Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:41:11 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tướng Navarre với Trận Điện Biên Phủ  (Đọc 39524 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
altus
Moderator
*
Bài viết: 1782



« Trả lời #10 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2008, 11:43:24 pm »

Chương 3
Việt Minh chuẩn bị tiến công


        Tháng 8 và tháng 9, mưa rơi trên toàn cõi Đông Dương, chỉ trừ có dải đất dài và hẹp vùng bờ biển miền Trung, nằm ở phía Đông dãy Trường Sơn che chắn cho Huế và Đà Nẵng trước những đợt gió mùa. Mưa rơi hàng giờ có khi suốt cả ngày.
        Nước mưa tràn ngập ruộng đồng rừng núi, biến những lớp bụi thành bùn sâu làm những con đường mòn trở thành dốc trượt patanh. Cả một thế giới cá và ếch tràn lên mặt đất. Những con rùa to tướng cổ dài và mềm oặt với cái đầu giống như mỏ vẹt thò ra khỏi mai, cố bò lên mặt đường và mặt để nhưng lại bị trượt xuống. Những vết nấm mốc huy hoại sợi vải, thấm vào da người, thành những nốt đỏ dễ ngứa giống như rôm sảy và nốt đậu mùa.
        Chiến tranh như đang ngủ li bì. Nhưng nó vẫn sống, vẫn đang thở phập phồng vẫn có mặt ở khắp mọi nơi. Bởi vì hai tháng mùa mưa là mùa chuẩn bị cho những chiến dịch lớn, không cản trở “cuộc chiến tranh nhỏ”. Trong khi những trận mưa rào giảm dần thì cơn sốt chiến trận của con người lại tăng lên, Bộ Tổng chỉ huy ở cả hai phía đều chuẩn bị hoạt động.
        Cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc đang bước vào giai đoạn cuối cùng. Tướng Giáp đã và sẽ còn giữ quyền chủ động chiến dịch. Tương quan lực lượng cơ động hai bên và chiến thuật mà tướng Giáp sẽ áp dụng đảm bao cho ông chiến thắng. Ông còn có thuận lợi ở chỗ có quyền chọn địa điểm tiến công theo ý muốn của mình. Ông cũng đang nghiên cứu kế hoạch và chuẩn bị lực lượng. Tại vùng trú quân ẩn kín ở miền Trung du Bắc kỳ, các sư đoàn Việt Minh phấn khởi trước những thắng lợi vừa qua, đang ra sức tập luyện cho những trận chiến đấu mới.
        Tướng Henri Navarre quay trở lại Sài Gòn vào cuối tháng 7. Ông lại đắm chìm trong thực tế hối hả của cuộc chiến tranh, bù đầu đọc các bức điện, trong khi tại các cơ quan cấp Bộ bên Pháp vẫn đang nghiên cứu bản kế hoạch chiến lược dài hạn của tướng Navarre trong không khí ôn hoà.
        Tướng quân chỉ có sáu mươi ngày chuẩn bị để đối phó với tám tháng tiến công của Việt Minh. Chắc chắn đối phương sẽ tiến đánh bằng sức mạnh chưa từng thấy kể từ ngày bùng nổ cuộc chiến tranh Pháp - Việt.
        Trước hết, Tổng tư lệnh Navarre phải tập trung quân, tổ chức lại lực lượng dự bị để đối phó với tất cả các mặt trận trên một chiến trường rộng tới 750.000 kilômét vuông.
        Với tính năng nổ và tác phong tỉ mỉ đôi khi làm điên đầu những người giúp việc, tướng Navarre quyết định xây dựng các tiểu đoàn chủ lực cơ động bằng cách rút tỉa từng trung đội đang bị dính chặt vào hàng ngàn đồn bốt nhỏ lẻ được phản ánh trên tấm bản đồ Đông Dương bằng hàng ngàn những mũi đinh đánh dấu nhiều màu sắc. Những tiểu đoàn cơ động được xây dựng từ những binh lính rút khỏi những ruộng nước khi được tổ chức, tăng cường và huấn luyện sẽ trở thành những binh đoàn cơ động, rồi trong vòng một năm sẽ là những sư đoàn hoàn chỉnh có khả năng đối chọi với các sư đoàn chủ lực của tướng Giáp.
        Tại những vùng ổn định nhất, tức là những nơi mà đồn bốt chỉ làm nhiệm vụ bình định khi cần thiết, quân đội Bảo Đại sẽ thay chân quân Pháp.
        Với đội quân thay thế này cũng phải tổ chức trang bị huấn luyện, bố trí cán bộ vực nó lên.
        Đồng thời, tướng Navarre cũng chỉ thị tiến hành, và kiểm soát việc tiến hành các hoạt động ở khắp mọi nơi có thể hoạt động khi thấy cần thiết.
        Tướng quân dự tính đến mùa khô sẽ tiến hành các hoạt động lớn ở Trung Kỳ, ở Thượng Lào, Luang Prabang, Cánh đồng Chum mặc dù mưa nhưng vẫn có thể cải thiện được các vị trí của Pháp. Còn ở Bắc kỳ thì phải luôn luôn chống lại sự thâm nhập của Việt Minh đang làm cho vùng đồng bằng trở nên một ruỗng.
        Từng giờ, từng giờ, tướng Navarre chăm chú đọc các bản tin tức tình báo của Ban 2(1) và các bản dịch những tin tức nghe lén được từ các đài địch. Ông theo dõi cẩn thận sự chuẩn bị và những ý định của đối phương, với hy vọng có thể cản phá hoặc ngăn chặn bằng các hoạt động phòng ngừa.
        Tướng quân cảm thấy không được để mất một phút nào. Ngay từ ngày 24 tháng 7 khi mới tan cuộc họp của Hội đồng Quốc phòng, vừa ra khỏi điện Elysée, tướng Navarre đã điện cho đô đốc Abogneau phải “ký ngay huấn thị chuẩn bị cho chiến dịch mùa mưa”, để lệnh cho cấp dưới thi hành.
        Bản huấn thị này tướng Navarre đã soạn thảo từ tháng 6 ở Sài Gòn và xem lại khi về Paris. Nhìn chung, đó là bản huấn thị đề phòng địch tiến công.
        Hãy còn quá sớm để có thể biết được kế hoạch tiến công của Bộ Tổng chỉ huy quân đội Việt Minh những chúng tôi cũng đã có thể ước tính được lực lượng và dự kiến khả năng hoạt động của họ. Có ba nguy cơ rõ rệt: Một là, ngay khi mở màn chiến dịch, tướng Giáp có thể tập trung tiến đánh vùng đồng bằng Bắc kỳ. Hai là cùng trong lúc tiến đánh đồng bằng, có thể mở thêm một mũi tiến công phối hợp đánh vào miền Trung Đông Dương, cắt đứt Đông Dương làm hai ở chiến trường đánh thông từ Vinh sang Thà Khẹt. Ba là, cuối cùng có thể mở một mũi tiến công nữa đánh lên Thượng Lào theo những con đường mòn đã sử dụng để hành quân năm trước.
        Cùng trong lúc đặt ra những giả thiết chính và phụ như trên, bản huấn thị cũng nghiên cứu các biện pháp đề phòng nhằm cản trở những mũi tiến công của Việt Minh, hoặc ít, hoặc nhiều. Đây mới là lúc tướng Navarre liên hệ tới Điện Biên Phủ lần đầu tiên. Nhằm cản phá sự uy hiếp của Việt Minh đối với Thượng Lào và Luang Prabang (mà trong bản tường trình gửi chính phủ ông đã nhấn mạnh kinh đô Lào là mục tiêu “chán nhất” nhưng vẫn cần phải được bảo vệ) tướng Navarre chỉ thị cho các Tư lệnh Bắc kỳ và Lào phải nghiên cứu phối hợp tiến hành mọi hoạt động đề phòng, bằng cách bất ngờ chiếm lĩnh Điện Biên Phủ biến thung lũng này thành một căn cứ lục - không quân.
        Trong một cuộc họp ngày 31 tháng 7 năm 1953, tướng Cogny là Tư lệnh Bắc kỳ phát biểu ý kiến của mình trước đông đủ mọi người. Trên cương vị tư lệnh Bắc kỳ, tướng Cogny không chịu trách nhiệm bảo vệ Luang Prabang. Theo quan điểm của ông việc chiếm đóng Điện Biên Phủ là một thung lũng lớn nhất miền Tây Bắc mới thật sự đáng quan tâm, vì có Điện Biên Phủ trong tay sẽ nắm được nhiều lợi thế mà ông đã nhiều lần đánh giá. Trước hết là vì lợi ích chính trị của xứ Thái, việc chiếm đóng Điện Biên Phủ có thể tạo lá chắn để bảo vệ Lai Châu và cũng có thể tiếp nhận Lai Châu khi cần rút bỏ địa điểm trống trải và biệt lập ở tận đầu cùng thượng nguồn sông Đà. Điện Biên Phủ cũng là điểm có thể đón nhận lực lượng từ Nà Sản rút về, vì từ lâu mọi người đã tính đến việc rút bỏ cái đồn canh vô ích này nhưng chưa có dịp và điều kiện thực hiện.
        Tướng Cogny cũng đã nghiên cứu và nhận định việc chiếm đóng Điện Biên Phủ sẽ là một hành động tiếp theo việc rút bỏ Nà Sản. Những đơn vị cuối cùng ở Nà Sản không rút được bằng máy bay sẽ đi theo đường bộ rút về thung lũng Điện Biên Phủ. Tướng Cogny còn phác hoạ giai đoạn cuối của cuộc hành quân rút khỏi Nà Sản bằng một chuỗi hoạt động liên tiếp và tập trung. Cánh quân chính có thể xuất phát từ Lai Châu theo con đường mòn Pavie, trong khi lính dù được thả xuống các điểm vành đai như Mường Phăng, Tuần Giáo, Bản Cang để yểm trợ. Giai đoạn cuối cùng là “tổ chức phòng ngự” cứ điểm Điện Biên Phủ trên cơ sở xây dựng những cứ điểm, mỗi cứ điểm do một tiểu đoàn quân trấn giữ, có hệ thống lưới lửa đan kết với nhau, không cho địch tiến đến gần sân bay, liền sau đó xây dựng thêm các cứ điểm phòng ngự trên các mỏm đồi phía Đông có trận địa pháo, cối. Đây là ý tưởng nảy mầm cho các dự án trong tương lai.
        Cogny kết luận trong ban tường trình gửi Tổng tư lệnh Navarre: “Tôi đề nghị ngài cho lệnh rút bỏ ngay Nà Sản. Chỉ có biện pháp duy nhất là rút bỏ Nà Sản mới cho chúng ta có được số quân cần thiết để chiếm đóng Điện Biên Phủ”.
        Vấn đề khẩn cấp lúc này là rút bỏ tập đoàn cứ điểm Nà Sản đã được nghiên cứu từ thời tướng Salan. Ngay khi vừa nhậm chức Tư lệnh Bắc kỳ, tướng Cogny cũng đã đề nghị. Nhưng hồi đó, nhiều người còn lo ngại xảy ra rủi ro khi rút quân nên đã phản bác. Đến đầu tháng 7 năm 1953, theo lệnh của tướng Navarre dự án này mới lại được nghiên cứu trở lại. Nay chỉ còn chờ một quyết định dứt khoát.
        Ngay từ buổi bình minh sáng thứ hai, ngày 3 tháng 8, tướng Navarre đã rời Sài Gòn, thoát khỏi những bữa tiệc tùng chiêu đãi hội hè chào mừng ngài Tổng Cao uỷ mới đến. Cuối buổi sáng, chúng tôi đã bay tới Hà Nội, ngay trước cơn dông vào buổi trưa. Tướng Cogny có mặt ngay tại chân cầu thang máy bay. Cuộc đón tiếp rất nồng nhiệt như tấm thảm đỏ trải dưới chân. Từ sau chiến công nhảy dù đánh úp các kho tàng của Việt Minh ở Lạng Sơn đến nay hai người mới lại gặp nhau. Báo chí và dư luận đang ca ngợi ê-kíp mới, có vẻ như đang dẫn dắt đội quân viễn chinh Pháp ra khỏi sự đờ đẫn trước kia, và nay đã có thể tiến công mỗi lần đối phương sơ hở. Đó là điều dễ hiểu, kế hoạch Navarre đã được Paris tiếp nhận, và tháng lợi của Cogny ở Lạng Sơn cũng đang được biết đến.
        Hai người cùng ca ngợi lẫn nhau nhưng chưa nhiệt liệt lắm. Phải chờ đến ngày kia, khi tướng Cogny được Tổng tư lệnh Navarre gắn Huy chương Chiến công trước lễ duyệt binh các tiểu đoàn dù đã đánh úp Lạng Sơn lúc đó hai người mới ôm hôn nhau đúng nghi thức.
        Tướng Navarre đến Hà Nội để tổ chức việc rút quân khỏi Nà Sản.
        Suốt buổi chiều hai vị tướng cùng ngồi làm việc với ban tham mưu trong thành Hà Nội, một doanh trại xây dựng từ lâu tối tăm và ẩm thấp.
        Cho mãi đến đêm khuya, mới có quyết định dứt khoát giữa những cơn mưa như trút nước. Đội quân đóng tại Nà Sản sẽ di tản về Hà Nội bằng máy bay. Như vậy là lúc này chưa chiếm đóng Điện Biên Phủ như tướng Cogny đề nghị. Tiếu đoàn bộ binh số 3 gồm toàn lính Thái là đơn vị cuối cùng bảo vệ sân bay Nà Sản không thể đưa lên máy bay được sẽ rút vào rừng, gia nhập các đội biệt kích hoặc sẽ… biến mất? Thời gian di tản được quyết định sau khi bộ phận theo dõi tình hình thời tiết báo cáo thời điểm thuận lợi nhất, như các thầy bói thời xưa thường đoán ngày lành tháng tốt cho các vị tướng xuất quân đi đánh trận.
        Buổi tối, tướng Navarre dự cơm do Thủ hiến Trí mời rồi rút về biệt thự dành riêng cho ông, lúc này tâm trí ông mới được nghỉ ngơi. Ông đã quyết định rút bỏ Nà Sản, đồng thời cũng đã rút bỏ sự hoài nghi khỏi đầu óc và sự lo ngại khỏi trái tim.
        Tất cả ý chí và khả năng của ông trong lúc này tập trung vào việc điều hành cuộc di tản. Ông đã ngủ được một giấc thanh thản. Tám giờ sáng hôm sau tướng Cogny đến gặp, để dẫn ông đi thị sát chuỗi đồn bốt trên đường Phủ Lý, bảo vệ vùng đồng bằng ở mặt phía Tây.
        Hai vị tướng cùng ngồi một xe. Ngay lập tức, tướng Cogny lại nghĩ đến Nà Sản. Ông đang lo ngại. Ông nhớ đến những rủi ro mà các sĩ quan tham mưu, căn cứ vào những yếu tố không thuận lợi đã trình bày trong những lá phiếu thăm dò ý kiến. Nhìn thấy vẻ đăm chiêu, lo lắng của Cogny, Tổng tư lệnh Navarre ngạc nhiên và rồi cũng bối rối theo. Ông hỏi Cogny, liệu có xuất hiện những yếu tổ mới nào dẫn đến việc hoãn rút bỏ Nà Sản vào một dịp khác không? Không! Cogny vẫn luôn luôn muốn rút bỏ Nà Sản, nhưng mà…
        Sự quanh co tế nhị của Cogny về vấn đề Nà Sản ông đã tự viết ra trong thư đề ngày 2 tháng 7 gửi Navarre. Có thể nói, đây là một tác phẩm tinh vi có những đoạn nổi bật đáng lưu trữ làm hồ sơ tài liệu về tính cách con người ông. Cogny viết:
        Trong khi thông báo với Đại tướng về những thuận lợi trong việc chuyển quân từ Nà Sản về Điện Biên Phủ, tôi vẫn lưu ý ngài là cuộc hành quân di tản này, ngược lại cũng có những khó khăn nguy hiểm
        Nếu tôi nghiêng về giải pháp chờ đợi thời cơ, đó là vì tôi nghĩ rằng, tự đi vào canh bạc, chuốc lấy những rủi ro không tránh khỏi.
        Mãi ba tuần sau đó, sau khi đã cân nhắc rất lâu những may mắn có thể, tôi mới đi đến chỗ quyết định đề nghị ngài cho lệnh di tản. Tướng Bodet sẽ nói với ngài là chính ông đã thấy tôi nghiên cứu kỹ vấn đề và tôi đã biểu lộ niềm vui rất cao khi ông cho tôi biết, ngài muôn xem xét lại.
        Tôi cũng đã đoán được sự ngạc nhiên của ngài khi không thấy tôi nêu lên điểm cuối cùng trong bản nghiên cứu của tôi đệ trình ngài. Đó là một thiếu sót chắc chắn chưa được bổ khuyết, nhưng phù hợp với ý muốn của tôi, muốn được thể hiện tất cả trách nhiệm của tôi truởc ngài, phần nữa tôi cũng được yên tâm vì đã không làm phiền ngài”.
        Phải chăng, đây chỉ là những do dự, ngần ngại chính đáng mà bất cứ người nào có tinh thần trách nhiệm cao cũng suy nghĩ trước khi hoạt động? Điều rất rõ là tướng Cogny là người có trí thông minh sâu sắc. Ông có những phân tích mạnh mẽ, rõ ràng, kiên quyết, nhưng lại dao động lắc lư sau khi có quyết định. Phải chăng đó là sự yếu đuối trong tính cách của ông. Trong phần lớn cuộc đời hoạt động của mình, tướng Cogny toàn làm việc trong văn phòng Bộ hoặc các cơ quan khác. Ông đã quá quen thuộc với những thủ thuật những quanh co uẩn khúc những do dự dè dặt trong các hoạt động chính trị, sự co giãn trong thái độ kỳ cục của ông riêng với vấn đề Nà Sản, ông đã dự liệu trước rồi. Thất bại hay thành công: ông đã đề nghị rút bỏ Nà Sản trước khi có lệnh cấp trên đó sao? Nếu thất bại, ông đã trình bày những rủi ro khi có lệnh rút và những điều ông trình bày rõ ràng đã chứng tỏ là những suy nghĩ đúng. Tùy theo từng trường hợp, ông sẽ đưa từng loại hồ sơ lập luận ra đối chứng.
        Những biến động trong ý nghĩ kiểu như thế này, tướng Cogny đã bày tỏ trước khi thực hiện cuộc nhảy dù đánh úp Lạng Sơn mang tên cuộc hành quân “Con chim nhạn”. Đó là tập hồ sơ “thắng lợi” mà ông đã đưa ra trình bày trước các nhà báo, hồi tháng 6, tháng 7.
        Ông tiếp tục đi theo những con đường như thế này trong việc trình bày những quan điểm khác nhau của ông đối với nhiều ẩn ý trong luận điệu phù hợp với tính phức tạp và tầm quan trọng không lường trước được của trận đánh.
Logged
altus
Moderator
*
Bài viết: 1782



« Trả lời #11 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2008, 11:44:47 pm »

