Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:19:41 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Một số trận Hải chiến lịch sử  (Đọc 36433 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
5tan
Thành viên
*
Bài viết: 230


Đoàn kết hay là chết !


« vào lúc: 21 Tháng Tám, 2009, 12:41:21 pm »

Đọc loạt bài: "Một số trận Hải chiến lịch sử và quá trình phát triển của Hải quân" đăng trên báo Thanhnien.com.vn em thấy hay quá. Mục Kiến thức quốc phòng chưa có chủ đề này. Với lý do đó; em:

Xin phép các admin, Mod cho phép được mở chủ đề mới: "Một số trận Hải chiến lịch sử và quá trình phát triển của Hải quân".

Mục đích: Sưu tầm, giới thiệu về các trận Hải chiến điển hình trên thế giới.

P/S: Truyền thống và các trận đánh của Hải quân nhân dân Việt Nam đã có trong CAT thư viện Hải quân. Vì vậy ở đây chỉ nói về những trận Hải chiến điển hình trên thế giới. Những bài viết lạc đề, em nhờ các Mod, Admin xóa hộ. Em xin chân thành cảm ơn và hậu tạ.
« Sửa lần cuối: 21 Tháng Tám, 2009, 06:26:18 pm gửi bởi 5tan » Logged

”Mau lên hỡi bạn xe thồ-Đường lên mặt trận vui mô cho bằng - Qua đèo rồi lại qua sông - Xe thồ đè bẹp xe tăng quân thù” - Tố Hữu
5tan
Thành viên
*
Bài viết: 230


Đoàn kết hay là chết !


« Trả lời #1 vào lúc: 21 Tháng Tám, 2009, 12:43:15 pm »

Những trận hải chiến lịch sử và quá trình phát triển của hải quân  

Bài 1: Cuộc chạm trán kinh điển giữa tàu phóng lôi và khu trục hạm

61 tàu phóng lôi Đức tấn công 78 khu trục hạm Anh có nhiệm vụ bảo vệ đội hình gồm 73 tàu chiến, tàu sân bay các loại. Trận đánh kéo dài từ chiều đến đêm 31.5.1916 giữa hạm đội Grand (Anh) và High Seas (Đức) tại North Sea, gần Jutland, Đan Mạch, được ghi nhận là chưa từng có trong lịch sử.
Trận đánh có một không hai
250 chiến hạm hai bên vào trận đánh dữ dội ngày 31.5.1916. Hải lực Hoàng gia Anh huy động 78 khu trục hạm giữ nhiệm vụ vừa tấn công vừa bảo vệ 28 chiến đấu hạm và 1 tàu sân bay(*) dưới quyền chỉ huy của Đô đốc Sir John Jellicoe. Đức huy động 61 tàu phóng lôi tác chiến cùng 16 chiến đấu hạm và 6 thiết giáp hạm do Phó đô đốc Reinhard Scheer chỉ huy.
Do kém quân số nên Reinhard áp dụng chiến thuật vừa đánh vừa nhử nhằm phá thế kiểm soát của hải lực Anh, mở đường cho thương thuyền Đức tái hoạt động trên North Sea. Trái lại, quân Anh ỷ vào thế đông, sẵn sàng giáp lá cà nhằm loại tầm ảnh hưởng của hải quân Đức trên vùng biển mình kiểm soát.
Mỗi bên đều thực hiện ý đồ của mình. Đức triển khai 5 tuần dương hạm nhỏ, nhẹ, hiện đại do Phó đô đốc Franz Hipper chỉ huy tiến lên khiêu chiến. Nhiệm vụ của Hipper là nhử liên đội tuần dương hạm của Anh dưới quyền Phó đô đốc David Beatty ra xa và lọt vào tầm bắn tàu ngầm để tiêu diệt. Tuy nhiên, phía Anh nhận được nhiều tín hiệu cho thấy đây không phải là cuộc chạm trán đơn thuần của vài chiếc tuần duyên mà là cuộc triển khai của cả một hạm đội. Do đó, ngày 30.5, Sir Jellicoe đã nhanh chóng điều chiến thuyền đến án ngữ "điểm hẹn" trước khi tàu ngầm Đức có mặt. Chiều 31.5, hải đội hai bên chạm trán nhau sớm hơn dự kiến. Tuy chiến thuật câu nhử phá sản, song Hipper vẫn kéo được người Anh rơi vào thế gọng kìm của hạm đội nhà. Mười chiến đấu hạm do Beatty chỉ huy bị 5 chiến đấu hạm của Hipper bắn chìm mất hai, buộc phải tháo chạy. Tuy nhiên, màn rượt đuổi sau đó của hải đội Đức đã mở đầu cho cuộc đọ súng lớn nhất đệ nhất thế chiến. Từ 18 giờ 30 đến khi trời tối hẳn, 2 hạm đội hùng mạnh với tổng cộng 250 tàu chiến các loại giao tranh ác liệt. 14 tàu Anh và 11 tàu Đức bị bắn chìm với con số thương vong khủng khiếp. Trước khi mặt trời lặn, Sir Jellicoe tận dụng thế đông đã triển khai chiến thuật cắt đường rút lui của quân Đức với hy vọng tiếp tục giao tranh vào sáng hôm sau. Tuy nhiên, màn đêm đã giúp người Đức thoát khỏi sự tầm nã để về căn cứ an toàn.

Các tên gọi trong hải quân so với cấp bậc quân hàm có khác biệt tùy từng quốc gia. Dưới đây xin quy về chuẩn cấp hàm tại Việt Nam:
- Đô đốc (Admiral): cấp bậc cao nhất trong hải quân, tương đương với cấp hàm thượng tướng trong hải quân Việt Nam. Hiện cấp bậc sĩ quan cao nhất trong hải quân Việt Nam là Phó đô đốc. Ở Pháp, tên gọi này tương đương tướng 5 sao.
- Phó đô đốc (Vice Admiral): tương đương với cấp hàm trung tướng tại Việt Nam.
- Chuẩn đô đốc (còn gọi là đề đốc - Rear Admiral): tương đương với cấp hàm thiếu tướng.
- Phó đề đốc (Commondore): tương đương với chuẩn tướng.
- Tuần dương hạm: tàu tuần tiễu trên biển
- Thiết giáp hạm: tàu bọc thép, tùy vị trí có thể dày từ 10 đến 28 cm


Sau cuộc giao tranh, cả hai bên đều tuyên bố chiến thắng. Thực tế phía
Anh chịu thiệt hại nặng nề: 6.094 quân tử vong, 510 bị thương, 177 bị bắt làm tù binh, trong khi Đức có 2.551 binh sĩ thiệt mạng và 507 người bị thương. Sir Jellicoe và Beaty bị công luận chỉ trích nặng nề về năng lực cầm quân dù hải quân Anh vẫn giành được quyền kiểm soát North Sea.
Khu trục hạm: từ kẻ chịu đòn đến tìm và diệt
Việc người Anh huy động đến 78 khu trục hạm (destroyer) tham chiến tại Jutland cho thấy tầm quan trọng của thế hệ tàu nhỏ, cơ động nhưng hiệu quả trong phòng thủ và nguy hiểm trong tấn công. Lịch sử khu trục hạm gắn liền với quá trình phát triển của ngư lôi (torpedo), vốn xuất hiện từ thập niên 60 của thế kỷ 19. Lúc này, khu trục hạm có tên gọi là torperdo boat (tàu phóng lôi), được chế tạo nhỏ gọn, trọng tải chỉ từ 50 - 100 tấn, tốc độ di chuyển cao, được trang bị súng bắn nhanh và các ống phóng lôi.
Thoạt đầu, nhiều ý tưởng cho rằng các hạm đội chỉ có thể bị tấn công khi đang neo đậu. Tuy nhiên, sự phát triển của các tàu phóng lôi với khả năng tấn công nhanh hơn, tầm bắn xa hơn(**), đã đẩy các hạm đội vào thế lúng túng. Mức độ nguy hiểm của khu trục hạm được ghi nhận lần đầu tiên trong cuộc chiến Nga - Nhật năm 1904. Ba tàu phóng lôi của Nhật dám tấn công cả một hạm đội Nga tại cảng, phóng tổng cộng 18 quả ngư lôi làm tổn thương nặng 2 chiến đấu hạm Nga.
Trước hiểm họa tàu phóng lôi, nhiều cường quốc đã lên kế hoạch chống đỡ. Năm 1884, Tây Ban Nha bổ nhiệm Navio Fernando Villaamil làm tư lệnh phó hải quân và giao nhiệm vụ thiết kế một thế hệ tàu chiến mới có thể đánh chặn tàu phóng lôi. Villaamil chọn hãng đóng tàu J&G Thomson ở Scotland và ngày 19.1.1887, chiếc Destructor được bàn giao với sự hồ hởi của cả cộng đồng hải quân châu Âu. 24 giờ sau, Destructor về đến Tây Ban Nha với trọng tải rẽ nước 380 tấn, được trang bị 1 khẩu Hontoria 90 mm, 4 khẩu Nordenfelt 57 mm, 2 pháo Hotchkiss 37 mm, 3 ống phóng lôi Schwarzkopf và tốc độ chạy thử đạt 22,5 knot (41,3 km/giờ). Và Destructor được xem là tàu đánh chặn (torpedor boat catcher) đầu tiên được chế tạo (***).
Vai trò thoạt đầu của Destructor là chạy nhanh, đón đầu và sẵn sàng chịu đòn nhằm phá thế công của đối phương. Sau đó, người ta phát hiện tại sao lại chỉ để Destructor "đánh chặn" khi hộ tống các hạm đội mà không phát triển thêm về kích cỡ lẫn hỏa lực để tấn công lại các tàu phóng lôi của đối phương. Từ đây, Destructor chính thức có tên gọi torpedo boat destroyer - tàu diệt ngư lôi đỉnh, sau gọi ngắn là destroyer (khu trục hạm).
Với khả năng hộ tống, hoạt động dài ngày trên biển, khu trục hạm dần trở thành các tàu chiến nổi lớn nhất, được trang bị hỏa lực mạnh, đủ khả năng tìm diệt và phòng thủ, hỗ trợ tấn công trên bờ.
Hải quân Mỹ hiện sử dụng thế hệ khu trục hạm Arleigh Burke để hộ tống các hạm đội, yểm trợ các chiến dịch trên bờ và đổ bộ. Các khu trục hạm này được trang bị hệ thống hỏa tiễn tự tìm mục tiêu có khả năng chống tàu ngầm, phi cơ và tấn công đối phương trên mặt biển.
Trong khi đó Nga đang sở hữu thế hệ khu trục hạm Sovremenny tấn công bằng hỏa tiễn sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau. Tàu được trang bị hỏa tiễn hải đối hải SS-N-22, hải đối không SA-N-7 Gadfly và pháo hai nòng 130 mm bắn nhanh điều khiển bằng tia laser. Sovremenny còn có bệ phóng lôi 533 mm và bệ phóng phi pháo RBU-6000 để săn tàu ngầm. Trong các trận hải chiến, các hệ thống phóng lôi và tháp pháo có tác dụng rất hữu hiệu trong các cuộc cận chiến.
Lê Huỳnh Lê

« Sửa lần cuối: 21 Tháng Tám, 2009, 12:58:13 pm gửi bởi 5tan » Logged

”Mau lên hỡi bạn xe thồ-Đường lên mặt trận vui mô cho bằng - Qua đèo rồi lại qua sông - Xe thồ đè bẹp xe tăng quân thù” - Tố Hữu
5tan
Thành viên
*
Bài viết: 230


Đoàn kết hay là chết !


« Trả lời #2 vào lúc: 21 Tháng Tám, 2009, 12:52:39 pm »

Những trận hải chiến lịch sử và quá trình phát triển của hải quân

Bài 2: Tàu ngầm và cuộc chiến marathon trên Đại Tây Dương


Đây là trận đánh kéo dài từ ngày khởi đầu đến ngày kết thúc Đệ nhị thế chiến. Hơn 1.100 tàu ngầm Đức tấn công hải lực Hoàng gia Anh mạnh gấp 10 lần mình, đánh đắm hơn 2.900 chiến thuyền và hơn 14 triệu tấn hàng tiếp vận cho dù chiến thắng chung cuộc không thuộc về họ.

Chiến thuật “Bầy sói” (Wolfpack)
Cha đẻ của “bầy sói” là Karl Donitz - nhà chiến thuật hàng đầu của hải quân Đức, nguyên hạm trưởng tàu ngầm thời Đệ nhất thế chiến. Năm 1935, sau khi xé bỏ Hiệp ước Versaille quy định hạn chế hải quân Đức, Hitler bổ nhiệm Karl Donitz làm tư lệnh, tập trung phát triển lực lượng tàu ngầm.
Không như các tư lệnh khác ở Bộ chỉ huy hành quân, chỉ có mỗi mình Donitz nhận định rằng: Đức chỉ có thể cậy vào tàu ngầm mới mong thủ thắng được trận Đại Tây Dương, từ đó giúp Đức sớm kết thúc thế chiến. Các tư lệnh khác phản bác quan điểm này. Theo họ, chỉ có các chiến hạm không thể bị đánh chìm, được trang bị đại bác lớn mới là yếu tố chính kiểm soát vùng biển
Thực tế đã nghiêng về nhận định của Donitz. Những thiết giáp hạm khổng lồ “không thể bị đánh chìm” của Đức như Bismarck và Graf Spee hạ đốc không bao lâu đã trở thành tít lớn trên báo chí do “bị hải quân Anh săn lùng và tiêu diệt”. Trong khi tại Đại Tây Dương, lực lượng tàu ngầm Đức liên tục khiến quân đồng minh khốn đốn bởi “bầy sói”.
Để cô lập và loại Anh quốc ra khỏi cuộc chiến, Donitz tính toán lượng hàng hóa của nước này cần phải bị đánh chìm hằng ngày trên Đại Tây Dương. Như vậy, nền kinh tế Anh sẽ lụn bại và đường tiếp vận của quân đồng minh cũng bị phong tỏa. Từ tính toán trên, Donitz phác thảo cơ số tàu ngầm Đức cần có để thực hiện chiến dịch. Nắm rất vững những thông số cần thiết, lên chiến thuật và với tiềm năng của nước Đức lúc bấy giờ, Donitz khẳng định Đức có thể mở một cuộc chiến năm ăn năm thua với hải quân Hoàng gia Anh dù đối phương có thực lực mạnh hơn cả chục lần. Donitz tin rằng hải quân hoàng gia với những chiến đấu hạm được trang bị đại bác lớn sẽ hoàn toàn “đề-mốt” trước chiến thuật hiện đại của tàu ngầm - được chế tạo nhỏ nhưng cơ động trên mặt nước và lặn nhanh xuống biển.
Để có thể phong tỏa Anh quốc như theo tính toán, Donitz cần ít nhất khoảng 300 tàu ngầm để tung vào trận. Tuy nhiên, ông chỉ có trong tay 57 chiếc trong thời gian khởi đầu cuộc chiến.
Do chỉ có 1/5 cơ số tàu ngầm so với tính toán, Donitz đã vận dụng “bầy sói” đánh vào các hải đoàn tiếp vận của quân đồng minh cùng đoàn chiến hạm hộ tống theo nó. Chiến thuật này yêu cầu các tàu ngầm Đức hoạt động độc lập, khi phát hiện mục tiêu lập tức báo cáo về bộ chỉ huy để điều thêm tiếp viện - như một bầy sói vây quanh con mồi, nhằm đảm bảo có cơ số luôn lớn hơn đối phương, sau đó lợi dụng trời tối để nổi lên mặt nước tấn công bất ngờ.

Anh quốc khủng hoảng
Dù với cơ số nhỏ, nhưng tàu ngầm Đức nhanh chóng thành công ngay trong tháng đầu xung trận. Ngày 17.9.1939, tàu U-29 phát hiện hàng không mẫu hạm HMS Courageous với sự hộ tống của 2 khu trục hạm đang tuần tra cách Ireland 320 km về hướng tây nam. Trung úy hạm trưởng Otto Schuhart ra lệnh cho U-29 luồn qua 2 chiếc khu trục hạm, phóng 3 quả ngư lôi từ cự ly 3.000 mét. Hai quả trúng mục tiêu, chiếc hàng không mẫu hạm đầy kiêu hãnh bị nhấn chìm chỉ trong 17 phút kéo theo 518 sinh mạng. HMS Courageous trở thành tổn thất đầu tiên của hải quân hoàng gia trong cuộc chiến. Dính đòn đau, hải quân Anh quyết định rút toàn bộ hàng không mẫu hạm ra khỏi những vị trí có khả năng bị tấn công từ phương tây. Bốn năm liền sau đó, người ta không thấy bất kỳ hàng không mẫu hạm nào xuất hiện trên vùng biển này.
Không lâu sau, tàu ngầm Đức lại ghi được một chiến công lớn hơn ở cảng Scapa Flow bằng lối đánh táo bạo. Đây là nơi các chiến hạm hùng mạnh nhất của Anh thả neo và được bảo vệ khá kỹ. Máy bay Đức chụp được một serie ảnh về hệ thống phòng thủ của Scapa Flow. Cửa vào cảng rất hẹp và bị bịt kín bởi hàng rào tàu chiến bị chìm có tác dụng chặn luôn tàu ngầm địch. Để vào được cảng không còn cách nào là phải di chuyển trên mặt nước. Nhưng Donitz phát hiện có một lối vào hẹp, mực nước cạn và chảy xiết. Ông chọn hạm trưởng tàu U-47 Gunther Prien thực thi nhiệm vụ. Ngày 8.10, U-47 xuất phát đi Scapa Flow. Khuya 13.10, lợi dụng đêm không trăng, U-47 vượt qua hàng rào bảo vệ tiến vào cảng. Hai loạt bắn tổng cộng 6 ngư lôi tạo nên 3 tiếng nổ lớn. Chiến đấu hạm lẫy lừng Royal Oak bị chìm trong vòng 10 phút, kéo theo 833 sinh mạng. U-47 lẻn nhanh ra không bị phát hiện và trở về được chào đón như người hùng. Sau trận này, Hitler tấn phong Donitz lên chuẩn đô đốc.
Ngày 10.5.1940, Đức xua quân tiến chiếm Pháp. Ngày 22.6.1940, Pháp đầu hàng. Donitz tiếp quản nhiều hải cảng quan trọng và thu ngắn được hải trình đến Đại Tây Dương. Và với “bầy sói”, từ tháng 7 đến tháng 10.1940, tàu ngầm Đức đánh chìm thêm 220 tàu thuyền của quân đồng minh.
Đợt tấn công đầu tiên của bầy sói được ghi nhận vào ngày 21.9.1940, bốn tàu ngầm Đức tấn công Hải đoàn HX72 hộ tống 42 thương thuyền. Kết quả: 11 thuyền của quân đồng minh bị đánh đắm, 2 thuyền bị thương; trong đó riêng chiếc U-100 đánh chìm một lúc 7 chiếc thuyền.
Ngày 5.10.1940, đoàn SC7 gồm 34 thuyền được hộ tống rời Ontario đi Liverpool bị 7 tàu ngầm Đức vây đánh tại Rockall Bank, gần Scotland. 22 thuyền bị đánh chìm và các tàu còn lại lúng túng không biết làm gì ngoài việc tìm vớt các nạn nhân. Chỉ 12 chiếc lết về được đến cảng. Ba ngày sau, thêm một đoàn thuyền 49 chiếc khác được hộ tống bị 5 tàu ngầm Đức đánh chìm mất 12 chiếc.
Với chiến thuật “bầy sói”, chỉ trong 3 tháng - từ 2.9 đến 2.12.1940, 157 tàu thuyền các loại của quân Đồng minh đã bị đánh chìm với tổng lượng hàng tiếp vận là 847 ngàn tấn trong khi Đức chỉ tổn thất 3 tàu ngầm. Tỷ lệ đánh đổi là 1:52. Những tổn thất liên tiếp khiến lượng dầu mỏ nhập cảng vào Anh giảm hẳn một nửa và chỉ đáp ứng được 2/3 nhu cầu. Kinh tế Anh bắt đầu rơi vào khủng hoảng đến nỗi Thủ tướng Winston Churchill phải thú nhận ông sợ nước Anh sẽ thua ở trận hải chiến Đại Tây Dương và như vậy, Anh sẽ mất luôn sức chiến đấu trong Đệ nhị thế chiến. (Còn tiếp)
Lê Huỳnh Lê
« Sửa lần cuối: 21 Tháng Tám, 2009, 12:59:04 pm gửi bởi 5tan » Logged

”Mau lên hỡi bạn xe thồ-Đường lên mặt trận vui mô cho bằng - Qua đèo rồi lại qua sông - Xe thồ đè bẹp xe tăng quân thù” - Tố Hữu
5tan
Thành viên
*
Bài viết: 230


Đoàn kết hay là chết !


« Trả lời #3 vào lúc: 21 Tháng Tám, 2009, 12:55:37 pm »

Những trận hải chiến lịch sử và quá trình phát triển của hải quân 

Kỳ 3: Tìm cách chống trả, Anh cầu cứu Mỹ


Trước sức tấn công kinh hoàng của tàu ngầm Đức, hải quân Anh phải lên chiến lược chống trả, đồng thời đích thân Thủ tướng Winston Churchill bay sang Washington cầu cứu viện trợ Mỹ.
Để giành lại thế chủ động trên Đại Tây Dương, hải quân Anh đã liên tục nhóm họp và đề ra hàng loạt chiến lược đối phó với “bầy sói” của Karl Donitz đang được phát triển với cơ số tăng rõ rệt. Việc đầu tiên Anh quốc phải làm là gia tăng lượng tàu hộ tống. Họ quyết định rút một số đông khu trục hạm đang giám sát khả năng xâm lược của người Đức sang hộ tống các đoàn tàu hàng. Chưa an tâm, Anh quốc bổ sung thêm các tàu hộ tống nhỏ cùng chiến đấu hạm tải trọng dưới 1.000 tấn gia nhập đội quân “bảo kê” này. Cùng lúc, Anh quốc đã đàm phán và mượn được 50 khu trục hạm của Mỹ. Tuy đây là số tàu thế hệ cũ song cũng giúp được Anh phát triển lượng tàu hộ tống trên biển.
Việc phải làm thứ hai, hải quân Anh bắt đầu thành lập những hải đội hộ tống chuyên nghiệp. Điều này khác hẳn quan niệm cũ: cứ hễ là tàu chiến thì đương nhiên đủ sức hộ tống tàu hàng. Giờ đây, các hải đội hộ tống cùng thủy thủ đoàn được huấn luyện đặc biệt, đảm bảo có thể tác chiến đồng đội, biết cách săn lùng và nắm vững được cách thức tiêu diệt tàu ngầm mới được tung đi làm nhiệm vụ.
Việc tăng cường trang thiết bị, vũ khí cho các hải đội hộ tống cũng là mấu chốt cơ bản của chiến lược chống trả. Tàu hộ tống được trang bị thêm radar và vô tuyến số cự li ngắn. Radar thời này tuy chưa đủ nhạy để dò ra tàu ngầm mỗi khi trồi lên mặt nước nhưng cùng với vô tuyến số, các hạm trưởng có thể định vị được vị trí của tàu hàng, các tàu hộ tống khác, liên lạc được với nhau và với các chiến đấu cơ, đặc biệt là khi phối hợp tấn công tàu ngầm.
Cuối cùng, sau tròn một năm tham chiến, người Anh nhận ra rằng mật mã cũ Naval Cypher No.3 đã lộ nên quyết định thay bằng Naval Code Number 1. Việc thay thế này khiến sức tấn công của tàu ngầm Đức giảm hẳn. Bộ phận giải mã B-Dienst của Đức “điếc đặc”, không thể tiếp tục cung cấp thông tin tình báo về đường đi nước bước của đối phương. Phía Đức hy vọng bẻ được mã khóa mới trong 6 tuần lễ. Tuy nhiên, điều này đã không xảy ra.
Bên cạnh đó, Winston Churchill bắt đầu tìm kiếm sự ủng hộ của nước Mỹ. Vị Thủ tướng Anh lúc bấy giờ tin rằng sự trợ giúp của Mỹ sẽ đóng vai trò quyết định trong việc đánh bại người Đức. Washington đã nắm đầy đủ thông tin về những tổn thất kinh hoàng của Anh quốc trên Đại Tây Dương và nhận định rằng: việc người Anh thua trận chỉ còn là vấn đề thời gian. Ngoài ra, Washington bắt đầu cảm thấy Mỹ La-tinh cũng đang chịu sự đe dọa của trục ba Berlin – Roma – Tokyo, nhất là khi Hiệp ước ba bên Đức, Ý, Nhật được ký vào ngày 27.9.1940 tại Berlin. Một liên minh tối mật giữa Anh và Mỹ đã được lên kế hoạch và trong chuyến thăm London tháng 1.1941, trợ lý của Nhà Trắng – Harry L.Hopkins - nói với Churchill: “Ngài tổng thống (Mỹ) đã quyết tâm rằng chúng ta sẽ cùng nhau thắng trong cuộc chiến này”.
Trước công chúng, Tổng thống Mỹ Franklin D.Roosevelt vẫn một mực khẳng định nước này sẽ không tham chiến. Tuy nhiên, “destroyer deal” – bản hợp đồng cho Anh quốc mượn 50 chiếc khu trục hạm đã chứng minh Mỹ chính thức giúp Anh một tay.
Đến tháng 3.1941, những chiến lược hoạch định đã cho hiệu ứng bước đầu. Chỉ trong tháng này, Đức đã mất đến 3 tàu ngầm cự phách nhất trong lực lượng của mình. Niềm tự hào Scapa Flow – hạm trưởng Gunther Prien cùng 45 thủy thủ đoàn mất tích trên chiếc U-47 (*) ngày 7.3 tại bờ Rockall, Scotland. Nguyên nhân mất tích do bị khu trục hạm Anh HMS Wolverine tiêu diệt hay bị tai nạn ngư lôi đến giờ vẫn chưa rõ. Mười ngày sau, ách chủ bài thứ nhì của Donitz  - chiếc U-100 - bị radar của khu trục hạm Anh HMS Vanoc phát hiện phía đông nam Iceland (**). Chiếc Vanoc được khu trục hạm Walker hỗ trợ đã bủa vây và truy sát khiến 38 thủy thủ trên U-100 thiệt mạng, bao gồm hạm trưởng Joachim Schepke. Trong Đệ nhị thế chiến, chiếc U-100 đã đánh đắm tổng cộng 25 tàu các loại của quân Đồng minh và làm hỏng 5 tàu khác. Cũng trong trận chiến này, chiếc U-99 của hạm trưởng Otto Kretschmer cũng bị HMS Walker gây áp lực phải lặn đến độ sâu không chịu nổi, rốt cuộc phải trồi lên chịu hàng. 40/43 thủy thủ đoàn sống sót trên tàu bị bắt làm tù binh.
Giai đoạn “happy time” đã kết thúc đối với tàu ngầm Đức.  (Còn tiếp)
Lê Huỳnh Lê

(*) Chiếc U-47 do trung úy Gunther Prien chỉ huy được xem là ách chủ bài số 1 của lực lượng tàu ngầm Đức với thành tích đánh đắm 30 tàu của lực lượng đồng minh, trong đó có chiến công lẫy lừng là đột nhập vào cảng Scapa Flow, đánh đắm chiến đấu hạm Royal Oak (Anh) cùng 833 thủy thủ đoàn.
(**) U-100 là tàu ngầm đầu tiên bị radar phát hiện trong Đệ nhị thế chiến.

Logged

”Mau lên hỡi bạn xe thồ-Đường lên mặt trận vui mô cho bằng - Qua đèo rồi lại qua sông - Xe thồ đè bẹp xe tăng quân thù” - Tố Hữu
5tan
Thành viên
*
Bài viết: 230


Đoàn kết hay là chết !


« Trả lời #4 vào lúc: 21 Tháng Tám, 2009, 01:49:32 pm »

Trân Châu Cảng - trận tập kích định mệnh

- Ngày 7/12/1941, máy bay Nhật đã bất ngờ tập kích vào hạm đội Mỹ tại Cảng Trân Châu. Đây là trận đánh định mệnh đối với cả Mỹ, Nhật Bản và châu Á-Thái Bình Dương.

Cuộc tập kích đầu tiên này diễn ra lúc 7 giờ 55 phút sáng, với sự tham dự của 183 máy bay xuất kích từ các hàng không mẫu hạm của Nhật Bản bí mật tiếp cận vùng biển Hawaii. Sau đó 1 giờ, 191 máy bay Nhật lại tập kích lần thứ hai. Cuộc tập kích này đánh dấu cuộc chiến tranh ở Thái Bình Dương bùng nổ, phía Nhật tạm thời chiếm ưu thế ở khu vực, thừa cơ  xâm chiếm các nước Đông Nam Á
Kế hoạch này do Tổng tư lệnh hải quân Nhật Bản, Đô đốc Isoroku Yamamoto vạch ra. Yamamoto là chuyên gia về vấn đề Mỹ, đã từng học tập tại Đại học Havard, từng là Tùy viên quân sự hải quân, đại sứ Nhật tại Mỹ và đã tham quan, khảo sát nhiều cơ sở thuộc ngành công nghiệp Mỹ. Ông ta hiểu rõ, Mỹ có tiềm lực quân sự hùng hậu, một khi sản xuất đi vào quỹ đạo chiến tranh thì sẽ nhanh chóng trở thành người hùng quân sự không ai đánh đổ được, vì vậy chỉ khi nó còn đang lười biếng ngủ một giấc, đánh một trận dập đầu, không gượng nổi nữa.
Quần đảo Kuril ở phía Bắc Nhật Bản là một vùng xa xôi hẻo lánh, nơi neo đậu tầu thuyền quanh năm sương mù bao phủ, chủ lực hải quân Nhật thường lặng lẽ tập kết ở đó. Ngày 26/11/1941, một hạm đội khổng lồ do trung tướng hải quân Nagumo Chuichi chỉ huy, đã từ đây lên đường. Hạm đội này có 6 hàng không mẫu hạm, mang theo 360 máy bay, kèm theo là một đội hộ vệ gồm nhiều thiết giáp hạm, tuần dương hạm, khu trục hạm, mục tiêu đến của hạm đội này là Trân Châu cảng.
Quần đảo Hawaii là đầu mối giao thông quan trọng vùng giữa Thái Bình Dương, do 20 hòn đảo núi lửa và san hô tạo nên, trong đó chỉ có 10 đảo là có người ở, và thương nhân gốc Nhật chiếm 1/3 dân số, thủ phủ của quần đảo này là Honolulu. Đảo Oahu cách Honolulu 10 km, phía Tây đảo này là một cảng nước sâu yên gió, là căn cứ hải quân Mỹ lớn nhất tại Thái Bình Dương, đó chính là cảng Trân Châu.
Trước ngày hạm đội đặc biệt trên của Nhật xuất phát, quan hệ Nhật - Mỹ đã vô cùng căng thẳng. Vì thế, Nhật đã cử một “phái đoàn thân thiện” đến thăm Washington 12 ngày trước đó. Ngày 17/11/1941, đặc sứ Nhật, Kuruku và đại sứ Nhật tại Mỹ Nomura được sự tháp tùng của Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ, Hell đã hội kiến Tổng thống Mỹ F. Roosevelt. Ông Roosevelt yêu cầu Nhật Bản rút quân khỏi Trung Quốc ngay. Đặc sứ Nhật đã từ chối yêu cầu đó. Quan hệ hai bên thực tế đã tan vỡ.
Sáng ngày 20/11, tại Quốc vụ viện Mỹ, đặc sứ Kuruku trao công hàm cho Ngoại trưởng Hell, yêu cầu Mỹ xóa bỏ cấm vận kinh tế với Nhật, ngừng viện trợ cho cuộc kháng chiến của Trung Quốc, và nói rõ đó là lập trường cuối cùng của Nhật.
Ngày 22/11, Tổng bộ hải quân Mỹ phá được bức điện mật của Ngoại trưởng Nhật, Hideki Tojo gửi cho đại sứ Nomura, bức điện này gọi công hàm mà Nomura trao cho Ngoại trưởng Mỹ là “thông điệp cuối cùng” và nói để ngăn ngừa phát sinh những “cố gắng cuối cùng” của “sự tình nào đó” nên thời hạn(có giá trị) của nó là 1 tuần lễ. Bộ Hải quân Mỹ cho rằng bức điện này cho thấy, sau ngày 29/11, quan hệ Nhật - Mỹ sẽ xuất hiện “sự tình nào đó” cũng có nghĩa là chiến tranh. Bức điện này được chuyển ngay lên Tổng thống.

"Bức thông điệp 14 đoạn"
Ngày 27/11, tức là ngày thứ hai khi hạm đội Nhật xuất phát, đặc sứ Nhật được Ngoại trưởng Mỹ tháp tùng đã xin gặp Tổng thống Roosevelt lần thứ hai. Tổng thống Mỹ thông qua đặc sứ Nhật cảnh cáo: “Nếu Nhật thi hành chủ nghĩa Hitler, cuối cùng sẽ thất bại”. Sau khi đặc sứ Nhật ra về, Roosevelt nói với những ngưòi xung quanh, dự đoán trong vài ngày nữa, Nhật Bản sẽ gây chiến. Dự đoán của ông không sai, lúc này hạm đội Nhật đang chạy hết tốc độ hướng về cảng Trân Châu. Ngày 6/12 là ngày thứ Bảy, trước khi xảy ra sự kiện cảng Trân Châu một ngày, Bộ Hải quân Mỹ lại thu được một bức điện mật của chính phủ Nhật gửi cho đại sứ Nomura. Bức điện dài này gồm 14 đoạn, sau này được gọi là “bức điện 14 đoạn”. Nội dung chủ yếu của bức điện là, thông tri cho chính phủ Mỹ, chính phủ Nhật từ chối kiến nghị của Mỹ và nói rõ “ trên thực tế, đàm phán đã tan vỡ.”
Khi 13 đoạn trước trong “bức điện 14 đoạn” được giải mã và chuyển ngay tới Nhà Trắng, đọc xong, Tổng thống Roosevelt nói: “Như thế này là chiến tranh phải bùng nổ.”. Đoạn thứ 14 của bức điện nhanh chóng được giải mã và dịch xong, yêu cầu đại sứ Nomura đúng 1 giờ trưa giao toàn bộ bức điện cho Ngoại trưởng Hell. Bộ Hải quân cho rằng nói 1 giờ tức là thời gian Nhật Bản tấn công. Bức điện cho thấy, phía Nhật sẽ không tuyên chiến mà đánh và nói rõ cả thời gian tấn công. Tuy nhiên nhà cầm quyền tối cao Nỹ không có biện pháp đối phó khẩn cấp nào thậm chí cũng không thông báo cho lực lượng tiền tuyến biết, khiến ngay cả bộ phận tiền tiêu của Hải quân cũng ở trong trạng thái tê liệt.
Chủ nhật ngày 7/12. Một buổi sáng yên tĩnh. Cách cảng Trân Châu 25 dặm Anh về phía Bắc có một trạm rađa, hai binh nhì Mỹ vừa xong phiên trựcđang chuẩn bị giao ca.
7 giờ 2 phút, họ thấy trên màn hình xuất hiện rất nhiều đốm sáng, chứng tỏ có rất nhiều máy bay đang bay tới, khoảng cách là 137 dặm Anh, họ vừa theo dõii vừa báo cáo cho sĩ quan trực ban. Sĩ quan trực ban phán đoán, số máy bay này có thể cất cánh từ hàng không mẫu hạm, cũng có thể là máy bay ném bom B-17 bay từ California tới. Anh ta nói: "Không lo, đó là người nhà mình".
Thế nhưng anh ta đã phán đoán sai. Đó chính là máy bay oanh tạc cất cánh từ hàng không mẫu hạm của Nhật, địa điểm cất cánh cách cảng Trân Châu 270 dặm Anh.
Từ 7 giờ 55 phút, 374 máy bay Nhật chia làm hai đợt, đợt  một  183 chiếc  và đợt  hai 191 chiếc (mỗi đợt cách nhau trên 1 giờ) oanh kích bất ngờ hạm đội Mỹ tại càng Trân Châu. 7 giờ 58 phút, đài phát thanh cảng Trân Châu tuyên bố: “Cảng Trân Châu bị không kích. Báo động, đây không phải là diễn tập. Nhắc lại lần nữa, báo động, đây không phải là diễn tập”.
9 giờ 30 phút coi như cuộc tập kích bất ngờ kết thúc. 4 trong 8 thiết giáp hạm của Mỹ bị đánh chìm, 4 chiếc kia bị hỏng nặng, 18 chiến thuyền khác bị đánh chìm hoặc đánh bị thương, 188 máy bay bị hỏng, 291 chiếc khác bị thương, 2403 sĩ quan và binh lính Mỹ bị chết, bị thương gần 2000 người. Phía Nhật chỉ tổn thất 5 tầu ngầm nhỏ, 29 máy bay và chưa tới 100 người bị chết.
Cũng may, khi Nhật bất ngờ tập kích, 3 hàng không mẫu hạm và 11 tuần dương hạm của Mỹ hợp thành một hạm đội đang làm nhiệm vụ ở nơi khác nên không bị tổn thất.
2 giờ chiều, Kumuru, đặc sứ Nhât và Nomura, đại sứ Nhật đến Quốc vụ viện Mỹ trao Bị vong lục cho Ngoại trưởng Mỹ Hell. Mặc dù Tổng thống Roosevelt trước đó đã căn dặn Hell không được nổi giận, phải bình tĩnh với bọn họ, nhưng Hell vẫn không khống chế được cảm xúc. Vừa nhìn thấy bị vong lục ông nói ngay: “Trong cuộc đời 50 năm làm công chức, tôi chưa bao giờ thấy một văn kiện mặt dầy mày dạn tràn đầy giả dối và xảo quyệt như thế này”. Nói xong hất hàm chỉ ra phía cửa.
3 giờ chiều tin tức trên bắt đầu được truyền đi rộng rãi. 4 giờ chiều, các quan chức có liên quan bắt đầu họp tại Nhà Trắng. Cuộc họp kéo dài tới quá nửa đêm.
Ngày 8/12, nước Mỹ vẫn yên tĩnh khác thường, người ta như đang đợi Tổng thống nói điều gì. Và ngưòi ta nhớ tới lời Roosevelt nói khi tranh cử “trừ phi nước Mỹ bị tấn công”. Cái việc vốn được coi là không có khả năng ấy đã xuất hiện, những quả bom Nhật ném xuống cảng Trân Châu đã xua tan bức màn chủ nghĩa cô lập, khiến người khổng lồ công nghiệp thức tỉnh.
Trưa ngày hôm đó, Tổng thống Roosevelt nói chuyện trước quốc hội Mỹ: “Ngày 7/12 là ngày quốc sỉ. Hợp chủng quốc Mỹ đã bị hải quân Nhật Bản âm mưu tập kích bất ngờ, tôi đề nghị Quốc hội tuyên bố, do Nhật Bản phát động tấn công bất ngờ, nên nước Mỹ và Nhật Bản đã ở tình trạng chiến tranh”.
Tháng 8/1945, nước Nhật đã sức tàn lực kiệt, bại trận là không tránh khỏi. Mỹ đã ném xuống Nhật Bản hai quả bom nguyên tử. Đó là sự phục thù của Mỹ cho trận Trân Châu Cảng. Nhật Bản ký hiệp ước đầu hàng đồng minh, bị quân đội Mỹ chiếm đóng. Hai nước ký hòa ước và từ đó đến nay Nhật Bản là đồng minh thân cận nhất của Mỹ tại Đông Á./.

Logged

”Mau lên hỡi bạn xe thồ-Đường lên mặt trận vui mô cho bằng - Qua đèo rồi lại qua sông - Xe thồ đè bẹp xe tăng quân thù” - Tố Hữu
5tan
Thành viên
*
Bài viết: 230


Đoàn kết hay là chết !


« Trả lời #5 vào lúc: 21 Tháng Tám, 2009, 01:51:16 pm »

Trận chiến Trân châu cảng qua ảnh:
Logged

”Mau lên hỡi bạn xe thồ-Đường lên mặt trận vui mô cho bằng - Qua đèo rồi lại qua sông - Xe thồ đè bẹp xe tăng quân thù” - Tố Hữu
5tan
Thành viên
*
Bài viết: 230


Đoàn kết hay là chết !


« Trả lời #6 vào lúc: 21 Tháng Tám, 2009, 01:52:31 pm »

Trận chiến Trân châu cảng qua ảnh:
Logged

”Mau lên hỡi bạn xe thồ-Đường lên mặt trận vui mô cho bằng - Qua đèo rồi lại qua sông - Xe thồ đè bẹp xe tăng quân thù” - Tố Hữu
napoleon
Thành viên
*
Bài viết: 521


Không có gì là không thể


« Trả lời #7 vào lúc: 23 Tháng Tám, 2009, 03:16:45 pm »

Mình post tiếp các phần tiếp theo Grin
http://www.thanhnien.com.vn/News/Pages/200934/20090821225931.aspx
Kỳ 4: Anh quốc phản công

Hitler thị sát Bismarck  - thiết giáp hạm từng được cho là “không thể chìm”, đã bị 4 chiến đấu hạm Anh đánh đắm ngày 27.5.1941 - Ảnh: Maritimequest.com

Từ tháng 4 đến tháng 12.1941, Đức tiếp tục gia tăng cơ số tàu ngầm trên Đại Tây Dương. Đối lại, quân đồng minh chống trả bằng những tiến bộ trong kỹ thuật ứng chiến tàu ngầm.

Ba yếu tố đem lại thế quân bình cho người Anh

Đầu tiên phải kể đến công lao phát triển hệ thống thiết bị định vị cao tần (HD/DF) và trang bị chúng cho các khu trục hạm. Chỉ cần bắt được tín hiệu chuyển phát trong 20 giây, thiết bị này có thể xác định được vị trí tàu ngầm đang hoạt động và họ lập tức triển khai các khu trục hạm đánh chặn. Tàu ngầm Đức bắt đầu rơi vào thế khó khăn do mất lợi thế “xuất kích từ bóng đêm”. Họ không tiếp cận được mục tiêu và cũng không triển khai chiến thuật bầy sói. Nhiều tàu phải chấp nhận thà bỏ mồi còn hơn bị khu trục hạm tiêu diệt.

Tiến bộ thứ hai của quân Đồng minh là phát minh ra radar ASV giúp không quân phát hiện mục tiêu trên mặt biển. Từ năm 1941, các chiếc U của Donitz bắt đầu cảm thấy bị bất ngờ vì cứ mỗi lần trồi lên mặt nước để tấn công thì lại bị chiến đấu cơ oanh tạc. Mối đe dọa từ trên không buộc tàu ngầm Đức phải ngụp lặn thường xuyên hơn, giảm sức tấn công và không còn tự do lộ diện trên Đại Tây Dương như trước.

Cuối cùng, quân đồng minh thu được ưu thế quan trọng khi bắt sống được tàu ngầm U-110. Sau nhiều màn rượt đuổi, ba chiếc khu trục hạm HMS Aubretia, Bulldog và Broadway đánh rách vỏ chiếc U-110 và hỏng hệ thống pin bên trong. Nước biển rò rỉ vào, hòa trộn với khí độc chlorine buộc hạm trưởng phải cho tàu trồi lên mặt nước đầu hàng. Hai ngày sau, U-110 chìm trong lúc bị kéo về cảng. Tuy nhiên, quân đồng minh đã thu được máy mã hóa và giải mã ENIGMA cùng nhiều loại tài liệu tối mật bên trong. Những  tài liệu này đã giúp quân đồng minh giải mã được các thông tin tình báo của đối phương, định vị chính xác địa điểm tàu ngầm hoạt động và thay đổi hải trình của các đoàn tàu hàng. Lượng hàng tiếp vận thiệt hại bắt đầu giảm đáng kể.

Cân bằng

Hạm đội (fleet hay naval fleet): tên gọi của một đội hình quân sự lớn nhất hải quân, bao gồm nhiều tàu chiến. Các hạm đội hiện đại gồm có chiến hạm nổi, tàu ngầm, tàu hỗ trợ và các phi cơ trên tàu để tiến hành các chiến dịch trên biển. Hạm đội thường được chỉ huy bởi một đô đốc, tuy nhiên, cũng có nhiều hạm đội được các phó đô đốc hoặc chuẩn đô đốc chỉ huy. Đa số các hạm đội được chia thành một số hải đoàn, dưới hải đoàn được chia thành hải đội. Thông thường, mỗi hạm đội được giao phó đến một vùng biển nào đó rõ rệt nên thường được đặt tên theo vùng biển đó. Riêng Mỹ hay đặt tên theo con số. (Theo từ điển mở Wikipedia)

Trước các ưu thế thu được, quân đồng minh bắt đầu tìm lại thế cân bằng trong cuộc chiến. Một trong những chiến công Anh quốc thu được xuất phát từ mệnh lệnh của Winston Churchill: tìm diệt cho được thiết giáp hạm Bismarck! Phía bên kia, Donitz tổng hợp thông tin tình báo cho thấy người Anh đang có âm mưu truy tầm Bismarck. Ông nhanh chóng triển khai toàn bộ số tàu ngầm có thể để hỗ trợ Bismarck đồng thời gài bẫy ở những điểm có khả năng xảy ra chạm trán. Tuy nhiên, nhiều tàu ngầm lúc này đang ở quá xa trong khi các tàu ngầm khác ở gần Bismarck thì lại hết ngư lôi. Chiếc U-556 của Wohlfarth là một ví dụ. Ngày 26.5.1941, hai chiến hạm HMS Ark Royal và HMS Renown của Anh lọt vào tầm bắn của U-556 ở Vịnh Biscay mà không hề có khu trục hạm hộ tống. Lẽ ra U-556 có thể đánh đắm cả hai song không thực hiện được vì “hết đạn”. Nhiều tàu ngầm khác nhận lệnh cũng quy tụ về đây, song chỉ có thể từ xa nhìn những cột khói, những tia chớp và những tiếng nổ mà không thể trợ giúp gì cho Bismarck. Đến 10 giờ 40 sáng 27.5, các chiến hạm King George V, Rodney cùng hai tàu tuần duyên hạng nặng Dorsetshire và Norfolk “quần” Bismarck một trận tơi tả. Sau 2 giờ chống cự, niềm kiêu hãnh của người Đức chìm sâu dưới đáy biển kéo theo thủy thủ đoàn gần 2.300 người.

Mất Bismarck, quân Đức gỡ lại bằng cuộc chạm trán khác vào ngày 13.11.1941. U-81 là một trong 6 chiếc tàu ngầm được lệnh cắt đường tiếp vận của quân Đồng minh đến Tobruk, Libya. Qua kính tiềm vọng, hạm trưởng Guggenberger phát hiện 2 chiếc HMS Ark Royal và HMS Malaya và ra lệnh cho U-81 bắn tổng cộng 4 quả ngư lôi vào 2 mục tiêu. Hai quả bắn hụt chiếc Malaya nhưng một quả trúng giữa mạn chiếc Ark Royal. Một tiếng nổ lớn vang lên kéo theo vô số ngọn lửa không thể kiểm soát được. 16 giờ sau, chiếc Ark Royal lật úp và chìm hẳn. Một số thủy thủ đoàn được cứu sống, song 27 chiến đấu cơ trên boong đã nằm hẳn dưới đáy Đại Tây Dương.

Các cuộc chạm trán trên Đại Tây Dương vẫn tiếp diễn, và dù có tăng cường thêm các đợt tấn công trên Địa Trung Hải song Donitz vẫn thất vọng với kết quả thu được. Ngoại trừ việc đánh đắm chiếc Ark Royal, Donitz cố gắng tìm cách giúp lượng tàu ngầm của mình thoát khỏi viễn cảnh u ám đang bao phủ. Nhưng ông ta không phải đợi lâu khi cả một cuộc săn lùng quy mô lớn bắt đầu xuất hiện, không phải dành cho người Đức.

Lê Huỳnh Lê
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Tám, 2009, 03:41:28 pm gửi bởi napoleon » Logged

Tôi có thể thất bại một trận đánh, nhưng tôi sẽ chiến thắng cả cuộc chiến tranh. Trí thông minh của con người được tính từ trán tới trời.
napoleon
Thành viên
*
Bài viết: 521


Không có gì là không thể


« Trả lời #8 vào lúc: 23 Tháng Tám, 2009, 03:46:45 pm »

http://www.thanhnien.com.vn/News/Pages/200934/20090822235654.aspx
Kỳ 5: Ngày tàn của U-boat


Tàu ngầm Elektroboat của hải quân Đức trong Đệ nhị thế chiến - Ảnh: tư liệu


Với năng lực tấn công bị hạn chế - chỉ có thể khai hỏa trên mặt nước, thế hệ tàu ngầm U-boat của Đức trở nên lạc hậu trước đà phát triển về phương tiện, vũ khí và phương tiện truyền thông của quân Đồng minh chuyên trách săn tàu ngầm. 725 chiếc U-boat bị đánh chìm cùng với gần 29.000 thủy thủ trong 6 năm tham chiến. Tuy nhiên, thất bại của người Đức đã mở ra một trang mới cho tàu ngầm hiện đại ngày nay.

Năm 1942, công suất đóng tàu của các nước Đồng minh đạt đến đỉnh điểm. Anh, Canada và Mỹ có đủ lượng tàu hộ tống an toàn các đoàn tàu hàng từ đầu đến cuối. Sự “dư dả” của phe Đồng minh giúp khu trục hạm không còn đơn thuần giữ nhiệm vụ bảo vệ. Trái lại, cùng với sự phát triển của vũ khí và radar, khu trục hạm bắt đầu phối hợp với không quân (phi cơ trang bị rocket) triển khai săn lùng ngay sau khi phát hiện sự có mặt của tàu ngầm.

Đến tháng 1.1943, các cuộc chạm trán giữa “bầy sói” và các đoàn tàu hàng không còn đem lại kết quả vui vẻ cho người Đức. Một hải đội gồm 5 tàu ngầm vây đánh đoàn tàu HX224 bao gồm 57 chiếc nhưng chỉ đánh đắm được 3 trong khi bị tổn thất mất 2. Tháng 2.1943, 16 tàu ngầm Đức vây đánh đoàn tàu SC118 gồm 63 chiếc trong trận chiến Donitz – lúc này đã được tấn phong Đại đô đốc, gọi là “trận đánh khó khăn nhất trong suốt cuộc chiến”, với kết quả Đức đánh chìm 12 tàu Đồng minh song cũng thiệt hại mất 3 tàu ngầm và 2 tàu khác bị hư hỏng nặng. Đây không phải là tỷ lệ đánh đổi có lợi cho hải quân Đức.

Tháng 5.1943 có thể xem là điểm xoay của cuộc chiến. Ngày 4.5, đoàn tàu ONS5 đi thẳng vào khu vực “bầy sói” kiểm soát. Cuộc đọ súng kéo dài 3 đêm liền, 41 tàu ngầm Đức vây đánh đắm 12 tàu của quân Đồng minh, song đổi lại, họ cũng trả giá bằng 7 tàu ngầm bị đánh chìm và 3 chiếc khác bị hỏng. Ngày 11.5, hải quân Đồng minh chủ động mở đợt tấn công, lần này đoàn tàu HX237 đánh chìm 3 tàu ngầm Đức mà không hề có tổn thất. Trong tháng này, thêm 4 đoàn tàu bị “bầy sói” tấn công, song phía Đồng minh chỉ mất 3 tàu trong khi họ tiêu diệt được 5 tàu ngầm đối phương.


Karl Donitz, Đô đốc hải quân Đức

Chung cuộc, chỉ trong tháng 5.1943, Đức mất đến 41 tàu ngầm và hơn 1.000 thủy thủ đoàn - một tỷ lệ đáng báo động. Nhiều người trong số họ là những sĩ quan kỳ cựu đầy kinh nghiệm, không thể thay thế trong một sáng một chiều. Bản thân con trai vị đô đốc cũng mất mạng chung với chiếc U-954 trong trận đánh đoàn tàu SC130 ngày 19.5. Ngày 24.5, Donitz thú nhận: “Chiến thuật dùng “bầy sói” tấn công các đoàn tàu trên Đại Tây Dương giờ đây không còn hiệu quả”. Ông quyết định rút lượng tàu ngầm còn lại về vùng biển an toàn và chỉ giữ lại một cơ số ít để nghi binh xem như vẫn còn sự hiện diện của “bầy sói” trên Đại Tây Dương. Lúc này, Donitz vẫn chưa tin thắng bại đã phân và cho rằng tàu ngầm Đức cần phải cải tiến thêm kỹ thuật mới cạnh tranh nổi với sự vượt trội của quân Đồng minh. Ông giành được sự ủng hộ để phát triển một thế hệ tàu ngầm mới có tên gọi là Elektroboat, có khả năng hoạt động nhiều tuần liền dưới mặt nước, được trang bị những vũ khí và phương tiện truyền thông ưu việt hơn và đặc biệt là có khả năng tấn công khai hỏa ngay trong lòng biển. Elektroboat được xem là phiên bản đầu tiên của các thế hệ tàu ngầm hiện đại ngày nay.

Tuy nhiên, nước Đức không còn thời gian để triển khai phát minh mới của mình. Tháng 6.1944, quân Đồng minh tiến chiếm Pháp, buộc tàu ngầm Đức ở các hải cảng phải tháo chạy về căn cứ ở Đức hoặc Na Uy. Nhiều tàu Elektroboat bị đánh đắm ngay tại cảng. Một số chạy thoát được, song cơ số quá ít, không đủ để tạo khác biệt để xoay chuyển cuộc chiến. Chiến công cuối cùng được ghi nhận của “bầy sói” là trận đánh từ tháng 6 đến tháng 8.1944 tại biển Normandy. 5 chiến đấu hạm, 12 tàu hàng và 12 tàu đổ bộ của quân Đồng minh bị đánh chìm trong kế hoạch tiến chiếm bờ biển này trong khi phía Đức cũng thiệt hại mất 20 tàu ngầm.

Từ đây, khả năng thủ thắng của “bầy sói” trên Đại Tây Dương được xem là vô vọng. Họ không thể cứu vãn nước Đức. Hồng quân Liên Xô và quân Anh, Mỹ như hai gọng kìm tiến về Berlin từ hai hướng đông, tây. 15 giờ 14 phút ngày 4.5.1945, Donitz lên đài phát thanh kêu gọi đầu hàng. Tất cả tàu ngầm Đức được lệnh treo cờ đen, cập cảng gần nhất của quân Đồng minh để đầu hàng. Tuy nhiên, có đến 7 tàu ngầm cập cảng trung lập và 221 tàu ngầm bỏ trốn.

Nhìn toàn cuộc, 1.155 tàu ngầm Đức được tung vào cuộc chiến, trong đó có 725 chiếc bị đánh chìm. Trong 6 năm, hơn 35.000 thủy thủ Đức lao vào cuộc chiến sống còn trên biển và 28.744 người không bao giờ trở về - tỷ lệ thiệt mạng 82% được xem là cao nhất trong lịch sử chiến tranh hiện đại.

Sự phát triển của tàu ngầm hiện đại


U.S.S George Washington - chiếc tàu ngầm đầu tiên thử nghiệm thành công việc phóng tên lửa từ lòng biển - Ảnh: Aerospaceweb.org

Chiếc tàu ngầm đầu tiên lâm chiến năm 1776 được phát minh vào năm 1773 bởi kỹ sư Mỹ David Bushnell. Tàu này nhỏ, hình quả trứng được chế tạo bằng gỗ và thủy thủ đoàn chỉ có 1 người. Mỗi lần lặn, người thủy thủ này phải dùng tay bơm nước vào trong tàu, và bơm ra mỗi khi muốn trồi lên mặt biển. Nhiều phát minh của Bushnell sau đó được một kỹ sư hàng hải Mỹ khác là Robert Fulton vận dụng để chế tạo thế hệ tàu ngầm Nautilus, được đưa vào vận hành thành công năm 1800 trên sông Seine và tại La Havre khi lặn được đến 6 giờ.

John Holland và Simon Lake được xem là có công phát triển tàu ngầm hiện đại tại Mỹ. Một trong những tàu ngầm Holland phát minh di chuyển trên mặt nước bằng xăng và khi lặn thì sử dụng mô-tơ được vận hành bằng pin. Chiếc tàu này dài 16 mét với thủy thủ đoàn 6 người, có khả năng đạt tốc độ 6 knot (1 knot = 1,852 km/giờ) và năm 1900, nó trở thành tàu ngầm đầu tiên của hải quân Mỹ.

Năm 1912, E-boat – tàu ngầm diesel đầu tiên của Mỹ hạ đốc, dài 41 mét với 23 thủy thủ và là chiếc tàu ngầm đầu tiên vượt Đại Tây Dương thành công. Tàu ngầm tiếp tục phát triển nhanh và được cả hai phe tham chiến đưa vào sử dụng trong Đệ nhất thế chiến. Đầu tiên, người Đức sử dụng loại tàu tải trọng 200 tấn (U-boat), sau đó họ triển khai loại 2.100 tấn được trang bị đến 19 quả ngư lôi trong Đệ nhị thế chiến.

Mẫu tàu ngầm điển hình của hải quân Mỹ ở Đệ nhị thế chiến có trọng tải 1.450 tấn, dài 91 mét với thủy thủ đoàn 55 người. Tàu ngầm này chạy bằng động cơ diesel (khi nổi), đạt tốc độ 17 knot và mô-tơ điện (khi lặn), đạt tốc độ 8 knot. Tàu được trang bị 1 khẩu 76 li, nhiều súng máy và 10 ống phóng ngư lôi 530 li.

Với sự phát triển của năng lượng nguyên tử, tàu ngầm bước qua một thay đổi lớn trong việc vận hành và tấn công. Tàu ngầm hạt nhân được trang bị một lò phản ứng nhiệt hạch truyền động cho turbine. Chiếc tàu ngầm hạt nhân đầu tiên, theo The Columbia Electronic Encyclopedia, là chiếc U.S Nautilus, hạ thủy năm 1954. Tàu hạt nhân có thể đạt tốc độ hơn 30 knot dưới mặt nước, hoạt động sâu dưới biển trong thời gian gần như không giới hạn và có thể đi vòng quanh trái đất không cần trồi lên mặt biển. Năm 1960, chiếc U.S.S George Washington là tàu ngầm đầu tiên bắn hỏa tiễn thành công từ lòng biển. Cũng năm này, chiếc U.S.S Triton trở thành tàu ngầm đầu tiên đi vòng quanh trái đất mà không cần lộ diện trên mặt biển. Việc phát minh ra hệ thống phóng tên lửa dưới lòng biển đã đem lại vai trò rất quan trọng cho tàu ngầm. Vai trò đó không chỉ đơn thuần là việc đánh hạ chiến thuyền đối phương mà với thế hệ tàu ngầm chiến thuật được trang bị tên lửa hành trình (có thể gắn đầu đạn hạt nhân), nó có thể nằm ẩn ở một góc nào đó trên đại dương và tấn công các mục tiêu chiến thuật sâu trong đất liền như tàu ngầm Mỹ đã từng làm ở chiến tranh vùng Vịnh.

Lê Huỳnh Lê
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Tám, 2009, 03:51:59 pm gửi bởi napoleon » Logged

Tôi có thể thất bại một trận đánh, nhưng tôi sẽ chiến thắng cả cuộc chiến tranh. Trí thông minh của con người được tính từ trán tới trời.
Hannoi
Thành viên
*
Bài viết: 108



« Trả lời #9 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2009, 12:19:49 pm »

TRậN HảI CHIếN LớN NHấT LịCH Sử
http://en.wikipedia.org/wiki/Battle_of_Leyte_Gulf

Trận hải chiến lớn nhất lịch sử thế chiến 2 và cũng là trận hải chiến lớn nhất lịch sử thế  kỷ  20 diễn ra ngày 23-26 tháng 10 năm 1944 tại vịnh Leyte của Philippine giữa hải quân đồng minh và Nhật Bản.
Ngày 20 tháng 10, quân Mỹ đã chiếm đảo Leyte như là một phần chiến lược nhằm cô lập Nhật ra khỏi các quốc gia bị Nhật Bản chiếm đóng trong  vùng Đông Nam Á và chia cắt lực lượng Nhật Bản ra khỏi những nguồn cung cấp dầu mỏ chiến lược. Hải quân Nhật Bản đã được huy động hầu như toàn bộ lực lượng có thể có nhằm ngăn chặn cuộc đổ bộ này của quân Đồng Minh bao gồm lực lượng của hạm đội 3 và hạm đội 7 của Mỹ và Úc.
Nhật Bản đã bị thất bại và chịu tổn thất nặng nề. Từ đó trở đi, Nhật Bản không còn khả năng tấn công bằng hải quân nữa. Hầu như tất cả các tầu chiến, tầu chở dầu lớn của Nhật Bản không còn khả năng ra khơi cho đến khi cuộc chiến  kết thúc.
Trận hải chiến trên vịnh Leyte bao gồm bốn trận hải chiến lớn là trận Sibuyan, trận Surigao, trận Cape Engafio và trận Samar. Đây cũng là những trận hải chiến mà lần đầu tiên máy bay Nhật Bản sử dung chiến thuật cảm tử Kamikaze. Xét về tương quan lực lượng tại thời điểm này, Nhật Bản rõ ràng yếu thế hơn cả về số lượng máy bay lẫn về số lượng tầu chiến.

                               Lực lượng tham gia
Liên quân Mỹ + Úc                                              Nhật
8 tấu sân bay hạng nặng                            1 tầu sân bay
8 tầu sân bay hạng nhẹ                                    3 tầu sân bay hạng nhẹ
18 tầu hộ tống                                            9 tầu hộ tống
12 tầu chiến                                           14 tầu chiến
24 tầu tuần dương                                    6 tầu tuần dương hạng nhẹ
141 tầu khu trục                                           35 tầu khu trục
1500 máy bay                                          300 máy bay
Nhiều tầu ngầm, thuyến chiến và tầu hỗ trợ   Rất ít tầu hỗ trợ

                                  Tổn thất
Hơn 1,500 người chết                                 Hơn 10,000 người chết
1 tầu sân bay nhẹ                                1 tầu sân bay nặng + 3 tầu sân bay nhẹ
2 tầu hộ tống                                        3 tầu hộ tống
2 tầu khu trục                                      12 tầu khu trục
1 tuần dương                                        3 tầu tuần dương

 
Logged
Trang: 1 2 3 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM