Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thảo luận Lịch sử bảo vệ Tổ quốc => Kiến thức quốc phòng => Tác giả chủ đề:: daibangden trong 30 Tháng Sáu, 2011, 03:50:19 pm



Tiêu đề: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Sáu, 2011, 03:50:19 pm
Tàu ngầm nguyên tử tên lửa đạn đạo Đề án 667-BDRM "Delfin" (Lớp Delta-IV)

(http://i1185.photobucket.com/albums/z345/daibangden_T80UK/667bdrm_17.jpg)

Tổng số tàu ngầm đã đóng: 7

Biến thể: không có.

Các tàu ngầm cuối cùng của dòng 667, đồng thời là những tàu tên lửa thế hệ thứ 2 cuối cùng của Liên Xô (thực tế là bước chuyển tiếp của thế hệ thứ 3) là tàu ngầm tuần dương tên lửa nhiệm vụ chiến lược Đề án 667-BDRM (số hiệu Delfin). Cũng như lớp tàu trước, được chế tạo ở Phòng thiết kế Trung ương kỹ thuật Hải quân “Rubin” dưới sự chỉ đạo của Tổng công trình sư, viện sỹ S.N.Kovalev (quan sát viên chính từ Hải quân – thuyền trưởng hạng 1 Yu.F.Piligin). Mệnh lệnh của Chính phủ về thiết kế tàu nguyên tử mới được đưa ra mùng 10 tháng 9 năm 1975.

Vũ khí chính của tàu phải là tổ hợp tên lửa mới D-9RM với 16 tên lửa liên lục địa nhiên liệu lỏng R-29RM (tên gọi theo hiệp ước là RSM-54, tên phương Tây: SS-N-23 “Skiff”), có tầm bắn được nâng cao cùng độ chính xác và bán kính phát tán của các đầu đạn. Việc thiết kế tổ hợp tên lửa được bắt đầu ở Phòng thiết kế năm 1979. Người chế tạo tên lửa đã tập trung vào việc tăng cường một cách tối đa cấp độ chiến thuật có thể và các tính năng kỹ - chiến thuật trong sự hạng chế thay đổi trong thiết kế tàu ngầm. Theo các khả năng của mình, các tên lửa mới vượt trội toàn bộ các biến thể mạnh nhất của tên lửa Hải quân Mỹ “Traiden” – khi đó có khối lượng và kích thước nhỏ hơn. Trong sự phụ thuộc vào số lượng đầu đạn và khối lượng của chúng, tầm bắn của tên lửa đạn đạo có thể tăng cường một cách đáng kể lên 8300km. R-29RM trở thành tên lửa cuối cùng được thiết kế dưới sự chỉ đạo của V.P.Makeev, đồng thời dòng tên lửa đạn đạo xuyên lục địa nhiên liệu rắn cuối cùng – toàn bộ các tên lửa đạn đạo Liên Xô/Nga sau đó được chế tạo hoạt động bằng nhiên liệu rắn.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Sáu, 2011, 03:51:15 pm
Các bản vẽ kỹ thuật tàu ngầm Đề án 667-BDRM:

(http://i1185.photobucket.com/albums/z345/daibangden_T80UK/667bdrm_02.jpg)

(http://i1185.photobucket.com/albums/z345/daibangden_T80UK/667bdrm_23.jpg)

(http://i1185.photobucket.com/albums/z345/daibangden_T80UK/667bdrm.jpg)

(http://i1185.photobucket.com/albums/z345/daibangden_T80UK/667bdrm_26.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Bảy, 2011, 01:02:46 pm
(http://i1185.photobucket.com/albums/z345/daibangden_T80UK/667bdrm_05.jpg)

Thiết kế của tàu mới là sự phát triển tiếp theo của tàu ngầm Đề án 667-BDR. Do kích thước của tên lửa tăng lên, đồng thời cần thiết áp dụng các giải pháp thiết kế mới theo sự giảm khả năng bị phát hiện bằng thiết bị thủy âm, trên tàu một lần nữa đã tăng cường độ cao khu cách ly của hầm tên lửa. Đồng thời, chiều dài phần cuối mũi và mạn tàu cũng tăng lên, kéo theo đường kính của thân trong tăng lên, các đường viền của thân ngoài tại khu vực các khoang số 1 và 3 cũng được tăng theo. Trong thiết kế thân trong, đồng thời các vách ngăn cuối và giữa các khoang của tàu sử dụng thép được tiếp nhận bằng phương pháp nung và có chỉ số dẻo cao.

Khi chế tạo tàu ngầm đã tiếp nhận các phương pháp giảm một cách thực tế tiếng ồn của tàu, đồng thời, giảm nhiễu cho hoạt động của các khí tài tổ âm mang theo. Sự liên hợp (ghép bộ) các máy móc và trang bị được tiếp nhận một cách rộng rãi theo nguyên tắc, được bố trí trong khung chung, được giảm chấn một cách tương đối so với thân trong của tàu. Trong khu vực khoang năng lượng có lắp các bộ tiêu âm nội bộ, tăng cường hiệu quả che phủ thân ngoài và thân trong. Kết quả theo các tính năng tiếng ồn thủy âm của tàu ngầm đã gần với cấp độ của tàu ngầm nguyên tử tên lửa đạn đạo thế hệ thứ 3 lớp “Ohio” của Mỹ.

Thiết bị năng lượng chính của tàu ngầm gồm có lò phản ứng nước VM-4SG (công suất 90mW mỗi lò) và 2 tuabin hơi nước OK-700A. Công suất thường của thiết bị năng lượng chính là 60 000 sức ngựa. Trên thành tàu có 2 máy phát điện tuabin TG-3000, 2 máy phát điện diezel DG-460, 2 động cơ điện tốc độ tuần tra công suất 225 sức ngựa. Tàu có chân vịt 5 cánh ít tiếng ồn với sự tăng cường các tính năng thủy âm. Để đảm bảo cho các chân vịt trong chế độ hoạt động thuận lợi nhất, trên thân ngoài đã lắp khí tài thủy âm đặc biệt cân bằng với dòng nước ngược.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Bảy, 2011, 01:33:22 pm
(http://i1185.photobucket.com/albums/z345/daibangden_T80UK/667bdrm_33.jpg)

Để quản lý tập trung mọi hoạt động của việc tác chiến, tàu ngầm Đề án 667-BDRM đã trang bị hệ thống điều khiển thông tin chiến đấu “Omnibus-BDRM”, thực hiện thu và xử lý thông tin, giải quyết nhiệm vụ cơ động chiến thuật và sử dụng tác chiến các loại vũ khí ngư lôi và tên lửa – ngư lôi.

Trên tàu ngầm nguyên tử tên lửa đạn đạo lắp tổ hợp thủy âm mới “Skat-BDRM”, theo các tính năng của tổ hợp, không thua kém các thiết bị đồng dạng của Mỹ. Tổ hơp có ăng ten kích thước lớn, đường kính 8,1 mét, cao 4,5 mét. Lần đầu tiên trong thực tế, ngành đóng tàu Liên Xô, trên Đề án 667-BDRM tiếp nhận mũ chụp nhựa – thủy tinh của ăng ten, có dạng không phải xương sườn (cho phép giảm độ ồn thủy âm, ảnh hưởng tới khí tài ăng ten của tổ hợp). Có ăng ten thủy âm lai, trong trạng thái không làm việc được thu lại vào thân tàu.

Tổ hợp đạo hàng “Shliuz” đảm bảo cho tàu độ chính xác cần thiết trong tiếp nhận vũ khí tên lửa. Làm rõ vị trí của tàu trong không gian hiệu chỉnh hình sao được thực hiện với việc nổ tới độ sâu của kính tiềm vọng với chu kỳ 1 lần trong 2 ngày.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Bảy, 2011, 02:04:41 pm
(http://i1185.photobucket.com/albums/z345/daibangden_T80UK/667bdrm_27.jpg)

Tàu ngầm tên lửa Đề án 667-BDRM được trang bị tổ hợp thông tin liên lạc vô tuyến “Molnia-N”. Có 2 ăng ten dạng phao tiêu nổi, cho phép tiếp nhận khả năng thực hiện ở độ sâu lớn việc thông tin liên lạc, chỉ thị mục tiêu và các tính hiệu của hệ thống dẫn đường vũ trụ.

Tổ hợp tên lửa D-9RM, được tiếp nhận vào trang bị năm 1985 (sau khi Victor Petrovich Makeev mất), đươc giới thiệu là sự phát triển tiếp sau của tổ hợp D-9R. Trong thành phần gồm có 16 tên lửa nhiên liệu lỏng R-29M (số hiệu 3M37) với tầm bắn tối đa 9300km. Tên lửa R-29RM và hiện nay là một trong số những tên lửa có khối lượng lớn nhất thế giới. Tên lửa có khối lượng khởi động 40,3 tấn, khối lượng đẩy 2,8 tấn, thực tế bằng với khối lượng đẩy của tên lửa “Triden-II” của Mỹ. R-29M có đầu đạn tách rời, được tính toán bằng 4 hoặc 10 đầu đạn (công suất 100kt). Hiện này, trên toàn bộ các tàu ngầm Đề án 667-BRDM đã triển khai các tên lửa với đầu đạn được trang bị 4 đầu đạn con. Độ chính xác cao (sai số 250 mét), tương đương với độ chính xác của các tên lửa “Trident” D-5 (theo đánh giá khác nhau – 170-250 mét), đảm bảo cho tổ hợp D-9RM có khả năng tiêu diệt mục tiêu nhỏ được bảo vệ mạnh (hầm phóng tên lửa đạn đạo liên lục địa, ….) Việc khởi động toàn bộ tổ hợp tên lửa của tàu tuần dương có thể được thực hiện bằng một loạt phóng. Độ sâu tối đa để phóng – 55 mét, không hạn chế về điều kiện thời tiết ở khu vực phóng.

Tổ hợp tên lửa – ngư lôi được lắp trên tàu ngầm Đề án 667-BDRM gồm có 4 thiết bị ngư lôi 533mm với hệ thống nạp đạn nhanh, đảm bảo việc sử dụng trên thực tế toàn bộ các kiểu ngư lôi hiện tại, ngư lôi – tên lửa chống tàu (PLUR) và các khí tài áp chế thủy âm.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Bảy, 2011, 02:17:57 pm
Biến thể

(http://i1185.photobucket.com/albums/z345/daibangden_T80UK/667bd_06.jpg)

Năm 1988, tổ hợp tên lửa D-9RM lắp trên các tàu Đề án 667-BDRM đã được nâng cấp: các đầu đạn con được thay mới hiện đại hơn, hệ thống dẫn đường được bố sung bằng tổ hợp dẫn đường vệ tinh (hệ thống GLONASS), đảm bảo khả năng phóng các tên lửa theo quỹ đạo phẳng (trong đó từ các vĩ độ cao), cho phép khả năng vượt qua các hệ thống phòng không mạnh một cách tin cậy hơn. Tăng cường sự ổn định của tên lửa bằng các yếu tố gây cháy của vụ nổ hạt nhân. Theo đánh giá của hàng loạt chuyên gia, tổ hợp nâng cấp D-9RM vượt trội tổ hợp “Trident” D-5 đồng dạng của Mỹ - theo các thông số quan trọng nhất, như độ chính xác tiêu diệt mục tiêu và khả năng vượt qua hệ thống phòng không của đối phương.

Năm 1999-2000, tàu tên lửa K-64 được trang bị lại thành tàu thí nghiệm và đổi tên thành BS-64.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Bảy, 2011, 02:21:08 pm
Chương trình đóng tàu

(http://i1185.photobucket.com/albums/z345/daibangden_T80UK/667bdrm_13.jpg)

Tàu tên lửa đầu tiên trong Đề án là K-51 – được khởi công tháng 2 năm 1984 ở xí nghiệp lắp ráp xe máy tại Severodvinsk, hạ thủy tháng 1 năm 1985, tháng 12 năm 1985 gia nhập biên chế. Tổng cộng từ năm 1985 đến 1990 có 7 tàu ngầm thuộc Đề án này được đóng ở xí nghiệp lắp ráp xe máy Phương Bắc.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Bảy, 2011, 01:31:03 pm
Tình hình đến năm 2007

(http://i1185.photobucket.com/albums/z345/daibangden_T80UK/667bd_11.jpg)

Hiện nay, các tàu ngầm tên lửa đạn đạo (theo phân loại của Liên Xô/Nga – tàu ngầm tuần dương tên lửa nhiệm vụ chiến lược) Đề án 667-BDRM (theo tên gọi của phương Tây là lớp “Delta-IV”) là bộ ba vũ khí hạt nhân chiến lược của Hải quân Nga. Toàn bộ các tàu đều nằm trong biên chế phân hạm đội tàu ngầm chiến lược số 3 thuộc Hạm đội Phương Bắc và đóng căn cứ ở vịnh Engels. Để bố trí các tàu riêng biệt, có các căn cứ được ngụy trang đặc biệt, được giới thiệu là những công trình phòng thủ dưới đất tin cậy, sử dụng để neo đậu, đồng thời đảm bảo sửa chữa và nạp nguyên lieu cho các lò phản ứng năng lượng hạt nhân.

Các tàu ngầm Đề án 667-BDRM trở thành một trong những tàu nguyên tử nội địa đầu tiên hầu như không thể bị đánh bại trong khu vực trực chiến của nó. Khi tuần tra trong vùng cực, tiếp giáp trực tiếp với bờ biển Nga (trong đó có cả dưới lớp băng), chúng, thậm chí là trong điều kiện hoạt động thuận lợi nhất về tình trạng thủy văn của đối phương (lặng gió hoàn toàn, khi đó, trên biển Barents cũng chỉ quan sát được 8% “tình hình tự nhiên”), có thể phát hiện dduiowcj các tàu ngầm nguyên tử đa năng mới nhất của Mỹ lớp “Improves Los Angeles” trên cự ly hơn 30km. Tuy nhiên, trong các điều kiện dành cho 92% thời gian còn lại của năm, khi xuất hiện sóng và gió với tốc độ trên 10-15m/s, tàu ngầm nguyên tử tuần dương nhiệm vụ chiến lược 667-BDRM hầu như không bị phát hiện bởi đối phương và có thể cố định các đài thủy âm kiểu BQQ-5 ở tầm xa trên 10km. Hơn nữa trong các vùng biển cực, có các khu vực nước nông lớn, ở đó, thậm chí trong tình trạng lặng gió, tầm xa phát hiện tàu ngầm Đề án 667-BDRM bị giảm xuống dưới 10km (nghĩa là đảm bảo tuyệt đối khả năng sống sót của tàu ngầm tên lửa trên thực tế). Khi đó, cần chú ý rằng các tàu ngầm tên lửa của Nga thực hiện nhiệm vụ trực chiến trên thực tế trong các vùng nước bên trong đất nước một cách thuận lợi (thậm chí trong các điều kiện hiện này) khi đã được yểm trợ bằng các khi tài chống ngầm của Hải quân.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Bảy, 2011, 01:47:05 pm
(http://i1185.photobucket.com/albums/z345/daibangden_T80UK/949a_26.jpg)

Năm 1990, một trong số các tàu tuần dương Đề án 667-BDRM được tiến hành các thí nghiệm đặc biệt với sự chuẩn bị và phóng loạt toàn bộ cơ số 16 tên lửa trong một loạt (như trong thực tế chiến đấu). Đây là thí nghiệm duy nhất ở Liên Xô khi đó cũng như trên thế giới.

Các tàu ngầm Đề án 667-BDRM được sử dụng hiện này để phóng các vệ tinh nhân tạo quỹ đạo gần mặt đất tầm thấp của trái đất và có cả mục đích vũ trụ. Từ một trong số các tàu ngầm Đề án 667-BDRM – tên lửa mang “Shtil-1” được chế tạo trên cơ sở tên lửa R-29RM, trong tháng 7 năm 1998, lần đầu tiên trên thế giới đã phóng vệ tinh nhân tạo “Tubsat-N” được chế tạo ở Đức (việc khởi động được thực hiện từ vị trí dưới nước). Các công chế tạo tên lửa mang của Hải quân mạnh hơn “Shtil-2” với khối lượng tải tăng từ 100 đến 300kg đang được thực hiện.

Rõ ràng, sự phục vụ của các tàu ngầm tên lửa Đề án 667-BDRM sẽ được kéo dài ít nhất đến những năm 2010 – 2015. Để duy trì khả năng chiến đấu của chúng ở mức độ cần thiết, Ủy ban công nghiệp quân sự vào tháng 9 năm 1999, đã tiếp nhận quyết định khôi phục lại việc sản xuất tên lửa R-29RM.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Bảy, 2011, 02:01:01 pm
Lịch sử phục vụ

(http://i1185.photobucket.com/albums/z345/daibangden_T80UK/667bdrm_18.jpg)

+ K-51; đến 11 tháng 6 năm 1992 là “Mang tên Đại hội XXVI Đảng Cộng sản Liên Xô”, sau đó là “Verkhoture”: (số hiệu 379). Khởi công 23 tháng 2 năm 1984 tại xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc (xưởng số 402); hạ thủy mùng 7 tháng 3 năm 1985; gia nhập biên chế 29 tháng 12 năm 1985; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1993 được đưa vào sửa chữa trung cấp ở xưởng “Zvedochka” và bị kéo dài vì lý do không đủ tài chính; tháng 11 năm 1999, hoàn thành sửa chữa và tháng 5 năm 2000 được đưa về Hạm đội Phương Bắc để phục vụ chiến đấu.

+ K-84; từ năm 1990 là “Ekaterenburg”: (số hiệu 380). Khởi công 17 tháng 2 năm 1985 ở xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc (xưởng số 402); hạ thủy 17 tháng 3 năm 1986; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1986; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; đã trải qua sửa chữa căn bản ở xưởng “Zvedochka”, sau đó 21 tháng 5 năm 2002 đã được đưa tới Hạm đội Phương Bắc để phục vụ chiến đấu.

+ K-64; từ năm 2000 là BS-64: (số hiệu 381). Khởi công 18 tháng 12 năm 1985 ở xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc (xưởng số 402); hạ thủy mùng 3 tháng 3 năm 1987; gia nhập biên chế 23 tháng 12 năm 1987; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Bảy, 2011, 02:12:16 pm
+ K-64; từ năm 2000 là BS-64: (số hiệu 381). Khởi công 18 tháng 12 năm 1985 ở xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc (xưởng số 402); hạ thủy mùng 3 tháng 3 năm 1987; gia nhập biên chế 23 tháng 12 năm 1987; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc.

+ K-114; từ những năm 1990 là “Tula”: (số hiệu xưởng 383). Khởi công 20 tháng 4 năm 1986 tại xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc (xưởng số 402); hạ thủy mùng 8 tháng 2 năm 1988; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1988; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 2002 được mang đi sửa chữa ở xưởng “Zvedochka”.

+ K-18; từ 13 tháng 9 năm 1996 là “Karelia”: (số hiệu xưởng 384). Khởi công mùng 7 tháng 2 năm 1986 tại xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc (xưởng số 402); hạ thủy mùng 3 tháng 2 năm 1989; gia nhập biên chế mùng 10 tháng 10 năm 1989; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1994 đã hoàn thành cuộc hành quân tới vùng Cức cùng với B-414 thuộc Đề án 671-RTM và 31 tháng 7 năm 1994 đã tới cực Bắc; năm 1994 và 1995 trở thành tàu tốt nhất thuộc Hải quân; 27 tháng 3 năm 2000, từ khu mặt nước trên biển Barents, hai tàu ngầm tên lửa đạn đạo đã tiến hành vụ phóng tên lửa theo trường bắn Kura tới Kamchatka; mùng 5 tháng 4 năm 2000 ở thành tàu, lần đầu tiên trên thế giới, tổng thống Nga V.Putin đã ra khơi và bấm nút phóng tên lửa; năm 2005, được mang đi sửa chữa ở xưởng “Zvedochka”.

+ K-407; từ những năm 1990 là “Novomoskovsk”: (số hiệu 385). Khởi công mùng 2 tháng 2 năm 1987 ở xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc (xưởng số 402); hạ thủy 28 tháng 2 năm 1990; gia nhập biên chế 27 tháng 11 năm 1990; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Bảy, 2011, 02:24:29 pm
Các thông số kỹ - chiến thuật cơ bản

Lượng choán nước, tấn

+ trên mặt nước: 11 740

+ dưới mặt nước: 18 200

Các kích thước, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 167,4 (160)

+ chiều rộng nhất: 11,7

+ lượng mớn nước theo vạch mớn nước thiết kế: 8,8

Thiết bị năng lượng chính: nguyên tử

+ 2 lò phản ứng nước kiểu VM-4SG, tổng công suất, mW: 180

+ 2 thiết bị sản xuất hơi nước OK-700A, 2 thiết bị tuabin răng cưa GTZA-635

+ 2 tuabin hơi nước, tổng công suất, sức ngựa (kW): 60 000 (44 100)

+ 2 máy phát điện tuabin TG-3000, công suất, kW: 2x3000

+ 2 máy phát điện – diezel DG-460, công suất, kW: 2x460

+ 2 động cơ điện tốc độ tuần tra, công suất, sức ngựa: 2x225

2 trục; 2 chân vịt 5 cánh

Tốc độ, hải lý

+ trên mặt nước: 14

+ dưới nước: 24

Độ lặn sâu, mét

+ tiêu chuẩn: 320…400

+ giới hạn: 550…650

Thời gian hoạt động: 80…90 ngày

Thủy thủ đoàn (số sỹ quan): 135… 140 (không rõ)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Bảy, 2011, 02:39:42 pm
Trang bị vũ khí

Tên lửa chiến lược: thiết bị phóng cho tên lửa đạo đạo tàu ngầm R-29RM (SS-N-23 “Skiff”) thuộc tổ hợp D-9RM: 16

Tên lửa phòng không: thiết bị phóng cho tổ hợp tên lửa phòng không 9K310 “Igla-1”/9K38 “Igla” (SA-14 “Gremlin”/SA-16 “Gimlet”)

Trang bị tên lửa và ngư lôi – tên lửa

+ thiết bị ngư lôi 533mm: 4 (mũi)

+ các ngư lôi 533mm SAET-60M, 53-65M, tên lửa chống tàu điều khiển RPK-6 “Vodopad” (SS-N-16 “Stallion”): 12

Mìn: có thể mang 24 mìn thay cho ngư lôi

Trang bị vô tuyến điện tử

Hệ thống điều khiển thông tin chiến đấu: “Omnibus-BDRM”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu chung: MRK-50 “Kaskad” (Snoop Tray)

Hệ thống thủy âm

+ “Zaliv-P”

+ “Zavesa-P” đài tìm phương vô tuyến)
(Brick Pulp/Group; Park Lamp D/F)

Các khí tài áp chế thủy âm: khí tài áp chế thủy âm 533mm (?)

Tổ hợp đạo hàng

+ “Shliuz”

+ Hệ thống đạo hàng vũ trụ GLONASS

+ đài Code Eye

+ Hệ thống dẫn đường quán tính

Tổ hợp thông tin liên lạc vô tuyến

+ “Molnia-N” (Pert Spring); hệ thống “Tsunami-BM”

+ các ăng ten phao tiêu lai “Paravan” hoặc “Lastochka”

+ các ăng ten cao tần và trung – cao tần

+ đài thông tin liên lạc âm thanh dưới nước

Đài ra đa định vị hội thoại: “Nikhorom-M”.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Bảy, 2011, 02:03:03 pm
Tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa đạn đạo Đề án 941 "Akula" (Lớp Typhoon)

(http://i1185.photobucket.com/albums/z345/daibangden_T80UK/941_02.jpg)

Biến thể

+ 941 – Đề án cơ sở chế tạo hàng loạt tàu ngầm nguyên tử tên lửa đạn đạo hạng nặng

+ 941-U – tàu ngầm nguyên tử tên lửa đạn đạo nâng cấp dưới tổ hợp tên lửa tương lai (năm 2002).

Tổng số tàu đã đóng: 6 + 1.

Đầu những năm 1970, ở Mỹ đã bắt đầu thực hiện chương trình quy mô lớn “Trident”, nhằm chế tạo tên lửa nhiên liệu rắn mới với tầm bắn hơn 7000km, đồng thời tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa đạn đạo kiểu mới, có khả năng mang 24 tên lửa loại này và tăng cường cấp độ ngụy trang. Theo hiệu quả chiến đấu của nó, hệ thống vũ khí mới của Mỹ phải vượt trội một cách đáng kể hệ thống tên lửa đạn đạo D-9R trên các tàu ngầm Đề án 667-BDR của Liên Xô, khi đó đang được sản xuất quy mô lớn. Lãnh đạo chính quyền Liên Xô đã yêu cầu từ ngành công nghiệp có “câu trả lời thích hợp” với sự thách thức của Mỹ.

Nhiệm vụ kỹ - chiến thuật của tàu ngầm nguyên tử tuần dương hạng nặng – Đề án 941 (số hiệu “Akula”) – được đưa ra vào tháng 12 năm 1972. Ngày 19 tháng 12 năm 1973, Chính phủ đã ra mệnh lệnh, bắt đầu các công việc về thiết kế và đóng tàu tên lửa mới. Đề án được thiết kế tại Phòng thiết kế Trung ương “Rubin” dưới sự lãnh đạo của công trình sư I.D.Spasski, dưới sự chỉ đạo gián tiếp của Tổng công trình sư S.N.Kovalev. Giám sát viên chính từ Hải quân là V.N.Levashov.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Bảy, 2011, 02:05:06 pm
Bản vẽ thiết kế tàu ngầm nguyên tử hạng nặng Đề án 941:

(http://i1185.photobucket.com/albums/z345/daibangden_T80UK/941_28.jpg)

(http://i1185.photobucket.com/albums/z345/daibangden_T80UK/941draw02.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Bảy, 2011, 02:05:57 pm
Hình vẽ Đề án 941:

(http://i1185.photobucket.com/albums/z345/daibangden_T80UK/941_14.jpg)

(http://i1185.photobucket.com/albums/z345/daibangden_T80UK/941_16.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Bảy, 2011, 03:02:25 pm
(http://i1185.photobucket.com/albums/z345/daibangden_T80UK/941_05.jpg)

Ưu điểm khai thác sử dụng không thể không thừa nhận đã được chứng minh trên tên lửa đạn đạo nhiên liệu rắn đầu tiên cho Hải quân R-31, đồng thời trên kinh nghiệm của Mỹ (mà trong giới quân sự cao cấp Liên Xô và giới chính trị thường có sự tôn trọng lớn) đã góp phần vào yêu cầu dứt khoát cho phía đặt hàng trang bị tàu ngầm nguyên tử tên lửa thế hệ thứ ba tên lửa nhiên liệu rắn. Sự tiếp nhận các tên lửa này cho phép rút ngắn một cách thực tế thời gian chuẩn bị trước phóng, khắc phục tiếng ồn khi nó vận hành, đơn giản hóa thành phần trang bị của tàu, bỏ đi hàng loạt các hệ thống – phân tích khí của khí quyển, thực hiện, làm đầy các khe hở bằng nước, tưới nước, rót chất ô xy hóa….

Thiết kế sơ bộ của tổ hợp tên lửa liên lục địa mới để trang bị cho các tàu ngầm được bắt đầu ở Phòng Thiết kế lắp ráp xe máy dưới sự chỉ đạo của Tổng công trình sư V.P.Makeev năm 1971. Các công việc quy mô lớn theo tổ hợp D-19 với tên lửa R-39 đã được triển khai vào tháng 9 năm 1975, thực tế là một cách đồng thời với sự bắt đầu các công việc trên tàu ngầm tên lửa đạn đạo mới. Khi chế tạo tổ hợp này, lần đầu tiên, đã tiếp nhận kinh nghiệm đồng nhất hóa các tên lửa cho tàu ngầm và tên lửa trên mặt đất: R-39 và tên lửa liên lục địa hạng nặng RT-23 (được thiết kế ở Phòng Thiết kế “Phương Nam) đã nhận động cơ giống nhau ở tầng thứ nhất.

Trình độ công nghệ Liên Xô những năm 1970 – 80 không cho phép chế tạo tên lửa đạn đạo liên lục địa nhiên liệu rắn uy lực lớn trong các kích thước gần với kích thước của tên lửa nhiên liệu lỏng trước đó. Sự phát triển kích thước và khối lượng vũ khí, đòng thời các tính chất kích thước nhỏ của trang thiết bị điện tử mới, được tăng lên theo so sánh với thế hệ trước 2,5… 4 lần, dẫn tới sự cần thiết tiếp nhận các giải pháp phi truyền thống. Kết quả là bản gốc đã được thiết kế với kiểu tàu ngầm 2 thân trong đã được bố trí song song – chưa từng có tiền lệ trên thế giới. Ngoài toàn bộ thân trong, sự “dẹt” trong bề mặt hình dạng thẳng của tàu đã được đề ra bằng các giới hạn theo vạch mớn nước ở khu vực xưởng đóng tàu Severodvinsk và các căn cứ sửa chữa của Hạm đội Phương Bắc, đồng thời những cân nhắc công nghệ (yêu cầu đảm bảo khả năng đóng đồng thời hai tàu trên một ụ).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Bảy, 2011, 04:07:04 pm
(http://i1185.photobucket.com/albums/z345/daibangden_T80UK/941_04.jpg)

Sau đó phải thừa nhận rằng, Đề án được lựa chọn là phương pháp bất đắc dĩ, không phải là giải pháp tối ưu, dẫn đến sự tăng đột biến lượng choán nước của tàu (dẫn đến sự xuất hiện tên gọi mỉa mai của tàu Đề án 941 – “người chở nước”). Trong cùng thời gian đó, nó cho phép tăng cường khả năng sóng sót của tàu ngầm hạng nặng do kết quả của sự phân bố thiết bị năng lượng theo các khoang độc lập trong hai thân trong riêng biệt; tăng cường khả năng chống cháy – nổ (khi loại các hầm tên lửa từ thân trong), đồng thời sự bố trí khoang ngư lôi và trạm chỉ huy chính và sự các điện của các mô đun thân trong. Một số khả năng theo sự tiến hành hiện đại hóa và sửa chữa tàu đã được mở rộng.

Khi chế tạo tàu mới, đã được giao nhiệm vụ mở rộng khuc vực tiếp nhận chiến đấu của tàu dưới lớp băng vùng Cực cho đến các vĩ độ giới hạn bằng cách tính toán nâng cấp trang bị đạo hàng và thủy âm. Để khởi động tên lửa từ dưới “vỏ băng” vùng cực, tàu phải nổi lên lớp băng. Lớp băng dày 2…2,5 mét bị đục thủng bởi mui tàu.

Các thí nghiệm bay của tên lửa R-39 được tiến hành trên tàu ngầm điện – diezel thí nghiệm K-153 được trang bị lại vào năm 1976 theo Đề án 619 (trang bị 1 hầm phóng). Năm 1984, sau hàng loạt các thí nghiệm sâu, tổ hợp tên lửa D-19 với tên lửa R-39 được chính thức tiếp nhận vào lực lượng vũ trang.

Thiết kế của tàu ngầm Đề án 941 được thực hiện theo dạng: 2 thân trong riêng (đường kính mỗi thân 7,2 mét) được bố trí trong mặt phẳng ngang một cách song song với nhau. Ngoài ra, có 2 khoang dạng hình hộp kín – khoang ngư lôi và được bố trí giữa các thân chính trong bề mặt được kính modul điều khiển, trong đó, trạm trung tâm nằm trong và được bố trí sau chúng là khoang trang bị kỹ thuật vô tuyến. Các hầm tên lửa được bố trí giữa các thân trong trong phần sau của tàu. Cả hai thân và khoang hình hộp nối với nhau bằng đường nối di chuyển. Số lượng các khoang ngăn nước – 19.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Bảy, 2011, 12:15:29 pm
(http://i1185.photobucket.com/albums/z345/daibangden_T80UK/941_06.jpg)

Tại phần cơ sở của mui tàu, dưới hàng rào ngăn cách các khí tài kéo mở được, bố trí 2 buồng cứu hộ nổ, có khả năng bố trí toàn bộ thủy thủ đoàn của tàu ngầm. Mui có sự gia cố để phá băng và nóc dạng hình tròn, làm đơn giản hóa việc nổi của tàu trong băng đá. Khoang của đài trung tâm và khu vực ngăn cách thân ngoài được bố trí ở phía mạn tàu. Thân trong, trạm trung tâm và khoang ngư lôi được chế tạo từ hợp kim tintan, còn thân ngoài – từ thép (trên bề mặt của thân có sự che phủ bằng cao su thủy âm đặc biệt, tăng khả năng ngụy trang của tàu). Tàu có cánh đuôi phát triển (cao). Các bánh lái ngang phía trước được bố trí ở bộ phận mũi thân và được thiết kế thu vào.

Đối với thủy thủ đoàn (gồm bộ phận lớn các sỹ quan và chuẩn úy Hải quân), các điều kiện tăng cường sự thuận tiện đã được chế tạo. Thành phần sỹ quan được bố trí tương đối rộng trong các buồng 2 hoặc 4 người với chậu rửa mặt, vô tuyến và hệ thống điều hòa không khí, còn các thủy thủ và hạ sỹ quan – trong các buồng kích thước nhỏ. Tàu có phòng tập thể thao, bể bơi, phòng tắm nắng, tắm hơi, phòng khách để nghỉ ngơi….

Thiết bị năng lượng thế hệ thứ ba có công suất thường 100 000 sức ngựa được thiết kế theo nguyên tắc khối bố cục với sự bố trí modun độc lập (được đồng nhất hóa dành cho toàn bộ các tàu ngầm thế hệ thứ 3) trong hai khoang. Sự tiếp nhận giải pháp bố cục cho phép giảm các kích thước của thiết bị năng lượng hạt nhân, khi đó tăng cường công suất và nâng cáo các tham số khai thác sử dụng khác. Thiết bị gồm có 2 lò phản ứng nước – nước trên lò phản ứng nơtron nhiệt OK-650 (công suất mỗi lò 190mW) và 2 tuabin hơi nước. Bố cục khối của toàn bộ tổ hợp và trang bị được ghép bộ (liên hợp), ngoài các ưu điểm công nghệ cho phép tiếp nhận hiệu quả hơn các phương pháp cách ly rung, giảm tiếng ồn của tàu. Thiết bị năng lượng hạt nhân được trang bị hệ thống làm mát không cần ắc quy (BBR) mà lúc mất nguồn điện trong khi hoạt động sẽ tự động bật lên.

Theo so sánh với các tàu ngầm nguyên tử trước, hệ thống điều khiển và bảo vệ lò phản ứng đã được thay đổi một cách thực tế. Việc áp dụng khí tài xung đọng cho phép kiểm tra tình trạng của tàu trong bất kỳ cấp độ công suất nào, trong đó có cả tình trạng dưới lớp băng. Các bộ phận bù trừ được lắp máy “tự hành” – khi nguồn điện bị cắt đảm bảo khởi động mạng lưới điện thấp hơn. Khi đó, sự “tiêu âm” hoàn toàn của lò phản ứng được thực hiện thậm chí khi tàu bị lật ngược.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Bảy, 2011, 12:29:53 pm
(http://i1185.photobucket.com/albums/z345/daibangden_T80UK/941_20.jpg)

Hai bánh lái chân vịt 7 cánh tiếng ồn thấp được lắp cố định trong mũ hình tròn. Trong vai trò các khí tài chuyển động dự bị có 2 động cơ điện một chiều công suất mỗi động cơ 190kW, được kết nối với trục chính qua các khớp nối.

Trên thành tàu lắp 4 máy phát điện tuabin công suất mỗi máy 3200kW và 2 máy phát điện – diezel DG-750. Để cơ động trong các điều kiện khó khăn, tàu được trang bị khí tài chân vịt trong dạng hai cột bản lề với các chân vịt phụ (trong các bộ phận mũi và mạn tàu). Các chân vịt của bánh lái phụ được cung cấp điện hoạt động từ các động cơ điện công suất 750kW.

Khi chế tạo tàu ngầm Đề án 941, sự quan tâm lớn hướng vào việc giảm bị phát hiện bằng khí tài thủy âm. Đặc biệt, tàu đã nhận được hệ thống giảm chấn khí nén cao su hai tầng, áp dụng bố cục khối các máy móc và trang bị, đồng thời sự che phủ cách âm và chống thủy âm định vị hiệu quả hơn. Kết quả theo sự che phủ thủy âm, tàu tên lửa mới mặc dù với các kích thước khổng lồ, vẫn vượt trội toàn bộ các tàu ngầm nguyên tử tên lửa đạn đạo trước đó và có thể tương đương với tàu ngầm nguyên tử tên lửa đạn đạo đồng dạng lớp “Ohaio” của Mỹ.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Bảy, 2011, 12:48:27 pm
(http://i1185.photobucket.com/albums/z345/daibangden_T80UK/941_21.jpg)

Tàu ngầm được trang bị tổ hợp đạo hàng mới “Simfonia”, hệ thống điều khiển thông tin chiến đấu “Omnibus”, đài thủy âm dò mìn MG-519 “Arfa”, đài đo tiếng dội MG-518 “Sever”, tổ hợp ra đa định vị MRKP-58 “Buran”, tổ hợp truyền hình MTK-100. Trên thành tàu có tổ hợp thông tin liên lạc vô tuyến “Molnia-L1” với hệ thống thông tin liên lạc vệ tinh “Tsunami”. Tổ hợp thủy âm kỹ thuật số “Skat-KS”, tích phân 4 đài định vị thủy âm, có khả năng đảm bảo đồng thời sự quan sát khoảng 10 – 12 mục tiêu dưới nước.

Các khí tài đóng mở được bố trí trong hàng rào ngăn cách mui tàu, gồm có kính viễn vọng “Kutum” và “Lebed-21” (chỉ huy và đa năng), ăng ten đài “Saliut”, tổ hợp ta đa định vị “Buran”, ăng ten vô tuyến của hệ thống thông tin liên lạc và đạo hàng, đài tìm phương “Zona”.

Tàu được trang bị hai ăng ten dạng phao hiêu, cho phép tiếp nhận sự phát thanh vô tuyến, chỉ thị mục tiêu và các tín hiệu dẫn đường vệ tinh khi nằm ở độ sâu lớn (150 mét) hoặc dưới lớp băng.

Tổ hợp tên lửa D-19 gồm có 20 tên lửa đạn đạo liên lục địa ba tầng với các đầu đạn R-39 tách rời (RSM-52, tên gọi phương Tây – SS-N-20 “Sturgeon”). Việc khởi động toàn bộ cơ số đạn được thực hiện bằng hai loạt phóng, với tốc độ phóng tối thiểu giữa các lần phóng. Các tên lửa có thể được khởi động từ độ sâu 55mm (không có những sự hạn chế về các điều kiện thời tiết trên biển), đòng thời từ vị trí trên mặt nước.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Bảy, 2011, 01:01:50 pm
(http://i1185.photobucket.com/albums/z345/daibangden_T80UK/941_23.jpg)

Tên lửa đạn đạo liên lục địa ba tầng R-39 (chiều dài 16 mét, đường kính thân 2,4 mét, khối lượng khởi động 90,1 tấn) mang 10 đầu đạn con tự dẫn đường công suất mỗi đầu đạn 100kt. Sự dẫn đường của chúng được thực hiện qua hệ thống dẫn đường quán tính với sự hiệu chỉnh hình sao hoàn toàn (đảm bảo sao số vòng dưới 500 mét). Tầm bắn xa tối đa của R-39 trên 10 000km, xa hơn tầm bắn của tên lửa “Trident” S-4 (Mỹ - 7400km) và gần với tầm xa của “Trident” D-5 (11 000km). Để giảm thiểu kích thước của tên lửa, các động cơ tầng thứ hai và thứ ba có các mũ vòi phun đóng mở được.

Đối với tổ hợp D-19, đã chế tạo hệ thống khởi động căn bản với sự bố trí thực tế toàn bộ các phần tử phóng trên chính tên lửa. Trong hầm, tên lửa đạn đạo tàu ngầm R-39 nằm ở trạng thái treo, tỳ vào hệ thống khởi động tên lửa giảm chấn đặc biệt (ARSS) trên vòng tròn tựa, bố trí ở bộ phận trên hầm. Sự khởi động được thực hiện từ hầm “khô” với sự hỗ trợ từ bộ phận tích lũy thuốc súng của áp suất (PAD). Tới thời điểm khởi động, các thuốc súng khởi động đặc biệt được bố trí vòng quanh tên lửa thành hang khí, giảm một cách đáng kể tải trọng thủy động lực trên vị trí hoạt động dưới nước. Sau khi rời khỏi mặt nước, hệ thống khởi động tên lửa giảm chấn đặc biệt được tách khỏi tên lửa với sự hỗ trợ của động cơ đặc biết và được kéo về khoảng cách an toàn đối với tàu ngầm.

Trang bị bổ sung của tàu ngầm nguyên tử tên lửa đạn đạo Đề án 941 gồm có 6 thiết bị ngư lôi 533mm với khí tài nạp đạn nhanh, có khả năng tiếp nhận trên thực tế toàn bộ các kiểu ngư lôi hiện đại và ngư lôi – tên lửa cùng kích thước (cơ số đạn: 22 ngư lôi USET-80, đồng thời các ngư lôi phản lực “Shkval”). Thay cho bộ phận trang bị ngư lôi – tên lửa, trên thành tàu có thể tiếp nhận mìn. Để tự vệ, tàu ngầm khi ở vị trí dưới mặt nước khỏi các máy bay tần thấp và trực thăng có 8 tổ hợp tên lửa phòng không “Igla” (“Igla-1”).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Bảy, 2011, 11:40:09 am
Biến thể

Sự tăng cường mối đe dọa từ phía các khí tài phòng không đã được dự báo trước của những đối thủ tiềm năng yêu cầu tăng cường khả năng sống còn của các tên lửa Liên Xô trong quá trình bay của chúng. Tương ứng với một trong số các kịch bản được dự báo trước, đối phương có thể tiến hành “làm mù” các máy cảm biến dẫn đường hình sao quang học của tên lửa đạn đạo khi có sự hỗ trợ của các vụ nổ hạt nhân trong vũ trụ. Để đáp lại việc này, cuối năm 1984, dưới sự chỉ đạo của V.P.Makeev, N.A.Semixatov (hệ thống điều khiển tên lửa), V.P.Arefiev (các khí tài chỉ huy) và V.S.Kuzmin (hệ thống hiệu chỉnh hình sao) đã bắt đầu các công việc chế tạo thiết bị hiệu chỉnh hình sao bền vững cho các tên lửa đạn đạo tàu ngầm, có khả năng khôi phục lại khả năng hoạt động của mình sau vài giây.

Phiên bản hiện đại hóa R-39, theo các tính năng cơ bản của nó không thua kém tên lửa “Trident” D-5 được tiếp nhận vào trang bị năm 1989. Ngoài tăng cường khả năng sống sót, tên lửa nâng cấp được tăng cường phạm vi phát tán đầu đạn, đồng thời nâng cao độ bắn chính xác (sử dụng hệ thống dẫn đường vũ trụ GLONASS trong hành trình bay chủ động của tên lửa và trong hành trình dẫn bắn đầu đạn tách rời cho phép đạt tới độ chính xác không thua kém so với tên lửa đạn đạo liên lục địa bắn từ hầm trên bộ). Năm 1995, tàu tuần dương TK-20 đã thực hiện việc bắn tên lửa đạn đạo tàu ngầm mới ở cực Bắc.

Những năm 1990, các tàu ngầm Đề án 941 đã dự kiến được trang bị lại bằng tổ hợp tên lửa mới “Bark” (theo phân loại của phương Tây là SS-N-28) mà vẫn còn chưa được phát triển. Năm 1992, tàu đầu tiên TK-208 được đưa vào sửa chữa căn bản trong quá trình mà dự kiến sẽ lên kế hoạch thực hiện việc thay thế tên lửa theo Đề án 941-U. Tuy nhiên, việc phát triển phải hoãn lại do thiếu tài chính và các vấn đề kỹ thuật. Tháng 11 năm 1998, các thí nghiệm nguyên mẫu tên lửa đã kết thúc không thành công, dẫn tới việc đình chỉ dự án. Sự phát triển này đã đặt số phận TK-208 vào tình trạng không chắc chắn (tàu gia nhập biên chế năm 2002, được nâng cấp theo Đề án 941-U, nhưng không có vũ khí cơ bản), đồng thời với các tàu khác cùng dòng. Sau đó, toàn bộ các công việc bị đình chỉ. Các tên lửa đạn đạo tàu ngầm được hướng vào thiết kế “Bulava-30”, các thí nghiệm đã được thực hiện trên tàu tuần dương TK-208. Theo đề án này còn có kế hoạch nâng cấp thêm một tàu ngầm nữa.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Bảy, 2011, 12:29:09 pm
Chương trình đóng tàu

Việc đóng tàu ngầm Đề án 941 được thực hiện ở xí nghiệp lắp ráp xe máy Phương Bắc (xưởng số 402) tại Severodvinsk. Để làm việc này, ở xưởng số 402 đã xây các nhà xưởng mới có mái che – lớn nhất trên thế giới. Tàu ngầm tuần dương tên lửa chiến lược đầu tiên (theo phân loại của Liên Xô) đã gia nhập biên chế ngày 12 tháng 12 năm 1981.

Dự kiến, việc đóng hàng loạt các tàu ngầm tuần dương hạng nặng Đề án 941 và việc chế tạo các biến thể mới của tàu ngày với sự tăng cường các khả năng chiến đấu. Tuy nhiên, cuối những năm 80 vì lý do kinh tế và chính trị, việc thực hiện chương trình đã nhận quyết định chấm dứt. Sự tiếp nhận quyết định này đi kèm với các cuộc tranh cãi gay gắt: công nghiệp, các nhà thiết kế tàu và bộ phận lãnh đạo Hải quân ủng hộ việc tiếp tục chương trình, còn Tham mưu trưởng Hải quân và Bộ Tổng tham mưu quân đội ủng hộ việc chấm dứt chương trình đóng tàu. Nguyên nhân chính được đưa ra là sự phức tạp của căn cứ neo đậu cho các tàu ngầm hạng nặng, được trang bị các tên lửa “ấn tượng”. Phần lớn các cơ sở đã có, “Akula” không thể vào được vì chật hẹp, còn các tên lửa R-39 hầu như chỉ có thể vận chuyển trong toàn bộ các giai đoạn khai thác sử dụng theo đường sắt (theo đường ray, chúng gần phải được bốc dỡ và chuyển lên tàu). Việc vận chuyển tên lửa phải được thực hiện bằng cần cẩu tải trọng siêu nặng đặc biệt, duy nhất trong các công trình. Kết quả là đã có quyết định hạn chế đóng 6 tàu thuộc Đề án 941 (1 tiểu đoàn). Thân tàu thứ 7 chưa đóng xong – TK-210 – đã bị tháo dỡ trên âu tàu năm 1990.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Bảy, 2011, 01:06:15 pm
Tình hình đến năm 2007

Tất cả 6 tàu ngầm tên lửa đạn đạo Đề án 941 (nhận tên gọi phương Tây là lớp “Typhoon” và nhanh chóng được phổ biến ở Nga) được biên chế thành tiểu đoàn, nằm trong phân hạm đội tàu ngầm nguyên tử số 1 thuộc Hạm đội Phương Bắc. Các tàu đóng căn cứ ở Litse Zapadnoe (vịnh Nerpichia). Việc xây dựng lại căn cứ này để bố trí ở đó các tàu nguyên tử siêu mạnh được bắt đầu năm 1977 và kéo dài 4 năm. Trong thời gian đó các tuyến bến tàu đặc biệt có khả năng cung cấp, đảm bảo cho tàu ngầm tuần dượng các lớp về năng lượng (tuy nhiên tới thời điểm này, theo hàng loạt lý do kỹ thuật, chúng được tiếp nhận như các cảng thông thường). Đối với các tàu ngầm tuần dương hạng nặng, Phòng thiết kế lắp ráp xe máy vận tải Moskva đã chế tạo tổ hợp đồng nhất các khí tàu vận chuyển tên lửa (KSPR). Trong thành phần, đặc biệt cần cẩu tải hai dầm tải trọng 125 tấn (không được đưa vào biên chế).

Ở Zapadnoe Litse bố trí tổ hợp sửa chữa tàu trên bờ, đảm bảo việc bảo dưỡng tàu ngầm Đề án 941. Đặc biệt, để đảm bảo “hậu phương bơi”, các tàu ngầm này ở Leningrad trên xưởng Admiraltei năm 1986 đã xưởng vận chuyển tên lửa “Aleksandr Brưkin” (công trình 11570), có 16 thùng cho các tên lửa R-39 và trang bị cần cẩu 125 tẩn.

Các tàu Đề án 941, mỗi tàu trong só đó có 2 thủy thủ đoàn, làm nhiệm vụ trực chiến thường xuyên, thậm chí trong thời gian đỗ ở căn cứ. Hiệu quả chiến đấu của “Akula” trong cấp độ cao được đảm bảo bằng kết quả nâng cấp thường xuyên hệ thống thông tin liên lạc và điều khiển chiến đấu bởi các lực lượng hạt nhân chiến lược Hải quân Nga. Tới thời điểm hiện nay, hệ thống này gồm có các kênh, sử dụng các nguyên tắc vật lý khác nhau, tăng cường độ tin cậy và kháng nhiễu trong các điều kiện không thuận lợi nhất. Trong thành phần hệ thống bao gồm các máy cảm biến tại chỗ, truyền tải sóng vô tuyến trong các phạm vi khác nhau thuộc quang phổ điện từ, các bộ chuyển phát của tàu, máy bay, vệ tinh, đài ra đa bờ cơ động, đồng thời đài thủy âm và các bộ chuyển phát.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Bảy, 2011, 01:19:13 pm
Trữ lượng nổi của tàu ngầm tuần dương hạng nặng (31,3%), trong sự kết hợp với sự gia cố mạnh thân ngoài và mui tàu đảm bảo cho các tàu nguyên tử khả năng nổi trên lớp băng dày 2,5 mét (đã được chứng minh nhiều lần trong thực tế). Khi tuần tra dươi lớp băng của vùng Cực, nơi có các điều kiện thủy âm đặc biệt, giảm, thậm chí trong điều kiện thủy văn thuận lợi nhất, tầm xa phát hiện mục tiêu dưới nước phải qua các hệ thống thủy âm hiện đại nhất tổng cộng đến vài kilomet, “Akula” thực tến không bị tấn công bởi các tàu ngầm nguyên tử chống ngầm của Mỹ.

(http://i1185.photobucket.com/albums/z345/daibangden_T80UK/941_22.jpg)

Đặc biệt, “Akula” đã phục vụ chiến đấu dưới lớp băng ở biển Trắng. Tàu đầu tiên thực hiện cuộc hành quân này vào năm 1986 là TK-12, ở đó, trong quá trình tuần tra có sự hỗ trợ của tàu phá băng đã tiến hành thay thủy thủ đoàn.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Bảy, 2011, 01:30:19 pm
(http://i1185.photobucket.com/albums/z345/daibangden_T80UK/941_27.jpg)

Ngày 27 tháng 9 năm 1991, trong thời gian thực hành bắn đạ n ở biển Trắng trên một trong số các tàu Đề án 941, trong hầm, tên lửa diễn tập đã bị nổ và bốc cháy, vụ nổ làm cho nắp hầm vị vỡ, còn đầu đạn, bị ném văng xuống biển. Trong thời gian sự cố, không ai bị thương, nhưng tàu ngầm bắt buộc phải sửa chữa mặc dù không lớn.

Năm 1996, do không đủ thiết bị, đã loại khỏi biên chế TK-12 và TK-202, năm 1997 – TK-13. Cũng trong thời gian đó, sự bổ sung tài chính cho Hải quân vào năm 1999 đã cho phép rút ngắn thời gian sửa chữa căn bản tàu tên lửa đầu tiên trong lớp – TK-208. Khoảng 10 năm, trong thời gian đó, tàu nằm ở Trung tâm Quốc gia về đóng ngầm nguyên tử, đã được tiến hành thay thế và hiện đại hoá (tương ứng với Đề án 941) các tổ hợp trang bị cơ bản. Sau khi kết thúc các thí nghiệm nghiệm thu – tiếp nhận về động lực và cấp xưởng năm 2002, tàu nguyên tử được nhận tên mới “Dimitry Donskoi”, quay trở lại biên chế một lần nữa. Hai tàu ngầm còn lại – “Archangelsk” và “Severstal” – ở các cấp độ khác nhau vẫn ở trong biên chế.

Tháng 11 năm 1999, từ khu mặt nước trên biển Barents, từ thành của một trong số các tàu ngầm Đề án 941 đã thực hiện vụ phóng hai tên lửa R-39. Tốc độ giữa các lần phóng là 2 giờ. Đầu đạn tên lửa với độ chính xác cao đã tiêu diệt mục tiêu ở trường bắn Kamchatka.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Bảy, 2011, 12:09:45 pm
Lịch sử phục vụ

+ TK-208; từ 2002 là “Dmitri Donskoi”: (số hiệu xưởng 711). Ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 16 tháng 3 năm 1976; khởi công 30 tháng 3 năm 1977 tại xưởng số 402 ở Severodvinsk; hạ thủy 23 tháng 9 năm 1980; gia nhập biên chế 29 tháng 12 năm 1981; mùng 9 tháng 2 năm 1982 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 18 tháng 1 năm 1987; vinh dự là bộ phận tiên phong của Bộ Quốc phòng Liên Xô; 20 tháng 9 năm 1989 được đưa tới xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc để sửa chữa và nâng cấp theo Đề án 941-U; năm 1991 việc sửa chữa bị dừng lại vì không đủ tài chính, còn từ năm 1996 – một lần nữa được tiếp tục; 26 tháng 2 năm 2002, kết thúc sửa chữa và nâng cấp theo Đề án 941-U và 26 tháng 7 năm 2002 quay lại biên chế một lần nữa (*).

+ TK-202: (số hiệu xưởng 712). Ghi tên vào danh sách tàu Hải quân mùng 2 tháng 2 năm 1977; khởi công 22 tháng 4 năm 1978 tại xưởng số 402 ở Severodvinsk; hạ thủy 26 tháng 4 năm 1982; gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1983; 18 tháng 1 năm 1984 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; từ 20 tháng 9 năm 1989 đến mùng 1 tháng 10 năm 1994 đã trải qua sửa chữa trung cấp ở xưởng “Zvedochka” ở Severodvinsk; 28 tháng 3 năm 1995 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và đưa tới vịnh Nerpichia để  neo đậu, sau đó giải thể; mùng 2 tháng 8 năm 1999 được kéo về Severodvinsk để tháo dỡ lấy kim loại.

+ TK-12: (số hiệu xưởng 713). Khởi công 19 tháng 4 năm 1980 tại xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc ở Severodvinsk; 21 tháng 5 năm 1981, ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; hạ thủy 17 tháng 12 năm 1983; gia nhập biên chế 26 tháng 12 năm 1984; 15 tháng 1 năm 1985 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1985 – 86 đã thực hiện cuộc hành quân tới biển Trắng, ở đó, tàu đã trực chiến 164 ngày đêm dưới băng; từ 16 tháng 9 năm 1991 đến 20 tháng 1 năm 1992 đã trải qua sửa chữa trung cấp ở xưởng “Zvedochka” tại Severodvinsk; năm 1996; bị loại khỏi biên chế chiến đấu, đưa vào lực lượng dự bị; năm 1998 bị loại khỏi biên chế Hải quân và sau đó được giải thể.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Bảy, 2011, 12:34:56 pm
+ TK-13: (số hiệu xưởng 724). Ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 19 tháng 1 năm 1983; khởi công 23 tháng 2 năm 1983 tại xưởng số 402 ở Severdvinsk; hạ thủy 30 tháng 4 năm 1985; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1985; 15 tháng 2 năm 1986 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; tháng 9 năm 1987, tổng thống Liên Xô M.S.Gorbachev đã đến thăm tàu; năm 1989 được nhận Giải thưởng của Bộ Tư lệnh Hải quân về chuẩn bị sẵn sàng phóng tên lửa; năm 1997, bị loại khỏi biên chế chiến đấu, vào lực lượng dự bị; năm 1998 bị loại khỏi biên chế Hải quân và sau đó giải thể.

+ TK-17; từ 18 tháng 11 năm 2002 là “Archangel”: (số hiệu xưởng 725). Ghi tên vào danh sách tàu Hải quân mùng 3 tháng 3 năm 1984; khởi công 24 tháng 2 năm 1985 tại Severodvinsk trên xưởng 402; hạ thủy 12 tháng 12 năm 1986; gia nhập biên chế 15 tháng 12 năm 1987; 19 tháng 2 năm 1988 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; từ 8 tháng 1 đến 9 tháng 11 năm 2002 đã trải qua sửa chữa ở xưởng số 402 ở Severodvinsk(*).

+ TK-20; từ 2001 là “Severstal”: (số hiệu xưởng 727). Khởi công mùng 6 tháng 1 năm 1986 ở xưởng số 402 tại Severodvinsk; 12 tháng 1 năm 1986, ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; gia nhập biên chế 19 tháng 12 năm 1989; 28 tháng 2 năm 1990 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 25 tháng 8 năm 1986 đã tiến hành phóng thử tên lửa đạn đạo tàu ngầm với đầu đạn tách rời tới trường bắn; cuối năm 1999, đã thực hiện cuộc hành quân đường dài với nhiệm vụ trực chiến; từ tháng 6 năm 2001 đến tháng 12 năm 2002 đã trải qua sửa chữa ở Severodvinsk(*).

+ TK-210: (số hiệu xưởng 728). Chuẩn bị khởi công ở xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc tại Severodvinsk, nhưng việc đóng tàu nhanh chóng bị dừng lại vào năm 1990; cấu trúc thân tàu được tháo dỡ thành kim loại.

(*): các tàu đang còn hoạt động trong biên chế Hải quân.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Bảy, 2011, 01:44:48 pm
Bố cục bên trong tàu ngầm nguyên tử Đề án 941

(http://i1185.photobucket.com/albums/z345/daibangden_T80UK/941draw03.gif)

1. Các thiết bị ngư lôi mũi 533mm;
2. Các ăng ten của hệ thống thủy âm;
3. Khoang ngư lôi;
4. Các thiết bị đóng mở dưới bánh lái;
5. Thân ngoài;
6. Thân trong;
7. Các bánh lái ngang mũi tàu;
8. Nắp cửa thoát hiểm;
9. Hầm tên lửa đạn đạo R-39;
10. Các nắp cửa hầm;
11. Khoang - modul trung tâm;
12. Các buồng nổi cứu nạn;
13. Các thiết bị đóng mở của kính tiềm vọng và ăng ten;
14. Vách ngăn cách của thiết bị đóng mở;
15. Sống tàu;
16. Lò phản ứng hạt nhân;
17. Khoang lò phản ứng;
18. Chân vịt trong mũ vòng tròn;
19. Tuyến trục chân vịt chính;
20. Thiết bị dẫn hướng thủy động lực;
21. cánh đuôi đứng;
22. Cánh đuôi ngang;
23. Bánh lái đứng;
24. Bánh lái ngang ở mạn tàu.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Bảy, 2011, 01:55:31 pm
Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ trên mặt nước: 23 200

+ dưới mặt nước: 48 000

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 172,6 (169)

+ chiều rộng nhất: 23,3

+ lượng mớn nước theo vạch mớn nước thiết kế: 11

Thiết bị năng lượng chính: nguyên tử

+ 2 là phản ứng nước, tổng công suất, mW: 380

+ 2 thiết bị sản xuất hơi nước OK-650, 2 thiết bị tuabin răng cưa GZTA

+ 2 tuabin hơi nước, tổng công suất, sức ngựa (kW): 100 000 (73 500)

+ 4 máy phát điện tuabin, công suất, kW: 4 x 3200

+ 2 động cơ máy phát điện diezel DG-750, công suất, kW: 2 x 800

+ 2 động cơ dự bị chạy tốc độ tuần tra, công suất, sức ngựa (kW): 2 x190

Tốc độ, hải lý:

+ trên mặt nước: 12…14

+ dưới mặt nước: 25…26

Độ lặn sâu, mét

+ tiêu chuẩn: 400

+ giới hạn: 600

Thời gian hoạt động: 120 ngày

Thủy thủ đoàn (số sỹ quan): 160…170 (52)

Vũ khí trang bị

Tên lửa chiến lược

+ Thiết bị phóng tên lửa đạn đạo tàu ngầm R-39 (SS-N-20 “Sturgeon”) thuộc tổ hợp D-19: 20

Tên lửa phòng không

+ Thiết bị phóng cho tổ hợp tên lửa phòng không 9K310 “Igla-1”/9K38 “Igla” (SA-14 “Gremlin”/SA-16 “Gimlet”)

Ngư lôi và ngư lôi – tên lửa

+ Thiết bị ngư lôi 533mm: 6 (mũi)

+ Các ngư lôi 533mm USET-80, tên lửa chống ngầm điều khiển 83-R “Vodopad”: 22

Mìn: có thể mang 10 mìn thay cho ngư lôi.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Bảy, 2011, 02:31:52 pm
Trang bị vô tuyến điện

Hệ thống điều khiển thông tin chiến đấu: “Omnibus-941”

Các hệ thống thủy âm

+ Tổ hợp thủy âm MGK-500 “Skat-KS” (Shark Gill; Mouse Roar)

+ Ăng ten lai kéo dài – thu gọn “Pelamida” (trên 2 tàu cuối cùng)

+ MG-519 “Arfa” (đài thủy âm dò mìn)

+ MG-518 “Sever” đài đo tiếng dội

Các thiết bị chống tác chiến điện tử

+ “Sintez”, “Kora”

+ “Zona” đài tìm phương vô tuyến

(Rim Hat; Park Lamp D/F)

Các khí tài áp chế thủy âm: khí tài áp chế thủy âm (ngư lôi) 533mm

Tổ hợp đạo hàng

+ “Simfonia”

+ đài “Saliut” (Code Eyes)

+ Hệ thống dẫn đường quán tính

Tổ hợp thông tin liên lạc vô tuyến

+ “Molnia-L1” (Pert Spring)

+ “Tsunami”

+ Ăng ten lai vòng (SNCh)

+ Các ăng ten cao tần và trung – cao tần

+ đài thông tin liên lạc âm thanh dưới nước

Đài ra đa định vị hội thoại nói: -


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Giêng, 2012, 04:12:05 pm
Tàu ngầm nguyên tử trang bị tên lửa có cánh

Đề án P-627-A (Không được đưa vào trang bị - không được thực hiện)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/p627a_draw2.jpg)

Năm 1956 đã tiếp nhận quyết định về việc chế tạp trên cơ sở tàu ngầm nguyên tử Đề án 627-A mẫu tàu ngầm nguyên tử thí nghiệm với vũ khí tên lửa. Tàu được sử dụng để thực hiện các cuộc tấn công bằng tên lửa chiến lược có cánh P-20 với đầu đạn hạt nhân được phát triển bởi Phòng nghiên cứu – thiết kế S.V.Ilyushin, vào các công trình của đối phương bố trí cạnh bờ biển cũng như sâu trong lãnh thổ.

Đồ án kỹ thuật của tàu P-627-A được thực hiện ở Phòng thiết kế số 143 cuối năm 1957 và đầu năm 1958, việc thiết kế bản vẽ kỹ thuật đã bắt đầu. Ban đầu, các công việc được thực hiện dưới sự chỉ đạo của Tổng công trình sư V.N.Peregudov. Năm 1959, Tổng công trình sư theo Đề án P-627-A được giao cho trưởng phòng thiết kế số 143G.Ya.Svetlov.

Cấu trúc tổng thể của tàu, thiết bị năng lượng chính và trang bị cơ bản thực tế không khác tàu ngầm hạt nhân Đề án 627-A.

Tên lửa có cánh (hoặc theo thuật ngữ của thời điểm đó – đạn – máy bay) với tầm bắn tối đa 3500km được bố trí trong thùng phóng 4,6 mét và dài 25 mét, nằm trên boong trực tiếp sau vách ngăn mui tàu. Khối lượng khởi động của tên lửa – 30 tấn, việc phóng được thực hiện từ vị trí trên mặt nước, các thông tin được lập bởi hệ thống điều khiển “Sokol-P”. Để tiến hành phóng, xe goòng với tên lửa được đẩy ra khỏi thùng tới bệ. Bệ phóng sau đó được đặt dưới góc phóng 16 độ và cố định trên thùng phóng. Sau khi khởi động, bệ phóng hạ xuống và xe goòng được thu vào thùng phóng và được bịt kín lại. Sau đó, tàu ngầm có thể lặn. Thời gian tính toán nằm trên vị trí nổi để phóng tên lửa là 6,5 phút.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Giêng, 2012, 04:43:44 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/p627a_draw4.jpg)

Ngoài trang bị tên lửa, tàu ngầm được trang bị 4 thiết bị ngư lôi 533mm và hai thiết bị 400mm với cơ số 4 đạn 533mm và 6 đạn 400mm. Việc điều khiển bắn ngư lôi được thực hiện bởi hệ thống các khí tài điều khiển bắn “Leningrad-653”.

Dự định, rằng việc đóng tàu ngầm Đề án P-627-A, được tính toán như là thí nghiệm, sẽ được thực hiện ở Severodvinsk. Sau đó, theo kế hoạch sẽ đóng thêm loạt 18 tàu ngầm nguyên tử trang bị tên lửa có cánh Đề án 653, là sự phát triển tiếp theo của Đề án P-627-A và trang bị 2 tên lửa có cánh P-20. Dự kiến, việc đóng tàu Đề án 635 bắt đầu vào năm 1959.

Tháng 3 năm 1957, không đợi kết thúc các công việc về chế tạo đề án kỹ thuật đã không thành công. Xưởng số 402 (hiện nay là “Sevmashprepryatie” đã bắt đầu đặt các vật liệu cho tàu mới và bắt đầu đóng (xưởng số 282). Tuy nhiên, vào năm 1960, bộ Tư lệnh Hải quân đã thay đổi sự quan tâm tới các tên lửa có cánh chiến lược, bị cho là không có triển vọng do các khí tài phòng không của những địch thủ mạnh được hiện đại hóa. Ngoài ra, để giải quyết nhiệm vụ thiết kế, các thí nghiệm bố trí các tên lửa có cánh chiến lược trên tàu theo cách truyền thống đã dẫn đến sự tăng khối lượng và kích thước khí tài phóng.

Các công việc theo tổ hợp P-20 và tàu ngầm Đề an P-627-A đã bị dừng lại. Tới thời điểm đó, thân tàu thực tế mới chỉ được định hình và bắt đầu công việc lắp ráp. Đề an 653 cũng theo đó bị chấm dứt. Dự kiến bắt đầu các thí nghiệm cải tạo tàu ngầm Đề án P-627-A, tăng cường cho nó trang bị ngư lôi (Đề án PT-627-A). Tuy nhiên, kết quả cuối cùng cho đề án tàu ngầm này đã được quyết định không tiến hành đến cùng. Năm 1961, việc đóng tàu chấm dứt, còn trữ lượng với các máy móc và trang thiết bị đã được sử dụng để đóng tàu ngầm cuối cùng K-50 trong loạt tàu ngầm nguyên tử thuộc Đề án 627-A.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Giêng, 2012, 04:59:06 pm
Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ nổi: 3950

+ chìm: -

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 110,2 (-)

+ chiều rộng nhất: 9,2 mét

+ lượng mớn nước theo vạch mớn nước thiết kế: 6,3

Thiết bị năng lượng chính: nguyên tử

+ 2 lò phản ứng nước kiểu VM-A, tổng công suất, mW: 140

+ 2 thiết bị sản suất hơi nước OKA-150, 2 tổ hợp tuabin răng cưa chính 60D

+ 2 tua bin hơi nước, tổng công suất, sức ngựa (kW): 35 000 (29 400)

+ 2 máy phát điện tuabin GPM-21, công suất, kW: 2x1400

+ 2 động cơ điện hỗ trợ PT-116, công suất, sức ngựa: 2x140

2 trục, 2 chân vịt 6 cánh

Tốc độ, hải lý

+ nổi: 14…15

+ dưới nước: 25,5

Độ lặn sâu, mét

+ hiệu quả: 200

+ giới hạn: 285

Thời gian hoạt động: 50… 60 ngày

Thủy thủ đoàn (sĩ quan): 90 (-)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Giêng, 2012, 05:06:08 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/p627a_draw3.jpg)

Vũ khí trang bị

Tên lửa chiến lược: thiết bị phóng tên lửa có cánh chiến lược P-20: 1

+ tên lửa có cánh dự trữ: 1

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm: 4 (mũi tàu)

+ số lượng: 4

+ thiết bị ngư lôi 400mm: 2 (mũi tàu)

+ số lượng: 6

Trang bị vô tuyến điện

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: -

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: PLK-101 “Albatros”

Hệ thống thủy âm: MG-200 “Arktika-M”; ShPS MG-10; ZPS MG-15 “Svet-M”

Các khí tài tác chiến điện tử: “Nakat”

Tổ hợp đạo hàng: “Sila N-627A”

Tổ hợp thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài

Đài ra đa định vị hội thoại nói: MRP.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Giêng, 2012, 04:33:58 pm
Đề án 653 (không được trang bị)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/653_draw1.jpg)

Ngay sau khi tàu ngầm nguyên tử thí nghiệm Đề án P-627A được trang bị một tên lửa có cánh chiến lược được thiết kế dưới sự chỉ đạo của S.V.Ilyushin, trong sự tương ứng với Mệnh lệnh của của Hội đồng Bộ trưởng ngày 17 tháng 8 năm 1956, phòng thiết kế - thí nghiệm số 143 vào mùa hè năm 1958 đã bắt đầu thiết kế tàu ngầm tên lửa mạnh hơn là Đề an 653, mang không chỉ 1 mà là 2 tên lửa có cánh.

Theo kế hoạch, sẽ đóng loạt 18 tàu ngầm trang bị tên lửa có cánh Đề án 653 với sự hoàn thành toàn bộ loạt tàu năm 1962. Đồ án kỹ thuật đã kết thúc (hoàn thành, xong) năm 1959. Tàu có thiết kế gần với thiết kế của tàu ngầm nguyên tử Đề án P-627A. Hai thùng phóng tên lửa được bố trí thẳng đứng một cách trực tiếp sau vách ngăn của thiết bị kéo mở được, tạo thành một mùi dài dạng thuôn. Bở vì thùng phóng chứa tên lửa có kích thước và khối lượng lớn, để đảm bảo khả năng nổi của tàu, phải tăng chiều dài lên 3 mét so với Đề án P-627A. Trong cùng thời gian đó, do việc thay đổi các đường bao mạn tàu, chiều dài tàu ngầm bị giảm đi không nhiều. Tính chất thủy động lực học hiện đại hơn cho phép, khi tăng lượng choán nước, vẫn duy trì được các thông số tốc độ của tàu ngầm “tiền nhiệm”.

Trong thiết kế thân trong, đã quyết định tiếp nhận thép có độ cứng hơn, sử dụng kiểu lò phản ứng nguyên tử kiểu hiện đại (VM-1M), thay cho axit – chì là việc tiếp nhận pin ắc quy kẽm – bạc 55STs, chân vịt 5 cánh giảm tiếng ồn và áp dụng hàng loạt các biện pháp tiên tiến khác.

Vũ khí cơ bản của tàu gồm hai tên lửa có cánh siêu âm (3200 – 3500km/h) P-20 với tầm bắn tối đa 3500km mng đầu đạn nhiệt hạch 3 megaton. Để điều khiển việc bắn tên lửa, dự kiến sử dụng hệ thống “Sokol-P-653”. Trong quá trình khởi động, cả hai tên lửa có cánh, tàu ngầm phải nổi lên mặt nước không dưới 10 phút (theo tính toán). Trang bị ngư lôi gồm có 4 thiết bị ngư lôi 533mm và 2 thiết bị ngư lôi 400mm. Cơ số đạn: 4 ngư lôi 533mm và 12 ngư lôi 400mm.

Việc đóng tàu ngầm nguyên tử trang bị tên lửa có cánh dự tính được bắt đầu vào năm 1959. Những bản vẽ làm việc đầu tiên của tàu ngầm mới được gửi tới xưởng số 402 ở Severodvinsk trong tháng 12 năm 1958, tuy nhiên, trong việc đóng tàu đầu tiên, xí nghiệp đã không bắt đầu: tháng 2 năm 1960, đã tiếp nhận quyết định của Nhà nước về việc dừng chương trình P-20, và sau đó 3 tháng, đã dẫn tới sự chấm dứt toàn bộ các công việc trên các loại thiết bị mang tên lửa có cánh này.

Một thời gian ở Phòng thiết kế - thí nghiệm Ilyushin, trên cơ sở tên lửa P-20 đã thiết kế tên lửa chống tàu tầm xa lớn (1800 – 2000km), tuy nhiên, chương trình này nhanh chóng chấm dứt. Đây hoàn toàn là quy luật, bởi vì trong thời điểm đó, không đủ khả năng chế tạo bất kỳ một hệ thống chỉ thị mục tiêu tin cậy nào đảm bảo khả năng bắn vào tàu đối phương ở cự ly đó.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Giêng, 2012, 04:40:50 pm
Các thông số kỹ - chiến thuật cơ bản

Lượng choán nước, tấn

+ nổi: 5250

+ dưới mặt nước: -

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 97,5 (-)

+ chiều rộng nhất: 12,2

+ độ mớn nước theo vạch mớn nước thiết kế: 7,8

Thiết bị năng lượng chính: nguyên tử

+ 2 lò phản ứng nước kiểu VM-A, tổng công suất, mW: 140

+ 2 thiết bị sản xuất hơi nước OKA-150, 2 tổ hợp tuabin răng cưa chính 60D

+ 2 tuabin hơi nước, tổng công suất, sức ngựa (kW): 35 000 (29 400)

+ 2 máy phát điện tuabin GPM-21, công suất, kW: 2x1400

+ 2 động cơ điện hỗ trợ PT-116, công suất, sức ngựa 2x140

2 trục, 2 chân vịt 6 cánh

Tốc độ, hải lý:

+ nổi: 14…15

+ dưới nước: 24…25

Độ lặn sâu, mét

+ hiệu quả: 250

+ giới hạn: 300

Thời gian hoạt động: 80 ngày

Thủy thủ đoàn, thành viên (sỹ quan): 101 (-).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Giêng, 2012, 04:50:41 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/653_draw2.jpg)

Trang bị

Tên lửa chiến lược

+ Thiết bị phóng tên lửa có cánh chiến lược P-20: số lượng: 1

+ Cơ số đạn tên lửa có cánh P-20: 2

Ngư lôi:

+ Thiết bị ngư lôi 533mm: 4 (mũi tàu)

+ Cơ số đạn: 4

+ Thiết bị ngư lôi 400mm: 2 (mũi)

+ Cơ số đạn: 12

Trang thiết bị vô tuyến điện

+ Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: -

+ Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: RLK-101 “Albatros”

+ Hệ thống thủy âm: MG-200 “Arktika-M”; ShPS MG-10

+ Các khí tài tác chiến điện tử: “Nakat”

Tổ hợp đạo hàng: “Sila-N-653”

Tổ hợp thông tin liên lạc: Bộ tổ hợp các khí tài

Đài ra đa định vị hội thoại nói: MRP.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Giêng, 2012, 04:56:16 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/653_draw3.jpg)

Sơ đồ mặt cắt tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh Đề án 653

1. Bộ phận cuối mũi tàu
2. Thiết bị ngư lôi 400mm
3. Thiết bị ngư lôi 533mm
4. Khoang ngư lôi
5. Khoang dành cho người ở (buồng ắc quy)
6. Trạm trung tâm
7. Thùng phóng tên lửa
8. Tên lửa có cánh thuộc tổ hợp P-20
9. Khoang lò phản ứng
10. Khoang tuabin
11. Thiết bị (bệ) nâng khởi động
12. Khoang máy phát điện tua bin
13.Khoang cho người ở
14. Khoang mạn tàu
15. Bộ phận sau mạn tàu


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Giêng, 2012, 04:55:40 pm
Đề án 659 (Echo – I class)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/653_draw1.jpg)

Các biến thể

+ 659 (Echo-I class) – đề án cơ sở đóng loạt với tên lửa có cánh P-5 (năm 1960)

+ 659-T (Modified Echo-I class) – tàu ngầm được trang bị lại thành tàu ngư lôi (năm 1965).

Số lượng tàu đã được đóng: 5+1.

Trong những năm 1950, các tên lửa đạn đạo được các lãnh đạo quân sự Liên Xô xem như một loại vũ khí “tuyệt đối”, không có khí tài nào có thể chống lại. Trong cùng thời gian đó, các tên lửa có cánh có tính năng gần với thông số của các máy bay phản lực thế hệ thứ nhất, theo lý thuyết có thể bị bám bắt bởi các khí tài phòng không. Nhưng theo so sánh với các tên lửa đạn đạo có cánh có hàng loạt các ưu điểm – được thiết kế tốt theo thiết kế truyền thống, hơn là so với tên lửa đạn đạo về khối lượng, thấp hơn về giá cả.

Năm 1955, trong trang bị của Hải quân Mỹ đã tiếp nhận tên lửa có cánh “Regulus 1”(tầm bắn tối đa 400km), mà để mang nó, tàu ngầm điện – diesel lớp “Tunny” (lớp “Balao) được trang bị lại. Việc khởi động tên lửa tốc độ cận âm được thực hiện từ vị trí nổi trên mặt nước. Việc sử dụng hệ thống mệnh lẹnh vô tuyến dẫn bắn đã thu hút các tàu nổi chuyên dụng hoặc tầu ngầm – các khí tài đảm bảo sự dẫn bắn tên lửa tới hành trình cuối quỹ đạo. Khi đó, chỉ có thể bắn phá các mục tiêu nằm ở tầm xa không lớn từ bờ biển. Tất cả những vấn đề này đã hạn chế rất lớn khả năng chiến đấu của tổ hợp tên lửa Mỹ. Kết quả là năm 1958, tên lửa có cánh “Regulus 1” bị loại khỏi biên chế.Các công việc về chế tạo tên lửa có cánh siêu âm hiện đại hơn “Regulus 2” cũng bị chấm dứt.

Tuy nhiên, ở Liên bang Xô Viết, các tên lửa có cánh thuộc Hải quân có một vài tiến triển khác biệt. Trong nửa sau những năm 1950, loại vũ khí này được đánh giá là đủ triển vọng. Đối với trang bị của các tàu ngầm với các tên lửa có cánh thuộc Đề án P-627A và 653 trong Phòng thiết kế - thí nghiệm của S.B.Ilyushin đã chế tạo tên lửa siêu âm P-20. Tuy nhiên, các thí nghiệm bố trí tên lửa có cánh trên tàu theo quan điểm truyền thống với giáp pháp các nhiệm vụ thiết kế dẫn tới rằng khí tài phóng của các tàu ngầm nhận được sẽ rất nặng và công kềnh. Do đó, tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh chỉ có thể mang từ 1 đến 2 tên lửa.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Giêng, 2012, 05:32:11 pm
Hướng khác được đề xuất bởi V.N.Chelomen, đã giới thiệu việc bố trí một cách tương đối tên lửa có cánh hạng nhẹ với các cánh cấu thành trong thùng phóng. Việc này có triển vọng nhờ sự chế tạo hệ thống tự động mở cánh độc đáo, được triển khai sau khi tên lửa rời khỏi thùng phóng. Kết quả là rút ngắn và đơn giản hóa quá trình phóng một cách đáng kể. Ngoài ra, cũng xuất hiện khả năng tăng cương cơ số đạn tàu ngầm lên một vài lần trong khi vẫn duy trì lượng choán nước. Bộ Tư lệnh Hải quân và Tư lệnh Quân chủng Hải quân mới – S.G.Gorshkov đã tỏ ra quan tâm tới đề xuất này, kết quả là đã tiếp nhận quyết định của Nhà nước về việc thành lập ở Reutov – ngoại ô Moskva dưới sự chỉ đạo của V.N.Chelomen tại Phòng thiết kế - thí nghiệm số 52 về việc chế tạo tên lửa có cánh P-5 với tầm bắn 350km (mệnh lệnh từ 19 tháng 6 năm 1955).

Lần phóng đầu tiên của P-5 vào ngày 12 tháng 3 năm 1957 với bệ lắc SN-49 ở biển Trắng, còn ngày 19 tháng 6 năm 1959, tên lửa đã được tiếp nhận chính thức vào trang bị. Lúc đầu, nó được trang bị cho tàu ngầm diesel Đề án 644 và Đề án 665 (mang được một cách tương ứng 2 và 4 tên lửa). Tuy nhiên, để tiêu diệt mục tiêu đáng tin cậy hơn trên lãnh thổ Mỹ - có bố trí các lực lượng chống ngầm mạnh, cần phân bố một cách hợp lý vũ khí tên lửa chiến lược ở khu vực ít nguy hiểm hơn so với tàu ngầm điện – diesel. Ở đây, giải pháp sử dụng phương tiện mang vũ khí chiến lược là các tàu ngầm nguyên tử.

Việc thiết kế đồ án kỹ thuật tàu ngầm mang tên lửa Đề án 650 với tên lửa có cánh  P-5 được thực hiện trong sự tương ứng với mệnh lệnh Nhà nước từ 26 tháng 8 năm 1956. Tổng công trình sự của Đề án lần lượt là P.P.Pustưntsev, sau đó là N.A.Klimov. Giám sát viên từ Hải quân được giao cho Yu.S.Volfson. Các công việc đồng thời với “các tàu ngầm nguyên tử chiến lược” (với các tên lửa có cánh và tên lửa đạn đạo) trong cùng một phòng thiết kế được dự kiến ở cấp độ đồng nhất cao nhất với giải pháp kỹ thuật tổng thể của tàu. Trong đó, Đề án 658 cũng như Đề án 659 được phát triển từ tàu ngầm nguyên tử ngư lôi Đề án 627.

Tàu ngầm có thiết kế hai thân. Thân trong có đường kính 6,8 mét được chia thành 10 khoang không thấm nước. Thiết kế đảm bảo tính không chìm trên mặt nước khi bị ngập nước trong bất kỳ khoang nào.

Tàu trang bị thiết bị năng lượng chính công suất tiêu chuẩn 35 000 sức ngựa gồm 2 lòa phản ứng nước VM-A (2x70 mW). Có hai nhóm pin ắc quy gồm 112 phần tử, 2 động cơ điện PG-116 (2x140 sức ngựa), 2 máy phát điện tuabin GPM-21 và 2 máy phát điện diezel dự bị một chiều PG-117.

Trang bị thủy âm gồm có các đài MG-200 “Arktika”, máy định hướng âm MG-15, đài phát hiện luồng sáng thủy âm MG-31 và hàng loạt các khí tài khác.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Giêng, 2012, 06:25:32 pm
Trang bị tên lửa của tàu gồm 6 tên lửa có cánh P-5. Các tên lửa được trang bị đầu đạn hạt nhân, được đồng nhất với đầu đạn của tên lửa đạn đạo R-11FM (ban đầu, công suất của đầu đannj là 200 kiloton, sau đó tăng lên 650kt). Tên lửa có cánh trên tàu ngầm được vận chuyển trong các thùng kín (đường kính 1,65 mét, dài 12 mét) được làm đầy bằng ni-tơ. Các thùng phóng tên lửa được khóa kẹp đôi trong ba khối. Mỗi khối các thùng phóng được nâng lên góc khởi động 15 độ bằng cách quay trên trục thân cố định, bên trong bố trí hệ thống liên lạc kết nối tên lửa và thùng phóng với tàu ngầm và đồng thời với các khí tài, đảm bảo các tham số cần thiết của vi khí hậu trong thùng. Trước khi phóng, các thùng được nâng lên góc phóng, cố định bằng các bộ hãm, hai nắp (đằng trước và sau) được mở ra. Sự nâng thùng được thực hiện bằng thiết bị nâng thủy lực, bố trí trong các khoang số 2, 6 và 7 của tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh. Toàn bộ các thùng được nâng sau 140 giây, nắp được mở ra trong khoảng thời gian 20 – 25 giây. Loạt phóng 6 tên lửa có thể được thực hiện trong thứ tự xác định (6-3-2-5-4-1), ở đó, các thùng phóng số 1 và 2 bố trí ở khối mũi, 3-4 ở khối giữa và 5-6 ở phần mạn tàu.

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/659_01.jpg)

Các tên lửa có cánh được đưa vào tàu ngầm trong trạng thái được nạp đầy nhiên liệu với việc lắp đầu đạn và mắc các động cơ khởi động. Việc bắn được thực hiện theo góc phương vị bằng với hướng của tàu ngầm và chỉ có thể thực hiện từ vị trí nổi khi sóng biển cấp 4-5 và tốc độ 8 hải lý. Thời gian sau khi nổi của tàu ngầm tới khi phóng tên lửa đầu tiên gần 4 phút, thời gian chuẩn bị phóng toàn bộ 6 tên lửa có cánh mất khoảng 12,5 phút. Sự chuẩn bị khởi động được thực hiện từ xa, từ bàn điều khiển, bố trí trong khoang thứ nhất của tàu ngầm. Sau khi mở nắp sau của thùng phóng, khí xả tràn vào ống dẫn thoát khí bố trí đằng sau thùng phóng. Thiết kế đầu tiên của các ống dẫn này đã chỉ ra sự không hiệu quả - các động cơ chính của tên lửa ở mạn khi phóng, khí thải của tên lửa ở mũi đã đã đông đặc, dẫn tới sự mất ổn định – các động cơ không hoạt động được. Sự làm kín các ống dẫn thoát khí được thay thế bằng cách này, để luồng khí thoát ra hướng xa hơn nữa khói tên lửa khởi động, rằng cùng với sự mô tả cao hơn bằng trình tự khởi động tên lửa và đảm bảo sự tin cậy trong loạt phóng 6 tên lửa. Đài ra đa định vị điều khiển bắn tên lửa “Sever” được bố trí trong ống xả đặc biệt trong vách ngăn mui tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh. Đối với sự điều khiển tên lửa, trong hành trình chủ động (tới khi tên lửa bổ nhào tới mục tiêu), tàu phải nổ và tất nhiên là, tàu ngầm phải ở trong trạng thái được ngụy trang.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Giêng, 2012, 06:26:37 pm
Bản vẽ thiết kế và hình vẽ tàu ngầm Đề án 659

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/659t_draw_1.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/659_draw_4.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/659_draw_2.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Giêng, 2012, 08:24:27 pm
Trang bị ngư lôi của tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh Đề án 659 gồm có 4 thiết bị ngư lôi ở mũi 533mm (cơ số đạn: 8 ngư lôi SET-53M và 53-6, khả năng năng bắn ở độ lặn sâu tối đa – 100 mét), đồng thời 4 thiết bị ngư lôi 400 – 2 ở mũi và 2 ở mạn (cơ số đạn: 4 ngư lôi, độ lặn sâu bắn tối đa – 240 mét).

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/659t_02.jpg)

Đối chiếu các tính năng “chủ lực” của tàu ngầm Đề án 659 và khả năng của các khí tài phòng không của đối thủ tiềm tàng chủ yếu – Mỹ, nhận thấy, rằng tên lửa P-5 có cơ hội rất lớn trong việc tiêu diệt các mục tiêu có ý nghĩa lớn ở nước ngoài trong những năm 1950 – 1960. Tổ hợp tên lửa phòng không phòng thủ khu vực hiện đại nhất của Mỹ trong thời điểm đó là “Nike Hercules” có thể chống lại các mục tiêu trên không bay ở độ không dưới 1,5km, còn tổ hợp tầm cao – thấp “Hawk” có tầm bắn xa, không quá 18km, chỉ cho phép che phủ một số lượng rất hạn chế các công trình (mục tiêu). Rất ít các khí tài có thể đối phó được với tên lửa P-5, đó là các máy bay tiêm kích của Không quân Mỹ, chủ yếu trong thời gian đó là máy bay cận âm, không có khả năng chống lại các mục tiêu bay ở độ cao vài trăm mét với tốc độ âm thanh. Các máy bay tiêm kích siêu âm thế hệ thứ hai: F-101B, F-102, F-104 và F-106 bắt đầu gia nhập trang bị Không quân Mỹ trong cuối những năm 1950 chỉ có thể bắn cháy các mục tiêu trên không bằng tên lửa mà chúng mang theo ở tầm cao và tầm trung, có nghĩa là các máy bay này một cách tương đối “không gây nguy hiểm” cho P-5.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Giêng, 2012, 09:04:22 pm
Các biến thể

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/659t_04.jpg)

Sự hiện đại hóa được dự báo trước của các khí tài phòng không đặt ra yêu cầu tăng cường các khả năng chiến đấu của tên lửa có cánh. Tuy nhiên, điểm yếu mang tính nguyên tắc của các tên lửa có cánh do Chelomen thiết kế - khởi động nổi, đã làm tăng đáng kể khả năng bị thương của tàu mang tên lửa – đã không được khắc phục thành công. Kết quả là năm 1964 đã quyết định chấm dứt đối với các tên lửa chiến lược có cánh, sự có mặt của chúng trong trang bị của các tàu ngầm chỉ trong vài trò vũ khí hạng 2, chỉ bổ sung thêm tên lửa chống tàu cấp chiến dịch P-6 cũng được thiết kế ở Phòng thiết kế - thí nghiệm số 52.

Do không có khả năng kỹ thuật để trang bị lại cho các tàu ngầm nguyên tử Đề án 659 tổ hợp tên lửa chống tàu mới, đã quyết định trang bị lại các tàu ngầm này thành tàu ngầm ngư lôi. Từ tháng 8 năm 1965, đến cuối năm 1969, toàn bộ các tàu được làm lại thành tàu ngầm nguyên tử ngư lôi theo Đề án 659-T ở xưởng chữa tàu ở Đá Lớn (Bolshoi Kamen) dưới Vladivostoc. Đề án được thực hiện ở Phòng thiết kế Trung ương số 18 (Tổng công trình sư O.Ya.Margolin). Vũ khí tên lửa trên tàu được tháo bảo, cắt thân ngoài được hàn, chiều cao thượng tầng giảm, còn ăng ten của đài ra đa định vị điều khiển bắn tên lửa “Sever” và các khí tài điều khiển tên lửa chống tàu có cánh được tháo bỏ. Đồng thời, tăng cường trang bị vũ khí ngư lôi cho tàu bằng cánh giải phóng không gian các khí tài điều khiển bắn tên lửa. Cơ số đạn gồm 16 ngư lôi 533mm và 8 ngư lôi 400mm. Đài thủy âm hiện đại “Arktika-M” được lắp.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Giêng, 2012, 10:39:27 pm
Chương trình đóng tàu

Ngày 19 tháng 10 năm 1957, tại viện Đuma Quốc gia, Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô đã xem xét quá trình xây dựng hạm đội tàu ngầm tên lửa Liên Xô. Kế hoạch đóng tàu ngầm đã được phê duyệt và tương ứng với đó, tới năm 1961, dự kiến bàn giao cho Hải quân 32 tàu ngầm với tên lửa có cánh P-5. Việc tiếp tục đóng các tàu mang tên lửa này nằm trong kế hoạch 5 năm lần thứ 7 (1961 – 1965). Việc đóng tàu được triển khai ở Komsomol – na – Amur (tàu ngầm mang tên lửa có cánh Đề án 659 trở thành các tàu ngầm nguyên tử đầu tiên được đóng ở Viễn Đông). Tàu đầu tiên – K-45 – được khởi công ngày 28 tháng 12 năm 1957, hạ thủy ngày 12 tháng 5 năm 1960, còn biên bản tiếp nhận nó được ký ngày 28 tháng 6 năm 1961.

Sau tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh nội địa đầu tiên lần lượt là K-59 gia nhập Hải quân mùng 10 tháng 12 năm 1961; K-66 (mùng 10 tháng 12 năm 1961); K-122 (13 tháng 4 năm 1962) và K-259 (tháng 12 năm 1962). Tàu ngầm thứ 6 thuộc Đề án 659 – K-30 – được khởi công năm 1961, nhưng nhanh chóng bị tháo dỡ trên sân đóng tàu.

Trình trạng đến năm 2007

Tàu ngầm tên lửa đầu tiên K-45 thuộc Đề án 659 đã trải qua các thí nghiệm năm 1961 một cách thành công - hoàn thành chuyến tự bơi dài. Trong quá trình thí nghiệm, tàu đã trải qua 7073 dặm, trong số đó 2569 – trong vị trí dưới nước. Tàu gia nhập biên chế sư đoàn 26, trở thành đơn vị đầu tiên của Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương được trang bị tàu ngầm nguyên tử. Sau đó lần lượt là K-59, K-66, K-122 và K-259.

Các tàu ngầm tên lửa Đề án 659 đã có thời gian phục vụ tương đối ngắn trong Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương.Trong đó, tầm bắn của các tên lửa mà chúng mang theo hướng đến các mục tiêu ở bờ biển phía Tây nước Mỹ (ở đó, cụ thể, có các xưởng máy bay lớn của hãng Boeing ở Seattle và các công trình công nghiệp quan trọng khác, các trung tâm quân sự và hành chính), Hawai, Nhật Bản, đồng thời kênh đào Panama. Có thể, các tàu ngầm Đề án 659 đã được xem xét như là những tàu ngầm triển vọng đối với trang bị của Hải quân Trung Quốc non trẻ (tuy nhiên, sự đóng băng trong quan hệ Xô – Trung vào đầu những năm 1960 trong thời gian vài chục năm đã phá vỡ sự hợp tác quân sự - kỹ thuật giữa hai cường quốc).

Mùng 6 tháng 5 năm 1966, khi K-66 trong căn cứ đang nạo điện ắc quy đã xảy ra đám cháy ở khoang tuabin. Việc dập lửa với sự hỗ trợ của hệ thống VPL-52 không mang lại kết quả. Ống dẫn đã được cung cấp từ tàu “PUS-4” qua cửa khoang số 8 để dập lửa, làm lạnh vách ngăn của khoang tuabin. Kết quả là đám cháy đã làm hỏng bảng điều khiển thiết bị tuabin chính của hai bên thành, các dây cáp động lực và các khí tài khác. Nguyên nhân xuất hiện đám cháy có thể là sự ăn mòn các bánh khởi động với mâm hoàn nhiệt RP-46, bảo vệ hàng rào đuôi của khoang số 6. Năm 1980, K-66 sau đám cháy đã được đưa bảo trì.

Ngày 21 tháng 8 năm 1984, trên K-122 trong giai đoạn bơi dài ngày thường lệ, ở vị trí dưới nước, lúc 21 giờ 00 trong thời gian huấn luyện đã xuất hiện đám cháy ở khoang số 7 khi chuyển chế độ hoạt động của máy phát điện tuabin từ trái sang phải. Tàu ngầm bắt đầu nổi lên mặt nước. Các chất dập lửa đã được đưa tới khong chỉ sau 8 phút xuất hiện đám cháy. Các thành viên thủy thủ đoàn đã rời khỏi khoang số 7 thành công cho đến khi khí tài dập lửa được mang đến. Trong khoang số 8 còn 31 người, 9 trong số đó không có khí tài bảo vệ cá nhân. Chín người này đã di chuyển sang khoang số 9. Tuy nhiên, sự làm kính của khoang số 9 không được đảm bảo, dẫn tới sự nhiễm độc cho những người không trang bị đồ phòng hộ cá nhân. Ngọn lửa ở khoang số 7 có tính chất rắt nặng, thân trong ở khu vực này bị nung nóng đến màu đỏ thẫm. Chỉ có sự tiếp nhận gấp ba lần hệ thống chữa cháy mới cho phép dập được lửa. Tàu bị mất điều khiển, thủy thủ đoàn ở boong trên ở trong tình trạng không có điện. Đám cháy là làm 14 người hy sinh. Do bị hỏng nặng, tàu đã không được khôi phục.

Trong những năm 1990, toàn bộ tàu ngầm Đề án 659 đã bị loại khỏi biên chế và mang đi tháo dỡ.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Giêng, 2012, 06:07:40 pm
Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ K-45 (số hiệu xưởng 140). Khởi công 28 tháng 12 năm 1957 ở xưởng số 199 mang tên Đoàn viên thanh niên Cộng sản Lenin ở Komsomol-na-Amur; hạ thủy 12 tháng 5 năm 1959; gia nhập biên chế 28 tháng 6 năm 1960; 18 tháng 9 năm 1960 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; từ tháng 10 năm 1966 đến tháng 9 năm 1970 đã trải qua trung tu và trang bị lại theo Đề án 659-T ở xưởng “Zvezda” tại Đá Lớn dưới Vladivostoc; 10 tháng 9 năm 1981, ở khu vực huấn luyện chiến đấu đã va chạm với tàu vớt thủy lôi “Novokachalinik”, két quả là tàu vớt thủy lôi bị chìm, còn tàu ngầm nguyên tử bị thương ở phần mũi; trải qua sửa chữa; cuối năm 1980 bị loại khỏi biên chế Hải quân và giải tán; năm 1990, chuyển giao cho bộ phận khác để tháo dỡ kim loại.

+ K-59; sau đó là K-259 (số hiệu xưởng 141). Khởi công 30 tháng 9 năm 1959 ở xưởng số 199 mang tên Đoàn viên thanh niên Cộng sản Lenin ở Komsomol-na-Amur; hạ thủy 25 tháng 9 năm 1960; gia nhập biên chế 10 tháng 12 năm 1966; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; từ tháng 2 năm 1967 đến tháng 12 năm 1970 đã trải qua trung tu và trang bị lại theo Đề án 659-T ở xưởng “Zvezda” tại Đá Lớn dưới Vladivostoc; cuối năm 1980 bị loại khỏi biên chế Hải quân và giải tán; năm 1990, chuyển giao cho bộ phận khác để tháo dỡ kim loại.

+ K-66 (số hiệu xưởng 142). Khởi công 26 tháng 3 năm 1960 ở xưởng số 199 mang tên Đoàn viên thanh niên Cộng sản Lenin ở Komsomol-na-Amur; hạ thủy 30 tháng 7 năm 1961; gia nhập biên chế 12 tháng 10 năm 1961; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; từ tháng 8 năm 1970 đến tháng 12 năm 1972 đã trải qua trung tu và trang bị lại theo Đề án 659-T ở xưởng “Zvezda” tại Đá Lớn dưới Vladivostoc; mùng 6 tháng 5 năm 1966 khi nạp ắc quy đã xảy ra đám cháy ở khoang tuabin, việc dập lửa được thực hiện với sự hỗ trợ của tàu “PUS-4”; cuối năm 1980 bị loại khỏi biên chế Hải quân và giải tán; năm 1990, chuyển giao cho bộ phận khác để tháo dỡ kim loại.

+ K-122 (số hiệu xưởng 143). Khởi công 21 tháng 1 năm 1961 ở xưởng số 199 mang tên Đoàn viên thanh niên Cộng sản Lenin ở Komsomol-na-Amur; hạ thủy 17 tháng 9 năm 1961; gia nhập biên chế 13 tháng 4 năm 1962; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; từ tháng 9 năm 1972 đến tháng 1 năm 1974 đã trải qua trung tu và trang bị lại theo Đề án 659-T ở xưởng “Zvezda” tại Đá Lớn dưới Vladivostoc; ngày 21 tháng 8 năm 1980. trong thời gian bơi ở biển Hoa Đông (Biển Đông) trong khoáng số 7 đã xuất hiện đám cháy lớn, tàu phải nổi lên mặt nước, chỉ có sự tiếp nhận hệ thống chữa cháy chuyên dụng gấp 3 lần mới cho phép dập tắt đám cháy, 14 người hy sinh; tàu ngầm nguyên tử được kéo về căn cứ và neo đậu lại; năm 1983 bị loại khỏi biên chế Hải quân và giải tán; và chuyển giao cho bộ phận khác để tháo dỡ kim loại.

+ K-151 (số hiệu xưởng 144). Khởi công 21 tháng 4 năm 1962 ở xưởng số 199 mang tên Đoàn viên thanh niên Cộng sản Lenin ở Komsomol-na-Amur; hạ thủy 30 tháng 9 năm 1962; gia nhập biên chế 28 tháng 7 năm 1963; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; từ tháng 8 năm 1972 đến tháng 12 năm 1976 đã trải qua trung tu và trang bị lại theo Đề án 659-T ở xưởng “Zvezda” tại Đá Lớn dưới Vladivostoc; ngày 30 tháng 6 năm 1984, trong thời gian huấn luyện chiến đấu đã xảy ra đám cháy ở khoang số 7, thủy thủ đoàn bị thương vong; cuối năm 1980 bị loại khỏi biên chế Hải quân và giải tán; năm 1990, chuyển giao cho bộ phận khác để tháo dỡ kim loại.

+ K-30 (số hiệu xưởng 145). Khởi công ở xưởng số 199 mang tên Đoàn viên thanh niên Cộng sản Lenin ở Komsomol-na-Amur năm 1961; đầu năm 1962, việc đóng tàu bị dừng lại; mùng 3 tháng 5 năm 1962 bị loại khỏi biên chế Hải quân và sau đó bị tháo dỡ trên sân đóng tàu.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Giêng, 2012, 06:17:43 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/659_draw_3.jpg)


Tàu ngầm nguyên tử tuần dương Đề án 659.

Lượng choán nước nổi – 3768 tấn; lượng choán nước chìm – 4920 tấn; tốc độ trên mặt nước – 15,1 hải lý; tốc độ dưới mặt nước – 24,2 hải lý; trang bị: 6 tổ hợp tên lửa có cánh P-5; thiết bị ngư lôi: 4 thiết bị 533mm ở mũi; 2 thiết bị 400mm ở mũi; 2 thiết bị 400mm ở mạn tàu; 2 lò phản ứng công suất 44 500 sức ngựa; tầm bơi xa – 18 000 dặm; trữ lượng nổi: 32%; độ lặn sâu – 300 mét; chiều dài: 111,2 mét; chiều rộng – 9,2 mét; lượng mớn nước – 7,1 mét.

Các chữ số và số trên sơ đồ tàu ngầm Đề án 659

A – Thùng phóng trong trạng thái chiến đấu; 1 – Khoang ngư lôi; 2 – Khoang cho người ở; 3 – Trạm điều khiển tên lửa; 4 – Trạm trung tâm; 5 – Khoang máy phát điện diezel; 6 – Khoang lò phản ứng; 7 – Khoang tuabin; 8 – Khoang máy phát điện tuabin; 9 – Khoang cho người ở; 10 – Khoang mạn tàu.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Giêng, 2012, 06:34:12 pm
Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ nổi: 3731

+ dưới mặt nước: 4920

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 111,2 (-)

+ chiều rộng nhất: 9,2

+ lượng mớn nước theo vạch mớn nước thiết kế: 7,6

Thiết bị năng lượng chính: nguyên tử

+ 2 lò phản ứng nước VM-A, tổng công suất, mW: 140

+ 2 thiết bị sản xuất hơi nước OKA-150, 2 thiết bị tuabin răng cưa chính GZTA-601

+ 2 tuabin hơi nước, tổng công suất, sức ngựa (kW): 35 000 (29 400)

+ 2 động cơ phát điện tuabin GPM-21, công suất, kW: 2x1400

+ 2 máy phát điện – diezel PG-117, công suất, kW: 2x460

+ 2 động cơ điện diezel hỗ trợ PG-116, công suất, sức ngựa: 2x140

2 trục, 2 trục chân vịt để

Tốc độ, hải lý

+ nổi: 21

+ dưới mặt nước: 29

Độ lặn sâu, mét

+ hoạt động hiệu quả: 240

+ giới hạn: 300

Thời gian hoạt động: 50 ngày

Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 92 (20).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Giêng, 2012, 06:44:42 pm
Trang bị

Vũ khí chiến lược

+ Thiết bị phóng tên lửa có cánh chiến lược P-5: 6x1

+ Tên lửa có cánh P-5 (SS-N-3 “Shaddock”): 6

Ngư lôi

+ Thiết bị ngư lôi 533mm: 4 (mũi)

+ Cơ số đạn ngư lôi 533mm SET-53M và 53-61: 8

+ Thiết bị ngư lôi 400mm: 2/2 (mũi/mạn)

+ Cơ số đạn ngư lôi 400mm SET-40: 4

Mìn: có thể mang mìn (thủy lôi) thay cho ngư lôi: -

Trang bị vô tuyến điện tử

+ Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: -

+ Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: RLK-101 “Albatros” (Snoop Tray)

+ Hệ thống thủy âm: MG-200 “Arktika”; ShPS MG-10 hoặc MG-15; “Plutoni” máy thủy âm định vị; MG-13 – máy phát hiện tín hiệu thủy âm theo sự chiếu sáng

+ Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực: 1x”Sever N-659” đối với tên lửa có cánh chống tàu P-5

+ Các khí tài tác chiến điện tử: “Nakat” (Stop Light; Quad Loop D/F)

+ Tổ hợp đạo hàng: “Sila N-659”

Tổ hợp thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài

+ Đài ra đa định vị hội thoại nói: MRP.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Giêng, 2012, 03:41:00 pm
Đề án 675 (Echo – II class)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/675_02.jpg)

Tổng số tàu đã đóng: 29

Các biến thể

+ 675 – Đề án cơ sở sản xuất hàng loạt tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh với tên lửa có cánh chống tàu P-6 (1963)

+ 675-K – được lắp khí tài tiếp nhận sự chỉ thị mục tiêu từ vệ tinh “Kasatka” (1973)

+ 675-MK – lắp tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh P-500 “Bazalt” và hệ thống chỉ thị mục tiêu từ vệ tinh “Kasatka” (1976)

+ 675-MU – lắp tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh P-500 “Bazalt” và hệ thống chỉ thị mục tiêu từ vệ tinh “Uspekh-U” (1977)

+ 675-MKV – lắp tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh P-1000 “Vulkan”, tổ hợp thủy âm “Kerch”… (1985)

+ 675-N – tàu ngầm nguyên tử được nâng cấp thành phương tiện chuyên chở người nhái (1986).

Cuối những năm 1950, trong Phòng thiết kế - thí nghiệm của V.N.Chelomen, trên cơ sở tổ hợp P-5 được sử dụng để bắn phá các mục tiêu bờ biển, đã chế tạo tổ hợp tên lửa chống tàu P-6. Các công việc về chế tạo vũ khí chống tàu với hệ thống tự dẫn bắn trong hành trình cuối ở Liên Xô đã được bắt đầu từ năm 1948, tuy nhiên, tầm bắn xa của những tên lửa chống tàu có cánh đầu tiên không quá vài chục kilomet. Trong cùng thời gian đó, các mục tiêu nổi chính (cơ bản) – các tàu sân bay của Hải quân Mỹ - có khả năng hoạt động ở khu vực nước sâu trong mọi điều kiện thời tiết và khả năng phòng không (chống tàu) trong mọi điều kiện ngày đêm ở tầm xa 150…200km. Với sự xuất hiện vào đầu những năm 60 trong trang bị các loại máy bay tiêm kích đánh chặn F-4 “Phantom” mới, trang bị tên lửa “không đối không” AIM-7 “Sparrow”, đồng thời các loại máy bay cảnh bảo sớm cất cánh trên boong E-2A “Hawkeye”, chiều sâu phòng thủ được tăng lên 250 – 300km. Trong vai trò các biện pháp trả đũa, việc này yêu cầu phải chế tạo các tên lửa chống tàu thế hệ mới, có tầm xa lớn (khoảng vài trăm kilomet).

Các công việc nghiên cứu về hình thành hình dáng của các tên lửa chống tàu tầm xa được bắt đầu ở Viện nghiên cứu ở ngoại ô Moskva dưới sự chỉ đạo của V.N.Chelomen vào năm 1956. Tên lửa có cánh, nằm trong biên chế tổ hợp, phải có tầm bắn xa tối đa hơn 300km, đảm bảm khả năng tiêu diệt các cụm tàu sân bay xung kích và nhóm các tàu địch mà không phải đi vào khu vực phòng thủ chống tàu và chống ngầm của đối phương. Tên lửa chống tàu có cánh phải được tích hợp hệ thống điều khiển, đảm bảo tiêu diệt mọi lớp tàu nổi của địch một cách thực tế bằng các loại đầu đạn hạt nhân và nổ - nổ mảnh uy lực lớn. Các khí tài của hệ thống điều khiển tổ hợp tàu và tên lửa được thiết kế ở Viện nghiên cứu khoa học số 49 (sau đó là Viện nghiên cứu sản xuất “Granit”) do N.A.Charin chỉ đạo.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Giêng, 2012, 04:20:00 pm
Việc chế tạo hệ thống “chống tàu sân bay” với sự sử dụng các tàu ngầm được cho là không có khả năng (không thể) do sự không có hệ thống trinh sát và chỉ thị mục tiêu tin cậy trên khu vực đại dương. Để giải quyết nhiệm vụ này, Viện nghiên cứu khoa học vô tuyến điện Kiev (nay là Viện nghiên cứu sản xuất “Kvant”) dưới sự chỉ đạo của Tổng công trình sư I.V.Kudryatsev đã chế tạo hệ thống trinh sát hàng không “Uspekh”, được bố trí trên các thiết bị mang được thiết kế một cách đặc biệt Tu-16RTs và Tu-95RTs. Trên các máy bay này bố trí hệ thống ra đa định vị hàng không phát hiện các mục tiêu trên biển và truyền tải các tín hiệu tới tàu, ở đó tiến hành thực hiện việc xử lý thông tin và cung cấp sự chỉ thị mục tiêu cho tổ hợp tên lửa. Bằng cách này, ở Liên Xô, lần đầu tiên trên thế giới đã chế tạo được hệ thống trinh sát - tiến công (RUS), bao gồm các khí tài trinh sát, vũ khí tấn công và các phương tiên mang chúng (trên biển cũng như trên không).

Hệ thống tự động hóa của tàu “Argument” đã giải quyết nhiệm vụ điều khiển bay của một số tên lửa trong loạt, đồng thời sự dẫn bắn tên lửa chống tàu có cánh tới mục tiêu với sự hỗ trợ của máy ngắm ra đa định vị. Trong trường hợp phát hiện một số các mục tiêu có khả năng chọn lọc các mục tiêu theo hướng truyền tải tới thành tàu ngầm mang theo tên lửa chống tàu sự chọn lục mục tiêu của ra đa định vị và truyền tải từ tàu mệnh lệnh về việc lựa chọn các mục tiêu cụ thể.

Điểm yếu cơ bản của tổ hợp P-6 là sự khởi động nổi. Khi đó, thời gian nổi của tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh với tổ hợp P-6 theo so sánh với các tàu ngầm mang trên thành tổ hợp P-5 tăng lên, do đó, hiện tại, yêu cầu sự điều khiển bay của tên lửa cho tới khi đầu đạn tự dẫn bắn của tên lửa bám bắt được mục tiêu. Mặc dù đây là nhược điểm rõ ràng, nhưng tổ hợp P-6 đã mang lại ưu thế đáng kể cho Hải quân Liên Xô trong việc chống lại các tàu nổi cỡ lớn của địch. Ngoài ra, chương trình được sự ủng hộ một cách tích cực từ cá nhân N.S.Khrutsev. Kết quả là ngày 17 tháng 8 năm 1956, đã ra quyết định của Hội đồng Bộ trưởng Liên bang Xô viết về việc bắt đầu chế tạo các tàu ngầm nguyên tử tên lửa Đề án 675, trang bị các tên lửa chóng tàu P-6, đồng thời các tên lửa có cánh chiến lược P-5M được sử dụng để tiêu diệt các mục tiêu ven bờ.

Việc thiết kế tàu ngầm nguyên tử được bắt đầu ở Phòng thiết kế Trung ương Kỹ thuật Hải quân “Rubin” dưới sự chỉ đạo của Tổng công trình sư P.P.Pustưntsev, giám sát viên chính của Hải quân  là Thuyền trưởng cấp 1 (Đại tá) M.S.Fadeev, sau đó là thuyền trưởng cấp 2 V.N.Ivanov. Tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh được sử dụng để tiến hành các cuộc công kích bằng tên lửa P-6 vào các tàu chiến và thuyền của địch khi hoạt động trên các khu vực giao thông liên lạc trên biển và đại dương, còn đồng thời (khi có sự hỗ trợ của tên lửa có cánh P-5M) tiêu diệt các căn cứ Hải quân, bến cảng, các trung tâm hành chính và công nghiệp của địch.

Thiết kế của tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh Đề án 675 – tàu ngầm hai trục, hai than với sự phát triển vách ngăn buồng chiến đấu và thượng tầng. Thân trong, được kéo dài có dạng hình trụ, được chế tạo từ thép AK-25 dày 22-35mm. Phần cuối có hình dạng nón cụt.

Thân trong được chia thành 10 khoang:

1 – Ngư lôi

2 – Cho người và pin ắc quy (trong đó cũng bố trí buồng sĩ quan)

3 – Trạn điều khiển tên lửa

4 – Trạm trung tâm

5 – Điện – diesel

6 – Lò phản ứng

7 – Tuabin

8 – Máy phát điện tuabin, động cơ điện, các lá chắn phân phối

9 – Buồng cho người ở

10 – Ngư lôi mạn tàu.  


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Giêng, 2012, 04:31:41 pm
Hình vẽ tàu ngầm nguyên tử tuần dương Đề án 675

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/675_18.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/675_05.jpg)

Tàu ngầm nguyên tử tuần dương Đề án 675.

Lượng choán nước nổi – 4415 tấn; lượng choán nước chìm – 7390 tấn; tốc độ nổi – 14 hải lý; tốc độ chìm – 22 hải lý; Trang bị: 8 tên lửa có cánh; các thiết bị ngư lôi – 4 ngư lôi mũi 533mm, 2 ngư lôi mũi 400mm; 2 ngư lôi mạn 400mm; 2 lò phản ứng công suất 70 000 sức ngựa; tầm bơi xa 30 000 dặm; trữ lượng nổi 29,3%; độ lặn sâu – 300 mét; chiều dài – 115,4 mét; chiều rộng – 12-12,8 mét, lượng mớn nước – 7,4 mét.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Giêng, 2012, 04:33:55 pm
Các bản vẽ thiết kế Đề án 675

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/675_draw3.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/675_draw2.jpg)



Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Giêng, 2012, 05:13:55 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/675_03.jpg)

Các vách ngăn giữa các khoang được chế tạo từ thép AK-25 dày 10mm. Khi bắn tên lửa, sự bù trừ khối lượng khởi động của tên lửa được thực hiện bằng cách tiếp nhận nước tới các thùng chứa thay thế. Lớp vỏ và tổ hợp thân ngoài được chế tạo từ thép YuZ dày 4-16mm. Bề mặt than được che phủ bằng lớp phủ chống thủy âm.

Thiết bị năng lượng có tổng công suất trên 2 trục là 35 000 sức ngựa, gồm có 2 lò phản ứng dạng VM-A (70 mW), 2 tuabin hơi nước và 2 tổ hợp tuabin răng cưa chính 60-D1. Đồng thời, có 2 máy phát điện diesel DG-400 (động cơ diesel M-860) và hai động cơ điện PG-116 công suất 900 sức ngựa. Các pin ắc quy axit-chì kiểu “38-SM” gồm 2 nhóm với 112 phần tử. Về tổng quan, thiết bị năng lượng chính đồng dạng với các tàu ngầm Đề án 627, 658 và 659.

Anten điều khiển vũ khí tên lửa của hệ thống “Argument” được bố trí trong bộ phận trước của khoang trong cột trụ quay. Nguồn bức xạ mang của an ten kích thước lớn trong vị trí không hoạt động nằm ở trong vách ngăn, bằng cách này, nắp chụp được bố trí từ mặt sau của anten, trở thành tường trước của vách ngăn mui tàu.

Vũ khí cơ bản của tàu ngầm – 8 tên lửa có cánh P-6 (4K88) – bố trí trong các thùng phóng, được nâng lên vị trí khởi động ở góc 14 độ. Các thùng được cố định một cách chặt chẽ theo cặp và ở trong vị trí không hoạt động bố trí nằm ngang trong thượng tầng tàu ngầm. Việc bắn, cũng như trên tàu ngầm Đề án 659, chỉ có thể thực hiện ở vị trí nổi.

Tên lửa P-6 có chiều dài 10,8 mét, đường kính 0,9 mét, sải cánh 2,5 mét và khối lượng khởi động – 5300kg. Tên lửa được trang bị bộ điều áp nhiên liệu và động cơ khởi động nhiên liệu rắn. Phạm vi bắn – 35-380km, tốc độ bay tối đa: 3 Max. Sự bay của tên lửa thực hiện ở độ cao 400-7500 mét, trước khi tấn công mục tiêu, tên lửa hạ xuống độ cao 100 mét.

Trong tàu ngầm mang tên lửa có cánh Đề án 675, lần đầu tiên trên thế giới đã thực hiện được khả năng bắn loạt tên lửa với sự lựa chọn tiêu diệt các tàu chiến địch nằm trong thành phần cụm tàu. Tàu nguyên tử có thể thực hiện loạt phóng 4 tên lửa trong thời gian 15 phút, hai loạt trong khoảng 20-30 phút với sự tính toán thời gian bị tiêu phú cho việc nổi, chuẩn bị phóng, phóng và sự bay của các tên lửa tới mục tiêu. Khả năng đảm bảo bắn đồng thời các mục tiêu bằng 12 tên lửa P-6 với các thiết bị mang khác nhau, cho phép vượt qua hệ thống phòng không dày đặc nhất của các cụm tàu sân bay trong những năm 1960. Để tiếp nhận thông tin về các mục tiêu từ hệ thống trinh sát và chỉ thị mục tiêu hàng không được dự kiến sử dụng hệ thống ra đa định vị “UspekhpU” (sự tiếp nhận có thể được thực hiên ở vị trí nổi cũng như ngầm). Tuy nhiên, nó đã không kịp ở thời điểm đóng tàu và đã được lắp trên một tàu ngầm sau khi nâng cấp theo Đề án 675-MU. Đối với các tàu ngầm nguyên tử còn lại đã áp dụng hệ thống “Kasatka” để tiếp nhận sự chỉ thị mục tiêu từ các vệ tinh (10 tàu ngầm đã được nâng cấp theo Đề án 675-K và 675-MK). 


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Giêng, 2012, 06:32:16 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/675_15.jpg)

Việc sử dụng tổ hợp trinh sát - tiến công thực hiện theo cách sau: tàu ngầm nằm ở khu vực cho phép, sau khi nhận sự phân phối tác chiến tới sự tiếp nhận vũ khí tên lửa, nổi lên độ sâu tiềm vọng và nhận sự liên lạc với máy bay trinh sát và chỉ thị mục tiêu. Thông tin này được xử lý trên màn hình của bảng điều khiển thuộc tổ hợp chỉ thị mục tiêu của tàu ngầm. Chỉ huy tàu phân tích tình trạng mục tiêu và xác định mục tiêu – cần thiết xác định các tọa độ (góc phương vị và tầm xa). Sau đó, các thông tin này được dẫn tới hệ thống điều khiển tổ hợp tên lửa của tàu, thực hiện sự đánh giá tầm, phạm vi của vũ khí và xác suất phát hiện mục tiêu tin cậy của máy ngắm ra đa định vị của tên lửa. Trên cơ sở thông tin này, tiếp nhận quyết định bắn cuối cùng. Tàu ngầm nằm ở vị trí chiến đấu, thực hiện việc chuẩn bị trước phóng, sau đó, nổi lên khỏi mặt nước và thực hiện phóng loạt tên lửa (số lượng tên lửa chống tàu có cánh trong loạt – không quá 4 tên lửa). Việc điều khiển bay của mỗi tên lửa trong loạt phóng trên diện bắn được thực hiện bằng một người thao tác theo dấu hiệu phương vị trên màn hình chỉ thị của ra đa định vị. Trong trường hợp lệch dấu hiệu khỏi hướng đã được vạch sẵn, theo tác viên quay tên lửa tới diện bắn. Khi đạt đến tầm xa theo tính toán của tên lửa (được lựa chọn bởi hệ thống điều khiển tàu) theo mệnh lệnh của người điều khiển, các máy ngắm ra đa định vị của các tên lửa được mở và các máy cảm biến kênh vô tuyến đối với sự truyền tải thông tin bằng các máy ngắm đã nhận được. Sau khi bám bắt mục tiêu bằng máy ngắm ra đa định vi của tên lửa chống tàu có cánh, theo mệnh lệnh của người điều khiển, chuyển sang chế độ tự dẫn bắn (ban đầu, tên lửa được tự dẫn bắn theo góc hướng (phương ngang), sau đó, thực hiện sự bổ nhào thoải và sau vài kilomet tới mục tiêu sẽ thực hiện chế độ tự dẫn bắn trong góc hưởng (mặt phẳng đứng).

Trang bị ngư lôi của tàu gồm có 4 thiết bị ngư lôi mũi 533mm (độ bắn lặn sâu – 100 mét) và 2 thiết bị ngư lôi mạn 400mm (độ bắn lặn sâu – 250mm). Tổng cơ số đạn – 20 ngư lôi. Hệ thống điều khiển vũ khí ngư lôi – “Ladoga”.

Tàu ngầm được trang bị tổ hợp thủy âm “Arktika-M”, tổ hợp các hệ thống đạo hàng “Sila N-675”, la bàn thủy văn “Mayak”, hệ thống đạo hàng thiên văn “Lira-11”, đài ra đa định vị “Albatros” và các khí tài khác.

Tại phương Tây, Đề án 675 được tính là phiên bản nâng cấp của tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa đạn đạo Đề án 659 và mang tên gọi lớp “Echo-II” (“Echo-II class).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Giêng, 2012, 05:54:29 pm
Các biến thể

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/675_27.jpg)

Các tàu ngầm Đề án 675 là một trong số những tàu ngầm được hiện đại hóa một cách linh động nhất thuộc Hải quân Liên Xô. Đây là sự đáp trả của việc đối thủ chính của chúng được hiện đại hóa nhanh chóng – các tàu sân bay Hải quân Mỹ. Như là, các tên lửa P-6 được nâng cấp thành phiên bản P-6M (4K48).

Từ năm 1959, trong Viện nghiên cứu khoa học số 49 dưới sự lãnh đạo của A.P.Tsvetkov đã tiến hành các công việc chế tạo đài “Molnia”, đảm bảo sự chỉ thị mục tiêu phía chân trời tự động do sự tính toán sử dụng sự xuất hiện khuyếch tán đối lưu các sóng vô tuyến cao tần. Tháng 12 năm 1969, đài “Molnia” đã được tiếp nhận vào trang bị Hải quân để lắp trên tàu ngầm nguyên tử Đề án 657. đồng thời trên các tàu ngầm diesel Đề án 651. Tổ hợp thủy âm “Arktika-M” trên một số tàu được thay thế bằng tổ hợp thủy âm hiện đại hơn “Kerch”.

Đề án 675-K được dự kiến lắp tổ hợp “Kasatka”, đảm bảo thu nhận và xử lý các thông tin theo sự chỉ thị mục tiêu từ vệ tinh nhân tạo trái đất. Theo đề án này đã nâng cấp một tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa chiến lược – K-48.

Mười (10) tàu ngầm Đề án 675 trong những năm 60 – 70 đã trải qua sự nâng cấp theo Đề án 675-MK (K-104, K-128, K-175, K-184, K-189, K-57, K-56,K-94,K-23) và Đề án 675-MU (với đài “Uspekh-U” – K-28). Chúng được trang bị các tên lửa chống tàu mới P-500 “Bazalt” (như trên các tàu tuần dương tên lửa Đề án 1164). Ngoài các tên lửa chống tàu mới, trên các tàu được nâng cấp còn được trang bị tổ hợp hệ thống thu nhận sự chỉ thị mục tiêu từ vệ tinh “Kasatka-B” (ngoài một Đề án 675-MU). Khi đó, lượng choán nước của tàu ngầm tăng lên 600 tấn.

Vào cuối những năm 80, đã bắt đầu hiện đại hóa tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh theo Đề án 675-MKV. Các tàu ngầm nhận được tổ hợp tên lửa chống tàu mới P-1000 “Vulkan”, có tầm bắn xa được tăng cường đáng kể, đồng thời tổ hợp thủy âm hiện đại “Kerch”. Để đảm bảo sự phòng thủ đối với cuộc tấn công đường không của địch trong vị trí nổi, tàu ngầm nguyên tử trong quá trình nâng cấp đã nhận được tổ hợp tên lửa phòng không cầm tay “Strela-3”. Lượng choán nước của các tàu Đề án 675-MKV tăng thêm 1000 tấn. Toàn bộ các tàu được nâng cấp theo Đề án 657-MKV gồm 5 tàu – K-1, K-22, K-35, K-34 và K-10 (tàu cuối cùng chưa hoàn thành nâng cấp đã bị loại khỏi biên chế).

Năm 1986, một trong số các tàu ngầm mang tên lửa có cánh Đề án 675 – K-86 đã được nâng cấp theo Đề án 675-N trong vai trò phương tiện mang tàu ngầm siêu nhỏ và người nhái. Từ tàu ngầm được tháo vũ khí tên lửa và các khí tài điều khiển bắn tên lửa, lắp các khí tàu đặc biệt, trang bị các buồng cần thiết để bố trí người nhái và cho họ rời khỏi tàu dưới nước, đồng thời cố định âu thuyền để cho tàu ngầm siêu nhỏ Đề án 1861 (“X-Ray class”).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Giêng, 2012, 06:52:10 pm
Chương trình đóng tàu

Việc đóng Đề án 675 được thực hiện ở Severodvinsk và Komsomol-na-Amur. Tàu đầu tiên đóng ở Severodvinsk – K-166 – gia nhập biên chế hạm đội Phương Bắc năm 1963. Tàu đã trải qua các thí nghiệm cấp nhà nước, thực hiện thành công loạt phóng 4 tên lửa. Tổng cộng từ năm 1963, đến năm 1968, Hải quân đã nhận được 29 tàu ngầm Đề án 675 (16 thân tàu đóng ở Severodvinsk, 13 – Komsomol-na-Amur).

Tình hình đến năm 2007

Các tàu ngầm Đề án 675 đã gia nhập Hải quân Liên Xô trong những năm 1960; 16 tàu trong Hạm đội Phương Bắc (một tàu năm 1966 được bàn giao cho Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương) và 13 – tới Thái Bình Dương. Ngày 25 tháng 7 năm 1977, toàn bộ các tàu của Đề án này được chuyển thành phân lớp tàu ngầm loại lớn, còn từ 15 tháng 1 năm 1978, một lần nữa được quay trở lại phân lớp tàu ngầm nguyên tử tuần dương

Các tàu ngầm Đề án 675 được sử dụng linh hoạt trong các Hạm đội Phương Bắc và Thái Bình Dương. Chúng làm nhiệm vụ trực chiến ở Địa Trung Hải và Ấn Độ Dương. Tháng 11 năm 1965, bằng chỉ thị của Bộ Tư lệnh Hải quân cho Tư lệnh Hạm đội Phương Bắc đã giao nhiệm vụ chuẩn bị hai tàu ngầm nguyên tử để chuyển tới Hạm đội Thái Bình Dương từ hải trình phía nam. Quyết định tác hai tàu để tham gia hành trình là tàu ngầm tên lửa K-166 và tàu ngầm ngư lôi Đề án 627-A. Mùng 2 tháng 2 năm 1966, các tàu đã bắt đầu hoạt khởi hành. Cự ly giữa các tàu, lần lượt ở vị trí ngầm, là 60 dặm. Thỉnh thoảng, chúng tiến sát nhau để thực hiện thông tin liên lạc bằng sóng siêu âm hoặc theo kênh thông tin liên lạc dưới nước. Ngày 20 tháng 3 năm 1966, đã vượt qua gần 25 000 dặm, các tàu ngầm đã tới cảng Avacha ở Kamchatka. Quá trình di chuyển này đã được tuyên truyền chính thức trên truyền thông Liên Xô, gây tiếng vang chính trị lớn. Toàn bộ thủy thủ đoàn của các tàu ngầm đã được tăng thưởng Huân chương và Huy chương, còn 5 người tham gia được tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô.

Để mở rộng khu vực hoạt động của các tàu ngầm Liên Xô đã tiến hành tìm kiếm căn cứ cơ động mới. Với mục tiêu này, năm 1967, đã có cuộc thám hiểm tổng hợp “Priliv” hướng tới vùng nước cận xích đạo thuộc Đại Tây Dương dưới sự chỉ huy của Thống chế L.A.Vladimirovski. Trong cuộc thám hiểm này có sự tham gia của tàu ngầm nguyên tử K-128.

Tàu ngầm K-131 trong giai đoạn từ mùng 1 tháng 3 đến 31 tháng 12 năm 1969 đã ở trong khu vực hoạt động chiến đấu tại Địa Trung Hải, thực hiện sự yểm trợ cho các lực lượng vũ trang Ai Cập.

Năm 1970, trên Ấn Độ Dương để thực hiện nhiệm vụ trực chiến, tàu ngầm nguyên tử đầu tiên của Liên Xô K-7 đã được đưa đến. Ở đó, cũng tàu ngầm này đã thực hiện các cuộc bắn tên lửa theo các góc phản xạ (để đảm bảo sự chỉ thị mục tiêu từ máy bay Tu-95RTs đang hoạt động). Năm 1971, trong thời gian ba tháng, ở Ấn Độ Dương có tàu ngầm K-31 trực chiến.

Các tàu ngầm Đề án 675 được sử dụng không chỉ để theo dõi các tàu nổi, nhưng thỉnh thoảng “đánh hỏng” chúng và các tàu ngầm nguyên tử Mỹ đang làm nhiệm vụ trực chiến. Như là, tàu K-135 năm 1967 trong thời gian 5,5 giờ đã thực hiện sự theo dõi trực tiếp tàu ngầm tên lửa chiến lược “Patric Ghenri”.

Năm 1989 – 92, các tàu ngầm Đề án 675 đã bị loại khỏi biên chế Hải quân nhanh chóng. Tàu ngầm đầu tiên bị loại khỏi Hải quân là K-116 (năm 1985) và K-431 (trước đó là K-31, năm 1987) do tai nạn trong hệ thống tuabin chính. Tàu cuối cùng bị loại vào năm 1994: B-47 (trước là K-47) (B-22 (K-22) và K-131.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Giêng, 2012, 07:47:51 pm
Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ K-166; từ năm 1978 là K-71 (số hiệu xưởng 530). Ghi danh vào biên chế tàu Hải quân mùng 10 tháng 4 năm 1961; khởi công 30 tháng 5 năm 1961 ở “Xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc” (xưởng số 402) ở Severodvinsk; hạ thủy mùng 6 tháng 9 năm 1962; gia nhập biên chế 31 tháng 10 năm 1963; 4 tháng 11 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; từ tháng 1 năm 1967 đến tháng 6 năm 1968 đã trải qua sửa chữa định kỳ ở xưởng “Zvedochka”; trong giai đoạn từ năm 1969 đến năm 1974 đã thực hiện 3 cuộc hành quân dài ngày phục vụ chiến đấu kéo dài 178 ngày; năm 1969 đã thực hiện việc bằng khu vực hoạt động các lò phản ứng; 10 tháng 12 năm 1970, trên tàu đã xảy ra đám cháy vì vỡ cột không khí cao áp, đã làm hỏng các máy móc khoang số 4 và bộ phận các khí tài của tổ hợp vũ khí; từ tháng 8 năm 1976 đến tháng 3 năm 1981 đã trải qua trung tu; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1979 trở lại thành tàu ngầm tuần dương; từ năm 1979 đến năm 1983 nằm trong bộ phận dự bị; năm 1983, rời khỏi khu vực bảo dưỡng, thực hiện cuộc hành quân dài ngày tới khu vực phục vụ chiến đấu kéo dài 51 ngày; 30 tháng 5 năm 1989 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải tán và đưa vào neo đậu ở xưởng số 35 ở Murmansk.

+ K-104; (số hiệu xưởng 531); khởi công 11 tháng 1 năm 1962 ở “Xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc” (xưởng số 402) ở Severodvinsk; hạ thủy mùng 16 tháng 6 năm 1963; gia nhập biên chế 16 tháng 12 năm 1963; 4 tháng 11 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; từ tháng 12 năm 1967 đến tháng 12 năm 1969 đã trải qua sửa chữa định kỳ ở xưởng số 10; trong giai đoạn từ năm 1970 đến 1972 đã thực hiện hai cuộc hành quân dài ngày phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 151 ngày; năm 1972 đã tiến hành nạp nhiên liệu cho lò phản ứng, năm 1973, thay các ống dẫn tuabin của đường viền số 1; từ tháng 10 năm 1976 đến tháng 2 năm 1981 đã trải qua trung tu và nâng cấp theo Đề án 675-MK ở xưởng “Zvedochka”; 25 tháng 7 năm 1977 được chia vào phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 trở lại thành tàu ngầm tuần dương; trong giai đoạn từ năm 1983 đến 1988 đã thực hiện 5 cuộc hành quân dài ngày phục vụ chiến đấu tổng cộng 310 ngày; năm 1990 được đưa vào nhóm dự bị hạng II; 19 tháng 4 năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải tán và đưa vào neo đậu ở vịnh Ara.

+ K-170; từ năm 1978 là K-86; từ 8 tháng 4 năm 1985 là KS-86: (số hiệu xưởng 532); khởi công 16 tháng 5 năm 1962 ở “Xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc” (số 402) ở Severodvinsk; hạ thủy 4 tháng 8 năm 1963; gia nhập biên chế 26 tháng 12 năm 1963; 4 tháng 11 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1964 đã hoàn thành cuộc hành quân tới biển Na Uy và Bắc Đại Tây Dương theo kế hoạch “Ograda”, đánh dấu sự phục vụ chiến đấu đầu tiên của tàu ngầm Đề án 675, tổng cộng trong năm 1964 đã trải qua 12 949 dặm; trong giai đoạn từ năm 1964 đến năm 1966 đã thực hiện hai cuộc hành quân dài kéo dài phục vụ chiến đấu tổng cộng 90 ngày; từ tháng 6 năm 1966 đến tháng 12 năm 1967 đã trải qua sửa chữa định kỳ; năm 1970 đã thực hiện cuộc hành quân kéo dài tổng cộng 51 ngày; 25 tháng 7 năm 1977 được phân loại vào phân lớp tàu ngầm cỡ lớn; 15 tháng 1 năm 1978 trở lại thành tàu ngầm tuần dương; từ tháng 1 năm 1973 đến tháng 12 năm 1980 trải qua trung tu và trang bị lại theo Đề án 675-N ở xưởng số 10; 8 tháng 4 năm 1985 phân loại thành phân lớp tàu ngầm đặc nhiệm; trên tàu đã diễn ra sự vỡ ổ trục (vòng bi) của tuabin thành bên phải; 24 tháng 6 năm 1991 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải thể và đưa vào neo đậu ở vịnh Olenia.

+ K-172; từ năm 1978 là K-192 (số hiệu xưởng 533); khởi công 8 tháng 8 năm 1962 ở “Xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc” (số 402) tại Severodvinsk; hạ thủy 25 tháng 12 năm 1963; gia nhập biên chế 30 tháng 7 năm 1964; 4 tháng 11 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bawcsl trong giai đoạn từ tháng 7 năm 1964 đến tháng 12 năm 1968 đã thực hiện 3 cuộc hành quân dài phục vụ chiến đấu tổng cộng 154 ngày; tháng 4 năm 1968, trong thời gian bơi dài ngày đã xảy ra sự nhiễm bẩn thủy ngân nặng trong các khoang số 3, 8 và 10, tàu phải quay khẩn cấp trở lại căn cứ, làm thương vong 126 người; từ tháng 12 năm 1968 đến tháng 12 năm 1971 đã trải qua sửa chữa với sự thay thế máy phát điện hơi nước ở xưởng “Zvedochka”; từ 24 tháng 10 năm 1972 đến 30 tháng 3 năm 1973 đã thực hiện cuộc hành quân kéo dài phục vụ chiến đấu tổng cộng 99 ngày; năm 1974; đã tiến hành nạp nhiên liệu cho lò phản ứng; trong giai đoạn từ tháng 12 năm 1974 đến tháng 2 năm 1978 đã thực hiện 4 cuộc hành quân kéo dài phục vụ 290 ngày; năm 1975; trong thời gian hành quân đã xảy ra sự mất kín đường bao số 1; 25 tháng 7 năm 1977 đưa vào phân lớp tàu ngầm cỡ lớn; 15 tháng 1 năm 1978 quay trở lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; từ tháng 8 năm 1981 đến tháng 4 năm 1985 đã trải qua trung tu ở xưởng số 85; trong giai đoạn từ tháng 12 năm 1985 đến tháng 6 năm 1989 đã thực hiện 4 cuộc hành quân kéo dài tổng thời gian 250 ngày; năm 1987, đã nạp nhiên liệu lại cho lò phản ứng; 15 tháng 6 anwm 1989 trong thời gian hành quân đã xảy ra sự vỡ đường bao số 1 của lò phản ứng bên trái – đồng thời cũng bị sự cố; 16 tháng 6 năm 1989 đã phát hiện sự rò rỉ trong đường bao số 1 của thành bên phải; 26 tháng 6 năm 1989 xuất hiện sự mất kín trong đường bao số 1 của lò phản ứng thành bên phải và làm lạnh khẩn cấp, trong khi đấu tranh giành giật sự sống, thủy thủy đoàn đã nhận được sự sự tăng cường chiếu sang, tàu ngầm nguyên tử phối hợp với tàu chống ngầm loại lớn “Simferpol” và tàu cứu nạn “Karbakh” đã về căn cứ bằng động cơ diesel; 27 tháng 6 năm 1989 đã tháo cáp kéo của tàu “Karabakh; do sự rò rỉ chất phóng xạ mạnh của thiết bị động cơ chính đã nhận quyết định không sửa chữa và tàu ngầm tên lửa có cánh được đưa vào danh sách dự bị hạng II; 19 tháng 4 năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải thể và đưa vào neo đậu ở vịnh Ara.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Giêng, 2012, 04:18:49 pm
+ K-47; từ năm 1993 là B-47 (số hiệu xưởng 534); khởi công 7 tháng 8 năm 1962 ở “xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc” ở Severodvinsk (số 402); hạ thủy 10 tháng 2 năm 1964; gia nhập biên chế 31 tháng 8 năm 1964; 4 tháng 11 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; từ năm 1970 đến 1972 đã trải qua sữa chữa định kỳ với sự thay thế máy phát điện hơi nước ở xưởng “Zvedochka”; tháng 5 – 6 năm 1976 đã thực hiện nạp nhiên liệu cho lò phản ứng; 24 tháng 9 năm 1976, trong thời gian phục vụ chiến đấu ở độ sâu 40 mét, do chập mạch đã xảy ra đám cháy ở khoang số 8, tàu ngầm nguyên tử phải nổi lên, động cơ gặp sự cố, trong khi chiến đấu với đám cháy, 3 người đã hy sinh, sau đó 4 tháng 10 năm 1976, tàu đã trở về căn cứ trong tình trạng khẩn cấp; 25 tháng 7 năm 1977, trở lại phân lớp tàu ngầm loại lownsl 15 tháng 1 năm 1978 quay trở về phân lớp tàu ngầm tuần dương; trong giai đoạn từ 1979 đến năm 1982 đã thực hiện 4 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 243 ngày; 24 tháng 9 năm 1984, phát hiện sự rò rỉ ở đường bao số 3, sau đó, tàu được đưa vào biên chế dự bị loại 2 và đưa vào sửa chữa ở xưởng số 10; trong giai đoạn từ tháng 8 năm 1989 đến tháng 3 năm 1990 đã tiến hành nạp nhiên liệu các lò phản ứng; 3 tháng 6 năm 1992, trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử loại lớn; 5 tháng 7 năm 1994 bị loại khỏi biên chế Hải quân, bị giải tán và đưa vào neo đậu ở vịnh Ara.

+ K-1; từ 3 tháng 6 năm 1992 là B-2 (số hiệu xưởng 535); khởi công 11 tháng 1 năm 1963 ở “xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc” (số 402) ở Severodvinsk; hạ thủy 30 tháng 4 năm 1964; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1964; 4 tháng 11 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; trong giai đoạn từ năm 1964 đến năm 1968 đã thực hiện 4 cuộc hành quân dài ngày phục vụ chiến đấu tổng cộng 180 ngày; trong giai đoạn từ tháng 6 năm 1968 đến tháng 11 năm 1970 đã trải qua sửa chữa với sự nạp nhiên liệu cho các lò phản ứng ở xưởng “Zvedochka”; trong giai đoạn từ 1971 đến 1978 đã thực hiện 8 cuộc hành quân kéo dài tổng cộng 550 ngày; 20 tháng 8 năm 1973 trong thời gian phục vụ chiến đấu ở biển Karib ở độ sâu 120 mét và tốc độ 16 hải lý; tàu nghiêng và bị thương nặng ở phần mũi; 25 tháng 7 năm 1977 đã trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; năm 1977 đã tiến hành nạp nhiên liệu cho các lò phản ứng; 15 tháng 1 năm 1978 trở lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; 8 tháng 8 năm 1978 khi quay lại từ nhiệm vụ chiến đấu đã xử lý bảo vệ tai nạn của lò phản ứng của thành bên trái, thiết bị năng lượng của thành bên trái hoạt động trở lại vào 12 tháng 8 năm 1978; nhưng 13 tháng 8 năm 1978, tuabin thành bên phải đã bị hỏng, còn 17 tháng 8 năm 1978- tuabin thành bên trái , tàu ngầm phải nổi lên và được kéo bởi tàu cứu hộ “Pamir” về căn cứ; từ tháng 2 năm 1981 đến tháng 12 năm 1985 đã trải qua trung tu và nâng cấp theo Đề án 675-MKV ở xưởng “Zvedochka”; trong giai đoạn từ tháng 11 năm 1986 đến tháng 9 năm 1988 và thực hiện 3 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 218 ngày; 3 tháng 6 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử loại lớn; 3 tháng 7 năm 1992 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải tán và đưa về neo đậu ở vịnh Ara.

K-28; từ 1977 là K-428 (số hiệu xưởng 536); khởi công 26 tháng 4 năm 1963 ở “xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc” (số 402) ở Severodvinskl hạ thủy 30 tháng 6 năm 1964; gia nhập biên chế 16 tháng 12 năm 1964; 22 tháng 1 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1968 đã thực hiện cuộc hành quân kéo dài tổng cộng 50 ngày; từ tháng 10 năm 1968 đến tháng 3 năm 1977 đã trải qua sửa chữa và nâng cấp theo Đề án 675-MU ở xưởng “Zvedochka”; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 đã quay trở lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; trong giai đoạn từ 1982 đến 1985 đã thực hiện cuộc hành quân kéo dài 292 ngày; 28 tháng 3 đến 4 tháng 4 năm 1984 đã tham gia chiến dịch tập trận tham mưu – chỉ huy của Hải quân “Atlantic”; năm 1988 được đưa tới xưởng 35 để trung tu, nhưng theo tình trạng kỹ thuật, việc sửa chữa đã tiến hành không đầy đủ; 19 tháng 4 năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân và đưa vào neo đậu ở vịnh Ara; 31 tháng 12 năm 1992 bị giải tán và năm 1993 được đưa tới xưởng “Nerpa” để tháo dỡ.

K-74 (số hiệu xưởng 537); khởi công 23 tháng 7 năm 1973 ở “xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc” (số 402) ở Severodvinsk; hạ thủy 30 tháng 7 năm 1964; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1964; 11 tháng 8 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; trong giai đoạn từ năm 1967 đến 1970 đã thực hiện 2 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 100 ngày; từ tháng 12 năm 1970 đến tháng 11 năm 1973 đã trải qua trung tu ở xưởng “Zvedochka”; trong giai đoạn từ năm 1974 đến năm 1982 đã thực hiện 6 cuộc hành quân dài ngày tổng cộng 330 ngày; tháng 6 – 9 năm 1975 đã tiến hành nạp nhiên liệu cho lò phản ứng; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 trở lại phân lớp tàu tuần dương; từ tháng 12 năm 1982 đến tháng 3 năm 1983 đã trải qua sửa chữa định kỳ ở xưởng số 10; trong giai đoạn từ năm 1988 đến 1989 đã thực hiện 2 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 123 ngày; đã đi qua 13 132 dặm; 19 tháng 4 năm 1992 bị loại khỏi biên chế Hải quân và đưa vào neo đậu ở vịnh Ara.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Giêng, 2012, 05:30:07 pm
+ K-22; từ 3 tháng 11 năm 1967 là “Krasnogvardeets” (“Cận vệ đỏ”); từ 7 tháng 7 năm 1994 là B-22 (số hiệu xưởng 538); khởi công 14 tháng 10 năm 1963 ở “xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc” (số 402) ở Sverodvinsk; hạ thủy 29 tháng 11 năm 1964; gia nhập biên chế 7 tháng 8 năm 1965; 6 tháng 9 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; trong giai đoạn từ 1965 đến năm 1970 đã thực hiện cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 49 ngày; 23 tháng 10 năm 1967 được tặng Kỷ niệm chương của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng Sản Liên Xô, Đoàn chủ tịch Xô Viết tối cao và Hội đồng Bộ trưởng Liên bang Xô Viết; từ tháng 11 năm 1979 đến tháng 7 năm 1973 đã trải qua sửa chữa ở xưởng “Zvedochka”; trong giai đoạn từ 1974 đến năm 1985 đã thực hiện 6 cuộc hành quân dài ngày kéo dài tổng cộng 398 ngày; năm 1975 đã tiến hành nạp lại nhiên liệu cho lò phản ứng; 8 tháng 8 năm 1976 trên biển xảy ra sự cố và được khắc phục bằng sức người; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 28 tháng 8 năm 1977 trong thời gian phục vụ chiến đấu đã xảy ra va chạm với tàu chiến của Hải quân Mỹ “Voge”, tàu nguyên tử đã bị hỏng thùng tên lửa số 1, các khí tài kéo và thiết kế than của mui và thượng tầng, còn tàu chiến chỉ có thể di chuyển được; 15 tháng 1 năm 1978 quay trở lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; từ tháng 12 năm 1985 đến năm 1990 đã trải qua trung tu và nâng cấp theo Đề án 675-MKV ở xưởng “Zvedochka”, trong giai đoạn sửa chữa có nạp lại nhiên liệu cho lò phản ứng; 15 tháng 7 năm 1994 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải thể và neo đậu ở vịnh Ara.

+ K-35; từ năm 1993 là B-35 (số hiệu xưởng 539); khởi công 6 tháng 1 năm 1964 ở “xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc” (số 402) tại Severodvinsk; hạ thủy 27 tháng 1 năm 1965; gia nhập biên chế 30 tháng 6 năm 1965; 30 tháng 7 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1965-69 đã thực hiện cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 29 ngày; từ tháng 9 năm 1969 đến tháng 4 năm 1974 đã trải qua trung tu với sự thay thế các máy phát điện hơi nước ở xưởng số 10; trong giai đoạn từ năm 1973 đến năm 1975 đã thực hiện 3 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 221 ngày; 7 tháng 12 năm 1975 ở căn cứ đã xảy ra vụ nổ hỗn hợp khinh khí – không khí trong ổ ắc quy số 2, tổn thất 2 người; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 quay trở lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; năm 1981 đã thực hiện nạp lại nhiên liệu cho các lò phản ứng; năm 1983 đã thực hiện cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 72 ngày; từ tháng 12 năm 1984 đến tháng 12 năm 1987 đã trải qua trung tu và nâng cấp theo Đề án 675-MKV; năm 1989 đã thực hiện cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 62 ngày; 3 tháng 6 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử loại lớn; 20 tháng 6 năm 1993 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải tán và đưa về neo đậu ở vịnh Ara.

+ K-90; từ 25 tháng 7 năm 1987 là K-111 (số hiệu xưởng 540); khởi công 29 tháng 2 năm 1964 ở “xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc” (số 402) ở Severodvinsk; hạ thủy 17 tháng 4 năm 1965; gia nhập biên chế 25 tháng 9 năm 1965; 10 tháng 10 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; trong giai đoạn từ năm 1965 đến 1970 đã thực hiện 4 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 173 ngày; từ tháng 9 năm 1970 đến tháng 12 năm 1973 đã trải qua sửa chữa định kỳ với sự thay thế các động cơ phát điện hơi nước ở xưởng số 10; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 trở lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; năm 1978 đã thực hiện việc tái nạp nhiên liệu cho các lò phản ứng; trong giai đoạn từ năm 1979 đến năm 1985 đã thực hiện 6 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 372 ngày; năm 1976, trong thời gian 6 ngày thiết bị sản xuất hơi nước của thành bên trái hai lần bị hỏng do rò rỉ trong đường bao số 1; từ 15 tháng 2 năm 1986 đến năm 1987 đã qua sửa chữa phục hồi; 14 tháng 3 năm 1989 bị loại khỏi biên chế Hải quân và đưa vào neo đậu ở vịnh Ara, sau đó – vịnh Pala; 31 tháng 12 năm 1992 bị giải tán và năm 1992 – 1993 mang đi tháo dỡ ở xưởng “Nerpa”.

K-116 (số hiệu 541); khởi công 8 tháng 5 năm 1964 ở “xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc” (số 402) ở Severodvinsk; hạ thủy 19 tháng 6 năm 1965; gia nhập biên chế 29 tháng 10 năm 1965; 25 tháng 11 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 2 tháng 2 đến 23 tháng 3 năm 1966 cùng với tàu ngầm nguyên tử K-133 thuộc Đề án 627-A lần đầu tiên trên thế giới đã hoàn thành cuộc hành quân từ Hạm đội Phương Bắc tới Hạm đội Thái Bình Dương theo hành trình phía Nam qua hai đại dương eo biển Dreik mà không nổi, sau 52 ngày đã bơi qua 21 000 dặm, sau đó, 25 tháng 5 năm 1966, các tàu đã được tặng Huân chương của Nhà nước; 7 tháng 4 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; 14 tháng 4 năm 1966 các tàu được tặng Huân chương “Cận vệ”; trong giai đoạn từ năm 1966 đến năm 1969 đã thực hiện 5 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 278 ngày và thực hiện 2 cuộc trực chiến; 8-9 tháng 9 năm 1967 trong thời gian hành quân phục vụ chiến đấu trên tàu đã bị hỏng các máy làm lạnh, bộ phận các máy móc bị hỏng, một bộ phận thủy thủ bị hun nóng, tàu ngầm phải nổi lên và có sự xuất hiện của các tàu cứu hộ, 20 tháng 9 năm 1967 tàu tự quay trở về căn cứ; từ tháng 11 năm 1969 đến tháng 12 năm 1971 đã trải qua trung tu với việc tái nạp nhiên liệu cho các lò phản ứng; trong giai đoạn năm 1973 – 1974 nằm trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu trong thời gian 115 ngày; 18 tháng 4 năm 1976 ở vịnh Avachin đã va chạm với tàu phá băng “Volsk” và bị thương nghiêm trọng thân trong cùng bể chứa tải trọng dằn chính, sau đó đưa vào sửa chữa; tháng 4 năm 1977 đã kết thúc sửa chữa và quay trở lại biên chế; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 đã trở lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; năm 1978 đã tiến hành tái nạp nhiên liệu cho lò phản ứng; 2 tháng 7 năm 1979 khi di chuyển từ vịnh Pavlov ở vịnh Vladimir trong trạng thái nổ và xảy ra tai nạn ở lò phản ứng thành bên trái, trang bị của khoang lò phản ứng bị hỏng, còn thủy thủ đoàn bị chiếu xạ ngược; 28 tháng 4 năm 1980 đưa vào sửa chữa khôi phục ở xưởng số 30, nhưng năm 1982 được đưa vào biên chế dự bị; 10 tháng 9 năm 1985 bị loại khỏi biên chế, giải tán và đưa vào neo đậu ở vịnh Chazhma.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Giêng, 2012, 06:22:59 pm
+ K-125 (số hiệu xưởng 542); khởi công 1 tháng 9 năm 1964 ở “xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc” (số 402) tại Severodvinsk; hạ thủy 11 tháng 9 năm 1965; gia nhập biên chế 18 tháng 12 năm 1965; 27 tháng 12 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; trong giai đạn từ năm 1967 đến 1970 đã thực hiện 5 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 305 ngày; từ tháng 11 năm 1970 đến tháng 7 năm 1974 đã trải qua trung tu với sự nâng cấp tại xưởng “Zvedochka”; tháng 1 năm 1974 đã tiến hành tái nạp nhiên liệu cho các lò phản ứng; trong giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1980 đã thực hiện 6 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 390 ngày; 10 tháng 4 năm 1976 trong thời gian phục vụ chiến đấu xảy ra vụ nổ ở khoang số 1, thủy thủ đoàn bị thương vong; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 quay trở lại thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; năm 1983 – 87 đã trải qua trung tu ở xưởng số 35; năm 1985 - 86 đã tái nạp nhiên liệu cho lò phản ứng; trong giai đoạn từ 1988 đến 1989 đã thực hiện 2 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 124 ngày dưới nước và đi 12 824 dặm; 24 tháng 6 năm 1991 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải thể và đưa neo đậu ở vịnh Ara.

K-128; từ năm 1982 là K-62 (số hiệu xưởng 543); khởi công 29 tháng 10 năm 1964 ở “xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc” (số 402) ở Severodvinsk; hạ thủy 30 tháng 12 năm 1965; gia nhập biên chế 25 tháng 8 năm 1966; 6 tháng 9 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; trong giai đoạn từ năm 1966 đến 1970 đã thực hiện 6 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 280 ngày; tháng 5 năm 1968 đã bị ngập nước ở khoang số 9 do sai sót của thủy thủ đoàn; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 quay trở lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; từ tháng 4 năm 1977 đến tháng 12 năm 1981 đã trải qua trung tu và nâng cấp theo Đề án 675-MK ở xưởng “Zvedochka”; năm 1982 đã tiến tái nạp nhiên liệu cho các lò phản ứng; trong giai đoạn từ năm 1983 đến năm 1987 đã thực hiện 7 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 430 ngày; năm 1989 đã bị hạn chế hoạt động theo công suất khai thác sử dụng của lò phản ứng thành bên phải, sau đó bị đưa vào danh sách dự bị loại II; 19 tháng 4 năm 1990, bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải thể và đưa vào neo đậu ở vịnh Ara.

+ K-131 từ 3 tháng 6 năm 1992 là B-131 (số hiệu xưởng 544); khởi công 31 tháng 12 năm 1964 ở “xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc” (số 402) tại Severodvinsk; hạ thủy 6 tháng 6 năm 1966; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1966; 31 tháng 10 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 1 tháng 3 đến 31 tháng 12 năm 1969 ở trong khu vực hoạt động chiến đấu ở biển Địa Trung Hải, thực hiện nhiệm vụ chiến đấu theo sự hỗ trợ cho các lực lượng Ai Cập; trong giai đoạn từ 1967 đến 1972 đã thực hiện 5 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 300 ngày; 19 tháng 6 năm 1972, trong khi đang di chuyển đã va chạm với tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh Đề án 670, đã bị thương nhẹ ở nóc thiết bị ngư lôi; từ tháng 8 năm 1972 đến tháng 8 năm 1975 đã bị tai nạn và trung tu ở xưởng số 10; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm cỡ lớn; 15 tháng 1 năm 1978 quay lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; trong giai đoạn từ năm 1977 đến 1984 đã thực hiện 6 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 414 ngày; 28 tháng 9 năm 1982 trong thời gian đỗ trong các thùng cân bằng đã diễn ra vụ nổ các cặp thuốc màu, 2 người hy sinh và 4 người bị bỏng; 28 tháng 3 đến 4 tháng 4 năm 1984 đã tham gia cuộc tập trận tham mưu – chỉ huy “Atlantic-84”; 18 tháng 6 năm 1984 trong thời gian quay về căn cứ sau cuộc hành quân do sai sót của thủy thủ đoàn đã xuất hiện đám cháy ở khoang số 8, sau đó là khoang số 7, hy sinh 13 người, tàu phải nổi và được kéo về căn cứ; từ tháng 8 năm 1984 đến tháng 11 năm 1989 đã trải qua trung tu ở xưởng số 35; năm 1989 đã tiến hành tái nạp nhiên liệu cho các lò phản ứng; 3 tháng 6 năm 1982 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử loại lớn; năm 1993 bị hạn chế hoạt động theo công suất thiết bị năng lượng chính; 5 tháng 7 năm 1994 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải thể và đưa vào neo đậu ở vịnh Ara.

+ K-135, từ năm 1977 là K-235 (số hiệu xưởng 545); khởi công 27 tháng 2 năm 1965 ở “xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc” (số 402) ở Severodvinsk; hạ thủy 27 tháng 6 năm 1966; gia nhập biên chế 25 tháng 11 năm 1966; 12 tháng 12 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; trong giai đoạn từ năm 1969 đến năm 1970 đã thực hiện 2 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 151 ngày; từ 14-27 tháng 5 năm 1970 đã tham quan tại Senfuzgos (Cuba); từ tháng 9 năm 1974 đến tháng 10 năm 1978 đã trải qua trung tu và nạp lại nhiên liệu cho các lò phản ứng; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 quay lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; trong giai đoạn từ 1980 đến 1985 đã thực hiện cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 315 ngày; trong năm 1984-1985 nằm sửa chữa khắc phục sự rò rỉ trong thiết bị sản xuất hơi nước thành bên phải ở xưởng số 10; 14 tháng 4 năm 1989 bị loại khỏi biên chế Hải quân để đưa sang cơ sở khác, giải tán và đưa đến neo đậu ở vịnh Ara.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Giêng, 2012, 04:53:17 pm
+ K-175 (số hiệu xưởng 171); khởi công 17 tháng 3 năm 1962 ở “xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin” (số 199) ở Komsomol-na-Amur; hạ thủy 30 tháng 9 năm 1962; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1963; 4 tháng 11 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; năm 1968 bị hạn chế công suất khai thác sử dụng của thiết bị động cơ chính với sự liên quan đến những hư hỏng; từ tháng 12 năm 1973 đến tháng 11 năm 1977 đã trải qua sửa chữa theo Đề án 675-MK ở xưởng số 49; từ tháng 4 đến 10 năm 1976 đã trải qua sửa chữa với sự thay thế bình tụ điện của thiết bị năng lượng chính thành bên phải; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 trở lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; năm 1979 đã thực hiện cuộc hành quân kéo dài phục vụ chiến đấu tổng cộng 55 ngày, trong thời gian này đã xuất hiện sự hỏng ở đường bao số 1; năm 1980 đã thực hiện cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 136 ngày với sự cung cấp lượng dự trữ trong các căn cứ cơ động; năm 1981-1982 đã trải qua sửa chữa định kỳ; năm 1983 đã tiến hành tái nạp nhiên liệu của các lò phản ứng; năm 1985 đã thực hiện cuộc hành quân chiến đấu dài ngày; 29 tháng 9 năm 1985 tại bến cảng của thành phố Aden (Nam Yemen) đã xảy ra sự mất kín trong khu vực lò phản ứng do lỗi của thủy thủ đoàn, làm tăng lượng phóng xạ, sự phòng thủ khẩn cấp đã được sử dụng; tháng 11 năm 1986, ở căn cứ đã thực hiện việc phun các vật liệu phóng xạ làm bẩn toàn bộ các khu vực bên cạnh, sau đó tàu được đưa vào sửa chữa; năm 1988, lò phản ứng được khởi động lại, năm 1989 việc sửa chữa không được tiến hành đầy đủ và dừng; 19 tháng 4 năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải tán và đưa vào neo đậu ở  vịnh Krasheninnikov.

+ K-184 (số hiệu xưởng 172); khởi công 2 tháng 2 năm 1963, ở “xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin” (số 199) ở Komsomol-na-Amur; hạ thủy 25 tháng 8 năm 1963; gia nhập biên chế 31 tháng 3 năm 1964; 4 tháng 11 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; từ tháng 4 năm 1967 đến tháng 11 năm 1969 đã trải qua sửa chữa với sự thay thế các máy phát điện hơi nước ở xưởng số 30; trong giai đoạn từ 1971 đến 1972 đã thực hiện 2 cuộc hành quân kéo dài phục vụ chiến đấu tổng cộng 72 ngày; năm 1973 đã tiến hành tái nạp nhiên liệu cho các lò phản ứng; từ tháng 10 năm 1975 đến tháng 12 năm 1979 đã trải qua sự nâng cấp theo Đề án 675-MK ở xưởng “Zvezda”; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 đã quay trở lại phân lớp tàu tuần dương; trong giai đoạn từ năm 1979 đến năm 1986 đã thực hiện 4 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài lần lượt 239, 108, 60 và 111 ngày với sự bổ sung nhiên liệu dự trữ trong các căn cứ cơ động; 20 tháng 3 năm 1981 trong khu vực sẵn sang chiến đấu đã va chạm ở vị trí nổi với tàu ngầm mang tên lửa có cánh K-43 Đề án 670 – va thành bên phải với sống mũi tàu; năm 1984-84 đã trải qua sửa chữa định kỳ; tháng 3 năm 1986 trong thời gian phục vụ chiến đấu đã sự hóa mặn đường bao số 2 của hai thành tàu, việc sửa chữa ở căn cứ cơ động kéo dài 15 ngày; năm 1989 đã trải qua sửa chữa căn bản ở xưởng số 30, tháo dỡ các lò phản ứng, 19 tháng 4 năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải tán và đưa vào neo đậu ở vịnh Pavlov, còn 28 tháng 9 năm 1992 - ở vịnh Chazhma.

+ K-189; từ 15 tháng 1 năm 1978 là K-144 (số hiệu xưởng 173); khởi công 6 tháng 4 năm 1963 ở “xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin” (số 199) ở Komsomol-na-Amur; hạ thủy 9 tháng 5 năm 1964; gia nhập biên chế 24 tháng 7 năm 1965; 11 tháng 8 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; trong giai đoạn từ năm 1965 đến 1968 đã thực hiện 2 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 109 ngày; từ tháng 12 năm 1968 đến tháng 12 năm 1970 đã trải qua sửa chữa với sự thay thế các máy phát điện hơi nước; năm 1972 đã thực hiện cuộc hành quân chiến đấu kéo dài 50 ngày; tháng 11 năm 1972 đến tháng 9 năm 1973 đã tiến hành tái nạp nhiên liệu cho các lò phản ứng; trong giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1976 đã trải qua cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 120 ngày với sự bổ sung dự trữ ở các căn cứ cơ động; 11 tháng 3 năm 1976 đã xuất hiện tai nạn ngập nước trong khoang lò phản ứng; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; từ tháng 12 năm 1976 đến tháng 5 năm 1982 đã trải qua trung tu và nâng cấp theo Đề án 675-MK ở xưởng “Zvezda”; năm 1983 đến 1985 đã thực hiện cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 282 ngày với sự bổ sung lượng dự trữ ở các căn cứ cơ động và 2 cuộc hành quân kéo dài 62 ngày; 22 tháng 11 năm 1984 được tặng giải thưởng của Bộ Tư lệnh Hải quân về chuẩn bị huấn luyện tên lửa; năm 1987 đã thực hiện cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 223 ngày với sự bổ sung nguồn dự trữ ở các căn cứ cơ động; năm 1991 ngừng khai thác thiết bị năng lượng chính vì lý do hết thời gian phục vụ; 24 tháng 6 năm 1991 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải tán và đưa vào neo đậu ở vịnh Krasheninnikov.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Giêng, 2012, 05:39:01 pm
+ K-57, từ năm 1979 là K-557; từ năm 1992 là B-557 (số hiệu xưởng 174); khởi công 19 tháng 10 năm 1963 ở “xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin” (số 199) ở Komsomol-na-Amur; hạ thủy 26 tháng 9 năm 1964; gia nhập biên chế 31 tháng 10 năm 1965; 25 tháng 11 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; trong giai đoạn từ năm 1965 đến năm 1968 đã thực hiện 3 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 164 ngày; từ tháng 11 năm 1968 đến tháng 12 năm 1970 đã trải qua sửa chữa với sự thay thế các máy phát điện hơi nước; năm 1972 đã thực hiện cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 50 ngày; năm 1973 đã tiến hành sự tái nạp nhiên liệu cho các lò phản ứng; năm 1975 đã thực hiện cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 49 ngày; 25 tháng 1 năm 1975 ở căn cứ đã xảy ra tai nạn với sự không khởi động được hệ thống chữa cháy ở khoang số 5, 2 người đã hy sinh; từ tháng 10 năm 1976 đến tháng 12 năm 1979 đã trải qua sửa chữa và nâng cấp theo Đề án 675-MK ở xưởng “Zvezda”; 25 tháng 7 năm 1977 đã trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 quay lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; trong giai đoạn từu 1980 đến 1989 đã thực hiện 4 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 250 ngày với sự tiếp tế dự trữ trong các căn cứ cơ động; 20 tháng 5 năm 1984 trong khu vực phục vụ chiến đấu đã xảy ra sự bốc cháy trong ổ ắc quy số 1, việc dập lửa được thực hiện bằng sức người; năm 1986 đã tiến hành tái nạp nhiên liệu cho các lò phản ứng; năm 1991 bị hạn chế hoạt động theo khả năng khai thác sử dụng của thiết bị sản xuất hơi nước thành bên trái; 28 tháng 4 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử loại lớn; 3 tháng 7 năm 1992 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải tán và đưa vào neo đậu ở vịnh Krasheninnikov.

+ K-31, từ năm 1987 là K-431 (số hiệu xưởng 175); khởi công 11 tháng 1 năm 1964 ở “xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin” (số 199) ở Komsomol-na-Amur; hạ thủy 8 tháng 9 năm 1964; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1965; 11 tháng 11 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; năm 1965-68 đã thực hiện cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 56 ngày; từ tháng 7 năm 1968 đến tháng 6 năm 1971 đã trải qua trung tu với sự thay thế các máy phát điện hơi nước ở xưởng “Zvedochka”; năm 1972 đã thực hiện cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 90 ngày; năm 1974-75 đã tiến hành tái nạp nhiên liệu cho các lò phản ứng; trong giai đoạn từ 1976 đến 1981 đã thực hiện 4 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 223 ngày; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 quay lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; từ tháng 12 năm 1981 đến tháng 12 năm 1982 đã trải qua sửa chữa; tháng 8 năm 1983 đến tháng 3 năm 1984 đã thực hiện cuộc hành quân kéo dài phục vụ chiến đấu 193 ngày; 10 tháng 8 năm 1985 ở xưởng khi tái nạp nhiên liệu cho lò phản ứng đã xảy ra vụ nổ nóng 10 người hy sinh, trên tàu có đám cháy lớn, việc dập lửa chỉ có thể tiến hành ở khoang bị ngập nước, khu vực nhiễm phóng xạ trong khu vực bán kính 150 mét, tàu ngầm với sự hỗ trợ kéo đã cứu kéo được phần cuối mũi tàu lên cạn; 16 tháng 9 năm 1987 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải tán và đưa vào neo đậu ở vịnh Chazma.

+ K-48 (số hiệu xưởng 176); khởi công 11 tháng 4 năm 1964 ở “xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin” (số 199) ở Komsomol-na-Amur; hạ thủy 16 tháng 6 năm 1965; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1965; 15 tháng 1 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; trong giai đoạn từ năm 1966 đến 1969 đã thực hiện 2 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 104 ngày; 23 tháng 10 năm 1967 được tặng thưởng Kỷ niệm chương của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Liên Xô, Đoàn chủ tịch Xô Viết tối cao và Hội đồng Bộ trưởng Liên bang Xô Viết; năm 1970-1973 đã trải qua trung tu với sự thay thế các máy phát điện hơi nước và nâng cấp theo Đề án 675-K; 25 tháng 7 năm 1977, trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; năm 1977 đã tái nạp nhiên liệu cho lò phản ứng; 15 tháng 1 năm 1978 quay trở lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; 10 tháng 11 năm 1978 trong thời gian bơi ở vị trí ngầm ở độ sâu 63 mét đã bị ngập nước trong khoang lò phản ứng qua ống dẫn tuabin của đường bao số 5; năm 1979 đã thực hiện cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 155 ngày với sự bổ sung dự trữ ở các căn cứ cơ động; năm 1982-84 đã trải qua trung tu ở xưởng số 30; năm 1985-86 đã thực hiện cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 198 ngày với sự bổ sung dự trữ ở các căn cứ cơ động; 22 tháng 12 năm 1987 ở căn cứ khi nạp điện lại cho pin ắc quy đã xảy ra vụ nổ ở ổ ắc quy ở khoang số 2, pin ắc quy bị hỏng; năm 1989 bị hạn chế sử dụng thiết bị năng lượng chính ở khu vực huấn luyện chiến đấu; 19 tháng 4 năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải tán và đưa vào neo đậu ở vịnh Severnưi.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Giêng, 2012, 07:49:24 pm
+ K-56, từ năm 1992 là B-56 (số hiệu xưởng 177); khởi công 30 tháng 5 năm 1964 ở “xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin” (số 199) tại Komsomol-na-Amur; hạ thủy 10 tháng 8 năm 1965; gia nhập biên chế 26 tháng 8 năm 1966; 9 tháng 9 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; trong giai đoạn từ 1967 đến 1970 đã thực hiện 2 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 98 ngày; từ tháng 8 năm 1970 đến tháng 8 năm 1972 đã trải qua sửa chữa với sự thay thế các máy phát điện hơi nước; 14 tháng 6 năm 1973, ở khu vực căn cứ trong vị trí nổi đã va chạm với tàu “Akademic Berg” bị thủng hai thân ở khu vực vách ngăn khoang số 2 – bị đắm hoàn toàn (thủy thủ đoàn trong khoang hy sinh), tàu được kéo lên bờ do bị hỏng nặng, sau đó được kéo bằng các tàu cứu kéo của Hải quân trên cầu phao về căn cứ; 14 tháng 7 năm 1977 ở biển trong độ sâu 80 mét đã xảy ra sự cố ở máy phát điện tuabin thành bên phải, tàu ngầm nguyên tử trong vị trí nổi đã thông gió khoang và tiếp tục phục vụ; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; năm 1977, sự cố không kính của lò phản ứng thành bên phải được khắc phục, sau đó tàu được đưa vào sửa chữa ; 15 tháng 1 năm 1978 quay trở lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; năm 1978, tiến hành tái nạp điện cho các lò phản ứng; từ tháng 6 năm 1978 đến tháng 6 năm 1986 đã trải qua nâng cấp theo Đề án 675-MK ở xưởng “Zvezda”; năm 1988 đã thực hiện nhiệm vụ phục vụ chiến đấu kéo dài 215 ngày với sự bổ sung dự trữ ở các căn cứ cơ động; 21 tháng 4 năm 1989 ở căn cứ, trong khoang số 8 đã xảy ra đám cháy, việc dập lửa được thực hiện bằng sức người; 28 tháng 4 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử loại lớn; 3 tháng 7 năm 1992 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải thể và đưa vào neo đậu ở vịnh Pavlov.

+ K-10 (số hiệu xưởng 178); khởi công 24 tháng 10 năm 1964 ở “xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin” (số 199) tại Komsomol-na-Amur; hạ thủy 29 tháng 9 năm 1965; gia nhập biên chế 15 tháng 10 năm 1966; 31 tháng 10 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; trong giai đoạn từ 1966 đến 1970 đã thực hiện 3 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 163 ngày; từ tháng 1 năm 1970 đến tháng 12 năm 1971 đã trải qua trung tu; trong giai đoạn từ 1972 đến 1973 đã thực hiện 2 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 92 ngày; tháng 7 năm 1976 ở căn cứ, trong thời gian nạp pin ắc quy đã xảy ra sự đóng mạch ngắn; tháng 8-10 năm 1976 đã tiến hành sự tái nạp nhiên liệu của các lò phản uwngsl 28 tháng 2 năm 1977 ở trên biển đã bị hỏng bộ truyền động của máy phát điện tuabin thành bên phải; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 quay trở lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; năm 1978 đã thực hiện cuộc hành quân kéo dài phục vụ chiến đấu 46 ngày; 1 thnags 6 năm 1979 trong thời gian nạp điện pin ắc quy đã xảy ra vụ nổ trong ổ ắc quy số 1, tàu bị thương bên trong; từ tháng 7 năm 1980 đến tháng 6 năm 1981 đã trải qua sữa chữa định kỳ; 21 tháng 1 năm 1983, khi ở dưới nước đã va chạm với tàu ngầm nước ngoài và bị thương ở phần đuôi mũi thân tàu; 26 tháng 9 năm 1984 được mang đi sửa chữa và tái trang bị theo Đề án 675-MKV ở xưởng “Zvedochka”, 30 tháng 5 năm 1989 việc sửa chữa và tái trang bị chấm dứt; năm 1989 bị loại khỏi biên chế Hải quân và năm 1991 đưa đi neo đậu ở vịnh Pavlov; 1 tháng 9 năm 1994 giải thể và năm 1994-96 mang đến xưởng “Zvezda” để tháo dỡ.

+ K-94, từ 25 tháng 7 năm 1977 là K-204, từ 28 tháng 4 năm 1992 là B-204 (số hiệu xưởng 179); khởi công 20 tháng 3 năm 1965 ở “xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin” (số 199) tại Komsomol-na-Amur; hạ thủy 20 tháng 5 năm 1966; gia nhập biên chế 27 tháng 12 năm 1966; 27 tháng 1 năm 1967 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; trong giai đoạn từ năm 1967 đến 1969 đã thực hiện 4 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 198 ngày; tháng 12 năm 1969 ở căn cứ đã xảy ra tai nạn với sự ngập nước trong hầm khoang số 9, trên tàu trang bị điện và máy móc trong khoang bị hỏng; năm 1972 đã thực hiện cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 50 ngày; từ tháng 12 năm 1972 đến tháng 9 năm 1976 đã trải qua trung tu và nâng cấp theo Đề án 675-MK ở xưởng số 49 trong đó, năm 1975 đã tiến hành tái nạp điện cho các lò phản ứng; tháng 3 năm 1976 đã xảy ra sự bốc cháy tong máy phát điện tuabin thành bên trái; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 quay trở lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; trong giai đoạn từ 1978 đến 1983 đã thực hiện 2 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 90 ngày và 2 cuộc hành quân sẵn sàng chiến đấu kéo dài 181 và 211 ngày với sự bổ sung dự trữ trong các căn cứ cơ động; trong năm 1983-84 trong đường bao số 1 của thiết bị năng lượng chính đã xảy ra tai nạn không lớn, sau đó năm 1987, tàu được đưa đi sửa chữa phục hồi; tháng 1 năm 1991 trong giai đoạn sửa chữa đã xảy ra tai nạn, kết quả là cả hai thiết bị sản xuất hơi nước đều bị hỏng; 3 tháng 7 năm 1992 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải tán, tháo các lò phản ứng; năm 1996 được mang đi neo đậu ở vịnh Krasheninnikov.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Giêng, 2012, 08:45:59 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/675_26.jpg)

+ K-108 (số hiệu 180); khởi công 24 tháng 7 năm 1965 ở “xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin” (số 199) ở Komsomol-na-Amur; hạ thủy 26 tháng 8 năm 1966; gia nhập biên chế 31 tháng 3 năm 1967; 25 tháng 11 năm 1967 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; trong giai đoạn từ năm 1968 đến 1974 đã thực hiện 3 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 138 ngày; 16 tháng 11 năm 1970 đã xảy ra sự bốc cháy pin ắc quy, làm hỏng 7 phần tử; năm 1974-76 đã trải qua trung tu; năm 1977 đã thực hiện cuộc hành quân chiến đấu dài ngày tổng cộng 36 ngày; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm cỡ lớn; 15 tháng 1 năm 1978 quay trở lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; năm 1978-79 đã tiến hành tái nạp điện cho các lò phản ứng; năm 1981-82 đã thực hiện cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 96 ngày; năm 1983-85 đã trải quả sửa chữa định kỳ; năm 1989 đã tháo các lò phản ứng, sau đó 19 tháng 4 năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải thể và đưa vào neo đậu ở vịnh Pavlov, từ 28 tháng 9 năm 1992 – vịnh Chazma.

+ K-7, từ năm 1974 là K-127; từ năm 1989 là B-192 (số hiệu xưởng 181); khởi công 6 tháng 11 năm 1965 ở “xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin” (số 199) tại Komsomol-na-Amur; hạ thủy 25 tháng 9 năm 1966; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1967; 24 tháng 10 năm 1967 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; trong giai đoạn từ năm 1968 đến 1972, đã thực hiện 5 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 310 ngày; tháng 4-5 năm 1970 trong khuôn khổ cuộc hành quân “Okean” lần đầu tiên các từ các tàu ngầm nguyên tử Liên Xô đã hoàn thành cuộc hành quân tới Ấn Độ Dương cùng với tàu chống ngầm cỡ lớn “Otvazhnưi” Đề án 61. đã thực hiện việc bắn chính xác tổ hợp tên lửa trong các điều kiện nhiệt đới; từ tháng 9 năm 1972 đến tháng 10 năm 1974 đã trải qua trung tu; trong giai đoạn từ 1975 đến 1978 đã thực hiện 3 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu; từ năm 1979 đến 1980 đã trải qua sửa chữa định kỳ; trong giai đoạn 1982 đến 1983 đã thực hiện cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 253 ngày với sự bổ sung dự trữ ở các cảng căn cứ cơ động; năm 1984 đã thực hiện cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 85 ngày, bơi dưới nước 14 630 dawmjl từ tháng 2 năm 1984 đến tháng 3 năm 1988 đã trải qua trung tu ở xưởng “Zvezda”; từ năm 1989 đã nhận quyết định về việc sử dụng tàu ngầm chỉ trong các khu vực huấn luyện chiến đấu; 19 tháng 4 năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải thể và đưa vào neo đậu ở vịnh Chazma.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Giêng, 2012, 05:07:01 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/675_25.jpg)

+ K-23; (số hiệu xưởng 182); khởi công 23 tháng 2 năm 1966 ở “xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin” (số 199) tại Komsomol-na-Amur; hạ thủy 18 tháng 6 năm 1967; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1967; 11 tháng 1 năm 1968 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; trong giai đoạn từ 1968 đến 1971 đã thực hiện 3 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 125 ngày; 7 tháng 4 năm 1970 được tặng thưởng Huân chương Lenin; năm 1975 trong khi đang trên biển đã xảy ra sự hóa mặn đường bao số 2 và hỏng thiết bị năng lượng chính; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; từ tháng 3 năm 1977 đến tháng 10 năm 1984 đã trải qua trung tu và nâng cấp theo Đề án 675-MK ở xưởng “Zvezda”, trong đó; năm 1983 đã tiến hành tái nạp điện cho các lò phản ứng; 15 tháng 1 năm 1978 quay trở lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; năm 1986-87 đã thực hiện cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 290 ngày với sự bổ sung dự trữ ở các căn cứ cơ động; năm 1989 đã nhận giải thưởng của Bộ Tư lệnh Hải quân về sự huấn luyện tên lửa; 24 tháng 6 năm 1991 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải thể và đưa vào neo đậu ở vịnh Chazhma; từ 25 tháng 11 năm 1992 - ở vịnh Vladimir, từ 10 tháng 12 năm 1996 – vịnh Pavlov.

+ K-34; từ năm 1980 là K-134; từ 1993 là B-134 (số hiệu xưởng 183); khởi công 18 tháng 6 nă  1966 ở “xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin” (số 199) tại Komsomod-na-Amur; hạ thủy 23 tháng 9 năm 1967; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1968; 8 tháng 1 năm 1969 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; trong giai đoạn từ 1969 đến 1978 đã thực hiện 6 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 304 ngày; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 quay trở lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; từ tháng 8 năm 1979 đến tháng 4 năm 1980 trải qua sửa chữa định kỳ với sự tái nạp điện cho các lò phản ứng; năm 1982-1988 đã qua trung tu và nâng cấp thành Đề án 675-MKV ở xưởng “Zvezda”; 28 tháng 4 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử loại lớn; từ năm 1993 theo kết luận về thiết bị tuabin, việc sử dụng bị hạn chế trong khu vực huấn luyện chiến đấu và khu vực biển gần bờ; 5 tháng 7 năm 1994 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải thể và neo đậu ở vịnh Pavlov.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Giêng, 2012, 05:17:19 pm
Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ nổi: 4450

+ ngầm: 5760

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất: 115,4

+ chiều rộng nhất: 9,3

+ lượng mớn nước theo vạch mớn nước thiết kế: 7,8

Thiết bị năng lượng chính: nguyên tử

+ 2 lò phản ứng nước kiểu VM-A, tổng công suất, mW: 140

+ 2 thiết bị sản xuất hơi nước OKA-150, 2 thiết bị tuabin răng cưa GZTA-601

+ 2 tuabin hơi nước, tổng công suất, sức ngựa (kW): 35 000 (29 400)

+ 2 máy phát điện tuabin GPM-21, công suất, kW: 2x1400

+ 2 động cơ phát điện – diesel DG-400, công suất, kW: 2x450

+ 2 động cơ điện bổ sung PG-116, công suất, sức ngựa: 2x140

2 trục, 2 chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ nổi: 14…15

+ ngầm: 29

Độ lặn sâu, mét

+ hoạt động hiệu quả: 240

+ giới hạn: 300

Thời gian hoạt động: 50 ngày

Thủy thủ đoàn (sỹ quan): 137 (22).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Giêng, 2012, 05:33:08 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/675_22.jpg)

Trang bị

Tên lửa tiến công

+ thiết bị phóng tên lửa chống tàu có cánh P-6/P-6M: 8x1

+ tên lửa chống tàu có cánh 4K88/4K48 (SS-N-3B “Sepal” hoặc tên lửa có cánh P-5D (SS-N-3S “Shaddock”): 8

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm: 4 (mũi)

+ các ngư lôi 533mm SET-53M hoặc 53-61: 8

+ thiết bị ngư lôi 400mm: 2 (mạn)

+ các ngư lôi 400mm SET-40: 4

Thủy lôi (mìn)

+ có thể mang theo thủy lôi thay cho bộ phận ngư lôi: -

Trang bị vô tuyến điện

+ Hệ thống điều khiển thông tin chiến đấu: -

+ Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: RLK-101 “Albatros” (Snoop Tray)

+ Hệ thống thủy âm: MG-200M “Arktika-M”

+ Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực: 1x”Argument” (Front Piece/Front Door) cho tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh P-6

+ Các khí tàu tác chiến điện tử: “Nakat-M” (Quad Loop D/F); “Van” (Stop Light); (Brick Pulp)

+ Tổ hợp đạo hàng: “Sila N-675”; “Lira-11”; “Mayak”

+ Tổ hợp thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài

+ Đài ra đa định vị hội thoại nói: MRP


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Giêng, 2012, 05:58:17 pm
Đề án 670 “Skat” (Charlie-I class)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/670_16.jpg)

Tổng số tàu đã đóng: 11

Các biến thể

+ 670 “Skat” (Charlie-I class) – đề án cơ sở sản xuất hàng loạt tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh với tên lửa chống tàu có cánh khởi động dưới nước P-70 “Ametist” (1967)

+ 06709 (Charlie-I class) – phiên bản tàu ngầm mang tên lửa có cánh cho Hải quân Ấn Độ (năm 1984)

+ 670-M “Skat-M” (Charlie-II class) – phiên bản hiện đại hóa với tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh mới P-120 (1973)

+ 06704 “Chaika-B” (Charlie-III class) – tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh, được trang bị để thí nghiệm tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh “Oniks” (1992).

Vào cuối những năm 1950, ở Liên Xô đã phát triển các công việc về hình thành hình dáng các tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ 2, được sử dụng cho việc sản xuất số lượng lớn và có xu hướng giải quyết các nhiệm vụ chiến đấu khác nhau, một trong số các nhiệm vụ truyền thống là chống lại các tàu sân bay, đồng thời các tàu lớn của địch.

Sau khi nghiên cứu hàng loạt các đề cử của phòng thiết kế về nhiệm vụ kỹ thuật với sự thiết kế tàu ngầm nguyên tử đơn giản và giá thành rẻ Đề án 670 (mã số “Skat” – Cá đuối), được tối ưu hóa để chống lại các mục tiêu nổi, đã giao cho Phòng thiết kế - thí nghiệm Gorsky số 112 (từ năm 1974 là Phòng thiết kế Trung ương “Lazurit”) tháng 5 năm 1960. Đây là tập thể công trình sư trẻ, được thành lập trong năm 1953 trong khi xưởng “Krasnoe Sormovo”, trước đó làm công việc về động cơ điện – diesel Đề án 613 (cụ thể, đã chuẩn bị các tài liệu theo các tàu này, để bàn giao cho Trung Quốc). Vì thế, việc chế tạo các tàu ngầm nguyên tử đầu tiên đối với Phòng thiết kế - thí nghiệm là sự thử thách quan trọng. Tổng công trình sư của Đề án được giao cho V.P.Vorobiev, giám sát viên chính từ Hải quân – B.R.Mastyshkin.

Sự khác biệt cơ bản của tàu mới so với tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh thế hệ thứ nhất (Đề án 659 và Đề án 675) là sự trang bị tổ hợp tên lửa có cánh chống tàu “Ametist” với sự khởi động ngầm (dưới nước) (nhà thiết kế chính – Phòng thiết kế - thí nghiệm số 52). Mệnh lệnh của Nhà nước về việc chế tạo tổ hợp này đưa ra vào mùng 1 tháng 4 năm 1959.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Giêng, 2012, 06:29:12 pm
Một trong những vấn đề phực tạp nhất khi thiết kế Đề án tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh mới là cơ sở sản xuất hàng loạt được dự định hạn chế ở thành phố Gorki, ở trung tâm nước Nga, cách xa khu vực gần biển hơn hàng nghìn kilomet, đã buộc phải xác định các kích thước và lượng choán nước của tàu trong các giới hạn, cho phép vận chuyển tàu theo tuyến đường thủy nội bộ.

Kết quả cho các công trình sư là việc tiếp nhận (và “khai phá” của phía đặt mua) hàng loạt các giải pháo kỹ thuật phi truyền thống của Hải quân Liên Xô, trái ngược với “Các quy định về thiết kế tàu ngầm”. Chi tiết, đã quyết định chuyển sơ đồ 1 trục, đồng thời hy sinh sự đảm bảo khả năng nổi khi ngập nước một trong số các khoang kín không tràn nước. Tất cả cho phép bố trí trong các khuôn khổ đề án phác họa trong lượng choán nước tiêu chuẩn 2400 tấn (trong đó, trong quá trình thiết kế tiếp theo, tham số này đã được tăng lên thành 3000 tấn).

Theo so sánh với các tàu ngầm thế hệ thứ 2 khác, được thiết kế dưới công suất mạnh, nhưng với tổ hợp thủy âm “Rubin” đủ mạnh và kích thước lớn, trên Đề án 670 đã quyết định dừng tổ hợp thủy âm gọn hơn “Kerch”.

Năm 1959 ở Phòng thiết kế - thí nghiệm số 52 đã phát triển đề án phác họa tổ hợp tên lửa “Ametist”. Trong sự khác biệt với tổ hợp tên lửa được thiết kế tại “Chelomen” là tên lửa chống tàu có cánh thế hệ thứ nhất P-6 và P-35, sử dụng động cơ tên lửa tuabin phản lực, trên tên lửa với sự khởi động ngầm đã quyết định tiếp nhận sử dụng động cơ tên lửa nhiên liệu rắn, dẫn tới việc giảm một cách đáng kể tần bắn tối đa. Tuy nhiên, giải pháp khác ở thời gian đó đơn giản là không có, bởi vì trình độ kỹ thuật vào cuối những năm 1950 không có khả năng chế tạo hệ thống phóng động cơ tên lửa phản lực – không khí khi bay sau khi tên lửa khởi động. Các thí nghiệm tên lửa chống tàu có cánh “Ametist” đã bắt đầu vào năm 1961.

Sự phê chuẩn đề án kỹ thuật tàu ngầm nguyên tử mới diễn ra vào tháng 7 năm 1963, tàu ngầm nguyên tử Đề án 670 có thiết kế hai thân với các đường bao dạng thoi của thân ngoài, có ở bộ phận mũi tiết diện hình elip bố trí vũ khí tên lửa.

Sự tiếp nhận các hệ thống thủy âm kích thước lớn, đồng thời hướng tới đảm bảo cho chúng khả năng tối đa các góc quan sát trong phạm vi mạn tàu, gọi là “sự làm tù” các đường bao mũi. Theo các nguyên nhân này, bộ phận các khí tài đã được bộ trí ở bộ phận trên phần cuối mùi của thân ngoài. Các bánh lái ngang trước (lần đầu tiên trong thực tế của ngành đóng tàu ngầm nội địa) được dịch chuyển tới phần giữa thân tàu.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Giêng, 2012, 06:56:33 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/670_09.jpg)

Thân trong tàu được làm từ thép AK-29. Trong phần cuối bộ phận mũi được kéo dài 21 mét, tàu có hình dáng của “38”, có dạng hình trụ với đường kính nhỏ, có sự cần thiết bố trí trong thân ngoài các thùng tên lửa. Thân được chia thành 8 khoang không thấm nước:

1-(gồm ba hình trụ) – các khoang ngư lôi, cho người và ắc quy

2-Khoang cho thủy thủ đoàn

3-Khoang trạm trung tâm và ắc quy

4-Khoang máy (động cơ) điện

5-Khoang lò phản ứng

6-Khoang tuabin

7-Khoang máy (động cơ) điện

Vách ngăn cuối phần mũi, đồng thời 6 vách ngăn giữa các khoang được chế tạo bằng phẳng, chúng phải chịu được áp lực đến 15kg lực/cm2.

Thân ngoài, các thùng tải trọng dằn và mui vững chắc được chế tạo từ thép ít từ tính, còn thượng tầng và vách ngăn thiết bị di động của mui – từ hợp kim nhôm. Trong các nắp chụp của các ăng ten thủy âm, đồng thời trong các bộ phận thấm của phần cuối mạn tàu và trong cánh đuôi sử dụng hợp kim titan. Sự tiếp nhận các vật liệu khác nhau, trong hàng loạt các trường hợp tạo thành cặp tĩnh điện, yêu cầu tiếp nhận các biện pháp đặc biệt để bảo vệ khỏi sự ăn mòn (thiết bị bảo vệ kẽm, lớp đệm…).

Để giảm tiếng ồn thủy âm khi di chuyển với tốc độ lớn, đồng thời tăng cường các tính năng thủy động lực lần đầu tiên trên các tàu ngầm nguyên tử Liên Xô đã tiếp nhận các cơ chế che chắn các lỗ thoát nước và thông gió.

Thiết bị năng lượng chính công suất 15 000 sức ngựa trong trong mức độ đáng kể đã dduwowcjd đồng nhất với thiết bị năng lượng của Đề án 671 với công suất gấp đôi – lò phản ứng thiết bị sản xuất hơi nước đơn OK-350 gồm có lò phản ứng nước VM-4 (89,2 mW). Tuabin răng cưa GZTA-631 truyền động trong sự quay của chân vịt 5 cánh. Đồng thời có 2 động cơ phụt nước với thiết bị truyền động điện (công suất 270kW), đảm bảo khả năng di chuyển với tốc độ 5 hải lý.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Giêng, 2012, 09:48:33 pm
Cũng như trên các tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ 2 khác, trên tàu ngầm Đề án 670 trong hệ thống trong sự phát sinh và sự phân phối năng lượng điện đã sử dụng dòng điện xoay chiều 3 pha có hiệu điện thế 380V và tần số 50Hz.

Tàu được trang bị 2 máy phát điện tuabin tự động TMVV-2 (2000kW), máy phát điện diesel của dòng điện xoay chiều công suất 500kW với hệ thống điều khiển tự động hóa từ xa, đồng thời hai nhóm pin ắc quy (mỗi nhóm 112 phần tử).

Các biện pháp giảm trường thủy âm của tầu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh bao gồm sự tiếp nhận sự tự động hóa cách âm của các máy móc và bệ của chúng, đồng thời lớp ốp các vách ngăn và lớp lát boong được phủ bằng lớp chống rung. Toàn bộ bề mặt ngoài của thân ngoài, thượng tầng và vách ngăn mui đồng thời được bọc bằng lớp che cao su chống thủy âm. Lớp phủ tương tự có ở bề mặt ngoài thân trông. Nhờ đó, đồng thời bố cục một trục và một tuabin, tàu ngầm nguyên tử Đề án 670 có độ ồn thủy âm rất thấp trong thời điểm đó (trong số các tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ 2, nó được đánh giá ít tiếng ồn nhất). Trong toàn bộ hành trình, trong phạm vi siêu âm, các tần số tiếng ồn của tàu ngầm không quá 80 desiben, còn phạm vi âm thanh – 110 desiben và trong phạm vi hạ âm – 100 desiben. Ngoài ra, phần lớn phạm vi thủy âm trùng với tiếng ồn của biển. Để giảm từ tính, trên tàu ngầm lắp khí tàu khử từ.

Hệ thống thủy âm của tàu được phân chia thành ba phân hệ thống tự động, phục vụ cho việc dẫn động các khí tài tổng hợp của tàu, các nắp thùng tên lửa, đồng thời bánh lái. Trong quá trình khai thác sử dụng các tàu ngầm, chất lỏng làm việc của hệ thống thủy âm, do tính chất dễ cháy nguy hiểm của nó là vấn đề thường xuyên gây “đau đầu” cho thủy thủ đoàn, được thay mới, ít tính chất gây cháy hơn.

Tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh Đề án 670 có hệ thống điện phân tại chỗ (cố định) tái sinh không khí (cho phép chống lại nguồn tăng cường nguy hiểm gây cháy). Hiệu quả chống lại lửa đảm bảo bằng hệ thống dập lửa freon.

Tàu được trang bị tổ hợp đạo hàng quán tính “Sigma-670”, các tính năng chính xác của nó vượt trội 1,5 lần các tính năng tương ứng của khí tài đạo hàng trên tàu ngầm thế hệ thứ nhất. Tổ hợp thủy âm “Kerch” đảm bảo tầm xa phát hiện mục tiêu đến 25km. Đề điều khiển các khí tài chiến đấu mang theo của tàu ngầm đã lắp hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu “Brest”.

Theo so sánh với các tàu ngầm thế hệ thứ nhất trên tàu Đề án 670 được tăng cường tự động hóa cao. Chi tiết, sự điều khiển tự động hóa của tàu ngầm ở độ sâu và theo vòng, cân bằng trong khi hoạt động và neo đậu, quá trình lặn và nổi, ngăn ngừa độ mớn nước và sự sụt, điều khiển sự sẵn sàng trong việc bắn tên lửa và ngư lôi…


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Giêng, 2012, 09:53:15 pm
Các bản vẽ thiết kế tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa chống tàu có cánh Đề án 670:

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/670_draw5.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/670_draw6.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/670_draw8.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Giêng, 2012, 09:53:46 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/670_draw2.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/670_draw4.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/670_draw7.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Giêng, 2012, 10:26:12 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/670_17.jpg)

Hình vẽ và chú thích tàu ngầm nguyên tử Đề án 670

Tàu ngầm nguyên tử tuần dương Đề án 670

Lượng choán nước ngầm: 4800 tấn; tốc độ nổi: 17 hải lý; tốc độ ngầm: 24 hải lý; trang bị: 8 tên lửa chống tàu có cánh, 6 thiết bị ngư lôi 533mm; chiều dài: 94 mét; chiều rộng: 9,9 mét; lượng mớn nước: 7,5 mét

Các số trên hình vẽ

1-Đài ăng ten thủy âm “Kerch”; 2-Các thiết bị ngư lôi; 3-Các ngư lôi dự trữ; 4-Các pin ắc quy; 5-Khoang ngư lôi; 6-Khoang dành cho người ở; 7-Trạm trung tâm; 8-Khoang máy và trang thiết bị điện hỗ trợ; 9-Khoang lò phản ứng; 10-Khoang tuabin; 11-Khoang mạn tàu; 12-Thùng phóng tên lửa


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Giêng, 2012, 05:25:16 pm
Khoang dành cho người ở được tăng cường. Toàn bộ thủy thủ đoàn  của tàu được đảm bảo giường ngủ cá nhân. Có buồng chỉ huy dành cho các sĩ quân và nhà ăn cho thủy thủ và chuẩn úy. Nội thất thiết kế hợp lý. Trên tàu có đèn chiếu sang ban ngày. Để cứu nạn cá nhân đoàn trong trường hợp khẩn cấp (từ độ sâu 400 mét) đã sử dụng khoang cứu nạn hình thoi, bố trí trước vách ngăn mui.

Trang bị tên lửa của tàu ngầm nguyên tử Đề án 670 – 8 tên lửa chống tàu có cánh “Ametist” – bố trí trong các thiết bị thùng phóng SM-97, bố trí theo hai bên thành trong bộ phận trước của tàu ngoài thâm trong dưới góc 32,5 độ theo phương ngang. Tên lửa nhiên liệu rắn P-70 (4K-66, theo mã số NATO – SS-N-7 “Starbight”) khối lượng khởi động 2900kg có tầm bắn tối đa 80km và tốc độ 1160km/h. Tên lửa được thiết kế theo sơ đồ khí động học tiêu chuẩn và có cánh gấp, tự động mở ra sau khi khởi động. Sự bay diễn ra trên tầm thấp tương đối (50…60 mét), dẫn đến sự khó khăn khi bám bắt tên lửa bằng các khí tài phòng không thuộc tàu địch. Hệ thống ra đa định vị tự dẫn bắn của tên lửa chống tàu có cánh đảm bảo sự tự động lựa chọn mục tiêu lớn nhất (là mục tiêu, có bề mặt phản xạ lớn nhất). Trong cơ số đạn của tàu ngầm gồm có 2 tên lửa, trang bị đạn hạt nhân (công suất 1 kiloton), đồng thời 6 tên lửa với đầu đạn thường khối lượng 1000kg. Việc bắn tên lửa chống tàu có cánh có thể thực hiện bằng loạt bắn hai loạt phóng 4 tên lửa từ độ sâu 30 mét khi tốc độ của tàu không quá 5,5 hải lý và sóng cấp độ 5. Một trong số các nhược điểm của tên lửa P-70 “Ametist” là vết khói lớn (dày, đặc), còn giữ lại trên động cơ tên lửa nhiên liệu rắn, làm mất sự ngụy trang tàu ngầm trong thời gian phóng tên lửa chống tàu có cánh.

Trang bị ngư lôi của tàu ngầm Đề án 670 được bố trí ở phần mũi tàu gồm có các thiết bị ngư lôi 533mm với cơ số đạn 12 ngư lôi 53-65K, SAET-60M hoặc SET-65, đồng thời 2 thiết bị ngư lôi 400mm (4 ngư lôi SET-40 hoặc MGT-2). Thay cho ngư lôi, tàu ngầm có thể mang trên thành 26 thủy lôi. Ngoài ra, trong cơ số đạn ngư lôi gồm có các mục tiêu giả “Anabar”. Sự điều khiển bắn ngư lôi được thực hiên bằng hệ thống điều khiển bắn “Ladoga-P-670”.

Ở phương Tây, các tàu Đề án 670 mang tên gọi lớp Charlie (“Charlie class”). Đáng chú ý, rằng sự xuất hiện của các tàu tên lửa mới trong biên chế Hải quân Liên Xô là vấn đề phức tạp đối với sự an toàn của các đoàn tàu sân bay Mỹ. Có độ ồn thấp so với các tàu ngầm tiền nhiệm – tàu ngầm nguyên tử Đề án 675 đã giảm sự tổn thương đáng kể cho tàu mới khỏi các khí tài săn ngầm của địch, còn sự khởi động ngầm của các tên lửa đã làm cho vũ khí chính của chúng có hiệu quả lớn đáng kể. Do tầm bắn gần của tổ hợp “Ametist” yêu cầu tới gần mục tiêu trên tầm xa 60 – 70km. Tuy nhiên, việc này có ưu điểm của nó: thời gian bay ở độ cao thấp là vấn đề gây khó khăn lớn trong việc tấn công chúng từ dưới nước ở tầm gần (cự ly “dao găm”).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Giêng, 2012, 06:15:51 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/670_19.jpg)

Biến thể

Trong những năm 1980, 5 tàu ngầm Đề án 670 (K-212, K-302, K-308, K-313 và K-320) đã chịu sự nâng cấp với việc thay thế tổ hợp thủy âm “Kerch” bằng tổ hợp thủy âm mới “Rubicon”. Ngoài ra, trên toàn bộ các tàu ngầm, trước vách ngăn di động của khoang được lắp khí tàu cân bằng thủy cơ khí – tiết diện phẳng với góc âm xung kích (?), để bù trừ sự nổi thừa “phình to” của mũi tàu. Một số tàu ngầm trong lớp mượn chân vịt kiểu cũ được nhận các chân vịt bốn cánh tiếng ồn thấp đường kính 3,92 mét và 3,82 mét lắp theo dạng tiếp đôi trên một trục.

Năm 1983, tàu ngầm nguyên tử K-43, được dự kiến bán cho Ấn Độ đã trải qua đạ tu và nâng cấp thành Đề án 06709, kết quả là tàu ngầm này nhận tổ hợp thủy âm “Rubicon”. Đồng thời trong quá trình hoạt động cũng đã lắp hệ thống điều hòa không khí, trang bị các phòng mới cho sỹ quan và thủy thủ đối với thủy thủ đoàn, tháo các khí tài thông tin liệc lạc và điều khiển bí mất. Sau khi hoàn thành huấn luyện cho thủy thủ đoàn Ấn Độ, tàu một lần nữa được đưa vào sửa chữa và mùa hè năm 1987 đã chuẩn bị hoàn toàn việc chuyển giao. Mùng 5 tháng 1 năm 1988, K-43 (trước đó đã được đổi tên thành UTS-500) đã được mang đến Vladivostoc và mang cờ Ấn Độ và sau vài ngày đã về đến Ấn Độ.

Trong sự phát triển tiếp theo, trên cơ sở Đề án 670 đã chế tạo đề án hiện đại hóa – Đề án 670-M - với các tên lửa “Malakhii” hiện đại hơn với tầm bắn 120km.

Chương trình đóng tàu

Từ năm 1967 đến năm 1973 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” ở Gorki (bây giờ là Nhizhni Novgorod) đã đóng 11 tàu ngầm Đề án 670). Sauk hi vận chuyển trên xà lan chuyên dụng qua các hệ thống sông Volga, Marin và kênh Baltic-Biển Trắng, các tàu được đưa đến Severodvinsk, ở đó, công việc đóng nốt được thực hiện cùng các thí nghiệm và bàn giao cho phía nhận tàu (Hải quân). Đáng chú ý, rằng trong các giai đoạn đầu, có thực hiện chương trình xem xét triển khai đóng Đề án 670 ở biển Đen, nhưng đã bị dừng lại, nguyên nhân đầu tiên là vấn đề về địa lý (vấn đề rất lớn để vận chuyển tàu đến biển Đen). Biên bản tiếp nhận tàu đầu tiên – K-43 – được ký ngày 6 tháng 11 năm 1967, còn mùng 3 tháng 7 năm 1968, sau các thí nghiệm trên K-43, trong biên chế Hải quân đã tiếp nhận tổ hợp tên lửa “Ametist” với tên lửa P-70.

Từ năm 1973 đến 198, trong cùng xưởng ở Gorki đã đóng thêm 6 tàu ngầm được nâng cấp theo Đề án 670-M.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Giêng, 2012, 09:07:47 pm
Tình hình đến năm 2007

Tàu đầu tiên trong Đề án 670 – K-43 – gia nhập biên chế sư đoàn 11 phân hạm đội tàu ngầm số 1 Hạm đội Phương Bắc. Sau đó, đơn vị này tiếp tục nhận các tàu còn lại trong Đề án. Ban đầu, tàu ngầm Đề án 670 được xếp vào lớp tàu ngầm tuần dương, 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn, nhưng từ 15 tháng 1 năm 1978 một lần nữa quay trở lại phân lớp tàu ngầm tuần dương, còn 28 tháng 4 năm 1992 (các tàu ngầm riêng – 3 tháng 6) – phân lớp tàu ngầm nguyên tử loại lớn.

Các tàu ngầm Đề án 670 đã bắt đầu phục vụ sẵn sàng chiến đấu trong năm 1972. Chúng đã thực hiện việc giám sát các tàu sân bay Mỹ, tham gia một cách tích cực và các cuộc hành quân và tập trận khác nhau, trong đó, lớn hơn cả là “Okean-75” (Đại dương–75), “Sever-77” (Phía Bắc-77), “Razbeg-81” (Chạy đà-81)… Trong năm 1977, nhóm bắn tên lửa chống tàu có cánh “Ametist” đầu tiên gồm có hai tàu ngầm tuần dương mang tên lửa có cánh Đề án 670 và một tàu tuần dương tên lửa.

Một trong số những khu vực chính, nơi các tàu ngầm Đề án 670 trực chiến nhiều nhất là Địa Trung Hải. Trong những năm 1970-80, đó là nơi thu hút sự quan tâm chặt chẽ của hai cường quốc – Liên bang Xô Viết và Mỹ. Mục tiêu đầu tiên của các tàu tên lửa Liên Xô là các tàu chiến của Hạm đội 6 Hải quân Mỹ. Cần chú ý rằng, các điều kiện địa lý ở Địa Trung Hải đã làm cho các tàu ngầm Đề án 670 trở thành thứ vũ khí đáng sợ nhất ở đó. Sự có mặt của chúng hầu như không bị phát hiện bởi các tàu chiến Mỹ, không có khí tài đáng tin cậy nào của Mỹ phát hiện ra được mối đe dọa này. Sự biểu dương sức mạnh chiến đấu hiệu quả của các tàu ngầm Liên Xô là các cuộc bắn tên lửa vào các mục tiêu tiến hành ở Địa Trung Hải trong tháng 5 năm 1972 bởi tàu ngầm K-313.

Lần lượt, địa bàn hoạt động của các tàu ngầm Đề án 670 thuộc Hạm đội Phương Bắc được mở rộng. Tháng 1-5 năm 1974 là cuộc hành quân di chuyển tổng hợp 107 ngày của tàu ngầm K-21 cùng với tàu ngầm Đề án 671 K-314 từ biển Bắc tới Hạm đội Thái Bình Dương theo hải trình hướng nam qua Ấn Độ Dương. Mùng 10-25 tháng 3, các tàu ngầm đã ghé vào cảng Berbera (Somali), ở đó các thủy thủ đoàn đã có kỳ nghỉ thời gian ngắn, sau đó, các tàu tiếp tục bơi và tới Kamchatka một cách thành công vào đầu tháng 5.

Tháng 4 năm 1977, K-429 đã hoàn thành cuộc hành quân theo đường biển Bắc từ Hạm đội Phương Bắc tới Hạm đội Thái Bình Dương, ở đó, 30 tháng 4 năm 1977, tàu ngầm đã vào biên chế sư đoàn 10, phân hạm đội tàu ngầm số 2, đóng căn cứ ở Kamchatka. Trong tháng 8-9 năm 1979, trong cuộc hành quân tương tự kéo dài 20 ngày do tàu ngầm K-302 thực hiện. Sau đó, theo đường Biển Bắc tới Thái Bình Dương của K-43 (năm 1980), K-121 (năm 1977), K-143 (1983), K-308 (1985) và K-313 (1986).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Giêng, 2012, 03:58:48 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/670_32.jpg)

K-83 (từ tháng 1 năm 1978, là K-212) và K-325, 22 tháng 8 đến 6 tháng 9 năm 1978 đã hoàn thành, lần đầu tiên trong lịch sử cuộc hành quân quân di chuyển qua vùng cực tới Thái Bình Dương. Theo kế hoạch lúc đầu, tàu ngầm đầu tiên, bơi qua vùng cực từ biển Barents tới Chukotckoe, truyền tải tín hiệu về việc nổi, sau đó tàu thứ hai sẽ xuất phát . Tuy nhiên, đã xác định tuyến hành quân có khả năng đáng tin cậy và hiệu quả hơn – trong thành phần cụm tàu chiến thuật, để giảm sác xuất tai nạn khi bơi dưới lớp băng đá của các tàu ngầm một lò phản ứng (trong trường hợp lò phản ứng bị hỏng trên một trong số các tàu ngầm nguyên tử, tàu khác có thể tìm kiếm, hỗ trợ nó trong lớp băng). Ngoài ra, các tàu ngầm trong cụm tàu đã thực hiện hả năng hỗ trợ thông tin liên lạc với nhau khi có sự hỗ trợ của hệ thống thông tin liên lạc siêu âm ngầm trong chế độ điện thoại, cho phép các tàu phối hợp với nhau. Cụm hành quân đã giải quyết các câu hỏi về sự đảm bảo dưới mặt nước (hoặc dưới mặt băng) trong vấn đề kinh tế. Do sự tham gia trong chiến dịch này, các chỉ huy tàu, đòng thời là Tư lệnh sư đoàn tàu ngầm số 11 đã được tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô.

Toàn bộ các tàu Đề án 670 thuộc Hạm đội Thái Bình Dương đều biên chế trong sư đoàn 10, phân hạm đội tàu ngầm số 2. Nhiệm vụ chính của chúng là giám sát (khi nhận được mệnh lệnh phù hợp – tiêu diệt) các tàu sân bay Mỹ. Cụ thể, K-201 tháng 12 năm 1980 đã thực hiện cuộc giám sát kéo dài nhóm tàu sân bay tiên công, dẫn đầu là tàu sân bay “Soral Sea”. Do thiếu số lượng các tàu ngầm chống ngầm  trong Hạm đội Thái Bình Dương, các tàu ngầm Đề án 670 được sử dụng vào nhiệm vụ tìm kiếm các tàu ngầm Mỹ trong khu vực tuần tra chiến đấu của các tàu ngầm tuần dương mang tên lửa chiến lược.

Bi kịch nhất là số phậm của K-429. 24 tháng 6 năm 1983, do sai lầm của thủy thủ đoàn, tàu bị chìm ở độ sâu 39 mét trên trường bắn huấn luyện ở vịnh Saran (gần bờ biển Kamchatka). Khi đó, 16 người hy sinh. 9 tháng 8 năm 1983, tàu ngầm được trục vớt (chính chiến dịch trục vớt cũng cũng đã tiến hành mà không phải không có lỗi: thêm 4 khoang “bổ sung” bị đắm, dẫn tới công việc trở nên nặng nề hơn). Công việc sửa chữa phục hồi tiêu tốn tới 300 triệu rúp hoàn thành vào đầu tháng 9 năm 1985. Tuy nhiên, sau một vài ngày, 13 tháng 9, do kết quả của việc bị hư hỏng quá nặng, con tàu bất hạnh một lần nữa đắm gần tường của xưởng ở Đá Lớn. Năm 1987, tàu không được đưa trở lại biên chế và bị loại khỏi biên chế Hải quân, cải tạo thành đài tập – huấn luyện UTS-130, đóng ở Kamchatka và được sử dụng cho đến nay.

Sau K-429, các tàu còn lại trong biên chế đến năm 1987, đầu năm 1990, các tàu ngầm khác thuộc Đề án 670 đã bị loại khỏi biên chế.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Giêng, 2012, 04:18:22 pm
Một trong số các tàu ngầm Đề án 670 – K-43 – đã trở thành tàu ngầm nguyên tử đầu tiên trong Hải quân Ấn Độ. Đầu năm 1970, Ấn Độ đã bắt đầu thực hiện chương trình quốc gia chế tạo tàu ngầm, nhưng công việc kéo dài 7 năm và tiêu tốn 4 triệu đô la không mang lại kết quả mong đợi: công việc quá phức tạp hơn là dự tính lúc đầu. Kết quả là đã có quyết định thuê một trong số các tàu ngầm nguyên tử từ Liên Xô – đồng minh chiến lược của Ấn Độ. Sự lựa chọn của Hải quân Ấn Độ là “Charlie” (các tàu lớp này đã thể hiện mình rất tốt trên Thái Bình Dương).

Năm 1983, trong trung tâm huấn luyện Hải quân ở Vladivostoc, sau đó, trên thành K-43, đã tiến hành việc bàn giao tàu cho Ấn Độ, bắt đầu là việc huấn luyện 2 thủy thủ đoàn người Ấn Độ. Tới thời điểm đó, tàu đã trải qua đại tu và nâng cấp theo Đề án 06709. Sau khi hoàn thành huấn luyện các thủy thủ đoàn, tàu ngầm một lần nữa được đưa vào sửa chữa và mùa hè năm 1987 đã chuẩn bị hoàn toàn việc chuyển giao. Mùng 5 tháng 1 năm 1988, K-43 (được đổi tên thành UTS-550) đã mang cờ Ấn Độ rời khỏi Vladivostoc và sau vài ngày đã cùng thủy thủ đoàn Liên Xô tới Ấn Độ.

Đối với K-43, tàu ngầm mới nhất và mạnh nhất trong Hải quân Ấn Độ mang tên “Charka” và số hiệu chiến thuật S-71, đã xây dựng căn cứ với những điều kiện thuận lợi nhất: bến tàu đặc biệt với cần cẩu 60 tấn, phục vụ đảm bảo an toàn phóng xạ, nhà triền mở, các phân xưởng. Khi đỗ, trên thành tàu được cung cấp nước, không khí nén và năng lượng điện. “Charka” được khai thác sử dụng trong Hải quân Ấn Độ trong vòng 3 năm, đó là thời gian gần với một cuộc hành quân dài ngày. Tất cả các lần bắn tên lửa  huấn luyện đều trúng trực tiếp mục tiêu. Mùng 5 tháng 1 năm 1991, thời hạn cho thuê đã hết. Ấn Độ đã đưa ra điều kiện lớn về chi trả tiền và thậm chí chế tạo thêm một tàu ngầm tương tự. Tuy nhiên, Moskva không đồng ý đề xuất này theo các nguyên nhân chính trị.

“Charka” trở thành trường đại học đối với tàu ngầm Ấn Độ. Nhiều sỹ quan đã phục vụ trên tàu, hiện nay đang nắm những vị trí chủ chốt trong Hải quân nước này (có thể nói, rằng tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh đã mang lại cho Ấn Độ 8 thống chế). Kinh nghiệm, nhận được trong quá trình khai thác sử dụng tàu nguyên tử đã cho phép tiếp tục các công việc về chế tạo tàu ngầm nguyên tử riêng của Ấn Độ “S-2”.

“Charka”, 28 tháng 4 năm 1992 một lần nữa ghi danh vào Hải quân Nga, đến Kamchatka, ở đó đã hoàn thành sự phục vụ của mình. 3 tháng 7 năm 1992, tàu bị loại khỏi biên chế Hải quân.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Giêng, 2012, 05:13:17 pm
Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ K-25 (số hiệu xưởng 703); ghi tên vào dánh sách Hải quân 27 tháng 1 năm 1965; khởi công 2 tháng 12 năm 1965 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) ở Gorki; hạ thủy 31 tháng 7 năm 1968; tháng 8 đã được chuyển tới Severodvinsk để đóng nốt và thí nghiệm; gia nhập biên 30 tháng 12 năm 1968; 8 tháng 1 năm 1969 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 7 tháng 4 năm 1970 được tặng huân chương Lenin; 23 tháng 5 năm 1975 – huân chương của Bộ Quốc phòng Liên Xô “Vì sự quả cảm và lòng dũng cảm”; tháng 5 năm 1974 trong thời gian tên lửa đã bắn trúng tên lửa huấn luyện vào tàu kéo; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 quay lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; từ 21 tháng 12 năm 1978 đến 31 tháng 3 năm 1983 đã trải qua trung tu ở xưởng số 1 tại vịnh Pala (cảng Vyuzhnưi); mùa thu năm 1984 đã hoàn thành cuộc hành quân vượt đại dương qua các vùng cực từ vịnh Motov đến vịnh Krasheninnikov (Vilyuchinsk, trước đó là Petropavlovsk-Kamchatski-50); 15 tháng 11 năm 1984 ghi tên vào biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; 24 tháng 6 năm 1991 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ và đưa đến neo đậu ở vịnh Krasheninnikov.

+ K-43, từ 30 tháng 8 năm 1984 là UTS-550, từ 1 tháng 3 năm 1989 là K-43, từ 28 tháng 4 năm 1992 là B-43 (số hiệu xưởng 701); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 13 tháng 5 năm 1962; khởi công 9 tháng 5 năm 1964 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 11) ở Gorki; hạ thủy 2 tháng 8 năm 1966; năm 1967 được đưa tới Severodvinsk để đóng nốt và thí nghiệm; gia nhập biên chế 5 tháng 11 năm 1967; 27 tháng 11 năm 1967 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; là tàu đầu tiên của lớp; từ 30 tháng 11 năm 1973 đến 28 tháng 11 năm 1979 đã trải qua trung tu ở xưởng “Nerpa” ở vịnh Olenia (Snezhnogorsk); 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 quay lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; mùa thu năm 1980 đã hoàn thành cuộc hành quân từ vịnh Mostov tới vịnh Krasheninnikov; 17 tháng 12 năm 1980 ghi danh vào biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; 20 tháng 3 năm 1981 khi đang xử lý nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu trên trường bắn gần bờ Kamchatka đã va chạm với tàu ngầm nguyên tử K-184 ở vị trí nổi, bị thương đường bao thân ngoài; từ 8 tháng 7 đến 1983 đến 27 tháng 12 năm 1984 ở xưởng số 49 tại vịnh Seldevaia (Vilyuchinsk) được nâng cấp theo Đề án 06709, liên quan với đó, 30 tháng 8 năm 1984 đổi tên thành UTS; 27 tháng 12 năm 1984 bị loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô và chuyển giao cho Hải quân Ấn Độ dưới hình thức cho thuê và đổi tên thành S71 “Chakra”; 15 tháng 1 năm 1988 giải thể; 1 tháng 3 năm 1989 một lân nữa ghi tên vào biên chế Hải quân và 1 tháng 3 năm 1991 tiếp nhận vào Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương từ thủy thủ đoàn Ấn Độ; 28 tháng 4 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử loại lớn; 3 tháng 7 năm 1992 bị loại khỏi biên chế Hải quân, bị tháo dỡ và neo đậu ở vịnh Krasheninnikov.

+ K-87, từ 15 tháng 1 năm 1978 là K-212 (số hiệu xưởng 702); ghi danh vào biên chế các tàu Hải quân 24 tháng 1 năm 1963; khởi công 6 tháng 2 năm 1965 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) ở Gorki; hạ thủy 20 tháng 3 năm 1968 và tháng 5 năm 1968 được đưa đến Severodvinsk để đóng nốt và thí nghiệm; gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1968; 8 tháng 1 năm 1969 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 trở lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; từ 22 tháng 8 đến 6 tháng 9 năm 1978 cùng với K-325 đã hoàn thành cộc hành quân theo cụm tàu từ vịnh Motov tới vịnh Krasheninnikiv; 13 tháng 11 năm 1978 ghi danh vào biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương, do thực hiện thành công nhiệm vụ, thủy thủ đoàn được tăng Huân chương của Bộ Quốc phòng Liên Xô về sự quả cảm và lòng dũng cảm ngày 22 tháng 9 năm 1978; 4 tháng 11 năm 1978, chỉ huy cuộc hành quân và chỉ huy tàu được tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô; năm 1980-84 ở xưởng số 30 (cảng Dunai) đã trải qua nâng cấp; năm 1984 được tặng giải thưởng của Bộ Tư lệnh Hải quân về việc bắn tên lửa vào mục tiêu trên biển; từ 16 tháng 12 năm 1988 nằm trong xưởng ở vịnh con Chazhma (vịnh Sterlok) đã trải qua đại tu; nhưng 19 tháng 4 năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân và chuyển giao cho cơ sở tháo dỡ, neo ở vịnh Pavlov (Fokino).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Giêng, 2012, 05:48:59 pm
+ K-143, từ 25 tháng 7 năm 1977 là K-121; từ 28 tháng 4 năm 1992 là B-121 (số hiệu 704); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 27 tháng 1 năm 1965; khởi công 25 tháng 11 năm 1966 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) ở Gorki; hạ thủy 29 tháng 4 năm 1969 và tháng 5 năm 1969 được mang đến Severodvinsk để đóng nốt và thí nghiệm; gia nhập biên chế 31 tháng 10 năm 1969; 28 tháng 11 năm 1969 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 quay lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; mùa thu năm 1983 đã hoàn thành cuộc hành quân từ vịnh Motov tới vịnh Krasheninnikov; 6 tháng 10 năm 1983 ghi tên vào biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; tháng 8 năm 1984 trên thành tàu đã xảy ra tai nanjl 1 tháng 3 năm 1987 ở vịnh Avachin đã va vào đất; 28 tháng 4 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 26 tháng 7 năm 1992 đổi cờ Hải quân Liên Xô thành cờ thánh Andrei; 30 tháng 6 năm 1993 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ vào neo đậu ở vịnh con Sever (vịnh Vladimir), từ 6 tháng 8 năm 1996 và vịnh Pavlov (Fokinno).

+ K-201, từ 28 tháng 4 năm 1992 là B-201 (số hiệu xưởng 721); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 25 tháng 4 năm 1970; khởi công 16 tháng 11 năm 1971 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) ở Gorki; hạ thủy tháng 9 năm 1972 và nhanh chóng chuyển đến Severodvinsk để đóng nốt và thí nghiệm; gia nhập biên chế 26 tháng 12 năm 1972; 31 tháng 1 năm 1973 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; từ 20 tháng 1 đến 5 tháng 5 năm 1974 cùng với K-314 đã hoàn thành cuộc hành quân từ vịnh Motov đến vịnh Krasheninnikov diễn ra từ 10 đến 25 tháng 3 năm 1974; có dừng đỗ ở Berbera (Somali); 27 tháng 5 năm 1974 ghi danh vào biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 8 tháng 10 năm 1977 trong thời gian bơi gần bờ Kamchatka, tàu đã bị vướng vào lưới cá do tàu đánh cá Nhật Bản thả; 15 tháng 1 năm 1978 quay trở lại phân lớp tàu tuần dương; 28 tháng 4 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử loại lớn; 26 tháng 7 năm 1992, thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; những năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân.

+ K-302, từ 28 tháng 4 năm 1992 là B-302 (số hiệu xưởng 713); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 12 tháng 1 năm 1968; khởi công 17 tháng 1 năm 1969 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) ở Gorki; hạ thủy 11 tháng 7 năm 1970 và nhanh chóng được đưa tới Severodvinsk để đóng nốt và thí nghiệm; gia nhập biên chế 1 tháng 12 năm 1970; 21 tháng 12 năm 1970 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; tháng 6 năm 1972 và tháng 2 năm 1974 đã va chạm đáy với thương tích khá nặng của thân ngoài; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 trở thành tàu ngầm tuần dương; tháng 4 năm 1979 đã có đám cháy trong lưới động lực do sự đóng mạch ngắn, dập lửa bằng thành viên thủy thủ đoàn; từ 20 tháng 4 năm 1985 đến 4 tháng 3 năm 1988 trải qua trung tu ở xưởng số 10; tháng 8-9 năm 1988 đã hoàn thành cuộc hành quân từ vịnh Motov tới vịnh Krasheninnikov; 28 tháng 9 năm 1988 ghi danh vào biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; 28 tháng 4 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử loại lớn; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô thành cờ Thánh Anderi; 30 tháng 6 năm 1993 bị loại khỏi biên chế Hải quân và chuyển giao cho cơ sở khác; được đưa tới neo đậu ở Sever (vịnh Vladimir); từ 30 tháng 6 năm 1966 tới vịnh Pavlov.

+ K-308, từ 28 tháng 4 năm 1992 là B-308 (số hiệu xưởng 711); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 21 tháng 6 năm 1967; khởi công 29 tháng 12 năm 1967 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) ở Gorki; hạ thủy 19 tháng 2 năm 1970 và mùa xuân nă 1970 chuyển đến Severodvinsk để đóng nốt và thí nghiệm; gia nhập biên chế 20 tháng 9 năm 1970; 20 tháng 10 năm 1970 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 14 tháng 12 năm 1972 kỷ niệm 50 năm Liên bang Xô Viết được tặng Huân chương từ Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Liên Xô, Đoàn chủ tịch tối cao và Hội đồng bộ trưởng Liên Xô; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 quay lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; 13 tháng 4 năm 1978 va chạm với K-490 thuộc Đề án 667-BDR; từ 20 tháng 9 năm 1982 đến 10 tháng 5 năm 1984 đã trải qua trung tu ở xưởng số 10; mùa thu năm 1985 đã di chuyển từ Motov tới Krasheninnikov; 31 tháng 10 năm 1985 ghi danh vào biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; năm 1988 được tặng giải thưởng của Bộ tư lệnh Hải quân theo việc bắn tên lửa vào mục tiêu trên biển; 28 tháng 4 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 30 tháng 7 năm 1992 bị loại khỏi biên chế Hải quân và mang đi tháo dỡ, neo ở vịnh Krasheninnikov.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Giêng, 2012, 07:07:39 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/670_30.jpg)

+ K-313, từ 28 tháng 4 năm 1992 là B-313 (số hiệu xưởng 705); khởi công 14 tháng 7 năm 1966 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) ở Gorki; 3 tháng 11 năm 1966 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; hạ thủy 16 tháng 7 năm 1969; tháng 8 năm 1969 được đưa đến Severodvinsk để đóng nốt và thí nghiệm; gia nhập biên chế 16 tháng 12 anwm 1969; tháng 8 năm 1970 khi đỗ ở căn cứ đã bị đắm khoang số 2; 8 tháng 6 năm 1971 khi đang ở vị trí dưới nước, qua hệ thống quạt thông gió đã xảy ra vụ chìm cục bộ 3 khoang; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 quay lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; 19 tháng 12 năm 1978, tàu va chạm ở vịnh Zapadnaia Litsa vời tàu chống ngầm loại nhỏ MPK-90; từ 11 tháng 12 năm 1981 đến 18 tháng 9 năm 1985 đã trải qua trung tu ở xưởng số 10; tháng 9 năm 1986 đã hoàn thành cuộc di chuyển từ Motov tới vịnh Krasheninnikov; 25 tháng 9 năm 1986 ghi tên vào biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; 28 tháng 4 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm hạt nhân loại lớn; 3 tháng 7 năm 1992 bị loại khỏi biên chế Hải quân và giao cho cơ sở khác; được đưa đến neo đậu ở vịnh Krasheninnikov; 29 tháng năm năm 1997 bị đắm gần bến tàu do sự vận hành thiết bị không đúng; 5 tháng 10 năm 1997 được trục vớt nhưng ngày hôm sau lại bị vùi xuống đất do bão lớn; 10 tháng 10 năm 1997; được kéo lên lần thứ 2, tuy nhiên, sau đó 6 phút lại đắm lần nữa; trúc vớt 13 tháng 10 năm 1997 và sau khi tháo lò phản ứng đã kéo về chỗ nước nông.

+ K-320, từ 28 tháng 4 năm 1992 là B-320 (số hiệu xưởng 721); khởi công 30 tháng 4 năm 1968 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) ở Gorki; 29 tháng 1 năm 1969 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; 18 tháng 1 năm 1970 trên tàu đã xảy ra sự mất kiểm soát trong việc khởi động lò phản ứng với sự lựa chọn khối lượng lớn nước (?) trong các thùng ở xưởng (7 người bị chiếu xạ lại); hạ thủy 27 tháng 3 năm 1971; tháng 5 năm 1971 được mang đến Severodvinsk để đóng nốt và thí nghiệm; gia nhập biên chế 15 tháng 9 năm 1971; 27 tháng 10 năm 1971 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 19 tháng 1 năm 1972 đã va chạm với tàu ngầm K-131 Đề án 675 ở vịnh Motov; năm 1973 trên tàu đã bị đắm cục bộ khoang lò phản ứng; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; ; tháng 9 awnm 1979 đã hoàn thành cuộc di chuyển từ Motov tới Krasheninnikov, do đó 26 tháng 11 năm 1979  thủy thủ đoàn được tặng Huân chương của Bộ Quốc phòng Liên Xô; 25 tháng 9 năm 1979, ghi danh vào biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; năm 1984 và 1985 được tặng giải thưởng của Bộ Tư lệnh Hải quân về việc bắn tên lửa vào mục tiêu trên biển; năm 1985-87 ở xưởng số 30 đã trải qua nâng cấp; 28 tháng 4 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử loại lớn; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Anderi; năm 1992 được tặng giải thưởng của Bộ Tư lệnh Hải quân về bắn tên lửa vào mục tiêu trên biển; 5 tháng 7 năm 1994 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác, được neo đậu ở vịnh Krasheninnikov.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Giêng, 2012, 09:01:00 pm
+ K-325 (số hiệu xưởng 714); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; khởi công 6 tháng 9 năm 1969 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) ở Gorki; hạ thủy 4 tháng 6 năm 1971; tháng 6 năm 1971 được mang đến Severodvinsk để đóng nốt và thí nghiệm; gia nhập biên chế 5 tháng 11 năm 1971; 6 tháng 12 năm 1971 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 22 tháng 12 năm 1973 đã xuất hiện đám cháy ở cuộn dây cáp ở khoang tuabin; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 trở lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; từ 22 tháng 8 đến 6 tháng 9 năm 1978 cùng với K-212 đã hoàn thành cuộc hành quân từ Motov đến Krasheninnikov; 13 tháng 11 năm 1978 đã ghi danh vào biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; do thực hiện thành công nhiệm vụ này, thủy thủ đoàn được tặng Huân chương của Bộ Quốc phòng Liên Xô; 4 tháng 11 năm 1978, chỉ huy cuộc hành quân và chỉ huy tàu được tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô; 24 tháng 6 năm 1991 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao tháo dỡ, neo ở vịnh Krasheninnikov.

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/670_31.jpg)

+ K-429, từ 5 tháng 3 năm 1987 là UTS-130 (số hiệu xưởng 715); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 9 tháng 2 năm 1970; khởi công 26 tháng 1 năm 1971 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) ở Gorki; hạ thủy 22 tháng 4 năm 1972; tháng 5 năm 1972 được đưa đến Severodvinsk để đóng nốt và thí nghiệm; gia nhập biên chế 15 tháng 9 năm 1972; 31 tháng 10 năm 1972 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; tháng 3 năm 1973 trên tàu bị đắm cục bộ khoang lò phản ứng; năm 1975 khi đang bơm, thùng tải trọng dằn số 13 đã bị vỡ; đầu năm 1977 đã hoàn thành cuộc hành quân từ Motov đến vịnh Krasheninnikov; 30 tháng 4 năm 1977 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; do thực hiện thành công nhiệm vụ này, thủy thủ đoàn được tặng Huân chương của Bộ Quốc phòng Liên Xô; 31 tháng 1 năm 1978, chỉ huy cuộc hành quân và chỉ huy tàu được phong Anh hùng Liên Xô; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn;  15 tháng 1 năm 1978 quay lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; 23 tháng 6 năm 1983 bị đắm ở biển Bering gần bờ Kamchatka trong thời gian xử lý nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu (16 người hy sinh); 9 tháng 8 năm 1983 được trục vớt và kéo về xưởng số 49 tại Seldevaia (Vilyuchinsk) để khắc phục sửa chữa, ở đó bị đắm do lỗi vận hành thiết bị; 12 tháng 10 năm 1986 được đưa về neo đậu ở vịnh Krasheninnikov.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Giêng, 2012, 09:47:52 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/670_draw3.jpg)

Chú thích

Các khí tài di động

1.Đài ra đa định vị trinh sát MRP-10 “Zaliv-P”; 2.Khí tài cho hoạt động nén dưới nước (hầm không khí); 3.Đài ra đa định vị nhìn vòng RLK-101 “Albatros”; 4.Máy tìm phương “Veslo-P”; 5.Ăng ten liên lạc “Topol”; 6.Rãnh để đặt ăng ten chân cắm “Iskra”; 7.Kính tiềm vọng PZNS-10; 8.Топовый огонь - Đèn cột mũi (bác hps)

Trang bị

9.Thiết bị phóng SM-97 cho tên lửa “Ametist”; 10.Các thiết bị ngư lôi 533mm; 11.Các thiết bị ngư lôi 400mm; 12.Các ngư lôi trên giá đỡ; 13.Cửa vận chuyển ngư lôi

Các khí tài kỹ thuật

14.Máy dò đạo hàng nhìn vòng; 15.Khí tài số 1-1 thuộc tổ hợp thủy âm “Kerch”; 16.Ăng ten thủy âm; 17.Khí tàu 1-3 thuộc tổ hợp thủy âm; 18.Đài thủy âm; 19.Trạm chuẩn bị khởi động trước phóng cho tên lửa “Ametist”; 20.Khoang thông tin liên lạc; 21.Khoang các khí tài trinh sát vô tuyến

Các thùng

22.Bảo vệ sinh học; 23.Nước uống; 24.Đường rãnh hình nhẫn; 25.Ngư lôi phụ; 26.Nhiên liệu; 27.Dầu; 28.Dầu tuabin; 29.Điều khiển; 30.Tải trọng dằn thân trong; 31.Chênh mớn nước; 32.Thùng nóng

Các buồng (khoang) và tổ hợp

33.Lò phản ứng; 34.Máy phát điện hơi nước; 35.Bộ truyền động; 36.Máy phát điện tuabin tự động; 37.Máy phát điện diesel; 38.Khoang bảng phân chia chính và bộ đổi tần số.39.Khí tài thủy âm; 40.Máy lạnh; 41.Trạm la bàn; 42.Khí tài nổi cứu nạn; 43.Khoang (của sỹ quan); 44. Các đài điều khiển “Ametist”; 45.Khoang bếp; 46.Lương thực, thực phẩm; 47.Bảng điều khiển thiết bị năng lượng chính; 48.Khoang cách ly; 49.Mỏ neo; 50.Ổ gối đỡ; 51.Khớp trục răng cưa liên kết MZS 75; 52.Máy làm bay hơi.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Giêng, 2012, 10:00:29 pm
Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ nổi: 3574

+ ngầm: 4980

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 95,5 (-)

+ chiều rộng nhất: 9,9

+ lượng mớn nước theo vạch mớn nước thiết kế: 7,5

Thiết bị năng lượng chính: nguyên tử

+ thiết bị sản xuất hơi nước OK-350; 1 lò phản ứng nước VN-4-1, công suất, mW: 89,2

+ 1 thiết bị tuabin răng cưa GZTA-631, 1 tuabin hơi nước, công suất, sức ngựa (kW): 18 800 (13 820)

+ 2 máy phát điện tuabin TMVV-2, công suất, kW: 2x2000

+ 1 máy phát điện-diezel, công suất, kW: 1x500

+ 1 động cơ điện hỗ trợ, công suất, sức ngựa: 1x270

1 trục; 1 chân vịt 5 cánh hoặc 2 theo sơ đồ “tiếp đôi”; 2 động cơ phụt nước hỗ trợ

Tốc độ, hải lý

+ nổi: 12

+ ngầm: 26

Độ lặn sâu, mét

+ làm việc hiệu quả: 250

+ giới hạn: 26

Thời gian hoạt động: 60 ngày

Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 86 (23)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: huyphongssi trong 13 Tháng Giêng, 2012, 10:12:43 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/670_draw3.jpg)

Chú thích

Các khí tài di động

1.Đài ra đa định vị trinh sát MRP-10 “Zaliv-P”; 2.Khí tài cho hoạt động nén dưới nước (hầm không khí); 3.Đài ra đa định vị nhìn vòng RLK-101 “Albatros”; 4.Máy tìm phương “Veslo-P”; 5.Ăng ten liên lạc “Topol”; 6.Rãnh để đặt ăng ten chân cắm “Iskra”; 7.Kính tiềm vọng PZNS-10; 8.Топовый огонь  (?)

Топовый огонь = Đèn cột mũi


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Giêng, 2012, 10:12:58 pm
Trang bị

Vũ khí tấn công

+ thiết bị phóng SM-97 cho tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh P-70 “Ametist”: 8x1

+ tên lửa chống tàu có cánh P-70 (4K66) “Ametist” (SS-N-7 “Starbright”): 8

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm: 4 (mũi)

+ các ngư lôi 533mm 53-65K, SAET-60M, SET-65: 12

+ thiết bị ngư lôi 400mm: 2 (mũi)

+ các ngư lôi 400mm SET-40, MGT-2: 4

Thủy lôi

+ có thể mang thủy lôi thay cho bộ phận ngư lôi: 26

Trang thiết bị vô tuyến điện

+ hệ thống điều khiển thông tin chiến đấu: “Berst”

+ đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: RLK-101 “Albatros” hoặc MRK-50 “Kaskad”

+ đài thủy âm: tổ hợp thủy âm “Kerch” hoặc MGK-400 “Rubicon” (Shark Fin); GPS

+ các khí tài tác chiến điện tử: MRP-21A “Zaliv-P”; “Veslo-P” – đài tìm phương; VAN-M (Stop Light, Brick Group, Park Lamp); GPD “Anbar”

+ tổ hợp đạo hàng: “Sigma-70”

+ tổ hợp thông tin liên lạc: “Molnia”; “Paravan”; “Iskra”, “Anis”, “Topol”

+ đài ra đa định vị hội thoại nói: - .


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Giêng, 2012, 05:26:56 pm
Đề án 661 “Anchar” (lớp Papa - Papa class)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/661_02.jpg)

Tổng số tàu đã đóng: 1

Biến thể: -

Ngày 28 tháng 8 năm 1958, đã tiếp nhận quyết định của Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô mệnh lệnh “Về việc chế tạo tàu ngầm tốc độ mới với kiểu thiết bị năng lượng mới và phát triển các công việc thiết kế, thiết kế - thí nghiệm và nghiên cứu – khoa học cho các tàu ngầm”. Trong đó, nhiệm vụ đầu tiên là nhiệm vụ tăng cường tốc độ của tần ngầm và độ lặn sâu so sánh với tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ nhất tăng gấp rưỡi (1,5) đến 2 lần. Việc chế tạo dự kiến là thiết bị năng lượng có kích thước giảm với sự giảm khối lượng riêng của các lò phản ứng và tuabin từ 1,5-2 lần, tổ hợp tên lửa chống tàu kích thước nhỏ mới với sự khởi động ngầm, các ngư lôi hai mặt phẳng (tầm – hướng) tốc độ cao và tầm bắn xa có khả năng sử dụng được ở độ lặn sâu lớn (của tàu), lớn gấp đôi, hơn là trên các tàu ngầm thuộc các Đề án đã có. Dự định áp dụng các vật liệu thiết kế mới, cho phép, trong tổ hợp với sự tiếp nhận các phương pháp khác để làm giảm lượng choán nước và kích thước tàu ngầm nguyên tử. Tất cả phải đảm bảo sự vượt trội thực tế của các tàu ngầm nguyên tử Liên Xô đối với các tàu ngầm nguyên tử triển vọng trong tương lai của Mỹ.

Trong các khuôn khổ của mệnh lệnh này, ở Phòng Thiết kế Trung ương số 16 thuộc Ủy ban Nhà nước về đóng tàu (nay là Phòng lắp ráp xe máy Hải quân Saint Peterburg “Malakhit”) đã bắt đầu thiết kế tàu ngầm nguyên tử cao tốc thí nghiệm Đề án 661 (mã số “Anchar”). Các công việc về chương trình này được nghiên cứu bởi lãnh đạo công nghiệp đóng tàu và xem như là sự ưu tiên hàng đầu. Nhiệm vụ tác chiến của tàu ngầm là chống lại các tàu sân bay và các tàu hộ vệ cao tốc của địch.

Trong các công việc trên Đề án 661 đã tiếp nhận sự tham gia tích cực của Viện nghiên cứu khoa học Trung ương số 45 (nay là Viện nghiên cứu khoa học mang tên Viện sĩ A.N.Krưlov). Viện đã nghiên cứu những câu hỏi “thuộc về tàu” một cách đúng nghĩa liên quan với sự chê tạo tàu ngầm nguyên tử mới, cũng như là những câu hỏi về hiệu quả chiến đấu của tàu ngầm cao tốc.

Ba giải pháp về vật liệu thiết kế cơ bản đã được nghiên cứu để chế tạo thân trong của tàu – thép, nhôm và titan. Kết quả là titan đã được lựa chọn. Điều này cho phép giảm khối lượng thân tàu rất nhiều (đồng nghĩa với lượng choán nước của tàu). Bằng cách này, một trong số những dấu hiệu ngụy trang quan trọng nhất của tàu ngầm đã bị giảm đi đáng kể - trường từ tính của tàu.

Sau khi xem xét hai kiểu lò phản ứng – đơn giản hơn nước – nước và kim loại lỏng trong tương lai (triển vọng) (chất tải nhiệt của đường bao thứ nhất – hợp kim chì và bitmut) – kiểu đầu tiên được lựa chọn như là thực hế hơn theo thời gian chế tạo, mặc dù các tham số riêng thấp hơn.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Giêng, 2012, 06:03:16 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/661_draw2.jpg)

Đã có 14 phiên bản chính và 6 phiên bản bổ sung thuộc các đề án phác thảo được nghiên cứu. Các phiên bản trang bị vũ khí của tàu cũng được nghiên cứu: các tên lửa có cánh với sự phóng ngầm “Ametist” được chế tạo dưới sự chỉ đạo của Tổng công trình sư V.N.Chelomen, các tên lửa có cánh với sự phóng nổi (Tổng công trình sư G.M.Beriev) hoặc các ngư lôi mới uy lực mạnh mà ở thời điểm đó đang ở trong giai đoạn phát triển (thiết kế).

Việc lựa chọn vũ khí chính yêu cầu so sánh hiệu quả các phiên bản tàu ngầm nguyên tử. Kết quả các nghiên cứu được thực hiện ở Viện nghiên cứu khoa học số 45, sự ưu tiên dành cho phiên bản với các tên lửa “Ametist”. Mệnh lệnh của Nhà nước về sự thiết kế lần đầu tiên trên thế giới tện lửa có cánh với sự khởi động ngầm được đưa ra ngày 1 tháng 4 năm 1959, còn ngày 9 tháng 4 cùng năm đã thông qua đề án phác thảo của tàu ngầm.

Việc thiết kế đề án kỹ thuật của tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh Đề án 661 đã hoàn thành trong tháng 12 năm 1960. Hệ thống năng lượng nguyên tử mạnh kết hợp với hình dạng mới của thân tàu đảm bảo cho tàu ngầm các thông số tốc độ độc đáo. Trong sự tương ứng với Đề án, tàu phải đạt tốc độ dưới nước không thấp hơn 37-38 hải lý, vượt trội tốc độ của bất cừ tàu chiến nào của Hải quân Mỹ.

Việc thiết kế tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh được tiến hành dưới sự chỉ đạo của Tổng công trình sư N.N.Isanin (sau đó, thay thế ông là N.F.Shulzhenko). Giám sát viên chính từ phía Hải quân là Yu.G.Ilinsky, sau đó – V.N.Markov. Trong các công việc theo chương trình đã kéo theo sự tham gia của hơn 400 tổ chức và xí nghiệp.

Trong quá trình thiết kế và đóng tàu đã xử lý công nghệ hàn thiết kế thân tàu từ hợp kim titan độ bền cao, được chế tạo từ sự đúc, rèn chúng, dụng cụ và các linh kiện khác. Để làm việc với titan, ở xí nghiệp lắp ráp xe máy Severodvinsk đã được yêu cầu thành lập các phân xưởng đặc biệt và các phòng khác. Để tiến hành các thí nghiệm động lực và tĩnh lực đã chế tạo các buồng nửa ngoài trời SMT60-1 và DMT-60-2 (buồng đầu tiên được thí nghiệm trên ụ, còn thứ hai – trên trường bắn Hải quân).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Giêng, 2012, 06:43:06 pm
Các khoang 1 (trên) và 2 (dưới), có hình dáng mặt cắt của số 8, tạo thành 2 vòng tròn giao nhau đường kính 5,9 mét (trong đó bố trí các thiết bị ngư lôi với cơ số đạn dự trữ cùng các khí tài nạp đạn nhanh);

3 – khoang cho người ở, buồng sỹ quan, pin ắc quy

4 – trạm chỉ huy, trạm điều khiển thiết bị năng lượng, khối cho người sinh hoạt

5 – lò phản ứng

6 – tuabin

7 – máy phát điện tuabin

8 – khoang các máy móc hỗ trợ (máy làm lạnh, máy nén khí, thiết bị lọc nước biển (nước mặn))

9 – thiết bị dẫn động bánh lái (chân vịt) và khoang chứa.

Phần cuối mạn tàu được chế tạo trong dạng tách đôi của 2 của mũ chụp đối xứng dạng hình nón  các trục với khoảng cách giữa chúng là 5 mét. Sự tối ưu hóa thủy động lực hình dáng phần cuối mạn tàu đạt được do kết quả kéo dài nó với các góc nhỏ xuống dốc của rãnh mớn nước trong mặt phẳng đường kính và sự tiếp nhận trục chân vịt kéo dài với các mũ chụp, cho phép lắp trục chân vịt có đường kính tối ưu với tần sô quay cho phép.

Trong vách ngăn của các thiết bị di động của tàu ngầm đã lắp các thùng nổi, dự kiến dung cho việc cứu nạn toàn bộ thủy thủ đoàn bằng phương pháp “khô”.

Thiết bị năng lượng tổng công suất trên các trục 80 000 sức ngựa gồm có 2 nhóm tự động (các thành bên phải và trái). Mỗi nhóm liên koees với thiết bị sản xuất hơi nước tự động V-5R, thiết bị tuabin răng cưa GZTA-618 và thiết bị phát điện tuabin tự động xoay chiều 3 pha OK-3, công suất 3000kW. Công suất nóng tiêu chuẩn của hai lò phản ứng nguyên tử dạng nước – nước là 117,4mW, còn thiết bị sản xuất hơi nước PPU trong công suất tiêu chuẩn của lò phản ứng là 2x250 tấn hơi nước/giờ.

Các lò phản ứng được thiết kế cho tàu ngầm Đề án 661 có hàng loạt các điểm đặc biệt khác thường. Chi tiết, sự lặc của thiết bị tải nhiệt thuộc đường bao thứ nhất được thiết kế theo sơ đồ “ống trong ống”, đảm bảo sự hợp lý của thiết bị năng lượng nguyên tử khi cường độ cao. Khi đó, các lò phản ứng làm việc không chỉ trên nơ trôn nhiệt năng và với sự tham gia phản ứng tách “nhiên liệu” hạt nhân của các nơ trôn nhanh (?).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Giêng, 2012, 07:24:02 pm
Để cung cấp năng lượng tiêu thụ chính là năng lượng điện được lấy từ dòng điện xoay chiều ba pha hiệu điện thế 380V và tần số 50Hz. Sự áp dụng mới cơ bản đã bỏ được việc sử dụng các máy phát điện – diesel: trong vai trò nguồn điện khẩn cấp, sử dụng các pin ắc quy. Tổ hợp điều khiển thiết bị điện “Kaktus-61” được thiết kế tại Phòng Thiết kế Trung ương số 61 ở Rostov sau này được các thủy thủ đánh giá cao nhất.

Trên thành tàu có tổ hợp đạo hàng mọi vi độ “Sigma-661”, đảm bảo sự bơi dưới nước và dưới băng. Sự điều khiển tự động tàu ngầm được thực hiện bằng hệ thống điều khiển theo hướng và độ sâu “Shpat”, hệ thống ngăn ngừa các lỗi khẩn cấp và sụt “Turmalin”, đồng thời hệ thống điều khiển các hệ thống tàu tổng hợp, các khí tài và các lỗ ngoài mạn tàu “Signal-661”.

Tổ hợp thủy âm MGK-300 “Rubin đảm bảo sự phát hiện các mục tiêu có tiếng ồn khi có sự phối hợp tự động đồng thời 2 trong số chúng với sự phân phối các thông tin tới các hệ thống điều khiển vũ khí tên lửa và ngư lôi. Đảm bảo sự phát hiện vòng các tín hiệu của đài thủy âm trên tàu địch, làm việc trong chế độ tự động, đồng thời nhận dạng chúng với sự xác định góc phương vị và cự ly. Để phát hiện các loại mìn neo có đài thủy âm “Radian-1”.

Để quan sát tính trạng không khí và trên mặt nước của tàu ngầm, có trang bị kính tiềm vọng truyền sáng phòng không PZNS-9 với máy tính toán quang học các tọa độ. Khí tài nâng cho phép nâng kính tiềm vọng từ độ sâu 30 mét khi tốc độ tàu 10 hải lý và sóng cấp 5. Có đài ra đa định vị RLK-101 và MTP-10, đồng thời hệ thống phân biệt bạn – thù “Nikhrom”.

Đối với sự thông tin liên lạc vô tuyến hai chiều bảo mật tốc độ siêu nhanh với các trạm chỉ huy trên bờ, với các tàu khác và phối hợp với tàu ngầm bằng các máy bay có các tổ hợp khí tài thông tin liên lạc vô tuyến hiện đại (theo tiêu chuẩn của những năm 1960). Tàu được trang bị hệ thống trinh sát vô tuyến, đảm bảo sục sạo, phát hiện và định vị các đài vô tuyến của địch đang hoạt động.

Vũ khí cơ bản của tàu ngầm là tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh P-70 “Ametist” với 10 tên lửa có cánh, được bố trí trong các thùng nghiêng bố trí theo thành ngoài thân trong ở bộ phận mũi tàu. Ở thân ngoài đối với mỗi thùng phóng có cửa ra vào cá nhân, nắp mở ở dưới.

Tầm bắn tối đa của tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh P-70 là 70km. Sự khởi động tên lửa thực hiện dưới nước từ độ sâu 30 mét từ thùng phóng ngoài thành bị làm ngập nước sơ bộ. Ngay sau khi rời khỏi thùng phóng, động cơ tên lửa khởi động và mở cánh, còn ở ví trí nổi trên mặt nước là động cơ chính nhiên liệu rắn.

Trong thành phần tổ hợp tên lửa có đồng thời các khí tài kiểm tra trước phóng, các khí tàu của hệ thống điều khiển bắn tên lửa mang theo, cùng với tổ hợp thủy âm, tổ hợp điều khiển bắn ngư lôi, tổ hợp đạo hàng, đồng thời thiết bị cân bằng điều khiển hướng và độ sâu.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Giêng, 2012, 03:36:33 pm
Thiết bị phóng đảm bảo sự bảo quản, vận chuyển, chuẩn bị khởi động từ xa và khởi động các tên lửa có cánh mà không cần tiếp cận gần thùng phóng. Các tên lửa được tiếp nhận tới thành tàu trong trạng thái đã sẵn sàng để chuẩn bị khởi động. Sự bảo quản đáng tin cậy đảm bảo sự phóng của chúng trong thời gian 3 tháng trên biển.Toàn bộ tổ hợp đạn tên lửa có thể phóng trong hai loạt, khoảng cách khởi động giữa các loạt là 3 phút. Theo ý kiến của các chuyên gia, đây là điểm yếu chiến thuật chính của đề án, rất khó đạt hiệu quả cho tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh vào các mục tiêu chính – các tàu sân bay. Ngoài ra, tên lửa P-70 có nhược điểm này, đó là luồng khói mạnh (đặc) từ động cơ, làm mất sự ngụy trang của tàu trong thời gian bắn.

Trong bộ phận cuối mũi của tàu ngầm bố trí 4 thiết bị ngư lôi 533mm (cơ số ngư lôi – 8 đạn), đảm bảo sự bắn từ độ sâu 200 mét. Sự điều khiển bắn ngư lôi được thực hiện bằng hệ thống tự động “Ladoga-P-661”.

Trong quá trình thí nghiệm tàu ngầm nguyên tử Đề án 661, nhận số hiệu K-162, khi 92% công xuất của thiết bị động lực đạt được một cách tương đối ở bãi tập vùng nước nông (độ sâu khu mặt nước – 200 mét, độ sâu hành quân – 100 mét) đã nhận được tốc độ tối đa dưới mặt nước, bằng 42 hải lý, tăng đáng kể so với các tham số được tính toán (38 hải lý). Theo đó, đã lập kỷ lục thế giới về tốc độ của tàu ngầm, trước đó được thiết lập bởi các tàu Đề án 671 (33,5 hải lý). Tốc độ lớn nhất của tàu ngầm nguyên tử Mỹ chỉ là 30 hải lý. Sau đó, khi thiết bị năng lượng chính đạt công suất tối đa và độ nước sâu trên bãi tập, đã nhận được kết quả cao hơn – 44,7 hải lý (khi tăng cường thiết bị năng lượng đã đạt tốc độ 45 hải lý trong thời gian ngắn). Con số này và đến thời điểm này là kỷ lục tuyệt đối về tốc độ của các tàu ngầm. Tuy nhiên, khi đó cũng đã xuất hiện những vấn đề không mong đợi đối với các công trình sư: ở tốc độ cao, lực ma sát với nước vào thân tàu ngầm sẽ tạo ra tiếng ồn lớn, và tàu ngầm thực tế bị “điếc” do những sự nhiễu tiếng ồn mạnh.

Trong các thí nghiệm của K-162 đã thể hiện tính cơ động cao như trong các mặt phẳng tầm – hướng. Có các thông só tốc độ và cơ động riêng, kết hợp với tổ hợp thủy âm mạnh với tầm phát hiện mục tiêu xa, tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh Đề án 661 có thể thực hiện việc triển khai nhanh ở khu vực hoạt động chiến đấu, đồng thời lựa chọn trận địa thuận lợi để sử dụng vũ khí và thực hiện cuộc tấn công lần nữa, mở rộng một cách đáng kể khả năng chiến đấu của tàu theo so sánh với các tàu ngầm thuộc Đề án khác.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Giêng, 2012, 03:48:28 pm
Biến thể

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/661_04.jpg)

Năm 1970, khi tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh Đề án 661 đã trải qua thêm các thí nghiệm, phục vụ câu hỏi về việc khởi công đóng loạt tàu ngầm nguyên tử theo Đề án nâng cấp – 661-M. Đã có 3 phiên bản, khác nhau ở lượng choán nước (từ 5179 đến 6208 tấn), tốc độ ngầm (39-42 hải lý), thiết bị năng lượng chính (43 000–55 000 sức ngựa) và các tham số khác. Tuy nhiên, tới thời điểm này, đã triển khai đóng loạt có các thông số về tốc độ không bằng, nhưng có giá thành rẻ và tiếng ồn thấp hơn đáng kể là Đề án 670, có sức tấn công tương đương. Ngoài ra, yêu cầu áp dụng những sự thay đổi thực tế trong hệ thống điều khiển bắn tên lửa của Đề án 661, một lần nữa cần thời gian và tài chính đáng kể.

Tiếng ồn lớn ở dưới nước của tàu không làm cho Hải quân hài lòng. Cấp độ cao của những sự nhiễu thủy âm riêng gây khó khăn co hoạt động của tổ hợp thủy âm. Trong các điều kiện này việc triển khai đóng hàng loạt các tàu ngầm nguyên tử Đề án 661 không được chấp nhận. Sự phát triển và dự định nâng cấp K-162 không được tiếp nhận, bao gồm cả việc lắp tổ hợp tên lửa P-120 với sự thay thế sau đó bằng tổ hợp “Granit”.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Giêng, 2012, 04:02:37 pm
Chương trình đóng tàu

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/661_draw4.jpg)

Năm 1962, ở xí nghiệp lắp xe máy phương Bắc (số 402) đã bắt đầu chế tạo các khung thân trong đầu tiên của tàu ngầm Đề án 661. Tuy nhiên, các thí nghiệm đầu tiên của các phần từ thiết kế thân tàu từ hợp kim titan đã kết thúc không thành công, yêu cầu tiến hành các công việc bổ sung. Kết quả là việc khởi công chính thức tàu ngầm Đề án 661 chỉ được thực hiện ở Severodvinsk vào 28 tháng 12 năm 1963.

Cấp độ cao của tàu ngầm mới và sự phực tạp của đề án đã kéo dài quá trình thực hiện đóng tàu. Các công việc về chế tạo tàu được tiếp tục, và trong sự phức tạp như vậy, kéo dài hơn 11 năm. Sự cản trở lớn trong quá trình đóng tàu là tốc độ thấm của việc thiếu titan trong thời gian đó – cũng cần thiết để đóng máy bay và tên lửa. Kết quả là tàu ngầm, nhận số hiệu chiến thuật K-162, chỉ được hạ thủy vào 21 tháng 12 năm 1968. Ngày 13 tháng 12 năm 1969, tàu được đưa vào các thí nghiệm vận động cấp xưởng.

Ban đầu, dự định, rằng sau khi đóng tàu đầu tiên (thí nghiệm) thuộc Đề án 661, sau đó sẽ khởi công thêm 10 tàu trong lớp. Tuy nhiên, sau đó số lượng tàu bị rút xuống còn 5, sau đó là 3, còn trong năm 1964, kế hoạch 5 năm mới quyết định hạn chế việc đóng mới tàu chỉ là 1. Việc này được giải thích là ở Liên Xô không đủ titan, đồng thời những khó khăn về công nghệ, thời gian đóng tàu kéo dài đáng kể chỉ để đóng tàu duy nhất. Năm 1970, một lần nữa, lại đặt ra câu hỏi về khởi công loạt tàu ngầm nguyên tử Đề án nâng cấp 661-M, nhưng ở thời điểm đó đã triển khai đóng hàng loạt các tàu thuộc Đề án 670.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Giêng, 2012, 04:31:05 pm
Tình hình đến 2007

Sự khai thác sử dụng thí nghiệm của tàu được bắt đầu năm 1970 và kết thúc tháng 12 năm 1971. Tháng 9 năm 1971, K-162 đã có lần trực chiến đầu tiên, trong cuộc hành quân đó, tàu đã đi qua biển Greenland đến rãnh (vùng trũng) Brazil, tới khu vực xích đạo, thực hiện hàng loạt các nhiệm vụ cùng với các tàu ngầm và tàu nổi khác. Thực hiện sự giám sát tàu sân bay “Saratoga”. Các tàu Mỹ khí đó nhiều lần cố gắng thoát khỏi các tàu ngầm, tăng tốc độ lên hơn 30 hải lý, tuy nhiên kết quả mong đợi không thực hiện được. Hơn nữa, tàu ngầm nguyên tử đã tiến hành cơ động, thỉnh thoảng, nó vượt qua cả tàu Mỹ. Trong hai tháng rưỡi tiến hành cuộc hành quân, tàu đã nổi lên mặt nước tổng cộng một lần.

Sau khi hoàn thành thí nghiệm khai thác sử dụng, K-162 đã trải qua sửa chữa ở Severodvinsk và năm 1974 một lần nữa quay trở lại biên chế chiến đấu Hải quân. Tàu được giới thiệu là thư viện độc đáo, ở đó, trong các điều kiện tự nhiên đã thực hiện việc xử lý các mẫu vũ khí và trang bị mới. Nhiều trong số đó, được chế tạo dành cho tàu ngầm thí nghiệm này, sau đó, sử dụng trên các tàu mới thuộc đề án khác. Ở phương Tây, Đề án 661 nhận tên gọi “Papa class”. Trong Hải quân Liên Xô, nó được gọi là “Cá vàng” (một thời gian trước, đây là biệt danh của tàu ngầm nguyên tử Đề án 645), cũng như là sự tương đồng (giống nhau) bên ngoài của titan và vàng, cũng như chi phí cao của Đề án.

Năm 1978, tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa đạn đạo đề án K-162 đổi tên thành K-222. Tàu nằm trong biên chế Hạm đội Phương Bắc đến năm 1988, sau đó bị đưa vào danh sách dự bị, tiếp đó – đưa đi tháo dỡ.

Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ K-162, từ năm 1978 là K-222 (số hiệu xưởng 501); khởi công 28 tháng 12 năm 1963 ở “xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc” (số 402) tại Severodvinsk; hạ thủy 21 tháng 12 năm 1968; 13 tháng 12 năm 1969 đã bắt đầu các thí nghiệm vận động cấp xưởng, đạt tốc độ kỷ lục của tàu ngầm là 42 hải lý và 31 tháng 12 năm 1969 gia nhập biên chế; đầu năm 1970 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1970 ở khu vực nước sâu của bãi tập đã thiết lập kỷ lục tuyệt đối của tàu ngầm là 44,7 hải lý (không chính thức); từ tháng 1 năm 1970 đến tháng 12 năm 1971, tàu trong quá trình khai thác sử dụng thí nghiệm, đi qua 40 000 dặm (trong đó gần 30 000 dặm dưới nước), từ tháng 9 năm 1971 đã hoàn thành cuộc hành quân tới Đại Tây Dương hoàn toàn tự động với tốc độ cao, theo dõi tàu sân bay tấn công “Saratoga” của Hải quân Mỹ; từ năm 1972 đến 1974 đã trải qua sửa chữa ở xưởng số 402; năm 1988 bị đưa vào danh sách dự bị; đầu những năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân; giải tán và chuyển giao để tháo dỡ.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Giêng, 2012, 04:51:30 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/661_07.jpg)

Chú thích

Các thông số kỹ chiến thuật chính của tàu ngầm K-162 Đề án 661: lượng choán nước tiêu chuẩn: 5179 tấn; tốc độ nổi: 16 hải lý; tốc độ ngầm: hơn 38 hải lý; 10 tên lửa có cánh tổ hợp “Ametist”, 4 thiết bị ngư lôi 533mm, 12 ngư lôi; tổ hợp đạo hàng “Sigma-661”; kính tiềm vọng – P(?)NS-9; đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu nổi RLK-101; máy hỏi của đài ra đa định vị nhận dạng “Nikhrom”; tổ hợp thủy âm “Rubin”; đài thủy âm MG-509 và MG-29; thiết bị năng lượng – 2 lò phản ứng V-5 công suất 177 mW; tổ hợp tuabin răng cưa 618- 2 theo 40 000 sức ngựa; máy phát điện tuabin – 3 theo 3000kW; độ lặn sâu giới hạn: 400 mét; thời gian hoạt động: 70 ngày; chiều dài: 106,9 mét; chiều rộng thân ngoài: 11,5 mét; chiều rộng theo bộ phận cân bằng: 16,7 mét; chiều cao theo nóc vách ngăn mui: 14,5 mét; lượng mớn nước: 8 mét; thủy thủ đoàn: 75 người.

Các số hiệu

1.Các thiết bị ngư lôi ở mũi; 2.Các ngư lôi dự trữ; 3.Khoang mũi; 4.Khoang số 3; 5. Khoang trong; 6.Thùng nổi cứu nạn; 7.Trạm trung tâm; 8.Cửa ra vào vận chuyển – khẩn cấp; 9.Các thiết bị tuabin răng cưa chính; 10. Các máy phát điện tuabin; 11-Khoang các máy móc hỗ trợ; 12-Khoang thiết bị bánh lái; 13. Bánh lái quạt gió; 14. Chân vịt; 15. Trạm la bàn; 16.Tổ hợp thủy lực 17.Khoang thủy âm (?); 18.Thùng phóng tên lửa; 19.Các bánh lái nằm ngang cơ động ở mũi tàu.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Giêng, 2012, 04:57:09 pm
Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ nổi: 5197

+ ngầm: 8000

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế) 106,92 (-)

+ chiều rộng nhất: 11,5

+ lượng mớn nước theo vạch mớn nước thiết kế: 8,06

Thiết bị năng lượng chính: nguyên tử

+ thiết bị sản xuất hơi nước B-5R; 2 lò phản ứng nước, công suất, mW: 177,4

+ 2 thiết bị tuabin răng cưa 618; 2 tuabin hơi nước, công suất, sức ngựa (kW): 80 000 (58 000)

+ 2 máy phát điện tuabin OK-3, công suất, kW: 2x3000

2 trục, 2 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ nổi: 16

+ ngầm (tốc độ tối đa đạt được): 42 (45)

Độ lặn sâu, mét

+ hoạt động hiệu quả: 300

+ giới hạn: 400

Thời gian hoạt động: 70 ngày

Thủy thủ đoàn (sỹ quan): 85 (-)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Giêng, 2012, 10:22:41 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/661_draw3.jpg)

Vũ khí

Vũ khí tiến công

+ thiết bị phóng SM-97 cho tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh P-70 “Ametist”: 10x1

+ tên lửa chống tàu có cánh P-70 (4K66) “Ametist” (SS-N-7 “Starbright”): 10

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm: 4 (mũi)

+ cơ số ngư lôi 533mm và tên lửa chống tàu điều khiển: 8

Thủy lôi

+ có thể mang theo thủy thôi thay thế cho bộ phận ngư lôi –

Trang bị vô tuyến điện

+ hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: -

+ đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: RLK-101 “Albatros”; MTP-10 (đạo hàng)

+ các đài thủy âm: GAK MGK-300 “Rubin”; MG-509; MG-29; “Radian-1” (dò mìn)

+ các khí tài tác chiến điện tử: “Zavesa” (tìm phương”; VAN-M

+ tổ hợp đạo hàng: “Sigma-661”; “Samum-1”

+ tổ hợp thông tin liên lạc vô tuyến: tổ hợp các khí tài

+ đài ra đa định vị hội thoại nói: “Nikhrom”.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Giêng, 2012, 02:52:38 pm
Đề án 949 “Granit” (Lớp Oscar-I – Oscar-I class)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/949_03.jpg)

Tổng số tàu đã đóng: 2

Biến thể

+ 949 “Granit” (Lớp Oscar-I) – Đề án cơ sở sản xuất hàng loạt tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa chống tàu có cánh P-700 “Granit” (1981)

+ 949-A “Antei” (Oscar-II class) – biến thể được hiện đại hóa với sự tăng cường lượng choán nước (1987).

Kết quả của việc hiện đại hóa vũ khí Hải quân của đối thủ tiềm năng (các máy bay tiêm kích – yểm trợ cất cánh từ tàu sân bay F-14 “Tomcat”, máy bay chống ngầm S-3 “Viking”), các khả năng chống tàu sân bay của các tàu ngầm nguyên tử Liên Xô thuộc Đề án 675 (thậm chí là sau khi được nâng cấp) có vẻ như trở nên yếu thế trong việc tiêu diệt các cụm đối thủ của chúng. Yêu cầu chế tạo tổ hợp tên lửa mới, có tầm bắn xa và uy lực mạnh hơn đáng kể với sự khởi động ngầm, đảm bảo tiến hành cuộc tấn công quy mô lớn dưới nước vào các tàu (trước hết là tàu sân bay) từ xa với khả năng chọn lọc tiêu diệt mục tiêu.

Dưới tổ hợp mới yêu cầu thiết bị mang mới có khả năng thực hiện bắn loạt từ vị trí ngầm 20-24 tên lửa (theo tính toán, rõ ràng mật độ này cho phép “bắn thủng” hệ thống phòng thủ tên lửa chống tàu trên các cụm tàu sân bay tương lai của Mỹ). Ngoài ra, tàu tên lửa mới phải có khả năng ngụy trang, tốc độ và độ lặn sâu cao, đảm bảo cho nó khả năng vượt qua sự phòng thủ chống ngầm của địch và thoát khỏi sự truy đuổi.

Các công việc sơ bộ về chế tạo tàu ngầm tên lửa thế hệ thứ 3 bắt đầu năm 1967, năm 1969, Hải quân đã đưa ra nhiệm vụ kỹ - chiến thuật chính thức về chế tạo “tàu ngầm tên lửa tuần dương hạng nặng”, trang bị tổ hợp tên lửa chiến thuật.

Đề án, nhận số hiệu 949 và mã số “Granit”, được chế tạo ở Phòng thiết kế Trung ương Kỹ thuật Hải quân “Rubin”, dưới sự chỉ đạo của Tổng công trình sư P.P.Pustưntsev. Sau cái chết của ông vào năm 1977, Tổng công trình sư là I.L.Baranov, còn giám sát viên chính từ phía Hải quân – thuyền trưởng hạng 2 V.N.Ivanov. Khi thiết kế tàu ngầm tên lửa mới đã dự kiến sử dụng rộng rãi lượng trữ khoa học – kỹ thuật và các giải pháp thiết kế riêng, nhận được khi chế tạo tàu ngầm có tốc độ lớn nhất trên thế giới thuộc Đề án 661.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Giêng, 2012, 03:47:35 pm
Tổ hợp tên lửa “Granit”, được chế tạo ở Phòng thiết kế - thí nghiệm số 52 (hiện nay là tổ chức nghiên cứu – khoa học lắp ráp xe máy), phải đáp ứng được yêu cầu rất cao: tầm bắn xa – không dưới 500km, tốc độ tối đa – không dưới 2500km/h. So với các tổ hợp có ý nghĩa tương tự trước đó, “Granit” khác ở quỹ đạo linh hoạt thích hợp, khả năng phóng đa năng (ngầm và nổi), đồng thời cho các phương tiện mang (tàu ngầm và tàu nổi) , sự bắn loạt với sự bố trí không gian hợp lý của tên lửa, hệ thống chọn lọc phòng thủ nhiễu của hệ thống điều khiển. Cho phép bắn vào các mục tiêu, có tọa độ với sự sai số lớn và thông tin cũ. Toàn bộ các thao tác theo sự bảo dưỡng hàng ngày và khởi động của các tên lửa đều thực hiện tự động hóa. Kết quả là “Granit” sở hữu khả năng thật trong việc giải quyết nhiệm vụ bất kỳ trong các trận chiến trên biển chỉ bằng một phương tiện mang.

Tuy nhiên, hiệu quả của tổ hợp tên lửa chống tàu tầm xa trong mực độ đáng kể được xác định bằng các khả năng của các khí tài trinh sát và chỉ thị mục tiêu. Hệ thống “Uspekh”, cơ sở là máy bay Tu-95, không có độ ổn định tác chiến cần thiết. Vì thế, đầu những năm 1960, trước khoa học chuyên ngành và ngành công nghiệp đã đặt ra nhiệm vụ chế tạo lần đầu tiên trên thế giới hệ thống quan sát vũ trụ trong mọi điều kiện thời tiết các mục tiêu nổi trên mọi khu vực mặt nước trên đại dương và cung cấp sự chỉ thị mục tiêu với sự truyền tải thông tin một cách trực tiếp tới các phương tiện mang vũ khí hoặc các trạm chỉ huy trên cạn (trên tàu). Mệnh lệnh đầu tiên của Nhà nước về triển khai các công việc thiết kế - thí nghiệm về sự chế tạo hệ thống trinh sát vũ trụ và chỉ thị mục tiêu đường biển (MRKTs) đưa ra vào tháng 3 năm 1961. Với công việc có quy mô rộng lớn này được giao cho các trung tâm khoa học và tập thể công trình sư lớn của đất nước.

Tổ chức chính, đảm nhận việc chế tạo hệ thống trinh sát vũ trụ và chỉ thị mục tiêu ban đầu được xác định là Phòng thiết kế - thí nghiệm số 52, dưới sự lãnh đạo của Tổng công trình sư V.N.Chelomen. do sự chế tạo (đến nay chưa có hệ thống tương tự trên thế giới) thiết bị năng lượng hạt nhân mang theo duy nhất đối với vệ tinh nhân tạo, gồm có trong thành phần hệ thống được giao cho tập thể Phòng thiết kế thí nghiệm số 670 (Viện nghiên cứu khoa học “Sao Đỏ”) thuộc bộ thiết bị xe máy (?). Tuy nhiên, Phòng thiết kế thí nghiệm số 52 không có đủ năng lực sản xuất cần thiết, đảm bảo việc sản xuất hàng loạt các khí tài vũ trụ cho Hải quân. Kết quả là tháng 5 năm 1969, chương trình được quyết định giao cho Phòng thiết kế Leningrad và xưởng “Arsenal” mang tên M.V.Frunze, trở thành những nơi chính trong việc thực hiện chương trình vệ tinh “Hải quân”.

Hệ thống trinh sát vũ trụ và chỉ thị mục tiêu đường biển gốm có hai kiểu khí tài vũ trụ: vệ tính với đài ra đa định vị mang theo và thiết bị năng lượng hạt nhân, đồng thời vệ tính với đài vũ trụ trinh sát kỹ thuật vô tuyến, trang bị thiết bị năng lượng mặt trời. Cũng vào đầu năm 1970, xưởng “Arsenal” đã bắt đầu sản xuất các mẫu khí tài vũ trụ thí nghiệm. Các thí nghiệm thiết kế - bay của khí tài trinh sát ra đa định vị vũ trụ được bắt đầu năm 1973, còn vệ tinh trinh sát kỹ thuật vô tuyến – trong cùng năm. Khí tài trinh sát ra đa định vị vũ trụ được tiếp nhận vào trang bị năm 1975, còn tổ hợp trong dạng hoàn toàn đầy đủ (với khí tài trinh sát kỹ thuật vô tuyến vũ trụ) – năm 1978.

Tổ hợp trinh sát kỹ thuật vô tuyến vũ trụ đảm bảo sự phát hiện và sự tìm phương mục tiêu, bức xạ các tín hiệu điện từ. Khí tài vũ trụ có hệ thống định hướng ba trục cao và ổn định trong không gian. Trong vai trò nguồn nguồn, sử dụng thiết bị năng lượng mặt trời trong sự phố hợp với các ắc quy hóa học đệm (hoãn xung). Khí tài tên lửa nhiên liệu lỏng đa chức năng đảm bảo sự ổn định của khí tàu vũ trụ, hiệu chỉnh độ cao của quỹ đạo, cung cấp xung phân tán trong sự tách thiết bị vũ trụ tới quỹ đạo. Khối lượng của thiết bị vũ trụ - 3300kg, chiều cao hoạt động hiệu quả của quỹ đạo – 420km; độ nghiêng của quỹ đạo – 65 độ.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Giêng, 2012, 04:16:48 pm
Tổ hợp vũ trụ 17K114 được sử dụng để tiến hành trinh sát vũ trụ và chỉ thị mục tiêu đường biển. Trong thành phần của nó có thiết bị vũ trụ 17F16, ra đa định vị quan sát hai mặt, đảm bảo phát hiện mục tiêu nổi theo toàn bộ chế độ thời tiết cũng như ngày và đêm. Trong vai trò nguồn mang theo, sử dụng thiết bị năng lượng hạt nhân, sau khi hoàn thành bởi khí tài hoạt động chủ động được tách và vận chuyển tới quỹ đạo cao hơn. Thiết bị tên lửa nhiên liệu lỏng đa chuwcsnawng phục vụ sự ổn định của thiết bị vũ trụ, đồng thời cung cấp xung phân tán trong sự tách khí tài vũ trụ tới quỹ đạo. Khối lượng thiết bị vũ trụ - 4300kg, chiều cao làm việc hiệu quả của quỹ đạo – 280km, độ nghiêng quỹ đạo – 65 độ.

Ngoài thành phần vũ trụ, trong thần phần khí tài trinh sát vũ trụ và chỉ thị mục tiêu đường biển còn có các trạm thu thông tin trên tàu một cách trực tiếp từ các khí tài vũ trụ, đảm bảo xử lý thông tin và cung cấp sự chỉ thị mục tiêu tới việc sử dụng vũ khí tên lửa (nhà thiết kế - Viện nghiên cứu khoa học Kiev “Kvant”).

Tháng 11 năm 1975, đã bắt đầu các thí nghiệm của tổ hợp tên lửa P-700, nhận cùng tên gọi cũng như mã số của tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh – “Granit”, đã hoàn thành vào tháng 8 năm 1983. Tuy nhiên, trước thời điểm chúng hoàn thành, tháng 4 năm 1980 trong biên chế Hạm đội Phương Bắc đã gia nhập tàu ngầm nguyên tử đầu tiên K-525 thuộc Đề án 949.

Cũng như toàn bộ các tàu ngầm Liên Xô trước, tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh Đề án 949 theo thiết kế hai thân – thân trong và vỏ thủy động lực bên ngoài. Bộ phận mạn tàu với hai trục chân vịt và cánh đuôi được chế tạo tương tự với tàu ngầm nguyên tử Đề án 661. Khoảng cách 3,5 mét giữa các thân trong và thân ngoài đảm bảo trữ lượng nổi thực tế và tính sống còn của tàu khi bị trúng ngư lôi. Tuy nhiên, cũng do việc này mà tàu ngầm có lượng choán nước lớn – 22 500 tấn – trong đó 10 000 tấn là nước.

Thân trong có dạng hình trụ, được chế tạo từ thép AK-33 dày từ 45 đến 69mm và được tính toán tới độ lặn sâu giới hạn 600 mét, độ sâu hoạt động hiệu quả 480 mét. Các vách ngăn hình nhẫn của thân trong được đúc, hình cầu, bán kính mũi – 8 mét, bán kính mạn – 6,5 mét. Các vách ngăn ngang phẳng: giữa các vách ngăn khoang số 1 và 2, đồng thời 4 và 5 chúng được tính toán để chịu được áp suất 40 atm và có độ dày 20mm. Bằng cách này, tàu ngầm được chia thành 3 khoang – khoang ẩn đối với tình huống khẩn cấp ở độ sâu 400 mét: khi chìm bộ phận thân trong, người trong trường hợp này có cơ hội được cứu và trong khoang thứ nhất, hoặc trong khoang số 2-3, hoặc trong các khoang mạn tàu. Các vách ngăn còn lại ở trong các khu vực cứu nạn được tính toán chịu được áp suất 10atm (ở độ sâu hơn 100 mét). Thân trong được chia thành 9 khoang:

1.Ngư lôi

2.Điều khiển, pin ắc quy

3.Các trạm chiến đấu và khoang vô tuyến

4.Phòng cho người ở

5.Trang bị điện và các máy móc hỗ trợ

6.Lò phản ứng

7,8.Thiết bị tuabin răng cưa

9.Động cơ điện để chèo (chân vịt).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Giêng, 2012, 04:27:53 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/949_02.jpg)

Chú thích

Tàu ngầm nguyên tử Đề án 949

Lượng choán nước nổi – 13 400 tấn

Tốc độ ngầm – hơn 30 hải lỳ

Vũ khí: tổ hợp P-700 “Granit” với 24 tên lửa 3M-45; 4 thiết bị ngư lôi 533mm; 2 thiết bị ngư lôi 650mm, cơ số đạn: 28 ngư lôi; ngư lôi – tên lửa hoặc mìn

Công suất thiết bị động lực: 10 000 sức ngựa

Độ lặn sâu: 600 mét

Thời gian hoạt động: 120 ngày

Chiều dài – 143 mét

Chiều rộng – 13,8 mét

Lượng mớn nước – 9 mét

Thủy thủ đoàn – 94 người.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Giêng, 2012, 05:10:15 pm
Vách ngăn hầm các thiết bị di động được bố trí một hướng thuộc bộ phận mũi tàu ngầm. Chúng khác thường ở chiều dài lớn – 29 mét. Ngoài các thiết bị di động, trong đó thùng cứu nạn nổi, được sử dụng cho toàn bộ thủy thủ đoàn, 2 thiết bị chuyên dụng để bắn các khí tài chống thủy âm, các thùng dành cho tổ hợp tên lửa phòng không trên tàu “Igla-1”. Vách ngăn hầm các khí tài di động (cũng như thân ngoài) có sự tăng cường phủ băng và nóc hình tròn để làm vỡ lớp băng khi nổi trong tình trạng băng đá phức tạp. Các bánh lái ngang ở mũi được bố trí trong phân cuối mũi tàu và xếp gọn trong thân tàu. Thân ngoài được bao lớp che phủ chống thủy âm.

Thiết bị năng lượng của tàu được đồng nhất hóa tối đa với thiết bị năng lượng của tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa chiến lược Đề án 949 và có sử dụng khối và hệ thống giảm chấn hai tầng. Hệ thống gồm hai lò phản ứng nước dạng OK-650B (mỗi lò công suất 190mW) và hai tuabin hơi nước (tổng công suất 98 000 sức ngựa) với thiết bị tuabin răng cưa OK-9, làm việc trên hai trục chân vịt trong hai khoang khác nhau. Đồng thời có máy phát điện tuabin 3200kW và 2 máy phát điện – diesel dự bị DG-190 theo 800kW, đòng thời 2 thiết bị lái.

Do kết quả của thiết bị năng lượng hai trục có sự dữ trữ 100%. Thiết bị sản xuất hơi nước, tổ hợp tuabin răng cưa chính, máy phát điện tuabin tự động, các động cơ điện và hàng trục với chân vịt bánh lái một thành được nhân đôi hoàn toàn bởi thành thứ hai, vì thế, khi hỏng bất cứ phần tử nào hoặc toàn bộ thiết bị máy bị hỏng hoàn toàn ở một bên thành, tàu ngầm không mất khả năng chiến đấu.

Vũ khí chính của tàu ngầm Đề án 949 gồm có 24 tên lửa chống tàu có cánh “Granit” trong các thiết bị phóng đôi (theo cặp). Các thùng với tên lửa nằm ngoài thân trong và có góc nâng cố định – 40 độ. Sự chỉ thị mục tiêu của tên lửa chống tàu có cánh được đảm bảo từ các vệ tinh của hệ thống trinh sát vũ trụ và chỉ thị mục tiêu 17K114 được nhắc tới ở trên. Tàu ngầm được trang bị ăng ten nổi dạng lai –“Zubatka”, cho phép tiếp nhận sự thông tin vô tuyến, chỉ thị mục tiêu và các tín hiệu đạo hàng vệ tinh, nằm ở độ sâu lớn và dưới băng. Ăng ten được bố trí trong thượng tầng sau vách ngăn khoang.

Tên lửa 3M35 thuộc tổ hợp “Granit” được trang bị đầu đạn hạt nhân (công suất 500kt) hoặc đầu đạn nổ (750kg), trang bị động cơ tuabin phản lực chính KR-93 với máy gia tốc nhiên liệu rắn hình nhẫn. Tầm bắn tối đa 550…600km, tốc độ tối đa – 2,5M trên tầm cao và 1,5M – tầm thấp. Khối lượng khởi động – 7000kg, chiều dài – 19,5 mét, đường kính thân – 0,88 mét, sải cánh – 2,6 mét.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Giêng, 2012, 06:16:40 pm
Các tên lửa có thể bắn đơn hoặc bắn loạt (24 tên lửa chống tàu khởi động trong nhịp độ cao). Trong trường hợp sau, giữa các tên lửa trong loạt thực hiện sự phân chia mục tiêu tự động. Loạt phóng đảm bảo tạo thành một cụm các tên lửa dày đặc, đơn giản hóa việc vượt qua các khí tài phòng không của địch. Sự tổ chức bay của toàn bộ các tên lửa, loạt phóng, tìm kiếm lệnh và “bắn trúng” nói bằng máy quan sát ra đa định vị bằng một tên lửa, bay cao hơn một chút so với các tên lửa còn lại, cho phép các tên lửa chống tàu có cánh còn lại của loạt phóng thực hiện việc bay trên quỹ đạo chính trong chế độ im lặng vô tuyến. Trong quá trình bay của các tên lửa, thực hiện sự phân bố tối ưu giữa chính với các mục tiêu trong mệnh lệnh. Tốc độ siêu âm và quỹ đạo bay phức tạp, khả năng kháng nhiễu cao của các khí tài vô tuyến điện và sự xuất hiện của hệ thống đặc biệt loại bỏ các tên lửa phòng không và không đối không của địch, đảm bảo cho “Granit” khi bắn cả loạt có xác xuất cao khi vượt qua hệ thống phòng không và chống tên lửa đối hạm của cụm tàu sân bay (được tính toán, để đánh chìm cụm tàu sân bay tấn công của Mỹ cần thiết trúng 9 tên lửa “Granit”). Để tăng cường tính sống còn cho đầu đạn tên lửa khỏi khí tài chống tên lửa tầm gần, nó được bọc thép.

Tổ hợp ngư lôi – tên lửa tự động “Leningrad-949” cho phép tiếp nhận các ngư lôi, đồng thời ngư lôi – tên lửa “Vodopad” và “Veter” trong mọi độ sâu. Tổ hợp gồm có 4 thiết bị ngư lôi 533mm và 2 thiết bị 650mm với các khí tài nạp đạn nhanh với các giá đỡ cung cấp đạn dọc và ngang, bố trí trong bộ phận mũi thân và các khí tài điều khiển bắn ngư lôi “Grinda”. Nhờ khí tài nạp đạn nhanh, toàn bộ cơ số đạn ngư lôi có thể được sử dụng trong thời gian tổng cộng vài phút. Cơ số đạn gồm 24 ngư lôi (650mm chống tàu 65-76A, 533mm đa năng USET-80), các tên lửa “Shkval” và tên lửa chống ngầm (83-P và 84-P). Các ngư lôi có thể bắn ở độ sâu 480 mét ở tốc độ từ 13 hải lý (các ngư lôi 65-76A) đến 18 hải lý (USET-80).

Cơ sở của vũ khí vô tuyến điện của tào ngầm nguyên tử Đề án 949 là hệ thống điều khiển thông tin MVU-132 “Omnibus”, các bản điều khiển được bố trí trong trạm chỉ huy chính ở khoang số 2. Tàu ngầm được trang bị tổ hợp thủy âm MGK-540 “Skat-3”, trong thành phần gồm có máy xác định canh gác NOR-1, đài dò mìn MG-519 “Arfa”, đài-máy đáp khẩn cấp MGS-30, máy dò đạo hàng vòng NOK-1, MG-512 “Vint”, máy đo tiếng ồn MG-518 “Sever”, MG-543. Toàn bộ các khí tài này cho phép trong chế độ tự động phát hiện, tìm phương và theo dõi toàn bộ các mục tiêu có thể (đồng thời 30) trong các chế độ tìm phương băng tần rộng và hẹp, phạm vi âm thanh và hạ âm. Có ăng ten thu thấp tần lai, lắp từ ông trên ở bộ phận ổn định mạn tàu (lắp từ thân thứ hai), đồng thời, máy dò âm dưới nước, bố trí theo thành thân ngoài. Tầm xa của tổ hợp thủy âm – 220km. Chế độ cơ bản – thụ động, nhưng có khả năng phát hiện tự động, đo cự ly, góc vòng và khoảng cách tới mục tiêu trong chế độ chủ động.

Tổ hợp đạo hàng tự động “Medveditsa” gồm có máy tìm phương, hệ thống đạo hàng nối theo máy đáp – hải đăng thủy âm, hệ thống vũ trụ ADK-3M, thủy la bàn GUK-1M, la bàn từ KM-145-P2, hệ thống quán tính, hành trình kế và các khí tài khác, toopr hợp tính toán kỹ thuật số biệt lập “Struna”. Tất cả các khí tài thông tin được kết nối tới tổ hợp “Molnia-M”. Sự thu thông tin tình báo từ tổ hợp vệ tinh hoặc máy bay có thể được thực hiện trong vị trí ngầm tới ăng ten lai “Zubatka”. Sau khi xử lý thông tin nhận được sẽ dẫn tới hệ thống điều khiển thông tin chiến đấu “Omnobus”. Trên tàu đồng thời có tổ hợp vô tuyến – quang học MTK-110, cho phép thực hiện sự quan sát bằng mắt thường dưới nước ở độ sâu 50…60 mét.

Đối với các thành viên thủy thủ đoàn tàu ngầm Đề án 949 đã được tạo điều kiện tối đa để hoạt động lâu ngày (thời gian hoạt động của tàu ngầm được đánh giá trong 120 ngày). Toàn bộ cá nhân được đảm bảo vị trí cứu nạn cá nhân trên các thuyền 1; 2; 4 và 6 chỗ. Các khoang cho người ở được trang bị mạng lưới truyền tải vô tuyến. Trong tàu ngầm có buồng chỉ huy và nhà ăn có thể tiếp nhận đồng thời 42 người, để chuẩn bị thức ăn và nướng bánh mỳ - khoang bếp, gồm có các buồng nấu. Trữ lượng lương thực, thực phẩm được bố trí đầy đủ trong các khoang thực phẩm (trong đó có ướp lạnh) và kho chứa. Trên tàu ngầm đồng thời có phòng thể thao, bể bơi, nhà tắm nắng, góc riêng…

Trong toàn bộ các chế độ bơi của tàu khi thiết bị năng lượng chính hoạt động, hệ thống quạt và điều hòa không khí đảm bảo trong các phòng tiêu chuẩn không khí theo thành phần hóa học, nhiệt độ và độ ẩm. Hệ thống hoàn nhiệt hóa học không khí đảm bảo trong các khoang của tàu ngầm trong thời gian bơi dài ngày, sự cung cấp ô xi và khí cacbonic trong các giới hạn tiêu chuẩn được đặt ra, còn hệ thống làm sạch không khí loại bỏ các tạp chất có hại.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Giêng, 2012, 06:21:04 pm
Bản vẽ thiết kế tàu ngầm tuần dương Đề án 949 "Granit"

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/949_draw2.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/949_draw5.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/949_draw3.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 17 Tháng Giêng, 2012, 03:59:59 pm
Các khí tài cứu nạn khẩn cấp được thiết kế trên Đề án  949 dành cho thủy thủ đoàn vượt trội các khí tài tương tự của tàu ngầm thuộc các đề án khác. Trữ lượng nổi của đề án là hơn 30%, đảm bảo sự bơi ở vị trí nổi và tính không chìm khi bị đắm hoàn toàn khoang bất kỳ ở thân trong và 2 khoang liên tiếp tiếp giáp với khoang bị ngập nước của thùng tải trọng dằn chính một bên thành. Dự kiến, dự trữ không khí cao áp đảm bảo khả năng bơm hơi tải trọng dằn trong số lượng càn thiết để bù trừ sự nổi âm khi bị ngập nước khoang bất kỳ với sự hỏng 2 thùng tải trọng dằn chính ở độ sâu 150 mét. Thời gian bơm hơi của toàn bộ các thùng tải trong dằn từ độ sâu tiềm vọng là 90 giây. Đối với sự bơm hơi khẩn cấp có sự phục vụ của các mày phát điện khí hơi thuốc nổ. Hệ thống thủy lực làm việc từ 2 trạm bơm tương tác nhân đôi của hệ thống thủy lực bánh lái và tàu, bố trí trong các khoang số 3 và 10 và trong trường hợp đầy, đảm bảo cho tàu ngầm có năng lượng dự trữ đủ cho 3 hoạt động của các bánh lái ngang mạn và mũi. Các khí tài thoát nước của tàu đảm bảo sự thoát nước ở vị trí nổi trên mọi độ sâu đến giới hạn. Ngoài ra, sự xả nước ở độ sâu giới hạn là hơn 90 mét khối/giờ.

Tàu ngầm được chia theo chiều dài và 2 khu vực cứu nạn: từ khoang số 1 đến số 4 và từ khoang số 5 đến khoang số 10. Trong khu vực mũi đã lắp thùng nổi để cứu nạn cho toàn bộ thủy thủ đoàn từ độ lặn sâu giới hạn (trong vách ngăn các thiết bị di động). Trong khu vực mũi có hệ thống cứu nạn cá nhân – bằng đường cửa ra trên trang bị của thợ lặn từ cửa cứu nạn, bố trí trong khoang số 10. Mỗi khu vực được phân chia bởi các vách ngăn giữa, nhiệm vụ chíh – đảm bảo tính không ngập nước của tàu.

Phao tiêu tự động của tổ hợp V-600, nổi từ độ sâu 1000 mét, đảm bảo sự cung cấp thông tin tự động ở cự ly 3000 mét trong thời gian 5 ngày về thông số khẩn cấp tới tàu ngầm và các tọa độ của nó ởi thời điểm tách phao tiêu từ tàu ngầm. Cửa cứu nạn của khoang số 10 cho phép sử dụng thiết bị cứu nạn của thủy thủ, tiếp nhận vào trang bị năm 1980. Cửa ra vào có hệ thống mở âu (kè) với sự điều khiển bán tự động (hoặc bằng tay), đảm bảo việc rời tàu của cá nhân từ độ sâu 220 mét, đồng thời sự mở kè khi rời theo cáp phao tiêu từ độ sâu 100 mét mà không làm đắm khoang số 10. Sự bố trí tấm quây – bệ trên khoang số 10 đảm bảo sự lắp ghép khí tài cứu nạn ở khu vực nước sâu hoặc phễu cứu nạn được thả theo dây cáp định hướng.

Trong Hải quân Liên Xô, các tàu ngầm Đề án 949 được phân vào lớp tàu ngầm nguyên tử tuần dương loại I. Ở Phương Tây, chúng mang tên gọi Oscar class.

Theo các đánh giá của hàng loạt chuyên gia trong nước, theo tiêu chuẩn “hiệu quả/giá thành”, tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh Đề án 949 là khí tài được ưu tiên hơn cả trong việc chống lại các tàu sân bay của địch. Theo tình hình đến giữa những năm 1980, giá của một tàu ngầm Đề án 949 là 226 triệu rúp, theo đánh giá chỉ bằng 10% giá thành tàu sân bay đa chức năng “Roosevelt” (2,3 triệu USD, không tính đến giá thành phụ khác). Trong cùng thời gian đó, theo tính toán của các chuyên viên Hải quân và công nghiệp, một tàu ngầm nguyên tử có thể với xác xuất cao loại khỏi vòng chiến tàu sân bay và hàng loạt tàu bảo vệ nó. Tuy nhiên, cũng khá nhiều các chuyên gia đã hoài nghi những đánh giá này, cho rằng, hiệu quả của tàu ngầm nguyên tử đã bị phóng đại tương đối nhiều. Liên quan tới đó là vấn đề chỉ thị mục tiêu và nhận dạng thường xuyên là “gót chân asin” của bất kỳ vũ khí tầm xa nào và đặc biệt là tên lửa. Đối với hiệu quả tieu diệt các mục tiêu ngầm cũng như tàu nổi cần thiết nhận sự chỉ thị mục tiêu trực tiếp trước khi bắn, thì cần tỷ lệ thời gian thật cao. Trong nguyên tắc chỉ thị mục tiêu này đối với tàu ngầm tên lửa có cánh có thể nhận được từ thiết bị vũ trụ (khí tài trinh sát vũ trụ và chỉ thị mục tiêu “Legenda”) và trinh sát hàng không (hệ thống “Uspekh-U”). Nhưng thiết bị vũ trụ rất dễ bị thương – thậm chí trước khi bắt đầu các hoạt động tác chiến có thể hoặc là bắn hỏng, hoặc bị áp chế, thiết bị trinh sát hàng không cung cấp thông tin phù hợp trong khu vực không chế của không quân địch để tiến hành các cuộc không chiến với chúng, còn sự chỉ thị mục tiêu từ nhận được từ tàu nổi trong thời gian tiến hành các trận chiến sẽ là không thực tế. Nên xem xét thực tế rằng, tàu sân bay là vũ khí chiến đấu tổng hợp, có khả năng giải quyết cao các nhiệm vụ phạm vi rộng, khí đó, cũng như các tàu ngầm là các tàu có nhiệm vụ chuyên môn hẹp hơn đáng kể. Và nếu không so sánh với các tàu sân bay Mỹ, thì 2 tàu ngầm nguyên tử Đề án 949 (thậm chí ở Liên Xô, nơi đã đóng số lượng lớn các tàu ngầm) có giá thành đắt hơn, ví dụ như tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay Đề án 11435 “Thống chế Hải quân Liên Xô Kuznetsov”.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 18 Tháng Giêng, 2012, 02:48:13 pm
Biến thể

Bắt đầu từ thân tàu thứ 2 trên tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh Đề án 949 được lắp ăng ten lai của đài thủy am, bố trí trong mũ chụp dạng ống trên bộ phận cân bằng dọc phía trên.

Sau hai tàu đầu tiên được đóng theo Đề án 949, đã bắt đầu đóng các tàu ngầm tuần dương theo Đề án hiện đại hóa 949-A (mã số “Antei”). Kết quả của sự nâng cấp là tàu ngầm nhận khoang bổ sung (V-bis), cho phép tăng cường hoàn chỉnh bố cục bên trong các trang bị vũ khí và thiết bị mang theo. Kết quả là lượng choán nước của tàu tăng lên, trong thời điểm đó đã thành công trong việc tăng cường khả năng ngụy trang và lắp khí tài hiện đại.

Chương trình đóng tàu

Việc đóng tàu ngầm nguyên tử Đề án 949 được tiến hành ở “xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc” ở Severodvinsk (xưởng 402) từ năm 1978. Đã đóng được 2 tàu ngầm – K-525 (sau đó là “Archangel”) và K-206 (“Murmansk”) và gia nhập biên chế Hải quân mùng 2 tháng 10 năm 1981 và 20 tháng 12 năm 1983. Các công việc đóng tàu sau đó được tiến hành theo Đề án hiện đại hóa 949-A. Ban đầu, kế hoạch dự kiến đóng hơn 20 tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh, nhưng sự tan rã của Liên Xô và khủng hoảng kinh tế ở Nga nên chương trình này thực tế đã bị chấm dứt.

Tình trạng đến năm 2007

Hiện nay, 2 tàu ngầm Đề án 949 đã bị đưa vào danh sách dự bị.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 18 Tháng Giêng, 2012, 02:53:10 pm
Tóm tắt lịch sử phục vụ

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/949_draw2.jpg)

+ K-525; từ 6 tháng 4 năm 1993 là “Archangel”; (số hiệu 605); khởi công 25 tháng 7 năm 1978 ở “xí nghiệp đóng tàu phương Bắc” (số 402) tại Severodvinsk; hạ thủy 3 tháng 5 năm 1980; gia nhập biên chế 2 tháng 10 năm 1981; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; cuối những năm 1990 bị đưa vào danh sách dự bị.

+ K-206; từ 14 tháng 4 năm 1987 đến 15 tháng 2 năm 1992 là “Đoàn viên thanh niên Minsk”; từ 6 tháng 4 năm 1993 là “Murmansk” (số hiệu 606); khởi công 22 tháng 4 năm 1979 ở “xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc” ở Severodvinsk; hạ thủy 10 tháng 12 năm 1982; gia nhập biên chế 20 tháng 12 năm 1983; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; cuối những năm 1990 bị đưa vào biên chế dự bị.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 18 Tháng Giêng, 2012, 03:02:40 pm
Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ nổi: 12 500

+ ngầm: 22 500

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất: 144

+ chiều rộng nhất: 18,2

+ lượng mớn nước theo vạch mớn nước thiết kế: 9,2

Thiết bị năng lượng chính: nguyên tử

+ 2 lò phản ứng nước OK-650B, tổng công suất, mW: 380

+ 2 thiết bị sản xuất hơi nước, 2 thiết bị tuabin răng cưa OK-9

+ 2 tuabin hơi nước, tổng công suất, sức ngựa (kW): 98 000 (72 000)

+ 2 máy phát điện tuabin, công suất, kW: 2x3200

+ 2 máy phát điện – diesel DG-190, công suất, kW: 2x800

2 trục; 2 chân vịt 7 cánh; 2 thiết bị lái

Tốc độ, hải lý

+ nổi: 15

+ ngầm: 30…32

Độ lặn sâu, mét

+ hoạt động hiệu quả: 480…500

+ ngầm: 600

Thời gian hoạt động: 120 ngày

Thủy thủ đoàn (sỹ quan): 94 (42)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 18 Tháng Giêng, 2012, 03:20:43 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/949_08.jpg)

Trang bị vũ khí

Tên lửa tấn công

+ thiết bị phóng SM-225 thuộc tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh P-700 “Granit”: 12x2

+ tên lửa chống tàu có cánh 3M45 (SS-N-19 “Shipwreck”: 24

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng cho tổ hợp tên lửa phòng không 9K310 “Igla-1”/9K38 “Igla” (SA-14 “Gremlin”/SA-16 “Gimlet”): 2 (16)

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 650mm: 2 (mũi)

+ các ngư lôi 650mm 65-76A: 6

+ thiết bị ngư lôi 533mm: 4 (mũi)

+ các ngư lôi 533mm USET-80: 18

+ tên lửa chống ngầm điều khiển 83-P “Vodopad”/84-P “Veter”; các tên lửa “Shkval”: thay cho ngư lôi

+ thủy lôi: có thể mang theo thủy lôi thay cho các ngư lôi: -

Trang bị vô tuyến điện

+ hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Omnibus-949”

+ đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: MRKP-58 “Radian” (Snoop Head/Pair)

+ đài thủy âm: GAK MGK-540 “Skat-Z”; HOR-1; MG-519 “Arfa”; MGS-30; HOK-1; MG-512 “Vint”; MG-518 “Sever”; MG-543; BGAS trên tàu thứ hai

+ các khí tài tác chiến điện tử: “Anis”, “Zona” (Bald Head/Rim Hat, Park Lamp); 2xVIPS

+ tổ hợp đạo hàng: “Medevitsa-949”; “Sintez” – đạo hàng vũ trụ; ADK-3M “Parus” – đạo hàng vũ trụ; GKU-1M – thủy la bàn

+ các khí tàu chỉ thị mục tiêu của tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh: “Selena” (Punch Bowl); MRSTs-2

+ tổ hợp thông tin vô tuyến: “Molnia-M”; “Kora”; “Zub

+ đài ra đa định vị hội thoại nói: “Nikhrom-M”.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 19 Tháng Giêng, 2012, 05:48:30 pm
Đề án 667-AT “Grusha” (“Quả lê”) – Lớp Yankee Notch (class Yankee Notch)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/667at_01.jpg)

Tổng số tàu đã đóng: 4+1

Trong những năm 70 ở Mỹ, dựa trên những thành công đạt được trong lĩnh vực chế tạo các động cơ phản lực – không khí nhỏ gọn có tính kinh tế cao, đã bắt đầu nghiên cứu các tên lửa chiến lược có cánh trước âm kích thước nhỏ cho Không quân và Hải quân. Dòng tên lửa cho Hải quân phảo được phóng từ các thiết bị ngư lôi tiêu chuẩn 533mm, thực hiện khả năng bay trên độ cao thêm và bắn cháy các mục tiêu trên bộ bằng đầu đạn hạt nhân từ tầm xa 2000-2500km với độ chính xác cao trong sai số vòng dưới 200 mét). Sự xuất hiện của loại vũ khí mới hiệu quả cao đã gây ra sự chênh lệch trong cán cân cân bằng giữa các siêu cường trong lĩnh vực vũ khí hạt nhân chiến lược. Điều này yêu cầu phía Liên Xô phải tìm “câu trả lời” thích hợp.

Mệnh lệnh đã được giao cho khoa học và công nghiệp chuyên ngành về tiến hành đánh giá khả năng kỹ thuật và tính hợp lý trong quân sự trong việc chế tạo các tên lửa chiến lược có cánh, tương tự với các tên lửa có cánh của Mỹ “Tomahawk”. Sự phân tích đã chỉ ra rằng, nhiệm vụ có thể được giải quyết trong thời gian 5-6 năm, tuy nhiên, sự hợp lý trong việc tiến hành các công việc tương tự, những ý kiến của các chuyên gia đã bị chia rẽ: nhiều người cho rằng không cần thiết chế tạo tên lửa chiến lược có cánh, bởi vì chúng sẽ thua kém rất nhiều so với các tên lửa đạn đạo trong khả năng vượt qua sự phòng thủ chống tàu của địch, yêu cầu khi đó phải bỏ ra lượng đáng kể tài chính Nhà nước để chế tạo và phát triển cơ sở hạ tầng đảm bảo sử dụng chúng. Chi tết, đối với tên lửa có cánh, cần chế tạo các bản đồ số vị trí khu vực của đối thủ tiềm năng và các trung tâm máy tính mạnh, cần thiết để xử lý và đưa tới hệ thống dẫn bắn của các tên lửa thông tin về địa hình vị trí theo đường bay. Trong việc sử dụng tên lửa có cánh, những người ủng hộ cho rằng chúng tương đối đơn giản và rẻ, có khả năng sử dụng (trong đó không phải chế tạo đặc biệt) phương tiện mang khác nhau, còn đồng thời xác xuất cao vượt qua hệ thống phòng không của địch bằng kết quả tính toán tầm bay thấp và sự khó phát hiện bằng các ra đa định vị.

Kết quả là lãnh đạo Liên Xô trong năm 1976 đã ra quyết định mang tính nguyên tắc về sự phát triển các tên lửa có cánh chiến lược bắn từ các căn cứ trên không, trên biển và trên bộ. Khi đó, dự định chế tạo tên lửa có cánh cho Hải quân theo hai dạng – tốc độ trước âm kích thước nhỏ, có khả năng khởi động từ thiết bị ngư lôi của tàu ngầm, và tên lửa siêu âm kích thước lớn hơn, khởi động từ các thiết bị phóng đứng chuyên dụng.

Việc chế tạo tên lửa có cánh trước âm RK-55 “Granat” – tương tự với tên lửa Mỹ “Tomahawk”, được giao cho Viện nghiên cứu khoa học Sverdlovsk “Novator”, dưới sự lãnh đạo của L.V.Lyuiev. Sự thiết kế tên lửa có cánh được bắt đầu từ năm 1976. Năm 1984, chậm hơn 4 năm so với loại tương tự của Mỹ, tên lửa được tiếp nhận vào trang bị.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 19 Tháng Giêng, 2012, 06:35:38 pm
Để đảm bảo sự tiếp nhận chiến đấu của các tên lửa có cánh, trang bị hệ thống dẫn bắn đối ứng cực trị, trong Hải quân đã xây dựng trung tâm tính toán đặc biệt theo sự thành lập các bản đồ số vị trí các bối cảnh dự đoán của chiến trường và vạch ra nhiệm vụ bay. Khí tài của hệ thống điều khiển tên lửa, tàu ngầm và trung tâm tính toán bờ biển đã được thiết kế tại Viện nghiên cứu khoa học thiết bị hàng không (viện trưởng và Tổng công trình sư A.S.Abramov).

Các tàu đầu tiên được trang bị tên lửa có cánh chiến lược “Granat”, là các tàu ngầm tuần dương Đề án 667-AT (mã số “Grusha”), được chế tạo trên cơ sở các tàu ngầm Đề án 667-A, đã bị loại khỏi biên chế Hải quân theo Hiệp ước Hạn chế vũ khí chiến lược (START-1) và có tình trạng kỹ thuật tốt. Đề án cải tạo lại 667-AT được chế tạo ở Phòng thiết kế Kỹ thuật Hải quân “Rubin”, Tổng công trình sư O.Ya.Margolin, giám sát viên chính từ Hải quân – Thuyền trưởng cấp 1 N.P.Nikolaev.

Kết quả hiện đại hóa, diễn ra ở Severodvinsk, các tàu ngầm bị cắt đi khoang số 5 (khoang tên lửa) và thay cho nó là hàn khoang mới, trong đó bố trí 8 (theo 4 mỗi bên thành) các thiết bị ngư lôi 533mm, lắp (lần đầu tiên trong ngành đóng tàu ngầm nội địa) dưới góc mặt phẳng đường kính của tàu, ở phần giữa thân. Trong quá trình hiện đại hóa, các tàu được nhận tổ hợp đạo hàng hiện đại “Tobol-667AT”, hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu “Omnibus” và hàng loạt các hệ thống được hiện đại hóa và hệ thống mới khác. Thiết bị năng lượng chính và các hệ thống tổng hợp của tàu được giữ lại không thay đổi.

Vũ khí chính của tàu là tên lửa có cánh RK-55 “Granat” được bắn từ 8 thiết bị ngư lôi 533mm, bố trí ở khoang số 5 (cơ số đạn – 32 tên lửa có cánh hoặc ngư lôi tầm xa). Các tên lửa có cánh chiến lược RK-55 “Granat” có khối lượng khởi động 1700kg, chiều dài 8,09 mét và đường kính thân 0,51 mét. Tên lửa trang bị động cơ tuabin phản lực chính và máy gia tốc khởi động nhiên liệu rắn. Tên lửa có cánh mang đầu đạn hạt nhân công suất 100kT. Tốc độ tuần dương tương ứng M=0,7, tầm bắn tối đa – 3000km, hệ thống dẫn bắn – quán tính với sự hiệu chỉnh cực trị theo địa hình khu vực.

Vũ khí ngư lôi của Đề án 667-A được giữ lại – 4 thiết bị ngư lôi 533mm với cơ số đạn 12 ngư lôi kiểu 53-65K và SET-65, đồng thời 2 thiết bị ngư lôi 400mm (8 ngư lôi SET-73 hoặc khí tài bẫy thủy âm).

Trước khi Liên Xô tan rã, theo Đề án 667-AT đã kịp nâng cấp 4 tàu ngầm nguyên tử tuần dương mang tên lửa chiến lược Đề án 667-A: K-253 (kết thúc việc trang bị lại vào năm 1988), K-395 (1991), K-408 (1983) và K-423 (1987), còn 1 tàu ngầm – K-399 đã bị loại khỏi biên chế trước khi kết thúc nâng cấp. Các tàu Đề án 667-AT đã phục vụ ở Hạm đội Phương Bắc (ở phương Tây là lớp Yankee Notch). Đến năm 2000, trong biên chế chỉ còn lại tàu ngầm K-395.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 19 Tháng Giêng, 2012, 06:51:41 pm
Tóm tắt lịch sử phục vụ


(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/667at_05.jpg)

(* - tàu còn nằm trong biên chế)

+ K-253 (số hiệu xưởng 414); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 3 tháng 11 năm 1966; 26 tháng 6 năm 1967 khởi công ở xí nghiệp lắp ráp xe máy Phương Bắc tại Severodinvsk; hạ thủy 5 tháng 6 năm 1969; gia nhập biên chế 1 tháng 11 năm 1969; 28 tháng 11 năm 1969 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; ban đầu phân loại vào tàu ngầm tuần dương; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm mang tên lửa chống tàu; 22 tháng 7 năm 1982 – tàu ngầm loại lớn; 3 tháng 5 năm 1982 trở thành Đề án 667-AT và từ 17 tháng 5 năm 1984 đến 20 tháng 12 năm 1988 được nâng cấp ở xưởng “Zvezda” ở cảng Đá Lớn; 30 tháng 6 năm 1993 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ.

*+ K-395; (số hiệu 415); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 21 tháng 6 năm 1967; 8 tháng 9 năm 1967 khởi công ở xí nghiệp lắp ráp xe máy Phương Bắc tại Severodvinsk; hạ thủy 28 tháng 7 năm 1969; gia nhập biên chế 5 tháng 12 năm 1969; 9 tháng 1 năm 1970 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; ban đầu là lớp tàu ngầm tuần dương; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm mang tên lửa chống tàu; 18 tháng 4 năm 1985 là tàu ngầm loại lớn; 3 tháng 6 năm 1992 là tàu ngầm nguyên tử tuần dương; từ 24 tháng 6 năm 1988 đến 30 tháng 12 năm 1991, được nâng cấp ở xưởng “Zvedochka” và 11 tháng 2 năm 1992 trở thành Đề án 667-AT.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 19 Tháng Giêng, 2012, 07:13:35 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/667at_06.jpg)

+ K-399 (số hiệu xưởng 151); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 21 tháng 6 năm 1967; 23 tháng 2 năm 1968 khởi công ở xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin (Komsomol-na-Amur); khởi công 23 tháng 6 năm 1969; gia nhập biên chế 24 tháng 12 1969; 9 tháng 1 năm 1970 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; ban đầu là lớp tàu ngầm tuần dương; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm mang tên lửa chống ngầm; 27 tháng 10 năm 1980 – tàu ngầm loại lớn; 24 tháng 11 năm 1972 được tặng Huân chương của Bộ Quốc phòng Liên Xô “Vì sự quả cảm và lòng dũng cảm của chiến binh”; từ 25 tháng 2 năm 1974 đến 28 tháng 1 năm 1976 đã trải qua đại tu ở xưởng “Zvezda” tại cảng Đá Lớn; 18 tháng 1 năm 1982 cũng được nâng cấp ở đó theo Đề án 667-AT; 19 tháng 4 năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân và đưa tới cơ sở khác để tháo dỡ.

+ K-408 (số hiệu xưởng 416); ghi tên vào danh sách tàu Hairq uân 21 tháng 6 năm 1967; 20 tháng 1 năm 1968 khởi công ở xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc tại Severodvinsk; hạ thủy 10 tháng 9 năm 1969; gia nhập biên chế 25 tháng 12 năm 1969; 9 tháng 1 năm 1970 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; ban đầu là tàu ngầm tuần dương; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm mang tên lửa chống tàu; 3 tháng 10 năm 1984 – tàu ngầm loại lớn; 8 tháng 1 đến 19 tháng 3 năm 1971 đã hoàn thành cuộc hành quân từ Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc tới Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương mà không nổi và 27 tháng 3 năm 1971 đã gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; từ 10 tháng 1 năm 1975 đến 20 tháng 7 năm 1977 đã trải qua đại tu ở xưởng “Zvezda” ở cảng Đá Lớn; 8 tháng 7 năm 1983 cũng được nâng cấp ở đó và 17 tháng 3 năm 1983 trở thành Đề án 667-AT; 17 tháng 7 năm 1988 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ.

+ K-423 (số hiệu xưởng 440); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 12 tháng 1 năm 1968; khởi công 13 tháng 1 năm 1969 ở xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc tại Severodvinsk; hạ thủy 4 tháng 7 năm 1970; gia nhập biên chế 13 tháng 11 năm 1970; 24 tháng 11 năm 1970 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; ban đầu là phân lớp tàu ngầm tuần dương; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa chống tàu; 3 tháng 4 năm 1979 – tàu ngầm loại lớn; 3 tháng 6 năm 1992 – tàu ngầm nguyên tử tuần dương; từ 16 tháng 10 năm 1978 đến 27 tháng 12 năm 1987 được nâng cấp ở xưởng “Zvedochka” và 24 tháng 2 năm 1987 trở thành Đề án 667-AT; 5 tháng 7 năm 1994 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 19 Tháng Giêng, 2012, 07:22:12 pm
Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ nổi: 8700

+ ngầm: 13 800

Các kích thước, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 141,7 (-)

+ chiều rộng nhất: 12,8

+ lượng mớn nước theo vạch mớn nước thiết kế: 8

Thiết bị năng lượng chính: nguyên tử

+ 2 lò phản ứng nước kiểu VM-2-4, tổng công suất, mW: 89,2

+ 2 thiết bị sản xuất hơi nước OK-700, 2 thiết bị tuabin răng cưa 635

+ 2 tuabin hơi nước, tổng công suất, sức ngựa (kW): 40 000 (29 400)

+ 2 máy phát điện tuabin OK-2A, công suất, sức ngựa (kW): 2x3000

+ 2 máy phát điện – diesel DG-460, công suất, kW: 2x460

+ 2 động cơ điện DG-153, công suất, kW: 2x225

2 trục, 2 chân vịt 5 cánh

Tốc độ, hải lý

+ nổi: 320

+ ngầm: 400

Thời gian hoạt động: 70 ngày

Thủy thủ đoàn (sỹ quan): 121 (-).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 19 Tháng Giêng, 2012, 07:34:10 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/667at_09.jpg)

Trang bị

Tên lửa chiến lược

+ tên lửa có cánh liên lục địa RK-55 (SS-N-21 “Sampson”): 32

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng cho tổ hợp tên lửa phòng không 9K32M “Strela-2M” (SA-7 “Grail”): 2…4

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm: 4/8 (mũi/thành)

+ các ngư lôi 533mm và tên lửa có cánh liên lục địa: 44

+ thiết bị ngư lôi 400mm: 2 (mũi)

+ các ngư lôi 400mm: 8

Mìn

+ có thể mang mìn thay cho ngư lôi: 24

Trang bị vô tuyến điện

+ hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Omnibus”

+ đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: “Albatros” (Snoop Tray)

+ hệ thống thủy âm: tổ hợp thủy âm “Rubicon” (Shark Gill)

+ khí tài tác chiến điện tử: “Zaliv-P”

+ tổ hợp đạo hàng: “Tobol-667-AT”; KNS “Tsiklon-B”

+ tổ hợp thông tin vô tuyến: “Molnia-l” (Pert Spring); ăng ten phao tiêu lai “Paravan”; các đài vô tuyến siêu âm và sóng ngắn; đài thông tin liên lạc âm thanh dưới nước

+ đài ra đa định vị hội thoại nói: “Khrom-KM”.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 19 Tháng Giêng, 2012, 07:35:35 pm
Một số ảnh về ngầm Đề án 677-AT

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/667at_05.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/667at_04.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/667at_03.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Giêng, 2012, 03:45:11 pm
Tàu ngầm nguyên tử đa năng Đề án 645 (lớp November)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/645_draw_1.jpg)

Tổng số tàu đã đóng: 1

Biến thể: không có

Trên các tàu ngầm nguyên tử đầu tiên ở Liên xô, cũng như ở Mỹ đã sử dụng thiết bị sản xuất hơi nước với các lò phản ứng nước – nước. Tuy nhiên, năm 1957, trong biên chế Hải quân Mỹ đã có tàu ngầm nguyên tử thí nghiệm thứ hai – “Seawolf”, trang bị lò phản ứng với vật liệu tải nhiệt kim loại lỏng (ZhMT). Việc tiếp nhận các lò phản ứng với vật liệu tải nhiệt kim loại lỏng đã tăng cường sự hợp lý hệ số hoạt động hiệu quả của thiết bị năng lượng do kết quả nhiệt độ cao hơn của vật liệu tải nhiệt trên đầu ra của lò phản ứng và tăng nhiệt độ hơi nước quá nhiệt.

Các công việc trên lò phản ứng của tàu ngầm dạng tương tự được bắt đầu ở Liên Xô năm 1955. Ngày 22 tháng 10 năm 1955 đã có mệnh lệnh của Nhà nước Liên Xô về việc chế tạo tàu ngầm nguyên tử ngư lôi thí nghiệm Đề án 645 với thiết bị sản xuất hơi nước 2 lò phản ứng với vật liệu tải nhiệt kim loại lỏng (hợp kim chì – bitmut). Ban đầu, việc thiết kế tàu ngầm nguyên tử được thực hiện dưới sự chỉ đạo của Tổng công trình sư V.N.Peregudov, năm 1956, A.K.Hazarov đã thay thế cho ông. Giám sát viên chính từ Hải quân là A.N.Donchenko và A.S.Gubkin.

Nhiệm vụ kỹ - chiến thuật cho tàu ngầm mới không được đưa ra, các công việc được bắt đầu trực tiếp từ giai đoạn đồ án kỹ thuật: dự định, rằng tàu ngầm Đề án 645 phải khác so với tàu ngầm Đề án 627 chỉ ở thiết bị năng lượng, cho phép đánh giá tính khách quan tối đa ưu điểm của thiết bị năng lượng chính với vật liệu tải nhiệt kim loại lỏng. Tuy nhiên, ý định này không được thực hiện thành công một cách đầy đủ. Trong đề án tàu có những sự thay đổi, có sự khai thác sử dụng thí nghiệm các tàu ngầm nguyên tử đầu tiên, đồng thời bằng kết quả thí nghiệm thiết thị năng lượng hạt nhân với vật liệu tải nhiệt kim loại lỏng trên bệ thí nghiệm của viện vật lý – năng lượng.

Các công việc theo đề án kỹ thuật của tàu ngầm nguyên tử được kết thúc vào mùa xuân năm 1956, còn tháng 11 năm 1957, các bản vẽ làm việc đã hoàn thành. Đáng chú ý, những yêu cầu cao về tiếng ồn của tàu ngầm và sự xuất hiện nhiễu thủy âm của nó trong các hoạt động của các đài thủy âm mang theo chưa được nhắc đến. Trong khuông khổ thiết kế đã chỉ thực hiện sự tính toán vòng quay nguy hiểm của chân vịt và tiếng ồn không khí trong các khoang tàu ngầm.

Cũng như các tàu Đề án 627, tàu ngầm nguyên tử mới được sử dụng để đối phó với các tàu nổi và tàu vận tải của đọ khi hoạt động trên các đại dương và các mặt trận biển tầm xa.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Giêng, 2012, 04:08:22 pm
Thân trong của tàu ngầm được chế tạo từ hợp kim thép mới với giới hạn lưu động 60kg lực/mm2. Thêm một điểm mới theo so sánh với Đề án 627 là sự tiếp nhận các vách ngăn giữa khoang phẳng, có khả năng chịu áp lực 12,5kg lực/cm2, đảm bảo khả năng nổi khẩn cấp từ độ sâu 100 mét khi bị đắm một khoang bất kỳ.

Đối với sự chế tạo thân ngoài, thùng tải trọng dằn, vách ngăn mui và phần cuối tàu đã lần đầu tiên tiếp nhận thép ít từ tính với giới hạn lưu động 40kg lực/mm2. Việc này cho phép trong trường hợp này sự tăng môi trường từ tính của tàu ngầm nguyên tử giảm gần 2 lần khối lượng các thiết bị khử từ, giảm 50% yêu cầu công suất của chúng và 2 lần – số các lỗ trong thân trong cho đầu ra của thiết bị khử từ.

Thân trong của tàu được chia thành 10 khoang không ngập nước, có một số điểm khác biệt so với Đề án 627

1.Ngư lôi

2.Ắc quy và cho người sống

3.Trạm trung tâm

4.Lò phản ứng

5.Máy phát điện tuabin (trong đố đồng thời bố trí thiết bị làm lạnh và các máy móc hỗ trợ)

6.Tuabin

7.Động cơ điện

8.Cho người sống (trong đó đồng thời bố trí các tủ lạnh)

9.Cho người sống (trong đó đồng thời bố trì các máy lái).

Sự bố trí các lò phản ứng hạng nặng gần với mũi tàu cho phép tăng cường độ mớn nước, tuy nhiên giải pháp bố cục này đồng thời làm giảm điều kiện đảm bảo sự an toàn phóng xạ của khoang trung tâm, các khoang vô tuyến điện và ra đa định vị yêu cầu di chuyển xuống boong dưới.

Thiết bị năng lượng chính công suất 35 000 sức ngựa gồm 2 lò phản ứng sản xuất hơi nước và thiết bị tuabin hơi nước hai trục, 2 máy phát điện tuabin tự động 2 trục (không phải treo như trên tàu ngầm nguyên tử Đề án 627) và pin ắc quy.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Giêng, 2012, 04:38:58 pm
Trong thành phần thiết bị năng lượng chính có 2 lò phản ứng VT-1 với vật liệu tải nhiệt kim loại lỏng chì – bitmut có tổng công suất 146mW. Nhiệt độ của vật liệu tải nhiệt ở đầu ra từ lò phản ứng là 440 độ C, còn nhiệt độ của hơi nước quá nhiệt – 355 độ C. Các lò phản ứng có hàng loạt các ưu thế khai thác sử dụng. Chi tiết, sự làm lạnh được thực hiện mà không cần sử dụng máy phát điện hơi nước và các bơm ở đường bao thứ nhất bằng kết quả tính toán sự tuần hoàn tự nhiên của hợp kim và mở kênh làm lạnh. Khả năng lan truyền tính phóng xạ trong đường bao thứ hai và trong khoang năng lượng trong trường hợp bị sự cố độ kín các máy phát điện hơi nước bị loại trừ trong kết quả áp suất lớn trong đường bao thứ 2 theo so sánh với thứ nhất.

Trong thành phần máy phát điện tuabin tự động (ATG) có tuabin chủ động một thân với lò phản ứng, bình tự điện và máy phát điện một chiều. Trong máy phát điện tuabin tự động thành bên phải được tiếp nhận bộ truyền động hành tinh. Công suất trong các đầu dây là 1600kW khi hiệu điện thế của nguồn điện là 320V và tần số quay 1500 vòng/phút. Các máy phát điện tuabin tự động cho phép thực hiện khả năng cơ động mạnh của tàu ngầm trong chế độ hoạt động bất kỳ của thiết bị năng lượng chính và khả năng hoạt động kéo dài dưới động cơ điện bánh lái khí 2 thiết bị tuabin răng cưa chính bị hỏng (tàu ngầm được trang bị 2 động cơ PG-116 công suất 450 sức ngựa).

Trong sự khác biệt với tàu Đề án 627, sự tiếp nhận thiết bị động cơ điện – diesel hỗ trợ không được tính toán (các nhà chế tạo tàu ngầm đã tính toán một cách vội vàng – không kỹ lưỡng, rằng sự xuất hiện của các máy phát điện tuabin tự động đảm bảo độ tin cậy cần thiết của thiết bị năng lượng).

Lần đầu tiên đã tiếp nhận hệ thống thông hơi và kiểm tra áp suất trong các khoang, được điều khiển từ trạm trung tâm.

Trạm trung tâm của Đề án 645 theo so sánh với tàu Đề án 627 trở nên đơn giản và thuận tiện hơn. Theo thành phần các trang bị thủy âm, ra đa định vị, vô tuyến và dẫn đường, đồng thời các khí tàu thông tin liên lạc, tàu thực tế giống với tàu ngầm nguyên tử Đề án 627 (đài thủy âm “Arktika-M”, đài ra đa định vị “Nakat-M”, tổ hợp đạo hàng “Pluton-645”). Trong cùng thời gian này, trên tàu đã lắp kính tiềm vọng thứ hai, tăng cường độ tin cậy quan sát bằng mắt thường.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Giêng, 2012, 04:56:59 pm
Trang bị ngư lôi của tàu ngầm nguyên tử Đề án 645 gồm có 4 thiết bị ngư lôi ở mũi đường kính 533mm với cơ số đạn 12 ngư lôi kiểu 53-57 và SET-65. Lần đầu tiên trên thế giới, tàu ngầm Đề án 645 đã tiếp nhận khí tài nạp đạn nhanh của thiết bị ngư lôi. Chúng có hệ thống tiếp đạn riêng cho mỗi thiết bị ngư lôi, cho phép thực hiện việc nạp đạn đồng thời.

Do việc chế tạo thiết bị năng lượng kiểu mới cho tàu ngầm nguyên tử Đề án 645, nhóm các chuyên gia trong năm 1964 đã được tặng giải thưởng Lenin.

Trong quá trình khai thác sử dụng, ở thân ngoài tàu đã xuất hiện nhiều đường nứt có kích thước khác nhau. Rõ ràng, rằng nguyên nhân chính là sự nứt ra bao gồm thép ít từ tính có độ cứng cơ học – ăn mòn thấp; dưới tác động của nước biển, đã phát triển sự ăn mòn giữa các tinh thể, dẫn tới sự tạo thành các đường nứt. Sau đó, từ sự tiếp nhận thép ít từ tính trên các tàu ngầm được quyết định chấm dứt. Đồng thời, các khí tàu khử từ trong thời gian khai thác sử dụng không có sự “biện hộ”. Nó được thiết kế không hợp lý, cấp độ bù từ từ trường và sự ổn định của nó không đảm bảo. Quyết định rất không may, được chỉ ra trên tàu thí nghiệm thuộc Đề án 645 là sự từ chối tiếp nhận thiết bị điện – diesel bổ sung. Các biện pháp giảm trường thủy âm của tàu ngầm nguyên tử Đề án 645 , rõ ràng, là không đầy đủ. Độ ồn của tàu ngầm đã được chỉ ra không chỉ lớn hơn tiếng ồn của tàu ngầm nguyên tử trong Hải quân Mỹ mà còn cao hơn rất nhiều so với yêu cầu đặt ra từ Hải quân Liên Xô. Trong quá trình khai thác sử dụng, tàu được tiến hành đóng nốt, hướng đến việc tăng cường khả năng kín thủy âm.

Chương trình đóng tàu

Ngày 15 tháng 6 năm 1958, ở Severodvinsk đã tiến hành khởi công tàu ngầm nguyên tử thí nghiệm duy nhất thuộc Đề án 645. Sự hạ thủy của tàu diễn ra ngày 1 tháng 4 năm 1962, còn 30 tháng 10 năm 1963, tàu ngầm nguyên tử với số hiệu chiến thuật K-27 đã được đưa vào biên chế Hải quân. Do sự nắm vững kỹ, làm chủ thiết bị kỹ thuật mới, năm 1966, chỉ huy của tàu ngầm nguyên tử được tăng danh hiệu Anh hùng Liên Xô.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Giêng, 2012, 05:50:04 pm
Tình hình đến năm 2007

Năm 1963, tàu ngầm Đề án 645 đã gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc, ở đó đã bắt đầu khai thác sử dụng thí nghiệm. Sự phức tạp chính khi khai thác sử dụng tàu ngầm nguyên tử là thiết bị năng lượng với các lò phản ứng trên vật liệu tải nhiệt kim loại lỏng. Sự khai thác sử dụng tàu ngầm rất phức tạp khi đỗ lâu dài, đồng thời khi đưa lên ụ: yêu cầu sự hỗ trợ nhiệt độ của vật tải nhiệt đường bao thứ nhất cao hơn nhiệt độ nóng chảy của nó (125 độ). Sự tiến hành các công việc sửa chữa bị khó khăn theo đường bao thứ nhất. Tiến hành các công việc sửa chữa gặp khó khăn theo đường bao thứ nhất do sự nhiễm các thiết bị polonium-210 hoạt tính cao, tạo thành khi có sự bức xạ nơ trôn bitmut. Các vị trí căn cứ của tàu ngầm với lò phản ứng trên vật liệu tải nhiệt kim loại lỏng bị phức tạp hóa đáng kể trang thiết bị (yêu cầu hệ thống sản xuất hợp kim, bể chứa và thiết bị để tiếp nhận từ tàu ngầm nguyên tử trang bị vật liệu tải nhiệt phóng xạ).

Sau khi gia nhập biên chế, K-27 đã hoàn thành hai cuộc hành quân kéo dài. Trong thời gian các cuộc hành quân, tàu ngầm nguyên tử đã trải qua các độ sâu (cho đến độ sâu hoạt động hiệu quả) và các tốc độ khác nhau. Khi đó, đặc biệt, thiết bị năng lượng chính không gây ra bất cứ sự hạn chế nào trong việc khai thác sử dụng tàu.

Tháng 5 năm 1968, K-27 đã ra khơi để kiểm tra khả năng hoạt động của thiết bị năng lượng, đồng thời để xử lý các nhiệm vụ huấn luyện – chiến đấu. Ngày 24 tháng 5 khi đang kiểm tra các tham số làm việc của thiết bị năng lượng chính trên các chế độ hoạt động hoàn toàn đã xảy ra sự tụt mạnh công suất lò phản ứng. Đồng thời ghi nhận sự tăng mạnh áp suất trong hệ thống khí của đường bao thứ nhất, tăng cấp độ của vật tải nhiệt trong thùng chứa chất đệm và xuất hiện nước trong bình cấp cứu. Nguyên nhân lớn nhất xảy ra tai nạn, kết quả làm 9 người trong thủy thủ đoàn tàu ngầm nguyên tử thiệt mạng là sự suy giảm mạnh thể thích nhiệt trong khu vực hoạt động do sự lọt vào trong đó các ô xít hợp kim chì – bitmut và xỉ than.

Để đối phó với tai nạn yêu cầu nghiên cứu bổ sung sự tương tác của hợp kim và sự hòa tan trong ô xít của nó tới vòng tuần hoàn của vật tải nhiệt, đồng thời tình trạng bề mặt đường bao, nghiên cứu điều kiện hình thành xỉ than không tan và oxit bụi. Các kết quả nhận được đã được sử dụng khi thiết kế thiết bị năng lượng chính cho các tàu Đề án 705 (số hiệu “Alfa” – theo phân loại của phương Tây).

Sau tai nạn, việc khôi phục K-27 đã chỉ ra rằng không hợp lý và nó đã được đưa vào lực lượng dự bị. Mùa hè năm 1973, đã dự kiến khởi động lò phản ứng ở công suất thấp – sau đó đạt đến 40%. Tuy nhiên, tàu đã được kéo tới Severdvinsk và đưa vào neo đậu. Trong thời gian 13 năm (từ 1968 đến 1981) tàu nằm trong biên chế dự bị, sau đó bị đánh đánh đắm ở biển Karsk gần bờ biển Đất Mới.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Giêng, 2012, 05:57:57 pm
Tóm tắt lịch sử phục vụ

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/645_draw_0.jpg)

+ K-27 (số hiệu xưởng -); khởi công ở xưởng số 402 ở Molotovka (sau đó là xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc, thành phố Severodvinsk) ngày 15 tháng 6 năm 1958; hạ thủy 1 tháng 4 năm 1962; 30 tháng 10 năm 1963 gia nhập biên chế và vào Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; tháng 4-6 năm 1964, hoàn thành cuộc hành quân kéo dài 51 ngày; năm 1965, đã thực hiện cuộc hành quân kéo dài 2 tháng; 24 tháng 5 năm 1968 khi đang thí nghiệm thiết bị năng lượng chính đã xảy ra tai nạn ở đường bao thứ nhất làm 9 người hy sinh; năm 1968 bị đưa vào danh sách dự bị; mùa hè năm 1973, lò phản ứng khởi động đến 40% nhưng bị tắt, còn tàu ngầm được kéo đến đỗ tại Severodvinsk; năm 1981 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải thể và đánh đắm ở gần bờ biển Đất Mới ở độ sâu 50 mét.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Giêng, 2012, 06:13:42 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/645_02.jpg)

Chú thích

Tàu ngầm nguyên tử Đề án 645

Lượng choán nước nổi: 3414 tấn; ngầm: 4380 tấn; trữ lượng nổi: 28%; thời gian hoạt động: 50 ngày; chiều dài: 109,8 mét, chiều rộng: 8,3 mét; lượng mớn nước: 5,8 mét; thủy thủ đoàn: 105 người.

Các số trên sơ đồ:

1.Khoang ngư lôi

2.Khoang ắc quy

3.Trạm trung tâm

4.Khoang động cơ diesel

5.Khoang lò phản ứng

6.Khoang tuabin

7.Khoang máy điện

8.Khoang cho người sống

9.Khoang mạn tàu

10.Mui

11-12.Ăng ten của đài thủy âm.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Giêng, 2012, 03:20:23 pm
Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ nổi: 3420

+ chìm: 4380

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 109,8 (-)

+ chiều rộng nhất: 8,3

+ lượng mớn nước theo vạch mớn nước thiết kế: 5,9

Thiết bị năng lượng chính: nguyên tử

+ 2 lò phản ứng trên vật tải nhiệt kim loại lỏng kiểu VT-1, tổng công suất, mW: 146

+ 2 tuabin hơi nước, tổng công suất, sức ngựa (kW): 35 000 (29 400)

+ 2 máy phát điện tuabin, công suất, sức ngựa: 2x-

+ 2 động cơ điện PG-116, công suất, sức ngựa: 2x450

2 trục, 2 chân vịt 6 cánh

Tốc độ, hải lý

+ nổi: 14,7

+ ngầm: 30,2

Thời gian hoạt động: 50 ngày

Thủy thủ đoàn, (sỹ quan): 105 (25)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Giêng, 2012, 03:24:37 pm
Trang bị

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm: 4 (mũi)

+ các ngư lôi 533mm SET-65 và 53-57: 12

Mìn

+ có thể mang mìn thay cho bộ phận ngư lôi: 20

Trang bị vô tuyến điện

+ hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: -

+ đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: “Prizma”

+ đài thủy âm: MG-200 “Arktika-M”

+ các khí tài tác chiến điện tử: “Nakat-M”

+ tổ hợp đạo hàng: “Pluton-645”

+ tổ hợp thông tin liên lạc vô tuyến: tổ hợp các khí tài

+ đài ra đa định vị hội thoại nói: MRP.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Giêng, 2012, 04:10:27 pm
Đề án 671 “Ersh” (Cá dày) – Lớp Victor-I (Victor-I class)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671_03.jpg)

Tổng số tàu đã đóng: 15

Các biến thể

+ 671 “Ersh” (Victor-I class) – Đề án cơ sở sản xuất hàng loạt (1967)

+ 671-B (679) – Đề án tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa đạn đạo không thành hiện thực với tổ hợp D-5 (năm 1960)

+ 671-B – biến thể tàu ngầm đóng loạt nhận vũ khí tên lửa – ngư lôi (1972)

+ 671-RT”Semga” (lớp Victor-II) – loạt tàu ngầm nguyên tử được tăng cường vũ khí (1975)

+ 671-RTM “Suka” (lớp Victor-III) – loạt tàu ngầm nguyên tử với tổ hợp thủy âm mới và tăng cường lượng choán nước (1977)

+ 671-RTKM – loạt tàu ngầm nguyên tử, tiếp nhận vào trang bị các tên lửa có cánh “Granat”.

Nếu các tàu ngầm nguyên tử ngư lôi thế hệ thứ nhất (các Đề án 627, 627-A và 645) được chế tạo để chống lại các tàu nổi của địch, thì trong nửa sau những năm 50, trở nên rõ ràng, rằng Liên Xô cần các tàu ngầm nguyên tử với các khả năng “chuyên chống ngầm” để đối phó với các tàu ngầm tên lửa của “đối thủ tiềm tang” trên các mặt trận bằng cách sử dụng vũ khí của chúng, đảm bảo sự triển khai các tàu ngầm nguyên tử riêng (thực hiện các hoạt động chống các lực lượng tàu nổi và ngầm, hoạt động trên các tuyến chống ngầm), đồng thời bảo vệ các tàu chiến và tàu vận tải khỏi các tàu ngầm địch. Ngụ ý ở đây, là không làm giảm đi nhiệm vụ truyền thống của tàu ngầm ngư lôi trong việc chống các tàu nổi của địch (nhiệm vụ hàng đầu – chống tàu sân bay), hoạt động trên các tuyến giao thông, thực hiện nhiệm vụ rải mìn…..

Các công việc theo nghiên cứu hình dạng tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ 2 được bắt đầu ở Liên Xô vào cuối những năm 50. Ngày 28 tháng 8 năm 1958, tương ứng với mệnh lệnh của Nhà nước đối với tàu ngầm nguyên tử mới, đã triển khai thiết kế thiết bị sản xuất hơi nước đồng nhất hóa. Gần thời điểm đó, cuộc đua các thiết kế thân tàu ngầm thế hệ thứ hai đã được thông báo, trong đó tiếp nhận sự tham gia của các tập thể công trình sư hàng đầu quốc gia, chuyên về đóng tàu ngầm – Phòng thí nghiệm số 143, Phòng thiết kế trung tâm số 18 và Phòng thiết kế số 112 “Sudoproekt”. Công việc kỹ thuật chủ yếu tập trung ở Phòng thiết kế số 143 (Leningrad), trên cơ sở các thiết kế ớm nhất (1956-58) thực hiện dưới sự chỉ đạo của A.B.Petrov, đã chuẩn bị đề xuất kỹ thuật theo các tàu ngầm ngư lôi (Đề án 671) và tên lửa (Đề án 639). Điểm đặc biệt của các Đề án này là hiện đại hóa hệ thống thủy động lực, công việc với sự thu hút các chuyên gia thuộc phân nhánh hàng hải, bố cục một trục, tiếp nhận dòng điện xoay chiều 3 pha, đồng thời tăng cường đường kính thân trong, đảm bảo sự bố trí ngang 2 lò phản ứng mới hợp lý hơn, đồng nhất đối với các tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ 2. 


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Giêng, 2012, 04:11:08 pm
Hình vẽ tàu ngầm nguyên tử Đề án 671

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671_05.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671_06.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Giêng, 2012, 04:12:34 pm
Hình vẽ thiết kế

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671_draw_3.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671_draw_7.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671_draw_2.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Giêng, 2012, 04:16:29 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671_draw_6.jpg)

Sự bố trí tổng thể của Đề án 671 và các khí tài di động

1.Ăng ten của đài vô tuyến “Anis”

2. Đài tìm phương vô tuyến

3.Khí tài hoạt động của máy nén khí dưới nước

4. Tổ hợp ra đa định vị-101

5.Ăng ten thông tin liên lạc

6.Đài “Nakat”

7.Kính tiềm vọng


(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671_draw_5.jpg)

Sự bố trí các thiết bị ngư lôi và các ngư lôi dự trữ


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 23 Tháng Giêng, 2012, 11:29:29 am
Theo các kết quả cuộc chạy đua, Phòng thí nghiệm số 143 đã nhận nhiệm vụ thiết kế tàu ngầm nguyên tử ngư lôi Đề án 671 (mã số “Ersh”) với lượng choán nước tiêu chuẩn 2000 tấn và độ sâu hoạt động hiệu quả không dưới 300 mét. Điểm đặc biệt của tàu ngầm mới phải là khí tài thủy âm mạnh (trong các điều kiện của cuộc thi, lần đầu tiên đặc biệt nói đến các kích thước của đài thủy âm).

Nếu trên tàu ngầm thế hệ thứ nhất đã tiếp nhận hệ thống điện một chiều (tương tự như trên các tàu ngầm điện – diesel, nới mà nguồn năng lượng chính khi hoạt động ở vị trí ngầm là các pin ắc quy), thì trên các tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ 2 đã quyết định chuyển sang dòng điện xoay chiều 3 pha.

Nhiệm vụ kỹ - chiến thuật trên tàu ngầm nguyên tử mới được phê chuẩn mùng 3 tháng 11 năm 1959, tháng 3 năm 1960, bản vẽ sơ bộ đã được thực hiện, còn tháng 12 cùng năm – đề án kỹ thuật.

Việc chế tạo tàu ngầm Đề án 671 được tiến hành dưới sự chỉ đạo của Tổng công trình sư G.N.Chernưshev (trước đó, ông đã tham gia thiết kế các tàu ngầm Đề án 617, 627, 639 và 645). Ngoài ra, tàu ngầm mới được sử dụng, trước hết, để tiêu diệt các tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa đạn đạo của Mỹ trong các khu vực tuần tra chiến đấu của chúng (trên “nước sạch”, không phải dưới lớp băng vùng cực), phía đặt hàng, dưới áp lực lớn từ nhà thiết kế, đã tính toán khả năng từ chối yêu cầu đảm bảo tính không chìm trên vị trí nổi khi bị đắm bởi nước một trong số các khoang bất kỳ.

Cũng như trên các tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ nhất, trên tàu ngầm mới đã có quyết định tiếp nhận thiết bị năng lượng 2 lò phản ứng, đáp ứng đầy đủ yêu cầu tin cậy. Đã chế tạo thiết bị sản xuất hơi nước hợp lý với các chỉ số riêng cao, gần gấp đôi các tham số tương ứng của các thiết bị năng lượng trước đó. “Trong hình dạng ngoại lệ” được đưa ra bởi Bộ Tư lệnh Hải quân đã đồng ý sử dụng trong Đề án 671 một trục bánh lái (chân vịt), cho phép giảm lượng choán nước và tiếng ồn. Do kết quả chuyển sơ đồ một trục, đảm bảo sự tiếp nhận tốc độ tàu ngầm cao hơn đáng kể so với các tàu ngầm cùng loại của nước ngoài.

Việc thực hiện sơ đồ một trục cho phép bố trí trong một khoang thiết bị tổ hợp tuabin răng cưa chính và 2 máy phát điện tuabin tự động với toàn bộ trang thiết bị kèm theo. Việc này đảm bảo sự giảm chiều dài thân tương đối của tàu ngầm – tương ứng với hệ số của Bộ Tư lệnh Hải quân, đặc điểm hiệu quả sử dụng công suất của thiết bị động lực trên tàu, vượt trội các chỉ số tương tự trên tàu ngầm nguyên tử Đề án 627 hai lần và thực tế so sánh được với hệ số của tàu ngầm nguyên tử Mỹ lớp “Skipjack”. Trong thiết kế thân trong đã quyết định tiếp nhận thép mới mác AK-29, cho phép tăng cường độ lặn sâu. Trong sự khác biệt với tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ nhất, tàu mới được quyết định trang bị (không phải treo trên thiết bị tuabin răng cưa chính) máy phát điện tuabin tự động, cho phép tăng độ tin cậy trong hoạt động của hệ thống năng lượng điện.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 23 Tháng Giêng, 2012, 11:52:20 am
Đồng thuận bởi nghiên cứu thiết kế ban đầu, các thiết bị ngư lôi được lên kế hoạch triển khai gần trung tâm tàu, cũng như trên tàu ngầm nguyên tử Mỹ lớp “Tresher”, sự bố trí của chúng dưới góc mặt phẳng đường kính của tàu ngầm nguyên tử. Tuy nhiên, sau đó lại xuất hiện, rằng trong bố cục tương tự, tốc độ tàu ngầm ở thời điểm bắn ngư lôi phải không vượt quá 11 hải lý (không tiếp nhận được nhiệm vụ chiến thuật đã đề ra; trong sự khác biệt với tàu ngầm nguyên tử Mỹ lớp “Tresher”, tàu ngầm Liên Xô được sử dụng không chỉ chống lại các tàu ngầm, mà còn cả với các tàu nổi lớn của địch). Ngoài ra, trong bố cục tàu ngầm Mỹ, công việc nạp ngư lôi được tiến hành rất phức tạp, và không có khả năng bổ sung đạn trên biển. Kết quả là, các thiết bị ngư lôi trên tàu ngầm nguyên tử Đề án 671 đã quyết định lắp ở bộ phận mũi tàu, trên ăng ten của đài thủy âm.

Năm 1960, xưởng Tư lệnh Hải quân ở Leningrad đã bắt đầu chuẩn bị việc đóng loạt các tàu ngầm nguyên tử ngư lôi mới. Tàu đầu tiên thuộc Đề án 671 – K-38 – gia nhập biên chế mùng 5 tháng 11 năm 1967. Sau đó, ở Leningrad đã đóng thêm 14 tàu trong lớp.

Tàu ngầm 2 thân với với đặc điểm vách ngăn “xe con” các thiết bị di động có thân trong, chế tạo từ thép độ cứng cao AK-29, độ dày các tấm 35mm. Các vách ngăn trong được tính toán trên áp lực 10kg lực/cm2. Thân tàu được chia thành 7 buồng không thấm nước:

1.Ngư lôi, ắc quy và cho người ở

2.Trạm trung tâm, các máy móc bổ sung và thực phẩm

3.Lò phản ứng

4.Tuabin (trong đó bố trí tổ hợp tuabin tự động)

5.Các máy móc, cơ chế hỗ trợ và kỹ thuật điện (trong đó có nhà điều dưỡng)

6.Cho người ở và máy phát điện – diesel

7.Bánh lái (ở đây bố trí động cơ điện bánh lái và nhà bếp).

Thiết kế thân ngoài, bộ phận mũi của thượng tầng, các cánh đuôi thẳng và ngang được chế tạo từ thép ít từ tính. Vách ngăm khí tài di động của mui, đồng thời bộ phận giữa và mạn của thượng tầng được chế tạo từ hợp kim nhôm, mũ chụp kích thước lớn của tăng ten tổ hợp thủy âm và bánh lái – từ hợp kim titan. Đối với tàu ngầm Đề án 671 (đồng thời các biến thể sau đó của nó) có đặc điểm được thiết kế cẩn thận các đường bao của thân ngoài. Các thùng tải trọng dằn có thiết kế của thông biển (không phải là dạng ống thoát nước trên toàn bộ các Đề án tàu ngầm trước đó của Liên Xô sau chiến tranh).

Tàu nhận hệ thống điều hòa và làm sạch không khí, chiếu sáng huỳnh quang, đồng thời thuận bố trí hợp lý hơn (theo so sánh với các tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ nhất) buồng sỹ quan và buồng thủy thủ, trang thiết bị sinh hoạt – y tế hiện đại. Trong bộ phận mũi và mạn tàu, lần đầu tiên lắp 2 phao tiêu cứu nạn – khẩn cấp kiểu “Kolokol”, được tính toán hiệu quả sử dụng cao gấp 3 lần.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 23 Tháng Giêng, 2012, 12:33:04 pm
Thiết bị năng lượng chính của tàu ngầm nguyên tử Đề án 671 (có công suất tiêu chuẩn 31 000 sức ngựa) gồm có 2 thiết bị sản xuất hơi nước OK-300 (lò phản ứng nước – nước VN-4 công suất nóng 72 mW và 4 máy phát điện hơi nước PG-4T) tự động cho mỗi bên thành. Việc nạp điện cho các lò phản ứng phải được thực hiện với chu kỳ 8 năm.

Theo so sánh với các lò phản ứng thế hệ thứ nhất. bố cục của thiết bị năng lượng hạt nhân thế hệ thứ 2 có sự thay đổi đáng kể. Lò phản ứng trở nên gọn và “chắc” hơn. Sơ đồ “ống trong ống” đã được thực hiện, đồng thời áp dung “sự treo” các bơm của đường bao thứ nhất trên máy phát điện hơi nước. Số lượng các cống dẫn đường kính lớn được rút gọn, liên kết các phần tử cơ bản của thiết bị (máy lọc đường bao thứ nhất, thiết bị bù trừ thể tích….). Thực tế, toàn bộ các ống dẫn của đường bao thứ nhất (đường kính lớn và nhỏ) bố trí trong các khoang không có người ở và đóng bằng sự bảo vệ sinh học. Hệ thống các khí tài đo – kiểm tra và thiết bị tự động của thiết bị động lực hạt nhân được thay đổi thực tế. Phần thiết bị điều khiển từ xa được tăng cường (van, van cửa, van điều tiết…).

Thiết bị tuabin hơi nước gồm có tổ hợp tuabin răng cưa chính GTZA-615 và 2 máy phát điện tuabin tự động OK-2 (các thiết bị sau đảm bảo việc xử lý tiếp nhận dòng điện một chiều 380V, 50Hz và gồm có các tuabin và máy phát điện công suất 2000kW).

Trong vai trò các khí tàu dự bị di chuyển đã tiếp nhận hai động cơ điện một chiều PG-137 (2x75 sức ngựa), mỗi động cơ trong số đó hoạt động quay theo trục bánh lái 2 cánh đường kính nhỏ (bố trí bên phải và trái trục chân vịt chính tới một trong số mặt phẳng với nó). Có 2 pin ắc quy, đồng thời 2 máy phát điện – diesel (200kW, 400W, 50Hz). Toàn bộ các máy móc chính và thiết bị có sự điều khiển tự động từ xa.

Khi chế tạo tàu ngầm nguyên tử Đề án 671, sự chú ý xác định (mặc dù là chưa đầy đủ) chú ý vào các câu hỏi giảm tiếng ồn. Chi tiết, đã tiếp nhận sự che phủ cao su thủy âm cho thân ngoài, giảm số lượng lỗ xả nước. Kết quả là sự nhận biết thủy âm của tàu ngầm theo so sánh với tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ nhất giảm gần 5 lần.

Tàu ngầm được trang bị tổ hợp đạo hàng mọi vĩ độ “Sigma”. Có hệ thống quan sát vô tuyến tình trạng chung và băng đá MT-70, đặc biệt, trong các điều kiện thuận lợi, cung cấp thông tin (toàn) cảnh ở độ sâu 50 mét.

Tuy nhiên, khí tài thông tin cơ bản của tàu là tổ hợp thủy âm MGK-300 “Rubin”, thiết kế ở Viện nghiên cứu khoa học “Morfizpribor” dưới sự chỉ đạo của Tổng công trình sư N.N.Sviridov và có tầm xa phát hiện mục tiêu tối đa 50-60km. Nó gồm có nguồn bức xạ thấp tần thủy âm mũi, ăng ten cao tần của đài thủy âm dò mìn MG-509 “Radian” trong bộ phận trước của vách ngăn thiết bị di động ở mui, đài thông tin liên lạc âm thanh dưới nước, đài tín hiệu thủy âm và hàng loạt các phần tử khác. “Rubin” đảm bảo nhìn vòng, sự phối hợp tự động độc lập và xác định góc vòng của các mục tiêu, đo xa bằng biện pháp định vị tiếng ồn, đồng thời phát hiện các khí tài thủy âm chủ động của địch.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 23 Tháng Giêng, 2012, 01:05:28 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671_01.jpg)

Các thiết bị di động gồm có kính tiềm vọng PZNS-10, ăng ten hệ thống nhận dạng vô tuyến MRP-10 với máy hỏi, tỏ hợp ra đa định vị “Albatros”, ăng ten thông tin liên lạc vô tuyến VAN-M hoặc “Anis” và “Iva”, máy tìm phương “Zavesa”, đồng thời khí tài RPK (làm việc nén khí dưới nước). Có các hốc cho hàng loạt ăng ten tháo được, lắp khi giải quyết nhiệm vụ cụ thể. Trên thành tàu ngầm lắp tổ hợp đạo hàng, đảm bảo sự chỉ thị vòng và tính toán đường đi.

Trang bị của tàu gồm có các thiết bị ngư lôi 533mm, đảm bảo bắn ở độ sâu 250 mét. Tổ hợp ngư lôi chiến ba khoang trên đầu tiên. Các thiết bị ngư lôi được bố trí theo hai hàng ngàng. Trong mặt phẳng đường kính của tàu, trên hàng thiết bị ngư lôi đầu tiên là cửa nạp ngư lôi. Tất cả đều thực hiện từ xa: các ngư lôi được kéo tới khoang, bố trí theo cửa, nạp vào các thiết bị và đẩy trên bệ với sự hỗ trợ của thiết bị dẫn động thủy lực. Sự điều khiển bắn ngư lôi được đảm bảo bằng thiết bị điều khiển bắn “Brest-671”. Trong cơ số đạn gồm có 18 ngư lôi và mìn (SET-65, 53-65K, TEST-71, PMR-1 và P-1). Phiên bản tải được lựa chọn trong sự quyết định lựa chọn nhiệm vụ phù hợp. Việc lắp mìn có thể thực hiện ở tốc độ 6 hải lý.

Theo so sánh với các tàu cùng dạng hiện đại tương tự của Mỹ - tàu ngầm nguyên tử SSN 637 “Sturgeon” (1967), tàu ngầm Liên Xô có tốc độ dưới nước cao hơn (tương ứng 29 và 33,5 hải lý), độ lặn sâu và cơ số đạn lớn hơn. Trong cùng thời gian đó, tàu ngầm Mỹ có độ ồn thấp và trang bị thủy âm hiện đại hơn, đảm bảo khả năng tìm kiếm của nó cao hơn. Giữa các tàu ngầm nguyên tử Liên Xô có ý kiến, rằng “nếu tàu ngầm Mỹ phát hiện xa 100km thì chúng ta, 10km”. Chắc chắn rằng, việc này được cường điệu, tuy nhiên, vấn đề ngụy trang và tăng cường tầm xa phát hiện địch trên các tàu Đề án 671 trong các biện pháp đầy đủ không được giải quyết thành công.

Tàu đầu tiên trong Đề án 671 – K-38 – trong quá trình thí nghiệm đã đạt tốc độ dưới nước tối đa 34,5 hải lý trong giai đoạn ngắn, trở thành (tới thời điểm đó) tàu ngầm nguyên tử nhanh nhất trên thế giới. Ở phương Tây, các tàu này nhận tên gọi theo mã số lớp Victor (sau đó là Victor-I).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 23 Tháng Giêng, 2012, 01:25:37 pm
Các biến thể

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671_26.jpg)

Ba tàu đầu tiên của lớp (K-314, K-454 và K-469) được đóng tiếp theo Đề án 671-V được thay đổi. Sự khác biệt gồm có trong trang bị, ngoài các ngư lôi truyền thống và tổ hợp tên lửa RPK-2 “Viuga”, được tiếp nhận vào trang bị mùng 4 tháng 8 năm 1969. Ngư lôi – tên lửa đã đảm bảo sự bắn cháy các mục tiêu tàu nổi, tàu ngầm và bờ biển bằng đạn hạt nhân ở tầm xa 10 – 40km. Sự phóng được thực hiện từ các thiết bị ngư lôi tiêu chuẩn 533mm ở độ sâu 50-60 mét.

Sau năm 1976, trong quá trình hiện đại hóa, phần lớn các tàu thuộc Đề án 671, tổ hợp thủy âm “Rubin” được thay bằng tổ hợp “Rubicon” hiện đại hơn với máy bức xạ hạ âm, có tầm xa phát hiện mục tiêu tối đa hơn 200km. Trong loạt các tàu, đài MG-509 được đồng thời thay thế bằng đài MG-519 hiện đại hơn.

Tàu ngầm nguyên tử K-147 năm 1984 trong hàng loạt các thí nghiệm đã được trang bị các khí tài mới chưa có trên thế giới bằng hệ thống giám sát tàu ngầm nguyên tử của địch theo vết rẽ nước. Sau đó, các hệ thống này được lắp trong thời gian sửa chữa trên số số tàu ngầm khác thuộc Đề án 671.

Tháng 11 năm 1961, Hải quân và Bộ công nghiệp (МСП) đã tiếp nhận quyết định về tăng cường trang bị tàu ngầm nguyên tử Đề án 671 do kết quả việc lắp thiết bị ngư lôi 650mm và tăng cơ số đạn 1,5 lần (trong đó có gồm có tên lửa chống tàu điều khiển). Đồ án kỹ thuật của tàu mới, nhận số 671-RT (mã số “Semga”) được phê chuẩn ngày 15 tháng 7 năm 1967. Ngoài ra, các thay đổi khác, lượng choán nước và kích thước Đề án 671 tăng lên một chút. Tàu ngầm nguyên tử được đóng từ năm 1972 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” và được đóng nốt ở xưởng “Tư lệnh hải quân”. Tổng cộng đến năm 1978, đã đóng 7 thân tàu, 3 trong số đó ở Leningrad. Các tàu ngầm ngày ở phương Tây mang tên lớp Victor-II.

Loạt sau, đã thành công trên một loạt tàu ngầm Đề án 671-RTM mới (mã số “Suka” – cá măng), đã được đóng từ năm 1977 đến 1992 với số lượng 26 tàu. Lượng choán nước và kích thước của tàu ngầm nguyên tử Đề án 671-RTM được tăng lên thêm, còn trên cánh đuôi đứng được lắp mũ chụp của ăng ten lai kéo dài, trở thành điểm đặc biệt nhất của các tàu này, nhận tên gọi theo Mỹ và NATO là lớp Victor-III.

Chương trình đóng tàu

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671_25.jpg)

Trong năm 1960, xưởng “Tư lệnh Hải quân” ở Leningrad” đã bắt đầu chuẩn bị đóng loạt tàu ngầm nguyên tử ngư lôi mới. Văn bản về tự tiếp nhận vào biên chế Hải quân Liên Xô tàu đầu tiên – K-38 – (số hiệu xưởng “600”) – Phó Chủ tịch Ủy ban Nhà nước – Anh hùng Liên Xô G.I.Sedrin đã ký mùng 5 tháng 11 năm 1967. Sau đó, ở Leningrad đã đóng theeo 14 tàu ngầm lớp này(trong đó có 3 theo Đề án 671-V).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Giêng, 2012, 01:20:48 pm
Tình hình đến năm 2006

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671_17.jpg)

Tàu đầu tiên trong Đề án 671 – K-38 -  gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc. Đến năm 1974, Hạm đội Phương Bắc đã được bổ sung thêm 11 tàu ngầm nguyên tử cùng lớp (thêm 3 tàu được đóng tiếp theo Đề án 671-V), ban đầu đóng căn cứ ở Zapadnaya Litsa. Trong giai đoạn từ 1981 đến 1983, chúng được chuyển tới Gremikha.

Tàu ngầm nguyên tử Đề án 671 có tiểu sử các sự kiện chói lọi. Có thể gặp chúng thực tế trên tất cả các biển và đại dương, nơi mà Hạm đội Phương Bắc làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu. Trong đó, các tàu ngầm nguyên tử đã thể hiện các khả năng tìm kiếm và chiến đấu cao. Chi tiết, các tàu ngầm nguyên tử ở Địa Trung Hải đã thay phiên trực chiến kéo dài từ 60 đến 90 ngày.

Năm 1979, trong thời gian quan hệ Xô – Mỹ rất căng thẳng, tàu ngầm nguyên tử K-38 và K-481 đã thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu ở vịnh Péc xích, nơi mà tới giai đoạn này có 50 tàu của Hải quân Mỹ. Việc bơi được thực hiện trong các điều kiện rất phức tạp (nhiệt độ nước ở trên bề mặt 40 độ). Theo sự hồi tưởng của người tham gia hành quanA.N.Shportiko (chỉ huy K-481), trong các khoang năng lượng của tàu, không khí bị hun nóng đến 60 – 70 độ, còn khoang cho người ở - 40-50 độ. Các máy điều hòa không khí làm việc ở công suất tối đa, nhưng phương tiện kỹ thuật không đáp ứng được (vốn được thiết kế để sử dụng thực tế trong các vùng cực bắc): các máy làm lạnh bắt đầu làm việc hình thường chỉ ở độ sâu 60 mét, ở nơi mà nhiệt độ ngoài thành tàu giảm xuống 10 – 15 độ. Các tàu ngầm có 2 thủy thủy đoàn để thay thế, bố trí trên tàu tiếp tế “Berezina”, đỗ ở vịnh Aden hoặc gần quần đảo Sokort. Cuộc hành quân đã kéo dài trong 6 tháng, và rất thành công. Các tàu ngầm Liên Xô đã hoạt động ở vịnh Péc xích rất bí mật: nếu Hải quân Mỹ phát hiện thì chỉ trong khoảng thời gian ngắn, không thể phân loại chính xác, và truy đuổi rất hạn chế. Sau này, các thông tin tình báo đã khẳng định các kết luận này. Trong cùng thời điểm đó, sự giám sát các tàu Mỹ được thực hiện trong tầm bắn của các vũ khí tên lửa và ngư lôi – tên lửa: trong trường hợp nhận được mệnh lệnh thích hợp, chúng sẽ được khởi động, bắn với xác xuất gần 100%.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Giêng, 2012, 01:43:56 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671_17.jpg)

Tháng 9-10 năm 1971, K-38 và K-323 đã hoàn thành cuộc hành quân dưới lớp băng tới vùng cực. Tháng 1 năm 1974 đã bắt đầu cuộc hành quân tổng hợp 107 ngày của 2 tàu ngầm nguyên tử Đề án 670 và 671 từ Hạm đội Phương Bắc tới Hạm đội Thái Bình Dương. Cuộc hành quân đã đi qua Đại Tây Dương (tới mũi Hảo Vọng), Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương. Sau khi đi qua bờ biển chống ngầm Farero – Island, các tàu ngầm đã di chuyển trong nhóm chiến thuật (một tàu ngầm ở độ sâu 100 mét, tàu khác – 150 mét). Thực tế, đây là thí nghiệm đầu tiên trong các cuộc hành quân đường dài của tàu ngàm trong biên chế nhóm chiến thuật. Mùng 10-25 tháng 3, các tàu ngầm đã hoàn thành việc ghé vào cảng Berbera (Somali), nơi thủy thủ đoàn có quãng nghỉ ngắn. Ngày 29 thnags 3, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, chúng có có sự tiếp xúc ngắn với các tàu nổi chống ngầm của Mỹ và thoát khỏi chúng, rời đến độ sâu lớn. Ngày 13 tháng 4, sau khi hoàn thành sẵn sàng chiến đấu ở các khu vực được giao trên Ấn Độ Dương, các tàu ngầm ở vị trí nổi, dẫn đầu tàu đảm bảo “Bashkiria”, hướng tới vịnh Malacca. Trong thời gian hành quân, nhiệt độ ngoài thành tàu 28 độ. Các hệ thống điều hòa không khí không đáp ứng được với sự hộ trợ của vi khí hậu yêu cầu: độ ẩm tương đối trong các khoang tàu ngầm 90%, còn nhiệt độ không khí tăng lên 70 độ. Sau đội tàu ngầm Liên Xô là các máy bay tuần tra R-3 “Orion” thực hiện việc giám sát trực tiếp, đóng ở đảo san hô vòng Diego – Garcia. Ở vịnh Malacca, nơi các tàu vào đó 17 tháng 4, các máy bay trinh sát Mỹ đã dày đặc hơn: theo các “Orion” có sự yểm trợ của nhiều máy bay trực thăng chống ngầm. Ngày 20 tháng 4, trên thành tàu ngầm nguyên tử Đề án 671 do độ ẩm cao đã cháy một trong số các khí tài của đài thủy âm “Rubin”. Tuy nhiên, bằng nỗ lực của thủy thủ đoàn, ngọn lửa đã được dập tắt. Ngày 25 tháng 4, tàu đã tới khu vực vịnh và thoát khỏi sự quan sát của địch, bơi ra khu vực nước sâu. Mùng 6 tháng 5, tàu ngầm nguyên tử đầu tiên đã tới vũng Avanchin, còn 7 tháng 5, tàu ngầm thứ 2 đã tới đó.

Tháng 1 năm 1976, tàu ngầm nguyên tử tuần dương tên lửa chiến lược K-171, đồng thời K-469 đã thực hiện nhiệm vụ bảo vệ đã hoàn thành một cuộc hành quân từ Hạm đội Phương Bắc tới Hạm đội Thái Bình Dương. Qua Đại Tây Dương, các tàu đã bơi cách nhau ở khoảng cách tổng cộng 18 cabentop (1 cabentop = 180 mét). Vịnh Dreika phải đi ngang qua các độ sau khác nhau. Sau sự giao nhau ở xích đạo, các tàu ngầm tách nhau và tiếp tục di chuyển và tới Kamchatka (tháng 3) theo hành trình riêng. Trong thời gian 80 ngày, đã bơi qua 21 754 dặm, ngoài ra, trong toàn bộ quá trình hành quân, K-469 chỉ nổi lên một lần ở độ sâu của ống nhòm ngầm (ở khu vực Antarktid).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Giêng, 2012, 01:57:05 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671_13.jpg)

K-147 (năm 1984 được trang bị hệ thống giám sát sau tàu ngầm theo vết rẽ nước) từ 29 thangs5 đến 1 tháng 7 năm 1985 đã tiếp nhận tham gia cuộc diễn tập các lực lượng tàu ngầm Hạm đội Phương Bắc “Aport”, trong quá trình này đã thực hiện sự giám sát trực tiếp 6 ngày tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa đạn đạo của Mỹ “Simon Woliwar” (lớp “Lafayette”), đã sử dụng các khí tàu thủy âm và phi thủy âm.

Trường hợp rất bi tham đối với K-314 vào tháng 3 năm 1984. Cùng với tàu chống ngầm loại lớn “Vladivostoc” đã thực hiện giám sát cụm tàu xung kích của Mỹ trong thành phần gồm tàu sân bay “Kitty Hawk” và 7 tàu bảo vệ, đang cơ động tới biển Nhật Bản. Tàu ngầm nguyên tử Liên Xô, 21 tháng 3, trong thời gian nổi để xác định tình trạng nổi, đã làm rách bởi mạn đáy tàu sân bay mỹ độ dài gần 40 mét. Kết quả là việc cơ động của Hải quân Mỹ bị dừng lại và “Kitty Hawk” đã bị mất dầu qua vết rách, phải “bò” đến Nhật Bản, còn tàu ngầm nguyên tử Liên Xô, chỉ bị hỏng bánh lái và được kéo tới vịnh Chazma, ở đó, nó đồng thời được sửa chữa. Sự kiện này đã gây ra ảnh hưởng tiêu cực trên truyền thông Mỹ. Đặc biệt trên các tạp chí Hải quân đã đánh giá thấp khả năng phòng thủ của tàu chiến Mỹ, để cho các tàu ngầm của “kẻ thù tiềm tang” nỏi trực tiếp dưới sống tàu sân bay.

Ngày 14 tháng 3 năm 1989, tàu đầu tiên trong Đề án 671 – K-314 đã bị loại khỏi biên chế khi đang nằm trong Hạm đội Thái Bình Dương. Trong năm 1993 – 1996, biên chế chiến đấu của Hải quân đã loại bỏ các tàu còn lại trong lớp. Tuy nhiên, việc tháo dỡ tàu bị kéo dài. Tới thời điểm này, phần lớn trong số chúng đang neo đậu, chờ đợi số phận của mình theo thời gian.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Giêng, 2012, 02:31:59 pm
Tóm tắt lịch sử phục vụ

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671_28.jpg)

+ K-38 (số hiệu xưởng 600); khởi công ở “xưởng Tư lệnh Hải quân” Leningrad (số 196) 12 tháng 4 năm 1963; hạ thủy 28 tháng 7 năm 1966; gia nhập biên chế 5 tháng 11 năm 1967; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; tháng 9-10 năm 1971 đã hoàn thành cuộc hành quân với tàu ngầm K-323 dưới lớp băng vùng cực; năm 1972 và 1977 đã khởi động lại các lò phản ứng; năm 1979, trực chiến ở vịnh Péc xích, thực hiện giám sát các tàu chiến Mỹ; năm 1984, bị tại nạn nhỏ do rò rỉ trong đường bao số 1; năm 1992 bị loại khỏi biên chế chiến đấu của Hải quân và giải tán; 1 tháng 9 năm 1995 được bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ thành kim loại.

+ K-69, sau đó là K-369 (số hiệu xưởng 601); khởi công ở “xưởng Tư lệnh Hải quân” ở Leningrad (số 196) 31 tháng 1 năm 1964; hạ thủy 22 tháng 12 năm 1967; gia nhập biên chế 6 tháng 11 năm 1968; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1973 và 1978, khởi động lại các lò phản ứng; tháng 12 năm 1985 đã xảy ra cháy, thủy thủy đoàn có thương vong; năm 1994, bị loại khỏi danh sách chiến đấu của Hải quân và giải tán, 1 tháng 9 năm 1995 bàn giao cho cơ sở khác và tháo dỡ thành kim loại.

+ K-147 (số hiệu xưởng 602); khởi công ở “xưởng Tư lệnh Hải quân” tại Leningrad (số 196) 31 tháng 1 năm 1964; hạ thủy 22 tháng 12 năm 1967; gia nhập biên chế 6 tháng 11 năm 1968; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1973 và 1978 khởi động lại các lò phản ứng; tháng 12 năm 1985, đã xảy ra bốc cháy, thủy thủ đoàn thương vong; năm 1994 bị loại khỏi biên chế và giải tán; 1 tháng 9 năm 1995, bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ thành kim loại.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 25 Tháng Giêng, 2012, 12:07:52 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671_29.jpg)

+ K-153 (số hiệu xưởng 603); khởi công ở “xưởng Tư lệnh Hải quân” tại Leningrad (số 196) 16 tháng 12 năm 1964; hạ thủy 15 tháng 3 năm 1969; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1969; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1975 đến 1980 đã khởi động lại lò phản ứng; 19 tháng 9 năm 1984 va chạm ởi vịnh Gibraltar với tàu phá băng nguyên tử “Bratstvo” và bị thương ở bộ phận mũi thân ngoài, còn trên vị trí nổi, đã cùng tàu hỗ trợ “PM-24” tới Khammamet (Tunis) để sửa chữa; tháng 10 năm 1984 quay lại căn cứ; năm 1994 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và giải tán; 1 tháng 9 năm 1995 bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ.

+ K-306 (số hiệu xưởng 604); khởi công ở “xưởng Tư lệnh Hải quân” tại Leningrad (số 196) 20 tháng 3 năm 1968; hạ thủy 4 tháng 6 năm 1969; gia nhập biên chế 4 tháng 12 năm 1969; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1974 đến 1979; khởi động lại các lò phản ứng; năm 1975, trong thời gian sẵn sàng phục vụ chiến đấu đã va chạm dưới nước với tàu ngầm Hải quân Mỹ; tàu theo đường hành quân về căn cứ và sau đó được sửa chữa ở xưởng số 10 tại Polyarnưi; năm 1995 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và giải tán; 1 tháng 9 năm 1995 bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ.

+ K-323; từ 20 tháng 12 năm 1972 là “50 năm Liên bang Xô Viết” (số hiệu xưởng 605); khởi công ở “xưởng Tư lệnh Hải quân” tại Leningrad 5 tháng 7 năm 1968; hạ thủy 15 tháng 3 năm 1970; gia nhập biên chế 29 tháng 10 năm 1970; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; tháng 9-10 năm 1971 hoàn thành cuộc hành quân cùng với K-38 dưới lớp băng vùng cực; năm 1975 và 1981 khởi động lại lò phản ứng; năm 1995 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và giải tán; được kéo về neo đậu ở Severodvinsk.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 25 Tháng Giêng, 2012, 12:18:18 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671_30.jpg)

+ K-370 (số hiệu xưởng 606); khởi công ở “xưởng Tư lệnh Hải quân” tại Leningrad (số 196) 19 tháng 6 năm 1969; hạ thủy 26 tháng 6 năm 1970; gia nhập biên chế 4 tháng 12 năm 1970; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 12 tháng 2 năm 1979 khởi động lại lò phản ứng; năm 1981 – 1984 trải qua trung tu và nâng cấp ở xưởng “Nerpa”; năm 1994 bị loại khỏi biên chế chiến đấu, giải tán và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ.

+ K-438; từ 1990 là B-438 (số hiệu xưởng 608); khởi công ở “xưởng Tư lệnh Hải quân” tại Leningrad (số 196) 13 tháng 6 năm 1970; hạ thủy 23 tháng 3 năm 1971; gia nhập biên chế 16 tháng 9 năm 1971; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; từ 5 đến 12 thangs4 năm 1979 đã tham gia cuộc tập trận “Razbeg-79”; 10 đến 16 tháng 4 năm 1980 khởi động lại các lò phản ứng; từ tháng 2 năm 1985 đến tháng 4 năm 1989 đã trải qua trung tu và nâng cấp ở Murmansk-60; năm 1994 được đưa vào danh sách dự bị; năm 1995 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và giải tán; 1 tháng 8 năm 1995 bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ.

+ K-367 (số hiệu xưởng 609); khởi công ở “xưởng Tư lệnh Hải quân” tại Leningrad (số 196) 14 tháng 4 năm 1970; hạ thủy 2 tháng 7 năm 1971; gia nhập biên chế 5 tháng 12 năm 1971; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1979 khởi động lại các lò phản ứng; năm 1989 đã bị tai nạn trong hệ thống điều tiết các lò phản ứng; năm 1995 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và giải tán; 1 tháng 9 năm 1995 bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 25 Tháng Giêng, 2012, 12:44:52 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671_46.jpg)

+ K-314 (số hiệu xưởng 610); khởi công ở “xưởng Tư lệnh Hải quân” tại Leningrad (số 196)  5 tháng 9 năm 1970; đóng tiếp theo Đề án 671-V; hạ thủy 28 tháng 3 năm 1972; gia nhập biên chế 6 tháng 11 năm 1972; năm 1974; sau khi hành quân tới Viễn Đông theo hải trình phía Nam đã gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; 21 tháng 3 năm 1984 ở biển Nhật Bản đã va chạm với tàu sân bay “Kitty Hawk” trong khi đang thực hiện giám sát cụm tàu sân bay tiến công, bị thương nhẹ, chỉ bơi được và được kéo tới Vladivostoc và đưa lên vịnh Chazma tới âu tàu để sửa chữa đến 21 tháng 8 năm 1984; năm 1984 đã hoàn thành cuộc hành quân 9 tháng với sự ghé vào Aden và Cam Ranh; 10 tháng 8 năm 1985 ở Chazma khi đang khởi động lò phản ứng, tàu ngầm nguyên tử bên cạnh đã có vụ nổ lớn từ lò phản ứng với sự xuất hiện phóng xạ, tàu bị nhiễm phóng xạ nặng; năm 1989, đã xảy ra tai nạn lò phản ứng thành bên trái với sự mất kín đường bao số 1; 14 tháng 3 năm 1989 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và giải tán; kéo về vịnh Pavlov.

+ K-398 (số hiệu xưởng 611); khởi công ở “xưởng Tư lệnh Hải quân” tại Leningrad (số 196) 22 tháng 4 năm 1971; hạ thủy 2 tháng 8 năm 1972; gia nhập biên chế 15 tháng 12 năm 1972; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1977 và 1982, khởi động lại các lò phản ứng; năm 1995 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và giải tán; 1 tháng 9 năm 1995 bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ.

+ K-454 (số hiệu xưởng 612); khởi công ở “xưởng Tư lệnh Hải quân” tại Leningrad (số 196) 24 tháng 7 năm 1971; đóng tiếp theo Đề án 671-V; hạ thỷ 5 tháng 5 năm 1973; gia nhập biên chế 30 tháng 10 năm 1973; sau khi hành quân tới Viễn Đông trong tháng 8-9 năm 1974; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; năm 1989 đưa vào biên chế dự bị; năm 1990, trải qua trung tu với sự nạp điện lại các lò phản ứng; 5 tháng 7 năm 1994 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và giải thể.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 25 Tháng Giêng, 2012, 12:55:42 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671_39.jpg)

+ K-462 (số hiệu xưởng 632); khởi công ở “xưởng Tư lệnh Hải quân” tại Leningrad (số 196) 3 tháng 7 năm 1972; hạ thủy 1 tháng 9 năm 1973; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1973; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 17 tháng 2 năm 1977, ở phía bắc vịnh Ruwbatri va chạm với tàu đánh cá ở độ sâu tiềm vọng, các thiết bị di động bị hỏng; năm 1984, xảy ra tai nạn nhẹ với sự rò rỉ đường bao thứ nhất; tháng 3 năm 1995 được đưa đến sửa chữa tại xưởng số 10 ở Polyarnưi, nhưng từ năm 1996 đã bị loại khỏi biên chế chiến đấu và mang đến cơ sở tháo dỡ.

+ K-469 (số hiệu xưởng 01614); khởi công ở “xưởng Tư lệnh Hải quân” tại Leningrad (số 196) 5 tháng 9 năm 1973; đóng tiếp theo Đề án 671-V; hạ thủy 10 tháng 6 năm 1974; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1974; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; từ tháng 1 năm 1974 bắt đầu cuộc hành quân 107 ngày với tàu ngầm nguyên tử Đề án 670 qua các Đại Tây Dương, Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương; 20 tháng 4 năm 1974, trên thành tàu xảy ra hỏa hoạn, thủy thủ đoàn đã dập tắt thành công; 6 tháng 5 năm 1974, tàu tới vịnh Avanchin; tháng 1 năm 1976 hoàn thành thêm một cuộc hành quân xuyên đại xương tới Hạm đội Thái Bình Dương qua Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương với tàu ngầm nguyên tử tuần dương chiến lược K-171, đã đi hết 80 ngày, qua 21 754 dặm; 16 tháng 7 năm 1976 bị mắc cạn ở biển Phần Lan; năm 1983 đã trải qua sửa chữa và nạp điện lại cho các lò phản ứng ở Đá Lớn; 30 tháng 6 năm 1993 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và giải tán; năm 1996 bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ.

+ K-481 (số hiệu xưởng 01615); khởi công ở “xưởng Tư lệnh Hải quân” tại Leningrad (số 196) 27 tháng 9 năm 1973; hạ thủy 8 tháng 9 năm 1974; gia nhập biến chế 27 tháng 12 năm 1974; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; tháng 8-9 năm 1976 thực hiện cuộc hành quân tới vùng cực; đầu năm 1979 nạp điện lại cho các lò phản ứng; năm 1979 sẵn sàng chiến đấu ở vịnh Péc xích; thực hiện giám sát các tàu chiến Mỹ; năm 1984, nạp điện lần thứ hai cho các lò phản ứng; năm 1993 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và giải tán; năm 1995, tháo dỡ ở xưởng “Nerpa”.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 25 Tháng Giêng, 2012, 01:07:34 pm
Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ nổi: 4250

+ chìm: 6085

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 94,3 (86)

+ chiều rộng nhất: 10,6

+ lượng choán nước theo vạch mớn nước thiết kế: 7,3

Thiết bị năng lượng chính: nguyên tử

+ 2 lò phản ứng nước – nước kiểu VM-4, tổng công suất, mW: 144

+ 2 thiết bị sản xuất hơi nước OK-300 (2 lò phản ứng hơi nước và 2x4 động cơ điện PG-41); 1 thiết bị tuabin răng cưa chính 615

+ 1 tuabin hơi nước, công suất, sức ngựa (kW): 31 000 (22 790)

+ 2 máy phát điện tuabin OK-2, công suất, kW: 2x2000

+ 1 máy phát điện diesel, công suất, mW: 1x200

+ 2 động cơ điện hỗ trợ PG-135, công suất, sức ngựa: 2x270

1 trục; 1 chân vịt 5 cánh; 2 chân vịt hỗ trợ

Tốc độ, hải lý

+ nổi: 11,5

+ ngầm: 33,5

Độ lặn sâu, mét

+ hoạt động hiệu quả: 320

+ giới hạn: 400

Thời gian hoạt động: 50 ngày

Thủy thủ đoàn (sỹ quan): 76 (32)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 25 Tháng Giêng, 2012, 01:16:40 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671_40.jpg)

Vũ khí

Ngư lôi và ngư lôi – tên lửa

+ thiết bị ngư lôi 533mm: 6 (mũi)

+ các ngư lôi 533mm SET-65, 53-65K, TEST-71: 18

+ tổ hợp tên lửa chống tàu – tên lửa chống tàu PPK-2 “Vyuga” (chỉ có trên 3 tàu ngầm Đề án 671-V)

+ các tên lửa chống tàu điều khiển: 81-R (SS-N-15 “Starfish”): 2…4

Mìn

+ có thể mang các loại mìn (PMR-1 và R-1) thay cho đạn ngư lôi: 18

Trang bị vô tuyến điện

+ hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: -

+ đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: RLK-101 “Albatros” (Snoop Tray)

+ đài thủy âm: GAK MGK-300 “Rubin” hoặc “Rubicon” (Shark Teeth); MG-509 “Radian” hoặc MG-519 “Mouse Roar); ZPS

+ các khí tài tác chiến điện tử: “Nakat-M” (Brick Group) (Brick Spit/Brick Pulp); “Zavesa” (đài tìm phương)

+ hệ thống phát hiện mục tiêu theo vết rẽ nước: SOKS (trên một số tàu ngầm nguyên tử)

+ tổ hợp đạo hàng: “Sigma”

+ tổ hợp thông tin liên lạc vô tuyến: tổ hợp các khí tài: VAN-M hoặc “Anis” và “Iva”

+ đài ra đa định vị hội thoại nói: MRP-10.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 26 Tháng Giêng, 2012, 05:00:14 pm
Đề án 705/705-K “Lira” – lớp Alfa

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/705k_06.jpg)

Tổng số tàu đã đóng: 7+1

Các biến thể:

+ 705 – Đề án cơ sở, nằm trong sự khai thác sử dụng thí nghiệm (1971)

+ 705-K “Lira” – Đề án đóng loạt với thiết bị sản xuất hơi nước mới (1975)

+ 705-D – Đề án sáng kiến với sự tăng cường cơ số đạn, trang bị thiết bị sản xuất hơi nước với lò phản ứng nước – nước (năm 1960)

+ 705-A (686) – Đề án trước phác thảo, trang bị 6 tên lửa chống tàu “Ametist”/”Malakhit” (1962)

+ 705-B (687) – Đề án phác thảo tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh với tổ hợp D-5 (1965).

Vào đầu những năm 80, một trong số các tàu ngầm nguyên tử Liên Xô đang hoạt động ở Cực Bắc, đã lập kỷ lực, trong vòng 22 giờ đã thực hiện việc giám sát tàu nguyên tử của “kẻ thù tiềm tang” đang ở trong phạm vi mạn tàu. Trong sự tuyệt vọng, mặc dù đã có những nỗ lực, thủy thủ đoàn tàu ngầm NATO cố gắng thay đổi tình hình, “cắt đuôi” tàu địch nhưng không thành công: sự giám sát chỉ dừng lại sau khi nhận được mệnh lệnh từ bờ. Trường hợp này xảy ra với tàu ngầm nguyên tử thuộc Đề án 705 và trở thành trang chói lọi trong lịch sử ngành đóng tàu Liên Xô. Đánh giá tàu ngầm ngày, các chuyên gia hàng đầu của Nga đã bị thu hút từ những ưu điểm cho đến những nhược điểm.

Đồng thời với các công việc về tàu ngầm nguyên tử Đền án 627, 645 và 671 ở Phòng thiết kế thí nghiệm số 142 ở Leningrad đã tiến hành mạnh mẽ việc tìm kiếm các giải pháp kỹ thuật phi truyền thống mới, có khả awnng đảm bảo sự đột phá về chất lượng trong sự phát triển ngành đóng tàu ngầm. Năm 1959, một trong số các chuyên gia hàng đầu trong Phòng thiết kế A.B.Petrov đã đưa ra đề xuất về chế tạo tàu ngầm nguyên tử tốc độ cao với tổ hợp một trục tự động kích thước nhỏ và giảm biên chế thủy thủ đoàn. Theo quan điểm này, tàu mới là “tàu ngầm đánh chặn – tiêm kích”, có tốc độ dưới nước, hơn 40 hải lý, có khả ăng trong thời gian ngắn cần thiết đi tới điểm quy định ở đại dương để tấn công tàu ngầm hoặc tàu nổi của địch. Trước khi địch phát hiện và tấn công bằng ngư lôi, tàu phải thực hiện loạt phóng ngư lôi từ các thiết bị ngư lôi của mình.

Lượng choán nước thấp của tàu (khoảng 1500 tấn) trong sự phối hợp với thiết bị năng lượng mạnh đã đảm bảo bổ hợp tốc độ nhanh và tính cơ động cao. Tàu ngầm nguyên tử phải theo đường riêng trong thời gian vài phút rời khỏi tường thành, nhanh chóng tới triển khai tới khu mặt nước và rời khỏi căn cứ để giải quyết nhiệm vụ chiến đấu, còn sau khi quay “về nhà”, tự neo đậu.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 26 Tháng Giêng, 2012, 05:01:08 pm
Các bản vẽ thiết kế Đề án 705

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/705k_11.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/705k_42.jpg)

Các khoang tàu ngầm

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/705k_02.jpg)

1.Khoang ngư lôi; 2.Khoang máy điện; 3.Trạm trung tâm, cho người ở; 4.Khoang lò phản ứng; 5.Khoang thiết bị tuabin răng cưa chính; 6.Khoang bánh lái và trang thiết bị khác


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 26 Tháng Giêng, 2012, 05:04:13 pm
Hình vẽ tàu ngầm nguyên tử Đề án 705

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/705k_12.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/705k_04.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 26 Tháng Giêng, 2012, 05:08:40 pm
Sơ đồ khoang cứu nạn tàu ngầm Đề án 705

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/705k_rubka2.jpg)


(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/705k_rubka3.jpg)

Vách ngăn mui và các khí tài di động trong tàu ngầm Đề án 705

Mui tàu ngầm Đề án 705 với thùng nổi để cứu nạn thủy thủ đoàn

1,5.Các ăng ten; 2.Khoang cứu nạn; 3.Kính tiềm vọng; 4.Ăng ten – máy định vị vô tuyến; 6.Máy tìm phương vô tuyến


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 26 Tháng Giêng, 2012, 05:13:37 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/705k_13.jpg)

Chú thích

Các thông số kỹ - chiến thuật tàu ngàm nguyên tử Đề án 705

Lượng choán nước nổi – 2310 tấn; ngầm – 3120 tấn; tốc độ trên (bề) mặt nước – 14 hải lý; ngầm – 41 hải lý; trang bị: 6 thiết bị ngư lôi 533mm; cơ số đạn: 20 ngư lôi và các tên lửa ngư lôi.

Các số trên sơ đồ:

1.Khoang ngư lôi; 2.Khoang điện máy; 3.Trạm trung tâm; 4.Khoang lò phản ứng; 5.Tổ hợp tuabin chính; 6.Khoang bánh lái và trang thiết bị khác


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 26 Tháng Giêng, 2012, 05:19:09 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/705k_03.gif)

Bố cục bên trong tàu ngầm Đề án 705

1.Các ăng ten tổ hợp thủy âm “Okean”

2.Các thiết bị ngư lôi mũi 533mm

3.Các ngư lôi dự trữ

4.Vách ngăn mui

5.Thùng nổi cứu nạn

6.Các khí tài đi động của ống nhòm tiềm vọng và ăng ten

7.Trạm trung tâm

8.Lò phản ứng hạt nhân trên chất liệu tải nhiệt kim loại lỏng

9.Khoang tổ hợp tuabin răng cưa chính

10.Trục chân vịt

11.Cánh đuôi mạn thẳng

12.Các tổ hợp động cơ hỗ trợ

13.Bánh lái chân vịt

14.Cánh đuôi mạn ngang

15.Các pin ắc quy.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Giêng, 2012, 01:54:25 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/705k_28.jpg)

Sau rất nhiều cuộc thảo luận quyết liệt với sự tham gia của các đại biểu ngành công nghiệp và Hải quân, đòng thời giao nộp Đề án hàng loạt các thay đổi căn bản, các ý kiến của tàu ngầm nguyên tử với sự hậu thuẫn của các lãnh đạo cấp cao Bộ Công nghiệp và Hải quân. Chi tiết, những người tán thành bao gồm bộ trưởng ngành Công nghiệp đóng tàu B.E.Butoma và Tư lệnh Hải quân S.G.Gorshkov.

Đề xuất kỹ thuật theo Đề án đã được chuẩn bị vào đầu năm 1960, còn 23 tháng 6 năm 1960, mệnh lệnh của Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô đã được đưa ra về sự thiết kế và đóng tàu ngầm Đề án 705. Ngày 25 tháng 5 năm 1961, xuất hiện mệnh lệnh khác, giao cho lãnh đạo khoa học và Tổng công trình sư Đề án khi xuất hiện chứng cứ đầy đủ về việc không đạt các tiêu chuẩn và nguyên tắc của ngành đóng tàu quân sự. Việc này, trong cấp độ đáng kể, đã “giải phóng những bàn tay” của các nhà thiết kế tàu ngầm mới, cho phép thể hiện thiết kế dũng cảm hơn, vượt thời gian về thực hiện các giải pháp kỹ thuật trong thiết kế tàu.

Công việc theo Đề án 705 được lãnh đạo bởi Tổng công trình sư M.G.Rusanov (năm 1977 được thay bằng V.A.Romin). Lãnh đạo chung của chương trình là Viện sĩ A.P.Aleksandrov. Giám sát viên chính từ Hải quân là V.V.Gordeev và K.I.Matrưnenko. Việc chế tạo tàu ngầm Đề án 705 trở thành, theo lời từ Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô D.F.Ystinov, chủ nhiệm công nghiệp quốc phòng – “nhiệm vụ của quốc gia”. Trong sự tham gia vào chương trình, đã thú hút những lực lượng khoa học hàng đầu, trong đó có các Viện sĩ V.A.Trapeznikov và A.G.Iosifinyan.

Khó khăn lớn hơn cả khi thiết kế tàu ngầm Đề án 705 là sự giới hạn lượng choán nước của tàu trong các giới hạn 1500… 2000 tấn và có tốc độ cao. Để đạt đến tốc độ quy định 40 hải lý khi hạn chế lượng choán nước, yêu cầu hiệu điện thế cao, có công suất máy lớn của thiết bị năng lượng. Sau khi nghiên cứu các sơ đồ thiết bị năng lượng chính khác nhau (chi tiết, nghiên cứu lò phản ứng khí (ga), đảm bảo hoạt động của tuabin khí) đã quyết định ngừng thiết bị năng lượng chính một lò phản ứng với vật tải nhiệt kim loại lỏng (ZhMT) và tăng cường các tham số hơi nước. Các tính toán đã chỉ ra rằng, thiết bị với vật tải nhiệt kim loại lỏng theo so sánh với thiết bị năng lượng chính, có lò phản ứng nước truyền thống, đảm bảo tính kinh tế với lượng choán nước 300 tấn.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Giêng, 2012, 02:16:27 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/705k_27.jpg)

Đề xuất về chế tạo một cách đặc biệt đối với tàu ngầm Đề án 705 thiết bị sản xuất hơi nước hai đường bao một lò phản ứng theo dạng thiết bị sản xuất hơi nước của Đề án 645 năm 1960 từ Phòng thiết kế - thí nghiệm “Gidropress”. Nhanh chóng đã tiếp nhận quyết định của Nhà nước về thiết kế thiết bị này. Chủ nhiệm khoa học của các công việc được giao cho Viện sĩ A.I.Leipunsky.

Đồng thời, đã thiết kế 2 loại thiết bị năng lượng nguyên tử để chọn lựa: Phòng thiết kế thí nghiệm “Gidropress” dưới sự chỉ đạo của Tổng công trình sư V.V.Steklonikov đã chế tạo BM-40/A (khối, hai ngăn, 2 đường ống dẫn hơi nước, 2 bơm tuần hoàn), còn Phòng thiết kế thí nghiệm tại Gorki dưới sự chỉ đạo của I.I.Afrikanov số 550 (khối, với sự mở rộng tuyến lưu thông đường bao thứ nhất cùng 3 ống dẫn hơi nước và 3 bơm tuần hoàn).

Trong vai trò vật liệu thân tàu, đã quyết định sử dụng hợp kim titan, được thiết kế ở Viện nghiên cứu – khoa học trung ương về luyện kim và hàn dưới sự chỉ đạo của Viện sĩ I.V.Gorưnin. Các hợp kim titan được tiếp nhận để sản xuất các phần tử khác trung cấu trúc và các hệ thống của tàu.

Đối với tàu ngầm nguyên tử Đề án 705 đã chế tạo các khí tài kỹ thuật và chiến đấu mới trên cơ sở các thành tựu khoa học và kỹ thuật sau cùng của những năm 60, có những đặc điểm về kích thước nhỏ tối ưu. Đối với việc này, để kịp thực hiện trong khuôn khổ nhiệm vụ kỹ thuật, yêu cầu rút gọn thủy thủ đoàn tàu ngầm nguyên tử đến cấp độ gần với kíp bay tương ứng của các máy bay ném bom chiến lược trong những năm 1940 – 50. Kết quả là đã tiếp nhận giải pháp mang tính cách mạng trong thời gian đó về việc chế tạo đối với tàu ngầm nguyên tử hệ thống điều khiển tự động tổng hợp. Ở Phòng thiết kế Trung ương ở xưởng mang tên Kylakov (hiện nay là Viện nghiên cứu khoa học Trung ương “Granit”) đối với tàu đã chế tạo hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu tổng hợp (BIUS) “Akkord”, cho phép tập trung toàn bộ sự điều khiển tàu ở trạm trung tâm.

Trong quá trình thiết kế, số lượng các khoang của than trong được tăng từ 3 lên 6, trong lượng choán nước cao gấp rưỡi. Số lượng thủy thủ đoàn thay đổi. Ban đầu, dự kiến rằng thủy thủ đoàn có 16 người, tuy nhiên sau đó, theo yêu cầu của Hải quân, thủy thủ đoàn tăng lên 29 (25 sỹ quan và 4 chuẩn úy Hải quân).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Giêng, 2012, 02:26:13 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/705k_21.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/705k_20.jpg)

Hình dáng thiết bị ngư lôi. Trên tàu ngầm nguyên tử Đề án 705, lần đầu tiên tiếp nhận thiết bị ngư lôi thủy – khí, đảm bảo việc bắn theo toàn bộ phạm vi độ lặn sâu.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Giêng, 2012, 02:31:46 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/705k_15.jpg)

Hình vẽ về sự bố trí cá nhân theo tình trạng chuẩn bị sẵn sàng số 2 trong trạm chỉ huy chính Đề án 705

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/705k_22.jpg)

Các khí tài hỗ trợ chuyển động


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Giêng, 2012, 02:50:52 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/705k_31.jpg)

Việc giảm thủy thủ đoàn mang theo yêu cầu nghiêm khắc hơn về độ tin cậy của trang thiết bị. Nhiệm vụ loại bỏ sự cần thiết bảo dưỡng trang thiết bị trong toàn bộ thời gian bơi đã được đặt ra.

Sự xử lý cẩn thận hình dáng khí động lực của thân tàu đã được tiến hành bởi phân nhánh khoa học Moskva thuộc Viện nghiên cứu trung ương mang tên giáo sư N.E.Zhukov dưới sự chỉ đạo của K.K.Fedyaevsky. Đã tiếp nhận hàng loạt các biện pháp theo sự giảm trường vật lý của tàu, đòng thời tăng cường độ bền theo kết quả của các giải pháp thiết kế mới và độ giảm chấn hiệu quả hơn. Đã quyết định tiếp nhận trang thiết bị điện trong dòng điện xoay chiều với tần số 400Hz (theo so sánh với 50Hz trên các tàu ngầm nguyên tử thuộc các Đề án khác của Liên Xô), đảm bảo sự cải tiến mạnh các tham số khối lượng – kích thước của trang thiết bị.

Tàu ngầm nguyên tử Đề án 705 (705-K) được sử dụng để tiêu diệt các tàu ngầm của địch khi chúng rời khỏi căn cứ, trên biển, đồng thời trên các trận địa sử dụng giả định vũ khí chống các mục tiêu trên bờ. Chúng có thể sử dụng để đối phó với các tàu nổi, đồng thời các tàu vận tải trong toàn bộ các khu vực nước biển trên đại dương, bao gồm cả Đại Tây Dương.

Tàu ngầm Đề án 705 (705-K) – hai thân, một trục. Thân, được chế tạo từu hợp kim titan, theo toàn bộ chiều dài được giới thiệu là thân xoay. Vách ngăn mui dạng “xe con” (hình dáng, kết hợp với hình dáng thân tàu, được chế tạo bởi các khí tài thủy động lực thuộc Viện nghiên cứu khoa học Trung ương). Thân trong được chia thành các vách ngăn ngang có 6 khoang không thấm nước. Khoang thứ 3, nới bố trí trạm chỉ huy chính và buồng sinh hoạt, được hạn chế bởi các vách ngăn hình cầu, được tính toán chịu được áp lực ngoài thành hoàn toàn.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Giêng, 2012, 12:11:31 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/705k_08.jpg)

Tàu ngầm (lần đầu tiên trên thế giới), được trang bị khoang nổi, sử dụng để cứu nạn đồng thời toàn bộ thủy thủ đoàn bằng khả năng “khô” khi nổi lên từ độ sâu đến giới hạn, khi ở độ nghiêng và chênh mớn nước lớn.

Thiết bị sản xuất hơi nước OK-550 (sau đó là BM-40A) công suất 150 000kW dạng một lò phản ứng. Trong vai trò vật tải nhiệt của đường bao thứ nhất đã sử dụng hợp kim chì – bitmut cùng tinh. Thiết bị tuabin hơi nước OK-7 (sau đó là OK-7K) – một trục, cấu trúc khối. Tổ hợp tuabin răng cưa được lắp trên hệ thống giảm chấn mới, còn các máy móc gây tiếng ồn nhiều nhất được lắp trên các hệ thống giảm sóc khí nén. Trên tàu đã lắp hai tổ hợp động cơ hỗ trợ (2x100kW), bố trí trong các nôi kín trong hệ thống cân bằng ngang đầu mút và các trục bánh lái tiếp tế với các bánh lái quay. Có 2 máy phát điện đồng bộ xoay chiều 3 pha (2x1500kW, 400W, lần đầu tiên tiếp nhận dòng điện xoay chiều tần số 400Hz). Mỗi máy phát điện đảm bảo năng lượng của toàn bộ các khí tài tiêu thụ điện mang theo. Thiết bị máy phát điện diesel hỗ trợ (500kW, 300V) và pin ắc quy từ 112 phần tử cũng đã được lắp.

Sự điều khiển tàu ngầm, các khí tàu chiến đấu và kỹ thuật của tàu được thực hiện từ trạm chỉ huy chính. Sự tự động hóa tổ hợp đảm bảo giải quyết nhiệm vụ tiếp nhận vũ khí, thu nhận và xử lý thông tin chiến thuật, sự cơ động chiến đấu, tái tạo lại tình trạng bên ngoài, lái tàu, điều khiển từ xa và tự động các khí tài kỹ thuật vào di chuyển.

Sự cảnh giác của phiên gác thường xuyên đối với các bộ phận máy móc riêng và khí tài không được dự tính; theo trạng thái sẵn sàng chiến đấu số 1 và số 2 được tiến hành chỉ theo chu kỳ xoay vòng thủy thủ đoàn. Sự thay thế tác chiến trong tình trạng thật bị hạn chế bởi 8 thành viên thủy thủ đoàn.

Đối với sự điều khiển lập trình, tự động và bằng tay khi di chuyển và sự cân bằng của tàu ngầm nguyên tử theo hành trình vòng, đồng thời theo độ lặn sâu (khi di chuyển và không di chuyển) được phục vụ bằng hệ thống “Bocsit”. Độ chênh mớn nước khi di chuyển được thực hiện khi có sự hỗ trợ của hệ thống “Tan”. Sự điều khiển và kiểm tra các công việc của thiết bị năng lượng, đồng thời hệ thống điện năng lượng và hệ thống tổng quát của tàu và thiết bị được đảm bảo bằng hệ thống “Ritm”.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Giêng, 2012, 12:25:46 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/705k_33.jpg)

Tàu ngầm cũng đồng thời được trang bị:

+ hệ thống điều khiển thông tin chiến đấu “Akkord”

+ tổ hợp các khí tài thủy âm tự động hóa “Okean”

+ tổ hợp các khí tài đạo hàng tự trị tự động hóa “Sozh”

+ hệ thống điều khiển vũ khí tự động “Sargan”

+ hệ thống tự động kiểm tra phóng xạ “Alfa”

+ tổ hợp tự động hóa các khí tài liên lạc vô tuyến “Molnia”

+ tổ hợp quang học – vô tuyến TV-1

+ đài ra đa định vị “Bukhta”

+ ống nhòm tiềm vọng tổng hợp “Signal”

+ hệ thống thời gian thống nhất “Platan”

+ hệ thống thông tin liên lạc trong tàu “Ellipsoid”

Các khoang vệ sinh, y tế và cho người ở được bố trí ở boong giữa của khoang số 3, khoang bếp và khoang lương thực ở boong dưới của cùng khoang. Buồng sỹ quan cho phép tiếp nhận đồng thời tiếp nhận lương thực cho 12 người trong thủy thủ đoàn.

Vũ khí ngư lôi gồm có 6 thiết bị ngư lôi thủy lực 533mm, bố trí ở bộ phận mũi thân, với các khí tài nạp đạn thủy lực. Cơ số đạn gồm 18 ngư lôi, thay thế cho chúng có thể tiếp nhận mìn (thủy lôi).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Giêng, 2012, 12:52:49 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/705k_44.jpg)

Các tàu ngầm mới, nhận tên gọi từ các thủy thủ là “Thiết bị tự động”, còn đối với “kẻ thù tiềm tang” nhận tên gọi mã số “lớp Alfa”, nhanh chóng trở nên phổ biến ở Hạm đội. Ấn tượng mạnh được tạo thành không chỉ là những thông số cao kỷ lục của tàu ngầm mà còn là hình dáng hiện đại của tàu ngầm.

Có tốc độ lớn, so sánh với tốc độ của các ngư lôi chống ngầm và tổng hợp của các “đối thủ tiềm tàng”, tàu ngầm nguyên tử Đề án 705-K, nhờ sự đặc biệt của thiết bị năng lượng (không yêu cầu sự chuyển tiếp đặc biệt khi tăng cường các tham số của thiết bị năng lượng chính khi tăng tốc độ, cũng như trên các tàu với các lò phản ứng nước – nước), có thể phát triển tốc độ hoàn toàn trong thời gian tính bằng phút, gần như là các tính năng lấy đà của “máy bay”. Tốc độ lớn cho phép ghé vào phạm vi “bóng tôi” của bất kỳ tàu nổi hay tàu ngầm nào, thậm chí nếu (trong trường hợp) “Alfa” bị phát hiện một cách sơ bộ bởi các khí tài thủy âm của địch.

Theo sự hồi tưởng của Chuẩn đô đốc A.S.Bogatưrev, đã từng là chỉ huy “K-123”, tàu có thể triển khai trên thực tế ở “khoảng bãi nhỏ” – đặc biệt quan trọng khi giám sát chủ động “kẻ địch” của các tàu với nhau. “Alfa” không cho phép các tàu khác tiếp cận vào góc vòng mạn của mình (trong đó có khu vực “bóng râm” thủy âm), đặc biệt thuận lợi đối với việc theo dõi sự giám sát ngầm và thực hiện cuộc tấn công ngư lôi một cách bất ngờ.

Các tính năng tốc độ và cơ động cao của tàu ngầm nguyên tử Đề án 705 cho phép xử lý khả năng cơ động trốn tránh hiệu quả khỏi các ngư lôi bắn ra từ phía tàu địch từ cuộc phản kích sau đó. Chi tiết, tàu ngầm có thể thực hiện cơ động trên tốc độ cao ở góc 180 độ và sau 42 giây di chuyển theo hướng ngược lại. Theo lời của các chỉ huy tàu ngầm nguyên tử Đề án 705 A.Y.Abbasov và A.F.Zagryadsky, sự cơ động này cho phép ở tổ hợp tốc độ tính tiến đến tốc độ hoàn toàn và thực hiện đồng thời sự di chuyển với sự thay đổi độ lặn sâu bắt buộc sự tự động hóa sau nó trong chế độ tìm phương tiếng ồn của địch bị mất mục tiêu, còn tàu ngầm nguyên tử Liên Xô “theo tốc độ máy bay” tiếp cận tới “phần đuôi” của chúng.

Các hình dáng thân tày ngầm đảm bảo sự phản xạ tối thiểu các tín hiệu thủy âm, rằng rất khó tấn công “Alfa” đối với tàu địch, sử dụng đài thủy âm trong chế độ chủ động. Độ lặn sâu lớn gây khó khăn cho việc sử dụng các khí tài chống ngầm thường tấn công tàu ngầm nguyên tử “Alfa”.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Giêng, 2012, 01:34:36 pm
Các biến thể

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/705k_07.jpg)

Sau khi khác thác sử dụng không thành công tàu ngầm đầu tiên trong Đề án 705 “K-64”, trong Đề án đã có một số sự hoàn thiện. Chi tiết, thay cho thiết bị sản xuất hơi nước OK-550, trong Đề án “hiệu chỉnh” 705-K (số hiệu “Lira”) đã tiếp nhận thiết bị sản xuất hơi nước BM-40A. Thiết bị này có độ tin cậy cao hơn. Theo Đề án thay đổi, tàu ngầm đã được đóng loạt: 3 ở Severodvinsk và 3 ở Leningrad đến năm 1981.

Chương trình đóng tàu

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/705k_09.jpg)

Việc đóng tàu ngầm thí nghiệm Đề án 705 (“K-64”) với thiết bị năng lượng nguyên tử OK-550 – phải trở thành nguyên mẫu để đóng loạt tàu ngầm nguyên tử chống ngầm, được bắt đầu ở nhà triền xưởng Tư lệnh Hải quân tại Leningrad ngày 2 tháng 6 năm 1968. Ngày 22 tháng 4 năm 1969, tàu được hạ thủy. Cuối năm 1971, tàu được đưa tới căn cứ ở Zapadnaia Litsa và 31 tháng 12 năm 1971 đã gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc, trong biên chế phân hạm đội số 1, sư đoàn tàu ngầm số 3.

Tuy nhiên, tàu ngầm đã được khai thác sử dụng không thành công. Trong giai đoạn neo đậu thí nghiệm đã bị hỏng một trong số các bản lề của đường bao lò phản ứng. Trong giai đoạn bắt đầu khai thác sử dụng đã hỏng bản lề thứ 2. Đã xuất hiện sự nứt thân titan hàn. Mặc dù vậy, năm 1972, nhiệm vụ số 1 đã được đưa ra. Khi chuẩn bị ra biển để xử lý nhiệm vụ thường kỳ số 2 đã bắt đầu quá trình động cức vật mang nhiệt của đường bao thứ nhất. Tất cả các phương pháp theo sự ngăn ngừa tai nạn đã không có kết quả. Kết quả là vật tải nhiệt bị đông cứng và lò phản ứng bị tắt. Ngày 19 tháng 8 năm 1974, “K-64” bị loại khỏi biên chế chiến đấu và sau đó quay trở lại bệ đỡ để sử dụng cho các mục đích huấn luyện và thí nghiệm.

Trước đó, năm 1972 đã có quyết định về việc dừng các công việc tiếp theo về tàu ngầm, đã được khởi công trong thời gia đó đến khi làm rõ và khắc phục các nguyên nhân bị hỏng của đường bao thứ nhất trên lò phản ứng. Việc khai thác sử dụng tàu đầu tiên không thành công đã kéo dài thời gian hoạt động của chương trình. Tuy nhiên, không dẫn tới việc dừng chương trình. Ở Severodvinsk và Leningrad đã bắt đầu các công việc đóng loạt 6 tàu theo Đề án 705-K (“Lira”).

Tàu đầu tiên theo Đề án 705-K “K-123” được khởi công ở xưởng tại Severodvinsk năm 1967. Tháng 12 năm 1977, sau khi hoàn thành các thí nghiệm xưởng và cấp Nhà nước, tàu ngầm “K-123” đã bắt đầu xử lý các nhiệm vụ định kỳ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu trong biên chế các lực lược thường trực của Hạm đội Phương Bắc. Năm 1984, vì nắm bắt thành công tàu ngầm mới một cách nguyên tắc, chỉ huy tàu – thuyền trưởng số 2 A.Ch.Abbasov – được tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô, còn A.S.Puskin (chỉ huy tàu “K-64”) được tặng Huân chương Lenin.

Tàu ngầm thứ hai thuộc Đề án 705-K được đóng từ năm 1968 đến 1978; tàu thứ 3 – từ năm 1969 đến 1978; tàu thứ 4 – từ 1972 đến 1979; tàu thứ 5 – từ 1972 đến 1981 và tàu thứ 6 – từ năm 1975 đến 1981. Tàu cuối cùng – thứ 7 trong loạt (nếu tính cả tàu thí nghiệm đầu tiên – là thứ 8 ) đã bị tháo dỡ trên sân đóng tàu.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Giêng, 2012, 01:41:50 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/705k_16.jpg)

1 – Các bàn điều khiển di chuyển và hệ thống chung của tàu

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/705k_17.jpg)

2 – Các bàn điều  của chỉ huy, vũ khí và thông tin

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/705k_18.jpg)

3 – Các bàn điều khiển thông tin liên lạc vô tuyến và trinh sát vô tuyến

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/705k_19.jpg)

4 – Bàn điều khiển hoa tiêu


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 29 Tháng Giêng, 2012, 12:49:17 pm
Tình hình đến năm 2005

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/705k_45.jpg)

Tàu đầu tiên trong Đề án 705-K gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc 17 tháng 2 năm 1978. Các tàu còn lại gia nhập biên chế từ 1978 đến năm 1981 đồng thời vào Hạm đội Phương Bắc. Đến tháng 7 năm 1977, các tàu ngầm lớp làu được phân loại thành phân lớp tàu ngầm tuần dương.

Trong quá trình khai thác sử dụng, các tàu ngầm Đề án 705 đã xuất hiện những nhược điểm thực tế, ngăn cản việc sử dụng chúng có hiệu quả. Chi tiết, xuất hiện những khó khăn nghiêm trọng với sự đảm bảo của căn cứ (do sự cần thiết duy trì thường xuyên đường bao thứ nhất của lò phản ứng trong tình trạng nóng). Cần thiết thực hiện những thao tác thường xuyên đặc biệt theo ngăn ngừa sự oxi hóa hợp kim – vật tải nhiệt, kiểm tra thường xuyên vì tình trạng của nó và tái tạo theo chu kỳ (khử oxit). Nhiều câu hỏi về khai thác sử dụng đã được đặt ra và không được giải quyết. Chi tiết, trên thực tế, không thực hiện thành công ý kiến thành lập 2 thủy thủ đoàn tàu ngầm nguyên tử “trên biển” và “trên bờ”, đảm bảo sự khai thác sử dụng và bảo dưỡng tàu ngầm nguyên tử khi nằm ở căn cứ. Kết quả là số phận của “Alfa”, mặc dù trên chúng có những ưu điểm tổng hợp. Cuộc cải tổ “lừng danh” đã mang lại “hoàng hôn” cho tàu ngầm mà kết quả của nó là việc mất nguồn tài chính dành cho các lực lượng vũ trang.

“K-123” đi vào lịch sử như một trong những tàu ngầm được đại tu kéo dài nhất trong lịch sử - 9 năm: từ tháng 10 năm 1983 đến tháng 8 năm 1992. Tháng 7 năm 1997, tàu bị loại khỏi biên chế Hải quân. Các tàu trong lớp “Alfa” còn lại bị loại khỏi biên chế sớm hơn rất nhiều – năm 1990.

Điểm đáng chú ý là trong 20 năm khai thác sử dụng, trên các tàu thuộc Đề án này, trong các vụ tia nạn, không có bất kỳ người nào hy sinh.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 29 Tháng Giêng, 2012, 01:00:23 pm
Tóm tắt lịch sử phục vụ

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/705k_43.jpg)

+ K-64 (số hiệu xưởng 900); 16 tháng 10 năm 1962 ghi tên vào danh sách các tàu Hải quân; 2 tháng 6 năm 1968 khởi công ở sân đóng tàu xưởng Tư lệnh Hải quân tại Leningrad; hạ thủy 22 tháng 4 năm 1969; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1971 và tiếp nhận vào biên chế Hải quân trong vai trò khai thác sử dụng thí nghiệm; từ 11 tháng 2 năm 1966 gia nhập biên chế căn cứ Hải quân Leningrad; 15 tháng 10 năm 1970 ghi tên vào biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1972, kết quả của tai nạn trong lò phản ứng và sự đông cứng vật tải nhiệt, việc khai thác sử dụng tàu ngầm bị dừng lại; 19 tháng 8 năm 1974 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và quay trở lại giá để sử dụng trong các mục đích huấn luyện và thí nghiệm, khoang lò phản ứng bị cắt; 9 tháng 2 năm 1978 bị loại khỏi biên chế Hải quân và ban giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; 31 tháng 12 năm 1978, thủy thủ đoàn bị giải tán.

+ K-123 (số hiệu xưởng 105); từ 3 tháng 6 năm 1992 là B-123; 16 tháng 10 năm 1962 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; 29 tháng 12 năm 1967 được khởi công ở xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc tại Severodvinskl hạ thủy 4 tháng 4 năm 1976; gia nhập biên chế 12 tháng 12 năm 1977 và 17 tháng 2 năm 1978 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; đến 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; 3 tháng 6 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử loại lớn; 8 tháng 4 năm 1982 đã xảy ra tại nạn với sự cố vật tải nhiệt của đường bao thứ nhất trong khoang và lây lan phóng xạ; từ 6 tháng 10 năm 1983 đến 27 tháng 8 năm 1992 đã trải qua đại tu ở xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc với sự thay thế khoang lò phản ứng; 31 tháng 7 năm 1996 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 29 Tháng Giêng, 2012, 01:14:40 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/705k_46.jpg)

+ K-316 (số hiệu xưởng 905, sau đó là 01675); 3 tháng 11 năm 1966 ghi tên vào danh sách các tàu Hải quân; 26 tháng 4 năm 1969 khởi công ở sân đóng tàu xưởng Tư lệnh Hải quân tại Leningrad; hạ thủy 25 tháng 7 năm 1974; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1978 và 23 tháng 11 năm 1978 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; đến 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; 19 tháng 4 năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân và đưa đến cơ sở khác để tháo dỡ.

+ K-373 (số hiệu xưởng 910, sau đó là 01680); 27 tháng 5 năm 1971 ghi tên vào danh sách các tàu Hải quân; 26 tháng 6 năm 1972, khởi công ở sân đóng tàu xưởng Tư lệnh Hải quân tại Leningrad; hạ thủy 19 tháng 4 năm 1978; gia nhập biên chế 29 tháng 12 năm 1979 và 12 tháng 1 năm 1980 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; đến 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; 8 tháng 12 năm 1989 được đưa vào xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc để đại tu; 19 tháng 4 năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân và đưa đến cơ sở khác để tháo dỡ.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 29 Tháng Giêng, 2012, 01:29:18 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/705k_41.jpg)

+ K-432 (số hiệu xưởng 106); 12 tháng 1 năm 1968 ghi tên vào danh sách các tàu Hải quân và 12 tháng 11 năm 1968 khởi công ở xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc tại Severodvinsk; hạ thủy 3 tháng 11 năm 1977; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1978 và 12 tháng 3 năm 1979 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; đến 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; 6 đến 12 tháng 6 năm 1980 đã hoàn thành việc bơi dưới lớp băng ở biển Barents với mục đích tiến hành các công việc thủy văn và địa vật lý, đòng thời các thí nghiệm theo chương trình “Aldan-MSP”; 19 tháng 4 năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ.

+ K-463 (số hiệu xưởng 915, sau đó là 01685); 29 thnags 8 năm 1974 ghi tên vào danh sách các tàu Hải quân và 26 tháng 6 năm 1975 khởi công ở sân đóng tàu Tư lệnh Hải quân tại Leningrad; hạ thủy 31 tháng 3 năm 1981; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1981 và 9 tháng 2 năm 1982 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; đến 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; 19 tháng 4 năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân và đưa đến cơ sở khác để tháo dỡ.

+ K-493 (số hiệu xưởng 107); 21 tháng 2 năm 1972 khởi công ở xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc tại Severodvinsk; 3 tháng 12 năm 1973 ghi tên vào danh sách các tàu Hải quân; hạ thủy 21 tháng 9 năm 1980; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1981; 23 tháng 11 năm 1981 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; 19 tháng 4 năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân và đưa đến cơ sở khác để tháo dỡ.

+ Thân tàu thứ 8 (số hiệu xưởng 930); khởi công ở sân đóng tàu Tư lệnh Hải quân tại Leningrad; việc đóng tàu nhanh chóng bị dừng lại và tháo dỡ lấy kim loại.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 29 Tháng Giêng, 2012, 01:37:09 pm
Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ nổi: 2310

+ ngầm: 3120

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 81,4 (-)

+ chiều rộng nhất (theo các bộ phận cân bằng): 10 (13,5)

+ lượng mớn nước theo vạch mớn nước thiết kế: 7,6

Thiết bị năng lượng chính: nguyên tử

+ 1 lò phản ứng nguyên tử trên vật tải nhiệt lỏng, công suất, mW: 150

+ 1 thiết bị sản xuất hơi nước BM-40A

+ 1 thiết bị tuabin hơi nước OK-7K, 1 thiết bị tuabin răng cưa chính, công suất, sức ngựa (kW): 40 000 (29 400)

+ 2 máy phát điện tuabin, công suất, kW: 2x1500

+ 1 máy phát điện diesel, công suất, kW: 500

+ 2 động cơ điện chính dự bị, công suất, kW: 2x100

1 trục; 1 bánh lái chân vịt 5 cánh; 2 động cơ chân vịt bổ sung (dự bị)

Tốc độ, hải lý

+ nổi: 14

+ ngầm: 41

Độ lặn sâu, mét

+ làm việc hiệu quả: 400

+ giới hạn: 600

Thời gian hoạt động: 50 ngày

Thủy thủ đoàn (sỹ quan): 32 (31).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 29 Tháng Giêng, 2012, 01:51:44 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671_40.jpg)

Trang bị vũ khí

+ thiết bị ngư lôi 533mm: 6 (mũi)

+ các ngư lôi 533mm: 18

Mìn: có thể mang mìn thay cho bộ phận ngư lôi: 36

Trang bị vô tuyến điện

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Akkord”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: “Chibis” (Snoop Tray)

Đài thủy âm

+ GAK “Okean” (Shark Teeth; Mouse Roar)

+ ShPS “Enisei”

+ GAS “Zhgut”, “Rosa”, “Luch”, “Vint”, “Tissa”

Các khí tài tác chiến điện tử: (Brick Group; Park Lamp D/F)

Các khí tài áp chế thủy âm: thay cho bộ phận ngư lôi

Tổ hợp đạo hàng

+ “Sozh”

+ Code Eye

+ INS

Tổ hợp thông tin liên lạc vô tuyến

+ “Molnia” (Pert Spring)

+ ăng ten lai

+ các ăng ten cao tần và siêu cao tần

+ đài thông tin liên lạc âm thanh ngầm

Đài ra đa định vị hội thoại nói: -


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Giêng, 2012, 02:43:27 pm
Đề án 671-RTM “Shuka” (“Cá măng” – lớp Victor-III)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671rtm_11.jpg)

Tổng số tàu đã đóng: 26+1.

Các biến thể:

+ 671-RTM “Shuka” – loạt tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ 3 với tổ hợp thủy âm mới trên cơ sở Đề án 671-RT (1977)

+ 671-RTMK – loạt tàu ngầm nguyên tử nhận vũ khí tên lửa chiến lược “Granat”.

Song song với sự triển khai các công việc theo sự chế tạo một cách nguyên tắc các tàu ngầm nguyên tử mới Đề án 945 và 971, ở Liên Xô đã bắt đầu tiến hành thí nghiệm rất thành công việc nâng thiết kế đã không còn sử dụng thuộc các Đề án 671/671-RT. Trên cơ sở Đề án nâng cấp 671-RTM (mã số “Shuka”) đã tiến hành nghiên cứu theo sự phân phối thế hệ mới trang bị khí tài – tổ hợp thủy âm công suất mạnh, tổ hợp đạo hàng, hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu, tổ hợp tự động hóa các khí tài liên lạc vô tuyến, các khí tài tổ hợp trinh sát, đồng thời các phương pháp làm giảm sự lộ ngụy trang của tàu. Thực tế, Đề án 671-RTM mới, đồng thờ với tàu ngầm nguyên tử tuần dương mang tên lửa chiến lược Đề án 667-BDRM là sự “vận hành trơn tru” từ tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ 2 sang thế hệ thứ 3.

Việc thiết kế được tiến hành ở Phòng thiết kế số 143, Tổng công trình sư của Đề án 671-RTM là G.N.Chernưshev (cho đến thời điểm các tàu ngầm Đề án 671 và Đề án 671-RT), năm 1984, R.A.Shmakov thay thế ông. Giám sát viên chính từ Hải quân là Thuyền trưởng cấp 2 G.V.Nikolaev.

Một trong số các phần tử quan trọng nhất trong trang bị của tàu ngầm nguyên tử nâng cấp phải là tổ hợp tên lửa chống ngầm “Shkval” mà việc thiết kế được bắt đầu theo sự tương đồng với Mệnh lệnh năm 1960. Trong thành phần của tổ hợp gốm có tên lửa siêu thanh phóng trực tiếp dưới nước tốc độ 200 hải lý (tầm xa – 11km). Việc này đạt được do việc sử dụng động cơ, hoạt động trên nhiên liệu phản ứng nước, đồng thời do sự tính toán hoạt động của đạn trong lỗ hổng khí, đảm bảo sự tối thiểu hóa sức cản thủy lực. Việc điều khiển tên lửa trang bị đầu đạn hạt nhân, được thực hiện nhờ hệ thống quán tính, không nhạy cảm với các dải nhiễu.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Giêng, 2012, 02:44:20 pm
Các bản vẽ tàu ngầm nguyên tử Đề án 671-RTM:

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671rtm_draw1.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671rtm_draw3.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671rtm_draw21.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Giêng, 2012, 02:48:40 pm
Bản vẽ các khí tài di động của tàu ngầm nguyên tử Đề án 671-RTM

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671rtm_draw2.jpg)

Hình dáng bên ngoài và sự bố trí cơ số đạn trên tàu ngầm nguyên tử Đề án 671-RTM

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671rtm_01.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Giêng, 2012, 03:24:46 pm
Lần bắn đầu tiên của tên lửa phóng dưới nước được tiến hành ở hồ Issưk-Kul năm 1964, ngày 29 tháng 11 năm 1977, tổ hợp VA-111 “Shkval” với tên lửa M-5 được tiếp nhận vào trang bị Hải quân. Đáng chú ý, rằng tổ hợp hiệu quả cao tương tự, có xác xuất tiêu diệt mục tiêu gần như tuyệt đối, có tầm xa tương tự ở nước ngoài cho đến thời điểm này vẫn chưa có.

Việc chế tạo ở Liên Xô tàu ngầm nguyên tử Đề án 671-RTM thực tế cùng với ở Mỹ bắt đầu thực hiện chương trình đóng tàu ngầm nguyên tử đa năng thế hệ thứ 3 lớp SSN-688 – lớp tàu ngầm có số lượng lớn nhất trên thế giới (năm 1996, Hải quân Mỹ đã nhận tàu ngầm cuối cùng – thứ 62 trong lớp), trang bị tổ hợp thủy âm mạnh AN/BQQ-5. Tàu đầu tiên trong lớp – “Los Angeles” – gia nhập biên chế Hải quân năm 1976. CÁc tàu ngầm mới của Mỹ, so với trước đó, vượt trội các tàu ngầm cùng loại của Liên Xô về sự ngụy trang và các tính năng của tổ hợp thủy âm. Tuy nhiên sự đột phá này, theo sự công nhận của chính người Mỹ, là sự giản ước đáng kể và không hơn tính chất “chính kịch” trước đó. Tới thời gian đó, các tàu ngầm nguyên tử Mỹ thực tế so sah được với các tàu ngầm Liên Xô về tốc độ tối đa dưới nước (mặc dù thua kém một số tham số về độ lặn sâu). Tới thời điếm này, các tàu ngầm “Cá măng” có tính cơ động và sức sống chiến đấu tốt hơn. Chúng có một số điểm vượt trội về vũ khí. Do kết quả tính toán cấp độ cao của sự tự động hóa phức hợp của tàu ngầm nguyên tử Đề án 671-RTM có thủy thủ đoàn ít hơn đáng kể so với “Los Angeles”, cho phép tạo trên tàu điều kiện sống tốt hơn. Tuy nhiên theo tổng thể, theo các đánh giá của một số chuyên gia, các tàu ngầm Đề án 671-RTM (mang tên gọi lớp Victory-III ở phương Tây) và SSN-688 là các tàu ngầm có giá trị tương đương.

Theo thiết kế, Đề án 671-RTM, cũng như các tàu trước thuộc lớp Đề án 671, là hai thân. Thiết kế thân ngoài được thiết kế từ theo ít từ tính. Trên thân ngoài sử dụng lớp phủ chống thủy âm ít từ tính và cao su cách âm. Thân trong gồm có các hình trụ đường kính khác nhau, liên kết bằng các miếng đệm hình nón. Khi chế tạo thân trong sử dụng thép AK-29, độ dày các tấm thép 35mm. Các vách ngăn không thấm nước bằng thép bên trong được tính toán chịu áp lực 10kg lực/cm2. Chúng phân chia thân trong thành 8 khoang:

1 – thiết bị ngư lôi và cơ số đạn, khoang cho người ở và lương thực

2 – buồng, buồng của sĩ quan và nhà ăn cho hạ sĩ quan và thành viên thủy thủ đoàn, bếp ăn

3 – trạm trung tâm, khoang thực phẩn và các máy móc hỗ trợ

4 – lò phản ứng

5 – khối tuabin răng cưa chính và máy phát điện tuabin tự động, thiết bị cất nước mặn và trạm thiết bị năng lượng

6 – máy nén khí, thiết bị làm lạnh bằng máy phun hơi nước, bộ đổi tần PR-501-2

7 – khoang cho người sống, máy phát điện-diezel

8 – các động cơ điện bánh lái, các bộ dẫn động tay lái, bếp, trạm hóa học.

Các bánh lái mũi ngang của tàu được chế tạo từ titan, chúng được thực hiện bằng cách gập và được bố trí trong bộ phận trước của thân. Cánh đuôi mạn tàu hình chữ thập (dấu cộng), trên tay lái thẳng cao lắp mũ chụp cho ăng ten lai của đài thủy âm. Vách ngăn các hầm của khí tài di động được chế tạo từ nhôm. Hình dáng mũ chụp mang lại cho nó kiểu “ô tô con”.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Giêng, 2012, 03:51:14 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671rtm_09.jpg)

Thiết bị năng lượng chính của tàu (công suất trên trục là 31 000 sức ngựa) thực tế là tương đồng với thiết bị năng lượng chính trên tàu ngầm nguyên tử thuộc các Đề án 671-RT và 671: 2 lò phản ứng nước – nước kiểu VM-4 công suất nóng 72mW và 4 máy phát điện hơi nước PG-4T, một tổ hợp tuabin răng cưa 615. Trong hệ thống năng lượng điện của tàu gồm có 2 máy phát điện tuabin tự động OK-2 công suất 2000kW, hoạt động trên dòng điện 1 xoay chiều hiệu điện thế 380V, 50Hz. Tàu đồng thời có máy phát điện – diesel công suất 460kW, trong trường hợp làm lạnh bắt buộc của thiết bị sản xuất hơi nước đảm bảo sự di chuyển ở vị tri tiềm vọng ngầm dưới các động cơ điện chân vịt hoặc nạp điện các pin ắc quy.

Trong vai trò khí tài di chuyển dự bị (cũng như trên các lớp tàu ngầm trước) có 2 động cơ điện 1 chiều PG-138 công suất mỗi động cơ 275 sức ngựa. Mỗi động cơ, được bố trí trên cánh đuôi đứng. Chân vịt hai cánh đóng vai trò dẫn động. Trong vai trò động cơ chính sử dụng chân vit 7 cánh đường kính lớn vòng quay thấp (290 vòng/phút). Trong vị trí ngầm, tàu đạt tốc độ tối đa 31 hải lý, ở vị trí nổi – 10 hải lý.

Tổ hợp bố sung được tiếp nhận nhằm tăng cường sự che phủ cho tàu ngầm nguyên tử do kết quả áp dụng một cách nguyên tắc các giải pháp mới theo sự giảm chân, sự mở các máy móc và cấu trúc. Thiết bị tuabin răng cưa và các máy phát điện tuabin tự đọng với các máy móc hỗ trợ được lắp trong khung chung trong tổ hợp duy nhất với bộ giảm chấn hai tầng hiệu quả cao: các bộ giảm chấn được sử dụng khi cố định các thiết bị trên khung, còn khung được cách ly từ thân bằng các bộ giảm chấn khí nén sợi cao su, tạo thành tầng cách ly thứ 2. Tàu được nhận khí tài giảm từ tính, gây khó khăn cho việc phát hiện tàu bằng từ kế hàng không.

Ban đầu, trên các tàu ngầm nguyên tử Đề án 671-RTM dự kiến lắp tổ hợp thủy âm “Skat-M” (sự ghép bộ nhỏ) hoặc tổ hợp thủy âm “Skat-B” (sự ghép bộ lớn). Sự khác biệt của chúng là kích thước của các ăng ten chính, bằng sự thay đổi số lượng các trụ chống ở trong thân trong và trên ra giới tải trọng trên tàu. Trong cả hai tổ hợp, ăng ten chính được lắp trong hộp hình trụ, bên trong đó bố trí thiết bị xử lý thông tin sơ cấp. Cuối cùng, ở Phòng thiết kế đã quyết định dừng lại ở phiên bản mang tính “thỏa hiệp” – tổ hợp thủy âm MGK-500 “Skat-KS”.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 31 Tháng Giêng, 2012, 02:25:12 pm
Tổ hợp thủy âm “Skat-KS” đảm bảo phát hiện và phân loại mục tiêu, đồng thời theo dõi tự động trong sự tìm phương theo tiếng ồn trong các phạm vi tần số âm thanh và hạ âm. Tổ hợp cho phép phát hiện mục tiêu nhờ  sự tìm phương theo tiếng vọng với sự đo khoảng cách tới chúng và cung cấp các thông tin gốc đối với sự chỉ thị mục tiêu cho vũ khí ngư lôi. Theo các khả năng của mình, tổ hợp “Skat-KS” vượt trội gấp 3 lần các tổ hợp thủy âm thế hệ trước và gần với các tổ hợp của Mỹ (mặc dù kém các tổ hợp đó theo các thông số khối lượng – kích thước). Tầm xa phát hiện mục tiêu tối đa trong các tình trạng thủy âm tiêu chuẩn là 230km. Các máy thu tiếng ồn mang theo đã được tiếp nhận (máy dò âm dưới nước), làm việc trong chế độ thụ động, đồng thời ăng ten hạ âm lai kéo dài, trong dạng thu gọn được bố trí trong thùng hình cầu đặc biệt, bố trí trên cánh đuôi đứng của tàu ngầm. Phiên bản này, sự bố trí ăng ten lai kéo dài dẻo bắt buộc là thiết kế một trục của phần mạn tàu ngầm nguyên tử, loại bỏ thiết bị ăng ten trong thân trong hoặc trên bộ phận cân bằng, cũng như trên các tàu ngầm hai trục.

Ngoài ra, tàu ngầm Đề án 671-RTM trang bị các khí tài phi thủy âm phát hiện mục tiêu – đài phát hiện mục tiêu theo vết rẽ nước), đài cảm biến được bố trí trên vách ngăn mui. Đài đảm bảo phát hiện các tàu ngầm và tàu địch theo sự bất thường từ vết rẽ nước.

Tổ hợp đạo hàng “Medveditsa-671-RTM” đảm bảo sự xử lý tự ddoognj liên tục các tọa độ vị trí, góc vòng, tốc độ tương đối của nước và đất, các góc lắc bên và sống tàu, đồng thời sự truyền tải tự động của các tham số này tới các hệ thống khác của tàu. Tổ hợp này được lắp trên tàu đầu tiên K-524 và sau khi được tiếp nhận vào trang bị năm 1980, chúng được trang bị trên toàn bộ các tàu ngầm nguyên tử Đề án 671-RTM.

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu “Omnibus” thực hiện sự thu tự động, xử lý và phản ánh trực quan thông tin, đảm bảo sự tiếp nhận các giải pháp cơ động, việc sử dụng vũ khí chiến đấu, đồng thời điểu khiển bắn ngư lôi và tên lửa.

Tàu được trang bị tổ hợp thông tin liên lạc tự động hóa mới “Molnia-L” với hệ thống thông tin liên lạc vũ trụ “Tsunami-B”, đồng thời tổ hợp trinh sát đặc biệt.

Trang bị của tàu ngầm nguyên tử Đề án 671-RTM gồm có 4 thiết bị ngư lôi 533mm và 2 thiết bị ngư lôi 650mm thuộc tổ hợp “Ladoga 1V-671RT” với hệ thống chuẩn bị thiết bị ngư lôi “Kalmar”. Trên các tàu ngầm nguyên tử thuộc Đề án này đã xuất hiện tổ hợp chống ngầm mới “Vodopad” và “Veter” với các tên lửa 83-R và 84-R. Ngoài ra, tàu ngầm nguyên tử có thể mang theo các loại đạn biệt kích điều khiển “Sirena” và các khí tài “đặc nhiệm”.

Việc nắm vững khai thác sử dụng các tàu ngầm Đề án 671-RTM có một số khó khăn. Nguyên nhân gồm có khả năng hoạt động của hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu “Omnibus”: đến giữa những năm 80, hệ thống này không có khả năng giải quyết hoàn toàn các nhiệm vụ của nó. Trên các tàu được đóng trước, “Omnibus” đã tiến hành khai thác sử dụng các tàu ngầm và hạn chế một cách thực tế các khả năng chiến đấu của chúng.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 31 Tháng Giêng, 2012, 03:08:46 pm
Các biến thể

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671rtm_05.jpg)

Đến thời điểm đóng 5 tàu thuộc Đề án 671-RTM (K-138, K-292, K-388, K-414 và K-448) đã được lắp bánh lái chân vịt tiếng ồn thấp được thiết kế theo sơ đồ “tiếp đôi”.

Sự hiện đại hóa quan trọng nhất được áp dụng trên các tàu ngầm Đề án 671-RTM là loại vũ khí mới – các tên lửa có cánh trước âm kích thước nhỏ chiến lược “Granat” với tầm bắn tối đa 3000km (tương tự với “Tomahawk” của Mỹ). Như là K-254 được đóng tiếp theo Đề án thay đổi 671-RTMK – với tổ hợp vũ khí được bố sung tên lửa có cánh. Trên tàu được lắp thiết bị ngư lôi bổ sung trong thượng tầng trước mui, qua đó thực hiện việc bắn tên lửa có cánh (lần phóng đầu tiên thực hiện ngày 13 tháng 11 năm 1981). Sau khi xử lý tổ hợp, them 6 thân tàu được đóng ở Leningrad: K-244, K-292, K-388, K-138, K-414 và K-448 đồng thời được đóng tiếp theo Đề án 671-RTMK, trong thành phần vũ khí gồm có các tên lửa 3M10V2. Sau đó, trong quá trình nâng cấp, các tên lửa có cánh được trang bị them trên hai tàu nữa: K-524 (năm 1986-96) và K-502 (1988-92).

Sự trang bị cho tàu ngầm nguyên tử Đề án 671-RTMK các tên lửa có cánh đã làm cho chúng trở thành các tàu ngầm đa năng, có khả năng giải quyết một loạt các nhiệm vụ trong các cuộc chiến tranh thông thường cho đến chiến tranh hạt nhân. Theo các thông số kích thước khối lượng của tên lủa có cánh “Granat”, thực tế không khác các loại ngư lôi tiêu chuẩn. Việc này cho phéo tiếp nhận chúng từ các thiết bị ngư lôi 533mm tiêu chuẩn. Bên ngoài, các tàu Đề án 671-RTMK thực tế không khác so với các tàu ngầm trước, bởi vì tất cả những sự khác biệt đều liên quan vào sự bố trí các trang thiết bị bên trong, các khí tài và hệ thống điều khiển bắn. Do kết quả của việc tăng cấp độ tự động trang bị khí tài, thủy thủ đoàn được rút gọn còn 96 người. Ngoài ra, bộ phận lớn các tàu ngầm nguyên tử Đề án 671-RTMK trang bị tổ hợp thủy âm “Skat-KS” được thay bằng tổ hợp “Skat-2M” hiện đại hơn.

Chương trình đóng tàu

Việc đóng tàu ngầm Đề án 671-RTM đã được quyết định tổ chức đồng thời ở xưởng Tư lệnh Hải quân tại Leningrad (với sự đóng tiếp sau đó ở xưởng sửa chữa tàu “Zvedochka”) và Komsomol-na-Amur (với sự đóng tiếp sau đó ở xưởng sửa chữa tàu ở Đá Lớn). Tàu đầu tiên trong Đề án  - K-524 – khởi công ở xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin năm 1977. Tổng cộng đến năm 1984, trong xưởng đã đóng 13 tàu ngầm nguyên tử (và thêm một tàu bị bỏ đóng) và cũng chừng đó tàu ở xưởng Tư lệnh Hải quân, nơi chúng được đóng đến năm 1992.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 31 Tháng Giêng, 2012, 03:56:18 pm
Tình hình đến năm 2007

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671rtm_12.jpg)

Ban đầu, các tàu ngầm đầu tiên thuộc Đề án 671-RTM đã ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như là tàu ngầm nguyên tử loại lớn, nhưng từ tháng 7 năm 1977, đã quyết định đưa chúng vào phân lớp tàu ngầm tuần dương. Tháng 6 năm 1992, toàn bộ các tàu ngầm nguyên tử Đề án 671-RTM và 671-RTMK trong Hải quân Nga được phân loại lại từ tàu ngầm tuần dương trở thành các tàu ngầm nguyên tử loại lớn cấp 1 và thay đổi các số hiệu chiến thuật “K” thành ”B”.

16 tàu ngầm nguyên tử Đề án 671-RMT(K) gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc và 10 – Hạm đội Thái Bình Dương. Trong đó, các tàu ngầm đã di chuyển theo vùng cực từ Thái Bình Dương đến biển Bắc: năm 1981, 1982 và 1983. Cuộc hành quân này do các tàu ngầm K-255, K-324 và K-218 được đóng ở Komsomol-na-Amur.

Tháng 12 năm 1983. tàu ngầm nguyên tử K-324 Đề án 671-RTM đang thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu ở bờ biển Bắc Mỹ thuộc Đại Tây Dương. Tàu được giao nhiệm vụ giám sát tàu chiến Mỹ “Maccloy” đang tiến hành thí nghiệm hệ thống quan sát ngầm mới TasTAS (Towed Array Surveillance System) với ăng ten thủy âm lai tần số thấp kéo dài. K-324 đã thành công trong việc ghi lại thông tin về các tham số hoạt động của hệ thống, đồng thời làm rõ sự tương quan đặc biệt của các tàu nổi Mỹ với các tàu ngầm và các phần tử tổ hợp tại chỗ phát hiện thủy âm tầm xa. Tuy nhiên, “Maccloy” bất ngờ rút ngắn thí nghiệm và rời khỏi căn cứ, còn K-324 nhận lệnh thay đổi khu vực bơi. Bất ngờ, trên tàu xuất hiện sự rung lắc lớn, yêu cầu kiếm tra tình trạng tuabin chính. Khi nổi lên, chỉ huy tàu K-324 đã phát hiện rằng, họ đã nhậ được “món quà bất ngờ từ chú Sam”” – trên chân vịt của tàu mắc vào 400 mét ăng ten cáp bọc theo siêu bí mật TasTAS. Có vẻ như, tàu Liên Xô, nổi lên ở khu vực bãi tập của Mỹ, nhanh chóng bị phát hiện bởi “kẻ thù tiềm tàng”. Đến sáng, ở khu vực xảy ra sự cố đã xuất hiện các tàu khu trục “Peterson” và “Nicolson”, bao vây K-324. Tình hình chỉ dịu đi khi K-324 được hỗ trợ bởi tàu Liên Xô “Apdan”, kéo tàu ngầm tới Cuba, nơi nó được sửa chữa, còn ăng ten “đen đủi” được mang về Liên Xô để nghiên cứu chi tiết.

Một trong những trang chói lọi nhất trong lịch sử các tàu ngầm Đề án 671-RTM là tham gia vào các chiến dịch lớn của Hải quân Liên xô “Aprot” và “Atrina”, được tiến hành ở Đại Tây Dương do các lực lượng thuộc sư đoàn 33 và trong các cấp độ dao động đáng kể của “kẻ thù tiềm tàng” – Mỹ - trong các khả năng của Hải quân giải quyết nhiệm vụ chống ngầm.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 31 Tháng Giêng, 2012, 07:10:20 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671rtm_28.jpg)

Ngày 29 tháng 5 năm 1985, từ Zapadnaia Litsa, có 3 tàu ngầm đồng thời rời khỏi căn cứ (K-299, K-324 và K-502 thuộc Đề án 671-RTM), đồng thời K-488 (Đề án 671-RT). Muộn hơn sau đó là K-147 (Đề án 671). Có vẻ như là, cuộc ra khởi của các tàu ngầm không thể thoát khỏi sự trinh sát của Hải quân Mỹ. Các cuộc tìm kiếm quy mô lớn đã được bắt đầu, tuy nhiên, không thu được kết quả như mong đợi. Tới thời điểm đó, các tàu ngầm nguyên tử Liên Xô, đang hoạt động một cách bí mật đã thực hiện việc giám sát chặt chẽ các tàu ngầm tên lửa Mỹ trong các khu vực tuần tra chiến đấu của chúng (chi tiết, K-324 có 3 cuộc tiếp xúc thủy âm với các tàu ngầm nguyên tử Mỹ, kéo dài tổng cộng 28 giờ), đồng thời nghiên cứu chiến thuật hoạt động chống ngầm của mãy bay Mỹ. Người Mỹ chỉ có thể thiết lập được sự tiếp xúc với K-488 chỉ khi nó đã quay về căn cứ. Chiến dịch “Aport” đã hoàn thành mùng 1 tháng 7.

Tháng 3 năm 1987, cuộc diễn tập ngắn “Atrina” đã được tiến hành, trong đó có sự tham gia của 5 tàu ngầm ngầm thuộc Đề án 671-RTM – K-244, K-255, K-298, K-299 và K-52, các hoạt động được đảm bảo bởi lực lượng máy bay của Không quân thuộc Hải quân, đồng thời hai tàu trinh sát lớp “Kolguev” trang bị đài thủy âm với ăng ten thủy âm kéo dài. Mặc dù việc các tàu ngầm rời khởi căn cứ từ Zapadnaia Litsa, người Mỹ biết rất rõ, nhưng đã bị mất dấu ở khu vực Bắc Đại Tây Dương. Một lần nữa, cuộc đi săn tàu ngầm lại được bắt đầu mà trong đí thực tế đã tiếp nhận toàn bộ lực lượng chống ngầm của Mỹ ở Đại Tây Dương – các máy bay cất cánh từ boong và căn cứ trên bộ, 6 tàu ngầm nguyên tử chống ngầm (bổ sung các tàu ngầm đã được triển khai của Hải quân Mỹ ở Đại Tây Dương, 3 cụm tàu thăm dò mạnh, đồng thời 3 tàu mới nhất trang bị khí tài quan sát thủy âm kiểu T-AGOS-1 “Stalwart”, được sử dụng để tạo thành các xung động thủy âm gây. Trong cuộc săn lung của chiến dịch còn có sự tham gia của các tàu Hải quân Anh. Mật độ lực lượng chống ngầm dày đặc đến mức, hầu như không có cơ hội để nổi lên thực hiện việc liên lạc vô tuyến hoặc lấy không khí. Mặc dù vậy, tàu ngầm nguyên tử có thể tới khu vực biển Sargassov mà không bị phát hiện, ở đó, “tấm màn chắn” Liên Xô, cuối cùng cũng bị phát hiện. Các cuộc tiếp xúc đầu tiên với các tàu ngầm Mỹ đã thực hiện thành công chỉ sau 8 ngày sau khi bắt đầu chiến dịch “Atrina”. Khi đó, tàu ngầm nguyên tử Đề án 671-RTM đã bị nhận định sai lầm là tàu ngầm nguyên tử chiến lược tuần dương và làm tăng cường các mối quan tâm của chỉ huy Hải quân Mỹ và giới lãnh đạo chính trị Hoa Kỳ (các sự kiện diễn ra trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, trong bất kỳ thời điểm nào cũng có thể trở thành “nóng”). Khi quay lại căn cứ để tách khỏi sự theo dõi của các khí tài chống ngầm, chỉ huy tàu ngầm nguyên tử đã quyết định sử dụng các khí tài bí mật chống thủy âm.

Chiến dịch “Aprot” và “Atrina” được thực hiện thành công đã củng cố thêm khẳng định, rằng Hải quân Mỹ đối với số lượng lớn tàu ngầm hiện đại của Liên Xô đang sử dụng không thể tổ chức những hoạt động hiệu quả nhằm đối phó với chúng.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 31 Tháng Giêng, 2012, 07:41:44 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671rtm_13.jpg)

Lần bơi dưới băng phức tạp nhất vào cuối năm 1985 do K-524 thực hiện. Ý định của cuộc hành quân là để đi từ Bắc Ledovitưi tới Đại Tây Dương, đi quanh Greenland từ đông bắc. Vì cuộc hành quân này, chỉ huy tàu ngầm nguyên tử được tặng danh hiệu Anh hung Liên Xô. Đi vào biển Linkon, tàu đã đi qua các vịnh hẹp và nông Robcon và Kennedi, chia cắt Greenland khỏi đất liền Grant và đất Grinnel, đi ngang qua lưu vực Kein và qua vịnh Smit, rời tới biển Baffinov và sau đó – bắc Đại Tây Dương. Hành trình diễn ra rất phức tạp và nguy hiểm. Tàu phải đi qua các bãi nông và núi băng. Trên biển Baffinov do các núi băng ở độ sâu lớn hầu như không thể di chuyển. Trong các điều kiện này, khí tài thông tin liên lạc tin cậy duy nhất là thiết bị thủy âm. Ở Đại Tây Dương, K-524 đã đối đầu với tàu sân bay Mỹ “America” và “tấn công” nó một cách bí mật. Toàn bộ cuộc hành quân kéo dài 80 ngày, 54 trong số đó dưới băng, ở độ sâu trên 150 mét.

Đầu năm 1989, tương ứng với các thỏa thuận Nga – Mỹ với các tàu ngầm nguyên tử đa năng của Hải quân Mỹ và Nga đã tháo bỏ và cất trên bờ các vũ khí trang bị đầu đạn hạt nhân. Kết quả là các tàu ngầm Đề án 671-RTM (cũng như các tàu còn lại) chỉ giữ lại tên lửa “Shkval” và tên lửa có cánh “Granat”.

Giữa những năm 190, các tàu Đề án 671-RTM lần lượt bị loại khỏi biên chế. Các tàu đầu tiên bị loại thuộc Hạm đội Thái Bình Dương là K-427, K-492 và K-412 lần lượt tổng cộng 12, 10 và 6 tàu ngầm nguyên tử Sau khi bị cháy ở khoang tuabin xảy ra năm 1994, K-305 không quay trở lại biên chế, đưa vào biên chế dự bị kỹ thuật. Sau đó, danh sách các tàu bị rút gọn và đến năm 2000, phần lớn trong số chúng bị loại khỏi biên chế.

Tuy nhiên, các “Cá măng” tiếp tục chứng tỏ chất lượng chiến đấu cao. Nói về vấn đề này, xảy ra vào mùa đông năm 1996, trong 150 dặm từ quần đảo Cambride. Ngày 29 tháng 2, sứ quán Nga ở Luân Đôn đã thông báo cho chỉ huy Hải quân Anh với yêu cầu hỗ trợ cho thủy thủ tàu ngầm nguyên tử được chuyển lên thành tàu để phẫu thuật bệnh viêm ruột thừa, sau đó, phát hiện ra bệnh viêm quanh răng (sự điều trị chỉ có thể ở bệnh viện). Rất nhanh chóng, bệnh nhân được đưa lên bờ bằng trực thăng “Links” với tàu khu trục “Glasgow”. Khi đó, báo chí Anh đã thắc mắc bởi sự kiện, rằng tới thời điểm, khi mà ở Luân Đôn đang diễn ra các cuộc đàm phán về việc sơ tán bệnh nhân, ở Bắc Đại Tây Dương, cũng ở khu vực đó nơi có tàu ngầm nguyên tử Nga, đang diễn ra cuộc tập trận chống ngầm của NATO. Tuy nhiên, tàu chỉ bị phát hiện khi nó tự nổi lên để chuyển bệnh nhân – thủy thủ cho trực thăng, nghĩa là khả năng ẩn nấp của nó rất cao – tàu ngầm nguyên tử đã thực hiện sự giám sát các lực lượng chống ngầm của NATO, trong khi vẫn không bị phát hiện. Đáng chú ý là từ “Cá măng” (“Shuka”) được tiếp nhận bởi người Anh cho các tàu ngầm hiện đại hơn (tất nhiên, êm hơn) thuộc Đề án 971.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Hai, 2012, 12:54:40 pm
Tóm tắt lịch sử phục vụ

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671rtm_14.jpg)

+ K-524, từ 11 tháng 10 năm 1982 là “60 năm Đoàn thanh niên Cộng sản Lenin”, từ 3 tháng 6 năm 1992 là B-524, từ 18 tháng 4 năm 1996 là “Zapadnaia Litsa” (số hiệu xưởng 01636); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 10 tháng 9 năm 1975; khởi cong ở xưởng Tư lệnh Hải quân tại Leningrad (số 196) 7 tháng 5 năm 1976; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; hạ thủy 31 tháng 7 năm 1977; tháng 8 năm 1977 được chuyển theo hệ thống nước nội bộ tới Severodvinsk để đóng tiếp; gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1977; 17 tháng 2 năm 1978 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1980 đã thực hiện cuộc hành quân tới vùng cực với sự thí nghiệm tổ hợp đạo hàng “Medveditsa”; năm 1981, đã làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu ở vùng cực, dành phần lớn thời gian hoạt động dưới lớp băng, kéo dài 60 ngày, nổi lên ở cực bắc, tạo thành lỗ hổng trên băng bằng cách tiếp nhận các ngư lôi chiến đấu; 16 tháng 5 năm 1982 được tặng giải thưởng của Bộ Quốc phòng Liên Xô “Vì sự quả cảm và lòng dũng cảm của chiến binh”; năm 1984, được tặng giải thưởng của Bộ Tư lệnh Hải quân theo sự huấn luyện ngư lôi; trong giai đoạn từ tháng 8 đến tháng 10 năm 1985 đã làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, bơi ngầm từ biển Bắc Ledivit tới Đại Tây Dương qua các vịnh giữa Greenland và các đảo thuộc quần đảo Candad, tới biển Baffin, tàu đã đột phá một cách bí mật qua hệ thống chống ngầm của địch và “tiến công” một cách có điều kiện tàu sân bay “America”, cuộc hành quân kéo dài 80 ngày, trong đó có 54 ngày dưới băng ở độ sâu trên 150 mét; năm 1986, được tặng giải thưởng của Bộ Tư lệnh Hải quân về huần luyện ngư lôi; trong giai đoạn từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1987, đã tham gia cuộc tập trận Hải quân “Atrina”; từ 25 tháng 5 năm 1986 đến 18 tháng 4 năm 1996 đã trải qua đại tu và nâng cấp theo Đề án 671-RTMK ở xưởng “Nerpa” ở vịnh Olenia; 3 tháng 5 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử lớn; năm 1997, được tặng giải thưởng của Bộ Tư lệnh Hải quân và huấn luyện chống ngầm; năm 2002, bị loại khỏi biên chế chiến đấu của Hải quân và đưa tới cơ sở bàn giao tháo dỡ; được gửi tới neo đậu ở Malaia Lopatka; cuối năm 2002 được kéo về vịnh Ura.

+ K-254, từ 3 tháng 6 năm 1992 là B-254 (số hiệu xưởng 01638); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 16 tháng 4 năm 1976; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; khởi công ở xưởng Tư lệnh Hải quân tại Leningrad (số 196) 24 tháng 9 năm 1977; hạ thủy 6 tháng 9 năm 1978; được đóng tiếp theo Đề án 671-RTMK; tháng 10 năm 1979 được chuyển theo hệ thống nước nội bộ tới căn cứ bàn giao “Dubrava” ở Severodvinsk, ở đó diễn ra sự trang bị tiếp tổ hợp “Granat”; 12 tháng 1 năm 1980 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; gia nhập biên chế 18 tháng 9 năm 1981; 30 tháng 11 năm 1981 đã diễn ra lần phóng đầu tiên tên lửa “Granat”; 23 tháng 8 năm 1983 đã thực hiện phóng tên lửa có cánh “Granat” từ biển Barents và hoàn thành các thí nghiệm cấp Nhà nước của tổ hợp; trong giai đoạn từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1987 đã tham gia chiến dịch của Hải quân Liên xô “Atrina”; 3 tháng 6 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử lớn; 20 tháng 7 năm 1993 được mang đi trung tu ở xưởng số 10 ở thành phố Polyarnưi; 30 tháng 5 năm 1998 do không đủ tài chính, bị loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân; bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; đưa tới neo đậu ở vịnh Pala (thành phố Polyarnưi).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Hai, 2012, 01:13:27 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671rtm_17.jpg)

+ K-502, từ 3 tháng 6 năm 1992 là B-502, từ 21 tháng 3 năm 1999 là “Volgarad” (số hiệu xưởng 01641); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 2 tháng 2 năm 1977; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; khởi công ở xưởng Tư lệnh Hải quân tại Leningrad (số 196) 23 tháng 7 năm 1979; hạ thủy 17 tháng 8 năm 1980; tháng 10 năm 1980 được mang theo hệ thống nước nội bộ tại Severodvinsk để đóng tiếp; gia nhập biên chế 21 tháng 12 năm 1980; 24 tháng 1 năm 1981 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; giai đoạn từ 29 tháng 5 đến 1 tháng 6 năm 1980 đã tham gia vào chiến dịch “Aport” của Hải quân Liên Xô hoạt động ở khu vực phía bắc dải đá ngầm Niufaunland; năm 1985, nhận giải thưởng từ Bộ Tư lệnh Hải quân về huấn luyện ngư lôi; từ 10 tháng 8 năm 1988 đến 19 tháng 3 năm 1992 đã trải qua trung tu và nâng cấp theo Đề án 671-RTMK ở xưởng “Nerpa” ở vịnh Olenia; 3 tháng 6 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử lớn; năm 1994 được tặng giải thưởng của Bộ Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; năm 1994 đã qua trung tu ở xưởng tại vịnh Zapadnaia Litsa (thành phố Zaozersk); năm 1997, được tặng giải thưởng của Bộ Tư lệnh Hải quân về huấn luyện ngư lôi; năm 2000 bị loại khỏi biên chế Hải quân  và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; đưa đến neo đậu ở vịnh Zapadnaia Litsa; năm 2002, được kéo tới vịnh Yra (Vidyaevo).

+ K-527, từ 3 tháng 6 năm 1992 là B-527 (số hiệu xưởng 01643); khởi công ở xưởng Tư lệnh Hải quân tại Leningrad (số 196) 28 tháng 9 năm 1978; hạ thủy 24 tháng 7 năm 1971; cuối năm 1981 theo hệ thống nước nội bộ ở Severodvinsk để đóng tiếp; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1981; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 3 tháng 6 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử lớn; trong giai đoạn từ năm 1992 đến 1996 đã thực hiện 8 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu dài ngày; cuối những năm 1990, bị loại khỏi biên chế chiến đấu; bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ.

+ K-298; từ 3 tháng 6 năm 1992 là B-298 (số hiệu xưởng 01645); khởi công ở xưởng Tư lệnh Hải quân tại Leningrad (số 196) 25 tháng 2 năm 1981; hạ thủy 14 tháng 7 năm 1982; cuối năm 1982 theo hệ thống nước nội bộ tới Severodvinsk để đóng tiếp; gia nhập biên chế 27 tháng 12 năm 1982; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; trong giai đoạn từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1987 tham gia vào chiến dịch “Atrina” của Hải quân Liên Xô; 3 tháng 6 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử loại lớn; cuối những năm 1990 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Hai, 2012, 01:45:16 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671rtm_22.jpg)

+ K-358, từ 3 tháng 6 năm 1992 là B-358, từ 30 tháng 12 năm 1987 đến năm 1996 là “Đoàn viên thanh niên cộng sản Murmansk” (số hiệu xưởng 01647); khởi công ở xưởng Tư lệnh Hải quân (số 196) 23 tháng 7 năm 1982; hạ thủy 15 tháng 7 năm 1983; cuối năm 1983 được đưa theo hệ thống nước nội bộ tới Severodvinsk để đóng nốt; gia nhập biên chế 29 tháng 12 năm 1983; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1988 thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu ở vùng cực và nổi lên ở cực Bắc; năm 1990, tàu nhận huân chương của Bộ Quốc Phòng Liên Xô “Vì sự quả cảm và long dũng cảm” (5 năm thủy thủ đoàn “xuất sắc”); 3 tháng 6 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử lớn; từ tháng 10 năm 1994 được đưa vào sửa chữa ở xưởng số 10 (Polyarnưi); nhưng do không đủ tài chính thường xuyên nên việc sửa chữa chấm dứt; trong giai đoạn từ năm 1984 đến 1996 đã thực hiện 8 cuộc hành quân dài ngày sẵn sàng chiến đấu; cuối những năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ.

+ K-299, từ 3 tháng 6 năm 1992 là B-299 (số hiệu xưởng 01649); khởi công ở xưởng Tư lệnh Hải quân tại Leningrad 1 tháng 7 năm 1983; hạ thủy 29 tháng 6 năm 1984; cuối năm 1984 theo hệ thống nước nội bộ đưa đến Severodvinsk để đóng tiếp; gia nhập biên chế 22 tháng 12 năm 1984; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; trong giai đoạn từ 29 tháng 5 đến 1 tháng 6 năm 1985 đã tham gia chiến dịch “Aport” của Hải quân Liên Xô; trong giai đoạn từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1987 tham gia chiến dịch “Atrina” của Hải quân Liên Xô; 3 tháng 6 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử loại lớn; cuối những năm 1990 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ.

+ K-244, từ 3 tháng 6 năm 1992 là B-244 (số hiệu xưởng 01652); khởi công ở xưởng Tư lệnh Hải quân tại Lenigrad (số 196) 25 tháng 12 năm 1984; hạt hủy 9 tháng 7 năm 1985; cuối năm 1985 theo hệ thống nước nội bộ được đưa đến Severodvinsk để đóng tiếp theo Đề án 671-RTMK; gia nhập biên chế 25 tháng 12 năm 1985; giai đoạn từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1987 tham gia chiến dịch “Atrina” của Hải quân; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 3 tháng 6 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; cuối những năm 1990, bị loại khỏi biên chế chiến đấu và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Hai, 2012, 12:10:07 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671rtm_23.jpg)

*+ K-292, từ 3 tháng 6 năm 1992 là B-292, từ tháng 7 năm 2002 là “Perm” (số hiệu xưởng 01655); khởi công ở xưởng Tư lệnh Hải quân tại Leningrad (số 196) 15 tháng 4 năm 1986; hạ thủy 29 tháng 4 năm 1987; giữa năm 1987 được đưa theo hệ thống nước nội bộ tới Severodvinsk để đóng tiếp; đóng tiếp theo Đề án 671-RTMK; gia nhập biên chế 27 tháng 11 năm 1987 vào Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 3 tháng 6 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử loại lớn; trong giai đoạn từ 1988 đến 2000, đã thực hiện 4 cuộc hành quân sẵn sàng chiến đấu; sau năm 2000, được đưa tới sửa chữa ở xưởng “Nerpa”.

*+ K-388, từ 3 tháng 6 năm 1992 là B-388, từ 2000 là “Snezhnogorsk”, sau đó là “Rừng thông” (số hiệu xưởng 01657); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 7 tháng 3 năm 1986; khởi công ở xưởng Tư lệnh Hải quân tại Leningrad (số 196) 8 tháng 5 năm 1987; hạ thủy 3 tháng 6 năm 1988; tháng 6 năm 1988 đưa theo hệ thống nước nội bộ tới Severodvinsk để đóng nốt theo Đề án 671-RTMK; gia nhập biên chế 30 tháng 11 năm 1988; 1 tháng 3 năm 1989 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; trong giai đoạn từ 5 tháng 6 đến 22 tháng 6 năm 1991 đã tham gia chiến dịch chống ngầm của Hạm đội Phương Bắc ở Đông Bắc Đại Tây dương và biển Na Uy; 3 tháng 6 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử loại lớn; năm 1994 được tặng giải thưởng của Bộ Tư lệnh Hải quân theo sự huấn luyện ngư lôi; từ 18 tháng 12 năm 1995 đến 27 tháng 11 năm 1996 đã trải qua trung tu ở xưởng số 10 (Polyarnưi); năm 1998 nhận giải thưởng của Bộ Tư lệnh Hải quân về huấn luyện ngư lôi và giải thưởng về huấn luyện chống ngầm.

*+K-138, từ 3 tháng 6 năm 1992 là B-138, từ 5 tháng 5 năm 2000 là “Obninsk”, sau đó – “Con mắt vùng cực” (số hiệu 01659); ghi tên vào danh sách các tàu Hải quân 10 tháng 3 năm 1987; khởi công ở xưởng Tư lệnh Hải quân tại Leningrad (số 196) 7 tháng 12 năm 1988; hạ thủy 5 tháng 8 năm 1989; mùa thu năm 1989, được đưa theo hệ thống nước nội bộ tới Severodvinsk để đóng tiếp theo Đề án 671-RTMK; gia nhập biên chế 10 tháng 5 năm 1990; 28 tháng 2 năm 1991 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1991 nhận giải thưởng của Bộ Tư lệnh Hải quân về huấn luyện ngư lôi; 3 tháng 6 năm 1992 trở thành phần lớp tàu ngầm nguyên tử loại lớn; năm 1993 và 1995 nhận giải thưởng của Bộ Tư lệnh Hải quân về huấn luyện ngư lôi; tháng 9 năm 1994, được đưa tới sửa chữa ở xưởng số 10 (Polyarnưi); từ giai đoạn 1991 đến 1998 dã thực hiện 3 cuộc hành quân sẵn sàng chiến đấu.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Hai, 2012, 12:35:51 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671rtm_28-1.jpg)

*+K-414, từ 3 tháng 6 năm 1992 là B-414, từ 18 tháng 9 năm 1996 là “Dannil Moskva” (số hiệu xưởng 01695); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 4 tháng 3 năm 1988; khởi công ở xưởng Tư lệnh Hải quân tại Leningrad (số 196) 1 tháng 12 năm 1988; hạ thủy 31 tháng 8 năm 1990; năm 1990 được đưa theo hệ thống nước nội bộ tới Severodvinsk để đóng tiếp theo Đề án 671-RTMK; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1990; 14 tháng 3 năm 1991 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 3 tháng 6 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử lớn; năm 1993 đã làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu ở các khu vực vùng Cực và Bắc Đại Tây Dương; tháng 7 năm 1994 đã hoàn thành cuộc hành quân theo cụm tới vùng cực cùng với tàu ngầm tuần dương mang tên lửa chiến lược K-18, nổi lên ở điểm Cực Bắc; trong giai đoạn từ tháng 8 năm 1994 đến năm 1995 đã trải qua sữa chữa ở xưởng số 10 (Polyarnưi); 6 tháng 9 năm 2006 trong thời gian ở bãi tập huấn luyện chiến đấu gần bán đảo Ruwbachy ở biển Barents lúc 20 giờ 45 đã xảy ra hỏa hoạn ở khoang điện máy, đám cháy được dập tắt bởi thủy thủ đoàn, 2 người hy sinh, 1 người nhập viện, thiết bị năng lượng bị khóa trong kết quả xử lý bảo vệ tai nạn, tàu ngầm nguyên tử được kéo tới căn cứ Vidiaevo.

*+K-448, từ 3 tháng 6 năm 1992 là B-448, từ 25 tháng 3 năm 1995 là “Tambov” (số hiệu xưởng 01696); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 20 tháng 2 năm 1989; khởi công ở xưởng Tư lệnh Hải quân tại Leningrad (số 196) 31 tháng 1 năm 1991; hạ thủy 17 tháng 10 năm 1991; mùa xuân năm 1992 theo hệ thống nước nội bộ tới Severodvinsk để đóng tiếp theo Đề án 671-RTMK; 3 tháng 6 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử lớn; gia nhập biến chế 24 tháng 9 năm 1992; 5 tháng 2 năm 1993 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1994 trên tàu đã xảy ra tai nạn và chìm cục bộ khoang; năm 1999 được tặng giải thưởng của Bộ Tư lệnh Hải quân về huấn luyện ngư lôi; trong giai đoạn từ năm 1993 đến 2003 đã hoàn thành 4 cuộc hành quân sẵn sàng chiến đấu.

*: các tàu hiện vẫn đang phục vụ trong biên chế

+ K-427: từ 3 tháng 6 năm 1992 là B-427 (số hiệu xưởng 271); khởi công ở xưởng Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin tại Komsomol-na-Amur (số 199) 15 tháng 7 năm 1976; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; 13 tháng 8 năm 1978 hạ thủy; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1978 vào Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; 3 tháng 6 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử lớn; trong giai đoạn từ 1979 đến 1995 đã hoàn thành 12 cuộc hành quân sẵn sàng chiến đấu; 31 tháng 7 năm 1996 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Hai, 2012, 01:24:17 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671rtm_29.jpg)

+ K-507, từ 3 tháng 6 năm 1992 là B-507 (số hiệu xưởng 282); khởi công 22 tháng 9 năm 1977 ở xưởng Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin (số 199); hạ thủy 1 tháng 10 năm 1978; gia nhập biên chế 30 tháng 11 năm 1979 vào biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; 3 tháng 6 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử lớn; 1 tháng 10 năm 1994, trên tàu xảy ra tai nạn và bị đắm cục bộ khoang số VI; giai đoạn từ 1980 đến 1996 đã thực hiện 8 cuộc hành quân sẵn sàng chiến đấu; 30 tháng 5 năm 1998 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ.

+ K-492, từ 3 tháng 6 năm 1992 là B-492 (số hiệu xưởng 303); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 2 tháng 2 năm 1977; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; khởi công 23 tháng 2 năm 1978 ở xưởng Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin tại Komsomol-na-Amur (số 199); hạ thủy 28 tháng 7 năm 1979; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1979; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương 12 tháng 1 năm 1980; 3 tháng 6 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử loại lớn; trong giai đoạn từ năm 1980 đến 1996 đã hoàn thành 10 cuộc hành quân sẵn sàng chiến đấu; 31 tháng 7 năm 1996 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; được đưa đến neo đậu ở vịnh Krashennnikov (thành phố Vilyuchinsk).

+ K-412, từ 3 tháng 6 năm 1992 là B-412 (số hiệu xưởng 304); khởi công 29 tháng 10 năm 1978 ở xưởng Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin tại Komsomol-na-Amur (số 199); hạ thủy 6 tháng 9 năm 1979; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1979; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; 3 tháng 6 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử lớn; trong giai đoạn từ năm 1979 đến 1995 đã thực hiện 6 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu; năm 1996 được mang đi sửa chữa; 31 tháng 7 năm 1996 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; neo đậu ở  vịnh Đá Lớn.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Hai, 2012, 02:01:36 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671rtm_30.jpg)

+ K-251, từ 3 tháng 6 năm 1992 là B-251 (số hiệu xưởng 295); khởi công 26 tháng 6 năm 1979 ở xưởng Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin tại Komsomol-na-Amur (số 199); hạ thủy 3 tháng 5 năm 1980; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; 3 tháng 6 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử lớn; trong giai đoạn từ năm 1981 đến năm 1996 đã thực hiện 8 cuộc hành quân sẵn sàng chiến đấu; 30 tháng 5 năm 1998 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ.

+ K-255, từ 3 tháng 6 năm 1992 là B-255 (số hiệu xưởng 296); khởi công 7 tháng 11 năm 1979 ở xưởng Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin tại Komsomol-na-Amur (số 199); hạ thủy 20 tháng 7 năm 1980; gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1980; năm 1981 đã hoàn thành cuộc hành quân dưới lớp băng từ Viễn Đông tới biển Bắc và nổi lên ở cực Bắc; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; tháng 3 năm 1995 đã xảy ra đám cháy từ sự đóng ngắn mạch, việc dập lửa được thực hiện bằng sức lực thủy thủ đoàn; trong giai đoạn từ tháng 3 đến tháng 7 năm 1987 đã tham gia chiến dịch “Atrina” của Hải quân Liên Xô; 3 tháng 6 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử lớn; cuối những năm 1990 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ.

+ K-324, từ 3 tháng 6 năm 1992 là B-324 (số hiệu xưởng 297); khởi công 29 tháng 2 năm 1980 ở xưởng Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin tại Komsomol-na-Amur (số 199); hạ thủy 7 tháng 10 năm 1980; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1980; năm 1982 đã hoàn thành cuộc hành quân dưới băng từ Viễn Đông tới biển Bắc và gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; tháng 12 năm 1983 trong thời gian đang phục vụ sẵn sàng chiến đấu gần bờ biển Mỹ ở phía tây quần đảo Bermuda và thực hiện giám sát tổ hợp thiết bị TasTAS trên tàu chiến “Maccloy”, tàu ngầm nguyên tử đã bị mắc bộ phận của thiết bị TasTAS vào chân vịt và không bơi được, mặc dù các cố gắng tìm kiếm của tàu Hải quân Mỹ, tàu ngầm Liên Xô vẫn mang được chiến lợi phẩm bí mật tổng hợp. Tàu đã nổi và được kéo bởi tàu cứu nạn “Aldan” tới căn cứ Senfuzgos (Cuba) và được sửa chữa ở đó; trong giai đoạn từ 29 tháng 5 đến 1 tháng 6 năm 1985 đã tham gia chiến dịch “Aport” của Hải quân Liên Xô, trong thời gian đó đã có 3 lần tiếp xúc với tàu ngầm Hải quân Mỹ (thời gian theo dõi tổng cộng 28 giờ); 3 tháng 6 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; cuối những năm 1990 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Hai, 2012, 02:16:31 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671rtm_33.jpg)

+ K-305, từ 3 tháng 6 năm 1992 là B-305 (số hiệu xưởng 308); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 23 tháng 1 năm 1979; khởi công 27 tháng 6 năm 1980 ở xưởng Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin tại Komsomol-na-Amur (số 199); hạ thủy 17 tháng 5 năm 1981; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1981; 23 tháng 11 năm 1981 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; năm 1986 được nhận giải thưởng của Bộ Tư lệnh Hải quân về bắn tên lửa vào mục tiêu trên biển và giải thưởng về huấn luyện chống ngầm; năm 1988 đã thực hiện việc thay thế lò phản ứng; năm 1990 đã nhận giải thưởng của Bộ Tư lệnh Hải quân về bắn tên lửa vào mục tiêu trên biển; 3 tháng 6 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử lớn; tháng 8 năm 1994, trên tàu đã xảy ra sự đóng mạch ngăn do sự rơi nước vào lá chắn của máy phát điện tuabin tự động thành bên phải, xảy ra đám cháy trong khoang tuabin, đám cháy được dập tắt bằng sức người của thủy thủ đoàn; mùa xuân năm 1995 đã hoàn thành cuộc hành quân sẵn sàng chiến đấu; khi quay về căn cứ đã được đưa vào lực lượng dự bị kỹ thuật; tháng 7 năm 1996 đã tham gia cuộc duyệt binh Hải quân ngày Hải quân ở vịnh Vladivostoc; 30 tháng 5 năm 1998 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; đưa đến neo đậu ở vịnh Krasheninnikov (thành phố Vilyuchinsk).

+ K-355, từ 3 tháng 6 năm 1992 là B-355 (số hiệu xưởng 299); khởi công 31 tháng 12 năm 1980 ở xưởng Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin tại Komsomol-na-Amur (số 199); hạ thủy 8 tháng 8 năm 1981; gia nhập biên chế 29 tháng 12 năm 1981; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; 3 tháng 6 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm hạt nhân loại lớn; trong giai đoạn từ năm 1982 đến 1996 đã thực hiện 7 cuộc hành quân phục vụ sẵn sàng chiến đấu; 30 tháng 5 năm 1998 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ.

+ K-360, từ 3 tháng 6 năm 1992 là B-360 (số hiệu xưởng 300); khởi công 8 tháng 5 năm 1981 ở xưởng Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin tại Komsomol-na-Amur (số 199); hạ thủy 27 tháng 4 năm 1982; gia nhập biên chế 7 tháng 11 năm 1982; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 3 tháng 6 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử lớn; trong giai đoạn từ năm 1983 đến 1996 đã thực hiện 6 cuộc hành quân phục vụ sẵn sàng chiến đấu; 30 tháng 5 năm 1998 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Hai, 2012, 02:36:05 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671rtm_34.jpg)

+ K-218, từ 3 tháng 6 năm 1992 là B-218 (số hiệu xưởng 301); khởi công 3 tháng 6 năm 1981 ở xưởng Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin tại Komsomol-na-Amur (số 199); hạ thủy 24 tháng 7 năm 1982; gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1982; hoàn thành cuộc hành quân dưới lớp băng từ Viễn Đông tới biển Bắc và gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 3 tháng 6 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử lớn; trong giai đoạn từ năm 1983 đến 1998 đã thực hiện 9 cuộc hành quân sẵn sàng chiến đấu; cuối những năm 1990 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ.

+ K-242, từ 23 tháng 6 năm 1982 là “50 năm Komsomol-na-Amur”, từ 3 tháng 6 năm 1992 là B-242 (số hiệu xưởng 302); khởi công 12 tháng 6 năm 1982 ở xưởng Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin tại Komsomol-na-Amur (số 199); hạ thủy 29 tháng 4 năm 1983; gia nhập biên chế 26 tháng 10 năm 1983; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; trong giai đoạn từ 1984 đến 1996 đã thực hiện 5 cuộc hành quân sẵn sàng chiến đấu; 30 tháng 5 năm 1998 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ.

+ K-264, từ 3 tháng 6 năm 1992 là B-264 (số hiệu xưởng 303); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 21 tháng 5 năm 1981; khởi công 3 tháng 4 năm 1983 ở xưởng Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin tại Komsomol-na-Amur (số 199); hạ thủy 8 tháng 6 năm 1984; gia nhập biên chế 26 tháng 10 năm 1984; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương 7 tháng 12 năm 1984; 16 tháng 9 năm 1985 trong thời gian3 tiếng đã thực hiện việc cơ động theo sát tàu ngầm nguyên tử “Los Angeles” của Mỹ từ bãi tập biển Nhật Bản ở đó đang diễn ra sự thí nghiệm tàu ngầm mới, đã rút ngắn việc cơ động sau khi tàu ngầm nguyên tử Mỹ nổi lên; năm 1986 được tặng huân chương “Tàu xuất sắc”; 30 tháng 8 năm 1988 tàu ngầm nguyên tử đã tiếp phái đoàn từ Triều Tiên; 3 tháng 6 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử lớn; trong giai đoạn từu năm 1985 đến 1996 đã thực hiện 4 cuộc hành quân sẵn sàng chiến đấu; sau năm 2000 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ.

+ K-315 (số hiệu xưởng 334); khởi công năm 1982 ở xưởng Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin ở Komsomol-na-Amur (số 199); nhưng đến 19 tháng 1 năm 1983 việc đóng được chấm dứt và sau đó tháo dỡ lấy kim loại.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Hai, 2012, 02:44:05 pm
Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ nổi: 4780

+ ngầm: 7250

Các kích thước, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 106,1 (-)

+ chiều rộng nhất: 10,6

+ lượng mớn nước theo vạch mớn nước thiết kế: 8

Thiết bị năng lượng chính: nguyên tử

+ 2 lò phản ứng nước VM-4, tổng công suất, mW: 144

+ 2 thiết bị sản xuất hơi nước OK-300 (2 lò phản ứng nước và 2x4 máy phát điện hơi nước PG-4T); 1 tổ hợp tuabin răng cưa chính 616

+ 1 tuabin hơi nước, công suất, sức ngựa (kW): 31 000 (22 790)

+ 2 máy phát điện tuabin OK-2, công suất, sức ngựa (kW): 2x2000

+ 2 máy phát điện – diesel, công suất, kW: 2x460

+ 2 máy phát điện hỗ trợ PG-135, công suất, sức ngựa: 2x270

1 trục; 1 bánh lái chân vịt 7 cánh (hoặc 2 theo sơ đồ tiếp đôi); 2 chân vịt hỗ trợ

Tốc độ, hải lý

+ nổi: 10

+ ngầm: 31

Độ lặn sâu, mét

+ làm việc hiệu quả: 320

+ giới hạn: 400

Thời gian hoạt động: 80 ngày

Thủy thủ đoàn, thành viên (sỹ quan): 102 (-).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Hai, 2012, 02:59:11 pm
Vũ khí

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/671rtm_35.jpg)

Tên lửa chiến lược

+ tên lửa có cánh RK-55 “Granat” (SS-N-21 “Sampson” trên Đề án 671-RTM là tên lửa có cánh chiến lược 3M10V2 “Granat”: có bộ phận ngư lôi thay thế

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng cho tổ hợp tên lửa phòng không 9K310 “Igla-1”/9K38 “Igla” (SA-14 “Gremlin”/SA-16 “Gimlet”)

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 650mm: 2 (mũi)

+ các ngư lôi 650mm 65-73 hoặc 65-76: 6

+ thiết bị ngư lôi 533mm: 4 (mũi)

+ các ngư lôi 533mm 53-65K SET-65: 18

+ ngư lôi - tên lửa 83-R “Vodopad”/84-R”Veter”; các tên lửa “Shkval”: có ngư lôi thay thế

Mìn

+ có thể mang theo mìn thay cho ngư lôi: -

Trang bị vô tuyến điện

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/949a_23.jpg)

+ hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Omnibus”

+ đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: MRK-500 “Kaskad” (Snoop Tray)

+ đài thủy âm: tổ hợp thủy âm MGK-500 “Skat-KS” hoặc “Skat-2M” trên Đề án 671-RTM; đài thủy âm “Skat-B” (Shark Teeth, Mouse Roar); đài thủy âm lớn “Ruza-P”

+ các khí tài tác chiến điện tử: MRP-21A “Zaliv-P”, “Zona”, “Anis”, “Zavesa” (Brick Group, Park Lamp);

+ hệ thống phát hiện mục tiêu theo vết rẽ nước: SOKS

+ tổ hợp đạo hàng: “Medveditsa-671-RTM”; “Sintez” – đạo hàng vũ trụ

+ tổ hợp thông tin liên lạc: “Molnia-L” (Kremmy-2); “Tsunami-BM” – liên lạc vũ trụ; “Paravan” – ăng ten lai

+ đài ra đa định vị hội thoại nói: MRK-57 “Korma”.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Hai, 2012, 04:20:24 pm
Đề án 945 “Barrakuda” – Lớp Sierral-I

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/945_12.jpg)

Tổng số tàu đã đóng: 2

Các biến thể

+ 945 “Barrakuda” (Lớp Sierra-I) – tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ 3 với thân tàu bằng titan (1984)

+ 945-A “Kondor” (Lớp Sierra-II) – phiên bản hiện đại hóa, tăng cường lượng choán nước, vũ khí mới (1990).

Song song với các công việc theo sự chế tạo các tàu ngầm nguyên tử đa chức năng thế hệ thứ 2, trong các phòng thiết kế hàng đầu Liên Xô, các trung tâm khoa học Hải quân chuyên ngành đã tiến hành các công việc thăm dò chế tạo tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ 3. Chi tiết. Phòng thiết kế số 112 Gorki (hiện nay là Nizhegorod) “Lazurit” năm 1971 đã bắt đầu chuẩn bị chế tạo tàu ngầm nguyên tử này theo Đề án 673, trong đó áp dụng nhiều giải pháp tiên tiến. Sau đó, các công việc về tàu ngầm nguyên tử ở Gorki đã được tiếp tục, còn tiếp đó, sản phẩm này đã được sử dụng khi thiết kế tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ 3 đầu tiên ở Liên Xô.

Nhiệm vụ kỹ - chiến thuật trong việc thiết kế tàu ngầm nguyên tử đa năng lớn được đưa ra vào tháng 3 năm 1972. Trong đó, phía Hải quân đã đặt ra nhiệm vụ hạn chế lượng choán nước trong các giới hạn, đảm bảo việc đóng tàu trong nội bộ các xưởng ở Liên Xô. Nhiệm vụ chính của tàu ngầm nguyên tử mới, nhận số hiệu Đề án 945 và mã số “Barrakuda” phải là giám sát, theo dõi các tàu ngầm tên lửa và cụm tàu sân bay tiến công của đối thủ tiềm tang, đồng thời đảm bảo sự tiêu diệt các mục tiêu đó ngay khi bắt đầu chiến đấu. Tổng công trình sư của Đề án là I.I.Kvash, còn giám sát viên chính từ phía Hải quân – Thuyền trưởng cấp 2 I.P.Bigachenko.

Một cách nguyên tắc, phần tử chính của tàu ngầm nguyên tử mới là sự tiếp nhận đối với việc chế tạo thân trong từ hợp kim titan với độ lưu chảy giới hạn 70-72 kg lực/cm2, đảm bảo sự tăng độ lặn sâu giới hạn gấp 1,5 lần so với tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ 2. Việc sử dụng hợp kim titan có độ cứng riêng cao cho phép giảm khối lượng thân tàu với lượng choán nước đến 25-30%, tạo nên khả năng đóng tàu ngầm nguyên tử ở xưởng tại thành phố Gorki và vận chuyển nó sau đó theo các đường hệ thống nước nội bộ. Ngoài ra, thiết kế titan cho phép giảm mạnh trường từ tính của tàu (theo tham số này, các tàu ngầm Đề án 945 duy trì vị trí hàng đầu thế giới cho đến thời điểm này). Tuy nhiên, việc sử dụng titan có mặt khác – là giá thành đóng tàu tăng lên một cách căn bản, hạn chế số lượng tàu được đóng, còn theo các nguyên nhân kỹ thuật, không phải toàn bộ các cơ sở đóng tàu có thẻ tham gia vào chương trình đóng tàu (công nghệ đóng tàu thân titan không được thực hiện ở Komsomol-na-Amur).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Hai, 2012, 04:53:32 pm
Theo so sánh với tàu ngầm nguyên tử thế hệ trước, tổ hợp ngư lôi – tên lửa của tàu mới phải có cơ số đạn gấp đôi do kết quả tiếp nhận cơ số đạn mới và hệ thống chỉ thị mục tiêu hiện đại hóa, tăng tầm bắn (gấp 3 lần đối với ngư lôi – tên lửa và 1,5 lần – đối với ngư lôi), đồng thời khả năng chiến đấu cao (thời gian chuẩn bị đến khi bắn loạt đầu tiên được rút ngắn gấp 2 lần).

Tháng 12 năm 1969, ở phòng thiết kế Minaviaprom (Bộ công nghiệp hàng không) “Novator” dưới sự chỉ đạo của Tổng công trình sư L.V.Lyulev đã bắt đầu các công việc chế tạo tổ hợp tên lửa chống ngầm mới thế hệ thứ 2 “Vodopad” (đường kính 533mm) và “Veter” (650mm), được sử dụng trong nhiệm vụ đầu tiên, để trang bị cho các tàu ngàm nguyên tử thế hệ thứ 3 tương lai, trong đó có Đề án 945. Trong sự khác biệt với các tàu ngầm tiền nhiệm – tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh “Viuga-53” – “Vodopad” phải được tổ hợp hóa (bố trí, ghép bộ) như bộ phận chiến đấu đặc biệt, cũng như ngư lôi kích thước nhỏ tự dẫn đường UMGT-1 (nhà thiết kế - cơ quan nghiên cứu khoa học “Uran”) với tầm xa phản ứng theo kênh thủy âm 1,5km, tầm hoạt động xa 8km và tốc độ tối đa 41 hải lý. Việc sử dụng 2 kiểu ghép bộ đã mở rộng đáng kể phạm vi tiếp nhận vũ khí. Theo so sánh với tổ hợp “Viuga-53”, “Vodopad” đồng thời tăng khả năng khởi động ở độ sâu tối đa (150 mét), mở rộng phạm vi tầm bắn (từ độ sâu 20-50 mét – 5-50km, từ 150 mét – 5-35km), giảm đáng kể thời gian chuẩn bị trước phóng (10 giây). “Veter” có tấm bắn gấp đôi so với “Vodopad”, đồng thời có thể được ghép bộ như ngư lôi UMGT (ngư lôi tự dẫn bắn kích thước nhỏ), cũng như đầu đạn hạt nhân. Tổ hợp “Vodopad” dưới chỉ số RPK-6 gia nhập biên chế Hải quân năm 1981 (chúng chỉ được trang bị cho tàu ngầm nguyên tử, không dành cho các tàu nổi), còn “Veter” (RPK-7) – năm 1984.

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/945_05.jpg)

Thêm một dạng vũ khí mới, được áp dụng trên Đề án 945 (và các tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ 3 khác), là hệ thống điều khiển vô tuyến tự dẫn bắn trong hai mặt phẳng của ngư lôi kiểu TEST-71. Hệ thống được sử dụng để tiêu diệt các tàu ngầm và trang bị hệ thống tự dẫn bắn thủy âm thụ - chủ động, cùng với với hệ thống điều khiển vô tuyến theo các dây dẫn đảm bảo sự dẫn bắn tới mục tiêu trong 2 mặt phẳng. Sự xuất hiện hệ thống điều khiển vô tuyến cho phép thực hiện sự kiểm tra cơ động của ngư lôi và sự hoạt động của khí tài dẫn bắn. Đồng thời, điều khiển chúng trong quá trình bắn. Trắc thủ trên thành tàu ngầm, trong sự liên quan từ nhận định tình hình chiến thuật, có thể ngăn (cấm) sự tự dẫn bắn hoặc ngắm lại cho ngư lôi. Thiết bị động lực điện đảm bảo sự di chuyển của ngư lôi trong hai chế độ - sục sạo (tìm kiếm - ở tốc độ 24 hải lý) và chế độ tiếp cận (40 hải lý) với các chế độ chuyển mạch nhiều lần. Tầm hoạt động xa tối đa (trong sự liên quan tới tốc độ yêu cầu) nằm trong các giới hạn 15-20km. Độ sâu sục sạo và tiêu diệt mục tiêu là từ 2 đến 400 mét. Theo so sánh về sự “êm” mà ngư lôi TEST-71 tiếp nhận vượt trội đáng kế ngư lôi Mk.48 của Mỹ với động cơ pít tong, mặc dù Mk.48, trong sự đối chiếu tầm xa, có tốc độ cao hơn không nhiều (50 hải lý).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Hai, 2012, 05:19:05 pm
Tổ hợp đạo hàng mới “Simfonia” cho phép giảm lỗi giới hạn trong việc xác định vị trí của tàu ngầm 5 lần, đồng thời tăng cường đáng kể phạm vi (khoảng cách) giữa các lần nổi để xác định các tọa độ. Được lắp trên tàu ngầm Đề án 945, tổ hợp thông tin liên lạc “Molnia-MTs” gồm có hệ thống thông tin liên lạc vệ tinh và ăng ten lai “Paravan”. Trong đó, tầm xa thông tin liên lạc tăng gấp 2 lần, còn độ lặn sau của đài thu tín hiệu vô tuyến – gấp 3 lần.

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/945_03.jpg)

Tàu được trang bị các ống nhòm tiềm vọng “Lebed-21” (chỉ huy) và “Kutum” (với tổ hợp vô tuyến MTK-110).

Để xử lý các câu hỏi về độ vững chắc và công nghệ ở xưởng “Krasnoe Sormovo” tại thành phố Gorki đã xây dưng khoang ngoài trờ từ hợp kim titan, đồng thời khoang bán ngoài trời từ hợp kim khác, bền vững hơn titan, được dung để sử dụng trên các tàu ngầm nguyên tử tương lai có độ lặn sâu siêu lớn. Các khoang được đưa tới Severodvinsk, ở đó, trên khu vực đóng tàu chuyên dụng đã trải qua các thí nghiệm tĩnh lực và độ ăn mòn.

Tàu ngầm nguyên tử Đề án 945 được chế tạo theo sơ đồ hai thân. Thân ngoài bằng thép có các phần cuối mũi hình elip và mạn tàu hình thoi, vách ngăn dạng “xe con” của các khí tài di động và khoang chiến đấu, đòng thời cánh đuôi cai, trong đó bố trí mũ chụp đối với ăng ten lai của tổ hợp thủy âm. Sư đóng các lỗ ngoài thành tàu được thực hiện với sự hỗ trợ các van ống xả nước của tải trọng dằn chính. Thân trong, được chế tạo từ hợp kim titan, có hình dạng đơn giản – bộ phận giữa hình trụ và phần cuối hình nón. Các vách ngăn cuối – hình cầu. Thiết kế cố định thân tàu của các thùng vững loại trừ điện áp vòng, xuất hiện khi ép tàu ở độ lặn sau. Thân trong được chia thành 6 khoang không thấm nước. Có hệ thống bơm hơi 2 khẩn cấp 2 thùng tải trọng dằn chính với sự hộ trợ của máy phát điện khí (kết quả các sản phẩm đốt nhiên liệu rắn). Tàu ngầm nguyên tử được trang bị thùng nổi cứu nạn (bố trí trong vách ngăn các thiết bị di động), có khả năng chứa toàn bộ thủy thủ đoàn (31 sỹ quan và 28 chuẩn úy Hải quân). Đối với cá nhân mỗi thủy thủ đoàn đã có điều kiện sinh hoạt tốt.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Hai, 2012, 05:38:02 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/945_draw2.jpg)

Bản vẽ thiết kế tàu ngầm nguyên tử đa năng Đề án 945


Thiết bị năng lượng chính của tàu ngầm nguyên tử có công suất tiêu chuẩn 43 000 sức ngựa, bao gồm 1 lò phản ứng nước OK-650A (180mW) và 1 tổ hợp tuabin răng cưa chính. Lò phản ứng OK-650A có 4 máy phát điện hơi nước, 2 bơm tuần hoàn đối với đường bao số 1 và số 4; 3 bơm của đường bao thứ 3. Tàu được trang bị 2 máy phát điện tuabin xoay chiều, 2 bơm nhiên liệu và 2 bơm điện. Để phục vụ các khí tài dòng điện 1 chiều có 2 nhóm pin ắc quy và 2 bộ đổi tần số thuận nghịch.

Để giảm cấp độ trường vật lý đã tiếp nhận bộ giảm chấn 2 tầng đối với toàn bộ máy móc và khí tài. Toàn bộ trang bị, hoạt động trong chế độ tiếng ồn thấp, được lắp trong các khối giảm chấn nhiều tầng (lớp). Bánh lái chân vịt nhiều cánh có các tính năng thủy âm được tăng cường và giảm tần số quay.

Trong trường hợp thiết bị năng lượng chính bị hỏng, để dẫn động, dự kiến có nguồn năng lượng điện khẩn cấp và các khí tài chuyển động dự trữ. Có 2 động cơ diesel DG-300 với các bộ đổi tần số thuận nghịch (2x500kW) với lượng dự trữ nhiên liệu trong 10 ngày. Chúng được sử dụng để tạo ra dòng điện một chiều đối với các động cơ điện bánh lái và xoay chiều – đối với các thiết bị chung của tàu. Để đảm bảo di chuyển dưới nước với tốc độ 5 hải lý, tàu ngầm nguyên tử được trang bị 2 động cơ điện chân vịt có dòng điện một chiều công suất 300kW, bố trí trong nôi hình cầu trên cánh đuôi ngang ở mạn tàu, mỗi cánh đuôi đó làm việc bằng chân vịt riêng.

Tổ hợp vũ khí ngư lôi – tên lửa và hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu “Omnibus” đảm bảo sự bắn đơn và bắn loạt không hạn chế độ lặn sâu (cho đến độ sâu giới hạn). Tàu có sự bố trí các thiết bị ngư lôi hai hàng theo truyền thống – 4 thiết bị 533mm và 2 thiết bị 650mm. Trong khoang mũi bố trí 2 bệ để bảo trì cơ số đạn và các khí tài cung cấp đạn theo chiều dọc và ngang cùng khí tài nạp đạn nhanh (UBZ). Trong cơ số đạn gồm có 40 đơn vị vũ khí – ngư lôi – tên lửa (PLUR) và ngư lôi, thay thế cho bộ phận ngư lôi và ngư lôi – tên lửa có thể mang theo mìn.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Hai, 2012, 06:08:04 pm
Các biến thể

Tàu ngầm thứ hai thuộc Đề án 945 khác biệt so với tàu đầu tiên ở sự xuất hiện ăng ten lai “Paravan”, khoang được bố trí trên thượng tầng ngay sau vách ngăn các khí tài di động.

Năm 1990, trong biên chế Hải quân Liên Xô đã gia nhập tàu ngầm nguyên tử Đề án 945-A (mã số “Kondor”), được chế tạo trên cơ sở Đề án 945 cùng ở phòng thiết kế “Lazurit”. Do giá thành cao, đề án này không được triển khai đóng đồng thời với số lượng lớn, chỉ hạn chế ở 2 tàu ngầm.

Chương trình đóng tàu

Tàu đầu tiên của Đề án 945 (K-239) được khởi công ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) tại Gorki 8 tháng 5 năm 1982, hạ thủy 29 thnags 7 năm 1983 và gia nhập biên chế 21 tháng 9 năm 1984. Tàu đồng lớp thứ 2 (K-276) được khởi công 21 tháng 8 năm 1984 ở cùng xưởng, hạ thủy 26 tháng 7 năm 1986 và gia nhập biên chế Hải quân 27 tháng 10 năm 1987. Cả hai tàu được đóng ở “Krasnoe Sormovo”, còn sau khi hạ thủy theo hệ thống nước nội bộ đã tới Severodvinsk, nơi chúng được đóng tiếp và gia nhập biên chế. Ở phương Tây, các tàu ngầm nguyên tử mới của Liên Xô nhận tên gọi lớp Sierral-I.

Tình hình đến năm 2008

Cả 2 tàu ngầm nguyên tử Đề án 945 đều gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc (sư đoàn tàu ngầm số 6, phân hạm đội tàu ngầm số 1 đóng căn cứ ở Zapadnaia Litsa, nơi chúng đã phục vụ một cách thành công.

Ngày 11 tháng 2 năm 1992, gần quần đảo Kildin, với tàu ngầm nguyên tử K-276 đã xảy ra sự cố: trong khu vực biển thuộc Nga, tàu ngầm Nga đã va chạm với tàu ngầm Mỹ SSN-689 “Baton Ruzh” (lớp Los Angeles) ở khu vực dưới mặt nước, đang cố gắng thực hiện việc theo dõi bí mật các tàu ngầm Nga ở khu vực huấn luyện. Kết quả của sự va chạm là tàu ngầm Nga bị vết thương ở vách ngăn mui, còn thương tích tàu ngầm mỹ trở nên rất nặng nề, nó “bò” về căn cứ, sau đó, Tư lệnh Hải quân Mỹ đã tiếp nhận quyết định không sửa chữa tàu, và loại nó khỏi biên chế và tháo dỡ. Sau khi khôi phục sửa chữa, tàu ngầm nguyên tử K-276 quay lại biên chế tháng 7 năm 1996.

Tháng 6 năm 1992, 2 tàu ngầm nguyên tử Đề án 945 được chuyển thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử lớn với sự thay đổi chữ đầu tiên trong số hiệu chiến thuật từ “K” thành “B”. Hiện nay, trong biên chế phân hạm đội tàu ngầm nguyên tử số 1 thuộc Hạm đội Phương Bắc của Hải quân Nga (căn cứ mới ở vịnh Ara), tàu ngầm nguyên tử “Kostroma” (trước đó là B-276) vẫn tiếp tục phục vụ, còn tàu đầu tiên B-239 “Karp” năm 1998 đã bị loại khỏi biên chế chiến đấu.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Hai, 2012, 01:02:01 pm
Tóm tắt lịch sử phục vụ

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/945_14.jpg)

+ K-239, từ 3 tháng 7 năm 1992 là B-239, từ 6 tháng 4 năm 1993 là “Karp” (số hiệu xưởng 301); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 16 tháng 3 năm 1979 như là phân lớp tàu ngầm nguyên tử tuần dương; khởi công ở xưởng “Krasnoe Sormovo” tại Gorki (số 112) 8 tháng 5 năm 1982; hạ thủy 29 tháng 7 năm 1983; tháng 8-9 năm 1983 được đưa theo hệ thống nước nội bộ tới Severodvinsk để đóng tiếp và các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biến chế 21 tháng 9 năm 1984; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc 7 tháng 12 năm 1984; năm 1985, sau các hoạt động huấn luyện lớn, trên tàu ngầm nguyên tử đã trải qua các thí nghiệm hoạt động ở vịnh Andereev; trong năm đó đã tiến hành các thí nghiệm lặn sâu ở biển Na Uy; trong giai đoạn từ năm 1986 đến 1990, đã thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, thủy thủ đoàn đã nhận và hoàn thành các nhiệm vụ trực chiến luân phiên, thực hiện những lần ra khơi tới trường bắn; năm 1990 đã thực hiện các nhiệm vụ trực chiến “xuất sắc”; trong năm, tàu đã trở thành tàu xuất sắc nhất trong Hạm đội, thủy thủ đoạn được tặng giải thưởng từ Hội đồng Quân sự Hạm đội Phương Bắc “Vì sự giám sát xuất sắc các tàu ngầm”, được tặng Cờ đỏ luân lưu từ Hội đồng Quân sự Hạm đội Phương Bắc; giai đoạn từ năm 1990 đến 1992 đã thực hiện nhiệm vụ trực chiến, thủy thủ đoàn đã nhận và hoàn thành các nhiệm vụ trực chiến luân phiên, thực hiện việc ra khơi thường xuyên tới trường bắn; 3 tháng 7 năm 1992, phân loại lại thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử lớn; tháng 11-12 năm 1994 đã tới xưởng “Zvedochka” (thành phố Severodvinsk) để tiến hành sửa chữa;  30 tháng 5 năm 1998 do không có kinh phí sửa chữa đã bị loại khỏi biên chế của Hải quân, bàn giao cho cơ sở khác để bảo trì dài hạn và neo đậu ở Severodvinsk.

+ K-276, từ 3 tháng 6 năm 1992 là B-276, từ 6 tháng 4 năm 1993 là “Krab”, từ 15 tháng 11 năm 1996 là “Kostroma” (số hiệu xưởng 302 – vẫn đang phục vụ trong Hải quân Nga); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 9 tháng 2 năm 1992 như là phân lớp tàu ngầm nguyên tử tuần dương; khởi công ở xuouwngr “Krasnoe Sormovo” tại Gorki (số 112) 21 tháng 8 năm 1984; hạ thủy 26 tháng 7 năm 1986; tháng 8 năm 1986 được đưa theo hệ thống nước nội bộ tới Severodvinsk để đóng tiếp và các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 27 tháng 10 năm 1987; 30 tháng 12 năm 1987 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; tháng 9-10 năm 1988; tháng 8-11 năm 1988; tháng 6-9 năm 1990 và tháng 5-7 năm 1991 đã thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu; 11 tháng 2 năm 1992 khi đang xử lý nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu ở biển Barents ở vùng nước sâu Kildin đã va chạm ở vị trí nổi với tàu ngầm nguyên tử Mỹ SSN-689 “Baton Rouge” và bị thương ở vách ngăn mui cùng mũ chụp đài thủy âm, nhưng được kéo về căn cứ; trong giai đoạn từ 28 tháng 3 năm 1992 đến 29 tháng 6 năm 1992 đã trải qua sửa chữa khôi phục khẩn cấp ở xưởng “Nerpa” ở vịnh Olenia; sau khi sửa chữa năm 1992 đã thực hiện nhiệm vụ trực chiến; 3 tháng 7 năm 1992 đã phân loại lại thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử lớn; tháng 4-6 năm 1994 đã thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu; cuối năm 2000 đã tới xưởng “Nerpa” để tiến hành trung tu.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Hai, 2012, 01:13:17 pm
Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ nổi: 5850

+ ngầm: 8200

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 107 (-)

+ chiều rộng nhất: 12,3

+ lượng mớn nước theo vạch mớn nước thiết kế: 8,7

Thiết bị năng lượng chính: nguyên tử

+ 1 lò phản ứng nước kiểu OK-650A, công suất, mW: 180

+ 1 thiết bị sản xuất hơi nước OK-300 (1 lò phản ứng nước và 4 động cơ PG); 1 thiết bị tuabin răng cưa chính

+ 1 tuabin hơi nước, công suất, sức ngựa (kW): 43 000 (31 600)

+ 2 máy phát điện tuabin, công suất, kW: 2x3200

+ 2 máy phát điện – diesel DG-300, công suất, kW: 2x500

+ 2 động cơ điện hỗ trợ, công suất, kW: 2x370

1 trục; 1 chân vịt nhiều cánh; 2 động cơ bánh lái bổ sung

Tốc độ, hải lý

+ nổi: 12,2

+ ngầm: 35

Độ lặn sâu, mét

+ hoạt động hiệu quả: 480

+ giới hạn: 600

Thời gian hoạt động: -

Thủy thủ đoàn, thành viên (sỹ quan): 59 (31).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Hai, 2012, 01:25:13 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/945_02.jpg)

Vũ khí

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng cho tổ hợp tên lửa phòng không tầm gần 9K310 “Igla-1”/9K38 “Igla” (SA-14
Gremlin”/SA-16 ”Gimlet”): 1 (8 )

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 650mm: 2 (mũi)

+ các ngư lôi 650mm 65-75: 12

+ thiết bị ngư lôi 533mm: 4 (mũi)

+ các ngư lôi TEST-71, USET-80: 28

+ ngư lôi – tên lửa 83-R “Vodopad”/86-R “Veter”; các tên lửa “Shkval”: thay thế cho bộ phận ngư lôi

Mìn

+ có thể mang mìn thay cho bộ phận ngư lôi: -

Trang bị vô tuyến điện

+ hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Omnibus”

+ đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: MRKP-58 “Radian” (Snoop Pair)

+ đài thủy âm: tổ hợp thủy âm MGK-500 “Skat-KS” (Shark Gill); đài thủy âm lớn

+ các khí tài tác chiến điện tử: PMU “Zona”, “Anis”; “Zavesa” – đài tìm phương vô tuyến; GPD

+ tổ hợp đạo hàng: “Simfonia”; “Sintez” – đạo hàng vũ trụ

+ tổ hợp thông tin liên lạc vô tuyến: “Molnia-MTs” (Kremmy-2); “Tsumani-BM” – thông tin liên lạc vũ trụ; “Paravan” – ăng ten lai (trên thành tàu ngầm nguyên tử); PMU “Kora”

+ đài ra đa định vị hội thoại nói: -.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Hai, 2012, 01:54:06 pm
Tàu ngầm nguyên tử Đề án 685 “Plavnik” – Lớp Mike

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/685_03.jpg)

Tổng số tàu đã đóng: 1

Biến thể: không có.

Tháng 8 năm 1966, Bộ Tư lệnh Hải quân đã đưa ra nhiệm vụ kỹ - chiến thuật để thiết kế tàu ngầm nguyên tử có độ lặn sâu cao thí nghiệm (Đề án 685) với độ lặn sâu giới hạn, gấp 2,5 lần chí số tương ứng của các tàu ngầm nguyên tử ngư lôi khác. Các công việc, nhận số hiệu “Plavnik”, đã tiến hành ở Phòng thiết kế Trung ương số 18 (Phòng thiết kế Trung ương Kỹ thuật Hải quân “Rubin”) dưới sự chỉ đạo của Tổng công trình sư N.A.Klimov (năm 1977, Yu.N.Kormilitsưn), giám sát viên chính từ Hải quân là Thuyền trưởng cấp 2 A.Ya.Tomchin, sau đó là Thuyền trưởng cấp 2 N.V.Shalonov.

Tàu ngầm nguyên tử độ lặn sâu cao được chế tạo như một tàu chiến đấu mạnh, có khả năng giải quyết nhiệm vụ luân phiên rộng rãi, trong đó bao gồm cả sục sạo, phát hiện, giám sát lâu dài và tiêu diệt các tàu ngầm nguyên tử, đồng thời các nhóm tàu sân bay, tàu nổi lớn và tàu vận tải của địch. Quá trình thiết kế tàu ngầm mất thời gian hơn 8 năm. Đề án kỹ thuật của tàu ngầm nguyên tử được phê duyệt tháng 12 năm 1974. Trong vai trì vật liệu chính trên Đề án 685 đã quyết định sử dụng hợp kim titan.

Để xác định khả năng hoạt động của hợp kim titan, trong các điều kiện thiết kế thân tàu chịu áp lực cao ở độ sâu lớn đã quyết định thực hiện tổ hợp nghiên cứu và thí nghiệm rộng rãi. Trong các khoang mô phạm, nửa ngoài trờ và ngoài trời của tàu ngầm đã tiến hành các phương pháp thiết kế, công nghệ chế tạo các chi tiết thiết kế khác nhau của thân tàu, sự kiểm tra thí nghiệm độ bền vững thiết kế về tĩnh lực, chu kỳ và động lực đã được thực hiện.

Trong các khuôn khổ của chương trình chế tạo tàu ngầm nguyên tử Đề án 685 ở Severodvinsk đã xây dựng 3 sàn đóng tàu chuyên dụng, tuy nhiên trong đó có đường kính 5 mét và dài 20 mét, mặt khác, tương ứng 12 và 17 mét và sàn thứ 3 – 15 và 55 mét. Trong thùng đầu tiên chịu áp lực 400kg lực/cm2 khi tải trọng một lượt là 200kg lực/cm2 – khi tải trọng tuần hoàn. Thùng thứ 2 có áp suất làm việc 200kg lực/cm2 và thùng thứ 3 – 160kg lực/cm2. Thí nghiệm, nhận được trong quá trình thực hiện Đề án 685 đã dự kiến sử dụng rộng rãi khi thiết kế và đóng tàu ngầm nguyên tử thế hệ mới.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Hai, 2012, 01:55:26 pm
Các bản vẽ thiết kế và hình vẽ của tàu ngầm nguyên tử Đề án 685

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/685_draw2.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/685_draw3.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/685_01.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Hai, 2012, 01:58:45 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/685_13.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/685_12.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/685_11.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/685_10.jpg)

Tàu ngầm nguyên tử K-278 "Komsomolets" ở đáy (biển). Các ảnh được chụp từ thiết bị lặn sâu "Mir"


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Hai, 2012, 02:02:30 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/685_04.jpg)

Sự tách rời khoang cứu nạn nổi trong thời gian đám cháy trên tàu ngầm nguyên tử K-278 "Komsomolets" Đề án 685. Từ tranh của họa sĩ.

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/685_09.jpg)

Vị trí đắm của tàu ngầm nguyên tử "Komsomolets" ở đáy (biển) dưới con mắt của họa sĩ.



Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Hai, 2012, 12:13:38 pm
Tàu có thiết kế hai thân. Hình dáng bên ngoài của tàu được thiết kế một cách cẩn thận trong sự kết hợp với việc tiếp nhận thiết bị năng lượng một trục đảm bảo một cách tương đối lực cản thủy động lực thấp và chất lượng tốc độ cao, vượt trội các khả năng của các tàu Mỹ cùng lớp. Thân trong được thiết kế với hình dáng đơn giản. Trong bộ phận giữa, tàu được giới thiệu là hình trụ đường kính 8 mét, còn các phần cuối tàu – hình nón cụt, kết thúc bằng các vách ngăn hình cầu (góc tiếp giáp của hình trụ và hình cầu không quá 5 độ). Trong vai trò vật liệu thiết kế chính đã tiếp nhận hợp kim titan 48-T với giới hạn chịu lực 72-75kg lực/mm2. Các thùng tải trọng dằn chính được bố trí bên trong thân trong. Để áp dụng số lượng tối thiểu các lỗ thân trong đã quyết định không tiếp nhận mui cứng và cửa vận chuyển ngư lôi. Đối với việc thiết lập khẩn cấp (20-30 giây) việc bơi thuận lợi ở độ sâu lớn khi có nước ngoài thành tràn vào tàu đã lắp hệ thống bơm tải trọng dằn của một trong số các thùng thuộc nhóm giữa trong sự hỗ trợ của máy phát điện khí thuốc sung.

Kết quả của việc sử dụng hợp lý các vật liệu mới và thực hiện hàng loạt giải pháp thiết kế độc đáo, khối lượng thân tàu Đề án 685 tăng 39% so với lượng choán nước tiêu chuẩn của tàu, không vượt quá chỉ số tương ứng của các tàu ngầm nguyên tử khác, có độ lặn sâu thấp hơn đáng kể.

Thân ngoài, được hàn từ hợp kim titan, gồm có 10 hệ thống không có van thông cho tải trọng dằn chính, các phần cuối mạn và mũi tàu, các bộ phận thấm lọt và vách ngăn các khí tài di động. Sự tiếp nhận titan cho phép giảm đáng kể thân tàu. Các đáy của thiết bị ngư lôi, được cắt dưới bánh lái ngàng của mũi, các lỗ xả nước được trang bị các bộ phận lá chắn che phủ.

Thân trong tàu được chia thành 7 khoang:

1-Ngư lôi, được chia thành 2 boong. Trên boong trên bố trí bộ phận nạp đạn của thiết bị ngư lôi, các bệ ngư lôi và bộ phận khí tài thông tin liên lạc, còn boong dưới – các pin ắc quy trên 112 phần tử.

2-Khoang cho người sống, được chia thành 2 boong. Phía trên bố trí buồng chỉ huy, bếp và buồng sinh hoạt – vệ sinh, phía dưới – buồng cho cá nhân thủy thủ đoàn. Trong hầm bố trí buồng lương thực, bình chứa nước và thiết bị điện phân

3-Trạm trung tâm, chia thành 2 boong, boong trên bố trí các bảng điều khiển trạm chính và tổ hợp máy tính, còn boong dưới là máy phát điện – diesel khẩn cấp

4-Lò phản ứng. Trong đó bố trí thiết bị sản xuất hơi nước với toàn bộ trang thiết bị và ống dẫn của đường bao thứ nhất

5-Khoang máy móc hỗ trợ, đảm bảo hệ thống chức năng làm mát

6-Khoang tuabin. Trong mặt phẳng đường kính bố trí tổ hợp tuabin răng cưa, còn hai bên thành – 2 máy phát điện tuabin tự động và 2 bình ngưng tụ chính

7-Mạn tàu. Theo mạn tàu, tuyến trục chính chạy ngang qua và bố trí bánh lái dẫn động.

Tàu có thùng nổi cứu nạn khẩn cấp VSK (tương tự Đề án 705), có khả năng bố trí toàn bộ thủy thủ đoàn và đảm bảo sự cứu nạn ở độ sâu 1500 mét và trang bị hệ thống cung cấp năng lượng tự động. Thùng được bố trí trong khoang các khí tài di động và khi tàu ở vị trí nổi được sử dụng để loại (đẩy) từ các thùng thân trong tới boong thượng tầng. Trong các khoang số 2 và 3, ở đó bố trí trạm trung tâm và buồng cho người sống, tạo thành “khu vực cứu nạn”, bị hạn chế bằng các vách ngăn ngang, có khả năng chịu áp lực 40kg lực/cm2.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Hai, 2012, 01:26:36 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/685_06.jpg)

Thiết bị năng lượng chính gồm có 1 lò phản ứng nước OK-650B-3 với 4 máy phát điện hơi nước, một tổ hợp tuabin răng cưa chính (43 000 sức ngựa) và 2 máy phát điện tuabin tự động (2x2000kW). Thiết bị năng lượng dự bị gồm có 1 máy phát điện – diesel DG-500 (500kW), nhóm các pin ắc quy và tổ hợp di chuyển dự trữ - 2 chân vịt bánh lái bố trí ở các phần cuối cánh đuôi và công suất động cơ điện dẫn động theo 300kW, bố trí trong các thùng không thấm nước (giống như giải pháp đã được tiếp nhận trên Đề án 705). Tốc độ của các động cơ dự bị trên vị trí nổi là 5 hải lý.

Để ngăn ngừa sự tràn nước khẩn cấp ngoài thành tàu, trong thân trong tiếp nhận hệ thống hai mạch cộng hưởng các hệ thống trao đổi nhiệt của thiết bị năng lượng chính và trang thiết bị mang theo. Trong đường bao thứ nhất của máy làm mát, nước tuần hoàn với sự dẫn nhiệt tới 2 máy làm lạnh nước. Trong đó, số các lỗ thoài thành tàu trong thân trong được giảm đến mức tối thiểu. Mỗi khoang của tàu được trang bị hệ thống chữa cháy hóa học và nước – bọt.

Hệ thống điều khiển di chuyển của tàu ngầm nguyên tử có phân hệ thống, đảm bảo sự kiểm tra tự động hóa sự xâm nhập của nước ngoài thành tàu vào thân trong và cảnh báo tình trạng khẩn cấp của tàu để nổi.

Khí tài thông tin chính của tàu là tổ hợp thủy âm tự động hóa “Skat”, trạm ăng ten và trang thiết bị khí tài được bố trí trong phần cuối mũi tàu thân ngoài trong hộp vững chắc. Tổ hợp thủy âm được sử dụng để thông báo tình trạng của tàu, cung cấp sự chỉ thị mục tiêu cho vũ khí ngư lôi – tên lửa, nhận dạng mục tiêu ngầm và giải quyết hàng loạt các nhiệm vụ đạo hàng. Tổ hợp đảm bảo phát hiện các mục tiêu khi tìm phương theo tiếng ồn trong chế độ theo dõi mục tiêu tự động và khi tìm phương theo tiếng vọng trong chế độ đo xa.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Hai, 2012, 01:41:59 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/685_05.jpg)

Tàu có tổ hợp đạo hàng theo mọi vĩ độ tự động “Medveditsa-685”, đài ra đa định vị quan sát “Bukhta”, đài ra đa định vị đạo hàng “Chibis”, tổ hợp thông tin liên lạc “Molnia-L” (gồm có đài thông tin liên lạc vũ trụ “Sintez”, đồng thời các đài cao tần và siêu cao tần “Anic” và “Kora”). Sự điều khiển tập trung hoạt động chiến đấu được thực hiện nhờ hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu (BIUS).

Vũ khí ngư lôi của tàu ngầm nguyên tử gồm có 6 thiết bị ngư lôi tự động 533mm với các khí tài bắn thủy khí thực hiện một cách tự động và các hệ thống nạp đạn nhanh. Tổng cơ số đạn là 22 đơn vị (các phiên bản nạp đạn – tên lửa có cánh chiến lược RK-55, 2 ngư lôi phản lực “Shkval” và 2 ngư lôi điện tử SAET-60M trong thiết bị ngư lôi, đồng thời 6 tên lửa và 10 ngư lôi trên bệ). Vũ khí ngư lôi – tên lửa có thể được tiếp nhận bắn trong mọi độ lặn sâu của tàu ngầm theo từng phát bắn cũng như bắn loạt.

Sau khi gia nhập biên chế, tàu ngầm Đề án 685 (K-278 – sau đó là “Komsomolets” – “Đoàn viên thanh niên cộng sản”) trong thời gian vài năm đã ở trong quá trình khai thác sử dụng thí nghiệm. Tàu đã tiến hành các thí nghiệm cấp cao. Chi tiết, đã thực hiện lặn sâu ở độ sâu giới hạn (1020 mét!) với sự kiểm tra khả năng bắn từ các thiết bị ngư lôi. Tàu đã tham gia trong các cuộc tập trận của Hải quân. Trong thời gian thí nghiệm và diễn tập đã xuất hiện rằng, ở độ sâu 1000 mét, tàu ngầm thực tế không bị phát hiện bởi các khí tài thủy âm khác của đối thủ tiềm tang và không bị tổn thương đối với vũ khí của chúng. Ở phương Tây, Đề án 685 đã nhận tên gọi lớp Mike và theo công bố của Hiệp ước hạn chế vũ khí chiến lược, nó trở thành tàu ngầm nguyên tử đa năng lớn trong các lớp tàu ngầm trên thế giới.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Hai, 2012, 02:03:17 pm
Chương trình đóng tàu

Tàu ngầm duy nhất trong Đề án 685 nhận số hiệu K-278 được khởi công chính thức ở Severodvinsk tại xưởng đóng tàu số 402 vào 22 tháng 4 năm 1978. Việc đóng tàu được thực hiện bằng các khối, mỗi khối trong số đó đã được thí nghiệm bằng áp lực lớn nhất trên sân đóng tàu thí nghiệm. Sự hạ thủy K-278 vào ngày 9 tháng 5 năm 1983, 20 tháng 10 năm 1983, tàu ngầm nguyên tử đã gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc.

Tình hình đến năm 2005

Từ cuối năm 1983, K-278 (sau đó là “Komsomolets”) trong thời gian vài năm đã ở trong tình trạng khai thác sử dụng thí nghiệm, sự tiếp nhận vào biên chế Hải quan diễn ra ngày 13 tháng 9 năm 1988 (đóng căn cứ ở Zapadnaia Litsa). Nhưng đáng tiếc, tàu ngầm đa năng và triển vọng đã bị đắm ở biển Na Uy năm 1989. Rõ ràng khi đó, tàu ngầm nguyên tử “Komsomolets” là sự kiện buồn trên toàn thế giới. Bi kịch diễn ra mùng 7 tháng 4 trong thời gian phục vụ sẵn sàng chiến đấu, khi mà trong khoang số 7 xảy ra đám cháy lớn. Sự chiến đấu quên mình vị sự sống còn của thủy thủ đoàn được huấn luyện tốt đã không mang lại kết quả như mong đợi. Kết quả là sau khi nổi, tàu ngầm bơi được không lâu và lúc 17 giờ 8 phút đã đắm với độ nghiêng 70 độ theo mạn tàu ở độ sâu 1680 mét ở tây-nam quần đảo Medvezhi, 47 người hy sinh. Khi đó, lần đầu tiên, tình hình khẩn cấp thật đã tiếp nhận thùng nổi, nhưng không thành công.

Sau đó, đã có các cuộc thăm dò tiếp cận tàu ngầm “Komsomolets” để xác định sự xuất hiện phóng xạ hoặc độ nguy hiểm của vụ nổ. Đã làm sáng tỏ, rằng lò phản ứng của tàu ngầm trong thời gian bị bịt kín bởi thủy thủ đoàn và sự nguy hiểm đối với môi trường xung quanh không được thực hiện, còn các ngư lôi với đầu đạn hạt nhân trong thời gian đó có thể không được đóng kín. Vì vậy, vào năm 1994, đã tổ chức thêm một cuộc thăm dò nữa của Viện nghiên cứu khoa học “Mstislav Keldưsh” cùng với các khí tài lặn sâu đã nghiên cứu tàu ngầm bị đắm. Các nắp đặc biệt đã được lắp bằng các thiết bị trên các lỗ thủng ở thân tàu để ngăn chặn sự rò rỉ vào đại dương các phần tử phóng xạ của ngư lôi mang đầu đạn hạt nhân.

Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ K-278; từ tháng 10 năm 1988 là “Komsomolets”; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 22 tháng 4 năm 1978; khởi công ở xưởng số 402 tại Severodvinsk; hạ thủy 9 tháng 5 năm 1983; gia nhập quá trình khai thác sử dụng thí nghiệm và gia nhập biên chế 20 tháng 10 năm 1983; 1 tháng 8 năm 1984 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 13 tháng 9 năm 1988 đã tiếp nhận vũ khí và gia nhập biên chế chiến đấu; 7 tháng 4 năm 1989 sau kết quả vụ cháy lớn trong khoang số 7 đã bị đắm ở biển Na Uy, phía tây – nam quần đảo Medvezhi; năm 1989 bị loại khỏi biên chế và giải thể.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Hai, 2012, 02:10:35 pm
Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ nổi: 5680 tấn

+ ngầm: 8500 tấn

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 118,4 (-)

+ chiều rộng nhất (theo các thiết bị cân bằng): 11,2 (-)

+ lượng mớn nước theo vạch mớn nước thiết kế: 7,4

Thiết bị năng lượng chính: nguyên tử

+ 1 lò phản ứng nước OK-650B-3, công suất, mW: 190

+ 4 thiết bị sản xuất hơi nước

+ 1 thiết bị tuabin hơi nước với tổ hợp tuabin răng cưa chính, công suất, sức ngựa (kW): 43 000 (31 600)

+ 2 máy phát điện tuabin, công suất, kW: 2x2000

+ 1 máy phát điện diesel DG-500, công suất, kW: 500

+ 2 động cơ điện dự bị, công suất, sức ngựa: 2x300

1 trục; 1 chân vịt 7 cánh

2 bánh lái chân vịt dự bị

Tốc độ, hải lý

+ nổi: 14

+ ngầm: 30,6

Độ lặn sâu, mét

+ hoạt động hiệu quả: 1000

+ giới hạn: 1250

Thời gian hoạt động: -

Thủy thủ đoàn (sỹ quan): 57 (31).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Hai, 2012, 02:38:12 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/685_08.jpg)

Vũ khí

Tên lửa chiến lược

+ tên lửa chiến lược có cánh RK-55 “Granat” (SS-N-21 “Sampson”): 2…8

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm: 6 (mũi)

+ các ngư lôi 533mm/ ngư lôi – tên lửa/tên lửa có cánh chiến lược: 22

Mìn

Có thể mang mìn thay cho bộ phận ngư lôi: -

Trang bị vô tuyến điện

+ hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Omnibus-685”

+ đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: “Chibis” (Snoop Tray); “Bukhta” (Snoop Tray)

+ đài thủy âm: tổ hợp thủy âm “Skat”

+ các khí tài tác chiến điện tử: (Brick Group; Park Lamp D/F)

+ các khí tài áp chế thủy âm: thay cho bộ phận ngư lôi

+ tổ hợp đạo hàng: “Medveditsa-685”; (Code Eye); hệ thống đạo hàng quán tính

+ tổ hợp thông tin liên lạc: “Molnia-L” (Pret Sping); ăng ten lai; đài cao tần và siêu cao tần “Anis”, “Kora”; đài thông tin liên lạc âm thanh dưới nước

+ đài ra đa định vị hội thoại nói: -.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Hai, 2012, 12:53:34 pm
Đề án 971 “Shuka-B” (Cá măng-B) – lớp Akula

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/971_09.jpg)

Tổng số tàu đã đóng: 15+1

Các biến thể

+ 971 (lớp Akula) – loạt tàu ngầm nguyên tử đa năng thế hệ thứ 3 (1984)

+ 971 (lớp Akula nâng cấp) – biến thể với sự che phủ khỏi thủy âm được tăng cường (1992)

+ 971 (lớp Akula-II) – phiên bản hiện đại hóa với sự tăng cường lượng choán nước (1995)

+ 971-I (09710) (lớp Akula-II) – phiên bản xuất khẩu cho Hải quân Ấn Độ (năm 2009).

Để phát triển (mở rộng) mặt trận đóng tàu ngầm nguyên tử đa năng thế hệ thứ 3, trong tháng 7 năm 1976, đã tiếp nhận quyết định chế tạo trên cơ sở Đề án 945 thiết kế ở Phòng thiết kế Trung ương số 12 (“Lazurit”) ở Gorki tàu ngầm mới, rẻ hơn, sự khác biệt cơ bản so với nguyên mẫu phải là sự tiếp nhận trong các thiết kế thân tàu là thép, thay thế cho hợp kim titan đắt đỏ hơn. Bắt đầu trên cơ sở Đề án 958, năm 1976, đã thiết kế đề án phác họa rút gọn tàu ngầm nguyên tử đa năng, nhận số hiệu 971. Sự đặc biệt của đề án phác họa là sự tiếp nhận trong thiết kế thân tàu ngầm nguyên tử là thép mã hiệu AK, giảm cấp độ ồn theo so sánh với tàu ngầm thế hệ thứ 3 khác và sử dụng trang thiết bị ghép bộ đồng bộ cơ sở thuộc tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ 3. Theo các kết quả của đề án phác thảo, ngày 27 tháng 7 năm 1976, quyết định đồng thời của Hải quân và Bộ Công nghiệp “Về việc thiết kế Đề án kỹ thuật tàu ngầm nguyên tử đa chức năng tiếng ồn thấp trên cơ sở Đề án 945 (Đề án 971)”. Sự thiết kế tàu, nhận mã số “Shuka-B” được thực hiện theo nhiệm vụ kỹ - chiến thuật trước đó của năm 1972 (việc thiết kế tàu ngầm nguyên tử đa năng lớn thế hệ thứ 3), bỏ qua giai đoạn thiết kế phác thảo ở Phòng thiết kế thí nghiệm “Malakhit” tại Leningrad. Tháng 8 năm 1976, Tổng công trình sư là G.N.Chernưshov, giám sát viên chính từ phía Hải quân – Thuyền trưởng cấp 2 I.P.Bogachenko.

Điểm đặc biệt của tàu ngầm mới là là cấp độ tiếng ồn đã giảm đáng kể theo so sánh với tàu ngầm ngư lôi Liên Xô thế hệ thứ 2 (giảm gần gấp 5 lần). Kết quả này dự kiến sẽ đạt được do kết quả làm việc sớm hơn trong lĩnh vực tăng cường sự che phủ bí mật như tập hợp công trình sư Phòng thiết kế (ở đó, đầu năm 1970 đã thiết kế Đề án tàu ngầm nguyên tử tiếng ồn siêu thấp), cũng như các nhà khoa học thuộc Viện nghiên cứu khoa học Trung ương mang tên Viện sĩ A.N.Krưlov.

Theo thiết kế, tàu ngầm có 2 thân, một trục, với vách ngăn “xe con” của các khí tài di động và cách đuôi mạn tàu cao, trong đó bố trí mũ chụp đối với ăng ten lai của đài thủy âm. Thân ngoài được phủ bằng lớp che phủ cao su chống thủy âm. Thân trong bằng thép, được chế tạo từ thép độ cứng cao với giới hạn chịu lực 100kg lực/mm2 và được chia thành 6 khoang và buồng lái.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Hai, 2012, 12:59:41 pm
Các bản vẽ thiết kế Đề án 971:

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/971_34.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/971_35.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/971_32.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/971_draw2.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/971_33.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Hai, 2012, 01:05:29 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/971_59.jpg)

Hình dáng bên ngoài tàu ngầm nguyên tử Đề án 971

1-Phần chứa ăng ten mũi của tổ hợp thủy âm

2-Cửa vận chuyển ngư lôi

3-Khoang ngư lôi

4-Trạm trung tâm

5-Vách ngăn mui và các khí tài nâng cột trụ (buồm)

6-Buồng chắc – khoang cứu nạn nổi

7-Khoang các máy móc hỗ trợ

8-Khoang lò phản ứng

9-Khoang tuabin

10-Khoang trang thiết bị hỗ trợ

11-Buồng thiết bị dẫn động bánh lái.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Hai, 2012, 01:37:15 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/971_07.jpg)

Sự bố trí tổng quát:

+ Khoang số I (ngư lôi) được chia thành 2 bộ phận bởi bệ của buồng ngư lôi. Ở bộ phận trên của khoang bố trí bộ phận nạp đạn của thiết bị ngư lôi và cơ số đạn, ở dưới – các tổ hợp vô tuyến điện bền vững (trong đó, cơ bản – là tổ hợp thủy âm), các khí tài quạt và điều hòa nhiệt độ của khoang và trang bị vô tuyến điện. Dưới boong thứ 2 – hầm mạn và mũi tàu, ở giữa – khoang pin ắc quy;

+ Khoang số II, ở đây bố trí trạm chỉ huy chính, các khoang tổ hợp khác nhau (trong đó có hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu). Các boong số 2 và 3 – các khoang cho người sống, sinh hoạt tập thể và y tế, khoang thứ 4 – các tổ hợp khí tài vô tuyến điện bền vững, các khí tài của hệ thống điều hòa, hệ thống tổng thể của tàu, các ống nhòm tiềm vọng chỉ huy và phòng không;

+ Khoang số III (các máy móc hỗ trợ): trên boong số 1 và 2 bố trí các buồng và khí tài khác nhau, trên khoang số 3 và 4 – trang bị hỗ trợ (gồm có máy nén khí của hệ thống không khí cao áp, máy làm lạnh, thiết bị máy phát điện – diesel, các bơm tiêu nước và thoát nước, các thiết bị điện máy, các lá chắn hệ thống năng lượng điện), toàn bộ các khí tài nâng – cột trụ (buồm);

+ Khoang số IV (lò phản ứng): ở đây bố trí thiết bị sản xuất hơi nước, bảo vệ sinh học. Có các buồng mũi và tổ hợp, đảm bảo đường đi theo boong số 1. Trong buồng mũi bố trí trang thiết bị hỗ trợ của thiết bị sản xuất hơi nước và thiết bị điện máy của hệ thống năng lượng điện;

+ Khoang số V (tuabin): khối thiết bị tuabin hơi nước với các máy phát điện tuabin và máy lạnh treo;

+ Khoang số VI (các máy móc hỗ trợ) – trang thiết bị hỗ trợ khác nhau, chạy qua khoang là đường dẫn trục với ổ trục tỳ chính tới trong bơm và sự đệm kín trục bánh lái trong mạn tàu.

Buồng được thiết kế trong dạng thùng cứu nạn nổi, sử dụng để cứu nạn toàn bộ thủy thủ đoàn.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Hai, 2012, 01:45:18 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/971_10.jpg)

Tàu ngầm nguyên tử Đề án 971

Lượng choán nước: 8100 tấn

Tốc độ nổi: 10 hải lý

Tốc độ chìm: 30 hải lý

Tám (8 ) thiết bị ngư lôi 533mm, cơ số đạn – các ngư lôi, tên lửa, mìn,

Thiết bị điện: tuabin hơi nước

Chiều dài: 113,3 mét

Chiều rộng: 13,6 mét

Lượng mớn nước: 9,6 mét

Thủy thủ đoàn: gần 70 người

Mặt cắt tàu ngầm nguyên tử Đề án 971

1-Khoang ngư lôi, tổ hợp thủy âm, pin ắc quy

2-Trạm chỉ huy và buồng cho người sinh hoạt

3-Các tổ hợp vô tuyến điện

4-Khoang lò phản ứng

5-Thiết bị tuabin hơi nước với tổ hợp tuabin răng cưa chính

6-Khoang mạn tàu.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Hai, 2012, 02:32:03 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/971_14.jpg)

Khi đóng tàu đã sử dụng phương pháp khối: trang thiết bị được lắp ráp trong các khối tự động hóa và sau khi lắp ráp được di chuyển vào trong thân trong và kết nối ở đó bằng các dây cáp cùng cơ cấu dẫn động tuabin của các hệ thống mang theo. Sự tự động hóa của các khối mang tới sự giảm trường thủy âm của tàu, ngoài ra, thiết kế khối này đã đơn giản hóa một cách thực tế sự lắp ráp trang thiết bị. Trên tàu ngầm nguyên tử đã tiếp nhận hệ thống phát triển tự động hóa 2 tầng, giảm tiếng ồn đáng kể. Toàn bộ các máy móc được bố trí trên các bệ tự động. Kết quả là tàu ngầm trở thành tàu có tiếng ồn thấp nhất trong Hải quân Liên Xô. Những nỗ lực của các nhà chế tạo tàu đã thành công, theo cấp độ “êm”, tàu ngầm mới lần đầu tiên trong lịch sử đóng tàu ngầm quốc gia vượt trội tàu đồng dạng của Mỹ - tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ 3 “Los Angeles”.

Đề án kỹ thuật 971 được phê duyệt ngày 30 tháng 9 năm 1977. Tuy nhiên, sau đó, nó phải chịu những sự hoàn thiện đáng kể, gọi là sự cần thiết “hiệu chỉnh” cấp độ kỹ thuật của tổ hợp thủy âm tới cấp độ của người Mỹ, trên các tàu ngầm của họ lắp tổ hợp thủy âm  AN/BQQ-5 với sự xử lý thông tin số hóa, đảm bảo sự tách chính xác rất cao tín hiệu “có lợi” trên bối cảnh nhiễu. Điểm mới nữa là cần thiết áp dụng những sự thay đổi trong đề án, yêu cầu trang bị cho tàu ngầm nguyên tử thế hệ mới bằng các tên lửa chiến lược có cánh “Granat” (tương tự như “Tomahawk”).

Trong quá trình hoàn thiện, hoàn thành năm 1980, tàu ngầm nhận tổ hợp thủy âm số hóa mới “Skat-3” có những tính năng được tăng cường, đồng thời hệ thống điều khiển vũ khí, cho phép sử dụng các tên lửa có cánh.

Trong thiết kế tàu ngầm nguyên tử Đề án 971 đã thực hiện các giải pháp cải tiến, như sự tự động hóa tổ hợp các khí tài kỹ thuật và chiến đấu, tập trung điều khiển tàu, vũ khí và trang bị trong trung tâm duy nhất – trạm chỉ huy chính, sự tiếp nhận thùng cứu nạn nổi phổ biến (đã được kiểm tra thành công trên các tàu Đề án 705), bố trí trong vách ngăn các khí tài tự động. Toàn bộ các trang thiết bị và các trạm chiến đấu bố trí trên các thiết bị tự động trong các khối cục bộ, được giới thiệu như thiết kế khung không gian với các boong. Các khối cục bộ được cách khỏi thân tàu bằng bộ giảm chấn khí nén sợi cao su. Nhờ sự sử dụng các khối cục bộ đã thành công trong việc giảm một cách thực tế cấp độ trường thủy âm, đảm bảo an toàn cho thủy thủ đoàn và trang thiết bị khỏi tải trọng động lực, đồng thời hợp lý hóa công nghệ đóng tàu.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Hai, 2012, 12:56:16 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/971_22.jpg)

Do kết quả áp dụng sự tự động hóa đồng bộ, thủy thủ đoàn của tàu ngầm đã rút gọn còn 73 người (trong đó có 33 sỹ quan), giảm gần 2 lần so với thủy thủ đoàn của tàu ngầm nguyên tử lớp “Los Angeles” (141 người). Theo so sánh với tàu ngầm nguyên tử Đề án 671-RTM , trên tàu ngầm mới, điều kiện sinh hoạt cá nhân được cải thiện cao hơn.

Thiết bị năng lượng chính của tùa ngầm gồm có 1 lò phản ứng nước loại công suất 190mW (trên tàu đầu tiên đã lắp OK-650B, trên toàn bộ các tàu còn lại – OK-9VM) với 4 máy phát điện hơi nước và thiết bị tuabin hơi nước dạng khối 1 trục hơi nước công suất 50 000 sức ngựa với bộ phận máy móc dự trữ rộng. Trong thành phần hệ thống năng lượng điện có 2 máy phát điện tuabun dòng điện xoay chiều 3200kW, 2 nhóm pin ắc quy và 2 bộ đổi tần số thuận nghịch. Trong vai trò khí tài dự bị dự định lắp 2 máy phát điện – diesel theo 800 sức ngựa với trữ lượng nhiên liệu hoạt động 10 ngày. Chúng được sử dụng để xử lý dòng điện 1 chiều đối với các động cơ điện bánh lái và dòng điện xoay chiều – đối với các hệ thống tiêu thụ điện tổng hợp của tàu. Trong vai trò di chuyển, sử dụng chân vịt 7 cánh cách đều với các tính năng thủy âm được tăng cường và tần số quay giảm. Tàu đồng thời trang bị 2 khí tài chân vịt dự bị với các động cơ điện bánh lái dòng điện 1 chiều công suất 300 sức ngựa, đảm bảo sự di chuyển với tốc độ 5 hải lý khi vận động.

Tàu ngầm nguyên tử Đề án 971 nhận trang bị vũ khí tiến công mạnh, vượt trội đáng kể (theo số lượng và đường kính thiết bị ngư lôi, đồng thời cơ số đạn ngư lôi – tên lửa) các tàu ngầm cùng nhiệm vụ tương tự (trong nước cũng như nước ngoài). Cũng như Đề án 945, tàu ngầm mới phải được sử dụng để chống lại các tàu ngầm và các cụm tàu của địch, thực hiện việc rải mìn, tiến hành trinh sát, tham gia vào các chiến dịch đặc biệt (đặc nhiệm).

Trang bị của tàu ngầm nguyên tử gồm 4 thiết bị ngư lôi 533mm và 4 thiết bị ngư lôi 650mm, với sự bố trí truyền thống dành cho tàu ngầm nguyên tử Liên Xô theo 2 hàng ở mũi trong bộ phận trên của phần cuối mũi. Dưới các thiết bị ngư lôi là khoang với ăng ten thuộc tổ hợp thủy âm “Skat-3”. Cơ số đạn tổng hợp 40 đơn vị. Có khả năng bắn bằng các ngư lôi (trong đó có ngư lôi tự dẫn bắn ở mọi độ sâu UGST với tốc độ hơn 50 hải lý và tầm xa 50km), các tên lửa có cánh “Grant” (tầm bắn 2500km), tên lửa phóng dưới nước (“Shkval”) và tên lửa chống ngầm (“Vodopad”, “Veter”), đồng thời có thể mang theo mìn. Bộ phận đạn có thể thay thế bằng mìn, việc rải mìn đồng thời thực hiện qua thiết bị ngư lôi. Cơ số đạn tàu ngầm được bố trí trên bệ với giá tự động, cho phép nạp đạn ngư lôi vào thiết bị ngư lôi bằng máy mà không cần sự tham gia của thủy thủ đoàn. Vũ khí cho phép chống lại hiệu quả các tàu ngầm, tàu nổi, đồng thời tiêu diệt với độ chính xác cao các công trình trên mặt đất của địch bằng tên lửa có cánh.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Hai, 2012, 01:20:03 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/971_11.jpg)

Mặc dù trên sự tiếp tục hiện đại hóa các ngư lôi và tên lửa, nằm trong thành phần vũ khí của tàu ngầm nguyên tử Đề án 971, trên cơ sở các thỏa thuận Xô – Mỹ năm 1989, trong thành phần vũ khí của tàu ngầm nguyên tử đa năng đã loại bỏ hệ thống vũ khí với đầu đạn hạt nhân, trong đó có “Shkval” và “Vodopad” (trong cả 2 loại ngư lôi để sử dụng đầu đạn đặc biệt), đồng thời tên lửa có cánh chiến lược “Granat”.

Tàu ngầm trang bị khí tài vô tuyến điện hiện đại nhất với hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu “Omnibus”. Tổ hợp thủy âm mạnh thế hệ mới MGK-540 “Skat-3” có hệ thống xử lý thông tin số hóa, trong thành phần bao gồm: ăng ten mũi, 2 ăng ten độ dài lớn mang theo, đồng thời ăng ten lai dài, bố trí trong thùng, bố trí trên cánh đuôi đứng mạn tàu. Tầm xa phát hiện mục tiêu bởi tổ hợp mới tăng lên theo sự so sánh với đài thủy âm của các tàu ngầm thế hệ thứ 2 gấp 3 lần. Thời gian xác định các tham số di chuyển của mục tiêu giảm đáng kể. Ngoài tổ hợp thủy âm, tàu ngầm nguyên tử Đề án 971 trang bị hệ thống phát hiện tàu ngầm và tàu nổi của địch theo vết rẽ nước hiệu quả cao, chưa có tương tự trên thế giới. Việc lắp trên tàu khí tài này cho phép định vị sau nhiều giờ khi tàu ngầm địch đã đi qua. Trên tàu lắp tổ hợp đạo hàng “Simfonia-U”, tổ hợp thông tin liên lạc vô tuyến “Molnia-M” với hệ thống liên lạc vũ trụ “Tsunami-BM”, đồng thời ống nhòm tiềm vọng chỉ huy dạng “Lebed” và tổ hợp vô tuyến tiềm vọng “Signal-3”. Trong vai trò các khí tài đối kháng trên tàu ngầm đã lắp các khí tài – bẫy tự hành đặc biệt, bắn ra từ các khí tài chuyên dụng, đồng thời đài chống tác chiến điện tử.

Độ “êm” và tính năng chiến đấu cao mang tới cho tàu ngầm Đề án 971 khả năng vượt qua các vu vực chống ngầm của địch một cách thành công, trang bị các hệ thống quan sát thủy âm có định tầm xa, đòng thời các lực lượng chống ngầm. Chúng có thể tính toán trong khu vực địch chiếm ưu thế và tấn công chúng bằng các tên lửa và ngư lôi phù hợp. Vũ khí cho phép chúng chống lại các tàu ngầm và tàu nổi của địch, đòng thời tiêu diệt với độ chính xác cao các công trình trên bộ bằng tên lửa có cánh. Trong trường hợp xung đột vũ trang, mỗi tàu ngầm Đề án 971 có thể tạo thành mối đe dọa và kiềm chế các cụm quân địch lớn, không cho phép chúng tấn công vào lãnh thổ nước Nga. Sự xuất hiện của các tàu với tiềm năng chiến đấu rất cao đã làm thay đổi tình thế và bắt buộc Hải quân Mỹ phải tính toán khả năng đối kháng một cách mạnh mẽ từ phía Hải quân Liên bang Nga, thậm chí trong các điều kiện vượt trội của các lực lượng tấn công từ phía Mỹ.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Hai, 2012, 01:32:57 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/971_draw3.jpg)


Sơ đồ bố trí tổng thể của tàu ngầm Đề án 971

a-Mặt cắt dọc

b-Mặt cắt ngang theo cánh đuôi mạn tàu

v(c)-theo khoang lò phản ứng

g(d) – khoang ngư lôi

1-nôi (giỏ) các khí tài lắp và kéo ăng ten

2-boong số 1

3-boong số 2

4-vách ngăn khoang

5-khoang - thùng cứu nạn nổi

6-boong trên

7-bệ khoang ngư lôi

8-khoang ngư lôi

9-bộ phận thấm của phần đuôi mũi

10-phần cuối mũi của tàu

11-khoang tổ hợp thủy âm

12-thùng độ chênh mũi

13-khoang ắc quy

14-boong số 3

15-hầm

16-boong số 4

17-các thùng trong

18-khoang lò phản ứng

19-khoang bơm

20-ống khối đặc

21-buồng tay lái

22-thùng chênh mạn tàu

23-hành lang không được đi qua

24-các thùng cung cấp nhiên liệu.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Hai, 2012, 01:58:58 pm
Các biến thể

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/971_12.jpg)

Đồng thời với việc đóng các tàu Đề án 971, chương trình nâng cấp cũng được thực hiện, hướng vào việc hiện đại hóa các tính năng thủy âm và mở rộng khả năng chiến đấu. Theo phân loại của NATO, Đề án 971 nhận mã số “lớp Akula” (rõ ràng, theo tên gọi của tàu đầu tiên). Trong phiên bản cơ sở đã đóng 3 tàu ở Severodvinsk (số hiệu xưởng 821, 822 và 831) và 5 ở Komsomol-na-Amur (số hiệu xưởng 501, 502, 513, 514 và 515). Bắt đầu từ thân tàu thứ 2 (K-263, số hiệu xưởng 502), trên các tàu ngầm lắp đài phát hiện mục tiêu theo vết rẽ nước (SOKS), bắt đầu từ K-319 (số hiệu xưởng 514) – thiết bị phóng để khởi động các khí tài của tổ hợp chống (áp chế) thủy âm (ở thượng tầng), hệ thống khẩn cấp bơm hơi thuốc nổ của thùng tải trọng dằn chính (máy phát điện khí thuốc nổ), mạng lưới động lực khẩn cấp, thiết bị vạch sáng tuần hoàn mang theo mới kiểu “Plavnik”. Đồng thời, bắt đầu từ thân tàu thứ hai, nhận lò phản ứng hạt nhân mới OK-9VM thay cho OK-650M.01.

Công việc đóng tàu tiếp theo được tiến hành theo đề án hiện đại hóa (trong đó, không nhận số hiệu chính thức) có độ “êm” thủy âm được tăng cường. Đòng thời lắp tổ hợp ra đa định vị hiện đại MRKP-59 “Radian” (thay cho MRPK-58). Trong “phân dòng” này đã chế tạo 5 tàu (ở xưởng số 199, số hiệu xưởng – 516, 517, 518, ở xưởng số 402, số hiệu xưởng 832 và 833), đã không qua khỏi sự quan sát của phương Tây. Các tàu này mang tên gọi “lớp Akula Improved” (nghĩa là “Akula nâng cấp”).

Sau đó, việc đóng tàu được tiếp tục theo các đề án chỉnh sửa lại một cách đáng kể (một lần nữa không có số hiệu): trong khi bảo vệ hình dáng ngoài, các tàu cần có thiết kế thay đổi thân trong, trong đó kéo dài thêm vài mét để lắp khí tài mới, đòng thời tái bố cục một số khoang, tương ứng với đó, lượng choán nước cũng được tăng lên. Trong “phân lớp” này, đã đóng 2 tàu ở Severodvinsk: K-157 (số hiệu xưởng 834) và K-335 (số hiệu xưởng 835), đồng thời đóng tiếp hai thân tàu đã khởi công trước đó ở cả 2 xưởng. Ở phương Tây, các tàu ngầm nguyên tử này nhận tên gọi “lớp Akula-II”, trong một số nguồn của Nga là Đề án 971-M (mặc dù tên gọi này không phù hợp với thực tế).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Hai, 2012, 02:15:40 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/971_02.jpg)

Cũng cần nhớ lại, trong quá trình đóng loạt tàu ngầm nguyên tử lớp “Akula”, phòng thiết kế lắp ráp xe máy Hải quân “Malakhit” đã liên tục tiến hành chương trình hiện đại hóa các tính năng thủy âm của Đề án. Các giải pháp riêng của chương trình này được thực hiện trên các tàu trong loạt (số hiệu xưởng 834, 835, 836, 837, 519, 520, 521 – được nghiên cứu như là sự chuyển tiếp gần hoàn toàn theo đề án hiện đại hóa), còn sự chuyển tiếp hoàn toàn đề án nâng cấp, có trên hình dáng ngoài của thân tàu khác, phải được bắt đầu trên các tàu ngầm được khởi công trước đó số hiệu 835 và 520. Ngoài sự giảm dấu vết thủy âm, tăng cường chiều dài và lượng choán nước, các tàu này phải có sự thay đổi vách ngăn mũi và buồng các khí tài lắp và triển khai ăng ten lai. Đáng tiếc, tàu duy nhất này trở thành tàu cuối cùng thuộc dòng tàu ngầm nguyên tử gia nhập biên chế - “Gepard” (K-335), còn một số nguồn thuộc Nga. Thậm chí, tàu ngầm này còn được bổ sung thành lớp “Akula-III”.

Sau năm 2000, một trong số các tàu đang được đóng tiếp – “Nerpa” (K-512, số hiệu xưởng 518) – đã được đóng tiếp theo Đề án 971-I (Đề án 09710) đặc biệt dành cho Hải quân Ấn Độ (theo các nguồn khác nhau – hoặc là theo hợp đồng thuê dài hạn 10 năm hoặc là bán). Tháng 1 năm 2004, đã khí hợp đồng của 2 bên trị giá 650 triệu USD. Ban đầu, việc bàn giao tàu ngầm cho Hải quân Ấn Độ lên kế hoạch nhận vào 15 tháng 8 năm 2007, nhưng xưởng Amur đã kéo dài quá trình đóng tàu lên 10 tháng và yêu cầu tăng giá lên 785 triệu USD, còn phía Ấn Độ chỉ đồng ý hoãn lại đến 15 tháng 6 năm 2008, nhưng sau đó đã điều chỉnh lại vào tháng 12 năm 2009, không có sự thay đổi giá thành và thời gian hợp đồng.

Trong Hải quân Ấn Độ, “Nerpa” đã lên kế hoạch mang tên INS “Chakra” (thừa hưởng từ tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh Đề án 670-M). Theo cấp độ công nghệ và sự trang bị, Đề án 971-I tương ứng với dòng tàu ngầm nguyên tử cuối cùng “Gepard” (K-335). Cũng như đã biết, tên gọi và số hiệu của tàu ngầm nguyên tử “Nerpa” được đặt theo tiếng Anh.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Hai, 2012, 02:29:35 pm
Chương trình đóng tàu

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/971_25.jpg)

Tàu đầu tiên thuộc Đề án 971 nhận số hiệu K-284 (số hiệu xưởng 501) được khởi công ở xưởng số 199 tại Komsomol-na-Amur. Trong quá trình thí nghiệm đã xuất hiện những sự hoàn thiện nhằm nâng cao cấp độ “êm” của thủy âm hơn so với các tàu ngầm nguyên tử trước. Cấp độ tiếng ồn của K-284 là thấp gấp 4-4,5 lần so với các tàu ngầm tiền nhiệm có tiếng ồn “thấp” nhất của Liên Xô – Đề án 671-RTM, đã mang đến cơ sở để nói về địa vị hàng đầu thế giới của Liên Xô/Nga theo chỉ số quan trọng bậc nhất của ngành đóng tàu.

Việc đóng tàu dòng này được tiếp tục nhanh – chậm đều đặn đến đầu năm 1990, nhưng sau khi Liên Xô tan rã và khủng hoảng kinh tế ở Nga, tình hình bị đình trệ đáng kể. Năm 1995, đã thành công trong việc đưa vào biên chế 7 tàu ngầm đóng ở xưởng 199 tại Amur và 6 tàu ở xưởng số 402 tại Severodvinsk. Sau khi được đóng tiếp đến năm 2001, tàu ngầm nguyên tử “Gepard” (K-335) – số 14 theo tính toán, còn “Nerpa” (K-152) đã tiếp nhận sự đóng tiếp theo Đề án 971-I để bàn giao cho Ấn Độ (thuê trong 10 năm). Thêm 5 tàu trong giai đoạn chuẩn bị khác nhau đã bị dừng lại, ngoài ra, còn ở trong các xưởng có thiết kế thân tàu còn chưa được khởi công. Theo đó, tổng cộng loạt có 15 tàu, mặc dù theo kế hoạch ban đầu lớn hơn rất nhiều.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Hai, 2012, 02:53:07 pm
Tình hình đến năm 2009

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/971_22-1.jpg)

Tới thời điểm này, trong biên chế Hải quân Nga còn 13 trong số 15 tàu thuộc Đề án 971, trong đó có 1 tàu Đề án 971-I, đóng cho Hải quân Ấn Độ. “Akula” và “Ak Bars” đã bị loại khỏi biên chế vì vấn đề tài chính chứ không phải hết thời gian phục vụ.

Hiện nay, toàn bộ các tàu ngầm nguyên tử đa chức năng thuộc Đề án này nằm trong biên chế Hạm đội Phương Bắc (đóng căn cứ ở Yagelnưi) và Thái Bình Dương (Ruwbachy). Chúng được sử dụng một cách hiệu quả trong nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu (so với thời điểm hiện nay). Năm (5) tàu chưa được đóng đã được bảo quản lâu dài trên các xưởng đóng tàu, nhưng sau năm 2000, việc đóng chúng bị dừng lại, còn đơn đặt hàng thì bị bãi bỏ. Các thiết kế, 2 trong số chúng (“Rưs” và “Kuguar”) được sử dụng khi đóng tiếp tàu ngầm nguyên tử tuần dương mang tên lửa có cánh “Yuri Dogoruki” Đề án 955.

Đến mùng 2 tháng 11 năm 2008, trong thời gian thí nghiệm ở biển Nhật Bản, trên tàu ngầm nguyên tử “Nerpa” Đề án 971-I đã xuất hiện tai nạn. Lúc 3 giờ 30 phút sáng (20 giờ 30 phút giờ Moskva), ở khoang mũi tàu bất ngờ hệ thống chữa cháy bị hỏng: cửa bị đóng kín, mọi người chỉ kịp rời khỏi buồng, và trong các buồng bị đóng, freon bắt đầu tràn vào. Kết quả là 20 người bị ngạt thở (3 quân nhân và 17 người trong đội bàn giao) và 21 người bị nhiễm độc Freon (tổng cộng trên “Nerpa” có 208 người, trong số đó, 81 quân nhân). Tàu chống ngầm loại lớn “Admiral Tributs” đã tiếp cận tàu ngầm, ở đó các hoạt động quân y đã bắt đầu cấp cứu các bệnh nhân. Trong các bệnh viện của Hạm đội Thái Bình Dương ở Vladivostoc đã tiếp nhận bệnh nhân với các tình trạng nhiễm độc khác nhau. Chính tàu ngầm như là “nạn nhân” của vụ tai nạn không bị thương tích, lò phản ứng hoạt động trong chế độ bình thường. Các thí nghiệm sau đó đã dừng lại, và tàu ngầm tự hoạt động, cùng với tàu cứu nạn đã trở về căn cứ tạm thời ở Primore.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Hai, 2012, 12:41:06 pm
Tóm tắt lịch sử phục vụ (* - các tàu còn phục vụ trong biên chế)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/971_40.jpg)

+ K-284, từ 13 tháng 4 năm 1993 là “Akula” (số hiệu xưởng 501); khởi công 11 tháng 11 năm 1983 ở phân xưởng thuộc xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin tại Komsomol-na-Amur (số 199) như là phân lớp tàu ngầm nguyên tử lớn (6 tháng 11 năm 1983 việc lắp các ụ con đóng tàu được bắt đầu); là tàu đầu tiên trong Đề án; 16 tháng 6 năm 1984, được đưa tới ụ vận tải – hạ thủy “Amur”; 16-25 tháng 10 năm 1984 được vận chuyển tới căn cứ bàn giao ở vịnh Đá Lớn, sau đó, từ vịnh con Chikhareva, tàu được kéo từ ụ, gồm có khởi động vật lý lò phản ứng; 30 tháng 12 năm 1984, gia nhập biên chế; trong giai đoạn từ năm 1985 đến 1989, nằm ở căn cứ bàn giao Đá Lớn để tiến hành các công việc khác nhau, trong đó có sự khắc phục sự phê bình và nhận xét của ủy ban nghiệm thu (1985-1988), tinh sửa lần cuối và sơn (1986), kiểm tra khối lượng công việc và công nghệ tiến hành sửa chữa ở bến chữa tàu và hàng hải (1987, 1989), sự tinh chế thủy âm (1985-1986), các thí nghiệm hiệu chỉnh và thí nghiệm cấp xưởng của tổ hợp thủy âm “Skat-3” (1985-1986), các thí nghiệm cấp Nhà nước của tổ hợp thủy âm “Skat-3”, gồm có sự kiểm tra trong các điều kiện đại dương (1986-1987), hoàn thiện tổ hợp thủy âm theo sự phê bình và góp ý của ủy ban cấp Nhà nước (1988), tiến hành hoạt động riêng rẽ đối với tổ hợp tên lửa “Granat”; từ năm 1986, tàu được sử dụng để đảm bảo thí nghiệm của loạt tàu ngầm; năm 1990, chuyển tới căn cứ thường trực ở Kamchatka và 28 tháng 2 năm 1990, gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử tuần dương; cuối những năm 1990, bị loại khỏi biên chế chiến đấu của Hải quân.

+ K-480, từ 24 tháng 7 năm 1991 là “Bars”, từ 13 tháng 10 năm 1997 là “AK Bars” (số hiệu xưởng 821); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 3 tháng 3 năm 1984 như tàu ngầm nguyên tử loại lớn; khởi công 22 tháng 2 năm 1985 ở phân xưởng xí nghiệm lắp ráp xe máy phương Bắc tại Severodvinsk (số 402); 16 tháng 4 năm 1988 – hạ thủy; 29 tháng 12 năm 1988 kéo cờ và 31 tháng 12 năm 1988 gia nhập biên chế; 1 tháng 3 năm 1989 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; tháng 8 năm 1989 gia nhập biên chế các lực lượng trực chiến thường trực và thực hiện nhiệm vụ trực chiến cấp 1; 6 tháng 4 năm 190 đã hoàn thành cuộc lặn sâu ở độ sâu giới hạn; theo kết quả năm 1990, đã nhận thành tích “tàu xuất sắc”, đồng thời tàu tốt nhất Hạm đội Phương Bắc về khả năng sống còn khi chốn lại mìn và huấn luyện chống ngầm; năm 1990 và 1993, bị loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác, bảo quản lâu dài và neo đậu ở Gadzhievo.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Hai, 2012, 03:02:31 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/971_29.jpg)

*+ K-263, từ 13 tháng 4 năm 1993 là “Delphin”; (số hiệu xưởng 502); khởi công 9 tháng 5 năm 1985 ở phân xưởng thuộc xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin tại Komsomol-na-Amur như tàu ngầm nguyên tử loại lớn; hạ thủy 28 tháng 5 năm 1986; 30 tháng 12 năm 1987 gia nhập biên chế; năm 1988 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử tuần dương; đầu những năm 1990 đã trải qua sửa chữa; trong thời gian mùa đông năm 1996-1997 đã thực hiện các nhiệm vụ tập – huấn luyện, thực hiện bắn tên lửa và ngư lôi huấn luyện, rải mìn (cùng với thủy thủ đoàn tàu ngầm “Drakon” trên thành); năm 1997 đã đến căn cứ thường trực ở Viliuchinsk.

*+ K-322, từ 13 tháng 4 năm 1993 là “Kashalot” (số hiệu xưởng 513); khởi công 5 tháng 9 năm 1986 ở phần xưởng thuộc xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin tại Komsomol-na-Amur (số 199) như là tàu ngầm loại lớn; hạ thủy 18 tháng 7 năm 1987; 30 tháng 12 năm 1988 gia nhập biên chế; năm 1989 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử tuần dương.

*+ K-317, từ 10 tháng 10 năm 1990 là “Pantera” (số hiệu xưởng 822); khởi công 6 tháng 11 năm 1986 ở phân xưởng thuộc xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc ở Severodvinsk (số 402); 10 tháng 3 năm 1987 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm nguyên tử loại lớn; 21 tháng 5 năm 1990 – hạ thủy; 28 tháng 9 năm 1990 đã hoàn thành lần ra khơi đầu tiên; 2 tháng 10 năm 1990 đã hoàn thành cuộc lặn sâu đầu tiên; 27 tháng 12 năm 1990 gia nhập biên chế và 30 tháng 12 năm 1990 đã kéo cờ Adrei và cờ Hải quân công nông đỏ năm 1919; 14 tháng 3 năm 1991 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 5 đến 22 tháng 6 năm 1992 đã thực hiện cuộc hành quân giai ngày, ở đó đã tham gia vào chiến dịch sục sạo chống ngầm của Hạm đội Phương Bắc ở Đông – Bắc Đại Tây Dương, 28 tháng 11 năm 1991 theo mệnh lệnh của Tổng thống Liên Xô, 17 thành viên thuộc thủy thủ đoàn tặng huân và huy chương; 2 tháng 1 năm 1992 là tàu ngầm xuất sắc và tàu tốt nhất trong Hạm đội Phương Bắc trong huấn luyện chống ngầm; 3 tháng 6 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử tuần dương; 2 tháng 1 năm 1993, theo kết quả huấn luyện chiến đấu trong năm đã qua đã trở thành tàu tốt nhất trong đơn vị và trong Hạm đội Phương Bắc do các hoạt động tìm kiếm; trong thời gian năm 1993 đã thực hiện một lần phục vụ sẵn sàng chiến đấu; 3 tháng 11 năm 1993 theo mệnh lệnh của Tổng thống Nga, 24 thành viên thủy thủ đoàn đã được tặng huân chương và huy chương, thủy thủ đoàn được tặng giải của Bộ tư lệnh Hải quân “Vì sự giám sát tàu ngầm nước ngoài”; 15 đến 26 tháng 3 năm 1996 đã tham gia cuộc tập trận chỉ huy – tham mưu dưới sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Hải quân, nhận đánh giá “tốt”; 28 tháng 11 năm 1998, thủy thủ đoàn trở thành tập thể xuất sắc trong đơn vị, chiếm vị trí số 1 về huấn luyện chiến đấu; 11 tháng 1 năm 1999, chỉ huy Thuyền trưởng cấp 1 S.V.Spravtsiev theo mệnh lệnh của tổng thống Nga đã được tặng danh hiệu Anh hùng Liên bang Nga; 6 tháng 9 năm 2000, đã được tàu cứu nạn “Nikolai Chiker” kéo về Severodvinsk để sửa chữa ở xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc; 2 tháng 11 năm 2006 trong thời gian sửa chữa, do sự hàn không cẩn thận, ở khoang số 3 sàn lát gỗ và giẻ đã bốc cháy và sau đó là ống cáp; những người quản lý xưởng đã quyết định đóng kín khoang nóng với tính toán rằng không có không khí, lửa sẽ tự dập tắt; khi nhiệt độ trong khoang kín bắt đầu giảm xuống, trong khoang còn 7 người, tuy nhiên, 2 trong só đó chưa bị thương ngay lập tức do sản phẩm của lửa và di chuyển một cách khó nhọc tới bệnh viện; 28 tháng 1 năm 2008, sau khi kết thúc sửa chữa đã tiếp nhận vào thành phần chiến đấu của Hải quân.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Hai, 2012, 03:22:34 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/971_30.jpg)

*+ K-461, từ 25 tháng 6 năm 1991 là “Volk” (số hiệu xưởng 831); khởi công 14 tháng 11 năm 1987 ở phân xưởng thuộc xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc tại Severodvinsk (số 402); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 20 tháng 12 năm 1989 như tàu ngầm nguyên tử lớn; 11 tháng 6 năm 1991 – hạ thủy; 29 tháng 12 năm 1991 gia nhập biên chế; 27 tháng 1 năm 1992 kéo cờ Hải quân và 11 tháng 2 năm 1992 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 3 tháng 6 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; mùa xuân năm 1993 tham gia chiến dịch cứu nạn; trong giai đoạn từ tháng 11 năm 1993 đến tháng 1 năm 1994 đã thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu; trong gia đoạn từ tháng 12 năm 1995 đến tháng 2 năm 1996 đã thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu ở biển Địa Trung Hải (cùng với thủy thủ đoàn tàu ngầm nguyên tử “Pantera”, theo các kết quả đó, chỉ huy tàu Burilichev A.V được tặng danh hiệu Anh hùng Liên bang Nga; năm 1996 đã thực hiện 1 nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu; 29 tháng 1 năm 2000 khi đang xử lý các nhiệm vụ ở bãi tập huấn luyện chiến đấu trong thời gian bão đã làm hy sinh 2 sỹ quan – trợ lý lâu năm và chỉ huy bộ phận chiến đấu số 3.

*+ K-391, từ 13 tháng 4 năm 1993 là “Kit”, từ 1 tháng 9 năm 1997 là “Bratsk” (số hiệu xưởng 514); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 3 tháng 3 năm 1984; khởi công 23 tháng 2 năm 1988 ở phân xưởng thuộc xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin tại Komsomol-na-Amur (số 199) như tàu ngầm nguyên tử lớn; 14 thnags 4 năm 1989 hạ thủy; 29 tháng 12 năm 1989 gia nhập biên chế; 28 tháng 2 năm 1990 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; 28 tháng 4 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử tuần dương.

*+ K-328, từ 24 tháng 1 năm 2001 là “Leopard” (số hiệu xưởng 832); khởi công 26 tháng 10 năm 1998 ở phân xưởng thuộc xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc tại Severodvinsk (số 402); 15 tháng 1 năm 1990 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm nguyên tử lớn; theo chỉ thị của Bộ tham mưu Hải quân từ 21 tháng 5 năm 1991, tàu đã được chuyển giao Huân chương Cờ đỏ số 544341 từ tàu ngầm K-181 Đề án 627-A (tàu ngầm nguyên tử đầu tiên, có mặt ở cực Bắc), còn 29 tháng 4 năm 1991 đã thừa hưởng Cờ đỏ Hải quân từ tàu ngầm K-181 (Đề án 627-A); 3 tháng 6 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử tuần dương; 28 tháng 6 năm 1992 hạ thủy; 1 tháng 9 năm 1992 khởi động lò phản ứng; 15 đến 30 tháng 10 năm 1992 đã trải qua các thí nghiệm vận động cấp xưởng; 15 tháng 12 năm 1992 đã hoàn thành thí nghiệm cấp Nhà nước và 30 tháng 12 năm 1992 gia nhập biên chế; 15 tháng 1 năm 1992 kéo cờ và 26 đến 29 tháng 1 năm 1992 đã hoàn thành cuộc di chuyển từ Severodvinsk tới vị trí đóng căn cứ thường trực; 5 tháng 2 năm 1993 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1994 được nhận giải thưởng của Bộ Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; trong giai đoạn từ năm 1993 đến 2002 đã thực hiện 4 lần sẵn sàng chiến đấu (năm 1998, các nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu đã thực hiện cùng thủy thủ đoàn tàu ngầm nguyên tử “Pantera”).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Hai, 2012, 03:50:42 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/971_36.jpg)

*+ K-154, từ 24 tháng 7 năm 1991 là “Tigr” (số hiệu xưởng 833); khởi công 10 tháng 9 năm 1989 ở phân xưởng thuộc xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc tại Severdovinsk (số 402); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; 31 tháng 1 năm 1991 như tàu ngầm nguyên tử loại lớn; 3 tháng 6 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử tuần dương; 26 tháng 6 năm 1993 hạ thủy; 7 tháng 9 năm 1993 thực hiện khởi động lò phản ứng; 14 tháng 11 năm 1993 trong thời gian thí nghiệm vận động đã hoàn thành cuộc lặn sâu đầu tiên; 19 tháng 11 năm 1993 đã thực hiện cuộc bắn ngư lôi đầu tiên; 24 tháng 11 năm 1993 – bắn tên lửa; 29 tháng 12 năm 1993 gia nhập biên chế; 5 tháng 1 năm 1994 kéo cờ và 21 tháng 1 năm 1994 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1995 và 1996 được tặng giải của Bộ Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; trong giai đoạn từ 1998 đến 2002 trải qua sửa chữa bổ sung ở xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc; trong gian đoạn từ 2002 đến 2003 đã thực hiện 2 lần trực chiến.

*+ K-331, từ 13 tháng 4 năm 1993 là “Narval” (số hiệu xưởng 515); khởi công 28 tháng 12 năm 1989 ở phân xưởng thuộc xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin tại Komsomol-na-Amur (số 199) như là tàu ngầm nguyên tử lớn; hạ thủy 23 tháng 6 năm 1990; 31 tháng 12 năm 1990 gia nhập biên chế; năm 1991 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử tuần dương.

*+ K-157, từ 6 tháng 4 năm 1993 là “Vepr” (số hiệu xưởng 834); khởi công 13 tháng 7 năm 1990 tại phân xưởng thuộc xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc ở Severodvinsk (số 402); ghi tên vào danh sách các tàu Hải quân 27 tháng 1 năm 1992 như tàu ngầm nguyên tử loại lớn; 3 tháng 6 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử tuần dương; 10 tháng 12 năm 1994 hạ thủy; trong giai đoạn từ 29 tháng 6 năm 1995 đến 3 tháng 11 năm 1995 đã trải qua các thí nghiệm cấp xưởng, sau đó là thí nghiệm cấp Nhà nước; 25 tháng 11 năm 1995 gia nhập biên chế; 30 tháng 11 năm 1995 kéo cờ và 10 tháng 12 năm 1995 đã tới chỗ đóng căn cứ thường trực ở Gadzhieveo; 29 tháng 12 năm 1995 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 11 tháng 9 năm 1998 trên tàu đã xảy ra tình trạng khẩn cấp; thỉu thủ Kuzmin một cách bình thản đã giết hại 8 thủy thủ và làm bị thương 1 sỹ quan, sau đó khóa khoang mũi tàu, đe dọa kích nổ ở đó một trong số các tên lửa; qua 23 giờ, sau khi bắt đầu cuộc đụng độ của phân đội đặc nhiệm FSB và Hạm đội phương Bắc đã thực hiện nhiệm vụ đặc biệt, kết quả là thủy thủ trên đã bị bắn hạ; trong giai đoạn từ tháng 12 năm 1998 đến tháng 2 năm 1999 đã thực hiện nhiệm vụ phục vụ sẵn sàng chiến đấu, thủy thủ đoàn chiếm vị trí số 1 trong Hải quân về giám sát lâu dài tàu ngầm nước ngoài; tháng 4 năm 1999 trong quá trình diễn tập chỉ huy – tham mưu theo sự di chuyển các lực lượng trong đơn vị tới cấp độ huấn luyện cao hơn, tàu đã được kiểm tra bởi Phòng thanh tra Quân đội thuộc Ủy ban An toàn Liên bang, được đánh giá “tốt”; tháng 9-10 năm 1999 đã trải qua các thí nghiệm thủy âm mở rộng ở biển Trắng; năm 1999 được tặng giải thưởng từ Bộ Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; trong giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2003 đã thực hiện 1 lần phục vụ sẵn sàng chiến đấu và chiến dịch cứu hộ.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Hai, 2012, 04:02:33 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/971_46.jpg)

*+ K-335, từ 22 tháng 2 năm 1993 là “Gepard” (số hiệu xưởng 835); khởi công 23 tháng 9 năm 1991 ở phân xưởng thuộc xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc tại Severodvinsk (số 402); 22 tháng 2 năm 1993, ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm nguyên tử tuần dương; 4 tháng 12 năm 1997, thừa hưởng cờ Cận vệ từ tàu ngầm K-22 (Đề án 675-MVK); 17 tháng 9 năm 1999 hạ thủy; 20 tháng 7 năm 2001 đã hoàn thành các thí nghiệm cấp nhà nước; 4 tháng 12 năm 2001 kéo cờ và 5 tháng 12 năm 2001 gia nhập biên chế; năm 2002 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 2004 trở thành tàu xuất sắc của Hạm đội Phương Bắc do gia đoạn huấn luyện mùa đông; năm 2007, đưa vào sửa chữa.

+ K-337, từ 22 tháng 1 năm 1998 là “Kuguar” (số hiệu xưởng 836); khởi công 18 tháng 8 năm 1992 ở phân xưởng thuộc xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc tại Severodvinsk (số 402) như tàu ngầm nguyên tử tuần dương; 22 tháng 1 năm 1989 bị loại khỏi danh sách tàu Hải quân và dừng đóng; 1 tháng 5 năm 1988 bị giải thể và bảo quản; sau đó các thiết kế kim loại đã hoàn thnahf của tàu được bắt đầu đóng tiếp thành tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh đầu tiên thuộc Đề án 955 (“Yuri Dolgoruki”).

*+ K-295, từ 29 tháng 12 năm 1995 là “Drakon”, từ 30 tháng 8 năm 1999 là “Samara” (số hiệu xưởng 517); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 1 tháng 4 năm 1990 như tàu ngầm nguyên tử lớn; 28 tháng 4 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; khởi công 7 tháng 11 năm 1993 ở phân xưởng thuộc xưởng đóng tàu Amur ở Komsomol-na-Amur (số 199); 5 tháng 8 năm 1994 hạ thủy; 17 tháng 7 năm 1995 gia nhập biên chế; 29 tháng 12 năm 1995 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; 4 tháng 12 năm 1997 thừa hưởng cờ Cận vệ Andrei từ tàu ngầm K-133 Đề án 627-A.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Hai, 2012, 04:20:44 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/971_41.jpg)

*+ K-152, từ 13 tháng 4 năm 1993 là “Nerpa” (số hiệu xưởng 518); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 31 tháng 1 năm 1991 như tàu ngầm nguyên tử lớn; 28 tháng 4 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử tuần dương; khởi công năm 1993 ở phân xưởng thuộc xưởng đóng tàu Amur tại Komsomol-na-Amur (số 199); 4 tháng 12 năm 1997 thừa hưởng cờ Cận vệ Andrei từ tàu ngầm K-56 Đề án 675; tháng 1 năm 2002 dừng đóng tàu do thiếu tài chính khi hoàn thành kỹ thuật 68%; tháng 1 năm 2004 ký hợp đống đóng tiếp theo Đề án 971-I với sự thuê sau đó của Hải quân Ấn Độ; 24 tháng 6 năm 2006 hạ thủy; 11 tháng 6 năm 2008 bắt đầu chương trình thí nghiệm trước khi đưa vào khai thác sử dụng; 31 tháng 10 năm 2008, tàu đã hoàn thành cuộc lặn sâu lần đầu tiên; theo sự hoàn thành các thí nghiệm vận động đã lên kế hoạch bắt đầu quá trình bàn giao tàu ngầm nguyên tử của Ủy ban quốc gia và bàn giao cho Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; 8 tháng 11 năm 2008; gần 20 giờ 30 (13 giờ 30 giờ Moskva) theo giờ địa phương khi đang tiến hành các thí nghiệm vận động trên tàu đã xảy ra tai nạn của hệ thống chữa cháy trong bộ phận mũi, kết quả tai nạn, 20 người hy sinh (trong số đó có 3 quân nhân), gần 20 người bị thương, tàu không bị thương; theo mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh Hải quân; các thí nghiệm dừng lại, tàu theo hải trình về trạm thuộc căn cứ chiến đấu; bắt đầu khắc phục tai nạn; 9 tháng 11 năm 2008, tàu quay lại căn cứ thường trực ở vịnh Đá Lớn.

+ K-333, từ 7 tháng 2 năm 1995 là “Rưs” (số hiệu xưởng 837); khởi công 31 tháng 8 năm 1993 ở phân xưởng thuộc xí nghiệm lắp ráp xe máy tại Severodvinsk (số 402) như tàu ngầm nguyên tử tuần dương, do không có tài chính, 6 tháng 10 năm 1997 bị loại khỏi danh sách tàu Hải quân và dừng đóng; 1 tháng 12 năm 1997 giải thể và bảo quản; sau đó các thiết kế đã được hoàn thiện của tàu chuyển sang đóng tiếp tàu đầu tiên trong tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh đầu tiên Đề án 955 (“Yuri Dolgoruki”).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Hai, 2012, 04:39:09 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/971_43.jpg)

+ Thân tàu thứ 18; từ năm 1995 là “Irbis” (số hiệu xưởng 519); khởi công năm 1990 ở phân xưởng thuộc xưởng đóng tàu Amur tại Komsomol-na-Amur (số 199) như tàu ngầm nguyên tử tuần dương; việc đóng tàu được tiến hành chậm chạp đến năm 2000; tháng 1 năm 2002 tình trạng chuẩn bị kỹ thuật của tàu là 42%; số phận sau này của tàu đang đặt dưới dấu hỏi.

+ Thân tàu số 19 (số hiệu xưởng 520); khởi công năm 1990 ở phân xưởng tại xưởng đóng tàu Amura tại Komsomol-na-Amur (số 199) như tàu ngầm nguyên tử tuần dương; 18 tháng 3 năm 1992 do thiếu tài chính, việc đóng tàu bị dừng lại và loại khỏi danh sách tàu Hải quân khi tình trạng kỹ thuật đã hoàn thành 25%.

+ Thân tàu số 20 (số hiệu xưởng 512); khởi công năm 1991 ở phân xưởng thuộc xưởng đóng tàu Amur tại Komsomol-na-Amur (số 199) như tàu ngầm nguyên tử tuần dương; 18 tháng 3 năm 1992 do thiếu tài chính đã dừng việc đóng và loại khỏi danh sách tàu Hải quân trong khi tình trạng kỹ thuật hoàn thành 12%.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Hai, 2012, 07:10:18 pm
Các thông số kỹ chiến thuật chính

Lớp Akula

Lượng choán nước, tấn

+ nổi: 8140

+ ngầm: 12 770

Các kích thước, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 110,3 (-)

+ chiều rộng nhất thân tàu: 13,6

+ chiều rộng theo bộ phận cân bằng ngang: 15,4

+ lượng mớn nước theo vạch mớn nước thiết kế: 9,68

Thiết bị năng lượng chính: nguyên tử

+ 1 lò phản ứng nước OK-650M.01 (tàu đầu tiên) hoặc OK-9VM (trên các tàu còn lại), công suất, mW: 190

+ 1 thiết bị sản xuất hơi nước kiểu OK-300 (1 lò phản ứng nước và 4 máy phát điện hơi nước); 1 tổ hợp tuabin răng cưa chính

+ 1 tuabin hơi nước, công suất, sức ngựa (kW): 50 000 (36 750)

+ 2 máy phát điện tuabin, công suất, kW: 2x3200

+ 2 máy phát điện-diezel, công suất, kW: 2x750

+ 2 động cơ điện dự bị, công suất, sức ngựa, kW: 2x370

1 trục, 1 chân vịt 7 cánh; 2 thiết bị bánh lái cơ động

Tốc độ, hải lý

+ nổi: 10

+ ngầm: 33

+ trên các động cơ dự bị: 5

Độ lặn sâu, mét

+ hoạt động hiệu quả: 480

+ giới hạn: 600

Thời gian hoạt động: 100 ngày

Thủy thủ đoàn (sỹ quan): 73 (33).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Hai, 2012, 07:27:13 pm
Vũ khí

Tên lửa chiến lược

+ tổ hợp tên lửa RK-55 “Granat” (SS-N-21 “Sampson”) với tên lửa chiến lược có cánh 3M10V2 “Granat”: thay thế cho bộ phận ngư lôi

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng tổ hợp tên lửa phòng không mang vác “Igla-3M” (SA-16 “Gimlet”): 3 (18)

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 650mm: 4 (mũi)

+ các ngư lôi 650mm 65-76: 12

+ thiết bị ngư lôi 533mm: 4 (mũi)

+ các ngư lôi 533mm USET-80, UGST: 28

+ ngư lôi – tên lửa chống ngầm 83-R, 84-R “Vodopad”/86-R, 88-R “Veter”; các tên lửa M5 “Shkval”: thay cho các ngư lôi 650/533mm

Mìn: có thể mang mìn thay cho bộ phận ngư lôi: 40

Trang bị vô tuyến điện

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Omnibus”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: MRKP-58 hoặc MRPK-59 “Radian” (Snoop Pair)

Đài thủy âm:

+ tổ hợp thủy âm MGK-540 “Skat-3” (Shark Gill)

+ đài thủy âm lớn “Pelamida”

+“Akula” – ăng ten bảo toàn góc

+ MG-70 – phát hiện mìn

+ MT-70 – trinh sát thủy âm

Các khí tài tác chiến điện tử

+ “Bukhata”; PMU “Zona”, “Anis” (Rim Hat, Park Lamp)

+ khí tài áp chế thủy âm 533mm MG-74 “Korund”

+ thiết bị phóng khí tài áp chế thủy âm kích thước nhỏ (trừ tàu đầu tiên)

Hệ thống phát hiện mục tiêu theo vết rẽ nước: SOKS (ngoài 6 tàu đầu tiên)

Tổ hợp đạo hàng

+ “Simfonia-U”

+ PMU “Sintez” – đạo hàng vũ trụ

Tổ hợp thông tin liên lạc vô tuyến

+ “Molnia-MTs” (Kremmny-2)

+ “Tsunami-BM”, PMU “Kora” – thông tin vũ trụ

+ “Paravan” – ăng ten lai

Đài ra đa định vị hội thoại nói: “Nikhrom-M”.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Hai, 2012, 07:30:20 pm
Lớp Akula-II

Lượng choán nước, tấn

+ nổi: 8500

+ ngầm: 13 400

Các kích thước, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 112 (-)

+ chiều rộng nhất thân tàu: 13,6

+ chiều rộng theo bộ phận cân bằng ngang: 15,4

+ lượng mớn nước theo vạch mớn nước thiết kế: 9,7

Thiết bị năng lượng chính: nguyên tử

+ 1 lò phản ứng nước OK-650M.01 (tàu đầu tiên) hoặc OK-9VM (trên các tàu còn lại), công suất, mW: 190

+ 1 thiết bị sản xuất hơi nước kiểu OK-300 (1 lò phản ứng nước và 4 máy phát điện hơi nước); 1 tổ hợp tuabin răng cưa chính

+ 1 tuabin hơi nước, công suất, sức ngựa (kW): 50 000 (36 750)

+ 2 máy phát điện tuabin, công suất, kW: 2x3200

+ 2 máy phát điện-diezel, công suất, kW: 2x750

+ 2 động cơ điện dự bị, công suất, sức ngựa, kW: 2x370

1 trục, 1 chân vịt 7 cánh; 2 thiết bị bánh lái cơ động

Tốc độ, hải lý

+ nổi: 10

+ ngầm: 33

+ trên các động cơ dự bị: 5

Độ lặn sâu, mét

+ hoạt động hiệu quả: 480

+ giới hạn: 600

Thời gian hoạt động: 100 ngày

Thủy thủ đoàn (sỹ quan): 73 (33).

Các thông số vũ khí và khí tài vô tuyến điện như trên lớp “Akula-I”.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Hai, 2012, 03:46:58 pm
Đề án AV-611 – Lớp Zulu-V

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/av611_draw2.jpg)

Lớp tàu ngầm điện - diezel với tên lửa đạn đạo

Đã trang bị lại và đóng tiếp: 5

Các biến thể

+ V-611 (lớp Zulu-IV) – tàu ngầm điện – diesel mang tên lửa đạn đạo trên cơ sở tàu ngầm ngư lôi Đề án 611 để thí nghiệm tên lửa đạn đạo R-11FM (1954)

+ AV-611 (lớp Zulu-V) – Đề án đóng hàng loạt trên cơ sở Đề án V-611, trang bị 2 tên lửa đạn đạo R-11FM (1957)

+ PV-611 – tàu ngầm điện – diesel mang tên lửa đạn đạo để xử lý việc phóng tên lửa đạn đạo khởi động dưới nước (1958)

+ AV-611-RA – tháo các thiết bị ngư lôi, lắp đài thủy âm “Radian-1” để thí nghiệm (1964)

+ AV-611-RU – tháo các thiết bị ngư lôi, lắp tổ hợp thủy âm “Rubin” để thí nghiệm (1964)

+ AV-611-D7 – đề án tàu ngầm điện – diesel mang tên lửa đạn đạo để thí nghiệm tên lửa đạn đạo thuộc tổ hợp D-7 (1962)

+ AV-611-S – tháo hầm tên lửa đạn đạo, thí nghiệm hệ thống đạo hàng thiên văn mới “Simvol” (1969)

+ AV-611-D – biến thể của Đề án AV-611-S để thí nghiệm tổ hợp kiểm tra mới “Dnepr” và “Dnestr” (1974)

+ AV-611-E – tháo các thiết bị ngư lôi và tên lửa đạn đạo để xử lý tổ hợp thủy âm mới “Enisei” (1969)

+ AV-611-K – thí nghiệm hệ thống đạo hàng vũ trụ “Shtưr-M” (1971)

+ AV-611-Ts – thí nghiệm tổ hợp thông tin liên lạc vũ trụ “Tsunami-B” (1971).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Hai, 2012, 04:16:42 pm
Đề án 629/629-B – Lớp Golf-I

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/629_11.jpg)

Lớp: tàu ngầm điện – diesel với tên lửa đạn đạo

Tổng số tàu đã đóng: 24/1

Các biến thể

+ 629 (lớp Golf-I) – loạt tàu ngầm tên lửa đầu tiên của Liên Xô được đóng đặc biệt (1959)

+ 629-B – xử lý các tổ hợp tên lửa mới với sự khởi động ngầm (năm 1962)

+ 629-A (lớp Golf-II) – lắp tổ hợp tên lửa D-4 với tên lửa đạn đạo R-21 khởi động ngầm (1966)

+ 601 (lớp Golf-III) – thân tàu được kéo dài, lắp 6 hầm để thí nghiệm biến thể tên lửa đạn đạo R-21 (1977)

+ 605 (lớp Golf-IV) – tàu ngầm thí nghiệm trang bị 4 tên lửa đạn đạo chống tàu R-21K (1970)

+ 619 (lớp Golf-V) – xử lý tổ hợp mới D-19 với tên lửa đạn đạo nhiên liệu rắn R-39 (1978)

+ 629-R (lớp Golf-1 nâng cấp) – tàu ngầm với máy tiếp (chuyển) phát, các tên lửa được tháo (1976)

+ 629-N – tàu với các tên lửa được tháo, trang bị lại thành tàu rải mìn

+ 629-M – đề án tàu ngầm với thiết bị năng lượng chính hỗ trợ.

Ngày 26 tháng 1 năm 1954, đã có Mệnh lệnh của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô đặt điều kiện tiến hành các công việc nghiên cứu – thiết kế với mục đích nghiên cứu khả năng trang bị cho các tàu ngầm tên lửa đạn đạo. Trong đó, chi tiết, dự kiến sau khi kết thúc các lần phòng thí nghiệm với tàu ngầm thí nghiệm Đề án V-611 (trang bị lại từ tàu ngầm ngư lôi) để chế tạo đề án kỹ thuật tàu ngầm điện – diesel mới trang bị vũ khí tên lửa hoạt động trên đại dương. Đơn vị chính phụ trách đóng tàu Hải quân được giao cho tập thể Phòng thiết Trung ương lắp ráp xe máy kỹ thuật Hải quân số 16  (hiện nay là Phòng thiết kế lắp ráp xe máy Hải quân Saint Peterburg “Malakhit”), nhiệm vụ kỹ - chiến thuật tương ứng với đề án kỹ thuật sau đó mang mã số 629. Sự thiết kế sơ bộ được giao cho Tổng công trình sư N.N.Isanin đã bắt đầu, theo thực chất công việc, song song với các công việc nghiên cứu – thí nghiệm theo đề tài “Volna”. Tuy nhiên, khi bắt đầu thiết kế đã xuất hiện sự bất hợp lý rõ ràng về nhiệm vụ kỹ - chiến thuật năm 1954. Bởi vì, tầm bay xa của tên lửa R-11FM tổng cộng 250km, để thực hiện cuộc tấn công vào bờ biển, tàu ngầm phải đi vào khu vực chống ngầm của địch, có chiều sâu 300 – 400km. Vì thế, ngày 11 tháng 1 năm 1956 đã phê duyệt nhiệm vụ kỹ - chiến thuật mới ở Đề án 629 và tổ hợp tên lửa mới tăng tầm bắn D-2 (giám sát viên chính từ Hải quân là B.F.Vasiliev, sau đó là I.I.Liagin và V.I.Litoshenko).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Hai, 2012, 04:18:31 pm
Các bản vẽ thiết kế Đề án 629:

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/629_06.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/629_43.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/629_draw2.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Hai, 2012, 04:19:12 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/629_draw4.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/629_45.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/629_44.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Hai, 2012, 04:20:22 pm
Hình vẽ và sơ đồ mặt cắt dọc Đề án 629

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/629_08.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/629_09.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/629_10.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Hai, 2012, 04:23:51 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/629_25.jpg)

Hình vẽ sự khởi động tên lửa R-21 dưới nước của Đề án 629


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Hai, 2012, 11:25:31 am
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/629_draw3.jpg)

Bố cục bên trong tàu ngầm nguyên tử diesel Đề án 629

1-Khoang chứa đài thủy âm

2-Các thiết bị ngư lôi mũi 533mm

3-Thân trong

4-Thân ngoài

5-Buồng thủy thủ

6-Phòng thủy thủ đoàn (sỹ quan)

7-Pin ắc quy 46-SU

8-Vách ngăn mui

9-Các khí tàu nâng cột trụ ăng ten và ống nhòm tiềm vọng

10-Trạm trung tâm

11-Tên lửa R-11FM

12-Các thiết bị phóng (dưới) hầm của tên lửa đạn đạo

13-Nắp hầm

14-Ống xả của hệ thống thiết bị kỹ thuật trên tàu

15-Các động cơ diesel

16-Động cơ điện bánh lái

17-Động cơ điện dự bị PG-104

18-Buồng mạn tàu

19-Các thiết bị ngư lôi 533mm mạn tàu

20-Bánh lái chân vịt giữa

21-Bánh lái đứng


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Hai, 2012, 11:49:39 am
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/629_draw5.jpg)

Sơ đồ mặt cắt dọc của tàu ngầm Đề án 629

1-Các thiết bị ngư lôi

2-Khoang số VIII (mạn, ngư lôi)

3-Phao tiêu khẩn cấp

4-Cửa vào

5-Khoang số VII (động cơ điện)

6-Khoang số VI (động cơ diesel)

7-Buồng điều khiển động cơ diesel

8-Khoang số V (cho người ở và ắc quy)

9-Thiết bị thoát khí của hệ thống các thiết bị kỹ thuật trên tàu

10-Hầm tên lửa

11-Khí tài nâng cột trụ “Albatros”

12-Khí tài nâng cột trụ ăng ten khung

13-Khí tài nâng cột trụ ăng ten VAN

14-Hầm di động của hệ thống thiết bị kỹ thuật trên tàu

15-Kính tiềm vọng phòng không

16-Ống nhòm tiềm vọng “Segment”

17-Khoang trong

18-Nhà vệ sinh

19-Khoang số II (cho người ở, ắc quy)

20-Khoang số I (mũi, ngư lôi)

21-Bánh lái ngang ở mũi

22-Các thiết bị ngư lôi

23-Các hệ thống thủy âm của đài “Sviyaga” và “Svet”

24-Hệ thống thủy âm của đài MG-10

25-Đài thủy âm “Arktika-M”

26-Buồng hầm

27-Pin ắc quy

28-Trạm trung tâm

29-Khoang số III (trạm trung tâm)

30-Khoang số IV (tên lửa)

31-Động cơ diesel 37D

32-Động cơ điện bánh lái giữa PG-102

33-Động cơ điện dự bị PG-104

34-Trục bánh lái

35-Chân vịt

36-Bánh lái đứng


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Hai, 2012, 04:15:33 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/629_17.jpg)

Tháng 3 năm 1956, đã hoàn toàn thiết kế lại đề án tàu ngầm để trình lên Ủy ban kiểm tra cấp Nhà nước của Hải quân do sự chuẩn bị không kịp các đề án hệ thống kiểm soát tên lửa đạn đạo và chính tên lửa. N.Isanin đã đề xuất bắt đầu đóng tàu ngầm ban đầu với các tên lửa R-11FM. Với mục tiêu rút gọn khối lượng trang thiết bị sau đó của các tàu ngầm với tổ hợp vũ khí tên lửa mới, ông đã lên kế hoạch đồng nhất một cách tối đa toàn bộ các phần tử tổ hợp tên lửa – thiết bị phóng, hệ thống tính toán – giải quyết “Dolomit”, đòng thời hệ thống kiểm soát khởi động và bay của tên lửa. Sự thiết kế thiết bị phóng diễn ra ở Phòng thiết kế Trung ương số 34 thuộc Bộ Công nghiệp Quốc phòng. Khi thiết kế đề án tàu và thiết bị phóng, đặc biệt chú ý vào sự đảm bảo độ tin cậy và an toàn khi bảo vệ tên lửa, đồng thời sự phóng của chúng trong các điều kiện khai thác sử dụng lâu dài tàu ngầm với tên lửa trên thành.

Trên cơ sở Đề án 629 đã lấy đề từ đề án tàu ngầm lớn hoạt động trên đại dương thuộc Đề án 611, nhưng tăng cường số lượng khoang từ 7 lên 8. Dự kiến, sư đồng nhất hoàn toàn theo thiết bị ngư lôi, thiết bị năng lượng chính và các khí tài kỹ thuật cơ bản khác. Nhưng trong cùng thời gian đó, với mục tiêu giảm trung tâm trọng lực của khoang tên lửa và đảm bảo tính vững chắc có lợi của tàu ngầm khi sự nổi của thân trong của khoang tên lửa lần đầu tiên chế tạo trong hình dáng “số 8” – trong hình dạng 2 đường giao nhau của bệ chống hình trụ: đường kính trên 5,8 mét, dưới 4,8 mét (giải pháp này, các công trình sư Liên Xô đã mượn của người Đức – vào cuối cuộc chiến tranh đã đóng các tàu ngầm với thiết kế thân trong này, sau đó, được mang về Liên Xô như là chiến lợi phẩm). Biện pháp này đã xuất hiện vấn đề, gọi là sự chia phần, kéo dài thêm 1/3 chiều dài tàu và vượt ra đường cơ bản 2,55 mét ở dưới. Vách ngăn dài, cao, rộng của khoang và thiết bị nâng cột trụ (PMU) rào quanh bộ phận trên của hầm tên lửa (3 hầm trong 1 hàng). Khoang trong được chia thành 2 tầng: phía trên là các trạm chỉ huy và dẫn đường, ở dưới bố trí thiết bị nâng cuộn cáp của kính tiềm vọng “Lira” và PZN-3. Mặc dù tăng các kích thước cơ bản và lượng choán nước, chất lượng chuyển động của tàu ngầm Đề án 629 theo so sánh với Đề án 611 giảm không nhiều. Tron thiết kế tên lửa mới của tàu ngầm đã áp dụng một số kỹ thuật mới, chi tiết, lắp các chân vịt tiếng ồn nhỏ 5 cánh. Với mục đích kiểm tra độ an toàn của tên lửa, trong các vụ nổ của bom chìm trên các tầm xa khác nhau từ tàu ngầm, xưởng số 402, năm 1959 theo bản vẽ của Phòng thiết kế trung ương số 18 đã chế tạo khoang ngoài trời của tàu ngầm Đề án 629 và tàu đảm bảo các thí nghiệm (trên cơ sở tàu quét mìn Đề án 254).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Hai, 2012, 04:24:17 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/629_35.jpg)

Ngoài vũ khí tên lửa, tàu ngầm Đề án 629 trang bị 6 thiết bị ngư lôi, không có ngư lôi dự bị - 4 ở mũi và 2 ở mạn. Độ sâu tiếp nhận vũ khí ngư lôi là 80 mét. Trữ lượng không khí cao áp được bổ sung bằng máy nén khí – diesel DK-2.

Thiết bị năng lượng chính được chế tạo dưới dạng 3 trục, đồng dạng hoàn toàn với tàu ngầm Đề án 611. Nó gòm có 3 động cơ diesel kiểu 37D theo 2000 sức ngựa mỗi động cơ và 3 động cơ điện bánh lái: 2 PG-101 trên các trục bên, và 1 PG-102 ở giữa. Pin ắc quy 48SU gồm 4 cụm và 112 phân tử Tầm bơi xa tối đa trên tư thế nổi (với nhiên liệu dự trữ) là 23 5000 dặm với tốc độ 8 hải lý, trong chế độ bơi chiến đấu với tốc độ 7 hải lý – 10 800 dặm, trong tư thế ngầm – 290 dặm với tốc độ tuần tra 2,5 hải lý.

Thủy thủ đoàn tàu ngầm có 80 sỹ quan, hạ sĩ quan Hải quân và thủy thủ. Các điều kiện sinh hoạt thực tế không khác với các tàu ngầm ngư lôi thường trong thời gian đó. Thời gian hoạt đọng với trữ lượng thực phẩm: 70 ngày.

Cũng như đã nhắc đến, liên quan với sự kéo dài thiết kế tổ hợp D-2 với tên lửa R-13, 3 tàu đầu tiên được khởi công năm 1957 đã được bàn giao cho Hải quân tên lửa R-11FM, còn sự hiện đại hóa của chúng với các thiết bị khởi động tên lửa có cánh R-13 sau đó đã được tiến hành ở các xưởng đóng tàu. Ở phương Tây, các tàu ngầm tên lửa Đề án 629 nhận tên gọi lớp Golf.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Hai, 2012, 08:22:49 pm
Các biến thể

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/629_34.jpg)

Cũng như Tổng công trình sư đã đề xuất, Tổng công trình sư Đề án 629 N.Isanin, song song với việc đóng loạt tàu, trang bị tên lửa R-11FM, đã tiến hành thí nghiệm tên lửa mới R-13, theo đó là 1 tàu ngầm trong Đề án. Từ tháng 11 năm 1959 đến tháng 8 năm 1960, từ thành tàu đầu tiên B-92 trong biên chế Hạm đội Phương Bắc đã thực hiện 11 lần phóng, trong số đó 11 lần thành công. Sau đó, 13 tháng 10 năm 1961, tên lửa cùng tổ hợp D-2 đã được tiếp nhận vào biên chế Hải quân Liên Xô. Ngay sau đó đã bắt đầu trang bị lại các tàu ngầm với tên lửa R-11FM bằng tên lửa mới R-13, mà nhờ sự cân nhắc bởi Tổng công trình sư, sự đồng nhất theo khí tài khởi động đã diễn ra thành công một cách nhanh chóng. Ở phương Tây, sự tái trang bị này gần như không được chú ý, ở đó không tính toán, rằng toàn bộ các tàu ngầm trong đề án này đã bắt đầu trang bị tên lửa R-13.

Tuy nhiên, trong sự nâng cấp này, điểm yếu cơ bản của các tàu ngầm tên lửa Liên Xô đầu tiên – sự khởi động nổi (tên lửa) – vẫn còn. Tên lửa R-13 có thể khởi động chỉ từ vị trí nổi, trong đó, thời gian chuẩn bị đến khi khởi động tên lửa đầu tiên sau khi nổi là 4 phút, giảm đáng kể giá trị chiến đấu của các tàu ngầm mới Đề án 629.

Trong quá trình đóng, các tàu ngầm Đề án 629, bắt đầu từ thân số hiệu xưởng 811, trên các tàu ngầm lắp tổ hợp khí tài thông tin vô tuyến và trinh sát vô tuyến mới, còn từ số hiệu 815 – đài tìm phương theo tiếng ồn mới MG-10.

Các thí nghiệm đầu tiên của tên lửa đạn đạo với tàu ngầm thí nghiệm Đề án V-611 đã chỉ ra khả năng thật của việc chế tạo tên lửa khởi động ngầm. Ví thế, 20 tháng 3 năm 1958 đã tiếp nhận mệnh lệnh của Nhà nước về việc chế tạo tên lửa mới, khởi động dưới nước với tầm bắn xa như R-13. Để tiến hành các thí nghiệm tên lửa mới trong biên chế tổ hợp đã quyết định kéo dài loạt tàu ngầm Đề án 629, được đóng ở xưởng số 402 tàu thứ 16 theo Đề án thay đổi 629-B để xử lý tổ hợp 2 tên lửa mới với sự khởi động ngầm: tên lửa với nhiên liệu động cơ lỏng (Tổng công trình sư V.P.Makeev) và nhiên liệu rắn (P.A.Tyurin).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Hai, 2012, 09:00:21 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/629_11-1.jpg)

Năm 1960, dưới sự chỉ đạo của Ya.E.Evgrafov đã thiết kế Đề án kỹ thuật tàu ngầm B-629. Đồng thời, năm 1960, các chuyên gia thuộc Phòng thiết kế Trung ương số 34 đã thiết kế một cách theo nguyên tắc thiết bị khởi động để bảo quản lâu dài tên lửa đạn đạo trong các điều kiện khởi động của chúng trên tàu từ hầm ngập nước với bệ khởi động cố định (số hiệu SM-87), còn ở Viện nghiên cứu khoa học số 49, đã chế tạo các mẫu thí nghiệm các khí tài tính toán – giải quyết điều khiển các khí tàu thủy lực của tên lửa và xác định thời điểm khởi động “Izumrud” và thiết bị tự động tính toán tìm phương và xác định tầm xa tới mục tiêu “Stavropol”. Sau các lần phóng kiểm tra tên lửa vào cuối tháng 12 năm 1962, tàu ngầm Đề án 629-B nhận số hiệu chiến thuật K-142, đã được tiếp nhận vào biên chế Hải quân trong vai trò tàu thí nghiệm – chiến đấu, trong đó lắp tổ hợp D-4 với sự khởi động ngầm.

Lần phóng đầu tiên của tên lửa R-21 thuộc Phòng thí nghiệm Makeev từ vị trí ngầm là 24 tháng 12 năm 1962. Tổng cộng trong quá trình thí nghiệm đã thực hiện 27 lần phóng tên lửa. Chúng cho phép xử lý sự khởi động ngầm tin cậy và an toàn. Tổ hợp D-4 với tên lửa R-21 được tiếp nhận vào biên chế theo Mệnh lệnh của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô ngày 15 tháng 3 năm 1963. Theo cấp độ kỹ thuật của R-21 là bước tiến lớn, sự thật, chỉ là so với các tên lửa R-11FM và R-13. Còn thật ra, nó thua kém một cách rõ ràng so với các tên lửa đồng dạng của Mỹ. Tên lửa được thiết kế 1 tầng, với các thùng nhiên liệu mang theo và đầu đạn tách rời, tầm bắn của tên lửa – 1400km.

Năm 1959, đã thực hiện Đề án sơ bộ 629-D4, được xác định là các phần tử cơ sở một cách tiền đề của tàu ngầm khi lắp tổ hợp mới D-4 trên tàu. Đề án kỹ thuật này cũng được thiết kế chỉ sau sự chế tạo tàu ngầm thí nghiệm Đề án 629-B, khi thành phần khí tài của hệ thống tổ hợp được xác định ở mức cuối cùng về các tính năng kích thước khối lượng của tên lửa các phần tử khác.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Hai, 2012, 12:47:40 pm
Tháng 7 năm 1962 đã tiếp nhận quyết định nâng cấp tàu ngầm với mục tiêu lắp tổ hợp tên lửa D-4 với các tên lửa R-21. Năm 1963, Ủy ban thuộc Hải quân đã giới thiệu Đề án 629-A, thiết kế dưới sự chỉ đạo của Tổng công trình sư V.V.Borisov.  Khi thiết kế đề án này đã xuất phát từ sự cần thiết rút gọn tối đa khối lượng toàn bộ công việc. Sự thay đổi cơ bản hướng vào khoang thứ 4 và không gian giữa hai thành tàu ở khu vực khoang này. Các hầm mới cho tên lửa đạn đạo R-21 được lắp. Trong đường rãnh hình tròn của khoang thứ 4 lắp các thùng tải trọng dằn, sử dụng để hỗ trợ tàu trong độ sâu ở thời điểm khởi động tên lửa. Các tên lửa được lắp trong các hầm ở trạng thái được nạp nhiên liệu, nơi chúng có thể ở đó trong 3 tháng. Trong khoảng thời hạn đó, cần thiết tháo chúng để kiểm tra tình trạng kỹ thuật. Việc bắn được thực hiện ở độ sâu 50 mét, khi sóng biển cấp 5 và tốc độ tàu ngầm 4 hải lý. Thời gian giữa các lần khởi động của 2 tên lửa đầu tiên gần 5 phút. Để đảm bảo sự bắn tên lửa sử dụng khí tài tính toán – giải quyết của tàu “Stavropol-1” và “Izumrud-1” – tính toán các góc dẫn bắn các khí tái con quay mang theo của tên lửa một cách tương đối mặt phẳng bắn và mặt phẳng ngang. Đề án đồng thời dự kiến lắp tổ hợp đạo hàng hiện đại “Sigma-629-A” với ống nhòm ngầm đạo hàng thiên văn “Segment-8” để xử lý góc vòng và xác định tốc độ của tàu ngầm, xác định tự động nhiệm vụ hiện tại về các tọa độ địa lý và xử lý nhiệm vụ hiện tại về các góc bên và độ lắc sống tàu. Pin ắc quy 46-SU được thay thế bằng pin năng suất cao hơn 48-SM, đồng thời, trong Đề án cũng áp dụng hàng loạt sự đổi mới khác.

Trong thời gian thí nghiệm cấp Nhà nước của tàu ngầm Đề án 629 đầu tiên – K-88 – đã tiến hành phóng 2 tên lửa R-21 từ các hầm giữa và mạn tàu và sau khi thực hiện đầy đủ chương trình thí nghiệm vận động cấp xưởng, tàu ngầm được tiếp nhận bởi Ủy ban nghiệm thu Nhà nước vào biên chế Hải quân. Sau đó, theo Đề án 629-A trong giai đoạn từ 1966 đến 1972 đã trang bị lại thêm 13 tàu ngầm (tổng cộng, 8 – xưởng “Zvedochka” và 6 ở xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin, trong đó, có 1 theo Đề án 629-B). Sau đó, chúng được phân lớp lại từ loại lớn thành tàu ngầm tuần dương với sự sở hữu số hiệu chiến thuật với tiền tố “K”. Ở phương Tây, các tàu ngầm hiện đại hóa nhận tên gọi lớp Golf-II.

Trong thời gian phục vụ, các tàu ngầm Đề án 629-A được trang bị khí tài ăng ten lai kiểu “Paravan”, hang-ga để trong đó bố trí thượng tầng trong phần cuối mạn tàu, nhưng trên một số tàu ngầm, bộ phận tương tự được lắp ở mũ chụp – là sự kéo vách ngăn mui và hầm tên lửa.

Trong số các tàu còn lại của Đề án này – 1 tàu ngầm – B-118 – năm 1974 đã trang bị lại theo Đề án 601 với sự kéo dài thân và thượng tầng 20 mét cùng sự bố trí 6 hầm để thí nghiệm các tên lửa đạn đạo 4K75 (R-29 tổ hợp D-9), nhận tên gọi lớp Golf-III từ phương Tây. Thêm một tàu ngầm nữa – K-102 – năm 1973 đã trang bị lại theo Đề án 605 (lớp Golf-IV) thành phương tiện mang tên lửa đạn đạo 4K18 (SS-NX-13) để tiêu diệt các mục tiêu cơ động trên biển – chế tạo trên cơ sở R-27. Năm 1974-75, tàu ngầm K-153 đã trải qua nâng cấp ở Severodvinsk theo Đề án 619 (lớp Golf V) thành tàu thí nghiệm để thí nghiệm tên lửa nhiên liệu rắn. Các thí nghiệm này cho phép xử lý sự khởi động ở tư thế ngầm và nổi từ hầm “khô” dưới áp suất của ắc quy thuốc nổ. Trên 3 tàu ngầm, các tê lửa được tháo, thay vào đó là vách ngăn mui bố trí ăn ten để sử dụng trong vai trò tàu ngầm – máy chuyển phát, đồng thời thông tin liên lạc và kiểm soát (điều khiển). Đề án nhận số hiệu 629-R, còn ở phương Tây, chúng có “tên riêng” là Biến thể lớp Golf-I (Modified Golf-I class). Ngoài ra, các tàu này còn được giữ trong biên chế lâu hơn các tàu cùng lớp trong biên chế đến đầu những năm 1990. Có thêm các thông tin không được kiểm chứng về vấn đề, răng 2 tàu ngầm được trang bị lại với mục đích trinh sát (1 ở Hạm đội Thái Bình Dương, 1 ở Hạm đội Phương Bắc, gợi nhớ lại các Đề án 629-KS và 629-KO), còn 1 tàu – K-113 – tàu rải mìn (Hạm đội Thái Bình Dương, nhắc lại các Đề án 629-N, 629-I và 629-E). Ngoài ra, có Đề án 629-M không được thực hiện – tàu ngầm với thiết bị nguyên tử bổ sung.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Hai, 2012, 01:18:47 pm
Chương trình đóng tàu

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/629_40.jpg)

Việc đóng các tàu ngầm tên lửa được bắt đầu từ năm 1957 tại Severodvinsk (xưởng số 402) và Komsomol-na-Amur (xưởng số 199). Tàu đầu tiên là K-96, khởi công 14 tháng 10 năm 1957 và hạ thủy 16 tháng 9 năm 1958. Năm 1959 đã hạ thủy 6 tàu đầu tiên trong lớp (4 ở phía bắc, 2 ở Viễn Đông). Gần năm 1960, Hải quân được bàn giao thêm 7 tàu (5 ở phía bắc, 2 ở Viễn Đông), còn năm 1961, thêm 6 tàu (tương ứng 5 – 1) và cuối cùng, năm 1962 ở Vladivostoc đã gia nhập biên chế 2 tàu ngầm cuối cùng – tổng cộng 22 tàu. Ngoài ra, năm 1962, ở Severodvinsk đã đóng 1 tàu thí nghiệm Đề án 629-B, còn sau khi hoàn thành toàn bộ loạt ở Komsomol-na-Amur đã đóng thêm 2 tàu Đề án 629 cho Trung Quốc (số hiệu xưởng 138 và 139) – tổng cộng có 25 tàu ngầm tên lửa đã được đóng.

Sau khi đóng các tàu ngầm bàn giao cho Trung Quốc hoàn thành, sau đó chuyển lại cho Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, ở đó, với sự hỗ trợ của các chuyên gia Liên Xô chúng được đóng chỉnh sửa lại một lần nữa và đưa vào biên chế. Sự thật là ở thời điểm ban giao tàu ngầm cho Trung Quốc, quan hệ giữa 2 nước đã có chiều hướng xấu đi và để đảm bảo bí mật, lãnh đạo Liên Xô đã quyết định bàn giao cho Trung Quốc tàu ngầm không có tên lửa. Bởi thế, chúng được sử dụng trong vai trò chính là huấn luyện kỹ thuật cho thủy thủ đoàn. Còn việc xử lý các nhiệm vụ chiến đấu, tập trận hay ra khởi trong vai trò tàu mang tên lửa trực chiến là không thể. Sau đó, một trong số các tàu ngầm Đề án 629 của Trung Quốc bị đắm do tai nạn.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Hai, 2012, 01:31:36 pm
Tình hình đến năm  2008

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/629_36.jpg)

Sau khi gia nhập biên chế 15 tàu ngầm Đề án 629 đã vào biên chế Hạm đội Phương Bắc và 7 – Hạm đội Thái Bình Dương. Lúc đầu, các tàu ngầm này được phân thành lớp tàu ngầm lớn, nhưng từ 16 tháng 6 năm 1960, chúng được phân loại lại thành tàu ngầm tuần dương với sự tiếp nhận tiền tố “K” làm số hiệu chiến thuật. Từ 20 tháng 5 năm 1966, toàn bộ các tàu ngầm Đề án 629 quay lại phân lớp tàu ngầm lớn.

Trong số 22 tàu, từ năm 1963, 14 được trang bị lại theo Đề án 629-A, nhận vũ khí trang bị tên lửa đạn đạo khởi động ngầm R-21 (đồng thời chúng được chuyển thành phân lớp tàu ngầm tuần dương), 3 – theo Đề án 629-R – tàu ngầm – chuyển phát, 2 tàu sau khi trang bị lại nhận vũ khí thuộc tổ hợp tên lửa thí nghiệm, còn 1 tàu được lắp tên lửa đạn đạo cho tàu ngầm R-39. Năm 1976, 6 tàu ngầm Đề án 629 và Đề án 629-A đã được bố trí ở Baltic, còn lại – Thái Bình Dương, ở đó chúng nằm trong biên chế chiến đấu đến cuối những năm 1980. Theo Hiệp ước về cắt giảm vũ khí chiến lược START-1, từ cuối những năm 1980, trong một bộ phận các tàu ngầm này, vũ khí tên lửa được tháo, còn chúng bị loại khỏi biên chế, hoặc là trang bị lại thành các tàu ngầm ngư lôi hoặc thí nghiệm. Như vậy, 3 tàu ngầm đã bị loại vào cuối những năm 1970 và 1 – năm 1988.

Ngày 20 tháng 10 năm 1961, từ tàu ngầm K-102 đã thực hiện lần phóng duy nhất trên thế giới tên lửa R-13 trong phiên bản đầu đạn nhiệt hạch hàng megaton.

Các tàu ngầm cuối cùng trong lớp (Đề án 629-R) bị loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô vào năm 1989-1990. Tàu phục vụ lâu nhất là K-113, được cải tạo lại vào đầu năm 1990 thành đài bơi PZS-95.

Một tàu ngầm (K-129) tháng 2 năm 1968 bị đắm cùng với thủy thủ đoàn ở Thái Bình Dương gần quần đảo Hawai trong thời gian trực chiến (nguyên nhân do va chạm với tàu ngầm Mỹ “Swordfish”). Trong tháng 11 năm 1974, nó đã được trục vớt từng phần bởi người Mỹ với sự hỗ trợ của tàu đa năng “Glomar Explorer”. 


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Hai, 2012, 08:26:43 pm
Tóm tắt lịch sử phục vụ

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/629_36.jpg)

+ B-92, từ 16 tháng 6 năm 1990 là K-96, từ 25 tháng 7 năm 1977 là B-96 (số hiệu xưởng 801); khởi công 14 tháng 10 năm 1957 ở xưởng số 402 (hiện nay là xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc) ở thành phố Molotovka (hiện nay là Severodvinsk); 24 tháng 12 năm 1957 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm nguyên tử lớn; hạ thủy 16 tháng 9 năm 1985; 29 tháng 12 năm 1959 ghi nhập biên chế; 5 tháng 2 năm 1960 gia nhập Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 16 tháng 6 năm 1960 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; trong giai đoạn từ tháng 11 năm 1959 đến tháng 8 năm 1960 đã thực hiện 13 lần phóng tên lửa đạn đạo cho tàu ngầm R-13, trong số đó 11 lần thành công; 20 tháng 5 năm 1960 một lần nữa trở thành phân lớp tàu ngầm lớn; trong giai đoạn từ 29 tháng 11 năm 1967 đến 19 tháng 12 năm 1969 nâng cấp theo Đề án 629-A; mùa thu năm 1967 đã hoàn thành cuộc hành quân xuyên Hạm đội từ biển Trắng tới Baltic theo hệ thống nước nội bộ; 14 tháng 10 năm 1976 ghi tên vào Hạm đội Cờ đỏ Baltic; 25 tháng 8 đến 24 tháng 10 năm 1979 và 15 tháng 4 đến 24 tháng 10 năm 1979 đã thực hiện nhiệm vụ trực chiến ở biển Baltic; 19 tháng 9 năm 1987 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1987 giải thể; năm 1994 để ở cảng Liepai trong tình trạng nửa đắm khi các đơn vị quân Nga rút khỏi Lativa, sau đó được trục vớt và bán cho công ty tư nhân của Đức để tháo kim loại.

+ B-40, từ 16 tháng 6 năm 1960 là K-72, từ 25 tháng 7 năm 1977 là B-372 (số hiệu xưởng 802); khởi công 16 tháng 12 năm 1957 ở xưởng số 402 tại Severodvinsk; 2 tháng 8 năm 1958 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm lớn; hạ thủy 12 tháng 4 năm 1959; 30 tháng 11 năm 1959 gia nhập biên chế; 21 tháng 1 năm 1960 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 16 tháng 6 năm 1960 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; 20 tháng 5 năm 1966 một lần nữa trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử lớn; trong giai đoạn từ 26 tháng 12 năm 1969 đến 25 tháng 12 năm 1972 nâng câp ở xưởng “Zvedochka” ở Severodvinsk theo Đề án 629-A; 1 tháng 9 đến 9 tháng 11 năm 1974 đã thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu ở phía Tây Đại Tây Dương; mùa thu năm 1976 đã hoàn thành cuộc hành quân xuyên Hạm đội từ biển Trắng tới Baltic theo hệ thống nước ngầm; 26 tháng 11 năm 1976 đã thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu ở Baltic; 30 tháng 5 năm 1989 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; 1 tháng 11 năm 1989 giải thể; năm 1984 đang ở cảng Liepai trong trạng thái nửa đắm khi các đơn vị quân Nga rút khỏi Latvia, sau đó được trục vớt và bán cho công ty tư nhân của Đức để tháo dỡ lấy kim loại.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Hai, 2012, 08:51:13 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/629_37.jpg)

+ B-41, từ 16 tháng 6 năm 1990 là K-79, từ 25 tháng 7 năm 1977 là B-79 (số hiệu xưởng 803); khởi công 17 tháng 2 năm 1958 ở xưởng số 402 ở Severodvinsk; hạ thủy 16 tháng 6 năm 1959; 2 tháng 8 năm 1985 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm lớn; 25 tháng 11 năm 1959 gia nhập biên chế; 20 tháng 1 năm 1960 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 16 tháng 6 năm 1960 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; trong giai đoạn từ năm 1960 đến 1962 đã thực hiện 2 cuộc hành quân dài ngày tới Bắc Đại Tây Dương tới khu vực các quần đảo Kanar và tới bờ biển Mỹ tới khu vực các quần đảo New-Founden, đồng thời tham gia các cuộc tập trận của Hạm đội Phương Bắc “Meteor” tới Đại Tây Dương trong tháng 7-8 năm 1960 và tập trận “Vòng cực” ở Bắc Đại Tây Dương mùa hè năm 1961; tháng 8 năm 1960 đã thực hiện việc bắn tên lửa từ đất mũi Mũi Thánh theo trận địa “Chizh” (tên lửa đạn đạo rơi trúng mục tiêu); tháng 12 năm 1961 đến 1962 đã trải qua trung tu và nâng cấp; tháng 10-11 năm 1962 đã trải qua các thí nghiệm neo đậu, vận động và bàn giao ở bãi tập trên biển Trắng; năm 1964 đã thực hiện cuộc hành quân dài 29 ngày tới quần đảo Shpitsbergen và tới biển Greenland; 20 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu ngầm lớn; trong giai đoạn từ 8 tháng 8 năm 1967 đến 30 tháng 12 năm 1968 được nâng cấp ở xưởng “Zvedochka”ở Severodvinsk theo Đề án 629-A; 25 tháng 9 đến 3 tháng 12 năm 1969 và 25 tháng 10 năm 1970 đến 2 tháng 1 năm 1971 và 14 tháng 8 đến 29 tháng 10 năm 1973 đã thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu ở Tây Đại Tây Dương; 6 tháng 6 năm 1974 đến 6 tháng 5 năm 1976 đã trải qua đại tu ở xưởng số 35 tại Murmansk; mùa thu năm 1976 đã hoàn thành cuộc di chuyển xuyên Hạm đội theo hệ thống nước nội bộ tới Baltic từ biển Trắng; 26 tháng 11 năm 1976 ghi tên vào Hạm đội Baltic; 2 tháng 9 đến 28 tháng 10 năm 1977, 5 tháng 4 đến 3 tháng 6 năm 1978, 6 tháng 4 đến 4 tháng 6 năm 1979, 11 tháng 2 đến 21 tháng 3 năm 1980 và 7 tháng 3 đến 5 tháng 5 năm 1981 đã thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu trên biển Baltic; 30 tháng 5 năm 1989 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; 1 tháng 11 năm 1989 giải thể; năm 1994 ở trong tình trạng nửa đóng ở vịnh Liepai khi quân Nga rút khỏi Latvia, sau đó được trục vớt và bán cho công ty tư nhân của Đức để tháo dỡ lấy kim loại.

+ B-42, từ 16 tháng 6 năm 1990 là K-83, từ 25 tháng 7 năm 1977 là B-83, từ 3 tháng 8 năm 1979 là BS-83 (số hiệu xưởng 804); khởi công 26 tháng 4 năm 1958 ở xưởng số 402 tại Severodvinsk; 12 tháng 2 năm 1959 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm lớn; hạ thủy 23 tháng 7 năm 1959; 29 tháng 11 năm 1959 gia nhập biên chế; 21 tháng 1 năm 1960 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 16 tháng 6 năm 1960 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; năm 1962, trong thời gian khủng hoảng Caribe, tàu được trang bị để thực hiện nhiệm vụ chiến đấu chống Mỹ và ra khơi, nhưng sau đó nhận mệnh lệnh quay về căn cứ liên quan đến việc chấm dứt khủng hoảng; năm 1964 đã hoàn thành cuộc hành quân xuyên Hạm đội tới Viễn Đông và gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; 20 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu ngầm lớn; trong giai đoạn từ 1 tháng 1 năm 1977 đến 25 tháng 6 năm 1979 nâng cấp ở xưởng Viễn Đông tại Vladivostoc theo Đề án 629-R; năm 1980 trải qua sửa chữa và đóng hiệu chỉnh ở xưởng số 30 tại cảng Chazhm; 17 tháng 7 năm 1988 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác, sau đó được kéo tới cảng Trud ở lãnh thổ Nga và tháo dỡ lấy kim loại.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Hai, 2012, 09:15:17 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/629_38.jpg)

+ B-121, từ 16 tháng 6 năm 1960 là K-102 (số hiệu xưởng 805); khởi công 28 tháng 5 năm 1958 ở xưởng số 402 tại Severodvinsk; 17 tháng 2 năm 1969 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm lớn; hạ thủy 19 tháng 9 năm 1959; 25 tháng 12 năm 1959 gia nhập biên chế; 21 tháng 1 năm 1960 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 16 tháng 6 năm 1960 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; 20 tháng 10 năm 1961 đã thực hiện việc phóng tên lửa đạn đạo R-13 trong phiên bản đầu đạn nhiệt hạch cấp megaton; trong giai đoạn từ 5 tháng 11 năm 1968 đến 9 tháng 12 năm 1970 đã trải qua nâng cấp và trang bị lại ở Severodvinsk theo Đề án 605; năm 1971-1972 đã tiến hành trang bị lại bằng các hệ thống mới; tháng 12 năm 1972-15 tháng 8 năm 1975 đã trải qua các thí nghiệm tên lửa đạn đạo R-27K; 3 tháng 7 năm 1980 bị loại khỏi biên chế Hải quân và tháo dỡ; 31 tháng 12 năm 1981 giải tán và sau đó ở căn cứ “Glavvtorchermeta” ở vịnh Kolsk để tháo dỡ.

+ B-125, từ 16 tháng 6 năm 1960 là K-107, từ 28 tháng 12 năm 1973 là B-107, từ 3 tháng 8 năm 1978 là BS-107 (số hiệu xưởng 806); khởi công 12 tháng 11 năm 1958 ở xưởng số 402 tại Severodvinsk; 27 tháng 3nawm 1959 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm lớn; hạ thủy 23 tháng 4 năm 1960; 16 tháng 6 năm 1960 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; 17 tháng 8 năm 1960 gia nhập biên chế; 30 tháng 8 năm 1960 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; tháng 9 năm 1961, đã thực hiện thành công việc bắn tên lửa đạn đạo cùng với K-118 và K-113; trong giai đoạn từ 4 tháng 3 đến 2 tháng 5 năm 1963, lần đầu tiên (đối với tàu ngầm Hạm đội Phương Bắc) đã ra khơi thuộc Đại Tây Dương, hoạt động dài ngày, thực hiện các thí nghiệm vận chuyển tên lửa đạn đạo R-13 trong các điều kiện bơi dài ngày, trong thời gian hành quân đã thực hiện 4 lần khởi động có điều kiện 1 và 2 tên lửa R-13 với sự nâng tên lửa thực tế trên bệ phóng; khi quay về, đã thực hiện việc khởi động 3 tên lửa theo 3 lần triển khai dưới góc lớn cho các mục tiêu để làm rõ các tính tăng của tổ hợp tên lửa; mùa hè – thu năm 1973 đã thực hiện cuộc hành quân xuyên Hạm đội từ vịnh Angel theo đường biển Bắc tới Viễn Đông; 26 tháng 10 năm 1973 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; 28 tháng 12 năm 1973 trở thành phân lớp tàu ngầm – chuyển phát và trong giai đoạn từ 1 tháng 1 năm 1975 đến 30 tháng 12 năm 1977 trang bị lại ở xưởng Viễn Đông tại Vladivostoc theo Đề án 629-R; mùa thu năm 1978 đã hoàn thành cuộc hành quân xuyên Hạm đội ngược lại phía Bắc; 13 tháng 11 năm 1978 một lần nữa trở lại biên chế Hạm đội Phương Bắc; 24 tháng 6 năm 1991 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1991 bị giải tán và năm 1998 tháo thành kim loại ở xưởng số 10 tại vịnh Pala (cảng Viuzhnưi).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Hai, 2012, 01:49:41 pm
+ B-45, từ 16 tháng 6 năm 1960 là K-88, từ 25 tháng 7 năm 1977 là B-138 (số hiệu xưởng 807); khởi công 20 tháng 11 năm 1958 ở xưởng số 402 tại Severodvinsk; 22 tháng 5 năm 1959 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm lớn; hạ thủy 4 tháng 6 năm 1960; 16 tháng 6 năm 1960 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; 15 tháng 9 năm 1960 gia nhập biên chế; 29 tháng 9 năm 1960 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; trong giai đoạn từ 30 tháng 8 năm 1964 đến 28 tháng 12 năm 1966 được nâng cấp và trang bị lại ở xưởng “Zvedochka” tại Severodvinsk theo Đề án 6290-A; 20 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu ngầm lớn; 23 tháng 7 năm 1976 chuyển đến biên chế Hạm đội Cờ đỏ Baltic và mùa thu năm 1976 đã hoàn thành cuộc hành quân xuyên Hạm đội từ biển Trắng đến Baltic theo hệ thống nước nội bộ; 1 tháng 6 – 8 tháng 8 năm 1977, 3 tháng 6 đến 3 tháng 8 năm 1978 và 3 tháng 8 đến 2 tháng 10 năm 1981 đã thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu ở biển Baltic; 12 tháng 10 năm 1986 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; năm 1994 đang ở cảng Liepai trong trạng thái nửa đắm khi các đơn vị quân Nga rút khỏi Latvia, sau đó được trục vớt và bán cho công ty tư nhân của Đức để tháo dỡ lấy kim loại.

+ B-29, từ 16 tháng 6 năm 1960 là K-61, từ 25 tháng 7 năm 1977 là B-167, từ 3 tháng 8 năm 1977 là BS-167 (số hiệu xưởng 808); khởi công 20 tháng 5 năm 1959 ở xưởng số 402 tại Severodvinsk; 23 tháng 10 năm 1959 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm lớn; hạ thủy 27 tháng 8 năm 1960; 26 tháng 11 năm 1960 gia nhập biên chế; 16 tháng 12 năm 1960 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 16 tháng 6 năm 1960 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; 20 tháng 5 năm 1966 một lần nữa trở thành phân lớp tàu ngầm lớn; 30 tháng 1 đến 25 tháng 4 năm 1969 trải qua trung tu ở xưởng số 35 tại Murmansk; mùa hè – thu năm 1971 đã thực hiện cuộc hành quân xuyên Hạm đội theo đường biển phía Bắc tới Viễn Đông từ vịnh nhỏAngel (thành phố Gadzhievo) tới vịnh Krasheninnikov (thành phố Vilyuchinsk); 27 tháng 10 năm 1971 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; 28 tháng 12 năm 1976 trở thành phân lớp tàu ngầm – chuyển tiếp và trong giai đoạn từ 22 tháng 1 năm 1974 đến 20 tháng 12 năm 1976 đã trải qua các thí nghiệm cấp xưởng và cấp Nhà nước; 25 tháng 4 năm 1989 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1989 bị giải tán.

+ B-156, từ 16 tháng 6 năm 1960 là K-113, từ 3 tháng 8 năm 1977 là BS-113, từ 30 tháng 5 năm 1978 là RZS-97, từ 28 tháng 4 năm 1992 là PZS-65 (số hiệu xưởng 809); khởi công 10 tháng 7 năm 1959 ở xưởng số 402 tại Severodvinsk; 30 tháng 1 năm 1960 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm lớn; hạ thủy 17 tháng 9 năm 1960; 30 tháng 11 năm 1960 gia nhập biên chế; 16 tháng 12 năm 1960 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 16 tháng 6 năm 1960 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; tháng 9 năm 1961 đã thực hiện thành công vụ bắn tên lửa đạn đạo cũng K-118 và K-107; 20 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu ngầm lớn; 28 tháng 2 đến 4 tháng 8 năm 1970 trải qua trung tu ở xưởng số 35 tại Murmansk; 28 tháng 12 năm 1973 trở thành phân lớp tàu ngầm – chuyển phát, nhưng kế hoạch trang bị lại theo Đề án 629-R không diễn ra; theo một số thông tin, tàu được trang bị lại thành tàu rải mìn Đề án 629-N; 10 tháng 2 năm 1978 chuyển sang Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương và đầu năm 1978 đã hoàn thành cuộc hành quân xuyên Hạm đội từ vịnh nhỏ Angel (Gadzhievo) tới Viễn Đông; 19 tháng 4 năm 1978 bị loại khỏi biên chế Hải quân và tổ chức lại ở xưởng khác; 28 tháng 4 năm 1992 tái tạo thành đài quan sát và neo đậu ở vịnh Sừng Vàng (thành phố Vladivostoc).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Hai, 2012, 02:17:50 pm
+ B-149, từ 16 tháng 6 năm 1960 là K-118, từ 25 tháng 7 năm 1977 là B-118, từ 27 tháng 2 năm 1987 là RZS-439 (số hiệu xưởng 810); khởi công 22 tháng 10 năm 1959 ở xưởng số 402 tại Severodvinsk; 13 tháng 1 năm 1960 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm lớn; hạ thủy 29 tháng 9 năm 1960; 10 tháng 12 năm 1960 gia nhập biên chế; 28 thán 12 năm 1960 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 16 tháng 6 năm 1960 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; tháng 9 năm 1961 đã thực hiện thành công vụ bắn tên lửa đạn đạo từ K-113 và K-107; 20 tháng 5 năm 1966 một lần nữa quay trở lại phân lớp tàu ngầm lớn; trong giai đoạn từ 30 tháng 10 năm 1968 đến 14 tháng 12 năm 1977 được nâng cấp ở xưởng “Zvedochka” theo Đề án 601 tại Severodvinsk; 21 tháng 6 năm 1968 bị loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân, tổ chức lại thành đài RZS-349 và tới thành phố Gremikha neo đậu; 1 tháng 6 năm 1989 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ, sau đó được kéo tới để tháo dỡ ở xưởng số 35 ở thành phố Rost (dưới Murmansk); 1 tháng 10 năm 1960 bị giải tán.

+ B-95, từ 16 tháng 6 năm 1960 là K-36, từ 25 tháng 7 năm 1977 là B-106 (số hiệu xưởng 811)l khởi công 18 tháng 3 năm 1960 ở xưởng số 402 tại Severodvinsk; 14 tháng 4 năm 1960 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm lớn; hạ thủy 9 tháng 5 năm 1961; 31 tháng 8 năm 1961 gia nhập biên chế; 4 tháng 10 năm 1961 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 16 tháng 6 năm 1960 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; 20 tháng 5 năm 1966 một lần nữa trở thành phân lớp tàu ngầm lớn; trong giai đoạn từ 9 tháng 10 năm 1965 đến 3 tháng 12 năm 1967 đã trải qua nâng cấp ở xưởng “Zvedochka” tại Severodvinsk theo Đề án 629-A; mùa hè – thu năm 1968 đã thực hiện cuộc hành quân xuyên Hạm đội theo đường nước phía bắc từ vịnh nhỏ Angel tới vịnh Taria; 12 tháng 9 năm 1968 đã gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình dương; 1 tháng 10 năm 1988 giải tán và 14 tháng 3 năm 1989 bị loại khỏi biên chế tàu Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; sau đó bị xẻ kim loại ở căn cứ “Glavvtorchermeta” ở Vladivostoc tại vịnh cọn Trud trên tuần đảo Nga.

+ B-48, từ 16 tháng 6 năm 1960 là K-91, từ 25 tháng 7 năm 1977 là B-91 (số hiệu xưởng 812); 14 tháng 4 năm 1960 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm lớn và 9 tháng 8 năm 1960 khởi công ở xưởng số 402 tại Severodvinsk; hạ thủy 27 tháng 5 năm 1961; 23 tháng 9 năm 1961 gia nhập biên chế; 4 tháng 10 năm 1961 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; trong giai đoạn từ 15 tháng 9 năm 1965 đến 30 tháng 11 năm 1967 trải qua nâng cấp và trang bị lại ở xưởng “Zvedochka” tại Severodvinsk theo Đề án 629-A; 20 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu ngầm lớn; mùa hè – thu năm 1968 đã thực hiện cuộc hành quân xuyên Hạm đội theo đường biển phía Bắc từ vịnh Angel tới vịnh nhỏ Krasheninnikov; 12 tháng 9 năm 1968 chuyển đến biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1969 lần đầu tiên ở Hạm đội Thái Bình Dương lần đầu tiên đã thực hiện việc bắn tên lửa đạn đạo trong mọi tầm xa; giai đoạn từ 25 tháng 12 năm 1972 đến 7 tháng 10 năm 1975 đã trải qua đại tu ở xưởng phía Đông tại Vladivostoc; 12 tháng 10 năm 1986 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1987 bị giải tán.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Hai, 2012, 04:24:29 pm
+ K-93, từ 25 tháng 7 năm 1977 là B-93 (số hiệu xưởng 813); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm tuần dương và 10 tháng 10 năm 1960 khởi công ở Xí nghiệp đóng tàu phương Bắc (số 402) tại Severodvinsk; hạ thủy 18 tháng 7 năm 1961; 16 tháng 11 năm 1961 gia nhập biên chế; 27 tháng 11 năm 1961 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 20 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu ngầm lớn; trong giai đoạn từ 16 tháng 12 năm 1969 đến 31 tháng 12 năm 1971 đã trải qua nâng cấp và trang bị lại theo Đề án 629-A ở xưởng “Zvedochka” tại Severodvinsk; 23 tháng 7 năm 1976 chuyển đến biên chế Hạm đội Cờ đỏ Baltic; mùa thu năm 1976 đã hoàn thành cuộc hành quân theo hệ thống nước nội bộ từ biển Trắng đến Baltic và 14 tháng 10 năm 1976 đã đến Liepai; 25 tháng 8 đến 24 tháng 10 năm 1979 và 15 tháng 4 đến 13 tháng 6 năm 1980 đã thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu ở biển Baltic; 14 tháng 3 năm 1989 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1987 giải tán và sau đó bị xẻ kim loại ở căn cứ “Glavvtorchermeta” ở Liepai.

+ K-110, từ 25 tháng 7 năm 1977 là B-110, từ 3 tháng 8 năm 1977 là BS-110 (số hiệu xưởng 814); 30 tháng 7 năm 1960 ghi tên vào danh sách các tàu Hải quân như tàu ngầm tuần dương và 1 tháng 12 năm 1960 khởi công ở Xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc (số 402) tại Severodvinsk; hạ thủy 25 tháng 8 năm 1961; 28 tháng 11 năm 1961 gia nhập biên chế; 9 tháng 12 năm 1961 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 20 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử lớn; giai đoạn từ 22 tháng 7 năm 1968 đến 21 tháng 10 năm 1973 đã trải qua nâng cấp và trung tu ở xưởng số 35 tại Murmansk (theo một số thông tin được trang bị lại thành tàu trinh sát); 9 tháng 2 năm 1979 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; 15 tháng 8 năm 1979 giải tán và sau đó xẻ kim loại ở “Glavvtorchermeta” ở Murmansk (mũi đất Zelenưi ở vịnh Kolsk).

+ K-153, từ 3 tháng 8 năm 1977 là BS-153 (số hiệu xưởng 815); 16 tháng 11 năm 1960 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm tuần dương và 7 tháng 12 năm 1960 khởi công ở Xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc (số 402) tại thành phố Severodvinsk; hạ thủy 27 tháng 9 năm 1961; 15 tháng 12 năm 1961 gia nhập biên chế; 26 tháng 12 năm 1961 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1963 thực hiện nhiệm vụ trực chiến dài ngày gần bờ biển nước Mỹ; 20 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu ngầm lớn; năm 1974-1975 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và và đưa lên bệ nổi để thí nghiệm; năm 1975-1978 trải qua nâng cấp ở xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc tại Severodvinsk theo Đề án 619; mùa thu năm 1978 di chuyển theo hệ thống nước nội bộ từ biển Trắng tới biển Azov và 13 tháng 11 năm 1978 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Biển Đen; trong giai đoạn từ tháng 12 năm 1978 đến tháng 9 năm 1979 đã thực hiện 7 lần phóng tên lửa đạn đạo R-39 và các tên lửa mô hình; đến năm 1978 đảm bảo thí nghiệm kỹ thuật mới; 1 tháng 9 năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; 1 tháng 8 năm 1991 giải tán và sau đó tháo dỡ ở Sevastopol ở căn cứ “Glavvtorchermeta” ở cảng Inkerman.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Hai, 2012, 05:15:17 pm
+ K-142, từ 25 tháng 7 năm 1977 là B-142 (số hiệu xưởng 816); 10 tháng 9 năm 1960 ghi tên vào danh sách các tàu Hải quân như tàu ngầm tuần dương và 20 tháng 1 năm 1961 khởi công ở xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc (số 402) tại Severodvinsk theo Đề án 629-B.; hạ thủy 17 tháng 9 năm 1961; 29 tháng 12 năm 1962 gia nhập biên chế; 10 tháng 1 năm 1962 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc trong vai trò tàu thí nghiệm chiến đấu; từ 24 tháng 2 năm 1962 đã thực hiện 27 lần phóng tên lửa đạn đạo R-21, sau đó, 15 tháng 5 năm 1963, tổ hợp tên lửa D-4 được tiếp nhận vào trang bị; 20 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu ngầm lớn; trong giai đoạn từ 30 tháng 12 năm 1966 đến 8 tháng 9 năm 1967 đã trải qua nâng cấp và trang bị lại ở xưởng “Zvedochka” tại Severodvinsk theo Đề án 629-A; 30 tháng 1 năm 1968 gia nhaaoj biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 1 tháng 3 đến 14 tháng 5 năm 1969 đã thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu ở Tây Đại Tây Dương; mùa thu năm 1976 đã hoàn thành cuộc hành quân xuyên Hạm đội theo hệ thống nước nội bộ từ biển Trắng tới Baltic và 25 tháng 9 năm 1976 đã tới nơi; 14 tháng 10 năm 1976 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Baltic; 8 tháng 7 và 10 tháng 9 năm 1977, 3 tháng 11 và 23 tháng 12 năm 1978, 16 tháng 6 đến 13 tháng 8 năm 1979, 16 tháng 7 đến 1 tháng 9 năm 1980, 13 tháng 5 đến 10 tháng 7 năm 1981 và 1 tháng 7 đến 29 tháng 8 năm 1982 đã làm nhiệm vụ trực chiến và làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu sau đó tại biển Baltic; 19 tháng 4 năm 1990 bị giải tán; năm 1994 ở trạng thái nửa đắm khi quân Nga rút khỏi Latvia ở Liepai, sau đó được trục vớt và bán cho công ty tư nhân của Đức để tháo dỡ.

+ B-93, từ 16 tháng 6 năm 1960 là K-126, từ 25 tháng 7 năm 1977 là B-126 (số hiệu xưởng 131); khởi công 5 tháng 10 năm 1957 ở xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin (số 199) tại Komsomol-na-Amur; 24 tháng 12 năm 1957 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm lớn; hạ thủy 16 tháng 8 năm 1958; 31 tháng 12 năm 1959 gia nhập biên chế; 2 tháng 2 năm 1960 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; 16 tháng 6 năm 1960 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; 20 tháng 5 năm 1966 một lần nữa trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; trong giai đoạn từ 17 tháng 7 năm 1967 đến 25 tháng 1 năm 1969 đã trải qua nâng cấp và trang bị lại ở xưởng phía Đông tại Vladivostoc theo Đề án 629-A; 8 tháng 6 năm 1989 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; 1 tháng 11 năm 1989 bị giải tán.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Hai, 2012, 05:50:52 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/629_39.jpg)

+ B-103, từ 16 tháng 6 năm 1960 là K-129 (số hiệu xưởng 132); khởi công 15 tháng 3 năm 1958 ở xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin (số 199) tại Komsomol-na-Amur; 2 tháng 8 năm 1958 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm lớn; hạ thủy 6 tháng 5 năm 1959; 31 tháng 12 năm 1959 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; 16 tháng 6 năm 1960 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; 20 tháng 5 năm 1966 một lần nữa trở thành phân lớp tàu ngầm lớn; trong giai đoạn từ 4 tháng 3 năm 1964 đến 10 tháng 4 năm 1967 đã trải qua nâng cấp và trang bị lại ở xưởng phía Đông tại Vladivostoc theo Đề án 629-A; 24 tháng 2 năm 1968 ra khơi phục vụ chiến đấu ở khu vực quần đảo Hawai; 8 tháng 3 năm 1968 bị đắm ở Thái Bình Dương ở độ sâu gần 5000 mét và theo nguyên nhân không rõ ràng (có thể do va chạm với tàu ngầm Mỹ “Swordfish”), 97 người hy sinh; tháng 8 năm 1974, tàu được phát hiện và trục vớt từng phần bởi tàu Mỹ “Glomar Explorer”, được đóng đặc biệt để cho mục tiêu này (chiến dịch “Jeniffer”.

+ B-109, từ 16 tháng 6 năm 1960 là K-316, từ 3 tháng 8 năm 1977 là BS-136 (số hiệu xưởng 133); khởi công ở xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên Cộng sản Lenin (số 199) tại Komsomol-na-Amur; 27 tháng 3 năm 1959 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm lớn; hạ thủy 10 tháng 9 năm 1959; 12 tháng 10 năm 1960 gia nhập biên chế; 16 tháng 8 năm 1961 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; 16 tháng 6 năm 1990 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; 20 tháng 5 năm 1966 một lần nữa trở thành phân lớp tàu ngầm lớn; trong giai đoạn từ 13 tháng 1 năm 1968 đến 20 tháng 12 năm 1966 đã trải qua nâng cấp ở xưởng phía Đông tại Vladivostoc (theo một số thông tin được trang bị lại thành tàu trinh sát); 22 tháng 6 năm 1980 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; 1 tháng 11 năm 1980 bị giải thể.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Hai, 2012, 11:21:29 am
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/629_48.jpg)

+ B-113, từ 16 tháng 6 năm 1990 là K-139, từ 25 tháng 7 năm 1977 là B-139 (số hiệu xưởng 134); khởi công 29 tháng 11 năm 1958 ở xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin (số 199) tại Komsomol-na-Amur; 8 tháng 7 năm 1959 ghi tên vào danh sách các tàu Hải quân như tàu ngầm lớn; hạ thủy 12 tháng 5 năm 1960; 12 tháng 12 năm 1961 gia nhập biên chế; 22 tháng 12 năm 1960 gia nhập Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 16 tháng 6 năm 1960 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; trong giai đoạn từ 29 tháng 1 năm 1964 đến 4 tháng 2 năm 1965 trải qua trung tu ở xưởng phía Đông tại Vladivostoc; 20 tháng 5 năm 1966 một lần nữa trở thành phân lớp tàu ngầm lớn; giai đoạn từ 14 tháng 11 năm 1968 đến 28 tháng 1 năm 1970 đã trải qua nâng cấp và trang bị lại ở xưởng phía Đông theo Đề án 629-A tại Vladivostoc; giai đoạn từ 28 tháng 11 năm 1977 đến 10 tháng 2 năm 1978 trải qua trung tu ở xưởng phía Đông tại Vladivostoc, còn từ 23 tháng 1 năm 1984 đến 12 tháng 2 năm 1988 – đại tu ở đó; 19 tháng 4 năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1990 giải tán.

+ B-46, từ 16 tháng 6 năm 1960 là K-75, từ 25 tháng 7 năm 1977 là B-575 (số hiệu xưởng 135); khởi công 11 tháng 4 năm 1959 ở xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin (số 199) tại Komsomol-na-Amur; 26 tháng 10 năm 1959 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm loại lớn; 16 tháng 6 năm 1960 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; hạ thủy 7 tháng 5 năm 1960; 16 tháng 12 năm 1961 gia nhập biên chế; 30 tháng 12 năm 1961 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; 20 tháng 5 năm 1966 một lần nữa trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; trong giai đoạn từ 3 tháng 1 năm 1970 đến 23 tháng 6 năm 1971 trải qua nâng cấp và trang bị lại theo Đề án 629-A tại xưởng phía Đông ở Vladivostoc; 3 tháng 5 năm 1989 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; 1 tháng 11 năm 1989 giải tán và neo đậu ở Vladivostoc, nhanh chóng sau đó bị chìm ở khu vực nước nông do sự hư hỏng của trang thiết bị trên tàu.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Hai, 2012, 06:15:57 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/629_40-1.jpg)

+ B-51, từ 16 tháng 6 năm 1960 là K-99, từ 25 tháng 7 năm 1977 là B-99 (số hiệu xưởng 136); khởi công 31 tháng 10 năm 1959 ở xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin (số 199) tại Komsomol-na-Amur; 13 tháng 2 năm 1960 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm lớn; 16 tháng 6 năm 1960 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; hạ thủy 20 tháng 8 năm 1961; 27 tháng 1 năm 1962 gia nhập biên chế; 13 tháng 12 năm 1962 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; trong giai đoạn từ 20 tháng 3 năm 1965 đến 13 tháng 1 năm 1968 trải qua nâng cấp và trang bị lại ở xưởng phía Đông tại Vladivostoc theo Đề án 629-A; 20 tháng 5 năm 1966 một lần nữa trở thành phân lớp tàu ngầm lớn; trong giai đoạn từ 6 tháng 10 năm 1972 đến 29 tháng 7 năm 1974 trải qua đại tu ở xưởng phía Đông tại Vladivostoc; trong giai đoạn từ 6 tháng 10 năm 1972 đến 29 tháng 7 năm 1974 trải qua đại tu ở xưởng phía Đông tại Vladivostoc; 1 tháng 11 năm 1987 bị loại khỏi biên chế chiến đấu, bỏa quản ở vịnh Koniushkov trong trạng thái neo đậu; 2 tháng 2 năm 1988 mang đi đại tu ở xưởng phía Đông tại Vladivostoc, nhưng 19 tháng 4 năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể.

+ K-163, từ 25 tháng 7 năm 1977 là B-163 (số hiệu xưởng 137); khởi công 26 tháng 11 năm 1960 ở xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin (số 199) tại Komsomol-na-Amur; 25 tháng 2 năm 1961 ghi tên vào danh sách các tàu Hải quân như tàu ngầm lớn; hạ thủy 7 tháng 7 năm 1962; 19 tháng 12 năm 1962 gia nhập biên chế; 30 tháng 12 năm 1962 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 20 tháng 5 năm 1961 trở thành phân lớp tàu ngầm lớn; 7 tháng 3 đến 31 tháng 8 năm 1967 trải qua trung tu ở xưởng “Zvezda” tại cảng Đá Lớn; trong giai đoạn từ 27 tháng 3 năm 1971 đến 23 tháng 6 năm 1973 đã trải qua nâng cấp và trang bị lại ở xưởng phía Đông tại Vladivostoc theo Đề án 629-A; 16 tháng 9 năm 1987 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho đơn vị khác để tháo dỡ; 1 tháng 11 năm 1 1987 giải tán/

+ Thân tàu thứ 24 (số hiệu xưởng 138); đóng ở xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin (số 199) tại Komsomol-na-Amur; bán cho Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và gia nhập biên chế quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc.

+ Thân tàu số 25 (số hiệu xưởng 139); đóng ở xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin (số 199); bán cho Trung Quốc và gia nhập quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Hai, 2012, 06:24:21 pm
Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Đề án 629

Lượng choán nước

+ nổi: 2794

+ ngầm: 3600

Các kích thước chính

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 98,4 (-)

+ chiều rộng nhất: 8,4

+ vạch mớn nước theo vạch mớn nước thiết kế: 7,85

Thiết bị năng lượng chính: nguyên tử

+ 3 động cơ diesel kiểu 37-D, tổng công suất, sức ngựa (kW): 6000 (4410)

+ động cơ chân vịt bánh lại PG-101, công suất, sức ngựa (kW):  2700 (1985)

+ 2 động cơ điện bánh lái PG-102, tổng công suất, kW: 2700 (1985)

+ động cơ điện dự trữ PG-104, công suất, kW: 140 (103)

3 trục, 3 bánh lái chân vịt 5 cánh

Tốc độ, hải lý

+ nổi hoàn toàn: 15,5

+ nổi với động cơ dự bị: 8

+ ngầm (dưới mép nước): 8

+ ngầm hoàn toàn: 12,5

+ ngầm với động cơ dự bị: 2

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý)

+ vị trí nổi: 23 500 (8 ); 5500 (15)

+ dưới mép nước: 10 600 (7)

+ dưới vị trí ngầm: 300 (2)

Độ lặn sâu, mét

+ làm việc hiệu quả: 200

+ giới hạn: 300

Thời gian hoạt động: 70

Thủy thủ đoàn (sỹ quan): 80 (10…12)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Hai, 2012, 06:37:38 pm
Trang bị vũ khí

Thiết bị phóng tên lửa đạn đạo cho tàu ngầm R-13 (SS-N-4 “Sark”) thuộc tổ hợp D-2: 3 (Đề án 629-A: không có)

Thiết bị phóng tên lửa đạn đạo cho tàu ngầm R-21 (SS-N-5 “Serb”) thuộc tổ hợp D-4: không có (Đề án 629-A: 3)

Ngư lôi

+ các thiết bị ngư lôi mũi 533mm: 4

+ các thiết bị ngư lôi mạn tàu 533mm: 2

Cơ số đạn ngư lôi 533mm: 6

Trang bị vô tuyến điện

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: không có

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: “Flag” (Snoop Plate)

Đài thủy âm

+ tổ hợp thủy âm “Arktika-M”

+ Đài tìm phương theo tiếng ồn (ShPS) MG-10

+ “Sbyaga”, “Svet-M”, trên Đề án 629-A

Các khí tài chống tác chiến điện tử

+”VAN” (Stop Light)

+ “Nakat” (Park Lamp D/F) trinh sát vô tuyến

Tổ hợp đạo hàng

+ “Pluton-629” trên Đề án 629

+ “Sigma-629-A” trên Đề án 629-A

Tổ hợp thông tin liên lạc vô tuyến

+ PR-1

+ ăng ten phao tiêu lai “Paravan”

+ các đài vô tuyến cao tần và siêu cao tần

Đài ra đa định vị hội thoại nói: -


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Hai, 2012, 06:40:38 pm
Đề án 629-A

Lượng choán nước

+ nổi: 2820

+ ngầm: 3625

Các kích thước chính

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 98,9 (-)

+ chiều rộng nhất: 8,2

+ vạch mớn nước theo vạch mớn nước thiết kế: 8,5

Thiết bị năng lượng chính: nguyên tử

+ 3 động cơ diesel kiểu 37-D, tổng công suất, sức ngựa (kW): 6000 (4410)

+ động cơ chân vịt bánh lại PG-101, công suất, sức ngựa (kW):  2700 (1985)

+ 2 động cơ điện bánh lái PG-102, tổng công suất, kW: 2700 (1985)

+ động cơ điện dự trữ PG-104, công suất, kW: 140 (103)

3 trục, 3 bánh lái chân vịt 5 cánh

Tốc độ, hải lý

+ nổi hoàn toàn: 14,9

+ nổi với động cơ dự bị: 8

+ ngầm (dưới mép nước): 7,9

+ ngầm hoàn toàn: 11,9

+ ngầm với động cơ dự bị: 2

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý)

+ vị trí nổi: 23 500 (8); 5500 (15)

+ dưới mép nước: 10 600 (7)

+ dưới vị trí ngầm: 300 (2)

Độ lặn sâu, mét

+ làm việc hiệu quả: 200

+ giới hạn: 300

Thời gian hoạt động: 70

Thủy thủ đoàn (sỹ quan): 80 (10…12)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Hai, 2012, 03:24:39 pm
Đề án 617 – lớp Whale

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/617_03.jpg)

Tổng số tàu đã đóng: 1

Biến thể: không có

Năm 1947, theo Mệnh lệnh của Chính phủ Liên Xô ở Đức đã thành lập phòng thiết kế đặc biệt (lãnh đạo – A.A.Antipin), làm nhiệm vụ khôi phục tài liệu kỹ thuật thiết bị tuabin khí hơi nước và truy tìm trên các vùng khác nhau của nước Đức các bộ phận riêng trong thành phần thiết bị tuabin khí hơi, được chế tạo cho việc lắp ghép các tàu ngầm Đức lớp XXVI.

Đồng thời, ở phòng thiết kế Trung ương số 18 đã bắt đầu các công việc theo thiết kế tàu ngầm nội địa với thiết bị tuabin khí hơi (Đề án 617). Khi đó, toàn bộ trang thiết bị, trừ thiết bị tuabin khí hơi, phải được chế tạo trong nước. Có vẻ như thiết bị động cơ tuabin khí hơi phải được lắp ghép từ 3 bộ phận khác nhau, được tìm thấy bởi các cộng tác viên của Phòng thiết kế Antipin ở Đức, còn các chi tiết không đầy đủ và chi tiết khác phải được chế tạo lại.

Ban đầu, đã có thiết kế sơ bộ Đề án 617, nhiệm vụ kỹ thuật được giao cho Viện nghiên cứu khoa học mang tên A.N.Krưlov. Công việc được thực hiện theo thỏa thuận với viện nghiên cứu này và dưới sự giám sát của Viện phó B.M.Malinin. Ở phòng thiết kế trung ương số 18 đã thành lập nhóm chịu trách nhiệm các công việc được thực hiện tại các phòng thuộc Phòng thiết kế. Đề án sơ bộ đã hoàn thành cuối năm 1947, được nghiên cứu vào đầu năm 1948 và trình lên ủy ban kỹ thuật thuộc Phòng thiết kế Trung ương và tới Cục 5 Bộ Công nghiệp đóng tàu. Trên cơ sở đề án thiết kế sơ bộ và được thực hiện đồng thời với các phiên bản khác của nó (dự trữ nổi, số lượng khoang, độ bền vứng các vách ngăn, số lượng và sự bố trí các thiết bị ngư lôi…) đã tập hợp thành đề án nhiệm vụ kỹ - chiến thuật để thiết kế Đề án 617 sơ bộ.

Tháng 5 năm 1948, theo Mệnh lệnh của Bộ công nghiệp đóng tàu, toàn bộ công việc theo Đề án 617 đã được bàn giao một lần nữa tới phòng thiết kế số 143 được tổ chức đặc biệt mà ở đó có sự tham gia của các cộng tác viên từ phòng thiết kế của Antipin, đồng thời nhóm lớn các cộng tác viên Phòng thiết kế Trung ương số 18, Viện nghiên cứu khoa học trung ương mang tên Viện sĩ A.N.Krưlov và các tổ chức thiết kế đóng tàu khác. Phòng thiết kế số 143 đã thiết kế đề án kỹ thuật sơ bộ của tàu ngầm, thành lâpk bản vẽ làm việc và toàn bộ các tài liệu cần thiết để đóng và khai thác sử dụng tàu và làm việc trên sân đóng tàu thuộc ở căn cứ chế tạo thiết bị tuabin khí hơi với toàn bộ các hệ thống của nó và máy móc hỗ trợ, đồng thời chỉ đạo tiến hành các thí nghiệm tàu ngầm. Tổng công trình sư của tàu ngầm thí nghiệm Đề án 617 là A.A.Antipin – chủ nhiệm phòng thiết kế số 143. Tháng 3 năm 1953, theo sự phân phố của Hội đồng Bộ trưởng Liên xô, toàn bộ công việc theo Đề án 617, đồng thời toàn bộ các công việc nghiên cứu khoa học, thực hiện việc đảm bảo đề án cũng với những trang thiết bị đã có trong phòng thiết kế số 143 đã được bàn giao từ phòng thiết kế 143 ngược lại tới Phòng thiết kế Trung ương số 18. Đồng thời với Phòng thiết kế trung ương số 18 đã chuyến đến các chuyên gia phụ trách Đề án 617 và các công việc nghiên cứu – khoa học, liên quan đến đề án này.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Hai, 2012, 03:51:13 pm
Chính phủ đã giao nhiệm vụ lớn cho các đề án tàu ngầm với các thiết bị năng lượng mới, trong mệnh lệnh của Bộ Công nghiệp đóng tàu mùng 2 tháng 3 năm 1949 đã viết: “Hội đồng Bộ trưởng Liên bang Xô viết đã chấp nhận cần thiết và coi nhiệm vụ quan trọng nhất của Bộ công nghiệp đóng tàu và Bộ Quốc phòng là chế tạo các tàu ngầm tốc độ cao trên cơ sở sử dụng các thiết bị năng lượng mới”.

Ở Phòng thiết kế số 143 đã chế tạo bệ đặc biện để bảo quản peroxit hydro ít nước, trong đó bằng công sức của các chuyên gia và công nhân Phòng thiết kế số 143 đã chế tạo thiết bị tuabin khí hơi, được lắp ghép từ các tổ hợp được chuyển về từ Đức.

Tàu ngầm đề án 617 có độ ngắn tương đối, được kéo ra một phần theo chiều dọc thân tàu, vách ngăn hầm cửa vào hình thuôn, không lớn (không có buồng chiến đấu) và cánh đuôi được thiết kế một cách hợp lý. Toàn bộ đảm bảo cho tàu ngầm có chất lượng tốc độ và cơ động tốt. Sự bố trí ở mũi trữ lượng nổi mang lại khả năng tăng cường chất lượng di chuyển trên biển của tàu.

Thân trong, được tính toán ở độ lặn sâu giới hạn 200 mét, được phân chia bởi các vách ngăn không thấm nước thành 6 khoang: ngư lôi, ắc quy (cho người ở), trạm trung tâm, diezel, tuabin, mạn. Vật liệu thân trong – thép SKhL-4. Các vách ngăn trạng trung tâm được tính toán chịu được áp lực 10kg lực/cm2, 3 vách ngăn còn lại – chịu áp lực 2kg lực/cm2. Trong không gian giữa thành tàu bố trí 8 thùng tải trọng dằn, các thùng nhiên liệu và buồng không thấm nước với trữ lượng peroxit hydro (103,4 tấn). Trữ lượng nổi và sự phân chia thân trong bằng các vách ngăn không thấm nước đảo bảo tính không chìm của tàu ngầm khi bị đắm 1 khoang tiếp giáp bất kỳ với thùng tải trọng dằn mang theo.

Trang thiết bị điện của tàu ngầm Đề án 617 là điểm đặc sắc nhất. Nó gồm có các thiết bị năng lượng diesel với sơ đồ, tương tự như động cơ điện – diesel được tiếp nhận trên tàu ngầm và thiết bị tuabin khí hơi. Lần đầu tiên trong lịch sử tàu ngầm Liên Xô, công xuất thiết bị hoạt động dưới nước đạt 7250 sức ngựa trên 1 trục.

Thiết bị tuabin khí hơi được sử dụng để bơi ngầm trên tốc độ lớn (10-20 hải lý), động cơ điện – diesel – để bơi nổi, để bơi ở vị trí ống nhòm tiềm vọng dưới động cơ diesel, để bơi ở trạng thái ngầm dưới các động cơ diesel với nguồn của chúng từ pin ắc quy (tốc độ ngầm thấp từ 2 đến 9 hải lý) và để nạp điện cho ắc quy. Cả hai thiết bị đều hoạt động trên 1 trục.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Hai, 2012, 06:42:31 pm
Thiết bị điện – diesel gồm 2 động cơ diesel 8Ch23/30 và 6Ch23/30, động cơ điện chân vịt PG-100, máy phát điện Pg-107 và các đài điều khiển chúng. Chúng được bố trí trong khoang thứ 4 (diesel), động cơ điện dự bị - trong khoang số 6 (mạn); pin ắc quy – trong hốc ắc quy ở bộ phận dưới khoang thứ 2. Trữ lượng nhiên liệu diesel – 88,5 tấn.

Để đảm bảo chế độ hoạt động của các động cơ diesel trên độ sâu tiềm vọng có lắp khí tài hoạt động của động cơ diesel ở vị trí ngầm (RDP) với sự làm đầy cột không khí và khí, được giới thiệu là thiết kế mới một cách nguyên tắc, không được tiếp nhận trên các dòng tàu ngầm khác. Một trong các ưu điểm của thiết kế này là sự thiếu đường lưu thông của trụ hoạt động của động cơ diesel qua thân trong, dẫn tới sự hợp lý của thể tích bên trong tàu ngầm. Các kích thước lựa chọn và thực hiện thiết kế của khí tài cho phép làm việc trong chế độ hoạt động của động cơ diesel ở vị trí ngầm đồng thời 2 động cơ trên công suất hoàn toàn, đảm bảo sự nạp điện pin ắc quy và di chuyển với tốc độ 5,8 hải lý, khi đó, sự thưa bên trong tàu ngầm không quá 150-200mm cột nước, còn sự kháng áp trong ống thoát khí 1000-1200 mm cột nước, thì trong thời gian đó, như trên các tàu ngầm khác, những số lượng này tương ứng với 500-650mm và 2000-3000mm cột nước.

Thiết bị tuabin khí hơi hoạt động theo sơ đồ sau: peroxit hydro được cung cấp tới thùng phân tán, ở đó, nó với sự hỗ trợ của chất xúc tác đặc biệt được phân phối trong oxi dạng khí (37%), và hơi nước (63%). Từ thùng phân tán, oxi-hơi nước tràn vào thùng cháy, ở đó, đồng thời cùng nhiên liệu hidrocacbon nhẹ đặc biệt dạng keroxin (TK-8A) được cung cấp, có khối lượng riêng 0,8, sự khác biệt tăng cường theo so sánh với nhiệt độ cháy của keroxin và lượng nhỏ tạp chất, có khả năng cháy hoàn toàn không cần sự luyện cốc. Các sản phẩm cháy, gồm 15% từ khí cacbon và 85% hơi nước qua pin ắc quy nhiệt, phục vụ cho việc điều hòa (làm bằng) quán tính nhiệt của khí hơi khi thay đổi chế độ hoạt động, đưa tới tuabin với nhiệt độ ổn định 550 độ C và thay đổi sự phụ thuộc vào áp lực tải. Sự tải hoàn toàn tương ứng với áp lực gần 21kg lực/cm2 kho tốc độ quay của tuabin gần 9500 vòng/phút. Khí hơi được xử lý từ tuabin được đưa tới nồi ngưng hơi để ngưng tụ nước và tách khí cacbon, sau đó được hút ra bằng máy nén khí xoắn ốc kiểu “Liskholm” và được xử lý qua thiết bị đặc biệt ngoài thành, ở đó được hòa tan với nước biển.

Chất Hiđrô peôxít chứa trong 32 túi nhựa PVC được treo bán cố định trên giá kim loại bố trí tại các khoang thông nước bên trong lớp vỏ ngoài của tàu. Dưới áp lực của nước biển, chất Hiđrô peôxít trong các túi nhựa này bị ép dẫn sang bơm trung chuyển, rối từ đó được bơm sang bơm trộn 3 thành phần (Hiđrô peôxít, nhiên liệu và chất ngưng kết). Nhiên liệu đặc chủng dùng cho tuốc bin khí hơi nước được chứa trong 2 chiếc két đặt bên ngoài lớp vỏ áp lực và được cấp thẳng tới bơm trộn 3 thành phần nhờ áp lực nước biển. Thành phần thứ 3 của bơm trộn là nước ngưng kết chiết ra từ lượng nước thặng dư trong chu trình đốt liên quan tới phản ứng tách chất Hiđrô peôxít và được dùng vào việc khống chế nhiệt độ khí hơi nước. Dư lượng nước ngưng kết sẽ được máy nén “Liskholm” tống ra ngoài cùng với lượng khí thải Cacbon điôxít

(Đoạn cuối:

Запасы ПВК хранились в 32-х эластичных полихлорвиниловых мешках, расположенных в проницаемых выгородках легкого корпуса и подвешенных к корпусу на металлической раме. Под давлением забортной воды ПВК выжималась из мешков и подавалась сначала к перекачивающему насосу, а оттуда – к трёхкомпонентному насосу (ПВК – топливо – конденсат). Специальное топливо для ПГТУ хранилось в двух цистернах вне прочного корпуса и под забортным давлением подавалось непосредственно к трехкомпонентному насосу. Третьим компонентом этого насоса была конденсатная вода, которая выделялась в цикле в избытке в связи с разложением ПВК и использовалась для регулирования температуры парогаза; избыток её выбрасывался за борт вместе с углекислым газом компрессором «Лисхольм».

Em dịch xong thấy sạn nhiều, các cụ, các bác, đồng đội hiệu chỉnh lại cho em nhá :) )


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Hai, 2012, 07:10:18 pm
Số lượng PVK, nhiên liệu và nước ngưng được cung cấp vào thùng đốt để tạo thành khí hơi hoạt động, được điều hòa tự đọng trong sự phụ thuộc vào tải trọng quy định khi có sự hỗ trợ của máy điều hòa 4 thành phần. Thành phần thứ 4 trong máy điều hòa là nước ngoài thành được bố trí, trong đó, sự giảm khối lượng tàu được khôi phục, nhận được do sự khác nhau của khối lượng tiêu thụ PVK (khối lượng riêng 1,34) và nhiên liệu (khối lượng riêng 0,8) và chuyển tới vị trí nước ngoài thành tàu của chúng. Sự điều hòa thành phần sau cùng hỗ trợ cho việc nổi của tàu ngầm khi di chuyển dưới thiết bị tuabin khí hơi.

Việc làm mát nước ngưng được thực hiện trong sự phân bố ngoài thành tàu bằng tủ lạnh, ở đó, nước ngưng được cung cấp bằng bơm nước ngưng. Sự xả hao hụt khí hơi được sản xuất từ đệm vòng chắn đầu của tuabin khi có sự hỗ trợ của bơm, tạo thành khối lượng 0,98kg lực/cm2.

Công suất tuabin được truyền tải tới chân vịt qua bộ truyền động 2 tầng, giảm tần số quay đến 480 vòng/phút. Bộ phận công suất của tuabin được đưa tới hoạt động của máy nén khí, đồng thời, tới vòng quay trong chế độ máy phát điện của chân vịt chính của động cơ điện để đảm bảo các máy móc hỗ trợ năng lượng điện.

Trong mục đích đảm bảo sự an toàn khai thác sử dụng, thiết bị tuabin có các khí tài bảo vệ sau:

+ bảo vệ giới hạn theo vòng quay tuabin đến 11 200 vòng/phút

+ bảo vệ giới hạn theo nhiệt độ hơi nước sạch đến 575 độ C

+ bảo vệ giới hạn theo áp suất trong bình ngưng tụ (hơi nước) đến 6kg lực/cm2

+ bảo vệ tối thiểu theo áp suất khối lượng đến 2,5 kg lực/cm2

Ba sự bảo vệ đầu tiên hoạt động qua máy điều hòa cực đại của tuabin trên 3 thành phần, bộ chuyển mạch trong bơm 3 thành phần và dẫn thiết bị từ hoạt đọng, còn sự bảo vệ dầu với sự hỗ trợ của rơ le áp kế dẫn động cho bơm dầu phụ.

Thiết bị tuabin khí hơi có thể hoạt động lâu dài trên tải trọng hoàn toàn ở tư thế ngầm trên độ sâu 30 đến 120 mét và thời gian ngắn 5 phút trên độ sâu 160 mét.

Với sự tăng độ lặn sâu, công suất tuabin được truyền tải tới chân vịt, giảm sự liên qua tới việc tăng cường độ tiêu thụ công suất trong hoạt động của máy nén khí – bơm khí cacbonat ngoài thành. Việc khởi động thiết bị có thể được thực hiện ở phạm vi các độ lặn sâu từ ống nhòm ngầm đến 80 mét. Tải trọng theo khí hơi trong 25% tới hoàn toàn là tải trọng khởi động. Công suất khai thác sử dụng tối thiểu là 30%, tải trọng theo khí hơi, đảm bảo sự bơi của tàu ngầm trên độ sâu từ độ sâu tiềm vọng tới 25 mét.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Hai, 2012, 03:47:59 pm
Thời gian hoạt động liên tục của thiết bị cho đến khi sử dụng hoàn toàn PVK trong sự phụ thuộc từ tải trọng từ 6 đến 23 giờ. Công suất tối đa của thiết bị ở độ sâu 30-40 mét là 7250 sức ngựa, trên bệ lắp tuabin khi sự tiêu tốn trong một giờ của khí hơi 37 tấn. Trên độ sâu này, công suất được truyền tải tới trục chân vịt là 6050 sức ngựa. Khi bơi ở độ sau 40 mét, sự tiêu thụ riêng của PVK, liên quan tới công suất trên bệ tuabin ở tải trọng 100% là 2,1kg/sức ngựa giờ, khi 50% - 2,5kg/sức ngựa.giờ và 30% - 3,4kg/lực.giờ; sự tiêu thụ nhiên liệu trong cùng các điều kiện này tương ứng – 0,23; 0.28 và 0,37kh/sức ngựa.giờ.

Các tính năng cơ động tiếp nhận được của thiết bị tuabin khí hơi có thể được nhận định theo dạng sau: thời gian chuẩn bị của thiết bị tới khi khởi động – 2 phút 10 giây; sự khởi động tăng cường của thiết bị từ trạng thái lạnh với sự tăng công suất đến tối đa (hoàn toàn) – 9 phút 30 giây, còn khi khởi động từ trạng thái được tăng nhiệt – 4 phút 35 giây. Thời gian chuyển từ hoạt động dưới động cơ điện dự bị tới tải trọng khai thác vận hành tối đa dưới thiết bị tuabin khí hơi khi khởi động từ trạng thái lạnh hoặc được tăng nhiệt tương ứng với 4 phút và 2 phút 45 giây. Thời gian chuyển (khi máy được tăng nhiệt) với tải trọng khởi động tới công suất hoàn toàn gần 2 phút 30 giây.

Trang thiết bị, các máy móc và hệ thống chung trên tàu cùng khí tài của tàu ngầm trong số lượng lớn đồng nhất với các đề án tàu ngầm khác (Đề án 611, Đề án 613), việc thiết kế và đóng được thực hiện trong cùng thời gian ở Phòng thiết kế Trung ương số 18 tại các xưởng đóng tàu ở Leningrad. Từ những sự đặc biệt này, có thể đánh giá:

+ thùng lặn nhanh có sự điều khiển thủy lực bằng van thông biển. Van quạt có thiết bị dẫn động bằng tay tốc độ cao

+ các khí tài bơm nước gồm có 2 bơm – dạng chính 6MBx2 và bơm hầm dạng TP-20/250

+ hệ thống không khí cao áp gồm có 18 bình cầu thể tích 410 lít và 2 thùng thể tích 80 lít. Thể tích chung – 7,5m3, áp suất – 200kg lực/cm2. Để bổ sung trữ lượng không khí trên tàu đã lắp 2 máy nén khí diesel dạng DK-2, công suất 10 lít/phút, không khí nén bằng áp suất 200kg lực/cm2 và 1 máy nén khí điện dạng 1K công suất 6 lít/phút, không khí sạch bằng áp suất 200kg lực/cm2

+ sự nổi của tàu ngầm từ vị trí chiến đấu trong tốc độ tuần dương được đảm bảo bằng sự bơm hơi của các thùng tải trọng dằn thải bằng khí ga đã tiêu thụ của các động cơ diesel trong khoảng thời gian gần 6 phút khi có sự hoạt động đồng thời của các động cơ diesel chính và hỗ trợ

+ hệ thống thủy lực, được sử dụng để dẫn hoạt động của các thiết bị dẫn động thủy lực bánh lái dọc và ngang, khí tài nâng kính tiềm vọng, nâng ăng ten VAN-5 “Flag”, các khung nhỏ của hệ thống thông tin liên lạc dưới nước, ăng ten chân cắm liên lạc tầm xa và nâng khí tài hoạt động của động cơ diesel ở vị trí ngầm (RDP), đồng thời toàn bộ máy móc thủy lực để mở van thông, van quạt, các cửa trước của thiết bị ngư lôi và hầm cung cấp không khí tới các động cơ diesel và quạt của tàu – gồm có 3 thiết bị bơm.

+ hệ thống tổng thể của tàu và quạt ắc quy phục vụ cho 2 quạt – thổi và đẩy không khí – công suất 4000m3/h khi áp lực 350 cột nước. Sự tiếp nhận không khí sạch được được hiện qua hầm cung cấp không khí tới các động cơ diesel, còn sự thải khí – qua hầm xả khí của quạt gió;

+ hệ thống ổn định ở độ sâu “Sprut” ban đầu được lắp trong dạng không đảm bảo yêu cầu của tàu đã được tháo bỏ cho đến khi ký văn bản tiếp nhận

+ trên tàu đã lắp 2 nhà vệ sinh ngầm và 1 nhà vệ sinh nổi trong vách ngăn khoang.

Trong thành phần các khí tài đạo hàng, quan sát và thông tinh có: la bàn con quay “Kurs-3”, hành trình kế GOM-III, máy đo sâu bằng tiếng dội NEL-4UG, đài tìm phương vô tuyến RPN-47-03, đài ra đa định vị “Flag”, máy đáp thuộc đài ra đa định vị hội thoại nói “Fakel-MO-1”, tài định vị thủy âm “Tamir-5LS”, đài tìm phương theo tiếng ồn “Mars-24KIG”.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Hai, 2012, 03:51:26 pm
Bản vẽ kỹ thuật của Đề án 617:

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/617_draw2.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/617_draw3.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/617_draw4.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: huyphongssi trong 15 Tháng Hai, 2012, 09:41:13 pm
Trữ lượng PVK (ПВК) được giữ trong các túi nhựa đa sắc thứ 32, phân bố trong các buồng không thấm nước của thân ngoài và treo gần thân tàu trên khung kim loại. Dưới áp lực của nước ngoài thành tàu, VPK bị ép từ các túi cung cấp tới bơm, còn từ đó – tới bơm 3 thành phần (PVK – nhiên liệu – ngưng tụ). Nhiên liệu đặc biệt đối với thiết bị tuabin khí hơi được giữ trong 2 thùng ngoài thân ngoài và dưới áp suất ngoài thành được cung cấp một cách trực tiếp tới bơm 3 thành phần. Thành phần thứ 3 của bơm này là nước ngưng, phân chia trong chu kỳ trong lượng dư liên quan tới sự phân tán PVK và sử dụng để điều hòa nhiệt độ khí hơi; lượng dư của nó được thải ra ngoài thành tàu cùng khí oxi bằng máy nén khí.

(Đoạn cuối:

Запасы ПВК хранились в 32-х эластичных полихлорвиниловых мешках, расположенных в проницаемых выгородках легкого корпуса и подвешенных к корпусу на металлической раме. Под давлением забортной воды ПВК выжималась из мешков и подавалась сначала к перекачивающему насосу, а оттуда – к трёхкомпонентному насосу (ПВК – топливо – конденсат). Специальное топливо для ПГТУ хранилось в двух цистернах вне прочного корпуса и под забортным давлением подавалось непосредственно к трехкомпонентному насосу. Третьим компонентом этого насоса была конденсатная вода, которая выделялась в цикле в избытке в связи с разложением ПВК и использовалась для регулирования температуры парогаза; избыток её выбрасывался за борт вместе с углекислым газом компрессором «Лисхольм».

Em dịch xong thấy sạn nhiều, các cụ, các bác, đồng đội hiệu chỉnh lại cho em nhá :) )
Trình thủ trưởng xem đoạn dưới này có được không ạ ;D

"Chất Hiđrô peôxít chứa trong 32 túi nhựa PVC được treo bán cố định trên giá kim loại bố trí tại các khoang thông nước bên trong lớp vỏ ngoài của tàu. Dưới áp lực của nước biển, chất Hiđrô peôxít trong các túi nhựa này bị ép dẫn sang bơm trung chuyển, rối từ đó được bơm sang bơm trộn 3 thành phần (Hiđrô peôxít, nhiên liệu và chất ngưng kết). Nhiên liệu đặc chủng dùng cho tuốc bin khí hơi nước được chứa trong 2 chiếc két đặt bên ngoài lớp vỏ áp lực và được cấp thẳng tới bơm trộn 3 thành phần nhờ áp lực nước biển. Thành phần thứ 3 của bơm trộn là nước ngưng kết chiết ra từ lượng nước thặng dư trong chu trình đốt liên quan tới phản ứng tách chất Hiđrô peôxít và được dùng vào việc khống chế nhiệt độ khí hơi nước. Dư lượng nước ngưng kết sẽ được máy nén “Liskholm” tống ra ngoài cùng với lượng khí thải Cacbon điôxít."


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: qtdc trong 15 Tháng Hai, 2012, 10:32:54 pm
Đ/c huyphongssi dịch chuẩn rồi. Có điều peroxit hydro viết tắt không phải PVK vì nó là - Перокси́д водоро́да (перекись водорода), H2O2. Có lẽ bản in nhầm chăng. Còn chất tham gia vào hoạt động của tuabin hơi thì đúng là hydro peroxit. NATO gọi lớp này là "Whale" (Cá Voi) mặc dù đây là loại tàu ngầm không lớn.   


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Hai, 2012, 05:53:45 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/617_02.jpg)

Mặc dù rằng, thiết bị động cơ tuabin khí hơi được lắp trên bệ, trong quá trình các thí nghiệm của nó trong các điều kiện của tàu ngầm tiếp tục xuất hiện những hỏng hóc: sự gián đoạn (dừng) hoạt động của các bơm và tổ hợp máy móc hỗ trợ của thiết bị, các bao bảo quản PVK không được làm kín và sự rò rỉ của chúng ra thành, hoạt động của thiết bị điều hòa bị hỏng…. Khi xuất hiện sự rò rỉ PVK đã dẫn đến việc sự phân hủy nhanh chóng của chúng khi tiếp xúc từ sự tiếp xúc với các đồ bẩn và nhiễm dầu, làm cháy các thiết bị này dưới tác động của oxi. Liên quan đến lỗi không kín của tuyến PVK, đồng thời sự ngưng tụ của hơi dầu trong các khu vực khác nhau, là các trường hợp gây cháy trong khoang tuabin, thậm chí “bông”, được gọi như vậy khi có vụ nổ nhỏ, không gây ra thiệt hại.

Trong giai đoạn các thí nghiệm xưởng, đã nhận thấy, rằng khu vực các dao động xoắn của thiết bị động cơ diesel chính 8Ch23/30 có phạm vi vòng quay lớn, dẫn đến phải tăng khu vực cấm số vòng quay hoạt động. Để giảm khu vực cấm, đã lắp trên bệ trục khuỷu động cơ diesel chống rung: đồng thời trục khuỷu của động cơ diesel được thay thế, trên ngõng trục mạn đã phát hiện các vết nứt. Toàn bộ được thực hiện cùng nhau bởi lý do, rằng các thí nghiệm tàu S-99 đã tiếp tục trong thời gian dài. Chỉ vào 21 tháng 4 năm 1955, tàu ngầm đã được giới thiệu ở các thí nghiệm cấp Nhà nước và kết thúc vào 20 tháng 3 năm 1956.

Hội đồng nghiệm thu quốc gia trong báo cáo của mình đã đánh giá: “Trên tàu ngầm lần đầu tiên đã đạt được tốc độ hoàn toàn 20 hải lý trong 6 giờ. Theo phạm vi hoạt động rộng của tàu ngầm tốc độ cao và các tầm bơi xa khác nhau bằng tốc độ này, tàu ngầm chưa từng có tàu nào so sánh được trong Hải quân, nghĩa là mở rộng một cách đáng kể khả năng chiến đấu trong việc sử dụng tàu ngầm lớp này”.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Hai, 2012, 06:10:30 pm
Cùng với đó là hàng loạt các nhược điểm, xuất hiện trong quá trình thí nghiệm toàn diện của tàu ngầm, ví dụ như:

+ ở tốc độ lớn của tàu ngầm, do nhiễu rất khó sử dụng các khí tài tìm phương theo tiếng ồn và ra đa định vị

+ tầm xa bơi liên lúc dưới nước ở tốc độ thấp là nhược điểm của dung lượng pin ắc quy không lớn

+ cấp độ tiếng ồn khi chuyener động dưới thiết bị tuabin khí hơi trên toàn bộ tải trọng và các độ sâu là lớn và nằm trong giới hạn từ 118 đén 136dB trên tầm xa 50 mét từ tàu ngầm với tốc độ di chuyển từ 14 đến 20 hải lý. Tiếng ồn của tàu ngâm khi di chuyển dưới động cơ tuabin khí hơi được xác định trong tiếng ồn cơ bản của chân vịt và một cách từng phần, bởi tiếng ồn phát ra từ bộ truyền động của thiết bị tuabin răng cưa chính

+ trong hoạt động của thiết bị tuabin khí hơi, khoang tuabin không có người ở (số 5) được làm kín và người ở khoang số 6 trên thực tế bị cách ly hoàn toàn khỏi các khoang khác của tàu ngầm

+ động cơ diesel khi làm lạnh, nước biển nhanh chóng làm chúng bị rỉ bề mặt ngoài của các trục làm việc, các ổ trục bánh và khung không thể đảm bảo thời gian phục vụ theo quy định.

Chương trình đóng tàu

Tàu ngầm thí nghiệm duy nhất của Đề án 617, nhận số hiệu chiến thuật S-99 (số hiệu xưởng 617) được đóng ở xưởng số 196 thuộc Bộ Công nghiệp đóng tàu. Tàu được khởi công 5 tháng 2 năm 1951 và hạ thủy 5 tháng 2 năm 1952, còn 16 tháng 6 cùng năm đã bắt đầu các thí nghiệm neo đậu. Năm 1956, S-99 đã đưa vào khai thác sử dụng thí nghiệm ở Hạm đội Baltic.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Hai, 2012, 09:42:26 pm
Tình hình đến năm 2008

Gia nhập biên chế Hạm đội Baltic, tàu ngầm thí nghiệm Đề án 617 trong thời gian đó, lần đầu tiên trong thế giới tàu ngầm chiến đấu,đạt được tốc độ 20 hải lý ở vị trí ngầm. Đáng chú ý, trong thời gian đó (cuối năm 1955), gia nhập biên chế Hải quân Anh có tàu ngầm thí nghiệm “Explorer”, đồng thời có thiết bị tuabin khí hơi và có tốc độ bơi ngầm lớn, không phải là tàu chiến, bởi vì trên tàu không có vũ khí, mà nghiệm vụ chính của nó là sử dụng để huấn luyện và kiểm tra độ tin cậy khi hoạt động của thiết bị năng lượng.

Năm 1956, tàu ngầm Đề án 617 S-99 đã đưa vào khai thác sử dụng thí nghiệm ở Hạm đội Baltic. Liên quan đến sự phức tạp và mới mẻ trong thiết bị năng lượng của nó trong giai đoạn khai thác sử dụng thí nghiệm đã lấy các thợ máy đảm bảo từ Phòng thiết kế Trung ương số 18. Trong giai đoạn từ năm 1956 – 1959, tàu ngầm có 98 lần ra khơi, với hơn 6000 dặm ở tư thế nổi, 8000 dặm ở tư thế ngầm (trong số đó 315 dặm dưới thiết bị tuabin khí hơi), đã nhiều lần khởi động huấn luyện thiết bị tuabin khí hơi.

Ngày 17 tháng 5 năm 1959, trên tàu ngầm S-99 đã xảy ra tai nạn nghiêm trọng. Tàu đã rời khỏi bãi tập để tiến hành khởi động huấn luyện – thí nghiệm thiết bị năng lượng ở các độ sâu khác nhau. Ngày 19 tháng 5, sau khi lặn đã thực hiện việc khởi động thiết bị ở độ sâu 40 mét và sau đó ở độ sâu 60 mét. Những trục trặc về khởi động và hoạt động của thiết bị tuabin khí hơi không xuất hiện. Trong lần khởi động sau ở độ sâu 80 mét, từ phía khoang tuabin đã nghe thấy tiếng động mạnh (nổ) và thiết bị không được khởi động. Chỉ huy tàu một cách không chậm trễ (không đợi sự báo cáo từ khoang số IV) đã thổi tải trọng dằn chính của hệ thống bơm hơi khẩn cấp. Tàu ngầm nổi lên mặt biển, có độ nghiêng theo hướng mạn tàu 2 độ. Từ khoang số IV (diesel) đã báo cáo: “Vụ nổ và cháy ở khoang số V” và “Cần dẫn nước vào khoang số V”. Trên tàu đã có tín hiệu cứu nạn. Sau cửa kính quan sát từ các khoang số IV và V đã xác định, rằng khoang số V (tuabin) đã bị ngập nước.

Bởi vì tàu còn nổi, chỉ huy tàu đã quyết định cho tàu bơi về căn cứ bằng hoạt động của máy phát điện – diesel (khoang số IV) và động cơ điện dự bị (trong khoang số VI), thông báo về tai nạn về căn cứ và gọi tàu hỗ trợ. Sau vài giờ, tàu ngầm đã về tới căn cứ. Sau khi bơm nước khỏi khoang tuabin, đã xác định, rằng đã xảy ra sự vỡ van bên thành của ống dẫn tải peroxit oxi, kết quả của vụ nổ là bộ phận trên của thân trong đã hình thành lỗ thủng xuyên thấu đường kính 80mm. Vụ nổ xảy ra do sự phân tán peroxit oxi từ việc chất bẩn rơi vào van.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Hai, 2012, 10:07:13 pm
Sau tai nạn, S-99 đã không được khôi phục, bởi vì yêu cầu thay thể số lượng lớn bộ phận máy móc của thiết bị tuabin khí hơi, nhiều trong số đó cần chế tạo mới, và việc đó yêu cầu số lượng lớn tài chính.

Sau một thời gian, các công trình sư đã bắt đầu thiết kế tàu Đề án hiện đại hóa 643 với sự tăng cường lượng choán nước và tốc độ ngầm hơn 22 hải lý, với thiết bị năng lượng chính 2 trục. Đề án này có tên Đề án 617-M. Tuy nhiên, từ năm 1952, toàn bộ hoạt động đã hướng vào việc thiết kế các tàu Đề án 627, trở thành lớp tàu ngầm nguyên tử Liên Xô đầu tiên. Kết quả của các công việc sau nặng nề sau đó đã chỉ ra trong thí nghiệm, đã quyết định ngừng các tuabin khí hơi không an toàn, còn tàu ngầm với thiết bị năng lượng này được tính toán không có triển vọng. Vì vậy, S-99 sau đó được tháo dỡ và xẻ lấy kim loại.

Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ S-99; (số hiệu xưởng 617); 26 tháng 3 năm 1949 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; 5 tháng 2 năm 1951 khởi công ở xưởng số 196 thuộc Bộ Công nghiệp đóng tàu tại Leningrad như tàu ngầm thí nghiệm với thiết bị tuabin khí hơi; hạ thủy 5 tháng 2 năm 1952; trong giai đoạn từ 16 tháng 6 năm 1952 đến năm 1955 đã thực hiện chương trình các thí nghiệm neo đậu và vận động cấp xưởng ở khu mặt nước tại căn cứ Liepai và Nam Baltic; từ 21 tháng 4 năm 1955 đến 20 tháng 3 năm 1956 đã thực hiện chương trình thí nghiệm vận động cấp quốc gia, trong đó ở bãi tập Tallin đã đạt được tốc độ hoàn toàn 20 hải lý trong thời gian 6 tiếng và thời gian ngắn – 22 hải lý; 20 tháng 3 năm 1956 gia nhập biên chế và 30 tháng 8 năm 1956 gia nhập biên chế Tiểu đoàn tàu ngầm độc lập thuộc Hạm đội Cờ đỏ Baltic đóng căn cứ ở Lomonosov; trong giai đoạn từ mùa hè năm 1956 đến mùa đông năm 1958 đã tiến hành sửa chữa sau thí nghiệm các máy móc ở xưởng số 196; tháng 5 năm 1958 tàu chuyển tới Kronshtadt và tham gia quá trình khai thác sử dụng thí nghiệm; mùa hè năm 1958 đã trải qua xử lý các nhiệm vụ huấn luyện ở vịnh Phần Lan ở khu vực quần đảo Hotland, sau đó tới Liepai; trong giai đoạn mùa đông năm 1958 – 1959 đã trải qua xử lý các nhiệm vụ huấn luyện ở Nam Baltic, sau đó liên quan đến việc xử lý tuổi thọ động cơ của thiết bị năng lượng chính đã có kế hoạch sửa chữa ở xưởng số 196, nhưng theo yêu cầu của Hải quân và sự đồng ý của Phòng thiết kế Trung ương số 18 đã quyêt định tiến hành các thí nghiệm kéo dài với thiết bị tuabin khí hơi, gồm có khởi động trên các độ lặn sâu khác nhau; 19 tháng 5 năm 1959, tàu ra biển và khởi động dưới nước, thủy thủ đoàn bắt đầu thực hiện chương trình thí nghiệm; khởi động tuabin ở độ sâu 40 mét và 60 mét so với bề mặt nước diễn ra thuận lợi, sau đó ở độ sâu 80 mét trong khoang số V đã xảy ra vụ nổ, tàu bị nghiêng về phía mạn tàu, sau khi bơm hơi khẩn cấp từ thùng tải trọng dằn chính, tàu bơi qua 120 mét và bắt đầu nổi; trong khoang số V, đám cháy tiếp tục, khói qua khoang cho người ở số IV và tới cuối khoang số VI; tàu được kéo về Liepai sau đó 12 giờ; trong giai đoạn tháng 5-6 năm 1959 đã trải qua sửa chữa khẩn cấp ở xưởng “Tosmare” ở Liepai; sau đó đã bơi ở tư thế nổi tới Kronshtadt; 30 tháng 8 nawm1961 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và phân loại lại thành tàu ngầm thí nghiệm và bàn giao cho Viện nghiên cứu khoa học số 138 của Hải quân; 28 tháng 2 năm 1964 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ và 15 tháng 5 năm 1964 giải tán; sau đó ở căn cứ “Glavvtorchetmechta” tại Leningrad ở quần đảo Turukhtan bị tháo dỡ lấy kim loại.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 17 Tháng Hai, 2012, 11:12:48 am
Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ nổi: 950

+ ngầm: 1500

Các kích thước chính, met

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 62,2 (-)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 6,08 (-)

+ lượng mớn nước theo vạch mớn nước thiết kế: 5,08

Thiết bị năng lượng chính: thiết bị tuabin khí hơi

+ 1 động cơ diesel 8Ch23/30, công suất, sức ngựa (kW): 1000 (740)

+ 1 máy phát điện – diesel (động cơ diesel 6Ch23/30, máy phát điện PG-107), công suất, sức ngựa: 450 (350)

+ 1 động cơ điện diesel PG-100, công suất, sức ngựa (kW): 540 (397)

+ 1 động cơ điện dự bị, PG-105, công suất, sức ngựa (kW): 140 (103)

+ Pin ắc quy 26SU, số nhóm (cụm) x số lượng phần tử: 1x112

Tốc độ, hải lý

+ nổi hoàn toàn: 11

+ nổi với động cơ dự bị: 8,5

+ ngầm hoàn toàn (với thiết bị tuabin khí hơi): 20

+ ngầm hoàn toàn (với động cơ điện diesel): 9,3

+ ngầm với động cơ dự bị: 2,3

Tầm bơi xa, dặm (với tốc độ, hải lý)

+ ở vị trí nổi (với động cơ diesel): 8500 (8,5)

+ ở vị trí ngầm (với thiết bị tuabin khí hơi): 120 (20); 198 (14,2)

+ ở vị trí ngầm (với động cơ diezel dự bị): 132 (2,3)

Độ lặn sâu, mét

+ làm việc hiệu quả: 170

+ giới hạn: 200

Thời gian hoạt động: 45

Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 51 (-)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 17 Tháng Hai, 2012, 11:20:00 am
Vũ khí

Ngư lôi: thiết bị ngư lôi 533mm ở mũi/cơ số đạn: 6/12

Khí tài vô tuyến điện tử

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: “Flag” (Snoop Plate)

Đài thủy âm

+ “Mars-24KIG” – đài tìm phương theo tiếng ồn

+ “Tamir-5LS” – đài định vị thủy âm

+ NEL-4UG – đài đo tiếng vọng

Các khí tài chống tác chiến điện tử

+ “VAN”-5

+ RPN-47-03 – đài tìm phương vô tuyến

Tổ hợp đạo hàng

+ “Kurs-3” – la bàn con quay

+ GOM-III – hành trình kế

Tổ hợp thông tin liên lạc vô tuyến: tổ hợp các khí tài

Đài ra đa định vị hội thoại nói: “Fakel-MO-1”.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 17 Tháng Hai, 2012, 12:56:36 pm
Đề án 613 – lớp Whiskey-I

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/613_15.jpg)

Tổng số tàu đã đóng: 215

Các biến thể

+ 613 (lớp Whiskey-I) – đề án cơ sở của tàu ngầm với trang bị pháo (1951)

+ 613 (lớp Whiskey-II/IV) – chỉ có súng phòng không tự động ở mũi/mạn

+ 613 (lớp Whiskey-III) – tháo trang bị pháo

+ 613 (lớp Whiskey-V) – tàu ngầm được nâng cấp không có vũ khí, với đài thủy âm với và trang bị vô tuyến điện tử mới

+ 613-Ts – tăng cường độ sâu sử dụng ngư lôi

+ 613-V – tăng cường thời gian hoạt động

+ 613 –Sh- thí nghiệm tổ hợp thủy âm dưới băng và các khả năng hoạt động dài ngày dưới nước

+ 613-EKhG “Katran” – tàu ngầm thí nghiệm với động cơ chu kỳ kín

+ 613-S – xử lý thùng nổi đối với sự quan trọng trong phục vụ cứu nạn của Hải quân (1961)

+ 666 – tàu ngầm cứu nạn thí nghiệm với tổ hợp điều khiển dưới nước (1962)

+ 613-RV – biến thể với sự bổ sung thiết bị ngư lôi để thí nghiệm tổ hợp tên lửa chống ngầm mới

+ V-613 – tàu ngầm được trang bị lại để phóng mô hình tên lửa đạn đạo tàu ngầm khởi động dưới nước (1957)

+ 613-D4 – tàu ngầm thí nghiệm đối với thí nghiệm tên lửa đạn đạo R-21 thuộc tổ hợp D-4

+ 613-D5 – tàu ngầm thí nghiệm đối với thí nghiệm tên lửa đạn đạo R-27 thuộc tổ hợp D-5

+ 613-D5 – tàu ngầm thí nghiệm đối với thí nghiệm tên lửa đạn đạo nhiên liệu rắn RT-15 thuộc tổ hợp D-7

+ P-613 (lớp Whiskey One Cylinder) – tàu ngầm được trang bị lại để thí nghiệm tổ hợp tên lửa có cánh P-5 (1956)

+ 644 (lớp Whiskey Twin Cylinder) – tàu ngầm mang hai tên lửa có cánh P-5 (1961)

+ 644D (lớp Whiskey Twin Cylinder) – biến thể Đề án 644 cho tên lửa có cánh P-5D

+ 665 (lớp Whiskey Long Bin) – tàu ngầm mang bốn tên lửa có cánh P-5 (1962)

+ 640 (lớp Whiskey Canvas) – tàu ngầm tuần tra với đài ra đa định vị “Kasatka” (1958)

+ 640-Ts – tàu ngầm thí nghiệm để nghiên cứu theo chương trình “Tsiklon”

+ 613-A – tàu ngầm được trang bị lại để thí nghiệm tên lửa có cánh P-70 “Ametist” (1962)

+ 613-AD – biến thể Đề án 613-A để thí nghiệm tên lửa có cánh P-70 “Ametist” (1964)

+ “Severyanka” – 2 tàu ngầm tháo vũ khí và bổ sung trang bị cho các nghiên cứu địa lý địa lý và khoa học đại dương.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 17 Tháng Hai, 2012, 01:28:44 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/613_02.jpg)

Lớp tàu ngầm điện – diesel đầu tiên của Liên Xô sau chiến trnah có số lượng lớn nhất là tàu ngầm diesel Đề án 613. Đề án là sự phát triển của tàu ngầm có lượng choán nước trung bình Đề án 608, được chế tạo trong những năm 1942 – 1944.

Cuối năm 1944, Hải quân đã nhận được các vật (tài) liệu về tàu ngầm Đức U-250 (bị đắm ở vịnh Phần Lan và sau đó được trục vớt), có các thông số, gần với Đề án 608. Liên quan với đó, Dân ủy Hải quân – Thống chế N.G.Kuznetsov đã tiếp nhận quyết định đình chỉ hoạt động trên Đề án 608 đến khi nghiên cứu các vật liệu theo U-250. Tháng 1 năm 1946, sau khi nghiên cứu các tàu ngầm chiến lợi phẩm (U-250, lớp XXI…). Bộ Tư lệnh Hải quân theo sự đề xuất của Ủy ban quốc gia đã phê duyệt nhiệm vụ kỹ - chiến thuật và thiết kế tàu ngầm điện – diesel Đề án 613. Trên tàu, dự kiến thay đổi thông số kỹ - chiến thuật theo Đề án 608 theo hướng tăng cường tốc độ và tầm bơi xa khi tăng lượng choán nước tiêu chuẩn lên 800 tấn. Sự thiết kết được giao cho Phòng thiết kế Trung ương số 18 (hiện nay là Phòng thiết kế Trung ương kỹ thuật Hải quân “Rubin”), còn Tổng công trình sư là V.N.Peregudov, sau đó được thay bằng Ya.E.Evgrafov, còn từ năm 1950 là Z.A.Deribin. Giám sát viên chính từ Hải quân là Thuyền trưởng hạng 2 L.I.Kilmov. Tháng 8 năm 1946 đã đưa ra nhiệm vụ kỹ - chiến thuật của Đề án 613, còn 15 tháng 8 năm 1948, đề án kỹ thuật đã được phê duyệt bởi Chính phủ Liên Xô. Khi thiết kế bản vẽ lý thuyết đặc biệt chú ý hướng vào việc đảm bảo các chất lượng vận động cao ở vị trí nổi. Kết quả, tốc độ hoàn toàn của tàu khi di chuyển ở vị trí ngầm theo đề án tăng lên 13 hải lý (thay cho ban đầu là 12).

Vũ khí của tàu ngầm mới gốm có 4 thiết bị ngư lôi 533mm ở mũi và 2 thiết bị ở mạn tàu, được trang bị hệ thống bắn ngư lôi không khí không bụi. Số lượng ngư lôi cho thiết bị ngư lôi mũi là 6, và cơ số đạn chung là 12, thiết bị ngư lôi của tàu ngầm có thể bắn các loại mìn ngầm mới AMD-1000 và biến thể của chúng. Việc bắn được thực hiện trong phạm vi độ sâu: từ vị trí tiềm vọng đến 30 mét. Các khí tài phát hiện mục tiêu cơ bản ở vị trí ngầm là đài thủy âm “Tamir-5L” và đài thủy âm tìm phương theo tiếng ồn “Mars-24KIG”. Lần đầu tiên trên tàu ngầm đã lắm đài ra đa định vị mới phát hiện mục tiêu nổi “Flag”. Đài trinh sát vô tuyến “Nakat” không được chuẩn bị ở thời điểm đó để bàn giao cho Hải quân với số lượng lớn tàu ngầm Đề án 613 và được lắp trên chúng trong quá trình khai thác sử dụng. Ở phương Tây, các tàu ngầm này nhận tên gọi lớp Whiskey.

Trang bị pháo là tổng hợp và gốm 1 pháo đồng trục tự động 57mm SM-24-3ZiF và 2 pháo tự động đồng trục 2M-8, được đưa vào biên chế năm 1945 một cách đặc biệt cho tàu ngầm. Sau đó, trong quá trình phục vụ, trang bị pháo từ toàn bộ các tàu ngầm Đề án 613 đã bị tháo bỏ hoàn toàn.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 17 Tháng Hai, 2012, 01:29:31 pm
Bản vẽ kỹ thuật Đề án tàu ngầm điện - diezel 613

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/613_draw01.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/613_draw03.jpg)

Bản vẽ

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/613_06.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 17 Tháng Hai, 2012, 01:36:33 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/613_05.jpg)

Tàu ngầm Đề án 613 kiểu C (S), năm 1949, Liên Xô

Trong những năm 50-60 đã đóng 215 tàu ngầm lớp này.

Lượng choán nước nổi: 1050 tấn/ngầm: 1600 tấn

Chiều dài: 76 mét

Chiều rộng: 6,3 mét

Tốc độ dưới nước: 13,1 hải lý (24,3km/h)

Vũ khí: 6 thiết bị ngư lôi 533mm (4 – mũi; 2- mạn)/2 pháo đồng trục 25mm và 2 pháo đồng trục 57mm

1.Bánh lái ngang

2.Các thiết bị ngư lôi

3.Động cơ điện

4.Động cơ diesel

5.Khoang cho người ở

6.Các chân vịt truyền động

7.Ống thông hơi hoặc thông khí (Шнорхель)

8.Pháo

9.Đài thủy âm

10.Pin ắc quy

11.Bánh lái đứng

12.Khoang chỉ huy


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: huyphongssi trong 17 Tháng Hai, 2012, 08:23:09 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/613_05.jpg)
7.Шнорхель (?)
Ống thông hơi hoặc ống thông khí.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 18 Tháng Hai, 2012, 12:24:47 pm
Cám ơn bác huyphongssi, qtdc và tất cả các bác :)

(tiếp theo)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/613_04.jpg)

Theo thiết kế, Đề án 613 – tàu ngầm hai thân. Thân trong – hàn hoàn toàn, với khung ngoài được chia thành 7 khoang, trong khu vực pin ắc quy hình thành từ 2 hình trụ tiếp giáp, tạo thành “hình số 8”, ngoài ra, đường kính của hình trụ dưới lớn hơn đường kính hình trụ trên (sự áp dụng mới này được mượn từ người Đức). Các khoang số 1, 3, 7 được phân chia bởi các vách ngăn hình cầu, tính toán chịu được áp lực 10kg lực/cm2 và hình thành khoang – khoang ẩn. Các vách ngăn còn lại được tính toán chịu áp lực 1kg lực/cm2. Sự không chìm của tàu được đảm bảo khi đắm một khoang và 2 khoang bên cạnh nó bằng thùng chứa tải trọng dằn chính của một bên thành. Tải trọng dằn được tiếp nhận trong 10 thùng, bố trí ở thân ngoài. Thùng chứa tải trọng dằn chính – không có van thông (chỉ có các cụm thùng số 4 và số 5 ở giữa có van thông), cho phép đơn giản hóa thiết kế và giảm giá thành đóng tàu (giá rẻ). Không khí cao áp được bố trí trong 22  bình cầu thể tích 90 lít được tính toán chịu áp lực 200kg lực/cm2. Trữ lượng không khí được bố sung từ 2 máy nén khí diesel. Ban đầu, các ống dẫn không khí bằng thép với mặt phủ bên trong từ đồng, nhưng chúng bị ăn mòn rất mạnh và sau đó được thay bằng đồng đỏ. Bơm tiêu nước chính kiểu 6MVx2 có công suất 180m3/h khi áp lực cột nước 20 mét và 22m3/h. Ban đầu, trong phần cuối mũi tàu bố trí thùng nổi, nhưng khi tháo pháo – nó cũng được tháo. Lần đầu tiên, trong thực tên ngành đóng tàu ngầm Liên Xô đã tiếp nhận thiết bị cân bằng ngang ở phần cuối mạn tàu.

Thiết bị năng lượng chính của tàu gồm có động cơ diesel 2 tầng 37D, theo so sánh với các động cơ diesel 1D trên các dòng tàu ngầm trước chiến tranh IX-bis và XIII, khi công suất bằng nhau, có khối lượng, các kích thước và số lượng xi lanh thấp hơn. Đồng thời có khí tài đảm bảo hoạt động của động cơ diesel với hầm và van nổi. Tuy nhiên, động cơ diesel 37D có tiếng ồn cao hơn. Sự di chuyển dưới nước lần đầu tiên được thực hiện với sự hỗ trợ của 4 động cơ điện – diesel với các nhiệm vụ khác nhau: 2 động cơ chính kiểu PG-102 và 2 động cơ dạng PG-103 dự bị, nguồn điện được cung cấp từ pin ắc quy mũi dạng “46-SU” gồm có 2 nhóm theo 112 phần tử. Các máy móc xếp theo tuyến của trục được lắp trên các bộ giảm sóc cách âm. Các động cơ điện dự bị cung cấp sự quay tới trục chân vịt qua các bộ truyền động không ồn và đàn hồi với số dẫn động 1:3 và các khớp ma sát chuyển động dự bị. Giữa các động cơ diesel và động cơ phát điện diesel bố trí các khớp cách ly lốp – khí nén (ShPRM) đồng thời các khớp – giữa động cơ phát điện diesel và các trục tỳ, được liên kết với các trục bánh lái bằng các bệ cứng. Các khớp cách ly lốp – khí nén được tiếp nhận trong dạng có ưu thế rõ ràng trước các khớp dạng “BAMAG”, được lắp trên các Đề án tàu ngầm trước chiến tranh – chúng cho phép thực hiện sự cách âm của động cơ diesel và tuyến trục, tạo thành sự lắp ráp tuyến trục trên bệ, chứ không phải sau khi khởi động trên mặt nước, như vậy, thừa nhận sự gãy vỡ lớn và sự di chuyển của các trục liên tiếp thuộc các bộ phận riêng của hệ thống trục.

Cũng cần nhớ lại, để đảm bảo hoạt động của các động cơ diesel trong vị trí nổi trên độ sâu tiềm vọng của các tàu ngầm Đề án 613 có khí tài đặc biệt đảm bảo hoạt động của động cơ diesel được giới thiệu là hầm di động để cung cấp không khí sạch vào bên trong thân tàu, đảm bảo hoạt động của các động cơ chính. Van không khí của khí tài này được trang bị van nổi để ngăn chặn sự tràn nước hoặc khi bị đắm bộ phận trên, còn đẩy khí thải được thực hiện qua hầm vệ sinh bố trí trong phần mạn tàu của vách ngăn mui. (Cần thiết đáng chú ý, tiền thân của hệ thống đảm bảo hoạt động của động cơ diesel đã có vào đầu thế kỷ XX được thiets kế bởi sỹ quan – tàu ngầm người Nga Gudimom và được lắp trên một trong số các tàu ngầm Nga. Và chỉ sau vài chục năm, trong vai trò mẫu phế thải, khí tài tương tự đã được biết đến rộng rãi dưới tên gọi của Đức là “Shorkhel” – “Ống thông hơi” hoặc “Ống thông khí”.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 18 Tháng Hai, 2012, 12:47:54 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/613_12.jpg)

Các ống nhòm tiềm vọng, hệ thống đảm bảo hoạt động cho động cơ diesel, các bánh lái dọc và ngang, nắp thiết bị ngư lôi có các thiết bị dẫn động thủy lực. Lần đầu tiên trong Hạm đội Liên Xô, trên các tàu ngầm này tiếp nhận hệ thống chênh mớn nước không tiếng ồn (chỉ bằng không khí), lắp ống thoát khí với sự thái khí vào nước, theo hướng mạn tàu (sử dụng hiệu quả hút của luồng nước ngoài thành tàu), đối với nhà vệ sinh lắp các bình thoát nước. Dự kiến lắp máy lạnh để làm mát không khí trong tàu ngầm, nhưng do hoạt động không đảm bảo yêu cầu, nó đã bị tháo.

Trong quá trình thí nghiệm các tàu ngầm đầu tiên S-61 và S-80 đã xuất hiện các nhược điểm về thiết kế sau:

+ nước ngoài thành tàu tràn vào hệ thống thủy lực, những va chạm thủy lực quan sát được, xuất hiện sự nén và quạt làm sạch chất lượng không tốt, hoặt động của các máy trong van quạt không đáng tin cậy

+ vỡ, đảo các khí tài di động (không có sự dẫn hướng cho chúng)

+ tăng nhiệt độ ổ trục và khớp nối trên tuyến trục, sự rung các máy móc, các bình cầu khớp lốp – khí nén và vấn đề thay thế chúng.

Mặc dù có một vài đặc điểm, việc này cho phép đủ đơn giản trong khí tài và tàu ngầm diesel tin cậy được Hải quân Liên Xô yêu thích. Trong toàn bộ sự đơn giản, trong hàng loạt trường hợp thậm chí sự nguyên thủy của trang thiết bị, nó đã trở thành một trong số các tàu ngầm êm nhất của Hải quân Nga. Trong cấp độ đó, lịch sử tồn tại của tàu ngầm Đề án 613 có thể so sánh với sự tồn tại của súng trường Nga mẫu năm 1891. Cũng không phải là xuất sắc, nhưng được tin cậy và yêu thích của mọi chiến binh Nga.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 18 Tháng Hai, 2012, 01:01:44 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/613_draw02.gif)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/613_draw04.jpg)

Bố cục bên trong của tàu ngầm diesel Đề án 613

1.Thiết bị ngư lôi 533mm

2.Phao điện thoại khẩn cấp

3.Động cơ điện diesel dự bị PG-103

4.Bình không khí nén

5.Động cơ diesel 37D

6.Pháo 57mm SM-24-ZIF (đã bị tháo)

7.Ống xả động cơ 37D

8.Ăng ten đài trinh sát kỹ thuật vô tuyến “VAN”

9.Ăng ten đài trinh sát vô tuyến “Nakat”

10.Ống nhòm tiềm vọng tiến công

11.La bàn từ GON-23M

12.Pháo 25mm 2M-8 (đã bị tháo)

13.Khoang 4 chỗ cho sỹ quan

14.Pin ắc quy 46SU

15.Bánh lái ngang

16.Đài thủy âm “Tamir-5L”

17.Thùng dây xích

18.Thùng chênh mớn nước

19.Thùng nước nhạt (không muối)

20.Thùng ngư lôi dự bị

21.Thùng nhiên liệu trong thân trong

22.Ống nhòm tiềm vọng phòng không

23.Hầm không khí cố định của hệ thống hoạt động của động cơ diesel

24.Ăng ten đài ra đa định vị “Flag”

25.Khoang cho người ở của thủy thủ lâu năm

26.Máy nén khí – diesel DK-2

27.Thùng nhiên liệu ngoài thân trong

28.Động cơ điện bánh lái PG-101

29, 39, 40, 41. 42. Các thùng tải trọng dằn chính

30. Bánh lái đứng

31. Bánh lái chân vịt

32. Thiết bị cân bằng

33. Máy nén khí điện không khí cao áp

34. Khoang ra đa định vị

35. La bàn chính

36. Buồng 2 chỗ cho sỹ quan

37. Các ngư lôi dự trữ 533mm

38. Bình cầu xạ kích


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 18 Tháng Hai, 2012, 01:03:38 pm
Hình vẽ tàu ngầm Đề án 613

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/613_08.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/613_07.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 18 Tháng Hai, 2012, 06:46:46 pm
Các biến thể

Trong giai đoạn sản xuất hàng loạt của Đề án 613 đã áp dụng một vài sự thay thế, chi tiết, trong sự bố trí pháo – một bộ phận các tàu ngầm có pháo trước mui, một bộ phận – sau mui (có nghĩa là phương Tây, tương ứng là lớp “Whiskey-II” và “Whiskey-IV”). Năm 1956, theo quyết định của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô đã tháo pháo từ các tàu ngầm (chúng không đáp ứng được các yêu cầu về phòng không với sự xuất hiện của các loại máy bay phản lực), sau đó, tốc độ và tầm bơi xa ở vị trí ngầm được tăng cường không đáng kể (lớp “Whiskey-III). Trong quá trình sửa chữa theo kế hoạch, trên các tàu đã thay thế một số kiểu trang vị kỹ thuật vô tuyến, lắp đài thủy âm “Feniks” (lớp “Whiskey-V”). Ngoài ra, trên 10 tàu ngầm đầu tiên của lớp đã lắp lá chắn sóng nhiều trụ theo thiết kế Lebedev, có kích thước mở nắp lớn hơn, còn sự tăng cường lực kéo giảm nhẹ đi hơn là lá chắn sóng theo thiết kế thông thường. Tuy nhiên, các lá chắn sóng này thâm chí khi bị biến dạng không lớn xảy ra sự kẹt lá chắn, bắt đầu từ tàu thứ 6 của loạt đã lắp các lá chắn sóng thường.

Một tàu ngầm – S-348 thuộc Đề án 613 – đã trang bị lại theo Đề án 613-Ts và có khả năng tiếp nhận vũ khí ngư lôi ở độ sâu tăng cường 70 mét. 27 tàu ngầm đã được chế tạo biến thể theo Đề án 613 với mục đích tăng cường thời gian hoạt động đến 45 ngày. Hơn 30 tàu ngầm diesel đã được nâng cấp theo các đề án khác. Những năm 1950, đã thực hiện các công việc tích cực trong phạm vi chế tạo các động cơ chu kỳ kín đối với tàu ngầm với việc sử dụng các máy phát điện – điện hóa. Để thí nghiệm động cơ tương tự, tàu ngầm S-293 đã được trang bị lại thành tàu thí nghiệm theo Đề án 613-EKhG (mã số “Kartan”). Để thí nghiệm tổ hợp thủy âm dưới băng và khả năng hoạt động lâu dài dưới nước đã chế tạo Đề án 613-Sh.

Các tàu ngầm Đề án 613 được sử dụng để tiến hành các thí nghiệm ngoài trời các loại vũ khí khác nhau, một trong số chúng đã nhận vũ khí tên lửa. Như tàu ngầm S-146 đã được trang bị lại theo Đề án P-613 để thí nghiệm các loại tên lửa có cánh tổ hợp P-5. Sau khi hoàn thành các thí nghiệm này và tiếp nhận tên lửa vào trang bị 6 tàu ngầm đã trải qua quá trình trang bị lại theo Đề án 644 (lớp “Whiskey Twin Cylinder”) và nhận vũ khí thuộc tổ hợp P-5 và 2 tên lửa có cánh trong thùng sau mui, còn 6 tàu ngầm khác – trang bị lại theo Đề án 665 (lớp “Whiskey Long Bin”) được phát triển ở Phòng thiết kế Trung ương số 112 và nhận vũ khí tổ hợp P-5 và 4 tên lửa bố trí ở vách ngăn mui. Tàu ngầm S-229 đã được trang bị lại theo Đề án 613-D4 để tiến hành các thí nghiệm các tên lửa đạn đạo khởi động ngầm R-21. Sau đó, nó được trang bị lại theo Đề án 613-D5 để thí nghiệm tên lửa R-27, sau đó – Đề án 613-D7. Tàu ngầm S-72 năm 1962 trang bị lại thành Đề án 613-A để thí nghiệm tên lửa chống tàu có cánh khởi động ngầm P-70 “Ametist”. S-65 đã trải qua trang bị lại theo Đề án 613-RV để xử lý ngư lôi – tên lửa (PLUR).

6 tàu ngầm vào năm 1955063 được đóng lại theo Đề án 640 thành tàu tuần tra ra đa định vị với việc lắp đài ra đa định vị “Kasatka”. Sau đó, 2 trong số chúng được trang bị lại thành tàu ngầm thí nghiệm Đề án 640-Ts để nghiên cứu theo chương trình “Tsiklon”, còn các tàu khác – tàu ngầm thông tin liên lạc. Để xử lý thùng nổi trong vai trò cứu nạn Hải quân năm 1961 theo Đề án 613-S, đã trang bị lại tàu S-43. Thêm một tàu ngầm diesel – S-63 – được biến tể thành tàu ngầm cứu nạn thí nghiệm với tổ hợp điều khiển ngầm UPA theo Đề án 666 (năm 1962).

2 tàu ngầm Đề án 613 – S-222 và S-227 – được bán cho Bộ thủy sản và trang bị lại để thực hiện các chương trình thí nghiệm địa lý đại dương và nghề cá với việc tháo hoàn toàn vũ khí. Chúng nhận tên gọi “Severyanka” và “Slavyanka”.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 19 Tháng Hai, 2012, 03:03:53 pm
Chương trình đóng tàu

Các tàu Đề án 613 được đóng theo phương pháp dây chuyền với việc sử dụng rộng rãi biện pháp hàn tự đọng. Ngày 11 tháng 4 năm 1950, ở xưởng số 44 (hiện nay là xưởng đóng tàu Biển Đen) ở Nikolaev đã lắp trên bệ số 1 và khởi công tàu đầu tiên S-61. Ngày 26 tháng 6 năm 1950 đã trải qua các thí nghiệm thủy lực thân trong, còn 22 tháng 7 năm 1950, tàu được hạ thủy với 70% tình trạng chuẩn bị kỹ thuật. Ngày 6 tháng 11 năm 1950, khi đưa ra khỏi xưởng, tàu ngầm bị lật, khi đó, các khoang số 2, 6, 7 bị ngập nước. Sự lật xảy ra do sự không quan sát thiết kế theo sự di chuyển tàu ngầm tới âu tàu – không tiếp nước tới các thùng nhiên liệu, dẫn tới sự mất ổn định, đồng thời không làm kín đường vào tàu ngầm. Kết quả là việc đóng tàu ngầm bị trì hoãn và các thí nghiệm neo đậu chỉ bắt đầu vào 12 tháng 1 năm 1955. Mùng 5 tháng 5 năm 1951, S-61 đã tới căn cứ Hải quân Sevastopol, 14 tháng 7 năm 1951 đã thực hiện việc lặn ở khu vực nước sâu cho việc nghiệm thu cấp nhà nước và từ 17 tháng 10 năm 1951 đến 24 tháng 5 năm 1952 đã trải qua các thí nghiệm cấp nhà nước. Tổng cộng đến năm 1957, ở xưởng này đã đóng 72 tàu ngầm Đề án 613.

Ở xưởng “Krasnoe Sormovo” tại Gorki, tàu đầu tiên thuộc Đề án 613 – S-80 (đơn đặt hàng số 801) – khởi công 13 tháng 3 năm 1950. Tàu được hạ thủy 21 tháng 10 năm 1950 với 70% tình trạng chuẩn bị kỹ thuật. Mùng 1 tháng 11 năm 1950, tàu ngầm đã tới Baku, ở đó, từ 31 tháng 12 năm 1950 đến 26 tháng 4 năm 1951 đã tiến hành các thí nghiệm. Mùng 9 tháng 7 năm 1951 đã tiến hành lặn ở vùng nước sâu, còn 2 tháng 12 năm 1951 đã ký văn bản tiếp nhận. Ở xưởng, đến năm 1956 đã đóng 113 tàu ngầm của Đề án này.

Ngoài ra, ở xưởng Baltic đã đóng trong giai đoạn 1953 – 1958 là 19 tàu ngầm Đề án 613 và trong giai đoạn 1954 – 1957 – thêm 11 tàu ngầm nữa. Tổng cộng dự định đóng 340 tàu ngầm thuộc đề án này, còn thực tế đã đóng – 215 tàu và đã trở thành kỷ lục trong ngành đóng tàu Hải quân).

Rõ ràng, Đề án 613 đã mang tới cho ngành đóng tàu Liên xô thành công quốc tế đầu tiên: đây là thiết kế tàu ngầm đầu tiên của Nga được thực hiện ở nước ngoài. Năm 1954, theo quyết định của Chính phủ, các bản vẽ làm việc và tài liệu kỹ thuật trên Đề án 613 đã được chuyển giao cho Trung Quốc.Theo hiệp ước, 3 tàu ngầm đâu tiên được đóng hoàn toàn ở Liên Xô, sau đó được đưa đến Trung Quốc trong tình trạng tháo rời. Chúng được mang đến Thượng Hải, ở xưởng đóng tàu “Dzianan” và thí nghiệm ở Cảng – Artur cuối năm 1957. Toàn bộ các tàu ngầm sau đó được đóng ở Trung Quốc, nhưng ở Liên Xô đã gửi đến Trung Quốc thép, trang thiết bị điện, máy móc và vũ khí. Cuối năm 1957, sau khi hoàn thành các thí nghiệm 3 tàu ngầm đầu tiên, Trung Quốc đã bắt đầu chuẩn bị đóng tàu ngầm Đề án 613 ở xưởng đóng tàu Vũ Hán tại Hàng Châu. Tàu đầu tiên của xưởng được thí nghiệm ở Cảng – Artur trong giai đoạn từ tháng 11 năm 1958 đến tháng 1 năm 1959. Tới thời điểm đó, ở Cảng – Artur đã có 15 tàu ngầm được đóng ở xưởng “Dzianan”.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 19 Tháng Hai, 2012, 03:30:37 pm
Tình hình đến năm 2007

Trong thời gian của mình, các tàu ngầm Đề án 613 trở thành cơ sở của lực lượng tàu ngầm Liên Xô. Các tàu cuối cùng trong biên chế bị loại bỏ vào những năm 1991 – 1992.

Các tàu ngầm Đề án 613 được bàn giao một cách tích cực cho nước ngoài. 10 tàu ngầm cho Ai Cập, 12 – Indonesia (nhận các số hiệu: 401 “Sakra”, 402 “Nanggala”, 403 “Nagabanda”, 404 “Trisula”, 405 “Nagarangsang”, 406 “Candrasa”, 407 “Alugoro”, 408 “Cundamani”, 409 “Hendrajala”, 410 “Pasopati”, 411, 412 “Bramstra”), 2 cho Albani và thêm 2 tàu bị người Albani chiếm đoạt ở căn cứ Vlera trong thời kỳ đổ vỡ quan hệ Liên Xô – Albani, 4 – Trung Quốc, 4 – Ba Lan, 2 – Bungari, 1 – Cuba.

Hai tàu trong lớp đã hy sinh: S-178 – năm 1981 ở Thái Bình Dương tại vịnh Đông Bosfor và S-80 (đề án 644) vào tháng 1 năm 1961 ở biển Barents do bị tràn nước vào hầm đảm bảo hoạt động của động cơ diesel. Nước tràn vào tàu đủ chậm và thủy thủ đoàn có thể chống lại việc chìm tàu, ở độ sâu 220 mét trên sống tàu cân bằng và không bị chênh, nhưng trữ lượng nổi âm và sự suy giảm lượng khí nén không cho phép tàu nổi lên mặt nước. Mặc dù vậy, trong thời gian dài các công việc tìm kiếm quy mô lớn vẫn không tìm ra tàu, tàu chỉ được tìm ra vào năm 1968 và trục vớt 24 tháng 7 năm 1969 bằng tàu cứu nạn “Karpata” bằng biện pháp trục vớt phân cấp và bố trí trên khu vực nước nông. Sau khi điều tra, S-80 bị xẻ kim loại.

Với tàu ngầm S-363 đã trải qua một sự kiện scandal (tai tiếng) quốc tế. Năm 1981, trong thời gian hành quân tới biển Baltic, trên tàu xảy ra sự vỡ các khí tài đạo hàng, sau đó, tàu ngầm trong trạng thái nổi vào ban đêm đã tới vùng nước nông ở khu vực Thủy Điển một cách trực tiếp gần căn cứ Hải quân Karlscrun. Bản thân S-363 không thể tự dời khỏi khu nước nông, vì thể thủy thủ đoàn đã phải đợi sự hỗ trợ các tàu Liên Xô. Theo thông báo, chỉ huy tàu đã nhận lệnh của chỉ huy Liên Xô phá hủy tàu trong trương hợp quân địch cố gắng chiếm tàu, bởi vì trên thành tàu mang ngư lôi đầu đạn hạt nhân.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 19 Tháng Hai, 2012, 03:44:56 pm
Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ nổi: 1080

+ ngầm: 1350

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 75,95 (-)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 6,6 (6,3)

+ lượng mớn nước theo vạch mớn nước thiết kế: 4,55

Thiết bị năng lượng chính: điện – diesel

+ 2 động cơ diesel 37D, tổng công suất, sức ngựa (kW): 4 000 (2940)

+ 2 máy phát điện diesel PG-101, tổng công suất, sức ngựa (kW): 2700 (1985)

+ 2 máy phát điện diezel dự bị PG-103, tổng công suất, sức ngựa (kW): 100 (74)

+ pin ắc quy 46SU, số nhóm x số lượng phần tử: 2x112

2 trục. 2 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ nổi hoàn toàn: 18,25

+ nổi dự trữ: 10

+ dưới khí tài đảm bảo hoạt động cho động cơ diesel: 5,5

+ ngầm hoàn toàn: 13,1

+ ngầm dự trữ: 1,97

Tầm bơi xa (tốc độ, hải lý)

+ ở tư thế nổi: 13 000 (8); 8580 (10)

+ dưới khí tài đảm bảo hoạt động: -

+ trong tư thế ngầm: 352 (1,97); 13 (13,1)

Độ lặn sâu, mét

+ hoạt động hiệu quả: 170

+ giới hạn: 200

Thời gian hoạt động: 30 ngày

Thủy thủ đoàn (sỹ quan): 52… 54 (-).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 19 Tháng Hai, 2012, 03:51:01 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/613_20.jpg)

Vũ khí

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm ở mũi (đạn, ngư lôi): 4 (10)

+ thiết bị ngư lôi 533mm mạn tàu (đạn, ngư lôi): 2 (2)

Pháo

+ pháo 57mm SM-24-ZiF (sau bị tháo): 1x2

+ pháo 25mm 2M-8 (sau bị tháo): 1x2

Mìn: có thể mang theo mìn AMD-1000 thay cho 10 ngư lôi: 20

Trang bị vô tuyến điện

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: “Flag” (Snoop Plate)

Đài thủy âm

+ “Mars-24KIG” hoặc “Feniks”

+ “Tamir-5L” – đài thủy âm định vị

Các khí tài tác chiến điện tử

+ “VAN” (Stop Light) – RTR

+ “Nakat” (Park Lamp D/F): trinh sát vô tuyến

Tổ hợp đạo hàng: tổ hợp các khí tài

Tổ hợp thông tin liên lạc vô tuyến: tổ hợp các khí tài

Đài ra đa định vị hội thoại nói: -


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 19 Tháng Hai, 2012, 04:01:35 pm
Đề án 611 – lớp Zulu-1

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/611_draw2.jpg)

Tổng số tàu đã đóng: 26

Các biến thể

+ 611 (lớp Zulu-I) – đề án cơ sở tàu ngầm đại dương (1953)

+ 611 (lớp Zulu-II) – đề án tàu ngầm đóng loạt với sự tháo vũ khí pháo (1956)

+ 611 (lớp Zulu-III) – đề án tàu ngầm đóng loạt với khí tài thủy âm mới

+ V-611 (lớp Zulu-IV) – tàu ngầm diesel mang tên lửa đạn đạo trên cơ sở tàu ngầm ngư lôi Đề án 611 để thí nghiệm tên lửa đạn đạn R-11FM (1954)

+ AV-611 (lớp Zulu-V) – biến thể đóng loạt của Đề án 611 với 2 tên lửa đạn đạo R-11FM (1957)

+ P-611 – tàu ngầm thí nghiệm để thí nghiệm tên lửa có cánh P-10 (1957)

+ PV-611 – tàu ngầm diezel thí nghiệm để xử lý tên lửa đạn đạo khởi động ngầm (1958)

+ 611-RE – tàu ngầm diezel thí nghiệm để thí nghiệm tổ hợp thủy âm “Kerch” (1965)

+ 611-P – tàu ngầm diezel đặc biệt – thiết bị mang các tổ hợp cho người ở lâu ngày

+ “Lira” – 3 tàu ngầm diezel được tháo vũ khí và trang bị lại để thực hiện các thí nghiệm khoa học và địa lý đại dương.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Hai, 2012, 11:19:45 am
Đề án 615/A-614 – Lớp Quebec

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/a615_draw2.jpg)

Tổng số tàu đã đóng: 1/29

Các biến thể

+ 615 – đề án tàu ngầm cơ sở trước khi đóng loạt với động cơ diezel chu kỳ khép kín (1953)

+ A-615 – biến thể đóng loạt trên cơ sở Đề án 615 (1955)

+ 637 – tàu ngầm thí nghiệm với động cơ diezel chu kỳ khép kín trên nguyên tắc các công việc mới (1959).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Hai, 2012, 11:44:25 am
Đề án 633 – Lớp Romeo

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/633_02.jpg)

Tổng số tàu đã đóng: 20

Các biến thể

+ 633 – đề án cơ sở đóng loạt tàu ngầm (1959)

+ 633-L – tàu ngầm diezel thí nghiệm để thí nghiệm thân tàu cho người ở và đài thủy âm mới (1967)

+ 633-RV – tàu ngầm thí nghiệm để thí nghiệm tên lửa – ngư lôi mới, lắp bổ sung 2 thiết bị ngư lôi 650mm (1972)

+ 633-KS – tàu ngầm thí nghiệm để thí nghiệm tên lửa có cánh “Granat” (1978)

+ 033 (lớp Improved Romeo) – phiên bản cho Trung Quốc với những thay đổi không đáng kể (những năm 1960)

Sự phát triển tiếp theo của tàu ngầm diezel Đề án 613 là biến thể hiện đại hóa – Đề án 633. Sự thiết kế tàu ngầm mới đã bắt đầu theo Mệnh lệnh của Hội đồng Bộ trưởng số 1454 – 808 từ 9 tháng 8 năm 1955. Các công việc được thực hiện ở Phòng thiết kế Trung ương số 112, Tổng công trình sư thiết kế là Z.A.Deribin, phó tổng công trình sư – A.K.Nazarov và E.V.Krưlov, giám sát viên chính từ Hải quân – I.I.Chufin. Trong tháng 4 năm 1955, các công việc trước phác thảo đề an đã kết thúc và được giới thiệu nghiên cứu trên 2 phương án: một theo nhiệm vụ kỹ - chiến thuật, do Cục kỹ thuật Hải quân đề xuất, còn phương án 2 “sáng kiến” (I-633) với sự tăng cường nhiệm vũ kỹ - chiến thuật. Các công việc nghiện cứu nhận được sự tán thành từ lãnh đạo Hải quân và Bộ Công nghiệp đóng tàu. Như đã nhắc đến, trong kết luận của Cục kỹ thuật Hải quân khi nghiên cứu các đề án trước sơ bộ trong tháng 5 năm 1955 “phương án đề xuất là đề án tàu ngầm hạng trung hoàn toàn mới”. Để phù hợp với phương án này, các nhiệm vụ kỹ - chiến thuật đã được xem xét nghiên cứu. Đề án kỹ thuật 633 đã được phê chuẩn bởi Mệnh lệnh của Hội đồng Bộ trưởng số 1117 – 580 từ 15 tháng 8 năm 1956.

Tàu ngầm Đề án 633 – hai thân, theo bố cục chính gần với tàu ngầm Đề án 613, theo thông số đường bao – gần tương đương với tàu ngầm Đề án 611, trong hình dạng mặt cặt giữa gần với chu vi hình tròn. Các đường bao của thân tàu trong sự phụ thuộc cơ bản đảm bảo khả năng di chuyển lớn ở tư thế ngầm do sự tính toán các thông số nổ. Mui và vách ngăn của mui cùng hình dáng mũ chụp được thiết kế trong các kích thước nhỏ một cách tương đối – để giảm lực cản khi bơi ở tư thế ngầm.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Hai, 2012, 11:45:35 am
Các bản vẽ thiết kế mặt cắt tàu ngầm diezel Đề án 613

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/633_draw4.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/633_draw3.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/633_draw2.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/633_draw5.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Hai, 2012, 11:46:13 am
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/633_draw8.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/633_draw7.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/633_draw6.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Hai, 2012, 04:59:09 pm
Các kích thước của tàu ngầm được thiết kế với sự tính toán khả năng vận tải theo đường thủy Volga-Baltic, Volga-Sông Đông và Biển Trắng – Baltic trên các ụ nổi. Đến khi thiết kế lại hệ thống Marin trên khu vực Chernovets-Vưterg, việc vận chuyển các tàu được sự kiến trên các ụ đặc biệt được làm nhẹ thuộc Đề án 768 khi tải trọng của tàu ở mức tối đa, đồng thời trên các cụ Đề án 28-K khi tháo pin ắc quy.

Thân trong – hàn hoàn toàn (được chế tạo từ thép có độ bền cao hiệu AK-25), chiều dài 59,4 mét trên phần lớn bộ phận từ 2 trụ liên hợp đường kính 4,4 mét (trên) và 4,8 mét (dưới), tạo thành trong mặt cắt hình số 8 (đường kính 5300mm ở khu vực trạm trung tâm), và các hình nón cụt ở các khoang cuối. Nó được chia bởi 6 vách ngăn không thấm nước thành 7 khoang, trong đó bố cục các khoang như sau:

+ Khoang số 1 (ngư lôi) – bố trí: các thiết bị ngư lôi, các ngư lôi dự trữ hoặc mìn trên các bệ chuyên dụng, cửa vận chuyển ngư lôi, 13 giường cho thủy thủ đoàn, các bộ phận dẫn động bánh lái tời ngang ở mũi, trạm trang thiết bị khẩn cấp của hệ thống tải trọng dằn chính.

+ Khoang số 2 (ắc quy) – bố trí: 1 cụm pin ắc quy và bình dành cho nước cất, buồng chỉ huy, 2 buồng 2 chỗ và  buồng cho các sỹ quan, khoang liên lạc vô tuyến, buồng vệ sinh, thiết bị pin tự động, 5 thùng không khí cao áp và các thùng nước nhạt.

+ Khoang số 3 (trạm trung tâm) – bố trí: khoang ra đa định vị, khí tài thủy âm và đạo hàng với tổ hợp khí tài, các trạm điều khiển bánh lái, lặn sâu và quạt, kiểm soát hệ thống chênh mớn nước, các đài đo không khí cao áp (BBD) và không khí trung áp (VSD), khí tài điều khiển bắn ngư lôi (PTUS), máy điều chỉnh điện thế tự động và la bàn con quay.

Trong hầm trạm trung tâm bố trí: trạm kiểm soát hệ thống hầm và các bơm tiêu nước chính, thiết bị bơm của hệ thống thủy lực, khí tài hành trình kế, kho thực phẩm với thiết bị làm lạnh, trạm mật mã, nhà vệ sinh, thùng nước nhạt và chứa nước bẩn.

Ngoài ra, trong trạm trung tâm bố trí các khí tài di động nâng cột trụ (buồm) của ăng ten khung, các ăng ten VAN-S, đài “Nakat”, ống nhòm ngầm tấn công và phòng không (PA-10 và PZN-10), khí tài nâng – quay đài ăng ten “Flag”

+ Khoang số 4 (ắc quy) – bố trí: cụm pin ắc quy số 2 và thùng để nước cất, buồng thủy thủ và buồng cho binh lính, hạ sỹ quan với 20 chỗ ngủ, buồng bếp và tắm, 3 thùng không khí cao áp, thiết bị tự động của pin và bản điều khiển động cơ diezel từ xa, dồng thời thùng dầu sạch

+ Khoang số 5 (diezel) – bố trí: 2 động cơ diezel 37D với các máy móc hỗ trợ và thiết bị dẫn động tuabin, trục dẫn động và trạm điều khiển động cơ diezel thứ 2. Ngoài ra, trong khoang bố trí: máy nén khí điện, quạt điện của quạt pin và hệ thống tổng hợp trên tàu, hệ thống điều hòa không khí, các thùng lưu thông và dầu sạch, thùng chứa nhiên liệu thải và thùng chứa nước bẩn.

+ Khoang số 6 (động cơ điện) – bố trí: 2 động cơ điện chân vịt chính PG-101 với các bàn điều khiển, 2 động cơ điện dự bị PG-103 và bảng điều khiển chúng, trục dẫn động với các khớp, 2 khoang ba chỗ ở để cho hạ sỹ quan và bính lính, bình chứa chất thải của nhà vệ sinh, thùng dầu sạch và thùng chứa nước bẩn.

+ Khoang số 7 (ngư lôi mạn tàu) – bố trí: các thiết bị ngư lôi với thiết bị dẫn động tuabin, khí tài bảo quản ngư lôi, cửa vào, 4 giường treo, hầm bơm 2P-1 và nhà vệ sinh với nhà tắm, các thùng – đường rãnh hình nhẫn và chênh mớn nước, đồng thời thùng nước nhạt.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Hai, 2012, 05:25:51 pm
Các bánh lái ngang ở mũi, mạn và đứng cùng các bánh lái ngang dạng xà ngang cân bằng, thiết kế hàn, dạng mũ chụp. Sự điều khiển bánh lái đứng và các bánh lại ngang được thực hiện nhờ thiết bị dẫn động thủy lực từ trạm trung tâm. Trong vai trò khí tài dự bị, sự điều khiển các bánh lái ngang mạn tàu dự kiến bằng thiết bị dẫn động điện. Sự chuyển mạch từ hệ thống dẫn động thủy lực sang điện và điều khiển các bánh lại với sự hỗ trợ của thiết bị dẫn động điện được thực hiện từ trạm trung tâm. Việc điều khiển bánh lái đứng trong chế độ di chuyển nổi từ đài chỉ huy, nhờ thiết bị dẫn động cơ khí bằng tay lái ở trạm trung tâm.

Để đảm bảo điều kiện sống và cứu nạn cho thủy thủ đoàn từ tàu ngầm bị dắm có 3 khoang cứu nạn bố trí ở vách ngăn thân trong có dạng hình cầu, các thí nghiệm trên 20kg lực/cm2 từ mặt lõm và 7kg lực/cm2 từ mặt lồi. Các thiết bị ngư lôi được trang bị hệ thống đặc biệt đảm bảo cửa ra của thủy thủ đoàn trong trạng thái nạp đạn ở độ sâu 120 mét, bằng khả năng mở các khí tàu và bằng khả năng đánh chìm khoang ở độ sâu 100 mét. Trạm trung tâm và khoang trong, được thiết kế như thùng cửa, đảm bảo đường ra của thủy thủ đoàn ở độ sâu 100 mét. Trên tàu đồng thời đảm bảo khả năng cứu nạn của thủy thủ đoàn từ bộ phận mạn của tàu với sự hỗ trợ đặc biệt của phễu chuyên dụng từ độ sâu 200 mét, là điểm mới theo so sánh với các đề án trước.

Hệ thống nhiên liệu và thay thế gồm có các thùng nhiên liệu dung lượng sử dụng 144,03 mét khối và thùng tải trọng dằn – nhiên liệu với dung lượng có ích 155,12m3.

Vũ khí cơ bản của tàu ngầm Đề án 633 là 8 thiết bị ngư lôi 533mm được bố trí ở thân trong. Sau thiết bị ngư lôi mũi bố trí theo 2 hàng song song trên bán kính mặt phẳng của tàu ngầm, còn 2 thiết bị ngư lôi mạn – một cách đối xứng tương đối ở mặt phẳng đường kính, với góc đối xứng giữa các trục là 3 độ.

Việc vận chuyển cơ số đạn được thực hiện khi có sự hỗ trợ của khí tài vận tải ngư lôi – mìn đảm bảo vận chuyển hoàn toàn cơ số đạn (14 ngư lôi) trong 10 giờ, không tính đến thời gian chuẩn bị của tàu khi tiếp nhận cơ số đạn. Thời gian vận chuyển hoàn toàn cơ số mìn (16…28 phút tới các tổ hợp và 12 tới bệ) khoảng 9 tiếng.

Trên tàu ngầm Đề án 633 áp dụng hệ thống tổ hợp chữa cháy bọt – khí VPL-52 và trang bị nâng áp suất hoạt tính cao trong các khoang với sự điều khiển từ xa. Đã lắp hệ thống điều khiển bắn ngư lôi mới “Leningrad-633”, khi hoạt động phối hợp với đài thủy âm “Arktika-M” đã giải quyết một cách nguyên tắc nhiệm vụ mới về việc tàu rút khỏi vị trí sau khi tấn công.

Để giảm tiếng ồn, trên tàu, cụ thể, đã lắm bệ với màn phủ chống rung bằng cao su.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 22 Tháng Hai, 2012, 11:02:54 am
Các công nghệ mới được áp dụng trong đề án, đương nhiên là yêu cầu những sự kiếm tra thí nghiệm. Tài liệu đề án kỹ thuật được nghiên cứu thực hiện khoảng 20 năm kinh nghiệm làm việc, trong đó là những lần xử lý và thí nghiệm các khí tài và bộ phận sau:

+ khí tài nâng dạng ống lồng cho ống nhòm ngầm (thay cho hệ thống ròng rọc)

+ cơ cấu ống xả phụ dạng cánh hoa của khí tài đảm bảo hoạt động của động cơ diezel

+ van giảm áp lực nước với độ chênh áp suất từ 30 đến 3 kg lực/cm2 và với lưu lượng ổn định

+ van bảo vệ khí tài đảm bảo hoạt động của động cơ diezel

+ cụm vòng chắn dạng khối đặc theo thiết kế mới

+ các thiết kế thùng bắn ngư lôi không bụi (BTS)

+ thiết kế mới của cửa vận chuyển ngư lôi với cơ chế đóng xoắn

Ngoài ra, bộ phận các thiết kế và khí tài được chế tạo và thí nghiệm sơ bộ (trước khi lắp lên tàu). Trong số chúng có:

+ khớp lốp khí nén của động cơ dự bị

+ cột phân phối không khí cao áp và bơm hơi khẩn cấp

+ bộ truyền động kích thước nhỏ với sự ăn khớp bằng trục vít (cho tời và các van thông của thùng tải trọng dằn chính)

+ các vách ngăn giữa các khoang trong hình liềm

+ khoang trong

+ các chốt van chêm ngăn cách

+ van + hệ thống tự động dành cho việc luân chuyển tự động tới bộ nguồn (động cơ) từ thiết bị ắc quy thủy lực khẩn cấp khi có sự tụt áp suất trong khí tài ắc quy thủy lực chính.

Các thí nghiệm yêu cầu nghiên cứu trên bộ phận thiết bị ngư lôi hệ thống đặc biệt, đảm bảo sự rút lui của thủy thủ đoàn trong tình trạng đã nạp đạn bằng phương pháp mở máy hoặc bằng phương pháp đánh chìm khoang. Trong quá trình khai thác sử dụng, thao tác cứu nạn từ khoang số VII với sự hỗ trợ của phễu thợ lặn đã được kiểm tra, để tiếp nhận nó, đã dự định sử dụng thiết kế riêng – tấm quây bệ.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 22 Tháng Hai, 2012, 04:15:32 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/633_10.jpg)

Việc lắp lên tàu ngầm Đề án 633 hệ thống điều khiển bắn ngư lôi tự động được sản xuất hàng loạt “Leningrad-633” được thành lập dựa trên các thông số bắn ngư lôi (sự di chuyển của các ngư lôi theo hướng và các thông số đường zíc zắc), sau đó, chúng được đưa đến khoang ngư lôi và lắp vào ngư lôi nằm trong các ống phóng, bằng hệ thống điều khiển các khí tài con quay hồi chuyển (UPM-E). Sự xác định độ sâu hoạt động trên các khí cụ con quay của ngư lôi được thực hiện bằng thiết bị dẫn động “PGU” bằng tay từ khoang. Tầm hoạt động của khí tài điều khiển bắn ngư lôi là 100kab (18,5km).

Các bánh lái với mũ chụp nằm trong các phần lắp thêm đặc biệt. Các chân vịt 6 cánh, tiếng ồn nhỏ, bước (khoảng cách) không cố định, đường kính 1,6 mét. Đề án được tính toán khả năng lắp chân vịt bốn cánh và các chân vịt này đã được lắp lên tàu ngầm thứ 2 thuộc Đề án 633 – S-351, nhưng đã chỉ ra các kết quả không đạt yêu cầu.

Thủy thủ đoàn của tàu ngầm  - 52 người, trong đó có 9 sỹ quan. Tổng cộng trên tàu có 55 chỗ ngủ.

Trong quá trình các thí nghiệm cấp Nhà nước, tàu ngầm S-350 (số hiệu xưởng 331) đã được tiếp nhiên liệu từ tàu tiếp vận “Seima” trong khi tốc độ di chuyển của tàu tiếp vận là 6 hải lý và sóng cấp độ 2-3. Tổng cộng đã tiếp nhận 75,2 tấn nhiên liệu trong 1 giờ 40 phút. Thời gian tính toán tiếp nhận nhiên liệu vào toàn bộ các thùng nhiên liệu (252 tấn) là 6 giờ 5 phút.

Trong quá trình thí nghiệm đã bắn 18 ngư lôi kiểu 53-56, ET-56, EY-46 và 53-59M. Toàn bộ các lần bắn đều không có sự cố. Thời gian nạp đạn cho 6 thiết bị ngư lôi bằng các ngư lôi ET-46 là 40 phút, các kiểu ngư lôi khác - 70 phút (thay cho 20 phút theo thiết kế).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 22 Tháng Hai, 2012, 04:38:12 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/633_15.jpg)

Trong quá trình thí nghiệm đã thực hiện việc thông tin liên lạc hai chiều của S-350 với các bộ phận thông tin liên lạc của Hạm đội Cờ đỏ Baltic (850 dặm), Hạm đội Cờ đỏ Caspi (720 dặm) và Hạm đội Phương Bắc (1750 dặm). Các kết quả đạt được là tốt. Ngoài ra, có thực hiện việc thông tin liên lạc trên ăng ten dài 6 mét với khí tài thông tin liên lạc của Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương (Vladivostoc), đồng thời cũng có kết quả tốt.

Việc di chuyển của tàu ngầm trong chế độ sử dụng khí tài đảm bảo hoạt động của động cơ diezel: tối thiểu – 5 dặm dưới 1 động cơ diezel, 10 dặm dưới 2 động cơ diezel. Xuất hiện các nhược điểm của khí tài – sự tiếp nhận nước ngoài thành tàu (400 lít) khi di chuyển với tốc độ 8-10 hải lý trên sóng biển cấp 4.

Các kết quả thí nghiệm các đài ra đa định vị và thủy âm như sau:

+ đài ra đa định vị “Flag” theo tàu khu trục Đề án 56: ở vị trí ngầm của tàu ngầm – 120kb (22,2km)

+ đài tìm kiếm “Nakat” theo tàu khu trục Đề án 30-bis (dưới ống nhòm tiềm vọng): khi hoạt động của đài “Rif” – 150kab (27,8km); khi hoạt động của đài “Zall” – 220kab (40,7km); đồng thời theo máy bay với đài ra đa định vị (ở tư thế nổi) – 252-300kab (46,6-55,5km).

+ đài thủy âm “Arktika-M”:

a) theo tàu tuần dương Đề án 68 di chuyển với tốc độ 20 hải lý khi sự cơ động của tàu ngầm trên độ sâu 50 mét với tốc độ 12,5 hải lý; tầm xa tiếng ồn tìm phương trong chế độ theo dõi tự đọng – 125kab (23,15km), tầm xa tìm phương theo tiếng dội (đo phạm vi) – 41kab (7,6km)

b) theo tàu khu trục Đề án 56 di chuyển với tốc độ 20 hải lý, khi sự cơ động của tàu ngầm ở độ sâu 80 mét với tốc độ 5,5 hải lý; tầm xa tìm phương theo tiếng ồn – 100kab (18,5km), tầm xa tìm phương theo tiếng vọng – 29kab (5,4km).

Trong các thí nghiệm đã xuất hiệu sự không hiệu quả của đài thủy âm nhìn vòng “Tuloma”. Trên màn hình của nó thực tế không thể phân biệt được mục tiêu tìm phương từ các mỗi bẫy (sự nhiễm sáng), được tạo thành bởi các dải nhiễu tiếng ồn và cơ khí thủy âm. Bằng quyết định của Phó Tư lệnh Hải quân từ 15 tháng 11 năm 1958, đài “Tuloma” không được tiếp nhận vào biên chế, còn sau đó, việc phát triển nó được chấm dứt.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 22 Tháng Hai, 2012, 05:06:46 pm
Các biến thể

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/633_18.jpg)

Có vẻ như các khả năng nâng cấp trong Đề án kỹ thuật được tính toán đến thì chúng không được áp dụng toàn bộ khi sản xuất hàng loạt. Tuy nhiên, đến thời gian đóng tàu đã thực hiện những sự nâng cấp khác, một vài biện pháp trong số chúng yêu cầu thực hiện các công việc thí nghiệm bổ sung. Ví dụ, việc lắp khí tài khử từ yêu cầu các công việc thiết kế - thí nghiệm để nghiên cứu bản chất hình thành trường từ tính của tàu ngầm. Để thực hiện các công việc thiết kế - thí nghiệm, chi tiết, đã thu hút phòng thí nghiệm từ thuộc Viện Khoa học hàn lâm Liên Xô. Để làm việc đó, đã thiết kế và xây dựng 2 mẫu từ của tàu ngầm Đề án 633 trong tỷ lệ 1:12,5.

Năm 1960, Phòng thiết kế Trung ương số 112 cùng với các viện chuyên ngành liên quan đã thiết kế các bản vẽ và tài liệu thiết kế để lắp màn phủ chống thủy âm dạng NPPRK-7 trên các tàu ngầm đóng loạt Đề án 633 (số hiệu xưởng 344). Công việc được thực hiện theo nhiệm vụ kỹ thuật thuộc viện thủy âm Viện hàn lâm Liên Xô mang tên N.N.Adreev và dưới sự chỉ đạo khoa học của viện.

Sau khi hoàn thành việc xây dựng toàn bộ loạt tàu, Viện thiết kế Trung ương “Lazurit” đã phát triển đề án kỹ thuật tàu ngầm thí nghiệm Đề án 633-L để nghiên cứu khu vực cho người ở của thân tàu bà ác thí nghiệm đài thủy âm mới (S-37 được hiện đại hóa vào năm 1963).

Theo các bản vẽ được thiết kế bởi Phòng thiết kế kỹ thuật Hải quân “Malakhit”, 2 tàu ngầm đã trải qua sự trang bị lại theo Đề án 633-RV – để xử lý hệ thống bắn từ thiết bị ngư lôi 650mm bằng các ngư lôi kiểu mới và ngư lôi – tên lửa. Trong bộ phận mũi tàu có thượng tầng với 2 thiết bị ngư lôi 650mm.

Tàu ngầm S-128 đã được nâng cấp theo Đề án 633-KS (trong một số nguồn đồng thời gọi là Đề án 06333) để thí nghiệm tổ hợp tên lửa chiến lược có cánh “Granat”.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 22 Tháng Hai, 2012, 05:24:18 pm
Chương trình đóng tàu

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/633_19.jpg)

Tàu đầu tiên trong Đề án 633 – S-350 (số hiệu xưởng 331) – được khởi công ở sàn số 3 trong xưởng “Krasnoe Sormovo” 22 tháng 10 năm 1957, hạ thủy 30 tháng 5 năm 1958. Các thí nghiệm vận động cấp xưởng của tàu diễn ra từ 22 tháng 10 đến 20 tháng 12 năm 1958. Các thí nghiệm cấp nhà nước của S-350 diễn ra từ 21 tháng 12 năm 1958 đến 31 tháng 8 năm 1959 ở biển Đen, sau đó tiếp tục ở Hạm đội Phương Bắc. Ở Phương Tây, tàu ngầm Đề án 633 nhận tên gọi lớp Romeo.

Tổng cộng ở xưởng “Krasnoe Sormovo” trong năm 1957 – 62 đã đóng 20 tàu ngầm lớp này. Đáng chú ý, rằng đây là số lượng tàu ngầm lớn nhất sau chiến tranh – dự kiến theo kế hoạch đóng 560 tàu, nếu các thí nghiệm thành công với thiết bị hạt nhân không làm thay đổi điểm tựa cơ sở trong ngành đóng tàu trên các tàu ngầm.

Trong số các tàu ngầm diezel Đề án 633 đã được đóng, 2 tàu được bán cho Algieri (năm 1982 và 1983); 4 – Bulgari (2 trong năm 1972-73 thay cho Đề án 613, 1 năm 1985, 1 năm 1986); 6 – Ai Cập (5 vào năm 1966 và 1 năm 1969); 3 – Siry (năm 1986). Ngoài ra, theo giấy phép sản xuất của Liên Xô, ở Trung Quốc và Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, các tàu ngầm diezel đề án này được đóng với số lượng lớn (Đề án 033 – Romeo biến thể).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 23 Tháng Hai, 2012, 01:18:44 pm
Tình hình đến năm 2008

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/633_19.jpg)

Sau khi đóng 6 tàu ngầm Đề án 633 đã gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc, 13 – Hạm đội biển Đen và 1 – Baltic. Sự thật, lần lượt 12 tàu thuộc Biển Đen đã được chuyển qua Hạm đội Phương Bắc, còn sau đó, một bộ phận trong số chúng – tới Baltic.

Ngày 11 tháng 2 năm 1962 ở vùng Cực, tàu ngầm S-350 (tàu đầu tiên trong lớp) trong thời gian nổ cơ số đạn (12 ngư lôi) ở tàu ngầm bên cạnh Đề án 641 đã bị các vết biến dạng lớn và vỡ khoang số 1 và 2. Sau đó bị đắm gần bến tàu. Sau đó, tàu được trục vớt và sau thời gian sửa chữa vào tháng 5 năm 1966 đã trở lại biên chế lần nữa. Năm 1982, tàu ngầm này được giải tán và trang bị lại thành đài huấn luyện – học tập trên bờ UTS-350.

Giữa năm 2007, trong danh sách Hải quân Nga tàu ngầm Đề án 633-RV – PZS-50 (trước đó là S-49) trong biên chế Hạm đội Biển Đen đã chính thức bị loại khỏi biên chế. Thêm một tàu thuộc Đề án 633 – “Slava” (trước đó là S-101) – trong trong biên chế Hải quân Bungari.

Cũng như trước đó đã nhắc, Liên Xô đã bán cho Trung Quốc giấy phép để sản xuất tàu ngầm diezel Đề án 633. Năm 1963, để thực hiện hỗ trợ kỹ thuật, các chuyên gia của Viện nghiên cứu Trung ương số 12 đã đến Trung Quốc và giúp đỡ sản xuất các tàu ngầm này. Sau đó, Trung Quốc đã đóng hơn 80 tàu ngầm Đề án 633 và Đề án 033 (phiên bản thay đổi không nhiều) và thêm gần 20 tàu được đóng ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên. Một tàu ngầm được Trung Quốc trang bị lại thành phương tiện mang 6 tên lửa có cánh chống tàu khởi động nổi (Đề án 033-G).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 23 Tháng Hai, 2012, 01:34:47 pm
Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ S-4 (số hiệu xưởng 355); khởi công 14 tháng 6 năm 1960 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) ở Gorki; ghi tên vào danh sách các tàu Hải quân 10 tháng 9 năm 1960; hạ thủy 17 tháng 12 năm 1960; gia nhập biên chế 18 tháng 9 năm 1961; 13 tháng 10 năm 1961 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; trong giai đoạn từ 19 tháng 11 năm 1969 đến 19 tháng 2 năm 1972 ở Kronshtadt và từ 14 tháng 10 năm 1983 đến 10 tháng 11 năm 1984 ở xưởng “Tosmare” tại Liepai đã trải qua sửa chữa; 15 tháng 9 năm 1982 đã gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Biển Đen; 5 tháng 2 năm 1987 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bán cho Siry; 1 tháng 12 năm 1987 bị giải tán.

+ S-7 (số hiệu xưởng 361); khởi công 25 tháng 11 năm 1960 ở “Krasnoe Sormovo” (số 112) ở Gorki; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 10 tháng 9 năm 1960; hạ thủy 28 tháng 2 năm 1961; gia nhập biên chế 17 tháng 9 năm 1961; 13 tháng 10 năm 1961 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; giai đoạn từ 24 tháng 8 năm 1968 đến 10 tháng 10 năm 1970 ở Kronshtadt đã qua sửa chữa; 19 tháng 1 năm 1983 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bán cho Algeri (nhận số hiệu 011); 1 tháng 10 năm 1983 giải thể.

+ S-11; từ năm 1982 là SS-11 (số hiệu xưởng 362); khởi công 25 tháng 11 năm 1960 ở “Krasnoe Sormovo” (số 112) ở Gorki; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 28 tháng 11 năm 1960; hạ thủy 15 tháng 4 năm 1961; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1961; 7 tháng 2 năm 1963 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Biển Đen; 17 tháng 9 năm 1963 chuyển sang Hạm đội Phương Bắc; 19 tháng 2 năm 1972 chuyển sang Hạm đội Cờ đỏ Baltic; 17 tháng 7 năm 1972 quay trở lại Hạm đội Phương Bắc, 20 tháng 8 năm 1976 chuyển sang Hạm đội Biển Đen; trong giai đoạn từ 10 tháng 10 năm 1970 đến 19 tháng 2 năm 1972 trải qua sửa chữa ở Kronshtadt; từ 30 tháng 5 năm 1978 đến 18 tháng 1 năm 1982 trải qua nâng cấp ở “Sevmorzavod” ở Sevastopol theo Đề án 633-RV; 27 tháng 10 năm 1990 được mang đi sửa chữa, nhưng 24 tháng 6 năm 1991 bị loại khỏi biên chế Hải quân và sau đó bị xẻ kim loại.

+ S-28 (số hiệu xưởng 363); khởi công 29 tháng 12 năm 1960 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) ở Gorki; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 23 tháng 1 năm 1961; hạ thủy 21 tháng 6 năm 1961; gia nhập biên chế 23 tháng 12 năm 1961; 19 tháng 1 năm 1962 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; trong giai đoạn từ 6 tháng 10 năm 1972 đến 19 tháng 12 năm 1974 ở Kronshtadt và từ 25 tháng 9 năm 1979 đến 1 tháng 10 năm 1981 ở xưởng “Tosmare” đã trải qua sửa chữa; 1 tháng 10 năm 1981 chuyển sang biên chế Hạm đội Cờ đỏ Baltic; 29 tháng 4 năm 1982 bị loại khỏi biên chế và bán cho Algeri (số hiệu 010); 30 tháng 6 năm 1982 bị giải tán.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 23 Tháng Hai, 2012, 02:10:07 pm
+ S-32 (số hiệu xưởng 341); khởi công 28 tháng 8 năm 1958 ở xưởng “Krasnoe Sormov” (số 112) ở Gorki; ghi tên vào danh sách các tàu Hải quân 22 tháng 11 năm 1958; hạ thủy 30 tháng 8 năm 1959; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1959; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Biển Đen 6 tháng 1 năm 1960; 29 tháng 10 năm 1960 chuyển sang Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 5 tháng 10 năm 1966 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bán cho Ai Cập (nhận số hiệu 834); 15 tháng 12 năm 1966 bị giải tán.

+ S-34 (số hiệu xưởng 342); khởi công 18 tháng 10 năm 1958 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) ở Gorki; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 22 tháng 11 năm 1958; hạ thủy 14 tháng 6 năm 1959; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1959; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Biển Đen 6 tháng 1 năm 1960; 29 tháng 10 năm 1960 chuyển sang Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 5 tháng 10 năm 1966 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bán cho Ai Cập (số hiệu 837); 15 tháng 12 năm 1966 bị giải thể.

+ S-36 (số hiệu xưởng 343); khởi công 29 tháng 11 năm 1958 ở “Krasnoe Sormovo” (số 112) ở Gorki; ghi tên vào danh sách các tàu Hải quân 12 tháng 2 năm 1959; hạ thủy 27 tháng 9 năm 1959; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1960; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Biển Đen 17 tháng 12 năm 1960; 21 tháng 9 năm 1981 chuyển sang Hạm đội Phương Bắc; 1 tháng 10 năm 1973 bị loại khỏi biên chế, niêm cất và neo đậu ở vùng Cực; 25 tháng 9 năm 1981 quay trở lại biên chế Hạm đội Biển Đen; tháng 9 năm 1981 bảo quản ở Balaklav; 1 tháng 8 năm 1982 tháo niêm cất và gia nhập biên chế; 1 tháng 10 năm 1986 bị loại khỏi biên chế và bán cho Bungari (nhận tên gọi “Nadezhda” – “Hy vọng” và số hiệu 83); trong những năm 1990 bị quân đội Bungari ra lệnh tháo dỡ.

+ S-37 (số hiệu xưởng 344); khởi công 25 tháng 1 năm 1959 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) tại Gorki; ghi tên vào danh sách các tàu Hải quân 12 tháng 2 năm 1959; hạ thủy 10 tháng 10 năm 1959; gia nhập biên chế 31 tháng 3 năm 1960; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Biển Đen 19 tháng 4 năm 1960; trong giai đoạn từ 23 tháng 11 năm 1960 đến 31 tháng 10 năm 1963 nâng cấp ở “Krasnoe Sormovo” theo Đề án 633-L; 29 tháng 7 năm 1965 chuyển sang Hạm đội Phương Bắc; 14 tháng 10 năm 1982 một lần nữa quay lại biên chế Hạm đội Biển Đen; trong giai đoạn từ 9 tháng 3 năm 1978 đến 31 tháng 1 năm 1979 trải qua sửa chữa ở “Tosmare”; 3 tháng 7 năm 1992 bị loại khỏi biên chế Hải quân; 31 tháng 12 năm 1992 bị giải tán và năm 1993 bị tháo dỡ thành kim loại.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 23 Tháng Hai, 2012, 02:36:07 pm
+ S-49 (còn trong biên chế); từ 26 tháng 7 năm 1991 là SS-49; từ năm 1995 là PZS-50 (số hiệu xưởng 364); khởi công 29 tháng 3 năm 1961 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) tại Gorki; ghi tên vào danh sách các tàu Hải quân 14 tháng 3 năm 1961; hạ thủy 27 tháng 7 năm 1961; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1961; 16 tháng 1 năm 1962 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Biển Đen; 22 tháng 8 năm 1962 chuyển sang Hạm đội Phương Bắc; 15 tháng 8 năm 1969 quay lại Hạm đội Biển Đen; trong giai đoạn từ 2 tháng 12 năm 1971 đến 6 tháng 10 năm 1972 đã trải qua sửa chữa ở “Sevmorzavod” tại Sevastopol; từ 14 tháng 3 năm 1986 đến 6 tháng 11 năm 1991 cũng được nâng cấp ở đó theo Đề án 633-RV và 24 tháng 6 năm 1991 trở thành tàu ngầm thí nghiệm; năm 1995 tái trang bị thành PZS; 10 tháng 7 năm 1995 bị loại khỏi biên chế Hải quân; 31 tháng 10 năm 1995 bị giải tán và sau đó ở Sevastopol bị xẻ kim loại.

+ S-53 (số hiệu xưởng 351); khởi công 27 tháng 9 năm 1959 ở “Krasnoe Sormovo” (số 112) tại Gorki; ghi tên vào danh sách các tàu Hải quân 21 tháng 5 năm 1959; hạ thủy 2 tháng 3 năm 1960; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1960; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 14 tháng 3 năm 1961; 21 tháng 9 năm 1961 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; 27 tháng 10 năm 1980 chuyển sang Hạm đội Biển Đen; 18 tháng 9 năm 1985 chuyển sang Hạm đội Baltic; trong giai đoạn từ 24 tháng 10 năm 1972 đến 1 tháng 8 năm 1972 sửa chữa ở Kronshtadt; 1 tháng 10 năm 1973 bị loại bien chế Hải quân và neo đậu ở vùng Cực; 27 tháng 10 năm 1980 quay trở lại biên chế; trong giai đoạn từ 1 tháng 11 năm 1981 đến 1 tháng 8 năm 1972 ở trong tình trạng niêm cất; 17 tháng 12 năm 1985 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bán cho Siry; 1 tháng 10 năm 1986 bị giải thể.

+ S-57 (số hiệu xưởng 365); khởi công 23 tháng 5 năm 1961 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) tại Gorki; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 7 tháng 4 năm 1961; hạ thủy 20 tháng 8 năm 1961; gia nhập biên chế 27 tháng 12 năm 1961; 9 tháng 1 năm 1962 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 6 tháng 7 năm 1962 chuyển sang Hạm đội Phương Bắc; 14 tháng 7 năm 1970 quay lại Hạm đội Biển Đen; 5 tháng 2 năm 1973 bị loại khỏi biên chế và bán cho Bungari ở đó nhận tên gọi “Thanh niên Cộng sản Lenin” (số hiệu 81); 15 tháng 2 năm 1973 bị giải tansl trong những năm 1980 đổi tên thành “Chiến thắng”; trong những năm 1990 bị quân đội Bungari xẻ lấy kim loại.

+ S-101 (số hiệu xưởng 352); khởi công 1 tháng 10 năm 1959 ở “Krasnoe Sormovo” (số 112) tại Gorki; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 19 tháng 10 năm 1950; hạ thủy 15 tháng 4 năm 1960; 21 tháng 12 năm 1960; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1960 vào Hạm đội Biển Đen; 7 tháng 6 năm 1961 chuyển sang Hạm đội Phương Bắc; 9 tháng 12 năm 1982 chuyển sang Hạm đội Baltic; trong giai đoạn từ 25 tháng 5 đến 10 tháng 11 năm 1984 ở xưởng “Tosmare” đã trải qua sửa chữa; 14 tháng 2 năm 1986 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bán cho Bungari (nhận tên gọi “Vinh quang” và số hiệu 84); 1 tháng 10 năm 1986 bị giải thể.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 23 Tháng Hai, 2012, 05:26:52 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/633_05.jpg)

+ S-128, từ 26 tháng 7 năm 1991 là SS-128 (số hiệu xưởng 354); khởi công 11 tháng 3 năm 1960 tại xưởng “Krasnoe Sormovo” ở Gorki; hạ thủy 20 tháng 7 năm 1960; gia nhập biên chế 29 tháng 12 năm 1960; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Biển Đen 18 tháng 1 năm 1961; 5 tháng 8 năm 1961 chuyển sang Hạm đội Phương Bắc; 31 tháng 8 năm 1977 quay lại Hạm đội Biển Đen; giai đoạn từ 9 tháng 8 năm 1969 đến 1 tháng 10 năm 1971 ở Kronshtadt và từ 23 tháng 12 năm 1975 đến 7 tháng 3 năm 1977 ở xưởng tại Yangel đã trải qua sửa chữa; trong giai đoạn từ 4 tháng 9 năm 1990 đến 21 tháng 3 năm 1991 được nâng cấp theo Đề án 633-KS ở “Sevmorzavod” và 24 tháng 6 năm 1991 trở thành tàu ngầm thí nghiệm; 24 tháng 8 năm 1993 bị loại khỏi biên chế Hải quân; năm 1994 bị xẻ kim loại.

+ S-212 (số hiệu xưởng 353); khởi công 29 tháng 11 năm 1959 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) tại Gorki; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 10 tháng 11 năm 1959; hạ thủy 31 tháng 5 năm 1960; gia nhập biên chế 21 tháng 12 năm 1960; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Biển Đen 30 tháng 12 năm 1960; 5 tháng 8 năm 1961 chuyển sang Hạm đội Phương Bắc; 14 tháng 7 năm 1970 chuyển sang Hạm đội Cờ đỏ Biển Đen; 5 tháng 2 năm 1973 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bán cho Bungari, ở đó nhận tên gọi “Đoàn viên Cộng sản Dimitrov” (số hiệu 82); 15 tháng 2 năm 1973 bị giải tán; trong những năm 1980 đổi tên thành “Victoria”; trong những năm 1990 bị quân đội Bungari mang đi tháo dỡ kim loại.

+ S-350; từ 3 tháng 8 năm 1977 là SS-350; từ năm 1982 là UTS-350 (số hiệu xưởng 331); khởi công 22 tháng 10 năm 1957 (số 112) tại xưởng “Krasnoe Sormovo” tại Gorki; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 5 tháng 3 năm 1958; hạ thủy 30 tháng 5 năm 1958; gia nhập biên chế 31 tháng 8 năm 1959; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 20 tháng 11 năm 1958; 19 tháng 10 năm 1959 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; là tàu đầu tiên trong lớp; 11 tháng 2 năm 1962 ở vùng Cực, do vụ nổ đạn của tàu ngầm Đề an 641 bị thương khoang số 1, 2 và bị đắm; sau khi được trục vớt đã được sửa chữa phục hồi ở Murmansk từ 17 tháng 10 năm 1964 đến 25 tháng 7 năm 1966; sau đó quay trở lại biên chế vào Hạm đội Biển Đen; 18 tháng 9 năm 1977 trở thành tàu ngầm thí nghiệm; 9 tháng 7 năm 1982 bị loại khỏi biên chế Hải quân; 1 tháng  10 năm 1982 bị giải thể và trang bị lại thành đài huấn luyện – học tập trên bờ.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 23 Tháng Hai, 2012, 05:42:50 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/633_06.jpg)

+ S-351 (số hiệu xưởng 332); khởi công 30 tháng 1 năm 1958 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) tại thành phố Gorki; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 5 tháng 3 năm 1958; hạ thủy 18 tháng 8 năm 1958; gia nhập biên chế 6 tháng 11 năm 1959; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 31 tháng 12 năm 1959; 29 tháng 10 năm 1960 chuyển sang Hạm đội Phương Bắc; 3 tháng 8 năm 1966 chuyển sang Hạm đội Baltic; 17 tháng 10 năm 1967 bị loại khỏi biên chế và bán cho Ai Cập (số hiệu 846); 31 tháng 12 năm 1967, bị giải tán.

+ S-352 (số hiệu xưởng 333); khởi công 30 tháng 3 năm 1958 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) tại Gorki; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 22 tháng 4 năm 1958; hạ thủy 25 tháng 9 năm 1958; gia nhập biên chế 31 tháng 10 năm 1959; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 31 tháng 12 năm 1959; 27 tháng 7 năm 1960 chuyển sang Hạm đội Phương Bắc; 3 tháng 8 năm 1966 chuyển sang Hạm đội Baltic; 26 tháng 1 năm 1967 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bán cho Ai Cập (số hiệu 843); 14 tháng 8 năm 1967 bị giải thể.

+ S-353 (số hiệu xưởng 334); khởi công 14 tháng 5 năm 1958 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) tại Gorki; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 22 tháng 4 năm 1958; hạ thủy 30 tháng 11 năm 1958; gia nhập biên chế 26 tháng 12 năm 1959; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 6 tháng 1 năm 1960; 16 tháng 7 năm 1960 chuyển sang Hạm đội Phương Bắc; 19 tháng 7 năm 1966 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bán cho Ai Cập (số hiệu xưởng 831); 1 tháng 10 năm 1967 bị giải tán.

+ S-354 (số hiệu xưởng 335); khởi công 14 tháng 7 năm 1958 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) ở Gorki; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 22 tháng 12 năm 1958; hạ thủy 10 tháng 1 năm 1959; gia nhập biên chế 30 tháng 11 năm 1959; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Biển Đen 31 tháng 12 năm 1959; 18 tháng 7 năm 1960 chuyển sang Hạm đội Phương Bắc; 17 tháng 1 năm 1966 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bán cho Ai Cập (nhận số hiệu 840); 31 tháng 12 năm 1966 bị giải thể.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Hai, 2012, 01:29:17 pm
Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, mét

+ nổi: 1328

+ ngầm: 1712

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 76,68 (-)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 6,72 (-)

+ lượng choán nước theo vạch mớn thiết kế: 5,07

Thiết bị năng lượng chính: điện – diezel

+ 2 động cơ diezel 37D, tổng công suất, sức ngựa (kW): 4000 (2940)

+ 2 máy phát điện động cơ diezel PG-101, tổng công suất, sức ngựa (kW): 2700 (1985)

+ 2 máy phát điện động cơ diezel dự bị PG-103. tổng công suất, sức ngựa (kW): 100 (74)

+ pin ắc quay 46SU, số nhóm (cụm) x số lượng phần tử: 2x112

2 trục, 2 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ nổi hoàn toàn: 15,31

+ nổi trên động cơ dự bị: 9,2

+ dưới hệ thống đảm bảo hoạt động của động cơ diezel: 10

+ ngầm hoàn toàn: 13,18

+ ngầm với động cơ dự bị: 2,14

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý)

+ ở vị trí nổi (tăng cường trữ lượng nhiên liệu): 14 590 (9); 8580 (10)

+ ở vị trí nổi (trữ lượng nhiên liệu tiêu chuẩn): 7400 (9); 2400 (15)

+ dưới thiết bị đảm bảo hoạt động của động cơ diezel: 4400 (8 )

+ ở vị trí ngầm: 195 (13); 300 (2, 14)

Độ lặn sâu, mét

+ hoạt động hiệu quả: 270

+ giới hạn: 300

Thời gian hoạt động: 60 ngày

Thủy thủ đoàn (sỹ quan): 52 (9).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Hai, 2012, 01:37:14 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/633_12.jpg)

Vũ khí

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi mũi 533mm: 6

+ cơ số đạn các ngư lôi 53-57, 53-61, ET-56, ET-46: 12

+ thiết bị ngư lôi 533mm mạn tàu: 2

+ cơ số đạn ngư lôi 53-57, 53-61, ET-56, ET-46: 2

Mìn: có thể mang mìn thay ngư lôi: 28

Trang bị vô tuyến điện

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: “Flag” (Snoop Plate)

Đài thủy âm

+ “Arktika-M” hoặc “Plutonty”

+ “Svet-M”

+ MG-15

+ NEL-5

Khí tài chống tác chiến điện tử

+ “VAN-S” (Stop Light)

+ “Nakat” (Park Lamp D/F)

+ ARP-53

Tổ hợp đạo hàng

+ “Kurs-5” – la bàn con quay

+ LR-2 – hành trình kế

+ EL-1 – máy đo tiếng ồn

Tổ hợp thông tin liên lạc vô tuyến

+ R-641-D, R-647, R-670

+ R-672

+ R-673

+ R-609

Đài ra đa định vị hội thoại nói: “Khrom-K".


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Hai, 2012, 02:42:33 pm
Đề án 877 (636) “Platus” – tàu ngầm điện – diezel

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/proekt-87731863.jpg)

Các biến thể

+ Đề án 877E – phiên bản xuất khẩu dành cho các nước trong khối Varsava.

+ Đề án 877EKM – phiên bản nâng cấp thương mại xuất khẩu. Tương thích với các điều kiện khai thác sử dụng ở khu vực nhiệt đới.

+ Đề án 877LPBM – biến thể với chân vịt 7 cánh từ hợp kim “Avrora” với các bánh lái dạnh lưỡi liềm. Có áp dụng những sự thay đổi trong thiết bị năng lượng và khí tài dẫn đường.

+ Đề án 877V – biến thể với động cơ phụt nước thí nghiệm thay cho chân vịt.

+ Đề án 636 – phiên bản xuất khẩu trên cơ sở Đề án 877EKM cho Hải quân Trung Quốc.

+ Đề án 636M – biến thể của Đề án 636 với tổ hợp “Club-S”.

+ Đề án 08733 – phiên bản xuất khẩu trên cơ sở Đề án 877EKM cho Hải quân Ấn Độ với tổ hợp “Club-S”.

Các tàu ngầm Đề án 877 – các tàu ngầm hai thân một trục hoạt động trên đại dương với thiết bị năng lượng chính điện – diezel, được thiết kế theo sơ đồ động cơ điện hoàn toàn.

Thân trong được chế tạo theo dạng hình trụ với mặt cắt ngang hình tròn, thiết kế phần cuối thân hình cầu. Theo các vách ngăn không thấm nước, thân trong được chia thành 6 khoang. Vật liệu chế tạo thân trong – thép AK-25.

Thân ngoài có hình dạng thuôn con thoi. Lớp che phủ đặc biệt hấp thụ sự bức xạ từ các hệ thống thủy âm của tàu địch. Trong không gian giữa thành tàu bố trí các thùng tải trọng dằn chính, đồng thời các thùng và trang bị khác. Mặc dù, do thiết kế hai thân, tàu có thể tích ngầm hoàn toàn tương đối lớn, trong các tình trạng khẩn cấp, việc này cho phép tăng cường khả năng sống còn của tàu do sự tính toán đảm bảo tính không chìm của tàu trong khi thể tích tàu bị ngập nước đáng kể. Trong tư thế tuần dương, tàu có thể bơi một cách an toàn thậm chí khi đắm một trong số các khoang bất kỳ với 2 thùng tải trọng dằn chính của một thành bên cạnh.

Vách ngăn hầm các khí tài di động được bố trí khoảng giữa tàu. Trong đó trang bị đồng thời đài chỉ huy truyền động. Toàn bộ các khí tài di động, ngoài trừ ống nhòm ngầm chỉ huy, được chế tạo thành bộ phận không thấm nước trong thân trong. Nhờ đó, đã thành công trong việc làm cho trạm chỉ huy trở nên đơn gian và thuận lợi hơn cho việc điều khiển tàu và các hệ thống chiến đấu.

Các bánh lái ngang ở mũi được chế tạo trong dạng kín. Để giảm sự gây nhiễu bở chúng cho hoạt động của tổ hợp thủy âm, chúng đã được chuyển từ phần cuối mũi tàu đến gần phần giữa thân tàu. Cùng với mục tiêu này, từ phần cuối mũi tàu đã tháo lỗ thoát nước, toàn bộ những khí tài có thể phát ra tiếng ồn đã bị tháo khỏi khoang thứ nhất.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Hai, 2012, 03:32:33 pm
Vũ khí

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/proekt-87731869.jpg)

Vũ khí của tàu ngầm gồm có các thiết bị ngư lôi 533mm bố trí ở phần cuối mũi tàu. Trong số đó 2 thiết bị được tính toán để bắn các ngư lôi điều khiển vô tuyến.

Để vận chuyển đạn lên tàu đã lắp khí tài chuyên dụng. Tàu có thể tiếp nhận 18 ngư lôi 53-65K, 53-56B, SET-53M, TEST-71M, USET-80K, SET-65E (6 – trong thiết ngị ngư lôi; 12 – trên bệ). Thay cho các ngư lôi có thể tiếp nhận 24 mìn đáy DM-1: 12 – trong các thiết bị ngư lôi (theo 2 trên thiết bị) và 12 – trên bệ.

Trên tàu ngầm lắp khí tài tự động nạp đạn nhanh – giảm thời gian nạp đạn nhanh một cách tương đối, cho phép tăng cường đáng kể tốc độ bắn và đảm bảo ưu thế trong trường hợp “đấu súng”. Sự điều khiển khí tài nạp đạn nhanh được thực hiện từ xa, từ khoang ngư lôi với bản điều kiển “Murena” hoặc từ các trạm điều khiển tại chỗ.

Đối với khả năng phòng không của tàu ngầm Đề án 877 trang bị tổ hợp tên lửa phòng không cơ động, chế tạo trên cơ sở tổ hợp tên lửa phòng không vác vai “Sterla-3”. Cơ số đạn – 8 tên lửa.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Hai, 2012, 03:59:32 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/proekt-8772431.jpg)

Tổ hợp ngư lôi – mìn mạnh có khả năng giải quyết các nhiệm vụ đa năng. Nó đảm bảo sự bắn toàn bộ cơ số đạn trên mọi độ sâu – từ ống nhòm tiềm vọng đến độ sâu hoạt động hiệu quả - và cùng với hệ thống kiểm soát thông tin – chiến đấu (BIUS) cho phép bắn một cũng như bắn loạt theo 2 mục tiêu.

Trên tàu ngầm lắp hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu MVU-110 “Murena”. Nó cho phép đồng thời theo dõi 5 mục tiêu, trong số đó, 2 mục tiêu sẽ bị theo dõi trong chế độ tự động, còn 3 – bằng tay, đảm bảo với tổ hợp điều khiển vô tuyến ghi các sự hiệu chỉnh trong thông tin với sự cơ động của mục tiêu và dẫn bắn chính xác cho ngư lôi tới mục tiêu. Hệ thống kiểm soát thông tin – chiến đấu cho phép giải quyết hàng loạt các mục tiêu thuộc nhiệm vụ đạo hàng.

Tổ hợp đạo hàng kích thước nhỏ “Andoga” đảm bảo sự nhìn vòng liên tục, cung cấp các tọa độ vị trí và tốc độ. Qua hệ thống kiểm soát thông tin – chiến đấu, thủy thủ đoàn thay đổi hành trình bằng cách điều khiển tàu ngầm. Khi đó, hệ thống tự động có thể hướng tàu ngầm theo hành trình đã định.

Tàu được trang bị các đài ra đa định vị thụ động và chủ động với sự theo dõi hiệu quả cao. Chúng có thể hoạt động một cách hiệu quả ở tư thế nổ và vị trí ống nhòm ngầm.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 25 Tháng Hai, 2012, 11:41:36 am
Thiết bị năng lượng chính

Thiết bị năng lượng chính được thiết kế theo sơ đồ động cơ điện hoàn toàn, có sự di chuyển ở các tư thế nổi cũng như tư thế ngầm được đảm bảo bằng động cơ điện chân vịt.

Trong thành phần thiết bị năng lượng chính: động cơ điện chân vịt chính PG-141 công suất 5500 sức ngựa, 2 máy phát điện diezel 4DL-42XM công suất 1500kW (trên 2 tàu ngầm đầu tiên của Đề án – 4DL-42M công suất 1000 sức ngựa) với hệ thống hoạt động của động cơ diezel dưới nước (RDP) và 2 nhóm pin ắc quy axit-chì theo 120 phần tử mỗi cụm.

Đối với chế độ hoạt động trên động cơ dự bị có động cơ điện chân vịt đặc biệt PG142 công suất 190 sức ngựa.

Điểm đặc biệt của tàu ngầm Đề án 877 là sự xuất hiện của 2 động cơ điện dự bị PG-168 công suất mỗi động cơ 102 sức ngựa. Chúng đảm bảo cho tàu ngầm di chuyển trong các tốc độ thấp, cho phép cơ động khi neo đậu, đồng thời có thể được sử dụng để di chuyển khi bị thương trục và chân vịt chính.

Trong vai trò động cơ được sử dụng chân vịt 6 cánh vòng quay thấp bước chân vịt cố định. Trong bộ phận mạn của thân tàu theo các bên thành bố trí các động cơ phụt nước bánh lái. Các quá trình lặn và nổi của tàu được tự động hóa.

Khi di chuyển trong tư thế ngầm, tàu ngầm đạt tốc độ tối đa 17 hải lý, trong tư thế nổi – 10 hải lý. Tầm bơi xa trong chế độ hoạt động của động cơ diezel dưới nước là 7 hải lý với 6000 dặm. Trong tư thế ngầm của động cơ dự bị tốc độ 3 hải lý có khả năng bơi xa 400 dặm.

Phần lớn các máy móc được trang bị các lớp che phủ chống rung và lắp trên các bộ phận giảm sóc, các khí tài khác được bố cục hóa bằng các khối trên các bệ đặc biệt, và với chân vịt tiếng ồn thấp, thân tàu hình dạng thuôn một cách tối ưu, tạo cho tàu khả năng khó bị phát hiện.

Bắt đầu từ tàu ngầm B-800, các tàu ngầm trong lớp được trang bị cửa cứu nạn, cho phép rời khỏi tàu đắm từ độ sâu 250 mét (nằm ở bộ phận mạn tàu ngầm).

Thời gian hoạt động – 45 ngày.

Thủy thủ đoàn – 57 người, trong đó có 12 sỹ quan.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 25 Tháng Hai, 2012, 02:00:28 pm
Thông tin lịch sử

Đến những năm 70, đã có quyết định bổ sung cho Hải quân các tàu ngầm điện – diezel thế hệ sau, được dự định sử dụng chống các tàu nổi và tàu ngầm, rải mìn và trinh sát.

Năm 1974, nhiệm vụ kỹ thuật đã được ký về việc chế tạo tàu ngầm nội địa với các thông số kỹ - chiến thuật cao mà Bộ chỉ huy thống nhất các lực lượng vũ trang các nước thuộc khối Hiệp ước Vác sa va muốn chế tạo thành một lớp tàu duy nhất cho Hải quân của họ. Việc thiết kế tàu được giao cho Phòng thiết kế Trung ương “Rubin” dưới sự chỉ đạo của Yu.N.Kormilitsin.

Nhiệm vụ đặt ra cho các công trình sư là đảm bảo sự tăng cường đáng kể tốc độ của tàu ngầm theo so sánh với Đề án 641, tăng cường khả năng cơ động trên biển, tính sống còn, đặc biệt khoang có người với việc giảm số lượng thủy thủ đoàn bằng sự tự động hóa phần lớn các quá trình điều khiển. Sự cần thiết là chế tạo đề án với sự tính toán có khả năng cạnh tranh trên thị trường vũ khí quốc tế, đồng thời đảm bảo trữ lượng choán nước xác định của tàu đối với khả năng hiện đại hóa tàu, để tàu ngầm duy trì được khả năng chiến đấu cao trong vài chục năm. Đảm bảo tiếng ồn nhỏ khi di chuyển dưới nước theo cách hiện đại hóa tàu ngầm Đề án 641B không thành công. Cần thiết thay đổi hình dáng và thiết kế thân tàu, chế tạo các bộ phận mới và trang bị. Vì thế, việc thiết kế tàu ngầm mới thực tế là bắt đầu từ “con số 0”.

Nếu các tàu ngầm Đề án 641 được thiết kế theo truyền thống với thân tàu dài và hẹp thì thân ngoài của Đề án 877 được thiết kế theo dạng con thoi, với tỷ lệ chiều dài và chiều rộng 7,3, với đường trong, cũng như các tàu ngầm nguyên tử ở hình dáng bộ phận mũi. Thân tàu được tính toán, để sự đề kháng thủy âm ở mức tối thiểu. Một số mẫu đã được thí nghiệm và lựa chọn để hiện đại hóa trên các bệ thí nghiệm và trong các bể thí nghiệm.

Đề án kỹ thuật được phê duyệt bởi Bộ Tư lệnh Hải quân S.G.Gorshkov ngày 20 tháng 12 năm 1976 ở thành phố Podgatov cho việc sản xuất tàu đầu tiên ở xưởng số 199 mang tên “Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin” (Komsomol-na-Amur) đã được bắt đầu năm 1979. Việc khởi công tàu đầu tiên (B-248) vào ngày 16 tháng 3 năm 1980, hạ thủy – 12 tháng 9 năm 1980, bàn giao cho Hải quân – 31 tháng 12 năm 1980. Theo một số thông tin, tàu đầu tiên chỉ gia nhập biên chế tháng 9 năm 1982 (chắc chắn rằng, việc bàn giao hoàn toàn cho Hải quân chỉ được tiến hành sau các thí nghiệm).

Ngoài Hải quân Nga, tàu ngầm Đề án 877 còn có mặt trong biên chế các nước Ấn Độ, Trung Quốc, Iran, Algeri, Ba Lan, Rumani.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 25 Tháng Hai, 2012, 02:34:59 pm
Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ nổi: 2300

+ ngầm: 3040

Tốc độ, hải lý

+ nổi: 10

+ ngầm: 17

Tầm bơi xa (trên tốc độ, hải lý), dặm

+ ở tư thế nổi: 400 (3)

+ trong chế độ hoạt động của động cơ diezel dưới nước: 6000 (7)

Độ lặn sâu, mét

+ giới hạn: 350

+ hoạt động hiệu quả: 240

Chiều dài, mét: 72,6

Chiều dài thân trong, mét: 51,8

Chiều rộng, mét: 9,9

Lượng mớn nước trung bình, mét: 6,2

Vũ khí

Các thiết bị ngư lôi: 6

Cơ số đạn ngư lôi/mìn: 18/24

Các loại ngư lôi: 53-65K, 53-65B, 53-65Ba, SET-53M, TEST-71M, USET-80K, SET-65E

Kiểu mìn: DM-1

Cơ số đạn tổ hợp tên lửa phòng không: 8.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 26 Tháng Hai, 2012, 01:26:25 pm
Đề án 677 “Lada” – tàu ngầm điện – diezel lớp “Saint Peterburg”

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/proekt-67731991.jpg)

Các biến thể

+ 677E “Amur” – biến thể xuất khẩu, có một số phiên bản (“Amur 550”, “Amur 750”, “Amur 950”, “Amur 1450”, “Amur 1650”, khác nhau ở lượng choán nước và kiểu thiết bị động cơ.

Các tàu ngầm Đề án 677 được sử dụng để thực hiện các chiến dịch độc lập trên các tuyến giao thông đường biển chống lại các tàu nổi và tàu ngầm của địch trong khu vực hạn chế, thực hiện việc phòng thủ chống ngầm ở khu vực gần bờ, trên khu vực eo biển hẹp, rải các bãi mìn chướng ngại vật và các nhiệm vụ khác.

Các tàu ngầm Đề án 677 được chế tạo theo sơ đồ một rưỡi. Thân trong có dạng trục đối xướng được chế tạo từ thép AB-2 và thực tế theo toàn bộ chiều dài có đường kính giống nhau. Các đầu mút mũi và mạn tàu có dạng hình cầu. Các vách ngăn phẳng phân chia thân tàu theo chiều dài thành 5 khoang không thấm nước. Nhờ đó, boong thân tàu được chia thành 3 tầng theo chiều cao.

Thân ngoài có dạng hình thuôn, đảm bảo các tính năng thủy động lực cao. Vách ngăn các khí tài di động cũng có hình dạng như trên tàu ngầm Đề án 877. Trong cùng thời gian này, cánh đuôi mạn tàu được chế tạo theo hình dạng chữ thập (+), còn các bánh lái đuôi ngang được bố trí trên vách ngăn, nơi chúng tạo ra các dải nhiễu tối thiểu cho hoạt động của tổ hợp thủy âm.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 26 Tháng Hai, 2012, 01:41:15 pm
Vũ khí

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/proekt-67732005.jpg)

Trên các tàu ngầm lắp 6 thiết bị ngư lôi 533mm. Hai thiết bị ngư lôi ở tầng trên có khả năng bắn các ngư lôi điều khiển vô tuyến. Cơ số đạn ngư lôi 18 đơn vị, trong đó có thể bao gồm các loại ngư lôi đa năng (SAET-60M, UGST và USET-80K), các ngư lôi – tên lửa chống ngầm, tên lửa có cánh, mìn (22 mìn kiểu DM-1). Dự kiến cả khả năng sử dụng các tên lửa chống ngầm tốc độ lớn “Shkval”.

Hệ thống bắn cho phép bắn ngư lôi theo từng phát hoặc bắn loạt 6 ngư lôi. Khí tài nạp đạn máy “Murena” cho phép tiến hành nạp đạn tự động cho các thiết bị ngư lôi. Toàn bộ chu kỳ của tổ hợp cho đến việc sử dụng vũ khí và bắn tự động được thực hiện từ bảng điều khiển của thao tác viên từ trạm chỉ huy chính của tàu ngầm.

Để phòng không, tàu ngầm có 6 tổ hợp tên lửa phòng không xách tay “Igla-1M”.

Sự phối hợp hoạt động của toàn bộ các khí tài trang bị vô tuyến điện được đảm bảo bằng hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu “Lity”.

Tổ hợp thủy âm “Lira” gồm có các ăng ten tìm phương theo tiếng ồn có độ nhạy cao. Trong thành phần tổ hợp bao gồm các ăng ten mũi (L-01) và 2 ăng ten bên trong phần cuối mũi của tàu ngầm. Các kích thước của ăng ten được tăng cường lên cấp độ có thể một cách tối đa. Chúng chiếm bộ phận lớn trên bề mặt phần cuối mũi tàu.

Ngoài các ăng ten cố định, trên tàu ngầm còn bố trí ăng ten thủy âm lai với đầu ra trong bộ phận cánh đuôi đứng trên.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 26 Tháng Hai, 2012, 01:59:40 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/proekt-67731965.jpg)

Tổ hợp đạo hàng gồm có hệ thống dẫn đường quán tính và đảm bảo an toàn cho việc lái tàu cùng xử lý các thông tin về vị trí tàu với các tham số di chuyển của tàu ngầm trong sự cần thiết để sử dụng vũ khí chính xác.

Tổ hợp ống nhòm ngầm đa năng UPK “Parus-98” có trong thành phần:

+ ống nhòm ngầm (tiềm vọng) chỉ huy dạng không xuyên (thấm) “Parus-98KP” với các kênh vô tuyến và quang học (ban ngày và cấp độ thấp) với độ khuyếch đại thay đổi từ 1,5-12X với băng ghi thị tần

+ cột buồm (trụ) dạng không xuyên (thấm) “Parus-98UP” (ống nhòm ngầm tổng hợp) với các kênh vô tuyến (ban ngày và cấp độ thấp) với độ khuyếch đại 1,5-12X, kênh máy đo xa laze

+ đài ra đa định vị KRM-66 “Kodak” gồm có các kênh ra đa định vị chủ động và thụ động, kết hợp với trạm ăng ten các kênh. Hệ thống ra đa định vị có kênh được tăng cường khả năng che phủ trong chế độ chủ động và cung cấp thông tin đầy đủ về tính trạng trên mặt nước và trên không mà không làm lộ vị trí của tàu ngầm

+ tổ hợp kỹ thuật số các khí tàu thông tin liên lạc vô tuyến điện “Distantsia”. Tổ hợp các khí tài thông tin vô tuyến cho phép thực hiện sự thông tin liên lạc vô tuyến hai chiều tin cậy với các trạm chỉ huy trên bờ, tàu, thuyền và máy bay khi ở các vị trí nổi và ống nhòm ngầm. Để tiếp nhận các thông tim chỉ huy khi nằm ở độ sâu lớn có ăng ten vô tuyến lai mở. Việc mở ăng ten được thực hiện từ thân trong

+ tổ hợp đạo hàng “Appassionata” với hệ thống dẫn đường quán tính và hệ thống dẫn đường vệ tinh GPS/GLONASS. Khả năng dẫn đường chính xác – sự nghiêng các tọa độ tại chỗ trong 2 ngày – 5km khi thay đổi góc vòng đến 6 độ/phút.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 26 Tháng Hai, 2012, 02:21:56 pm
Thiết bị năng lượng

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/proekt-67731977.jpg)

Tàu có thiết bị năng lượng điện – diezel chính, được chế tạo theo sơ đồ động cơ điện hoàn toàn. Trong thành phần của nó gồm có máy phát điện diezel bố trí trong khoang thứ 4, gồm có 2 máy phát điện diezel dòng điên 1 chiều 28DG với bộ chỉnh lưu (công suất 1000kW), 2 cụm pin ắc quy, mỗi cụm 126 phần tử (tổng công suất 10 580kW/h - ?) nằm trong các khoan thứ 1 và 3, động cơ điện chân vịt tốc độ thấp không có vành góp hoạt động mọi chế độ với sự kích thích bằng các nam châm ngược chiều kiểu SED-1 công suất 4100kW.

Sự lựa chọn công suất của động cơ điện diezel cho phép thực hiện không chỉ việc nạp “thường” pin ắc quy, mà còn trong chế độ nạp điện đặc biệt, cho phép giảm đáng kể thời gian tàu ngầm ở vị trí tiềm vọng. Việc không có khí tài lấy điện dạng chổi tăng cường độ an toàn trong khai thác sử dụng các máy phát điện.

Động cơ điện chân vịt hoạt động mọi chế độ thực hiện chức năng động cơ điện chân vịt chính và động cơ điện dự bị. Nó dẫn động cho chân vịt tiếng ồn thấp 7 cánh với bước chân vịt cố định với cách cánh chân vịt dạng lưỡi liềm. Đồng thời, tàu ngầm có 2 cột trụ dạng xoắn ốc RDK-35. Tốc độ lớn nhất của tàu ngầm là 21 hải lý, khi di chuyển ở tư thế nổi, tàu ngầm đạt tốc độ 10 hải lý. Tầm bơi xa trong chế độ hoạt động của động cơ diezel dưới nước là 6000 dặm, trong tư thế ngầm khi di chuyển bằng động cơ dự bị tàu có thể bơi 650 dặm.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 26 Tháng Hai, 2012, 02:34:08 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/proekt-67731980.jpg)

Tầm bơi xa trong chế độ hoạt động của động cơ diezel dưới nước là 6000 dặm, trong tư thế ngầm khi di chuyển bằng động cơ dự bị tàu có thể bơi 650 dặm.

Tàu ngầm được trang bị tổ hợp cứu nạn tổng hợp KSU-600 để phóng tự động từ xa các bè cứu nạn PSNL-20 (2 bè, trong thượng tầng, trước vách ngăn các khí tài cơ động).

Toàn bộ thủy thủ đoàn của tàu ngầm được bố trí trong khoang số 3. Đối với toàn bộ thủy thủ đoàn dự tính có các buồng: cho thủy thủ đoàn – 2 chỗ; cho chỉ huy – 1 chỗ.

Để tiếp nhận thực phẩm cho buồng chỉ huy có căng tin. Toàn bộ trữ lượng thực phẩm được bố trí trong khác kho chứa lạnh và không lạnh. Bếp được thiết kế với kích thước nhỏ và yêu cầu năng lượng thấp để đảm bảo khả năng cung cấp thưc phẩm nóng nhanh.

Nước nhạt được bảo quản trong các thùng từ hợp kim không gỉ. Sự bổ sung trữ lượng nước có khả năng với sự hỗ trợ của thiết bị lọc nước mặn (nước biển) bằng cách tận dụng nhiệt của động cơ diezel. Trong mục tiêu cung cấp nước hoàn toàn đủ cho nước uống cũng như mục đích vệ sinh (rửa bát đĩa, tắm). Các điều kiện cho người ở và nhiên liệu, lương thực và nước uống được đảm bảo trong 45 ngày.

Thủy thủ đoàn – 35 người.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Hai, 2012, 11:14:31 am
Thông tin lịch sử

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/proekt-67731992.jpg)

Bắt đầu từ những năm 50, ở Liên Xô đã khôi phục lại việc đóng các tàu ngầm diezel với vũ khí ngư lôi và tên lửa. Sau khi hoàn thành năm 1968 việc chế tạo loạt tàu ngầm diezel Đề án 615, việc đóng các tàu ngầm phi hạt nhân được tiếp tục theo các Đề án 641B và 877, chỉ trang bị vũ khí ngư lôi. Tuy nhiên, đến giữa những năm 80, ở nước ngoài đã chế tài tàu ngầm diezel với các tên lửa chống ngầm “Harpoon” phóng động từ các thiết bị ngư lôi.

Các công việc thiết kế - thí nghiệm và nghiên cứu khoa học được bắt đầu năm 1987 và theo kế hoạch ban đầu đóng số lượng lớn tàu ngầm. Đề án kỹ thuật tàu ngầm Đề án 677 được phê duyệt năm 1993, nhưng sau đó chịu sự thiết kế lại. Đề án kỹ thuật thứ hai được phê duyệt năm 1997.

Ngày 26 tháng 12 năm 1997 ở xí nghiệp Nhà nước “Xưởng đóng tàu Admiralteisky” tại Saint Peterburg (Tổng công trình sư Yu.N.Kormilitsin) đã khởi công tàu đầu tiên thuộc Đề án – tàu ngầm diezel 677 – B-585 (cho Hải quân Nga) và tàu ngầm diezel 677E (để cho xuất khẩu). Năm 1997, tàu ngầm B-585 nhận tên gọi “Saint Peterburg”.

Tàu được hạ thủy 28 tháng 10 năm 2004. Tháng 10 năm 2006, đã hoàn thành bước đầu tiên các thí nghiệm neo đậu, còn tháng 1 năm 2007 đã bắn đầu quá trình thí nghiệm các thí nghiệm vận động. Đến nửa đầu năm 2008, tàu đã trải qua các thí nghiệm vận động cấp xưởng với sự hoàn thiện nốt máy móc và tổ hợp. Ngày 22 tháng 4 năm 2010, Hải quân đã ký biên bản tiếp nhận tàu đầu tiên B-585 “Saint Peterburg”, tàu được tiếp nhận vào việc khai thác sử dụng thí nghiệm. Mùng 8 tháng 5 năm 2010, “Saint Peterburg” đã kéo cờ Hải quân Nga.

Tàu đầu tiên trong loạt Đề án 677 “Kronshtadt” được khởi công 28 tháng 7 năm 2005, tàu thứ hai “Petrozavodsk” – 10 tháng 11 năm 2006. Việc hạ thủy theo kế hoạch tương ứng vào năm 2013 và 2015.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Hai, 2012, 11:21:00 am
Các thông số kỹ - chiến thuật chính

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/proekt-67731999.jpg)

Lượng choán nước, tấn

+ nổi: 1765

+ ngầm: 2650

Chiều dài nhất, mét: 66,8

Chiều rộng thân lớn nhất, mét: 7,1

Lượng mớn nước, mét: 6,7

Độ lặn sâu, mét

+ hoạt động hiệu quả: 250

+ giới hạn: 300

Tốc độ tối đa, hải lý

+ nổi: 10

+ ngầm: 21

Tầm bơi xa (tốc độ, hải lý)

+ trong tư thế nổi: 650 (3)

+ ngầm trong chế độ hoạt động của động cơ diezel dưới nước: 6000 (7)

Vũ khí

Các thiết bị ngư lôi: 6

Cơ số đạn, ngư lôi/mìn: 18/22

Tổ hợp tên lửa phòng không: “Igla-1M”

Cơ số đạn, tên lửa: 6.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Hai, 2012, 12:25:11 pm
Tàu ngầm nguyên tử đa năng Đề án 885 “Yasen” với các tên lửa có cánh “Severodvinsk”

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/proekt-88534410.jpg)

Biến thể

+ Đề án 885M “Yasen-M”.

Đề án 885 “Yasen” nằm trong lớp tàu ngầm nguyên tử đa năng với các tên lửa có cánh.

Tàu ngầm nguyên tử Đề án 885 có thiết kế 1 khối rưỡi với thân ngoài chỉ trong phần mũi và với thượng tầng trong khu vực hầm tên lửa. Thân trong được chia thành 9 khoang. Trong khoang thứ nhất có trạm trung tâm với cửa ra khoang thân trong – khoang cứu nạn nổi, các trạm chiến đấu và trang bị khí tài thuộc tổ hợp thủy âm. Quang khoang thứ nhất và ở mũi tàu bố trí cụm mũi các thùng tải trọng dằn chính (5 thùng). Trong khoang thứ hai là bộ phận nạp đạn của thiết bị ngư lôi và bệ đỡ với đạn. Ở đó cũng bố trí các khí tài dẫn động của khí tài di động và từng phần các hệ thống hỗ trợ khác. Khoang thứ 3 chứa trong boong thứ 4 các trang bị khí tài khác nhau và trang bị tổng hợp của tàu, như các máy phát điện diezel, máy làm lạnh, các bơm và các bộ đổi tần số. Khoang thứ 4 bố trí khu vực cho người ở và buồng y tế, đồng thời hàng loạt các hệ thống hỗ trợ. Các khoang số 2, 3, 4 chiếm khoảng 40% tổng chiều dài thân trong và không có thân ngoài, chỉ có thượng tầng ngoài. Khoang số 5 – tên lửa. Trong khu vực này tập trung nhóm các thùng tải trọng dặn chính (4 thùng) và thùng lặn nhanh. Quanh đó tập trụng nhóm các thùng tải trọng dằn chính của mạn tàu (5 thùng). Khoang số 8 chứa máy móc hỗ trợ, trang bị tổng hợp trên tàu và cửa ra vào mạn tàu. Sau nó là buồng lái với các thiết bị dãn động thủy lực của cánh đuôi mạn tàu. Toàn bộ phần mũi của tàu ngầm được tách dưới ăng ten hình cầu kích thước lớn của tổ hợp thủy âm. Sau mũ chụp của nó là các cánh lái ngang mũi cao hơn vạch mớn nước thiết kế. Cánh đuôi được chế tạo theo hình chữ thập truyền thống. Tàu ngầm nhận vách ngăn các khí tài di động dài một cách tương đối theo dạng “xe con” với sự liên kết thùng cứu nạn nổi.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Hai, 2012, 04:32:26 pm
Vật liệu làm thân trong – thép từ tính thấp (độ dày – 48mm). Việc lắp thân được thực hiện bằng phương pháp khối với sự sử dụng các bộ giám chấn cáp kim loại thay cho bộ giảm chấn  khí nén sợi cao su truyền thống. Trang bị được lắp ráp bằng các khối cục bộ trên các khung nặng. Phương pháp mới của bố cục khối thiết bị năng lượng và trang thiết bị dự bị, hệ thống làm mát và trang bị điện cho phép giảm tiếng ồn 10 – 15dB. Các dầm (xà) nhiều tầng chống rung, hệ cột chống, các phần tử ống xả và ống thông khí (dẫn gió), các thiết kế khác, giảm độ ồn rung 10 – 30dB. Trang bị được lắp trên các khung tầng giảm rung từ vật liệu composit. Mỗi khối thiết kế phủ bằng các tấm cách âm. Thân tàu ngầm nguyên tử phủ bằng lớp chống thủy âm bằng cao su. Trên tàu sử dụng hệ thống dập tắt tiếng ồn tự động trong giới hạn các tần số phân tán 50 – 500Hz. Trên thân tàu có lớp phủ cao su, giảm tiếng ồn và giảm phản xạ các tín hiệu định vị thủy âm.

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/proekt-88534408.jpg)

Tàu ngầm trang bị thiết bị năng lượng nguyên tử thế hệ thứ 4, được chế tạo theo sơ đồ bố cục toàn phần (đơn khối). Lò phản ứng  - nước – nước với các ống dẫn vật liệu tải nhiệt thuộc đường bao thứ nhất, bố trí trong thân lò phản ứng. Thiết bị sản xuất hơi nước KPM công suất 200mW.

Điểm nổi trội của bố cục này là sự định vị vật liệu tải nhiệt thuộc đường bao thứ nhất trong một khối (trong thân đơn khối), đồng thời, không có đường ống và ống dẫn đường kính lớn. Liên quan với đó, rằng việc đạt tới trang bị bố trí trong lò phản ứng trở nên khó khăn, sơ đồ tương tự dự định sử dụng trang bị có độ tin cậy siêu cao. Thời gian phục vụ của lò phản ứng không cần tái nạp nhiên liệu gần 25-30 năm. Thiết bị làm thỏa mãn cho mọi yêu cầu hiện đại về sự an toàn hạt nhân.

Trong thành phần thiết bị động lực, đồng thời, một thiết bị ống hơi nước một trục dạng khối “Mirazh”, chắc chắn, với tổ hợp tuabin răng cưa chính OK-9VM hoặc tổ hợp tương tự với sự giảm sóc tăng cường công suất gần 43 000 sức ngựa; một động cơ điện chân vịt tốc độ thấp; 2 động cơ điện chân vịt cao tốc lặn sâu PG-160 công suất 410 sức ngựa (theo tài liệu khác – 370 sức ngựa), bố trí trong các cột di động ở bộ phận mạn tàu.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Hai, 2012, 04:53:56 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/proekt-88534409.jpg)

Để giảm tiếng ồn ở tốc độ di chuyển thấp sử dụng động cơ điện chân vịt; tổ hợp tuabin răng cưa chính được kết nối qua khớp nối chỉ ở trong các chế độ cao tốc.

Tàu được chế tạo theo sơ đồ một trục, với 1 chân vịt 7 cánh tiếng ồn thấp, bước chân vịt cố định thiết kế phức hợp với các cánh chân vịt dạng lưỡi liềm (với sự biến dạng composit). Có 4 thiết bị lái dạng mở. Các bánh lái ngang ở mũi với cánh tà sau, có thể kéo ra được.

Hệ thống năng lượng gồm có (dự định) gồm có 2 máy phát điện tuabin dòng điện 1 chiều, 2 bộ đổi nguồn một chiều thuận nghịch; nguồn điện dự bị - các máy phát điện diezel ADG-630NK và ADG-1000, đồng thời 2 cụm pin ắc quy axit-chì. Hệ thống điều khiển hệ thống năng lượng điện “Luna-Ya” (“Luna-Yansen”). Hệ thống nguồn điện tập trung “Kosinus-Ya” (“Kosinus-Yasen).

Tàu ngầm nguyên tử trang bị thùng cứu nạn nổi, được tính toán cho toàn bộ thủy thủ đoàn. Sự bố trí – trong vách ngăn các khí tài di động. Có các bè cứu nạn lớp KSU-600N-4.

Vũ khí chính của tàu ngầm nguyên tử gốm có 8 thiết bị phóng SM-346 (mỗi bên thành 4 thiết bị phóng) dạng phóng đứng (24 tên lửa chống tàu có cánh P-800 “Oniks”). Có khả năng, đồng thời tiếp nhận các tên lửa 3M14 “Kalibr”, 3M54 “Biryuza” và các tên lửa kiểu mới có nhiệm vụ khác nhau. Để liên kết trên thành tàu các tổ hợp tên lửa khác nhau sử dụng hệ thống điều khiển bắn tổng hợp trên tàu 3R-14P, đảm bảo khả năng chiến đấu của tổ hợp tên lửa tới khi phóng ở trạng thái “nguội” trong thời gian 4 phút. Đồng thời, tổ hợp trang bị trên bộ được tích hợp, sử dụng để tiến hành thao tác bảo dưỡng các tên lửa.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Hai, 2012, 05:09:35 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/proekt-88534412.jpg)

Tàu ngầm được trang bị 10 thiết bị ngư lôi (mỗi bên thành – 5) 533mm. Cơ số đạn – 30 ngư lôi “Fizik” (ngư lôi đa năng tự dẫn bắn ở độ sâu lớn – UGST), USET-80…, các tên lửa có cánh tầm xa lớn RK-55 “Grant” hoặc “Biryuza”, các tên lửa thuộc tổ hợp tên lửa chống tàu điều khiển “Vodopad”, mìn… Các thiết bị ngư lôi bố trí ở bộ phận giữa thân tàu sau trạm trung tâm.

Có khả năng, trên tàu ngầm nguyên tử lắm các thiết bị phóng 533mm một lần không nạp đạn lại của khí tàu chống thủy âm REPS-324 “Shlagbaum” để sử dụng bắn khí tài chống thủy âm MG-104 “Brosok” và MG-114 “Berill”.

Trên tàu ngầm nguyên tử lắp hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu “Okrug”, được kết nối trong chế độ thời gian thực, kiểm soát mọi hệ thống chiến đấu, thông tin về tình trạng của tàu và thông tin về các khí tài quan sát và chỉ thị mục tiêu. Hoạt động của hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu được đảm bảo bởi một số các máy tính kỹ thuật số độ chính xác cao. Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu có thể nhận và truyền tải thông tin cho các tàu khác theo hệ thống truyền tải thông tin dưới nước được bảo mật.

Trên tàu lắp tổ hợp thủy âm MGK-600 “Irtưsh-Amfora-Ya” (“Irtưsh-Amfora-Yasen”) với các ăng ten cơ sở kích thước lớn bảo toàn góc và các ăng ten bảo toàn góc diện tích lớn bên hông và sự xử lý số hóa các tín hiệu với việc sử dụng thư viện kỹ thuật số các hệ thống phân loại mục tiêu tự động “Ayaks-M”. Ăng ten lai của đài thủy âm được bố trí trong mũ chụp của cánh đuôi đứng.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Hai, 2012, 11:53:05 am
Thông tin lịch sử

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/proekt-88534415.jpg)

Năm 1977 ở Liên Xô đã bắt đầu các công việc về hình thành hình dáng tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ 4. Các kế hoạch đóng tàu mới được khởi công trong thứ tự chương trình đóng tàu chiến được tiếp nhận vào năm 1985. Ban đầu, dự định chế tạo một số mẫu tàu ngầm nguyên tử phi chiến lược (chống ngầm, đa năng, chống tàu sân bay…).

Việc thiết kế tàu ngầm tiến công theo Đề án 885 được bắt đầu vào năm 1980 ở xí nghiệp kỹ thuật Hải quân “Malakhit” tại Leningrad. Năm 1985, việc đóng các tàu Đề án 885 đã được khởi công theo chương trình đóng tàu Hảu quân Liên Xô trong thời gian 10 năm gần nhất. Kế hoạch đóng loạt 30 tàu trong lớp. Đề án kỹ thuật của tàu được chuẩn bị vào cuối những năm 1980, nhưng sau đó đã được thiết kế lại với sự tính toán thay đổi yêu cầu của lãnh đạo Hải quân và tính toán bắt đầu các thí nghiệm đóng vai trò thống nhất đố với các vật mang tên lửa “Oniks” khác nhau. Năm 1989, đã tiếp nhận quyết định dừng phát triển các tàu ngầm chuyên biệt và hoàn thiện nốt Đề án 885 dưới các tên lửa chống tàu có cánh “Oniks” và tên lửa có cánh tầm bắn lớn “Granat”. Tổng công trình sư của Đề án là B.N.Pyadov. Việc thiết kế tàu ngầm nguyên tử hoàn thành năm 1991.

Sau khi khối Hiệp ước Varsaw giải thể, còn sau đấy – Liên bang Xô viết, tình trạng địa – chính trị trên thế giới thay đổi một cách đáng kể, rằng không thể đặt mục tiêu cũ lên các kế hoạch trong ngành đóng tàu ngầm. Tình hình chiến lược quân sự mới và sự thay đổi tính chất các mối đe dọa yêu cầu những điều chỉnh tương ứng từ phía Hải quân.

Các tàu, có khả năng giải quyết các nhiệm vụ trong các điều kiện địa – chính trị và quân sự - kinh tế, phải là các tàu ngầm đa năng thế hệ thứ 4 thuộc Đề án 885 (số hiệu “Yasen”).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Hai, 2012, 04:55:47 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/proekt-88534413.jpg)

Trong những năm thiết kế và đóng tàu đầu tiên thuộc Đề án 885, viện thiết kế kỹ thuật Hải quân Sanit Peterburg “Malakhit” cùng với viện nghiên cứu khoa học lắp ráp xe máy, viện nghiên cứu khoa học “Novator” và viện nghiên cứu khoa học Hải quân số 28 đã thực hiện hàng loạt các công việc, cho phép, sử dụng các nguyên tắc, được khởi công trong tổ hợp “Oniks”, trang cho tàu ngầm nguyên tử bằng tổ hợp vũ khí tên lửa khác, mở rộng một cách thực tế các khả năng thực hiện các cuộc tấn công quy mô lớn và các mục tiêu nổi, ngầm và trên bộ.

Theo chương trình “Sopryazhenie” đã nghiên cứu sự tương quan của thông tin đa chức năng trong khối lượng thời gian thật trong mạng từ máy tính cá nhân của mọi hệ thống tàu ngầm, tham gia vào tổ chức và thực hiện cuộc tấn công bằng tên lửa. Việc này cho phép không chỉ xử lý sự tương quan của hệ thống trong chế độ đường quây tác chiến duy nhất, dự báo và tìm kiếm những sự tiếp nhận chiến thuật mới theo việc sử dụng các tên lửa chống tàu có cánh trong các trường hợp chiến đấu khác nhau.

Để lắp trên các tàu ngầm tương lai, ở viện nghiên cứu khoa học “Shitl” đã bắt đầu công việc theo sự chế tạo các hệ thống thông tin liên lạc thủy âm, có khả năng đảm bảo sự truyền tải thông tin trong khối lượng thời gian thực ở cự ly 100km. Việc này yêu cầu thiết kế thuật toán xử lý các tín hiệu, tính toán những sự đặc biệt sự phổ biến của chúng trong các điều kiện thủy âm khác nhau.

Việc khởi công tàu đầu tiên thuộc Đề án 885 nhận tên gọi “Severodvinsk” (số hiệu xưởng 160), vào ngày 21 tháng 12 năm 1993 ở xưởng đóng tàu “Sevmash” (thành phố Severodvinsk). Dự kiến “Severodvinsk” hạ thủy năm 1996 và gia nhập biên chế năm 1998. Sau đó, thời hạn này được kéo dài đến năm 2000 và thậm chí năm 2005. Nguyên nhân vì các điều kiện không có tài chính nên việc đóng tàu bị đóng băng vào năm 1996.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Hai, 2012, 05:14:36 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/proekt-88534414.jpg)

Sự ngưng trệ kéo dài của tàu ngầm “Severodvinsk” chỉ được thực hiện trong hình dạng thiết kế thân tàu không đủ bộ và sự cung cấp trang thiết bị được ký kết riêng, đã dẫn tới đầu những năm 2000, việc thiết kế đã bắt đầu lạc hậu trong quan hệ của kế hoạch đối với trang bị vô tuyến điện tử mang theo và bộ phận các giải pháp thiết kế. Ngoài ra, đã tiến hành các công việc nghiên cứu hàng loạt các mẫu vũ khí mới có thể được sử dụng trên Đề án 885. Trong thông tin liên quan với đó, yêu cầu sự hiểu chỉnh theo trình tự đề án kỹ thuật trong đó tính toán như đã nói ở trên, cũng như sự phức tạp trong việc chuyển giao trang thiết bị từ các nước thuộc Liên Xô cũ. Thiết bị tuabin hơi nước thế hệ mới đã không được thiết kế (chuẩn bị), đồng thời cho phép hiệu chỉnh đề án. Vì thế, năm 2001 đã tiếp nhận quyết định hiệu chỉnh lại tàu ngầm nguyên tử theo đề án thay đổi 08850.

Ngày 24 tháng 7 năm 2009, ở “Sevmash” đã khởi công tàu ngầm nguyên tử Đề án 885M (Đề án 08851) “Kazan” (số hiệu xưởng N161).

Ngày 15 tháng 6 năm 2010 “Severodvinsk” đã rời phân xưởng tới ụ tàu “Sukhona”. Ngày 24 tháng 6, “Severodvinsk” được đưa từ ụ “Sukhona” xuống nước. Ngày 12 tháng 9 năm 2011, K-329 “Severodvinsk” lầm đầu tiên ra biển thực hiện các thí nghiệm vận động.

Theo kế hoạch, sẽ đóng thêm 8 tàu ngầm Đề án 885M.

Dự kiến rằng, trong các tàu ngầm lớp “Severodvinsk” tiếp theo, sẽ trang bị các tên lửa có cánh có độ chính xác cao khó bị phát hiện – những vũ khí răn đe phi hạt nhân sẽ trở thành mối đe dọa rất mạnh đối với các tàu ngầm, tàu nổi và tàu vận tải của địch.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Ba, 2012, 05:37:46 pm
Đề án 955 – Tàu ngầm nguyên tử tuần dương chiến lược “Yuri Dolgoruki”

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/proekt-95532340.jpg)

Các tàu ngầm nguyên tử Đề án 955 được sử dụng trong nhiệm vụ thực hiện các cuộc tấn công tên lửa vào các mục tiêu quân sự - công nghiệp chiến lược quan trọng của địch.

Tàu ngầm được thiết kế theo sơ đồ 2 thân. Thân trong chia thành 8 khoang. Khoang số 1 là ngư lôi. Đồng thời trong đó bố trí khoang cho tổ hợp thủy âm, thùng tải trọng dằn chênh mũi và cụm pin ắc quy ở mũi. Trong khoang thứ 2 bố trí trạm trụng tâm, các buồng cho người ở và y tế, bộ phận trang bị vô tuyến điện các hệ thống chung trên tàu, cũng như trang bị bơm, hệ thống thủy lực, các máy điều hòa, các bộ đổi tần số điện và pin ắc quy. Khoang thứ 3 bố trí trong đó bộ phận các trạm chiến đấu, khí tài hỗ trợ (máy làm lạnh (mát), máy phát điện diezel, các bơm khác nhau và các phần tử hệ thống không khí cao áp), bộ phận trang bị tổ hợp thông tin liên lạc vô tuyến, đồng thời các hầm và bệ nâng khí tài cột (trụ, buồm). Các khoang số 4 và 5 – tên lửa. Thân trong trong phạm vi của chúng có đường kính tối đa. Khoang số 6 bố trí thiết bị sản xuất hơi nước, đồng thời khí tài bơm và hỗ trợ. Sau khoang tuabin số 7 là khoang số 8 với trang bị hỗ trợ cùng buồng lái với các thiết bị dẫn động thủy lực cho các bánh lái mạn tàu. Trong không gian giữa các thành của thân tàu bố trí các thùng tải trọng dằn chính và các thùng đựng tên lửa. Thay cho các ống xả thoát nước ở thượng tầng như trên các tàu ngầm nguyên tử chiến lược khác của Liên xô, sử dụng tong cộng 2 ống xả có khe nứt kéo dài.

Việc lắp thân tàu được thực hiện theo phương pháp khối: trang bị của tàu ngầm được lắp ở trong thân trên các bộ giám chấn và trong các khối giảm chân, là bộ phận các hệ thống tổng hợp của tàu thuộc bộ giảm chấn hai tầng (mỗi khối được cách ly với thân tàu bằng các bộ giảm chấn khí nén sợi cao su). Phần cuối cũi tàu của tường ngăn mui được thiết kế với sự nghiêng về phía trước trong mục đích tăng cường độ thuôn. Thân tàu được phủ bằng lớp phủ cao su chống thủy âm.

Độ lặn sâu hiệu quả của “Borei” là 380 mét, độ lặn sâu giới hạn – 450 mét. Thời gian hoạt động – 90 ngày.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Ba, 2012, 07:06:03 pm
Các bản vẽ thiết kế Đề án 955

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/proekt-95532338.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/proekt-95532339.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Ba, 2012, 07:19:51 pm
Vũ khí

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/proekt-95532326.jpg)

Trong trang bị vũ khí của Đề án 955 dự kiến có tổ hợp D-30 (3K30) “Bulava” với tên lửa nhiên liệu rắn ba tầng R-30 (3M30).

Đối với mục tiêu tự vệ, Đề án 955 trang bị 8 thiết bị ngư lôi. Trên Đề án 09550 có 4 thiết bị ngư lôi 533mm và 3 thiết bị ngư lôi 650mm bố trí ở phần mũi trên ăng ten chính của tổ hợp thủy âm. Trong thành phần vũ khí tên lửa – ngư lôi có các ngư lôi điện đa chức năng UGST, USET-80…, tên lửa có cánh tầm xa lớn RK-55 “Granat” và “Biryuza”, các tên lửa chống tàu điều khiển “Vodopad”. Cơ số đạn – 40 đợn vị. Các khí tài chống vũ khí ngư lôi và khí tài thủy âm có tổ hợp “Shlagbaum” với 6 thiết bị phóng 533mm không thấm nước ở thượng tầng bộ phận mũi thân tàu.

Sự điều khiển toàn bộ các hệ thống trên tàu và khí tài trang bị được thực hiện nhờ hệ thống điều khiển chiến đấu tự động hóa (ASBU) “Okrug-55”. Trong đó, toàn bộ các cấp hệ thống vũ khí, thiết bị năng lượng, hệ thống nổi – lặn, sự đảm bảo cuộc sống… đều được liên kết.

Tổ hợp thủy âm – MGK-600B “Irtưsh – Amfora – Borei” (“Irtưsh – Amfora-B”) với ăng ten chính kích thước lớn bảo toàn góc “Amfora” và sự xử lý các tín hiệu kỹ thuật số với việc sử dụng thư viện số hóa các hệ thống phân loại mục tiêu tự động “Ayaks-M”. Các ăng ten bảo toàn góc mang theo có diện tích lớn. Ăng ten lai thuộc đài thủy âm trong mũ chụp cánh đuôi đứng của tàu ngầm.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Ba, 2012, 07:35:40 pm
Thành phần tổ hợp thủy âm

+ Tổ hợp tìm phương theo tiếng ồn trong phạm vi các tấn số âm thanh và tổ hợp tìm phương theo tiếng dội (vọng) (định vị thủy âm):

• đài thủy âm chủ động – thụ động bảo toàn góc ở mũi có nhiệm vụ sục sạo và tấn công, hoạt động trên các tần số trung bình và thấp

• 2 ăng ten bảo toàn góc mang theo độ dài lớn

+ tổ hợp phát hiện các tính hiệu thủy âm của khí tài định vị thủy âm đang hoạt động (trinh sát thủy âm) với đài thủy âm phát hiện đài thủy âm của địch

+ hệ thống bảo mật thông tin truyền tải dưới nước các thông tin chiến thuật đồng dạng với tổ hợp thông tin dưới nước “Structura”. Tổ hợp hội thoại nói

+ tổ hợp tìm phương theo tiếng ồn trong phạm vi tần số âm thanh thấp với việc sử dụng ăng ten lai dài

+ tổ hợp phân loại mục tiêu “Ayaks-M” với việc sử dụng thư viện về tiếng ồn kỹ thuật số

• đài thủy âm dò mìn

• đài thủy âm đo tốc độ âm thanh dưới nước

• đài thủy âm xác định bắt đầu ghi nhận bánh lái chân vịt

• máy đo tiếng ốn của băng

• máy phát hiện sự lở nước trong băng

• máy phát hiện lỗ nước trong băng

Tầm xa phát hiện mục tiêu của tổ hợp thủy âm – hơn 220 – 230km. Số lượng mục tiêu thủy âm theo dõi đồng thời – hơn 30.

Khí tàn nâng cột trụ (buồm) gồm có: ống nhòm (kính) tiềm vọng chỉ huy “Lebed-21”, đài ra đa định vị MRPK-59 “Radian-U”, hệ thống liên lạc vệ tinh “Sintez”…


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Ba, 2012, 07:48:31 pm
Thiết bị năng lượng

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/proekt-95532326.jpg)

Thiết bị năng lượng chính của tàu gồm có thiết bị năng lượng với thiết bị sản suất hơi nước (PPU) OK-650V công suất nòng 190mW và thiết bị khối tuabin hơi nước (PTU) “Auzrit-90”. Thiết bị sau cùng gồm có tổ hợp tuabin răng cưa chính với tuabin hơi nước một dòng và với hệ thống khử từ bộ phận dòng chảy, khí tài dự bị với khối điều khiển, bộ truyền động 2 tầng kiểu hành tinh, các máy phát điện tuabin có khả năng hoạt động dài ngày, máy làm lạnh phun hơi nước lắp chìm, động cơ chân vịt, các khớp chống rung, ổ trục chính, hệ thống điều tần số quay tự đọng của trục và áp suất hơi nước sạch, các bơm ly tâm và trang bị khác. Công suất thiết bị tuabin hơi nước dạng khối trên trục là 43 000 sức ngựa, tổng công suất của máy phát điện tuabin hoạt động dài ngày 7000 sức ngựa. Do sư tính toán này, tốc độ tối đa của tàu ở tư thế ngầm là 29 hải lý và ở tư thế nổi – 15 hải lý.

Trong thành phần thiết bị động lực dự bị có tổ hợp động cơ dự bị với các khí tài lái trong cột bản lề gấp mở với độ lặn sâu của 2 động cơ điện bánh lái cao tốc PG-160 công suất 410 sức ngựa. Trên thành tàu lắp máy phát điện diezel ADG-1000 công suất 1000 sức ngựa, trên cơ sở động cơ diezel 8DM-21S.

Hệ thống cứu nạn – thùng cứu nạn nổi, được tính toán cho toàn bộ thủy thủ đoàn tàu ngầm, nằm sau khoang tên lửa. Các bè cứu nạn lớp KSU-600N-4 (5 chiếc).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Ba, 2012, 03:39:14 pm
Thông tin lịch sử

Để thay thế cho các tàu ngầm nguyên tử tên lửa tuần dương chiến lược Đề án 667BDRM và 941 mà việc đóng chúng được tiếp tục đến đầu những năm 90, ở Phòng thiết kế Trung ương kỹ thuật Hải quân “Rubin” vào giữa những năm 80 đã bắt đầu thiết kế 2 Đề án tàu ngầm nguyên tử tên lửa tuần dương chiến lược thế hệ thứ 4 dưới tên gọi “Borei-1” (Đề án 955) và “Borei-2” (Đề án 935) dưới sự chỉ đạo của Tổng công trình sư S.N.Kovalev. Đề án đầu tiên được tính toán để mang tổ hợp tên lửa liên lục địa hạng nặng D-31, đề án thứ 2 dành cho tổ hợp D-35 – đều đang nằm trong giai đoạn thiết kế. Năm 1990, các công việc tiếp theo về Đề án 955 được giao cho Tổng công trình sư mới V.A.Zdornov. Mặc dù vậy, rằng “Borei-1” vào đầu những năm 90 thực tế đã chuẩn bị đưa vào sản xuất hàng loạt, sự tan rã của Liên Xô và các vấn đề về chế tạo tổ hợp D-31 đã kéo dài việc khởi công đề án tới 4 năm. Tổng cộng, trong các khuôn khổ kế hoạch đóng tàu của Liên Xô đã dự kiến đóng 14 tàu ngầm nguyên tử tên lửa tuần dương chiến lược Đề án 955.

Năm 1995, bằng mệnh lệnh của Tổng thống Liên bang Nga B.N.Eltsin đã tiếp nhận quyết định về trang bị Đề án 955 bằng tổ hợp D-19UTTkh “Bark” được thay bằng tổ hợp tên lửa D-31. Sau khi thiết kế lại, tàu đầu tiên vào ngày 19 tháng 8 năm 1995 dưới tên gọi K-535 “Saint Peterburg” đã ghi tên vào danh sách các tàu Hải quân Liên bang Nga. Ngày 1 tháng 5 năm 1996, tàu ngầm nguyên tử tên lửa tuần dương chiến lược đổi tên thành “Yuri Dolgoruki”, còn mùng 2 tháng 11 cùng năm đã khởi công trịnh thể tàu ngầm mới với số hiệu xưởng 201 ở phân xưởng số 55 tại xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc ở Severodvinsk.

Năm 1997, vì nguyên nhân không đủ tài chính, các công việc về đóng tàu ngầm nguyên tử mới, đồng thời liên quan với viêc hàng loạt thí nghiệm phóng tên lửa mới không thành công, đã tiếp nhận quyết định về đóng băng việc đóng tàu tiếp K-535 – vào thời điểm đó, về cơ bản, không đủ thiết kế thân tàu, trang bị và rắp ráp. Tháng 9 năm 1998, các công việc sau đó về thiết kế tổ hợp tên lửa “Bark” bị dừng lại, còn đối với trang bị của Đề án 955 đã mở cuộc thi thiết kế tổ hợp tên lửa nhiên liệu rắn triển vọng dưới tên gọi “Bulava”. Theo kết quả cuộc thi này, trong đó có sự tham gia của Trung tâm tên lửa quốc gia mang tên V.P.Makeeva với việc thiết kế tên lửa đạn đạo “Bulava-45” và Viện kỹ thuật nhiệt Moskva với tên lửa “Bulava-30” – sau này trở thành người chiến thắng. Đồng thời tiến hành tìm kiếm các khả năng đối với việc đóng tàu đầu tiên trong tình trạng không đủ tài chính, về phía cung cấp trang thiết bị và thậm chí là thép đóng thân tàu. Sự thiết kế lại được tiến hành trong sự vội vàng và đã đã hoàn thành trong nửa đầu năm 1999. Sự không tin cậy tiếp theo liên quan đến vũ khí chính của Đề án 955 dẫn tới việc trong một thời gian đã thực hiện một cách song song 2 đề án kỹ thuật của tàu ngầm nguyên tử tên lửa tuần dương chiến lược: “Borei-A” với tổ hợp “Bark” và “Borei-B” với tổ hợp “Bulava”. Khi đó, đã thiết kế 2 phiên bản, dự kiến sử dụng khối thân của các tàu ngầm lớp khác. Trong phiên bản đầu tiên (Đề án 09550) sử dụng sản phẩm dôi (không sử dụng hoặc có lệnh dừng) tàu ngầm nguyên tử đa năng Đề án 971, còn phiên bản 2 (Đề án 09552, Tổng công trình sư I.L.Baranov), sản phẩm dôi thuộc tàu ngầm nguyên tử Đề án 949B chưa được đóng xong. Đối với các công việc tiếp theo, Đề án 09550 đã được lựa chọn.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Ba, 2012, 03:58:15 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/proekt-95532343.jpg)

Năm 2000, các công việc về đóng tàu K-535 đã được khôi phục. Đối với việc này, các khối của tàu ngầm nguyên tử đa năng chưa được đóng K-337 “Kuguar” đã được đưa từ phân xưởng số 50 tới xưởng số 55 tại xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc. Việc bàn giao tàu đầu tiên cho Hải quân được lên kế hoạch dự định là năm 2006. Ngày 19 tháng 3 năm 2004 theo Đề án 09550 đã khởi công tàu ngầm nguyên tử tên lửa tuần dương chiến lược thứ 2 dưới tên gọi K-550 “Alecsandr Nevski” với số hiệu xưởng 202. Khi đóng tàu, sử dụng thân tàu chưa được đóng xong của tàu ngầm nguyên tử đa năng K-333 “Rưs”.

Năm 2005, đã hoàn thành việc tổ chức cho tàu “Yuri Dolgoruki”, còn 19 tháng 3 năm 2006, dưới tên gọi “Vladimir Monomakh” đã khởi công tàu ngầm thứ 3 trong lớp theo một số thay đổi thuộc Đề án 09551 (số hiệu xưởng 203). Trong tháng 12 năm 2009, đã bắt đầu công việc khởi công tàu thứ 4 thuộc đề án dưới tên gọi “Thánh Nicolai”.

Ngày 15 tháng 4 năm 2007, K-535 đã rời xưởng xuống ụ nổ, ngày 12 tháng 2 năm 2008, tàu đã được hạ thủy, còn 21 tháng 1 cùng năm trên tàu đã thực hiện việc khởi động vật lý lò phản ứng. Ngày 17 tháng 3 năm 2009 đã bắt đầu các thí nghiệm neo đậu, từ 19 tháng 6 đến 10 tháng 7 cùng năm đã trải qua quá trình đầu tiên các thí nghiệm vận động, còn trong tháng 8 đã hoàn thành quá trình thứ 2 của chúng. Bằng cách này, Đề án 09550 trở thành Đề án tàu ngầm thế hệ thứ 4 của Nga.

Cả 2 thủy thủ đoàn của K-535 (mỗi thủy thủ đoàn 107 người, 55 sỹ quan) đã được tổ chức trong tháng 7 năm 2003 và trải qua huấn luyện từ tháng 1 năm 2004 đến tháng 6 năm 2006 trong trung tâm huấn luyện Hải quân ở Sosnovoi Bor. Chỉ huy thủy thủ đoàn đầu tiên là Thuyền trưởng cấp 1 K.B.Mitkin. Chỉ huy thủy thủ đoàn số 2 – Thuyền trưởng hạng 1 V.V.Shirin. Dự kiến, rằng tàu ngầm tuần dương sẽ gia nhập biên chế sư đoàn 31, hải đoàn tàu ngầm số 12 thuộc Hạm đội Phương Bắc với sự đóng quân ở vịnh Yagel, mà ở đó hiện tại đang có các tàu ngầm nguyên tử tên lửa tuần dương chiến lược 667BDRM. Đồng thời, có thể dự đoán, rằng số lượng lớn các tàu ngầm sau trong loạt được sử dụng cho Hạm đội Thái Bình Dương, ở đó trong thời điểm này đang có các tàu ngầm Đề án 667BDR – hầu như đã hoàn thành xong quá trình phục vụ của mình.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Ba, 2012, 07:53:17 pm
Tương ứng với các kế hoạch ban đầu, “Alecsandr Nevski” phải được hạ thủy tháng 11 năm 2010 và gia nhập biên chế năm 2011. Tuy nhiên, những sự phức tạp lớn, xuất hiện trong quá trình chế tạo tên lửa đạn đạo “Bulava” đã dẫn tới rằng, việc tiếp nhận tàu đầu tiên trong trang bị sẽ diễn ra trước năm 2011m còn việc bàn giao các tàu ngầm nguyên tử tên lửa tuần dương chiến lược còn lại cho Hải quân sẽ diễn ra trong thời hạn không xác định. Đồng thời, lên kế hoạch đóng thêm 5 tàu ngầm Đề án 09553 (955U) với thời gian gia nhập biên chế đến năm 2017.

Sự ảnh hưởng đáng kể tới hình dáng của tàu ngầm đã tác động sự cần thiết bố trí trên tàu 12 tên lửa đạn đạo hạng nặng khối lượng khởi động lớn 70 tấn mỗi tên lửa. Các công trình sư của Phòng thiết kế trung ương kỹ thuật Hải quân “Rubin” va chạm phải vấn đề đã từng phải giải quyết trên Đề án 941. Lượng choán nước lớn của tàu ngầm yêu cầu bố trí với sự hợp lý đảm bảo lượng mớn nước giới hạn, trong trường hợp ngược lại, nó sẽ trở thành không thể khai thác sử dụng trong các căn cứ Hải quân mà không có các công việc nạo vét đáy tương ứng trong các vị trí đóng quân và trên các luồng lạch. Đã có quyết định không chấp nhận bố cục nhiều thân không đúng tiêu chuẩn, tiếp nhận trên Đề án 941 trong việc sử dụng thiết kế hai thân cổ điển với sự bố trí hầm tên lửa sau tường ngăn các khí tài di động. Sự bố trí và thiết kế chung trong phần lớn tương ứng với Đề án 935 và 881. Toàn bộ phần mũi thân tàu bị chiếm phần lớn bởi ăng ten hình cầu trong tổ hợp thủy âm. Theo nguyên nhân này, các bánh lái đứng mũi được chuyển tới mui, còn các thiết bị ngư lôi được bố trí theo thành dưới góc gần bề mặt đường kính của tàu ngầm. Phần trước mui đồng thời có mặt nghiêng với dạng hình mũi tên góc 75 độ. Trong bộ phận mạn tàu có cánh đuôi cổ điển hình chữ thập (+). Thân trong được chia thành 9 khoang. Ba khoang đầu tiên với các vách ngăn nhẹ được bố trí dưới trạm trung tâm, buồng cho người ở, trang bị hỗ trợ và vũ khí. Sau đó là các khoang năng lượng (lò phản ứng và tuabin), khoang trang bị tổng hợp trên tàu và khoang trú ẩn ở mạn tàu. Khoang cứu nạn nổi được bố trí trong vách ngăn giữa khoang ngay sau các hầm tên lửa. Do kết quả đường kính thân ngoài lớn đã bố trí thành công các tên lửa kích thước lớn thực tế không có hình dạng “quan tài”, đặc điểm của tàu ngầm nguyên tử tên lửa tuần dương chiến lược Đề án 667BDR và 667BDRM, phải tiếp tục thể hiện cấp độ tiếng ồn thủy âm thấp của tàu ngầm nguyên tử. Sự giảm tiếng ồn tiếp theo là dạng hình thuôn, theo kế hoạch do kết quả tính toán tiếp nhận trong thân ngoài bằng vật liệu thiết kế polime khối lượng nhẹ.

Sự thay đổi lớn nhất trong thiết kế liên quan tới giải pháp về sử dụng sản phẩm dôi của tàu ngầm nguyên tử chưa được đóng xong thuộc thế hệ thứ 3 với sự trang bị lại tên lửa “Bulava”. Thiết kế hai thân đồng thời được tiếp nhận. Từ Đề án 971, tàu ngầm thừa hưởng thực tế không thay đổi toàn bộ phần mũi và mạn. Như vậy, 8 thiết bị ngư lôi 533mm và 650mm, đồng thời cửa vận chuyển ngư lôi được bố trí trong bộ phận mũi thân tàu. Ở đó, đồng thời có thiết bị phóng các khí tàu chống thủy âm (6 thiết bị). Dưới các thiết bị thủy âm là mũ chụp tổ hợp thủy âm  “Irtưs-Amfora-B”. Sau mũ chụp của nó bố trí các khí tài trong bánh lái đứng ở mũi. Tường ngăn các khí tài di động được giữ lại tính chất mặt nghiêng, nhưng do sự xuất hiện ở bộ phận mũi tàu của khoang ngư lôi đã được đưa đến gần bộ phận cong ngang giữa của tàu. Mặc dù vậy, tên lửa đạn đạo của tàu ngầm “Bulava” có kích thước nhỏ đáng kể, hơn các tên lửa thuộc tổ hợp D-31 và D-19UTTKh, Đề án 09550 giữ lại thượng tầng phát triển trong khu vực các hầm tên lửa, tuy nhiên, đường bao ngoài của nó không nhô lên ngoài giới hạn thân ngoài trong thiết kế thành tàu. Các hình dạng thủy lực học đều đặn hợp lý với sự bố trí đều từ thượng tầng đến mạn tàu, vốn có cho nguyên mẫu. Thùng cứu nạn nổi được lắp sau khoang tên lửa trong tường ngăn giữa khoang số 5 và 6. Độ rộng nhỏ tương đối của tàu, đồng thời thừa hưởng từ Đề án 971 và được giữ lại chiều dài mang cho “Borei” chiều dài lớn hơn theo so sánh với thiết kế ban đầu. Trong bộ phận mạn tàu có cánh đuôi hình chữ thập, còn ngay sau nó – tổ hợp động cơ với các động cơ phụt nước. Trong quá trình thiết kế lại, lượng choán nước nổi hầu như không thay đổi, còn lượng choán nước ngầm giảm xuống còn dưới 21 000 tấn.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Ba, 2012, 08:48:46 pm
Hình vẽ tàu ngầm Đề án 955

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/proekt-95532334.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/proekt-95511432.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/proekt-95532335.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/proekt-95532333.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Ba, 2012, 09:21:43 pm
Đề án 09551 khác với lớp tàu trước, trước hết, rằng việc đóng nó không sử dụng sản phẩm dư của các tàu ngầm khác. Toàn bộ các thiết kế thân tàu được làm mới. Ngoài ra, đã nỗ lực thực hiện việc loại bỏ nguồn cung cấp vật liệu từ các nước láng giềng. Hình dáng thân tàu chịu những sự thay đổi không đáng kể.

Một trong những điểm mới quan trọng hơn cả trên Đề án 955 là việc sử dụng động cơ phụt nước thay cho chân vịt. Nguyên tắc hoạt động của động cơ phụt nước trên cơ sở sử dụng để tăng cường sức đẩy của nước, tương đồng bơm trục dọc, bánh làm việc quay với số lượng cánh lớn và lắp sau phần tĩnh thay cho chân vịt 7 cánh với các cánh dạng lưỡi liềm. Toàn bộ động cơ, trong đó, có vòng đệm hình nhẫn. Rô to (khối quay) vặn dòng nước theo hướng quay của mình, còn sato mở vòng quay ngược lại. Kết quả, giảm đáng kể độ chênh áp suất, dẫn tới việc xuất hiện khí xâm thực, đặc biệt ở độ sâu nhỏ. Bằng cách này, được trang bị bằng động cơ phụt nước, tàu nhận được ngưỡng lớn hơn tốc độ xuất hiện xâm thực, xuất hiện trên cấp độ chung của tiếng ồn và có khả năng di chuyển trong thời gian trực chiến trên khoảng cách lớn, tăng cường khả năng triển khai chiến đấu, tạo ra sự phực tạp cho địch trong nhiệm vụ chống ngầm, bằng cách này, tăng cường khả năng chiến đấu của lực lượng hạt nhân Hải quân. Yếu tố chứng thực khác của động cơ phụt nước là giảm moment vặn của thân, có thể sử dụng bộ phận cân bằng diện tích nhỏ hơn. Mặt tiêu cực của động cơ này là hệ số hoạt động hiệu quả thấp trên tốc độ nhỏ, tuy nhiên không đáng kể về nguyên tắc đối với tàu ngầm nguyên tử. Vòng quay lớn của động cơ phụt nước theo so sánh với chân vịt yêu cầu làm lại thiết bị sản xuất hơi nước, theo hàng loạt các nguyên nhân không thể chấp nhận được. Vì vậy, trong sơ đồ dẫn động đã có lò phản ứng trung gian tăng cường, còn chiều dài khoang tuabin được kéo dài.

Ban đầu, trên Đề án 9555 dự kiến lắp thiết bị tổ hợp thủy âm “Irtưsh-Amfora-B” với ăng ten chính hình cầu, chiếm toàn bộ phần mũi tàu. Việc sử dụng bộ phận mũi tàu với các thiết bị ngư lôi từ Đề án 971 đã làm hạn chế đáng kể các kích thước của ăng ten, vì thế, khoang ăng ten được tính toán dưới ăng ten hình trụ thuộc tổ hợp thủy âm MGK-540 “Skat-3”. Năm 1997, trên cơ sở tổ hợp thủy âm “Irtưsh-Amfora” và được thiết kế từ năm 1991, tổ hợp thủy âm “Skat-3M” đã thiết kế phiên bản mang tính chất thỏa hiệp (trung gian) của tổ hợp để lắp trên Đề án 955, gồm có bộ phận ăng ten từ tổ hợp thủy âm “Skat-3M” với một số sự hoàn thiện bổ sung và bộ phận tổ hợp từ tổ hợp thủy âm “Irtưsh-Amfora”. Theo tính toán, trên tổ hợp “Skat-3” trong các biện pháp đáng kể đã sử dụng để thiết kế tổ hợp “Irtưsh”, sự trang bị tương ứng không có sự phức tạp đặc biệt và cho phép thực hiện như truyền thông tin từ ăng ten, cũng như bao với các bộ đổi tần số kỹ thuật số tương tự ngoài giới hạn thân ngoài. Trong thành phần tổ hợp đồng thời có ăng ten mang theo, ăng ten lai, đài thủy âm dò mìn, hệ thống thông tin liên lạc âm thanh ngầm, máy đo tiếng vọng của băng, máy đo tiếng dội… Trong quá trình thí nghiệm động lực, trên tàu đầu tiên đã phát hiện sự cố trong máy đo tiếng dội. Sau đó, bắt đầu từ đề án 09553, theo kế hoạch lắp tổ hợp thủy âm “Irtưsh-Amfora” trong sự đồng nhất với tàu ngầm nguyên tử đề án 855 và các kế hoạch ban đầu.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Ba, 2012, 09:24:29 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/proekt-95532325.jpg)

Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ nổi: 14 720

+ ngầm: 21 000

Chiều dài: 160 mét

Chiều rộng: 13,6 mét

Lượng mớn nước trung bình, mét: 9,7

Độ lặn sâu, mét

+ hoạt động hiệu quả: 380

+ giới hạn: 450

Tốc độ tối đa, hải lý

+ nổi: 15

+ ngầm: 29.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Ba, 2012, 09:25:30 pm
Một số ảnh tàu ngầm Đề án 955:

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/proekt-95532324.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/proekt-95532327.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/proekt-95511434.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/proekt-95532328.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Ba, 2012, 12:36:00 pm
Tàu tuần dương chống ngầm lớp “Moskva” – Đề án 1123 “Condor”

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1123_03.jpg)

Tổng số tàu đã đóng: 2+1.

Các biến thể

+ 1123 (lớp Moskva) – đề án cơ sở (1967)

+ 11233 (1123-M) – tàu thứ ba trong lớp với sự tăng cường đội máy bay (không được đóng hoàn toàn).

Với sự xuất hiện trong Hải quân NATO các tàu ngầm nguyên tử, trang bị tên lửa đạn đạo, được xem là sự đe dọa nghiêm trọng đối với Liên Xô, Hải quân Liên Xô đã xác định phương hướng thiên về hướng chống ngầm. Vào đầu những năm 1960, trong các chương trình chế tạo hải quân đại dương đã bắt đầu thiết kế các tàu chống ngầm lớn ở khu vực (tầm) xa với việc đóng trên tàu cụm các máy bay chống ngầm – trong giai đoạn này được đặt lên những hy vọng lớn. Trực thăng có thể hạ cánh một cách nhanh chóng trên boong tàu và đặt lên nó một trong số các nhiệm vụ chính – tìm kiếm (sục sạo) và tiêu diệt các tàu ngầm. Trong sự tương ứng với thắng lợi trong việc ưu tiên đóng tàu nổi chống ngầm vào đầu những năm 1960, công việc thiết kế đã bắt đầu, còn sau đó việc đóng các tàu đâu tiên với cụm căn cứ (bãi đáp) trực thăng – tàu chống ngầm tầm xa. Tuy nhiên, các nghiên cứu và thiết kế tàu tuần dương chở trực thăng đã được bắt đầu vào năm 1958 ở Phòng thiết kế Trung ương số 7, các viện thuộc Ủy ban nhà nước, Hải quân và Không quân.

Việc thiết kế các tàu Đề án 1123 (số hiệu “Condor”) đã bắt đầu ở Phòng thiết kế tại Nevski dưới sự chỉ đạo của A.S.Savichev (còn tổng số trong cuộc thi đua chế tàu tàu này đã có 24 thiết kế khác nhau). Từ phía Hải quân giám sát thiết kế ban đầu là Thuyền trưởng cấp 2 V.F.Fedin, còn sau đó là Thuyền trưởng cấp 2 I.O.Platonov. Quyết định bố cục hóa tàu bằng cách để tàu có thể mang vũ khí pháo và tên lửa, đồng thời boong rộng rãi cất – hạ cánh để đóng căn cứ cho trực thăng. Việc này về nguyên tắc là mới cho Hải quân Liên Xô. Như vào những năm 1930 theo bố cục kiến trúc – mạn tàu cho máy bay trên tàu tuần dương – vận tải máy bay “Gotland” của Thụy Điển (1934), tàu chủ lực – sân bay của Nhật được trang bị lại “Ise” và “Hyuga” (1943), tàu tuần dương – chở trực thăng Pháp “Janna D’ark” (1963), tàu tuần dương Italia “Andera Dorea” và “Kaio Duypio” (1964) – các công trình sư Liên Xô ở Phòng thiết kế Nevski một lần nữa đã thiết kế hình dáng thân tàu (sống đôi), giải quyết các nhiệm vụ khí động lực phức tạp, giải quyết hang ga dưới boong được kéo dài và khí tài kỹ thuật hàng không, bố cục khu vực cất – hạ cánh. Khu vực cất – hạ cánh được bắt đầu ngay sau ống khói và chiếm một nửa thân tàu.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Ba, 2012, 12:36:47 pm
Hình vẽ và bản vẽ thiết kế Đề án 1123:

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1123_15.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1123_16.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1123_2.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Ba, 2012, 01:06:22 pm
Khởi điểm (xuất phát) từ các nhiệm vụ chống ngầm, trên tàu Đề án 1123 đã lắp tổ hợp vũ khí và trang bị chống ngầm hoàn toàn: tổ hợp vũ khí tên lửa chống ngầm “Vikhr” với thiết bị phóng nổi hai dầm ở mũi, 2 thiết bị ngư lôi 5 ống phóng 533mm ở các cảng bốc dỡ lên thành tàu (sau đó chúng được tháo), 2 máy phóng bom phản lực RBU-6000 (ở mũi), tổ hợp thủy âm “Orion” với ăng ten trong mũ chụp dưới sống mũi và đài thủy âm lai “Vega”. Để bảo vệ tàu khỏi các cuộc tấn công đường không, trên tàu lần đầu tiên trong Hạm đội Liên Xô đã bố trí 2 tổ hợp tên lửa phòng không M-11 “Shtorm” (ở mũi theo sơ đồ tuyến – nâng cao) và 2 pháo phòng không 57mm tự động 2 nòng AK-725 với hệ thống điều khiển “Bars” (theo thành), đồng thời các pháo 30mm AK-230. Sự chiếu sáng tình trạng trên không đảm bảo bằng 2 đài ra đa định vị: “Voskhod” (tầm xa trên 500km) và “Angara-A” (130km). Các trực thăng chống ngầm Ka-25 được bố trí trên hang ga dưới boong, còn sự cất và hạ cánh của chúng trên boong dự kiến có 4 bãi đáp cho trực thăng chống ngầm, đồng thời 2 máy (thang) nâng 10 tấn.

Đài thủy âm của tàu với ăng ten di động dưới sống tàu trong mũ chụp và đài thủy âm chìm của các trực thăng Ka-25 cho phép phát hiện tàu ngầm của địch ở cự ly đáng kể, còn sau đó tiêu diệt chúng bằng bom chìm hoặc tên lửa chống ngầm với cơ số đạn đặc biệt.

Thiết bị tuabin hơi nước được mượn từ tàu tuần dương tên lửa Đề án 58, nhưng đã được thiết kế thêm. Đề án được phê duyệt vào tháng 3 năm 1961, và có lượng choán nước 9300 tấn cùng tốc độ 29 hải lý. Đến tháng 1 năm 1962, tàu được thay đổi một cách cơ bản để bố trí 14 trực thăng Ka-25 và Mi-8 ở hang ga dưới boong và 2 trực thăng trực chiến bố trí trên hang ga ở thượng tầng. Lượng choán nước hoàn toàn của tàu được tăng lên 15 000 tấn, tốc độ giảm xuống nửa hải lý.

Tàu đầu tiên của Đề án 1123 nhận tên gọi “Moskva” và chính thích được phân lớp thành tàu tuần dương chống ngầm, được đóng ở xưởng đóng tàu biển Đen và ban giao cho Hải quân năm 1967. Sau đó 2 năm sau tàu đầu tiên, xưởng đã bàn giao cho Hải quân tàu thứ 2, tàu tuần dương cùng lớp “Leningrad”. Điểm đặc biệt cần chú ý, rằng yêu cầu nhiệm vụ kỹ - chiến thuật được đặt ra cho các tàu này, về sự bố trí 14 trực thăng đã chỉ ra bị sai. Thực tế đây là nhược điểm chính – số lượng hạn chế đội máy bay, không đảm bảo giải quyết nhiệm vụ được giao trong khối lượng lớn. Ngoài ra, xuất hiện khả năng đi biển không đạt yêu cầu trong các điều kiện bão, gây ra bởi đường bao hoàn toàn của mạn tàu và sự tạo thành hình chữ U của khung mũi (đồng thời, đây cũng là nhược điểm vốn có của các tàu khu trực trước chiến tranh Đề án số 7). Tàu rõ ràng không đủ dài cũng như có thể nói không được vũ trang bằng mắt. Trong nửa sau những năm 1960, khi quan điểm của lãnh đạo về tàu nổi Hải quân đã được thay đổi theo hướng thuận lợi, việc này cho phép tìm ra sự phản chiếu về hiệu chỉnh đề án tàu tuần dương “Moskva”. Trang bị pháo của tàu Đề án 1123 đồng thời cũng có nhược điểm – tổng cộng 2 thiết bị pháo cỡ nhỏ, cho phép yểm trợ tàu trong chiến trường với các tàu khu trục của địch trong thời gian đó.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Ba, 2012, 01:17:20 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1123_14.jpg)

Tàu tuần dương chống ngầm lớp “Moskva” (Đề án 1123)

Lượng choán nước: 11 000 – 13 300 tấn

Tốc độ: 29 hải lý

Vũ khí: 14 trực thăng chống ngầm và tìm kiếm – cứu nạn Ka-25 (4 bãi cất – hạ cánh, 2 thang nâng trực thăng), 1 thiết bị phóng đôi cho tên lửa chống ngầm “Vikhr”, 2 máy phóng bom phản lực RBU-6000, 2 thiết bị pháo phòng không nòng đôi 57mm; 2 thiết bị ngư lôi 5 ống phóng 533mm

Công suất thiết bị động lực: 90 000 sức ngựa

Tầm bơi xa: 18 hải lý – 6000 dặm

Chiều dài: 190 mét

Chiều rộng: 35 mét

Lượng mớn nước: 9 mét

Thủy thủ đoàn: 541 người (cùng phi công – 840 người)

Các số trên hình vẽ

1.Máy phóng bom RBU-6000

2.Tổ hợp tên lửa chống ngầm “Vikhr”

3.Tổ hợp tên lửa phòng không “Shtorm”

4.Ăng ten ra đa định vị đạo hàng “Don”

5.Ăng ten đài ra đa định vị điều khiển bắn “Shtorm”

6.Ăng ten khí tài chống ra đa định vị

7-9.Ăng ten ra đa định vị

10. Các pháo 57mm

11. Các thiết bị ngư lôi

12. Các trực thăng Ka-25

13.Trạm chỉ huy khởi động

14.Bãi đáp cất – hạ cánh

15.Các thang nâng trực thăng.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Ba, 2012, 01:39:25 pm
Các biến thể

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1123_12.jpg)

Tàu thứ 3 trong lớp, nhận số hiệu Đề án 11233 (trong một số nguồn là 1123-M), được khởi công với chiều dài được tăng cường lên 12 mét, để đảm bảo sự tăng cường tính không chìm, khả năng cơ động trên biển và cho người ở, còn mục tiêu chính – tăng cường số lượng máy bay. Tuy nhiên, sự phát triển số lượng trực thăng đã tạo ra vấn đề mới – sự cần thiết tăng cường số lượng bãi đáp trực thăng trên boong từ 4 lên 6, và ngoài ra, các bãi đáp riêng tương tự dành cho các trực thăng tìm kiếm – cứu nạn trực chiến. Khi tăng cường kích thước tàu, một lần nữa “thò ra” toàn bộ các nhược điểm trước đó của thiết kế, yêu cầu thiết kế lại căn bản. Ưu điểm chỉ có một: bố trí 7 bãi đáp trực thăng trên boong trên 1 hàng, tạo thành boong bay “dải” hay tiếp nhận thuật ngữ nước ngoài là boong bay “xuyên”, với mục đích tiết kiệm chiều dài tổng thể của tàu, đã thiết kế tiếp nối bộ phận mũi – chứa vũ khí dưới góc nghiêng không lớn 4-5 độ. Vì thế gần như ngay sau khi khởi công, tàu tuần dương chống ngầm Đề án 11233 đã bị tháo ngay trên ụ, thay thế cho nó là tàu sân bay thế hệ mới Đề án 1143.

Trong thời gian phục vụ, tàu tuần dương chống ngầm “Moskva” đã chịu sự nâng cấp không lớn. Trên tàu đã thí nghiệm cố định boong cất cánh. Vào 18 tháng 11 năm 1972, tàu tuần dương đã tiếp nhận loạt máy bay đầu tiên cất cánh thẳng đứng Yak-38, sau đó là tiếp nhận vào trang bị như là vũ khí chính của tàu tuần dương tên lửa chở máy bay hạng nặng Đề án 1143.

Trong năm 1975-1976, trong giai đoạn sửa chửa nổi ở xưởng đóng tàu biển Đen, trên tàu tuần dương chống ngầm “Moskva” đã lắp 2 đài dẫn bắn tên lửa hiện đại hơn “Grom-M” (thay cho “Grom” trước đó), đài ra đa định vị mới MR-600 (“Voskhod”), hệ thống MVU-201 (“Koren”), tháo hệ thống chữa cháy bằng bọt nhiều lần và thay bằng khí tài chống tác chiến điện tử. Đã tháo 2 thiết bị ngư lôi, mà xuất hiện trong sự phối hợp với tổ hợp tên lửa chống ngầm “Vikhr-1” trở nên không cần thiết, còn chỗ cắt ở thành được hàn từng phần, còn vị trí của thiết bị ngư lôi được trang bị thành khoang bổ sung cho người ở. Năm 1977-1978, các công việc tương tự được thực hiện ở xưởng đóng tàu biển Đen trên tàu tuần dương chống ngầm “Leningrad”.

Vào giữa những năm 1980, tổ hợp pháo phòng không 30mm AK-230 được tháo khỏi các tàu tuần dương, còn vị trí của chúng là các thiết bị phóng đôi cho các loại nhiễu thụ động kiểu PK-2.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Ba, 2012, 01:53:27 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1123_11.jpg)

Chương trình đóng tàu

Các tàu tuần dương chống ngầm Đề án 1123 được đóng ở xưởng đóng tàu biển Đen số 198 ở Nicolaev. Tàu đầu tiên – “Moskva” – khởi công năm 1962 và gia nhập biên chế năm 1967. Tàu thứ 2 và cuối cùng trong Đề án – “Leningrad” – gia nhập biên chế năm 1969. Tàu thứ 3, được khởi công theo Đề án biến theer11233 bị tháo trên ụ năm 1969 gần như ngay sau khi khởi công.

Tình hình đến năm 2006

Cả 2 tàu tuần dương đều gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen. “Leningrad” sau hai lần đại tu đã kết thúc sự phục vụ vào năm 1991, còn “Moskva” được đưa vào lực lượng dự bị năm 1983, còn bị loại – năm 1987.

Ở trong khu vực sẵn sàng chiến đấu, tàu tuần dương chống ngầm “Moskva” năm 1974, còn “Leningrad” – 1970, những năm 1971-1972 và 1974 đã thực hiện nhiệm vụ chiến đấu theo mệnh lệnh hỗ trợ quân đội Ai Cập. Ngoài ra, “Leningrad” trong năm 1974 là tàu chỉ huy trong đội tàu gỡ mìn kênh đào Sue. Đối với việc này, tàu tuần dương mang trên boong trên 2 máy bay trực thăng “lục quân” Mi-8 (chúng không bố trí trên thang nâng, còn Ka-25 không đảm bảo sự cần thiết các tính năng kéo), thực hiện việc quét mìn với sự hỗ trợ của lưới kéo quét mìn tổng hợp trên các cánh ngầm VNT-1.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Ba, 2012, 12:15:30 pm
Tóm tắt lịch sử phục vụ

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1123_24.jpg)

+ “Moskva” (số hiệu xưởng 701); từ năm 1995 là PKZ-108; khởi công 15 tháng 12 năm 1962 ở xưởng đóng tàu biển Đen số 198; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 27 tháng 1 năm 1965; hạ thủy 14 tháng 1 năm 1965; gia nhập biên chế 25 tháng 12 năm 1967; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Biển Đen 10 tháng 1 năm 1968; năm 1972 trải qua nâng câp để đảm bảo các thí nghiệm cho máy bay cất cánh thẳng Yak-38; từ 1 đến 30 tháng 3 năm 1974 ở trong khu vực sẵn sàng chiến đấu, thực hiện nhiệm vụ trực chiến theo mệnh lệnh hỗ trợ các lực lượng vũ trang Ai Cập; từ 8 đến 13 tháng 4 năm 1978 thực hiện chuyến thăm Algieri; 12 đến 18 tháng 6 năm 1982 – tới Luanda (Angola) và 25 tháng 6 đến 2 tháng 7 năm 1982 – tới Lagos (Nigeria); tháng 11 năm 1983 đưa vào lực lượng dự bị; năm 1995 phân loại lại thành doanh trại nổi; 7 tháng 11 năm 1996 trên tàu đã hạ cờ; 10 tháng 11 năm 1996 tháo vũ khí, loại khỏi biên chế Hải quân; năm 1997 bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ và giải thể.

+ “Leningrad” (số hiệu xưởng 702); khởi công 15 tháng 1 năm 1965 ở xưởng đóng tàu biển Đen số 198; hạ thủy 31 tháng 7 năm 1965; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 24 tháng 1 năm 1967; gia nhập biên chế 2 tháng 6 năm 1969; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Biển Đen 9 tháng 7 năm 1969; 1 đến 31 tháng 5 năm 1970; từ 1 tháng 12 năm 1971 đến 30 tháng 6 năm 1972 và 15 tháng 6 đến 6 tháng 12 năm 1974 nằm trong khu vực chiến đấu, thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu theo mệnh lệnh hỗ trợ quân đội Ai Cập; 4 tháng 8 đến 14 tháng 10 năm 1974 là tàu chỉ huy đội tàu phá mìn kênh đào Sue; 19 đến 23 tháng 11 năm 1974 đã thăm Dakar (Senegal); 14 đến 19 tháng 10 năm 1976 – tới Split (Nam Tư); 27 tháng 9 đến 1 tháng 10 năm 1981 – tới El Dzhazair (Algieri) và 26-30 tháng 3 năm 1984 – tới Havana (Cuba); từ 12 tháng 5 năm 1977 đến 6 tháng 10 năm 1978 và từ 3 tháng 2 năm 1986 đến 11 tháng 12 năm 1987 trải qua đại tu ở “Sevmorzavod” tại Sevastopol; tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân 24 tháng 6 năm 1991 trong thông tin bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; giải thể 31 tháng 12 năm 1991.

+ “Kiev” (số hiệu xưởng 703); khởi công ở xưởng đóng tàu biển Đen số 198 tháng 10 năm 1968; tháng 12 năm 1968, đơn đặt hàng bị phá hủy; bị tháo ngay trên xưởng từ tháng 1 năm 1969.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Ba, 2012, 12:25:08 pm
Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 14 900

+ hoàn toàn: 17 500

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 189,1 (176)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 34 (21,5)

+ lượng mớn nước lớn nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 8,06 (7,5)

+ các kích thước hang ga trực thăng: 50x22x5,8

Thiết bị năng lượng chính: nồi hơi tuabin

+ 4 nồi hơi nước KVN-98/64, 2 thiết bị tuabin răng cưa chính TV-12, tổng công suất, sức ngựa (kW): 90 000 (66 100)

+ các máy phát điện diezel, công suất (kW): 2x –

+ các máy phát điện tuabin, công suất (kW): 2x –

2 trục, 2 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ nổi: 29

+ dự bị: 13,5

Tầm bơi xa, dặm (ở tốc độ, hải lý)

+ 4500 (28)

+ 6000 (18)

+ 14 900 (13,5)

Thời gian hoạt động: 15 ngày

Thủy thủ đoàn (sỹ quan): 700  (130).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Ba, 2012, 12:31:51 pm
Vũ khí

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1123_17.jpg)

Hàng không

+ trực thăng Ka-25PLO/PS (chống ngầm – tìm kiếm cứu nạn – “HormoneA/C”): 14

+ bãi đáp trực thăng/thang nâng: 4/2

Tên lửa chống ngầm

+ thiết bị phóng MS-18 của tổ hợp tên lửa chống ngầm “Vikhr” (SUW-N-1): 1x2

+ tên lửa chống ngầm 82-E (FRAS-1): 8

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng B-187A thuộc tổ hợp tên lửa phòng không M-11 “Shtorm”: 2x2

+ tên lửa phòng không V-611 (SA-N-3 “Goblet”): 96

Pháo

+ thiết bị pháo 57mm AK-725: 2x2

+ tổ hợp pháo 30mm AK-230 (sau đó được tháo): 2x2

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm PTA-53-1123 (sau đó được tháo): 2x5

Chống ngầm

+ RBU-6000 (khí tài phóng bom phản lực) “Smerch-2”: 2x12

+ cơ số đạn RGB-60: 144.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Ba, 2012, 12:42:37 pm
Trang bị vô tuyến điện

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1123_18.jpg)

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Koren”

Đài ra đa định vị MR-600 “Voskhod” (Top Sail): 1

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: 1xMR-310 “Angara-A” (Head Net C)

Ra đa định vị đạo hàng: 3x”Vaigach” (Don-II)

Đài thủy âm

+ tổ hợp thủy âm “Orion” (Moose Jaw)

+ đài thủy âm lớn “Vega” (Mare Tail)

Các khí tài chống tác chiến điện tử

+ “Gurzuv (-1)” (8 Side Globe) – nhiễu chủ động

+ “Zaliv”

+ (2 Bell Clout; 2 Bell Slam; 2 Bell Tap; 2 Top Hart)

Tổ hợp bắn nhiễu : 2x2 thiết bị phóng PK-2 (được lắp thay cho AK-230 đã bị tháo)

Các khí tài quang điện

+ 2xMT-45 (Tee Plinth)

+ 3x(Tiit Pot)

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ 2x”Grom” (Head Light A) đối với tổ hợp tên lửa “Shtorm”

+ 2xMR-103 “Bars” (Muff Cob) đối với thiết bị pháo

Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài

Đài ra đa định vị hội thoại nói: “Nikel-KM” và “Khrom-M” (High Pole A và B).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Ba, 2012, 01:12:34 pm
Tàu tuần dương hạng nặng mang máy bay lớp “Kiev” – Đề án 1143 “Krechet”

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1143_03.jpg)

Tổng số tàu đã đóng: 3

Các biến thể

+ 1143 (lớp Kiev) – đề án cơ sở (1975)

+ 11433 (1143-M) – tàu thứ 3 trong lớp, được đóng theo Đề án được hiệu chỉnh (1985)

+ 11434 (biến thể của Kiev) – tàu thứ 4 theo thành phần vũ khí mới, lắp đài ra đa định vị với ra đa mảng pha (1987)

+ 11435 (lớp Kuznetsov) – tàu thứ 5, thực tế là tàu sân bay với vũ khí mới (1990).

Kinh nghiệm chế tạo và khai thác sử dụng các tàu tuần dương chóng ngầm đầu tiên thuộc Đề án 1123 đã yêu cầu chế tạo tàu hiện đại hơn cho lớp này. Trước hết, để đảo bảo thực hiện hiệu quả nhiệm vụ được giao cho các tàu tuần dương chống ngầm yêu cầu tăng cường số lượng nhóm máy bay trên tàu, tăng cường vũ khí, tăng cường chất lượng cơ động trên biển và tăng sự bố trí thủy thủ đoàn.

Tàu tuần dương chở trực thăng chống ngầm thứ 3 với sự tăng cường thành phần vũ khí, tăng cường tầm bơi xa và hàng loạt sự hiện đại hóa (Đề án 1123 và 1123-M) theo kế hoạch khởi công ở xưởng đóng tàu biển Đen ở Nicolaev tháng 2 năm 1968, nhưng mặc dù vậy, xưởng đã tiến hành các công việc chuẩn bị sản xuất tương ứng và thậm chí đã kịp chế tạo một số khối bộ phận đáy của tàu tuần dương chống ngầm mới, sự khởi công của nó trong xưởng không được thực hiện. Nguyên nhân chính của việc này là ý định của chỉ huy Hải quân trang bị cho tàu tương lai các máy bay cất và hạ cánh thẳng.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Ba, 2012, 01:14:05 pm
Bản vẽ thiết kế tàu tuần dương Đề án 1143:

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1143_84.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1143_3.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1143_2.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Ba, 2012, 01:17:23 pm
Hình vẽ tàu ngầm tuần dương chống ngầm Đề án 1143:

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1143_85.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1143_86.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Ba, 2012, 01:23:27 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1143_14.jpg)

Tàu chở máy bay hạng nặng “Kiev” Đề án 1143

Lượng dãn nước: 42 000 tấn

Tốc độ: 30 hải lý

Vũ khí

+ 24 khí tài bay: (Yak-38, Ka-25)

+ 4x2 thiết bị phóng tên lửa có cánh “Bazalt” (8 tên lửa)

+ 2x3 tổ hợp tên lửa phòng không “Shtorm”

+ 2x3 tổ hợp tên lửa phòng không “Osa”

+ 2x2 76 thiết bị pháo đa năng (pháo 76mm 2 nòng)

+ 8 pháo bắn nhanh 6 nòng AK-630

+ 2 khí tài phóng bom phản lực RBU-6000

Công suất thiết bị động lực: 180 000 – 200 000 sức ngựa

Tầm bơi xa: 8000 – 13 500 dặm (phụ thuộc vào tốc độ)

Chiều dài: 274 mét

Chiều rộng: 32,7 mét (với boong góc – 47,2 mét)

Lượng mớn nước: 10 mét

Các kích thước boong cất – hạ cánh: 189x20,7

Thủy thủ đoàn: 1300 người.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Ba, 2012, 12:23:22 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1143_59.jpg)

Ý kiến về các khả năng của máy bay cất cánh thẳng của các chuyên gia là không đồng nhất. Các hãng sản xuất máy bay Đức và Pháp chỉ hạn chế ở các tiêu bản thí nghiệm. Đạt được thành công lớn nhất là người Anh. Các chuyên gia và giới quân sự phương Tây trong hàng loạt các trường hợp đã nhìn thấy ở máy bay cất – hạ cánh thẳng nhiều sự hứa hẹn và giá thành rẻ hơn các loại máy bay có thiết kế sơ đồ khí động học cổ điển, với sự cất và hạ cánh ngang. Mặt khác, bản thân các loại máy bay này vẫn còn rất nhiều điểm không hợp lý – khả năng độc nhất của nó – cất và hạ cánh thẳng đứng đạt được nhờ sự giảm đáng kể các tính tăng kỹ thuật – bay khác. Ở Liên Xô, ý kiến tiếp nhận máy bay cất – hạ cánh thẳng đứng như máy bay trên boong được khởi xưởng từ D.F.Ustinov, trong thời gian này là thư ký Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô về công nghiệp quốc phòng. Đối với Tư lệnh Hải quân Liên Xô, Thống chế S.G.Gorshkov những khả năng hạn chế của máy bay cất – hạ cánh thẳng không phải bí mật, nhưng ông không phản bác lại. Viễn cảnh tiếp nhận các tàu sân chở máy bay trong hạm đội thậm chí với lượng choán nước không lớn đã được chuẩn bị đầy đủ, bởi vì đã xuất hiện khả năng thật sự về việc cần thiết xây dựng Không quân cho Hải quân.

Ngày 28 tháng 12 năm 1967, tiếp nhận mệnh lệnh từ Hội đồng Bộ trưởng Liên xô về chế tạo trên cơ sở Yak-36 máy bay cường kích hạng nhẹ trên tàu Yak-36M. Khi đó, trong sự đảm bảo các khả năng đóng căn cứ của máy bay cất – hạ cánh thẳng đứng trên boong tàu được giao cho Phòng thiết kế - thí nghiệm Nevski năm 1968 hiệu chỉnh Đề án 11233 (Tổng công trình sư – A.V.Marinich). Các thiết kế sơ bộ khả năng bến đỗ của máy bay cất – hạ cánh thẳng trên tàu tuần dương chống ngầm đã kết thúc trước khi mệnh lệnh được đưa ra – tháng 9 năm 1967.

Hiểu theo cách khác với sự hiệu chỉnh Đề án 11233 – các thí nghiệm kết hợp đã dẫn đến kết quả rõ ràng: mặc dù có sự hạn chế từ phía Hải quân về khối lượng lượng choán nước tiêu chuẩn ở 15 000 tấn, lãnh đạo Hải quân đã đưa ra toàn bộ các têu cầu mới trong bộ phận các nhiệm vụ mà tàu tuần dương chống ngầm sẽ giải quyết. Tàu hiện tại không chỉ đảm bảo sự tìm kiếm và tiêu diệt tàu ngầm mà còn thực hiện các cuộc tấn công đường không vào các mục tiêu nổi và trên bộ. Sau đó đồng thời tham gia thành công trong các chiến dịch đổ bộ, yêu cầu tăng cuowgn số lượng khí tài bay lên 20-22 đơn vị, tăng cường vũ khí phòng không (các pháo tự động 30mm), bổ sung trong các mục tiêu tăng cường khả năng chiến đấu cho tàu tuần dương chống ngầm cần thiets tìm vị trí cho các thiết bị phóng tổ hợp tên lửa có cánh chống ngầm “Malakhit”. Nhưng Đề án 11233 với cái nhìn thoáng hơn theo các khả năng của nó, đảm bảo khối lượng và trữ lượng đảm bảo năng lượng.

Kết quả là bằng Mệnh lệnh của Nhà nước từ 2 tháng 9 năm 1968 số 685-251 đã tiếp nhận đề xuất kết hợp của Bộ Quốc Phòng và bộ Công nghiệp Quốc phòng về dừng đóng tàu ở xưởng đóng tàu biển Đen tại Nicolave theo Đề án 11233 và bắt đầu đóng tàu tuần dương chống ngầm “Kiev” với vũ khí hàng không theo Đề án mới 1143.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Ba, 2012, 12:24:46 pm
Sự bố trí các hệ thống vô tuyến điện trên các thượng tầng tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng Đề án 1143 và 11433

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1143_7.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Ba, 2012, 12:46:05 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1143_04.jpg)

Các tàu lớp này sẽ được giao thực hiện những nhiệm vụ sau:

+ yểm trợ đội các tàu khỏi sự tấn công từ trên không, đảm bảo chống tàu và chống ngầm

+ đảm bảo khả năng chiến đấu của các tàu ngầm nguyên tử tên lửa tuần dương chiến lược trong các khu vực tuần tra chiến đấu

+ đảm bảo sự triển khai các tàu ngầm

+ yểm trợ các máy bay chở tên lửa, chống ngầm và trinh sát trong khu vực hoạt động hiệu quả của các máy bay tiêm kích trên boong

+ sục sạo và tiêu diệt các tàu ngầm tên lửa của địch trong biên chế cụm các lực lượng chống ngầm khác nhau

+ tiêu diệt cụm các tàu nổi của địch

+ Đảm bảo sự đổ bộ cho Hải quân đánh bộ.

Theo Mệnh lệnh được giao: cho Bộ Quốc phòng đưa ra nhiệm vụ kỹ - chiến thuật trong thời gian cấp tháng cho thiết kế tàu; Bộ Công nghiệp Quốc phòng – nghiên cứu đề xuất của Bộ Quốc phòng năm 1968 đề án sơ bộ và năm 1969 – đề án kỹ thuật tàu tuần dương chống ngầm Đề án 1143. Tầm quan trọng lớn đối với việc giám sát thời gian ddaongs tàu trong thời gian này được chuẩn bị ở xưởng đóng tàu biển Đen. Vì thế, Phòng Thiết kế - thí nghiệm Nevski đã bắt đầu thiết kế đề án sơ bộ tàu mới trước khi mệnh lệnh được đưa ra.

Theo sáng kiến của A.V,Marinich, trong các khuôn khổ thiết kế sợ bộ đã thiết kế tổng cộng 9 phiên bản Đề án (I-IX), 6 trong số chúng – tương ứng với nhiệm vụ kỹ - chiến thuật và 3 theo sáng kiến. Các đề án đầu tiên khác nhau bởi bố cụ kiến trục, sự phân bố vũ khí, máy móc và trang thiết bị, khối lượng bảo vệ thiết kế và một cách tương ứng – các thời hạn đóng và giá thành. Ngoài ra, Phòng thiết kế - thí nghiệm Nevski còn thực hiện 32 thiết kế riêng để đánh giá các khả năng thay thế một vài mẫu vũ khí hiện đại hơn.

Theo các kết quả nghiên cứu cho thiết kế sau đó đã chọn phương án 1 như là phiên bản tối ưu nhất. Các phiên bản còn lại, hoặc yêu cầu kinh phí lớn (và thời gian) và các thiết kế mới (các máy phóng, máy là hàng không, rào chắn khẩn cấp, các máy bay cất cánh bằng máy phóng…). Hoặc không đảm bảo điều kiện đỗ các khí tài bay, còn nguyên nhân chính – không cho phép kéo dài thời gian đóng tàu.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Ba, 2012, 12:09:58 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1143_05.jpg)

Ngày 16 tháng 10 năm 1968, Tư lệnh Hải quân đã phê duyệt nhiệm vụ kỹ - chiến thuật về thiết kế tàu tuần dương chống ngầm với vũ khí thuộc Không quân Đề án 1143 (mã số “Krechet”). Với sự tính toán trong quá trình nghiên cứu đề án sơ bộ đã đề xuất và bổ sung, tiếp nhận quyết định về giảm thể tích bảo vệ thiết kế, thay thế sự đề xuất trước đó bằng sự bố trí trên tàu tên lửa chống tàu có cánh “Malakhit” (P-120) bằng tổ hợp “Bazalt” (P-500), lắp các khí tài thông tin liên lạc vô tuyến, đồng thời tăng lượng choán nước lên 28 000 tấn. Mùa hè năm 1969, trên cơ sở các đề xuất của Viện nghiên cứu – thiết kế Nevski về bố trí các tên lửa “Bazalt” (tổ hợp khí đó còn nằm trong giai đoạn thiết kế để trang bị lại cho tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh Đề án 675), Hải quân và Bộ Công nghiệp quốc phòng đã có quyết định riêng tăng lượng choán nước lên 29 000 tấn.

Đề án kỹ thuật 1143 được thiết kế trong thời gian rất gấp và được phê duyệt bởi Hải quân và Bộ Công nghiệp quốc phòng 30 tháng 4 năm 1970. Các phần tử chính của tàu và biện pháp đảm bảo việc đóng tàu được phê duyệt vào tháng 2 năm 1971. Tàu tuần dương chống ngầm mới với sự diu chuyển nhóm khí tài bay về thành bên phải bảo thượng tầng, boong bay với khoảng chìa của dầm được nghiên cứu rất hiệu quả và thuận lợi trong sự khác biệt với các tàu lớp trước.

Vũ khí pháo – tên lửa và chống ngầm nằm ở bộ phận mũi, đồng thời sau thượng tầng. Các khí tài thuộc tổ hợp tên lửa phòng không tầm trung “Shtorm” và các thiết bị pháo đa năng 76mm được bố trí theo 1 ở mũi và 1 ở mạn trước và sau thượng tầng, còn 2 tổ hợp tên lửa phòng không tầm gần lớp “Osa-M” – hình thoi theo các thành bên trái và bên phải thượng tầng, tương ứng ở mũi và mạn tàu. Sự bố trí các pháo 30mm theo chu vi cho phép thực hiện bắn vòng các mục tiêu trên không. Các thiết bị ngư lôi bố trí trong các lỗ châu mai – mặt cắt đóng kín theo thành (tương tự như trên tàu tuần dương chống ngầm Đề án 1123).

Sự chú ý tập trung vào thiết bị pháo đa năng có cỡ nòng khiêm tốn – 76,2mm. Trong ý nghĩa rõ ràng, đây là bước bắt buộc, đơn giản là không có mệnh lệnh chế tạo khác, còn các loại pháo đa năng hiện đại hơn 100mm và 130mm còn đang trong quá trình thiết kế. Kết quả là theo bộ phận vũ khí pháo mới, lớn nhất trong Hải quân Liên Xô tương ứng trên các tàu chống ngầm loại lớn Đề án 61 và Đề án 1134-B. Mặc dù vậy, trong cơ sở đã được xác định, rằng việc sản xuất thiết bị pháo loại này đã được đưa vào sản xuất hàng loạt và chúng có thể được bàn giao đúng thời hạn.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Ba, 2012, 12:45:55 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1143_23.jpg)

Sự thay đổi đáng kể hướng vào trang bị vô tuyến điện. Trong khi duy trì nhiều hệ thống trước đó (M-600, “Gurzuf”, “Orion”…), các tàu Đề án 1143 đã nhận hàng loạt các hệ thống thông tin liên lạc và điều khiển tầm xa mới, hiện đại hơn, bộ phận lớn mà trong đó chưa được tiếp nhận từ công nghiệp. Ví dụ, đài ra đa định vị 3 tọa độ cũ chiếu sáng (làm rõ) tình trạng trên không “Angara” được thay thế bằng đài “Fregat” hiện đại hơn. Đồng thời, lần đầu lắp trên tàu đầu tiên, thí nghiệm và tiếp nhận vào trang bị các tổ hợp thông tin liên lạc “Taifun-1” (“Typhoon-1”), “Tsunami-BM”, tổ hợp đạo hàng “Salgir-1143”, hệ thống điều khiển “Kaspi”, các hệ thống “Privod-SV”, “Aist-K”, “Lazur”, tổ hợp tiến công chính “Uragan-1143” – tổng cộng 24 các khí tài và hệ thống mới.

Việc thiết kế tàu mới đi kèm với giải quyết hàng loạt các vấn đề phức tạp, như chế tạo thiết kế không cột che hang ga có điện tích gần 3000m2, đặc biệt là thiết kế che chắn, chịu nhiệt của boong bay, bảo vệ nó khỏi tác động của các luồng khí nhiệt độ cao (hơn 1000 độ) cho máy bay cất cánh thẳng đứng, chế tạo và lắm các mũ chụp chắc chắn và trong suốt của trạm ăng ten đài thủy âm đường kính 8,4 mét, đảm bảo an toàn cháy nổ và phục vụ khai thác sử dụng vũ khí không quân, điều chỉnh dòng khong khí trên boong trên (để tạo điều kiện thuận lợi cho việc cất và hạ cánh).

Năm 1972, xưởng theo tài liệu của Phòng thiết kế - thí nghiệm Nevski đã chế tạo và xây dựng trên sân bay thuộc viện nghiên cứu bay khoang ngoài trời của tàu với sự có mặt của bãi đáp cất – hạ cánh. Trên đó bố trí máy bay Yak-36M và tiến hành loạt các thí nghiệm động cơ để xác định sự tác động nhiệt và động lực của luồng khí vào boong, đồng thời đo cấp độ tiếng ồn trong các khoang dưới boong. Lần khởi động đầu tiên đã làm cong nặng thiết kế thép trên boong bề mặt khoang, các thí nghiệm đã bị dừng lại. Vấn đề cách nhiệt được quyết định nghiên cứu khẩn trương. Có sự hỗ trợ của Viện nghiên cứu toàn Liên bang về vật liệu hàng không – Viện đã thiết kế màn phủ chịu nhiệt kiểu AK-9F.

Sự xuất hiện trên thành tàu tuần dương chống ngầm Đề án 1143 số lượng lớn khí tài không đặc thù dành cho tàu sân bay như tên lửa, pháo, tổ hợp chống ngầm được sử dụng để giải quyết các nhiệm vụ chiến đấu khác nhau, đã xác định trước hình dạng đặc thù “lai” của cấu trúc tàu.

Hệ thống tổ hợp thân tàu theo toàn bộ chiều dài bố trí dọc, trong các phần cuối tàu – ngang. Thân tàu và hai tầng dưới của thượng tầng dưới thứ 9 được chế tạo từ thép AK-25 (dày 30mm) và AK-27 (dày hơn 35mm). Thượng tầng, bắt đàu từ tầng số 3 trở lên được chế tạo từ AMg. Toàn bộ bề mặt đứng của thượng tầng, ống khói và thân tàu được thiết kế theo góc nghiêng (10 độ) để giảm tối đa độ lớn phản xạ ra đa định vị mà kết quả là lộ vị trí của tàu. Cần nói rằng, sự tiếp nhận khi đó bởi các chuyên gia Phòng thiết kế - thí nghiệm Nevski đã giải quyết hàng loạt trường hợp dự đoán trước công nghệ “stealth” mà hiện này thu hút nhiều sự chú ý ở Phương Tây.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Ba, 2012, 12:49:34 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1143_30.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1143_31.jpg)

Bộ phận mũi tàu tuần dương chống ngầm "Kiev" Đề án 1143. Nhìn thấy rõ thiết bị phóng của tổ hợp tiến công "Uragan-1143" và cần cẩu nâng tên lửa. Gần nóc hầm là tổ hợp tên lửa phòng không "Osa-M" không có khí tài nắm (chỉnh thẳng) dòng không khí được lắp sau đó vào năm 1976


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Ba, 2012, 12:57:53 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1143_6.jpg)

Sơ đồ bố cục tàu tuần dương chống ngầm “Kiev”

1.Buồng đài thủy âm lai “Platina”

2.Hang ga

3.Kho nhiên liệu máy bay

4.Thiết bị pháo 76mm AK-726

5.Các thiết bị phóng B-189 thuộc tổ hợp tên lửa phòng không điều khiển “Shtorm-M”

6.Trạm chỉ huy – khởi động

7.Các ăng ten hệ thống điều khiển hỏa lực “Turel”

8.Các trạm ăng ten hệ thống điều khiển “Grom”

9.Ăng ten của đài ra đa định vị “Fregat”

10.Ăng ten đèn vô tuyến phương vị “Privod-SV”

11.Ăng ten đài ra đa định vị “Voskhod”

12.Thiết bị pháo 30mm AK-360

13.Hầm chứa tên lửa phòng không điều khiển “Shtorm-M”

14.Hầm tên lửa tổ hợp “Uragan-1143” (P-500)

15.Thiết bị phóng tổ hợp tên lửa chống tàu “Vikhr”

16.Thiết bị phóng bon RBU-6000

17.Mũ chụp đài thủy âm “Orion”

18.Mũ chụp cố định đài thủy âm “Platina”

19.Các khoang năng lượng

20.Khoang máy – nồi hơi

21.Khoang máy chống rung.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Ba, 2012, 05:45:56 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1143_24.jpg)

Thân tàu tuần dương có 18 tường ngăn không thấm nước ngang và 2 tường ngăn dọc. Trong bộ phận giữa có 6 boong và 2 nền. Bố trí trực tiếp trên hang ga là buồng máy; đồng thời có kho chứa đạn của máy bay và hần tên lửa của tổ hợp tiến công chính trang bị hệ thống bảo vệ cấu trúc ngầm (PKZ). Đáy kép, theo chiều dài có khoảng cách đủ lớn (khu vực các buồng máy và nồi hơi, các trạm chỉ huy trung tâm và hầm đạn) kéo dài tới thành kép, ở đó bố trí các thùng mang theo, được nâng lên theo chiều cao tới boong thứ 6.

Trong thời điểm đó, cũng tính toán cho tàu các yêu cầu phòng thủ hạt nhân, đảm bảo an toàn cho tàu phải chống được vụ nổ trên không của đạn hạt nhân 30 kiloton trên tầm xa 2000 mét. Khi đó, tính không chìm được đảm bảo khi bị đắm bốn khoang liên tiếp bất kỳ (không tính hang ga, ở đó giới hạn không chìm là boong số 5, và chỉ số đảm bảo tính không chìm là 3 khoang).

Boong bay với tổng diện tích 6200km2 kết hợp khu vực cất cánh với đường băng hạ cánh. Trên đó bố trí 8 bãi cất – hạ cánh cho máy bay cất – hạ cánh thẳng đứng và trực thăng. Trên boong phải ở bộ phận sau boong bay có 10 bãi đáp kỹ thuật dánh cho việc bảo dưỡng khí tài kỹ thuật bay.

Trên tàu đầu tiên của Đề án 1143 dự kiến khả năng đóng 22 khí tài bay trong 2 phương án ghép bộ - máy bay hoặc trực thăng. Tất cả chúng được giữ trong hang ga 1 tầng (130x22,5x6,6), liên kết với boong bay bằng 2 thang nâng máy bay (thang máy), bố trí ở bên trái và ở mạn sau thượng tầng. Thang thứ nhất phục vụ việc hạ máy bay xuống hang ga, tháng thứ 2 – nâng. Sức chứa (tải trọng) thiết kế của hang ga là 22 khí tài bay, nhưng sau lần thăm “Kiev” năm 1975, Bộ trưởng Quốc phòng Grechko đã yêu cầu tăng cường số lượng khí tài bay lên gấp rưỡi, sơ đồ bố trí máy bay trong hang ga được nghiên cứu lại. Sau yêu cầu của Bộ trưởng, việc ngăn rãnh bắt buộc giữa chúng thành 0,75 mét và mở rộng việc đóng các máy bay “át”, sức chứa của hang ga tăng lên 36 khí tài bay.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Ba, 2012, 05:55:59 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1143_25.jpg)

Lần hạ cánh đầu tiên của máy bay cất - hạ cánh thẳng Yak-36M trên boong "Kiev". Ngày 18 tháng 5 năm 1975

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1143_29.jpg)

Trực thăng Ka-25PL trên boong "Kiev" chuẩn bị cất cánh theo nhóm

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1143_65.jpg)

Tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng "Minsk" ở Ấn Độ Dương. Huấn luyện bay của phi đội Yak-36M. Năm 1979.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Ba, 2012, 12:06:42 pm
Sự bố trí các máy bay và trực thăng theo boong trên được thực hiện bằng các máy kéo đặc biệt, theo hang ga – với việc sử dụng hệ thống kéo dọc – ngang. Hang ga được trang bị hệ thống thông gió với sự đóng tự động khi có đám cháy, kiểm soát nồng độ hơi nước của dầu máy bay, hệ thống dập lửa bằng bọt khí và hệ thống tín hiệu; khi cần thiết, có 5 màn amiang chống cháy được hạ xuống có thể phân chia không gian chung của hang ga thành 6 khu vực cách ly.

Trong sự khác biệt với tàu sân bay Mỹ, thực tế, thành phần cụm khí tài bay của tàu Đề án 1143 không được cố định và có thể thay đổi phụ thuộc vào nhiệm vụ cần giải quyết. Phiên bản máy bay được tiếp nhận trên thành là 20 máy bay cất – hạ cánh thẳng và 2 trực thăng cứu nạn; phiên bản trực thăng – 20 máy bay Ka-25PL và 2 trực thăng cứu nạn. Để đảm bảo khả năng hoạt động của cụm máy bay (phiên bản máy bay phản lực) trên thành tàu có chứa lượng nhiên liệu máy bay cần thiết, đồng thời 18 bom đặc chủng RN-28, các tên lửa không điều khiển (rocket), các thùng bom sử dụng một lần….

Tên lửa tiến công của tàu tuần dương là tổ hợp tên lửa “Uragan-1143”, gồm trong đó 4 thiết bị phóng dạng khối ghép đôi không được dẫn đường SM-241 với góc phóng cố định, đài điều khiển “Argon-1143”, các khí tài kiểm tra thao tác và 8 tên lửa có cánh P-500 “Bazalt”.  Khả năng nạp đạn 1 lần cho tổ hợp chính đã được tính toán, để làm việc đó, có 8 tên lửa dự trữ được để trong hầm (chỉ có trên “Kiev” và “Minsk”).

Nhiệm vụ của tổ hợp, được tiếp nhận vào trang bị năm 1975 – tiêu diệt các mục tiêu nổi và công trình (căn cứ) lớn trên bộ, tầm bắn xa – 550km. Tên lửa được trang bị động cơ tên lửa nhiên liệu rắn chính tăng sức kéo và tính kinh tế (tiết kiệm nhiên liệu) KR-17-300 và các máy gia tốc khởi động. Đầu đạn – nổ - xuyên lõm hoặc hạt nhân khối lượng 500kg, sự dẫn bắn – nhờ sự điều khiển vô tuyến hoặc sử dụng đầu đạn tự dẫn bắn bằng ra đa định vị chủ động (ARGSN), tốc độ bay – 2,5M, khối lượng khởi động – 6200kg, các kích thước chính – 12,4x0,88 mét, sải cánh – 2,6 mét. Khả năng kháng nhiễu được tăng cường của tên lửa cho phép khi bắn theo loạt được thực hiện khi bắn loạt các mục tiêu chính của cụm tàu tấn công (đúng ra, đây là tàu sân bay). Tên lửa P-500 có tính chất bay “độ cao lớn – độ cao thấp”, trong đó hành trình cuối của quỹ đạo ở độ cao thấp có độ khác bởi tầm xa lớn. Để đơn giản hóa sự vượt qua hệ thống phòng không gần bờ của các tàu nổi, tên lửa được bọc thép cục bộ. Trạm ăng ten của hệ thống điều khiển “Argon-1143” (với máy tính điện tử mang theo) được bố trí trong bộ phận mũi boong trên của tàu trong vị trí “tác chiến” nằm trong trạng thái hợp thành. Các sự phóng được thực hiện theo cách bắn đơn hoặc theo loạt 2 tên lửa hoặc hơn. Trong cùng thời gian này, sự tiếp nhận hiệu quả tên lửa có cánh trên tầm xa hoàn toàn yêu cầu sự xuất hiện các trạm chỉ thị mục tiêu ở ngoài (vệ tinh, các máy bay TU-95RTs hoặc trực thăng Ka-25Ts với khí tài Hải quân trinh sát và chỉ thị mục tiêu (MRCTS) “Uspekh”/”Uspekh-1”), còn đối với sự đảm bảo tiêu diệt các mục tiêu được bảo vệ này, như các tàu sân bay, cần thiết tiếp nhận số lượng lớn tên lửa. Khi bắn loạt một trong số các tên lửa, sau đó trên độ cao lớn, có thể điều khiển bay số lượng tên lửa còn lại. Tiếp đó là bay sát mặt đất trong chế độ im lặng vô tuyến hoàn toàn, đồng thời thực hiện trong giai đoạn này sự sục sạo và phân loại (với sự truyền tải thông tin đồng thời tới các tên lửa khác) các mục tiêu được phát hiện. Chế độ khác khi bắn loạt được tính toán là theo dõi toàn bộ cụm các tên lửa tấn công trên độ cao thấp trong chế độ im lặng vô tuyến với việc sử dụng đầu đạn dẫn bắn bằng ra đa định vị chủ động chỉ trong hành trình cuối của quỹ đạo bay (trong trường hợp này, khi các tọa độ và tham số di chuyển của mục tiêu bị tấn công được xác định đủ độ chính xác). Quỹ đạo bay của tên lửa trong loạt có thể khác nhau, gồm có sự thay đổi độ cao trong quá trình tấn công, phục thuộc vào tầm xa tới mục tiêu.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Ba, 2012, 12:46:18 pm
Vũ khí chống ngầm của tàu Đề án 1143 chính là tương đồng với hệ thống vũ khí lắp trên tàu tuần dương chống ngầm “Moskva”. Chúng gồm tổ hợp tên lửa chống ngầm “Vikhr”, 2 thiết bị ngư lôi 5 ống phóng quay được PTA-53-1143 và 2 thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000. Sự chỉ thị mục tiêu được cung cấp bằng hệ thống trên tàu “Sprut-1143”.

Trang bị vô tuyến điện gồm có hệ thống tự động hóa thu thập và xử lý thông tin, chỉ thị mục tiêu và thực hiện giải quyết nhiệm vụ “Alleia-2” (điều khiển vũ khí và các khí tài kỹ thuật vô tuyến của tàu tuần dương chống ngầm, đồng thời dẫn bắn cho trực thăng), đài thủy âm phát hiện mục tiêu tầm xa các tàu ngầm tốc độ cao MG-342, tổ hợp thủy âm để phát hiện tàu ngầm “Platina”, khí tài tiếp nhận thông tin từ phao tiêu thủy âm vô tuyến MGS-407-K, đài phát hiện tàu ngầm theo sự tương phản nhiệt của tia rẽ nước MI-110K, đài phát hiện tàu ngầm theo vết rẽ nước MN-POR, đài ra đa định vị 3 tọa độ chống nhiễu phát hiện mục tiêu tầm xa và chỉ thị mục tiêu MR-600 (cơ sở), đài ra đa định vị 3 tọa độ chống nhiễu phát hiện các mục tiêu trên không và nổi “Fregat” (dự bị), hệ thống xử lý tự động thông tin ra đa định vị và chỉ thị mục tiêu “Baikal-1143”, khí tài hệ thống nhận dạng ra đa định vị “Kremni-2M”, các khí tài chỉ thị mục tiêu Hải quân MPTs-301, đài ra đa định vị đạo hàng “Volga” và “Vaichag-1143” (với khối “Palma”). Tàu được trang bị tổ hợp đạo hàng “Salgir-1143”, 2 máy đo sâu bằng tín hiệu dội (NEL-6 và NEL-10), tổ hợp tự động hóa các khí tàu thông tin liên lạc “Typhoon-1” (14 máy phát bước sóng ngắn và 2 máy phát bước sóng trung bình; 21 máy thu vô tuyến sóng ngắn, 1 sóng trung bình và siêu dài; 13 đài vô tuyến siêu cao tần). Các khí tài trinh sát vô tuyến – 3 đài thu vô tuyến kiểu R-678N, 6 kiểu R-670M và 2 – kiểu R-721; ngoài ra, 2 tổ hợp khí tài toàn cảnh SPS-2, các đài siêu cao tần nhìn rộng R-710 và R-714 và hệ thống bắn nhiễu vô tuyến (sóng cao tần) R-740. Tương ứng cho thiết kế, tàu được trang bị các hệ thống tự động đạo hàng tầm gần, hệ thống truyền động trên tàu của các khí tài bay “Privod-SV”. Trong thành phần trang bị kỹ thuật vô tuyến gồm có các khí tài thông tin về tình trang ra đa định vị và chống (cản trở) vô tuyến điện “Gurzuf” và “Gurzuf-1”, khí tài đảm bảo hoạt động đồng thời các khí tàu kỹ thuật vô tuyến trên tàu, đài định vị thủy âm “Orion” (dưới sống) và “Platina” (với ăng ten lai). Khi đó, trong sự khác biệt với tàu tuần dương chống ngầm Đề án 1123, ăn ten đài thủy âm “Orion” trên tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng được bố trí trong mũ chụp cố định. Các tổ hợp thủy âm mang theo trong sự phối hợp với các khí tài khác cho phép phát hiện mục tiêu đối với các tàu ngầm ở độ sâu cho phép bất kỳ.

Thiết bị năng lượng chính Đề án 1143, được đồng nhất với thiết bị tiếp nhận trước đó trên các tàu tuần dương Đề án 58 và Đề án 1123, tiếp nhận dạng bốn trục, tuabin nồi hơn (8 nồi hơi KVN 98/64) với các tham số hơi nước cao, tổng công suất 180 000 sức ngựa. Thiết bị năng lượng gồm có 4 bộ nồi hơi tuabin hoạt động lâu dài, bố trí theo 2 bộ trong 2 buồng máy – nồi hơi, tạo thành 2 khoang độc lập và mỗi khoang hoạt động trên chân vịt chính. Bốn tổ hợp tuabin răng cưa chính kiểu TV-12-3 cho phép tàu đạt tốc độ hoàn toàn 30,7 hải lý. Đài (phát) điện trên tàu (6 máy phát điện tuabin và 4 máy phát điện diezel tổng công suất 15 000kW) bố trí trong các khoang cạnh nhau với buồng máy – nồi hơi, tự sự tính toán theo hai cụm trên mỗi buồng. Các phần tử của thiết bị, các tổ hợp máy phát điện và các lá chắn phân chia chính được đồng nhất với Đề án 1123. Đối với sự điều khiển thiết bị năng lượng điện phục vụ hệ thống “Terek-2”. Sự tự động hóa các máy móc và sử dụng màn che cách ly, đặc biệt trong các khoang máy được tiếp nhận một cách rộng rãi.

Tháng 6 năm 1977, toàn bộ các tàu Đề án 1143 được chính thức phân loại lại từ tàu tuần dương chống ngầm thành tàu tuần dương chở máy bay (tàu sân bay) hạng nặng. Tương ứng, một số nhiệm vụ chính của chúng được điều chỉnh lại: hiện tại vai trò các tàu Đề án 1143 gồm có “cung cấp, hỗ trợ khả năng chiến đấu cho tàu ngầm tên lửa tuần dương chiến lược, nhóm lực lượng các tàu nổi, tàu ngầm và không quân Hải quân trong khu vực triển khai chiến đấu”. Thì giữa các nhiệm vụ của tàu tuần dương trong mục tiêu hàng đầu không phải săn lùng các tàu ngầm địch mà ngược lại, bảo vệ các tàu ngầm Liên Xô khỏi không quân chống ngầm của địch. Ở phương Tây, các tàu mới của Liên Xô trong sự tương đồng với việc tiếp nhận phân loại là “lớp Kuril”, nhưng về sau này vẫn duy trì tên gọi của tàu đầu tiên cho đến nay – “lớp Kiev”.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Ba, 2012, 03:58:58 pm
Các biến thể

Đề án kỹ thuật rút gọn 1143-M (Tổng công trình sư – A.V.Marinich) cho tàu thứ 3 trong loạt được thiết kế trong tháng 1 và được phê duyệt bởi Hải quân và Bộ Công nghiệp quốc phòng tháng 7 năm 1975. Trên tàu tuần dương dự kiến đóng 28 máy bay cất – hạ cánh thẳng Yak-36M (Yak-38) và/hoặc trực thăng Ka-25PL và 2 trực thăng cứu nạn Ka-25PS. Đài thủy âm “Orion” được thay bằng tổ hợp thủy âm tự động (AGAK) “Polinom”, còn vũ khí ngư lôi được tháo bỏ. Do kết quả giảm các khe hở giữa các khí tài bay trong hang ga, số lượng của chúng đã tăng lên 24. Thêm 6 máy bay nằm trong bãi đỗ kỹ thuật của boong bay (thành bên phải), cầu vòng trong khu vực thành bên phải được thiết kế 1,2 mét thấp hơi chiều cao trên tàu Đề án 1143. Khi cần thiết, trong hang ga bố trí được 30 khí tài bay với một số hạn chế.

Tổ hợp trang bị vô tuyến điện, pháo và vũ khí tên lửa điều khiển, đồng thời thiết bị năng lượng chính ban đầu dự kiến giữ lại như trên Đề án 1143, nhưng trong quá trình đóng tàu thứ 3 đã quyết định áp dụng hàng loạt sự hiện đại hóa. Ví dụ, trong thông tin liên quan với sự tiếp nhận vào trang bị Hải quân Mỹ mùa hè năm 1977 tên lửa chống tàu tầm bay thấp “Harpoon”, Phòng thiết kế thí nghiệm Nevski theo sự giao phó của lãnh đạo Bộ Công nghiệp quốc phòng và chỉ huy Hải quân đã chuẩn bị gấp các đề xuất theo sự nâng cấp các tàu Đề án 1143 và 1143-M với mục đích tăng cường khả năng chiến đấu của chúng. Để tăng cường khả năng phòng không cho tàu tuần dương chở máy bay thứ 3 đã dự định trang bị cho tàu 2 modul tổ hợp tên lửa phòng không mới “Kinzhal” (thay cho tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M”) và các tổ hợp pháo – tên lửa “Kortik” (thay cho AK-630M), đồng thời tổ hợp ra đa định vị “Podkat” (thay cho đài ra đa định vị “Topaz-IV”). Yêu cầu hoàn thiện trang bị vô tuyến điện và các khí tài thông tin liên lạc của tàu – nguyên nhân chính, do những sự thay thế thành phần vũ khí tên lửa – pháo và hàng không. Các khối lượng để thực hiện các biện pháp này nhận được do kết quả loại bỏ hầm cơ số đạn dự trữ của tên lửa chống tàu có cánh “Bazalt”.

Nhưng những thay đổi của Đề án không chỉ hướng vào các hệ thống phòng không. Đồng thời, tiếp nhận quyết định đảm bảo trên tàu việc đóng 36 khí tài bay. Phiên bản chính gồm 16 Yak-38, 18 trực thăng chống ngầm Ka-27 và 2 trực thăng cứu nạn Ka-25PS. Đặc biệt nhấn mạnh khả năng đóng các máy bay cất – hạ cánh thẳng triển khai trên boong Yak-41, máy bay cường kích Yak-38 và trực thăng Ka-25 trong 3 biến thể (chống ngầm, tìm kiếm – cứu nạn và tuần tiễu ra đa định vị). Đã lên kế hoạch đồng thời trang bị trên bãi cất – hạ cánh 3 khí tài ống thoát khí GOU) – để bảo vệ bề mặt che phủ boong bay khỏi sự đốt nóng đến 1200 của hơi ga trong sự khởi động của Yak-41 (sau đó đã chỉ ra là sự mạo hiểm – khí tài thoát khí đã được lắp và sau đó tiến hành cắt chúng khỏi thân tàu đã được chế tạo, do các công việc này, thời gian bàn giao tàu từ năm 1979 đã dời sang năm 1982).

Do sự loại bỏ hàng loạt sự khác nhau theo thành phần và sự bố trí các trạm ăng ten đài ra đa định vị và khí tài vô tuyến điện, hình dáng ngoài của tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng Đề án 1143-M được thay đổi không đáng kể, mặc dù đã lên kế hoạch lại sự bố trí tổng quát đã hoàn thành đủ đến 40% tổng số các phòng mà theo kết quả hiệu chỉnh lại của đề án đã tiến hành các công việc tháo và lắp “sống”. Mép trước sườn nhỏ có hình dáng thay đổi, bố trí trong mũi từ boong góc – trên đó không có điểm đặc trưng đối với 2 tàu đầu tiên là gờ kép, gây ra sự văng mạnh và hình thành luồng không khí xoáy trên boong bay. Trên boong trên đồng thời lắp khí tài làm phẳng (VU) – 3 màn (tấm) chắn đứng để nắn thẳng dòng không khí.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Ba, 2012, 12:12:24 pm
Đề án kỹ thuật 11433 (Tổng công trình sư V.F.Anikiev) được thiết kế trong tháng 12 năm 1977 và được phê duyệt tháng 5 năm 1978, khi đó, việc đóng (hình thành) thân tàu thứ 3 (“Novorossisk” – “Nước Nga mới”) trên xưởng đã hoàn thành. Ngày 26 thagns 12 năm 1978, tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng đã được hạ thủy chính thức và đưa vào đóng tiếp.

Do sự chậm trễ theo thời hạn thiết kế và chế tạo những mẫu đầu tiên, dự kiện bằng đề án tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal” và tổ hợp pháo – tên lửa phòng không “Kortik”, “Novorossisk” không nhận được những vũ khí này. Thay cho chúng là pháo tự động 30mm AK-630M, khi đó lớp vũ khí trước – tổ hợp tên lửa phòng không “Osca-M” không được lắp – kết quả là tàu ở trong tình trạng hầu như không có hệ thống phòng không tầm gần! Các vấn đề sau đó là việc chế tạo các máy bay mới trong cụm khí tài bay trên tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng thứ ba hợp thành từ Yak-38 (sau đó thay bằng Yak-38M). Một phần nào đó vấn đề này được bù đắp bằng sự xuất hiện của trực thăng thế hệ thứ 2 hiện đại hơn – Ka-27. Ngoài ra, trên Đề án 11433 có thể đóng các khí tài bay triển vọng và trực thăng khối lượng tới 15 tấn, tiếp nhận trên boong (không bố trí trong hang ga) đối với việc vận chuyển cấp chiến dịch hoặc đổ bộ với các trực thăng M-8, Mi-14, thậm chí Mi-6 khối lượng 37 tấn. Đồng thời, có khả năng khởi động động cơ của chúng từ hệ thống trang bị điện trên tàu.

“Novorossisk” được trang bị hệ thống điều khiển vũ khí chống ngầm mới “Purga”. Tổ hợp đạo hàng “Salgir” được thay mới hiện đại hơn – mẫu nâng cấp “Salgir-V”. Ngoài ra, tính toán khả năng lắp trên thành đề án ngay khi còn đang trong quá trình đóng – đài ra đa định vị dự bị phát hiện và chỉ thị mục tiêu tổng hợp “Topaz-IV” (theo sự hoàn thành các thí nghiệm của nó và xử lý trên tàu tên lửa loại lớn “Bedovưi” Đề án 65-EM). Khối lượng các buồng trên boong thứ 5, nhận được trong kết quả không tiếp nhận thiết bị ngư lôi, đã sử dụng cho trang bị các buồng bổ sung cho thủy thủy đoàn và lính đổ bộ với 90 người cùng vũ khí và đạn dược. Tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng thứ 3 được trang bị hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu “Alleia-2K” (thu nhận, xử lý, giữ và phản hồi thông tin trong các phạm vi đảm bảo các chức năng chỉ huy thống nhất trong biên chế 9 tàu nổi), đồng thời mẫu thí nghiệm tổ hợp ra đa định vị “Podkat” – đối với việc phát hiện các mục tiêu kích thước nhỏ kiểu “tên lửa có cánh” với bề mặt phản xạ thấp, trên tầm cao thấp (gần 100 mét) ở tầm xa 33,7km (với khả năng theo dõi các mục tiêu tự động, xác định các tham số di chuyển, xử lý và cung cấp các thông tin chỉ thị mục tiêu tới 15 khí tài phòng không của tàu tuần dương và các tàu trong đội). Việc này đã tăng các khả năng phòng không, chống ngầm của tàu tuần dương trong các điều kiện mới, nhưn liên quan đến việc không có tổ hợp tên lửa phòng không tầm gần, việc này thực tế không thực hiện được.

Tàu thứ 4 trong lớp Đề án 1143 được đóng theo sự thay đổi đáng kể Đề án 11434 với thành phần vũ khí mới và có sự thay đổi đáng kể trong cấu trúc thượng tầng. Ở phương Tây, tàu này nhận tên gọi “lớp Kiev biến thể” (“Modified Kiev class”).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Ba, 2012, 12:40:15 pm
Chương trình đóng tàu

Ban đầu, theo kế hoạch theo Đề án 1143 sẽ đóng 2 tàu – “Kiev” và “Minsk”. Việc đóng tàu bắt đầu từ năm 1967 ở xưởng đóng tàu biển Đen số 198 ở Nicolaev. Tàu đầu tiên được khởi công 21 tháng 7 năm 1970, hạ thủy 26 tháng 12 năm 1972 và gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1975. Tàu thứ 2 được khởi công ngay sau khi hạ thủy tàu thứ nhất và đưa vào biên chế 27 tháng 9 năm 1978. Tư lệnh Hải quân - Đô đốc S.G.Gorshkov đã ra lệnh đóng tàu sân bay hiện đại và tàu tuần dương chở máy bay thứ 3 của Liên Xô đã được nhìn với quan điểm hoàn toàn khác. Nhưng với nhiệm vụ trong năm 1976, ở phòng làm việc của Bộ trưởng Quốc phòng D.F.Ustinov, người ủng hộ các máy bay cất và hạ cánh thẳng, sự tăng cường cơ bản só với trước đó là quyết định hướng vào sự hiện đại tiếp theo cho các tàu – phương tiện mang khí tài bay cất – hạ cánh thẳng. Theo Mệnh lệnh của Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô từ 1 tháng 2 năm 1977, đã phê duyệt việc đóng tàu thứ 3 (thời hạn bàn giao – 1979), đồng thời tàu tuần dương chống ngầm thứ 4 (thời hạn bàn giao – 1982) với một số thay dổ và sử dụng đối đa tài liệu của tàu đầu tiên (1143-M). Ngày 30 tháng 9 năm 1975 đã tiến hành khởi công tàu thứ 3 (“Novorossisk”) trong xưởng đóng tàu biển Đen, nhưng với tính toán hiệu chỉnh Đề án kỹ thuật theo những thay đổi được tiếp nhận, việc hạ thủy “Novorossisk” chuyển sang năm 1978. Còn tàu chỉ gia nhập biên chế 14 tháng 8 năm 1982, bởi vì việc đóng tiếp sau khi hạ thủy được thực hiện một lần nữa theo sự thay đổi đề án kỹ thuật 11433.

Tình hình đến năm 2007

Tàu đầu tiên Đề án 1143 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen, còn tàu thứ 2 và thứ 3 – Hạm đội Thái Bình Dương. Tháng 6 năm 1977, toàn bộ các tàu trong Đề án đã chính thức được phân loại lại từ tàu tuần dương chống ngầm thành tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng (tàu sân bay). Chúng đã tham gia một cách tích cực trong hoạt động phục vụ chiến đấu của Hải quân, tham gia vào các cuộc diễn tập, xử lý nhiệm vụ chiến đấu, trong đó có tấn công các mục tiêu thaatju của “kẻ thù tiềm tàng”. Việc chế tạo các tàu lớp “Kiev” đã đánh dấu một giai đoạn mới tuyệt đối trong ngành đóng tàu chiến Liên Xô: Hải quân Liên xô đã “cảm nhận” được máy bay trên tàu, xuất hiện kinh nghiệm thực tế và giàu kỹ thuật trong khai thác sử dụng máy bay trên boong – có thể nói là vô giá.

Sau khi rút khỏi trang bị năm 1992 máy bay cất – hạ cánh thẳng Yak-38, toàn bộ 3 tàu tuần dương chở máy bay Đề án 1143 thực tế trở thành các tàu chở trực thăng chống ngầm lớn, bởi vì các máy bay đóng trên boong còn chưa được chế tạo. Liên quan đến sự tan rã của Liên Xô và khủng hoảng kinh tế ở Nga, sự phục vụ tiếp theo của các tàu này gần như đã được định đoạt (“Novorossisk” nằm trong biên chế sẵn sàng chiến đấu tổng cộng 7 năm).

Năm 1993-94, tất cả 3 tàu tuần dương đều bị loại và chuẩn bị bán cho các công ty nước ngoài để tháo dỡ. Hai trong số chúng – “Kiev” và “Minsk” – sau đó được Trung Quốc mua lại và trở thành các tổ hợp giải trí.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Ba, 2012, 01:38:39 pm
Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ “Kiev” (số hiệu xưởng 101); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 5 tháng 5 năm 1967; khởi công 21 tháng 7 năm 1970 ở xưởng đóng tàu biển Đen số 198 như tàu tuần dương chống ngầm; hạ thủy 26 tháng 12 năm 1972; gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1975; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 15 tháng 6 năm 1976; 16 tháng 7 năm 1976 rời Sevastopol với cuộc hành quân vòng quanh Châu Âu để tới Hạm đội Phương Bắc, đồng thời thực hiện nhiệm vụ chiến đấu đầu tiên; bắt đầu từ 20 tháng 7 năm 1976, khi chạy trong khu vực quần đảo Krit trên tàu đã bắt đầu các thí nghiệm máy bay cất – hạ cánh thẳng trong các điều kiện biển; tổng cộng trong thời gian hành quân đã thực hiện 45 lần bay Yak-36M; 10 tháng 8 năm 1976 đã bơi dược 15 970 dặm, tàu tuần dương chống ngầm đã tới biển Bắc; trong tháng 8 – 12 năm 1976 đã trải qua giai đoạn 2 các thí nghiệm, trong đó có các thí nghiệm tổ hợp trang bị thông tin vô tuyến trong biên chế cụm tàu, bay cụm các khí tài bay, thí nghiệm cơ động trên biển, đồng thời bắn tên lửa chống tàu có cánh trên tầm xa hoàn toàn (từ biển Trắng qua eo đất Kanin tới vịnh Séc); biên bản tiếp nhận theo giai đoạn 2 các thí nghiệm được ký ngày 3 tháng 12 năm 1976; tháng 2 năm 1977, bằng mệnh lệnh đặc biệt của Nhà nước, tên lửa chống tàu có cánh đã được tiếp nhận vào Hải quân Liên Xô; 28 tháng 6 năm 1977 phân loại lại thành tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng; từ 12 tháng 4 đến 19 tháng 4 năm 1977 đã tham gia cuộc tập trận “Phía Bắc -77”; tháng 8 năm 1977 đã tiến hành thí nghiệm khả năng bố trí trên thành 36 khí tài bay đồng thời, các kết quả đã được sử dụng trên tàu thứ 2 trong lớp; từ 20 tháng 12 năm 1977 đến 4 tháng 4 năm 1978 làm nhiệm vụ trực chiến thứ hai ở Đại Tây Dương và Địa Trung Hải, đã bơi 28 297 dặm; 4 tháng 8 năm 1978 đã tiếp nhận than gia cuộc tập trận của Hạm đội Phương Bắc dưới sự chỉ huy của Tư lệnh Hải quân; 11 tháng 10 năm 1978 dã thực hiện việc bắn tên lửa sát hạch bằng tổ hợp tiến công chính trên biển Trắng; từ 16 tháng 1 đến 27 tháng 3 năm 1979 thực hiện nhiệm vụ trực chiến thứ 3, tham gia 6 chiến dịch tìm kiếm trong biên chế cụm tàu chiến trên Địa Trung Hải và Đại Tây Dương; tháng 3 năm 1979 ở Địa Trung Hải đã gặp tàu tuần dương chở máy bay “Minsk”, toàn thành cuộc hành quân tới Hạm đội Thái Bình Dương, lần đầu tien trong Hải quân Liên Xô, 2 cụm tàu sân bay đã thực hiện nhiệm vụ chiến đấu trên biển, hỗ trợ lẫn nhau, trong đó có tàu tiếp tế “Berezin” Đề án 1833, trong các cuộc diễn tập chống ngầm “Razbeg-79”, tàu hoạt động cùng tàu chống ngầm cỡ lớn “Nguyên soái Timoshenko”, “Thống chế Makarov”, tàu khu trục “Ognevoi” và “Đoàn viên thanh niên Cộng sản Moskva”; 24 tháng 10 năm 1979 đã thực hiện nhiệm vụ vận tải nhiên liệu khi hành quân cùng tàu tiếp tế “Berezin”; cuối năm 1979 đã thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm tàu ngầm bởi nhóm chiến thuật trong biên chế 4 trực thăng KA-25PL ở tầm xa 100km; từ 30 tháng 12 năm 1979 đến 28 tháng 4 năm 1980 đã thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu thứ 4 ở Địa Trung Hải; kết quả là năm 1980 đã được nhận danh hiệu tàu tốt nhất Hạm đội Phương Bắc về huấn luyện chống ngầm; từ 6 tháng 1 đến 15 tháng 3 năm 1981 đã thực hiện nhiệm vụ chiến đấu, sau đó tham gia cuộc huấn luyện được chỉ định trong Hạm đội Biển Đen; từ 17 tháng 7 đến 18 tháng 9 năm 1981 – nhiệm vụ chiến đấu mới, trong thời gian cùng năm, đã tới Đại Tây Dương, Địa Trung Hải và Baltic (có ghé vào căn cứ Hải quân Baltic), trong giai đoạn tập trận “Phía Tây-81”, đã đóng vai trò tàu chỉ huy; năm 1981 – là tàu có số lần cất cánh của khí tài bay cất – hạ cánh thẳng nhiều nhất – 715; năm 1982 tham gia và các cuộc diễn tập tổng hợp của Hạm đội Phương Bắc với sự phối hợp cùng tàu tuần dương tên lửa nguyên tử “Kirov”, tàu chống ngầm loại lớn “Udloi” và tàu tuần tiễu “Zharki” trong các điều kiện thời tiết đêm vùng cực phức tạp; từ 27 tháng 7 đến 30 tháng 9 năm 1982 – nhiệm vụ trực chiến thứ 7 ở Đại Tây Dương và Địa Trung Hải, tàu đã tham gia trong cuộc tập trận của các nước khối Hiệp ước Varsaw “Lá chắn-82” với việc ghé vào Baltic; từ 23 tháng 12 năm 1982 đến 1 tháng 11 năm 1984 đã trải qua trung tu ở xưởng đóng tàu biển Đen tại Nikolaev và nâng cấp từng phần; 14 tháng 3 năm 1995, lần tầu tiên từ thành tàu đã caanh cánh máy bay chạy đà ngắn Yak-38U; 20 tháng 3 năm 1985 thực hiện nhiệm vụ trực chiến thứ 8 ở Địa Trung Hải, cùng với cuộc hành quân tới phía Bắc từ 2 đến 6 tháng 6 năm 1985 cùng với tàu khu trục “Otchaiannưi” và tàu tuần tiễu tên lửa “Zadornưi” đã thực hiện việc ghé vào cảng Al-Dzharair (Algieri); 6 tháng 6 năm 1985 được tặng Cờ đỏ và huân chương Cờ đỏ; từ 10 đến 20 tháng 6 năm 1985 đã tham gia tập trận chống ngầm hỗn hợp của Hạm đội Phương Bắc “Atlantika-85”; từ 31 tháng 12 năm 1985 đến 21 tháng 5 năm 1986, nhiệm vụ chiến đấu thứ 9 ở Đại Tây Dương và Địa Trung Hải với việc ghé qua biển Đen; từ 5 tháng 1 đến 24 tháng 6 năm 1987 phối hợp với tàu khu trục “Bezuprechnưi” và tàu chống ngầm lớn “Phó Đô đốc Drozd”, tàu khu trục “Sovremennưi” ghé vào thành phố Spilt (Cộng hòa Liên bang xã hội chủ nghĩa Nam Tư), trong lần trực chiến cuối cùng đã có số lượng máy bay cất cánh kỷ lục – 757; trong toàn bộ thời kỳ phục vụ (1232 ngày di chuyển), tàu đã bơi 240 850 dặm biển, hoàn thành 4258 lần cất cánh bằng máy bay và 9154 – trực thăng; 23 tháng 6 năm 1987 phối hợp với tàu khu trục “Bezuprechnưi” quay trở lại biển Bắc; từ 15 tháng 9 đến 30 tháng 11 năm 1987 đã được đưa lên ụ PD-50 ở xưởng tại Rosliaki; 31 tháng 10 năm 1987 đưa tới thành xưởng “Sevmorput” ở Murmansk để sử chữa tăng cường hệ thống đạo hàng; 21 tháng 12 năm 1987 đưa vào lực lượng dự bị số 1; mùa hè năm 1990 nhận máy bay trên thành và ra khơi thực hiện nhiệm vụ chiến đấu, nhưng khi quay về căn cứ trong 5 năm buộc cạnh xưởng; tháng 8 năm 1991 đưa vào lực lượng dự bị loại 2; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ đỏ của Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 30 tháng 6 năm 1993 bị loại khỏi biên chế chiến đấu; 28 tháng 8 năm 1993 hạ cờ, tàu tháo vũ khí và đưa đến cơ sở khác để tháo dỡ; giải tán 28 tháng 8 năm 1994, bán cho công ty tư nhân ở Trung Quốc 20 tháng 5 năm 2000, được tàu kéo “Deu” kéo tới Thượng Hải, ở đó trải qua sự trang bị lại thành trung tâm giải trí tham quan nổi.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Ba, 2012, 12:27:56 pm
+ “Minsk” (số hiệu xưởng 102); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 28 tháng 3 năm 1972; khởi công 28 tháng 12 năm 1972 ở xưởng đóng tàu biển Đen số 198 như tàu tuần dương chống ngầm; hạ thủy 30 tháng 9 năm 1975; 28 tháng 6 năm 1977 phân loại lại thành tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng; từ tháng 10 năm 1977 đến 18 tháng 2 năm 1978 đã tiến hành các thí nghiệm neo đậu; 19 tháng 2 năm 1978 kéo cờ Hải quân Liên Xô; 21 tháng 2 năm 1978 đã tới Sevastopol để tiến hành các thí nghiệm cấp xưởng; 26 tháng 5 năm 1978 gần Sevastopol đã làm nhiệm vụ vận tải khi di chuyển với sự hỗ trợ của khí tàu “Struna-1V-2,5”, “Sturna-2V-400” và tổ hợp “Most” với tàu tiếp tế “Berezin” Đề án 1883; đến 25 tháng 8 năm 1978 đã trải qua các thí nghiệm cấp Nhà nước, trong đó có bắn tên lửa có cánh chống tàu, tổ hợp tên lửa phòng không điều khiển, tổ hợp tên lửa chống ngầm và pháo, máy bay cất – hạ cánh thẳng đứng Yak-38 đã thực hiện 120 lần bay, trực thăng Ka-25 – 41; 20 tháng 9 năm 1978 khôi phục lại các thí nghiệm; gia nhập biên chế 27 tháng 9 năm 1978; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương 23 tháng 11 năm 1978; 26 tháng 10 năm 1978 khi cất cánh máy bay Yak-38 bị rơi xuống biển, phi công hy sinh; từ 24 tháng 2 đến 30 tháng 7 năm 1979 đã hoàn thành cuộc hành quân xuyên hạm đội từ Sevastopol tới Hạm đội Thái Bình Dương trong sự phối hợp tàu săn ngầm lớn “Tashken”, “Petropavlosk” và tàu tiếp liệu “Boris Chilikin”, ở Địa Trung Hải đã gặp tàu “Kiev” đang làm nhiệm vụ trực chiến, lần đầu tiên, hai tàu chở máy bay Liên Xô thực hiện các nhiệm vụ chiến đấu trên biển, sau đó ở Đại Tây Dương cùng đội tàu tới Baltic với tàu đổ bộ lớn Đề án 1174 “Ivan Rogov”, bắt đầu cuộc hành quân quanh Châu Phi, thực hiện việc ghé vào Luanda (Angola), Maputa (Mozambic), Port-Lui (Mavriki) và Aden (Cộng hòa dân chủ nhân dân Yemen); bộ phận đáng kể máy bay trên boong Yak-38 lần đầu tiên được khai thác sử dụng trong điều kiện nhiệt đới, khi rời khỏi Luanda 2 tháng 4 năm 1979, một Yak-38 đã rơi xuống biển (phi công được cứu); tổng cộng trong thời gian hành quân tàu đã bơi 13 261 dặm, máy bay đã thực hiện 565 lần bay, trực thăng – 774 (trong đó có 80 giờ bay đêm); 27 tháng 12 năm 1979 đã làm nhiệm vụ chiến đấu; 8 tháng 9 năm 1980 ở biển Đông (Nam Trung Hoa), trong thời gian trực chiến, tàu đã bơi 13 261 dặm và ghé vào quân cảng Cam Ranh (Việt Nam); năm 1981-1982, ở “Dalzavod”, tàu đã có một số thay đổi trong thiết kế; tháng 8 năm 1982, đã tới khu mặt nước vịnh Pie Đại đế để tiến hành thí nghiệm đặc biệt cho các khí tài cất – hạ cánh đứng; từ 26 tháng 9 năm 1982 đến 15 tháng 2 năm 1983 đã mục vụ chiến đấu ở biển Đông (Nam Trung Hoa) và Ấn Độ Dương với việc ghé vào quân cảng Cam Ranh (Việt Nam), Bombay (Ấn Độ) và Aden (Nam Yemen), trong thời gian này, các máy bay đã hoàn thành 662 lần cất cánh từu boong, còn trực thăng – 516 lần (146 giờ bay đêm); theo kết quả năm 1982, đã trở thành tàu xuất sắc nhất hạm đội Thái Bình Dương; từ 27 tháng 3 đến 24 tháng 4 năm 1984 làm nhiệm vụ trực chiến ở biển Đông (Nam Trung Hoa), ghé vào Cam Ranh, máy bay cất – hạ cánh thẳng đã thực hiện 56 chuyến bay, trực thăng – 38 lần (5 giờ bay đêm); tháng 3-4 năm 1986, một lần nữa làm nhiệm vụ chiến đấu ở biển Đông và ghé vào Cam Ranh, ở đó cùng tàu chống ngầm lớn “Talin” đã tham gia cuộc tập trung trung Xô – Việt, trong thời gian tập trận, một Yak-38 bị rơi xuống biển (phi công hy sinh); từ 4 tháng 7 đến 8 tháng 7 năm 1986 cùng với tàu chống ngầm lớn “Talin”, “Đô đốc Spiridonov” và tàu tiếp tế “Argun” đã thăm cảng Vonsan (Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên); năm 1986 được tặng giải thưởng của Tư lệnh Hải quân Liên Xô vì bắn tên lửa; tổng cộng trong thời gian này trong biên chế Hải quân Liên Xô, từ boong tàu đã thực hiện 2390 lần bay của Yak-38 và Yak-38M, đồng thời 3166 lần của trực thăng Ka-25 và Ka-27; năm 1991 bắt đầu chuẩn bị để đưa tới xưởng đóng tàu biển Đen cho việc trung tu (50% nồi hơi chính không hoạt động), nhưng do Liên Xô tan rã, việc sửa chữa không được thực hiện; 26 tháng 10 năm 1992 được đưa tới Razboinhik bằng các tàu kéo; 29 tháng 10 năm 1992 tới vị trí neo đậu ở vịnh Postovaia (Sovietskaia Gavan); 30 tháng 6 năm 1993 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; 31 tháng 8 năm 1992 hạ cờ một cách trang trọng, sau đó giải tán; bị bán cho một công ty Hàn Quốc để tháo dỡ và 20 tháng 10 năm 1995 được đưa tới Pusan (Hàn Quốc); năm 1998 bán lại cho một công ty Trung Quốc và sau khi tiến hành các công việc cải tạo, từ 27 tháng 9 năm 2000 được sử dụng trong vài trò bảo tàng và trung tâm giải trí ở Thâm Quyến (khu vực Hồng Công).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Ba, 2012, 03:08:05 pm
+ “Novorossisk” (số hiệu xưởng 103); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 24 tháng 6 năm 1975; khởi công 30 tháng 9 năm 1975 ở xưởng đóng tàu biển Đen số 198 theo Đề án 1143-M; 28 tháng 6 năm 1977 phân loại lại thành tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng; hạ thủy 26 tháng 12 năm 1978; đóng tiếp theo Đề án 11433; các thí nghiệm neo đậu từ 1 tháng 9 đến 27 tháng 12 năm 1981; 5 tháng 1 năm 1982 đến Sevastopol; từ 29 tháng 1 đến 12 tháng 4 năm 1982 đã trải qua các thí nghiệm cấp xưởng, trên tàu, lúc đầu đã hỏng tổ hợp tuabin tăng áp TNA-3 của một trong số nồi hơi chính, bằng nỗ lực của nhân viên trong xưởng, tổ hợp tuabin tăng áp đã qua việc cắt tạm thời tới hang ga, còn từ đó – tới boong trên các thao tác hãn hữu đã hoàn thành, khi nằm trong giai đoạn đóng tiếp tàu tuần dương “Bacu” Đề án 11434, trong chiều ngược lại, đã lắp tổ hợp tubin tăng áp TNA-3 đồng dạng; từ 12 tháng 4 đến 28 tháng 5 đã trải qua các thí nghiệm cấp nhà nước trên các bãi tập huấn luyện chiến đấu của Hạm đội Biển Đen với quãng nghỉ để tham gia duyệt binh Ngày Chiến Thắng; trong thời gian các thí nghiệm cấp Nhà nước, các máy bay cất – hạ cánh thẳng Yak-38 và Yak-38U đã thực hiện 112 chuyến bay, trực thăng Ka-27 – 108, Ka-25 – 51, Mi-6 – 10 và Mi-8 – 139 lần bay (trong tháng 4, trên boong đã rơi 1 Ka-27, 1 thủy thủ hy sinh); gia nhập biên chế 14 tháng 8 năm 1982; 15 tháng 8 năm 1982 kéo cờ Hải quân một cách trọng thể và di chuyển tới Sevastopol; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương 24 tháng 11 năm 1982; từ tháng 1 đến tháng 3 năm 1983 ở bãi tập Hải quân Feodoski, ở đó tiến hành các thí nghiệm hệ thống vũ khí khác nhau; 14 tháng 5 năm 1983 phối hợp vơi tàu khu trục “Nakhodchivưi” và tàu chống ngầm lớn “Sderzhannưi” đã tời Sevastopol và bắt đầu hành quân vòng quanh Châu Âu tới biển Bắc, thực hiện việc theo dõi các tàu Mỹ và NATO; 7 tháng 6 năm 1983 phối hợp với tàu chống ngầm lớn “Obraztsovưi” và tàu tuần tiễu tên lửa “Zadornưi” và tàu tiếp tế “Dnestr” đã tới bến đỗ tàu trên biển Bắc; tháng 8 năm 1983 đã tham gia cuộc tập trận “Magistral-83” và tháng 9 năm 1983 – “Okean-83” (trong cuộc tập trận sau, 26 tháng 9 năm 1983, cánh quạt một trực thăng Ka-27 đã vướng phải một trực thăng khác, mảnh vỡ của cánh quạt làm một người hy sinh); 17 tháng 10 năm 1983 đã bắt đầu hành quân từ biển Bắc quanh Châu Âu, Châu Phi và Châu Á tới căn cứ thường trực ở Hạm đội Thái Bình Dương trong sự phối hợp với tàu chống ngầm lớn “Nicolaev”, tàu tuần tiễu (hộ vệ) tên lửa “Porưvistưi”, tàu đổ bộ lớn “Alecsandr Nicolaev” Đề án 1174 và tàu tiếp tế, theo đường hành quân, đội tàu đã thực hiện việc ghé vào Luanda (Angola – 12 đến 20 tháng 11 năm 1983), Maputa (Mozambic, 1 đến 8 tháng 1 năm 1984) và Madras (Ấn Độ, 5-10 tháng 2 năm 1984), trong thời gian hành quân đã bơi qua 23 258 dặm, máy bay cất hạ cánh thẳng thực hiện 600 chuyến bay, một Yak-38 bị mất do kết quả tai nạn (9 tháng 11 năm 1983 gần bờ biển Angola), nhưng phi công được cứu thoát; 27 tháng 2 năm 1984 đã tới vịnh Abrec; tháng 8 năm 1984 đã tham gia cuộc tận trận của Hạm đội Thái Bình Dương “Golubaia Strela” (“Mũi tên xanh da trời”) và “Dlinaia Osen” (“Mùa thu dài”); thagns 3-4 năm 1985 trong biên chế các lực lượng hỗn hợp Hạm đội Thái Bình Dương đã tham gia cuộc diễn tập chiến dịch – chiến thuật của Hạm đội ở khu vực quần đảo Hawai; 9 tháng 5 đến 16 tháng 6 năm 1985 cùng với tàu hộ vệ tên lửa “Revnostnưi” và “Porưvistưi” đã tham gia chiến dịch tìm kiếm ở biển Nhật Bản; 2 tháng 12 năm 1985 theo quyết định của Hội đồng quân sự Hải quân trở thành tàu tiên phong của Hạm đội; năm 1987 đã tiến hành bắn chỉ định bằng tổ hợp tên lửa chính; 12-16 tháng 5 năm 1988, trong biên chế độ các tàu Hạm đội Thái Bình Dương – tàu chống ngầm lớn “Đô đốc Zakharov” và tàu khu trục “Boevoi” đã thăm cảng Bonsan (Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên); năm 1992, Yak-38 bị rút khỏi trang bị và tàu tuần dương thực tế trở thành tàu chở trực thăng chống ngầm lớn; từ năm 1988 đến 1990 đã trải qua việc sửa chữa tăng cường hệ thống đạo hàng với việc đưa vào ụ ở “Dalzavod”; 28 tháng 1 năm 191 đã được đánh giá “tốt” khi thực hiện nhiệm vụ luân phiên K-1 và bắt đầu xử lý nhiệm vụ sau, nhưng không thực hiện đầy đủ hoàn toàn; lần ra khởi cuối cùng là tháng 5 năm 1991; trong toàn bộ thời kỳ phục vụ trong Hải quân Liên Xô, trên tàu đã thực hiện 1900 lần bay Uak-38 và 2300 – trực thăng; sau khi Liên Xô tan rã, tàu được đưa đi neo đậu; tháng 1 năm 1993, đám cháy đã làm hỏng một trong số các buồng máy, sau đó tàu nằm ở xưởng một tháng; tháo vũ khí và loại khỏi biên chế 30 tháng 6 năm 1993; 19-23 tháng 10 năm 1993 phố hợp với xưởng nổi PM-59 tới Sovgavan (vịnh Postovaia); 31 tháng 8 năm 1994 giải tán; tháng 1 năm 1996 bán cho công ty Hàn Quốc đến tháo dỡ, được đưa tới cảng Pusan và sau đó xẻ kim loại.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Ba, 2012, 03:16:08 pm
Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Đề án 1143

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 30 530

+ hoàn toàn: 41 370

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 273,1 (235,9)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 49,2 (31)

+ lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 11,05 (8,95)

+ các kích thước hang ga dưới boong: 130x22,5x6,6

Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi

+ 8 nồi hơi KVN 98/64 trong 4 buồng

+ 4 thiết bị tuabin răng cưa TV-12-3; tổng công suất, sức ngựa (kW): 180 000 (132 300)

+ các máy phát điện tuabin, công suất, kW: 5x1500

+ các máy phát điện – diezel, công suất, kW: 4x1500

4 trục, 4 chân vịt bốn cánh

Tốc độ, hải lý

+ lớn nhất: 30,7

+ tuần tra: 14,2/18,3

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 8000 (18); 4000 (29)

Thời gian hoạt động: 30 ngày

Thủy thủ đoàn (sỹ quan)

+ thủy thủ đoàn thường trực: 1433

+ thủy thủ đoàn với bộ tham mưu: 1483

+ nhóm phi công: 430.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Ba, 2012, 03:27:20 pm
Đề án 11433

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 31 900

+ hoàn toàn: 43 220

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 273,1 (235,9)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 49,2 (31)

+ lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 11,5 (9,3)

+ các kích thước hang ga dưới boong: 130x22,5x6,6

Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi

+ 8 nồi hơi KVN 98/64 trong 4 buồng

+ 4 thiết bị tuabin răng cưa TV-12-3; tổng công suất, sức ngựa (kW): 180 000 (132 300)

+ các máy phát điện tuabin, công suất, kW: 5x1500

+ các máy phát điện – diezel, công suất, kW: 4x1500

4 trục, 4 chân vịt bốn cánh

Tốc độ, hải lý

+ lớn nhất: 30,7

+ tuần tra: 14,2/18,3

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 7160 (18)

Thời gian hoạt động: 30 ngày

Thủy thủ đoàn (sỹ quan)

+ thủy thủ đoàn thường trực: 1607 (300)

+ thủy thủ đoàn với bộ tham mưu: 1659 (345)

+ nhóm phi công: 430.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Ba, 2012, 03:40:10 pm
Vũ khí

Máy bay

+ máy bay cất hạ cánh thẳng đứng Yak-38/38-U/38-M (“Foger”), các trực thăng Ka-25RTs/25PL/25SP (“Normone”): 36

Tên lửa tiến công

+ thiết bị phóng SM-241 cho tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh “Uragan-1143”: 4x2

+ tên lửa chống tàu có cánh 4K80 (P-500) “Bazalt” (SS-N-12 “Sandbox”): 16

Tên lửa chống ngầm

+ thiết bị phóng SM-32 cho tên lửa chống ngầm “Vikhr” (SUW-N-1): 1x2

+ tên lửa chống ngầm điều khiển 82-R (FRAS-1): 16

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng B-189 cho tổ hợp tên lửa phòng không M-11 “Shtorm-M”: 2x2

+ tên lửa phòng không 4K60 (B-611) (SA-N-3 “Goblet”): 96

+ thiết bị phóng ZiF-122 cho tổ hợp tên lửa phòng không 4K33 “Osa-M” (trừ tàu thứ 3): 2x2

+ tên lửa phòng không 9M33 (SA-N-4 “Gesko”): 40

Pháo

+ pháo 76,2mm AK-726: 2x2

+ tổ hợp pháo 30mm AK-630 (chỉ trên tàu đầu tiên)/630M: 8x6

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm PTA-53-1143 (trừ tàu thứ 3): 2x5

+ các ngư lôi SET-533 hoặc SET-65: 10

Vũ khí chống ngầm

+ thiết bị phóng bom chìm RBU-6000 “Smerch-2”: 2x12

+ cơ số đạn RBG-60: 144.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Ba, 2012, 04:18:42 pm
Trang bị vô tuyến điện

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Alleia-2” hoặc “Alleia-2K” (trên tàu thứ 3)

Các đài ra đa định vị

+ 1xMR-600 “Voskhod” (Top Sail)

+ 1xMR-700 “Fregat-M” (Top Steer)

+ 2x”Topaz-IV” (Strut Pair) (chỉ trên tàu thứ 3)

+ 2xMR-360 “Podkat” (chỉ trên tàu thứ 3)

+ 2x”Volga” (Palm Frond) (3- trên tàu thứ 3)

Đài ra đa định vị đạo hàng

+ 1x”Vaigach-1143” (Don Kay)

+ 1x(Shot Dome)

Đài thủy âm

+ “Orion” (Mouse Jaw và Bull Horn) trong bình hình cầu

+ MG-342 – phát hiện các tàu ngầm tốc độ cao

+ MGS-407K tiếp nhận thông tin từ phao tiêu thủy âm vô tuyến

+ “Platina” (Mage Tail) ăng ten lai và di động hoặc tổ hợp thủy âm “Pilinom” (Horse Jaw/Tail) (trên tàu thứ 3)

Đài phát hiện mục tiêu theo vết rẽ nước

+ MN-110K (theo sự thương phản nhiệt)

+ MN-110R (theo sự bất thường đồng dạng)

Khí tài (chống) tác chiến điện tử

+ “Koltsom” (4 Bell Nip) – rải nhiễu

+ “Gurzuf” (-1) (8 Side Globe) (trên tàu thứ 3)

+ “Ograda” (4 Rum Tub)

+ “Kantata” (2 Bell Bash) (chỉ trên tàu thứ 3)

+ R-678N, R-670M, R-721, SPS-2, R-710, R-714, R-740L – các đài thu trinh sát vô tuyến

+ khí tài bảo vệ thủy âm lai

Tổ hợp bắn nhiễu

+ 2x2 thiết bị phóng PK-2 (ZiF-121)

Các khí tài quang điện

+ 4x- hoặc 5x- (trên tàu thứ 3)

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ 1x”Argon-1143” (Trap Door) cho tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh “Bazalt”

+ 2x”Korvet” (Punch Bowl) chỉ thị mục tiêu từ vệ tinh

+ 2x”Grom-M” (Head Lighr C) cho tổ hợp tên lửa phòng không “Shtorm-M”

+ 2x4P33 (Pop Group) cho tổ hợp tên lửa “Osa-M”

+ 1xMR-105 “Turel” (Owl Screech) cho pháo 76,2mm

+ 4xMR-123 “Vuwmpel” (Bass Tilt) cho pháo 30mm

Tổ hợp đạo hàng

+ “Salgir-1143” hoặc “Salgir-V” (trên tàu thứ 3)

Các khí tài đạo hàng vô tuyến

+ “Privod-SV” (Top Knot) điều khiển máy bay

Các khí tài thông tin liên lạc

+ “Typhoon-1”

+ “Tsumani-BM” thông tin liên lạc vũ trụ

Đài ra đa định vị hội thoại nói

+ “Kremni-2M” (High Pole A/B; Salt Pot A/B; Square Head).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Ba, 2012, 04:20:41 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1143_37.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1143_38.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1143_39.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1143_41.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1143_55.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Ba, 2012, 02:52:19 pm
Tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng “Bacu” Đề án 11434 (Modified Kiev)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11434_40.jpg)

Tàu chở máy bay thứ 4 “Bacu” (Đề án 11434) hoặc đơn giản là “thứ 4”, trở thành “hậu duệ” cuối cùng của “Kiev”, nhưng có sự khác biệt rất lớn với nguyên mẫu. Sự xuất hiện của nó được giới thiệu là sự thỏa hiệp, bởi vì ý kiến thống nhất về các tàu sân bay ở lãnh đạo cấp cao Liên Xô khi đó không được hình thành. Toàn bộ cho các kế hoạch ban đầu được dự kiến đóng 2 tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng Đề án 1143, sau đó sẽ chuyển sang chế tạo tàu sân bay với máy phóng và máy bay cất cánh ngang. Ý kiến này đã được cân nhắc một cách kỹ lưỡng bởi Tư lệnh Hải quân Liên Xô S.G.Gorshkov, có những người ủng hộ có uy tín – Bộ trưởng Quốc phòng Nguyên soái A.A.Grechko và Bộ trưởng Công nghiệp đóng tàu B.E.Butom. Tuy nhiên, thư ký Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô về quốc phòng D.F.Ustinov, Tổng Tham mưu trưởng nguyên soái N.V.Ogarkov cùng phó Tham mưu trưởng về Hải quân – Đô đốc N.N.Amelko đã bảo lưu quan điểm khác. Họ cho rằng việc chế tạo các tàu sân bay đúng nghĩa là rất đắt đỏ, sẽ trở nên phức tạp bởi không có kinh nghiệm thiết kế (đóng) máy phóng hơi nước. Ngoài ra, các tàu sân bay, gần với các thông số của tàu sân bay Mỹ, rất không phù hợp với học thuyết Hải quân Liên Xô. Hải quân Liên Xô được định hướng một cách đặc biệt đối với chiến tranh hạt nhân toàn cầu, khác với Mỹ, không dự định tham gia vào các cuộc xung đột vũ trang khu vực trên các lãnh thổ ngoài Liên Xô. Còn trong các điều kiện này, theo quan điểm của những người phản biện tàu sân bay cổ điển, nhiệm vụ chính của máy bay cất cánh trên boong – tiêu diệt các máy bay cảnh báo sớm và chống ngầm trong các khu vực triển khai tàu ngầm hạt nhân – có thể giải quyết bằng khả năng hiệu quả hơn. Ustinov đã khuyến nghị tập trung tiềm lực vào việc đóng tiếp tàu lớp “Kiev” với sự hiện đại hóa máy bay cất hạ cánh thẳng đứng, Đô đốc Amelko đã đễ xuất phương án rẻ hơn – đóng tàu chở máy bay đa năng, chế tạo trên cơ sở các tàu hàng (Đề án “Khalzan”). Kết quả là Đô đốc Gorshkov và những người ủng hộ đã đồng ý với việc đóng tàu thứ 3 (theo Đề án 1143-M, nhưng tàu thứ 4 phải trở thành tàu khác hoàn toàn theo nguyên tắc- tàu sân bay nguyên tử Đề án 1153.

Tuy nhiên, năm 1976, phía những người ủng hộ tàu sân bay thiết kế cổ điển – A.A.Grechko và B.E.Butoma đã từ trần. Vị trí Bộ trưởng Quốc phòng do D.F.Ustinov đảm nhận. Kết quả là các công việc về tàu sân bay Đề án 1153 bị dừng lại, còn tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay đã quyết định đóng lại – dưới các bãi đáp cho máy bay cất hạ cánh thẳng đứng. Sự thật là, các máy bay và vũ khí của tàu tuần dương (đặc biệt là vô tuyến điện tử) được tính toán hiện đại hơn, trở thành thế hệ mới. Kết quả nhận được là tàu gần như khác hoàn toàn, mặc dù các kích thước thân tàu tương đồng với các tàu trước.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Ba, 2012, 02:55:38 pm
Bản vẽ thiết kế tàu chở máy bay "Bacu":

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11434_2.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11434_17.jpg)

Bản vẽ thiết kế thượng tầng nhìn từ bên phải và trái:

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11434_draw3.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Ba, 2012, 03:02:56 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11434_03.jpg)

Tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng “Đô đốc Hải quân Liên Xô Gorshkov” (trước đó là “Bacu” Đề án 1143.4)

Lượng choán nước: 44 500 tấn

Tốc độ: 32 hải lý

Vũ khí:

+ 36 khí tài bay (Yak-38, Yak-41, Ka-25 và Ka-27)

+ 6x2 tên lửa chống tàu “Bazalt”

+ 4 tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal”

+ 2x100 pháo AK-100

+ 8x pháo tự động 30mm AK-630

+ 2 thiết bị phóng bom phản lực RBU-1200 (10 ống phóng)

Công suất động cơ: 200 000 sức ngựa

Tầm bơi xa: 13 500 dặm

Chiều dài: 274 mét

Chiều rộng: 32,7 mét

Lượng mớn nước 10,2 mét.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Ba, 2012, 03:04:26 pm
Hình vẽ tàu tuần dương "Bacu":

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11434_01.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1143_87.jpg)

Hình dạng tổng quan tàu tuần dương "Bacu":

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11434_draw2.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Ba, 2012, 03:26:14 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11434_draw1.jpg)

Bố trí vũ khí trên tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng Đề án 11434

1.Ăng ten mũi của tổ hợp thủy âm “Polinom”

2.Ăng ten dưới sống tàu của tổ hợp thủy âm “Polinom”

3.Cửa ăng ten di động của đài điều khiển tên lửa chống tàu “Argon-1143”

4.Thiết bị phản lực RBU-12000 của tổ hợp ngư lôi chống ngầm “Udav-1”

5.Các thiết bị phóng đứng của tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal”

6.Thiết bị phóng cho tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh P-500 “Bazalt”

7.Thiết bị pháo 100mm AK-100

8.Tổ hợp pháo phòng không 6 nòng AK-630M

9.Đài ra đa định vị MR-124 “Vưmpel” điều khiển bắn cho tổ hợp pháo phòng không 30mm

10.Đài ra đa MR-145 “Lev” điều khiển bắn cho pháo

11. Đài ra đa đạo hàng “Vaigach”

12.Trạm ăng ten của đài ra đa điều khiển bắn cho tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal”

13.Trạm ăng ten của đài thu chỉ thị mục tiêu “Korvet-1143”

14.Đài ra đa phát hiện mục tiêu bay thấp”Podkat”

15.Đài ra đa phát hiện mục tiêu tổng hợp “Fregat-M1”

16.Ra đa mảng pha đài đạo hàng tầm gần “Rezistor-K4”

17.Ăng ten đài thông tin liên lạc vệ tinh “Kristall-BK”

18.Thang nâng máy bay

19.Trạm ăng ten đài (chống) tác chiến điện tử tổ hợp “Kantana-M”

20.Ra đa mảng pha của tổ hợp ra đa đa năng “Mars-Passat”

21.Đài lục phân vô tuyến

22.Đèn pha đường bay vòng thấp hệ thống “Rezistor-K4”

23.Bãi đáp cất-hạ cánh

24.Máy bay tiêm kích cất cánh trên boong Yak-38M

25.Thiết bị phóng tổ hợp bắn nhiễu PK-2

26.Cảng bốc dỡ ăng ten lai tổ hợp thủy âm “Polinom”.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Ba, 2012, 12:29:58 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11434_28.jpg)

Đáng chú ý rằng, việc chế tạo rất phức tạp trong toàn bộ sự liên quan đến các tàu chiến lớn chiếm thời gian không nhỏ, rằng trong các điều kiện vượt tiến độ trong lĩnh vực vũ khí Hải quân đủ nhanh để dẫn đến sự “già” – lạc hậu rất sớm của các khí tài vô tuyến điện, các hệ thống phòng không, chống ngầm và vũ khí không quân. Sự cần thiết cốt yếu đã xuất hiện trong việc nâng cấp khí tài vô tuyến điện, đảm bảo khả năng phát hiện kịp thời các máy bay và tên lửa tốc độ cao của đối phương. Câu trả lời cho việc phát triển vũ khí tấn công ở nước ngoài trên các tàu Liên Xô là tăng cường giáp bảo vệ, hoặc, theo thuật ngữ hiện nay là phòng thủ (bảo vệ) thiết kế. Tất cả đã định trước sự phát triển (“tiến hóa”) của các tàu tuần dương chở máy bay của Liên Xô và sự khác nhau cơ bản giữa chúng. Tàu mới được chế tạo theo đề án thiết kế lại, nhận số hiệu 11434 (Tổng công trình sư V.F.Anikiev, giám sát viên chính từ Hải quân – Thuyền trưởng cấp 1 A.A.Borisov) và sự nâng cấp theo logic của dòng tàu Đề án 1143. Tàu theo nguyên tắc được trang bị khí tài mới của Hải quân: tổ hợp vô tuyến điện lập trình nhìn vòng “Mars-Passat”, tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal” với các tên lửa phóng thẳng đứng, đồng thời phát triển hệ thống bảo vệ thiết kế. Số lượng các thiết bị phóng tên lửa tiến công “Bazalt” tăng gấp rưỡi – từ 8 đến 12. Tàu nhận tổ hợp thủy âm mới “Polinom”, còn thay cho RBU-6000, tàu được trang bị tổ hợp phản lực phòng thủ ngư lôi “Udav”. Nhưng sự khác biệt chính so với các tàu trước gồm có sử dụng các máy bay mới – lần đầu tiên trên thế giới sử dụng máy bay siêu âm cất hạ cánh thẳng Yak-41, việc thiết kế được tiến hành ở Phòng thiết kế A.S.Yakovlev. Máy bay mới theo lý thuyết vượt trội hoàn toàn các cụm máy bay Yak-38, nhưng đến thời điểm tiếp nhận các máy bay siêu âm “Yak” vào biên chế, công việc không được thực hiện.

Theo so sánh với Yak-38, máy bay mới có những ưu điểm đáng kể. Đầu tiên, máy bay có đài ra đa định vị mang theo, tương tự với đài ra đa lắp trên các máy bay tiêm kích Mig-29. Thứ 2, Yak-41 vượt trội hoàn toàn máy bay trước theo bán kính hoạt động và các thông số kỹ - chiến thuật khác. Thứ 3, “Yak” mới có thể mang các tên lửa hiện đại K-27 và K-73 lớp “không đối không”, đồng thời trang bị pháo tự động lắp chìm. Cuối cùng, Yak-41 có thể sử dụng chế độ cất cánh mới – gọi là khởi động “thẳng – nghiêng”, mang lại cho máy bay hàng loạt các ưu điểm chiến thuật.

Tổng cộng đã kịp đóng 4 mẫu thí nghiệm Yak-41M, trong có có 2 phiên bản bay. Cả 2 máy bay vào tháng 9 năm 1991 đã được mang tới thành tàu Đề án 11434 “Đô đốc Gorshkov” (trước đó là “Bacu”) để tiến hành các thí nghiệm trên biển. Trong khoảng 2 tuần thí nghiệm đã thực hiện hơn 150 lần bay, tuy nhiên mùng 5 tháng 10, 1 trong số các máy bay đã bị tai nạn và bốc cháy trên boong. Sau đó, các thí nghiệm bị dừng lại. Tuy nhiên, các thí nghiệm đã chỉ ra rằng, mặc dù gặp tai nạn và sự kéo dài đáng kể trong thời hạn thiết kế, Yak-41M được giới thiệu như là máy bay chiến đấu hoàn hảo, vượt trội đáng kể Yak-38M trong mọi sự so sánh. Sự tan rã của Liên Xô và các vấn đề tài chính đã “chôn vùi” khả năng tiếp nhận máy bay vào trang bị Không quân Hải quân. Năm 1992-1993, mẫu bay còn lại của máy bay cất hạ cánh thẳng đứng dưới tên gọi mới Yak-141 đã được trình diễn ở triển lãm quốc tế, nhưng khách hàng đặt mua không có. Vì thế vào năm 1995, Phòng thiết kế mang tên A.S.Yakovlev với sự đồng ý của Chính phủ Nga đã bán các tài liệu về các máy bay Yak-38 và Yak-141 cho tập đoàn “Lockheed Martin” của Mỹ. Đến đây, lịch sử máy bay cất hạ cánh thẳng đứng đã kết thúc.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Ba, 2012, 12:36:18 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11434_08.jpg)

Bộ phận mũi thượng tầng tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay Đề án 11434 "Bacu"

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11434_09.jpg)

Thượng tầng và bộ phận boong cất cánh tàu tuần dương Đề án 11434 "Bacu"

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11434_10.jpg)

Bộ phận mũi tàu tuần dương Đề án 11434, nhìn thấy rõ thiết bị phóng tổ hợp "Udav-1" và tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh "Bazalt"


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Ba, 2012, 01:16:19 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11434_11.jpg)

Hình dáng bên ngoài tàu tuần dương Đề án 11434 không bình thường đối với các tàu Liên Xô. Sự xuất hiện trong toàn bộ 4 tường thượng tầng là 4 cánh cửa phẳng, lớn của trạm ăng ten tổ hợp ra đa định vị “Mars-Passat”, bởi hình dáng gốc đã thay đổi hoàn toàn hình dáng tàu. Tàu tuần dương giữ lại cấu trúc cố điển của tàu chở máy bay – di chuyển tới thành bên phải – thượng tầng dạng hòn đảo, boong góc (các kích thước 195x20,7 mét) với độ nghiêng 4,5 độ so với thành bên trái từ mặt phẳng đường kính. Boong góc phục vụ các hoạt động cất hạ cánh của máy bay trên tàu. Trong thời gian đó, boong trên của tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng giữ lại không nhiều – bộ phận mũi dành cho bố trí vũ khí tên lửa và chống ngầm. Để đảm bảo sự khởi động theo nhóm các máy bay cất hạ cánh thẳng tương lai Yak-41, tàu tuần dương được trang bị các lá chắn phụt khí nâng – hạ được, đồng thời khí tài hỗ trợ.

Boong bay có bề mặt che phủ chịu lửa, được chế tạo từ vật liệu nhập khẩu. Trên đó bố trí từ mũi tới mạn bãi đáp cất hạ cánh với ký hiệu sau: đối với trực thăng cứu nạn (vòng tròn trắng với chữ “C” bên trong); 6 số hiệu (vòng tròn trắng với số thứ tự từ 1 đến 6 bên trong); ở trung tâm mạn tàu – để tiếp nhận các trực thăng vận tải (vòng tròn trắng với chữ cái “T”). Dọc boong bay hai bên trái và phải có các dải chấm màu vàng đậm, hạ chế khu vực tiến hành các thao tác bay. Tiếp đó, sau thượng tầng là 10 bãi đáp kỹ thuật để bảo dưỡng khí tài bay.

Bản vẽ kỹ thuật Đề án 11434 khác ở sự thay đổi thiết kế thành trong khu vực dải tôn mép mạn theo thành bên trái tới mũi từ vị trí kết nối sườn với thân chính. Ở đây, nó được thiết kế dạng mái tròn với sự dồn lớp bọc (mặt lát) ngoài bên trong thân – để giảm hiện tượng chảy rối luồng không khí trên boong trên. Đáng chú ý rằng, trên tàu ban đầu không có khí tài làm bằng, xuất hiện trong thời gian các thí nghiệm vận động cấp xưởng. Có sự khác biệt theo thành bên phải - ở đây, chiều rộng thân tàu theo cấp độ boong bay được tăng lên 3,7 mét đối với khí tài chỉ huy tương tự. Thân tàu có 18 vách ngăn chống tràn nước ngang và 2 vách ngăn dọc chính. Theo tính toán, tính không chìm (tính nổi) của tàu được đảm bảo khi đắm bốn khoang gần nhau bất kỳ.

Hang ga dưới boong một tầng theo thiết kế không cột chống có kích thước 130x22,5x6,6 mét. Trong sự khác biệt với các tàu lớp trước, các tường (thành) hang ga được bọc thép, nhờ đó tăng cường đáng kể khả năng sống còn của tàu. Sự áp dụng trong sự bảo vệ thiết kế đã mang lại kết quả tăng khối lượng thân lên 1700 tấn, còn lượng choán nước hoàn toàn tăng lên 44 490 tấn. Đối với sự giao thông trong hang ga từ boong bay, sử dụng 2 thang nâng máy bay – 30 tấn (18,9x10 mét) và 20 tấn (18,9x4,8 mét) bố trí, một cách tương ứng – bên trái và ở mạn tính từ thượng tầng. Sự di chuyển các máy bay hoặc trực thăng theo boong trên được thực hiện bằng các thiết bị kéo chuyên dụng, theo hang ga – với việc sử dụng hệ thống vận tải (băng chuyền) dọc – ngang. Hang ga có hệ thống tín hiệu, thông gió, kiểm tra mật độ hơi nước của dầu máy bay, thiết bị phun nước, khí tài chữa cháy bọt – khí. Khi phát hiện lửa trong hang ga, nó sẽ cách ly tự động bằng màn chắn amiang chữa cháy (tổng cộng có 5), sau đó, khí tài chữa cháy được mở.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Ba, 2012, 01:21:17 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1143_26.jpg)

Máy bay Yak-38 khởi động với sự chạy đà ngắn trên tàu chở máy bay "Bacu"

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11434_12.jpg)

Tiêu bản bay đầu tiên Yak-141M cất cánh tên tàu tuần dương chở máy bay "Đô đốc Gorshkov"

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11434_37.jpg)

Yak-141M sau tại nạn trên boong "Đô đốc Gorshkov"


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Ba, 2012, 01:49:54 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11434_43.jpg)

Bố trí trực tiếp dưới hang ga là buồng máy, đồng thời phát triển bảo vệ thiết kế. Đáy kép có sự kéo dài và dày đáng kể (buồng máy nồi hơn, trạm chỉ huy trung tâm, hầm đạn) kéo dài qua thành kép, nâng lên theo độ cao đến boong thứ 6. Trong không gian giữa đáy và thể thích của thành kép có các thùng để chứa nhiên liệu, dầu, nước nhạt…

Đáng chú ý, rằng khí thiết kế, sự chú ý không nhỏ tập trung vào các câu hỏi giảm khả năng bị phát hiện của tàu theo trường vật lý. Ngoài sự tiếp nhận mang tính truyền thống thiết kế nghiêng 10 độ theo trục dọc, các bộ giảm chấn của máy và sử dụng màn che cách ly, đặc biệt trong buồng máy, trên tàu tuần dương chở máy bay thứ 4 của Hải quân Liên Xô để bảo vệ từng phần nửa bán cầu trên sử dụng lớp phủ hấp thụ vô tuyến nhiều lớp (RPP) “Lak”. Nó mang lại cho các bề mặt thẳng và ngang sự giảm việc bị phát hiện bằng các khả năng khác.

Để tăng cường xác suất chọc thủng hệ thống phòng thủ tên lửa của địch và tiêu diệt các mục tiêu được bảo vệ, số lượng thiết bị phóng tổ hợp tiến công chính “Bazalt-11434” trên tàu được tăng lên gấp rưỡi. Sáu (6) thùng phóng đôi SM-241 với góc nâng cố định 15 độ bố trí theo hai hàng ở bộ phận mũi của boong, trước thượng tầng. Ngoài ra, trong thành phần tổ hợp còn có hệ thống điều khiển “Argon-1143” với đài ra đa định vị di động ở mũi, thiết bị vận tải, tổ hợp kiểm tra thao tác và 12 tên lửa chống tàu có cánh P-500 “Bazalt”. Đạn chỉ ở trong thiết bị phóng và tàu tuần dương đã khắc phục được việc nạp đạn tên lửa mất thời gian trên biển, như trên các tàu Đề án 1143.

Khí tài phòng không được tăng cường đáng kể, gồm có 4 tổ hợp tên lửa phòng không tự vệ “Kinzhal” với 24 mặt trống của thiết bị phóng thẳng 4S-95 theo 8 tên lửa phòng không 9M330 (tổng cơ số đạn 192 tên lửa). Các thiết bị phóng được bố trí trong các khố (túi) theo 6 modul: 2 khối – mũi, trực tiếp trước thiết bị phóng “Bazalt”, 1 khối – theo thành bên trái ở mạn và 1 – bên phải tính từ thang nâng máy bay ở mạn, sau thượng tầng dạng ốc đảo. Bốn trạm ăng ten của tổ hợp “Kinzhal” được bố trí trên các thành của thượng tầng trong sự tương ứng với phạm vi bắn hình quạt.

Pháo đa năng được lắp trên tàu là các thiết bị pháo 1 nòng mới AK-100 (giải pháp này là kết quả các thí nghiệm thành công thiết bị pháo trên tàu tuần tiễu tên lửa Đề án 1135-M), bố trí trước thượng tầng dạng bậc thang cao dần, với sự bố trí tương đối tới thành bên phải và đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực “Lev”. Các pháo tự động 6 nòng AK-630 cỡ nòng 30mm được giữ lại theo tiêu chuẩn Đề án 1143. Thành phần- bốn cụm theo 2 thiết bị (tổng cộng 48 000 phát bắn) với 4 hệ thống điều khiển MR-123. Sự thật, liên quan đến sự loại bỏ sườn “con” theo thành bên trái, trước đố bố trí cụm đã được chuyển tới thượng tầng, ở đó lắp cụm số 1 và 2, đảm bảo đồ thị bắn trên các góc vòng mũi tàu.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Ba, 2012, 02:07:07 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11434_46.jpg)

Mặt cắt dọc tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng “Bacu”

1.Buồng ăng ten đài ra đa “Argon” (hệ thống điều khiển tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh “Bazalt”

2.Khoang khí tài trạm ăng ten đài ra đa “Argon”

3.Thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000

4.Hầm chứa bom chìm phản lực

5.Pháo tín hiệu 45mm

6.Thùng dây xích

7,15.Nguồn bức xạ tổ hợp thủy âm “Polinom”

8.Buồng khí tài tổ hợp thủy âm “Polinom”

9.Buồng máy tời

10.Modul thiết bị phóng tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal”

11.Kho

12.Buồng cho thủy thủ đoàn

13.Thiết bị phóng tổ hợp tên lửa chống tàu “Bazalt”

14.Buồng tổ hợp và khí tài thiết bị phóng cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Bazalt”

16.Hầm đạn máy bay

17.Thiết bị pháo 100mm AK-100

18.Buồng dưới tháp thiết bị pháo 100mm

19.Các khoang máy bơm tiêu nước

20.Thiết bị pháo AK-630M 30mm

21.Các trạm hệ thống điều khiển “Argon”

22.Các khoang máy làm lạnh

23.Khoang tổ hợp “Korvet-1143”

24.Trạm chỉ huy chính (GPK) và trung tâm thông tin chiến đấu (BITs)

25.Trạm chỉ huy cao cấp

26.Ăng ten đài ra đa “Lev”.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Ba, 2012, 02:16:52 pm
(tiếp theo)

27.Buồng lái

28.Các ăng ten định pha đài ra đa “Mars-Passat”

29.Buồng sỹ quan

30,40,50.Khoang năng lượng

31,41,36,51.Đài điện tử

32.Các ăng ten của đài ra đa “Podkat”

33.Các ăng ten tổ hợp “Kristall-BK”

34.Buồng tổ hợp “Kristall-BK”

35,49.Các buồng máy nồi hơi

36.Ăng ten đài ra đa “Fregat-M1”

37.Ăng ten hệ thống “Rezistor-K4”

38.Thùng khí làm lạnh

39.Hầm thang nâng máy bay

42.Khoang máy móc hỗ trợ và các khí tài giảm rung lắc

43.Các trạm hệ thống “Mars-Passat”

44.Các trạm hệ thống “Rezistor-K4”

45.Ăng ten đài ra đa hệ thống điều khiển tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal”

47.Trạm điều khiển hệ thống hạ cánh

48.Hang ga cho thiết bị kéo (kéo máy bay)

52.Hang ga

53.Các thùng nhiên liệu máy bay

54.Buồng (tay) lái

55.Khoang khí tài ăng ten lai tổ hợp “Polinom”.

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11434_30.jpg)

Trên boong tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay Đề án 11434 "Bacu"


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Ba, 2012, 01:25:30 pm
Lần đầu tiên trong Hải quân Liên Xô, tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay Đề án 11434 được trang bị tổ hợp chống ngư lôi “Udav-1” (thay cho thiết bị phóng bom phản lực và tổ hợp tên lửa chống ngầm) với hai thiết bị KT-153 (RBU-12 000) cùng cơ số đạn 60 bom chìm theo ba loại. Nhiệm vụ chính của tổ hợp – tiêu diệt các ngư lôi tấn công; nhiệm vụ thứ 2 – tiêu diệt các tàu ngầm.

Theo dự định, đóng trên thành tàu có 36 khí tài bay, gồm có 14 máy bay cất hạ cánh thẳng Yak-41/Yak-41M, 6 máy bay cất hạ cánh thẳng Yak-38M, 10 trực thăng chống ngầm K-27PL, 2 trực thăng cứu nạn và 4 trực thăng tuần tra bằng ra đa định vị (RLD). Thực tế, sau sự gia nhập biên chế của tàu, thành phần cụm khí tài bay có sự khác biệt: các máy bay cất hạ cánh thẳng Yak-38M và trực thăng Ka-27. Cơ số đạn máy bay trong phiên bản máy bay phản lực là 18 bom đặc chủng RN-28, 143 tên lửa điều khiển Kh-23, 176 tên lửa R-3S, 4800 rocket S-5, 30 thùng chứa chất lỏng gây cháy ZB-500 và 20 thùng bom sử dụng một lần RBK-250. Cơ số đạn cho trực thăng (thay cho máy bay phản lực) – 30 ngư lôi thả từ máy bay AT-1, 40 bom chống ngầm PLAB-250-120, 504 phao tiêu thủy âm RGB-HM, 300 phao tiêu vô tuyến “Poplavok” và 300 phao tiêu định hướng OMAB-25. Dự trữ nhiên liệu (dầu hỏa) trên tàu được tăng thêm 1500 tấn.

Trang bị kỹ thuật vô tuyến trên Đề án 11434 là hoàn toàn mới. Trên tàu, lần đầu tiên trong Hải quân Liên Xô đã lắp tổ hợp thủy âm nhìn vòng lập trình với ra đa mảng pha “Mars-Passat” được thiết kế ở Viện nghiên cứu khoa học “Kvant” (Kiev). Nó có khả năng kháng nhiễu tăng cường và có thể đồng thời theo dõi 80 mục tiêu trên không. Ra đa mảng pha cho phép, trong sự khác biệt với các ăng ten quay thế hệ trước, thực tế thực hiện một cách tức thời sự vượt các tia ra đa của đài ra đa định vị tới điểm không gian quy định. Đồng thời tăng cường đáng kể độ chính xác và tốc độ cao của tổ hợp. Các cửa ăng ten phẳng của tổ hợp ra đa định vị “Mars-Passat” được bố trí theo 1 trên mỗi thành của thượng tầng dạng hòn đảo trên tàu. Đồng thời có tổ hợp mới khí tài trinh sát vô tuyến điện và đề kháng “Kantata-M” (thay cho hệ thống “Koltso”), tổ hợp “Pogonia” và “Kasad-U”, hệ thống tiếp nhận sử dụng an toàn đồng thời vũ khí trên tàu “Sokol”, hệ thống hàng không vũ trụ “Buran”, hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu thế hệ thứ 3 “Lesorub-434” và được đồng nhất với Không quân hệ thống dẫn bắn của máy bay tiêm kích “Gazon” (có thể tồng thời dẫn bắn cho 4 máy bay tiêm kích), tổ hợp các khí tài trao đổi thông tin “Troinik”. Ngoài ra, tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay được trang bị tổ hợp đạo hàng “Salgir-V”, tổ hợp thủy âm mạnh “Polinom” (với các ăng ten trong bình hình cầu, dưới sống và ăng ten lai), tổ hợp các khí tài thông tin liên lạc tự động hóa “Taifun-1”. Trong phần trên thượng tầng bố trí đèn biển vô tuyến điện đo xa – tìm phương đạo hàng tầm gần, điều khiển và dẫn bắn cho máy bay “Rezistor” – nó đảm bảo sự nhìn vòng của các khí tài cơ sở chiếu sáng tình hình trên không và trên mặt nước khi duy trì khu vực vòng tròn điều khiển máy bay (thuộc căn cứ trên tàu và trên bờ) và sự dung hợp điện từ khi chúng hoạt động đồng thời. Còn cao hơn là ăng ten dự bị của đài ra đa định vị kiểm tra tình hình trên mặt nước và trên không “Fregat-M”. Đồng thời, tàu trang bị hệ thống tự động hóa đạo hàng tầm gần, dẫn động và hạ cánh trên tàu của các khí tài bay.

Để tiếp nhận và truyền tải hàng hóa khô và lỏng khi di chuyển, Đề án 11434 được lắp một thiết bị “Struna 2P-400”, 2 “Struna P-1000” và 1 “Struna 1P2.5”. Các máy chống rung lắc được giới thiệu là một tổ hợp các bánh lái di động kiểu 89-3 có diện tích tăng cường với tổ hợp điều khiển. Trong thành phần trang bị vũ khí hóa học có hệ thống bảo vệ nước tổng hợp (USVZ), tổ hợp xử lý chuyên dụng mùa đông và 52 thiết bị quạt thông gió (FVU). Khí tài cứu nạn chính là 120 bẻ mảng con cứu nạn kiểu PSN-10M, được cố định dọc theo hai thành tàu.

Thiết bị năng lượng chính cũng như trên đề án nguyên thủy là 4 trục, tuabin nồi hơi (8 nồi hơi KVN 98/64) với các tham số hơi nước cao, trong thành phần có 4 cụm nồi hơi tuabin hoạt động dài ngày, bố trí theo cặp trong 2 buồng máy – nồi hơi. Các buồng máy là 2 khoang độc lập và hoạt động trên các chân vịt riêng – tổng cộng 4 tổ hợp tua bin hơi nước chính kiểu TV-12-3. Tổng công suất của thiết bị - 180 000 sức ngựa. Trạm điện công suất 15 000kW (6 máy phát điện tua bin và 4 máy phát điện diezel) được bố trí cạnh khoang máy – nồi hơi trong các buồng năng lượng trên tàu. Trữ lượng nhiên liệu cho nồi hơi (dầu mazut) được tăng thêm 8900 tấn.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Ba, 2012, 04:49:16 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11434_45.jpg)

Sự bố trí thủy thủ đoàn được giữ lại theo truyền thống đối với các tàu trong Đề án: sỹ quan – trong các buồng 1 và buồng đôi; chuẩn úy và hạ sỹ quan chính thức – trong các buồng 1 và 6 giường; hạ sỹ quan và thủy thủ - trong các buồng 6 và 26 chỗ.

Kinh nghiệm khai thác sử dụng tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay cho phép chỉ huy có cách nhìn mới trong vai trò của máy bay trên tàu. Trong Hải quân, cuối cùng đã xuất hiện các máy bay chiến đấu, các nhiệm vụ được mở rộng. Còn mục đích chính – bắt đầu đóng theo kế hoạch các tàu chở máy bay (xuất hiện Đề án 11434) và thiết kế máy bay cất cánh trên boong, huấn luyện phi công Hải quân. Trong thời gian gần, Hải quân có thể “giải phóng” khỏi sự chênh lệch và trở nên cân bằng về thành phần cần thiết trên không. Tư lệnh Hải quân S.G.Gorshkov đã cho rằng, việc chế tạo các tàu tuần dương hạng nặng với bãi cất hạ cánh thẳng đứng – đây là quá trình trung gian trên con đường tới máy bay phản lực trên boong theo sơ đồ “thường”. Từ quan điểm này tương ứng cho nhiệm vụ được giải quyết, các tàu trong dòng 1143 có thể gọi là rất thành công trong thời gian của chúng, đơn giản trong khai thác sử dụng và có độ tin cậy cần thiết. Theo nhận xét của các thủy thủ, tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng có khả năng cơ động trên biển và điều khiển tốt. Sự thật, ngay chính các máy bay đóng trên tàu được giữ lại là không hiện đại và không đáp ứng các yêu cầu tác chiến. Vì thế, các cơ hội của Yak-38 và Yak-38M giành chiến thắng trong không chiến với các máy bay cảnh báo sớm có sự yểm trợ mạnh mẽ của các máy bay tiêm kích là không nhiều. Vì vậy, các kế hoạch không được thực hiện ở Liên Xô là chế tạo các máy bay cất hạ cánh thẳng hiện đại hơn và sau đó đã dẫn tới việc giảm đáng kể hiệu quả của tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay Đề án 11434 mà ban đầu được tính toán sử dụng trên thành tàu các máy bay Yak-41.

Tổ hợp ra đa định vị “Mars-Passat” được dự tính trong vai trò tổ hợp nội địa tương tự với tổ hợp ra đa định vị “Aegis” của Mỹ. Các thông số kỹ - chiến thuật của nó phải đáp ứng cho các yêu cầu hiện đại nhất, đảm bảo phát hiện, phân loại và theo dõi tới 120 mục tiêu đồng thời. Tuy nhiên,  như đã được lắp thí nghiệm trên “Bacu”, tổ hợp cần hoàn thiện, vì thế, các chức năng của nó do đài ra đa định vị dự bị “Fregat-M” thực hiện – nó phát hiện và theo dõi đến 80 mục tiêu, còn máy tính điện tử mạnh, cùng cấp sự chỉ thị mục tiêu tới hệ thống điều khiển thông tin chiến đấu và cho các đài vũ khí trên tàu, lấy từ “Mars-Passat”. Hệ thống này đã được giữ lại một cách bắt buộc trên Đề án 11435 sau này.

Và trên hết, tàu tuần dương chở máy bay Đề án 11434 (tuy nhiên, như 1143 và 11433) về tổng thể, được đánh giá tích cực – đối với thời đại của nó, một cách nguyên tắc là các tàu mới, nâng cao đáng kể uy tín Hải quân Liên Xô trong con mắt thế giới. Còn sự nâng cấp “Đô đốc Gorshkov” và trang bị lại thành tàu sân bay truyền thống một lần nữa xác nhận trong việc sử dụng đề án. Cuối cùng, rõ ràng Đề án 11434 là sự phát triển trên cơ sở các thiết kế sau của Phòng thiết kế thí nghiệm Nevski, trước hết là tàu chở máy bay hạng nặng Đề án 11435 chở các máy bay theo sơ đồ khí động học truyền thống và trở thành tàu sân bay đầu tiên của Hải quân Liên Xô. Ở phương Tây, tàu thứ 4 được gọi là “biến thể của lớp Kiev”.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Ba, 2012, 05:17:45 pm
Các biến thể

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11434_05.jpg)

Sau khi đạt được thành công trong thỏa thuận với Ấn Độ về nâng cấp và bán tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng “Đô đốc Hải quân Liên Xô Gorshkov”, tàu được đưa tới Severodvinsk vào “Sevmashpredpriatie”, ở đó bắt đầu sửa chữa tàu, sau đó, trang bị lại thành tàu sân bay cho Hải quân Ấn Độ (có tên gọi “Vikramaditya”).

Đề án nâng cấp được giao cho Phòng thiết kế Nevski (Tổng công trình sư B.V.Shmelev). Theo các thông tin sơ bộ, dự tính trong số thành phần vũ khí trên tàu khi trước, chỉ giữ lại 4 cụm pháo tự động 30mm AK-630M hoặc thay thế chúng bằng 4 tổ hợp tên lửa phòng không “Kashtan” (phiên bản xuất khẩu của “Kortik”). Đồng thời nghiên cứu khả năng lắp một thiết bị phóng thuộc tổ hợp chống ngầm RPK-5 “Liven” và thiết bị phóng tổ hợp tiến công “Brahmos” (phiên bản “Yakhont” của Ấn Độ). Các phiên bản sau đó dự kiến từ số vũ khí, chỉ giữ lại 6 tổ hợp “Kashtan” do Nga sản xuất. Đồng thời dự kiến trang bị cho tàu trang bị ra đa định vị và đạo hàng mới. Trong bộ phận mũi boong cất cánh sẽ lắp máy tạo đà với góc nghiêng gần 12,5 độ, trang bị 2 bãi khởi động với các lá khí, bố trí trên một tuyến và các thiết bị giữ máy bay và rào chắn khẩn cấp. Khi dó, trên tàu có các tấm chắn khí, được lắp trước đỏ để bảo đảm sự cất hạn cánh của Yak-41, sẽ được giữ lại ở vị trí cũ. Đề án được dự kiến cải tạo lại hang ga để tăng cường trọng tải. Thang nâng máy bay ở mạn tàu sẽ được đẩy ra xa hơn về phía sau, tới tường ngăn của hang ga, cho phép nhận được khối lượng bổ sung và hợp lý hơn trong việc tổ chức sử dụng chúng. Để bù lại sự quá tải, xuất hiện ở thành bên trái để đơn giản hóa trong kết quả lắp vũ khí và hàng loạt các cấu trúc thượng tầng theo thành bên phải, lên kế hoạch thay đổi từng phần ngoại hình boong góc. Như trông đợi, kết quả là tàu sẽ được giới thiệu là tàu sân bay đa năng hạng nhẹ và sẽ trở thành tàu lớn và mạn nhất trong Hải quân Ấn Độ.

Sau khi nâng cấp, trên tàu dự kiến sẽ đóng cụm 30-34 máy bay trong 2 phiên bản: 21 máy bay tiêm kích (Ấn Độ sẽ mua Mig-29K) và 13 trực thăng (Ka-28 và Ka-31) hoặc 24 máy bay và 6 trực thăng chống ngầm, gồm có “Sea King”. Số lượng thủy thủy đoàn gồm 2042 người, trong đó 430 người trong phi hành đoàn. Theo như thông báo, việc trang bị thêm cho tàu sân bay “Vikramadita” bằng các hệ thống và trang bị do Ấn Độ sản xuất và sẽ được thực hiện ở xưởng của Ấn Độ ở thành phố Cochin.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Ba, 2012, 07:58:39 pm
Chương trình đóng tàu

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11434_06.jpg)

Tàu duy nhất thuộc Đề án 11434, nhận tên gọi lúc đầu là “Bacu”, được khởi công 26 tháng 12 năm 1978 ở xưởng đóng tàu biển Đen số 198, hạ thủy 31 tháng 3 năm 1982 (khi đó, đã được tiếp nhận đóng hạ thủy tàu mới), còn 11 tháng 12 năm 1987, đã ký biên bản tiếp nhận, và tàu được ghi tên vào danh sách tàu Hải quân. Trong việc chế tạo tàu, đã tiếp nhận khoảng 400 xí nghiệp từ các nước cộng hòa khác nhau thuộc Liên Xô cũ, trong những ngày nào đó, trên thành tàu đồng thời có khoảng 1500 công nhân, không tính đến các chuyên gia chỉ huy. Sự chậm chễ kéo dài trong việc lắp ghép các chi tiết đã dẫn tới nhiều thay đổi và kéo dài quá trình đóng tàu. Từ thời điểm khởi công trên âu, và đến khi bàn giao là khoảng thời gian không nhỏ: 8 năm, 11 tháng và 15 ngày.

Tình hình đến năm 2009

Tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng “Bacu”, sau đó được đổi tên thanh “Đô đốc Hải quân Liên Xô Gorshkov”, phục vụ trong Hải quân trong vai trò chính của nó là ít hơn so với các tàu còn lại trong Đề án 1143.

Năm 1987, tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng gia nhập biên chế Hải quân, sau đó đã hoàn thành cuộc hành quân tới biển Bắc. Ở đó, tàu tuần dương đã thực hiện cường độ lớn các nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu, tham gia các cuộc tập trận, thực hiện bắn đạn. Mùa xuân năm 1991, trên tàu đã tiến hành thí nghiệm cất – hạ cánh thí nghiệm máy bay tiêm kích đa năng Yak-41M và 21 tháng 9 năm 1992, máy bay này lần đầu tiên đỗ trên boong tàu tuần dương chở máy bay. Tuy nhiên, mùng 5 tháng 10 năm 1992, đã có tai nạn: khi máy bay Yak-41M hạ cánh đã bị va đập vào boong và bốc cháy, sau đó, các thí nghiệm Yak-41 không được khôi phục lại.

Năm 1993, tàu tuần dương được đưa vào sửa chữa ở Murmansk, nhưng do không đủ tài chính lâu dài (mãn tính – sau sự tan ra của Liên Xô ở Nga bắt đầu khủng hoảng) và đám cháy xảy ra vào mùng 2 tháng 2 năm 1994 trong thời gian khá lâu gần tường, sau đó được đưa tới Rost (vịnh Kolski) và bảo quản lâu dài. Như vậy, tàu tuần dương hạng nặng ở trong biên chế tổng cộng 6 năm.

Sau đó có quyết định bán tàu chở máy bay hạng nặng Đề án 11434 cho nước ngoài với sự nâng cấp sơ bộ. Trong năm 1996 – 2003, đã tiến hành các cuộc đàm phán cường độ cao với Ấn Độ, còn 21 tháng 12 năm 1998, đã hoàn thành thỏa thuận sơ bộ về mua tàu. Trong tháng 7 năm 1999, tàu được đưa đến Severodvinsk và đưa vào bến thuộc “Sevmashpredpriatie” để sửa chữa vaftrang bị lại thành tàu sân bay cho Hải quân Ấn Độ. Người Ấn gọi tàu là “Vikramaditya”. Mặc dù ban đầu, theo kế hoạch nâng cấp đến năm 2008, nhưng thời gian bàn gian thường xuyên được thay đổi.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 17 Tháng Ba, 2012, 12:18:54 pm
Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ “Bacu”, từ 4 tháng 10 năm 1990 là “Đô đốc Hải quân Liên Xô Gorshkov” (số hiệu xưởng 104); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 17 tháng 2 năm 1978; khởi công 26 tháng 12 năm 1978 ở xưởng đóng tàu biển Đen số 198; hạ thủy 31 tháng 3 năm 1982; từ 2 tháng 6 đến 1 tháng 12 năm 1986 – trải qua các thí nghiệm neo đậu; 9 tháng 1 năm 1987 đã bắt đầu các thí nghiệm vận động; tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay là đầu tiên đạt tốc độ hoàn toàn 30,5 hải lý; khi xử lý nạp đạn tự động cho thiết bị RBU-12 000, bom chìm phản lực đã bị rơi xuống ngược lại và rơi xuống hầm, đã phải diễn ra sự sửa lại khẩn cấp thiết kế khóa thiết bị tổ hợp “Udav”; sườn được kéo dài, lắp thiết bị làm bằng; 21 tháng 4 năm 1987, tàu được mang tới các thí nghiệm cấp Nhà nước; trong thời gian các thí nghiệm đã trải qua di chuyển ở khu mặt nước biển Đen 16 496 dặm biển, thực hiện 18 lần bắn tên lửa, 17 lần bắn pháo vào mục tiêu huấn luyện, tổ hợp tiến công chính được thí nghiệm phóng ném 4 mẫu mô hình ở tầm xa 80km theo mục tiêu nổi (2 lần phóng đơn và 1 lần phóng loạt 2 tên lửa với sự bắn trúng trực tiếp); vấn đề phức tạp lớn nhất với sự hoàn thiện tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal”; 8 tháng 7 năm 1987, diễn ra lần khởi động đầu tiên từ boong của máy bay Yak-38M bằng khả năng cất cánh thẳng, đồng thời thực hiện các lần bay của trực thăng trên tàu; theo các kết quả thí nghiệm đã nhấn mạnh rằng, bề mặt che phủ hấp thụ ra đa định vị cho phép giảm khả năng phát hiện ra tàu hơn 2-3 lần; ở thời điểm hoàn thành các thí nghiệm, vẫn còn sót lại hàng loạt các hệ thống mới chưa được hoàn thành (đài ra đa định vị “Mars-Passat”, hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu “Lecorub”, tổ hợp “Rezistor K-4), kết quả là tàu được tiếp nhận còn xa với khả năng chiến đấu mạnh nhất – những tổ hợp máy móc chưa hoàn thiện bị loại bỏ trong quá trình khai thác sử dụng; 11 tháng 12 năm 1987 ghi tên vào biên chế Hải quân; 20 tháng 12 năm 1987 kéo cờ Hải quân; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc 30 tháng 12 năm 1987; theo mệnh lệnh của Hạm đội Biển Đen từ 3 tháng 3 năm 1988, tàu bắt đầu thực hiện các chiến dịch chiến đấu; sau khi bàn giao nhiệm vụ trực chiến luân phiên ngày 23 tháng 3 năm 1988, ghi tên vào biên chế loạt tàu số 1, còn 27 tháng 4 năm 1988 – trong biên chế lực lượng sẵn sàng chiến đấu; cuối tháng 5, bắt đầu huấn luyện chiến đấu, trên thành tàu tiếp nhận các khí tài bay (12 Yak-38M, 16 Ka-27PL, 2 Ka-25PS, 2 Ka-25DTs – sau đó được thay bằng Ka-27PS); 7 tháng 6 năm 1988 đã bắt đầu hành quân tới Hạm đội Phương Bắc, cùng với cuộc hành quân trực chiến 6 tháng ở Địa Trung Hải; 10 tháng 6 năm 1988, trên thượng tầng tàu xuất hiện đám cháy không lớn (cháy trữ lượng sơn), nhưng được dập tắt thành công; trong thời gian trực chiến đã xử lý nhiệm vụ chống ngầm và thực hiện giám sát tàu sân bay “Aishenhow” và các tàu chiến khác của Mỹ và NATO (tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay nằm ở góc sẵn sàng 7 phút để thực hiện việc tấn công); theo nguyên nhân kỹ thuật, ngày 12 tháng 6, Yak-38U bị mất và 11 tháng 8 – Ka-27OL (cứu được phi công); hoàn thành việc ghé vào cảng Siry; 22-29 tháng 8 năm 1988 tới Latakia, 1 đến 21 tháng 11 năm 1988 – tới Tartus; 14 tháng 12 năm 1988 trong sự phối hợp với hàng loạt các tàu đã tới đất mũi Nordkap; 17 tháng 12 năm 1988 tàu đã tới bến đỗ tàu biển Bắc; nằm trong biên chế Hạm đội Phương Bắc tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ chiến đấu cường độ cao; 8 đến 23 tháng 8 năm 1989 đã được đánh giá “tôt” sau sự kiểm tra của cơ quan thanh tra Bộ Quốc phòng; trong năm 1989 đã bơi 13 267 dặm, ba lần thực hiện yểm trợ đổ bộ cho Hải quân đánh bộ, thực hiện 10 lần bắn pháo và 4 lần bắn tên lửa (trong đó có 2 tổ hợp chính), máy bay cất hạ cánh thẳng – 171 lần, trực thăng – 1142 lần từ boong; 1 tháng 10 năm 1990 gia nhập biên chế Sư đoàn tàu chống ngầm số 44; trong năm 1990 đã bơi 4243 dặm, thực hiện nhiệm vụ yểm trợ đường không cho Hải quân đánh bộ, thực hiện 6 lần bắn pháo và 2 lần bắn tên lửa (trong đó có 1 từ tổ hợp chính), máy bay cất hạ cánh thẳng thực hiện 47 lần, trực thăng – 1211 lần; trong năm 1991, đã bơi qua 1375 dặm, thực hiện 4 lần bắn pháo, 1 lần bắn tên lửa , thực thăng trên tàu đã thực hiện 417 lần cất cánh; mùa thu năm 1991 đã thực hiện thí nghiệm bay máy bay phản lực đa năng Yak-41M; 21 tháng 9 năm 1992, Yak-41M lần đầu tiên hạ cánh trên boong; 5 tháng 10 năm 1992, khi hạ cánh, Yak-41 đã va chạm với boong, bắt đầu bốc cháy, máy bay bị cháy; trong các thí nghiệm tiếp theo, Yak-41M không được khôi phục lại; năm 1993 được đưa vào sửa chữa và bị kéo dài vì không có tài chính; 2 tháng 2 năm 1994 đã xuất hiện đám cháy rất lớn và kết quả là hỏng một trong số các buồng máy; tháng 7 năm 1995 đã ra khơi thự hiện cuộc duyệt binh Hải quân ở biển Bắc; sau đó cùng thông tin với sự rò rỉ, thời hạn bảo hành khai thác sử dụng an toàn các máy móc chính bị rút lại; việc ra khơi bị cấm, tàu đỗ ở Rost (vịnh Kolski) và bảo trì lâu dài; trong giai đoạn 1996-2003, chính phủ Nga đã thực hiện các cuộc đàm phán tích cực với Ấn Độ về khả năng bán tàu; 21 tháng 12 năm 1998, đã đạt được hợp đồng thỏa thuận cấp quốc gia về mua tàu của Ấn Độ; 24 tháng 1 năm 1999, tàu tới thăm Ấn Độ cùng phái đoàn quân sự; tháng 7 năm 1999 được đưa đến Severodvinsk và đưa vào xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc để tháo các vũ khí trên tàu, tổ hợp ra đa định vị “Mars-Passat”, đồng thời sửa chữa và trang bị lại thành tàu sân bay truyền thống với sự làm dày boong cất cánh cho Hải quân Ấn Độ, tàu nhận tên gọi “Vikramaditya”; 30 tháng 11 năm 2005 được đưa vào bể chứa lỏng ở xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc để sửa chữa trên âu tàu; theo thông tin, việc trang bị lại của tàu sân bay sẽ hoàn thành năm 2008, sau đó là 2009, ngoài ra, việc trang bị tiếp các hệ thống và trang bị do Ấn Độ sản xuất sẽ được thực hiện ở xưởng đóng tàu ở thành phố Cochin (Ấn Độ).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 17 Tháng Ba, 2012, 12:32:38 pm
Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 33 440

+ thường: 38 970

+ hoàn toàn: 44 490

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 273,08 (242,86)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 52,9 (31)

+ lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 11,52 (9,42)

Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi

+ 8 nồi hơi KVN 95/64 trong 4 cụm tuabin

+ 4 thiết bị tuabin răng cưa 674, tổng công suất, sức ngựa (kW): 200 000 (147 000)

+ máy phát điện tuabin, công suất, kW: 6x1500

+ máy phát điện diezel, công suất, kW: 4x1500

4 trục, 4 bánh lái chân vịt 4 cánh

Tốc độ, hải lý

+ lớn nhất: 32,5

+ tuần tra/tuần tra chiến đấu: 14,05/18,32

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 7590 (18); 4050 (gần 30)

Thời gian hoạt động: 30 ngày

Thủy thủ đoàn (sỹ quan)

+ thủy thủy đoàn thường trực: 1615 (383)

+ thủy thủ đoàn với bộ tham mưu: 1665 (423)

+ phi công: 430.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 17 Tháng Ba, 2012, 12:41:26 pm
Vũ khí

Không quân

+ máy bay cất hạ cánh thẳng Yak-38/38-U/38-M (“Forger”), các trực thăng Ka-27/Ka-27PS (“Helix-A/S”): 36

+ máy bay cất hạ cánh thẳng Yak-41(M): dự kiến bố trí trên tàu

Vũ khí tiến công

+ thiết bị phóng SM-241 của tổ hợp tên lửa chống tàu “Bazalt-1143”: 6x2

+ tên lửa chống tàu 4K80 (P-500) “Bazalt” (SS-N-12 “Sandbox”): 12

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng thẳng 4S-95 thuộc tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal”: 24x8

+ tên lửa phòng không 9M330 (SA-N-9 “Gauntlet”): 192

Pháo

+ thiết bị pháo 100mm AK-100: 2x1

+ tổ hợp pháo phòng không 30mm AK-630M: 8x6

Vũ khí chống ngầm/chống ngư lôi

+ thiết bị phóng bom phản lực RBU-12000 “Udav” (RKPTZ-1): 2x10

+ cơ số bom chìm phản lực: 120.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 17 Tháng Ba, 2012, 01:00:13 pm
Trang bị vô tuyến điện

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Lesorub-434”

Các đài ra đa vô tuyến

+1 x tổ hợp ra đa “Mars-Passat” – 4 ra đa mảng pha (Sky Watch)

+ 1 x MR-710M-1 “Fregat-M1” (Plate Steer)

+ 2 x MP-360 “Podkat”

Đài ra đa đạo hàng: 3x”Vaigach” (Palm Frond)

Đài thủy âm

+ Tổ hợp thủy âm “Polinom” (Horse Jaw và Horse Tail) ở bình cầu, các ăng ten dưới sống tàu và ăng ten lai

+ HEL-6 và NEL-10 các máy đo sâu bằng tín hiệu dội

Các khí tài (chống) tác chiến điện tử

+ “Kantana-M” (4 Wine Flask; 8 Foot Ball; 4 Bell Thump; 2 Cage Pot)

+ “Koltso” (4 Bell Nip) đài bắn nhiễu

+ 3 x R-678N, 6 x R-670M, 2 x R-721, 2 x SPS-2, đài cao tần R-710 và R-714 các máy thu tín hiệu trinh sát vô tuyến

+ R-740K bắn nhiễu vô tuyến cao tần

+ tổ hợp “Pogonia” và “Kasad-U”

+ các thiết bị bảo vệ thủy âm lai

Các tổ hợp bắn nhiễu: 2x2 thiết bị phóng PK-2 (Zif-121)

Khí tài quang học: 3x”Rotan” – quan sát vô tuyến

Đài ra đa điều khiển hỏa lực

+ 1x”Argon-1143” (Trap Door) cho tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh “Bazalt”

+ 2x”Korvet-1143” (Punch Bowl) chỉ thị mục tiêu vũ trụ

+ 4xZR95 (Cross Sword) cho tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal”

+ 1xMR-145 “Lev-215” (Kite Screech) cho pháo 100mm

+ 4xMR-123 “Vưmpel” (Bass Titl) cho pháo 30mm

Tổ hợp đạo hàng: “Salgir-V”

Các khí tài đạo hàng vô tuyến

+ “Rezistor K-4” (Cake Stand) điều khiển máy bay

+ 2x”Gazon” (Fly Trap B) dẫn bắn cho máy bay tiêm kích

+ “Tur-434” điều khiển máy bay chiến đấu

Các khí tài thông tin liên lạc

+ “Taifun”

+ “Kristall-BK” (2 Low Ball) thông tin liên lạc vệ tinh

Đài ra đa hội thoại nói: 2 Salt Pot A và B; Long Head.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 18 Tháng Ba, 2012, 12:16:45 pm
Tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng lớp “Riga” – Đề án 11435 lớp Kuznetsov

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11435_04.jpg)

Tổng số tàu đã đóng: 1, +1 theo Đề án 11436

Các biến thể

+ 11435 (“Kuznetsov”) – tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng – tàu sân bay đầu tiên của Liên Xô/Nga với các máy bay cất cánh ngang (1990)

+ 11436 (“Varyag”) – tàu thứ hai Đề án 11435 (thứ 6 thuộc dòng “Krechet”) với số những thay đổi (không được đóng xong).

Đáng chú ý, rằng sự thiết kế này ở Liên Xô tàu sân bay đầu tiên của Liên Xô với các máy bay có sơ đồ khí động học cổ điển được bắt đầu vào tháng 10 năm 1978 với sự chấm dứt các công việc trên “tàu tuần dương lớn với vũ khí không quân” (Đề án 1153, mã số “Orel”). Thực tế, việc này thậm chí đã diễn ra sớm hơn – tháng 11 năm 1977, khi mà theo các kết quả nghiên cứu của Bộ tư lệnh Hải quân các hướng cơ bản hoàn thành theo giai đoạn tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay các Đề án 11433, 11434 và 11435. Phòng thiết kế thí nghiệm Nevski đã được giao nhiệm vụ thiết kế đề nghị kỹ thuật, còn các Viện nghiên cứu Hải quân và Không quân – nhiệm vụ kỹ - chiến thuật trên tàu sân bay, trang bị máy phóng và máy là đường khí và cụm máy bay trong biên chế máy bay cất – hạ cánh thẳng, trực thăng, đồng thời các máy bay với sự cất và hạ cánh ngang.

Tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng tương lai được sử dụng để tăng cường khả năng chiến đấu cho các đơn vị trong Hải quân trong trên các khu vực đại dương tầm xa. Trên thực tế, việc này có nghĩa là yểm trợ từ trên không các khu vực triển khai và tuần tra chiến đấu của các tàu ngầm tên lửa hạt nhân ngoài giới hạn tối đa của các máy bay tiêm kích đóng trên bờ, tiêu diệt các tàu nổi, ngầm, mục tiêu trên không, trước hết là các lực lượng và khí tài chống ngầm, đồng thời các công trình trên bộ của kẻ thù tiềm tàng…

Phòng thiết kế thí nghiệm Nevski đã thiết kế 5 phương án, gồm có 1 với thiết bị năng lượng nguyên tử. Đối với thiết kế sau được giới thiệu theo lượng choán nước tổi thiểu – với thiết bị năng lượng chính tuabin nồi hơi, một máy phóng bên phải và cụm máy bay từ 18 – 28 máy bay (18 máy bay tiêm kích trên boong Su-27K hoặc 28 Mig-29K hoặc 16 máy bay cất hạ cánh thẳng Yak-41 + 12 Mig-29K), đồng thời 14 trực thăng Ka-252. Theo Mệnh lệnh của Hội đồng Bộ trưởng ngày 13 tháng 10 năm 1978, Bộ Quốc phòng (cụ thể là Hải quân) được giao trong quý IV đệ trình nhiệm vụ kỹ chiến thuật trong thiết kế tàu Đề án 11435 và các yêu cầu kỹ - chiến thuật trong chế tạo các máy bay đóng trên tàu với sự khởi động bằng máy phóng. Còn cho Bộ Công nghiệp đóng tàu thiết kế trong năm 1979-1980 các đề án sơ bộ và kỹ thuật của tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay. Các kích thước và lượng choán nước chính của tàu được giới hạn bằng các điều kiện đóng tàu trên âu tàu lớn nhất của đất nước – số “0” thuộc xưởng đóng tàu biển Đen và đưa vào ụ Bắc ở xưởng tàu Sevastopol. Tổng công trình sư của Đề án 11435 là O.P.Efimov (mùa hè năm 1979 được thay bằng A.B.Morin, tháng 12 năm 1979 – V.F.Anikiev, năm 1986 – P.A.Sokolov, năm 1989 – L.V.Belov).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 18 Tháng Ba, 2012, 01:08:47 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11435_02.jpg)

Quá trình thiết kế “số 5” (như các nhà đóng tàu thường gọi Đề án 11435 – tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay thứ 5 trong dòng 1143) bị phức tạp hóa như bên cạnh những thay đổi được dự đoán trước và yêu cầu về tàu của Tư lệnh Hải quân, cũng như áp lực thường xuyên từ phía Bộ trưởng Quốc phòng D.F.Ustinov. Sự thiếu trong quan điểm chỉ đạo thống nhất về hình dáng tàu tương lai, đồng thời sự can thiệp thường xuyên trong quá trình thiết kế, không phải là hình dạng tốt nhất và thời hạn công việc. Như vào cuố tháng 7 năm 1979, Bộ Tư lệnh Hải quân đã yêu cầu Phòng thiết kế Nevski tăng cường thành phần khí tài hỏa lực phòng không của tàu và tăng độ an toàn trong việc hạ cánh của các máy bay trên đường băng; tháng 11, đề án đã được tán thành cho việc giới thiệu nó tới sự phê duyệt đồng thời của Hải quân và Bộ Công nghiệp đóng tàu, tàu được đề xuất thiết kế các phương án thành phần vũ khí máy bay với sự tăng cường cụm máy bay lên 52. Việc này, đương nhiên, kéo theo sự tăng lượng choán nước tiêu chuẩn lên 65 000 tấn, đi ngược lại phát biểu của Tham mưu trưởng Hải quân – Đô đốc N.N.Amelko – người phản biện chính đối với S.G.Gorshkov trong Bộ Tổng tham mưu theo các câu hỏi về sự phát triển tương lai của Hải quân và địch trong việc chế tạo các tàu chở máy bay. Kết quả của việc được ký và đầu năm 1980 bởi Bộ trưởng Quốc phòng cho tập thể, được tổ chức bởi Bộ Tổng tham mưu, đã đề xuất rút lượng choán nước xuống 10 000 tấn, trong đó có kết quả không sử dụng các máy phóng và điều chỉnh lại biên chế cụm máy bay trên tàu tuần dương chở máy bay “trên cơ sở” các máy bay cất hạ cánh thẳng đứng. Lần đầu tiên để đảm bảo sự cất cánh của các máy bay theo sơ đồ khí động học truyền thống thay cho các máy phóng dự định tiếp nhận máy tạo đà. Sau đó, mệnh lệnh tiếp về đảm bảo khởi động các máy bay Yak-41 đang được thiết kế bằng khả năng cất cánh với sự chạy đà ngắn (các máy bay này bị ràng buộc bởi tuyên bố của lãnh đạo Phòng thiết kế mang tên A.S.Yakovlev, được tuyên bố vào năm 1980 thông báo cho Bộ trưởng Quốc phòng về chế tạo máy bay cất hạ cánh thẳng, có vẻ như vượt trội toàn bộ các máy bay tiêm kích hiện tại và tương lai của nước ngoài). Sự đồng thuận bởi Ustinov về đánh giá lại vai trò và hiệu quả của máy bay cất hạ cánh thẳng trong hệ thống phòng không của đơn vị tàu và khu vực tuần tra chiến đấu của các tàu ngầm tên lửa, đồng thời khả năng ngành công nghiệp hàng không Liên Xô chế tạo các máy bay siêu âm trên tàu cất và hạ cánh thẳng với các thông số kỹ thuật – bay cao, gây ra phí tổn cho đất nước và dẫn tới việc trì hoãn chế tạo tàu chở máy bay đúng nghĩa. Ảnh hưởng đến các thời hạn và các việc khác, trước hết là sự mong đợi của N.N.Amelko bao gồm kế hoạch đóng cho Hải quân 2 tàu trở trực thăng chống ngầm Đề án 10200 (mã số “Khalzan”), được chế tạo trên cơ sở dòng tàu tuabin khí cao tốc (lớp “Thuyền trưởng Smirnov”) trong việc phải lựa chọn các tàu rẻ đóng đặc biệt. Tàu 31 000 tấn đầu tiên “Khalzan” dự kiến khởi công trên ụ “0” thuộc xưởng đóng tàu biển Đen và sau tàu thứ tư thay cho tàu thứ 5 theoo tính toán của tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay, làm hoãn vô thời hạn việc khởi công tàu sân bay mới. Trong cuộc đấu tranh trên ụ “ủng hộ tàu sân bay” mà phần cốt lõi mạnh nhất là tàu chống ngầm cỡ lớn (người ủng hộ chính – S.G.Gorshkov) đã đơn giản “gạt bỏ” đề án “cạnh tranh”, đã bắt đầu tổ chức có định hướng (phổ biến các yêu cầu của Hải quân trong khối lượng lớn), sau đó, “trên cơ sở luật” đã dấn tới: Hải quân và Bộ Công nghiệp đóng tàu không phê duyệt đóng các tàu Đề án 10200.

Bằng kết quả này, thời hạn đóng tàu bị kéo dài thêm 2 năm trong việc thiết kế tàu tuần dương chở máy bay thứ 5, còn việc đóng tàu được phê duyệt trong tháng 3 năm 1980 bằng kế hoạch đóng tàu quân sự trong năm 1980 – 1990 bị hoãn lại đến cuối kế hoạch năm năm lần thứ 12. Để tránh sự trì hoãn về kỹ thuật sau khi hạ thủy tàu Đề án 11434 “Bacu” trong việc đống các tàu chở máy bay ở xưởng đóng tàu biển Đen (hơn là được tận dụng để thông qua việc đóng tàu “Khalzan” trong Bộ Tổng tham mưu), Tư lệnh Hải quân và bộ trưởng Bộ công nghiệp đóng tàu ngay lập tức đã ra lệnh khởi công tàu thứ 2 thuộc Đề án 11434, mà D.F.Ustinov đã đồng ý. Cuối năm 1980, theo mệnh lệnh cho kế hoạch Quốc gia gồm có kế hoạch xây dựng kỹ thuật quân sự cho việc đóng tàu tuần dương chở máy bay thứ 2 theo Đề án 11434 (mặc dù với sự dự báo trước khả năng cần thiết hoàn thiện, trước hết là các kích thước chính). Ngày 15 tháng 12, Hải quân và Bộ Công nghiệp đóng tàu đã ký thỏa thuận tương ứng và xưởng đã bắt đầu xử lý đợt kim loại cho các khối thân tàu (mặc dù tổng cộng chỉ sau nửa năm chúng sẽ trở thành phế liệu, nhưng điều chính yếu đạt được – tổ hợp ụ tàu lớn nhất được giữ lại cho tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay thứ 5).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 18 Tháng Ba, 2012, 01:10:55 pm
Hình vẽ tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng Đề án 11435

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11435_23.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11435_37.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 18 Tháng Ba, 2012, 01:12:27 pm
Bản vẽ kỹ thuật Đề án 11435:

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11435_draw3.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11435_draw2.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11435_draw5.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 18 Tháng Ba, 2012, 01:25:41 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11435_draw6.jpg)

Tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng Đề án 11435

1.Khoang khí tài mỏ neo

2.Thùng xích

3.Khối thiết bị phóng tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh “Granit”

4.Trạm chỉ huy trung tâm

5.Trung tâm thông tin chiến đấu

6.Trạm chỉ huy cụm máy bay

7.Hang ga

8.Trạm chỉ huy chính

9.Buồng sỹ quan

10.Các ăng ten mảng pha tổ hợp ra đa định vị “Mars-Passat”

11.Các ăng ten của đài ra đa định vị “Podkat”

12.Các ăng ten hệ thống “Kristall”

13.Ăng ten hệ thống điều khiển máy bay “Rezistor-K4”

14.Các ăng ten đài ra đa định vị “Fregat-MA”

15.Hầm đường ống khói

16.Trạm chỉ huy dự bị

17.Các trạm kiểm soát thiết bị năng lượng chính

18.Máy chân vịt (bánh lái)

19.Khoang năng lượng số 5

20.Các thùng nhiên liệu máy bay

21.Các khoang máy lạnh

22,28.Buồng nồi hơi – máy

23.Trạm năng lượng và nổi dự bị

24.Khoang năng lượng số 4

25.Các khoang đạn máy bay

26.Khoang năng lượng số 3

27.Trạm năng lượng và nổi

29.Khoang năng lượng số 2

30.Khoang năng lượng số 1

31.Ăng ten tổ hợp thủy âm “Polinom”.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 18 Tháng Ba, 2012, 01:32:22 pm
(http://i1290.photobucket.com/albums/b522/shevcheko2004/tbilisi_zps926432c8.jpg)

Tàu tuần dương hạng nặng mang máy bay Tbilisi

1.Các modul chiến đấu của tổ hợp pháo – tên lửa phòng không “Kortik”

2.Thiết bị phóng hệ thống bắn nhiễu thụ động PK-2

3.Cần cẩu vận tải

4.Thang nâng máy bay

5.Buồng lái

6.Trạm ăng ten đài ra đa điều khiển hỏa lực của tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal”

7.Lưới ăng ten mảng pha của đài ra đa “Mars-Passat”

8.Trạm ăng ten của tổ hợp “Korral-BN”

9.Trạm ăng ten của đài ra đa “Podkat”

10.Trạm ăng ten tổ hợp “Kristall-BK”

11.Lưới ăng ten mảng pha của đài ra đa trong hệ thống “Rezistor-K4”

12.Trạm ăng ten của đài ra đa “Fregat-MA”

13.Thiết bị phóng bom phản lực RBU-1200 thuộc tổ hợp “Udav-1”

14.Thiết bị pháo 30mm AK-630M

15.Các khí tài tiếp nhận hang hóa dạng chất lỏng và khii trong quá trình hoạt động của hệ thong “Struna”

16.Mũ chụp ăng ten mũi tổ hợp thủy âm “Polinom”

17.Thiết bị phóng đứng của tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal”

18.Đường lăn bánh

19.Bãi đáp cất – hạ cánh

20. Các lá chắn phụt khí

21.Đài hệ thống hạ cánh quang học “Luna-3”

22.Thiết bị phóng tổ hợp tên lửa chống tàu “Granit”.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 19 Tháng Ba, 2012, 02:02:08 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11435_05.jpg)

Khi thời gian thiết kế Đề án “thứ 5” còn thời gian dài mới hoàn thành. Tháng 4 năm 1980, Bộ Tư lệnh Hải quân đã phê duyệt nhiệm vụ kỹ - chiến thuật để thiết kế các mệnh lệnh mang tính chất chỉ đạo của Bộ Quốc phòng về giảm lượng choán nước và điều chỉnh cụm máy bay trên tàu tuần dương trên cơ sở các máy bay cất hạ cánh thẳng (46-62 máy bay, mà chủ lực là Yak-41 và/hoặc các máy mới có khối lượng 30 tấn) với khả năng khởi động bằng máy đà. Những hy vọng lớn, mà đứng đầu là Bộ Tổng tham mưu và Bộ Quốc phòng trên Yak-41, được giải thích, trước hết là máy bay tương lai sẽ là máy bay đa năng cất cánh ngắn và hạ cánh thẳng với các tính năng kỹ thuật bay cao và tải trọng hữu ích (tải trọng lớn). Sự thật, tất cả đề là lý thuyết – trên thực tế, các máy bay với máy đà khi đó còn chưa được bay. Năng lượng của tàu được thiết kế trong hai phương án – tuabin nồi hơi và nguyên tử (trên cơ sở xử lý thiết bị năng lượng chính Đề án 1143 và 1144). Khối lượng lượng choán nước hoàn toàn được hạn chế ở 55 000 tấn. Trong cùng tháng, sau khi giới thiệu đề án cho sự phê duyệt của Bộ Tư lệnh Hải quân, đã “giảm”: số lượng khí tài bay giảm còn 46, trong thời gian đó cũng như trực thăng trinh sát ra đa định vị thay bằng trực thăng trinh sát ra đa cất hạ cánh thẳng đứng (? – máy bay trinh sát?), giảm khối lượng bảo vệ thiết kế và trữ lượng nhiên liệu máy bay. Khi đó, một máy phóng được giữ lại như khí tài dự bị đảm bảo bay của các máy bay Su-27K.

Sự thiết kế đề án phác thảo hoàn thành 23 tháng 7 năm 1980 (tổng cộng 10 phương án theo các kiểu và thành phần khí tài bay). Nhưng do không thể “viết” các yêu cầu mới trong sự hạn chế trước đó, phương án hiệu chỉnh đã không được phê duyệt. Sự hiệu chỉnh Đề án 11434 cho tàu thứ 2 (sau “Bacu”) được bắt đầu năm 1981 sau đề xuất của D.F.Ustinov cho Bộ Công nghiệp đóng tàu, Hải quân và Không quân về tiến hành trên tổ hợp thí nghiệm trên bộ các phiên bản theo cất cánh ngắn của các máy bay Su-27 và Mig-29 từ máy đà. Số lượng cụm khí tài bay bị hạn chế còn 40. Máy bay cơ sở được giữ lại trong thiết kế là Yak-41M (Yak-141). Đồng thời trên tàu dự định đóng các máy bay Su-27K và Mig-29K cùng trực thăng Ka-27. Theo hàng loạt các nguyên nhân, một lần nữa lại quay trở lại ý kiến sử dụng các trực thăng trinh sát ra đa định vị thay cho máy bay có nhiệm vụ tương tự theo như kế hoạch.

Để đảm bảo việc cất cánh dự định sử dụng máy đá với hai trận địa (bãi) khởi động: gần (cho máy máy với tải trọng vũ khí hạng nặng lớn) và xa (đối với sự rút ngắn chạy đà đã nghiên cứu thậm chí khả năng sử dụng máy gia tốc khởi động nhiên liệu rắn).

Để bố trí máy đà đã giải phóng boong ở bộ phận mũi, trạm ăng ten “Argon” và thiết bị phóng của tổ hợp “Udav-1” được mang (dịch chuyển) tới một cách tương ứng cho thượng tầng và mạn tàu, còn thiết bị phóng tổ hợp “Bazalt” – tới thành bên phải (Đề án 114342). Trong thượng tầng còn lại giữ theo Đề án 11434. Thiết bị phóng của tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal” được bố trí theo thành về phía trước thượng tầng và trong bộ phận mạn của boong bay. Thay cho vũ khí pháo, có kế hoạch lắp 8 modul hỏa lực “Kotik”. Để bố trí hợp lý hơn các khí tài bay ở hang ga, thang nâng máy bay mạn tàu được di chuyển tới tường ngăn mạn tàu. Tàu được trang bị 4 máy là phẳng dây cáp và barie khẩn cấp. Trong dạng sau cùng, thiết kế được phê duyệt trong năm 1982, nhưng việc thực hiện này trên Đề án 1143 là không thể.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Ba, 2012, 06:08:07 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11435_26.jpg)

Cùng thời gian vào tháng 9 năm 1981, Bộ trưởng Quốc phòng Ustinov đã quyết định tăng lượng choán nước lên 10 000 tấn. Sau đó, Hải quân đã đề xuất cho Bộ công nghiệp đóng tàu trong quá trình thiết kế đề án kỹ thuật rút gọn (Đề án 114342) tăng số lượng khí tài bay lên 50, thay tổ hợp “Bazalt”, tiếp nhận tổ hợp “Granit” hiện đại hơn với sự bố trí các thiết bị phóng dưới boong, tăng sự bảo vệ các thiết kế, đồng thời từ bỏ các máy phóng, và tương ứng với đó, thay đổi hàng loạt các thông số khác. Cụm máy bay cơ sở trên tàu được giữ lại mà máy bay cất hạ cánh thẳng Yak-41, đồng thời Mig-29K, Su-27K, Yak-44 RLD (với sự duy trì bố trí thứ tự trên boong trên) và các trực thăng. Đối với việc cất cánh của chúng, dự định sử dụng bàn đà với 2 đường băng cất cánh. Sự thật, khi không có máy phóng, việc nằm trong thành phần cụm khí tài bay các máy bay Su-27K và Mig-29K có thể bị đặt dấu chấm hỏi (?). Để các máy bay này được duy trì trên tàu, lãnh đạo các Phòng thiết kế thí nghiệm mang tên P.O. Sukhoi và I.I Mikoyan dưới sự hỗ trợ của các viện nghiên cứu khoa họ trung ương, viện nghiên cứu khoa học thuộc Hải quân Liên Xô đã tuyên bố một cách kiên quyết rằng, sự khởi động của các máy bay này bằng máy đá sẽ được đảm bảo.

Về bản chất, giải pháp tiếp nhận máy đà cho sự cất cánh của các máy bay có sơ đồ khí động học cổ điển với sức kéo lớn là đủ đảm bảo về tính chất sử dụng cơ bản cũng như đa năng - ở phương Tây, máy đà chỉ sử dụng cho việc cất cánh của máy bay cất hạ cánh thẳng. Khi đó, những ưu thế rõ ràng của máy phóng với quan điểm đảm bảo tính độc lập cao trong các điều kiện thuận lợi và nhịp độ (tốc độ) khởi động của máy máy bay nhiệm vụ đặc biệt không được xem xét đến. Hơn nữa, theo tính toán, máy đà được cho là hiệu quả hơn (chính yếu – rẻ hơn) so với máy phóng, Bộ Tổng tham mưu đã ra mệnh lệnh dừng toàn bộ các công việc chế tạo nó (máy phóng). Nguyên nhân chính của quyết định rất đáng tranh cãi này bao gồm trong đó, rằng Bộ Tổng tham mưu không yêu cầu tàu sân bay cổ điển – đối với việc giải quyết các nhiệm vụ cụ thể trong yểm trợ (che phủ) các khu vực triển khai tàu ngầm tên lửa ở biển Bắc hoàn toàn có thể sử dụng tàu với thiết bị tuabin nồi hơi tuyền thống và các máy bay khởi động bằng máy đà. Vì thế, hàng loạt các thiết kế với máy phóng, được bắt đầu trong năm 1972, các hoạt động về chế tạo máy phóng cho máy bay đã bị đạp đổ.

Để tăng khả năng nổi, các tính không chìm và đảm bảo phòng chống cháy nổ trên tàu đã áp dụng hệ thống bảo vệ thiết kế ngầm (PKZ) mới khỏi vụ nổ của ngư lôi. Trong năm 1978-1982, các tổ hợp nghiên cứu lớn đã được tiến hành cùng các thí nghiệm ngoài trời. Như là, ngoài 72 model (mẫu) kích thước khác nhau, đối với các thí nghiệm hệ thống bảo vệ thiết kế ngầm mang theo, trong xưởng đóng tàu biển Đen đã chế tạo 2 khoang 19 mét ngoài trời có khối lượng mỗi khoang gần 450 tấn. Sau đó, đúng được hàn vào thành tàu vẫn tải được sao chép lại lớp “Kazbek” và thí nghiệm nổ. Theo kết quả các thí nghiệm đối với Đề án 11435, đã tiếp nhận hệ thống bảo vệ thiết kế ngầm với các tường ngăn bảo vệ cơ bản dạng túi (nhiều lớp), chế tạo từ thép có độ cứng cao AK-25 thay đổi theo chiều cao và chiều dầy.

Để giảm thời gian khi hiệu chỉnh Đề án 114342 ở Phòng thiết kế Nevski đã sử dụng các trữ lượng sẵn có lớn theo Đề án 11435, do chúng phù hợp hơn cho các yêu cầu mới của Hải quân, hơn toàn bộ các phiên bản Đề án 114342. Tháng 3 năm 1982, sự hiệu chỉnh đã được hoàn thành và được sự phê chuẩn của Bộ Công nghiệp đóng tàu và Hải quân. Trong hình dáng cuối cùng của thiết kế, được phê chuẩn bởi mệnh lệnh của Hội đồng Bộ Trưởng Liên Xô mùng 7 tháng 5 cùng năm, mang tên gọi 11435.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Ba, 2012, 07:01:18 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11435_27.jpg)

Việc đóng trên tàu các máy bay có sơ đồ khí động học cổ điển đã kéo theo nó phải giải quyết hàng loạt các vấn đề mới một cách có nguyên tắc, liên quan với sự bảo đảm cất cánh và hãm khi hạ cánh trong các điều kiện boong bay có kích thước hạn chế. Đối với việc tiến hành loạt các thí nghiệm tốn kém và phức tạp, đồng thời huấn luyện phi công, không quân trên tàu đã chế tạo tổ hợp hàng không huấn luyện – thí nghiệm trên bộ - NITKA. Đề án được thiết kế bởi Phòng thiết kế Nevski và năm 1977 đã bắt đầu quá trình xây dựng nó trên sân bay của Không quân Hải quân tại Novo-Fedorovka tỉnh Sakski (Krưm). Công trình liên quan đến một số bí mật quan trọng, quá trình công việc trên đó được kiểm soát bởi riêng Bộ Tư lệnh Hải quân.

Trước khi bắt đầu các thí nghiệm với máy bay, các xí nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp đóng tàu đã tiến hành trên tổ hợp hàng không huấn luyện – thí nghiệm trên bộ loạt lớn các thí nghiệm khí tài mới với sự tiếp nhận mô hình không người lái mô phỏng – đồng thời thí nghiệm máy phóng (thiết bị lấy đà), móc hãm, máy lăn đường băng S-2 (“Svetlana-2”) và rào chắn khẩn cấp S-23N (“Nadezhda”). Còn ngày 24 tháng 7 năm 1982, đã thực hiện lần chạy đà đầu tiên với sự hãm trên máy lăn đường băng của nguyên mẫy Su-27 (máy bay thí nghiệm T-10-3).

Việc thiết kế các máy bay trên boong cất cánh bằng máy đà được thực hiện theo mệnh lệnh của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô ngày 7 tháng 5 năm 1982 và 18 tháng 4 năm 1984.

Việc chế tạo máy bay tiêm kích đóng trên tàu Su-27K (T-10K) được giao cho Phòng thiết kế mang tên P.O.Sukhoi (Tổng công trình sư M.P.Simonov, công trình sư chính K.Kh.Marbashev). Đã có một số nguyên mẫu với sự sử dụng cánh và bộ phận cân bằng, với sự xuất hiện và thiết cánh ngang trước.

Cấu trúc của tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng mới Đề án 11435 là “chở máy bay” – với boong bay tổng diện tích 14 800 mét vuông (m2), máy đà với góc dốc 14,3 độ ở bộ phận mũi, 2 tháng nâng máy bay mang theo 40 tấn theo thành bên phải tới mũi và mạn tàu từ thượng tầng tầng thứ 13 (chiều cao so với boong là 32 mét). Sự xuất hiện sườn và bố trí thượng tầng bên phải cho phép tăng chiều rộng boong bay lên 67 mét. Khu vực hạ cánh của boong bay (205x26 mét), gồm có sườn thành bên trái, bố trí dưới góc 7 độ. Toàn bộ bề mặt boong bay và máy đà có màn phủ chống nóng (đến 450 độ C) “Omega” và 3 bãi cất hạ cánh (10x10 mét) được sử dụng cho các máy bay Yak-41, được lắp các tấm chịu nhiệt (đến 750 độ C) AK-9FM.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Ba, 2012, 01:28:50 pm
Toàn bộ thân hàn có chiều cao 7 boong và 2 nền. Đáy đôi đặc kéo dài toàn bộ chiều dài tàu. Vật liệu cấu trúc chính thân tàu, các tường ngăn không lọt nước, boong và nền, sườn và thượng tầng dạng quần đảo – thép; để chế tạo các khoang hai tầng và tương ngăn sử dụng thép và hợp kim nhôm – magie.

Hang ga – dạng đóng với tổng diện tích 3980 m2 (153x26x7,2) chiếm 50% chiều dài và 70% chiều rộng – phục vụ việc bảo vệ và bảo dưỡng kỹ thuật cho 70% các khí tài bay thường trực. Trong đó các máy kéo dã chiến, các máy phụt khí và chữa cháy, đòng thời tổ hợp các khí tàu đã năng tiếp nhận cho việc bảo dưỡng các khí tài bay trên boong. Việc vận tải và bố trí các máy bay được tính toán theo đầu mút của cánh, còn trực thăng – với cách cánh quạt truyền động. Hang ga được trang bị hệ thống vận tải dây xích bán tự động cho các khí tài bay, cho phép loại bỏ việc sử dụng các xe kéo và loại trừ sự hóa khí (bốc hơi) khí thải của các buồng trong. Các máy kéo chỉ yêu cầu cho các thao tác với khí tài bay trên boong bay, khi kéo chúng từ hang ga tới nền của thang nâng và ngược lại. Trong nhiệm vụ chống cháy, hang ga được chia thành 4 khoang bởi các đèn báo cháy với hệ thống truyền động điện.

Hệ thống bảo vệ thiết kế nổi (NKZ) được thiết ké theo nguyên tắc màn chắn bởi các tường ngăn bảo vệ nội bộ phục vụ cho kết cấu composite (dạng thép – chất dẻo thủy tinh – thép). Vật liệu cơ bản của hệ thống bảo vệ thiết kế nổi – thép có độ cứng cao với giới hạn chịu lực 60kg lực/mm2. Để bảo vệ các thùng nhiên liệu và kho đạn máy bay tiếp nhận sự bọc thép dạng hộp cục bộ. Lần đầu tiên trong thực tế ngành đóng tàu chở máy bay của Liên Xô, để tăng cường sức khai thác sử dụng và chiến đấu của tàu đã sử dụng hệ thống bảo vệ thiết kế ngầm, làm tăng đáng kể các tính không chìm và chống cháy nổ. Kết quả của nhiều công việc nghiên cứu khoa học và thí nghiệm ngoài trời, độ sâu mang theo của hệ thống bảo vệ thiết kế ngầm tiếp nhận trong các giới hạn 4,5-5 mét. Trong số 3 tường ngăn dọc, tường thứ 2 được thiết kế bọc thép (trên tàu đầu tiên, nó là dạng túi, nhiều lớp, còn trên tàu thứ 2 – nguyên khối).

Tính nổi của tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng được đảm bảo khi bị chìm 5 khoang liền nhau với tổng chiều dài 20% thân tàu. Khi đó, thành nổi tới boong của hang ga phải được giữ trên mặt nước ở độ cao 1,8 mét, nhờ đó, ngăn chặn dược nguy hiểm gây đắm hang ga.

Theo kết quả xử lý các thao tác cất cánh trên tổ hợp hàng không huấn luyện – thí nghiệm trên bộ, đã có một số thay đổi trong hình dạng mép trên của máy đà – được thiết kế nổi hơn. Thế nhưng đã phát hiện ra, rằng sự xuất hiện của các sườn nhỏ sẽ tác động mạnh tới luồng không khí trên boong, có thể ảnh hưởng tiêu cực tới việc thực hiện các thao tác cất – hạ cánh. Vì thế, năm 1989, trên mép mũi của boong góc và máy đã đã lắp các nắp chụp định hình tạo đường viền.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Ba, 2012, 02:08:26 pm
Gần bệ máy đà, theo 2 hàng bố trí 12 thiết bị phóng dưới boong của tổ hợp tên lửa tiến công “Granit-NK” (SS-N-19 Shipwreck), được đóng bằng các nắp bọc thép ngang với boong bay. Bên trái và phải chúng, giáp với điểm trên của máy đà, tạo thành hai đường cất cánh bắt đầu từ bãi khởi động gần số 1 và 2 (chiều dài lấy đà 90 mét)với các khí tài kỹ thuật hàng không tương ứng.

Sau đó tới phía mạn tàu và gần với thành bên trái (chiều dài lấy đà 180 mét) bố trí bãi khởi động số 3. Nó được sử dụng để cất và hạ cánh cho các máy bay Yak-41 với khả năng cất hạ cánh dọc theo trục boong góc. Để bảo vệ sự khởi động sơ bộ của khí tài bay và nhân viên phục vụ khỏi khí thải khi máy bay tiêm kích khởi động sử dụng lá chắn chặn khí (chụp ống khói kiểu quay) với sự làm mát bắt buộc (cưỡng bức) bằng nước.

Để đảm bảo sự hạ cánh của các máy bay phản lực tốc độ cao trên boong sử dụng máy là phẳng đường băng “Svetlana-2” – 4 thanh ngang căng bằng dây cáp boong, bố trí các nhau ở cự ly 12 và kết nối qua các khối với 4 máy hãm thủy lực, được sử dụng để triệu tiêu động năng. Trong vị trí hoạt động, các cuộn dây cáp được nâng lên boong tới chiều cao cho phép để kẹp móc hãm cho máy bay đỗ, đảm bảo sự dừng hoàn toàn sau 90 mét chạy đà với sự quá tải dọc không quá 4,5g. Bốn cuộn dây cáp từ mạn tàu được kết hợp với rào chắn khẩn cấp “Nadezhda”. Việc đưa lúc đầu máy bay tới khu vực đỗ trên tàu được thực hiện bằng hệ thống vô tuyến dẫn đường tầm gần, hình thành quỹ đạo bay với sự đảm bảo đường vào của nó tới khu vực hoạt động của hệ thống hạ cánh quang điện (OSP) “Luna-3”. Hệ thống hạ cánh quang điện được giới thiệu là hệ thống đèn đặc biệt với góc mở tia rất nhỏ. Khi rời khỏi đường băng là hạ cánh, phi công đã xác định được vị trí của máy bay theo ánh sáng quan sát bằng khối lửa thẳng của hệ thống hạ cánh quang điện.

Vũ khí phòng không của tàu được giới thiệu là 4 modul tổ hợp tên lửa phòng “Kinzhal” (192 tên lửa trong thiết bị phóng đứng) và 8 modul tổ hợp pháo – tên lửa “Kortik” (tổng cơ số đạn 256 tên lửa và 48 000 đạn 30mm), bố trí trên các sườn theo thành tàu. Việc này đảm bảo khả năng bắn vòng các mục tiêu trên không.

Vũ khí pháo gồm có 3 cụm pháo 6 nòng bắn nhanh AK-630M (tổng cơ số đạn 48 000 đạn). Ban đầu, đã có kế hoạch bố trí thêm một cụm hệ thống pháo tự động dưới mép mũi của máy đà cất cánh cho việc dẫn bắn hỏa lực trên các góc vòng mũi, còn dưới các thiết bị của chúng thậm chí đã khoét 2 lỗ châu mai. Nhưng sau khi thay đổi trong quá trình đóng tàu tuần dương hạng nặng ngoại hình của mép mũi máy đà và bổ sung cho nó nắp chụp, các kích thước của lỗ châu mai không đảm bảo phạm vi bắn của pháo tự động và chúng bị loại bỏ.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 25 Tháng Ba, 2012, 11:45:34 am
Để bảo vệ tàu khỏi ngư lôi, ở mạn tàu từ mỗi thành lắp 1 thiết bị 10 nòng “Udav-1” (RBU-12000) được thiết kế đặc biệt nhằm mục tiêu thay thế các thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000 truyền thống của Hải quân Liên Xô.

Vũ khí thuộc Không quân Hải quân (theo đề án) gồm có 50 thiết bị bay, trong đó có 26 máy bay tiêm kích trên boong (Su-27K hoặc Mig-29K), 4 trực thăng Ka-225RLD (Ka-31), 18 Ka-27 hoặc Ka-29 và 2 Ka-27PS. Biên chế cụm máy bay đã được lên kế hoạch tổ chức trong sự phối hợp của các máy bay tiêm kích đánh chặn hạng nặng và các máy bay tiêm kích – cường kích hạng nhẹ, đồng thời các trực thăng cho các nhiệm vụ khác nhau (bắt đầu từ tàu thứ 2 trong lớp, dự kiến đồng thời đảm bảo việc đóng các máy bay tuần tra – trinh sát ra đa và dẫn đường Yak-44 RLD). Đã tính toán khả năng dự trữ đóng trên tàu các máy bay cất hạ cánh thẳng Yak-41 (cũng là Yak-141 – không được tiếp nhận vào trang bị).

Trang bị vô tuyến điện của tàu (đài ra đa định vị, đài thủy âm, hệ thống tác chiến điện tử…) gồm có các hệ thống với 58 danh mục khác nhau, trong đó có hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu “Lesorub”, tổ hợp ra đa định vị đa chức năng “Mars-Passat” với ra đa mảng pha, đài ra đa định vị 3 tọa độ “Fregat-MA”, đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu bay tầm thấp “Podkat”, tổ hợp đạo hàng “Beisur”, tổ hợp thông tin liên lạc “Buran-2”, đài ra đa định vị điều khiển bay “Rezistor”, tổ hợp tác chiến điện tử “Kantana-11435” (mặc dù ban đầu theo dự kiến là “Sozvedie-BR”, nhưng đến thời điểm đó, nó chưa được hoàn thiện), tổ hợp thủy âm “Polinom-T”, đài thủy âm “Zvezda-M1”… Các trạm ăng ten của phần lớn khí tài vô tuyến điện và khí tài thông tin liên lạc được bố trí trên thượng tầng.

Tổng số khí tài truyền và thu vô tuyến trong các công suất và nhiệm vụ trong các dải tần khác nhau là 51 đơn vị. Chúng đảm bảo hơn 80 tuyến truyền tải thông tin, 50 trong số chúng có thể hoạt động đồng thời.

Trang thiết bị hỗ trợ (170 danh mục) hoạt động trong các tuyến thuộc kênh thông tin liên lạc vô tuyến, trinh sát vô tuyến và đề kháng đã được hình thành có hơn 450 đơn vị.

Thiết bị năng lượng chính của tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay Đề án 11435 hầu như lặp lại hoàn toàn trong thiết bị được tiếp nhận trong Đề án 11434: 4 trục, tuabin hơi nước, tổng công suất 200 000 sức ngựa. Trữ lượng nhiên liệu tăng cường cho phép đạt được tầm bơi xa 8 000 dặm với tốc độ 18 hải lý. Công suất tăng cường do kết quả lắp các nồi hơi mới. Nhờ đó, khi tăng lượng choán nước tiêu chuẩn lên 10 000 tấn đã thành công khi nhận được tốc độ hoàn toàn (tối đa) của tàu – 29 hải lý.

Hơi nước được sản xuất từ 8 nồi hơi KVG-4 với sản lượng hơi nước tăng cường lên 115 tấn/h (so với 98 tấn/h trên các nồi hơi trước) bằng áp suất 66kg lực/cm2 và nhiệt độ 470 độ hơi nước quá nhiệt trong đường ống. Hơi nước cần thiết, không liên quan với sự di chuyển của tàu, nhận được nhờ kết quả lựa chọn các nồi hơi chính, vì thế, thiết bị nồi hơi dự bị không cần thiết. Ở lượng choán nước thường 53 050 tấn, tốc độ tuần tran của tàu là 14 hải lý với 140 vòng quay/phút. Tốc độ chiến đấu tuần tra – 18 hải lý (180 vòng/phút).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 25 Tháng Ba, 2012, 11:50:27 am
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11435_22.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11435_12.jpg)

Thượng tầng tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng "Đô đốc Hải quân Liên Xô Kuznetsov" với các khí tài kỹ thuật vô tuyến


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 25 Tháng Ba, 2012, 11:51:54 am
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11435_46.jpg)

Trạm hệ thống quang học cho việc hạ cánh "Luna-3", bố trí trên thành bên trái tàu tuần dương hạng nặng Đề án 11435

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11435_10.jpg)

Su-33 trên boong tàu Đề án 11435


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 25 Tháng Ba, 2012, 12:25:49 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11435_28.jpg)

Trong các khí tài cứu nạng có 1 xuồng chỉ huy lớn Đề án 1404 (từ thủy tinh dẻo), 2 xuồng lớn Đề án 1402-B, 2 bè 6 mái chèo Đề án YaL-P6 và 240 bè cứu nạn PSN-10M trong các thùng. Xuồng được bố trí trong các đáy ở khoang số 4 theo thành bên trái tương ứng với khung sườn số 171-184; 186-197 và 207-218, thuyền chèo – theo thành bên phải trên khung số 220-234, bè – cố định đặc biệt dọc theo hai thành trên boong bay.

Tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng (thực tế - tàu sân bay) Đề án 11435 đã đánh dấu bước chuyển mình sang cấp độ mới của Hải quân Liên Xô. Máy bay phản lực trên boong theo sơ đồ truyền thống theo các khả năng của chúng đã bỏ lại đằng sau bất kỳ khí tài bay cất hạ cánh thẳng của Liên Xô cũng như nước ngoài. Cụm các tàu nổi, trước đó rất dễ bị tổn thương, bây giờ đã nhận được sự yểm trợ tin cậy từ trên klhoong từ các máy bay tiêm kích đa năng. Sự ra đời của máy bay cất cánh trên boong có giá trí không chỉ với sự xuất hiện của tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay này.

Đề án 11435 không nghi ngờ, được giới thiệu là loại tàu chiến đấu đa năng, không có loại tương tự trên thế giới. Sự xuất hiện trên tàu vũ khí tên lửa mạnh cụm máy bay trong thành phần bao gồm các loại máy bay hiện đại nhất, sự thật đã làm cho nó đứng ngang hàng với các tàu sân bay hiện đại nhất của các cường quốc về biển. Sự kết hợp khởi động máy đà và sự hạ cánh bằng máy là phẳng của các máy bay với tải trọng vũ khí nặng cho phép giảm thiểu mức nhỏ nhất - so với các phương tiện tương đồng ở phương Tây – sự tiêu hao hỏa lực phòng không của các lực lượng Hải quân ở các khu vực tầm xa trên đại dương. Trong thời gian đó, cụm máy bay của tàu được lắp ghép không đầy đủ. Như trên thực tế đã chỉ ra, để giải quyết nhiệm vụ “chở máy bay” thuần túy, không đủ các máy bay trinh sát ra đa, chống ngầm, rải nhiễu và tiếp liệu. Các máy bay Su-33 trên tàu đồng thời giảm số lượng: tổng cộng trong xưởng máy bay ở thành phố Komsomol-na-Amur đã chế tạo 24 máy bay (hiện nay, 5 trong số chúng theo các nguyên nhân khác nhau đã bị mất) nằm trong biên chế phi đoàn số 279 thuộc Sư đoàn không quân Hải quân hỗn hợp số 57. Cho đến thời điểm sửa chữa cuối cùng trên tàu tuần dương đóng đồng thời không quá 7 máy bay.

Tổ hợp ra đa định vị “Mars-Passat” được dự tính trong vai trò khí tài nội địa tương tự với tổ hợp ra đa định vị “Aegis” của Mỹ. Các thông số kỹ - chiến thuật của nó phải đáp ứng những yêu cầu hiện đại nhất, đảm bảo sự phát hiện, phân loại và theo dõi 120 mục tiêu đồng thời. Tuy nhiên, như đã được lắp thí nghiệm trên tàu tuần dương Đề án 11434 “Bacu”, tổ hợp cần được hoàn thiện thêm. Như trên “Bacu”, các chức năng của nó được thực hiện bởi đài ra đa định vị “Fregat-M” – nó phát hiện và theo dõi 80 mục tiêu, còn máy tính điện tử cung cấp sự chỉ thị mục tiêu tới hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu và cho các đàu vũ khí của tàu, lấy từ tổ hợp ra đa định vị “Mars-Passat”. Hệ thống này cần được giữ lại một cách bất đắc dĩ trên Đề án 11435.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 31 Tháng Ba, 2012, 12:05:06 pm
Theo quan điểm của các thợ máy hải quân, thiết bị năng lượng chính của tàu (cũng như các tàu tiền nhiệm của nó) có công suất không đủ lớn đối với ý nghĩa thiết kế tốc độ. Như là, bắt đầu từ 18 hải lý và cao hơn, thiết bị làm việc trong chế độ quá tải. Ngoài ra, sự tăng cường công suất được thực hiện bằng sự tính toán tăng áp lực nhiên liệu khi cung cấp tới thiết bị nồi hơi. Trong sự phối hợp với việc tiếp nhận một cách tương đối của thiết bị tự động thủy lực cũ, không thường xuyên đảm bảo việc cung cấp không khí kịp thời, dẫn tới hoạt động của các nổi hơi trong chế độ giới hạn và bốc khói mạnh. Khi đó, các nồi hơi sẽ trở nên phức tạp trong khai thác sử dụng, yêu cầu sự kiểm tra cẩn thận thành phần cấp độ nước. Theo nguyên nhân ăn mòn nồi hơi và ống dẫn, tàu không có khả năng đạt tốc độ lớn hơn 18 hải lý, tàu thường chỉ ở tốc độ 10-12 hải lý. Vì thế, nhiệm vụ cất – hạ cánh được thực hiện trên tốc độ 6-8 hải lý trong điều kiện gió và với sự hạn chế bắt buộc theo khối lượng cất cánh của máy bay – với sự rút dự trữ nhiên liệu và không có vũ khí treo.Đồng thời, nhiều sự chỉ trích hướng vào công việc của thiết bị làm bay hơi dạng MZS do sự phức tạp trong bảo dưỡng kỹ thuật của chúng và trước hết là sự làm sạch. Đây là sự di truyền từ các tàu đề án trước. Vấn đề chỉ được khắc phục sau khi lắp các thiết bị làm sạch bổ sung trong quá trình sử chữa năm 1997-1998. Thêm một vấn đề nữa là việc không có trên thành tàu khí tài hiệu quả chống lại sự phủ băng trên boong, đặc biệt quan trọng đối với thao tác cất – hạ cánh trong các vùng cực bắc.

Trong quá trình khai thác sử dụng, tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay đã xuất hiện những lỗi nghiêm trọng trong thiết kế của hệ thống tiêu nước trên khoang tàu, như sự thiếu hoàn toàn máy bơm phụt nước. Các bơm tiêu nước đang có đã chỉ ra sự không thuận lợi trong khai thác sử dụng, không hiệu quả, đồng thời không thuận tiện trong sửa chữa.

Tất cả những vấn đề này cho phép đặt ra giả thiết rằng tàu Đề án 11435, lý thuyết là tàu chiến đấu tiềm năng, có thể so sánh với các tàu sân bay hiện đại nhất của nước ngoài, không thể dành chiến thăng trong trường hợp đấu tay đôi giả định. Còn sự xuất hiện trên thành tàu tuần dương tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh tầm xa lớn “Granit” không có ý nghĩa nhiều bởi vì tầm xa hoạt động của các máy bay trên boong luôn lớn hơn bất kỳ tổ hợp tên lửa nào. Các nhược điểm chính của Đề án 11435 là việc khởi công trong khái niệm không có thiết bị năng lượng hạt nhân và máy phóng. Kết quả là Đề án 11435 không khác nhiều so với Đề án 1143 với nhiệm vụ chính của nó – đảm bảo yểm trợ, che phủ khu vực tuần tra và triển khai chiến đấu của tàu ngầm nguyên tử tuần dương mang tên lửa đạn đạo và sự đột phá của chúng tới Đại Tây Dương, còn toàn bộ ranh giới hoạt động nằm ở khả năng sử dụng các máy bay tiêm kích trên boong Su-33 để bảo đảm việc tiêu diệt các máy bay cảnh báo sớm, thậm chí máy bay tiêm kích yểm trợ của địch. Nói cách khác, tàu mới được chế tạo trên cơ sở các quan điểm cũ.

Các biến thể

Tàu thứ 2 thuộc Đề án 11435 ban đầu là sự lặp lại hoàn toàn của tàu thứ 5, nhưng vào tháng 6 năm 1986, đã có mệnh lệnh của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô về việc thay đổi một số phần tử cơ bản của tàu tuần dương. Cụ thể, trang bị vô tuyến điện. Đồng thời hình dáng thượng tầng của tàu cũng được thay đổi (“quần đảo”) và bộ phận mạn của boong, còn Đề án nhận số hiệu mới 11436 (cuối cùng, nó không được đóng).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 31 Tháng Ba, 2012, 12:38:11 pm
Chương trình đóng tàu

Việc chế tạo tàu sân bay đúng nghĩa đầu tiên ở Liên Xô đã diễn ra trong giai đoạn có những sự thay đổi về kinh tế và chính trị, và một cách rất tượng trưng rằng trong quá trình đóng, tàu đã 3 lần đổi tên. Được khởi công dưới tên gọi “Riga”, tàu được hạ thủy với tên gọi “Leonid Brezhnev”, tham gia thí nghiệm “Tbilisi” và gia nhập biên chế là “Đô đốc Hải quân Liên Xô Kuznetsov”.

Việc đóng tàu tuần dương hạng nặng Đề án 11435 (số hiệu 105) được thực hiện ở xí nghiệp trong xưởng đóng tàu biển Đen ở Nicolaev tương ứng với hợp đồng của Bộ Công nghiệp đóng tàu số 44550-A/166 từ 3 tháng 3 năm 1981. Ngoài xưởng đóng tàu biển Đen, còn tiếp nhận sự tham gia của hơn 3000 xí nghiệp cơ sở thuộc các tổ chức, các nước cộng hòa và phòng ban khác nhau. Các công việc quy mô lớn thực hiện trước đó theo sự nâng cấp ụ số “0”. Sự nâng cấp được bắt đầu trong khuôn khổ các quyết định nổi tiếng của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô từ 30 tháng 4 năm 1976 về chế tạo các tàu Đề án 1153 và chứng minh rất đúng lúc. Kết quả ở xưởng đòng tàu biển Đen đã chế tạo tổ hợp ụ hiện đại và lớn nhất ở châu Âu, cho phép đóng các tàu với khối lượng hạ thủy 40 000 tấn. Việc đóng (lần đầu tiên ở Liên Xô) được thực hiện theo sự cải tiến công nghệ mới trong chế tạo thân tàu từ các khối lớn nặng 1400 tấn. Khi đó, thân tàu cơ sở được phát triển từ 21 khối dài 32 mét, cao 13 mét và chiều rộng, bằng chiều rộng thân tàu. Thượng tầng gồm 22 khối.

Song song với việc đóng tàu tuần dương hạng nặng ở Nicolaev, trên “Nitka” cũng tiến hành lắp ráp mẫu máy là phẳng đường băng đầu tiên, đóng máy đà cất cánh T-2, đưa vào thí nghiệm các máy bay thử nghiệm và hệ thống điện tử mới.

Việc hạ thủy tàu tuần dương hạng nặng, được đổi tên thành “Leonid Brezhnev” từ ụ nghiêng trong khối lượng hạ thủy 32 000 tấn được giới thiệu là thao tác tổng hợp trong thực tế ngành đóng tàu. Vào đêm mùng 4 tháng 12 năm 1985,của nổi của ụ tách khỏi bộ phận ụ của triền nghiêng “0” tới khu mặt nước Yuznaia Buga, đã được tháo, nước tràn vào gần đến chân vịt và trên các khí tài phục vụ hạ thủy tàu tuần dương hạng nặng. Buổi sáng đã có cuộc mít tinh trang trọng, sau đó, dưới âm thanh của pháo hoa và tiếng còi của tàu kéo, tiếng còi xưởng và tiếng reo hò “Ura!” – tàu thứ 5 – tàu lớn nhất trong ngành đóng tàu Liên Xô chính thức được hạ thủy.

Những sự thay đổi nhiều trong thiết kế, việc cung cấp không kịp thời các vật liệu lắp ghép bên cạnh các tổ chức thuộc đơn vị nhận và hàng loạt các vấn đề khác không làm thay đổi thời gian chuẩn bị của tàu. Kết quả là trên tàu đã thực hiện hàng trăm chỗ hổng công nghệ ngoài dự kiến, thường bị tháo ra để lắp các trang thiết bị. Còn sau khi hàn các lỗ hổng – một lần nữa lắp nó vào vị trí cũ trước đó. Hai lần tàu gặp phải những đám cháy nghiêm trọng.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Tư, 2012, 12:18:13 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11435_31.jpg)

Thêm vào đó, tình hình với sự lựa chọn máy bay tiêm kích trên boong không rõ ràng – năm 1988 đã đề xuất sử dụng Mig-29K, mà theo đó, dựa trên tính toán kích thước của chính nhỏ hơn, có thể bố trí trong hang ga tàu tuần dương chở máy bay với số lượng gấp rưỡi so với Su-27K. Vì thế, mặc dù trong tất cả các kết quả tích cực đạt được tại “Nitka”, yêu cầu trong các điều kiện thật khằng định khả năng theo nguyên tắc sự hạ cánh trên đường băng của máy bay trên boong tàu trên biển và sự cất cánh sau đó với sự hỗ trợ của máy đà, xử lý hệ thống điều khiển. Vào cuối năm 1988, M.P.Simonov đã đề xuất, không đợi sự bắt đầu chính thức các thí nghiệm thiết kế bay của Su-27K, tiến hành các thao tác cất – hạ cánh thí nghiệm đầu tiên trên boong tàu trong các điều kiện thực. Với đề xuất tương tự - thí nghiệm trước máy bay tiêm kích trên boong trong các điều kiện trên tàu – được lãnh đạo phòng thiết kế thí nghiệm A.I.Mikoyan đề xuất. Sáng kiến được sự ủng hộ bởi giám đốc xưởng đóng tàu biển Đen Yu.I.Makarov và vào cuối năm 1988, đã xuất hiện quyết định về tiến hành vào mùa thu năm 1989, gọi là quá trình các thí nghiệm thiết kế bay (LKI) của các máy bay Su-27K, Mig-29K và các khí tài kỹ thuật chuyên dụng. Bằng quyết định đồng thời của các Bộ trưởng công nghiệp đóng tàu và hàng không, đồng thời Tư lệnh Hải quân và Không quân đã quyết định đối với tàu một cách tạm thời ở xưởng loại bỏ việc lắp hệ thống vũ khí chưa hoàn thiệt và trang bị vô tuyến điện, đồng thời không bắt buộc trong tình trạng khử từ. Bằng quyết định của tổ hợp công nghiệp quốc phòng được giao bởi Ủy ban Chính phủ về tiếp nhận tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng (lúc đó mang tên “Tbilisi”) với Phó Đô đốc A.M.Ystiantsev trực thuộc Tổng thống Liên Xô (Tổng thư ký Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô) và Đại diện Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô.

Ngày 28 tháng 10 đã bắt đầu chuẩn bị tiếp nhận các máy bay – các khi công một cách trình tự đã hoàn thành các chuyến bay trên boong, một cách tuần tự giảm tốc độ và độ cao. Sau đó xử lý việc ghé lên tàu với việc sử dụng thông tin của hệ thống “Luna”, đôi lúc với sự tiếp xúc của boong theo tư thế nghiêm và chạy đà không có sự ăn khớp với dây cáp.Vào 13 giờ 46 phút, lần đầu tiên trong lịch sử hàng không quốc gia, trên boong tàu sân bay, Su-27K đã hạ cánh thành công (số hiệu số 39). Theo thông tin nhật ký trực ban khi đó của tàu tuần dương “Tbilisi”, việc hạ cánh thực hiện ở điểm với các tọa độ 45 độ 2’ 6’’ Bắc và 33 độ 11’8’’ Đông (vịnh Kalamit, mũi phía nam Evpatori), trong các điều kiện trời nhiều mây. Vào 15 giờ 11 phút, máy bay tiêm kích Mig-29K đã hạ cánh thành công lần đầu tiên trên đường băng trên boong (số hiệu mang theo 311). Sau đó là lần cất cánh đầu tiên từ tàu (lúc 16 giờ 48 phút).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Tư, 2012, 12:22:11 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11435_102.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11435_81.jpg)

Lần hạ cánh đầu tiên của máy bay Mig-29K trên boong tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay "Tbilisi". Mùng 1 tháng 11 năm 1989.

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11435_48.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11435_109.jpg)

Lần khởi động (cất cánh) đầu tiên của máy bay tiêm kích Mig-29K từ boong tàu tuần dương hạng nặng "Tbilisi" Đề án 11435. Mùng 1 tháng 11 năm 1989.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Tư, 2012, 12:30:15 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11435_111.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11435_82.jpg)

Lần thí nghiệm cất cánh không thành công đầu tiên của Su-27K, mùng 2 tháng 11 năm 1989. Tia phụt ra từ các động cơ đã phá hủy lá chắn phản xạ khí của bãi cất cánh số 1.

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11435_83.jpg)

Lần khởi động (cất cánh) đầu tiên của Su-27K từ máy đà của tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay "Tbilisi", 2 tháng 11 năm 1989.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Tư, 2012, 12:50:39 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11435_32.jpg)

Trong những ngày sau đó đã diễn ra việc xử lý cường độ cao các thao tác cất – hạ cánh từ các bãi cất cánh số 2 và số 3. Ngày 17 tháng 11 năm 1989 từ boong “Tbilisi” đã cất cánh lần đầu tiên, sau đó là thực hiện việc hạ cánh trên đường băng của các phi công thí nghiệm thuộc viện nghiên cứu khoa học Không quân trên Mig-29K và Su-27K. Các máy bay cất cánh từ máy đà, một cách lần lượt theo khối lượng cất cánh tăng dần của các máy bay khi sóng biển cấp 4-5, các tốc độ khác nhau của tàu và lực cản của gió. Đã có nhận định rằng, với các thùng được nạp đầy nhiên liệu và 4 tên lửa (khối lượng cất cánh 29,9 tấn), Su-27K có khả năng cất cánh với bãi cất cánh gần số 2 thậm chí trên tốc độ 7 hải lý của tàu. Còn khi ở tốc độ 15 hải lý, khả năng khởi động từ bãi cất cánh số 3 với tình trạng nạp đầy nhiên liệu và cơ số đạn tối đa (khối lượng cất cánh 32,2 tấn). Ngày 21 tháng 11, Su-27K lần đầu tiên thực hiện việc hạ cánh ban đêm trên boong. Các thí nghiệm thiết kế bay đã hoàn thành thành công ngày 22 tháng 11 năm 1989. Ngày 23 tháng 11 năm 1989, “Tbilisi” đã quay trở lại xưởng. Mùng 4 tháng 10 năm 1990, tàu nhận tên gọi “Đô đốc Hải quân Liên Xô Kuznetsov”. Tàu đã trở về xưởng để kiểm tra các máy móc và khắc phục những lời phê bình. Ngày 25 tháng 12 năm 1990, Ủy ban Chính phủ đã ký biên bản tiếp nhận. Ngày 20 tháng 1 năm 1991, tàu tuần dương hạng nặng được ghi tên vào danh sách Hạm đội Phương Bắc, còn 29 tháng 1 trên tàu đã diễn ra lễ kéo cờ Hải quân trang trọng. Ở phương Tây, Đề án 11435 nhận tên gọi lớp Kuznetsov.

Tàu thứ 2, nhận số hiệu Đề án 11436 (số hiệu xưởng 106) được đóng từ năm 1985 cùng trên ụ số 0 ở xưởng đóng tàu biển Đen ngay sau khi hạ thủy tàu đầu tiên trong Đề án 11435, nhưng không được đóng tiếp.

Tình hình đến năm 2008

Đề án 11435 là tàu chở máy bay duy nhất của Hải quân Nga đã gia nhập Hạm đội Phương Bắc cho đến thời điểm này. Mặc dù xuất hiện hàng loạt các tại nạn nhỏ, gãy vỡ và sửa chữa dài hạn, tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng “Đô đốc Hải quân Liên Xô Kuznetsov” đang tham gia tích cực trong các hoạt động phục vụ chiến đấu của hạm đội, còn cụm máy bay trên tàu thực hiện việc cất cánh thường xuyên. Trong những năm phục vụ, tàu tuần dương hạng nặng Đề án 11435 đã hoàn thành một số cuộc hành quân dài ngày trong cụm tàu chiến đấu, tiếp nhận tham gia trong các cuộc tập trận khác nhau và cơ động của hạm đội. Tàu đã đánh dấu giai đoạn phát triển mới về chất lượng của Không quân thuộc Hải quân.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Tư, 2012, 12:58:14 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11435_44.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11435_45.jpg)

Thang nâng máy bay ở mạn tàu Đề án 11435.

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11435_47.jpg)

Trong hang ga tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay Đề án 11435.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Tư, 2012, 01:05:04 am
Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ “Riga” (số hiệu xưởng 105); từ 26 tháng 11 năm 1982 là “Leonid Brezhnev”, từ 11 tháng 8 năm 1987 là “Tbilisi”, từ 4 tháng 10 năm 1990 là “Đô đốc Hải quân Liên Xô Kuznetsov”. Khởi công 1 tháng 9 năm 1982 ở xưởng đóng tàu biển Đen số 198; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 26 tháng 7 năm 1982; 30 tháng 11 năm 1985 bị cháy rác xây dựng và ván gỗ, trong số lượng lớn vật nhiều gần thành tàu, việc dập lửa kéo dài hơn 1 giờ; hạ thủy 4 tháng 12 năm 1985; tháng 7 năm 1986 đã bị cháy ở trạm năng lượng và buồng nổi (do hàn điện trong các buồng gần nhau làm cháy giẻ tẩm dầu và rác xây dựng), để chữa cháy đã huy động số lượng lớn nhân lực, trong đó có cả các xưởng bên cạnh; 8 tháng 6 năm 1989 đã bắt đầu thí nghiệm neo đậu; 8 tháng 9 năm 1989 đã bắt đầu hoạt động sinh hoạt của thủy thủ đoàn trên tàu; 21 tháng 10 năm 1989, liên quan đến quyết định vào mùa thu năm 1989 thực hiện giai đoạn cấp xưởng các thí nghiệm thiết kế - bay của máy bay Su-27K và Mig-29K, các thí nghiệm neo đậu bị gián đoạn; tàu lần đầu tiên rời khỏi bến đỗ trong xưởng và qua một ngày đêm đã thả treo ở bãi đỗ tàu ngoài thuộc Sevastopol; từ 23 đến 26 tháng 10 năm 1989 trên trường bắn gần mũi Margopulo đã thí nghiệm máy, cơ cấu, khí tài đạo hàng và thông tin liên lạc; 27 tháng 10 năm 1989 đã bắt đầu bay thuwrcacs máy bay trên tàu để xử lý kỹ thuật hạ cánh; các cuộc cất hạ cánh đầu trên trên boong được thực hiện trong trạng thái thả neo, sau đó huấn luyện mang (máy bay) trên bãi tập, nơi tàu di chuyển tốc độ 10 – 13 hải lý; 1 tháng 11 năm 1989, lúc 13 giờ 46 phút, lần đầu tiên trong lịch sử Không quân Hải quân, trên boong tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay đã hạ cánh Su-25UTG; 2 tháng 11 năm 1989, khi Su-27K cất cánh, không xử lý khí tài hỗ trợ - từ tác động kéo dài của khí bị đốt nóng đã phá hủy 6 khối làm mát của lá chắn phụt khí; 13 tháng 11 năm 1989 đã diễn ra lần hạ cánh thứ 2 trên boong của Su-27K, còn 21 tháng 11 năm 1989 – lần đầu tiên hạ cánh ban đêm; 22 tháng 11 năm 1989, các thí nghiệm thiết kế bay đã kết thúc thành công, tổng cộng trong 20 ngày đêm đã diễn ra 227 chuyến bay và 35 lần hạ cánh trên tàu, trong số đó 20 – Su-27K, 13 – Mig-29K và 2 – Su-25UTG; 23 tháng 11 năm 1989, tàu quay trở lại xưởng để hoàn thành các thí nghiệm neo đậu và lắp các hệ thống đang lắp dở và vũ khí; 25 tháng 5 năm 1990, tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay (số hiệu trên thành tàu 113) đã rời Nicolaev đến Sevastopol để tiến hành các thí nghiệm chuyển động cấp xưởng, các thí nghiệm chuyển động diễn ra từ 28 tháng 5 đến 31 tháng 6 năm 1990, cùng với sự thực hiện các thí nghiệm thiết kế bay của Su-27K và xử lý các máy bay Mig-29K và Su-25UTG đầu tiên, một số thí nghiệm cất hạn cánh trên boong của tàu tuần dương chở máy bay, mẫu thí nghiệm máy bay tiêm kích bom tiền duyên Su-25IB đã được thực hiện; 1 tháng 8 năm 1990, bắt đầu các thí nghiệm cấp nhà nước; trên các bãi tập thuộc Hạm đội Biển Đen đã thực hiện việc bắn toàn bộ hệ thống vũ khí của tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay, ngoại trừ tổ hợp tấn công, việc bắn theo hàng loạt các nguyên nhân đã chuyển tới giai đoạn khi tàu tới biển Bắc cùng với các thí nghiệm tổ hợp áp chế vô tuyến điện “Sozvezdie” và chính tàu tuần dương trong điều kiện khí hậu đặc biệt phức tapjl trong thời gian thí nghiệm cấp nhà nước đã bơi 16 200 dặm, thực hiện 454 lần bay của các máy bay Su-27K, Mig-29K, Su-25UTG, trực thăng Ka-27, Ka-29 và Ka-31); trong giai đoạn thí nghiệm đã diễn ra việc sử lý trên Mig-29 hệ thống hạ cánh trên boong và đánh giá sự tương thích hệ thống máy tính điện tử mang theo của máy bay và hệ thống của tàu, khi đó, Mig-29K đã thực hiện việc hạ cánh ban đêm lần đầu tiên và khởi động cất cánh đêm từ tàu, đồng thời cất cánh ban ngày với 4 tên lửa; 1 tháng 10 năm 1990, tàu tuần dương đã quay trở lại xưởng để sửa chữa máy móc và khắc phục các ý điểm không hoàn thiện; 25 tháng 12 năm 1990, Ủy ban Chính phủ đã ký biên bản tiếp nhận – tàu gia nhập biên chế;


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Tư, 2012, 01:25:58 pm
(tiếp theo)

tổng cộng, từ thời điểm khởi công trên ụ đến khi bàn giao mất 8 năm, 3 tháng và 24 ngày; 20 tháng 1 năm 1991, ghi tên vào danh sách Hạm đội Phương Bắc và 29 tháng 1 năm 1991, kéo cờ Hải quân một cách trọng thể; tháng 5 năm 1991, đóng căn cứ ở bến đỗ ngoài ở Sevastopol và tạm thời gia nhập biên chế sư đoàn tàu nổi số 30 Hạm đội Biển Đen; trong năm 1991 đã tiến hành xử lý nhiệm vụ luân phiên và đảm bảo thực hiện các chương trình thí nghiệm cấp nhà nước của các máy bay tiêm kích Su-27K, Mig-29K và trực thăng Ka-31; các máy bay cất cánh từ sân bay trên bờ và thực hiện các thao tác cất – hạ cánh đã được quy định và bay ngược trở lại; xử lý các cuộc cất cánh của các máy bay tiêm kích với khối lượng tối đa cho phép cho một trong số 3 bãi cất cánh trong các tải trọng khác nhau; đối với trực thăng Ka-31 vấn đề chính là hoàn thiện tổ hợp ra đa định vị “Oko”; đến cuối tháng 11 năm 1991, khi Liên Xô bắt đầu tan ra, Tư lệnh Hải quân – Đô đốc V.N.Chernavin đã ra quyết định về vận chuyển gấp tàu tới Hạm đội Phương Bắc, tới điểm đóng căn cứ thường trực; 1 tháng 12 năm 1991, lúc 23 giờ 40, tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng đã bắt đầu di chuyển trong sự bảo vệ của tàu chống ngầm loại lớn “Skorưi”và tàu tuần tiễu tên lửa “Bezukorizennưi” và ra khơi; trong ngày hôm sau, các tàu đã đến trước cửa vào Bosfor, ở đó chúng đợi tàu kéo cứu nạn “Shakhter”; tàu tuần dương chở máy bay đã đi qua các eo biển Thổ Nhĩ Kỳ, ở đó, một số thủy thủ đã cố gắng bỏ trốn, ném từ mạn tàu thuyền cứu nạn và cố gắn chèo nó tới bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng đã được trục với và kéo ngược trở lại tàu; trong sự phối hợp với các tàu Thổ Nhĩ Kỳ, sau đó là Hy Lạp, Italia, Pháp và Tây Ban Nha, thay thế lẫn nhau, đồng thời không quân các nước NATO, tàu đã hướng tới Gibralta; ngoài Gibralta, trong sự bảo vệ tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng có tàu tuần tiễu tên lửa “Bditelnưi” (Hạm đội Baltic) và “Zadornưi” (Hạm đội Phương Bắc); ở đó các tàu đã gặp cụm tàu sân bay tấn công của Hải quân Mỹ mà dẫn đầu là tàu sân bay nguyên tử “George Washington”, sau đó, từ Norfolk tới Địa Trung Hải, khi đó, việc bay thí nghiệm của tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng đã bị Mỹ theo dõi bằng cách chụp ảnh và đo khoảng cách, tàu đã đáp trả bằng tín hiệu “đang thực hiện huấn luyện”, tăng tốc độ lên 24 hải lý và 2 máy bay Ka-27PS đã cất cánh (các máy bay phản lực trên boong trong thời gian di chuyển không có), còn tàu tuần tiễu tên lửa “Zadornưi” đã trục vớt từ dưới nước một trong cố các phao tiêu ăng ten định vị do trực thăng Mỹ ném xuống; trong khu vực vĩ tuyến 64, tàu khu trục “Bezuderzhnưi” (Hạm đội Phương Bắc) đã thay cho “Bditelnưi”; tàu đã di chuyển với tốc độ thường 12 – 14 hải lý, không tính đến giai đoạn tăng tốc độ quãng ngắn gần Gibralta; sau khi người Mỹ đi khỏi, bắt đầu kết hợp với đội tàu Anh, sau đó là các tàu chiến Na Uy; từ mũi Nordkap và tới cửa vào vịnh Kolsky – đi theo tàu trinh sát “Maryata”; 20 tháng 12 năm 1991 đã thả neo gần bến đỗ số 10 gần vịnh Ura và gia nhập biên chế sư đoàn số 43 (Đại Tây Dương) thuộc đội tàu tuần dương tên lửa trong Hạm đội Phương Bắc đóng căn cứ ở cảng Vidiaevo; 1 tháng 4 năm 1992 theo mệnh lệnh của chỉ huy Hạm đội Phương Bắc nằm trong số các tàu tuyến đầu; từ mùa thu năm 1992 đã tiếp tục các thí nghiệm cấp nhà nước của Su-25UTG và Su-27K; 21 tháng 10 năm 1992, theo tình trạng kỹ thuật của tàu tuần dương đã bắt đầu sửa chửa thiết bị năng lượng chính và các khí tài kỹ thuật hàng không;


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Tư, 2012, 01:34:22 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11435_69.jpg)

Máy bay thí nghiệm Mig-29LL hạ cánh trên boong tàu tuần dương "Tbilisi" mùa thu năm 1989.

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11435_71.jpg)

Trên boong tàu tuần dương "Tbilisi" trong thời gian thí nghiệm thiết kế bay, mùa thu năm 1989.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Tư, 2012, 01:35:43 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11435_91.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11435_90.jpg)

Su-25UTG hạ cánh

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11435_93.jpg)

Su-25UTG cất cánh với sự hỗ trợ của máy đà


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Tư, 2012, 11:43:13 am
(tiếp theo)

tổng cộng, từ thời điểm khởi công trên ụ đến khi bàn giao mất 8 năm, 3 tháng và 24 ngày; 20 tháng 1 năm 1991, ghi tên vào danh sách Hạm đội Phương Bắc và 29 tháng 1 năm 1991, kéo cờ Hải quân một cách trọng thể; tháng 5 năm 1991, đóng căn cứ ở bến đỗ ngoài ở Sevastopol và tạm thời gia nhập biên chế sư đoàn tàu nổi số 30 Hạm đội Biển Đen; trong năm 1991 đã tiến hành xử lý nhiệm vụ luân phiên và đảm bảo thực hiện các chương trình thí nghiệm cấp nhà nước của các máy bay tiêm kích Su-27K, Mig-29K và trực thăng Ka-31; các máy bay cất cánh từ sân bay trên bờ và thực hiện các thao tác cất – hạ cánh đã được quy định và bay ngược trở lại; xử lý các cuộc cất cánh của các máy bay tiêm kích với khối lượng tối đa cho phép cho một trong số 3 bãi cất cánh trong các tải trọng khác nhau; đối với trực thăng Ka-31 vấn đề chính là hoàn thiện tổ hợp ra đa định vị “Oko”; đến cuối tháng 11 năm 1991, khi Liên Xô bắt đầu tan ra, Tư lệnh Hải quân – Đô đốc V.N.Chernavin đã ra quyết định về vận chuyển gấp tàu tới Hạm đội Phương Bắc, tới điểm đóng căn cứ thường trực; 1 tháng 12 năm 1991, lúc 23 giờ 40, tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng đã bắt đầu di chuyển trong sự bảo vệ của tàu chống ngầm loại lớn “Skorưi”và tàu tuần tiễu tên lửa “Bezukorizennưi” và ra khơi; trong ngày hôm sau, các tàu đã đến trước cửa vào Bosfor, ở đó chúng đợi tàu kéo cứu nạn “Shakhter”; tàu tuần dương chở máy bay đã đi qua các eo biển Thổ Nhĩ Kỳ, ở đó, một số thủy thủ đã cố gắng bỏ trốn, ném từ mạn tàu thuyền cứu nạn và cố gắn chèo nó tới bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng đã được trục với và kéo ngược trở lại tàu; trong sự phối hợp với các tàu Thổ Nhĩ Kỳ, sau đó là Hy Lạp, Italia, Pháp và Tây Ban Nha, thay thế lẫn nhau, đồng thời không quân các nước NATO, tàu đã hướng tới Gibralta; ngoài Gibralta, trong sự bảo vệ tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng có tàu tuần tiễu tên lửa “Bditelnưi” (Hạm đội Baltic) và “Zadornưi” (Hạm đội Phương Bắc); ở đó các tàu đã gặp cụm tàu sân bay tấn công của Hải quân Mỹ mà dẫn đầu là tàu sân bay nguyên tử “George Washington”, sau đó, từ Norfolk tới Địa Trung Hải, khi đó, việc bay thí nghiệm của tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng đã bị Mỹ theo dõi bằng cách chụp ảnh và đo khoảng cách, tàu đã đáp trả bằng tín hiệu “đang thực hiện huấn luyện”, tăng tốc độ lên 24 hải lý và 2 máy bay Ka-27PS đã cất cánh (các máy bay phản lực trên boong trong thời gian di chuyển không có), còn tàu tuần tiễu tên lửa “Zadornưi” đã trục vớt từ dưới nước một trong cố các phao tiêu ăng ten định vị do trực thăng Mỹ ném xuống; trong khu vực vĩ tuyến 64, tàu khu trục “Bezuderzhnưi” (Hạm đội Phương Bắc) đã thay cho “Bditelnưi”; tàu đã di chuyển với tốc độ thường 12 – 14 hải lý, không tính đến giai đoạn tăng tốc độ quãng ngắn gần Gibralta; sau khi người Mỹ đi khỏi, bắt đầu kết hợp với đội tàu Anh, sau đó là các tàu chiến Na Uy; từ mũi Nordkap và tới cửa vào vịnh Kolsky – đi theo tàu trinh sát “Maryata”; 20 tháng 12 năm 1991 đã thả neo gần bến đỗ số 10 gần vịnh Ura và gia nhập biên chế sư đoàn số 43 (Đại Tây Dương) thuộc đội tàu tuần dương tên lửa trong Hạm đội Phương Bắc đóng căn cứ ở cảng Vidiaevo; 1 tháng 4 năm 1992 theo mệnh lệnh của chỉ huy Hạm đội Phương Bắc nằm trong số các tàu tuyến đầu; từ mùa thu năm 1992 đã tiếp tục các thí nghiệm cấp nhà nước của Su-25UTG và Su-27K; 21 tháng 10 năm 1992, theo tình trạng kỹ thuật của tàu tuần dương đã bắt đầu sửa chửa thiết bị năng lượng chính và các khí tài kỹ thuật hàng không; từ năm 1993, trong cụm máy bay đã bắt đầu xuất hiện loạt Su-27K; từ 8 tháng 4 năm 1993, các thí nghiệm của máy bay su được tiếp tục, đồng thời chỉnh hệ thống quang điện “Luna-3” và hệ thống quan sát vô tuyến, kiểm tra hạ cánh “Otvodok-Raskreposenie” với tổ hợp hệ thống kỹ thuật vô tuyến đạo hàng và hạ cánh mang theo, được thiết kế đầu năm 1994; các thí nghiệm thiết kế - bay đã được hoàn thành bằng sự tham gia của tàu (lần đầu tiên) trong các cuộc diễn tập của Hạm đội Phương Bắc, trong quá trình này, cặp máy bay tiêm kích trên boong đã thực hiện truy đuổi và tiêu diệt máy bay – mục tiêu điều khiển bằng vô tuyến La-17, tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay chiếm vị trí số 1 trong Hạm đội Phương Bắc do bắn thành công vào mục tiêu trên biển bằng tổ hợp tên lửa chính; 30 tháng 12 năm 1994, đã ký biên bản hoàn thành các thí nghiệm cấp nhà nước của Su-27K (sau đó, 31 tháng 8 năm 1998, máy bay được tiếp nhận vào biên chế Không quân Nga dưới tên gọi Su-33); mùa đông 1994 – 1995, đã tiến hành sửa chữa các nồi hơi chính với sự thay thế các ống dẫn; năm 1995, trong thời gian ra khơi lần đầu, tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay đã bị bão, các ống nồi hơi chính bị vấy dầu và không bơi đươc; 23 tháng 12 năm 1995, tàu (số hiệu 063) lần đầu tiên thực hiện nhiệm vụ trực chiến ở Địa Trung Hải, dẫn đầu cụm tàu chiến đấu bao gồm tàu khu trục “Besstrashnưi”, tàu ngầm nguyên tử “Volk”, tàu vận tải “Dnestr” và tàu kéo SB-406 Hạm đội Phương Bắc, tàu tuần tiễu tên lửa “Pưlki” và tàu vận tải “Olekma” Hạm đội Baltic, đồng thời tàu kéo “Shakhter” và tàu vận tải “Ivan Bubnov” Hạm đội Biển Đen; cụm máy bay trên tàu gồm 13 máy bay tiêm kích Su-33, 2 Su-25UTG và 11 trực thăng Ka-27, Ka-27PS và Ka-29;


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 13 Tháng Tư, 2012, 01:29:34 am
(tiếp)

cuộc hành quân được bắt đầu trong điều kiện thời tiết phức tạp, tại cửa ra từ vịnh Kolsk, các tàu đã gặp bão cấp 7, gần mũi Nordkal, hai nồi hơi chính bị hỏng với sự giảm công suất của thiết bị năng lượng chính; 29 tháng 12 năm 1995, ở khu vực bờ phía tây nước Anh, các máy bay tiêm kích Su-33 đã thực hiện ba cuộc cất cánh truy đuổi các máy bay của Anh và Hà Lan “Orion” và “Nimrod”; đêm 4 tháng 1 năm 1996, cụm tàu đã đi qua Gibralta; do các vấn đề với nồi hơi, tàu tuần dương hạng nặng di chuyển với tốc độ thấp; 4 và 5 tháng 1 năm 1996, các chuyến bay được khôi phục lại, khi đó, Su-33 đã nhiều lần thực hiện các cuộc truy đuổi máy bay của NATO “Atlantic” và “Nimrod”; 7 tháng 1 năm 1996, tàu thả neo gần bờ biển Tuynidi, ở đó đến 17 tháng 1 năm 1996, trên tàu đã khắc phục các lỗi hỏng hóc, ở đó cũng lần đầu tiên diễn ra cuộc gặp gỡ (giao lưu) của các thủy thủ Nga và Mỹ (tàu sân bay nguyên tử “America”), khi đó, trên boong tàu đã thực hiện sự hạ cánh của 2 trực thăng SH-60 “Sea Hawk”; một số phi công Nga trong quá trình diễn tập chung đã bay trong vai trò phi công số 2 trên các máy bay và trực thăng Mỹ. Về phần mình, các trực thăng Nga đã hơn 30 lần hạ cánh trên bãi đáp của các tàu thuộc Hạm đội 6 Hải quân Mỹ, còn Tư lệnh Hạm đội 6 – Đô đốc Pilling với nhóm sỹ quan đã được làm quen một cách tỷ mỉ với các máy bay tiêm kích Su-33; từ 19 đến 23 tháng 1 năm 1969, Su-33 đã thực hiện 67 chuyến bay, trực thăng Ka-27 xử lý nhiệm vụ săn ngầm; 26 tháng 1 năm 1996, tàu đã ra khơi tới bờ biển Siry, trong cuộc hành quân, 2 máy bay Su-33 đã thực hiện việc bám sát cặp máy bay tiêm kích F-16 của Không quân Israel; trong giai đoạn 28 tháng 1 đến 2 tháng 2 năm 1996, đã hoàn thành việc ghé vào Tartus (Siry); 4 tháng 2 năm 1996, tàu trinh sát loại lớn “Kavkaz” đã tới Địa Trung Hải, gần quần đảo Kret, Tham mưu trưởng Hải quân Nga – Phó Đô đốc V.E.Selivanov đã thay thể Đô đốc I.V.Kasatonov và kéo cờ trên tàu tuần dương chở máy bay; đã thực hiện cuộc diễn tập ngoài kế hoạch theo sự kéo của tàu kéo “Shakhter”; 8-9 tháng 2 năm 1996, cụm tàu chiến đấu đã bị bão bụi, sau đó diễn ra sự bổ sung nhiên liệu ở điểm số 52 trên biên giới khu vực nước của Libia và Ai Cập; trong giai đoạn 17-18 tháng 2 năm 1996, đã hoàn thành cuộc viếng thăm La-Valetta (Malta), sau đó do các vấn đề với nồi hơi và bão kéo đến gần, cuộc viếng thăm đã không đúng kế hoạch; 2 tháng 3 năm 1996, lần đầu tiên trên Địa Trung Hải đã diễn ra cuộc diễn tập bay chiến thuật trong tầm gần và tầm xa khu vực phòng không của cụm tàu với sự xử lý bằng các máy bay tiêm kích các nhiệm vụ truy đổi máy bay và tấn công tên lửa có cánh; 6 tháng 3 năm 1996 đã đi qua Gigralta và tới Đại Tây Dương, ở khu vực nước Anh, tàu tuần dương chở máy bay có đã thăm tàu chiến “Sheffield”, trực thăng chở Đô đốc Hải quân Nga đã cất cánh từ boong tàu tuần dương; 20 tháng 3 năm 1996, theo sự đi qua bờ biển Faren-Island đã tiếp nhận tham gia cuộc diễn tập chỉ huy tham mưu của Hạm đội Phương Bắc, Su-33 đã đánh trả thành công cuộc tấn công tên lửa của đối thủ thật (4 Tu-22M3), truy kích với sự tham gia của tàu trinh sát cảnh báo sớm (tàu khu trục “Besstrashnưi”), các máy bay ném bom đã bị “bắt giữ” ở tầm xa 450km từ trung tâm cảnh giới; trong qua trình diễn tập, một trong số các máy bay Su-33 đã bị hỏng một động cơ cục bộ, nhưng phi công đã kịp hạ cánh khẩn cấp xuống boong (sau đó, phi công này được tặng danh hiệu Anh hùng Nga);


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Tư, 2012, 11:36:13 am
(tiếp theo):

22 tháng 3 năm 1996, tàu tới Vidiaevo; trong thời gian hành quân đã đi qua 14 156 dặm, thực hiện 524 lần cất cánh bằng máy bay và 996 lần bằng trực thăng, truy đuổi 12 mục tiêu trên không, phát hiện 2 tàu ngầm của nước ngoài, xử lý các nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu theo hai tàu ngầm; tiến hành bắn pháo – tên lửa thành công, trong đó có cả bằng tổ hợp tiến công chính; trong giai đoạn từ 8 tháng 4 năm 1996 đến tháng 7 năm 1998, ở xưởng đóng tàu phía bắc số 35 (“Sevmorput”) đã trải qua sự sửa chửa tăng cường hệ thống đạo hàng; sau khi hoàn thành sửa chữa đã đảm bảo sự huấn luyện chiến đấu của không quân trên tàu; tháng 8 năm 1998 đã tham gia các cuộc tập trận dưới lá cờ của Tổng Tư lệnh các lực lượng vũ trang Nga; trong giai đoạn 26 tháng 3 đến 2 tháng 4 năm 1999, làm nhiệm vụ trực chiến, đi qua 193 giờ di chuyển tới 750 dặm; tháng 10 năm 1999, đảm bảo việc thí nghiệm thiết kế bay trên biển Barents của máy bay huấn luyện 2 chỗ ngồi Su-27KUB, việc cất và hạ cánh trên boong được thực hiện những lần đầu tiên vào 6 tháng 10 năm 1999; 16 tháng 10 năm 1999 đã thực hiện việc hạ cánh lần đầu tiên của Su-33 trên boong trong các điều kiện ban đêm thuộc vùng cực; trong 10 năm phục vụ đầu tiên, tàu đã bơi 75 000 dặm; năm 1991 – 15 650 dặm; 1992 – 5 012 dặm, năm 1993 – 5095; năm 1994 – 5397 và năm 1995 – 5467; theo hàng loạt các nguyên nhân (độ ẩm, nhiệt độ thấp, sự cẩu thả, trình độ nghiệp vụ thấp của cá nhân), đến năm 1999, đã hỏng một trong số các nồi hơi chính, một thiết bị động cơ tuabin răng cưa và hàng loạt hệ thống và máy móc; mùa thu năm 2000, tàu đã chuẩn bị làm nhiệm vụ trực chiến ở Địa Trung Hải, nhưng sau sự thay thế sửa chữa, liên quan tới tai nạn của tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh “Kursk” Đề án 949-A, đã được đưa vào sửa chữa ở xưởng số 35; trong giai đoạn tháng 5-6 năm 2003 đã trải qua sửa chữa trên ụ của xưởng đóng tàu số 82 (Rosliakovo); tháng 10 năm 2003 ở trên biển Barents thực hiện các thí nghiệm vận động, trong thời gian đó đã xảy ra đám cháy ở ống khói chính; tháng 2 năm 2004 từ xưởng số 35, đã được sửa chữa, ra khởi đẻ tham gia trong cuộc huấn luyện chỉ huy – tham mưu chiến lược “Bezoanasnosch-2004” (“An ninh-2004”) để đảm bảo sự hoạt động theo chỉ định của các máy bay tiêm kích trên boong thuộc Hạm đội Phương Bắc; 27 tháng 9 năm 2004 (sau khi sửa chữa, thí nghiệm và xử lý nhiệm vụ luân phiên), đã dẫn đầu cum tàu chiến Hạm đội Phương Bắc dưới lá cờ phó tư lệnh Hạm đội Phương Bắc ra khơi tham gia cuộc diễn tập ở Đại Tây dương (thành phần cụm tàu chiến: tàu tuần dương tên lửa năng lượng hạt nhân “Pie Đại đế”, tàu tuần dương tên lửa “Nguyên soái Ustinov”, tàu chống ngầm “Severomorsk”, và “Nguyên soái Levchenko” và tàu khu trục “Đô đốc Ushacov”, tàu tiếp tế (chở dầu vận tải) “Sergei Osipov”, tàu kéo “Altai” và SB-406); một trong số các nhiệm vụ chính của các cuộc diễn tập là xử lý sự phối hợp của các tàu khi đánh trả cuộc tấn công của đối phương có thật, đồng thời thực hiện nhiệm vụ bay từ boong của các phi công; 24 tháng 10 năm 2004, cụm tàu chiến đã quay về vịnh Kolsk; tháng 8 năm 2005 và tháng 9 năm 2005 đã tham gia các cuộc diễn tập của Hạm đội Phương Bắc; 5 tháng 9 năm 2005 khi Su-33 hạ cánh đã xảy ra sự cố vỡ đường băng, máy bay bị rơi xuống nước và chìm ở độ sâu 1100 mét, phi công kịp thoát ra ngoài và được cứu bằng trực thăng cứu nạn; 5 tháng 12 năm 2007, tàu trong cụm tàu (2 tàu chống ngầm, tàu vận tải và cứu nạn) đã ra khơi trong cuộc hành quân thứ 61 tới Địa Trung Hải; 18 tháng 1 năm 2008, cụm tàu gặp tàu tuần dương tên lửa “Moskva” Đề án 1164, sau đó, cụm tàu một lần nữa ra khơi hướng đến Đại Tây Dương; trong giai đoạn 21 tháng 1 đến 1 tháng 2 năm 2008, đã tham gia các cuộc diễn tập trong thành phần cụm tàu chiến đấu với cụm máy bay trên boong (tổng cộng đã thực hiện hơn 100 cuộc cất cánh của mọi loại máy bay); 3 tháng 2 năm 2008, đã bơi qua hơn 12 000 dặm và thực hiện mọi nhiệm vụ huấn luyện, tàu đã quay trở về Severomorsk.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Tư, 2012, 10:26:02 am
Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 43 000

+ hoàn toàn: 55 000

+ lớn nhất: 61 390

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 306,45 (270)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 71,96 (33,41)

+ lượng lớn nước trung bình (tiêu chuẩn/thường/hoàn toàn): 8,05/8,97/9,76

+ lượng choán nước lớn nhất: 10,4

Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi

+ 8 nồi hơi KVG-4 trong 4 cụm tự hoạt động

+ 4 thiết bị tuabin răng cưa TV-12, tổng công suất, sức ngựa (kW): 200 000 (147 000)

+ các máy phát điện tuabin TD-1500, công suất, kW: 6x1500

+ các máy phát điện – diezel DGR-1500, công suất, kW: 4x1500

4 trục; 4 bánh lái chân vịt 4 cánh

Tốc độ, hải lý

+ lớn nhất: 29

+ tốc độ tuần tra/tuần tra chiến đấu: 14/18

Tầm hoạt động, dặm (với tốc độ, hải lý)

+ 8417 (14)

+ 7680 (18)

+ 3850 (29)

Thời gian hoạt động: 45 ngày

Thủy thủ đoàn, người

+ theo đề án: 1980

+ số lượng sỹ quan/hạ sỹ quan/thủy thủ: 520/322/1138

+ thực tế: 1533

+ số lượng sỹ quan/hạ sỹ quan/thủy thủ: 196/210/1127

Cụm máy bay: 620.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Tư, 2012, 10:56:06 am
Vũ khí

Máy bay

+ tổng cổng khí tài bay: 50 – 52

+ trong đó: máy bay tiêm kích Su-33 (“Flanker-D” và Mig-29K (“Fulcum-D”) hoặc máy bay cường kích Su-25UTG (“Frogfoot-B”): 26 – 28

+ số trực thăng trinh sát Ka-31 (“Helix-D”): 4

+ trực thăng Ka-27 và Ka-29 (“Helix-A/B”): 18

+ trực thăng cứu nạn Ka-27PS (“Helix-C”): 2

Tên lửa tiến công

+ thiết bị phóng thẳng đứng SM-233 của tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh P-700 “Granit-NK”: 12x1

+ tên lửa chống tàu có cánh P-700 (3M45) (SS-N-19 “Shipwerck”): 12

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng đừng SM-9 của tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal”: 24x8

+ tên lửa phòng không 9M330-2 (SA-N-9 “Gaunlet”): 192

Pháo – tên lửa phòng không

+ tổ hợp pháo – tên lửa phòng không “Kortik” (CADS-N-1) trong mỗi tổ hợp: 8

+ thiết bị phóng tên lửa phòng không 9M331 (SA-N-11 “Grison”): 2x4

+ pháo tự động 30mm AO-18: 2x6

Pháo

+ tổ hợp pháo phòng không tự động 30mm AK-630M: 6x6

Vũ khí chống ngầm/chống ngư lôi

+ thiết bị phóng bom phản lực RBU-12 000 “Udav”: 2x10

+ cơ số đạn: 120

Vũ khí chống biệt kích

+ súng phóng lựu MRG-1: 5x7

+ cơ số đạn: -.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Tư, 2012, 11:19:35 am
Trang bị vô tuyến điện

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu “Lesorub-434”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu

+ 1xtổ hợp ra đa định vị “Mars-Passat” – 4 ra đa mảng pha (Sky Watch)

+ 1xMR-750 “Fregat-MA” (Top Plate)

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu bay tầm thấp

+ 2xMR-360 “Podkat” (Strut Pair)

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm thấp

+ 3x”Vaigach” (Palm Frond)

Đài thủy âm

+ tổ hợp thủy âm “Polinom-T”

+ đài thủy âm “Zvezda-M1” (Horse Jaw)

+ MG-717 “Amulet” chống đài thủy âm biệt kích

+ đài thủy âm “Altưn”

+ MG-35

+ MG-355TA

Khí tài đối kháng điện tử

+ “Kantata-11435” (2 Bell Crown; 2 Bell Push; 8 Foot Ball; 2 Wine Flask; 2 Flat Track)

Các tổ hợp bắn nhiễu

+ 2x2 thiết bị phóng PK-2 (Zif-121)

+ 4x10 thiết bị phóng PK-10 “Smelưi”

Các khí tài quang điện

+ 4x”Rotan” vô tuyến nhìn gần

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ 2x”Korall-BN” (Punch Bowl) tiếp nhận sự chỉ thị mục tiêu từ vệ tính cho tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh “Granit”

+ 4xZR95 (Cross Sword) điều khiển tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal”

+ 4xZR86 modul điều khiển tổ hợp pháo – tên lửa phòng không “Kortik”

Tổ hợp đạo hàng

+ “Beisur”

Các khí tài đạo hàng vô tuyến

+  “Rezistor K-4” (Cake Stand) điều khiển máy bay

+ “Gazon” (Fly Trap B) điều khiển máy bay

+ “Tur-434” kiểm soát chiến đấu của máy bay

Các khí tài thông tin liên lạc

+ tổ hợp “Buran-2” với 51 khí tài thuộc các tần số khác nhau

+ 2 “Kristall-BK” (Low Ball) thông tin liên lạc vệ tinh

Đài ra đa định vị hội thoại nói


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Tư, 2012, 12:05:53 pm
Các tàu tuần dương tên lửa lớp “Groznưi” – lớp Kynda – Đề án 58

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/58_16.jpg)

Tổng số tàu đã đóng: 4

Biến thể: không có

Đề án tàu phóng lôi với vũ khí phản lực điều khiển (tên gọi trước đó của các tên lửa điều khiển) thế hệ mới được bắt đầu thiết kế vào năm 1956. Mùng 6 tháng 12 cùng năm, Tư lệnh Hải quân – Đô đốc S.G.Gorshkov đã khẳng định sự đồng ý với Bộ công nghiệp đóng tàu nhiệm vụ kỹ - chiến thuật thiết kế đề án sơ bộ tàu khu trục mới, còn trước đó không lâu – 16 và 24 tháng 10 cùng năm, Phó Tư lệnh Hải quân đã khẳng định tương một cách tương ứng sự đồng ý với các Bộ công nghiệp đóng tàu, Bộ công nghiệp hàng không, Bộ công nghiệp quốc phòng và Bộ công nghiệp xe máy nhiệm vụ kỹ - chến thuật thiết kê tổ hợp vũ khí phản lực phòng không tầm gần (sau đó là tổ hợp tên lửa phòng không M-1 “Volna”) và tổ vũ khí phản lực tiến công (sau đó là tên lửa chống tàu P-35). Bằng cách này, việc thiết kế Đề án, nhận số hiệu 58, thực tế được thiết kế một cách đồng bộ với sự thiết kế vũ khí chính. Việc này xác định một cách tương đối sự thiết kế hoàn toàn và hầu như không “tìm kiếm” việc thiết kế đề án – được thay đổi từ giai đoan này sang giai đoạn khác mà chỉ trong cấp độ, có sự zíc zắc trong việc thiết kế tổ hợp vũ khí chính.

Việc thiết kế tàu được giao cho Phòng thiết kế Trung ương số 53, vào thời điểm đó đã hoàn thành chuyên môn hóa trong vai trò phòng thiết kế chính theo các lớp tàu chiến nổi cơ bản. Tổng công trình sư sau thời gian “nghỉ” dài (từ đề án 41) một lần nữa được giao cho V.A.Nikitin, còn nhóm giám sát viên từ Hải quân là Thuyền trưởng – kỹ sư cấp 2 P.M.Khokhlov. Đề án sơ bộ 58 được thiết kế vào năm 1957. Đối với kiểm soát việc đóng tàu, Hải quân đã đưa ra đơn đặt thiết kế đề án kỹ thuật, đã hoàn thành trong tháng 3 năm 1958.

Tàu khu trục đầu tiên (sau đó nhận tên gọi “Groznưi”) được khởi công ở Leningrad ngày 23 tháng 3 năm 1960, còn tháng 6 năm 1962, tàu đã được mang tới các thí nghiệm cấp nhà nước. Trong quá trình đóng tàu đã thực hiện việc hoàn thành phân loại cho tàu mà tới thời điểm đó trong các tài liệu chính thức được gọi một cách không chính xác là “tàu với vũ khí phản lực”. Có lẽ là do quan điểm gốc (đầu tiên) của lãnh đạo đất nước khi đó với vai trò của các tàu nổi từ một mặt, mặt khác – sự “ngại”trong tiếp nhận các khái niệm truyền thống – tàu tuần dương, tàu khu trục… Tình trạng xảy ra vào đầu những năm 1960 và tàu mới chính thức được được phân loại sang lớp tàu tuần dương, phân lớp tàu tuần dương tên lửa – tàu cấp 1. Về tên gọi trước đó, gợi lại tên gọi của tàu phóng ngư lôi và là sự kết hợp của tàu tuần dương – phóng lôi phổ biến.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Tư, 2012, 12:07:11 pm
Hình, hình vẽ và bản vẽ màu tàu tuần dương tên lửa đề án 58

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/58_02.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/58_07.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/58_05.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Tư, 2012, 12:08:20 pm
Bản vẽ thiết kế

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/58_15.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/58_draw_1.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/58_draw_2.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Tư, 2012, 01:21:50 pm
Là sự tiếp tục theo logic của sự hình thành lớp tàu tên lửa lớn, các tàu khu trục trước đó, trong sự liên quan tới Đề án 58, đóng những vai trò mang tính nguyên tắc đối với tàu mới. Trên tàu hoàn toàn không có thiết kế phòng thủ, do sự tính toán rằng nó hoàn toàn không phòng thủ trước tên lửa chống tàu có cánh. Trong đề án kỹ thuật có nghiên cứu sự phòng thủ chống mảnh đạn của các hầm tên lửa phòng không, nhưng đã bị loại bỏ theo nguyên nhân kinh tế về khối lượng. Trong thành phần vũ khí trang bị được đưa ra, hình dáng tối ưu của thân tàu là hình dáng với boong mũi kéo dài và thang nâng không lớn gần sống mũi. Thân tàu được chia ra thành 17 khoang không thấm nước. Bố cục tổng thể của tàu theo so sánh với các tàu được đóng trước đó khác biệt ở sự bố trí tổ hợp trạng chỉ huy chính trên thân, không có các buồng chiến đấu mở, thượng tầng số lượng không lớn. Các thượng tầng được chế tạo từ hợp kim nhôm – magie và từng phần cục bộ từ thép.

Vũ khí chính của tàu tuần dương tên lửa là tổ hợp tên lửa chống tàu mới tầm xa với tên lửa chống tàu có cánh P-35. Tổ hợp về bản chất gồm có các tên lửa có cánh với tầm bắn trên 250km, dẫn bắn theo các mặt phẳng đứng và ngang theo thiết bị phóng 4 khối (thùng - ống phóng), hầm đạn tên lửa dự trữ và hệ thống điều khiển trong quá trình bay “Binom”. Trên chính tàu tuần dương bố trí 2 tổ hợp ở mũi và mạn, trong nguyên tắc có thể tạo thành loạt phóng 8 tên lửa. Tuy nhiên, hệ thống điều khiển trong chế độ cơ bản cho phép chỉ thực hiện loạt bắn 4 tên lửa. Để bắn trên tầm xa tối đa, tàu phải tiếp nhận sự chỉ thị mục tiêu từ các nguồn bên ngoài, cụ thể, từ máy bay trinh sát và chỉ thị mục tiêu Tu-95RTs và để làm được việc này đã lắp tổ hợp chuyên dụng.

Điểm mới là sự bố trí ở mũi tàu tổ hợp tên lửa phòng không M-1 “Volna” với thiết bị phóng hai dầm, 16 tên lửa phòng không và hệ thống điều khiển chỉ huy vô tuyến “Yatagan”. Để chống lại các tàu nổi hạng nhẹ và để tăng cường các khí tài phòng không, trên mạn tàu theo sơ đồ tuyến – tăng dần lắp 2 thiết bị tháp pháo kép tự động 76mm AK-726 với hệ thống điều khiển ra đa định vị chung “Turel”. Vũ khí chống ngầm của tàu tuần dương gồm có 2 thiết bị ngư lôi 3 ống phóng với các ngư lôi tấn công 2 mục tiêu (theo các mục tiêu ngầm và nổi) và giữ lại các thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000 truyền thống 12 nòng. Hệ thống điều khiển các ngư lôi chống ngầm “Zummer” được kết hợp với hệ thống điều khiển vũ khí chống ngầm “Buria”, điều khiển bắn bom phản lực.

Trang bị vô tuyến điện nhiệm vụ tổng hợp gồm có 2 đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp “Angara”, đài ra đa định vị đạo hàng “Don”, các khí tài đối kháng điện tử “Krab-11” và “Krab-12”, đồng thời đài thủy âm “Gercules-2M” với ăng ten dưới sống tàu. Ban đầu dự kiến bố trí trên các tàu thiết bị bắn nhiễu F-82-T trong thành phần có 2 thiết bị phóng đồng trục và tổng cơ số 792 đạn, nhưng chúng không được lắp (có thể còn không được chế tạo). Tới thời điểm hoàn thành việc đóng tàu tuần dương đầu tiên, một số hệ thống trang bị còn chưa được thiết kế. Sự không thuận lợi nhất là không có hệ thống “Uspekh-U”, sử dụng để cung cấp sự chỉ thị mục tiêu cho tổ hợp P-35 từ nguồn bên ngoài, cho phép thực hiện các khả năng chiến đấu một cách từng phần bởi vì việc bắn tên lửa chính xác chỉ có thể thực hiện trong các phạm vi của rada.

Ở mạn tàu bố trí bãi đáp cất – hạ cánh cho trực thăng trinh sát và chỉ thị mục tiêu với các hệ thống đảm bảo và với kho đạn dưới boong cho trực thăng. Trực thăng ban đầu không được tính toán, và chỉ trong đề án kỹ thuật khi kéo dài phần cuối mạn tàu, vì thế, nó được tiếp nhận dưới dạng quá tải và việc đóng căn cứ của nó được tính toán một cách đơn thuần mang tính biểu tượng.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Tư, 2012, 06:03:25 pm
Thiết bị năng lượng chính của tàu tuần dương vẫn giữ lại thiết kế nồi hơi truyền thống theo Đề án 56/57-bis với sự bố trí theo hàng trong 2 buồng máy – nồi hơi. Tuy nhiên, chính các nồi hơi cũng là khác nhau. Lần đầu tiên trên các tàu Liên Xô đã lắp các nồi hơi nước cột cao áp tự động, cho phép tăng công suất hoàn toàn lên 25% theo so sánh với thiết bị trên Đề án 57-bis và đảm bảo tốc độ tối đa hơn 34 hải lý. Ngoài ra, các yêu cầu đặc biệt đã được nhắc đến về việc phòng thủ khỏi vũ khí hủy diệt hàng loạt và sự giảm trường vật lý của tàu, cụ thể, là trường nhiệt (nhiệt độ khí giảm thành công tới 60%). Trong vai trò tổ hợp tuabin răng cưa trên Đề án 58 đã lắp các tuabin TV-12, khác với các tuabin trước, TV-8 có công suất tổ hợp lớn, giảm khối lượng riêng 35% và lớn hơn 2-4% trong hệ số hoạt động hiệu quả.

Sự bất thường là cấu trúc của tàu tuần dương mới, vị trí chủ đạo là thương tầng – cột buồm nặng dạng hình kim tự tháp, hạ thấp số lượng lớn các trạm ăng ten xuống khá thấp so với ngoại hình gốc. Giải pháp này được đề ra bởi yêu cầu phân chia các diện tích lớn và khối lượng cho việc bố trí các tổ hợp khí tài vô tuyến điện, các yêu cầu chống vũ khí nguyên tử và cuối cùng, là yêu cầu về sự cố định vững chắc các ăng ten nặng. Cùng với đó, tàu vẫn duy trì hình dáng đẹp, phù hợp hoàn toàn với tên gọi “Groznưi” (Dữ dội).

Việc chế tạo tàu tương tự, có lượng choán nước tiêu chuẩn rất khiêm tốn (4 330 tấn) với sự phát triển danh mục khí tài chiến đấu và hỏa lực lớn, không nói quá, là chiến thắng lớn lao của trường thiết kế nội địa và toàn bộ các nhà chế tạo tàu tuần dương mới. Cần thiết với nhấn mạnh với niềm tự hào rằng, các tàu tương đương trong thời gian đó không hề có mặt trong trang bị Hải quân thế giới. Các chuyên gia nước ngoài từ thời điểm đó và tới thời điểm này không ngừng nhấn mạnh rằng, các thông số trong thiết kế của các tàu nga là sự đặc biệt trong việc trung hòa cao của các tổ hợp hỏa lực và các khí tài chiến đấu trong sự kết hợp với thiết kế tuyệt vời.

Các thông só chính của thiết bị nồi hơi trên tàu tuần dương tên lửa Đề án 58

+ lượng sản xuất hơi nước của mỗi nồi hơi: 95 tấn/h

+ áp suất làm việc của hơi nước: 64kg lực/cm2

+ nhiệt độ hơi nước: 4700 độ C

+ số vòng quay của trục trên tốc độ tối đa: 300 vòng/phút

+ sự tiêu thụ nhiên liệu riêng trong tốc độ tối đa: 329g/sức ngựa/h (845kg/dặm).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 22 Tháng Tư, 2012, 01:34:02 pm
Chính phủ đã trao tặng vì sự thiết kế và chế tạo tàu tuần dương Đề án 58 giải thưởng Lenin, nhưng cũng như thường xảy ra, trong danh sách tặng thưởng không nhắc đến Tổng công trình sư nào cũng như không có giám sát viên chính của Hải quân. V.A.Nikitin sau khi hoàn thành công việc sáng tạo chính của mình đã được đưa đi “nghỉ có công”, còn P.M.Khokholov hầu như được miễn nhiệm cùng ông. Các bản vẽ cuối cùng theo tàu trong vai trò Tổng công trình sư được ký bởi A.L.Fisher và V.G.Korolevich. Như vậy, tàu tuần dương tên lửa Đề án 58 không trở thành “bài hát thiên nga” của nhà đóng tàu chiến Nga Xô viết Vladimir Alacsandrovich Nikitin, mà là thành quả lao động được “tinh chế” chuyên nghiệp được sử dụng.

Thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật của Hải quân, đánh dấu sự xuất hiện – ra đời các tàu tuần dương tên lửa mới, cùng với không chỉ những bước tiến chất lượng mà còn bằng những thành quả mới, nhưng ngày nay là những quan điểm sai lầm và lỗi. “Sự sảng khoái mang tính bệnh lý” về tàu tên lửa của những năm 1950 – đầu 1960, có nghĩa là sự tin tưởng gần như tuyệt đối và hả năng đa dạng của vũ khí tên lửa, không chỉ các nhà chính trị, thiết kế và lãnh đạo quân sự mà cả những nhà lý luận quân sự. Các tàu tuần dương tên lửa Đề án 58 được xem như tàu tuần dương không chỉ theo tên gọi mà còn trong thực tế tiếp nhận chiến đấu. Tính toán nghiêm túc rằng, các tàu này có khả năng tự hoạt động riêng lẻ, một mình chống lại cụm tàu sân bay của địch và tiêu diệt các tàu sân bay ngoài tầm đáp trả của địch bằng nhiều loạt tên lửa. Tên lửa phòng không được tính toán gần như sự đảm bảo tuyệt đối về khả năng đánh trả lại vũ khí tấn công đường không bất kỳ.

Dự định sẽ đóng trên 16 tàu tuần dương Đề án 58, nhưng thực tế đến năm 1964, chỉ đóng có 4. Việc này được giải thích bằng sự đánh giá lại hiệu quả (giá trị, ý nghĩa) – không thể đóng trong thời gian rất ngắn, còn bởi sự dịch chuyển các ưu tiên của ngàn đóng tàu và được biết đến nhiều nhất – các nguyên nhân chủ quan. Trong thời gian này, việc đóng các tàu nổi cho Hải quân Liên Xô, đã được thực hiện theo hai hướng chính: “tiến công” và “chống ngầm”. Việc triển khai ở Mỹ trong những năm 1960 hệ thống “Polaris”, một cách tự nhiên, đã đưa ra nhiệm vụ chống các tàu ngầm nguyên tử tuần dương mang tên lửa đạn đạo của đối thủ tiềm tàng lên hàng đầu. Liên quan tới thông tin này, thậm chí xa hơn là nhiệm vụ của Hải quân, các lãnh đạo và chính phủ với thuật ngữ “chống ngầm” đã nhận thức với sự hiểu biết tích cực, rằng trước hết cần đảm bảo “bật đèn xanh” cho chương trình bất kỳ dưới phương châm “chống ngầm”. Ngoài ra, chính Đề án 58 trong tổng thể có những nhược điểm được xác định: trong lượng choán nước rất “kẹp” và các kích thước không thể thực hiện yêu cầu tối đa điều kiện sống của thủy thủ đoàn (Hải quân bắt đầu “phục vụ chiến đấu”), tăng cường khả năng phòng không, tăng tầm bơi xa và thời gian hoạt động. Sự hoàn thiện vũ khí tên lửa không cần các thiết bị phóng quay lớn và phức tạp. Thực tế đã chỉ ra rằng sự nạp đạn của chúng – lâu, kéo dài và không thuận lợi đối với điều kiện chiến đấu. Sự đóng căn cứ tạm thời của trực thăng trên bãi cất hạ cánh trong điều kiện biển phức tạp làm cho nó nhanh chóng không sử dụng được.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 23 Tháng Tư, 2012, 11:57:21 am
Các biến thể

Trong quá trình đại tu trên 3 tàu (“Groznưi”, Golovko” và “Varyag”) đã bố trí bổ sung 4 pháo 6 nòng 30mm AK-630 với 2 hệ thống ra đa định vị điều khiển “Vưmpel” trên mỗi cặp được lặp để phòng thủ các mục tiêu tầm thấp theo thành tàu. Những năm 1970, trên “Groznưi” và “Fokin” đã lắp hệ thống chưa hoàn thiện “Uspekh-U”, đài ra đa định vị 2 tọa độ MR-300 thay bằng đài ra đa định vị 3 tọa độ MR-310 “Angara-A”. Toàn bộ các tàu nhận được đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu nổi “Don-2” thứ 2, trên một số tàu, tên lửa chống tàu 4K-44 được thay bằng tổ hợp hiện đại hơn “Progress”, còn tên lửa phòng không điều khiển V-600 – V-601. Ngoài ra, trên một số tàu tuần dương lắp khí tài và tổ hợp không dự kiến trước: đài nhiễu tích cực “Ograda”, hệ thống hội thoại nói “Parol”, tổ hợp đạo hàng vũ trụ “Shlyug”… Mỗi tàu có có những sự ghép bộ riêng, khác với các tàu còn lại của tổ hợp các hệ thống và khí tài.

Chương trình đóng tàu

Tàu đầu tiên, nhận tên gọi “Groznưi”, được khởi công ở xưởng đóng tàu Leningrad mang tên A.A.Zhanov ngày 23 tháng 3 năm 1960, hạ thủy ngày 26 tháng 3 năm 1961, tháng 6 năm 1962, tàu đã được đưa đến các thí nghiệm cấp nhà nước. Trong quá trình đóng tàu đã diễn ra sự phân loại cuối cùng (đến thời điểm đó, trong các tài liệu chính thức đã được gọi tên không xác định như là “tàu với trang bị vũ khí”) – tàu tuần dương tên lửa, đặt từ 29 tháng 9 năm 1962. Ban đầu dự định đóng trên 16 tàu lớp này, nhưng thực tế ngay sau “Groznưi” chỉ đóng có “Đô đốc Fokin”, “Đô đốc Golovko” và “Varyag” cùng trên xưởng đóng tàu mang tên A.A.Zhdanov. Tàu sau cùng gia nhập biên chế Hải quân năm 1964.

Tình hình đến năm 2006

Các tàu tuần dương Đề án 58 đã phục vụ trong biên chế của 4 Hạm đội Hải quân Liên Xô. Chúng được thủy thủ đoàn nắm vững, tham gia một cách tích cực vào các nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu từ cuối những năm 1960, thường xuyên thăm các cảng nước ngoài. Trên các tàu không xảy ra các sự cố nghiêm trọng hoặc tai nạn, mang đến cơ sở kết luận rằng các tàu đáng tin cậy và thành công trong khai thác sử dụng.

Tàu tuần dương “Groznưi” bắt đầu phục vụ ở Hạm đội Phương Bắc, và cuối cùng  - Baltic. “Đô đốc Fokin” và “Varyag” đóng căn cứ ở Viễn Đông trong biên chế Hạm đội Thái Bình Dương. “Đô đốc Golovko” đến cuối những năm 1990 trong biên chế Hạm đội Biển Đen (ở đó được đại tu ở Sevastopol), trở thành “người sống lâu” nhất trong số các tàu cùng lớp. Trong giai đoạn 1990 – 99, trong thời gian tàu tuần dương tên lửa “Moskva” Đề án 1164 đang sửa chữa ở thành phố Nicloaev, nó là tàu tuần dương tên lửa duy nhất của Hạm đội Biển Đen và chỉ bị loại vào cuối năm 2002.

Năm 1967, tàu tuần dương tên lửa “Đô đốc Golovko” nằm trong khu vực chiến đấu, thực hiện nhiệm vụ chiến đấu hỗ trợ lực lượng vũ trang Ai Cập.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 23 Tháng Tư, 2012, 12:47:19 pm
Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ “Groznưi” (số hiệu xưởng 780); khởi công 23 tháng 2 năm 1960 ở xí nghiệp đóng tàu phương Bắc số 190; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 17 tháng 9 năm 1960; hạ thủy 26 tháng 3 năm 1961; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1962 và gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; 5 tháng 10 nawm1966 chuyển sang Hạm đội Biển Đen; 6 tháng 10 năm 1984 – chuyển sang Hạm đội Baltic; 12-15 tháng 8 năm 1967 thăm Varna và Burgas (Bulgari); 29 tháng 1 đến 4 tháng 2 năm 1968 – tới Cotor và Zelenika (Nam Tư); 20-27 tháng 7 năm 1969 – Havana (Cuba), 6-8 tháng 8 năm 1969 – For-de-Frans (Martinica); 20-25 tháng 4 năm 1972 – Casablanca (Maroc); 2-7 tháng 7 năm 1973 – Marsille (Pháp); 20-25 tháng 11 năm 1974 – Latacia (Syri), 19-23 tháng 7 năm 1984, 26-30 tháng 5 năm 1985 và 18-23 tháng 7 năm 1987 – Rostoc (Cộng hòa dân chủ Đức) và 19-24 tháng 7 năm 1988 – Sentsin (Ba Lan); từ 19 tháng 7 năm 1976 đến tháng 1 năm 1982 – đại tu ở “Sevmorzavod” tại Sevastopol; từ 1 tháng 4 năm 1989 trải qua đại tu ở Liepai, nhưng đến 24 tháng 6 năm 1991 bị tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 31 tháng 12 năm 1992, năm 1993 tháo thành kim loại.

+ “Steregusi” (số hiệu xưởng 781); từ 31 tháng 10 năm 1962 là “Vladivostoc”; từ 11 tháng 5 năm 1964 là “Đô đốc Fokin”; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 17 tháng 9 năm 1960; khởi công 5 tháng 10 năm 1960 ở xí nghiệp số 190; hạ thủy 19 tháng 11 năm 1961; gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1964; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương mùa hè năm 1965; 26 tháng 11 đến 2 tháng 12 năm 1968 thăm cảng Mombasa (Kenia); 2-7 tháng 1 năm 1969 – Aden (Nam Yemen); 9-12 tháng 1 năm 1969 – Hodeida (Bắc Yemen), 5-9 tháng 4nawm 1969 – Nairobi, 19-23 tháng 4 năm 1970 và 10-14 tháng 3 năm 1977 – Port-Lui (Mavriki); tháo vũ khí và loại khỏi biên chế 30 tháng 6 năm 1993; giải tán 31 tháng 12 năm 1993.

+ “Doblestnưi” (số hiệu xưởng 782), từ 18 tháng 12 năm 1962 là “Đô đốc Golovko”; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 27 tháng 12 năm 1960; khởi công 20 tháng 4 năm 1961 ở xí nghiệp số 190; hạ thủy 18 tháng 7 năm 1962; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1964; gia nhập Hạm đội Phương Bắc 22 tháng 1 năm 1965; từ 1 tháng 6 đến 31 tháng 6 năm 1967 nằm trong khu vực chiến sự, thực hiện nhiệm vụ chiến đấu hỗ trợ cho lực lượng vũ trang Ai Cập; 22 tháng 3 năm 1968 chuyển tới Hạm đội Biển Đen; 8-13 tháng 5 năm 1970 thăm Algieri; 3-7 tháng 8 năm 1972 – tới Constantsa (Rumani), 21-26 tháng 8 năm 1975 – tới Tunidi và 22-27 tháng 6 năm 1978 – tới Latacia (Syri); từ 4 tháng 6 năm 1982 đến 1 tháng 3 năm 1989 trải qua đại tu ở “Sevmorzavod” tại Sevastopol; cuối năm 2002 tháo vũ khí, loại khỏi biên chế Hải quân và giải thể.

+ “Soobrazitelnưi” (số hiệu xưởng 783); từ 30 tháng 10 năm 1962 là “Varyag”; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 5 tháng 8 năm 1961; khởi công 13 tháng 10 năm 1961 ở xí nghiệp số 190; hạ thủy 7 tháng 4 năm 1963; gia nhập biên chế 20 tháng 8 năm 1965; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương 23 tháng 9 năm 1965; 10-14 tháng 10 năm 1981 thăm Đà Nẵng (Việt Nam); tháo vũ khí và loại khỏi biên chế 19 tháng 4 năm 1990; giải thể 21 tháng 5 năm 1991. Trong giai đoạn phục vụ đã mang cờ Cận vệ, thừa hưởng từ tàu khu trục “Soobrazitelnưi” Đề án 7-U thuộc Hạm đội Biển Đen.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 23 Tháng Tư, 2012, 12:53:57 pm
Các thông số kỹ chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 4330

+ hoàn toàn: 5380

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 142 (134)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 16 (15,2)

+ lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 5,1 (-)

Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi

+ 4 nồi hơi nước KVN-95/64, 2 thiết bị tuabin răng cưa TV-12, tổng công suất, sức ngựa (kW): 90 000 (66 150)

+ các máy phát điện – diezel DG-500, công suất (kW): 2x500

+ các máy phát điện tuabin TD-750, công suất (kW): 2x750

2 trục, 2 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ tối đa: 34,5

+ tuần tra: 14

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 3500 (18)

Thời gian hoạt động, ngày: 10

Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 399 (27).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 23 Tháng Tư, 2012, 12:58:20 pm
Vũ khí

Tên lửa tấn công

+ thiết bị phóng SM-70 thuộc tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh P-35: 2x4

+ tên lửa chống tàu có cánh P-35 hoặc “Progress” (SS-N-3B “Sepal”): 16

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng ZIF-101 của tổ hợp tên lửa phòng không M-1 “Volna”: 1x2

+ tên lửa phòng không V-600 (SA-N-1 “Goa”): 16

Pháo

+ thiết bị pháo AK-726 76,2mm: 2x2

+ tổ hợp pháo phòng không tự động AK-630 30mm (trừ “Fokin”): 4x6

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm TTA-53-57-bis: 2x3

Chống ngầm

+ RBU-6000 “Smerch-2”: 2x12

+ cơ số đạn: RGB-60): 96

Không quân (hàng không)

+ bãi đáp cho trực thăng Ka-25RTs (“Hormone B”): 1.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 23 Tháng Tư, 2012, 08:09:53 pm
Trang bị vô tuyến điện

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Planset-58”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp

+ 2xMR-300 “Angara” (Head Net A) hoặc

+ 1xMR-300 và 1xMR-310 “Angara-A” (Head Net C) hoặc

+ 2xMR-300 “Angara-A” (Head Net C) trên “Varyag”

Đài ra đa định vị đạo hàng

+ 1x”Don” (Don)

+ 1x”Don-2” (Don-II) lắp sau

Đài thủy âm: GS-572 “Gerkules-2M”

Các khí tài đối kháng điện tử

+ “Krab-11” và “Krab-12” nhiễu tích cực (chủ động)

+”Bizan-4D” trinh sát kỹ thuật vô tuyến

+ MR-262 “Ograda-1” (Guard Dog) trên “Groznưi”

+ “Zaliv-15-16”; “Zaliv-13-14”; “Zaliv-11-12”

(4 Top Hat; Bell Clout; Bell Tap; Bell Slam)

Các khí tài quang điện

+ 2xMT-45 (Tee Plinth) trừ “Groznưi”

+ 2xVPB-452 (quan sát chỉ huy)

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ 2x4R-44 “Binom” (Scoop Pair) cho tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh P-35

+ 2x”Uspekh-U” (Plinth Net) tiếp nhận chỉ thị mục tiêu cho tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh (trên “Fokin” và “Groznưi”)

+ 1x4R-90 “Yatagan” (Peel Group) cho tổ hợp tên lửa phòng không “Volna”

+ 1xMR-105 “Turel” (Owl Screech) cho thiết bị pháo

+ 2xMR-123 “Vưmpel” (Bass Tilt) cho thiết bị pháo 30mm

(lắp sau, trừ “Fokin”)

Các khí tài thông tin liên lạc

+ 6 tổ hợp máy phát bước sóng ngắn và trung bình

+ 12 máy thu

+ 6 khí tài thông tin liên lạc vô tuyến (tổng cộng 34 ăng ten)

Đài ra đa định vị hội thoại nói

+ “Nikel-KM” và “Khrom-KM” (High Pole A và B)

+ hệ thống hội thoại “Parol” (không phải trên toàn bộ).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 29 Tháng Tư, 2012, 03:39:01 pm
Tàu tuần dương tên lửa hạt nhân Đề án 1165 “Fugas”

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1165_draw_01.jpg)

Đề án dự kiện của một trong số các phương án phác thảo trước đó của đề án tàu tuần dương tên lửa đề án 1165 "Fugas". Tàu được trang bị tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh "Malakhit", tổ hợp tên lửa phòng không "Korshun" và "Volna", đồng thời các thiết bị ngư lôi, pháo 76mm và tổ hợp pháo phòng không 30mm cùng thiết bị phóng bom phản lực.

Tổng số tàu đã đóng: 0

Biến thể: 0

Năm 1961, trong biên chế Hải quân Mỹ đã gia nhập tàu nổi nguyên tử đầu tiên – tàu tuần dương trang bị vũ khí tên lửa điều khiển “Long Big”. Ở Liên Xô, các công việc nghiên cứu theo xác định hình dáng tàu tương tự được bắt đầu muộn hơn – trong năm 1964. Nhưng các công việc được tiến hành một cách cẩn thận. Nguyên nhân không chỉ ở sự tiếp cận mới mà còn ở quan điểm riêng của N.S.Khrusev trong vai trò phát triển Hải quân Liên Xô, cụ thể là các tàu nổi (đặc biệt là tàu lớn).

Tuy nhiên, mong muốn có tàu đại dương hoạt động không hạn chế, có khả năng hoạt động độc lập trên các khu vực xa xôi thuộc đại dương và tìm kiếm, tiêu diệt các tàu ngầm nguyên tử tên lửa của địch đã dẫn tới việc bắt đầu các công việc trên đề án 1144 “Orlan”. Theo phân loại ban đầu, nó là tàu tuần tiễu, sau đó là tàu chống ngầm lớn. Đặc biệt là đối với nó đã chế tạo thiết bị năng lượng nguyên tử 2 lò phản ứng, còn ngoài ra, theo mệnh lệnh riêng của Bộ Tổng tư lệnh, tàu phải được trang bị thiết bị năng lượng dự bị trong nhiên liệu hạn chế. Việc thiết kế “Orlan” là phức tạp và diễn ra trong quá trình khá chậm. Kể từ những giai đoạn “bò lên phía trước” đầu tiên là lượng choán nước đã xuất hiện sức hút lớn trong lựa chọn vũ khí. Tàu thường xuyên được tăng cường kích thước và trở nên “nhỏ” trong phân lớp tàu tuần tra – nguyên mẫu đầu tiên. Nguyên nhân trong đó, rằng Hải quân cũng như bên đặt đóng đã không hiểu rằng, tàu thực sự cần gì, toàn bộ quan điểm và việc thực hiện phải phối hợp mà ở Liên Xô hồi đó hầu như không có. Dần dần, từ những người ủng hộ đề án 1144 đã trở thành con tàu, mà nó cần được bảo vệ. Kết quả là một lần nữa quay lại với quan điểm “cặp đôi”: 1 tàu thực hiện nhiệm vụ săn tàu ngầm địch, còn tàu khác bảo vệ nó.

Đề án 1165 “Fugas” đã xuất hiện như vậy, tàu thứ 2 với thiết bị năng lượng nguyên tử, nhưng với vũ khí tên lửa chống tàu và phòng không mạnh. Mặc dù theo bản thân, đề án rất triển vọng với quan điểm kỹ thuật, nó đã trở thành đặc thù “cố chấp” và chỉ “sống” trên giấy tờ.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 29 Tháng Tư, 2012, 03:48:32 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1165_draw_02.jpg)

Đề án giả định một trong số các phương án sau của tàu tuần dương tên lửa đề án 1165. Vũ khí chính: tổ hợp tên lửa chống tàu "Bazalt", tổ hợp tên lửa phòng không "Kvant" và "Osa-M", pháo 130mm


(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1165_draw_03.jpg)

Đề án giả định của thêm một trong số các phương án sau của tàu tuần dương tên lửa đề án 1165. Trên tàu lắp tổ hợp tên lửa phòng không "Fort"


(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1165_draw_04.jpg)

Đề án giả định tiếp theo cả tàu tuần dương tên lửa đề án 1165. Trên tàu này tăng cường số lượng tên lửa chống tàu có cánh "Bazalt" và lắp pháo nòng đôi 130mm


(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1165_draw_05.jpg)

Đề án giả định của một trong số các phương án cuối cùng của tàu tuần dương tên lửa đề 1165 trang bị 40 tên lửa chống tàu "Granit"


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Tư, 2012, 12:42:16 pm
Theo mức độ sự xuất hiện vũ khí mới, tàu đề án 1165 được thay đổi thường xuyên, trong đó, có hướng tăng lượng choán nước.. Ban đầu được thiết kế với tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh “Malakhit” và tổ hợp tên lửa phòng không “Korshun”, sau đó với tổ hợp “Bazalt” và “Kvant”, sau đó – “Granit” và “Fort”. Trang bị pháo và vô tuyến điện cũng đồng thời được thay đổi từ phương án này tới phương án khác. Trong đề án cuối cùng đã quyết định giữ lại tổ hợp “Granit” của thiết kế bởi Phòng thiết kế lắp ráp xe máy, như phương án hiện đại nhất ở thời điểm đó (cần thiết nhất là phòng thủ khỏi cụm tàu sân bay của đối phương). Sự thật, tổ hợp này được thiết kế ban đầu cho tàu ngầm đề án 949 và các tên lửa có nó khởi động theo dạng “ướt”, nhưng do không đủ thời gian, các thiết bị phóng đã không được sửa chữa. Vì thế, ngay sau khi trên các tàu ngầm trước khi phóng tên lửa đã xảy ra sự tràn nước ngoài thành vào thiết bị phóng, và việc thí nghiệm đã không thành công.

Các thiết kế cuối cùng theo đề án 1165 được thực hiện với 32-48 tên lửa chống tàu “Granit” và 32-64 tên lửa phòng không tổ hợp S-300F. Tàu tuần dương tên lửa nhận được vũ khí với pháo 130mm (trong thời điểm đón được thiết kế 1 nòng và thiết bị pháo kép 130mm). Tàu chỉ có vũ khí tấn công và phòng không, còn tên lửa chống ngầm hoặc ngư lôi chỉ được dự kiến trên các giai đoạn thiết kế trước đó. Đối với sự phòng thủ chống ngầm, dự kiến dự dụng 2 thiết bị phóng bom phản lực.

Thời gian trôi qua, nhưng không có những mục địch dự định cuối cùng chế tạo tàu nguyên tử nổi đã dẫn tới việc, rằng tàu chống ngầm đề án 1144 đã trở thành phân lớp tàu tuần dương, được tiếp nhận tổ hợp tên lửa chống tàu “Malakhit”, sau đó là “Bazalt” và cuối cùng – “Granit”. Ngoài ra, sự xuất hienj trên tàu các tổ hợp chống ngầm kết quả của bất kỳ nguyên nhân kỹ - chiến thuật nào, đơn giản việc thiết kế phức tạp nhất từ thực tế trước đó đơn giản: tàu tuần dương thì vũ khí tên lửa trên tàu phải là lớp “chiến dịch”, còn bởi vì nó phải là mới nhất – thì “Granit” là phương án tốt nhất.

Như vậy, khi đó đã xuất hiện những nghi ngờ về giá trị của tàu tuần dương nguyên tử đề án 1165 và nó theo lý do này đã chìm vào lãng quên. Trong đó, việc thiết kế trong nhiều năm đã “ăn” nhiều tài chính, rằng để muốn bằng cách nào đấy loại trừ số tiền tiêu phí đã có quyết định tương ứng “kết hợp” 2 đề án (1165 và 1144) thành 1, được phê chuẩn vào tháng 8 năm 1971. Như vậy các bế tắc về kỹ thuật đã có “kết thúc đẹp”.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Tư, 2012, 12:47:22 pm
Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 15 000…20 000

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất: 170…200

+ chiều rộng nhất: 17…20

+ lượng mớn nước: 8…9

Thiết bị năng lượng chính: nguyên tử

2 trục; 2 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ lớn nhất: ~ 30

+ tuần tra: ~ 18

Thời gian hoạt động: 30...40 ngày

Thủy thủ đoàn: 500…600


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Tư, 2012, 12:52:40 pm
Vũ khí

Tên lửa tấn công

+ thiết bị phóng tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh/tên lửa: 24…48

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng tổ hợp tên lửa phòng không/tên lửa: 32…64

Pháo

+ thiết bị pháo 76,2/130mm: 1…2

+ tổ hợp pháo phòng không 30mm AK-630: 6…8

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm (trên các phiên bản trước): 2x5

Chống ngầm

+ RBU-6000 “Smerch-2”: 2x12

Hàng không

+ các trực thăng Ka-25/27: 1…2

Trang bị vô tuyến điện

+ Không có hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu, đài thủy âm, khí tài thông tin liên lạc và đài ra đa định vị hội thoại nói

+ các loại ra đa định vị khác và khí tài đối kháng điện tử theo các phương án khác nhau


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Tư, 2012, 01:34:28 pm
Các tàu tên lửa lớp “Slava” đề án 1164 “Atlant”


(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1164_01.jpg)

Tổng số tàu đã đóng: 3+1

Các biến thể

+ 1164 – đề án cơ sở của tàu tuần dương tên lửa (1982)

+ 11641 – đề án hiện đại hóa, bắt đầu từ tàu thứ 5 (không được đóng).

Nhiệm vụ cơ bản của các tàu đề án 1134-A và 1134-B được đóng cho Hải quân Liên Xô và cuối những năm 1970, là đảm bảo phòng không và chống ngầm trong cụm các tàu chiến đấu, đồng thời tìm kiếm (sục sạo), giám sát và tiêu diệt các tàu ngầm địch trong các khu vực biển xa và đại dương. Đúng là, nhiệm vụ giám giám trong trực chiến sự triển khai trên đại dương các tàu ngầm tuần dương chiến lược mang tên lửa của kẻ địch tiềm tàng. Theo nguyên nhân này, ở nước ngoài thường gọi là tàu tuần dương.

Trong khi đó, tới giai đoạn này, nhiệm vụ chống cụm tàu tấn công của địch đã được đặt ra trước Hải quân Liên Xô. Giải pháp này chỉ bằng một tàu ngầm tấn công là không thực hiện được – đối với việc này yêu cầu cụm các lực lượng và khí tài khác nhau cấp chiến dịch. Đồng thời yêu cầu tăng cường các khả năng tiến công của các cụm tàu này và tăng cường sức mạnh chiến đấu của chúng từ các cuộc tấn công đáp trả - việc này được đề ra như sự hoàn thiện cơ học vũ khí và kỹ thuật, như sự tiếp tục tụt hậu nghiêm trọng của Hải quân Liên Xô so với NATO trong sự phát triển không quân trên tàu. Trong thông tin liên quan, Ủy ban trong Hội đồng bộ trưởng Liên Xô theo các câu hỏi công nghiệp quốc phòng đã ra quyết định số 87 (20 tháng 4 năm 1972) về việc bát đầu thiết kế nhiệm vụ kỹ chiến thuật cho tàu mới, còn giữa những năm 1970, đã bắt đầu thiết kế tàu tuần dương tên lửa mới đề án 1164 dưới số hiệu “Atlant”. Tổng công trình sư ban đầu là A.K.Perikov, sau đó – V.I.Mutikhin; giám sát viên chính của Hải quân là Thuyền trưởng cấp 2 A.N.Blinov. Vấn đề (mệnh lệnh) đặt ra là nhiệm vụ tiến công truyền thống, tàu được giao nhiệm vụ đảm bảo sự phòng không tập thể hoặc khu vực bởi vì sự tiếp nhận chiến đấu của tàu dự kiến trong thành phần cụm tàu cấp chiến dịch.

Theo bộ phận lăng lượng và đóng tàu, do cơ sở đề án được lấy giải pháp kỹ thuật của tàu chống ngầm lớn đề án 1134-B với một số sự thiết kể lại. Ví dụ, thiết bị tuabin khí chính trên mỗi trục được chọn là đường bao cách nhiệt (TUK), hơi nước từ đó tới các tua bin hơi nước bổ sung, tăng tính kinh tế của toàn bộ thiết bị trên tốc độ 18 hải lý gần 12%. Sự phức tạp cảu thiết bị tuabin khí trên tàu, rõ ràng đạt tới giới hạn. Lo ngại sự tin cậy của nó, giám sát viên chính đã không đồng ý – chống lại đường bao cách nhiệt, dự định dừng lắp trên sơ đồ thiết bị đề án 1134-B. Tuy nhiên, những người ủng hộ đã chống lại vì tính kinh tế của thiết bị “bất cứ giá nào” đã chiến thắng trong lần này. Theo yêu cầu của giám sát viên chính đối với nhiều thiết kế thân tàu, độ dày tối thiểu của các tấm theo là 8mm, cao hơn yêu cầu tính toán hoặc tiêu chuẩn. Việc này được làm với mục tiêu tăng cường độ bền thân tàu. Vũ khí và thiết bị năng lượng mới dẫn tới việc tăng lượng choán nước hoàn toàn lên 28% so với đề án 1134-B.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Tư, 2012, 01:36:08 pm
Bản vẽ thiết kế và hình vẽ tàu tuần dương đề án 1164

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1164_draw1.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1164_02.jpg)

Các tàu mang tên "Slava" của Hải quân đế quốc Nga và Liên Xô

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1164_61.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Năm, 2012, 03:43:27 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1164_06.jpg)

Đề án sơ bộ của tàu tuần dương tên lửa đề án 1164 được phê duyệt ngày 13 tháng 4 năm 1973, còn đề án kỹ thuật được hoàn tất ngày 21 tháng 8 năm 1974. Đáng chú ý rằng trong đề án sơ bộ, trên mũi của tàu tuần dương có 2 thiết bị pháo 100mm AK-100 (theo sơ đồ dạng tuyến – bậc thang), nhưng trong đề án kỹ thuật, chúng được thay bằng một thiết bị pháo 2 nòng 130mm AK-130.

Vũ khis chính của tàu tuần dương là tổ hợp vũ khí tên lửa (chống tàu) tiến công P-500 “Bazalt” với hệ thống điều khiển “Argon-1164”. 16 tên lửa chống tàu (theo phân loại của phương Tây – SS-N-12 “Sandbox”), được bố trí trong 8 thiết bị phóng cố định theo cắp trên boong trên ở bên trái và phải thượng tầng chính (liên quan với nó, đài chỉ huy của tàu được nâng lên cao rất mạnh để tạo khả năng quan sát tốt). Sự bố trí tên lửa chống tàu và hệ thống điều khiển (trạm ăng ten “Argon” được bố trí ở phía mũi cột buồm) cho phép thực hiên bắn loạt toàn bộ các tên lửa. Việc cung cấp sự chỉ thị mục tiêu bắn trên cự ly xa đáng kể (trên 500km) được đảm bảo bằng tổ hợp thu tín hiệu thông tin vệ tinh “Korvet-5”, đồng thời tổ hợp thu thông tin từ máy bay trinh sát Tu-95RTs, cũng như từ trực thăng trinh sát và chỉ thị mục tiêu riêng của tàu. Để làm việc này, ngoài trừ việc xây dựng hang ga, còn có bãi cất – hạ cánh và các khí tài và hệ thống cơ sở cần thiết khác.

Khí tài tên lửa phòng không của tàu đề án 1164 được giới thiệu là 2 tổ hợp tên lửa phòng không khác nhau: phòng thủ tập thể (khu vực) – tổ hợp đa kênh “Fort” (tầm xa 5…7km) và tự vệ - “Osa-M” (10km). Các thiết bị phóng đứng – tên lửa phòng không 7 mét 5V55RM thuộc tổ hợp ”Fort”, được giới thiệu là các mặt trống đứng quay hoạt động theo nguyên tắc “rulo”, được bố trí dưới boong trên quay trục đứng để thực hiện việc khởi động (bắn) lần lượt các tên lửa phòng không dưới hầm phóng. Trên tàu tuần dương có lắp 8 thiết bị phóng này – giữa ống khói và hang ga. Để điều khiển tên lửa phòng không trong khi bay, trong thành phần của tổ hợp gồm có đài ra đa định vị dẫn bắn đa kênh với ăng ten hình cầu dạng “lưới mảng pha”, cho phép theo dõi các mục tiêu trên không và dẫn bắn các tên lửa tới chúng trong phạm vi không gian 90x90 độ. Hai tổ hợp tên lửa phòng không tự vệ “Osa-M” được lắp theo thành: mỗi tổ hợp có hai dầm dẫn bắn tới thiết bị phóng trên hai mặt phẳng, hầm đạn với 20 tên lửa và hệ thống điều khiển và phát hiện mục tiêu riêng.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Năm, 2012, 04:08:53 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1164_34.jpg)

Khí tài hỏa lực phòng không của tàu được bố sung (trong đó có thể bắn mục tiêu trên biển và trên bờ) bằng thiết bị pháo tự động AK-130mm hai nòng 130mm với hệ thống điều khiển ra đa định vị “Lev” (cơ số đạn 600 viên) và 3 khối pháo tự động 6 nòng AK-630M với thiết bị điều khiển “Vưmpel” – theo hai thiết bị tự động và 1 hệ thống điều khiển trong mỗi khối (tổng cơ số đạn 48 000 viên). Việc chiếu sáng tình trạng trên không chung, đồng thời cung cấp sự chỉ thị mục tiêu cho vũ khí phòng không được giao cho tổ hợp ra đa định vị “Flag” với hai đài ra đa định vị: MR-700 “Fregat-M” và MR-600 “Voskhod” được kết nối bởi hệ thống xử lý thông tin tổng hợp “Poima”. Các trạm ăng ten của các đài này được bố trí một cách tương ứng trên các cột buồm (mũi) và cột buồm giữa. Đồng thời, có hai đài ra đa định vị đạo hàng “Vaigach”.

Mặc dù được “chuyên môn hóa” tấn công, tàu tuần dương được trang bị vũ khí chống ngầm mạnh, cần thiết còn phải tranh luận: 2 thiết bị ngư lôi 2 ống phóng 533mm và tổ hợp thủy âm “Platina” với các ăng ten lai và hình cầu, đồng thời 2 thiết bị RBU-6000, được sử dụng, trong mục đích cơ bản, để bảo vệ tàu khỏi ngư lôi.

Trên đề án 1164 có bố trí các khí tài trinh sát vô tuyến (RTR) và đối kháng điện tử (REB) “Gurzuf”, đài gây nhiễu “Start”, “Ograda” và “Koltso”, các tổ hợp thông tin liên lạc vô tuyến hiện đại “Typhoon-2” và “Tsunami-BM” (thông tin liên lạc vũ trụ). Việc điều khiển các phân hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu “Lesorub-1164” được thiết kế ở tổ chức nghiên cứu khoa học “Mars”, được chế tạo trên cơ sở phần tử mới với sự tự động hòa tăng cường và tốc độ cao.

Thiết bị năng lượng tuabin hai trục M-21, tổng công suất 110 000 sức ngựa, đảm bảo tốc độ tối đa (hoàn toàn) của tàu 32,5 hải lý, còn tầm bơi xa tối đa trong tốc độ tuần tra – 8000 dặm. Thủy thủy đoàn của tàu tuần dương – 66 sỹ quan, 64 chuẩn úy và 355 thủy thủ và hạ sỹ quan.

Các thí nghiệm tàu đầu tiên trong đề án 1164 diễn ra năm 1982, nhận tên gọi “Slava”, đã nhận được nhưng đánh giá cao về khả năng, trong đó có chất lượng truyền động và cơ động trên biển. Cùng năm đó, trong biên chế Hải quân Mỹ gia nhập tàu tuần dương tên lửa điều khiển đầu tiên “Ticonderoga” – theo cấp độ có thể tương đồng với các tàu “Slava”.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Năm, 2012, 05:05:26 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1164_16.jpg)

Hình dạng từ mũi của tàu tuần dương tên lửa "Slava". Nhìn thấy rõ thiết bị pháo AK-130, tổ hợp pháo phòng không AK-630, các cửa mở cho thiết bị phóng tên lửa chống tàu và trang bị vô tuyến điện tử lắp trên cột buồm mũi




(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1164_19.jpg)

Tàu tuần dương tên lửa đề án 1164 thực hiện bắn pháo 130mm từ thiết bị AK-130


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Năm, 2012, 05:09:43 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1164_33.jpg)

Thiết bị pháo 2 nòng 130mm trên tàu tuần dương "Varyag" đề án 1164



(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1164_32.jpg)

Tổ hợp tên lửa phòng không S-300F của tàu tuần dương tên lửa "Slava" đề án 1164 (nhìn từ mạn tàu). Trên trang trước - các thiết bị phóng đứng, đằng sau nó trên thượng tầng - trạm ăng ten của hệ thống điều khiển



(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1164_13.jpg)

Tàu tuần dương tên lửa "Nguyên soái" Ustinov đề án 1164, cuối những năm 1980


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Năm, 2012, 12:57:29 pm
Các biến thể

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1164_35.jpg)

Bắt đầu từ tàu thứ ba (“Chervona Ukraina”), thay cho đài ra đa định vị “Fregat-M” đã lắp đài mới MR-750 “Fregat-MA” với lưới ăng ten mảng pha, đồng thời các khí tài đối kháng điện tử được nâng cấp. Sau khi nâng cấp vào cuối những năm 1990, toàn bộ ba tàu tuần dương đang hoạt động của đề án 1164 đã được trang bị lại bằng các tên lửa có cánh P-1000 “Vulcan” với tầm bắn 1000km, đồng thời hệ tổ hợp tên lửa phòng không tự vệ được nâng cấp “Osa-M2”.

Tàu thứ tư (không được đóng xong “Đô đốc Hải quân Lobov”) khác biệt bên ngoài ở hình dáng ống khói, được làm thành một, không chia thành hai khối như các tàu khác. Cần cẩu nâng khi đó được chuyển tới thành bên phải.

Trên cơ sở đề án 11641, được đề xuất dự kiến bắt đầu từ tàu thứ 5, đã quyết định bỏ đường bao cách nhiệt phức tạp. Chiều dài tàu tuần dương tăng lên 6 mét (192 mét), lượng choán nước hoàn toàn tăng lên 11530 tấn (tiêu chuẩn 9500 tấn), nhưng sự thay đổi không lớn – trước hết là thay đổi các hệ thống vũ khí cũ bằng các loại vũ khí mới hoặc nâng cấp: tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh “Bazatlt” thay bằng P-1000 “Vulcan”, tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M” bằng “Osa-MA”, tổ hợp ra đa định vị “Flag” – bằng “Flag-M”, hệ thống “Korvet” bằng “Korall-BN-2”, đài ra đa định vị đạo hàng “Vaigach” thành “Vaigach-U”. Hệ thống đối kháng điện tử “Kantana” được lắp và các thiết bị phóng bổ xung PK-10 để bắn nhiễu, từ đài thủy âm đã lấy ra ăng ten lai không cần thiết cho lớp tàu này. Sự khác biệt chính trong thiết bị năng lượng là không có đường bao cách nhiệt (TUK) – làm cho phức tạp trong thiết kế và không thực tế trong khai thác sử dụng, còn công suất của tuabin lên 27 500 sức ngựa. Trên tàu tuần dương dự định đồng thời có chỗ đóng căn cứ cho trực thăng chỉ thị mục tiêu mới Ka-252RTs.

Kết quả là tàu tuần dương đề án 11641 (nhận tên gọi biểu tượng “Nước Nga”) phải được khởi công vào cuối những năm 1980. Đối với nó, thậm chí đã chế tạo các khối đầu tiên của thân tầu, nhưng tới thời điểm đó, toàn bộ đất nước đã bước vào “cải cách”, bắt đầu “chống lại các tàu tuần dương tên lửa”, và nhanh chóng, tàu bị ngừng đóng cùng với thân tàu cùng loại thứ 6.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Năm, 2012, 01:16:40 pm
Chương trình đóng tàu

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1164_40.jpg)

Các tàu tuần dương đề án 1164 được đóng ở xưởng mang tên 61 chiến sĩ Công xã Pari (số 445) ở thành phố Nicolaev từ năm 1976. Tàu đầu tiên, nhận tên gọi “Slava” được khởi công năm 1976, hạ thủy năm 1979 và gia nhập biên chế Hải quân năm 1982. Tàu thứ 2 và 3 gia nhập biên chế tương ứng với các năm 1986 và 1989. Tàu thứ 4 – “Đô đốc Hải quân Lobov” – sau khi Liên Xô tan rã đã thuộc quyền sở hữu của Ukraina và đang ở trong tình trạng 75% hoàn thành về kỹ thuật đã bị ngừng đóng. Nó được đổi tên thành “Galitchina”, sau đó là “Ukraina”. Theo kế hoạch đóng các tàu thứ 5 và 6 đã không thành hiện thực, mặc dù đã chế tạo các khối đầu tiên dành cho chúng.

Tình hình đến năm 2007

Sau khi gia nhập biên chế Hải quân, các tàu đề án 1164 được bố trí như sau: “Slava” (hiện nay là “Moskva”) – Hạm đội Biển Đen, “Chervona Ucraina” (sau đó là “Varyag”) – Hạm đội Thái Bình Dương và “Nguyên soái Ustinov” – Hạm đội Phương Bắc – tức là mỗi hạm đội có một tàu.

Trong thời gian Liên Xô tan rã, tàu tuần dương “Slava” vào năm 1991 đã được mang đi sửa ở Nicolaev, nhưng do không đủ tài chính, đồng thời do sự không xác định việc phân chia Hạm đội Biển Đen đã suýt bị loại khỏi biên chế. Tuy nhiên sau 7 năm dài, cuối cùng đã tìm được tài chính sửa chữa. Người đóng vai trò chính trong việc này là nguyên thị trưởng Moskva Lyzhkov, vì thế, tới thời điểm đó, tàu được đổi tên thành “Moskva” (tên của tàu tuần dương tên lửa được lấy từ tàu đề án 1123 bị loại khỏi biên chế năm 1996).

Tổng cộng, các tàu tuần dương đề án 1164 đều nằm trong biên chế Hải quân Nga dưới cờ Andrei, tham gia một cách tích cực trong các cuộc diễn tập, làm nhiệm vụ trực chiến và tham quan các cảng của nước ngoài, trong đó có Mỹ. Trong một số tài liệu, các tàu này được gọi là “kẻ hủy diệt tàu sân bay” do nhiệm vụ các thông số bên ngoài của chúng.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Năm, 2012, 01:31:36 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1164_draw4.jpg)

Chú thích bản vẽ thiết kế tàu tuần dương tên lửa đề án 1164

1.Thiết bị pháo 130mm AK-130

2.Tổ hợp pháo phòng không nâng cấp 30mm AK-630M

3.Thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000

4.Trạm ăng ten của đài ra đa định vị MR-123

5.Trạm ăng ten của đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực pháo MR-184

6.Trạm ăng ten của hệ thống “Argon-1164” (tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh P-500 “Bazalt”)

7.Trạm ăng ten của đài ra đa định vị “Fregat-MA” của tổ hợp ra đa định vị “Flag”

8.Ăng ten thông tin liên lạc vũ trụ

9.Trạm ăng ten của đài ra đa định vị “Voskhod” thuộc tổ hợp ra đa định vị “Flag”

10.Cần cẩu đa năng tải tên lửa phòng không và khí tài nổi nâng – hạ

11.Trạm ăng ten hệ thống điều khiển “Fort” của tổ hợp tên lửa phòng không S-300F

12.Thiết bị phóng của tổ hợp tên lửa phòng không tự vệ “Osa-MA”

13.Các trạm ăng ten của hệ thống điều khiển 4K33A “Osa-M”

14.Các trạm ăng ten của đài đối kháng điện tử “Gurzuf”

15.Các trạm ăng ten của đài đối kháng điện tử “Ograda”

16.Trạm ăng ten của đài trinh sát vô tuyến

17.Chỗ bốc dỡ thiết bị ngư lôi

18.Thiết bị phóng B-204 của tổ hợp tên lửa phòng không S-300F

19.Các thiết bị phóng bắn nhiễu ZIF-121

20.Đường ray để vận chuyển hàng hóa

21.Trạm ăng ten của hệ thống trinh sát và chỉ thị mục tiêu vũ trụ cho Hải quân “Korvet-5”

22.Các thiết bị phóng CM-248 của tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh P-500 “Bazalt”

23.Khu vực bốc dỡ ăng ten lai của tổ hợp thủy âm “Platina”.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Năm, 2012, 02:03:05 pm
Tóm tắt lịch sử phục vụ (* - các tàu còn đang phục vụ trong biên chế)

+* “Slava” (số hiệu xưởng 2008); từ 16 tháng 5 năm 1995 là “Moskva”; ghi tên vào danh sách các tàu Hải quân 20 tháng 5 năm 1974; khởi công 5 tháng 11 năm 1979 ở xưởng số 200; hạ thủy 27 tháng 7 năm 1979; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1982; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 7 tháng 2 năm 1983; năm 1983 đã hoàn thành cuộc hành quân qua Địa Trung Hải quanh Châu Âu tới Hạm đội Phương Bắc, sau đó quay ngược trở lại; năm 1986 đã làm nhiệm vụ trực chiến trên Địa Trung Hải liên quan đến tình hình phức tạp quanh Libia, trong đó 18-22 tháng 11 năm 1986 đã thăm Pirei (Hy Lạp); tháng 8 năm 1990 tham gia cuộc họp quốc tế ở Yanta theo sự kiểm soát vũ khí hạt nhân trên boong tàu; 21 tháng 3 năm 1991 được đưa vào đại tu ở Nicolaev, quá trình sửa chữa kéo dài do không đủ tài chính đến năm 1998.

+* “Đô đốc Hải quân Lobov” (số hiệu xưởng 2009); từ 5 tháng 11 năm 1986 là “Nguyên soái Ustinov”; ghi tên vào danh sách các tàu Hải quân 17 tháng 9 năm 1997; khởi công 5 tháng 10 năm 1978 ở xưởng số 200; hạ thủy 25 tháng 2 năm 1982; gia nhập biên chế 15 tháng 9 năm 1986; từ 27 tháng 2 đến 17 tháng 3 năm 1986 đã hoàn thành cuộc hành quân tới Severodvinsk và 5 tháng 11 năm 1986 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; từ 7 tháng 12 năm 1987 đến 23 tháng 6 năm 1988 đã thực hiện lần trực chiến đầu tiên ở Địa Trung Hải trong biên chế đội tàu chiến, bơi quan 17 000 dặm; từ 30 tháng 6 đến 14 tháng 12 năm 1989 tiếp tục hành quân; 21-27 tháng 7 năm 1989 thăm Norfolk (Mỹ), sau đó thực hiện nhiệm vụ trực chiến ở Địa Trung Hải với việc ghé vào Tartus (Siry) và Algieri; 16-20 tháng 7 năm 1991 đã thăm Meiport (Mỹ); 30 tháng 6 đến 5 tháng 7 năm 1993 – Halifacs (Canada) và 7 đến 11 tháng 7 năm 1993 – Boston (Mỹ); từ 1 tháng 9 năm 1994 đến 14 tháng 12 năm 1997 đã trải qua sửa chữa ở “xưởng phía Bắc” tại Saint Peterburg, sau đó 21 tháng 1 năm 1998 một lần nữa tới Severodvinsk.

+* “Chervona Ucraina” (số hiệu xưởng 2010); từ 9 tháng 2 năm 1996 là “Varyag”; khởi công 31 tháng 7 năm 1979 ở xưởng số 200; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 5 tháng 11 năm 1992; hạ thủy 28 tháng 8 năm 1983; gia nhập biên chế 25 tháng 12 năm 1989; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương 28 tháng 2 năm 1990 và hoàn thành cuộc hành quân xuyên đại dương tới Viễn Đông, kết thúc 5 tháng 11 năm 1990; trong đó tàu đã ghé vào Cam Ranh (Việt Nam); 25 tháng 9 năm 1991 đã thực hiện bắn tổ hợp tiên công với đánh giá “xuất sắc”; 30 tháng 8 năm 1995 đã tới Vladivostoc để tham gia cuộc duyệt binh quốc tế kỷ niệm 60 năm Hạm đội Thái Bình Dương; từ 3 đến 9 tháng 2 năm 1996 thăm Hàn Quốc và qua khu vực vinh quan ở vịnh Đối Mã và Chempulo (?); tháng 8 năm 1997 tham gia các cuộc diễn tập, bắn cháy mục tiêu huấn luyện trực tiếp bằng tên lửa chống tàu có cánh với tầm xa giới hạn, theo kết quả của các cuộc diễn tập, nhận giải thưởng từ Tư lệnh Hải quân; sau năm 2000, được đưa vào sửa chữa.

+ “Komsomolets” (số hiệu xưởng 2011); từ 23 tháng 3 năm 1985 là “Đô đốc Hải quân Lobov”; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 9 tháng 6 năm 1980; khởi công 29 tháng 8 năm 1984 ở xưởng số 200; hạ thủy 11 tháng 8 năm 1990; đừng đóng 18 tháng 3 năm 1993; giải tán 1 tháng 10 năm 1993.

+ “Rossia” (số hiệu xưởng 2012); từ 30 tháng 12 năm 1987 là “Cách mạng tháng Mười”; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 11 tháng 8 năm 1987; dừng đóng 4 tháng 10 năm 1990.

+ “Đô đốc Hải quân Liên Xô “Gorshkov” (số hiệu xưởng 2013); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 1 tháng 11 năm 1988; dừng đóng 4 tháng 10 năm 1990.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Năm, 2012, 04:37:14 pm
Các thông số kỹ chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 9300

+ hoàn toàn: 11 280

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 186 (170)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 20,8 (19,2)

+ lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 8,4 (7,9)

Thiết bị năng lượng chính: tuabin hơi nước M-21

+ 2 tuabin khí M-70, tổng công suất, sức ngựa (kW): 20 000 (14 700)

+ 4 tuabin khí M-8KF, tổng công suất, sức ngựa (kW): 90 000 (66 150)

+ 2 động cơ tuabin khí hỗ trợ (TUK), tổng công suất, sức ngựa (kW): 12 000 (8 820)

+ các máy phát điện tuabin TD-1500, công suất, sức ngựa, kW: 3x1500

+ các máy phát điện tuabin TD-1250, công suất, sức ngựa, kW: 3x1250

2 trục; 2 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ tối đa: 32,5

+ tuần tra: 18

Tầm bơi xa, dặm (với tốc độ, hải lý)

+ 7 500 (18)

+ 2 500 (32)

Thời gian hoạt động: 30 ngày

Thủy thủ đoàn (sỹ quan): 485 (66).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Năm, 2012, 04:44:51 pm
Vũ khí

Tên lửa tiến công

+ thiết bị phóng SM-248 cho tổ hợp tên lửa chống tàu P-500 “Bazalt”: 8x12

+ tên lửa chống tàu có cánh 4K80 “Bazalt” (SS-N-12 “Sandbox”): 16

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng thẳng đứng B-204 của tổ hợp tên lửa phòng không S-300F “Fort”: 8x8

+ tên lửa phòng không 5V55RM (SA-N-6 “Grumble”): 64

+ thiết bị phóng Zif-122 của tổ hợp tên lửa phòng không 4K33 “Osa-M/MA2”: 2x2

+ tên lửa phòng không 9M33M/MA2 (SA-N-4 “Gecko”): 40

Pháo

+ thiết bị pháo 130mm AK-130: 1x2

+ tổ hợp pháo 30mm AK-630: 6x6

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi PTA-53-1134: 2x5

Chống ngầm

+ thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000 “Smerch-2”: 2x12

+ bom chìm phản lực: 144

Không quân

+ trực thăng Ka-25RTs (“Hormone B”) hoặc Ka-27 (“Helix B”): 1.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Năm, 2012, 05:17:04 pm
Trang bị vô tuyến điện

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Lesorub-1164”

Đài ra đa định phát hiện mục tiêu tầm cao

+ 1xMR-600 “Voskhod” + MR-500 “Kliver” (Top Pair: Top Sail + Big Net)

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp

+ 1xMR-700 “Fregat-M” (Top Steer) hoặc

+ 1xMR-750 “Fregat-MA” (Top Plate) trên “Varyag”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm thấp

+ 3x”Vaigach” (Don Kay) hoặc “Volga” (Palm Frond)

Đài thủy âm

+ “Platina” với ăng ten hình cầu (Bull Horn) và ăng ten lai (Mare Tail)

Các khí tài đối kháng điện tử

+ MRP-3 “Koltso” (2 Bell Slam) máy rải nhiễu

+ “Gurzuf-A/B” (8 Side Globe) trinh sát vô tuyến

+ MP-150 “Start” (4 Rum Tub)

+ MP-152 “Ograda” (2 Bell Tap)

Các tổ hợp bắn nhiễu

+ 2x2 thiết bị phóng PK-2 (Zif-121)

Các khí tài quang – điện

+ 2xMT-45 (Tee Plinth)

+3x(Tilt Pot)

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ 1x”Argon-1164” (Front Door)

+ 2x”Korvet-5” (Punch Bowl) thu sự chỉ thị mục tiêu từ vệ tinh cho tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh “Bazalt”

+ 2x”Volna” (Top Dome) cho tổ hợp tên lửa phòng không “Fort”

+ 2x4P33 (Pop Group) cho tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M”

+1xMR-184 “Lev-218M” (Kite Screech) cho thiết bị pháo 130mm

+3xMR-123 “Vưmpel” (Bass Tilt) cho thiết bị pháo 30mm

Khí tài thông tin liên lạc

+ “Typhoon-2”

+ “Tsunami-BM” thông tin liên lạc vệ tinh

Đài ra đa định vị hội thoại nói

+ (Salt Pot A và B; Long Head).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Năm, 2012, 12:27:40 pm
Các tàu tuần dương tên lửa lớp “Kirov” – Đề án 11442 “Orlan”

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1144-2_06.jpg)

Tổng số tàu đã đóng: 3+1.

Tàu thứ hai trong lớp “Kirov” ban đầu dự định như “sự tăng cường mạnh mẽ” trong trong thời gian đóng tàu đầu tiên. Theo đề án đã sở hữu số hiệu 11442 và dự định rằng theo nó sẽ đóng toàn bộ các tàu tuần dương sau này. Việc Tổng công trình sư của đề án 1144 B.I.Kupensky qua đã chuyển chức vụ này cho V.A.Perevalov thay thế. Giám sát viên chính từ phía Hải quân là A.A.Savin, nhưng, bởi vì ông khi đó đang bận chức phụ phó chủ nhiệm (sau đó là, từ năm 1985 là chủ nhiệm) của Cục tàu nổi thuộc Viện nghiên cứu khoa học trung ương đóng tàu chiến (TsNIIVK). Trong một số trường hợp, nhiệm vụ của ông trùng lặp với A.N.Blinov (giám sát viên chính theo tàu tuần dương tên lửa đề án 1164). Những sự thay đổi trong biên chế vũ khí của các tàu thứ 2, 3, 4 trong lớp “Kirov” được xác định rằng, số lượng lớn các tổ hợp và hệ thống vuxkhis không được chuẩn bị sẵn sàng ở thời điểm đóng tàu đầu tiên. Nhưng do thời gian tiếp nhận chúng vào biên chế bị kéo dài hàng năm, toàn bộ ba tàu đề án 11442 đã nhận được vũ khí trang bị khác nhau.

Bắt đầu từ thân tàu thứ hai (tàu tuần dương tên lửa hạt nhân “Frunze”), và trên toàn bộ các tàu sau, thay cho 2 thiết bị pháo AK-100 trên mạn tàu đã lắp một thiết bị pháo 2 nòng 130mm AK-130 (như theo đề án ban đầu) với hệ thống điều khiển “Lev-218M”. Đồng thời, trên các tàu tuần dương này thay cho tổ hợp chống ngầm “Metel” và các thiết bị ngư lôi – trên vị trí của chúng lắp tổ hợp ngư lôi – tên lửa đa chức năng “Vodopad-NK” (theo 5 thiết bị phóng cố định 1 ống trên tàu). Các thiết bị phóng của tổ hợp được sử dụng, như để bắn các ngư lôi – tên lửa (PLUR), cũng như các ngư lôi 533mm thường (tổng cơ số đạn – 10 ngư lôi). Để tăng cường khả năng phòng thủ chống ngư lôi, bắt đầu từ tàu thứ 3 (tàu tuần dương tên lửa hạt nhân hạng nặng “Kalinin”), thay cho hệ thống phóng bom phản lực RBU-6000, trên các tàu tuần dương đã lắp tổ hợp mới được thiết kế đặc biệt “Udav-1” (RBU-12000, ban đầu theo kế hoạch sẽ lắp từ tàu đầu tiên). Trên các tàu thứ 3 và 4, thay cho các cụm pháo tự động 30mm AK-630M đã lắp 2 tổ hợp pháo – tên lửa phòng không tự vệ “Kortik”. Trong mỗi tổ hợp gồm có 3 modul chiến đấu (mỗi modul có 2 khối pháo 30mm sáu nòng, 2 thiết bị 4 thùng phóng của các tên lửa phòng không và hệ thống điều khiển hỏa lực) và 1 modul điều khiển với đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu “Pozitiv”. Các modul chiến đấu được bố trí ở vị trí của các cụm pháo tự động 30mm AK-630M, còn đài ra đa định vị - trên thượng tầng mũi.

Trên tàu thứ 4 đề án 11442 – “Pie Đại Đế” (khi đó là “Yuri Andropov” – thay cho các tổ hợp tên lửa phòng không tự vệ “Osa-M” và “Osa-MA” trong hệ thống phòng không gồm có các tổ hợp tên lửa phòng không đa kênh hiện đại hơn “Kinzhal” với các thiết bị phóng đứng dạng rulo (ổ quay) dưới boong với tổng cơ số đạn 64 tên lửa (trên cơ sở tổ hợp tên lửa phòng không “Tor-M1” thuộc quân đội). Trạm ăng ten của đài dẫn bắn tên lửa với ăng ten mảng pha được lắp trên thượng tầng mạn tàu. Tổ hợp tên lửa phòng không này theo kế hoạch được lắp bắt đầu từ thân tàu thứ 2, nhưng do sự đổ vỡ (không đúng kế hoạch) các thời hạn cung cấp, tổ hợp này không được lắp (trùng thời gian bàn giao) trên các tàu tuần dương hạt nhân hạng nặng cũng như trên nhiều tàu nổi khác trong Hải quân Nga. Vì thế, các tàu thứ 2 và 3 của đề án 11442 chỉ có các vị trí dự bị dưới các thiết bị phóng trên boong lái trên, từ đó – các pháo tự động AK-630M được chuyển tới thượng tầng mạn.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Năm, 2012, 12:29:26 pm
Các bản vẽ và hình vẽ tàu tuần dương tên lửa hạng nặng đề án 11442

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1144-2_1.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1144-2_2.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1144-3_1.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1144-2_01.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Năm, 2012, 12:35:03 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1144-2_17.jpg)

Hình dáng thượng tầng tàu tuần dương tên lửa hạt nhân hạng nặng "Frunze" đề án 11442


(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1144-2_09.jpg)

Hình dáng phần mạn tàu tuần dương hạt nhân hạng nặng "Frunze" đề án 11442. Các cánh cửa của thang nâng được nâng lên, giữa chúng là trực thăng


(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1144-2_20.jpg)

Trực thăng Ka-25RTs trên bãi đáp cất - hạ cánh của tàu tuần dương tên lửa hạt nhân hạng nặng "Frunze"


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Năm, 2012, 12:40:36 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1144-2_27.jpg)

Hình dáng thượng tầng tàu tuần dương tên lửa hạt nhân hạng nặng "Đô đốc Lazarev" (trước đó là "Frunze") đề án 11442


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Năm, 2012, 12:44:19 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1144-2_11.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1144-2_12.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1144-2_13.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1144-2_14.jpg)

Các ảnh chi tiết của tàu tuần dương tên lửa hạt nhân hạng nặng Đề án 11442. Nhìn thấy rõ các phần tử vũ khí và cấu trúc thượng tầng


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Năm, 2012, 12:56:48 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1144-4_08.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1144-4_25.jpg)

Hình dáng nhìn từ mạn tàu tới thượng tầng của tàu tuần dương tên lửa hạt nhân hạng nặng "Pie Đại Đế" đề án 11442. Phía trước là thiết bị pháo 130mm AK-130, trên nó là trạm ăng ten của đài dẫn bắn cho các tên lửa thuộc tổ hợp "Kinzhal", trên cao nữa là trạm ăng ten của đài dẫn bắn tên lửa thuộc tổ hợp tên lửa phòng không "Fort" (S-300F)


(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1144-4_26.jpg)
Các nòng pháo 130mm của thiết bị pháo AK-130 trên tàu tuần dương hạng nặng "Pie Đại Đế" đề án 11442. Phía trước là mặt trống của thiết bị phóng thuộc tổ hợp tên lửa phòng không "Kinzhal"


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Năm, 2012, 01:01:48 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1144-4_03.jpg)
Bắn tổ hợp "Udav-1" từ tàu tuần dương tên lửa hạt nhân hạng nặng "Pie Đại Đế" đề án 11442


(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1144-4_30.jpg)
Các thiết bị phóng đứng dưới boong của tổ hợp tên lửa phòng không S-300F trên tàu "Pie Đại Đế" đề án 11442


(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1144-4_24.jpg)
Hình dáng mạn tàu tuần dương tên lửa "Pie Đại Đế" đề án 11442. Đằng trước - modul chiến đấu của tổ hợp pháo - tên lửa phòng không "Kortik"


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 08 Tháng Năm, 2012, 01:07:36 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1144-4_28.jpg)

Khẩu đội pháo 130mm của tàu tuần dương tên lửa hạng nặng "Pie Đại Đế" đề án 11442 chiếm lĩnh vị trí trong báo động chiến đấu


(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1144-4_27.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1144-4_29.jpg)

Đội hình nghi lễ của thủy thủ đoàn trên mạn tàu tuần dương tên lửa hạt nhân hạng nặng đề án 11442 "Pie Đại Đế trong lễ gia nhập biên chế chính thức của tàu.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Năm, 2012, 12:49:39 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1144-2_04.jpg)

Bắt đầu từ tàu thứ 3, các tàu được trang bị tổ hợp S-300F với các tên lửa mới 48N6E (thay cho 5V66RM), có kích thước lớn hơn, và do đó mang lại những thay đổi trong thiết bị phóng thẳng đứng của tên lửa phòng không. Ngoài ra, cũng có những sự thay thế trong một số khối hệ thống điều khiển tên lửa phòng không liên quan với sự hiện đại hóa hệ thống dẫn bắn của tên lửa mới. Trên tàu thứ 4 đã lắp 2 tổ hợp S-300F và S-300FM (“Fort”). Tàu cuối cùng khác biệt ở tên lửa mới 48N6E2 (do các đặc điểm thiết kế, cơ số đạn của chúng giảm từ 96 còn 94), thay đổi bộ phận điều khiển, trong đó có trạm ăng ten của ra đa định vị dẫn bắn F1M (đồng dạng với tổ hợp tên lửa phòng không S-300PMU-1 của Lục quân). Phiên bản mới của tổ hợp mở rộng đáng kể phạm vi tiêu diệt mục tiêu theo giới hạn tầm xa, tầm cao và tầm thấp, tăng cường khả năng bám bắt mục tiêu tốc độ cao (trong đó có tên lửa đạn đạo) và tăng cường kênh theo mục tiêu và tên lửa. Tổ hợp S-300F trong Hải quân là đa năng một cách đúng nghĩa nhưng chỉ được sử dụng trong tiêu bản duy nhất, trên tàu duy nhất.

Ngoài toàn bộ những sự liệt kê trên, những sự thay đổi còn nhắm vào trang bị vô tuyến điện. Như, bắt đầu từ tàu thứ hai, trên các tàu đã lắp hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu mới “Lesoruvb-44”, tổ hợp đối kháng điện tử cũ “Gurzuf” được thay bằng “Kantata-M”, tổ hợp thông tin liên lạc vũ trụ “Tusnami-B” – bằng “Kirstall-BK”. Từ tàu thứ ba, các tàu được lắp đài ra đa định vị 3 tọa độ hiện đại hóa “Fregat-MA” với lưới ăng ten mảng pha, đồng thời đài ra đa định vị đạo hàng hiện đại hóa “Vaigach-U”. Ngoài ra, để tăng cường các khả năng phòng không của tàu thứ 4, trên cột buồm mũi bên phải và trái đã lắp các đài ra đa định vị chuyên dụng phát hiện mục tiêu tầm thấp “Podkat” được sử dụng để chỉ thị mục tiêu bổ sung cho tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal”.

Sau sự sụp đổ của Liên Xô, vào năm 1992, toàn bộ các tàu tuần dương trong đề án (“Kirov” – tên tàu đầu tiên) đã được đổi tên gọi: “Frunze” – “Đô đốc Lazarev”, “Kalinin” – “Đô đốc Nakhimov”, tàu thứ 4 “Andropov” – “Pie Đại Đế”. Tàu sau cùng đang hoạt động một cách tích cực trong phục vụ chiến đấu thuộc Hạm đội Phương Bắc và thường xuyên tham gia vào các cuộc diễn tập.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Năm, 2012, 01:02:53 pm
Tóm tắt lịch sử phục vụ

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/1144-2_22.jpg)

+ “Frunze” (số hiệu xưởng 801); từ 27 tháng 5 năm 1992 là “Đô đốc Lazarev”; ghi tên vào danh sách các tàu Hải quân 25 tháng 2 năm 1978; khởi công 26 tháng 7 năm 1978 ở xưởng đóng tàu Baltic số 189 ở Leningrad theo đề án 11442; hạ thủy 26 tháng 5 năm 1981; gia nhập biên chế 31 tháng 10 năm 1984; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương mùng 7 tháng 12 năm 1984; 21 tháng 8 đến 22 tháng 11 năm 1985 đã hoàn thành cuộc hành quân từ Baltic tới Vladivostoc, có ghé vào cảng Luanda (Angola), Aden (Nam Yemen) và các cảng của Việt Nam; cuối những năm 1990 đưa vào lực lượng dự bị.

+ “Kalinin” (số hiệu xưởng 802); từ 27 tháng 5 năm 1992 là “Đô đốc Nakhimov”; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 27 tháng 1 năm 1983; khởi công tháng 5 năm 1983 ở xưởng đóng tàu Baltic ở Leningrad theo đề án 11442; hạ thủy 26 tháng 4 năm 1986; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1988; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 21 tháng 4 năm 1989; năm 1994 được đưa vào lực lượng dự bị; năm 1999 được đưa đến “Xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc” để sửa chữa.

+ “Yuri Andropov” (số hiệu xưởng 803); từ 27 tháng 5 năm 1992 là “Pie Đại Đế”; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 11 tháng 3 năm 1984; khởi công tháng 4 năm 1986 ở xưởng đóng tàu Baltic số 189 ở Leningrad theo đề án 11442; hạ thủy 29 tháng 4 năm 1989; kéo cờ ngày 26 tháng 7 năm 1992; chính thức gia nhập biên chế 5 tháng 10 năm 1995 và di chuyển tới Kronshtadt để thực hiện các thí nghiệm cấp nhà nước; 27 tháng 10 năm 1996 trong thời gian thí nghiệm di chuyển ở biển Baltic, trong khoang nồi hơi xảy ra sự cố, kết quả 5 người hy sinh, bị thương 6 người; 9 tháng 4 năm 1998 đã ký biên bản tiếp nhận tàu tuần dương tên lửa hạt nhân hạng nặng vào biên chế Hải quân; tháng 4 năm 1998 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc.

+ “Đô đốc Hải quân Liên Xô Kuznetsov” (số hiệu xưởng 804); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 31 tháng 12 năm 1988; dừng đóng và loại khỏi danh sách tàu Hải quân 4 tháng 10 năm 1990.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Năm, 2012, 01:26:42 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/11442_weapon.jpg)

Sự bố trí vũ khí trên các tàu tuần dương tên lửa năng lượng hạt nhân đề án 11442

1.Thiết bị phóng bom phản lưc RBU-6000

2.Tổ hợp chống ngầm “Udav-1M”

3.Các thiết bị phóng của tổ hợp bắn nhiễu PK-2

4.Thiết bị 8 ống phóng đứng của tổ hợp tên lửa phòng không S-300F “Fort” và tổ hợp tên lửa phòng không S-300FM “Fort-M”

5.Thiết bị 8 ống phóng đứng của tổ hợp S-300F “Fort”

6.Thiết bị phóng của tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh “Granit”

7.Tổ hợp pháo phòng không 30mm AK-630M

8.Đài ra đa định vị MR-123 “Vưmpel” điều khiển bắn cho tổ hợp pháo phòng không 30mm

9.Các thiết bị phóng cơ động của tổ hợp tên lửa phòng không tự vệ “Osa-M”

10.Các trạm ăng ten của đài ra đa định vị 4R33 điều khiển bắn cho tổ hợp pháo – tên lửa phòng không “Osa-M”

11.Các modul chiến đấu của tổ hợp pháo – tên lửa phòng không “Kortik”

12.Đài ra đa định vị “Pozitiv” chỉ thị mục tiêu cho tổ hợp pháo – tên lửa phòng không “Kortik”

13.Các trạm ăng ten của tổ hợp thông tin liên lạc vũ trụ

14.Đài ra đa định vị đạo hàng “Vaigach” và “Vaigach-U”

15.Các mũ chụp ăng ten thông tin liên lạc vệ tinh và đạo hàng của tổ hợp “Kristall-BK”

16.Các ăng ten thu sự chỉ thị mục tiêu “Korall-BN” cho tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh “Granit”

17.Các trạm ăng ten của đài ra đa định vị “Volna” điều khiển bắn cho tổ hợp tên lửa phòng không “Fort”

18.Trạm ăng ten của đài ra đa định vị F1M điều khiển bắn cho tổ hợp tên lửa phòng không “Fort-M”

19.Ăng ten của đài ra đa định vị dẫn đường tầm gần cho trực thăng “Privod-V”

20.Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu trên không “Voskhod” và “Kliver” của tổ hợp ra đa định vị “Flag”

21.Đài ra đa định vị 3 tọa độ phát hiện mục tiêu tổng hợp “Fregat-MA”

22.Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp “Fregat-M”

23.Các ăng ten của đài đối kháng điện tử “Kantata-M”

24.Các thiết bị phóng bom phản lực RBU-1000

25.Các thiết bị phóng tên của tổ hợp tên lửa – ngư lôi chống ngầm đa năng “Vodopas-NK”

26.Thiết bị pháo 130mm hai nòng AK-130

27.Trạm ăng ten của đài ra đa định vị “Lev” điều khiển bắn cho pháo

28.Trạm ăng ten của đài dẫn bắn của tên lửa phòng không “Kinzhal”

29.Các vị trí dự bị dành cho thiết bị phóng của tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal”

30.Thiết bị 8 ống phóng của tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal”

31.Bãi cất – hạ cánh của trực thăng

32.Trực thăng chỉ thị mục tiêu Ka-25RTs

33.Cửa thang nâng trực thăng

34.Nắp năng ten lai của tổ hợp ăng ten “Polinom”.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Năm, 2012, 01:38:30 pm
Các thông số kỹ  - chiến thuật chính

Tàu tuần dương tên lửa “Frunze”

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 24 100

+ hoàn toàn: 26 190

Các kích thước, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước tiêu chuẩn): 251 (228)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước tiêu chuẩn): 28,5 (24)

+ lượng choán nước lớn nhất (trung bình): 10,33

Thiết bị năng lượng chính: nguyên tử

+ 2 lò phản ứng nước OK-900, tổng công suất, mW: 600

+ 2 thiết bị sản xuất hơi nước KN-3, 2 thiết bị tuabin răng cưa

+ 2 tuabin hơi nước, tổng công suất, sức ngựa (kW): 140 000 (102 900)

+ 4 máy phát điện tuabin, công suất, kW:4x3000

+ 4 máy phát điện tuabin khí, công suất, kW: 4x1500

+ 2 nồi hơi hơi nước dự bị, tổng công suất, kW: -

2 trục; 2 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ tối đa dưới các lò phản ứng: 31

+ tối đa theo nồi hơi: 17

Tầm bơi xa bằng các nồi hơi, dặm (tốc độ, hải lý): 1000 (17)

Thời gian hoạt động: 60 ngày

Thủy thủy đoàn (sỹ quan): 727 (97).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Năm, 2012, 01:51:13 pm
Vũ khí

Tên lửa tấn công

+ thiết bị phóng đứng SM-233 cho tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh P-700 “Granit”: 20x1

+ tên lửa chống tàu có cánh P-700 “Granit” (SS-N-19 “Shipwerck”): 20

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng đứng B-203A của tổ hợp tên lửa phòng không S-300F “Fort”/”Fort-M”: 12x8

+ tên lửa phòng không 5V55RM (SA-N-6 “Grumble”): 96

+ tên lửa phòng không 48N6E/48N6E2:-

+ thiết bị phóng ZiF-122 của tổ hợp tên lửa phòng không 4K33 “Osa-M/MA”: 2x2

+ tên lửa phòng không 9M33M/MA (SA-N-4 “Gecko”): 40

+ thiết bị phóng đứng SM-9 của tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal”: -

+ tên lửa phòng không 9M330-2 (SA-N-9 “Gauntlet”): -

Pháo – tên lửa phòng không

+ tổ hợp pháo – tên lửa phòng không 3M87 “Kortic” (CADS-N-1) trong mỗi tổ hợp: -

+ thiết bị phóng của tên lửa phòng không 9M311 (SA-N-11 “Grison”)

+ thiết bị pháo tự động 30mm AO-18

Ngư lôi

+ ngư lôi 533mm thay cho bộ phận tên lửa chống ngầm điều khiển: 10

Tên lửa chống ngầm

+ thiết bị phóng tên lửa – ngư lôi chống ngầm “Vodopad-NK” (SS-N-15 “Stallion”): 10x1

+ tên lửa – ngư lôi chống ngầm 91-R hoặc ngư lôi 533mm: 10

Pháo:

+ thiết bị pháo 130mm AK-130: 1x2

+ thiết bị pháo phòng không 30mm AK-630M

Chống ngầm/chống ngư lôi

+ RBU-6000 “Smerch-2”: 1x12

+ RGB-60: 108

+ RBU-1000 “Smerch-3”: 2x6

+ RGB-10: 72

+ RBU-12000 “Udav-1”: -

Không quân: trực thăng Ka-25RTs (“Hormone B”), Ka-27PL (“Helix A”): 3.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 09 Tháng Năm, 2012, 02:09:32 pm
Trang bị vô tuyến điện

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Lesorbu-44”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm cao: tổ hợp ra đa định vị “Flag” (Top Pair)

+ MR-600 “Voskhod” (Top Sail): 1

+ MR-500 “Kliver” (Big Net): 1

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp

+ MR-700 “Fregat-M” (Top Steer): 1

+ MR-750 “Fregat-MA” (Top Plate): -

Đài ra đa định vụ phát hiện mục tiêu bay tầm thấp

+ MR-360 “Podkat”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm thấp

+ “Vaigach” (Don Key): 3

+ “Vaigach-U” (Don Kay): -

Đài thủy âm: tổ hợp thủy âm với các ăng ten hình cầu (Horse Jaw) và ăng ten lai (Horse Tail): “Polinom”

Các khí tài đối kháng điện tử

+ “Kantata-M” (Foot Ball) trinh sát vô tuyến: 8

+ MRP-3 “Koltso” (Bell Bash, Bell Nip): 8

+ (Wine Flask): 4

+ Đài “Magenit”: 12

Các tổ hợp bắn nhiễu

+ thiết bị phóng PK-2 (Zif-121): 2x2

+ thiết bị phóng PK-10 “Smelưi”: -

Các khí tài quang điện: 4

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ “Korall-BN” (Punch Bowl) nhận chỉ thị mục tiêu từ vệ tinh cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Granit”: 2

+ “Volna” (Top Dome) của tổ hợp tên lửa phòng không “Fort”: 2

+ F1M của tổ hợp tên lửa phòng không “Fort-M”

+ 4R33 (Pop Group) của tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M, MA”: 2

+ 3R95 (Cross Sword) của tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal”: -

+ MR-184 “Lev-218M” (Kite Screech) cho pháo 130mm: 1

+ MR-123 “Vưmpel” (Bass Tilt) cho pháo phòng không 30mm: 4

+ “Pozitiv” (Cross Dome) của tổ hợp pháo tên lửa phòng không “Kortik”: -

Các khí tài đạo hàng vô tuyến

+ “Privod-V” (Round House B): 2

+ (Fly Screen A/B): 1

Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp “Typhoon-2”

+ “Kristall-BK” (Low Ball) thông tin liên lạc vệ tinh: 4

+ đài dẫn đường vệ tinh: 2

Ra đa định vị hội thoại nói: Salt Pot A/B).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Năm, 2012, 12:22:42 pm
Tàu tuần dương tên lửa “Kalinin”

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 24 300

+ hoàn toàn: 26 190

Các kích thước, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước tiêu chuẩn): 251 (228)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước tiêu chuẩn): 28,5 (24)

+ lượng choán nước lớn nhất (trung bình): 10,33

Thiết bị năng lượng chính: nguyên tử

+ 2 lò phản ứng nước OK-900, tổng công suất, mW: 600

+ 2 thiết bị sản xuất hơi nước KN-3, 2 thiết bị tuabin răng cưa

+ 2 tuabin hơi nước, tổng công suất, sức ngựa (kW): 140 000 (102 900)

+ 4 máy phát điện tuabin, công suất, kW:4x3000

+ 4 máy phát điện tuabin khí, công suất, kW: 4x1500

+ 2 nồi hơi hơi nước dự bị, tổng công suất, kW: -

2 trục; 2 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ tối đa dưới các lò phản ứng: 31

+ tối đa theo nồi hơi: 17

Tầm bơi xa bằng các nồi hơi, dặm (tốc độ, hải lý): 1000 (17)

Thời gian hoạt động: 60 ngày

Thủy thủy đoàn (sỹ quan): 727 (97).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Năm, 2012, 12:26:21 pm
Vũ khí

Tên lửa tấn công

+ thiết bị phóng đứng SM-233 cho tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh P-700 “Granit”: 20x1

+ tên lửa chống tàu có cánh P-700 “Granit” (SS-N-19 “Shipwerck”): 20

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng đứng B-203A của tổ hợp tên lửa phòng không S-300F “Fort”/”Fort-M”: 12x8

+ tên lửa phòng không 5V55RM (SA-N-6 “Grumble”): -

+ tên lửa phòng không 48N6E/48N6E2: 96

+ thiết bị phóng ZiF-122 của tổ hợp tên lửa phòng không 4K33 “Osa-M/MA”: 2x2

+ tên lửa phòng không 9M33M/MA (SA-N-4 “Gecko”): 40

+ thiết bị phóng đứng SM-9 của tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal”: -

+ tên lửa phòng không 9M330-2 (SA-N-9 “Gauntlet”): -

Pháo – tên lửa phòng không

+ tổ hợp pháo – tên lửa phòng không 3M87 “Kortic” (CADS-N-1) trong mỗi tổ hợp: 6

+ thiết bị phóng của tên lửa phòng không 9M311 (SA-N-11 “Grison”): 2x4

+ thiết bị pháo tự động 30mm AO-18: 2x6

Tên lửa chống ngầm

+ thiết bị phóng tên lửa – ngư lôi chống ngầm “Vodopad-NK” (SS-N-15 “Stallion”): 10x1

+ tên lửa – ngư lôi chống ngầm 91-R hoặc ngư lôi 533mm: 10

Pháo:

+ thiết bị pháo 130mm AK-130: 1x2

+ thiết bị pháo phòng không 30mm AK-630M

Ngư lôi

+ các ngư lôi 533mm thay cho bộ phận tên lửa chống ngầm điều khiển: 10

Chống ngầm/chống ngư lôi

+ RBU-6000 “Smerch-2”: -

+ RGB-60:

+ RBU-1000 “Smerch-3”: 2x6

+ RGB-10: 72

+ RBU-12000 “Udav-1”: 1x10

Không quân: trực thăng Ka-25RTs (“Hormone B”), Ka-27PL (“Helix A”): 3.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Năm, 2012, 12:30:21 pm
Trang bị vô tuyến điện

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Lesorbu-44”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm cao: tổ hợp ra đa định vị “Flag” (Top Pair)

+ MR-600 “Voskhod” (Top Sail): 1

+ MR-500 “Kliver” (Big Net): 1

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp

+ MR-700 “Fregat-M” (Top Steer): 1

+ MR-750 “Fregat-MA” (Top Plate): -

Đài ra đa định vụ phát hiện mục tiêu bay tầm thấp

+ MR-360 “Podkat”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm thấp

+ “Vaigach” (Don Key): 3

+ “Vaigach-U” (Don Kay): -

Đài thủy âm: tổ hợp thủy âm với các ăng ten hình cầu (Horse Jaw) và ăng ten lai (Horse Tail): “Polinom”

Các khí tài đối kháng điện tử

+ “Kantata-M” (Foot Ball) trinh sát vô tuyến: 8

+ MRP-3 “Koltso” (Bell Bash, Bell Nip): 8

+ (Wine Flask): 4

+ Đài “Magenit”: 12

Các tổ hợp bắn nhiễu

+ thiết bị phóng PK-2 (Zif-121): 2x2

+ thiết bị phóng PK-10 “Smelưi”: -

Các khí tài quang điện: 4

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ “Korall-BN” (Punch Bowl) nhận chỉ thị mục tiêu từ vệ tinh cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Granit”: 2

+ “Volna” (Top Dome) của tổ hợp tên lửa phòng không “Fort”: 2

+ F1M của tổ hợp tên lửa phòng không “Fort-M”

+ 4R33 (Pop Group) của tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M, MA”: 2

+ 3R95 (Cross Sword) của tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal”: -

+ MR-184 “Lev-218M” (Kite Screech) cho pháo 130mm: 1

+ MR-123 “Vưmpel” (Bass Tilt) cho pháo phòng không 30mm

+ “Pozitiv” (Cross Dome) của tổ hợp pháo tên lửa phòng không “Kortik”: -

Các khí tài đạo hàng vô tuyến

+ “Privod-V” (Round House B): 2

+ (Fly Screen A/B): 1

Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp “Typhoon-2”

+ “Kristall-BK” (Low Ball) thông tin liên lạc vệ tinh: 4

+ đài dẫn đường vệ tinh: 2

Ra đa định vị hội thoại nói: Salt Pot A/B).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Năm, 2012, 12:32:15 pm
Tàu tuần dương tên lửa “Andropov”

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 24 400

+ hoàn toàn: 26 300

Các kích thước, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước tiêu chuẩn): 251 (228)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước tiêu chuẩn): 28,5 (24)

+ lượng choán nước lớn nhất (trung bình): 10,33

Thiết bị năng lượng chính: nguyên tử

+ 2 lò phản ứng nước OK-900, tổng công suất, mW: 600

+ 2 thiết bị sản xuất hơi nước KN-3, 2 thiết bị tuabin răng cưa

+ 2 tuabin hơi nước, tổng công suất, sức ngựa (kW): 140 000 (102 900)

+ 4 máy phát điện tuabin, công suất, kW:4x3000

+ 4 máy phát điện tuabin khí, công suất, kW: 4x1500

+ 2 nồi hơi hơi nước dự bị, tổng công suất, kW: -

2 trục; 2 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ tối đa dưới các lò phản ứng: 31

+ tối đa theo nồi hơi: 17

Tầm bơi xa bằng các nồi hơi, dặm (tốc độ, hải lý): 1000 (17)

Thời gian hoạt động: 60 ngày

Thủy thủy đoàn (sỹ quan): 727 (97).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Năm, 2012, 12:34:59 pm
Vũ khí

Tên lửa tấn công

+ thiết bị phóng đứng SM-233 cho tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh P-700 “Granit”: 20x1

+ tên lửa chống tàu có cánh P-700 “Granit” (SS-N-19 “Shipwerck”): 20

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng đứng B-203A của tổ hợp tên lửa phòng không S-300F “Fort”/”Fort-M”: 12x8

+ tên lửa phòng không 5V55RM (SA-N-6 “Grumble”): 94

+ tên lửa phòng không 48N6E/48N6E2:-

+ thiết bị phóng ZiF-122 của tổ hợp tên lửa phòng không 4K33 “Osa-M/MA”: -

+ tên lửa phòng không 9M33M/MA (SA-N-4 “Gecko”): -

+ thiết bị phóng đứng SM-9 của tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal”: 8x8

+ tên lửa phòng không 9M330-2 (SA-N-9 “Gauntlet”): 64

Pháo – tên lửa phòng không

+ tổ hợp pháo – tên lửa phòng không 3M87 “Kortic” (CADS-N-1) trong mỗi tổ hợp: -

+ thiết bị phóng của tên lửa phòng không 9M311 (SA-N-11 “Grison”): 2x4

+ thiết bị pháo tự động 30mm AO-18: 2x6

Tên lửa chống ngầm

+ thiết bị phóng tên lửa – ngư lôi chống ngầm “Vodopad-NK” (SS-N-15 “Stallion”): 10x1

+ tên lửa – ngư lôi chống ngầm 91-R hoặc ngư lôi 533mm: 10

Pháo:

+ thiết bị pháo 130mm AK-130: -

+ thiết bị pháo phòng không 30mm AK-630M: -
 
Ngư lôi

+ các ngư lôi 533mm thay cho bộ phận tên lửa chống ngầm điều khiển: 10

Chống ngầm/chống ngư lôi

+ RBU-6000 “Smerch-2”: -

+ RGB-60: 108: -

+ RBU-1000 “Smerch-3”: 2x6

+ RGB-10: 72

+ RBU-12000 “Udav-1”: 1x10

Không quân: trực thăng Ka-25RTs (“Hormone B”), Ka-27PL (“Helix A”): 3.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 10 Tháng Năm, 2012, 12:40:24 pm
Trang bị vô tuyến điện

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Lesorbu-44”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm cao: tổ hợp ra đa định vị “Flag” (Top Pair)

+ MR-600 “Voskhod” (Top Sail): 1

+ MR-500 “Kliver” (Big Net): 1

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp

+ MR-700 “Fregat-M” (Top Steer): -

+ MR-750 “Fregat-MA” (Top Plate): 1

Đài ra đa định vụ phát hiện mục tiêu bay tầm thấp

+ MR-360 “Podkat”: 2

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm thấp

+ “Vaigach” (Don Key):

+ “Vaigach-U” (Don Kay): 3

Đài thủy âm: tổ hợp thủy âm với các ăng ten hình cầu (Horse Jaw) và ăng ten lai (Horse Tail): “Polinom”

Các khí tài đối kháng điện tử

+ “Kantata-M” (Foot Ball) trinh sát vô tuyến: 8

+ MRP-3 “Koltso” (Bell Bash, Bell Nip): 8

+ (Wine Flask): 4

+ Đài “Magenit”: -

Các tổ hợp bắn nhiễu

+ thiết bị phóng PK-2 (Zif-121): 2x2

+ thiết bị phóng PK-10 “Smelưi”: 12x10

Các khí tài quang điện: 4

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ “Korall-BN” (Punch Bowl) nhận chỉ thị mục tiêu từ vệ tinh cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Granit”: 2

+ “Volna” (Top Dome) của tổ hợp tên lửa phòng không “Fort”: 1

+ F1M của tổ hợp tên lửa phòng không “Fort-M”: 1

+ 4R33 (Pop Group) của tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M, MA”: -

+ 3R95 (Cross Sword) của tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal”: 1

+ MR-184 “Lev-218M” (Kite Screech) cho pháo 130mm: 1

+ MR-123 “Vưmpel” (Bass Tilt) cho pháo phòng không 30mm:

+ “Pozitiv” (Cross Dome) của tổ hợp pháo tên lửa phòng không “Kortik”: 1

Các khí tài đạo hàng vô tuyến

+ “Privod-V” (Round House B): 2

+ (Fly Screen A/B): 1

Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp “Typhoon-2”

+ “Kristall-BK” (Low Ball) thông tin liên lạc vệ tinh: 4

+ đài dẫn đường vệ tinh: 2

Ra đa định vị hội thoại nói: Salt Pot A/B).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Năm, 2012, 12:30:16 pm
Tàu tuần dương hạng nhẹ “Chapaev” – Đề án 68-K

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/68-k_01.jpg)
Hình vẽ tàu tuần dương huấn luyện "Komsomolets" (Đoàn viên thanh niên cộng sản)

Tổng số tàu đã đóng: 5.

Biến thể: không có.

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/68k_2.jpg)
Bản vẽ thiết kế tàu pháo tuần dương đề án 68-K

Các tàu tuần dương hạng nhẹ, được đóng theo đề án trước chiến tranh 68. Các tàu có pháo chính 152mm được bố trí trong 4 tháp pháo bọc thép. Sau Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, các tàu được đóng tiếp theo đề án hiệu chỉnh 68-K với sự tăng cường vũ khí phòng không và các hệ thống điều khiển bắn pháo mới. Ngoài ra, các tàu tuần dương được trang bị các khí tài mới cho trang bị ra đa định vị của thời kỳ đó.

Chương trình đóng tàu

Theo kế hoạch đóng 17 tàu lớp này, nhưng tới tháng 6 năm 1941 chỉ khởi công 7 tàu thuộc đề án 68. Toàn bộ chúng được đóng ở xưởng đóng tàu số 194 và số 189 ở Leningrad, số 200 (số 445) và số 198 ở Nikolaeva từ năm 1939. Các tàu được đóng tiếp sau Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, tàu cuối cùng, thứ 5 theo đề án 68-K gia nhập biên chế năm 1959.

Tình hình đến năm 2005

Tàu cuối cùng trong lớp, còn lại trong biên chế trong vai trò tàu tuần dương huấn luyện “Komsomolets” bị loại khỏi biên chế vào năm 1979.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Năm, 2012, 12:36:41 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/68-k_03.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/68-k_06.jpg)

Учебный крейсер «Комсомолец» пр.68-К после модернизации, вид с кормы. Балтийск

Tàu tuần dương huấn luyện "Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin" đề án 68-K sau khi nâng cấp, nhìn từ mạn tàu. Biển Baltic.

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/68-k_04.jpg)
Средняя часть КРУ «Комсомолец» пр.68-К. Хорошо видна носовая надстройка

Phần giữa của tàu pháo tuần dương huấn luyện "Komsomolets" đề án 68-K. Nhìn rõ hình dáng thượng tầng mũi tàu.

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/68-k_07.jpg)
Крейсер «Комсомолец» пр.68-К. Балтийский флот, 1965 г.

Tàu tuần dương "Komsomolets" đề án 68-K. Hạm đội Baltic, năm 1965.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Năm, 2012, 01:15:17 pm
Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ “Zheleziakov”: (số hiệu xưởng 545); khởi công 31 tháng 10 năm 1939 ở xưởng số 194; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 25 tháng 9 năm 1940; dừng đóng và đưa vào bảo quản 10 tháng 9 năm 1941; đóng tiếp sau Chiến tranh Vệ quốc và gia nhập biên chế 19 tháng 4 năm 1950 (theo các thông tin khác 29 tháng 7 năm 1950); gia nhập biên chế Hải quân 7 tháng 9 năm 1950; 30 tháng 7 năm 1951 chuyển đến Hạm đội Phương Bắc; 7 tháng 8 năm 1968 chuyển tới căn cứ Hải quân Leningrad; 28 tháng 5 năm 1973 chuyến tới Hạm đội Baltic; 14 tháng 10 năm 1957 – 5 tháng 8 năm 1961 đã trải qua đại tu ở Leningrad; 18 tháng 4 năm 1961 bị loại khỏi biên chế chiến đấu thuộc Hải quân và phân loại lại thành tàu tuần dương huấn luyện và bị loại khỏi biên chế chính thức 21 tháng 10 năm 1971; giải tán 15 tháng 3 năm 1976; năm 1976 – 1977 bị xẻ kim loại ở căn cứ “Glavvtorchermeta” ở Liepai.

+ “Kuybưshev”: (số hiệu xưởng 1088); khởi công 31 tháng 8 năm 1989 ở xưởng số 200; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 25 tháng 8 năm 1940; hạ thủy 31 tháng 1 năm 1941; dừng đóng mùa hè năm 1941; 14 tháng 8 năm 1941 được kéo từ Nikolaev tới Poti và 10 tháng 9 năm 1941 được bảo quản; đóng tiếp sau Chiến tranh Vệ quốc và gia nhập biên chế 20 tháng 4 năm 1950 (theo các thông tin khác 29 tháng 7 năm 1950); gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 6 tháng 8 năm 1950; 18 tháng 4 năm 1958 bị loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân và phân loại lại thành tàu huấn luyện; tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân 24 tháng 4 năm 1965; giải thể 20 tháng 12 năm 1965 bị xẻ kim loại ở căn cứ “Glavvtorchermeta” ở Sevastopol.

+ “Chapaev”: (số hiệu xưởng 305); từ 29 tháng 10 năm 1960 là PKZ-25 (căn cứ nổi số 25); khởi công 8 tháng 10 năm 1939 ở xưởng số 189; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 25 tháng 9 năm 1940; hạ thủy 28 tháng 4 năm 1941; dừng đóng và bảo quản 10 tháng 9 năm 1941; đóng tiếp sau Chiến tranh Vệ quốc và gia nhập biên chế 16 tháng 5 năm 1950 (theo các tài liệu khác 27 tháng 5 năm 1950); gia nhập biên chế 19 tháng 9 năm 1950; 30 tháng 7 năm 1951 chuyển tới Hạm đội Phương Bắc; 18 tháng 4 năm 1958 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và trở thành tàu huấn luyện; tháo vũ khí và tổ chức lại thành căn cứ nổi số 25 12 tháng 4 năm 1963; giải thể 29 tháng 10 năm 1963 và năm 1964 bị xẻ kim loại ở căn cứ “Glavvrorchermeta” tại Murmansk.

+ “Chkalov”: (số hiệu xưởng 305); từ 29 tháng 10 năm 1958 là “Komsomolets”; khởi công 31 tháng 8 năm 1939 ở xưởng số 189; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 25 tháng 9 năm 1940; dừng đóng vào bảo trì 10 tháng 9 năm 1941; đóng tiếp sau Chiến tranh Vệ quốc; hạ thủy 25 tháng 10 năm 1947; gia nhập biên chế 25 tháng 10 năm 1950; gia nhập biên chế Hải quân 22 tháng 4 năm 1951; 24 tháng 12 năm 1955 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 28 tháng 5 năm 1973 đóng ở căn cứ hải quân Leningrad; 28 tháng 1 năm 1976 chuyến tới Hạm đội Baltic; 18 tháng 4 năm 1958 bị loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân và bị phân loại lại thành tàu huấn luyện; tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân 27 tháng 9 năm 1979; giải thể 31 tháng 12 năm 1979 và năm 2980 bị xẻ kim loại ở xưởng “Glavvtorchermeta” ở Liepai.

+ “Funze” (số hiệu xưởng 356); khởi công 29 tháng 8 năm 1939 ở xưởng số 198; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 25 tháng 9 năm 1940; hạ thủy 30 tháng 12 năm 1940; dừng đóng mùa hè năm 1941; 9 tháng 8 năm 1941 kéo tới thành phố Poti và bảo quản; năm 1942, mạn tàu bị tách và hàn vào thân tàu bị thương “Molotov” (đề án 26-bis); đóng tiếp sau Chiến tranh Vệ quốc; gia nhập biên chế 19 tháng 12 năm 1950 (theo các thông tin khác 28 tháng 3 năm 1951); gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 8 tháng 4 năm 1951; 18 tháng 4 năm 1958 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và phân loại lại thành tàu huấn luyện; tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân 6 tháng 2 năm 1960; giải thể 14 tháng 3 năm 1960 và năm 1960-61 bị xẻ kim loại ở căn cứ “Glavvtorchermeta” ở Sevastopol.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Năm, 2012, 01:28:10 pm
Các thông số kỹ chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 11 130

+ hoàn toàn: 14 100

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 199 (-)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 18,7 (-)

+ lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 6,9 (-)

Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi

+ 6 nồi hơi hơi nước, 2 tuabin hơi nước, tổng công suất, sức ngựa (kW): 124 600 (91 580)

+ các máy phát điện tuabin, công suất (kW): 5x -.

2 trục; 2 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ lớn nhất: 33,4

+ tiết kiệm năng lượng: 17

Tầm bơi xa, dặm (ở tốc độ, hải lý): 6360 (17)

Thời gian hoạt động: 30 ngày

Thủy thủ đoàn, thành viên (sỹ quan): 1184 (-).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Năm, 2012, 01:31:00 pm
Vũ khí

Pháo

+ thiết bị pháo 152mm MK-5-bis: 4x3

+ thiết bị pháo 100mm SM-5-1: 4x2

+ thiết bị pháo 37mm V-11: 14x2

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm PTA-53-68: 2x5

Mìn

+ có thể mang mìn trên boong trên: 100

Bọc thép

+ thành: 100mm

+ boong chính: 50mm

+ tháp pháo: 175mm

+ mui: 130mm.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Năm, 2012, 01:36:34 pm
Trang bị vô tuyến điện

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp

+ 1x”Hyuis”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm thấp

+ 2x”Rif”

Đài thủy âm

+” Tamir-5N”

Khí tài đối kháng điện tử: không có

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ 2x”Zalp” cho thiết bị pháo chính

+ 2x”Yakor” đối với thiết bị pháo đa năng

Các trạm chỉ huy tầm xa

+ 2xKDP2-8-III cho thiết bị pháo chính

+ 2xSPN-500 cho thiết bị pháo đa năng

Các khí tài thông tin liên lạc

+ tổ hợp các khí tài

Đài ra đa định vị hội thoại nói

+ “Fakel-MO/MZ”.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 26 Tháng Năm, 2012, 02:37:12 pm
Tàu tuần dương hạng nhẹ đề án 68-bis – Lớp Sverdlov

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/68-bis_04.jpg)

Tổng số tàu đã đóng: 14+7

Các biến thể

+ 68-bis: đề án cơ sở với trang bị pháo (1952)

+ 67-EP: trên một tàu trong loạt thí nghiệm lắp tổ hợp tên lửa chống tàu “Strela” (1955)

+ 67-SI: đề án trang bị lại của đề án 67-EP để cùng thí nghiệm tổ hợp tên lửa chống tàu “Strela” (1956)

+ 67-bis: đề án trang bị lại các tàu tuần dương với sự lắp tổ hợp tên lửa chống tàu P-6 (1957)

+ 71: đề án trang bị cho các tàu tuần dương tổ hợp tên lửa phòng không “Volkhov” thay cho bộ phận pháo (1957)

+ 70-E: đề án trang bị lại các tàu tuần dương hệ thống phòng không với việc lắp tổ hợp tên lửa phòng không “Volkhov”

+ 70-E: trên một tàu trong loạt thí nghiệm lắp tổ hợp tên lửa phòng không “Volkhov” (1958)

+ 64: đề án trang bị các tàu tuần dương tên lửa điều khiển thay cho pháo (1958)

+ 68-A: tăng cường vũ khí phòng không (tổ hợp pháo phòng không 30mm AK-230), trang bị vô tuyến điện mới (trên 3 tàu vào đầu những năm 1970)

+ 68-U1/U2: các tàu tuần dương điều khiển với trang bị vô tuyến điện mới, lắp tổ hợp tên lửa phòng không tự vệ “Osa-M” (1966-72)

+ 68-bis-ZiF: trên 8 tàu đã đóng tăng cường pháo và lượng choán nước (không được đóng).

Đồng thời với việc đóng tiếp các tàu thuộc đề án trước chiến tranh vào cuối những năm 1940 đã tiếp tục các công việc nghiên cứu và thực tế theo chế tạo các tàu thế hệ mới mà trong thời gian thiết kế có thể sử dụng tối đa những tính toán và kinh nghiệm của chiến tranh và có thể mang tới  những kiến thức và sản xuất sau chiến tranh. Một cách không hoàn toàn, tính toán này trong tàu tuần dương hạng nhẹ đề án 68-bis được xem là loạt tàu tuần dương thứ 2 đề án 68-K. Tổng công trình sư của tàu là A.S.Savichev, còn giám sát viên chính từ Hải quân là Thuyền trưởng cấp 1 D.I.Kusev.

Theo so sánh với nguyên mẫu (đề án 68-K), nó khác biệt hoàn toàn bởi thân hàn, boong mũi được kéo dài và tăng cường vũ khí phòng không. Sự tăng cường vũ khí và phòng thủ, tăng cường khu vực cho người ở, tăng cường thời gian hoạt động (30 ngày) và tầm bơi xa (9000 dặm) đã dẫn tới sự tăng lượng choán nước hoàn toàn lên gần 17 000 tấn.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 26 Tháng Năm, 2012, 02:39:30 pm
Các bản vẽ và hình vẽ tàu tuần dương hạng nhẹ đề án 68-bis

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/68-bis_3.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/68-bis_6.jpg)

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/68-bis_24.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 26 Tháng Năm, 2012, 02:46:16 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/68-bis_10.jpg)

Hình vẽ tàu tuần dương hạng nhẹ 68-bis


(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/68-bis_13.jpg)

Dàn pháo chính tàu tuần dương hạng nhẹ đề án 68-bis


(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/68-bis_16.jpg)

Thiết bị pháo mạn tàu 152mm MK-5-bis của tàu tuần dương "Đô đốc Ushakov" đề án 68-bis


(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/68-bis_18.jpg)

Trên boong tàu tuần dương hạng nhẹ đề án 68-bis thuộc Hạm đội Phương Bắc


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Năm, 2012, 05:12:24 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/68-bis_05.jpg)

Để bảo vệ khả năng sống còn các bộ phận quan trọng nhất của tàu trong trận chiến đã tiếp nhận giáp bảo vệ truyền thống: chống đạn cho thành tàu, tháp pháo chính và các khoang chiến đấu; chống mảnh đạn và vỏ đạn – các trạm chiến đấu của boong trên và thượng tầng. Sử dụng giáp đồng nhất cơ sở. Lần đầu tiên áp dụng công nghệ hàn giáp tàu dày mà bản thân nó được áp dụng hoàn toàn trong các thiết kế tàu. Độ dày giáp, được tiếp nhận trong các thiết kế này gồm: thành tàu – 100mm, tường chắn đạn – 120mm, mạn tàu – 100mm, boong dưới – 50mm. Sự phòng thủ thiết kế phần dưới nước khỏi tác động của ngư lôi và thủy lôi của địch bao gồm, ngoài đáy đôi truyền thống, hệ thống các khoang mang theo (chưa hàng hóa dạng chất lỏng) và các vách ngăn dọc. Sự bố trí các khoang phục vụ và cho người sống thực tế ít sự khác biệt so với trên các tàu tuần dương đề án 68-K.

Trong vai trò pháo chính trên các tàu đề án 68-bis đã tiếp nhận các thiết bị pháo 3 nòng hiện đại hóa MK-5 bis (vào cuối những năm 1950 được hoàn thiện hệ thống điều khiển, cho phép bắn bằng pháo chính các mục tiêu trên không khi sử dụng hệ thống điều khiển pháo đa năng của tàu tuần dương); pháo đa năng được giới thiệu là 6 thiết bị cân bằng đồng trục SM-5-1 (bắt đầu từ tàu thứ 5 lắp SM-5-1 bis); pháo phòng không được giới thiệu là 16 súng máy tự động V-11 (sau đó lắm V-11M). Điểm đặc biệt của tàu tuần dương đề án này – sự xuất hiện các đài ra đa định vụ chuyên dụng dành cho pháo trong sự bổ sung các khí tài quang học dẫn bắn theo mục tiêu. Sự sử dụng hiệu quả chiến đấu của pháo chính được đảm bảo bởi hệ thống các khí tài điều khiển bắn “Molnia ATs-68bis A”, pháo đa năng và phòng không – hệ thống thiết bị phóng “Zenit-68-bis A”. Theo nhiệm vụ kỹ - chiến thuật trên tàu tuần dương hạng nhẹ đề án 68-bis, hoạt động của các loại pháo được đảm bảo trong sóng biển cấp độ 6 trong thực tế.

Trang bị mìn (thủy lôi) – ngư lôi của tàu gồm có 2 thiết bị ngư lôi trên boong dẫn bắn 5 ống phóng, lắp theo thành trên boong trên, và được điều khiển bằng hệ thống điều khiển “Stalingrad-2T-68-bis”, phối hợp với đài ra đa định vị dẫn bắn ngư lôi chuyên dụng “Zarya”. Để tiếp nhận, giữ và bắn mìn trên boong lái trên (boong trên) đã lắp các rãnh thả mìn với các bãi ngang. Tàu tuần dưng có thể tiếp nhận mang 132 thủy lôi chướng ngại vật mẫu năm 1908 hoặc 76 mìn mẫu năm 1926 hoặc 68 mìn chống tàu loại lớn “Krab”. Việc rải chúng khi tạo thành các bãi mìn chướng ngại vật được thực hiện theo sườn dốc nghiêng ở mạn tàu. Ngoài ra, trên tàu tuần dương có các tấm chắn dạng K-1: 4 làm việc và 4 dự trữ.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Sáu, 2012, 10:18:46 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/68-bis_14.jpg)

Các tàu lớp này được trang bị đồng thời các khí tài dẫn đường và kỹ thuật vô tuyến hiện, thông tin liên lạc hiện đại vào thời điểm đó. Ban đầu, trên các tàu tuần dương đề án 68-bis lắp đài ra đa định vị phát hiện các mục tiêu nổi “Rif” và đài ra đa định vị phát hiện các mục tiêu trên không “Gois-2”. Ngoài ra, có vị trí dự bị cho các đài ra đa định vị “Fut-B”, “Fut-N” và đài ra đa định vị dẫn đường tầm xa “Nord” (không được biên chế vào trang bị). Đài ra đa định vị dẫn bắn gồm có hai đài “Zalp” (cho pháo chính) và 2 đài đo xa vô tuyến “Shtag-B”; đài ra đa định vị đảm bảo bắn pháo phòng không  - 2 đài ra đa định vị “Yakor” và 6 đài đo xa vô tuyến “Shtag-B”, đồng thời đài ra đa định vị “Zarya”, đảm bảo điều khiển bắn ngư lôi. Đồng thời có trong trang bị hệ thống ra đa định vị nhận dạng “Fakel-M3”/”Fakel-MO”.

Theo đề án, các tàu tuần dương không có các khí tài đối kháng vô tuyến điện chủ động. Trên các tàu tuần đương đề án 68-bis đầu tiên, trong số đó, trên “Sverdlov”lắp tổ hợp trạm thông tin chiến đấu (BIP) “Zveno” chế tạo năm 1949 ở Viện nghiên cứu khoa học số 10 thuộc Bộ công nghiệp đóng tàu. Trong cùng năm, nó đã trải qua các thí nghiệm cấp nhà nước trên tàu tuần dương “Molotov” và được tiếp nhận vào trang bị. Tổ hợp “Zveno” là nguyên mẫu của các hệ thống kiểm soát (điều khiển) tự động hóa (ASU) của các tàu nổi và sử dụng để phối hợp công việc các khí tài làm rõ tình trạng của tàu, biểu hiện nó trên các bảng vẽ, xử lý thông tin, dẫn bắn cho máy bay tiêm kích thuộc Không quân và xuồng (tàu chiến loại nhỏ) trang bị ngư lôi. Trong đó, đảm bảo xử lý đồng thời các thông tin theo 4-5 mục tiêu nổi và 7-9 mục tiêu trên không, dẫn bắn một cụm máy bay tiêm kích theo 1 mục tiêu trên không, 2 cụm tàu ngư lôi vào 1 mục tiêu nổi. Trên tàu pháo tuần dương hạng nhẹ đề án 68-bis lắp đài thủy âm “Tamir-5N” và đài tìm phương hồng ngoại (ra đa hồng ngoại) “Solntse-1”.

Thiết bị năng lượng của tàu tuần dương đề án 68-bis về tổng thể, không khác so với thiết bị năng lượng của các tàu thuộc đề án 68-K. Sự thật, đã có một số thành công tăng cường công suất trong tốc tộ hoàn toàn lên 118 100 sức ngựa. Theo các nguyên nhân khác quan và chủ quan, trên các tàu này không có các khí tài và máy móc mới một cách nguyên tắc. Bằng cách này, các tàu tuần dương hạng nhẹ đề án 68-bis trở thành các tàu Liên Xô cuối cùng với thiết bị năng lượng lỗi thời (cũ), có các nồi hơi có thông số thấp.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 17 Tháng Sáu, 2012, 02:50:20 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/68-bis_15.jpg)

Đưa ra đánh giá tổng thể cho tàu, có thể nhấn mạnh tằng nó không phải là đại diện tốt nhất trong lớp này. Theo các thông số cơ bản, nó kém các tàu được đóng trong thời gian Chiến tranh Thế giới thứ hai. Như vậy, trong khi vượt trội tàu tuần dương hạng nhẹ lớp “Cleveland” của Hải quân Mỹ trong tầm bắn xa tối đa của pháo 152mm, đề án 68-bis kém 1,5 lần về giáp bảo vệ, đặc biệt theo boong tàu, có ý nghĩa quan trọng trong chiến trận trên tầm xa. Toàn bộ hỏa lực hiệu quả từ pháo 152mm, tàu của chúng ta trên các tầm xa tói đa thực tế không thể đạt được do không có các hệ thống điều khiển cần thiết, còn trên tầm gần, sự vượt trội hỏa lực nằm trên các tàu tuần dương lớp “Cleveland” (pháo 152mm có tốc độ bắn cao hơn, số lược pháo đa năng 127mm lớn hơn – 8 pháo một bên thành so với 6 pháo 100mm của lớp “Sverdlov”). Thiết bị năng lượng đã cũ từ đầu những năm 50 của tàu tuần dương đề án 68-bis với các tham số thấp và các nồi hơi với sự thổi quạt gió trong các khoang nồi hơi đã dẫn đến sự tăng lượng chán nước 1,3 lần so với “Cleveland” (trong khi cùng tầm bơi xa). Nhược điểm lớn nhất của toàn bộ các pháo cỡ trung bình trên các tàu Liên Xô là khi nạp đạn riêng, pháo cỡ 120 – 180mm tiếp nhận cát tút không có liều phóng. Việc này mang lại khả năng bắn, khi cần thiết, trong trường hợp nạp đạn không đầy đủ (bắn vào bờ hoặc các mục tiêu không được phòng thủ - bảo vệ trên tầm xa trung bình), tăng cường sức sống cho pháo, nhưng không mang tới khả năng yêu cầu nạp đạn để tăng tốc độ bắn. Ngoài ra, việc dùng ống liều sẽ luôn an toàn hơn việc nạp rời không có ống liều.

Thực tế, tàu tuần dương đề án 68-bis hoàn toàn đáp ứng cho nhiệm vụ chương trình đóng tàu đầu tiên sau chiến tranh – khôi phục công nghiệp đóng tàu và bồi dưỡng cán bộ thủy thủ. Nhiệm vụ cơ bản của tàu này được tính toán là bảo vệ các tàu chủ lực và tàu tuần dương hạng nặng khỏi sự tấn công của các tàu khu trục, yểm trợ sự tấn công của các tàu khu trục và tàu phóng ngư lôi, bắn phá bờ biển, đồng thời hoạt động độc lập trên các tuyến giao thông của địch.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 18 Tháng Sáu, 2012, 02:36:33 am
Các biến thể

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/68-a_09.jpg)

Trong thời gian phục vụ, các tàu tuần dương đề án 68-bis đã nhận được các khí tài cải tiến và hệ thống khác nhau. Như vào năm 1956, trên tàu tuần dương “Dzerzinski” đã trải qua (thực hiện) các thí nghiệm đài ra đa định vị chống nhiễu “Kaktus”, được thiết kế trong những năm 1953 – 1956 ở Phòng thiết kế số 703. Đài này đảm bảo tầm xa phát hiện mục tiêu trên không từ 100 đến 300km, còn theo tàu khu trục – 35km, và có hệ thống lục các mục tiêu đang di chuyển. Sau đó trên cơ sở đài ra đa định vị “Kaktus” đã chế tạo đài hiện đại hơn cùng phạm vi tần số - đài ra đa định vị “Kil” với ăng ten dạng lưới (khe nứt, khe hở) và đài ra đa định vị “Kliver” với ăng ten parabol – để trang bị cho các tàu khu trục và một bộ phận các tàu tuần dương đề án 68-bis (trong đó đồng thời được lắp các khí tài thông tin liên lạc mới.

Đài ra đa định vị chủ động “Korall” được chế tạo ở Viện nghiên cứu khoa học số 10 thuộc Bộ công nghiệp đóng tàu năm 1954, đồng thời cũng trải qua các thí nghiệm cấp Nhà nước trên tàu tuần dương “Dzerzinski”. Nó đảm bảo tạo thành các dải nhiễu tiếng ồn cho các đài ra đa định vị của máy bay, tàu và trên bờ trong phạm vi bước sóng centimet. Trong năm 1950, ở Viện nghiên cứu khoa học số 10 đã chế tạo khí tài điện tử trạm thông tin chiến đấu “Tsel” hiện đại hơn, đã thực hiện thành công các thí nghiệm trên “Dzerzinski” năm 1953. Trên cơ sở tổ hợp này đã thiết kế tổ hợp “Planshet” – gia nhập trang bị các tàu tuần dương đề án 68-bis (trong đó có “Zhdanov” và “Đô đốc Senyanvin”). Sau đó, trong những năm 1957 – 1958 – tàu pháo tuần dương hạng nhẹ “Dzerzinski” được được đóng lại theo đề án 70-E, trở thành tàu tuần dương đầu tiên được trang bị tổ hợp tên lửa phòng không tầm xa “Volkhov”. Thiết bị phóng và hệ thống điều khiển với đài ra đa định vị được lắp trên tàu thay cho pháo 152mm ở mạn tàu. Ban đầu, có kế hoạch trang bị lại toàn bộ dòng tàu tuần dương theo đề án 70 (tàu tuần dương phòng không) hoặc 71 (tổ hợp tên lửa phòng không thau cho pháo), nhưng cuối cùng, các công việc theo các tàu này đã bị ngừng lại, còn trên tàu tuần dương hạng nhẹ “Dzerzinski” trong dạng tổ hợp tên lửa phòng không “Volkhov” chưa được trang bị hoàn thiện đã được đưa vào bảo trì.

Trên một số tàu tuần dương đề án 68-bis trong những năm 1960 đã lắp tổ hợp ra đa định vị đạo hàng “Don”, được tiếp nhận vào trang bị năm 1957. Đài làm việc trong tầm bước sóng 3 centimet. Tầm xa phát hiện mục tiêu nổi – 25km, trên không – 50km. Tài rải nhiễu “Krab” tầm centimet được thí nghiệm năm 1956 trên tàu tuần dương “Đô đốc Ushakov”. Nó đảm bảo sự phòng thủ khỏi đài ra đa định vị trên tầm xa từ 8 đến 25km. Đài ra đa định vị “Krab” được tiếp nhận vào trang bị năm 1956 và được lắp trên một số tàu tuần dương đề án 68-bis, trong đó có “Zhdanov” và “Đô đốc Senyavin”. Sau đó, đài có hàng loạt các biến thể, ví dụ “Krab-11” được tiếp nhận vào biên chế năm 1961 và lắp trên tàu tuần dương “Dzerzinski”.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 18 Tháng Sáu, 2012, 02:56:28 am
Vào năm 1955, tàu tuần dương hạng nhẹ “Đô đốc Nakhimov” sau khi trang bị lại theo đề án 67-EP trong loạt thí nghiệm – lần đầu tiên trong Hải quân Liên Xô đã nhận vào trang bị tổ hợp tên lửa chống tàu “Strela”. Thiết bị phóng SM-58 được lắp ở mũi tàu, nhưng khi đó phải hy sinh 2 tháp pháo chính ở mũi. Sau đó tàu được trang bị lại theo đề án 67-SI.

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/68-bis_11.jpg)

Tàu tuần dương “Zhdanov” và “Đô đốc Senyavin” trong những năm 1966-72 đã trở thành các tàu tuần dương điều khiển (các đề án 68-U1 và U2), nhận được các trang thiết bị tương ứng, đồng thời thiết bị phóng tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M2”, nhưng khi đó phải mất bộ phận các pháo chính, đương nhiên, không chấp nhận được đối với các tàu này.

Năm 1957, trên tàu tuần dương “Đô đốc Ushakov” lần đầu tiên trong Hải quân đã chuẩn bị bãi đáp trực thăng tự chế và thực tế được tán thành. Sau đó, các bãi đáp trực thăng này được lắp một cách phổ biến trên các tàu mới.

Trên “Cách mạng tháng Mười”, “Ushakov” và “Kutuzov” đầu những năm 1970 theo đề án 68-A đã tăng cường vũ khí phòng không do kết quả lắp bổ sung tổ hợp pháo phòng không 30mm AK-230, đồng thời lắp các khí tài kỹ thuật ra đa hiện đại hơn.

Bảy tàu tuần dương hạng nhẹ không được đóng xong theo quyết định một cách vội vàng (bất tài - по бездарному решению) của lãnh đạo đát nước khi đó đã ở giai đoạn phá dỡ (một số tàu đã ở trong tình trạng sẵn sàng về kỹ thuật hơn 80%), đóng lại theo đề án hiện đại hóa 68-bis-ZiF với sự tăng cường vũ khí phòng không bằng cách lắp pháo tự động 45mm ZiF-68. Ngoài ra, có các đề án trang bị lại các tàu tuần dương lớp “Sverdlov” theo đề án 67-bis và đề án 64 với việc láp các tên lửa chống tàu thay cho pháo, nhưng các công việc theo đề án này đã được dừng lại.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 18 Tháng Sáu, 2012, 03:21:17 am
Chú thích bố cục chung của tàu tuần dương hạng nhẹ "Sverdlov":

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/68-bis_4.jpg)

1-tháp pháo 152mm MK-5 bis; 2-pháo phòng không 37mm V-11; 3-trạm chỉ huy-đo xa; 4-thiết bị pháo đa năng 10mm SM-5-1; 5-trạm ngắm (bắn) ổn định; 6-ăng ten đài ra đa định vị ; 7-khoang hóa chất (hóa học); 8-buồng lái; 9-thuyền con bốn tay chèo; 10-trạm chỉ huy dự bị (ZKP); 11-thuyền con tuần tra; 12-khoang nồi hơi bổ sung (dự bị); 13-buồng hoa tiêu; 14-buồng chỉ huy tiểu đoàn phòng không; 15-trạm quan sát (giám sát) tàu ngầm và (đường) chân trời; 16-khoang quan trắc; 17-trạm chỉ huy chính (buồng chiến đấu); 18-đài chỉ huy truyền động; 19-buồng thủy thủ; 20-nhà kho; 21-hộp xích; 22-khoang thủy âm; 23-kho đạn pháo 152mm; 24-kho liều phóng đạn 152mm; 25-buồng máy phát điện diesel; 26-trạm năng lượng và cho người ở (PEZh); 27-buồng nồi hơn; 28-thùng dầu; 29-buồng máy; 30-kho đạn ngư lôi; 31-khoang chênh mớn nước; 32-ray thả mìn; 33-thuyền sáu tay chèo; 34-thiết bị ngư lôi 5 ống 533mm; 35-ca nô; 36-thuyền buồm sáu tay chèo.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 18 Tháng Sáu, 2012, 12:12:56 pm
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/68-bis_5.gif)

Sự bố trí vũ khí trên các tàu tuần dương hạng nhẹ đề án 68-bis

1-thiết bị pháo chính 3 nòng 152mm MK-5-bis; 2-các pháo tự động 37mm V-11M; 3-trạm chỉ huy đo xa KDP-2-8III điều khiển pháo chính; 4-thiết bị pháo 100mm SM-5-1; đài ra đa định vị (điều khiển) bắn “Zalp”; 6-trạm dẫn bắn ổn định SPN-500 với đài ra đa định vị “Yakor” để điều khiển các pháo đa năng; 7-thiết bị ngư lôi 5 ống phóng 533mm PTA-53-68bis; 8-đài ra đa định vị “Rif”; 9-đài ra đa định vị “Gyuis”; 10-rãnh dẫn hướng cho mìn (thủy lôi).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Sáu, 2012, 12:36:33 pm
Chương trình đóng tàu

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/68-bis_20.jpg)

Tàu tuần dương đề án 68-bis đầu tiên, được đặt tên “Sverdlov” (đồng thời nó trở thành tên gọi của lớp tàu này theo Phương Tây – “lớp Sverdlov”), được khởi công ở xưởng đóng tàu Baltic tại Leningrad (xưởng số 189) ngày 15 tháng 10 năm 1949, hạ thủy mùng 5 tháng 7 năm 1950 và gia nhập biên chế 15 tháng 5 năm 1952 (tổng cộng ở xưởng này đã đóng 6 tàu). Ngoài ra, việc đóng các tàu tuần dương này được triển khai ở xưởng đóng tàu Admiraltei (Leningrad, xưởng số 194 – 3 chiếc), xưởng Sevmash (Molotovsk, số 402 – 2 tàu) và xưởng đóng tàu biển Đen ở Nicolaev (số 444 – 3 tàu). Đây là dòng tàu tuần dương lớn nhất trong lịch sử đóng tàu Liên Xô. Sự tiếp nhận công nghệ mới cho phép rút ngắn thời gian đóng chúng gần 2 lần. Thời gian đóng các tàu này được được thực hiện trong 2,5 năm.

Gần năm 1955, trong số 21 tàu được khởi công (tổng cộng theo kế hoạch đóng 25 tàu), chỉ có 14 tàu trong lớp này được đóng, trở thành những tàu lớn nhất trong biên chế Hải quân sau khi các tàu chủ lực cũ bị loại khỏi biên chế. Sự vội vàng của Khrusev về khái niệm “tàu tên lửa” và những người thân cận của ông ta (trong đó có S.G.Gorshkov) đã phản ánh sự tiêu cực trong số phận của các con tàu này. Như thực tế các tàu đã được đóng toàn bộ (7 tàu đề án 68-bis-ZiF) đã bị xẻ kim loại (5 trong số chúng đã hoàn thành 70-84%), mặc dù các phòng thiết kế khác đã thiết kế cho đề án nhằm trang bị vũ khí tên lửa cho chúng (tên lửa chống tàu và tên lửa phòng không).

Ngoài các tàu đã được liệt kê, dự kiến đóng tàu pháo tuần dương hạng nhẹ số hiệu xưởng 631 (xưởng Leningrad số 194) và số hiệu xưởng 396 (xưởng Nicolaev số 444), các đơn đặt đóng đã bị hủy.

Tàu tuần dương “Ordzhonikidze” được bán năm 1963 cho Hải quân Indonesia và đổi tên thành “Irian” (năm 1972 bị loại).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Sáu, 2012, 01:13:09 pm
Tình hình đến năm 2005

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/68-bis_21.jpg)

Sau khi gia nhập biên chế, các tàu tuần dương hạng nhẹ đề án 68-bis được bố trí theo các hạm đội theo số lượng sau: Hạm đội Cờ đỏ Baltic: 4 (trong đó 1 được bán, 1 được chuyển sang Hạm đội Biển Đen), Hạm đội Cờ đỏ Biển Đen: 3; Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương: 4; Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc: 3. Trong tháng 8 năm 1961, tàu tuần dương hạng nhẹ “Dzerzhinski” đề án 70-E được phân loại lại thành tàu tuần dương huấn luyện.

Như đã nhắc trước đó, lãnh đạo đất nước trong những năm nay đã tính rằng thời đại tàu nổi lớn đã kết thúc. N.S.Khrusev đã nói thẳng rằng ông ta cho rằng những tàu này là những mục tiêu tốt cho tên lửa, và chúng chỉ thích hợp cho các nghi lễ trang trọng ở các nước khác. Một phần nào đó đã nhận được kết quả tích cực: các tàu tuần dương “Sevrdlov” thường thực hiện việc tới các cảng nước ngoài với các cuộc viếng thăm chính thức, trong đó, với người đứng đầu chính phủ trên tàu.

Sự phát triển Hải quân đánh bộ thuộc Hải quân trong những năm 1970 yêu cầu sự có mặt các tàu pháo trong nhiệm vụ đảm bảo hỏa lực yểm trợ đổ bộ cho Hải quân đánh bộ. Và ở đây, vai trò quan trọng nhất là các tàu tuần dương 68-bis – khi đó, không có các tàu lớn hơn trong Hải quân Liên Xô. Đồng thời, các tàu này được sử dụng để giám sát và theo dõi cụm tàu sân bay Hải quân Mỹ, rất hiệu quả trong khả năng kiềm chế trong trường hợp xảy ra chiến tranh, pháo 152mm của tàu tuần dương theo tính toán trong vài phút có thể làm cho bất kỳ tàu sân bay nào trở thành đống kim loại.

Nằm trong khu vực hoạt động chiến đấu, thực hiện nhiệm vụ chiến đấu theo sự yểm trợ hỏa lực cho các lực lượng các nước đồng minh: “Dzerzhinsky – Ai Cập năm 1967 và 1973, “Kutuzov” – Ai Cập năm 1967 và 1968 và Siry – 1970, “Murmansk” – Ai Cập năm 1970-71.

Tai nạn nghiêm trọng nhất với hậu quả nặng nề trên tàu tuần dương hạng nhẹ đề án 68-bis là đám cháy trong tháp pháo. Trong thời gian huấn luyện bắn trên tàu tuần dương “Đô đốc Senyavin” 13 tháng 6 năm 1978, sau 8 loạt bắn trên pháo đầu tiên trong tháp pháo thứ nhất đã xảy ra sự cố. Theo nguyên nhân không rõ ràng, khẩu đội đã chuyển từ nạp đạn tự động tới bằng tay, bao gồm 2 đóng sự mở khóa nòng. Sau đó khóa nòng được mở và đạn – được chuẩn bị cho lần bắn thứ 9 được đẩy vào nòng, nơi nó được phân phối cho phát bắn thứ 9. Đám cháy đã xảy ra trong tháp pháo. Vụ nổ kho đạn đã đánh chìm kho đạn này, còn đám cháy được dập bằng các hệ thống chữa cháy trên tàu. Kết quả 37 người hy sinh. Từ trường hợp này rõ ràng rằng, không có sự đóng (khóa) nào có thể “cứu” được sự cố.

Trong số toàn bộ các tàu tuần dương dòng này đến năm 2000, chỉ duy nhất 1 tàu được giữ lại – “Mikhail Kutuzov” đề án 68-A nằm trong sự bảo quản dài hạn ở Sevastopol, sau đó được trang bị lại thành tàu – bảo tàng.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Sáu, 2012, 01:44:27 pm
Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ “Sverdlov” (số hiệu xưởng 408). Ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 3 tháng 12 năm 1947; khởi công 15 tháng 10 năm 1949 ở xưởng số 189; hạ thủy 5 tháng 7 năm 1950; gia nhập biên chế 15 tháng 5 năm 1952; gia nhập biên chế Hải quân số 4 31 tháng 8 năm 1952; 11-18 tháng 6 năm 1953 và 12-17 tháng 10 năm 1955 thăm cảng Porstmouth (Anh); 20-25 tháng 7 năm 1956 – Rotterdam (Hà Lan); 5-9 tháng 10 năm 1973 và 27 tháng 6 đến 1 tháng 7 năm 1975 – tới Gdưno (Ba Lan), 16-22 tháng 4 năm 1974 – tới Algie, 21 -26 tháng 6 năm 1974 – tới Sherbur (Pháp), 5-9 tháng 10 năm 1976 – Rostok (Cộng hòa dân chủ Đức), 21-26 tháng 6 năm 1976 – tới Bordeaux (Pháp), 24 tháng 12 năm 1955 chuyển đến Hạm đội Cờ đỏ Baltic; 24 tháng 12 năm 1960 – 14 tháng 7 năm 1961 và 12 tháng 2 năm 1966 – 29 tháng 4 năm 1966 trải qua đại tu ở Leningrad; sau khi bị loại khỏi biên chế Hải quân, bảo quản dài và đưa vào neo đậu, 11 tháng 2 năm 1972, tháo niêm cất và đưa lại biên chế, 7 tháng 2 năm 1977 lần thứ hai được đại tu, 14 tháng 2 năm 1978 đưa vào niêm cất và đưa tới Liepai để bảo trì dài hạn; 30 tháng 5 năm 1989, tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân, giải thể 31 tháng 10 năm 1989; năm 1990 bán cho công ty tư nhân Indonesia để lấy kim loại.

+ “Dzerzhinski” (số hiệu xưởng 374). Ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 3 tháng 12 năm 1947, khởi công 21 tháng 12 năm 1948 ở xưởng số 444, hạ thủy 31 tháng 8 năm 1950, gia nhập biên chế 18 tháng 8 năm 1952, gia nhập Hạm đội Biển Đen 30 tháng 8 năm 1952, 15 tháng 10 năm 1957 – 24 tháng 12 năm 1958 nâng cấp và đóng lại ở “Sevmorzavod” tại Sevastopol theo đề án 70-E; 3 tháng 8 năm 1961 phân loại lại thành tàu tuần dương hạng nhẹ huấn luyện, 20-26 tháng 8 năm 1964 thăm Konstants (Rumani), 10-14 tháng 7 năm 1967 – tới Port-Said (Ai Cập), 9 -12 tháng 8 năm 1969 – tới Varna (Bulgari), 26-30 tháng 4 năm 1971 – Gavr (Pháp), 14-18 tháng 12 năm 1971 – tới Latakia (Siry), 30 tháng 6-4 tháng 7 năm 1977 – tới Tunis, 20-25 tháng 10 năm 1978 – tới Pirei (Hy Lạp), 16-20 tháng 11 năm 1978 – tới Stambul (Thổ Nhĩ Kỳ), 5-30 tháng 6 năm 1967 và 5-24 tháng 10 năm 1973, nằm trong khu vực chiến sự, thực hiện nhiệm vụ chiến đấu hỗ trợ lực lượng vũ trang Ai Cập, 19 tháng 2 năm 1980 bị loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân, niêm cất và đưa tới neo đậu ở Sevastopol, tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân 12 tháng 10 năm 1988, giải thể 9 tháng 12 năm 1988.

+ “Ordzhonikidze” (số hiệu xưởng 600), ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 3 tháng 12 năm 1947, khởi công 19 tháng 10 năm 1949 ở xưởng số 194; hạ thủy 17 tháng 9 năm 1950, gia nhập biên chế 18 tháng 8 năm 1952, gia nhập biên chế Hải quân số 4 31 tháng 8 năm 1952, 10-14 tháng 7 năm 1954 tới thăm Helsinki (Phần Lan), 18-27 tháng 4 năm 1956 – tới Porstmouth (Anh), 1-8 tháng 8 năm 1956 - tới Copenhagen (Đan Mạch), 1-11 tháng 8 năm 1958 – tới Helsinki một lần nữa; 24 tháng 12 năm 1955 chuyển tới Hạm đội Baltic, 14 tháng 2 năm 1961 chuyển tới Hạm đội Cờ đỏ Biển Đen, 5 tháng 4 năm 1962 rời Sevastopol để bàn giao cho Hải quân Indonesia, 5 tháng 8 năm 1962 đã tới cảng Surabaia, loại khỏi biên chế Hải quân 24 tháng 1 năm 1963, giải thể 29 tháng 1 năm 1963, gia nhập biên chế Hải quân Indonesia dưới tên gọi “Irian”, năm 1972, tháo vũ khí và bán cho công ty Indonesia để lấy kim loại.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 22 Tháng Sáu, 2012, 06:34:02 pm
+ “Zhdanov” (số hiệu xưởng 419); từ 21 tháng 2 năm 1989 là KRU-101. Ghi tên vào danh sách các tàu Hải quân 1 tháng 12 năm 1948; khởi công 11 tháng 2 năm 1950 ở xưởng số 189; hạ thủy 27 tháng 12 năm 1950; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1952; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 8 25 tháng 1 năm 1953; 24 tháng 12 năm 1955 chuyển tới Hạm đội Baltic; 31 tháng 2 năm 1970 tới Hạm đội Biển Đen; 12-18 tháng 9 năm 1957 và 12-17 tháng 5 năm 1975 thăm cảng Split (Nam Tư), 21 tháng 9-1 tháng 10 năm 1957 tới Latania (Siry), 3-7 tháng 7 năm 1975 tới Tulon (Pháp), 27 tháng 3 năm 1960 tới Messina (Italia), 10-14 tháng 10 năm 1983 – tới Pirei (Hy Lạp), 10-14 tháng 4 năm 1984 tới Tripoli (Libi), 27 tháng 3 năm 1960 bị loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân, niêm cất và neo đậu ở Kronshtadt, 21 tháng 12 năm 1965 tháo niêm cất và đưa vào biên chế; năm 1971 nâng cấp và đóng lại ở “Sevmorzavod” tại Sevastopol theo đề án 68-U1 và 27 tháng 12 năm 1971 phân loại lại thành tàu điều khiển, 7 tháng 2 năm 1977-3 tháng 8 năm 1977 và 12 tháng 9 năm 1986-13 tháng 6 năm 1988 trải qua đại tu ở “Sevmorzavod”; sau khi được đưa vào danh sách dự bị, neo đậu ở Sevastopol; 19 tháng 4 năm 1990 tháo vũ khí và bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải thể 11 tháng 2 năm 1991, tháng 2 năm 1992 bán cho công ty tư nhân của Indonesia để lấy kim loại.

+ “Alecsandr Nevski” (số hiệu xưởng 625). Ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 1 tháng 12 năm 1948, khởi công 30 tháng 5 năm 1950 ở xưởng số 194, hạ thủy 7 tháng 6 năm 1950, gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1952, gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 15 tháng 2 năm 1953, 25 tháng 12 năm 1964 bị loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân, niêm cất và neo đậu ở vịnh Kolskom dưới Murmansk; 15 tháng 12 năm 1970, tháo niêm cất và gia nhập biên chế; 30 tháng 5 năm 1989 tháo vũ khí và bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải tán 31 tháng 12 năm 1989 và sau đó bị xẻ lấy kim loại.

+ “Đô đốc Nakhimov” (số hiệu xưởng 375). Ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 1 tháng 12 năm 1948, khởi công 27 tháng 6 năm 1950 ở xưởng số 444, hạ thủy 29 tháng 6 năm 1951, gia nhập biên chế 27 tháng 3 năm 1953, gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 8 tháng 2 năm 1953, từ năm 1955 trang bị lại theo đề án 67-EP và được sử dụng làm mục tiêu thí nghiệm cho các thí nghiệm tên lửa chống tàu, 28 tháng 7 năm 1960 tháo vũ khí và bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ, năm 1961-62 bị xẻ thành kim loại ở căn cứ “Glavvtorchermeta” ở Sevastopol.

+ “Đô đốc Ushakov” (số hiệu xưởng 626). Ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 9 tháng 11 năm 1950, khởi công 6 tháng 2 năm 1951 ở xưởng số 194, hạ thủy 29 tháng 6 năm 1952, gia nhập biên chế 8 tháng 9 năm 1953, gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 8 19 tháng 9 năm 1953, năm 1955 nhận phần thưởng của Tư lệnh Hải quân về bắn pháo, 24 tháng 12 năm 1955 chuyển tới Hạm đội Baltic, 3 tháng 11 năm 1956 chuyển tới Hạm đội Phương Bắc, năm 1957 trải qua thí nghiệm đảm bảo cất hạ cánh trên bãi đáp trên (mạn) tàu, 5 tháng 10 năm 1963 chuyển tới Hạm đội Biển Đen, 16-21 tháng 4 năm 1954 tới thăm Stockholm (Thụy Điển), 6-12 tháng 3 năm 1973 – tới Latania (Siry), 15-19 tháng 10 năm 1973 – tới Taranto, 19-22 tháng 10 năm 1973 – tới Messina (Italia), 7-10 tháng 8 năm 1981 – tới Varna (Bulgari), 18 tháng 2 năm 1964 bị loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân, niêm cất và đưa tới Sevastopol neo đậu, 15 tháng 2 năm 1971 tháo niêm cất và gia nhập biên chế, từ 27 tháng 6 năm 1971 đến 16 tháng 12 năm 1971 nâng cấp và đóng lại ở “Sevmorzavod” tại Sevastopol theo đề án 68-A, 28 tháng 2 năm 1983 được đưa vào danh sách dự bị lần thứ 2 và niêm cất ở Sevastopol, 16 tháng 9 năm 1987 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân, năm 1992 bán cho công ty tư nhân của Indonesia để tháo dỡ.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 22 Tháng Sáu, 2012, 06:59:55 pm
+ “Đô đốc Lazarev” (số hiệu xưởng 626). Ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 9 tháng 11 năm 1950, khởi công 6 tháng 1 năm 1952 ở xưởng số 194, hạ thủy 29 tháng 6 năm 1952, gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1953, gia nhập đơn vị Hải quân số 8 18 tháng 2 năm 1954, 24 tháng 12 năm 1955 chuyển tới Hạm đội Baltic, 27 tháng 2 năm 1956 chuyển tới Hạm đội Phương Bắc, 22 tháng 10 năm 1956 – sau khi di chuyển trong thơi gian hè – thu năm 1956 theo đường biển Bắc từ Sevastopol tới Viễn Đông – chuyển tới Hạm đội Thái Bình Dương, 26 tháng 3 năm 1963 bị loại khỏi biên chế Hải quân, niêm cất và đưa tới Havan Xô Viết neo đậu, 18 tháng 3 năm 1972 tháo niêm cất và trở lại biên chế, từ 18 tháng 9 năm 1980 tới 3 tháng 2 năm 1986 trải qua đại tu ở “Dalzavod” ở Vladivostoc, tháo vũ khí và bị loại khỏi biên chế Hải quân 12 tháng 10 năm 1986 giải tán 11 tháng 2 năm 1988, năm 1991 bán cho công ty tư nhân Ấn Độ để lấy kim loại.

+ “Alecsandr Suvorov” (số hiệu xưởng 436), khởi công 26 tháng 2 năm 1951 ở xưởng số 189, ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 31 tháng 8 năm 1951, hạ thủy 15 tháng 5 năm 1952, gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1953, gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 8 18 tháng 2 năm 1954, 12-17 tháng 10 năm 1955 thăm Portsmuoth (Anh), 26-31 tháng 5 năm 1981 – tới Aden (Nam Yemen), 24 tháng 12 năm 1955 chuyển tới Hạm đội Baltic, 27 tháng 2 năm 1956 chuyển tới Hạm đội Phương Bắc, 1 tháng 12 năm 1986 bị loại khỏi biên chế Hải quân, niêm cất và đưa vào neo đậu, tháo vũ khí và bị loại khỏi biên chế Hải quân 15 tháng 12 năm 1989, giải tán 19 tháng 4 năm 1990, tháng 11 năm 1991 bán cho công ty tư nhân Ấn Độ để lấy kim loại.

+ “Đô đốc Senyavin” (số hiệu xưởng 437). Ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 31 tháng 8 năm 1951, khởi công 31 tháng 10 năm 1951 ở xưởng số 189, hạ thủy 22 tháng 12 năm 1952, gia nhập biên chế 30 tháng 11 năm 1954, gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4 18 tháng 12 năm 1954, 24 tháng 2 năm 1955, chuyển tới Hạm đội Phương Bắc, 7 tháng 9 năm 1955 – sau khi hành quân theo đường biển Bắc từ biển Bắc tới Viễn Đông – chuyển tới Hạm đội Thái Bình Dương, 17-21 tháng 11 năm 1959 thăm Surabaia (Indoneisa), 14-19 tháng 1 năm 1973 – Bombei (Ân Độ), 15-20 tháng 3 năm 1973 – tới Mogadisho (Somali), 20-24 tháng 12 năm 1973 – tới Port-Lui (Mavriky), 5-10 tháng 11 năm 1979 – tới Hải Phòng (Việt Nam), từ 31 tháng 12 năm 1966 đến 24 tháng 7 năm 1972 nâng cấp và đóng lại ở “Dalzavod” ở Vladivostoc theo đề án 68-U2 và 13 tháng 3 năm 1973 phân loại lại thành tàu điều khiển, 13 tháng 6 năm 1978 trong thời gian bắn sát hạch ở tàu đã xảy ra đám cháy và nổ trong tháp pháo chính thứ nhất, 37 nguwoif hy sinh, 30 tháng 5 năm 1989 tháo vũ khí và bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải tán 15 tháng 12 năm 1989, năm 1992 bán cho công ty tư nhân Ấn Độ để tháo dỡ.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Sáu, 2012, 05:03:26 pm
+ “Molotovsk” (số hiệu xưởng 301), từ 3 tháng 8 năm 1957 là “Cách mạng tháng Mười”. Khởi công 15 tháng 7 năm 1952 ở xưởng số 402, ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 2 tháng 9 năm 1953, hạ thủy 25 tháng 5 năm 1954, gia nhập biên chế 30 tháng 11 năm 1954, gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 18 tháng 12 năm 1954, 3-7 tháng 8 năm 1956 và 30 tháng 8 – 3 tháng 9 năm 1958 – thăm Oslo (Na Uy), 8-12 tháng 8 năm 1956 và 8-12 tháng 9 năm 1958 – tới Gotenburg (Thụy Điển), 8-13 tháng 5 năm 1970 – tới Strabugr (Pháp), 17-22 tháng 8 năm 1971 – tới Copenhagen (Đan Mạch), 20-24 tháng 7 năm 1978 và 27-30 tháng 6 năm 1980 – tới Gdưnia (Ba Lan), 8-10 tháng 10 năm 1978, 4-9 tháng 10 năm 1979 và 9-14 tháng 8 năm 1982 – tới Rostoc (Cộng hòa dân chủ Đức), 16 tháng 12 năm 1960 chuyển tới Hạm đội Baltic, 27 tháng 3 năm 1961 bị loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân, niêm cất và đưa tới Cronshtadt neo đậu, 29 tháng 4 năm 1966 tháo niêm cất và trở lại biên chế, 16 tháng 11 năm 1968-25 tháng 12 năm 1969 nâng cấp và đóng lại ở “Sevmorzavod” ở Sevastopol theo đề án 68-A, 17-23 tháng 7 năm 1970 và 29 tháng 9-1 tháng 10 năm 1972 – nằm trong khu vực chiến sự thực hiện nhiệm vụ chiến đấu yểm trợ các lực lượng vũ trang Siri, còn 17 tháng 5-25 tháng 6 năm 1971, 5-9 tháng 7 năm 1971 và 8-12 tháng 9 năm 1972 – cho quân đội Ai Cập, 16 tháng 9 năm 1987 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân, giải tán 11 tháng 2 năm 1988, năm 1989-90 bị tháo thành kim loại ở căn cứ “Glavvtorchermeta” ở Leningrad.

+ “Mikhail Kutuzov” (số hiệu xưởng 385). Ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 9 tháng 11 năm 1950, khởi công 23 tháng 2 năm 1951 ở xưởng số 444, hạ thủy 29 tháng 11 năm 1951, gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1954, gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 31 tháng 1 năm 1955, 31 tháng 5-4 thangs6 năm 1956 và 30 tháng 8-3 tháng 9 năm 1964 thăm Split (Nam Tư), 5-10 tháng 6 năm 1956 và 30 tháng 8 -3 tháng 9 năm 1957 – tới Durres (Albani), 2-13 tháng 8 năm 1964 – tới Varna (Bulgari), 1 tháng 6-31 tháng 6 năm 1967 và 1 tháng 8-31 tháng 12 năm 1968 nằm trong khu vực chiến sự thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Ai Cập, 1 tháng 3-31 tháng 7 năm 1970 – cho quân đội Siri, từ 1 tháng 12 năm 1986 đến năm 1989 nâng cấp và đóng lại ở “Sevmorzavod” tại Sevastopol theo đề án 68-A, sau đó đưa vào lực lượng dự bị, sau đó niêm cất và neo đậu ở Sevastopol, cuối những năm 1990 được tiếp nhận quyết định trang bị lại cho tàu tuần dương hạng nhẹ thành bảo tàng, 29 tháng 11 năm 2000 kéo tới ụ PD-30 trang bị lại thành SRZ-13, 3 tháng 1 năm 2001 kéo khỏi ụ và đưa tới bến tàu vịnh Troyts ở Sevastopol.

+ “Dmitri Pozharski” (số hiệu xưởng 445). Ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 31 tháng 8 năm 1951, khởi công 31 tháng 2 năm 1952 ở xưởng số 189, hạ thủy 25 tháng 6 năm 1953, gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1954, gia nhập biên chế lực lượng Hải quân số 4 31 tháng 1 năm 1955, 24 tháng 2 năm 1955 chuyển tới Hạm đội Phương Bắc, 7 tháng 9 năm 1955 – sau khi hành quân theo đường biển Bắc từ Severomorsk tới Viễn Đông – chuyển tới Hạm đội Thái Bình Dương, 21-26 tháng 6 năm 1956 tới thăm Thượng Hải (Trung Quốc), 28-31 tháng 3 năm 1968 – tới Madras và 3-6 tháng 4 năm 1968 – tới Bombei (Ấn Độ), 17-24 tháng 4 năm 1968 – tới Mogadiso (Somali), 11-19 tháng 5 năm 1968 tới Umm-Kasr (Iraq), 25 tháng 5-2 tháng 6 năm 1968 – tới Karachi (Pakistan), 5-9 tháng 6 năm 1968 – tới Bender-Abbas (Iran), tháng 6 năm 1968 – tới Aden (Nam Yemen), 6-11 tháng 7 năm 1968 – tới Kolombo (Sri Lanka), 25 tháng 4 năm 1969-23 tháng 10 năm 1970 và 1 tháng 2 năm 1981-1 tháng 1 năm 1985 trải qua đại tu ở “Dalzavod” ở Vladivostoc, 30 tháng 1 năm 1979 bị loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và đưa tới Vladivostoc neo đậu, tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân 5 tháng 3 năm 1987, giải tán 16 tháng 9 năm 1987, năm 1990 bán cho công ty tư nhân Ấn Độ thể tháo kim loại.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Sáu, 2012, 05:42:55 pm
+ “Murmansk” (số hiệu xưởng 302). Khởi công 28 tháng 1 năm 1953 ở xưởng số 402, ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 25 tháng 9 năm 1953, hạ thủy 24 tháng 4 năm 1955, gia nhập biên chế 22 tháng 9 năm 1955, gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 6 tháng 10 năm 1955, 17-21 tháng 10 năm 1964 tới thăm Tronheim (Na Uy), 10-14 tháng 5 năm 1978 – tới Bordeaux (Pháp), từ 1 tháng 11 năm 1970 tới 31 tháng 7 năm 1971 nằm trong khu vực chiến sự, thực hiện nhiệm vụ yểm trợ lực lượng vũ trang Ai Cập, 28 tháng 1 năm 1972-30 tháng 11 năm 1973 trải qua đại tu ở “Sevmorzavod” tại Sevastopol, 1 tháng 12 năm 1989 bị loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và đưa đến neo đậu ở vịnh Kolsk, 3 tháng 7 năm 1972 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân, giải tán 31 tháng 12 năm 1992, năm 1994 bán cho công ty tư nhân Ấn Độ để lấy kim loại.

+ “Serbakov” (số hiệu xưởng 627). Khởi công tháng 6 năm 1951 ở xưởng số 194, ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 31 tháng 8 năm 1951, hạ thủy 17 tháng 3 năm 1954, rút khỏi đóng khi tình trạng sẵn sàng kỹ thuật 80,6% và loại khỏi biên chế Hải quân 2 tháng 9 năm 1959.

+ “Đô đốc Korrnilov” (số hiệu xưởng 395). Ghi tên danh sách tàu Hải quân 31 tháng 8 năm 1951, khởi công 16 tháng 11 năm 1951 ở xưởng số 444, hạ thủy 17 tháng 3 năm 1954, dừng đóng khi tình trạng sẵn sàng kỹ thuật 70,1% và loại khỏi biên chế Hải quân 2 tháng 9 năm 1959.

+ “Cronshtadt” (số hiệu xưởng 453). Khởi công tháng 4 năm 1953 ở xưởng số 189, ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 25 tháng 9 năm 1953, hạ thủy 11 tháng 9 năm 1954, dừng đóng khi tình trạng sẵn sàng kỹ thuật 84,2% và loại khỏi biên chế Hải quân 2 tháng 9 năm 1959.

+ “Talin” (số hiệu xưởng 454). Khởi công 28 tháng 9 năm 1953 ở xưởng số 189, ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 25 tháng 8 năm 1953, hạ thủy 28 tháng 5 năm 1955, dừng đóng khi sự chuẩn bị kỹ thuật 70,3% và loại khỏi biên chế Hải quân 2 tháng 9 năm 1959.

+ “Varyag” (số hiệu xưởng 460). Khởi công 5 tháng 2 năm 1954 ở xưởng số 189 và ghi tên vài danh sách tàu Hải quân, hạ thủy 5 tháng 6 năm 1956, rút đóng trong tình trạng kỹ thuật 40% và loại khỏi biên chế Hải quân 2 tháng 9 năm 1959.

+ “Kozma Minin” (số hiệu xưởng 628, sau đó là 303), từ 25 tháng 9 năm 1953 là “Archangelsk”. Ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 31 tháng 8 năm 1951, khởi công tháng 6 năm 1952 ở xưởng số 194, hạ tủy mùa thu năm 1953 và kéo trên xà lan tới xưởng 402 để đóng tiếp, dừng đóng khi sự chuẩn bị kỹ thuật 68,1% và loại khỏi biên chế Hải quân 2 tháng 9 năm 1959.

+ “Dmitri Donskoi” (số hiệu xưởng 629, sau đó là 304), từ 25 tháng 9 năm 1953 là “Vladivostoc”. Ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 31 tháng 8 năm 1959, khởi công tháng 4 năm 1953 ở xưởng số 194, hạ thủy mùa thu năm 1953 và được kéo trên xà lan tới xưởng số 402 để đóng tiếp, dừng đóng khi sự chuẩn bị kỹ thuật 28,8% và loại khỏi biên chế Hải quân 2 tháng 9 năm 1959.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Sáu, 2012, 05:52:38 pm
Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 13 230

+ hoàn toàn: 16 340

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 210 (205)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 22 (21,2)

+ lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 6,9 (6,9)

Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi

+ 6 nồi hơi nước, 2 tuabin hơi nước tổng công suất, sức ngựa (kW): 118 100 (86 800)

+ các máy phát điện tuabin, công suất (kW): 5x-

2 trục, 2 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ lớn nhất: 32,7

+ tốc độ hành trình: 16

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 9000 (16)/8700 (18)

Thời gian hoạt động: 30 ngày

Thủy thủ đoàn, thành viên (sỹ quan): 1270 (17).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Sáu, 2012, 05:57:19 pm
Vũ khí

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/68-bis_22.jpg)

Pháo

+ thiết bị pháo 152mm MK-5-bis: 4x3

+ thiết bị pháo 100mm SM-5-1 (bis): 6x2

+ thiết bị pháo 37mm V-11M: 16x2

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm PTA-53-68-bis: 2x5

Mìn

+ có thể mang theo mìn trên boong trên các loại mẫu 1908/1926/”Krab”: 132/76/68

Bọc thép (giáp)

+ thành: 100mm

+ boong: 50mm

+ tháp pháo: 175mm

+ các buồng: 130mm.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Sáu, 2012, 06:04:13 pm
Trang bị vô tuyến điện

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/68-bis_27.jpg)

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Zveno”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp

+ 1x”Gois-2” hoặc

+ 1xMR-500 “Kliver” (Big Net) hoặc

+ 1x”Kil”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu bay tầm thấp: 1x”Rif”

Đài thủy âm: “Tamir-5N”

Khí tài đối kháng điện tử: không có

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ 2x”Zalp” cho pháo chính

+ 2x”Yakor” (trong thành phần SPN-500) cho pháo đa năng (100mm)

+ 1x”Zarya” cho thiết bị ngư lôi

Các trạm chỉ huy – đo xa

+ 2xKDP2-8-III cho pháo chính

+ 2xSPN-500 cho pháo đa năng

Đài tìm phương hồng ngoại: 1x”Solntse-1”

Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp khí tài

Đài ra đa định vị hội thoại nói: “Fakel-MO/M3”.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 25 Tháng Sáu, 2012, 12:57:29 am
Tàu tuần dương hạng nặng lớp “Stalingrad” – Đề án 82

Tổng số tàu đã đóng: 0+3.

Biến thể: 0

Gần năm 1945, các tàu nổi của Liên Xô – tàu chủ lực, tàu tuần dương và các tàu khu trục không chỉ thua kém đáng kể các tàu cùng lớp của Mỹ gia nhập biên chế năm 1941-1945 mà còn trong tình trạng cực kỳ xuống cấp. Sự ăn mòn, han rỉ các tàu Liên Xô được xác định bởi việc sử dụng cường độ cao trong những năm Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại trong khi không có sự sửa chữa thỏa đáng. Thực tế tới mùng 1 tháng 1 năm 1946, Hải quân Liên Xô đã ở trong tình trạng không có khả năng chiến đấu. Giá thành để sửa chữa và nâng cấp các tàu cũ trong phần lớn trường hợp tương đương với giá thành đóng tàu mới. Kết quả là các đô đốc và nhà đóng tàu Liên Xô đã đứng trước lựa chọn đơn giản: hoặc đóng các tàu pháo với sự tính toán kinh nghiệm của Chiến tranh Vệ quốc, hoặc hầu như không có Hải quân. Trong Hải quân Liên Xô, các tàu chủ lực được mang tên tàu tuần dương hạng nặng (KRT). Các tàu tuần dương hạng nặng đầu tiên đề án 69 – “Cronshtadt” và “Sevastopol” – đã được khởi công, nhưng sau chiến tranh, đề án 69 được cho là đã không phù hợp, và năm 1948, các thân tàu tuần dương chưa được đóng hết đã bị tháo.

Nhiệm vụ kỹ - chiến thuật trong thiết kế tàu tuần dương hạng nặng đề án 82 đã được phê duyệt bởi Dân ủy Hải quân N.G.Kuznetsov vào tháng 5 năm 1941. Thực tế đây là đề án 83 được chế tạo lại không đáng kể, cũng như Liên Xô gọi tàu tuần dương hạng nặng ở Đức “Lyutsov”. Tàu tuần dương hạng nặng đề án 82 phải có pháo chính cỡ lớn (8 pháo 203mm trong 4 tháp pháo), như của “Lyutsov”. Việc thiết kế tàu tuần dương hạng nặng đề án 82 ban đầu do phòng thiết kế trung ương số 17 đảm nhận. Bởi vì vào năm 1941-42, xuất hiện rằng, pháo 203mm của Đức chưa được tiếp nhận, cũng như pháo 305mm B-30 từ xưởng “Barrikada”, các công trình sư phòng thiết kế trung ương số 17 năm 1943 đã bắt đầu mơ tưởng với pháo chính, dự kiến trang bị cho tàu tuần dương 9 pháo 210..230mm. Cỡ nòng này trong pháo binh Hải quân Liên Xô khi đó chưa có, nên việc thiết kế là mạo hiểm: rõ ràng rằng, trong quá trình chiến tranh, các tàu tuần dương hạng nặng đề án 82 sẽ không được đóng. Theo tính toán, tàu tuần dương, được trang bị pháo 210…230mm, sẽ đối phó dễ dàng với tàu tuần dương nước ngoài bất kỳ được trang bị pháo 203mm.

Tháng 11 năm 1944, Kuznetsov đã phê duyệt nhiệm vụ kỹ - chiến thuật mới cho đề án 82, ở đó dự định trang bị tàu tuần dương 9 pháo chính 220mm, 16 pháo đa năng 130mm, 32 pháo 45mm và 12 pháo phòng không tự động 25mm. Lượng choán nước của tàu tuần dương này phải từ 25-26 000 tấn, còn tốc độ - trên 30 hải lý. Vào cuối tháng 1 năm 1947, trong Kremli đã có cuộc họp đặc biệt với sự tham gia của Stalin về các vấn đề đóng tàu quân sự. Trong quá trình cuộc hợp, Stalin đã đề xuất trang bị cho tàu tuần dương hạng nặng đề án 82 pháo 305mm. Theo các kết quả cuộc họp này ngày 28 tháng 1 năm 1947 đã ra mệnh lệnh của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô – cho Bộ Các lực lượng vũ trang và cho Bộ công nghiệp đóng tàu nhiệm vụ thiết kế các phương án tàu đề án 82 với các pháo chính 305mm và 220mm cùng thời gian 2 tháng đệ trình để nghiên cứu. Đầu tháng 2 năm 1947, Tư lệnh mới của Hải quân Liên Xô I.S.Yumashev đã phê duyệt nhiệm vụ kỹ - chiến thuật nghiên cứu cho các phương án đã được chỉ định. Việc lựa chọn pháo chính 305mm được xác định bởi danh mục mới các nhiệm vụ cho các tàu tuần dương hạng nặng: tạo thành khả năng chiến đấu vững chắc cho các lực lượng hạng nhẹ, hoạt động trong biên chế lực lượng cơ động, tiêu diệt các tàu tuần dương của địch, trang bị pháo 203mm và pháo 152mm, trong các trận chiến trên biển, mang lại những sự bắn phá cường độ mạnh bằng pháo binh vào các mục tiêu đặc biệt trên bờ trong cách chiến dịch chống lại các căn cứ và bờ biển của địch (cũng như trong các chiến dịch độc lập, cũng như phối hợp với các sườn (cánh) quân duyên hải và sự đổ bộ của Hải quân đánh bộ).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 25 Tháng Sáu, 2012, 02:00:31 am
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/82_draw2.jpg)

Hình chiếu bên tàu tuần dương hạng nặng "Stalingrad" đề án 82.

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/82_draw3.jpg)

Hình chiếu tàu tuần dương hạng nặng đề án 82. Từ các bản vẽ đề án kỹ thuật đề án năm 1953.

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/82_draw5.jpg)

Hình chiếu tàu tuần dương hạng nặng đề án 82.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 25 Tháng Sáu, 2012, 02:02:35 am
(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/82_draw4.jpg)

Mặt cắt ngang tàu tuần dương hạng nặng đề án 82 theo trục tháp pháo chính 305mm SM-31.

(http://i1180.photobucket.com/albums/x401/daibangdent80um2/82_draw6.jpg)

Hình chiếu bên và sơ đồ bọc thép tàu tuần dương hạng nặng đề án 82.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Sáu, 2012, 06:27:57 pm
Khi thiết kế các phương án này, đã nghiên cứu các thành phần phần pháo chính khác nhau (8…12 pháo 305mm và trong các tháp pháo 2 hoặc 3 nòng) và pháo tổng hợp (với các pháo 130 hoặc 152mm trong các tháp pháo 2 nòng), thành phần duy nhất pháo cỡ nhỏ là pháo phòng không (các pháo tự động là 25mm và 45mm).

Các yêu cầu nhiệm vụ kỹ - chiến thuật thiết kế các phương án đề án 82 với các pháo 220mm khác biệt ở nhiệm vụ năm 1944. Cơ số đạn pháo chính rút xuống từ 170 còn 125 phát bắn, số lượng pháo đa năng 130mm (phòng không tầm xa) rút từ 16 xuống 12, cơ số đạn pháo tự động 45mm – từ 1500 xuống 1000 phát bắn. Số lượng pháo tự động 25mm tăng từ 12 lên 30, còn còn cơ số đạn của chúng rút xuống từ 3000 còn 2500 phát bắn.

Tháng 8 năm 1947, Bộ các lực lượng vũ trang (N.A.Bulganin), Bộ công nghiệp đóng tàu (A.A.Gorelyad) và vũ khí (D.F.Ustinov) đã giới thiệu cho việc nghiên cứu của chính phủ 3 phương án tàu tuần dương hạng nặng đề án 82: 2 với pháo chính 305mm và 1 với pháo 220mm. Trong báo cáo của mình cho Stalin, họ đã lập luận sự hợp lý trong việc tiếp nhận pháo 305mm và nhấn mạnh rằng 2 phương án được giới thiệu với vũ khí giống nhau khác biệt bởi độ dày giáp vành đai chính thành tàu – được giải thích là sự tranh cãi giữ Bộ các lực lượng vũ trang và Bộ công nghiệp đóng tàu theo độ dày giáp tối ưu. Bulganin đã đề xuất phương án số 1 với độ giày giáp 200mm, đảm bảo sự phòng thủ mang tính sống còn các bộ phận cơ bản quan trọng của tàu khỏi đạn pháo 203mm của địch từ cự ly 70 cabentop và khả năng cơ động tự do cao trong trận chiến với các tàu này, là ưu điểm chiến thuật quan trọng của tàu. Gorelyad cũng đã đề xuất tiếp nhận phương án số 2 với đai giáp 150mm, với sự giảm tương ứng lượng choán nước của tàu và tăng tốc độ tốc độ tối đa. Đây là, theo quan điểm của Bộ công nghiệp đóng tàu, sẽ cho phép tàu đề án 82 tham chiến một cách thành công với các tàu tuần dương hạng nặng cảu địch trang bị pháo 203mm trên tầm xa và trong trường hợp này, giáp bảo vệ hoàn toàn chịu được đạn từ cự ly 85 cabentop. Phương án số 3 với pháo 220mm thua thiệt rất nhiều các phiên bản trước theo sức mạnh hỏa lực và khả năng sống còn trong chiến đấu. Ưu thế của nó là tốc độ tối đa cao (gấp 1,5 lần) và lượng choán nước thấp nhất (25%).

Tháng 3 năm 1948, Stalin đã tán thành đối với sự thiết kế tiếp theo phương án số 1 (với pháo 305mm và 200mm giáp, lượng choán nước tiêu chuẩn 40 000 tấn và tốc độ 32 hải lý), đã đưa mệnh lệnh đẩy nhanh việc chế tạo các tàu tuần dương nay và sau đó tự kiểm tra các công việc. Tàu tuần dương hạng nặng đề án 82 đã được nghiên cứu như là sự đối kháng các tàu tuần dương lớp “Alska” của Mỹ.

Sau khi tiếp nhận quyết định lựa chọn phương án, tàu tuần dương hạng nặng số 82 đã được chuẩn bị năm 1947. Nhiệm vụ kỹ - chiến thuật thiết kế tàu đã không được giao cho Hải quân mà giao cho Bộ công nghiệp đóng tàu và tháng 4 năm 1948 đã được trình tới Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô. Ngày 31 tháng 8 cùng năm, đã có mệnh lệnh của Hội đồng Bộ trưởng về thiết kế và đóng tàu đầu tiên của đề án 82. Tổng công trình sư theo đề án là L.V.Dikovich, còn giám sát viên chính từ Hải quân – Thuyền trưởng cấp 1 M.S.Mikhailov.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Sáu, 2012, 07:20:13 pm
Vào cuối năm 1947, ở Phòng thiết kế Trung ương số 17 đã bắt đầu thiết kế đề án sơ bộ của tàu, đã được trình nghiên cứu ở Bộ Hải quân và Bộ Công nghiệp đóng tàu vào tháng 3 năm 1949. Các nhà thiết kế đã đệ trình 4 phương án đề án sơ bộ, khác biệt ở sự bố trí pháo đa năng và pháo phòng không tự động, số lượng sản lượng hơi nước của nồi hơi chíh và sự phân bố thiết bị năng lượng chính.

Phương án L-3-6 có sự bố trí hình thoi các pháo 130mm BL-110, 12 nồi hơi sản lượng hơi nước 80 tấn hơi nước trong 1 giờ trong 4 khoang nồi hơi và 2 buồng máy.

Trong phương án B-3-8 các thiết bị pháo đa năng được bố trí theo 4 khẩu trên mỗi thành tàu, còn 12 nồi hơi cùng sản lượng – trong 6 khoang nồi hơi.

Phương án L-2-4 có sự bố trí hình bình hành các pháo 130mm BL-110, 4 khoang máy – nồi hơi (theo 2 nồi hơi sản lượng 130 tấn/h và 1 thiết bị tua bin khí.

Nhưng đối với thiết kế kỹ thuật đã được đề nghị trong phương án thứ 4 – L-2-6. Theo phương án này, sự bố trí pháo đa năng và thiết bị năng lượng chính tương đồng phương án L-3-6, nhưng trong mỗi khoang nồi hơi có 2 nồi hơi chính sản lượng 130 tấn/h thay cho 3.

Đề án kỹ thuật của Phòng thiết kế trung ương số 17 sẽ phải được trình bày cho bên mua vào cuối năm 1949, để đảm bảo bắt đầu đóng tàu trong quý III năm 1950, và vào tháng 4 năm 1949, các công trình sư đã bắt đầu thiết kế kỹ thuật. Nhưng mùa thu cùng năm, khi nghiên cứu ở Kremli các kết quả thiết kế được đệ trình bởi Bộ Hải quân và Công nghiệp đóng tàu để phê duyệt đề án cơ sở, Stalin đã hỏi Dickovich: “Có được hay không việc tăng tốc độ của tàu để tàu tuần dương hạng nặng của chúng ta có thể đuổi kịp và tiêu diệt tàu yếu hơn theo vũ khí và khả năng phòng thủ khỏi tàu địch, đồng thời né tránh các tàu địch mạnh hơn?”. Đây là mong muốn của Stalin đã được tiếp nhận như mệnh lệnh về sự thay đổi nhiệm vụ kỹ - chiến thuật, được phê duyệt bởi chính phủ từ 1 năm trước. Kết quả được thiết kế bởi Phòng thiết kế Trung ương số 17, đề án cơ sở không được phê duyệt, còn trong bản báo cáo, việc nghiên cứu nó được nhấn mạnh rằng, tàu có lượng choán nước rất lớn và thiếu tốc độ.

Ngày 15 tháng 10 năm 1949, Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô đã ban bố mệnh lệnh “Về thiết kế tăng cường các tàu và về các biện pháp hỗ trợ cho phòng thiết kế và cho các viện nghiên cứu khoa học đóng tàu quân sự”, trong đó một trong số những nguyên nhân chính sự chậm chạp trong thực hiện kế hoạch đã dẫn đến sự đảm bảo không đầy đủ cho các xưởng tài liệu kỹ thuật. Bằng mệnh lệnh này, Hội đồng Bộ trưởng đã quyết định tổ chức Phòng thiết kế theo thiết kế các tàu chủ lực và tàu tuần dương hạng nặng với sự phụ thuộc trực tiếp vào Bộ công nghiệp đóng tàu – Phòng thiết kế số 16. Từ thời điểm này, các công việc trên tàu tuần dương hạng nặng được giao một cách đặc biệt cho phòng thiết kế mới – Phòng thiết kế Trung ương số 16.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Sáu, 2012, 05:41:37 pm
Đầu tháng 3 năm 1950, đã diễn ra cuộc họp mới trong phòng làm việc của Stalin ở Kremli theo đề án 82 với sự tham gia của V.A.Malưshev, I.S.Yumashev và Phó tư lệnh Hải quân P.S.Abanikin. Trong câu hỏi của Stalin về nhiệm vụ của tàu tuần dương hạng nặng, các thủy thủ đã trả lời rằng nó sẽ đối phó với các tàu tuần dương hạng nặng của địch. Stalin đã không đồng ý rằng, nhiệm vụ cơ chính của tàu tuần dương hạng nặng phải khác – chống lại các tàu tuần dương hạng nhẹ của địch, và cần tăng tốc độ lên 35 hải lý để nó có thể thường xuyên tranh khỏi sự công kích từ tàu hạng nặng của địch. Sau đó, Stalin đã đề xuất hàng loạt biện pháp để giảm lượng choán nước. Khi các thủy thủ không tán thành chống lại một trong số quan điểm, ông đã đưa ra nhận xét chính đáng theo thành phần pháo đa năng và phòng không và theo cơ số đạn pháo mọi cỡ, nhấn mạnh rằng rất dại dột khi lắp trên tàu tuần dương hạng nặng các pháo phòng không 130mm với tầm bắn 16km, tất cả kẻ địch có thể ném bóm từ độ cao 500…1500 mét và vì thế cần loại pháo phòng không cỡ nòng nhỏ. Nhưng số lượng pháo phòng không tự động, Stalin đồng thời yêu cầu (sai khiến) rút gọn, tính toán rằng tàu này sẽ thường xuyên có sự cảnh giới bảo vệ. Các thủy thủ đã không đồng ý, chống lại việc giảm cơ số đạn, đã dẫn chứng rằng Hải quân Mỹ và Anh có trên các tàu số lượng lớn đạn dược. Nhưng Stalin đã gạt đi: “Các đồng chí không được sao chép một cách mù quáng người Mỹ và Anh, họ có các điều kiện khác, còn tàu của chúng ta ra khơi, xa khỏi căn cứ của mình. Chúng ta đã không nghĩ tới thực hiện các trận chiến trên biển, mà sẽ chiến đấu gần bờ biển chúng ta, và chúng ta cần có số lượng đạn lớn trên tàu”. Theo nguyên nhân này, Stalin đã quyết định giảm tầm bơi xa và nhấn mạnh rằng chế tạo tàu, có toàn bộ ưu thế là không được. Ông hiểu rằng tàu tuần dương đầu tiên được lên kế hoạch khởi công ở Leningrad, Stalin đã nói rằng muốn hai tàu tuần dương hạng nặng đầu tiên sẽ thuộc về biển Đen, “ở đó cần có Hạm đội lớn, lớn gấp 10 lần hiện nay, và có thể phong tỏa một cách vững chắc Dardanella. Sau đó – theo thứ tự - đóng tàu tuần dương hạng nặng cho biển Baltic”.

Với sự tính toán những ý kiến của Stalin, theo đề án sơ bộ và các kết quả thiết kế giai đoạn sợ bộ của đề án kỹ thuật, Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô bằng mệnh lệnh ngày 25 tháng 3 năm 1950 đã phê duyệt các yếu tố cơ bản của nhiệm vụ thiết kế đề án kỹ thuậ 82 với sự thay đổi một phần nhiệm vũ kỹ - chiến thuật, được phên duyệt trong tháng 8 năm 1948. Hiện tại, tốc độ tối đa của tàu tuần dương hạng nặng phải là 35 hải lý do việc tính toán việc giảm vũ khí pháo đa chức năng và pháo phòng không cỡ nhỏ, lượng choán nước 36-36,5 nghìn tấn, còn tầm bơi xa và thời gian hoạt động giảm xuống theo so sánh với các phiên bản trước của đề án. Bộ công nghiệp đóng tàu sẽ đệ trình đề án kỹ thuật để phê duyệt trong tháng 2 năm 1951. Đồng thời Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô đã giao cho Bộ công nghiệp đóng tàu bắt đầu trong quý 2 cùng năm đóng 2 tàu tuần dương đề án 82 trên các xưởng số 444 ở Nicolaev và số 189 ở Leningrad với sự bàn giao chúng cho bên nhận trong năm 1954 và 1955 tương ứng. Tháng 12 năm 1952, đề án kỹ thuật 82 đã được hoàn thành ở Phòng thiết kế Trung ương số 16 và được đệ trình cho Bộ quân đội – hải quân và Bộ công nghiệp đóng tàu phê duyệt.

Những yếu tố chính về vũ khí, khí tài, trang bị điện, thiết bị tuabin chính, nồi hơi và các máy móc hỗ trợ của nó không làm chậm việc thiết kế các đề án kỹ thuật và các bản vẽ đang được làm việc thậm chí tới giai đoạn thay đổi các thành phần của tàu trong thông tin liên qua tới yêu cầu tăng tốc độ của nó. Vì thế, trong những tháng đầu năm 1951, họ có thể chuyển sang lập tài liệu làm việc. Hàng loạt các mẫu máy móc hỗ trợ được chế tạo và tiếp nhận bởi các ủy ban liên bộ cuối năm 1950, nhờ sự phối hợp các giai đoạn thiết kế và chuẩn bị sản xuất. Trong chế tạo tàu tuần dương hạng nặng đề án 82 vào cuối năm 1950 có sự tham gia của 45 tập thể các Viện nghiên cứu khoa học, Phòng thiết kế khí tài hàng đầu và các xưởng lớn: Izhorsk, viện kim loại Leningrad, Baltic, xưởng Novokramatorsk lắp ráp xe máy hạng nặng.

Từ tháng 1 năm 1951, theo quyết định của Bộ Quân đội – Hải quân và Bộ Công nghiệp đóng tàu, tập thể Phòng thiết kế Trung ương số 16 đã bắt đầu chuẩn bị gấp các tài liệu làm việc để đẩy nhanh việc bắt đầu đóng tàu tuần dương hạng nặng ngay lập tức trên 3 xưởng, không đợi sự nghiên cứu và phê duyệt đề án kỹ thuật. Mùng 4 tháng 6 năm 1951, Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô đã phê duyệt đề án kỹ thuật 82. Ngày 14 tháng 11 cùng năm đã tiếp nhận mệnh lệnh của chính phủ về việc đóng tàu tuần dương hạng nặng thứ ba ở xưởng số 402 tại thành phố Molotovsk (hiện nay là Severodvinsk).

Theo đề án tàu tuần dương hạng nặng được phê duyệt sẽ có: 3x3 pháo SM-31 305mm trên các tháp pháo (tổng số đạn 720 phát bắn); 6x2 thiết bị pháo 130mm BL-109A (2400 phát bắn); 6x4 thiết bị pháo 45mm SM-20-ZiF (19 200 phát bắn) và 10x4 thiết bị pháo phòng không 25mm BL-120 (48 000 phát bắn). Trong thành phần hệ thống điều khiển bắn pháo gồm có đài ra đa định vị và khí tài quang học. Mỗi thiết bị tháp pháo trên tháp SM-31 trang bị trạm điều khiển bắn “More-82” và máy đo xa vô tuyến “Grot”, mỗi thiết bị BL-109A – máy đo xa vô tuyến “Sirius-B”.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Bảy, 2012, 04:06:45 pm
Đai bọc thép chính (dày 180mm) kéo dài theo thành tàu có góc nghiêng 15 độ và bảo vệ thành dưới boong giữa (giáp chính); chỗ hõm của mép trên mặt cắt giữa dưới vạch mớn nước là 1,7 mét. Các vách ngăn vuông góc của thành có độ dày 140mm (mũi) và 125mm (mạn), các tường buồng chiến đấu gần 260mm, nóc – 100mm. Các boong trong khu vực thành có độ dày: trên – 50mm, giữa – 75mm, dưới – 20mm. Tường đầu tháp pháo chính được bọc thép 240mm, tường bên – 225mm, nóc – 125mm, còn tường sau, đóng vai trò đối trọng, gồm có 3 tấm tổng độ dày 400-760mm. Giáp chống mìn (PMZ), phủ những khoang quan trọng của tàu (hầm đạn, các trạm chíh, buồng thiết bị năng lượng chính kéo dài theo thành tàu, gồm 3-4 vách ngăn dọc. Trong đó, tấm thứ 2 (dày 8…25mm) và thứ ba (50mm) có hình trụ, còn tấm đầu (8…15mm) và thứ 4 (15… 30mm) dạng phẳng. Các thể tích giữa các vách ngăn thứ 1 (2) và 3 được sử dụng để chứa nhiên liệu, theo phương pháp tiêu thụ thay thế bằng nước ngoài thành. Để tăng độ dài giáp bảo vệ theo chiều dọc trên vách ngăn chống mìn thứ 3 (bảo vệ chính) được treo bổ sung các tấm giáp dày từ 20 đến 100 mm.

Lần đầu tiên trong ngành đóng tàu nội địa, trên các tàu tuaafnd ương đề án 82 dự kiến bảo vệ đáy 3 lớp, thiết kế theo hệ thống dọc – ngang theo độ dài thành. Chiều cao của nó từ lớp bọc ngoài tới đáy thứ 3 là 2250mm. Lớp bọc ngoài được chế tạo từ thép (giáp) dày 20mm, đáy thứ 2 có độ dày 18mm, đáy thứ 3 – 12… 18mm.

Thiết bị năng lượng chính 4 trục (4 thiết bị tuabin răng cưa – GZTA công suất 70 000 sức ngựa và 12 nồi hơi chính sản lượng hơi nước 110 tấn/h, với các tham số hơi nước 66 atm và 460 độ C) đối với thời gian đó là mạnh nhất trên thế giới. Ở Mỹ, thiết bị năng lượng chính tương tự được tiếp nhận trên các tàu sân bay lớp “Kitty Hawk” và “John.F.Kennedy” chỉ gia nhập biên chế trong năm 1961-68.

Năm 1950, Bộ tổng tham mưu Hải quân, đề án hiệu chỉnh đã được thiết lập cho tàu tuần dương hạng nặng đề án 82 mà theo đó dự kiến cho chỉ huy tàu cấp bậc Chuẩn đô đốc, cho cấp phó trợ lý về phụ trách công tác chính trị và chỉ huy tác chiến cấp 2 và cấp 5 – Thuyền trưởng cấp 1.

Về hình thức, sự khởi công tàu tuần dương đầu tiên “Stalingrad” diễn ra ngày 31 tháng 12 năm 1951 ở xưởng số 444 ở Nicolaev, mặc dù các khối đáy của tàu đã được lắp trên âu vào tháng 11. Tập thể xưởng đã thực hiện trách nhiệm xã hội chủ nghĩa trước thời hạn, gần kỷ niệm 36 năm tháng 10 (gần mùng 7 tháng 11 năm 1953), hạ thủy tàu. Tháng 9 năm 1952 trên sàn đóng “A” xưởng số 189 ở Leningrad đã khởi công tàu tuần dương hạng nặng thứ 2 – “Moskva”. Tháng 10 năm 1952 phòng phía bắc thuộc xưởng số 402 ở Molotovsk đã khởi công tàu tuần dương hạng nặng đề án 82 thứ 3 - không có tên gọi riêng.

Tàu tuần dương “Stalingrad” được đóng nhanh hơn tất cả. Cuối năm 1952, các bên ký kết đã cung cấp tới tàu 118 mẫu trang bị lắp ráp: vũ khí, thiết bị tuabin nồi hơi, các thiết bị phát điện điện, diesel, các máy móc hỗ trợ, các tổ hợp trao đổi nhiệt, thiết bị trên tàu và trang bị, hệ  thống tự động và khí tài kỹ thuật.

Nhưng vào mùng 5 tháng 3 năm 1953, I.V.Stalin mất, và 18 tháng 4 năm 1953, đã có mệnh lệnh số 00112 của Bộ trưởng vận tảu mà lắp ráp xe máy hạng nặng I.I.Nosenko về dừng đóng toàn bộ 3 tàu tuần dương hạng nặng lớp “Stalingrad”. Cần biết rằng, quyết định nhày được đưa ra không phải bởi chính bộ trưởng, mà là từ người tiếp nhận vị trí lãnh đạo quyền lực cấp cao sau cái chết của Stalin. Toàn bộ rất nhanh chóng và lặng lẽ, không có những sự phản đối từ phía các Đô đốc và các nhà đóng tàu.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 23 Tháng Chín, 2012, 01:20:37 pm
Việc ngừng các công việc theo đề án 82 là hợp lý – nó không mang ý nghĩa trong việc tăng cường sức mạnh Hải quân Liên Xô trong tương lai. Vào cuối những năm 1960, đã trở nên rõ ràng rằng để thực hiện công kích vào cụm tàu sân bay của Hải quân Mỹ trong phạm vi kiểm soát một cách hiệu quả trong biên chế (HQ Liên Xô) chỉ có các tàu pháo tuần dương đề án 26-bis và đề án 68-bis. Trong các thời điểm khủng hoảng (căng thẳng), chúng được sử dụng một cách tích cực trong các lực lượng giám sát cụm tàu sân bay, giữ cự ly hỏa lực hiệu quả với các tàu sân bay của đối phương một cách liên tục. Rõ ràng rằng kim loại được cắt ra trên các tàu tuần dương hạng nặng đề án 82 chưa được đóng xong có thể được sử dụng trong trường hợp này hiệu quả hơn, bởi vì bất kỳ tàu sân bay nào trong tầm hỏa lực hiệu quả 305mm của nó thì sau 1-2 phút có thể trở thành đống đổ nát. Cuối cùng, các tàu pháo hạng nặng – tàu chủ lực và tàu tuần dương – có sức mạnh chiến đấu đáng kể và có khả năng trước khi bị tiêu diệt sẽ bắn cháy tàu sân bay thậm chí trong trường hợp bắn trả. Tất cả những điều này khẳng định các nguyên tắc cũ rằng các phương pháp chiến đấu mới trên biển không từ bỏ những cái cũ mà còn bổ sung chúng.

Tháng 6 năm 1953, Bộ trưởng công nghiệp lắp xe máy vận tải hạng nặng và Tư lệnh Hải quân đã ra quyết định sử dụng bộ phận thân tàu tuần dương chưa đóng xong “Stalingrad”, bao gồm thành (tàu) trong vai trò buồng thí nghiệm ngoài trời để kiểm tra các thí nghiệm hỏa lực trong điều kiện trường bắn để thử độ vững chắc trong thiết kế bảo vệ tàu (bọc thép, chống mìn) trước các tác động của các mẫu vũ khí Hải quân mới, xử lý ngòi nổ và các bộ phận chiến đấu của chúng. Các tài liệu về trang bị lại buồng được xử lý bởi phân nhánh thuộc Phòng thiết kế Trung ương số 16 ở Nikolaev. Sau đó, phân xưởng ở Nikolaev bị đóng cửa. Năm 1954, buồng được hạ thủy, còn trong trong năm 1956-57 được sử dụng trong vai trò mục tiêu đển thí nghiệm các loại tên lửa có cánh, đạn pháo, bom đường không và ngư lôi và khi đó không bị mất tính nổi khi không có trong đó trang bị khí tài đảm bảo sự sống, khẳng định hiệu quả cao bởi đề án dự định phòng thủ tàu tuần dương. Thân chưa đóng hết của hai tàu pháo tuần dương hạng nặng khác được xẻ kim loại trên âu tàu xưởng số 189 và 402.

Các bộ phận lắc đã được chế tạo của pháo chính 305 trên các tàu pháo tuần dương hạng nặng được quyết định sử dụng trong chế tạo các đại đội pháo phòng thủ bờ trên đường sắt. Ngày 19 tháng 1 năm 1955, mệnh lệnh của Hội đồng Bộ trưởng vè chế tạo 4 đại đội pháo 305mm với việc sử dụng 12 pháo SM-33 của các thiết bị pháo trên tháp SM-31 với sự bàn giao chúng cho Hải quân vào năm 1957-1958 đã được đưa ra. Ở Phòng thiết kế trung ương số 34 đã bắt đầu các công việc chế tạo pháo trên tàu hỏa (pháo đường sắt) SM-41 với bộ phận lắc (giật) SM-33MT. Việc thiết kế các bản vẽ và tài liệu kỹ thuật trên thiết bị hoàn thành trong tháng 7 năm 1954, tuy nhiên, các công việc theo đó nhanh chóng bị ngừng lại theo mệnh lệnh của N.S.Khrusev

Bằng mệnh lệnh của Chính phủ từ ngày 19 tháng 3 năm 1955 “Về sử dụng các vật liệu có giá trị còn lại sau khi ngừng đóng các tàu đề án 82”, Bộ lắp xe máy và Bộ công nghiệp đóng tàu đã được giao việc đảm bảo giữ ở xưởng phát điện Kharcov phần thừa theo sự sản xuất 8 tổ hợp tua bin răng cưa chính TV-4 cho các tàu tuần dương hạng nặng đề án 82, còn ở các xưởng số 402 và số 444 – trang bị máy – nồi hơi. Còn có mệnh lệnh cho Bộ Công nghiệp quốc phòng ra lệnh bàn giao cho Bộ quốc phòng 12 bộ phận lắc 2M-109 được chế tạo bởi xưởng “Bolsevich” cho các thiết bị pháo 130mm BL-109A trên tàu tuần dương “Stalingrad”.

Danh sách tàu và ngày tháng

+ “Stalingrad” (số hiệu xưởng 400); ghi tên vào danh sách Hải quân 31 tháng 8 năm 1951, khởi công 31 tháng 12 năm 1951 ở xưởng đóng tàu số 444 ở Nikolaev; hạ thủy năm 1953, dừng đóng 26 tháng 6 năm 1953; loại khỏi biên chế Hải quân và sau đó trở thành mục tiêu để thí nghiệm các loại vũ khí khác nhau.

+ “Moskva” (số hiệu xưởng 406); ghi tên vào danh sách Hải quân 31 tháng 4 năm 1951; khởi công tháng 9 năm 1952 ở xưởng đóng tàu số 189 ở Leningrad; dừng đóng 11 tháng 4 năm 1953; loại khỏi biên chế Hải quân và sau đó bị xẻ kim loại.

+ Thân tàu thứ ba (số hiệu xưởng 401); khởi công tháng 10 năm 1952 ở xưởng số 402 ở Molotovsk (hiện nay là Severodvinsk) nhưng nhanh chóng bị ngừng đóng.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 23 Tháng Chín, 2012, 01:32:51 pm
Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 36 500

+ hoàn toàn: 43 000

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 250,5 (-)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 31,6 (-)

+ lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 9,6 (-)

Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi

+ 12 nồi hơi, 4 tua bin hơi nước, 4 tổ hợp tuabin răng cưa TV-4, tổng công suất, sực ngựa (kW): 280 600 (206 000)

+ các máy phát điện tuabin, công suất (kW): -

+ các máy phát điện – diesel, công suất (kW): -

4 trục, 4 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ lớn nhất: 34

+ tiết kiệm năng lượng: 15

Tầm bơi xa, dặm (ở tốc độ, hải lý): 5000 (15)

Thời gian hoạt động, ngày: -

Thủy thủ đoàn, người (số sỹ quan): 1481 (-).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 23 Tháng Chín, 2012, 01:44:00 pm
Vũ khí

Pháo

+ pháo chính 305mm SM-31: 3x3

+ pháo 130mm BL-109A: 6x2

+ pháo 45mm SM-20-Zif: 6x4

+ pháo phòng không 25mm BL-120: 10x4

Bọc thép

+ thành: 20mm

+ boong: 90…100mm

+ tháp pháo: 323mm

Trang bị vô tuyến điện

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: 1x “Rif”

Đài thủy âm: -

Các khí tài tác chiến điện tử: các thiết bị bảo vệ âm

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ 2x”Zalp” cho pháo chính

+ 3x”Yakor” (trong thành phần SPN-500) cho pháo đa năng

+ 2x”Fut-B” (Hawk Screech) cho pháo và pháo phòng không

Các trạm chỉ huy – đo xa

+ 1xKDP-2-8-10 cho pháo chính

+ 3xSPN-500 cho pháo đa năng

Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp khí tài

Đài ra đa định vị hội thoại nói: -.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Chín, 2012, 04:03:58 pm
Tàu chống ngầm loại lớn lớp “Đoàn viên thanh niên Cộng sản Ukraina”

(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/61_03_zpsba0fcdbf.jpg)

Đề án 61/61-ME – lớp Kashin.

Số tàu đã đóng: 20/5

Các biến thể:

+ 61 – đề án cơ sở sản xuất hàng loạt (1962)

+ 61-M (Kashin biến thể) – tàu cuối cùng trong loạt, trang bị tổ hợp tên lửa chống tàu P-15M và tổ hợp pháo phòng không (1973)

+ 61-PM (Kashin biến thể) – các tàu nâng cấp với tổ hợp tên lửa chống tàu P-15M và tổ hợp pháo phòng không (1970)

+ 61-E – tàu thí nghiệm, được trang bị lại để thí nghiệm tổ hợp tên lửa phòng không “Uragan” (1975)

+ 01090 – tàu thí nghiệm, được trang bị để thí nghiệm tổ hợp tên lửa chống tàu “Uran” (1987)

+ 61-ME (Kashin-II) – phiên bản xuất khẩu cho Hải quân Ấn Độ, trang bị tổ hợp tên lửa chống tàu P-20 (1979).

Năm 1956, đã tiếp nhận quyết định về chế tạo tàu tuần tra mới, với thành phần trang bị phòng không mạnh hơn so với đề án 50 và có tốc độ lớn hơn. Đề án tàu nhận số hiệu 61. Nhiệm vụ chiến thuật – chiến dịch đã được phê duyệt bởi Tư lệnh Hải quân ngày 14 tháng 3 năm 1956. Nhiệm vụ của tàu tương ứng với nhiệm vụ chiến thuật – chiến dịch là: phòng không cho các tàu chiến và tàu vận tải trên biển khỏi sự tấn công của các máy bay tầm thấp và đạn tên lửa điều khiển; chống ngầm cho tàu chiến và tàu vận tải trên biển.

Trên cơ sở nhiệm vụ chiến thuật – chiến dịch, Viện đóng tàu quân sự đã bắt đầu thiết kế nhiệm vũ kỹ - chiến thuật cho đề án tàu tuần tra mới (đề án 61) – được phê duyệt bởi Tư lệnh Hải quân mùng 3 tháng 12 năm 1956. Sự thành lập nhiệm vụ kỹ - chiến thuật bao gồm thực hiện thiết kế phác thảo bởi Viện đóng tàu quân sự. Kết quả của sự thiết kế này là lựa chọn được không chỉ làm rõ thành phần (chủng loại) vũ khí mà còn thiết kế bố cục tàu hợp lý hơn. Tổng cộng có 7 phương án bố trí vũ khí đã được nghiên cứu. Sơ đồ (hệ thống) bố trí vũ khí được tiếp nhận cho phép sử dụng trên một thành tàu toàn bộ khí tài phòng không (2 tổ hợp tên lửa phòng không và 2 tổ hợp pháo) – rất quan trọng khi đánh trả sự tấn công từ cụm các mục tiêu. Sau nhiều lần nghiên cứu và đánh giá đá tiếp nhận sự bố trí các ăng ten đài thủy âm phát hiện mục tiêu tổng hợp và đài thủy âm điều khiển bắn vũ khí chống ngầm trong mũ (nắp) chụp di (cơ) động, cho phép giảm lượng mớn nước từ 7 xuống 4 mét (khi thu – tháo mũ chụp) và đảm bảo các điều kiện khai thác sử dụng cũng như các tàu thông thường không có nắp chụp đài thủy âm.

Dự án nhiệm vụ kỹ - chiến thuật, về cơ bản, được sự ủng hộ bởi Viện đóng tàu quân sự, mà cùng với đó, đã nhấn mạnh rằng sự tiếp nhận trên tàu đề án 61 thiết bị tuabin khí (GTU) có thể cho phép giảm lượng choán nước khoảng 15%. Khi nghiên cứu vật liệu của đề án, trong các Cục trung ương Hải quân đã quyết định tiếp nhận sử dụng trên tàu không chỉ thiết bị tuabin khí. Theo đó, lần đầu tiên trong thực tế thế giới đã tiếp nhận quyết định về bắt đầu thiết kế tàu đủ lớn với thiết bị tuabin khí, được sử dụng để hoạt động trong mọi chế độ di chuyển. Ngày 30 tháng 4 năm 1957, đã phê duyệt những phần tử vũ khí cơ bản trong phòng không và chống ngầm của đề án 61 để thiết kế đề án phác thảo. Việc thiết kế tàu được giao cho Phòng thiết kế trung ương số 53 – Tổng công trình sư của tàu là B.I.Kupensky. Về phía Hải quân, giám sát việc thực hiện thiết kế tàu được giao cho Thuyền trưởng – kỹ sư hạng 3 O.T.Safronov.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Chín, 2012, 05:41:23 pm
Tàu đề án 61 về nguyên tắc có sự khác biệt với toàn bộ các tàu thuộc Hải quân Liên Xô đóng trươc đó bởi hai đặc điểm: sự xuất hiện 2 tổ hợp tên lửa phòng không; thiết bị tuabin khí hoạt động mọi chế độ. Trong các cường quốc biển hàng đầu thế giới, việc thiết kế tổ hợp tên lửa phòng không chuyên dụng cho Hải quân thực tế rất phức tạp (“Talos”, “Terrier”, “Tartar”, “Sea Slag”) hoặc sử dụng các thành quả (công việc) của Không quân (“Sea Sparow”). Trong trường hợp tổ hợp tên lửa phòng không Mỹ (“Nike Hercules”, “Hawk”…) không hề có các biến thể cho Hải quân. Nguyên nhân vấn đề này được tìm (nhìn) thấy trong đó, rằng các nhà thiết kế tổ hợp tên lửa phòng không Mỹ rất dễ dãi trong việc tính toán các thông số khối lượng – kích thước của chúng, dẫn đến sự không cho phép lắp các tổ hợp vũ khí hàng không lên tàu nói chung. Trong Hải quân Liên Xô, hướng chống ngầm đã được lựa chọn – hướng biến đổi cho Hải quân tổ hợp tên lửa phòng không thuộc Lục quân. Sự biến đổi bao gồm trên cơ sở trong sự thiết kế thiết bị phóng và hệ thống nạp đạn mới, đồng thời thiết kế nốt (lại) hệ thống điều khiển và chính các tên lửa phòng không. Việc thiết kế tổ hợp tên lửa phòng không “Volna” (tên gọi này nó được nhận một cách chính thức trong Hải quân) được thực hiện ở Viện nghiên cứu khoa học số 10 thuộc Bộ công nghiệp đóng tàu từ năm 1955. Tổ hợp tên lửa phòng không bao gồm: thiết bị phóng cân bằng (ổn định) cho 2 tên lửa phòng không điều khiển với hệ thống bảo quản và nạp đạn (hầm đạn với 2 thùng quay thẳng đứng, trên mỗi thùng quay – 8 tên lửa), hệ thống điều khiển tên lửa phòng không điều khiển “Yatagan” và 16 tên lửa phòng không điều khiển. Tầm bắn của tổ hợp này phụ thuộc vào tầm bay cao của mục tiêu ban đầu là 15km. Tên lửa phòng không điều khiển trong tổ hợp này được dẫn bắn tới mục tiêu theo tia của đài ra đa định vị của hệ thống điều khiển “Yatagan” tới thời điểm (điểm) mòn ngòi (ống) nổ ra đa định vị. Hệ thống điều khiển này có những ưu điểm cũng như nhược điểm. Ưu điểm chính của hệ thống này là khả năng sử dụng các tên lửa phòng không điều khiển giá rẻ, còn nhược điểm là chỉ có 1 kênh dẫn bắn theo mục tiêu và độ bắn chính xác giảm dần (tỷ lệ nghịch) theo tầm xa. Tổ hợp tên lửa phòng không tương đương với “Volna” trong Hải quân Mỹ - “Tartar” – ban đầu có tên lửa đồng thời được dẫn bắn theo tia ra đa định vị, nhưng sau đó, đã nhận tên lửa phòng không điều khiển với sự (đầu đạn) tự dẫn bắn bán tự động theo ra đa định vị trong hành trình bay cuối. Được sử dụng trong tên lửa phòng không điều kiển này là đài ra đa định vị của hệ thống điều khiển AN/SPG-51 trong các biến thể khác nhau được lắp trên các tàu được đóng trong những năm 1980. Tổ hợp “Volna” và hệ thống điều khiển của không nhận được sự phát triển (không được phát triển) trong những năm 1980. Việc này được chỉ ra rằng giải pháp kỹ thuật được tiếp nhận khi chế tạo tổ hợp “Volna” có triển vọng thấp (không có triển vọng). Nguyên nhân chưa chắc có thể tìm được. Như cũng trong thời gian đó, ở Phòng thiết kế M.Bisnovat đã thiết kế tổ hợp hàng không cho vũ khí của máy bay phòng không tầm xa Tu-128. Vũ khí chính của tổ hợp này là tên lửa R-4RR với tầm xa ban đầu gần 12-16km (sau đó tầm xa tăng lên 40km) và hệ thống điều khiển ra đa định vị “Smerch”. Tên lửa có đầu đạn tự dẫn bắn bán chủ động bằng ra đa định vị. Các thông số kích thước của hệ thống điều khiển “Smerch” nhỏ hơn “Yatagan”. Phải công nhận rằng sự nâng cấp bên trong tổ hợp tên lửa phòng không “Volna” đã được thực hiện rất nhiều. Cụ thể, sự nâng cấp tên lửa phòng không điều khiển và hệ thống điều khiển cho phép tăng tầm bắn, đảm bảo tiêu diệt các mục tiêu trên không tầm thấp và mục tiêu nổi. Theo đó, nó trở thành tổ hợp tên lửa phòng không đa năng. Theo việc lựa chọn các phần tử chính cho tổ hợp tên lửa phòng không có thể là các yếu tố cá nhân hoặc thuộc về Nhà nước, còn khả năng sức ép truyền thống của ngành công nghiệp (được hỗ trợ bởi các chính trị gia) đối với Hải quân.

Trang bị pháo của tàu gồm có 2 pháo nòng đôi 76mm AK-726 và khi không có vũ khí tấn công – đương nhiên ra rất yếu. Sự không chấp nhận (từ chối, cự tuyệt) các loại pháo hạng trung trong thiết kế tàu làm chúng trở thành “vật tế” cho tên lửa và trở nên thua thiệt trong vai trò tàu pháo nói chung. Sự thiếu pháo hạng trung làm cho tàu chỉ có hiệu quả trong việc yểm trợ hỏa lực đổ bộ và bắn các mục tiêu phòng thủ bờ biển khác nhau.

Vũ khí đường không của tàu được phát triển mạnh hơn so với đề án 58, các công việc trên đó được thực hiện thực tế là trong cùng thời gian. Ngoài bãi cất hạ cánh thẳng trên boong trên còn có hầm đạn cho vũ khí đường không và 5 tấn nhiên liệu hàng không trong kho bảo quản chuyên dụng.

Sự thay đổi liên tục thành phần vũ khí đã được kết thúc trong đề án kỹ thuật bằng sự thay thế 2 thiết bị ngư lôi 3 ống thành 5 ống bố trí trên bề mặt phẳng hoàn toàn trên nóc thượng tầng. Cấp độ tập trung và tự động hóa điều khiển cho phép lần đầu tiên đảm bảo thực hiện các hoạt động chiến đấu bằng tàu khi thủy thủ đoàn rời lên boong trên và đài chỉ huy.

Nhà thiết kế thiết bị tuabin khí là xưởng tuabin phía nam (YuTZ) ở Ukraina. Ở thời điểm phê duyệt nhiệm vụ kỹ - chiến thuật tàu đề án 61, ở xưởng đã tiến hành thiết kế tuabin khí M-2 cho tàu tuần tra tên lửa đề án 159. Trong khi đó, công suất M-2 là 15 000 sức ngựa, còn thời gian phục vụ tổng cộng là 1000 giờ. Tuabin này được sử dụng trong thành phần thiết bị tuabin khí-diezel (DGTU) như bộ phận được sử dụng khi di chuyển ở tốc độ tối đa (hoàn toàn). Đã xuất hiện khả năng chế tạo trong các thời hạn có thể (tiếp nhận được) trên cơ sở động cơ M-2 tổ hợp công suất 36 000 sức ngựa, bao gồm 2 tua bin 18 000 sức ngựa. Thời gian phục vụ của tổ hợp được bảo hành trong 5 000 giờ và tốc độ tàu đạt 24 hải lý.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 24 Tháng Chín, 2012, 05:43:40 pm
Hình vẽ tàu chống ngầm loại lớn đề án 61

(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/61_08_zps0446b4f9.jpg)

(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/61_10_zps6605be29.jpg)

(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/61_07_zps0db4256e.jpg)

(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/61_06_zpsd63b7c7c.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 26 Tháng Chín, 2012, 12:03:08 am
Tới giai đoạn này, ở các cường quốc biển hàng đầu còn chưa hình thành quan điểm tiếp nhận tuabin khí trong ngành đóng tàu quân sự (ngoại trừ Anh, nơi các công việc áp dụng tuabin khí đã được tiến hành rộng rãi). Không lâu sau đó, vào cuối những năm 1960, các cường quốc biển hàng đầu đã đẩy mạnh tốc độ áp dụng tuabin khí trên các tàu chiến. Trong đó, các động cơ tuabin phản lực hàng không là cơ sở của chúng. Trong ngành thiết kế tuabin khí Hải quân Liên Xô đã lựa chọn hướng khác –hướng chế tạo các tuabin khí chuyên dụng cho Hải quân ở xưởng chuyên dụng – xưởng tuabin phương Nam. Khi Liên Xô tan rã, việc này tác động rất mạnh tới ngành đóng tàu quân sự của Nga.

Trong phương án cuối cùng đã lựa chọn thiết bị tuabin khí 2 trục với 2 tổ hợp tuabin khí – răng cưa tự trị và các bộ truyền động đảo chiều. Sự chế tạo tổ hợp tuabin khí M-3 là thành tựu lớn. Thời gian phục vụ của mỗi động cơ được xác định là 3000 giờ, trong đó 100% công suất trong 100 giờ., còn công suất 50-60% - 2700 giờ. Khối lượng thiết bị năng lượng chính khi cùng công suất so với đề án 56 giảm 2 lần. Để dẫn động máy phát điện dẫn động, đã quyết định sử dụng đồng thời các tuabin khí (các máy phát điện – diesel với thời gian phục vụ cụ thể không xác định) – thiết bị tuabin khí GTU-6 của xưởng “Economaizer”.

Thân tàu được tiếp nhận tương đồng với các đề án 41, 50, 56 và 57 – boong trơn, nhưng với độ dốc (nâng) vừa đủ của boong trên ở phần cuối mũi tàu. Liên quan tới sự tăng liên tục của lượng choán nước và đề phòng không nhận được tốc độ theo tính toán, Tổng công trình sư đã thiết kế cho tàu đường viền (đường bao) rất sắc (tỷ lệ chiều dài và chiều rộng là 9,5). Việc này cũng ngang với sự tăng liên tục khối lượng vũ khí trong quá trình thiết kế làm giảm tính ổn định của tàu. Để duy trì sự ổn định cần thiết trên độ nghiêng lớn – rất quan trọng khi bơi trong điều kiện bão, bộ phận nổi của thân được mở rộng và xuất hiện sự đứt (gãy) của thành từ khung số 45 tới sống đuôi.

Thượng tầng có độ dài khoảng 2/3 chiều dài boong và chế tạo từ hợp kim magie-nhôm. Khu vực bố trí cột buồm, các thiết bị phóng thuộc tổ hợp tên lửa phòng không, đài ra đa định vị, đài điều khiển, tổ hợp tên lửa phòng không và pháo tự động, đồng thời trạm dẫn động được chế tạo bằng thép. Tàu có 4 ống khói. Các kích thước ống khói được lựa chọn bắt nguồn từ hai đặc điểm: đảm bảo khả năng thay thế tuabin M-3 và GTU-6 qua cửa bố trí trong các ống khói, đồng thời giảm nhiệt độ khói do tính toán sự pha trộn lớn của chúng với không khí trong vỏ ống khói để giảm khả năng bị lộ do nhiệt. Trong hai buồng máy (buồng máy mũi và mạn tàu) bố trí 1 tổ hợp tuabin khí – răng cưa và 2 tuabin khí GTU-6. Sự bố trí tổng quan có hàng loạt các đặc điểm. Tương ứng với các yêu cầu của Viện đóng tàu quấn ựu, trạm chỉ huy chính (GKP) được bố trí một cách độc lập (riêng biệt) với trạm truyền động (KhP) trong thân tàu trên boong dưới. Ở đây có toàn bộ các khí tài, cho phép chỉ huy không chỉ kiểm soát tình trạng trên không và dưới nước mà còn điều khiển (lái) tàu, và thực hiện việc điều khiển thực tế toàn bộ các hệ thống pháo và vũ khí. Trong trạm truyền động chỉ còn lại các khí tài để lái tàu. Điều khiển thiết bị năng lượng chính có khả năng không chỉ từ các trạm điều khiển từ xa (PDU). PDU của tàu đề án 61 trong sự khác biệt với các tàu trước là sự kết hợp với các đài điện. Trạm điện và đảm bảo cuộc sống (PEZh) được bố trí trong buồng không lớn và thực hiện các chức năng kiểm soát điều khiển thiết bị năng lượng chính.

Hệ thống phân bố trạm chỉ huy chính và trạm dẫn động, trạm điều khiển từ xa và trạm điện – đảm bảo sự sống này mặc dù trên cơ bản được duy trì trong các đề án sau, nhưng sự tập trung hóa sau đó thực tế nhằm vào việc chuyển trạm dẫn động thành trạm chỉ huy chính, còn trạm năng lượng – đảm bảo sự sống được hợp nhất với đài điều khiển từ xa. Tai nạn của tàu khu trục Anh “Sheffild” (1982) sau khi trúng một tên lửa chống tàu ở khu vực trạm năng lượng – đảm bảo sự sống đã đặt ra sự nghi ngờ tính hợp lý sự tập thực tế với khả năng sống còn trong chiến đấu. Kinh nghiệm chiến tranh và xung đột cục bộ thêm một lần nữa chỉ ra rằng trạm chỉ huy chính và trạm dẫn động phải được bảo vệ dù là mảnh đạn bắn trúng vào tàu. Trong sơ đồ đài chỉ huy chính bố trí trong thân và đài dẫn động được chế tạo từ thép, trên đề án 61 trong giới hạn đáng kể, các yêu cầu này được đáp ứng. Lần đầu tiên trong lịch sử Hải quân Liên Xô, một bộ phận buồng cho sỹ quan được bố trí ở khu vực đường trung tâm của tàu và bị mất ánh sáng tự nhiên.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 26 Tháng Chín, 2012, 12:10:34 am
Cuối cùng, đặc điểm quan trong của bố bục tổng thế trên tàu là việc hình thành hành lang dày đặc trên thượng tầng từ mũi tới mạn tàu, đảm bảo cho phép thủy thủ đoàn tới toàn bộ các trạm chiến đấu của tàu. Toàn bộ đường ra boong trên trong tình trạng chiến đấu phải thực hiện qua buồng đệm không thấm (lọt) khí của hành lang này. Lần đầu tiên trong thực tế lịch sử đóng tàu Liên Xô có nhà ăn – trong đó có thể tổ chức bữa ăn đồng thời cho 2/3 số hạ sỹ quan và thủy thủ phục vụ trên tàu.

Tàu đầu tiên thuộc đề án 61 – “Đoàn viên thanh niên Cộng sản Ukraina” được đưa tới các thí nghiệm cấp nhà nước ngày 15 tháng 10 năm 1962, nhưng tới thời điểm này, các tổ hợp M-3 chưa được xử lý hoàn toàn, vì thế các thí nghiệm được thực hiện trên 60% công suất. Quyết định tiếp nhận tiến hành thí nghiệm ở công suất đối đa muộn hơn. Độ nghiêng thực của tàu đã chỉ ra rằng lượng choán nước tiêu chuẩn là 3400 tấn – nhẹ hơn so với thiết kế. Các kết quả nghiêng đã chỉ ra rằng tàu hoàn toàn không có trữ lượng ổn định là lượng choán nước. Nếu tính toán (cho) rằng Hải quân đã nhận được tàu mới hoàn toàn với vũ khí và thiết bị cơ khí (máy) được chế tạo đồng thời với chúng, thì có thể thừa nhận kết quả này hoàn toàn đạt yêu cầu. Lần đầu tiên trong thời gian thí nghiệm đã thực hiện cuộc hành quân (di chuyển) tự trị 10 ngày, trong quá trình này đã xuất hiện sự tin cậy không lớn các mẫu tổ hợp tên lửa phòng không “Volna” đầu tiên và các hệ thống điều khiển “Turel”. Nhược điểm lớn của buồng sống là tiếng ồn lớn (79-106 Db trong buồng thủy thủ và sỹ quan). Lần đầu tiên lên tàu để làm quen với tiếng ồn này là khó khăn, tuy nhiên sau 2 tháng sống trên tàu, sự thích nghi và tiếng ồn không còn gây cản trở. Trên tàu đồng thời xuất hiện mùi dầu và nó đồng thời được làm quen. Sau đó, các thí nghiệm ở tốc độ tối đa để xác định tầm bơi xa được khẳng định bằng tính toán số liệu. Thực tế, trên toàn bộ các tàu đề án 61, nó cao hơn 34 hải lý (tốc độ cao nhất là 35,5 hải lý năm 1964).

So sánh các thông số kỹ - chiến thuật cơ bản của đề án 61 với tàu khu trục tên lửa “Charles F.Adams” – Hải quân Mỹ chỉ ra rằng lượng choán nước và tốc độ của các tàu này là tương đương (bằng nhau). Tầm bơi xa ở tốc độ 30 hải lý của tàu đề án 61 lớn hơn không nhiều (2000 dặm – 1850 dặm), còn trên tốc độ 18-20 hải lý thấp hơn (3500 dặm – 4500 dặm). Việc này được giải thích bởi sự tiết kiệm (tính kinh tế) lớn của thiết bị tuabin ở tốc độ cao và sự tiêu thụ nhiên liệu đáng kể của thiết bị tuabin khí mà trên tốc độ thấp bắt đầu chiếm ưu thế trong sự tiêu thụ nhiên liệu chung trên toàn bộ tàu. Về vũ khí phòng không, nhờ sự xuất hiện của 2 tổ hợp tên lửa phòng không điều khiển và 2 phái tự động với 2 đài điều khiển, tàu đề án 61 có khả năng tấn công đồng thời 4 mục tiêu trên không, còn tàu khu trục tên lửa “Charles F.Adams” chỉ có 2(1 tổ hợp tên lửa phòng không “Tartar”, 2 đài điều khiển pháo). Tuy nhiên, nhờ cơ số đạn tên lửa phòng không nhiều hơn (38-42 so với 16) trên một tổ hợp, tàu khu trục tên lửa “Charle F.Adams” có thể tham gia chiến đấu phòng không trong thời gian dài hơn. Theo vũ khí chống ngầm, tàu khu trục tên lửa “Charles F.Adams” vượt trội hơn tàu đề án 61 nhờ sự xuất hiện của tên lửa chống ngầm điều khiển “Asroc”. Tuy nhiên sự vượt trội này không đáng kể bởi vì tầm bắn xa của các thiết bị ngư lôi chống ngầm Liên Xô 533mm tương đương với tên lửa chống ngầm điều khiển. Bom phản lực của đề án 61 kém thiết bị ngư lôi 324mm của tàu khu trục tên lửa “Charles F.Adams” về hiệu quả tiêu diệt tàu ngầm ở tầm gần, tuy nhiên, chúng có thể được sử dụng không chỉ để chống tàu ngầm mà còn chống ngư lôi hoặc tậm chí bắn vào bờ. So sánh thiết bị pháo, đề án 61 kém tàu khu trục tên lửa do không có pháo hạng trung. Trang bị vô tuyến điện đề án 61 theo danh pháp cũng như theo các khả năng của nó thua kém so với thiết bị tương đương trên tàu khu trục tên lửa.

Toàn bộ các tàu đề án 61 được khai thác sử dụng ở cường độ cao trong toàn bộ 4 hạm đội. Lần đầu tiên trong biên chế Hải quân xuất hiện các tàu có sự hy vọng vào hoạt động của thiết bị năng lượng chính rất cao, nhờ sự thay thế các động cơ bằng tổ hợp thâm chí một cách tương đối, các tàu cũ và không được sửa chữa trong thời gian dài đã có khả năng đạt tốc độ tối đa một cách dễ dàng. Mặc dù được tiếp nhận trong thiết kế là 18 hải lý ở tốc độ tuần tra, thường xuyên nhất ở tốc độ 22-24 hải lý bởi vì nhờ thiết bị tuabin khí, tầm bơi xa khi tốc độ này giảm tổng cộng 15% so với tốc độ 18 hải lý. Nhờ hình dạng mũi rất sắc và chiều cao tương đối lớn của thùng trên khung số 0, các tàu dễ dàng chống lại mọi cơn song, còn trạm dẫn động không chịu sự văng mạnh. Theo so sanh với các tàu có thiết bị ống khói tuabin, các tàu đề án 61 có các khoang (hầm) tương đối khô và sạch.

Các tàu đề án này là giai đoạn không chỉ cho Liên Xô mà còn ngành đóng tàu quân sự thế giới bởi vì lần đầu tiên đã chế tạo tàu đủ lớn với thiết bị tuabin khí. Đề  án 61 tiếp nhận hệ thống thiết bị tuabin khí đã chứng tỏ có triển vọng rõ ràng đối với các tàu khu trục và tàu tuần dương. Trên tàu khu trục “Spruance” và tàu tuần dương “Ticonderoga” trong Hải quân Mỹ sử dụng chính hệ thống tuabin khí này.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 26 Tháng Chín, 2012, 12:28:40 am
(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/61_draw_3_zps277871dd.jpg)

Các bản vẽ bố cục tổng thể tàu khu trục ngư lôi đề án 61

1. Trực thăng chống ngầm Ka-25PL

2. Thiết bị pháo 76mm AK-726

3. Thiết bị phóng tên lửa phòng không ZiF-101

4. Trạm ăng ten của đài ra đa định vị thủy âm MR-105 (“Turel”)

5. Trạm ăng ten đài điều khiển “Yatagan” của tổ hợp tên lửa phòng không “Volna”

6. Thiết bị ngư lôi 5 ống 533mm PTA-53-1123

7. Trạm ăng ten đài ra đa định vị MR-500 (“Kliver”)

8. Trạm ăng ten đài ra đa định vị MR-130 (“Angara”)

9. Thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000

10. Tàu (xuồng) con

11. Xuồng trinh sát chỉ huy

12. Kho

13. Buồng bánh lái

14. Buồng trực ban

15. Buồng thủy thủ

16. Trạm chỉ huy – cất cánh trực thăng

17. Kho đạn tên lửa phòng không điều khiển

18. Các trạm khối cao tần của hệ thống điều khiển “Yatagan”

19. Buồng sỹ quan

20. Hòm xích

21. Thùng nhiên liệu

22. Hầm thiết bị nâng – thả đài thủy âm định vị

23. Buồng máy ở mũi

24. Buồng máy móc hỗ trợ

25. Buồng máy mạn tàu

26. Thùng nước ngọt

27. Thiết bị phóng bom phản lực RBU-1000


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Chín, 2012, 12:06:20 am
Các biến thể

Trong quá trình đóng và khai thác sử dụng các tàu này, chúng đã chịu những sự nâng cấp. Từ năm 1966, thay cho 2 đài ra đa định vị “Angara” đã lắp “Kliver” và “Angara”. Việc áp dụng trên cacstauf nổi tên lửa tấn công đã dẫn tới sự bố trí tên lửa chống tàu trên các tàu đề án 61: những năm 1970, 5 tàu chống ngầm lớn đã được nâng cấp theo đề án 61-MP, còn tàu cuối cùng – thứ 20 trong dòng đã được đóng ngay lập tức theo đề án nâng cấp 61-M, toàn bộ chúng nhận được tổ hợp tên lửa chống tàu “Termit”. “Provornưi” trong các thí nghiệm đã chịu sự nâng cấp theo đề án 61-E, thay tổ hợp tên lửa phòng không “Volna” thành tổ hợp tên lửa phòng không “Uragan” và thay đài ra đa định vị “Kliver” bằng “Fregat-M”.

Năm 1974, tàu chống ngầm loại lớn đề án 61 thu hút được sự chú ý của phái đoàn Ấn Độ - khi đi tham quan các tàu Hải quân ở thành phố Sevastopol và đã tìm cho Hải quân của họ nguyên mẫu cần thiết. Kết quả là Ấn Độ đã đặt mua loạt 5 tàu biến thể đề án 61-ME có tổ hợp tên lửa chống tàu và trực thăng đóng thường trực.

Cuối những năm 1980, tàu chống ngầm loại lớn “Smetlivưi” được trang bị lại theo đề án 01090 để thí nghiệm tổ hợp tên lửa chống tàu “Uran”. Thiết bị phóng được lắp thay cho thiết bị ngư lôi.

Chương trình đóng tàu

Tàu đầu tiên trong đề án 61 – “Komsomolets Ukrainư” được khởi công 15 tháng 9 năm 1959 ở xưởng mang tên 61 chiến sĩ Công xã Pari ở Nikolaev, hạ thủy 31 tháng 12 năm 1960 và được đưa vào các thí nghiệm cấp nhà nước 15 tháng 10 năm 1962. Tổng cộng trong xưởng đã đóng 15 tàu đề án này (tàu cuối theo đề án nâng cấp 61-M), còn thêm 5 tàu nữa ở xưởng mang tên A.A.Zhdanov. Toàn bộ loạt 20 tàu dừng đóng năm 1973.

Từ năm 1976, đã bắt đầu đóng tàu chống ngầm loại lớn “Hadezhnưi” (“Hy vọng”) theo đề án nâng cấp 61-ME cho Hải quân Ấn Độ. Đến năm 1987, đã đóng được 5 tàu – ban đầu đồng thời gia nhập biên chế Hải quân Liên Xô, còn sau đó được bàn giao cho Ấn Độ.

Tình hình đến năm 2005

Đến 19 tháng 5 năm 1966, các tàu đề án 61 nằm trong lớp tàu tuần tra, nhưng sau khi phân loại lại trở thành tàu chống ngầm loại lớn. Ngày 28 tháng 6 năm 1977, các tàu chống ngầm nâng cấp đề án 61-M/MP được phân loại thành tàu tên lửa loại lớn. Nhưng ngày 14 tháng 10 năm 1980 đã quay trở lại lớp tàu chống ngầm lớn. Từ năm 1992, toàn bộ các tàu trong biên chế được chuyển thành tàu tên lửa tuần tra.

Năm 1986, đã có quyết định bán “Smelưi” cho Ba Lan. Năm 1987, nó được bán cho Hải quân Cộng hòa nhân dân Ba Lan, nơi nó nhận tên gọi “Varsava”.

Ngày 30 tháng 8 năm 1974, gần bờ biển Krưm khu vực Sevastopol, theo kết quả vụ cháy tình cờ tên lửa phòng khong điều khiển do lỗi vận hành của thủy thủ đoàn và vụ nổ đạn sau đó trong hầm chứa tên lửa làm tàu chống ngầm lớn “Otvazhnưi” bị chìm. Tàu khi đó đã thể hiện khả năng sống còn cao, bởi vì khi vụ nổ hầm chứa đạn, các tàu này đã chìm nhanh chóng, còn tàu chống ngầm lớn đề án 61 chỉ bị chìm hơn 5 giờ sau đó và cho phép cứu nạn thực tế toàn bộ thủy thủ đoàn. Hơn nữa, ngay chính tai nạn của tàu đã liên quan trước hết với các hành động thiếu kinh nghiệm của lực lượng cứu nạn. Trong giai đoạn sau chiến tranh, việc đảm bảo khả năng sống còn của các tàu nổi và tàu ngầm trong Hải quân Liên Xô được đánh giá (nằm trong) mức độ cao nhất trên thế giới, còn việc huấn luyện thủy thủ đoàn trong xử lý tai nạn giảm dần và dẫn tới hàng loạt các thảm họa “không mong muốn”. Sự thật, cấp độ huấn luyện bộ phận chỉ huy Hải quân trong các câu hỏi xử lý các tai nạn – trước kết, ở cấp độ thấp (trong các vụ đắm tàu “Novorossisk” hay “Otvazhnưi” có rất nhiều sự thiếu kiến thức (dốt nát, vô học – безграмотности) của lãnh đạo cấp cao Hải quân), việc này được viết một cách chi tiết trong sách của B.A.Karzhavin: “Sự hủy diệt “Otvazhnưi”, Saint Peterburg năm 1994.

Nằm trong khu vực chiến sự, thực hiện nhiệm vụ chiến đấu hỗ trợ cho lực lượng vũ trang Ai Cập năm 1967 – “Komsomolets Ukrainư”; “Soobrazitelnưi” – Ai Cập – 1967 và 1968; “Provornưi” – cho Ai Cập và Siri năm 1967, 1968 và 1973; “Obraztsovưi” – Ai Cập – 1970; “Otvaznưi” – Ai Cập – 1967; “Slavnưi” – Ai Cập và Siri – 1972; “Krasnưi Kavkaz” – Ai Cập – 1967 và 1968, Siri – 1973, Ai Cập – 1974, còn năm 1974, đảm bảo quét thủy lôi (mìn) ở kênh đào Suez.

Hiện nay, trong biên chế Hải quân Nga còn có 2 tàu lớp này: “Smelưi” đề án 01090 và “Sderzhanưi” đề án 61-M biên chế trong Hạm đội Cờ đỏ Biển Đen.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Chín, 2012, 12:07:15 am
Tóm tắt lịch sử phục vụ


(*  - đang còn trong biên chế)

+ “Kosomolets Ukrainư” (số hiệu xưởng 1701); đến 9 tháng 10 năm 1962 là SKP-25; khởi công 15 tháng 9 năm 1959 ở xưởng đóng tàu số 200; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 10 tháng 11 năm 1959; hạ thủy 31 tháng 12 năm 1960; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1962; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 23 tháng 11 năm 1964; 18-25 tháng 6 năm 1964 và 26-30 tháng 10 năm 1987 tới thăm Split (Nam Tư); 8-13 tháng 5 năm 1970, tới Algieri; 18-22 tháng 11 năm 1986 tới Pirei (Hy Lạp); 17-21 tháng 11 năm 1987 tới Turnis (Tuynidi) và 28 tháng 6 đến 2 tháng 7 năm 1989 tới Stambul (Thổ Nhĩ Kỳ); 5-30 tháng 6 năm 1967 nằm ở khu vực chiến sự, thực hiện nhiệm vụ chiến đấu hỗ trợ quân đội Ai Cập; 23 tháng 5 năm 1977-7 tháng 8 năm 1979 trải qua đại tu ở “Sevmorzavod” ở Sevastopol; 24 tháng 6 năm 1991 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; 31 tháng 12 năm 1991 giải thể.

+ “Soobrazitelnưi” (số hiệu xưởng 1702); đến 21 tháng 3 năm 1963 là SKR-44; khởi công 20 tháng 7 năm 1960 ở xưởng đóng tàu số 200; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 25 tháng 9 năm 1961; hạ thủy 4 tháng 11 năm 1961; gia nhập biên chế 26 tháng 12 năm 1963; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 23 tháng 11 năm 1963; 18-25 tháng 6 năm 1964 thăm Split (Nam Tư); 12-15 tháng 8 năm 1967 tới Varna (Bulgari); 29 tháng 1 đến 4 tháng 2 năm 1968 tới Kotor và Zelenika (Nam Tư), 20-27 tháng 7 năm 1969 tới Havana (Cuba), tháng 5 năm 1974 tới Turnis và 26-30 tháng 9 năm 1985 tới Kork (Ai Len); 1-31 (30-?) tháng 6 năm 1967 và 1-31 tháng 12 năm 1968 ở khu vực chiến sự, thực hiện nhiệm vụ chiến đấu yểm trợ quân đội Ai Cập; 1 tháng 10 năm 1967 – 28 tháng 11 năm 1978 trải qua đại tu ở “Sevmorezavod” ở Sevastopol; 6 tháng 8 năm 1982 chuyển tới Hạm đội Phương Bắc; 1 tháng 10 năm 1988 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bảo quản trong dạng neo đậu; tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân 3 tháng 7 năm 1992; giải thể 23 tháng 10 năm 1992; năm 1994 bán cho công ty tư nhân Ấn Độ làm kim loại. Trong giai đoạn phục vụ đã mang cờ Hải quân Cận vệ, thừa hưởng từ tàu khu trục đề án 7-U thuộc Hạm đội Biển Đen.

+ “Provornưi” (số hiệu xưởng 1703); đến 1 tháng 10 năm 1964 là SKR-37; khởi công 10 tháng 2 năm 1961 ở xưởng số 200; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 23 tháng 3 năm 1962; hạ thủy 21 tháng 4 năm 1962; gia nhập biên chế 25 tháng 12 năm 1964; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 22 tháng 1 năm 1965; 1-30 tháng 6 năm 1967; 1-31 tháng 12 năm 1968 và 5-24 tháng 10 năm 1973 nằm trong khu vực chiến sự, thực hiện nhiệm vụ yểm trợ quân đội Ai Cập và Siri; 2-7 tháng 7 năm 1973 thăm cảng Marsille (Pháp); 23 tháng 3 năm 1974 – 3 tháng 4 năm 1975 nâng cấp tại “Sevmorezavod” ở Sevastopol và 5 tháng 11 năm 1976 trở thành đề án 61-#; 1 tháng 2 năm 1977 – 20 tháng 11 năm 1978 và 1 tháng 4 năm 1987 – 21 tháng 3 năm 1988 trải qua đại tu; tháo vũ khí và bị loại khỏi biên chế Hải quân 21 tháng 8 năm 1990; giải thể 31 tháng 12 năm 1990.

+ “Ognevoi” (số hiệu xưởng 751); đến 1 tháng 10 năm 1964 là SKR-31; khởi công 9 tháng 5 năm 1962 ở xưởng số 190; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 27 tháng 8 năm 1962; hạ thủy 31 tháng 5 năm 1963; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1964; gia nhập biên chế Hạm đội Baltic 21 tháng 1 năm 1965; 5 tháng 2 năm 1971 – 12 tháng 10 năm 1971 nâng cấp ở Leningrad theo đề án 61-MP và sau đó bàn giao sang Hạm đội Phương Bắc; 1 tháng 2 năm 1980 – 3 tháng 12 năm 1982 trải qua đại tu ở Kroshtadt; 31 tháng 10 – 4 tháng 11 năm 1975 thăm Lagos (Nigieria), tháng 2 năm 1985 – tới Fritaun (Sierra Leon); tháo vũ khí và bị loại khỏi biên chế Hải quân 25 tháng 4 năm 1989; giải thể 1 tháng 10 năm 1989.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Chín, 2012, 12:43:16 am
+ “Obraztsovưi” (số 752); đến 1 tháng 10 năm 1964 là SKR-2; khởi công 29 tháng 7 năm 1963 ở xưởng số 100; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 29 tháng 1 năm 1964; hạ thủy 23 tháng 2 năm 1964; gia nhập biên chế 29 tháng 9 năm 1965; gia nhập biên chế Hạm đội Baltic 2 tháng 11 năm 1965; 21-26 tháng 6 năm 1967 và 27-30 tháng 6 năm 1980 thăm Gdưnia (Ba Lan); 3-9 tháng 10 năm 1969 tớ Rostoc và Varnemiude (Cộng hòa dân chủ Đức); 8-13 tháng 5 năm 1970 tới Sherburg (Pháp); 24-29 tháng 6 năm 1974 tới Helsinki (Phần Lan); 5-9 tháng 10 năm 1974 một lần nữa tới Rostoc và 28 tháng 5 – 1 tháng 6 năm 1974 tới Porstmouth (Anh), còn tháng 1 năm 1971 hoàn thành chuyến công tác tới Fritaun (quần đảo Seishel); 29 tháng 6 – 10 tháng 7 năm 1970 ở khu vực chiến sự thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Ai Cập; 8 tháng 9 năm 1972 – 15 tháng 3 năm 1973 trải qua đại tu ở Kronshtadt; 13 tháng 4 năm 1977 – 10 tháng 11 năm 1984 trải qua đại tu ở Liepai; 25 tháng 8 năm 1988 được đưa đi đại tu ở Liepai; tháo vũ khí và bị loại khỏi biên chế Hải quân 30 tháng 6 năm 1993; giải thể 1 tháng 2 năm 1994.

+ “Odarennnưi” (số hiệu xưởng 753); khởi công 22 tháng 1 năm 1963 ở xưởng số 190; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 12 tháng 8 năm 1964; hạ thủy 11 tháng 9 năm 1964; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1965; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 11 tháng 1 năm 1966; mùa hè – thu năm 1966, theo đường biển Bắc đã hoàn thành cuộc hành quân từ vịnh Kolsk tới Vladivostoc và 8 tháng 10 năm 1966 chuyển tới Hạm đội Thái Bình Dương; 18-23 tháng 11 năm 1976 tới thăm Barsa (Iraq), 1-5 tháng 12 năm 1976 tới Bender-Abbas (Iran); 20-24 tháng 1 năm 1977 tới Maputa (Mozambic); 10-14 tháng 3 năm 1977 tới Port-Lui (Mavriki) và 16-19 tháng 10 năm 1980 tới Nochin (Ấn Độ); 4 tháng 7 năm 1987 bị loại khỏi biên chế Hải quân; bảo quản và đưa tới neo đậu; 19 tháng 4 năm 1990 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 31 tháng 8 năm 1990.


+ “Otvaszhnưi” (số hiệu xưởng 1704); đến 17 tháng 2 năm 1965 là “Orel”; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 3 tháng 7 năm 1963; khởi công 10 tháng 8 năm 1963 ở xưởng số 200; hạ thủy 17 tháng 10 năm 1964; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1965; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 25 tháng 1 năm 1965; 5-30 tháng 6 năm 1967 ở khu vực chiến sự thực hiện nhiệm vụ yểm trợ quân đội Ai Cập; 10-14 tháng 7 năm 1967 tới thăm Port-Said (Ai Cập); 15-19 tháng 10 năm 1973 tới Taranto và 19-22 tháng 10 năm 1973 tới Messina (Italia); 30 tháng 8 năm 1974 ở tàu xảy ra vụ cháy ở kho tên lửa mạn tàu và sau những nỗ lực cứu nạn (cứu kéo) không thành công, tàu đã bị đắm ở biển Đen; bị loại khỏi biên chế Hải quân 12 tháng 11 năm 1974; sau đó các phần còn lại của tàu, một phần bị hủy dưới đáy biển, một phần được trục vớt.

+ “Slavnưi” (số hiệu xưởng 754); ghi tên vào danh sách Hải quân 9 tháng 7 năm 1964; khởi công 27 tháng 6 năm 1964 ở xưởng số 190; hạ thủy 24 tháng 4 năm 1965; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1966; gia nhập biên chế Hạm đội Baltic 17 tháng 10 năm 1966; 28-29 tháng 10 năm 1967; 3-9 tháng 10 năm 1969 và 23-28 tháng 10 năm 1987 thăm Rostoc (Cộng hòa dân chủ Đức); 17-22 tháng 8 năm 1971 tới Copenhagen (Đan Mạch); 11-15 tháng 10 năm 1985 tới Havana (Cuba); 18-23 tháng 7 năm 1987 tới Gdưnia và 19-24 tháng 7 năm 1988 tới Setsin (Ba Lan); 14 tháng 6-29 tháng 7 năm 1972 nằm ở khu vực chiến sự làm nhiệm vụ yểm trợ quân đội Ai Cập và Siri; 6 tháng 12 năm 1973-4 tháng 12 năm 1975 nâng cấp ở Leningrad theo đề án 61-MP; 15 tháng 12 năm 1989 bị loại khỏi biên chế Hải quân, bảo quản và neo đậu; 19 tháng 2 năm 1991 tháo niêm cất và trở lại biên chế; tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân 24 tháng 6 năm 1991; giải thể 31 tháng 12 năm 1991.

+ “Stroinưi” (số hiệu xưởng 1705); khởi công 20 tháng 3 năm 1964 ở xưởng số 200; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 24 tháng 5 năm 1965; hạ thủy 28 tháng 7 năm 1965; gia nhập biên chế 15 tháng 12 năm 1966; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 30 tháng 12 năm 1966; 25-28 tháng 10 năm 1969 tới thăm Reikiavic (Ai xơ len); 28 tháng 5 năm 1971-19 tháng 2 năm 1972 trải qua đại tu; 28 tháng 12 năm 1975-14 tháng 7 năm 1981 nâng cấp ở Nikolaev và 6 tháng 11 năm 1980 trở thành đề án 61-MP; 19 tháng 1 năm 1990 được đưa đến đại tu ở Murmansk; tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân 12 tháng 4 năm 1990; giải thể 31 tháng 1 năm 1991.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Chín, 2012, 01:18:26 am
+ “Steregusi” (số hiệu xưởng 755); ghi tên vào danh sách Hải quân 9 tháng 7 năm 1964; khởi công 26 tháng 7 năm 1964 ở xưởng số 190; hạ thủy 20 tháng 2 năm 1966; gia nhập biên chế 21 tháng 12 năm 1966; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương 7 tháng 1 năm 1967; 17-24 tháng 3 năm 1968 thăm Madras; 3-6 tháng 4 năm 1968 tới Bombei (Ấn Độ); 17-24 tháng 4 năm 1968 tới Mogadisho (Somali); 11-19 tháng 5 năm 1968 tới Umm-Kars và Basra (Iraq); 25 tháng 5-2 tháng 6 năm 1968 tới Karachi (Pakistan); 5-9 tháng 6 nawm1 968 tới Bender-Abbas (Iran); tháng 6 năm 1968 tới Aden (Nam Yemen) và 6-11 tháng 7 năm 1968 tới Colombo (Sri Lanka); 31 tháng 12 năm 1978 bị loại khỏi biên chế Hải quân, niêm cấp và đưa vào neo đậu; tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân 30 tháng 6 năm 1993; giải thể 11 tháng 2 năm 1994.

+ “Krasnưi Kavkaz” (số hiệu xưởng 1706); ghi tên vào danh sách Hải quân 25 tháng 11 năm 1964; khởi công 25 tháng 11 năm 1964 ở xưởng số 200; hạ thủy 9 tháng 2 năm 1966; gia nhập biên chế 25 tháng 9 năm 1967; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 13 tháng 10 năm 1967; 1-30 tháng 6 năm 1967 và 1 tháng 1 – 31 tháng 12 năm 1968 ở khu vực chiến sự làm nhiệm vụ yểm trợ quân đội Ai Cập và 5-24 tháng 10 năm 1973 tới Latakia (Siri); 10-14 tháng 8 năm 1984 tới Varna (Bulgaria); 12-16 tháng 8 năm 1985 và 17-21 tháng 11 năm 1987 tới Tunidi; 20-24 tháng 10 năm 1986 tới Havana (Cuba) và 24-28 tháng 6 năm 1991 tới Tulon (Pháp); 10 tháng 3 năm 1981 – 19 tháng 7 năm 1984 trải qua đại tu ở Sevastopol; cuối những năm 1980 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân và giải thể. Ở thời điểm ghi tên được trao lá cờ Hải quân Cận vệ thừa hưởng từ tàu tên lửa cùng tên trong Hạm đội Biển Đen.

+ “Reshitelnưi” (số hiệu xưởng 1707); khởi công 25 tháng 6 năm 1965 ở xưởng số 200; hạ thủy 30 tháng 6 năm 1966; ghi tên vào danh sách Hải quân 24 tháng 1 năm 1967; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1967; gia nhập biên chế hạm đội Biển Đen 11 tháng 1 năm 1968; 1-30 tháng 6 năm 1967 và 1 tháng 4 – 31 tháng 12 năm 1968 ở khu vực chiến sự thực hiện nhiệm vụ yểm trợ quân đội Ai Cập; 9-12 tháng 8 năm 1969 tới thăm Varna (Bulgaria); 14-18 tháng 12 năm 1971 tới Laktakia (Siri); 6-9 tháng 10 năm 1978 tới Messina (Italia) và 16-20 tháng 11 năm 1978 tới Stambul (Thổ Nhĩ Kỳ); 1 tháng 11 năm 1989 bị loại khỏi biên chế Hải quân, niêm cất và đưa vào neo đậu; sau đó bị giải thể.

+ “Smưshlenưi” (số hiệu xưởng 1708); khởi công 15 tháng 8 năm 1965 ở xưởng số 200; hạ thủy 22 tháng 10 năm 1966; ghi tên vào danh sách Hải quân 1 tháng 7 năm 1966; gia nhập biên chế 27 tháng  9 năm 1968; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 21 tháng 10 năm 1967; 31 tháng 10 – 9 tháng 11 năm 1971 tới thăm Havana (Cuba); 10-14 tháng 5 năm 1978 tới Bordeaux (Pháp) và 25-30 tháng 5 năm 1987 tới San-Tom (San Tom và Prinsipi); 1975-1977 nâng cấp ở Nikoalaev theo đề án 61-MP; tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân 22 tháng 2 năm 1993; giải thể 30 tháng 6 năm 1993.

+ “Strogi” (số hiệu xưởng 1709); khởi công 22 tháng 2 năm 1966 ở xưởng số 200; hạ thủy 29 tháng 4 năm 1967; ghi tên vào danh sách Hải quân 12 tháng 1 năm 1968; gia nhập biên chế 24 tháng 12 năm 1968; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương 8 tháng 1 năm 1969; 7-15 tháng 12 năm 1969 thăm Berbera, Mogadiso và Kismaia (Somali); 4-8 tháng 2 năm 1972 tới Massaua (Etiopia); 2-7 tháng 6 năm 1978 tới Victoria (quần đào Seisel); 5-10 tháng 11 năm 1978 tới Hải Phòng (Việt Nam) và 22-26 tháng 6 năm 1985 tới Mapata (Mozambic); 1 tháng 11 năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân; niêm cất và đưa đến neo đậu; tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân 30 tháng 6 năm 1993; giải thể 11 tháng 2 năm 1994.

+ (*) “Smetlivưi” (số hiệu xưởng 1710); khởi công 15 tháng 7 năm 1966 ở xưởng số 200; hạ thủy 26 tháng 8 năm 1967; ghi tên vào danh sách Hải quân 15 tháng 6 năm 1968; gia nhập biên chế 25 tháng 9 năm 1969; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 21 tháng 10 năm 1969; 6-12 tháng 3 năm 1973 tới thăm Latakia (Siri); 26 tháng 9-1 tháng 10 năm 1973 tới Split (Nam Tư); 9-13 tháng 8 năm 1974 tới Varna (Bulgaria) và 26 tháng 6 – 1 tháng 7 năm 1980 tới Tunis (Tuynidi); 19 tháng 2 năm 1987 được đưa vào đại tu ở Sevastopol; trang bị lại theo đề án 01090.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Chín, 2012, 12:16:42 am
+ “Smelưi” (số hiệu xưởng 1711); khởi công 15 tháng 11 năm 1966 ở xưởng số 200; hạ thủy 6 tháng 2 năm 1968; ghi tên vào danh sách Hải quân 20 tháng 12 năm 1968; gia nhập biên chế 27 tháng 12 năm 1969; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 9 tháng 1 năm 1970; 17-22 tháng 9 năm 1976 tới thăm Messina (Italia); 8-13 tháng 4 năm 1978 tới Algieri và 13-18 tháng 4 năm 1979 tới Rieka (Nam Tư); 1976-1977 nâng cấp ở “Sevmorzavod” theo đề án 61-MP; 17 tháng 12 năm 1982 – 30 tháng 1 năm 1985 trải qua đại tu ở Riga và bàn giao cho Hạm đội Baltic; năm 1987 tiếp nhận quyết định chuyển tàu cho Ba Lan thuê; 19 tháng 1 năm 1988 bàn giao cho Ba Lan và đổi tên là “Varsaw”; loại khỏi biên chế Hải quân 5 tháng 3 năm 1988.

+ “Krasnưi Krưm” (số hiệu xưởng 1712); khởi công 23 tháng 2 năm 1968 ở xưởng số 200; hạ thủy 28 tháng 2 năm 1969; ghi tên vào danh sách Hải quân 9 tháng 2 năm 1970; gia nhập biên chế 15 tháng 10 năm 1970; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 20 tháng 10 năm 1970; 15-19 tháng 5 năm 1971 và 1-29 tháng 2 năm 1972 ở khu vực chiến sự làm nhiệm vụ yểm trợ cho quân đội Ai Cập; 3-7 tháng 7 năm 1975 tới thăm Tulon (Pháp); 14-19 tháng 10 năm 1976 tới Split (Nam Tư); 5-9 tháng 8 năm 1977 tới Constants (Rumani); 12-16 tháng 8 năm 1985 tới Tuynidi và 11-14 tháng 6 năm 1990 tới Taranto (Italia); 6 tháng 10 năm 1978 – 28 tháng 8 năm 1983 trải qua đại tu ở “Sevmorezavod” ở Sevastopol; 1 tháng 6 năm 1992 phân loại thành tàu tuần tra tên lửa; tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân 24 tháng 6 năm 1993; giải thể 11 tháng 2 năm 1994; từ 30 tháng 6 năm 1970 mang cờ Hải quân Cận vệ thừa hưởng từ tàu tuần dương cùng tên trong Hạm đội Biển Đen.

+ “Sposobnưi” (số hiệu xưởng 1713); khởi công 10 tháng 3 năm 1969 ở xưởng số 200; hạ thủy 11 tháng 4 năm 1970; ghi tên vào danh sách Hải quân 25 tháng 4 năm 1970; gia nhập biên chế 25 tháng 9 năm 1971; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương 27 tháng 10 năm 1971; 20-24 tháng 12 năm 1973 tới thăm Port-Lui (Mavriki) và 25-30 tháng 8 năm 1976 tới Vancover (Canada); 30 tháng 7 năm 1987 được mang tới đại tu ở Sevastopol; bị loại khỏi danh sách Hải quân 3 tháng 7 năm 1992 nhưng 29 tháng 10 năm 1992 đưa lại vào biên chế Hạm đội Biển Đen 20 tháng 11 năm 1993 bàn giao cho xưởng “Sevmorezavod” mang tên S.Ordzhonikidze (thành phố Sevastopol) theo kết quả trả nợ cho xí nghiệp thuộc Hải quân.

+ “Skorưi” (số hiệu xưởng 1714); khởi công 20 tháng 4 năm 1970 ở xưởng số 200; ghi tên vào danh sách Hải quân 20 tháng 10 năm 1970; hạ thủy 26 tháng 2 năm 1971; gia nhập biên chế 23 tháng 9 năm 1972; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 31 tháng 10 năm 1972; 26 tháng 9 – 1 tháng 10 năm 1973 và 12-17 tháng 5 năm 1975 tới thăm Split (Nam Tư); 14-19 tháng 10 năm 1974 tới Port-Lui (Mavriki); 19-23 tháng 11 năm 1974 tới Dacar (Senegal) và 20-25 tháng 10 năm 1978 tới Pirei (Hy Lạp); 5-24 tháng 10 năm 1973 ở khu vực chiến sự làm nhiệm vụ yểm trợ quân đội Ai Cập và Siri; 23 tháng 7 – 22 tháng 9 năm 1974 – quân đội Ai Cập; 4 tháng 8 – 14 tháng 10 năm 1974 đảm bảo quét mìn ở kênh đào Suez; 30 tháng 7 năm 1982 – 16 tháng 9 năm 1985 trải qua đại tu ở “Sevmorezavod” tại Sevastopol; đầu những năm 1990 bị tháo vũ khí, loại khỏi biên chế Hải quân và giải thể.

+ (*) “Sderzhannưi” (số hiệu xưởng 1715); ghi tên vào danh sách Hải quân 20 tháng 10 năm 1970; khởi công 10 tháng 3 năm 1971 ở xưởng số 200; đóng tiếp theo đề án 61-M; hạ thủy 29 tháng 2 năm 1972; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1973; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 7 tháng 2 năm 1974; 12-17 tháng 5 năm 1976 tới thăm Tripoli (Libia); 31 tháng 10 năm 1985 – 12 tháng 10 năm 1987 trải qua đại tu tại “Sevmorezavod” ở Sevastopol.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Chín, 2012, 12:17:08 am
Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 3 400

+ hoàn toàn: 4 390

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 144 (132)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 15,8 (14)

+ lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 4,6 (-)

Thiết bị năng lượng chính: tuabin khí

+ 2 tổ hợp M-3 (4 tuabin khí M-8E), tổng công suất, sức ngựa (kW): 72 000 (52 900)

+ các máy phát điện tuabin GTU-6, công suất (kW): 2x-

2 trục, 2 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ tối đa: 35,5

+ tiết kiệm năng lượng: 18

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý)

+ 3500 (18)

+ 3000 (23)

+ 2600 (34)

Thời gian hoạt động: 10 ngày

Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 266 (22).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Chín, 2012, 12:17:30 am
Vũ khí

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng Zif-101 thuộc tổ hợp tên lửa phòng không M-1 “Volna”: 2x2

+ tên lửa phòng không điều khiển V-600 (SA-N-1 “Goa”): 32

Pháo

+ thiết bị pháo 76,2mm AK-726: 2x2

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm PTA-53-61: 1x5

Chống ngầm

+ RBU-6000 “Smerch-2”: 2x12

+ RGB-60: 96

+ RBU-1000 “Smerch-3”: 2x6

+ RGB-10: 24

Mìn

+ có thể mang theo mìn trên boong trên: 20

Vũ khí đường không

+ trực thăng Ka-25PLO (“Hormone A”): 1 (trên bãi cất hạ cánh thẳng).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Chín, 2012, 12:17:52 am
Trang bị vô tuyến điện

Thiết bị kiểm soát thông tin chiến đấu

+ “More-U” trên 2 tàu đầu tiên hoặc

+ “Planshet-61” trên các tàu còn lại

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp

+ 2xMR-300 “Angara” (Head Net A) trên các tàu đầu tiên

+ 1xMR-310 “Angara” (Head Net C) và

+ 1xMR-500 “Kliver” (Big Net) trên các tàu còn lại

Đài thủy âm định vị

+ “Titan” (Bull Nose hoặc Bull Horn)

+ “Vưchegda”

Các khí tài tác chiến điện tử

+ “Zaliv”

+ “Krab-11”; “Krab-12” (2 Bell Shroud; 2 Watch Dog) hoặc

+ MR-262 “Ograda-1” (Guard Dog)

+ máy bảo vệ thủy âm (2)

Các tổ hợp bắn nhiễu

+ 4x16 thiết bị phóng PK-16 trên 1 số tàu

Các khí tài quang điện

+ 3xMT-45 (Tee Plinth)

+ 4x(Titt Pot)

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ 2x4R-90 “Yatagan” (Peel Group) cho tổ hợp tên lửa phòng không “Volna”

+ 2xMR-105 “Turel” (Owl Screech) cho thiết bị pháo

Các khí tài thông tin liên lạc

+ tổ hợp các khí tài

Đài ra đa định vị hội thoại nói: -.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Chín, 2012, 12:19:10 am
Đề án 1125

Tổng số tàu đã đóng: 0

Biến thể: không có.

Vào cuối năm 1962, trong biên chế Hải quân Liên Xô gia nhập tàu chống ngầm lớn đề án 61 “Đoàn viên thanh niên cộng sản Ukraina” do Phòng Thiết kế trung ương số 53 thực hiện từ năm 1966. Đây là dòng tàu chống ngầm loại lớn đầu tiên được trang bị thiết bị tuabin khí và trong kết quả là bước ngoặt không chỉ ở Liên Xô mà còn trong ngành đóng tàu quân sự thế giới. Mặc dù việc đóng tàu đề án này được dự trù từ năm 1959, khi đó đã rõ ràng rằng quan điểm từ vũ khí chống ngầm chỉ có 1 thiết bị ngư lôi và 4 thiết bị phóng bom phản lực, tàu này không thể đủ hiệu quả chống lại các tàu ngầm nguyên tử của địch. Vì thế, vào năm 1958, nhiệm vụ chiến dịch – chiến thuật thiết kế tàu chống ngầm lớn mang vũ khí mạnh hơn theo đề án 1125 được giao cho nhóm B.I.Kupensky. Sự khác biệt chính của nó là nó sẽ mang trên thành (trang bị) thiết bị RBU-24 000 6 ống phóng để bắn tên lửa chống ngầm “Vikhr” với bộ phận chiến đấu (đầu đạn) nguyên tử và có 1 hoặc 2 trực thăng chống ngầm đóng thường trực trên tàu.

Theo các kết quả công việc thiết kế sơ bộ, lượng choán nước của tàu: tiêu chuẩn: 5900 tấn, thường: 6650 tấn, hoàn toàn: 7400 tấn. Để tăng cường các công việc thiết kế được chế tạo trên thân tàu khu trục đề án 58 với các kích thước 160x16x6 mét và với cùng thiết bị tuabin nồi hơi công suất 2x45 000 sức ngựa. Tốc độ tối đa của tàu dự kiến là 40 hải lý, cho phép nhanh chóng đuổi kịp tàu ngầm nguyên tử, có tốc độ ở tư thế ngầm 30 hải lý.

Trang bị của tàu chống ngầm loại lớn đề án 1125 ngoài RBU-24 000 còn có 2 tổ hợp tên lửa phòng không M-1 “Volna” với các thiết bị phóng 2 thùng,2 thiết bị pháo nòng đôi 76,2mm AK-725, 2 thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000 và 2 thiết bị ngư lôi 533mm 5 ống. Trong phần mạn tàu dự định thiết kế bãi cất hạ cánh thẳng và hang ga dưới boong cho 1 trực thăng (hoặc 2), đồng thời trữ lượng nhiên liệu hàng khong và hầm đạn.

Cuối cùng, việc sử dụng dòng tàu chống ngầm lớn đề án 61 đã từ bỏ đề án 1125, còn tên lửa chống ngầm “Vikhr” (đã ở trong dạng thiết bị phóng 2 thùng được nạp đạn) đã được nhận vào trang bị chỉ trên các tàu tuần dương chống ngầm chở máy bay các đề án 1123 và 1143. Đầu tiên, quyết định về việc không chấp nhận được tiếp nhận chiều theo ngành công nghiệp, kết quả là Hải quân Liên Xô đã bỏ lỡ cơ hội triển khai (phát triển) hệ thống chống ngầm mạnh hơn và sau đó là chế tạo. Toàn bộ các tàu này có thể được đóng với số lượng nhiều, bắt nguồn từ giá thành đóng loạt của chúng. Ngoài ra, đề án 1125 có thể sau đó được nâng cấp với sự xuất hiện vũ khí mới – vốn không làm được với đề án 61 do bố cục rất thô cứng của nó.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Chín, 2012, 12:27:26 am
Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 5900

+ thường: 6650

+ hoàn toàn: 7400

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất: 160

+ chiều rộng nhất: 16

+ lượng mớn nước trung bình: 6

Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi

+ 4 nồi hơi nước KVN-95/64

+ 2 tô hợp tuabin răng cưa TV-12, tổng công suất, sức ngựa (kW): 90 000 (66 150)

2 trục, 2 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ tối đa: 40

+ tiết kiệm năng lượng: 24

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 4000 (24)

Thời gian hoạt động: 15…20

Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): -


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Chín, 2012, 12:32:02 am
Vũ khí

Tên lửa chống ngầm

+ thiết bị phóng tên lửa chống ngầm “Vikhr”: 1x6

+ tên lửa chống ngầm 82-R: 6

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng Zif-101 của tổ hợp tên lửa phòng không M-1 “Volna”: 2x2

+ tên lửa phòng không điều khiển V-600: 32

Pháo

+ thiết bị pháo 76,2mm AK-726: 2x2

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm PTA-53-61: 2x5

Chống ngầm

+ RBU-6000 “Smerch-2”: 2x12

+ cơ số đạn: 96

Vũ khí hàng không

+ trực thăng Ka-25PLO (“Hormone A”: 1… 2.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Chín, 2012, 12:39:46 am
(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1125_draw2_zps27643de1.jpg)

Trang bị vô tuyến điện

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: -

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp

+ 1xMR-300 “Angara”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu bay tầm thấp

+ 1x-

Đài ra đa định vị đạo hàng

+ 1x-

Đài thủy âm định vị

+ “Titan”

Các khí tài tác chiến điện tử: -

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực


+ 2x4R-90 “Yatagan” cho tổ hợp tên lửa phòng không “Volna”

+ 2xMR-105 “Turel” cho thiết bị pháo

Các khí tài thông tin liên lạc: -

Đài ra đa định vị hội thoại nói: -.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 29 Tháng Chín, 2012, 12:26:09 am
Tàu chống ngầm loại lớn lớp “Nadezhnưi” – Đề án 61-ME – lớp Kashin-II

(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/61em_2_zps02657271.jpg)

Tổng số tàu đã đóng: 5

Vào cuối những năm 1970, các tàu chống ngầm loại lớn đề án 61-M và 61-MP thực tế đã trở thành các tàu đa chức năng trong Hải quân Liên Xô. Trên các tàu đề án sau thậm chí không thường xuyên đạt được sự hài hòa các phần tử kỹ - chiến thuật, như đã được làm trên các tàu đề án 61. Rõ ràng sự hài hòa về phần tử kỹ - chiến thuật này đã dẫn đến sự qua tâm của phái đoàn quân sự Ấn Độ tới các tàu đề án 61-M năm 1974, khi họ tham quan các tàu Hải quân ở Sevastopol và đã tìm ra cho Hải quân Ấn Độ nguyên mẫu cần thiết. Nhược điểm của tàu này là không có hang ga cho các trực thăng và pháo yếu. Những sự nghiên cứu đã chỉ ra rằng do kết quả việc tháo pháo tự động 76mm AK-726 ở mạn tàu và hệ thống điều khiển “Turel” có thể bố trí ra đa nửa chìm. Thiết bị pháo ở mũi tàu dự kiến thay thế bằng pháo 100mm AK-100.

Thực tế đề án mới của tàu (Tổng công trình sư A.A.Shishkin) đã nhận số hiệu 61-ME. Trong sự khác biệt với đề án 61-M, các thiết bị phóng với biến thể xuất khẩu của tên lửa chống tàu P-20 được bố trí ở mũi tàu, còn sự bố trí ở mũi pháo 100mm không thành công do những nguyên nhân khác nhau, ngành đóng tàu khi đó chưa với tới. Ngoài ra, tàu chống ngầm lớn có tổ hợp tên lửa phòng không nâng cấp “Volna-P” với tên lửa chống nhiễu V-601, 2 RBU-6000, thiết bị ngư lôi 533mm và 4 tổ hợp pháo phòng không 30mm AK-230 với đài ra đa định vị điều khiển “Vưmpel” (trên 2 tàu sau cùng lắp tổ hợp pháo phòng không AK-630).

Tổng cộng theo đề án này cho Hải quân Ấn Độ đã đóng ban đầu 3 tàu, sau đó thêm 2 tàu. Sau khi tiếp nhận vào trang bị, toàn bộ các tàu chống ngầm lớn bắt đầu đồng thời gia nhập Hải quân Liên Xô và chỉ bàn giao cho đối tác sau đó. Theo cách này, các tàu đề án 61-ME đã trở thành những tàu chiến lớn đầu tiên được đóng ở Liên Xô một cách đặc biệt dành cho xuất khẩu. Trong Hải quân Ấn Độ, chúng được phân loại thành các tàu khu trục, còn ở Phương Tây nhận tên gọi lớp Kashin-II.

Sau đó, tàu khu trục D51 “Rajput” được trang bị hệ thống tác chiến điện tử “Bharat Ajanta” được thiết kế ở Ấn Độ. Còn từ năm 2003, tàu là bệ thí nghiệm cho tên lửa chống tàu “Brahmos” do Nga và Ấn Độ hợp tác sản xuất (biến thể xuất khẩu của tên lửa chống tàu “Yakhont”).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 29 Tháng Chín, 2012, 12:44:35 am
Tóm tắt lịch sử phục vụ

(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/61me_01_zps9019b463.jpg)

+ “Nadezhnưi” (số hiệu xưởng 2201); 14 tháng 4 năm 1976 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân Liên Xô và 11 tháng 9 năm 1976 khởi công theo đơn đặt mua của chính phủ Ấn Độ ở xưởng mang tên 61 chiến sĩ Công xã ở Nikolaev; hạ thủy 17 tháng 9 năm 1977; gia nhập biên chế 30 tháng 11 năm 1979 và đồng thời gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 4 tháng 5 năm 1980 bàn giao cho Hải quân Ấn Độ và đổi tên thành D51 “Rajput”.

+ “Gubitelnưi” (số hiệu xưởng 2202); 29 tháng 11 năm 1976 khởi công theo đợt đặt mua của chính phủ Ấn Độ ở xưởng mang tên 61 chiến sĩ Công xã ở Nikolaev và 13 tháng 2 năm 1978 ghi tên vào danh sách các tàu Hải quân Liên Xô; hạ thủy 27 tháng 9 năm 1978; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1981 đồng thời gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 10 tháng 2 năm 1982 bị loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô và bàn giao cho Hải quân Ấn Độ, đổi tên thành D52 “Rana”; 16 tháng 5 năm 1977 được định danh là “Pưtlivưi”.

+ “Lovki” (số hiệu xưởng 2204); 24 tháng 10 năm 1981 khởi công theo đơn đặt mua của chính phủ Ấn Độ ở xưởng mang tên 61 chiến sĩ Công xã ở Nikolaev; hạ thủy 12 tháng 3 năm 1983 và 11 tháng 4 năm 1983 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân Liên Xô; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1985 trong Hạm đội Biển Đen; năm 1986 bàn giao cho Hải quân Ấn Độ và đổi tên thành D54 “Ranvir”; 16 tháng 5 năm 1977 định danh là “Porazhayusi”.

+ “Tverdưi” (số hiệu xưởng 2204); 24 tháng 10 năm 1981 khởi công theo đơn đặt mua của chính phủ Ấn Độ ở xưởng mang tên 61 chiến sĩ Công xã; hạ thủy 12 tháng 3 năm 1983 và 11 tháng 4 năm 1983 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân Liên Xô; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1985 trong Hạm đội Biển Đen; năm 1986 bàn giao cho Ấn Độ và đổi tên thành D54 “Ranvir”.

+ “Tolkovưi” (số hiệu xưởng 2205); 19 tháng 3 năm 1982 khởi công theo đơn đặt mua của chính phủ Ấn Độ ở xưởng mang tên 61 chiến sĩ Công xã ở Nikolaev và 11 tháng 4 năm 1984 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân Liên Xô; hạ thủy 1 tháng 2 năm 1986; gia nhập biên chế 15 tháng 10 năm 1987 trong Hạm đội Biển Đen; năm 1988 bàn giao cho Hải quân Ấn Độ và đổi tên thành D55 “Ranvijay”.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 29 Tháng Chín, 2012, 12:58:08 am
Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 4025

+ hoàn toàn: 4905

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 146,11 (-)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 15,81 (-)

+ lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 6,83 (-)

Thiết bị năng lượng chính: tuabin khí

+ 2 tổ hợp M-3 (3 tuabin khí M-8E), tổng công suất, sức ngựa (kW): 72 000 (52 900)

+ các máy phát điện tuabin GTU-6, công suất (kW) 2x-

Tốc độ, hải lý

+ tối đa: 30

+ tiết kiệm năng lượng: 18

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 3800 (18)

Thời gian hoạt động: 10 ngày

Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 321…320 (33… 35).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 29 Tháng Chín, 2012, 01:16:15 am
Vũ khí

Tên lửa tấn công

+ thiết bị phóng tổ hợp tên lửa chống tàu P-20M: 4x1

+ tên lửa chống tàu P-20M (SS-N-2D “Styx”): 4

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng Zif-101 tổ hợp tên lửa phòng không M-1 “Volna-P”: 2x2

+ tên lửa phòng không điều khiển V-601 (SA-N-1A “Goa”): 32

Pháo

+ thiết bị pháo 76mm AK-726: 1x2

+ tổ hợp pháo phòng không 30mm AK-230 hoặc tổ hợp pháo AK-630: 4x2 hoặc 4x6

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm PTA-53-61: 1x5

Chống ngầm

+ RBU-6000 “Smerch-2”: 2x12

+ RGB-60: 192

Vũ khí đường không

+ trực thăng Ka-28 (“Helix A”) hoặc “Chetak”: 1.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 29 Tháng Chín, 2012, 01:22:37 am
Trang bị vô tuyến điện

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu

+ “Planshet-61”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp

+ 1xMR-310 “Angara-A” (Head Net C)

+ 1xMR-500 “Kliver” (Big Net)

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm thấp:

+ 2x”Volga” (Palm Frond)

Đài thủy âm định vị

+ “Platina” (Bull Horn; Mare Tail)

Các khí tài tác chiến điện tử

+ “Zaliv”

+ “Krab-11”; “Krab-12” (2 Bell Shroud; 2 Watch Dog)

+ “Bharat Ajanta” trên 1 tàu

Các tổ hợp bắn nhiễu

+ 4x16 thiết bị phóng PK-16

Các khí tài quang điện

+ 3xMT-45 (Tee Plinth)

+ 4x (Tilt Pot)

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ 2x4R-90 “Yatagan” (Peel Group) cho tổ hợp tên lửa phòng không “Volna”

+ 1xMR-105 “Turel” (Owl Screech) cho thiết bị pháo

+ 2xMR-123 “Vưmpel” (Bass Tilt) cho tổ hợp pháo phòng không

Các khí tài thông tin liên lạc

+ tổ hợp các khí tài

Đài ra đa định vị hội thoại nói: -.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 29 Tháng Chín, 2012, 02:00:46 am
Đề án 61-A

(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/61a_draw1_zps2d9fa153.jpg)

Một trong số các dự án thiết kế thuộc đề án sơ bộ tàu chống ngầm loại lớn đề án 61-A

Tổng số tàu đã đóng: 0

Biến thể: 0

Tương ứng với mệnh lệnh của Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô từ 30 tháng 12 năm 1961 ở Phòng thiết kế Phương Bắc đã bắt đầu thiết kế tàu phòng không – chống ngầm đề án 1134 được phát triển từ tàu tuần dương tên lửa đề án 58 và có, ngoài vũ khí phòng không và chống ngầm, còn có thêm các tên lửa chống tàu và tên lửa có cánh. Theo đề án này, đã đóng cho Hải quân Liên Xô 4 tàu và gia nhập biên chế trong những năm 1968-69. Sự phát triển tiếp theo của đề án 1134 là các tàu chống ngầm lớn đề án 1134-A – đã được đóng với số lượng 10 chiếc (gia nhập biên chế những năm 1969-77). Sau khi bắt đầu các công việc trên đề án 1134 ở Phòng thiết kế Phương Bắc đồng thời bắt đầu các công việc phát triển tàu chống ngầm loại lớn đề án 61 và đề án 61-bis được thực hiện trong khuôn khổ được nhiệm vụ kỹ - chiến thuật được đưa ra vào năm 1964. Các công việc theo đề án 61-A tiến triển tốt hơn.

Tương ứng với nhiệm vũ kỹ - chiến thuật, tàu phòng không – chống ngầm với thiết bị năng lượng hạt nhân. Nhiệm vụ chính – bảo vệ tàu sân bay đề án 1160 đồng thời cũng có thiết bị năng lượng hạt nhân. Nó sẽ thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm và tiêu diệt tàu ngầm của đối phương ở những khu vực xa trên đại dương, đồng thời thực hiện nhiệm vụ phòng không và chống ngầm trong cụm tàu chiến.

Trong sự thiết kế sơ bộ tàu đề án 61-A tiếp nhận lượng choán nước 8 000 tấn. Mặc dù trên số đề án là 61, nhưng theo bố cục, phần lớn nó gần với đề án 1134. Trong việc thực hiện nhiệm vụ kỹ - chiến thuật, tàu trang bị các khí tài phòng không mạnh: 2 tổ hợp tên lửa phòng không “Shtorm” với thiết bị phóng 2 thùng trên mũi và mạn tàu (tầm xa 35km) và 2 tổ hợp phòng không tự vệ “Osa-M” có các thiết bị phóng di động bố trí theo thành tàu. Các khí tài phòng không được bổ sung 2 pháo nòng đôi 76mm AK-726 và 2 cụm pháo phòng không tự động AK-230. Vũ khí chống ngầm, tương ứng theo nhiệm vụ kỹ - chiến thuật vừa đủ mạnh: thiết bị phóng dẫn bắn 5 ống của tổ hợp tên lửa chống ngầm (tương lai là “Metel”), 2 thiết bị ngư lôi 5 ống phóng 533mm cho các ngư lôi chống ngầm, 2 thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000 ở mũi và 2 RBU-1000 ở mạn. Dự kiến trực thăng chống ngầm Ka-25 đóng thường trực tren tàu và để làm việc này có hang ga và bãi cất – hạ cánh thẳng. Trong vai trò khí tài phát hiện mục tiêu đã nghiên cứu đài ra đa định vị “Voskhod” và “Angara-A”, đồng thời đài thủy âm định vị “Titan-2”.

Thiết bị năng lượng hạt nhân của tàu được bổ sung thiết bị tuabin nồi hơi hỗ trợ. Kết quả, trên đề án 61 ống khói được tách rời khá rõ – bố trí giữa thiết bị phóng của tổ hợp tên lửa phòng không “Shtorm” và trạm ăng ten của hệ thống điều khiển “Grom” của tổ hợp này.

Sau khi nghiên cứu đề án sơ bộ, Bộ Công nghiệp đóng tàu và Hải quân vào tháng 4 năm 1966 do từ chối đóng tàu sân bay đề án 1160, Phòng thiết kế Phương Bắc đã được khuyến nghị sử dụng nghiên cứu theo đề án này khi thiết kế tàu chống ngầm loại lớn đề án 1134-B. Còn đề tài tàu hộ vệ với thiết bị năng lượng hạt nhân đã bị dừng lại.

Một vài năm sau đó, khi xuất hiện sự cần thiết, chủ đề tương tự đã được mở lại, nhưng khi đó là theo đề án tàu chống ngầm loại lớn 1144 mà sau đó được chuyển thành tàu tuần dương tên lửa nguyên tử hạng nặng.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 29 Tháng Chín, 2012, 02:07:50 am
Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: gần 8 000

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất: 165…175

+ chiều rộng nhất: 17… 18

+ lượng mớn nước: gần 6

Thiết bị năng lượng chính: nguyên tử

+ 1 lò phản ứng nước, tổng công suất, mW: -

+ 1 thiết bị sản xuất hơi nước, 2 thiết bị tuabin răng cưa, tổng công suất, sức ngựa (kW): -

+ 2 nồi hơi dự bị, công suất, kW: -

2 trục, 2 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ tối đa: gần 30

+ tiết kiệm năng lượng: 16… 18

Tầm bơi xa bằng nồi hơi, dặm (tốc độ, hải lý): -

Thời gian hoạt động: 30 ngày

Thủy thủy đoàn, người: 350… 400.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 29 Tháng Chín, 2012, 02:13:38 am
Vũ khí

Tên lửa chống ngầm

+ thiết bị phóng tên lửa chống ngầm: 1x5

+ cơ số đạn tên lửa chống ngầm: 5

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng tổ hợp tên lửa phòng không V-611: 2x2

+ đạn tên lửa phòng không điều khiển V-611: 48

+ thiết bị phóng tổ hợp tên lửa phòng không 4K33 “Osa-M”: 2x2

+ đạn tên lửa phòng không điều khiển 9M33M: 40

Pháo

+ pháo 76mm AK-726: 2x2

+ tổ hợp pháo phòng không 30mm AK-230: 4x2

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm: 2x5

Chống ngầm

+ RBU-6000 “Smerch-2”: 2x12

+ cơ số đạn RGB-60: 144

+ RBU-1000 “Smerch-2”: 2x6

+ cơ số đạn RGB-10: 60

Vũ khí đường không

+ trực thăng Ka-25PL: 1.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 29 Tháng Chín, 2012, 02:18:59 am
Trang bị vô tuyến điện

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: -

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm cao

+ 1xMR-600 “Voskhod”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng họp

+ 1xMR-310A “Angara-A”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm thấp

+ 2x “Vaigach”

Đài thủy âm định vị

+ “Titan-2”

+ “Vega” dự kiến

Các khí tài tác chiến điện tử

+ “Koltso” dự kiến

+ “Gurzuf” dự kiến

Các tổ hợp bắn nhiễu: -

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ 2x”Grom-M” cho tổ hợp tên lửa phòng không “Shtorm” và tổ hợp tên lửa chống ngầm

+ 2x4P33 cho tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M”

+ 2xMR-105 “Turel” cho thiết bị pháo 76,2mm

+ 2xMR-104 “Rưs” cho tổ hợp pháo phòng không 30mm

Các khí tài thông tin liên lạc: -

Đài ra đa định vị hội thoại nói: -.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Chín, 2012, 02:07:51 pm
Đề án 1134 “Berkut” – lớp Kresta-I

(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1134_19_zps77e645ba.jpg)

Tổng số tàu đã đóng: 4

Biến thể

+ 1134 (Kresta I) – đề án cơ sở (năm 1967)

+ 1134-A (Kresta II) – đề án tàu mới trên cơ sở đề án 1134 nhưng với thành phần vũ khí khác (năm 1969).

Trong những năm 1960, trong ngành đóng tàu Liên Xô đã diễn ra sự định hướng ưu tiên mới, theo những nguyên nhân chủ quan. Tới thời điểm đó, việc đóng tàu nổi cho Hải quân được thực hiện theo hai hướng chính: “tấn công” và “chống ngầm”. Sự triển khai ở Mỹ những năm 1960 các hệ thống “Polaris”, một cách tự nhiên, đã đưa (đặt) ra nhiệm vụ chống lại các tàu ngầm hạt nhân tuần dương mang tên lửa chiến lược của kẻ thù tiềm tàng trên tuyến đầu. Trong vấn đề này, thậm chí xa hơn là từ nhiệm vụ của Hải quân, các lãnh đạo quốc gia và chính trị, thuật ngữ “chống ngầm” đã được nhận thực với hiểu biết tích cực để gần như đảm bảo sớm hơn “phố xanh” cho chương trình bât kỳ dưới phương châm “chống ngầm”. Tới năm 1964, đã thực hiện chương trình đóng tàu tuần dương tên lửa đề án 48 (4 tàu) mà ngoài những ưu điểm rõ ràng cũng có những nhược điểm cụ thể: trong lượng choán nước và các kích thước bị “nén” rất chặt chẽ không thể thực hiện các yêu cầu tăng cường thể tích chỗ ở cho thủy thủ đoàn (Hải quân bắt đầu “trực chiến”), tăng cường khí tài chống ngầm, tăng tầm bơi xa và thời gian hoạt động. Sự hoàn thiện vũ khí tên lửa dẫn tới việc không cần thiết các thiết bị phóng quay lớn và phức tạp. Thực tế đã chỉ ra rằng việc nạp đạn của chúng – tốn thời gian, kéo dài và không thuận lợi trong các điều kiện chiến đấu. Việc đóng tạm thời trực thăng trên bãi đáp cất hạ cánh thẳng trong các điều kiển biển động mạnh nhanh chóng dẫn đến hỏng hóc.

Mệnh lệnh của Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô số 1180-510 từ 30 tháng 12 năm 1961 là cơ sở chính thức cho việc thiết kế đề án mới, nhận số 1134 và mã số “Berkut”. Không lâu sau khi mệnh lệnh được đưa ra, vào tháng 12 năm 1961, Tổng cục đóng tàu Hải quân đã đặt cho Phòng thiết kế Phương Bắc thiết kế tàu phòng không – chống ngầm mới gần như ngay từ giai đoạn thiết kế kỹ thuật đã thông qua đề án sơ bộ. Tổng công trình sư tàu chống ngầm loại lớn đề án 1134 là V.F.Anikiev (trong những năm sau đó là Tổng công trình sư duy nhất thực hiện việc đóng tàu sân bay ở Liên Xô), giám sát viên từ Hải quân ban đầu là Thuyền trưởng cấp 2 A.A.Maiorov, sau đó là Thuyền trưởng cấp 2 O.T.Safronov.

Khi thiết kế các tàu mới đề án 1134 được nhắc tới ở trên, các yêu cầu trong mức độ đáng kể đã được làm rõ: theo cách thiết kế tăng cường mới cho thân tàu với thiết bị năng lượng tuabin nồi hơi (cũng như đề án 58) được bố trí tổ hợp tên lửa phòng không “Volna” thứ 2 (cơ số đạn tên lửa phòng không trong mỗi hầm phóng tăng lên gấp đôi do kết quả áp dụng thùng bảo quản tên lửa dạng băng chuyền), một số thay đổi trong thành phần trang bị vô tuyến điện (thay cho ra đa định vị “Angara” thứ hai đã lắp đài ra đa định vị mới “Kliver” và đài gây nhiễu chủ động “Gurzuf”), đảm bảo việc đóng thường xuyên ở hang ga mạn tàu trực thăng Ka-25RTs (lần đầu tiên trên các tàu lớp này). Tuy nhiên, khả năng tấn công của tàu bị giảm xuống: trên tàu chỉ còn lại 1 tổ hợp tên lửa chống tàu P-35 với 4 tên lửa 4K44 trong các thiết bị phóng đôi, không có sự dẫn bắn theo góc hướng và không có cơ số đạn thứ 2. Kế hoạch lắp tổ hợp tên lửa phòng không M-11 “Shtorm” như vậy không được chuẩn bị cho việc đóng dòng tàu này. Vì thế, trên “Berkut” lắp tổ hợp tên lửa phòng không “Volna”. Ngoài ra, thay thiết bị pháo 76mm đã lắp các pháo phòng không 57mm AK-725 đạn yếu hơn nhưng tốc độ bắn cao hơn với sự điều khiển độc lập từ ra đa định vị “Bars”.

Bắt đầu từ tàu chống ngầm loại lớn đề án 1134 đã nhận được hệ thống tiếp nhận sự chỉ thị mục tiêu từ ngoài để bắn tổ hợp tên lửa chống tàu P-35 – “Uspekh-U”. Để điều khiển tàu và đơn vị có khí tài trang bị bảng điện tử, hệ thống trao đổi thông tin “More-U” và các khí tài cần thiết.

Theo các nguyên nhân được nhắc tới ở trên, các tàu mới được phân loại thành tàu chống ngầm lớn và liên quan với đó, thành phần vũ khí chống ngầm được tăng cường. Thay cho các thiết bị ngư lôi 3 ống phóng lắp các thiết bị ngư lôi PTA-53-1134 với các ngư lôi chống ngầm “Enot-2”, xuất hiện RBU-1000 – tầm bắn gần hơn, nhưng bom mạnh hơn. Đồng thời cơ số đạn cho RBU-6000 được tăng cường sau đó. Cũng như trong thời gian hiệu chỉnh đề án đã tiếp nhaaoj quyết định bỏ đạn dự trữ của tên lửa chống tàu. Sự thay đổi chính của vũ khí chống ngầm là đài thủy âm định vị nhìn vòng “Titan” và chỉ thị mục tiêu “Vưchegda”, đồng thời xuất hiện trực thăng chống ngầm dự kiến trang bị 5 ngư lôi PLAT-1 và 54 phao tiêu thủy âm vô tuyến (RGAB).

Mặc dù theo các thống kê đã kể trên, các tàu “Berkut” đầu tiên theo thực chất là “dậm chân tại chỗ” và mặc dù vào cuối những năm 1970, chúng được phân loại lại thành các tàu tuần dương tên lửa, theo các khả năng của chúng có thể được xem là tạm thời. Như ban đầu, hệ thống điều khiển đảm bảo điều khiển chỉ 2 tên lửa chống tàu trong loạt khi bắn theo chế độ cơ bản (chính). Chúng không đảm bảo nhiệm vụ đầu tiên – chống ngầm, đặc biệt theo nguyên nhân vũ khí chống ngầm và thủy âm yếu.

Các tàu lớp “Berkut” trở thành những tàu lớn đầu tiên trong dòng tàu chống ngầm loại lớn của Hải quân Liên Xô (sau đó đã đóng “Berkut-A” và “Berkut-B”) và trong mức độ nào đó là sự (người) kế thừa các tàu chống ngầm lớn đề án 61 đầu tiên.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Chín, 2012, 02:25:04 pm
Các biến thể

(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1134_01_zpsc5da416b.jpg)

Trong quá trình khai thác sử dụng 2 tàu đề án 1134 đã nhận những sự nâng cấp không lớn. Trong thời gian diễn ra đại tu trong những năm 1980, tàu chống ngầm lớn “Vladivotoc”, “Đô đốc Zozulia” và “Phó đô đốc Drozd” được bổ sung các pháo tự động 30mm AK-630 với đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực “Vưmpel”. Các thiết bị pháo được bố trí theo thành theo 2 thiết bị sau các thiết bị phóng tên lửa chống tàu. Ngoài ra trên các tàu lắp đài ra đa định vị đạo hàng “Vaigach”.

Chương trình đóng tàu

(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1134_14_zpsc73c56ab.jpg)

Tàu đầu tiên “Đô đốc Zozulia” được khởi công mùng 6 tháng 9 năm 1964 ở xưởng đóng tàu Leningrad mang tên A.A.Zhdanov (số 190, hiện nay là xưởng Phương Bắc), hạ thủy mùng 16 tháng 10 năm 1965, còn 30 tháng 3 năm 1967, tàu được đưa vào các thí nghiệm cấp nhà nước. Trên cơ sở quyết định của chính phủ, tiếp nhận năm 1965 về việc dừng đóng các tàu tuần dương (tàu chống ngầm lớn) đề án 1134 và bắt đầu đóng các tàu chống ngầm lớn đề án 1134-A với sự tăng cường vũ khí chống ngầm. Thay cho kế hoạch ban đầu đóng 10 tàu lớp “Berkut” trong những năm 1968-1969, trong xưởng số 190 chỉ đóng 4 tàu.

Tình hình đến năm 2005

(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1134_04_zpsbe3d990f.jpg)

Trong biên chế Hải quân Liên Xô có 4 tàu chống ngầm lớn đề án 1134, trong số chúng 2 ở Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc (sau đó 1 chuyển tới Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương), 1 – Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương và 1 – Hạm đội Cờ đỏ Cận vệ Baltic (sau đó được đưa tới Hạm đội Phương Bắc và Thái Bình Dương). Tàu chống ngầm lớn “Đô đốc Zozulia” trong những năm 1969-70 ở trong khu vực chiến sự, thực hiện nhiệm vụ yểm trợ quân đội Ai Cập. Mùng 3 tháng 8 năm 1977 các tàu chống ngầm lớn đề án 1134 được phân loại lại thành các tàu tuần dương tên lửa. Năm 1994, tàu cuối cùng còn lại trong lớp bị loại khỏi biên chế.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Chín, 2012, 02:37:42 pm
(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1134_4_zpsafc87c2f.jpg)

Bố cục tàu chống ngầm loại lớn đề án 1134

1. Trực thăng Ka-25

2. Thiết bị phóng bom phản lực RBU-1000

3. Thiết bị phóng Zif-102

4. Thiết bị pháo 57mm AK-725

5. Ăng ten đài ra đa định vị “Yatagan”

6. Trạm ăng ten hỗn hợp của đài ra đa định vị MR-500 và máy hỏi hội thoại nói “Nikel-KM”

7. Ăng ten đài ra đa định vị thuộc hệ thống điều khiển “Binom-1134”

8. (Buồng) bố trí cơ số đạn bổ sung của pháo AK-725

9. Thiết bị phóng KT-72

10. Thiết bị phóng nhiễu thụ động Zif-121

11. Thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000

12. Bãi cất hạ cánh

13. Thiết bị ngư lôi 5 ống phóng 533mm PTA-53-1134

14. Xuồng cứu nạn

15. Xuồng con 6 mái chèo

16. Xuồng chỉ huy

17. Buồng thủy thủ

18. Các trạm chiến đấu

19. Khối các buồng cho chỉ huy và sĩ quan

20. Buồng dẫn (truyền) động

21. Khoang (buồng) tời

22. Kho chứa

23. Khoang mũi

24. Hốc (khoang) xích

25. Buồng thoát nước ở mũi tàu

26. Kho (hầm) chứa đạn RGB-60

27. Thùng dầu

28. Buồng máy dẫn động Zif-102

29. Kho (hầm) đạn tên lửa phòng không điều khiển V-600

30. Kho (hầm) thiết bị nâng – hạ POU-16

31. Buồng máy – nồi hơi ở mũi tàu (MKO)

32. Hầm buồng máy – nồi hơi mũi tàu

33. Buồng nồi hơi phụ và giảm lắc

34. Đài vô tuyến điện mũi tàu

35. Buồng máy – nồi hơi mạn tàu

36. Hầm buồng máy – nồi hơi mạn tàu

37. Đài vô tuyến điện mạn tàu

38. Hầm (kho) đạn RGB-100

39. Hầm đạn đường không (cho trực thăng)

40. Buồng tay lái

41. Trạm ăng ten hỗn hợp MR-310 và “Nikel-KM”.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Chín, 2012, 03:14:34 pm
(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1134_3_zps81f30986.gif)

Trang bị vô tuyến điện tàu chống ngầm loại lớn đề án 1134

1. Thiết bị ngư lôi 5 ống phóng 533mm PTA-53-1134

2. Thiết bị kéo tời

3. Trạm ăng ten đài ra đa vô tuyến điều khiển pháo MR-103 (Bars)

4. Đài tìm phương vô tuyến “Vizir-1”

5. Ăng ten hỗn hợp (cặp đôi)

6. Trạm ăng ten hỗn hợp của đài ra đa vô tuyến MR-500 (“Kliver”) và “Nikel-KM”

7. Bãi (khu vực) bảo dưỡng ăng ten

8. Ăng ten máy phát vô tuyến R-613

9. Trạm ăng ten của đài ra đa cảnh giới phát hiện mục tiêu tổng hợp MR-310A (Angara)

10. Trạm ăng ten hệ thống trao đổi thông tin “More-U”

11. Trạm ăng ten đài ra đa đạo hàng “Volga”

12. Trạm ăng ten “Binom-1134”

13. Trạm ăng ten MRP-11-12

14. Các trạm ăng ten đài gây nhiễu tích cực “Gurzuf”

15. Trạm ăng ten MRP-13-14

16. Trạm ăng ten hệ thống tiếp nhận chỉ thị mục tiêu từ ngoài để bắn tên lửa chống tàu P-35

17. Loa phóng thanh

18. Trạm ăng ten “Zaliv-15-16”

19. Camera truyền hình tự ổn định

20. Bè cứu nạn PSN-10

21. Xuồng chỉ huy

22. Ăng ten “Grafit”

23. Ăng ten “Tyulipan”


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Chín, 2012, 03:51:24 pm
Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ “Đô đốc Zozulia” (số hiệu xưởng 791); 11 tháng 6 năm 1964 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân và 26 tháng 7 năm 1964 khởi công ở xưởng mang tên A.A.Zhdanov (xưởng Phương Bắc) ở Leningrad; hạ thủy 17 tháng 10 năm 1965; gia nhập biên chế 8 tháng 10 năm 1967 và gia nhập Hạm đội Phương Bắc; từ 1 tháng 12 năm 1969 đến 30 tháng 6 năm 1970 ở khu vực chiến sự, thực hiện nhiệm vụ yểm trợ quân đội Ai Cập; 9 tháng 10 năm 1986 được bàn giao vào biên chế Hạm đội Baltic; năm 1991-1992 trải qua sửa chữa và nâng cấp ở Kronshtadt; tháng 9 năm 1994 diễn ra nghi lễ hạ cờ trang trọng, sau đó giải thể, tháo vũ khí và bán lấy kim loại.

+ “Phó đô đốc Drozd” (số hiệu xưởng 793); 16 tháng 6 năm 1956 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân và 26 tháng 10 năm 1965 khởi công ở xưởng mang tên A.A.Zhdanov (xưởng Phương Bắc) ở Leningrad; hạ thủy 18 tháng 11 năm 1966; gia nhập biên chế 27 tháng 1 năm 1968 và 8 tháng 1 năm 1969 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 14-27 tháng 5 năm 1970 thăm Senfuegos (Cuba); tháng 2 năm 1972 tiếp nhận tham gia cứu nạn tàu ngầm nguyên tử K-19 đề án 658 ở Bắc Đại Tây Dương; 8 tháng 4 năm 1975 chuyển tới Hạm đội Phương Bắc; trong giai đoạn từ năm 1974 đến 8 tháng 4 năm 1975 và từ 1 tháng 10 năm 1981 đến 7 tháng 6 năm 1984 trải qua đại tu ở Leningrad; 1 tháng 7 năm 1990 tháo vũ khí, loại khỏi biên chế Hải quân và bán cho cơ sở khác để tháo dỡ và 1 tháng 10 năm 1990 giả thể.

+ “Vladivostoc” (số hiệu xưởng 792); 1 tháng 10 năm 1964 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân và 24 tháng 12 năm 1964 khởi công ở xưởng mang tên A.A.Zhdanov (xưởng Phương Bắc) ở Leningrad; hạ thủy 1 tháng 8 năm 1969 và 11 tháng 9 năm 1969 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 1 tháng 10 năm 1969 chuyển sang Hạm đội Phương Bắc, còn 10 tháng 2 năm 1970 sau khi hành quân vào mùa hè năm 1969 theo biển Bắc từ vịnh Kolsk tới Vladivostoc – vào biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 7-15 tháng 12 năm 1969 thăm Berbara, Mogadiso và Kismaia (Somali); 27-31 tháng 12 năm 1969 tới Port-Sudan (Sudan); 12-16 tháng 3 năm 1979 tới Port-Lui (Mavriki) và 16-19 tháng 10 năm 1980 tới Cochin (Ấn Độ); trong giai đoạn từi 28 tháng 9 năm 1988 đến 23 tháng 4 năm 1990 trải qua đại tu ở “Dalzavod” tài Vladivostoc; 1 tháng 1 năm 1991 tháo vũ khí, loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; 1 tháng 6 năm 1991 giải thể.

+ “Sevastopol” (số hiệu xưởng 794); 3 tháng 6 năm 1966 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân và 8 tháng 6 năm 1966 khởi công ở xưởng mang tên Zhdanov (xưởng Phương Bắc) ở Leningrad; hạ thủy 28 tháng 4 năm 1967; gia nhập biên chế 25 tháng 9 năm 1969 và 21 tháng 10 năm 1969 ghi nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; 31 tháng 10 – 9 tháng 11 năm 1971 thăm Havana (Cuba); 11 tháng 2 năm 1980 ghi tên vào biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 15 tháng 12 năm 1989 tháo vũ khí và bị loại khỏi biên chế Hải quân; bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ và 19 tháng 4 năm 1990 bị giải thể.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Chín, 2012, 04:04:33 pm
Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 5340

+ hoàn toàn: 7130

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 115,6 (148)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 16,8 (16,2)

+ lượng choán nước lớn nhất (trung bình): 6,2 (-)

Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi

+ 4 nồi hơi KVN-98/64, 2 tổ hợp tuabin răng cưa TV-12, tổng công suất, sức ngựa, (kW): 90 000 (66 150)

+ các máy phát điện diesel ASDG-500/1, công suất, (kW): 4x500

+ các máy phát điện tuabin TD-750, công suất, (kW): 2x750

2 trục; 2 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ tối đa: 33

+ tiết kiệm năng lượng: 14

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý)

+ 2400 (32)

+ 5000 (14)

Thời gian hoạt động: 15 ngày

Thủy thủ đoàn (sỹ quan): 312 (30).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Chín, 2012, 04:12:22 pm
Vũ khí

Tên lửa tấn công

+ thiết bị phóng KT-72 thuộc tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh P-35: 2x2

+ tên lửa chống tàu có cánh P-35 (SS-N-3B “Sepal”): 4

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng Zif-102 thuộc tổ hợp tên lửa phòng không M-1 “Volna”: 2x2

+ tên lửa phòng không điều khiển V-600 (SA-N-1 “Goa”): 64

Pháo

+ thiết bị pháo 57mm AK-725: 2x2

+ tổ hợp pháo phòng không 30mm AK-360 (trên 3 tàu) 4x6

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm PTA-53-1134: 2x5

+ các ngư lôi “Enot-2”: 10

Chống ngầm

+ RBU-6000 “Smerch-2”: 2x12

+ cơ số đạn RGB-60: 192

+ RBU-1000 “Smerch-3”

+ cơ số đạn RGB-10: 48

Vũ khí đường không

+ trực thăng Ka-25RTs (“Hormone B”): 1.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Chín, 2012, 04:22:32 pm
Trang bị vô tyến điện

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Planshet-1134”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp

+ 1xMR-310 “Angara-A” (Head Net C)

+ 1xMR-500 “Kliver” (Big Net)

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm thấp

+ 1x”Volga” (Palm Frond)

Đài ra đa định vị đạo hàng

+ 1x”Vaigach” (Don-II) trên 1 tàu

Đài thủy âm định vị

+ MG-312 “Titan” (Bull Nose)

+ MG-311 “Vưchegda”

Các khí tài tác chiến điện tử

+ “Gurzuf A/B” (8 Side Globe) gây nhiễu tích cực

+ MRP-15-16 “Zaliv”

+ MRP-11-12, MRP-13-14 “Ograda” (Bell Clout; 2 Bell Slam; 2 Bell Tap;2 Bell Strike; 2 Bell Crown)

Các tổ hợp bắn nhiễu

+ 2x2 thiết bị phóng PK-2

Các khí tài quang điện

+ 2xMT-45 (Tee Plinth)

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ 1x4R-44 “Binom” (Scoop Pair) cho tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh P-35

+ 2x”Uspekh-U” (Plinth Net) chỉ thị mục tiêu cho tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh

+ 2x4R-90 “Yatagan” (Peel Group) cho tổ hợp tên lửa phòng không “Volna”

+ 2xMR-104 “Bars” (Muff Cob) cho thiết bị pháo 57mm

+ 2xMR-123 “Vưmpel” (Bass Tilt) cho thiết bị pháo 30mm (trên 3 tàu)

Các khí tài thông tin liên lạc

+ tổ hợp các khí tài (R-613, “Grafit”, “Tyulipan”…)

Đài ra đa định vị hội thoại nói

+ “Nikel-KM” và “Khrom-KM” (High Pole A và B).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Mười, 2012, 03:07:49 pm
Đề án 1134-A “Berkut-A” – Lớp Kresta-II

(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1134a_06_zps910e2fbc.jpg)

Tổng số tàu đã đóng: 10

Biến thể: không có.

Các tàu đề án 1134 là những tàu trung gian, không được lên kế hoạch đóng trước đó do không chuẩn bị (sẵn sàng) một trong số các tổ hợp vũ khí chính – tổ hợp tên lửa phòng không M-11 “Shtorm”. Sau khi đóng 4 thân tàu và lên kế hoạch bắt đầu đóng tàu thứ 5 trong đề án, tổ hợp tên lửa phòng không đã nhắc ở trên cuối cùng đã được tiếp nhận vào trang bị (tới thời điểm đó, nó đã trải qua các thí nghiệm trên tàu thí nghiệm OS-24 – trang bị lại theo đề án 33-M cho tàu tuần dương Cờ đỏ đề án 26 “Voroshilov”). Tổ hợp này lần đầu tiên được chế tạo trong dạng đa năng (có khả năng tiêu diệt các mục tiêu trên không và mục tiêu nổi) và chỉ dành cho Hải quân. Trong cùng thời gian này, Phòng thiết kế trung ương “Raduga” – tham gia thiết kế tàu chống ngầm nổi đã hoàn thành việc chế tạo tổ hợp tên lửa chống ngầm nội địa đầu tiên “Metel” (RPK-3) cho các tàu nổi. Toàn bộ những sự kiện này đã dẫn đến việc ra mệnh lệnh của Trung ương Đảng Cộng sản và Hội đồng Bộ Trưởng Liên Xô về dừng đóng tàu chống ngầm lớn đề án 1134 và chuyển sang đóng tiếp theo đề án hiệu chỉnh 1134-A.

Phương án tàu này (chống ngầm loại lớn – theo phân loại mới) được thiết kế dưới sự chỉ đạo của V.F.Anikiev và sự tham gia giám sát từ Hải quân là Thuyền trưởng cấp 2 O.T.Safronov. Việc giữ số hiệu đề án đã nói rằng tàu mới đã giữ lại gần trọn vẹn so với đề án cũ, nhưng thay đổi trong thành phần trang bị vũ khí. Thay cho tổ hợp tên lửa phòng không M-1 ”Volna”, như đã lên kế hoạch ban đầu, lắp tổ hợp mới M-11 “Shtorm” nhưng với cơ số đạn giảm 25%. Việc này tự động yêu cầu thau thế hệ thống chiếu sáng tình hình trên không và cung cấp chỉ thị mục tiêu cho tổ hợp tên lửa phòng không. Còn tới thời điểm đó, ở Liên Xô đã chế tạo được đài ra đa định vị 3 tọa độ mạnh “Voskhod” MR-600 với khả năng chống nhiễu được tăng cường đã được lắp trên tàu.

Tổ hợp tên lửa chống tàu P-35 được thay bằng tổ hợp tên lửa chống ngầm “Metel” – thay cho thiết bị phóng đôi đã bố trí thiết bị phóng 4 cố định – cơ số đạn tăng gấp đôi. Rất thú vị là 2 tổ hợp – tên lửa phòng không và chống ngầm – có hệ thống điều khiển trung “Grom-M” từ các trạm ăng ten mũi và mạn tàu. Trang bị pháo của tàu chống ngầm lớn gồm có 2 thiết bị pháo nòng đôi đa năng AK-725. Nếu trên các tàu đề án 1134, các tổ hợp pháo phòng không AK-630 chỉ được lắp khi nâng cấp thì tàu chống ngầm lớn đề án 1134-A đã nhận được ngay trong khi đóng. Vũ khí chống ngầm, ngoài tổ hợp tên lửa chống ngầm còn có 2 thiết bị ngư lôi 5 ống phòng 533mm, 2RBU-6000 và 2 RBU-1000.

Kinh nghiệm khai thác sử dụng vũ khí đường không trên các tàu đề án 1134 đã chỉ ra rằng bãi cất hạ cánh thẳng và hang ga được bố trí rất thấp, thường dẫn tới bị văng. Vì thế trên các tàu đề án 1134-A, bãi đáp cất hạ cánh thẳng được bố trí cao hơn trên boong thứ nhất, còn hang ga được chế tạo nửa chìm với sự đưa trực thăng lên bằng thang nâng chuyên dụng. Trực thăng trinh sát và chỉ thị mục tiêu Ka-25RTs được thay bằng Ka-25PLO, cho phép tăng cường hiệu quả chống tàu ngầm.

Trên các tàu ngày lần đầu tiên trong thực tế ngành đóng tàu Liên Xô, ăng ten đài thủy âm định vị MG-332 “Titan-2” được bố trí trong buồng chụp hình cầu ở mũi. Do đó, mỏ neo được bố trí ở mũi xa hơn, sau đó các tàu đề án 1134-A đã nhận được hình dạng bên ngoài nhanh nhẹn hơn. Một cách tự nhiên rằng sự hiệu chỉnh đề án trong thành phần vũ khí là kết quả nhận được trong sự thay đổi các phần tử đóng tàu: lượng choán nước tiêu chuẩn và hoàn toàn cùng lượng mớn nước tăng lên, tầm bơi xa và tốc độ giảm. Tới thời điểm đó, thiết bị tuabin nồi hơi còn tương đồng hoàn toàn với đề án 1134.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Mười, 2012, 03:25:10 pm
Các biến thể

(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1134a_15_zpsfe42cd8d.jpg)

Trong thời gian phục vụ, trên một số tàu chống ngầm lớn đề án 1134-A đã tăng cường (cải tiến) vũ khí. Cụ thể, tổ hợp tên lửa phòng không “Shtorm” được thay bằng “Shtorm” mạnh hơn, còn tổ hợp tên lửa chống ngầm “Metel” được thay bằng tổ hợp “Rastrub” với tên lửa 85-RU.

Các kinh nghiệm tích cực (mang tính khả quan) sử dụng thiết bị tuabin khí trên các tàu đề án 61, đồng thời các tiềm năng lớn của nhà sản xuất – xưởng tuabin Phương Nam (Hiệp hội khoa học sản xuất “Zaria”) – từ một phía và tới thời điểm đó, lượng quá tải của nhà sản xuất tuabin hơi nước chính cho tàu nổi – xưởng Kirov ở Leningrad – phía khác, đã ra quyết định về thêm một sự hiệ chỉnh đề án 1134-A, hiện tại đã bằng thiết bị năng lượng khác – tuabin khí. Đây là sự điển hình trong đề án sau – nhận số hiệu 1134-B.

Chương trình đóng tàu

Việc đóng tàu chống ngầm lớn đề án 1134-A được thực hiện ở xưởng mang tên A.A.Zhdanov (xưởng đóng tàu số 190) từ năm 1966 đến 1977. Tàu đầu tiên – “Kronshtadt” – hoàn thành tháng 9 năm 1969. Thêm 9 tàu cùng lớp đã được xưởng đóng trong 8 năm sau đó, đã được đưa tới các thí nghiệm trong một năm cho mỗi tàu chống ngầm lớn (năm 1973 – 2 tàu).

(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1134a_02_zps3da52835.jpg)

Tình hình đến năm 2006

Tàu chống ngầm lớn đề án 1134-A nằm trong biên chế Hạm đội Phương Bắc (8 tàu) và Thái Bình Dương (2). Toàn bộ các tàu này bị loại khỏi biên chế Hải quân trong những năm 1992-93. Bốn tàu trong số chúng năm 1994 được kéo tới Ấn Độ để tháo kim loại. Tàu chống ngầm lớn “Đô đốc Isakov” năm 1972 ở khu vực chiến sự, thực hiện nhiệm vụ chiến đấu theo mệnh lệnh yểm trợ quân đội Ai Cập.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Mười, 2012, 03:35:29 pm
(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1134a_draw2_zpsa5a80df8.gif)

Bố cục vũ khí trên các tàu chống ngầm lớn đề án 1134-A

1. Thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000

2. Thiết bị phóng 2 thùng của tổ hợp tên lửa phòng không “Shtorm”

3. Các thiết bị phóng của tổ hợp bắn nhiễu PK-24

4. Thiết bị phóng 4 của tổ hợp tên lửa chống ngầm “Metel”

5. Súng bắn pháo hiệu

6. Trạm ăng ten hệ thống điều khiển các tổ hợp tên lửa phòng không và tên lửa chống tàu “Grom-M”

7. Tổ hợp pháo phòng không 6 nòng 30mm AK-630

8. Đài ra đa định vị đạo hàng

9. Đài ra đa định vị 3 tọa độ MR-600 “Voskhod”

10. Đài tác chiến điện tử

11. Đài ra đa định vị MR-310A “Angara-A”

12. Trạm ăng ten hệ thống điều khiển tổ hợp tên lửa phòng không “Grom-M”

13. Đài ra đa định vị MR-103 “Bars” điều khiển bắn pháo 57mm

14. Thiết bị ngư lôi 533mm

15. Thiết bị pháo nòng đôi 57mm AK-725

16. Thiết bị phóng bom phản lực RBU-1000

17. Hang ga trực thăng

18. Bãi đáp cất – hạ cánh thẳng

19. Trực thăng chống ngầm KA-25PLO


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Mười, 2012, 04:25:31 pm
Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ “Kronshtadt” (số hiệu xưởng 721); 30 tháng 11 năm 1966 khởi công ở xưởng mang tên A.A.Zhdanov (số 190, xưởng Phương Bắc) ở Lenigrad; 12 tháng 12 năm 1966 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; hạ thủy 10 tháng 2 năm 1968; 29 tháng 12 năm 1969 gia nhập biên chế; 9 tháng 3 năm 1970 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; từ 30 tháng 12 năm 1970 đến 5 tháng 8 năm 1971 ở Leningrad và từ 6 tháng 3 năm 1976 đến 28 tháng 8 năm 1980 ở Kronshtadt trải qua đại tu; 24 tháng 6 nawm1991 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân, bàn giao để tháo dỡ; 29 tháng 10 năm 1992 giả thể; năm 1994 bán cho công ty tư nhân Ấn Độ để tháo kim loại.

+ “Đô đốc Isakov” (số hiệu xưởng 722); 29 tháng 12 năm 1967 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; 15 tháng 1 năm 1968 khởi công ở xưởng mang tên A.A.Zhdanov (số 190, xưởng Phương Bắc) ở Leningrad; hạ thủy 22 tháng 11 năm 1968; gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1970; 16 tháng 1 năm 1971 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; từ 1 tháng 3 đến 31 tháng 7 năm 1972 nằm ở khu vực chiến sự, thực hiện nhiệm vụ yểm trợ quân đội Ai Cập; 4-9 tháng 8 năm 1973 thăm Havana và 2-10 tháng 12 năm 1982 – tới Havana và Senfugos (Cuba); từ 9 tháng 10 năm 1986 đến 27 tháng 8 năm 1990 trải qua đại tu ở Murmansk; 30 tháng 6 năm 1993 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân, bàn giao để tháo dỡ; 31 tháng 12 năm 1993 giải thể.

+ “Đô đốc Nakhimov” (số hiệu xưởng 723); 15 tháng 1 năm 1968 khởi công ở xưởng mang tên A.A.Zhdanov (số 190, xưởng Phương Bắc) tại Leningrad; 2 tháng 8 năm 1968 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; hạ thủy 15 tháng 4 năm 1969; gia nhập biên chế 29 tháng 11 năm 1971; 13 tháng 12 năm 1971 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; 24-29 tháng 9 năm 1974 thăm Havana (Cuba); năm 1993 hoàn thành chuyến công tác tới Bisau (Ginea-Bisau); từ 24 tháng 2 năm 1981 đến 4 tháng 6 năm 1982 và 1 tháng 3 năm 1989 đến 22 tháng 12 năm 1990 trải qua đại tu ở Murmansk; 31 tháng 1 năm 1991 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân, bàn giao để tháo dỡ; 4 tháng 6 năm 1992 giải thể.

+ “Nguyên soái Vorosilov” (số hiệu xưởng 725); từ 24 tháng 1 năm 1991 là “Khabarovsk”; 7 tháng 3 năm 1970 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; 20 tháng 3 năm 1970 khởi công ở xưởng mang tên A.A.Zhdanov (số 190, xưởng Phương Bắc) tại Leningrad; hạ thủy 8 tháng 10 năm 1970; gia nhập biên chế 15 tháng 9 năm 1973; 26 tháng 10 năm 1973 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 3 tháng 7 năm 1992 tháo vũ khí, loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao để tháo dỡ; 29 tháng 12 năm 1992 giả thể; từ 3 tháng 10 năm 1972 mang cờ Đỏ Hải quân thừa kế tàu tuần dương tên lửa “Vorosilov” đề án 26 thuộc hạm đội Biển Đen.

+ “Đô đốc Oktiabrsky” (số hiệu xưởng 726); 2 tháng 6 năm 1969 khởi công ở xưởng mang tên A.A.Zhdanov (số 190, xưởng Phương Bắc) tại Leningrad; 19 tháng 9 năm 1969 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; hạ thủy 21 tháng 5 năm 1971; gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1973; 7 tháng 2 năm 1974 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 30 tháng 6 năm 1993 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân, bàn giao để tháo dỡ; 10 tháng 3 năm 1994 giải thể.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Mười, 2012, 05:02:45 pm
+ “Đô đốc Makarov” (số hiệu xưởng 724); 2 tháng 8 năm 1968 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; 23 tháng 2 năm 1969 khởi công ở xưởng mang tên A.A.Zhdanov (số 190, xưởng Phương Bắc) ở Leningrad; hạ thủy 22 tháng 1 năm 1970; gia nhập biên chế 25 tháng 10 năm 1972; 22 tháng 1 năm 1973 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; 24-29 tháng 9 năm 1974 thăm Havana (Cuba) và 2-6 tháng 12 năm 1974 – tới Casablanca (Maroc); từ 31 tháng 3 năm 1983 đến 24 tháng 12 năm 1985 trải qua đại tu ở Murmansk;; 3 tháng 7 năm 1992 tháo vũ khí và bị loại khỏi biên chế Hải quân, bàn giao để tháo dỡ; 31 tháng 12 năm 1992 giải thể; năm 1994 bán cho công ty tư nhân của Ấn Độ để tháo kim loại.

+ “Đô đốc Isachenko” (số hiệu xưởng 727); 4 tháng 2 năm 1970 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; 30 tháng 10 năm 1970 khởi công ở xưởng mang tên A.A.Zhdanov (số 190, xưởng Phương Bắc) ở Leningrad; hạ thủy 28 tháng 3 năm 1972; gia nhập biên chế 5 tháng 11 năm 1974; 10 tháng 12 năm 1974 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; 2-5 tháng 6 năm 1975 tới thăm Casablanca (Maroc); từ 3 tháng 12 năm 1982 đến 1 tháng 8 năm 1986 trải qua đại tu ở Kronshtadt; 3 tháng 7 năm 1992 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân, bàn giao để tháo dỡ; 20 tháng 10 năm 1992 giải thể; năm 1994 bán cho công ty tư nhân của Ấn Độ để tháo kim loại.

+ “Nguyên soái Timosenko” (số hiệu xưởng 728); 11 tháng 6 năm 1970 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; 2 tháng 11 năm 1972 khởi công ở xưởng mang tên A.A.Zhdanov (số 190, xưởng Phương Bắc) ở Leningrad; hạ thủy 21 tháng 10 năm 1973; gia nhập biên chế 25 tháng 11 năm 1975; 26 tháng 12 năm 1975 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; 7-11 tháng 9 năm 1982 tới thăm Puert-Nuar (Cộng hòa nhân dân Congo); từ 27 tháng 10 năm 1988 đến 31 tháng 1 năm 1991 trải qua đại tu ở Kronshtadt; 3 tháng 7 năm 1992 tháo vũ khí, loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao để tháo dỡ; 29 tháng 10 năm 1992 giải thể.

+ “Vasili Chapaev” (số hiệu xưởng 729); 11 tháng 6 năm 1970 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; 22 tháng 12 năm 1973 khởi công ở xưởng mang tên A.A.Zhdanov (số 190, xưởng Phương Bắc) ở Leningrad; hạ thủy 28 tháng 11 năm 1974; gia nhập biên chế 30 tháng 11 năm 1976; 2 tháng 2 năm 1977 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 16-21 tháng 12 năm 1977 tới thăm Bombay (Ấn Độ) và 8-12 tháng 5 năm 1982 – tới Victoria (quần đảo Seisel); 30 tháng 6 năm 1993 tháo vũ khí, loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao để tháo dỡ; 31 tháng 12 năm 1993 giải thể.

+ “Đô đốc Yumashev” (số hiệu xưởng 730); 15 tháng 1 năm 1973 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; 17 tháng 4 năm 1975 khởi công ở xưởng mang tên A.A.Zhdanov (số 190, xưởng Phương Bắc) ở Leningrad; hạ thủy 30 tháng 9 năm 1976; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1977; 17 tháng 2 năm 1978 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; 12-16 tháng 7 năm 1 984 tới thăm Praia và Mindela (quần đảo Seisel); 13 tháng 7 năm 1992 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân, bàn giao để tháo dỡ; năm 1994 bán cho công ty tư nhân Ấn Độ để tháo kim loại.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Mười, 2012, 05:21:49 pm
Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 5660

+ hoàn toàn: 7600

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 156 (148)

+ chiều rộng nhất: 16,8 (16,2)

+ lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 6,3 (5,84)

Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi

+ 4 nồi hơi KVN-98/64, 2 thiết bị tuabin răng cưa TV-12, tổng công suất, sức ngựa (kW): 90 000 (66 150)

+ các máy phát điện diesel DG-500, công suất, (kW): 4x500

+ máy phát điện tuabin TD-750, công suất, (kW): 750

+ các máy phát điện tuabin TD-1000, công suất, (kW): 2x1000

2 trục; 2 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ tối đa: 32,5

+ tiết kiệm năng lượng: 14

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý)

+ 4700 (18)

+ 2400 (31)

Thời gian hoạt động: 30 ngày

Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 343 (33).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Mười, 2012, 05:30:48 pm
Vũ khí

Tên lửa chống ngầm

+ thiết bị phóng tên lửa chống ngầm RPK-3 “Metel” hoặc YRK-5 “Rastrub”: 2x4

+ tên lửa chống ngầm điều khiển 85-R hoặc 85-RU (SS-N-14 “Silex”): 8

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng B-187 của tổ hợp tên lửa phòng không M-11 “Shtorm” hoặc “Shtorm-M”: 2x2

+ tên lửa phòng không điều khiển V-611 (SA-N-3 “Goblet”: 48

Pháo

+ thiết bị pháo 57mm AK-725: 2x2

+ tổ hợp pháo phòng không 30mm AK-630: 4x6

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm PTA-53-1134: 2x5

Chống ngầm

+ RBU-6000 “Smerch-2”: 2x12

+ RGB-60: 144

+ RBU-1000 “Smerch-3”: 2x6

+ RGB-10: 80

Vũ khí đường không

+ trưc thăng Ka-25PLO (“Hormone A”): 1.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Mười, 2012, 09:20:25 pm
Trang bị vô tuyến điện

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu

+ “Alleya” và “Koren”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm cao

+ 1xMR-600 “Voskhod” (Top Sail)

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp

+ 1xMR-310A “Angara-A” (Head Net C)

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm thấp

+ 2x”Volga” (Palm Frond) hoặc “Vaigach” (Don Kay)

Đài thủy âm định vị

+ MG-332 “Titan-2” (Bull Nose)

Các khí tài tác chiến điện tử

+ MRP-15-16 “Zaliv”

+ “Gurfuz” (8 Side Globe) gây nhiễu tích cực

+ “Gurfuz-1” (-A và –B) (2 Bell Slam; Bell Clout; 2 Bell Tap; 2 Bell Crown)

Các tổ hợp bắn nhiễu

+ 2x2 thiết bị phóng PK-2

Các khí tài quang điện

+ 2xMT-45 (Tee Plinth)

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ 2x”Grom-M” (Head Light C) cho tổ hợp tên lửa phòng không và chống ngầm

+ 2xMR-103 “Bars” (Muff Cob) cho thiết bị pháo 57mm

+ 2xMR-123 “Vưmpel” (Bass Tilt) cho thiết bị pháo 30mm

Các khí tài thông tin liên lạc

+ tổ hợp các khí tài

Đài ra đa định vị hội thoại nói

+ “Nikel-KM” và “Khrom-KM” (High Pole A và B).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Mười, 2012, 12:41:49 am
Đề án 1134-B “Berkut-B” – Lớp Kara

(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1134b_15_zps88709e11.jpg)

Tổng số tàu đã đóng: 7

Biến thể

+ 1134-B (lớp Kara) – đề án cơ sở tàu chống ngầm lớn động cơ tuabin khí trên cơ sở đề án 1134-A (năm 1971)

+ 1134-BF (Kara mod) – đề án thí nghiệm lắp tổ hợp tên lửa phòng không phòng thủ tập thể “Fort” (năm 1977).

Kinh nghiệm mang tính tích cực trong việc làm chủ các thiết bị tuabin khí trên các tàu đề án 61, đồng thời những khả năng lớn của nhà sản xuất – xưởng tuabin Phương Nam – có tên chính thức là Hiệp hội khoa học sản xuất “Zaria” – một mặt. Và tới thời điểm đó, sự quá tải của nhà sản xuất tuabin hơi nước chính cho các tàu nổi – xưởng Kirov ở Leningrad – mặt khác, hầu như đồng nghĩa với việc chỉ đạo hoặc ra quyết định về thêm một sự hiệu chỉnh tổng thể đề án 1134 “Berkut”, hiện tạo đã hoạt động dưới thiết bị năng lượng khác – tuabin khí.

Sự thiết kế phiên bản tuabin khí của tàu chống ngầm lớn – nhận số hiệu đề án 1134-B (Tổng công trình sư và giám sát viên chính đều giữ lại như các đề án trước – V.F.Anikiev và Thuyền trưởng cấp 2 O.T.Safronov) đã thực hiện trên thực tế một cách đồng thời các công việc trên đề án 1134-A. Nhiệm vụ kỹ - chiến thuật của đề án “Berkut-B” được giao cho Phòng thiết kế thí nghiệm Phương Bắc năm 1964.

Việc hiệu chỉnh đề án tàu với thiết bị tuabin nồi hơi bằng tuabin khí có nghĩa là sự thiết kế lại chủ yếu nhất hoặc hoàn toàn nó, bởi vì ở đây đang nói về sự thay đổi lĩnh vực tải trọng và thể tích, không nói về kiến trúc. Thiết bị tuabin khí nhẹ hơn thiết bị tuabin nồi hơi, nhưng thể thích để bố trí chúng yêu cầu lớn hơn, chủ yếu do ống khói lớn. Sự tăng cường mạnh trong tiết kiệm nhiên liệu ở thời điểm đó đã dẫn tới việc thiết kế thiết bị tuabin khí gồm các tuabin khí hành trình và tuabin khí tăng lực. Vì thế, đề án 1134-B trong cấp độ đáng kể được tính là tàu mới bởi vì để bố trí các động cơ tuabin khí hành trình và tăng lực yêu cầu đo lại các phần tử thân tàu – thể tích và tải trọng của chúng theo hướng tăng lên.

Thực tế sử dụng thiết bị này đã chỉ ra rằng các tàu rất hiếm khi bơi với sự sử dụng chỉ các động cơ hành trình. Các nguyên nhân của tình trạng này là tốc độ thực rất lớn dưới các động cơ này (14-15 hải lý) và thực tế không thực hiện được tầm bơi xa thực (hơn 9000 dặm). Nói chung thiết bị tuabin khí – khí hỗn hợp (GGTU) chỉ được duy trì (đứng vững) trong Hải quân Anh trong những năm 1970-80. Tới thời điểm này, Anh đã từ bỏ các thiết bị này. Hiệu quả nhận được từ các thiết bị này không bù đắp được sự phức tạp của chúng, cụ thể là giá thành và độ tin cậy. Trong tất cả các cường quốc trên thế giới đang tiếp nhận hoặc thiết bị tuabin khí – diesel (DGTU) trong các dạng khác nhau hoặc thiết bị tuabin khí đơn giản gồm từ các động cơ mọi chế độ giống nhau. Trong ngành đóng tàu Liên Xô, thiết bị tuabin khí – khí được tiếp nhận trong những tàu cuối cùng.

Sự thiết kế cho các tàu đề án 1134-B thiết bị năng lượng có thêm một điểm mới nữa – các tuabin khí đảo chiều (thuận nghịch). Để thực hiện sự di chuyển lùi trên toàn bộ các tàu với thiết bị tuabin khí trước đó sử dụng hoặc chân vịt điều tiết khoảng cách (винты регулируемого шага) hoặc bộ truyền động đảo chiều.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Mười, 2012, 01:15:59 am
Khối lượng thấp hơn của thiết bị năng lượng chính dẫn tới sự cần thiết thay đổi các kích thước chính của tàu. Thượng tầng đồng thời cũng được thay đổi. Do sự cần thiết bố trí lớn theo tiết diện các ống khí và tiếp nhận không khí dẫn tới việc lắp ống khói riêng khỏi cột buồm giống tháp pháo. Chính ống khói lớn nhận được xu hướng mới (vật tế cho xu hướng mới) – giảm mọi (từ) trường vật lý của tàu và có vẻ như giảm mạnh sự phát nhiệt (khả năng bị phát hiện do nhiệt) của tàu. Những người phát minh những sự mới mẻ này đã tính toán rất kỹ rằng yếu tố chính để phát hiện các tàu nổi là các hệ thống hồng ngoại chứ không phải các đài ra đa định vị. Họ có thể chứng minh tương tự cho các lãnh đạo Hải quân. Đạt đến cấp độ trường nhiệt của tàu tương đương với bối cảnh (biển) theo lý thuyết là có thể, nhưng trên thực tế không thực hiện được. Cụ thể, “đánh lừa” kênh hồng ngoai của đầu đạn tự dẫn bắn tên lửa chống tàu có cánh là không thể. Theo các đánh giá của một số chuyên gia của Liên Xô cũng như nước ngoài, hiệu quả từ việc giảm khả năng bị phát hiện bằng nhiệt của tàu không bù đắp được những sự tiêu tốn mà nó yêu cầu từ tàu. Ở Mỹ và Anh, các kích thước các đoạn ống nhánh khí tới mặt cắt ống khói hoặc thậm chí sau nó mang tới ý tưởng cơ sở rằng chúng sẽ không mang tới các tính chất tổng thể để chống lại sự giảm khả năng phát hiện theo nhiệt hoặc nó được giải quyết bằng các phương pháp khác.

(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1134b_02_zpsabdcd08b.jpg)

Những trữ lượng thể tích xuất hiện do tăng kích thước chính của tàu đề án 1134-B cho phép tăng cường vũ khí của nó. Quay trở lại tới hệ thống băng truyền bảo quản và đưa (cung cấp) tên lửa phòng không điều khiển được thiết kế trước đó, cơ số đạn của tổ hợp tên lửa phòng không “Shtorm” tăng gấp đôi – 96 đơn vị (quả). Bổ sung thêm 2 tổ hợp tên lửa phòng không tự vệ “Osa-M” với thiết bị phóng di động (không cố định). Khi nạp đạn, thiết bị phóng được hạ xuống hầm, “xỏ” vào các ống dẫn hướng của nó cặp tên lửa phòng không xếp theo thứ tự và quay trở lại vị trí ở trên, chuẩn bị bắn. Thiết bị pháo 76,2mm cũ nhưng “logic” hơn thiết bị pháo AK-726, còn tăng hiệu quả bắn mục tiêu trên không có bố trí các pháo 6 nòng 30mm AK-630. Trang bị thủy âm đồng thời được tăng cường: lắp đài thủy âm định vị hiện đại “Titan-2T” và lần đầu tiên trong ngành đóng tàu Liên Xô – đài thủy âm định vị lai MG-325 “Vega”.

Tới thời điểm đó, vũ khí chống ngầm gồm có 2 thiết bị phóng 4 nòng cho tên lửa chống ngầm “Metel”, 2 thiết bị ngư lôi 5 ống phóng và RBU-6000 cùng RBU-1000 được duy trì (giữ lại) như trên tàu chống ngầm lớn đề án 1134-A.

Nhiệm vụ chính của các tàu 1134-B (đồng thời đề án 1134-A) là đảm bảo phòng không và chống ngầm cho đơn vị tàu chiến: tìm kiếm (săn lung), giám sát và tiêu diệt các tàu ngầm trên khu vực biển xa và đại dương. Nhiệm vụ cụ thể của chúng là giám sát trong chế độ (trạng thái) sẵn sàng chiến đấu sau sự triển khai tàu ngầm nguyên tử tuần dương chiến lược của kẻ thù tiềm tàng. Theo nguyên nhân này, ở nước ngoài thường gọi chúng là các tàu tuần dương (tên gọi Phương Tây là lớp Kara).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Mười, 2012, 01:19:36 am
(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1134b_27_zps9fe8b97c.jpg)

Thiết bị phóng của tổ hợp tên lửa phòng không "Osa-M" trên tàu chống ngầm lớn đề án 1134-B

(không tìm được hình lớn hơn, cả nhà thông cảm nhé)

(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1134b_24_zps250565bb.jpg)

(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1134b_26_zpsacee08a4.jpg)

Thiết bị phóng ở mũi của tổ hợp tên lửa phòng không "Shtorm" trên tàu chống ngầm lớn đề án 1134-B. Trên thượng tầng nhìn thấy rõ trạm ăng ten của đài dẫn bắn tên lửa "Grom-M"


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Mười, 2012, 01:24:15 am
(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1134b_23_zps912eec5d.jpg)

Hình dáng từ mũi trên thượng tầng tàu chống ngầm lớn đề án 1134-B. Đằng trước - RBU-6000, đằng sau - thiết bị phóng của tổ hợp tên lửa phòng không "Shtorm"


(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1134b_28_zpsd65971b2.jpg)


Thiết bị phóng tên lửa chống ngầm "Rastrub" trên tàu chống ngầm lớn đề án 1134-B. Qua các nắp được mở nhìn thấy các tên lửa phòng không 85-RU


(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1134b_25_zps45b730c7.jpg)

Thiết bị phóng của tổ hợp tên lửa phòng không "Osa-M" trên tàu chống ngầm loại lớn đề án 1134-B trong tư thế chiến đấu


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Mười, 2012, 01:19:17 pm
Các biến thể

(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1134b_12_zpse0a24d72.jpg)

Đồng thời cũng như trên các tàu đề án 1134-A, trên tàu chống ngầm lớn đề án 1134-B trong thời gian sửa chữa đã thay thế tổ hợp tên lửa chống ngầm “Metel” bằng tổ hợp đa chức năng mới “Rastrub-B” với tên lửa 85-RU có khả năng tiêu diệt mục tiêu nổi.

Hai tàu trong đề án đã chịu sự nâng cấp sâu. Trên tàu thứ ba – “Kerch” – thay cho đài ra đa định vị “Voskhod” đã lắp đài ra đa định vị “Podberezovik”. Trên tàu thứ 4 “Azov” năm 1977, thay tổ hợp tên lửa phòng không “Shtorm” ở mạn tàu đã lắp để thí nghiệm tổ hợp tên lửa phòng không đa kênh mới “Fort” – phiên bản Hải quân của tổ hợp phòng không Quân chủng Lục quân (Phòng không quốc gia) S-300PS. Sau khi nâng cấp, số hiệu đề án đổi thành 1134-BF (ở phương Tây gọi “Azov” là lớp Kara biến thể - Modified Kara). Tàu này được sử dụng tương đối lâu trên Biển Đen để xử lý tổ hợp tên lửa phòng không đa kênh trên tàu trong tổ chức phòng thủ tập thể với tên lửa phòng không khởi động thẳng, được sử dụng để thiết kế trên các tàu tuần dương đề án 1164 và 1144 ở thời điểm đó.

Chương trình đóng tàu

(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/1134b_04_zps37094fb9.jpg)

Tàu đầu tiên trong đề án 1134-B nhận tên gọi “Nikolaev” được khởi công tháng 1 năm 1969 ở xưởng đóng tàu ở Nikolaev mang tên 61 chiến sĩ công xã (xưởng số 200), trong tháng 1 năm 1971 tàu được đưa vào biên chế Hải quân. Đến năm 1979 đã đóng thêm 6 tàu thuộc đề án trong cùng xưởng trên.

Tình hình đến năm 2007

Các tàu đề án 1134-B tham gia một cách tích cực trong các hoạt động sẵn sàng chiến đấu trong biên chế Hải quân Liên Xô – 4 – biển Đen; 3 – Thái Bình Dương. Trong tháng 2-6 năm 1979, tàu chống ngầm lớn “Petropavlovsk” và “Taskent” đã hoàn thành cuộc hành quân chung kéo dài quanh Châu Phi từ Sevastopol tới Vladivostoc. Một trong số các tàu đã tham gia bộ phim “Cuộc đi biển đơn độc”.

Sau khi Liên Xô tan rã, các tàu chống ngầm lớn đã bắt đầu bị loại dần khỏi biên chế Hải quân. Cuộc khủng hoảng kinh tế chung ở Nga đầu những năm 1990 và sự phân chia Hạm đội Biển Đen không phải là nguyên nhân chính. Tới thời điểm này, trong Hải quân Nga chỉ còn các tàu chống ngầm lớn “Kerch” và “Ochakov”. Trong đó, tàu sau cùng có khả năng chiến đấu thấp và có khả năng trong tương lai gần sẽ bị loại khỏi biên chế. Trong khi đó, để sửa chữa “Ochakov”, theo ý Đô đốc I.Kasatonov, trong những năm 1990 đã ghi nhận (đưa) tàu chống ngầm lớn mới hơn “Azov” thuộc Hạm đội Biển Đen được sử dụng như nguồn phụ tùng, nhưng theo sự mài mòn lớn của “Ochakov”, việc sửa chữa đã không được thực hiện.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Mười, 2012, 01:28:05 pm
Tóm tắt lịch sử phục vụ


(* - tàu đang còn phục vụ trong biên chế)

+ “Nikolaev” (số hiệu xưởng 2001); 25 tháng 6 năm 1968 khởi công ở xưởng mang tên 61 chiến sĩ công xã ở Nikolaev (số 200); 13 tháng 8 năm 1969 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; hạ thủy 19 tháng 12 năm 1969; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1971; 8 tháng 2 năm 1972 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 9 tháng 4 năm 1984 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 26 tháng 9 – 1 tháng 10 năm 1973 tới thăm Split (Nam Tư) và 15-21 tháng 4 năm 1981 – tới Havana (Cuba); 11 tháng 11 năm 1987 được đưa tới Nikolaev để đại tu, nhưng 29 tháng 10 năm 1992 bị loại khỏi biên chế Hải quân; 31 tháng 12 giải thể; 10 tháng 8 năm 1994 được tới Ấn Độ để tháo dỡ kim loại.

+ (*) “Ochakov” (số hiệu xưởng 2002); 19 tháng 12 năm 1969 ở xưởng mang tên 61 chiến sĩ công xã ở Nikolaev (số 200); 25 tháng 12 năm 1969 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; hạ thủy 30 tháng 4 năm 1971; gia nhập biên chế 4 tháng 11 năm 1973; 28 tháng 11 năm 1973 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 14-19 tháng 6 năm 1979 tới thăm Latania (Siri); 13-18 tháng 4 năm 1979 – tới Rieka (Nam Tư); 11-16 tháng 6 năm 1979 – tới Tulon (Pháp); 10-13 tháng 8 năm 1979 – tới Barna (Bulgaria); 20-24 tháng 10 năm 1986 – tới Havana (Cuba); 26-31 tháng 3 năm 1987 tới Stambul (Thổ Nhĩ Kỳ); 26-30 tháng 10 năm 1987 và 8-12 tháng 5 năm 1990 – tới Split (Nam Tư); 24-28 tháng 4 năm 1989 tới Constant (Rumani) và 11-14 tháng 6 năm 1990 – tới Taranto (Italia); trong giai đoạn từ 26 tháng 3 năm 1980 đến 18 tháng 7 năm 1984 trải qua đại tu ở “Sevmorzavod” ở Sevastopol; vào đầu những năm 1990 được đưa tới sửa chữa ở Sevastopol; 9 tháng 2 năm 1993 trên tàu xảy ra đám cháy do kết quả cháy khoang số 10.

+ (*) “Kerch” (số hiệu xưởng 2003); 30 tháng 4 năm 1971 khởi công ở xưởng mang tên 61 chiến sĩ công xã (số 200) tại Nikolaev; 25 tháng 5 năm 1971 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; hạ thủy 21 tháng 7 năm 1972; gia nhập biên chế 25 tháng 12 năm 1974; 23 tháng 1 năm 1975 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 10-14 tháng 8 năm 1984 và 11-15 tháng 8 năm 1989 tới thăm Varna (Bulgaria) và 28 tháng 6 – 2 tháng 7 năm 1989 tới Stambul (Thổ Nhĩ Kỳ) năm 2005 trải qua sửa chữa ở Novorossisk.

+ “Azov” (số hiệu xưởng 2004); 4 tháng 1 năm 1972 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; 21 tháng 7 năm 1972 khởi công ở xưởng mang tên 61 chiến sĩ công xã tại Nikolaev (số 200); hạ thủy 14 tháng 9 năm 1973; gia nhập biên chế 25 tháng 12 năm 1975; 19 tháng 2 năm 1976; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; năm 1977 nâng cấp theo đề án 1134-BF; 22-26 tháng 1 năm 1990 tới thăm Pirei (Hy Lạp); 25 tháng 6 – 1 tháng 7 năm 1990 tới Havana (Cuba); 24-28 tháng 6 năm 1991 – tới Tulon (Pháp) và 15-19 tháng 8 năm 191 – tới Constants (Rumani); trong giai đoạn từ 18 tháng 7 năm 1984 đến 21 tháng 2 năm 1985 trải qua đại tu tại “Sevmorezavod” ở Sevastopol; 10 tháng 12 năm 1998 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải thể và sau đó đưa vào danh sách tháo dỡ kim loại.

+ “Petropavlovsk” (số hiệu xưởng 2005); 4 tháng 1 năm 1972 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; 9 tháng 9 năm 1973 khởi công ở xưởng mang tên 61 chiến sĩ công xã (số 200) tại Nikolaev; hạ thủy 22 tháng 1 năm 1974; gia nhập biên chế 29 tháng 12 năm 1976; 5 tháng 2 năm 1977 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 24 tháng 2 – 3 tháng 7 năm 1979 hoàn thành cuộc hành quân quanh Châu Phi từ Sevastopol tới Vladivostoc; thực hiện công tác, ghé vào Luanda (Angola), Maputa (Mozambic) và Port-Lui (Mavriki); trong giai đoạn từ 9 tháng 10 năm 1986 đến 12 tháng 2 năm 1990 trải qua đại tu ở “Dalzavod” tại Vladivostoc; năm 1995 bị loại khỏi biên chế Hải quân và giải thể.

+ “Taskent” (số hiệu xưởng 2006); 5 tháng 7 năm 1974 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; 22 tháng 11 năm 1974 khởi công ở xưởng mang tên 61 chiến sĩ công xã (số 200) ở Nikolaev; hạ thủy 5 tháng 11 năm 1975; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1977; 17 tháng 2 năm 1978 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 24 tháng 2 – 3 tháng 7 năm 1979 hoàn thành cuộc hành quân quanh Châu Phi từ Sevastopol tới Vladivostoc; công tác, ghé vào Luanda (Angola), Maputa (Mozambic) và Port-Lui (Mavriki); 20 tháng 12 năm 1989 đưa tới Nikolaev để đại tu; nhưng 3 tháng 7 năm 1992 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; 29 tháng 10 năm 1992 giải thể; 10 tháng 8 năm 1994 kéo tới Ấn Độ để tháo kim loại.

+ “Tallin” (số hiệu xưởng 2007); từ 2 tháng 8 năm 1990 là “Vladivostoc”; 7 tháng 5 năm 1975 ghi tên vào danh sách các tàu Hải quân; 5 tháng 11 năm 1975 khởi công ở xưởng mang tên 61 chiến sĩ công xa (số 200) tại Nikolaev; hạ thủy 5 tháng 11 năm 1976; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1979 và 28 tháng 3 năm 1980 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 13-17 tháng 12 năm 1981 tới thăm Maputa (Mozambic); 16-20 tháng 2 năm 1984 – tới Massaua (Etiopia); 13-17 tháng 8 năm 1985 – tới Wonsan (Hàn Quốc), còn 12-16 tháng 3 năm 1986 công tác, ghé vào Jibutil; năm 1994, bị loại khỏi biên chế hải quân và giải thể.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Mười, 2012, 05:34:09 pm
Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, mét

+ tiêu chuẩn: 6590

+ hoàn toàn: 8470

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước tiêu chuẩn): 173,4 (162)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước tiêu chuẩn): 18,5 (16,8)

+ lượng mớn nước lớn nhất: 6,35 (5,74)

Thiết bị năng lượng chính: thiết bị tuabin khí – khí

+ 2 tuabin khí hành trình M-62, tổng công suất, sức ngựa (kW): 12 000 (8820)

+ 4 tuabin khí tăng lực M-8E, tổng công suất, sức ngựa (kW): 80 000 (58 000)

2 trục; 2 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ lớn nhất: 32

+ tiết kiệm năng lượng: 18

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý)

+ 7100 (18)

+ 3000 (30)

Thời gian hoạt động: 30 ngày

Thủy thủ đoàn, thành viên (sỹ quan): 380 (47).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Mười, 2012, 05:46:59 pm
Vũ khí

Tên lửa chống ngầm

+ thiết bị phóng tên lửa chống ngầm PRK-3 “Metel” hoặc URK-5 “Rastrub-B”: 2x4

+ tên lửa chống ngầm 85-R hoặc 85-RU (SS-N-14 “Silex”): 8

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng B-187A của tổ hợp tên lửa phòng không M-11 “Shtorm” hoặc “Shtorm-M”: 2x2

+ tên lửa phòng không điều khiển V-611 (SA-N-3 “Goblet”): 48

+ thiết bị phóng Zif-122 của tổ hợp tên lửa phòng không 4K33 “Osa-M”: 2x2

+ tên lửa điều khiển 9M33M (SA-N-4 “Gecko”): 40

Pháo

+ thiết bị pháo 76,2mm AK-726: 2x2

+ tổ hợp pháo phòng không 30mm AK-630: 4x6

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm PTA-53-1134: 2x5

Chống ngầm

+ RBU-6000 “Smerch-2”: 2x12

+ RGB-60: 144

+ RBU-1000 “Smerch-3” (trừ “Petropavlovsk”): 2x6

+ RGB-10: 60

Vũ khí đường không

+ trực thăng Ka-25PL (“Hormone A”) hoặc Ka-27 (“Helix-A”): 1.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Mười, 2012, 06:00:32 pm
Trang bị vô tuyến điện

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu

+ “Alleia-1” và “Koren”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm cao

+ 1xMR-600 “Voskhod” (Top Sail)

+ 1x”Podberezovic” (Flat Screen) chỉ trên “Krech”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp

+ 1xMR-310A “Angara-A) (Head Net C)

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm thấp

+ 2x”Volga” (Palm Frond) và “Vaigach” (Don Kay) trên Nikolaev hoặc

+ 3x”Vaigach” (2 Don Kay và 1 Don 2) trên các tàu còn lại

Đài thủy âm định vị

+ MG-332T “Titan-2T” (Bull Nose)

+ MG-235 “Vega” (Mare Tail) – đài thủy âm định vị lại

Các khí tài tác chiến điện tử

+ “Koltso”

+ “Gurfuz”, “Gurfuz-1” (8 Side Globe) (2 Bell Slam; 1 Bell Clout; 2Bell Tap) trên 1-2 tàu hoặc 4 Rom Tub trên các tàu còn lại

+ BAT-1

Các tổ hợp bắn nhiễu

+ 2x2 thiết bị phóng PK-2 (Zif-121)

Các khí tài quang điện

+ 4x(Tilt Pot)

Đài thủy âm định vị điều khiển hỏa lực

+ 2x”Grom-M” (Head Light C) cho tổ hợp tên lửa phòng không “Shtorm” và tên lửa chống ngầm

+ 2x4R33 (Pop Group) cho tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M”

+ 2xMR-105 “Turel” (Owl Screech) cho thiết bị pháo 76,2mm

+ 2xMR-123 “Vưmpel” (Bass Tilt) cho thiết bị pháo 30mm

Đài đạo hàng đảm bảo bay

+ (Fly Screen A) không phải trên toàn bộ

Đài ra đa định vị hội thoại nói

+ “Nikel-KM” và “Khrom-KM” (High Pole A và B).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Mười, 2012, 01:24:21 am
Tàu khu trục phóng ngư lôi lớp “Osmotritelnưi” – Đề án 30-K

(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/30-k_04_zpsa301b2ca.jpg)

Tổng số tàu đã đóng: 10

Biến thể: không có

Tận dụng (học hỏi, dựa vào) kinh nghiệm Chiến tranh Thế giới thứ nhất, các công trình sư tàu khu trục của tất cả các nước đã bắt đầu các công việc theo sự tăng cường khả năng phòng thủ của chúng và trước hết là bảo vệ các trạm chiến đấu chính. Đạt được thành công lớn nhất là các công trình sư Nhật Bản – đã từ bỏ tốc độ rất lớn cho các tàu khu trục của họ, có thể trong lượng choán nước bị giới hạn bố trí toàn bộ pháo trên thiết bị tháp pháo và bọc thép buồng lái trên các thiết bị ngư lôi. Sự tăng các mối đe dọa từ tren không trong những năm 30 đã dẫn đến sự cần thiết tăng cường khẩn cấp vũ khí phòng không. Và trong câu hỏi này, các công trình sư Nhật rõ ràng đã đi tới (tìm ra) những phương pháp quan trọng. Toàn bộ các tàu khu trục Nhật được đóng sau Chiến tranh Thế giới thứ nhất được trang bị pháo chính đa năng trên các tháp pháo (như kinh nghiệm Chiến tranh Thế giới lần thứ hai đã chỉ ra, các tàu khu trục của Nhật đã thể hiện rất tốt). Vào đầu những năm 40, trong toàn bộ các cường quốc Hải quân , trên các tàu khu trục đã ứng dụng loại pháo chính đa năng lắp trên tháp pháo. Tàu đầu tiên của Hải quân Liên Xô trong lớp này được lắp thiết bị tháp pháo B-2-LM cho pháo 130mm được thiết kế dưới sự chỉ đạo của S.I.Lodkin và được sử dụng ban đầu cho các tàu khu trục mới – được đánh tương ứng với các kế hoạch xây dựng Hạm đội lớn năm 1938. Đề án tàu khu trục này nhận số hiệu 30.

Tàu khu trục đề án 30 được thiết kế ban đầu theo nhiệm vụ kỹ - chiến thuật được phê chuẩn bởi Tham mưu trưởng các lực lượng Hải quân Hồng quân công nông ngày 15 tháng 11 năm 1937, theo đó cần thiết chế tạo dự án cho việc đóng tàu khu trục thay thế cho các tàu đề án 7 và 7-U. Trong qua trình nghiên cứu lúc đầu, nhiệm vụ được xác định khái niệm cơ bản, khởi công đề án 30 bao gồm trong đó sự ghép bộ pháo chính và phái phòng không trên các tháp pháo. Đề án 30 được thiết kế bởi Phòng thiết kế xưởng số 190 (hiện nay là xưởng đóng tàu Phương Bắc) thuộc Bộ dân ủy đóng tàu trong những năm 1937-1939 dưới sự chỉ đạo của Tổng công trình sư đề án A.M.Yunovidov và được phê duyệt bởi Mệnh lệnh Chính phủ số 403 ngày 27 tháng 10 năm 1939.

Trong bối cảnh, khi tàu khu trục đề án số 7 xuất hiện sự “phá hoại” (cơ bản do khả năng sống sót thấp của sơ đồ tuyến bố trí thiết bị năng lượng chính),  những quyết định quan trong về mọi mặt của tàu được dẫn trong số đó - từ kinh nghiệm trong chiến tranh Tây Ban Nha những năm 1936-1939. Tuy nhiên, sự viện dẫn kinh nghiệm này khi lập luận sự bố trí pháo trong tháp pháo để bảo vệ khẩu đội khỏi hỏa lực từ máy bay – là gượng ép, bởi vì các hoạt động chiến đấu trên biển không có (bao hàm) các trường hợp tấn công cường độ lớn (bắn từ sung máy và đại bác), khi tàu khu trục bắn pháo chính hoặc bắn ngư lôi. Thậm chí các bằng chứng trên kinh nghiệm nước ngoài ở thời điểm đó rất không được tiếp nhận (tiếp thu). Pháo chính của tàu mới được bố trí trong tháp pháo B-2-LM (2x2 pháo 130mm), còn các thiết bị ngư lôi được bố trí trong khoang điều khiển bắn ngư lôi bọc thép.

Một mặt, đây là tàu khu trục phóng lôi hiện đại hơn so với đề án 7 và 7-U, nhưng mặt khác, nó tiếp tục thừa kế một số nhược điểm của tàu khu trục các dòng trước, đặc biệt là ở trang bị pháo và thiết bị cơ khí. Như theo so sánh với các tàu khu trục tương tự ở nước ngoài, nó có vũ khí phòng không không đảm bảo do pháo chính không phải đa năng. Ở thời điểm đó, trên tàu khu trục Mỹ, pháo đa năng 127mm là ngắn (gọn) với chiều dài nòng gấp 38 lần cỡ nòng, vượt trội về tốc độ bắn nhưng kém về tầm xa so với pháo 130mm B-13 của tàu khu trục đề án 30. Tuy nhiên điểm yếu này của pháo Mỹ chỉ mang ý nghĩa thuần về lý thuyết bởi vì khí bắn trong điều kiện sóng biển, việc thực hiện bắn ở tầm xa đối đa trên thực tế là không thể. Các tàu khu trục của các nước tham chiến, theo kinh nghiệm của Chiến tranh Thế giới thứ hai, trong các trận chiến trên biển, thực tế không tiếp nhận sử dụng pháo ở tầm bắn tối đa. Mặt khác, sự đe dọa từ trên không của đối phương đã chứng minh là rất mạnh. Và trong thời gian chiến tranh, để chống lại máy bay của địch, các tàu khu trục đề án 7 và 7-U bắt buộc phải sử dụng thậm chí các pháo 130mm B-13. Tốc độ bắn cao của pháo trên tàu khu trục Mỹ đạt được nhớ áp dụng đạn liều phóng nạp rời. Nhược điểm của đề án 30 đồng thời được bao gồm sử dụng trong thành phần thiết bị năng lượng chính nồi hơi loại thường với sự thổi không khí tới buồng nồi hơi. Cũng kinh nghiệm trong Chiến tranh Thế giới thứ 2 đã chỉ ra rằng thiết bị nồi hơi này trên các tàu nhẹ nhanh chóng mất đi chất lượng và các tham số trong kết quả mất sự kín buồng nối nơi do các vết thủng của mảnh đạn vào thành tàu trong các vụ bom ném từ máy bay nổ gần và trong hàng loạt các trước hợp tàu khu trục nói chung mất khả năng di chuyển và bị loại khỏi vòng chiến đấu. Sơ đồ này của thiết bị nồi hơi trong các nước Hải quân hàng đầu (Mỹ và Anh) từ cuối những năm 30, đầu những năm 40 đã không được tiếp nhận trong các đề án tàu khu trục mới và các tàu lớn hơn (sử dụng sử thổi trực tiếp vào buồng đốt và tăng các tham số hơi nước: áp suất hơn 45 kg lực/cm2, nhiệt độ 450 độ C). Chỉ vào mùng 8 tháng 3 năm 1940, Bộ Dân Ủy Hải quân đã phê duyệt nhiệm vụ kỹ - chiến thuật của tàu khu trục mới đề án 30-A, trong thiết bị năng lượng chính của tàu sử dụng sơ đồ và tham số hơi nước của tàu khu trục Mỹ (1 tổ hợp thiết bị năng lượng chính nhận được từ Mỹ), nhưng đề án do những nguyên nhân không rõ ràng đã không được thực hiện.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Mười, 2012, 02:23:35 am
(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/30-k_2_zpsdbe4028d.jpg)

Bản vẽ tàu khu trục phóng ngư lôi đề án 30

Khả năng cơ động trên biển không tốt được thừa hưởng từ đề án 7 được giữ trên đề án 30. Boong bị ngập nặng của tàu khu trục tất cả nước nước khi sóng lớn không cho phép sử dụng vũ khí một cách hiệu quả, còn sự di chuyển thủy thủ đoàn lên boong trên gắn liền với những mối tai nạn (hiểm họa) lớn. Ở một số nước đã làm được những bước đàu tiên về nâng cấp điều kiện khai thác sử dụng vũ khí do kết quả nâng từng phần lên chiều cao lớn. Ví dụ, như tàu khu trục Mỹ từ boong mũi hoặc tháp mũi đến tháo pháo mũi pháo chính được bố trí dày đặc trên thượng tầng, trên nóc bố trí thiết bị ngư lôi và pháo, còn bên trong đảm bảo sự di chuyển của thủy thủ đoàn từ các buồng mũi tới mạn tàu theo mọi trạm chiến đấu mà không phải ra khỏi boong trên. Trên tàu chỉ huy “Taskent” đã tiếp nhận giải pháp thiết kế này, mặc dù chỉ huy Hải quân lo ngai hiệu quả hoạt động của thiết bị ngư lôi bố trí trên thượng tầng. Như kinh nghiệm khai thác sử dụng sau đó đã chỉ ra rằng khả năng này tăng hiệu quả sử dụng vũ khí, qua sự đảm bảo điều kiện làm việc thuận lợi hơn cho thủy thủ đoàn đã chứng minh hiệu quả rất cao (tính toán này đã áp dụng ở một trong số các phiên bản – đề án 30-bis đã nghiên cứu phương án thông tin thượng tầng mũi với mạn bằng cách sử dụng đài chỉ huy vòng). Đương nhiên, các thượng tầng phát triển và thành cao bởi các chuyên gia khi đó đã nghiên cứu như là sự xuất hiện không thuận lợi (tiêu cực) (do khả năng bị phát hiện lớn và phạm vi bị bắn cháy lớn với điểm ngắm chiến thuật, đồng thời giảm tính ổn định do chiều cao trung tâm trọng lực lớn). Sự tuyệt đối hóa các yếu tố bị phát hiện là kết luận của những quan điểm lỗi thời trong việc sử dụng tàu khu trục, khí đó đã cho rằng chúng được sử dụng trong vai trò cơ bản để tấn công bằng ngư lôi các tàu nổi lớn trong thời gian ban ngày. Khi đó, yếu tố chiếm vị trí ưu tiên đầu tiên là tốc độ, sức mạnh dàn ngư lôi và khả năng bị phát hiện thấp. Tuy nhiên, như trong thời gian Chiến tranh Thế giới thứ nhất, cũng như trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, các tàu khu trục đã tấn công các tàu nổi lớn bằng vũ khí ngư lôi vào ban ngày rất hiếm, tức là các trường hợp này bị loại trừ; không phải là thường xuyên. Chế tạo các tàu theo nhiệm vụ mà thậm chí trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất bị loại bỏ chưa chắc là hợp lý. Vì thế, các công trình sư Mỹ ngay lập tức đã nghiên cứu tàu khu trục như những tàu đa năng hạng nhẹ và đã cố gắng đảm bảo chúng các phần tử kỹ - chiến thuật cân bằng nhất. Trong sự khác biệt so với Hải quân Mỹ, Anh và Nhật, trong Hải quân Italia, Đức, Pháp và Liên Xô, nhiệm vụ chính của tàu khu trục được giữ lại như cũ, vì thế trong sự đảm bảo tốc độ cao đã chấp nhận hy sinh khả năng cơ động trên biển và độ dày thân tàu.

(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/30-k_04_zpsa301b2ca.jpg)

Trong sự tương ứng với đề án kỹ thuật được phê duyệt bởi Bộ Dân ủy công nghiệp đóng tàu năm 1939 đã bắt đầu đóng tàu khu trục theo đề án 30. Tuy nhiên từ đầu Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, việc đóng toàn bộ các tàu khu trục đề án 30 bị dừng lại. Tới thời điểm đó, chỉ hạ thủy thành công 5 tàu khu trục đề án 30 “Otlichnưi”, “Obraztsovưi” và “Otvazhnưi” ở xưởng Phương Bắc, còn “Ognevoi” và “Ozornoi” ở xưởng mang tên 61 chiến sĩ công xã ở Nikolaev, mà vào tháng 8 năm 1941 đã bị đưa ra xưởng trước khi Nikolaev bị chiếm bởi quân Đức. Chỉ vào năm 1943 ở Batumi mới bắt đầu đóng tàu khu trục “Ognevoi” và kết thúc vào tháng 4 năm 1945.

Chương trình đầu tiên sau chiến tranh (1946-1955) đã lên kế hoạch đóng và đưa vào biên chế Hải quân Liên Xô nhiều tàu khu trục. Lãnh đạo đất nước khi đó đã hướng tới khả năng có thể nhanh nhất bắt đầu thực hiện chương trình đã định và vì thế khi lựa chọn các đề án tàu, nó hoàn toàn phù hợp với ngành công nghiệp. Thay cho thiết kế các đề án tàu khu trục mới, dựa trên kinh nghiệm Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, trong đó bị bắt buộc bởi Dân ủy Hải quân đã tiếp nhận quyết định thực hiện các đề án đã có và cụ thẻ là đề án 30 với sự thay đổi một cần thiết một cách từng phần dựa trên kinh nghiệm này. Trong các tàu đang được đóng tiếp thuộc đề án 30-K “hiệu chỉnh” đã lắp bổ sung pháo phòng không 37mm 70-K, thiết bị phóng bom, đàu ra đa định vị bắn và đài thủy âm mới, đồng thời thân tàu được gia cố một cách đáng kể. Trên các tàu khu trục khác có bố cục tiêu chuẩn và được trang bị 2 thiết bị ngư lôi 3 ống phóng, pháo 2 nòng 130mm và 85mm, đồng thời pháo phòng không, bom chìm và mìn.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Mười, 2012, 02:37:04 am
Chương trình đóng tàu

Việc đóng tàu đền án 30 được thực hiện từ năm 1939, nhưng bị dừng lại do chiến tranh bắt đầu. Tàu khu trục đầu tiên của đề án “Ognevoi” gia nhập biên chế tháng 5 năm 1945, còn theo đề án hiệu chỉnh 30-K sau Chiến tranh Thế giới thứ hai trong giai đoạn từ năm 1947 đến 1950 đã đóng tiếp và bàn giao cho Hải quân 10 tàu (1 – xưởng mang tên 61 chiến sĩ công xã ở Nikolaev (số 200 – số 445), 4 – xưởng Phương Bắc ở Leningrad (số 190 mang tên A.A.Zhdanov), 3 – xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên Cộng sản Lenin ở Komsomol-na-Amur (số 190), 2 - ở xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc ở Molotovsk – hiện nay là Severodvinsk số 402)). Các tàu còn lại được tháo lấy kim loại.

Tàu khu trục “Ozornoi” năm 1950 được bán cho Hải quân Bulgaria và đổi tên thành “Georgi Dimitrov”.

Tình hình đến năm 2005

Tàu cuối cùng bị loại khỏi danh sách Hải quân năm 1965. Đã có 5 tàu khu trục được chuyển đổi, làm nhiệm vụ khác.

(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/30-k_3_zpse6757c37.jpg)

Sự bố trí vũ khí trên tàu khu trục phóng ngư lôi đề án 30-K

1. Thiết bị pháo chính nòng đôi 130mm B2-LM

2. Thiết bị pháo phòng không nòng đôi 85mm 92-K

3. Trạm đo xa với đài ra đa định vị bắn để điều khiển hỏa lực pháo phòng không

4. Thiết bị ngư lôi 3 ống phóng 533mm TTA-533-30

5. Thiết bị pháo phòng không 37mm 70-K

6. Trạm ăng ten đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp “Gyuis-1”

7. Trạm đo xa – chỉ huy điều khiển hỏa lực pháo chính KDP2-4

8. Thiết bị phóng bom BMB-1

9. Rãnh dẫn hướng cho mìn.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Mười, 2012, 03:18:15 am
Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ “Osmotritelnưi” số hiệu xưởng 103; từ 18 tháng 4nawm 1958 là PKZ-151; từ 9 tháng 5 năm 1958 là TsL-30; từ 17 tháng 9 năm 1958 là PKZ-151; khởi công 5 tháng 5 năm 1940 ở xưởng số 402; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 25 tháng 9 năm 1950; hạ thủy 24 tháng 8 năm 1940; gia nhập biên chế 29 tháng 9 năm 1947; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 1 tháng 10 năm 1947; 8 tháng 4 năm 1958 loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân; tháo vũ khí và trang bị lại thành doanh trại nổi (PZK), sau đó thành tàu mục tiêu (TsL), sau đó một lần nữa thành doanh trại nổi; bị loại khỏi biên chế Hải quân; 6 tháng 11 năm 1961 bị đắm ở cửa sông vịnh Kandalak ở khu vực cảng Gridino bởi tàu tuần tương tên lửa “Groznưi” khi thử bắn tên lửa trong thời gian diễn ra thí nghiệm bàn giao cấp nhà nước.

+ “Vnushitelnưi”; số hiệu xưởng 3; từ 18 tháng 4 là TsL-32; từ 14 tháng 9 năm 1959 là UTS-90; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 25 tháng 9 năm 1940; khởi công 16 tháng 10 năm 1940 ở xưởng số 199; hạ thủy năm 1942; gia nhập biên chế 29 tháng 12 năm 1947; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 5 23 tháng 2 năm 1948; 23 tháng 4 năm 1953 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 18 tháng 4 năm 1958 bị loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân, tháo vũ khí và cải tạo thành tàu mục tiêu; 28 tháng 8 năm 1959 trở thành tàu huấn luyện (UTS); bị loại khỏi biên chế Hải quân 29 tháng 9 năm 1960; giải thể 10 tháng 10 năm 1960.

+ “Okhotnik”; số hiệu xưởng 104; từ 1 tháng 12 năm 1946 là “Stalin”; khởi công 25 tháng 6 năm 1940 ở xưởng số 402; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 25 tháng 9 năm 1940; hạ thủy 19 tháng 7 năm 1947; gia nhập biên chế 29 tháng 9 năm 1948; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 26 tháng 10 năm 1948; 28 tháng 1 năm 1958 bị loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân và giải thể; tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân 3 tháng 4 năm 1958; năm 1958-59 tháo dỡ kim loại ở căn cứ “Glavvtorchermeta” tại Murmansk.

+ “Otlichnưi”; số hiệu xưởng 58, từ 14 tháng 3 năm 1960 là TsL-69; từ 6 tháng 4 năm 1962 là PKZ-43; khởi công 2 tháng 12 năm 1939 ở xưởng số 190; ghi tên vào danh sách Hải quân 25 tháng 10 năm 1940; hạ thủy 7 tháng 5 năm 1947; gia nhập biên chế 31 tháng 10 năm 1948; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4 9 tháng 1 năm 1949; 24 tháng 12 năm 1955 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 6 tháng 2 năm 1960 bị loại khỏi biên chế chiến đấu của Hải quân; tháo vũ khí và phân loại thành tàu mục tiêu; loại khỏi biên chế Hải quân 9 tháng 2 năm 1962 tháo neo đậu và cải tạo thành doanh trại nổi; cuối cùng bị loại khỏi danh sách tàu Hải quân 13 tháng 7 năm 1965; trong năm 1965-66 xẻ kim loại ở căn cứ “Glavvtorchermeta” tại Kronshtadt.

+ “Vưnoslivưi”; số hiệu xưởng 4; từ 20 tháng 2 năm 1959 là TsL-51; ghi tên vào danh sách Hải quân 25 tháng 9 năm 1940; khởi công 29 tháng 10 năm 1940 ở xưởng số 199; hạ thủy 17 tháng 11 năm 1947; gia nhập biên chế 5 tháng 12 năm 1948; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 5 23 tháng 2 năm 1949; 31 tháng 5 năm 1949 chuyển tới đơn vị Hải quân số 7; 23 tháng 4 năm 1953; chuyển sang Hạm đội Thái Bình Dương; 20 tháng 2 năm 1959 loại khỏi biên chế chiến đấu; tháo vũ khí và cải tạo thành tàu mục tiêu; loại khỏi danh sách Hải quân 30 tháng 8 năm 1960 và cải tạo thành căn cứ để đảm bảo thực hiện các bài tập chiến đấu.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Mười, 2012, 03:38:37 am
+ “Vlastnưi”; số hiệu xưởng 5; 20 tháng 2 năm 1959 là TsL-48; ghi tên vào danh sách Hải quân 25 tháng 9 năm 1940; khởi công 29 tháng 10 năm 1940 ở xưởng số 190; gia nhập biên chế 27 tháng 12 năm 1948; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 5 23 tháng 2 năm 1948; 31 tháng 5 năm 1949 chuyển tới đơn vị số 7 Hải quân; 23 tháng 4 năm 1953 chuyển tới Hạm đội Thái Bình Dương; 20 tháng 2 năm 1959 bị loại khỏi biên chế Hải quân; tháo vũ khí và cải tạo thành tàu mục tiêu; loại khỏi danh sách Hải quân 30 tháng 8 năm 1960 và trở thành căn cứ đảm bảo thực hiện các bài tập luyện chiến đấu.

+ “Ozornoi”; số hiệu xưởng 1087; khởi công 20 tháng 11 năm 1939 ở xưởng số 200; ghi tên vào danh sách Hải quân 25 tháng 9 năm 1940; hạ thủy 25 tháng 12 năm 1940; 14 tháng 8 năm 1941 được kéo tới Poti; 1 tháng 12 năm 1942 dừng đóng và niêm cất; đóng tiếp sau Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại; gia nhập biên chế 9 tháng 1 năm 1949; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 25 tháng 2 năm 1949; loại khỏi biên chế Hải quân 25 tháng 3 năm 1950 để bán cho Bulgaria; gia nhập biên chế Hải quân Bulgaria dưới tên gọi “Georgi Dimitrov”; năm 1963 tháo vũ khí và chỉ huy quân đội Bulgaria bán lấy kim loại.

+ “Obraztsovưi”; số hiệu xưởng 539; từ 20 tháng 8 năm 1959 là TsL-41; từ 6 tháng 2 năm 1960 là UTS-251; khởi công 2 tháng 12 năm 1939 ở xưởng số 190; ghi tên vào danh sách Hải quân 25 tháng 9 năm 1940; 20 tháng 5 năm 1942 dừng đóng; đóng tiếp sau Chiến tranh Vệ quốc; hạ thủy 30 tháng 10 năm 1947; gia nhập biên chế 29 tháng 9 năm 1949; gia nhập đơn vị Hải quân số 8 27 tháng 11 năm 1949; 24 tháng 12 năm 1955 gia nhập Hạm đội Baltic; 20 tháng 2 năm 1959 bị loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân; tháo vũ khí và phân loại lại thành tàu mục tiêu; 30 tháng 12 năm 1958 trở thành tàu huấn luyện; loại khỏi biên chế Hải quân 23 tháng 2 năm 1961; tháo kim loại ở căn cứ “Glavvtorchermeta” tại Paldisky.

+ “Otvazhnưi”; số hiệu xưởng 540; khởi công 30 tháng 12 năm 1939 ở xưởng số 190; ghi tên vào danh sách Hải quân 25 tháng 9 năm 1940; 20 tháng 5 năm 1942 dừng đóng; đóng tiếp sau Chiến tranh Vệ quốc; hạ thủy 2 tháng 1 năm 1948; gia nhập biên chế 2 tháng 3 năm 1950; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4 16 tháng 4 năm 1950; 24 tháng 12 năm 1955 gia nhập Hạm đội Baltic; loại khỏi biên chế Hải quân 18 tháng 3 năm 1958; giải thể 3 tháng 4 năm 1958.

+ “Odarennưi”; số hiệu xưởng 541; từ 18 tháng 4 năm 1958 là UTS-86; khởi công 30 tháng 12 năm 1939 ở xưởng số 190; ghi tên vào danh sách Hải quân 25 tháng 9 năm 1940; 20 tháng 5 năm 1942 dừng đóng; đóng tiếp sau Chiến tranh Vệ quốc; hạ thủy 27 tháng 12 năm 1948; gia nhập biên chế 28 tháng 6 năm 1950; gia nhập đơn vị Hải quân số 4 6 tháng 8 năm 1950; 24 tháng 12 năm 1966 gia nhập Hạm đội Baltic; 28 tháng 1 năm 1958 bị loại khỏi biên chế Hải uân; 18 tháng 4 năm 1958 tháo vũ khí và trở thành tàu huấn luyện; loại khỏi danh sách Hải quân 27 tháng 2 năm 1965.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Mười, 2012, 03:43:46 am
Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 2125

+ hoàn toàn: 2860

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 117 (-)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 11 (-)

+ lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 4,05

Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi

+ 4 nồi hơi nước; 2 tuabin hơi nước, tổng công suất, sức ngựa, (kW): 54 000 (39 700)

+ các máy phát điện tuabin, công suất, (kW): -

2 trục; 2 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ tối đa: 36,5

+ tiết kiệm năng lượng: 16,9

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 2950 (16,9)

Thời gian hoạt động, ngày: -

Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): -.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Mười, 2012, 03:53:09 am
Vũ khí

Pháo

+ thiết bị pháo 130mm B2-LM: 2x2

+ thiết bị pháo 85mm 92-K: 1x2

+ thiết bị pháo 37mm70-K: 6x1

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm TTA-533-30: 2x3

Chống ngầm

+ BMB-1: 2x1

+ bom chìm RGB/BPS:-

+ máy rải bom: 2

Mìn

+ mìn chống tàu loại lớn KB “Krab”/M-26: 52/60

Trang bị vô tuyến điện

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm thấp

+ 1x”RiF-1”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm cao

+ 1x”Gyuis-1”

Đài thủy âm định vị

+ “Tamir”

Khí tài tác chiến điện tử: tổ hợp các khí tài

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ 1x”Redan” cho pháo chính

Các trạm chỉ huy – đo xa

+ 1xKDP2-4 hoặc SVP-29-RL

+ 1xRAS

Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài

Đài ra đa định vị hội thoại nói: -.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Mười, 2012, 01:04:20 am
Tàu khu trục phóng ngư lôi lớp “Smelưi” đề án 30-bis – lớp Skory

(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/30-bis_06_zpscd9ac2d3.jpg)

Tổng số tàu đã đóng: 70

Các biến thể

+ 30-bis – đề án cơ sở sản xuất hàng loạt (1949)

+ 31 – các tàu trinh sát kỹ thuật vô tuyến với khí tài trinh sát điện tử và chống ngầm mới (trang bị lại vào năm 1960 – 1962)

+ 31-P – phiên bản đề án 31 không có khí tài trinh sát kỹ thuật vô tuyến (không được thực hiện)

+ 30-BK – phiên bản xuất khẩu cho Hải quân Indonesia (trang bị lại 8 tàu)

+ 30-BA – phiên bản xuất khẩu cho Hải quân Ai Cập (trang bị lại 2 tàu vào năm 1967).

Để đóng loạt tàu khu trục phóng ngư lôi thế hệ thứ nhất sau chiến tranh, tâp thể Phòng thiết kế trung ương số 17 đã được giao nhiệm vụ thiết kế trên cơ sở đề án 30 đề án mới 30-bis. Thành phần vũ khí được quyết định làm rõ vào 28 tháng 11 năm 1945. Các vật liệu đề án kỹ thuật và bản vẽ làm việc được ở Phòng thiết kế trung ương số 53 mới được khôi phục dưới sự chỉ đạo của Tổng công trình sư A.L.Fisher. Đề án kỹ thuật được phê chuẩn bởi Mệnh lệnh của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô 28 tháng 1 năm 1947. Theo so sánh với tàu đề án 30 và 30-K, đã có sử dụng những sự thay đổi cơ bản sau: thân tàu được chế tạo từ phương pháp hàn hoàn toàn, còn cấu trúc của nó cho phép tiếp nhận khi đóng tàu mới có công nghệ hiện đại hơn; lắp 2 thiết bị ngư lôi 5 ống phóng thay cho thiết bị ngư lôi 3 ống phóng và lắp bổ sung 1 pháo tự động 70-K, đồng thời trang bị kỹ thuật vô tuyến mới hơn.

Thiết bị cơ khí được giữ lại theo đề án 30, nhưng với tuabiin được tăng cường không lớn. Sự bố trí thiết bị cơ khí được tiếp nhận trong dạng tuyến. Mỗi tuyến gồm 2 nồi hơi và 1 buồng máy. Công suất liên tục trong tốc độ tối đa là 60 000 sức ngựa. Tổ hợp tuabin răng cưa chính TV-6 được chế tạo ở xưởng Kirov, còn các nồi hơi chính KV-30 theo lớp 7U-bis - ở xưởng Baltic. Áp suất hơi nước khi vào tuabin là 27kg lực/m2 khi nhiệt độ quá nhiệt từ 350 đến 370 độ.

Tàu đầu tiên của đề án này được tiếp nhận vào biên chế Hải quân vào ngày sinh của I.V.Stalin – 21 tháng 12 năm 1949. Do thiết kế và đóng tàu khu trục đầu tiên đề án 30-bis có sự giám sát từ phía Hải quân là kỹ sư – trung tá A.T.Ilichiev. Việc chế tạo tàu theo đè án này có sự khác biệt so với ngành đóng tàu Liên Xô ở các đặc điểm sau:

+ dòng tàu đóng loạt có số lượng lớn nhất theo một đề án trong toàn bộ lịch sử đóng tàu ở Nga (tổng cộng đã có 70 tàu được đóng)

+ khi đóng các tàu này đã lập kỷ lục đóng một tàu nhanh nhất thuộc lớp này trong ngành đóng tàu – đóng tàu khu trục “Spasobnưi” yêu cầu tổng cộng 9 tháng (khởi công 21 tháng 3 năm 1950 và bàn giao 21 tháng 12 năm 1950)

+ cường độ công việc đóng tàu lớn nhất. Toàn bộ dòng được đóng trong giai đoạn từ năm 1948 đến 1935.

+ lần đầu tiên đã đóng hoàn toàn các tàu bằng phương pháp hàn với việc sử dụng các phương pháp đóng khối lớn.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Mười, 2012, 01:48:32 am
Nước rút công nghệ này trong ngành đóng tàu có thể đạt được chỉ khi sử dụng các thành tựu công nghệ trong các ngành khác của nền công nghiệp tích lũy được trong thời gian Chiến tranh Vệ quốc. Tuy nhiên do không nắm vững trọn vẹn công nghệ nên một trong số các tàu khu trục ở xưởng Phương Bắc đã xảy ra tình trạng không dễ chịu. Như việc không tính tòa tác động của bức xạ mặt trời trên một trong số thành tàu khi lắp thân và những lỗi công nghệ hàn cụ thể (các mối hàn liền) đã dẫn tới rằng phần cuối mũi tàu khu trục đã bị tách rời khởi mặt phẳng xuyên tâm (mặt phẳng kính) vài chục centimet. Theo những lời kể lại khi đó trong xưởng, ban quản lý xưởng cho các đại diện quân đội đã xảy ra việc áp đặt việc xoay xở ở mức độ tối đa để trong thời gian ngắn đầu những năm 50 phải bàn giao kịp tàu cho Hải quân. Các thí nghiệm đã chỉ ra rằng, lỗi này đã ảnh hưởng tới chất lượng tốc độ và khả năng cơ động trên biển.

Các tàu đề án 30-bis đã thừa hưởng tên của nhiều tàu khu trục và tàu phóng ngư lôi thuộc Hải quân Nga, đồng thời tên các tàu khu trục đề án 7 và 7-U thuộc Hải quân Liên Xô. Tới thời điểm đó, khi việc đóng các tàu khu trục này được thực hiện, ở Liên Xô đã tăng cường khôi phục những truyền thống tích cực của Hải quân Nga (đế quốc Nga) và chúng đã nhận được những tên gọi truyền thống – các tính từ. Khi đó, có vẻ như nhiều người sẽ vĩnh viễn không được đặt tên cho các tàu Liên Xô, đặc biệt là các tàu khu trục mới thông qua hệ tư tương của Đảng trong thời kỳ hỗn loạn, lòe loẹt và dao động theo các nguyên nhân chính trị (hôm nay là anh hung, ngày mai – ngược lại – kẻ phản bội). Với việc Stalin qua đời, thời kỳ này nhanh chóng qua đi. Có sự kiện thú vị: 18 tàu khu trục đề án 30-bis đã được bàn giao cho Hải quân trong giai đoạn từ 7 đến 21 tháng 12 thì đó là ngày sinh của lãnh tụ. Như dựa theo các “tiêu chuẩn” chính trị thời kỳ đó, số phận việc đặt tên các tàu “ba mươi” đã trở nên hạnh phúc hơn những tàu sau (kế tục) chúng. Lịch sử đã đẩy chúng khỏi những sự đổi tên liên tục (không có hồi kết) như “Đoàn viên thanh niên…”, “Đại hội Đảng… “ và “thành phố của các lãnh đạo”.

Những điểm yếu của vũ khí pháo đã dẫn tới rằng các ủy ban trong kết luận cuối cùng đã kết luận “… do pháo chính không đa năng, số lượng nhỏ nòng pháo phòng không tầm xa, đồng thời liên quan tới hệ thống “Soyuz-30bis” không vạch ra được các thông tin bắn… các máy bay bổ nhào, sự quyết định nhiệm vụ phòng không của tàu khu trục “Smelưi” trong việc chống lại kẻ thù hiện đại từ trên không (các máy bay bổ nhào, máy bay phản lực và bom tự dẫn đường) sẽ có hiệu quả thấp”. Đáng tiếc, các thông số của đài thủy âm định vị “Tamir-5N” và vũ khí chống ngầm đồng thời không đáp ứng các yêu cầu của Hải quân, còn sau 5-7 năm đơn giản sẽ trở thành nguyên thủy.

Mặc dù những nhược điểm rõ ràng như vậy, các tàu đề án 30-bis đã được thủy thủ đoàn nắm vững trong toàn bộ các Hạm đội và bắt đầu sự phục vụ lâu dài và khẩn trương của chúng. Thủy thủ đoàn thích các tàu ở sự đơn giản và tin cậy. Rõ ràng trên các tàu này, các thủy thủ Liên Xô đã bắt đầu nắm vững sự phức tạp trong khi thực hiện các hoạt động chiến đấu ở Địa Trung Hải, Đại Tây Dương, Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Các tàu đề án này không mang tới cho Hải quân Liên Xô những phiền toái lớn, mà lớn hơn là thảm họa. Trong đó, chúng đã chứng tỏ rất thành công và may mắn, rằng là yếu tố quan trong không nhỏ cho các thủy thủ trong cấp độ xác định nào đó thường xuyên mê tín dị đoan. Thân cứng và tin cậy của các tàu này đảm bảo không chỉ thời gian phục vụ lâu dài mà còn làm cho tiếng ồn dưới nước không lớn.

Cuối cùng, có ít người hiểu rằng một số tàu trong số này được sử dụng như các doanh trại nổi đặc trưng của các tàu ngầm Liên Xô đầu tiên. Khi xuất hiện sự cần thiết cung cấp hơi nước tới các tàu ngầm ở các vị trí chúng đóng căn cứ, rõ ràng đã sử dụng tàu khu trục đề án 30-bis. Bằng cách này, các tàu đề án 30 đã đóng góp không nhỏ trong quá trình thành lập Hạm đội tàu ngầm nguyên tử Liên Xô.

Trong những năm phục vụ sau cùng, tàu khu trục đề án 30, mục đích sử dụng của chúng được thay đổi. Nhiệm vụ chính cho chúng là yểm trợ hỏa lực cho Hải quân đánh bộ và lục quân gần bờ biển. Liên quan với nhiệm vụ này, chúng được biên chế vào các đơn vị tàu đổ bộ.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Mười, 2012, 02:27:15 am
Các bản vẽ thiết kế tàu khu trục phóng ngư lôi đề án 30-bis

(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/30-bis_2_zpsef761288.jpg)

(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/30-k_2_zpsdbe4028d.jpg)

(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/30-bis_4_zpscac555ee.jpg)

(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/30-bis_3_zpsedb2f37f.jpg)


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Mười, 2012, 01:04:13 pm
Các biến thể

(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/30-bis_03-_zpsbc961307.jpg)

Một bộ phận các tàu ban đầu có cột buồm cao hơn. Trng quá trình đóng loạt đề án 30-bis đã thực hiện những thay đổi khác nhau trong biên chế vũ khí của chúng. Từ năm 1951, thay cho pháo tự động 1 nòng 70-K đã bắt đầu lắp 4 pháo nòng đôi V-11. Sau đó thay cho đài thủy âm định vị “Tamir-5N” lắp đài thủy âm “Pegas-2”. Trong những năm 1970, đã tháo các sung máy cỡ lớn, trên một số tàu đã lắp 2-3 súng tự động nòng đôi 25mm 2M-3M. Sau khi kết thúc đóng các tàu này, một bộ phận của chúng đã trải qua nâng cấp, liên quan tới việc thay thế riêng các mẫu vũ khí và khí tài kỹ thuật.. Hướng nâng cấp chính các tàu Hải quân Liên Xô là tang cường trang bị kỹ thuật vô tuyến điện (lắp đài ra đa định vị hiện đại hơn “Zaria”, “Zalp”), tăng cường phòng không và chống ngầm, nâng cấp điều kiện sống. Trên một bộ phần tàu đồng thời lắp đài ra đa định vị Lục quân phát hiện mục tiêu trên không P-10.

8 tàu khu trục phóng ngư lôi (“Bezboyazennưi”, “Besshumnưi”, “Vernưi”, Vikhrevoi”, “Ognennưi”, “Opasnưi” “Okhranyayusi”, “Stremitelnưi”) trong những năm 1960-1962 được cải tạo lại theo đề án 31 trên các tàu trinh sát vô tuyến.

Đối với các tàu đề án 30-bis, được bán cho Indonesia đã thiết kế đề án trang bị lại cho chúng dưới số hiệu 30-BK (8 tàu), còn bán cho Ai Cập – đề án 30-BA (2 tàu, đồng thời 4 tàu khu trục đề án 30-bis được bán cho Ai Cập không nâng cấp, 1 trong số chúng được trả lại).

Chương trình đóng tàu

Dòng tàu khu trục lớn nhất trong toàn bộ lịch sử đóng tàu Hải quân được đóng ở xưởng số 445 (số 200) mang tên 61 chiến sĩ công xa ở Nikolaev (18 tàu), số 199 mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin ở Komsomol-na-Amur (18), số 190 mang tên A.A.Zhdanov (xưởng phương Bắc) ở Leningrad (16) và số 402 (xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc) ở Molotovsk (hiện nay là Severodvinsk – 18). Tàu đầu tiên của đề án này được khởi công ở âu tàu xưởng mang tên A.A.Zhdanov 16 tháng 5 năm 1948 và nhận tên gọi “Smelưi”, hạ thủy 29 tháng 9 năm 1948, được đưa tới các thí nghiệm cấp nhà nước 3 tháng 11 năm 1948 và tiếp nhận vào biên chế Hải quân trong ngày sinh Stalin – 21 tháng 12 năm 1949. Tổng cộng từ năm 1948 đến năm 1953 đã đóng 70 tàu.

16 tàu trong biên chế Hải quân được bán cho các nước: Ba Lan-2; Ai Cập-5; Indonesia-8.

Tình hình đến năm 2007

Tàu cuối cùng trong đề án – trở thành tàu huấn luyện – tàu khu trục “Besshumnưi” bị loại khỏi biên chế Hải quân năm 1994. Bộ phận lớn tàu khu trục đề án 30-bis đến khi bị loại, trở thành tàu mục tiêu, doanh trại nổi, tàu huấn luyện, tàu thí nghiệm… Một số tàu được sử dụng làm thí nghiệm phóng các tên lửa chống tàu ở Liên Xô đầu tiên.

Nhiều tàu ở trong khu vực chiến sự, thực hiện các hoạt động chiến đấu yểm trợ quân đội Ai Cập và Siri trong những năm 1968-1973.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Mười, 2012, 01:17:51 pm
(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/30-bis_5_zps1231b98f.gif)

Bố trí vũ khí trên các tàu khu trục phóng ngư lôi đề án 30-bis

1. Thiết bị pháo chính nòng đôi 130mm B2-LM

2. Thiết bị pháo phòng không 37mm 70-K

3. Trạm chỉ huy – đo xa KDP2-4L với đài ra đa định vị bắn điều khiển hỏa lực pháo chính (sau khi nâng cấp, đài ra đa định vị được tháo)

4. Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực “Zalp”

5. Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp “Zaria”

6. Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm thấp “Rif-1”

7. Đàu ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp “Gyuis-1M4”

8. Thiết bị pháo phòng không nòng đôi 37mm V-11M

9. Thiết bị ngư lôi 5 ống phóng 533mm PTA-53-30-bis

10. Pháo phòng không tự động 25mm 2M-3M

11. Trạm đo xa SVP-29 (tháo đài ra đa định vị)

12. Trạm quan sát ổn định SVP-29RLM với đài ra đa định vị “Vưmpel” điều khiển hỏa lực pháo phòng không

13. Thiết bị pháo 85mm 92-K

14. Thiết bị phóng bom 1 nòng BMB-2

15. Rãnh dẫn hướng cho mìn

16. Thiết bị rải bom ở mạn tàu.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Mười, 2012, 01:49:40 pm
Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ “Bditelnưi” (số hiệu xưởng 1101)l từ 17 tháng 12 năm 1960 là TsL-83; từ 20 tháng 9 năm 1967 là PKZ-18; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 3 tháng 12 năm 1947; khởi công 10 tháng 6 năm 1948 trên xưởng số 445; hạ thủy 30 tháng 12 năm 1948; gia nhập biên chế 25 tháng 10 năm 1949; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 22 tháng 11 năm 1960 bị loại khỏi biên chế Hải quân; tháo vũ khí và phân loại lại thành tàu mục tiêu; 10 tháng 8 năm 1967 cải tạo thành trại lính nổi; bị loại khỏi biên chế Hải quân 12 tháng 10 năm 1968 và sau đó bị tháo kim loại.

+ “Vstrechnưi” (số hiệu xưởng 6); từ 17 tháng 10 năm 1972 là SM-302; ghi tên vào danh sách Hải quân 3 tháng 12 năm 1947; khởi công 29 tháng 4 năm 1948 ở xưởng số 199; hạ thủy 20 tháng 5 năm 1949; gia nhập biên chế 7 tháng 12 năm 1949; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 5 23 tháng 2 năm 1950; 23 tháng 4 năm 1953 chuyển sang Hạm đội Thái Bình Dương; 21 tháng 12 năm 1956 bị loại khỏi biên chế Hải quân; niêm cất trong dạng neo đậu; 22 tháng 10 năm 1966 tháo niêm cất, trở lại biên chế; 1 tháng 9 năm 1972 một lần nữa bị loại khỏi biên chế Hải quân và tháo vũ khí.

+ “Smelưi” (số hiệu xưởng 601); từ 17 tháng 12 năm 1960 là TsL-80; từ 28 tháng 2 năm 1964 là PKZ-14; ghi tên vào danh sách Hải quân 3 tháng 12 năm 1947; khởi công 16 tháng 5 năm 1948 ở xưởng số 190; hạ thủy 20 tháng 9 năm 1948; gia nhập biên chế 21 tháng 12 năm 1949; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 8 19 tháng 3 năm 1950; 24 tháng 12 năm 1955 chuyển sang Hạm đội Baltic; 17 tháng 2 năm 1960 chuyển sang Hạm đội Phương Bắc; 22 tháng 11 năm 1960 bị loại khỏi biên chế Hải quân; tháo vũ khí và phân loại lại thành tàu mục tiêu; 31 tháng 1 năm 1964 cải tạo thành doanh trại nổi; loại khỏi biên chế Hải quân 10 tháng 2 năm 1965; năm 1965-66 tháo kim loại ở căn cứ “Glavvtorchermeta” tại Murmansk.

+ “Vedushi” (số hiệu xưởng 9); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 3 tháng 12 năm 1947; khởi công 31 tháng 7 năm 1948 trên xưởng số 1991; hạ thủy 21 tháng 8 năm 1949; gia nhập biên chế 26 tháng 12 năm 1949; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 5 23 tháng 2 năm 1950; 23 tháng 4 năm 1953 chuyển sang Hạm đội Thái Bình Dương; 27 tháng 3 năm 1960 loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân; niêm cất và neo đậu; tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân 14 tháng 3 năm 1975; sau đó bị tháo kim loại.

+ “Ognennưi” (số hiệu xưởng 178); ghi tên vào danh sách Hải quân 3 tháng 12 năm 1947; khởi công 14 tháng 8 năm 1948 ở xưởng số 402; hạ thủy 17 tháng 8 năm 1949; gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1949; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 12 tháng 2 năm 1950; 19 tháng 1 năm 1958 – 27 tháng 12 năm 1960 nâng cấp và đóng lại ở Severodvinsk theo đề án 31; 5 tháng 10 năm 1963 chuyển sang Hạm đội Biển Đen; 12 tháng 10 năm 1964 chuyển lại về Hạm đội Phương Bắc; 6 tháng 11 năm 1968 chuyển tới căn cứ Hải quân ở Leningrad; 16 tháng 11 năm 1968 chuyển sang Hạm đội Baltic; 6 tháng 11 năm 1967 – 16 tháng 11 năm 1968 và 8 tháng 2 năm 1969 – 10 tháng 10 năm 1970 trải qua đại tu ở Leningrad; 25 tháng 12 năm 1979 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 21 tháng 5 năm 1981.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Mười, 2012, 02:08:33 pm
+ “Otchetlivưi” (số hiệu xưởng 179); từ 17 tháng 12 năm 1960 là PTB-7; từ 12 tháng 8 năm 1970 là PKZ-107; ghi tên vào danh sách Hải quân 3 tháng 12 năm 1947; khởi công 29 tháng 10 năm 1948 ở xưởng số 402; hạ thủy 14 tháng 9 năm 1948; gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1949; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 12 tháng 2 năm 1950; 22 tháng 11 năm 1960 bị loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân; tháo vũ khí và trang bị lại thành căn cứ kỹ thuật nổi; 20 tháng 12 năm 1969; giải thể và đưa đi neo đậu; 12 tháng 8 năm 1970 tháo niêm cất và trang bị lại thành doanh trại nổi; loại khỏi biên chế Hải quân 19 tháng 5 năm 1972; năm 1972-73 tháo kim loại ở căn cứ “Glavvtorchermeta” tại Murmansk.

+ “Bazhnưi” (số hiệu xưởng 12); ghi tên vào danh sách Hải quân 30 tháng 12 năm 1947; khởi công 30 tháng 10 năm 1948 ở xưởng số 199; hạ thủy 4 tháng 9 năm 1949; gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1949; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4 23 tháng 2 năm 1950; 23 tháng 4 năm 1953 chuyển sang Hạm đội Thái Bình Dương; 7 tháng 5 năm 1956 loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân; niêm cất và đưa đi neo đậu; 14 tháng 3 năm 1975; tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân, sau đó tháo kim loại.

+ “Bezyderzhnưi” (số hiệu xưởng 1102); từ 17 tháng 10 năm 1960 là TsL-66; từ 13 tháng 12 năm 1966 là PKZ-127; ghi tên vào danh sách Hải quân 3 tháng 12 năm 1947; khởi công 20 tháng 7 năm 1948 ở xưởng số 445; hạ thủy 31 tháng 3 năm 1948; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1949; gia nhập biên chế 5 tháng 2 năm 1950 trong Hạm đội Biển Đen; 22 tháng 11 năm 1960 loại khỏi biên chế chiến đấu; tháo vũ khí và phân loại lại thành tàu mục tiêu; 4 tháng 11 năm 1966 cải tạo thành doanh trại nổi; loại khỏi biên chế Hải quân 1 tháng 3 năm 1967; sau đó tháo kim loại.

+ “Stoiki: (số hiệu xưởng 602); ghi tên vào danh sách Hải quân 3 tháng 12 năm 1947; khởi công 16 tháng 11 năm 1948 ở xưởng số 190; hạ thủy 1 tháng 2 năm 1949; gia nhập biên chế 19 tháng 4 năm 1950; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 8 19 tháng 4 năm 1950; 24 tháng 12 năm 1955 chuyến sang Hạm đội Baltic; 7 tháng 1 năm 1967 bị loại khỏi biên chế Hải quân; niêm cất và neo đậu; 22 tháng 2 năm 1980 tháo vũ khí, giải thể 22 tháng 6 năm 1980; sau đó tháo kim loại.

+ “Ostrưi” (số hiệu xưởng 180); ghi tên vào danh sách Hải quân 3 tháng 12 năm 1947; khởi công 21 tháng 12 năm 1948 ở xưởng số 402; hạ thủy 16 tháng 4 năm 1950; gia nhập biên chế 25 tháng 8 năm 1950; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 21 tháng 9 năm 1950; 5 tháng 3 năm 1973 – 9 tháng 7 năm 1978 trải qua đại tu ở Leningrad; sau đó chuyển sang căn cứ Hải quân ở Leningrad; 4 tháng 6 năm 1983 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 15 tháng 3 năm 1984 và sau đó tháo kim loại.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 04 Tháng Mười, 2012, 02:42:28 pm
+ “Buinưi” (số hiệu xưởng 1103); ghi tên vào danh sách Hải quân 3 tháng 12 năm 1947; khởi công 15 tháng 4 năm 1949 ở xưởng số 445; hạ thủy 23 tháng 9 năm 1949; gia nhập biên chế 29 tháng 8 năm 1950; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 14 tháng 9 năm 1950; 1 tháng 2 năm 1980 – 18 tháng 3 năm 1982 trải qua đại tu ở “Sevmorezavod” tại Sevastopol; 7 tháng 3 năm 1986 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 22 tháng 7 năm 1986; sau đó tháo kim loại.

+ “Otvetstvennưi” (số hiệu xưởng 181); từ 31 tháng 8 năm 1961 là TsL-42; từ 16 tháng 10 năm 1961 là PKZ-48; ghi tên vào danh sách Hải quân 3 tháng 12 năm 1947; khởi công 11 tháng 6 năm 1949 ở xưởng số 402; hạ thủy 12 tháng 4 năm 1950; gia nhập biên chế 31 tháng 8 năm 1950; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 1 tháng 10 năm 1950; 3 tháng 8 năm 1961 loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân và phân loại lại thành mục tiêu nổi; 4 tháng 10 năm 1961 tháo vũ khí và trang bị lại thành doanh trại nổi; loại khỏi biên chế Hải quân 12 tháng 4 năm 1963; sau đó tháo kim loại.

+ “Bezuprechnưi” (số hiệu xưởng 1104); ghi tên vào danh sách Hải quân 3 tháng 12 năm 1947; khởi công ở xưởng số 445; hạ thủy 31 tháng 12 năm 1949; gia nhập biên chế 9 tháng 9 năm 1950; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 7 tháng 11 năm 1950; 3 tháng 5 năm 1962 loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân, niêm cất và đưa vào neo đậu; 14 tháng 3 năm 1975 tháo vũ khí và loại khỏi danh sách Hải quân và sau đó tháo kim loại.

+ “Skorưi” (số hiệu xưởng 603); ghi tên vào danh sách Hải quân 7 tháng 10 năm 1948; khởi công 15 tháng 2 năm 1949 ở xưởng 190; hạ thủy 14 tháng 8 năm 1949; gia nhập biên chế 26 tháng 9 năm 1950; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4 1 tháng 10 năm 1950; 24 tháng 12 năm 1955 chuyển sang Hạm đội Baltic; 29 tháng 6 năm 1958 bán cho Hải quân Ba Lan và nhận tên gọi “Wicher” (“Vikhr”; 4 tháng 8 năm 1958 bị loại khỏi biên chế Hải quân; năm 1975 tháo vũ khí và bán cho công ty Ba Lan tháo kim loại.

+ “Vsnưlchivưi” (số hiệu xưởng 13); từ 17 tháng 12 năm 1960 là TsL-77; từ 12 tháng 2 năm 1971 là ÚT-262; ghi tên vào danh sách Hải quân 3 tháng 12 năm 1947; khởi công 15 tháng 2 năm 1949 ở xưởng số 199; hạ thủy 14 tháng 5 năm 1950; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1950; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 5 24 tháng 12 năm 1950; 23 tháng 4 năm 1953 chuyển sang Hạm đội Thái Bình Dương; 22 tháng 1 năm 1950 loại khỏi biên chế chiến đấu; tháo vũ khí và phân loại lại thành tàu mục tiêu; 20 tháng 12 năm 1969 giải thể và đưa đi neo đậu; 12 tháng 2 năm 1971 tháo niêm cất và trở thành tàu huấn luyện; loại khỏi biên chế Hải quân 12 tháng 3 năm 1974; giải thể 8 tháng 8 năm 1974, sau đó tháo kim loại.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Mười, 2012, 12:14:10 am
+ “Velichavưi” (số hiệu xưởng 14); ghi tên vào danh sách Hải quân 3 tháng 12 năm 1947; khởi công 4 tháng 8 năm 1949 ở xưởng số 199; hạ thủy 14 tháng 5 năm 1950; gia nhập biên chế 31 tháng 10 năm 1950; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 5 14 tháng 1 năm 1951; 23 tháng 4 năm 1953 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 21 tháng 11 năm 1950 – 11 tháng 3 năm 1956 trải qua đại tu; 7 tháng 5 năm 1956 bị loại khỏi biên chế Hải quân; niêm cất và neo đậu; 26 tháng 8 năm 1969 tháo niêm cất và một lần nữa trở lại biên chế; 13 tháng 9 năm 1972 tháo vũ khí; loại khỏi biên chế Hải quân 12 tháng 8 năm 1977; giải thể 10 tháng 2 năm 1978 và sau đó tháo kim loại.

+ “Surovưi” (số hiệu xưởng 604); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 7 tháng 10 năm 1948; khởi công 15 tháng 8 năm 1949 ở xưởng 190; hạ thủy 1 tháng 10 năm 1949; gia nhập biên chế 31 tháng 10 năm 1950; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4 24 tháng 11 năm 1950; 24 tháng 12 năm 1955 chuyển sang Hạm đội Baltic; 11 tháng 8 năm 1974 bị loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân; niêm cất và đưa đi neo đậu; 5 tháng 3 năm 1987 tháo niêm cất và một lần nữa trở lại biên chế; 11 tháng 2 năm 1988 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 17 tháng 7 năm 1988 và sau đó bị tháo kim loại.

+ “Besstrasnưi” (số 1105); từ 10 tháng 8 năm 1961 là TsL-28; ghi tên vào danh sách Hải quân 3 tháng 12 năm 1947; khởi công 29 tháng 9 năm 1949 ở xưởng số 445; hạ thủy 31 tháng 3 năm 1950; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 3 tháng 12 năm 1950; 3 tháng 8 năm 1961 bị loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân, tháo vũ khí và phân loại lại thành tàu mục tiêu; bị loại khỏi biên chế Hải quân 2 tháng 6 năm 1976, sau đó bị tháo kim loại.

+ “Otmennnưi” (số hiệu xưởng 182); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 3 tháng 12 năm 1947; khởi công 8 tháng 10 năm 1949 ở xưởng số 402; hạ thủy 17 tháng 6 năm 1950; gia nhập biên chế 6 tháng 11 năm 1950; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 5 tháng 12 năm 1950; 27 tháng 3 năm 1960 bị loại khỏi biên chế chiến đấu của Hải quân; niêm cất và đưa đi neo đậu; 12 tháng 10 năm 1968 tháo niêm cất và một lần nữa trở lại biên chế; 9 tháng 2 năm 1978 tháo vũ khí và bị loại khỏi danh sách Hải quân; giải thể 19 tháng 4 năm 1978, sau đó bị tháo kim loại.

+ “Otrưvistưi” (số hiệu xưởng 183); ghi tên vào danh sách Hải quân 3 tháng 12 năm 1947; khởi công 3 tháng 12 năm 1949 ở xưởng số 402; hạ thủy 25 tháng 8 năm 1950; gia nhập biên chế 10 tháng 12 năm 1950; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 20 tháng 1 năm 1951; 7 tháng 6 năm 1956 bị loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân; niêm cất và đưa đi neo đậu; 14 tháng 7 năm 1961 tháo niêm cất và một lần nữa quay lại biên chế; 7 tháng 2 năm 1977 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân, sau đó bị tháo kim loại.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Mười, 2012, 12:14:48 am
+ “Vertki” (số hiệu xưởng 15); từ 25 tháng 1 năm 1974 là PKZ-54; ghi tên vào danh sách Hải quân 1 tháng 12 năm 1948; khởi công 5 tháng 11 năm 1949 ở xưởng số 199; hạ thủy 22 tháng 7 năm 1950; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 5 18 tháng 3 năm 1951; 23 tháng 4 năm 1953 chuyển sang Hạm đội Thái Bình Dương; 25 tháng 10 năm 1973 bị loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân; tháo vũ khí và phân loại lại thành doanh trại nổi; loại khỏi biên chế Hải quân 1 tháng 9 năm 1978; sau đó tháo kim loại.

+ “Vechnưi” (số hiệu xưởng 16); từ 17 tháng 12 năm 1960 là PTB-12; từ 15 tháng 7 năm 1971 là UTS-27; ghi tên vào danh sách Hải quân 1 tháng 12 năm 1948; khởi công 12 tháng 1 năm 1950 ở xưởng số 199; khởi công 30 tháng 8 năm 1950; gia nhập biên chế 15 tháng 12 năm 1950; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 5 18 tháng 3 năm 1951; 23 tháng 4 năm 1953 chuyển sang Hạm đội Thái Bình Dương; 22 tháng 11 năm 1960 bị loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân; tháo vũ khí và phân loại lại thành căn cứ kỹ thuật nổi; 15 tháng 7 năm 1971 trở thành tàu huấn luyện; bị loại khỏi biên chế Hải quân 22 tháng 8 năm 1989; sau đó bị tháo kim loại.

+ “Otrazhayusi” (số hiệu xưởng 184); từ 31 tháng 8 năm 1961 là TsL-20; từ 28 tháng 2 năm 1964 là PKZ-12; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 3 tháng 12 năm 1947; khởi công 3 tháng 3 năm 1950 ở xưởng số 402; hạ thủy 1 tháng 10 năm 1950; gia nhập biên chế 17 tháng 12 năm 1950; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 20 tháng 1 năm 1951; 3 tháng 8 năm 1961 bị loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân và phân loại lại thành tàu mục tiêu; 21 tháng 2 năm 1984 tháo vũ khí và phân loại lại thành doanh trại nổi; loại khỏi biên chế Hải quân 20 tháng 4 năm 1967; sau đó tháo kim loại.

+ “Boevoi” (số hiệu xưởng 1106); từ 31 tháng 8 năm 1961 đến 25 tháng 11 năm 1964 là TsL-27; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 3 tháng 12 năm 1947; khởi công 21 tháng 12 năm 1949 ở xưởng số 445; hạ thủy 29 tháng 4 năm 1950; gia nhập biên chế Hải quân 19 tháng 12 năm 1950; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 11 tháng 1 năm 1951; 3 tháng 8 năm 1961 bị loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân và phân loại lại thành tàu mục tiêu; 25 tháng 11 năm 1964 trở lại lớp tàu khu trục và bọ loại khỏi biên chế Hải quân liên quan với việc bán cho Hải quân Indonesia và đổi tên là “Darmuda”; năm 1973 tháo vũ khí và tháo lấy kim loại bởi chỉ huy quân đội Indonesia.

+ “Bưstrưi” (số hiệu xưởng 1107); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 1 tháng 12 năm 1948; khởi công 20 tháng 2 năm 1950 ở xưởng số 445; hạ thủy 28 tháng 6 năm 1950; gia nhập biên chế 19 tháng 12 năm 1950; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 14 tháng 1 năm 1951; 8 tháng 3 năm 1958 bị loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân; niêm cất và đưa đi neo đậu; 31 tháng 7 năm 1979 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân, sau đó bị tháo kim loại.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Mười, 2012, 12:23:33 am
+ “Serditưi” (số hiệu xưởng 605); ghi tên vào danh sách Hải quân 7 tháng 10 năm 1948; khởi công 22 tháng 12 năm 1949 ở xưởng số 190; hạ thủy 15 tháng 4 năm 1950 gia nhập biên chế 20 tháng 12 năm 1950; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4 28 tháng 1 năm 1951; 24 tháng 12 năm 1955 chuyển tới Hạm đội Baltic; 1 tháng 12 năm 1958 bị loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân; niêm cất và đưa tới neo đậu; 14 tháng 7 năm 1961 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 24 tháng 4 năm 1974 chuyển đi bảo trì dài hạn; 14 tháng 3 năm 1975 tháo vũ khí và giải thể; 1oại khỏi biên chế và tháo vũ khí 19 tháng 9 năm 1975; loại khỏi biên chế Hải quân 16 tháng 7 năm 1976; bị đánh chìm trên biển Baltic khi làm mục tiêu bắn đạn tên lửa thật cho Hải quân.

+ “Sposobnưi” (số hiệu xưởng 606); ghi tên vào danh sách Hải quân 7 tháng 10 năm 1948; khởi công 1 tháng 3 năm 1950 ở xưởng số 190; hạ thủy 20 tháng 12 năm 1950; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4 28 tháng 1 năm 1955; 24 tháng 12 năm 1955 chuyển tới Hạm đội Baltic; 15 tháng 12 năm 1957 bán cho Ba Lan và đổi tên là “Grom”; 26 tháng 12 năm 1957 bị loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 5 tháng 2 năm 1958; giữa những năm 1970 tháo vũ khí và tháo dỡ theo lệnh chỉ huy quân đội Ba Lan.

+ “Vikhrevoi” (số hiệu xưởng 17); ghi tên vào danh sách Hải quân 1 tháng 12 năm 1948; khởi công 28 tháng 2 năm 1950 ở xưởng số 199; khởi công 15 tháng 9 năm 1950; gia nhập biên chế 27 tháng 12 năm 1950; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 7 18 tháng 3 năm 1951; 23 tháng 4 năm 1953 chuyển tới Hạm đội Thái Bình Dương; 29 tháng 1 năm 1959 – 20 tháng 7 năm 1961 nâng cấp và đóng lại ở “Dalzavod” theo đề án 31; 3 tháng 5 nawm1 962 bị loại khỏi biên chế Hải quân; niêm cất và đưa đi neo đậu; 7 tháng 6 năm 1983 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; 15 tháng 3 năm 1984 giải thể và sau đó tháo kim loại.

+ “Burnưi” (số hiệu xưởng 1108); ghi tên vào danh sách Hải quân 1 tháng 12 năm 1948; khởi công 18 tháng 5 năm 1950 ở xưởng số 445; hạ thủy 29 tháng 8 năm 1950; gia nhập biên chế 4 tháng 6 năm 1951; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 8 tháng 7 năm 1951; 30 tháng 6 năm 1959 tách ra để bán cho Hải quân Ai Cập; tháng 1 năm 1962 bán cho Ai Cập và đổi tên thành “Suez”; 9 tháng 2 năm 1962 bị loại khỏi biên chế Hải quân; năm 1985 tháo vũ khí và bán theo lệnh quân đội Ai Cập.

+ “Besposadnưi” (số hiệu xưởng 1109); từ 19 tháng 10 năm 1988 là PKZ-36; ghi tên vào danh sách Hải quân 15 tháng 4 năm 1949; khởi công 28 tháng 5 năm 1950 ở xưởng số 445; hạ thủy 30 tháng 9 năm 1950; gia nhập biên chế 27 tháng 6 năm 1951; gia nhập Hạm đội Biển Đen 29 tháng 7 năm 1951; 30 tháng 6 năm 1959 tách ra để bán cho Hải quân Ai Cập; tháng 1 năm 1962 bán cho Ai Cập, đổi tên thành “Damietta”; 9 tháng 2 năm 1962 bị loại khỏi biên chế Hải quân; năm 1968 quay trở lại Hải quân Liên Xô; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen lần thứ 2 15 tháng 7 năm 1968; 9 tháng 2 năm 1988 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; 17 tháng 7 năm 1988 giải thể; 19 tháng 10 năm 1988 tháo neo đậu và cải tạo thành doanh trại nổi.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Mười, 2012, 12:45:03 am
+ “Stremitelnưi” (số hiệu xưởng 607); từ 8 tháng 2 năm 1982 là PKZ-33; ghi tên vào danh sách Hải quân 7 tháng 10 năm 1948; khởi công 15 tháng 5 năm 1950 ở xưởng số 190; hạ thủy 15 tháng 4 năm 1951; gia nhập biên chế 4 tháng 7 năm 1951; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4 5 tháng 8 năm 1951; 24 tháng 12 năm 1955 chuyển tới Hạm đội Baltic; 5 tháng 8nawm 1961 chuyển tới Hạm đội Phương Bắc; 6 tháng 11 năm 1967 quay trở lại Hạm đội Baltic; 20 tháng 10 năm 1957 – 5 tháng 8 năm 1961 nâng cấp và đóng lại theo đề án 31 tại Leningrad; 20 tháng 12 năm 1969 loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân; niêm cất và đưa đi neo đậu; 29 tháng 6 năm 1981 tháo niêm cất, tháo vũ khí và cải tạo thành doanh trại nổi; loại khỏi biên chế Hải quân 25 tháng 6 năm 1984; sau đó bị tháo kim loại.

+ “Bezzhalostnưi” (số hiệu xưởng 1110); ghi tên vào danh sách Hải quân 15 tháng 4 năm 1949; khởi công 12 tháng 7 năm 1950 ở xưởng số 445; hạ thủy 30 tháng 12 năm 1950; gia nhập biên chế 6 tháng 7 năm 1951; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 29 tháng 7 năm 1951; 28 tháng 2 nawm1964 tách ra để bán cho Hải quân Indonesia và nhận tên gọi “Brawidjaja”; 9 tháng 5 năm 1964 loại khỏi biên chế Hải quân; 21 tháng 4 năm 1965 giải thể; năm 1973 tháo kim loại theo lệnh chỉ huy quân đội Indonesia.

+ “Otradnưi” (số hiệu xưởng 188); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 1 tháng 12 năm 1948 và 10 tháng 5 năm 1950 khởi công ở xưởng số 402; hạ thủy 30 tháng 12 năm 1950; gia nhập biên chế 20 tháng 7 năm 1951; 19 tháng 8 năm 1951 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; 8 tháng 6 năm 1970 loại khỏi biên chế chiến đấu; niêm cất vào đưa đi neo đậu; 15 tháng 3 năm 1984 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân bán cho cơ sở phế liệu để tháo dỡ, lấy kim loại; 12 tháng 6 năm 1984 giải thể.

+ “Ozarennưi” (số hiệu xưởng 189); ghi tên vào danh sách Hải quân 1 tháng 12 năm 1948; khởi công 6 tháng 7 năm 1950 ở xưởng số 402; hạ thủy 7 tháng 3 năm 1951; gia nhập biên chế 28 tháng 7 năm 1951; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 19 tháng 8 năm 1951; 5 tháng 8 năm 1964 đến 16 tháng 2 năm 1966 chuyển sang Hạm đội Biển Đen; 19 tháng 4 năm 1978 bị loại khỏi biên chế chiến đấu; tháo vũ khí; loại khỏi biên chế Hải quân 31 tháng 7 năm 1980; giải thể 21 tháng 5 năm 1981 và sau đó bị tháo kim loại.

+ “Oberegayusi” (số hiệu xưởng 190); ghi tên vào danh sách Hải quân 15 tháng 4 năm 1949; khởi công 23 tháng 9 năm 1950 ở xưởng số 402; hạ thủy 11 tháng 5 năm 1951; gia nhập biên chế 20 tháng 10 năm 1951; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 9 tháng 12 năm 1951; 7 tháng 5 năm 1956 loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân, niêm cất và đưa đi neo đậu; 13 tháng 3 năm 1975 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; tháo kim loại.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Mười, 2012, 01:26:54 am
+ “Bezzavetnưi” (số hiệu xửng 1111); ghi tên vào danh sách Hải quân 15 tháng 3 năm 1950; khởi công 28 tháng 9 năm 1950 ở xưởng số 445; hạ thủy 30 tháng 3 năm 1951; gia nhập biên chế 11 tháng 11 năm 1951; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 5 tháng 12 năm 1951; 30 tháng 6 năm 1959 loại khỏi biên chế Hải quân liên quan tới việc bán cho Hải quân Indonesia, nhận tên gọi mới “Sutan Iskandar Muda”; năm 1969 đưa vào lực lượng dự bị và niêm cất; năm 1971, tháo vũ khí và bán sắt vụn theo lệnh chỉ huy quân đội Indonesia.

+ “Sokrushitelnưi” (số hiệu xưởng 608); ghi tên vào danh sách Hải quân 7 tháng 10 năm 1948; khởi công 15 tháng 9 năm 1950 ở xưởng số 190; hạ thủy 30 tháng 6 năm 1951; gia nhập biên chế 28 tháng 11 năm 1951; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4 27 tháng 1 năm 1952; 24 tháng 12 năm 1955 chuyển tới Hạm đội Baltic; 26 tháng 11 năm 1973 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và đưa đi neo đậu; 18 tháng 7 năm 1977 tháo vũ khí; loại khỏi biên chế Hải quân 16 tháng 8 năm 1979; giải thể 5 tháng 3 năm 1980 và sau đó tháo kim loại.

+ “Okhranyayusi” (số hiệu xưởng 191); ghi tên vào danh sách Hải quân 15 tháng 4 năm 1949; khởi công 25 tháng 11 năm 1950 ở xưởng số 402; hạ thủy 26 tháng 7 năm 1951; gia nhập biên chế 28 tháng 11 năm 1951; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 13 tháng 1 năm 1952; 14 tháng 10 năm 1957 – 14 tháng 7 năm 1961 nâng cấp và đóng lại ở Leningrad theo đề án 31; 3 tháng 5 năm 1962 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; 30 tháng 7 năm 1987 giải thể và tháo kim loại.

+ “Besshumnưi” (số hiệu xưởng 1112); từ 1 tháng 10 năm 1985 là UTS-538; ghi tên vào danh sách Hải quân 15 tháng 3 năm 1950; khởi công 31 tháng 10 năm 1950 ở xưởng số 445; hạ thủy 31 tháng 5 năm 1951; gia nhập biên chế 30 tháng 11 năm 1951; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 31 tháng 12 năm 1951; năm 1959-1950 nâng cấp và đóng lại theo đề án 31 ở Nikolaev; 26 tháng 9 năm 1961 chuyển tới Hạm đội Thái Bình Dương; 15 tháng 6 năm 1979 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; 1 tháng 10 năm 1985 tháo neo đậu và trở thành tàu huấn luyện; tháng 9 năm 1994 chính thức bị loại khỏi biên chế Hải quân và tháo kim loại.

+ “Ostorozhnưi” (số hiệu xưởng 192); ghi tên vào danh sách Hải quân 15 tháng 4 năm 1949; khởi công 25 tháng 1 năm 1951 ở xưởng số 402; hạ thủy 25 tháng 9 năm 1951; gia nhập biên chế 20 tháng 12 năm 1951; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 13 tháng 1 năm 1952; 10 tháng 11 năm 1959 – 28 tháng 2 năm 1961 trải qua đại tu ở Leningrad; loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân; niêm cất và đưa đi neo đậu ở vịnh Said; 15 tháng 12 năm 1981 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; 8 tháng 2 năm 1982 giải thể và sau đó tháo kim loại.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Mười, 2012, 03:04:54 pm
+ “Vidnưi” (số hiệu xưởng 18); từ 29 tháng 4 năm 1966 là TsL-90; từ 12 tháng 2 năm 1971 là UTS-263; ghi tên vào danh sách Hải quân 15 tháng 4 năm 1949; khởi công 27 tháng 5 năm 1950 ở xưởng số 199; hạ thủy 17 tháng 5 năm 1951; gia nhập biên chế 21 tháng 12 năm 1951; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 5 10 tháng 8 năm 1952; 23 tháng 4 năm 1953 chuyển tới Hạm đội Thái Bình Dương; 3 tháng 8 năm 1961 loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân; tháo vũ khí và cải tạo thành căn cứ kỹ thuật tên lửa nổi; 29 tháng 4 năm 1966 phân loại lại thành tàu mục tiêu; giải thể 20 tháng 12 năm 1969; 12 tháng 2 năm 1971 tháo neo đậu và trở thành tàu huấn luyện; loại khỏi biên chế Hải quân 30 tháng 5 năm 1983, sau đó tháo kim loại.

+ “Bespokoinưi” (số hiệu xưởng 1113); ghi tên vào danh sách Hải quân 15 tháng 3 năm 1950; khởi công 16 tháng 1 năm 1951 ở xưởng số 445; hạ thủy 30 tháng 6 năm 1951; gia nhập biên chế 21 tháng 12 năm 1951; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 27 tháng 1 năm 1952; 30 tháng 6 năm 1959; loại khỏi biên chế Hải quân liên quan đến việc bán cho Hải quân Indonesia, đổi tên thành “Sandjaja”; năm 1969 đưa vào lực lượng dự bị và niêm cất; năm 1971 tháo vũ khí và tháo kim loại theo lệnh chỉ huy quân đội Indonesia.

+ “Vernưi” (số hiệu xưởng 19); ghi tên vào danh sách Hải quân 15 tháng 4 năm 1949; khởi công 15 tháng 7 năm 1951 ở xưởng số 199; hạ thủy 17 tháng 5 năm 1951; gia nhập biên chế 26 tháng 12 năm 1951; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 5 10 tháng 8 năm 1952; 23 tháng 4 năm 1953 chuyển tới Hạm đội Thái Bình Dương; 11 tháng 11 năm 1957 – 28 tháng 4 năm 1961 nâng cấp và đóng lại ở “Dalzavod” tại Vladivostoc theo đề án 31; 31 tháng 5 năm 1962 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và đưa đi neo đậu; 21 tháng 3 năm 1981 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 28 tháng 8 năm 1981, sau đó bị tháo kim loại.

+ “Vnimatelnưi” (số hiệu xưởng 21); ghi tên vào danh sách Hải quân 15 tháng 3 năm 1950; khởi công 31 tháng 10 năm 1950 ở xưởng số 199; hạ thủy 2 tháng 8 năm 1951; gia nhập biên chế 26 tháng 12 năm 1951; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 5 10 tháng 8 năm 1952; 23 tháng 4 năm 1953 chuyển sang Hạm đội Thái Bình Dương; 18 tháng 3 năm 1972 bị loại khỏi biên chế Hải quân, niêm cất và đưa đi neo đậu; 21 tháng 5 năm 1981 tháo niêm cất và một lần nữa quay lại biên chế; 27 tháng 7 năm 1986 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 5 tháng 3 năm 1987, sau đó tháo kim loại.

+ “Vnezapnưi” (số hiệu xưởng 20); ghi tên vào danh sách Hải quân 15 tháng 3 năm 1950; khởi công 23 tháng 9 năm 1950 ở xưởng số 199; hạ thủy 14 tháng 6 nawm1 951; gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1951; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 7 10 tháng 8 năm 1952; 23 tháng 4 năm 1953 chuyển sang Hạm đội Thái Bình Dương; 17 tháng 2 năm 1959 bị loại khỏi biên chế Hải quân liên quan tới thông tin bán cho Hải quân Indonesia, đổi tên là “Sawunggaling”; năm 1971 tháo vũ khí và tháo dỡ kim loại theo lệnh chỉ huy quân đội Indonesia.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 05 Tháng Mười, 2012, 03:20:04 pm
+ “Vưrazitelnưi” (số hiệu xưởng 22); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 15 tháng 3 năm 1950; khởi công 14 tháng 12 năm 1950 ở xưởng số 199; hạ thủy 26 tháng 8 năm 1951; gia nhập biên chế 29 tháng 12 năm 1951; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 5 10 tháng 8 năm 1952; 23 tháng 4 năm 1953 chuyển tới Hạm đội Thái Bình Dương; 22 tháng 11 năm 1962 loại khỏi biên chế Hải quân liên quan tới việc bán cho Hải quân Indoneisa và nhận tên gọi “Singamangaradja”; năm 1969 đưa vào lực lượng dự bị và niêm cất; năm 1971 tháo vũ khí và tháo kim loại theo lệnh chỉ huy quân đội Indonesia.

+ “Volevoi” (số hiệu xưởng 23); ghi tên vào danh sách Hải quân 15 tháng 3 năm 1950; khởi công 1 tháng 3 năm 1951 ở xưởng số 199; hạ thủy 11 tháng 9 năm 1951; gia nhập biên chế 29 tháng 12 năm 1951; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 5 10 tháng 8 năm 1952; 23 tháng 4 năm 1953 chuyển tới Hạm đội Thái Bình Dương; 17 tháng 2 năm 1959 bị loại khỏi biên chế liên quan đến việc bán cho Hải quân Indonesia, nhận tên gọi “Siliwangi”; năm 1973 tháo vũ khí và tháo kim loại theo lệnh chỉ huy Hải quân Indonesia.

+ “Okrưlennưi” (số hiệu xưởng 193); ghi tên vào danh sách Hải quân 15 tháng 4 năm 1949; khởi công 24 tháng 3 năm 1951 ở xưởng số 402; hạ thủy 17 tháng 10 năm 1951; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1951; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 17 tháng 2 năm 1952; 1 tháng 12 năm 1958 loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân, niêm cất và đưa đi neo đậu; 18 tháng 9 năm 1965 tháo niêm cất và quay trở lại biên chế; 23 tháng 12 năm 1969 – 5 tháng 8 năm 1971 và 2 tháng 5 năm 1972 – 8 tháng 9 năm 1972 trải qua đại tu ở Leningrad; 25 tháng 12 năm 1978 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 22 tháng 2 năm 1980 và sau đó tháo kim loại.

+ “Bezboyaznennưi” (số hiệu xưởng 1114); khởi công 26 tháng 3 năm 1951 ở xưởng số 445; ghi tên vào danh sách Hải quân 22 tháng 6 năm 1951; hạ thủy 31 tháng 8 năm 1951; gia nhập biên chế 11 tháng 1 năm 1952; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 6 tháng 7 năm 1952; năm 1959-1961 nâng cấp và đóng lại ở Nikolaev theo đề án 31; 26 tháng 9 năm 1961 chuyển tới Hạm đội Thái Bình Dương; 13 tháng 8 năm 1976 bị loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân; tháo vũ khí; loại khỏi biên chế Hải quân 12 tháng 8 năm 1977 và sau đó tháo kim loại.

+ “Svobodnưi” (số hiệu xưởng 609); ghi tên vào danh sách Hải quân 15 tháng 4 năm 1949; khởi công 27 tháng 11 năm 1950 ở xưởng số 100; hạ thủy 20 tháng 8 năm 1951; gia nhập biên chế 23 tháng 6 năm 1952; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 8 3 tháng 8 năm 1952; 24 tháng 12 năm 1955 chuyển tới Hạm đội Baltic; 19 tháng 1 năm 1983 tháo vũ khí và sau đó loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 7 tháng 6 năm 1983; 28 tháng 7 năm 1983 tháo neo đậu và làm nhiệm vụ khác.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Mười, 2012, 02:09:07 am
+ “Statnưi”: (số hiệu xưởng 610); ghi tên vào danh sách Hải quân 15 tháng 4 năm 1949; khởi công 1 tháng 3 năm 1951 ở xưởng số 190; hạ thủy 28 tháng 10 năm 1951; gia nhập biên chế 4 tháng 8 năm 1952; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 8 10 tháng 8 năm 1952; 24 tháng 12 năm 1955 chuyển tới Hạm đội Baltic; 10 tháng 3 năm 1969 loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân; niêm cất và đưa đi neo đậu; 8 tháng 7 năm 1982 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 1 tháng 10 năm 1982 và sau đó tháo kim loại.

+ “Smetlivưi” (số hiệu xưởng 611); ghi tên vào danh sách Hải quân 15 tháng 3 năm 1950; khởi công 24 tháng 5 năm 1951 ở xưởng số 190; hạ thủy 17 tháng 11 năm 1951; gia nhập biên chế 5 tháng 8 năm 1952; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4 11 tháng 8 năm 1952; 24 tháng 12 năm 1955 chuyển tới Hạm đội Baltic; 14 tháng 11 năm 1955 tách khỏi biên chế để bán cho Hải quân Ai Cập; 11 tháng 6 năm 1956 bán cho Ai Cập, tới Alecsandria, nhận tên gọi “Al Zaffer”; giải thể 18 tháng 7 năm 1956; 30 tháng 7 năm 1956 loại khỏi biên chế Hải quân; năm 1958 tháo vũ khí và bán kim loại theo lệnh chỉ huy quân đội Ai Cập.

+ “Bezukoriznennưi” (số hiệu xưởng 1116); từ 3 tháng 10 năm 1961 là TsL-78 (PBO-31); từ 27 tháng 6 năm 1964 là PKZ-32; ghi tên vào danh sách Hải quân 22 tháng 6 năm 1951; khởi công 29 tháng 7 năm 1951 ở xưởng số 445; hạ thủy 31 tháng 1 năm 1952; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1952; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 19 tháng 10 năm 1952; 18 tháng 7 năm 1960 chuyển tới Hạm đội Phương Bắc; 3 tháng 8 năm 1961 loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân, thảo vũ khí và phân loại lại thành căn kỹ thuật tên lửa nổi; 29 tháng 5 năm 1964 cải tạo lại thành doanh trại nổi; loại khỏi biên chế Hải quân 3 tháng 1 năm 1967; năm 1967-68 tháo kim loại ở căn cứ “Glavvtorchermeta” ở Murmansk.

+ “Bezotkaznưi” (số hiệu xưởng 1115); khởi công 22 tháng 6 năm 1951 ở xưởng số 445 và ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 31 tháng 10 năm 1951; gia nhập biên chế 4 tháng 10 năm 1952; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 12 tháng 10 năm 1952; 18 tháng 7 năm 1960 chuyển tới Hạm đội Cờ Đỏ; 15 tháng 11 năm 1967 chuyển tới Hạm đội Biển Đen; 25 tháng 11 năm 1964 – 13 tháng 11 năm 1965 trải qua đại tu ở Leningrad; 25 tháng 4 năm 1985 tháo vũ khí và loại khỏi danh sách Hải quân; giải thể 1 tháng 10 năm 1965 sau đó tháo kim loại.

+ “Smotryasi” (số hiệu xưởng 612); ghi tên vào danh sách Hải quân 15 tháng 3 năm 1950; khởi công 21 tháng 6 năm 1951 ở xưởng số 199; hạ thủy 19 tháng 2 năm 1952; gia nhập biên chế 4 tháng 11 năm 1952; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4 6 tháng 11 năm 1952; 24 tháng 12 năm 1955 chuyển tới Hạm đội Baltic; 7 tháng 5 năm 1956 loại khỏi biên chế chiến đấu; niêm cất và đưa đi neo đậu; 24 tháng 4 năm 1974; tháo niêm cất và quay trở lại biên chế; 14 tháng 2 năm 1978 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 19 tháng 4 năm 1978 và tháo kim loại.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Mười, 2012, 11:44:21 am
+ “Otchayannưi” (số hiệu xưởng 195); ghi tên vào danh sách Hải quân 15 tháng 3 năm 1950; khởi công 25 tháng 8 năm 1951 ở xưởng số 402; hạ thủy 29 tháng 12 năm 1951; gia nhập biên chế 25 tháng 11 năm 11952; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 21 tháng 12 năm 1952; 23 tháng 10 năm 1959 chuyển tới Hạm đội Baltic; 15 tháng 4 năm 1961 chuyển tới Hạm đội Phương Bắc; 1 tháng 10 năm 1964 chuyển qua Hạm đội Biển Đen; năm 1967 trang bị lại theo đề án 30-BA; tháng 6 năm 1968 bán cho Hải quân Ai Cập ở Alecsandria, nhận tên gọi “Al Nasser”, còn từ năm 1973 đổi tên thành “Mùng 6 tháng 10”; năm 1968 tháo vũ khí và bán lấy kim loại theo lệnh của chỉ huy quân đội Ai Cập.

+ “Opasnưi” (số hiệu xưởng 196); ghi tên vào danh sách Hải quân 15 tháng 3 năm 1950; khởi công 20 tháng 10 năm 1951 ở xưởng số 402; hạ thủy 1 tháng 6 năm 1952; gia nhập biên chế 9 tháng 12 năm 1952; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 4 tháng 1 năm 1953; 14 tháng 10 năm 1957 – 6 tháng 3nawm 1962 nâng cấp và đóng lại ở Leningrad theo đề án 31; 3 tháng 5 năm 1962 loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân; niêm cất và đưa đi neo đậu; 31 tháng 7 năm 1979 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 11 tháng 12 năm 1981 – 3 tháng 8 năm 1983 trải qua đại tu ở Murmansk; 16 tháng 10 năm 1984 chuyển tới Hạm đội Baltic; 5 tháng 3 năm 1987 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 30 tháng 7 năm 1987, sau đó tháo kim loại.

+ “Bessmennưi” (số hiệu xưởng 1117); ghi tên vào danh sách Hải quân 22 tháng 6 năm 1951; khởi công 12 tháng 9 năm 1951 ở xưởng số 445; hạ thủy 31 tháng 3 năm 1952; gia nhập biên chế 10 tháng 12 năm 1952; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 28 tháng 12 năm 1952; cuối năm 1956 loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân, niêm cất và đưa đi neo đậu;10 tháng 8 năm 1961 tháo niêm cất và trở lại biên chế; năm 1967 trang bị lại theo đề án 30-BA; tháng 6 năm 1968 bán cho Ai Cập ở Alecsandria, đổi tên là “Damietta”; năm 1986 tháo vũ khí và bán kim loại bởi chỉ huy quân đội Ai Cập.

+ “Otzưvchivưi” (số hiệu xưởng 194); ghi tên vào danh sách Hải quân 15 tháng 3 năm 1950; khởi công 30 tháng 5 năm 1951 ở xưởng số 402; hạ thủy 29 tháng 12 năm 1951; gia nhập biên chế 20 tháng 12 năm 1952; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 11 tháng 1 năm 1953; 16 tháng 12 năm 1966 chuyển tới Hạm đội Biển Đen; 18 tháng 7 năm 1977 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 13 tháng 2 năm 1978, sau đó tháo kim loại.

+ “Sovershennưi” (số hiệu xưởng); ghi tên vào danh sách Hải quân 15 tháng 3 năm 1950; khởi công 16 tháng 7 năm 1951ở xưởng số 190; hạ thủy 24 tháng 4 năm 1952; gia nhập biên chế 24 tháng 12 năm 1952; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4 4 tháng 1 năm 1953; 24 tháng 12 năm 1955 chuyển tới Hạm đội Baltic; 15 tháng 7 năm 1968 chuyển tới Hạm đội Biển Đen; 7 tháng 5 năm 1956 loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân; niêm cất và đưa đi neo đậu; năm 1967 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 5 tháng 3 năm 1987 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân, sau đó tháo kim loại ở căn cứ “Glavvtorchermeta” ở Sevastopol.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Mười, 2012, 12:08:52 pm
+ “Sereznưi” (số hiệu xưởng 616); ghi tên vào danh sách Hải quân 22 tháng 6 năm 1951; khởi công 25 tháng 10 năm 1951 ở xưởng số 190; hạ thủy 13 tháng 7 năm 1952; gia nhập biên chế 24 tháng 12 năm 1952; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 8 4 tháng 1 năm 1953; 24 tháng 12 năm 1955 chuyển tới Hạm đội Baltic; 16 tháng 8 năm 1967 chuyển tới Hạm đội Biển Đen; 28 tháng 5 năm 1957 bị loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân, niêm cất và đưa đi neo đậu; 10 tháng 8 năm 1961 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 10 tháng 2 năm 1977 – 22 tháng 5 năm 1986 ở trong tình trạng niêm cất; 5 tháng 3 năm 1987 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; tháo vũ khí 30 tháng 7 năm 1987 và sau đó tháo kim loại.

+ “Volnưi” (số hiệu xưởng 24); ghi tên vào danh sách Hải quân 15 tháng 3 năm 1950; khởi công 12 tháng 6 năm 1951 ở xưởng số 199; hạ thủy 4 tháng 6 năm 1952; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1952; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 5 1 tháng 2 năm 1953; 23 tháng 4 năm 1953 chuển tới Hạm đội Thái Bình Dương; 17 tháng 1 năm 1976-1979 trải qua đại tu ở “Dalzavod” tại Vladivostoc; 8 tháng 5 năm 1979 loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân, niêm cất và đưa đi neo đậu; 15 tháng 12 năm 1981 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 15 tháng 4 năm 1982 và sau đó tháo kim loại.

+ “Vkradchivưi” (số hiệu xưởng 25); ghi tên vào danh sách Hải quân 15 tháng 3 năm 1950; tháo vũ khí 14 tháng 7 năm 1951 ở xưởng số 199; hạ thủy 4 tháng 6 năm 1952; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1952; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 5 1 tháng 2 năm 1953; 23 tháng 4 năm 1953 chuyển tới Hạm đội Thái Bình Dương; 1 tháng 12 năm 1958 loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân, niêm cất và đưa đi neo đậu; 30 tháng 1 năm 1979 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 9 tháng 2 năm 1979; sau đó tháo kim loại.

+ “Vdumchivưi” (số hiệu xưởng 26); ghi tên vào danh sách Hải quân 22 tháng 6 năm 1951; khởi công 5 tháng 11 năm 1951 ở xưởng số 199; hạ thủy 31 tháng 7 năm 1952; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1952; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 5 1 tháng 2 năm 1953; 23 tháng 4 năm 1953 chuyển tới Hạm đội Thái Bình Dương; 7 tháng 4 năm 1959 – 11 tháng 9 năm 1960 trải qua đại tu ở “Dalzavod” tại Vladivostoc; 13 tháng 8 năm 1976 loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân; tháo vũ khí; 28 tháng 4 năm 1977 loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 10 tháng 2 năm 1978, sau đó tháo kim loại.

+ “Solidnưi” (số hiệu xưởng 617); ghi tên vào danh sách Hải quân 22 tháng 6 năm 1951; khởi công 4 tháng 1 năm 1952 ở xưởng số 190; hạ thủy 17 tháng 8 năm 1952; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1952; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4 18 tháng 1 năm 1953; 24 tháng 12 năm 1955 chuyển tới Hạm đội Baltic; 14 tháng 11 năm 1955 tách ra để bán cho Hải quân Ai Cập; 11 tháng 6 năm 1956 bán cho Ai Cập ở Alecsandria, nhận tên gọi “Al Nasser”; giải thể 18 tháng 7 năm 1956; 30 tháng 7 năm 1956 loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô; năm 1968 quay trở lại Lien Xô; 15 tháng 7 năm 1956 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen với tên gọi trước; 15 tháng 4 năm 1987 tháo vũ khí và loại khỏi danh sách Hải quân; giải thể 30 tháng 7 năm 1987, sau đó tháo kim loại.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Mười, 2012, 12:27:23 pm
+ “Pưlki” (số hiệu xưởng 619); ghi tên vào danh sách Hải quân 22 tháng 6 năm 1951; khởi công 20 tháng 4 năm 1952 ở xưởng số 445 từ khối đã được lắp ở xưởng số 190; hạ thủy 31 tháng 7 năm 1952; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1952; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 18 tháng 1 năm 1953; 28 tháng 2 năm 1964 tách ra để bán cho Hải quân Indonesia, nhận tên gọi “Dipronegoro”; 9 tháng 5 năm 1964 loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 21 tháng 4 năm 1965; năm 1973 tháo vũ khí và bán kim loại bởi chỉ huy quân đội Indonesia.

+ “Vrazumitelnưi” (số hiệu xưởng 27); ghi tên vào danh sách Hải quân 22 tháng 6 năm 1951; khởi công 15 tháng 12 năm 1951 ở xưởng số 199; hạ thủy 3 tháng 9 năm 1952; gia nhập biên chế 10 tháng 1 năm 1953; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 5 1 tháng 2 năm 1953; 23 tháng 4 năm 1953 chuyển tới Hạm đội Thái Bình Dương; 7 tháng 2 năm 1977 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 18 tháng 7 năm 1977, sau đó bị tháo kim loại.

+ “Ozhivlennưi” (số hiệu xưởng 197); từ 31 tháng 8 năm 1961 đến 24 tháng 6 năm 1965 là TsL-21; ghi tên vào danh sách Hải quân 22 tháng 6 năm 1951; khởi công 12 tháng 1 năm 1951 ở xưởng số 402; hạ thủy 4 tháng 8 năm 1952; gia nhập biên chế 24 tháng 1 năm 1953; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 23 tháng 2 năm 1953; 3 tháng 8 năm 1961 loại khỏi biên chế chiến đấu và phân loại thành tàu mục tiêu; 24 tháng 6 năm 1965 trở lại biên chế chiến đấu và phân loại lại thành tàu khu trục; 15 tháng 11 năm 1967 chuyển tới Hạm đội Biển Đen; 2 tháng 6 năm 1976 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 1 tháng 2 năm 1977 sau đó tháo kim loại.

+ “Stenennưi” (số hiệu xưởng 618); ghi tên vào danh sách Hải quân 22 tháng 6 năm 1951; khởi công 11 tháng 2 năm 1952 ở xưởng số 190; hạ thủy 22 tháng 9 năm 1952; gia nhập biên chế 11 tháng 2 năm 1953; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 8 1 tháng 3 năm 1953; 24 tháng 12 năm 1955 chuyển tới Hạm đội Baltic; 28 tháng 2 năm 1961 loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân; niêm cất và đưa đi neo đậu; 8 tháng 7 năm 1968 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 14 tháng 3 năm 1968; tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 22 tháng 7 năm 1986, sau đó bị tháo kim loại.

+ “Ozhestochennưi” (số hiệu 198); từ 31 tháng 8 năm 1961 là TsL-22; ghi tên vào danh sách Hải quân 22 tháng 6 năm 1951; khởi công 3 tháng 4 năm 1952 ở xưởng số 402; hạ thủy 26 tháng 9 năm 1952; gia nhập biên chế 14 tháng 3 năm 1953; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 5 tháng 4 năm 1953; 3 tháng 8 năm 1961 loại khỏi biên chế chiến đấu và phân loại thành tàu mục tiêu; 12 tháng 3 năm 1971 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân và tháo kim loại.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Mười, 2012, 12:32:32 pm
Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 2316

+ hoàn toàn: 3066

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 120,5 (-)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 12 (-)

+ lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 3,9

Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi

+ 4 nồi hơi nước KV-30; 2 tổ hợp tuabin răng cưa chính TV-6, tổng công suất, sức ngựa (kW): 60 000 (44 100)

+ các máy phát điện tuabin, công suất (kW): 2x-

+ các máy phát điện diesel, công suất (kW): 2x-

2 trục; 2 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ lớn nhất: 36,5

+ tiết kiệm năng lượng: 15,7

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 3660 (15,7)

Tầm bơi xa, ngày: -

Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 286 (-).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 06 Tháng Mười, 2012, 12:41:20 pm
Vũ khí

Pháo

+ thiết bị pháo 130mm B2-LM: 2x2

+ thiết bị pháo 85mm 92-K: 1x2

+ thiết bị pháo 37mm 70-K: 7x1

+ hoặc 37mm V-11: 4x2

+ pháo tự động 25mm 2M-3M (trên 1 số tàu): 2x2 hoặc 3x2

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm PTA-53-30-bis: 2x5

Chống ngầm

+ BMB-2: 2x1

+ máy rải bom: 2

+ bom chìm RGB/BPS/GB/BB: 51

Mìn

+ các loại mìn KB “Krab”/M-26: 52/60.

Trang bị vô tuyến điện

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu

+ “Planshet-30-bis”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm thấp

+ 1x”Rif-1” hoặc “Zarya”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp

+ 1x”Gyuis-1M4”

Đài ra đa định vị đạo hàng

+ 1x”Neptun”

Đài thủy âm định vị

+ “Tamir-5N” hoặc “Pegas-2”

Các khí tài tác chiến điện tử: không có

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ 1x”Redan-2” cho thiết bị pháo chính trong thành phần KDP2 hoặc 1x”Zalp”

+ 1x”Vưmpel-2” cho thiết bị pháo phòng không trong thành phần KDP-29

Các trạm đo xa – chỉ huy:

+ 1xKDP2-4L

+ 1xSVP-29-RLM

Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài

Đài ra đa định vị hội thoại nói: “Fakel”.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Mười, 2012, 12:18:26 am
Đề án 41 – “Heystrashinmưi”

(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/41_02_zpsebef7a8c.jpg)

Tổng số tàu đã đóng: 1

Biến thể: không có.

Thực tế những đề án tàu phóng ngư lôi đầu tiên của Liên Xô không chỉ tính đến đề án 30-bis, mà còn đề án 40, nhiệm vụ kỹ - chiến thuật thiết kế tàu được phê chuẩn 14 tháng 6 nawm1947. nhiện vụ kỹ - chiến thuật trong giới hạn nào đó là kết quả thiết kế tàu chỉ huy đề án 48, đã được bắt đầu nhưng chưa đóng xong và chuyển sang đề án 40. Sự thiết kế tàu mới được giao cho tập thể Phòng thiết kế trung ương 53. Tổng công trình sư là V.A.Nikitin – không phóng đại – là nhà đống tàu Liên Xô xuất sắc, đã mang đến những cống hiến lớn trong ngành đóng tàu Liên Xô.  Nhóm giám sát viên từ Hải quân do kỹ sư – thuyền trưởng cấp 2 M.A.Yanchevski đứng đầu. Thiết kế sơ bộ mất thời gian 1 năm và 19 tháng 8 năm 1948 kết quả của nó đã được phê chuẩn bằng mệnh lệnh của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô. Thêm 4 năm nữa – 28 tháng 9 năm 1949 – đề án kỹ thuật được phê duyệt và đồng thời với quyết định được tiếp nhận trong mục tiêu thiết kế dòng tàu khu trục mới với những giải pháp kỹ thuật tiềm năng sẽ bắt đầu đống một tàu đầu tiên và sau đó – đóng loạt.

Tháng 12 năm 1949, xưởng đóng tàu mang tên Zhdanov (hiện nay là “xưởng phương Bắc) đã bắt đầu đóng tàu, tuy nhiên, việc khởi công chính thức chỉ thực hiện vào 5 tháng 7 năm 1950. Tàu khu trục nhận tên gọi “Neustrashimưi”. Tháng 12 cùng năm đã bắt đầu chuẩn bị việc đóng loạt đã được xác nhận và trên 2 xưởng đóng tàu khác nhau. Việc hạ thủy tàu được thực hiện 29 tháng 1 năm 1951, còn sau đó 1 năm (26 tháng 9 năm 1952), khi chưa kết thúc thí nghiệm neo đậu, tàu khu trục được đưa tới các thí nghiệm vận động cấp xưởng.

Trong kế hoạch kỹ thuật, tàu khu trục là giai đoạn mới về chất trong sự phát triển các tàu không chỉ trong lớp mà còn ngành đóng tàu chiến nổi nội địa nói chung. Tương ứng với đề án, tàu đầu tiên đã được đóng bằng boong trơn với chiều cao mạn tàu trung bình. Ngoài một thượng tầng mũi, vỏ bọc nồi hơi trên boong trên  và không tính vũ khí – các thượng tầng khác không có. Trên thân tàu hầu như không có cửa mạn, và nói chung tàu đáp ứng được khả năng cap nhất các yêu cầu chống vũ khí hạt nhân. Trạm chỉ huy chính, vách ngăn, đài chỉ huy truyền động, vỏ buồng máy – nồi hơi, tháo pháo chính, pháo phòng không tự đồng và trạm dẫn bắn ổn định cho pháp được bọc thép dày 8-10 đến 20mm.

Một cách cơ bản, sự khác biệt so với các đề án trước là thiết bị năng lượng chính. Thiết bị năng lượng chính 2 trục được bố trí trong 2 khoang tự hành độc lập. Trong mỗi khoang, hình thành tuyến bố trí tổ hợp tuabin răng cưa chính kiểu TV-8 công suất thiết kế 33 000 sức ngựa và 2 nồi hơi nước với toàn bộ máy móc phục vụ. Các nồi hơi tự động hóa KV-41 có sự thổi hơi được tăng cường một cách trực tiếp tới buồng đốt và sản xuất hơi nước có tham số được tăng cường với áp suất 64kg/cm2. Thiết bị năng lượng chính có khả năng khởi động không cần sự đốt nóng sơ bộ, có khả năng cơ động tốt hơn, giảm số lượng vòng quay trục chân vịt, giảm khối lượng và kích thước (nhẹ hơn đề án 30-bis 100 tấn). Ngoài ra, trong tốc độ tuần tra, sự tiêu thụ nhiên liệu được chỉ ra ít hơn 20% so vơi tàu khu trục đề án 30-bis. Hệ thống năng lượng điện lần đầu tiên trên tàu khu trục được sử dụng dòng điện xoay chiều 3 pha 220V và 50Hz.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Mười, 2012, 01:19:11 am
Trong vai trò pháo chính, trên tàu lắp 2 thiết bị pháo 130mm 2 nòng đa năng trên tháp pháo. Mỗi tháp pháo được bố trí một máy đo xa ra đa định vị riêng “Shtag-B”. Các tháp pháo có sự điều khiển tại chỗ và từ xa. Pháo có chiều dài gấp 58 lần cỡ nòng được lắp trên bệ chung và không cho phép dẫn bắn riêng theo góc tầm. Đương nhiên theo sự so sánh với tháp pháo được đóng kín hoàn toàn ở đề án 30-bis thì đây là bước lùi. Nguyên nhân này gồm sư tăng cường sự cân bằng tháp pháo của pháo đa năng và không thể trong kích thước bị giới hạn đảm bảo cho sự đóng kín tháp pháo hoàn toàn. Sự cân bằng tương tuwjddax chỉ ra không có triển vọng và không nhận được sự phát triển. Các thông số bắn được xử lý bằng đài ra đa định vị “Yakor-M” với đài dẫn bắn ổn định (SPN) SPN-500 và máy đo xa ZDMS-4, các thông tin được xử lý bằng khí tài điều khiển bắn (PUS) “Zenit-41”. Pháo phòng không bao gồm 4 pháo nòng đôi ổn định 45mm SM-16 và 2 pháo tự động 4 nòng 25mm 4M-120. Các pháo tự động SM-16 được điều khiển hoặc tại chỗ, hoặc từ khí tài điều khiển bắn, nhận các thông tin từ đài ra đa định vị “Fut-B”. Các pháo tự động 4M-120 chỉ được tiều khiển bằng tay. Vũ khí ngư lôi được giới thiệu là 2 thiết bị 5 ống phóng 533mm, nó hoàn toàn cùng loại với các thiết bị được lắp trên các tàu tuần dương hạng nhẹ đề án 68-bis. Trên các rảnh rải mìn ở boong trên có thể bố trí 48 mìn KB hoặc 48 mìn phòng thủ GMZ. Ngoài ra, có 6 thiết bị phóng bom BMB-2 (mỗi bên thành bố trí 3). Trang bị kỹ thuật vô tuyến nhiệm vụ tổng hợp gồm đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu trên không “Fut-N”, mục tiêu nổi “Rif” và đài thủy âm định vị “Pegas”.

Tuy nhiên, không thể gọi tàu là thiết kế thành công hoàn toàn. Trong di chuyển lùi, tàu không có bánh lái, để đi lùi, tàu thực hiện di chuyển vòng (dạng com pa), nhưng không thực hiện từ tay lái. Sự bố trí theo thành tàu các pháo 45mm không cho phép chúng được sử dụng chung trong các đại đội pháo ở mũi cũng như mạn tàu. Ngoài ra, chính các pháo tự động SM-16 không được sản xuất hàng loạt, còn dòng ra đa định vị “Fut-B” đã chứng tỏ không tin cậy. Đáng chú ý, trong quá trình khai thác sử dụng sau đó, các thiết bị pháo phòng không SM-16 được thay bằng thiết bị pháo 4 nòng 45mm SM-20-ZiF, các súng 25mm được tháo, các thiết bị phóng bom được thay bằng 2 RBU-2500, còn phiên bản thí nghiệm đài “Fut-B” được thay bằng dòng đã bị loại bỏ. Quà tặng lớn nhất trên chiếc tàu khiếm khuyết là tốc độ tối đa và tầm bơi xa. Theo nhiệm vụ kỹ - chiến thuật, tốc độ tối đa được xác định là 36 hải lý, còn nhận được – 33,5. Tầm bơi xa theo thông số di chuyển kỹ thuật – tuần tra (ở tốc độ 14 hải lý) là 5500 dặm, còn trong thực tế nhận được (đạt được với sự nỗ lực) là 5120 dặm. Sự phân tích các nguyên nhân được chỉ ra ở bề ngoài. Trong biên bản tiếp nhận theo nguyên nhân này có các điểm đáng chú ý: “… đây là việc xảy ra do công suất thiết kế không đủ của thiết bị cơ khí và các lỗi trong phương pháp tính toán tốc độ tàu, được tiếp nhận bởi Viện nghiên cứu khoa học Trung ương số 45” (hiện nay là Viện nghiên cứu khoa học trung ương mang tên viện sĩ A.N.Krưlov). Liên quan đến việc này,  người ta đã xác định “Heustrashimưi” là tàu lớn không cần thiết (thừa) mặc dù có nguồn dự trữ nâng cấp đáng kể. Thêm vào đó, quan điểm này trở thành trở thành phổ biến (chủ yếu) nhất, thậm chí trong thời gian dài trước khí bắt đầu các thí nghiệm, vì thế tháng 6 năm 1951, bằng Mệnh lệnh của Hội đồng Bộ trưởng, dòng đề án 41 đã bị dừng lại, còn thiết kế các thân tàu của dòng tàu khu trục đã được khởi công bị tháo dỡ.

Các sự kiện sau đó đã chỉ ra rằng sự không thuận lợi với tốc độ của tàu đề án 41 liên quan với những nguyên nhân sâu hơn. Tiếng sấm đã nổ ra khi trong các thí nghiệm vận động được thực hiện trên tàu khu trục đầu tiên “Spokoinưi” đề án 56, được thiết kế như sự “nâng cấp” của đề án 41. Khi lượng choán nước giảm hơn 400 tấn, trong công suất lớn đáng kể của thiết bị năng lượng chính (10 000 sức ngựa), “Spokoinưi” chỉ có thể đạt tốc độ lớn hơn 1 hải lý so với “Neustrashimưi”. Ủy ban điều tra đặc biệt đã được thành lập, trong đó có sự tham gia của người có uy tín trong lĩnh vực lý thuyết tàu – giáo sư kỹ sư – Chuẩn đô đốc V.G.Vlasov, đã xác định rằng toàn bộ tổ hợp “mạn – chân vịt – bánh lái” được thiết kế không đúng như trên đề án 41, cũng như trên đề án 56. Sự làm sai lệch dòng thủy động lực không cho phép chân vịt đạt lực đẩy cần thiết, và là nguyên nhân chính dẫn đến tốc độ không đạt yêu cầu. Trên “Spakoinưi” đã diễn ra sự cắt phần cuối mạn tàu “không đúng” và thay “đúng” mới. Tuy nhiên, trên “Neustrashimưi” việc làm này không được thực hiện, bởi vì tàu không được đưa vào sản xuất hàng loạt.

Từ quan điểm cái nhìn ngày nay, sự chuyển giao từ đề án 41 đến đề án 56 là không phải sự thật. Số lượng lớn các nhược điểm của nó có thể được khắc phục thậm chí trên tàu “sống”, chưa nói về sự hiệu chỉnh đề án trong loạt tàu. Đặc biệt chất lượng có giá trị của đề án 41 theo so sánh với tàu đề án 56 sau đó là sức sống lớn, thời gian hoạt động, tầm bơi xa, trữ lượng nâng cấp. Sự thiếu sót yếu tố sau cùng trên đề án 56 đặc biệt nhận thấy (cảm nhận) được một cách cấp thiết (dữ dội) khi nâng cấp tàu theo đề án 56-K “Bravưi”, khi yêu cầu lắp tải trọng rắn và hàng loạt các sự tinh vi khác khi thực hiện các yêu cầu nhiệm vụ kỹ - chiến thuật. Tuy nhiên đề án 56 đã được thông qua đóng hàng loạt.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Mười, 2012, 01:37:43 am
Chương trình đóng tàu

(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/41_05_zps71ba2de4.jpg)

Tháng 12 năm 1949, xưởng số 1 mang tên Zhdanov (hiện nay là xưởng phương Bắc) đã bắt đầu đóng tàu, tuy nhiên việc khởi công chính thức chỉ diễn ra mùng 5 tháng 7 năm 1950. Tháng 12 cùng năm bắt đầu đóng loạt đã được lên kế hoạch và trên các xưởng đóng tàu khác. Việc hạ thủy tàu được thực hiện 29 tháng 1 năm 1951, còn sau đó 1 năm (26 thagns 9 năm 1952) khi chưa kết thúc các thí nghiệm neo đậu, tàu khu trục đã được đưa vào các thí nghiệm vận động cấp xưởng. Tàu chỉ chính thức gia nhập biên chế 31 tháng 1 năm 1955, còn cuối cùng được tiếp nhận bởi ngành công nghiệp ngày 27 tháng 12 năm 1957.

Liên quan với đó, việc đóng loạt không được thực hiện do tình trạng kể trên, năm 1951, thiết kế thân tàu đã được khởi công trong loạt tàu khu trục bị tháo dỡ.

Tình hình đến năm 2007

Tàu duy nhất trong đề án – “Neustrashimưi” – gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4 26 tháng 7 năm 1955. Trong cùng nă, sau khi tổ chức lại Hải quân, 24 tháng 1 đã chuyển tới Hạm đội Baltic. Ngày 25 thagns 1 năm 1974, tàu khu trục bị loại khỏi biên chế Hải quân, niêm cất và đưa đến neo đậu ở Kronshtatd, sau đó đưa đi tháo dỡ lấy kim loại.

Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ “Neustrashimưi” (số hiệu xưởng 614); ghi tên vào danh sách Hải quân 15 tháng 3 năm 1950; khởi công 5 tháng 7 năm 1950 ở xưởng số 190; hạ thủy 29 tháng 1 năm 1951; gia nhập biên chế 31 tháng 1 năm 1955 (được tiếp nhận bởi ngành công nghiệp 27 tháng 12 năm 1957); gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4 26 tháng 7 năm 1955; 24 tháng 12 năm 1955 chuyển tới Hạm đội Baltic; từ 21 tháng 5 năm 1963 đến 23 tháng 12 năm 1963 và từ 10 tháng 10 năm 1967 đến 6 tháng 1 năm 1969 đã trải qua đại tu ở Liepai; 25 tháng 1 năm 1974 bị loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân; niêm cất và đưa đi neo đậu ở Kronshtadt; 22 tháng 2 năm 1974 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 12 tháng 3 năm 1974; năm 1974-75 tháp dỡ lấy kim loại ở căn cứ “Glavvtorchermeta” tại Leningrad.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Mười, 2012, 02:28:05 pm
(http://i1051.photobucket.com/albums/s426/daibangdenarmata/41_bnv_zps226208e1.gif)

Sơ đồ bản vẽ thiết kế tàu khu trục “Neustrashimưi” (đề án 41)

A – nhìn từ bên (thành tàu); B – mặt cắt ngang; V(C) – nhìn từ trên xuống

1. Các thiết bị phóng bom;

2. Thiết bị pháo 45mm;

3. Thiết bị ngư lôi 533mm PTA-53-41;

4. Thiết bị pháo 25mm;

5. Trạm “RAS-U”;

6. Tấm chắn – bảo vệ K-1;

7. Xuồng máy chỉ huy;

8. Thuyền 6 mái chèo;

9. Thiết bị phóng bom phản lực 4 ống;

10. Buồng thủy thủ;

11. Buồng di chuyển (chuyển tiếp)

12. Thiết bị pháo 130mm;

13. Trạm;

14. Đài ra đa định vị nhận dạng;

15. Đài ra đa định vị phát hiện máy bay;

16. Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu nổi;

17. Trạm dẫn bắn ổn định;

18. Đài ra đa định vị cung cấp số liệu bắn cho pháo 130mm;

19. Đài ra đa định vụ cung cấp số liệu bắn ngư lôi;

20. Đài chỉ huy của trạm chỉ huy chính;

21. Trạm phân phối mục tiêu;

22. Buồng cho chỉ huy tàu và buồng hoa tiêu;

23. Buồng truyền động;

24. Buồng sỹ quan chỉ huy;

25. Khoang tời;

26. Khoang mũi;

27. Thùng dây xích;

28. Buồng (….);

29. Trạm đài thủy âm định vị;

30. Các thùng nhiên liệu;

31. Kho đạn pháo 130mm;

32. Buồng máy bơm;

33. Kho đạn bom chìm;

34. Buồng hành trình kế và máy đo độ sâu bằng tiếng (tính hiệu) dội;

35. Trạm la bàn;

36. Kho đạn pháo 45mm;

37. Trạm ngư lôi trung tâm;

38. Trạm pháo trung tâm;

39. Buồng máy – nồi hơi thứ nhất;

40. Nồi hơi nước tự động hóa;

41. Máy phát điện tuabin 1 chiều;

42. Trạm phát điện số 1;

43. Hầm đạn pháo 25mm;

44. Buồng máy – nồi hơi số 2;

45. Tổ hợp tuabin răng cưa số 1;

46. Trạm phát điện số 2;

47. Buồng tay lái;

48. Thiết bị xả khói;

49. Khoang chứa các máy rải bom.


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Mười, 2012, 02:37:05 pm
Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 3010

+ hoàn toàn: 3830

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo lượng mớn nước thiết kế): 133,83 (-)

+ chiều dài nhất (theo lượng mớn nước thiết kế): 13,57 (-)

+ lượng choán nước lớn nhất (trung bình): 4,42

Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi

+ 4 nồi hơi hơi nước KV-41, 2 tổ hợp tuabin răng cưa chính TV-8, tổng công suất, sức ngựa (kW): 64 200 (47 187)

+ các máy phát điện tuabin, công suất (kW): 2x-

+ các máy phát điện diesel, công suất (kW): 2x-

2 trục; 2 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ tối đa: 33,55

+ tuần tra: 17,9

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 5210 (14)

Thời gian hoạt động, ngày: -

Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 305 (-).


Tiêu đề: Re: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)
Gửi bởi: daibangden trong 07 Tháng Mười, 2012, 02:47:00 pm
Vũ khí

Pháo

+ thiết bị pháo 130mm SM-2-1: 2x2

+ thiết bị pháo 45mm SM-16: 4x2

Sau đó thay bằng pháo 45mm SM-20-ZiF: 4x4

+ pháo 25mm 4M-120 (sau đó được tháo): 2x4

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm PTA-53-41: 2x5

Chống ngầm

+ BMB-2: 6x1

Sau đó thay bằng RBU-2500 “Smerch”: 2x16

+ máy rải bom: 2

+ bom chìm RGB/BPS/GB/BB (RGB-25): 105 (128)

Mìn

+ các mìn KB “Krab”/mìn phòng thủ GMZ: 48/48

Trang bị vô tuyến điện

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu

+ “Planshet-41”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm thấp

+ 1x”Rif-1”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp

+ 1x”Fut-N” (Knife Rest)

Đài ra đa định vị đạo hàng

+ 1x”Neptun”

Đài thủy âm định vị

+ “Pegas”

Các khí tài tác chiến điện tử: tổ hợp các khí tài

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ 1x”Yakor-M” cho pháo 130mm

+ 2x”Fut-B” (Hawk Screech) cho pháo chính và pháo phòng không

Các trạm chỉ huy – đo xa

+ 1xSPN-500

Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài

Đài ra đa định vị hội thoại nói: -.

(Hết phần 2)