Trước khi đoán biết kết quả việc di tản Nà Sản, có nhiều lý do chính đáng để lo ngại. Thời tiết xấu trong mùa này có thể cắt đứt việc vận chuyển đường không hoặc làm chậm nhịp độ bốc quân lên máy bay một cách nguy hiểm. Tướng Giáp, được cấp báo kịp thời có thể có thời gian điều quân tới bao vây, tiến công đánh chiếm tập đoàn cứ điểm đã quá suy yếu không thể chống cự nổi và chưa rút hết quân để không thể trở thành một mục tiêu không thú vị nữa.
        Những dè dặt của Cogny sau khi đã có quyết định rút bỏ Nà Sản là điều rất dễ hiểu. Lần này, những do dự đó đã trở thành vô ích. Dù sao thì đã quyết định rồi những biện pháp đề phòng cũng đã dủ liệu rồi, chi còn mong vận may sẽ đến.
        Trước giờ “G”, một hoặc hai tiểu đoàn dù đóng tại Hà Nội được lệnh sẵn sàng bay lên Nà Sản.
        Đây là một biện pháp nghi binh, nhằm đánh lừa mạng lưới tình báo của Việt Minh trong thành phố cho rằng “Pháp chuẩn bị tăng cường Nà Sản” để truyền tin tình báo này tới cấp trên. Trên thực tế những chiếc máy bay Dakota đầu tiên hạ cánh sảng ngày 7 tháng 8 xuống Nà Sản có chở theo một số lính dù “mũ bê-rê đỏ”. Có điều, khi bay trở về Hà Nội, chiếc máy bay nào cũng chật lèn quân.
        Nhịp độ rút quân được tiến hành với mốc từ năm mươi đến một trăm chuyến bay một ngày trong thời gian đầu. Đột nhiên, ngày 10 tháng 8 thời tiết đột ngột xấu, không cho phép máy bay tới gần hoặc hạ cánh trong vùng thượng du. Cuộc di tản phải dừng lại. Mọi người lo ngại nếu tướng Giáp được biết tin, nhất định sẽ điều động các tiểu đoàn chủ lực tới tiến công. Nà Sản đang bị suy yếu vì rút quân sẽ là mồi ngon. Nhưng đến ngày hôm sau, thời tiết lại tốt dần. Chiếc cầu hàng không tiếp tục được duy trì và đến ngày 12 thì kết thúc cuộc di tản. Chiếc máy bay cuối cùng chỉ chở theo vài người còn lại đã cất cánh trên đường băng hoang vắng mà không có dấu hiệu nào chứng to Việt Minh có mặt.
        Tuy nhiên, phía Việt Minh cũng có những tổ chức quan sát theo dõi vị trí Nà Sản. Chiều ngày 6 tháng 8, nhóm trinh sát của Việt Minh đã nhìn thấy những lính “mũ nồi đỏ” từ máy bay Dakota bước xuống sân bay Nà Sản. Họ nghĩ rằng Pháp tăng cường cho cứ điểm. Đến chiều hôm sau, trinh sát Việt Minh phát hiện thấy có cả những viên chức dân sự gia đình vợ con và có cả lính Thái từ Nà Sản bước lên máy bay. Đến tối ngày 8 tháng 8 thì Việt Minh không còn nghi ngờ gì nũa: một cầu hàng không đã được thiết lập, Pháp đang di tản Nà Sản. Do trục trặc về kỹ thuật, đến tối ngày 9 tháng 8 bức điện đầu tiên từ trạm thông tin của Việt Minh ở khu vực Nà Sản mới được gửi đi, báo tin quân Pháp rút. Khi những đơn vị bộ đội đầu tiên tiến vào Nà Sản thì vị trí này đã trống rỗng.
        Trong lúc đó, tướng Cogny tổ chức một cuộc họp báo tại Hà Nội. Ông đích thân trình bày bản thông báo thắng lợi, lúc nghiêm nghị lúc tươi cười, lúc thân mật, lúc dối trá, ông luôn luôn tỏ ra hấp dẫn quyến rũ được người nghe. Ông còn cường điệu những rủi ro ghê gớm mà ông đã chấp nhận, và pha trò khi nói đến chuyện ông đã đánh lừa được Việt Minh.
        Lucien Bodard là phóng viên tờ Nước Pháp buổi chiều ngồi ngay trên hàng ghế đầu, trong chiếc ghế bành của vị trưởng lão. Nhưng, trong giới báo chí, ông không hề được công nhận là người đứng đầu. Tại trụ sơ cơ quan báo chí tại Hà Nội, có hai biệt thự tiện nghi, gồm cả quán rượu sàn nhảy, phòng tắm vòi hoa sen, giường nghỉ, tạo ra một khung cảnh tự do thoải mái rất đáng yêu. Trụ sở này được coi như một cái chốt ngoài vòng cương toả. Báo chí tha hồ đến đây thu thập các tin tức được thông báo chính thức, và có thể moi móc cả những nguồn tin mật. Do thông thạo tình hình Đông Dương, có nhiều kinh nghiệm, lâu năm trong nghề và cũng có tài nũa, Bodard nổi lên như một “lãnh tụ” làng báo, có trách nhiệm trước hàng triệu bạn đọc. Ông thường khai tâm, dạy lớp vỡ lòng cho các đặc phái viên, khuyên bảo các phóng viên thường trú, dạy cách đánh tin điện. Tướng De Lattre thường dành ưu tiên cho Lucien Bodard.
        Đối với tướng De Lattre thường được gọi là “vua Jean” những sự kiện thực tế thường kém giá trị hơn những sự mô tả bên ngoài. Một trận đánh không rõ rệt có thể trở thành một chiến thắng nếu biết cách tuyên truyền rùm beng. Ngược lại, một chiến thắng sẽ không được công nhận nếu chẳng ai biết đến. Các chính phủ thay nhau cầm quyền ở Pháp đều theo dõi dư luận thông qua giới báo chí.
        Vì vậy, tướng De Lattre đã trực tiếp phụ trách và giữ độc quyền thông báo tin tức chiến sự với báo chí.
        Ông cũng to ra ưu ái với Bodard. Nhà báo này được quyền xộc thẳng vào phòng làm việc của Tổng tư lệnh De Lattre vào bất cứ lúc nào được một chỗ ngồi trong chuyên cơ của De Lattre và một ghế ngồi trong các cuộc họp hạn chế. Lucien Bodard là nhà báo được biết tình hình chiến sự đầu tiên- ngoài ra còn được biết cả những dự định, những phương án bí mật, những sự kiện không thể được tiết lộ. De Lattre thường hay xét người căn cứ vào dáng vẻ bên ngoài. Nhà báo Lucien Bodard có vóc dáng cục mịch, quần áo xộc xệch đầu tóc bù xù, nhưng theo De Lattre ông lại giấu kín bên trong một tinh thần năng động và một lá cờ Tổ quốc ba màu nhỏ bé.
        Còn Tổng tư lệnh Navarre thì chỉ tin tưởng vào giá trị thực chất của sự kiện đáng ghi vào ịch sử một cách trung thực, không thể thay đổi. Ông thường nói:
        - Hoặc là tôi sẽ thành công và sẽ được báo chí bốc lên tận mây xanh, hoặc là tôi sẽ thất bại và sẽ bị dìm xuống tận đáy bùn.
        Khi tôi nài nỉ ông tiếp các nhà báo, ông vẫn không đồng ý vì cho rằng đây chỉ là những con người có tâm hồn hời hợt. Dù có ý thức hay dù vô ý, họ vẫn dễ đánh lừa dư luận. Ông nói thêm: “Vả lại, tôi rất sợ họ viết về tôi”.
        Tại Sài Gòn những người có vai vế trong giới báo chí cũng chỉ được gặp tướng Navarre qua những trung gian không chính thức, không chịu trách nhiệm, chỉ được biết tình hình chiến sự qua những thông báo chính thức, khô khan, và chỉ tìm hiểu những ý định của Tổng tư lệnh sau khi các cơ quan bao mật đã kiểm duyệt chặt chẽ.
        Trong thòi kỳ đầu tiên giới báo chí cũng đã có điều kiện thuận lợi để làm việc với vị Tổng tư lệnh mới. Từ ngày Thống chế De Lattre qua đời, Bodard đã được chứng kiến sự thiếu thống nhất trong quân đội viễn chinh Pháp, mới đầu chỉ biết một phần, do Bodard không thích tướng Salan. Khi tới Hà nội thay Salan: tướng Navarre cũng đã vài lần tiếp các nhà báo. Trong những cuộc tiếp xúc này tướng Navarre thường tỏ ra gian dị, thẳng thắn, khiêm tốn. Ông không có gì để nói ngoài mấy nét đại cương về sự cần thiết phải giành lại thế chủ động chiến dịch. Thế cũng đủ để ê-kíp mới thoát ra khỏi sự so sánh giữa tinh thần tiến công của Tổng tư lệnh mới với tinh thần nhẫn nhục phòng ngự của người cầm quân cũ. Salan đã đọc được những lời bình luận này trên đường trở về Pháp. Ông rất bực tức, đã viết một bức thư chua chát gửi Navarre. Từ đó trở đi, Navarre gần như ác cảm với giới báo chí.
        Buổi tối ngày 5 tháng 8 sau lễ duyệt binh mừng chiến thắng “Con nhạn” nhảy dù đánh úp kho tàng Việt Minh ở Lạng Sơn, tướng Navarre đã cho mở một tiệc rượu chiêu đãi các nhà báo. Ông đã chìa bàn tay lạnh nhạt, hờ hững bắt tay từng người, nhăn mặt điểm một nụ cười xã giao lạnh tanh như cốc nước giải khát ướp đá mà người hầu bàn Hoa kiều vừa mang lại. Ông đã khôn khéo trả lời các câu hỏi mà không hề tiết lộ một chút gì về thân thế, về ý định, về bất cứ một chuyện gì vượt ra ngoài phạm vi mẩu giấy thông báo chính thức.
        Tan tiệc khách mời nghiến răng ra về. Vậy mà ngay buổi tối hôm đó, cơ quan kiểm duyệt của Navarre còn cắt xén tất cả những tin, bài của họ, kể cả những câu ca ngợi Tổng tư lệnh mới.
        Sáng sớm ngày 7 tháng 8 năm 1953 trong lúc bắt đầu thiết lập cầu hàng không tới Nà Sản và sân bay Bạch Mai hãy còn sương ẩm, chúng tôi rời Hà Nội bay vào Sài Gòn. Ngày hôm sau chúng tôi lại cùng đi với Tổng Cao uỷ tới Lào và Campuchia trình thư uỷ nhiệm tới các Quốc vương nước này. Đây là một hành trình dễ chịu. Máy bay đưa chúng tôi thẳng một mạch từ thế kỷ 20 đến nền văn minh xa xưa của châu Á. Tôi tham gia tốp sĩ quan tháp tùng vị chúa tể là Tổng Cao uỷ toàn quyền Đông Dương tới thăm các vị hoàng đế những nước chư hầu, vấn đề này không phải ai cũng hài lòng.
        Vị đại diện cao nhất của Pháp ở Đông Dương cũng cảm thấy bị đặt trong một tình thế khó khăn. Trong khi đặt trụ sở tại dinh Norodom ở Sài Gòn với vẻ đồ sộ của thủ đô toàn Liên bang, có vẻ như ông đã đi đôi ủng của các Toàn quyền cũ. Nhất định, ông không có tư tưởng càng không có uy thế và quyền lực như quan Toàn quyền cũ, nhưng dưới con mắt của người châu Á, óng vẫn phải chịu đựng một cách oan ức tình cảm không hài lòng và sự đắng cay, chua chát của các xứ thuộc địa cũ, nay được gọi là các nước liên kết với Pháp.
        Hoàng đế An nam Bảo Đại là người có phản ứng đầu tiên theo cách riêng của mình.
        Trước mặt các quan chúc Pháp, Bảo Đại vẫn thường tỏ ra giản dị, cởi mỏ theo những nguyên tắc xã giao phương Tây. Khi Tổng Cao uỷ Dejean đến Buôn Ma Thuộc thăm Bảo Đại, lúc đó Cựu vương đang ở trong một ngôi nhà nghỉ mát làm bằng gỗ, náu mình trong một thái độ thanh bình cao cả đượm màu sắc thiêng liêng của nghi lễ triều đình.
        Với khung canh này, khó mà trông mong vào một sự hợp tác tin cậy. Bảo Đại thường bộc lộ với những người Pháp thân cận nhất:
        - Các ông nghĩ thế nào nếu như đại sứ Hoa kỳ ở Pháp lại ở trong điện Elysée là Phủ tổng thống Cộng hoà Pháp, viện cớ ông là đại diện của một nước giàu nhất và mạnh nhất thế giới phương Tây.
        Từ ngày trở về Việt nam, Bảo Đại chỉ ở Sài Gòn vài giờ trong tháng. Ông cho rằng, Quốc trưởng như ông thì phải ở trong dinh Norodom, tức Phủ Toàn quyền cũ. Nay trụ sở này thuộc về Tổng Cao uỷ, vì vậy Bảo Đại đã lên Tây Nguyên, còn gọi là “Hoàng triều cương thổ” tức đất đai của nhà vua, và cũng phần nào của riêng mình. Ông thường ở lâu nhất trong ngôi nhà làm bằng gỗ, vẫn dùng làm nơi tạm trú lúc đi săn. Đó là một toà biệt thụ bốn phòng xây dùng trên một quả đồi nhỏ bên cạnh hồ Buôn Ma Thuật giữa khung cảnh hùng vĩ của núi rừng. Các ghế ngồi đều lót da thú trên tường treo đầy những đầu con vật đã săn bắn được, trên giá có nhiều vũ khí hiếm thấy. Hoàng đế chỉ sống với vài cận thần, lặng lẽ chờ đợi những diễn biến thời cuộc trong một cuộc sống hoàn toàn nhàn hạ. Hằng ngày, mãi tới gần buổi trưa Ngài mới thức dậy đọc sách báo nghe nhạc, xem các báo cáo gửi tới đệ trình. Đến nửa đêm, Ngài mới lên chiếc xe ôtô Cadillac có thể bỏ mui, hoặc đi bộ vào rừng săn bắn thú hiếm, với chiếc mũ đội đầu có gắn đèn soi chạy pin. Thi thoảng Ngài bỏ nhà đi vào rừng suốt mấy ngày cùng với một hoặc hai người bạn để tìm bắn voi có sừng và bò tót. Bảo Đại không bao giờ mệt mỏi trên những con đường mòn trong rừng trong những chuyến đi săn. Ngài ăn cơm nắm với cá khô uống nước suối, ngủ bất kể chỗ nào, trong túp lều đầy chấy rận và ám khói đen của người Thượng, hồi đó còn gọi là một cách miệt thị là người Mọi.
        Bảo Đại không thiếu tinh thần can đảm và đầu óc thông minh. Ông hiểu rất rõ, ông không tượng trưng cho một sức mạnh năng động nào trong nước Việt nam sôi đọng này. Nhưng ông nghĩ, ông đại diện cho truyền thống. Trong khi lánh xa Việt Minh và lánh xa cả Pháp ông tin rằng sau này sẽ giữ được một vai trò trung gian hoà giải giữa đôi bên.
        Sau hết nền độc lập của Việt nam mà nước Pháp đã tuyên bố trong văn bản ngày 3 tháng 7 năm 1953 mà Tổng Cao uy Dejean lãnh sứ mệnh trao cho Bảo Đại, liệu có khác gì bản Tuyên ngôn độc lập mà chính Nhà vua đã tuyên đọc tại Huế từ ngày 11 tháng 3 năm 1945. Bản Tuyên ngôn này nói rõ:
        Chính phủ Việt nam tuyên bố: “Bắt đầu từ ngày hôm nay Hiệp ước Bảo Đại ký kết với Pháp chính thức huy bỏ và nước Việt nam giành lại mọi quyền độc lập”. Sau khi Nhật Bản đầu hàng, Bảo Đại yêu cầu các cường quốc Đồng minh công nhận nền độc lập của Việt nam. Trong thư gửi De Gaulle, ông viết: “Chúng ta có thêm dễ dàng hoà giải và trở thành những người bạn của nhau nếu các ngài từ bỏ mưu toan trở lại làm chủ chúng tôi”. Sự thừa nhận về mặt quốc tế này có lẽ Bảo Đại đã gần đạt được, nhưng cuộc cách mạng đã bùng nổ. Vua Bảo Đại đã “thoái vị”. Ba ngày sau, Hồ Chí Minh tiến vào Hà Nội đã trao cho ông vua thất sủng danh hiệu “Cố vấn tối cao của Chính phủ” phải chăng để trấn an phương Tây.
        Tám năm đã trôi qua. Chiến tranh vẫn kéo dài, không hy vọng có thể giải quyết được bằng một giải pháp quân sự. Trong thời điểm có thể thương lượng đàm phán này có khả năng người ta sẽ tìm đến Cựu hoàng để hợp nhất hai miền Nam, Bắc Việt nam. Trong lịch sử An nam đã có tiền lệ.
        Nhưng Bảo Đại không phải là Gia Long. Ông không có tham vọng để tạo thành ý chí, không có niềm tự hào để tạo thành sức mạnh chinh phục toàn bộ lãnh thổ triều đình. Vả lại ông bỏ mặc tất cả.
        Ngày 1 tháng 8, Bảo Đại đáp chiếc máy bay cá nhân đi sang thành phố Nice ở miền Nam nước Pháp để nghỉ ngơi.
        Sau khi Cựu hoàng An- nam bỏ đi rồi. Tổng Cao uỷ Dejean chọn Lào là nước thứ hai trong chuyến thăm xã giao. Đây là miếng ăn mềm nhất, và ngài Tổng Cao uỷ đã chọn miếng này để đáp lại sự ngúng nguẩy của ông vua bé nhỏ nước Campuchia láng giềng. Chặng đầu cuộc hành trình là Viêng Chăn, được coi là thủ đô hành chính của Chính phủ Lào. Chúng tôi được Thái tử Savông tiếp đón, bởi vì Quốc vương Vivanông Vông đã đi Pháp nghỉ mát từ ngày 22 tháng 5 mãi đến nay vẫn chưa về. Nhà vua lợi dụng thời gian ở Pháp để đàm phán tay đôi với Chính phủ Pháp nhằm ký kết những hiệp định song phương tiếp theo bản Tuyên bố ngày 3 tháng 7 của Pháp trao trả độc lập hoàn toàn cho Lào. Cuộc đàm phán về Lào được tiến hành ở Paris vì Viêng Chăn không có tầm vóc chính trị. Chuyến thăm của Tổng Cao uỷ Pháp tại Viêng Chăn thuần túy theo nghi thúc. Nhưng cuộc đón tiếp tại Luang Prabang vẫn do Thái tử Savông chủ trì đã đem đến cho chúng tôi những vinh dự rất thắm thiết.
Logged
altus
Moderator
*
Bài viết: 1782



« Trả lời #12 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2008, 11:45:55 pm »

 Thời tiết xấu. Chiếc Dakota chuyên cơ phải bay thấp dưới mây, dọc theo sông Mêkông, viên phi công cố chọc thủng mây đen do đợt gió mùa đưa tới để bay tới kinh đô Lào. Đi máy bay là cách duy nhất hồi đó để tới được kinh đô Lào vì thành phố này không có con đường bộ nào nối với thế giới bên ngoài. Luang Prabang vào thời điểm này coi như biệt lập trong không gian, không thay đôi theo thời gian, thủ phủ Vương quốc Lào như nằm ở đầu cùng thế giới tự do.
        Những chiếc xe Cadillac nặng nề của Nhà vua chờ sẵn chúng tôi ở sân bay cũng có dáng vẻ khác thường. Những con quái vật sắt thép này từ các xí nghiệp ôtô General Motors ở Mỹ đã được đưa tới đây bằng máy bay. Đàn quái vật ôtô uể oải chạy vào thành phố trên những con đường đất lồi lõm, với tốc độ ngang với những con ngựa trong nước.
        Những khu phố lầy lội đều nằm giữa những khu vườn trồng cây anh túc có nhựa thuốc phiện đang nở những bông hoa màu đỏ, trắng, vàng trong khung cảnh không vội vã, mặc dù đang là giờ phút mua bán ngoài chợ. Đàn ông đi bộ uể oải la cà giữa những thùng đựng trái cây, những lồng chim, những súc vật bị trói đem đi bán. Đàn bà dân tộc Lô-lô mặc áo thêu sặc sỡ như nữ thần, chằm chằm nhìn đoàn xe chở chúng tôi đi qua. Đàn ông chắp tay cúi chào chúng tôi tùy theo kiểu cách của từng người. Các cô gái mặc váy dài, ngực nịt chật trong nếp áo màu, thêu chỉ vàng, đôi vai để trần nhìn chúng tôi mỉm cười vô cớ.
        Hôm nay là sáng chủ nhật. Nhưng đối với người dân Luang Prabang tươi cười, thanh bình cởi mở, ngày nào cũng là chủ nhật. Khi rời khỏi đất nước Lào, tôi không hề nghĩ rằng sáu tháng sau tôi lại đến Đông Dương để bảo vệ các đường biên giới của vương quốc này. Nhưng ngày hôm nay, khi nghĩ về Mường Sài bị Việt Minh bao vây và đang đi tới chỗ sụp đổ, tôi cho rằng tôi đã không chiến đấu vì các hiệp định mà tôi không hề biết. Tôi chỉ chiến đấu vì một cái gì đó cao quý hơn, vì một ngọn lửa leo lắt, vẫn được thắp sáng một cách lạ lùng trước những trận gió lịch sử, những biến động trong thế kỷ chúng ta, mà tôi đã từng nhìn thấy sự toả sáng trong thành phố nằm ở tận cùng thế giới này.
        Tại Campuchia, bản Tuyên bố ngày 3 tháng 7 của Pháp trao trả độc lập cho nước này chẳng làm thay đổi tình hình một chút nào cả. Norodom Sihanuk vẫn đòi Pháp phải trao cho Campuchia mọi quyền hành không hạn chế, kể cả quyền chỉ huy trực tiếp các lực lượng vũ trang. Việc ngài Tổng Cao uỷ Dejean đến thăm kinh đô Phnôm Pênh có nguy cơ bị coi như một sự khiêu khích.
        Sihanuk không thể làm gì khác hơn là phải tiếp Dejean, nhưng đã đón tiếp với tất cả triều đình để phô trương uy lực. Vị đại diện tối cao của nước Pháp được nhà vua cho phép triều kiến ngay tại cung vua, trong chính điện có đặt ngai vàng.
        Đi sau ông Dejean mặc lễ phục màu trắng là tướng Navarre trong bộ quân phục vải ka ki. Đoàn khách người Pháp đi giữa hai lớp hàng rào các cận thần và bộ trưởng Khmer đeo các loại huân chương, huy chương tiến về phía nhà vua người trên ngai vàng, đặt trước bình phong cũng bằng vàng. Những người hầu trong cung đình dưới sự điều khiển của quan đại thần phụ trách lễ tân mời các quan chức Pháp ngồi xuống hai hàng ghế đặt hai bên ngai vàng. Với kiểu xếp đặt như thế này khó trao đổi với nhau những câu chuyện tâm tình thầm kín giữa chủ và khách.
        Dejean trình bày lý do tới Campuchia. Đó là để trình thư uỷ nhiệm. Nghe nói như vậy, nét mặt Đức vua vẫn lạnh như ngọc thạch. Bộ trưởng Dejean cầm giấy trong tay thể hiện rõ vẻ bói rối của mình. Về phía triều đình Campuchia, không một bộ trưởng nào, một cận thần nào đụng đậy mi mắt. Dejean cố tỏ vẻ nằn nì. Điều quy định của triều đình có nguy cơ bị sụp đổ.
        Đột nhiên ông vua nhỏ bé đứng phắt dậy làm viên quan đại thần phụ trách lễ tân bói rối ra mặt.
        Nhà vua kéo Dejean và Navarre vào sau tấm bình phong với dáng vé kích động. Lính hầu lập tức khiêng chiếc bàn gập vẫn dùng để chơi bài và ghế ngồi đến. Nhà vua, Tổng Cao uỷ, Tổng tư lệnh ngồi chung quanh chiếc bàn phủ thảm xanh. Dejean đặt lên bàn thư uỷ nhiệm hãy còn để trong phong bì, tỏ vẻ cầu xin nhà vua đón nhận. Đến lúc đó Đức vua mới nói.
        - Ông Tổng Cao uỷ, ông làm tôi ngạc nhiên đấy, ông là người đã được chính phủ duy nhất của các ông chỉ định làm người đại diện cho nước Pháp, đến đây yêu cầu được tiếp nhận. Nhưng các ông đã quên là Pháp và Campuchia đã cùng trao đổi đại sứ với nhau rồi. Ông đại sứ Risterrucci đã trình thư uỷ nhiệm của Chính phủ Pháp. Tôi đã chấp nhận sau khi đã tham vấn về tư cách cá nhân của ông đó. Ông Risterrucci thích hợp với tôi. Tôi thấy không có lý do gì để công nhận thêm một vị đại sứ thứ hai nữa.
        Dejean hoàn toàn mất hết vẻ đường bệ của mình. Ông nói lí nhí mấy câu rồi cố đẩy chiếc phong bì có thư uỷ nhiệm về phía Quốc vương Campuchia.
        Vua Campuchia lại đẩy chiếc phong bì về phía Tổng Cao uỷ. Cuối cùng, sau nhiều lần đun đi đẩy lại, Sihanuk đành cầm lấy chiếc phong bì có in Quốc huy Pháp rồi hờ hững đưa cho một tên thị vệ. Dejean vùa ghi được một bàn thắng. Không còn nghi ngờ gì nữa, chắc hẳn ông phải mở hội ăn mừng.
        Vài ngày sau, Tổng Cao uỷ về Pháp cưới vợ, trong lúc cuộc chiến tranh ở Đông Dương từ từ thức giấc. Mặc dù vẫn đang còn những trận mưa tháng 8, quân đội Pháp vẫn cố tiến hành một sỏ hoạt động nhằm cải thiện các vị trí trước khi chiến dịch lớn xảy ra vào mùa khô.
        Tại miền trung Trung Kỳ, lợi dụng những ngày đẹp trời, tướng Leblanc mở một cuộc tập kích bất ngờ theo kiểu diều hâu vồ mồi, đánh vào căn cứ Việt Minh ở ngay cửa ngõ thành phố Huế. Nhưng ông đã cất vó hụt. Trong lưới không có cá. Trung đoàn 95 Việt Minh vẫn lọt lưới sau vài trận đụng độ nhỏ.
        Giữa tháng 8, nỗ lực của Pháp hướng vào Phan Thiết ở cửa ngõ Liên khu. Cuộc hành quân Concarneau đã rơi vào khoảng trống. Cuộc tiến công này do đại tá Berteil chỉ huy. Thời tiết lúc này rất nóng. Tiểu đoàn bộ binh thuộc địa lính da đen người Senegal phải lùng sục các cồn cát để tìm Việt Minh nhưng không thể. Đến 10 giờ sáng binh lính đòi nước uống. Trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dương không chỗ nào có cát mà lại có nước. Vì vậy phải dùng máy bay thả dù xuống cho đám lính những thùng nước giải khát mua của xí nghiệp rượu bia và nước đá từ Sài Gòn.
        Tại Lào, lính Pháp từ Mường Sài và Phông Xa Lỳ mở những cuộc tiến quân thăm dò về phía Mường Khoa và càn quét thung lũng Nậm Hu.
        Trên trục giao thông Xiêng Khoảng-Sầm Nưa, lính Pháp chiếm được Bản Ban. Những cuộc hành quân này cho phép Pháp ngăn chặn được Việt Minh bám chân trên hai trục đòng giao thông tiến đánh Lào.
        Trong vùng đồng bằng Bắc kỳ, Từ sáng sớm ngày 5 tháng 8 đã mở màn cuộc hành quân Tarentaise. Những tiểu đoàn khinh quân lính bản xứ đã thay thế các tiểu đoàn thuộc lực lượng viễn chinh Pháp ở vùng Bùi Chu, đi đầu cuộc hành quân càn quét. Đây là thử nghiệm đầu tiên để rút kinh nghiệm. Vì vậy, chiến trường được chọn trong khu vực có những điều kiện thuận lợi nhất để dành thắng lợi. Bùi Chu là một tỉnh có nhiều người theo đạo Thiên chúa, quyền hành chính thực tế nằm trong tay giám mục địa phận. Hầu hết mỗi làng đều có một nhà thờ, đứng đầu là một linh mục. Các tiểu đoàn trang bị nhẹ, gọi là tiểu đoàn khinh quân, phần lớn binh lính đều là thanh niên đi đạo. Trung tá Đồng là sĩ quan đầu tiên được củ làm chỉ huy lực lượng cơ động duy nhất gồm toàn lính bản xứ, đích thân chỉ huy cuộc hành quân càn quét. Đi theo sau là các nhóm bình định sẵn sàng quản lý các khu vực được “giải phóng” khỏi sự kiểm soát của Việt Minh.
        Từ ngày 1 tháng 9 không còn một đơn vị lính Pháp nào đóng tại Bùi Chu nữa. Trách nhiệm dân sự và quân sự trong địa phận hoàn toàn chuyển giao cho chính quyền Bảo Đại.
        Tướng Navarre theo dõi cuộc hành quân với một sự quan tâm đặc biệt. Ông đã soạn thảo các kế hoạch xây dùng một quân đội tương lai cho chính quyền người Việt thân Pháp: với sự năng nổ, nhiệt tình. Ông cũng ấn định một phần thời gian biểu thay quân. Vấn đề còn lại là thử xem đội quân này có đối đầu được với Việt Minh không. Không có thử nghiệm này, sẽ không có giải pháp rút lui.
        Câu trả lời cho thử nghiệm này đến nhanh chóng.
        Ngay từ thượng tuần tháng 12, một hoạt động sôi nổi về chiến tranh du kích đã bùng nổ sớm hơn thường lệ tại vùng tứ giác Hung Yên ở phía Đông Hà Nội. Vùng này vẫn là nơi ẩn náu từ xưa của trung đoàn Việt Minh 42. Nhờ sự mưu trí của trung đoàn trưởng cánh quân này hầu như luôn luôn thoát khỏi những cuộc càn quét. Từ năm 1951, trung đoàn đã phát động một cuộc thi đua yêu nước bằng các hoạt động đánh mìn phá hoại, phục kích…, trong toàn khu vực.
        Ngày 5 tháng 9, trung đoàn chiếm gọn một đồn binh cách thị trấn Kẻ Sặt có 5 kilômet do hai trung đội bộ binh địa phương đóng giữ. Đến ngày 9, vẫn trung đoàn này lại đánh tiếp một cứ điểm lớn hơn cũng ngay gần Kẻ Sặt, do một tiểu đoàn lính Mường trấn giữ tiêu diệt nhanh chóng ba trung đội. Ngày 14, cứ điểm Lệ Khu bị đánh chiếm. Một cụm pháo 105 mm cùng với ba xe tăng tạm trú trong đồn này đêm hôm đó cũng bị Việt Minh phá hủy.
        Ngày 22 tháng 9 Bộ chỉ huy Pháp quyết định mở một chiến dịch lớn, mang tên Brochet, kéo dài đến tận ngày 10 tháng 10, cố càn quét tiêu diệt trung đoàn Việt Minh “lẩn như ma” này. Cơ quan báo chí ở Hà Nội tung ra một bản thống kê số thiệt hại của Việt Minh. Trong mười tám ngày liên tục chiến đấu Pháp đã huy động 17 tiểu đoàn bộ binh có nhiều xe bọc thép pháo binh, không quân, hải quân yểm trợ diệt 672 Việt Minh bắt sống 569 tù binh, nhưng phía Pháp cũng có 121 binh sĩ thiệt mạng, 621 người bị thương. Căn cứ vào tương quan lực lượng về binh lực, hoả lực, nhiều người cho rằng, trong cuộc càn quét này chính Việt Minh mới là người chiến thắng. Mỗi làng do Việt Minh kiểm soát biến thành một pháo đài, phía Pháp phải dùng xe tăng mở đường xung phong đánh chiếm, các ngả đường nhỏ dẫn vào làng đều gài mìn và cạm bẫy. Chiến tranh du kích lan rộng khắp tỉnh Hưng Yên.
        Cùng trong lúc đó, dường như muốn chứng tỏ rằng mình vẫn giữ thế chủ động, ngay trong vùng đồng bằng là khu vực Pháp chiếm ưu thế Việt Minh mở cuộc tiến công đánh vào Bùi Chu. Từ ngày 20 tháng 9 nhiều đơn vị Việt Minh thuộc hai trung đoàn chủ lực 46 và 50 đã thâm nhập sâu, vượt qua những mắt lưới phòng ngự của các tiểu đoàn khinh quân do Pháp huấn luyện. Đêm nào Việt Minh cũng tiến công và chiếm được trung bình mỗi đêm một đồn bốt. Trong đêm 4 rạng ngày 5 tháng 10, Việt Minh tiến công vào khu vực có bốn tiểu đoàn khinh quân đang co cụm để bảo vệ lẫn nhau nhừ đàn gà trong đêm tối. Kết quả là: 200 lính khinh quân bị chết và bị thương, 200 người bị mất tích. Nhưng phải chờ đến ngày 18 tháng 10 mới thật sự xuất hiện một kỷ lục thuộc loại này: trong số 3 tiểu đoàn khinh quân bị đánh ở gần Vạn Lý chỉ có 8 lính bị chết và 25 bị thương, nhưng có tới 424 binh sĩ bị mất tích với gần 500 vũ khí và 16 điện đài.
        Ngày 29 tháng 9, tướng Navarre tới thị sát sở chỉ huy của trung tá Đồng đang chỉ huy lính khinh quân càn quét trong khu vực Bùi Chu. Việt Minh đã mở một loạt cuộc tiến công liên tiếp trong ba đêm trước, buộc Bộ chỉ huy Pháp phải rút một số binh đoàn cơ động đang tham gia chiến dịch Brochet về ứng cứu cho Bùi Chu. Nhưng bất cứ điểm nào quân Pháp kéo tới cũng không bắt liên lạc được với lính khinh quân.
        Tướng Navarre lại quay trở về Hà Nội. Ngay buổi tối hôm đó ông cùng với tướng Cogny nghiên cứu tập hồ sơ tình báo do Ban 2 đệ trình: những tin tức thu lượm được đều nghiêm trọng.
        Mãi tới trung tuần tháng 9, kế hoạch tiến công của Việt Minh vẫn mới chỉ là những giả thuyết dựa theo phán đoán của Cục Quân báo Pháp. Càng phán đoán nhiều khả năng tiến công của tướng Giáp, càng bộc lộ nhiều nguy cơ về phía quân đội viễn chinh Pháp. Tướng Giáp đã chọn những phương án nào. Nhằm vào những điểm nào?
        Cho mãi tới những tuần cuối cùng của mùa hè 1953, chúng tôi mới dần dần thu lượm được một số tin về những dụ định của đối phương. Tại Sài Gòn, trung tá Guibaud là trưởng Ban 2 tập hợp tất cả những thông tin mà các cơ quan tình báo đã thu lượm được trên toàn lãnh thổ Việt nam. Guibaud nghiên cứu, phân tích sàng lọc, vạch kế hoạch theo dõi. Nguồn tin chủ yếu của chúng tôi là nghe trộm điện, đài Việt Minh vì đó là những tin tức thường xuyên, chắc chắn thời sự nhất.
        Việt Minh có ba khoá mã khác nhau để đánh các điện mật. Mật mã tác chiến của Việt Minh hầu như rất khó giải nếu dựa vào kỹ thuật phương Tây. Còn mật mã dùng trong các bức điện chính trị thì thỉnh thoảng chúng tôi vẫn giải được, dù đối phương có thay đổi mã số. Mật mã dùng trong các bức điện yêu cầu cung cấp hậu cần thì mỗi năm mới thay đổi một lần vào quãng cuối tháng 9 đầu tháng 10. Đây là loại mật mã chúng tôi dễ giải nhất, thường được sử dụng để lập các biểu đồ, các thống kê. Chỉ vài ngày sau khi đối phương thay đổi mã số, nhóm giải mã của chúng tôi đặt tại một biệt thự vô danh ở Đà Lạt đã có thể tìm được cách giải. Chúng tôi thu được và giải được nhiều bức điện mật mã xoay quanh các mệnh lệnh, các báo cáo về hậu cần của Việt Minh.
Logged
altus
Moderator
*
Bài viết: 1782



« Trả lời #13 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2008, 11:46:37 pm »

Chính vì vậy cho nên chúng tôi đã giải được những điện mật về việc Trung Quốc viện trò ồ ạt nhiều súng tự động cho Việt Minh và những vũ khí này được nhập vào các kho hậu cần ở Lạng Sơn.
        Đại đội công bỉnh cùng nhảy dù theo tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 xuống Lạng Sơn trong trận đánh úp ngày 17 tháng 7 đã phá hỏng được hàng ngàn tấn vũ khí đang chất đống trong các hang động. Có bức điện mật, ra lệnh chuẩn bị “khẩu phần đặc biệt”.
        Có nghĩa là sẽ có cố vấn Trung Quốc tới. Những báo cáo về việc bố trí kho tàng lương thực theo từng cung đường, giúp chúng tôi biết được đối phương đang chuyển quân sẽ đi theo những tuyến đường nào số quân là bao nhiêu. Những bức điện mật mà chúng tôi đã giải mã được, đã cho chúng tôi biết trước về điểm và hướng tiến công sắp tới của Việt Minh.
        Nhờ tổng hợp các nguồn tin khác nhau, chúng tôi được biết khá chỉ tiết về lực lượng chủ lực cơ động tác chiến của Việt Minh, về số quân, cách biên chế tổ chức, trang bị, phương thức tác chiến, hệ thống cung cấp tiếp tế, thậm chí biết được cả họ tên và tính cách một số cán bộ chỉ huy đơn vị. Hơn nữa, chúng tôi còn biết được quan điểm tiến hành chiến tranh từ đó suy ra kế hoạch tác chiến của họ.
        Trong lúc này, thành phố Sài Gòn đang mê say bởi những vụ buôn tiền và các thú ăn chơi chỉ bị lôi cuốn nhẹ nhàng theo nhịp thở của chiến tranh. Còn tại Hà Nội nơi thường tổ chức những cuộc diễu binh mừng thắng trận và những tiếng hò hét của lính chiến cũng vẫn không sao rũ bỏ được sự buồn chán dính chặt như hơi ẩm đọng trên tường nhà. Vào những giờ trước bữa cơm tối phòng trà tiệm nhảy mang tên Normandie thường chật ních người, hầu hết là quan chức dân sự và sĩ quan không quân tụ tập trong căn phòng bé nhỏ. Trong vài ba hộp đêm, các nhạc công Philippin và gái điếm từ Đài Loan tới biểu diên như một cái máy, không chút hào hứng. Thi thoảng, lại nhìn thấy hai hoặc ba sĩ quan sơ cấp vội vã đi ngang qua thành phố trong lúc đêm khuya để trở về nơi đóng quân tại các đồn binh nhỏ lẻ. Trong tiếng cười của họ có vẻ như bị kích thích giả tạo và thú vui nhưng không vui mà họ vùa tìm đến chỉ là để tìm sự quên lãng.
        Trong những ký ức, những tài liệu mà tôi thu lượm được, và cả những bức thư tôi viết hồi đó đều bộc lộ sự lo ngại thể hiện sự lo lắng nặng nề trong các buổi hội ý tại cơ quan tham mưu rồi lan đến các binh lính, tăng dần theo nhịp độ phát hiện được kế hoạch tiến công sắp tới của tướng Giáp.
        Những dấu hiệu đầu tiên của ý đồ tiến công là những huấn thị từ Bộ chỉ huy tối cao Việt Minh gửi cho các chỉ huy sư đoàn. Những tài liệu này chỉ thị cho các sư đoàn, trong thời gian mùa hè phải luyện cho bộ đội tập chiến đấu trên địa hình bằng phẳng, đánh chiếm các cứ điểm phòng ngự kiên cố trên địa hình đó với lực lượng bộ binh được yểm trợ bằng pháo binh và súng phòng không. Ngoài ra còn luyện tập tác chiến trên đường phố. Một số đơn vị như sư đoàn 312 đã di chuyển địa điểm, tìm đến những nơi có địa hình bằng phẳng để tập luyện.
        Cùng trong khoảng thời gian này, Bộ chỉ huy và cơ quan các sư đoàn đã được sắp xếp lại, cán bộ được tăng cường, quân số được bổ sung bằng các thành phần tốt nhất rút từ các đơn vị bộ đội địa phương đưa lên.
        Theo nhận định của thiếu tá Levain, trưởng Ban 2 tại Hà Nội thì trong mùa hè năm 1953 các sư đoàn của tướng Giáp đều nhận được huấn lệnh “thuần túy hướng về đồng bằng”.
        Một dấu hiệu quan trọng nữa là hoạt động của các đại đội trinh sát thuộc các đơn vị lớn của Việt Minh. Những đại đội này có nhiệm vụ trinh sát chiến trường, vận động nhân dân và các đơn vị bộ đội địa phương chuẩn bị cho hoạt động sắp tới của các sư chủ lực.
        Từ tháng 9 năm 1953, đại đội trinh sát của sư đoàn 312 đã bám chân trên trục đường Vĩnh Yên, Phúc Yên hướng về Hà Nội.
        Đại đội trinh sát của sư đoàn 308 hoạt động trên trục Lục Nam - Bắc Ninh. Đại đội trinh sát của sư đoàn 320 hoạt động tại Bắc Phủ Lý, trong vùng Tây Nam khu vực đồng bằng.
        Cuối cùng, vào nửa cuối tháng 9, các sư đoàn đã tập trung đầy đủ tại các vị trí tập kết ở vành ngoài vùng đồng bằng, phía sau các đại đội trinh sát. Cùng lúc này, tại khu vực Phủ Nho Quan và Bắc Thanh Hoá xuất hiện lực lượng đầu tiên gồm hai sư đoàn hình như có nhiệm vụ thâm nhập vùng đồng bằng.
        Một lực lượng thứ hai gồm các sư đoàn 308, 312 và sư đoàn pháo 351 đóng ở khu vực phía Bắc đồng bằng: giữa hai tỉnh Phú Thọ và Thái Nguyên.
        Trong bản phân tích hồi tháng 9, trung tá Guibaud viết:
        “Lực lượng cơ động tác chiến của địch tập trung ở vành ngoài đồng bằng đã được nghỉ ngơi, củng cố tổ chức, sẵn sàng giáng cho chúng ta những đòn đáng gờm. Tất cả tin tức thu lượm được đều khẳng định mục tiêu chính của đối phương sẽ là vùng đồng bằng Bắc kỳ…”
        Guibaud phán đoán, trong giải đoạn đầu của chiến dịch, tướng Giáp sẽ cho sư đoàn 320 thâm nhập những vùng hậu cứ của Pháp ở đồng bằng. Sư đoàn này xuất phát từ Phủ Lý sẽ tiến vào Hưng Yên gặp trung đoàn 42. Có thể sư đoàn 304 cũng sẽ tiến vào vùng Bùi Chu, Phát Diệm là khu vực đã có hai trung đoàn độc lập 46 và 50 chiếm đóng, cũng dễ dàng hình dung được những gì sẽ xảy ra trong vòng hậu phương của chúng ta (tức quân Pháp) do sự phối hợp của chiến tranh du kích được tiến hành bởi mười tám tiểu đoàn chủ lực đang phân tán thành từng đơn vị nhỏ, hoạt động phá hoại, cắt đứt các tuyến đường giao thông, tập kích các đồn bốt nhỏ lẻ mà không một đồn bốt nào có khả năng cầm cự được vài giờ. Các căn cứ không quân của chúng ta cũng có thể bị tiến đánh.
        Tôi đã quan sát gương mặt tướng Cogny khi tóm tắt hình hình, báo cáo với Navarre. Cả hai vị tương đều đứng trước tấm bản đồ treo trên tường phòng làm việc của Tổng tư lệnh tại Hà Nội. Hai vị đang đứng với nhau thì tôi bước vào đưa tướng Navarie ký bức điện báo cáo với Chính phủ Pháp mà tối nào tướng Navarre cũng gửi về Paris, tóm tắt tình hình trong ngoài dự kiến kế hoạch hôm sau.
        Tướng Cogny đang nói, thỉnh thoảng lại khua tay trên tấm bản đồ:
        - Sau một tháng đối phương phát động cuộc chiến tranh du kích với cường độ hiện nay vẫn chưa lường hết được, tôi không thể đảm bảo chắc chắn cho việc tự do vận chuyển, ngoại trừ một hoặc hai trục lộ giao thông chính. Tuy nhiên đến tháng 11 này hoặc chậm hơn một chút, lực lượng địch ở mặt Bắc gồm 308, 312, 351 có thể sẽ sẵn sàng tiến công Vĩnh Phúc và Bắc Ninh nhằm tiến về Hà Nội hoặc về Hải Dương, cắt đứt đường số 5 nối liền Hà Nội với Hải Phòng. Căn cứ vào giả thuyết này và dù không bi quan tôi vẫn có nhiệm vụ phải nghĩ đến chuyện cho di tản khỏi Hà Nội nếu không có các phương tiện cần thiết để chiến đấu ngăn chặn Việt Minh.
        Cho tới hôm nay, tôi vẫn nghĩ rằng Cogny hồi đó đã nhìn nhận đúng. Ông được coi là người của đồng bằng. Ông sẵn sàng tiến hành một cuộc chiến tranh có trận tuyến nếu Việt Minh cũng mạo hiểm tiến hành chiến tranh chính quy. Thế nhưng, muốn như vậy thì tướng Cogny phải có đủ các phương tiện chiến tranh của toàn lực lượng viễn chinh Pháp ở Viễn Đông. Tướng Cogny đã đề nghị, muốn “giữ được đồng bằng Bắc kỳ” thì phải có trong tay 8 binh đoàn cơ động, trong khi trên toàn lãnh thổ Đông Dương mới có 7 và nếu Hà Nội thất thủ thì đó chẳng phải là mở đầu cho sự sụp đổ đó hay sao? Tướng Navarre không muốn mạo hiểm bằng cách chỉ sử dụng một lá bài bởi vì tướng Giáp còn có thể tiến công ở nhiều địa điểm khác và đã bộc lộ rõ các phương án này.
        Để tiến đánh xứ Thái và Thượng Lào, tướng Giáp đã có một sư đoàn hoàn chỉnh chuyên trách khu vực này. Đó là sư đoàn 316 trong đó có tiểu đoàn 910 đang chiếm lĩnh Điện Biên Phủ. Sau cuộc diễn tập thành công hồi mùa xuân vừa qua, sư đoàn này đang sẵn sàng tiến quân lên vùng thượng du. Mục tiêu đầu tiên của sư đoàn 316 là Lai Châu, chỉ cần sử dụng một trung đoàn 910 cũng đủ để đánh chiếm thị xã này. Rồi, không vội vã có thể đến tháng 5, các tiểu đoàn trong sư đoàn mới tiến đánh Luang Prabang, Xiêng Khoảng. Viêng Chăn.
        Tại khu vực nam Thanh Hoá, sư đoàn 325 cũng chuẩn bị hành quân mở chiến dịch. Sau khi vượt dãy Trường Sơn mà sư đoàn đã mở được những cửa đột phá Đông-Tây, sư đoàn này sẽ tiến về Thà Khẹt, mở một con đường tiến quân dễ dàng xuống phía Nam, tới Campuchia, Tây Nguyên rồi từ đó có thể tiến xuống khắp Nam Kỳ.
        Cuối cùng, các lực lượng vũ trang Liên khu 5 có tới bốn trung đoàn chủ lực, đã bắt đầu mở những hoạt động trinh sát ở khu vực Bắc và Đông cao nguyên, đánh chiếm Tây Nguyên, nơi được coi như một bao lơn khống chế Nam Kỳ và Campuchia.
        Đó là đại cương sự phán đoán của cơ quan tình báo Pháp về kế hoạch tổng phản công của Việt Minh hồi đầu tháng 10 năm 1953. Để làm việc này, tướng Giáp đã rèn được một vũ khí sau cuộc chỉnh quân mùa hè, nay là lúc đem thử lực để tôi luyện.
        Chú thích:
        (1) Tức Cục tình báo quân sự, còn gọi là Cục Quân báo
Logged
altus
Moderator
*
Bài viết: 1782



« Trả lời #14 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2008, 11:48:09 pm »

Chương 4
Chống cự và giáng trả


Chiếc cầu chữ Y bắc ngang dòng kênh lạch giữa đoạn đường từ Sài Gòn đi Chợ Lớn. Tướng Lê Văn Viễn, tức Bảy Viễn chỉ huy đám giặc Bình Xuyên, đặt sở chỉ huy tại một địa điểm trong khu vực này chỉ cách Bộ Tổng Tham mưu quân đội Bảo Đại đúng tầm đạn cối. Nói chính xác hơn, Bảy Viễn ở bên bờ Nam con lạch đi của Bình Xuyên một vùng đầm lầy gần Nhà Bè, có hàng ngàn kênh lạch, thảm thực vật và ruộng nước. Bảy Viễn sinh ra ở đất Bình Xuyên. Nghề nghiệp đầu tiên là đi ăn trộm trâu, vì vậy đã biết rõ các con hẻm, các lối đi, các đường ngang ngõ tắt trong khu vực khó thâm nhập.
        Năm 1945, vừa được Nhật Bản thả khỏi nhà tù Côn Đảo, Bảy Viễn đã về đây hùng cứ tụ tập một bọn lâu la mà chính Viễn gọi là “giặc” rồi tự tuyên bố là người theo “chủ nghĩa dân tộc” đấu tranh đòi độc lập và đã có lần tuyên bố trên đầu lưỡi là hợp tác với tướng Nguyễn Bình của Mặt trận Việt Minh.
        Năm 1948, lũ giặc Bình Xuyên của Bảy Viễn bị Việt Minh tiễu trừ. Nhờ thông thạo thủy thổ và có sức dẻo dai, Lê Văn Viễn thoát khỏi mọi cuộc vây bắt của cộng sản và hiểu rằng thời kỳ được hưởng “độc lập” đã hết. Viễn tìm một chỗ đứng mới, xin hàng tướng Pháp De La Tour rồi sau đó xin hàng Bảo Đại được giao nhiệm vụ giữ cầu Bình Xuyên. Thế là Viễn đóng quân ngay tại khu vực này.
        Nhìn từ xa, cái gọi là Sở chỉ huy quân sự của Bảy Viễn chẳng khác gì một thôn xóm nhỏ bé với những nếp nhà tranh vách đất bên ngoài là một hàng rào tre vót nhọn. Bảy Viễn không phải chỉ thích có trâu mà còn sưu tập đủ mọi chim muông thú vật nhốt trong chuồng: những con chim quý, những con khỉ hiếm, những thú rừng có bộ lông mượt và những loài hươu nai hiền lành. Viễn bỏ ra hàng giờ liền để chăm sóc chim muông. Tôi đã nhìn thấy ông ta đứng bên chuồng sắt, đầu đụng đầu với con hổ cái nhốt bên trong đang ngáy như một con chó lớn. Tướng Lê Văn Viễn quả là người có tình cảm.
        Năm 1948 tôi đã từng chỉ huy nhiều trận đánh liên tiếp chống lũ quân của Viễn. Viên tướng giặc này đã đót cháy của tôi một, hai chiếc xe bọc thép và tôi cũng đã bắn chết vài người của ông ta.
        Sau khi xin hàng, Viễn tới trình diện tại sở chỉ huy của tôi đặt trong rừng, cạnh cột cây số 113 trên đường Sài Gòn đi Đà Lạt, là nơi có lần Viễn đã nghĩ đến chuyện tới đây khai thác gỗ, mây tre.
        Lúc này Bảy Viễn đeo lon đại tá. Chúng tôi đã nói chuyện với nhau, khó khăn hơn là bắn nhau, vì Viễn không biết tiếng Pháp, về một vài kỷ niệm chiến đấu. Bảy Viễn hoàn toàn vô học nhưng ông ta có một tính cách có thể khuất phục người khác và một sức mạnh không phải chỉ sử dụng vào việc giết người cướp của. Tất nhiên ông buộc phải gây dựng một ngân quỹ riêng để trả lương và trang bị cho quân lính. Vài ngày sau khi đầu hàng, ông mua được một chiếc xe tô đầu tiên đó là một chiếc Renault do Pháp sản xuất, giá 32.000 đồng Đông Dương, hoàn toàn trả bằng tiền mặt, gồm những tờ trị giá một hoặc hai đồng, chứng tỏ ông đã phải góp nhặt từ lâu. Từ ngày bỏ các dự án làm nghề thủ công và nếp nhà tranh gần cầu chữ Y, ông đến ở tại một ngôi nhà rộng rãi, giàu có của một người Hoa giữa Chợ Lớn, và trở thành chủ tài sản nhiều cơ sở thương nghiệp và công nghiệp, trong đó có Đại thế giới. Đây là một cơ sở du hí, gồm sòng bạc và các trò giải trí lớn nhất, nổi tiếng nhất khu vực Đông Nam Á. Hơn nữa, Viễn còn kiểm soát chặt chẽ để thu thuế tất cả các ngành nghề buôn bán thuốc phiện, các sòng bạc và các ổ điểm.
        Từ ngày Hoàng đế Bảo Đại tiếp nhận việc nhượng quyền khai thác Chợ Lớn cho tới khi Ngô Đình Diệm lên nắm quyền với chính sách độc tài, khu vực Chợ Lớn vẫn thịnh vượng trong hoà bình, công bằng mà xét sự thanh bình này có được là nhờ ở công cuộc bình định Nam Kỳ. Đây không phải là công việc dễ dàng, trước khi xuất hiện Bảy Viễn, nhiều tướng lĩnh và các nhà cai trị xuất sắc của Pháp đã thất bại.
        Viễn còn là một người trọng chữ tín, trung thành với bạn bè và “sòng phẳng” trong việc kinh doanh. Đối với Hoàng đế Bảo Đại, Viễn vừa thể hiện lòng biết ơn, vừa to rõ sự thần phục bằng cách tháng nào cũng cống hiến một vali nặng, lèn chặt các tờ giấy bạc mệnh giá 100 hoặc 200 đồng.
        Bảy Viễn rất căm ghét những chúa ngục người Pháp ở Côn Đảo. Ông cũng đã giết và trừng trị vài chủ điền và nhà buôn thực dân Pháp mà không hề một chút ăn năn hối hận. Nhưng ngay từ khi mới được biết nước Pháp trong bầu không khí ôn hoà, ông đã yêu đất nước này rất say mê.
        Chuyến thăm Paris đầu tiên đã dẫn ông tới việc quyết định liên minh với sự nghiệp của Pháp ở Đông Dương. Ông đã ngắm nhìn với cặp mắt ngây thơ đột ngột sự sạch sẽ trong các đường phố thủ đô Pháp, tính kỷ luật của những người đi đường tuân thủ các tín hiệu giao thông, vẻ nhã nhặn của cảnh sát và thái độ lịch sự của các lái xe tắc xi. Ông cũng đã thấy rõ tính chất phức tạp về mặt kỹ thuật của một nền văn minh hiện đại.
        Bảy Viễn thường nói với lũ đàn em mà ông vẫn có thói quen thuyết phục:
        - Không có người Pháp thì đến một cái kim ta cũng không làm được.
        Xuất phát từ lẽ đó, Bảy Viên quyết tâm duy trì sự có mặt của Pháp ở Đông Dương. Ông là người duy nhất trong số thủ lĩnh các giáo phái trung thành với ý tưởng này đến cùng.
        Từ ngày trở lại Sài Gòn tôi thường gặp Bảy Viễn luôn. Tôi còn được gặp cố vấn thân cận của ông là đại tá Sang nhiều hơn nữa. Sang đã tốt nghiệp cử nhân luật và sau đó đã có thời kỳ được cử làm giám đốc Sở Cảnh sát Sài Gòn - Chợ Lớn.
        Thời kỳ bấy giờ, Sang chưa có danh hiệu chính thức nhưng đã có quyền hành thực tế. Vì vậy, ông được giao nhiệm vụ tổ chức vật chất và là tổng thư ký Hạ viện Sài Gòn. Một buổi trong lúc cùng ngồi ăn sáng tại khách sạn Continental, Sang nói với tôi:
        - Chúng tôi đang phải chứng tỏ cho các dân biểu biết rằng chúng tôi đang làm chủ Sài Gòn.
        Tổ chức Hạ viện là một sáng kiến của Bảo Đại. Nhà vua vừa được mời đi Pháp để đàm phán về việc Việt nam gia nhập khối Liên hiệp Pháp sau khi có bản tuyên bố ngày 3 tháng 7. Bảo Đại hy vọng Hạ viện tập hợp được các phong trào dân tộc chủ nghĩa để cùng đoàn kết đấu tranh.
        Cái tổ chức thuần túy nghi lễ chính trị - nghị viện này sẽ chỉ là hình thức và hoàn toàn không có được một tầm quan trọng nào, nếu khi quyết định Việt nam gia nhập khối Liên hiệp Pháp lại không đồng thời quyết định tham gia các mục đích chiến tranh của Pháp. Kế hoạch chiến lược mang tên Navarre đã nhấn mạnh, “chỉ có các hiệp định ghi nhận nỗ lực về người và của do các nước liên kết ở Đông Dương ký kết với Pháp mới là điều duy nhất xác minh lợi ích của Pháp”.
        Hạ viện Sài Gòn họp ngày 12 tháng 10 năm 1953, tức tám ngày sau buổi tôi cùng ngồi ăn sáng với Sang.
        Trong bữa ăn, Sang cho tôi biết, Lê Văn Viễn không tin vào những lời phát biểu ba hoa mị dân của đa số tuyệt đói các dân biểu Hạ viện. Tướng Viễn lo ngại những người theo chủ nghĩa dân tộc sẽ lại hăng hái hơn trong việc đòi độc lập hoàn toàn, mặc dù chẳng mọt ai trong bọn họ dám hy sinh các tiện nghi đang hưởng để mạo hiểm giành độc lập. Đó là chưa kể nhũng người di cư từ Bắc vào Nam, nhũng người được gọi là dân Bắc kỳ, đang bị Sài Gòn nghi ngờ, cần phải đề phòng.
        Ngày 11 tháng 10 tức trước khi khai mạc Hạ viện một hôm, tướng Lê Văn Viễn mời tất cả các vị dân biểu tới dự tiệc Cocktail sang trọng tại dinh thự của Viễn ở Chợ Lớn. Giấy mời ghi rõ, bắt buộc phải tới dự. Đây là một kiểu họp kín trước khi Hạ viện họp công khai. Không một người Âu nào được mời tới dự.
        Lê Văn Viễn không có tài diễn thuyết một chút nào. Một trong những dáng vẻ thể hiện cá tính mạnh mẽ của ông là sự kín đáo nguồn gốc của hành động bất ngờ. Viễn nói rất ngắn gọn:
        - Không có tôi và tổ chức bảo vệ của tôi toả khắp thành phố này thì các vị không thể sống nổi tới hai mươi phút trong phòng nghỉ tại khách sạn. Không có nước Pháp, các vị cũng không có khả năng đóng nổi một tàu thuỷ, một máy bay hoặc một chiếc xích-lô. Tôi nghĩ, hai dẫn chứng này đủ tác động đến đường lối của Nghị viện cũng như Cương lĩnh của Mặt trận bình dân do tôi làm chủ tịch.
        Ngày 16 tháng 10, Nghị viện Sài Gòn tiến hành bỏ phiếu trong không khí yên tĩnh. Đại đa số phiếu chống lại việc gia nhập khối Liên hiệp Pháp. Giới báo chí Pháp tỏ ý phẫn nộ với mức độ khác nhau, tùy theo vị trí trong nền chính trị.
        Chính phủ Pháp chấn động, Tổng Cao uỷ và Tổng tư lệnh Pháp ở Sài Gòn viết những lá thư đầy lời lẽ bực tức gửi tới Thủ tướng Hội đồng Sài Gòn.
        Những người Mỹ ở Sài Gòn lặng lẽ cười chế giễu.
        Tóm lại các mục đích chiến tranh của Pháp đều rơi xuống nước.
        Tất cả các dân biểu Sài Gòn đều sững sờ trước phản ứng đó. Nghị viện lại họp để thông qua với đa số phiếu tương tự, một điều khoản bổ sung do Hoàng thân Bửu Lộc đệ trình được soạn thảo theo thư gợi ý của Tổng Cao uỷ. Bảo Đại cố giải thích trong thư gửi Dejean: “Tu tưởng của Nghị viện không phải là hoàn toàn ác cảm với Pháp. Trên thực tế, cũng giống như tư tưởng của tôi. Mọi người đều biết Hoàng đế An nam không thể diễn đạt được ý tưởng này nếu không có ngôi nhà nghỉ mát ở Côte d Azur bên Pháp. Người dân châu Á thường không thể bộc lộ trần trụi những ý nghĩ của mình. Ngược lại ông bạn của tôi là Lê Văn Viễn mà ai cũng rõ là rất thân Pháp lại tỏ ra rất hài lòng về thái độ của các dân biểu trong cuộc họp vừa qua.
        Lúc này tôi đang điều trị tại một bệnh viện ở Đà Lạt để chữa một chứng bệnh cũ do trùng amip gây ra hồi tôi còn hoạt động trong rừng. Một tùy viên của Bình Xuyên tới thăm tôi. Ông kể cho tôi nghe những diễn biến tình hình mới nhất ở Sài Gòn. Khi ra về, ông để lại tặng tôi, theo kiểu mọi người vẫn tặng hoa quả cho người ốm một… ki lô thuốc phiện sống. Ông ta còn nói với tôi đây là loại nhựa thuốc phiện hảo hạng, thu hoạch được trong mùa sai quả. Tôi giấu gói thuốc phiện dưới đệm nằm, chỉ lo bác sĩ trưởng phát hiện ra vì ông thường tới thăm bệnh tôi luôn. Cuối cùng tôi chuyển gói thuốc phiện này cho một ông bạn làm chủ đồn điền và ông ta lại phân phối nó cho một công ty sản xuất ở Đà Lạt.
        Vấn đề đang làm xao xuyến dư luận vẫn là quan niệm mơ hồ lẫn lộn trong giới chính trị.
        Chính sách do Chính phủ Pháp công bố nằm trong công thức: “Nền độc lập của các quốc gia liên kết nằm trong khối Liên hiệp Pháp phù họp với các đạo luật trong hiến pháp phù hợp với những nguyên tắc, những truyền thống, những khát vọng tiến bộ, lợi ích và sự độ lượng của nước Pháp, nhưng đã không được sự thống nhất noi theo trong các nước liên kết với Pháp. Lào là nước duy nhất chấp nhận gia nhập khối Liên hiệp Pháp vì không thể tồn tại mà không có người bảo vệ. Ngược lại, Campuchia muốn có ngay nền độc lập hoàn toàn và dứt khoát. Còn Việt nam của Bảo Đại cũng như Việt nam của Việt Minh đều trả lời “không”, một bên do nhu nhược, một bên do dũng cảm.
        Tháng 10 là tháng thường mở màn cho các chiến dịch lớn, giữa lúc chính sách của Pháp ở Đông Dương đang rạn nứt. Những vết rạn ngày càng lộ rõ. Mỗi ngày trôi qua lại làm lộ thêm vết vôi vữa trắng mà người ta sơn quét ngụy trang với hy vọng sẽ củng cố được sự thống nhất.
        Những mục đích chiến tranh của Pháp ở Đông Dương ngày càng cạn dần, thực chất, giống như chúng bệnh kiết lỵ đang làm kiệt dần lực lượng viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Các bạn cùng phòng bệnh với tôi cũng đang chảy máu, trơ xương trên tấm khăn trải giường vấy máu chờ ngày được hồi hương về Pháp. Nhưng cuộc chiến tranh Đông Dương, tự nó không cần quan tâm đến các lý do mà chỉ quan hệ đến tình hình thời tiết, trời mưa hay trời đẹp. Về các trận mưa thì nay chỉ còn lại vài cơnl dông rải rác hàng ngày và đang yếu dần. Chiến tranh như một con thú dữ sau trận mưa đang liếm khô lông trước đợt gió mùa để rồi lại lao vào cuộc săn mồi.
        Ngày 15 tháng 10. Bộ chỉ huy Pháp bắt đầu mở chiến dịch Mouette với cách tiến hành khá rầm rộ.
        Từ những ngày đầu tháng 10, Cục Quân báo của Pháp đã biết tin sư đoàn 320 (với nhiệm vụ thâm nhập vào vùng đồng bằng để mở màn cuộc tiến công trên toàn Bắc bộ của Việt Minh) đã hoàn thành mọi việc chuẩn bị. Với cung cách hăm hở và tỷ mỉ như đàn kiến, sư đoàn này tích lũy lương thực, đạn dược đủ dùng trong suốt mùa đông sắp tới. Để tránh bị đánh úp bất ngờ như hồi tháng 7 ở Lạng Sơn, số lương thực đạn dược nay hiện được phân tán từng các kho nhỏ, cất giấu dưới những rạng cây tre hoặc trong các hang động của dãy núi đá vôi bao quanh mặt Tây Nam khu vực đồng bằng. Tối nào viên tướng Việt Minh chỉ huy sư đoàn cũng kiểm tra tỷ mỉ tiến trình hoạt động của cơ quan hậu cần. Đồng thời, tối nào cơ quan tình báo quân sự của chúng tôi cũng nghiên cứu các báo cáo đã được giải mã và theo dõi hàng giờ công việc chuẩn bị của đối phương.
        Tháng 10 năm 1953 cũng là thời điểm chúng tôi được biết về số lượng các đơn vị Việt Minh, đánh giá khả năng hoạt động của những đơn vị này - kinh nghiệm cuộc càn quét lần trước (mang tên chiến dịch Brochet) cho biết, một khi sư đoàn đối phương đã luồn được vào phía sau quân ta thì không thể nào vây quét hoặc tiêu diệt được chúng.
        Ngược lại, sau khi đã lọt được vào vùng hậu cứ của Pháp, sư đoàn này phân tán thành các tiểu đoàn: sẽ có thể giáng những đòn tiến công đáng gờm vào hệ thống phòng ngự và làm tê liệt phần nào việc tự do chuyển vận của quân ta.
        Tướng Navarre quyết định ra quân trước khi sư đoàn 320 bắt đầu hoạt động, bằng cách đánh vào nơi bố trí các kho hậu cần của sư đoàn này.
        Ông cũng hy vọng, cuộc tiến công này sẽ đủ sức gây rối loạn, làm trì hoãn cuộc tiến công của tướng Giáp vào vùng đồng bằng. Cuộc chạy đua thời gian bắt đầu.
        Bộ chỉ huy Pháp điểm lại các phương tiện trong tay. Bằng cách vét tận đáy ngăn kéo, thu gom tất cả các lực lượng dự trữ của toàn cõi Đông Dương, phía Pháp chỉ có thể tập trung trên chiến trường Bắc kỳ 21 tiểu đoàn bộ binh, lính thủy, lính lái máy bay. Con số này đủ để chọi với 10 tiểu đoàn của sư đoàn 320, bảo vệ các tuyến đường giao thông và các điểm bị nguy hiểm. Nhưng sẽ không đủ nếu sư đoàn 304 cũng tham chiến. Sư đoàn 304 đóng quân cách sư đoàn 320 có một ngày đường.
        Tin tình báo cho biết, sư đoàn 304 lúc này cũng đang chuẩn bị thâm nhập vùng đồng bằng. Vì vậy tướng Giáp đã bố trí sư đoàn này tại một địa điểm vừa có thể bảo vệ Thanh Hoá và Vinh là khu vực do Việt Minh kiêm soát, năm đó vừa được mùa lúa gạo, vừa có thể tiến đánh miền Nam đồng bằng Bắc bộ. Để kìm chân sư đoàn 304, tướng Navarre đã sáng tạo ra một “cuộc hành quân làm địch thất vọng” mang tên Pelican. Trước khi mở màn chiến dịch Mouette, một hạm đội Pháp tiến sát vùng bờ biển Thanh Hoá làm ra vẻ đe doạ đổ bộ để tiến công lớn. Do chính những tin tức bị tiết lộ từ phía Pháp, tướng Giáp đã biết trước kế hoạch này và đã có chuẩn bị đối phó, như đã tiếp nhận các nguồn tin từ những mạng lười tình bảo của Việt Minh bố trí ngay tại các bến cảng Hai Phòng nơi xuất phát của các tàu chiến Pháp.
Logged
altus
Moderator
*
Bài viết: 1782



« Trả lời #15 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2008, 11:48:43 pm »

Ngày 14 tháng 10, sư đoàn 320 đã hoàn tất mọi việc chuẩn bị, sẵn sàng tiến hành thâm nhập vùng đồng bằng. Các kho lương thực đạn dược đã đầy ắp. Những đơn vị trong sư đoàn xuất phát về phía bờ sông Đáy. Đêm hôm đó, từng tiểu đoàn vượt sông bằng những chiếc thuyền nan, nhẹ nhàng không kém gì những chiếc xuồng cao su bơm hơi của Pháp.
        Ngay tối hôm đó, tướng Gilles được Sài Gòn điều ra để chỉ huy cuộc hành quân, ban hành lệnh đầu tiên tiến hành cuộc hành quân Mouette.
        Tướng Gilles, được mọi người gọi là “cha cố đạo Thiên Chúa” nhưng lại là người thích “làm chiến tranh” hơn làm lễ nhà thờ. Ông thích sống trong các doanh trại dã chiến cùng với binh lính, giữa sự vây bọc của những người lính chiến có cái mõm của bầy ác thú ăn thịt. Ông có niềm vui thích thú của một người chơi bài thích lập phương án và tiến hành các cuộc hành quân, hơn nữa còn ưa thích đánh lừa địch lôi kéo địch rơi vào cạm bẫy bằng một hoạt động đơn giản, dễ dàng. Những buổi tối sau chiến thắng “đúc cha” Gilles chân đi tập tễnh, một mắt bị chột phải lồng mắt giả bằng thuỷ tinh, thường xuyên đến với các sĩ quan cấp uý, uống với họ một hai chén rượu mừng. Ông rất tự hào về lực lượng lính dù dưới quyền và thường nói:
        - Lính dù ư? Đó là lính của tôi!
        Những buổi tối đó là những buổi nhậu nhẹt suốt đêm. Cả những phục vụ người Việt đều nằm trong mạng lưới tình báo của Việt Minh, và khá nhiều người trong bọn họ lại được tuyển vào làm việc trong cơ quan cảnh sát của Pháp. Họ rất khó chịu khi nghe thấy tiếng cười của tướng Gilles mà họ cho là tiếng cười của con ác thú chột mắt. Đối với họ, khi tiếng cười này cất lên cũng là lúc thi hài các chiến sĩ bộ đội bị Gilles giết hại đang phân hủy.
        Sáng hôm nay, tướng Gilles đã lệnh cho sư đoàn A do Castries chỉ huy, xuất phát đầu tiên, mở đường tiến cho cánh quân. Giữa tướng Gilles chỉ huy lính dù và đại tá Castries là viên sĩ quan quí tộc tốt nghiệp trường đào tạo kỵ binh, hai bên không có nhiều điểm tương đồng. Nhưng tướng Gilles là người biết rõ các sĩ quan dưới quyền.
        Castries là một chỉ huy biết đánh thọc sâu một cách khôn khéo. Castries đã nổi tiếng từ các trận đánh trên tất cả các chiến trường mà ông tham gia. Đây là giá trị thật sự, chứ không phải do báo chí thổi phồng, giả tạo.
        Chính vì vậy cho nên sau này, tức là ngày 29 tháng 11 trên đường băng sân bay Điện Biên Phủ mà tướng Gilles vừa chỉ huy cuộc nhảy dù đánh chiếm trước khi lên máy bay Dakota trở về Hà Nội, Tổng tư lệnh Navarre đã hỏi tướng Gilles:
        - Ông thử nghĩ xem ai có thể thay ông chỉ huy tập đoàn cứ điểm này?
        Gilles đã trả lời ngay, không do dự:
        - Chỉ có hai người. Xếp theo thứ tự: Castries rồi đến Vanuxem.
        Trở lại cuộc hành quân Mouette ngày 15 tháng 10, tướng Gilles đã trao nhiệm vụ cho đại tá Castries chỉ huy một sư đoàn đánh chiếm Lai Các, cách phía Tây thị xã Ninh Bình 20 kilômét.
        Khoảng cách không xa, nhưng mà phải sửa lại đường gõ mìn, cẩn thận quan sát từng bước tiến và tổ chức bảo vệ mọi mặt. Để tới đích nhanh chóng an toàn phải có khả nang tinh khôn từ mũi đến mạch máu.
        Buổi chiều hôm đó, Castries đến Lai Các. Tướng Gilles theo sau, gặp Castries giữa ngã tư đường đi vào phía rừng núi. Những dấu vết để lại trên nền đường cho biết trong đêm đã có những đoàn xe của Việt Minh chở vũ khí đạn dược do Trung Quốc viện trợ, từ Hoà Bình đi Thanh Hoá. Trời rất nóng. Đoàn xe tăng của Pháp bốc tung rất nhiều bụi.
        Tướng Gilles nghỉ lại bên đường gọi rượu cognac và nước giải khát sô-đa. Lính hầu khiêng từ xe Jeep xuống một lều bạt, giường gấp và thùng đựng khẩu phần dã chiến. Cha cố Gilles không vội vã. Ông quyết định để ra ba ngày trọn vẹn thiết lập sở chỉ huy chiến dịch: chung quanh là vành đai bảo vệ gồm các cứ điểm đại đội hoặc tiểu đoàn có thể yểm trợ lẫn nhau, chính giữa là vị trí pháo. Tướng Gilles cho rằng lúc này Việt Minh bố trí bên bờ sông Đáy đã biết quân Pháp tiến đến Lai Các là trung tâm căn cứ tiếp vận của họ và họ sẽ tới.
        Qua nhiên, trong đêm 18 rạng ngày 19 tháng 10, Việt Minh tiến đến. Trong nhiều giờ liên tục, các đại đội Việt Minh lao vào các hàng rào kẽm gai của hai cứ điểm. Pháo binh Pháp tạo thành nhung bức tường bằng hoả lực ngăn chặn. Lúc tờ mờ sáng, quân Việt rút lui.
        Lúc đó tướng Gilles mới bắt đầu công việc đã đưa ông tới đây, tức là đích thân chỉ huy việc phá hủy các kho tiếp tế của Việt Mình. Ngày nào ông cũng tung ra một, ít khi hai, đơn vị tiến công trinh sát sục sạo bên phải, bên trái, phía trước, phía sau.
        Xe bọc thép đi trước mở đường, lính bộ binh đi sau sục vào các rừng cây hoặc các núi đá để tìm các kho cất giấu vũ khí đạn dược. Sau đó lại quay trở về Việt Minh cũng biết như vậy, cho nên thỉnh thoảng lại tổ chức tiến công đánh các đơn vị ngon ăn đang uể oải rút về trên các đường mòn trong khu vực. Cha Gilles cũng đã tính đến chuyện đó nên đã sử dụng pháo binh, không quân đánh nhanh và không bao giờ để cho đàn con đi xa quá tầm pháo 105mm.
        Ngày 24 tháng 10 trung úy Christian de Reboul chỉ huy một trung đội xe bọc thép tiến theo đường lừng. Reboul là một sĩ quan kỵ binh nhà nòi có cặp cẳng dài đôi mắt sắc, người xứ Gascon thích tán chuyện và thích đánh nhau.
        Hồi được cử làm sĩ quan báo chí tại Hà Nội Reboul “buồn đến chết” khi phải sống giữa đám nhà báo chỉ biết có mỗi một chuyện là cầm bút viết. Từ vài tuần nay Reboul được cử làm chỉ huy trung đội trinh sát tuần tiễu số 1 và đã nắm giữ vững đơn vị trong tay.
        Hôm đó, trời đẹp, ánh sáng ban mai tràn ngập những màu sắc tươi vui. Binh lính trong đoàn xe của Reboul đều thông thạo nghiệp vụ, họ cho xe tiến từng đoạn rồi dừng lại quan sát. Không thể không phát hiện được một cái gì đó. Riêng điều đó cũng đủ làm cho trung đội trưởng Reboul hài lòng.
        Một cánh đồng cỏ đi ngang qua con đường rừng, toàn là loại cỏ voi, thân cao, lá rộng và sắc như những lưỡi kiếm, vươn thẳng lên tận tháp súng xe tăng. Trước khi tiếp tục cuộc hành trình, Reboul lệnh cho đoàn xe dừng lại để quan sát. Một máy bay quan sát nhỏ bé lượn trên đầu đoàn quân.
        Trên kênh 16 điện đài thường trực đường dây liên lạc vẫn được giữ vững.
        - Piper de Centaure, có phát hiện thấy gì không?
        - Không? Các anh cứ việc tiến. Không thấy có dấu vết gì của Việt Minh trong đám cỏ này.
        Chiếc xe tăng đầu tiên vừa tiến được 800 mét thì vấp phải mìn. Ngay lập tức, hàng ngàn quân Việt nấp kín nhiều giờ trong đám cỏ cao, vụt vùng dậy từ hai bên đường, xung phong tiến đánh đoàn xe.
        Những chiếc xe tăng lập tức bắn trả bằng đại liên chiếc xe tăng này bắn luôn vào chiếc xe tăng khác nhằm xua đuổi giúp nhau những nhóm bộ đội đang bám vào thành xe. Một xe tăng bốc cháy.
        Christian de Reboul đứng trên tháp pháo xe tăng theo dõi tình hình cuộc chiến đấu. Với khẩu tiểu liên trong tay trung úy cố làm nản lòng những người lính Việt đang muốn tiến sát để phá xe tăng bằng thuốc nổ. Anh cũng gọi điện cho đại úy cấp trên, yêu cầu được cứu viện bằng hoả lực pháo binh và không quân.
        Đột nhiên, Reboul có cảm giác như bị một chiếc gậy đập mạnh vào đầu. Mặt anh chảy đầy máu. Anh lấy tay sờ lên hộp sọ bên trái. Cứ ngỡ là sẽ vấp phải một cục bướu, nhưng lại có cẩm giác đây là một chất nóng và nhầy dính vào kẽ tay. Reboul văng tục một câu, nghĩ rằng đã bị thương. Anh trèo xuống xe tăng dùng điện đàm báo cáo. Anh cố nói chậm chạp, chính xác, ta lại tình hình trận đánh, chỉ rõ toạ độ cho pháo binh và máy bay bắn. Nhưng lần nào từ sở chỉ huy vẫn có tiếng trả lời:
        - Anh nói gì, không hiểu.
        Máy vẫn tốt. Ăng-ten toả sáng đủ tầm. Reboul thay micro và lại bắt đầu báo cáo, phía bên kia vẫn trả lời:
        - Anh nói gì, tôi không hiểu.
        Reboul tức điên người. Cái viên đại úy đốn mặt này chẳng hiểu gì hết. Reboul không thể cầm cự được mãi. Quân Việt tiếp tục tiến đánh. Reboul ra lệnh ngắn gọn:
        - Quay pháo sang phải!
        Pháo thủ Roubignes là người xứ Gironde đồng hương với Reboul, có thể hiểu rõ ngay khi Reboul mới nói được một phần tư tiếng. Những lúc này. Roubignes sừng sờ giương cạp mắt khiếp hãi nhìn Reboul không cử động. Đến lúc này thì Reboul cũng dần dần hiểu rằng mình đã không phát biểu được nữa rồi. Mặc dù đầu óc vẫn còn tỉnh táo, nhưng Reboul đã mất khả năng diễn đạt bằng lời nói. Hệ thần kinh trung ương điều khiển những đường gân ở lưỡi Reboul đã bị phá hỏng. Trung úy Reboul sủa ăng ẳng, kêu khàn khàn, gào lên như một con vật. Trước khi đắm chìm trong tình trạng vô tri vô thức, Reboul vẫn còn nhớ đến nhiệm vụ. Anh vẫn nghĩ đến việc phải dùng một phương tiện nào đó báo cáo cấp trên.
        Nhưng cha Gilles đã dự kiến trước. Ông đã cho tất cả các khẩu pháo hướng nòng về phía con đường sát rừng, tiếp đó là gọi máy bay bắn phá các bìa rừng, sau đó là bộ binh tiến hành càn quét tỷ mỷ. Buổi tối Việt Minh phải rút lui. Từng đoàn xe cứu thương có ghi dấu hiệu chữ thập đỏ của Pháp, chở cả lính Pháp và lính Việt Minh bị thương về thị xã Ninh Bình. Trung úy Reboul nằm dài trên cáng, miệng câm người liệt đầu óc vẫn còn tỉnh táo.
        Những ngón tay phải của Reboul nắm chặt lấy mảnh kim loại ghi danh tính số hiệu, viên y tá cố gỡ ra nhưng không nổi. Reboul nghĩ rằng phải giữ chặt để mọi người biết rõ họ tên của mình.
        Ngày 7 tháng 11 cuộc hành quân Mouette kết thúc. Theo nhận xét của Pháp, cuộc tiến công của Việt Minh vào vùng đồng bằng phải chậm lại hai hoặc ba tháng. Nhưng trong lúc Pháp chiếm được phủ Nho Quan, những đại đội đầu tiên của sư đoàn 316 Việt Minh cũng bắt đầu tiến lên vùng thượng du, chiếm lĩnh các vị trí chuẩn bị cho chiến dịch đã dự kiến. Mục tiêu đầu tiên nhất định sẽ là Lai Châu, ở đầu nguồn sông Đà, như một quả lê ngon ngọt ở đầu cành. Vấn đề đặt ra là tới được địa điểm này và như vậy phải mất từ ba mươi đến bốn mươi ngày hành quân bộ. Nhưng đây là quả lê dễ hái và trung đoàn 148 đã chuẩn bị làm nổ tung vị trí cuối cùng của Pháp trong xứ Thái sau đó sẽ càn quét các đội biệt kích của Pháp ở vùng thượng du đã mất hết chỗ dựa.
        Sau đó Pháp được tin những đơn vị của sư đoàn 316 xuất phát từ Điện Biên Phủ và Sầm Nưa có lẽ đang tiến về phía Luang Prabang và Viêng Chăn. Trong cuộc chiến tranh vận động xuyên rừng núi, Việt Minh có thuận lợi hơn Pháp. Bộ binh Việt Minh có thể nhanh chóng tới Luang Prabang. Trên đường đi về hướng Viêng Chăn có lê phải chặn Việt Minh từ Cánh đồng Chum.
        Ban 2 của Pháp không còn hoài nghi gì về những ý đồ của Việt Minh. Trong ban phân tích tình báo do trung tá trưởng ban 2 Guibault ký đầu tuần tháng 11 có đoạn viết: “Phần lớn các hoạt động tiến công của Pháp (như chiến dịch Mouette) tại miền Bắc Việt nam đã buộc địch phải trì hoãn và tổ chức lại cuộc tiến công từ nhiều tháng nay.
        Tại khu vực Bắc đồng bằng lực lượng tác chiến gồm hai sư đoàn 308 và 312 hiện đang tiếp tục luyện tập chuẩn bị đánh đồng bằng. Nllững hoạt động tình báo của ta ở khoảng giữa Việt Trì và Lục Nam khẳng định Việt Minh rất chú ý tới khu vực này, các khoa mục luyện tập của Việt Minh đều nhằm vào việc tiến công các cứ điểm phòng ngự kiên cố và các đô thị, đã giúp ta khẳng định hình thức hoạt động sắp tới của Việt Minh.
        Sư đoàn pháo 351 được tăng cường thêm một trung đoàn súng cối loại nặng, cũng đang tiến hành luyện tập tương tự.
        Sư đoàn 316 đã bắt đầu xuất phát về hướng thượng du…”
        Bản đồ các vị trí đính kèm báo cáo của Guibault cho biết, tiểu đoàn đầu tiên của trung đoàn 176 thuộc sư đoàn 316 đang trên đường mòn sông Mã đến ngang Sơn La. Từ đó, đơn vị này có thể chỉ trong vài ngày sẽ tới hoặc là Tuần Giáo để trợ lực cho trung đoàn 318 đánh Lai Châu hoặc là Điện Biên Phủ để từ đó tiến đánh Luang Prabang. Các tiểu đoàn đầy đủ của trung đoàn 98 thuộc sư đoàn 316 cũng đã có mặt tại Mộc Châu và Sầm Nưa.
        Trong phòng làm việc nhỏ bé có máy điều hoà không khí tại Sài Gòn, tướng Navarre ngồi hàng giờ nghiên cứu để có quyết định chín chắn. Hiện nay, ông đã có tất cả dữ liệu trong tay.
        Nhờ sự thành công của chiến dịch Mouette, Tư lệnh Bắc kỳ là tướng Cogny đã có được một sự trì hoãn tạm thời ở đồng bằng. Hiện nay quan tâm trước mắt của ông là sự đe doạ của địch đang đè nặng Lai Châu. Bên cạnh Cogny là đại tá Reiner lúc đó là quan cai trị đứng đầu xứ Thái. Hai người cùng cao lớn như nhau, cùng có những quan hệ ràng buộc lẫn nhau, lập trường của Reiner rất rõ ràng, không thể cho phép để mất xứ Thái của Đèo Văn Long được. Ông giải thích cho tướng Cogny rõ tầm quan trọng chính trị của khu vực này. Về phần mình, tướng Cogny cũng lo ngại nếu cho di tản vị trí cuối cùng của Pháp ở Tây Bắc là Lai Châu sẽ bỏ rơi luôn các đội biệt kích đang hoạt động trong vùng thượng du. Lúc đó Việt Minh sẽ được tự do tập trung lực lượng tiến đánh đồng bằng, chỉ còn một giải pháp duy nhất là chiếm đóng Điện Biên Phủ.
Logged
altus
Moderator
*
Bài viết: 1782



« Trả lời #16 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2008, 11:49:24 pm »

Đây không phải là giải pháp mà Cogny quyết định một cách thoải mái vui vẻ trong lòng. Bởi vì đại tá Bastiani là tham mưu trưởng của Cogny vẫn nhắc ông những điều đã biết từ lâu. Đó là thung lũng Điện Biên Phủ cách xa các căn cứ hậu cần.
        Nếu tướng Giáp quyết định tiến đánh thì sẽ phải rút nhiều tiểu đoàn mạnh từ đồng bằng lên cứu ứng cho Điện Biên Phủ. Nhưng ông cũng nghĩ những tiểu đoàn này chỉ mất một giờ mười lăm phút để bay từ Hà Nội lên đây, trong khi các tiểu đoàn Việt Minh xuất phát từ các căn cứ hậu phương phải mất ba mươi nhăm ngày mới tới được Điện Biên Phủ.
        Quan điểm của các tướng lĩnh ở Lào có khác với Bộ chỉ huy Bắc kỳ, nhưng cũng đều đi tới cùng một kết luận, chỉ khác nhau ở sự chọn lọc kết luận đó.
        Từ nhiều tuần nay, đại tá Crèvecour đã được cử làm Tư lệnh chiến trường Lào thay tướng Gardet mới đảm nhiệm chức vụ này trong một thời gian ngắn.
        Tướng Gardet đã không thể ngủ yên ở Viêng Chăn. Lào là một nước theo đạo Phật một cách sùng kính và chính thống, dạy các tín đồ không được giết hại bất cứ một sinh vật nào. Số sư sãi tại kinh đô Lào có tới bốn vạn người. Ban ngày các vị sư cầm rổ đi đến từng nhà khất thực, được nhân dân cung cấp thức ăn. Ban đêm, đến lượt lũ chó cũng đi từ cánh cổng này đến cánh cổng khác kiếm thức ăn thừa trong đống rác. Suốt đêm này sang đêm khác đàn chó lang thang trên các đường phố bẩn thỉu, sủa cắn, đánh nhau, giao cấu với nhau và nhai ngấu nghiến những gì có thể ăn được.
        Những tiếng động này phá vỡ giấc ngủ của tướng Gardet, Tư lệnh quân sự ở Lào. Ông quyết định mở một chiến dịch chống lại tiếng động bằng cách gửi công văn tới các chủ chó, dặn phải xích chó cẩn thận trước khi trời tối. Nhưng chó ở Viêng Chăn không có chủ và nếu có thì những người nuôi chó cũng không quan tâm tới đàn chó của mình. Lũ chó vẫn tiếp tục trò huyên náo. Thế là tướng Gardet nổi cáu. Sau một đêm thức trắng mất ngủ, ông quyết định tiêu diệt lũ chó. Nhằm mục đích này ông thành lập những nhóm biệt kích, mỗi nhóm ba người. Nhóm trưởng được trang bị một dây thòng động buộc vào đầu một cây sào dài để thít chặt cổ chó mà không sợ bị chó cắn. Một y tá đi theo sẽ tiêm thuốc Strychnine để giảm bớt nỗi đau đớn cho con vật bị thắt cổ. Một xe cứu thương hoặc xe tải loại nhỏ được dùng để chở xác chó.
        Ngay đêm đầu tiên phát động chiến dịch, tướng Gardet đích thân kiểm tra kết quả. Ông hỏi người chỉ huy nhóm đầu tiên:
        - Được bao nhiêu?
        - Báo cáo thiếu tướng, được 3.
        - Chưa đủ. Phải diệt nhiều hơn nữa.
        Nhóm thứ hai báo cáo:
        - Thưa tướng quân, bốn chết một bị thương.
        - Thế là tốt. Nhưng sao không diệt nốt con bị thương?
        - Báo cáo y tá bị nó cắn!
        Câu chuyện này, Thủ tướng Lào Xuvanna Phuma đã kể lại với tướng Navarre một cách nghiêm chỉnh, không cười. Tướng Gardet bị gọi về Sài Gòn ngay giữa nhiệm kỳ đầu tiên. Đại tá Crèvecour được cử thay thế. Vị đại tá chỉ huy lực lượng bộ binh với gương mặt thông minh, nhân hậu của một nhà truyền đạo. Từ năm 1949 ông đã chỉ huy một cánh quân giải phóng nước lào. Ông biết rõ đất nước này và không cần phải suy nghĩ lâu cũng hiểu rằng chỉ có duy nhất vị trí Điện Biên Phủ mới có thể bảo vệ được kinh đô vương quốc.
        Chiều ngày 9 tháng 11, tướng Navarre và đại tá Crèvecour thảo luận rất lâu với nhau.
        Về mặt địa lý thung lũng lòng chảo Điện Biên Phủ thuộc lãnh thổ Bắc kỳ và quân Việt Minh cũng ở Bắc kỳ. Việc đánh chiếm và bảo vệ Điện Biên Phủ chỉ có thể được tiến hành từ Hà Nội. Nhưng, Điện Biên Phủ lại che chở cho toàn bộ Bắc Lào. Nếu chiếm được Điện Biên Phủ như Crèvecour hy vọng, thì ông sẽ thoát khỏi thế phòng ngù bị động để giữ Thượng Lào.
        Crèvecour cũng đề nghị thành lập một căn cứ không quân ở Mường Sài. Vị trí này không được tốt và còn rất xấu so với Điện Biên Phủ, nhưng vẫn có thể dùng cho loại máy bay đưa vài tiểu đoàn trang bị nhẹ nhay dù xuống Mường Khoa và có thể tới cả Sốp Nạo cách Điện Biên Phủ hai ngày đi bộ.
        Crèvecour giao toàn bộ kế hoạch này cho thiếu tá Vaudrey. Đây là một sĩ quan tầm vóc nhỏ bé mà tướng Navarre đã có lần gặp tại Nà Sản. Ông đi bộ không biết mệt, hiểu rõ địa hình rừng rú và dân địa phương.
        Tiếp theo những buổi họp bàn công việc là những cuộc hội ý chớp nhoáng. Mọi ý kiến đều có vẻ hướng về việc chiếm đóng Điện Biên Phủ. Cũng có những ý kiến nghi ngờ, dè dặt nếu không thì quyết định này đã chẳng vấp phải một khó khăn nào. Các sĩ quan tham mưu là những người được trả lương để phân tích các thuận lợi và hậu quả.
        Dù có những thuận lợi về mặt chính trị để bảo vệ xứ Thái nhưng đối với tướng Cogny, việc chiếm đóng Điện Biên Phủ chỉ cốt để bảo vệ Lào về mặt quân sự. Nếu không có mệnh lệnh phản bác, việc đánh chiếm Điện Biên Phủ để bảo vệ các đường biên giới của Lào sẽ được ghi trong nhiệm vụ của Tổng tư lệnh. Lệnh phán bác này, dù đã có người nói ra, những vẫn không bao giờ ban hành, bất kê dưới hình thức gì. Ngược lại, hiệp định ngày 12 tháng 10 ký với vương quốc Luang Prabang đã khẳng định nhiệm vụ chính trị của tướng Navarre là một nhà quân sự, đối với Lào.
        Ngày 14 tháng 11, sau khi ký các thoả thuận Pháp - Lào, Quốc vương Lào đáp máy bay từ Paris đến Sài Gòn. Lào là nước độc lập đầu tiên ra nhập khối liên hiệp Pháp. Cho tới lúc này, cũng mới chỉ có một mình Lào làm việc này. Hiệp ước Pháp - Lào mà Thủ tướng Paul Renaud coi như một văn bản kiểu mẫu, ghi rõ trong điều 2, định nghĩa khối Liên hiệp Pháp “là một cộng đồng trong đó tất cả các nước liên kết cùng chung nhiệm vụ huy động các phương tiện của mình đế đảm bảo sự phòng thủ của toàn thể khối Liên hiệp”. Điều 4 trong phần hai, cho phép Pháp “được quyền tự do vận chuyển và đóng trên lãnh thổ Lào mọi lực lượng cần thiết dùng vào việc bảo vệ các đường biên giới bên ngoài nước Lào cũng như để phòng thủ chung toàn khối Liên hiệp Pháp”.
        Đối với tướng Navarre, kết quả đã rõ ràng.
        Hiệp ước này là sự trả lời của Chính phủ trong bản tuyên bố hồi tháng 7. Và nếu còn có một điều nghi ngờ gì thì đây là lúc bày tỏ trực tiếp với giới cầm quyền chính trị. Quốc vụ khanh phụ trách các quan hệ với các nước liên kết lên đường đi sang Đông Dương đến Tân Sơn Nhất hồi 9 giờ 30 phút ngày 15 tháng 11. Hôm đó là ngày chủ nhật. Tất cả mọi người ăn trưa ở dinh Norodom, tại bàn ăn của Tông cao uỷ.
        Dây là bữa ăn đón tiếp chính thức, bầu không khí không đến nỗi buồn tẻ quá. Ngài Bộ trưởng Marc Jacquet hãy còn trẻ. Dưới lớp mỡ béo của nhà tư sản, vẫn ẩn náu một thân hình có bắp thịt vững chắc, lộ rõ vẻ một người có bầu máu nóng. Không ai là người không biết ông đã từng nổi tiếng trong thời kỳ kháng chiến chống phát xít Đức chiếm đóng. Nếu tôi không nhầm thì ông là người được giới quân sự coi trọng. Dưới dáng vẻ tròn trĩnh hơi tẻ nhạt của một nhà chính trị bị ràng buộc vào những cam kết. Ông vẫn tiềm tàng một lương tri vững chắc và một tinh thần can đảm thật sự.
        Tấn bi kịch bắt đầu bùng nổ lúc 17 giờ. Đó là giờ mọi người thường tắm mát dưới với hoa sen trước khi ăn bữa tối.
        Tại Sài Gòn đó cũng là giờ tới tấp nhận được những điện báo tình hình chiến sự. Tôi đang ngồi trong phòng làm việc thì chợt nhìn thấy ngài Bộ trưởng bước vào mà không báo trước. Ông có vẻ bị kích động. Trán ông đó rực không phải vì tiết trời nóng hoặc vì dạ dày đang làm việc tiêu hoá thức ăn. Vừa bước qua ngưỡng cửa, ông đã đòi gặp ngay thẳng Navarre. Tôi không được chứng kiến lúc mở đầu cuộc nói chuyện giữa tướng Navarre với Bộ trưởng Jacquet, và tôi đã tự suy nghĩ về những lý do dẫn đến cuộc hội ngộ bất ngờ này.
        Tất cả những giới chính thức và không chính thức ớ Sài Gòn cũng muốn tìm hiểu về sự kiện này.
        Chuông điện thoại đổ hồi liên tục như không chấm dứt. Các thư ký văn phòng của Bộ trưởng cũng như các sĩ quan tùy tùng của tướng Navarre mà tôi quen thân đều gọi điện cho tôi, hỏi chuyện với tư cách bạn bè:
        - Này! Bộ trưởng dang gặp thủ trưởng của anh đấy à?
        Yves Rocolle phóng thật nhanh tới gặp tôi với tốc độ gần như lúc anh nhảy dù khi chiếc máy bay Junker của anh bị bốc cháy trên vùng trời Cao Bằng hồi trước.
        Anh được điều động về làm việc tại văn phòng Tổng tư lệnh ngay sau khi tướng Navarre tới Đông Dương và giữa lúc anh đang là một đại uý chỉ huy tiểu đoàn dù xung kích số 1. Đây là một con người gân guốc tầm vóc trung bình, có gương mặt tinh tế khô khan của một giáo sư cận thị. Giữa chúng tôi không cần phải che đậy gì cả. Anh đến đây để moi tin tức. Với vẻ mệt mỏi Rocolle người phịch xuống chiếc ghế bành cũ kỹ, rót luôn một cốc Cognac- soda ướp lạnh để uống như một người có quyền thế ở đây, rồi nói to như để giảng giải:
        - Giả thuyết thứ nhất: Chính phủ lại vừa đổ. Nhưng nếu như vậy thì chúng ta phải biết tin trước Bộ trưởng chứ? Giả thuyết thứ hai: Trung Quốc tuyên chiến với Pháp. Điều này không thế nào xảy ra được, bởi vì Mao rất thông minh, biết tiến hành chiến tranh bằng cách tuyên bố hoà bình. Giả thuyết thứ ba: Hồ Chí Minh đề nghị hoà bình. Nhưng ông ta đã nói đến hoà bình từ hai năm nay rồi. Giả thuyết thứ tư: Mỹ can thiệp. Vấn đề là Mỹ phải hiểu rõ quyết định của họ.
        Tiếng chuông điện thoại nội bộ cắt đứt lời độc thoại của Rocolle. Tướng Navarre gọi tôi. Tôi lập tức chạy vào phòng làm việc của ông.
        Ngay phút đầu tiên, tôi đã thất vọng. Không khí trong phòng không có vẻ căng thẳng. Nụ cười lạnh lẽo của tướng Navarre có vẻ như đã làm tắt ngóm sự kích động của Bộ trưởng. Nghe lỏm từng mẩu đối thoại, tôi dần hiểu lý do dẫn đến sự bực tức của ngài Jacquet và của cái hội đồng chiến tranh này.
        Số là vào cuối buổi chiều, ngài Bộ trưởng Jacquet đang ngồi tại phòng khách trong dinh Norodom ngỏ ý muốn về phòng nghỉ để thư giãn đôi chút trước bữa ăn tối. Một sĩ quan tuỳ tùng đã dẫn Bộ trưởng đi theo những lối đi hẹp tới “nhà khách” ở cuối khu vườn. Đó là một biệt thự bình thường vẫn dành để các vị khách mời cấp cai trị đầu ngành hoặc sĩ quan cấp cao dùng làm nhà nghỉ. Cung cách đối xử như vậy với vị đại diện Chính phủ đã làm cho ngài Bộ trưởng nổi máu hiếu chiến. Ngay lập tức, ngài đòi được ở dinh Tổng tư lệnh.
        Trong biệt thự của tướng Navarre chỉ có một phòng ngủ vẫn dành riêng cho Tổng tư lệnh khi ông tới Hà Nội. Nhưng căn phòng này, nóng tồi tàn, các thiết bị hậu cần, vệ sinh hoạt động kém.
        Dù sao, cơn nóng giận của ngài Bộ trương cũng giam bớt, ông đã chấp nhận gian phòng khiêm tốn này. Tối hôm đó ông nói chuyện rất lâu với tướng Navarre tình hình Paris, ở ngay trong phòng làm việc của Tổng tư lệnh. Ông cho biết những lập trường khác nhau của các thành viên Chính phủ về vấn đề Đông Dương và thái độ hoàn toàn khó hiểu của Thủ tướng. Ông đoán trước sẽ lại thay đổi Chính phủ. Ông nói:
        - Thủ tướng ngu xuẩn này không đứng lâu được đâu. Nay mai Mendes France sẽ làm Thủ tướng. Tôi đã biết tin sẽ tham gia Chính phủ mới của ê-kíp này Tất nhiên, tướng quân sẽ được sự ủng hộ hoàn toàn của tôi.
        Nhưng mãi đến hôm sau tướng Navarre mới đặt vấn đề bảo vệ Lào một cách rõ ràng. Chiều hôm đó, cả Bộ trưởng và Tổng Cao uỷ đều tham dự buồi trình bày về tình hình đầy đủ ở Lào, do tướng Navarre thuyết trình.
        Trước khi bước vào cuộc họp, Tổng tư lệnh tới gặp hai vị nói trên trong phòng làm việc của Tổng Cao uỷ đặt tại dinh Norodom. Tướng Navarre nói:
        - Bây giờ xin giới thiệu với các ngài tình hình khu vực Tây Bắc. Để cản phá kế hoạch tiến công của Việt Minh, tôi nghĩ ta cần phải chiếm đóng thung lũng lòng chảo Điện Biên Phủ. Cuộc hành quân chiếm đóng này đòi hỏi về phía chúng ta một nỗ lực và tất nhiên cũng có nhiều rủi ro, chỉ nhằm một mục đích là để bảo vệ Lào. Xin các ngài cho biết ý kiến.
Logged
altus
Moderator
*
Bài viết: 1782



« Trả lời #17 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2008, 11:50:08 pm »

Sau một hồi im lặng, Tổng Cao uỷ Dejean là người đầu tiên phát biểu ý kiến:
        - Ồ! Thưa tướng quân! Không thể nghĩ khác được!
        Bộ trưởng Jacquet ngậm cán tẩu. Ông uốn lưới bảy lần trong miệng rồi mới trả lời. Thật tình dù có nói bóng gió thì Bộ trưởng Jacquet vẫn thuộc phe chủ trương đàm phán với Việt Minh. Ông không tin rằng nước Pháp có thể được “thay thế” bằng nước Việt nam của Bảo Đại. Nhưng chắc chắn ông cũng không phải là người muốn “thả mồi” bằng bất cứ giá nào. Ông đã nghe Navarre và Dejean nói và bây giờ là lúc ông phát biểu trong khi vẫn nghĩ đến chuyện thương lượng với Việt Minh.
        - Nếu ta để cho Việt Minh chiếm Luang Prabang, đóng quân ở lưu vực sông Mêkông và dàn quân trên tuyến biên giới tiếp giáp Thái Lan thì chiến tranh sẽ thất bại, khối liên hiệp Pháp cũng mất nốt.
        Buổi tối hôm đó trên đất Đông Dương, rõ ràng mọi người đều khẳng định có cơ sở là phải bảo vệ Lào.
        Khoảng 16 giờ ngày hôm sau tại Hà Nội có cuộc họp toàn ban tham mưu. Tới dự, ngồi quây quần chung quanh Tổng tư lệnh Navarre và Tư lệnh chiến trường Bắc bộ Cogny, có tướng Masson, phó của Cogny, tướng Gilles, tướng Deschaux, Tư lệnh không quân chiến trường Bắc bộ, các đại tá Berteil và Revol. Khi Navarre và Cogny bước vào phòng họp thì mọi người đã nhất trí trên nguyên tắc là phải chiếm đóng Điện Biên Phủ. Đại tá Bastiani là tham mưu trưởng có đưa trình Cogny một số phiếu thăm dò, bày tỏ sự phản đối, nhưng Cogny không chú ý tới, coi là chuyện thường tình, không có gì mới. Kế hoạch tác chiến được mang tên mật là Castor. Theo tin tình báo, trong thung lũng chỉ có một tiểu đoàn bộ đội địa phương của Việt Minh. Hai tiểu đoàn dù của Pháp tiến công đồng loạt bất ngờ, có thể giành được thắng lợi. Nhưng cũng phải tính đến trung đoàn chủ lực 148 đóng cách đó khoảng hai ngày đường. Ngoài ra, còn có sư đoàn 316 của Việt Minh đang tiến từng chặng lên vùng Tây Bắc, đơn vị đi đầu đã tới Sơn La. Như vậy chỉ còn vài ngày nữa sư đoàn này sẽ tới Tuần Giáo hoặc Điện Biên Phủ. Nếu lúc đó mới nhảy dù thì quá chậm. Do đó, phải tiến công ngay trong ngày mai, hoặc là không bao giờ có thể tiến đánh được nữa.
        Những người dự họp lần lượt phát biểu ý kiến. Tướng không quân Deschaux bày tỏ lo ngại về những điều kiện đặt ra. Đợt nhảy dù thứ nhất có thể thả đồng loạt hai tiểu đoàn xuống hai khu vực chiến đấu. Nhưng phải vài giờ sau mới thả dù được tiểu đoàn thứ ba.
        Tướng Gilles đề cập vấn đề bất lợi nhất. Đó là nếu Việt Minh có ba tiểu đoàn trong thung lũng thì đợt nhảy dù thứ nhất sẽ gặp khó khăn.
        Berteil nói:
        - Nhưng hiện nay thì ta biết chắc chắn là mới chỉ có một tiểu đoàn 910 bộ binh của bộ đội địa phương Việt Minh có mặt trong thung lũng. Còn các tiểu đoàn của sư đoàn 316 thì không thể nào có mặt tại Điện Biên Phủ trước ngày 23 tháng 11 được.
        Cuối cùng là phát biểu của tướng Masson, phó của Cogny:
        - Thưa Đại tướng, nếu ngài quyết định mở cuộc tiến công bất chấp mọi rủi ro, thì tôi xin trân trọng báo cáo trước với ngài là quân dù của chúng ta sẽ phải gánh chịu tổn thất khoảng từ 50 đến 100% số quân tham chiến.
        Một sự im lặng nặng nề đè trĩu mọi người trước nhận định độc đáo của tướng Masson mà sau đó mới được biết là quá cường điệu.
        Suốt cuộc họp, tướng Navarre im lặng nghe mọi người phát biểu. Cuối cùng ông mới ngoảnh về phía tướng Cogny, ra hiệu không có gì cần bàn thêm nữa và kết luận:
        - Tôi đã nghe từng người phát biểu ý kiến. Tôi quyết định, nếu thời tiết thuận lợi thì kế hoạch Castor sẽ tiến hành vào ngày 20 tháng 11. Nếu ngày đó không thực hiện được thì sẽ tiến hành vào một hôm khác, trước ngày 24. Tướng Gilles chỉ huy cuộc hành quân.
        Ngày 20 tháng 11 năm 1953, đợt nhảy dù thứ nhất được tiến hành từ 10 giờ 30 đến 10 giờ 35 phút. Tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 (6e BPC) do thiếu tá Bigeard chỉ huy nhảy xuống bãi Natacha phía Tây Bắc làng Điện Biên, rơi đúng vào một đại đội Việt Minh. Cùng trong lúc đó tiểu đoàn 2 thuộc trung đoàn dù số 1 do thiếu tá Bréchignac chỉ huy nhảy xuống bãi Simone ở phía Nam làng Điện Biên và phía Bắc sông Nậm Rốm. Vừa đặt chân xuống đất, Bréchignac đã rút trong xà cột ra một tấm bản đồ, so sánh với thực tế, rồi chửi tục:
        - Mẹ kiếp! Tụi phi công làm mình rơi cách địa điểm ấn định hai kilômét về phía Nam!
        Cùng trong lúc đó vang lên tiếng súng nổ từ bãi Natacha vọng lại, nghe rõ tiếng trung liên Tiệp Khắc của Việt Minh.
        Bréchignac gọi vào máy bộ đàm, bắt liên lạc với tiểu đoàn dù thuộc địa số 6. Có tiếng Bigeard trả lời:
        - Ôkê! Mọi việc đều tốt. Tự tôi có thể giải quyết được hết.
        Đối với Bigeard một cuộc tiến công không thể chia phần, nhất là lại đang tiến triển tốt.
        Tiểu đoàn 2 thuộc trung đoàn dù thuộc địa số 1 mang dáng dấp của người chỉ huy. Đó là một sĩ quan béo lùn hơi nặng nề hơi chậm chạp, ít nói nhưng cặp mắt và cử chỉ thể hiện một sự linh hoạt có những phản ứng đáng gờm. Không thay đổi nhịp điệu, tiểu đoàn này chuyển từ thế tiếp cận thận trọng sang tiến công dữ dội.
        Qua máy bộ đàm, thường phải nghe lệnh bằng tai và thực hiện bằng óc, Bréchignac không nói những câu vô nghĩa và không chỉ nói mà còn nghe nữa. Các chỉ huy đại đội cũng giống như chỉ huy tiểu đoàn Bréchignac. Đó là các đại đội trưởng Clédic, Charles, Periou, Minaud. Nhìn chung, họ đều có những cái miệng rắn như tạc vào đá và không bao giờ tin tưởng vào những sự may mắn kỳ diệu.
        Vừa nhảy dù xuống đất họ đã tập hợp cẩn thận, không vội vã trong khi những tiếng động của cuộc chiến đấu do đơn vị bạn là tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 từ xa đang vọng lại. Họ từ từ lựa chọn một vị trí thích hợp để trú quân qua đêm.
        Một quả đồi phía trước bản làng, có con đường đi ngoằn nghèo như một sợi dây từ sườn đồi lên tới đỉnh sát một ngôi nhà nhỏ đổ nát. Họ đã leo lên đó, đào công sự, mà không hiểu rằng đây là những nhát cuốc đầu tiên để sau này xây dựng cứ điểm phòng ngự mang tên Eliane 2 (tức đồi A1).
        Trong ngày hôm đó, Pháp bị chết 14 lính dù, trong đó có đại úy, bác sĩ quân y Raymond là người thực hiện cứ nhảy dù đầu tiên.
        Buổi chiều 20 tháng 11, đến lượt tiểu đoàn dù thuộc địa số 1 nhảy xuống Điện Biên Phủ. Ngày hôm sau lại có thêm ba tiểu đoàn nũa là tiểu đoàn dù thuộc địa số 8, tiểu đoàn dù lê dương số 1, tiểu đoàn dù số 5 của quân đội Bảo Đại, còn gọi là lính Bảo an. Tất cả tập trung thành binh đoàn đổ bộ đường không số 2 do Langlais chỉ huy. Trong ba ngày 5.100 lính dù và 240 tấn thiết bị đã được thả xuống Điện Biên Phủ.
        Ngày 23-11-1953, tướng Gilles nắm trong tay 6 tiểu đoàn dù, 1 đại đội công binh, 2 cỗ pháo 75 không giật thuộc trung đoàn pháo binh dù loại nhẹ và một đại đội súng cối loại nặng. Tiểu đoàn dù lê dương số 1 đào công sự phòng ngự trên quả đồi mang tên Anne Marie gần Bản Kéo. Tiểu đoàn dù thuộc địa số 1 và tiểu đoàn dù Bảo an số 5 đóng ở các cao điểm phía Đông mang tên Eliane và Dominique.
        Trong những ngày tiếp theo các máy bay vận tải quân sự và dân dụng liên tiếp thả các thiết bị.
        Những thùng đạn được buộc vào dù màu đỏ. Hai chiếc xe ủi đất được buộc vào một chùm nhiều dù màu sắc rực rỡ.
        Ngày 25 hoàn thành đường băng cho máy bay Dakota hạ cánh. Cuộc hành quân Castor đã kết thúc thắng lợi, tạo được tiếng vang lớn lan khắp Đông Dương nước Pháp và thế giới.
        Ngay từ chiều 21 tháng 11 tức là lúc tướng Gilles mới đặt chân tới Điện Biên Phủ để nắm trong tay sáu tiểu đoàn quân và vài ngày lương thực, tại Hà Nội tướng Cogny đã tổ chức cuộc họp báo, vui mừng hớn hở tuyên bố rối rít:
        - Ngay từ khi mới nhậm chức, nếu có thể chuyển ngay Nà Sản về Điện Biên Phỉ thì tôi cũng làm.
        Bodard lập tức điện ngay về toà soạn báo Nước Pháp buổi chiều lời tuyên bố vừa nghe được.
        Navarre có vẻ sùng sốt khi thấy tin tức về Điện Biên Phủ được chạy những dòng rất to ngay trên trang nhất các báo xuất bản ở Pháp. Từ sáng 20, giữa lúc đang tiến hành cuộc nhảy dù đánh chiếm Điện Biên Phủ tướng Navarre đã vào Sài Gòn tiếp chuẩn đô đốc Cabanier rồi ngày hôm sau lại đi Phnôm Pênh dự lễ hội té nước. Ông đã không gặp một nhà báo nào và có vẻ hơi bực bội trước những lời ca ngợi. Tuy nhiên, ông không giảm nhẹ tầm quan trọng của việc đánh chiếm Điện Biên Phủ.
        Trong bản báo cáo chiều ngày 25 tháng 11 đệ trình chính phủ và Ban tham mưu, Navarre viết: “Tầm quan trọng về các mặt chính trị, kinh tế, quân sự lớn đến mức do cuộc hành quân đánh chiếm Điện Biên Phải hoàn thành thắng lợi, ta đã cắt đứt được tất cả những thuận lợi của địch trong chiến dịch 1952-1953. Vì vậy, cần dự kiến địch sẽ giành lại bằng vũ lực”. Tướng Navarre muốn sự kiện đánh chiếm Điện Biên Phủ không ra khỏi khuôn khổ mục đích: đây là một hoạt động quân sự nằm trong kế hoạch chung, với mục đích nhằm trải qua những tháng mùa khô không gặp điều gì xấu lắm.
        Đó là tâm trạng tướng Navarre lúc 17 giờ 35, khi chuẩn đô đốc Cabanier bước vào phòng làm việc của Tổng tư lệnh. Thời kỳ này, chuẩn đô đốc đang giữ chức Phó Tổng thư ký Hội đồng Quốc phòng. Ông tới Đông Dương trên cương vị này. Đô đốc rút trong cặp ra một bản sao quyết định của Hội đồng Quốc phòng trong phiên họp ngày 13 tháng 11 tại điện Elysée, trả lời các đề nghị tăng viện cho Đông Dương do tướng Navarre ghi trong bản kế hoạch chiến lược. Nội dung quyết định là:
        - Không chấp nhận các đề nghị do tướng Navarre đệ trình chính phủ ngày 11 tháng 9 năm 1953.
        Ngày 3 tháng 11, tướng Navarre đã gửi tướng Ely một bức thư dài với tư cách cá nhân, trong đó có đoạn viết:
        “Trong tình huống này, chính là lúc Chính phủ phải quyết định có nên hy sinh lợi ích của NATO để phục vụ cho lợi ích Đông Dương hay không. Về phần tôi, tôi khẳng định là nên. Tôi cũng nghĩ trong khoảng thời hạn hai năm ở Đông Dương, không phải ta sẽ có thể giành chiến thắng hoàn toàn, nhưng mà là cải thiện tình thế quân sự nhằm thúc đẩy đàm phán với những điều kiện rất có lợi cho ta. Nhung chỉ có thể làm được điều đó với điều kiện có các phương tiện cần thiết”.
        Đô đốc Cabanier có nhiệm vụ giải thích cho Tổng tư lệnh Navarre rõ những lý do từ chối của chính phủ. Những vì cũng là một quân nhân nên đô đốc cũng tỏ ra tán thành những lập luận của Navarre.
        Vì vậy, ông hy vọng có một sự thay đổi nào đó trong quyết định của chính phủ. Vả lại, để giảm bớt sự chua chát trong câu trả lời “không”, Hội đồng Quốc phòng cũng đã thêm vào thư trả lời một ít đường trong câu “Ca ngợi Tổng tư lệnh Đông Dương vừa mới giành được những thắng lợi quân sự”, nhưng đồng thời cũng căn dặn Tổng tư lệnh phải “chỉnh lý, phối hợp các kế hoạch với những phương tiện đang có để làm cho đối phương hiểu rằng họ không thể giành được thắng lợi quân sự”.
        Tất cả điều đó không mới.
        Mục tiêu đạt được vẫn giống như kế hoạch Navarre mà chính phủ đã thông qua hồi tháng 7 “chỉnh lý các kế hoạch cho ăn khớp với nhau” nếu không đơn giản là sự thận trọng thường nói ra miệng thì cũng chỉ tiến hành được những sửa đổi về chi tiết. Tướng Navarre không nghĩ rằng câu này có thể được coi như lời mời di tản khỏi Lào, vì lúc đó ông chẳng liên hệ gì tới tình hình Lào cả.
        Câu chuyện giữa tướng Navarre và đô đốc Cabanier sa đà vào những vấn đề chung chung.
        Cũng như Quốc vụ khanh Jacquet mấy hôm trước, lần này chuẩn đô đốc Cabanier cũng nói lại, các thành phần trong Chính phủ chia rẽ ý kiến như thế nào xoay quanh vấn đề thương lượng.
        Một số người cho rằng thời cơ đàm phán đã tới sau khi ta vừa thu được những thắng lợi quân sự: cuộc tiến công của Việt Minh vào vùng đồng bằng đã bị hoãn lại, quân nhảy dù của Pháp đã chiếm được Điện Biên Phủ. Vậy ý kiến Tổng tư lệnh Đông Dương thế nào?
        Tướng Navarre ít lạc quan hơn mọi người rất nhiều. Ông cho rằng sở dĩ cuộc nhảy dù đánh chiếm Điện Biên Phủ đạt kết quả, phần lớn là do tình hình tương đối yên tĩnh về cuối mùa mưa. Ngày mai chiến tranh mới thật sự bắt đầu. Ông nói:
        - Đây mới là món khai vị. Ngày mai mới là bữa ăn chính thức. Việt Minh đang chuẩn bị mở cuộc tiến công theo nhiều hướng: trước hết là vùng đồng bằng rồi đến Bắc Lào, đó là chưa kể đến hai hướng phối hợp là Liên khu 4 và Liên khu 5, tại miền Trung lưu vực Mêkông và Tây Nguyên. Chúng ta mới chỉ làm chậm cuộc tiến công của Việt Minh nhưng chưa cắt được những mẩu đầu của tiềm lực Việt Minh. Để buộc Việt Minh phải đàm phán không điều kiện, ta phải có thế mạnh. Có lẽ phải đến mùa xuân sang năm mới tạo được thế mạnh này với điều kiện là phải có ở đây những phương tiện cần thiết.
        Câu chuyện lại quay trở về với vấn đề tăng viện. Đô đốc Cabanier chẳng có gì để cho, ngoài sự thông cảm với tướng Navarre.
Logged
altus
Moderator
*
Bài viết: 1782



« Trả lời #18 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2008, 11:50:56 pm »

Sáng hôm sau, đô đốc Cabanier lên máy bay.
        Nhưng nếu ông nán lại Đông Dương thêm vài giờ nữa, có thể ông sẽ tin chắc là Hồ Chí Minh đã quyết định chơi con bài quân sự trước khi chấp nhận đàm phán.
        Tướng Giáp đã lập tức có phản ứng ngay sau khi Pháp nhảy dù chiếm đóng Điện Biên Phủ.
        Trong những giờ đầu tiên khi quân Pháp vừa mới nhảy xuống Điện Biên Phủ, những tiểu đoàn thuộc sư đoàn 316 đã có mặt tại vùng thượng du, nhận được lệnh bao vây quân Pháp thật gần. Tiểu đoàn 888 thuộc trung đoàn 176 là đơn vị đầu tiên đến khu vực Điện Biên Phủ đang tiến hành càn quét những đội biệt kích của Pháp ở giữa Nà Sản và Sơn La. Sau sáu ngày hành quân cấp tốc, tiểu đoàn này đã tới những mỏm núi cao phía Đông Điện Biên Phủ. Đó là ngày chủ nhật 29 tháng 11, đúng giữa lúc Tổng tư lệnh Navarre đang gắn huân chương khen thưởng tướng Gilles trước các tiểu đoàn dự lễ duyệt binh bên cạnh một bản ở Điện Biên Phủ. Các trung đoàn 174 và 98 tới Tuần Giáo vào thượng tuần tháng 12, toàn bộ sư đoàn 316 đều có mặt ở khu vực Điện Biên Phủ.
        Ngày 24 tháng 12, các sư đoàn mạnh thuộc lực lượng cơ động tác chiến như: 308, 312, 351 được lệnh lên đường đi Điện Biên Phủ. Từ nhiều tháng trước, những sư đoàn này đóng quân trong khu vực giữa Phú Thọ và Thái Nguyên và đã chuẩn bị từ lâu để đánh đồng bằng nay lại được đưa lên vùng thượng du. Ngay trong buổi tối 24 tháng 12, sư đoàn 308 lập tức lên đường. Trước khi tới Điện Biên Phủ, sư đoàn phải vượt khoảng 600 kilômét đi bộ xuyên rừng trong đêm giá rét. Ba mươi đêm hành quân trong sương mù trăng đục bao phủ những thung lũng cao của xứ Thái, đượm với khói toả ra từ những cây củi ẩm uớt và mồ hôi trên da thịt.
        Đằng sau sư đoàn bộ binh 308, là sư đoàn pháo binh 351 hành quân trên xe tải Molotova có kéo những khẩu pháo 105 Mỹ. Đến Yên Bái, sư đoàn vượt sông Hồng trên phà máy ban ngày được ngụy trang kỹ. Những chiếc xe tải này chạy ban đêm bằng đèn gầm, với tốc độ chẳng vượt quá người đi bộ nhiều lắm, bánh xe luôn vấp phải ổ gà trên đường vượt sông suối trên đá ngầm, sa lầy trên đường trơn có những hố bom vừa mới san lấp vội vã. Những khúc ngoặt trên đèo đã được mở rộng cho xe kéo có lối vòng, nhưng khi lên đèo vẫn cứ phải đẩy bằng tay để trợ lực cho máy ô tô đã kiệt sức.
        Cuối cùng, sư đoàn 312 rời khỏi nơi đóng quân sau khi hai trung đoàn của sư đoàn 304 từ Thanh Hoá đến thay thế.
        Ngày thú bảy, 28 tháng 11, Sở Tình báo quân sự tại Hà Nội đã có thể trình lên tướng Navarre bản sỏ đồ lịch trình hành quân của lực lượng cơ động chủ lực Việt Minh đang tiến lên vùng Tây Bắc. Giữa trục đường hành quân được đánh dấu từng ngày với trục ghi tên các làng bản đối xứng, những chấm đỏ chỉ các đơn vị Việt Minh nhích dần theo đường kẻ màu đen hướng về địa danh Điện Biên Phủ.
        Tình báo Pháp ước tính đến ngày 15 tháng 1 năm 1954, tướng Giáp đã có thể tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ với 30 tiểu đoàn quân chính quy, 24 khẩu pháo 105, 24 khẩu sơn pháo 75 mm, nhiều súng cối loại nặng pháo phòng không…
        Tướng Navarre ngồi ở bàn giấy, lắng nghe thiếu tá trưởng ban 2 Levain trình bày. Tướng quân ngồi im lặng, hai ngón tay chống lên má phải. Gương mặt ông với mớ tóc bạc hất ngược về phía sau có vẻ như rắn lại. Trong những giờ phút này, những người gần gũi tướng Navarre thường nói, ông “cụp tai lại” như con ngựa chiến đang chuẩn bị vượt qua một chướng ngại vật khó khăn.
        Tướng Navarre rất sợ phải suy diễn trong trìu tượng. Ông cho rằng, chưa chi đã đặt ra những giả thuyết là cung cách suy diễn của đàn bà. Với ông, là một vị tướng, ông thường phân tích rất kỹ từng khả năng của đối phương rồi mới đi tới quyết định. Đến hôm nay thì ông gần như tin chắc - nói “gần” là vì còn phải chờ các tin tình báo xác minh - Việt Minh không đánh đồng bằng, ít nhất cũng trong lúc này, mà có thể đã thay đổi kế hoạch.
        Theo ông, đó là điều may mắn, như đã viết trong thư gửi Thống chế Juin ngày 14 tháng 12 năm 1953: “Đây là điều nhẹ nhõm đối với tôi vì nếu xảy ra chiến trận tại vùng châu thổ sông Hòng thì tôi không biết sẽ phải làm gì để có thể chống lại 5 sư đoàn chủ lực Việt Minh, được yểm trợ bởi súng cối loại nặng 120mm, Bazooka 90, pháo 75 và 105 mm, phối hợp tác chiến với khoảng từ 75 đến 80.000 bộ đội địa phương và dân quân du kích các loại đã thâm nhập vào bên trong các tuyến phòng ngự của Pháp”.
        Mọi người trong cơ quan Tổng hành dinh tiền phương đặt tại Hà Nội cũng đều thở phào nhẹ nhõm vì Việt Minh không đánh đồng bằng. Tuy nhiên, một câu hỏi lại được đặt ra: để tránh giao chiến với Việt Minh ở vùng đồng bằng vậy thì có nên tiếp nhận chiến đấu với Việt Minh ở Điện Biên Phủ hay là cố gàng tránh né trước nỗ lực của địch.
        Vào thời điểm này, vẫn có thể rút quân khỏi Điện Biên Phủ: những nếu làm như vậy thì lại rơi vào vấn đề đã đặt ra từ trước đây, tức là bỏ ngỏ cho Việt Minh kinh đô của Lào để rồi sau đó năm hoặc sáu tháng nữa lại phải tiếp nhận chiến đấu ở vùng châu thổ. Giải pháp này cần phải loại trừ.
        Như vậy là: Có thể đến cuối tháng 1 năm 1954 Việt Minh sẽ có khả năng tiến đánh Điện Biên Phủ. Cũng có nghĩa là Điện Biên Phủ sẽ là vật đem đánh đổi, để tránh cho Luang Prabang và cả vùng đồng bằng khỏi bị tiến công. Đó là điều tệ hại nhất. Còn điều may mắn là Điện Biên Phủ sẽ chống lại được cuộc tiến công của Việt Minh. Nếu Điện Biên Phủ cầm cự được trong vòng một tháng, hai tháng thì ngược lại Việt Minh có thể kéo dài cuộc tiến công được bao lâu?
        Họ có 7.000 binh lính chiến đấu cách xa các căn cứ hậu phương 400 kilômét và cách các cửa khẩu Trung Quốc là nơi tiếp tế hậu cần khoảng từ 600 đến 700 kilômét. Hàng vạn tấn đạn dược lương thực phải chuyển vận bằng 500 xe tải trên con đường duy nhất là quốc lộ 41 đang bị hư hại vì máy bay thường xuyên bắn phá. Tướng Lauzin đã nghiên cứu kỹ vấn đề này. Ông đã tập trung đánh phá các trọng điểm và kiểm tra lại kết quả bằng ảnh chụp từ máy bay. Tất cả các cơ quan tham mưu các cấp cũng đều đặt câu hỏi: liệu Việt Minh có thể duy trì được sức chiến đấu ở Điện Biên Phủ được bao lâu?
        Tại Tổng hành dinh đặt trong trại Desmarres ở Sài Gòn, đại tá Berteil, Cục phó Cục Tác chiến, làm việc suốt mười tám giờ mỗi ngày. Nóng nực và mệt mỏi không có tác động gì với viên sĩ quan tốt nghiệp tham mưu có lý luận, khô khan và lạnh lùng. Ông là người đã có thâm niên chẵn năm mươi năm. Ông cũng là người duy nhất đã dự báo phản ứng của tướng Giáp khi quân dù đánh chiếm Điện Biên Phủ mặc dù trong thâm tâm, cũng không mong tướng Giáp mở cuộc tiến công. Trong đêm khuya đại tá Berteil vẫn ngồi một mình cặm cụi tính toán.
        Đói với một tiểu đoàn bộ binh, mỗi ngày cần phải có 1.000 ki lô gạo tức 30 tấn mỗi tháng, tức 15 xe chuyên chở trong suốt 20 ngày… Vậy thì phải huy động tới 300 xe tải chuyên để lo ăn cho bộ đội tức là toàn bộ số xe mà Việt Minh có thể có được.
        Ngoài lương thực, Việt Minh còn phải chuyển vận đạn dược, chất nổ, xăng dầu, thuốc men và tất cả mọi thứ cần dùng cho một đội quân chiến đấu.
        Cũng phải tính đến những chuyện chậm trễ vì con đường độc đạo thường xuyên bị ném bom, phải chở các vạt liệu tới để sửa chữa nối liền những đoạn đường bị cắt phá. Vì vậy Việt Minh phải có ít nhất 2.000 xe tải để chở nhiều tấn lương thực các dụng cụ sửa đường, hàng ngàn mét khối xăng dầu, hàng ngàn tấn đạn dược…
        Berteil đã tính toán một cách rất hợp lý. Vì vậy, ông đã tự khen và rất vui mừng khi thấy Tổng tư lệnh ký vào bản chỉ thị ngày 3 tháng 12, trong đó có câu: “Tôi quyết định chấp nhận chiến đấu với Việt Minh trên chiến trường Tây Bắc”.
        Hai năm sau, khi tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đổ sụp, trong bài trả lời phỏng vấn của nhà báo Pháp Jean Ferran đăng trên tờ Paris Match số 370, ngày 12 tháng 5 năm 1956, tướng Giáp cũng nói:
        - Việc người Pháp chọn thung lũng Điện Biên Phủ là có suy nghĩ. Họ có cân nhắc kỹ mặt tốt, mặt xấu. Họ đã tính toán hợp lý: Điện Biên Phủ nằm rất xa các hậu cứ của quân đội Việt Minh, và cũng xa các hậu cứ của Pháp. Nhung Pháp sẽ giải quyết vấn đề bằng không quân. Quân Việt không có máy bay. Họ không thể tự tiếp túc lương thực được. Tính toán như vậy là rất hợp lý. Nhưng…”
        Trong buổi tướng Navarre đang ngồi tại Hà Nội nghe Cục Quân báo thuyết trình thì tướng Giáp đã tới Tuần Giáo từ lúc chưa rạng đông, cách sở chỉ huy tác chiến của tướng Gilles 70 kilômét.
        Ngồi trên chiếc xe Jeep chiến lợi phẩm, ông đã vượt những đoạn đường lầy lội, lồi lõm của quốc lộ 41 trong suốt ba đêm. Các đoàn dài lính bộ binh thuộc các sư đoàn thiện chiến dạt sang hai bên đường, nhường chỗ cho xe của Tổng tư lệnh vượt qua. Trong xe, ông Giáp mặc bộ đồ chẳng khác gì người lái. Tướng Giáp cho dừng xe để kiểm tra công việc của các trung đoàn công binh đang mở lộng đường vòng. Đến Thuận Châu ông nghỉ suốt ngày trong nếp nhà tranh của người Thái, chờ đến đêm sẽ đi một mạch vượt đoàn đèo dài 50 kilômét lượn giữa đám cỏ tranh đung đưa theo chiều gió.
        Đây là đoạn đửờng nguy hiểm nhất vì hoàn toàn không có cây che phủ, không có chỗ nào để giấu xe hoặc ngụy trang, và các máy bay Pháp thường tới ném bom ngay từ sáng sớm. Tướng Giáp xuống xe, dùng bàn chân nắn những hố bom đã được lấp đất.
        Trên từng cây số ông đã đánh giá những khó khăn trên con đường và những kết quả công tác để giữ cho con đường được lành lặn..
        Đến Sở chỉ huy tác chiến đặt trong một khu rừng rậm, tướng Giáp nghe cán bộ quân báo nói về tình hình địch tại Điện Biên Phủ. Trong thung lũng lòng chảo quân Pháp đã làm một đường băng cất cánh, hạ cánh cho máy bay, tăng thêm quân, pháo, chiếm đóng các điểm cao phía đông bờ sông đào các chiến hào, quây các lớp rào kẽm gai quanh các cứ điểm…
        Phải tính kỹ cái giá phải trả cho việc tiến đánh Điện Biên Phủ. Đến cuối tháng 1, cần phải đưa tới đây hơn 5.000 tấn gạo cho bộ đội, 25.000 đạn pháo 105, 1.000 tấn xăng, hàng triệu đạn súng trường và súng máy. Ngoài ra, còn cần phải huy động hàng ngàn người để sửa chữa khoảng từ 250 đến 300 kilômét đường bị phá hoại.
        Ngày 6 tháng 12, tướng Giáp ra lời kêu gọi vượt qua mọi khó khăn trở ngại, tích cực sủa đường, ngoan cường chiến đấu, chiến thắng đói rét, xốc tới Điện Biên Phủ, tiêu diệt địch, giải phóng đồng bào Tây Bắc…”.
        Lệnh động viên của Tổng chỉ huy được các chính trị viên truyền đạt tới chiến sĩ, các cán bộ chính trị truyền tới nhân dân, đài Tiếng nói Việt nam đọc lại từng câu trong nhiều ngày.
        Từ các bản làng, từng đoàn dân công lặng lẽ bí mật lên đường dọc theo quốc lộ 41 dài 600 kilômét từ nơi xuất phát. Họ lập lán trại ngay gần những trọng điểm thường bị ném bom. Khi lặn mặt trời họ được cán bộ dẫn đến những nơi đã bị máy bay phá hoại trong ngày. Mang theo những chiếc rổ nhỏ bé, những cuốc xẻng, họ lấp các hố bom dưới ánh sáng của những ngọn đuốc. Không gì có thể cản trở được sức lao động của họ: mệt mỏi, đói rét, bệnh tật và cả những quả bom nổ chậm hoặc những quả bom cạm bẫy gọi là “bom bướm” vừa chạm nhẹ vào đã phát nổ ngay lập tức.
        Cũng không gì có thể ngăn nổi luồng gạo và đạn suốt đêm từ từ chảy ngược lên phía tập đoàn cứ điểm của đế quốc Pháp. Đêm nào cũng có tới hàng chục ngàn người đen kịt, đông như kiến, gồng gánh tiếp vận trên tuyến đường thiêng liêng. Đến khi trời sáng, máy bay Pháp bay lên chụp ảnh thì con đường đã vắng ngắt, phi công chỉ nhìn thấy rất rõ các đoạn bị bom phá hoại đã được sửa chữa xong.
        “Điện Biên Phủ. Đó là một sự tính toán hợp lý”. Tướng Giáp đã nói với nhà báo Pháp Jean Ferran như vậy. Nhưng ông còn nói thêm: “Sự tính toán hợp lý vẫn chưa phải đã có giá trị. Chính nhân dân mới là người tìm ra giải pháp cho vấn đề hậu cần”. Đúng vậy.
Logged
altus
Moderator
*
Bài viết: 1782



« Trả lời #19 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2008, 08:05:38 am »

Chương 5
Điểm “không- trở-về”

                Ngày 7 tháng 12 năm 1953, đại tá De Castries được tướng Cogny cử làm Tư lệnh Binh đoàn tác chiến Tây Bắc, gọi là GONO.
        Tướng Gilles ra đi, cố giấu giọt nước mắt trong con mắt chột. Ông không khóc vì buồn thương số phận tập đoàn cứ điểm mà ông phải rời bỏ. Không? Đúng vậy. Ông tin chắc và đã nói với tất cả mọi người là, nếu Việt Minh tiến đánh Điện Biên Phủ, họ sẽ thất bại đau hơn Nà Sản. Cha Gilles đi vì đau bệnh. Ông đã nhảy dù xuống Điện Biên Phủ trái với lời khuyên của thầy thuốc, và chỉ những người thân cận nhất mới biết rằng, ông đã từng trải qua hai hoặc ba cơn đau tim rất đáng lo ngại. Các bác sĩ đã đề nghị tướng Navarre chuyển ông về Pháp. Ông sẽ tới Sài Gòn để bàn giao công tác.
        Ông cố kéo dài công việc để trì hoãn, nhưng cũng biết thời gian còn lại của ông tại Đông Dương đang tính từng ngày. Đôi lúc, ông cũng mủi lòng một chút vì đã để lại đây tất cả những người mà ông yêu mến. Ông để lại cho Castries những đơn vị xuất sắc, một tập đoàn cứ điểm được phòng ngự kiên cố một tập hồ sơ các huấn thị giúp Castries làm tròn nhiệm vụ.
        Tính đến ngày 10 tháng 12, doanh trại Điện Biên Phủ đã có mười tiểu đoàn bộ binh và năm cỗ pháo 105. Sáu tiểu đoàn dù đã nhảy xuống chiếm đóng Điện Biên Phủ vẫn đang ở lại đây. Riêng binh đoàn đổ bộ đường không số 1 do Fourcade chỉ huy từ ngày 11 sẽ rút về chỉ còn binh đoàn 2 của Langlais.
        Binh đoàn cơ động số 9 đã được đưa bằng máy bay tới miền Nam Việt nam, gồm hai tiểu đoàn thuộc bán lữ đoàn lê dương số 13, gọi tắt là DBLE. Đây là bán lữ đoàn được ca ngợi, vốn là trung đoàn số 13 của các lực lượng nước Pháp tự do, đã liên tiếp chiến thắng trên các chiến trường Bir Hakeim, Koenig, trong chiến tranh thế giới thứ hai, sau đó được đưa sang Việt nam. Trung tá Serigny chỉ huy đơn vị đã tử trận trên đường đi Đà Lạt lúc mới 35 tuổi. Bây giờ bán lữ đoàn lê dương số 13 được đặt dưới sự chỉ huy của trung tá Gaucher đã phục vụ trong đội quân lê dương suốt hai mươi nhăm năm nay, được ca ngợi là rất vững vàng. Ngay khi mới tới Điện Biên Phủ, Gaucher đã được Castries giao cho nhiệm vụ tổ chức các trận địa phòng ngự.
        Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ trong những giờ chiếm đóng đầu tiên tướng Gilles mới phác hoạ vài nét sơ lược nay được đại tá Castries vẽ rõ thành bản đồ. Thành trì này được hình thành trước tiên bởi sáu trung tâm đề kháng, mỗi trung tâm được mang tên một cô gái. Tại địa điểm Mường Thanh trải dài quanh làng bản cho đến tận bờ sông Nậm Rốm nay là vị trí của các sở chỉ huy, các cơ quan thông tin liên lạc, các cụm pháo: cơ sở hậu cần, kho tàng, sở chỉ huy không quân nhà chứa gái điếm và nơi đóng quân của ba tiểu đoàn lính dù cơ động ứng chiến. Toàn bộ tập đoàn cứ điểm gồm tất cả hệ thống rất hỗn độn này được gọi bằng cái tên rất chung chung là “trung tâm” hoặc GONO(1) hoặc Điện Biên Phủ.
        Trung tâm đề kháng thực sự tập trung trong năm cứ điểm này bố trí thành một vành đai bảo vệ theo đường cánh cung vào khoảng một phần tư đường tròn, hướng về phía Tây Nam nơi có cánh đồng rộng lớn, rải rác trên cánh đồng là những làng bản.
        Cụm cứ điểm mang tên Huguette bảo vệ sân bay hướng về mặt Tây và Bắc. Ở phía Đông dòng sông Nậm Rốm là một cụm cứ điểm phòng ngự, bố trí trên năm quả đồi mang tên Dominique và Eliane, che chở trung tâm tập đoàn cứ điểm.
        Ở mặt Tây Bắc, cứ điểm Anne Marie được xây dựng trên một gò cao thoai thoải như cồn cát. Ở mặt Đông Nam, ngay sát đường 41 là vị trí của tiểu đoàn 3 thuộc bán lữ đoàn lê dương 13, xây dựng trên ba mỏm đồi đã phát quang cây cối được coi là vị trí tiền tiêu chặn đường tiến công của địch. Trung tâm đề kháng này nằm trong tầm tay của Việt Minh, mang tên Béatrice. Dưới chân Béatrice là một bản nhỏ bên dòng suối, gọi tên là bản Him Lam Địa danh này sau đó sẽ trở thành tên gọi chiến thắng đầu tiên của Việt Minh.
        Trước khi ra đi, cha Gilles đã trao lại cho Castries tập hồ sơ các huấn thị của Hà Nội. Ngày 6 tháng 12, Cogny đã cho lệnh rút Lai Châu đưa toàn bộ binh lính và cư dân trong thị xã về Điện Biên Phủ. Cuộc hành quân di tản mang tên Pollux này đang tiến hành Thủ phủ xứ Thái sụp đổ như một trái cây to, vừa mới bị lay chuyển bởi những biến động của các tiểu đoàn Việt Minh đang đến gần đã vội rụng rơi xuống đất.
        Tướng Gilles phát biểu:
        - Trong vòng mười lăm ngày tình hình Tây Bắc đã biến chuyển. Những cuộc rút quân lớn mà tướng Cogny hằng mơ ước đã kết thúc. Nhưng vị trí Điện Biên Phủ chỉ thật sự tỏ ra tuyệt với trong điều kiện Việt Minh chấp nhận cọ xát tại đây. Điện Biên Phủ lớn mạnh hơn Nà Sản rất nhiều. Cứ đứng im chờ Việt Minh tới như thế tốt hơn.
        Cha Gilles biết rằng, đối với một sĩ quan kỵ binh như Castries đang đứng tiền đồn, lời khuyên “đứng im chờ đợi” có vẻ khó được thực hiện.
        Castries vừa mới thay tướng Gilles thì ngày 17 tháng 12, Tổng tư lệnh Navarre tới thăm Điện Biên Phủ.
        Máy bay của Tổng tư lệnh cất cánh từ Hà Nội lúc 9 giờ 30 phút, chở theo một loạt nhân vạt quan trọng: Tướng Lauzin, Tư lệnh không quân Đông Dương, tướng Cogny Tư lệnh chiến trường Bắc kỳ; tướng Nguyễn Văn Hinh cũng đòi đi quan sát cứ điểm pháo đài, viện cớ tiểu đoàn dù Bảo an số 301 là đơn vị dưới quyền ông và các đại tá Berteil, Revol.
        Tôi cần nói thêm, vào thời điểm lạc quan sảng khoái này, những chỗ ngồi trong các chuyến bay lên Điện Biên Phủ, nhất là những ghế hạng nhất, phải cầu cạnh mới có được. Tất cả mọi người ở Hà Nội và Sài Gòn nhất là các sĩ quan tham mưu và các cơ quan quân sự đều cố viện ra một lý do để được đi thăm thung lũng lòng chảo.
        Ngồi trong máy bay bầu không khí thật là tốt đẹp và dù cho các vị tai to mặt lớn muốn che giấu, nhưng đối với một sĩ quan tùy tùng như tôi vẫn cảm thấy rất rõ như thời tiết bên ngoài.
        Ngồi trên máy bay, đại tá Berteil có vẻ đắc thắng một cách thầm lặng về những tính toán khẳng định Việt Minh không thể duy trì lâu cuộc chiến đấu ở Điện Biên Phủ. Thỉnh thoảng ông lại đưa mắt nhìn một cách miệt thị tướng Cogny đang cười ha hả lớn tiếng giải thích cho tướng Hình rõ sẽ đập nát Việt Minh tại “con đê chắn sóng” này như thế nào. Tướng Cogny và đại tá Berteil vốn không ưa nhau, nhưng trong ngày hôm đó, cả hai đều cùng chung lo ngại, chỉ sợ Việt Minh bỏ cuộc không tiến đánh Điện Biên Phủ thì thật đáng tiếc.
        Đúng 10 giờ 40 phút, chiếc chuyên cơ của tướng Navarre tắt máy ở phía đầu sân bay dã chiến, đường băng được lót bằng những tấm kim loại đục thủng, bước chân lên nghe rõ tiếng lạo xạo dưới gót. Một trung đội thuộc tiểu đoàn bộ binh Ma-rốc số 5 đứng nghiêm, bồng súng chào.
        Luồng ánh sáng trong lành và dịu dàng của buổi sớm vùng thượng du có vẻ như được dệt bằng vàng. Ở phía cuối đường băng, một chiếc máy bay Dakota chở các vật liệu đang chuẩn bị hạ cánh.
        Đại tá De Castries đứng nghiêm nghênh đón Tổng tư lệnh trong bộ quân phục dã chiến, quần ống chẽn dài đến tận mắt cá chân, giày vải mềm, áo sơ mi len màu cỏ úa, mũ ca-lô và khăn quàng màu đỏ tiêu biểu cho trung đoàn kỵ binh Ma-rốc số 3 nổi tiếng..
        Tướng Navarre chìa bàn tay mềm mại, nói:
        - Chào Castries!
        Henri Navarre là người vốn có thói quen bắt tay hờ hững ít nồng nhiệt. Tôi không rõ cử chỉ te nhạt đó là vô tình hay cố ý và cũng không phải chỉ thể hiện trong ngày hôm nay. Giữa ông với De Castries đã quen biết, thân tình từ lâu. Hai người cùng phục vụ trong một trung đoàn xe bọc thép hồi trước chiến tranh, rồi trong chiến tranh lại cùng chiến đấu bên nhau trong trung đoàn ky binh số 3 Ma-rốc. Castries từng nổi tiếng là một “mũi nhọn” của trung đoàn trên các chiến trường Tuynidi, Italy, Pháp trong khi Navarre làm trung đoàn trưởng. Sau chiến tranh hai người lại cùng công tác trong tập đoàn quân số 1 đóng ở Áo. Đại tá Castries đã chiến đấu khắp các chiến trường và nay là nhiệm vụ thứ ba phục vụ tại Đông Dương.
        Những chiến công của đại tá, phong cách và sự dũng cảm của đại tá khiến ông luôn luôn được ca ngợi và được cấp trên tín nhiệm vì sự tính toán khôn ngoan thận trọng và cả những may mắn trong chiến đấu. Tác phong quý tộc, tính cứng rắn và những đòi hỏi nghiêm khắc của ông trong công việc, ngay cả khi ông gây phiền lòng cho cấp trên cũng vẫn cứ thể hiện trong ông là một viên chỉ huy không có gì phải bàn cãi.
        Tôi nhảy vội lên ghế sau của chiếc xe Jeep chở tướng Navarre do đại tá De Castries tự cầm lái. Những người còn lại tranh nhau chỗ ngồi tại những chiếc xe hồi đó hãy còn rất ít tại Điện Biên Phủ. Đoàn xe đi về phía Sở chỉ huy tác chiến Tây Bắc đặt tại Mường Thanh, hai bên đường là những kho chứa dây kẽm gai những hòm đạn, bao gạo để chất đống hoặc chôn dưới mặt đất.
        Từ ngày 29 tháng 11 năm 1953, bộ mặt thung lũng đã thay đổi. Những cây xoài và cây ổi to thường phủ bóng mát trên đường làng đã bị chặt phá hết, chỉ còn lại một thân cây trơ trụi đen sì vươn những cành khô nom như những cánh tay hướng lên trời. Thân cây đơn độc này là dấu hiệu báo cho biết đã tới chỗ đặt Sở chỉ huy bố trí sâu dưới mặt đất. Những mái nhà trong bản đã biến mất chỉ còn lại vài chiếc cọc nhà sàn bên cạnh những lều bạt và chiến hào.
        Bên trái đường, vào khoảng hai kilômét về phía Đông, ở bờ bên kia sông Nậm Rốm có dòng nước đục ngầu chảy uốn khúc giữa đám ruộng, tôi nhận ra những cứ điểm mang tên Dominique và Eliane chạy theo hàng dọc từ Bắc xuống Nam, nom như một dãy đầu lâu trụi tóc quấn một vòng khăn bằng những lớp rào kẽm gai lộn xộn. Trên đầu dốc Eliane 2, một con đường độc đạo dẫn đến một dinh thự đổ nát trước kia là niềm hãnh diện của các quan cai trị.
        Chiếc xe Jeep dừng lại trước một đường hào hẹp chạy vào sở chỉ huy. Đây là một nhà hầm dài 15 mét, rộng 3 mét được ngăn bằng nhiều vách tre nứa. Nắp hầm được đắp đất dày tới một mét.
        Phòng làm việc của đại tá Castries đặt tại ngăn giữa. Tất cả các sĩ quan trong bộ tư lệnh Binh đoàn tác chiến Tây Bắc đều có mặt đông đủ. Trên vách có treo một tấm bản đồ toàn bộ tập đoàn cứ điểm, đánh dấu rõ vị trí các cứ điểm và cả nơi bố trí lưới lửa phòng ngự. Tướng Navarre được mời ngồi trước tấm bản đồ có phủ giấy bóng, trên một chiếc bàn gập của Mỹ, đúng kiểu bàn làm việc trong sở chỉ huy dã ngoại…
        Đại tá Castries trình bày kế hoạch phòng ngự dựa theo huấn thị của tướng Cogny đã được ghi rõ thành hai điểm ngắn gọn trên văn bản:
        1. Bảo vệ sự tự do hoạt động của sân bay đến từng chi tiết nhỏ bằng cách không cho địch có thể bắn phá bằng pháo nặng và đảm bảo cho máy bay ta hoạt động dễ dàng trong phạm vi một đường bán kính rộng 8 kilômét quanh sân bay.
        2. Làm chậm khả năng tiến đánh của Việt Minh bằng cách tiến công mạnh các vị trí bao vây của địch.
        Tiếp đó, đại tá Castries trình bày các biện pháp xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm phòng ngự. Ngoài sáu trung tâm đề kháng nay có thêm một trung tâm nữa mang tên Isabelle đặt ở Hồng Cúm gồm hai tiểu đoàn bộ binh và hai khẩu đội pháo, đặt cách cứ điểm Claudine 5 kilômét về phía Nam. Đây là khoảng cách rất tốt để các cỗ pháo của ta bắn yểm trợ cho sở chỉ huy đặt ở vị trí trung tâm, Isabelle còn có một sân bay phụ đặt trên bãi thả dù Simone, đường băng của sân bay này cũng được bảo vệ chu đáo. Cuối cùng cứ điểm Isabelle ở phía Nam còn có thể sử dụng để tổ chức những cuộc phản công giải toả cho khu Trung tâm khi cần. Riêng ở phía Bắc sân bay chính chưa được bảo vệ tốt. Quân địch có thể tiến đánh từ điểm cao 530 xuống. Vì vậy, đã có kế hoạch xây dựng thêm một cứ điểm nữa trên đồi Độc lập- do một tiểu đoàn bộ binh trấn giữ. Cứ điểm trên đồi Độc Lập này mang tên Gabrielle. Xây dựng xong cứ điểm này cũng có nghĩa là hoàn tất việc bố trí phòng ngự tại Điện Biên Phủ. Dự kiến, nếu ba tháng sau Việt Minh mới có thể tiến công thì đến lúc đó, tập đoàn cứ điểm phòng ngự đã có 12 tiểu đoàn bộ binh, 24 khẩu pháo 105mm, 4 khẩu pháo 155mm, 10 xe tăng Schaffee M24 được tháo rời từ Hà Nội đưa lên máy bay tới đây sẽ được lắp ráp lại.
        Một ánh chớp lóe lên từ máy anh của phóng viên, làm loá mắt các tướng tá đang làm việc.
        Tướng Navarre khịt mũi tỏ vẻ khó chịu. Tướng Cogny vốn có thói quen hay đứng khom lưng, vụt vươn thẳng người, cố tạo dáng thuận lợi để có được một tấm ảnh đẹp.
        Đại tá Castries nghiêm khắc nhìn người phóng viên nhiếp ảnh vừa làm cản trở cuộc họp.
        Péraud không phải là người duy nhất bị bắt qua tang phạm lỗi. Cùng đi với anh còn có Pierre Schoendoerffer, phóng viên quay phim. Hai người bạn này không bao giờ xa nhau. Họ cùng lọt được vào phòng hội báo tình hình chiến sự. Cả hai người đều cùng được gọi chung bằng một tên mật dùng để ngụy trang một tên hiệu để thông tin vô tuyến. Họ nổi tiếng vì thường đến đúng chỗ, đúng lúc.
        Cả hai người đều thuộc Sở Thông tin báo chí của quân đội Pháp. Cả hai đều gầy gò, rắn chắc. Péraud lùn, Schoendoerffer cao. Người thứ nhất khoác máy ảnh như một chiếc túi khoác vai. Người thứ hai cầm máy quay phim như một khẩu súng máy. Họ đã cùng giành được một chỗ trong lực lượng viễn chinh Pháp. Họ đi theo các đội trinh sát tiền tiêu hoặc đứng ở phía sau hậu cứ để săn lùng hình ảnh. Họ đã bị mất hết mọi thứ chỉ còn giữ lại được những cuốn phim và những dụng cụ chụp ảnh, quay phim. Để có cái ăn, họ chờ được mời vào bếp ăn tập thể của các ban tham mưu, hoặc cùng chia sẻ món cá khô với người lính Thái. Khi họ mặc một chiếc áo sơ mi sạch sẽ, thì đó là chiếc áo mượn của ban hậu cần để giảm bớt hành trang trong ba lô. Nhưng ít khi họ mặc những chiếc áo sơ mi sạch sẽ. Có một lần, vào mùa xuân 1952, cùng đi theo cuộc hành quân chiến đấu, một buổi tối Schoendoerffer nảy ra ý định xuống suối tắm giạt. Đúng là hôm đó trời rất nóng. Quân Việt đã chờ đợi đến giờ phút đó để nổ súng tiến công. Pierre chỉ kịp vơ nhanh các dụng cụ quay phim rồi chạy biến rất nhanh thoát khỏi cuộc tấn công sát gần một cách kỳ lạ.
        Anh đã trần truồng đi xuyên rừng tìm đường về căn cứ nhớ mãi kỷ niệm phiêu lưu mạo hiểm vì đã muốn tắm rửa sạch sẽ trong khi đang có chiến dịch. Ngoài ra sở kiểm duyệt Sài Gòn còn hủy toàn bộ số phim anh đã quay được, với lý do những cuốn phim này đã ghi hình một trong những đơn vị thiện chiến đang tháo chạy.
        Castries tiếp tục thuyết trình phần hai của nhiệm vụ được cấp trên giao phó: “Dùng các hoạt động quân sự mạnh tiến công trước nhằm làm chậm việc bố trí quân của Việt Minh, cản trở địch tiến đánh Điện Biên Phủ”. Bằng lời nói và cả chữ Việt, Castries phần nào đã phản ánh ý định của Cogny là: biến Điện Biên Phủ thành một căn cứ tiến công toả khắp xứ Thái.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM