Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:33:57 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)  (Đọc 329649 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #270 vào lúc: 16 Tháng Hai, 2012, 09:42:26 pm »

Tình hình đến năm 2008

Gia nhập biên chế Hạm đội Baltic, tàu ngầm thí nghiệm Đề án 617 trong thời gian đó, lần đầu tiên trong thế giới tàu ngầm chiến đấu,đạt được tốc độ 20 hải lý ở vị trí ngầm. Đáng chú ý, trong thời gian đó (cuối năm 1955), gia nhập biên chế Hải quân Anh có tàu ngầm thí nghiệm “Explorer”, đồng thời có thiết bị tuabin khí hơi và có tốc độ bơi ngầm lớn, không phải là tàu chiến, bởi vì trên tàu không có vũ khí, mà nghiệm vụ chính của nó là sử dụng để huấn luyện và kiểm tra độ tin cậy khi hoạt động của thiết bị năng lượng.

Năm 1956, tàu ngầm Đề án 617 S-99 đã đưa vào khai thác sử dụng thí nghiệm ở Hạm đội Baltic. Liên quan đến sự phức tạp và mới mẻ trong thiết bị năng lượng của nó trong giai đoạn khai thác sử dụng thí nghiệm đã lấy các thợ máy đảm bảo từ Phòng thiết kế Trung ương số 18. Trong giai đoạn từ năm 1956 – 1959, tàu ngầm có 98 lần ra khơi, với hơn 6000 dặm ở tư thế nổi, 8000 dặm ở tư thế ngầm (trong số đó 315 dặm dưới thiết bị tuabin khí hơi), đã nhiều lần khởi động huấn luyện thiết bị tuabin khí hơi.

Ngày 17 tháng 5 năm 1959, trên tàu ngầm S-99 đã xảy ra tai nạn nghiêm trọng. Tàu đã rời khỏi bãi tập để tiến hành khởi động huấn luyện – thí nghiệm thiết bị năng lượng ở các độ sâu khác nhau. Ngày 19 tháng 5, sau khi lặn đã thực hiện việc khởi động thiết bị ở độ sâu 40 mét và sau đó ở độ sâu 60 mét. Những trục trặc về khởi động và hoạt động của thiết bị tuabin khí hơi không xuất hiện. Trong lần khởi động sau ở độ sâu 80 mét, từ phía khoang tuabin đã nghe thấy tiếng động mạnh (nổ) và thiết bị không được khởi động. Chỉ huy tàu một cách không chậm trễ (không đợi sự báo cáo từ khoang số IV) đã thổi tải trọng dằn chính của hệ thống bơm hơi khẩn cấp. Tàu ngầm nổi lên mặt biển, có độ nghiêng theo hướng mạn tàu 2 độ. Từ khoang số IV (diesel) đã báo cáo: “Vụ nổ và cháy ở khoang số V” và “Cần dẫn nước vào khoang số V”. Trên tàu đã có tín hiệu cứu nạn. Sau cửa kính quan sát từ các khoang số IV và V đã xác định, rằng khoang số V (tuabin) đã bị ngập nước.

Bởi vì tàu còn nổi, chỉ huy tàu đã quyết định cho tàu bơi về căn cứ bằng hoạt động của máy phát điện – diesel (khoang số IV) và động cơ điện dự bị (trong khoang số VI), thông báo về tai nạn về căn cứ và gọi tàu hỗ trợ. Sau vài giờ, tàu ngầm đã về tới căn cứ. Sau khi bơm nước khỏi khoang tuabin, đã xác định, rằng đã xảy ra sự vỡ van bên thành của ống dẫn tải peroxit oxi, kết quả của vụ nổ là bộ phận trên của thân trong đã hình thành lỗ thủng xuyên thấu đường kính 80mm. Vụ nổ xảy ra do sự phân tán peroxit oxi từ việc chất bẩn rơi vào van.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #271 vào lúc: 16 Tháng Hai, 2012, 10:07:13 pm »

Sau tai nạn, S-99 đã không được khôi phục, bởi vì yêu cầu thay thể số lượng lớn bộ phận máy móc của thiết bị tuabin khí hơi, nhiều trong số đó cần chế tạo mới, và việc đó yêu cầu số lượng lớn tài chính.

Sau một thời gian, các công trình sư đã bắt đầu thiết kế tàu Đề án hiện đại hóa 643 với sự tăng cường lượng choán nước và tốc độ ngầm hơn 22 hải lý, với thiết bị năng lượng chính 2 trục. Đề án này có tên Đề án 617-M. Tuy nhiên, từ năm 1952, toàn bộ hoạt động đã hướng vào việc thiết kế các tàu Đề án 627, trở thành lớp tàu ngầm nguyên tử Liên Xô đầu tiên. Kết quả của các công việc sau nặng nề sau đó đã chỉ ra trong thí nghiệm, đã quyết định ngừng các tuabin khí hơi không an toàn, còn tàu ngầm với thiết bị năng lượng này được tính toán không có triển vọng. Vì vậy, S-99 sau đó được tháo dỡ và xẻ lấy kim loại.

Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ S-99; (số hiệu xưởng 617); 26 tháng 3 năm 1949 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; 5 tháng 2 năm 1951 khởi công ở xưởng số 196 thuộc Bộ Công nghiệp đóng tàu tại Leningrad như tàu ngầm thí nghiệm với thiết bị tuabin khí hơi; hạ thủy 5 tháng 2 năm 1952; trong giai đoạn từ 16 tháng 6 năm 1952 đến năm 1955 đã thực hiện chương trình các thí nghiệm neo đậu và vận động cấp xưởng ở khu mặt nước tại căn cứ Liepai và Nam Baltic; từ 21 tháng 4 năm 1955 đến 20 tháng 3 năm 1956 đã thực hiện chương trình thí nghiệm vận động cấp quốc gia, trong đó ở bãi tập Tallin đã đạt được tốc độ hoàn toàn 20 hải lý trong thời gian 6 tiếng và thời gian ngắn – 22 hải lý; 20 tháng 3 năm 1956 gia nhập biên chế và 30 tháng 8 năm 1956 gia nhập biên chế Tiểu đoàn tàu ngầm độc lập thuộc Hạm đội Cờ đỏ Baltic đóng căn cứ ở Lomonosov; trong giai đoạn từ mùa hè năm 1956 đến mùa đông năm 1958 đã tiến hành sửa chữa sau thí nghiệm các máy móc ở xưởng số 196; tháng 5 năm 1958 tàu chuyển tới Kronshtadt và tham gia quá trình khai thác sử dụng thí nghiệm; mùa hè năm 1958 đã trải qua xử lý các nhiệm vụ huấn luyện ở vịnh Phần Lan ở khu vực quần đảo Hotland, sau đó tới Liepai; trong giai đoạn mùa đông năm 1958 – 1959 đã trải qua xử lý các nhiệm vụ huấn luyện ở Nam Baltic, sau đó liên quan đến việc xử lý tuổi thọ động cơ của thiết bị năng lượng chính đã có kế hoạch sửa chữa ở xưởng số 196, nhưng theo yêu cầu của Hải quân và sự đồng ý của Phòng thiết kế Trung ương số 18 đã quyêt định tiến hành các thí nghiệm kéo dài với thiết bị tuabin khí hơi, gồm có khởi động trên các độ lặn sâu khác nhau; 19 tháng 5 năm 1959, tàu ra biển và khởi động dưới nước, thủy thủ đoàn bắt đầu thực hiện chương trình thí nghiệm; khởi động tuabin ở độ sâu 40 mét và 60 mét so với bề mặt nước diễn ra thuận lợi, sau đó ở độ sâu 80 mét trong khoang số V đã xảy ra vụ nổ, tàu bị nghiêng về phía mạn tàu, sau khi bơm hơi khẩn cấp từ thùng tải trọng dằn chính, tàu bơi qua 120 mét và bắt đầu nổi; trong khoang số V, đám cháy tiếp tục, khói qua khoang cho người ở số IV và tới cuối khoang số VI; tàu được kéo về Liepai sau đó 12 giờ; trong giai đoạn tháng 5-6 năm 1959 đã trải qua sửa chữa khẩn cấp ở xưởng “Tosmare” ở Liepai; sau đó đã bơi ở tư thế nổi tới Kronshtadt; 30 tháng 8 nawm1961 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và phân loại lại thành tàu ngầm thí nghiệm và bàn giao cho Viện nghiên cứu khoa học số 138 của Hải quân; 28 tháng 2 năm 1964 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ và 15 tháng 5 năm 1964 giải tán; sau đó ở căn cứ “Glavvtorchetmechta” tại Leningrad ở quần đảo Turukhtan bị tháo dỡ lấy kim loại.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #272 vào lúc: 17 Tháng Hai, 2012, 11:12:48 am »

Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ nổi: 950

+ ngầm: 1500

Các kích thước chính, met

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 62,2 (-)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 6,08 (-)

+ lượng mớn nước theo vạch mớn nước thiết kế: 5,08

Thiết bị năng lượng chính: thiết bị tuabin khí hơi

+ 1 động cơ diesel 8Ch23/30, công suất, sức ngựa (kW): 1000 (740)

+ 1 máy phát điện – diesel (động cơ diesel 6Ch23/30, máy phát điện PG-107), công suất, sức ngựa: 450 (350)

+ 1 động cơ điện diesel PG-100, công suất, sức ngựa (kW): 540 (397)

+ 1 động cơ điện dự bị, PG-105, công suất, sức ngựa (kW): 140 (103)

+ Pin ắc quy 26SU, số nhóm (cụm) x số lượng phần tử: 1x112

Tốc độ, hải lý

+ nổi hoàn toàn: 11

+ nổi với động cơ dự bị: 8,5

+ ngầm hoàn toàn (với thiết bị tuabin khí hơi): 20

+ ngầm hoàn toàn (với động cơ điện diesel): 9,3

+ ngầm với động cơ dự bị: 2,3

Tầm bơi xa, dặm (với tốc độ, hải lý)

+ ở vị trí nổi (với động cơ diesel): 8500 (8,5)

+ ở vị trí ngầm (với thiết bị tuabin khí hơi): 120 (20); 198 (14,2)

+ ở vị trí ngầm (với động cơ diezel dự bị): 132 (2,3)

Độ lặn sâu, mét

+ làm việc hiệu quả: 170

+ giới hạn: 200

Thời gian hoạt động: 45

Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 51 (-)
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #273 vào lúc: 17 Tháng Hai, 2012, 11:20:00 am »

Vũ khí

Ngư lôi: thiết bị ngư lôi 533mm ở mũi/cơ số đạn: 6/12

Khí tài vô tuyến điện tử

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: “Flag” (Snoop Plate)

Đài thủy âm

+ “Mars-24KIG” – đài tìm phương theo tiếng ồn

+ “Tamir-5LS” – đài định vị thủy âm

+ NEL-4UG – đài đo tiếng vọng

Các khí tài chống tác chiến điện tử

+ “VAN”-5

+ RPN-47-03 – đài tìm phương vô tuyến

Tổ hợp đạo hàng

+ “Kurs-3” – la bàn con quay

+ GOM-III – hành trình kế

Tổ hợp thông tin liên lạc vô tuyến: tổ hợp các khí tài

Đài ra đa định vị hội thoại nói: “Fakel-MO-1”.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #274 vào lúc: 17 Tháng Hai, 2012, 12:56:36 pm »

Đề án 613 – lớp Whiskey-I


Tổng số tàu đã đóng: 215

Các biến thể

+ 613 (lớp Whiskey-I) – đề án cơ sở của tàu ngầm với trang bị pháo (1951)

+ 613 (lớp Whiskey-II/IV) – chỉ có súng phòng không tự động ở mũi/mạn

+ 613 (lớp Whiskey-III) – tháo trang bị pháo

+ 613 (lớp Whiskey-V) – tàu ngầm được nâng cấp không có vũ khí, với đài thủy âm với và trang bị vô tuyến điện tử mới

+ 613-Ts – tăng cường độ sâu sử dụng ngư lôi

+ 613-V – tăng cường thời gian hoạt động

+ 613 –Sh- thí nghiệm tổ hợp thủy âm dưới băng và các khả năng hoạt động dài ngày dưới nước

+ 613-EKhG “Katran” – tàu ngầm thí nghiệm với động cơ chu kỳ kín

+ 613-S – xử lý thùng nổi đối với sự quan trọng trong phục vụ cứu nạn của Hải quân (1961)

+ 666 – tàu ngầm cứu nạn thí nghiệm với tổ hợp điều khiển dưới nước (1962)

+ 613-RV – biến thể với sự bổ sung thiết bị ngư lôi để thí nghiệm tổ hợp tên lửa chống ngầm mới

+ V-613 – tàu ngầm được trang bị lại để phóng mô hình tên lửa đạn đạo tàu ngầm khởi động dưới nước (1957)

+ 613-D4 – tàu ngầm thí nghiệm đối với thí nghiệm tên lửa đạn đạo R-21 thuộc tổ hợp D-4

+ 613-D5 – tàu ngầm thí nghiệm đối với thí nghiệm tên lửa đạn đạo R-27 thuộc tổ hợp D-5

+ 613-D5 – tàu ngầm thí nghiệm đối với thí nghiệm tên lửa đạn đạo nhiên liệu rắn RT-15 thuộc tổ hợp D-7

+ P-613 (lớp Whiskey One Cylinder) – tàu ngầm được trang bị lại để thí nghiệm tổ hợp tên lửa có cánh P-5 (1956)

+ 644 (lớp Whiskey Twin Cylinder) – tàu ngầm mang hai tên lửa có cánh P-5 (1961)

+ 644D (lớp Whiskey Twin Cylinder) – biến thể Đề án 644 cho tên lửa có cánh P-5D

+ 665 (lớp Whiskey Long Bin) – tàu ngầm mang bốn tên lửa có cánh P-5 (1962)

+ 640 (lớp Whiskey Canvas) – tàu ngầm tuần tra với đài ra đa định vị “Kasatka” (1958)

+ 640-Ts – tàu ngầm thí nghiệm để nghiên cứu theo chương trình “Tsiklon”

+ 613-A – tàu ngầm được trang bị lại để thí nghiệm tên lửa có cánh P-70 “Ametist” (1962)

+ 613-AD – biến thể Đề án 613-A để thí nghiệm tên lửa có cánh P-70 “Ametist” (1964)

+ “Severyanka” – 2 tàu ngầm tháo vũ khí và bổ sung trang bị cho các nghiên cứu địa lý địa lý và khoa học đại dương.
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Hai, 2012, 01:06:53 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #275 vào lúc: 17 Tháng Hai, 2012, 01:28:44 pm »


Lớp tàu ngầm điện – diesel đầu tiên của Liên Xô sau chiến trnah có số lượng lớn nhất là tàu ngầm diesel Đề án 613. Đề án là sự phát triển của tàu ngầm có lượng choán nước trung bình Đề án 608, được chế tạo trong những năm 1942 – 1944.

Cuối năm 1944, Hải quân đã nhận được các vật (tài) liệu về tàu ngầm Đức U-250 (bị đắm ở vịnh Phần Lan và sau đó được trục vớt), có các thông số, gần với Đề án 608. Liên quan với đó, Dân ủy Hải quân – Thống chế N.G.Kuznetsov đã tiếp nhận quyết định đình chỉ hoạt động trên Đề án 608 đến khi nghiên cứu các vật liệu theo U-250. Tháng 1 năm 1946, sau khi nghiên cứu các tàu ngầm chiến lợi phẩm (U-250, lớp XXI…). Bộ Tư lệnh Hải quân theo sự đề xuất của Ủy ban quốc gia đã phê duyệt nhiệm vụ kỹ - chiến thuật và thiết kế tàu ngầm điện – diesel Đề án 613. Trên tàu, dự kiến thay đổi thông số kỹ - chiến thuật theo Đề án 608 theo hướng tăng cường tốc độ và tầm bơi xa khi tăng lượng choán nước tiêu chuẩn lên 800 tấn. Sự thiết kết được giao cho Phòng thiết kế Trung ương số 18 (hiện nay là Phòng thiết kế Trung ương kỹ thuật Hải quân “Rubin”), còn Tổng công trình sư là V.N.Peregudov, sau đó được thay bằng Ya.E.Evgrafov, còn từ năm 1950 là Z.A.Deribin. Giám sát viên chính từ Hải quân là Thuyền trưởng hạng 2 L.I.Kilmov. Tháng 8 năm 1946 đã đưa ra nhiệm vụ kỹ - chiến thuật của Đề án 613, còn 15 tháng 8 năm 1948, đề án kỹ thuật đã được phê duyệt bởi Chính phủ Liên Xô. Khi thiết kế bản vẽ lý thuyết đặc biệt chú ý hướng vào việc đảm bảo các chất lượng vận động cao ở vị trí nổi. Kết quả, tốc độ hoàn toàn của tàu khi di chuyển ở vị trí ngầm theo đề án tăng lên 13 hải lý (thay cho ban đầu là 12).

Vũ khí của tàu ngầm mới gốm có 4 thiết bị ngư lôi 533mm ở mũi và 2 thiết bị ở mạn tàu, được trang bị hệ thống bắn ngư lôi không khí không bụi. Số lượng ngư lôi cho thiết bị ngư lôi mũi là 6, và cơ số đạn chung là 12, thiết bị ngư lôi của tàu ngầm có thể bắn các loại mìn ngầm mới AMD-1000 và biến thể của chúng. Việc bắn được thực hiện trong phạm vi độ sâu: từ vị trí tiềm vọng đến 30 mét. Các khí tài phát hiện mục tiêu cơ bản ở vị trí ngầm là đài thủy âm “Tamir-5L” và đài thủy âm tìm phương theo tiếng ồn “Mars-24KIG”. Lần đầu tiên trên tàu ngầm đã lắm đài ra đa định vị mới phát hiện mục tiêu nổi “Flag”. Đài trinh sát vô tuyến “Nakat” không được chuẩn bị ở thời điểm đó để bàn giao cho Hải quân với số lượng lớn tàu ngầm Đề án 613 và được lắp trên chúng trong quá trình khai thác sử dụng. Ở phương Tây, các tàu ngầm này nhận tên gọi lớp Whiskey.

Trang bị pháo là tổng hợp và gốm 1 pháo đồng trục tự động 57mm SM-24-3ZiF và 2 pháo tự động đồng trục 2M-8, được đưa vào biên chế năm 1945 một cách đặc biệt cho tàu ngầm. Sau đó, trong quá trình phục vụ, trang bị pháo từ toàn bộ các tàu ngầm Đề án 613 đã bị tháo bỏ hoàn toàn.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #276 vào lúc: 17 Tháng Hai, 2012, 01:29:31 pm »

Bản vẽ kỹ thuật Đề án tàu ngầm điện - diezel 613




Bản vẽ

« Sửa lần cuối: 17 Tháng Hai, 2012, 01:37:22 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #277 vào lúc: 17 Tháng Hai, 2012, 01:36:33 pm »


Tàu ngầm Đề án 613 kiểu C (S), năm 1949, Liên Xô

Trong những năm 50-60 đã đóng 215 tàu ngầm lớp này.

Lượng choán nước nổi: 1050 tấn/ngầm: 1600 tấn

Chiều dài: 76 mét

Chiều rộng: 6,3 mét

Tốc độ dưới nước: 13,1 hải lý (24,3km/h)

Vũ khí: 6 thiết bị ngư lôi 533mm (4 – mũi; 2- mạn)/2 pháo đồng trục 25mm và 2 pháo đồng trục 57mm

1.Bánh lái ngang

2.Các thiết bị ngư lôi

3.Động cơ điện

4.Động cơ diesel

5.Khoang cho người ở

6.Các chân vịt truyền động

7.Ống thông hơi hoặc thông khí (Шнорхель)

8.Pháo

9.Đài thủy âm

10.Pin ắc quy

11.Bánh lái đứng

12.Khoang chỉ huy
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Hai, 2012, 09:32:02 pm gửi bởi daibangden » Logged
huyphongssi
Thành viên
*
Bài viết: 1515



« Trả lời #278 vào lúc: 17 Tháng Hai, 2012, 08:23:09 pm »

7.Шнорхель (?)
Ống thông hơi hoặc ống thông khí.
Logged

Nhằm thẳng quân thù, Bắn!
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #279 vào lúc: 18 Tháng Hai, 2012, 12:24:47 pm »

Cám ơn bác huyphongssi, qtdc và tất cả các bác Smiley

(tiếp theo)


Theo thiết kế, Đề án 613 – tàu ngầm hai thân. Thân trong – hàn hoàn toàn, với khung ngoài được chia thành 7 khoang, trong khu vực pin ắc quy hình thành từ 2 hình trụ tiếp giáp, tạo thành “hình số 8”, ngoài ra, đường kính của hình trụ dưới lớn hơn đường kính hình trụ trên (sự áp dụng mới này được mượn từ người Đức). Các khoang số 1, 3, 7 được phân chia bởi các vách ngăn hình cầu, tính toán chịu được áp lực 10kg lực/cm2 và hình thành khoang – khoang ẩn. Các vách ngăn còn lại được tính toán chịu áp lực 1kg lực/cm2. Sự không chìm của tàu được đảm bảo khi đắm một khoang và 2 khoang bên cạnh nó bằng thùng chứa tải trọng dằn chính của một bên thành. Tải trọng dằn được tiếp nhận trong 10 thùng, bố trí ở thân ngoài. Thùng chứa tải trọng dằn chính – không có van thông (chỉ có các cụm thùng số 4 và số 5 ở giữa có van thông), cho phép đơn giản hóa thiết kế và giảm giá thành đóng tàu (giá rẻ). Không khí cao áp được bố trí trong 22  bình cầu thể tích 90 lít được tính toán chịu áp lực 200kg lực/cm2. Trữ lượng không khí được bố sung từ 2 máy nén khí diesel. Ban đầu, các ống dẫn không khí bằng thép với mặt phủ bên trong từ đồng, nhưng chúng bị ăn mòn rất mạnh và sau đó được thay bằng đồng đỏ. Bơm tiêu nước chính kiểu 6MVx2 có công suất 180m3/h khi áp lực cột nước 20 mét và 22m3/h. Ban đầu, trong phần cuối mũi tàu bố trí thùng nổi, nhưng khi tháo pháo – nó cũng được tháo. Lần đầu tiên, trong thực tên ngành đóng tàu ngầm Liên Xô đã tiếp nhận thiết bị cân bằng ngang ở phần cuối mạn tàu.

Thiết bị năng lượng chính của tàu gồm có động cơ diesel 2 tầng 37D, theo so sánh với các động cơ diesel 1D trên các dòng tàu ngầm trước chiến tranh IX-bis và XIII, khi công suất bằng nhau, có khối lượng, các kích thước và số lượng xi lanh thấp hơn. Đồng thời có khí tài đảm bảo hoạt động của động cơ diesel với hầm và van nổi. Tuy nhiên, động cơ diesel 37D có tiếng ồn cao hơn. Sự di chuyển dưới nước lần đầu tiên được thực hiện với sự hỗ trợ của 4 động cơ điện – diesel với các nhiệm vụ khác nhau: 2 động cơ chính kiểu PG-102 và 2 động cơ dạng PG-103 dự bị, nguồn điện được cung cấp từ pin ắc quy mũi dạng “46-SU” gồm có 2 nhóm theo 112 phần tử. Các máy móc xếp theo tuyến của trục được lắp trên các bộ giảm sóc cách âm. Các động cơ điện dự bị cung cấp sự quay tới trục chân vịt qua các bộ truyền động không ồn và đàn hồi với số dẫn động 1:3 và các khớp ma sát chuyển động dự bị. Giữa các động cơ diesel và động cơ phát điện diesel bố trí các khớp cách ly lốp – khí nén (ShPRM) đồng thời các khớp – giữa động cơ phát điện diesel và các trục tỳ, được liên kết với các trục bánh lái bằng các bệ cứng. Các khớp cách ly lốp – khí nén được tiếp nhận trong dạng có ưu thế rõ ràng trước các khớp dạng “BAMAG”, được lắp trên các Đề án tàu ngầm trước chiến tranh – chúng cho phép thực hiện sự cách âm của động cơ diesel và tuyến trục, tạo thành sự lắp ráp tuyến trục trên bệ, chứ không phải sau khi khởi động trên mặt nước, như vậy, thừa nhận sự gãy vỡ lớn và sự di chuyển của các trục liên tiếp thuộc các bộ phận riêng của hệ thống trục.

Cũng cần nhớ lại, để đảm bảo hoạt động của các động cơ diesel trong vị trí nổi trên độ sâu tiềm vọng của các tàu ngầm Đề án 613 có khí tài đặc biệt đảm bảo hoạt động của động cơ diesel được giới thiệu là hầm di động để cung cấp không khí sạch vào bên trong thân tàu, đảm bảo hoạt động của các động cơ chính. Van không khí của khí tài này được trang bị van nổi để ngăn chặn sự tràn nước hoặc khi bị đắm bộ phận trên, còn đẩy khí thải được thực hiện qua hầm vệ sinh bố trí trong phần mạn tàu của vách ngăn mui. (Cần thiết đáng chú ý, tiền thân của hệ thống đảm bảo hoạt động của động cơ diesel đã có vào đầu thế kỷ XX được thiets kế bởi sỹ quan – tàu ngầm người Nga Gudimom và được lắp trên một trong số các tàu ngầm Nga. Và chỉ sau vài chục năm, trong vai trò mẫu phế thải, khí tài tương tự đã được biết đến rộng rãi dưới tên gọi của Đức là “Shorkhel” – “Ống thông hơi” hoặc “Ống thông khí”.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM