Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thảo luận Lịch sử bảo vệ Tổ quốc => Kiến thức quốc phòng => Tác giả chủ đề:: f22raptor trong 23 Tháng Tám, 2010, 02:04:28 pm



Tiêu đề: Tìm hiểu về các hệ thống tên lửa Trung Quốc
Gửi bởi: f22raptor trong 23 Tháng Tám, 2010, 02:04:28 pm
Sau đây em xin mở topic giới thiệu về các tổ hợp tên lửa đối không do Trung Quốc sản xuất. Các hệ thống như S-300PMU1,2 của Nga có trong biên chế thì em không giới thiệu nữa. Em chỉ đi sâu vào các hệ thống do Trung Quốc copy lại, các bài viết trên topic này do em dịch và biên tập lại từ các trang web bằng tiếng Anh như:www.sinodefence.com, www.ausairpower.net. Trong quá trình dịch thuật chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót, kính mong các Bác trên diễn đàn đóng góp thêm để bản dịch sau được hay hơn, hoàn thiện hơn.

TỔ HỢP TÊN LỬA ĐỐI KHÔNG HONGQI 9 (HQ-9)

HQ-9 là tổ hợp tên lửa đối không tầm cao có định hướng, hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết. Tên lửa được phát triển bởi Học Viện Công nghệ Quốc Phòng Trung Quốc, thuộc Tổng công ty khoa học& công nghệ hàng không vũ trụ Trung Quốc. Tên lửa được thiết kế để tham chiến với nhiều mục tiêu như, máy bay có cánh cố định, trực thăng ở cả tầm thấp lẫn tầm cao, nó có khả năng hạn chế trong việc chống lại tên lửa đạn đạo. HQ-9 đang phục vụ cả trong lực lượng phòng không mặt đất củng như trong lực lượng hải quân.

-   Lịch sử phát triển

Tổ hợp tên lửa đối không HQ-9 bắt đầu được nghiên cứu chế tạo vào những năm 1980. Ban đầu nó phát triển dựa theo hệ thống tên lửa đối không Patriot của Mỹ thông qua một bên thứ ba nào đó không rỏ lắm, có lẽ là Israel. Giống như Patriot HQ-9 sử dụng hệ dẫn đường cho tên lửa thông qua một kênh “Track-Via-Missile’(chẳng biết dịch như thế nào) ở giai đoạn cuối ở giai đoạn đầu tên lửa được dẫn đường thông qua hệ dẫn đường quán tính. Ban đầu tên lửa được thiết kế để phóng trong các ống phóng container hình hộp như Paitriot của Mỹ. Tên lửa sử dụng một động cơ  nhiên liệu rắn hai tầng. Tuy nhiên tại thời điểm đó công nghệ động cơ tên lửa của Trung Quốc còn nhiều hạn chế nên đường kính tên lửa ban đầu lên đến 700mm, lần cải tiến tiếp theo giảm xuống còn 560mm. Do đó mỗi xe phóng chỉ mang được tối đa hai tên lửa, và nó gặp nhiều hạn chế trong khả năng cơ động trên chiến trường.

Năm 1990 vận may đã đến với Trung Quốc khi Nga đồng ý bán cho họ tổ hợp tên lửa đối không S-300PMU. Ngay lập tức các kỷ sư của họ tiến hành mổ xẽ S-300 để nghiên cứu và không lâu sau đó một phiên bản HQ-9 khác ra đời sao chép gần như toàn bộ các công nghệ của S-300 mà không cần đến giấy phép từ phía Nga. Xe phóng và ống phóng được bố trí giống hệt S-300 của Nga.
(http://t2.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcRbGcrHD4MQhuhvw7vDfPzinOSAdZsq53Xeo0-JV70lYIdR9Lk&t=1&usg=__OJCVcbGfo8u-nVYkwkE0vNNa7ow=)
 Tổ hợp S-300 của Nga
(http://t3.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcT5hRRZ11X5yBEL4DnIjUyC9aK6bP1H87Keo7oRblJUIP4mpdE&t=1&usg=__sq0MFGSb4iezyhlKl6Kzrzc3xwg=)
 Còn đây là tổ hợp HQ-9 của Trung Quốc

Tổ hợp Hq-9 đang được phát triển để thay thế dần các hệ thống Hq-2 phiên bản Sa-2 do Trung Quốc sản xuất. Tuy nhiên tiến độ sản xuất Hq-9 diễn ra khá chậm do đó Trung Quốc quyết định mua thêm  một số tiểu đoàn S-300PMU2 của Nga để tằng cường khả năng phòng không cho họ, Nhưng có lẽ điều quan trọng nhất là họ muốn moi thêm công nghệ từ hệ thống S-300PMU2 để hoàn thiện các phiên bản tiếp theo của mình.
Hq-9 đã sẳn sàng cho việc triển khai hoạt động vào cuối những năm 1990, tuy nhiên chỉ có một số lượng nhỏ Hq-9 được chuyển cho PLA để thử nghiệm và đánh giá khả năng hoạt động trên chiến trường.
Phiên bản hải quân của Hq-9 được gọi là HHq-9 cũng được triển khai lắp đặt trên các tàu khu trục lớp Type-052C hạ thủy vào năm 2004. Nó được bố trí trên bong  tàu trong các ống phóng thẳng đứng kiểu S-300F trên các tàu hạm của Nga. Các chuyên gia quân sự Trung Quốc đánh giá khả năng của Hq-9 chỉ đứng sau S-300PMU2 của Nga và Patriot PAC3 của Mỹ về hiệu năng chiến đấu.
Tên lửa sử dụng ngòi nổ cận đích với bán kính tiêu diệt mục tiêu 35m , nó bắt đầu hoạt động khi tên lửa cách mục tiêu 5km (The missile has a proximity fuse with an effective range of 35m, which goes active when the missile is 5km away from its target). Tên lửa được đặt trên xe tải hạng nặng 8 bánh hiệu  Taian TAS5380 8X8, với cách bố trí các ống phóng như kiểu S-300PMU 1của Nga.

-   Hệ thống dẫn đường và kiểm soát bắn

Hq-9 có hệ thống dẫn đường tương tự như hệ thống Patriot của Mỹ bao gồm dẫn đường quán tính cho giai đoạn đầu, giai đoạn cuối được dẫn đường thông qua một kênh (TVM). Lệnh sửa chửa đường đi được truyền đến tên lửa thông qua một (Midcourse) trung gian với sự tham gia của các trạm điều khiển từ mặt đất.
Hệ thống nhận dạng mục tiêu của tên lửa nhận dạng các mục tiêu của nó trong giai đoạn cuối của hành trình. Dữ liệu của mục tiêu được truyền thông qua một kênh TVM với sự tham gia của các trạm radar mặt đất đến hệ thống kiểm soát bắn tham gia tính toán, sửa chữa cuối cùng cho việc khóa mục tiêu. Dữ liệu sau đó được truyền ngược lại cho tên lửa thông qua kênh TVM.
 Việc sử dụng hệ khóa mục tiêu kiểu này có ưu điểm là độ chính xác cao, tuy nhiên nó có nhược điểm là trong điều kiện tác chiến điện tử mạnh thì việc truyền dữ liệu về tọa độ của mục tiêu theo kiểu này rất dễ bị gây nhiễu, khiến tên lửa có thể bị mờ mục tiêu. Điều này đòi hỏi hệ thống của nó phải có khả năng kháng nhiễu rất cao. Điều này thì hiện tại chỉ có các hệ thống của Mỹ, Nga mới làm được.
Hệ thống HQ-9 sử dụng một radar theo dõi mục tiêu cở lớn loại HT-233. Đây là một loại radar mảng pha xung phẳng 3D hoạt động ở dải băng tần C, hoạt động trong dãi tần 300Mhz.
(http://www.ausairpower.net/HQ-9-HT-233-Engagement-Radar-1S.jpg)
(radar HT-233 của tổ hợp HQ-9) (nguồn ảnh http://www.ausairpower.net)

Radar có khả năng phát hiện mục tiêu ở cự ly 150km và theo dõi mục tiêu ở cự ky 100km, tuy nhiên diện tích phản hồi radar RCS mà radar có khả năng phát hiện không được công bố.
Radar có khả năng quét góc phương vị 360 độ với góc tà từ 0-65độ, hệ thống có khả năng theo dõi đồng thời 100 mục tiêu và tham chiến với 50 mục tiêu cùng lúc. Radar được đặt trên khung xe tải hạng nặng 10x10 bánh Taian TAS5380, tổng tải trọng lên đến 30t  nặng hơn nhiều so với 30N6E của Nga.
HT-233 luôn được xem là bản sao của radar 30N6E Tomb Stones của tổ hợp S-300, nó chia sẽ hầu hết công nghệ cơ bản trong thiết kế.
Trong khi khung xe nặng hơn có thể phản ánh các vấn đề thể tích và trọng lượng sớm hơn trong việc thiết kế các radar, nó cũng cung cấp cho sự tăng trưởng dài hạn trong chế biến và đánh giá khả năng phục vụ, các công nghệ mới gần đây cho phép thu nhỏ kích thước của radar và ít tiêu thụ điện năng hơn.
HT-233 không nên đánh giá thấp, vì nó giữ nguyên kiểu thiết kế angten độc đáo của 30N6E ngoài ra nó còn có khả năng tiến hóa dạng sóng độc đáo trong bám bắt và xữ lý tín hiệu. PLA liên tục trau chuốt và cải tiến tính năng này, tương tự như sự tiến hóa của J-11B từ SU-27SK.
(http://www.ausairpower.net/HQ-9-HT-233-Engagement-Radar-2S.jpg)
(phía sau của HT-233 hiển thị hình bát giác và nguồn cấp dữ liệu xung, tương tự như 30N6E của Nga)

Bên trong phòng điều khiển rất hiện đại, hệ thống ứng dụng kiểu thiết kế màn hình AMCLD COTS và phần mềm kiểm soát bắn hiện đại dựa trên việc tổng hợp và lựa chọn chế độ hiển thị mục tiêu, điều này cho phép hệ thống tham chiến cùng lúc với nhiều mục tiêu hơn. Đây là cải tiến quan trọng so với việc sử dụng công nghệ CTR của tổ hợp S-300PMU của Nga.

(http://www.ausairpower.net/CCTV7-HQ-9-Console-1.jpg)
(Buồng điều khiển của radar HT-233)

-Tính năng

Khẩu đội của HQ-9 được biên chế bốn xe phóng liên kết với một radar kiểm soát bắn HT-233 thông qua một xe đài chỉ huy  TWS-312. Thông thường thì khẩu đội được dẫn bắn bởi một radar kiểm soát bắn duy nhất.
Hệ thống có tấm tác chiến chống máy bay là 150km, phiên bản cải tiến gần đây nâng tầm bắn  tối đa lên 200km với độ cao tối đa là 30km. Các báo cáo của Trung Quốc cho rằng hệ thống có khả năng chống tên lửa đạn đạo tương tự như S-300PMU của Nga, tuy nhiên tính năng này chưa được kiểm chứng.
Tổ hợp HQ-9 có khả năng sử dụng tương thích cả với các radar theo dõi của Nga, cũng như việc dùng chung các loại đạn tên lửa do Nga sản xuất. Điều này khiến nó có thể kiển khai xen kẽ với hệ thống S-300 tạo nên hệ thống phòng không hoàn hảo hơn.
HQ-9 được thiết kế ngay từ đầu cho nhiệm vụ kiểu “ẩn, bắn, chuồn”. Đây là một yêu cầu quan trọng trong nhiệm vụ chống SEAD/DEAD, vấn đề mà trong một thời gian dài không được cải tiến khi mà hệ thống phòng không của Trung Quốc chủ yếu dựa vào các hệ thống tĩnh như HQ-2 phiên bản SA-2 do TQ sản xuất.
Một nguồn Châu Á nói rằng các hệ thống HQ-9 có khả năng nối mạng với nhau thông qua cáp quang cố định, hướng dòng vi sóng các liên kết thị giác, hoặc sử dụng kênh dữ liệu datalink. Tuy nhiên radar HT-233 chỉ có tầm phát hiện mục tiêu 150km, nên hệ thống buộc phải dựa vào radar theo dõi của Nga để phát huy tầm bắn tối đa 200km. Việc sử dụng xen kẽ các hệ thống dựa trên cơ sở phần cứng của Nga khiến cho khả năng này chắc chắn chưa thể triển khai. Việc đảo ngược kỷ thuật trong việc phát triển radar là một vấn đề cực kỳ phức tạp, trong khi công nghệ radar của Trung Quốc còn nhiều hạn chế.

- Xuất khẩu:

Hiện chưa có hợp đồng nào được kí kết, nhưng Trung Quốc đang chào hàng biến thể xuất khẩu của HQ-9 có tên gọi là FD-2000 cho Thổ Nhĩ Kỳ cũng như nhiều quốc gia châu Á khác. Đây là một thách thức với hệ thống S-300 của Nga trên thị trường xuất khẩu, bởi suy cho cùng đây là đứa con lai của S-300 và Patriot. Trong khi giá cả của nó cũng rất phải chăng đúng kiểu Trung Quốc, tuy nhiên các chuyên gia của Nga khẳng định còn lâu hệ thống này mới có thể so sánh được với S-300 đời đầu chứ chưa nói đến S-300PMU1,2.

Thông số kỷ thuật:

-Trọng lượng: 1300kg
- Kích thước: Dài 6.8m
- Trọng lượng đầu đạn: 180kg
-Tầm tác chiến: Tối thiểu 500m, tối đa 200km, 30km chống tên lửa đạn đạo.
- Động cơ: Động cơ nhiên liệu rắn hai tầng.
- Dẫn đường: Dẫn đường quán tính trong giai đoạn đầu kết hợp TVM với radar bán chủ động giai đoạn cuối.
- Tốc độ: Theo các tài liệu của Trung Quốc thì tên lửa đạt tốc độ Mach 4.2, với khả năng chịu tải lên đến 14g
(tài liệu tham khảo: www.sinodefence.com,www.ausairpower.net)



Tiêu đề: Re: Tìm hiểu về các hệ thống tên lửa phòng không Trung Quốc
Gửi bởi: longtrec trong 23 Tháng Tám, 2010, 02:46:14 pm
Bổ sung giúp bạn F22 thông số kỹ thuật của HQ-9 để người đọc tiện so sánh với S-300 của Nga .
-Trần cao phá hủy mục tiêu : 500-30000m.
-Tốc độ : 2M
-Tầm bắn 6-200km.

nguồn :
 http://rbase.new-factoria.ru/missile/wobb/hq-9/hq-9.shtml


Tiêu đề: Re: Tìm hiểu về các hệ thống tên lửa phòng không Trung Quốc
Gửi bởi: f22raptor trong 23 Tháng Tám, 2010, 05:18:51 pm
Hệ thống tên lửa đất đối không chống bức xạ FT-2000

Năm 1998 Trung Quốc đã giới thiệu một phiên bản đất đối không chuyên dùng cho nhiệm vụ chống bức xạ, hay tiêu diệt các máy bay AWAC và các máy bay tác chiến điện tử có tên gọi FT-2000 .
 FT-2000 được phát triển và sản xuất bởi   Tổng công ty Xuất nhập khẩu Máy móc chính xác(CPMIEC) trong thời gian cuối những năm 1990, FT-2000 cũng được cho là có khả năng phá hủy các tên lửa đạn đạo chiến thuật, tương tự như Patriot của Mỹ và hệ thống S-300P của Nga mà nó dựa theo.

Các FT-2000 được thiết kế để trung hòa và các thiết bị gây nhiễu  trên không. Nó chứa một  radar tìm kiếm mục tiêu thụ động được lập trình để phát hiện các tín hiệu điện từ phát ra từ mục tiêu cụ thể của nó. Về cơ bản,  FT-2000 sử dụng tần số gây nhiễu mục tiêu riêng của mình chống lại nó. Ngoài ra, FT-2000 có một hệ thống dẫn đường bằng thụ động mà không truyền sóng điện từ, giảm thiểu cơ hội mà kẻ thù của nó sẽ phát hiện nó trong thời gian bay đến mục tiêu.

 Đây là hệ thống đất đối không chống bức xạ duy nhất trên thế giới hiện nay, điều này phản ánh quan điểm đề cao nhiệm vụ tiêu diệt các máy bay AWAC, và các máy bay tác chiến điện tử, ở khía cạnh này thì Mỹ đang là quốc gia sở hữu nhiều phương tiện kiểu này nhất.
FT-2000 được phát triển dựa trên cơ sở của tổ hợp HQ-9, đây được xem là bản thu nhỏ của HQ-9. FT-2000 sử dụng một radar tìm kiếm mục tiêu thụ động H-200 được đặt trên khung gầm xe tải hạng nặng 8*8 bánh.
(http://www.ausairpower.net/HQ-12-H-200-Engagement-Radar-2S.jpg)
(radar và xe phóng của HQ-12)
H-200 được xem là bản sao của loại radar quét mảng pha điện tử AN/MPQ-53 của hệ thống Patriot, nó được cho là hoạt động ở dải băng tần G.
Thông số kỷ thuật của radar

+ Tầm phát hiện mục tiêu: 120km, theo dõi mục tiêu ở cự ky 90km
+ Độ cao: Tối thiểu 500m, tối đa 30km
+Diện tích phản hồi radar: RCS 2m2
+Tốc độ của mục tiêu: 750m/s
+ Chịu tải: 5.5g
+ Theo dõi: Theo dõi mục tiêu ba tọa độ, bám sát 3 mục tiêu, dẫn hướng cho 6 tên lửa tấn công mục tiêu cùng lúc, lỗi dẫn hướng <50m.
+ Góc tà: 90 độ, góc phương vị <160 độ
+ Thời gian triển khai thu hồi: Từ 20-30 phút.
Hệ thống hoạt động trên cơ sở thu nhận tính hiệu phát ra từ các máy bay AWACS, hay máy bay tác chiến điện tử. Một khi tọa độ mục tiêu được xác định, hệ thống kiểm soát bắn sẽ kích hoạt tên lửa tấn công mục tiêu với tốc độ lên đến 1200m/s và khả năng chịu tải lên đến 14g.
Hệ thống FT-2000 có thể kết hợp sử dụng nhận dạng mục tiêu từ máy bay cảnh báo sớm của họ để chỉ thị mục tiêu cho tên lửa.
Tên lửa được tích hợp sẳn hệ dẫn đường quán tính, do đó bất cứ khi nào có mục tiêu bị khóa tên lửa sẽ tiếp tục hướng về mục tiêu ngay cả khi nguồn phát bức xạ đã được ngắt. Tuy nhiên độ chính xác trong trường hợp này bị suy giảm nghiêm trọng. Tên lửa  cũng có thể sử dụng kết hợp với các radar theo dõi mục tiêu khác.
FT-2000 có thời gian triển khai khá chậm, nó mất từ 20-30 phút cho việc sẳn sàng chiến đấu, và cũng phải cần ngần ấy thời gian để thu hồi hệ thống. Tuy nhiên khi so sánh với các hệ thống như HQ-2 thì tốt hơn nhiều rồi.
Mỗi xe phóng của FT-2000 mang hai quả tên lửa được treo phía dưới rãnh phóng. Tên lửa có kích thước và trọng lượng tương đương với đạn tên lửa của HQ-9, việc treo tên lửa kiểu này rất khó khăn cho việc tái nạp tên lửa sau khi phóng.
Hệ thống chống bức xạ này có hai phiên bản, phiên bản di động FT-2000, phiên bản  cố định FT-2000a
Một số hệ thống này đã được triển khai đến  tỉnh Phúc Kiến gần eo biển Đài Loan cùng với một số tiểu  đoàn S-300PMU2. Đây có thể là một mối nguy hiểm cho các máy bay của Đài Loan, vì khoảng cách tới các sân bay của Đài Loan chỉ có 130km.
Mặc dù là hệ thống đầu tiên trên thế giới, nhưng năng lực của hệ thống này còn nhiều nghi vấn. Các tên lửa xuất hiện lần đầu vào năm 1998, ban đầu nó gây sự chú ý rất nhiều từ trong nước cũng như quốc tế. Nhưng càng về sau sự quan tâm đến hệ thống kiểu này ngày càng giảm, nó đã không được sản xuất đại trà do thiếu sự quan tâm từ trong nước cũng như quốc tế. Có lẽ một phần là do hiệu năng của hệ thống chưa đủ sức thuyết phục, hơn nữa công nghệ của Trung Quốc còn nhiều hạn chế. Đây là hệ thống do họ tự phát triển, chưa có công nghệ cho họ nhái theo nên hiệu năng con thấp. Một phần nữa là các cường quốc quân sự khác như Mỹ, Nga không phát triển các hệ thống chống bức xạ từ mặt đất. Suy cho cùng thì nó chỉ có tầm tác chiến khá khiêm tốn, việc chống máy bay AWACS và EW từ khoảng cách dưới 200km trở nên vô nghĩa. Nga, Mỹ phát triển các hệ thống tiêu diệt các máy bay AWACS,EW cho các tiêm kích đánh chặn của mình để tiêu diệt các máy bay này ngay trên không phận đối phương, như vậy hiệu quả tác chiến mới cao.
-Thông số kỷ thuật.

 Kích thước: khoảng 6.8m tương đương với tên lửa của Hq-9
Đường kính tên lửa :470mm
Trọng lượng:khoảng  1300kg
Động cơ: Động cơ nhiên liệu rắn hai tầng
Tầm tác chiến: tối thiểu 500m; tối đa 200 km; hoặc 30km chống  tên lửa đạn đạo
Tốc độ tối đa: Mach 2
Hướng dẫn: TVM radar bán chủ động
Đầu đạn: 180kg
Thời gian phản ứng: 10 giây (sau khi hệ thống đã được triển khai)
Xác suất: 70 ~ 90%

(tài liệu tham khảo www.ausairpower.net)


Tiêu đề: Re: Tìm hiểu về các hệ thống tên lửa phòng không Trung Quốc
Gửi bởi: OldBuff trong 23 Tháng Tám, 2010, 05:36:40 pm
Đ/c f22raptor cần chuẩn bị thuật ngữ trong bài kỹ hơn một chút!

- HQ-9 (HQ là viết tắt của Hồng Kỳ) được xếp loại là Hệ thống tên lửa phòng không tầm xa, bắn được mục tiêu ở mọi độ cao và thực hành chiến đấu trong mọi điều kiện thời tiết.

- Hệ thống tên lửa phòng không Hồng Kỳ 9 sử dụng đạn tên lửa phòng không có một tầng phóng thuốc phóng rắn, lái hướng luồng phụt.

- Hệ thống điều khiển đạn tên lửa của HQ-9 là loại hỗn hợp: pha phóng/boost sử dụng hệ thống lái tự động quán tính trên đạn, pha giữa/midcourse sử dụng kết hợp hệ thống lái tự động quán tính trên đạn để chỉnh tầm với lệnh điều khiển vô tuyến từ đài điều khiển mặt đất để chỉnh hướng, pha cuối/terminal sử dụng lệnh điều khiển vô tuyến từ đài điều khiển mặt đất với phần tử mục tiêu được đạn cung cấp qua cơ chế điều khiển bám sát-qua-đạn/track-via-missile (TVC: Đạn tên lửa bắt bám mục tiêu ở pha cuối bằng cách thu sóng dội từ mục tiêu bị đài mặt đất chiếu xạ, rồi truyền phần tử mục tiêu về đài điều khiển mặt đất và sau đó nhận lệnh điều khiển vô tuyến phản hồi). Bán kính diệt của đạn tên lửa HQ-9 là 35 m, ngòi nổ vô tuyến cận đích được kích hoạt khi đạn cách mục tiêu 5 km.

- HQ-9 được trang bị đài điều khiển HT-233. Đây là đài điều khiển chiếu xạ 3 tham số, mảng pha phẳng, đơn xung, phần tử thụ động, băng sóng C.

- Nhận định "tuy nhiên nó có nhược điểm là trong điều kiện tác chiến điện tử mạnh thì việc truyền dữ liệu về tọa độ của mục tiêu theo kiểu này rất dễ bị gây nhiễu, khiến tên lửa có thể bị mờ mục tiêu. Điều này đòi hỏi hệ thống của nó phải có khả năng kháng nhiễu rất cao. Điều này thì hiện tại chỉ có các hệ thống của Mỹ, Nga mới làm được." là chưa chính xác. Đ/c cần xem thêm về TVC và việc gây nhiễu đường truyền xuống/downlink và đường truyền lên/uplink.
 


Tiêu đề: Re: Tìm hiểu về các hệ thống tên lửa phòng không Trung Quốc
Gửi bởi: longtrec trong 23 Tháng Tám, 2010, 05:42:38 pm
Hq-9 có hệ thống dẫn đường tương tự như hệ thống Patriot của Mỹ bao gồm dẫn đường quán tính cho giai đoạn đầu, giai đoạn cuối được dẫn đường thông qua một kênh (TVM). Lệnh sửa chửa đường đi được truyền đến tên lửa thông qua một (Midcourse) trung gian với sự tham gia của các trạm điều khiển từ mặt đất
-----------------------------------------------------------------------------------------------------
Như thế này chung chung quá, người đọc không hiểu được F22 ạ ;D

Dẫn bắn cho tên lửa HQ-9 tới mục tiêu pha đầu bằng dẫn đường quán tính với 1 tỉ lệ cự li nhất định , sau đó sẽ chuyển sang dẫn hướng cho tên lửa bằng rada định vị bán chủ động. Hệ thống dẫn đường của HQ-9 thuộc lớp " đi kèm tên lửa" đến gần mục tiêu.Lệnh sửa lái thông qua rada định vị 2 chiều gắn trên tên lửa (Chiếu xạ và dẫn đường cho tên lửa).Hệ thống dẫn đường HQ-9 là hệ thống dẫn đường bán chủ động với nhiều nhược điểm. Một số nguồn tin cho biết TQ đang hướng nghiên cứu phát triển hệ thống dẫn đường cho các thế hệ tên lửa phòng không mà họ mới phát triển (chủ yếu là copy) theo hướng hiện đại. Có nghĩa là có hệ thống dẫn đường chủ động như S-400, SAMP-T, Patriot PAC-3.


Tiêu đề: Re: Tìm hiểu về các hệ thống tên lửa phòng không Trung Quốc
Gửi bởi: OldBuff trong 23 Tháng Tám, 2010, 06:20:05 pm
Hệ thống tên lửa đất đối không chống bức xạ HQ-12(FT-2000)



Tác giả nên kiểm tra lại thông tin về FT-2000.

Theo thông tin từ phía TQ, HQ-12 (Hồng Kỳ 12) không phải là hệ thống FT-2000 (Phản phúc 2000). HQ-12 có phiên bản xuất khẩu là KS-1 (Khải sơn 1) là hệ thống khác so với HQ-9 và các phiên bản xuất khẩu là hệ thống tên lửa phòng không FD-2000 (Phòng thuẫn 2000) và hệ thống tên lửa chống bức xạ đất đối không FT-2000 (Phản phúc 2000).


Tiêu đề: Re: Tìm hiểu về các hệ thống tên lửa phòng không Trung Quốc
Gửi bởi: f22raptor trong 23 Tháng Tám, 2010, 06:33:36 pm
Cảm ơn các Bác đã bổ sung thêm thông tin, có nhiều thuật ngữ không biết dịch như thế nào cho mọi người hiểu nữa.Em nói đến độ kháng nhiễu của hệ thống HQ-9 nói chung chứ không nói riêng cho việc truyền dữ liệu dowlink và uplink. Hơn nữa em cũng không hiểu lắm về "track- via-missile". Độ kháng nhiễu của HQ-9 còn hạn chế, việc dẫn đường cho tên lửa với radar bán chủ động của HQ-9 còn tồn tại quá nhiều nhược điểm và khá phức tạp. Điều đó đòi hỏi kíp chiến đấu phải được huấn luyện rất kỷ. Việc sử dụng xen kẻ các loại radar HT-233 và 30N6E khiến cho hệ thống trở nên không đồng bộ, đây là điểm yếu chí tử của hệ thống này. Mặc dù radar được ứng dụng một số công nghệ hiện đại như trang bị màn hình LCD cho phòng điều khiển, phần mềm kiểm soát bắn hiện đại nhưng nó vẫn phải dựa vào các hệ thống phần cứng của Nga để phát huy tầm bắn tối đa 200km. Nhận định của em có phần hơi chủ quan tuy nhiên em thấy hệ thống này vẫn phải dựa vào cơ sở phần cứng của Nga đã cho em có nhận định này.


Tiêu đề: Re: Tìm hiểu về các hệ thống tên lửa phòng không Trung Quốc
Gửi bởi: longtrec trong 23 Tháng Tám, 2010, 07:05:02 pm
Hệ thống tên lửa đất đối không chống bức xạ HQ-12(FT-2000)



Tác giả nên kiểm tra lại thông tin về FT-2000.

Theo thông tin từ phía TQ, HQ-12 (Hồng Kỳ 12) không phải là hệ thống FT-2000 (Phản phúc 2000). HQ-12 có phiên bản xuất khẩu là KS-1 (Khải sơn 1) là hệ thống khác so với HQ-9 và các phiên bản xuất khẩu là hệ thống tên lửa phòng không FD-2000 (Phòng thuẫn 2000) và hệ thống tên lửa chống bức xạ đất đối không FT-2000 (Phản phúc 2000).

Đúng như bác OldBuff nói HQ-9 có 2 phiên bản xuất khẩu FD-2000 (Tên lửa phòng không) và FT-2000(Đất đối không). HQ-12 không phải là TF-2000.


Tiêu đề: Re: Tìm hiểu về các hệ thống tên lửa phòng không Trung Quốc
Gửi bởi: saruman trong 23 Tháng Tám, 2010, 07:44:01 pm
Em nghĩ sau phần tên lửa (vì PLA cũng chỉ có vài loại thôi, chả mấy mà bác chủ topic dịch hết), bác nên mở rộng sang cả mục Radar và Vũ khí phòng thủ điểm (gồm cả pháo PK). Tên topic do đó nên đổi lại là: Tìm hiểu các hệ thống Phòng không của TQ (phạm vi rộng hơn)


Tiêu đề: Re: Tìm hiểu về các hệ thống tên lửa phòng không Trung Quốc
Gửi bởi: longtrec trong 23 Tháng Tám, 2010, 09:03:52 pm
Em nghĩ sau phần tên lửa (vì PLA cũng chỉ có vài loại thôi, chả mấy mà bác chủ topic dịch hết), bác nên mở rộng sang cả mục Radar và Vũ khí phòng thủ điểm (gồm cả pháo PK). Tên topic do đó nên đổi lại là: Tìm hiểu các hệ thống Phòng không của TQ (phạm vi rộng hơn)

Theo tôi thì bạn F22 lên đổi tên topic thành: "Tên lửa TQ" , chúng sẽ gồm các loại : Phòng không, không đối đất, đất đối không, chống hạm, chiến lược và chiến thuật. Có như vậy mới cung cấp đầy đủ và trọn vẹn thông tin cho người đọc, qua đó đánh giá chính sác thực lực tên lửa của anh bạn phía bắc này. Trong trường hợp nếu là tên lửa TQ copy của nước khác thì làm nổi bật mạnh yếu của loại tên lửa đó (dẫn chứng số liệu kỹ thuật nếu có thể).


Tiêu đề: Re: Tìm hiểu về các hệ thống tên lửa phòng không Trung Quốc
Gửi bởi: f22raptor trong 25 Tháng Tám, 2010, 04:36:30 pm
TỔ HỢP TÊN LỬA ĐỐI KHÔNG HQ-12 (HỒNG KỲ 12)

-Giới thiệu chung:
HQ-12(Hồng Kỳ-12)  hay còn gọi KaiShan 1 (KS-1) phiên bản xuất khẩu,  là tổ hợp tên lửa đất đối không tầm trung đến tầm xa, ở mọi độ cao, hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết. Hệ thống được sản xuất bởi Cty Công nghiệp không gian còn gọi là Base 061 có trụ sở tại tỉnh Giang Nam, Trung Quốc.
-Lịch sử phát triển:
Chương trình KS-1 được khởi động từ những năm 1980 để thay thế cho loại tên lửa đối không HQ-2 già cỗi bản sao của SA-2 do Trung Quốc sản xuất.
(http://www.kanwa.com/free/2002/02/KS1.jpg)
Phiên bản KS-1 ban đầu
Tên lửa được bắn thử lần đầu vào năm 1989, tên lửa ra mắt công chúng lần đầu ở Paris Air Show 1991. Tên lửa được đặt trên bệ phóng cố định tương tự như HQ-2, radar theo dõi mục tiêu của nó cũng gặp phải nhiều vấn đề hạn chế trong bám bắt và xữ lý tính hiệu. Phiên bản đầu tiên này gặp nhiều vấn đề rắc rối, hiệu năng chiến đấu tệ đến mức không thể chấp nhận được.
 Sự phát triển của các KS-1 đã được hoàn thành vào năm 1994, nhưng các tên lửa không thành công để thu hút bất kỳ khách hàng từ một trong hai thị trường trong nước hoặc quốc tế.
Phiên bản cải tiến KS-1A ra mắt vào cuối những năm 1990, KS-1A được đặt trên khung gầm xe tải 6*6 bánh (hiệu gì không rõ lắm). Đây là cải tiến khá quan trọng, nâng cao tính cơ động trên chiến trường so với phiên bản đầu tiên. KS-1A được trang bị một radar tìm kiếm mục tiêu mới, sự sao chép công nghệ radar từ Nga qua tổ hợp S-300 đã mở ra cho KS-1A nhiều triển vọng hơn. Phiên bản KS-1A đã được Tổng công ty xuất nhập khẩu máy móc chính xác (CPMIEC) giới thiệu xuất khẩu cho các khách hàng  nước ngoài vào cuối năm 2001. Năm  2005 một sỹ quan cao cấp của quân đội Malayxia đã xác nhận về việc quân đội nước này đã ký một bản ghi nhớ về việc mua hệ thống KS-1A từ Trung Quốc.
KS-1A đã được chuyển cho PLA thử nghiệm và đánh giá từ giữa những năm 1990. Tuy nhiên sự chậm trể lặp đi lặp lại trong việc vận hành tên lửa chứng tỏ PLA không hoàn toàn hài lòng với tên lửa này. Nhân dịp kỷ niệm 80 năm  ngày thành lập PLA, một tên lửa KS-1A với xe phóng di động và xe đài dẫn hướng đã được trưng bày tại Bảo Tàng Quân Đội Cách Mạng Trung Quốc tháng 8/2007. Trong cuộc triển lãm này KS-1A đã được đặt tên chính thức là Hong qi -12 (HQ-12) điều đó chứng tỏ PLA đã chấp nhận loại tên lửa này.
(http://www.sinodefence.com/army/surfacetoairmissile/images/hongqi12_02.jpg)
Phiên bản KS-1A
-Tính năng
Tên lửa sử dụng động cơ nhiên liệu rắn với lực đẩy kép trên cơ sở của HQ-2, tên lửa có trọng lượng 886kg. Tên lửa có thể tiêu diệt các mục tiêu ở độ cao từ 500m đến tối đa 25km, với chiều nghiêng từ 7-42km, KS-1A có tầm bắn tối đa là 50km. Tốc độ tối đa của tên lửa là 1200m/s, với khả năng quá tải lên đên 20g.
Các radar kiểm soát bắn của nó được thiết kế chủ yếu để chống máy bay có cánh cố định và trực thăng, nhưng nó cũng được cho là có khả năng hạn chế trong chống tên lửa hành trình.
Một khẩu đội HQ-12 bao gồm một radar tìm kiếm mục tiêu, một radar kiểm soát bắn, bốn xe phóng với 8 tên lửa sẳn sàng phóng và 18 tên lửa dự phòng.
Phiên bản HQ-12 đầu tiên được đặt trên bệ phóng cố định 4 chân như SA-2 với hai tên lửa được đặt trên hai thanh ray khởi động nghiêng. Độ nghiêng của hai thanh ray này được điều chỉnh bởi hệ thống thủy lực.
Việc tên lửa được treo phía dưới ray khởi động gây ra nhiều vấn đề khó khăn cho quá trình phóng tên lửa. Động cơ tên lửa phải được khởi động trước khi các hệ thống treo bung ra, nếu không tên lửa sẽ rơi ngay trên đầu xe(Đến bây giờ em vẫn chưa hiểu được việc treo tên lửa phía dưới ray phóng có ưu điểm gì. Khi mà việc phóng và tái nạp tên lửa gặp rất nhiều khó khăn).
Phiên bản KS-1A được đặt trên khung gầm xe tải 6*6 bánh tăng tính cơ động, mỗi xe mang hai tên lửa được treo dưới ray phóng như phiên bản đầu của nó. Phiên bản mới nhất tên lửa được đặt trong hai hộp khởi động, kiêm bảo quản   hình vuông. Như vậy có thể thấy rằng PLA đã nhận thấy việc treo tên lửa dưới ray phóng không phải là lựa chọn tối ưu.
Một loạt các trạm radar dẫn hướng đã được phát triển cho HQ-12, phiên bản đầu tiên của nó dùng radar tìm kiếm mục tiêu loại SJ-202. SJ-202 là loại radar  mảng pha 3D đầu tiên do Trung Quốc sản xuất. Nó có tầm phát hiện mục tiêu là 115km, theo dõi mục tiêu ở cự ly 80km, dẫn bắn tên lửa ở cự ly 50km.  radar này hoạt động ở dải băng tần G, radar có thể dẫn hướng cho 6 tên lửa tấn công 3-6 mục tiêu khác nhau,   radar này có khả năng  tương thích với các hệ thống SAM củ như HQ-2.
(http://www.ausairpower.net/SJ-202-Gin-Sling-A-Deployed-1S.jpg)
(radar SJ-202 )
 Phiên bản radar này gặp nhiều hạn chế trong bám bắt và xữ lý tính hiệu, dẫn đến sự không thành công của phiên bản đầu tiên này.
Phiên bản KS-1A được trang bị radar tìm kiếm mục tiêu loại H-200. Đây là một loại radar mảng pha 3D, nó được xem là bản sao của loại radar quét mảng pha điện tử AN/MPQ-53  tổ hợp Patriot của Mỹ. H-200 hoạt động ở băng tần G, cung cấp nhiều khả năng, phát hiện, theo dõi, bắm bắt, nhận dạng bạn thù, dẫn bắn cho tên lửa. Radar này cũng được dùng cho phiên bản chống bức xạ đất đối không FT-2000.
(http://www.ausairpower.net/HQ-12-KS-1A-TEL-Radar-1S.jpg)
(Radar H-200 và xe phóng của tổ hợp KS-1A)
Radar có góc tà khoảng 90 độ, góc phương vị <160độ, tầm phát hiện mục tiêu khoảng 120km, theo dõi mục tiêu ở cự ly 90km, dẫn bắn tên lửa ở cự ly 45km. Radar có khả năng dẫn bắn cho 6 tên lửa tấn công 3 mục tiêu cùng lúc, ở độ cao từ 500m đên tối đa 25km.
-Cấu hình hệ thống:
KS-1 được trang bị bốn bệ phóng cố định được dẫn hướng bởi một radar tìm kiếm mục tiêu SJ-202, 8 tên lửa sẳn sàng phóng và 18 tên lửa dự phóng, xe tiếp đạn, xe phục vụ hậu cần,sửa chữa.
KS-1A được trang bị bốn xe phóng cơ động  được dẫn hướng bởi một radar tìm kiếm mục tiêu H-200 với 8 tên lửa sẳn sàng phóng, 18 tên lửa dự phòng xe tiếp đạn, xe phục vụ hậu cần,sửa chữa.
Phiên bản mới nhất được trang bị bốn xe phóng với cơ cấu như KS-1A, tuy nhiên tên lửa được đặt trong  ray phóng kiêm bảo quản hình hộp, được trang bị radar tìm kiếm mục tiêu và radar kiểm soát bắn riêng biệt cả hai được đặt trên khung gầm xe tải 6*6 bánh .
(http://www.ausairpower.net/KS-1A-Box-TEL-Launch-1S.jpg)
(Phiên bản mới nhất của KS-1A, ray phóng kiêm ống bảo quản hình  hộp đã được trang bị)

-Thông số kỷ thuật:
+ Kích thước tên lửa: Dài 5.6 m, đường kính 400mm, sải cánh 1.2m.
+ Trọng lượng: 900kg
+ Động cơ: Động cơ nhiên liệu rắn
+ Độ cao: Tối thiểu 500 m, tối đa 25km
+Tầm hoạt động: từ 7-42km với KS-1, từ 5-50km với KS-1A
+ Khả năng chịu tải của tên lửa: 20G
+Tốc độ tối đa: 1200m/s
+ Dẫn hướng: Radar bán chủ động
+ Đầu đạn: 100kg đầu nổ HE phá mảnh với ngòi nỗ vô tuyến cận đích
+ Xác suất :N/A
+ Khả năng tấn công các mục tiêu có độ quá tải khoảng 4-5 G
(hiện nay em chưa tìm thấy tài liệu về hệ dẫn đường của hệ thống này, khi nào có sẽ bổ sung sau. Tài liệu tham khảo www.sinidefence.com, http://anja-athirdeye.blogspot.com)




Tiêu đề: Re: Tìm hiểu về các hệ thống tên lửa phòng không Trung Quốc
Gửi bởi: f22raptor trong 22 Tháng Chín, 2010, 03:45:59 pm
TỔ HỢP TÊN LỬA ĐỐI KHÔNG HONG QI-7 (HQ-7)
-   Giới thiệu chung:
 HQ-7( Hồng Kỳ 7) hay còn gọi là FeiMeng 80 (FM-80) phiên bản xuất khẩu là một tổ hợp tên lửa đất đối không tầm thấp và siêu thấp, hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết. Tên lửa được phát triển bởi Học viện  Aerospace 2 (nay là Học viện Công nghệ Quốc Phòng Trung Quốc). Tên lửa được phát triển trên công nghệ tên lửa đất đối không tầm thấp Crotale của Pháp. Tên lửa chính thức đi vào phục vụ cuối những năm 1980.
HQ-7 hiện có  hai phiên bản, phiên bản đất đối không hiện đang được trang bị cho lực lượng mặt đất của PLA, phiên bản hải quân được trang bị trên các tàu khu trục Type-052 trở đi, nó trở thành vũ khí phòng không chủ đạo cho các tàu này.
(http://www.fas.org/man/dod-101/sys/missile/row/hq-7_1.jpg)
(Phiên bản HQ-7 trên boong tàu khu trục Type-052)
(http://www.defencetalk.com/pictures/data/3579/medium/Hq-7.jpg)
(Phiên bản đất đối không của HQ-7)
Các biến thể cải tiến của HQ-7 xuất khẩu ra thị trường thế giới với tên gọi FM-90 đã được giới thiệu vào năm 1998. Một biến thể cải tiến được giới thiệu năm 2006/07.
-Lịch sử phát triển.
Chương trình phát triển bắt đầu vào  những năm 1979 đề đáp ứng yêu cầu của PLA vầ một loại tên lửa đối không tầm thấp và siêu thấp. Có khả năng hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết.
Chương trình này được quản lý bởi  Học viện hàng không vũ trụ (còn gọi là  Học viện Công nghệ cơ khí và điện tử), (nay là  Học viện Công nghệ Quốc phòng Trung Quốc).  Viện 23 chịu trách nhiệm về sự phát triển của hệ thống radar điều khiển hỏa lực, và Viện 206 chịu trách nhiệm phát triển về trang thiết bị mặt đất.
-   Đặc điểm kỷ thuật
Tổ  Hongqi 7 là gần như là bản sao toàn bộ các đặc tính vật lý và kỹ thuật của  tổ hợp tên lửa đất đối không tầm thấp Crotale của Pháp được hãng  Thales phát triển (trước đây là Thomson-CSF Airsys).
Sau sự kiện xung đột biên giới với Liên Xô năm 1969, Trung Quốc đã được nhập khẩu vài hệ thống tên lửa đất đối không Crotale của Pháp để thử  nghiệm,  như là một thỏa thuận cho liên minh với các nước phương Tây chống lại Liên Xô. Thomson- CSF hy vọng sẽ nhận được nhiều đơn đặt hàng hơn nữa từ phía Trung Quốc.
Tuy nhiên thay vì mua tiếp các tổ hợp khác, Trung Quốc đã  tự phát triển  tổ hợp này cho riêng mình với tên gọi HQ-7 bằng cách đảo ngược một số kỷ thuật trong đó, song vẫn giữ được các đặc tính kỷ thuật, chiến  thuật  nguyên bản. Nhiều thông tin cho rằng Trung Quốc đã sao chép lậu Crotale khi chưa được sự đồng ý từ chính phủ Pháp, song cũng có một số nguồn tin cho rằng. Pháp đã làm ngơ trước việc Trung Quốc sao chép Crotale để đổi lấy các hoạt động của Nato trong chiến tranh lạnh.
(http://www.sinodefence.com/army/surfacetoairmissile/images/hongqi7_01.jpg)
(Tổ hợp HQ-7 của Trung Quốc)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/1/1d/Crotale_missile_launchers_DSC00866.jpg/220px-Crotale_missile_launchers_DSC00866.jpg)
(Đây là tổ hợp Crotale nguyên bản của Pháp)

Tên lửa được thử nghiệm vào năm 1983, lần bắn thử đầu tiên diễn ra vào năm 1985. Bản thiết kế được chứng nhận quốc gia vào tháng 7-1986 và đến tháng 6-1988 bắt đầu đưa vào sản xuất đại trà.
Phiên bản đầu tiên của HQ-7 có hai biến thể, một biến thể bán cố định tương tự như SA-2, và phiên bản tự hành. Sau này phiên bản bán cố định bị loại bỏ thay vào đó là phiên bản hải quân được trang bị cho các tàu khu trục từ loại Type 052 trở đi. Một thông tin cho hay là phiên bản hải quân cải tiến sẽ sử dụng các ống phóng kiêm bảo quản thẳng đứng được bố trí trên boong tàu, thay cho các ống phóng nghiêng như hiện nay. Việc phóng thẳng đứng giúp cho tên lửa có khả năng bao quát 360 độ.
(http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20091128/khcn_mciws.98.jpg)
(Phiên bản hải quân HQ-7 trên boong tuần dượng hạm Cáp Nhĩ Tân soái hạm của hạm đội Biển Bắc,nguồn Baodatviet.vn)

Các phiên bản xuất khẩu FM-80 lần đầu tiên được tiết lộ trong năm 1989  trong Dubai Aerospace Show. Sau đó vào năm 1998 Tổng công ty Xuất nhập khẩu  máy móc chính xác của Trung Quốc(CNPMIEC) giới thiệu một phiên bản cải tiến FM-90 có tính năng nhanh hơn, tên lửa tầm dài hơn và camera hồng ngoại tốt hơn.
-Tên lửa
(http://www.ausairpower.net/HQ-7-Crotale-SAM-System-2S.jpg)
  (cận cảnh tên lửa của HQ-7)

Tên lửa của HQ-7 có thân dài với mũi khá nhọn, nó có bốn cánh lái phía sau đuôi và bốn cánh ổn định ở phía mũi. Theo thông tin công bố tên lửa có khả năng đánh chặn đa mục tiêu, tên lửa sử dụng động cơ nhiên liệu rắn với tốc độ cực đại khoảng Mach 2.3, với tầm bắn tối đa là 12.
Hệ thống kiểm soát mục tiêu kết hợp giữa  cảm biến radar và quang điện, dẫn hướng tấn công mục tiêu kết hợp giữa hồng ngoại+ TV. Tên lửa có khả năng kháng nhiễu mạnh mẽ và tiếng ồn khí tượng tương đối thấp. Tên lửa được trang bị đầu nổ phá mảnh HE với nòi nổ vô tuyến cận đích.
-Hệ thống kiểm soát bắn.
Một tiểu đoàn HQ-7 điển hình bao gồm ba khẩu đội, với một bộ phận hổ trợ kỷ thuật bao gồm tất cả 10 xe. Trong đó có 9 xe phóng với một xe hổ trợ kỹ thuật.
Một khẩu đội điển hình bao gồm một đơn vị tìm kiếm mục tiêu (SU), ba xe phóng với cơ số 4 tên lửa cho mỗi xe, ba hệ thống quang học, và một máy phát điện công suất 40kw.
Các radar của HQ-7 sẽ tìm kiếm, xác định đánh giá và phân loại mục tiêu, sau đó chỉ định mục tiêu nguy hiểm nhất và chuyển thông tin mục tiêu này cho đơn vị bắn. Nếu radar bị kẹt hoặc bị nhiễu gây hại thì các đơn vị bắn chuyển sang sử dụng hệ thống quang học để ngắm bắn. Việc sử dụng hệ dẫn đường đa dụng là một điểm mạnh của tổ hợp này, nó không bị phụ thuộc quá nhiều radar như các tổ hợp khác. Tuy nhiên việc dẫn bắn bằng quang học ít nhiều làm giảm xác suất trúng đích.
Các radar tìm kiếm mục tiêu sử dụng loại radar xung Doppler hoạt động ở băng tần E/F. Tầm phát hiện mục tiêu là 18.4km với tầm cao 3.2km. Hệ thống có khả năng phát hiện 30 mục tiêu và theo dõi 12 mục tiêu cùng lúc.
Các đơn vị bắn được trang bị radar có khả năng theo dõi mục tiêu ở  cự ly 17km, một hệ thống theo dõi truyền hình có phạm vi hoạt động lên đến 15km trong điều kiện thời tiết tốt, một hệ thống lade định vị mục tiêu, một đơn vị xữ lý dữ liệu, một hệ thống liên lạc giữa đơn vị tìm kiếm mục tiêu và đơn vị bắn.
Phiên bản cơ bản được đặt trên khung gầm xe 4x4 bánh, với khả năng cơ động tối đa 60km/h trên đường nhựa và 50km/h ở địa hình xấu hơn.

FM-90

Vào cuối năm 1998, FM-90, một phiên bản nâng cao của  FM-80/HQ-7, được giới thiệu với công chúng. So với các hệ thống ban đầu, những cải tiến trên FM-90 bao gồm:

    * Sử dụng VLSI dựa trên công nghệ máy tính (thiết kế bởi Viện 706) để thay thế LSI ban đầu dựa trên công nghệ S-9 máy tính trên FM-80 HQ-7.
    * Sử dụng công nghệ điện tử kỹ thuật số để thay thế các thiết kế tương tự ban đầu, tăng khả năng của tên lửa chống gây nhiễu hoạt động thụ động /.
    * Sử dụng một radar theo dõi hai waveband mới để thay thế cho radar monopulse gốc
    * Một máy ảnh hồng ngoại đã được thêm vào hệ thống theo dõi truyền hình để hệ thống theo dõi quang học có thể được sử dụng vào ban đêm.
    * Chỉ tiêu thông tin giữa các đơn vị tìm kiếm và bắn được truyền thông qua dữ liệu, một hệ thống cực tương tự như trang bị trên Thomson-CSF Crotale 4.000.
Ngoài ra, các tên lửa tìm kiếm / homing phạm vi, tốc độ tối đa, và phạm vi tấn công tất cả đã được cải thiện, làm tăng hiệu quả chiến đấu rất nhiều. Với tầm  phát hiện mục tiêu  tối đa 25 km, các FM-90 có khả năng tấn công đồng thời ba mục tiêu bằng cách sử dụng ba chế độ hướng dẫn khác nhau . Tên lửa này cũng có khả năng chống tên lửa hành trình bay ở độ cao  siêu thấp, và tên lửa chống bức xạ ở khoảng cách 17km.

Thông số kỹ thuật

Tên lửa kích thước: (chiều dài) 3.00m; (đường kính) 0.156m; (sải cánh) 0.55m
Trọng lượng: 84.5kg
Độ cao: 30 ~ 5.000 m (HQ-7/FM-80); 15 ~ 6.000 m (FM-90)
Tầm hoạt động tối thiểu: 500m (HQ-7/FM-80); 700 m (FM-90)
Tầm hoạt động tối đa: 8.600 m (400m / s mục tiêu); 10.000 m (300m / s mục tiêu); 12.000 m (trực thăng); FM-90: 15.000 m cho tất cả các mục tiêu
Tốc độ: Mach 2,3 (750m / s)
Hướng dẫn: Command + theo dõi quang-điện
Đầu đạn: Đầu nổ HE-Frag với ngòi nổ vô tuyến cận đích
Xác suất: 70 ~ 80%
Radar phát hiện phạm vi: (HQ-7/FM-80) 18.4km; (FM-90) 25 km

(nguồn ảnh http://www.ausairpower.net, tài liệu tham khảo www.sinodefence.com)


Tiêu đề: Re: Tìm hiểu về các hệ thống tên lửa phòng không Trung Quốc
Gửi bởi: OldBuff trong 22 Tháng Chín, 2010, 05:29:20 pm
Hồng Kỳ 7 (HQ-7) có bản xuất khẩu là Phi Manh 80 (Mòng bay 80).

Trích dẫn
Tên lửa có khả năng kháng nhiễu mạnh mẽ và tiếng ồn khí tượng tương đối thấp
Nhiễu khí tượng

Trích dẫn
Nếu radar bị kẹt hoặc bị nhiễu gây hại thì các đơn vị bắn chuyển sang sử dụng hệ thống quang học để ngắm bắn
Bị gây nhiễu chế áp

Trích dẫn
Sử dụng một radar theo dõi hai waveband mới để thay thế cho radar monopulse gốc
Đỏ 1: băng sóng
Đỏ 2: đơn xung

Trích dẫn
một hệ thống theo dõi truyền hình có phạm vi hoạt động lên đến 15km trong điều kiện thời tiết tốt, một hệ thống lade định vị mục tiêu
Đỏ 1: bám sát quang truyền hình
Đỏ 2: la de định tầm

Trích dẫn
Hướng dẫn: Command + theo dõi quang-điện
Điều khiển: lệnh vô tuyến, bám sát quang điện tử


Tiêu đề: Re: Tìm hiểu về các hệ thống tên lửa phòng không Trung Quốc
Gửi bởi: huyphongssi trong 22 Tháng Chín, 2010, 07:08:05 pm
Huyphong góp thêm một chút ;D

Tuy nhiên thay vì mua tiếp các tổ hợp khác, Trung Quốc đã  tự phát triển  tổ hợp này cho riêng mình với tên gọi HQ-7 bằng cách đảo ngược một số kỷ thuật trong đó, song vẫn giữ được các đặc tính kỷ thuật, chiến  thuật  nguyên bản. Nhiều thông tin cho rằng Trung Quốc đã sao chép lậu Crotale khi chưa được sự đồng ý từ chính phủ Pháp, song cũng có một số nguồn tin cho rằng. Pháp đã làm ngơ trước việc Trung Quốc sao chép Crotale để đổi lấy các hoạt động của Nato trong chiến tranh lạnh.

Người ta không gọi là đảo ngược kĩ thuật anh giai ạ! Reverse-engineering là Phỏng thiết kế kĩ thuật hay sao chép thiết kế.

TQ không hoạt động trong NATO, mà phối hợp với NATO trong hoạt động bao vây chống phá Liên xô.

Trích dẫn
Phiên bản đầu tiên của HQ-7 có hai biến thể, một biến thể bán cố định tương tự như SA-2, và phiên bản tự hành. Sau này phiên bản bán cố định bị loại bỏ thay vào đó là phiên bản hải quân được trang bị cho các tàu khu trục từ loại Type 052 trở đi. Một thông tin cho hay là phiên bản hải quân cải tiến sẽ sử dụng các ống phóng kiêm bảo quản thẳng đứng được bố trí trên boong tàu, thay cho các ống phóng nghiêng như hiện nay. Việc phóng thẳng đứng giúp cho tên lửa có khả năng bao quát 360 độ.

Biến thể của KQ dùng bố trí trong trận địa cố định với hầm bán ngầm. Về bản của hải quân dùng ống phóng thẳng đứng có vẻ không chính xác với loại tên lửa hạng muỗi này ;D HQ TQ chỉ mới có ý định phát triển loại tên lửa phòng không tầm trung dùng ống phóng thẳng đứng để thay cho hệ thống HQ-7 thôi.

Trích dẫn
Hệ thống kiểm soát mục tiêu kết hợp giữa  cảm biến radar và quang điện, dẫn hướng tấn công mục tiêu kết hợp giữa hồng ngoại+ TV. Tên lửa có khả năng kháng nhiễu mạnh mẽ và tiếng ồn khí tượng tương đối thấp. Tên lửa được trang bị đầu nổ phá mảnh HE với nòi nổ vô tuyến cận đích.

Hệ thống điều khiển của HQ-7 được gọi là Hệ thống điều khiển theo đường ngắm thẳng (CLOS - Command to Line Of Sight guidance), kết hợp bám sát mục tiêu theo các chế độ tự động hay thủ công qua radar, khí tài hồng ngoại và hồng ngoại-quang truyền hình. Hệ thống có khả năng kháng nhiễu tích cực/tiêu cực và khí tượng tốt.



Tiêu đề: Re: Tìm hiểu về các hệ thống tên lửa Trung Quốc
Gửi bởi: f22raptor trong 28 Tháng Chín, 2010, 07:51:28 pm
Tìm hiểu các hệ thống tên lửa Trung Quốc phần 2

Hồ sơ tên lửa Dong Phong

I-   Dong phong 1 hay DF-1

DF-1 được xem là tên lửa đạn đạo đầu tiên được chế tạo tại Trung Quốc. Tên lửa được chế tạo trên công nghệ tên lửa đất đối đất loại V2 của Đức với sự giúp đở của các chuyên gia đến từ Liên Xô. Nói chung DF-1 là bản sao của loại tên lửa R2 của Liên Xô. Chương trình được hoàn thành vào tháng 8/1960 tên lửa được thử nghiệm tại Tửu Tuyền ba tháng sau. Tên lửa được chấp nhận trang bị trong PLA.
 Tháng 6/1966 PLA chính thức thành lập Quân đoàn pháo binh thứ hai(SAC) hay lực lượng tên lửa chiến lược(SSM). Tuy nhiên lực lượng tên lửa chiến lược của Trung Quốc đã được tồn tại gần một thập niên trước khi ra mắt chính thức, núp bóng dưới danh nghĩa lực lượng pháo binh để che giấu các hoạt động thử nghiêm. DF-1 là trang bị đầu tiên của lực lượng này.
(http://3.bp.blogspot.com/_2DtywhVfl5I/TGjGomjWMFI/AAAAAAAAFf0/xyYddT6gisY/s400/images452320_df1.jpg)
(DF-1 trong Bảo tàng quân đội Trung Quốc)

Tên lửa sử dụng động cơ nhiên liệu lõng với hỗn hợp bao gồm oxi và cồn.
Thông số cơ bản: Tên lửa DF-1 có chiều dài 17,68m, đường kính 1,65m, khối lượng 20,4 tấn và có tầm bắn lớn nhất là 600km.  có khả năng mang theo một đầu đạn quy ước nặng 1,3 tấn. Tuy nhiên, do DF-1 chưa một lần được phô diễn trước công chúng nên các thông số kỹ thuật của tên lửa này vẫn chưa được kiểm chứng.
Lịch sử phát triển:
-Ngày 17 tháng 9 năm 1955
 Tsien Hsue-shen bị  trục xuất khỏi Hoa Kỳ. Sau năm năm tranh cãi, và cuộc đàm phán bí mật ở Geneva giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, Tsien là bị trục xuất khỏi Hoa Kỳ. Khi đến tại Trung Quốc, ông đã ngay lập tức đưa vào làm việc như người đứng đầu chương trình tên lửa của Trung Quốc. Ông đã giới thiệu phương pháp tiếp cận các hệ thống kỹ thuật Hoa Kỳ đến các kỹ sư Trung Quốc, và xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho phép Trung Quốc phát triển  tên lửa.
-Ngày 17 tháng 2 năm 1956
Tsien đề xuất kế hoạch phát triển tên lửa lên chính phủ Trung Quốc, một báo cáo bí mật đã được đề trình lên hội đồng nhà nước về phát triển tên lửa đạn đạo, báo cáo cũng đề ra yêu cầu thành lập Cục công nghiệp hàng không quốc phòng, đề xuất thành lập một cơ sở nghiên cứu hàng không và chế tạo tên lửa.
-Ngày 26 tháng năm 1956
Thành lập Viện Hàn lâm quốc gia thứ năm của Trung Quốc, học viện thứ năm của Bộ quốc phòng được thành lập làm nơi đào tạo, nghiên cứu chế tạo tên lửa đạn đạo cho Trung Quốc.
Tsien được phong là giám đốc đầu tiên vào ngày 8 tháng 10. Học viện được thành lập trên cơ sở của một bệnh viện cũ và hai nhà điều dưỡng, với một đội ngũ nhân viên ban đầu là 100 sinh viên tốt nghiệp trường trung học và 100-200 sinh viên tốt nghiệp đại học. Tsien dạy Công nghệ tên lửa 'trong khi Choang Faggan từ Caltech dạy khí động học.
-Ngày 13/9/1956 Liên Xô đã đồng ý bán cho Trung Quốc hai tên lửa R1 để nghiên cứu.
-Ngày 15/10/1957 Liên Xô và Trung Quốc đã ký một bản hợp tác kỷ thuật quốc phòng giữa hai nước. Trong  đó có phần Liên Xô chuyển giao cho Trung Quốc công nghệ chế tạo bom nguyên tử  với hai tên lửa đạn đạo R2. Theo thỏa thuận Liên Xô sẽ cung cấp các chuyên gia cần thiết, đào tạo, máy móc thiết bị cần thiết và cả giấy phép sản xuất R2 tại Trung Quốc(Đúng là ưu đãi quá mức, không biết Liên Xô lúc đó có được lợi gì cho thỏa thuận này không)
-Ngày 6/12/1957 giấy phép sản xuất R2 tại Trung Quốc chính thức được cấp, một nhóm lớn các kỹ sư và  chuyên gia kỹ thuật đã lên đường tới Bắc Kinh để thiết lập giây chuyền sản xuất. Cuối tháng 12 một tiểu đoàn Hồng Quân cùng với hai tên lửa R2 và bệ phóng đã lên đường sang Bắc Kinh bằng đường sắt.
- Đến tháng 4/1958 số lượng cán bộ kỹ thuật làm việc cho học viện số 5 đã lên đến 3000, và hơn 300 kỹ sư. Chính phủ Trung Quốc sẽ gửi số lượng nhiều hơn nữa các cán bộ kỹ thuật và kỹ sư sang Liên Xô để đào tạo về công nghệ tên lửa. Tất cả số học viên này đều được gửi đi học một cách bí mật.
- Tháng 6-1958 PLA bắt đầu cho xây dựng trường thử nghiệm tên lửa quốc gia tại Tửu Tuyền. Quân đoàn số 20 của PLA chịu trách nhiệm xây dựng và quản lý các cơ sở thử nghiệm tại đây.
- Khoảng nửa năm 1958 tài liệu hướng dẫn kỷ thuật R2 được chuyển giao cho Trung Quốc, hơn 10151 chi tiết của R2 cùng tài liệu đã được chuyển giao cho Bắc Kinh. Trung Quốc tiếp tục đặt hàng thêm 12 tên lửa nửa.
Tháng 9/1959  Tsien yêu cầu học viện số 5 sớm hoàn tất quá trình nắm bắt công nghệ tên lửa để bắt đầu phát triển một phiên bản nội địa  với tên gọi Dong Phong (Gió đông) DF-1 thay cho việc tiếp tục gia hạn giấy phép sản xuất R2.
-Tháng 10/1959 Nhiếp Vinh Trăn tư lệnh cấp cao về vũ khí chiến lược yêu cầu Học viện số 5 nhanh chóng đi tắt đón đầu công nghệ tên lửa của Liên Xô để sao chép R2, dự án mang mật danh 1.059.
Tháng 12/1960 Liên Xô phát hiện các học viên Trung Quốc học tại học viện quốc phòng Moscow ăn cắp tài liệu công nghệ tên lửa. Quan hệ hai bên trở nên căng thẳng, cuối năm đó Khrushchev tuyên bố đình chỉ việc viện trợ quân sự cho Trung Quốc. Tất cả 1.343 chuyên gia Liên Xô  tại các học viện thứ năm ở Bắc Kinh bị triệu hồi về nước. Họ để lại phía sau 343 hợp đồng dở dang. Tổng cộng có 257 dự án phát triển kỹ thuật đã được hủy bỏ.
Tuy nhiên trước khi sự hợp tác hai bên đỗ vỡ Trung Quốc cũng đã kịp sao chép thành công công nghệ của tên lửa R2. Hai tên lửa DF-1 đã được phóng thử thành công tại Tửu Tuyền.
Việc hủy bỏ các hợp đồng dang dỡ khiến cho Trung Quốc gặp rất nhiều khó khăn trong việc chế tạo DF-1, nhất là các lĩnh vực về vật liệu chế tạo, công nghệ đặc biệt là công nghệ hàn hồ quang khí trơ để sản xuất vỏ tên lửa.
DF-1 có thời gian phục vụ tương đối ngắn, việc vận hành tên lửa gặp quá nhiều khó khăn, thời gian chuẩn bị phóng quá lâu, độ chính xác rất kém. Chương trình bị chấm dứt vào năm 1971 sau khi sản xuất được 3 tên lửa.
(tài liệu tham khảo www.sinodefence.com)



Tiêu đề: Re: Tìm hiểu về các hệ thống tên lửa Trung Quốc
Gửi bởi: longtrec trong 28 Tháng Chín, 2010, 11:04:45 pm
Năm 1945 thủ tướng Anh lúc bấy giờ là Churchill đã viết thư yêu cầu Stalin tìm kiếm giúp 1 loại tên lửa mà Đức Quốc Xã đã bắn vào London. Tên lửa và Phát Xít Đức bắn vào London có tên là V-2.
 Quả tên lửa V-2 đầu tiên được tìm thấy bởi những người du kích Ba lan, nhưng rất tiếc quả tên lửa này không thể phục hồi được.
 Tháng 8/1945, 1 nhóm đặc biệt gồm khoảng 10 nhà bác học LX đứng đầu là trung tá Sergei Korolev  lên đường quay lại trại tù binh "Gulag" làm việc với những tù binh Đức. Họ là những chuyên gia tên lửa đã trực tiếp hoặc gián tiếp nghiêm cứu phát triển tên lửa V-2. Giữa năm 1946 Bộ trưởng Quốc phòng LX Dmitri Ustinov ký sắc lệnh thành lập 2 viện nghiêm cứu "Nordhausen" và "Berlin" (nằm trên đông Đức). Nhân viên của 2 viện này bao gồm các bác học Nga và các chuyên gia , những người am hiểu về tên lửa người Đức đồng ý làm việc cho LX , có khoảng 5000 người làm việc cho 2 viện này. Nhiệm vụ được đặt ra cho 2 Viện nghiêm cứu này là phục hồi tên lửa đạn đạo V-2, mà tất cả tài liệu kỹ thuật về loại tên lửa đạn đạo này đã bị thiêu hủy trước khi quân Đồng minh tiến vào giải phóng nước Đức.

Ngày 13/5/1946 quyết định của Hội Đồng Bộ Trưởng LX về thành lập Trung tâm Nghiêm cứu Kỹ thuật tên lửa , nòng cốt là Viện nghiêm cứu 88.
 Tại Viện 88 đã tiếp nhận 150 chuyên gia tên lửa Đức tới làm việc cùng với khoảng 350 bác học, kỹ sư, nhà hóa học, nhà vật lý, nhà thiết kế chế tạo đầu ngành, liên quan trong lĩnh vực  tên lửa.
Từ 18/10-13/11 năm 1946 đã phóng thử 11 lần tên lửa V-2. Song song với việc phục hồi tên lửa V-2 các nhà khoa học Viện 88 cùng với các chuyên gia Đức phát triển đề án tên lửa đạn đạo đầu tiên của LX là R-1. Đến năm 1949 Viện 88 tiếp tục cải tiến R-1 thành R-2e có tầm bắn 600km.

Xét theo phả hệ thì DF-1 của TQ có cha là R-1 , có ông nội là R-2 và cụ nội là V-2.


Tiêu đề: Re: Tìm hiểu về các hệ thống tên lửa Trung Quốc
Gửi bởi: f22raptor trong 29 Tháng Chín, 2010, 12:03:41 pm
DONG PHONG DF-2

Sự sao chép thành công tên lửa R2 của Liên Xô đã mở đường cho sự phát triển tiếp theo của dòng tên lửa Dong Phong. DF-2 ra đời dựa trên bản vẽ của tên lửa R12 của Liên Xô mà Trung Quốc có được trước khi mọi sự hợp tác bị chấm dứt năm 1960. DF-2 được xem là loại IRBM đầu tiên của Trung Quốc.
DF-2 Nato định danh là CSS-1 là một tên lửa đạn đạo tầm trung được phát triển bởi Học viện số 5 nay là Học viện công nghệ hàng không vũ trụ Trung Quốc.
Sự phát triển của DF-2 bắt đầu vào cuối những năm 1950, sự sụp đổ liên minh quân sự với Liên Xô làm cho công việc phát triển DF-2 trở nên vô cùng khó khăn.
Nền công nghiệp quốc phòng còn non yếu của Trung Quốc chưa thể nắm vững được các kỹ thuật cơ bản trong việc chế tạo võ tên lửa.
Ngày 2/03/1962 lần phóng thử đầu tiên của DF-2 tại trường thử Tửu Tuyền gặp thất bại. Các kỹ sư đã đưa ra bản thiết kế lại mang tên DF-2A, phiên bản DF-2A đã phóng thử thành công vào ngày 29/05/1964.
Ngày 27/12/1966 một tên lửa DF-2A mang theo một đầu đạn hạt nhân đã được phóng thành công  tại Tửu Tuyền và đánh trúng mục tiêu giã định cách đó 800km.
DF-2A chính thức được chấp nhận trang bị trong Quân đoàn pháo binh thứ 2 từ cuối  những năm 1960. Nối tiếp DF-1 tuổi đời phục vụ của DF-2 củng không được bao lâu. Toàn bộ trang bị của DF-2 chính thức  nghĩ hưu vào những năm 1980.
(http://1.bp.blogspot.com/_AvM85QqY4-Y/SGjoFIw6MHI/AAAAAAAAAWc/JHOxKwjYrtI/s400/df2.jpg)
(DF-2 trong Bảo tàng quân đội Trung Quốc)

Thông số kỹ thuật :
Tên chính thức: DongFeng 2 (DF-2)
Tên hiệu NATO: CSS-1
Nhà thầu: MND 5 (Viện hàn lâm số 5)
Tình trạng: Nghỉ hưu
Động cơ: Nhiên liệu lỏng một giai đoạn
Bệ phóng di động trên xe kéo
Chiều dài: 20.61m
Đường kính: 1.65m
Sải cánh: 2.13m
Trọng lượng phóng: 31.900 kg
Tầm phóng: 1.250 km
Đầu đạn: 1.500 kg
Độ chính xác: CEP 4.000 m
Thời gian chuẩn bị: 120 ~ 180 phút
(tài liệu tham khảo www.sinodefence.com)




Tiêu đề: Re: Tìm hiểu về các hệ thống tên lửa Trung Quốc
Gửi bởi: f22raptor trong 01 Tháng Mười, 2010, 04:35:15 pm
DONG PHONG DF-3
 DF-3 ( Dong Phong 3, Nato định danh là CSS-2) là một tên lửa đạn đạo tầm trung (IRBM), nhiên liệu lỏng, một tầng đẩy. Nối tiếp sự thành công của  DF-1, DF-2 từ tầm ngắn đến tên lửa đạn đạo tầm trung. DF-3 phản ánh những tiến bộ vượt bậc trong công nghệ tên lửa của Trung Quốc. DF-3 được phát triển hoàn toàn trong nước mà không dựa theo bất cứ loại tên lửa nước ngoài nào. DF-3 được phát triển để có thể vươn đến các căn cứ quân sự của Mỹ ở Nhật Bản  và khu vực Đông Á.
Lịch sử phát triển:
Được phát triển từ những năm 1960,  song song với các chương trình DF-2. Sau nhiều lần thẩm định, khái niệm về một tên lửa đạn đạo tầm trung nội địa được thông qua năm 1964. Tên lửa sử dụng động cơ nhiên liệu lỏng một tầng đẩy để đơn giản hóa việc chuẩn bị phóng. Hệ dẫn đường quán tính cũng được đưa vào sử dụng để cải thiện độ chính xác của tên lửa. Bệ phóng và các thiết bị hổ trợ được đặt trên các  khung gầm xe kéo di động để tăng phần nào khả năng cơ động của tên lửa.
Dự án bắt đầu phát triển toàn diện vào năm 1964. Các vụ thử đầu tiên diễn ra tháng 12/1966. Nhưng chỉ đạt được thành công sơ bộ do các trục trặc của động cơ tên lửa.  Lần thử nghiệm tiếp theo diễn ra tháng 1/1967 các trục trặc trong  động cơ tên lửa tiếp tục được ghi nhận. Các kỷ sư đã đưa ra các biện pháp sửa đỗi lỗi trục trặc của động cơ. Lần thử nghiệm tiếp theo diễn ra  tháng 3/1967 đã đạt được thành công. Tên lửa chính thức phục vụ trong Quân đoàn pháo binh thứ hai của PLA  với tên gọi chính thức Dong Phong 3( DF-3) vào  năm 1971.
(http://tintucvina.com/data/images/20100816/37b4393af4c3b57514cb983d3b2f0721.jpg)
(Tên lửa DF-3 ảnh tintucvina.com)

Hầu hết các tên lửa đã được  gia hạn thời gian phục vụ vào cuối những năm 1980. Đồng thời Trung Quốc cũng đang phát triển một phiên bản cải tiến DF-3A với tầm bắn khoảng 2500-2800 km. Thiết kế mới tối ưu hóa các vấn đề về giảm tải trọng tên lửa, cũng như động cơ để đạt được tầm bắn mới mà không phải thiết kế lại các vấn đề về mặt khí động học. Hai thử nghiệm đã diễn ra vào đầu những năm 1980, tuy nhiên cả hai lần thử này đều gặp thất bại do trục trặc động cơ.Tuy nhiên hai lần thử nghiệm tiếp theo vào tháng 12/1985, 1/1986 đã được thành công.
(http://www.fas.org/nuke/guide/china/theater/DF-3-3.jpg(phiên bản DF-3A, nguồn ảnh www.fas.org))

Đặc tính kỷ thuật:
DF-3 được bố trí trên một xe kéo 4 bánh, nó được kéo bằng một xe tải 8*8 bánh. Xe kéo đơn giản chỉ bao gồm thân tên lửa và đầu đạn, không bao gồm nhiên liệu để giảm tải trọng trong khi di chuyển. Tên lửa được đưa đến địa điểm phóng được khảo sát từ trước, sau khi tên lửa đã được gắn vào bệ phóng lúc này người ta mới tiến hành bơm nhiên liệu cho động cơ.
Điều này có ưu điểm là giảm được tải trọng khi di chuyển tên lửa, tuy nhiên điều này khiến tên lửa có khả năng sẳn sàng phóng rất kém.
(http://www.sinodefence.com/strategic/missile/images/df3_03.jpg)
(Hình ảnh nạp nhiên liệu cho DF-3)
DF-3 sử dụng động cơ nhiên liệu lỏng một tầng đẩy, với đầu đạn đơn, tầm bay tối đa khoảng 2500km, khoảng 2800km cho DF-3A. Nếu được giảm tải trọng DF-3 A có khả năng đạt tầm bắn 4000km. Tuy nhiên, tên lửa bị suy giảm quỷ đạo bay từ cự ly 1550km. Vì tên lửa sử dụng động cơ nhiên liệu lỏng một tầng đẩy, không có khả năng cắt bỏ bớt vần võ đã đốt hết nhiên liệu. Nó buộc phải mang theo phần võ còn lại khi nhiên liệu chưa đốt hết. Dẫn đến lực đẩy của động cơ bị giảm khi lượng nhiên liệu giảm dần.
DF-3 sử dụng các van điều tiết với vòi phun để kiểm soát lực đẩy trong giai đoạn đẩy mạnh của động cơ. Động cơ bao gồm một cụm bốn óng phóng YF-2.  Động cơ sử dụng nhiên liệu lỏng có khả năng cất giữ, một hỗn hợp bao gồm dimethyl Unsymmetrical hiđrazin (UDMH)  và AK-27 oxidiser (acid nitric với 27% tetroxide nitơ) cung cấp lực đẩy tổng cộng là 96 tấn. Các động cơ có thời gian cháy tối đa là 140 giây, điều này tạo cho DF-3 có tầm bắn tối thiểu là 750km và tối đa là 2600km. Pha cuối của tên lửa có khả năng đạt vận tốc 4.7km/s, DF-3 được lắp một đầu đạn tách có khối lượng 2150kg. Tên lửa được trang bị hệ dẫn đường quán tính với sai số trượt mục tiêu CEP khoảng 1-4 km, tên lửa được trang bị một đầu đạn hạt nhân tương đương 2000-3000kt, nhưng cũng được trang bị đầu đạn HE thông thường . Phiên bản DF-3A có CEP khoảng 1000m. Tuy con kém xa Nga và Mỹ nhưng với một đầu đạn hạt nhân cũng đủ san bằng mọi thứ rồi.
Thông số kỷ thuật:
Tên chính thức: Dongfeng 3 (DF-3)
Tên hiệu NATO: CSS-2
Nhà thầu: N / A
Tình trạng: đang phục vụ
Động cơ: nhiên liệu lỏng một tầng đẩy
Triển khai: trên các xe kéo di động
Thuốc phóng: Unsymmetrical Dimethylhydrazine / trộn nitơ Tetroxide [UDMH/N2H4]
Chiều dài: 21.2m
Đường kính: 2.25m
Trọng lượng phóng: 64.000 kg
Tầm bay: 2.500 km (DF-3); 2.800 km (DF-3A)
Đầu đạn: 2.150 kg
Hướng dẫn: hệ dẫn  đường quán tính
CEP: 2.000 ~ 3.000 m (DF-3); 1.000 m (DF-3A)
Thời gian chuẩn bị: 120 ~ 180 phút
 Xuất khẩu:
Phiên bản DF-3 với đầu đạn thông thường, không loại trừ khả năng có đầu đạn hạt nhân đã được bán cho Ả Rập Saudi  vào  năm 1987.  khoảng 30-120 tên lửa cùng với 9-12 bệ phóng đã được giao hàng vào năm 1988. Tuy nhiên các tên lửa này đã không được thử nghiệm trong nước trước khi xuất khẩu, và người ta cũng tự hỏi liệu những tên lửa này có còn phục vụ trong quân đội Ả rập Sau đi hay không?.
DF-3 chính thức phục vụ trong PLA vào năm 1970, khoảng 150-200 tên lửa đã được triển khai, thêm vào đó khoảng 50-100 tên lửa DF-3A đến cuối những năm 1980.  Trong đó có 30-120 tên lửa với cấu hình tiêu chuẩn xuất khẩu cho Ả Rập Sau di. Từ cuối những năm 1990 PLA bắt đầu tiến hành rút dần DF-3 thay vào đó là loại DF-21 hiện đại hơn. Tuy nhiên theo báo cáo của Bộ quốc phòng Mỹ năm 2008, hiện tại vẫn còn khoảng 15-20 tên lửa DF-3A phục vụ trong PLA.
(tài liệu tham khảo www.sinodefence.com)