Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:02:50 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Sài Gòn sụp đổ  (Đọc 53740 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #50 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2008, 09:04:41 pm »

47
ĐỘI QUÂN CỦA BẮC VIỆT NAM

Thứ Tư 30 tháng 4

Một loạt súng nổ đột ngột ngay gần chồ tôi.

Đường phố Pasteur vụt vắng tanh dân chúng. Trong khi đó, những người lính bộ đội nấp phía sau cây me hoặc trong góc cửa, giương súng bắn Về phía trụ sở Bộ Tư pháp là nơi có vẻ như đang có một ổ đề kháng.
Tôi nhìn thấy những người lính này nhảy vọt từng đợt lên phía trước. Súng máy nhả đạn. Vài quả lựu đạn nổ. Rồi tất cả lại im lặng, chỉ nghe thấy liếng những đoàn xe chạy vọng lại từ trung tâm thành phố.


Không một phát súng nào bắn vào trụ sở Bộ Quốc phòng mà quân đội Sài Gòn đã biến thành những pháo đài, có ụ súng và những lớp hàng rào dây thép gai. Khi tổ xung kích được lệnh tiến vào chiếm lĩnh, họ chỉ thấy có một đại tá. Người này đang ngồi một mình trong phòng làm việc của Bộ trưởng, để tiến hành những thủ tục bàn giao, ông ta nộp súng ngắn, nói một câu theo nghi thức, và thế là lễ bàn giao kết thúc.


Những đội FFI và FTP ở Nam Việt Nam

Trong các phố ở trung tâm Sài Gòn bắt đầu xuất hiện những người dân đeo băng vải đỏ trên cánh tay áo. Đó là lực lượng vũ trang hoạt động bí mật trong thành phố, giống như các đội FFI và FTP của Pháp thời kháng chiến chống phái xít Đức1 (FFI: tên gọi tắt "lực lượng kháng chiến trong nội địa Pháp" (thuộc phía theo De Gaulle); FTP: lực lượng dân quân du kích do đảng Cộng sán Pháp tổ chức và chỉ đạo (ND)).

Họ là lực lượng "giải phóng”.

Những người này được trang bị súng trường M.16, súng ngắn, lựu đạn, liều liên. Họ chỉ việc cúi xuống nhặt là kiếm được các thứ vũ khí này trên đường phố. Số súng đạn lính Sài Gòn vứt lại khi tháo chạy có thể trang bị cho cả một sư đoàn bộ binh.


Một bạn đồng nghiệp của tôi là Philippe Marcovici nhặt được cả một chiếc mũ lưỡi trai có gắn cấp hiệu thiếu tướng và một chiếc bật lửa có ghi chữ "quà tặng của tổng thống” Thiệu.

Phải chăng, như một số người khẳng định, những tổ vũ trang Việt cộng này đã xuất hiện trong thành phố trước khi những chiếc xe tăng đầu tiên của đội quân chủ lực tiến vào? Riêng tôi, tôi không được nhìn thấy tận mắt. Nhưng lôi tin chắc là những người táo bạo nhất trong bọn họ đã ra khỏi vòng bí mật, lộ rõ mặt và chiếm đoạt vũ khí - nếu họ chưa có - trước khi quân chủ lực kéo lới. Ít nhất cũng tại một số khu phố.


Dù thế nào đi nữa, chúng tôi cũng biết lịch sử chính thức sẽ ghi là "dân chúng Sài Gòn đã nổi dậy khi các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng tiến đến gần”. Người ta cũng sẽ khẳng định, hành động chung này đã góp phần đập tan “bè lũ Mỹ - Thiệu”. Người ta sẽ không tách rời vai trò của nhân dân với quân đội, bởi vì bản thân quân đội cũng từ nhân dân mà ra.


Riêng về phân cá nhân, tôi lo sợ đặt ra câu hỏi thật sự này: có bao nhiêu người kháng chiến hoạt động bí mật tại Sài Gòn sau bao nhiêu năm dưới chế độ độc tài quân sự, bị vây ráp, bắt giữ, tù đầy, tra tấn, bắn giết? Tôi chắc rằng rất ít1 (Đây hoàn toàn do tác giả suy luận, không nêu được dẫn chứng cụ thể). Nhưng đội ngũ này đột nhiên tăng vọt, khi mọi nguy hiểm không còn nữa.


Chiếm lĩnh trụ sở quốc hội

Trong khi đội quân chủ lực tuần tự tiến từ khu phố này sang khu phố khác nhằm chiếm đóng khu vực dân cư rộng lớn, những lực lượng kháng chiến bí mật trong nội thành lúc này cũng chuyển sang hoạt động công khai, reo hò ầm ỹ các phố, đi trên những chiếc xe Jeep mà các nhân viên chính phủ đã bỏ lại rất nhiều.
Bên hoạt động. Bên gây náo động.

Quân chủ lực thực hiện một kế hoạch quân sự không chậm trễ, không ngần ngại. Quân nội thành hoạt động nhằm bộc lộ sự có mặt của mình.

Một nhóm những chiến binh không quân phục này tiến đến trước trụ sở Quốc hội. Họ cố xô đổ cánh cổng đã khoá nhưng không được. Một người mặc quần xanh thẫm, áo sơ mi xanh nhạt, đi chân đất liền trèo lên mặt tường phía trước, tháo lá cờ Nam Việt Nam vứt xuống đất, thay bằng lá cờ Việt cộng... Mọi người xúm lại nhìn.


Lại có tiếng súng nổ. Đám đông dân chúng giải tán. Trên quảng trường nhanh chóng vắng hết dân, chỉ còn lại những chiến binh, đứng hoặc ngồi, súng chĩa lên nóc nhà. Tiếng súng có vẻ như bắn ra từ toà thị chính. Người ta nghe thấy có hai hoặc ba tiếng nổ lớn. Rồi im bặt. Lũ trẻ con lại bắt đầu chạy nhảy nô đùa giữa những lớp rào dây thép gai.


Dọc phố Lê Lợi là đại lộ chính của khu trung tâm, có một đoàn tù binh mặc quần áo loang lổ ngồi kéo dài. Trong số này có khoảng gần mười người tù mặc thường phục. Lính Việt cộng đứng gác. Một người ra lệnh. Đoàn tù binh vội xếp thành hàng một, nối nhau đi về phía nhà ga. Chỉ có hai lính áp giải.


Đoàn xe tăng không ngớt

Cùng với thời gian, bộ đội kéo vào thành phố mỗi lúc một đông hơn.

Tất cả các đại lộ đều thấy xuất hiện những đoàn quân dẫn đầu là các xe tăng T54, pháo tự hành, pháo cao xạ, xe bánh xích, xe tải, xe liên lạc. Chiếc xe nào cũng chật lèn binh lính, trang bị nhiều loại súng máy, súng phóng lựu đạn phóng rốc két, súng cối hạng nhẹ. Đây không phải là đội quân du kích của Mặt trận dân tộc giải phóng, được tuyển mộ ở miền Nam Việt Nam, xuất phát từ những đồng ruộng và rừng rú kéo về chiếm lĩnh thành phố.


Đây là cả một đội quân của Bắc Việt Nam, trang bị mạnh mẽ các vũ khí Xô Viết tối tân, tiến vào Sài Gòn, từng đại đội này đến đại đội khác, tiểu đoàn này đến tiểu đoàn khác.


Chúng tôi đã được biết, tất cả hai mươi ba sư đoàn Bắc Việt này, tức là toàn bộ khối chủ lực tác chiến của tướng Giáp từ vài ngày trước đã hình thành một vòng vây thép cách Sài Gòn khoảng ba mươi kilômét.


Nhưng, đó mới là chuyện được biết. Còn bây giờ thì được nhìn tận mắt những đơn vị bộ binh cơ giới hầu như vô tận này.

Chỉ riêng có tướng Pháp Vannuxem mà tôi tình cờ được gặp là không ngạc nhiên. Ông nói:

- Chà! Họ chỉ có khoảng hơn hai đại đội xe tăng là cùng. Vẫn những chiếc xe này chạy ra chạy vào đấy mà!...


Nhưng khi đi thu thập tin tức thì được biết, đã có hơn hai sư đoàn xe tăng kéo vào thành phố. Cũng cái kiểu nói như thế này, khoảng chưa đầy nửa tháng trước, tôi đã gặp một sĩ quan Pháp chiến đấu chống quân Việt ở Bắc kỳ trung cuộc chiến tranh Việt Pháp, nói:

- Chỉ cần cho tôi hai đại đội cảnh sát vũ trang cơ động là tôi giành lại Xuân Lộc được ngay?


Thành phố Hồ Chí Minh

Trên túi áo sơ mi cộc tay, từ hai hôm nay tôi vẫn gài một tấm biển nhỏ, một bên là hình lá cờ Pháp với ba màu xanh, trắng, đỏ, một bên là dòng chữ viết bằng tiếng Việt: “Báo chí Pháp".


Khi nhìn thấy hàng chữ này, những người lính Bắc Việt mà tôi gặp trên hè phố đã tiến lại gần, tươi cười bắt tay tòi. Họ nói bằng tiếng Việt, hỏi tôi: "Pháp?” rồi chỉ vào ngực tôi hỏi tiếp: "Pari?". Tôi gật đầu. Họ có vẻ hài lòng. Tôi cũng chỉ vào ngực họ, hỏi “Hà Nội". Họ công nhận và phá lên cười như con nít.


Tôi viết những dòng này vào lúc trời đã tối, dưới ánh sáng một ngọn đèn dầu. Từ lúc 13 giờ 40 phút đã tắt điện, mọi liên lạc vô tuyến đường dài cũng đã bị cắt. Sài Gòn như bị cô lập với thế giới bên ngoài cho lới bao giờ? Chúng tôi không được biết chút gì. Điện vẫn bị cắt. Từng đoàn dài xe tăng bật đèn sáng quắc, tiếp tục kéo vào thành phố. Tôi nhìn thấy những chiếc xe này đi ngay ở phía dưới cửa sổ, rung chuyển cả toà nhà.
Dù sao, ít nhất trong đêm nay, nếu không ngủ được thì cũng không nghe thấy liếng rốc két.
Đài báo tin, Sài Gòn sẽ mang tên Hồ Chí Minh.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #51 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2008, 09:06:25 pm »

48
LIÊN HOAN NHÂN DÂN TRONG THÀNH PHỐ

Thứ Năm 1 tháng 5

Từ lúc rạng đông, mọi người trong thành phố đã xuống đường. Hàng nghìn người đi bộ, đi xe đạp, xe máy, chỉ có một ít đi xe ô tô, vì thiếu xăng chăng?

Họ đi đâu thế này? Họ đi về phía dinh Độc Lập để được nhìn thật gần những anh lính bé nhỏ, mặc quân phục màu xanh lá cây.

Khoảng đất rộng rợp bóng cây phía trước những hàng rào sắt, đã có những chiếc xe tăng, xe bọc thép chở quân, pháo cao xạ. Binh lính nằm ngủ trên cỏ, ngay bên cạnh đám khí tài ghê gớm này. Bây giờ, họ đã trở dậy, thổi cơm, giặt giũ. Một số lau súng.


Hà Nội - Hà Nội - Hà Nội

Dân Sài Gòn đã hết mọi e ngại, sán lại bắt chuyện với các chú 'bộ đội". Bao giờ cũng là câu hỏi đầu tiên, không thay đổi:

- Chú từ đâu tới đó?

Câu trả lời lúc nào cũng giống nhau:

- Hà Nội. Những anh lính này thuộc các đơn vị xe bọc thép Bắc Việt, đại đa số là người xứ Bắc kỳ.

Nói chuyện với những người tò mò đang vây quanh, những người lính này kể lại cuộc hành quân kéo dài gần hai tháng, từ vĩ tuyến 17 đến tận đồng bằng sông Cửu Long. Họ biểu diễn thao tác loại súng tiểu liên Trung Quốc AK47. Họ tháo, lắp không biết mệt loại súng máy Xô Viết Kalachnikov. Họ giải thích cách bắn súng phóng rốc két RPG7, một thứ vũ khí cá nhân, một người điều khiển, đạn có thể khoan thủng vỏ thép xe tăng. Con gái, con trai đám dân Sài Gòn trèo lên xe tăng T54, lên xe tải Molotova, lên cả pháo cao xạ, được các pháo thủ biểu diễn cho xem cách điều khiển nhằm bắn.


Hố ngăn cách

Trong khắp thành phố, nơi nào cũng có cảnh thân ái đấy tình anh em như vậy.

Những người thợ may cờ Việt cộng, dù theo chủ nghĩa cơ hội hay là xuất phát từ niềm tin, đều làm việc hết công suất. Một người bạn đồng nghiệp của tôi là Yves Nguy Bergès, cho rằng màu vàng của những lá cờ Nam Việt Nam lúc này được sử dụng để may ngôi sao vàng trên quốc kỳ mới.


Tại trụ sở Quốc hội tổ chức một cuộc mít-tinh của giới viên chức. Một quan chức đứng dưới tấm hình chân dung Hồ Chí Minh, giải thích cho mọi người rõ, công việc sẽ tiếp tục vào ngày mai. Tan cuộc họp, từng người xin ghi tên tiếp tục đi làm. Những người này được nhận mỗi người một chứng chỉ. Tại Sở báo chí, một người đội mũ cát két màu xám nhạt đánh máy danh sách tất cả những nhà báo tới trình diện. Người cán bộ này nói, đây chỉ là một hình thức đăng ký đơn giản. Nhưng không có huấn thị gì đối với những đặc phái viên hoặc phóng viên thường trú là người nước ngoài, có tới một trăm hai mươi nhăm người.


Trước trung tâm bưu điện, các cán bộ Mặt trận giải phóng tổ chức cuộc mít tinh đầu tiên. Họ đi tới bằng xe Jeep, căng biểu ngữ, đọc một bài phát biểu ngắn và mời dân chúng đi diễu hành tới dinh Độc Lập, lúc này đã vắng người.


Hàng ngàn cuộc nói chuyện chứng minh với tôi là niềm vui lập lại hoà bình đang hoà trong tình cảm chung. Chỉ có một số rất ít dân lộ vẻ không hồ hởi. Những người lính nhỏ nhắn mặc quân phục màu xanh lá cây, mà người ta gọi là “các chú giải phóng", nhất định là những người anh em cùng giống nòi.

Nhưng, trong xã hội, vẫn còn hố ngăn cách.


Những trận chiến đấu cuối cùng

Niềm vui không đến với tất cả mọi gia đình ở Sài Gòn. Những giờ phút cuối cùng của chiến tranh lại đẫm máu hơn người ta tưởng. Dần dà, khi đi trong khu dân cư và hỏi chuyện nhiều người dân mới phát hiện được những sự kiện chưa biết.


Tại sân bay Tân Sơn Nhất, một đơn vị lính dù đã chiến đấu quyết liệt tới cùng, phá huỷ năm xe tăng Bắc Việt, khung xe vẫn còn âm ỷ bốc cháy. Tại Gia Định, Chợ Lớn và nhiều khu phố khác, chung quanh các trại lính và gần Tổng nha cảnh sát vài nhóm lính đã tiến hành một trận đánh cuối cùng vì danh dự nhà binh. Đôi khi, quân tiến công phải diều động xe bọc thép tới để thanh loàn những ổ kháng chiến cuối cùng này. Ngoài ra, một máy bay có cánh và một máy bay lên thẳng bị rơi ngay giữa khu dân cư đã gây ra nhiều thiệt hại.
Số người chết chưa có thống kê chính thức, nhưng những người bị thương thì tràn ngập các bệnh viện.
Thỉnh thoảng vẫn còn nghe thấy có tiếng nổ lớn ở phía xa. Đó là những kho đạn. Vào buổi tối việc phá huỷ một kho bom ở căn cứ không quân Biên Hoà đã làm vọt lên, giữa những ruộng lúa, những cột khói hình nấm như bom nguyên tử. Người ta bảo: “Đó là loại bom CBU phát nổ”.


Vào cuối buổi chiều, tôi thấy có nhiều xe tải Molotova chở lính hải quân tới trụ sở Bộ tư lệnh hải quân. Tôi hỏi:

- Các anh từ đâu đến đây?

- Từ Hà Nội. Chúng tôi là bộ đội hải quân miền Bắc Việt Nam.

Những người lính thuỷ này vừa mới vượt một ngàn tám trăm kilômet bằng xe tải trong bốn ngày bốn đêm. Có lẽ họ đang tìm chỗ ngủ. Một số leo lên các thành chắn, duỗi chân, nắn chân một lúc cho khỏi tê bại rồi lần lượt từng người đi vào các tàu chiến bỏ lại trên sông Sài Gòn.


Khi trời tối, những người chiến thắng vui mừng bắn một loạt pháo hoa chung quanh thành phố. Suất gần một tiếng đồng hồ, những đạn tín hiệu các màu trắng, đỏ, xanh và cả những quả pháo sáng màu vàng, ngày hôm qua vẫn còn dùng trong những trận chiến đấu ban đêm, buộc dù, lơ lửng từ trên cao rơi xuống.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #52 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2008, 09:45:44 pm »

49
SÀI GÒN SUÝT NỮA BỊ HUỶ DIỆT

Thứ Sáu 2 tháng 5

Sự cá cược về số phận Sài Gòn mà nước Pháp đặt ra, chúng tôi đã biết, biết trước khi một số người rõ chuyện rỉ tai chúng tôi. Chính phủ Pháp đã để cho hàng chục ngàn người Pháp giữ nguyên vị trí của mình ở Sài Gòn, điều đó chẳng nói lên rằng, Pháp đã không làm khác được hay sao? Nước Pháp không có khả năng vật chất để di tản những công dân của mình ra khỏi Sài Gòn, không có tiềm lực gần như hạm đội 7 của Mỹ, không có một đội quân máy bay lên thẳng. Tổng thống Pháp Giscard phải quyết định ngay cùng một lúc hai địch thủ đánh nhau trong thành phố. Quyết định này cho phép tổng thống có quyền, và nhất là có khả năng tiếp xúc với ba bên là Hà Nội, Chính phủ Cách mạng lâm thời, Nam Việt Nam, là những nơi pháp có những đại diện ngoại giao, và tiếp xúc với cả đại diện ba bên này tại Paris - Tổng thống Pháp đã nài ép họ, lần lượt hết bên này đến bên khác, thương lượng với nhau. Jean Marie Merillon, được coi là một đại sứ xung kích của Pháp, là đặc phái viên tại chỗ của điện Elysée bên cạnh các nhà chức trách Nam Việt Nam. Cuối cùng, sau khi đã đặt lên bàn cân mạng sống của mười ngàn người Pháp ở Sài Gòn, trong đó chỉ có một phần năm là gốc châu Âu, người ta đã tránh được một trận Stalingrad tại đây.


Nhưng về lý lẽ có thể sẽ không đúng, bởi vì các bên đối địch đều cứng đầu cứng cổ và có tác phong đàm phán lề mề chậm chạp của những người châu Á. Chỉ cần chậm trễ vài giờ là sự cá cược của Pháp có thể dẫn đến thảm hoạ.


Bây giờ, tôi đã được biết, vì đâu chúng tôi đã thoát khỏi cuộc chiến trong thành phố. Một đại uý pháo binh Bắc Việt đã nói với tôi:

- Chúng tôi đã nhận được lệnh bắt đầu bắn phá Sài Gòn ngày thứ Tư 30 tháng 4 nếu không nhận được sự đầu hàng. Chúng tôi đã chia thành phố ra thành ba mươi ô vuông. Mỗi ô vuông là mục tiêu cho một trăm quả rốc két. Chúng tôi sẽ tuần tự bắn phá lần lượt từng ô vuông một. Nói thế, chắc ông hiểu rồi.


Người sĩ quan này không cần nói thêm gì nữa. Sáng nay, lôi đã tới thăm bệnh viện Grall. Tôi đã nhìn thấy rất nhiều người bị thương tới mức người ta phải xếp hai người nằm chung một giường, hoặc đặt nằm trên cáng thương để ở dưới đất.


Đây là một bệnh viện của Pháp. Một thầy thuốc đã dẫn tôi đến phòng gây mê hồi sức. Thật kinh khủng. Có những trẻ nhỏ bị cụt chân cụt tay, một phụ nữ bị bỏng toàn thân, một người lính trẻ bị mù, một người nữa bị đạn vào gáy vẫn còn thoi thóp thở...

Bác sĩ gây mê hồi sức nói với tôi:

- Hôm trước, tướng Phan Văn Thứ chỉ huy sư đoàn Buôn Ma Thuộc quân đội Sài Gòn được đưa tới đây. Ông ta định tự tử bằng cách uống một lọ Nivaquine. Chúng tôi xử trí bằng cách cho ông thở oxy. Nhưng oxy đang thiếu. Chỉ còn lại một íl trong bình cần phải dùng cho ca mổ. Tôi đành phải cắt suất của ông tướng này. Ông ấy đã chết.

Bác sĩ nói thêm:

- Thôi! Thế càng tốt hơn.


Từ thứ Tư 30 tháng 4 ngày nào xe cứu thương cũng đưa tới bệnh viện Grall những người tự sát cần phải cấp cứu. Ở đây người ta chỉ nhìn thấy một số. Còn những người khác. Nhiều người nữa.

Đại tá Hổ là một trường hợp. Hai giờ sau khi tôi nhìn thấy viên chỉ huy cảnh sát này rút súng ngắn bắn vào thái dương, ông được đưa đến bệnh viện Grall và đã chết trên cáng.


Tại nhà "đồng chí" Tạo

Tôi đến Bộ Thông tin. Tại đây, một viên chức trẻ tuổi của chính quyền cũ, sáng hôm nay vừa mới run như cầy sấy trở lại nhiệm sở, dẫn tôi đến gặp ông Bích, giám đốc Sở báo chí, là một người đáng yêu mà tôi đã quen biết.


Nhưng ông Bích đã đi biệt. Trong phòng tôi chỉ nhìn thấy có một chiến sĩ du kích tên là Thanh Long đang ngồi tại một cái bàn giấy có đặt ấm nước trà, một máy điện thoại, một máy chữ và một bản đồ thành phố Sài Gòn có ghi màu đỏ tất cả những trụ sở cần chiếm đóng và kiểm soát Người cán bộ này đeo trên cánh tay một băng vải đỏ ghi chữ H5. ông ta nói:

- Đây là ban đặc biệt phụ trách thông tin.

Chúng tôi vừa mới trao đổi đước vài ba câu thì một người cấp cao hơn, có lính bảo vệ đi kèm, tiến vào phòng. Mọi người gọi ông là "đồng chí Tạo”. Ông ta có cặp mắt sắc, giọng nói cao, thể hiện lòng say mê chiến đấu. ông nói với tôi:

- Hiện nay, thành phố Sài Gòn tạm đặt dưới quyền Uỷ ban quân quản.

- Trong khoảng bao lâu nữa?

- Ô! Việc tiếp quản một đô thị quan trọng như thế này đòi hỏi phải có thời gian.

- Khi nào thì bắt đầu lập uỷ ban hành chính?

- Chính phủ Cách mạng lâm thời sẽ thay thế Uỷ ban quân quản, nhưng không trước ba tháng.

- Ông nói sao?

- Ba tháng.

Đồng chí Tạo có vẻ tin ở lời mình nói. Nhưng liệu ông có biết thật không? Tôi không rõ, vì không biết ông giữ cấp bậc gì, đảm đương chức vụ gì. Phải chăng, ông chỉ đến đây để tiếp quản những ban, phòng của Bộ Thông tin, như tấm bản đồ trải trên bàn ghi dấu? Liệu ông có phụ trách việc cải tổ Bộ Thông tin theo những phương thức mới không? Làm sao tôi biết được.

Tôi hỏi:

- Còn chúng tôi, những nhà báo phương Tây thì ông dự định sẽ làm gì?

- Chúng tôi chưa nhận được những chỉ thị của cấp trên về việc này.

Lời hứa hẹn là như vậy đó?


Du kích rởm

Hồng, một chú bé mười lăm tuổi, nhanh nhẹn, hoạt bát trước kia thường bán những cuốn sách nhỏ, gọi là “sách bỏ túi" của Mỹ trước cửa khách sạn Continental. Nay vừa mới tự cải tổ. Chú kiếm được một chiếc áo chẽn, khoác vào người, đeo thêm một băng đỏ. Chú đã kiếm được một khẩu súng các - bin M16, cả đạn và băng đạn, túi đạn. Thế là chú tự biến đổi thành một lính nhóc, làm luật với đám trẻ con trong khu phố.

Tôi gặp Hồng sau giờ giới nghiêm một lát, tại một ngõ nhỏ gần trụ sở quốc hội. Thằng nhóc cố hăm doạ tôi bằng vũ khí nhưng thấy không đạt kết quả, đã chuyển giọng:

- Ông có tờ giấy bạc một trăm nào không? Từ buổi sáng, tôi chưa có gì nhét vào bụng.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #53 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2008, 09:29:12 pm »

PHẦN SÁU
VIỆC NẮM QUYỀN
Tháng 5 năm 1975

50
CUỘC TỔNG VỆ SINH BẮT ĐẦU

Thứ Bảy 3 tháng 5

Việc nắm quyền đã bắt đầu. Trên đường phố Tự Do xuất hiện một vài bà lao công, miệng ăn trầu, đầu đội nón lá cổ truyền, đẩy các xe bằng tay. Họ quét dọn rác rưởi trên nền vỉa hè, tích luỹ từ hơn một tuần nay để cho lũ chuột cứ đêm tối là ra đấy ăn cỗ.


Nhưng, còn những viên đạn nằm rải rác khắp mọi nơi thì không ai đụng đến. Đã có lệnh, phải để việc này cho bộ đội thu dọn. Nhưng bộ đội vẫn chưa vội vã làm việc này. Tại trụ sở quốc hội, có một đại tá tên là Huỳnh Bá tới công tác, đứng đầu "uỷ ban kiểm tra". Viên sĩ quan cấp cao này hãy còn trẻ, gương mặt thông minh, càng thêm tươi sáng bởi nụ cười hồ hởi, mặc một áo sơ mi cộc tay màu xanh nước biển, quần dài màu xanh lá cây. Sáng nay ông kêu gọi các dân biểu và thượng nghị sĩ của chính quyền cũ tới trình diện. Khoảng sáu chục người có mặt, đều thuộc phái đối lập Thiệu. Còn những phần tử thân Thiệu đã biến hết tất cả.


Bá đọc bài phát biểu trước các cử toạ ngồi chung quanh chiếc bàn hình móng ngựa, trong phòng lớn đại hội đồng. Bài nói của ông Bá được các cựu nghị sĩ vỗ tay hoan nghênh nhiều lần. Phía sau họ có vài bộ đội ngồi nghe. Hẳn đây là những quân nhân vừa từ đồng ruộng hoặc rừng rú tới. Họ có vẻ ngạc nhiên như vừa khám phá ra một cảnh tượng mới mẻ.


Tại khách sạn Majestic là nơi được thông báo sẽ có cuộc họp của nhiều nhân vật cấp cao của chế độ mới, giám đốc cũ nay dưới quyền một người mới đến. Đó là ông Phạm Như Hoành, một cán bộ có nhiều quyền hành về chính trị. Nhân viên khách sạn đã vặn các đồng hồ nhanh lên một giờ, cho phù hợp với giờ giấc Hà Nội.


Tại phòng Thương mại, một uỷ ban nhân danh nhân dân đã nắm quyền. Nhân vật chủ yếu là một nhà nhập khẩu các hoá chất. Sáng hôm nay, ông vừa tiến hành một cuộc họp. Tham dự có đầy đủ cả Chủ tịch lẫn các phó Chủ tịch cũ, rất vui vẻ tươi cười, hoà lẫn tới đám đông các nhà kinh doanh buôn bán và công nghiệp. Sau khi đề nghị vỗ tay hoan hô “các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng”, diễn giả đưa ra ba chủ trương: mở lại hoạt động các cơ sở kinh doanh, không tăng giá; giúp đỡ trong điều kiện có thể những người dân đi lánh nạn và các bộ đội.


Gần Nha chiến tranh tâm lý của chế độ cũ, một nhân vật tới phụ trách các vấn đề thông tấn. Đó là trung tá Sinh. Ông hứa "sẽ nhanh chóng" giải quyết vấn đề các nhà báo nước ngoài còn ở lại Sài Gòn. Tất cả chúng tôi đều có cảm giác ông giữ đúng lời hứa. Nhưng, bao giờ?


Lực lượng “thứ ba"

Trong gian nhà nhỏ chất đầy các pho sách luật học, tôi gặp một trong những phụ nữ có ấn tượng nhất Sài Gòn. Đó là bà Ngô Bá Thành, một cổ động viên không mệt mỏi của "Lực lượng thứ ba". Bà đã có năm bằng tiến sĩ luật ở Pháp, tiến sĩ luật ở Mỹ, nói thành thạo cả hai thứ tiếng Pháp và Anh, nói rất nhanh như súng liên thanh. Người bà ánh lên nét thông minh. Cơ thể nhỏ bé này đã dũng cảm biết bao, đã gầy mòn vì những đau khổ thiếu thốn trong các nhà tù của Thiệu. Bốn đợt bị bắt liên tiếp đã làm cho bà phải sống trong nhà giam tổng cộng năm năm.


Bà là một phụ nữ thời trẻ có thể rất xinh đẹp. Hôm nay, bà mặc một chiếc quần âu đã cũ và một áo sơ mi cộc tay. Miệng bà hé mở để lộ hai hàm răng đen sạm. Mớ tóc đen của bà được tết lại rất cẩn thận, buộc bằng dây chun, như kiểu để tóc của thiếu nữ. Tuy con người bà thể hiện dáng vẻ của những phụ nữ Anh đấu tranh đòi quyền bầu cử, tính chiến đấu của phong trào phụ nữ tự do ở Mỹ và của người phụ trách phong trào xã hội của phụ nữ Pháp. Một sự hỗn hợp đáng ngạc nhiên!


Ngay trong ngày Sài Gòn sụp đổ, bà Ngô Bá Thành tiếp quản luôn cư xá Brinks1 (Cư xá này đã từng được sử dụng làm nơi ở của các sĩ quan không quân Mỹ và đã từng bị đặc công đánh bom), một toà nhà hiện đại người Mỹ đã từng sử dụng một thời gian như một nhà câu lạc bộ, ở gần khách sạn Continental. Bây giờ được chuyển thành trụ sở ủy ban nhân dân, có văn phòng của 35 tổ chức trong "lực lượng thứ ba”.
Sáng hôm nay, bà Ngô Bá Thành rất hài lòng vì tối qua phóng viên truyền hình Hà Nội tới phỏng vấn bà. Trước ống kính, bà đã nhắc lại những lời đã nói nhiều lần: bà đấu tranh nhằm ba mục đích: độc lập dân tộc, Mỹ phải rút về nước, quyền tự quyết của nhân dân Nam Việt Nam. Hai mục tiêu đầu đã thực hiện được, bây giờ là thực hiện mục tiêu thứ ba.

Bà nói:

- Bây giờ, mọi việc đều có thể thực hiện được, nhờ sự hy sinh của các chiến sĩ giải phóng và sự giúp đỡ có tính chất quyết định của miền Bắc Việt Nam, nếu không Chính phủ Cách mạng lâm thời sẽ không thể nào giành được chiến thắng cho sự nghiệp đấu tranh của mình. Giờ của tự do đã điểm. Bây giờ phải tiếp tục đấu tranh để thực hiện được sự chung sống của tất cả các lực lượng chính trị, tất cả các khuynh hướng xã hội, cùng xây dựng nền hoà hợp dân tộc.


Tư pháp nhân dân

Không xa doanh trại to lớn của lính dù, nơi hãy còn ghi nhiều vết tích của những trận chiến đấu cuối cùng, có một người đã lấy cắp xăng trong một chiếc xe tải quân sự. Những binh lính buộc người này phải dùng một chiếc mũ sắt của Mỹ, múc xăng đổ lại vào can chứa, dưới những cặp mắt quan sát của đám người vây quanh.

Sau đó, binh lính đưa người này ra hỏi tội. Người này nói:

- Không phải tôi.

Binh lính hỏi những người chung quanh:

- Tất cả bà con đây có thật nhìn thấy anh ta lấy cắp xăng không?

- Đúng! Đúng hắn đấy.

- Hắn phải xử tội như thế nào?

- Như một tên ăn cắp.

Người đàn ông bị kết tội oà lên khóc nức nở, nói rằng anh ta đang phải nuôi một đàn con. Lính đẩy người này lên xe tải. Trong cơn hoảng loạn, đã ba lần anh ta dập đầu vào thành xe nhưng chỉ có thể làm bươu đầu. Chiếc xe tải nổ máy. Đám đông từ từ giải tán. Kể ra, cũng chẳng cần phải có cảnh tượng này để biết, Sài Gòn vừa bước vào một kỷ nguyên của công lý và trật tự. Thời đại của những ổ điếm, trộm cắp, buôn lậu đã được quyết định kết thúc.


Vĩnh biệt Christian và Michel

Tin đồn mà chúng tôi được biết và nghi ngại từ một tuần nay, đã được các bạn chính thức báo rõ vào chiều tối nay. Christian Hoche của tờ Figaro và Michel Laurent của tờ Gam ma đã chết thật rồi. Họ vừa nhìn thấy hai nấm mộ trên đường đi Xuân Lộc. Một nông dân nói, chính anh ta đã chôn cất hai người châu Âu này.


Christian mới đến Việt Nam được hai ngày. Sáng Chủ Nhật tôi đã nhìn thấy anh lên đường đi viết phóng sự. Anh có nói cho tôi biết địa điểm sẽ tới nhưng lúc đó tôi đã cứng lưỡi không khuyên ngăn anh. Tôi đã không tin có thể sử dụng cái quyền anh cả của người hơn tuổi anh, một người bạn đồng nghiệp trẻ tuổi, đáng yêu.
Còn Michel thì đã tới Sài Gòn trong cùng một chuyến máy bay với tôi. Chúng tôi đã đến khách sạn này trong cùng một chiếc tai. Tối nào tôi cũng nhìn thấy anh trong khách sạn Caravelle, nhẹ nhàng hút những điếu xì gà to tướng mà anh ưa thích. Tối nào tôi cũng bảo anh, anh đang lao vào quá nhiều rủi ro. Nhưng anh muốn chụp những tấm ảnh độc đáo, xung kích, anh lặng lẽ trả lời tôi: “có thế mới bán được".


Cả hai người đều đã bị chết ngay trong ngôi làng nhỏ mà trước đó vài hôm tôi đã tới, ngay sát gần vị trí đặt pháo 105.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #54 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2008, 09:31:38 pm »

51
MỘT SỰ KỲ DIỆU

Chủ Nhật, 4 tháng 5

Jean Pouget (Trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954, Jean Pouget là sĩ quan luỹ tùng của tướng Navane, đã nhảy dù xuống chiến đấu trên đồi A1, bị bắt làm tù binh rồi được trả lại tự do, tiếp tục viết sách, viết báo về chiến tranh Việt Nam) đã lên đường đi Xuân Lộc cùng với vài nhà báo khác. Họ đã phát hiện thấy hai ngôi mộ và tổ chức khai quật. Trong một ngôi mộ có thi hài Michel Laurent. Nhưng trong ngôi mộ thứ hai lại là xác một Việt cộng đi dép lốp cao su.


Pouget nói, nếu không thấy xác Christian Hoche trong hố huyệt này thì có thể anh nằm ở một trong số các ngôi mộ chung quanh. Anh tiếp tục sứ mệnh tang tóc rùng rợn của mình. Nhưng vẫn không tìm thấy một dấu vết nào của Christian.


Trở về Sài Gòn, Pouget gặp một chủ trại người Pháp, có giấy thông hành và biết nói tiếng Việt, đã từng đi điều tra tại thôn ấp mà Michel bị chết. Anh tìm gặp lần lượt từng người, hết người này đến người khác, hỏi thăm các nông dân, cuối cùng đã tới được một bệnh viện dã chiến cách đó khoảng sáu chục kilômét, gặp lại Christian đang còn sống.


Hai giờ sau, tôi gặp lại Christian trong phòng của Franchini ở khách sạn Continental. Anh đang ngồi uống rượu Chivas với một vẻ khoái trí rõ rệt. Đúng là Christian đã thoát chết một cách kỳ diệu. Một viên đạn AK47 đã bắn trúng đùi Christian ở phần mềm, không xuyên ra phía sau, cũng không đụng tới xương. Một viên đạn khác bắn trúng cổ, xuyên ra phía sau, không đụng vào hàm. Christian nằm yên trong hố, trong khi Michel bị ba viên đạn vào lưng và một viên đạn vào gáy, bị chết sau cơn hấp hối ngắn. Khi quân Việt xông tới, Christian đứng dậy, giơ cao hai tay lên trời. Anh nói:

- Nếu mình bị thương nặng, có thể chết bỏ xác rồi. Nhưng mình vẫn còn tập tễnh đi được và đã phải đi theo Việt cộng tới sáu mươi kilômét. Thật là cực hình. Mình đi sau cùng, ở đuôi hàng quân. Cẳng chân nóng ran kinh khủng. Mỗi lần gặp một toán lính đi ngược chiều lại bị đánh và đập vài báng súng. Họ tưởng mình là một gián điệp Mỹ. Cuối cùng, tới một nhà tranh được dùng làm trạm quân y trong rừng. Họ mổ đùi để gắp đạn, nhưng không có thuốc tê nên đau khủng khiếp. Rồi mảnh thịt rách dưới mặt được khâu lại. Thế là mình nằm liệt dưới bóng mái tôn, tự nhủ, có lẽ phải hơn một tuần nữa các bạn mới tìm thấy...


Sự hy sinh vô ích của đám dân vệ đạo Cơ-đốc

Chrislian và Michel đều mặc thường phục. Việt cộng không bao giờ bắn vào những người không phải là lính chiến đấu. Nhưng cuộc chiến tranh nào cũng có những ngoại lệ.

Đó là điều tôi muốn viết khi tôi được biết có một cuộc chiến đã xảy ra trong khu vực. Những cuộc giao tranh cuối cùng không phải đã xảy ra giữa các đơn vị quân đội chính quy Nam Việt mà là do các dân vệ theo đạo Cơ-đốc tiến hành. Điều không may là Michel và Christian đã bị kẹt giữa hai luồng đạn của Việt cộng đang tiến đến và của những dân vệ theo đạo Thiên Chúa mặc thường phục đang cố ngăn chặn.


Bị các cha cố nhồi sọ chủ nghĩa cuồng tín, những dân vệ chừng mười bốn mười lăm buổi này, mang theo lá cờ vàng và trắng của Vatican đã chiến đấu rất quyết liệt ở vùng Hố Nai. Với những chai xăng, những lựu đạn chống tăng, bọn dân vệ này đã tiêu diệt được một số xe tăng T54 và xông lên những xe tải để chém giết những binh lính Bắc Việt ngồi chật lèn trong đó. Như trong cuốn phim truyện Cây cầu do Nam Tư sản xuất, bọn thiếu niên dân vệ này là người gốc ở xứ Bắc kỳ di cư vào Nam từ năm 1954, kịch liệt chống cộng. Quân đội Thiệu đã bỏ đi từ lâu, để lại khẩu pháo 105 để bọn dân vệ này muốn bắn thế nào thì bắn. Những tên sống sót cuối cùng trong trận chiến đấu tuyệt vọng này, khi bị quân Việt tìm thấy trong các hố hào và những căn nhà đổ, đã bị đưa đi xử tội.


Đồng chí Thượng tướng

Đài phát thanh truyền đi bản danh sách "uỷ ban quân quản thành phố Sài Gòn - Gia Định" vừa thành lập. Uỷ ban này gồm một Chủ tịch, năm Phó Chủ tịch và năm uỷ viên. Chủ tịch uỷ ban là Thượng tướng Trần Văn Trà. Hai năm trước tôi đã gặp ông, khi ông đứng đầu phái đoàn Việt cộng tại tiểu ban quân sự được tổ chức theo các hiệp định Paris.


Tướng Trà 57 tuổi, là một trong những gương mặt quan trọng nhất trong cuộc chiến tranh Đông Dương. Ông đã từng là bí thư chính trị và tư lệnh quân sự Việt Minh tại Sài Gòn năm 1946. Năm 1954, sau chiến dịch Điện Biên Phủ, ông ra Hà Nội bổ túc nghiệp vụ. Sau đó, người ta thấy ông làm phó cho tổng tư lệnh ở miền Nam Việt Nam trong cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai: chiến tranh chống Mỹ. Năm 1968 ông tổ chức cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân. Sau đó, ông xuất hiện ở An Lộc. Tóm lại, đây là một trong những nhân vật chủ chốt suốt ba thập kỷ, có lẽ là nhân vật số 3 trong hệ thống quân sự sau tướng Giáp và tướng Văn Tiến Dũng, 57 tuổi, tổng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Việt Nam từ năm 1953.


Nói chuyện với một lính gác

Đã mười giờ tối, tại một góc quán cà phê Bò đá:

- Này, chú lính. Chú làm gì trong đêm với khẩu súng Tàu và mấy quả lựu đạn Mỹ này?

- Tôi gác phố.

- Nhưng có gì để gác đâu?

- Người ta bảo, phải bảo vệ thành phố chống lại tay chân bè lũ Mỹ - Thiệu.

- Đúng đấy. Tối nào tôi cũng nghe đài Giảl phóng nói như vậy. Nhưng, như chú nói, Mỹ cút thì bọn bù nhìn cũng biến hết rồi.

- Người ta bảo tôi canh gác ngã tư này thì tôi cứ đứng gác.

- Chú lính này! Chú đi khỏi nhà lâu chưa?

- Ba năm rồi.

- Quê chú ở đâu?

- Ở một làng gần Hà Nội.

- Chú bao nhiêu tuổi rồi?

- Chẵn hai mươi.

- Ba năm qua được mấy lần nghỉ phép?

- Chưa một lần nào. - Thế chú nhận được bao nhiêu thư từ gia đình gửi tới?

- Hai.

- Ít quá chú lính ạ?

- Chiến tranh mà!
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #55 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2008, 09:33:47 pm »

Chú rể tương lai trẻ tuổi

Tại khách sạn Caravelle, tôi gặp T, một người Pháp 25 tuổi vừa đến trong chuyến máy bay cuối cùng. Tôi nghĩ, anh là một nhà báo. Anh là một vị hôn phu, tới đây chờ ngày cưới vợ. Anh tới được Sài Gòn là nhờ sự giúp đỡ của một nhà ngoại giao để làm lễ thành hôn với một cô gái việt Nam trẻ tuổi. Đây là một lễ cưới bình thường nhưng nhằm một mục đích duy nhất là tạo điều kiện cho cô gái Việt ra khỏi đất nước một cách hợp pháp.


Chờ đợi lâu hơn là câu chuyện của C. cũng là người Pháp, tới đây vào giờ phút cuối cùng, tôi cũng không hiểu tại sao anh nhất định tới đây, bằng những phương tiện phải bỏ ra nhiều tiền. Anh nói, anh đã mua được sáu chiếc xe ô tô và được ở tại sứ quán New Zealand. Từ đó, anh phụ trách một số người Việt, giải quyết nhiều công việc, ăn to, nói lớn, gây gổ với người này người khác, kể lại cho nghe nhiều chuyện không thể nào tin được, như là: chính anh đã thu hồi được lá cờ Mỹ của đại sứ Graham Martin và đưa về cho Tổng thống Ford; chính anh đã gây sự với những người Nga để họ phải gửi cho anh một chiếc chuyên cơ Anh là bạn thân của Tổng thống Pháp Giscard; anh đang chờ thị thực nhập cảnh để đi Hà Nội... Ngày mai, nếu cần, anh sẽ kiếm được một máy bay lên thẳng; anh có tiền đô la đầy lèn hai túi- và không phải đó là tiền của anh - cũng chưa phải thế là hết...


Bài diễn thuyết ba hoa này thường kết thúc bằng câu chuyện anh đánh nhau với những lính gác Việt cộng ở ngay hành lang khách sạn Miranmar. Rồi C. mất hút. Mấy hôm sau, người ta gặp lại anh, đang được tiêm và uống thuốc an thần tại bệnh viện Grall.


Tới cùng

Đêm đã quá khuya. Lệnh giới nghiêm không còn nghiêm ngặt như lúc đầu nữa, tôi lại tiếp tục nói chuyện với những người lính Bắc Việt đứng canh tại khu phố có trụ sở Quốc hội. Những chú lính hai mươi tuổi này đều rời nhà di bộ đội từ nhiều năm nay. Nhưng họ cũng không nói đến chuyện sẽ trở về hoặc sẽ lấy vợ. Họ thuộc một khối cộng đồng rộng rãi những người lính rất chịu đựng gian khổ, có kỷ luật không giống với những quan điểm của người phương Tây chúng ta.


Khi đi sâu vào câu chuyện, người ta được biết rõ, những chú lính trẻ này thật ra cũng muốn trở về nhà ở xứ Bắc kỳ và lấy vợ. Nhưng, các chú hiểu rằng, nay chưa phải là lúc tính chuyện đó. Và những chàng trai tóc cắt ngắn này không hề phàn nàn.


Với Thị Ba là một trong những cô gái làm công cho các gia đình người Âu, ngay từ khi mới tiến vào Sài Gòn, những người lính này đã bộc lộ và vẫn thường nhắc lại:

- Chúng tôi chưa thể quay trở về nhà được. Sau miền Nam Việt Nam, còn phải đi Campuchia để bảo vệ bà con người Việt.

Họ đi đâu chẳng được, nếu họ muốn. Họ có một niềm tự hào dân tộc và thuộc một đội quân xuất sắc.


Việc cứu thương ở Vũng Tàu

P., cựu trung uý dù, bác sĩ khoa liệu pháp vận động, cùng đi với một đội cấp cứu y tế đổ bộ đường không, tới Vũng Tàu vài ngày trước khi chiến tranh kết thúc. Nhiệm vụ của anh là cứu chữa những người lánh nạn bị thương đang chất đống trong thành phố và những vùng phụ cận.


Trước khi đối phương mở cuộc tiến công một ngày, anh đã tước vũ khí một tiểu đoàn bộ binh quân đội Sài Gòn đang tạm trú tại bệnh viện, đưa sang sân vận động bên cạnh.

Ngày 28 tháng 4 thành phố bị bắn pháo nhưng bệnh viện không bị trúng đạn. Ở ngoài bến, năm chiếc tàu chưa kịp ra khơi đã bị bắn đắm.

Quân Việt tiến công thành phố bằng hai gọng kìm vào buổi sáng 29 tháng 4. Họ đã vấp phải những cuộc chiến đấu đường phố rất ác liệt. Hai đại đội dù và vài đơn vị thuỷ quân lục chiến đã chống lại tới cùng.

Vào buổi chiều P. mặc bộ đồ trắng, dấu hiệu chữ thập đỏ nổi trên mũ sắt và trên xe Jeep cứu thương, bắt đầu công việc thu nhặt lính bị thương của cả hai phía đối địch. Nhưng rồi anh bị bắt, bị một lính canh giải đi khắp phố, đến một ga ra để xe ô tô và bị giam trong đó cùng với một số người Pháp. Tám giờ sau, những người này được thả. Họ đề nghị được rời khỏi Vũng Tàu vào ngày hôm sau. Yêu cầu của họ được chấp thuận. Họ đi ra bến tàu. Nhưng lại cần phải có giấy phép mới sử dụng được thuyền bè. Đường bộ đã bị cắt, chỉ còn đường thuỷ. Họ quay lại thành phố xin một giấy phép thứ hai. Khi. P. và những người cùng đi về được đến Sài Gòn thì tất cả hoàn toàn kiệt sức.


Côn Đảo được giải phóng

Tôi gặp lại một nhân vật đối lập với chế độ Thiệu, bị bắt đầy ra Côn Đảo, nay được giải phóng về Sài Gòn. Ông có may mắn là bị bắt chậm và chỉ phải ở Côn Đảo một thời gian ngắn. Nhiều người khác bị đưa ra đây trước ông đã bị chết như những người bị giam ở Buchenwald1 (Một trại tập trung của phát xít Đức, giam giữ những người Do Thái và tiếp đó là tù binh gồm nhiều quốc tịch, bị hành hạ dã man, rất nhiều người chết). Chưa nói đến những người khốn khổ bị nhốt trong những "chuồng cọp” rất hẹp, tới mức không thể đứng thẳng hoặc nằm duỗi dài chân. Sau nhiều tháng, nhiều năm bị giam trong tư thế ngồi xổm họ đã bị tàn phế, phải đẩy lên xe.

Người tôi gặp có vẻ khá khoẻ mạnh so với một người tù được giải phóng. Tôi ngạc nhiên, chúc mừng ông. Ông nói:

- Được như thế này, đó là vì chúng tôi có một tổ chức kháng chiến trong ngục tù. Chúng tôi đã nắm được bọn cai ngục. Bọn chúng thấy gió xoay chiều đã cho chúng tôi được ăn uống tử tế.


Vào lúc 18 giờ ngày 30 tháng 4, bẩy mươi chín người tù tại Côn Đảo đã nổi dậy. Họ đã vô hiệu hoá bọn lính canh, ra khỏi nhà giam và được sáu ngàn dân trên đảo đón tiếp nhiệt tình. Sau đó họ thành lập một uỷ ban gồm mười một thành viên đứng đầu là đồng chí Lê Câu. Tối hôm đó đài Giải phóng trong bản tin về Côn Đảo, cho biết thêm 27 tàu thuyền của "bọn nguỵ bù nhìn" định bỏ chạy đã bị chặn lại ở ngoài khơi, bị các đơn vị hải quân Bắc Việt bao vây và buộc phải quay về bến Côn Đảo.


Còn bao nhiêu tàu chiến lớn nhỏ khác đã thoát khỏi vòng vây? Chắc hẳn, người ta chẳng bao giờ biết được câu chuyện này là sự tổng hợp những chuyện phiêu lưu cá nhân của mấy ngàn người và chẳng khi nào đưa vào sử.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #56 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2008, 09:37:30 pm »

52
TƯỚNG MINH GIỮA NHỮNG BỂ NUÔI CÁ CẢNH

Thứ hai 5 tháng 5

Hoàn toàn tình cờ, tôi lại đến nhà tướng Dương Văn Minh. Lần này, không thấy một người lính nào, một người gác nào. Cổng hé mở. Tôi bước vào tròng vườn. Tướng Minh ngồi phía sau toà biệt thự cùng với bốn người khác, cùng ngồi chung quanh một chiếc bàn tròn, giữa hàng chục bể nước nuôi toàn loại cá cảnh quý hiếm.

Tôi nói:

- Ngài đã có công lớn với Nam Việt Nam, tránh cho Sài Gòn bị tàn phá.

Ông nắm lấy bàn tay tôi, xiết chặt và nói:

- Phải viết chuyện này.

- Tôi đã viết.

- Cám ơn ông.

Tướng Minh giải thích thêm, đối với ông mọi việc đã trôi qua một cách rất đẹp. Ông đã ở lại dinh Độc Lập, được canh gác tốt, từ hôm thứ Tư đến tối thứ Bảy. Ông dùng đúng câu chữ "được canh gác tốt". Ông dẫn chứng:

- Những người lính canh, tất cả đều có thiện cảm với tôi. Đây này - ông chỉ vào một người trẻ tuổi đứng ở gần bàn, phía tay trái tôi - đây là một chú đã canh giữ tôi. Hôm nay, chú ấy đến đây chào tôi.

- Rồi sau đó, thưa tướng quân?

- Chẳng có gì xảy ra cả. Ông thấy đấy: tôi đang ở đây. Tôi đang chờ chuyện tiếp theo. Tôi đã nói với ông, tôi sẽ không rời khỏi đất nước tôi.

- Vâng, tôi vẫn còn nhớ.

Chúng tôi nói chuyện tào lao một lúc lâu. Tướng Minh vẫn bình thản, như tác phong vốn có. Ông nói:

- Ông thấy đấy. Mọi sự đều tốt lành. Hoà bình đã được lập lại.

Một khoảng yên lặng trôi qua. Tướng Minh lại nói tiếp:

- Hoà bình. Ông không cảm thấy như vậy là tốt hơn hay sao?



53
SÀI GÒN TẮM RỬA

Thứ Ba 6 tháng 5

Trước trụ sở Quốc hội cũ, nhân dân lật đổ tượng đài "chiến sĩ trận vong” biểu tượng của chủ nghĩa quân phiệt rõ nét nhất, tạc hình hài người lính cầm súng đang xông lên phía trước. Không rõ như thế nào mà người ta lại có thể nặn ra một tác phẩm xấu xí đến thế này? Khối bê tông vẫn chưa đổ sụp vì có cốt thép mạnh. Nhưng, chưa đầy hai giờ sau, tất cả chỉ còn là một đống đổ nát.


Mặc dù thiếu kinh nghiệm về việc phá huỷ, cũng may không có ai bị thương. Nhưng từ Chợ Lớn, ba kẻ táo tợn đã dùng thuốc nổ để phá tượng đài. Kết quả là ba người bị chết.

Tất cả các khu phố đều tiến hành việc tẩy uế.

Đài phát thanh tuyên bố: "Thành phố chúng ta phải là một thành phố cách mạng, văn minh, sạch sẽ, lành mạnh, vui vẻ, tươi trẻ".

Những xe ô tô xúc rác rất hiếm. Nhưng các phụ nữ lao động đã trở lại với nón lá đội đầu và quần dài bằng vải lĩnh đen. Các sinh viên cũng có mặt, tăng cường thêm sức lao động bằng các chổi lúa, xẻng, xô. Trên các tuullg gạch được quét vôi lại để xoá những lá cờ Nam Việt Nam mà Thiệu bắt sơn trên mỗi căn hộ. Những khẩu hiệu của chế độ đã diệt vong bị cạo bỏ, thay bằng những khẩu hiệu khác, toàn nói về hoà bình, độc lập, tự do. Tấm biển trước cửa nhà thờ lớn, gần tượng Đức Mẹ Đồng Trinh được thay bằng tên gọi mới, là đường phố Hoà Bình.

Tại các khu phố đều thành lập các uỷ ban. Đây là trụ sở hội phụ nữ cách mạng, kia là hội các nhà kinh doanh cấp tiến. Chưa đâu xuất hiện các từ ngữ cộng sản. Chỉ có những khẩu hiệu về dân chủ, hoà giải hoà hợp dân tộc.


Những khẩu hiệu

Mặt trước các công sở đều có những băng vải đỏ, nêu các khẩu hiệu:

“Không có gì quý hơn độc lập tự do"

"Nhân dân và quân đội đoàn kết xây dựng chủ nghĩa xã hội”.

"Hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh".

"Nhân dân và các lực lượng vũ trang nhân dân muôn năm"

“Tình đoàn kết Việt Nam, Lào, Campuchia muôn năm!"

"Đảng Lao động Việt Nam muôn năm"

“Sài Gòn giải phóng muôn năm"

"Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi trồng trái tim chúng ta!"


Những đứa trẻ bị bỏ rơi

Có hai đứa bé tội nghiệp, bơ vơ trong đại dương của những đau khổ do cuộc chiến tranh kéo dài ba mươi năm gây ra.

Một đứa tên là Jean Marc, mười bảy tuổi rưỡi, có một gương mặt thanh tú của người âu, tóc dài, đi lại uể oải. Bố em quốc tịch Việt Nam nhưng sống ở Pháp mà em không bao giờ biết mặt. Mẹ em gốc Ba Lan, quốc tịch Pháp, tái giá với một người Mỹ và đã định cư tại Los Angeles. Hiện em sống một mình trên hè phố Sài Gòn, không có tiền. Năm 12 tuổi, em đã làm dịch vụ cho một đơn vị lính biệt kích Mỹ. Em nói tiếng Pháp giọng Mỹ. Em đi lang thang trên hè phố với hộ chiếu Pháp trong tay. Chính vì vậy mà tôi làm quen với em.


Còn đây là một cô gái mảnh dẻ, hai mươi mốt tuổi, tên là Jane. Em đã ở trong một trường "trung học” ở Nha Trang. Khi em chạy khỏi Nha Trang, đến được Sài Gòn thì cha mẹ em đã đi sang Mỹ. Thế là một mình em ở lại thành phố này với một chùm chìa khoá của biệt thự gia đình nơi em nuôi hai đứa bé mười lăm tuổi. Jane vẫn còn có một ít tiền. Nhưng sau này?


Tối nay, tôi đã đón tiếp cả hai em, cho chúng ăn uống. Do trời đã khuya, tôi cho chúng ngủ trong phòng tôi. Jane để nguyên cả quần áo nằm trên một trong hai chiếc giường, sau khi đã cầu kinh rất lâu rồi nhắm mắt ngủ. Jean Marc nằm chung với tôi trên chiếc giường kia. Khi tôi thức dạy, Jean đang giặt chiếc áo sơ mi của tôi trong phòng tắm.

Jean Marc khi ra đi, nói:

- Cháu mong rằng đã không quấy rầy chú!

- Jane là bạn gái của cháu, có phải không?

- Không. Đó chỉ là một người cùng gặp trên đường.

- Cháu nên làm lễ kết hôn với Jane rồi đưa Jane về Pháp vì cháu có quốc tịch Pháp.

- Chú nghĩ thế sao?

Jean Marc vẫn có thói quen hỏi lại người đặt ra câu hỏi.

Tôi trả lời:

- Chú cũng không biết nữa. Nhưng cô ấy xinh xắn dễ ưa đấy chứ?

- Cháu đang tự hỏi, liệu cháu có đang say đắm cô ấy không.

- Sao? Cháu phải tự hỏi? Cháu không tin chắc?

- Cháu bắt đầu chợt để ý đến Jane trong bữa cơm tối hôm qua, trong lúc chú đang nói chuyện với các bạn chú, cháu - đã nhìn ngắm Jane. Cháu không giải thích được rõ. Chú nghĩ, đó là tình yêu hay sao?


Thật là lũ trẻ mỏng manh đến tội nghiệp, dễ vỡ tan như sành sứ, liệu các em sẽ ra sao nếu các em ở lại trong thành phố này, Jean với tấm hộ chiếu và Jane với chùm chìa khoá. Mà nếu rời khỏi đất nước này thì các em sẽ đi đâu?
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #57 vào lúc: 29 Tháng Hai, 2008, 08:57:40 pm »

54
THẲNG TIẾN TỚI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thứ Tư, 7 tháng 5

Bốn giờ sáng, tôi bị đánh thức bởi các loa phóng thanh. Tại quảng trường trước mặt trụ sở quốc hội cũ những đoàn đại biểu đầu tiên đã tập hợp để chuẩn bị đi dự cuộc họp mặt nhân dân quy mô lớn bắt đầu vào hồi tám giờ tại dinh Độc Lập.


Đến buổi trưa, các đường liên lạc vô tuyến viễn thông đã được thiết lập. Cũng cần nói rõ cho chính xác hơn: cánh cổng mới chỉ hé mở. Tôi chạy ra bưu điện trung ương đi gửi một bức điện, bức điện đầu tiên kể từ ngày 30 tháng 4.


Chiếc vỏ chai trên mặt biển

Được đánh đi từ Sài Gòn ngày thứ Tư 7 tháng 5, đến thứ Sáu ngày 9 bức điện này mới tới được nước Pháp, vì một lý do nào đó không biết, dù sao cũng còn nhanh hơn các bức điện khác. Các bạn đồng nghiệp của tôi nói vui, có lẽ vì bài báo này gửi cho tờ Dauphiné libéré, có nghĩa là Dauphiné giải phóng, cũng như tờ báo Sài Gòn giải phóng hoặc Đài giải phóng.


Đây là bài báo đầu tiên từ Việt Nam, được gửi về tới Pháp, với nội dung ngắn gọn như sau:

“Một tuần sau khi chiếm được Sài Gòn, đúng vào ngày kỷ niệm hai mươi mốt năm chiến thắng Điện Biên Phỉ, các tuyến liên lạc viễn thông đã được khôi phục, trong những điều kiện khác nhau, đường truyền phải đi qua Hà Nội. Những tuyến viễn thông này đã bị cắt đứt từ ngày thứ Tư 30 tháng 4 vào lúc mươi ba giờ bốn mươi phút. Từ thời điểm đó là một sự im lặng hoàn toàn. Tôi gửi bài báo này một cách hú hoạ, như là nhét một lá thư vào vỏ chai rồi ném xuống biển.


Từ bốn giờ sáng, toàn thành phố đã đứng dậy. Trước khi mặt trời mọc, hàng ngàn người đã mang theo cờ Việt cộng, biểu ngữ, ảnh chân dung Hồ Chí Minh đến chỗ tập trung rồi đi về phía dinh Độc Lập.


Đến lúc rạng đông đã bắt đầu tập trung một số người rất đông vui, có kỷ luật, như cảnh tượng thường thấy trên Quảng trường Đỏ ở Matxcơva hoặc ở Quảng trường Nhân dân tại Bắc Kinh. Điểm chủ yếu trong buổi hội họp đông người này là bài diễn văn dài của tướng Trần Văn Trà, Chỉ tịch Uỷ ban quân quản đang tạm thời quản trị Sài Gòn đã được đổi tên thành "thành phố Hồ Chí Minh".


Không ai biết đến bao giờ cái Uỷ ban gồm mười một tướng tá này mới được thay bằng một chính quyền dân sự và càng không biết được cái chính quyền tiếp theo uỷ ban quân sự này sẽ như thế nào.


Còn hiện nay thì uỷ ban quân quản này đang vừa lập lại trật tự tại thành phố còn ngập ngụa từng đống rác, những khung xe ô tô, những xe nhà binh bị bắn cháy, những vũ khí và thiết bị quân sự bỏ lại trên đường, vừa tiến hành khởi động lại bộ máy chính quyền, tiếp tế lương thực, ổn định dân cư. Việc nắm quyền này được thực hiện một cách mềm dẻo, tuần tự từng khu phố, từng ban, ngành. Cũng đã bắt đầu đưa vào quân ngũ những lực lượng du kích nội thành.


Chiếc máy bay duy nhất mà mọi người nhìn thấy xuất hiện trên vòm trời Sài Gòn ba hôm trước là của Liên Xô và đang làm con thoi nối Sài Gòn với Hà Nội. Trong thành phố Sài Gòn mà những điều kiện sinh sống chưa bao giờ ổn định, ngày hôm nay mọi người đều ghi nhận hai điều kỳ diệu đó là những vụ phá hoại đã bị hạn chế tới mức cực kỳ tối thiểu, và số người chết đã tương đối ít. Trong tổng số mười ngàn người Pháp chính thống hoặc người Pháp theo quốc tịch ghi trong hộ chiếu đang sống tại thành phố, chỉ có một người thiệt mạng. Đó là Michel Laurent, bạn đồng nghiệp của tôi, phóng viên hãng ảnh Gamma. Một buổi lễ truy điệu anh đã được tổ chức sáng nay, với sự tham dự của đại sứ Pháp. Ngồi trên hàng ghế đầu là Christian Hoche, phóng viên tờ Figaro là người đã may mắn thoát hiểm khi đứng bên cạnh Michel, bị nhiều vết đạn.


Trong khi những chiếc loa phóng thanh vẫn không ngừng vang lên những bài hành khúc và những qui chế cho dân chúng, ngồi trong nhà nhiều người vẫn hỏi nhau về số phận Nam Việt Nam sẽ ra sao. Nhưng, dù thế nào thì mọi người vẫn thở phào một cái dài: chiến tranh đã hết!”
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #58 vào lúc: 29 Tháng Hai, 2008, 08:58:42 pm »

55
CUỘC GẶP ĐẦU TIÊN VỚI ÔNG CHỦ MỚI CỦA SÀI GÒN

Thứ Năm 8 tháng 5

Lễ Thăng thiên. Phải có một bạn đồng nghiệp nhắc giúp, tôi mới nhớ hôm nay là ngày lễ Đức chúa Giê-xu lên trời. Quả là đã quá xa. Kinh Thánh viết: "Hỡi những người ở đất Galilée, các con nhìn ai mà cặp mắt cứ ngước lên trời?"


Người mà tôi nhìn, người mà hôm nay chúng tôi nhìn, không phải là Trời mà đó là tướng Trần Văn Trà, lần đầu tiên tiếp các nhà báo ở dinh Độc Lập. Đó là điều khiến chúng tôi vinh dự. Nhưng, thay vào buổi họp báo này, nếu có một chiếc máy bay đưa chúng tôi về nhà vẫn tốt hơn.


Vị tướng mà tôi đã được gặp sau khi Hiệp định Paris ký kết văn không thay đổi: vẫn dáng đi trẻ trung dù đã năm mươi bảy tuổi, vẫn đôi mắt sắc sảo sau cặp kính, vẫn bộ tóc màu đen cắt ngắn, vẫn giọng nói sang sảng, vẫn bộ quân phục bằng vải màu xanh lá cây không gắn huy chương, huy hiệu, vẫn sự đón tiếp thân tình, vẫn những câu trả lời linh hoạt.


Tướng Trà, dù ít hay chưa được phương Tây biết đến, đã giữ một vai trò thiết yếu trong ba cuộc chiến tranh Đông Dương: Cuộc chiến tranh chống Pháp, cuộc chiến tranh chống Mỹ và cuộc chiến tranh Việt Nam. Nhưng ông hoạt động bí mật rất lâu. Ngay đến tên ông cũng ít người biết. Lúc đó, ông lấy tên là Trần Nam Trung. Tên này chỉ là bí danh, có nghĩa là miền Nam và miền Trung. Thói quen giữ bí mật là đặc tính của những người đã tạo ra chiến thắng của cộng sản ở Việt Nam.


Tướng Trà bắt đầu buổi nói chuyện bằng cách bộc lộ với chúng tôi hai vấn đề quan tâm lớn của ông. Một mặt, bảo đảm trật tự an ninh cho dân chúng. Mặt khác bình ổn các điều kiện sống. Ông thừa nhận:

- Đây không phải là một công việc dễ dàng. Trong lịch sử chưa bao giờ có chuyện một đô thị rộng lớn tới hơn ba triệu dân, được giải phóng rất nhanh chóng như thế này.

Tất nhiên, chúng tôi dồn dập hỏi tướng Trà, đến bao giờ thì một chính quyền dân sự kế tục Uỷ ban quân quản. Ông trả lời:

- Chính chúng tôi cũng muốn chuyển giao càng nhanh càng tốt cho một chính quyền dân sự. Nhưng, rất tiếc chưa thể công bố đích xác ngày giờ được.


Nhiều nhà báo cho rằng, sự chậm trễ này là do có sự thảo luận giữa Hà Nội và Chính phủ Cách mạng lâm thời về hình thức chính quyền mới, về màu sắc chính quyền, về sự thống nhất đất nước, mà có người muốn hoàn thành nhanh, có người lại muốn định ra một thời hạn. Nhưng tôi không viết câu này trong bài báo vì bức điện phải chuyển qua đường Hà Nội.


Trên thực tế, tất cả những nhà báo ngồi quanh tướng Trà đều có mối quan lâm hàng đầu là muốn biết đến khi nào thì họ có thể rời khỏi Việt Nam để về nước. Và ít nhất họ đều muốn có khả năng gửi thẳng bài báo bằng telex. Đó là chưa nói đến những bức ảnh, những cuốn phim, những cuốn băng ghi âm chất đống từ ngày chiếm được Sài Gòn, chưa có thể gửi về nước được vì không có máy bay.

Mọi người hỏi tướng Trà về chuyện này. Ông trả lời:

- Bộ Ngoại giao sẽ có thông báo về việc này.

- Bao giờ?

- Sắp tới!

Sau đó, ông mời các nhà báo cùng uống với ông, ngay trên thềm dinh Độc Lập, rượu bia 33 và nước ngọt coca-cola.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #59 vào lúc: 29 Tháng Hai, 2008, 09:00:21 pm »

56
TUẦN TỰ TỪ TỪ TIẾN TRIỂN

Thứ Sáu 9 tháng 5

- Thế nào, đồng chí chính uỷ, vẫn luôn luôn bận rộn chứ?

- Càng ngày càng lắm việc. Cứ như là quét dọn chuồng ngựa. Đòi hỏi phải có thời gian. Nhưng chúng tôi sẽ hoàn thành. Chẳng bao lâu, các ông sẽ nhìn thấy, không còn dấu vết gì của cái chế độ thối nát đã tồn tại quá lâu ở Sài Gòn này.


Vị chính uỷ, đặc phái viên từ Hà Nội mới vào, không cường điệu. Ngày lại ngày, chúng tôi nhìn thấy đô thị này đổi thay ngay trước mắt.

Không còn nhìn thấy quân đội nữa. Không thấy một chiếc xe tăng nào, một khẩu pháo nào, một khẩu trọng liên nào. Thỉnh thoảng mới chỉ thấy những chiếc xe ô tô vận tải chế tạo từ Trung Quốc hoặc Liên Xô, chở các thùng xăng hoặc bao tải gạo chạy qua thành phố. Phần đông những binh lính đi la cà ngoài phố đều không mang vũ khí, có vẻ như là những người đi phép nhởn nhơ.


Những rác rưởi của các bà nội trợ đều được thu dọn vào buổi sáng. Các vỉa hè được quét dọn. Mọi người cũng nhìn thấy các sinh viên tham gia tô điểm thành phố với những chiếc xô, hộp sơn, bát sơn... Một số khác đứng ở các ngã tư, cố gắng làm hết sức mình để thay các cảnh sát viên vắng mặt.


Lính cảnh vệ tiếp tục canh gác các công sở. Nhưng số lượng giảm dần và những chùm lựu đạn cũng dần dần không thấy đeo ở thắt lưng nữa.

Ở các chợ trời buôn bán các thứ trộm cắp, những con buôn tiếp tục trưng bày lộ thiên các chai rượu nho, rượu uýt-ki, rượu sâm banh, các đồ điện tử, các máy ảnh, những lọ nước hoa, các dụng cụ, các máy nổ. Tất cả những thứ này đều cướp được từ các kho của Mỹ.


Các ngân hàng vẫn liếp lục đóng cửa. Bưu điện cũng vậy, ngoại trừ các điện tín báo chí, phải nộp hai bản một lúc.

Các quán ba, nhà hàng mát - xa và các sòng bạc các loại đều bị đóng cửa.

Những viên chức cũ và quân nhân dưới chế độ cũ được kêu gọi tới đăng ký tại các địa điểm và ngày giờ đã ấn định, tuỳ theo chức vụ, cấp bậc.

Chỉ có một tờ báo duy nhất, thay cho năm hoặc sáu tờ trước kia. Đó là tờ Sài Gòn giải phóng.

Tại các khu phố đều có những uỷ ban nhân dân, kiểm soát mọi ngành nghề kể cả những nhà kinh doanh bốn mùa và các chủ khách sạn.

Các trạm bơm xăng đều khô cạn. Càng ngày càng giảm dần số xe có động cơ. Nhất là do xăng chợ đen bán rất đắt, lên tới mười franc một lít có pha theo tỉ lệ dầu nhớt hoặc nước lã. Chẳng bao lâu nữa, có thể dân Sài Gòn phải đi bộ hoặc đi xe đạp.

Được cái may mắn là gạo, thịt, rau, quả đều không thiếu.

Đồng chí chính uỷ có vẻ hài lòng. Ông nói:

- Trước đây, Sài Gòn là hiện thân của một nền văn minh đang trên đà tan rã. Ngày mai, Sài Gòn sẽ tượng trưng cho trật tự, sạch sẽ, đạo đức, công lý.


Trở lại Chợ Lớn

Những đồng tiền cuối cùng của tôi đang bay hơi. Các ngân hàng vẫn đóng cửa. Tỷ giá hối đoái tương đương đã sụp đổ. Tôi đành quyết định đi bằng xe ô tô thuê, may mắn vẫn còn chạy được. Có một chiếc xe cọc cạch đang chờ tôi đến dạm hỏi ở trung tâm Chợ Lớn. Tôi lững thững đi một mình tới đó. Liệu tôi có giống một người Mỹ nào đó, bị máy bay lên thẳng bỏ rơi không?

Một người sán lại gần tôi, nói:

- Vi-xi đấy!

Rồi anh ta chỉ tay vào hai người lính mặc quân phục màu xanh lá cây, đi ở bên kia hè.

Tôi hỏi lại:

- Ông là Việt cộng à?

- Không. Tôi không phải Vi-xi.

- Thế còn ông?

- Tôi, tôi là người Pháp.

Anh ta chìa tay bắt tay tôi. Tôi cảm nhận được hơi ấm từ bàn tay anh.

Một số người Hoa, do cẩn thận, đã treo ở trước cửa nhà mình lá cờ của Mao Trạch Đông bên cạnh cờ Việt cộng. Thật là chưa bao giờ thấy ai quá cẩn thận như vậy.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM