô-van, bình hành, hình thoi, bán nguyệt và vòng cung. Cuộc họp của các đoàn diễn ra gay gắt chủ yếu tranh luận về lĩnh vực hình học hơn là "các vấn đề quan trọng".
Cuộc tranh luận chọn kiểu bàn ''họp diễn ra trong mười tuần, và cuối cùng, một kiểu bàn đã được chọn, đó là một bàn tròn rộng. Nam Việt Nam vẫn kiên quyết phản đối quyền bình đẳng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng so với các đoàn khác. Mỹ đưa ra một đề nghị phân chia ranh giới giữa hai bên nhưng Hà Nội kịch liệt phản bác đề nghị này vì nó gợi lại quan điểm "bên tôi-bên anh" là quan điểm này các bên đã thống nhất loại bỏ.
Những người Xô Viết ở Paris được thông báo đầy đủ những diễn biến này, quyết định nhảy vào cuộc một lần nữa. Ngày 13 tháng 10, Oberemko nói với Harriman và Vance rằng Bắc Việt Nam sẽ không chấp nhận chia ranh giới. Ông ta đề nghị "một phương án khác" đó là một bàn tròn và hai bên vuông cho bên dịch và giúp việc. Hai bàn này cũng có thể là chữ nhật và đặt vuông hai góc bên phải của bàn chính và như vậy mặc nhiên sẽ chia thành hai bên. Một trong những yêu cầu quan trọng là hai bàn phụ này không được kê sát bàn chính có nghĩa là có khoảng cách nhất định. Vance hỏi về khoảng cách nhất định này, Oberemko trả lời: "Có lẽ khoảng cách xa vừa đủ cho Bogomolov đi qua" (Bogomolov là Bí thư thứ nhất Sứ quán Liên Xô, người vừa nhỏ lại vừa gầy). Viễn cảnh phá vỡ bế tắc về hình thù chiếc bàn dường như có hy vọng sau khi Oberemko hứa thảo luận vấn đề này với Bắc Việt Nam. Tuy nhiên, có ba vấn đề vẫn chưa giải quyết được, đớ là thứ tự phát biểu, cờ và danh thiếp, Vance đề nghị ba vấn đề này phải được đồng thời giải quyết.
Ngày hôm sau, Oberemko đảm bảo với Vance rằng ông ta có đủ cơ sở để tin rằng phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ chấp nhận phương án thoả hiệp do Liên Xô đưa ra, đó là một bàn chính cộng với hai bàn phụ nhỏ hơn, không cờ, không danh thiếp và thứ tự phát biểu do Pháp xác định bằng phương pháp bốc thăm. Khi nói về phương án trên, Oberemko nhấn mạnh rằng: "Thời gian là quan trọng và vấn đề nên được giải quyết nhanh chóng".
 
Cuộc họp ngày 15 tháng 1 giữa phái đoàn Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã đạt được thoả thuận về thủ tục. Bắc Việt Nam chấp nhận đề nghị của Liên Xô về kiểu bàn hội nghị và từ bỏ yêu cầu về cờ và danh thiếp. Rõ ràng là Hà Nội làm theo sức ép của Xô Viết. Hà Nội cũng đồng ý rằng phiên họp theo đúng thủ tục của bốn đoàn sẽ được tổ chức tại phòng họp của Khách sạn Majestic không sớm hơn ngày 18 tháng 1.
Johnson cảm thấy nhẹ nhõm vì phiên họp đầu tiên của bốn phái được tiến hành trong thời gian ông ta vẫn đáng cầm quyền. Tuy nhiên, ông ta hối tiếc như lời tự thú trong nhật ký, rằng ông ta rời Nhà Trắng mà "không đạt được một nền hoà bình bền vững, danh dự và công bằng ở Việt Nam", ít nhất, ông ta cũng đã để lại cho người kế nhiệm "một tình hình hứa hẹn hơn và dễ dàng dàn xếp hơn so với những năm trước". Không nghi ngờ gì nữa, Matxơva đã chia xẻ với Johnson niềm vui này.
Harriman hiểu khá rõ điều này và đánh giá rất cao công sức đóng góp của Liên Xô, mặc dù đó là sự đánh giá không công khai. Trong bữa tiệc chia tay Zorin, Harriman đã đánh giá cao vai trò của Liên Xô trong Hội đàm Paris. Sự đánh giá của Harriman về thái độ của Matxcơva đối với Cuộc chiến tranh Việt Nam dường như là hoàn hảo. Harriman nói với Zorin: "Đầu tiên Tổng thống nói với bạn bè về những gì mà Kosygin đã nói với Tổng thống cách đây ba năm rằng Liên Xô muốn giải quyết vấn đề và sẽ làm những gì có thể trong khả năng của mình để giúp cho cuộc hội đàm được bắt đầu. Điều này Tổng thống muốn nhắc nhở. một số người hay đa nghi, tiếp đến, Tổng thống khẳng định: "Chúng tôi không đạt được một giải pháp thực sự nếu không có sự giúp đỡ của Liên Xô và chúng tôi vui mừng vì Liên Xô đã quyết tâ in giúp đỡ...".
Qua lời nhận xét trên của Harriman, liệu chúng ta có đánh giá vai trò của Liên Xô trong giai đoạn đầu của cuộc đàm phán không? Trong cuộc trả lời phỏng vấn của thư viện Johnson, nhằm lưu lại giọng nói lịch sử, Cyrus Vance phản bác quan điểm rằng Liên Xô đóng vai trò trung gian trong cuộc Hội đàm Paris. Ông ta nói: "Chúng tôi nói cho người Nga rõ những gì chúng tôi đã nói cho Bắc Việt Nam và chúng tôi đề nghị Liên Xô hãy cho chúng tôi biết liệu Liên Xô có khẳng định được rằng Bắc Việt Nam hiểu được những gì chúng tôi đã nói với họ và mong muốn ở họ. Sau đó, Liên Xô thông báo với chúng tôi rằng Bắc Việt Nam thực sự hiểu chính xác những gì người Mỹ muốn ở họ và hiểu được hậu quả xảy ra nếu họ phá vỡ những điều đã cam kết". Nói một cách khác, theo Cyrus Vance thì Liên Xô là một kênh liên lạc tin cậy nhất mà qua đó cả hai bên có được thông tin của nhau chứ không có vai trò gì hơn.
Phải chăng đây là đánh giá thực sự của Vance hay ông ta sợ sự tiết lộ vai trò thật của Liên Xô trong-Hội đàm Paris, hoặc đây chỉ là một sự phỏng đoán? Theo một nguồn tin được tiếp cận với nhiều nguồn tài liệu trong thời gian hội đàm và tiếp cận với chính sách của Liên Xô thời kỳ đó cho rằng Mátxcơva không chịu bó tay trong vai trò đưa tin. Matxcơva không chỉ là “người đưa tin" mà còn sử dụng lợi thế của họ đối với cả Mỹ và Bắc Việt Nam. Liên Xô đã can thiệp tích cực vào tiến trình đàm phán, tìm cách phát triển ảnh hưởng của họ. Những lần đàm phán bị bế tắc như: hồi tháng 5 Mỹ cố ép phải họp bí mật, tháng 11 bàn đến vấn đề tham gia của Sài Gòn và Mỹ ngừng ném bom, hoặc tháng 1 về vấn đề thủ tục hội nghị trở nên rắc rối... Matxcơya đều tham gia và đưa ra giải pháp thoả hiệp, thuyết phục cả hai bên nhượng bộ nhằrn đảm bảo cho đàm phán đi đến kết quả.
Rõ rằng là Matxcơva đã sử dụng áp lực đòn bẩy đối với Hà Nội để duy trì đàm phán và "ép Việt Nam Dân chủ Cộng hoà phải đi đến một giải pháp hoà bình". Bởi thế Sứ quán Liên Xô ở Hà Nội đã đặt ra nhiệm vụ chính trong năm 1969 là: "Thực hiện tốt các bước đi trong năm 1969 để cuối cùng chuyển trọng tâm giải quyết vấn đề Việt Nam từ chiến trường Nam Việt Nam sang bàn hội nghị. Điều cần thiết là phải khuyên PTV (Đảng Lao động Việt Nam) chuyển từ chiến thuật vừa đánh vừa đàm" sang đàm phán, nối lại Hội nghị Paris, thể hiện thiện chí hơn để đi đến thoả hiệp vấn đề có tính nguyên tắc-rút toàn bộ quân Mỹ".
Các cuộc "đàm phán quan trọng" ở Paris là một đảm bảo đối với Matxcơva rằng không thể đảo ngược được tiến trình giải quyết vấn đề Việt Nam. Nhưng còn nhiều vấn đề không chắc chắn đối với Kremlin trong tháng 1 năm 1969, trong đó quan trọng nhất là chính sách của chính quyền mới Nixon.
Logged

Chân lý thuộc về kẻ chiến thắng
hoabinh101
Thành viên
*
Bài viết: 90



« Trả lời #64 vào lúc: 01 Tháng Giêng, 2008, 10:27:40 am »

Chương IX: Gắn kết chống lại gắn kết
Chiến thắng của Nixon trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm 1968 không làm cho các nhà hoạch định chính sách của Liên Xô ngạc nhiên. Vì họ theo sát chiến dịch vận động của Nhà Trắng, để ý đến sự vỡ mộng của dân chúng Mỹ đối với các chính sách của chính quyền Johnson, đặc biệt là đối với cuộc chiến tranh Việt Nam, họ cũng đôi chút nghi ngờ về cơ hội của Humphrey làm một ứng cử viên của Đảng Dân chủ. Một chính quyền của Đảng Dân chủ được người Liên Xô quen cách làm việc hơn. Liên Xô cho rằng nếu Humphrey thắng cử, điều đó có nghĩa là sự tiếp tục cơ bản trong chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Liên Xô vì Cuộc chiến tranh Việt Nam. Kremlin cho rằng Humphrey, phó Tổng thống chính quyền Johnson có thể theo đuổi xu hướng quan hệ chặt chẽ với Matxcơva hơn, đặc biệt trong việc cắt giảm vũ khí và quan hệ kinh tế. Các nhà phân tích Liên Xô cũng rất chú ý tới sự phê phán của Humphrey đối với chính sách của Mỹ ở Đông Nam Á, và hy vọng rằng một khi ông ta lên làm Tổng thống, ông ta sẽ hành động độc lập hơn để kết thúc cuộc chiến tranh sớm nhất.
Mặt khác, Nixon là một người "chưa quen" đối với Ban lãnh đạo Liên Xô, có quá nhiều yếu tố làm ông ta bị coi là một đối tác không được Matxcơva ưa thích. Thứ nhất và trên hết, ông ta đại diện cho Đảng Cộng hoà, mà trong con mắt của các nhà tư tưởng cộng sản là quá bảo thủ, và vì vậy phản động hơn cả những người Dân chủ. Lịch sử quan hệ Mỹ-Xô đã chứa đựng những ví dụ tiêu cực nhất tác động lẫn nhau dưới thời các Tổng thống của Đảng Cộng hoà-chính sách không công nhận lẫn nhau, cùng với việc tẩy chay về kinh tế và chính trị trong 16 năm đầu tiên của chính quyền cộng sản, sự đối đầu trong những năm 50 và bước thụt lùi sau vụ máy bay do thám U-2. Mặc dù sự đối đầu vẫn xảy ra dưới thời các chính quyền Đảng Dân chủ, song nó có ít ảnh hưởng đối với các nhà lãnh đạo Liên Xô bằng thời kỳ khi hai nước phát triển hợp tác thu được thắng lời trong Thế chiến thứ hai.
Tiểu sử cá nhân của Nixon còn làm cho người Liên Xô nghi ngờ. Vị Tổng thống mới này được biết ở Liên Xô như là một kể chống cộng điên cuồng và "chống Liên Xô". Rõ ràng ông ta bị coi là một kẻ "diều hâu” và kẻ gây chiến tranh Lạnh không chỉ trong quan hệ với thế giới cộng sản, mà còn đối với cả Cuộc chiến tranh Việt Nam. Nixon chủ trương dùng các biện pháp mạnh chống lại Bắc Việt Nam và ông ta kêu gọi sử dụng các biện pháp có thể để sớm giành thắng lợi trong cuộc chiến, nhằm cảnh tỉnh giới lãnh đạo Xô Viết. Có thể người Liên Xô cho rằng những lời tuyên bố đó chẳng qua là câu trả lời trước các đòi hỏi của cuộc vận động bầu cử chính trị. Song người Liên Xô ít tin rằng các bản tuyên bố của Nixon trước bầu cử là muốn thúc đẩy hợp tác với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác. Thay vào đó, báo chí Liên Xô rất chú ý tới các sắc thái trong các bản tuyên bố của Nixon khẳng định thái độ không thoả hiệp và “diều hâu” của ứng cử viên Đảng Cộng hoà.
Trong bài tường thuật ngày 4 tháng 8, về việc chuẩn bị Đại hội toàn quốc của Đảng Cộng hoà, báo Pravda đã trích dẫn lời tuyên bố của Nixon rằng cuộc chiến tranh Việt Nam “phải kết thúc". Song bài báo cũng đăng tải lời cảnh cáo của Nixon cho rằng cuộc chiến tranh "phải được kết thúc trong danh dự" phù hợp với các mục tiêu có hạn của Mỹ cùng với các đòi hỏi lâu dài về hoà bình ở châu Á. Bài báo diễn dịch "lời kêu gọi của Nixon" kết thúc cuộc chiến như cách thức mở rộng nó, phù hợp với các yêu cầu của giới quân sựvà các "diều hâu” chính trị ở Washington.
Khi Matxcơva nhận được tin Nixon được chỉ định làm ứng cừ viên Tổng thống, báo Pravđa đã đăng một bài phân tích về Đại hội toàn quốc của Đảng Cộng hoà và việc chỉ định ứng cử viên. Bài báo nhắc nhở các nhà lãnh đạo Liên Xô rằng Nixon được coi là một nhà chính trị đòi có một chiến thắng quân sự ở Việt Nam, và phê phán "cuộc chạy đua vũ trang khổng lồ”, không hiệu quả của Lầu Năm Góc được tiến hành dưới chính quyền của Đảng Dân chủ. Bài báo kết luận: "Có thể các lực lượng đó chỉ định Nixon làm ứng cừ viên và tạo điều kiện để ông ta vượt qua các trở ngại do các đối thủ của ông ta tạo ra để chiếm lấy lợi thế chính trì ở Mỹ". Bài báo còn nói thêm gần đây Nixon đã chấp nhận một cách làm việc thận trọng hơn đối với vấn đề chính sách đối ngoại, thậm chí còn tuyên bố các quan điểm chính trị của ông ta đã được sửa đổi từ đầu những năm 60.
Ngoài ra, các nhà lãnh đạo Liên Xô còn tin tưởng mạnh mẽ rằng những lời hứa hẹn trong chiến dịch vận động bầu cử của các ứng cử viên Tổng thống ở Mỹ thường không còn một khi họ giành được thắng lợi. Các vị Tổng thống mới thường dễ dàng quên đi những lời hứa hẹn ban đầu. Song các nhà lãnh đạo Matxcơva vẫn tiếp tục coi Nixon là người ít được ưa thích ở Nhà Trắng. Vì năm 1964, các nhà lãnh đạo Liên Xô đã "bỏ phiếu” cho Johnson, nên hiện nay họ quyết định gián tiếp ủng hộ Humphrey, đặc biệt là ở lĩnh vực nhạy cảm nhất của chính quyền Đảng Dân chủ, đó là cuộc chiến tranh Việt Nam. Hành động đó dễ giải thích về quyết định của Matxcơva nhằm tháo gỡ các bế tắc của các cuộc thương lượng hoà bình ở Paris tháng 10 năm 1968, mà đã tạo điều kiện cho chính quyền Johnson tuyên bố ngừng ném bom vài ngày trước ngày bầu cử. Vì vậy tạo cơ hội cho Humphrey chạy đua với Nixon trong cuộc bầu cử.
Bản thân Nixon không chỉ nghi ngờ rằng người Liên Xô đứng đằng sau các diễn biến của tháng 10 mà gây tốn kém cho ông ta bước vào Nhà Trắng; ông ta còn biết cả môi lo ngại của Matxcơva khi ông ta giành thắng lợi. Trong hồi ký của mình, Nixon đã viết: "Tôi biết chắc rằng Breznhnev và Kosygin không còn lo lắng về thắng lợi của tôi giành được năm 1968 bằng Khrushchev giành được trong năm 1960. Triển vọng giải quyết công việc với một chính quyền Đảng Cộng hoà-Chính quyền Nixon lúc bấy giờ-rõ ràng làm cho Matxcơva lo ngại. Trong thực tế tôi cho rằng người Liên Xô có thể đã tham vấn Bắc Việt Nam về đề nghị bắt đầu các Cuộc Nghị đàm Paris với hy vọng việc ngừng ném bom sẽ làm nghiêng cán cân sang Humphrey trong cuộc bầu cử-và điều đó là chiến lược của họ, thì gần như nó triển khai khá tốt". Nixon gần như đúng, mặc dù ông ta quá thổi phồng tầm quan trọng của cá nhân bằng việc gợi ý rằng người Liên Xô thúc đẩy Hoà đàm ở Paris là nhằm ngăn chặn ông ta trở thành Tổng thống đắc cử.
Điện Kremlin không có ảo tưởng về các giới hạn ảnh hưởng của nó đối với đời sống chính trị của Mỹ. Thường xuyên nhận được thông tin từ Đại sứ quán Liên Xô ở Washington cũng như của các nguồn tin tình báo về xu hướng của công chúng Mỹ và triển vọng của cuộc bầu cử, nên các nhà lãnh đạo Liên Xô có thể biết trước được kết quả bầu cử. Cũng trong tháng 10, khi các bước được đẩy mạnh nhằm giành được một sự thoả thuận ngừng ném bom được để lộ ra, Ban bí thư Trung ương và Trưởng ban đối ngoại của Đảng, ông Boris Ponomarev, đã đề nghị Bộ chính trị Liên Xô nên khuyên Hà Nội gửi một bản đánh giá về khả năng thắng cử của Nixon vào thời gian được bầu cử. Bằng việc gợi ý một bước đi như vậy, ông Ponomarev nghĩ rằng có thể gây ảnh hưởng đối với Ban lãnh đạo của Bắc Việt Nam nên thoả hiệp với Mỹ dưới thời chính quyền Johnson, vì rõ ràng Hà Nội không nóng vội bằng Màtxcơva trong việc dàn xếp với Nixon với tư cách là Tổng thống. Mặt khác, rõ ràng Matxcơva đã nhìn thấy trước thắng lợi của Đảng Cộng hoà và thấy cần thiết phải chuẩn bị cho các đồng minh của mình trước một thay đổi như vậy.
Vì vậy, sau khi có tin thắng cử của Nixon đến Matxcơva, tin này không gây ra một biến động nào. Đánh giá các kết quả của cuộc bầu cừ Tổng thống, báo Pravda đã kết luận rằng: "Năm nay, người Mỹ đi bỏ phiếu không nhiều vì chống lại việc bầu cử hay chính ứng cử viên". Với các lý do cho thất bại của Đảng Dân chủ, bài báo đã nêu nên các lý do chính như: bị mất lòng dân vì Cuộc chiến tranh Việt Nam cũng như các khó khăn ở trong nước Mỹ như đói nghèo, lạm phát, tội ác. Báo Pravda phân tích: "Thậm chí ngay từ lúc đầu chiến dịch vận động bầu cử, người ta thấy rằng dân chúng Mỹ mất lòng tin với chính quyền đảng dân chủ ngày một lớn".
Từ lúc bắt đầu chính quyền mới của Đảng Cộng hoà vào tháng 1 năm 1969, các quan điểm của Nixon đối với quan hệ Xô-Mỹ cũng giống quan điểm của Cố vấn an ninh Henry A.Kissinger, người ngày càng đóng vai trò quan trọng trong chính sách đồi ngoại Mỹ, là khá phức tạp hơn là đối đầu. Những điều này đã phán ánh nên quan điểm của Nixon cho rằng, Mỹ "có thể và phải nối lại, khi có thể các cuộc thương lượng với các nước cộng sản", đồng thời cho rằng toàn bộ tình thế quốc tế buộc Mỹ có cách giải quyết xây dựng với các nước xã hội chủ nghĩa, và đặc biệt là Liên Xô. Vào cuối năm 1960, Mỹ cho rằng họ đang chiếm ưu thế trên thế giới và có khả năng gây ảnh bướng đối với các phát triển của một số nơi trên thế giới. Một trong các yếu tố có ý nghĩa quan trọng nhất trong bối cảnh chính trị hiện đang thay đổi là sự cân bằng hạt nhân chiến lược giữa Liên Xô và Mỹ. Các diễn biến khác cũng bắt buộc Mỹ phải xem xét lại các mục tiêu và phương sách của chính sách đối ngoại Mỹ, trong số đó là phong trào của Châu Âu vào cuối những năm 60 đòi hoà hoãn với phương Đông và ngày càng có sự thay đổi trong các mối quan hệ Trung-Xô.
Nixon nhận thức rõ các xu hướng mới đó và có thể kết hợp chúng vào chương trình chính sách đối ngoại của ông ta. Nixon là người sớm bộc lộ ra các khả năng điều chỉnh các quan điểm của mình trước các thực tiễn của nền chính trị Mỹ. Sau khi trở thành Tổng thống, ông ta đã nắm bắt các nét chính của tình hình quốc tế và đưa chúng vào các kế hoạch của mình đối với thế giới. Nixon coi việc hợp tác với Liên Xô như là một công cụ hữu ích trong chính sách của Mỹ, ông ta tin rằng sẽ là nhạy cảm hơn và an toàn hơn khi liên hệ với những người cộng sản hơn là để họ sống biệt lập trong một cuộc chiến tranh Lạnh hay đối đầu. Hợp tác với người Liên Xô có thể là hữu ích trong việc giải quyết một số khó khăn mà nước Mỹ gặp phải trong cuối những năm 60. Hơn nữa, đối với Nixon, quan hệ với Matxcơva là một phần trong bản thiết kế lớn. Theo ông Raymond Garthoff, Nixon muốn một chính sách đối ngoại đặt Mỹ vào một vị thế trung tâm và vị thế siêu cường thế giới, giống như ông ta đã củng cố vị thế trung tâm và sức mạnh trong Nhà Trắng. Tuy nhiên, khởi đầu nhiệm kỳ Tổng thống của Nixon, trở ngại chính cho các kế hoạch đó là cuộc chiến tranh Việt Nam.
Vào cuối những năm 60, một điều trở nên rõ ràng hơn đối với bất cứ nhà quan sát độc lập nào, về việc dính líu của Mỹ vào Cuộc chiến tranh Việt Nam là một sự bào chữa không hợp lý và lô gích. Nixon không phải là một nhà quan sát độc lập, và ông ta có đủ lý do giải thích cho việc Mỹ dính líu vào cuộc chiến tranh cho tới khi nó có thể kết thúc trong "danh dự". Song ông ta muốn có "hoà bình danh dự" càng sớm càng tốt, vì ông ta hiểu rằng mỗi một ngày chiến tranh không chỉ làm cho ông ta càng xa cách mục tiêu trong các vấn đề đối ngoại mà còn làm sói mòn chính sách đối nội của ông ta. Vì vậy ông ta bắt đầu tìm kiếm một giải pháp để kết thúc cuộc chiến tranh nhanh chóng và danh dự, và nếu có thể duy trì một Nam Việt Nam độc lập dưới chính quyền Thiệu.
 
Nixon nhận thức rõ rằng ông ta không thể đạt mục tiêu đó bằng các biện pháp quân sự, vì rằng "toàn bộ chiến thắng quân sự không thể là sự kéo dài". Một tiến trình duy nhất có thể chấp nhận là "cố gắng dàn xếp một cuộc thương lượng...". Ông ta biết rằng điều đó không thể hoàn tất khi kết thúc nhiệm kỳ đầu của mình như ông ta đã thừa nhận trong hồi ký. Song ông cũng không thể loại trừ một khả năng: cuộc chiến tranh có thể tiếp tục thậm chí sau khi ông ta hết nhiệm kỳ. Trong trường hợp đó, ông ta có thể sẽ phải đối phó với việc mất uy tín ở trong nước trong khi cố duy trì uy tín ở nước ngoài. Để tránh một tình thế như vậy, Nixon đã quyết định gắn hai nhiệm kỳ trong chính sách đối ngoại của ông ta lại với nhau-dàn xếp với nhũng người cộng sản và cố gắng thoát ra khỏi cuộc xung đột với người Việt Nam-nhằm mở rộng cơ hội tiến hành công việc của ông ta trước bối cảnh trong nước và trên lĩnh vực quốc tế.
Quyết định đó dựa vào việc Nixon cho rằng "vấn đề mấu chốt giải quyết Cuộc chiến tranh Việt Nam nằm trong tay Matxcơva và Bắc Kinh hơn là trong tay Hà Nội". Ông ta tin rằng: "Nếu không có sự tiếp tục viện trợ vớì số lượng lớn của hai nước cộng sản khổng lồ thì các nhà lãnh đạo Bắc Việt Nam không có khả năng tiếp tục cuộc chiến tranh trong vài tháng nữa". Theo quan điểm của Nixon, do Liên Xô chú ý tới việt giải quyết cuộc chiến hơn là Bắc Kinh; và do Mỹ-Trung đã thiết lập các mối quan hệ và Mỹ không chắc chắn lắm với người Trung Quốc nên Matxcơva trở thành mục tiêu hàng đầu trong các cố gắng của Nixon nhằm giải quyết các vấn đề của Việt Nam.
Tuy nhiên, sức mạnh có thể trở thành chiều hướng mới của Nixon đối với giải pháp hoà bình, ông ta không bao giở miễn cưỡng lựa chọn áp lực quân sự để buộc người Bắc Việt Nam chấp nhận một nền hoà bình theo các điều kiện của Mỹ. Ngay từ lúc đầu, Nixon đã xem xét một cách kỹ lưỡng việc đe doạ ném bom trở lại lãnh thổ Bắc Việt Nam và thả mìn tại các hải cảng lớn và giao thông đường biển của Bắc Việt Nam trong điều kiện Hà Nội tỏ ra cứng đầu cứng cổ và lãnh đạm. Đồng thời yếu tố Liên Xô luôn thống lĩnh các suy nghĩ của Tổng thống, và quá dựa vào phản ứng của Matxcơva trước các biện pháp đột ngột đó. Vì vậy, vấn đề Việt Nam kết, bện chặt chẽ giữa việc hoà hoãn với Liên Xô trong các kế hoạch mới của chính quyền.
Nixon đã tin rằng ông ta có khả năng gây áp lực có hiệu quả để đạt được một sự dàn xếp về ngoại giao nhanh chóng với Bắc Việt Nam. Ông thường so sánh mình với một tay chơi bài xì tài ba. Tháng 8 năm 1968, trong khi gặp gỡ các đoàn đại biểu miền Nam nước Mỹ đến dự Đại hội toàn quốc của Đảng Cộng hoà, ông ta đã trả lời một câu hỏi về ý định của mình đối với việc kết thúc cuộc chiến tranh: "Tôi biết tý chút cách đánh bài xì (Poker) khi đang phục vụ trong lực lượng hải quân... Tôi đã hiểu rằng, khi một gã không có con bài nào trong tay thì anh ta thường ăn nói một cách thận trọng. Nhưng khi anh ta có các con bài thì anh ta ngồi yên lặng với hai con mắt lạnh lùng. Giờ đây chúng ta. có các con bài đó... cái mà chúng ta cần làm là đi đứng nhẹ nhàng và mang theo một cái gậy thật to". Cái mà khuyến khích Nixon thích hợp với các luật chơi bài xì là ông ta có một người chơi cùng cặp là Henry Kissinger, cố vấn đặc biệt về các vấn đề an ninh quốc gia.
Hầu như những ai viết về chính sách đối ngoại của chính quyền Nixon đều không cưỡng lại việc nhắc lại nhận xét của Nixon về cặp chơi lạ lùng này-giữa con trai của một người bán tạp phẩm ở một thị trấn nhỏ của nước Mỹ với một người tị nạn của nước Đức Hitler, của một nhà chính trị với một viên sĩ. Song cặp chơi này không quá khác nhau trong quan điểm của họ đối với chính sách đối ngoại. Họ có nhiều cái đồng hơn cái khác trong nhân sinh quan và vai trò của Mỹ trên thế giới. Và một khi các quan điểm của họ không giống nhau thì họ sẽ có điều chỉnh để đi đến cái chung.
Logged

Chân lý thuộc về kẻ chiến thắng
hoabinh101
Thành viên
*
Bài viết: 90



« Trả lời #65 vào lúc: 01 Tháng Giêng, 2008, 10:30:03 am »

Để quyết định ai là "người theo thuyết quan niệm", và ai là "một sứ giả" là mục đích chính của cuốn sách này. Điều quan trọng cả Nixon lẫn Kissinger cùng chia sẻ nhiều lý tưởng là bằng cách nào Mỹ rút lui "danh dự" ra khỏi cuộc xung đột với Việt Nam. Thậm chí trước khi họ gặp nhau ở Washington, Kissinger đã từng nêu quan điểm của ông ta đối với vấn đề này trọng bài "Các cuộc thương lượng với Việt Nam" đăng trên Tạp chí Foreign Affair số ra tháng 1 năm 1969, trong khi Nixon chỉ có việc tán đồng. Trong bài viết, Kissinger đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trong về uy tín của Washington, mà lẽ ra ông ta phải kết tội sự dính líu của Mỹ vào Cuộc chiến tranh Việt Nam là một sự tranh luận về quan điểm địa lý chính trị. Ông ta đã giải thích rằng một cuộc rút lui toàn bộ ra khỏi Việt Nam có thể có hậu quả nghiêm trọng đối với uy tín của Mỹ và thậm chí đối với cả toàn bộ tình hình quốc tế. Ông ta cho rằng: "Ở nhiều nơi trên thế giới-bao gồm cả Trung Đông, châu Âu, Mỹ La tinh, thậm chí cả Nhật Bản-sự ổn định tuỳ thuộc vào lòng tin đối với các lời hứa hẹn của Mỹ". Điều đó cũng được Nixon lập lại từ "uy tín". Chẳng có gì ngạc nhiên khi trong hồi ký của mình, Nixon luôn nhắc đi nhắc lại tầm quan trọng của sự đồng nhất về quan điểm giữa Tổng thống đắc cừ với trợ lý đặc biệt của ông trong tương lai. Nixon đã viết: "Chúng tôi còn nhất trì với nhau cả về một chính sách đối ngoại phải như thế nào, chính sách đó phải mạnh để có uy tín, và nó phải có uy tín để giành thắng lợi".
Song Nixon cũng còn đánh giá ý tưởng khác mà Kissinger đã nêu ra trong bài viết. Để thu hút sự chú ý tới tầm quan trọng của sự trợ giúp của Liên Xô và Trung Quốc đối với Hà Nội, ông ta đã nhấn mạnh đến các xem xét đầy mâu thuẫn mà có thể là gánh nặng cho các nhà lãnh đạo Liên Xô đối với Cuộc chiến tranh Việt Nam. Ông ta tin rằng cả thắng lợi lẫn thất bại của người Bắc Việt Nam đều không được Liên Xô thừa nhận. Ông ta không đề cập đến một lời thỉnh cầu trực tiếp với Matxcơva nhằm giải thoát Mỹ ra khỏi Cuộc chiến Việt Nam, song ông chủ trương rằng: “Washington... cần có sự khôn khéo dàn xếp với Matxcơva về vấn đề Việt Nam", nếu không sự dàn xếp của Mỹ với người Liên Xô để làm cho cả Mỹ lẫn các đồng minh của Liên Xô cho là "các siêu cường đang hy sinh các đồng minh của họ để duy trì các phạm vi ảnh hưởng”.
 
Walter Issacson cho rằng tác giả chính sách ràng buộc "các vấn đề hoà hoãn và Việt Nam" là của Nixon, lập luận lúc ban đầu Kissinger tỏ ra hoài nghi về việc Liên Xô đóng vai trò chủ chốt trong cuộc dàn xếp với Việt Nam. Đúng rằng, Kissinger trước khi được bổ nhiệm và trước cuộc họp báo ngày 6 tháng 2 năm 1969, chưa bao giờ nhấn mạnh đến vai trò của Matxcơva trong việc giải quyết Cuộc chiến tranh Việt Nam, song ông ta không bao giờ phản đối việc yêu cầu Matxcơva giúp đỡ. Theo hiểu biết của ông Issacson thì Kissinger nhanh chóng nhận ra một sự mâu thuẫn trong đường lối giải quyết hoà bình ở Việt Nam thông qua Matxcơva của Nixon. Ngày 25 tháng 11 năm 1968, lần đầu tiên đích thân Kissinger gặp Nixon. Cuộc nói chuyện của họ, nếu chúng ta tin vào sự giải thích của Kissinger, chỉ đề cập đến các vấn đề chung. Không đầy ba tuần lễ sau đó, theo yêu cầu của Nixon, Kissinger đã trình bày vắn tắt trước nội các mới về việc chuẩn bị soạn thảo (mà thật ra là của ông ta và của Nixon) chính sách đối ngoại. Kissinger đã trình bày một cách mạnh mẽ chính sách của Nixon đối với Liên Xô. Ông ta phê phán chính sách cũ như là “việc xây dựng lòng tin cho chính mục đích riêng của mình" thay vì chính quyền mới đã bát đầu tiến hành việc giải quyết các mâu thuẫn giữa hai siêu cường đối với các vấn đề cụ thể. Kissinger đã tuyên bố: "Một nền hoà bình bền vững phải phụ thuộc vào việc giải quyết các vấn đề chính trị mà đang chia rẽ hai siêu cường hạt nhân".
Sáu tháng sau đó, Kissinger đã chuyến những lời đó thành các yêu cầu cụ thể cho Ban lãnh đạo Liên Xô trong một cuộc tiếp xúc ở Sứ quán Liên Xô với ông Bong Sedov, "một điệp viên của KGB trong vai trò Cố vấn của sứ quán". Kìssinger đã đảm bảo với người tiếp kiến mình về sự thành thật của chính quyền mới cam kết đi vào "Kỷ nguyên hoà đàm", và ông ta đã thông báo cho Sedov răng chính quyền Mỹ chuẩn bị thảo luận về hạn chế vũ khí chiến lược, Nixon và Kissinger tin rằng đó là điều Matxcơva bận tâm nhất. Kissinger còn nói thêm rằng: "Chúng tôi sẽ không đi vào thảo luận nếu trước đó chúng tôi chưa phân tích vấn đề".
Hơn thế, Washington còn muốn "xét đoán các mục tiêu của Liên Xô thông qua việc Liên Xô muốn tiến ra một mặt trận rộng lớn hơn, đặc biệt là thái độ của Liên Xô đối với Trung Đông và Việt Nam".
Như người ta có thể thấy, sự biến đổi này đã diễn ra chưa được một tháng. Bà Joan Hoff đã giải thích về sự chuyển đổi của Kissinger bằng sự lập luận rằng ông ta là "một người tôn sùng địa vị chính trị hơn là một nhà lãnh đạo, mặc dù trí tuệ của ông ta đối với một nền ngoại giao thay đổi là nhằm thi hành một số chính sách của Nixon một cách kiểu mẫu hơn". Điều đó có thể đúng, song lý do Kissinger chấp nhận các quan điểm của Nixon quá nhanh, và gần như lập tức đưa chúng vào thực tiễn là sự cuốn hút về quan niệm của cả hai người. Điều đó được thể hiện trong các bài viết của Kissinger về các cuộc thương lượng với Việt Nam, mà ông đặc biệt nhấn mạnh đến việc Việt Nam ngày càng bị phụ thuộc vào Matxcơva, đặc biệt sau khi Liên Xô xâm lược Tiệp khắc. Nó còn thể hiện trong các hồi ký của Nixon, và vị cựu Tổng thống này đã viết: "Trong thời kỳ quá độ, Kissinger và tôi đã phát triển một chính sách mới để dàn xếp với Liên Xô. Do các quyền lợi của Xô-Mỹ như là sự cạnh tranh của hai siêu cường hạt nhân là quá lớn và chồng chéo, nên quả là không thực tế nếu phân chia hay tách bạch các khu vực quan tâm. Vì vậy chúng tôi đã quyết (định gắn sự tiến bộ ở các khu vực mà Liên Xô quan tâm với giới hạn các vũ khí chiến lược và tăng cường thương mại với sự tiến bộ ở các khu vực mà rất quan trọng đối với chúng ta như: Việt Nam, Trung Đông và Béc Lin. Quan niệm này được biết đến như một sự liên kết".
Nói một cách khác, ngay từ khi bắt đầu nhiệm kỳ đầu tiên của chính quyền mới của Đảng Cộng hoà đã xem chính sách đối với Liên Xô như là một phần cơ bản của các cố gắng để tìm ra một giải pháp đối với Việt Nam. Như Raymond Garthoff đã viết: "Điều bận tâm của Nixon và Kissinger trọng suốt năm 1969 và tới năm 1972 không phải là Cuộc họp thượng đỉnh với Matxcơva bàn về sự hoà hoãn, mà là việc tìm ra cách rút lui trong “danh dự" khỏi Cuộc chiến tranh Việt Nam. Cải thiện các mối quan hệ với Liên Xô, và có thể tương tự như vậy dàn xếp với Trung Quốc vào thời điểm đó có nghĩa kết thúc vấn đề vốn dĩ cần được kết thúc". Sau này, trong hồi ký của mình, Kissinger đã cho rằng ông ta rất vất vả trong việc điều chỉnh chính sách liên kết mà căn cứ vào thực tế hơn là quyết định thay đổi của Washington". Song vấn đề cơ bản là cố gắng gây áp lực đối với Liên Xô để làm giảm bớt ảnh hưởng của nó, để đổi lấy sự tiến bộ trong việc hạn chế vũ khí và tăng cường hợp tác kinh tế với Mỹ, và tạo điều kiện dễ dàng cho Washington rút lui "danh dự" ra khỏi Cuộc chiến tranh ở Đông Nam Á. Và Matxcơva coi các cố gắng của chính quyền Nixon là đúng theo kiểu này.
Ngay từ lúc đầu, rõ ràng Nhà Trắng đã cố gắng xác định rõ phản ứng của Matccơva đối với chính sách liên kết thông qua các kênh của tư nhân. Cuộc gặp gỡ giữa Kissinger với Sedov là một trong số các cố gắng đó. Sự phản ứng của Ban lãnh đạo Liên Xô đối với Nixon và Kissinger dường như là tích cực. Kissinger đã mô tả phản ứng của Liên Xô là "mềm mỏng". Các nhà lãnh đạo đã thừa nhận rằng các mối quan hệ Xô-Mỹ có thể có "tác dụng thuận lợi" cho việc giải quyết cuộc chiến tranh cũng như dàn xếp một cách xây dựng các vấn đề của Trung Đông và châu Âu. Song đó chỉ là một sự trả lời thông thường của Chính phủ Liên Xô, và phía Liên Xô cho rằng việc Mỹ rút lui khỏi cuộc xung đột ở Đông Dương có thể có một tác dụng tích cực đối với các quan hệ Xô-Mỹ, người Liên Xô đã nêu vấn đề này nhiều lần với Tổng thống Johnson, và họ sẵn sàng lập lại với Nixon. Vì vậy có thể thấy rằng Matxcơva đã làm như vậy do không nhận được kết quả nào của chính sách kết hợp và sự gắn bó với nó của chính quyền Nixon.
Tuy nhiên, sự liên quan mật thiết của chính sách này sớm trở nên rõ ràng đối với các nhà hoạch định chính sách của Liên Xô. Ngày 27 tháng 1 năm 1969, tại cuộc họp báo đầu tiên sau lễ nhậm chức, Nixon "đã gắn" các cuộc thảo luận việc hạn chế vũ khí chiến lược của người Liên Xô với "sự tiến bộ của các vấn đề chính trị nổi bật" cùng một lúc. Ba ngày sau đó, ngày 31 tháng 1, Kissinger đã gặp nhà báo nổi tiếng Liên Xô Yuri Zhukov, và như Zhukov đã báo cáo với Matxcơva: "Rõ ràng tôi hiểu rằng Nixon sẽ phát triển các mối quan hệ Xô-Mỹ tuỳ thuộc vào các vấn đề sẽ tiến triển ra sao gắn với việc giải quyết vấn đề Việt Nam". Kissinger đã bóng gió với Zhukov, là người mà ông ta tin rằng sẽ báo cáo lại với các nhà cầm quyền Liên Xô về cuộc đối thoại này, rằng Washington hy vọng có "các hành động đơn phương" của Matxcơva để đạt được sự hiểu biết ở Paris, và các hành động như vậy sẽ có "tầm quan trọng lớn".
Ngày 6 tháng 2, Nhà Trắng lại có một bước mới nhằm thông báo cho Ban lãnh đạo Liên Xô. Trong một báo cáo tin vắn tắt, Kissinger đã sử dụng thuật ngữ "kết hợp". Ông ta đã nói: "Khi đặt vấn đề kết hợp giữa chính trị với môi trường chiến lược... (Tổng thống) muốn giải quyết vấn đề hoà bình trên toàn bộ mặt trận mà nền hoà bình bị thách thức chứ không riêng về mặt quân sự".
Matxcơva vẫn không chú ý đến các tuyên bố đó của Washington. Ngày 14 tháng 2, khi Kissinger đến Sứ quán Liên Xô theo lời mời chính thức và ông ta còn đến Tư dinh của Đại sứ Liên Xô. Đại sứ Dobrynin đã thông báo cho khách mời biết ràng ông ta có nhận một bức tin điện của Matxcơva về việc ông ta muốn được gặp Tổng thống mới đắc cử. Vì vậy Nhà Trắng đã có trả lời, ba ngày sau đó, Dobrynin lần đầu tiên đã gặp Nixon.
Trong hồi ký của mình, cả Nixon và Kissinger đều kể về cuộc gặp gỡ đầu tiên này, chỉ trừ việc Nixon không đề cập đến vấn đề Dobrynin bảo đảm về việc Liên Xô muốn đàm phán cùng một lúc nhiều vấn đề. Theo Nixon, sau khi bày tỏ Matxcơva mong muốn bắt đầu thảo luận về hạn chế vũ khí, Dobrynin đã chú ý lắng nghe Tổng thống Nixon tuyên bố rằng sự tiến bộ trong các cuộc đàm phản có thể gắn bó với sự tiến bộ của các lĩnh vực khác. Nixon đã diễn thuyết: “Lịch sử đã làm sáng tỏ rằng các cuộc chiến tranh xảy ra phần lớn không phải là do vấn đề vũ trang hay thậm chí các cuộc chạy đua vũ trang, cuộc chiến tranh xảy ra là do có sự bất đồng cơ bản về mặt chính trị và các rắc rối về mặt chính trị: Nên tôi nghĩ rằng đó là nghĩa vụ của chúng ta, khi chúng ta bắt đầu các cuộc thương lượng về các vũ khí chiến lược thì chúng ta có nghĩa vụ hành động tương tự như cách tháo gỡ ngòi nổ, các tình thế khủng hoảng chính trị như ở Trung Đông, Việt Nam và Berlin, là những nơi có nguy cơ phải sừ dụng vũ trang". Kissinger không hề đề cập đến "một văn kiện chính thức bảy trang" của Matxcơva mà Dobrynin đã đưa cho Nixon. Trong bức thông điệp này, Matxcơva cho rằng theo ý của Nixon, Liên Xô đã chuẩn bị thảo luận toàn bộ các chủ đề trên bao gồm cả vấn đề Trung Đông, Việt Nam, Trung âu, và kiểm soát vũ khí. Theo Nixon và Kissinger, Ban lãnh đạo Liên Xô trong một số cách thức nào đó đã chấp nhận chính sách kết hợp.
Song một số tài liệu khác lại không cho là như vậy. Sau khi gặp Nixon và Kissinger, Đại sứ Liên Xô đã gặp Avereli Harriman, người mà ông ta vốn có một mối quan hệ thân thiết. Trong cuộc đàm luận của họ ngày 19 tháng 2, Dobrynin không hề che giấu mối quan tâm của ông về việc chính quyền Mỹ mong muốn trói buộc các hiệp nghị về hạt nhân với các dàn xếp về chính trị. Dobrynin đã thừa nhận với cựu trưởng đoàn đàm phán về Hội nghị hoà bình Paris, người đã từ chức do sự thay đổi lãnh đạo ở Washington, rằng: "Ban lãnh đạo Liên Xô đã thảo luận hơn một năm để đi đến quyết định là liệu họ có muốn có một hiệp nghị hạn chế hạt nhận không". Theo ông Dobrynin: "Quyết định này có được trên cơ sở đồng ý của phần lớn các nhà lãnh đạo Liên Xô, vì họ thành thật muốn đạt một sự hiểu biết với Mỹ". Các nhà lãnh đạo của Chính phủ ông ta không thể hiểu bằng cách nào họ có thể gắn các vấn đề dàn xếp chính trị với các vấn đề hạt nhân. Matxcơva đã tin rằng tất cả các vấn đề "đều phải có lập trường của chúng và được giải quyết một cách phù hợp".
Dobrynin đã không mệt mỏi thuyết phục Harriman rằng những lời đồn đại về các khó khăn kinh tế ở Liên Xô đã khiến cho Matxcơva vội có hội đàm về hạn chế vũ khí là không đúng sự thật. Ông đã bảo đảm với Harriman rằng các nhà lãnh đạo Liên Xô sẵn sàng đối đầu với một cuộc chạy đua hạt nhân nếu họ không đạt được sự thoả thuận với Mỹ "trên cơ sở phù hợp" với vấn đề. Theo Dobrynin: "Không có việc gì có thể bắt họ nhượng bộ một số vấn đề chính trị để đạt được sự thoả thuận của phía Mỹ về các vấn đề hạt nhân". Trong một cuộc nói chuyện sau đó, viên Đại sứ Liên Xô đã trở lại vấn đề của các hội nghị thương lượng vũ khí hạt nhân và bày tỏ ý kiến rằng chính quyền Nixon nên thành thật với các nhà lãnh đạo Liên Xô và báo với họ là có muốn tiến tới các cuộc thảo luận về hạt nhân hay phải đợi thêm. Theo ông Harriman, ông Dobrynin tỏ ra "rất nóng lòng" làm sáng tỏ câu hỏi này.
Song ngược với các hy vọng đầy lạc quan của Nixon và Kissinger, cuộc đàm đạo của Dobrynin cho thấy rằng Ban lãnh đạo Liên Xô không chỉ thoả thuận thảo luận với Washington "toàn bộ các chủ đề mà còn lo đối phó với tình huống các cuộc thương lượng về vũ khí hạt nhân bị thất bại hơn là gắn các cuộc thương lượng như vậy với các vấn đề của Việt Nam hay Trung Đông. Tuy nhiên nếu có sự thoả thuận gắn các vấn đề hạt nhân với các vấn đề chính trị, thì Liên Xô muốn gây áp lực với chính quyền Nixon. Rõ ràng Dobrynin đã thể hiện mối quan tâm của mình cho Harriman biết vì rằng ông biết Harriman sẽ đệ trình vấn đề này với Nhà Trắng. Và điều này ông đã dự đoán đúng. Ngày 21 tháng 2, Harriman đã gặp Nixon và Kissinger, và ông ta đã nêu các vấn đề trong cuộc gặp với Đại sứ Liên Xô. Harriman đã nêu ý kiến phản đối việc gắn các cuộc thương lượng về chính trị với các vấn đề về quân sự. Theo ông, phía Mỹ nên tò ra "thành thật" để lập thời gian biểu cho các cuộc thảo luận về hạn chế tên lửa hạt nhân.
Mặc dù ông ta đã nhân được sự cam kết của Kissinger và Nixon rằng việc gắn liền các vấn đề với nhau không phải là của Mỹ; Harriman tỏ ý nghi ngờ và cho là không thành thật. Khi hai người rời khỏi văn phòng của Nixon, Kissinger đã khoe khoang với Harriman rằng: "Anh nên hài lòng với chính sách của chúng tôi đối với người Liên Xô về vấn đề Việt Nam. Chúng tôi muốn đặt chúng ở mức độ cao nhất và thoả thuận với họ về vấn đề gì sẽ xảy ra ở Việt Nam. Nếu chúng ta làm như vậy thì lĩnh vực quân sự có thể đạt được sự tiến bộ". Harriman không hề nói lại với Đại sứ Dobrynin về ý kiến nhận xét của Kissinger, và dường như vị Đại sứ này "hoàn toàn hài lòng" với các thông báo của Harriman. Song ông sớm phát hiện ra rằng sự gắn kết vẫn tiếp tục trong nghị trình của các nhà hoạch định chính sách ở Washington.
Logged

Chân lý thuộc về kẻ chiến thắng
hoabinh101
Thành viên
*
Bài viết: 90



« Trả lời #66 vào lúc: 01 Tháng Giêng, 2008, 10:30:43 am »

Trong cuộc họp báo ngày 4 tháng 3, Nixon đã đề cập đến các mối quan hệ của Liên Xô liên quan đến vấn đề Việt Nam. Ông ta đã bày tỏ hy vọng rằng Matxcơva có thể "đóng vai trò của một người gìn giữ hoà bình ở Trung Đông và thậm chí cả ở Việt Nam". Ông ta thể hiện một niềm tin tưởng rằng: "Không có sự hợp tác của Liên Xô thì Mỹ gặp nhiều khó khăn thúc đẩy nhanh tiến trình giải quyết Cuộc chiến tranh ở Việt Nam". Nixon đã nhấn mạnh rằng Liên Xô phải chấp nhận sự hợp tác đó, do các quyền lợi của họ cũng như của chúng ta không chỉ đơn giản phục vụ các cuộc thương lượng về vũ khí hạt nhân mà đồng thời thúc đẩy sự tiến bộ giải quyết các bất đồng chính trị mà có thể nổ ra. Vì vậy ông ta đã lập lại sự mong muốn của mình đối với sự gắn liền các cuộc thương lượng về vũ khí hạt nhân, mà ông ta tin tưởng rằng người Liên Xô rất chú ý đến chúng, cùng với sự tiến bộ ở Việt Nam.
Không phải tất cả các cố vấn của Nixon đều ủng hộ yêu cầu công khai của Tổng thống đối với sự giúp đỡ của người Liên Xô để giải quyết vấn đề Việt Nam. Mặc dù họ không phản đối việc gắn các cuộc thương lượng về SALT (Hội nghị hạn chế vũ khí chiến lược) với một giải pháp về Cuộc chiến tranh Việt Nam. Trong một Bị vong lục gửi Tổng thống, người viết diễn văn cho Tổng thống là ông Pattrick Buchanan đã nêu lên lập trường không nhất quán của Liên Xô mà bị Trung Quốc hàng ngày lên án là cấu kết với phương Tây chống lại các lực lượng hoà bình trên thế giới. Trước một tình thế như vậy, Buchanan đặt câu hỏi: "Liệu điều đó có làm cho người Liên Xô lúng túng khi chúng ta (Mỹ) cần có sự hợp tác của họ hay sự ủng hộ bí mật của họ trong các cuộc Hoà đàm ở Paris hay không?".
Song, Nixon rõ ràng đã sừ dụng tất cả các kênh tư nhân hay nhà nước để thuyết phục Matxcơva có một lập trường xây dựng hơn đối với vấn đề Việt Nam. Ngày 26 tháng 3, ông ta đã viết thư cho Thủ tướng Liên Xô Kosygin theo cách đặt vấn đề với Dobrynin ngày 17 tháng 2. Cuối cùng, hai tuần lễ sau đó đã có sự trả lời của Kosygin và ông ta đã nhắc lại lập trường cơ bản của Liên Xô. Ban lãnh đạo Liên Xô đã thách thức quan niệm gắn liền của chính quyền Mỹ và đòi thảo luận các vấn đề một cách riêng lẻ. Trong khi chờ đợi sự trả lời của Matxcơva, Tổng thống và Cố vấn an ninh của ông ta đã vạch ra các kế hoạch liên quan đến Liên Xô trong việc kết thúc "một cách danh dự" Cuộc chiến tranh Việt Nam. Có một kế hoạch vạch ra sứ mệnh cho Cyrus Vance, là: một cựu đàm phán với Harriman ở Hoà đàm Paris, đi đến Matxcơva. Như Kìssinger đã giải thích về mục đích sứ mệnh của Vance liên quan đến việc "gắn kết các cuộc Hội đàm về SALT với việc giải quyết toàn diện Cuộc chiến tranh Việt Nam”. Vance được cừ tới Matxcơva để bắt đầu các cuộc thảo luận về SALT và bí mật gặp một quan chức cao cấp đại diện của Bắc Việt Nam. Vì vậy việc cử Vance đến Liên Xô là chính quyền Mỹ nhằm đạt được hai mục đích cùng một lúc: "Thúc đẩy nhanh sự tiến bộ ở hai khu vực, trong khi giữ họ ở thế cái trước, cái sau”. Ngày 14 tháng 4, Kissinger đã gặp Dobrynin nhằm giải thích cho vị Đại sứ về ý tưởng của chính quyền Mỹ. Để làm tăng thêm ý nghĩa của cuộc gặp, ông ta đã cho Dobrynin một trang tài liệu về ba điểm do Nixon khởi xướng. Cùng với một đề nghị cử phái đoàn đến Matxcơva, tài liệu này còn có một lời khuyên cáo (được đặt dưới điểm thứ ba) rằng: "Tất cả các bên đang ở ngã ba đường và cần có các biện pháp đặc biệt để đảo ngược chiều hướng của cuộc chiến tranh". Lời khuyên cáo này đi đôi với sự bóng gió rằng không có sự dàn xếp của Mỹ thì dễ tạo ra một tình thế phức tạp. Viên Đại sứ Liên Xô đã nêu vấn đề liệu chính quyền Mỹ giải quyết vấn đề Việt Nam có tạo ra một điều kiện cho sự tiến bộ ở Trung Đông và các quan hệ kinh tế và hội nghị về vũ khí hạt nhân hay không? Khi ông Kissinger trả lời rằng có, thì ông Dobrynin đã nhấn mạnh các mong muốn của Matxcơva có các mối quan hệ tốt hơn với Mỹ dù điều gì có xảy ra ở Việt Nam, và than phiền rằng cuộc leo thang chiến tranh chỉ phục vụ các mong muốn của người Trung Quốc là Xô-Mỹ xung đột. Tuy nhiên, ông ta hứa sẽ thông báo cho Chính phủ nước ông về đề nghị của phía Mỹ.
Trong khi Nixon tiếp tục đợi Kosygin trả lời bức thư của ông ta, thì sự im lặng của Liên Xô làm cho Washington lo lắng không hiểu liệu người Liên Xô có chuyển lời đề nghị của Mỹ tới Hà Nội hay không. Sau đó Dobrynin bảo đảm với Kissinger rằng ngườiLiên Xô đã thông báo cho Hà Nội về sứ mệnh của Vance, song họ đã nhận được một sự phản ứng tiêu cực của Bắc Việt Nam. Thông tin của Đại sứ Dobrynin đã được khẳng định trong một Bị vòng lục về các cuộc tiếp xúc giữa Mỹ-Việt Nam của Vụ Mỹ thuộc Bộ Ngoại giao mà trong thời gian đó đã nêu rõ, nội dung các cuộc gặp gỡ ngày 14 tháng 4 năm 1969, cuộc đàm luận giữa Kissinger và Dobrynin và sự bảo đảm các bước đi của Liên Xô. Theo Bản Bị vong lục đó, Matxcơva đã làm cho Hà Nội chú ý tới đề nghị của ông Kissinger. Bức thư ngày 5 tháng 5 do ông Phạm Văn Đồng gửi cho người Liên Xô nói rằng Ban lãnh đạo Bắc Việt Nam cho rằng: các Cuộc thương lượng ở Paris là khá tốt để đạt được một sự thoả thuận và không cần có các cuộc tiếp xúc khác. Thật ngạc nhiên, Bị vong lục đó của người Liên Xô ghi rằng để trả lời đề nghị của phía Mỹ, Matxcơva đã lập luận rằng Mỹ từ chối chấp nhận một Chính phủ liên hiệp ở Nam Việt Nam, vì như vậy làm khó cho Liên Xô giúp Mỹ. Người Liên Xô cho rằng cần quyết định vấn đề một Chính phủ liên hiệp cũng như việc rút toàn bộ quân đội nước ngoài ra khỏi Việt Nam.
 
Người ta vẫn chưa rõ, liệu Matxcơva đã thông qua chuyến đi của Vance để gửi lời phúc đáp theo đề nghị của Mỹ hay chỉ do Kissinger tiết) lộ trên hồi ký của mình nhằm bộc lộ sự không khoan nhượng của Liên Xô. Nhưng cũng có thể là sự phúc đáp của Matxcơva là ở bức thư của Kosygin gửi cho Nixonhay sự chuyển tải của Dobrynin trong buổi tiếp kiến riêng Kissinger. Dù trong trường hợp nào, người Liên Xô cũng cần khẳng định thái độ của họ đối với tuyên bố lập trường của người Bắc Việt Nam. Nếu vấn đề là như vậy, Kissinger không thấy có cái gì mới trong thái độ của người Liên Xô và không thể gắn nó vào một đề nghị cụ thể.
Dù vấn đề này ra sao, Washington cũng không hài lòng với lập trường của Liên Xô đối với Việt Nam. Vì vậy chính quyền Mỹ quyết định tăng áp lực đối với Hà Nội và Matxcơva. Tháng 3 năm 1969, Nixon đã ra lệnh ném bom một cách bí mật xuống Campuchia nhằm ngăn chặn các con đường tiếp tế của Bắc Việt Nam dọc đường mòn Hồ Chí Minh và quét sạch các cơ quan đầu não chỉ huy của cộng sản Việt Nam, mà Mỹ cho là đóng ở đất Campuchia, không những vậy, Tổng thống còn dự định ném bom trở lại miền Bắc Việt Nam. Tại cuộc họp nội các ngày 20 tháng 3, Tổng thống đã nói đến sự cần thiết tăng cường sức mạnh quân sự trên cơ sở nhằm giành thắng lợi trong các cuộc đàm phán với Hà Nội.
Nixon và Kissinger đều nóng lòng muốn để cho Matxcơva biết được ý định của họ không từ cố gắng nào, biện pháp hoà bình hay quân sự, để sớm kết thúc Chiến tranh Việt Nam. Tuần lễ đầu tiên của tháng 5, Kissinger đã cảnh cáo ông Dobrynin rằng cuộc chiến tranh có thể leo thang và rất tàn bạo-nếu Hà Nội không chịu trả lời các thái độ của Mỹ. Một thời gian sau đó, Nhà Trắng đã quyết định đi đôi với lời đe doạ đó là một lời đề nghị về hoà bình nhằm thể hiện rằng Mỹ không còn bám vào việc giải quyết vấn đề một cách hoà bình. Ngày 14 tháng 5, Dobrynin đã nhận trước một bản cọp bài diễn văn của Tổng thống về vấn đề Việt Nam, mà cũng sẽ được đọc trên đài truyền hình quốc gia. Đó là bài diễn văn đầu tiên trên cương vị Tổng thống đã hoàn toàn đề cập riêng tới vấn đề Việt Nam, và đó là kế, hoạch đầu tiên giải quyết vấn đề chiến tranh kể từ khi có đề nghị Manila của Tổng thống Johnson năm 1966. Nixon đã đề nghị rằng toàn bộ quân đội nước ngoài-cả Mỹ lẫn Bắc Việt Nam rút khỏi Nam Việt Nam trong vòng một năm sau khi có một hiệp nghị được ký kết. Một tổ chức quốc tế giám sát cuộc rút quân và kiểm soát các cuộc bầu cử tự do ở Nam Việt Nam.
Bài diễn văn đã thể hiện việc Mỹ đã từ bỏ một thể thức Manila "cứng nhắc và cũ rích", đòi rút quân toàn bộ các lực lượng Bắc Việt Nam như là một điều kiện tiên quyết cho việc giải quyết vấn đề Việt Nam. Song nó không hề đề cập đến vấn đề một giải pháp chính trị cho Nam Việt Nam, mà phía Hà Nội luôn đeo đuổi ngay từ buổi đầu của các cuộc Hoà đàm ở Paris. Việc bỏ qua vấn đề đó đã làm toàn bộ kế hoạch không được Ban lãnh đạo Bắc Việt Nam chấp nhận vì cho đó chẳng qua là một sự đầu hàng. Tuy nhiên, chẳng có ai cho rằng Tổng thống Nixon là một người quá ngây thơ, kế hoạch này không chỉ tập trung vào khung cảnh trong nước, mà nó còn là một bộ phận của cuộc tấn công ngoại giao mạnh mẽ chống lại Liên Xô nhiều hơn là Hà Nội. Những cố gắng này còn bao gồm cả việc tuyên truyền chống lại cả người Bắc Việt Nam lẫn Liên Xô, đe doạ quân sự chống lại Hà Nội, việc dàn xếp cá nhân với Matxcơva thông qua "các kênh riêng".

Cái gọi là "các kênh riêng" hoặc đơn giản hơn gọi là "các kênh" được Kissinger đề cập đến trong các cuộc tiếp xúc riêng với Đái sứ Liên Xô Dobrynin ở phòng bản đồ của toà Nhà Trắng, được xây dựng tháng 2 năm 1969, khi Tổng thống và cố vấn an ninh của ông xem xét vấn đề bằng cách nào tránh thông báo cho Bộ Ngoại giao và Ngoại trưởng William Rogers về cuộc họp đầu tiên sắp tới giữa Nixon và Dobrynin. Cuối buổi tiếp Đại sứ Liên Xô, Nixon đã thông báo cho ông Dobrynin rằng các vấn đề đặc biệt tinh nhạy trong tương lai, nên chỉ làm việc với Kissinger. "Các cuộc trao đổi riêng" giữa Dobrynin với Kissinger được tiếp tục qua các cương vị công tác của Kissinger, lúc đầu là cố vấn an mình, sau là Ngoại trưởng thời chính quyền Nixon. Nửa đầu năm 1969, phần lớn các cuộc trao đổi giữa hai người đều tập trung thảo luận chính sách Mỹ đối với Liên Xô có liên quan tới Việt Nam.

Kissinger biết rõ ràng rằng Dobrynin chẳng qua-chỉ là một người phát ngôn của các “sếp" ở Matxcơva. Mặc dù thảo luận một cách khéo léo, thân mật với các đại diện của giới Chính phủ Mỹ, song Dobrynin vẫn phải tuân theo những đường lối của Kremlin và Bộ Ngoại giao Liên Xô. Trong hồi ký của mình, Kissinger đã viết: "Tôi nhận thức rằng tác dụng của Dobrynin được thể hiện qua khéo léo của ông ta trong việc phản ánh nên các chính sách của Chính phủ Liên Xô, chứ không phải những ý kiến của riêng mình". Ông ta cũng nhớ tới ý kiến của Harriman về Dobrynin và những lời cố vấn của ông ta đối với Tổng thống trong cuộc hội đàm của họ vào ngày 21 tháng 2. Là một nhà thương lượng có kinh nghiệm với các lãnh đạo Liên Xô, Harriman đã nói với Tổng thống Nixon rằng chừng nào người Liên Xô vẫn được quan tâm, thì Tổng thống Nixon nên bàn bạc với các lãnh đạo của Bộ chính trị Liên Xô. Và ông ta coi Dobrynin chỉ là “một viên thư ký cao cấp", và thật là phí thời gian thảo luận với ông ta. Vì vậy khi biết đầu tháng 6 năm 1969, Dobrynin chuẩn bị bay về Matxcơva, Kissinger cho rằng một cuộc tiếp xúc với Dobrynin là một cơ hội chuyển tới Ban lãnh đạo Liên Xô các quan điểm của Tổng thống và ông ta, về các quan hệ Mỹ-Xô và toàn bộ tình hình quốc tế.
Cuộc gặp gỡ được tổ chức vào ngày 12 tháng 6, tại phòng làm việc của Kissinger ở Nhà Trắng, như Dobrynin báo cáo với Matxcơva về cuộc gặp này như sau: "Cũng giống như các cuộc gặp gỡ trước đây với ông ta, cuộc gặp này cũng không được tuyên bổ”. Kíssinger bắt đầu cuộc gặp gỡ với việc nói rằng Nixon biết tin Đại sứ Dobrynin chuẩn bị về Matxcơva và chính bản thân ông ta đã chấp thuận cuộc gặp gỡ mà Dobrynin “có thể, nếu cần thiết phản ánh sự hiểu biết ban đầu của mình về quan điểm của Tổng thống Nixon đối với một số vấn đề quốc tế và đặc biệt về quan hệ Xô-Mỹ" cho các lãnh đạo Liên Xô Kissinger đã bảo đảm với Dobrynin rằng trong chính sách đối ngoại, Nixon coi các mối quan hệ Xô-Mỹ không kém phần quan trọng như vấn đề Việt Nam. Tổng thống Mỹ nóng lòng tránh một sự đối đầu với Matxcơva và hy vọng rằng các mối quan hệ tay đôi dưới nhiệm kỳ Tổng thống của ông ta có thể bước vào một thời kỳ xây dựng.
Kissinger cũng đề cập tới vấn đề về một cuộc gặp có thể của Nixon với các lãnh đạo Liên Xô và nhấn mạnh mong muốn của Tổng thống nhằm tránh đưa ra công khai một cách không cần thiết vẩn đề này. Ông ta đã đề cập đến các cuộc gặp gỡ như vậy có thể diễn ra một lần trong năm giống như một chuyến công cán thương mại và không gây ra sự ầm ĩ. Nhưng các cuộc gặp gỡ như vậy có thể trao đổi các ý kiến hữu ích tạo ra sự hiểu biết giữa hai bên và tránh có những bước đi nguy hiểm do không hiểu nhau.
Kissinger còn thảo luận tình hình ở Châu Âu, vấn đề Mỹ-Xô cùng phê chuẩn một Hiệp ước cấm phổ biến vũ khí hạt nhân, giải quyết vấn đề Trung Đông, các cuộc thương lượng về vũ khí chiến lược. Ông nói rõ rằng Mỹ đã xem xét các quyền lợi của Liên Xô ở một số khu vực ví dụ như: ở Đông Âu-nơi chính quyền Nixon không định làm gì là khu vực mà Liên Xô cho là "thách thức" với vị trí của họ trong khu vực. Thậm chí Kissinger còn nói với Điện Kremlìn rằng: Đừng quá chú ý vào lời bình luận công khai chỉ trích sự biệt lập của một số nước Đông Âu của Tổng thống Nixon, đó chẳng qua là một xảo thuật mị dân trong cuộc bầu cử Mỹ.
Các lời bình luận của Kissinger dường như làm người ta ngạc nhiên, song chúng muốn nêu lên một vấn đề tinh tế và cấp thiết của chính quyền Nixon là Việt Nam. Điều đó càng sớm trở nên rõ ràng với Dobrynin rằng sự bận tâm của chính quyền Nixon là bằng cách nào, với sự trợ giúp của Liên Xô, để kết thúc Cuộc chiến tranh ở Đông Nam Á. Theo Đại sứ Liên Xô, những vấn đề này chưa được Kissinger hay Tổng thống đề cập trong cuộc gặp gỡ trước đây. Song, đối với vấn đề về các cuộc thương thuyết giữa Mỹ-Bắc Việt Nam, Kissinger đã kêu gọi sự giúp đỡ của Liên Xô để tháo gỡ bế tắc trong cuộc Hoà đàm ở Paris một cách mạnh mẽ. Kissinger sớm chú ý tới các cố gắng của Liên Xô nhằm hỗ trợ các cuộc đàm phán, cũng như các hoạt động của người Liên Xô trong các tháng gần đây. Với mục tiêu rõ ràng gây sức ép đối với Matxcơva về vấn đề này, ngay lập tức Kissinger quay sang vấn đề Trung Quốc và các ý định của Mỹ nhằm cải thiện các mối quan hệ với Bắc Kinh. Mặc dù ông ta bảo đảm với Dobrynin rằng, Washington coi Liên Xô (chứ không phải Trung Quốc) như là một đồi tác quan trọng của Mỹ trên chính trường quốc tế, các lãnh đạo Liên Xô đáng tin cậy hơn Mao Trạch Đông. Dobrynin tin rằng việc đưa vấn đề Trung Quốc vào cuộc đàm phán về vấn đề Việt Nam là hành động có mục đích. Điều này càng được khẳng định hơn sau khi Kissinger tuyên bố rằng: "Cần kết thúc cuộc xung đột với Việt Nam càng sớm càng tốt, và Liên Xô phải đóng một vai trò tích cực hơn để đạt được một sự dàn xếp, không nên phó thác mọi việc cho Hà Nội, và những đánh giá tình hình quốc tế thường xuất phát từ quan điểm bó hẹp, riêng biệt của nó sẽ chỉ đem lại các quyền lợi của Trung Quốc".
Logged

Chân lý thuộc về kẻ chiến thắng
hoabinh101
Thành viên
*
Bài viết: 90



« Trả lời #67 vào lúc: 01 Tháng Giêng, 2008, 10:37:33 am »

Con bài Trung Quốc không phải là con bài duy nhất Washington có được mà còn một con bài khác, đó là việc đe doạ dùng áp lực quân sự chống lại Bắc Việt Nam. Dobrynin biết rằng trong tiến trình đàm phán của họ, "Kissinger lại một lần nữa (trước đó là Nixon) đưa ra một lời bình luận về tác động nếu Hà Nội vẫn làm tắc nghẽn các cuộc đàm phán, vì vậy sau một vài tháng sẽ là cần thiết để Chính phủ Mỹ xem xét "các lựa chọn khác nhằm thuyết phục Hà Nội". Các lựa chọn đó rất rõ ràng với Dobrynin, việc có công trong việc làm các nhà lãnh đạo của ông ta chú ý tới các giọng điệu về "các lựa chọn khác" để nói với Nixon và Kissinger... Dobrynin tin rằng trong khi các lời bình luận như vậy rõ ràng là nhằm "tống tiền" Bắc Việt Nam và một phần là đối với cả người Liên Xô với những lời bóng gió về việc ném bom lại Bắc Việt Nam trừ phi tình hình các cuộc Hoà đàm ở Paris được thay đổi.

Trong bản báo cáo cho các lãnh đạo Liên Xô, Dobrynin đã kết luận rằng đối với chính sách đối ngoại của Nixon, vấn đề số một vẫn là câu hỏi bằng cách nào tìm ra cách rút khỏi Cuộc chiến tranh Việt Nam theo các điều kiện chấp thuận được mà có thể bảo đảm cho việc tái cử chức Tổng thống Mỹ. Viên Đại sứ Liên Xô tin rằng các cố gắng nhằm thuyết phục Liên Xô giúp giải quyết cuộc xung đột sẽ vẫn tiếp tục. Một số lãnh đạo Liên Xô đọc bản báo cáo của Dobrynin sớm phát hiện ra rằng lời dự báo của đại sứ đã đánh giá được chính quyền Nixon đáng tăng cường gây áp lực với Matxcơva. Ngày 27 tháng 9, trong cuộc tiếp xúc với Dobrynin, Kissinger đã khuyến cáo rằng tất cả đòi hỏi của phía Mỹ về sự giúp đỡ của Liên Xô kết thúc cuộc chiến tranh không đạt được kết quả sẽ làm khó cho phía Mỹ xúc tiến mạnh mẽ các quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Để tăng thêm ấn tượng về sự quyết tâm của Mỹ, Nixon đã gọi điện cho Kissinger trong khi ông ta đang tiếp Đại sứ Liên Xô, và yêu cầu ông ta nói với Dobrynin rằng Việt Nam là vấn đề quan trọng nhất trong các mối quan hệ Mỹ-Xô.
 
Ngày 20 tháng 10, đích thân Tổng thống gặp Dobrynin trong "một cuộc nói chuyện nghiêm túc" về lập trường của Liên Xô đối với Việt Nam và các triển vọng về các mối quan hệ Xô-Mỹ. Ông ta đã nói với viên Đại sứ Liên Xô, người vừa thông báo cho Nhà Trắng về việc Liên Xô sẵn sàng bắt đầu các cuộc thương lượng về vũ khí chiến lược, rằng một sự cải thiện các mối quan hệ tay đôi tuỳ thuộc vào mong muốn của Liên Xô "làm một số việc với Việt Nam". Vì cho tới lúc đó, theo Nixon cho biết, sự tiến bộ thật sự của vấn đề này vẫn rất khó khăn. Nixon muốn Liên Xô hiểu rõ việc Liên Xô tiếp tục gắn bó với ông ta trong ba năm và ba tháng sắp tới, và trong suốt thời gian đó, ông ta vẫn nhớ công việc đã làm ngày hôm nay. Nixon luôn đe doạ: chính quyền ông ta sẽ có cách riêng để kết thúc cuộc chiến tranh. Rõ ràng Dobrynin chưa chuẩn bị trước một cuộc tấn công như vậy, thậm chí các lời hứa và những lời đe doạ không có gì mới đối với ông ta. Tuy nhiên Ban lãnh đạo Liên Xô không có ý định chịu nhượng bộ áp lực của Washington.
Việc Liên Xô không muốn chấp nhận chính sách gắn liền của Nixon không phải xuất phát từ việc Liên Xô mong muốn có lợi từ việc chiến tranh tiếp tục hay nhìn thấy Mỹ sa lầy hơn trong cuộc xung đột, cho phép Liên Xô được tự do hành động ở các khu vực khác của thế giới. Mặc dù những xem xét như vậy không phải không hoàn toàn được các nhà lãnh đạo Liên Xô nghĩ tới trong các chính sách đối ngoại, các yếu tố tác động đến lập trường của Matxcơva về vấn đề gắn liền là rất phức tạp. Mặt khác, các lãnh đạo Liên Xô nhận thấy dù Nixon cho rằng ông ta có lợi thế trong chính sách đối với Liên Xô, song ông muốn hoà hoãn với Matxcơva hơn là Matxcơva muốn hoà hoãn với Mỹ. Sự ngang bằng hạt nhân không để Tổng thống có quyền lựa chọn bằng việc đi tới sự thoả thuận với Liên Xô nhằm tránh nguy cơ của Cuộc chiến tranh hạt nhân. Trong các bối cảnh đó, các cố gắng nhằm có được các nhượng bộ từ phía Matxcơva để đổi lấy sự hợp tác cắt giảm vũ khí chiến lược và tăng cường các mối quan hệ kinh tế đã bị các lãnh đạo Liên Xô cho là hành động hối lộ và hăm doạ. Điều đó đã được Dobrynin khẳng định trong cuộc nói chuyện với Harriman ngày 19 tháng 2.
Hơn nữa, khi các nhà ngoại giao Liên Xô ở Washington phân tích về chính sách của chính quyền Nixon, họ thấy rằng sự chú ý có mục tiêu của Mỹ trong việc phát triển các mối quan hệ với Liên Xô có xu hướng đối lập với chính sách gắn liền. Họ kết luận rằng, song song với các mặt tiêu cực, chính sách của Nixon vốn kế thừa các chính quyền trước về sự thừa nhận cường quốc quân sự của Liên Xô. Vì sự cần thiết, Mỹ nên tránh đối đầu...”. Ảnh hưởng của một sự thừa nhận như vậy, theo ý kiến của các nhà ngoại giao Liên Xô, còn ảnh hưởng tới chính sách của Mỹ trong tương lai.
Nếu trong một tình thế mà cả hai nước có vị thế ngang nhau thì sự đe doạ của Nixon gây sức ép quân sự chống lại Bắc Việt Nam sẽ không có ý nghĩa gì, vì Washington cần phải xem xét rằng cố gắng hăm doạ Hà Nội có thể gây ra một phản ứng của các đồng mình của họ ở Mátxcơva, mà có thể đẩy thế giới vào một cuộc đối đầu hạt nhân. Nói một cách khác, như ông Stephen Ambrose đã nhận xét “cái sai lầm trong lý lẽ của Nixon” là ông ta không có con át chủ bài… Người Liên Xô có thể sánh với người Mỹ về bom, đó là lý do tại sao sự lựa chọn nguyên tử không phải là một lựa chọn thực sự. Nixon nghĩ rằng ông ta có thể đe doạ Bắc Việt Nam chấp nhận một cuộc ngừng chiến (thực sự là một cuộc ngừng bắn). Song bất cứ một sự ám chỉ đe doạ huỷ diệt Hà Nội đều ngay lập tức bị phản công, bằng việc người Liên Xô đe huỷ diệt Sài Gòn. Nixon không phải là người điên duy nhất đưa ra các lời đe doạ như vậy.
Trên cơ sở của một sự phân tích như vậy, Matxcơva đã chống chính sách gắn liền của Nixon với ý tưởng của Liên Xô về “gắn liền trong sự đảo ngược”. Thế giới thực sự liên kết lẫn nhau, cả Nixon và Kissinger đều đúng trong khi xem xét các sự kiện ở các nơi khác nhau của thế giới là luôn gắn vào nhau. Nhưng họ quên rằng Nixon không thể đứng ngoài sự kết bện đó của thế giới. Chính sách đối ngoại của nước Mỹ bị tác động bởi một số yếu tố mà các nhà hoạch định chính sách Mỹ, để giành được thắng lợi, phải chú ý tới điều đó. Chính quyền Nixon không thể loại trừ được điều này. Các nhà lãnh đạo Liên Xô nhanh chóng nhận ra gót chân Asin của Washington và chống lại các cố gắng nhằm đạt được sự nhượng bộ của Kremlin. Chính sách của họ được thiết lập dựa trên cơ sở đánh giá: "sự tương quan các lực lượng" mà cuối những năm 60 họ có cơ hội hơn. Vì vậy để đáp lại các cố gắng của phía Mỹ nhằm làm Liên Xô dính líu vào quá trình giải quyết các vấn đề ở Đông Nam Á như là một điều kiện các cuộc thương thuyết về các vấn đề quân sự và các vấn đề tay đôi khác, Liên Xô đã sử dụng sự bất đồng ý kiến giữa Nhà Trắng và các ngành khác của Chính phủ Mỹ, và đẩy mạnh đề nghị riêng của nó đối với các cuộc thương thuyết về SALT. Sau đó, Điện Kremlin biết được sự háo hức của Nixon đối với một cuộc họp thượng đỉnh với các lãnh tụ Liên xô, nên làm cho nó gắn liền với thắng lợi của các cuộc thương thuyết ở Berlin.
 
Nhưng một yếu tố khác đã gây ảnh hưởng tới lập trường của Matxcơva đối với Việt Nam. Do Dobrynin thường xuyên giải thích cho Kissinger là ảnh hưởng của Liên Xô đối với Hà Nội là rất hạn chế, vì Bắc Việt Nam rất giỏi vận động Matxcơva và Bắc Kinh và các kế hoạch lâu dài của Điện Kremlin đối với vai trò của Bắc Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á.
Thật khó khăn chg Nixon và Kissinger, chấp nhận một ý tưởng về việc Liên Xô với tất cả số viện trợ cho Bắc Việt Nam, lại vẫn thiếu lực đòn bẩy để ép Hà Nội đối với vấn đề chiến tranh và hoà bình. Vì vậy vào năm 1969, rõ ràng Liên Xô là người ủng hộ cơ bản đối với Bắc Việt Nam trong số các nước xã hội chủ nghĩa. Năm đó, Bắc Việt Nam đã nhận được số viện trợ nửa tỷ đô la từ Liên Xô, chiếm năm mươi phần trăm số viện trợ khối cộng sản cung cấp. Mặc dù số viện trợ quân sự suy giảm trong năm 1969, do giảm bớt các hoạt động quân sự ở chiến trường, song con số vẫn trên hai trăm triệu đô la. Các lực lượng vũ trang của Bắc Việt Nam (theo một bản báo cáo của Liên Xô), phần lớn đều được trang bị bởi Liên Xô và là một đội quân mạnh nhất khu vực. Từ năm 1969 đến năm 1971, Matxcơva đã ký với Hà Nội bảy hiệp nghị viện trợ và phát triển hợp tác kinh tế, có hiệp nghị là hỗ trợ phát triển kinh tế và quốc phòng.
Cũng như một số năm trước, viện trợ của Liên Xô đối với Hà Nội không chỉ đổ vào việc tăng cường ảnh hưởng chính trị. Mặc dù Ban lãnh đạo Bắc Việt Nam cố gắng giảm bớt sự gắn bó quan hệ với Liên Xô cũng như Trung Quốc, và không muốn để mất đi tính độc lập của mình trước hai đồng minh đầy thế lực. Trong các báo cáo của các nhà ngoại giao Liên Xô gửi về Matxcơva đã nêu lên các lời than phiền về thái độ cố xa lánh này. Một trong các bản báo cáo hàng năm của những năm tháng đó đã viết: "Các đồng chí Việt Nam vẫn có lập trường như trước đây, không quá tin vào Liên Xô, dựa trên thuyết trước đây: không làm hỏng hay trầm trọng các mối quan hệ với Liên Xô, song cũng không nhích quá lại gần với Liên Xô với đầy đủ lòng tin". Các quan chức Liên Xô không có các ảo mộng rằng tiến trình này sẽ thay đổi trong một tương lai gần.
Chính sách độc lập của Hà Nội thể hiện ở một số lĩnh vực trong quan hệ Liên Xô-Bắc Việt Nam. Matxcơva cay đắng nhận ra rằng các cố gắng của các đồng chí Việt Nam là nhằm hạn chế tư tưởng của Liên Xô đối với Bắc Việt Nam, và hạn chế thông tin về các sự kiện ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác. Người Việt Nam đối xử một cách nghi ngờ đối với số chuyên gia dân sự hay quân sự người Nga, đôi khi để cho các mối ngờ vực trở thành mối quan hệ không hữu nghị. Vì vậy chúng làm cho Matxcơva-không biết về các hoạt động đối ngoại của Việt Nam, và các lãnh đạo Liên Xô thường biết các hoạt động ngoại giao của Hà Nội qua các báo chí hay các hãng tin quốc tế, như trường hợp trao đổi giữa Nixon và Hồ Chủ tịch. Để tránh sự nhầm lẫn đó, Có quan KGB đã nghiêm túc xem xét việc thiết lập "các mối tiếp xúc mật" để nhận được các thông tin về tình hình Ban lãnh đạo Việt Nam và các mối quan hệ của Việt Nam với Bắc Kinh.
Bất chấp trở ngại đó, người Liên Xô đã giành được một số thắng lợi trong các cố gắng của họ nhằm tăng cường vị thế của mình ở Việt Nam. Một trong số thắng lợi đó là sự thay đổi thái độ của Bắc Việt Nam đối cuộc đấu tranh ngoại giao. Tháng 1 năm 1970, Phiên họp lần thứ 18 của Đảng Lao động Việt Nam đã thừa nhận mục tiêu đầu tiên của Đảng là sự phối hợp ba biện pháp đấu tranh cho thống nhất đất nước. Lần đầu tiên kể từ lúc bắt đầu cuộc chiến tranh, Ban lãnh đạo cộng sản đặt các cố gắng noại giao và chính trị ngang với cuộc đấu tranh vũ trang. Một giải pháp tương tự cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của cuộc Hoà đàm Paris vì thắng lợi cuối cùng của nhân dân Việt Nam. Các quan chức Liên Xô được tình báo Liên Xô thông báo trước về sự thay đổi thái độ này, coi đó là cố gắng thắng lợi của họ làm giảm bớt lập trường ủng hộ Trung Quốc của Hà Nội.
Một dấu hiệu tích cực khác trong quan điểm của Liên Xô là ngày càng. có nhiều cuộc tiếp xúc giữa Bắc Việt Nam với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác, cũng tham gia trên các diễn đàn quốc tế về giáo dục, y tế và văn hoá. Những thay đổi đó cũng: như ảnh hưởng của Hà Nội ngày một tăng trong khu vực làm cho các nhà ngoại giao Liên Xô thấy cần phải phối hợp với các đồng minh trong chính sách đối với Việt Nam nhằm buộc chặt Việt Nam vào khối Liên Xô trong các công việc quốc tế. Tháng 6 năm 1970, Đại sứ quán Liên Xô tại Hà Nội đã gửi về Matxcơva một Bị vong lục phân tích về các khả năng phối hợp như vậy. Mục đích chính của Bị vong lục khá dài đó là đánh giá các triển vọng bao gồm cả Bắc Việt Nam vào quỹ đạo của Liên Xô, dần dần hướng chính sách của Bắc Việt Nam ra xa Bắc Kinh, song lại gần với Liên Xô, và tăng cường ảnh hưởng của Hà Nội ở Đông Nam Á.
Sứ quán Liên Xô gợi ý nên bao gồm Hà Nội vào các cuộc tư vấn đa bên và đôi bên với các nước xã hội chủ nghĩa đối với một số vấn đề chính trị quốc tế. Liên Xô thấy cần tăng cường các hoạt động của người Bắc Việt Nam ở các lĩnh vực của chính sách đối ngoại như giải trừ vũ khí, tuyên truyền. Đại sứ quán Liên Xô cũng gợi ý nên tăng cường cung cấp thông tin cho Hà Nội về tình hình nội bộ các nước phương Tây hàng đầu. Bằng tất cả các biện pháp đó, Bị vong lục nhấn mạnh rằng: "Bắc Việt Nam dần can dự vào công việc của thế giới và tiến hành trao đổi thông tin và hợp tác hoạt động đối ngoại với các nước xã hội chủ nghĩa khác trên diễn đàn quốc tế sẽ có ý nghĩa thúc đẩy các quan niệm và đánh giá đúng đắn hơn của người Việt Nam về tình hình thực tế của thế giới, có lợi cho chúng ta (Liên Xô) trước hoạt động đối ngoại của Bắc Việt Nam, tạo quyền lợi cho Liên Xô trên trường quốc tế. Mở rộng tư vấn chính trị với Bắc Việt Nam còn giúp Việt Nam tránh sai lầm trong chính sách đối ngoại, thúc đẩy Việt Nam lập lại mối quan hệ vững chắc với Liên Xô".
Logged

Chân lý thuộc về kẻ chiến thắng
hoabinh101
Thành viên
*
Bài viết: 90



« Trả lời #68 vào lúc: 01 Tháng Giêng, 2008, 10:38:06 am »

Vì vậy trong thời gian từ năm 1964-1965 nhiệm vụ của Matxcơva là lấp lỗ hổng trong các mối quan hệ giữa Liên Xô và Bắc Việt Nam mà do sự quá thận trọng của Khơrútsôp gây ra và tăng cường vị trí của Liên Xô ở Việt Nam như là một đối trọng với ảnh hưởng của Trung quốc, vào cuối thập kỷ; Ban lãnh đạo của Liên Xô đã xúc tiến mạnh mẽ một chính sách đối với khu vực. Mục tiêu cuối cùng của giai đoạn này là biến Việt Nam lành một đối tác và là vị trí tiền tiêu của Liên Xô ở Đông Nam Á, đặc biệt kể từ khi Trung Quốc đóng vai trò như vậy trong những năm 50 mà sau đó phá vỡ quan hệ với hệ thống Xô Viết. Ý tưởng đó thậm chí còn được làm sáng tỏ hơn trong một bị vong lục khác của Đại sứ quán Liên Xô vào năm sau đó, sau Đại hội 24 của Đảng Cộng sản Liên Xô tổ chức ở Matxcơva. Các nhà ngoại giao Liên Xô ở Hà Nội tin rằng: "Hiện nay, khi Đảng Cộng sản Việt Nam đang tăng cường con đường độc lập, khi tiến trình của Đảng đang phát triển, nói chung theo hướng có lợi cho chúng ta, khi Bắc Việt Nam trở thành lực lượng lãnh đạo trong cuộc đấu tranh của nhân dân Đông Dương, chúng ta (Liên Xô) sẽ có nhiều khả năng thiết lập một chính sách cho khu vực. Có thể kết luận rằng Đông Dương có thể trở thành một chìa khoá của chúng ta đối với tất cả Đông Nam Á. Hơn nữa, ở khu vực này, cho đến nay không có nước nào để chúng ta dựa vào, trừ Bắc Việt Nam". Cả hai bị vong lục đều được xếp hạng tuyệt mật duy nhất để khẳng định tầm quan trọng của chúng như là các tài liệu hoạch định chính sách.
Đạt được uy tín cao như vậy ở Bắc Việt Nam nên các nhà lãnh đạo Liên Xô cố tránh để xảy ra nguy hại nào cho chính sách của họ. Vì vậy, họ luôn bác bỏ áp lực của Washington và xui Hà Nội chấp nhận điều kiện của Mỹ về hoà bình. Họ tiếp tục cung cấp cho Bắc Việt Nam và các đồng minh của Hà Nội (Giải phóng quân) mọi thứ cần thiết cho cuộc đấu tranh quân sự. Bất chấp các lời than phiền về sự cứng đầu, ích kỷ hai mặt của người Việt Nam, người Liên Xô không bao giờ rời xa cuộc chiến, vì Việt Nam dần dần trở thành không chỉ là vấn đề tư tưởng mà còn là một vấn đề địa lý chính trị của Điện Kremlin.
Sau khi các cuộc thương thuyết được tiến hành ở Paris, Matxcơva tỉếp tục theo đuổi các mục tiêu của nó ở Việt Nam theo các điều kiện vững chắc hơn. Lúc đầu, người Liên Xô sợ rằng cuộc chiến tranh có thể lan rộng sang các khu vực khác của Châu Á và thậm chí còn gây đối đầu giũa Mỹ và Liên Xô. Sau năm 1968, các cuộc Hội đàm ở Paris cho thấy cuộc xung đột chỉ giới hạn trong biên giới cửa Việt Nam chứ không lan rộng ra các nước Đông Dương. Vì vậy, nó trở nên quan trọng đối với Matxcơva là ngăn chặn một sự phá hoại các cuộc thương lượng và buộc các bên tham gia vào bàn đàm phán. Vì vậy vai trò của Liên Xô đã thay đổi. Khi diễn ra các cuộc đàm phán sơ bộ giữa Mỹ và Việt Nam, Liên Xô ttham gia tháo gỡ một số vấn đề bế tắc và làm dễ dàng một Hiệp nghị ngừng ném bom và Hội nghị bốn bên. Còn khi các cuộc đàm phán bắt đầu, Liên Xô đã giảm bớt các hoạt động của mình. Đại sứ Liên Xô Zorin đã giải thích lập trường đó trong buổi lễ chào tạm biệt ông Harriman: "Trong giai đoạn đầu của các cuộc thương thuyết chủ đề là cuộc ném bom Bắc Việt Nam, một nước xã hội chủ nghĩa, có quan hệ trực tiếp với Liên Xô về mặt chính trị và ngoại giao, vì vậy Liên Xô có quyền trực tiếp phải bảo vệ nó. Liên Xô phải cung cấp mọi viện trợ cho Việt Nam và Liên Xô đã làm như vậy. Trong một giai đoạn mới của cuộc hoà đàm, chủ đề đầu tiên là Nam Việt Nam, là nước mà Liên Xô không có quan hệ trực tiếp. Liên Xô có quan hệ tốt và hữu nghị với Mặt trận Giải phóng Dân tộc Nam Việt Nam (FLN), nên Liên Xô rất quan tâm tới các thắng lợi của FLN và sẵn sàng ủng hộ lập trường và tư tưởng chính trị của mặt trận. Tuy nhiên, nền hoà bình trong khu vực chính là vấn đề nội bộ của người Việt Nam cùng với việc giải quyết lực lượng đại diện cho Nam. Việt Nam. Vì vậy, hơn lúc nào hết, Mỹ có lý do quan trọng trực tiếp tham gia với người Việt Nam giải quyết vấn đề. Đặc tính của các cuộc thương thuyết đã thay đổi và người Liên Xô có ít lý do để có quyền lợi cụ thể. Vì thực tiễn của tình hình, vai trò của Liên Xô lúc này bị giảm xuống". Qua lời Đại sứ Zorin, rõ ràng Liên Xô không bỏ quên vai trò của họ trong các cuộc thương thuyết.
 
Một điều luôn luôn trở thành nguyên tắc làm việc của Matxcơva là nó không bao giờ thương lượng với người Bắc Việt Nam, còn người Mỹ thì làm như vậy. Người Liên Xô đã đi theo tiến trình như vậy trong suốt quá trình của các cuộc Hoà đàm ở Paris; tham gia vào các cuộc thương thuyết và vai trò trung gian hoà giải, làm giảm các cố gắng của Washington. Song Điện Kremlin cũng cố gắng không để lỡ cơ hội gây ảnh hưởng ở Paris theo chiều hướng có lợi nhất cho Matxcơva. Các nhà cầm quyền Liên Xô đã phân tích mọi bước ngoặt trong chính sách của người Bắc Việt Nam liên quan đến các cuộc thương thuyết để có thể can thiệp hay tránh các vấn đề mà theo họ là đưa đến các kết quả nguy'' hiểm. Các cố gắng của Liên Xô là giữ cho hai bên tiếp tục thương thuyết và tránh các hành động phá hoại tiến trình thương thuyết. Họ xem xét các yếu tố tác động ảnh hưởng tới thái độ của Bắc Việt Nam như sự chán chường của dân chúng sau nhiều năm chiến trành, các vấn đề nội bộ đang phát triển, sự không nhất quán trong các kế hoạch của chính quyền Nixon-đặc biệt là cách thức cố vấn, ý kiến có lợi cho các cuộc họp ở Paris. Vì mục tiêu đó, Matxcơva đã sử dụng một số quan hệ tiếp xúc với các quan chức Việt Nam. Các cuộc thương lượng cấp cao giữa các nhà lãnh đạo Liên Xô và Bắc Việt Nam tạo cơ hội quan trọng cho Điện Kremlin thể hiện các quan điểm của nó đối với tình hình và thuyết phục Hà Nội chấp nhận ý kiến của họ. Những cuộc thương thuyết như vậy thường được tổ chức hàng năm, thường vào các chuyến đi của các nhà lãnh đạo Bắc việt Nam đến Matxcơva. Ví dụ như chuyến đi của ông Phạm Văn Đồng năm 1970 đến thủ đô của Liên Xô, khi Thủ tướng Bắc Việt Nam hỏi liệu Matxcơva có cố vấn điều gì liên quan tới chuyến đi, Đại sứ Liên Xô Shcherbakov đã thể hiện một mong muốn rang các mặt chính trị của các cuộc thương thuyết cần "xây dựng hơn, toàn diện hơn và thành thật hơn". Ông gợi ý trao đổi các quan điểm về "các biện pháp mới được bổ sung và các thách thức của một giải pháp đối với vấn đề Đông Dương, các hình thức mới gây ảnh hưởng tới Mỹ, tình hình ở Campuchia và Lào". Đại sứ nêu lên hai nguyện vọng đó với lời đảm bảo rằng Việt Nam thì đưa ra các quyết định của mình, còn Matxcơva luôn sẵn sàng cố vấn cho các bạn.
Các cuộc tiếp xúc ở cấp khác còn có cuộc gặp gỡ giữa các nhà ngoại giao Liên Xô ở nước ngoài với các quan chức Bắc Việt Nam, đầu tiên là ở Hà Nội và Paris. Các cuộc đàm luận của Đại sứ Liên Xô Shcherbakov và các đồng nghiệp của ông với lãnh đạo Hà Nội đặc biệt quan trọng. Đại sứ quán Liên Xô ở Hà Nội lớn hơn một phái đoàn ngoại giao ở nước ngoài. Các nhân viên sứ quán có toàn quyền đại diện Chính phủ Liên Xô ở Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Khi xảy ra một tình thế mà các lãnh đạo Liên Xô ít biết về các thực tiễn diễn biến ở khu vực xa xôi, trừ một số nguyên tắc chung, các nhà ngoại giao Liên Xô không chỉ là người phát ngôn cho Điện Kremlin mà còn tham gia vào tiến trình hoạch định các quyết định-mà các Đại sứ quán ở nơi khác không được làm như vậy. Điện Kremlin còn tham vấn họ về các vấn đề riêng biệt liên quan đến chính sách đối với Việt Nam. Nó đặc biệt quan trọng trong khi Bắc Việt Nam, đang trong chiến tranh, trở thành một trọng điểm khát vọng của một số cường quốc như Mỹ, Trung Quốc và Liên Xô.
 
Trong bối cảnh đó, Đại sứ Shcherbakov gặp gỡ với các nhà cầm quyền Bắc Việt Nam đôi khi không khác với các cuộc thảo luận của họ ở Matxcơva. Trong các cuộc gặp gỡ đó, Shcherbakov đề cập đến một số vấn đề trong chính sách của Việt Nam, kể cả các cuộc đàm phán với Mỹ. Ông ta nhận được các thông tin từ các lãnh đạo Bắc Việt Nam về các diễn biến gần đây của các cuộc hoà đàm, ý kiến của ông đối với chúng, đưa ra các đề nghị đối với các hoạt động ngoại giao của Bắc Việt Nam và giải thích về lập trường của Chính phủ Liên Xô. Trong cuộc trò chuyện với ông Xuân Thuỷ, trưởng phái đoàn đàm phán của Bắc Việt Nam ở Paris tháng 6 năm 1969, Đại sứ Liên Xô đã cố vấn Hà Nội: "Nên tránh bất cứ hành động cực đoan nào, không công nhận cách giải quyết hoàn toàn mang ý nghĩa tuyên truyền, mà cũng không quá nặng vào phương pháp đấu tranh quân sự". Shcherbakov cố thuyết phục người đối thoại với ông rằng: "Trong chiến thuật phối hợp ba cuộc đấu tranh ngoại giao, chính trị và quân sự, phương pháp chính trị và ngoại giao dần dần chiếm lĩnh vị trí quan trọng hơn". Các cuộc Hoà đàm ở Paris có thể ảnh hưởng tới các sự kiện ở Việt Nam.
Trong khi đó, đồng nghiệp của ông Shcherbakov ở Paris, ông V.Zorin đã tiếp xúc với phái đoàn cộng sản Việt Nam ở các hội nghị bốn nước. Một quy định với các nhà thương thuyết Bắc Việt Nam là gặp Đại sứ Liên Xô và thông báo cho ông ta về hiện trạng các cuộc đàm phán. Hà Nội không quá nóng vội nghe theo lời cố vấn của các đồng chí Liên Xô, song họ rất cần Liên Xô ủng hộ các hành động của họ, và họ nhận thấy uy tín và sức mạnh của Liên Xô có thể sử dụng tạo tiện lợi cho họ. Vì vậy, các chuyến viếng thăm của ông Xuân Thuỷ và Lê Đức Thọ đến Sứ quán Liên Xô ở Paris có hai mục đích: thể hiện sự tôn trọng vai trò của Liên Xô trong các cuộc thương lượng, và đổi lại, yêu cầu sự ủng hộ của Liên Xô đối với Bắc Việt Nam.
Vì vậy, từ năm 1969-1972, thường xuyên có các cuộc gặp gỡ giữa các nhà ngoại giao Liên Xô ở Paris và các đoàn đại biểu Cộng sản Việt Nam để thảo luận các diễn biến của các cuộc thương thuyết. Matxcơva không chỉ thông báo về các phiên họp chính thức mà còn đề cập đến các nội dung các cuộc gặp riêng giữa ông Xuân Thuỷ, Lê Đức Thọ với Henry Kissinger. Ví dụ, ngày 16 tháng 3 năm 1970, Kissinger đã gặp Bắc Việt Nam ở Paris để thảo luận bí mật. Phái viên của Tổng thống đã để nghị một lịch trình chính xác rút lui toàn bộ quân Mỹ trong thời gian mười sáu tháng và cùng xuống thang các hoạt động quân sự ở khắp đông Dương. Ba ngày sau đó, ngày 19 tháng 3, Lê Đức Thọ và Xuân Thuỷ đã gặp Đại sứ Zorin và thông báo cho ông ta biết về tất cả các chi tiết về cuộc gặp gỡ, chia sẻ cùng viên Đại sứ các tư tưởng của họ trong các cuộc đàm phán: Họ (Việt Nam) lưu ý rằng nếu các cuộc thảo luận không chinh thức không đạt kết quả phá hoại các cơ hội của Đảng Cộng hoà trong các cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, thì họ sẵn sàng kéo dài các cuộc thương lượng nhằm "làm cho các vấn đề trở nên tồi tệ cho Nixon". Đáp lại, ông Zorin đã nhấn mạnh rằng: "Mặc dù Kissinger đã đưa ra các đề nghị thái quá, nhưng ông ta cũng đưa ra các ý kiến cụ thể về tình hình quân sự”. Khi người Bắc Việt Nam thông báo về việc Kissinger thoả thuận thảo luận cả các vấn đề chính trị lẫn quân sự, ông Zorin cho đó là sự sẵn sàng của Washington ngồi vào đàm phán với Bắc Việt Nam về tất cả các vấn đề, không cần có Sài Gòn-đó là một sự rút lui khỏi lập trường trước đây của Washington. Vì vậy ông Zorin cố gắng nhấn mạnh các mặt tích cực của các cuộc đàm phán nhằm chống lại nguy cơ phá hoại chúng.
Một cuộc thảo luận tương tự như vậy đã diễn ra ở Đại sứ quán Liên Xô sau cuộc họp ngày 4 tháng 4 giữa ông Lê Đức Thọ và Kissinger. Thật đáng chú ý nếu cuộc thảo luận ngày 19 tháng 3 diễn ra trong sự "thoả thuận chung" thì cuộc thảo luận ngày 6 tháng 4 lại do người Bắc Việt Nam khởi xướng. Lần này ông Lê Đức Thọ đã thông báo cho ông Zorin tất cả các chi tiết về cuộc thảo luận của ông với Kissinger, bày tỏ lòng mong muốn của ông tiếp tục thương lượng mặc dù chưa có sự tiến bộ. ông Lê Đức Thọ nói rằng chúng tôi (Việt Nam) sẽ bình tĩnh chờ đợi.
Người Liên Xô không những quyết tâm giúp đỡ các đồng chí Việt Nam, họ còn lo chuẩn bị lập trường của Bắc Việt Nam trước Liên Hợp quốc. Trong một cuộc họp với đoàn đại biểu Hà Nội, ông Zorin đã nêu vấll đề ông sẽ cần đưa câu hỏi nào với ông Henry Cabot Lodge, lúc đó là trưởng phái đoàn Mỹ ở Paris. Tuy nhiên, Matxcơva cũng thận trọng không đi quá xa đối với vấn đề này. Họ muốn tránh dính dáng quá nhiều vào các cuộc thương thuyết như vậy để tránh Hà Nội, nghi ngờ họ hành động như là người môi giới giữa Bắc Việt Nam và Mỹ.
Sau năm 1968, Matxcơva không hề thay đổi chính sách của họ đối với cuộc xung đột ở Việt Nam. Liến Xô vẫn là một diễn viên miễn cưỡng trong cuộc dàn xếp ngoại giao về các vấn đề Việt Nam và luôn đứng đằng sau sân khấu, bất chấp các cố gắng của chính quyền Nixon và sản phẩm của Kissinger gần như bị phá hoại vì sự chống đối mạnh mẽ của Ban lãnh đạo Liên Xô. Ông Kissinger đã than phiền rằng: "Khoảng mười lần trong năm 1968, trong các cuộc gặp gỡ hàng tháng giữa tôi với ông Dobrynin, tôi đã cố tranh thủ sự giúp đỡ của Liên Xô để kết thúc Cuộc chiến tranh Việt Nam. Ông Dobrynin nói rằng Liên Xô không muốn cuộc chiến tranh tiếp tục, ông chống lại việc leo thang. Tuy nhiên, ông không bao giờ đưa ra một đề nghị cụ thể nào để kết thúc cuộc chiến tranh. Như ông Andrey Alexandrov Agenttov đã nhận xét Điện Kremlin vẫn tiếp tục chống lại áp lực của Mỹ nếu nó có thể ngăn chặn được người Mỹ đặt con át chu bài lên bàn-đó là các mối quan hệ của người Mỹ với Trung Quốc. Đầu những năm 70, con bài này đã làm thay đổi các cơ hội của Liên Xô giành thắng lợi trong cuộc chơi, do nó đã thay đổi toàn bộ tình hình thế giới".
Logged

Chân lý thuộc về kẻ chiến thắng
hoabinh101
Thành viên
*
Bài viết: 90



« Trả lời #69 vào lúc: 01 Tháng Giêng, 2008, 10:44:34 am »

Chương X: Giữa sự hoà hoãn và Việt Nam
Trong những năm 60, Trung Quốc đã trở thành một nỗi bận tâm chính đối với Kremlin. Hố ngăn cách giữa hai cường quốc cộng sản là mâu thuẫn nghiêm trọng nhất trong Phong trào cộng sản thế giới kể từ khi Matxcơva có bất đồng với Tito của Nam Tư ngay sau Thế chiến II. Nhưng trong trường hợp của Tito, sự bất đường về mặt tư tưởng là chủ yếu chứ không phải là trở ngại trong quá trình hoà giải sau cái chết của Stalin. Mặt khác, mối bất hoà giữa Liên Xô và Bắc Kinh đã nhanh chóng phát triển thành một cuộc cạnh tranh quân sự vào cuối những năm 60, và cả hai phía đều đã có một loạt những cuộc va chạm dọc đường biên giới Xô-Trung. Năm 1974, khi mối căng thẳng giữa Matxcơva và Bắc Kinh đã dịu bớt đi, người Liên Xô đã đưa ra một đánh giá về "sự phản bội" của Trung Quốc và những hành động khiêu khích chống lại Liên Xô trong một cuốn sách phân tích chính sách đối ngoại của Bắc Kinh và các mối quan hệ quốc tế trong 10 năm, tức là từ 1963 đến 1973. Theo nghiên cứu này, từ tháng 10 năm 1964 đến tháng 4 năm 1965 đã xảy ra 36 vụ xâm phạm biên giới Liên Xô liên quan tới 150 công dân Trung Quốc. Số vụ xâm phạm như vậy đã tăng lên nhanh chóng và trong khoảng thánh giêng-tháng 3 năm 1969 đã xảy ra 90 vụ, tới tháng 5 có 164 vụ. Mùa xuân 1969 đã xảy ra nhiều vụ va chạm vũ trang làm hàng chục người thuộc cả hai phía chết và bị thương. Cả hai phía đều như đang nằm trên bờ vực thẳm của một cuộc xung đột quân sự diện rộng rnà không có một cơ hội hoà giải nào.
Trong bối cảnh như vậy, Liên Xô cực kỳ nhạy cảm đối với các triển vọng về một sứ xích lại gần nhau giữa Trung Quốc và Mỹ. Trong khi Bắc Kinh vẫn còn đứng ở vị trí thấp kém trong quan hệ quốc tế mà không có một đồng minh hùng mạnh hay một ủng hộ viên nào, Matxcơva hy vọng sẽ giảm được cuộc xung đột xuống điểm chỉ còn thuần tuý là vấn đề song phương giữa hai nước. Nếu các nước khác cũng bị lôi cuốn vào xung đột này, thì tình thế chắc rời vào vấn đề địa chính trị và điều này có nguy cơ làm lung lay vị trí của Liên Xô trên thế giới. Kể từ khi Mỹ-đối thủ chính của Matxcơva trên trường quốc tế-có ý định tranh thủ các lợi ích từ cuộc xung đột bằng việc đứng về một phía với một địch thủ của Liên Xô, thì hầu hết các nỗ lực của Liên Xô đều nhằm mục đích ngăn ngừa khả năng này.
Dưới thời Johnson, nỗi bận tâm hàng đầu của Washington về cuộc chiến tranh ở Việt Nam cũng như mối hồ nghi sâu sắc về những người Cộng sản Trung Quốc và các mục tiêu ở châu Á của họ cản trở sự tài lập mối quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc. Các cuộc tiếp xúc Trung-Mỹ ở Vác-xa-va đã không mang lại một kết quả ró ràng nào và tới tháng 5 năm 1968 thì bị đình hoãn lại. Tình hình đã thay đổi dưới thời Nixon-người mà ngay trước kỳ bầu cử của mình đã công khai bộc lộ ý định thiết lập các mối quan hệ với Trung cộng. Đầu năm 1967, trong một chuyến công du khắp thế giới, Nixon đã thăm Rumania và đã thổ lộ với Nicolac Ceausescu, Tổng bí thư đảng cộng sản Rumaní, ông ta cho sự hoà hoãn thực sự với Liên Xô là khó có thể, nếu không duy trì "một hình thức xích lại gần" Bắc Kinh. Vì vậy ông ta lưu ý rằng Mỹ có thể sẽ giành được thắng lợi trong quá trình tái lập này sau khi Chiến tranh Việt Nam chấm dứt. Và ý định của Nixon đã đủ để gây ra những âu lo ở Matxcơva.
Chắc chắn các nhà lãnh đạo Liên Xô không hề hay biết gì về các kế hoạch Nixon đã nói với Ceausescu kể từ khi vị lãnh đạo này của Rumani giữ một vị trì độc lập với Matxcơva và hiếm khi tiết lộ các bí mật của mình cho Kremlin. Nhưng Nixon đã công bố các quan điểm của mình trong một bài báo viết cho Tạp chí Foreign Affairs số tháng 10 năm 1967. Trong bài viết này, Nixon đã bác bỏ một liên minh chống Trung Quốc. Thay vào đó, ông ta đã nói tới các triển vọng cho một cuộc đối thoại với Trung Quốc đại lục và các nỗ lực nhằm "đẩy Trung Quốc vào cộng đồng thế giới" như "một quốc gia vĩ đại và tiến bộ, chứ không phải là một nước trung tâm của cách mạng thế giới”. Chừng nào Nixon còn là một người dân thường, thì chừng đó các nhà lãnh đạo Liên Xô còn có thể phớt lờ các bài phát biểu của ông ta. Nhưng chắc chắn họ sẽ nhớ lại quan điểm của Nixon về Trung Quốc sau khi ông ta trúng cử Tổng thống.
 
Chẳng bao lâu sau khi nhận chức Tổng thống, Nixon đã giao nhiệm vụ chuẩn bị nghiên cứu một chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc cho cố vấn an ninh quốc gia của mình. Ngày 5 tháng 2 năm 1969, Kissinger đã diễn giải các mong muốn của Tổng thống trong một Bị vong lục nghiên cứu an ninh quốc gia, trong đó ông ta đã hướng dẫn các Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Quốc phòng, cũng như Giám đốc CIA, trong quả trình nghiên cứu phải có cả những phân tích về các mối quan hệ giữa Mỹ với Trung Quốc đại lục và cả Đài Loan, về bản chất trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc ở châu Á, về "sự tác động qua lại giữa chính sách của các nước có liên quan khác đối với Trung Quốc" và các khả năng lựa chọn cho chính sách của Mỹ trong phạm vi này".
Chỉ thị của Kissinger đã được đáp lại bằng một báo cáo hên cơ quan về Trung Quốc mà sau khi đọc xong, ông ta cho rằng bản báo cáo này vẫn chưa đầy đủ. Kissinger phê bình bản báo cáo là "nhấn mạnh quá đáng tới tư tưởng và giảm nhẹ khả năng sẵn sàng chiến đấu của Trung Quốc", làm phương hại tới "những can thiệp toàn cầu đối với những căng thẳng trong quan hệ tay ba". Nói chung, cố vấn an ninh quốc gia đã kịch liệt chỉ trích Cộng đồng tình báo Mỹ trong vấn đề nghiên cứu thiết lập lại các mối quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ, và tiếp tục đưa ra những thay đổi trong chính sách đối với Trung Quốc của Washingtọn mà Nixon và bản thân ông ta là những người đóng vai trò chủ chốt. Nhưng trong hồi ký của mình, ông ta đã thừa nhận rằng lúc đầu ông ta xem mối quan hệ với Trung Quốc và vai trò của nó trong trong chính sách của Mỹ "như là một vấn đề lý thuyết". Với Nixon, ông ta "Vẫn coi cộng hoà Nhân dân Trung Hoa là hiếu chiến hơn các cường quốc cộng sản khác". Với quan điểm như vậy, cuộc nghiên cứu việc lập lại quan hệ Mỹ-Trung phải kéo dài nhiều năm trời và đã bị đình hoãn lại cho tới khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc.
Những gì được xem như động lực để Nhà Trắng mở rộng lợi ích của Mỹ ở Trung Quốc chính là sự xuống cấp nghiêm trọng trong quan hệ Trung-Xô năm 1969 và là kết quả của các mưu toan giành được sự ủng hộ về ngoại giao ở Washington của Liên Xô. Theo Kissinger, "chính cử chỉ ngoại giao vụng về của Liên Xô đã làm chúng ta nghĩ tới các cơ hội của mình". Khi các cuộc giao tranh xảy ra ở dọc biên giới Xô-Trung, Dobrynin đã gặp Kissinger và cố thuyết phục ông ta rằng chính Trung Quốc đã gây ra các sự cố này. Nhưng nào ngờ, những bảo đảm của Dobrynin đã hoàn toàn dẫn tới một tác dụng nghịch với những gì ông ta muốn. Nixon và Kissinger đã kết luận rằng sau cuộc xâm lược thành công của Liên Xô vào Tiệp Khắc, Kremlin đã quyết định sử dụng các biện pháp đó để giải quyết các vấn đề với Trúng Quốc.
Bị tác động bởi những ''lời đồn đại của các nhóm ngoại giao mà trong một số trường hợp, về bề ngoài, những lời đồn đại này được xem như xuất phát từ chính bản thân nhũng người Xô Viết, cũng như chiến dịch tuyên truyền của báo chí Liên Xô chống lại Trung Quốc, Nhà Trắng đã nhìn nhận quan hệ Trung-Xô như là sự "tiến gần tới một điểm khủng hoảng". Nhà Trắng đã xác định sẽ liên kết với Trung Quốc trong trường hợp Liên Xô tấn công. Nixon và Kissinger cho rằng Trung Quốc là nạn nhân, mọi sự kiện khác đều được các nhà hoạch định chính sách Mỹ diễn giải theo quan điểm này. Thậm chí mười năm sau một loạt các sự kiện; trong hồi ký của mình, Kissinger đã đưa ra một bức tranh đã bị bóp méo đáng kể về cuộc gặp gỡ giữa Kosygin và Chu ân Lai tại sân bay Bắc Kinh ngày 11 tháng 9 năm 1969. Mặc dù đã chỉ ra rằng cuộc tiếp xúc này rõ ràng diễn ra do có lời mời của phía Trung Quốc và đã chứng minh sự bất đồng giữa hai nước chứ không phải là một sự tiến gần tới một thoả hiệp, Kissinger không đánh giá nổi những thực tế đó là do Thủ tướng Liên Xô sẵn sàng huỷ bỏ chuyến bay của ông ta sang Matxcơva để gặp các nhà lãnh đạo Trung Quốc, các bài bút chiến đã hạ bớt giọng gay gắt ở cả Liên Xô và Mỹ sau cuộc gặp gỡ, và đáng kể hơn là các mối căng thẳng đã dịu đi dọc biên giới. Hơn nữa, ngày 7 tháng 10, người Trung Quốc thông báo rằng họ đã đồng ý mở các cuộc đàm phán về xung đột này.
Liên Xô đã bác bỏ những lời đồn đại về các kế hoạch xâm lược hoặc tấn công các cơ sở hạt nhân của Trung Quốc. Nếu chúng ta tin ở lời khẳng định trợ giúp của Brezhnev, hay ở Andrei Alexandrov Agentov thì sẽ chẳng có những cuộc tranh cãi kịch liệt về những khả năng thích hợp giành cho một cuộc chiến chống Matxcơva. Alexandrov nhấn mạnh rằng: "Cả ban lãnh đạo Liên Xô và Trung Quốc đều không muốn một cuộc chiến nổ ra giữa hai nước hoặc tích cực chuẩn bị cho cuộc chiến này, bất chấp những tuyên bố đầy vẻ đe doạ và các hành động khác của cả hai phía". Alexandrov nhắc lại rằng ông ta đã từng để mắt tới Brezhnev và các đồng sự của ông trong các cuộc thảo luận về những cuộc giao tranh ở dọc Damansky/Chenpao năm 1969. "Không có bất cứ một dấu hiệu căng thẳng đặc biệt hay hoảng loạn nào". Có một điều dường như đã rõ ràng: Những lời bóng gió của các phương tiện thông tin Liên Xô về quyết định chống trả các cuộc tấn công của Trung Quốc, các thoả thuận của giới ngoại giao Liên Xô với các quan chức Mỹ về các nỗ lực chung chống Trung Quốc-những tiến triển mà Nixon và đặc biệt là Kissinger cho là nhạy cảm-đối với Kremlin, đó không là gì hơn một cuộc chiến tranh cân não nhằm kìm hãm hoặc áp đảo tinh thần các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc nếu có thể. Giới lãnh đạo Liên Xô thừa hiểu các nguy cơ nảy sinh từ một cuộc tấn công mà Liên Xô tiến hành chống lại Trung Quốc, nếu tính tới cả các khó khăn quân sự và những ảnh hưởng chính trị. Bề ngoài, họ đã không chuẩn bị để mở rộng các giới hạn cho một chiến dịch tuyên truyền.
Bởi vậy, năm 1969, lần đầu tiên các nhà hoạch định chính sách Mỹ thấy rằng các kế hoạch nhằm vào Trung Quốc của họ đã chuyển từ hư sang thực. Từ "những học thuyết mơ hồ"-như Kissinger đã miêu tả về ý tưởng tái lập quan hệ Trung-Mỹ, ý tưởng này đã biến thành mục tiêu trực tiếp của chính quyền Nixon. Nhà Trắng thấy ở một sự tái lập quan hệ như vậy một công cụ cho chính sách đối ngoại có thể nhanh chóng thay thế cho những cố gắng liên kết đã thất bại. Đối với các nhà hoạch định chính sách ở Washington, các cuộc đụng độ trên con sông xa xôi Ussuri đã tạo cơ sở cho các đường lối tiếp cận Trung Quốc: một nỗi lo ngại chung đối với mối đe doạ của Liên Xô.
Tháng 7 năm 1969, trong Bị vong lục số sáu mươi ba của Cơ quan an ninh quốc gia, Kissinger đã khởi xướng một cuộc nghiên cứu về chính sách củaMỹ đối với các bất đồng Trung-Xô. Bị vong lục yêu cầu các cơ quan phải phân tích "cách lựa chọn mà nước Mỹ gặp phải như là kết quả của sự đối địch ngày càng sâu sắc trong quan hệ Trung-Xô". Nó chỉ rõ nhu cầu đánh giá lại "những liên quan rộng lớn của sự đối địch Trung-Xô, đối với tam giác Mỹ-Xô-Trung" và các lựa chọn của Mỹ trong trường hợp có đụng độ quân sự giữa Liên Xô và Trung Quốc hoặc một cuộc xung đột Trung-Xô mà không có đụng độ quân sự. Đồng thời, Nhà Trắng cũng đưa ra nhiều: tín hiệu hơn cho các nhà lãnh đạo Bắc Kinh về các thiện chí của Washington.
Tháng 7, Bộ Ngoại giao cũng đã loan báo các biện pháp hạn chế thương mại đã được nới lỏng và một chuyến công du sang Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Trong chuyến công du vòng quanh thế giới một tháng sau đó, Nixon đã nói với nhà lãnh đạo Pakixtan Yahya và Nicolac Ceausescu về mong muốn thiết lập các mối tiếp xúc với Bắc Kinh của ông ta, được biết rằng cả hai nhà lãnh đạo đều có quan hệ thân thiện với Trung Quốc và có thể truyền đạt những lời bóng gió cả Nixon tới giới lãnh đạo của Mao. Tổng thống cũng xem xét khả năng giúp đỡ của họ như là những trung gian hoà giải giữa Washington và Bắc Kinh. Các cuộc tiếp xúc cũng được các nhà ngoại giao Mỹ tiến hành ở Hong Kong và Vác-xa-va.
Người Trung Quốc đã không còn giữ một thái độ thờ ơ trước những tín hiệu này của Washington nữa. Đầu năm 1970, một đại diện của Trung Quốc ở Vác xa-va đã đề nghị nối lại các cuộc đàm phán cấp đại sứ vốn đã bị gián đoạn năm 1968. Mùa thu năm ấy, "kênh" Pakixtan giữa Washington và Bắc Kinh bắt đầu đi vào vận hành, và tới tháng 12, Chu Ân Lai đã gửi qua Yahya Kahn một thông điệp mời đại diện của Tổng thống tới Bắc Kinh. Vì vậy, bất chấp những trở ngại và nhiều khó khăn do các hành động ở Đông Nam Á, bao gồm các cuộc xâm lược Campuchia và Lào, năm 1971, các cuộc tiếp xúc giữa Mỹ và Trung Quốc đã có những bước phát triển thành một động lực.
Người Xô Viết đã quá nhạy cảm đối với các tín hiệu về một sự tái lập lại mối quan hệ giữa Washington và Bắc Kinh để có thể bỏ qua những thoả thuận này. Chắc chắn Matxcơva đã nhận được thông tin từ các nguồn tình báo của mình, và những triển vọng của một sự câu kết Trung-Mỹ chống lại Liên Xô có thể sẽ kích động Kremlin. Không lâu sau, Matxcơvả đã phát động một cuộc tấn công ngoại giao. Đại sứ Liên Xô ở Washington đã được phép gặp Tổng thống để trao một thông điệp mạnh mẽ của các nhà lãnh đạo Liên Xô nói tới chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc. Dobrynin đã thực hiện những huấn thị này trong cuộc nói chuyện với Nixon ngày 20 tháng 10 năm 1969. “Nếu một ai đó ở Mỹ cố tình thủ lợi từ các mối quan hệ Xồ-Trung mà không đếm xỉa gì đến Liên Xô, và chỉ cần có một số dấu hiệu về chuyện đó-Dobrynin đọc nội dung Bị vong lục của Matxcơva-thì chúng tôi sẽ cảnh cáo thẳng thừng trước rằng lối cư xử như vậy, nếu như vẫn cứ tiếp tục có thể dẫn đến một sai lầm rất nghiêm trọng, và trước sau không có gì khác hơn là mục đích vì các mối quan hệ tốt hơn giữa Mỹ và Liên Xô".
Matxcơva không tỏ ra tự tin trên mặt trận ngoại giao. Để xác định sự hoà giải mới hình thành giữa Mỹ và Trung Quốc, Liên Xô cũng phải sử dụng các kênh bí mật. Chẳng hạn, tháng 5 năm 1970, KGB đã đề nghị giới cầm quyền Liên Xô cho phép được cung cấp cho các quan chức Mỹ và Trung Quốc những thông tin làm tăng mối cừu hận trong quan hệ Trung-Mỹ. Đồng thời, tình báo Liên Xô cũng đã lên kế hoạch thông tin cho Bắc Kinh các kế hoạch mở rộng xâm lược Đông Dương của Mỹ. Thậm chí Liên Xô còn quyết định chống lại tiến trình thành lập lại quan hệ giữa Washington và Bắc Kinh bằng cách cố gắng san bằng hố ngăn cách của họ với Trung Quốc. Theo các kế hoạch này thì Việt Nam có thể trở thành một căn cứ cho sự hoà giải. Matxcơva đã đánh giá sự mở rộng đáng kể các mối quan hệ Trung-Việt hồi đầu những năm 70 để đề ra các hành động phối hợp Trung-Xô ở Việt Nam. Giới ngoại giao Liên Xô ở Hà Nội đã xem cuộc viếng thăm Việt Nam Dân chủ Cộng hoà của Chu ân Lai hồi-tháng 3 năm 1971, như một bước xa hơn hướng tới việc thiết lập quan hệ Trung-Việt và đã giải thích sự cải thiện này bằng những "ảo tưởng" của các nhà lãnh đạo Bắc Việt về thái độ quan tâm hơn đối với những người đồng chí ở Hà Nội.
« Sửa lần cuối: 01 Tháng Giêng, 2008, 10:47:10 am gửi bởi hoabinh101 » Logged

Chân lý thuộc về kẻ chiến thắng
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM