Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:21:55 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Sấm sét trên Thái Bình Dương  (Đọc 75752 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #80 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2010, 08:48:47 am »

Ngày 12 tháng 11 năm 1943, 14.000 quân nhổ neo từ hải cảng Efaté trong quần đảo Tân-Hébrides. Hai ngày trước đó, các L.S.T chất đầy những máy kéo lội nước mới ra lò từ Hoa Kỳ đến, cũng đã rời Wellington để đến tiếp hợp với lực lượng đổ bộ. Riêng hải đoàn của Đô đốc Hill, từ Trân Châu Cảng, cũng đã lên đường đến điểm hẹn chung được ấn định vào ngày 19 tháng 11 tại phía nam quần đảo Gilbert. Mặc dầu có sự cách trở ban đầu, sự tiếp hợp đã được thực hiện đúng theo thời biểu và hai nhóm hải vận hạm tại Makin và tại Tarawa bắt đầu chuyển quân qua tàu đổ bộ L.C.I đúng thời hạn mong muốn.


Giai đoạn đầu tiên của các cuộc đổ bộ lên bờ biển phải bắt đầu vào bình minh ngày 20 tháng 11 năm 1943 gồm có việc thiết lập ba đầu cầu trên đảo Bétio. Một nằm ngay giữa đảo, hai đầu cầu kia nằm hai bên và cách đều đầu cầu giữa chừng 500 thước.


Đảo Bétio có hình dáng một con két nằm chổng vó dọc theo xích đạo, mà chiếc mỏ hướng về địa cực. Một bến tàu từ rốn con két nhô ra, băng ngang qua hàng rào san hô ngầm thông góc với bờ biển. Các phi đạo của phi trường được thiết lập bên trong sâu một chút, ngay bụng của con chim.


Ba tiểu đoàn tương ứng với 3 đầu cầu phải được đổ bộ lên bờ thành nhiều đợt, trước hết bởi các máy kéo lội nước, tiếp đó và khi nước lên khá cao, bởi các tàu L.C.I và L.C.T.


Ngay từ lúc khởi sự thảm cảnh đã bắt đầu. Sau khi các hải vận bỏ neo trong vùng biển san hô, việc chuyển binh sĩ và chiến cụ được thực hiện không có gì lộn xộn quá, nhưng khi các tàu đổ bộ tập họp tại tuyến xuất phát, chúng liền bị tán loạn vì hoả lực tập trung dày đặc của các giàn súng Nhật trên bờ. Mọi người hoàn toàn bị bất ngờ vì tin rằng chúng đã bị “nghiền ra bột” bởi tác xạ của hải pháo trên thiết giáp hạm. Các khu trục hạm phải tiến vào gần sát bờ mới làm chậm bớt được cơn mưa trái phá rơi xuống các tàu đổ bộ.


Sau cùng, cuộc tập họp trước được dự liệu lúc 7 giờ, nhưng mãi đến 9 giờ mới có thể thực hiện được và khi đợt thứ nhất đến được hàng rào đá ngầm, một hoả lực ác liệt chờ đón họ. Thuỷ triều đã xuống thấp và các máy kéo còn chạy được phải vất vả lắm mới vượt qua được. Các binh sĩ mang quá nặng phải nhảy xuống cách bãi biển rất xa, và trong cuộc đi bộ kiệt sức của họ, sáu trăm người đã bị giết hoặc bị thương. Những người lọt lưới được liền chạy tán loạn, tìm cách thoát hiểm trong các thế đất gồ ghề hiếm hoi. Nhiều máy kéo lội nước, cực nhọc rút ra để quay trở lại chở đợt thứ hai, phải chất đầy người bị thương. Nhiều thương binh còn mắc trên hàng rào đá ngầm và các binh sĩ vùng vẫy trong nước tập họp lại để ẩn núp sau đó. Đến 10 giờ, rốt cuộc chừng vài trăm binh sĩ đã đặt được chân lên bãi biển nhưng các đơn vị thì hoàn toàn tan rã. Binh sĩ không tìm thấy được sĩ quan của mình và không chịu tuân hành mệnh lệnh triệt để. Bị kẹt cứng trong các hố cá nhân, cách chiến luỹ bằng thân cây viền theo bờ biển có vài thước, họ nghe tiếng đạn rít trên đầu do các xạ thủ mai phục đằng sau móng đá của bến tàu nhắm bắn và không dám thò mũi ra ngoài. Không một điều tiên liệu nguyên thuỷ nào được thể hiện. Cả Đại tá Shoup lẫn đại đội chỉ huy của ông đều không ai đặt chân lên bờ được. Sáng kiến nằm trong tay các trung đội trưởng. Gần như tất cả trung đội trưởng đều đã kháng cự với sự can đảm tuyệt diệu và chính một người trong số đó đã cứu vãn tạm thời tình thế.


Toán tiền sát viên của trung uý Hawkins và trung sĩ Price bám chặt được vào móng của bến tàu. Hiểu rõ nguy cơ giết người mà quân đổ bộ phải lãnh đủ do đạn tác xạ cạnh sườn của các xạ thủ đại liên Nhật Bản đang mai phục trong các bờ đá của chân móng bến tàu, Hawkins gọi tên từng người một, tập họp một số đông nhất binh sĩ thuộc quyền, rồi dẫn họ nhào lên vừa xung phong vừa thét: “Phải tiến đến đó!”.


Sau một trận cận chiến kinh hồn, các binh sĩ tiền sát của Hawkins quét sạch được tất cả các cổ đại liên mà binh sĩ Nhật tiếp tục bắn cho đến phút chót. Chắc chắn là hệ thống liên lạc với Đô đốc Shibasaki đã bị hư hại do cuộc hải pháo của các khu trục hạm lúc đó đạt đến cường độ mãnh liệt, bởi vì không có một thuộc viên nào của ông ta có sáng kiến phản công quân Mỹ. Dầu sao chăng nữa, bến tàu rốt cuộc đã được giải toả. Nhưng quân đổ bộ đã không thể sử dụng được vì quân NHật, nấp trên ngọn dừa tưới đạn xuống đấy không ngừng nghỉ, tuy vậy, các tàu L.C.T đã có thể cặp vào bến bằng cách nấp vào sau các bờ đá của con đê chặn sóng, và vài chiến xa nhẹ còn chạy được vào cả trong đất liền.


Đến trưa, Đại tá Shoup đổ bộ và lập ban chỉ huy trên chiếc mái sụp đổ của một lô cốt lớn bị đối phương bỏ lại. Chỗ này, đầu cầu đổ bộ có chiều sâu 20 thước. Khi bóng đêm phủ xuống, ông thấy đằng sau mình cả một đoàn máy ủi và tàu đổ bộ vĩ đại đủ mọi kiểu. Gần như tất cả đều cặp được vào đầu con đê chặn sóng. Binh sĩ bắt đầu tiến lên theo hàng dọc, hoặc bò theo đường dẫn ra bến tàu hoặc ẩn nấp bên dưới nó. Khi đêm tối hoàn toàn, Shoup nhận được tin mừng đầu tiên trong ngày, một đại đội của ông đã cặp được vào bờ rất xa về phía tây-trên chiếc mỏ của con két-tại một địa điểm mà sự phòng thủ của Nhật không đáng kể. Đại đội tiến về phía đông gần 500 thước và nối kết được với những toán quân nhỏ lạc lõng trong vùng kế cận.


Khi được thông báo về tình hình của binh sĩ đổ bộ-nghĩa là vào lúc đêm đã rất khuya-thiếu tướng Julian Smith gửi cho Shoup một điện văn vắn tắt: “Chuẩn bị tấn công khi trời vừa sáng. Tôi sẽ gửi cho anh hai tiểu đoàn tăng viện”.


Mặc dầu thuỷ quân lục chiến không hề được nghỉ ngơi từ lúc 6 giờ sáng, không một ai có thể có lấy mọt phút nghỉ mệt. Không những họ bị cuốn hút vào công cuộc chuẩn bị tấn công vào sáng ngày hôm sau, mà ánh sáng của hoả châu, tiếng úng liên miên của các chiến hạm và mùi hôi thối dễ sợ bốc ra từ các xác chết mà khi thuỷ triều rút xuống, nằm phơi đầy bãi biển, tất cả những thứ đó không thể nào thích nghi cho giấc ngủ được.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #81 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2010, 08:49:33 am »

Đến sáng, hai tiểu đoàn tăng viện đến, Shoup ra lệnh tấn công. Các binh sĩ dồn cục sau bộ chỉ huy của ông ra khỏi chiến luỹ, được các phi cơ của thuỷ quân lục chiến đâm xuống sát mặt đất tác xạ “straffing” liên tục. Nhưng hoả lực của quân Nhật trong các lô cốt còn dày đặc hơn hôm qua. Bất chấp lựu đạn được phóng qua các kẽ hở của thân cây và súng phun lửa, quân Nhật tiếp tục bắn. Sau một giờ nỗ lực ngoài sức người, Shoup phải chấp nhận một sự thực hiển nhiên: cuộc phản công bị bảy gãy từ trong trứng nước. Phần lớn sĩ quan của ông bị chết hoặc bị thương. Hawkins, viên sĩ quan từng thực hiện chuyện phi trường với nhóm tiền sát viên của mình bị một mảnh đạn trái phá vào chân và ba mảnh vào vai. Mặc dầu anh từ chối không chịu cho di tản, Price phải lên thay anh nắm quyền chỉ huy… Shoup điện thoại cho Julian Smith báo rằng ông không còn làm chủ được tình hình. Ông thiếu tướng trả lời: “Ráng giữ vững vài giờ nữa, tôi sẽ gửi trung đoàn 6 đến cho anh”.


Trung đoàn này là đơn vị trừ bị chót của toàn diện cuộc hành quân đổ bộ. Trung tướng Holland Smith đã giữ nó lại để dự phòng trường hợp cuộc đánh chiếm Makin gặp khó khăn. Thế mà phản ứng tại Makin không đáng kể và vì đội quân trú phòng Nhật không qua 400 người hòn đảo ấy đã bị chiếm đóng từ sáng. Tổn thất duy nhất của hải lực đổ bộ tại đó là một mẫu hạm hộ tống, chiếc Liscomb Bay, rủi ro bị một tàu ngầm Nhật phóng thuỷ lôi đánh chìm. Turner và Holland Smith từ lâu tin tưởng rằng sự việc tại Bétio cũng dễ dàng như thế, nên khi nhận được hung tin, họ mở hết tốc độ chạy về Tarawa.


Lời hứa sắp đưa trung đoàn 6 đến tăng viện chắc chắn đã làm yên tâm những binh sĩ cố thủ ba đầu cầu đổ bộ tại Bétio, nhưng phải giữ vững vài giờ và không một ai biết có thể làm được việc này hay không. Binh sĩ của Shibasaki chiến đấu với một sức mạnh hung tàn. Chắc chắn lúc ấy vị Đô đốc Nhật đang có mặt bên cạnh binh sĩ của ông ta, ngay giữa lòng cuộc chiến, chuẩn bị phản công để hất quân Mỹ ra biển. Tổn thất của quân Mỹ lên đến mức dễ sợ. Xác chết xếp thành đống chung quanh đầu cầu đổ bộ. Các khẩu trọng pháo phải được vác đến sát lô cốt để bắn vào các lỗ châu mai, vì chúng không gây hiệu quả gì trên các thân cây bằng gỗ hay cây dừa được khôn ngoan nối kết với nhau bằng các mấu thép. Từ các thân cây còn đứng vững, những xạ thủ ưu tú Nhật, bắn hạ từng binh sĩ Mỹ lộ liễu với mức độ chính xác không chê được. Các sĩ quan than phiền với Shoup là những thành phần binh sĩ ưu tú của họ đã bị giết và những người khác bắt đầu mất can đảm. ”Các anh chỉ cần bảo: ai muốn theo tôi?”. Shoup trả lời. “Nếu có 10 người theo, các anh nên cho là đã sung sướng. Ít thật đấy, nhưng còn hơn không có ai!”.


Đến 13 giờ, mùi hôi thúi của xác chết nồng nặc đến nỗi các binh sĩ khiêng cáng phải dìm xác xuống nước. Trung uý Hawkins đáng thương, ngất ngư, phải được di tản bằng một cái bè cao su. Năm trong sáu sĩ quan thuộc tiểu đoàn lập đầu cầu chính giữa đã bị giết… Rõ ràng là binh sĩ đã chịu đựng đến cùng. Shoup đi từ đại đội này đến đại đội kia xác định rằng-mà không tin chắc lắm-quân tăng viện sắp đến.


Nửa giờ trôi qua… một thế kỷ! Shoup thấy trước tai biến toàn diện. Nhưng đột nhiên ông nghe đàng sau một thứ xì xầm bắt ông phải quay lại: vùng san hô bao phủ những chấm đen và những tua bọt sóng. Đấy là các tàu đổ bộ quân trừ bị đang lao vào các bờ biển với tất cả sức mạnh của động. Cùng lúc đó một đám mây oanh tạc cơ đâm bổ tràn ngập trên các công sự phòng thủ của Nhật. Hầu hết các tàu chờ quân đổ bộ ủi vào bờ vô sự.


Hai giờ sau, gần 1000 chiến binh mới và khoẻ khoắn được đưa lên bờ cùng với chiến xa nhẹ, pháo binh và các cấp chỉ huy. Cuộc phản công mà ai cũng sợ, đã không xảy ra. Chắc Đô đốc Shibasaki phải vùi thây dưới đống đổ nát của một hầm trú ẩn nào đó bởi vì một vẻ hoang mang đang bộc lộ bên phía quân Nhật.


Nhiều xe Jeep bắt đầu chạy dọc theo chân thành luỹ. Đầu cầu bên trái đột nhiên mở rộng được gần 100 thước. Ngọn gió chiến thắng kích thích lại tinh thần can đảm của các đại đội bị khốn khổ nhất. Chiến trường bị một lớp khói bao phủ càng dày đặc hơn vì giờ đây còn có thêm khói từ các đám cháy bốc lên từ các hầm trú ẩn. Chiến binh Nhật đều tự để cho bị thiêu sống tại chỗ hơn là đầu hàng. Không có một tù binh nào… Chỉ có những xác chết cháy thành than và các thân người nát bét bị bom giết chết và hất từ ngọn cây dừa xuống đất. Cùng với bóng đêm, tiếng huyên náo giảm dần. Chiến thắng của thuỷ quân lục chiến giờ đây đã được đảm bảo. Tên Tarawa đã đi vào lịch sử, làm lu mờ một cách rất bất công địa danh Bétio, nhưng cần gì! Một sự thất bại có thể đưa lại nhiều hậu quả đáng sợ vừa tránh được trong gang tấc.


Ngày 22 tháng 11 năm 1943 còn được đánh dấu bằng các trận đánh gay go vì các pháo đài sau cùng của Nhật, mặc dầu bị tràn ngập bởi cả một làn tuyết băng toàn xe tăng, pháo binh và binh sĩ, vẫn tiếp tục chiến đấu đến cùng. Trong tổng số 4.500 quân trú phòng, người ta chỉ tìm thấy còn có 400 công nhân Cao Ly là còn sống. Nhưng trung đoàn 2 thuỷ quân lục chiến phải trả giá đắt cho chiến công này. Trong 48 giờ, toàn diện lực lượng binh sĩ đổ bộ đã bị tổn thất 3.300 chết, bị thương hoặc mất tích, bằng số tổn thất tại Guadalcanal trong sáu tháng…


Khi ký giả Robert Sherrod, người cùng đổ bộ với thuỷ quân lục chiến và theo dõi trận đánh tại tuyến đầu, đến hỏi đại tá Shoup phép lạ đã diễn ra như thế nào, người anh hùng của Bétio trả lời bằng câu đơn giản sau: “Người ta yêu cầu chúng tôi giữ vững, và, lạy chúa, chúng tôi đã giữ vững!”.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #82 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2010, 08:51:01 am »

Số phận bị thúc giục

Cuộc tấn công vào Bétio quá đắt giá. Nhiều đơn vị ưu tú bị tàn sát, nhiều tàu đổ quân và xe lội nước bị tiêu huỷ. Nhưng các bài học rút ra được từ cuộc tấn công vào một tiểu đảo được phòng thủ kiên cố ấy đều vô giá cho nỗ lực tiếp tục tấn công. Cuộc đánh chiếm quần đảo Gilbert chỉ là bước đầu để tiến lên quần đảo Marshall, nơi có các đảo lớn có thể đưa cả hạm đội vào trú ẩn, và là nơi quân Nhật có năm hoặc sáu phi trường. Biết rằng chúng được phòng thủ chặt chẽ Nimitz muốn tấn công ngay để lợi dụng sự bối rối gây ra cho địch sau cuộc xung phong vào Bétio. Nhưng tám ngày oanh tạc và hải pháo liên tục đã không đủ giảm thiểu hệ thống phòng thủ của tiểu đảo san hô Bétio, thì phải cả tháng oanh kích như thế mới vô hiệu hoá được hệ thống phòng thủ trên các đảo lớn thuộc quần đảo Marshall. Hơn nữa, lực lượng chuyển quân đổ bộ của Turner cần phải được bổ chính lại và Spruance lai muốn chờ bốn mẫu hạm mới và hai thiết giáp hạm sắp từ Mỹ đến.


Địch quân làm gì trong thời gian đó? Họ có toan tính mở cuộc hành quân lớn đánh quần đảo Gilbert để khiêu khích hạm đội của Spruance không?

Nimitz không biết gì cả và phải tiên liệu một viễn ảnh như vậy. Do đó ông đặt hạm đội này trong tìng trạng báo động trong suốt tháng 12 năm 1943, bắt hạm đội thực hiện các cuộc oanh tạc trên các đảo Kwajalein và các cuộc tuần thám trên hải cảng Truk và trên quần đảo Mariannes.


Song song với các hoạt động này, Uỷ ban tham mưu hỗn hợp cho phép Mac Arthur đổ bộ lên mũi Gloucester về phía cực tây của Tân-Bretagne. Quân Nhật đã thiết lập một phi trường tại đó để giúp họ ngăn cản mọi sự di chuyển trên hai eo biển Vitraz và Dampier mà lực lượng hải quân chuyển vận đổ bộ khó khăn nên ông đòi hỏi và được sự hỗ trợ của sư đoàn 1 thuỷ quân lục chiến mới được thành lập lại sau những thử thách gay go tại Guadalcannal. Sư đoàn này, với thêm 2.500 bộ binh tăng viện, đổ bộ lên mũi Gloucester ngày 26 tháng 9. Chừng 6.000 hay 7.000 quân Nhật bảo vệ phi trường bị đánh hoàn toàn bất ngờ phải rút lui vào rừng già kế cận mà các điều kiện còn tệ hơn cả ở Guadalcannal. Bệnh kiết lỵ, thương hàn và sốt rét tạo ra nhêìu nạn nhân hơn là súng đạn trong 15 ngày đụng độ sau đó. Tuy vậy, ngày 16 tháng 1 năm 1944, một chu vi phòng thủ kiên cố đã được thiết lập quanh phi trường, nên Mac Arthur đã có thể bắt đầu kế hoạch tiến quân bằng các bước nhảy ếch dọc theo xương sống đảo Tân-Guinée.


Lo âu vì sự khởi đầu các hoạt động bất ngờ này tại phía tây nam, Koga trở về Đông Kinh để thảo luận về chiến lược phòng thủ mà từ nay ông đành phải chấp nhận. Ông đã quyết định rằng chi vi Đại Đông Á sẽ được giới hạn về phía đông bằng một phòng tuyến mới chạy qua các quần đảo Mariannes, Truk và Biak và các cứ điểm tiền phương trên quần đảo Marshall sẽ được tăng viện tối đa bằng các phi cơ còn sót lại tại Rabaul, đoạn bỏ mặc chúng. Phòng tuyến mới sẽ được bảo vệ quyết liệt không chấp nhận một ý tưởng rút lui nào và nếu hải lực Mỹ mạo hiểm vượt qua, hạm đội liên hợp còn nguyên vẹn có thể tung ra trận quyết định mà từ hai năm nay không lúc nào ngừng chuẩn bị. Nhưng còn phải làm thế nào cho các không đoàn thuộc các mẫu hạm bị tiêu diệt tại Rabaul và tại Bougainville được bô sung ngay lập tức.


Koga được hứa rằng các nhu cầu về phi cơ và phi công sẽ được ưu tiên thoả mãn, ông cũng đã yêu cầu cho tạm thời rút các mẫu hạm lui về Tân Gia Ba và về quần đảo Mã Lai, nơi chúng có thể được tiếp nhiên liệu và huấn luyện các phi công mới khi nào họ dần đần được đến. Song song với cuộc rút lui chiến lược này, Koga đã được thượng cấp chấp thuận một kế hoạch cải tổ hạm đội liên hợp căn cứ trên những nguyên tắc mới mẻ. Các đại thiết giáp hạm Musachi, Yamato và chiếc Nagato1 (Không mạnh bằng các chiếc kia, Nagato là một thiết giáp hạm 35.000 tấn, võ trang 8 đại bác 360 ly hoàn toàn được canh tân) cũng như hai thiết giáp hạm cũ, Kongo và Haruna, sẽ được sử dụng để che chở cho các mẫu hạm sẽ là vũ khí phòng vệ chính yếu. Về mặt cơ cấu, hạm đội liên hợp được chia làm hai hạm đội: hạm đội thứ nhất gồm có ba đoàn mẫu hạm tổng cộng 9 mẫu hạm, và 15 khu trục hạm hộ tống; hạm đội thứ hai gồm có năm thiết giáp hạm phân làm hai hải đội và mười tuần dương hạm nặng phân thành ba hải đội.


Phó Đô đốc Ozawa, người đã chỉ huy với sự thành công, ai cũng biết, cuộc xâm chiếm Sumatra và Java, lãnh quyền chỉ huy hạm đội mẫu hạm được mệnh danh là “Hạm đội lưu động số 1”. Hạm đội thiết giáp được giao cho phó Đô đốc Kurita, chiến sĩ kỳ cựu tại Midway và tại Guadalcanal, Ugaki, cựu tham mưu trưởng của Yamamoto, sống sót nhờ phép lạ sau cuộc phục kích tại Bougainville, nắm quyền chỉ huy lực lượng thiết giáp hạm khổng lồ.


Một quyết định chiến lược khác bổ túc cho các sự sắp xếp bố trí trên: không lực số 1 của hải quân mà quyền chỉ huy vừa được giao cho Phó Đô đốc Kakuta (phi công kỳ cựu, nguyên chỉ huy trưởng không lực số 2 của các mẫu hạm) sẽ được phân phối cho các căn cứ trên đất liền rải dọc theo chu vi phòng thủ mới từ Iwo Jima cho đến Kiak (Tân Guinée) ngang qua quần đảo Mariannes và tiểu quần đảo Palaos. Kakuta, với chừng 1.500 phi cơ trong tay, đặt ban chỉ huy tại Tinian, thuộc quần đảo Mariannes.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #83 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2010, 08:51:58 am »

Tất cả các biện pháp ấy không phải đã được Tổng hành dinh Thiên hoàng chấp thuận dễ dàng. Những giới chức cao cấp sống trong tháp ngà cách xa chiến trường hàng ngàn cây số ấy, khó chấp nhận rằng Nhật Bản phải rút lại thế phòng thủ trong khi còn có cả một hạm đội nguyên vẹn và một đạo quân đang bành trướng-thêm vào đặc tính này, còn là một đạo quân quen chiến đấu thắng lợi trong thế một chống mười. Phải cần cả một sức mạnh thuyết phục của vị tư lệnh hạm đội liên hợp, mới lấy được quyết định. Trong các cuộc bàn cãi, ông không ngừng bị Tojo đương đầu vì cho rằng hải quân đã bi quan quá đáng. Tojo còn đi xa đến mức đòi hỏi cho bộ binh Nhật “vinh dự đảm bảo công cuộc phòng thủ quần đảo Mariannes” mà ông ta tin là có thể biến tất cả các đảo thành “những thành trì không thể bị chiếm được”. Koga nhận sự cung hiến này với tất cả lịch sử nhưng cương quyết giữ vững lập trường. Đó là một con người có vóc dáng cao lớn, nét mặt khắc khổ, mà vẻ Á châu chỉ lưu lại vết tích bằng đường nhăn mờ trên hai hàng lông mày. Được nhào nặn trong các truyền thống hải quân kỳ cựu, ông cũng có cùng tâm trí công kích như vị tiền nhiệm của ông. Ông có cái nhìn rất sáng suốt về tình hình tổng quát và là một trong các lãnh tụ duy nhất của Nhật có thể đối phó với tình thế trầm trọng. Tính cách cương nghị trong thái độ của ông, tính cách sáng suốt trong sự trình bày của ông, và tính cách táo bạo trong các giải pháp đề nghị của ông, đã khiến cho những người chống đối phải nghe theo ông. Khi ông rời Đông Kinh để trở lại Truk, ông được Tổng hành di Thiên hoàng ban cấp cho toàn quyền.


Trong tháng giêng năm 1944, Koga làm việc liên miên với viên tham mưu trưởng của ông, Đề đốc Fukudomé, để xây dựng chi tiết của cơ cấu tổ chức mới. Ngay từ cuối tháng giêng, tin tức đã được đưa đến cho biết rằng quần đảo Marshall phải chịu đựng các cuộc oanh tạc ngày đêm bởi các phi cơ của mẫu hạm địch mà theo các quan sát viên, số lượng không ít hơn 12 chiếc! Koga lập tức gửi những phi cơ sau cùng của ông đến tiếp cứu. Đã có lúc ông ngần ngại muốn gửi một nhóm tuần dương hạm đến cứu viện quân trú phòng trên quần đảo Marshall, nhưng rồi ông rút lui ngay ý định trước mối đe doạ có thể bị tàn sát hết. Ngày 3 tháng 2, ông cho nhổ neo các thiết giáp hạm Yamato và Nagato đến Palaos và chiếc Mushashi trở về Nhật để thực hiện các sửa chữa khẩn cấp. Vì năm tuần dương hạm bị hư hại quá nặng trong các cuộc oanh tạc tại Rabaul cũng đang còn ở Nhật, cho nên các chiến hạm của hạm đội liên hợp trong vài tháng tới sẽ bị phân tán nguy hiểm. Nhưng Koga không tưởng tượng được rằng hạm đội Mỹ, tham dự trong hiện trạng vào các cuộc tấn công lên quần đảo Marshall, lại có thể bắt đầu các cuộc tấn công mới trước thời hạn vài tháng này. Hơn nữa, ông còn có gì để chọn lựa. Ông phải chờ đợi cho các chiến hạm được sửa chữa và các phi cơ mới chế tạo được đưa đến.


Ưu tư chính yếu của Koga kể từ khi lên nắm quyền tư lệnh là tái lập các không đoàn. Hơn 7.000 phi cơ và bằng chừng đó phi công đã bị tiêu diệt trong trận chiến tại quần đảo Salomon-hai lần lớn hơn tổng số phi cơ và phi công của Nhật lúc chiến tranh mới phát động. Kỹ nghệ hàng không, vốn chỉ có thể sản xuất trong thời gian ấy là 400 phi cơ mỗi tháng, nên không thể nào bù đắp được cho tình trạng bị xuất huyết ấy, bởi vì số lượng phi cơ bị lục quân trích ra từ đó để cung ứng cho chiến trường Trung Hoa và Miến Điện đã làm giảm phần cung cấp yếu kém hàng tháng cho hải quân xuống còn một nửa. Nói về mặt phi công thì tình hình không khá hơn. Phẩm chất của hoa tiêu giảm sút từng tháng một. Sự thiếu hụt tàu bè vận tải đã làm chậm trễ việc chuyển giao phi cơ, những phi công trẻ mới được đào tạo ở Nhật được giao cho nhiệm vụ lái phi cơ vừa mới ra lò đưa đến các căn cứ trên Thái Bình Dương, vì thiếu kinh nghiệm nên các tổn thất gây nên bởi những sai lầm trong kỹ thuật phi hành đã lên đến mức báo động. Một nỗ lực vĩ đại đang xúc tiến tại chính quốc để sửa chữa cho các lầm lỗi này nhưng các nỗ lực ấy không thể nào đạt được hiệu quả toàn diện trước năm hay sáu tháng nữa. Vậy thì bổn phận của Koga là giữ cho hải đoàn hàng không mẫu hạm còn nguyên vẹn cho đến ngày ấy. Căn cứ vào những tổn thất nặng nề, mà quân Mỹ phải chịu đựng vè chiến hạm đủ mọi loại và nhất là về hàng không mẫu hạm trong thời kỳ chiến trận tại Salomon, ông có lý do vững chắc để nghĩ rằng họ sẽ không thắng được trong cuộc chạy đua tốc độ.


Koga, cũng không hơn gì bất cứ đại lãnh tụ nào của Nhật, lúc đó không có được một ý niệm chính xác về khả năng vĩ đại của kỹ nghệ Mỹ. Nhiều biến cố sẽ mau lẹ làm ông mở mắt.

Ngày 29 tháng giêng năm 1944, lực lượng đặc nhiệm của mẫu hạm do Đề đốc Mitscher chỉ huy, vị cựu hạm trưởng mẫu hạm Hornet trong vụ oanh tạc Đông Kinh, vốn là một phi công sáng chói của không lực hải quân Mỹ, bắt đầu tham chiến tại khu vực miền Trung Thái Bình Dương. Lực lượng được cấu tạo do hai mẫu hạm kỳ cựu của chiến trận tại Salomon, chiếc Enterprise và chiếc Saratoga, bốn mẫu hạm cùng loại với mẫu hạm Essex và sáu mẫu hạm nhẹ cùng loại với chiếc Independence. Hai thiết giáp hạm tối tân và nhiều tuần dương hạm che chở cho lực lượng về mặt phòng không.


Vừa thực hiện các cuộc oanh tạc ngoạn mục trên các phi trường tại Marshall, các phi cơ tuần tiễu của Mitscher bay trên Truk gần như hàng ngày trong tuần lễ đầu tiên của tháng 2. Những nỗ lực anh hùng của vài khu trục cơ Nhật còn sử dụng được trong quần đảo Carolines, hoàn toàn trở nên bất lực trong việc ngăn chặn phi cơ tuần thám Mỹ. Lần này, Koga phải nhận chân một sự thực hiển nhiên: hải quân Nhật đã mất quyền làm chủ bầu trời trên các căn cứ chính yếu trong Thái Bình Dương. Lập tức ông quyết định rút bộ tư lệnh về Palaos và mang theo ông các tuần dương hạm cuối cùng ngoại trừ một chiếc ở lại với bốn khu trục hạm để đảm bảo các sứ mạng tuần thám.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #84 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2010, 08:52:33 am »

Quần đảo Palaos tuyệt đẹp đối với Koga là cả một hải cảng mỹ miều sau khi rời bỏ địa ngục Truk. Nhưng khi vừa mới đến, bộ tham mưu bị một làn sóng hung tin nhận chìm: một lực lượng chuyện vận thuỷ bộ hùng mạnh chở 41.000 người và các máy móc đổ bộ được cải thiện, ào ạt xuyên nhập vùng biển san hô Kwajalein, tràn ngập hệ thống bố  phòng của Nhật và trong ba ngày, lấy được các phi trường chính. Bất kể sự chiến đấu hăng say của quân trú phòng mà mọi điểm đều xứng đáng giống như các binh sĩ tại Bétio, không có gì có thể cưỡng lại được cơn hồng thuỷ máy kéo lội nước bọc sắt kiểu mới, chiến xa xung kích, pháo binh và bộ binh đang tấn công lên các đảo này. Ngày 7 tháng 2, đảo Kwajalein, đảo quan trọng nhất do vị trí nằm ngay lối ra vào phía nam của vùng biển san hô mênh mông cùng mang tên như nó, hoàn toàn lọt vào tay quân Mỹ và 6.000 quân trú phòng Nhật Bản bị tiêu diệt. Hai dải cát Roi và Namur trấn giữ các lối ra vào phía bắc vùng biển san hô Kawajalein cũng bị thất thủ. Các phi cơ Mỹ từ Bétio đến, liền đặt căn cứ trên các phi trường, và nhờ ưu thế áp đảo về số lượng đã vô hiệu hoá tất cả hệ thống phòng không của Nhật tại quần đảo Marshall. Không quan tâm đến các đảo Laluit, Mili và Wotje mà đạo quân trú phòng mạnh mẽ hơn cả, các Đô đốc Mỹ lập tức tổ chức bất thần một cuộc đổ bộ lên Einwetok, đảo san hô nằm ở vị trí xa nhất về phía bắc của quần đảo Marshall. Nắm giữ vọng canh tiền phương này, quân Mỹ không phải chỉ làm sây sát chu vi Đại Đông Á, mà thật ra trong chốc lát họ mở một kẽ hở rộng 2.500 cây số.


Cùng ngày đánh chiếm Eniwetok, hai lực lượng đặc nhiệm Mỹ tổng cộng 12 mẫu hạm lao vào căn cứ hải quân Truk với hy vọng bắt gặp bất chợp hạm đội liên hợp đang bỏ nào tại đấy. Nhưng lần này chiếc lồng trống trơn. Các biện pháp phân tán của Koga đã tránh cho hải quân Nhật một Aboukir thứ hai. Tuy nhiên cuộc oanh tạc xuống Truk không kém phần thảm khốc cho quân Nhật: nó kéo theo tổn thất 200.000 tấn thương thuyền và 275 phi cơ, không nói đến một tuần dương hạm và bốn khu trục hạm bị đuổi kịp ngoài khơi trong khi chúng ra sức chạy trốn. Hơn thế nữa tất cả mọi cơ sở thuộc hải cảng Truk đều bị tiêu diệt.


Thực tại đã vượt quá xa những dự kiến đen tối nhất của Đô đốc Koga. Từ nay ông đã thua trong cuộc chạy đua tốc độ với người Mỹ. Không bao giờ các không đoàn lẫn hạm đội mẫu hạm của ông còn có thể sẵn sàng đúng lúc để đương đầu với lợi thế, trước các lực lượng hải quân kinh khủng của địch nữa. Trước tầm rộng lớn của thảm hoạ, ông phải lấy một quyết định đau đớn là rút lui thêm một lần nữa. Quần đảo nhỏ Palaos không cung ứng các lợi điểm giống như pháo đài vững chắc Truk. Vị tổng tư lệnh hạm đội liên hợp không chịu bỏ rơi nó để tập trung chủ lực vào biển Phi Luật Tân và biển Célèbes kế cận khu vực dầu hoả Bornéo. Tin loan báo về một thảm hoạ mới đã xác tín thêm quyết định của ông: thật vậy, đạo quân của Mac Arthur vốn không ngừng tiến ngược lên theo xương sống đảo Tân-Guinée, vừa đổ bộ lên quần đảo Amirauté từ đó đe doạ pháo đài Biak vốn là chốt cực nam của vòng đai chu vi phòng thủ Đại Đông Á.


Thấy rằng chính căn cứ Palaos cũng không còn là nơi ẩn nấp các cuộc oanh tạc của Mỹ, Koga quyết định rút lui bản doanh của ông về Davao trong đảo Mindanao thuộc Phi Luật Tân.


Ngày 31 tháng 3 năm 1944, hai thuỷ phi cơ bốn máy cất cánh khỏi vùng biển Korok thuộc quần đảo Palaos. Trên chiếc thứ nhất có Đô đốc Koga với hai sĩ quan tuỳ viên, Đề đốc Fukudomé, tham mưu trưởng, bay trong chiếc thứ hai với người phụ tá và các thư ký. Hai phi cơ nhắm đến vùng biển Davao nơi vị Tổng tư lệnh hạm đội liên hợp sẽ thiết lập tổng hành dinh mới, trong một giờ đầu tiên chúng được các khu trục cơ của căn cứ Korok hộ tống, rồi tiếp tục đường bay không có hộ tống hướng đến Phi Luật Tân với chỉ hai giờ bay. Gần như ngay sau đó, hai chiếc thuỷ phi cơ gặp một cơn giông và lúc bay vào mây, không trông thấy nhau nữa.


Tại Davao, Đô đốc chỉ huy trưởng căn cứ được bí mật thông báo vị tổng tư lệnh sẽ đến nhưng không có thời biểu chính xác, vì thế ông không thực hiện các biện pháp báo động nào khác trước khi trời tối. Nhưng đêm tối trải qua mà vẫn không có tin tức gì, Đô đốc liền báo động cho các cứ điểm trinh sát tại Phi Luật Tân. Sáng ngày 1 tháng 4, ông được biết một phi cơ bốn máy bị hạ trên đảo Cébu ngay giữa đêm tối trong lúc nó cố gắng đáp dọc theo bờ biển. Một đoàn quân thám sát được gửi đến tận nơi. Xác chiếc thuỷ phi cơ được tìm thấy trong rừng sâu, riêng phần các hành khách, tất cả đều bị thương nặng thì bị người bản xứ mang vào trong rừng. Phải mất hai ngày săn đuổi mới giải thoát được. Mặc dầu bị thương, Đề đốc Fukudomé được đưa về Davao, tại đó ông đã kể lại cuộc phiêu lưu của mình1 (Bị dân bản xứ bắt, Fukudomé bị giao cho một toán hướng đạo Phi Luật Tân mà lãnh tụ-một người Mỹ-vừa rơi vào tay quân Nhật. Không biết đang giữ trong tay một nhân vật quan trọng như thế nào, các người hướng đạo đề nghị đánh đổi lấy vị chỉ huy của họ. Đó là một trong các cuộc thương lượng độc nhất kiểu này trong suốt cuộc chiến trên Thái Bình Dương). Phi cơ của ông bay vào trong một trận cuồng phong nhiệt đới kinh khủng, nhưng nhờ kinh nghiệm già dặn của một phi công, ông thoát ra khỏi được trong gang tấc bằng cách bẻ lái về phía nam bay sát mặt biển. Hành động này đưa ông lạc quá xa trục bay khiến cho xăng cạn dần và phải đáp tai hại xuống đảo Cébu. Rất có thể là Đô đốc Koga không có may mắn tương tự và có thể phi cơ ông bị rơi ngoài khơi, vì không bao giờ còn nghe ai nói đến ông nữa.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #85 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2010, 08:54:00 am »

Kế hoạch A-Go

Tháng 4, tháng 5 năm 1944. Trên đổ biểu tổ chức vĩ đại của uỷ ban tham mưu hỗn hợp, các hàng cột tương ứng với những tháng ngày định mệnh này, nổi bật lên trong một màu xám vì chống chất vô vàn con số, các yếu tố biến đổi, các ước tính. Tất cả mọi sự việc ở đấy đều lệ thuộc vào cuộc hành quân Overlord, cuộc đổ bộ vĩ đại tại Normandie vốn sẽ phải quyết định số phận của cuộc chiến tranh tại Âu Châu. Trong các sự dự liệu cũ về chiến trường Thái Bình Dương, thì sự chiếm đóng bảy đảo san hô Mili, Jalut, Majuro, Maloelap, Wotffe, Kwajalien và Eniwetok sẽ kéo dài 2 tháng. Bình thường thì nó phải chấm dứt vào tháng 4 và 1 tháng nghỉ ngơi đã được xem là cần thiết trước khi mở cuộc tấn công tiếp.


Cuộc tiến quân thần tốc của Nimitz đã làm xáo trộn các tiên liệu này. Đại quân đảo Marshall đã bị vô hiệu hoá ngày 15 tháng 3 và căn cứ Truk bị tiêu diệt. Lực lượng của Spruance chỉ bị các tổn thất không đáng kể, không có gì ngăn trở một đợt tiến quân mới nếu kế hoạch cho phép thay đổi thời biểu. Nhưng không thể được. Giống như một chuyến xe lửa tốc hành đã phóng trên đường ray, guồng máy chiến tranh khổng lồ của Mỹ phục vụ cho một số quá đông người thụ hưởng đến nỗi không thể nào thay đổi gì được nơi nó. Gia dĩ kế hoạch tấn công lên quần đảo Marianné đã không được uỷ ban tham mưu hỗn hợp chấp thuận vì bị Mac Arthur thúc giục, uỷ ban còn ngần ngại không biết phải theo đường lối nào.


Vả lại, ông Tướng sôi sục chẳng cần chờ được bật đèn xanh mới thực hiện thêm một bước nhảy nữa trên lộ trình của mình. Từ lâu ông có thói quen hành động không cần chờ đợi khi ông thấy chắc chắn thành công mà không cần phải xin bất cứ một sự giúp đỡ nào. Đó là trường hợp cuộc hành quân được dự trù sắp đến gồm có trước hết “By-Pass” căn cứ không quân hùng mạnh Wewak rồi chiếm duyên hải đảo Hollandia, 300 cây số xa hơn về phía tây, nơi có rất nhiều phi trường lớn.


Cuộc xung phong đổ bộ lên Hollandia, mà trước đó đã được chuẩn bị kỹ bởi một loạt oanh tạc có phương pháp, đã diễn ra trong các ngày đầu tháng 6, đúng lúc quân sĩ của Eisenhower lan tràn khắp Normandie. Cuộc đánh chiếm cũng thành công như cuộc đổ bộ tại Âu châu nhưng đã đưa lại một trong những niềm thất vọng sôi động nhất trong cuộc chiến định mệnh này: Các phi trường của Hollandia bị ngập nước vì nằm kế cận hồ Sentani, không thể nào làm khô được và hoàn toàn không thích nghi cho các pháo đài bay cất cánh… Nhưng cần gì! Cuộc đổ bộ tại Normandie đã thành công1 (Đọc “Hitler và trận đánh Normandie”-Sông Kiên xuất bản. Sách đã phát hành), chiếc đầu con bò cái ốm yếu đã bị vượt qua. Từ Aléoutennes đến Tân-Guinée, các lực lượng Mỹ đang hào hứng sửa soạn cuộc xung phong quyết định.


Về phía Nhật Bản, vụ mất tích của Koga đã đưa đến một tình trạng do dự. Tổng hành dinh Thiên hoàng đã để hơn một tháng2 (Đô đốc Takáu, tư lệnh khu vực tây nam Thái Bình Dương xử lý thường vụ) mới chỉ định người kế vị ông là Đô đốc Toyoda, người cho đến lúc đó vẫn chỉ huy khu vực hải quân Yokosuka. Trong tư cách là chỉ huy trưởng căn cứ hải quân quan trọng bao bọc cả vịnh Đông Kinh này, Đô đốc Toyoda đã tham dự chặt chẽ vào việc thiết lập các kế hoạch phòng thủ quần đảo Nhật Bản. Ông cũng đã trông nom công cuộc cải biến thành hàng không mẫu hạm chiếc Shinano, thiết giáp hạm thứ ba cùng loại với chiếc Yamato, vốn đã được lên khung tại công xưởng Yokosuka. Tổng hành dinh Thiên hoàng đặt niềm kỳ vọng lớn lao nhất vào chiếc siêu hàng không mẫu hạm 71.000 tấn này. Một mẫu hạm có thể mang theo 100 phi cơ và gần như không thể nào bị đánh chìm được. Nhưng Toyoda chưa bao giờ hành sử quyền chỉ huy trên mặt biển trong thời gian chiến tranh, và tên ông gần như là xa lạ với tất cả thuỷ đoàn. Đúng vào lúc quyết định ấy, chính đây là một điểm yếu trầm trọng. Có lẽ ông có thể bù trừ yếu điểm này bằng cách đặt bộ chỉ huy trên một trong các chiến hạm của mình, chiếc siêu thiết giáp hạm Musachi hoặc mẫu hạm mới Taiho rực rỡ vừa mới được mang ra sử dụng. Các giải pháp khác nhau ấy đều đã được đưa ra nghiên cứu tại Tổng hành dinh Thiên hoàng, sau cùng cơ cấu chỉ huy tối cao này chọn lựa một giải pháp dung hoà: Toyoda sẽ đặt hiệu kỳ của ông trên chiếc tuần dương hạm Oyodo, trên nguyên tắc vẫn bỏ neo tại Kisakaru trong vịnh Đông Kinh, nhưng sẽ di chuyển tuỳ theo tình thế.


Công thức tạp nham này sẽ cho thấy là không thực hành được. Năm tháng sau, khi mối đe doạ của các pháo đài bay Mỹ trên lãnh thổ Nhật Bản trở nên chính xác, Toyoda rời tuần dương hạm để thiết lập bộ chỉ huy trên đất liền, trong các hầm trú ẩn dưới mặt đất thuộc viện đại học Keio, lân cận Đông Kinh. Ông có đi ra ngoài vài tuần để đích thân đến Đài Loan nhận quyền chỉ huy không lực thuộc hải quân đúng lúc các trận đánh tháng 10 năm 1944 đang diễn tiến. Sau khi trận chiến thất bại, ông có ý định đến Phi Luật Tân, nhưng bộ tham mưu ép ông trở về Đông Kinh, và sau đó, ông ở tại đấy cho đến khi chiến tranh kết thúc.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #86 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2010, 08:55:00 am »

Chính trong bối cảnh đó mà chúng ta thấy có các mệnh lệnh hành quân do Toyoda soạn thảo nhắm vào các trận đánh quyết định-và đặc biệt là kế hoạch A-Go nổi tiếng bắt đầu có hiệu lực từ lúc có cuộc tấn công của Mỹ vào quần đảo Mariannes. Kế hoạch này lặp lại các nét chính của kế hoạch Koga. Tuy nhiên kế hoạch nhấn mạnh nhiều hơn đến sự cần thiết phải hoà nhập về mặt chiến thuật không lực của lục quân và của hải quân vào trong một cơ cấu duy nhất, và xác định rõ ràng các khu vực mà ông hy vọng sẽ xảy ra một trận quyết định với lực lượng Mỹ. Đấy là khu vực phía Nam, giữa quần đảo Carolines và Tân-Guinée vốn được coi là khu vực có thể xảy ra chiến trận nhất. Khu vực quần đảo Mariannes trở thành thứ yếu. Ý tưởng hành quân thì vẫn như cũ: nhử chủ lực hạm đội mẫu hạm địch đến càng gần dãy phi trường trên các đảo càng tốt để cho phi cơ trên các phi trường này có thể hỗ trợ các không đoàn của mẫu hạm Nhật.


Vì số lượng phi cơ cần thiết chỉ có thể được tập trung vào cuối tháng 5 năm 1944, cho nên tất cả các đơn vị được lệnh từ chối đụng độ cho đến nhật kỳ ấy. Các điểm tiên liệu trong kế hoạch đã chú trọng vào tuần lễ sau cùng của tháng 5 năm 1944, đến 450 phi cơ của hải quân trong khu vực phía bắc phân phối trên các căn cứ Iwo-Jima, Saipan, Tinian và Guam, và đến 510 phi cơ trong khu vực phía nam được phân phối trên quần đảo Carolines, Phi Luật Tân, Célèbes và Tân-Guinée. Quá ít. Mỗi một khu vực ấy cũng đã rộng bằng cả Đại Tây Dương giữa quần đảo Antilles và Dakar, và mật độ của các phi cơ đặt căn cứ trên mặt đất trong mỗi khu vực tỏ ra quá yếu. Hơn nữa, do sự kiện quân Mỹ đã loại trừ căn cứ Truk và các phi trường Nhật trên quần đảo Carolines về phía đông, cho nên một thứ no man’s land không được phòng thủ sẽ nằm giữa giới hạn bán kính hoạt động của các phi cơ đặt căn cứ trên đất liền trên hai khu vực.


Để cố bít kẽ hở nguy hiểm này, ban tham mưu của hạm đội liên hợp đã cho thay đổi kiểu chiến đấu cơ đang được sản xuất (oanh tạc cơ đâm bổ Susei và phi cơ phóng thuỷ lôi Tenzan) để cho chúng có một bán kính hoạt động 400 dặm, trội hơn 30% bán kính hoạt động của phi cơ Hellcat Mỹ vốn chỉ có 280 dặm. Loại phi cơ đầu tiên kiểu này đã được đưa ra khỏi công xưởng vào cuối tháng 4 năm 1944 và được ưu tiên gửi đến Tân Gia Ba, nơi mà tất cả mẫu hạm của Ozawa đang được tập họp để huấn luyện. Vị tư lệnh hạm đội lưu động số 1 hy vọng còn có ba tuần nữa để hội nhập các phi cơ mới. Các cuộc thực tập ban ngày và ban đêm nối tiếp nhau theo một nhịp độ điên cuồng. Từ trên xuống dưới ai cũng mơ hồ cảm thấy ván bài sắp đánh sẽ có tầm quan trọng sống còn cho Nhật Bản. Nhưng chín mẫu hạm của hạm đội lưu động số 1, trong đó có chiếc Taiho, mới đến gia nhập, vượt trội hơn hẳn tất cả các mẫu hạm đang chạy trên mặt biển, và các siêu thiết giáp hạm của Ugaki, đã gây ra một cảm tưởng về sức mạnh đến nỗi chiến thắng gần như là một điều chắc chắn. Do đó chính trong không khí say sưa này mà tiếng cồng đầu tiên của hiệp quyết định vang lên một cách bất ngờ.


Ngày 20 tháng 5 năm 1944, Mac Arthur, thấy rằng Hollandia không cung cấp được cho các oanh tạc cơ của ông những căn cứ xuất phát mà ông cần thiết để phá tan công cuộc phòng thủ trên quần đảo Phi Luật Tân, mưu toan một cuộc đổ bộ bất ngờ lên đảo Biak, bất chấp khoảng cách quá lớn giữa nó và các căn cứ của ông và bất chấp tầm quan trọng của lực lượng trú phòng trên đảo. Đấy là một cuộc hành quân táo bạo nhất và có hậu quả lớn nhất trong suốt cuộc chiến của Mac Arthur. Lực lượng thuỷ bộ số VII do viên Đề đốc trẻ tuổi Fechteler xử lý quyền chỉ huy. Ngày 27 tháng 5 đã thành công trong việc đổ bộ 10.000 quân lên đảo. Mặc dầu đạo quân trú phòng Nhật trên tiểu quần đảo này cũng đông đến cả chục ngàn người, nhưng họ đã không đẩy lùi được quân tấn công. Viên Đại tá chỉ huy quân Nhật đã cho lập chung quanh các phi trường một hệ thống phòng thủ chiều sâu vô cùng kiên cố bẻ gãy được cuộc tiến quân của Mỹ, nhưng ông ta không thể đẩy họ ra biển. Binh sĩ của Mac Arthur đã tiến sát phi trường trong tầm súng đại bác, cho nên quân Nhật không thể sử dụng các phi trường được nữa.


Chốt Biak được coi như vô cùng quan trọng cho công cuộc phòng thủ khu vực phía nam đến nỗi vị tư lệnh hạm đội liên hợp phải tổ chức ngay một cuộc hành quân để đẩy lùi quân xâm chiếm. 2.500 thuỷ quân lục chiến Nhật được đưa lên khu trục hạm tại Mindanao để đi tiếp cứu; các thiết giáp hạm Musachi và Yamato cùng với lực lượng tuần dương hạm hộ tống hùng mạnh áp đảo, sẵn sàng can thiệp. Song Toyoda đã không dám ra lệnh nhổ neo hạm đội lưu động số 1 của Ozawa vì các chiến hạm bị phân tán rải rác đang huấn luyện và không sẵn sàng chiến đấu với hiệu năng tối đa. Nhưng vì hạm đội thiết giáp của ông rất cần sự che chở của không quân để có thể đương đầu với hạm đội Mỹ, ông ra lệnh cho Ozawa gửi một phần phi cơ và một số phi công ưu tú đến Mindanao.


Do sự kiện này, các kế hoạch A-Go, vốn được soạn thảo hết sức tỉ mỉ, đã bị một sự xáo trộn đầu tiên. Tại Mindanao, mọi người đều tin rằng sắp có một sự can thiệp cấp kỳ của hạm đội Mỹ tại khu vực phía Nam Thái Bình Dương. Vị Đô đốc chỉ huy cuộc hành quân tiếp cứu vì nhận được một điện văn báo hiệu sai lầm là có sự hiện diện của một mẫu hạm Mỹ nên đã vội cho lực lượng quay lui mà không chờ có sự xác nhận. Trong lần toan tính thứ hai, ông ta gặp các tuần dương hạm của Crutchley đang canh gác ngoài khơi Biak, và ông ta đã ẩn tránh mà không tấn công, tin rằng đang có chuyện với bộ phận tiền phương của một hải lực quan trọng.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #87 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2010, 08:55:34 am »

Nhưng cùng ngày ấy-ngày 8 tháng 6 năm 1944-vị Tổng tư lệnh hạm đội liên hợp được thông báo rằng các mẫu hạm Mỹ đã rời khỏi quần đảo Marshall để tiến về quần đảo Mariannes. Mọi hy vọng của một cuộc gặp gỡ tại khu vực phía nam đều tiêu tan. Cuộc hành quân tiếp cứu Biak bị huỷ bỏ ngay và hạm đội lưu động số 1 được lệnh quay trở về Tawi-Tawi phía bắc Bornéo để được tiếp tế. Sau đó nó sẽ phải đến tiếp hợp với hạm đội thiết giáp của Kurita và sau khi tiếp nhận các phi cơ biệt phái, cùng với các thiết giáp hạm lên đường tiến tới Saipan “để tìm kiếm hải lực địch tại đó và tiêu diệt chúng cùng một lúc”.


Ngày 15 tháng 6, Ozawa và Kurita thực hiện cuộc tiếp hợp hai lực lượng trong quần đảo Phi Luật Tân. Trong thời gian đó, các mẫu hạm Mỹ thực hiện các cuộc oanh tạc tàn phá Saipan và một không đoàn còn tiến xa đến tận Iwo-Jima cách 400 cây số phía bắc quần đảo Mariannes. Sau đó ít lâu, phi cơ thám sát của Kusaka thấy một hải lực gồm nhiều trăm chiến thuyền đang trên đường tiến tới Mariannes. Sáng ngày 15, Toyoda chuyển đến các Đô đốc thuộc hạm đội liên hợp bản điện văn sau đây: “Nhiều lực lượng quan trọng của địch đã bắt đầu các cuộc đổ bộ trong vùng Saipan-Tinian. Hạm đội liên hợp sẽ tấn công chúng trong hải phận quần đảo Mariannes để tiêu diệt chúng. Áp dụng kế hoạch A-Go cho trận đánh quyết định".

Ngọn lao đã phóng đi. Cuộc gặp gỡ sẽ xảy ra ở cách quá xa căn cứ không quân của Kujaka.

Chiều ngày 16 tháng 6, hạm đội liên hợp tiến ra khỏi các eo biển thuộc quần đảo Phi Luật Tân và được tiếp tế bổ túc dầu cặn trong ngày 17 bằng các tàu dầu của hạm đội. Nhiều tin tức rất chính xác hôm ấy được đưa đến cho Ozawa, liên quan đến sự phân phối hải lực Mỹ. Một lực lượng mẫu hạm tuần tiễu ngoài khơi Saipan và dường như muốn ở lại đó trong suốt cuộc hành quân xâm chiếm; rất nhiều chiến hạm, trong số đó có các mẫu hạm nhẹ và các mẫu hạm hộ tống, phụ trách che chở cho cuộc đổ bộ và oanh tạc thúc giục không ngừng nghỉ các phi trường và hệ thống phòng thủ trên bộ tại Guam, Saipan và Tinian.


Nhờ có thì giờ trong suốt ngày 17 để hoàn tất kế hoạch tấn công, Ozawa không chờ đợi mệnh lệnh của Đông Kinh, ra lệnh lên đường tấn công, trên các chiến hạm, tinh thần căng thẳng từ giờ phút. Các thuỷ thủ đoàn đã được thông báo những biến cố trọng đại đang được chuẩn bị, biển lặng, bầu trời đêm lấp lánh ánh sao. Các điều kiện hết sức thuận tiện cho một cuộc tấn công bằng phi cơ. Các hoa tiêu ngồi chờ trong phòng báo động trong cơn sốt mệnh lệnh cất cánh.


Đến nửa đêm, một đệp văn từ Đông Kinh gửi đến và sau đó được công bố trên tất cả các chiến hạm thuộc hạm đội. Điệp văn ký tên vị Tổng tư lệnh hạm đội và được soạn thảo như sau: “Tôi kính cẩn cúi đầu chuyển đến quí ông bản điệp văn của Thiên hoàng mà Tổng hành dinh vừa đưa đến.-Cuộc hành quân đang xúc tiến sẽ có vô vàn ảnh hưởng sâu xa đến số phận vương quốc. Chúng tôi hy vọng rằng các lực lượng hải quân sẽ ráng hết sức mình và cũng sẽ thu đạt được các kết quả tuyệt vời như trận đánh Tsoushima.


Được khuyến đại bởi âm vang mênh mông của tước vị thiên hoàng, đấy chính là sự khích lệ tối hậu cho tất cả chiến hạm mà tư lệnh các hải đoàn phổ biến trước ngày xảy ra trận chiến vĩ đại. Bất chấp sự mệt mỏi tột độ của những ngày trước đó, không một người nào tính đến chuyện nghỉ ngơi. Từ trên xuống dưới hệ cấp các đơn vị, trong tâm trí mọi người đều nghĩ đi nghĩ lại các hành động phải làm trong cuộc thử thách vĩ đại ngày mai.


Ý tưởng điều quân của Ozawa rất đơn giản: lợi dụng bán kính hoạt động cực lớn của các phi cơ mà ông vừa nhận được (gần gấp đôi bán kính hoạt động của phi cơ Mỹ) để đồng loạt tung chúng về phía hạm đội địch, rồi tiến đến gần mà không sợ bị tấn công cho đến khoảng cách vừa tầm của các phi cơ kiểu cũ mà bán kính hoạt động yếu hơn. Lúc đó các mẫu hạm địch sẽ hoặc bị hư hại, hoặc quá bận phòng thủ nên không thể nghĩ đến chuyện tấn công. Như thế, ông có thể tiếp đón các phi cơ thuộc đợt đầu lên mẫu hạm và tuyên bố một đợt tấn công thứ hai với sự yểm trợ của các không đoàn đặt căn cứ trên đất liền. Các thiết giáp hạm khổng lồ và các tuần dương hạm sẽ can thiệp tiếp theo bằng hải pháo để tiêu diệt những gì còn nổi trên mặt biển. Kế hoạch táo bạo này có tính cách vô vùng hữu lý. Nhưng nó đã phạm nhiều lầm lỗi.


Ozawa là một sĩ quan hải quân sáng chói đã từng chia sẻ binh nghiệp giữa sự chỉ huy trên biển và các văn phòng thuộc bộ Tổng tham mưu. Ông được nhào nặn bởi các chủ thuyết thuộc nhiều trường phái chiến tranh và có thiên phú đáng kể về mặt tổ chức-tư thế của ông trong các cuộc hành quân tại Mã Lai là một bằng chứng-nhưng ông không phải là một phi công và không biết thích nghi các phương pháp của ông với thứ vũ khí mới mà kỹ thuật đã vượt khỏi tầm hiểu biết của ông. Quen thấy các phi công Nhật vượt trội hẳn phi công Mỹ, ông không ý thức được một cách chính xác tình trạng giảm giá trị mà các không đoàn của ông phải chịu đựng từ khi những phi công tân tuyển thay thế các phi công lão luyện. Ông cũng không tưởng tược được rằng các căn cứ không quân trên các đảo, được cao xạ D.C.A bảo vệ mạnh mẽ, lại có thể bị phi cơ địch vô hiệu hoá. Kế hoạch của ông có phần nào dựa trên sự tiếp tay của các phi cơ đặt căn cứ tại Saipan, Tinian và Guam; thế mà ngay cả trước khi trận đánh bắt đầu, các phi cơ này đã bị tiêu diệt thật sự ngay trên mặt đất bởi các oanh tạc cơ hạng nặng của quân đội Mỹ hoặc bị hạ từ trên không bởi vô số khu trục cơ của các mẫu hạm nhẹ đang tuần tiễu trong quần đảo Mariannes.


Sự thận trọng đòi hỏi phải chiến ngay khi nhận biết được tin tức này. Thế nhưng một biện pháp như thế không thể nào phù hợp với tâm tánh của vị tư lệnh hạm đội lưu động. Ông không hề nghĩ đến biện pháp ấy.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #88 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2010, 08:56:26 am »

Ozawa là một người nhỏ thó mảnh khảnh, nét thanh tú và dáng vóc sinh động. Cái nhìn của ông lọc qua hai hàng lông mi gấp nếp chiếu sáng rõ một khuôn mặt bất động. Một cảm tưởng về sự bình tĩnh không có gì lay chuyển được và về sự quyết tâm lạnh lùng, đã thoát ra từ nhân cách ông. Ông có thiên phú tạo niềm tin nơi kẻ thuộc quyền nhờ những tia sáng chói lọi từ nơi đức tự tin mãnh liệt của chính ông.


Khi Ozawa được báo cho biết có sự hiện diện của các hải lực địch cách 50 hải lý về phía tây nam Saipan lúc 7 giờ sáng ngày 19 tháng 6 năm 1944, 246 phi cơ có tầm bán kính hoạt động lớn của hải đoàn 1 và 2 được lệnh cất cánh. Cuộc hành quân diễn tiến nhỏ trong một cuộc thực tập. Đến 8 giờ, hai mẫu hạm cư phi cơ cất cánh đổi hướng về phía nam để giữ khoảng cách. Mỗi người đưa mắt theo dõi đoàn phi cơ hùng hậ bay xa dần trong bầu trời xanh biếc. Toàn diện hạm đội lưu động đều phấn khởi vì niềm tin tuyệt đối vào sự thành công.


Đột nhiên, đài chỉ huy của soái hạm được báo động bởi một phi cơ tuần thám đang bay sát mặt nước theo lối chữ chi kỳ lạ để tránh sự chú ý. Gần như lập tức các trinh sát viên báo hiệu có nhiều luồn sóng thuỷ lôi và chiếc phi cơ đâm thẳng góc xuống một trong các thuỷ lôi ấy rồi vỡ tan, cách soái hạm vài chục thước. Sự hy sinh anh hùng ấy dường như đã tránh cho chiếc Taiho khỏi bị đe doạ một chốc lát sau khi đột ngột chạy tréo sang một bên, nó lại tiếp tục hướng đi ban đầu. Vài giây sau, một tiếng nổ điếc tai làm rung chuyển chiếc chiến hạm: một thuỷ lôi thứ hai đã trúng đích! Cách sắp đặt các phòng ngăn dưới hầm tàu Taiho đã được nghiên cứu kỹ đến nỗi chiếc đại chiến hạm chịu đựng tiếng nổ như là một mũi kim chích vào da. Sau khi chậm lại một chút, nó trở lại tốc độ bình thường trong lúc các toán an ninh lo bít các chỗ nước tràn vào. Không có gì thay đổi kế hoạch khởi thuỷ. Chiếc Taiho chỉ chứng tỏ một điểm yếu và vừa hợp thức hoá danh tiếng “mẫu hạm không thể bị đánh chìm” của nó.


Một niềm lo âu bắt đầu biểu hiện trên đài chỉ huy của soái hạm khi chẳng có tin tức gì về các đoàn phi cơ tấn công được chuyển đến sau hai giờ chờ đợi. Đến 10 giờ, Ozawa ra lệnh phóng đợt xung phong thứ hai, khoảng cách với địch quân giờ đây giảm xuống đủ để cho các phi cơ có bán kính hoạt động ngắn can thiệp vào. Ngay lúc đó, thang máy của chiếc Tahio lại bị hư làm chậm trễ giờ khởi hành của các phi cơ và mãi đến 12 giờ 30 chúng mới có thể cất cánh được. Vài phút sau, nhiều phi cơ Nhật, trong số đó nhiều chiếc dường bị như bị khó khăn, bay trên chiếc đại chiến hạm, để đáp xuống. Sự vận chuyển để tiếp nhận gần như tận, nhất là khi ai nấy rất nóng lòng muốn biết kết quả của trận đánh.


Báo cáo của các phi công kiệt sức, mà phần đông phải được giúp đỡ mới bước ra khỏi phòng lái được, đã gieo rắc mối kinh hoàng trên đài chỉ huy của soái hạm. Đợt tấn công đầu tiên thoạt kỳ thuỷ đã gặp mây, rồi cả một đoàn phi cơ địch đông như bầy ong ẩn đằng sau, cách mục tiêu hơn 30 hải lý (35 cây số) chờ đợi chúng. Trong cuộc đụng độ rối loạn xảy ra sau đó, các phi cơ Nhật bị số đông phi cơ địch áp đảo. Đa số bị bắn hạ, nhưng vài chiếc chắc đã vượt được hàng rào phi cơ ngăn chặn của hạm đội Mỹ. Chắc chắn chúng đã có thể tấn công địch và đáp xuống Guam sau khi hết xăng vì người ta không thấy chúng trở lại nữa.


Khi biết được các tin tức này, Ozawa đã do dự một lúc, rồi quyết định tung đợt cuối cùng 42 chiếc của hải đoàn số 1. Khi các phi cơ vừa cất cánh hết, một tiếng la lớn vang đến đài chỉ huy của mẫu hạm Taiho: chiếc Shokaku lúc đó đang chạy ngang hàng cách hai dặm, bị trúng đạn ở mạn hữu đang tuôn ra một làn mây khói. Tiếng động do một vụ nổ xa xa đã làm tiêu tan mọi nghi ngờ: đến lượt chiến hạm bị trúng thuỷ lôi!


Trên mẫu hạm Shokaku, các toán an ninh quen thuộc với các hư hại trong khi đụng độ, đã dập tắt được ngọn lửa do tiếng nổ gây ra và sau một giờ chiến đấu, nguy cơ cháy xăng có vẻ đã đi qua.


Trong lúc đó vài phi cơ của đợt hai bắt đầu đáp xuống chiếc Taiho. Thấy mẫu hạm Shokaku đã chế sự được các hư hỏng, Ozawa ra lệnh cho hai mẫu hạm tiến về phía đông để tiếp đón hai đoàn phi cơ cuối cùng sau khi chiến đấu trở về. Không một phi cơ nào của Mỹ đến tấn công hạm đội Nhật. Những hư hỏng duy nhất gây ra cho hạm đội cua rông đều do các tàu ngầm địch rủi ro gặp phải trên trục tiến quân. Mặc dầu các phi cơ trở về với nhịp độ rất yếu, ông có quyền nghĩ rằng quân Mỹ phải bị thiệt hại khá nặng nên phải rút lui về phía đông để khỏi bị thiệt hại thêm.


Theo như các nhân chứng có mặt lúc đó thì vị Tư lệnh hạm đội lưu động số 1 “rạng rỡ lạc quan” trong lúc đột nhiên, cả một loạt tiếng gầm kéo dài làm vỡ tan sự im lặng, lúc đó là 15 giờ. Thoạt tiên ông cho đó là tiếng nổ của lựu đạn chống tiềm thuỷ đỉnh do các khu trục hạm vốn có nhiệm vụ săn đuổi liên tục tàu ngầm Mỹ tung ra. Nhưng khi thấy chiếc Shokaku, ảo tưởng biến mất. Nhiều cuộn khói bốc cao cho đến cột buồm và, hai phút sau, một tiếng nổ phát ra vang dội, phóng một chùm tia lửa lên cao. Rồi các cuộc khói đen quay cuồng do gió thổi tạt lên mặt biển trên hai luồng sóng sau chiến hạm. Mẫu hạm kỳ cựu của những trận đụng độ hùng tráng trên biển San hô và quần đảo Salomon lần này phải gục ngã vì cháy xăng.


Ozawa vừa mới có thì giờ ra hiệu cho chiếc Zuikaku đến gần, 15 phút sau một tai nạn bi thảm đã làm đài chỉ huy soái hạm bối rối. Hơi xăng lan tràn dưới đáy hầm và từ các loa phóng thanh lệnh báo động được ban ra: “Nguy cơ cháy xăn”. Tất cả các mạch điện đều bị cắt trong các ngăn bị đe doạ khiến gây ra một cảnh hỗn loạn. Thuỷ thủ đoàn trên chiếc Taiho không cùng có kkn như của chiếc Shokaku. Người chỉ huy an ninh, hoảng hồn vì tỷ lệ lớn lao các ngăn tàu mà hơi xăng tràn, liền ra lệnh mở hệ thống quạt để thông hơi đáy tàu. Mệnh lệnh điên rồ này cũng như một mồi lửa đưa xuống dưới một thùng thuốc súng. Đáy mẫu hạm đồng loạt biến thành một lò lửa thép và xô ngã các tường vách ngăn cách hầm tàu. Hầm máy bị lửa tràn ngập và tất cả các động cơ đều ngừng quay. Mẫu hạm nghiêng và nắt đầu chìm.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #89 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2010, 08:57:34 am »

Đô đốc Ozawa ra lệnh di tản và cùng với bộ tham mưu chuyển sang chiếc tuần dương hạm gần nhất. Vừa đặt chân lên đó, ông thấy mẫu hạm Taiho chúi xuống từ đằng sau và biến mất trong sự rung chuyển vĩ đại.


Khi đêm xuống, bộ tham mưu của ông đặt tại các phòng ốc chật hẹp của tuần dương hạm Majuro, Ozawa tuyệt đối bình tĩnh soạn thảo các huấn lệnh cho hạm đội lưu động số 1. Ông đã bị những tổn thất nặng nề, nhưng ông còn lại một đại mẫu hạm, chiếc Zuikaku, chiến hạm luôn luôn may mắn, và toàn diện lực lượng mẫu hạm nhẹ. Ông chưa có con số chính xác các phi cơ được tiếp nhận trở lại, nhưng tính toán rằng những chiếc không trở về chắc đã xuống Guam hoặc Rota trong quần đảo Mariannes. Hơn nữa, các báo cáo của những phi công sống sót sau trận đánh đã nhấn mạnh đến bốn mẫu hạm nặng của Mỹ bị đánh chìm và một số lớn khu trục Hellcat bị bắn hạ.


Do đó Ozawa suy tính rằng không có lý do gì không tiếp tục cuộc tấn công. Một điểm hẹn liền được ấn định với các tàu tiếp tế vào ngày mai, trong khi đó mệnh lệnh tiếp tục các cuộc không thám vào lúc bình minh được chuyển đến cho các mẫu hạm của hạm đội. Sau đó Đô đốc ra lệnh im lặng vô tuyến hoàn toàn cho tất cả các chiến hạm đang hành quân trong vùng.


Đêm tối và những giờ đầu tiên của hôm sau trôi qua mà không có báo động mới, Ozawa kết luận rằng hạm đội Mỹ bị khó khăn phải rút về phía đông, nên quyết định đuổi theo.

Mặc dầu những điều tiên liệu của Ozawa hoàn toàn sai lạc (các phi công của ông chỉ có làm hư hại được hai mẫu hạm và một thiết giáp hạm) thì không phải hạm đội Mỹ không tỏ ra kém phần ham chiến đấu. Không có một máy bay tuần thám ban đêm nào đến quấy rối sự yên tĩnh của các chiến hạm Nhật trong khi các thuỷ phi cơ thám sát của Nhật không ngừng quan sát từ xa mọi chuyển động của đối phương. Đối với Ozawa thật khó-nếu không phải là không thể nào tưởng tượng ra nguyên nhân của sự ngần ngại quá thận trọng này.


Trong thực tế, có hai nguyên nhân: một mặt Đô đốc Sprannce, tổng tư lệnh quân lực xâm chiếm quần đảo Mariannes, đã ra lệnh cho Đô đốc Mitscher, tư lệnh lực lượng đặc nhiệm mẫu hạm, đừng rời xa Saipan nơi đang diễn ra cuộc đổ bộ khó khăn; mặt khác, sự ngăn chặn các phi cơ Nhật (mà phi công Mỹ mệnh danh cho là một “cuộc bắn chim bồ câu” vì số lượng nạn nhân lớn quá) đã kéo theo một sự mệt mỏi không phải là ít, đến nỗi Mitscher phải gạt bỏ ý tưởng tung các phi công của mình vào một cuộc phiêu lưu mới.


Mitscher là một phi công lão luyện có vô số giờ bay, và trái ngược với các đô đốc thường vốn hay có khuynh hướng sử dụng máy bay như là đạn đại bác mà không cần nghĩ đến chuyện gì có thể xảy ra cho chúng sau đó, ông chăm sóc tinh thần của các phi công, những chiến sĩ mà ông biết rằng ngày một ngày hai sắp đến sẽ quyết định chiến thắng hay chiến bại. Vì lẽ ông hoàn toàn không biết gì về tổn thất của địch do tàu ngầm gây ra, ông ngại một cuộc tấn công mới sẽ xảy ra ngày 20 tháng 6 và muốn đương đầu với đợt tấn công này với đầy đủ phương tiện của mình. Một buổi sáng nghỉ ngơi, theo ông, là vô cùng cần thiết và cũng không đòi hỏi-đáng lẽ ra ông phải làm-gia tăng thập bội các cuộc tuần thám để tìm lại vị trí hạm đội Nhật.


Thế mà, trong buổi sáng đó, Ozawa đã nhận được một điện văn dài của Kasuka, Tư lệnh không lực tại quần đảo Mariannes, báo tin rằng 17 phi cơ sống sót sau cuộc “bắn chim bồ câu” hôm trước đã khẩn cấp đáp xuống Guam, hoàn toàn không thể cất cánh lại được nữa, và rằng các không đoàn của riêng ông vì bị thử thách quá nhiều bởi các cuộc oanh tạc ồ ạt của đối phương đến nỗi chỉ có thể mang lại cho ông một sự hỗ trợ yếu kém mà thôi. Khi biết được về định mệnh mới này, thái độ lạc quan của Ozawa đột ngột sụp đổ. Ông huỷ bỏ sự tiếp tế đã tiên liệu, và rút lui hạm đội lưu động của ông về Nhật Bản.


Như thế là hai hạm đội đối nghịch xa dần nhau thay vì xáp lại gần nhau và mãi đến 16 giờ ngày 20 tháng 6 một phi cơ tuần thám của Mỹ mới báo hiệu được vị trí hạm đội Nhật Bản. Mặc dầu nhận được lệnh của Đô đốc Spruannce là “tấn công ngay khi có tin chính xác”, Mitscher vẫn ngần ngại không muốn tung ra các không đoàn của mình để tấn công. Quyết định của ông sẽ rất trầm trọng: mặt trời đã hạ dần xuống chân trời và hạm đội Nhật đang ở vào vị trí xa nhất của bán kính hoạt động, điều này bắt buộc các phi cơ phải quay trở về lúc trời tối và bắt buộc tổ chức một cuộc tiếp đón phi cơ hết sức liều lĩnh. Nhưng cơ hội đánh bất ngờ và tiêu diệt hạm đội địch hết sức tốt đẹp. Do đó, rốt cuộc ông chấp nhận mạo hiểm.


Các không đoàn Mỹ tổng cộng 216 phi cơ tấn công làm nhiều đợt từ 18 giờ 20 đến 19 giờ, nghĩa lúc mặt trời lặn. Hạm đội lưu động số 1 vẫn còn phân tán xa nhau, tạo thành nhiều mục tiêu dễ dàng, nhưng sau khi bay một chặng đường 450 cây số, các phi cơ của Mitscher chỉ vừa đủ xăng để thả bom hoặc phóng thuỷ lôi vào chiến hạm đầu tiên trông thấy, rồi quay lui ngay không để mất một giây.


Tham chiến trong các điều kiện này, trận chiến hết sức mơ hồ rối loạn, các phi cơ khu trục của Ozawa mặc dầu số ít, nhưng đã chống cự rất hung dữ. Trong số bảy mẫu hạm của hạm đội lưu động, năm chiếc bị đánh trúng, nhưng chỉ một chiếc bị chìm (chiếc Hiyo) vì bị trúng nhiều bom và hai thuỷ lôi1 (Mà một quả lại do một tàu ngầm phóng đi). Tất cả chiến hạm khác có thể tiếp tục chạy về Okinawa và Nhật Bản. Hạm đội của Ozawa đã thoát khỏi cuộc tàn sát.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM