|
Tiêu đề: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 05 Tháng Hai, 2012, 10:33:04 pm Tiếp theo Phần 1 (http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,19157.0.html)
Vụ va chạm hay là Medvedev đã đánh chìm tàu ngầm Trung Quốc như thế nào Grigory Pasko Bài đăng trên tạp chí “Soversenno Sekretno” số 2/273 năm 2012 (Tạp chí do Yulian Semenov và Archiom Borovik sáng lập từ năm 1989) (http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/medv4L-1.jpg) Sau khi trở về căn cứ người ta cắt ống phóng ngư lôi bị hư hại của "K-10" đề án 675, nắp che của nó bị rách do cú đâm mạnh khi va chạm, mà trong đó có ngư lôi mang đầu đạn tác chiến đặc biệt (đầu đạn hạt nhân). (http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/DSC_0037.jpg) Đại tá hải quân dự bị V.N.Medvedev hiện nay. (http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/l1.jpg) Thuyền trưởng Medvedev và kíp thủy thủ của mình. Nghe đến tên "K-10", ai đó có thể nhớ đến những cánh cửa kim loại – có một loại trong số này có thương hiệu như vậy, ai đó thì nghĩ đến một tụ điện gốm, một người khác – bộ vi xử lý: một số sự vật có cùng một chữ viết tắt ... Thủy thủ tàu ngầm ngay lập tức nghĩ tới con tàu ngầm hạt nhân của Hạm đội Thái Bình Dương, do đại tá hải quân Valery Medvedev chỉ huy. Và, tất nhiên, hãy nhớ rằng có những tin đồn về việc làm thế nào mà Medvedev đánh chìm được một tàu ngầm Trung Quốc, kết quả sự vụ được cho đã gây ra cái chết của khoảng một trăm người. Đừng cố gắng "google" không gian Internet - bạn sẽ không tìm thấy các chi tiết của thảm họa này. Bởi vì nó chẳng để lại một dấu vết nào đáng chú ý trong bất kỳ bài viết hoặc tài liệu nào cả. Và người Trung Quốc cũng không thông báo cho thế giới tin tức cụ thể về nó. Người Nga thích làm ra vẻ chẳng có gì như thế cả. Trong trường hợp tốt nhất, bạn sẽ thấy lọt mắt xanh của mình một bài viết trên "Wikipedia", có đoạn: "21/01/1983. K-10. Đề án 675, Echo-II. Liên bang Xô Viết. Tàu ngầm hạt nhân mang tên lửa hành trình. Đâm vào một đối tượng không rõ trong tư thế bơi ngầm. Sau khi nổi lên mặt biển không phát hiện thấy có gì ngoài những vết dầu loang. Không nước nào trong số các nước trong khu vực Thái Bình Dương có thông báo về vụ tai nạn tàu ngầm của mình. Mãi hai năm sau, trên báo chí Trung Quốc xuất hiện cáo phó về sự hy sinh ngày hôm đó của một nhóm các nhà khoa học trên tàu ngầm. Về mặt chính thức, những sự kiện này không trùng khớp nhau". Chúng ta sẽ cố gắng để so sánh. Dẫu chỉ vì Medvedev đã 28 năm sống chung với ký ức ấy. Những bí mật của Chiến tranh Lạnh Mới đây tôi đã gặp gỡ với cựu thuyền trưởng tàu ngầm nguyên tử “K-10" Valery Nikolaevitch. Thành phố Obninsk ngoại ô thủ đô Moskva. Căn hộ bình thường với cảnh quan cũng bình thường. Bức tranh trên tường miêu tả biển và tàu ngầm cho biết rằng có một gia đình thủy thủ đang sống ở đây. Trên chiếc bàn đọc sách ta nhìn thấy một mảnh kim loại dày - một mảnh vỏ bền (vỏ chịu áp lực) thân tàu ngầm: rõ ràng, người thuyền trưởng đã chuẩn bị cho cuộc gặp với nhà báo. Valery trong quân phục sĩ quan. Để lấy can đảm chăng ? Để bắt đầu chúng ta hãy nhớ lại rằng vụ va chạm của "K-10" với một con tàu "nào đó" không phải vụ đầu tiên cũng không phải là vụ cuối cùng. Nếu bạn liệt kê tất cả các vụ va chạm ngầm dưới nước, bạn có thể có ấn tượng rằng các đại dương thế giới đang đầy ắp những chiếc tàu ngầm bơi trong đó, như món súp rau luộc - thịt bầm. Theo kiểu này, cả đến vụ tai nạn xảy ra gần đây của con tàu du lịch khổng lồ chở khách "Concordia" tại bờ biển nước Ý cũng có một phiên bản sự kiện cho rằng đó là vụ va chạm với tàu ngầm. Còn một số những tin đồn đáng nhớ khác: người Mỹ đã nhiều lần bị cáo buộc rằng do lỗi của họ mà xảy ra tai nạn của tàu ngầm "Kursk": đồn rằng, hai tàu ngầm Hoa Kỳ lớp Los Angeles - Memphis và Toledo – có mặt trong khu vực tập trận của Hạm đội Biển Bắc ngày 12 tháng 8 năm 2000. Memphis sau khi tai nạn xảy ra đã đến cảng Bergen của Na Uy để sửa chữa. Tuy nhiên, Bộ Quốc phòng Mỹ đã không cho phía Nga kiểm tra các tàu ngầm này để đảm bảo rằng không tàu nào trong số chúng bị hư hại. Anh hùng Liên Xô, Phó Đô đốc Yevgeny Chernov nhớ lại trường hợp khi tàu ngầm "K-306" của chúng ta đâm thẳng vào tàu ngầm Mỹ "Patrick Henry", tàu bị đâm buộc phải nổi lên, và thủy thủ đoàn của con tàu bắt đầu cuộc đấu tranh kịch liệt giành lấy sự sống còn. (http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/image001-7.jpg) B-306 (tức K-306) đề án 671 trước đây thuộc quân số sư đoàn tàu ngầm số 3 phân hạm đội tàu ngầm số 11 Hạm đội Biển Bắc, neo đậu bảo quản trong vịnh Kut, mũi Olenhia, thành phố Snezhnogorsk năm 2007, ảnh Grigorenko. ....... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 06 Tháng Hai, 2012, 02:36:37 pm (tiếp)
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/image001-8.jpg) K-19 đề án 658 (mang tên lửa đạn đạo R-21 hoặc D-4), sau khi được hiện đại hóa sang đề án 658M, ảnh chụp khoảng mùa thu năm 1963 (nguồn: trên hình). K-19 là một trong những con tàu bị nhiều lần tai nạn nhất của Hải quân Liên Xô và Nga. Đô đốc Igor Kasatonov trong hồi ký của mình, "Hạm đội đi vào đại dương" cho biết : "20 vụ va chạm tàu ngầm, phần lớn là lỗi của người Mỹ đã xảy ra vào thời gian gần đây. Nghiêm trọng nhất là cú “taran” trực diện của "K-19" ngày 15 Tháng 11 năm 1969, làm cho tàu ngầm Mỹ "Gato" (SSN-615 Gato) chúi xuống đáy biển Barents. Khi đó, chỉ phép lạ đã cứu người Mỹ thoát khỏi cái chết". (http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/0861599.jpg) (http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/0861500.jpg) USS Gato (SSN-615), tàu ngầm tấn công lớp Thresher hạ thủy tại Electric Boat ngày 14 tháng 5 năm 1964 (navsource.org). Rất lâu sau này người ta được biết sau cú "taran" của K-19 ngày 15 tháng 11 năm 1969 tại biển Barentsev, chỉ huy khoang ngư lôi tàu Mỹ cho rằng đó là cú đâm cố ý và định khai hỏa ngư lôi vào tàu xô viết nhưng bị thuyền trưởng ngăn lại. Người ta cho rằng sau vụ này Hải quân Mỹ đã ra lệnh cấm các sỹ quan tự tiện tấn công nếu không có sự cho phép của thuyền trưởng. K-19 đâm phải tàu Mỹ khi cơ động từ độ sâu 60 m xuống độ sâu 90 m. Sau khi bị hư hại phần mũi nhưng không hư hại phần mạn, tàu vẫn trở về được căn cứ trong tư thế nổi. …..Những ví dụ như vậy có hàng chục nếu không phải hàng trăm. Các tai nạn và thảm họa, theo lẽ thường, không được mô tả trên báo chí trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, vâng và đằng sau chúng luôn là các bí mật. Thời ấy không có Internet và Wikileaks. Các thủy thủ theo thói quen không có khuynh hướng đào bới quá khứ. Tuy nhiên, mặc dù đã rất muộn, nhưng sự thật vẫn được người ta cố gắng phơi bày. Do đó dù chỉ xuất hiện các vết dầu, điều này cũng chỉ ra rằng có một tai nạn ở đâu đó sâu thẳm trong lòng biển. Chỉ ai tầm nhìn ngắn mới phẩy tay gạt nó sang một bên khi nhìn vào vết dầu loang. Tuy thế cũng không cần phải khơi quá sâu vào vết thương cũ. Điều cần thiết ít nhất là phải học được những bài học và ngăn chặn sự tái phát của những bi kịch. Chiến sỹ tàu ngầm bạn tôi, hiện đã về hưu, Anatoly Safonov, trong trang web của mình đã viết: "... Đại tá hải quân Valery Medvedev là một người yêu đất nước mình, nơi ông đã phục vụ cả cuộc đời mình một cách vô vị lợi. Tình yêu của ông với Tổ quốc được ông thể hiện trong sự thực hiện mẫu mực nghĩa vụ phục vụ ... " Những lời giống như trích ra từ nhận xét làm mẫu của chi bộ đảng. Tuy nhiên, trong những lời của Safonov, không có sự thiên vị tình cảm, cũng không phải thể hiện như sự ca tụng các cơ quan công tác đảng-công tác chính trị, những từ này thuần túy áp dụng cho Medvedev và chúng là công bằng và chính xác. Điều duy nhất mà Safonov không mặn mà với nó trong bản khắc họa đặc điểm mẫu mực của người thủy thủ can đảm này, - câu hỏi câm lặng của lịch sử: tại sao ông ấy im lặng rất lâu mà không dám nói ra sự thật về chuyện đã xảy ra? Đi quá lên phía trước, tôi xin lưu ý: dường như tôi thấy trong suốt cuộc trò chuyện của chúng tôi, Valery Nikolaevitch vẫn còn rất nhiều điều chưa nói hết. Vậy đấy, ngồi trước mặt tôi là một người hưu trí còn rất mạnh khỏe tầm vóc không cao. Ông nói giọng đều và khẽ, không như bình thường, không như những thuyền trưởng hải quân thường nói. Valery Nikolaevitch nhớ lại ... Cú taran Trung Quốc 22 Tháng Một, năm 1983 "K-10" đang ở biển “Nam Trung Hoa”. Chuyến hành quân phục vụ chiến đấu tiếp tục như thường lệ, và như người ta nói trong những trường hợp như vậy, "không dấu hiệu nào báo trước tai ương". Độ sâu dưới sống tàu - 4500 mét (chiến sỹ tàu ngầm hay đùa: "Năm phút đi xe buýt"). Đó là một ngày thứ bảy. Sau khi tắm, các thành viên trên tàu ngầm xem phim trong khoang đầu tiên. Họ đã tới khu vực dự kiến liên lạc sớm hơn tám giờ so với thời hạn ấn định. Chính khu vực này lại đòi hỏi đi vào đúng thời gian theo lịch trình quy định. Thuyền trưởng Medvedev quyết định xác minh xem có sự theo dõi của lực lượng chống ngầm của Mỹ và Nhật Bản hay không. Khi quay tàu theo hướng ngược lại ông nhận được báo cáo tương ứng của các chiến sỹ thủy âm. Tất cả đều sạch! Chiều sâu lặn hiện tại - 54 m. Đột nhiên có một cú đẩy: có cảm giác con tàu đã va chạm với một chướng ngại. Cú va này có vẻ êm, nhưng thực sự rất mạnh. Do sự va chạm mà toàn bộ thân tàu rung mạnh. "K-10", hình như bị mắc vào một đối tượng không xác định rõ, di chuyển cùng với nó một lúc. Sau đó, vật thể kia mới rời ra. Ngay lập tức, trên tàu tuyên bố báo động khẩn cấp Ba khoang phía mũi đầu tiên vẫn kín nước cùng với những người đang ở trong đó. Qua loa phóng thanh đường liên lạc truyền âm nội bộ Medvedev điện hỏi khoang thứ nhất. Đáp lại – chỉ có sự im lặng. Tai nghe ù. Có thể tưởng tượng được cảm giác của thuyền trưởng trong thời điểm này. Trong khi đó tàu ngầm vẫn đang đi đúng hướng trước đó và trên chiều sâu đã định, hơi giảm nhẹ tốc độ. Và độ chênh mớn (hay độ chúi dọc) tăng rất nhẹ về phía mũi tàu. Medvedev cho biết: "Tôi liên tục gọi khoang thứ nhất. Do cú đâm mạnh khi va chạm, các thủy thủ chắc chắn sốc nặng, họ cần làm rõ tình hình trước đã ... Sau hai phút, với tôi có lẽ như vô tận, từ khoang thứ nhất có báo cáo: khoang kín!". Lúc 21 giờ 31 phút, tàu ngầm nổi lên mặt biển. Một cơn bão nhiệt đới đang hoành hành dữ dội trên biển. Sức gió mạnh khủng khiếp cùng với các con sóng khổng lồ ném con tàu qua lại như ném một mảnh ván nhỏ. Đêm ở các vĩ độ này rất tối, có thể, vì thế khi sục sạo mặt biển qua kính tiềm vọng quang học, Medvedev, theo lời ông nói lại, không thấy có gì. Ông ra lệnh quay trở lại điểm va chạm. Đến đó, họ cùng với hoa tiêu và người đánh tín hiệu nhìn thấy ánh sáng màu da cam nhấp nháy của một chiếc tàu ngầm đang xa dần. Sau khoảng 30-40 giây, ánh đèn mất dạng. Medvedev lặp đi lặp lại nhiều lần: "bây giờ lần đầu tiên tôi mới nói về việc nhìn thấy những ánh đèn nhấp nháy của một chiếc tàu ngầm..." Valery Nikolaevitch dừng lại và im lặng. Rõ ràng, ông đang nhớ lại những khoảnh khắc khó khăn. Ông đã hàng trăm lần hình dung việc trở lại khu vực này và cố gắng tìm hiểu va chạm xảy ra với con tàu nào. Ông đi đến kết luận rằng mình đã va chạm với người Trung Quốc. Và đây là lý do tại sao. Theo một sắc lệnh của Chính phủ Liên Xô ngày ngày 01/09/1959, từ tháng Ba đến tháng 12 năm 1959 tại Phòng thiết kế TSKB-16 đã chuẩn bị bản vẽ thi công và tài liệu kỹ thuật của đề án 629 với tổ hợp D-1 và tên lửa R-11FM để chuyển giao cho CHND Trung Hoa. Vào mùa thu năm 1960, tại nhà máy đóng tàu Đại Liên (CHND Trung Hoa, trước đó thuộc vùng Viễn Đông Nga) đã đặt ky cho tàu ngầm Trung Quốc đầu tiên đề án 629. Để tăng tốc độ đóng nó đã sử dụng rộng rãi các kết cấu đóng tại Liên Xô, cũng như thiết bị máy móc trong chiếc tàu ngầm K-139 (hạ thủy tháng 5 năm 1960). Việc đóng tàu ngầm của Trung Quốc hoàn thành vào cuối năm 1961 và tàu nhận số mạn là 200. Đồng thời, tại Komsomolsk-na-Amur người ta đặt ky cho một tàu ngầm dưới số hiệu xuất xưởng là 138. Sau khi đóng xong tàu đã được chuyển từng phần sang Trung Quốc và vào cuối năm 1962 đưa vào hoạt động theo số hiệu 208. Muộn hơn, hai năm sau sự kiện với "K-10", mới được biết vào năm 1983, chiếc tàu ngầm Trung Quốc № 208 đã hy sinh với toàn bộ thủy thủ đoàn và một nhóm các nhà khoa học và kỹ sư đang thực hành công tác thử nghiệm tên lửa đạn đạo JL-1 của Trung Quốc. Khi tính đến biên chế thủy thủ đoàn các tàu ngầm đề án 629 vào khoảng 100 người và thậm chí còn có một nhóm các chuyên gia dân sự, chúng ta có thể ước đoán chính xác số lượng nạn nhân. Cũng cần lưu ý rằng phía Trung Quốc vẫn chưa chính thức gắn sự hy sinh của tàu ngầm với vụ va chạm này. Bây giờ gần như có thể nói với sự chắc chắn tuyệt đối rằng tàu ngầm của Trung Quốc đã hy sinh trong vụ va chạm với "K-10". Có thể nếu tàu ngầm “K-10" có mặt tại điểm va chạm sớm năm giây trước đó, chính nó sẽ nằm ở độ sâu 4500 mét. ... Medvedev, tất nhiên, ngay lập tức báo cáo hạm đội về vụ va chạm. Đáp lại, ông được lệnh quay trở về căn cứ Cam Ranh ở miền Nam Việt Nam trong tư thế đi nổi. Hộ tống tàu ngầm "K-10" là tàu khu trục săn ngầm cỡ lớn BPK "Petropavlovsk". Khi xem xét chiếc tàu ngầm (để thực hiện điều này người ta phải tạo ra độ chênh mớn dọc về phía đuôi tàu), mới thấy rõ rằng mũi tàu ngầm đã bị hư hỏng nặng. Giữa phần cấu trúc mũi bị vặn xoắn của "K-10" đã tìm thấy những mảnh kim loại lạ. Đường sống tàu bằng thép của "K-10" có độ dày 30 mm và chiều dài khoảng 32 mét trong vụ va chạm này bị cắt như thể bộ râu bị chiếc dao cạo cắt sắc lẹm. ....... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 06 Tháng Hai, 2012, 10:41:01 pm (tiếp)
Sau khi kiểm tra tàu ngầm bộ tư lệnh hạm đội quyết định rằng trong điều kiện bị nạn thế này tàu không đủ sức vượt qua 4.500 km về căn cứ chính trong tư thế bơi ngầm, khi vượt qua eo Bashi, Okinawa và eo biển Triều Tiên sẽ đi trong tư thế nổi. Tất nhiên, đó gần như một việc điên rồ: vết thương như vậy mà lại - đi ngầm dưới nước! Tuy nhiên, mệnh lệnh là mệnh lệnh. Không có sonar, gần như bơi mò, nhưng đã vượt qua 4500 km một cách bình thường. Medvedev đặt niềm tin vào thủy thủ đoàn của mình. Và thủy thủ đoàn đã không làm thuyền trưởng của mình thất vọng. Trong một chuyến đi như vậy và với một tình huống khác, phần thưởng sẽ sáng ngời trên ngực các thủy binh. Nhưng lần này không phải như vậy. Lần này, Tổng tư lệnh Hải quân Xô Viết S.G.Gorshkov đã tuyên bố trừng phạt Medvedev. "Góc mù" và "góc chết" (http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/009400.jpg) Vùng tối của âm truyền trong nước (hình trích từ BKTT Liên Xô). (http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/250px-Submarine_bafflessvg.png) Vùng mù (với sonar) sau đuôi tàu. Tránh vùng này, các tàu ngầm xô viết thế hệ trước thường sử dụng động tác quay đảo hướng, đổi độ sâu để phát hiện kẻ địch. Động tác cơ động đột ngột đó người Mỹ gọi là động tác cơ động "Ivan điên dại" ("Crazy Ivan"). Bản thân xuất hiện không chỉ các chi tiết của vụ việc, mà còn cả các câu hỏi: làm sao việc này có thể xảy ra? Thủy văn trong khu vực phức tạp? Tính năng sonar tồi? Sự huấn luyện yếu kém của các đội viên thủy âm? Sự tồn tại của cái gọi là khu vực mù hay khu vực chết? Tại sao thủy thủ đoàn của tàu ngầm Trung Quốc cũng mắc cùng một sai lầm như thế? Biết rằng các chuyên gia Cục kỹ thuật Hạm đội Thái Bình Dương và Tổng cục Kỹ thuật Hải quân Liên Xô đã điều tra nguyên nhân xảy ra tai nạn. Tại sao trong trường hợp này, ngay cả những thủy thủ tàu ngầm Hạm đội Thái Bình Dương cũng không biết gì về nó? Có ý kiến của một người tham gia vào sự kiện. Aleksandr Dobrogorsky phục vụ trên "K-10", vào ngày hôm đó, ông đang giữ chức trách kỹ sư cơ khí trực ban của tàu. Dưới đây là những gì ông đã viết cho tôi: "Theo những gì tôi nhớ - phải mất một thời gian không nhỏ, - chúng tôi bắt đầu vòng sang trái, và sau đó là cú đâm. Đó là một vụ va chạm. Nghĩa là, họ (tàu ngầm Trung Quốc - Tác giả) đang nắm đuôi chúng tôi. Hoặc giả đúng là sự tình cờ định mệnh, không, tôi không tin: đại dương của Thế giới quá lớn đối với những sự tình cờ tương tự. ... Tại sao người Trung Quốc không đoán ra động tác của chúng tôi, tức động tác lượn vòng? Chỉ có Chúa mới biết. Chắc có lẽ toàn bộ đội thủy âm của họ đều bị huấn luyện tồi. Theo như tôi biết, đối với việc các tàu ngầm theo dõi nhau chúng cần phải ở các độ sâu khác nhau và phải cách đối tượng một khoảng cách nhất định để nếu xảy ra bất cứ điều gì, tàu ngầm có thể đủ thời gian làm động tác ngược lại. Nhưng lần này điều đó không xảy ra: Hai hạt cát gặp nhau trong các độ sâu vô hạn, đơn giản chỉ là một hiện tượng nào đó ... ... Khi đến Cam Ranh, các thành viên của Ủy ban Nhà nước đang chờ đợi chúng tôi. Người ta không cho phép chúng tôi tới cầu tàu, và chúng tôi thả neo. Xuồng cao tốc đưa các thành viên của ủy ban và thợ lặn tới. Không ai được phép lên boong. Các chuyên gia kiểm tra tất cả. Kết luận kiểm tra, chúng tôi không được biết. Medvedev bị cắt đứt von đường đi học viện, không được lên quân hàm (đại tá hải quân – biên tập.) Công bố hình thức kỷ luật nhân danh Tổng tư lệnh Hải quân. ... Sau khi trở về Pavlovsk, người ta bắt tay vào việc cắt khỏi tàu chúng tôi các ống phóng ngư lôi bị hư hại, nắp che của chúng ở thời điểm va chạm đã bị xé, mà trong đó có ngư lôi mang đầu đạn hạt nhân. Trao đổi với một số chiến sỹ tàu ngầm khác mới rõ rằng sỹ quan cao cấp trên tàu "K-10" là tham mưu trưởng sư đoàn tàu ngầm 29-1 trung tá hải quân Krylov. Sau vụ va chạm tàu thuyền nhân viên Chi nhánh cơ quan đặc biệt đã thu giữ nhật ký hải trình tại buồng chỉ huy trung tâm và cabin hoa tiêu. Krylov tiếp xúc rất lâu với các nhân viên đặc biệt. Kết quả cuộc trò chuyện cá nhân dẫn đến quyết định chép lại những nhật ký này. Chép lại cả nhật ký vận hành thiết bị năng lượng chính, vì chế độ tốc độ của tàu ngầm nguyên tử khi chạy trong khu vực trực thi hành nhiệm vụ chiến đấu đã bị vi phạm mạnh và tàu đã đến khu vực sớm 3 giờ. Xâm nhập vào khu vực trực chiến sớm hơn là không thể được. Vì thế, chúng tôi đã chạy loanh quanh gần khu vực này cho đến khi va chạm với người Trung Quốc". Dưới đây là ý kiến của cựu thuyền trưởng tàu ngầm hạt nhân Viktor Bondarenko, người mà chúng tôi cũng gặp ở đó, tại Obninsk: - Valery Nikolaevitch đã làm tất cả mọi thứ một cách chính xác. Tại sao ông đến khu vực sớm 8 tiếng đồng hồ, rõ ràng, điều này có cơ sở nào đó, nhưng nó là vấn đề của ông ấy. Việc xấu không phải là thông số thời gian - khi va chạm, khi quay trở lại nơi va chạm, tốc độ đó là thế nào, v.v… Tàu ngầm diesel Trung Quốc theo dõi tàu ngầm hạt nhân - chỉ có người nghiệp dư mới suy đoán như vậy. Người Trung Quốc đang trải qua các giai đoạn thử nghiệm tuần tự, thủy thủ đoàn chưa hoàn thành nhiệm vụ, họ không được phép sa vào các nhiệm vụ không phải của mình, ngoại trừ các bài thử nghiệm. Thậm chí nếu họ phát hiện ra một tàu ngầm hạt nhân Liên Xô, họ phải điện báo về sở chỉ huy bờ, và tiếp tục công việc của mình. Nói chung trên cả hai tàu ngầm, xét các đặc tính kỹ thuật trạm thủy âm của chúng giống hệt nhau. Thủy thủ đoàn "K-10" đã làm việc hết sức mình, còn động tác kiểm tra các góc hướng phía đuôi họ thực hiện rất có trách nhiệm, và các đội viên thủy âm làm việc này rất kỹ lưỡng. Hãy suy nghĩ. Một khi các tàu va chạm nhau, nghĩa là chúng đang ở tại cùng một độ sâu - 54 m. Hơn nữa, Medvedev cho biết tại thời điểm này, có một cơn bão đang gầm rú trên mặt biển. Nếu vậy, tiếng ồn của hai tàu ngầm sẽ bị tiếng ồn của biển che lấp. Trong tình huống này, ngay cả những sonar tốt và một đội viên thủy âm xuất sắc cũng không phân tách nổi tiếng ồn của tàu ngầm khỏi tiếng ồn chung của biển - đó là một tiên đề. Medvedev nói rằng sau khi nổi lên, ông đã thấy một ánh sáng nhấp nháy màu da cam. Điều này có nghĩa tàu ngầm Trung Quốc cũng nổi lên, còn tại sao sau đó nó bị đắm – đó còn là một câu hỏi. Nếu nó không bị chìm sau khi va chạm, và nổi lên, và sau đó mới bị đắm, điều đó hoàn toàn chưa hiểu được. Nghĩa là, họ đã làm một việc gì đó sai, bởi vì phép lạ thường không có, nếu mọi thứ oái oăm như vậy, thì sau khi va chạm, họ đã như viên đá rơi tọt xuống đáy biển trong khi nhắc đến Mao. Vậy thì, Valery Nikolaevitch không cần tự đổ tất cả tội lỗi cho mình để làm gì. Bóng tối thủy âm Năm 1981, tại một trong những thao trường của Hạm đội Biển Bắc gần vịnh Kola xảy ra vụ đụng độ của các tàu ngầm hạt nhân Liên Xô và Mỹ. Khi đó, tháp chỉ huy của một tàu ngầm Mỹ đâm thẳng vào phía đuôi tàu ngầm tuần dương tên lửa chiến lược mới nhất của Liên Xô "K-211", vừa mới gia nhập Hạm đội Biển Bắc, và đã hoan thành huấn luyện đầy đủ các khoa mục chiến đấu. Chiếc tàu Mỹ không nổi lên trong khu vực va chạm. Nhưng một vài ngày sau tại căn cứ Holy-Loch của hải quân Anh xuất hiện một tàu ngầm hạt nhân của Mỹ với tổn thương rất nặng ở tháp chỉ huy. Tàu chúng ta nổi lên và tự mình về đến căn cứ. Ở đây, chờ nó là một ủy ban gồm các chuyên gia hạm đội, ngành công nghiệp, giới khoa học và các nhà thiết kế. Ủy ban, mô hình hóa diễn biến trạng thái cơ động của hai chiếc tàu ngầm, kiểm tra nơi hư hại, đã xác định rằng, tàu Mỹ bám theo tàu chúng ta trong các vùng phía đuôi con tàu, nằm trong vùng bóng tối thủy âm của nó. Ngay sau khi tàu chúng ta thay đổi hướng, tàu ngầm Mỹ mất tiếp xúc và trong trạng thái mù thủy âm đã cắt tháp chỉ huy vào phần đuôi tàu ngầm Liên Xô. Khi đặt tàu lên dok, trong quá trình kiểm tra đã tìm thấy các lỗ thủng trong hai két dằn chính phía đuôi, hư hại cánh chân vịt bên phải và bộ ổn định theo phương ngang. Trong các két dằn chính bị hư hỏng đã tìm thấy các bu lông đầu tán chìm, các miếng kim loại và mảnh vỡ bị cắt từ tháp chỉ huy tàu ngầm Mỹ. Hơn nữa, theo các chi tiết riêng biệt đặc trưng, ủy ban đã thành công trong việc xác định đó là cuộc đụng độ với một tàu ngầm Mỹ lớp "Sturgeon," điều đó sau này được xác nhận bởi sự xuất hiện tại căn cứ Holy-Loch một chiếc tàu ngầm với tháp chỉ huy bị hư hỏng cũng thuộc chính lớp tàu ngầm Mỹ này. (http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/image002-2.jpg) Tàu ngầm tuân dương chiến lược mang tên lửa đạn đạo K-211 "Petropavlovsk-Kamchatskii" đề án 667BDR. ... Tham chiếu trường hợp này với trường hợp vụ va chạm với tàu ngầm Trung Quốc, vô tình ta đi đến một phiên bản rằng nguyên nhân của vụ va chạm có thể là "vùng đuôi tàu chịu bóng tối thủy âm", vùng mù thủy âm rất nổi tiếng («кормовые сектора с акустическими тенями»). ......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 07 Tháng Hai, 2012, 03:05:44 pm (tiếp)
(http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/image001-9.jpg) k-276 "Kostroma" "Krab", đề án 945. (http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/945_09.jpg) Tháp chỉ huy K-276 hư hại sau va chạm với SSN-689 gần đảo Kildin biển Barentsev. (http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/945_17.jpg) K-276 trở về căn cứ sau vụ va chạm. Bạn cũng có thể nhớ lại một trường hợp khác – vụ va chạm của một tàu ngầm hạt nhân lớp "Sierra" (Hạm đội Biển Bắc) với tàu ngầm nguyên tử "Baton Rouge" (Hải quân Mỹ) ngày 11 tháng 2 năm 1992. Tàu ngầm hạt nhân mang vũ khí ngư lôi Liên Xô (có lẽ nó là "K-239", "Karp"; dúng ra đây là K-276 đề án 945 của Hạm đội Biển Bắc) trong thao trường huấn luyện chiến đấu gần bán đảo Rybachy (đúng ra phải là trong vùng biển Kildin trên biển Barentsev. Tác giả bài này G.Pasko – cựu trung tá hải quân vốn là phóng viên báo “Trực chiến” của Hạm đội Thái Bình Dương từ năm 1983) trong vùng biển thuộc lãnh hải nước Nga. Thuyền trưởng tàu ngầm là trung tá hải quân I.Loktev. Tàu chạy ở độ sâu 22,8 mét. Tàu ngầm hạt nhân Mỹ tiến hành theo dõi "người anh em" Nga của mình, ở độ sâu 15 mét. Trong quá trình cơ động, sonar tàu Mỹ mất tiếp xúc với tàu ngầm lớp "Sierra", và trong khu vực có 5 tàu đánh cá, tiếng ồn của chân vịt những tàu cá giống âm thanh chân vịt tàu ngầm, và thế là thuyền trưởng "Baton Rouge" đã quyết định lúc 20 giờ 08 phút chuyển lên chiều sâu kính tiềm vọng để quan sát tình hình. Tàu ngầm của Nga tại thời điểm này ở vị trí sâu dưới mặt nước hơn so với tàu Mỹ, cũng bắt đầu nổi lên vào phiên liên lạc với căn cứ bờ. Vụ va chạm tàu ngầm đã xảy ra. Khi va chạm "Sierra" đâm tháp chỉ huy vào đáy tàu ngầm Mỹ. Chỉ nhờ tốc độ nhỏ của tàu ngầm Nga và độ sâu khi nổi lên của tàu ngầm Nga cũng nhỏ nên tàu ngầm Mỹ mới thoát khỏi cái chết. (http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/200px-SSN-689_insig.jpg) (http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/0868914.jpg) SSN-689 "Baton Rouge".Trong khoang tàu ngầm Mỹ lớp Los Angeles ngày 1 tháng 7 năm 1981, các thủy thủ theo dõi màn hình tại trạm điều khiển lặn trên tàu (navsource.org). (http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/0869506.jpg) 4 tàu ngầm hạt nhân lớp Los Angeles trong một ngày lễ tại căn cứ Norfolk, Virginia: Salt Lake City (SSN-716), Baton Rouge (SSN-689), Atlanta (SSN-712), Birmingham (SSN-695), và Norfolk (SS-714).(navsource.org). ... Đây là một ví dụ có vẻ ngẫu nhiên. Nhưng ngẫu nhiên trên biển, như chúng ta biết, thường không xảy ra. Thống kê cho thấy từ 1968 đến 2000 có khoảng 25 vụ va chạm của các tàu ngầm nguyên tử nước ngoài (chủ yếu là Mỹ) với các tàu ngầm Liên Xô và Nga trong tư thế bơi ngầm. Trong số này, 12 gần bờ biển của chúng ta, trên các thủy đạo dẫn vào các điểm căn cứ của tàu ngầm nguyên tử thuộc Hạm đội Biển Bắc (9 vụ va chạm) và Hạm đội Thái Bình Dương (ba vụ va chạm). Thông thường, sự cố xảy ra trong phạm vi của các thao trường huấn luyện chiến đấu (BP), nơi các tàu ngầm sau khi thay đổi thủy thủ đoàn bước vào tiến trình huấn luyện chiến đấu. Theo các nghiên cứu của trung tâm Defense Express, trong lịch sử hạm đội đã chính thức xác nhận 7 trường hợp đắm tàu ngầm hạt nhân: 2 của người Mỹ ("Thresher" và "Scorpion"), và 5 của Liên Xô ("K-8", "K-219", "K-278"-"Komsomolets", "K-27", tàu ngầm nguyên tử "Kursk"). Bốn tàu ngầm hạt nhân Liên Xô đã hy sinh do gặp tai nạn và một bị chìm tại vùng biển Kara theo quyết định của các cơ quan chịu trách nhiệm của chính phủ vì không thể phục hồi và chi phí xử lý để tận dụng phế liệu của chúng quá cao. (http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/658px-Kara_Sea_map_RU.png) Biển Karskoie (Kara Sea). Trong hầu hết trường hợp, nếu không thể xác định chính xác nguyên nhân cái chết của một chiếc tàu ngầm, các bị cáo đều chọn cách từ chối trách nhiệm của mình trong vụ này. Và đôi khi thậm chí bất chấp bằng chứng rõ ràng, bằng cách sử dụng nguyên tắc cũ rích "chưa bắt tận tay – chưa thể bảo ta là kẻ trộm" («Не пойман –не вор»). Nhân vật không nói đến Có một lần tôi làm quen với tủy viên hải quân Mỹ ở Nga. Thấp nhưng rắn chắc, với một loạt các cuống huân huy chương gắn trên chiếc áo đồng phục trắng như tuyết ... Dường như từ bản thân ông ta tỏa ra niềm vui của một cuộc đời thành công. Đôi vai ưỡn thẳng ngay ngắn, trên thực tế, đã chứng minh niềm vui này. Hóa ra là ông - một cựu chỉ huy tàu ngầm hạt nhân lớp "Los Angeles". "Tôi là người đã làm thuyền trưởng đến bốn năm!" – Với niềm tự hào chính đáng ông nói vậy. "Anh nghĩ sao, bốn năm ư, tôi đáp lại - ở chỗ chúng tôi người ta làm thuyền trưởng đến 8-9 năm cơ đấy ...". Ông ta nhìn tôi hoài nghi. Nhưng tôi gọi một người bạn đô đốc, cựu thuyền trưởng tàu ngầm hạt nhân như vậy, và yêu cầu anh xác nhận lời nói của tôi. Anh lập tức khẳng định. Người sỹ quan Mỹ rất ngạc nhiên. "Làm sao lại như vậy được,- ông ta không thể tin đến cùng - bởi vì tôi biết như thế là nặng nề ra sao ... tám năm ... Đó là điều không thể". Vâng, có, có ... có một người Đức (người sỹ quan Mỹ biết trường hợp này) đã chết, thế thì với người Nga hoàn toàn cũng có thể. Và tôi nhớ Medvedev, người đã làm thuyền trưởng chỉ huy tàu ngầm nguyên tử đến 9 (!) năm. Nhìn Medvedev đã nghỉ hưu vẫn còn rất khá. Nhưng đôi vai của ông ấy, vào lúc diễn ra cuộc trò chuyện của chúng tôi về uy tín của nghề nghiệp mà ông phục vụ, không ưỡn ra bởi cảm xúc tự hào. Điều này tôi nhớ rất rõ. Cũng giống như trên thực tế viên cựu thuyền trưởng vẫn chưa nói với tôi điều gì đó về vụ va chạm ... HẾT PS: - Tác giả Grigory Pasko, người Ucraina. sinh năm 1962, tốt nghiệp khoa báo chí trường cao đẳng sỹ quan chính trị quân sự Lvov năm 1983, từ đó phục vụ tại báo "Trực chiến" («Боевая вахта») của Hạm đội Thái Bình Dương. Năm 1995 tốt nghiệp khoa biên tập Học viện KHXH Nhân văn thuộc Bộ Quốc phòng LB Nga. Năm 1997 bị bắt giam vì bị tình nghi khi sang Nhật công tác đã phát tán các tài liệu tiết lộ bí mật quốc gia. - Ngày 20 tháng 6 năm 1999 bị tòa án quân sự Hạm đội Thái Bình Dương kết án gián điệp (Nhật), dù trước đó hãng NHK tuyên bố chính thức việc cộng tác của nhà báo không làm lộ bí mật quốc gia và chưa bao giờ Pasko là nhân viên mật vụ Nhật. Do đạo luật ân xá ngày 18 tháng 6 năm 1999 nên được phóng thích tại tòa. - Năm 2001 chính thức bị tòa án quân sự Hạm đội Thái Bình Dương kết án 4 năm tù giam, sau đó năm 2002 Tòa quân sự Tòa án Tối cao LB Nga y án và sau khi ngồi tù nửa năm thì được phóng thích trước thời hạn có điều kiện. - Sau khi ra tù tiếp tục hoạt động báo chí tích cực ở phía đối lập chính quyền LB Nga và tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường sinh thái. - Nguyên trung tá hải quân. Huy chương "Phục vụ quân đội xuất sắc" hạng 1. Giải thưởng quốc tế "Tự do báo chí" năm 2002. Giải thưởng đặc biệt mang tên Eric Maria Remarque, giải thưởng của tổ chức "Phóng viên không biên giới", giải thưởng của cuộc thi toàn Nga "Sinh thái Nga-98", giải thưởng Pushkin mang tên Alfred Toepfer. .......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 06 Tháng Ba, 2012, 09:48:15 pm (tiếp theo trang 16 phần 1)
Tiểu đoàn cảnh vệ độc lập (lính thủy đánh bộ - Морская пехота) 1990-1994: ОБО МП в/ч 51310 Đơn vị quân đội 51310 Biên chế tiểu đoàn cảnh vệ độc lập - 3 đại đội lính thủy đánh bộ 355, 37, 1061 - 1 trung đội thông tin, 1 trung đội chỉ huy, 1 trung đội quản lý - Tổng quân số: 500 người - Sỹ quan, hạ sỹ quan, chiến sỹ tiểu đoàn được lấy từ trung đoàn LTDB 165, sư đoàn LTDB 55, Hạm đội Thái Bình Dương. Năm 1994-95, trung đoàn này đã tham gia chiến tranh Chesnia lần thứ nhất. - Tiểu đoàn đóng doanh trại trong khu kho tàng của SovSMO (khu nhà gỗ ván từ phía đường trên cao nhìn về bến cảng theo hướng khu PMTO mới sát biển; khu PMTO cũ nằm cạnh sân bay). Năm 1992 sau khi binh đoàn 17 và các đơn vị rút gọn của binh đoàn (lữ đoàn tàu hỗn hợp độc lập 119) rút hết hoặc giải thể chuyển thuộc quyền chỉ huy của Chỉ huy trưởng căn cứ 922, tiểu đoàn lính thủy đánh bộ chuyển đến khu doanh trại của binh đoàn 17, sát khu cầu cảng. (http://www.camranh.ru/phpBB3/download/file.php?id=509) Vị trí của tiểu đoàn và bố trí các trạm canh gác tại căn cứ Cam Ranh giai đoạn 1990-1994. Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 06 Tháng Ba, 2012, 10:46:32 pm (tiếp: camranh.ru)
Một số hình ảnh của tiểu đoàn cảnh vệ lính thủy đánh bộ giai đoạn 1990-1994: (http://www.camranh.ru/phpBB3/download/file.php?id=511) (http://www.camranh.ru/phpBB3/download/file.php?id=512) LTDB tập luyện, 90-94. (http://www.camranh.ru/phpBB3/download/file.php?id=513) Giờ học chiến thuật, 90-94. (http://www.camranh.ru/phpBB3/download/file.php?id=515) Trung đội 1, đại đội 1061, 90-94. .......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 06 Tháng Ba, 2012, 11:01:42 pm (tiếp)
(http://www.camranh.ru/phpBB3/download/file.php?id=522) Đại đội 1061 tập bắn trên trường bắn, 90-94. (http://www.camranh.ru/phpBB3/download/file.php?id=523) Đại đội 1061 đi tham quan tập thể, tại tu viện đá, 90-94. (http://www.camranh.ru/phpBB3/download/file.php?id=525) Đã lâu không gặp nhau, hạ sỹ Krotov và Vaxia, 90-94. ....... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 06 Tháng Ba, 2012, 11:10:48 pm (tiếp)
(http://www.camranh.ru/phpBB3/download/file.php?id=524) (http://www.camranh.ru/phpBB3/download/file.php?id=514) Luyện tập võ thuật (рукопашный бой), 90-94. Video: http://video.yandex.ru/users/vik-krishtal/view/109/#hq ......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 06 Tháng Ba, 2012, 11:28:34 pm (tiếp)
(http://www.camranh.ru/phpBB3/download/file.php?id=516) Mỹ Liên. (http://www.camranh.ru/phpBB3/download/file.php?id=518) PMTO, 90-94. (http://www.camranh.ru/phpBB3/download/file.php?id=517) PMTO, (nhìn từ) rạp chiếu phim, 90-94. (http://www.camranh.ru/phpBB3/download/file.php?id=519) Trung sỹ đại đội 1061 và Vaxia bé bỏng, 90-94. (http://www.camranh.ru/phpBB3/download/file.php?id=520) Làm quen với Grisha, 90-94. (http://www.camranh.ru/phpBB3/download/file.php?id=521) Sài Gòn, 93. ........... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 07 Tháng Ba, 2012, 08:23:28 pm (tiếp theo trang 20 phần 1)
Tiểu đoàn tàu bảo vệ lãnh hải số 300 Tàu quét mìn trên biển MT-238 đề án 266 - Số xuất xưởng S-56, đơn vị quân đội 60221 -Tàu thuộc quân số chính thức của tiểu đoàn tàu quét mìn 146, lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải 47, Hạm đội Thái Bình Dương (146 днтщ 47 брковр ТОФ), đóng căn cứ cơ bản tại vũng Paris, đảo Russkii, khu Primorie. (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/1/1d/Russky_island_topographic_map-ru.svg/1000px-Russky_island_topographic_map-ru.svg.png) (http://img523.imageshack.us/img523/9885/82797187pt4.jpg) Đảo Russkii, nơi sẽ tổ chức Hội nghị thượng đỉnh APEC 2012 từ 1 đến 8 tháng 9 năm 2012. ......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 07 Tháng Ba, 2012, 09:10:43 pm (tiếp)
(nguồn: www.47br-ovra.com & clubadmiral.com) (http://www.47br-ovra.com/files/83%20Kravchenko_%20Foto%206.jpg) 31.07.1983, Ngày Hải quân. МТ-238 bên cầu cảng căn cứ Cam Ranh, Việt Nam. (album của chuẩn úy hải quân dự bị Кravtchenko S.А.) - 05 - 06.1983 - thực hiện nhiệm vụ chiến đấu tại biển Đông trong thành phần binh đoàn 17. Thuyền trưởng đại úy hải quân Fiodorov S.V. Thực hiện nhiệm vụ theo dõi cuộc tập trận "Hổ mang vàng-83" của Hải quân Mỹ-Đài Loan. Đặc biệt quan tâm đến các tên lửa hành trình "Tomahawk" được hiện đại hóa, tuần dương hạm USS "New Jersey" BB-62. Thực hiện dẫn đường và đảm bảo triển khai tàu ngầm nguyên tử "K-42" thuộc sư đoàn tàu ngầm 38 cho đến điểm lặn dưới sự theo dõi trực tiếp của khu trục hạm Mỹ "Hewitt" và tàu hải văn. Tại cảng Ream (Campuchia) thực hiện dò quét mìn bằng đài thủy âm. Hộ tống tàu đại sứ với đại sứ đặc mệnh toàn quyền Liên Xô tại Cộng hòa Nhân dân Campuchia.Nhiệm vụ phục vụ chiến đấu được hoàn thành. Các cảng ghé vào: Cam Ranh (Việt Nam), Ream (Campuchia). Thủy thủ đoàn được tặng thưởng huy hiệu "Vì chuyến hành quân xa". Thuyền trưởng, đại úy hải quân Fiodorov S.V. được phong thiếu tá hải quân. 02 - 09.1983 - thực hiện nhiệm vụ phục vụ chiến đấu tại biển Đông trong thành phần binh đoàn 17. Thuyền trưởng thiếu tá hải quân Fiodorov S.V. Thực hiện nhiệm vụ theo dõi các tàu sân bay Hải quân Mỹ, tuần dương hạm USS "New Jersey" BB-62.Nhiệm vụ phục vụ chiến đấu được hoàn thành. Các cảng ghé vào: Cam Ranh (Việt Nam), Ream (Campuchia). Thủy thủ đoàn được tặng thưởng huy hiệu "Vì chuyến hành quân xa". 09.1983 - 12.1983 - tham gia tìm kiếm các "hộp đen" và các mảnh vỡ của máy bay chở khách "Boeing-747", bị máy bay tiêm kích đánh сhặn của lực lượng phòng không bắn rơi trong biển Nhật Bản tại khu vực đảo Moneron cùng tàu quét biển MT "Zariad", MT "Tral" (tiểu đoàn quét mìn 646, lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải 47, vịnh Vladimir) và tàu quét MT "Đô đốc Khoroshkhin", MT-193 (tiểu đoàn quét mìn 212, lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải 137, đảo Simushir, vũng Brouton), thuyền trưởng thiếu tá hải quân Fiodorov S.V. Tàu tham gia ngay vào chiến dịch sau khi hoàn thành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu mà chưa về tới căn cứ cơ bản. Nhiệm vụ đặt ra được hoàn thành. (http://www.47br-ovra.com/files/Kravchenko%20S_A_%20Foto%203.jpg) 1983, Biển Đông, vịnh Thái Lan. Thuyền trưởng МТ-238 đại úy hải quân Fiodorov (album của chuẩn úy hải quân dự bị Кravtchenko S.А.) ......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 07 Tháng Ba, 2012, 09:55:49 pm (tiếp)
Tàu quét mìn trên biển MT "Paravan" đề án 266M (http://www.47br-ovra.com/files/zaklalyaya%20doska.jpg) - Số xuất xưởng S-67, đơn vị quân đội 81386. - Thuộc quân số tiểu đoàn tàu quét mìn 146, lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải 47 Hạm đội Thái Bình Dương. (http://www.47br-ovra.com/files/%D0%93%D0%B8%D0%B4%D1%80%D0%BE%D0%B0%D0%BA%D0%BA%D1%83%D1%81%D1%82%D0%B8%D1%87%D0%B5%D1%81%D0%BA%D0%B8%D0%B9%20%D0%B1%D1%83%D0%B9%20%20%D0%B2%20%D0%BF%D0%BE%D0%BB%D0%B8%D0%B3%D0%BE%D0%BD%D0%B5%20%D0%BD%D0%B0%D0%BF%D1%80%D0%BE%D1%82%D0%B8%D0%B2%20%D0%BC_%D0%92%D0%B0%D1%82%D0%BE%D0%B2%D1%81%D0%BA%D0%BE%D0%B3%D0%BE%20%D0%B4%D0%B5%D0%BA%D0%B0%D0%B1%D1%80%D1%8C1997%D0%B3_.jpg) Tháng 12 năm 1987. Biển Nhật Bản, Vớt phao thủy âm. Trái sang phải: thuyền trưởng đại úy Miasnikov V.V., trưởng ngành 2-3 trung úy Gromyko N.S. (http://www.47br-ovra.com/files/Myasnikov_%20Foto%204(1).jpg) Tháng 4 năm 1982. Việt Nam, Cam Ranh, cầu tàu "hàng không mẫu hạm".Từ trái sang phải: kỹ sư ngành cơ điện hàng hải tiểu đoàn tàu quét mìn 646 thượng úy Yangaev М.Sh., trưởng ngành cơ điện thượng úy Mikhailov V.B., trưởng ngành 2-3 trung úy Temnikov S.N., thuyền trưởng thiếu tá hải quân Shefer V.A., thuyền phó chính trị thượng úy Shefov A.V., trợ lý thuyền trưởng đại úy hải quân Semenkov A.V.(lưu trữ của trung tá hải quân dự bị Miasnikov V.V.) (http://www.47br-ovra.com/files/Myasnikov_%20Foto%202.jpg) (http://www.47br-ovra.com/files/Myasnikov_%20Foto%203(1).jpg) 1982. Việt Nam, Cam Ranh. - Tháng 1-2.1979: - sửa chữa trên dok nổi nhà máy sửa chữa tàu biển 92 (thành phố Vladivostok, vũng Diomid). Xuất xưởng sau 19.02, chuẩn bị đi thực hiện nhiệm vụ phục vụ chiến đấu tại Biển Đông liên quan đến cuộc xâm lược của Trung Quốc chống Việt Nam, tàu làm công tác chuẩn bị ngay tại bến của nhà máy 92 đến 10.3; - Tháng 03.1979: - tàu chuyển từ vũng Diomid sang vũng Abrek neo tại cầu tàu số 3 chờ quyết định của Bộ chỉ huy đi phục vụ chiến đấu. Trong thời gian này tàu quét mìn MT "Yakor" (tiểu đoàn tàu quét mìn 186 lữ đoàn tàu quét mìn 7) đã ra khơi đi phục vụ chiến đấu tại Biển Đông nhưng sau vài ngày lại quay về từ eo biển Triều Tiên. Mệnh lệnh đi phục vụ chiến đấu không được Bộ chỉ huy ban hành. Trong thời gian còn lại của năm 1979 hai lần chuẩn bị đi phục vụ chiến đấu tại eo biển Triều Tiên nhưng rồi nhiệm vụ được rút lại. - Từ 01.02.1982 - 20.08.1982: - phục vụ chiến đấu tại Biển Đông (Cam Ranh, Việt Nam) trong thành phần lữ đoàn tàu chiến số 26 Hạm đội Thái Bình Dương (оперативной бригады кораблей и судов). Thuyền trưởng thiếu tá hải quân Shefer V.A. Thi hành nhiệm vụ hộ tống các tàu ngầm nguyên tử đề án 671, 671RТ khi vượt qua các eo biển Singapore và Malakka trong tư thế nổi cho đến tọa độ lặn và nổi lên tại biển Andaman (Ấn Độ Dương). Nhiệm vụ hoàn thành. Các cảng ghé đậu: Cam Ranh (Việt Nam). Thủy thủ đoàn được tặng huy hiệu "Vì chuyến hành quân xa". .......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 08 Tháng Ba, 2012, 12:02:10 pm (tiếp)
(http://www.47br-ovra.com/files/Osipov_%20Foto%2014.jpg) 1980, biển Arab, tàu trên đường ra khỏi khu vực theo dõi các tàu sân bay «D. Eishenhower" và «Мidway» tới đảo Sokotra (Yemen), một thủy thủ "vô kỷ luật" ở vị trí mạo hiểm, có lẽ là hiệu thính viên Оvdin V. (lưu trữ của trung sỹ hải quân về hưu Оsipov А.Е.) - Từ 10.12.1983 - 15.06.1984: - phục vụ chiến đấu tại Biển Đông (Cam Ranh, Việt Nam) trong thành phần binh đoàn 17. Thuyền trưởng thiếu tá hải quân Tikhonov G.A. Hoàn thành nhiệm vụ được giao. Các cảng ghé đậu: Cam Ranh (Việt Nam), Ream (Campuchia). Toàn bộ thủy thủ đoàn được tặng huy hiệu «Vì chuyến hành quân xa». (http://www.47br-ovra.com/files/1%201984%20%D0%92%D1%8C%D0%B5%D1%82%D0%BD%D0%B0%D0%BC.jpg) 09 tháng Năm 1984, Việt Nam, Cam Ranh, tập thể sỹ quan trên tàu sau lễ diễu hành trọng thể, trái sang phải, trưởng ngành 1-4-VTDT thượng úy Miasnikov V.V., trợ lý thuyền trưởng thượng úy Temnikov S.N., trưởng ngành cơ điện thượng úy Mikhailov V.B., trưởng ngành 2-3 trung úy Lepetiukh V.I., phó chính trị thượng úy Neizvestnyi I.I. (lưu trữ của trung tá hải quân dự bị Мiasnikov V.V.) - Từ 05.08.1988 - 15.04.1989: - phục vụ chiến đấu tại Ấn Độ Dương trong đội hình binh đoàn 8. Thuyền trưởng đại úy hải quân Lepetiukh V.I. Trong thời gian này tại khu vực biển Arab và vịnh Ba Tư chiến tranh Iran-Irak đang xảy ra và cả hai bên xung đột đều tích cực sử dụng mìn và các loại mìn họ sử dụng là mìn xô viết gây ra nhiều thiệt hại cho tàu bè chở dầu mỏ và hàng hóa qua lại. Tàu thực hiện quét mìn bằng đài thủy âm, tạo dải an toàn hộ tống cho các đoàn tàu đi qua trong đó có cả các tàu nước ngoài. Đã đưa được 15 đoàn tàu chở hàng đi qua (hơn 40 tàu) khu vực nguy hiểm vì bị rải mìn. Hải trình của các đoàn công voa: điểm № 37 (Eo biển Hormuz, ngang qua Các TVQ Arab thống nhất) – cảng El – Kuwait (Kuwait), và ngược lại. Độ dài hành trình – 550 dặm. Tàu thực hiện hoạt động chiến đấu quét mìn khu vực bị rải mìn cạnh dải đá ngầm Shakh-Elem trong vịnh Ba Tư trong thành phần một biên đội 3 tàu quét mìn đề án 266M (trong đó có 2 tàu thuộc Hạm đội Biển Đen). Khi trở về từ khu vực phục vụ chiến đấu, tàu neo đậu một số ngày tại điểm neo ngoài cảng Singapore chờ tàu kéo biển MB "Topaz" có việc ghé vào cảng đi ra để hộ tống nhau. Chuyến ghé ngang Cam Ranh trên đường trở về căn cứ cơ bản diễn ra trong điều kiện bão lớn nhưng đã vượt qua. Nhiệm vụ phục vụ chiến đấu được hoàn thành. Các cảng ghé vào: Cam Ranh (Việt Nam), Abu-Dabi (Các TVQ Arab thống nhất). Toàn bộ thủy thủ đoàn được tặng huy hiệu «Vì chuyến hành quân xa». Từ 25.05.1990 - 20.03.1991: - phục vụ chiến đấu tại Ấn Độ Dương trong thành phần binh đoàn 8. Thuyền trưởng đại úy hải quân Lepetiukh V.I. Trên đường tới khu vực phục vụ chiến đấu ghé cảng Cam Ranh (Việt Nam). Tham gia hộ tống các đoàn tàu chiến và tàu hàng của Hải quân Xô Viết qua khu vực đang có chiến sự giữa Ethiopie và Eritrea. Các cảng ghé vào: Cam Ranh (Việt Nam), đảo Nokra (quần đảo Dakhlak, Ethiopie), cảng Aden (Yemen), cảng Colombo (Srilanka). Toàn bộ thủy thủ đoàn được tặng huy hiệu «Vì chuyến hành quân xa». .......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 08 Tháng Ba, 2012, 08:13:25 pm (tiếp)
Tàu quét mìn trên biển MT "Yakor" đề án 266M (http://www.47br-ovra.com/files/Litkovec_%20Foto%2017__(1).jpg) 1981, eo biển Hormuz. MT "Yakor" (МТ «Якорь») tại điểm neo đậu. (lưu trữ của đại tá hải quân dự bị Litkovets М.М.) - Số xuất xưởng S-68, đơn vị quân đội 30983, thuộc quân số tiểu đoàn quét mìn 146, lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải số 47 có căn cứ cơ bản tại vũng Paris, đảo Russkii, khu Primorie. (http://www.47br-ovra.com/files/Zebzeev_%20Foto%2010.jpg) 1975, МТ «Yakor», đảo Russkii, vũng Novik, mũi Shighina, thành phố Vladivostok. Chuyển giao vũ khí mìn-quét mìn trước khi bảo quản tàu. (lưu trữ của thiếu tá hải quân dự bị Zebzeev V.G.) - Tháng 03.1979: - tàu từ vũng Abrek ra khơi thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu tại Biển Đông. Thuyền trưởng đại úy hải quân Bulgakov N.Ya. Trong giai đoạn này đang có các hoạt động chiến sự giữa Trung quốc và Việt Nam. Tại Biển Đông đã có một biên đội tàu chiến của Hạm đội Thái Bình Dương, trong đó có tàu quét mìn biển MT "Tral" thuộc tiểu đoàn quét mìn 646 lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải số 45 (vịnh Vladimir). Tàu ra khơi phục vụ chiến đấu bằng một động cơ chính. Động cơ chính thứ 2 phải sửa chữa khôi phục. Việc khôi phục không thành. Tàu đến eo Triều Tiên rồi sau đó phải trở về căn cứ. - Tháng 04.1981 - 01.01.1982: - phục vụ chiến đấu tại Ấn Độ Dương trong thành phần binh đoàn số 8. Thuyền trưởng đại úy hải quân Mikhailov V. А. Thực hiện nhiệm vụ trinh sát kinh tế tại Bab-El-Maldev và eo biển Hormuz, hộ tống các tàu trong vịnh Ba Tư, hộ tống tàu ngầm nguyên tử và tàu ngầm diezel từ đảo Nokra (quần đảo Dakhlak, Biển Đỏ) đến điểm lặn tại vịnh Aden. Trong các chặng hải trình đi đến khu vực phục vụ chiến đấu, trong các khu vực phục vụ chiến đấu có nhiều lần tiếp xúc (tiếp xúc thủy âm) với các tàu chiến của Hải quân Mỹ, Iran, Irak, Oman, Indonesia, Trung Quốc, Nhật Bản và Nam Triều Tiên. Nhiệm vụ phục vụ chiến đấu được hoàn thành. Các cảng ghé vào: Aden (Nam Yemen), đảo Nokra (quần đảo Dakhlak, Ethiopie), Cam Ranh (Việt Nam). Toàn bộ thủy thủ đoàn được thưởng huy hiệu "Vì chuyến hành quân xa". (http://www.47br-ovra.com/files/mt%20bn-740.jpg) Tại biển Nhật Bản, 198x. - Tháng 06 - 12.1984: - phục vụ chiến đấu tại Biển Đông trong thành phần lữ đoàn tàu mặt nước 119 binh đoàn 17. Thuyền trưởng thiếu tá hải quân Мikhailov V.А. Tàu thực hiện hộ tống tàu ngầm nguyên tử khi vượt qua eo Singapore và Malakka trong tư thế nổi. Nhiệm vụ phục vụ chiến đấu được hoàn thành. Cảng ghé vào: Cam Ranh (Việt Nam), Ream (Campuchia). Toàn bộ thủy thủ đoàn được thưởng huy hiệu "Vì chuyến hành quân xa". (http://www.47br-ovra.com/files/2(4).jpg) 1985, МТ "Yakor", đặt lưới-thu quét kép (постановка парного донно-сетевого трала - ПДСТ), thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm tại biển Nhật Bản các mảnh vỡ và "các hộp đen" của một máy bay cường kích Mỹ bị tai nạn (lưu trữ của trung tá hải quân Severin А.О.) ....... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 08 Tháng Ba, 2012, 09:52:59 pm (tiếp)
- Tháng 05 - 06.1987: - tàu nằm trong thành phần một biên đội tàu chiến Hạm đội Thái Bình Dương tham gia chuyến thăm hữu nghị chính thức tại Việt Nam. Thuyền trưởng thiếu tá hải quân Severin А.О. Nhiệm vụ của chuyến thăm được hoàn thành tốt đẹp. Cảng ghé thăm: cảng Hải Phòng (Việt Nam). Toàn bộ thủy thủ đoàn được thưởng huy hiệu "Vì chuyến hành quân xa". (http://www.47br-ovra.com/files/1(5).jpg) (http://www.47br-ovra.com/files/22(6).jpg) (http://www.47br-ovra.com/files/111(1).jpg) Tháng 5 năm 1987, МТ "Yakor", chuyến thăm hữu nghị chính thức của niên đội tàu chiến hạm đội Thái Bình Dương tại CHXHCN Việt Nam, cảng Hải Phòng, thuyền trưởng thiếu tá hải quân Severin А.О. đón tiếp trên boong tàu các đại diện chính quyền và các tổ chức xã hội thành phố cảng Hải Phòng (lưu trữ của trung tá hải quân Severin А.О.) ......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 08 Tháng Ba, 2012, 10:45:42 pm (tiếp)
(http://www.47br-ovra.com/files/Litkovec_%20Foto%2029.jpg) 1981. Ấn Độ Dương.МТ «Yakor» trên vũng cảng đảo Sokotra. Tranh tài các khoa mục Đấu tranh Sinh tồn (БЗЖ). (lưu trữ của đại tá hải quân dự bị Litkovets М.М.) (http://www.47br-ovra.com/files/Litkovec_%20Foto%2014.jpg) 1981. Tàu trên đường vào Ấn Độ Dương. Trưởng ngành 5 dại úy hải quân Коmar V.G. dào tạo cho các cấp dưới về nghiệp vụ Đấu tranh Sinh tồn БЗЖ (lưu trữ của đại tá hải quân dự bị Litkovets М.М.) - Tháng 02 - 09.1989: - phục vụ chiến đấu trong thành phần binh đoàn 8 tại Ấn Độ Dương. Thuyền trưởng thiếu tá hải quân Severin А.О. Tàu thực hiện nhiệm vụ phục vụ chiến đấu dẫn đường và hộ tống các tàu hàng, trong do có cả các tàu nước ngoài đi qua khu vực bị rải mìn trong vịnh Ba Tư. Trong quá trình dẫn đường và hộ tống tiến hành quét mìn bằng phương tiện thủy âm. Hải trình các đoàn công voa: điểm № 37 (Eo biển Hormuz, ngang qua Các TVQ Arab thống nhất) – cảng El – Kuwait (Kuwait), và ngược lại. Độ dài hải trình – 550 dặm. Tàu thực hiện hoạt động chiến đấu quét mìn khu vực bị rải mìn trong vịnh Ba Tư, trong đó có dải đá ngầm Shakh-Elem, trong thành phần một biên đội tàu quét mìn đề án 266M. Cảng ghé vào: Cam Ranh (Việt Nam) hai lần khi đi vào Ấn Độ Dương và quay về, cảng Aden (Yemen). Toàn bộ thủy thủ đoàn được thưởng huy hiệu "Vì chuyến hành quân xa". - Ngày 04.08.1995: - tàu bị loại khỏi biên chế chiến đấu của hạm đội, thủy thủ đoàn bị giải thể. Việc tháo dỡ thiết bị không được tiến hành. Tàu được dùng làm bia tập bắn thử tên lửa hành trình. Kết quả tên lửa bắn trúng tàu và con tàu chìm trong biển Nhật Bản. ......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 09 Tháng Ba, 2012, 12:14:47 am (tiếp)
Tàu quét mìn trên biển MT "Tral" đề án 266M - Số xuất xưởng S-66, đơn vị quân đội 53118, thuộc quân số tiểu đoàn quét mìn 146, lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải số 47, đóng căn cứ cơ bản tại vũng Paris, đảo Russkii. (http://www.47br-ovra.com/files/Cyshko_%204_.JPG) 1974, tháng 1, vịnh Piotr Đại Đế. Chiến lợi phẩm của MT "Tral" (МТ "Трал").(lưu trữ của đại tá hải quân dự bị Tsishko А.А.) (http://www.47br-ovra.com/files/Shumniy_%20Foto%2013(1).jpg) Mùa thu 1978, МТ "Трал" trả bài tập huấn luyện chiến đấu trong biển Nhật Bản, bắn "mìn bay" ("Плавающей мины").(lưu trữ của đại tá hải quân dự bị Shumnyi N.А.) - Ngày 01.05.1977: - tại cảng Timofeevka quận Olginsk khu Primorie (vịnh Vladimir) tiểu đoàn tàu bảo vệ lãnh hải độc lập 646 được phiên chế lại trong đội hình lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải số 45. Tàu được chuyển quân số từ tiểu đoàn 146 lữ đoàn 47 sang tiểu đoàn 646 đang hình thành (đơn vị quân đội 87135) trong lữ đoàn mới thành lập và chuyển căn cứ đóng quân thường xuyên sang vịnh Vladimir; (http://www.47br-ovra.com/files/Shumniy_%20Foto%2015.jpg) Tháng 1 năm 1979, vịnh Strelok, vũng Abrek (cầu tàu № 2), МТ "Тrаl" nhổ xích neo và dây neo bến. Ra khơi phục vụ chiến đấu tại Biển Đông. (lưu trữ của đại tá hải quân dự bị Shumnyi N.А.) (http://www.47br-ovra.com/files/getImage6.jpeg) Tháng 1 năm 1979. Trên đường vào Biển Đông, tiếp dầu trên hành trình từ tàu chứa "Alatyr".(lưu trữ của trung sỹ hải quân về hưu Оvsiankin V.А.) (http://www.47br-ovra.com/files/Shumniy_%20Foto%2016.jpg) Tháng 2 năm 1979, Biển Đông.Thủy thủ đoàn MT "Tral". (http://www.47br-ovra.com/files/getImage5.jpeg) 1979, Biển Đông, các thành viên bổ sung cho thủy thủ đoàn (lưu trữ của trung sỹ hải quân về hưu Оvsiankin V.А.) - Tháng 01 - 04.1979: - phục vụ chiến đấu tại Biển Đông trong thành phần một biên đội tàu chiến (tàu khu trục chống ngầm cỡ lớn BPK «Chapaev», tàu tuần tiễu «SКR-46», tàu quét mìn biển МТ «Тral», tàu trinh sát cỡ trung «Кursograph»). Thuyền trưởng đại úy hải quân Zabekin R.V., chỉ huy cao cấp trên tàu là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn tàu quét mìn 646 lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải số 45 thiếu tá hải quân Kharlamovitch V.V. Thực hiện nhiệm vụ đảm bảo cho tàu trinh sát «Кursograph» tiến vào vịnh Bắc Bộ (4 chuyến hải trình). Trong đêm ngày 17.02.1979 - (bắt đầu cuộc xâm lược của Trung Quốc chống Việt Nam), biên đội tàu ở trong khu vực Bắc Vịnh Bắc Bộ, có tiếp xúc thủy âm với một biên đội tàu chiến Hải quân Trung Quốc gồm 7 tàu (khu trục hạm xô viết đóng đề án 56, tàu tuần tra xô viết đóng đề án 50). Nhiệm vụ được hoàn thành. Cảng ghé vào: Cam Ranh (3 lần – tháng Hai, lần đầu tiên trong lịch sử Hải quân Liên Xô ghé vào vịnh Cam Ranh, tháng Ba, tháng Tư). Toàn bộ thủy thủ đoàn được thưởng huy hiệu "Vì chuyến hành quân xa"; (http://www.47br-ovra.com/files/Shumniy_%20Foto%2017.jpg) Tháng 4 năm 1979, МТ "Тral", SKR-46. Phục vụ chiến đấu tại Biển Đông, lần đầu tiên tàu chiến Hải quân Liên Xô ghé cảng Cam Ranh (Việt Nam). Trái sang phải: đại diện phòng Chính trị căn cứ hải quân Strelok…?...; tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn quét mìn 646 lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải số 45 thiếu tá hải quân Kharlamovitch V.V.; đại diện Hải quân Việt Nam; trợ lý thuyền trưởng thượng úy Isaev О.V; trưởng ngành 2-3 trung úy Shumnyi N.А.; trưởng ngành 1-4-VTDT trung úy Kulitchenko N.L. (lưu trữ của đại tá hải quân dự bị Shumnyi N.А.) ......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 09 Tháng Ba, 2012, 01:34:44 am (tiếp)
(http://www.47br-ovra.com/files/getImage4.jpeg) 1979, Biển Đông, các thủy thủ và thủy thủ trưởng hết ca trực (lưu trữ của trung sỹ hải quân về hưu Оvsiankin V.А.) (http://www.47br-ovra.com/files/1%20Shumnyy_%20foto%2011(1).jpg) Tháng Tư năm 1979, cảng Cam Ranh (Việt Nam), trợ lý thuyền trưởng thượng úy Isaev O.V. báo cáo thuyền trưởng đại úy hải quân Zabelin R.V. đội hình lớn đã tập hợp xong (lưu trữ của đại tá hải quân dự bị Shumnyi N.А.) (http://www.47br-ovra.com/files/Bikinin_%20Foto%203.jpg) Tháng Tư năm 1979, cảng Cam Ranh (Việt Nam), các sỹ quan của tàu, trái sang phải – trưởng ngành 5 thượng úy Аntontchenkov V.N., trưởng ngành 2-3 trung úy Shumnyi N.А., trợ lý thuyền trưởng thượng úy Isaev O.V. (lưu trữ của trung sỹ hải quân về hưu Bikinin Z.B.) (http://www.47br-ovra.com/files/getImage10.jpeg) Tháng Tư năm 1979, phục vụ chiến đấu tại Biển Đông , Việt Nam, cảng Cam Ranh . Thủy thủ đoàn cùng các thủy thủ Việt Nam. Hàng thứ nhất các sỹ quan, trái sang phải: đại diện phòng Chính trị căn cứ hải quân Strelok trung tá hải quân...?..., thuyền trưởng đại úy hải quân Zabekin R.V., phó thuyền trưởng về chính trị trung úy Modeev I.А, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn quét mìn 646 lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải 45 thiếu tá hải quân Kharlamovitch V.V., trợ lý thuyền trưởng thượng úy Isaev O.V., hàng thứ hai trưởng ngành 2-3 trung úy Shumnyi N.А., trưởng ngành 1-4-VTDT trung úy Kulitchenko N.L. (lưu trữ của trung sỹ hải quân về hưu Оvsiankin V.А.) (http://www.47br-ovra.com/files/Bikinin_%20Foto%201(1).jpg) Tháng Tư năm 1979, cảng Cam Ranh. Đoàn đại biểu Việt Nam thăm МТ "Трал". (lưu trữ của trung sỹ hải quân về hưu Bikinin Z.B.) - Tháng 08 - 09.1980: - sửa chữa trên dok tại tàu dok nổi của nhà máy sửa chữa Nakhodka (tp.Nakhodka). Sửa chữa trên dok kết thúc, tàu ra khỏi dok chuyển tới vũng Abrek. Trong thời gian vài ngày tàu được bổ sung lương thực và dự trữ vật chất các loại đầy đủ. Tàu được trao nhiệm vụ phục vụ chiến đấu tại eo biển Triều Tiên và Biển Đông (Việt Nam); - Tháng 09 - 12.1980: - phục vụ chiến đấu tại eo biển Triều Tiên và Biển Đông trong thành phần lữ đoàn tàu chiến tác chiến dịch-chiến thuật số 26 Hạm đội Thái Bình Dương. Thuyền trưởng đại úy hải quân Sarsambekov V.А. Trong thời gian phục vụ đã thực hiện tìm kiếm nhờ đài thủy âm dò mìn (ГАС поиска донных мин) chiếc máy bay Yak-38 bị tai nạn trên tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay "Minsk". Cũng thực hiện tìm kiếm xích neo bị mất của tàu "Minsk". Thực hiện theo dõi các tàu chiến Hải quân Mỹ và Nhật Bản, đang tiến hành tập trận chung tại Biển Hoa Đông. Các nhiệm vụ phục vụ chiến đấu đều hoàn thành. Cảng ghé vào – Cam Ranh (Việt Nam). Toàn bộ thủy thủ đoàn được thưởng huy hiệu "Vì chuyến hành quân xa"; ....... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 09 Tháng Ba, 2012, 10:57:29 am (tiếp)
(http://www.47br-ovra.com/files/getImage11.jpeg) 1979, phục vụ chiến đấu tại Biển Đông, công tác chuẩn bị hoàn thiện bài tập chiến đấu chống biệt kích và phương tiện lặn ngầm ПДСС, thùng phuy - bia tập bắn cho vũ khí bộ binh (lưu trữ của trung sỹ hải quân về hưu Оvsiankin V.А.) (http://www.47br-ovra.com/files/getImage12.jpeg) 1979, phục vụ chiến đấu tại Biển Đông. Thực hành bài tập bắn súng bộ binh cho các thủy thủ trực chống biệt kích và khí tài lặn ngầm. Chỉ huy thực hành bài tập - trưởng ngành 2-3 trung úy Shumnyi N.А. (lưu trữ của trung sỹ hải quân về hưu Оvsiankin V.А.) (http://www.47br-ovra.com/files/getImage3.jpeg) 1979, phục vụ chiến đấu tại Biển Đông. Giúp đỡ tàu đổ bộ đề án 775 (lưu trữ của trung sỹ hải quân về hưu Оvsiankin V.А.) (http://www.47br-ovra.com/files/getImage1.jpeg) Tháng 5 năm 1979, vịnh Vladimir, vũng Nam. Lễ đón trọng thể МТ "Трал" tại lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải số 45 sau khi hoàn thành phục vụ chiến đấu tại Biển Đông. Giải thưởng cho thủy thủ đoàn vì đã thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phục vụ chiến đấu - một chú heo sữa (lưu trữ của trung sỹ hải quân về hưu Оvsiankin V.А.) - Tháng 06 - 11.1981: - phục vụ chiến đấu tại Biển Đông trong thành phần lữ đoàn tàu chiến tác chiến dịch-chiến thuật số 26 Hạm đội Thái Bình Dương (lữ đoàn đóng căn cứ tại Cam Ranh trước khi thành lập binh đoàn 17). Thuyền trưởng đại úy hải quân Sarsambekov V.А. Thi hành nhiệm vụ hộ tống các tàu ngầm nguyên tử đề án 671, 671RT khi vượt qua eo biển Singapore và Malakka trong tư thế nổi đến điểm lặn và nổi lên trong biển Andaman (Ấn Độ Dương). Tất cả đã hộ tống 8 tàu ngầm. Tại khu vực phía nam Biển Đông phát hiện tàu sân bay Mỹ "Coral Sea". Tiến hành theo dõi. Thực hiện nhiệm vụ đảm bảo tạp bắn pháo hạm cho tuần dương hạm chỉ huy "Đô đốc Seniavin" trong vịnh Thái Lan. Các nhiệm vụ chiến đấu đều được hoàn thành. Cảng ghé vào – Cam Ranh (Việt Nam), ba lần. Toàn bộ thủy thủ đoàn được thưởng huy hiệu "Vì chuyến hành quân xa"; (http://www.47br-ovra.com/files/Trusko_foto%205.jpg) 1981, МТ "Тral", Biển Đông, Việt Nam, vũng Bình Ba, ở giữa hình đang trong ca trực chống biệt kích và phương tiện lặn ngầm (ПДСС) - toán trưởng toán bánh lái hạ sỹ hải quân Тrusko G.Ya. (lưu trữ của thượng sỹ hải quân về hưu Тrusko G.Ya.) ........... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 09 Tháng Ba, 2012, 11:39:32 am (tiếp)
(http://www.47br-ovra.com/files/getImage19.jpeg) (http://www.47br-ovra.com/files/getImage21.jpeg) 1980, thao luyện khoa mục huấn luyện chiến đấu trong biển Nhật Bản. Đặt lưới quét (lưu trữ của trung sỹ hải quân về hưu Оvsiankin V.А.) (http://www.47br-ovra.com/files/getImage20.jpeg) 1980, thao luyện khoa mục huấn luyện chiến đấu trong biển Nhật Bản. Huấn luyện thực hành bắn đạn thật pháo 2М-3М. Điều khiển huấn luyện trưởng ngành 2-3 trung úy Shumnyi N.А. (lưu trữ của trung sỹ hải quân về hưu Оvsiankin V.А.) (http://www.47br-ovra.com/files/Trusko_foto%203.JPG) 1980, Вiển Hoa Đông, tập trận chung của các tàu chiến Hải quân Mỹ-Nhật, tiếp dầu trong hành trình cho frigate Hải quân Mỹ "Noks" và khu trục hạm Hải quân Nhật "Aya Nami" từ tàu bơm dầu "Neva Сity" (lưu trữ của thượng sỹ hải quân về hưu Тrusko G.Ya.) (http://www.47br-ovra.com/files/Shumniy_%20Foto%2021.jpg) Mùa xuân 1981. МТ "Трал" đang thực hành bài huấn luyện chiến đấu tại biển Nhật Bản. Chỉ huy đặt lưới quét mìn là trưởng ngành 2-3 thượng úy Shumnyi N.А. (lưu trữ của đại tá hải quân Shumnyi N.А.) (http://www.47br-ovra.com/files/Shumniy_%20Foto%2033.jpg) 1983, Biển Nhật Bản, đặt lưới quét điện từ TEM-4 (ТЭМ-4) (lưu trữ của đại tá hải quân dự bị Shumnyi N.А.) - Từ 15.03.1983 - 02.09.1983: - phục vụ chiến đấu tại Ấn Độ Dương trong đội hình binh đoàn 8. Thuyền trưởng thượng úy Narykov А.V., chỉ huy cấp cao trên tàu là trưởng ban tham mưu tiểu đoàn quét mìn 646 lữ đoàn bảo vệ lãnh hải 45 thượng úy Ilyshev N.N. Tàu thực hiện trực sẵn sàng chiến đấu trong khu vực, trinh sát kinh tế tại Bab-El-Maldev, eo biển Hormuz. Nhiệm vụ phục vụ chiến đấu thực hiện thấng lợi. Các cảng ghé vào: tháng Tư – Cam Ranh (Việt Nam), tháng Năm – cảng Aden (Nam Yemen), tháng Sáu – đảo Nokra, quần đảo Dakhlak (Ethiopie). Toàn bộ thủy thủ đoàn được tặng huy hiệu "Vì chuyến hành quân xa" («За дальний поход»); Từ 05.09.1983 - 15.12.1983 - tham gia tìm kiếm các «hộp đen» và mảnh vỡ máy bay chở khách Hàn Quốc «Boeing-747», bị bắn hạ bởi máy bay tiêm kích đánh chặn của LLPK, tại biển Nhật Bản trong khu vực đảo Moneron cùng các tàu quét mìn trên biển МТ «Zariad» (tiểu đoàn quét mìn 186, lữ đoàn tàu quét mìn số 7, vũng Аbrek), МТ «МТ-27» (tiểu đoàn tàu quét mìn 142 lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải 114, vũng Zavoiko), МТ "МТ-193", - "МТ-238", МТ «Đô đốc Khoroshkhin» (tiểu đoàn tàu quét 212 lữ đoàn bảo vệ lãnh hải 137, đảo Simurshir, vũng Brouton). Thuyền trưởng đại úy hải quân Narykov А.V. Sau 6 tháng phục vụ chiến đấu người ta cho phép tàu trong thời gian đi tới đảo Moneron được ghé vào vịnh Vladimir vài giờ, nhưng không cho cặp mạn cầu tàu. Cuộc gặp gỡ vợ con, người thân trong gia đình diễn ra trên boong tàu trong vũng Nam. Trong thời gian thi hành nhiệm vụ tàu có ghé cảng Korsakov (đảo Sakhalin). Các nhiệm vụ đặt ra đã được hoàn thành; ........ Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 09 Tháng Ba, 2012, 01:28:35 pm (tiếp)
- Từ 10.03.1988 – 28.12.1988: – phục vụ chiến đấu tại Ấn Độ Dương trong đội hình binh đoàn 8. Thuyền trưởng thiếu tá hải quân Rogov V.V., chỉ huy cấp cao trên tàu là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn quét mìn 646 lữ đoàn bảo vệ lãnh hải 45 thiếu tá hải quân Narykov A.V. Trong thời gian này tại biển Arab và vịnh Ba Tư chiến tranh Iran – Irak vẫn đang tiếp tục. Khi tiến hành các hoạt động tác chiến các bên xung đột đều tích cực sử dụng mìn. Cả hai bên đều dùng các loại thủy lôi xô viết chế tạo. Đồng thời trong khu vực vịnh Ba Tư tàu bè qua lại rất đông, chủ yếu là chở dầu từ các nước Arab về. Có nhiều tàu đã vấp mìn. Tàu quét thi hành nhiệm vụ hộ tống và dẫn đường đưa tàu thuyền qua trong đó có cả các tàu nước ngoài đi theo vệt đã quét sạch mìn. Thực hiệm dò mìn bằng khí tài và đài thủy âm. Trong khó khăn đã đưa được trót lọt 18 đoàn công voa (41 tàu). Hải trình các đoàn công voa: điểm № 37 (eo Hormuz, ngang qua Các TVQ Arab thống nhất) – cảng El Kuwait (Кuwait), và ngược lại. Độ dài hải trình – 550 dặm. Tàu tham gia tác chiến quét mìn các khu vực có nguy cơ bị rải mìn cao. Các cảng ghé vào: Cam Ranh (Việt Nam), cảng Аbu – Dabi (Các TVQ Arab thống nhất), đảo Nokra, quần đảo Dakhlak (Ethiopie), hai lần vào cảng Aden (Yemen). Toàn bộ thủy thủ đoàn được thưởng huy hiệu "Vì chuyến hành quân xa"; (http://www.47br-ovra.com/files/87%20Taranin_%20foto%203.jpg) Tháng 10 năm 1987, thủy thủ đoàn cùng các thủy thủ Bắc Triều Tiên sau cuộc tập trận chung trong thời gian tàu ghé cảng Nadzhin. (lưu trữ của thiếu tá hải quân dự bị Таranin V.N.) (http://www.47br-ovra.com/files/1-sc2.jpg) 1988, tiếp nhận vũ khí quét mìn lên tàu (lưu trữ của hạ sỹ hải quân về hưu Vivsiannik Yu.М.) (http://www.47br-ovra.com/files/3-005.jpg) Tháng 4 năm 1988, Biển Đông, cảng Cam Ranh (Việt Nam), một phần thủy thủ đoàn МТ "Трал" đi chơi thăm vùng ngoại vi cảng Cam Ranh, hàng thứ 2, ngoài cùng bên trái là thuyền trưởng đại úy hải quân Rogov V.V. (lưu trữ của hạ sỹ hải quân về hưu Vivsiannik Yu.М.) (http://www.47br-ovra.com/files/88%20foto%203.jpg) 1988, vịnh Ba Tư, tàu đang thi hành nhiệm vụ dẫn lần lượt đoàn công voa vào cảng El-Kuwait (Кuwait), trái sang phải thuyền phó chính trị thượng úy Таranin V.N., trưởng ngành 5 đại úy hải quân Vоrobiov V.N. (lưu trữ của thiếu tá dự bị Таranin V.N.) (http://www.47br-ovra.com/files/88%20foto%2024.jpg) 1988, vịnh Ba Tư, tàu đang ở điểm neo đậu, luyện tập chiến đấu chống biệt kích và khí tài lặn ngầm (ПДСС), trái sang, chỉ huy thả người lặn là trưởng ngành cơ điện hàng hải đại úy hải quân Vorobiov V.N., hạ sỹ hải quân Vivsiankinik Yu.М, thủy thủ Tsurkan Yu., hạ sỹ hải quân Kaliev М. (lưu trữ của thiếu tá dự bị Таranin V.N.) ......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 31 Tháng Ba, 2012, 10:58:20 pm (tiếp theo trang 58 phần 1)
LỊCH SỬ MỘT BỨC ẢNH HAY NHỮNG SỰ KIỆN CÓ THỰC CỦA THỜI KỲ "CHIẾN TRANH LẠNH" (http://flot.com/upload/blog/414//HistoryOfFoto_2.jpg) Ảnh: Đại tá hải quân N.A.Veryuzhsky.Vladivostok. 1982 Bài đăng trên site "38rzk.ru" - site kỷ niệm của các CCB Lữ đoàn tàu trinh sát số 38 Hạm đội Thái Bình Dương Hải quân Xô Viết, đơn vị đã tham gia giám sát các hoạt động của Hải quân và Không quân Mỹ và các đồng minh trong chiến tranh Lạnh và chiến tranh Việt Nam trên khu vực Thái Bình Dương. Phần 1 Mới đây, sau khi nhận được bức ảnh cách đây 27 năm để tham khảo, tôi nghĩ rằng chúng ta nhất định phải nói về các sự kiện của thời kỳ đó. Quan tâm và mong muốn của tôi chia sẻ về quá khứ được giải thích bởi thực tế rằng tại thời gian đó tôi đang phục vụ tại Phòng Trinh sát Bộ Tham mưu Hạm đội Thái Bình Dương và là một chứng nhân được phép đối với các sự kiện, mà những người tham gia các sự kiện đó chính là các thủy binh có mặt trên bức ảnh. (http://www.38brrzk.ru/files/azijashtab.jpg) Trên bức ảnh là những người tham gia chiến dịch trinh sát phức hợp của các lực lượng khác nhau thuộc Hạm đội Thái Bình Dương trong khu vực eo biển Juan de Fuca (Vịnh Alaska. Bờ Tây Hoa Kỳ), có tên mã là "Chim sơn tước lông dài". Mùa hè.Năm 1985. Và thực sự, những hoàn cảnh có tính định mệnh như thế nào đã kết hợp lại trên bức ảnh nghiệp dư này các thủy binh từ các đơn vị hải quân có nghiệp vụ khác nhau? Để bắt đầu, cần giải thích để làm rõ và xác nhận đúng tên, chức danh của tất cả những người hiện diện trong bức ảnh, cũng như loại trừ những sự không chính xác khác. Thật không may, tôi đã không thể xác định tên của hai người trong ảnh. Hàng đứng từ trái sang phải: trưởng ngành hoa tiêu sư đoàn tàu ngầm nguyên tử số 45 Hạm đội TBD trung tá hải quân Bormotov Aleksei Andreevitch, trưởng ngành tạo nhiễu sư đoàn tàu ngầm nguyên tử số 45 Hạm đội TBD trung tá hải quân Chepik Vladlen Ivanovitch, hoa tiêu sư đoàn tàu ngầm nguyên tử số 45 Hạm đội TBD, đại úy hải quân BONDAREV Gennady Renaldovich, chuẩn úy hải quân tàu trinh sát cỡ lớn brzk "Asia" (tên họ? ), trưởng ngành truyền tin sư đoàn tàu ngầm nguyên tử số 45 Hạm đội TBD trung tá hải quân Arkhipov Vladimir Petrovitch, hiệu thính viên trung sỹ hải quân (tên họ?). Hàng ngồi: thuyền trưởng brzk "Asia" trung tá hải quân Kobzar Nikolai Prokopievitch, tư lệnh sư đoàn tàu ngầm nguyên tử số 45 Hạm đội TBD Chuẩn Đô đốc Gordeev Igor Ivanovitch, thuyền phó brzk "Asia" phụ trách trinh sát, thiếu tá hải quân Dudarenko Victor Evghenevitch. Theo yêu cầu của tôi, bức ảnh đã được đăng trên trang web của Lữ đoàn tàu trinh sát 38 Hạm đội Thái Bình Dương. Với lòng biết ơn lớn lao đối với các cựu chiến binh Trinh sát Hải quân Litvinov Vladimir Vasilyevitch, Maytakov Georgy Grigorievitch, Belozer Nikolai Nikititch, Antipov Nikolai Vasilyevich, Dudarenko Victor Evghenevitch, những người đã hỗ trợ tôi rất hiệu quả trong việc thiết lập tính xác thực của các tên họ nhân vật và các sự kiện thực tế. (http://flot.com/upload/blog/097//HistoryOfFoto_2a.jpg) Litvinov Vladimir Vasilevitch. ............ Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 01 Tháng Tư, 2012, 12:35:19 am (tiếp)
Để ví dụ, tôi nhận được những thông báo như sau. 20.12.2011. G.G.Маitakov: "Thuyền trưởng brzk "Аsia" - trung tá hải quân Коbzar Nikolai Prokopievitch". (http://flot.com/upload/blog/3f3//HistoryOfFoto_4a.jpg) Маitakov Gheorghi Grigorievitch. Chủ nhiệm Trinh sát Hạm đội Thái Bình Dương (1991-1994). 21.12.2011. N.N.Belozior: «Trên ảnh. Hàng thứ nhất (ngồi): thuyền trưởng trung tá hải quân Коbzar, Gordeev, trưởng ngành kỹ thuật VTDT (?) thiếu tá hải quân Dudarenko Viktor Evghenevitch. Hàng đứng - tất cả là thành viên bộ tham mưu hành quân do Gordeev lãnh đạo». (http://flot.com/upload/blog/32a//HistoryOfFoto_5.jpg) Belozior Nikolai Nikitovitch, Мoskva. 2011. 27.01.2012. V.Е.Dudarenko: "Tôi khẳng định: thuyền trưởng brzk "Аsia" là trung tá hải quân N.P.Коbzar. Chức vụ của tôi – thuyền phó phụ trách trinh sát. Trên brzk chức danh "Ngành trưởng KTVTDT" là không có. Tên họ của viên chuẩn úy hải quân và trung sỹ hải quân tiếc thay tôi không nhớ, nhưng trung sỹ không thuộc quân số của tàu, mà thuộc bộ thаm mưu của Gordeev. Theo mệnh lệnh của Tư lệnh Hạm đội TBD xác định thành phần của bộ tham mưu hành quân, tôi được đưa vào với chức danh "chủ nhiệm trinh sát". Тhế nghĩa là trên một giai đoạn nào đó tôi có hai cấp trên trực tiếp là N.P.Коbzar và I.I.Gordeev. Về bản chất các sự kiện đã diễn ra tôi có thể nói như sau. Đó không phải là "cuộc tập trận hỗn hợp", mà là một hoạt động trinh sát dưới sự lãnh đạo của Tổng tư lệnh Hải quân Xô Viết... Chỉ một điều tôi có thể nói đó là các nhiệm vụ đặt ra đã được giải quyết thành công. Khi kết thúc hoạt động Bộ Tham mưu Hành quân của Gordeev I.I. đã chuyển sang tàu hải văn và họ trở về nhà (về lại căn cứ Petropavlovsk-Кamchatka), còn chúng tôi (brzk "Аsia") tiếp tục hoàn thành kế hoạch phục vụ chiến đấu và đi tiếp về phía Nam, tới khu vực Point-Мugu (California), giải quyết các nhiệm vụ của mình tại trường bắn tên lửa của Hạm đội Thái Bình Dương của Hoa Kỳ (ТРП -Тихоокеанский ракетный полигон), bởi vậy chữ đề trên tấm ảnh, theo tôi hiểu, chưa hoàn toàn chính xác. (http://www.timepresses.com/Trips/2011/La_Jolla/La_Jolla.gif) Point-Mugu. Sau khi trở về, tại Vladivostok tôi tình cờ gặp ai đó (chính xác thì tôi không nhớ) trong bộ tham mưu dã chiến và từ anh ta mà tôi được biết rằng, xét theo kết quả chiến dịch hoạt động này, họ suýt nũa không được đề xuất toàn bộ tập thể để nhận khen thưởng của nhà nước "vì đã giải quyết thành công các nhiệm vụ đặt ra và sự thể hiện khi thi hành nhiệm vụ ...". Còn chúng tôi, như người ta nói, KHÔNG BỊ TRỪNG PHẠT!...". (http://flot.com/upload/blog/3c9//HistoryOfFoto_6.jpg) Dudarenko Viktor Еvghenevitch. Моskva. 2011. Lưu ý: Trong thành phần tham gia chiến dịch của các lực lượng khác nhau của hạm đội có 4 tàu ngầm hạt nhân đa mục đích của các Sư đoàn tàu ngầm nguyên tử số 45 phân hạm đội Kamchatka, tàu trinh sát cỡ lớn (brzk) "Asia" thuộc lữ đoàn tàu trinh sát "đặc nhiệm" số 38 (brrzk) Hạm đội Thái Bình Dương, tàu đo vẽ hải văn "Phương Bắc", các đơn vị đảm bảo và phục vụ trên bờ. Bộ tham mưu dã chiến được đặt trên tàu trinh sát brzk "Asia". Tôi muốn nhận xét rằng bút ký có tám phần «Từ lịch sử sư đoàn tàu ngầm nguyên tử số 45 Hạm đội Thái Bình Dương. Các đồng đội. Phần 1. (Phần 2, 3, 4, 5, 6, 7, 08)» năm 2008 được đăng trên blog «Lớn lên từ ngọn giáo», có nhắc đến một cách ngắn gọn chiến dịch đã diễn ra thành công này. Trong quá trình chuẩn bị bài viết tôi đã sử dụng các nguồn tư liệu: bài viết "Trích lịch sử sư đoàn tàu ngầm nguyên tử số 45", "Hồi ức ..." của Bondarenko V.K. và một số thông tin cơ bản từ cuốn sách của Vladimir Mikhailovitch Fedorov "Tình báo Hải quân: lịch sử và hiện tại", xuất bản lần thứ 2 có sửa đổi và bổ sung, Moskva, 2011 ». (http://flot.com/upload/blog/a7d//HistoryOfFoto_7w.jpg) Ngoài ra tôi còn sử dụng một số bức ảnh trên site của lữ đoàn tàu trinh sát đặc nhiệm số 38, cũng như sử dụng những thông tin liên quan đến chiến dịch "Usataya Sinitsa" trong hồi ức của người tham gia chiến dịch, thuyền trưởng "K-305" đề án 671RTM đại tá hải quân Viktor Konstantinovitch Bondarenko. Với tư cách phụ lục trong dạng rút gọn, có thể thêm vào hai bút ký «Charlie» và «Mãi mãi» của Оleg Rykov, người có một số năm phục vụ trên tàu trinh sát cỡ lớn «Аsia» và đã viết những hồi ức xuất sắc về con tàu đó, theo quan điểm của tôi. Hai bút ký đó và những tác phẩm khác của tác giả này, được biết dưới tên gọi <Navalbro>, đăng trên site Những con suối nóng (Горячие Ручьи). ......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 01 Tháng Tư, 2012, 02:23:38 am (tiếp)
Phần 2 (http://world.lib.ru/img/w/weterany_k_b/dezhin/dezhin_015.jpg) Tàu "Poltava" sau khi bốc xong hàng tại cảng Mariel, miền bắc Cuba, tàu cặp cảng thành phố Mariel ngày 15 tháng 9 năm 1962. (http://world.lib.ru/img/w/weterany_k_b/dezhin/dezhin_025.jpg) Hàng mà "Poltava" chở đến là 8 tên lửa đạn đạo R-12. "Chiến tranh Lạnh" - đó là một thời kỳ đối đầu quân sự toàn cầu trên các đại dương của Thế Giới giữa Liên bang Xô Viết và các nước NATO và trước tiên - Hoa Kỳ. Tình hình khủng hoảng phức tạp nhất có thể dẫn đến chiến tranh thế giới thứ III là các sự kiện liên quan đến cuộc khủng hoảng Caribbean năm 1962. (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/9/96/Soviet_b-59_submarine.jpg/774px-Soviet_b-59_submarine.jpg) B-59 đề án 641 năm 1962. Một máy bay lên thẳng Hải quân Mỹ HSS-1 Seabat lượn trên đầu tàu ngầm B-59, con tàu bị buộc phải nổi lên mặt biển dưới áp lực của Hải quân Mỹ trên biển Caribbean gần Cuba (Tháng 10 ngày 28–29, năm 1962) (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/9/9e/Cuban_crisis_map_missile_range.jpg/603px-Cuban_crisis_map_missile_range.jpg) Tầm bắn của tên lửa đạn đạo xô viết bố trí tại Cuba, vòng tròn lớn - R14, vòng tròn giữa - R12. ....... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 01 Tháng Tư, 2012, 08:41:29 am (tiếp)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/b/b1/Cu-map.png) Bản đồ Cuba, từ El Mariel Cuba đến mũi Key West Florida là 119 dặm (192 km). Theo kế hoạch "Anadyr" để hỗ trợ Cuba đã dự kiến đưa vào triển khai tại cảng Mariel của Cuba hải đoàn tàu ngầm số 20 Hạm đội Biển Bắc. Để trinh sát sơ bộ khu vực Cuba, tàu ngầm B-75 được đưa vào mà không bị lực lượng chống tàu ngầm của Hải quân Hoa Kỳ phát hiện và đã thực hiện thành công các mục tiêu của mình. Tháng Mười năm 1962, đã bí mật điều biên đội đầu tiên của hải đoàn tàu ngầm số 20 gồm 4 tàu ngầm 641: B-4, B-36, B-59, B-130 tiếp tục vào căn cứ Mariel. Tuy nhiên, ba tàu ngầm (B-36, B-59 và B-130) bị phát hiện trong điều kiện hoạt động đối kháng chủ động của lực lượng chống tàu ngầm Hoa Kỳ diễn ra rất gắt gao và do buộc phải nổi lên để nạp ắc quy. (http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/image002-3.jpg) B-130 đề án 641, hải đoàn tàu ngầm số 20, hạm đội Biển Bắc, tham gia chiến dịch "Kama" hành quân từ biển Barents đến biển Sargasso và ngược lại. Năm 1962. Trong cùng thời gian trên Thái Bình Dương, tàu ngầm B-88 trong khu vực gần đảo Guam đang thực hiện theo dõi tàu sân bay "Constellation" trong nhóm tàu sân bay-xung kích. Như vậy, trong sáu chiếc tàu ngầm có ba chiếc (B-4, B-88 và B-75) không bị người Mỹ phát hiện. Kết luận chiến lược chủ yếu là, nếu cần thiết, ngay cả ba chiếc tàu ngầm đó cũng có thể giáng những đòn mạnh mẽ không dễ chịu chút nào. Tình thế đó làm cho Bộ Chỉ huy Hải quân Hoa Kỳ rất lo lắng, và họ buộc phải tuyên bố đã đánh mất ưu thế truyền thống kiểm soát được tình hình trên các đại dương, rằng với Hoa Kỳ ở trên biển đã nảy sinh một "cửa sổ tổn thương". (http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/image001-12.jpg) K-153 (BS-153) đề án 629A (chuyển đổi từ đề án 619). Năm 1963, đã trực tiếp triển khai bên bờ biển phía Đông của Hoa Kỳ 4 tàu ngầm: B-74 (pr 611, tàu ngầm diesel trang bị ngư lôi), B-76 (pr 611), B-77 (pr 611), K-153 (pr 629A, tàu ngầm diesel mang tên lửa đạn đạo), các con tàu trên hoạt động trong những điều kiện phòng vệ chống tàu ngầm khắc nghiệt, đã không bị phát hiện và hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ của mình rồi trở về căn cứ. .......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 01 Tháng Tư, 2012, 10:11:34 pm (tiếp)
(http://cft2.lki.ru/Txt2/103/History/Main/U2Museum2.jpg) Mảnh xác U-2 bị tên lửa S-75 Desna thuộc tiểu đoàn 4 LLPK Xô Viết đóng trên lãnh thổ Cuba bắn rơi chiều ngày 27 tháng 10 năm 1962, trưng bày tại bảo tàng "Granma", La Habana. Những sự kiện trong thế giới thời kỳ đó cho thấy tình hình quân sự-chính trị trong các khu vực của Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương rất căng thẳng: các hoạt động quân sự của Mỹ tại Việt Nam, từ năm 1964-1974; cuộc xung đột vũ trang Ấn Độ-Pakistan, 1970; chiến tranh Iran-Iraq, 1980; xung đột vũ trang giữa Iraq và Israel, 1981; chiến tranh cục bộ giữa Anh và Argentina (Falkland Islands), năm 1982; xung đột vũ trang giữa Israel với Syria và Lebanon, năm 1982; cuộc xung đột quân sự của Mỹ - đổ bộ quân đội xuống đảo Grenada để thay đổi chế độ chính trị tại đó năm 1983, và nhiều sự kiện khác. Vâng, và các trường hợp gay cấn khác nữa cũng đâu có ít. Cuộc đối đầu giữa Liên Xô và Hoa Kỳ cứ xoay vòng đi lên với những thành công thay đổi cho nhau. Nhưng thật sự, cần nói rằng trong hầu hết trường hợp chúng ta đã phải có nỗ lực vô cùng lớn lao để tăng tốc và bắt kịp. "Tình huống những năm đó, như nguời ta nói, chưa đến bước ngoặt. Đây là thời kỳ hoàng kim trong việc xây dựng và hoạt động của Hạm đội Hải quân chúng ta. Nó thực sự là một hạm đội đại dương, hạm đội hạt nhân, hạm đội tên lửa chiến lược. Mỗi ngày trên biển ta có hàng chục, thậm chí hàng trăm tàu chiến mặt nước, tàu ngầm, tàu phụ trợ và các tàu thuyền khác. Điều đó đòi hỏi tất cả các loại hình hoạt động, trong đó gồm cả hoạt động trinh sát, hoạt động đảm bảo, cách tổ chức hiệu quả các hoạt động tình báo ... ". Kwiatkowski Yu.P. "Chúng tôi cùng nhau phục vụ hạm đội". (http://flot.com/upload/blog/843//HistoryOfFoto_8a.jpg) Tranh A.S. Chagadaev. Phó-đô đốc Кviatkovskii Yu.P. Chủ nhiệm Trinh sát Hải quân Xô Viết-Nga (1987-1992). Hơn bốn thập kỷ cuộc đối đầu "Chiến tranh Lạnh", người Mỹ, để không giảm uy tín của mình, đã thôi miên bởi những ảo tưởng nào "trả đũa ồ ạt", nào "răn đe thực tế ", nào "cơ động chiến lược" và "chiến lược đại dương", trong quá trình cuộc đua chóng mặt họ đã "thao túng" biết bao nhiêu vũ khí, mà theo các chuyên gia quân sự, có vẻ đã vượt quá nhu cầu khả dĩ đến hai mươi lần. "Vai trò lịch sử của Hạm đội Hải quân Liên Xô trong thời gian khó khăn đó là ở chỗ phải tạo ra 1 lực lượng có khả năng chống lại "chiến lược đại dương" của Hoa Kỳ, làm xuất hiện khả dĩ trong thời hạn ngắn nhất các vũ khí mới về chất lượng, các phương tiện chiến tranh hiện đại, làm chủ trên thực tế các vùng nước đại dương và các vùng biển mới đối với hạm đội, để tiến hành các hoạt động chiến đấu bảo vệ lợi ích của Liên Xô và các đồng minh của mình ... ". Fedorov V.M "Tình báo Hải quân ...". Đằng sau câu nói tổng quát chung nhưng chính xác trên thực tế này, ẩn giấu lao động quân sự của hàng ngàn thủy thủ tàu ngầm, thủy thủ tàu mặt nước, các thủy thủ-trinh sát viên - tất cả những người đã vinh dự được phục vụ nghĩa vụ thiêng liêng của mình - bảo vệ lợi ích của Tổ quốc chúng ta. Sẽ không bao giờ được quên các thủy thủ đã hy sinh mạng sống cho sức mạnh của Hạm đội Hải quân, ví dụ, bạn học của tôi tại trường Hải quân Nakhimov Riga Viktor A. Tkachev, trợ lý chính cho thuyền trưởng tàu ngầm hạt nhân K-8 (đề án 627A), khi từ chối yêu cầu của thuyền trưởng V.B. Bessonov rời con tàu đang đắm vì bị hỏa hoạn (tháng 4 năm 1970). .......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 02 Tháng Tư, 2012, 12:16:18 am (tiếp)
Phần 3 Thành phần tham gia trực tiếp vào chiến dịch phức hợp trinh sát truy tìm có tên mã "Chim sơn tước lông dài" được phân bổ các lực lượng từ hai đơn vị nghiệp vụ binh chủng khác nhau của Hạm đội Thái Bình Dương, mà theo ý kiến của tôi, cần phải cung cấp thông tin ngắn gọn về họ. Sư đoàn tàu ngầm số 45 - một trong những đơn vị tàu ngầm hạt nhân xứng danh nhất của Hạm đội Thái Bình Dương, đóng vai trò quan trọng trong tất cả các giai đoạn đấu tranh chống kẻ thù tiềm năng. Ngày thành lập sư đoàn tàu ngầm hạt nhân 45 - đơn vị vinh quang, được coi là ngày 31 Tháng Mười năm 1962. Người chỉ huy đầu tiên của sư đoàn 45 là Chuẩn Đô đốc V. Salov, xứng đáng được coi là một trong những thủy binh đầu tiên của hạm đội tàu ngầm hạt nhân đất nước ta, bởi vì trước đó ông từng là chỉ huy chiếc tàu ngầm hạt nhân thứ hai K-5 đề án 627A của Hải quân Liên Xô. Về mặt lãnh địa, sư đoàn 45 đóng quân trong thị trấn Rybatchii, trên bờ biển phía nam vịnh Avachinskaya (Kamchatka) (http://flot.com/upload/blog/80d//HistoryOfFoto_9a.jpg) Trong năm 1963, bốn tàu ngầm hạt nhân đầu tiên đã đến Kamchatka và gia nhập sư đoàn tàu ngầm 45. Đó là một sự kiện vô cùng quan trọng - tại Hạm đội Thái Bình Dương đã thành lập một hạm đội hạt nhân hiện đại: hai tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân K-122 (thuyền trưởng trung tá hải quân V.V.Smirnov) và K-151 (thuyền trưởng trung tá hải quân I.V.Vasilenko) thuộc đề án 659 (SSGN), được đóng tại nhà máy đóng tàu № 199 ở thành phố Komsomolsk-na-Amur. Các tàu ngầm có trong biên chế vũ khí - 6 tên lửa hành trình P-5 trong container và 4 ngư lôi - TA 533 mm ngư lôi không có đạn dự trữ, cũng như 2 ống phóng ngư lôi TA-406 mm đằng mũi và 2 ống phóng ngư lôi TA-406 mm phía đuôi với dự trữ 18 đạn ngư lôi. Hai tàu K-115 (đề án 627A) và K-178 (đề án 658) là những tàu thực hiện chuyến đi đầu tiên chưa từng có trong lịch sử hạm đội tàu ngầm đất nước ta, di chuyển xuyên Bắc Băng Dương từ Hạm đội Biển Bắc sang Hạm đội Thái Bình Dương. Chỉ huy các tàu ngầm trên là hai trung tá hải quân I.R.Dubyaga và A.P.Mikhailovskii (http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/image001-13.jpg) K-178 đề án 658M. Ta có thể nhìn thấy đạn ngư lôi tập trận đang kẹt trên boong vỏ nhẹ . ......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 02 Tháng Tư, 2012, 12:04:36 pm (tiếp)
Trong những năm tiếp theo, sư đoàn tiếp nhận các tàu ngầm mới nhất, được thiết kế để giải quyết vấn đề chiến đấu chống các tàu ngầm hạt nhân mang tên lửa của kẻ thù trong các khu vực tuần tra của chúng, chống các tàu sân bay, tàu mặt nước, giải quyết các nhiệm vụ khác, cũng như nhiệm vụ phòng thủ chống tàu ngầm cho các tàu ngầm tuần dương mang tên lửa chiến lược (RPK SN - SSBN) của chúng ta, các tàu mặt nước và tàu vận tải. (http://flot.com/upload/blog/927//HistoryOfFoto_12a.jpg) Tàu ngầm đề án 658 trang bị 3 tên lửa R-13. Nhiệm vụ tác chiến chống tàu ngầm mới đặt ra trước sư đoàn tàu ngầm 45 là phải trở thành một đơn vị đồng nhất, chuyên môn hóa về cấu trúc chống ngầm. Tàu ngầm trang bị vũ khí tên lửa được chuyển sang đơn vị mới tổ chức trên bán đảo Kamchatka – Sư đoàn tàu ngầm hạt nhân mang tên lửa hành trình: vào năm 1967 – đó là sư đoàn tàu ngầm số 10, còn vào năm 1970 – sư đoàn tàu ngầm số 8. Tháng 5 năm 1974 đến Kamchatka có hai tàu ngầm hạt nhân đa năng thế hệ thứ hai K-314 đề án 671 "Yorsh" (thuyền trưởng đại tá hải quân V.P.Gontarev - К-314 проекта 671 «Ёрш»), và vài tháng sau cùng năm, biên chế tàu của sư đoàn tàu ngầm 45 được bổ sung thêm một tàu ngầm đề án 671 K-454 (thuyền trưởng đại tá hải quân V.Ya.Baranovsky). Đại tá hải quân Baranovski chuyển giao tàu cho trung tá hải quân A.I. Khraptovitch, còn ông trở về Hạm đội Biển Bắc. Năm 1976, sau một chuyến đi huyền thoại trong tư thế ngầm vòng quanh thế giới, vượt qua Đại Tây Dương và Thái Bình Dương, vòng qua eo biển Drake, con tàu thứ ba đến Kamchatka K-469 cũng thuộc đề án này (chỉ huy tàu là trung tá hải quân V.S.Urezchenko). Việc chế tạo tại đất nước ta tàu ngầm hạt nhân đề án 671 trùng hợp với việc thực hiện ở Hoa Kỳ chương trình xây dựng tàu ngầm hạt nhân đa mục đích thế hệ thứ ba "Los Angeles", đã trở nên loại tàu ngầm số lượng phổ biến nhất trên thế giới. "Los Angeles" - loạt tàu ngầm hạt nhân đa mục đích của Hải quân Hoa Kỳ. Chiếc tàu ngầm đầu tiên trong lớp này được đưa vào hoạt động ngày 13 tháng 11 năm 1976, chiếc cuối cùng (USS «Cheyenne") - ngày 13 tháng 9 năm 1996. Tất cả số tàu được đóng thuộc lớp "Los Ageles" là 62 chiếc. (http://flot.com/upload/blog/fa0//HistoryOfFoto_14a.jpg) USS «Los Angeles (SSN-688), tàu đầu tiên thuộc lớp tàu ngầm trên. Các tàu ngầm thuộc lớp "Los Angeles", đóng sau năm 1982, được trang bị 12 hệ thống phóng thẳng đứng cho tên lửa hành trình "Tomahawk" với các phiên bản tấn công mục tiêu trên mặt đất và trên mặt nước. Đến năm 1991, ba phần tư các tàu ngầm lớp "Los Angeles" đã được trang bị tên lửa hành trình "Tomahawk". Trong một thời gian ngắn, biên chế tác chiến của Sư đoàn tàu ngầm 45 hiện có ba tàu ngầm đề án 671, nay được bổ sung các tàu ngầm mới ưu điểm hơn thuộc đề án 671RTM, xét theo các khả năng và đặc điểm, không hề thua kém so với lớp tàu ngầm Mỹ, mà thậm chí còn có điểm vượt trội. Các chỉ huy đầu tiên của những chiếc tàu ngầm hạt nhân đó là: đại tá hải quân Bondarenko V.K. (K-305), V.F.Mikhalev (K-360), V.A.Saprykin (K-242), các trung tá hải quân I.I. Gordeev (K-492), Poznyakov A.A. (K-507), V.V. Babushkin (K-412), Khomiakov Yu.N. (K-247), Vodovatov V.V. (K-251), V.A.Terekhin (K-324), P.I. Kondrikov (K-355), Yu.P.Avdeychik (K-218) và thiếu tá hải quân V.V. Ushakov (K-255). Như vậy, đầu những năm 1980 trong thành phần sư đoàn tàu ngầm 45 chủ yếu là các tàu ngầm hạt nhân đa năng thế hệ thứ hai và thứ ba thuộc các đề án 671 và 671RTM. .......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 02 Tháng Tư, 2012, 09:17:15 pm (tiếp)
Kết quả thực hiện nhiệm vụ chiến đấu hiệu quả nhất và dễ thấy nhất trong sư đoàn thời gian ấy là của tàu ngầm K-492. Chỉ huy đầu tiên của nó, đại tá hải quân I.I.Gordeev đã biết xây dựng 1 thủy thủ đoàn tuân thủ kỷ luật, mạnh mẽ, có tổ chức, bồi dưỡng và đào tạo những người đồng chí hướng, chẳng hạn như các trung tá hải quân V.Ya.Dudko, O.M.Lobanov, M.A.Aliev, những người mà trong nhiều năm đã tiếp tục theo nhau chỉ huy thành công chiếc tàu ngầm của họ. Đó là thời kỳ của kỹ năng thực sự, hoặc như các thủy thủ tàu ngầm vẫn nhận định, đó là thời kỳ bùng nổ sức mạnh của sư đoàn, mang đến cho tâm trí một ý nghĩa thực tế rằng bạn đã làm chủ được công nghệ tiên tiến, có được cảm giác không thể diễn tả nổi của niềm tin vào sức mạnh của mình và vũ khí trong tay. Mức độ này có thể được đảm bảo bởi một thực tế rằng con tàu vẫn còn mới, hoạt động phù hợp, còn thủy thủ đoàn còn chưa bị "pha loãng" bởi những đợt bổ sung mới sau khi thành lập lần đầu. Ngoài ra tại sư đoàn đã huấn luyện được hai thủy thủ đoàn dự bị. Vào tháng Năm năm 1981, chiếc đầu tiên trong lớp tàu ngầm hạt nhân "Ohio" đã được đưa vào biên chế Hải quân Hoa Kỳ với hệ thống vũ khí tên lửa "Trident"- đây là một vũ khí có sức mạnh rất ghê gớm và nguy hiểm. Ngay cả trí tưởng tượng cũng bị vượt qua, nếu bạn biết rằng theo các khả năng của nó, chỉ một SSBN "Ohio" cũng vượt trội mười SSBN các sê ri trước đây như "George Washington" và "Eten Allen" với 160 tên lửa "Polaris". Tiếp theo chiếc tàu ngầm đầu đàn dần dần đưa vào hoạt động 7 SSBN nữa của lớp này ("Michigan", "Florida, "Georgia", "Henry M.Jackson", "Alabama", "Alaska" và "Nevada"), được trang bị 24 tên lửa đạn đạo với tầm bắn 11.000 km, đảm bảo bắn trúng các mục tiêu nằm trên lãnh thổ Liên Xô đến tận Urals. Tất cả số tàu ngầm này nằm trong đội hình hải đoàn tàu ngầm số 17 của Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ. Địa điểm đặt căn cứ của chúng trở thành căn cứ hải quân Bangor, bang Washington. (http://flot.com/upload/blog/baa//HistoryOfFoto_17a.jpg) Tàu ngầm nguyên tử lớp "Ohio" của Hải quân Mỹ trong tư thế nổi. ......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 02 Tháng Tư, 2012, 10:13:08 pm (tiếp)
Hạm đội Thái Bình Dương vinh quang của chúng ta phải trực tiếp đối đầu với những con quái vật khủng khiếp như vậy - bằng tất cả các lực lượng và phương tiện: trên mặt nước, dưới mặt nước, tàu không gian, tàu trinh sát và các đơn vị trinh sát vô tuyến điện tử đặc nhiệm trên bờ để: tìm kiếm, phát hiện, theo dõi, chuyển giao chỉ thị mục tiêu, và tiêu diệt (tấn công giả định hoặc thực tế theo tín hiệu đặc biệt). Chúng ta biết rằng hải đoàn tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo số 17 của Hải quân Mỹ đặt căn cứ tại Bangor (bang Washington), ở tây bắc Hoa Kỳ, trên biên giới với Canada. Đó là vị trí rất thuận tiện và bí mật, nối vào Thái Bình Dương bằng eo biển Juan de Fuca, chiều dài eo biển khoảng 140 km, chiều rộng đến 40 km và độ sâu tại lối vào - 256 m. Khu mặt nước eo biển lớn đến mức có thể bố trí cho 5 tàu của các hạm đội lớn nhất thế giới chiếm lĩnh đồng thời. (http://flot.com/upload/blog/9ee//HistoryOfFoto_18a.jpg) Bản đồ eo biển Juan de Fuca. Vịnh Alaska. Thái Bình Dương. Mặc dù rằng trọng tâm chú ý của Bộ tư lệnh Hải quân là các vấn đề kỹ thuật phát hiện, khám phá các khả năng và phương pháp sử dụng các phương tiện tác chiến của các đơn vị tàu sân bay xung kích của đối phương và phát triển các phương pháp tác chiến chống lại, nhưng trên bình diện thứ nhất nổi lên vấn đề trinh sát và đảm bảo cho cuộc đấu tranh với các tàu ngầm hạt nhân mang tên lửa đạn đạo. Với các tàu ngầm hạt nhân đa mục đích thế hệ thứ hai và thứ ba thuộc đề án 671 và 671RTM có đặc tính tiếng ồn không tồi hơn so với các tàu ngầm Mỹ, nhiệm vụ chính đặt ra là theo dõi các tàu ngầm hạt nhân mang tên lửa đạn đạo lớp "Ohio", theo dõi các chuyến xuất phát của chúng tới khu vực tuần tra chiến đấu và trở về căn cứ. Những kết quả tích cực ban đầu không phải chờ đợi lâu. Bây giờ là lúc ta chuyển đến các hồi ức của thuyền trưởng tàu ngầm hạt nhân K-305 sư đoàn tàu ngầm 45 đại tá hải quân Bondarenko Viktor Konstantinovitch. "Trước Hạm đội Thái Bình Dương đặt ra nhiệm vụ phải đối phó với các tàu ngầm này. Nhiệm vụ đó được giao cho sư đoàn tàu ngầm chống ngầm số 45. Từ 1982 các tàu ngầm của sư đoàn bắt đầu lướt đến mòn vẹt con đường mòn trên biển tới đó, tới Bangor. Tàu ngầm đầu tiên khai phá con đường này là «К-492» do trung tá hải quân DUDKO Vladimir Yakovlevitch chỉ huy. Anh đã có khả năng phát hiện SSBN và theo dõi nó. Ngôi sao Anh hùng đã chiếu trên đầu anh, nhưng … con tàu thứ 2 là «К-507» dưới sự chỉ huy của đại tá hải quân POZNIAKOV Anatolii Alekseevitch, tàu ngầm thứ 3 - «К-412» do trung tá hải quân KAPSHUK Viktor Petrovitch chỉ huy. Ngoài ra đó là chiến dịch săn tìm chống ngầm sử dụng biệt đội có lực lượng ít nhất, dưới tên mã "Gió tươi" («Свежий ветер»). Đó là vào năm 1983. Tôi đã viết về điều đó ở phần trên. Khi đó đã phát hiện ra một SSBN đang trên đường tuần dương chiến đấu, và chúng tôi đã biết cách ép những nét "chỉnh sửa" vào trong kế hoạch của nó. Năm 1984 tôi vẫn tiếp tục đến đấy trên tàu ngầm «К-360» cùng với thủy thủ đoàn của trung tá hải quân BUTAKOV Grigorii Lukitch, người đã biết cách phát hiện, thiết lập sự theo dõi và ghi âm (tiếng ồn) của SSBN «Мichigan». Ngôi sao Anh hùng đã lấp lánh, nhưng …. Tuổi trẻ." ........ Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 02 Tháng Tư, 2012, 11:49:42 pm (tiếp)
Trong quá trình giải quyết các vấn đề đặt ra trong việc tìm kiếm trên hành trình và ngắn hạn các SSBN của Mỹ, tìm kiếm trong các khu vực thực hiện nhiệm vụ, tại lối ra vào của điểm trú đóng, theo dõi khi chúng đi tiếp đến khu vực tuần tra chiến đấu và trở về căn cứ, các chỉ huy tàu ngầm hạt nhân của chúng tôi phải thể hiện nghệ thuật tác chiến hải quân một cách sáng tạo, lòng can đảm, tính tháo vát, sự kiên trì và các phẩm chất chỉ huy của người thủy thủ tàu ngầm. Từ 1982 đến 1986, Sư Đoàn 45 do chuẩn đô đốc Igor Ivanovich Gordeev chỉ huy, người kế vị ông là chuẩn đô đốc Oleg A.Erofeev. "Vào đầu những năm 197x, số lượng các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo bị phát hiện của Hải quân Mỹ là 40-45, còn các tàu ngầm hạt nhân đa mục đích - 65-87 mỗi năm. Phạm vi rộng nhất của các hoạt động chống tàu ngầm đạt được là vào năm 1984, khi tại các biển Na Uy, vùng Đông Bắc và Tây Đại Tây Dương, Địa Trung Hải, các khu vực thuộc Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương đã tiến hành 12 chiến dịch tìm kiếm chống tàu ngầm trên các quy mô khác nhau. Tham gia các hoạt động đó là 32 tàu ngầm hạt nhân, 26 tàu ngầm diesel, 31 tàu mặt nước. Máy bay chống tàu ngầm đã thực hiện hơn 80 phi vụ trong quá trình tiến hành các chiến dịch này. Kết quả thật đáng kinh ngạc: đã phát hiện được 10 tàu ngầm hạt nhân mang tên lửa đạn đạo và 19 tàu ngầm hạt nhân đa mục đích. Năm 1985, đã thực hiện các chiến dịch tìm kiếm chống tàu ngầm đầu tiên của các sư đoàn tàu ngầm đa mục đích ở Đại Tây Dương và Thái Bình Dương ... ". V.M.Fedorov. "Tình báo Hải quân ...". Vì lợi ích của sự thật cần nói rằng các chiến dịch đầu tiên như vậy đã được lên kế hoạch và thực hiện thành công bởi các tàu ngầm hạt nhân của sư đoàn tàu ngầm 45 trong năm 1983 - một chiến dịch hoạt động có tên mã là "Gió tươi", khúc dạo đầu cho các hoạt động chống tàu ngầm phức tạp hơn tiếp theo vào năm 1985 có tên mã là "Chim sơn tước lông dài". Thật không may, những sự kiện quan trọng này không được phản ánh đầy đủ trong các sách báo quân sự, và những anh hùng của những sự kiện ấy thì chẳng ai biết. Sau khi nghiên cứu kinh nghiệm của các thủy thủ tàu ngầm Thái Bình Dương và đưa ra kết luận phù hợp thực tế, các thủy thủ tàu ngầm Hạm đội Biển Bắc, cũng tiến hành các hoạt động chống tàu ngầm như các thủy thủ tàu ngầm Hạm đội Thái Bình Dương: 1985 - "Aport" và năm 1987 - "Atrina". Tất cả các thành viên tham gia trong các hoạt động trên đều ngập chìm trong các phần thưởng, đề bạt lên cấp cao hơn và những sự "dễ chịu" khác. Chỉ có kẻ lười biếng mới không bận tâm phát biểu những lời khen ngợi. Tất nhiên, những người xứng đáng cần được tôn trọng và phải được nhận xét phù hợp. Câu hỏi là, vậy thì lý do tại sao người ta lại quên những con người của Hạm đội Thái Bình Dương? V.K.Bondarenko tiếp tục: "Thời ấy, tại Bộ tham mưu Hạm đội Thái Bình Dương nảy sinh ý tưởng tiến hành chiến dịch chống ngầm quy mô lớn sử dụng một số tàu ngầm hiệp đồng cùng các lực lượng khác của hạm đội. Ở đây tốt nhất ta nhường lời cho người lãnh đạo chiến dịch này, tư lệnh sư đoàn 45 chuẩn đô đốc GORDEEV Igor Ivanovitch. Ông đã cho phép tôi sử dụng bài phát biểu của ông tại cuộc tập huấn các chỉ huy đơn vị Hải quân Liên Xô vào tháng 4 năm 1986 ở thành phố Leningrad. " I.I.Gordeev kể: "Vào năm 1985 một trong những nhiệm vụ mà kế hoạch phục vụ chiến đấu của sư đoàn 45 đặt ra là: -bằng lực lượng bản thân của sư đoàn và lực lượng phối thuộc tiến hành tập trung tìm kiếm các SSBN của Hải quân Hoa Kỳ một cách trực tiếp cạnh lãnh hải vùng bờ biển phía tây Hợp chủng quốc trong khu vực vịnh Juan de Fuca (nơi đóng quân của hải đoàn tàu ngầm số 17 của Hoa Kỳ). Khi soạn thảo kế hoạch huấn luyện và chuẩn bị, người tham gia tích cực nhất là phó ban (chống ngầm) Bộ tham mưu Hạm đội Thái Bình Dương đại tá hải quân KONAREV N.A. sau này là phó đô đốc. Ông làm việc rất căng với ban tham mưu sư đoàn. Phải thừa nhận một cách công bằng, cơ quan tham mưu cấp trên tức bộ tham mưu phân hạm đội, túi bụi trong những việc hàng ngày, tỏ ra khá thờ ơ với công tác chuẩn bị cho chiến dịch. Tôi cho rằng, chúng tôi đã có khả năng, xin phép nói thật, trong lần duy nhất, che mắt được tình báo của đối thủ tiềm năng về thời gian, hướng và mục tiêu các chuyến ra khơi của của các con tàu. Kinh nghiệm chiến tranh thế giới thứ 2 trên Thái Bình Dương đã được sử dụng, trong đó có kinh nghiệm của Nhật Bản – khi chuẩn bị tấn công Trân Châu Cảng. Vậy là, các ký hiệu thực hành của cơ quan hậu cần nỗ lực chuẩn bị cho một trong các tàu ngầm đi biển ở khu vực Ấn Độ Dương. Sỹ quan các tàu ngầm khác nêu yêu cầu trong các báo cáo của mình trả họ về Kamchatka sau khi chuyển tàu ngầm xuyên dưới băng Bắc Băng Dương sang cho Hạm đội Biển Bắc và v.v. Kết quả của những chiến dịch ngụy trang như vậy là chúng tôi làm rối trí cả các "cơ quan có thẩm quyền", làm cho họ tức giận và phiền lòng." ....... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 03 Tháng Tư, 2012, 12:20:06 am (tiếp)
V.K.Bondarenko tiếp tục: "Mùa hè 1985 bắt đầu công tác chuẩn bị và huấn luyện theo kế hoạch trước khi tiến hành chiến dịch săn tìm chống ngầm dưới tên mã "Chim sơn tước lông dài" («Усатая синица»). Trong chiến dịch này tham gia có các tàu ngầm: «К-492» do trung tá hải quân LOBANOV Оleg Мikhailovitch chỉ huy, «К-412» do thiếu tá hải quân GOLOBOKOV Sergei Аnatolievitch chỉ huy, «К-360» do trung tá hải quân KULISH Viktor Petrovitch chỉ huy, «К-242» với thủy thủ đoàn của tàu ngầm «К-305» dưới sự chỉ huy của đại tá hải quân BONDARENKO Viktor Коnstantinovitch, tàu trinh sát cỡ lớn «Аzia», tàu hải văn «Phương Bắc» và 4 máy bay chống ngầm tầm xa Тu-142М. Trong số các thuyền trưởng tàu ngầm, chỉ có tôi đã từng ở trong khu vực này. Thiếu tá hải quân GOLOBOKOV S.А. mới được bổ nhiệm thuyền trưởng chưa lâu, còn LOBANOV và KULISH đã chỉ huy tàu ngầm sang năm thứ ba. Trong quá trình chuẩn bị chúng tôi thường ra biển để hoàn thiện việc hợp đồng tác chiến. Các thuyền trưởng tàu ngầm cần phải được thực hành tìm kiếm và theo dõi SSBN. Tại một chuyến ra khơi tư lệnh sư đoàn lệnh cho tôi kế hoạch cơ động, chỉ thị độ sâu lặn 100 m, và nhấn mạnh biện pháp an toàn. Cần phải tạo khả năng cho thiếu tá hải quân GOLOBOKOV S.А. theo dõi. Chúng tôi chiếm lĩnh vị trí của mình, lặn xuống, bắt đầu làm việc. Sau 2 giờ dồng hồ, trong khu vực khoang tàu ngầm thứ nhất vang lên tiếng đùng đoàng. Sau đó là một cú đập, một chuỗi cú đập, thân tàu rú lên. một loạt cú đập rất mạnh nữa. Tôi ra lệnh báo động, đổi hướng, tức tốc cho tàu nổi lên. Ý nghĩ đầu tiên – có chuyện gì đó với tàu ngầm đang theo dõi. Chưa kịp trèo lên cầu điều hướng tháp chỉ huy hành trình, tôi đã nghe hiệu thính viên báo cáo rằng sư đoàn trưởng gọi liên lạc. Các câu hỏi là trùng hợp – «chuyện gì xảy ra vậy?». Tại đó cuộc «thao luyện» kết thúc. Sư đoàn trưởng đi về căn cứ, còn tôi ở lại thêm một ngày đêm nữa trong khu vực này. Sau chấn động như thế mà không hiểu cái gì xảy ra, thủy thủ đoàn suốt đêm không ngủ. Chúng tôi đi khắp con tàu lờ đờ uể oải. Lúc về tới căn cứ mới rõ là cách chúng tôi 40 dặm (72 км.), máy bay tiến hành hủy các quả bom chìm cũ. Tôi hình dung ra các thủy thủ tàu ngầm trong thời gian chiến tranh cảm thấy điều gì, khi những quả bom chìm đang thực sự rơi xuống đầu họ. Trong những ngày 20 của tháng 7 các tàu ngầm lại bắt đầu hành trình. Lần này đến lượt tôi. Tôi khởi động thiết bị năng lượng chính, chờ lệnh "đồng ý" («добро») cho xuất phát, nhưng thay vào đó tôi được lệnh thả thanh AZ (ngừng, giảm hoạt động lò phản ứng). Ba lần như vậy. Chỉ sau lần thứ 4 tàu của tôi mới ra biển. Thì ra tại Моskva trong thời gian ấy đang diễn ra Liên hoan Thanh niên Thế giới. Đó, cũng là nguyên nhân quan trọng. Chuyến đi của các tàu ngầm tới khu vực của mình diễn ra bình thường. Thực tế thì trện tàu ngầm của tôi, hệ thủy âm đã không làm việc. Nguyên nhân ở phế phẩm của nhà máy trong chế tạo bánh răng chất dẻo tổng hợp. Bằng cách nào đó, chúng tôi đã tìm được chi tiết bằng thép ít nhiều phù hợp hơn, chúng tôi sửa và điều chỉnh lại - tất cả lại chạy. Do tàu ngầm được bảo hành, nên khi trở về họ muốn khởi tố hình sự chống lại tôi, nhưng tư lệnh phân hạm đội điều chỉnh việc đó ngay, sau khi ông hỏi tôi: «anh đã hoàn thành nhiệm vụ chưa?, đã ạ. Vậy đi đi, làm việc đi, còn nhóm giám sát bảo hành này thì để tôi trực tiếp giải quyết ». Ông ấy đã giải quyết xong. Khi tôi gặp các đại diện ấy thì nghe họ nói: «Sao cậu lại lôi tư lệnh vào, thế không thể dọa một chút à?». Сhiếm lĩnh khu vực xong, chúng tôi bắt đầu làm việc. Từng bước, biệt đội chống ngầm bắt đầu tăng lực lượng trong khu vực mà người ta nói rằng sắp đến thời gian SSBN ra khơi hoặc về căn cứ". I.I.Gordeev kể: «Các tàu ngầm và lực lượng phối thuộc chúng đã triển khai trên một mặt trận rộng lớn, chiếm toàn bộ mặt nước phần bắc Thái Bình Dương. Theo kế hoạch đã được Tổng tư lệnh Hải quân phê chuẩn vảo cuối tháng Tám năm 1985, một con tàu chỉ huy chở bộ tham mưu săn tìm đã có mặt trong khu vực chiến dịch. Tới thời gian này các lực lượng trực thuộc dưới quyền theo mệnh lệnh tác chiến đã chiếm lĩnh xong khu vực của mình. Suốt hai tuần lễ trước khi hành động chủ động, đường liên lạc ổn định (giữa các tàu ngầm và căn cứ chỉ huy) đã hoàn thành bằng cách sử dụng kênh liên lạc vũ trụ. Điều này cho phép trong thời hạn ngắn nhất có thể trao đổi được thông tin. (http://flot.com/upload/blog/3d4//HistoryOfFoto_24.jpg) Phần phía bắc Thái Bình Dương. Những sự kiện kịch tính nhất diễn ra trong những ngày 26-27 tháng 8, khi các tàu ngầm của chúng tôi, chặn trên tất cả các thủy đạo dẫn vào căn cứ hải quân, cũng không phát hiện ra các tàu ngầm tên lửa đạn đạo ra ngoài căn cứ. Hồi ấy chúng tôi đã không đánh giá được thật nghiêm túc ý nghĩa và tầm quan trọng mà bộ chỉ huy Hải quân Hoa Kỳ dành cho vấn đề đảm bảo ra khơi tuần tra chiến đấu của các con tàu như SSBN. Chúng tôi đã tiếp cận vấn đề đó theo quan điểm chưa phù hợp của mình. Tàu ngầm «К-242» với thủy thủ đoàn сủa đại tá hải quân BONDARENKO V.K. hoạt động trên hướng chính, rõ ràng đã bị các máy bay của lực lượng chống ngầm Hoa Kỳ phát hiện, trên đầu con tàu thường xuyên có 2 – 3 máy bay «Оrion» bay treo suốt ngày đêm. Các phao thủy âm được thả xuống biển. Hoạt động của các thủy thủ tàu ngầm còn phức tạp bội phần vì vô số các con tàu đánh cá trong khu vực - khoảng 3 trăm «tàu ngư phủ». Đến tận bây giờ tôi vẫn ngả mũ trước tài nghệ và lòng dũng cảm của thuyền trưởng tàu ngầm đại tá hải quân BONDARENKO Viktor Konstantinovitch, đã thực hiện cùng với thủy thủ đoàn anh hùng của mình việc săn tìm các chuyến xuất phát khỏi căn cứ của các tàu ngầm tên lửa đạn đạo Hoa Kỳ. Rất nhiều chuyến nổi lên độ sâu kính tiềm vọng để chính xác hóa vị trí, bởi lẽ cạnh lãnh hải (Mỹ) độ sâu không lớn - dải đá ngầm La Perouse - khu vực sôi động các tàu đánh cá – đó là việc không hề đơn giản. Thậm chí đôi khi cần phải cho thủy thủ đoàn giảm bớt căng thẳng, tôi cho họ ra vùng nước sâu hơn. Vậy là trong thời gian tính toán trước đã không phát hiện ra SSBN của Mỹ. Ai có lỗi – chúng tôi hay ngành trinh sát đã báo tình hình chưa chính xác? Làm gì đây?" (http://flot.com/upload/blog/c49//HistoryOfFoto_25a.jpg) Máy bay chống ngầm "Orion" của Mỹ. ......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 03 Tháng Tư, 2012, 01:07:18 am (tiếp)
(http://www.oceanology.ru/wp-content/uploads/2009/10/submarine-canyon.jpg) Hang động ngầm dưới lòng biển. Bản đồ USGS Pacific Sea-Floor Mapping Project. "Tôi, với tư cách chỉ huy lực lượng săn tìm, phải quyết định mà không chờ Bộ Tổng tham mưu Hải quân, - thời gian được tính từng phút - một quyết định mạo hiểm bố trí lại lực lượng. Kết quả là đã thành công, và còn được củng cố chắc chắn thêm bởi những hoạt động sáng tạo của thuyền trưởng tàu ngầm «К-492» trung tá hải quân LOBANOV О.М. Nhờ liên lạc ổn định giữa các tàu ngầm và lãnh đạo lực lượng săn tìm, LOBANOV đã nắm vững tình hình, và hiểu rằng khu vực trong đó đang có tàu ngầm «К-242», đã bị lộ trước đối phương rồi. Nghĩa là, SSBN sẽ vòng tránh khu vực đó, đi dọc theo bờ biển lên phía bắc và sẽ đột phá ra đại dương ở chiều sâu lớn theo một trong các khe ngầm (canones) trong khu vực quần đảo Charlotte (bờ biển tây Canada). Sau khi phân tích kỹ tình hình anh ấy ra quyết định chiếm lĩnh trước thời hạn vị trí thuận lợi đó để "săn mồi".Kết quả không phải chờ lâu.Ban đầu phát hiện được tiếng ồn của frigate hộ tống, còn trên nền tiếng ồn đó là tiếng ồn của tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa đạn đạo. Tiếp theo – việc của các kỹ thuật viên. Đã thiết lập được sự theo dõi với SSBN.
Chẳng mấy chốc tàu hải văn «Phương Bắc» phát hiện ra dấu vết của SSBN, và bắt đầu theo dõi nó. Lệnh truyền cho tàu ngầm «К-360» tiếp nhận tiếp xúc từ tàu hải văn và, trung tá hải quân КULISH V.P. nhanh chóng thiết lập được tiếp xúc thủy âm với SSBN và bắt đầu tiến hành sự theo dõi một cách ổn định và chắc chắn. Đó là một SSBN, đang trở về từ chuyến tuần dương chiến đấu. Anh ấy theo dõi được nó đến tận lúc nó chủ động cơ động cắt đuôi đeo bám và sử dụng thiết bị thủy âm đối phó, kể cả dàn dựng giả mục tiêu tàu ngầm. Tôi đã báo cáo quá trình thực hiện chiến dịch này tại cuộc tập huấn các chỉ huy đơn vị hợp thành Hải quân Xô Viết vào cuối tháng 4 năm 1986 ở thành phố Leningrad. Lãnh đạo đã ra quyết định ban hành chỉ thị của Tổng tư lệnh Hải quân, trong đó hoạt động của các thành viên tham gia chiến dịch được dẫn làm ví dụ cho toàn bộ cán bộ chiến sỹ Hạm đội Hải quân …" Bondarenko V.K.: "Còn tại Hạm đội Thái Bình Dương – không một người nào được thưởng, thậm chí không cả lời cảm ơn. Thực ra, Igor Ivanovitch GORDEEV đã cố gắng đề đạt lên trên, nhưng Ủy viên Hội đồng Quân sự, vẫn con người đó, đã cắt cánh của ông." Gordeev I.I: "Đến tận bây giờ trong tai tôi vẫn còn vang lên những lời nói xúc phạm những con người đã hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu một cách dũng cảm quên mình, những lời nói ra từ miệng Uỷ viên Hội đồng Quân sự phân hạm đội tại cuộc họp mở rộng Hội đồng Quân sự: «…họ đã đến đấy, dùi lỗ để đeo huân chương, họ cứ thế mà đi, rung rung lắc lắc những cái bụng, các anh xem có tìm được anh hùng không…" Bondarenko V.K.: "Bức tranh nhận được thật thú vị. Ý tưởng hình thành từ Tư lệnh Hạm đội Biển Bắc cuối những năm 197x, đầu những năm 198x các thủy binh Thái Bình Dương thực hiện, còn tất cả vòng nguyệt quế thì thuộc về các thủy binh Biển Bắc. Ngoài ra, cho đến tận bây giờ, về các chiến dịch của Hạm đội Thái Bình Dương như «Gió tươi», khúc dạo đầu cho chiến dịch «Chim sơn tước lông dài», cũng như «Аport» đối với «Аtrina», người ta không hề nói một lời nào. Các độc giả hãy hiểu tôi, không phải là tôi ghen tỵ, mà là tôi muốn sự công bằng. Tôi, với tư cách một thủy thủ tàu ngầm, hiểu rất rõ rằng, сác thuyền trưởng vấp phải vấn đề thế nào – các thủy binh Biển Bắc. Đương nhiên, phần thưởng của họ là xứng đáng, nhưng câu chuyện không nói về điều đó. Phải chăng Tổng tư lệnh không thể nào bất công như vậy đối với mọi người. Tất cả chúng ta cùng phục vụ một sự nghiệp. Để khẳng định điều đã nói, tôi dẫn ra chỉ một ví dụ quá rõ ràng. Khi hành quân chuyển căn cứ cho các tàu ngầm, những tàu đã cũ, từ Hạm đội Biển Bắc sang Hạm đội Thái Bình Dương 90% các thuyền trưởng tàu ngầm và không chỉ các thuyền trưởng tàu ngầm đều được phong danh hiệu Anh hùng Liên bang Xô Viết. Còn vào thời kỳ 1981- 1983, khi có 3 tàu ngầm mới nhất hành quân chuyển cứ từ đội hình sư đoàn 45 sang Hạm đội Biển Bắc, chỉ có một thuyền trưởng được thưởng huân chương Lê nin. Đồng thời tư lệnh sư đoàn 45 ЕRОFЕЕV và GОRDЕЕV là sỹ quan chỉ huy cao cấp trên chuyến hành quân một lần, còn sư đoàn phó phụ trách cơ điện hàng hải của họ đại tá hải quân LYSHENКО - thực hiện 3 chuyến hành quân tương tự mà chẳng có phần thưởng nào, như thể ông ta đi du lịch trên tàu thủy chở khách. Chúng tôi đã phục vụ như vậy đấy, tất nhiên, không phải vì phần thưởng. Tôi quyết định viết về chiến dịch này bởi vì chưa có ai viết về nó, về những con người xứng đáng để mọi người biết đến họ, còn «Аtrina» đã được nói đến phát ngán rồi." ......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 03 Tháng Tư, 2012, 02:08:05 am (tiếp)
Phần 4 Vai trò của con tàu chỉ huy, trên đó đặt bộ tham mưu hành quân đứng đầu là chuẩn đô đốc Gordeev I.I., do tàu trinh sát cỡ lớn SSV-493 "Châu Á" ("Asia") thực hiện, con tàu theo phân loại của Mỹ gọi là "BALZAM". (http://flot.com/upload/blog/6aa//HistoryOfFoto_26a.jpg) Năm 1985, tàu trinh sát cỡ lớn (brzk) "Châu Á", số mạn SSV- 493, chính thức gia nhập biên chế Lữ đoàn 38 (brko) tàu trinh sát đặc nhiệm thuộc Phòng Trinh sát Hạm đội Thái Bình Dương. Bây giờ, chúng ta đề cập một cách ngắn gọn những việc có liên quan trực tiếp đến lữ đoàn tàu trinh sát đặc nhiệm số 38 thuộc Lực lượng Trinh sát Hạm đội Thái Bình Dương. Trong nửa đầu thập kỷ 80 thế kỷ 20, lữ đoàn bắt đầu nhận được các con tàu trinh sát cỡ vừa và cỡ lớn mới nhất thuộc hạng 1 và thế hệ thứ 2, có phẩm chất hàng hải tốt hơn, có lượng choán nước và tốc độ lớn hơn, khả năng hành trình tự chủ trên biển dài hơn, được trang bị với các phương tiện kỹ thuật hiện đại hiệu quả để tiến hành trinh sát vô tuyến và trinh sát kỹ thuật, có điều kiện sống tốt, có khả năng đảm bảo số lượng chỗ ở đáng kể cho các thành viên của các nhóm đặc nhiệm hải quân luôn cơ động. Những con tàu này là: SSV - 80 "PriBaltic", SSV - 535 "Karelia", SSV - 208 "Quần đảo Kuril", SSV - 391 "Kamchatka", SSV - 464 "ZaBaikal", SSV - 465 "Primorye", SSV - 468 "Gavriil Sarychev," và các con tàu khác. Các tàu trinh sát đầu tiên, được hoán cải từ những chiếc tàu đi biển bằng buồm, tàu đánh bắt cá, tàu thủy văn, đã đi biển an toàn và tin cậy trong 20-30 năm. Đó là những người thợ cày thật lực trên biển và đại dương, tham gia nhiều chuyến hành quân trinh sát phức tạp, dần dần thay nhau ra khỏi biên chế hoạt động để nghỉ ngơi. Tôi cho rằng, nhiều chiến sỹ trinh sát Hạm đội Thái Bình Dương đã từng nghe tên các con tàu như vậy, "Ungo", "Usatch", "Ghidrofon", "Barograph", "Ampemetr", "Deflektor", "Protraktor", "Izmeritchel", "Kursograph" , "Ghidrolog", "Aneroid" - tất cả là các tàu trinh sát cỡ nhỏ (mrzk) trong biên chế tiểu đoàn tàu phục vụ độc lập 169 (169 odps) thuộc lực lượng trinh sát đặc nhiệm Hạm đội Thái Bình Dương. Năm 1969, trên cơ sở tiểu đoàn 169 đã thành lập lữ đoàn tàu trinh sát đặc nhiệm số 38 (38 brko), bao gồm 15 tàu trinh sát. Lữ đoàn vẫn còn tồn tại và hoạt động cho đến năm 1999. Chỉ huy đầu tiên được bổ nhiệm của lữ đoàn là đại tá hải quân Dmitri Timofeevitch Lucas, người đã phục vụ trên cương vị này cho đến khi rời khỏi quân đội năm 1978. (http://flot.com/upload/blog/22e//HistoryOfFoto_27a.jpg) Đại tá hải quân Lucas Dmitri Timofeevitch. Quảng trường Đỏ. Moskva. 09 tháng 5 năm 2011. Tổng cộng, biên chế lữ đoàn trong thời gian tồn tại của nó gồm có 32 tàu trinh sát, thực hiện hơn 620 chuyến đi phục vụ chiến đấu giải quyết nhiệm vụ trinh sát: Bờ biển Tây Hoa Kỳ, trong khu vực các quần đảo Aleutian, Marshall và Hawaii, phát hiện và theo dõi các SSBN loại "George Washington" tại vùng Vịnh APRA (Guam); hoạt động trong khu vực Kwajalein Atoll (66 chuyến hành quân) để trinh sát việc phóng ICBM; hoạt động trong khu vực gần Bikini Atoll trinh sát việc thử nghiệm bom hydro; trong vùng biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) trinh sát chiến sự tại Việt Nam (1964 - 1974); ở trung tâm Thái Bình Dương trinh sát chiến dịch "Jennifer" trục vớt chiếc tàu ngầm diesel K-129 của Liên Xô bị chìm; ở Ấn Độ Dương để thực hiện các nhiệm vụ trinh sát phục vụ binh đoàn tàu chiến số 8, và nhiều hoạt động quan trọng và đặc biệt quan trọng khác. ......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 03 Tháng Tư, 2012, 03:10:27 pm (tiếp)
Phần 5 (http://hotstreams.narod.ru/stories/st003_asia1.jpg) SSV-493 "Asia". Tuy nhiên, chúng ta hãy trở lại chủ đề cuộc trao đổi của mình. Sau khi kết thúc chiến dịch hoạt động chống tàu ngầm "Usataya Sinitsa", được tổ chức bằng gần như toàn thể lực lượng của một sư đoàn tàu ngầm hạt nhân đa mục đích phối hợp với các lực lượng binh chủng khác nhau của Hạm đội Thái Bình Dương để phát hiện, đeo bám và giám sát hoạt động của các tàu ngầm tên lửa đạn đạo Mỹ, chiến dịch đã chứng minh tính hiệu quả của nó, do đó tạo khả năng phát triển các khuyến nghị cần thiết cho việc lập kế hoạch và tiến hành các hoạt động đó trong tương lai. Mặc dù rằng chiến dịch diễn ra thành công, còn những người tham gia sự kiện này đã thể hiện được sáng kiến, tính cần cù, lòng can đảm, táo bạo và các phương pháp cách tân trong việc thực hiện nhiệm vụ đặt ra, Bộ Tư lệnh Hải quân đã tỏ ra hoàn toàn thờ ơ với tập thể quân nhân tham gia: không khuyến khích, không khen thưởng, tuy nhiên cũng không kỷ luật ai. Như thể tất cả những chuyện này không phải là một sự kiện. Bức ảnh nghiệp dư đưa ra chỉ là bằng chứng ngẫu nhiên về tất cả những gì đã xảy ra, đòi hỏi một số điều phải được làm rõ. Theo Victor Evghenevitch Dudarenko, khi thực hiện nhiệm vụ Chủ nhiệm Trinh sát Bộ Tham mưu Hành quân và của tàu trinh sát cỡ lớn brzk "Châu Á", các dòng chữ trên tấm ảnh, "Point Mugu" không có liên quan gì đến chiến dịch "Usataya Sinitsa". Cụm từ này, nói một cách tương đối, được dùng để chỉ trường bắn thử vũ khí tên lửa của Mỹ, nằm ở khu vực căn cứ hải quân San Diego (bang California). Khi kết thúc chiến dịch, bộ tham mưu hành quân của chuẩn đô đốc I.I.Gordeev đã chuyển sang tàu hải văn để trở về Petropavlovsk-Kamchatka, và tàu trinh sát cỡ lớn "Châu Á" được lệnh đi về hướng nam để trinh sát trường bắn "Point Mugu" ở khu vực San Diego. Có thể coi là phụ lục tham khảo cho bài viết này, hai câu chuyện của O.Rykov - "Charlie" những ngày đã qua", và "Mãi mãi" ("Kẻ lãng du trên biển"). .......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 19 Tháng Sáu, 2012, 01:53:08 am (tiếp)
GIÁ CỦA SAI LẦM Chuẩn đô đốc Alfred Berzin (nguồn: flot.com, tiếp theo post #439 trang 44 phần 1) (http://flot.com/upload/blog/344//BerzinPubl2_11.jpg) Maksimov có một giấc mơ: ban đêm ông đang ở một mình trên một đường phố vắng vẻ, đột nhiên ông thấy mình tự vẫy tay, cất cánh bay lên và chao lượn sát trên các mái nhà thành phố. Sau đó một cây cầu hiện ra, trên cầu có các dây treo rối mù với nhau, bay bên cạnh ông sợ mắc vào chúng. Trên cầu nhiều người đang đi lại, họ không chú ý đến ông. Maksimov quay lưng lại với cây cầu và bay qua sông Neva, đến chỗ chiếc tàu ngầm đang thả neo, trên boong ông nhìn thấy người cựu trợ lý chính của mình. Maksimov hạ cánh xuống mặt boong bên cạnh anh ta. Đúng lúc đó ông bị đánh thức bởi một cuộc điện thoại. Maksimov đã được nghỉ hưu từ lâu, ông mơ thấy những giấc mơ gần như mỗi đêm về thời còn phục vụ trên những chiếc tàu ngầm. Vào ngày này, ông quyết định lôi ra cuốn nhật ký cũ của mình, bắt đầu lật các trang ghi chép, đọc lại một cái gì đó, và ông lần giở đến thời điểm tháng 3 năm 1971. Những sự kiện xảy ra trong năm đó, bắt đầu sống lại, Maksimov đang ở tại thời điểm đó, trong cuộc sống đó, trong đất nước này khi đó ... Hồi đó, họ ra khơi vào sáng sớm. Đối với Maksimov đó là chuyến hành quân đi biển đầu tiên trên cương vị thuyền trưởng tàu ngầm nguyên tử. Chiếc tàu ngầm đã đến điểm lặn. Trung tá hải quân Maksimov nâng cửa nắp phía trên của tháp chỉ huy, leo xuống theo các bậc thang thẳng đứng, đi vào phòng điều khiển trung tâm. Các thuyền viên tiếp tục thực hiện mệnh lệnh của ông cho tàu lặn đến độ sâu 120 mét, lệnh tăng tốc độ lên 12 hải lý, và cuối cùng, lệnh giữ hướng đầu tiên của cuộc hành quân là 180 độ. Đi cùng họ trong chuyến đi biển này có chỉ huy đơn vị Chuẩn Đô đốc Khitrenko người phải kiểm tra xem liệu tương lai Maksimov có bơi độc lập được trong các cuộc hành quân trên biển như vậy hay không. Đây không phải là ý thích của ông ấy, đây là thủ tục được lập ra bởi Tổng tư lệnh Hải quân. Maksimov được giao nhiệm vụ ở đây, họ rút ông khỏi trung tâm đào tạo, nơi ông và thủy thủ đoàn của mình đang huấn luyện giữa các kỳ chiến dịch. Người chỉ huy chính thức chiếc tàu ngầm này trung tá hải quân Sobachevskii ở lại trên bờ, anh ấy được bầu làm đại biểu dự Đại hội 24 ĐCS Liên Xô, mà trong vài ngày tới sẽ khai mạc tại Moskva. (http://flot.com/upload/blog/985//BerzinPubl2_70.jpg) Maksimov trước chiến dịch này đã quen việc thường xuyên ở vị trí trung tâm, từ đó diễn ra sự kiểm soát toàn bộ chiếc tàu ngầm, và ông cũng nghỉ ngơi tại đây. Đúng ra phục vụ việc đó có một cabin trong một khoang khác, nhưng ông đã thôi sử dụng nó sau một trường hợp duy nhất. Điều này xảy ra cách đây một năm. Chiếc tàu ngầm đang bơi ở độ sâu 100 mét với tốc độ 20 hải lý. Do trục trặc bất ngờ, bánh lái bằng bị kẹt - 15 độ theo tư thế lặn, vì vậy độ chúi mũi tàu (độ chênh mớn dọc) tăng lên rất mạnh, đã đạt đến 20 độ, con tàu nhanh chóng chìm xuống độ sâu gần tới hạn, tiếp tục lặn nữa sẽ dẫn đến việc vỏ áp lực của tàu ngầm bị phá hủy và cái chết của con tàu. Mọi thứ xảy ra giống như trong một cơn ác mộng. Không, lúc đó ông không rối trí và không sợ hãi. Thuyền trưởng chỉ huy, và dường như cái tôi thứ hai của ông đứng tách sang một bên quan sát mọi việc đang xảy ra, lạnh lùng bấm từng giây. Khuôn mặt nhợt nhạt của thủy thủ trưởng, đang ngồi điều khiển bánh lái bằng, không hoảng sợ và đang làm tất cả khả năng để chuyển độ chúi về phía đuôi, trưởng ngành cơ điện tác chiến, người đã cho không khí áp suất cao vào nhóm sitec dằn chủ phía mũi tàu; bản thân anh đã ban ra các mệnh lệnh cần thiết, khi đó trong đầu chỉ có độc một ý nghĩ - vùng lên, thoát khỏi tình trạng này. (http://flot.com/upload/blog/a4d//BerzinPubl2_71.jpg) Lần đó số phận đã cho họ chỉ được 55 giây để làm tất cả, và họ đã kịp thu xếp trong khoảng nhỏ nhoi ấy để thoát khỏi cái chết. Vì vậy, ngày hôm nay Maksimov đang xây dựng trong phòng trung tâm một chiếc giường tạm thời bằng ván và thùng, ở phía trên trải một tấm nệm, chiếc chăn, và chiếc gối. Như thế sẽ an toàn hơn, thuyền trưởng ngủ, nhưng một tai ông ta vẫn đang nghe mọi sự, và vào đúng lúc cần sẽ vùng dậy. Thuyền trưởng bắt đầu nhớ lại những ngày cuối cùng chuẩn bị cho cuộc đi biển. Kỹ năng làm việc của các sỹ quan và hạ sỹ quan chuyên nghiệp của chiếc tàu ngầm này ông không biết, nên ông nghi ngờ: không hiểu tất cả có được thực hiện một cách chính xác khi chuẩn bị cho cuộc hành quân hay không có điều gì đó còn thiếu không. Theo báo cáo của các trưởng ngành tác chiến thì là tất cả mọi thứ cần thiết đã được thực hiện, nhưng trong đời phục vụ của mình, ông thường phải đối mặt với tình trạng khi lời nói không đi đôi với hành động, và sau chúng ta phát hiện ra: sự lừa dối, ngu dốt, xốc nổi, và chỉ toàn lười biếng. Trong thời kỳ chuẩn bị cho cuộc hành quân, thủy thủ đoàn tàu ngầm tham gia bốc xếp thực phẩm và các bình chứa các tấm tái sinh không khí, nếu có cái gì đó chưa đủ số lượng, thì những khó khăn lớn sẽ đón chờ tàu ngầm trong chiến dịch. Một trong những câu chuyện như vậy được vị chỉ huy Gukalov kể cho Maksimov, chuyện đó đã xảy ra trên tàu ngầm của ông. Viên hạ sỹ quan quân nhu của ông cho rằng sự thèm ăn của thủy thủ tàu ngầm khi đi biển là kém và anh ta để lại một phần thực phẩm trong kho trên căn cứ bờ. Với Gukalov chiến dịch đi biển này là chuyến đầu tiên và vì thế đi cùng ông là chỉ huy đơn vị, chuẩn đô đốc Medvedev, một fan hâm mộ lớn của thú ăn uống. Vợ ông ấy còn chuẩn bị cho chồng món thịt xông khói tự chế với tỏi, được người ta bảo quản trong tủ lạnh của cabin sinh hoạt chung. (http://flot.com/upload/blog/645//BerzinPubl2_72.jpg) Đến thời hạn kết thúc chiến dịch vẫn còn 15 ngày. Vào đúng ngày đó, đột nhiên anh quân nhu-quân lương chợt nhận ra một điều gì đấy và quyết định kiểm kê xem còn bao nhiêu thực phẩm. Một giờ sau, công việc được hoàn thành, và kết quả thật đáng kinh ngạc. Thủy thủ đoàn đứng trước một thực tế khắc nghiệt, thực phẩm chỉ còn lại đủ ba ngày. Hơn nữa, báo cáo đã từ hạ sĩ quan quân nhu đã đi qua trợ lý, thuyền phó chính trị và và thuyền trưởng tới chỗ Medvedev, qua mỗi khâu nó được giảm nhẹ một chút, đến nỗi gần như tất cả mọi thứ vẫn tốt, chẳng qua chỉ là có một số trường hợp và một số hạn chế nào đó mà thôi. Medvedev là một quân nhân lão luyện, và ông biết các báo cáo thường được làm bậy bạ thế nào, chính ông cũng nắm vững đến mức hoàn thiện nghệ thuật đó, do vậy ông triệu tập anh quân nhu đến cabin của mình. Khi anh chàng kia đến nơi và bắt đầu báo cáo mọi thứ như nó vốn có, rồi cuối cùng chốt lại chỉ còn đủ ba ngày. Medvedev rơi vào cơn giận dữ không thể diễn tả nổi, gợi nhớ đến sự kết hợp của sóng thần và cơn bão nhiệt đới "Clotilde". Tất cả mọi thứ phải kết thúc dù sớm hay muộn, kể cả cơn thịnh nộ của cấp trên. Ông quyết định phân bổ lượng ba ngày thực phẩm kia cho mười lăm ngày còn lại, do đó mỗi thuyền viên trong những ngày sau đó chỉ được cung cấp hai mươi phần trăm khẩu phần bình thường hàng ngày. Những thanh niên, nhiều người trong số họ phải tham gia lao động thể chất, chỉ nhận được trong ngày không quá một miếng bánh quy kích thước bằng lòng bàn tay, một tô súp cá hộp, thành phần chính là nước, phần còn lại chẳng đáng bao nhiêu. Tất cả mọi công việc kể cả huấn luyện bị hủy bỏ, còn lại chỉ là việc trực gác và ngoài ra là ngủ mê mệt. Một tuần sau, nhiều người bắt đầu suy sụp, phải chế tạo một cái đòn bẩy để làm nhẹ việc đóng mở các van. Hai thủy thủ học việc từ phòng bên cạnh nghe lỏm được bài giải trình của viên hạ sỹ quan quân nhu với Medvedev, nhanh chóng hiểu điều gì sẽ xảy ra, và trong thời hạn sớm nhất họ âm mưu chén hai pound thịt xông khói ướp tỏi của đô đốc. Trường hợp chén no nê món dự trữ đó đã bị phát giác trong cùng ngày. Người ta báo cáo điều đó cho ông chủ sở hữu món cá béo ngậy này, ông chạy quanh trong khoang với những câu la hét và nguyền rủa phức tạp về chuyện xảy ra với các thành viên của thủy thủ đoàn toàn những lũ người Neanderthal và ngư long. Chiến dịch kết thúc, tàu ngầm đã neo đậu vào bến tàu, các thủy thủ gầy yếu đội neo đậu chỉ cần một cơn gió nhẹ cũng lảo đảo. Gặp người thủ trưởng ra đón ở bến tàu Medvedev gầm lên ra lệnh giọng ông vang khắp cảng: "Bắt tất cả bọn quân nhu lại, niêm phong các kho ngay lập tức". Viên hạ sỹ quan quân nhu bị tống vào trại giam, số thực phẩm mà anh ta giữ lại trong kho được mang ra phân phối cho toàn bộ sỹ quan và thuyền viên. (http://flot.com/upload/blog/fe9//BerzinPubl2_73.jpg) Medvedev thường khuyên các thuyền trưởng hãy học hỏi từ sai lầm của những người khác và sau đó nói thêm - học hỏi từ những sai lầm của chính mình thì chỉ có những thằng ngốc mà thôi. Thuyền trưởng Gukalov không để tâm được dù là phần đầu hay phần sau của lời khuyên ấy. Trong chiến dịch tiếp theo, ông lại tính nhầm một lần nữa, nhưng lần này chuyện xảy ra với các bình giữ tấm tái sinh không khí, phục vụ cho việc lọc khí cacbonic khỏi không khí và làm giàu oxy khi tàu ở trạng thái lặn. Bình không đủ cho mười ngày. May mắn thay cho Gukalov, Medvedev lần này ở trên bờ. Khi có không có tấm tái sinh, không khí trong tàu ngầm sau một thời gian nhất định sẽ biến đổi, hàm lượng khí carbon dioxide tăng lên và oxy giảm đi, ảnh hưởng trực tiếp đến cảm giác của thủy thủ đoàn: buồn ngủ, mệt mỏi, khó thở, đau đầu. (http://flot.com/upload/blog/056//BerzinPubl2_73a.jpg) ......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 19 Tháng Sáu, 2012, 08:12:01 pm (tiếp)
Trước đây, khi những tấm chất dẻo như vậy ở nước ta chưa có, chúng chưa được phát minh, khi đó tàu ngầm nổi lên bề mặt biển và các khoang sẽ được thông gió. Người ta có thể làm như vậy lần này. Vấn đề sẽ được giải quyết, nhưng vấn đề thứ 2 sẽ phát sinh - tàu ngầm mất tính bí mật vì lực lượng chống tàu ngầm nước ngoài có thể phát hiện nó trong tư thế nổi. Để tránh điều ấy, thường làm như sau. Với sự trợ giúp của máy nén khí không khí trong các khoang được bơm vào bồn thép, do đó áp lực trong tàu ngầm sẽ xuống dưới áp suất khí quyển. Sau đó tàu nổi lên độ sâu kính tiềm vọng và không khí sạch từ không trung sẽ đi vào trong các khoang thông qua một đường ống đặc biệt, nhô lên trên mặt nước cùng với kính tiềm vọng. Vì vậy, trong mười ngày sau cứ mỗi ngày, toàn bộ chu kỳ này được lặp đi lặp lại nhiều lần. Những người tham gia trong chiến dịch đi biển đó kể rằng chu kỳ bắt đầu từ thời điểm vẫn còn có thể hít thở không khí trong khoang: buồn ngủ, mệt mỏi, khó thở, đau đầu. Khi thay không khí, thải khí, và đưa không khí từ ngoài khí quyển đi vào qua đường ống: tai ù, cảm giác khó chịu trong xoang trán, về tổng thể sức khỏe xấu đi rõ rệt. (http://flot.com/upload/blog/852//BerzinPubl2_74.jpg) Trước khi ra khơi, trưởng ngành cơ điện Proshkin bước vào cabin của Maksimov. Từ báo cáo của Proshkin, ông đã biết về vấn đề hư hỏng và về các công việc đang làm để sửa chữa các máy bơm của máy làm lạnh. Thuyền trưởng hỏi: "Anh có nhớ trường hợp xảy ra với máy làm lạnh của Pletnev không?" Proshkin trả lời: "Tất nhiên tôi nhớ. Chúng tôi đã mang theo trong chuyến đi biển này các máy bơm dự phòng". Trường hợp của Pletnev xảy ra ba năm trước đây. Tàu ngầm bơi trong vùng các vĩ độ phía Nam, thuyền trưởng được báo cáo về chính lỗi hỏng hóc này của máy làm lạnh. Công tác sửa chữa được thực hiện ngay nhưng không kết quả. Trong tàu nhiệt độ.tăng lên nhanh chóng. Trong khoang tuabin nhiệt độ lên đến 70 độ, các thuyền viên trực gác mặc độc quần short, đổi phiên sau 15-20 phút, một số ngất xỉu. Khi đã rõ - bằng sức mình máy lạnh không thể sửa chữa được, người chỉ huy cho tàu nổi lên mặt biển, lệnh ngừng chạy lò phản ứng và chuyển sang dùng phương tiện di chuyển dự bị, thông báo tình hình khó khăn qua điện tín về bộ tham mưu hạm đội. Vài ngày sau một tàu kéo biển đến chỗ họ, căng cáp thép kéo họ về Vladivostok. Maksimov nhớ lại tất cả những câu chuyện này mà không khó khăn gì, bởi vì chúng đặt cơ sở cho các hoạt động phục vụ của ông và các thuyền trưởng tàu ngầm khác. Kinh nghiệm bơi ngầm được trao cho các thủy thủ tàu ngầm bằng con đường của rất nhiều thử nghiệm và sai sót; có thể nói rằng nó được trả bằng rất nhiều xương máu và sự hy sinh của nhiều người. Cương vị trên tàu ngầm càng cao càng đòi hỏi kiến thức, kinh nghiệm, tầm nhìn xa và sự cảnh giác. Trước khi tiếp tục trình bày các sự kiện, các độc giả đáng kính nên chú ý rằng tất cả các trường hợp nêu trên đều được lấy từ cuộc sống hạm đội, chỉ thay đổi tên họ. Thuyền trưởng tàu ngầm nguyên tử Maksimov - một thực thể hư cấu. Xin các chiến sỹ tàu ngầm thứ lỗi cho một số sự đơn giản hóa trong các mô tả về chiến thuật và vũ khí tàu ngầm, nó đã được thực hiện một cách cố ý nhằm làm cho các độc giả khác có thể hiểu được sự phục vụ và đời sống của các chiến sỹ tàu ngầm. (http://flot.com/upload/blog/1be//BerzinPubl2_75.jpg) Mô hình K-184 đề án 675 mà tập thể thuyền viên tặng Alfred Semenovitch Berzin. Vừa nhớ lại, người thuyền trưởng vừa lặng lẽ chuyển sang các công việc và các mối quan tâm hiện tại, sau một vài giờ nữa ông sẽ phải nổi lên độ sâu kính tiềm vọng để nhận được điện tín từ bờ. Ông triệu tập trợ lý chính, rồi họ cùng nhau thảo luận cách tốt nhất để thực hiện thao tác cơ động này. Khi nói chuyện xong, người chỉ huy nhìn đồng hồ - còn mười phút nữa thì đến giờ nổi lên. Maksimov tuyên bố báo động chiến đấu, tiếng chuông chói gắt rú dài khắp các khoang, các thủy thủ tản nhanh về vị trí chiến đấu của họ và báo cáo sẵn sàng. Các đội viên thủy âm chú ý lắng nghe môi trường nước trên đài thủy âm của họ, người ta thường nói - lắng nghe đường chân trời, để khi nổi lên không va chạm với các tàu mặt nước và phương tiện nổi, và, cuối cùng họ báo cáo: "Chân trời sạch". Điều đó có nghĩa là ở trên không có ai. Chỉ sau đó tàu ngầm mới nổi lên độ sâu kính tiềm vọng tám mét và giương kính tiềm vọng lên. Thuyền trưởng kiểm tra chân trời, không trung và không phát hiện thấy điều gì, sau đó ông ra lệnh ghi trong nhật ký: "Chân trời sạch". Họ giương cột ăng-ten lên để thu điện tín và phát hiện tín hiệu radar, như các thủy thủ tàu ngầm thường nói, phiên liên lạc đã bắt đầu. Vài phút sau các hiệu thính viên vô tuyến điện báo cáo thuyền trưởng: "Địa chỉ của chúng ta không nhận được điện, phiên liên lạc đã hết". Thuyền trưởng cho lệnh hạ tất cả các ăng-ten, kính tiềm vọng, và lặn xuống độ sâu 80 mét. Sau phiên liên lạc, chuẩn đô đốc Khitrenko mời thuyền trưởng đến buồng hoa tiêu, ở đó ông lấy sổ ghi của mình ra, vừa nhìn vào sổ vừa liệt kê nhận xét: "Việc tổ chức nổi lên rất kém: lính của anh bị ngộ chữ, họ ba hoa quá nhiều, mà đáng lẽ phải ra lệnh rõ ràng và báo cáo lại chính xác; tàu ngầm trước khi nổi lên không giảm độ ồn đến mức cần thiết; một phần thuyền viên tiếp tục ngủ gật ngay trên các vị trí chiến đấu. Tôi yêu cầu anh phải siết chặt các đòi hỏi với mọi người, không thể đi biển như vậy được". (http://flot.com/upload/blog/eac//BerzinPubl2_76.jpg) Tất nhiên về thực chất, các ý kiến nhận xét của Khitrenko là công bằng. Maksimov hiểu điều này, nhưng vốn là người đàn ông giàu tự ái, ông cảm thấy nặng nề vì các hành động của mình luôn bị giám sát. Tất cả các sai lầm của thuyền trưởng, Khitrenko đều viết vào cuốn sổ tay nhỏ của mình, và mỗi buổi tối thông báo lại cho thuyền trưởng dưới một hình thức rất nhàm chán. Hai ngày sau, tàu ngầm phải vượt qua một eo biển giữa hai hòn đảo, tiếp theo đường đi của nó dẫn ra đại dương mở. Trong khi bơi độc lập, chỉ huy tàu phải thường xuyên ghi nhớ việc giữ an toàn trong dẫn đường hàng hải, phải biết tọa độ chính xác của tàu ngầm. Điều này cần để tránh bị mắc cạn, va chạm với các rạn san hô, hải đảo, bờ biển, cũng như tránh va chạm với các tàu khác. Do đó, người hoa tiêu, trong bất cứ cơ hội nào có thể, đều phải xác định vị trí chính xác, sử dụng tất cả các phương tiện kỹ thuật, bao gồm radar, sonar và máy đo sóng dội, việc sử dụng những phương tiện ấy liên quan đến việc bức xạ ra môi trường bên ngoài; điều có thể cho phép lực lượng chống tàu ngầm nước ngoài phát hiện tàu ngầm. Những lực lượng này thường bao gồm các tàu mặt nước, tàu ngầm, máy bay, các phương tiện cố định và các trạm không gian. Trong thời bình, họ theo dõi các tàu ngầm của chúng tôi với một kỹ năng tuyệt vời và làm rất bí mật, vì vậy mà chúng tôi không nhận thấy họ. Giúp sức cho lực lượng này một cách vô tình là bộ tham mưu hạm đội của chúng tôi, hết năm này sang năm khác họ vẫn thiết lập những khuôn mẫu cũ rích cho các hải trình tương ứng. Mưu mẹo quân sự của các sỹ quan bộ tham rõ ràng không được sáng láng. .......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 19 Tháng Sáu, 2012, 11:15:07 pm (tiếp)
Khi ở dưới mặt nước, tàu ngầm trở thành vô hình, các chiến sỹ tàu ngầm gọi đó là phẩm chất bí mật trong hành động, cho phép tàu ngầm giáng đòn tấn công bất ngờ bằng ngư lôi hoặc tên lửa, và chung cuộc, đánh bại một đối thủ mạnh hơn. Khi lựa chọn giữa an toàn trong dẫn đường hàng hải và tính bí mật trong hành động, thuyền trưởng phải thể hiển một kỹ năng nhất định và tìm ra một giải pháp thông minh. Hai năm trước trên cùng một hải trình này trung tá hải quân Sobachevsky đã thực hành chuyến đi biển đầu tiên của mình, chỉ huy cao cấp trên tàu - chỉ huy phó đơn vị Vorobyov, một người đàn ông có sự tự cao rất lớn. Ông cấm thuyền trưởng sử dụng sonar, radar và máy đo sóng dội ngay từ những ngày đầu chuyến hành quân. (http://flot.com/upload/blog/031//BerzinPubl2_77.jpg) Các thủy thủ tàu ngầm xếp đội ngũ trong vịnh Pavlovskii. Trước hàng quân - tư lệnh tương lai của Hạm đội Thái Bình Dương G.А.Khvatov. Sobachevsky không muốn mâu thuẫn với ông ta, và làm phức tạp mối quan hệ, anh quyết định đi trên các thủy đạo dẫn vào eo biển ở tốc độ có tiếng ồn thấp để các lực lượng chống tàu ngầm nước ngoài không thể phát hiện ra họ, không xác định vị trí theo thiên văn và hệ thống đạo hàng của nước ngoài. Sau này mới phát giác ra, người hoa tiêu có kiến thức lý thuyết khá kém cỏi về các hệ thống đạo hàng vô tuyến định vị, và rất ít kinh nghiệm thực tế trong việc sử dụng chúng. (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/8/85/KuroshioOyashio.jpg) Hải lưu Kuroshio và Oyashio (ru.viki). Bầu trời u ám đầy mây, loại bỏ khả năng sử dụng sao trời để xác định tọa độ. Ngoài ra, hoa tiêu vì sự sơ suất của mình mà tính không đúng dòng chảy của hải lưu Kuro-Sivo (Kuroshio), có tốc độ ở những nơi này là hơn 2 hải lý. Tất cả những điều này đã dẫn đến một lỗi quan trọng trong việc xác định vị trí. (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/d/d5/North_Pacific_Gyre.png/800px-North_Pacific_Gyre.png) Các dòng hải lưu khu vực Bắc Thái Bình Dương (ru.viki) Vorobiov và Sobachevsky đáng ra phải kiểm soát công việc của hoa tiêu, nhưng họ đã không làm, mà hoàn toàn dựa vào anh ta. Kết quả là, chiếc tàu ngầm nguyên tử, mang theo mình cả vũ khí hạt nhân và thông thường, thay vì vượt eo biển trong tư thế lặn tại đảo Okinawa, không ai trong thủy thủ đoàn nghi ngờ gì và cũng không cảm thấy sự nguy hiểm chết chóc đang đến gần. Tốc độ thấp đã cứu tàu ngầm. Trong các khoang người ta nghe thấy tiếng thân tàu kẹt vào nền đất. Theo lệnh của của Sobachevsky tàu ngầm nổi lên độ sâu 40 mét, sau mười phút tiếng thân tàu kẹt đất lặp lại. Sau đó, tàu ngầm nổi lên chiều sâu kính tiềm vọng. (http://flot.com/upload/blog/48e//BerzinPubl2_78.jpg) Sobachevsky nhìn qua kính tiềm vọng thẳng theo hướng tàu và thấy một bãi biển, nơi mọi người đang tắm nắng, bên trái và bên phải có thể thấy toàn đá tảng và ghềnh đá. Thuyền trưởng phát lệnh cài số lùi, đưa tàu ngầm ra vùng nước sạch, xác định lại vị trí, sai lệch lên tới bốn mươi dặm (74 km), như người ta nói, trong trường hợp này bình luận là thừa. Sự cố đã được đưa vào lịch sử bơi ngầm, trong nhiều năm, nó được sử dụng như một ví dụ trong các trường hải quân, các học viện và hạm đội, như là một biểu hiện sinh động về sự bất cẩn của con người, sự ngu dốt và vô trách nhiệm. Sau một phiên liên lạc, trưởng nhóm quân báo Silanov đến chỗ Maksimov. Anh báo cáo về việc chặn bắt được các tin điện phát đi từ máy bay chống ngầm "Orion" của Hoa Kỳ. Báo cáo đó cảnh báo người thuyền trưởng, suy nghĩ đầu tiên của ông là: "Phải chăng nó đã phát hiện ra chúng tôi?". Ông quá quen với kẻ thù tiềm năng này. "Orion" đã nhiều lần phát hiện thành công và theo dõi các tàu ngầm của chúng ta, để làm điều đó trên máy bay có radar, máy dò từ trường, và đài trinh sát điện tử, có phao vô tuyến thủy âm, sau khi được thả xuống mặt nước, sẽ lắng nghe các tàu ngầm của chúng ta và truyền tín hiệu đến máy bay. Trong thời chiến, "Orion" có thể dùng ngư lôi, bom chống lại chúng ta, trong đó có cả loại lắp đầu đạn hạt nhân. (http://flot.com/upload/blog/afe//BerzinPubl2_79.jpg) Maksimov cùng Silanov phân tích tình hình và kết luận rằng máy bay đang tìm kiếm một hải trình ở một khoảng cách xa tàu ngầm 150 dặm. Trong phòng trung tâm xuất hiện trợ lý thuyền trưởng Veselovsky, anh ta mời Maksimov và Khitrenko về cabin-sinh hoạt chung ăn trưa. Trên các tàu ngầm các trợ lý, ngoài những nhiệm vụ khác, có trách nhiệm phục vụ bữa ăn của thuyền viên. Đến cuối bữa ăn trưa Veselovsky hỏi Khitrenko: "Đồng chí Đô đốc, đồng chí có thích bữa ăn trưa này không?" Theo nhận xét của bản thân mình, với Maksimov, vấn đề này rõ ràng nhuốm sắc thái nịnh hót, câu hỏi đó được đưa ra hầu như hàng ngày kể từ khi bắt đầu chiến dịch. Và giống như những ngày trước, cả ngày hôm nay cũng vậy Khitrenko lại rủa xả anh ta vì một thiếu sót nào đó trong lĩnh vực ẩm thực. Hôm nay trong bữa ăn trưa, các sĩ quan đã thảo luận về sự kiện, mà họ biết qua thông tin từ căn cứ bờ. Eliseev, Rukavishnikov đã được phóng lên không gian. Veselovsky, đã vừa bị mắng, lại một lần nữa quay sang Khitrenko: "Đồng chí Đô đốc, Feinstein sẽ được phóng lên vũ trụ chứ?" Khitrenko ngay lập tức trả lời câu hỏi bằng một câu hỏi: "Vậy khi nào Veselovsky sẽ được phóng lên vũ trụ?" Vaselovsky ngạc nhiên mất một lúc, nhưng rồi lại hỏi: "Nhưng tại sao lại nói chuyện Veselovsky ở đây?" Khitrenko nhanh chóng vặn lại: " Nhưng tại sao lại nói chuyện Feinstein ở đây?" Cuộc nói chuyện rất cô đọng này tắt ngấm tại đó.
...... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 20 Tháng Sáu, 2012, 01:13:28 am (tiếp)
Maksimov hiểu rằng Veselovsky đặt câu hỏi về Feinstein hy vọng gợi một cuộc trò chuyện, trong đó anh ta có thể tỏa sáng với những câu chuyện tiếu lâm bài Do Thái, mà anh ta biết rất nhiều và ít nhất là để giành điểm với Khitrenko. (http://flot.com/upload/blog/bba//BerzinPubl2_79a.jpg) Sau bữa trưa, thuyền trưởng trò chuyện với Khitrenko về công việc hiện tại, và chọn đúng thời điểm, ông nói: "Quả là người Do Thái đã đạt được những thắng lợi đáng kể trong cuộc chiến tranh với người Ả Rập, thể hiện một kỹ năng quân sự cao, sự can đảm và tình yêu nồng nàn đối với Tổ quốc của họ. Tôi không nói về các thuyền trưởng tàu ngầm của chúng ta, những người đã chiến đấu dũng cảm, và vì những chiến công của mình trong Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại họ đã nhận được danh hiệu Anh hùng Liên Xô. Đó là những Fisanovitch, Konovalov, Bogorad và hàng loạt những người khác, họ là người Do Thái". Khitrenko lắng nghe một cách chăm chú, sau đó trả lời: "Tôi đồng ý với anh, tất cả những điều đó đúng là như vậy. Nhưng còn tốt hơn nhiều nếu Hitler tiêu diệt hết họ trong cuộc chiến tranh vừa qua, giờ đây chúng ta sẽ chẳng gặp phải vấn đề gì nữa". Maksimov hiểu rằng một lần nữa ông sẽ không được nghe điều này từ Khitrenko, rằng đó là một phần niềm tin của ông ấy. Cả hai im lặng. Maksimov choáng người bởi mùi khét của lời tuyên bố, và Khitrenko hiểu những gì ông nói với cấp dưới của mình là quá nhiều, và không tiếp tục nốt cuộc trò chuyện, ông bỏ về cabin của mình. (http://flot.com/upload/blog/621//BerzinPubl2_80.jpg) Veselovsky vẫn tiếp tục hỏi cùng một câu hỏi như vậy cho đến khi kết thúc chiến dịch hành quân: "Đồng chí Đô đốc, đồng chí thích bữa ăn trưa này chứ?" Và anh ta lại nhận được một đòn tuần tự như cũ. Lúc 20,00 giờ, tàu ngầm nổi lên chiều sâu kính tiềm vọng để nhận điện từ bờ. Người ta mang bức điện đến cho Maksimov, trong điện thông báo về cuộc tập trận của Hải quân Hoa Kỳ đang diễn ra trong vùng lân cận hải trình của tàu ngầm, tiếp theo là hướng, tọa độ và tốc độ của tàu sân bay “Ticonderoga” có 4 tàu bảo vệ đi kèm. Bộ tham mưu hạm đội cũng thông báo rằng họ bắt đầu dẫn đường cho tàu ngầm tiến về phía tàu sân bay, tiếp theo họ ra tàu nổi lên liên lạc theo phiên bốn giờ một lần. Mục đích của việc dẫn đường là những hành động mà kết quả của nó - tàu ngầm phải đạt được tiếp xúc thủy âm với tàu sân bay (nghe được nó), sau đó trong thời bình, thiết lập sự theo dõi tàu sân bay, còn trong thời chiến – giáng đòn tấn công tên lửa hoặc ngư lôi. Maksimov bắt đầu tính toán để đạt tiếp xúc thủy âm với tàu sân bay, hoa tiêu và trưởng ngành vô tuyến điện giúp sức cho ông. Theo kết quả tính toán cần phải lặn tới độ sâu 160 mét, tăng tốc độ lên 19 hải lý, và lấy hướng 120 độ. Thuyền trưởng ra các mệnh lệnh cần thiết để thi hành quyết định của mình. Ở tốc độ này, tàu ngầm rất ồn và mất phẩm chất chiến thuật chủ yếu của nó là tính bí mật, vì điều đó mà các thủy thủ tàu ngầm Mỹ đã đặt biệt danh cho tàu ngầm đề án này là "mụ bò rống". Maksimov hiểu chuyện và biết rất rõ, nhưng chẳng làm gì được, phải tuân theo bộ tham mưu hạm đội thôi. Đến lúc này, việc tính toán đã xong và Khitrenko bắt đầu so sánh kết quả của ông ta với kết quả của thuyền trưởng, chúng khác nhau. Không tìm hiểu và kiểm tra, ông lập tức buộc tội Maksimov ngu dốt. Năm phút sau, hoa tiêu kết thúc kiểm tra các tính toán của Khitrenko và tìm thấy một sai sót. Xin lỗi Maksimov tất nhiên là người chỉ huy cao cấp không làm, ông không được giáo dục theo tinh thần ấy. (http://flot.com/upload/blog/f6a//BerzinPubl2_81.jpg) Thuyền trưởng nhìn đồng hồ, nó chỉ 21,00 giờ, từ bây giờ đến lúc phải nổi lên vào phiên liên lạc kế tiếp còn ba tiếng nữa và ông quyết định đi nằm nghỉ, vài ngày nay ông chỉ chợp mắt được từng giấc ngắn, nhưng giấc ngủ thì không đến, chứng nhức đầu vẫn chưa dứt. Ông hiểu rằng một phần sự việc là ở không khí, tất nhiên đã khác với không khí ngoài khí quyển dù hệ thống tái tạo dưỡng khí vẫn hoạt động tốt. Xét bề ngoài các thuyền viên, mọi người xem ra mệt mỏi rất nhanh. Sự bất bình với Khitrenko từ từ biến mất và thuyền trưởng ngủ thiếp đi lúc nào không hay, lúc 23,40 giờ trợ lý chính đánh thức và báo cáo với ông một cách nhẹ nhàng: "Đồng chí chỉ huy, mười phút nữa tàu sẽ nổi lên chiều sâu kính tiềm vọng". Lúc 00.00 giờ, tàu ngầm nổi lên một lần nữa vào phiên liên lạc, bức điện tiếp theo thông báo vị trí tàu sân bay “Ticonderoga”. Báo cáo từ buồng hiệu thính viên: "Bên trái 90 độ có tín hiệu yếu của đài radar máy bay "Orion". Có lẽ máy bay đã không phát hiện ra họ, nó đang tìm kiếm trong khu vực này. Việc phán đoán với thuyền trưởng trong tình hình này là không thể: bị lộ, không bị lộ? Trong hoàn cảnh đó, giải pháp cho tàu ngầm – tránh xa ngay lập tức. Vì vậy, Maksimov lập tức ra lệnh lặn và tránh: "Hướng 135 độ, chiều sâu lặn 220 mét". Trễ một chút Khitrenko ra lệnh cho thuyền trưởng: “hướng 20 độ chiều sâu lặn 120 mét". Trong phòng điều khiển trung tâm mọi người hơi luống cuống, cứ như người ta ra lệnh cho một người đang ở trên bờ đồng thời vừa rẽ trái lại vừa rẽ phải. Điều lệnh đã cứu Maksimov: "Hãy ghi vào nhật ký trực ban. Chuẩn Đô đốc Khitrenko đã chỉ huy tàu ngầm". Ông ấy ngạc nhiên nhìn thuyền trưởng và ra lệnh cho Maksimov đi vào buồng hoa tiêu, ông hỏi thuyền trưởng một cách cáu kỉnh: "Anh quyết định biến tôi thành gã ngốc hả?" Maksimov bình tĩnh trả lời: "Không bao giờ. Theo điều lệnh trên tàu, đồng chí không nên can thiệp vào việc chỉ huy tàu ngầm". Khitrenko tái mặt, ông ấy tức giận cắm chiếc compas xuống tấm bản đồ, rồi sau đó bắt đầu buộc tội Maksimov trong việc gây ra tình huống khẩn cấp trên tàu ngầm một năm trước đây. (http://flot.com/upload/blog/622//BerzinPubl2_82.jpg) Mệnh lệnh chỉ huy - phụ lục của Điều lệnh tàu chiến Hải quân Liên Xô. Hồi đó Maksimov từ khu vực huấn luyện chiến đấu trở về vào ban đêm trên tàu ngầm của mình. Trước khi tàu vào bến còn hai dặm, đột nhiên thật vô cùng bất ngờ đối với thuyền trưởng - có một tàu ngầm khác đang đi ra. Maksimov không tin vào mắt mình. Ông vừa nhận được sự cho phép của trực ban tác chiến cho tàu ông vào bến, và người sỹ quan trực ban chẳng hề cảnh báo ông về chiếc tàu đang đi ra kia. Chiếc tàu ngầm ra khơi đang đi thẳng đến chỗ họ thay vì phải đi theo luồng mặt nước của nó. Maksimov ra lệnh rọi một loạt đèn chiếu và bắn vài phát pháo hiệu - có nghĩa là: "hành động của các anh rất nguy hiểm!". Maksimov ra lệnh tiếp: "Ngoặt phải". Tàu ngầm chuyển hướng năm mươi độ so với hướng cũ, cho phép họ tách xa nhau khoảng 100 mét. Thuyền trưởng neo tàu xong thì đi vào buồng trực ban tác chiến. Trong những ngày đó, người bạn của ông đang làm nhiệm vụ trực ban. "Xin chào, Boris, - Maksimov nói, - cậu làm chúng tôi một cú khá thật!" Boris cau có đáp lại lời chào, và sau đó tiếp tục: "Cậu nghĩ tôi làm chuyện đó à? Cậu nhầm. Tất cả cái món điên dại đó là do Khitrenko của chúng ta tổ chức chứ ai, ông ta là chỉ huy cao cấp trên con tàu đó". Sau này Khitrenko không bao giờ nhắc nhở về sự kiện này, ông giả vờ như không có gì xảy ra. Và tại đây trong chiến dịch đi biển này, lần đầu tiên ông ta lại khiển trách Maksimov về việc gây ra tình huống đó. Thuyền trưởng trả miếng khá gay gắt: "Đúng là chuyện đàn bà, cần phải phân tích rõ ràng vào thời điểm đó, vậy mà bây giờ đồng chí lại trách cứ tôi về điều này". PS:Chuẩn đô đốc A.S. Berzin vốn cũng là một người Nga có gốc Do Thái. ....... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 20 Tháng Sáu, 2012, 09:47:10 pm (tiếp)
Khitrenko một lần nữa chuyển sang vấn đề mới xảy ra: "Anh có một tính tự ái bệnh hoạn, anh quan niệm điều đó rất sai lầm". Maksimov không kìm được và đáp: "Tôi hành động theo đúng điều lệnh đi tàu. Một khi đồng chí quyết định chỉ huy - vậy đồng chí hãy chỉ huy đi! Nhưng đừng chỉ huy thông qua tôi. Ai chỉ huy người đó hãy gánh trách nhiệm đối với những hậu quả xảy ra". (http://flot.com/upload/blog/490//BerzinPubl2_83.jpg) Khitrenko ra lệnh mang điều lệnh đi tàu lại cho ông. Maksimov lấy trên giá xuống cuốn điều lệnh và lẳng lặng đưa cho ông. Khitrenko lật qua Điều lệnh và quay lại thuyền trưởng hỏi một cách khinh mạn: "Đâu, điều quy định quyền hạn của anh đâu?". Thuyền trưởng mở tới điều 102 của Điều lệnh và đưa sách cho Khitrenko, tại đó văn bản ghi: "Chỉ huy đơn vị không can thiệp vào quyền chỉ huy thao tác của tàu, nếu thuyền trưởng hành động đúng hoặc sai lầm không ảnh hưởng đến an toàn của tàu". Tiếp theo điều lệnh viết rằng nếu chỉ huy đơn vị thực hành nhiệm vụ chỉ huy tàu, ông ta phải ghi lại việc đó vào nhật ký trực ban. Khitrenko đọc và nói với thuyền trưởng, rằng cuộc sống không phải lúc nào cũng như vậy; ngay lập tức, như thể không có chuyện gì, ông bắt đầu cho Maksimov những chỉ dẫn hành động tiếp theo. Khi ông nói xong, thuyền trưởng nhìn đồng hồ - đã là 02:00 giờ sáng. Maksimov, sau cuộc nói chuyện với Khitrenko không sao ngủ được. Sau khoảng một giờ đồng hồ, sỹ quan trực ban nhắc thuyền trưởng sắp đến giờ nổi lên vào phiên liên lạc kế tiếp. 04.00 giờ, phiên liên lạc, nhận được điện báo vị trí tiếp theo của tàu sân bay USS "Ticonderoga", có bốn tàu khu trục và một tàu tuần tra hộ tống đang tiến dần chậm rãi và chắc chắn về phía tàu ngầm. Hôm qua, người Mỹ đã tắt hệ thống vô tuyến dẫn đường "Loran A và C" của họ, mà tàu ngầm vẫn sử dụng thành công để xác định vị trí của mình, bây giờ để làm việc này hoa tiêu chỉ còn dựa vào các ngôi sao trên trời, nhưng chúng thường bị mây che khuất. Hệ thống radar của chúng ta vẫn chưa với tới các khu vực này. Phiên liên lạc kết thúc, tàu ngầm lặn xuống, tiếp tục cuộc chạy đua của nó. Tốc độ 19 hải lý. Maksimov ngủ lơ mơ đâu đó lúc 06,00 giờ. Người thuyền trưởng trong tình huống như vậy chỉ có thể nghỉ ngơi tranh thủ từng giấc ngắn. (http://flot.com/upload/blog/15f//BerzinPubl2_84.jpg) 8,00 giờ, vào phiên liên lạc, nhận được điện thông báo vị trí tiếp theo của USS "Ticonderoga". Nhờ máy tầm phương vô tuyến đã phát hiện ra pha vô tuyến sóng trung của tàu sân bay: phương vị 70 độ, tần số 520 kilohertz, tín hiệu "PO". Ngay lập tức họ chuyển điện về căn cứ bờ báo cáo phát hiện tàu sân bay. Chiếc tàu ngầm lại lặn xuống, tốc độ 19 hải lý. Maksimov cả một đêm chỉ ngủ được có hai giờ. Thuyền phó chính trị đi vào buồng điều khiển trung tâm và kể với thuyền trưởng một việc vừa xảy ra trên tàu. Một thủy thủ tập sự. Rakhmatulin có hành động thô lỗ với chuẩn úy hải quân Zolotkov, còn anh kia nổi nóng gí nắm đấm vào mặt cậu lính thủy. Hai giờ sau, cả hai đến chỗ Maksimov và khóc lóc xin bỏ qua vụ việc, người này xin người kia tha thứ, thuyền trường cũng đồng ý với quyết định này, tại đây câu chuyện kết thúc. 12,00 giờ, lại phiên liên lạc, tàu ngầm nhận được điện từ bộ tham mưu hạm đội: "Luyện tập. Tấn công tên lửa vào tàu sân bay "Ticonderoga", hướng của tàu sân bay 300 độ, tốc độ 20 hải lý, vĩ độ, kinh độ, thời gian ký lệnh 11,00 giờ. Tư lệnh Hạm đội." Điện nhận được chính là mệnh lệnh chiến đấu và thuyền trưởng phải thi hành trong thời hạn sớm nhất. Từ "Luyện tập" có nghĩa là đạn tên lửa tác chiến không cần phải phóng đi thực sự, nhưng tất cả các hành động khác đều phải thực hiện như trong thời chiến. Khi ở trên biển, thuyền trưởng độc lập quyết định cho mỗi mệnh lệnh chiến đấu: đánh giá tình hình, làm các tính toán cần thiết, dự tính các phương án hành động, chọn ra phương án có lợi nhất, giao nhiệm vụ cho cấp dưới của mình, tiếp theo thực hiện quyết định của mình một cách liên tục và nhất quán, giành cho được chiến thắng trước kẻ thù. Maksimov, ra lệnh theo đường truyền tin trên tàu: "Báo động chiến đấu cấp 1 khẩu đội tác chiến trên hạm." Theo mệnh lênh đó tất cả những ai có liên quan nhanh chóng tập hợp trong buồng điều khiển trung tâm. Thuyền trưởng đọc lệnh chiến đấu và ấn định thời gian phóng tên lửa. Với những con người này chẳng cần thêm bất cứ điều gì, bởi vì tất cả mọi người đều biết phải làm gì và làm thế nào, nhiều năm dài phục vụ và công tác thực hành thao luyện hàng ngày đã biến họ thành các chuyên gia, sau vài phút, các tính toán đã xong và thông tin cần thiết đã được đưa lên bản đồ. Trưởng ngành tên lửa báo cáo sẵn sàng cho pha chuẩn bị phóng. Maksimov kiểm tra các tính toán trên bản đồ và ra lệnh: "Báo động chiến đấu tập." Trong các khoang tiếng rú chói tai vang lên lanh lảnh. Các thuyền viên hối hả chiếm lĩnh vị trí chiến đấu của họ. Một phút sau, trợ lý thuyền trưởng báo cáo tàu ngầm đã sẵn sàng vào trận. Sau đó, thuyền trưởng ra lệnh: "Tấn công tên lửa, bắt đầu chuẩn bị phóng." Trưởng ngành tên lửa ra lệnh nạp dữ liệu tọa độ tàu sân bay "Ticonderoga", hướng và tốc độ của nó vào thiết bị bắn tên lửa. Tên lửa trong các container thép sống dậy, trái tim của nó lại đập, theo đường dây dẫn, thông tin về kẻ thù chạy vào bộ não của nó, kẻ thù mà sau một vài phút nữa nó sẽ phải tìm thấy trên đại dương và tiêu diệt. Hoàn thành pha chuẩn bị tiền khởi động, trưởng ngành tên lửa báo cáo Maksimov: "Tên lửa đã sẵn sàng phóng, sẵn sàng cho tàu nổi lên." (http://flot.com/upload/blog/403//BerzinPubl2_85.jpg) .......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 21 Tháng Sáu, 2012, 12:47:13 am (tiếp)
Tàu ngầm bắt đầu đi lên chiều sâu tiềm vọng kính, đường chân trời sạch, thuyền trưởng ra lệnh: "Cho tàu nổi. Thổi sitec dằn chủ. Nâng thùng phóng!" Tàu ngầm nổi lên mặt biển, container từ từ nâng lên, bầu trời xanh mênh mông, không một gợn mây, xung quanh đại dương một màu xanh sẫm, biển lặng. Tên lửa đã được phóng giả định. Ngay lập tức họ chuyển điện vào bờ báo cáo đã tấn công tàu sân bay. Báo cáo của hiệu thính viên: "Bên trái mười độ phát hiện sự làm việc của radar máy bay "Orion". Chiếc máy bay này có thể dễ dàng tìm ra tàu ngầm trong tư thế nổi; nếu điều này xảy ra, nó sẽ bay tới ngay chỗ đối tượng bị phát hiện chỉ sau 8-10 phút. Maksimov ra lệnh: "Lặn khẩn trương!" tàu lặn xuống độ sâu an toàn và bắt đầu cơ động tránh xa máy bay. Bây giờ các tàu ngầm đều tấn công tên lửa từ dưới mặt nước, nhưng trong những năm ấy chúng còn chưa thể làm điều đó theo dữ liệu thiết kế. Chúng phải nổi lên mặt biển để thực hiện điều này, tàu ngầm mất đi tính bí mật của nó và nó trở thành một tấm bia tốt. Cần phải nói rằng người Mỹ chưa bao giờ chế tạo các tàu ngầm phóng đạn trong tư thế nổi, mà chỉ phóng trong tư thế ngầm dưới mặt nước, tất cả các tên lửa chống hạm của họ đều được bắn đi từ các ống phóng ngư lôi thông thường, chúng ta cũng làm điều đó từ các thùng chứa đặc biệt, nhưng phức tạp nhiều hơn, tốn kém nhiều hơn và độ tin cậy ít hơn. Tàu ngầm tiếp tục tiến gần tàu sân bay, bốn giờ một lần nổi lên vào phiên liên lạc để nhận chỉ thị mục tiêu từ bờ. Maksimov phân tích đường di chuyển của tàu sân bay, rõ ràng nó phải đi qua trên các khu vực có độ sâu đặc biệt, nơi bố trí các ăng-ten của hệ thống quan trắc sóng thủy âm tầm xa của Hoa Kỳ theo dõi các tàu ngầm của chúng ta. Có thể hệ thống này đã phát hiện ra tàu ngầm của Maksimov, bởi vì con tàu đã đi hàng ngày ở tốc độ 19 hải lý, và gầm vang như sấm khắp đại dương. (http://flot.com/upload/blog/8a0//BerzinPubl2_86.jpg) Vì độ ồn của nó, tàu ngầm đề án 675 được các chuyên gia NATO gọi là "Echo-II", còn chuyên gia xô viết thì gọi là - "mụ bò rống". Thuyền trưởng thảo luận với trợ lý chính kết quả cuộc tấn công tên lửa vừa rồi: tên lửa có đến được tàu sân bay không và bộ tham mưu hạm đội xác định tọa độ của nó chính xác đến đâu? Dẫn đường cho tàu ngầm tiếp cận tàu sân bay thì nhiều đơn vị có thể tham gia: tàu mặt nước trinh sát, một tàu ngầm khác, máy bay, vệ tinh nhân tạo của trái đất, phương tiện trinh sát ven biển của hạm đội, những đơn vị này trực tiếp theo dõi tàu sân bay, thông báo tọa độ của nó về bộ tham mưu hạm đội, tại đó người ta đưa thông tin này vào một vị trí tham mưu đặc biệt, người ta bình sai, phân tích, và chỉ sau đó mới chuyển nó cho tàu ngầm của Maksimov, con tàu sau khi nhận được thông tin sẽ có khả năng giáng đòn tấn công tên lửa lên tàu sân bay, khi đang ở cách xa nó một khoảng cách lớn. Tại tất cả các giai đoạn của quá trình này những người tham gia có thể chấp nhận những sai sót nhất định khi sử dụng một kỹ thuật cũng chưa phải đã hoàn hảo, thông tin được chuyển giao thì đang nhanh chóng trở nên lỗi thời, kết quả là đạn tên lửa có thể không trúng đối phương, nhưng trách nhiệm này thuyền trưởng tàu ngầm phải gánh chịu, trong thời bình người ta có thể lột lon anh ta và trong thời chiến – đưa anh ta ra tòa án binh. Sau trợ lý chính đến lượt đại diện toàn quyền cơ quan đặc biệt Gubin đi tới, trong cuộc sống thường ngày người ta gọi họ là các nhân viên đặc biệt, sự thực - đó là các sỹ quan KGB. Họ luôn luôn được phái đi công tác trong các chiến dịch đi biển, họ phải giám sát các hành động của thủy thủ đoàn, bao gồm cả thuyền trưởng tàu ngầm lẫn sỹ quan chỉ huy cao cấp trong cuộc hành quân. Anh ta có những nhân mối trong đám các thủy thủ, sĩ quan và hạ sỹ quan trên tàu ngầm, báo cáo của những người đó được chấp nhận như thể chân lý tối hậu. Gubin kể rằng tại bàn điều khiển thiết bị năng lượng chính, sỹ quan-thao tác viên đang bí mật vạch trên bản đồ hải trình của tàu ngầm. Ngoài ra, trung sĩ phụ trách tủ lạnh bảo quản thức ăn ăn bớt được một chai rượu vang và anh ta đã uống cạn một hơi chai rượu đó, hiện anh chàng đang đứng tại vị trí trực nhưng say khướt. Trong chiến dịch đi biển các chiến sỹ tàu ngầm mỗi ngày được phát năm mươi gram rượu vang khô. Thuyền trưởng lắng nghe Gubin, và hứa sẽ có biện pháp cần thiết. Maksimov lần đầu tiên đối mặt với các nhân viên đặc biệt trong trường cao đẳng hải quân. (http://flot.com/upload/blog/90f//BerzinPubl2_87.jpg) Một trong các nhân viên đó trước đây phục vụ ở ban ám sát SMERSHE (СМЕРШЕ - смерть шпионам). Ông mãnh nhìn thấy trong tay chàng học viên Маksimov một đĩa hát trước chiến tranh với điệu foxtrot «Dưới mặt nạ quý bà thò ra những cọng râu hung» và thế là anh ta bắt đầu hỏi xoáy cậu học viên: «Bàn tay kẻ thù nhân dân nào đã đưa cho cậu cái món thổ tả đó?» Маksimov bắt đầu giải thích cho anh ta rằng đĩa hát ấy được phát hành từ trước chiến tranh, cậu mua nó ở chợ. Đó là những năm tháng đấu tranh với chủ nghĩa thế giới và văn hóa tư sản toàn cầu. Khó khăn lắm cậu mới dứt được khỏi anh chàng cuồng tín. Theo luật, đội ngũ các nhân viên đặc biệt được bổ sung từ những sĩ quan trẻ phục vụ trên tàu ngầm: sỹ quan hoa tiêu, sỹ quan thủy lôi, sỹ quan tên lửa, kỹ sư cơ khí, những người không thể hiển được mình về chuyên môn, không cố gắng đi theo con đường nghiệp vụ chỉ huy, và nhiều người không chịu được gánh nặng phục vụ trên tàu ngầm. Nhân viên đặc biệt trên tàu coi họ có cương vị ngang bằng thuyền phó chính trị, mà tiện thể phải nói rằng đó là người họ duy trì liên lạc rất chặt chẽ. ......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 21 Tháng Sáu, 2012, 10:29:43 pm (tiếp)
Hôm trước khi ra khơi Gubin không hiểu sao lại mở lòng và kể rằng họ đã theo dõi vợ Khitrenko cùng tình nhân trong rừng và chụp ảnh được khoảnh khắc thú vị nhất, sau đó bắt đầu tống tiền cô ta, cô ta sợ hãi và trở thành nữ mật báo viên. Maksimov chưa bao giờ nghe nói họ vạch mặt được một điệp viên nào: trên tàu ngầm hoặc tại bộ tham mưu. Về cơ bản, ông chỉ biết được từ họ những chuyện kiểu như: ai ngủ với ai, ai hay uống, hay kể chuyện tiếu lâm về Brezhnev. Maksimov nhớ đến một sự kiện xảy ra với vị chỉ huy phó đơn vị Strelnikov. Trong một chiến dịch đi biển tại cabin-sinh hoạt chung ông ấy đã buông thõng một câu rằng trong Bộ Chính trị có nhiều người đã cao tuổi. Khi về tới căn cứ ông đã nhanh chóng bị cách chức và bổ nhiệm chức vụ thấp hơn, đời phục vụ sau này của ông thế là hỏng. Đây là một trong những ví dụ về hoạt động của họ. (http://flot.com/upload/blog/0cf//BerzinPubl2_88.jpg) Tại phiên liên lạc tiếp theo Maksimov khảo sát đường chân trời bằng radar và ngay lập tức nhìn thấy một mục tiêu lớn trên màn hình, mà sau này được biết đó chính là tàu sân bay, khoảng cách đến nó còn khoảng ba mươi dặm. Thuyền trưởng quyết định tiến đến đạt được tiếp xúc thủy âm với tàu sân bay và thi hành cuộc tấn công ngư lôi luyện tập. Tàu ngầm lặn xuống và bắt đầu tiến gần tàu sân bay, theo tính toán, các đội viên thủy âm phải nghe được nó ở đâu đó sau hai giờ. Vào lúc 12.10 giờ thuyền trưởng hạ tốc độ xuống còn 6 hải lý, một vài phút sau các đội viên thủy âm nghe thấy tiếng ồn chân vịt tàu sân bay và báo cáo với Maksimov. Thuyền trưởng công bố qua đường truyền thanh trên tàu "Báo động chiến đấu-huấn luyện. Phóng ngư lôi luyện tập tấn công tàu sân bay". Toàn bộ thuyền viên đã vào vị trí sẵn sàng cho cuộc tấn công ngư lôi. Khẩu đội tác chiến trên hạm bắt đầu xác định hướng và tốc độ của tàu sân bay và khoảng cách tới nó. Một vài phút sau, các thông số cần thiết đã chọn xong và được tự động nhập vào đạn ngư lôi. Cuối cùng, Maksimov ra lệnh: "Ngư lôi sẵn sàng!" Từ khoang ngư lôi có báo cáo: "Ngư lôi đã sẵn sàng xong!" Maksimov cho mệnh lệnh cuối cùng: "Ngư lôi - phóng!" Nếu đây là thời chiến, các quả đạn ngư lôi đã thực sự phóng ra khỏi ống phóng và lanh lẹ lao vun vút tới tàu sân bay. Cuộc tấn công đã hoàn thành, tàu ngầm bắt đầu di chuyển ra xa tàu sân bay tới khoảng cách an toàn để điện báo vào bờ. Trong thực tế, Maksimov đã ngày thứ hai không ngủ, ông nhắm mắt trong phòng điều khiển trung tâm 20-30 phút. Một bức điện đến từ Tham mưu trưởng Hạm đội: "Chúng tôi giả định các anh đang gián tiếpbị theo dõi bởi nhóm tàu sân bay xung kích-săn tìm, hãy báo cáo bằng điện tín xem theo dõi các anh có bao nhiêu tàu mặt nước, bao nhiêu máy bay, các sonar trong khoang có làm việc hay không." Maksimov đọc điện và phì cười, bởi vì văn bản trùng khớp với các suy nghĩ đã ám ảnh ông hai ngày nay. Với sự phát hiện ra tàu sân bay đã xác định được cả các tàu mặt nước bảo vệ, trên thực tế các tàu đó liên tục sử dụng các đài thủy âm (sonar) trong chế độ hoạt động tích cực, sự làm việc đó các đội viên thủy âm trên tàu ngầm đã hầu như liên tục quan sát thấy suốt mười hai giờ qua. Có vẻ có ấn tượng là người ta đã phát hiện ra tàu ngầm hoặc là đang khám phá điều gì đó. (http://flot.com/upload/blog/7cf//BerzinPubl2_89.jpg) Con tàu nổi lên vào phiên liên lạc trong thời gian ban ngày, người chỉ huy quan sát qua kính tiềm vọng: biển - lặng, trời không gợn mây và ở đó không có ai, tầm nhìn không hạn chế, đường chân trời không 1 bóng tàu, nhưng đồng thời ông nghe thấy trong loa điện động mà các đội viên thủy âm nối tới trạm của mình những tín hiệu xào xạo của các sonar các tàu chiến hộ tống tàu sân bay. Vì điều này mà ông cảm thấy không thoải mái. Có tiếng nói đâu đó thầm nhắc ông: "Tàu họ ở ngay gần đây!" Nhưng đôi mắt chỉ nhìn thấy đại dương và bầu trời hoàn toàn thanh khiết. Qua một loạt dấu hiệu Maksimov hiểu rằng tàu ngầm chưa bị phát hiện. Bây giờ cần phải thảo phúc đáp cho tham mưu trưởng hạm đội và chuyển điện. Bất kỳ việc phát sóng chuyển giao điện tín nào từ tàu ngầm đều vi phạm bí mật, bởi vì người ta có thể bắt phương vị và xác định được vị trí. Tại bộ tham mưu hạm đội không ai nghĩ về điều đó, họ cần người ta ngay lập tức thỏa mãn tính tò mò của họ; giúp đỡ tàu ngầm dù chỉ bằng một cách nào đó thì họ không thể, nhưng một điều chắc chắn họ làm được là làm hại nó. Chiến dịch đi biển, theo luật, thường kéo dài đến năm mươi ngày, và có thể lâu hơn. Nếu không gặp các tàu nước ngoài, các tàu ngầm, các máy bay chống ngầm, không xảy ra trường hợp khẩn cấp, mọi ngày sẽ trở nên giống hệt như nhau. Theo số liệu thống kê trong một chiến dịch hành quân thường có 2-3 trường hợp khẩn cấp: một đám cháy thiết bị điện, nước biển rò qua thân tàu, điều gì đó liên quan đến an toàn bức xạ, hư hại của trang bị vũ khí, các vấn đề liên quan đến việc quản lý chỉ huy tàu ngầm. .......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 22 Tháng Sáu, 2012, 05:30:08 pm (tiếp)
(http://flot.com/upload/blog/54a//BerzinPubl2_90.jpg) Tình trạng khẩn cấp - đó là khi tất cả các hậu quả nhanh chóng được khắc phục, còn đội ngũ thuyền viên không bị bó tay bất lực. Hàng ngày mỗi thành viên thủy thủ đoàn có 8 giờ đứng trực, tám giờ ngủ, tám giờ còn lại dùng để ăn sáng, ăn trưa, ăn tối, uống trà buổi tối, tham gia các hoạt động tập thể trên tàu, và cuối cùng, làm các công việc cá nhân của mình. Trước đây, mỗi tuần một lần vẫn tổ chức các buổi chính trị cho các thủy thủ và hạ sĩ quan, còn với các sỹ quan - nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin. Cán sỹ quan sống trong cabin hai và bốn chỗ, các thủy thủ và hạ sỹ quan – các ca bin 10 và 20 chỗ. Con người thì chẳng ở đâu hòa hợp hoàn toàn được. Thường hay xảy ra chuyện trên các chỗ nằm cạnh nhau lại là những con người chẳng hề hợp tính nhau. Người ta sống tách xa gia đình. Trong một chiến dịch hành quân các thủy thủ tàu ngầm buộc phải sống một lối sống ít vận động. Ngủ trong cabin, đi lại chỉ hai mươi hay ba mươi bước chân, thế là anh đã ở tại vị trí chiến đấu của mình, vị trí mà tại đó anh đứng trực. Không ánh mặt trời, không có không khí trong lành, không có phụ nữ, cũng không thể hút thuốc. Nếu một con tàu mặt nước đang thực hiện chuyến đi biển xa, thủy thủ đoàn của nó vẫn thấy được môi trường xung quanh. Trên tàu ngầm không ai nhìn thấy điều đó, ngay cả hải trình trên bản đồ hàng ngày chỉ có một vài người theo dõi, những người khác bị cấm tiệt. Hải trình và các khu vực bơi của tàu ngầm là loại thông tin tuyệt mật. Sau khi bơi trên biển năm mươi ngày, người ta không còn hình dung nổi mình ở chỗ nào. Thuyền phó chính trị tới chỗ Maksimov kể rằng anh đã thuyết phục Khitrenko làm một phòng hút thuốc không chính thức (kurilka) trong phòng tắm có hoa sen tại khoang các máy móc phụ trợ. Tầu ngầm đề án này không thiết kế kurilka. Vào phòng tắm, cùng một lúc không thể quá một hoặc hai người. Quạt thông gió hút không khí ra khỏi buồng tắm, dồn nó qua một bộ lọc và thổi ngược trở lại theo một chu kỳ khép kín. Nhiệt độ trong phòng hút thuốc ở vài nơi lên đến gần bốn mươi độ. Người ta treo một tấm vải ướt, nó nhanh chóng ngấm chất nicotine. Khoái cảm của việc hút thuốc trong những điều kiện thế này thật đáng ngờ. (http://flot.com/upload/blog/7e6//BerzinPubl2_91.jpg) Chính trị viên nói ngay: "Hôi kinh người!" Khi hai người bắt đầu hút thuốc, chỉ sau một phút họ đắm chìm vào một màn sương màu xám, vậy mà bất chấp điều này, trước phòng hút thuốc hầu như luôn luôn có một hàng người đợi. Điện đến: "Chấm dứt theo dõi tàu sân bay, chiếm lĩnh khu vực số 2. nhiệm vụ - săn tìm tàu mặt nước Hoa Kỳ. Tư lệnh Hạm đội." Gần như tối nào, sau khi uống trà Khitrenko đều nói chuyện với Maksimov. Hôm nay cuộc nói chuyện đề cập đến một sự kiện xảy ra trên một tàu mặt nước tại Hạm đội Baltic ở Riga, ở đó dưới sự lãnh đạo của thuyền phó chính trị thiếu tá hải quân Sablin có một thủy thủ đoàn đã nổi loạn, bắt giam thuyền trưởng. Con tàu đi qua vịnh Riga, tại lối ra khơi từ eo biển Irbenekii máy bay của hạm đội dừng lại ném bom cảnh cáo. Điều này ảnh hưởng đến một số người tham gia cuộc nổi dậy, một người trong số họ đã trả tự do cho thuyền trưởng, ông ấy nhanh chóng trèo lên cầu điều hướng tháp chỉ huy, dùng súng lục bắn bị thương Sablin, phục hồi trật tự. Con tàu trở về căn cứ. Thủy thủ đoàn bị giải tán, một phần bị xử phạt hành chính, một phần bị kết án. Sablin bị kết án tử hình, bản án được tuyên thực hiện ngay. Tại phiên tòa, Sablin nói rằng ông không định bẻ hướng con tàu sang một quốc gia nước ngoài nào khác, mà họ định đến Leningrad, ở đó ông ta sẽ yêu cầu phát tuyên bố trên đài phát thanh về sự bất đồng của mình với chế độ hiện hành. (http://flot.com/upload/blog/509//BerzinPubl2_92.jpg) Ngày Hải quân Xô Viết, 1975. BPK đề án 1135 "Tuần tra" ("Сторожевой"). Hàng thứ nhất người thứ 4 từ trái sang, thuyền phó chính trị thiếu tá hải quân Sablin... Ngồi cạnh là thuyền trưởng Potulnyi... Maksimov bàng hoàng bởi câu chuyện này. Khi còn lại một mình, ông vẫn tiếp tục suy nghĩ về Sablin. Đột nhiên, ông nhớ tới trung úy Schmidt - người anh hùng của cuộc cách mạng 1905, người mà tại Sevastopol đã dẫn đầu một cuộc nổi dậytrên tàu tuần dương "Ochakov", Schmidt bị bắt giam, kết án và xử bắn. Maksimov bắt đầu so sánh số phận của họ và đi đến một kết luận – người này hoặc người kia đã vi phạm lời tuyên thệ, vốn được coi là nền tảng của quân đội tại mọi thời đại và ở mọi dân tộc. Người ta đã tuyên thệ (tức là, đã thề) trung thành với Tổ quốc của mình, nhân dân và chính phủ của mình (Sa Hoàng). Thiếu điều này quân đội không thể tồn tại.
Nếu con người vì lý do nào đó không thể thực hiện lời tuyên thệ, anh ta nên rời khỏi quân đội và sau đó hành động theo niềm tin của mình. Cả hai trường hợp đều gây ra cái chết hoặc bị thương cho nhiều người vô tội. Trong thời chúng tôi, trên báo chí và truyền hình đã có cuộc tranh luận về phục hồi danh dự cho Sablin, người ta nói về ông như về một chiến sỹ đấu tranh chống tình trạng trì trệ. Đủ rồi, còn nói gì nữa đây? Schmidt và Sablin đã cố tình vi phạm lời thề, và do đó không thể là những anh hùng đáng biểu dương đối với đội ngũ quân nhân của hạm đội. Hãy tưởng tượng rằng ngày hôm nay, một tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa đạn đạo chứa đầu đạn hạt nhân ra khơi mà không được phép, còn thuyền trưởng con tàu qua radio tuyên bố rằng ông ta không đồng ý với chế độ hiện hành và muốn công bố với thế giới điều này thông qua các phương tiện truyền thông hiện có ở nước Nga. Ấn tượng gây ra với cả thế giới sẽ thế nào? Không cần phải cưa cắt khúc cây mà anh ngồi trên đó. Và những nhân viên dũng cảm của ngành đặc biệt nhìn đi đâu rồi khi họ không làm gì trong một trường hợp như vậy, bởi vì cả một con tàu chạy trốn, chứ không phải một cá nhân riêng lẻ nào? Thời đó họ rất nhiệt tình theo dõi những người bất đồng chính kiến cơ mà. (http://flot.com/upload/blog/d37//BerzinPubl2_93.jpg) Maksimov đi vào buồng hoa tiêu xem bản đồ, hoa tiêu báo cáo: "Đồng chí thuyền trưởng, chúng ta sẽ chiếm lĩnh khu vực số hai sau hai giờ." Trưởng ngành quân y thiếu tá Ushakov thông báo với Maksimov về ca viêm ruột thừa của chuẩn úy hải quân Ponomarev. Ông quyết định phải phẫu thuật ngay, trợ giúp ông là chuẩn úy hải quân một nhà hóa học-hướng dẫn viên y tế, trước khi hành quân họ đã thực hành phẫu thuật trong bệnh viện. Ushakov đã thực hiện kiểu đó nhiều lần trong các chiến dịch hành quân trên biển. Trên tàu ngầm đề án này không có phòng mổ, bác sĩ có cabin riêng của mình, đồng thời cũng là 1 bệnh xá. Ca mổ tiến hành trong cabin-sinh hoạt chung của các sĩ quan. Sàn, tường và bàn làm việc của nó được rửa sạch bằng xà phòng còn nhà hóa học-hướng dẫn viên y tế khử trùng toàn bộ phòng. Maksimov công bố qua mạng truyền thanh về ca mổ sắp diễn ra, nhằm vào thủy thủ đoàn để đảm bảo cung cấp chiếu sáng liên tục, giữ hướng, độ sâu và tốc độ ổn định. Ca mổ bắt đầu, nhiều người lo lắng cho bạn bè của mình. Cuối cùng, từ cabin-sinh hoạt chung có báo cáo: "Đồng chí thuyền trưởng, ca mổ đã hoàn thành, bệnh nhân cảm thấy rất tốt." Người ta đặt Ponomarev bên cạnh cabin bác sĩ. ........ Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 22 Tháng Sáu, 2012, 08:49:09 pm (tiếp)
Chiếc tàu ngầm đã chiếm lĩnh xong khu vực số 2, và bắt đầu tìm kiếm các tàu mặt nước Hoa Kỳ. Trong điện tín kế tiếp bộ tham mưu hạm đội ra lệnh nổi lên vào phiên liên lạc sau tám tiếng đồng hồ. Điều đó rất hữu ích và kịp thời, bởi lẽ Maksimov sau những ngày qua đã rất mệt mỏi, và trong chế độ này ông có thể nghỉ ngơi. Vào lúc 06,00 giờ có tín hiệu báo động báo động khẩn cấp, tức kéo người thuyền trưởng ra khỏi chiếc giường tạm thời của ông trong phòng điều khiển trung tâm. Trợ lý chính báo cáo ông: "Cháy ở khoang 7!" Từ khoang có tình trạng khẩn cấp có báo cáo : "Bộ lọc không khí bắt lửa, độ khói trong khoang không đáng kể." Maksimov và trưởng ngành cơ điện ra các mệnh lệnh dập tắt đám cháy. Khitrenko vào phòng điều khiển trung tâm, Maksimov báo cáo tình hình, ông ấy không can thiệp, chỉ ngồi lặng lẽ không xa thuyền trưởng. Sau năm phút từ khoang có tình trạng khẩn cấp có báo cáo: "Đám cháy đã được dập tắt." (http://flot.com/upload/blog/882//BerzinPubl2_94.jpg) Maksimov ra lệnh phân tích không khí trong khoang đó và báo cáo nguyên nhân bộ lọc bắt lửa. Mười phút sau, người chỉ huy khoang thứ bảy báo cáo rằng nồng độ carbon monoxide cao gấp ba lần chỉ tiêu tiêu chuẩn. Lý do bộ lọc bắt lửa là hành động sai của anh thủy thủ điều chỉnh nó. Các biện pháp cần thiết được áp dụng trong khoang để đưa thành phần không khí trở lại bình thường, đưa tất cả trở lại trạng thái ban đầu của nó. Maksimov ra lệnh cho trưởng ngành cơ điện điều tra trường hợp này, còn trợ lý chính làm việc với các thành viên thủy thủ đoàn phân tích trường hợp khẩn cấp vừa qua. Hỏa hoạn trên tàu ngầm - sự kiện khủng khiếp và rất nguy hiểm, ngày hôm nay, thủy thủ đoàn thoát hiểm với chút sợ hãi, trong các trường hợp khác có thể dẫn đến một tai nạn lớn và thậm chí một thảm họa, như đã xảy ra với tàu ngầm "Komsomolets". Maksimov ra lệnh: "Kết thúc báo động khẩn cấp." Từ khi bắt đầu chiến dịch Khitrenko lo ngại rằng một chiếc tàu ngầm Mỹ loại "Sturgeon" đang theo dõi tàu ngầm của mình. Đây là một kẻ thù cực kỳ nguy hiểm. Lợi thế quan trọng nhất của nó là độ ồn của " Sturgeon " nhỏ hơn nhiều lần so với tàu ngầm của chúng ta, và hệ thống sonar cũng tốt hơn rất nhiều. Khi ở trong cùng một môi trường, khả năng của chúng tôi là khác nhau. "Sturgeon" nghe thấy chúng ta ở khoảng cách rất xa, chúng ta nghe được nó ở tầm gần hơn đáng kể. Ví dụ, nó có thể nghe thấy chúng ta trong khoảng cách năm mươi dặm trở lại, còn chúng ta có thể nghe thấy nó chỉ trong vòng năm dặm. Điều này mang lại cho nó khả năng kín đáo theo dõi chúng ta, phát hiện chiến thuật của chúng ta, còn khi bùng nổ chiến sự, nó sẽ là kẻ khai hỏa vũ khí đầu tiên. (http://flot.com/upload/blog/e59//BerzinPubl2_95.jpg) Sturgeon, phòng điều khển trung tâm. Trong những năm đầu công cuộc chế tạo tàu ngầm nguyên tử của chúng ta cũng như của Hoa Kỳ, sự khác biệt này là chưa có. Các tàu ngầm nguyên tử Mỹ hồi đó cũng cố gắng theo dõi chúng tôi trong những phạm vi nhỏ, điều đôi khi dẫn đến những cuộc đụng độ. Chẳng hạn một tàu ngầm Mỹ trong tư thế bơi ngầm đã đâm vào chúng ta, cú va đập vào phần đuôi tàu ngầm chúng ta đã làm cong trục truyền động. Tất cả những trường hợp này buộc chiến sỹ tàu ngầm chúng ta phải suy nghĩ về cách tránh các vụ va chạm như vậy, và về những cuộc theo dõi chúng ta một cách bí mật. Khoa học và ngành công nghiệp của chúng ta không thể vượt qua Mỹ trong các vấn đề này, bởi vậy các thuyền trưởng tàu ngầm nguyên tử phải hài lòng với sự phát triển các chiến thuật thích hợp để bù lại sự tụt hậu về kỹ thuật. Trong cuộc hành quân, thuyền trưởng tàu ngầm luôn luôn lưu tâm đến điều này và mỗi người giải quyết vấn đề theo cách của mình. Maksimov phát triển một phương pháp phát hiện sự theo dõi, phương pháp đó đã bị Khitrenko nhiều lần chỉ trích và nói rằng không có gì mới, nhưng khi người ta giả lập một tình huống tương tự để nghiên cứu, gần như luôn luôn Maksimov với phương pháp của ông hóa ra lại là người chiến thắng. Cuối cùng, Khitrenko cũng cho phép sử dụng phương pháp đó trong chiến dịch này. Tuy nhiên, cho đến nay không phát hiện ra điều gì, nhưng có thể, tàu ngầm Mỹ cũng không theo dõi họ. Nhưng cái mà Khitrenko sợ hơn hết là sự va chạm với tàu ngầm Mỹ. Trong bộ tham mưu người ta phát triển một bàn đạc đặc biệt, nhờ sự giúp sức của nó các tàu ngầm của chúng ta cần phải tránh xa cái gọi là mục tiêu tiếng ồn thấp, có nghĩa đó có thể là một chiếc tàu ngầm nước ngoài. Bàn đạc này đã có tại phòng điều khiển trung tâm. Tàu ngầm thực sự là một đối tượng tiếng ồn nhỏ. Thường xuyên và sát nách, người ta chỉ phát hiện được chúng ở những khoảng cách gần, và có thể xảy ra va chạm trong khi xác định tốc độ, hướng và khoảng cách đến nó. Âm thanh trong nước biển lan truyền theo một định luật vô cùng phức tạp, trong một số trường hợp, các đội viên thủy âm nghe được tàu ngầm ở khoảng cách rất xa, trong những trường hợp khác - trên những khoảng cách rất nhỏ. Nghe được ít, còn cần phải xác định: tiếng ồn đó thuộc về đối tượng nào: một chiếc tàu ngầm, một tàu mặt nước, phương tiện nổi, thuyền seiner đánh cá, động vật biển, hoặc là một âm thanh tự nhiên bất kỳ. (http://flot.com/upload/blog/7ef//BerzinPubl2_96w.jpg) Những nhiệm vụ mà hệ thủy âm trên tàu ngầm đảm nhiệm giải quyết. Các đội viên thủy âm trên tàu ngầm luôn được người ta cố gắng chọn trong số những người có thính giác tốt; và điều này, tất nhiên, không luôn luôn có được, nhưng với họ người ta luôn đặt ra những yêu cầu như thế. Trên bờ và trên biển, người ta thường xuyên huấn luyện họ tập nghe những bản thu âm tiếng ồn tiêu chuẩn của tàu ngầm, tàu mặt nước và các đối tượng khác. Phát hiện ra bất kỳ tiếng ồn nào trên biển, các đội viên thủy âm liền ghi nó lại trên băng từ, so sánh tiếng ồn đó với các bản ghi tiêu chuẩn, nếu tiếng ồn giống như một bản ghi tiêu chuẩn, họ lập tức có thể cho biết đối tượng nào đã được phát hiện. Các đội viên thủy âm trình độ cao xác định loại tiếng ồn dựa vào thính giác, không quan tâm đến các bản ghi trong tàng thư tham khảo. Tất cả những điều này rất phức tạp và rất cá biệt. Maksimov khi ấy còn chưa biết rằng, trên các tàu ngầm Mỹ người ta đã đi vào những vấn đề này khá xa, họ đã dùng các máy tính chuyên dụng để nghiên cứu, các máy tính đó phân tích tần số, sóng hài, cường độ âm thanh, so sánh với các bản ghi tiêu chuẩn và đưa ra kết quả phân loại. Ngoài ra, họ có các phương tiện đặc biệt, có thể bắt chước các âm thanh khác nhau: một con tàu mặt nước, một chiếc seiner đánh cá lưới quét, một đàn cá heo và các âm thanh khác, cho phép chỉ huy tàu ngầm Mỹ che giấu hành động của họ và đẩy các thuyền trưởng của chúng ta đến các nhận định sai lầm khác nhau. Bàn đạc rất hữu ích cho việc tản xa khỏi các mục tiêu có tiếng ồn thấp, khi chúng đã thực sự ở gần tàu ngầm của chúng ta. (http://www.oceanpribor.ru/images/text/1182422910_82489c9737cc245530c7a6ebef3753ec.jpg) Những nhiệm vụ mà hệ thủy âm trên tàu mặt nước đảm nhiệm giải quyết. Đôi khi các đội viên thủy âm không thể phân loại tiếng ồn đã phát hiện, trong những trường hợp đó Khitrenko yêu cầu hãy coi đó như việc phát hiện ra tàu ngầm và vì vậy phải né tránh nó. Nó có thể là, ví dụ, 1 tàu buôn đang ở cách tàu ngầm khoảng hai mươi dặm, đang đi trên 1 hướng song song, tiếng ồn các chân vịt của nó rất khó nghe, phương vị tới nó không thay đổi. Tàu ngầm coi nó là một đối tượng tiếng ồn thấp và bắt đầu né tránh, bức tranh gần như không đổi, tạo ấn tượng sai lầm rằng mục tiêu tiếng ồn thấp đang theo dõi tàu ngầm. Maksimov kể cho Khitrenko, chuyện xảy ra trong một chuyến bơi biển độc lập, thuyền trưởng Torgonin cũng cơ động rất tốt, nhưng sau đó ông quyết định kiểm tra xem thực chất tiếng ồn đó là gì. Ông lấy hướng đi thẳng tới chỗ tiếng ồn, vượt qua mười lăm dặm, nổi lên độ sâu kính tiềm vọng, trong kính tiềm vọng ông nhìn thấy những chiếc tàu đánh cá seiner đang bận rộn với mẻ lưới của họ. (http://flot.com/upload/blog/c52//BerzinPubl2_97.jpg) Sau đó, ông bắt đầu hành động một cách khôn ngoan và thận trọng hơn. Kết thúc, Maksimov đặt câu hỏi: "Có lẽ chúng ta cứ lẩn trốn mọi tiếng sột soạt như thế cũng đủ rồi phải không ạ?" Khitrenko cười, không nói gì, nhưng sau đó ông ấy trở nên thờ ơ với những mục tiêu tiếng ồn thấp. Vào buổi tối trợ lý chính Chertkov đến chỗ Maksimov, anh ta bắt đầu bằng câu: "Đồng chí chỉ huy, tôi mang lại cho đồng chí một số thứ vớ vẩn, đồng chí xem không?" Maksimov mỉm cười, bởi vì vẫn những lời nói đó của anh ta đã quay lại với ông, những lời mà ông đã đánh giá bản ghi ngày hôm qua trong cuốn sổ này. Chertkov giao sổ nhật ký cho thuyền trưởng và báo cáo kế hoạch hàng ngày cho ngày hôm sau, Maksimov phê duyệt. Tiếp theo cuộc trò chuyện nói về kỳ nghỉ sắp tới của thủy thủ đoàn sau khi trở về từ chuyến hành quân. Sau khi thảo luận các vấn đề chính, Maksimov nói: "Alexandr Ivanovitch, đợt nghỉ này cậu sẽ đi đâu?" Chertkov ngẫm nghĩ, và từ tốn trả lời: "Tôi vẫn là kẻ độc thân, tôi có nhiều bạn nữ ở Moskva, Sevastopol, Riga, tôi sẽ đi thăm một số. Khi nghỉ phép tôi sẽ đi một mình, tự do như một chú chim." ........ Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 23 Tháng Sáu, 2012, 01:31:01 am (tiếp)
Maksimov rất yêu thương gia đình của mình, và khi còn lại một mình, nỗi cô đơn gặm nhấm ông như một con chó sói đói khát. Ông không hiểu làm thế nào người ta có thể sống tới 35 năm mà vẫn chưa kết hôn, vì vậy ông hỏi Chertkov: "Cảm giác cô độc, cậu thấy thế nào?" Chertkov ngay lập tức trả lời: "Tôi thấy cách mà các người bạn có gia đình của tôi đang sống và niềm ghen tị với họ trong tôi chẳng hề có." Maksimov biết rất ít về cuộc sống của anh ta, cuộc sống đó không phải là cuộc sống dễ chịu nhất. Anh ta sinh ra ở Lviv. Cha và anh trai lớn của anh ta thường xuyên uống rượu và chết sớm, tất cả những điều đó xảy ra trước mắt anh ta, và thậm chí hồi đó anh ta đã thề không bao giờ đụng vào chai rượu. Anh ta tốt nghiệp trường hải quân rất chật vật, nhưng việc phục vụ trong Hải quân của anh ta không hề tệ hơn nhiều người khác, người ta vẫn nói về anh ta như về một ứng cử viên cho cương vị thuyền trưởng. Ở bất cứ nơi nào anh ta từng phục vụ, người ta rất ngạc nhiên rằng anh ta là 1 người kiêng rượu. Trong thời kỳ trì trệ các sỹ quan thường rất hay tụ tập trong dịp này hay dịp khác và nơi đó vodka chảy thành sông, còn các lời chúc rượu báo trước một nghi lễ nhất định - hãy đứng vững và uống cạn đến đáy. Nhiều người ép sát anh ta, cố gắng buộc anh ta uống, nhưng đều không thành công. Khi nói chuyện xong, họ đi vào cabin-sinh hoạt chung, đã đến lúc uống trà buổi tối. Thường là trong khi uống trà và sau khi uống Khitrenko hay tin cậy kể cho Maksimov về cuộc sống và đời phục vụ của mình. Maksimov chia sẻ với ông về một cuốn sách mới đọc xong viết về Tukhachevsky, Yakir và Uborevich. Từ chuyện cuốn sách, cuộc trò chuyện chuyển sang các vụ bắt giữ vào năm 1937. (http://flot.com/upload/blog/a79//BerzinPubl2_98.jpg) Một bức tranh buồn, nhưng..... Hồi xưa họ thậm chí có thể đi xây dựng ở một nơi nào đó, còn bây giờ không hề có kẻ thù nào của nhân dân, nhưng những đứa trẻ bụi đời cũng có chừng ấy trong cuộc Nội chiến. Bây giờ chẳng ai quan tâm đến chúng. Khitrenko đột nhiên nói: "Tôi đây, năm 37 cũng ngồi trong trại." Maksimov rất ngạc nhiên nhìn ông ấy và hỏi, "Cái gì? thời đó đồng chí còn là trẻ con mà" Khitrenko trả lời: "Vâng, khi ấy tôi mới được mười hai tuổi. Cha và mẹ tôi đã bị bắt ba ngày sau một dạ hội buổi tối, tại đó cha tôi uống say và không thận trọng kể một chuyện tiếu lâm chính trị. Họ đã bị kết án mười năm, bị gửi đến các trại khác nhau, tại những nơi mà sau đó họ đã chết. Họ bắt giam tôi một tuần sau và gửi đến một trại cải tạo, trong đó có cả người lớn và trẻ em. Tôi ở đó khoảng gần một năm, may mắn thay phép lạ xảy ra, những người họ hàng xa của tôi đã cứu tôi ra, họ nhận tôi làm con nuôi ... Tôi nhớ suốt đời năm ấy. Tất cả những gì tôi đã trải qua và thấy ở đó - không thể nói được. Cảm giác liên tục bị sỉ nhục, đói và lạnh và những lời chửi rủa vô tận." Khitrenko dừng lại im lặng, nhưng rồi ông tiếp tục: "Nói chung, khi còn Stalin là trật tự, là kỷ cương nghiêm khắc, không như bây giờ - một mớ hỗn độn; tài sản công cộng nào mà người ta không ăn cắp." Khitrenko kết thúc bằng giọng vui vẻ: "Đủ rồi, thuyền trưởng! Hãy đi ngủ đi, ngày mai tại Moskva sẽ khai mạc Đại hội 24, đừng quên tổ chức một cuộc mít tinh nhân dịp này." Maksimov đi tới chỗ hoa tiêu Moskvin để ra chỉ thị về hải trình tiếp theo. Họ đánh dấu điểm sẽ nổi lên vào ngày mai để xác định nơi mà thuyền trưởng đặt bút vạch nét sổ ngang trên hướng hải trình. Maksimov nói chuyện với Moskvin về Đại hội 24 ĐCSLX, sẽ bắt đầu làm việc vào ngày mai. Moskvin cho biết: "Thật thú vị, thuyền trưởng Sobachevsky của chúng ta sẽ phát biểu ở đó phải không ạ?" Maksimov nói: "Tôi không biết, những chuyện như vậy được quyết định, có lẽ ở BCH Trung ương." Moskvin nói rằng Sobachevskii có gần như tất cả bạn bè là các cán bộ chính trị, thậm chí có cả 1 bí thư huyện ủy.
Maksimov biết điều đó, Sobachevsky không kết thân với ai trong số các thuyền trưởng, anh ấy sống khép kín và là con người khá cau có. Maksimov ngờ rằng Sobachevskii bị người hoa tiêu căm ghét, và ông quyết định hỏi anh hoa tiêu về điều đó: "Cậu ghét ông ấy à?" Anh chàng do dự một lúc, nhưng trả lời: "Vâng, tôi ghét! Nhiều sĩ quan ghét ông ta. Ông ấy xử sự với chúng tôi như với những con rô bốt, không nói chuyện được với một ai theo kiểu con người, đó là kẻ xảo trá, thù hận, thô lỗ và một kẻ nhà quê, một Sobakevitch (1*) hiện đại, tất cả thuyền viên đều sợ hãi ông ta. Chính sách ấy đã đưa ông ta vào đoàn đại biểu." (http://flot.com/upload/blog/9d3//BerzinPubl2_99.jpg) Maksimov không muốn tiếp tục thảo luận về chủ đề này và nói: "Có thể cá nhân cậu có một cái gì đó không ổn với ông ấy!" Moskvin, nhếch mép cười và trả lời: "Tôi không phải là một nhà tiên tri, sớm hay muộn đồng chí sẽ gặp ông ta, và sau đó hãy đánh giá lời nói của tôi . Con trai cả của ông ấy đã trở thành một kẻ lang thang, bỏ nhà đi bụi, say rượu, ngủ vạ vật trong tầng hầm." Maksimov nói: "Có lẽ cậu đúng. Về con trai của ông ấy ta chỉ có thể than tiếc điều đã xảy ra mà thôi, chuyện như thế vẫn có ở các gia đình tốt đẹp nhất, nơi các thành viên toàn những người xuất sắc. Vui lòng đánh thức tôi khi tàu ngầm gần tới điểm đánh dấu trên hướng tuyến mà tôi đã vạch trên hải đồ nhé." Hoa tiêu trả lời: "Rõ!" Maksimov rời khỏi buồng hoa tiêu và vào nằm trong phòng điều khiển trung tâm trên chiếc giường tự chế của mình. Những ngày gần đây, ông cảm thấy không được khỏe, đau đầu, suy nhược, thờ ơ với mọi thứ. Trò chuyện với bác sĩ, ông hiểu rằng đó là tình trạng chung ở nhiều người trong thủy thủ đoàn. Buổi sáng, hoa tiêu đánh thức ông bằng một báo cáo: "Đồng chí chỉ huy, năm phút nữa, tàu ngầm sẽ đi qua điểm đồng chí đánh dấu trên bản đồ." Tàu ngầm chao đảo mạnh. Maksimov nhìn đồng hồ đo độ nghiêng ngang, mũi tên chỉ độ nghiêng 5 độ, tiếp đó cặp mắt ông dừng lại trên đồng hồ đo độ sâu - 80 mét. Hiện tượng rung lắc thân tàu ở độ sâu này có nghĩa là phía trên đang có bão – điều đó vô cùng rõ ràng với Maksimov, ông hủy bỏ lệnh nổi lên chiều sâu kính tiềm vọng, trong các trường hợp như vậy hệ thống đạo hàng thiên văn không thể dùng được. (http://flot.com/upload/blog/b86//BerzinPubl2_100.jpg) Đồng hồ đo độ sâu thông thường, gần như ở khoang nào cũng có. Việc nặng nề nhất đói với Maksimov trên tàu ngầm là vào nhà vệ sinh, công trình sư thiết kế thứ đó là người mà ông từ lâu đã muốn gặp. Về kích thước, nó giống như một cái hộp bút dùng cho con người. Treo phía trên chậu xí bệt là một chiếc quạt gió khổng lồ mà nhiều người đã va phải làm trán nổi u khi quên mất sự tồn tại của nó, ở bên trái - một bộ van, bên phải - cánh cửa ra vào, ngay trước mũi trên vách ngăn là "các điều khoản sử dụng". Nếu vô tình vi phạm thì "nội dung" trong chiếc chậu bệt sẽ bay ngược vào người bạn, sau đó kẻ vi phạm "quy tắc" sẽ ra khỏi nhà vệ sinh trong một tông màu nâu nóng, sặc sụa một mùi cụ thể rất đặc trưng. Khi thực hiện đúng và đủ tất cả các "quy tắc" - điều ấy vẫn có thể xảy ra trong những trường hợp riêng biệt. (http://flot.com/upload/blog/058//BerzinPubl2_101.jpg) Chuyên gia hầm tàu, xin lỗi, sẽ nói: "Chậu bệt bị ứ hơi một chút chút thôi, van bị kênh khí đóng không kín." Trước lời giải thích kia bạn không cảm thấy nhẹ nhõm hơn. Quạt gió vẫn hoạt động, nhưng mùi hôi không mất. Tất cả những thiếu sót này sẽ được khuếch đại nhiều lần, khi tàu ngầm rơi vào trong một cơn bão và thân tàu bị lắc mạnh. Trên tàu ngầm những tiểu tiết đặc trưng riêng của nó không phải chỉ có ở nhà vệ sinh, mà còn ở những vấn đề sinh hoạt thường ngày khác: tắm rửa, giặt giũ, vứt rác và các đồ ăn thừa. Maksimov còn nhớ rõ thời phục vụ của mình trên các tàu ngầm diesel, khi họ hành quân đi biển, các sitec chứa nước ăn đấy tràn, người ta tiết kiệm từng ly nước. Họ tắm rửa bằng nước biển với một loại xà phòng đặc biệt. Các bác sĩ thường xuyên phát các tấm khăn tẩm rượu để lau sạch cơ thể. Trên chiếc tàu ngầm nguyên tử có một thiết bị bay hơi, nó "nấu" nước ngọt chưng cất từ nước biển dùng cho trạm năng lượng chính và sử dụng cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của các thuyền viên, nước uống và tắm. Khi đi biển các thuyền viên tắm rửa trong 2 cabin tắm có vòi sen một lần trong khoảng thời gian 7-10 ngày; trong đó họ kỳ cọ thân mình bằng các vật nhỏ. Phòng giặt ủi trên tàu không có, cũng như không có nơi nào để làm khô đồ lót và khăn trải giường. Mỗi thuyền viên được cấp phát quần đùi, áo sơ mi và vớ, hai vải trải giường và áo gối. Tất cả những thứ đó được thay đổi trong ngày đến phiên tắm rửa. Quần áo bẩn được thu thập lại và khi tàu về đến căn cứ người ta chuyển chúng cho bộ phận gia công xử lý. Quần áo đó được gọi là "loại một lần", tức là được thiết kế để sử dụng một lần duy nhất. Thực tế, nó có thể chịu được khá nhiều lần giặt tẩy, thế nên một số tay quân nhu bịp bợm thường sử dụng vải trải giường dùng 1 lần trong các điều kiện của căn cứ bờ, còn chuyện chất lượng tốt thì họ gạt sang phía trái. Quân phục bên ngoài gồm một áo khoác màu xanh nước biển sẫm, quần dài, mũ lưỡi trai hoặc bê rê, những thứ mà trong một chiến dịch đi biển thay đổi không quá hai lần. Trên áo khoác mỗi người mang một băng vải trắng, trên đó nếu là sỹ quan thì ghi chức vụ còn các thủy thủ và hạ sĩ quan thì ghi số hiệu tác chiến. PS: (1*) - nhân vật trong "Những linh hồn chết" của N.V.Gogol. ....... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 23 Tháng Sáu, 2012, 02:11:09 pm (tiếp)
Một trong những con tàu của chúng ta trong một chiến dịch đi biển đã ghé vào Somalia, đậu lại tại cầu cảng một thời gian, một trong những chiếc áo khoác cũ bị ném vào thùng rác, nhưng quên lột băng vải đó ra. Một người da đen phục vụ tại bến tàu nhặt chiếc áo này ra khỏi thùng rác và giặt sạch rồi mặc vào, trên băng vải có ghi dòng chữt: "Trưởng ngành tác chiến 3". Nhân viên cơ quan đặc biệt đi trên tàu kinh hoàng: chức vụ đã bị lộ. Anh ta lấy một chiếc áo khoác mới và xin đổi lại với người da đen kia lấy chiếc áo cũ có đính băng vải, nhưng thỏa thuận không thành vì anh da đen đánh giá cao chiếc áo cũ ở tiểu tiết đó. Hàng ngày thủy thủ đoàn cười vỡ bụng khi nhìn thấy "trưởng ngành tác chiến 3" quét dọn cầu cảng. (http://flot.com/upload/blog/fef//BerzinPubl2_102.jpg) Quân phục hiện nay của trưởng ngành tác chiến 3. Trong mỗi khoang, rác thải và các đồ ăn thừa được thu thập vào trong các túi nhựa đặc biệt. Vào thời gian ấn định theo lệnh chúng sẽ được đưa tới khoang có hầm xả những bao nhựa đó ra ngoài tàu xuống biển. Hầm có 2 cửa nắp: cửa dưới thấp - cửa được mở ra phía ngoài thân tàu, cửa trên cao - cửa mở vào trong khoang. Nếu trong tư thế lặn ngầm mà mở hai ngăn đồng thời thì khoang tàu sẽ nhanh chóng ngập đầy nước, và tàu ngầm sẽ chết chìm. Một thiết bị đặc biệt được thủy thủ tàu ngầm gọi là "máy sửa lỗi cho thằng ngốc" có nhiệm vụ loại trừ hành động nguy hiểm đó. Và dẫu sao thằng ngốc lại vẫn thường mạnh hơn bất kỳ thiết bị kỹ thuật nào. Trên một tàu ngầm đang đậu trong căn cứ có một thằng ngốc ngắt mạch thiết bị đó và một thằng ngốc khác quyết định ném rác thông qua hầm xả, điều bị nghiêm cấm làm khi tàu đậu trong căn cứ. Kết quả thật khóc dở mếu dở - trong thời hạn cực kỳ ngắn ngủi, nước tràn vào ngập phần dưới của khoang tàu, phải khó khăn lắm người ta mới ngăn chặn được. Một số lớn các thiết bị điện đã bị hủy hoại, tàu ngầm phải chuyển đi sửa chữa dài ngày. Maksimov từ lâu đã hiểu rõ chính sách cán bộ tại hạm đội. Các nhân viên đặc biệt, các sỹ quan phụ trách công tác cán bộ, các cán bộ chính trị và ban chỉ huy săm soi để không lọt xuống tàu những khuôn mặt "không bản địa": Do Thái, Đức, Ba Lan, Triều Tiên. Họ đã đưa điều ấy trở thành thông thường. Và những người đã từng phục vụ thì nay bằng những lý do bất kỳ nào đó sẽ được chuyển đi. Các sỹ quan và hạ sỹ quan bản địa, những người thường xuyên say rượu, né tránh phục vụ, thì nhiều năm không bị thanh lọc, mặc dù các thuyền trưởng gần như quỳ xuống van xin nhưng câu trả lời luôn luôn giống nhau: "Hãy giáo dục đi!" Họ tạo thành 1 mảnh đất màu mỡ mà, trên đó nở rộ những tai nạn và cái chết của nhiều người. Maksimov triệu tập đến phòng điều khiển trung tâm thuyền phó chính trị Zubkov, ông thảo luận với anh ta tất cả mọi chi tiết của cuộc mít tinh chào mừng khai mạc Đại hội 24 ĐCSLX. Để làm điều đó trong khi đang hành quân trên biển, các thuyền viên sẽ không tập hợp đến đâu cả, họ ở nguyên trong khoang của mình, người có trách nhiệm thì vào vào phòng điều khiển trung tâm, từ đó họ phát biểu qua hệ thống truyền thanh trên tàu. Tất cả diễn ra bình thường và buồn tẻ. Đại hội thì mọi người đã quá quen, và họ không mong đợi điều gì đặc biệt trong cuộc sống do sự kiện ấy. (http://flot.com/upload/blog/551//BerzinPubl2_103.jpg) Ở phía trên cơn bão đã sang ngày thứ ba, tàu ngầm chao đảo dưới biển ở độ sâu 80 mét. Mọi người đều muốn về nhà, thời gian trôi sao quá chậm. Trước khi ăn trưa Maksimov huấn luyện cách phát động một cuộc tấn công ngư lôi. Trong những buổi tập luyện này luôn có sự tham gia của khẩu đội tác chiến trên hạm, trong đó bao gồm trợ lý chính, hoa tiêu, thợ điện ngư lôi và trưởng ngành vô tuyến điện. Bản chất của cuộc tấn công ngư lôi có thể được giải thích bằng một ví dụ rất đơn giản. Hãy tưởng tượng rằng bạn đang ở trên sân và nhìn thấy một người đàn ông đang chạy theo một hướng cụ thể nào đó. Bạn đặt nhiệm vụ tiến đến gần anh ta và khi đạt đến khoảng cách trong vòng 60 hoặc 30 mét bạn ném quả bóng tennis vào người anh ta, sao cho bóng bay đi và chạm vào người đàn ông. Để thực hiện nhiệm vụ, người ta làm bạn trở thành "vô hình", nhưng phẩm chất này có thể bị mất nếu bạn tiến đến gần người đàn ông đang chạy ở khoảng cách 25 mét hoặc ít hơn. Vậy đó, bạn - chiếc tàu ngầm, quả bóng quần vợt - đạn ngư lôi, người đàn ông khác - tàu chiến, phương tiện nổi, tàu ngầm của kẻ địch. Nếu bạn không tuân thủ điều kiện, sau đó người đàn ông đang chạy sẽ thấy bạn, và nhiệm vụ trở nên khó khăn hơn và thậm chí có thể là không thực hiện nổi. Điều này cũng hệt như vậy trong cuộc tấn công ngư lôi, hành động bí mật tạo khả năng để thực hiện nhiệm vụ, và khi phát hiện tàu ngầm thì đối phương sẽ dùng mọi biện pháp để phá cuộc tấn công ngư lôi, trong nhiều trường hợp, kẻ thù sẽ tấn công chính tàu ngầm. Trong ví dụ của chúng tôi, bạn có thể thấy người đàn ông chạy đi đâu, chạy với tốc độ nào, khoảng cách đến anh ta bao nhiêu. Trên tàu ngầm, người thuyền trưởng chỉ huy chỉ nhận được từ sonar hướng trỏ tới đối tượng có tiếng ồn. Hướng và tốc độ của đối tượng, khoảng cách tới đối tượng do khẩu đội tác chiến hạm xác định. Theo cách nói khác, công việc này gọi là sự xác định các yếu tố của mục tiêu. (http://flot.com/upload/blog/1de//BerzinPubl2_104w.jpg) Khi pha này kết thúc, tiếp đến phải giải quyết nhiệm vụ thứ hai: phóng đạn ngư lôi theo hướng nào, một hình mấu nổi tiếng kể từ thời Chiến tranh thế giới thứ Nhất đó là "tam giác ngư lôi". Cuối cùng, người ta gia công và đưa các thông số cần thiết vào đạn ngư lôi sao cho giấc mơ đạt đến đích và bắn trúng mục tiêu. Tấn công ngư lôi - đó là một quá trình trong đó hợp nhất các công việc của kỹ thuật, kiến thức và kỹ năng của đội ngũ thuyền viên, tính cách, trí tuệ và ý chí giành chiến thắng của người thuyền trưởng chỉ huy. Vào buổi tối một ai đó trong thủy thủ đoàn rửa ráy trong phòng tắm, đóng cửa và đi ngủ, quên tắt bình đun nước nóng, vốn có dạng 1 xi lanh kín có công suất khoảng một trăm lít, nối bằng kết cấu hàn nền với trần cabin tắm vòi hoa sen. Máy nước nóng chạy theo chế độ nồi hơi, áp suất bắt đầu tăng lên, van an toàn bị hỏng, như trên tàu ngầm người ta thường nói là bị "chua". Trong chính khoang có phòng tắm đó, tại cabin bên mạn phải đang diễn ra cuộc họp đảng của ban tác chiến cơ điện với chương trình nghị sự: "Về công tác phòng chống tai nạn và sự cố". Áp lực trong bình nước đã đạt đến giá trị giới hạn, và nó phát nổ với 1 tiếng gầm khủng khiếp, bình bị giật phăng khỏi nền và lao như một trái đạn pháo vào cánh cửa kim loại phòng tắm, làm biến dạng nó, ổ khóa bị giật đứt đập bẹp một đường ống bằng đồng đỏ trong hệ thống, hơi nước thoát ra tràn ngập khoang. Nếu đang có một người đàn ông ở trong khu vực đó, anh ta chắc chắn sẽ bị giết chết. Tiếng gầm bất ngờ và hơi nước bùng ra sau vài giây đã làm tê liệt những người đang có mặt tại cuộc họp đảng, trưởng ngành tác chiến 5 Proshin báo cáo về phòng điều khiển "Nổ thiết bị tái sinh không khí!" Đối với anh ta tại thời điểm đó dường như sự việc là thế. Maksimov lúc này đang trong phòng điều khiển, khi nhận được báo cáo lập tức tuyên bố báo động khẩn cấp. Trong khoang có tình trạng khẩn cấp sau một phút người ta đã hiểu rõ nguyên nhân và xấu hổ báo cáo: "Bình nước nóng bị nổ một chút thôi." Mức độ giảm thiểu tai nạn tại hạm đội thường xuyên được áp dụng trong các báo cáo từ dưới lên. Chiếc tàu ngầm K-429 bị chìm ở độ sâu 50 mét, phần lớn thuyền viên đã được cứu. Sau một thời gian tàu ngầm được vớt lên và đưa đến nhà máy sửa chữa tàu biển. Tổng tư lệnh Hải quân báo cáo Bộ Quốc phòng và Uỷ ban Trung ương rằng tàu không chìm, mà chỉ bị ngập một phần của vài khoang. (http://flot.com/upload/blog/847//BerzinPubl2_105w.jpg) ......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 26 Tháng Sáu, 2012, 12:09:15 pm (tiếp)
Maksimov đã được biết từ kinh nghiệm các chiến dịch đi biển của các tàu ngầm khác rằng: càng gần cuối cuộc hành quân, càng nhiều trường hợp ngủ gật khi trực, sơ suất khi bảo trì thiết bị kỹ thuật, bỏ qua quy định an toàn, vì vậy ông đã thảo luận trường hợp này với đội ngũ sỹ quan, cuộc họp đi đến ra quyết định áp dụng một loạt các biện pháp kỹ thuật, tổ chức và giáo dục. Tại phiên liên lạc tiếp theo, tàu ngầm nhận được điện của bộ tham mưu hạm đội: "Gửi thuyền trưởng. Tới 20,00 giờ ngày 16 tháng 4 chiếm lĩnh Љ 5. Nhiệm vụ: tìm kiếm nhóm tàu vận tải quân sự Mỹ, khi phát hiện sẽ tiến hành tấn công luyện tập bằng vũ khí tên lửa và ngư lôi. Tư lệnh hạm đội." Khitrenko trong thời gian diễn ra phiên liên lạc ở trong buồng hoa tiêu và là người đầu tiên đọc bức điện, ông chuyển nó cho Maksimov và ngay lập tức bắt đầu tính toán trên bản đồ. Thuyền trưởng và hoa tiêu hóa ra không có việc làm vì họ không còn chỗ để làm việc và không có việc gì để làm, buồng hoa tiêu được thiết kế chỉ để cho một người hoạt động. Maksimov quay sang Khitrenko: "Tôi làm được tất cả những việc này, sau đó đồng chí có thể kiểm tra". Khitrenko trả lời qua kẽ răng nghiến chặt: "Làm đi”, nhưng ông không rời khỏi buồng hoa tiêu, bản đồ không trao lại, mà vẫn tiếp tục vạch bút và tính toán. Maksimov ngồi trong phòng điều khiển trung tâm, sự bực bội cứ từ từ bốc lên. Sau khoảng một giờ, Khitrenko giải phóng vị trí và thuyền trưởng cuối cùng cũng có thể đi đến bên bản đồ và bắt tay thảo quyết định của mình. Chỉ vừa mới tìm hiểu tình huống, Khitrenko đã hiện ra và ra lệnh bằng giọng sắt đá, "Báo cáo quyết tâm chiến đấu!" Maksimov, cố gắng giữ bình tĩnh, trả lời: "Báo cáo cái gì đây? Đồng chí ôm bản đồ, vừa trả lại buồng hoa tiêu xong, bản thân đồng chí làm việc gần một giờ, vậy mà đồng chí đòi hỏi tôi báo cáo quyết tâm chiến đấu khi tôi vừa mới bắt tay làm việc được năm phút?" Tiếp theo cuộc nói chuyện rất căng thẳng, nhưng như mọi khi Khitrenko lái câu chuyện lạc sang những chi tiết đời thường nào đó rồi rời khỏi cabin hoa tiêu. Maksimov sau cuộc nói chuyện rất lâu vẫn không bình tĩnh lại được, có cảm giác ông bị dính vào một mạng nhện, ở đó ông ngã úp mặt xuống và do vậy không thể thoát ra, điều này ngăn cản ông làm việc và ông bắt đầu nhận thấy mình mắc phải những sai lầm: kinh độ 160 độ - nhưng ông đánh lên bản đồ thành kinh độ 162, vĩ độ 26 độ năm phút – ông đánh sang 26 độ 50 phút. Maksimov, nhắm mắt lại và bắt đầu tưởng tượng mình đang nằm ngả trên lưng trên thảm cỏ xanh, những đám mây lao vun vút trên bầu trời xanh biếc giống như những con thú kỳ ảo, một con bỗng thì thầm: "Phù phiếm theo phù vân, tất cả đều là phù phiếm!" Điều này giúp cho công việc trở về nhịp độ bình thường và có khả năng tự kiểm soát. (http://flot.com/upload/blog/bf0//BerzinPubl2_106.jpg) Maksimov tìm ra những sai sót của mình và bộ tham mưu hạm đội: trong bức điện đầu tiên đã chỉ dẫn khu vực Љ5, bức điện thứ hai lại hướng dẫn khu vực Љ6. Thú vị nhất là bức điện thứ hai lặp lại bức điện thứ nhất, mà trong điện một người nào đó đã nhầm lẫn số hiệu khu vực. Chiếm lĩnh khu vực nào đây? Tàu ngầm phải đi hướng nào? Tiếp tục nghiên cứu bức điện, Maksimov hiểu rằng bộ tham mưu hạm đội phát cả hai điện cho tàu ngầm rất muộn, vì vậy nó sẽ không kịp chiếm lĩnh cả khu vực này lẫn khu vực kia. Maksimov trả kết quả tính toán lên bản đồ, lập tức ông thấy rõ rằng tàu ngầm tại thời điểm này có thể phát động cuộc tấn công tên lửa vào nhóm tàu vận tải. Để tiến ra ngăn chặn Maksimov ra lệnh giữ hướng 270 độ, tăng tốc độ lên 19 hải lý. Sau đó, thuyền trưởng đi vào cabin tới chỗ Khitrenko, ông báo cáo quyết định của mình. Khitrenko nghe và phê duyệt quyết tâm chiến đấu, sau đó chuẩn đô đốc nói: "Tôi khuyên anh không ghi quyết định này vào nhật ký sự kiện, hãy bỏ qua thời điểm này, như thể nó không có." Maksimov đi đến phòng điều khiển trung tâm và bắt đầu tưởng tượng đang tự mình nói chuyện với chính mình: "Khitrenko sợ ra lệnh, ông ấy nói như thể khuyên răn. Mà ông ta sợ cái gì nhỉ? hay ông cảm thấy chúng ta không đủ thời gian để chiếm lĩnh bất cứ khu vực nào? Nhưng chúng ta đâu có lỗi trong việc này? Có lẽ ông ấy không muốn gây xích mích với bộ tham mưu hạm đội. Khi phân tích chiến dịch hành quân của chúng ta sẽ lộ ra ngay những sai lầm của họ, mà đằng sau nó là những con người cụ thể. Còn tại sao tôi lại phải che dấu cho công việc tệ hại của họ? Cuối cùng, tôi phải chịu trách nhiệm, còn họ sẽ vẫn đứng bên lề một cách vô can. Tôi gian lận để làm gì, sao lại phải lừa dối một ai đó? " Maksimov lấy cuốn sổ nhật ký sự kiện và ghi vào đó quyết định của mình. Vào ban đêm, tàu ngầm nổi lên chiều sâu kính tiềm vọng vào phiên liên lạc với trên bờ thì nhận được 1 bức điện: "Gửi thuyền trưởng. Vào lúc 05.00 giờ anh sẽ nhận được chỉ thị mục tiêu từ hai máy bay. Vào lúc 06,00 giờ hãy tấn công luyện tập bằng tên lửa vào nhóm tàu vận tải. Tư lệnh hạm đội." (http://flot.com/upload/blog/c6c//BerzinPubl2_107.jpg) Máy bay trinh sát tầm xa và chỉ thị mục tiêu Tu-95RtS. Maksimov đọc điện xong thì bắt tay vạch ra một phương án tấn công khác. Hai chiếc máy bay đang trên đường bay, trước mắt chúng còn phải vượt qua một khoảng cách rất lớn mới có thể tìm thấy trong đại dương nhóm tàu vận tải, xác định kinh độ vĩ độ, hướng đi, tốc độ của chúng và chuyển giao tất cả các tham số đó cho tàu ngầm. Toàn bộ công việc như vậy được gọi là chỉ thị mục tiêu. Các phi công biết rằng, trong thời chiến hệ thống phòng không của đối thủ tiềm năng trong khu vực này của đại dương sẽ không cho phép điều đó xảy ra, máy bay tiêm kích của đối phương sẽ tiêu diệt cả hai máy bay trinh sát và chỉ thị mục tiêu ngay trên đoạn đầu của đường bay. Hôm nay, một máy bay chế áp điện tử của Mỹ đã bắt gặp họ, ngay lập tức nó bắt đầu gây nhiễu giữa họ và chiếc tàu ngầm. Lúc 04,50 giờ, tàu ngầm nổi lên chiều sâu kính tiềm vọng để nhận chỉ thị mục tiêu. Hiệu thính viên báo cáo: "Đồng chí thuyền trưởng, máy bay đang gọi chúng ta. Phi công rất vất vả mới xác định được vị trí của nhóm tàu vận tải, nhiễu phát liên tục đã can thiệp vào công việc của các đài radar trên máy bay, và sự trao đổi điện tín vô tuyến với tàu ngầm. Máy bay Mỹ thực hiện công việc của nó rất tận tụy. Maksimov nhìn thấy trên màn hình của ông một vài vệt mục tiêu mặt nước, sau vài giây chúng biến mất. Các hiệu thính viên vô tuyến báo cáo rằng đã thu được từ máy bay số liệu vĩ độ, kinh độ và tốc độ của nhóm tàu vận tải. Việc chỉ thị mục tiêu đã thực hiện xong, tàu ngầm lặn xuống độ sâu 80 mét và bắt đầu chuẩn bị pha tiền khởi động tổ hợp tên lửa. Cuộc tấn công tên lửa luyện tập đã diễn ra thành công. (http://flot.com/upload/blog/6db//BerzinPubl2_108.jpg) Phóng tên lửa P-6 từ tàu ngầm đề án 675 trên trường bắn tại biển Barentsev. Tại phiên liên lạc tiếp theo tàu ngầm nhận được tín hiệu "người bệnh" ("Страдалец"), mà khi nhận được tín hiệu đó, tàu ngầm trong thời gian ngắn nhất phải tiến gần hơn nhóm tàu vận tải đến khoảng cách sao cho có thể quan sát chúng với sự giúp đỡ của các phương tiện kỹ thuật của bản thân tàu ngầm hoặc quan sát trực quan thông qua kính tiềm vọng. Ngoài ra còn một bức điện: "Gửi thuyền trưởng. Vào lúc 16,00 giờ hãy thực hiện cuộc tấn công tên lửa thứ hai vào nhóm tàu vận tải, chỉ thị mục tiêu - theo phương tiện quan sát riêng trên tàu. Tư lệnh hạm đội". Sau cuộc tấn công tên lửa thứ nhất, tàu ngầm không còn nhận được thông tin về nhóm tàu vận tải. Maksimov cùng với hoa tiêu đã hoàn thành các tính toán, bức tranh nhận được không phải là màu hồng tươi sáng: Để tiến gần nhóm tàu vận tải, tàu ngầm phải tăng tốc độ đến 20 hải lý, và đi với tốc độ như thế tám giờ liên tục. Tất nhiên không nên nói về sự bí mật nào ở đây nữa, con tàu sẽ gầm vang khắp cả đại dương, nhưng người thuyền trưởng bắt buộc phải thi hành mệnh lệnh. Ngoài ra, tìm thấy nhóm tàu vận tải trong đại dương là rất khó khăn như tìm kim trong đống cỏ. Thuyền trưởng ra các mệnh lệnh cần thiết, bắt đầu quá trình tàu ngầm vận động tiến gần nhóm tàu vận tải. Trong quá trình đó tàu ngầm đã 2 lần nổi lên vào phiên liên lạc, nhưng vẫn không thấy có thông tin nào được bộ tham mưu hạm đội thông báo. Hồi 15,00 giờ Maksimov quyết định lắng nghe đường chân trời tại đài thủy âm, để làm điều đó ông cho tàu giảm tốc độ về 6 hải lý. Năm phút sau đội viên thủy âm báo cáo: "Chân trời sạch!" Maksimov hiểu rằng xác suất xích gần lại nhóm tàu vận tải là rất nhỏ. Nếu ngay cả tám giờ trước, khi hướng đi của chúng được xác định với độ chính xác 10 độ, thì sau chừng ấy thời gian chúng có thể đã thay đổi hướng khá nhiều so với trước. ....... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 26 Tháng Sáu, 2012, 10:49:28 pm (tiếp)
Vị trí xác suất của nhóm tàu vận tải được hoa tiêu vẽ lên bản đồ, nó là một vệt giãn dài có chiều dọc 108 dặm và chiều ngang 32 dặm. Maksimov nhìn lên hình vẽ rồi quay sang hoa tiêu, nói: "Trông nó giống như một cái xúc xích, chỉ có điều chúng ta sẽ không để bị mắc nghẹn vì nó." Tàu ngầm nổi lên chiều sâu kính tiềm vọng, thuyền trưởng sục sạo đường chân trời qua kính tiềm vọng và radar, không phát hiện ra điều gì, nó lặn xuống và tiếp tục tìm kiếm nhóm tàu vận tải trên hướng tiến gần (giả định). (http://flot.com/upload/blog/3ed//BerzinPubl2_109.jpg) Tên lửa P-6 trưng bày tại Bảo tàng Hạm đội Biển Đen ở Sevastopol. Trong phòng điều khiển trung tâm Khitrenko đến kiểm tra tình hình và yêu cầu Maksimov báo cáo quyết tâm chiến đấu cho cuộc tấn công tên lửa thứ hai sắp tới. Maksimov bắt đầu báo cáo: "Tôi sẽ không thực hiện cuộc tấn công tên lửa, bởi vì chưa phát hiện được nhóm tàu vận tải." Khitrenko kín đáo mỉm cười, ngắt lời anh: "Thuyền trưởng Kalashnikov đã bị cách chức vì anh ta không phát động cuộc tấn công tên lửa kịp thời." Maksimov tiếp tục báo cáo: "Vị trí cụ thể của nhóm tàu vận tải chúng tôi chưa biết, chỉ có vị trí xác suất mà không thể bắn theo vị trí đó được." Khitrenko khuyên: "Còn anh hãy lấy phương vị trung bình, khoảng cách trung bình, khoảng cách trung bình từ bản đồ và hãy bắn đi." Maksimov lập tức trả lời: "Không, tôi sẽ không bắn vào cái xúc xích ấy, tôi sẽ không lãng phí tên lửa." Khitrenko kết thúc sự lắng nghe bằng những lời sau: "Xúc xích nào? Anh hãy chọn cách diễn tả cho đúng đắn và tôi sẽ không ép anh về chuyện tấn công tên lửa nữa, nhưng hãy nhớ rằng tôi đã nói với anh về Kalashnikov?" Tàu ngầm nổi lên chiều sâu kính tiềm vọng để truyền điện báo về bộ tham mưu hạm đội. Maksimov báo cáo không tìm thấy nhóm tàu vận tải. Đúng lúc đó, điện từ bộ tham mưu hạm đội chuyển đến: "Gửi thuyền trưởng. Bắt đầu hành trình về căn cứ. Tư lệnh hạm đội". Mệnh lệnh này được truyền đạt đến toàn bộ thủy thủ đoàn, trong các khoang nổi lên các cuộc trò chuyện vui vẻ, tất cả đã chán ngán cuộc hành quân và muốn nhanh chóng được ở nhà giữa các thân nhân và bạn bè của họ. Thuyền trưởng bừng tỉnh lại, trong những ngày gần đây không được nghỉ ngơi, thường xuyên ông bị đau đầu. (http://flot.com/upload/blog/77a//BerzinPubl2_110.jpg) Sau cuộc trò chuyện với bác sĩ, ông biết rằng tình trạng như của ông cũng có ở nhiều cấp dưới của mình. Suốt đêm ông mơ thấy những cơn ác mộng: dường như ông đang trượt tuyết từ trên đồi xuống, đồng thời đi bên cạnh ông là một chiếc ô tô, nó ngăn chặn ông, phía dưới là bờ biển. Từ phía đó, có những người chạy về phía ông hét lên: "Có xác chết, có xác chết!" Maksimov trượt xuống bờ biển và nhìn thấy một đứa trẻ bé nhỏ đã chết cùng một người đàn ông tàn phế, cách họ hơi xa một chút trên bãi cát rải rác 4 bộ xương. Sau đó, có một cái gì đó tối đen và mạnh mẽ đổ ụp xuống đầu ông, ông cố gắng trốn thoát, nhưng không thể và hét lên sợ hãi, vì thế ông thức dậy và từ từ hồi tỉnh. (http://flot.com/upload/blog/0e2//BerzinPubl2_111a.jpg) Thiết bị tái sinh không khí, thùng chứa các tấm tái sinh. Thuyền trưởng mời tới chỗ mình trưởng ngành hóa học, và họ cùng nhau đi dọc theo các khoang và kiểm tra thành phần hỗn hợp không khí, thiết bị cho thấy nồng độ khí carbon là 1, 2%. Đã phát hiện ra các trưởng khoang tiết kiệm các bình chứa tấm tái sinh không khí; họ sợ rằng chúng không đủ cho đến khi kết thúc chiến dịch đi biển, kết quả hành động của họ là các thuyền viên đều thấy những cơn mộng mị hầu như hàng ngày và đi lại với những cái đầu đau nhức. Maksimov ra lệnh kiểm kê các bình chứa tấm tái sinh, số lượng vẫn đủ, tiếp theo việc sử dụng các tấm đó trở lại bình thường. Buổi tối Khitrenko đi vào buồng hoa tiêu, Maksimov báo cáo tình hình với ông ta, sau đó họ nói chuyện về công tác đảm bảo cho cuộc phóng ngư lôi, cả hai lấy làm tiếc rằng trong đơn vị không có một chiếc tàu mặt nước nào. Khitrenko nhớ đến thời bản thân ông còn là thuyền trưởng một tàu ngầm trong đơn vị này, khi đó ngoài tàu ngầm ra còn một tàu khu trục, được chỉ huy bởi trung tá hải quân Malyshev. Thuyền trưởng tàu khu trục đâu khoảng gần bốn mươi, nhưng ông ấy vẫn còn là một kẻ độc thân. Một lần trong Câu lạc bộ Sỹ quan, Malyshev làm quen với một phụ nữ trẻ mới cưới, tên của cô là Raia. Thật bất ngờ với Malyshev, mối quen biết đơn giản đó đã phát triển thành một tình yêu lớn. Raia và chồng cô làm việc trong phòng tài chính của đơn vị. Chồng cô lớn tuổi hơn Raia rất nhiều, cô không yêu chồng, nhưng quyết định không bỏ ông vì quan hệ mới này, chiếc tàu khu trục sau vài ngày phải di chuyển đến căn cứ mới. Khi đó, Malyshev đã ấp ủ một kế hoạch bắt cóc người yêu. Raia từ lâu đã muốn lên thăm tàu khu trục của anh, nhớ điều ấy, anh ta mời cô lên thăm tàu vào ngày tàu khu trục nhổ neo khởi hành. Malyshev giữ Raia lại trong cabin của mình, còn chính anh ta đi tới chỗ trợ lý chính và ra lệnh: "Hãy yêu cầu trực ban tác chiến cho phép tàu khu trục bắt đầu chuyến đi chuyển căn cứ. Ngay sau khi ông ấy đồng ý, hãy lập tức nhổ neo và ra khỏi căn cứ. Trong thời gian đó tôi sẽ đưa Raia đi thăm các nơi trên tàu." Raia bừng tỉnh khi đã ở trên biển, lúc đầu cô rất lo lắng, sau đó bình tĩnh lại, và thậm chí còn vui mừng. Vụ bắt cóc đã diễn ra như vậy. Nhà tài chính tóm được vợ chỉ vào buổi tối, khi ông ta chạy đến khiếu nại chỉ huy đơn vị. Phải thông báo với bộ tham mưu hạm đội. Tư lệnh hạm đội qua điện thoại nhiếc móc chỉ huy đơn vị: "Sao chỗ các anh lại có chuyện lộn xộn như vậy? tại sao các thuyền trưởng của các anh lại "trụy lạc" đến thế?" Các anh để mắt đi đâu vậy?" Con tàu khu trục đã đến nơi đóng quân mới an toàn, ở đó mệnh lệnh đang chờ họ, điểm thứ nhất trong mệnh lệnh tuyên bố việc cách chức Malyshev, còn điểm thứ hai - yêu cầu anh ta trao lại vợ của người khác cho người chồng. Điểm đầu tiên anh ta đã thực hiện, còn điểm thứ hai thì không, vài tháng sau đó họ đã kết hôn. (http://flot.com/upload/blog/627//BerzinPubl2_112.jpg) Khitrenko trước đó là phó tư lệnh một binh đoàn, đóng căn cứ tại Ấn Độ Dương. Họ thường ghé thăm hữu nghị các cảng khác nhau của Ấn Độ, tại một trong số các cảng đó chính quyền địa phương đã tổ chức đón tiếp long trọng. Trong lễ đón tiếp về phía chúng ta có sự tham dự của các thuyền trưởng và bộ chỉ huy binh đoàn. Thuyền trưởng tàu ngầm diesel Smirnov của chúng ta tại lễ tiếp đón này đã say rượu, vừa khóc, vừa hát một bài dân ca Nga "Thảo nguyên, ôi thảo nguyên quanh ta...", sau câu đầu tiên, người ta cặp tay anh ta kéo sang tàu căn cứ nổi rồi đặt vào giường. Ngày hôm sau Khitrenko la mắng anh ta và cuối cùng nói: "Anh cần phải uống nước tiểu, chứ không phải rượu vang. Đừng bao giờ đi dự chiêu đãi nữa!" Một cuộc chiêu đãi đáp lễ cho phía Ấn Độ được tổ chức trên tàu căn cứ nổi, do đô đốc của họ chủ trì. Ông quan tâm đến việc tại sao sau bàn tiệc không thấy Smirnov. Khitrenko trả lời: "Smirnov bị bệnh." Khi đó, vị đô đốc bày tỏ mong muốn đến thăm bệnh nhân, người ta phải đưa Smirnov ra dự buổi tiếp tân. Điều tương tự lặp lại một lần nữa - anh ta nhanh chóng uống say khướt và ôm hôn thắm thiết vị đô đốc Ấn Độ. Đó là nghi thức mà vị khách Ấn Độ không quen và ông ta rất ngạc nhiên bởi một thuyền trưởng người Nga sao lại có thể nhanh chóng say mèm vì loại rượu vang khô. Rất khó khăn, vị đô đốc mới thoát ra khỏi cái ôm của Smirnov. Người ta lôi thuyền trưởng tàu ngầm vào cabin, tại đó mới phát hiện ra lý do say xỉn của anh ta. Một chiếc bình dẹt chứa rượu được gắn vào chân thuyền trưởng nhờ một miếng băng keo, nối vào bình có một ống PVC mỏng, ống hút đó được kéo lên đến cổ áo sơ mi, đầu mút ống được giấu trong góc khuất của chiếc cà vạt. Thật là thuận tiện, anh ta liên tục và kín đáo hút rượu qua ống hút đó và chuyện ấy đưa đến việc anh hoàn toàn mất lý trí. Người ta bỏ anh ta lại trong cabin và tiếp tục ra tiếp khách. Smirnov, hát một hai bài hát bằng một giọng khê nồng, anh ta buồn chán, rượu không có để uống, anh đi đến sát cửa cabin và không hy vọng rằng cửa sẽ mở ra, nhưng anh vẫn đẩy cửa, cánh cửa chợt mở một cách bất ngờ, người ta đã quên khóa. Cố gắng không gây ra tiếng ồn, anh lần theo các bậc thang, đánh lừa người lính gác và lặng lẽ đặt chân xuống bờ biển Ấn Độ. Smirnov hơi lảo đảo đi tiếp tới cầu cảng xa, nơi có một chiếc tàu buôn của chúng ta đang đậu. Ở đó, người ta chào đón anh với vòng tay rộng mở, ngày lễ của linh hồn vẫn tiếp tục. ....... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 27 Tháng Sáu, 2012, 08:35:28 pm (tiếp)
(http://backup.flot.com/upload/blog/a26//kalinin2_20.jpg) Tàu căn cứ nổi cho tàu ngầm "Bakhmut". Zimovka 1975-1976. Trên tàu căn cứ nổi người ta sực nhớ đến anh ta rất muộn sau nửa đêm, hai nhân viên đặc biệt được huy động để tìm kiếm, họ nhanh chóng tìm thấy anh ta trên 1 chiếc giường trong buồng cô bán căng tin trên tàu buôn. Hết thời hạn phục vụ của tàu ngầm tại binh đoàn, tham mưu trưởng Akhrimenko được bổ nhiệm làm chỉ huy cao cấp cho Smirnov trong chuyến đi về căn cứ. Khi trở về Tổ quốc tàu ngầm phải vượt qua một eo biển, nơi có nhiều mối nguy hiểm về đạo hàng và mật độ tàu thuyền qua lại cả 2 hướng rất cao. Và tại đây trong chính eo biển này, tàu ngầm bắt kịp con tàu buôn của chúng ta, nó đi theo hướng song song và cách tàu buôn khoảng một dặm. Smirnov liên lạc qua radio với thuyền trưởng tàu buôn, ông kia đã mời anh và tham mưu trưởng đơn vị lên làm khách trên tàu mình, và ông phái một chiếc thuyền máy đón họ, Smirnov và Akhrimenko chuyển sang tàu buôn, tại đây họ có hai ngày say sưa rượu chè. Trên tàu ngầm người trợ lý chính ở lại trực thay thuyền trưởng, anh chàng đó cũng buồn chán và uống say khướt. Và thế là trong một bầu không khí rượu chè, phức tạp, nguy hiểm, một trung úy hoa tiêu trẻ đã dẫn dắt tàu ngầm đi tiếp. Có Chúa ở trên trời chứng giám, chính Chúa đã bảo vệ họ hai ngày đó. (http://flot.com/upload/blog/aed//BerzinPubl2_114.jpg) Đêm nay, một lần nữa tàu ngầm cần phải nổi lên chiều sâu kính tiềm vọng để vào phiên liên lạc với bờ. Maksimov không thích những cuộc nổi lên ban đêm, chúng luôn luôn tiềm ẩn khả năng gặp nguy hiểm. Trước khi nổi lên trong phòng điều khiển trung tâm người ta giảm ánh sáng đến mức tối thiểu, để đôi mắt của thuyền trưởng tàu ngầm quen với bóng tối, khi đó ông ta sẽ nhìn thấy tốt hơn bất kỳ nguy hiểm nào trong kính tiềm vọng. Và đây kính tiềm vọng được giương lên: bóng tối dày đặc, một màu đen khủng khiếp, không nhìn thấy gì, những đám mây che kín bầu trời. Trong đầu chỉ chăm chăm một ý nghĩ: "Đừng bỏ sót ánh đèn của một con tàu nào, để nó đừng va vào chúng ta". Một ý nghĩ khác: "Có ai đó có thể đi trên biển không bật đèn hay không?" Để kịp thời phát hiện một con tàu hoặc một đối tượng bất kỳ nào khác và không va chạm với nó, Maksimov liên tục quay kính tiềm vọng và sục sạo đường chân trời. Sau phiên liên lạc Khitrenko quay về phía thuyền trưởng:."Đồng chí Maksimov, hãy sang chỗ tôi". Trên miệng ông từ đồng chí luôn luôn vang lên như ngày xưa người ta giao tiếp trong quán rượu: "Con người / hoặc bạn thân yêu của tôi /, một chai rượu vang và một món ăn!" Maximov không bao giờ cảm thấy họ là đồng chí, mà luôn luôn cảm thấy những rào cản ngăn cách. Hôm qua sau cuộc nói chuyện với Khitrenko mới phát hiện ra ông ấy không thể sống mà không có thuốc lá Mỹ và rượu cognac Pháp, vì thế mà Maksimov suýt phì cười khi ông nhớ đến sự đảm bảo hậu cần nghèo nàn của voentorg tại thị trấn nơi họ sống. Maksimov đi đến chỗ Khitrenko, tại đó đã có mặt nhân viên đặc biệt Gubin, thủy thủ tàu ngầm của ông đã đặt tên cho anh ta là anh mật vụ-trí thức. Chất trí thức của anh ta thể hiện ở chỗ anh ta không muốn xung đột với các nạn nhân của mình, mà cố gắng chuyển công việc dơ bẩn của mình sang tay các sĩ quan và ban chỉ huy tàu ngầm. Khitrenko bắt đầu với những câu đa nghĩa: "Tôi vừa được đại diện toàn quyền tiểu ban đặc biệt trong chiến dịch báo cáo rằng, tiểu đoàn trưởng Galkin của anh thực hiện những ghi chép gì đó trong sổ tay cá nhân của mình. Anh cùng với thuyền phó chính trị phải thu ngay cuốn sổ đó từ tay Galkin và chuyển cho nhân viên đặc biệt". (http://flot.com/upload/blog/52b//BerzinPubl2_115.jpg) Tửu quán. Nikolai Vladimirovitch Remizov (1887-1979). Maximov đáp: "Tôi không sẽ tìm kiếm, không thu giữ cuốn sổ này, cứ để việc đó cho những người phải làm nếu như họ có cái quyền đó". Khitrenko giận dữ trả lời: "Anh có thể đi, tôi đã từng nói với anh rằng anh có một lòng tự trọng bệnh hoạn". Maksimov không kiềm chế được bản thân và nói: "Có một lòng tự trọng bệnh hoạn còn tốt hơn là không có nó". Tàu ngầm còn một ngày hành quân trên đường về căn cứ. Buổi sáng có điện đến: "Gửi thuyền trưởng. Tại điểm số 10, tàu tuần tra "Chim cánh cụt" sẽ đón anh. Trực ban tác chiến hạm đội." Qua thời gian hành quân, một vài người râu ria đã rậm rì, và bây giờ nhiều người trong số họ đang cạo râu, để khi gặp gỡ không làm bạn bè và người thân của họ hoảng sợ. Maksimov ban đêm hầu như không ngủ, suy nghĩ về cuộc gặp gỡ sắp tới với vợ và các con của mình. Cuối cùng, hoa tiêu thông báo: "Còn năm dặm nữa đến điểm số 10". Thuyền trưởng tuyên bố báo động chiến đấu, các thuyền viên bắt đầu chuẩn bị cho lần nổi lên cuối cùng trong chiến dịch đi biển này. Tàu ngầm đã nổi lên chiều sâu kính tiềm vọng, Maksimov sục sạo đường chân trời qua kính tiềm vọng, vẫn còn tối, theo hướng thẳng về phía trước thuyền trưởng nhìn thấy ánh đèn trắng trên nóc tàu tuần tra "Chim cánh cụt". Tàu ngầm nổi hẳn lên mặt biển. Thuyền trưởng theo các bậc thang thẳng đứng đi lên cửa nóc tháp chỉ huy, thanh răng chưa được đánh sạch gỉ sét sau thời gian đi biển, cùng với chuẩn úy Guselnikov họ khó nhọc mới mở được cửa nóc. Maksimov bước lên cầu điều hướng. Bình minh chưa tới, trên cầu điều hướng nồng nặc mùi cá và mùi tảo biển, những vi sinh vật nhỏ bé ấy phủ đầy vỏ chiếc tàu ngầm và trong bóng tối lấp lánh những ánh huyền bí. Đến chỗ tàu tuần tra còn bốn dặm nữa, hiệu thính viên báo cáo: "Đã thiết lập được liên lạc vô tuyến với "Chim cánh cụt". (http://flot.com/upload/blog/01f//BerzinPub3_1.jpg) Tàu tuần tra đề án 50 kiểu "Gornostai". Chiếc tàu ngầm tiếp tục di chuyển vào căn cứ theo đội hình hàng dọc sau tàu tuần tra. Bình minh đã rạng, trong ánh ngày mới thấy rõ hầu hết các khuôn mặt nhợt nhạt sau chiến dịch hành quân, những người này thì trên mặt điểm thêm ánh vàng, những người khác - ánh xanh. Bờ ngày càng gần hơn và gần hơn, tàu ngầm đã vào hải cảng, đã neo đậu xong. Trên cầu tàu xếp thành đội ngũ là các thủy thủ đoàn tàu ngầm, đại diện bộ tham mưu, dàn quân nhạc. Khitrenko theo các bậc thang đi xuống cầu tàu, cấp phó của ông, đại tá hải quân Vetkin lớn tiếng báo cáo: "Thưa đồng chí chuẩn đô đốc, toàn bộ quân nhân trong đơn vị đã xếp thành đội ngũ nhân dịp đón tàu ngầm trở về từ chiến dịch". Khitrenko đi quanh đội hình, ông chúc sức khỏe các thủy thủ đoàn tàu ngầm. Trong thời gian đó, Maksimov đang sắp xếp đội hình thủy thủ đoàn của mình trên boong tàu ngầm. Trên cầu tàu, chủ nhiệm chính trị đơn vị đại tá hải quân Volgin đi đến bên Khitrenko, họ ôm hôn nhau. Sau đó Khitrenko, Volgin và Vetkin leo thang lên tàu ngầm, Maksimov ra lệnh: "Chú ý, đánh mặt sang trái!" Thuyền trưởng lại gần và báo cáo Khitrenko, ông ấy chào mừng thủy thủ đoàn và chúc mừng họ đã hoàn thành thắng lợi chiến dịch đi biển này và trao cho thủy thủ đoàn các nhiệm vụ kế tiếp. Một trong số các nhiệm vụ đó - tiếp nối chiến dịch đi biển - trực ban tác chiến trong căn cứ cho đến mùng 5 tháng 5. Khuôn mặt tất cả mọi người thoắt trở nên ảm đạm, trong thời gian trực chiến, bạn không được gặp gia đình. (http://backup.flot.com/upload/blog/7ea//meshkov12_27.jpg) Tượng người mẹ ngóng người thân từ biển trở về tại Oslo, Na Uy. Chủ nhiệm chính trị Volgin đi đến chỗ Maksimov và thuyền phó chính trị Zuikov, chào đón họ, sau đó ôm hôn từng người và tặng hoa. Maksimov vô cùng kinh ngạc trước sự trìu mến như vậy, bởi trước chiến dịch đã có rất nhiều dịp vẫn con người ấy thôi dù có thể mà lại không chào đáp, khi nghe người ta chào mình như sau: "Chúng tôi chúc đồng chí khỏe, thưa đồng chí đại tá". Đáp lại chỉ là sự im lặng lạnh lùng và một cái nhìn lướt qua trên đầu bạn. Sau đó chủ nhiệm chính trị đi về ban tham mưu, các thủy thủ đoàn quay trở lại tàu ngầm của họ, Maksimov rời tàu xuống bến, các sỹ quan và hạ sỹ quan thủy thủ đoàn của ông đi lại chỗ ông, họ vừa mới trở về từ trung tâm đào tạo; bắt đầu những lời chào, câu hỏi, thuyền trưởng gần như không kịp trả lời. (http://flot.com/upload/blog/f92//BerzinPub3_2.jpg) Mọi người giải tán dần, ở lại cùng Maksimov chỉ còn thuyền phó chính trị Semenov với thủy thủ đoàn của mình, chính trị viên bắt đầu nói: "Khi anh rời chỗ chúng tôi, chúng tôi tiếp tục học tập suốt một tháng. Sau đó lại bay về đây. Thay chỗ anh người ta bổ nhiệm đại tá hải quân Sobachevsky làm thuyền trưởng tạm thời, thời gian này ông ấy đã từ Đại hội 24 trở về. Chúng tôi hầu như không mấy khi thấy ông ấy, ông ta bận bịu các vấn đề của mình. Chỉ một lần tôi liên lạc với ông ấy và đề nghị ông ta phát biểu trước tập thể thuyền viên với tư cách một đại biểu Đại hội 24, ông ấy hứa nhưng lại chẳng phát biểu." Maksimov hỏi: "Họ đã chấp thuận cho Sobachevsky và tôi tham dự kỳ thi vào học viện chưa?" Semenov đáp : "Sobachevsky được phê duyệt rồi, ông ta đang chuẩn bị cho kỳ thi. Anh thì không, người ta bảo nếu gửi cả hai thuyền trưởng đi – sẽ làm giảm quá nhiều khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị". Maksimov hỏi: "Anh tìm giúp Sobachevsky. Nếu có thể, để anh ta thay thế tôi ngày mai, cho tôi có cơ hội gặp gỡ gia đình. Xin vui lòng gọi cho tôi và cho biết anh ta nói gì". Semenov đi khỏi, người ta báo Maksimov đến nghe điện, trực ban tác chiến đơn vị gọi: "Từ 12,00 ngày hôm nay / 30 tháng 4 / tàu ngầm của anh ở trong tình trạng trực chiển, thời gian sẵn sàng một tiếng. Sẵn sàng ra khơi khi có lệnh." (http://backup.flot.com/upload/blog/230//12oparin.jpg) Ra khơi. Trên biển Barents. Sau khi ăn trưa, các thành viên thủy thủ đoàn đến câu lạc bộ dự buổi họp trọng thể nhân ngày 1 tháng 5. Maksimov được mời tham gia Đoàn Chủ tịch. Chính Khitrenko đọc báo cáo tại phiên họp trọng thể, trong báo cáo đề cập chuyến hành quân vừa qua, về chiến công của thủy thủ đoàn và thuyền trưởng Maksimov. Đến cuối buổi lễ, cùng với những người khác, Maksimov được trao tặng chiếc đồng hồ nổi tiếng "Tia Sáng". Sau cuộc họp, tất cả mọi người được tự do trở về nhà trong thị trấn, Maksimov và thủy thủ đoàn quay trở lại tàu ngầm, vì họ vẫn tiếp tục chiến dịch tại cầu cảng – trực ban chiến đấu. (http://flot.com/upload/blog/896//BerzinPub3_3.jpg) ....... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 28 Tháng Sáu, 2012, 07:18:53 pm (tiếp)
Buổi tối, thuyền trưởng cho một vài sĩ quan và hạ sỹ quan về nhà, sau khi đã biết tìm cho mình những người thay thế từ các tàu ngầm khác. Maksimov không có quyền cho phép họ đi, nhưng từ lâu ông đã học được cách gánh trách nhiệm trước các hành động của mình và chịu trách nhiệm cá nhân, ông đi vào cabin của mình, nằm xuống giường và nghĩ: "Tôi có quyền, tôi không có quyền. Hợp lệ, không hợp lệ, một vấn đề khó khăn. Thế còn cái kiểu trực chiến này? Nó hợp lệ hay sao?! Tàu ngầm không có thực phẩm, không thiết bị tái sinh không khí, một số máy móc đã hư hại cần sửa chữa giữa kỳ chiến dịch, thời hạn bảo quản vũ khí cũng đã hết. Các cụ lớn làm như không biết, họ dường như nhắm tịt mắt lại và cho rằng tàu ngầm lại một lần nữa ở trạng thái sẵn sàng ra khơi vào một chuyến hành quân xa. Tất cả những điều này vô cùng nghiêm trọng, toàn những trò chơi đần độn, trực chiến kiểu trên giấy". Vật lộn với những suy nghĩ ấy rồi người thuyền trưởng ngủ thiếp đi. Buổi sáng, ngày 1 tháng 5 trên tàu ngầm cử hành lễ trọng thể kéo cờ hải quân, người ta đọc nhật lệnh ngày lễ, hầu hết thủy thủ đoàn được cổ vũ đi chiến dịch, sau đó thuyền trưởng ra lệnh cho thủy thủ đoàn nghỉ ngơi tại chỗ trong doanh trại. Maksimov một mình trực ca trên tàu ngầm. Sau bữa trưa trực ban tác chiến tàu ngầm gọi thuyền trưởng tới điện thoại, hóa ra Sobacheveky gọi. Cuộc nói chuyện thật kỳ lạ. Maksimov yêu cầu Sobachevsky thay phiên ông ít nhất một ngày để ông gặp mặt gia đình, nghỉ ngơi một chút. Sobachevsky nói rằng tối nay ông có khách, mà ngày mai là kỷ niệm sinh nhật của mình. Maksimov khong trả lời gì nữa và gác máy. Ông đã đi chiến dịch thế cho Sobachevsky, nhưng chờ đợi lòng biết ơn của anh ta thật là ngu ngốc, đó không phải là một con người, nhưng từ chối ông một cách nhỏ nhen như vậy thì Maksimov không sao tưởng tượng được. Cuộc nói chuyện này như một cái gai mắc kẹt trong tâm hồn ông, thậm chí ông còn tức giận hơn nữa khi ba ngày sau đó ông biết được rằng buổi tối hôm ấy Sobachevsky cùng với vợ của anh ta có mặt tại một rạp chiếu phim địa phương trong suất chiếu cuối cùng. Trên thực tế, sự thật nằm ở chỗ khác. Sobachevsky trước khi đi học viện rất sợ bất kỳ trách nhiệm nào. Thay phiên cho Maksimov – nghĩa là trong thời gian một ngày đêm anh ta phải chịu trách nhiệm về tàu ngầm và thủy thủ đoàn. Và nếu như có điều gì đó xảy ra? Trong đơn vị có hai người: Sobachevsky và Rokotov, những người mà khi nói đến họ người ta thường sử dụng sự kết hợp của ba chữ cái – NNS (ЧЧВ /человек человеку волк) / người với người là chó sói. Có cần phải nói thêm điều gì nữa hay không? (http://flot.com/upload/blog/31c//BerzinPub3_4w.jpg) Ngày hôm sau, buổi sáng Maksimov thức dậy sớm vì rét run người, cổ họng ông đau rát. Sau khi ăn sáng, bác sĩ đến chỗ ông, đo nhiệt độ - 39,4 độ, bác sỹ kê thuốc, đề nghị ông vào nằm bệnh xá, nhưng thuyền trưởng từ chối, bởi vì buổi tối tàu ngầm còn phải di chuyển đến điểm dỡ đạn tên lửa hết thời hạn sử dụng phải bảo trì. Maksimov không đi bệnh xá, còn bởi lẽ trong đơn vị bệnh này được coi như phải chịu đựng, khi thực hiện nhiệm vụ của mình. Vetkin đã có mặt trên tàu, ông ta đi cùng với Maksimov đến nơi trả đạn tên lửa với tư cách người lãnh đạo công việc. Bác sỹ đến bên ông ta báo cáo về tình trạng sức khỏe của thuyền trưởng, nhưng ông ấy không phản ứng gì. Maksimov khó nhọc bước lên cầu điều hướng tháp chỉ huy, chóng mặt, ớn lạnh, buồn nôn, nhưng với lòng tự trọng và ý thức trách nhiệm, biết rằng không có ai chỉ huy tàu ngầm thay mình, bắt buộc người thuyền trưởng phải tập trung hết sức lực và lực lượng để đưa tàu ngầm đến đích. Phía sau lưng ông, tiếng Vetkin rên rỉ đơn điệu, mắng mỏ hoa tiêu vì những sai sót nào đó, sau đó ông ta chuyển sang mắng cậu thủy thủ đánh tín hiệu vì mái tóc bù xù, tiếp đó ông ta bắt đầu tru tréo lên với Maximov khi làm thao tác neo đậu: " Cẩn thận…, đừng va đập vào cầu tàu … hãy cho động cơ lùi tàu lại đằng sau ... " Maksimov không phản ứng lại những tiếng rên la ấy mà bình thản tiếp tục thực hiện công việc của mình. Đạn tên lửa đã được dỡ xuống một cách bình thường, ngày hôm sau tàu ngầm trở về căn cứ. Tình hình sức khỏe của thuyền trưởng chẳng hề khá hơn, nhiệt độ dao động từ 37-39 độ. Buổi sáng, thuyền phó mang đến tờ báo của hạm đội, trong đó viết về các sĩ quan được gọi là “những con sói biển của hạm đội”, và ông ấy đưa cho thuyền trưởng đọc bài viết về Sobachevsky. Người phóng viên viết về chiến dịch thành công vừa qua của họ, Maksimov mỉm cười, nhưng sau đó khi đọc tiếp bài báo, đoạn soi sáng các mặt tốt trong hoạt động của một thuyền trưởng tàu ngầm, ông nhìn thấy không phải tên của mình, mà là tên Sobachevsky. Khi anh ta đi dự Đại hội 24 về, lúc đó người ta tạm thời bổ nhiệm anh ta làm chỉ huy thủy thủ đoàn của chính Maksimov, tại thời điểm đó ông đang đi trên tàu của anh ta giữa đại dương. Trước chiến dịch đã có một tài liệu được nộp tại bộ tham mưu hạm đội để phong tặng thủy thủ đoàn của Maksimov danh hiệu "xuất sắc", trong khi mà ông còn đang đi biển – danh hiệu này đã được trao tặng. Người phóng viên đã viết: "... thủy thủ đoàn của Sobachevsky được trao tặng danh hiệu "xuất sắc", trong đó có phần đóng góp lớn của người thuyền trưởng." (http://flot.com/upload/blog/ebb//BerzinPub3_5.jpg) Maksimov ném tờ báo sang một bên với một sự nghi ngờ pha chút bực tức với tác giả. Có điều gì đó xúc phạm ông? Ông biết những chuyện này được sáng tác và viết ra như thế nào. Phóng viên nhận được tất cả các thông tin tại ban chính trị, nơi luôn luôn có đủ các kẻ ăn không ngồi rồi và nghe hơi nồi chõ. Trong ba năm qua đơn vị đã cách chức gần mười cán bộ công tác chính trị vì say rượu và có hành vi vô đạo đức, bao gồm cả bí thư chi bộ đảng. Vì vậy, trong một bài viết mà Maksimov bị cướp công hai lần: bị từ chối công lao trong chiến dịch vừa qua và công lao trong quá trình làm việc lâu dài với thủy thủ đoàn của riêng ông. Sỹ quan trực ban tác chiến của đơn vị gọi điện truyền đạt mệnh lệnh: "Thuyền trưởng có mặt tại phòng tư lệnh Khitrenko lúc 10.00 giờ." Đúng giờ đã định, Maksimov có mặt tại chỗ người chỉ huy đơn vị. Khiitrenko ngay lập tức vào việc và bắt đầu hướng dẫn thuyền trưởng: "Từ 12.00 giờ kết thúc trực chiến, buổi tối anh có thể về nhà. Ngày mai từ bộ tham mưu hạm đội sẽ có đại tá hải quân Udavenkov đi cùng một nhóm sĩ quan xuống đây, họ sẽ nghiên cứu các tài liệu của chuyến đi biển của anh, hãy giúp đỡ họ để họ nắm được tất cả ". Đại tá hải quân Udavenkov thì Maximov đã biết khoảng năm năm nay. Giữa các sĩ quan, ông có biệt danh "Udav". Thiên nhiên ưu đãi cho ông ấy một sức khỏe tốt, một thân hình rắn chắc. Tắm biển quanh năm, mùa đông đi lại không mặc áo khoác. Thông thạo chiến thuật tàu ngầm. Ông biết cách làm thế nào tập hợp được mọi người xung quanh mình. Ở ông có một cái gì đó kiểu các thủ lĩnh-cô dắc. Là thuyền trưởng tàu ngầm, ông đã thực hiện thành công các đợt bắn tên lửa và ngư lôi, các chiến dịch đi biển dài ngày, nhờ đó mà ông được trao tặng Huân chương. Căn bệnh chóng mặt với sự thành công của ông phát triển lúc nào không hay, ông bắt đầu chỉ muốn nghe giọng nói của mình, ở ông xuất hiện sự kiêu ngạo, sự tự tin thái quá đã phát triển rất nhanh mà chẳng có cơ sở hợp lý nào. Ông nghĩ rằng người ta sẽ tiếp tục đẩy ông lên theo con đường chỉ huy, nhưng người ta đã tìm ra cho ông một vị trí trong bộ phận huấn luyện chiến đấu của bộ tham mưu hạm đội. Có tin đồn rằng ông có thể sẽ được bổ nhiệm làm tham mưu trưởng đơn vị. (http://flot.com/upload/blog/00d//BerzinPub3_6w.jpg) Ngày hôm sau, nhóm sỹ quan dẫn đầu là đại tá hải quân Udavenkov có mặt lúc 09.00 giờ tại ban tham mưu đơn vị, tại đó Maksimov cùng trợ lý chính đã mang tất cả các tài liệu chiến dịch vừa qua đến. Trước khi ăn trưa, nhóm đã nghiên cứu tài liệu, và sau bữa ăn trưa Udavenkov trò chuyện với Maksimov. Thuyền trưởng trong những ngày này thân nhiệt đã hạ xuống còn 37,4 độ, nhưng vẫn cảm thấy không khỏe, vẫn rét run, nhức đầu. Udavenkov bắt đầu với một sự mơ mộng: "Khi nào tôi trở thành chỉ huy đơn vị, các vị đội kê pi sẽ chỉ học hỏi ở tôi, còn gác cửa thì tôi sẽ yêu cầu các trợ lý và trợ lý chính đảm nhiệm." Udavenkov dùng chữ kê pi ngụ ý trỏ các thuyền trưởng tàu ngầm, còn người gác cổng là sự nhân cách hóa cuộc sống và nhu cầu của đội ngũ nhân viên. Ông ta tiếp tục: "Khi tôi còn là thuyền trưởng tàu ngầm, lúc nào tôi cũng làm việc và dạy dỗ các sỹ quan của mình, vì vậy ở tàu ngầm của tôi các cuộc xạ kích và các chiến dịch đi biển đều đạt thành tích xuất sắc. Còn cậu thì sao?" Maximov nói: "Thủy thủ đoàn do thành tích trong huấn luyện chiến đấu đã nhận được danh hiệu "xuất sắc". Trên cương vị thuyền trưởng tàu ngầm trong chuyến hành quân đầu tiên này, tôi nghĩ rằng mọi việc diễn ra không tồi". Udavenkov ngắt lời anh:" Tôi không quan tâm những gì cậu nghĩ! Tôi đánh giá cao cậu và thủ trưởng Khitrenko của cậu. Cậu bơi biển một cách tự nhiên và không hề tính toán, cho thấy sự hoàn toàn không vững vàng của mình, cho thấy sự không có khả năng và thiếu kiến thức về các tài liệu." Trợ lý chính cố phản bác: "Tại sao lại nói là không có tính toán? Với chúng tôi mỗi quyết tâm chiến đấu đều được củng cố bằng các tính toán. Thuyền trưởng đã phát triển một chiến thuật mới." Udavenkov nhìn anh ta với vẻ hạ cố và khinh khỉnh đáp: "Cậu im đi, nhật ký ghi chép sự kiện cậu làm chán lắm. Tôi sẽ áp dụng các biện pháp để cậu không được làm thuyền trưởng trong thời gian trước mắt, cậu còn phải làm trợ lý chính cho ngon lành đi đã." Maksimov can thiệp vào câu chuyện: "Xin hãy nói cụ thể. Ý kiến nào, lỗi lầm nào?" Udavenkov nhìn vào sổ nhật ký và nói: "Không có tính toán". Maksimov ngay lập tức hỏi: " Đó là quả cầu, tính toán là có, nếu không có, đồng chí nêu cụ thể được không?" Udavenkov giận dữ trả lời: " Cần phải bơi biển tốt hơn, chứ không phải là đặt câu hỏi. Zakharov sỹ quan của tôi sẽ cho cậu tất cả các nhận xét". Sau đó, ông ta bỏ đi đâu đó. Zakharov bắt đầu liệt kê các nhận xét: "Không có các tính toán tìm kiếm trong khu vực số một, không chiếm lĩnh vị trí mới và không đi tới phía nhóm tàu vận tải". Maximov trả lời anh ta: "Về nhận xét đầu tiên thì câu trả lời rất đơn giản. Chúng tôi chưa chiếm lĩnh khu vực số 1 thì bộ tham mưu hạm đội đã chỉ đạo tàu ngầm chuyển hướng tới tàu sân bay "Ticonderoga". Nhận xét thứ hai - bộ tham mưu hạm đội cho phát điện yêu cầu tàu ngầm chiếm lĩnh vị trí mới quá muộn, chúng tôi không kịp chiếm lĩnh nó và tôi quyết định duy trì vị trí mà chúng tôi đang chiếm lĩnh, bởi vì từ đó chúng tôi có thể tấn công tên lửa vào nhóm tàu vận tải". Zakharov ghi chép tất cả các câu trả lời của Maksimov và nói rằng ông sẽ đưa chúng cho Udavenkov. Tại đây công việc chấm dứt. Thuyền trưởng báo cáo kết quả cho Khitrenko, ông mỉm cười vì nhận xét của Udavenkov và nói: "Anh hãy chuẩn bị cho buổi phân tích của Tư lệnh Hạm đội." Nhưng trong tương lai gần, cuộc họp phân tích này chưa xảy ra bởi vì buổi tối một bức điện từ bộ tham mưu hạm đội chuyển đến, thông báo cho tất cả biết về chuyến đến thăm hạm đội của Tổng tư lệnh Hải quân / thường goi - Tổng tư lệnh /. Thứ Năm. Ngày hôm đó bắt đầu bằng một cuộc họp với tham mưu trưởng đại tá hải quân Alexandrov, được gọi tới họp với ông là các thuyền trưởng tàu ngầm và các thuyền phó chính trị. Bằng một giọng nói ảm đạm, ông bắt đầu hướng dẫn: "Các đồng chí, Tổng tư lệnh sẽ tới chỗ chúng ta vào ngày thứ Bảy. Mục đích của chuyến thăm này chưa được biết. Hãy tạm ngừng huấn luyện chiến đấu. Thay vào đó, hãy dọn dẹp lãnh thổ của mình, hãy lập lại trật tự trong doanh trại và trên tàu ngầm. Hãy quan tâm đặc biệt đến hình thức trang phục, đưa nó về tình trạng hoàn hảo. Tư lệnh Hạm đội Glebov đích thân kiểm tra quy định trang phục trong đơn vị của đồng chí Romashev. Đầu tiên ông ra lệnh cho các thuyền trưởng tàu ngầm kiểm tra trang phục đi biển các nhân viên của mình, chỉ để đứng trong hàng ngũ những ai có trang phục đáp ứng các yêu cầu của điều lệnh. Sau đó bắt chỉ huy đơn vị Romashev làm điều tương tự. Và chỉ sau đó thủ trưởng hạm đội mới tự mình kiểm tra, sau cuộc kiểm tra của thủ trưởng trong hàng quân chẳng còn một ai, thủ trưởng lên xe bỏ đi, ấn định rằng ngày mai sẽ quay lại kiểm tra. Tư lệnh Hạm đội ra lệnh cho các anh siết chặt yêu cầu với toàn bộ quân nhân dưới quyền, tăng cường giám sát họ, hãy áp dụng các hình thức trừng phạt nghiêm khắc nhất với những ai vi phạm kỷ luật, kể cả hình thức kỷ luật đảng." (http://flot.com/publications/books/shelf/russianfleet/images/59.jpg) Tổng Bí thư N.X.Khrusev (giữa), Tổng tư lệnh Hải quân S.G.Gorshkov (trái) và thiếu tá hải quân V.A.Dygalo thuyền trưởng tàu ngầm tên lửa đầu tiên B-62, ngày 6 tháng 10 năm 1959, vịnh Koniushkovo, Hạm đội Thái Bình Dương. Maksimov ngồi họp và buồn bã lắng nghe tất cả những câu van nài ấy. Alexandrov tiếp tục: "Ngày mai tập hợp đội ngũ tại sân diễu hành. Từ 08,00 giờ các thuyền trưởng tàu ngầm sẽ kiểm tra trang phục đội ngũ quân nhân của mình, còn từ mười giờ chỉ huy đơn vị chuẩn đô đốc Khitrenko sẽ làm điều đó". Tới giờ ăn trưa thì cuộc họp kết thúc và tất cả đi xuống nhà ăn, sau đó Maksimov tập hợp các sĩ quan và nói ngắn gọn với họ về cuộc họp vừa xong. Trước khi ăn tối, các quân nhân chau chuốt lại quân phục, làm sạch, chải sạch, tất cả chuẩn bị sẵn sàng để chờ cuộc kiểm tra. Maksimov được triệu tập đến chỗ Vetkin. Trong văn phòng của ông đã có mặt Alexandrov, Vetkin nói đầu tiên: "Sửa chữa giữa kỳ chiến dịch thì bây giờ khoan hãy làm. Nhưng nếu Tổng tư lệnh lên tàu của anh và hỏi anh đang làm gì, khi đó anh cần phải nói rằng đang sửa chữa giữa kỳ chiến dịch". Maksimov rất ngạc nhiên nhìn ông ấy và hỏi: "Tại sao tôi phải nói dối." Alexandrov xen vào: "Không có gì là nói dối, anh còn phải ra khơi đi biển bắn ngư lôi cơ mà." Vetkin thêm: "Hãy thực hiện sửa chữa giữa kỳ chiến dịch, nhưng sao cho không cần tách các cơ cấu máy." Maximov nói: "Nếu không tách máy hẳn ra, sẽ không có sửa chữa giữa kỳ chiến dịch." Vetkin chấm dứt một cách cáu kỉnh: "Lúc nào anh cũng sửng cồ thế à. Hãy làm như người ta ra lệnh cho anh." Maksimov còn quất mạnh hơn nữa: "Tôi sẽ không nói dối, hoặc làm hoặc không làm, mọi thứ khác chỉ là bịp bợm." Vetkin gần như hét lên: "Hãy về chỗ anh đi, sáng mai chỉ huy đơn vị sẽ có lệnh cho anh!" Maksimov đi về doanh trại, suy nghĩ mãi về cuộc trò chuyện này. Thứ Sáu. Lúc 08,00 giờ các quân nhân trong đơn vị xếp đội hình trên sân diễu hành, các thuyền trưởng tàu ngầm sẽ bắt đầu kiểm tra hình thức trang phục của các thành viên, nhưng trực ban đơn vị đã truyền lệnh: "Các thuyền trưởng tàu ngầm lên ngay phòng chuẩn đô đốc Khitrenko tại bộ tham mưu." Các thuyền trưởng đã đi đến bộ tham mưu, còn các quân nhân tiếp tục đứng trên sân diễu hành. Tham mưu trưởng Aleksandrov đợi hai mươi phút rồi quyết định phá vỡ tình trạng này. Ông bắt đầu diễn vai Tổng tư lệnh, và toàn thể đơn vị đáp lễ lời chào của ông: "Chúc sức khỏe đồng chí Đô đốc Hạm đội Liên bang Xô viết". Sau mỗi lần chúc mừng, ông đưa ra đánh giá: "Hai điểm, ba điểm". Nửa giờ sau, cả đơn vị khó khăn lắm mới nhận được điểm 5. "Các chú gà trống" luôn làm hỏng việc, đôi khi họ nhảy trước nửa câu, mà đáng ra phải cất tiếng chào mừng cùng một lúc. .......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 29 Tháng Sáu, 2012, 12:21:34 am (tiếp)
Sau đó cả đơn vị tổ chức diễu hành vài lần qua khán đài, nơi tham mưu trưởng đang đứng / Alexandrov, đang đóng vai Tổng tư lệnh. Ở đây cần phải đạt được độ đồng đều tốt hơn, bước vững chắc, quay đầu đánh mặt lên khán đài. Như những người hóm hỉnh vẫn nói trong nhà trường hải quân: "Cầm phiếu thi bước đều tới bàn thi - sẽ được điểm năm, trả lời theo phiếu - hai điểm, rời bàn thi đi đều bước - năm điểm, tổng số điểm - bốn." Các thuyền trưởng đã đến chỗ Khitrenko, ông ta lập tức hướng dẫn: "Tư lệnh Hạm đội ngày hôm qua vừa kiểm tra đơn vị của Sergeyev. Hai thuyền trưởng suýt nữa bị cách chức vì hình thức trang phục kém của các quân nhân dưới quyền, ông tuyên bố họ không đáp ứng đầy đủ trách nhiệm trong phục vụ. Hãy chuẩn bị để báo cáo về tình trạng huấn luyện chiến đấu trên các tàu ngầm, về tình trạng kỹ thuật của chúng và các vấn đề khác. Sau khi hướng dẫn Maksimov hỏi Khitrenko: "Tôi có thể làm sửa chữa giữa kỳ chiến dịch không?" Ông ấy trả lời: "Được chứ." Vetkin ngay lập tức xen vào: "Tôi đã nói với anh ngày hôm qua về việc này." Maximov đáp: "Đồng chí nói thực hiện sửa chữa giữa kỳ không tách máy, nhưng sửa chữa kiểu đó không thể làm được." Khitrenko ngắt lời thuyền trưởng: "Hãy thực hiện sửa chữa giữa kỳ đầy đủ như được nêu trong các tài liệu." Sau khi ăn trưa, Maksimov kiểm tra quy định trang phục cho thủy thủ đoàn thực hiện theo điều lệnh; yêu cầu sửa chỉnh đốn chỉ có ở 3 sĩ quan và 3 thủy thủ. Có rất nhiều lý do. Maksimov phục vụ trong Hải quân đã hai mươi năm, và cũng từng ấy năm tồn tại vấn đề hình thức quân phục. Vấn đề gợi nhớ con rắn Gorynytch 3 đầu, liên tục bị chém đứt, nhưng một lần nữa đầu rắn lại mọc ra. Thời hạn sử dụng quân phục được lấy theo quy định từ trên đưa xuống. Dù thời hạn đó dài hơn hoặc ngắn hơn thì nó cũng chỉ phù hợp với điều kiện phục vụ ở Moskva, nhưng phục vụ trên tàu mặt nước và tàu ngầm thì không phù hợp, bởi vì trang phục đó trực tiếp tiếp xúc với kim loại. Phục vụ ở phương Bắc hay trên bán đảo Kamchatka - là một chuyện, tại Biển Đen - một chuyện hoàn toàn khác. Nhưng sự khác biệt là số không – đâu cũng những đôi giày cao cổ. Ở phương Bắc và Kamchatka những tảng tuyết sục sâu vào trong giày, còn ở phương nam, đôi chân xỏ trong giày có cảm giác như trong nhà tắm hơi. Xưởng may thì luôn nhỏ, trong thị trấn chỉ có một mà thôi, mà thời hạn may đồng phục lên đến vài tháng, thậm chí một năm. Trong các đơn vị không có các cửa hàng đo sửa quần áo phù hợp cho các thủy thủ, mà sự cấp phát thường xuyên không tính đến sự tăng trưởng cơ thể và kích thước của các thủy thủ. Đồng phục chuyên ngành trên tàu ngầm hạt nhân luôn luôn thiếu một cách kinh niên, nó nhanh chóng sờn mòn, rách nát. Đội thủy thủ trang phục chuyên ngành đã cũ giống như những kẻ ăn xin chuyên nghiệp, những kẻ mà suốt ngày lục lọi các thùng rác. Buổi tối Khitrenko lần thứ 2 trong ngày hướng dẫn các thuyền trưởng: "Hãy nhớ rằng Tổng tư lệnh mang theo mình tất cả các loại đồng phục. Để làm điều này, ông có một con người đặc biệt mang cấp bậc đại tá. Tổng tư lệnh không bao giờ công bố việc đón tiếp ông trong bộ đồng phục nào. Tất cả từ sáng sớm nhìn xem ông mặc đồng phục nào, sau đó mọi người sẽ mặc đồng phục đó. Tôi đã thống nhất với bộ tham mưu hạm đội, người ta sẽ thông báo cho chúng ta : Tổng tư lệnh đến chỗ chúng ta trong loại đồng phục nào. Bởi thế sáng ngày mai toàn bộ các anh cũng như các sỹ quan, hạ sỹ quan dưới quyền phải đảm bảo trong doanh trại có đầy đủ lễ phục, quân phục, áo vét hàng ngày và áo cổ đứng." (http://i29.servimg.com/u/f29/12/39/28/13/kca_5510.jpg) Novorossisk. Tượng đài "Người lính thủy cầm lựu đạn" kỷ niệm cuộc phòng thủ Đất Nhỏ năm 1943 trong Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại của nhân dân Liên Xô. Ảnh chụp năm 2011. Sau đó, ông lại một lần nữa ra lệnh thu dọn cho gọn gàng doanh trại và khu đất quản lý, còn trưởng ban an toàn bức xạ được chỉ dẫn làm sạch con đường từ đài kỷ niệm đến bộ tham mưu bằng xà phòng tự có, cắt gọn ghẽ cỏ mọc dọc theo con đường này, chỗ nào úa vàng - sơn lại màu xanh lá cây. Tượng đài có chiều cao ba mét thể hiện người lính thủy ở trần đến thắt lưng tay cầm chắc trái lựu đạn. Tượng được thực hiện bằng bê tông bởi một người yêu mến các sỹ quan theo mệnh lệnh của cựu chỉ huy đơn vị Medvedev. Dân gian gọi là bức tượng "Medvedev cầm lựu đạn”, nhiều người thấy khuôn mặt anh lính thủy rất giống Medvedev. Khitrenko dừng lại rồi lúc sau tiếp tục nói: "Này! Nhớ phải sơn tượng đài màu bạc nhé. Bukrimov, lợn từ trang trại của anh chạy rông khắp khu vực, bắt tất cả lại và nhốt vào chuồng không được để chúng nó sổng ra đi tứ tung, hãy đặc biệt quan tâm xem xét để cho chúng không lại gần bộ tham mưu và khách sạn." Cuộc họp đến đây kết thúc và các thuyền trưởng trở về tàu ngầm của mình để truyền đạt đến họ những chỉ dẫn vừa rồi. Thứ bảy. Một lần nữa, giống như ngày hôm qua, các quân nhân tập hợp trên sân diễu hành. Một giờ sau, tất cả các thuyền trưởng được triệu tập đến chỗ Khitrenko, không chào ai, ông bắt đầu ngay: "Tổng tư lệnh đã lên đường đến chỗ chúng ta, hãy sẵn sàng đón lúc 11,00 giờ, các thuyền trưởng phải có mặt trong doanh trại, các quân nhân phải ở trên tàu, cấm đi lại lung tung trong khu vực, dọn dẹp sạch các đầu mẩu thuốc lá." Mọi người đi về chỗ của mình. Vào đúng 10:00 giờ sáng, trực ban đơn vị gọi điện thoại cho tất cả các thuyền trưởng và ra lệnh ngay lập tức trình diện Khitrenko. Một lần nữa, các thuyền trưởng đi vào bộ tham mưu, tại đó Khitrenko ra mệnh lệnh cuối cùng trong ngày: "Các thuyền trưởng lên tàu ngầm của mình và ở trên đó, mặc đồng phục áo vét hàng ngày. Maksimov lên tàu ngầm, ra lệnh giương kính tiềm vọng, ông bắt đầu quan sát mọi thứ diễn ra trong đơn vị, tăng độ phóng đại quang học lên, lập tức ông thấy ở đó người ta đang đón Tổng tư lệnh. Từ trạm kiểm tra - hướng dẫn giao thông và trước bộ tham mưu đã bố trí các đội tuần tra, các thủy thủ phất cờ đỏ hướng dẫn, họ có trách nhiệm chỉ dẫn hướng đi cho các xe qua lại. Đột nhiên tất cả mọi người ngọ nguậy và chạy tán loạn, sau đó sững lại - một hàng dài những chiếc xe hơi hiện ra, không hiểu sao họ không đi vào bộ tham mưu, mà đi tới chỗ các kho tàng đang được xây dựng để cất giữ các loại vũ khí và trang thiết bị. Từ trong ô tô Tổng tư lệnh bước ra và đi tới chỗ công trình đang xây dựng, bộ chỉ huy hạm đội, đơn vị và các sỹ quan tham mưu ba chân bốn cẳng bắt cho kịp ông ta. Họ ở đó đâu khoảng gần một giờ, sau đó đoàn hộ tống, những chiếc xe hơi đi về bộ tham mưu, tại đó họ một lần nữa dừng lại, nhưng Tổng tư lệnh không vào bộ tham mưu mà vào khách sạn nằm đối diện bộ tham mưu. Maksimov nhìn đồng hồ của mình, đã đến giờ ăn trưa và ông nghĩ: "Rõ ràng, ta đã thấy cuộc viếng thăm tại đó và đến đây nó sẽ kết thúc." Ông biết rằng trong khách sạn, bàn ăn trưa cho Tổng tư lệnh và đoàn tùy tùng đã bày biện xong. Từ hôm qua Bukrimov đã ra lệnh chọc tiết hai chú heo đãi khách, và hai sĩ quan bộ tham mưu đơn vị trong bộ quần áo lặn là Udaltsov và Serebrinkin đã đánh bắt vài giờ trong vịnh một số sò điệp và hải sâm, để Tổng tư lệnh nếm thử những món ngon tuyệt ấy. Khitrenko biết cách tiếp các thủ trưởng. Trong khi Tổng tư lệnh dùng bữa trưa, các sỹ quan bộ tham mưu hạm đội đứng xung quanh khách sạn, họ đã kịp làm bữa ăn nhanh trong nhà ăn của thủy thủ tàu ngầm, nhưng ở đấy không có các món sơn hào hải vị. Mặc dù đang là thời gian ăn trưa, các thủy thủ đoàn tàu ngầm bị cấm vào nhà ăn. Cuối cùng, Tổng tư lệnh ăn trưa xong, ông đi ra khỏi khách sạn và nhìn thấy một đám rước như sau: một con heo đực khổng lồ đi ngang qua khách sạn, đủng đỉnh đi sau nó là một con heo nái béo núc ních, chặn hậu đám rước là một chú heo con. Một kẻ hóm hỉnh nào đó dùng thuốc đỏ viết thêm tương ứng: komdiv, nachpo và nsh / komdiv - sư đoàn trưởng, nachpo - chủ nhiệm chính trị, nsh - tham mưu trưởng /. Tổng tư lệnh quay sang Khitrenko và nói với ông: "Khitrenko, té ra ở chỗ anh lại có một sự đểu cáng tuyệt vời." Sau đó ông ấy cười gằn, ngồi vào xe của mình và khởi hành đi đến chỗ các thủy thủ tàu mặt nước. Các thủy thủ đoàn được lệnh đi vào nhà ăn. Sau khi ăn trưa Khitrenko nói với Maksimov, từ ngày mai, ông tự coi mình đã đi nghỉ phép. Chiến dịch đã kết thúc. Bờ luôn luôn đón tiếp các thủy thủ tàu ngầm bằng những bất ngờ. Cuộc sống vẫn tiếp tục CÔ HÊU. Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 30 Tháng Sáu, 2012, 01:02:11 am GUARDFISH truy đuổi K-184. Chuẩn đô đốc Alfred Semenovitch Berzin. (Nguồn: flot.com) Mới đây thôi, người ta đưa cho tôi cuốn sách "Các tàu ngầm của Hoa Kỳ" (United States Submarines), trong đó tôi đọc được bài viết của đại tá hải quân Mỹ đã về hưu David Minton với tiêu đề "Tàu ngầm Guardfish truy kích tàu ngầm lớp Echo". Ngay lập tức tôi hiểu rằng David Minton truy đuổi tàu ngầm K-184, hồi đó do tôi chỉ huy. Tôi sẽ kể về sự kiện đó từ góc nhìn của mình, trong khi đó cũng quan tâm tới những bình luận của David Minton. (http://flot.com/upload/blog/e2f//BerzinPubl_51.jpg) Khi đang phục vụ trên cương vị hạm trưởng tàu ngầm nguyên tử K-184 trên Thái Bình Dương, tôi đã tham gia vào hoạt động trinh sát chống lại tàu sân bay xung kích "America", tàu sân bay và săn ngầm "Ticonderoga", và đồng thời chống lại tàu ngầm nguyên tử Guardfish..." Những kinh nghiệm thu được (trong thời gian đó) đã có ích cho giai đoạn phục vụ sau này của tôi. Trong thời gian học tập tại trường sỹ quan Hải quân, rồi tại hệ đào tạo cao cấp cho sỹ quan tại Học viện Hải quân, người sỹ quan cần phải thu nhận được kiến thức cơ bản và chuyên sâu về phương pháp tiến hành trinh sát, vững vàng làm chủ và biết cách sử dụng trên thực tế các phương tiện trinh sát, biết cách phân tích các số liệu thu được về đối thủ và ra các kết luận phù hợp, mà trên cơ sở đó cần cho anh ta ra quyết định sử dụng ngư lôi hay tên lửa hay là tránh (tạm lánh) khỏi các lực lượng săn ngầm của đối thủ. Quá trình học tập và rèn luyện này phải tiếp tục ngay cả tại hạm đội, nghĩa là không được phép ngừng. Đối với bất kỳ người hạm trưởng tàu ngầm nào, trong thời bình cũng phải tạo ra khả năng thu nhận kinh nghiệm tiến hành các hoạt động trinh sát các tàu mặt nước, tàu ngầm của đối thủ tiềm năng. Về tàu ngầm của đối thủ tiềm năng, chỉ huy của chúng ta cần phải biết tường tận lần lượt các vấn đề sau: -độ ồn, -khả năng của tổ hợp định vị thủy âm, -các thông số của trạm vô tuyến định vị, -chiến thuật hoạt động, -các phương tiện chống định vị thủy âm, -các tốc độ lớn nhất và ít tiếng ồn nhất, -chiều sâu lặn lớn nhất, -khả năng của vũ khí ngư lôi và tên lửa. (http://flot.com/upload/blog/df6//BerzinPubl_52.jpg) Tàu ngầm nguyên tử đề án 675 trong ngày lễ Hải quân tại vịnh Amur. Vladivostok, 198x. - Sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Con người, sự kiện, chiến hạm. - Saint-Petersbourg, 2005. Số đặc biệt của tạp chí Taifun. Ngày 9 tháng 5 năm 1972, chiếc tàu ngầm K-184 do tôi chỉ huy đã trực chiến một tháng tại vịnh Pavlovskii. Buổi sáng, toàn sư đoàn tập hợp tại sân tập và tư lệnh sư đoàn, chuẩn đô đốc Verenikin I.I. chúc sức khỏe và chúc mừng từng thủy thủ đoàn nhân Ngày Chiến thắng phát xít Đức, tiếp theo là lễ diễu binh trọng thể ngang qua lễ đài cùng với Bộ chỉ huy sư đoàn. Sau đó tôi bước vào phiên trực chiến và nhận được tin trinh sát tình báo như sau: "Khu vực bán đảo Đông Dương. Tiến hành các hoạt động chiến tranh chống lực lượng yêu nước Đông Dương hiện có các tàu sân bay xung kích "Coral Sea", "Kitty Hawk", "Saratoga", tại khu vực 170 dặm phía nam Sài Gòn là tàu "Constellation" trong sự hỗ trợ đảm bảo của 38 tàu chiến các loại khác. Trong một ngày đêm, từ các tàu sân bay đã thực hiện 353 phi vụ, trong đó có 256 phi vụ không kích." Trong nửa sau ngày hôm đó, Hạm đội Thái Bình Dương chuyển lệnh sẵn sàng chiến đấu cao, còn chiếc tàu ngầm của chúng tôi thì được lệnh báo động. Theo điều lệnh quy định, thủy thủ đoàn sắp xếp và sẵn sàng chờ lệnh. Đã có lệnh tất cả ở nguyên trên tàu. Trạm năng lượng chính (ГЭУ-Главную энергетическую установку)) còn chưa đưa vào hoạt động. Vào chiều tối, tư lệnh sư đoàn, chuẩn đô đốc Verenikin I.I. gọi tôi lên buồng chỉ huy của ông và ra lệnh cho phát động cả hai trạm năng lượng hai mạn tàu (nói đơn giản là khởi động lò phản ứng), và ông nói ngắn gọn: "Hãy tới biển "Nam Trung Hoa" để giúp đỡ người anh em Việt Nam". Ngoài ra từ ông tôi biết được, các tàu ngầm "K-45" (hạm trưởng đại tá hải quân Yu.N.Ganz) và "K-57" (hạm trưởng đại tá hải quân Shipovnikov Yu.Ph.) cũng đến đó sau chúng tôi. (http://flot.com/upload/blog/a43//BerzinPubl_53.jpg) K-45, tàu đầu tiên đề án 659, chính thức nhập biên chế Hải quân năm 1961. Vũ khí - 6 tên lửa hành trình. Ngày 10 tháng 5, từ sáng sớm, cả hai trạm năng lượng hai mạn đều chuyển sang chế độ tuabin phát. Lệnh chiến đấu bằng điện tín đã tới, lệnh đó cùng với hành trình trên hải đồ đã được Tham mưu trưởng sư đoàn đại tá hải quân Abramov M.B. trao cho hạm truởng. Sau những chỉ thị cuối cùng của tư lệnh sư đoàn, tàu "K-184" rời bến bắt đầu di chuyển theo hải trình. David Minton viết: "Mùa hè năm 1972, tàu ngầm Guardfish (SSN-612) đang ở biển Nhật Bản khi mà các sự kiện trên thế giới đã lôi cuốn nó và thủy thủ đoàn của nó tham gia vào cuộc phiêu lưu thế kỷ. Cùng với sự thất bại của các cuộc đàm phán hòa bình tai Pari, từ ngày 9 tháng 5, chiến tranh tại Việt Nam đã chuyển sang một bước ngoặt đột ngột và quân đội chúng ta đã phong tỏa bằng thủy lôi cảng Hải Phòng và các cảng quan trọng khác của Bắc Việt Nam nhằm cắt đứt sự tiếp tế đường biển cho quân đội Bắc Việt Nam. Trên tàu Guardfish đã được thông báo về khả năng sẽ có chiến dịch hải quân đáp trả từ phía những người Xô viết. Tình hình thế giới đã nóng bỏng đến mức tới hạn. Không ai biết Liên bang Xô viết sẽ phản ứng thế nào trước cuộc phong tỏa thủy lôi này. Tàu ngầm Guardfish đang ở vị trí gần với căn cứ hải quân lớn nhất của người Xô viết tại Thái Bình Dương, với tư thế chìm sâu dưới mặt nước và quan sát tình hình qua kính tiềm vọng. Vào chiều tối Guardfish đã quan sát thấy bằng kính tiềm vọng một tàu ngầm đang cắt ngang thủy đạo với một tốc độ khá lớn và hướng thẳng về phía tàu ngầm Guardfish đang chờ sẵn nó. Khi tiếp xúc gần hơn nữa, từ khối vật thể tối sẫm đang di chuyển đó, chúng tôi đã nhận ra một tàu ngầm tên lửa Xô viết lớp Echo-2. Tàu ngầm đó có lượng giãn nước 5000 tấn, trang bị lò phản ứng hạt nhân, mang theo trên tàu 8 tên lửa đất đối đất Shaddock có thể bắn trúng mục tiêu ở khoảng cách 200 dặm. Guardfish bám theo nó. Chẳng mấy chốc Echo-2 lặn sâu xuống nước và thẳng hướng Đông-Nam, sau đó di chuyển với vận tốc lớn. Đó phải chăng là cuộc xuất kích đáp trả sự phong tỏa Hải Phòng bằng thủy lôi? (http://www.flot.com/upload/resize_cache/blog/06d//1024_768_1/BerzinPubl_54.jpg) Cuộc phiêu lưu trong chiến tranh Lạnh. Tháng 5 năm 1972. Nhìn từ quan điểm của kẻ thù tiềm năng. (http://navsource.org/archives/08/591/0861226.jpg) Ngày 11 tháng 5. Độ sâu 100m, tốc độ 12,5 hải lý. Sau mỗi giờ đồng hồ, chúng tôi lại chuyển hướng 90 độ. Chúng tôi lắng nghe đằng lái xem có dấu hiệu bị theo dõi bởi tàu ngầm Mỹ không. Cuộc sống trên tàu ngầm đã vào nề nếp và đang đi vào guồng quay của nó. Từ tin trinh sát được biết:"Tại Việt Nam đang có 6 tàu sân bay xung kích và 2 tàu đổ bộ chở máy bay trực thăng". Trong phiên liên lạc ghi nhận tín hiệu của trạm vô tuyến định vị AN/APS-20 trên máy bay săn ngầm "Neptune" của Mỹ: tín hiệu yếu. Chúng tôi chuyển hướng hành trình và lặn xuống độ sâu 200m. Ba mươi phút sau, thiếu tá trưởng ban 2 (vũ khí tên lửa-pháo) Tsimbalenko V.I. có mặt tại buồng điều khiển trung tâm và báo cáo rằng ống cáp của thùng chứa số 6 rỏ nước, có nghĩa là thùng chứa số 6 không kín, mà trong đó lại đang chứa tên lửa với bộ phận tác chiến đặc biệt. Nếu thùng chứa bị ngập nước, tên lửa sẽ bị loại khỏi đội hình, đó thực sự là mối nguy cơ tiềm tàng cho hệ thống vũ khí. Vậy là ngay từ đầu chuyến đi chúng tôi đã lâm vào tình trạng này rồi: làm gì đây ? Sau khi nghe báo cáo của trưởng ban 2 thiếu tá Tsimbalenko V.I. và đề nghị của trưởng ban 5 (ban kỹ thuật cơ điện) trung tá Baiburin M.S., tôi quyết định mở van xả khoang số 7 để nước từ thùng chứa số 6 chảy vào khoang hầm tàu vốn được chế tạo để đo lượng nước thâm nhập-10 lit một phút, nước trong khoang hầm theo định kỳ được máy bơm nước bơm ra ngoài tàu. Ngoài việc đó ra tôi cũng quyết định cho tàu nổi lên để thử bít lại chỗ hở (khe nứt) trên ống cáp thùng chứa số 6. (http://flot.com/upload/blog/977//BerzinPubl_55.jpg) Vào lúc 15h20 phút, chúng tôi nổi lên, quay máy nâng cao thùng chứa số 5 và số 6 và nhóm chuyên gia kỹ thuật bắt đầu xem xét ống cáp thùng chứa số 6. Mười phút sau tại đường chân trời đã thấy bóng 2 tàu đánh cá Nhật Bản, chúng tôi chuyển hướng tránh xa chúng, vào 15h35 phút, ghi nhận tín hiệu của đài vô tuyến định vị AN/APS-20 trên máy bay chống ngầm "Neptune" (tức P2 "Neptune") của Mỹ: tín hiệu yếu. Tôi ra lệnh tạm thời lặn xuống và tránh máy bay. Trưởng ban 2 thiếu tá Tsimbalenko và trưởng ban 5 trung tá Baiburin M.S. báo cáo rằng sau khi kiểm tra thấy mọi việc vẫn tốt, như vậy có nghĩa là khiếm khuyết này không nhìn thấy được bằng mắt thường. Ba mươi phút sau nước lại chảy vào qua van xả khoang số 7. Tôi quyết định lại nổi lên một lần nữa để sửa chữa. Trưởng ban 5 trung tá Baiburin M.S. đề nghị phủ mặt bích lại bằng lớp băng gắn keo epoxy. Lúc 20h00 chúng tôi nổi lên để tiến hành làm theo đề nghị đó, đồng thời qua radio điện báo về bờ tình trạng nước chảy vào thùng chứa số 6. Chúng tôi nhận được tin trinh sát: "Các tàu sân bay xung kích "Coral Sea", "Kitty Hawk", "Constellation" đang ở cách Đà Nẵng 190 dặm về phía bắc. Tàu sân bay xung kích "Midway" đang ở phía đông Sài Gòn với sự hộ tống của 47 tàu chiến khác. Trong một ngày đêm từ các tàu sân bay trên đã có 369 phi vụ được thực hiện, trong số đó các phi vụ tấn công là 279. Trong thời gian một ngày đêm vừa qua, các tàu sân bay và các máy bay ném bom Mỹ đã hai lần dùng pháo hạm bắn phá và dùng máy bay ném bom tấn công các công trình bến cảng tại Hải Phòng và Cẩm Phả, đảo Cát Bà và bán đảo Đồ Sơn, kết quả của những cuộc oanh tạc đó là tàu chở hàng Xô viết "G.Akopian" tại cảng Cẩm Phả đã bị bắn cháy. Tàu sân bay đổ bộ chở máy bay lên thẳng "Okinawa" trong thành phần nhóm tàu tác chiến thủy bộ đang ở cách Đà Nẵng về phía bắc 180 dặm." (http://flot.com/upload/blog/763//BerzinPubl_56.jpg) David Minton viết tiếp: "Trong hai ngày tiếp sau, tàu ngầm Xô viết thường đi chậm lại và một thời gian dài đi ngầm ở độ sâu khả dụng của kính tiềm vọng, có lẽ là đang nhận mệnh lệnh cụ thể từ Bộ chỉ huy Hải quân. Trong thời gian lắng nghe Echo-2, con tàu Guardfish cũng giảm tốc độ để mở thật rộng âm vực hoạt động của hệ thống sonar. Thủy thủ đoàn rất ngạc nhiên và bối rối khi phát hiện ra ít nhất có thể là 2, mà cũng có thể là có đến 3 tàu ngầm Xô viết nữa có mặt trong khu vực này. Một tàu ngầm mà theo dõi 3 tàu ngầm là vấn đề rất phức tạp, nếu phải theo dõi đến 4 tàu ngầm khác thì đơn giản là không thể. Nhóm quân nhân theo dõi của tàu Guardfish đang tập trung mọi nỗ lực để giữ được kiếm soát với tàu ngầm Echo-2 mà họ có thể phân biệt bằng thị giác." Ngày 12 tháng 5. Nước lại xâm nhập từ ống cáp của thùng chứa vũ khí tên lửa số 6 qua van xả vào khoang số 7. Vì việc này tôi quyết định tiếp tục bơi ở độ sâu không quá 80m. Vào lúc 6h00 chúng tôi đi qua đảo Ulyndo. Lúc 12h00 nổi lên ở chiều sâu khả dụng kính tiềm vọng để xác định vị trí. Tại đường chân trời, ở các phương vị 1200-2500, khoảng cách 7 dặm là gần 50 thuyền đánh cá Nhật Bản. Trưởng ban 1 (hoa tiêu) thiếu tá hải quân Voronin V.báo cáo rằng có tiếng dội từ máy đo sâu. Cùng với hoa tiêu, tôi xác định vị trí theo Mặt Trời và "Loran A và C". Vào 16h34 phút vọng lại một loạt tiếng dội và chúng tôi may mắn đi ngang qua dải đá ngầm ở chiều sâu từ 9 đến 30m. ........ Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 30 Tháng Sáu, 2012, 01:11:41 am (tiếp)
David Minton viết tiếp: " Bằng cách đó, khi Echo-2 vẫn tiếp tục hành trình rời biển Nhật Bản đi về phía Đông Nam, tôi với tư cách hạm trưởng (Guardfish) cần phải quyết định 2 vấn đề quan trọng. Thứ nhất, việc phát hiện 3 mà có thể đến 4 tàu ngầm Xô viết có đáng để (Guardfish) ngừng phát sóng liên lạc radio không? Vấn đề quan trọng trước hết khi thực hiện giám sát hoạt động của tàu ngầm là làm sao có thể cảnh báo sớm nhất về trường hợp bố trí bất thường này của các tàu ngầm quân sự Xô viết. Kiểu tin tình báo "khẩn cấp" như thế , trước đây chưa bao giờ được tôi gửi đi, Tôi quyết định ngay lập tức truờng hợp này, khi mà Guardfish còn có thể phá vỡ im lặng, thông báo về tình thế cho Tổng tư lệnh của mình. Thứ hai, Guardfish có nên chấm dứt sự giám sát tại biển Nhật Bản và bám theo tàu ngầm Xô viết kia (K-184) hay không. Lệnh từ Bộ chỉ huy (Mỹ) đối với vấn đề này - vẫn im lặng. Nhưng có lẽ Tông tư lệnh muốn biết-người Xô viết đi đâu. Vì không đủ thời gian để chờ lệnh nữa, tôi đành nói một câu phương ngôn với Tổng tư lệnh của chúng tôi: "Yếu đuối thì không thể thành anh hùng" và chúng tôi bám theo dấu vết. Ngày 13 tháng 5. Mây mù cấp 10, tầm nhìn xa 2-5 dặm, biển động cấp 3-4. Chúng tôi đã đến gần eo biển Triều Tiên, còn cách đảo Okinoxima 15 dặm. Chúng tôi xác định vị trí theo đài vô tuyến định vị ở chế độ đơn công, hành trình đang tiếp tục ở độ sâu 50m, vận tốc 12 hải lý. Chúng tôi vẫn kiểm tra vị trí một cách có hệ thống qua tiếng dội (từ đài đo sâu). Chúng tôi đã đi vào biển "Nam Trung Hoa", nước biển đã ấm hơn +220...." Ngày 14 tháng 5. Chúng tôi đang đi trong biển Hoa Đông và đã tới gần khu vực có dòng hải lưu Kuro-Sivo chảy với vận tốc đến 2,5 hải lý. Trợ lý hạm trưởng thiếu tá Saipov L.V báo cáo về những nhận xét chưa được trong khi kiểm tra trực chiến tại các khoang trên tàu và đề nghị của mình về việc khắc phục chúng trong các phiên gác tiếp sau. (http://flot.com/upload/blog/d8f//BerzinPubl_57.jpg) Ngày 15 tháng 5. Chúng tôi đã đi vào biển Philippin. Điện tín đến, trong đó, trong mệnh lệnh tác chiến người ta giao cho chúng tôi khu vực số 1 trong số các thủy lộ dẫn vào vịnh Bắc Bộ. Cấu trúc khu vực này trông giống như nắp quan tài. Tàu ngầm "K-45" được giao khu vực số 2, khu vực này có nhiều bãi cạn và doi cát ngầm. Chỉ thị ban ra là sẵn sàng sử dụng vũ khí thông thường theo mệnh lệnh và để tự vệ. Đêm về, chúng tôi nhận được tin chính trị "Sỹ quan Kuzmin lên án hành động xâm lược Việt Nam của Hoa Kỳ". Đó là tin "tối quan trọng" với tàu ngầm. David Minton viết: "Theo dõi là một nhiệm vụ rất phức tạp. Để không bị phát hiện, tàu ngầm cần phải có một vị trí tiếp xúc thích hợp, vận tốc và hướng xác định theo sonar thụ động. Việc đo khoảng cách theo sonar thụ động đòi hỏi Guardfish phải thường xuyên cơ động để nhận được phương vị biến đổi nhằm duy trì vị trí tiếp xúc (để theo dõi, kiểm soát nhưng không bị phát hiện bởi người bị theo dõi). Quá gần-anh có thể bị phát hiện, nhưng quá xa anh sẽ mất tiếp xúc (mất dấu). Những động tác cơ động này thường tiến hành ở trong khu vực không nghe được tiếp xúc, khu vực "chết" sau đuôi tàu. Thực tế là từng giờ, Echo-2 lại đổi hướng để nghe ngóng khu vực này (xem có bị bám đuôi hay không). Thỉnh thoảng đó là những cú ngoặt thụ động 90 độ để hệ thống sonar của họ có thể nghe được tất cả những gì diễn ra sau con tàu của mình, đôi lúc họ lại chủ động quay 180 độ và đi theo hướng ngược lại đâm thẳng về phía Guardfish. Động tác này vô cùng nguy hiểm và đe dọa gây ra va chạm. Khi khoảng cách giữa chúng tôi rút ngắn lại, Echo-2 có cơ may thực tế phát hiện ra Guardfish. Bất kể khi nào Echo-2 thực hiện kiểm tra vùng không nghe được, Guardfish cần phải đoán trước được Echo-2 sẽ quay hướng nào, nhằm bám theo một cách vô hình tàu ngầm Xô viết từ phía đối diện. Để làm được điều này, Guardfish cần ngay lập tức giảm tốc độ, cố gắng giảm tiếng ồn xuống mức thấp hơn nữa nếu có thể nhằm đủ thời gian và khoảng cách cho Echo-2 quay về hướng cũ. Ngày 15 tháng 5. Chúng tôi đã đi vào biển Philippin. Điện tín đến, trong đó, trong mệnh lệnh tác chiến người ta giao cho chúng tôi khu vực số 1 trong số các thủy lộ dẫn vào vịnh Bắc Bộ. Cấu trúc khu vực này trông giống như nắp quan tài. Tàu ngầm "K-45" được giao khu vực số 2, khu vực này có nhiều bãi cạn và doi cát ngầm. Chỉ thị ban ra là sẵn sàng sử dụng vũ khí thông thường theo mệnh lệnh và để tự vệ. Đêm về, chúng tôi nhận được tin chính trị "Sỹ quan Kuzmin lên án hành động xâm lược Việt Nam của Hoa Kỳ". Đó là tin "tối quan trọng" với tàu ngầm. David Minton viết: "Ở Washington, người ta yêu cầu gửi báo cáo tình hình, để họ có thể xác định mức độ đe dọa xuất phát từ các lực lượng vũ trang Xô viết và ý đồ của người Xô viết. Tổng thống Nixon và cố vấn an ninh quốc gia hàng ngày đều nhận được các bản phúc trình. Do điện tín truyền từ tàu Guardfish có thể được truyền trên tần số cao công suất lớn, nên khả năng bị hệ thống chặn giữ điện tử của người Xô viết ghi nhận được là có và lúc đó vị trí của tàu ngầm (Mỹ) sẽ bị lộ, vì vậy phải sử dụng phương pháp liên lạc đảo pha. Máy bay P3 của lực lượng chống ngầm đã thực hiện một số phi vụ bí mật bay tới vị trí giả định là nơi có Guardfish và nhận những tin tình báo ngắn gọn trên tần số siêu cao của sóng radio từ Guardfish, khi này đang bơi ở chiều sâu khả dụng của kính tiềm vọng, hoặc là với sự giúp đỡ của các phao thả không lớn, có những thiết bị nhỏ có nguồn tự nuôi, được lập trình cho việc truyền các thông báo kích thước nhỏ và cho các nguồn tín hiệu phát qua ejektor, trong lúc Guardfish đang bơi ở độ sâu theo dõi. Trong thời gian theo dõi này, bất kỳ tàu ngầm nào đang ở trên Thái Bình Dương sẽ theo thời hạn mà chuyển vị trí nhằm đảm bảo an toàn cho các tàu sân bay đang hoạt động gần duyên hải Việt Nam, cũng như để dò tìm các tàu ngầm Xô viết. Điều đó tạo thành một vấn đề chung, đối với bản thân tàu ngầm Guardfish, cũng như đối với bộ chỉ huy chiến dịch này. (http://flot.com/upload/blog/b44//BerzinPubl_58.jpg) Ngày 16 tháng 5. Chúng tôi tiếp tục đi tới khu vực trách nhiệm, sau khi vượt qua đảo Okinawa chúng tôi chỉ có hai lần nổi lên vào phiên liên lạc vô tuyến. Tôi gọi vào phòng chỉ huy trung tâm trưởng ban 2 thiếu tá Tsimbalenko V.I., trong số các sỹ quan trực ban, anh là người được huấn luyện tốt nhất, am hiểu công việc nhất, chuyên môn vũ khí tên lửa-pháo của mình anh nắm vững đến mức hoàn hảo. Anh ấy báo cáo rằng, thùng chứa số 6 hiện ở tình trạng bình thường, sự rò nước qua ống cáp không phát triển thêm nữa. Ngày 17 tháng 5. Biển động cấp 3, gợn sóng, sương mù và mưa rào nhiệt đới. Chúng tôi nổi lên ở độ sâu khả dụng kính tiềm vọng để xác định vị trí trước khi vượt qua eo biển Bashi. Chúng tôi xác định vị trí theo phương pháp "Loran A và C", cùng với sự giúp đỡ của Đài vô tuyến định vị. Tin trinh sát: "Tuần dương hạm và các khu trục hạm đã rời vịnh Bắc Bộ đi về hướng Sài Gòn. Nixon chuẩn bị ngày 25 tháng 5 đến Moskva để thương lượng. Cường độ các hoạt động quân sự tại Việt Nam đã giảm đáng kể." (http://flot.com/upload/blog/36d//BerzinPubl_60.jpg) Tổng thống Nixon dự kiến ném bom hạt nhân xuống Việt Nam David Minton viết: " Một lần khi đang ở biển Philippin, Echo-2 ngoặt sang hướng tây-nam, về phía eo Bashi giữa đảo Đài Loan và các đảo phía bắc Luzon, Philippin. Eo biển Bashi thường được sử dụng làm thủy đạo bắc để vào biển "Nam Trung Hoa" và tôi thì tin tưởng rằng đó chính là đích đến của tàu ngầm Xô viết nhưng chiếc tàu lại quay chếch về hướng nam nhiều hơn so với hướng đi thông thường. Echo-2 giảm tốc độ, nổi lên ở độ sâu kính tiềm vọng, rồi lại di chuyển rất nhanh, định hướng theo tiếng dội từ đài đo độ sâu, đài này làm việc trong một âm vực ngắn, không được phép ở độ sâu này. Tàu ngầm đã biến mất. Trong khi ở độ sâu kính tiềm vọng, tàu ngầm xác định rất rõ vị trí của mình, bởi vì sau đó nó lặn xuống sâu, quay về hướng eo Bashi và tăng tốc độ lên 16 hải lý. Sau khi tin tình báo về sự chuyển hướng nhanh chóng này được truyền đi nhờ các phao tiêu, Guardfish cố gắng lao theo tàu ngầm Xô viết khi biết rằng việc đảo vị trí của các tàu ngầm Mỹ là không thể, vì thời gian sau khi truyền thông báo còn lại rất ít. Để tránh va chạm với các tàu ngầm Mỹ khác, Guardfish chuyển sang độ sâu 100m, là độ sâu mà các tàu ngầm Xô viết hay sử dụng, vì như tôi biết, nhằm tránh các tàu ngầm Mỹ. mối e ngại của tôi tỏ ra đúng đắn khi mà Guardfish phát hiện ra một tàu ngầm Mỹ đang đi về phía bắc với tốc độ lớn. Ngày 18 tháng 5. Trưởng ban Kỹ thuật thông tin liên lạc vô tuyến thiếu tá hải quân Tereshenko V.F. báo cáo kiến giải của mình về việc săn tìm các tàu mặt nước và tàu ngầm của đối thủ tiềm năng tại khu vực trách nhiệm-khu vực số 1, cũng như tình hình hải văn chờ đợi ở khu vực này, về các biện pháp ngụy trang tàu ngầm trước lực lượng săn ngầm của đối thủ. David Minton viết: "Ngày 18 tháng 5, Echo-2 đi vào biển "Nam Trung Hoa", tới điểm có vị trí cách bờ biển đảo Luzon khoảng 300 dặm. (http://flot.com/upload/blog/f00//BerzinPubl_61.jpg) Ngày 19 tháng 5. Trong ngày thực hiện kiểm tra phương tiện cứu nạn trên toàn tàu ngầm. Phát hiện được vài điều chưa đạt nhưng đã nhanh chóng khắc phục được. Hồi tháng 4, trước khi ra khơi chuyến này, tàu đã được kiểm tra bởi một ủy ban của Bộ Tổng tham mưu Hải quân do chuẩn đô dốc Ivanov dẫn đầu. Họ kiểm tra tình trạng các phương tiện cứu nạn và sự thành thục của các thành viên trong hoạt động khi có sự cố. Không có nhắc nhở đặc biệt nào. Vào cuối cuộc thanh sát, chuẩn đô đốc Ivanov ra tình huống kiểm tra báo động sự cố. Một trong những dữ kiện đầu bài là: "Con tàu mất lái. Biển động cấp 4. Yêu cầu đưa cáp kéo từ tàu cứu hộ sang tàu ngầm." Tôi gọi lên cầu chỉ huy trưởng ban 2 thiếu tá hải quân Tsimbalenko V.I. và ra lệnh neo cáp vào mũi tàu ngầm. Người ta nạp hỏa tiễn-kéo dây cứu hộ vào súng bắn hỏa tiễn cầm tay (линемёт ракетой), trên hỏa tiễn gắn cáp (cáp kéo). Tôi hướng dẫn cho Tsimbalenko V.I. về biện pháp an toàn và chỉ hướng bắn-bôt tín hiệu. Đạn được bắn đi ....và Tsimbalenko do không để ý chống giật khi bắn nên đã ngã vào rào chắn đài chỉ huy, bị thương vào phần mềm và hơi hoảng. Hỏa tiễn phóng về phía bốt tín hiệu, kéo theo sợi cáp, một đầu gắn trên thân nó, một đầu trên tàu ngầm. Khi hỏa tiễn lao vun vút về phía bốt tín hiệu, người thủy thủ đánh tín hiệu hốt hoảng gọi điện cho trực ban tác chiến sư đoàn: "Hỏa tiễn từ tàu ngầm của Berzin bay ra và đâm vào bốt tín hiệu." Người trực ban tác chiến ban đầu sửng sốt, trong đầu anh ta "tưởng tượng" ra lập tức "hỏa tiễn" - tên lửa P-6 vũ khí cơ bản trên tàu ngầm đề án 675. Rất may là anh ta không tức tốc gọi điện báo trực ban tác chiến hạm đội mà cố gắng tìm hiểu sự việc trước đã. Sau đó tất cả mọi người còn cười mãi khi nhớ lại khung cảnh sự kiện này. Người ta cười không chỉ vì cái lệnh bắn dây neo do Tsimbalenko chỉ huy, người mà sau đó phải đi thu lại 300m dây cáp neo mà cười vì cái phương pháp bắn hỏa tiễn đặc biệt đã vật ngã anh ta trên vị trí chỉ huy theo điều lệnh. (http://flot.com/upload/blog/f2f//BerzinPubl_59.jpg) Ngày 20 tháng 5. Chúng tôi chiếm lĩnh khu vực số 1. Lúc 8h30 phút chúng tôi nổi lên đến độ sâu kính tiềm vọng để thực hiện phiên liên lạc và xác định vị trí. Ngay lập tức qua kính tiềm vọng chúng tôi thấy trên đúng hướng tàu chúng tôi, ở khoảng cách 10 kaben (1 kaben quốc tế, hay 1 cable length theo tiếng Anh bằng 1/10 hải lý hay dặm biển-nautical mile) một tàu hậu cần của Hải quân Mỹ đang đi thẳng về phía tàu mình. Chúng tôi hút đầy nước vào các sitec rồi nhanh chóng lặn xuống độ sâu an toàn. Các kỹ thuật viên thủy âm không nghe thấy tàu Mỹ. Tình hình hải văn rất tồi-chúng tôi không nghe được gì. Bởi vậy mọi cuộc nổi lên ở đây đều tiềm ẩn những mối nguy hiểm có thể va chạm với các tàu mặt nước. David Minton viết: "Suốt 8 ngày, tàu ngầm Echo-2 đi vận tốc nhỏ, tuần tiễu trong một khu vực có hình chữ nhật cách các tàu sân bay của chúng ta đang đi dọc theo bờ biển Việt Nam một khoảng ước 700 dặm và cách xa khu vực giới hạn 200 dặm mà tên lửa (P6-Shaddock) trên Echo-2 có thể vươn tới. Trong thời gian đó, lệnh theo dõi là cố gắng không để mất dấu tàu ngầm Xô viết... Nếu bây giờ mà các hoạt động quân sự nổ ra, biển Nhật Bản sẽ là cái bẫy đối với Hạm đội Thái Bình Dương, giống như vịnh Phần Lan đối với các loại tàu chiến và tàu ngầm năm 1943. Trong các eo biển: Laperuda, Sangarskii và Triều Tiên có thể nhanh chóng và dễ dàng dựng lên một tuyến chống ngầm và trong thời điểm hiện tại đối thủ tiềm năng của chúng ta sẽ kiểm soát khá chắc sự qua lại của các tàu ngầm của chúng ta. Ngày 22 tháng 5. Ghi nhận được tín hiệu của đài vô tuyến định vị AN/APS-80 trên máy bay săn ngầm "Oriol" của Mỹ, tín hiệu yếu. Chúng tôi lại tạm thời di chuyển tránh máy bay. Ngày 23 tháng 5. Vào lúc 8h30 phút, tàu nổi lên ở độ sâu kính tiềm vọng để thực hiện phiên liên lạc và xác định vị trí. Tin chính trị:"Ban cán sự Đoàn thanh niên Komsomol hạm đội đã đi qua". Và không thêm một lời nào. Tất nhiên đó là thông tin "cực quý giá" đối với tàu ngầm đang ở biển "Nam Trung Hoa". Ghi nhận được tín hiệu làm việc của ra đa AN/APS-80 của máy bay săn ngầm "Oriol" của Mỹ, tín hiệu yếu. Tạm thời tàu ngầm di chuyển tránh máy bay. Ngày 24 tháng 5. Lệnh báo cáo vị trí được chuyển đến cho chúng tôi (K-184), K7, K-45. Lúc 12h chúng tôi báo cáo số liệu vị trí (vĩ tuyến và kinh tuyến). Trong tin nhận được có đoạn:"Nixon đang ở Moskva tiến hành các cuộc hội đàm". Ghi nhận tín hiệu của đài vô tuyến định vị AN/APS-20 trên máy bay săn ngầm "Neptune" của Mỹ, tín hiệu yếu. Chúng tôi tạm thời di chuyển tránh máy bay. Tiến hành phân tích hai phát hiện gần đây nhất về tín hiệu của ra đa AN/APS-20, chúng tôi kết luận có lẽ máy bay săn ngầm (Mỹ) đang săn tìm các tàu ngầm trên hành trình. (http://flot.com/upload/blog/57c//BerzinPubl_62.jpg) .......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 30 Tháng Sáu, 2012, 01:25:50 am (tiếp)
Ngày 25 tháng 5. Đâu đó sau bữa trưa, trưởng ban 5 trung tá hải quân Baiburin M.S. báo cáo rằng bộ phận ХГЦЭН - 601 của mạn trái bị rò rỉ (bộ phận làm lạnh thuộc hệ thống bơm chu trình thứ nhất của lò phản ứng: A.S.Berzin), chúng tôi quyết định tạm ngừng hoạt động thiết bị này, bởi vì độ phóng xạ của hơi và khí dung (xon khí) bắt đầu tăng cao. Chúng tôi cùng Baiburin M.S. nhớ lại chuyến đi tại biển Okhot từ ngày 24 tháng 9 đến ngày 5 tháng 10 năm 1971 trong một chiến dịch săn tìm. Ngày 26 tháng 9 tàu ngầm chúng tôi đã chiếm lĩnh khu vực săn tìm và bắt đầu tìm kiếm tàu ngầm "quân xanh". Ngày 29 tháng 9, vào lúc 12h30, tại độ sâu 80m đã xảy ra sự rò khí phóng xạ trong khu vực có chắn cách ly buồng máy phía mũi tàu của khoang số 6 chứa lò phản ứng. Khí và khí dung phóng xạ bốc ra ngày càng nhiều trong khu vực có cách ly của buồng máy phía mũi tàu, trên tầng 2 và 3 khoang 6 chỉ số mật độ phóng xạ tập trung cho phép tới hạn (PDK-predelnodopuschimykh konsentratsia) đã tới 20. Ngay lập tức còi và tín hiệu báo động "Phóng xạ nguy hiểm" phát ra và các khoang số 5,6,7 được tuyên bố là khu vực áp dụng chế độ giới nghiêm đặc biệt. Sau 10 phút, tàu ngầm nổi lên và khoang 6 được thông gió. Cũng ngay tức khắc máy bay săn ngầm "Oriol" của Hải quân Mỹ xuất hiện và bay lượn quanh tàu ở độ cao 100m. Tàu ngầm lại lặn xuống tạm thời. Lúc này tình hình hơi và khí dung có phóng xạ lại trở nên càng phức tạp hơn: tại khoang 6 tầng 3 chỉ số PDK đã đến 300, tại khu vực buồng máy mũi tàu-5000 PDK, trên tầng 2-1700 PDK, trong các khoang 5 và 7-đến 40 PDK. Việc giữ các thành viên tiếp tục ở lại các khoang 5,6,7 là không thể. Bởi vậy đã di chuyển họ sang các khoang kế bên và ban chỉ huy tàu phải đánh điện vào bờ báo cáo tình hình phức tạp đang diễn ra. Các khoang 5,6,7 được thông gió vào không trung. Vào quãng 24 giờ ngày 29.9 tình hình rò phóng xạ đã giảm tới mức bình thường tại khoang 5 và 7, còn tại khoang 6 là 1-2 PDK. Tại các khoang khác trong suốt thời gian trên chỉ số PDK là từ 5-10. Trong các khoang 5,6,7 mức độ nhiễm phóng xạ đạt tới 100 phân rã trong một phút, bắt đầu quá trình khử phóng xạ trong các khoang. Đến 12h ngày 30.9 tình hình phóng xạ trên tàu ngầm đã ổn định: khắp nơi hơi và khí dung phóng xạ đã trở về mức giới hạn bình thường. Trên bờ đã được báo cáo và đã ra lệnh cấm tàu trở về căn cứ trong trạng thái lặn ngầm. Một giờ sau có lệnh cho phép trở về. Sau sự cố trên, một phần thủy thủ đoàn mắc chứng đau đầu, tức ngực, chứng buồn nôn ám ảnh họ cả tháng sau đó. Khi về tới căn cứ cũng chẳng ai khám nghiệm cho chúng tôi. Ngày 26 tháng 5. Lúc 2h00 chúng tôi nổi lên đến độ sâu kính tiềm vọng. Ngay lập tức qua kính tiềm vọng chúng tôi thấy một con tàu có độ giãn nước 10.000 tấn đang thẳng hướng tiến tới, khoảng cách 10 kaben, các máy thủy âm không nghe được gì. Tàu ngầm nhanh chóng bơm nước vào hầm lặn nhanh và lặn xuống độ sâu an toàn. Trong phiên liên lạc vô tuyến tiếp theo, chúng tôi nhận được bức điện từ Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương cho lệnh quay về căn cứ. David Minton viết: "...các sự kiện trên thế giới bắt đầu diễn biến theo chiều hướng hòa bình. Sau những cuộc thương thuyết lâu dài, tổng thống Nixon đã đến Moskva theo lời mời, tại đó diễn ra cuộc gặp lịch sử với Tổng Bí thư Brezhnev. Trong thời gian cuộc gặp ngày 24 tháng 5, Cố vấn An ninh Quốc gia Kissinger thông báo với Brezhnev rằng Hoa Kỳ biết về việc bố trí của tàu ngầm Xô viết và rằng sự tồn tại của những tàu ngầm đó gần khu vực đang có chiến sự tại Việt Nam là có tính chất khiêu khích và đặc biệt nguy hiểm. Sau hai ngày của cuộc đối đầu đó, tàu ngầm Xô viết lên đường về phương bắc." (http://flot.com/upload/blog/aa3//BerzinPubl_64w.jpg) Ngày 27 tháng 5. Ban đêm, một bức điện chuyển tới với lệnh thay đổi chuyến trở về căn cứ, thay vào đó chúng tôi (K-184) cần chiếm lĩnh một khu vực mới tại biển Philippin có dạng vòng tròn bán kính 30 dặm, để làm gì thì người ta không thông báo cho chúng tôi biết. K-57 và K-189 cũng nhận các khu vực của mình tại biển Philippin. Chúng tôi vượt qua eo Bashi, xác định vị trí bằng phương vị theo mắt thường dựa vào các hòn đảo. Trong phiên liên lạc (nổi lên ở độ sâu kính tiềm vọng), trên hướng tàu của mình, tại góc 1720 bên mạn trái, chúng tôi phát hiện tín hiệu của đài vô tuyến định vị đang hoạt động ở chế độ đơn công, trong kính tiềm vọng-đường chân trời sạch. Xác định tham số đài ra đa định vị nhưng không thành công. Tôi bắt đầu dùng bàn đạc với mục đích phát hiện sự theo dõi tàu ngầm chúng tôi mỗi khi nổi lên ở chiều sâu kính tiềm vọng, chiều sâu mà con tàu có thể thu nhận được tất cả các tín hiệu tới, ghi nhận được thời tiết, những phát hiện bằng mắt thường, và sự cơ động của mình. Có thể đó là đài ra đa AN/BPS-9 đặc trưng cho tàu ngầm hạt nhân kiểu "Permit" (của Mỹ). (http://flot.com/upload/blog/ead//BerzinPubl_65.jpg) Bách khoa toàn thư tàu chiến/Tàu ngầm nguyên tử đa chức năng Mỹ "Permit". Ngày 28 tháng 5. Đã chiếm lĩnh xong khu vực trách nhiệm tại biển Philippin. Có 2 bức điện tới, trong đó cho lệnh chiếm lĩnh khu vực mới là hình tròn bán kính 50 dặm; điện cũng thông báo rằng báo chí Mỹ đang phổ biến tin phát hiện tàu ngầm Xô viết tại biển "Nam Trung Hoa". Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương, đô đốc Smirnov N.I. yêu cầu chúng tôi phải giữ bí mật, "xỉ vả" K-57 vì tội đã phát bức điện báo cáo chiếm lĩnh xong khu vực trách nhiệm. Bí mật đã bị Bộ Tham mưu (hạm đội) vi phạm ngay từ lúc khởi hành: hành trình vượt biển bất kỳ ai cũng có thể thấy được; tất cả các con tàu đều được cho phép đi theo một hành trình; khi ở biển "Nam Trung Hoa" lại ra lệnh cho chúng tôi báo cáo vị trí của mình; không có bất cứ động tác nghi binh nào nhằm che giấu chuyến đi thật của các con tàu. Trong phiên liên lạc, trên hướng tàu của chúng tôi, tại góc 1700 bên mạn trái, phát hiện tín hiệu của đài vô tuyến định vị đang hoạt động ở chế độ đơn công, trong kính tiềm vọng-chân trời sạch. Việc theo dõi xác định tần số xung và độ dài xung của đài ra đa định vị này không thành công, do đài đó chỉ hoạt động khoảng 3 giây đồng hồ. Trong kính tiềm vọng-chân trời sạch. Có khả năng đó là đài ra đa AN/BPS-9 đặc trưng cho tàu ngầm hạt nhân kiểu "Permit". David Minton viết: "Sau khi qua eo Bashi, Echo-2 thiết lập khu vực tuần tiễu mới trong biển Philippin về phía nam đảo Okinawa. Trong khu vực đại dương này, các điều kiện thủy âm là xấu nhất mà người ta có thể nghĩ ra. Về đêm, tiếng ồn của thiên nhiên và mưa thường xuyên át hết sonar. Việc cố duy trì tiếp xúc là vô cùng vất vả, đòi hỏi Guardfish phải tiến hành bám sát để theo dõi Echo-2 ở khoảng cách gần hơn nữa. Bộ chỉ huy đã thảo ra một quy tắc rất dài cho việc chuyển giao theo dõi tàu ngầm Echo-2 bởi một tàu ngầm khác của Hoa Kỳ. Tin này được truyền trên mạng thông báo rộng. Ngày 29 tháng 5. Chiếm lĩnh xong khu vực mới, tốc độ 6 hải lý, nhiệm vụ chiến đấu không được nêu ra, tôi quyết định bắt đầu săn tìm các tàu mặt nước và tàu ngầm của Mỹ và Nhật Bản. Trong phiên liên lạc, trên hướng của mình, ở góc 1750 mạn trái lại phát hiện tín hiệu ra đa định vị hoạt động trong chế độ đơn công, trong kính tiềm vọng-chân trời sạch. Xác định tần số và độ dài xung của đài ra đa này không thành công vì đài đó chỉ làm việc gần 5 giây. Trong kính tiềm vọng-chân trời sạch. Có thể đó là đài ra đa AN/BPS-9 đặc trưng cho tàu ngầm hạt nhân kiểu "Permit". Nhưng tất cả đều là giả thiết. Ngày 30 tháng 5. Trong phiên liên lạc, trên hướng của mình, ở góc 1750 mạn trái lại phát hiện tín hiệu ra đa định vị hoạt động trong chế độ đơn công, trong kính tiềm vọng-chân trời sạch. Tôi nghe đề nghị của trợ lý trưởng và các chỉ huy trưởng bộ phận chiến đấu về việc phát hiện ra tàu ngầm nước ngoài và cách "cắt đuôi" nó. Ngày 31 tháng 5. Tại phiên liên lạc nhận được điện, trong đó giao trách nhiệm cho chúng tôi một khu vực khác, cũng như thông báo rằng có vẻ người Mỹ đã biết về sự tồn tại của tàu ngầm chúng ta ở biển "Nam Trung Hoa". Các khu vực khác được giao cho K-7, K-45, K-57. Đường tới các khu vực đó phải đi qua các bãi đá ngầm và doi cát cạn. Vì lý do này, Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương nhắc các hạm trưởng về biện pháp an toàn khi chỉ huy tàu. Tàu chở máy bay chống ngầm "Ticonderoga" đang đến gần biển Philippin. Tổng thống Nixon đã bay sang Iran, còn Bộ trưởng Quốc phòng của ông ta ra lệnh tạm ngừng triển khai hệ thống phòng thủ chống tên lửa "SafeGuard". (http://flot.com/upload/blog/46e//BerzinPubl_66.jpg) Anh hùng Liên bang Xô Viết Smirnov Nikolai Ivanovitch. Từ năm 1969 là Tư lệnh Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương, trong những năm 1974-1988 là Phó Tổng tư lệnh thứ nhất Hải quân Xô Viết. Ngày 1 tháng 6. Tại phiên liên lạc, trên hướng của mình, ở góc 1750 mạn trái phát hiện tín hiệu ra đa định vị hoạt động trong chế độ đơn công, trong kính tiềm vọng-chân trời sạch. Nhận được tin trinh sát: "Tàu chở máy bay chống ngầm "Ticonderoga" đã tới Guam bổ sung nhiên liệu. Trong vịnh Bắc Bộ-3 tàu sân bay xung kích, phía đông Sài Gòn-1 tàu sân bay xung kích. Ngày 2 tháng 6. Thực hiện các thao tác cơ động đặc biệt nhằm phát hiện tàu ngầm nước ngoài có thể đang theo dõi chúng tôi. Không phát hiện được tàu ngầm đó. Ban ngày, nổi lên ở độ sâu kính tiềm vọng trong phiên liên lạc, tại phương vị 2800, khoảng cách 40 kaben, phát hiện tàu vận tải độ giãn nước 10.000 tấn. Hệ thống thủy âm trước khi nổi lên không nghe được tàu vận tải. Tình trạng hải văn rất tồi. Ngày 3 tháng 6. Nhận được tin trinh sát: "Tàu chở máy bay chống ngầm "Ticonderoga" tiếp tục đi đến Philippin." Tàu ngầm K-45 nhận được lệnh tiếp tục đi qua eo Bashi vào biển Philippin, nơi tàu phải chiếm lĩnh khu vực mới, có nghĩa là lại băng qua các dải đá ngầm và bãi cạn. Lại chỉ thị của Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương về các biện pháp an toàn khi chỉ huy tàu. Chẳng mấy chốc đã ở suốt một tháng trên biển, đốt nhiên liệu hạt nhân, không hiệu quả và không mục đích, mặc dù đã có thể đặt ra nhiệm vụ săn tìm và theo dõi tàu sân bay xung kích. Một tháng ròng chúng tôi bơi với vận tốc 6 hải lý quanh quẩn trong những vòng tròn bán kính 50 dặm, không nghe và cũng chẳng nhìn thấy gì. Ngày 4 tháng 6. Nhận được tin trinh sát: "Tàu chở máy bay chống ngầm "Ticonderoga" đi vào eo biển Luzon." (http://flotic.ru/upload/blog/6dc//BerzinPubl_67.jpg) Ngày 5 tháng 6. Nhận được tin trinh sát: " Tàu chở máy bay chống ngầm "Ticonderoga" đã đi vào vịnh Subic." Ngày 6 tháng 6. Từ 29 tháng 5 đến 6 tháng 6 trong các phiên liên lạc tại độ sâu quan sát của kính tiềm vọng đã phát hiện phía đuôi tàu tín hiệu làm việc của ra đa định vị vô tuyến, kiểm tra góc hướng đuôi tàu với tốc độ di chuyển có đặc tính tiếng ồn nhỏ, áp dụng các thao tác cơ động đặc biệt, nhưng cũng không phát hiện được gì. Lúc 12h00 tàu nổi lên ở độ sâu kính tiềm vọng trong phiên liên lạc. Quan sát đường chân trời không phóng đại-sạch, sau đó quan sát với kính phóng đại, tại góc hướng đuôi bên mạn trái tàu-nhìn thấy kính tiềm vọng của một tàu ngầm trong cự ly khoảng 5-6 kaben, kính tiềm vọng nhô lên ước chừng 2 m so với mặt biển. Tôi cho trợ lý chỉ huy tàu thiếu tá hải quân Saipov L.B. quan sát trên kính tiềm vọng, anh ta cũng khẳng định nhìn thấy tiềm vọng kính (của tàu ngầm nước ngoài). Hệ thống thủy âm không "quan sát" thấy tàu ngầm (nước ngoài). Khi tôi bắt đầu xem lại thì không còn thấy tiềm vọng kính đó nữa. Chúng tôi khẩn cấp đánh điện vào bờ báo cáo tình hình phát hiện ra tàu ngầm Mỹ. Chúng tôi phát hiện phía sau đuôi có tín hiệu làm việc của ra đa định vị vô tuyến trong chế độ đơn công, giả thiết từ trước là tín hiệu của đài AN/BPS-9 đặc trưng cho tàu ngầm lớp "Permit". Chúng tôi lặn xuống độ sâu 80 m, xoay hướng để kiểm tra khu vực hình quạt phía đuôi, vận tốc tàu 4 hải lý, 30 phút sau chúng tôi bắt đầu cắt đuôi tàu ngầm Mỹ khi vừa thay đổi tốc độ và độ sâu bơi, vừa sử dụng các khí tài chủ động chống định vị thủy âm (гидроакустического противодействия (ГПД)). David Minton viết: "Bộ chỉ huy đã soạn thảo một thủ tục khá dài để chuyển giao việc theo dõi Echo-2 cho một tàu ngầm Mỹ khác. Thông báo này được truyền đi trên mạng truyền thông rộng rãi.. Lúc đó Guardfish đang ở trên độ sâu kính tiềm vọng, tiếp nhận thông báo khẩn này, Echo-2 đã bất thần nổi lên ở chiều sâu tiềm vọng kính và phát hiện được bằng mắt thường sự có mặt của Guardfish. Các động tác cơ động tiếp sau đó là rất chủ động và diễn ra với vận tốc lớn. Tiếp tục theo dõi một đối thủ đã cảnh giác đề phòng là không thể và tiếp xúc với Echo-2 đã bị mất. (http://flotic.ru/upload/blog/299//BerzinPubl_72.jpg) Thời điểm phát hiện ra nhau của các tàu ngầm trên chiều sâu tiềm vọng. Chúng tôi nhìn thẳng vào mắt nhau. Trên ảnh là các cột khí tài kéo xếp di động của К-184. ....... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 30 Tháng Sáu, 2012, 01:44:15 am (tiếp)
Ngày 7 tháng 6. Điện đến từ Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương: "Hãy chú ý thận trọng, không theo dõi tàu ngầm Mỹ". Tại góc hướng 1720 mạn trái, chúng tôi phát hiện tín hiệu ra đa định vị hoạt động trong chế độ đơn công, giả thiết là tín hiệu của đài AN/BPS-9 đặc trưng cho tàu ngầm lớp "Permit". Tới cuối phiên liên lạc, đài thủy âm phát hiện và quan sát được trong 5 phút ở góc hướng 900 mạn trái tiếng ồn chân vịt của một tàu ngầm. Phát hiện rò rỉ thiết bị ХГЦЭН - 601 của mạn phải, quyết định ngừng hoạt động thiết bị vì trong khoang 6, độ phóng xạ của hơi và xon khí bắt đầu tăng cao. Trong khoang các thành viên nghe được tiếng chân vịt bên mạn trái, (có lẽ của một tàu ngầm). Ngày 8 tháng 6. Việc cơ động của chúng tôi để cắt đuôi (tránh) tàu ngầm Mỹ không có kết quả. Đài thủy âm vẫn từng lúc một lại nghe được nó. Chúng tôi phát đi 3 bức điện về việc phát hiện ra tàu ngầm Mỹ.Về đêm, trong phiên liên lạc trên đài vô tuyến định vị tìm kiếm "Nakat", tất cả các màn hiện sóng đều lóe sáng (theo kiểu "tia chớp"), có vẻ là có đài định vị vô tuyến nào đó (nguồn gây nhiễu) đang hoạt động rất gần, chỉ cách 1-2 kaben, chúng tôi lặn xuống khẩn cấp, xuống đến độ sâu 60 m, các "tia chớp" vẫn còn trên các màn hình. Trong phiên liên lạc kế tiếp, phát hiện đài vô tuyến định vị AN/BPS-9 đang làm việc, chúng tôi tiếp tục cắt đuôi bằng các biện pháp thay đổi hướng đi, tốc độ, chiều sâu, sử dụng các phương tiện chống định vị thủy âm (ГПД). Ngày 9 tháng 6, đài thủy âm phát hiện một tàu ngầm trên góc hướng 1500 mạn phải. Tôi quyết định cắt đuôi tàu ngầm Mỹ, để làm điều đó tôi vẽ ra hai vòng hồi chuyển thoải, sau khi đã đặt giữa tàu ngầm của chúng tôi và tàu ngầm Mỹ hai khí tài chủ động chống định vị thủy âm và thoát ra theo phương vị ngược lại với biện pháp thay đổi tốc độ, độ sâu, hướng. Tôi bước vào buồng hoa tiêu, tại đó hoa tiêu phụ thượng úy Konev A.V (ngày nay là phó đô đốc, Phó Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương) nói đùa với tôi: "Đồng chí hạm trưởng, cứ như trong sân diễn rạp xiếc ấy nhỉ, tàu ngầm quân ta giống con ngựa đang phi vòng tròn, còn tàu ngầm Mỹ ở bên đối diện thì chạy theo như anh chàng xà ích khốn khổ." (http://flotic.ru/upload/blog/769//BerzinPubl_73.jpg) Tôi cười phá lên. Cũng tại đây, theo đường tiếp âm từ khoang thứ 2 sang, tiếng hạm phó chính trị trung tá hải quân Antonov G.Ya.: "Có lẽ chúng ta không cần bắt liên lạc với tàu ngầm Mỹ nữa nhỉ?" Một khi mọi người đã đùa bỡn như vậy thì tôi cũng trả lời một cách đùa cợt: "Đeo máy thở IDA-59 vào" (Máy thở dưỡng khí cách ly-Изолирующий дыхательный аппарат, ИДА). Không khí trong buồng điều khiển trung tâm đang căng thẳng, điều đó thấy rõ trên khuôn mặt mọi người, nhưng nếu họ đã đùa được rồi, thì có nghĩa là mọi việc đang trở về vòng trật tự. Chúng tôi đã dứt được tàu ngầm Mỹ, bởi vì từ đó về sau không còn thấy nó nữa. Tại khu vực mất tiếp xúc, những chiếc máy bay chống ngầm "Oriol" đang lượn đi lượn lại, chúng vẫn tiến hành tìm kiếm, nhưng chúng tôi đâu còn ở đó nữa. Chúng tôi nhận lệnh tìm kiếm tàu ngầm hạt nhân mang vũ khí đạn đạo (SSBN) trong giải di chuyển 400 dặm, sau đó tiếp tục về căn cứ, dự kiến về đến nơi vào ngày 19. Hành trình trở về cũng y như lúc triển khai chiến dịch. Ngày 10 tháng 6. Chúng tôi đã chiếm lĩnh điểm cần tới và bắt đầu tìm kiếm SSBN trong giải di chuyển 400 dặm. Định kỳ, chúng tôi làm các động tác cơ động để phát hiện sự theo dõi của tàu ngầm nước ngoài. Không phát hiện thấy sự theo dõi nào. Ngày 11 tháng 6. Vào ban ngày, lúc nổi lên trong phiên liên lạc, qua kính tiềm vọng chúng tôi phát hiện một con tàu ở phương vị 700, khoảng cách 40 kaben. Đài thủy âm chẳng nghe được gì. Thủy hải văn đối với chúng tôi thật là món khó xơi. Lúc 18h37 phút, đài thủy âm nghe có tiếng chân vịt. Tuân theo biện pháp đề phòng sớm, tàu nổi lên độ sâu tiềm vọng kính. Qua kính tiềm vọng chúng tôi phát hiện con tàu đang rời xa chúng tôi có độ giãn nước chừng 15.000 tấn, chúng tôi ở cách đuôi con tàu đó một khoảng 9 kaben. Như vậy có thể nói rằng, chúng tôi đã xác định được khoảng cách mà trong đó đài thủy âm sẽ phát hiện được các mục tiêu mặt nước trong điều kiện thủy văn hiện tại. Ngày 12 tháng 6. Lúc 22h00 chúng tôi kết thúc tìm kiếm SSBN (ПЛАРБ) và bắt đầu hành trình về căn cứ. Trong suốt 40 ngày đêm bơi, chẳng có điện tín nào tới nơi mà không có sai lệch. Vậy mà đang là trong thời bình! Ngày 13 tháng 6. Nhận được tin trinh sát: "Tàu chở máy bay trực thăng "Tripoli" đang tiếp tục tới Okinawa". Chúng tôi lại nhanh chóng đi tới đảo Okinawa, và đi vào biển Hoa Đông. Ngày 14 tháng 6. Chúng tôi vẫn đang bơi trong biển Hoa Đông. (http://flotic.ru/upload/blog/dae//BerzinPubl_74.jpg) Ngày 15 tháng 6. Tàu ngầm nổi lên trong phiên liên lạc ban đêm, không có điện tín nào gửi vào địa chỉ của chúng tôi. Mây cấp 3, biển động cấp 2, tầm nhìn xa 3 dặm. Chúng tôi xác định vị trí theo sao trời và phương pháp "Loran". Các thành viên sửa soạn dọn dẹp trên tàu, chuẩn bị các báo cáo cho chuyến về căn cứ. Ngày 16 tháng 6. Lúc 2h00, chúng tôi xác định vị trí theo đảo Danjo: phương vị theo mắt thường hướng về ngọn đèn biển, khoảng cách đến đảo xác định nhờ ra đa định vị vô tuyến phát ở chế độ "đơn công". Lúc 6h00, chúng tôi chính xác hóa vị trí (của K-184) một lần nữa rồi đi vào eo biển Triều Tiên trong tư thế bơi ngầm ở độ sâu 40 m. Lúc 12h00, xác định vị trí theo phương pháp "Loran A" (4 đường thẳng cắt nhau tại 1 điểm). Trên đường tiếp cận eo Đối Mã, tôi muốn chính xác hóa vị trí thêm một lần nữa, nhưng đài thủy âm nghe được tại phương vị 1480 tiếng chân vịt bám theo chúng tôi trong vòng 40 phút. Các quân nhân đài thủy âm không thể phân biệt được tiếng ồn đó của loại tàu nào. Sau đó chúng tôi lại lần nữa nổi lên trên chiều sâu tiềm vọng kính để hiệu chỉnh vị trí. Thời tiết: Biển lặng, có khói mù nhẹ; tầm nhìn xa: 20-30 kaben. Ngày 17 tháng 6. Chúng tôi đi qua đảo Ulyn-Do, phía trước là điểm tàu nổi lên số 1. Chiều sâu biển ở đây là 2000 m và hơn nữa. Thời tiết: sương mù, biển động cấp 2. Ngày 18 tháng 6. Toàn bộ thành viên trên tàu cạo râu, tắm rửa và thay quân phục mới theo chuyên ngành thật chỉnh tề và sạch sẽ. Ngày 19 tháng 6. Lại bắn dây neo bến. Các sỹ quan Bộ Tham mưu ra đón chúng tôi cùng với dàn quân nhạc và tư lệnh sư đoàn, chuẩn đô đốc Verenikin I.I. Giao nhiệm vụ mới cho thủy thủ đoàn: chuẩn bị đón Bộ trưởng Quốc phòng Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô Viết, sắp sửa đến thăm tàu ngầm và đến thăm các buồng thủy thủ trên bờ. Còn chúng tôi thì chỉ mơ yên tĩnh và nghỉ ngơi. David Minton viết: "Tàu ngầm Guardfish thuộc về lớp Permit, anh em sinh đôi với tàu ngầm bất hạnh Thresher (SSN-593). Các tàu ngầm lớp này là loại lần đầu tiên hấp thu tất cả những thay đổi quan trọng nhất trong thiết kế kết cấu tàu ngầm. Đó là sự mở rộng giới hạn chiều sâu làm việc, các phương tiện phát hiện hiệu quả hơn, tiếng ồn giảm thấp, khoang ngư lôi được chuyển từ phía mũi tàu về gần thân tàu hơn. Bảng số 1: So sánh các đặc tính và thông số của 2 lọai tàu ngầm mà Guardfish và K-184 là đại diện. (http://i1221.photobucket.com/albums/dd463/qtdc3/675_Guardfish_2.jpg) * - Độ ồn xác định theo kinh nghiệm đi biển của tác giả (chuẩn đô đốc A.S. Berzin), cũng như từ các ấn phẩm đã công bố của Hoa Kỳ và Liên Xô/Nga nơi sinh ra con tàu đề án 675 vốn được gọi vui là "Mụ bò rống". **- Xác định theo kinh nghiệm đi biển của tác giả (chuẩn đô đốc A.S. Berzin), cụ thể trong chuyến đi này, khoảng cách xa mà tàu ngầm đề án 675 phát hiện được tàu ngầm kiểu Sturgeon khi đi ở vận tốc ít ồn nhất - 24 kaben, còn khoảng cách xa phát hiện được tàu ngầm Guardfish bởi tàu ngầm đề án 675 - 2 kaben. Khi so sánh các đặc tính kỹ chiến thuật (тактико-технические данные , ТТД) của tàu ngầm đề án 675 và tàu ngầm Guardfish trên bảng 1, có thể thấy Guardfish có ưu thế hơn K-184 ở những điểm sau: - Vận tốc lớn hơn 5 hải lý; - Chiều sâu lặn lớn hơn 60 m; - Độ ồn nhỏ hơn 6 lần; - Ngư lôi nhiều hơn 6 đạn; - Có vũ khí "Sabrok" (tên lửa chống tàu ngầm, bắn từ ống phóng ngư lôi 533 mm, tiếng Anh: Underwater missile Subroc), loại mà chúng ta không có; - Tầm xa mà đài định vị thủy âm phát hiện được lớn hơn hệ thống của chúng ta 6 lần. Tất cả những điều đó tạo khả năng vô điều kiện để tàu ngầm Guardfish có khả năng theo dõi lâu dài tàu ngầm của chúng ta. Mặc dù vậy, tàu ngầm của chúng ta trên thực tế đã có khả năng phát hiện ra sự theo dõi và thực hành cắt đuôi đeo bám của tàu ngầm Guarsfish. Vậy có thể nói rằng: "Cái khó không bó được cái khôn" (голь на выдумки хитра). (http://flotic.ru/upload/blog/7de//BerzinPubl_76.jpg) David Milton ngày nay cùng con chó Emma, năm 2009. Nhờ Chúa mà giữa chúng tôi và các chính phủ chúng tôi đã có đủ trí tuệ để không làm nổ ra Chiến tranh Thế giới thứ Ba. Những điều sau đây đã tạo điều kiện (cho K-184) phát hiện ra sự theo dõi: 1. Tình hình thủy văn kém tại biển Philippin đã khiến tàu ngầm Guardfish phải rút ngắn khoảng cách theo dõi để không mất tiếp xúc, đến lượt nó, hành động trên đã cho phép K-184 phát hiện ra tàu ngầm Mỹ; 2. Việc sử dụng đài vô tuyến định vị của Guardfish, mà lần đầu tiên chúng ta phát hiện ra sự làm việc ngắn ngủi của nó ngày 27 tháng 5; 3. Việc K-184 sử dụng những động tác cơ động phi tiêu chuẩn khi phát hiện ra mình bị theo dõi, sự cơ động này cũng cho phép K-184 dứt khỏi sự đeo bám của Guardfish. Việc cơ động như vậy được David Minton nói trong bài báo của mình là có tính chất gây hấn, diễn ra ở tốc độ lớn, làm cho cá nhân tôi hết sức ngạc nhiên, bởi lẽ trong hoàn cảnh đó, tôi coi hành động của ông ta là hết sức thù địch và đặc biệt nguy hiểm. Cần nói rằng, sự theo dõi giống như vậy trong thời bình có thể dẫn đến va chạm và tai nạn, những ví dụ về việc này là khá nhiều...." Ngoài ra David Minton đã vi phạm chỉ dẫn của Bộ chỉ huy (của ông ta) về việc tiến hành theo dõi trong bí mật, khi mà sau đó, K-184 đã phát hiện kính tiềm vọng của Guardfish hôm 6 tháng 6 thì David Minton cần phải chấm dứt ngay lập tức sự theo dõi, nhưng ông ta lại không làm điều này, mà còn tiếp tục theo dõi chúng tôi đến tận ngày 9 tháng 6 tại những khoảng cách cực kỳ nguy hiểm, khiến trong một số khoang người ta có thể nghe được tiếng ồn chân vịt của Guardfish. Đeo bám theo dõi trong thời bình - đó mới chính là sự gây hấn. Một số nhận xét việc chuẩn bị cho chuyến đi: 1. Bộ Tham mưu Hạm đội Thái Bình Dương đã chuẩn bị hành trình theo lối rập khuôn. Một vài sỹ quan chuyên ngành trưởng của sư đoàn đã nhìn thấy hành trình, mà đó chính là sự vi phạm thô bạo nhất và nguyên nhân gây nên sự tiết lộ bí mật có thể xảy ra với những dữ kiện loại này. Sự đảm bảo cho con tàu (hậu cần-kỹ thuật) trước khi ra khơi là không có. Không tiến hành việc tìm kiếm có kiểm soát các tàu ngầm. 2. Việc trở về căn cứ được tiến hành theo hải trình cũ với chiều ngược lại, đây là điều cho phép các lực lượng và phương tiện chống ngầm của Nhật Bản và Hoa Kỳ chẳng cần chú ý gì nhiều cũng có thể dễ dàng đeo bám theo dõi tàu ngầm (chúng ta). 3. Trong giai đoạn chuẩn bị trước khởi hành, tất cả căn cứ trên bờ đều biết về chuyến đi đã sắp đặt trước này của con tàu. Công tác chuẩn bị không hề có công đoạn ngụy trang, không hề có các hành động nghi binh. Trong thời gian tiếp theo đó, đất nước chúng ta đã chế tạo được những chiếc tàu ngầm mà đặc tính kỹ-chiến thuật của chúng không hề thua kém các tàu ngầm Hoa Kỳ. Ví dụ cho điều này là tàu ngầm nguyên tử mới "Gepard", đã được trang bị cho Hạm đội hải quân của nước Nga." (http://flotic.ru/upload/blog/4d0//BerzinPubl_77.jpg) Kíp thủy thủ của tôi (K-184), năm 1973. (http://flotic.ru/upload/blog/4d9//BerzinPubl_78.jpg) TMT sư đoàn tàu ngầm 26 đại tá hải quân Nikolai Udovitchenko trao cho tôi một chú heo quay chúc mừng chiến dịch đi biển dài ngày và xạ kích tên lửa thành công (heo quay được chia cho toàn bộ kíp thủy thủ). (http://flotic.ru/upload/blog/5db//BerzinPubl_79.jpg) Tôi trao mâm heo quay cho trung sỹ đội trưởng đội thợ điện để chia cho mọi người. Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 30 Tháng Sáu, 2012, 11:49:35 am Cái bừa cỏ. Chuẩn đô đốc A.S.Berzin. (Nguồn: flot.com) Trong cuộc tập trận "Okean", tháng 4-tháng 5 năm 1970 tàu ngầm K-7 (đề án 675) đang bơi đơn trên đường đi qua biển Hoa Đông tại các thủy đạo tiếp cận đảo Okinawa. Thuyền trưởng tàu ngầm là trung tá hải quân Khvatov G.A., sỹ quan chỉ huy cao cấp của chiến dịch (старший на походе ) - phó tư lệnh sư đoàn tàu ngầm số 26 đại tá hải quân Golubev D.N., người mà từ những ngày đầu tiên của chiến dịch đi biển đã cấm thuyền trưởng sử dụng máy đo sâu bằng tiếng dội, radar và sonar. Thuyền trưởng tàu ngầm quyết định đi trên các lối dẫn vào eo biển gần đảo Okinawa, ông cho tốc độ tàu ngầm giảm thấp xuống, xác định vị trí dựa theo các thiên thể và hệ thống đạo hàng của nước ngoài. Như sau này phát hiện ra, trưởng ngành tác chiến 1 có kiến thức lý thuyết khá yếu về các hệ thống đạo hàng vô tuyến, và rất ít kinh nghiệm thực tế trong việc sử dụng chúng. (http://flot.com/upload/blog/a77//BerzinPubl2_61w.jpg) Đô đốc Khvatov Gennady Aleksandrovitch. Anh hùng Liên Xô Golubev Dmitri Nikolaevitch. Bầu trời bị những đám mây dày đặc che phủ, loại bỏ khả năng sử dụng thiên thể để xác định vị trí. Ngoài ra, trưởng ngành tác chiến 1, do sơ suất mà tính toán không đúng các tham số dòng hải lưu Kuro-Sivo, tốc độ của hải lưu đó ở các khu vực này lớn hơn 2 hải lý. Tất cả những điều trên dẫn đến một lỗi nghiêm trọng trong việc xác định vị trí. Tàu ngầm bơi trong tư thế ngầm về phía đảo Okinawa. Trong các khoang tàu người ta nghe thấy tiếng thân tàu nghiến vào lòng đất dưới biển. Theo lệnh thuyền trưởng trung tá hải quân Khvatov G.A., tàu ngầm nổi lên đến độ sâu 40 mét, sau mười phút, tiếng thân tàu cọ xát vào đất lại lặp lại. Sau đó, tàu ngầm nổi lên chiều sâu kính tiềm vọng, thuyền trưởng quan sát thẳng hướng tàu đang tiến qua kính tiềm vọng và nhìn thấy bờ biển đảo Okinawa, sau đó ông cho tàu lùi ra vùng nước sạch, xác định lại vị trí. Sai lệch về vị trí là bốn mươi dặm (74 km). Như ta thường nói, ở đây mọi bình luận đều thừa. Chúng ta hãy lưu ý rằng, sự cố xảy ra khi trên tàu đang hiện diện chỉ huy cao cấp của chiến dịch đi biển. Tại cùng cuộc tập trận "Okean" ấy, ngày 11 tháng 5 năm 1970 tàu ngầm K-122 (đề án 659T) đang bơi độc lập trên đường qua biển Hoa Đông. Thuyền trưởng tàu ngầm là đại tá hải quân Kopiev V.F., còn chỉ huy cao cấp hành quân - Phó tư lệnh sư đoàn tàu ngầm số 26 đại tá hải quân Suchkov L.F., đã ra lệnh cho thuyền trưởng tàu ngầm đo thủy văn đến độ sâu 240 mét. Đại tá hải quân Kopiev V.F. cùng với trưởng ngành tác chiến 1 đánh giá khu vực, có tính đến sự hiểu biết về vị trí của mình: lặn tới độ sâu 240 mét là không thể, bởi vì xác suất chạm đất rất lớn. Điều này được báo cáo cho đại tá hải quân Suchkov L.F., và ông ấy trả lời: "Đồng chí Kopiev, anh là một kẻ hèn nhát, hãy ghi vào nhật ký: Phó tư lệnh sư đoàn tàu ngầm số 26 đại tá hải quân Suchkov L.F. tiếp nhận chỉ huy tàu ngầm". Sau đó, đại tá hải quân Suchkov L.F. ra lệnh lặn đến độ sâu 240 mét để đo thủy văn. Còn chưa xuống đến độ sâu này, ở phía mũi đã vang lên tiếng kèn kẹt - tàu ngầm đã chạm đất. (http://flot.com/upload/blog/e74//BerzinPubl2_62.jpg) Kopiev Valentin Fedorovitch. Tại căn cứ, từ bầu che thủy động của trạm thủy âm người ta lôi ra một đống đá, sau này được sử dụng như là "quà lưu niệm từ các vùng lãnh thổ ở nước ngoài". Điều ngạc nhiên nhất là khi điều tra trường hợp này, người ta không tìm thấy bản ghi sự kiện trong nhật ký trực, mặc dù việc ghi chép đã được thực hiện. Thuyền trưởng tàu ngầm, đại tá hải quân Kopiev V.F., bị cách chức. Bình luận ở đây, như người ta nói, là thừa. Chúng ta hãy lưu ý rằng sự cố xảy ra trong sự hiện diện của chỉ huy cao cấp hành quân trên tàu. Trong chính sư đoàn này tại một trong các tàu ngầm đề án 675 khi hoàn thiện bài huấn luyện chiến đấu đã xảy ra một cú bổ nhào trái phép xuống đến độ sâu 305 m (độ sâu lặn tối đa cho phép là 300 mét). (http://flot.com/upload/blog/3dc//BerzinPubl2_63.jpg) Thuyền trưởng tàu ngầm trung tá hải quân Shipovnikov Yu.F., trưởng ngành tác chiến 5 trung tá hải quân Nadtochy, chỉ huy cao cấp hành quân - Phó tư lênh sư đoàn tàu ngầm 26 đại tá hải quân Golubev D.N. Sau khi lặn đến độ sâu kính tiềm vọng thì xuất hiện độ chênh mớn dọc, người ta giữ độ sâu theo máy đo độ sâu số 1 (dải chiều sâu 0 - 25 mét). Tiếp theo, thuyền trưởng ra lệnh lặn xuống độ sâu 80 mét, thuỷ thủ trưởng ngắt máy đo sâu số 1 và bắt đầu giữ độ sâu theo máy đo sâu số 2 (dải chiều sâu 0 - 160 mét), nhưng không kiểm tra sự kết nối của nó. Thuyền trưởng nghĩ rằng đã đóng mạch kết nối, ngoài ra van đã điều tiết áp lực, do đó máy đo độ sâu đã hiển thị độ sâu chậm trễ. Máy đo sâu số 3 hiện đang ngắt (dải chiều sâu 0 - 400 mét). Theo máy đo sâu số 2 tàu ngầm lặn xuống rất chậm, thuyền trưởng tăng tốc độ, nhằm đưa tàu ngầm xuống nhanh độ sâu 80 m, tàu ngầm vẫn lặn từ từ như cũ, từ các khoang cuối không thấy có báo cáo. Bỗng từ khoang số 9 có báo cáo của thủy thủ vận hành máy làm lạnh cho biết theo áp kế của anh ta thì áp suất nước bên ngoài thân tàu đạt 35 at. Chỉ khi đó phòng điều khiển trung tâm mới bừng tỉnh và bắt đầu hành động. Tất cả được xử lý ổn thỏa. Thuyền trưởng tàu ngầm và trưởng ngành tác chiến 5 bị cách chức. Tại hạm đội người ta đã phải ban hành hướng dẫn sử dụng các đồng hồ đo độ sâu, có vạch khắc và chữ đề thích hợp. Như ta vẫn nói, bình luận ở đây là thừa. Chúng ta hãy lưu ý rằng sự cố xảy ra khi có mặt trên tàu chỉ huy hành quân cao cấp. Và còn những gì nữa? Năm 1983, chiếc tàu ngầm K-429 đã bị chìm, một trong những lý do - ngắt máy đo sâu tại phòng điều khiển trung tâm khi cho tàu lặn!!! Ngày 14 tháng 6 năm 1973 tàu ngầm K-56 (đề án 675) và BPK "Vladivostok" trong đội hình hàng dọc (BPK "Vladivostok" - dẫn đầu) quay trở về căn cứ sau khi bắn xong tên lửa, đi theo tuyến đường thủy ven biển. Trên BPK "Vladivostok" chỉ huy cao cấp là tư lệnh binh đoàn tác chiến cơ động số 10 chuẩn đô đốc Kruglikov, trên K-56 chỉ huy cao cấp là phó tư lệnh sư đoàn tàu ngầm 26 đại tá hải quân Suchkov L.F. Trên tàu ngầm có 2 thuyền trưởng và thủy thủ đoàn hỗn hợp. Thuyền trưởng đi chuyển giao tàu ngầm - trung tá hải quân Chetyrbok A.I., thuyền trưởng đi tiếp nhận tàu - trung tá hải quân L.Khomenko. Khẩu đội của trung tá hải quân Khomenko thực hiện xạ kích tên lửa. Tình hình trong khu vực đi qua khá phức tạp: trời tối cả ngày, nhiều nơi có sương mù che phủ, tầm nhìn hạn chế. (http://flot.com/upload/blog/ed0//BerzinPubl2_64.jpg) Tàu ngầm nguyên tử cận vệ mang tên lửa hành trình đề án 675 "К-56". Ảnh chụp thời giữa những năm 196х. Lúc 01,05 giờ trên cầu điều hướng chỉ huy, người thực hiện trực ban là trợ lý chính của thuyền trưởng trung tá hải quân Petrov, người được phép tự mình chỉ huy tàu ngầm đề án 675. Hai thuyền trưởng và sư đoàn phó sư đoàn tàu ngầm 26 làm gì vào thời điểm này? Cả hai thuyền trưởng đang ở trong khoang thứ 2, còn đại tá hải quân Suchkov L.F. nghỉ ngơi trong cabin ở cùng khoang đó. Dưới đây, các độc giả đáng kính, các bạn có thể nghe được các câu trả lời riêng của họ, mà sau này họ nói với tôi. Trong khu vực mũi Povorotny, tàu ngầm đi vào vùng sương mù. Thời điểm này, radar đã tắt. Trên cầu điều hướng K-56 người ta phát hiện ra một con tàu dân sự ở phương vị 270 độ, hướng tiến hiện tại của tàu ngầm là 250 độ, tốc độ khoảng 10 hải lý, trung tá hải quân Petrov chỉ huy: "Cả hai tuabin đảo chiều! Sang mạn trái!". Tàu dân sự va vào phần mũi tàu ngầm ở khu vực khoang số 2, khoang này bị ngập nước hoàn toàn. Đó là tàu nghiên cứu khoa học "Viện sỹ Berg". Trợ lý Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương, chuẩn đô đốc Corban sau đó tính toán đối với vụ va chạm này bốn kịch bản hành động cho trợ lý chính của thuyền trưởng trung tá hải quân Petrov như sau: - Phương án dẫn đến vụ va chạm. - K-56 và "Akademik Berg" có thể tách xa nhau trong khoảng cách 500 mét. - K-56 và "Akademik Berg" có thể tách xa nhau trong khoảng cách 80 mét. - Va chạm trượt tới phần đuôi tàu. Trung tá hải quân Petrov đã chọn kịch bản đầu tiên! (http://flot.com/upload/blog/a9a//BerzinPubl2_65.jpg) Tại thời điểm cho đảo chiều tuabin, cả 2 thuyền trưởng chạy được ra khỏi khoang số 2, đúng lúc xảy ra va chạm kịp lao ra khỏi khoang có trưởng ngành hoá học, hai thủy thủ-cần vụ, thuyền phó chính trị, và 2 kỹ sư tên lửa - đại diện dân sự của căn cứ đảm bảo kỹ thuật-tên lửa. Lãnh đạo cuộc đấu tranh sinh tồn trong khoang 2 là trưởng ngành tác chiến 5 trung tá hải quân Pshenitchnyi L.M., người đã bịt kín vách ngăn phía đuôi tàu, cứu cho tàu ngầm thoát khỏi cái chết. Con người đó phải được trao tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô hay bây giờ là danh hiệu Anh hùng nước Nga! Chiến công đó sẽ tồn tại với thời gian. Trong khoang có 27 người thiệt mạng. Một số người tôi biết với tư cách cá nhân: - Phó tư lệnh sư đoàn tàu ngầm 26 đại tá hải quân Suchkov L.P. -Trưởng ngành tác chiến 5 trung tá hải quân Pshenitchnyi L.M. -Trợ trưởng ngành kỹ thuật vô tuyến điện tử sư đoàn thiếu tá hải quân Yakus V.A. -Trưởng ngành quân y thiếu tá Klimashevsky V. -Trợ lý thuyền trưởng tàu ngầm đại úy hải quân Batsuro -Trưởng nhóm điều khiển từ xa tàu ngầm thượng úy Markov. - Kỹ sư tên lửa thuôc bộ tham mưu hạm đội trung tá hải quân Loginov A. -Thủy thủ trưởng đội thủy âm chuẩn úy hải quân Semenychev - Phóng viên nhiếp ảnh chuẩn úy hải quân Donskii. ...... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 01 Tháng Bảy, 2012, 12:00:39 pm (tiếp)
Thuyền trưởng tàu ngầm trung tá hải quân Khomenko L. quyết định cho tàu ngầm tiếp đất tại vùng nước nông ven bờ. Lần đầu tiên và cuối cùng trong cuộc đời mình, trưởng ngành tác chiến 1 đại úy hải quân Yu.Mikhailov tìm kiếm trên bản đồ nơi tiếp đất cho tàu ngầm trên bãi đá nông, tốt nhất là trên cát. Điều đó cứu tàu ngầm thoát khỏi cái chết, bởi vì khoang số 1 cũng đã bắt đầu ngập nước. Tàu ngầm được lực lượng cứu nạn khẩn cấp của hạm đội (ACC-ASS) kéo trên các ponton về tới căn cứ. (http://flot.com/upload/blog/59d//BerzinPubl2_66.jpg) Маslov Vladimir Petrovitch. Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương. 1974-1979. Còn đây là tất cả những gì nhìn thấy từ phía những người trên bờ. Giữa ngày 14 Tháng Sáu một thông báo đến chỗ tôi cho biết tôi phải có mặt tại sư đoàn tàu ngầm 26 tầm 07,00 giờ ngày 15 tháng 6. Trong thời gian này, tôi đã biết rằng trên tàu ngầm K-56 đã có mặt Phó tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương, phó đô đốc Maslov và chuẩn đô đốc tư lệnh sư đoàn tàu ngầm 26 Verenikin I.I., tàu ngầm đang ở khu vực mũi Povorotny, cạnh nó là tàu cứu hộ. Thi thể những người chết đã được lấy khỏi khoang số 2 và đưa đến bệnh viện, nơi sẽ xét nghiệm chuyên môn nguyên nhân cái chết. Sau đó 27 tử thi được chuyển đến vịnh Strelok, tại đó tàu "Akademik Berg" đang neo ở cầu cảng, sau đó người ta quấn lưới đưa các thi thể vào buồng làm lạnh của tàu nghiên cứu khoa học. Ngày 15 tháng 6 lúc 07,00 giờ tôi có mặt ở sư đoàn tàu ngầm 26 dự họp. Tôi được đưa vào ủy ban tang lễ, được giao trách nhiệm đặt các quan tài tại nhà máy đóng tàu, đặt các thùng kẽm và bia tưởng niệm những người hy sinh. Trong nhà máy người ta bày tỏ sự hiểu biết và thông cảm với sự kiện này, tất cả được thực hiện kịp thời. Ngày 16 tháng 6 tôi đã có mặt trên tàu ngầm của mình trong vịnh Chazhma, nơi tôi phải cho tàu ngầm đến sửa chữa. Và cuối cùng, tàu cứu hộ "Zhiguli" kéo K-56 theo sau rồi đặt nó lên dock nổi. Trong khu vực khoang 2 có 2 ponton kẹp, lỗ thủng có kích thước là 2,5 mét vuông đã được bịt bằng một tấm bạt. Trên cầu điều hướng tháp chỉ huy của K-56 là Phó tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương, phó đô đốc Maslov, tư lệnh sư đoàn tàu ngầm 26 chuẩn đô đốc Verenikin I.I., thuyền trưởng tàu ngầm trung tá hải quân Khomenko L., và trợ lý chính của thuyền trưởng từ một tàu ngầm khác trung tá hải quân Gorokhov G.M., trợ lý chính của thuyền trưởng trung tá hải quân Petrov đã được đưa lên tàu "Balkhash", tại đó anh ta bị điều tra bởi một ủy ban đứng đầu là Phó Tổng tư lệnh Hải quân đô đốc Kasatonov, các đô đốc Novikov và Grishanov. Tôi nói chuyện được với thuyền trưởng tàu ngầm trung tá hải quân Khomenko L., anh ấy nói với tôi: "Sao vậy? Ở đây người ta coi tôi là kẻ giết người ư? Tôi đã chỉ huy tàu ngầm một cách đúng đắn sau khi va chạm. Tôi đang ngồi trong cabin khoang 2 và đang soạn một bức điện. Đột nhiên, tôi nghe người ta cho đảo tua bin, tôi chạy vào phòng điều khiển trung tâm, tại đó tôi cảm thấy rằng một cái gì đó đã va mạnh vào tàu ngầm, tôi nhảy lên cầu điều hướng tháp chỉ huy, nhưng đã quá muộn. (http://flot.com/upload/blog/afb//BerzinPubl2_67.jpg) Riga, trường dự bị hải quân Nakhimov, năm 1958. Trung tá hải quân Chetyrbok hốt hoảng la hét để người ta mở cửa ngăn giữa các khoang 2 và 3 cho người thoát khỏi khoang 2. Tôi không cho phép anh ta, mà đặt người của mình canh tại cửa. Bị kết án chắc chắn sẽ là Petrov." Sau đó tôi trao đổi với thuyền trưởng trung tá hải quân Chetyrbok A.I., anh ấy cho biết rất ít: "Tôi đang trực chỉ huy, sau đó thay tôi là trung tá hải quân Petrov trợ lý chính của thuyền trưởng, và tôi đi ngủ, tôi đã không đánh thức trung tá hải quân Khomenko L." Người ta cởi tấm bạt ra, hình ảnh trông thật khủng khiếp: vỏ bền rách toang, các cuộn cáp đứt tung, đi văng và đồ nội thất gẫy hỏng, các áo sơ mi màu kem của sỹ quan văng tứ tung. Đến dự đám tang có hơn 100 người thân trong các gia đình. Ngày 19 tháng 6, tôi tròn 40 tuổi, vào ngày này chúng tôi đi chôn cất các đồng chí của chúng tôi. Thi thể các nạn nhân được đặt trong phòng khánh tiết Nhà Sỹ Quan, 25 quan tài, có ấn tượng rằng họ đang ngủ, hầu hết họ vẫn còn giữ được những đường nét cũ của gương mặt, một lúc họ sẽ tỉnh dậy. Thi thể hai người khác đã được gửi về nhà ngày hôm trước theo yêu cầu của gia đình. Lúc 12,30 giờ một đoàn dài những người thân đi kèm với các bác sĩ di chuyển tới Nhà Sỹ Quan, họ đi trong im lặng, nhưng tốt hơn là không bao giờ phải thấy điều đó. Ngay khi đoàn đi vào hội trường, một bà mẹ già bắt đầu thốt lên những tiếng kêu đau buồn vô hạn: "Ah-ah-ah-ah-....." Lúc đầu, còn khẽ, sau đó to mãi và to mãi. Rồi thì từ tiếng kêu đó tất cả các thân nhân bắt đầu la hét, khóc lóc và rên rỉ đến mức có thể vì đau buồn mà phát điên. Nhiều người được mang đi trong trạng thái bất tỉnh. Sau đó người ta mang vòng hoa, huân chương rồi đến các quan tài đi. Đại tá hải quân Suchkov L.F. được đặt trên giá súng, những người còn lại đặt trên xe ô tô hai người một xe. Đầu đoàn người đã ra tới nghĩa trang, nhưng đuôi của nó vẫn còn ở Nhà Sỹ Quan. Tôi phải ở lại, bởi vì các sỹ quan của chúng tôi, các đại úy hải quân Kraev và Frolov, cũng như một vài thủy thủ từ trung tâm đào tạo phải đưa 6 người chết về quê. Dưới sự chỉ huy của tôi, 6 chiếc quan tài được đưa ra khỏi hội trường qua cửa bên, sau đó đưa tiếp qua cửa sổ vào phòng tập thể dục, nơi các thi thể được đặt vào trong quan tài kẽm, giúp chúng tôi là bác sỹ pháp y Morozov. Tiếp theo các sĩ quan khác đưa các quan tài đó (nặng 200 kg) về quê. Lúc 18,00 giờ người ta cử hành lễ tang. Nói những lời vĩnh biệt có: Tổng cục trưởng Huấn luyện chiến đấu (GPU- ГПУ), thành viên Hội đồng quân sự Hải quân Xô Viết đô đốc Grishanov, đô đốc Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương Smirnov N.I., chuẩn đô đốc tư lệnh sư đoàn tàu ngầm 26 Verenikin I.I. và một số người khác. Sau đó, cha mẹ những người hy sinh nhắc đến họ. Tất cả những lời phát biểu đều thấm đẫm tình yêu nước. Tôi ngạc nhiên trước sức chịu đựng của họ. Bà mẹ của thiếu tá hải quân Yakus đã mất chồng và hai con trai, đây là người con cuối cùng. Mẹ, vợ và con trai cả của đại tá hải quân Suchkov cũng phát biểu. Cả hai con trai của ông: cậu trai bé khi đó đang học tại trường Cao đẳng tàu ngầm Hải quân mang tên Đoàn Komsomol Lenin, còn cậu lớn lúc đó đã là một thượng úy tàu ngầm, sau này phục vụ đến cấp bậc chuẩn đô đốc hải quân, sẽ là người chỉ huy sư đoàn. Than ôi đó là cảnh mà tôi đã phải gặp đúng dịp kỷ niệm 40 năm ngày sinh của mình. Vậy ai bị trừng phạt và trừng phạt thế nào? - Không ai bị kết án. - Cách chức: chuẩn đô đốc Verenikin I.I., trung tá hải quân Khomenko L., trung tá hải quân Chetyrbok A.I. (http://flot.com/upload/blog/384//BerzinPubl2_69.jpg) Verenikin Igor Ivanovitch mất ngày 25 tháng 5 năm 2001, theo cuộc điện thoại cuối cùng thì ông đang chuẩn bị đến trường trung học № 86 của thành phố Ulianovsk, nơi người ta đợi ông, nhưng trái tim ông đã không chịu được. Do sự quan tâm của I.I.Verenikin mà tại Ulianovsk đã dựng lên một đài kỷ niệm những thanh niên của Hạm đội Biển Bắc thời Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại. Ông cũng đã kịp xây dựng một sưu tập hàng hải. Tại ngôi trường này ông đã xây dựng được một viện bảo tàng, mà người ta gọi theo tên ông đặt - Bảy foot dưới sống tàu. (http://www.monomax.sis.net.ru/main/view/article/254) Tại sao tàu ngầm K-56 được đặt tên là K-56? Khoảng năm 1963 chính phủ Liên Xô quyết định cho các tàu ngầm nguyên tử mới được mang danh hiệu của các tàu ngầm đã tham gia Chiến tranh vệ quốc Vĩ đại và kế thừa danh hiệu cận vệ của những tàu ngầm đó. Vậy là ngày 10 tháng 8 năm 1965 tại thành phố Komsomolsk na Amur đã hạ thủy chiếc tàu ngầm nguyên tử cận vệ K-56 (đề án 675), người thuyền trưởng đầu tiên - đại tá hải quân Kuznetsov Aleksandr Andreevitch. Trong những năm 1967-70 tàu ngầm K-56 đã thực hiện hai chiến dịch đi biển độc lập phục vụ chiến đấu với thời gian tổng cộng 98 ngày. Số hiệu của tàu ngầm được chuyển giao từ tàu ngầm S-56, con tàu cùng 5 tàu ngầm khác đã thực hiện vào năm 1943, chuyến di chuyển từ Hạm đội Thái Bình Dương sang Hạm đội Biển Bắc theo tuyến đường biển: qua Đại Tây Dương, qua kênh đào Panama, lại vượt Đại Tây Dương. Tại Hạm đội Biển Bắc S-56 đã tích cực tham gia chiến đấu. Vì các thành tích chiến đấu đạt được, tàu được tặng thưởng Huân chương Cờ Đỏ. Chỉ huy tàu ngầm là Anh hùng Liên Xô thiếu tá hải quân G.I.Shchedrin. Tổng cộng, tàu ngầm S-56 đã đánh chìm 10 tàu chiến và tàu vận tải. Có hai trường hợp mà chỉ bằng một loạt xạ kích tàu đã đánh chìm 2 tàu địch. Tàu đã vượt thoát thành công sự săn đuổi của các tàu chống ngầm của đối phương, suốt một ngày đêm trong một chuyến hành quân của con tàu, kẻ địch đã thả xuống hơn 300 trái bom chìm. Tới năm 1944, tàu ngầm đã trở thành tàu ngầm cận vệ Cờ Đỏ, thủy thủ đoàn S-56 đoạt được danh hiệu đó bằng kỹ năng, lòng can đảm của mình và ý chí giành chiến thắng. Mỗi con tàu đều có số phận riêng của nó, và do đó có lẽ nó không nên mang tên chuyển từ một con tàu khác sang, những anh hùng của nước Nga như vậy sẽ không bao giờ bị lãng quên! Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 01 Tháng Bảy, 2012, 09:28:54 pm Bản Saga tuần dương năm 1972 của Guardfish (nguồn: guardfish.org (http://www.guardfish.org/missions/saga_of_the_1972_guardfish_patrol.htm))
(http://www.guardfish.org/missions/images/Bear%20F.jpg) (http://www.guardfish.org/missions/images/Charlie%20II.JPG) Từ trên xuống dưới, nhìn qua kính tiềm vọng: Tu-16, Tu-95 và Charlie.Mùa hè năm 1972, tàu ngầm Guardfish (SSN-612) đang triển khai ở biển Nhật Bản khi mà các sự kiện trên thế giới đã đẩy thuyền trưởng của nó, trung tá hải quân David C.Minton III, và thủy thủ đoàn của ông tham gia vào một cuộc phiêu lưu để đời. Ngày 9 tháng 5, chiến tranh Việt Nam đã nóng lại khi cuộc đàm phán hòa bình tai Pari đổ vỡ, và các lực lượng của chúng ta đã bắt đầu thả thủy lôi phong tỏa cảng Hải Phòng và các cảng quan trọng khác của Bắc Việt Nam. Mục đích cuộc phong tỏa nhằm ngăn chặn quân đội Bắc Việt Nam mà cuộc tiến công của họ đang được tiếp tế bằng đường biển bởi các đồng minh cộng sản. Tàu Guardfish đã nhận được điện tín thông báo về khả năng sẽ có sự đáp trả bằng hải quân từ phía những người Xô viết. Tình hình thế giới rất căng thẳng. Không ai biết Liên bang Xô viết sẽ phản ứng thế nào trước cuộc phong tỏa thủy lôi này. Tàu ngầm Guardfish đang ở độ sâu kính tiềm vọng tại một vị trí gần căn cứ hải quân lớn nhất của người Xô viết tại Thái Bình Dương. Vào chiều tối ngày 10 tháng 5, một mục tiêu tiếp xúc bề mặt bị phát hiện ở ngoài kênh và nó đang di chuyển với tốc độ cao cắt ngang các đường giới hạn thông thường của kênh thủy đạo và hướng thẳng về phía tàu ngầm Guardfish đang chờ đợi. Khi tiếp xúc lại gần hơn nữa trong bóng tối đang sẫm lại, chúng tôi đã xác định được một cách trực quan đó là một tàu ngầm tên lửa Xô viết lớp Echo-2. Tàu ngầm đó có lượng giãn nước 5000 tấn, được cấp nguồn năng lượng từ lò phản ứng hạt nhân, mang theo 8 tên lửa Shaddock diện-diện (surface-to-surface missiles) có thể bắn trúng các mục tiêu ở khoảng cách lên đến 200 dặm. Guardfish bám theo nó. Chẳng mấy chốc Echo-2 lặn sâu xuống nước tiến theo hướng Đông-Nam với vận tốc lớn. Đó phải chăng là cuộc xuất kích đáp trả sự phong tỏa Hải Phòng bằng thủy lôi? Trong hai ngày sau, tàu ngầm Liên Xô thường xuyên giảm tốc độ dành nhiều thời gian lặn ở độ sâu kính tiềm vọng, có thể để nhận các mệnh lệnh chi tiết từ tư lệnh hải quân chỉ huy nó. Trong khi lắng nghe Echo, Guardfish cũng bơi chậm lại, điều đó mở rộng đáng kể phạm vi phát hiện của sonar trên tàu. Trước sự ngạc nhiên của thủy thủ đoàn và sự báo động, có lẽ họ đã phát hiện ít nhất hai và có thể là ba chiếc tàu ngầm Liên Xô trong khu vực. Một tàu ngầm đã rất khó theo dõi, đeo bám ba hoặc bốn tàu ngầm là điều không thể! Vì vậy họ tập trung mọi nỗ lực duy trì tiếp xúc với Echo II mà họ đã xác định được bằng trực quan. (http://www.guardfish.org/missions/images/Delta%201%20(2).JPG) (http://www.guardfish.org/missions/images/Delta%20I.JPG) Tàu ngầm tuần dương chiến lược mang tên lửa đạn đạo Delta qua kính tiềm vọng.Khi Echo II tiếp tục di chuyển tới lối ra phía nam của Biển Nhật Bản, thuyền trưởng phải thực hiện hai quyết định quan trọng. Thứ nhất, việc triển khai của ba, cũng có thể là bốn tàu ngầm Liên Xô có đáng để phá vỡ sự im lặng vô tuyến điện hay không? Ưu tiên số một trong tất cả các chiến dịch giám sát tàu ngầm là phải cung cấp được sự cảnh báo sớm về một cuộc triển khai bất thường của các tàu hải quân Liên Xô. Đây là loại báo cáo, gọi là báo cáo khẩn, chưa bao giờ được gửi đi trước đây. Thuyền trưởng xác định rằng bây giờ là lúc cho Guardfish phá vỡ sự im lặng đó và ông đã thông báo cho chỉ huy chiến dịch biết tình hình tại chỗ. Thứ hai, Guardfish nên từ bỏ nhiệm vụ giám sát của mình trong Biển Nhật Bản để tiếp tục bám theo chiếc tàu ngầm Liên Xô? Lệnh hoạt động về trường hợp này vẫn im lặng chưa thấy tới, nhưng thuyền trưởng có cảm giác rằng người chỉ huy chiến dịch của họ muốn biết nơi người Xô viết sẽ đến. Bởi vì ông không thừa thãi thời gian để chờ đợi mệnh lệnh nên ông viện dẫn một tín điều bí mật của các chỉ huy tàu ngầm, "Không có can đảm, sẽ không có dải băng anh hùng". Và thế là họ theo đường của họ! Theo dõi là một nhiệm vụ phức tạp. Đối với một chiếc tàu ngầm để không bị phát hiện thì vị trí tiếp xúc, và đương nhiên, cả tốc độ của nó cũng phải được xác định bằng cách sử dụng các phương vị sonar thụ động. Dải thụ động đòi hỏi Guardfish cần liên tục cơ động để tạo ra phương vị thay đổi so với đối tượng tiếp xúc. Quá gần bạn có thể bị phát hiện, quá xa tiếp xúc có thể bị mất. Những thao tác cơ động này thường được tiến hành trong khu vực lạc hướng của đối tượng tiếp xúc, điểm mù phía đuôi tàu. Tàu ngầm Echo II hàng giờ đảo hướng để xóa khu vực lạc hướng này (baffle area). Đôi khi đó là cú ngoặt rất thụ động đến 90 độ để sonar của con tàu có thể lắng nghe mọi điều đằng sau nó và vào các thời điểm khác, con tàu lại chủ động quay 180 độ và phóng thật nhanh trở lại theo hướng cũ về phía Guardfish. Thao tác cơ động này rất nguy hiểm tạo ra khả năng một vụ va chạm thực sự. Ít nhất nó sẽ tạo ra cơ hội phát hiện sự hiện diện của Guardfish khi khoảng cách giữa 2 tàu ngầm gần lại. Khi Echo thực hiện thao tác cơ động xóa vùng mù thủy âm, Guardfish cố gắng dự đoán Echo-II sẽ quay hướng nào, nhằm bám theo một cách vô hình tàu ngầm Xô viết từ phía đối diện. Ngoài ra, Guardfish còn phải ngay lập tức giảm tốc độ sao cho im lặng đến mức có thể và dành nhiều thời gian và tăng khoảng cách hơn nữa cho đến khi Echo II quay trở lại hướng di chuyển trước đây của nó. (http://www.navsource.org/archives/08/0861211.jpg) ......Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 02 Tháng Bảy, 2012, 01:06:49 am (tiếp)
(http://www.guardfish.org/missions/images/Sovremenny.JPG) Sovremenny. Ở Washington người ta cần có các báo cáo tình hình thường xuyên để đánh giá mối đe dọa và ý đồ của các lực lượng Xô Viết. Tổng thống Nixon và Cố vấn An ninh Quốc gia của ông hàng ngày được giới thiệu các phúc trình tóm tắt. Do việc truyền sóng radio tần số cao công suất lớn từ Guardfish là đối tượng để phát hiện và định vị bởi mạng lưới chặn bắt sóng điện từ của Liên Xô, một phương pháp liên lạc thay thế đã được thiết lập. Máy bay chống ngầm P-3 của Hải quân đã bay những phi vụ bí mật trên các vị trí dự đoán có Guardfish và nhận được các báo cáo tình hình thông qua các bản tin ngắn phát trên tần số siêu cao hoặc trực tiếp từ Guardfish ở độ sâu kính tiềm vọng hoặc thông qua các phao phát tín theo khe thời gian, các bộ truyền phát tiêu hao nguồn nhỏ có thể lập trình với một bản tin ngắn và phóng ra từ bộ ejector tín hiệu (signal ejector) trong khi Guardfish vẫn đang ở độ sâu theo dõi. (http://www.hnsa.org/doc/pyro/img/fig033.jpg) Figure 33.-Submarine Signal Ejector (http://www.hnsa.org/doc/pyro/part3.htm) Trong gian đoạn theo dõi này, bất kỳ tàu ngầm nào đang ở trên Thái Bình Dương đều được triển khai khẩn trương nhằm đảm bảo an toàn cho các tàu sân bay đang hoạt động ngoài khơi duyên hải Việt Nam, cũng như để dò tìm các tàu ngầm Xô viết. Sự triển khai này tạo thành một vấn đề nhiễu loạn qua lại, đối với bản thân tàu ngầm Guardfish, cũng như đối với bộ tham mưu chiến dịch hoạt động tàu ngầm này. Guardfish được trao nhiệm vụ đến bất cứ nơi nào mà tàu ngầm Echo Xô viết đi tới và bộ tham mưu phải tái bố trí sự triển khai các tàu ngầm thường xuyên để đảm bảo rằng nhiều tàu ngầm Mỹ êm hơn sẽ không gây nguy hiểm cho nhau hoặc cho bản thân Guardfish. (http://www.guardfish.org/missions/images/Echo%20II.JPG) Echo-II. (http://www.guardfish.org/missions/images/Kiev%20II.JPG) Tuần dương hạm hạng nặng chở máy bay Kiev. Một lần khi đang ở trong biển Philippine Echo II quay về phía tây nam tiến theo hướng đến Bashi Channel, một eo biển giữa Đài Loan và các đảo nhỏ phía bắc đảo Luzon quần đảo Philippine. Bashi Channel thường được dùng như thủy đạo bắc vào biển "Nam Trung Hoa" và thuyền trưởng phải chắc chắn rằng đó là mục tiêu của Echo II, nhưng dấu vết của họ lại tiếp tục dẫn về phía nam so với hướng bình thường. Sau đó, Echo II đi chậm lại và chuyển lên chiều sâu kính tiềm vọng rồi tiếp tục chủ động đi rất nhanh dựa trên máy dò sâu của mình có thang đo ngắn không phù hợp với độ sâu của nước ở khu vực này. Tàu ngầm đã mất dấu! Trong khi ở độ sâu kính tiềm vọng, con tàu Xô viết chắc đã phải thu nhận được một sự chỉnh sửa tốt bởi vì Echo II đã lặn xuống sâu, hướng về Bashi Channel, tăng tốc độ lên 16 hải lý. Sau khi báo cáo về sự điều chỉnh hướng nhanh chóng này qua các phao phát tín hiệu, Guardfish tăng tốc phóng theo tàu Xô viết, biết rằng việc tái định vị các tàu ngầm Mỹ sẽ gần như là không thể nếu dựa trên bản tin ngắn này. Như là một biện pháp phòng ngừa chống va chạm với một tàu ngầm Mỹ, thuyền trưởng thay đổi độ sâu đến 100 mét, độ sâu thường được sử dụng bởi các tàu ngầm Liên Xô và đó là độ sâu mà các tàu ngầm Hoa Kỳ thường tránh. Mối lo sợ của ông đã được chứng minh khi Guardfish phát hiện một tàu ngầm của Mỹ đang tiến xa về phía bắc với tốc độ rất cao. Ngày 18 Tháng 5 Echo II đi vào Biển "Nam Trung Hoa" (Biển Đông) và chuyển đến một điểm ngoài khơi cách bờ biển đảo Luzon khoảng 300 dặm. Trong tám ngày, nó thiết lập lưới cơ động chậm rãi tạo nên một khu vực tuần tra hình chữ nhật cách xa khoảng 700 dặm tới tuyến mà các tàu sân bay của chúng ta đang di chuyển dọc theo bờ biển Việt Nam và vượt xa ngoài phạm vi xạ kích tên lửa 200 dặm của nó. Trong khi nhóm theo dõi phải vật lộn để duy trì tiếp xúc với Echo II, các sự kiện trên thế giới đang chuyển sang xu hướng hòa bình hơn. Sau các cuộc đàm phán lâu dài, Tổng thống Nixon đã đến Moskva tham dự hội nghị thượng đỉnh lịch sử của mình với Tổng Bí thư Brezhnev của Liên Xô. Trong thời gian hội nghị thượng đỉnh, ngày 24 tháng 5, Cố vấn An ninh quốc gia Kissinger thông báo cho Brezhnev rằng Hoa Kỳ đã biết việc Liên Xô triển khai các tàu ngầm và sự hiện diện của họ quá gần khu vực Chiến tranh Việt Nam là một hành động khiêu khích và cực kỳ nguy hiểm. Trong hai ngày kể từ cuộc đối chất này, người Liên Xô nhắm mắt làm ngơ và tàu ngầm Echo bắt đầu hướng về phía bắc. (http://www.guardfish.org/missions/images/patrol_1.jpg) (http://www.guardfish.org/missions/images/patrol_2.jpg) (http://www.guardfish.org/missions/images/patrol_3.jpg) (http://www.guardfish.org/missions/images/patrol_4.jpg) Sau khi vượt qua Bashi Channel tàu ngầm Echo thiết lập một khu vực tuần tra thứ hai trong biển Philippine về phía nam đảo Okinawa. Khu vực này của đại dương có những đặc tính về thủy âm tồi nhất đến mức có thể. Nó thường bị đan chéo bởi các giao thông thương mại dày đặc và vào ban đêm tiếng ồn sinh học và các cơn mưa thường xuyên làm nhiễu loạn sonar. Duy trì tiếp xúc trở nên khó khăn hơn so với trước đây, làm cho Guardfish cần phải bám đuổi ở những khoảng cách gần hơn và gần hơn nữa. Một thủ tục dài nhằm chuyển sự theo dõi cho một tàu ngầm khác của Mỹ, vừa được phát triển bởi bộ tham mưu, được phát trên mạng truyền tin rộng rãi. Trong khi Guardfish đang ở độ sâu kính tiềm vọng sao chép tin nhắn khẩn cấp này, tàu ngầm Echo II đã bất ngờ nổi lên độ sâu kính tiềm vọng và phát hiện trực quan được Guardfish. Các thao tác cơ động tiếp theo của cả Guardfish và Echo II diễn ra rất mãnh liệt và ở tốc độ cao. Việc cố giữ tiếp xúc cảnh báo được chứng minh là không thể và tiếp xúc với Echo II đã bị mất. Khi Guardfish trở về Guam vào ngày 10 tháng 6, thủy thủ đoàn đã bơi ngầm 123 ngày với chỉ 8 ngày ngừng đi biển để sửa chữa. Họ đã thực hiện hai hoạt động có yêu cầu đặc biệt bao gồm cuộc theo dõi 28 ngày tàu ngầm Xô viết Echo II trong những điều kiện cực kỳ căng thẳng, nhưng tinh thần của Guardfish cực kỳ cao. Các sĩ quan và thủy thủ đoàn tự hào rất chính đáng về những gì họ đã hoàn thành. END (http://www.guardfish.org/missions/images/Victor%20III.JPG) Victor-II. Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 02 Tháng Bảy, 2012, 01:36:20 pm Sư đoàn tàu ngầm số 10 (1976 - 1982). A.S.Berzin. (http://flotic.ru/upload/blog/34b//10DiPL_1.jpg) (nguồn : flot.com) Sư Đoàn tàu ngầm 10 được thành lập tháng 7 năm 1955, nó bao gồm các lữ đoàn tàu ngầm 125 và 182. Chuẩn đô đốc Aleksei Mikhailovitch Gontaev được bổ nhiệm làm sư đoàn trưởng. Một vài năm sau đơn vị giải thể. Tháng 3 năm 1967, người ta thành lập một đơn vị mới gọi là sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Vào thời điểm đó, tôi đang phục vụ trên cương vị trợ lý chính cho thuyền trưởng tàu ngầm K-31 đề án 675 (thuyền trưởng đại tá hải quân V.K.Kalukhin). Chúng tôi sống tại một tầng của doanh trại cùng các thành viên thủy thủ đoàn tàu ngầm K-189 đề án 675 (đại tá hải quân N.D.Udovitchenko). (http://flotic.ru/upload/blog/b26//10DiPL_2.jpg) Thuyền trưởng K-189 đại tá hải quân Nikolai Danilovitch Udovitchenko (trái) và trưởng ngành tác chiến 5 trung tá hải quân A.A.Krivul. Nhiệm vụ phục vụ chiến đấu, năm 1966. - Sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Con người, sự kiện, con tàu. - St Petersburg, năm 2005. Số đặc biệt nguyệt san Taifun. Cả hai tàu ngầm cùng nằm trong đội hình sư đoàn. Năm 1967 đại tá hải quân A.V.Ganrio được bổ nhiệm chỉ huy sư đoàn, tham mưu trưởng - đại tá hải quân V.P.Ryabov, phó sư đoàn trưởng - đại tá hải quân V. 1 G.Tumanov, phó sư đoàn trưởng chính trị - đại tá hải quân E.E.Popov. Đó là những thủy thủ tàu ngầm thông minh và dạn dày kinh nghiệm, những nhà giáo dục tài năng. Với E.E.Popov tôi đã phục vụ cùng tại Hạm đội Baltic trên tàu ngầm S-264 (thuyền trưởng thiếu tá hải quân Yu.A.Sysoev): khi đó ông là thuyền phó chính trị, còn tôi là chỉ huy nhóm bánh lái ngành tác chiến 1. (http://flotic.ru/upload/blog/011//10DiPL_3w.jpg) Ganrio Аrkady Viktorovitch, Riabov Vilen Petrovitch, Viktor Grigorievitch Tumanov. Trên K-31, chúng tôi thực hiện một nhiệm vụ trực ban chiến đấu ba tháng trong vịnh Bechevinskaya. Từ trạng thái trực chiến chúng tôi chuyển sang thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu tại khu vực bờ biển phía tây Hoa Kỳ với nhiệm vụ giáng đòn tấn công bằng tên lửa P-5 Đ vào các đối tượng trên bờ trong khu vực duyên hải khi bắt đầu chiến sự. K-189 đã hoàn thành xạ kích tên lửa một cách thành công. Một lần nữa số phận lại gắn bó tôi với sư đoàn tàu ngầm số 10 vào tháng 9 năm 1976 khi tôi được bổ nhiệm làm sư đoàn phó chính sư đoàn này. Đơn vị đóng quân ở Kamchatka. Trong vịnh Krasheninnikov thời điểm này đang có phân hạm đội tàu ngầm số 2 đóng quân, lúc đó chỉ huy phân hạm đội là phó đô đốc B.I.Gromov, Tham mưu trưởng là chuẩn đô đốc G.F.Avdokhin, phó tư lệnh chính trị - thành viên Hội đồng quân sự, chuẩn đô đốc I.A.Katchenkov. (http://flotic.ru/upload/blog/992//10DiPL_4w.jpg) Gromov Boris Ivanovitch, Аvdokhin Gennady Fedorovitch. Trong thành phần phân hạm đội tàu ngầm số 2 có sư đoàn tàu ngầm số 8 (chuẩn đô đốc N.T.Ivanov), sư đoàn tàu ngầm 25 (chuẩn đô đốc V.V.Privalov), sư đoàn tàu ngầm 45 (chuẩn đô đốc V.I.Zamorev) , sư đoàn tàu ngầm số 10 (chuẩn đô đốc A.N.Lutsky). Tham mưu trưởng sư đoàn tàu ngầm số 10 là đại tá hải quân O.A.Krestovsky, phó sư đoàn trưởng, đại tá hải quân A.S.Berzin, chủ nhiệm chính trị -trung tá hải quân V.M.Pogrebnykh. (http://flotic.ru/upload/blog/577//10DiPL_6.jpg) Từ trái sang: Các chuẩn đô đốc Belashev V.G., Lutsky A.N., Berzin А.S., Alkaev N.N. - Sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Con người, sự kiện, con tàu. - Saint-Petersbourg, 2005. Số đặc biệt nguyệt san Taifun. Chỉ huy sư đoàn tàu ngầm số 10 là chuẩn đô đốc Arkady Viktorovitch Ganrio (1967-1971), chuẩn đô đốc Victor Grigorievitch Belashev (1971 -1974), chuẩn đô đốc Anatoly Lutsky (1974-1977), chuẩn đô đốc Alfred Semenovitch Berzin (1977 - 1982), đại tá hải quân Nikolai Nikolaevitch Alkaev (1982-1986), chuẩn đô đốc Anatoly Aleksandrovitch Komaritsyn (1986-1989), chuẩn đô đốc Valery Fedorovitch Dorogin (1989-1991), chuẩn đô đốc Grigory Lukitch Butakov (1991-1994), chuẩn đô đốc Ilya Nikolayevich Kozlov (1994-2000), chuẩn đô đốc Nikolai Grigorievitch Kovalevsky (2000-2003). (http://flotic.ru/upload/blog/2c2//10DiPL_7.jpg) Các chuẩn đô đốc A.A.Komaritsyn, G.L. Butakov, V.F.Dorogin, N.G.Kovalevsky - Sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Con người, sự kiện, con tàu. - Saint-Petersbourg, 2005. Số đặc biệt nguyệt san Taifun. Trong giai đoạn 1976-1982 tại bộ tham mưu sư đoàn tàu ngầm số 10 có các sỹ quan sau đây phục vụ (liệt kê theo thứ tự nhiệm kỳ): - Tham mưu trưởng: đại tá hải quân O.A.Krestovsky (xem các thuyền trưởng tàu ngầm K-3 "Leninsky Komsomol" - các học viên tốt nghiệp trường dự bị hải quân Nakhimov, học viên trường Nakhimov Leningrad và các bạn đồng lớp. Phần 9.), đại tá hải quân N.N.Alkaev, đại tá hải quân A. A.Gusev; - Phó sư đoàn trưởng: các đại tá hải quân N.V.Anokhin, V.T.Kozlov, A.A.Shikov, A.F.Kopiev, A.O.Gubanov; - trưởng ngành hoa tiêu: trung tá hải quân E.I.Gorenko, thiếu tá hải quân A.B.Elupov; - trưởng ngành tên lửa: các trung tá hải quân Gudzenko, S.R.Kasko; - trợ lý trưởng ngành tên lửa: thiếu tá hải quân A.I.Miruschenko; - trưởng ngành thủy lôi: trung tá hải quân S.S.Kuzmenko; - trưởng ngành truyền tin: các trung tá hải quân Stepanov, A.S.Rostovtsev; - trưởng ngành thông tin VTĐT: thiếu tá hải quân Danilchenko, trung tá hải quân N.A.Ivlev; - trưởng ngành tác chiến điện tử: trung tá hải quân V.G.Pantyushenkov; - trưởng ngành trinh sát: trung tá hải quân A.A.Vvedensky; - trưởng ngành cứu hộ- cứu nạn: thiếu tá hải quân P.L.Soin, thiếu tá quân y Yashkin; - trưởng ngành quân y: các trung tá quân y Firsov, A.F.Andreev; - trưởng ngành hóa học: các trung tá hải quân Bratchikov, A.I.Yanykin,; - trợ lý chính tham mưu trưởng: trung tá G.Ya.Apryshkin, đại úy hải quân O.Yu.Rodionov; - sỹ quan trợ lý cán bộ: thiếu tá hải quân V.V.Shabanov. Công tác cơ điện của đơn vị (chức trách - sư đoàn phó cơ điện hàng hải) do các sỹ quan sau tiếp nhau đảm nhiệm: các đại tá hải quân L.E.Baklashov và S.A.Moskalenko. Các sỹ quan cơ điện hàng hải của sư đoàn: các trung tá hải quân I.N.Mikhalevsky, V.I.Gradusov, V.N.Vyalov, G.A.Bosy, Yu.M.Zybin, thiếu tá hải quân V.P.Kravtsov. Cơ quan chính trị sư đoàn (phụ trách - chủ nhiệm chính trị) do đại tá hải quân V.M.Pogrebnykh lãnh đạo. Các cấp phó của ông lần lượt là trung tá hải quân A.M.Bely, N.F.Matyushin, V.Ya.Tokarev. Các sỹ quan công tác chính trị: trung tá hải quân Malashenko, thiếu tá hải quân Smyslov, thiếu tá hải quân R.Kh.Tskhovrebov, đại úy hải quân A.M.Chukarev. Trong đội hình sư đoàn tàu ngầm số 10 năm 1976 có các tàu đề án 675 (K-10, K-108 K-116 K-134 K-189), 675K (K-48), 670 (K -201) và 2 thủy thủ đoàn dự bị: thủy thủ đoàn 273 (tàu ngầm đề án 675) và thủy thủ đoàn tàu ngầm 305 (tàu ngầm đề án 670). (http://flotic.ru/upload/blog/2f7//10DiPL_9.jpg) Tàu ngầm đề án 675 - Sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Con người, sự kiện, con tàu. - Saint-Petersbourg, 2005. Số đặc biệt nguyệt san Taifun. Trong giai đoạn 1976-1982 các sỹ quan sau chỉ huy các tàu ngầm và các thủy thủ đoàn của sư đoàn tàu ngầm số 10. Tàu ngầm nguyên tử đề án 670: K-43 (trung tá hải quân N.Ya.Maryashin), K-201 (đại tá hải quân N.D.Koltsov, đại tá hải quân A.A.Shikov, trung tá hải quân B.G.Blednov), K-212 (trung tá hải quân A.A.Gusev, trung tá hải quân L.G.Lupatch), K-320 (trung tá hải quân V.T.Anikin), K-325 (trung tá hải quân V.P.Lushin, trung tá hải quân V.P.Valuev), K-429 (đại tá hải quân V.T.Komov, trung tá hải quân A.O.Gubanov, trung tá hải quân E.V.Myakishev). Thủy thủ đoàn tàu ngầm số 305 (thiếu tá hải quân A.F.Kopiev, trung tá hải quân V.F.Dorogin, trung tá hải quân Yu.N.Sysuev), thủy thủ đoàn tàu ngầm 379 (đại tá hải quân N.M.Suvorov, trung tá hải quân Yu.A.Belotserkovsky), thủy thủ đoàn tàu ngầm 228 (trung tá hải quân G.A.Sorokin). Các tàu ngầm nguyên tử đề án 675, 675K, 675MK: K-10 (đại tá hải quân V.A.Tushurashvili, trung tá hải quân V.N.Medvedev), K-48 (đại tá hải quân N.V.Anokhin, trung tá hải quân V.I.Rovensky). K-108 (trung tá hải quân V.L.Ratnikov). K-116 (trung tá hải quân Yu.G.Shestak). K-134 (trung tá hải quân L.B.Shaipov, trung tá hải quân Gulbin), K-144 (trung tá hải quân A.A.Isai), K-175 (trung tá hải quân A.A.Krylov, trung tá hải quân G.S.Yakovlev), K-184 (trung tá hải quân E.V.Orsagosh), K-204 (đại tá hải quân A.A.Chernyshev), K-557 (trung tá hải quân Yu.G.Pischalnikov), thủy thủ đoàn tàu ngầm 273 (đại tá hải quân A.G.Smirnov, trung tá hải quân T.L.Moskalenko). (http://flotic.ru/upload/blog/c4b//10DiPL_10.jpg) Tàu ngầm đề án 670 - Sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Con người, sự kiện, con tàu. - Saint-Petersbourg, 2005. Số đặc biệt nguyệt san Taifun. Các quân nhân sư đoàn được bố trí ăn ở trong 2 doanh trại 4 tầng. Bộ tham mưu sư đoàn có 2 xe u oát và một xuồng máy RK-811. Tôi chỉ huy sư đoàn tàu ngầm số 10 tại Kamchatka trong giai đoạn từ ngày 31 tháng 8 năm 1977 đến tháng 8 năm 1982 Trong thời gian này, các thuyền trưởng tàu ngầm là các sĩ quan sau đây: các đại tá hải quân Viktor T. Anikin, Nikolai Vasilevitch Anokhin, Vladimir Prokopovich Valuev, Anatoly Olegovitch Gubanov, Aleksei Alekseevitch Gusev, Valery Fedorovitch Doroghin, Valentin Tikhonovich Kozlov, Nikolai Dmitrievitch Koltsov, Aleksandr Fedorovitch Kopiev, Anatoliy Afanasievitch Krylov, Emil Vasilevitch Orsagosh, Aleksandr Grgorievitch Smirnov, Nikolai Mikhailovitch Suvorov, Anatoly Chernyshev, Aleksandr Aleksandrovitch Shikov; các trung tá hải quân Slavi Dmitrievitch Bezukhov, Yuri Alekseevitch Belotserkovsky, Boris Gavrilovitch Blednov, Yuri Vasilevitch Gulbin, Andrei Andreevitch Isai, Leonid Zakharovitch Lupach, Nikolai Yakovlevich Maryashin, Valery Nikolaevitch Medvedev, Taras Lavrentievich Moskalenko, Evgheny Viktorovitch Myakishev, Youri Grigorievitch Pishchalnikov, Vladislav Leonidovich Ratnikov, Vladislav Leonidovitch Rovno, Gennady Aleksandrovitch Sorokin, Leonid Borisovitch Shaipov, Yuri Grigorievitch Sestak, Gennady Stanislavovitch Yakovlev. (http://flotic.ru/upload/blog/b31//10DiPL_11.jpg) Xin kính chào và bày tỏ lòng biết ơn to lớn tất cả các thuyền trưởng tàu ngầm vì lao động không dễ dàng của họ trong sự nghiệp nâng cao tình trạng sẵn sàng chiến đấu của sư đoàn. Toàn bộ những gì tôi có thể nói đó là họ - những con người có phẩm chất đạo đức cao, những người được Tổ quốc tin cậy trao cho các tàu ngầm nguyên tử mang vũ khí vũ khí thông thường và vũ khí hạt nhân. Họ yêu biển, yêu Hải quân của chúng ta và luôn luôn sẵn sàng thực hiện các nhiệm vụ khó khăn nhất nhằm bảo vệ Tổ quốc của chúng ta. Vào lúc tôi nhậm chức, Bộ Tổng tham mưu Hải quân đặt ra trước sư đoàn tàu ngầm số 10 nhiệm vụ di chuyển các tàu ngầm K-10, K-48, K-108, K-116, K-134 và K-189 về Primorye (bổ sung vào đội hình phân hạm đội tàu ngầm số 4 ), và thay cho số tàu ngầm đó tiếp nhận 5 tàu ngầm sau khi bảo trì và nâng cấp sang đề án 675MK (K-144, K-175, K-184, K-204, K-557). Ngoài ra, Bộ TTM còn lên kế hoạch chuyển các tàu ngầm đề án 670 từ Hạm đội Biển Bắc sang đội hình sư đoàn tàu ngầm số 10 (K-43, K- 212, K-320, K-325, K-429 và thủy thủ đoàn số 379). Nhiệm vụ này đã được hoàn thành. Như vậy, trong thời kỳ chỉ huy của tôi, đội hình sư đoàn đã thay đổi 100%. Tất cả các nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu trước khi di chuyển từ Primorye tới Kamchatka, bao gồm tiến hành xạ kích ngư lôi và một phần xạ kích tên lửa, đối với các tàu ngầm đề án 675MK, tôi phải tự mình hoàn thiện với tư cách cá nhân và quyết định tại căn cứ của sư đoàn tàu ngầm 26 cùng sự giúp đỡ của hai - ba sỹ quan bộ tham mưu của chúng tôi, cũng như phải lập kế hoạch huấn luyện chiến đấu tại bộ tham mưu hạm đội. ........ Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 03 Tháng Bảy, 2012, 10:01:43 am (tiếp)
Nhiệm vụ phục vụ chiến đấu Trong giai đoạn từ 1977 đến 1982 các thủy thủ đoàn đã thực hiện 24 chiến dịch đi biển độc lập (thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu). Các tàu ngầm của sư đoàn tàu ngầm số 10 thực hiện phục vụ chiến đấu ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, các biển Bering, Okhot, Philippine, Chukotka, Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Trong quá trình thi hành các chiến dịch phục vụ chiến đấu đã đặt ra các nhiệm vụ tìm kiếm và theo dõi các SSBN, bảo vệ từ xa các RPKSN (tàu ngầm tuần dương chiến lược mang tên lửa đạn đạo), tìm kiếm và theo dõi các nhóm tàu sân bay xung kích, các biên đội tàu chiến và các tàu mặt nước đi lẻ của kẻ thù tiềm năng. (http://flot.com/upload/blog/dcb//10DiPL_12.jpg) К-325 đề án 670. đảo Dakhlak, 23 tháng 2 năm 1985. - Sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Con người, sự kiện, con tàu. - Saint-Petersbourg, 2005. Số đặc biệt nguyệt san Taifun. Khi thực hiện các chiến dịch phục vụ chiến đấu tại Ấn Độ Dương, việc đi biển của tàu ngầm diễn ra trong các điều kiện khí hậu có nhiệt độ nước biển cao, độ ẩm không khí cao, tách biệt với gia đình và xa cách với các niềm vui cơ bản của cuộc sống gia đình, trong sự căng thẳng lâu dài về tâm lý và thể chất. Trong giai đoạn giữa các kỳ hành quân đi biển, chúng tôi tiến hành sửa chữa các phương tiện vật chất bằng sức của chính mình tại các điểm căn cứ cơ động. Các điểm như vậy có ở Aden, tại đó tàu ngầm được đưa lên các trụ đỡ; tại đảo Dahlak, nơi các thuyền viên sống trong tòa nhà vốn là nhà tù trước đây của Ý, tại vịnh Cam Ranh, nơi người ta có thể sửa chữa được một số việc. Sau những chuyến hành quân này, mọi người đều sút cân, và tất nhiên, suy giảm sức khỏe. Phần vật chất của tàu ngầm trong các điều kiện tương tự như thế bị giảm tuổi thọ rất mạnh, và thậm chí cả khi chỉ neo đậu thì tài nguyên động cơ cũng bị tiêu tốn, bởi lẽ vị trí đóng quân rất nghèo nàn về phương diện đảm bảo kỹ thuật. Dù ở trong những điều kiện như trên, tất cả các tàu ngầm đều hoàn thành nhiệm vụ đặt ra cho chúng trong thời hạn đã định. Bằng việc mô tả hai chiến dịch phục vụ chiến đấu như thế dưới đây, một thực hiện ở biển Philippine, một thực hiện ở khu vực các biển Chukotka và biển Bering, tôi muốn các bạn hãy để tâm theo dõi. Chiến dịch phục vụ chiến đấu của К-108 Ngày 21 tháng 1 năm 1977. Tàu ngầm К-108 đã sẵn sàng ra khơi thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu. Đến tiễn con tàu, sư đoàn trưởng sư đoàn tàu ngầm số 10 chuẩn đô đốc А.N.Lutsky và chủ nhiệm chính trị trung tá hải quân V.М.Pogrebenykh đã phát biểu trước thủy thủ đoàn và trao nhiệm vụ cho họ. Sau đó một chút tư lệnh phân hạm đội tàu ngầm số 2 phó đô đốc B.I.Gromov và thành viên HĐQS – chủ nhiệm chính trị I.A.Katchenkov đã đến. Phó đô đốc B.I.Gromov hỏi tôi về sức khỏe và tinh thần thủy thủ đoàn, sau đó ông chỉ dẫn về các biện pháp an toàn và về việc kiểm tra xác định vị trí của tàu ngầm, ông nói đùa: "Để xem ở đó cậu có đâm đầu mắc kẹt vào một cái đảo hay rặng san hô nào đấy không! Cậu hãy nhớ Khvatov đã suýt nữa mắc kẹt ở Okinawa thế nào”. Tôi hứa rằng mọi việc sẽ diễn ra bình thường. (http://flot.com/upload/blog/170//10DiPL_13.jpg) Và chúng tôi bắt đầu di chuyển theo sau tàu phá băng "Sadko". Theo lệnh của thuyền trưởng tàu ngầm, người ta lần lượt nâng các thùng phóng, một số thuyền viên ngành tác chiến 2 do thiếu tá hải quân A.P.Babich chỉ huy đi lên boong trên, tại đó diễn ra việc nối các cụm xích khởi động trong thùng phóng. Ban đêm, xung quanh là băng đá, nhiệt độ nước bằng không. Tôi lo lắng, như thể có ai đó bị trượt chân và rơi xuống biển. Trưởng ngành tác chiến 2 thiếu tá hải quân Babich được biệt phái hành quân trên K-108. Các chỉ huy cũ của ngành tác chiến 2 trung tá hải quân Nagornyi ngày 10 tháng Giêng đã nộp một báo cáo xin chuyển ngạch dự bị, trong đó anh ta viết rằng các cơ quan đảng đã ép các thuyền viên thực hiện những yêu cầu hình thức, rằng trong các cơ quan đảng đã diễn ra các yêu cầu có dụng ý xấu xa khác nhau, nhưng phần cuối báo cáo viết rằng anh sẵn sàng đi biển thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu. Anh ta đã nhanh chóng bị khai trừ đảng và bị cách chức. (http://flot.com/upload/blog/ea5//10DiPL_14.jpg) Vịnh Avachinsky trong băng giá. - Sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Con người, sự kiện, con tàu. - St Petersburg, năm 2005. Số đặc biệt nguyệt san Taifun. Vịnh Krasheninnikov và vịnh Avachinsky đang bị đóng băng, băng tại lối ra, băng dọc theo bờ biển và vịnh Sarannaia. Thuyền trưởng tàu ngầm muốn bật radar, nhưng tôi khuyên anh ta không làm điều đó để đảm bảo bí mật cho chuyến xuất phát. Tàu phá băng "Sadko" dẫn chúng tôi đến điểm lặn, chúng tôi lặn xuống và bắt đầu di chuyển vào khu vực làm nhiệm vụ phục vụ chiến đấu. Trong mệnh lệnh chiến đầu đặt ra cho chúng tôi trong chiến dịch này có nhiệm vụ tìm kiếm và theo dõi các SSBN Mỹ. Chuyến đi đến khu vực tìm kiếm và theo dõi, chúng tôi đã mất 15 ngày, tốc độ di chuyển 10 hải lý, chừng ấy thời gian để quay về, thời gian trực tiếp săn tìm chỉ còn 14 ngày. Tính đến thời gian các phiên liên lại và xác định vị trí tàu ngầm, chúng tôi phải tuân theo tốc độ 12 hải lý, loại tốc độ không đảm bảo cho tàu ngầm đề án 675 giữ nổi bí mật. Được biết các thuyền trưởng tàu ngầm Hải quân Hoa Kỳ gọi đề án này trong các tài liệu của họ là "ECHO-2" (nói riêng - "mụ bò rống"). Khi so sánh tiếng ồn của các tàu ngầm của chúng ta và các SSBN Mỹ, chúng ta có thể kết luận rằng lợi thế thuộc về các tàu Mỹ. Tương tự cũng có thể nói như vậy về phạm vi phát hiện của hệ thống sonar. Vậy là, trước chúng tôi đã đặt ra một nhiệm vụ không thể thực hiện nổi. (http://flot.com/upload/blog/b20//10DiPL_15.jpg) Tàu ngầm nguyên tử đề án 675 - Sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Con người, sự kiện, con tàu. - St Petersburg, năm 2005. Số đặc biệt nguyệt san Taifun. Ngày 22 tháng 1 lúc 05 giờ14 phút, chúng tôi nổi lên vào phiên liên lạc và xác định vị trí. Chúng tôi xác định vị trí theo đèn hiệu vô tuyến. Trong thực tế, xác định vị trí chỉ có trưởng ngành tác chiến 1 thiếu tá hải quân Chirkov, trong khi những người khác (trưởng nhóm đạo hàng điện tử trung úy Kutyavin, thuyền trưởng tàu ngầm hoặc trợ lý chính) không tham gia trong quá trình này, mặc dù họ cần phải làm như vậy. Kết quả của phép xác định đầu tiên đã cảnh báo tôi. Sau khi kiểm tra tất cả các công việc đã làm để xác định vị trí và phân tích nó, tôi đi đến kết luận rằng chỉ huy ngành tác chiến 1, thiếu tá hải quân Chirkov đã bỏ qua rất nhiều sai số, và anh ta có một số lỗ hổng trong kiến thức. Từ lúc đó, tôi tự mình gánh trách nhiệm hoa tiêu trưởng cho chuyến di chuyển này. Tất nhiên, tôi không thông báo việc này cho ai, vì nói chung nó là trách nhiệm của sỹ quan chỉ huy cấp cao trong chuyến đi. Tôi ấn định rằng tôi sẽ thay thế thuyền trưởng để nghỉ ngơi từ 06,00 giờ đến 13,00 giờ. Trong những ngày đầu tiên máy đo sâu bằng tiếng dội và máy làm lạnh phía đuôi tàu bị hỏng, sau đó người ta mới đưa được chúng vào hoạt động trở lại. Sự siêng năng và tầm nhìn xa từ phía thủy thủ đoàn không thấy thể hiện. Thuyền trưởng tàu ngầm đặt một thủy thủ học việc vào sau bàn điều khiển bánh lái ngang, còn thủy thủ trưởng bỏ đi về khoang số 10. Người ta bắt đầu cho tàu nổi lên độ sâu 40 m, còn cậu thủy thủ trẻ lại đẩy độ chúi 5 ° khi tàu nổi lên, dẫn đến việc rơi thùng chứa nước và rượu, không được gắn chặt cho đúng, kết quả tất cả đổ lênh láng trên sàn tàu gần cửa vào hố ắc quy. Đi cùng tôi trong chiến dịch này là một ban tham mưu nhỏ: thiếu tá hải quân Bosyi ngành cơ điện hang hải sư đoàn và thiếu tá hải quân Smyslov thuộc ban chính trị sư đoàn. Ngày 24 tháng 1 tại phiên liên lạc, chúng tôi xác định vị trí theo các ngôi sao. Việc tổ chức huấn luyện, lấy chiều cao thiên thể và giải quyết bài toán thiên văn học ở tầm thủy thủ đoàn tàu ngầm đang sửa chữa. Chirkov chỉ được huấn luyện trong các khu vực huấn luyện chiến đấu. Từ cuộc trò chuyện với anh ta mới phát lộ ra rằng anh ta kết hôn sớm và trở thành người cha trong gia đình từ năm học thứ 2 tại trường hải quân. Anh nói với tôi: "Đầu óc tôi rối mù chuyện gia đình và trẻ em." Ngày 25 tháng 1, tôi tìm thấy một sai lầm trong việc xác định vị trí tàu ngầm đến 50 dặm do lỗi làm việc của Chirkov. (http://flot.com/upload/blog/b8b//10DiPL_16w.jpg) Khi tôi phục vụ trên tàu ngầm, thường người ta xác định vị trí theo thiên thể. Trước tiên trên quả địa cầu gắn tinh tú phải tìm những ngôi sao cần thiết, xác định độ cao và góc phương vị của chúng. Người ta chuẩn bị MAE (niên giám thiên văn hàng hải, bảng tính sẵn hàng hải, các bản mẫu - морской астрономический ежегодник, морские таблицы, бланки). Tàu ngầm nổi lên trong thời điểm có thể nhìn thấy đường chân trời và các ngôi sao. Sau đó, trên các tàu ngầm hạt nhân mới xuất hiện hệ thống "Lira", trong hệ thống có con quay hồi chuyển đường chân trời, tàu chỉ cần nổi lên ở độ sâu kính tiềm vọng. Sau đó, xuất hiện kính lục phân vô tuyến (радиосекстан). Bây giờ tất cả những điều này là không cần thiết, người ta xác định vị trí theo hệ thống vệ tinh. Đời chảy trôi và mọi thứ đã thay đổi. Đó là quả địa cầu và kính lục phân mà tôi đã tặng một trường học gần nhà. ....... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 05 Tháng Bảy, 2012, 06:23:51 pm (tiếp)
Trợ lý chính cho thuyền trưởng thiếu tá hải quân Taras Lavrentievich Moskalenko sinh ra ở Ukraine trong gia đình có nhiều người bị câm điếc. Cha anh là một thợ đóng giày, ông có hai người phụ tá. Taras lên đến 3,5 tuổi vẫn không nói được, sau đó những người phụ tá cha đã dạy dỗ anh. Moskalenko là một người đàn ông tốt, nhưng trình độ kiến thức chung của anh khá thấp, còn về khoa mục hoa tiêu anh được huấn luyện khá tồi. Trung úy Kutyavin trưởng nhóm đạo hàng điện tử là một đứa trẻ mồ côi từ năm 14 tuổi, cha anh chết trong một tai nạn, mẹ anh chết bệnh, và anh được chị gái nuôi dưỡng. Về khoa mục hoa tiêu anh cũng bị huấn luyện kém. Trước đây không ai quan tâm điều đó. Rõ ràng, công tác kiểm tra được tiến hành theo kiểu hình thức: người ta giữ nguyên tắc không vạch áo cho người xem lưng. Trên nguyên lý, đó là thuộc về vấn đề đào tạo bồi dưỡng cán bộ, và trong tương lai tiếp theo tôi sẽ cố gắng làm sáng tỏ vấn đề trên. Ngày 30 Tháng 1 diễn ra một cuộc báo động khẩn cấp. Trong khoang thứ 8 có một bộ lọc máy bơm cung cấp nước để làm mát trục truyền lực. Trong bộ lọc này có một đường ren bị thối gây ra tắc nghẽn, loại trừ nút cổ chai này thì nước bắt đầu chảy vào khoang. Trong khoang, người ta không bối rối và họ đã vá lỗ rò lại. Ngày 01 Tháng 2 Chirkov "xác định" vị trí bằng cách gây ra sai số tăng tới 20 dặm. Dưới sự lãnh đạo của Chirkov đã 17 lần người ta đo chiều cao của mặt trời và các ngôi sao, giải các bài toán thiên văn, nhưng kết quả của chúng không thể sử dụng được bởi vì các lỗi bỏ qua quá lớn. Ngày 4 tháng 2 lúc 16:00 giờ chúng tôi chiếm lĩnh khu vực tìm kiếm và bắt đầu tìm kiếm các SSBN của Mỹ. (http://flot.com/upload/blog/f79//10DiPL_17.jpg) Tàu đầu tiên lớp Ethan Allen. Ngày 21 tháng 2 đã kết thúc việc tìm kiếm và chúng tôi bắt đầu di chuyển về căn cứ mà không tìm thấy SSBN. Ngày 24 tháng 2 chúng tôi đi về nhà trên độ sâu 100 m với tốc độ 12 hải lý. Trực chỉ huy tàu ngầm là thuyền trưởng trung tá hải quân A.G.Smirnov. bánh lái nhỏ phương ngang phía đuôi bị hỏng, người ta phải tiến hành sửa chữa. Smirnov rời khỏi phòng trung tâm, đi xem phim trong khoang số 1 và để trực thay mình đại diện ngành cơ điện hang hải sư đoàn thiếu tá hải quân G.A.Bosyi. Anh này cũng đi sang khoang 2 uống trà. Tôi cảm thấy bằng trực giác một cái gì đó, và đôi chân đưa tôi đến phòng điều khiển trung tâm. Tôi phát hiện tại chỗ thuyền trưởng đã bỏ vị trí, để lại quyền kiểm soát con tàu cho những người không có quyền tự mình điều khiển. Tôi ra đề: "Các bánh lái ngang kẹt ở vị trí 10 độ khi đang lặn." Smirnov bổ vào phòng trung tâm, và tôi bày tỏ với anh ta tất cả những gì mà tôi nghĩ về chuyện này. Tôi nghĩ anh ta hiểu tôi. Ngày 27 tháng 2 lúc 04.30 giờ, tôi đột nhiên tỉnh dậy vì một cuộc trò chuyện rất khẽ của hai thủy thủ học việc nói về chuyện nước có thể rò vào khoang từ chỗ nào. Tiếp theo tôi hành động một cách hoàn toàn tự động. Tôi choàng dậy và bay ra khỏi cabin vào khoang. Nước phun từ nhà vệ sinh lên, toàn bộ sàn tầng 1 ngập 20 cm, dưới sàn – hố ắc quy. Tôi vội vã lao bổ lên trên về phía thiết bị liên lạc nội bộ và nhìn thấy hai thủy thủ đã nói về một chuyện gì đó từ phòng điều khiển trung tâm. Các cửa vách ngăn từ phòng trung tâm sang khoang thứ 2 để mở và cài móc, đó là một vi phạm trắng trợn. Tôi tuyên bố báo động khẩn cấp và hai giây sau có mặt trong phòng điều khiển trung tâm. Tàu ngầm tăng tốc độ và bắt đầu nổi lên độ sâu 40 m. Như sau này được biết, nguyên nhân là do nước chảy qua một van không đóng kín từ mạng thoát nước vào sitec chứa nước bẩn số 2, nước đầy sitec và tiếp đó thông qua hệ thống thông gió của sitec bắt đầu chảy vào khoang. Người trực phát hiện ra dòng nước chảy, và thay vì tuyên bố báo động khẩn cấp lại gọi điện về phòng trung tâm báo cáo sự việc. Trong phòng trung tâm, trung sĩ đội trưởng đội thủy thủ hầm tàu nhận báo cáo và phái chuyên gia tới khoang số 2, mà không báo cáo thuyền trưởng, và cũng không tuyên bố báo động khẩn cấp. Tôi phải nói rằng nếu nước biển tràn vào hố ắc quy, điều đó có thể dẫn đến hỏa hoạn, sinh ra hơi clo, làm chết người. Chirkov tiếp tục phạm những sai lầm thô thiển. Quan trọng nhất là anh ta không có kiến thức vững chắc về chuyên môn của mình. (http://flot.com/upload/blog/80e//10DiPL_18.jpg) Ngày 02 tháng 3, chúng tôi nhận được một bức điện, trong đó người ta trao cho chúng tôi một khu vực trên đường tới Kamchatka, diện tích 30 x 30 dặm, nơi chúng tôi phải ở lại và chờ đợi để được hướng dẫn thêm. Trên các lối vào vịnh Avachinsky và ở trong vịnh băng đóng rất dày. Phương tiện tái sinh không khí và bánh mì chỉ còn đủ năm ngày, thức ăn còn 20 ngày. Trong chuyến hành quân, tôi đã kịp nói chuyện với hầu hết các sĩ quan. Nhìn chung, đội ngũ sĩ quan gây được ấn tượng tốt đẹp. Chỉ huy tiểu đoàn 1 thiếu tá hải quân A.A.Skorikov cho thấy mình là một nhà kỹ thuật tuyệt vời, phương tiện vật chất anh phụ trách làm việc tốt, anh kể về sự tham gia của mình trong chiến dịch ở thung lũng Geysers, lãnh đạo bởi tham mưu trưởng binh đoàn đại tá hải quân R.A.Golosov. Về sau A.A.Skorikov được bổ nhiệm làm chỉ huy ngành tác chiến 5 trên tàu ngầm K-204, con tàu đó đã thực hiện một nhiệm vụ phục vụ chiến đấu (thời gian 181 ngày) trên Ấn Độ Dương vào năm 1982, tại đó anh đã chứng tỏ mình một cách tốt đẹp nhất trong một tình huống khẩn cấp rất phức tạp. Nhờ sự can đảm, kiến thức và kinh nghiệm của anh, tàu ngầm đã hoàn thành thắng lợi chiến dịch hành quân đó. Ngày 05 Tháng Ba bức điện tiếp theo chuyển tới kèm theo sự thay đổi khu vực chờ và lệnh thao luyện bài tập L-2. Trong kính tiềm vọng người ta phát hiện ra các tảng băng trôi. Ngày 15 tháng 3, chúng tôi đã 10 ngày thao luyện bài tập L-2, và "đốt" nhiên liệu hạt nhân. Cuối cùng, chúng tôi nhận được 1 bức điện trong đó người ta lệnh cho chúng tôi xác định vị trí bằng cách chính xác nhất, lặn xuống độ sâu 40 mét, sau đó đi tiếp tới điểm phía tây mũi Hải Đăng, nơi 1 tàu phá băng sẽ chờ đợi chúng tôi, chiếc tàu đó sẽ cho tàu ngầm lệnh nổi lên theo "Omega". Tôi và chỉ huy tàu ngầm tin rằng "Omega" đặt trên tàu phá băng, nhưng sau này mới biết đó là một trạm định hướng âm trên bờ. Không có tài liệu nào hướng dẫn cách tổ chức liên lạc với trạm đó trên tàu ngầm. Chirkov và Kutyavin xác định vị trí sai lệch 17 dặm, điều này tôi phát hiện ra sau khi lặn. Nếu chúng tôi theo dữ liệu của họ, không biết tất cả sẽ kết thúc ra sao, rất có thể sẽ có ngay một thảm họa. Tôi xác định vị trí theo đèn hiệu vô tuyến và trực quan bởi ba đỉnh đồi trọc (ba ngọn núi lửa), sau đó chúng tôi bắt đầu di chuyển đến điểm được giao, đồng thời kiểm soát vị trí của mình theo độ sâu. Khi đến gần điểm hẹn, chúng tôi tìm thấy một hố nước trong lớp băng và nổi lên với tốc độ bằng không. Thuyền trường cọ sạch cửa nắp thượng tháp chỉ huy và leo lên cầu điều hướng, tôi trèo lên sau anh ta. Xung quanh là cả một biển băng dày đặc, trên mặt boong một lớp băng đặc cao đến hai mét hơn. Tàu phá băng và tàu kéo đi đến chỗ chúng tôi, rẽ đường đưa chúng tôi xuyên trong biển băng, sau đó họ bắt đầu dắt chúng tôi về căn cứ. Trước lối vào cầu cảng, chúng tôi phá băng gạt khỏi mặt boong. Ngày 17 tháng 3 tàu đã neo xong tại cầu cảng. Chiến dịch phục vụ chiến đấu của K-212 Một chiến dịch đi biển khác phức tạp hơn diễn ra ở vùng biển Chukotka và biển Bering. Trong thời điểm của các sự kiện được mô tả, các tàu ngầm nguyên tử đề án 670 từ Biển Bắc bắt đầu gia nhập đội hình Hạm đội Thái Bình Dương (xem bảng 5). Năm 1979 bộ tham mưu Hạm đội Thái Bình Dương lên kế hoạch hai hoạt động ở vùng biển Chukotka: đón K-320, con tàu phải hoàn thành chuyến di chuyển từ Hạm đội Biển Bắc sang Hạm đội Thái Bình Dương, và chuyến hành quân đầu tiên trong lịch sử Hạm đội Thái Bình Dương của 1 tàu ngầm nguyên tử đề án 670 (K-212, chỉ huy bởi thuyền trưởng trung tá hải quân A.A.Gusev) ở vùng biển Chukotka dưới lớp băng cho đến tận vĩ tuyến 76 độ Bắc. (http://flot.com/upload/blog/787//10DiPL_19.jpg) Tàu ngầm đề án 670 "Skat". Bắt đầu việc huấn luyện và chuẩn bị cho K-212 đi chiến dịch. Thủy thủ đoàn tàu ngầm thao luyện hoàn thiện toàn bộ 1 khóa học đầy đủ các bài tập huấn luyện chiến đấu, tất cả các loại dự trữ vật chất được nạp đến 100%, đạn dược bao gồm cả 2 ngư lôi đặc biệt dùng để phá nổ băng tạo ra một lỗ nước hổng trong lớp băng dày (khi cần nổi thật nhanh lên mặt biển trong các trường hợp khẩn cấp). Bộ chỉ huy làm việc tỉ mỉ, nghiên cứu hải trình cho chuyến đi. Ngay trước khi xuất phát, K-212 trải qua một cuộc kiểm tra của bộ tham mưu sư đoàn và phân hạm đội. Việc nghiên cứu tuyến đường biển theo sách hướng dẫn thủy văn – đạo hàng cho thấy rằng chuyến đi biển sẽ diễn ra trong hoàn cảnh khó khăn. Hầu hết các đoạn đường đi, phía trên đầu chúng tôi là lớp băng hai năm (độ dày của băng không ít hơn 2m, có chiều cao phần nổi của băng lớn, tảng băng có bề mặt bằng phẳng), hoặc các tảng băng trôi Bắc Cực (băng hình thành đã nhiều năm, dày hơn 2,5 m hoặc hơn nữa, có địa hình bề mặt dạng đồi núi, tại mặt vỡ có màu xanh lam). Chờ đón chúng tôi trong một số khu vực riêng biệt của Bắc Cực còn có những núi băng trôi rất đặc biệt, các đảo băng dày 70-80 m, có độ cao nhô lên trên mực nước biển đến 12 m. ......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 09 Tháng Bảy, 2012, 11:43:01 pm (tiếp theo post #390 trang 40 phần 1)
(http://clubadmiral.ru/camranh/gl9.files/image003.jpg) Chỉ huy PMTO 1998-1999: đại tá Larionov V.V. (http://clubadmiral.ru/camranh/gl9.files/image002.jpg) Bên cạnh nhà tắm hơi kiểu Nga. (http://clubadmiral.ru/camranh/gl9.files/image004.jpg) Mùa thu 1989. Doanh trại của Trung tâm truyền tin trong thị tứ PMTO. (http://clubadmiral.ru/camranh/gl9.files/image005.jpg) 1985. Các thành viên của Trung tâm truyền tin. (http://clubadmiral.ru/camranh/gl9.files/image006.jpg) 1988. Các thành viên của Trung tâm truyền tin. (http://clubadmiral.ru/camranh/gl9.files/image007.jpg) 1984. Chú cẩu mang từ Nga sang tháng 8 năm 1983. (http://clubadmiral.ru/camranh/gl9.files/image009.jpg) 1980. Buổi đầu xây dựng nơi đặt máy, dùng bất cứ thứ vật liệu gì chặt được. (http://clubadmiral.ru/camranh/gl9.files/image010.jpg) M.G. Zakharenko, tư lệnh hạm đội TBD kiểm tra và nghe báo cáo tại chỗ. Trái tim của Cam Ranh - trạm phát điện. (http://clubadmiral.ru/camranh/gl9.files/image011.jpg) 1999. Nguyên trạm trưởng truyền tin nay là chỉ huy trưởng PMTO. (http://clubadmiral.ru/camranh/gl9.files/image012.jpg) 1999. Đoàn Bộ TTM Hải quân dẫn đầu bởi trung tướng V.A.Ainbund, phó TTL hải quân phụ trách xây dựng và quản lý nhà đất, sau khi kết thúc làm việc tại Cam Ranh. Đi thăm thành phố Nha Trang. (http://clubadmiral.ru/camranh/gl9.files/image013.jpg) 1989-1990. Trạm truyền tin "Clubochek". Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 10 Tháng Bảy, 2012, 06:37:59 pm (tiếp)
Sư đoàn tàu ngầm số 10 (1976 - 1982). Chuẩn đô đốc A.S.Berzin. Để chuẩn bị cho cuộc hành quân, chúng tôi đã nghiên cứu kinh nghiệm thu được trong quá trình di chuyển các tàu ngầm nguyên tử từ Hạm đội Biển Bắc sang Hạm đội Thái Bình Dương. Trong trường hợp hỏa hoạn, nước biển tràn vào tàu hoặc xuất hiện mối nguy hiểm phóng xạ, tàu ngầm không thể ngay lập tức nổi lên mặt biển bởi vì trên đầu nó là một lớp vỏ băng và để nổi lên cần phải tìm được hố băng tan. Nếu trong vòng vài phút hoặc thậm chí vài giây mà không tìm được hố nước như thế thì con tàu sẽ chết. Vì lý do này việc bơi ngầm dưới lớp băng luôn gắn liền với những hiểm họa xác định. Không phải ngẫu nhiên vì hoàn thành thắng lợi chuyến hành quân di chuyển từ biển Barentsev sang Thái Bình Dương dưới những lớp băng của Bắc Băng Dương, mà người ta trao tặng cho các thuyền trưởng tàu ngầm danh hiệu Anh hùng Liên Xô, và các thuyền viên còn lại được tặng thưởng các huân chương, huy chương, các quà tặng đắt tiền và bằng chứng nhận. Để đảm bảo hoạt động của tàu ngầm, người ta đã dành riêng ra các tàu phá băng "Ivan Susanin" và "Litke", tàu nghiên cứu hải văn "Anadyr" và tàu kéo biển MB-147. Trách nhiệm chỉ huy cao cấp trong chiến dịch này thì người ta phân công tôi. Bộ tham mưu chiến dịch cùng người đứng đầu, cấp phó của tôi, đại tá hải quân N.V.Anokhin, được bố trí trên tàu phá băng "Ivan Susanin". (http://flot.com/upload/blog/c19//10DiPL_20.jpg) Ngày chủ nhật 26 Tháng 8, lúc 5,00 giờ K-212 khởi hành rời cầu cảng. Suốt ngày chúng tôi đi đến điểm lặn với tốc độ 4 hải lý trong tư thế nổi. Kế hoạch được Bộ tham mưu Hạm đội Thái Bình Dương lập ra như vậy để nhằm cho K-212 và một tàu ngầm tuần dương chiến lược mang tên lửa đạn đạo (RPKSN - РПКСН) vừa hoàn thành một chuyến hành quân di chuyển, có thể tránh xa nhau một cách an toàn. Trong thời gian ngày 27 tháng 8, tàu ngầm nhiều lần nổi lên chiều sâu kính tiềm vọng thực hiện các phiên liên lạc với bờ và xác định vị trí. Tại mỗi đợt nổi lên, đài trinh sát VTĐT đều phát hiện có sự làm việc của trạm radar tìm kiếm trên máy bay chống ngầm "Orion" của Hải quân Mỹ. Điều này chứng tỏ chúng tôi đang bị theo dõi: việc di chuyển trong tư thế nổi không phải vô tình. Hơn nữa, trong khu vực của chúng tôi người Mỹ đã tắt các trạm dẫn đường thụ động "LORAN C", để gây những khó khăn nhất định cho các hoa tiêu tàu ngầm khi họ xác định vị trí của mình trong những điều kiện thời tiết bất lợi. Đã có những hư hỏng trang thiết bị đầu tiên: cháy máy bơm điện làm mát các thiết bị phụ trợ (khắc phục thành công.) Ngày 28 tháng 8 chúng tôi đi qua đảo Bering và đảo Mednyi, bỏ lại chúng về phía bên trái, còn phía bên phải là đảo Attu. Phù hợp với kế hoạch chuyến di chuyển đã phê duyệt, chúng tôi đi với tốc độ 15 hải lý. Với vận tốc này chắc chắn chúng tôi sẽ bị hệ thống SOSUS giám sát. Ngày 29 tháng 8 đã tới. Mỗi phiên nổi lên liên lạc với bờ, qua kính tiềm vọng đều quan sát thấy sương mù và mây cấp 10, hoàn toàn loại trừ khả năng xác định vị trí của tàu ngầm theo các thiên thể. Tôi tìm thấy một sai lầm trong trong tính toán xác định vị trí của đội hoa tiêu lên đến 10 dặm. Cùng với thuyền trưởng tàu ngầm chúng tôi áp dụng các biện pháp tổ chức và giáo dục. Thứ năm, ngày 30 tháng Tám chúng tôi đi qua đường đẳng sâu 100 m, tàu nổi lên tại điểm đã định và tiếp tục di chuyển trong tư thế nổi. Sóng ngắn nhưng dữ dội đập mạnh bên mạn phải con tàu, mây cấp 10. Chúng tôi tiếp tục đi tới điểm gặp gỡ với tàu kéo biển MB-147. Đài VTĐ tìm kiếm phát hiện ra sự làm việc của radar định vị dẫn đường của tàu kéo và sau 30 phút chúng tôi nhìn thấy tàu kéo bằng mắt thường. Trao đổi tín hiệu với MB-147 xong, chúng tôi xếp thành một hàng dọc (tàu kéo đi đầu) và tiếp tục hành trình. K-212 đến vịnh Providenie vào ngày 31 tháng 8, tầm nhìn vào bờ rất tồi. Dự kiến ngày hôm sau chúng tôi vượt qua mũi Dezhnev. (http://flot.com/upload/blog/a3b//10DiPL_21.jpg) Ngày 01 tháng 9 chúng tôi vượt qua eo biển Bering. Trong kính tiềm vọng đã nhìn thấy tượng đài kỷ niệm S.Dezhnev. Đó là bờ biển phía cực đông của đất nước chúng ta, phía bên phải chìm trong khói mù - Alaska. Chúng tôi đi dọc theo biên giới Mỹ-Liên Xô. Lần đầu tiên vào năm 1648, một đoàn thám hiểm dẫn đầu bởi người Cossack Semyon Dezhnev và thương gia Fedot Alekseev khi ra khỏi cửa sông Kolyma đã đi vòng qua mũi Dezhnev từ phía biển. Ngày 02 tháng 9 chúng tôi đi vào biển Chukotka. Thời tiết đẹp như thể được đặt hàng: biển – sóng cấp 1, trời không gió, từ buổi sáng ánh nắng soi rạng rỡ, nhưng đến giờ ăn trưa mây đã phủ kín không gian, chỉ phía đường chân trời mây tạo ra một dải đất liền tưởng tượng, các núi băng và những hình dạng thần kỳ. Ngày mai chúng tôi sẽ đi đến đảo Vrangel và đảo Harald. Đảo Vrangel đã quen thuộc từ lâu với những người Chuvats, họ nhìn thấy nó rất rõ ràng khi thời tiết tốt và bầu trời trong trẻo từ khu vực mũi Yakan. Trên bờ biển phía tây của một hòn đảo gần mũi Thomas người ta đã tìm thấy những dấu vết của một làng định cư của người Chuvats hồi thế kỷ XVIII. Lần đầu tiên hòn đảo được nhà hải văn học F.P.Vrangel đưa lên bản đồ một cách tương đối chính xác vào năm 1823 xuất phát từ những lời kể của người Chuvats. Trên thực tế sự tồn tại của hòn đảo đầu tiên được khẳng định bởi nhà thám hiểm hải dương người Mỹ T.Long năm 1867. Tên ông được đặt cho eo biển giữa đảo Vrangel và đất liền. Đảo Harald nằm cách đảo Vranghel 35 km, được khám phá năm 1849 bởi con tàu Anh «Harald», đảo được người ta đặt tên theo tên con tàu để ghi nhớ sự kiện này. Ngày 03 tháng 9 chúng tôi đi qua đảo Harald. Bắt đầu gặp những núi băng đơn độc giống như những con tàu nhỏ. Băng trên mặt vỡ của núi băng có sắc xanh lam của nước biển. Thời tiết ủng hộ chúng tôi: biển – sóng cấp 1 hoặc 2, nhiệt độ không khí từ -1đến -5 ° C. Chúng tôi nhận được từ bộ tham mưu chiến dịch của mình tọa độ điểm gặp gỡ và các số liệu về biên giới của biển băng. Ngày 04 tháng chín với sự trợ giúp của radar định vị đã tìm thấy biên đội tàu của chúng tôi đang ở bên phía rìa biển băng. Đã thiết lập được liên lạc vô tuyến với tàu phá băng "Ivan Susanin". Nửa giờ sau chúng tôi phát hiện thấy bằng mắt thường: - tàu nghiên cứu hải văn "Anadyr” đang thả neo, tàu phá băng" Litke" – đang thả trôi, tàu phá băng "Ivan Susanin" đang đứng yên trong biển băng. (http://flot.com/upload/blog/4fd//10DiPL_22.jpg) Qua đài vô tuyến, tôi liên lạc được với đại tá hải quân N.V.Anokhin, người đứng đầu bộ tham mưu chiến dịch hành quân. Tình hình đã sáng tỏ: trên tàu "Litke" trục truyền bên phải bị gãy nứt; để không rơi mất chân vịt thủy thủ đoàn đang phải tiến hành các hoạt động lặn khắc phục tương ứng. Bốn đèn hiệu thủy âm được bật lên. Dự kiến tàu ngầm K-320 sẽ nổi vào ngày 05 tháng 9 lúc 22,00 giờ. Sau khi đàm thoại, K-212 tiến gần đến rìa biển băng. Băng còn xốp, bị xói lở, nhưng chúng tôi cũng gặp các tảng băng rất lớn. Phía sau chúng tôi, có thể nhìn thấy một vài con hải mã và những chú gấu Bắc cực, những động vật không hề biết sợ sệt con người cũng như những con tàu biển. Ngày 05 tháng 9, chúng tôi ở vị trí cách 20 dặm về phía nam tàu phá băng "Ivan Susanin", chờ đón K-320 đến gần và nổi lên. Máy bay chống ngầm "Orion" của Hải quân Mỹ bay đến và bắt đầu lượn vòng ở độ cao thấp quanh tàu chúng tôi. Từ “Ivan Susanin" có báo cáo tàu ngầm K-320 đã nổi lên và được tàu kéo biển MB-147 dẫn dắt đang bắt đầu di chuyển về phía chúng tôi. Một vài phút sau chúng tôi phát hiện ra họ, và họ giảm dần tốc độ tiến gần lại đến khoảng cách liên lạc được bằng giọng nói thông thường. Chúng tôi bắt đầu trò chuyện sau khi chúc mừng thủy thủ đoàn vừa hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ. Сhỉ huy cao cấp trên tàu là Anh hùng Liên Xô chuẩn đô đốc E.D.Chernov. Ông kể rằng ở chỗ ông mọi thứ đều ổn, họ nổi lên tại một hố băng tan có vị trí cách rìa biển băng 200 dặm, băng ở hố nước băng tan có độ dày 20 cm, độ dày của băng cho đến rìa biển băng là khoảng từ - 5-7 m. Tiếng các vụ nổ mà tàu phá băng "Ivan Susanin" tạo ra họ đã nghe thấy từ khoảng cách 44 dặm, còn tín hiệu đèn hiệu thủy âm họ đã quan sát thấy từ khoảng cách 20 dặm. (http://flot.com/upload/blog/336//10DiPL_23.jpg) K-320 trong thời gian di chuyển sang Hạm đội Thái Bình Dương, W = 85 độ Bắc, tháng 8 năm 1979. Trong số các chiến sỹ tàu ngầm đang ở trong hàng đứng có trưởng ngành tác chiến 3 B.Leonov, trưởng ngành tác chiến 2 A.Saltykov, trợ lý thuyền trưởng A.I.Terenov. Trong số hàng đứng người thứ ba từ trái sang là S.G.Lysenko (học viên tốt nghiệp trường dự bị hải quân Nakhimov Leningrad khóa 1970). Ảnh do đại tá hải quân A.I.Terenov cung cấp. ........ Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 11 Tháng Bảy, 2012, 02:11:59 pm (tiếp)
Chúng tôi chúc họ lên đường may mắn, và K-320 bắt đầu di chuyển theo đội hình “vệt rẽ nước” theo sau tàu kéo biển MB-147 về nơi đóng quân. Sau khi xin phép trực ban tác chiến Hạm đội Thái Bình Dương cho bơi ngầm huấn luyện dưới băng, chúng tôi chờ trả lời, và làm công tác chuẩn bị lặn. Chúng tôi sử dụng ống không khí áp suất trung bình từ còi điện để thoát bọt khi nổi lên không hành trình trong hố băng tan để định hướng. Câu trả lời từ trực ban tác chiến hạm đội đã tới: "Bắt đầu luyện tập đi biển từ 21,00 giờ ngày 05 Tháng 9". Thảo luận với đại tá hải quân N.V.Anokhin các vấn đề cần thiết xong, chúng tôi chúc nhau mọi sự tốt lành rồi đi ngầm về hướng Bắc của đèn hiệu thủy âm (MO-2). Theo chỉ dẫn của máy đo độ dày băng và vệt hướng dẫn của máy dò mìn để phát hiện các tảng băng, độ sâu đi ngầm của con tàu để ở mức 50 m, tốc độ 7 hải lý. Chúng tôi đặc biệt lưu ý đến những tảng băng độc lập dày đến 10 mét, chìm lơ lửng ở độ sâu 60 m. Ban đêm, chúng tôi di chuyển ngầm dưới biển băng, tất cả mọi thứ trở về bình thường, cuộc sống vẫn tiếp tục trình tự của nó. Đã sang ngày 6 tháng 9. Kể từ khi lặn, thường xuyên chúng tôi quan sát được các vụ nổ từ tàu phá băng “Ivan Susanin". Vào lúc 02,00 giờ chúng tôi quay về hướng ngược lại. Sau khi nghe thấy sự làm việc của MO-1 và MO-2, xác định vị trí tàu ngầm: khoảng cách đến ngọn hải đăng - 16 dặm. Đã xác định điểm nổi lên phía sau đuôi tàu phá băng "Ivan Susanin" một khoảng ba dặm. Vào đúng thời gian nổi lên đã định, chúng tôi dùng radar đo khoảng cách đến tàu phá băng - 3 dặm. Chúng tôi báo cáo Sở Chỉ huy Hạm đội Thái Bình Dương về nhiệm vụ đã hoàn thành và xin phép hành quân tiếp hai ngày. Sau giờ ăn trưa thời tiết xấu đi: gió tăng tốc lên 15 m / s, biển – sóng cấp 5, mây – cấp 10. Chúng tôi đi tiếp đến khu vực bao quát bởi MO-4, còn “Ivan Susanin" đi vào biển băng. Lúc 13,59 giờ, trên tàu ngầm hệ thống bảo vệ khẩn cấp bị kích hoạt vì những hành động ngu ngốc của chỉ huy trưởng nhóm điều khiển từ xa lò phản ứng. Chuyện này nhanh chóng được khắc phục, và Thiết bị Năng lượng Chính (ГЭУ) lại tiếp tục làm việc trong chế độ bình thường. (http://flot.com/upload/blog/b50//10DiPL_24.jpg) К-212 sau khi nổi lên trong biển băng. - St Petersbourg 2005. Số đặc biệt nguyệt san Taifun. Mặc dù thời tiết xấu một lần nữa máy bay săn ngầm "Orion" của người Mỹ lại bay đến và bắt đầu thực hiện các đường bay thấp sát sạt trên đầu chúng tôi một cách canh chừng suốt ba giờ. Đến chiều tối một bức điện vô tuyến gửi tới từ tư lệnh hạm đội: cho phép chúng tôi được bơi ngầm dưới băng từ 02,00 giờ ngày 7 tháng 9 đến 02,00 giờ ngày 09 Tháng 9. Biển động cấp 5, trời mưa, sức gió đến 17 m / s. Ngày 07 tháng 9, chúng tôi chuyển một bức điện về Sở chỉ huy báo cáo bắt đầu chiến dịch và thực hiện lặn xuống dưới mặt nước. Độ sâu - 40, 50, 70, 100 m. Thực hành trực ban liên tục trên kính tiềm vọng, người quan sát tình hình ở vị trí trong hầm tàu, từ đó liên tục có các báo cáo: "Tối, tối, sáng". "Sáng" – có nghĩa là giữa biển băng có chỗ nước hoàn toàn chưa đóng băng hoặc chỉ có một lớp băng mỏng còn non. Chúng tôi đi tiếp mãi về phía bắc, biển băng trên đầu của chúng tôi có độ dày từ 2-7 m. Chúng tôi đã đi qua kinh tuyến 76, bắt đầu tuần tra trong khu vực №1. Chúng tôi tìm kiếm hố băng tan để nổi lên và điện báo cáo về SCH. Ngày 08 Tháng 9 chúng tôi quay về hướng 180", đi tiếp vào khu vực đang có mặt các con tàu của chúng tôi. Chúng tôi tiếp tục tìm kiếm hố băng tan. Cuối cùng cũng đã tìm thấy một hố băng tan chiều dài khoảng 4 kabelt. Chúng tôi xác định kích thước của nó - 9x4,5 kabelt. Tính đến dòng chảy chúng tôi dừng ở điểm tính toán bằng bộ ổn định chiều sâu, không hành trình, và bắt đầu chậm chạp nổi lên độ sâu kính tiềm vọng. Báo cáo từ hầm tàu: "Không có băng". Chúng tôi cho thổi khí vào nhóm giữa của các sitec dằn chủ, tàu nổi dần lên đến độ sâu 5 m. Kính tiềm vọng được nâng lên: mặt trời rực rỡ, bầu trời xanh thắm, xung quanh tất cả là biển băng, tàu ngầm đang ở giữa hố băng tan. Băng giá xung quanh hố băng tan bị phá vỡ, độ dày lớp băng của chúng lên đến 1,5-2 m, xen kẹp giữa chúng là lớp băng non có độ dày mỏng 1-10 cm Một phần các thuyền viên đã leo lên cầu điều hướng tháp chỉ huy. Một sự yên tĩnh và im lặng màu trắng toát. Chúng tôi nhìn thấy bên mạn tàu một con hải mã, nó tò mò nhìn ngắm chúng tôi, sau đó chui xuống nhào lộn dưới thân tàu ngầm, rồi lại nổi lên phía mạn tàu bên kia và tiếp tục sự quan sát của nó. Lúc 13,20 giờ, tàu lặn xuống trong hố băng tan, tiếp tục di chuyển về phía biên đội tàu nổi. Tiếng các vụ nổ phá băng chúng tôi nghe thấy từ khoảng cách 42 dặm, còn nghe thấy MO-1 – từ khoảng cách 26 dặm. Việc nổi lên tại điểm đã chỉ định xảy ra hồi 2.00 giờ ngày 09 tháng 9. Biên đội tàu nổi và K-212 trong đội hình hàng dọc bắt đầu di chuyển về điểm đóng quân. Sau đó tôi chuyển sang ở trên tàu phá băng "Ivan Susanin". (http://flot.com/upload/blog/609//10DiPL_25.jpg) K-212 tiếp tục thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu sau chuyến di chuyển đi xuyên ngầm dưới lớp băng Bắc Cực. – Sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Con người, sự kiện, con tàu. - St Petersburg, 2005. Số đặc biệt nguyệt san Taifun. K-212 lặn xuống trong biển Bering, tiếp tục đi tới khu vực thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu và trở về khi kết thúc chiến dịch một tháng sau. Đồng thời ngày 17 tháng 9, biên đội tàu nổi đã về đến Petropavlovsk-Kamchatsky. (http://flot.com/upload/blog/2e4//10DiPL_26.jpg) Lễ đón trọng thể thủy thủ đoàn K-212 đến gia nhập đơn vị tàu ngầm mới. Sư đoàn trưởng sư đoàn tàu ngầm số 10 đại tá hải quân A.S.Berzin chúc mừng thuyền trưởng trung tá hải quân A.A.Gusev và trao chiếc chìa khóa biểu tượng của Kamchatka. - Sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Con người, sự kiện, con tàu. - St Petersburg, 2005. Số đặc biệt nguyệt san Taifun. Các chiến dịch đi biển tiếp theo, các bài huấn luyện và thực hành xạ kích đang chờ đợi chúng tôi. Câu cách ngôn công thức của Hải quân "Hình phạt cho những người vô tội và phần thưởng cho những kẻ không xứng đáng" trong trường hợp này có vẻ không hiệu lực – đơn giản là nó đã quên chúng tôi. Các tàu ngầm của chúng tôi cũng tiến hành trực ban chiến đấu, khi đậu tại bến tàu trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu một giờ trước chuyến ra khơi. Một số thuyền trưởng phải được dạy dỗ tinh thần có trách nhiệm đối với nhiệm vụ trực chiến này bằng các phương pháp đặc biệt. Ví dụ, tàu ngầm K-204 (đại tá hải quân E.V.Orsagosh) bước vào thời kỳ trực chiến. Hai ngày sau khi tàu ngầm bước vào trực chiến, tôi đến bộ tham mưu vào lúc 04,00 giờ, tại đó tôi tuyên bố báo động chiến đấu tập đối với bộ tham mưu và K-204. Tất cả các sỹ quan bộ tham mưu đã có mặt và ngay lập tức được phái đi kiểm tra K-204. Tại K-204 đã phát hiện những thiếu sót sau đây: bảy người vắng mặt, quần áo sử dụng một lần trên tàu ngầm không có, không đủ 1,5 tấn bột mì và một loạt các loại thực phẩm khác. Thuyền trưởng tàu ngầm rơi vào trạng thái hoàn toàn lẫn lộn và hoảng hốt. Cuối cùng không thể kiềm chế được bản thân mình, tôi nói với anh ta: "Bây giờ anh đã biết chính xác thế nào là ngày 22 Tháng Sáu năm 1941 vào đúng 04.00 giờ sáng hay chưa? Sự sẵn sàng của anh cho chiến tranh là thế này đây. Anh đã có cả một giờ để chuẩn bị sẵn sàng cho tàu ra khơi, vậy thực tế anh cần bao nhiêu thời gian để có thể ra khơi?!" Sau đó anh ta bắt đầu cho báo động tập suốt ngày, nhanh chóng loại bỏ các yếu kém, và khi cần thiết, tàu ngầm sẵn sàng ra khơi tại thời điểm đã định. (http://flot.com/upload/blog/d74//10DiPL_27.jpg) Trao tặng bánh ga tô làm trên tàu cho thuyền trưởng K-204 trung tá hải quân E.V.Orsagosh trong ngày sinh nhật của ông (phía sau thuyền trưởng - thuyền phó chính trị trung tá hải quân G.I.Samonchik). Tháng 4 năm 1982, Ấn Độ Dương, buồng điều khiển trung tâm của tàu ngầm nguyên tử (ảnh do A.F.Kopiev cung cấp). - Sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Con người, sự kiện, con tàu. - St Petersburg, 2005. Số đặc biệt nguyệt san Taifun. Công tác huấn luyện chiến đấu Để duy trì sư đoàn trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao như vậy, khi mà hầu như hàng năm có từ 40% đến 50% tàu ngầm (1978 - năm tàu ngầm, 1979 - năm tàu ngầm, 1980 - sáu tàu ngầm, 1981 - bốn tàu ngầm, 1982 - hai tàu ngầm) đang đi làm nhiệm vụ phục vụ chiến đấu, điều cần thiết là phải tổ chức huấn luyện chiến đấu chuyên sâu với cường độ cao cả trong căn cứ và trên biển, bao gồm hoàn thiện các khoa mục huấn luyện hàng năm, cũng như thực hiện các cuộc xạ kích ngư lôi và tên lửa, đòi hỏi ở bộ tham mưu sư đoàn những nỗ lực tối đa và công tác tổ chức thực hiện rõ ràng chính xác. Hàng năm, mỗi thủy thủ đoàn tàu ngầm phải thao luyện hoàn thiện các môn học: L-1, L-2, L-3 và SL. Khoa mục L-3, ngoài các yếu tố khác, còn bao gồm các bài xạ kích ngư lôi và tên lửa. Ví dụ, khi có 10 thủy thủ đoàn, cơ quan tham mưu và bộ chỉ huy sư đoàn cần phải hàng năm tổ chức đến 120 bài huấn luyện cho các tàu ngầm, trong đó 80 bài cần thực hiện ngoài biển. Người ta đã thực hiện đến 50 cuộc xạ kích ngư lôi và 10 cuộc xạ kích tên lửa, một phần trong số đó diễn ra với việc phóng đạn tên lửa thực sự. Một số cuộc diễn tập chiến thuật được tiến hành với yêu cầu đảm bảo to lớn của các tàu mặt nước và lực lượng không quân hải quân. Tất cả cần được lập kế hoạch, tổ chức và thực hiện một cách trung thực. Khó khăn nhất là tổ chức huấn luyện cho các tàu đề án 675MK sau khi sửa chữa hiện đại hóa ở Primorie và di chuyển căn cứ về Kamchatka. Lý do chính là mức độ huấn luyện yếu kém của các thuyền viên, thiếu kinh nghiệm đi biển, các khuyết tật ẩn giấu trong các bộ phận vật chất, bộ máy nhân sự kém chất lượng. Dưới đây tôi dẫn ra một số cảnh huấn luyện tàu ngầm ở Primorie để phục vụ cho chuyến di chuyển chúng sang Kamchatka. Khi đến Primorye, tôi thấy K-204 và K-116 đang đậu tại bến cảng căn cứ của sư đoàn tàu ngầm số 26. Chúng tôi ra biển trên K-204, tại đó chúng tôi thao luyện bài tập L-2, sau đó trở về căn cứ, bài tập L-2 được điểm đánh giá “tốt". Thuyền trưởng tàu ngầm đại tá hải quân A.A.Chernyshev làm tôi rất hứng thú khi ở ngoài khơi, anh chỉ huy tàu ngầm một cách tự tin và thành thạo. (http://flot.com/upload/blog/870//10DiPL_28.jpg) Ngày hôm sau, chúng tôi chấm bài tập L-1 của K-116 điểm "tốt". Sau đó, trên tàu ngầm này người ta bắt đầu bật hệ thống máy năng lượng chính (GEU) để đi tiếp hoàn thiện bài tập L-2. Khi đưa GEU vào hoạt động đã phát hiện thiết bị bốc hơi bị lỗi, ổ trục tua-bin bên phải bắt đầu bị nóng lên, bánh lái ngang không làm việc. Sau khi loại bỏ những sai sót trên, lúc 08.00 giờ tàu ngầm rời bến. Thuyền trưởng tàu ngầm trung tá hải quân Yu.G.Shestak điều khiển tàu ngầm thiếu chắc chắn. Trong điều kiện hiện tại của cầu tàu №2, tàu ngầm phải ra khỏi vịnh giữa các đê chắn sóng bằng cách đi lùi. Thuyền trưởng không chỉ huy tàu một cách đúng đắn, tàu ngầm ở giữa vịnh đảo hàng trình kế, và trong tư thế như vậy lao vào phía đê chắn sóng. Trong tình hình đó thuyền trưởng hoàn toàn mất bình tĩnh – thêm một phút nữa thôi - sẽ xảy ra một tai nạn đạo hàng. Tôi lấy quyền chỉ huy tàu ngầm, điều đó được ghi trong sổ nhật ký hàng hải. Nhanh chóng thả neo, neo đã bám, tàu ngầm dừng lại cách đê chắn sóng khoảng 100 mét, tôi đảo chiều động cơ xoay mũi tàu quay ra, nhanh chóng nhổ neo và đi ra khỏi vịnh bằng động cơ điện giữa các đê chắn sóng. Đi biển với cương vị chỉ huy cao cấp trên tàu ngầm cũ sau khi sửa chữa cũng tương tự như hoạt động của người phi công thử nghiệm. Chúng tôi bắt đầu thực hành bài tập L-2 trong khu vực huấn luyện chiến đấu. Ở đầu lối ra tại độ sâu 50 m có tiếng gõ máy bơm chu trình tuabin mạn phải. Chuyển lên tư thế nổi,chúng tôi cho mở họng bơm và nhìn thấy một tấm ván 2 dày cm và một miếng cao su. Chiếc máy bơm đã nghiền nát một phần miếng ván gỗ. Nghĩa là các công nhân thường làm việc như thế và rất hay để sót đồ trong tuyến chu trình. Để lấy được miếng ván ra đã tốn mất vài giờ. Cuối cùng, họ cũng làm xong bài tập L-2 và nhận được điểm đánh giá "tốt", sau đó tàu ngầm di chuyển theo tuyến đường thủy ven biển về căn cứ theo sau tàu hộ tống, lần này đó là một tàu quét mìn. Tôi bước lên cầu điều hướng: tầm nhìn 40-50 m, sương mù dày đặc. Tôi yêu cầu các trắc thủ radar báo cáo tình hình, họ báo cáo có đến 15 mục tiêu. Sestak một lần nữa cho thấy sự thiếu cẩn trọng: anh không tuyên bố báo động chiến đấu, chỉ huy nhóm đạo hàng điện tử trung úy Eskov trực hoa tiêu, đài thông tin chỉ huy tác chiến (BIP) không làm việc. Tôi đã phải nhắc nhở anh ấy những biện pháp anh cần phải áp dụng, nhắc anh nhớ lại vụ va chạm của K-56 với tàu nghiên cứu biển "Akademik Berg". (http://flot.com/upload/blog/681//10DiPL_29.jpg) Đài tưởng niệm các thủy thủ tàu ngầm tại thành phố Fokino. (http://www.vetsubmlat.narod.ru/list/pl_5.html) ........... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 12 Tháng Bảy, 2012, 12:23:45 am (tiếp)
Sau đó bắt đầu chuyến hành quân di chuyển căn cứ về Kamchatka. Trên các lối vào eo biển La Perouse, chúng tôi gặp phải một cơn bão. Gần như tất cả các thủy thủ say sóng, thay vì bữa ăn trưa thì trợ lý thuyền trưởng mang lại cho tôi một miếng xúc xích và cá dầy sấy. Khi đến gần Kamen Opasnosty xảy ra một tình huống nguy hiểm như sau: thuyền trưởng tàu ngầm và chỉ huy ngành tác chiến 1 bị say sóng, dòng chảy có tốc độ hơn 6 hải lý, tàu ngầm lao về phía ghềnh đá Kamen Opasnosty. Trong tình hình như vậy một lần nữa tôi phải giành quyền chỉ huy tàu ngầm cho mình: tôi ra lệnh hoa tiêu lên cầu điều hướng, chuyển hướng 40" cho tàu thả trôi và tăng tốc độ của con tàu - các biện pháp đã thực hiện cho phép tránh được mối nguy hiểm. Phần còn lại chuyến hành quân di chuyển diễn ra êm đẹp, và đúng thời gian đã định chúng tôi đã thả neo trong vịnh Krasheninnikov. Khi chúng tôi về đến căn cứ, tư lệnh sư đoàn ngay lập tức cử tôi ra khơi với chức trách chỉ huy cao cấp trên K-10 (với thủy thủ đoàn 273) trong chương trình hoạt động sau khi lên dok sửa chữa. Chúng tôi đi về phía mũi Kozak và bắt đầu điều chỉnh chênh mớn. Trong khi tàu ngầm đang điều chỉnh chênh mớn, tàu trôi về phía cửa sông Avacha, chỉ huy ngành tác chiến 1 thiếu tá hải quân Chirkov không kiểm soát vị trí tàu ngầm, và chỉ sau khi tôi đã ra mệnh lệnh xác định vị trí thì anh ta mới làm việc này. Tàu chỉ còn cách bờ có 8 kabelt. Tôi báo cáo tư lệnh sư đoàn về kết quả của chiến dịch hành quân chiến đấu (trường hợp của Chirkov) mà không được quan tâm, thuyền trưởng tàu ngầm chỉ đề nghị "giáo dục và dạy dỗ" Chirkov. Và một lần nữa, tôi được cử đi huấn luyện chuẩn bị cho K-204 tại Primorie. Người ta đưa tôi đến sân bay vào buổi sáng sớm. Mưa, tuyết lất phất, bầu trời u ám chìm trong mây dày đặc. Mặc dù thời tiết xấu, máy bay vẫn cất cánh và chẳng mấy chốc đã hạ cánh tại Vladivostok, nơi xe ô tô đang chờ tôi. Vịnh Pavlovsky đây rồi. K-204 đang đậu tại bến tàu đầu tiên. Chúng tôi ra biển vào ban đêm. thuyền trưởng trung tá hải quân Anatoly Chernyshev nói với tôi về tình hình công việc: đã bốn tháng tàu ngầm không đi biển, chủ yếu chuyển neo từ bến này sang bến khác, thủy thủ đoàn đã đánh mất kỹ năng hàng hải. (http://flot.com/upload/blog/798//10DiPL_30.jpg) Trung tá hải quân Anatoly Chernyshev (giai đoạn 1973-1975 – thuyền trưởng tàu ngầm đề án 675MK K-175, giai đoạn 1975-1981 – thuyền trưởng tàu ngầm đề án 675MK K-204). - Sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Con người, sự kiện, con tàu. - St Petersburg, 2005. Số đặc biệt nguyệt san Taifun. Rất nhanh chóng tôi bắt gặp ngay điều này trong thực tế. Khi chúng tôi đến khu vực huấn luyện chiến đấu, tôi bước vào cabin hoa tiêu và thấy trưởng ngành tác chiến 1 đại úy hải quân Bashkirov đang say rượu. Thuyền trưởng tàu ngầm nói với tôi rằng Bashkirov là một người nghiện rượu và mong muốn anh ta được chữa khỏi bệnh, nhưng anh ta cứ uống rượu đều đều. Bộ chỉ huy sư đoàn tàu ngầm 26 thực sự không quan tâm đến K-204. Thuyền phó chính trị quay sang cầu cứu chủ nhiệm chính trị sư đoàn tàu ngầm 26 đại tá hải quân Bychkov, anh ta khẩn nài bộ tham mưu và bộ phận chính trị sư đoàn để mắt đến tàu ngầm của họ. Anh ta được trả lời: "Cậu đã nhận được những sỹ quan hải quân! Cậu lại muốn nhận những điều tệ hại! Cậu muốn gì? Hãy ngồi xuống và đừng lộn xộn, hãy làm công tác đảng-công tác chính trị của cậu đi. Để thuyền trưởng của cậu đặt vấn đề với sư đoàn trưởng đại tá hải quân Khvatov". Phó Tư lệnh thứ nhất Hạm đội Thái Bình Dương, Phó Đô đốc E.N.Spiridonov bày tỏ rõ ràng quan điểm của mình qua điện thoại với G.A.Khvatov: "Đồng chí Khvatov, tôi thấy tàu ngầm K-204 không cần thiết với các anh và dường như cũng chẳng cần cho hải quân". Tiếp theo sau, đã có những hướng dẫn về việc chuẩn bị cho tàu ngầm thực hiện hành quân di chuyển căn cứ tới Kamchatka (Tôi đã chứng kiến cuộc trò chuyện này). (http://flot.com/upload/blog/c29//10DiPL_31.jpg) Emil Nikolaevitch Spiridonov. I.N.Dementiev. CON ĐƯỜNG VINH QUANG CỦA ĐÔ ĐỐC E.N.SPIRIDONOV. Kỷ niệm 85 năm ngày sinh. - Lịch sử ngành hoa tiêu. (http://www.shturman-tof.ru/History/History_8/History_8_8_spiridonov.htm) Ngày đầu tiên của chuyến đi biển cho thấy thủy thủ đoàn đã đánh mất rất nhiều kỹ năng sau ba tháng đứng im ở cầu tàu. Chỉ vừa mới hoàn tất việc điều chỉnh độ thăng bằng chênh mớn dọc, đã thấy có tín hiệu báo động khí hydro vượt quá mức cho phép (2,5%). Hóa ra khi tàu đang sửa chữa, việc trực ban thực hiện rất tệ, hệ thống thông gió cho ắc quy bị lắp ráp không đúng. Kể từ khi ra khơi hệ thống thông tin liên lạc phát sinh trục trặc liên tục. Bức điện đầu tiên chỉ được truyền đi ở lần thứ 6, bức điện thứ 2 thì ở lần thứ 3, bức điện thứ 3 thì đến lần thứ 27 vẫn không kết quả. Thường xuyên trong buồng điều khiển trung tâm là cảnh ba hoa xích tốc và chửi thề. Thuyền trưởng ra lệnh cho trưởng ngành tác chiến 5 đóng mạch máy phát, anh kia trả lời: "Tôi sẽ không làm đâu". Các mệnh lệnh không được thực hiện và không được kiểm tra giám sát. Lò phản ứng mạn thứ 2 mãi chúng tôi vẫn không thể cho chạy được do thiết bị bay hơi làm việc kém, nước ăn còn 6 tấn và đang có xu hướng giảm. Đi biển với thủy thủ đoàn ít được rèn luyện là vô cùng khó khăn, nó đòi hỏi phải chịu đựng được sự căng thảng cực lớn về thể chất và tinh thần. Vào thời điểm đó, kíp thủy thủ của K-204 là hiện thân của bộ ba trứ danh trong ngụ ngôn Krylov "Thiên nga, tôm càng và cá măng”. Chúng tôi bơi ở độ sâu kính tiềm vọng khi tầm nhìn là 80 kab.Quan sát qua kính tiềm vọng trợ lý chính của thuyền trưởng phát hiện ra một chiếc thuyền buồm Nhật Bản, anh ta đã ra lệnh cho trắc thủ radar mở phiên trực radar và đo khoảng cách đến chiếc thuyền buồm. Trắc thủ radar đo và báo cáo khoảng cách là 40 kabelt. Tôi đã đi đến chỗ kính tiềm vọng và thấy rằng đã có điều gì đó sai, bởi vì chiếc thuyền buồm Nhật Bản chỉ ở cách chúng tôi một khoảng cách không lớn. Tôi lệnh cho trắc thủ radar tìm hiểu và sau đó họ phát hiện được mục tiêu thứ hai, khoảng cách là 10 kabelt. Như vậy,rõ ràng rằng trợ lý chính của thuyền trưởng và trắc thủ radar không chú ý theo dõi và đã bỏ qua sự xích gần rất nguy hiểm với mục tiêu. Tại thời điểm này radar đã được tắt và bắt đầu một cuộc tranh cãi giữa người chỉ huy ngành tác chiến 5 và ngành trưởng VTĐT xem ai là người có lỗi. Nhờ áp dụng các biện pháp đúng đắn mà trật tự được phục hồi, và chúng tôi may mắn tránh xa khỏi chiếc thuyền buồm Nhật Bản. Đã tìm ra những điều khó chịu khác nữa: bên trong kính tiềm vọng vấy đầy vết sơn và mồ hôi, làm cho việc quan sát trở thành cực kỳ khó khăn. (http://flot.com/upload/blog/21b//10DiPL_32.jpg) Tàu ngầm nguyên tử đề án 675MK trên đường ra khơi tới khu vực huấn luyện chiến đấu. Khoảng 1980. Từ trái sang phải: tư lệnh sư đoàn, Chuẩn Đô đốc A.S.Berzin, thuyền trưởng K-204 đại tá hải quân A.A.Chernyshev, phó trưởng ngành cơ điện sư đoàn trung tá hải quân I.N.Mikhalevsky. - Sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Con người, sự kiện, con tàu. - St Petersburg, 2005. Số đặc biệt nguyệt san Taifun. Chúng tôi tiếp cận khu vực, mà chúng tôi được lệnh chiếm lĩnh. Bức điện báo cáo về việc chiếm lĩnh khu vực đã định được phát đi 13 lần - không có tín hiệu báo nhận. Thay vào đó, từ trực ban tác chiến hạm đội có điện đến: "Hãy báo cáo vị trí hiện tại và hoạt động của anh ". Tôi hiểu rằng do mất liên lạc với chúng tôi nên sỹ quan trực ban tác chiến của hạm đội rất lo lắng và từ nay về sau chúng ta phải hành động một cách nhanh chóng và hiệu quả để thiết lập liên lạc bằng bất kỳ phương tiện nào. Tôi ra lệnh ngay lập tức tiến về mũi Titov, và thông qua trạm quan trắc ở đó chuyển điện báo cáo về trực ban tác chiến hạm đội. Cách 10 dặm, chúng tôi bắt đầu đánh tín hiệu gọi trạm quan trắc bằng đèn chiếu, trạm hồi đáp, nhưng sau đó lại không trả lời cuộc gọi của chúng tôi. Hai giờ sau chúng tôi liên lạc băng VHF được với trạm quan trắc mũi Titov và một tàu tuần tra nào đó. Thông qua họ chúng tôi chuyển được điện báo cáo mình đang ở khu vực mũi Titov, cho tàu thả trôi và khắc phục sự cố thiết bị thông tin liên lạc. Mười giờ, các nhà khai thác vô tuyến đã tìm ra chỗ hư hỏng, và cuối cùng báo cáo về việc khắc phục lỗi. Điện tín đã gửi được cho trực ban tác chiến hạm đội – nhưng vẫn không thấy có tín hiệu báo nhận. Chuyển điện tiếp thêm 10 lần, cũng không có báo nhận. Đi biển như vậy không thể tiếp tục, tôi quyết định cho tàu về căn cứ. Qua trạm quan sát mũi Povorotny chúng tôi đã điện báo cho trực ban tác chiến hạm đội biết mình đang đi về căn cứ do trục trặc của thiết bị thông tin liên lạc. Trong thời gian này người sỹ quan trưởng ngành tác chiến 1 đại úy hải quân Bashkirov say đến nỗi bất động hoàn toàn,người ta mang anh ta vào buồng con quay hồi chuyển và cho anh ta nằm ngủ. (http://flot.com/upload/blog/527//10DiPL_33.jpg) Mũi Povorotnyi. (http://foto.primkray.ru/index.php?a=foto&rid=top&fid=1174809291) Sau khi sửa chữa xong thiết bị thông tin liên lạc, chúng tôi lại ra biển tiến hành xạ kích ngư lôi, đợt xạ kích đã được thực hiện thành công. Tàu ngầm đề án 659 K-66 tiến đến gần chúng tôi (thuyền trưởng – trung tá hải quân G.M.Sizov, chỉ huy cao cấp trên tàu là tham mưu trưởng sư đoàn tàu ngầm 26 đại tá hải quân Yu.M.Samoylov, người mà năm 1976 đã thay thế tôi trên cương vị này sau khi tốt nghiệp học viện). Samoilov được bổ nhiệm thuyền trưởng chỉ huy tàu ngầm K-94 vào năm 1973, khi con tàu bắt đầu được sửa chữa tại nhà máy chữa tàu biển tại cảng Bolshoi Kamen, còn năm 1974 ông theo học tại học viện, điều đó có nghĩa là, ông là người thuyền trưởng tàu ngầm mà không bơi biển, không neo đậu, không xạ kích. Bây giờ, ông ấy đang dạy dỗ các sỹ quan thuyền trưởng phải biết cách đi biển như thế nào. Bởi vì tàu ngầm của chúng tôi là người thực hiện bài tập mà K-66 làm công tác đảm bảo cho chúng tôi, nên qua sóng VHF tôi đưa ra chỉ dẫn và đặt nhiệm vụ cho thuyền trưởng K-66 Sizov. Một vài phút sau, trên băng VHF Samoilov gọi tôi, và tôi bắt đầu được "dạy": "... Chúng ta đang làm mất thời gian, tôi có kinh nghiệm trong việc thực hiện các bài tập ở khu vực này, ý kiến của tôi là ...". Tôi kiên quyết nói với anh ta rằng anh ta ngay lập tức hãy tiến hành các hành động cụ thể đã hướng dẫn. Anh ta phản ứng: "... Nào, chúng ta không hiểu nhau rồi ...". Bài tập được thực hiện tốt, và đạn ngư lôi ngay lập tức được người ta tìm thấy và vớt lên. Theo điều kiện của cuộc xạ kích thì thiết bị gây nhiễu tự hành phải phóng nhiễu trong tư thế nổi. K-66 bắt đầu cơ động theo cách mà nó liên tục tạo ra các tình huống nguy hiểm. Đáp lại lệnh của tôi, tàu thả trôi không phản ứng. Samoilov ba hoa trên băng sóng VHF và cản trở công việc. Có ấn tượng rằng chiếc tàu ngầm đó không có ai điều khiển. Sau đó, tôi đã viết vào sổ nhật ký của mình rằng Samoilov là một con người nguy hiểm, và sớm hay muộn anh ta sẽ tạo ra không tai nạn này thì thảm họa kia. Về sau một chút, Samoilov trở thành người chỉ huy sư đoàn tàu ngầm 26 và nỗi sợ hãi của tôi đã được xác nhận. ....... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 13 Tháng Bảy, 2012, 07:21:09 pm (tiếp)
(http://flot.com/upload/blog/d47//10DiPL_34.jpg) Tàu ngầm đầu đàn đề án 659 "K-45" gia nhập biên chế trang bị của Hải quân Xô Viết vào năm 1961. Vũ khí chính - 6 tên lửa hành trình. (http://www.ckb-rubin.ru/rus/history/pred/1955_1982/img/pic06.htm) K-45 (thuyền trưởng – trung tá hải quân A.V.Konev, chỉ huy cao cấp trên tàu – đại tá hải quân Yu.M.Samoylov), thuộc quân số sư đoàn tàu ngầm 45, ra khơi để thực hành lặn sâu trong khu vực vịnh Cá Voi. Đó là chuyến ra khơi đầu tiên của thuyền trưởng trung tá hải quân A.V.Konev. Trên các lối vào khu vực người ta phát hiện ra sự tập trung của rất nhiều tàu thuyền đánh cá đang trong mùa đánh bắt cá trích. Trực ban tác chiến Hạm đội Thái Bình Dương ra lệnh thả neo trong vịnh Cá Voi cho đến sáng, sau đó đi tiếp vào khu vực lặn sâu. Samoilov ra lệnh cho Konev đi tiếp vào vịnh Cá Voi xuyên qua nhóm tàu đánh cá bằng cách tìm kiếm các vùng trống giữa các con tàu. Konev đề nghị đi vòng tránh các thuyền buồm đó theo hướng ra biển. Đáp lại Samoilov nói với Konev: "Mọi người đều đã đi như vậy ... chúng ta cũng sẽ đi như thế". Samoilov lệnh phải giữ tốc độ 12 hải lý, điều tỏ ra không khả thi trong tình huống này. Họ bắt đầu tiếp cận một nhóm lớn tàu đánh cá tiếp theo, Konev đề nghị: "Cho giảm tốc độ xuống 6 hải lý". Samoilov: "Hãy đi qua một tàu, sau đó hẵng giảm". Ngay từ đầu chuyến ra biển Samoilov đã ra lệnh cho Konev rằng tất cả các thay đổi về hướng và tốc độ chỉ được thực hiện khi ông ta cho phép. Đúng lúc đó tàu đánh cá và bảo quản đông lạnh cỡ lớn BMRT "Novokachalinsk" (Большой морозильный рыболовецкий траулер - БМРТ) bắt đầu rút lui khỏi nhóm tàu đánh cá đang thả trôi, khoảng cách từ tàu ngầm đến nó là 15 kabelt. Trên nền các ánh đèn của các tàu đánh cá, từ K-45 người ta nhận ra động tác cơ động này của BMRT quá muộn. Khi nhìn thấy ánh đèn màu đỏ bên mạn tàu, người ta đảo chiều tiến nhưng tàu ngầm theo quán tính đâm vào đúng phần giữa của BMRT, làm thủng phần mạn tàu đánh cá, bản thân tàu ngầm thì bị xoắn phần mũi thuộc vỏ nhẹ. Không có ai trong số các thuyền viên trên tàu ngầm và BMRT bị thương. Samoilov bị cách tuột chức vụ và cho chuyển ngạch dự bị. Đó là phí tổn của một chính sách cán bộ thô thiển. (http://flot.com/upload/blog/c1e//10DiPL_35.jpg) Konev Aleksandr Vasilevitch, phó đô đốc đã nghỉ hưu, cựu chiến binh thủy thủ tàu ngầm, thành phố Vladivostok. Những bước đi đầu tiên của sư đoàn tàu ngầm 26 Hạm đội TBD. (http://www.farvater-submariners.com.ua/konev_26apl.html) Ngày 31 tháng 8 năm 1977 có mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng gửi đến về việc bổ nhiệm tôi làm tư lệnh sư đoàn tàu ngầm số 10. Chúng tôi đang chuẩn bị cho đợt xạ kích tên lửa, các tàu phải bắn đợt này là K-201 với thủy thủ đoàn tàu ngầm số 305 (trung tá A.F.Kopiev) và K-10 với thủy thủ đoàn tàu ngầm số 273 (trung tá hải quân A.G.Smirnov). Đợt tập bắn đã diễn ra thành công, đạn tên lửa lao trúng mục tiêu. Ngày 07 tháng 9 năm 1977 tôi được thông báo ở Sovietskaya Gavan trên một tàu ngầm của sư đoàn bên cạnh xảy ra một vụ tai nạn vũ khí tên lửa. Khi bốc xếp một tên lửa đạn đạo thì xảy ra rò rỉ nhiên liệu, từ chỗ rò chất oxy hóa, một chất độc cực mạnh, bắt đầu chảy ra. Trong bốn ngày liền, tại đó người ta phải áp dụng các biện pháp khắc phục mà chưa đạt kết quả. Không có thương vong nhân mạng. Trong cùng ngày hôm ấy, chúng tôi đã đón được K-429, con tàu đã thực hiện chuyến hành quân di chuyển căn cứ từ Hạm đội Biển Bắc xuyên ngầm dưới lớp băng của Bắc Băng Dương. Chiếc tàu ngầm nổi lên ở một điểm phía bắc eo biển Bering, đi trên con tàu phá băng đến đón là tham mưu trưởng của tôi, đại tá hải quân O.A.Krestovsky. Thuyền trưởng của K-429 là đại tá hải quân Valentin Tikhonovitch Kozlov, sau chuyến hành quân di chuyển được phong tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô. Chỉ huy cao cấp của chuyến di chuyển này là Phó tư lệnh phân hạm đội tàu ngầm số 1 Chuẩn Đô đốc E.D.Chernov. (http://flot.com/upload/blog/503//10DiPL_36w.jpg) Chuẩn đô đốc Kozlov Valentin Tikhonovich. (http://www.rigapodplav.narod.ru/Sel_Vl_T/list_21.html) Phó Đô đốc Evgeny Dmitrievitch Chernov. (http://../Library/%D0%A2%D0%B0%D0%B9%D1%84%D1%83%D0%BD%D0%92%D1%8B%D0%BF%D1%83%D1%81%D0%BA%D0%B8/55.HTM) Bay đến đón tiếp các thủy binh Biển Bắc là Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương Đô đốc V.P.Maslov, đồng thời còn có mặt bí thư tỉnh ủy Kamchatka đồng chí Kachin. Ngay sau khi tàu neo đậu xong, Maslov, Kachin, Katchenkov và tôi lập tức xuống tàu ngầm. Đi qua các khoang, chúng tôi để ý thấy tàu đang ở trong tình trạng tốt. Đô đốc V.P.Maslov tập hợp các thuyền viên trong khoang thứ 2 (trong phòng ăn), nói về tình hình quân sự và chính trị phức tạp trong khu vực Hạm đội Thái Bình Dương, giao nhiệm vụ cho thủy thủ đoàn và cám ơn mọi người vì chuyển hành quân di chuyển thành công. Sau đó, trên sân lễ của đơn vị đã tổ chức một cuộc mít tinh, toàn bộ phân hạm đội xếp thành đội ngũ, tiếp theo là các bài phát biểu, người ta trao cho thuyền trưởng tàu ngầm "chìa khóa của Kamchatka” (kích thước hơn một mét), bánh mì và muối, kết thúc mít tinh là các cuộc diễu hành trang nghiêm qua lễ đài. Sau đó có một bữa ăn trưa không rượu bia trên tàu doanh trại nổi PKZ -32. Ngày 11 tháng 9 được biết chiếc tàu ngầm bị tai nạn tên lửa từ cảng Sovietskaya Gavan được tàu kéo đưa vào vịnh Avachinsky, tại đó trên kinh tuyến vịnh Bechevinskaya, đậu bên cạnh chiếc tàu ngầm này là hai tàu mặt nước có nhiệm vụ bảo vệ và hỗ trợ cho nó. Tại một thời điểm khi vụ nổ xảy ra, phần đầu tên lửa từ tầng thứ 2 bay ra khỏi container rồi rơi xuống điểm cách tàu ngầm một quãng. Ngày 15 tháng 9 tàu ngầm bị tai nạn tên lửa lại được đưa vào cầu cảng trong hải cảng Sovietskaya Gavan. Một tuần lễ tập huấn-hành quân tại Hạm đội Thái Bình Dương trôi qua. Các tàu ngầm của sư đoàn tàu ngầm số 10 không ra khơi, các thủy thủ đoàn tham gia thiết lập lại trật tự. Ngày 18 tháng 9 từ Vladivostok, trợ lý Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương, chuẩn đô đốc V.Ya.Korban cùng 40 sỹ quan bay đến phân hạm đội tàu ngầm số 2, tới chỗ chúng tôi kiểm tra tình trạng các tàu ngầm. "Cuộc thảm sát các hài nhi" bắt đầu với sư đoàn chúng tôi. K-10 với thủy thủ đoàn tàu ngầm 273 phải đi biển vào ngày 19 tháng 9, và đây người ta kiểm tra nó, cho điểm đánh giá "không đạt". Tất nhiên việc kiểm tra có một khuynh hướng nhất định do vụ tai nạn tên lửa vừa qua, nhưng cơ bản các đánh giá là chính xác. Chuẩn Đô đốc V.Ya.Korban trong một cuộc trò chuyện riêng tư đã nói với tôi: "Đừng tin bất cứ ai, xung quanh đều một lũ gian lận, cậu phải kiểm tra kỹ tất cả". Và cứ mỗi ngày tôi lại càng bị thuyết phục bởi điều ông nói. (http://flot.com/upload/blog/dc7//10DiPL_37.jpg) Ngày 09 tháng 2 năm 1981 trên các trang báo chí của cơ quan trung ương Bộ Quốc phòng Liên Xô, tờ "Sao Đỏ", cũng như trên các trang báo thuộc Hạm đội Thái Bình Dương, tờ "Trực chiến" và các tờ báo nội bộ số lượng ấn bản nhỏ của phân hạm đội xuất hiện cáo phó ... (http://www.bagnet.org/news/world/105181) Ngày 24 tháng 9 có cuộc họp hội đồng quân sự phân hạm đội tàu ngầm số 2, đến tham dự có Phó tư lệnh thứ nhất Hạm đội Thái Bình Dương, Phó Đô đốc E.N.Spiridonov. Vấn đề chính là tai nạn vũ khí tên lửa. Đặc biệt bị khiển trách nặng là tham mưu trưởng sư đoàn tàu ngầm số 25 đại tá hải quân O.A.Erofeev và chủ nhiệm chính trị của cùng sư đoàn đó đại tá hải quân Mikhailenko (vụ tai nạn tên lửa xảy ra ở chỗ họ), phó đô đốc Spiridonov cho họ biết: "Nếu sau ba tháng không thiết lập lại tình thế đúng đắn tại sư đoàn, tôi sẽ quẳng các anh xuống địa ngục". Bị khiển trách còn có trưởng ngành vũ khí tên lửa phân hạm đội số 2 trung tá hải quân Revenkov, người đã gắng bào chữa. Spiridonov nói với anh ta: "Nếu tình trạng công tác chuẩn bị vũ khí tên lửa không được cải thiện, tôi sẽ chuyển anh xuống tàu ngầm làm chỉ huy phân đội". Đầu đạn của tên lửa hạt nhân đã được tìm thấy và đưa về cảng Sovietskaya Gavan. Từ 12 tháng 11 - 2 tháng 12, tôi ở Primorie, nơi có hai tàu ngầm của chúng tôi K-204 và K-175 đang ở đó. Tôi phải tham gia việc chuẩn bị và điều hành việc tập bắn tên lửa trên tàu ngầm K-175. Tàu đã phóng hai đạn tên lửa, cả hai đều bắn trúng mục tiêu. Tôi sẽ mô tả một trong những cuộc tập trận sát hạch chiến thuật tại sư đoàn chúng tôi. Buổi sáng tôi dẫn dắt K-48, K-108, K-175 và K-429 ngoài biển, những tàu ngầm này bắt đầu triển khai trong khu vực tập trận, còn buổi chiều tư lệnh phân hạm đội tàu ngầm số 2 phó đô đốc B.I.Gromov cùng một phần ban tham mưu của mình và tôi chuyển sang tàu khu trục "Vliachennyi", sau đó bắt đầu hành quân đến khu vực tập trận. (http://flot.com/upload/blog/73a//10DiPL_38.jpg) Tàu khu trục đề án 56 trên biển. (http://www.atrinaflot.narod.ru/2_mainclassships/05_em_56/0_56.htm) Tàu khu trục đóng vai biên đội tàu chiến (OBK) Hoa Kỳ. Toàn bộ ban tham mưu sư đoàn tàu ngầm số 10 cũng ra biển trên các tàu ngầm để theo dõi và hỗ trợ họ trong cuộc tập trận. Tại lối ra, tàu ngầm K-429 (trên tàu là thủy thủ đoàn số 305 -chỉ huy – trung tá hải quân A.F.Kopiev) phát hiện ra chúng tôi, tàu ngầm bám theo OBK, báo cáo về sở chỉ huy bờ và thông báo trên mạng hiệp đồng chiến thuật các tàu ngầm về tình trạng vị trí của OBK cùng các yếu tố chuyển động của chúng. Các tàu ngầm còn lại xếp thành đội hình chiến đấu, theo dõi OBK bằng khí tài của mình và theo lệnh mà thực hành đòn tấn công tên lửa. Vào cuối cuộc diến tập, trên tàu K-429 do một lỗi mà thiết bị kéo cứu nạn khẩn cấp (ABU - аварийное буксирное устройство - АБУ) bị ảnh hưởng và dây cáp của nó tuột bung ra trên toàn bộ chiều dài. Người chỉ huy tàu ngầm thông báo: "Tôi không thể lặn, tôi bị hỏng ABU". Chuyên gia cứu nạn khi mã hóa bức điện đã bỏ sót chữ cái "U" đi cùng chữ ABU, thành ra chữ AB, tức là trên bờ người ta nhận được một bức điện theo dạng như sau: "Tôi không thể lặn, tôi có vấn đề về AB". AB - có nghĩa là ắc quy. Trên bờ suy nghĩ, "Chuyện gì ở đó vậy? Nổ? Cháy?" Cuối cùng rồi người ta cũng hiểu ra. .......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 14 Tháng Bảy, 2012, 12:03:44 am (tiếp)
Sau khi kết thúc cuộc tập trận sát hạch chiến thuật chúng tôi bắt đầu thực hành phóng tên lửa P-6. K-48 (trung tá hải quân V.I.Rovensky) là tàu đầu tiên phóng đạn. Người ta cho phép tàu ngầm phóng nhưng tên lửa không khởi động thành công. Cho phép phóng lần thứ hai, đạn tên lửa đã bay đi – rơi trúng bia mục tiêu. Tàu bắn thứ hai là K-108 (đại tá hải quân V.L.Ratnikov). Tàu ngầm được phép bắn và đạn tên lửa bay ra – lao trực tiếp trúng bia mục tiêu. Sau đó, chúng tôi trở về căn cứ. Sau cuộc kiểm tra đầu tiên sư đoàn tàu ngầm số 10 của Thanh tra Bộ Quốc phòng, chúng tôi được chỉ thị rằng từ nay về sau việc bắn tên lửa sẽ tiến hành trên mục tiêu di động, mà tại thời điểm đó trong Hải quân còn chưa thực hiện, nhưng "cái khó sẽ ló cái khôn". Sau đó K-178 đề án 658 (trung tá hải quân Galko) tiến hành tập trận với mục tiêu được kéo di động. Tôi được bổ nhiệm làm người lãnh đạo cuộc diễn tập này, và phải ở trên tàu ngầm K-178. Chúng tôi rời căn cứ đến vịnh Sarannaia, thả treo tại đó và chờ đợi tàu kéo bia mục tiêu, buổi chiều bia được kéo đến bởi chỉ huy tiểu đoàn tàu cứu hộ độc lập (tiểu đoàn 438) phân hạm đội tàu quân sự Kamchatka, chuẩn đô đốc A.N.Lutsky. (http://flot.com/upload/blog/463//10DiPL_39.jpg) K-178 đề án 658 ra khơi luyện tập với mục tiêu kéo. – Sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Con người, sự kiện, con tàu. - Saint-Petersbourg, 2005. Số đặc biệt nguyệt san Taifun. Với sự giúp sức của tàu phóng lôi người ta dắt cáp kéo sang tàu ngầm và bắt đầu kéo mục tiêu vào khu vực lặn, ở đó họ lặn xuống và bắt đầu kéo mục tiêu trong tư thế chìm ở các độ sâu khác nhau: 40, 50 và 60 m, cũng như ở các tốc độ khác nhau, nhưng không quá 7,5 hải lý, vì sợ rằng mục tiêu sẽ bị phá hỏng. Các khu vực huấn luyện chiến đấu, mà trong đó các tàu ngầm của chúng tôi thực hành thao luyện các bài tập của mình, cùng một lúc là khu vực đánh bắt cá, mà hầu như luôn luôn có mặt các loại tàu đánh cá. Điều đó đôi khi cũng gây ra sự cố và tôi sẽ cố gắng chỉ ra trong ví dụ sau đây diễn ra từ thực tế cuộc sống. Khi ra khơi trong các hoạt động tiền chiến dịch trên tàu ngầm K-43 cùng thủy thủ đoàn 305 (trung tá hải quân V.F.Doroghin), chúng tôi đi qua tuyến đường đo đạc tham số tư thế nổi, xác định độ lệch xong rồi tàu di chuyển tiếp đến khu vực lặn sâu, nơi đó K-429 đang chờ sẵn chúng tôi, trên tàu có phó tư lệnh sư đoàn đại tá hải quân V.T.Kozlov. Chếch về phía Bắc, cách chúng tôi khoảng 10 dặm, có chừng 50 tàu thuyền đánh cá. Chúng tôi bắt đầu lặn sâu. Đã 56 phút lặn trôi qua, chợt chúng tôi nghe thấy tiếng một cú đập mạnh vào thân tàu, độ sâu lặn đang là 100 m. Sau đó thủy thủ trưởng báo cáo có hiện tượng thất tốc: từ 6,5 hải lý giảm xuống 3,5 hải lý. Tôi hiểu rằng tàu ngầm đã mắc vào lưới quét, biến thành một chú cá bị tàu đánh cá kéo. Tôi yêu cầu K-429 báo cáo tình hình qua đường liên lạc bằng thủy âm ngầm dưới nước . Chúng tôi được trả lời: trong khu vực tàu ngầm của chúng tôi có 2 tàu đánh cá và một tàu trong số đó báo cáo về căn cứ bờ của mình rằng họ đã bắt được "một cái gì đó" và "một cái gì đó" đang kéo họ tới một hướng mà họ chưa biết. K-43 giảm tốc độ và chuyển lên độ sâu 50 mét. Không giương kính tiềm vọng và vừa quan sát qua kính tiềm vọng từ hầm tàu theo cách giống như khi nổi lên trong biển băng, chúng tôi cho tàu ngầm từ từ đi lên. Không ngừng quan sát các tàu đánh cá qua hệ thống sonar, chúng tôi cho thả ba phao khí để xác định vị trí của mình. Tàu đã nổi lên, chúng tôi kiểm tra đường chân trời qua kính tiềm vọng: bên trái hướng 45", ở khoảng cách 150 m có 1 tàu đánh cá, bên phải hướng 90", ở khoảng cách 6 kabelt có 1 tàu nữa. Chúng tôi cho thổi ballast chủ, đội thủy thủ neo đậu trèo lên mặt boong. Cuối cùng chúng tôi đã thoát được khỏi đường dây cáp lưới quét, mà chiếc tàu seiner đánh cá đang dùng tời kéo lên boong tàu mình. Trường hợp tương tự cũng xảy ra với một tàu ngầm tuần dương chiến lược mang tên lửa đạn đạo (RPKSN) của sư đoàn tàu ngầm số 8. (http://flot.com/upload/blog/cdd//10DiPL_40.jpg) K-201 ra khơi thao luyện và trả bài kiểm tra khoa mục huấn luyện, năm 1984. Trong khoang chắn buồng bền trên tháp chỉ huy tàu ngầm (trái sang phải): trợ lý thuyền trưởng thiếu tá hải quân S.A.Shevchenko, thuyền trưởng tàu ngầm đại tá hải quân B.G.Blednov, tư lệnh sư đoàn đại tá hải quân N.N.Alkaev (ảnh do N.N.Alkaev cung cấp). - Sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Con người, sự kiện, con tàu. - Saint-Petersbourg, 2005. Số đặc biệt nguyệt san Taifun. Khi lập kế hoạch tập bắn tên lửa đôi khi cũng xảy ra chuyện nọ chuyện kia, tôi sẽ chỉ ra trong ví dụ sau. Tôi ra biển chỉ huy tập bắn ngư lôi cho K-201 (trung tá hải quân B.G.Blednov), cuộc xạ kích thành công. Vào buổi chiều khi về tới căn cứ, người ta báo cáo tôi rằng, tại phân hạm đội tàu quân sự Kamchatka theo lệnh của chuẩn đô đốc tư lệnh G.A.Khvatov, họ từ chối (tham gia) thực hiện các cuộc xạ kích tên lửa trong kế hoạch, các cuộc xạ kích này đã được chúng tôi chuẩn bị hai tháng nay. Chuyện đó đã được họ báo cáo lên bộ tham mưu hạm đội. Tham mưu trưởng Hạm đội Thái Bình Dương, Phó Đô đốc R.A.Golosov ra lệnh cho G.A.Khvatov cung cấp vật chất đảm bảo cho các cuộc xạ kích tên lửa. Khvatov ngay lập tức gọi điện thoại cho Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương, Đô đốc Sidorov, và nói: "Tư lệnh đã ra chỉ thị tiết kiệm nhiên liệu, vậy tư lệnh hãy quyết định có chia sẻ nguồn đảm bảo cho cho các cuộc xạ kích tên lửa của sư đoàn tàu ngầm 10 hay không”. Sidorov trả lời: "Anh hãy thỏa thuận với Pavlov". Tôi hỏi tham mưu trưởng phân hạm Kamchatka G.F Avdokhin về quyết định tiếp theo và nhận được câu trả lời: "Tôi chẳng biết gì cả". Ngày hôm sau lúc 11,00 giờ G.F.Avdokhin gọi điện đến thông báo rằng cần có người đến phân hạm Kamchatka (KBF-КВФ)lập kế hoạch bắn tập tên lửa, mặc dù đây là chức năng của bộ tham mưu phân hạm đội. Làm gì đây? Tôi đi xe U oát đến bộ tham mưu KVF với trưởng ngành tên lửa sư đoàn chúng tôi trung tá hải quân Kasko. Chúng tôi đã tới nơi, đã lên kế hoạch các hoạt động và đã thảo luận tất cả các vấn đề. Mãi chiều tối, chúng tôi mới trở về nhà. Sau một ngày đêm chúng tôi xây dựng xong bản hướng dẫn về xạ kích tên lửa tại văn phòng của tôi. K-201 (trung tá hải quân B.G.Blednov) cần phải bắn một đạn tên lửa vào mục tiêu cố định còn K-320 (trung tá hải quân N.V.Anikin) cần phải bắn bốn đạn tên lửa vào mục tiêu di động, mục tiêu này sẽ được kéo bởi K-178 ở tư thế bơi ngầm. Sáng sớm, đi trên một tàu phóng lôi chúng tôi đến vịnh Ilitchev, tại đó chúng tôi lên tàu tuần tra "Storozhevyi" và ra khơi. (http://flot.com/upload/blog/667//10DiPL_41.jpg) SKR "Storozhevyi" đề án 1135. (http://www.atrinaflot.narod.ru/2_mainclassships/06_skr_1135/0_1135_1.htm) Tôi hướng dẫn các bài tập chiến thuật và xạ kích tên lửa. Chúng tôi bắt đầu tập luyện, các tàu ngầm trong tư thế lặn thực hành theo dõi OBK (SKR "Storozhevyi"), một giờ sau khi bắt đầu buổi tập, trực ban tác chiến KVF chuyển cho tôi một bức điện: "cho tàu ngầm nổi lên ngay lập tức, áp dụng các biện pháp đưa tàu ngầm nổi lên mặt biển, bởi vì một tàu ngầm nguyên tử của sư đoàn tàu ngầm số 45 đang trở về căn cứ sau khi hoàn thành chiến dịch phục vụ chiến đấu". Thuyền trưởng chiếc tàu ngầm này được trực ban tác chiến ra lệnh nổi lên hành trình trên mặt nước, nhưng thuyền trưởng không hiểu vì lý do nào đó vẫn tiếp tục đi ngầm. Sau khi thực hiện tất cả các biện pháp tôi đã chuyển được lệnh cho K-212 và K-320 nổi lên mặt biển, mệnh lệnh này đã được hoàn thành. Sau hai giờ, người sĩ quan trực ban tác chiến cho phép cuộc tập luyện tiến hành tiếp tục, và chúng tôi đã thực hiện tiếp. Trên SKR "Storozhevyi" chúng tôi đến khu vực bố trí trận địa hỏa lực, tại đó chúng tôi gặp K-201. Tôi được trực ban tác chiến cho biết toàn bộ các lực lượng đã được triển khai. Đúng giờ quy định K-201 thực hành xạ kích và đạn phóng trúng trực tiếp mục tiêu. Máy bay-quan sát báo cáo trong khu vực bia mục tiêu có tàu ngầm nguyên tử Hải quân Hoa Kỳ đang ở trên chiều sâu kính tiềm vọng quan sát cuộc xạ kích của chúng tôi. Trực ban tác chiến không tiếp nhận báo cáo đó một cách nghiêm túc. Bắt đầu chuẩn bị cho đợt xạ kích của K-320. Người ta truyền lệnh cho K-178: "Chuẩn bị cho kéo bia mục tiêu". Thuyền trưởng K-178, rõ ràng đã quên mất bản hướng dẫn và các tài liệu đang nằm trong tay anh ta. K-178 lặn xuống theo mệnh lệnh nói trên và bắt đầu kéo bia mục tiêu, quên cả việc báo cáo hành động lặn của nó. Chúng tôi rơi vào trạng thái vô cùng căng thẳng, đặc biệt là khi đường liên lạc với tàu ngầm không thiết lập được. ........ Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 14 Tháng Bảy, 2012, 11:19:19 am (tiếp)
(http://flot.com/upload/blog/e8d//10DiPL_42.jpg) Phóng tên lửa chống hạm "Amethyst" từ tàu ngầm đề án 670. Tên lửa đi lên từ độ sâu dưới mặt nước biển. Tôi ra lệnh cho máy bay báo cáo xem K-178 đang làm gì, nó trả lời đang quan sát bia mục tiêu còn K-178 không phát hiện ra. Tôi giải thích toàn bộ tình hình cho phi công và yêu cầu một lần nữa quan sát bia mục tiêu ở độ cao thấp. Máy bay hạ sát xuống mặt biển kiểm tra và báo cáo: "K-178 không thấy". Chỉ khi đó tôi mới hiểu K-178 đang bắt đầu kéo bia mục tiêu ở tư thế bơi ngầm, và sau đó đã cho phép K-320 khởi động quá trình phóng tên lửa . Ba đạn tên lửa đã phóng đi thành công và rơi trúng mục tiêu, quả đạn thứ tư bay ra khỏi container rồi ngay lập tức rơi xuống nước và chìm luôn. K-201 nhận điểm xạ kích tên lửa "xuất sắc", còn K-320 được điểm "tốt." (http://flot.com/upload/blog/0a9//10DiPL_43.jpg) Hoàn thành việc thực hiện thao tác cơ động “dốc gù”. - Sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Con người, sự kiện, con tàu. - Saint-Petersbourg, 2005. Số đặc biệt nguyệt san Taifun. Thông thường trong mùa đông vì các điều kiện băng giá phức tạp nên không thể thực hiện bắn ngư lôi tại khu vực huấn luyện chiến đấu. Vậy nhưng vào tháng Hai, tôi vẫn ra biển trên K-134 hướng dẫn bắn ngư lôi. Toàn bộ vịnh Avachinsky đóng băng, bắn ngư lôi là chuyện không thể. Đô đốc Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương V.P.Maslov cho phép thực hiện tất cả các cuộc xạ kích ngư lôi bằng ngư lôi bọt (ngư lôi-đần, chàng-bong bóng: торпеда-дура, пузырь-молодец) mà chúng tôi đã thực hiện thành công. Tôi không nhớ được bất kỳ một hoạt động tập huấn chỉ huy nào được tiến hành bởi các bộ tham mưu cấp cao hơn mà mang lại được một chút lợi ích. Các cuộc họp về chuyên đề đảm bảo độ bí mật cho các tàu ngầm đã diễn ra nhiều, và bộ chỉ huy phân hạm đội, bộ chỉ huy sư đoàn chăm chú lắng nghe, lãnh đạo tất cả các cuộc hội họp đó là Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương Đô đốc V.P.Maslov. Nhưng về việc giữ bí mật các hành động của tàu ngầm tại các cuộc họp này thì tôi chẳng nghe thấy điều gì mới: đổ một chiếc ly không chứa gì qua lưới lọc. Sau đó chúng tôi chuyển sang nghe tư lệnh phân hạm đội. Người đầu tiên đọc báo cáo là tư lệnh phân hạm tàu ngầm số 2 phó đô đốc B.I.Gromov, ông liệt kê một số nguyên nhân cản trở việc tổ chức huấn luyện chiến đấu và đảm bảo sẵn sàng chiến đấu cho các tàu ngầm Maslov nhận xét: "Những quả trứng gây khó cho chàng vũ công tồi". Tiếp theo, cấp phó của tôi phụ trách ngành cơ điện hảng hải đại tá hải quân Baklashov bị người ta hỏi về tiếng ồn. Anh ta đáp: Tại nhà máy "Zvezda" không có phòng thí nghiệm về tiếng ồn". Maslov: "Anh hỏi ai mà biết?" Baklashov: "Tôi đã nói chuyện với Dolgov giám đốc nhà máy". Maslov: "Nhưng tôi nghĩ anh đã hỏi cô thư ký của Dolgov, cô ta không nói cho bất cứ ai biết đâu". Tiếp theo tất cả vẫn cùng một kiểu chán phè. Mọi người bắt đầu nghe TMT phân hạm đội Kamchatka chuẩn đô đốc G.F.Avdokhin. Người ta đề nghị ông đọc tên theo họ các thuyền trưởng tàu ngầm và các trợ lý chính của thuyền trưởng cho đến giờ vẫn chưa thi được lấy bằng điều khiển tàu ngầm độc lập, ông ấy liệt kê ra. Sau đó người ta bắt đầu đặt câu hỏi với Katchenkov. Maslov: “Có bao nhiêu tàu ngầm đang sửa chữa ở Primorye ? " - Không biết. "Có bao nhiêu tàu ngầm ở sư đoàn tàu ngầm số 45?" - Không biết. "Chính xác cá nhân anh đã làm những gì để góp phần nâng cao kỷ luật quân đội và cải thiện chất lượng trực ban-canh gác?" - Katchenkov: "Vấn đề này tôi được báo cáo ...". Maslov: "Ồ không, tôi hỏi chính xác những gì cá nhân anh đã tự làm cơ?" - Im lặng. Sau đó Maslov ra lệnh cho Katchenkov và Gromov hãy cho biết đặc điểm tích cách của các đơn vị trưởng, thuyền trưởng và các chủ nhiệm chính trị, Katchenkov không thể nói được điều gì thực sự có ý nghĩa về các chủ nhiệm chính trị của mình, ông ấy chỉ nói được những điều nhảm nhí. (http://flot.com/upload/blog/646//10DiPL_44.jpg) Bố trí bên trong tàu ngầm nguyên tử đề án 667-B. 1 - ống phóng ngư lôi 533 mm và 400 mm đằng mũi, 2 – đạn ngư lôi dự trữ, 3 – cửa bốc xếp đạn ngư lôi vào tàu, 4 – anten hệ thống sonar "Kerch", 5 - ắc quy, 6 - thiết bị nổi-cứu hộ, 7 – khu chắn của buồng bền, 8 - cột kéo xếp kính tiềm vọng và ăng-ten, 9 - phòng điều khiển trung tâm, 10 – hầm chứa (phóng) tên lửa đạn đạo R-29, 11 - cửa nắp hầm tên lửa trên cấu trúc boong thượng, 12 – khoang đặt lò phản ứng, 13 - khoang GTZA, 14 – trục chân vịt đẩy, 15 - chân vịt đẩy, 16 – cánh đuôi đứng, 17 – vỏ bền, 18 – vỏ nhẹ. - Site "ATRINA» • SSBN đề án 667-B "Murena» • Delta-I class. (http://www.atrinaflot.narod.ru/1_submarines/01_plarb_667b/0_667b_1.htm) Tối ngày 29 Tháng Bảy năm 1978 trong khu vực tiến hành lặn sâu, hai tàu ngầm nguyên tử của sư đoàn tàu ngầm số 25 đâm vào nhau, cả hai đều là tàu ngầm tuần dương chiến lược. K-477 đang thực hành lặn sâu, chỉ huy cao cấp trên tàu là phó tư lệnh phân hạm đội tàu ngầm số 2 chuẩn đô đốc A.N.Lutsky. K-171 là tàu đảm bảo công tác lặn sâu chỉ huy cấp cao trên tàu là tư lệnh sư đoàn tàu ngầm 25 chuẩn đô đốc V.V.Privalov. Trước khi nổi lên, người ta đã bỏ qua các hành vi vi phạm của cả 2 tàu ngầm góp phần gây ra vụ va chạm của chúng. K-477 đâm phần mũi vào đáy K-171, kết quả cả hai đều bị các vết thương khác nhau, chỉ có thể loại bỏ tại nhà máy. Sự vụ đồi hỏi phải cho tàu lên dock nổi. Một tàu ngầm tuần dương chiến lược cần phải bước vào trực ban chiến đấu, tàu kia đi thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu. Tất cả những điều này, tất nhiên, đã bị phá sản. Trong thời tôi còn phục vụ, người ta dành nhiều sự quan tâm cho việc đi biển trong các nhóm chiến thuật. Ví dụ, cùng với K-320 và K-201, chúng tôi đã hoàn thiện các yếu tố bơi tàu trong nhóm chiến thuật. Thanh tra Bộ Quốc phòng đã chỉ ra rằng trong sư đoàn chúng tôi việc cần làm là hoàn thiện các hành động trong nhóm chiến thuật, và tôi thuyết phục bộ tham mưu và các thuyền trưởng tàu ngầm tin vào điều đó. Chúng tôi bắt đầu thực hiện liên lạc trong mạng hợp đồng chiến thuật. Nếu có dù chỉ một tàu ngầm nguyên tử của chúng tôi ra khơi, các tàu ngầm còn đậu ở bến tàu sẽ mở máy thu trực ban trong mạng hợp đồng chiến thuật. Từ biển, tàu ngầm chuyền điện tín về bờ và bức điện ấy được lặp lại trong mạng hợp đồng chiến thuật. K-320 và K-201 bắt đầu bơi chung và thực hành liên lạc thủy âm ngầm dưới nước. Ở tốc độ 6 hải lý đã đạt được những kết quả sau: 10 dặm: liên lạc điện thoại, 13 dặm: liên lạc mã hóa. Tiếp theo bắt đầu tập luyện và hoàn thiện các yếu tố cơ động chung tại tốc độ 6 hải lý và 18 hải lý. (http://flot.com/upload/blog/9aa//10DiPL_45.jpg) Neo tàu vào cầu cảng sau khi K-201 trở về từ chiến dịch đi biển thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu, vịnh Krasheninnikov, tháng 3 năm 1979. Hàng đầu: thủy thủ trưởng chuẩn úy hải quân A.I.Isaev. Hàng thứ hai (từ trái sang phải): trung tá hải quân A.F.Kopiev, thuyền trưởng thứ hai - đại tá hải quân A.A.Shikov, thuyền phó chính trị, đại tá hải quân A.M.Sarnitsky, trợ lý chính cho thuyền trưởng E.P.Myakishev (ảnh của A.F.Kopiev cung cấp). - Sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Con người, sự kiện, con tàu. - St Petersburg, 2005. Số đặc biệt nguyệt san Taifun. Người ta thực hành xác định khoảng cách đến mục tiêu bằng phương pháp tam giác đạc. Khi xác định vị trí tiếp theo họ nhận được một sai số 8,5 dặm, vượt quá tất cả các tiêu chuẩn. Tôi phải nói rằng, trên tàu ngầm, hoa tiêu thứ 2 là người được biệt phái công tác, thiếu tá hải quân Chirkov (thời điểm này tôi tạm bỏ qua). Vâng, đó là Chirkov của thủy thủ đoàn tàu ngầm số 273, mà tôi đã cùng họ đi biển thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu, người ta vẫn tiếp tục dạy dỗ anh ta ... Vì sai số này mà tôi bắt đầu tìm hiểu, và, tất nhiên, Chirkov, làm "hài lòng" tôi bởi sự thiếu hoàn toàn kiến thức về tính toán dòng chảy. Các cuộc kiểm tra sư đoàn của thanh tra Bộ Quốc phòng Ngày 05 Tháng 9 năm 1978 đoàn thanh tra của Bộ Quốc phòng đến với thành phần như sau : Phó Đô đốc A.M.Gontaev. Chuẩn Đô đốc I.I.Karachev, Chuẩn Đô đốc V.N.Chernavin và cùng với họ là một nhóm sĩ quan. Phó Đô đốc A.M.Gontaev nghe báo cáo của tư lệnh phân hạm tàu ngầm số 2 Phó Đô đốc Gromov và chủ nhiệm chính trị - Ủy viên Hội đồng quân sự chuẩn đô đốc Katchenkov, sau đó thông báo cho họ kế hoạch kiểm tra. Cần phải kiểm tra sư đoàn tàu ngầm số 8 và số 10. Họ bắt đầu bằng việc kiểm tra các khẩu đội tác chiến hạm (KBR - КБР) trên tàu ngầm. Ba khẩu đội của các tàu được gửi đi kiểm tra: K-429 (đại tá hải quân V.T.Kozlov), thủy thủ đoàn tàu ngầm số 305 (trung tá hải quân A.F.Kopiev) và K-175 (trung tá hải quân A.A.Krylov). Phó Đô đốc A.M.Gontaev và Chuẩn Đô đốc I.I.Karachev kiểm tra các khẩu đội. K-429 kiểm tra đầu tiên trên thiết bị huấn luyện mô phỏng "Brest". Nhiệm vụ là tấn công nhóm tàu sân bay xung kích có tốp tàu sân bay xung kích chống ngầm làm nhiệm vụ phòng thủ chống ngầm đi kèm (AUG có APUG PLO), đồng thời cần phải tấn công bằng ngư lôi tàu sân bay đổ bộ chở máy bay trực thăng, còn tấn công tàu sân bay xung kích bằng tên lửa "Amethyst". Trước khi thực hiện các bài tập, toàn bộ thành viên của khẩu đội tác chiến hạm phải trả lời các câu hỏi chuyên ngành và mỗi câu đều được cho điểm đánh giá. Trong quá trình thực hiện các bài tập trên thiết bị huấn luyện mô phỏng, KBR của K-429 được đánh giá "đạt", điểm mà khi thanh tra là hoàn toàn thỏa mãn. (http://flot.com/upload/blog/27a//10DiPL_46.jpg) Cờ tặng của Bộ Quốc phòng năm 1977 cho K-429. Tiếp theo người ta kiểm tra KBR thuộc thủy thủ đoàn tàu ngầm số 305 (trung tá hải quân A.F.Kopiev). Thực hiện các bài tập tương tự, thủy thủ đoàn tàu ngầm này hành động tự tin hơn và bằng ý chí quyết tâm cao hơn, kết quả họ được điểm đánh giá "tốt". Sau đó người ta kiểm tra KBR thuộc thủy thủ đoàn tàu ngầm trên K-175 (trung tá hải quân A.A.Krylov) và K-10 (trung tá hải quân V.N.Medvedev), ở đây đã xảy ra một chướng ngại lớn, họ bị đánh giá điểm "không đạt", không phải vì họ thiếu kiến thức và kỹ năng, mà do sự hoảng hốt trước các quan chức cấp cao và sự hồi hộp lo lắng không cần thiết. Sau đó người ta cho họ cơ hội để làm lại, và họ được đánh giá điểm "đạt yêu cầu." ......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 15 Tháng Bảy, 2012, 06:48:46 pm (tiếp)
Ngày 06 tháng 9 kiểm tra các KBR, kiểm tra huấn luyện thể chất và làm việc với các thành viên trên K-134 và K-204. Điểm đánh giá đều tích cực. Ngày 8 tháng 9 kiểm tra việc đào tạo bồi dưỡng lý luận Marxcist-Leninist trên К-10 и К-175. Điểm đánh giá đều tích cực. Đầu giờ buổi chiều toàn thể phân hạm đội đón K-212 (trung tá hải quân A.A.Gusev) và K-325 (trung tá hải quân V.P.Lushin), những người vừa đến từ Hạm đội Biển Bắc, sau khi thực hiện chuyến di chuyển trong đội hình một nhóm chiến thuật dưới lớp băng của Bắc Băng Dương. Chỉ huy nhóm chiến thuật là tư lệnh phân hạm đội tàu ngầm số 1 chuẩn đô đốc R.A.Golosov, đảm nhiệm cương vị chỉ huy cao cấp trên tàu ngầm kia là tư lệnh sư đoàn tàu ngầm số 11 đại tá hải quân E.A.Tomko. Người ta tổ chức mít tinh, bàn giao chìa khóa tượng trưng của Kamchatka, bánh mì với muối, và heo quay. Đoàn thanh tra Bộ Quốc phòng tiếp tục công tác kiểm tra. (http://flot.com/upload/blog/4a8//10DiPL_47.jpg) Egor Andreevitch Tomko (https://picasaweb.google.com/vladislavnik9/pmWcKI) Để tham gia tập trận sát hạch chiến thuật, đoàn Thanh tra đã chỉ định ba tàu ngầm (K-10, K 201 và K-429), tiếp theo các tàu ngầm này cần phải thực hành phóng đạn thật tên lửa. Ngày 10 tháng 9 tại phân hạm đội đã tuyên bố lệnh triệu tập khẩn, sau đó toàn phân hạm chuyển sang trạng thái sẵn sàng chiến đấu đầy đủ. Các tàu ngầm của chúng tôi đầu tiên đi ra khơi đến khu vực đã định, tới các các điểm triển khai phân tán, tất cả được thực hiện kịp thời gian và không có gì sơ suất. Trước khi diễn tập chiến thuật, tôi đã lập kế hoạch cho tàu ngầm K-429 làm nhiệm vụ theo dõi, nhưng thuyền trưởng đại tá hải quân V.T.Kozlov yêu cầu tôi không đặt nhiệm vụ theo dõi cho anh, bởi vì anh được huấn luyện rất tồi về việc này. Sau đó, tôi trao nhiệm vụ trên cho K-201 (với thủy thủ đoàn tàu ngầm số 305), thuyền trưởng trung tá hải quân A.F.Kopiev xác nhận rằng ông sẽ hoàn thành nhiệm vụ được giao. Ngày 14 cuộc tập trận chiến thuật đã được tổ chức. Tôi đi biển trên trên K-201 với cương vị chỉ huy nhóm xung kích. Trong hầu hết thời gian các bài tập trận, K-201 đã theo dõi thành công OBK và truyền điện tín vào bờ và vào mạng hợp đồng chiến thuật, thuyền trưởng trung tá hải quân A.F.Kopiev đã làm sống lại niềm hy vọng của tôi. Tất cả mọi thứ đều tốt đẹp, nếu như K-201 không chịu một thất bại bất ngờ: bộ lọc xử lý cơ học nước chu trình 2 bị thủng miếng đệm và nước bắt đầu chảy ra khỏi chu trình thứ 2 vào hầm tàu. Bắt buộc phải ngắt lò phản ứng, nổi lên mặt biển, loại bỏ lỗi và khởi động lại GEU, thời gian mất khoảng ba giờ. Chúng tôi không thể bắt kịp OBK nữa. Tất cả ba tàu ngầm đều thực hiện đòn tấn công tên lửa giả định theo các số liệu của các phương tiện quan sát và tính toán của bản thân mình. Sau đó chúng tôi tiến hành phóng đạn thật tên lửa. Các tàu ngầm đã phóng đạn xong, K-429 (điểm "xuất sắc"), K-201 (điểm "tốt"). Cuộc xạ kích cuối cùng của K-10 diễn ra một giờ trước khi mặt trời lặn, nhưng bỗng xuất hiện hai tàu đánh cá Hàn Quốc, những chiếc tàu này phải rút khỏi khu vực tập bắn, cuộc xạ kích chậm lại một giờ, nghĩa là đạn bắn đi gần như trong bóng tối. Không thể làm như vậy, vì máy bay quan sát không nhìn thấy được kết cục tên lửa có bắn trúng mục tiêu hay không. Phi công báo cáo rằng đạn tên lửa dường như không bay tới bia mục tiêu, nhưng anh ta không khẳng định chính xác. Sau đó một tàu kéo đi đến gần mục tiêu, nhưng do bóng tối nên không thể xem xét được điều gì. (http://flot.com/upload/blog/e61//10DiPL_48.jpg) Thuyền trưởng tàu ngầm nguyên tử "K-10" đề án 675 đại tá hải quân Valery Nikolaevitch Medvedev và vợ ông Tatiana Sergeyevna. (http://andreeva.1gb.ru/story/holland.html) Những báo cáo gần đúng và không chắc chắn trên được chuyển lên Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương Đô đốc V.P.Maslov và Nguyên soái-Thanh tra Bộ Quốc phòng K.S.Moskalenko. Tư lệnh phân hạm đội tàu ngầm số 2 nài nỉ cho tiến hành bắn lại. Vào ban đêm, tôi phải đi đến khách sạn gặp Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương và báo cáo tình hình. Tư lệnh lắng nghe tôi và ông đã cấm thực hiện các cuộc bắn lại. Ngày 17 tháng 9 bia mục tiêu được kéo về căn cứ. Đại tá hải quân Timchuk từ bộ tham mưu Hạm đội Thái Bình Dương và tôi cùng với các sỹ quan thanh tra khác đến kiểm tra bia mục tiêu, tại đây ngay lập tức chúng tôi phát hiện ra mảnh vỡ của một điện cực lưới, và trên sàn boong có các chi tiết và mảnh vỡ của đạn tên lửa. Một biên bản được soạn thảo. Sau khi Phó Đô đốc A.M.Gontaev và Phó Đô đốc B.I.Gromov từ biển trở về, tôi báo cáo tình hình với họ, và chúng tôi đi tàu cao tốc đến chỗ neo đậu bia mục tiêu. Ở đó, tôi chỉ ra nơi đạn rơi và xuất trình biên bản cùng các mảnh vỡ và các chi tiết của tên lửa. Sau đó, Phó Đô đốc A.M.Gontaev gọi tôi và hỏi: "Người của các anh không lén bỏ vào bia mục tiêu những mảnh vỡ và chi tiết này đấy chứ?" Cá nhân tôi hiểu câu hỏi như sau: cậu không lừa dối đấy chứ? Vì vậy, tôi trả lời: "Tôi không phải một kẻ dối trá! Không ai và không có gì được lén bỏ vào". Cuối cùng, cuộc xạ kích của K-10 được đánh giá là "đạt yêu cầu". Khi bắn ngư lôi, các tàu ngầm thực hiện là K-429, K-10, và K-175, các thủy thủ đoàn tàu ngầm được điểm đánh giá "tốt". Cần phải nói một vài lời về Phó đô đốc A.M.Gontaev. Bình tĩnh, lịch sự, thông minh, lịch thiệp, can đảm, phát triển toàn diện, công bằng. Nguyên soái K.S.Moskalenko ném cho ông một bức điện kiểu như: "Đồng chí Gontaev, họ đang lừa và nói dối, chỉ có đồng chí là không thấy gì". Mặc dù vậy, Phó đô đốc Gontaev có đủ can đảm phân tích chi tiết cuộc xạ kích và đánh giá nó khách quan, điều mà ở thời ấy là một sự kiện hiếm hoi. Hầu hết người ta sống theo nguyên tắc "thủ trưởng dạy gì em ạ?" ("чего изволите"). (http://flot.com/upload/blog/784//10DiPL_49.jpg) Gontaev Aleksei Mikhailovitch. - Trên biển và trên đất liền. A.L.Lifshits, St Petersburg, 2005-2007. (http://lifshits.org/na-sushe-i-na-more.pdf) ........ Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 15 Tháng Bảy, 2012, 09:08:14 pm (tiếp)
Cùng những lời ấy có thể dùng để nói về chuẩn đô đốc I.I.Karachev. Gontaev và Karachev luôn luôn có thái độ thiện tâm đối với mọi người, không cố gắng "dìm chết" người ta, và họ nhìn vào bản chất: con người đó thể hiện mình thế nào, trình độ được đào tạo, kiến thức và kỹ năng của anh ta ra sao. Điểm đánh giá theo kết quả kiểm tra như sau. Bộ tham mưu phân hạm đội tàu ngầm số 2 - "đạt yêu cầu", ngành hậu cần phân hạm đội - "đạt", sư đoàn tàu ngầm số 8 - "đạt", sư đoàn tàu ngầm số 10 - "đạt" (K-10 - "đạt", K-201 - "đạt", K-429 - "đạt"). Nguyên soái K.S.Moskalenko muốn gặp gỡ riêng hai thuyền trưởng tàu ngầm, những người đã thực hiện chuyến hành quân di chuyển từ Hạm đội Biển Bắc sang Hạm đội Thái Bình Dương. Cuộc gặp này được dự kiến tổ chức tại Nhà Sĩ Quan, sỹ quan của chúng tôi đã mua đồng hồ cho những thuyền trưởng tàu ngầm nguyên tử này, chúng sẽ được nguyên soái K.S.Moskalenko trao tặng cho họ. Nhưng tất cả mọi kế hoạch đã bị ông thay đổi. Cuộc gặp gỡ tại Nhà Sỹ Quan không diễn ra, nguyên soái quyết định dùng bữa trưa trên tàu doanh trại nổi PKZ (плавучие казармы), nơi người ta chuẩn bị cho ông đủ các món ngon, ông nhìn chúng rồi hỏi: "các anh có thể nấu cháo bột trân châu không?" Trong thời gian kỷ lục người ta đã nấu xong món cháo bột, món mà ông đã ăn rất khoái khẩu, và trong một tâm trạng sảng khoái, ông hỏi: "Ai nấu món cháo này đây?" Ngay lập tức người ta dẫn đến một chuẩn úy hải quân-đầu bếp người mập mạp. Nguyên soái cám ơn anh ta và lúc đó nhớ ra ông phải trao tặng đồng hồ cho một người nào đó, ông liền trao tặng đồng hồ cho người đầu bếp béo tốt, còn các thuyền trưởng thì ông đã không có thời gian để nói chuyện cùng họ. (http://flot.com/upload/blog/ba2//10DiPL_50.jpg) Món cháo trân châu. (http://fudi.ru/post/290) Cuộc kiểm tra thứ hai diễn ra 2 năm sau. Ngày 7 tháng 9 năm 1980 một bộ phận Thanh tra Bộ Quốc phòng đã bay đến, dẫn đầu là Phó Đô đốc A.M.Gontaev. Ngày 08 tháng 9 được ấn định sẽ kiểm tra điều lệnh đội ngũ và kiểm tra việc tiến hành giáo dục chính trị. Một bức điện chuyển đến thông báo về tàu ngầm K-122 thuộc phân hạm đội tàu ngầm số 4, trong thời gian phục vụ chiến đấu để xảy ra hỏa hoạn trên tàu và đã gặp nạn. Phó Đô đốc A.M.Gontaev hỏi Phó Đô đốc A.I.Pavlov tư lệnh phân hạm đội tàu ngầm số 2: "Ai sẽ lãnh đạo cuộc diễn tập chiến thuật của sư đoàn tàu ngầm số 10?" Pavlov trả lời rằng lãnh đạo diễn tập chiến thuật sẽ là Chuẩn Đô đốc Berzin. Gontaev hỏi với vẻ ngạc nhiên: "Làm thế nào anh ta có thể lãnh đạo chính anh ta cơ chứ?" Tham mưu trưởng phân hạm đội tàu ngầm số 2 chuẩn đô đốc G.F.Avdokhin từ sau lưng Gontaev làm cử chỉ với Pavlov, anh hãy nói, anh là người lãnh đạo. Ngày 08 Tháng 9 lúc 08.50 giờ, bộ tham mưu phân hạm đội và ban chỉ huy sư đoàn tập trung trong hội trường. Pavlov báo cáo. Gontaev hỏi: "Điểm đánh giá và địa điểm trong mùa đông mà sư đoàn cùng bộ tham mưu sư đoàn nhận được là thế nào?" Pavlov không thể trả lời. Điểm điều lệnh đội ngũ được đánh giá "đạt yêu cầu". Tất cả các sỹ quan bộ tham mưu sư đoàn tập trung tại trung tâm đào tạo, Chuẩn Đô đốc V.N.Chernavin kiểm tra kiến thức của họ về điều lệnh Các LLVT. Đánh giá chung đạt điểm "tốt". Ngày 9 tháng 9 các thành viên thủy thủ đoàn của K-429 và K-184 (tại thời điểm này "giữ" K-204) được kiểm tra kiến thức về vũ khí hủy diệt hàng loạt, kiến thức được cho điểm đánh giá đạt yêu cầu và tốt. Ngày 10 tháng 9 trên tàu ngầm, thủy thủ đoàn K-204 được kiểm tra công tác bước vào cuộc công kích tên lửa. Sau khi hoàn thành kiểm tra, các thành viên KBR được lệnh đến ngay trung tâm đào tạo, tại đó họ được kiểm tra kỹ năng bước vào tấn công ngư lôi tàu mặt nước. Theo lệnh của người đại diện đoàn thanh tra, tôi đã tiến hành họp phân tích các bài tập vừa thực hiện, việc này đương nhiên, cũng được cho điểm đánh giá. Tôi thực hiện nhiệm vụ được giao theo đúng tài liệu đã đề ra. Ngay lập tức sỹ quan tham mưu phân hạm đội tàu ngầm số 2 báo cáo Phó Đô đốc A.I.Pavlov. Ông gọi tôi: "Anh hãy thể hiện tính nguyên tắc trong cuộc họp bình giá, nếu không tất cả sẽ được ghi vào biên bản thanh tra chống lại sư đoàn". Buổi tối, một lần nữa, Pavlov gọi tôi: "Tôi đã yêu cầu bộ tham mưu hạm đội để anh chỉ huy các cuộc xạ kích tên lửa hành trình, tôi cần phải lãnh đạo các cuộc phóng tên lửa đạn đạo". (http://flot.com/upload/blog/d37//10DiPL_51.jpg) Pavlov Anatoli Ivanovitch. (http://www.navy.ru/publications/books/shelf/motherlandsons/153.htm) Sau đó, tôi đến chỗ chuẩn đô đốc G.F.Avdokhin để giải quyết các vấn đề công việc. Ghé vào chỗ ông còn có các Phó đô đốc A.M.Gontaev và A.I.Pavlov, tư lệnh phân hạm đội số 2 tuyên bố: "Berzin sẽ lãnh đạo các cuộc bắn tên lửa hành trình". Gontaev bất bình và nói: "Lãnh đạo xạ kích phải là anh, bởi vì người sư đoàn trưởng cần ở trên một chiếc tàu ngầm, và chỉ huy nhóm tàu ngầm xung kích". Pavlov trước đây phục vụ trên các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo, tên lửa hành trình và chiến thuật sử dụng chúng, đương nhiên ông ấy hiểu biết kém, và ông cũng không muốn lãnh đạo các cuộc xạ kích. Pavlov một lần nữa quay sang Gontaev: "Hãy để Berzin dẫn dắt những người tham gia các bài tập chiến thuật và xạ kích tên lửa ở phân hạm đội Kamchatka". Gontaev đồng ý. Ngày 11 Tháng 9, tôi đi đến ban tham mưu đơn vị tàu bảo vệ lãnh hải, nơi sẽ tổ chức hướng dẫn. Cùng ngày, Phó Đô đốc A.I.Pavlov đã thực hiện hướng dẫn các thuyền trưởng tàu ngầm tham gia vào các bài tập chiến thuật và xạ kích tên lửa, cũng như các sỹ quan bộ tham mưu của ông. Ai đó đã viết cho ông những câu hỏi mà ông sẽ đặt ra cho các thuyền trưởng tàu ngầm, nhưng rõ ràng ông không tìm hiểu chúng. Buổi hướng dẫn giống như một vở kịch tồi, những thành viên tham dự không hiểu nhau. Lần này, các cuộc xạ kích tên lửa được thực hiện đầu tiên, sau đó mới đến các bài tập chiến thuật. Ngày 12 tháng 9, vào buổi sáng sớm, tôi ra khơi trên K-325 (trung tá hải quân V.P.Valuev). Chúng tôi chiếm lĩnh vị trí của mình, sau đó K-429 đến (trung tá hải quân A.O.Gubanov). Một tàu SKR đi đến, trên tàu có các phó đô đốc A.M.Gontaev và A.I.Pavlov. A.I.Pavlov lãnh đạo các cuộc xạ kích tên lửa. (http://flot.com/upload/blog/285//10DiPL_52.jpg) Tuần dương hạm hạng nhẹ đề án 68-bis "Аleksandr Suvorov" thả neo trên vũng cảng ngoài vịnh Sừng Vàng tại Vladivostok, đầu những năm 198x. (http://nashflot.ru/page/sssr/alexsyvorow/4) Tiếp theo tuần dương hạm «Аleksandr Suvorov» đi đến cùng với nguyên soái K.S.Moskalenko. Lệnh chuyển đến lặn dưới tháp chỉ huy, để nguyên soái K.S.Moskalenko có thể thấy chúng tôi, mặc dù chúng tôi cần phải đi ngầm ở chiều sâu kính tiềm vọng. Tôi cần phải tổ chức khởi động phóng đồng thời cho cả hai tàu ngầm, do đó tôi giữ liên lạc thủy âm thường xuyên với K-429, kiểm tra chronometer với độ chính xác đến từng giây. Cuối cùng, từ SKR có lệnh cho lặn xuống chiều sâu phóng. Tiếp đó thời gian được tính theo chronometer. Đúng thời điểm ấn định, tên lửa đã được phóng, 8 giây sau, tên lửa cũng được phóng đi từ K-429. Tàu nổi lên, chúng tôi được biết từ phi hành đoàn máy bay rằng cả hai tên lửa đều trúng mục tiêu. Trên SKR, nơi có A.M.Gontaev và A.I.Pavlov, nguyên soái K.S.Moskalenko đặt trên boong một trung tướng và một đại tá theo dõi các thủy thủ (Pavlov và Gontaev), để các thủy thủ không "lừa dối". Gontaev tức giận vô cùng. SKR đi đến mục tiêu và chụp ảnh các lỗ thủng trong lưới do tên lửa của chúng tôi rơi vào. Khi SKR trở về căn cứ, tất cả đi đến báo cáo nguyên soái K.S.Moskalenko. Ban đầu ông gọi viên trung tướng tới gặp mình, anh ta báo cáo nguyên soái rằng không có "lừa đảo". Sau đó K.S.Moskalenko đi ra khỏi căn hộ của mình và gọi A.M.Gontaev và A.I.Pavlov đến ăn tối ở chỗ ông. Ông không nghe họ báo cáo, mà chỉ nói: "Với tôi mọi chuyện rõ rồi". Ngày 13 tháng 9, tôi cho tiến hành bài tập nhóm với các thuyền trưởng tàu ngầm, bài diễn tập này được đoàn thanh tra lên kế hoạch kiểm tra để xác định chất lượng đào tạo và trình độ huấn luyện. Tham dự có Phó Đô đốc A.M.Gontaev, chuẩn đô đốc V.N.Chernavin và đại tá hải quân Yambikh. Mọi thứ diễn ra bình thường. Gontaev rất vui, ông cho điểm đánh giá "tốt". Ngày hôm sau, A.M.Gontaev hỏi tôi dự định chọn vị trí công tác nào ở Moskva. Đối với tôi, điều ấy nghe có vẻ khá ngạc nhiên. Tôi trả lời: "Tôi sẽ không tới Moskva". Gontaev: "Pavlov nói với tôi rằng anh không muốn đi theo con đường chỉ huy, mà chỉ muốn đến Moskva". Tôi trả lời rằng Pavlov chưa bao giờ nói chuyện đó với tôi. Gontaev và Karachev nhận xét thấy Pavlov dành một "vị trí" đặc biệt cho tôi và sư đoàn tàu ngầm số 10 (http://www.sgan2009.ru/10_divisiy/10_divisiy.html). (http://flot.com/upload/blog/ec3//10DiPL_53.jpg) Ngày 14 tháng 9 tiến hành họp hướng dẫn cho các thành viên tham gia diễn tập chiến thuật và tấn công ngư lôi vào OBK. Ngày 15 tháng 9, vào ban đêm chúng tôi bắt đầu triển khai diễn tập chiến thuật. Ra khơi có các tàu ngầm K-325, K-429 và K-204, trên tàu là A.O.Gubanov và tôi. Tôi phải chỉ huy nhóm xung kích và ở phần cuối cuộc diễn tập phải tổ chức đòn tấn công tên lửa hợp đồng lên biên đội tàu chiến đối phương. Các bài tập đã được thực hiện một cách thành công. Ngày 17 diễn ra cuộc xạ kích ngư lôi vào OBK, bao gồm tàu tuần dương "Aleksandr Suvorov" và hai SKR. Thuyền trưởng K-429 trung tá hải quân A.O.Gubanov đã tiến vào xạ kích ngư lôi thành công: hai quả ngư lôi bắn trúng tàu tuần dương, cuộc tấn công thứ hai được thực hiện nhằm vào SKR - đạn ngư lôi bị tiêu hao. Thuyền trưởng K-325 trung tá hải quân V.P.Valuev bước vào tấn công ngư lôi "đạt yêu cầu", cuộc tấn công kéo dài và ngư lôi phải bắn đuổi. Ngày 18 Tháng Chín, Phó Đô đốc A.M.Gontaev bổ nhiệm tôi là người lãnh đạo bài xạ kích ngư lôi vào mục tiêu tàu quân sự đơn lẻ. Phải thực hiện cuộc tấn công là K-557 đề án 675MK và K-14 đề án 627A thuộc quân số sư đoàn tàu ngầm 45. Thanh tra là chuẩn đô đốc V.N.Chernavin. ........ Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 16 Tháng Bảy, 2012, 12:39:51 am (tiếp)
Ngày 19 chúng tôi ra biển trên SKR-59. Qua băng sóng cực ngắn, tôi chỉ thị cho thuyền trưởng K-557 trung tá hải quân A.A.Chernyshev và trao nhiệm vụ. Tầm nhìn đầy đủ, thuyền trưởng quan sát được SKR-59 qua kính tiềm vọng, hệ thống sonar xác định chính xác tiếng ồn của con tàu. Chernyshev nằm trên hướng nghịch, sau đó quay vòng dưới mũi SKR-59, bỏ lỡ để cho tàu đi qua trên đầu mình, và sau đó bắn vào một mục tiêu ngẫu nhiên nào đó, mà nói như một đồng sự trong đoàn thanh tra: "Bắn vào tiếng ồn của chậu xí bệt". Ngư lôi phóng đến tận mũi Hải Đăng. Điểm đánh giá "không đạt". Cuộc tấn công tiếp theo được K-14 (thuyền trưởng - trung tá hải quân Saranchin, chỉ huy cao cấp trên tàu - TMT sư đoàn tàu ngầm 45 đại tá hải quân Zaitsev) thực hiện. (http://flot.com/upload/blog/84a//10DiPL_54.jpg) Saranchin Valery Ivanovitch. Tàu nằm ở độ sâu kính tiềm vọng, cách mục tiêu khoảng 34 kabelt, nó không thể lặn do lỗi của các van thông gió và bánh lái ngang phần đuôi. Rồi họ lặn xuống, chuyển sang một mục tiêu ngẫu nhiên, bắn hai đạn ngư lôi. Một quả ngư lôi nổi lên ngay tại điểm bắn loạt, quả đạn kia đi thẳng. Điểm đánh giá - "không đạt". Từ trên biển sau khi bắn xong, qua băng sóng cực ngắn tôi báo cáo những gì đã xảy ra với Phó Đô đốc A.I.Pavlov và kể lại mọi chuyện như nó đã xảy ra. Ông trả lời rằng, dù thủy thủ đoàn không phải do chúng tôi huấn luyện, nhưng chúng tôi sẽ không vì thế mà dễ chịu hơn đâu. Ngày 21 tháng 9 tổ chức họp bình giá các bài tập chiến thuật. Tôi đã thực hiện một báo cáo chi tiết có phân tích cặn kẽ hành động của tất cả những chủ thể tham gia. A.I.Pavlov khi nghe tôi báo cáo, ra hiệu cho tôi "rút gọn". Sau đó A.I.Pavlov phát biểu, ông không thực sự nói được bất cứ điều gì ra hồn về các hoạt động của chúng tôi. Trong phần kết luận, phó đô đốc A.M.Gontaev lưu ý rằng về đào tạo chiến thuật sư đoàn 10 khác hẳn với các sư đoàn khác theo hướng tốt hơn, đó là do ở sư đoàn việc phân tích bình giá các bài tập được tiến hành tốt hơn. Ngày 22 tháng 9 đại tá hải quân N.N.Alkaev TMT sư doàn tàu ngầm số 10 đến nơi trên GiSu "Anadyr", anh là người đã đi đón các tàu ngầm của Hạm đội Biển Bắc (1 RPKSN và K-43). Chiếc tàu sau (K-43) đã đến (nhập quân số) sư đoàn chúng tôi. Ngày 28 tháng 9 bắt đầu các bài diễn tập chuyển sư đoàn sang trạng thái sẵn sàng chiến đấu đầy đủ. Các bài diễn tập được điểm đánh giá "tốt". Ngày 03 Tháng 10 chúng tôi nghe Biên bản Thanh tra của Bộ Quốc phòng. Sư đoàn chúng tôi được đánh giá "đạt yêu cầu". Nguyên soái K.S.Moskalenko cuối buổi nói đùa rằng đoàn thanh tra có thể nâng điểm đánh giá cho tất cả cùng như nhau. Sư doàn tàu ngầm số 10 đã chịu hai cuộc thanh tra của Bộ Quốc phòng (năm 1978 và 1980), kết quả của 2 cuộc kiểm tra được đánh giá tích cực. Quá trình thanh tra các tàu ngầm hoạt động trong các nhóm chiến thuật và thực hành bắn đạn thật trong các điều kiện phức tạp. Trong những năm tháng ấy, các tàu ngầm đã hoàn thiện chiến thuật hoạt động theo nhóm, trong tương lai về sau, điều đó mang lại cho sư đoàn tên gọi sư đoàn tàu ngầm chống tàu sân bay. (http://flot.com/upload/blog/541//10DiPL_55.jpg) Nguyên soái Kiril Semenovitch Moskalenko. (http://www.odintsovo.info/news/?id=20813) Các trường hợp khẩn cấp Công tác phòng ngừa tai nạn được điều hành bởi bộ chỉ huy sư đoàn, trước nhất là bởi cấp phó của tôi phụ trách cơ điện đại tá hải quân S.A.Moskalenko và các chuyên gia trưởng chuyên ngành hàng hải một cách thường xuyên liên tục và khá năng động. Trong thời gian tôi chỉ huy, tại đơn vị chỉ xảy ra một vài vụ tai nạn. Ngày 1 tháng 6 năm 1979 K-10 ra khỏi căn cứ di chuyển đến Primorye để tiếp tục đóng quân phục vụ trong biên chế sư đoàn tàu ngầm số 29. Tàu bơi trong tư thế ngầm, và thực hành sạc ắc quy. Người chỉ huy tiểu đoàn 2 ngành tác chiến 5 thiếu tá hải quân Solovyov, đáng ra phải chỉ huy cuộc sạc ắc quy này thì lại say rượu và đi ngủ. Dòng nạp ắc quy lên đến cấp 4, các quạt gió bị ngắt (vì lý do nào đó mà cầu chì bị cháy), tiếp đó vì các hành động sai lầm của người chỉ huy nhóm điện kỹ thuật Ostaplyuk mà hố ắc quy № 1 phát nổ, kết quả là hư hỏng một phần 25 thùng ắc quy. Vụ nổ đã phá tung cánh cửa cabin của trưởng ngành quân y thượng úy hải quân Yastrebov và mảnh vỡ làm mù mắt bên phải của ông, những phần cư thể khác bị các vết bầm tím và trầy xước nhẹ. Tàu ngầm nổi lên và trở về căn cứ trong tư thế nổi, tại đó người ta tiến hành điều tra sự vụ và khôi phục lại ắc quy. Thiếu tá hải quân Soloviev mắc chứng nghiện rượu trước vụ việc này đã vài năm, trả lời đề nghị của tôi với tư lệnh phân hạm đội hãy cho anh ta chuyển ngạch dự bị luôn là câu duy nhất: "Hãy giáo dục". Ngày 23 tháng 6 K-10 bắt đầu chuyến di chuyển sang Primorie và đã đến nơi đóng quân mới mà không xảy ra chuyện không hay nào. (http://flot.com/upload/blog/8a6//10DiPL_56.jpg) PLARK đề án 675 (http://www.atrinaflot.narod.ru/1_submarines/02_plark_675/0_675.htm) Tháng 3 năm 1981, K-184 với thủy thủ đoàn tàu ngầm số 273 (trung tá hải quân T.L.Moskalenko) ra biển thực hành lặn sâu. K-184 làm công tác đảm bảo cho K-43 (thuyền trưởng - trung tá hải quân N.Ya.Maryashin, chỉ huy cấp cao trên tàu - Phó tư lệnh sư đoàn đại tá hải quân A.A.Shikov). Việc lăn sâu diễn ra bình thường, sau khi nổi lên mặt biển, Moskalenko quyết định đến gần hơn K-43, cơ động theo mắt thường. Tất cả những gì có thể bị vi phạm - đã bị vi phạm, tất cả những gì có thể bỏ qua - đã bị bỏ qua. Đã tám tháng, ông bơi với phó tư lệnh sư đoàn đại tá hải quân V.T.Kozlov, ông ấy nhận xét tốt về anh ta. Họ ra biển mà không có "vú em", và vì được tự chủ mà người ta thấy choáng váng. Kết quả là do thao tác cơ động ngu ngốc mà các tàu ngầm va chạm nhau. Điều kiện tiên quyết xảy ra sự việc này là trên thực tế tại K-43 N.Ya.Maryashin và A.A.Shikov ở trong cabin hoa tiêu, trên cầu điều hướng đài chỉ huy chỉ có một sĩ quan trực gác là thiếu tá hải quân Volkov, người đã không có một hành động nào đáp ứng. Tầm nhìn đầy đủ. Kết quả của vụ va chạm là K-184 bị một vết lõm trong phần mũi của vỏ nhẹ. Nắp mặt trước của ống phóng ngư lôi không thể mở ra được, còn một ống phóng ngư lôi khác mất độ kín. Các tàu ngầm trở về căn cứ, tại đây đã tiến hành họp phân tích những gì đã xảy ra. Tham gia vào "bình giá các phi vụ" là đích thân Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương Đô đốc V.V.Sidorov. K-184 phải lên dok một tuần, tại đó tất cả các hư hại đã được khắc phục. Đồng thời trên K-320, đang đỗ tại cầu tàu trong căn cứ với thủy thủ đoàn số 228 (trung tá hải quân G.A.Sorokin) trung sĩ chỉ huy đội thủy thủ hầm tàu mở van thông khí vào khoang thay vì van thổi sitec dằn chủ. Kết quả - phá hủy tính kín của vách ngăn buồng máy và phình "bụng". Cho đến tận 10 tháng 4 mới loại bỏ được cái "bụng" đó. Từ Moskva, phó đô đốc A.I.Pavlov bị triệu tập về từ nơi đang học, khi ông về đến nơi, tôi đã làm một báo cáo về tình hình chung của sư đoàn do tôi đang chỉ huy, đặc biệt là về vụ va chạm giữa K-43 và K-184. Bộ chỉ huy cấp trên đã quyết định cách tuột các chức vụ mà T.L.Moskalenko và A.A.Shikov đang đảm nhiệm. (http://flot.com/upload/blog/1cd//10DiPL_57.jpg) Sách kỷ niệm 35 năm truyền thống sư đoàn - sư đoàn tàu ngầm tuần dương chiến lược số 25. (http://sgan2009.ru/25_divisiy/sbornik_25_DPL/sbornik_25_DPL.html) Ngày 10 Tháng 8, chúng tôi được thông báo rằng tại sư đoàn tàu ngầm số 25 (http://sgan2009.ru/25_divisiy/25_divisiy.html) xảy ra cuộc va chạm của một RPKSN (đại tá hải quân Kulikov) và một SKR (chỉ huy cao cấp trên tàu là tư lệnh sư đoàn tàu ngầm số 25 - Chuẩn Đô đốc V.V.Privalov). RPKSN thực hành bắn tập ngư lôi vào SKR dưới sự chỉ huy của tư lệnh sư đoàn. Tàu tuần tra sau khi làm nhiệm vụ đảm bảo cuộc xạ kích đang thả trôi và bật máy đo sâu bằng tiếng dội, còn thuyền trưởng RPKSN nghe thấy sự làm việc của máy đo tiếng đội và cho rằng đó là tiếng gõ của cơ cấu máy trên đạn ngư lôi đang làm việc. Thay vì cho tàu nổi lên tại điểm nằm trong kế hoạch, anh ta đi ngầm dưới nước đến chỗ "tiếng gõ" (thực tế chính là SKR) và khi đến nơi tàu ngầm bắt đầu nổi lên dưới đáy SKR, tàu tuần tra suýt nữa thì bị lật úp. Thân tàu SKR bị thủng, lực lượng tàu cứu nạn khẩn cấp phân hạm đội tàu quân sự Kamchatka đã phải can thiệp để ngăn chặn tàu bị ngập nước mà chìm. Kết quả việc phân tích điều tra sau cùng dẫn đến việc cách bỏ chức vụ đang đảm nhiệm của chuẩn đô đốc V.V.Privalov và giáng cấp quân hàm. Trong thời gian xảy ra những sự kiện được miêu tả trên, chúng ta còn nhớ cuộc mắc cạn của K-175 ở Biển Đỏ khi ghé vào vịnh tại đảo Dakhlak. Sau 9:00 giờ đồng hồ, con tàu đã tự mình thoát khỏi bãi cạn, cuộc kiểm tra sau đó cho thấy tàu không bị hư hại. ....... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 16 Tháng Bảy, 2012, 05:12:21 pm (tiếp)
Chính sách cán bộ, kỷ luật và công tác giáo dục Trước tiên, tôi sẽ dẫn ra một số ví dụ hiển nhiên nhất, sau đó sẽ phát biểu quan điểm đánh giá của mình. Sau khi chúng tôi trở về căn cứ, ngày 19 tháng 5 năm 1977 Phó Tổng tư lệnh thứ nhất Hải quân Liên Xô Đô đốc N.I.Smirnov đến phân hạm đội. Cùng ngày, ông cho gọi tôi lên trò chuyện về việc bổ nhiệm sắp tới của tôi vào cương vị tư lệnh sư đoàn tàu ngầm số 10. Ông hỏi tôi một số vấn đề, sau đó nói: "Tôi biết cậu đã lâu, bắt đầu từ hồi ở biển Baltic, quá trình phục vụ của cậu diễn ra bình thường. Tôi đã xem xét hồ sơ phục vụ của cậu". Sau đó, ông dừng lại và hỏi: "Tại sao người ta lại đặt tên cậu là Alfred?" Tôi giải thích rằng vì mẹ tôi muốn như thế, bà là người dân tộc Latvia và muốn con trai mình có một cái tên Latvia. Sau này, đô đốc cho biết: "Cậu hãy tin điều tôi đã trò chuyện với cậu, tôi đồng ý với việc bổ nhiệm của cậu, và sẽ báo cáo Tổng tư lệnh Hải quân về việc này". (http://flot.com/upload/blog/cb0//10DiPL_58.jpg) Anh hùng Liên Xô Nikolai Ivanovitch Smirnov, từ năm 1969, ông là Tư lệnh Hạm đội Cờ Đỏ Thái Bình Dương, Phó Tổng tư lệnh thứ nhất Hải quân Xô Viết giai đoạn 1974-1988. (http://www.warheroes.ru/hero/hero.asp?Hero_id=1851) Tại thủy thủ đoàn của đại tá hải quân Yu.G.Shestak tình hình kỷ luật rất xấu. Hai chuẩn úy hải quân đánh nhau với vợ mình và bị tống giam. Phó Đô đốc B.I.Gromov tư lệnh phân hạm đội ra lệnh giải ngũ một chuẩn úy hải quân. Đến chỗ ông báo cáo, tôi đề nghị ông không giải ngũ chuẩn úy hải quân này, vì trước đó anh ta vẫn phục vụ tốt, là một người đàn ông cừ. Tư lệnh phân hạm trả lời: "Được, cậu ta là một người đàn ông tốt, nhưng tại tổ ấm gia đình cậu ta không phải một người đàn ông. Cách đây không lâu, tại căn cứ bờ đã có một đại úy hải quân tự treo cổ mình lên cây bạch dương vì những khó khăn gia đình, anh ta cũng là một người đàn ông tốt. Và người đàn ông tốt đó đã có thể tự treo cổ mình. Hãy để cậu cả về thế giới dân sự mà treo cổ..." . Ngay khi tôi đến ban tham mưu, người ta lại báo cáo cho tôi biết, thêm một chuẩn úy hải quân của thủy thủ đoàn Shestak đánh nhau với vợ và hiện đang ngồi trong nhà giam. (http://i1119.photobucket.com/albums/k631/qtdc4/image002-2.jpg) K-22 sau khi va vào frigate "Vogue" FF-1047 của Hải quân Mỹ tại Địa Trung Hải ngày 28 tháng 8 năm 1976. (http://deepstorm.ru/) Tại một cuộc họp của các sĩ quan, đô đốc N.I.Smirnov kể chuyện tàu ngầm K-22 đề án 675 của Hạm đội Biển Bắc đã cơ động thế nào ở Địa Trung Hải. Thuyền trưởng tàu ngầm say rượu, cho tàu nổi tháp chỉ huy lên và bắt đầu đuổi theo hai tàu chiến Mỹ. Kết quả là một vụ va chạm xảy ra, cả tàu ngầm và tàu chiến Mỹ đều bị những hư hại khác nhau. Toàn bộ quá trình cuộc rượt đuổi trên, người Mỹ đã quay phim và chụp ảnh ghi lại. Đô đốc N.I.Smirnov nói chuyện về trường hợp này với một Đô đốc Hoa Kỳ, ông ta đã nói: "Tôi không có ý định nói gì về người thuyền trưởng Xô Viết. Người có lỗi, xin nói rằng, đó là người thuyền trưởng Mỹ, bởi lẽ anh ta đã không sử dụng mọi biện pháp để tránh chiếc tàu ngầm Xô Viết...." (http://www.destroyersonline.com/images/f1047005.jpg) (http://i1221.photobucket.com/albums/dd463/qtdc3/f1047002_k22_2.jpg) (http://www.destroyersonline.com/images/f1047003.jpg) Ảnh trên: K-22 đang bơi ở chiều sâu tiềm vọng khoảng một giờ trước khi va chạm, ảnh chụp từ USS "Vogue". Ảnh giữa: K-22 bơi ở chiều sâu tháp chỉ huy, đuổi theo tàu chiến Mỹ, ảnh chụp từ FF-1047 USS "Vogue" trước khi va chạm. Ảnh dưới: Va chạm. (http://www.destroyersonline.com/usndd/ff1047/f1047pho.htm) Ngày 16 tháng 6, tôi bay tới khu nghỉ mát. Trong khi đang đi phép Leningrad, tôi nhận được một bức điện khẩn từ Kamchatka của A.N.Lutsky. Tôi được triệu tập đến Moskva, tới bộ phận phụ trách công tác cán bộ vì việc bổ nhiệm tôi vào cương vị tư lệnh sư đoàn tàu ngầm. Tôi đã được cảnh báo rằng tôi nên cập nhật kiến thức của mình về các tài liệu quy định trong công tác cán bộ và nhận thức về tình hình chính trị, bởi vì ở Moskva, các sỹ quan phụ trách cán bộ, các thủ trưởng cấp trên và các cán bộ công tác chính trị thuộc BCHTU ĐCS Liên Xô sẽ hỏi tôi về những vấn đề này. Vì vậy, hai ngày tôi ngồi nhà và cố gắng nhớ lại tất cả mớ "rối rắm" trên. Ngày 01 Tháng 8, tôi bay tới Moskva, ở nhà em gái mình. Ngày hôm sau tôi đến Cục Cán bộ thuộc BTTM Hải quân, tại đây tôi gặp tư lệnh sư đoàn của mình, Chuẩn Đô đốc A.N.Lutsky, cũng được triệu tập đến Moskva liên quan đến việc bổ nhiệm ông là Phó tư lệnh phân hạm đội tàu ngầm số 2. (http://flot.com/upload/blog/99b//10DiPL_59.jpg) Anatoly Nikolaevitch Lutsky, tốt nghiệp Trường Dự bị Hải quân Nakhimov Leningrad năm 1951. Tiếp tôi và Lutsky là Phó Đô đốc Yu.S.Bodarevsky Cục trưởng Cục Cán bộ Hải quân Liên Xô, người làm cho cả hai chúng tôi rất thích thú bởi sự tận tâm, nhạy cảm, sự bình tĩnh và khiếu hài hước của ông. Ông kể với chúng tôi phải hành xử thế nào tại Tổng cục Cán bộ Bộ Quốc phòng Liên Xô (GUK ) trên phố Begovaia. Sau đó, chúng tôi được đưa vào các căn phòng riêng biệt, nơi chúng tôi nghiên cứu tài liệu về công tác cán bộ trước khi ăn trưa. Tiếp theo, chúng tôi được đưa tới GUK vào phòng trung tướng Anh hùng Liên bang Xô Viết Kovtunov. Trong chuyến đi này, đi kèm chúng tôi là chuẩn đô đốc Volgin từ Cục Cán bộ Hải quân Liên Xô. Trung tướng bảo chúng tôi ngồi đối diện với mình và ông bắt đầu đặt câu hỏi. Câu hỏi đầu tiên là với Lutsky. - Tình hình sư đoàn anh hiện thế nào? - Sư đoàn năm nay được đánh giá "tốt". - Vậy anh có lừa dối bộ chỉ huy cấp trên hay không? Hoặc người ta lừa anh chẳng hạn? Lutsky hơi sửng sốt một chút bởi những câu hỏi này, nhưng khẳng định rõ ràng không có sự lừa dối. Trung tướng vẫn tiếp tục với nhịp điệu như cũ. - Nghĩa là, mọi việc đều tốt? Có nghĩa là tốt chứ gì? Và mọi người đều biết điều lệnh chứ? Và cấp phó của anh, anh chàng Berzin này có biết điều lệnh không? Hãy để cho anh ta nói về nhiệm vụ của một thủy thủ xem nào! (http://flot.com/upload/blog/018//10DiPL_60.jpg) Hãy thử xem, hãy nghe nhầm xem ... (http://www.voennoepravo.ru/node/*) Tôi trả lời rằng nhiệm vụ của người thủy thủ nằm trong hai điều lệnh: điều lệnh phục vụ trên tàu và điều lệnh nội vụ. Trung tướng ngắt lời tôi bằng một câu hỏi. - Có bao nhiêu điều? Tôi không trả lời câu hỏi này, nhưng tất cả các nhiệm vụ của người thủy thủ tôi đều kể ra. Sau đó Kovtunov tiếp tục phỏng vấn tôi. - Bây giờ chúng tôi bổ nhiệm anh, và anh bắt đầu ăn cắp chứ gì? - Không, tôi sẽ không đâu. Có gì để mà ăn cắp: sáu tàu ngầm, hai doanh trại cũ nát, và một chiếc xe UAZ. - Ah, thì ra như vậy! Và nếu anh có gì đó, thì anh có ăn cắp hay không? - Không đâu ạ, tôi không quen với việc đó từ thời còn nhỏ. - Còn ở đây chúng tôi đã từng bổ nhiệm 1 ông tướng làm sư đoàn trưởng, và chỉ 1 tháng sau hắn ta đã bắt đầu ăn cắp dầu và bán nó ra bên ngoài. Vậy anh có thế không? - Không, tôi sẽ không. - Volgin, Berzin sẽ ăn cắp hay không? - Không, anh ta sẽ không đâu. (http://flot.com/upload/blog/af2//10DiPL_61.jpg) Trộm cắp và khai thác "tả khuynh" trên các công trường xây dựng (tạp chí "Cá Sấu") (http://denis-strebkov.livejournal.com/40789.html) ........ Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 16 Tháng Bảy, 2012, 09:43:31 pm (tiếp)
Kovtunov nhìn vào sổ tay ghi chép của mình và tiếp tục. - Nào, được rồi. Vậy bây giờ chúng tôi sẽ bổ nhiệm anh, và anh sẽ chở tình nhân đi chơi chứ? - Không, tôi không có, tôi yêu vợ tôi. - Vậy mà chúng tôi có 1 ông tướng được bổ nhiệm làm tư lệnh tập đoàn quân và ông ta ngay lập tức ruồng rẫy vợ mà đi với tình nhân. - Không tôi không có. Kovtunov một lần nữa quay sang Volgin. - Volgin, Berzin sẽ không dẫn tình nhân đi chơi đấy chứ? - Không dẫn đâu. - Nào, được rồi. Berzin, con cái anh không vô tình mà mắc chứng nghiện ngập hoặc buôn lậu ngoại tệ chứ? - Con trai đang học tập tại trường đại học, còn con gái đang học trong trường phổ thông, cả hai đều là bí thư đoàn Komsomol. - Điều này chẳng có ý nghĩa gì, hãy trả lời vào thực chất câu hỏi! - Chúng không phải kẻ nghiện ma túy và buôn lậu ngoại tệ. - Ở đây chúng tôi có một ông tướng được bổ nhiệm tham mưu trưởng tập đoàn quân, ông ta có con trai là kẻ nghiện ma túy và đồng tính luyến ái. Các con anh sẽ không trở thành kẻ nghiện ngập chứ? - Không đâu ạ. (http://flot.com/upload/blog/eda//10DiPL_62.jpg) "Cá sấu" năm 1961. (http://dedushkin1.livejournal.com/297122.html) - Berzin, anh bao nhiêu tuổi? - Bốn mươi bốn. - Chà chà! Anh đúng là kẻ lười biếng! 44 tuổi, thế mà anh mới chỉ là phó sư đoàn trưởng. Thời chiến tranh, mới 38 tuổi, nhưng tôi đã chỉ huy một quân đoàn. - Đồng chí tướng quân, tôi đã trải qua tất cả các cương vị công tác trong hạm đội tàu ngầm, ở đâu tôi cũng phục vụ một cách trung thực. - Berzin, anh là người kiêu ngạo. Da anh rám nắng, có lẽ chủ yếu anh chỉ nghỉ ngơi mà không phục vụ phải không? - Hoàn toàn không. Tôi mới trở về một tháng trước từ một chuyến đi biển dài ngày, hai tháng bơi ngầm dưới mặt nước. Tôi được gửi đến viện điều dưỡng, rồi sau đó lập tức đến chỗ đồng chí. - Anh có một bản tóm tắt các điều lệnh của Lực lượng Vũ trang rồi chứ? - Chính xác là như thế, tôi có. Trước chuyến đi của tôi tới Moskva người ta đã cảnh báo tôi về điều này. Người ta kể một đại tá hải quân không có một bản tóm tắt như vậy. Kovtunov đuổi anh ta ra khỏi văn phòng. Đại tá hải quân ngồi suốt hai tuần trong khách sạn "Moskva" và ghi chép tóm tắt lại các điều lệnh, chỉ sau đó cuộc trò chuyện với anh ta mới được tiếp tục. - Berzin, hãy cho biết tính cách các thuyền trưởng tàu ngầm của anh. Tôi bắt đầu báo cáo, nhưng sau một phút Kovtunov (http://www.warheroes.ru/hero/hero.asp?Hero_id=4613) ngắt lời tôi. - Ai trong số các thuyền trưởng có thể phát triển thành Tổng tư lệnh Hải quân? Câu hỏi, tất nhiên, quá vô nghĩa về hình thức và nội dung, bởi vì người ta bổ nhiệm vào cương vị tổng tư lệnh không phải là những người xuất sắc và có khả năng nhất, mà xuất phát từ sự chọn lọc về chính trị và lòng trung thành cá nhân trước chế độ, hay đúng hơn - trước Tổng Bí thư ĐCS Liên Xô. Tôi nói rằng tôi thật khó trả lời cho câu hỏi này. Cuộc trò chuyện đã trôi qua một giờ rưỡi, ngoài đường phố là +35"C, áo sơ mi ướt đẫm mồ hôi. (http://flot.com/upload/blog/b42//10DiPL_63w.jpg) Kovtunov G.N. Bằng tất cả sức mạnh của ngọn lửa. - Moskva. NXB Quân đội, năm 1982. (http://militera.lib.ru/memo/russian/kovtunov_gn/index.html) Sau đó, người ta dẫn Lutsky và tôi đến chỗ thượng tướng Goncharov, ông nói chuyện với chúng tôi khoảng mười lăm phút. Goncharov chủ yếu quan tâm đến quốc tịch của tôi và vợ tôi. Thời đó, nó là một trở ngại. Trong các cơ quan tổ chức cán bộ, trong KGB, trong các cơ quan Đảng người ta chia ra dân tộc bản địa và không bản địa. Được coi là không bản địa người Do Thái, Trung Quốc, Hàn Quốc, Ba Lan, Đức, Hy Lạp, bản địa - tất cả các phần còn lại. Trong số những người bản địa luôn bị nghi ngờ là những người Latvia, Estonia và Lithuania, những người sinh ra và sống ở các nước cộng hòa của họ trước năm 1940. Vì thế ông bắt đầu với câu hỏi về quốc tịch. - Quốc tịch của anh là gì? - Tôi coi tôi là người Latvia. - Hiểu rồi. Tại sao anh lại có một cái tên lạ lùng là Alfred? - Vì mẹ tôi gọi như vậy, đó là một cái tên Latvia. - Hiểu rồi. Còn quốc tịch của vợ anh? - Nga. - Hiểu rồi. Nhưng cô ta lại có một người cha là người Hy Lạp? - Vâng, người Hy Lạp, trung tá hải quân thuyền trưởng tàu cứu hộ, và mẹ cô ấy là người Nga. Theo quyền bỏ phiếu, vợ tôi là người Nga. - Hiểu rồi. Thế quốc tịch của các con anh là gì? - Nga. - Anh cảm nhận thế nào về sự bổ nhiệm mới của mình? - Tôi rất mong muốn được ở cương vị này. Goncharov nhìn tôi rất kỳ lạ và gật đầu. Sau này người ta mới nói với tôi rằng, tôi cần phải trả lời: "Tôi coi cương vị mà mình được bổ nhiệm là một sự tin tưởng lớn lao của Đảng và Chính phủ, và công việc của tôi sẽ chứng tỏ niềm tin cậy ấy là đúng đắn". (http://flot.com/upload/blog/ad9//10DiPL_64.jpg) Chúng tôi những người con trai của Tổ quốc Vĩ đại trung thành với sự nghiệp của Đảng! Họa sỹ G.Marchenko. Năm 1958. (http://www.sovietposters.ru/pages_rus/003.htm) Kiệt sức hoàn toàn sau tất cả những cuộc hội thoại trống rỗng đó, tôi và Lutsky đi về khách sạn "Moskva", nơi anh ấy nghỉ lại, chúng tôi tắm rửa sạch sẽ rồi đi đến một nhà hàng ăn trưa và ăn tối, bởi vì công việc còn kéo đến buổi tối. Chúng tôi đặt mua một chai rượu vang khô, món khai vị, món thứ nhất, thứ hai và món tráng miệng. Khi vừa đánh giá ngày vừa qua, vừa kết thúc bữa ăn, thì bất ngờ phía trước bàn của chúng tôi xuất hiện thân hình của Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương Đô đốc V.P.Maslov. Điều đó làm chúng tôi choáng váng, như thể thấy Mephistopheles xuất hiện trong một chiếc áo khoác lộng lẫy. Trên người Đô đốc, tuy nhiên, lại là một bộ đồ thể thao, và ông bắt đầu đặt câu hỏi cho Lutsky. - Anh đang làm gì ở đây? - Chúng tôi đang ăn tối. - Thấy rồi, tôi thấy rồi... ........ Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 17 Tháng Bảy, 2012, 12:46:44 am (tiếp)
Maslov nhìn chằm chằm vào chai "Tsinandali" của chúng tôi. - Tôi và Berzin đến Tổng cục Cán bộ và Uỷ ban Trung ương ĐCS Liên Xô vì việc bổ nhiệm. - Có, có ... Tôi nhớ rồi. Vậy công việc thế nào? Lutsky kể lại sự việc. Maslov lắng nghe rồi đi đến quầy bar mua thuốc lá, ông đang trong kỳ nghỉ phép lái xe qua Moskva. Ngày hôm sau, chúng tôi đến Cục Cán bộ BTTM Hải quân Liên Xô. Ban đầu, chúng tôi được đưa tới chỗ Chủ nhiệm Chính trị Hải quân - Ủy viên Hội đồng Quân sự đô đốc V.M.Grishanov, sau đó tới chỗ Tổng tư lệnh Hải quân Liên Xô Đô đốc Hạm đội LB Xô Viết S.G.Gorshkov. Người đầu tiên được gọi vào gặp V.M.Grishanov là A.N.Lutsky. Hóa ra Chủ nhiệm Chính trị phân hạm đội chuẩn đô đốc I.A.Katchenkov viết thêm phần bổ sung vào tính cách của Chuẩn Đô đốc A.N.Lutsky, trong đó ông ấy viết rằng anh không xứng đáng, anh là kẻ kiêu ngạo, tự cao tự đại v.v, Nhưng dường như đoạn "bổ sung" không có tác động đến V.M.Grishanov, bởi vì về tổng thể ông quá biết Katchenkov. (http://flot.com/upload/blog/c93//10DiPL_65.jpg) Đô đốc Grishanov Vasily Maksimovich. I.A.Penzov. (http://tsushima.su/forums/viewtopic.php?pid=390813) Sau Lutsky người ta mời tôi. Đô đốc V.M.Grishanov có câu hỏi đầu tiên như sau: "Quốc tịch của anh là gì?" Tôi kinh ngạc vì ở đây họ cũng quan tâm vấn đề này. Không phải họ hỏi quan điểm của tôi về cuộc sống thế nào, hoặc tôi đọc những gì, tôi yêu thích gì, những chuyện ấy họ không quan tâm đến. Tất cả đều gắn với quốc tịch. Sau khi đặt các câu hỏi tương tự về vấn đề dân tộc, Grishanov thốt ra những lời sau đây: - Ở anh giống như ở Lenin, có sự pha trộn dòng máu. Trong dòng họ của Lenin có cả người Nga, Đức, Kalmyk. - Tôi không biết chuyện Lenin, còn chuyện của tôi có gì - Tôi đã nói với đồng chí. - Con cái anh thế nào, thông minh không? Anh không đọc Solzhenitsyn đấy chứ? - Lũ trẻ nhà tôi bình thường. - Được rồi. Thế nào ở sư đoàn anh công tác sẵn sàng chiến đấu ra sao? - Tỷ lệ phần trăm các tàu ngầm sẵn sàng chiến đấu vẫn đang được giữ vững.
Sau khi ăn trưa, Đô đốc Hạm đội LB Xô Viết S.G.Gorshkov tiếp chúng tôi. Phòng làm việc của ông rất lớn, trong một góc nhà là một quả địa cầu cao hơn cả tầm vóc con người. Gorskov có tầm vóc nhỏ, khuôn mặt nghiêm khắc, trông khoảng bảy mươi tuổi. Nghe Lutsky báo cáo, ngay lập tức ông ra mệnh lệnh trong thời gian ngắn nhất phải đưa vào thành phần lực lượng trực chiến thường xuyên các tàu ngầm K-204 và K-201. Các vấn đề đặc biệt và các hướng dẫn từ Tổng tư lệnh là không có. Ngày thứ hai tại Moskva đã trôi đi như vậy. Sáng hôm sau, chúng tôi được đưa tới Ủy ban Trung ương. Tại lối vào là một sĩ quan KGB kiểm tra thẻ Đảng của chúng tôi và chỉ cho chúng tôi biết đường đi. Chúng tôi tìm thấy số phòng phải đến, nơi chúng tôi được chuẩn đô đốc V.I.Panin tiếp, ông giám sát Hải quân tại Ủy ban Trung ương. Chúng tôi kể cho Vassily Ivanovich về hai ngày đầu tiên các cuộc đối thoại của chúng tôi tại GUK với V.M.Grishanov và S.G.Gorshkov. Sau đó, ông đi đến báo cáo về chúng tôi với thượng tướng Volkov, và chúng tôi đã đi ra hành lang, ngồi xuống những chiếc ghế bành đặt ở đó. Ngoài phố +30" C, ở đây máy điều hòa không khí đang làm việc, không có biển quảng cáo và các bức chân dung, dọc hành lang liên tục có một người đàn ông trong bộ đồ màu đen (theo quan sát người từ KGB) đi đi lại lại. (http://flot.com/upload/blog/2fc//10DiPL_66.jpg) Đô đốc Panin Vasily Ivanovitch. А.S.Chagadaev. (http://tsushima.su/forums/viewtopic.php?pid=390813) Cuối cùng, chúng tôi được mời đến phòng thượng tướng Volkov, ông hỏi một số câu và cho chúng tôi đi. V.I.Panin dẫn chúng tôi đến một trong các quầy bar, cảnh báo rằng chúng tôi không được ba hoa điều gì, và không được ngạc nhiên trước bất cứ điều gì. Mà kinh ngạc vì cái gì: trứng cá tầm đỏ và đen, trứng cá muối, thịt nguội, cá tầm đỏ, xúc xích, tất cả các loại trái cây và rau quả và nhiều hơn nữa (đó hình như là vào năm 1976). Phần lớn dân cư của đất nước chỉ nghe nói các sản phẩm này, họ chưa được nếm. Tôi và Lutsky lấy đầy khay đủ các món ngon. Cô bán hàng tính toán và cho biết: "Các anh hết 68 kopek". Tôi trả lời: "Sao cô tính cái gì mà ít thế". Cô ấy lịch sự trả lời: "Chúng tôi không bao giờ tính sai". Sau khi ăn trưa, chúng tôi xuống tầng dưới đến quầy vé Aeroflot của UBTU, nơi người ta nhanh chóng và lịch sự đặt vé cho chúng tôi. Tại lối vào người sĩ quan KGB không kiểm tra thẻ Đảng của chúng tôi nữa, mà anh ta chỉ chúc chúng tôi một chuyến đi tốt lành, anh gọi tên từng người theo họ. Cả ngày đêm hôm sau chúng tôi đi trên chuyến bay tới Kamchatka, tại đó chuẩn đô đốc A.N.Lutsky ra lệnh cho tôi bay tới Vladivostok và tham gia vào công việc của K-204. Chính Lutsky bắt đầu chỉ huy phân hạm đội, Phó Đô đốc B.I.Gromov từ biển trở về đang bị viêm phổi. Trong thời gian này, chủ nhiệm chính trị phân hạm đội chuẩn đô đốc I.A.Katchenkov tập hợp các chủ nhiệm chính trị thuộc sư đoàn và tiến hành tập dượt cho hội nghị sắp tới của Đoàn Komsomol phân hạm đội. Các chủ nhiệm chính trị đóng vai công chúng: họ phát biểu, bình bầu, đọc các nghị quyết, hát quốc ca Liên Xô và quốc tế ca, và thậm chí còn mô phỏng các giờ nghỉ trưa. I.A.Katchenkov theo dõi xem, ai hát thế nào và nói: "... Cậu này hát yếu quá, không nghe thấy giọng của cậu ở đâu..." Và chỉ có thế mà kéo mất ba ngày. (http://flot.com/upload/blog/d5f//10DiPL_67.jpg) Đại hội Đoàn Thanh niên những năm 1960. (http://avtonomka.org/vospominaniya/kapitan-1-ranga-agafonov-vitaliy-naumovich/12-intervu-s-v-n-agafonovim.html) Trong đội hình trọng thể kỷ niệm Ngày Chiến thắng không có thuyền trưởng K-48 trung tá hải quân V.I.Rovensky, mới gần đây được bổ nhiệm vào vị trí này và đã "thể hiện" mình thành công ngay từ đầu. Thông qua các kênh khác nhau, người ta báo cáo tôi rằng anh ta đang nằm ở nhà trong trạng thái say xỉn. Tôi gọi anh đến sư đoàn. Anh đến văn phòng của tôi, thời điểm này đang có mặt chủ nhiệm chính trị trung tá hải quân V.M.Pogrebnykh và Phó sư đoàn trưởng, đại tá hải quân N.V.Anokhin. Tôi hỏi V.I.Rovensky "Anh say rượu hả?" Câu trả lời là "Không". Gặng hỏi hồi lâu, anh ta đều từ chối. Sau đó, Rovensky khóc nức nở rồi bắt đầu ê a một đoạn hát nói: "Đồng chí Tư lệnh sư đoàn, tâm hồn đồng chí đã mọc rêu, đồng chí thật thô lỗ và nhẫn tâm". Tất cả chúng tôi xúm vào an ủi anh ta, và tôi để cho anh ta về nhà. Trước buổi tối, cuối cùng tôi đã tìm hiểu ra mọi việc. Rovensky say rượu trong đơn vị và sau đó bắt đầu đi lang thang giữa các thủy thủ, sĩ quan và hạ sỹ quan của thủy thủ đoàn, cho đến khi sư đoàn phó của tôi đại tá hải quân N.V.Anokhin tìm thấy anh ta, đưa lên xe UAZ và chở về nhà. Tôi hỏi Anokhin về chuyện này và ông kể với tôi tất cả. ....... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 17 Tháng Bảy, 2012, 05:11:29 pm (tiếp)
Buổi sáng, tôi mời V.I.Rovensky đến chỗ tôi một lần nữa và trong sự hiện diện của các cấp phó của mình, tôi đặt câu hỏi: "Anh say rượu phải không?" Câu trả lời là "Không". Khi đó, tôi quay sang Anokhin: "Đồng chí hãy kể chuyện gì đã xảy ra". Anokhin còn chưa kịp mở miệng thì Rovensky nói luôn: "Vâng, tôi đã say rượu. Từ nay tôi sẽ không thế nữa". Tôi không kìm được và hỏi: "Vậy, ai có tâm hồn mọc rong rêu đây?" Rovensky trả lời bối rối: "Tôi, thưa đồng chí tư lệnh sư đoàn". Tại đây chúng tôi chấm dứt một sự cố khó chịu. (http://flot.com/upload/blog/05d//GrishanovVM_4.jpg) Tại phân hạm đội tàu ngầm số 2 có chuyến đến thăm của Chủ nhiệm Chính trị Hải quân Xô Viết đô đốc V.M.Grishanov (http://visualrian.ru/ru/site/photo/historic/1970/?startfrom=49680). Chủ nhiệm Chính trị phân hạm đội tàu ngầm số 2 đại tá hải quân K.M.Ambarov (ông ấy thay thế vị trí của chuẩn đô đốc I.A.Katchenkov) cùng cấp phó của ông, đại tá hải quân Kozyr đến kiểm tra hồ bơi, tại đây họ gặp trưởng ngành giáo dục thể chất phân hạm đội thiếu tá Petrov. Ambarov xem bể bơi và chỉ thị cho Petrov: "Chẳng mấy bữa nữa đồng chí Grishanov sẽ đến chỗ chúng ta, cho đến lúc ấy phải trang hoàng lại tất cả, treo màn cửa mới, phải có áo choàng tắm, các tấm drap đơn và kép". Petrov: "Tất cả những thứ ấy theo tiêu chuẩn nhà nước thì không được phép, còn dùng tiền của tôi thì tôi lại không đủ sức". Ambarov: "Đối với quan chức cấp cao những thứ đó cần phải có". Ambarov quay sang Kozyr: "Vladimir Nikolaevitch, tại ban chính trị cần phải tiêu 10 rup cho món áo choàng". Ambarov: "Thế còn tủ lạnh và ấm samovar của anh đâu rồi?" Petrov tò mò hỏi lại: "Đồng chí Grishanov sẽ bơi hay uống trà trong hồ bơi?" Không có câu trả lời. Đô đốc V.M.Grishanov đã đến, tất cả các sĩ quan tập trung tại Nhà Sĩ Quan nghe báo cáo của bộ chỉ huy sư đoàn và các thủ trưởng phòng ban chính trị. Chuẩn đô đốc tư lệnh sư đoàn tàu ngầm số 25 V.V.Privalov phát biểu, ông kể chuyện tại sư đoàn mình ông đã phải đấu tranh với nạn nghiện rượu, tổ chức các nhóm không uống rượu ra sao, khiến hội trường cười ồ cả lên. Buổi tối những kẻ nặc danh gọi điện thoại cho TMT sư đoàn tàu ngầm số 25 đại tá hải quân O.A.Erofeev và xin ghi tên vào nhóm không uống rượu. Năm 1979, tôi tham dự Hội nghị Đảng bộ khu vực số 20, cùng với ủy viên Hội đồng Quân sự - Chủ nhiệm Chính trị phân hạm đội tàu ngầm số 2 đại tá hải quân K.M.Ambarov, chúng tôi đến Petropavlovsk trên xe "Volga" của ông, ông ấy xếp tôi ngồi bên cạnh người lái xe, còn ông ngồi ở phía sau, ông giải thích cho tôi: "Ở phương Tây, các ông chủ khi đi xe thường ngồi ở ghế sau, như vậy an toàn hơn". Trên đường đi, ông kể chuyện ông từng phục vụ trong văn phòng của V.M.Grishanov, đô đốc khoái ông và một lần mời ông cùng đi dạo với nhau vào buổi tối. Ta hình dung như sau. Ambarov sau giờ làm việc lái xe về nhà, ăn tối, và lúc 20,00 giờ lái xe đến nhà Grishanov, đô đốc đi ra phố, và họ cùng nhau đi bộ và nói chuyện. Và cứ thế, hầu như ngày nào cũng vậy. Thuyền trưởng "K-23" và "K-305" đại tá hải quân Bondarenko Viktor Konstantinovitch xác nhận: (http://andreeva.1gb.ru/story/holland25.html) (http://flot.com/upload/blog/78d//10DiPL_69.jpg) Tại Kamchatka Ambarov được phong quân hàm chuẩn đô đốc. Kết quả làm việc của ủy ban (về tai nạn tàu ngầm "K-429") như sau: UVHĐQS phân hạm đội chuẩn đô đốc AMBAROV bị Chủ nhiệm Chính trị Hải quân Liên Xô gọi là tên trộm cắp với việc dẫn ra những vụ việc thực tế và bị cách chức. Ngày 09 Tháng 7 năm 1979, tàu ngầm K-325 (thuyền trưởng - trung tá hải quân V.P.Valuev, chỉ huy cao cấp trên tàu - TMT đại tá hải quân N.N.Alkaev) đi biển thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu. Một ngày trước khi tàu ra khơi, tôi cùng bộ tham mưu sư đoàn tới kiểm tra tàu ngầm. Không có mặt thiếu tá hải quân Obodovsky ngành trưởng ngành tác chiến 2. Người đàn ông này đã nghiện rượu từ hồi ở Hạm đội Biển Bắc, vẫn tiếp tục uống tại Hạm đội Thái Bình Dương. Trung tá hải quân V.P.Lushin (cựu thuyền trưởng K-325) đã trình tên Obodovsky trong danh sách nhận huân chương vì chuyến đi biển của tàu ngầm dưới lớp băng Bắc Cực, và người ta đã trao tặng huân chương. Obodovsky chỉ có mặt trên tàu tại thời điểm cuối cùng. Về trường hợp cá nhân này, tôi cũng đã nói chuyện với cấp trên. Câu trả lời là: "Hãy giáo dục". Năm 1979, chúng tôi tiễn đại tá hải quân A.F.Kopiev đi học ở Học viện Hải quân. Trong sư đoàn lại thiếu đi một con người được giáo dục tốt, thông minh, có ý chí mạnh mẽ và là người chỉ huy trung thực. Ngày 21 tháng 7 năm 1979 người ta báo cáo rằng thượng úy trưởng ngành quân y Buerakov đã chết trên tàu ngầm K-325, hiện đang thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu. K-325 đã về thả trôi trong vịnh Sarannaia. Một nhóm sĩ quan, trong đó có tôi lên tàu phóng lôi cao tốc TL-552 ra khơi để điều tra trường hợp khẩn cấp này. Cuộc điều tra phát hiện ra rằng trước đó Buerakov đã thừa nhận từng nhiều lần say rượu trên biển, trong đó có cả chuyến di chuyển từ Hạm đội Biển Bắc sang Hạm đội Thái Bình Dương dưới lớp băng Bắc Cực. Trong chuyến thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu này, anh ta đã uống say vào ngày 18 tháng 7, thuyền trưởng tàu ngầm và thuyền phó chính trị đã ngăn cấm anh ta, tịch thu đồ uống có cồn của anh, và ngày 19 người ta tìm thấy anh trong phòng mình ở trạng thái bất tỉnh. Hóa ra anh ta đã tự đầu độc bằng thuốc ngủ, các biện pháp áp dụng để cứu sống anh ta không thành công. Thường điều răn dạy lại khác hẳn thực tế. Một lần tư lệnh phân hạm đội tàu ngầm số 2 chuẩn đô đốc A.I.Pavlov ra lệnh cho bộ chỉ huy sư đoàn đến phòng ăn của sư đoàn tàu ngầm số 8, tại đó họ hứa bày cho chúng tôi một bàn ăn gương mẫu. Chúng tôi đi vào phòng ăn: phòng dơ bẩn, không trật tự gì cả. A.I.Pavlov xuất hiện, ngay lập tức người ta mang các món ăn dưa chuột tươi và cà chua tươi, thịt nướng và cả một con gà tây chiên (http://nnm.ru/blogs/ludmilav26/semeynyy_uzhin_s_indeykoy/page2/). Tất cả những đồ ăn đó được đặt trên một chiếc bàn. (http://flot.com/upload/blog/048//10DiPL_70.jpg) Đó - gọi là "bữa ăn của thủy thủ". Sau đó, bản thân những người tham gia ngồi vào chiếc bàn này, bắt đầu thưởng thức các món ngon. Tôi đi đến trung tâm đào tạo làm thủ tục nhập học cho khẩu đội tác chiến hạm của thủy thủ đoàn của trung tá hải quân V.F.Dorogin và không tham gia "đánh chén". Tất cả những ví dụ nói trên cho thấy rằng với chính sách cán bộ công việc thực tế không quan trọng. Trong giáo dục nguyên tắc quan trọng nhất - đó là ví dụ cá nhân của người giáo viên ("hãy làm như tôi làm"). Các chủ nhiệm và cán bộ chính trị chủ chốt của chúng tôi đôi khi hoàn toàn xa lạ với cái có thể là hình mẫu để người ta noi theo. Họ thuyết phục chúng ta: "Đừng uống rượu, không ăn cắp, chớ ngoại tình". Tuy nhiên, bản thân họ thì lại làm tất cả những điều đó. Các thủ trưởng của chúng tôi trong giao tiếp lại cho phép sự khiếm nhã và sử dụng ngôn từ tục tĩu. Họ đánh giá rất thành kiến với các cấp dưới. Họ thường bổ nhiệm vào vị trí cao những nhân vật đạo đức thấp, tầm nhìn ngắn, độc tài và hẹp hòi. Tiêu chí chính khi bổ nhiệm là sự trung thành với Đảng Cộng sản và Chính quyền Xô Viết. Không phải Tổ quốc, mà Đảng Cộng sản và Chính quyền Xô Viết. Họ giữ kẻ say rượu trên tàu ngầm trong nhiều năm, nhưng nếu một người nào đó dù chỉ nói một lời chống lại Bộ Chính trị (ví dụ, ở đó toàn những người rất nhiều tuổi), lập tức những người này sẽ bị cách chức và hạ cấp nhiều bậc hoặc thải về ngạch dự bị. Cơ quan cán bộ và cơ quan chính trị thường rất hay lo lắng về quốc tịch của con người. Đôi khi điều đó trở thành vật chướng ngại, đưa người ta đến chủ nghĩa ngu xuẩn. Bộ tư lệnh sư đoàn thường xuyên quan tâm giáo dục đào tạo nâng cao trình độ cho các thuyền trưởng tàu ngầm. Mặc dù số lượng các chiến dịch phục vụ chiến đấu rất lớn, các chức vụ được Bộ Tổng Tham mưu Hải quân bổ nhiệm của sư đoàn, các thuyền trưởng tàu ngầm và các sỹ quan khác được gửi đi đào tạo một cách có hệ thống tại Học viện Hải quân mang tên A.A.Gretchko. (http://library.karelia.ru/cgi-bin/monuments/exlibris_view.cgi?id=1320&folder=271) (http://flot.com/upload/blog/939//10DiPL_71.jpg) Ban chính trị của chúng tôi, do đại tá hải quân V.M.Pogrebnykh lãnh đạo, đã làm rất nhiều việc để giáo dục các quân nhân thành viên và tăng cường sự sẵn sàng chiến đấu của các bộ phận. Đại tá hải quân V.M.Pogrebnykh và các sỹ quan công tác chính trị đã ra khơi trên các tàu ngầm trong các chiến dịch phục vụ chiến đấu và thực hành các bài tập huấn luyện chiến đấu trên biển. Tôi vẫn còn giữ mãi trong tâm những ký ức tốt đẹp nhất về đại tá hải quân Vyacheslav Mikhailovitch Pogrebnykh. Các thuyền phó chính trị trên các tàu ngầm của chúng tôi về cơ bản là những sỹ quan trung thực, có trách nhiệm và hiểu biết trong công việc của mình. .......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 17 Tháng Bảy, 2012, 10:44:20 pm (tiếp)
Các cơ quan tham mưu cấp trên và các ủy ban khác nhau kiểm tra sư đoàn Phân hạm đội, và sư đoàn chúng tôi liên tục bị kiểm tra bởi tất cả các ủy ban có thể có, các cơ quan tham mưu cấp trên và các thủ trưởng độc lập khác nhau trong năm năm trên cương vị chỉ huy sư đoàn của tôi. Một loại ủy ban này đến, những ủy ban khác lại ra đi. Tất cả những chuyện này mất rất nhiều thời gian, và không còn đủ cho huấn luyện chiến đấu. Về nguyên tắc, không có ích lợi gì từ các ủy ban ấy, bởi họ không đi sâu vào công việc của chúng tôi, và cũng không muốn đi sâu tìm hiểu. Nguyên tắc chỉ có một: "cấu véo" tài liệu để báo cáo thủ trưởng hoặc để ra lệnh phạt chúng tôi. Ngày 16 tháng 1 năm 1978 một ủy ban của Bộ Tổng tham mưu Hải quân gồm 15 người, đứng đầu là chuẩn đô đốc V.P.Ryabov. Phó Chủ tịch ủy ban là đại tá hải quân Zadorin, người học cùng tôi tại trường dự bị hải quân Nakhimov ở Riga, và sau đó là Trường Cao đẳng tàu ngầm Hải quân Baltic 1 (cùng khóa học nhưng ông lớn tuổi hơn tôi). Zadorin bắt đầu hỏi tôi về thi đua xã hội chủ nghĩa, mà tất nhiên nếu không có nó, với chúng tôi trong chiến dịch đi biển là "không đủ". Trong thực tế, cuộc thi đua xã hội chủ nghĩa này là cả một sự gian lận liên tục và điên rồ, giống như nhiều biện pháp chính trị khác, mất tập trung vào các nguyên tắc cơ bản: học những điều cần thiết trong chiến tranh. Thậm chí đô đốc S.O.Makarov nói về điều đó ngắn gọn hơn nhiều: "Hãy nhớ cuộc chiến tranh này". (http://flot.com/upload/blog/ba0//10DiPL_72w.jpg) Học viên Nakhimov Zadorin. Leonid Konstantinovitch Zadorin, công dân đầu tiên thị trấn Gadzhievo, thuyền trưởng RPKSN, người được ủy nhiệm của Tổng tư lệnh Hải quân. (http://svpg.ru/in_face/index.php?SECTION_ID=80) Trong một dịp khác, một ủy ban của BTTM Hải quân bay đến từ Moskva dẫn đầu là Chủ nhiệm Tổng cục kỹ thuật Hải quân đô đốc V.G.Novikov và chuẩn đô đốc V.P.Ryabov để kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu của các tàu ngầm phân hạm đội tàu ngầm số 2. Để bắt đầu Novikov đặt câu hỏi cho bộ chỉ huy sư đoàn. Ông hỏi tôi về nội dung của một chỉ thị của Tổng tư lệnh Hải quân, tôi nói với ông nội dung chỉ thị, còn bản thân số chỉ thị thì tôi quên. Novikov: "Sao mà anh lại có thể không biết số chỉ thị? Ai chà, Tổng tư lệnh Hải quân trong những trường hợp này sẽ giận đấy". Một sỹ quan Tổng cục chính trị hỏi tôi một câu: "Anh đã truyền bá bao nhiêu đề tài về đào tạo chủ nghĩa Mác-Lênin và đã làm những gì để thực hiện theo tinh thần văn bản của Ủy ban Trung ương về thi đua xã hội chủ nghĩa?" Tôi muốn người ta gửi tất cả họ đi tiếp nhưng phải trả lời thôi. Từ 7 đến 10 tháng 1 năm 1982, ở chỗ chúng tôi có mặt Phó tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương, Phó Đô đốc N.Ya.Yasakov. Ông đi nghỉ mát với vợ tại một viện điều dưỡng quân đội ở Paratunka, nhưng dường như không nghỉ ngơi, và Yasakov mang một thế lực không trong sạch vào các đơn vị quân đội và các con tàu của phân hạm đội Kamchatka và phân hạm đội tàu ngầm số 2. Trong những ngày nghỉ, ông đã tước phép của tất cả các trực ban tác chiến phân hạm đội Kamchatka và phân hạm đội chúng tôi. Lý do - ông không biết đọc hay đọc bản đồ thời tiết rất kém. Sau đó, ông phát biểu trước các thuyền trưởng tàu ngầm, cuộc nói chuyện lấp lánh những viên ngọc kiểu như: "Nếu tôi có quyền, tôi sẽ bắn từng kẻ Do Thái thứ hai, thủy thủ tàu ngầm, và kẻ vi phạm kỷ luật quân sự." Tiếp theo, đến các cuộc kiểm tra. Tất cả các chỉ huy tàu ngầm của phân hạm đội tàu ngầm số 2 đều bị Yasakov cho điểm 2, nhưng chúng tôi đùa rằng còn tốt chán vì không ai bị bắn. Tôi đi vào văn phòng của Phó Đô đốc A.I.Pavlov, khi ở đó Yasakov kết thúc cuộc tra khảo thuyền trưởng sư đoàn tàu ngầm số 8 đại tá hải quân B.F.Prikhodko và TMT sư đoàn đại tá hải quân V.A.Rogunov. Trước sự hiện diện của tôi Yasakov đã ngắt lời thí sinh, tỏ thái độ khinh mạn họ, sau đó cho họ 2 điểm và để họ đi. Yasakov đề nghị tôi tiếp tục trả lời Prikhodko. Tôi tiếp tục, nhưng bởi vì gần như chẳng còn gì để trả lời, vậy nên tôi yêu cầu báo cáo những gì Prikhodko đã bỏ qua. Yasakov: "Anh đừng có ra lệnh cho tôi, khi người ta đang hỏi anh!" Tôi bình tĩnh trả lời: "Tôi không ra lệnh cho đồng chí, tôi chỉ yêu cầu đồng chí cho phép". Yasakov trở nên hoàn toàn khích động: "Anh chẳng biết cái cóc gì!" Tôi trả lời ngay: "Không, tôi biết. Tôi đã 26 năm phục vụ, tôi đã biết và đang biết." Yasakov cũng không còn làm chủ được mình: "Cút ngay!" Tôi đi ra ngoài với một quyết tâm vững chắc rằng không bao giờ gặp ông thủ trưởng này nữa. Yasakov nhanh chóng nói với Ivanov rằng tôi không làm ông thích, nhất là cách tôi "thể hiện sự thiếu tôn trọng với ông ấy thông qua cặp mắt nhìn và giọng nói." (http://flot.com/upload/blog/4d2//10DiPL_73.jpg) Yasakov Nikolai Yakovlevitch.Tranh Chagadaev. (http://tsushima.su/forums/viewtopic.php?pid=390813) Ngày 17 tháng 2, Phó Đô đốc N.Ya.Yasakov bay đến từ Vladivostok cùng các sỹ quan bộ tham mưu hạm đội. Một lần nữa người ta triệu tập các thuyền trưởng tàu ngầm đến để ông sát hạch, ông ấy lại cho tất cả điểm 2. Đại tá hải quân Chetyrbok kể về cuộc họp của N.Ya.Yasakov với Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương đô đốc V.V.Sidorov. N.Ya.Yasakov kể lại ông đã cho các thuyền trưởng tàu ngầm điểm 2 hồi tháng Giêng như thế nào. Sidorov hỏi ông: "Các tờ phiếu kiểm tra sát hạch anh để đâu?" Yasakov: "À tôi đặt câu hỏi thôi". Sidorov: "Vậy thì – đó không phải tài liệu chính thức rồi". Sidorov hỏi Yasakov: "Thế còn điểm đánh giá Berzin là mấy?" Yasakov: "Berzin ốm". Tất nhiên, ở đây ông ấy nói dối. Ngày 18 tháng 2, Phó Đô đốc A.I.Pavlov triệu tập tất cả các chỉ huy đơn vị trong sư đoàn tới chỗ mình và ra lệnh cho chúng tôi: "Áp dụng ngay các biện pháp với các thuyền trưởng tàu ngầm Tại sao tất cả mọi người đều bị đồng chí Yasakov cho điểm 2". Tôi muốn trả lời ông rằng Yasakov ngoài việc đọc bản đồ thời tiết ra thì chẳng biết gì, nhưng tôi kìm được. Các thuyền trưởng tập trung lên tàu doanh trại nổi PKZ-182 (плавучие казармы) trong phòng hội nghị, nơi các sỹ quan bộ tham mưu hạm đội đặt câu hỏi cho họ. Tất cả các thuyền trưởng của sư đoàn tàu ngầm 10 đã trả xong bài trót lọt. Nói thêm, cũng vào ngày này, tôi đã trả xong tất cả các bài sát hạch trước các sỹ quan bộ tham mưu hạm đội. Tổng kết và những thành tựu mà sư đoàn đã đạt được (http://flot.com/upload/blog/4cc//10DiPL_74w.jpg) Danh hiệu Anh hùng Liên Xô được trao tặng cho đại tá hải quân Kozlov Valentin Tikhonovich (1977), trung tá hải quân Aleksei Alekseevitch Gusev (1978), trung tá hải quân Vladimir Petrovitch Lushin (http://arh-necropol.narod.ru/obnovleniya/lushin/) (1978). Các thủy thủ đoàn của các tàu ngầm K-212 K-320, K-325 và K-429 đã được trao cờ thưởng của Bộ trưởng Quốc phòng vì lòng can đảm và chiến công vinh quang mà họ thể hiện trong các chuyến hành quân di chuyển dưới băng Bắc Cực. Vì đã thực hiện thành công các chiến dịch di chuyển tàu ngầm từ Hạm đội Biển Bắc sang Hạm đội Thái Bình Dương, tất cả các thuyền trưởng tàu ngầm và rất nhiều sỹ quan, hạ sỹ quan đã được trao tặng huân huy chương các loại. Sư đoàn tàu ngầm số 10 trong các năm 1977-1982 đã 3 lần giành vị trí số 1 trong các đơn vị của phân hạm đội tàu ngầm số 2 về cả thành tích chiến đấu và bồi dưỡng trình độ chính trị. Nhiều thuyền trưởng tàu ngầm, các sĩ quan và hạ sỹ quan được tặng thưởng các loại huân huy chương do thành tích trong huấn luyện chiến đấu và đào tạo chính trị. (http://flot.com/upload/blog/f2e//10DiPL_76.jpg) Trong thời gian tàu ngầm K-175 đề án 675MK ra khơi tới khu vực thao trường huấn luyện chiến đấu. Từ trái sang phải: đại tá hải quân A.A.Krylov, chuẩn đô đốc A.S.Berzin, trung tá hải quân Samonik. – Sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Con người, sự kiện, con tàu. - St Petersburg, năm 2005. Số đặc biệt nguyệt san Taifun. Trong gần năm năm chỉ huy sư đoàn tàu ngầm số 10 (gần 1.825 ngày), thời gian tôi ở ngoài biển trên tàu ngầm khoảng gần 600 ngày (1,6 năm), chiếm 33% tổng thời gian trên cương vị chỉ huy sư đoàn. Phần lớn thời gian trôi qua trong các chiến dịch phục vụ chiến đấu, nhưng cơ bản - là ra khơi thực hiện các bài huấn luyện chiến đấu. Những gánh nặng tương tự cũng đè nặng lên các đôi vai của TMT sư đoàn đại tá hải quân O.A.Krestovsky, người kế nhiệm ông đại tá hải quân N.N.Alkaev, các sư đoàn phó của tôi đại tá hải quân N.V.Anokhin, đại tá hải quân V.T.Kozlov, đại tá hải quân A.F.Kopiev. Trong thời gian năm năm, tập thể bộ tham mưu và phòng chính trị sư đoàn đã trực tiếp tham gia vào việc hoàn thành các khoa mục huấn luyện tàu ngầm, và nhiều công việc khác, đã hoàn thành một khối lượng công tác lớn lao để chuẩn bị cho các tàu ngầm của chúng tôi hành quân đi biển phục vụ chiến đấu, thực hiện các cuộc xạ kích ngư lôi và tên lửa. Tôi xin kính cẩn cúi chào và bày tỏ lòng biết ơn tới tất cả các thành viên trong sư đoàn vì sự nghiệp lao động vô cùng nặng nề ấy. (http://flot.com/upload/blog/39c//10DiPL_75w.jpg) Trong số các sỹ quan phục vụ dưới quyền chỉ huy của tôi có 3 người đạt được thành công lớn nhất. Trợ lý thuyền trưởng K-108 đề án 675 đại úy hải quân Mikhain Gheorghievitch Zakharenko (http://www.submarine-tof.ru/Site%20DVCLUB/TOVMI/DVCLUB_TOVMI_Vipusk_Admirals.html) sau này đã trở thành đô đốc và Phó Tổng tư lệnh Hải quân. Thuyền trưởng K-325 trung tá hải quân Vladimir Prokopovitch Valuev (http://../publications/books/shelf/hromov/hromovbalticfleet.pdf) trở thành đô đốc, tư lệnh Hạm đội Baltic. Chỉ huy thủy thủ đoàn tàu ngầm số 305 trung tá hải quân Valery Fedorovitch Dorogin trở thành phó đô đốc, tư lệnh các lực lượng hướng đông bắc thuộc Hạm đội Thái Bình Dương, đại biểu Duma Quốc gia. Thời gian không biết xót thương, các cựu thuyền trưởng tàu ngầm sau đã không còn sống giữa chúng ta: đô đốc V.T.Kozlov, đại tá hải quân A.A.Gusev, đại tá hải quân A.F.Kopiev, đại tá hải quân N.M.Suvorov, trung tá hải quân A A.Isai, trung tá hải quân S.D.Bezukhov, trung tá hải quân Yu.G.Shestak. Chúng tôi là những người tham gia vào cuộc "Chiến tranh Lạnh", kéo dài gần năm mươi năm. Chúng tôi được dạy dỗ yêu quý đất nước mình, kiên cường chịu đựng tất cả những khó khăn của đời phục vụ hải quân, chúng tôi cũng được dạy dỗ để trở nên cương quyết và dũng cảm, trung thực và lương thiện. Và chúng tôi đã phục vụ đúng như vậy, khi đứng vững bảo vệ biên giới phía đông của đất nước chúng ta." (http://flot.com/upload/blog/7c3//10DiPL_77.jpg) Alfred Berzin. (http://alfred-berzin.livejournal.com/43878.html)Nghề làm vườn tại nhà nghỉ "Văn hóa" (ga đường sắt Gruzino, tỉnh Leningrad). Bờ con kênh tự nhiên chảy từ hồ Royka vào hồ Lembolov . Thay cho những chiếc tàu ngầm nguyên tử, tôi còn một chiếc thuyền cao su bơm hơi, mà đôi khi tôi dùng để đi ra hồ trong những lúc tiết trời yên ả. CÔ HÊU. Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 22 Tháng Bảy, 2012, 08:40:03 pm Hồi ức của thuyền trưởng K-123. Chuẩn đô đốc A.S.Bogatyrev. (flot.com) (http://lib.rus.ec/i/91/307491/pic_64.jpg) Số chuyên đề nguyệt san "Taifun" St Petersburg, năm 2002 - "Tàu ngầm-tiêm kích tự động hóa kích thước nhỏ tốc độ cao đề án 705 (705K)" (http://flot.com/upload/blog/5f1//BogatirevPubl2_1.jpg) Tháng 12 năm 1977, sau khi hoàn thành các bài thử nghiệm tại nhà máy và thử nghiệm quốc gia ở Biển Trắng, tàu ngầm đầu đàn đề án 705K số hiệu K-123 và thủy thủ đoàn đã bắt đầu thực hành khóa huấn luyện chiến đấu để tham gia vào lực lượng thường trực của Hạm đội Biển Bắc. (http://flot.com/upload/blog/e94//BogatirevPubl2_2.jpg) K-64 đề án 705 trong thời gian thử nghiệm quốc gia ở Biển Trắng. Tháng 12 năm 1971. Vào thời điểm ấy tàu ngầm đầu đàn đề án 705, K-64 (http://www.atrinaflot.narod.ru/1_submarines/03_pla_705k/0_705k_1.htm) sản phẩm của nhà máy đóng tàu Leningrad "Sudomekh", chuyển sang loại tàu thử nghiệm, đã rút khỏi chương trình khai thác thí điểm vào cuối năm 1972 và đã chấm dứt tồn tại. Từ thời điểm đó bắt đầu một thiên sử thi dưới nước của đề án 705 (705K), mà giá trị của nó, theo đánh giá của tôi, cho đến bây giờ vẫn còn nhiều công trình sư thiết kế, các nhà đóng tàu và các chuyên gia hải quân chưa hiểu được. Những giấc mơ dường như chỉ là ảo tưởng vào cuối những năm 1950, thì vào cuối những năm 1960 trở thành một thực tế cụ thể, thực tế mà ngành đóng tàu ngầm các nước phương Tây thậm chí còn chưa mơ tới. Sự nghiệp thiết kế và chế tạo tàu ngầm hạt nhân đề án 705 (705K), mặc dù không đầy đủ, nhưng cũng đã được kể lại (Nguyệt san "Taifun", số 3/1997). Nhưng công việc trên biển của các "cỗ máy tự động" của chúng tôi, theo tiếng lóng của giới thủy thủ tàu ngầm, vẫn còn nằm trong "giai thoại tàu ngầm" truyền miệng. Đây là nỗ lực đầu tiên để kể về "con chim thần" mà chúng tôi đã nắm trong tay mình. Trong các tạp chí khác nhau người ta nói rằng sự xuất hiện của tàu ngầm hạt nhân với chất mang nhiệt kim loại lỏng (ZMT - ЖМТ: АПЛ с ядерными энергоустановками с жидкометаллическим теплоносителем - ЯЭУ ЖМТ) ở Liên Xô đã làm giới lãnh đạo Hải quân Mỹ bất ngờ, buộc họ phải xem xét lại một số chương trình chống tàu ngầm. Tôi chỉ nói thêm rằng theo mệnh lệnh của Tư lệnh Hạm đội Biển Bắc trong cuộc phỏng vấn với một nhà báo Mỹ (tôi không nhớ tạp chí nào) vào năm 1991 (cũng có thể năm 1992) về chiếc tàu ngầm tôi đã phục vụ trong một binh đoàn khác, một trong những câu hỏi cuối cùng được đưa ra là: - Thưa Ngài, Ngài đã chỉ huy tàu ngầm lớp nào - nói theo thuật ngữ của chúng tôi ấy mà? - "Alpha" - tôi trả lời. Người phóng viên, như tôi hiểu, rất quen thuộc với các thủy thủ tàu ngầm Mỹ, thậm chí đứng bật lên khỏi chỗ ngồi của mình. - Ngài - chính Ngài là thuyền trưởng "Alpha"? - Vâng, hồi xưa là như vậy. - Thật không dễ dàng khi làm việc với Ngài trên biển cả, các thủy thủ tàu ngầm của chúng tôi đã nói vậy ... (http://flot.com/upload/blog/0a1//BogatirevPubl2_3.jpg) Alfa K-123 (http://www.oocities.org/greymac52.geo/K123b.gif) Và đó là một sự đánh giá cao đối với các thuyền trưởng, các sĩ quan, hạ sĩ quan, thủy thủ của đơn vị chúng tôi. Không phí công thắc mắc về các nhược điểm thiết kế và chế tạo tại nhà máy của những con tàu của chúng tôi, chúng tôi bù trừ bằng chiến thuật hoạt động, các biện pháp tổ chức và kỹ thuật cũng như kỹ năng của thủy thủ đoàn. Dù trong chiến thuật hoạt động và kỹ năng điều khiển chúng tôi cũng có nhiều khuyết điểm và sai lầm, đặc biệt là ở giai đoạn đầu làm chủ vũ khí trang bị. Nhưng tôi sẽ chỉ nói về những ưu thế của cỗ "máy tự động" trước bất kỳ chiếc tàu ngầm nào khác. Việc sử dụng hợp kim titan, lò phản ứng hạt nhân với chất mang nhiệt kim loại lỏng cho dòng điện xoay chiều tần số cao hơn đã dẫn đến giảm đáng kể trọng lượng của các thiết bị điện và cơ cấu máy, và về tổng thể, giảm độ choán nước của tàu ngầm. Đường bao thiết kế được áp dụng của tàu ngầm đã cải thiện rất nhiều chất lượng thủy động lực học, cho phép nó, với một độ choán nước nhỏ và lò phản ứng hạt nhân công suất mạnh, đạt được tốc độ bơi ngầm nhanh đến mức mà đến nay không một con tàu nào trên thế giới đạt được, ngoại trừ tàu ngầm duy nhất đề án 661 của chúng tôi. Trên quan điểm thẩm mỹ, nó là chiếc tàu ngầm đẹp nhất. Hình dạng giọt nước, tháp chỉ huy kiểu limousine với các thiết bị có thể thu gọn của boong trên, đóng lại bằng các lỗ và ống thoát nước, nó được nhận ra ngay lập tức bởi vẻ bề ngoài, nói chung, của các tàu ngầm hạt nhân đa mục đích độc đáo. Đường bao vỏ tàu, trục bánh lái kiểu xẻ cho phép tàu ngầm quay được gần như trên đế với một tốc độ vòng lượn cao chỉ với một sự dịch chuyển nhỏ của bánh lái phương đứng. Khi các tàu ngầm hạt nhân chủ động theo dõi nhau, đó là một lợi thế rất có giá trị. Nó không cho phép các tàu ngầm khác đi vào các góc đuôi ("xem đuôi cho tôi", các thuyền trưởng hay nói), tức là vào vùng "bóng tối", khu vực mà các tàu ngầm không nghe được, và từ đó bạn có thể dính một đòn tấn công ngư lôi bí mật. (http://flot.com/upload/blog/132//BogatirevPubl2_4.jpg) Tàu ngầm nguyên tử "K-123" đề án 705-K trong căn cứ. Hạm đội Cờ Đỏ Biển Bắc. (http://flot.com/upload/blog/132//BogatirevPubl2_4.jpg) Và điều này được xác nhận bởi việc thực hành theo dõi không chỉ các tàu ngầm của chúng tôi trong các cuộc diễn tập chống tàu ngầm, mà còn trong khi thực hiện các nhiệm vụ phục vụ chiến đấu trên biển. Đầu những năm 1980 lúc phát hiện ra chúng tôi, người thuyền trưởng chiếc tàu ngầm hạt nhân đa mục đích của lực lượng hải quân thống nhất NATO (ОВМС НАТО) mới hiểu rằng tàu của ông đã bị giám sát khoảng gần một giờ, ông bắt đầu tích cực cơ động để chiếm lấy vị trí phía đuôi chúng tôi. Chúng tôi vẫn thường xuyên giữ được tiếp xúc, đồng thời không để cho ông ta thực hiện được hành động này. Kết quả là chuyển động của hai tàu ngầm tạo thành một vòng tròn trong gần 22 giờ đồng hồ với màn trình diễn liên tục của chiếc tàu ngầm nước ngoài trên bộ ổn định độ sâu không hành trình, và thỉnh thoảng là cả phía chúng ta cũng vậy - để "thư giãn". Nhưng chủ yếu là chúng tôi đi "vòng quanh", trong lúc giữ kẻ thù ở tâm vòng lượn. Thuyền trưởng tàu ngầm nước ngoài nhận ra rằng ông ta không thoát được ra khỏi vòng tròn, bởi vì bán kính của ông ta nhỏ và tồn tại một nguy cơ va chạm thực sự. Tôi cũng đã hành động mạo hiểm, nhưng rất tin tưởng vào khả năng cơ động của tàu ngầm của mình và kỹ năng của thủy thủ đoàn. Sự mạo hiểm được xác nhận bởi các tính toán lý thuyết và sự hoạt động thực tế. Nếu tàu ngầm nước ngoài bám được tôi (trường hợp xấu nhất), thì bằng sự dịch chuyển tối đa bánh lái theo hướng ngược lại và tăng tốc độ đến gần tối đa (thậm chí là tối đa), tôi vẫn sẽ giữ được an toàn. Tuy nhiên "người nước ngoài" không biết điều đó (chắc chắn, ông ta cho rằng, người Nga đã bị "loạn óc"), và do đó, kiên nhẫn chờ đợi cho đến khi chúng tôi chấm dứt sự "điên rồ" này. Cuối cùng, tôi nhận được lệnh từ SCH bờ ngừng theo dõi, và chúng tôi chia tay một cách hòa bình. Thời ấy đó là chuyện rất hiếm - thậm chí có thể lần đầu tiên chúng tôi ngừng theo dõi theo mệnh lệnh. Tiếc rằng, trong những năm qua tôi đã không làm rõ điểm này. Nhìn lại những năm đã qua, đôi khi tôi tự hỏi mình: có đáng để liều lĩnh như vậy không? Bởi nếu họ tiến hành thao tác cơ động nguy hiểm ấy, mà tôi lại không thể tăng lên tốc độ lớn (một bộ phận nào đó bị hỏng, hành động của thuyền viên có sai sót, v.v.), tất cả sẽ kết thúc ra sao? Vâng, ngay trong buổi bình giá các hành động của tôi trên căn cứ bờ người ta đã hỏi tôi về điều đó ... Và tôi nói với chính mình, cũng như đã trả lời tại buổi bình giá - vâng, rất xứng đáng! Thủy thủ đoàn đã thao luyện nhiều, họ tin tưởng vào kỹ thuật của mình, còn kinh nghiệm thực tế vô giá trong chiến đấu chỉ trợ giúp. Nhiệm vụ của tôi là theo dõi, mà người "thuyền trưởng phải điều khiển con tàu của mình một cách dũng cảm, mạnh mẽ và quyết đoán, không sợ trách nhiệm trước những thao tác cơ động mạo hiểm do tình huống quyết định". Chính Điều lệnh hàng hải của Hải quân Xô Viết (http://www.ozon.ru/context/detail/id/5605974/) đã nói như vậy. (http://flot.com/upload/blog/887//BogatirevPubl2_5.jpg) Về các tính năng tốc độ cao của các tàu ngầm nguyên tử đề án 705 (705K) của chúng tôi, ta có thể nói chuyện hàng giờ. Và ở đây vấn đề không nằm ở đại lượng tốc độ cao nhất. Ngoài điều đó ra, tốc độ của tàu ngầm nguyên tử đạt đến mức tối đa chỉ trong khoảng một phút! Nói cách khác, tốc độ của tàu ngầm nguyên tử sánh ngang tốc độ của quả đạn ngư lôi. Điều này có nghĩa gì? Hãy cho phép - trường hợp xấu nhất - chúng tôi bị theo dõi bí mật bởi một tàu ngầm của kẻ thù, tức là chúng tôi không biết rằng mình đang ở trên "cò súng" của đối phương. Biết rằng độ ồn của các tàu ngầm của chúng tôi trong những năm ấy, về tổng thể, khác biệt với các tàu ngầm Mỹ theo hướng tệ hơn, và do đó tầm xa phát hiện của họ lớn hơn của chúng tôi, với tất cả các hậu quả tiếp theo của nó. Chúng tôi đã phát triển và luyện tập một loạt các biện pháp chiến thuật để bằng cách nào đó loại được lợi thế của họ (và những biện pháp này không chỉ tồn tại trên giấy, nó luôn ở trong tâm trí của tất cả các thuyền trưởng - kể cả khi đã chuyển ngạch dự bị). Một lần, trong thời gian thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu, tại bữa ăn trưa trong cabin-sinh hoạt chung, tôi nghe được các sỹ quan trẻ đánh giá về các điều kiện tồi tệ mà chúng ta phải chịu. - Ôi, chàng trai! Nghe bạn thì chúng tôi chỉ còn cách ở nhà, ngồi bên tường bến tàu với các mẩu đầu hàn", - tôi xen vào. - Nhưng tôi có thể làm gì được? - Nào, đầu tiên chúng ta phải tìm hiểu các khả năng chiến đấu của con tàu, - tôi trả lời - sau đó là chiến thuật hoạt động, và học cách làm thế nào thực hiện được nhiệm vụ của mình, để sau đó không ân hận đau đớn ... Tôi phải đọc một "bài lên lớp" nhỏ. Trong trận chiến trên biển, chiến thắng sẽ đến với tàu ngầm mà người thuyền trưởng có nghệ thuật chỉ huy cao cường và kỹ năng của thủy thủ đoàn điêu luyện. Nếu như đạn ngư lôi "lao" tới chúng tôi từ phía đuôi, thì các đội viên thủy âm, các chuyên gia chân chính đã phát hiện ra nó. Người thuyền trưởng trong vòng vài giây, phản công lại kẻ địch, và cũng trong vài tích tắc ấy, tàu ngầm đạt tốc độ tối đa của nó, thậm chí với vòng ngoặt 180 ", và con tàu sẽ lao vút đi. Đạn ngư lôi sẽ không thể bắt kịp con tàu! (http://flot.com/upload/blog/1d8//BogatirevPubl2_6.jpg) Trong đơn vị chúng tôi, động tác cơ động này đã được hoàn thiện trên thực tế, có tính đến khoảng cách phát hiện ngư lôi khác nhau, với các thuyền trưởng tàu ngầm các đề án khác nhau, vốn không tin vào lý thuyết của vấn đề. Sau một bài "thị phạm trực quan" như vậy với các thuyền trưởng tàu ngầm có tiếng ồn nhỏ nhất, nếu phải "làm việc" cùng nhau trên biển, họ luôn luôn yêu cầu chúng tôi cho thực hiện diễn tập cơ động sau loạt bắn ("điểm 2" thì không ai muốn nhận). ...... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 23 Tháng Bảy, 2012, 12:29:39 am (tiếp)
Bây giờ chúng ta hãy giải bài toán nghịch. Tôi bước vào cuộc tấn công ngư lôi tàu ngầm của đối phương và bắt đầu cơ động để tránh ngư lôi của nó và phản công lại. Ở phía bên con tàu kia, ngay cả khi họ theo dõi, mục tiêu được phân loại như là mục tiêu tàu ngầm gần như ngay lập tức chuyển thành hai, mục tiêu - đạn ngư lôi. Tấn công ai và ai tấn công?! (bỏ qua tốc độ, tiếng ồn của tàu ngầm cũng tăng đến mức độ "tiếng ồn" của ngư lôi). Còn nếu đã bước vào tấn công, việc điều khiển từ xa ngư lôi vốn được tâng bốc sẽ chuyển thành bình thường, bởi cần phải tự mình "nhanh chân" ... Sau những cuộc trao đổi như vậy trong cabin-sinh hoạt chung, tôi phải nói rằng, các sĩ quan đã quan tâm đáng kể đến tất cả các dạng đào tạo, họ bước vào phiên trực với tinh thần cảnh giác cao. Tốc độ cao cho phép bạn nhanh chóng đi vào khu vực "bóng tối" của bất kỳ tàu ngầm hoặc tàu mặt nước nào, ngay cả nếu trước đó bạn đã bị phát hiện. Với một khẩu đội tác chiến hạm điêu luyện và một thuyền trưởng khéo léo, đó là trò chơi "mèo và chuột". Tôi nhớ đến một trường hợp như vậy. Là chỉ huy cao cấp trên con tàu có thuyền trưởng V.I.Kotomkin mới được bổ nhiệm cách đây chưa lâu, tham gia vào cuộc tập trận của hạm đội với vai "quân Tây", chúng tôi đã phát hiện (và cũng bị phát hiện) bởi tàu ngầm "quân Đông", có tiếng ồn nhỏ hơn, trước khi bắt đầu tiến hành hành động chiến đấu. Nhiệm vụ của chúng tôi - theo dõi tàu ngầm "kẻ thù" trong khu vực và theo tín hiệu mà tiêu diệt nó. - Chúng tôi đang theo dõi, họ cũng thế, chắc chắn họ đã phát hiện ra chúng tôi. - thuyền trưởng lo lắng. (http://flot.com/upload/blog/2e1//BogatirevPubl2_7.JPG) Smelkov Aleksandr Fedorovitch (phó đô đốc, tư lệnh phân hạm đội số 1), Кotomkin Vladimir Ivanovitch (đại tá hải quân, thuyền trưởng tàu ngầm nguyên tử К-432, sau đó là «Kondora». - Sao vậy? Cậu hãy chiếm khu "tối" phía đuôi, tiến vào khoảng xạ kích hiệu quả và bám chắc khu vực đó, - tôi mỉm cười. - Nói thì dễ, Aleksandr Sergheevitch! - Vladimir Ivanovitch, cậu từng làm trợ lý của tôi về thiết bị điện tử vô tuyến, tôi và cậu, chúng ta đã "hàng triệu lần" giải bài toán tiến chiếm và duy trì vị trí trên "máy" (tức là, không phải tính toán thủ công). Hãy thử đi! Thuyền trưởng đã thử. Vừa tính toán, vừa cơ động vừa điều chỉnh tốc độ, anh ta nhanh chóng chiếm được vị trí trong khu "tối" phía đuôi và trong quá trình toàn bộ các phép tính toán đối với chiếc tàu ngầm đang di chuyển ngang qua, anh luôn luôn giữ được vị trí xạ kích bí mật trong khu vực "bóng tối thủy âm" của nó. Mà điều đó không hề dễ dàng, bởi vì người thuyền trưởng tàu ngầm kia thường xuyên và bất ngờ cơ động lắng nghe "đuôi" nhưng không thể phát hiện được "kẻ thù". Ý chí, phản ứng mau lẹ của V.I.Kotomkin và độ chính xác trong công việc của khẩu đội tác chiến hạm của anh đã chiến thắng trong tình huống này. Sau đó, trên bờ, tôi "cạo" cho thuyền trưởng tàu ngầm kia một mẻ, ông ấy là bạn chiến đấu cũ của tôi. - Sao thế, Edik? Không đánh bại được "chú nhãi" à? - Có, tôi cảm được anh đang "ngồi" ở đuôi tôi, nhưng tôi không thể làm gì được, anh "hiếu động" một cách bệnh hoạn - ông phẩy tay một cách giận dữ. Đó là một đánh giá tuyệt vời của một thuyền trưởng dày dạn kinh nghiệm chiến đấu thuộc "đề án của chúng tôi". (http://flot.com/upload/blog/42f//BogatirevPubl2_8.jpg) Piotr Matveevitch Margulis. Điều đặc biệt đáng nói là tốc độ toàn tải trong tư thế nổi của tàu ngầm. Nó cũng giống như với các tàu ngầm khác, nhưng chúng tôi có thể cho nó lớn hơn nữa. Phiên bản tốc độ toàn tải không nằm trong đồ án thiết kế này nảy sinh tình cờ, nhờ P.M.Margulis, người tham mưu trưởng đánh kính và yêu quý của đơn vị chúng tôi. Nổi lên mặt biển sau khi nghiệm thu bài luyện tập do chính ông chỉ huy, chúng tôi đi về căn cứ, về nhà. Piotr Matveevitch đứng trên trên cầu điều hướng cùng tôi và rên rỉ cáu kỉnh: - Trời ơi chúng ta lê la chậm chạp như những con rùa! - Tất cả đều đến giới hạn rồi, chúng ta đang mở hết tốc lực. Chúng ta sẽ về đúng thời gian, sao anh có việc gì mà lo lắng như vậy, Piotr Matveevitch? - Có đấy, em trai tôi là phi công đang bay đến Shpitsberghen, đã lâu lắm anh em chúng tôi không gặp nhau, chúng tôi rất muốn gặp được nhau. Giờ thì anh bảo tôi có thể nghĩ được điều gì khác chứ? - Được rồi ... Nếu vì anh thì để tôi xem có giúp gì được không, anh Piotr Matveevitch thân mến! Tất nhiên, chúng ta hãy cùng cố gắng nghĩ ra một cái gì đó. Dưới tàu chú ý! Trưởng ngành tác chiến 5 lên boong ngay! Từ cửa nắp tháp chỉ huy ló lên cái đầu của anh chàng "cơ giới" vóc người to lớn được mọi người kính trọng của tôi - Vladimir Grigorievitch Mishin. - Grigorich! Nếu "dìm" tháp lái xuống, cậu có tăng vòng quay lớn lên được không? - Hơi nặng cho lò phản ứng ... Được, nhưng cầu điều hướng sẽ bị ngập .... - Anh chàng gãi đầu đăm chiêu. - Được rồi, mọi người sẽ xuống hết phía dưới, tôi ở bên kính tiềm vọng. - Nhưng làm thế để làm gì? - Đồng chí Piotr Matveevitch có em trai làm phi công đang bay đến Shpitsberghen, họ cần gặp nhau vì đã lâu rồi anh em không được gặp mặt. - A. .. Đó là chuyện khác rồi, có ngay đây ạ... Và sau khi thực hiện mọi biện pháp làm đầy nhóm sitec dằn chủ, tạo độ chênh mớn dọc nghiêng về phía đuôi tàu, đóng kín cửa nắp đài chỉ huy, chúng tôi lướt đi với tốc độ lên đến 20 hải lý! - Cần phải như vậy đấy, và lò phản ứng hoạt động rất cừ, anh chàng "cơ giới" vui vẻ báo cáo - nhưng tốt nhất không nên làm như vậy, chỉ khi cực kỳ khẩn cấp mà thôi! (http://flot.com/upload/blog/50f//BogatirevPubl2_9.jpg) Chúng tôi về đến lối vào căn cứ của mình sớm vài giờ! Nhưng khi chúng tôi có mặt, thì như thường vẫn xảy ra, người ta không cho phép anh em gặp gỡ nhau bởi một lý do nào đó - người ta nói, hãy chờ thời cơ. Chiếc máy bay cất cánh. Piotr Matveevitch và em trai của ông không được gặp nhau, còn chúng tôi đã khám phá cho mình một ưu thế quý giá khác của con tàu để phát triển các phương pháp chiến thuật mới. Và còn nữa, các cuộc tấn công ngư lôi các biên đội tàu chiến đối phương của các tàu ngầm của chúng tôi - đó là cả một bài ca! Tầm phát hiện của sonar của chúng tôi rất lớn, kể cả trong các điều kiện thủy âm tồi tệ. Ở thời ấy, khi trời yên biển lặng chúng tôi phát hiện được đội hình chiến đấu của họ trước khi họ vào tới khu vực cho phép nổ súng. Chúng tôi tính toán diện tích tối ưu của vị trí xạ kích. Và bằng cách sử dụng tốc độ cao, cố tình làm mất tiếp xúc, chúng tôi "lao" tới vị trí đó tại đường biên khu vực, tại đây chúng tôi đợi tàu địch đi vào (dường biên này phát hiện bằng những phương pháp trinh sát đặc biệt - Доразведка). Hơn nữa, việc cải bằng tốc độ của mình với tốc độ của tàu địch, làm tất cả mọi thứ chúng tôi muốn - cho đến cả việc chuyển mạn mục tiêu, tức là phóng đạn ngư lôi của mình lúc vào mạn này lúc vào mạn kia, nhằm đánh lạc hướng kẻ thù. Ở tốc độ thấp không thể làm nổi điều này! Đối với cá nhân tôi, tốc độ trung bình đã được tôi đối sánh với tốc độ toàn tải của các tàu mặt nước và thậm chí phần lớn tàu ngầm. Việc chống lại tàu ngầm đề án 705 (705K) khá khó khăn dù với bất kỳ tàu chiến nào, do các đường bao thân tàu ngầm của chúng ta có diện tích bề mặt phản xạ tối thiểu tín hiệu tiếng dội. Các chiến hữu - tàu mặt nước của tôi, các thuyền trưởng tàu chống tàu ngầm, đã kể lại rằng họ rất không thích việc săn tìm tàu ngầm khi mà có các tàu ngầm "đề án của chúng tôi" làm công tác đảm bảo (có nghĩa là làm quân xanh: qtdc). Ngay cả trong những điều kiện thủy văn tốt nhất thì tín hiệu tiếng dội phản xạ cũng rất khó khăn mới nhận được và đôi khi không thể, họ nói vậy. Và điều đó là trong các điều kiện chúng tôi chưa áp dụng các hành động phản ứng đặc biệt... Có lần các nhà lãnh đạo các cuộc xạ kích ngư lôi ra một tình huống rất khó, thậm chí vi phạm điều kiện được phép xạ kích theo các tài liệu hướng dẫn quy định. Một lần người lãnh đạo các cuộc xạ kích ngư lôi, cựu chỉ huy đơn vị chúng tôi, phân chia khu vực làm đôi, đưa tàu vào nửa thứ hai của khu vực, tại đây còn rất ít thời gian cho họ. Trước đó, chúng tôi đã buộc phải dẫn dắt biên đội tàu chiến đi dọc theo đường biên khu vực, nhưng không được phép bắn, bởi vì ngư lôi sẽ chạy ra ngoài khu vực. Tôi là người lãnh đạo cuộc xạ kích trên tàu ngầm, thậm chí bắt đầu kiểm tra các hoa tiêu xem họ đã đưa tàu đến khu vực trên bản đồ hay chưa, bởi vì theo các điều kiện xạ kích thì con tàu đã phải ở trong khu đó rồi. Hoa tiêu đang ở trên tháp, còn con tàu vẫn cơ động khi thời gian bước vào tấn công đã đến, và từ vị trí xạ kích tốt nhất thuyền trưởng Sergei Aleksandrovitch Barlin bỗng chuyển sang tình trạng mà việc bắn trượt đã trở thành hiển nhiên. (http://flot.com/upload/blog/faa//BogatirevPubl2_10.jpg) Chủ tịch tổ chức CCB «Tình anh em hải quân» đại tá hải quân Sergei Aleksandrovitch Barlin (ngoài cùng bên phải) cùng các trẻ em đội thiếu sinh quân hải quân trường phổ thông cơ sở №6 hạt Ramensky. - Hãy kính trọng, hãy yêu mến và hãy nhớ | RamInfo. (http://ramns.ru/2012/05/08/%D1%87%D1%82%D0%B8%D1%82%D1%8C-%D0%BB%D1%8E%D0%B1%D0%B8%D1%82%D1%8C-%D0%B8-%D0%BF%D0%BE%D0%BC%D0%BD%D0%B8%D1%82%D1%8C/) - Họ đang sáng tác cái gì vậy, họ phá vỡ hết cả rồi! - Sergey Aleksandrovitch kêu lên một cách hoài nghi và bực tức, nói chung, anh là một thuyền trưởng có kinh nghiệm. - Đừng lo lắng, Seriozha, chúng ta hãy làm một "bước nhảy", sau năm phút, cậu sẽ trở lại vị trí tối ưu! - tôi hăng hái nói. Trong vòng bốn phút, anh lại vào đúng vị trí, và giảm tốc độ của tàu ngầm xuống để xạ kích sau khi tàu đã ở tốc độ tối đa. Ngư lôi đã bắn trúng mục tiêu, và không có các dữ liệu về việc giải giáp họ, cũng thấy rõ ràng rằng việc dẫn đường đã được bảo đảm. Đây là một khoảnh khắc thú vị trong cuộc đời của mỗi người thuyền trưởng, khi phương vị của quả đạn ngư lôi bắt đầu ngả về hướng mục tiêu và tiếng ồn của nó sau khoảng cách mà nó đã vượt qua trước khi chạm mục tiêu bắt đầu trộn lẫn cùng (tiếng ồn) của mục tiêu. Lời nói rất khó dùng để chuyển tải nhạc điệu tiếng ồn của biển cả, khi bạn nghe thấy trong nó những âm thanh bạn cần và bạn hiểu rằng mình đã không phí công lao động, và thủy thủ đoàn của bạn đã không làm bạn thất vọng. Vấn đề ở chỗ vòng nguyệt quế lao động của người thuyền trưởng - đó là cuộc tấn công ngư lôi. Thủy thủ tàu ngầm chỉ nhìn thấy bằng "tai", người thuyền trưởng cần phải phát triển óc tưởng tượng không gian. Khẩu đội tác chiến hạm, bất chấp việc gì xảy ra, phải xác định được khoảng cách đến mục tiêu, đó là điều phức tạp nhất, bằng các phương pháp thụ động (tức là, biểu đồ-phân tích) mà không dùng thiết bị đo khoảng cách đến mục tiêu theo các phương pháp chủ động. Phỏng theo câu mào đầu chuyện cổ tích nhiều người yêu thích "Nếu biết có thẻ, thì đã sống ở Sochi", người thuyền trưởng tàu ngầm nói: "Nếu biết khoảng cách sẽ kê đệm lên lò sưởi mà nằm". Tất cả những điều này không hề dễ dàng. Tấn công ngư lôi - cả một nghệ thuật của người thuyền trưởng cộng với kỹ năng của thủy thủ đoàn, và nếu không có điều đó, khẩu phần ăn khi độc hành và việc đi biển sẽ chẳng có nghĩa gì. Khi một chuyên gia nói rằng điều chính yếu trên tàu ngầm - phần trang bị vật chất và tính chuyên nghiệp của nó (điều này làm "đau" tuổi trẻ), người thuyền trưởng già yêu quý của tôi Vladimir Dmitrievitch Gaiduk nói với tôi: "Trợ lý chính thuyền trưởng, anh hãy giáo dục những người trẻ tuổi, chúng ta cần thứ vũ khí này để làm gì, nếu nó không bắn được?". (http://flot.com/upload/blog/00e//BogatirevPubl2_11.jpg) Vladimir Dmitrievitch Gaiduk (chỉ huy cao cấp trên tàu K-432, cựu học viên tốt nghiệp trường trung cấp hải quân Nakhimov Riga năm 1953) và trợ lý chỉ huy thủy thủ đoàn số 168 thiếu tá hải quân V.P.Koropets, sau này là thuyền trưởng tàu ngầm K-463. - V.V.Osintsev. Tàu ngầm nguyên tử đề án 705 (705K). St Petersburg, năm 2008. Chẳng ai cần thứ kỹ thuật siêu tân tiến nào nếu nắp ống phóng ngư lôi không mở được, đạn ngư lôi không phóng ra được khỏi ống phóng và không bắn trúng mục tiêu. Thủy thủ đoàn biến thành một thực thể duy nhất, tất cả chúng tôi cùng làm việc cho cuộc tấn công ngư lôi! Ngư lôi - loại vũ khí báo thù trên biển đáng sợ nhất! Trong quả đạn dồn nén cả bầu ý chí của người thuyền trưởng chỉ huy, nghệ thuật quân sự của anh ta, tâm hồn của thủy thủ đoàn và tài nghệ của họ. Do các đặc tính tốc độ cao và khả năng cơ động của tàu ngầm chúng tôi, chúng tôi không ngại chọc thủng lưới các tàu chiến bảo vệ. Trong khi người thuyền trưởng tàu bảo vệ còn suy nghĩ xem cái gì đang "bay" tới anh ta - mà trong những giây phút đầu tiên, anh chỉ có thể tưởng tượng quả đạn ngư lôi đang phóng tới mình, với tất cả hậu quả sẽ xảy ra của nó (nên né tránh) - thì chúng tôi đã ở sát mục tiêu. Rút lui khỏi một trận chiến như vậy, tất nhiên, còn khó khăn hơn nhiều - ở trên đầu chúng tôi không phải chỉ toàn kẻ ngu ngốc, nhưng nhiệm vụ chính đã được thực hiện. Vâng, người chiến sỹ tàu ngầm, khi ở trên biển hàng tuần, hàng tháng, hàng năm, luôn sẵn sàng trước cái chết, và cũng sẵn sàng đón nhận niềm vinh quang bất tử, bởi vì sau anh là cả Tổ quốc. Thật không may, ít người biết đến điều này, trừ bản thân người chiến sỹ tàu ngầm ... Tính độc nhất vô nhị của tàu ngầm nguyên tử đề án 705 (705K) nằm ở tổ hợp hệ thống tự động chỉ huy quản lý hoạt động của con tàu. Nó thực sự là một cuộc cách mạng trong thực tế ngành công nghiệp chế tạo tàu ngầm. Để làm điều đó, lần đầu tiên người ta đã xây dựng nên hệ thống thông tin chỉ huy tác chiến (БИУС - Боевая информационно управляющая система). BIUS (trong ngôn ngữ của chúng ta nó là giống đực) nói chung, làm việc giống như một chiếc đồng hồ. Không được quấy rầy, các bạn chiến đấu của tôi, các kỹ sư máy tính - tất nhiên rồi, chỉ đồng hành với các bạn mà thôi. Những chuyện hỏng hóc thế là đủ lắm rồi. Tuy nhiên, không có trường hợp nào trong thực tế chỉ huy của tôi, để đến nỗi chúng tôi trở về từ chiến dịch phục vụ chiến đấu với bảng hiệu bật sang màu đỏ rực "BIUS không làm việc" và tôi cũng không nhớ được trường hợp nào tương tự khi trở về từ các cuộc hành quân thông thường. BIUS xử lý thông tin của toàn bộ các vũ khí thủy âm và vũ khí vô tuyến điện tử, các thông tin dẫn đường điện tử tự động hóa, điều khiển bắn tất cả các loại vũ khí (ngoại trừ súng cầm tay) và có thể quản lý bất kỳ thao tác vận động nào của chiếc tàu ngầm, bao gồm cả trong mặt phẳng thẳng đứng, với các bản ghi tham số điều khiển tàu và tham số xạ kích đã được lập trình tự động hóa. Thật ra, việc điều khiển hướng đi và độ sâu, trừ khi thử nghiệm, chúng tôi không tham gia, nhanh hơn và đáng tin cậy hơn - đó là từ bàn điều khiển hành trình của tàu ngầm, tuy nhiên ... (http://flot.com/upload/blog/fc0//BogatirevPubl2_12.jpg) ....... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 23 Tháng Bảy, 2012, 05:23:11 pm (tiếp)
Về nguyên lý (và theo ý đồ) tàu ngầm nguyên tử có thể được điều khiển bởi một kíp trực chiến 5 người (http://www.atrinaflot.narod.ru/1_submarines/03_pla_705k/0_705k_1.htm), nhưng trong thực tế nó không làm việc vì những điểm chưa đạt của thiết kế và sai sót chế tạo tại nhà máy của một số hệ thống và cơ cấu máy, mà cũng còn vì những suy nghĩ bảo thủ của một số cá nhân thủy thủ, trong đó, có cả các thủy thủ đoàn của chúng tôi. Có lẽ cũng đủ để nói về những nhiệm vụ của BIUS như bơi trên luồng lạch của các tàu quân sự (ФВК), các bài toán riêng xác định vị trí bằng phương pháp thiên văn học, định vị radar, đột phá (tránh né) tuyến phòng thủ chống ngầm và v.v., những vấn đề được giải quyết bằng tay hoặc theo phương pháp bán tự động sẽ nhanh hơn. Nhưng nói chung đó là hướng đi đúng và có triển vọng, đặc biệt khi sử dụng toán học hiện đại và nền tảng cơ sở hiện đại. Nhược điểm của tổ hợp điều khiển tự động tàu ngầm được chúng tôi cân bằng bởi biện pháp tổ chức phục vụ. Ví như, kíp trực chiến, ở nơi tự chúng tôi cần, cũng như ở nơi theo yêu cầu của bộ chỉ huy cấp trên, chúng tôi đã tăng lên đến 8 người. Đặc biệt quan trọng là việc đưa vào biên chế trực ban các chuyên gia-kỹ thuật viên trực trong số các hạ sỹ quan chuyên nghiệp ban tác chiến 5 có nhiệm vụ kiểm tra tất cả các khoang trên tàu ngầm (trong biên chế quân số ban đầu nói chung không có các hạ sỹ quan chuyên nghiệp này). Sau này điều đó đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động khai thác sử dụng và ngăn ngừa tai nạn của các trang thiết bị, dẫn đến cháy, rò nước và hơi nước vào trong các khoang tàu ngầm (các phương án tồi tệ nhất), chúng sẽ được nói đến ở phần dưới. Lần đầu tiên trong ngành công nghiệp đóng tàu trong nước trên tàu ngầm nguyên tử đề án 705 (705K) đã áp dụng thiết bị phóng ngư lôi thủy khí động lực học (pneumohydraulic TA) và buồng nổi. Nhờ thiết bị phóng ngư lôi như vậy mà có thể bắn tại các độ sâu lặn bất kỳ và bằng tất cả các loại vũ khí (thời ấy) ở tốc độ cao của tàu ngầm. Nếu có những hạn chế, thì chỉ vì độ bền của một số loại vũ khí riêng biệt. Đây là một lợi thế chiến thuật rất quan trọng. Buồng nổi (Всплывающая рубка (http://www.atrinaflot.narod.ru/1_submarines/03_pla_705k/0_705k_1.htm)) đảm bảo sự cứu nạn cho toàn thể thủy thủ đoàn trong trường hợp khẩn cấp. (http://flot.com/upload/blog/9ca//BogatirevPubl2_13.jpg) Titanium (hợp kim titan), dùng đóng tàu ngầm nguyên tử - kim loại của thế kỷ. Phẩm chất chính của nó - không chịu bất kỳ dạng ăn mòn nào là phẩm chất rất quan trọng đối với các đối tượng ngâm trong nước biển, và thân tàu ngầm về thực tế không bám gỉ sét. Điều này là rất tốt xét từ quan điểm nội dung con tàu. Bất kỳ cơ chế máy móc nào, một ốc vít làm từ bất kỳ loại vật liệu nào khác cũng bắt đầu rỉ sét, thậm chí dù đã được phủ những lớp sơn chống rỉ dày, và điều này cho phép áp dụng nhanh chóng biện pháp khôi phục lại trang thiết bị vật chất. Trong một chiếc tàu ngầm làm bằng titan, ngay cả không khí cũng khác, rất đặc biệt, và quần áo không bị bám mùi "sắt", như trên bất kỳ con tàu nào khác. Hệ thống thiết bị tự động hóa tích hợp của con tàu cũng dẫn đến việc bố trí vô cùng độc đáo của buồng điều khiển trung tâm GKP (ГКП) và chỗ ở cho toàn bộ thủy thủ đoàn. Không có sự cần thiết để các thuyền viên phải trực gác và sống trong các khoang khác, bởi vì các bảng điều khiển của tất cả các khí tài thiết bị kỹ thuật của tất cả các ban tác chiến đều nằm tại GKP, còn các cabin ở thì nằm tại "tầng dưới". Lần đầu tiên các thiết bị kỹ thuật-cấu trúc được điều khiển từ bàn điều khiển xa, từ vị trí cục bộ, bằng tay. Lần đầu tiên đã xây dựng được một hệ thống kín của khoang trung tâm - khoang sinh tồn - duy nhất cho đến nay, được điều khiển từ bàn điều khiển các hệ thống hàng hải chung trên tàu (ОКС). Trong thực tế, nó giống như sau. Thuyền trưởng (trợ lý chính) nhìn thấy toàn bộ kíp trực của mình và anh có thể nói gì đó với mỗi người, anh ta chỉ huy - chỉ bằng một lời, quản lý, từ một phía, còn tử phía kia - anh có thể tự mình nhìn thấy bất kỳ tín hiệu báo động nào, và nhanh chóng ra quyết định. Trong cuộc đấu tranh cho sự sinh tồn của con tàu điều đó là một khả năng vô giá. Tôi nhớ đến một trường hợp như vậy. Chiếc tàu ngầm đã được "bật lò", nghĩa là sẵn sàng ra khơi, nhưng chuyến xuất phát bị hoãn lại do cơn bão mùa đông quá mạnh, được cảm thấy ngay cả trong vịnh sâu của chúng tôi (fiorde - губа). Vào khoảng hai giờ sáng, tôi quyết định đánh giá thời tiết một lần nữa, tôi ra ngoài hút thuốc, và khi đó còn chưa vòng qua GKP. Leo lên GKP, tôi nhìn vào bàn điều khiển OKS (http://www.atrinaflot.narod.ru/1_submarines/03_pla_705k/0_705k_1.htm). Trên bảng điều khiển đang "treo"tín hiệu đỏ rực "Quá nhiệt trên 60"" trong khoang đặt lò phản ứng. (http://flot.com/upload/blog/f10//BogatirevPubl2_14.jpg) - Đồng hồ báo hiệu hỏng à? - Tôi bình tĩnh hỏi kỹ sư cơ khí trực ban của tàu, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn đấu tranh sinh tồn V.N.Levadnyuk. - Không, đồng hồ vẫn chạy bình thường. - Vậy sao cậu im lặng? Báo động khẩn ngay! - Tôi ra lệnh cho sĩ quan trực ban. - Chỉ cần giảm tín hiệu thôi mà, thưa đồng chí thuyền trưởng! - Cậu có giảm, và tôi nhìn thấy rồi. Sau đây tôi sẽ tìm hiểu chuyện này với cậu... Và đồng thời từ khoang lò phản ứng có báo cáo đến: "Hơi nước tràn vào khoang thứ 4 nhiều quá!" Hơi nước quá nhiệt là vô hình, và nó "nấu" con người trong tích tắc. Tự mình đeo tai nghe liên lạc của thao tác viên bàn điều khiển hành trình: - Volodya, cậu đứng ở đâu báo cáo vậy? - Khoang số 4, như được dạy! - Thủy thủ trực đâu? - Đang đứng cạnh tôi! Tim tôi bỗng thấy nhẹ hẳn, con người vẫn an toàn. Kỹ thuật viên PTU (ПТУ - thiết bị tua bin hơi) chuẩn úy hải quân V.I.Biryukov đã làm đúng như người ta vẫn thực hành trong các cuộc diễn tập chiến đấu trên tàu về đấu tranh sinh tồn. Đã có một trường hợp khẩn cấp nghiêm trọng, cháy, hơi nước thoát ra rất lớn - rời ngay khoang, đóng kín nó lại, chờ lệnh tiếp theo. Điều chính yếu - cuộc sống của con người! Và trên GKP sẽ phân tích tình huống cụ thể và có hành động tương ứng. Cấu trúc thiết kế của tàu ngầm cho phép ra một quyết định như vậy. Nhưng đã phải có biết bao nhiêu công sức và nỗ lực để chứng minh cho bộ chỉ huy và cơ quan tham mưu cấp trên về tính cần thiết phải có một tổ chức đấu tranh cho sự sinh tồn như thế, ngược với các văn bản hướng dẫn, khi chúng tôi về đến căn cứ sau khi tàu chế tạo xong. (http://flot.com/upload/blog/69d//BogatirevPubl2_15.jpg) Tàu ngầm nguyên tử đề án 705 ra khơi. Đó cũng là một tư tưởng cách mạng trong tổ chức cuộc đấu tranh cho sự sinh tồn của con tàu. Khi là trợ lý chính cho thuyền trưởng, tôi và trưởng ngành tác chiến 5 Nikolai Grigorievitch Yakimenko đã nhận được biết bao nhiêu "u bướu" với "răng lợi", dĩ nhiên là từ vị thuyền trưởng đáng kính Vladimir Dmitrievitch Gaiduk của chúng tôi, trước khi chứng minh rằng trên các cỗ "máy tự động", trong các khoang không có người ở, cần phải hành động đúng như vậy. Sau này, tư tưởng ấy đã cứu sống biết bao nhiêu cuộc đời con người... Khi đã chắc chắn rằng mọi người đều an toàn (báo cáo về tình hình tàu ngầm sẵn sàng chiến đấu cho sự sinh tồn của trợ lý chính đã được thông qua trong vài phút), tôi quay sang trưởng ngành tác chiến 5 V.G.Mishin, người đã ở đúng tại vị trí chính thức của anh, và tôi thấy từ người anh ta nước chứ không phải mồ hôi đang chảy xuống ròng ròng. - Grigorich! Cậu sao thế? Mọi người an toàn, không hề hấn gì, bây giờ cậu hãy giải kín phần đuôi, bắt đầu thông gió cho khoang tàu thật mạnh vào ... - Tôi trấn an. - Tôi không thể thông gió chủ động được! - Anh ta lẩm bẩm. - Sao vậy? - Đồng chí không nhớ 429 à? Đóng lại - để thông gió, còn máy nhập liệu bằng điện thủy động GEM (ГЭМ - гидроэлектроманипуляторы) thì - để ở chế độ điều khiển bằng tay! (K-429 chìm trong vịnh Avachinsky do sai sót trong điều khiển) - Cậu thật là, thế chúng ta đang làm vậy à!? Được rồi, tính sau ... Hãy mở ngay các vách ngăn giữa khoang 4 và 5! - Tôi hạ lệnh. - Thế nếu nó giết họ thì sao? - Thời gian trôi phí mất một phút - chính chuyện đó mới giết người ta. Khoang 5, Volodya! Bây giờ hãy mở cửa theo lệnh, nhưng hãy để ý sao cho nó không đóng sầm vào đầu! Làm nốt những việc còn lại sau đó! Tóm ngay Biryukov nếu được! Có thể làm gì khác... Các biện pháp an toàn khác không có. Chàng "cơ giới" không phải vô ích mà cố gắng lần lữa. Vào đêm trước có một bức điện chuyển tới, thông báo việc một thủy thủ bị giết trên một trong các tàu ngầm khi mở vách ngăn trong lúc áp suất cao. Nhưng không có gì xảy ra, thời gian không bị mất, Biryukov đã mở cánh cửa một cách an toàn (từ khoang thứ 4 sang khoang thứ 5, chúng tôi có một cánh cửa đi chứ không phải cửa nắp), mọi cửa nắp giữa các khoang đã được mở, gồm cả cửa nắp đuôi tàu, và phần đuôi đã được giải kín trong vài phút theo tính toán. (http://flot.com/upload/blog/2b7//BogatirevPubl2_16.jpg) Tuy nhiên, nhiệt độ trong khoang lò phản ứng (http://i-russia.ru/nuclear/media/6083) vẫn tăng lên, và làm thế nào để phái người đặt lại GEM từ chế độ thủ công sang chế độ "tự động" để thổi khí vào và thông hơi ra, không có giải pháp thay thế nào khác. Seriozha Nilov, trung úy (sau này là chỉ huy ngành tác chiến 5 một tàu ngầm loại tiên tiến nhất), 1 con người trẻ tuổi chạy phăm phăm qua tất cả các khoang với 1 đống giẻ che trên đầu và bọc kín tay, chỉ đến lần thứ ba mới thực hiện được thao tác đơn giản nhất này, anh đẩy được cầu dao từ vị trí điều khiển bằng tay sang thiết bị diezel DU (ДУ - дизельная установка) trên đường trục xả khí ra (theo trục hút khí vào - không thể làm việc được nữa). Khi chạy về tới phòng trung tâm, người anh ta còn đỏ hơn cả tôm luộc, từ người anh tỏa ra từng cụm hơi - phía trên đang là mùa đông. - Serega, cừ lắm! Cậu đã biết cách đi đến bất cứ nơi nào cậu muốn! - Tôi nắm lấy vai chàng trai, - cậu cảm thấy thế nào? - Vẫn rất tốt! - Bác sĩ, hãy khám kỹ từng phân vuông trên da chàng trai này! Hãy chăm sóc y tế cẩn thận cho cậu ấy, - tôi ra lệnh cho trưởng ban quân y. - Vâng, không sao, tôi cảm thấy bản thân mình bình thường thôi, thưa đồng chí thuyền trưởng! - Bác sĩ, khám đi nào! - Rõ! - trưởng ban quân y đáp. May mắn thay, không có vết bỏng nào. Tôi luôn luôn nhớ đến những con người của chúng tôi với một lòng biết ơn lớn lao. Những con người tuyệt vời làm sao! Trên boong lúc ấy đã có mặt chỉ huy đơn vị, trước đây ông ấy là thuyền trưởng một tàu ngầm đề án khác. - Aleksandr Sergeevitch, có chuyện gì thế, nếu ở trên biển mà cũng có chuyện như vậy thì sao đây? - ông ấy hỏi. - Chuyện gì được chứ? - và không trả lời ông ấy, - Anh bạn cơ giới, tôi và anh chúng ta vẫn vậy và vẫn bơi như thế phải không nào?! Quay về phía trưởng ngành tác chiến 5 tôi róng riết: - Lũ "chim gõ kiến" chết tiệt trên bờ, vừa che đít bằng mấy thứ giấy tờ, vừa đánh điện, có thể đúng với kẻ khác, nhưng không phải với chúng ta ... Và anh bạn già giơ kinh nghiệm đầy mình của tôi ơi, với cỗ "máy tự động" của chúng ta mà anh vẫn xử sự giống như một con vẹt, các khoang không có người ở, anh thực hiện chúng thế nào hử? Ôi, sao tôi yêu anh thế! - Đồng chí thuyền trưởng! Tôi... tôi lại một lần nữa được nghe những "lời học vẹt" ấy rồi, có tôi! - Và anh ta cởi phăng ngực áo chiếc áo đi biển sử dụng 1 lần, bắt đầu vung nắm đấm to tướng và văng tục. - Dừng lại, đừng có "nhiễu"! Rồi trên biển xem cậu có còn là "con cáo Bắc cực" nữa không. Đồng chí sư đoàn trưởng! - Tôi quay sang người chỉ huy đơn vị. Và trong ngực tôi chợt lạnh buốt. Tôi nhanh chóng hình dung ra tình trạng này trên biển cả đang dông bão. Không chỉ cửa nắp đuôi - boong thượng sẽ chìm trong nước, thậm chí nếu chúng tôi chúc mũi tàu xuống, việc giải kín phần đuôi bạn cũng không thể thực hiện được, và điều gì sẽ tiếp theo, tốt hơn là không suy nghĩ nữa... Mặc dù đó chỉ là một tình huống, nhưng nó là phiên bản vô cùng nặng nề của cuộc đấu tranh cho sự sống còn đang ở trong đầu, và nhất là khi ở trên biển cả. Đó, một cảnh xảy ra với anh chàng "cơ giới" trong phòng chỉ huy trung tâm, bởi vì chúng tôi biết và hiểu nhau trong nháy mắt, chúng tôi diễn trò đặc thù trước sư đoàn trưởng. Điều này thì ông ấy hiểu và không nói gì nữa. Vấn đề là sự thực hiện máy móc không suy nghĩ các yêu cầu của các cơ quan tham mưu cấp trên vẫn thường xảy ra, kể cả ở đơn vị vinh quang của chúng tôi. Và tôi muốn chứng tỏ một cách trực quan những gì sẽ xảy ra khi bạn làm việc "không đầu óc". Sau khi báo cáo tình hình với sư đoàn trưởng, đề nghị ông xuống tàu về văn phòng và ông đã làm như vậy, còn chúng tôi gần 6 giờ đồng hồ "tiêu" nhiệt độ trong khoang xuống, chúng tôi đã chuyển đường bơm hơi thông gió sang điều khiển tại bàn điều khiển từ xa, sau khi phái người khác vào khoang lần nữa. Sau khoảng 8 giờ bình thường hóa tình hình và chúng tôi cho tàu ra khơi. Đó là một chiến thắng. ...... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 24 Tháng Bảy, 2012, 01:18:10 am (tiếp)
Sự độc đáo của tàu ngầm nguyên tử đề án 705 (705K) là ở thiết bị năng lượng chính GEU. Về nó chúng ta có thể nói hàng giờ, nhưng tôi sẽ chỉ nói điều chủ yếu. Như ta đã biết, thiết bị năng lượng hạt nhân hoạt động với chất mang nhiệt kim loại lỏng chu trình 1. So với lò phản ứng nước-nước (VVR), nó có một loạt ưu thế đáng kể. Nhiệt độ sôi cao của chất mang nhiệt tạo khả năng làm giảm áp lực làm việc trong chu trình 1 và làm tăng đáng kể nhiệt độ tại cửa ra của lò phản ứng. Trong thực tế áp lực của chu trình 1 chỉ được tạo ra bởi độ chênh lệch tại các máy bơm (ЦНПК). Điều này làm tăng độ tin cậy của thiết bị năng lượng chính, làm giảm độ dày của chu trình 1, còn sau đó, làm giảm đáng kể trọng lượng và kích thước của toàn bộ hệ thống. Sự gia tăng nhiệt độ tại cửa ra lò phản ứng đã tạo ra khả năng có được các thông số hơi cao và hiệu suất nhiệt cao, giảm kích thước của các máy phát điện hơi nước. Áp lực nhỏ hơn của chu trình 1 so với áp lực hơi chu trình 2 ngăn ngừa việc tụt áp do trường hợp hợp kim hoạt tính bị rò rỉ trong các máy phát điện hơi nước. Chính qua đó mà tạo thuận lợi cho cuộc đấu tranh sinh tồn của tàu ngầm trong trường hợp bức xạ nguy hiểm. Tất cả mọi thứ ở chỗ chúng tôi đều đã xảy ra, máy phát hơi "chảy" và hợp kim "đổ" vào khoang, nhưng trong chu trình 2 không hề tụt áp. Vâng, sự khởi động vận hành thiết bị năng lượng chính với lò VVR đơn giản là vô ước (và việc ngắt lò cũng như vậy): chúng tôi "khởi động" trong thời gian một giờ, còn khi mà các thành viên ngành tác chiến 5 làm việc tốt - thậm chí có thể nhỏ hơn, và đã nhiều lần làm ngạc nhiên những người xung quanh bằng việc khởi hành rời cầu cảng nhanh. Điểm đánh giá tốt nhất thể hiện kỹ năng của thủy thủ đoàn - đó là khi đã đưa được thiết bị năng lượng chính vào hoạt động, nhổ dây neo, rời bến và lấy hướng ra khỏi căn cứ, làm xong tất cả những việc ấy - chỉ trong một giờ. Thực tế đã đạt được như vậy, tuy nhiên, không phải tất cả mọi con tàu đều làm được, nhưng đã có. Và trong chiến thuật hoạt động điều đó rất cần thiết để nhanh chóng phân tán lực lượng tránh đòn tấn công. Vì vậy, trong trình tự ra khỏi căn cứ, theo quy định, các tàu ngầm của chúng tôi xuất phát đầu tiên. Tàu ngầm nguyên tử của chúng tôi không cần bước chuyển đặc biệt sang thiết lập các tham số cao hơn của GEU khi tăng tốc độ tàu, như trên các tàu ngầm sử dụng lò phản ứng VVR. Một lần tại các bài diễn tập, tôi làm trung gian trên một tàu ngầm nguyên tử có lò VVR, thuyền trưởng của nó phát hiện ra một tàu ngầm nước ngoài trong khu vực của chúng tôi, và bắt đầu bám theo. Gã "nước ngoài" nhận ra rằng mình đã bị phát hiện, anh ta mở hết tốc lực và cố dứt đuôi. - Mikhalytch! Hãy tăng tốc lên 30, nó sẽ không thoát đâu! - Tôi kêu lên thích thú. - Đồ quỷ! Chỉ có 20 thôi - thuyền trưởng cau có lẩm bẩm. Và tôi cũng vung tay lên, sau khi nhớ đến các thông số... Chúng tôi, các thuyền trưởng - "các nhà chỉ huy cỗ máy tự động", đã quen với một tâm lý chỉ huy khác ... Trên các "cỗ máy tự động" của chúng tôi hệ thống sonar không đơn giản. Phạm vi năng lượng của các chế độ, tất nhiên vẫn kém hơn của các tổ hợp về sau, nhưng chính bản thân các chế độ cũng nhiều hơn - trên các tàu ngầm khác một số chế độ trong số đó cho đến nay cũng vẫn chưa có. Có lẽ không phải lúc nào các chế độ bổ sung này cũng làm việc tốt, nhưng khi có các chuyên gia thủy âm xuất sắc như Oleg Leonidovitch Davidenko, tôi "không biết thế nào là khổ". Không chỉ là một kỹ sư vô tuyến điện tử bẩm sinh, ông còn biết khéo léo tìm ra bất kỳ mục tiêu nào trong mớ hỗn độn âm thanh của biển. Tạo khả năng cho điều này là kiến thức tích lũy được sử dụng lần đầu tiên về mục tiêu trong tiếng ồn, cái được gọi là "tiếp xúc của thiết bị", khi tiếng ồn của mục tiêu còn chưa nghe thấy, mà dấu vết mục tiêu đã có trên màn hình. Sau đó điều này đã được thực hiện ở các tổ hợp sonar khác. Việc làm chủ một tàu ngầm nguyên tử có mức độ tự động hóa cao và phức tạp, tất nhiên, là nhiệm vụ không hề dễ dàng. Không phải tất cả trong thực tế đều được như dự định, không phải tất cả các hướng dẫn khai thác các hệ thống và cơ cấu đều đáp ứng được thực tế cuộc sống. ......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 26 Tháng Bảy, 2012, 03:27:00 pm (tiếp)
(http://lib.rus.ec/i/91/307491/pic_63.jpg) Tôi nhớ lại trong những chiến dịch đi biển đầu tiên chúng tôi "đốt cháy" ổ đỡ động cơ điện tốc độ cao như thế nào. Việc thay thế chúng khi ở trên biển là cả một quá trình rất tốn kém thời gian, nhưng chúng tôi đã làm được. Thậm chí còn dũng cảm báo cáo khi về đến căn cứ rằng chúng tôi đã thay thế các ổ đỡ trên 10 động cơ trong những điều kiện chật chội không thể chịu được. Nhưng rồi chúng tôi sớm nhận ra tốt hơn là "thấm" mỡ theo chu kỳ nhất định, như trước kia, còn hơn là chuốc khổ đau trên biển. Mà các hướng dẫn sử dụng cho biết khi ở trên biển - không cần bảo dưỡng chúng. Chuyện như vậy cũng xảy ra với tổ hợp ngư lôi-tên lửa và một số hệ thống khác. Sự không phù hợp giữa lý thuyết và thực hành bắt buộc tất cả các thuyền viên phải suy nghĩ và dự đoán các trường hợp khẩn cấp - chế độ "dao động đa hài chờ", như đôi khi chúng tôi vẫn hay cười, và thường là "cười ra nước mắt". Một lần trong biển mùa đông đang có bão, trên tàu chúng tôi xảy ra 1 tình huống khẩn cấp nặng nề với GEU - mất nguồn nước cấp, còn thiết bị bay hơi ban đầu đã không hoàn thành nhiệm vụ bổ sung, - các chuyên gia ngành tác chiến 5 đã tìm ra 1 giải pháp thông minh, nhưng đi ngược lại hướng dẫn sử dụng. Là thuyền trưởng chỉ huy, tôi đã quyết định hành động "theo lý trí", theo kiến nghị của các chuyên gia, phù hợp với tình hình. Chúng tôi đã khắc phục được tai nạn, nhưng còn nhiệm vụ - lần duy nhất trong đời tôi đã không hoàn thành, chúng tôi quay trở về căn cứ trong trạng thái bơi nổi. Chuyện đã xảy ra ở đây! .. Ủy ban của Hạm đội xử lý chúng tôi nghiêm khắc: hành động sai, không tuân thủ hướng dẫn sử dụng, các thuyền viên ngu ngốc và vô trách nhiệm, v.v. Tất cả các chuyên gia và ban chỉ huy tàu ngầm đã bị trừng phạt, nhưng người ta cũng triệu tập đại diện giới khoa học và ngành công nghiệp để phân tích và kết luận. Ý kiến của họ cũng rất chia rẽ, kết quả là tôi phải kêu lên "Các Anh, những cái đầu rỗng tuyếch (tất nhiên là không phải), suốt ba tháng ngồi trong phòng ấm áp phân tích, vậy mà không thể có nổi 1 ý kiến thống nhất, còn tôi nước lên tới cổ trên cầu điều hướng chỉ có 2 ngày để ra quyết định", rồi tôi đóng sầm cửa lại. Thật xấu hổ: hóa ra để trở thành anh hùng, phải hành động theo hướng dẫn, làm thiệt hại đến con tàu và tính mạng con người... Còn ở đây chúng tôi đã trở về kịp thời bằng hành trình của chính mình, tất cả đều còn sống ... Sự thật thì Sasha Reshetnev đã được chúng tôi giữ chân cho anh lộn đầu xuống để anh vặn một con ốc bằng một tay (nếu không thì không thểcnf cách khác, vị trí đặt ốc không với tới được), chiếc cờ lê như một con dao cắt đã cắt ngang hàm răng cửa (thậm chí đã đề nghị tặng huy chương "người anh hùng đến nay đang tìm kiếm"). Nửa năm sau những thay đổi cho hướng dẫn sử dụng mới tới nơi: hãy hành động như chúng tôi đã hành động trong những tình huống tương tự ... Những ví dụ như vậy tôi có thể trích dẫn hàng chục. Chuyện trên được nhớ lại bởi vì R.A.Shmakov đáng kính trong bài của mình đã viết: Tàu ngầm đã "vượt trước thời đại của nó nhiều thập kỷ. Do đó không có gì đáng ngạc nhiên khi với nhiều chuyên gia, các nhà thử nghiệm, đội ngũ sỹ quan chiến sỹ Hải quân Liên Xô, việc làm chủ và khai thác sử dụng con tàu là vấn đề vô cùng khó khăn". Và ông ấy đã không nói thêm: vâng, khó khăn thì có, nhưng sỹ quan chiến sỹ hạm đội đã thành công trong việc làm chủ con tàu, đã thực hiện hàng chục chiến dịch thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu trên đại dương, dưới biển băng Bắc Cực, đã hoàn thành tất cả các nhiệm vụ chiến đấu mà bộ chỉ huy cấp trên đặt ra. Trên những chiếc tàu này, chúng tôi đã vượt qua hàng chục ngàn dặm, hàng ngày hàng đêm chạy ngầm dưới nước - trong bao nhiêu năm đã qua! Chỉ tính riêng tôi trong 5 năm cuối cùng trước khi rời đi nhận nhiệm vụ mới, đã có tổng cộng 3 năm hành trình trong lòng biển. Con tàu đầu đàn K-123 của chúng tôi, mà tôi bắt đầu câu chuyện với nó và là thuyền trưởng chỉ huy trong một phần thời gian quân ngũ, đã được đưa ra khỏi biên chế phục vụ của Hạm đội Biển Bắc tháng 8 năm 1996 (nó được hạ thủy, theo tôi nhớ, ngày 09 Tháng 4 năm 1976). 20 năm, bất chấp mọi khó khăn, "đề án của chúng tôi" đã phục vụ Tổ quốc! Tôi tự hào vì phần lớn đời phục vụ của tôi, từ một kỹ sư trưởng nhóm đến khi làm thuyền trưởng chỉ huy tàu ngầm, đều diễn ra trên những con tàu được tự động hóa tổng hợp thuộc đề án 705 (705K), tôi tự hào rằng Tổ quốc đã tin cậy trao cho tôi chiếc chiến hạm có mãnh lực đáng sợ này, và còn tự hào hơn nữa vì tất cả những con người đã cùng tôi phục vụ, cùng tôi đi biển, và làm chủ trang bị vũ khí mới. Đó là một kíp sỹ quan thuyền viên chân chính, bao gồm cả các hạ sỹ quan quân nhân chuyên nghiệp có tâm lý của sỹ quan, các chuyên gia, những con người trong mọi tình huống đều hoàn thành bất kỳ nhiệm vụ nào, khắc phục bất kỳ tình huống khẩn cấp nào. Từng ấy năm tồn tại của đơn vị, trong những điều kiện khai thác sử dụng khắc nghiệt, trên những con tàu "tự động hóa" chúng tôi vẫn không bị tổn thất bất kỳ người lính nào trong thực tế cuộc đấu tranh vì sự sinh tồn của con tàu. Điều ấy đã đạt được trong cuộc đấu tranh với hỏa hoạn, với nước, với sự rò hơi nước lớn, bị nghiêng ngang, chúi dọc, bị lăn xuống đáy biển sâu, kẹt các bánh lái khác nhau, môi trường xấu đi do bức xạ hạt nhân cực kỳ nguy hiểm. Chúng tôi chỉ bị mất một người trong đơn vị, khi ở trên đại dương - trợ lý thuyền trưởng K-463 thiếu tá hải quân Igor Alekseevitch Gorelov, một người đàn ông hiếm có. Nhưng không phải vì các sai sót trong thiết kế, mà bởi sự ngu ngốc của bản thân, vì sai lầm trong việc điều khiển tàu. Mãi mãi chúng tôi nhớ đến anh! Hạm đội đã trải qua một thời điểm khó khăn, nhưng tôi tin vào các nhà thiết kế, ngành công nghiệp, các thủy thủ của chúng ta, tôi tin rằng trong tương lai sẽ xuất hiện một con tàu có hệ thống điều khiển tự động phức hợp và sử dụng chất mang nhiệt kim loại lỏng, có các đặc tính cơ động và tốc độ của "đề án 705", có cơ số đạn dược của "đề án 945" và chiều sâu lặn của "đề án 685" thuộc đơn vị chúng tôi. Tôi muốn kết thúc câu chuyện bằng những câu thơ, được thuyền phó chính trị Yuri Konstantinovitch Buzin viết trên biển, tặng cho thủy thủ đoàn của chúng tôi, trong chiến dịch phục vụ chiến đấu năm 1984: Hãy cho mệt mỏi trĩu nặng tâm hồn, Giờ chia tay biển sao đầy cay đắng ... Trong nóng, trong gió, trong giá băng Vang mãi về chúng ta: "Vì những ai đang còn trên đại dương!" Hãy tự hào bởi bằng ý thức cao cả, Bạn hiến đời mình cho nghĩa vụ đàn ông. Và bạn sẽ bồi hồi nhớ lại, Sóng lớn đại dương vùi dập thân tàu. Ngôi nhà của ta là con tàu thân thương, Trên tàu quanh ta ai cũng là bạn tốt. Con tàu kéo và chiếc mũ chào mào... Những cánh tay vững vàng, sáng tạo... Nghề nghiệp chúng ta - người lính tàu ngầm, Lao động khổ sai, rủi ro, và hãy nhớ - Là lính tàu ngầm để không có chiến tranh! PS: Aleksandr Bogatyrev sinh ngày 26 tháng 6 năm 1945 tại huyện Tsarevka Shkotovo khu Primorie. Năm 1963, ông tốt nghiệp Trường Hải quân Nakhimov 13 (Leningrad) cũng trong năm 1963 vào học trường cao đẳng tàu ngầm hải quân và năm 1966 được chuyển sang trường Cao đẳng Hải quân Frunze, nơi ông tốt nghiệp năm 1968. Năm 1978 ông tốt nghiệp Trường Bổ túc cao cấp chuyên ngành cho sỹ quan hải quân số 6 (Leningrad), năm 1987 - tốt nghiệp Học viện Hải quân mang tên N.G.Kuznetsov (tốt nghiệp vắng mặt), trong các năm 1988 và 1990. - tốt nghiệp khóa học viện cho đội ngũ sỹ quan thuộc Hải quân Xô Viết. Được phong chuẩn đô đốc ngày 07 tháng 2 năm 2001. Bước đường sự nghiệp: học viên Cao đẳng tàu ngầm Hải quân (06.1963-10.1966 - ВВМУ подводного плавания); học viên Cao đẳng Hải quân Frunze (10.1966-06.1968 - ВВМУ им.М.В.Фрунзе); kỹ sư nhóm khí tài đạo hàng điện tử thủy thủ đoàn kỹ thuật tàu ngầm đề án 705 Hạm đội Biển Bắc (01.07.1973-03.1973); trợ lý thuyền trưởng K-123 (03.1973-11.1977); học viên thỉnh giảng VSOK Hải quân khóa 6 (11.1977-07.1977 - 6-х ВСОК ВМФ), trợ lý chính thuyền trưởng K-463 Hạm đội Biển Bắc (07.1978-08.1979), trợ lý chính cho thuyền trưởng K-123 Hạm đội Biển Bắc (08.1979 - 11.1981), thuyền trưởng K-123 sư đoàn tàu ngầm số 6 Hạm đội Biển Bắc (11.1981-02.1983), chỉ huy trưởng thủy thủ đoàn tàu ngầm đề án 705 Hạm đội Biển Bắc (02.1983-12.1985); phó tư lệnh sư đoàn tàu ngầm số 6 Hạm đội Biển Bắc (12.1985-10.1988); Phó tư lệnh binh đoàn cơ động số 7 Hạm đội Biển Bắc (10.1988 - 01.1997) Phó Hiệu trưởng Trường Bổ túc Cao cấp chuyên ngành sỹ quan Hải quân (ВСОК ВМФ - ДОПОЛНИТЕЛЬНОГО ПРОФЕССИОНАЛЬНОГО ОБРАЗОВАНИЯ "ВЫСШИЕ СПЕЦИЛЬНЫЕ ОФИЦЕРСКИЕ КЛАССЫ ВОЕННО-МОРСКОГО ФЛОТА") - Trưởng khoa thuyền trưởng (1997). CÔ HÊU. Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 28 Tháng Bảy, 2012, 11:04:35 am Cuộc đời trong ống kính tiềm vọng. Ảo ảnh của một thủy thủ tàu ngầm còn sót lại. Chuẩn đô đốc A.T.Shtyrov. (http://flot.com/upload/blog/387//ShPubl2_2.jpg) «THUYỀN TRƯỞNG KHÔNG THỂ THOÁI THÁC THI HÀNH NHIỆM VỤ, trừ khi tình hình thực tế thay đổi nhiều đến mức làm cho nhiệm vụ đề ra mất ý nghĩa của nó». Điều lệ tàu chiến Hải quân Liên Xô điều số 146. «Nghĩa vụ của người thuyền trưởng tàu hải quân» "Platon là bạn của tôi, nhưng sự thật còn quý giá hơn". Socrates Mở đầu Tháng Ba năm 1994 trong "gian hoàng gia" nhà ga xe lửa Belarus tại Moskva, nhà xuất bản sách quân sự-ái quốc "Ngọn cờ thánh Andrei", một nhà xuất bản còn trẻ, nhưng tích cực lách qua khu rừng rậm kinh tế thị trường cạnh tranh đã sắp xếp một show quảng cáo, hay được gọi là "trình diễn". Tại buổi thuyết trình có mặt các nhân vật "đã quen biết" trong tiến trình lịch sử, các nhân vật ít được biết đến và cả chưa được biết đến với công chúng độc giả. Tổng số có đến 200 người. Trong số nhân vật "nổi tiếng" có: Cựu Tổng tư lệnh Hải quân Xô Viết đô đốc hạm đội V.Chernavin, Tổng tham mưu trưởng đương nhiệm Hải quân Nga V.Selivanov, phi hành gia hai lần Anh hùng Liên Xô V.Sevastyanov, Maria con gái của nguyên soái lừng danh Zhukov, các nhà văn Nga V.Karpov, V.Soloukhin, nhà văn-nhà chính luận Yu.Vlasov, đạo diễn điện ảnh-nhà chính luận S.Govorukhin, đạo diễn điện ảnh S.Bondarchuk, chủ tịch Hội liên hiệp giới quý tộc Nga công tước A.Golitsyn, nhà văn-thủy thủ N.Cherkashin và nhiều người khác nữa. Những người "nổi tiếng" khác: thư ký-báo chí (các tu sĩ) của các tổng giám mục các giáo phận St Petersburg và Ioanna Ladoga, Pitirim Volokolamsk, các con trai của nhà văn lớn L.Leonov và họa sỹ lớn D.Polenov. Những người nói là "không được khỏe", nhưng chào mừng cuộc họp đáng kính trên: vợ nhà văn V.Pikul (vì sức khỏe kém của bà), tướng-cầm cờ trong lễ duyệt binh Ngày Chiến Thắng V.Varennikov (do đang "nghỉ ngơi" trong nhà cải tạo, gọi thông tục là "Sự im lặng của thủy thủ "), nguyên soái S.Akhromeev (bận ra nghĩa trang Troekurov). Trong số các nhân vật ít được biết đến có các vị tướng và đô đốc "trong ngạch dự bị và đã nghỉ hưu", các diễn viên và ca sĩ, các ataman Cossack, các doanh nhân của "nước Nga mới", cũng như những nhân vật muốn "ở lại trong bóng tối". Nói ngắn gọn, "các nhà ái quốc-các nhà quốc gia", các nhà giám hộ cho sự hồi sinh (khỏe mạnh, tất nhiên) của nước Nga vĩ đại. Ở đó tất cả các loại "đỏ" (N.Andreeva), "hồng" (Zyuganov), "nâu" (A.Barkashov), "vàng" (Vladimir Zhirinovsky) và "xanh" (E.Gaidar) đều không có. Trong cảnh trình diễn ồn ào các nhà tu hành ăn cũng không tồi hơn giáo dân; Maria Zhukova đáng yêu nói vào micro, trong khi các nhà chính trị radikaldemik ngày nay đang "đổ nước bẩn" vào người cha-anh hùng của cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại; cựu tổng tư lênh Hải quân Chernavin đọc một đoạn trích từ "chương trình-hủy diệt" của Giám đốc đầu tiên của Cục Tình báo Trung ương Mỹ Allen Dulles; người nổi tiếng Soloukhin, chép cặp môi no nê và khẽ nấc lên, đọc bài thơ mới của ông, trong đó nói thật rõ ràng là trên toàn nước Nga - chỉ là những ngôi mộ, mộ và mộ; một giọng soprano nổi tiếng khóc nức nở nỗi đau buồn về nước Nga đang chết; đạo diễn Govorukhin kể một số kỷ niệm vụ nổ súng tháng 10 năm 1993. - Và điều này sẽ kết thúc rất tồi tệ, - một trong những người "không uống" cắp dưới nách một vật phẳng và có cặp mắt sắc sảo nhận xét . - Nhưng tại sao? - Với sự ngây thơ bốc mùi men rượu, một người khách phản đối lại ông ta và ghé sát vào vật phẳng ông ta cắp dưới nách. Cuối cùng, trong số những người chưa được biết bước đến micro đẩy vào người ông già vạm vỡ trong bộ quần áo hàng thông dụng. - Này ... giới thiệu ai thế? - người không uống hỏi. - Ông ta hả? Đó là con voi ma mút của hạm đội tàu ngầm, - người khách mau miệng giải thích. - A-aa! (http://flot.com/upload/blog/d44//ShPubl2_4.jpg) Dưới đây sẽ kể lại những trích đoạn trong thời kỳ tồn tại của "con ma mút của hạm đội tàu ngầm" - từ thời kỳ "băng giá" (thời Stalin) cho đến thời nay thời của trận hồng thủy "dân chủ" và tăng trưởng như bão táp của "giá trị con người nói chung". Từ 1951-1997 - gần một nửa thế kỷ. Trong lịch sử nhân loại - một tia lửa trong đống lửa, trong lịch sử cá nhân - toàn bộ một cuộc đời. Bút danh của tác giả - Sungariets (Sun), với mục đích này ông ngang nhiên lấy tên lóng điệp viên của Boris Poyarkov (tình báo viên Liên Xô, làm việc trong các năm 1938-1941 trong sự "nâng đỡ" của tình báo Nhật Bản ở Mãn Châu, cố gắng tìm lối thoát tới tư lệnh Tập đoàn quân Cờ Đỏ độc lập Viễn Đông V.Blucher). Bị tuyển mộ bởi cơ quan của Kenji Doihara, Sungariets vẫn còn làm phiền các nhân viên Bộ Tổng tham mưu Nhật Bản, nhưng sau đó biến mất vào lãng quên (hoặc vì những cánh tay nối dài của các cơ quan bí mật Nhật Bản, hoặc trong các phòng tra tấn của NKVD). Cái tên này nay đã bị lãng quên. Trong những phút thổ lộ cảm xúc hiếm hoi, nhiều người nghe đặt một câu hỏi thiêng liêng: "Tại sao anh không cho chúng tôi biết về tất cả những điều này?" Trong thực tế, tại sao? Những năm tháng qua đi, nhiều "bí mật" đã được thời gian cho phép ... Những ghi chép thực sự này là một cố gắng yếu ớt để soi sáng một số lĩnh vực trước đây chưa được biết đến, kể về cuộc sống hải quân, không tô điểm kiểu chính trị "đời thường hóa và anh hùng hóa" cuộc đời phục vụ và không bị cắt xén bởi những "kẻ cướp bằng ngòi bút" hiện đại. 1996. LỜI NÓI ĐẦU CỦA NGƯỜI BIÊN TẬP (http://flot.com/upload/blog/726//ShPubl2_5.jpg) Biên tập viên, cựu chiến binh đại tá hải quân Novikov Valery Sergheevitch tại buổi giới thiệu cuốn sách (http://public.fotki.com/EZEL/7618a/ejabj/). Bạn thân mến! Độc giả kính mến! Nếu bạn đang giữ trong tay cuốn sách này, nghĩa là bạn quan tâm đến lịch sử của Đất Nước và số phận của những người phục vụ nó. Các tác phẩm trong bộ sưu tập này liên quan đến nhiều thể loại khác nhau và thời kỳ khác nhau của của lịch sử thế kỷ XX. Cá nhân tác giả cũng là hiện tượng đặc biệt trong giới viết về biển của đất nước ta. Ngược lại với những người khổng lồ đã được công nhận như K.M.Stanyukovitch, L.S.Sobolev, V.V.Vishnevsky, A.T.Shtyrov không có dòng dõi quý tộc, và do đó không có nền tảng giáo dục cơ bản chung. Ông đạt được tất cả bằng trí óc của mình, bằng "cái bướu" và đôi tay, ông đã viết khi còn đang phục vụ, và không chỉ là một "nhân chứng" của những sự kiện được miêu tả, mà còn nữa! - bằng nhiều năm tham gia trực tiếp, trên các cương vị chỉ huy có đầy đủ trách nhiệm với hành động của mình. Ông không học tại các học viện và các trường đại học văn học, các bạn cùng lớp tại Bộ Tổng tham mưu cũng không "chứng kiến" tài năng văn học của ông. Sự chủ quan có thể có trong trình bày và đánh giá được xác định không bởi quan điểm và ý kiến của chính quyền, mà bằng công việc ông đã làm và kết quả của những công việc này. Đó là lý do tại sao tên của cuốn sách được gọi như vậy, cái nhìn về cuộc sống, công việc và con người thông qua ... thiết bị phóng đại quang học của tàu ngầm. Về các giá trị nghệ thuật trong sáng tạo của A.T.Shtyrov thực tế cho biết có nhiều lần các nhà làm phim Nga đề nghị làm những bộ phim theo các tác phẩm của ông, bao gồm cả phim nghệ thuật. Nhưng!..., không hề có "vụ lợi" ở nhà văn cũng như các nhà làm phim. Tuy nhiên, giải thưởng "Con dao găm vàng" và Bằng Danh dự của Hiệp hội các nhà báo Nga vẫn tô điểm cho tiểu sử nghệ thuật của người thủy thủ có mái tóc màu xám bạc. Sự công nhận vinh quang sáng tạo của tác giả còn là các phần thưởng khá kỳ lạ: huy hiệu của Tổng cục Tình báo Bộ TTM Các Lực lượng Vũ trang Liên Xô "Con Dơi" (vì sự thật về các chiến dịch đặc biệt của CIA Mỹ) và phù hiệu vàng "Thuyền trưởng tàu ngầm" (từ một nhóm người hâm mộ muốn giấu tên). Người biên tập đã tính đến những lời chỉ trích và đề nghị xây dựng của độc giả, tác giả đã vui lòng đồng ý bổ sung các xuất bản phẩm được công bố trước đó bằng các tài liệu thực tế sẽ giúp người đọc hiểu rõ hơn bản chất của các sự kiện được mô tả. Cùng phục vụ một mục đích - để cảm nhận "mùi" của một thời đại đã qua - đó là các tài liệu đồ họa, bao gồm ảnh trong kho lưu trữ cá nhân của tác giả và lưu trữ của các bạn bè thủy thủ tàu ngầm của ông. Người đọc không vô tình chắc chắn sẽ nghe thấy một nốt nhạc hoài cổ. Vâng, trong những ngày đó, các thủ trưởng và hoàn cảnh đều rất khó khăn, mà thù hận lại lớn và vô cùng khắc nghiệt (vì các tai nạn và do mất tàu, người ta không chỉ cách chức, mà còn mang ra tòa án binh xử án và xử bắn), có cả những kẻ đểu cáng, kẻ mị dân và những kẻ nhàn cư vi bất thiện-luồn lách đi lên; có cả điều kiện sống khủng khiếp của các thủy thủ và gia đình họ. Cùng phục vụ với nó tuy nhiên lại có những con người mà đại đa số là người lương thiện, trung thực, vị tha, khiêm tốn, và không hề lớn tiếng, lặng lẽ hoàn thành nghĩa vụ của mình. Mặc dù tính chất tự truyện rõ ràng, cuốn sách này không phải nói về tác giả, mà nói về họ, những người phục vụ trung thực của Tổ quốc vĩ đại, đặc biệt là khi họ trở nên ngày càng ít hơn. Cuốn sách chờ sự phán xét của bạn, hỡi bạn đọc yêu quý. .......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 28 Tháng Bảy, 2012, 11:05:20 am (tiếp)
VÀI LỜI VỀ TÁC GIẢ (http://flot.com/upload/blog/82f//ShPubl2_6.jpg) Anatoly Tikhonovitch Shtyrov sinh ngày 6 tháng 3 năm 1929 tại thành phố Petrovsk tỉnh Saratov, mồ côi cha từ sớm và đã trải qua cảnh cùng cực khủng khiếp của những năm chiến tranh. Nổi bật bởi lòng ham mê hiếm có với sách, từ năm 6 tuổi đã đọc báo cho các nông dân địa phương nghe (văn bản nhiều đoạn đến giờ ông còn nhớ). Tập tọng làm thơ từ năm lớp 4. Theo mệnh lệnh của I.V.Stalin vào năm 1944, trên cả nước đã mở các trường dự bị hải quân, và Anatoly đã lọt vào một trong số đó - trường Gorky. Ở đó bằng phương pháp "tự tạo" ông đã tự học để đọc thông thạo tiếng Pháp. Năm 1947, ông lọt vào mắt xanh của "tổ chức" và vì "tư duy tự do trong thơ ca và tình cảm chống Liên Xô" mà bị khai trừ khỏi Đoàn Komsomol. Mạnh mẽ và đáng sợ nhất là điều 58 khét tiếng, nhưng ... cũng tìm được những người thông minh - ông được ân xá do tuổi còn trẻ và thành tích hiếm có. Bài học kinh nghiệm đã thấm, tài năng văn học được giấu kỹ và giấu lâu. Tốt nghiệp trường dự bị ông nhập học và năm 1951 tốt nghiệp trường Cao đẳng Hải quân mang tên Đô đốc Makarov. Đời phục vụ bắt đầu tại một đơn vị tàu ngầm ở Kamchatka, còn tổng cộng tại Hạm đội Thái Bình Dương ông đã phục vụ gần 40 năm. Một nửa trong số thời gian đó - trên các tàu ngầm diesel, bao gồm 8 năm làm thuyền trưởng. Đối với các độc giả trẻ tuổi cần phải nói rằng giai đoạn lịch sử đó là giai đoạn khắc nghiệt nhất của Chiến tranh Lạnh, giai đoạn mà nước ta không có bất kỳ lợi thế kỹ thuật-quân sự nào. Tác giả đã thực hiện một số lượng lớn các chiến dịch trinh sát và phục vụ chiến đấu ở các khu vực khác nhau của không gian chiến trường Thái Bình Dương, nhiều lần rơi vào và thoát ra thành công khỏi các tình huống cực đoan, gần kề thảm họa. Đó là lý do tại sao người biên tập thấy cần thiết đưa vào cuốn sách này, quan điểm của các chuyên gia có thẩm quyền về các sự kiện trong hoạt động phục vụ của tác giả. Trong cái gọi là cuộc khủng hoảng tên lửa Caribean (1962), ông là thuyền trưởng tàu ngầm thứ hai tham gia vào một chiến dịch quân sự phức tạp tại bờ biển phía đông Nhật Bản (trong điều kiện có bão biển lớn trong mùa thu đông và sự không xác định về mặt quân sự). Năm 1963, ông là thuyền trưởng tàu ngầm thực hiện chuyến đi đến khu vực tập trận của các lực lượng Hạm đội 7 Hải quân Mỹ, một số các chi tiết của chiến dịch này được mô tả trong câu chuyện "Lệnh tắt vô tuyến và quan sát". Năm 1969, ông đột nhiên bước lên cương vị "chỉ huy cao cấp" trên một chiếc tàu ngầm thực hiện chiến dịch trinh sát Hải quân Trung Quốc (câu chuyện "Những chiếc máy kéo ngầm dưới nước"). (http://flot.com/upload/blog/bde//ShPubl2_7.jpg) Các xu hướng, mà chính xác hơn là khả năng phân tích, tính độc đáo trong suy nghĩ và tính độc đáo trong các quyết định đã dẫn A.T.Shtyrov đến với ngành quân báo, ban đầu là ở binh đoàn tàu ngầm, sau đó trong Phòng Quân báo Hạm đội TBD. Ông có sáng kiến phát triển một cuốn sổ tay cho các thuyền trưởng chỉ huy tàu ngầm diesel, trước đây khá nổi tiếng và bây giờ đã bị lãng quên "ABC cho thủy thủ tàu ngầm". Ông đã phát triển các nguyên tắc của việc sử dụng tàu ngầm tác chiến trong khu vực nước nông ven biển (khi ấy "kẻ thù №1" được coi là Trung Quốc), mà trong diễn tập quân sự hai bên của các bộ tham mưu cấp cao đã gây nên phản ứng nhiều tai tiếng của các đô đốc và tướng lĩnh. Gần 10 năm là sĩ quan đầu đàn trong hệ thống tình báo hải quân tại các bộ tham mưu cấp chiến dịch-chiến lược. Do tính cứng đầu cứng cổ và "không vâng lời cơ quan cấp trên" đã bị đẩy ra khỏi hệ thống tình báo, sau đó ông tham gia lên kế hoạch các chiến dịch quân sự của hạm đội (Phòng Tác chiến Bộ tham mưu Hạm đội Thái Bình Dương, chủ nhiệm tác chiến phân hạm đội Kamchatka thuộc Hạm đội Thái Bình Dương). Do hoạt động tích cực phát hiện các ý đồ và hàng loạt chiến dịch bí mật của CIA và DIA Mỹ trên không gian chiến trường Thái Bình Dương ("Jennifer", "Ivy Bells" và những chiến dịch khác), ông trở thành đối tượng chú ý của tình báo nước ngoài, điều này được thừa nhận khi ông làm khách đến thăm đảo Đài Loan (Trung Hoa Dân Quốc) gần 20 năm sau đó. Ông được trao tặng phù hiệu danh dự "Thuyền trưởng tàu ngầm Hải quân Đài Loan". Do chiều sâu kiến thức về "các kẻ thù tiềm năng trong thời gian chiến tranh lạnh" và khả năng trình bày rất ngắn gọn và hình thành các đánh giá rõ ràng về chúng, mà nhiều lần đã được nguyên soái V.Kulikov nhận xét; theo yêu cầu cá nhân của đích danh nguyên soái Akhromeev (khi đó là Tổng tham mưu trưởng), ông đã được trao tặng quân hàm "chuẩn đô đốc" mà không có bất kỳ "các cẳng tay lông lá" nào và cũng chẳng hề có văn bằng tốt nghiệp học viện. Anatoly Tikhonovitch kết thúc đường phục vụ của mình trên cương vị Phó trưởng phòng Hải quân Bộ Tổng chỉ huy hướng Tây-Nam ở Chisinau năm 1989. Ông đã có những nỗ lực tuyệt vời nhằm duy trì sự sẵn sàng chiến đấu và sức cơ động của Hạm đội Biển Đen (bao gồm không gian chiến trường Địa Trung Hải), đã cố gắng không thành công nhằm "giáo dục" các tướng lĩnh lục quân về các vấn đề hợp đồng các quân binh chủng khác nhau trên các không gian chiến trường biển và ven biển. Ông buộc phải chuyển về Moskva vào năm 1993 do chính sách khủng bố (cả về thể xác) của bọn phát xít Rumani đã lên nắm quyền ở Moldova. Tại tất cả các nơi công tác và trên tất cả các cương vị công tác ông luôn giữ được uy tín đặc biệt trước cấp dưới và các đồng nghiệp, và hầu như luôn luôn gây ra sự cảnh giác và không ưa của cấp trên trực tiếp. Tất cả chỉ bởi một lý do – uy tín lớn, tính thẳng thắn và sự trung thực. Vì vậy trong giới sĩ quan hải quân ông có biệt danh: Đô đốc lưỡi cày, Khủng long của hạm đội tàu ngầm, người Mohicans cuối cùng. Vì vậy, các "thánh tích" phần thưởng của ông không đặc biệt ấn tượng: chỉ có ba huân chương và một số huy chương "cát" và huy chương nhân lễ kỷ niệm. (http://flot.com/upload/blog/f77//ShPubl2_8.jpg) Tuy nhiên, cộng đồng hải quân đã gắn thêm cho ông “Chiếc dao găm vàng", phù hiệu "Thuyền trưởng tàu ngầm" và "Con Dơi", "Thập tự Bizertsky" và huân chương Stalin (http://www.zasluga.ru/catalog.php?tovar_id=35/). Các đồng hương thì trao tặng ông danh hiệu Công dân Danh dự thành phố Petrovsk. Trong cuộc sống cá nhân của tác giả có rất nhiều khó khăn, không chỉ vì khi còn là học viên đã không may đi yêu một người đẹp Ucraina, mặc dù “cơn lũ” vùng Viễn Đông, nhưng là một người phụ nữ đầy đủ tư chất và phẩm hạnh, và quan trọng nhất – một nhà địa chất! ("Hành trình đến Kolyma"). Họ đã sống như thế đấy: ông ở trên biển, còn bà trên hiện trường thăm dò. Hai người con trai một kỹ sư-nhà xây dựng, 2 cháu gái và 1 cháu trai, 1 chắt trai và 1 chắt gái. Khi sức khỏe cho phép, Anatoly Tikhonovitch tích cực hoạt động trong các tổ chức cựu chiến binh, gặp gỡ với giới trẻ trong hải quân, cộng tác với các phương tiện truyền thông đại chúng quân đội và tránh xa những gã Bohemia trong giới văn học và các cựu chiến binh-đô đốc "nhiều công lao". Các nhà chỉ huy hải quân có tiếng đã nói về ông như sau: (http://flot.com/upload/blog/5a2//ShPubl2_9.jpg) Phó đô đốc V.Kruglyakov (http://www.8opesk.su/index12.html), tư lệnh binh đoàn tác chiến số 8 hoạt động ở Ấn Độ Dương (1980): "Những người như Shtyrov, chính là xương sống để duy trì hạm đội ..." (http://flot.com/upload/blog/8ea//ShPubl2_10.jpg) Đô đốc V.Sidorov (http://tsushima.su/forums/viewtopic.php?pid=423004), Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương (1982): "Trong thời gian phục vụ tại Hạm đội Baltic và Hạm đội Thái Bình Dương đi qua trước mắt tôi có hàng ngàn sĩ quan hải quân, nhưng người có thiên bẩm phân tích như vậy tôi chưa hề thấy ..." (http://flot.com/upload/blog/113//ShPubl2_11.jpg) Đô đốc E.Spiridonov (http://tsushima.su/forums/viewtopic.php?pid=423004), Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương (trước khi ông qua đời vào năm 1982): "Bạn không biết. Còn anh ta luôn biết! " (http://flot.com/upload/blog/b69//ShPubl2_12.jpg) Phó đô đốc V.Fyodorov (http://www.padelt-online.de/doc666/index1.html), Chủ nhiệm Trinh sát Hải quân (1996): "Đó là một huyền thoại sống." (http://flot.com/upload/blog/7f2//ShPubl2_13.jpg) Chuẩn đô đốc Boris Tsarev và đại tá hải quân Anatoly Varotchkin (http://blackseafleet-21.com/news/10-12-2011_raketnaja-podvodnaja-epopeja-chast-ii) Không phải người nổi tiếng, nhưng có uy tín và hiểu biết: chuẩn đô đốc B.Tsarev tư lệnh lữ đoàn tàu ngầm Feodosia và Sevastopol (1976-1986), phó tư lệnh Hạm đội Biển Đen (1991-1995): "Anh ấy nổi bật ở phương pháp tiếp cận sáng tạo để giải quyết mọi nhiệm vụ, sự phân tích rất sâu sắc, lòng yêu lao động hiếm có, tính cực kỳ chuẩn xác và tính độc đáo của giải pháp. Người khởi xướng và tổ chức các hoạt động săn tìm tàu ngầm nước ngoài trên các tuyến đường biển triển khai các tàu ngầm nguyên tử tuần dương chiến lược của Hạm đội Thái Bình Dương bằng mọi lực lượng khác nhau". (http://flot.com/upload/blog/5d3//ShPubl2_14.jpg) Trung tá hải quân D.Paramonov (http://old.redstar.ru/2006/03/18_03/4_03.html)(thuyền trưởng B-871 Alrosa, 2003-2007 - 2 giải thưởng của Tổng tư lệnh Hải quân): "Nghiêm khắc, thông minh, công bằng. Cảm ơn ông". (http://flot.com/upload/blog/b79//ShPubl2_15.jpg) Đại tá hải quân A.Astapov (http://foto.mail.ru/community/flot90998/5324) (thuyền trưởng tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa hành trình "Tomsk", anh hùng nước Nga): "Một thủy thủ tàu ngầm tài năng, và hơn thế, một nhà thơ và nhà văn. Cầu Chúa ban cho ông sức khỏe! Để viết nhiều hơn và lâu hơn nữa". Trung tá hải quân V.Zhdanov (ngành trưởng ngành tác chiến 3 các tàu ngầm phóng lôi và tàu ngầm tên lửa của Hạm đội Biển Bắc): "Rất con người, rất tài năng. Những Pokrovsky và người khác sẽ được an nghỉ. Chưa ai viết về các thủy thủ tàu ngầm như vậy". .......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 28 Tháng Bảy, 2012, 06:37:29 pm (tiếp)
Và đây là những nhân vật hoàn toàn dân sự: Công dân Hoa Kỳ V.M.Tomich - từ một gia đình sỹ quan-kiều dân bạch vệ (1994): "Có thể làm những việc như thế chỉ có những thuỷ thủ người Nga! Cám ơn tác giả"- sau khi đọc câu chuyện "Lệnh: tắt vô tuyến và im lặng quan sát". A.O.Novoselov - cựu nhân viên PNO "Yakutalmaz", đã nghỉ hưu (2006): "Những cuốn sách rất hay, rất hữu ích cho những người trẻ tuổi ngày nay. Cần phải đưa lên TV". Tác giả và người biên tập bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến mọi người, vì nhờ sự hỗ trợ về tình thần và kỹ thuật của họ mà các cuốn sách được xuất bản: E.N.Veshkina, V.B.Svetlakova, A.N.Kvatch, A.G.Korovina, N.V.Novikova. Và đặc biệt cám ơn I.K.Demyanov, S.V.Bokov đã hỗ trợ tài chính, lòng nhẫn nại tuyệt vời và sự kiên trì trong quá trình chuẩn bị và xuất bản bộ sưu tập này. (http://flot.com/upload/blog/3c2//ShPubl2_16.jpg) GIỚI THIỆU Với sự chấm dứt Thế chiến II (đối với chúng ta - Chiến tranh Vệ quốc Vĩ Đại), khi các đồng minh trước đây chuyển sang các cực của cuộc đối đầu toàn cầu, đã lộ ra 2 học thuyết biển - học thuyết biển của Mỹ, nhằm đảm bảo sự thống trị trên đại dương Thế giới và các vùng chiến lược quan trọng của nó bằng việc duy trì và phát triển sức mạnh hải quân, và học thuyết biển Liên Xô nhằm xây dựng một hạm đội mới hùng mạnh như một quân chủng độc lập thuộc Các Lực lượng Vũ trang có khả năng đảm bảo việc phòng thủ sâu trên các không gian chiến trường biển liền kề, và sau đó - bảo đảm việc phổ biến bất kỳ khi nào các lợi ích quốc gia của một cường quốc lục địa trên các đại dương của thế giới. Kinh nghiệm của Đức Quốc xã (mà kinh nghiệm của kẻ thù - cũng là kinh nghiệm) đã chỉ ra rằng sự sáng tạo lực lượng tàu ngầm hùng mạnh là biện pháp nhanh chóng nhất và tương đối "rẻ" để loại bỏ trạng thái bất lực trên biển của quốc gia. Trong số 820 tàu ngầm "Kriegsmarine" tham gia trực tiếp vào chiến sự, 718 chiếc đã bị phá hủy. Chỉ riêng các tàu ngầm Đức đã đánh chìm các tàu vận tải có tổng lượng choán nước 14,5 triệu tấn tổng trọng tải đăng ký (Брутто-регистровая-тонна - Gross registered tonnage). Vai trò của tàu ngầm trong Thế chiến II được các nhà nước hùng mạnh về kinh tế đánh giá cao, bản thân Hoa Kỳ vào năm 1945 ngoài các thiết giáp hạm và các tàu sân bay còn có đến 236 tàu ngầm đang phục vụ, Nhật Bản -162 tàu ngầm (bị mất 130 tàu ngầm trong các trận chiến), nước Anh trong chiến tranh đã bị mất 80 tàu ngầm. Vì lý do này, trong quá trình khôi phục nền kinh tế quốc dân bị phá hủy trong các khu vực bị chiếm đóng, chính phủ Liên Xô bắt đầu thực hiện một chương trình biển mới, hợp phần đầu tiên trong đó là đóng một số lượng lớn các tàu ngầm chạy bằng diesel. Trong thập kỷ đầu tiên (đến trước 1956), song song, và thậm chí đi trước việc xây dựng hạm đội tàu mặt nước, đã đóng được hơn 300 tàu ngầm diesel, chủ yếu là tàu ngầm cỡ "trung bình" (cỡ biển). Lực lượng tàu ngầm này, xuất hiện trong giai đoạn đầu của "chiến tranh lạnh" trở thành xương sống của hạm đội, trên cơ sở đó đảm bảo việc tiếp tục phát triển của Hạm đội Hải quân như là một tổng thể, và sau đó là sự phát triển tàu ngầm hạt nhân như là hợp phần quan trọng nhất của hạm đội đại dương. (http://flot.com/upload/blog/df4//ShPubl2_17.jpg) Những con ngựa thồ của Chiến tranh Lạnh. - N.Cherkashin. "Đời sống hàng ngày của các thủy thủ tàu ngầm Nga". Мoskva.2000. Ấn phẩm này dự định đưa ra trong một phạm vi hẹp sự soi sáng một phần "cuộc sống" của hạm đội tàu ngầm diesel trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh. Hướng tới các độc giả, trước hết tới các các thế hệ thủy thủ quân sự ngày nay vẫn còn sống và đã ra đi, giới thanh niên Nga thế kỷ 21, những người yêu mến lịch sử của nước ta, quan tâm đến kinh nghiệm của tổ tiên, tác giả đã xét đến các đặc điểm trình bày tài liệu nói đến sau đây. Ấn phẩm này không phải là một tài liệu nghiên cứu thuần túy kiểu lưu trữ-lịch sử cho một giới chuyên gia chọn lọc quan tâm, ngược lại, nó được xây dựng theo hình thức một câu chuyện kể sinh động. Với một điều kiện tiên quyết: nội dung của nó không có tham vọng bao quát 100% chủ đề, nhưng nó được trình ra mà không có sự giả mạo lịch sử, không có vẻ anh hùng màu mè và son phấn chính trị. Nó được trình bày như nó đã được nhìn qua đôi mắt của các thủy thủ tàu ngầm diesel giữa thế kỷ 20, và "được cảm thấy bằng bàn tay của chính mình". Trong quá trình chuẩn bị ký sự này đã sử dụng một phần các ấn phẩm trong nước và nước ngoài (Mỹ) về xây dựng và phát triển hạm đội tàu ngầm động cơ diesel của Liên Xô trong thời kỳ sau chiến tranh, cũng như trong thế kỷ 21 - theo kiểu trích đoạn. Mục đích việc thuyết trình - lấp đầy khoảng trống gần 40 năm tuổi (hoặc sự chân không về thông tin) trong lịch sử Hạm đội Hải quân thời Chiến tranh Lạnh. Những động lực - nhắc nhở xã hội về những hoạt động về mặt lịch sử "còn trong bóng tối" của thế hệ tàu ngầm diesel, dù tốt dù xấu, nhưng đã trung thành thực hiện nghĩa vụ quân nhân của họ trước Tổ quốc. Những lý do - rất nhiều ấn phẩm về chủ đề hải quân theo khunh hướng đặc biệt, dưới vỏ bọc "bí mật", và sau đó theo sức ì của tư tưởng đã làm mờ đi đề tài này. Và nếu về hạm đội tàu ngầm nguyên tử người ta đã viết không ít, thì về hạm đội tàu ngầm động cơ diesel - hầu như chưa có gì. Trong thời kỳ hậu Stalin, đặc biệt là trong cuộc chiến tranh lạnh và sự đối đầu khắc nghiệt giữa hai hệ thống, các "nhà lãnh đạo và thủ trưởng" của chúng tôi là các bậc thầy về giữ bí mật (http://www.webpark.ru/comment/46870)tất cả mọi thứ. (http://flot.com/upload/blog/e00//ShPubl2_18.jpg) Đôi khi sự việc đi thái quá đến chỗ kỳ cục. Ví dụ, trong các trường hải quân một thời gian dài sách giáo khoa môn học "Khí tượng Thủy văn biển" đã được bảo mật theo "lệnh cấp trên". Trong các buổi lên lớp riêng rẽ, các giáo viên có năng khiếu hài hước đã hướng dẫn học viên như sau: "Các đồng chí học viên. Sách giáo khoa là sách mật, hãy chú ý điều đó! Dù chỉ mất dẫu một trang ... các anh hãy tự hiểu ... Nhưng nếu, muốn Chúa cứu giúp, hãy để ý - chính cuốn sách của tác giả này và nhà xuất bản này hiện được bán tại hiệu sách KOGIZ trên phố Lenin". Và đôi mắt của ông nói rõ: "Phần còn lại - thủ đoạn kỹ thuật, nhưng tôi sẽ không nói cho các anh biết đâu ..." Tàu ngầm bắt đầu đóng mới và thủy thủ đoàn được thành lập sẽ trở thành "đơn vị quân đội", khi đặt ky tàu sẽ lấy số "xuất xưởng", còn khi hạ thủy thì là số "chiến thuật"; khi có mặt tại hạm đội là số "mạn" (định kỳ được thay thế), số này khi ra khơi đi chiến dịch thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu sẽ được sơn lại. Trong các sự kiện ở hạm đội (hoạt động Đảng, hội nghị, v.v.), nó được gọi tên là "thủy thủ đoàn, chỉ huy là đồng chí Pindiurkin, còn phó chính trị đơn vị là đồng chí Babashkin". Trong các ấn phẩm quân đội và hải quân nó đặc trưng bởi "đơn vị En Nờ tại đó đồng chí Pê phục vụ". Và để kệ không giải thích, hoàn toàn dành cho bản năng Nga có thể đoán ra người ta đang nói về ai. Nên nói thêm rằng, người Mỹ và thậm chí cả người Nhật Bản (những bậc thầy về sự xảo quyệt quân sự) đã từ bỏ hình thức bảo mật này, bởi vì nó chỉ làm khó hiểu chính mình, nhưng không hề đối với tình báo nước ngoài. Ngư lôi (cũng như mìn và tên lửa) của chúng tôi được gọi là "sản phẩm". Tôi nhớ lại rất nhiều trường hợp, khi mà trong quá trình xạ kích, tàu ngầm bị mất đạn ngư lôi thực hành đã phóng ra và không thể tìm thấy. Bắt đầu một cuộc tìm kiếm lâu dài và mệt mỏi. (http://flot.com/upload/blog/aa1//ShPubl2_19.jpg) Xuất hiện máy bay tuần tra biển của Mỹ ("Neptune" hoặc "Orion" (http://worldweapon.ru/sam/p3.php)), và khi chân thành muốn giúp đỡ những người đang đau khổ, các chàng Yankees la lên trong elektromegafon: "Này người Nga. Trái ngư lôi, mà không hiểu sao các bạn gọi là sản phẩm, đang nằm cách các bạn theo phương vị... " mà bằng tiếng Nga hẳn hoi, xin nói thêm như vậy. Trong các cơ quan tham mưu hạm đội đã từ lâu người ta đưa vào trong hệ thống một việc: nếu anh muốn triệt để kiểm tra hạm đội của mình và con tàu bên cạnh, đừng chui vào bộ phận bí mật, mà hãy cầm trong tay mình cuốn sổ tra cứu "Janes fighting ships (http://avaxhome.ws/ebooks/janes_all_the_worlds_aircraft_2004_2005.html)" ("Các hạm đội chiến đấu trên thế giới") và tìm các trang có liên quan. Xin nói thêm, cuốn sổ tay hướng dẫn này đã được bán, và đang được bán tại các kiosk của tất cả các căn cứ và các cảng nước ngoài. (http://flot.com/upload/blog/c64//ShPubl2_20.jpg) Trong Hải quân Hoa Kỳ có một hệ thống đơn giản: con tàu được chỉ định một tên gọi và một số mạn không đổi. Và nếu có một người mẹ yêu thương con bất kỳ nào đó có ý định gửi 1 lá thư âu yếm cho đứa con trai nhỏ thân yêu của mình, bà ấy sẽ không bị vỡ đầu bởi tất cả các loại "đơn vị quân sự", còn việc ghi ngoài phong bì đơn giản chỉ là USS "Lind-McCormick", "Trung úy James K.Patrik". Bạn hãy tin thư sẽ tìm được đúng địa chỉ tại bất kỳ điểm nào trên đại dương Thế giới. Có cần phải nói không, rằng trong hoàn cảnh siêu bí mật tổng thể ngay cả chúng tôi, các thủy thủ tàu ngầm, cũng ít được biết về kết quả của các chiến dịch của chính các đồng chí của mình, các tai nạn và các thảm họa tại các hạm đội hoặc thậm chí ngay ở các đơn vị lân cận. Nói ngắn gọn, tất cả mọi thứ trên thực tế, thu nhận được chẳng qua nhờ kinh nghiệm. Thêm vào đó là "thông tin sai lạc" của các "học giả" mũ cao áo dài và các "sử gia" và "chính luận gia" đầu cơ thị trường của giai đoạn bùng nổ tự do và dân chủ. Hoàn cảnh là như thế, nó che giấu và bóp méo lịch sử của thế hệ tàu và những con người này, theo lệ thường, là các chuyên gia trong lĩnh vực của họ, và trong thời của mình - các "bánh răng" quan trọng trong sức mạnh phòng thủ của hạm đội và quốc gia xét về tổng thể. Nhưng ... chúng ta hãy trở về định đề hợp mốt hiện nay: "Không ai bị lãng quên, không có gì bị quên lãng". Không nên lãng quên. Vì vậy, tôi cố gắng viết về chúng, những chiếc tàu ngầm động cơ diesel và thủy thủ tàu ngầm diesel. Viết những gì trong ký ức về các cựu thủ trưởng, thuyền trưởng và các đồng đội. ....... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 28 Tháng Bảy, 2012, 11:54:15 pm (tiếp)
I.TÌNH TRẠNG LỰC LƯỢNG TÀU NGẦM HẢI QUÂN NĂM 1945 VÀ CÁC VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN SỨC MẠNH CHIẾN ĐẤU CỦA NÓ Hạm đội Hải quân Liên Xô cũ bước ra từ chiến tranh thế giới thứ II vào năm 1945 là đáng kể, còn lực lượng tàu ngầm, đặc biệt là trên không gian chiến trường phía Tây thì rất yếu. Ngày 22 tháng 6 năm 1941, Hải quân có trong đội hình phục vụ 211 tàu ngầm (trong đó 85 ở Thái Bình Dương). Trong những năm chiến tranh trên không gian chiến trường phía tây họ đã mất 98 tàu ngầm (77% lực lượng chiến đấu, bao gồm 47 tàu ngầm tại vùng biển Baltic, Biển Đen - 28, Biển Bắc - 23). (http://flot.com/upload/blog/4b3//ShPubl2_21.jpg) "M-201" ở Polyarny ... (http://flot.com/upload/blog/4b3//ShPubl2_21.jpg) Trong các năm chiến tranh các hạm đội (cả thời kỳ là Hạm đội Biển Bắc, còn từ năm 1944 cả Hạm đội Baltic) chỉ được tăng cường tàu ngầm lớp "M" được đóng mới tại các "vùng hẻo lánh" của đất nước (chủ yếu là - Sormovo) - tất cả đóng được 58 tàu ngầm; Hạm đội Biển Bắc còn được bổ sung tàu từ các chuyến di chuyển liên-đại dương một đơn vị tàu ngầm lớp "S" từ không gian chiến trường Thái Bình Dương (hành quân di chuyển sang 5 tàu ngầm, bị chìm 1), cũng như chuyển giao một đơn vị tàu ngầm Hải quân Anh (3 tàu). Trong cuộc chiến tranh với Nhật Bản, Hạm đội Thái Bình Dương còn bị mất một tàu ngầm (L-19), hy sinh tháng Tám năm 1945 trong eo biển La Perouse, có lẽ do vấp mìn. Tới mốc 9 tháng 5 năm 1945 các hạm đội có: Baltic - 32 chiếc, Biển Bắc - 22 chiếc, Biển Đen - 28 chiếc tàu ngầm, nhưng hầu hết trong số đó không còn khả năng chiến đấu do thiệt hại không thể phục hồi và sự hao mòn quá mức của phần vật chất (vào cuối năm 1944, hoàn toàn sẵn sàng chiến đầu có: tại biển Baltic - 9 tàu ngầm, Biển Đen - 13 tàu ngầm). Căn cứ sửa chữa-phục hồi, đặc biệt tại các hạm đội Baltic và Biển Đen, nằm trong tình trạng rất nguy kịch. Lý do thì mọi người đều biết. Và nếu trong thời kỳ đầu chiến tranh (1941-1943), các tàu ngầm của Hải quân Liên Xô có phẩm chất chiến đấu không thua kém tàu ngầm Đức, thì trong các giai đoạn tiếp theo do không có nâng cấp các cơ cấu hiện có, chúng rõ ràng đã bắt đầu tụt hậu so với các tàu ngầm của Đức quốc xã và so với cả tàu ngầm của "đồng minh" Mỹ (lúc đó đã triển khai các chương trình lớn xây dựng mới tàu ngầm và thực hiện một bước nhảy vọt về chất lượng theo xu hướng này). (http://www.u-boat.co.uk/gallery/g7torpedo.jpg) Ngư lôi G7 đang được nạp lên tàu ngầm Đức Quốc xã U-94 trong chiến tranh Thế giới II. (http://www.u-boat.co.uk/ww-ll-u-boat--history.html) Sự tụt hậu thể hiện trước hết về trang bị các công cụ vô tuyến điện tử mới (tàu ngầm Mỹ từ năm 1943 đã có đài radar tiềm vọng ngắm bắn, tàu ngầm Đức - từ 1944 đã có thiết bị radar tìm kiếm, tàu ngầm nước ta không hề có những thứ đó). Các tàu ngầm Đức loạt cuối còn có hệ thống "snorkels" (đảm bảo cho sự làm việc của động cơ diesel dưới nước), sử dụng ngư lôi tiêu âm, tàu của chúng ta không được trang bị các vũ khí như vậy. (http://flot.com/upload/blog/737//ShPubl2_22.jpg) Ống thở của động cơ diesel bố trí gần kính tiềm vọng tàu ngầm U-3008 (http://ru.wikipedia.org/wiki/%D0%A8%D0%BD%D0%BE%D1%80%D0%BA%D0%B5%D0%BB%D1%8C) Chiều sâu lặn, tốc độ bơi tư thế ngầm của các tàu ngầm chúng ta không còn đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của chiến tranh. Vấn đề có tính nguyên lý trong sự phát triển chiến thuật của các tàu ngầm "Kriegsmarine", tất nhiên, là việc sử dụng nhóm các tàu ngầm vào cuộc tấn công đoàn công voa - cái gọi là chiến thuật "Đàn Sói" (số đơn vị trong "đàn" lên đến một tá), và việc xây dựng các tàu ngầm-chở dầu chuyên dụng ("những con bò sữa"). Tàu ngầm kiểu XIV có khả năng đến các vùng sâu vùng xa của các đại dương để tiếp dầu cho 5-7 tàu ngầm, cũng như tiếp đạn ngư lôi và đạn pháo binh. Năm 1944, người Đức đã đặt cho tàu ngầm U-798 kiểu XVII K loại động cơ diesel "Kreyslauf" (động cơ, có khả năng hoạt động theo chu trình khép kín, nghĩa là không cần lấy ôxy trong khí quyển). (http://army.lv/image.php?img=29126.jpg&maxw=800&maxh=800) Nạp đạn cho dàn phóng bom nhiều nòng «Hedzhehog» trên khu trục hạm «Zhivutchi» (trước 1940 là «Fairfax», trước 1944 là «Richmond»). Khu trục hạm này thuộc kiểu «Town» được người Mỹ đóng năm 1917, vào tháng 8 năm 1944 được chuyển giao cho Hạm đội Biển Bắc sử dụng tạm thời từ tay người Anh và tính vào sự bồi thường chiến phí với người Ý. (http://army.lv/image_descr.php?id=29126&s=0&pid=0) Cần kể thêm 1 loại vũ khí chống tàu ngầm mới - "Hedzhehog" và "Squid" (thiết bị phóng bom phản lực nhiều nòng), cũng như sự thiếu vắng các thủy thủ tàu ngầm Liên Xô, thậm chí thiếu những thủy thủ có kinh nghiệm dù nhỏ chống lại các tàu sân bay, ví dụ như tàu sân bay tấn công và tàu sân bay chống tàu ngầm (vào tháng 9 năm 1945, Mỹ đã có trong biên chế Hải quân tất cả 77 tàu sân bay). Vì vậy trong tinh thần cạnh tranh rõ rệt, trong cuộc đối đầu tiếp theo của các cựu "đồng minh" (Mỹ, Anh và phía bên kia là Liên Xô), trước chính phủ Liên Xô và Bộ chỉ huy tối cao lực lượng Hải quân vào cuối cuộc chiến đã đặt ra các vấn đề - không phải là xây dựng lại cái có trước chiến tranh, mà xây dựng mới một hạm đội hùng mạnh (bao gồm cả lực lượng tàu ngầm), có khả năng đảm bảo trong tương lai gần, việc phòng thủ chiều sâu trong các vùng biển lân cận, và trong tương lai - phổ biến các lợi ích quốc gia trong các đại dương Thế giới. 27 Tháng 7 năm 1945, khi phát triển khái niệm đã được đề ra, J. Stalin nói: "Nhân dân Liên Xô muốn có một lực lượng hải quân của chính mình đủ lớn và hùng mạnh hơn. Nhân dân chúng tôi sẽ có các tàu chiến mới và các căn cứ mới". (http://flot.com/upload/blog/d7e//ShPubl2_23.jpg) I.S.Yumashev, A.N.Kosygin, I.V.Stalin, A.N.Poskrebyshev và đô đốc F.S.Oktyabrsky trên tuần dương hạm "Molotov". 11 tháng 9 năm 1947. (http://kortic.borda.ru/?1-10-0-00000029-000-150-0) Quá trình phục hưng và tăng cường lực lượng cho hạm đội, tất nhiên đòi hỏi đất nước đã bị chiến tranh tàn phá kiệt quệ phải có định hướng phân bổ các nguồn tài nguyên khổng lồ và những nỗ lực to lớn. Bài phát biểu "nổi tiếng", thực chất - 1 bài phát biểu khiêu khích của Winston Churchill tại Fulton (Mỹ), ngày 6 tháng 3 năm 1947, có mặt Tổng thống Mỹ H.Truman, người tuyên bố bắt đầu cuộc chiến tranh lạnh chống lại "ách độc tài cộng sản" chỉ là sự trình bày chính thức cho Chiến tranh Lạnh, một loại chất xúc tác trong quá trình triển khai cuộc chạy đua vũ trang mới. Bởi tới giai đoạn đó các nhà lãnh đạo Liên Xô đã từ lâu biết đến các mưu toan của Mỹ và Anh xây dựng trong mùa xuân năm 1945 các đơn vị chiến đấu chống Liên bang Xô Viết từ số tù binh quân sự Đức và các cựu quân nhân Quân đội Giải phóng Nga của Vlasov, biết Biên bản ghi nhớ №329 của chính phủ Mỹ ngày 04 tháng 9 năm 1945, ra lệnh cho Bộ Chiến tranh lựa chọn 20 mục tiêu quan trọng nhất ở Liên Xô để ném bom hạt nhân chiến lược (nếu tới tháng 8 năm 1945 Mỹ có hai đầu đạn nguyên tử sẵn sàng chiến đấu, thì tới đầu năm 1946 họ đã có gần 200). ....... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 30 Tháng Bảy, 2012, 12:02:21 pm (tiếp)
Đó là lý do tại sao vào giữa năm 1948 xuất hiện kế hoạch "Chariotir" của Mỹ, tính theo hai giai đoạn: giai đoạn 1 (30 ngày - 133 quả bom nguyên tử trên 70 thành phố của Liên Xô) và Giai đoạn 2 (trong hai năm - thêm 200 bom nguyên tử và 250 ngàn tấn chất nổ thông thường). Sau đó, đến kế hoạch cho "Fleetwood", còn bộ tham mưu Không lực Hoa Kỳ cho ra đời kế hoạch tác chiến của mình SAK EVP1-49 trình Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân (JCS) ngày 21 Tháng 12 năm 1948. Kế hoạch đó đề xuất bắt đầu chiến tranh với Liên Xô trước ngày 01 Tháng 4 năm 1949, vì theo tính toán của họ, Liên Xô có thể chế tạo xong bom nguyên tử của nó không sớm hơn quãng những năm 1952-1955. Trong tháng 7 năm 1948, chính phủ Công Đảng Anh đã "bật đèn xanh" cho việc triển khai trên lãnh thổ đất nước mình 60 máy bay ném bom B-29 mang vũ khí hạt nhân. Đến cuối những năm 195x, Mỹ đã có hơn 3.400 căn cứ ở nước ngoài. (http://flot.com/upload/blog/500//ShPubl2_24.jpg) Mỹ đã lập kế hoạch thế nào để chinh phục và "dân chủ hóa" Liên Xô. (http://nechtoportal.ru/zarubezhnaya-istoriya/kak-ssha-planirovali-pobedit-i-demokratizirovat-sssr.html#more-2015) Theo tuyên bố của các quan chức quân sự phương Tây "phần then chốt trong các kế hoạch của Stalin là sự tăng tốc nhanh chóng sản xuất ra tất cả các loại vũ khí, ông ấy cho rằng cuộc xung đột giữa nước Nga Xô Viết và phương Tây sẽ diễn ra trong 10-15 năm tới. Trong thời gian này, Liên Xô sẽ tích lũy được ưu thế quân sự" (ông cho rằng các ngành công nghiệp quân sự của Mỹ và Anh sẽ nhanh chóng chuyển sang sản xuất các sản phẩm của thời bình). Kinh nghiệm của Đức quốc xã (và kinh nghiệm này xứng đáng được quan tâm) cho thấy việc xây dựng lực lượng tàu ngầm hùng mạnh là biện pháp nhanh nhất và "có giá rẻ" nhằm tăng sức mạnh hải quân của quốc gia. Theo đánh giá của Ch.Nimitz Đô đốc Tổng tư lệnh Hải quân Mỹ (1946), "Tàu ngầm trong quá trình chiến tranh trên Thái Bình Dương chính là chi phí sinh lời nhất của lực lượng hải quân Mỹ". (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/e/e2/USS_Archerfish%3B0831110.jpg) USS_Archerfish (SS-311), năm 1944 đã đánh chìm tàu sân bay Shinano của Nhật bằng 6 đạn ngư lôi tại tọa độ 32°0′B 137°0′Đ. (http://www.navsource.org/archives/08/08311.htm) Ngay từ cuối chiến tranh, Stalin đã ra lệnh cho các chuyên gia hải quân chuẩn bị một kế hoạch mười năm (đến 1956) đóng tàu hải quân, các hợp phần chính trong số đó phải là lực lượng tàu sân bay-thiết giáp hạm (линейно-авианосные; battlecarrier) hùng mạnh và tàu ngầm. Tất nhiên đã có thông tin xác định về phạm vi của "Cuộc chiến khổng lồ giành Đại Tây Dương" giữa Anh, Mỹ và phía bên kia - nước Đức, nên Stalin đã suy nghĩ bằng các khái niệm quy mô lớn "trên đất liền, trên trời và trên biển". Như ta đã biết, Đức quốc xã khi khởi đầu Chiến tranh thế giới thứ Hai (01.09.1939) trong đội ngũ của họ có tất cả 57 tàu ngầm (61 tàu còn đang đóng dở), nhưng trong quá trình chiến tranh đã đóng được 1131 tàu ngầm. "Fuehrer của dân tộc Đức" A. Hitler và đoàn tùy tùng của ông ta trong giai đoạn quan trọng của "Trận chiến giành Đại Tây Dương" ngày càng nghiêng theo sự khẳng định của Đại đô đốc (Großadmiral) K.Denitz rằng trận chiến này, nhất định sẽ chiến thắng, nếu nước Đức có thể tập trung cùng một lúc trong các khu vực hàng hải của đối phương không ít hơn 300 tàu ngầm. Stalin (theo tin đồn trong giới thẩm quyền) có ý đồ đóng 3.000 tàu ngầm; tiếp theo con số này giảm xuống dưới 1200. Những "ý đồ" như thế đã nhiều lần được điều chỉnh giảm dần nhằm phát triển các đề án tàu ngầm mới chất lượng cao. Trong mọi trường hợp, đề xuất mà Bộ TTM Hải quân trình bày trong năm 1945, đã được xem xét và phê duyệt trong dạng rút gọn, chuyển đổi thành kế hoạch mười năm đóng tàu quân sự, chương trình dự kiến đến 1.1.1956 trong biên chế Hải quân, trừ các lực lượng tàu mặt nước lớn (thiết giáp hạm, tàu sân bay, tàu tuần dương và tàu khu trục ), sẽ có 500 tàu ngầm diesel (loại lớn - 168, loại trung bình - 204, loại nhỏ - 123). Dù sao, trong giai đoạn 1945-1947 Hải quân Liên Xô đã nhận được 10 (trong số 30 phải được chia và 165 dự định đánh chìm) tàu ngầm hạm đội Đức (bao gồm 4 tàu ngầm loại sê ri IXC, 4 tàu ngầm cỡ trung VIIC và một tàu ngầm loại nhỏ sê ri XXIII), ngoài ra còn "mua" công nghệ tàu ngầm mới nhất sê ri XXVI với một động cơ Walter duy nhất, cũng như được bồi thường chiến phí 8 bộ phận tàu ngầm sê ri XXI. Phù hợp với Hiệp định Potsdam năm 1945, khi phân chia của các hạm đội Đức và Ý, Liên Xô tuyên bố lấy một phần ba biên chế tàu còn lại của chúng; phía Liên Xô trong cuộc bàn cãi việc phân chia chiến lợi phẩm (các đô đốc N.Kuznetsov, G.Levchenko) chỉ khai thác được 1 phần đòi hỏi của mình. (http://flot.com/upload/blog/ef4//ShPubl2_25.jpg) Tại hội nghị Postdam. Giữa — Nguyên soái Liên Xô G.К.Zhukov và Đô đốc Hạm đội Liên bang Xô Viết N.G.Kuznetsov. 1945. (http://militera.lib.ru/bio/bulatov_vn01/text.html) Từ biên chế lực lượng hải quân nước ngoài trong giai đoạn 1946-1955 mà Hải quân Liên Xô đã nhận được 11 tàu ngầm: một tàu ngầm "Lembit" (của Estonia cũ), hai tàu ngầm Anh (trả về Anh vào năm 1950), 3 tàu ngầm Rumani (các tàu ngầm thả thủy lôi "Rekuinul" và "Marsuinul" - chúng được loại bỏ làm phế liệu năm 1950, tàu ngầm "Delfinul" - chuyển giao cho Hải quân CHND Rumani vào năm 1951), 5 tàu ngầm nhỏ của Ý, được loại bỏ làm phế liệu năm 1955. Trong danh sách này người ta chỉ quan tâm các tàu ngầm Đức mới sê ri XXI, những ý tưởng kỹ thuật chính của nó được vay mượn bởi cả người Anh, người Mỹ, và các tổng công trình sư thiết kế của Liên Xô, cũng như một loạt các tàu ngầm thử nghiệm sê ri XXVI với động cơ chu trình kín kiểu "Walter". Năm 1955, tác giả (khi đó là sĩ quan trên tàu ngầm S-170 đề án 613) đã có cơ hội lên thăm chiến lợi phẩm tàu ngầm Đức sê ri XXI (http://ru.wikipedia.org/wiki/%D0%9F%D0%BE%D0%B4%D0%B2%D0%BE%D0%B4%D0%BD%D1%8B%D0%B5_%D0%BB%D0%BE%D0%B4%D0%BA%D0%B8_%D1%82%D0%B8%D0%BF%D0%B0_XXI) (nhà máy "Sudomekh", Leningrad). Sự quan tâm của các thủy thủ tàu ngầm Liên Xô với chiếc tàu ngầm này là thành thực. (http://flot.com/upload/blog/4b0//ShPubl2_26.jpg) U-Boot Type XXI in Detail. (http://www.ipmsstockholm.org/magazine/2003/11/detail_uboot_xxi_01.htm) Ngay cả khi xem xét ngắn hạn, cũng thấy rõ rằng một số lớn các ý tưởng thiết kế và cải tiến kỹ thuật khi phát triển các tàu ngầm đề án 613 của chúng ta được lấy từ sê ri XXI của người Đức. Hãy nhớ những điều sau. Thực tế các hệ thống lặn và nổi lên, khí áp cao đều như nhau. Khác: tất cả các đường ống dẫn được chế tạo bằng sắt và đưa ra ngoài vỏ bền, từ đó tạo ra hiệu ứng "không gian thoáng". Nhưng vì thế nên ta thấy rõ ràng những chiếc tàu ngầm này trước kia được thiết kế cho "vòng đời ngắn", không bao gồm chi phí sửa chữa vận hành quy mô (lớn, trung bình, v.v.). Động cơ hành trình tư thế nổi 2 MAN-M6 với công suất 2 ngàn mã lực gợi nhớ đáng kể đến động cơ diesel 37-D của chúng ta (kiến trúc, máy móc và thiết bị điều khiển), ngoại trừ - chúng thuộc loại "thực hiện mở", ít tiếng ồn khi làm việc, minh chứng cho công nghệ thực hiện của họ rất cao. Động cơ diesel của chúng ta có tiếng ồn đến nỗi tiếng gầm của chúng, đặc biệt khi sạc ắc quy, đôi khi cách khoảng 20 dặm vẫn nghe được. Máy nén diesel "Junkers" là bản sao chính xác máy nén DK-2 của chúng ta (hay đúng hơn, việc sao chép này là từ mẫu đầu tiên), gyrocompass "Anshiuts" với hệ thống treo điện từ của yếu tố cảm biến hồi chuyển nổi bật ở sự tương đồng với "Kurs-3" của chúng ta (trên tàu ngầm Liên Xô đóng trước chiến tranh thường sử dụng gyrocompasses hiệu GU- 4 với hệ cáp treo rotor của con quay hồi chuyển, rất nguy hiểm trong trường hợp có sự thúc đẩy bất đối xứng lên con quay hồi chuyển). Dễ thấy nhất là những ý tưởng kỹ thuật riêng, chưa có trong thiết kế các tàu ngầm của chúng ta. Đặc biệt, các tàu ngầm Đức sê ri XXI có trong khoang thứ nhất (http://www.ipmsstockholm.org/magazine/2003/11/detail_uboot_xxi_02.htm) một thiết bị tự động nạp đạn vào các ống phóng ngư lôi (nạp tất cả 6 ống phóng chỉ đòi hỏi 15 phút). (http://flot.com/upload/blog/420//ShPubl2_27.jpg) Dự trữ nổi của nó là 18% (tàu ngầm của chúng ta 28-30%), do đó ngay cả trong tư thế hành trình tuần dương các tàu ngầm sê ri XXI trông như nửa chìm, như thể sẵn sàng "lặn xuống nước". Trong khi đó, tiêu chuẩn chiến thuật về lặn khẩn (từ tư thế tuần dương sang tư thế lặn xuống chiều sâu tiềm vọng) trên tàu của người Đức và trên tàu của chúng ta là như nhau - 45 giây. ........ Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 31 Tháng Bảy, 2012, 04:37:04 pm (tiếp)
Trên các tàu ngầm sê ri XXI trong các khoang ở có hệ thống cabin cho sỹ quan và hạ sỹ quan, mà thủy thủ tàu ngầm của chúng tôi chỉ có thể mơ ước. Thật thú vị là trên các tàu ngầm Đức không có chính trị viên về mặt chính thức, nhưng trợ lý chính của thuyền trưởng tàu ngầm kiêm nhiệm chức trách của sĩ quan Gestapo. Với sự quan tâm rất lớn chúng tôi, các thủy thủ tàu ngầm - "khách tham quan”, đã nghiên cứu các thiết bị và hệ thống riêng biệt, bao gồm: - hệ thống "snorkel" (phục vụ cho động cơ diesel làm việc dưới nước), những sự khác biệt về thiết kế của nó so với hệ thống RDP của chúng tôi; - thiết bị tính toán thiên văn–địa cầu, đơn giản hóa và giảm nhẹ công tác tính toán tọa độ của tàu ngầm theo sự quan sát các thiên thể trên bầu trời (trên những chiếc tàu ngầm của chúng tôi, thiết bị tính toán tương tự như vậy là máy tính "Vega" phải gần 10 năm sau mới có). Chúng tôi thấy rõ ràng, xét trên nhiều điểm mới về kỹ thuật, các công trình sư thiết kế người Đức đã vượt trước tư tưởng trong nước của chúng ta. Theo ý kiến của chúng tôi, đó là những điểm sau: hệ thống bắn ngư lôi không tạo bọt, thiết bị phóng nhiễu chống radar của đối phương ("đám mây khí"), thiết bị nén (xung hóa) điện vô tuyến trên kênh liên lạc “tàu ngầm - bờ", và những điểm khác nữa. Đồng thời, người Đức (những bậc thầy vĩ đại về phương diện đổi mới kỹ thuật) trong những năm chiến tranh đã thụt lùi vô vọng trước người Anh và người Mỹ trong lĩnh vực radar. Có lẽ vì thế mà các nhà phát triển của chúng tôi đã phải tìm đường đi của mình trong hướng này. Trên các tàu ngầm Mỹ thời kỳ Thế chiến II đã đưa vào sử dụng thành công hệ thống điều hòa không khí (hệ thống vi khí hậu); trên các tàu ngầm của chúng ta, các máy điều hòa không khí cầm tay kiểu "ghép mảnh" chỉ xuất hiện 20 năm sau đó (điều tạo ra những khó khăn không thể tưởng tượng được cho đội ngũ thuyền viên khi các tàu ngầm diesel Liên Xô bắt đầu hoạt động trong các khu vực cận xích đạo). Trên những con tàu của Đức sự "xa xỉ" này cũng không có. (http://flot.com/upload/blog/64d//ShPubl2_28.jpg) Tàu ngầm «Mingo”, 17.6.1945. Radar phòng không SS phiên bản những năm sau này đã thay thế ăng-ten hình chữ nhật SD hình bầu dục lớn, như thể hiển trên hình. Ăng-ten nâng-hạ bây giờ được sử dụng cho liên lạc đường dài và thay thế ăng-ten thanh, vốn trước đó được sử dụng để lặp SD. – Sách “Tàu ngầm Mỹ từ đầu thế kỷ XX đến Chiến tranh Thế giới thứ II. L.B.Kascheev (http://lib.rus.ec/b/320042/read#t20). Hoàn toàn không làm mất đi giá trị của các công trình sư thiết kế và các nhà đóng tàu của chúng ta, những người đã đề xuất nhiều ý tưởng và các giải pháp kỹ thuật độc đáo của mình, chúng ta phải thừa nhận rằng trong những năm học ở trường phổ thông họ cũng biết "ghi danh trong số những học sinh xuất sắc". Tuy nhiên, để khẳng định điều đó trong thời đại "đấu tranh của các quyền ưu tiên với những kẻ theo chủ nghĩa thế giới không cội rễ" ít nhất cũng không an toàn. Tàu ngầm Mỹ thời kỳ đó về thực chất chúng tôi không biết, còn trong những năm đối đầu sau đó thì các đặc tính kỹ-chiến thuật của chúng, nếu chúng trở nên nổi tiếng, luôn được cố gấng hạ thấp hoặc che dấu cẩn thận. Khi cố gắng soi sáng toàn diện các chương trình đóng tàu đầu tiên sau chiến tranh (ít nhất là một phần "tàu ngầm"), bất kỳ nhà nghiên cứu nào cũng sẽ phải đối mặt với sự cực kỳ rối rắm của vấn đề. Các nhà lãnh đạo chính trị và quân sự cấp cao thời kỳ đó không có ý kiến đồng nhất, chặt chẽ về phương hướng và quy mô của chương trình, điều đó rốt cuộc đã ảnh hưởng đến phần “tàu ngầm", hợp phần này mất một thời gian ở trạng thái "con ghẻ". Dân ủy Hải quân, và sau đó là Bộ trưởng Hải quân, đô đốc N.G.Kuznetsov, người phó của ông đô đốc L.M.Galler và tư lệnh Hạm đội Biển Bắc (sau này - Tổng tham mưu trưởng Hải quân) đô đốc A.G.Golovko - tất cả đều xuất thân từ lính tàu mặt nước – họ bảo vệ sự cần thiết phải xây dựng một hạm đội tàu mặt nước hùng mạnh (thiết giáp hạm, tàu sân bay, tuần dương hạm và khu trục hạm). Stalin nghiêng về phía các tuần dương hạm hạng nặng. Phó Tư lệnh Tối cao (sau này là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng) nhà chỉ huy quân sự nổi tiếng trong Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại, nguyên soái G.K.Zhukov chiếm một vị trí rất tiêu cực: chúng ta cần xe tăng (rất nhiều xe tăng!), chứ không phải là những chiếc tàu "tốn kém và vô dụng". (http://flot.com/upload/blog/a4e//ShPubl2_29.jpg) G.Zhukov và N.Kuznetsov. (http://kortic.borda.ru/?1-10-0-00000314-000-90-0) Tiện thể cần lưu ý rằng "cuộc chiến tranh vô hình của các tướng lĩnh và các đô đốc” («война лампасов и нашивок») vẫn còn tiếp tục rất lâu cho đến tận trước khi quân đội sụp đổ cùng với Liên bang Xô Viết. Nhưng! Tại giai đoạn lịch sử này tính kinh tế đã chiến thắng - hay đúng hơn, sự lựa chọn theo tiêu chí "chi phí - hiệu quả". Nền kinh tế Liên Xô không thể gồng mình trong một thời gian ngắn để xây dựng một hạm đội các tàu sân bay, thiết giáp hạm và tuần dương hạm, dẫu chỉ là tiệm cận từ xa tới hàng chục tàu thuộc các lớp này, những tàu chiến mà Mỹ và Anh đã có. Hãy biết lượng sức mình: chi phí xây dựng (Kế hoạch đóng tàu hải quân 1946-1955) của 4 tàu tuần dương hạng nặng đề án 82 và 30 tàu tuần dương hạng nhẹ đề án 68 bis là 13,80 tỷ rúp, còn chi phí xây dựng 25 tàu ngầm đề án 611, 204 tàu ngầm đề án 613 và 123 tàu ngầm nhỏ, tức là 352 tàu các loại, lên đến 8,04 tỷ rúp. Ngoài ra trình độ công nghệ và lực lượng hiện có cho phép “nướng tàu như nướng bánh tráng". Điểm nhấn trong các cuộc tranh luận học thuật "xây dựng cái gì?" là việc quay sang phía I.V. Stalin ngày 20 tháng 11 năm 1951 của Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Hải quân, Ủy viên Tổng Hội đồng quân sự Hải quân, Ủy viên BCHTU Đảng Cộng sản Liên Xô đô đốc S.E.Zakharov. Con át chủ bài trong trò chơi này là lời xác nhận một thực tế rõ ràng: "trong vòng 5 năm qua, Hải quân đã không nhận được bất kỳ tàu ngầm nào được đóng mới sau chiến tranh mà tiếp cận được về dữ liệu kỹ-chiến thuật với các yêu cầu hiện đại". (http://flot.com/upload/blog/0a9//ShPubl2_30.jpg) Đô đốc Zakharov Semion Egorovitch. (http://www.victory.mil.ru/lib/books/memo/egorov/26.jpg) Sau bức thư của S.E.Zakharov đầu năm 1952 tiếp đến quyết định của Đoàn Chủ tịch Xô Viết Tối cao và Hội đồng Bộ trưởng về sự sửa đổi căn bản chương trình đóng tàu ngầm. Cuối cùng, chương trình đóng tàu ngầm đầu tiên dự kiến (trong một hình thức có phần tóm tắt) sẽ xây dựng một lực lượng tàu ngầm lớn (tàu ngầm cỡ lớn - 40, cỡ trung bình - 200, cỡ nhỏ - 125). Stalin lên tiếng rõ ràng, phản đối số lượng lớn các đề án. Trong các giai đoạn tiếp theo, điều kiện này bị vi phạm, nó hoàn toàn không tạo ra khả năng xây dựng một hạm đội tinh gọn (như người ta thường nói - "cân bằng hóa") có sức sẵn sàng chiến đấu cao, được đảm bảo toàn diện, và điều đó dẫn đến sự phân tán các nguồn lực lớn. Trong thời kỳ hậu Stalin việc thực hiện chương trình đóng tàu bị ảnh hưởng nhiều bởi sự thù địch truyền thống của G.K.Zhukov với hạm đội và chủ yếu là các quyết định duy ý chí không mạch lạc của Nikita Khrushchev (Bí thư thứ nhất Uỷ ban Trung ương ĐCSLX và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng). Khi nỗ lực "giảm giá" nội dung hạm đội trong các điều kiện ưu tiên các chương trình tên lửa hạt nhân, Khrushchev đã cắt giảm việc đóng tàu và chuẩn bị đội ngũ cán bộ cho hạm đội tàu mặt nước (vì nó mà ông có được "tình yêu" đặc biệt của các thủy thủ quân sự), bằng cách đó gián tiếp bật "đèn xanh" cho công cuộc xây dựng tàu ngầm, tất nhiên là tàu ngầm diesel : tàu ngầm hạt nhân khi đó còn ở "buổi bình minh" phôi thai. Cái chết của thiết giáp hạm "Novorossisk" năm 1955, là động lực ban đầu cho quá trình này. Rõ ràng, không phải vô ý mà trong chuyến thăm bằng đưởng biển tới nước Anh (1956), Nikita Khrushchev đã đề nghị người Anh mua tàu tuần dương mới nhất "Ordzhonikidze" tại thời điểm ấy, con tàu là đối tượng quan tâm ráo riết của các cơ quan tình báo hải quân nước ngoài. Tổng cộng, theo mệnh lệnh của các nhà dân chủ-giả hiệu (Sắc lệnh của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô ngày 25 tháng 3 năm 1958) đã chuyển sang phế liệu 240 tàu thuyền hải quân, gồm có 6 khu trục hạm, 12 tàu ngầm, 7 tàu đổ bộ, 30 tàu quét mìn, 89 tàu chở dầu, cũng như 24 thiết giáp hạm chưa hoàn thành, các tuần dương hạm hạng nặng đề án 82, tuần dương hạm hạng nhẹ đề án 68 bis, hơn 370 tàu chuyển sang niêm cất. Từ cú đánh đó hạm đội và ngành đóng tàu hải quân một thời gian dài không thể phục hồi. Việc thực hiện chương trình đóng tàu lớn (phần tàu ngầm diesel) được thực hiện theo các thời kỳ (xem bảng dưới). Ghi chú. Tên trong dấu ngoặc kép - theo thuật ngữ của Hải quân Mỹ và NATO. CÔNG CUỘC XÂY DỰNG CÁC TÀU NGẦM DIESEL CỦA HẢI QUÂN XÔ VIẾT (phân theo thời kỳ) (http://flot.com/upload/blog/d2c//ShPubl2_31.jpg) .......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 01 Tháng Tám, 2012, 09:37:39 pm (tiếp)
HẠM ĐỘI TÀU NGẦM DIESEL TRONG GIAI ĐOẠN ĐẦU CỦA CHIẾN TRANH LẠNH (1947-1956) Trong giai đoạn "đầu tiên" kể trên trong 1chương trình lớn, Hải quân Liên Xô đã phát động công cuộc xây dựng ồ ạt các tàu ngầm diesel thuộc ba đề án lớn - 611, 613 và 615. Do đề án 613 là "đầu đàn" và lớn nhất, tác giả sẽ đặc biệt dừng lại ở đề án này một cách chi tiết hơn, còn các đề án khác (và tiếp theo) chỉ làm rõ các đặc tính chính của chúng. Tàu ngầm cỡ trung đề án 613 (lớp "Whiskey") Giới thiệu tóm tắt: các tàu ngầm cỡ trung xây dựng trước chiến tranh thuộc các đề án "TS" và "S" cuối những năm 1930 thực tế đã đạt đến giới hạn nâng cấp, và vào năm 1939 người ta đã thảo ra nhiệm vụ thiết kế kỹ thuật cho đồ án thiết kế tàu ngầm lượng choán nươc 500-600 tấn, năm 1942 phòng thiết kế SKB-18 đã phát triển 1 đề án phác thảo tàu ngầm 770 và 820 tấn. Sau khi trục vớt 1 tàu ngầm Đức U-250 bị đắm, Dân ủy nhân dân Hải quân N.G.Kuznetsov đã quyết định chấm dứt làm việc theo đồ án thiết kế đã bắt đầu và "vào năm 1945 bắt tay vào thiết kế một loại tàu ngầm độ choán nước cỡ trung bình và trình lên tôi xem xét". Năm 1946, sau khi bản đồ án nghiên cứu được phê duyệt thiết kế phác thảo, thì từ năm 1947 SKB-18 bắt tay làm đồ án kỹ thuật. (http://flot.com/upload/blog/fae//ShPubl2_32.jpg) Tàu ngầm đề án 613 - tàu ngầm đề án đầu tiên sau chiến tranh. Được xây dựng tại các nhà máy "Red Sormovo" (Gorky, Nizhny Novgorod) từ năm 1950, "Marty" (Nikolaev, Ukraine) từ năm 1952, "Baltic" (Leningrad, St Petersburg) từ năm 1955, № 199 (Komsomolsk-na-Amur) từ năm 1954. Các tổng công trình sư - đại tá hải quân V.N.Peregudov, Ya.E.Evgrafov (1946-1950) và Z.A.Deribin (từ 1950) (http://flot.com/upload/blog/928//ShPubl2_33w.jpg) Vladimir Peregudov, năm 1950. Yacob Evgrafovitch Evgrafov, tổng công trình sư thiết kế tàu ngầm đề án 613 (1946-1950), Zosim Aleksandrovitch Deribin, tổng công trình sư thiết kế đề án tàu ngầm 613 (từ 1950), đề án 641. Tàu ngầm đầu đàn gia nhập biên chế Hải quân tháng 12 năm 1951. Chi phí tàu ngầm này, là chi phí tàu ngầm "rẻ" nhất: tàu đầu đàn - 70 triệu rúp, các tàu sản xuất hàng loạt - 17 triệu rúp (giá của năm 1950, khi tiền lương trung bình hàng tháng của công nhân lành nghề ở trần 200 rúp tính chuyển đổi sang cải cách tiền tệ năm 1961). Nhiệm vụ chiến thuật của tàu ngầm đề án này là: hoạt động trên các tuyến đường biển, tiêu diệt các tàu chiến và tàu vận tải, hoạt động gần các căn cứ của kẻ thù và các khu vực biển gần đó, và tiếp theo - chiến đấu chống lại các tàu ngầm của đối phương. Sự phát triển của các phương tiện chiến đấu chống tàu ngầm đòi hỏi cải thiện phẩm chất tác chiến của các tàu ngầm mới. Những hoàn cảnh này buộc phải tính đến những bài học của chiến tranh, kinh nghiệm của ngành đóng tàu ngầm trong và ngoài nước, đặc biệt là Đức. (http://flot.com/upload/blog/209//ShPubl2_34.jpg) Bố trí bên trong tàu ngầm diesel đề án 613 (http://www.atrinaflot.narod.ru/1_submarines/04_dpl_613/0_613_1.htm): 1 - ống phóng ngư lôi 533 mm; 2 - phao điện thoại báo tình huống khẩn cấp; 3 - động cơ điện hành trình chế độ tiết kiệm PG-103; 4 - các bình khí nén; 5 - động cơ diesel 37D; 6 - pháo 57 mm CM-24-ZIF (đã bỏ); 7 - cửa xả khí động cơ 37D; 8 - Antenna đài trinh sát vô tuyến "VAN"; 9 - Antenna đài trinh sát VTDT "Nakat"; 10 - Kính tiềm vọng tấn công; 11 - la bàn từ tính GON-23M; 12 - pháo 25-mm 2M-8 (gỡ bỏ); 13 - cabin 4 chỗ sỹ quan; 14 - Ắc quy 46SU; 15 - bánh lái ngang; 16 - sonar "Tamir-5L; 17 - hầm xích; 18 - sitec điều chỉnh chênh mớn dọc; 19 - sitec chứa nước ngọt; 20 - sitec thay thế ngư lôi (khi bắn); 21 - sitec chứa nhiên liệu bên trong vỏ bèn của tàu; 22 - kính tiềm vọng phòng không (thiên đỉnh); 23 - hầm chứa không khí trục RDP nâng-thả được; 24 - ăng-ten radar "Flag"; 25 - buồng ở thủy thủ trưởng; 26 - máy nén diesel DK-2; 27 - sitec chứa nhiên liệu bên ngoài vỏ bền; 28 - động cơ điện đẩy chân vịt PG-101; 29, 39, 40, 41, 42 - các sitec dằn chủ; 30 - bánh lái đứng; 31 - chân vịt; 32 - bộ ổn định; 33 - máy nén chạy điện tạo không khí áp suất cao; 34 - cabin radar; 35 - la bàn chính; 36 - cabin đôi sỹ quan; 37 - ngư lôi 533 mm dự trữ; 38 - bình khí nén bắn ngư lôi. Các cải tiến kỹ thuật, so với tàu ngầm trước chiến tranh, thể hiện trên loại tàu ngầm này là: - liên kết lắp ráp bằng mối hàn vỏ bền và vỏ nhẹ, thực hiện bằng thép không gỉ mới SKHL-4 (СХЛ-4) có giới hạn chảy cao (nghĩa là độ đàn hồi cũng cao), thực hiện các ngăn ắc quy dưới dạng các hình số "8" dựng đứng, cho phép tăng đáng kể thể tích có ích bên trong vỏ bền của tàu (các loạt tàu ngầm trước chiến tranh có thân tàu gắn bằng đinh tán); - sử dụng thiết bị RDP (vận hành động cơ diesel dưới nước), cho phép tiến hành những chuyến đi dài và nạp bổ sung ắc quy ở độ sâu kính tiềm vọng; - hệ thống bắn ngư lôi không tạo bọt (GS-30, và sau đó GS-70); - lắp đặt các thiết bị radar "Flag" quét vòng, đài định hướng âm mới (TSPS) "Phoenix" và sonar (GAS) "Tamir-5L", hiện đại về mặt chiến thuật; - áp dụng hệ thống tái sinh không khí mới (RDU sử dụng tấm oxy cô đặc), được đưa vào sử dụng từ năm 1951; - hệ thống điều chỉnh độ chênh mớn không gây ồn (dùng không khí); - loại các van thông biển Kingston khỏi sitec dằn chủ (trừ nhóm giữa), để giảm đáng kể thời gian lặn khẩn cấp; - áp dụng rộng rãi hệ giảm chấn cho các cơ cấu máy móc; - sử dụng hệ thống thủy lực chung của tàu thủy (loạt tàu ngầm trước chiến tranh sử dụng hệ thống không khí, ngụy trang mình trước sự bám đuổi của hệ thống phòng thủ chống tàu ngầm (PLO); - lắp đặt bầu che sonar chuyên dụng tại phần cánh đuôi ổn định ngang, làm tăng đáng kể chất lượng thủy động lực học của thân tàu. (http://flot.com/upload/blog/da4//ShPubl2_35.jpg) Tàu ngầm S-277 ở trạng thái có thể đã được trang bị lại với bầu che GAS MG-25 "Yakhta" (ảnh từ bộ lưu trữ của Ilya Kurganov). (http://military.tomsk.ru/blog/topic-203.html) Tàu ngầm được đảm bảo: tính chống chìm trong tư thế nổi khi nước ngập bất kỳ khoang nào, cũng như khả nămg nổi lên khẩn cấp từ độ sâu đang làm việc bằng cách thổi khí nén áp suất cao trực tiếp vào ballast chủ (áp suất khí lên tới 200 atm). Các tàu ngầm đề án 613 thuộc loại lớn nhất nếu so với các tàu ngầm nước ngoài thuộc phân lớp "trung bình" (biển), và có các đặc điểm kỹ-chiến thuật như sau: Độ choán nước: tư thế nổi - 1050, tư thế lặn - 1340 m3 (dự trữ nổi 27,8%). Chiều sâu lặn: làm việc - 170, tối đa - 200, nghiêm trọng - 240, phá hủy - 280 m (để so sánh, tàu ngầm tham gia trong chiến tranh có độ sâu lặn 80-90 m, còn tàu ngầm Đức mới nhất - 100-150 m). Hai động cơ hành trình tư thế nổi (động cơ diesel Kolomna 37-D, công suất mỗi chiếc 2000 mã lực - hp) đảm bảo tốc độ đến 18 hải lý; hai cụm ắc quy và hai động cơ điện chính PG-101 1350 mã lực đảm bảo tốc độ đi ngầm dưới nước tới 14 hải lý (cao hơn gần gấp 2 lần so với tàu ngầm cũ); hai động cơ hành trình chế độ kinh tế (các động cơ "lén"), PG-103 đảm bảo phạm vi đi biển tư thế ngầm tối đa đến 350 dặm với tốc độ 2,8 hải lý. Kíp thủy thủ - 56 người (trong đó có 11 sĩ quan). Thời gian bơi tự lập (hành trình không phải tiếp tế bổ sung vật chất): theo đặc điểm kỹ thuật - 30 (thực tế đã lên đến 40) ngày. Vũ khí: a) ngư lôi - 4 ống phóng phía mũi và 2 ống phóng ngư lôi phía đuôi tàu, cơ số đạn ngư lôi - 12 (hoặc nếu mang mìn - 22 trái). Việc bước vào tấn công ngư lôi được đảm bảo bởi thiết bị phóng ngư lôi tự động TAS-L2 kiểu-bánh răng-hình nón, với việc nạp tự động từ xa dữ liệu hiện tại vào đạn ngư lôi: góc mở, góc ngoặt hướng tới mục tiêu, những điểm tự bản thân nó có sự mới lạ; b) pháo - 1 súng tự động hai nòng 22 mm tại bệ súng phần mũi tàu; một súng 2x57 mm bán tự động gắn trên sân phía đuôi (trên những chiếc tàu ngầm đầu tiên của loạt này - 1 súng 1 nòng 100 mm/57 cal). (http://flot.com/upload/blog/d45//ShPubl2_36.jpg) Tàu ngầm đề án 613 WHISKEY-II với pháo tự động đằng mũi 2M-8, Baltic, những năm 1950 (ảnh N.G.Maslovatyi, Tàu ngầm đề án 613 "Con tàu và chiến trận, St-Petersburg, 2002) Tiếp theo, đầu tiên người ta bỏ pháo đuôi rồi sau đó bỏ pháo mũi còn kiến trúc thân tàu được lấy dạng thuôn dòng; - thiết bị RDP (động cơ diesel làm việc dưới nước), trước đây thực hiện trên một hầm kéo xếp di động hút khí và thải khí qua sử dụng. Tiếp theo, bây giờ đường ống dẫn khí RDP được dẫn ra một hình "nấm" cố định dạng khe hở tại phần đuôi của mui tàu (ограждение рубки). Thiết bị đảm bảo cho tàu tốc độ 5-6 hải lý ở độ sâu 7-8 m khi biển sóng cấp 5-6, nhưng nó đòi hỏi phải có tài nghệ lớn để điều khiển bộ ổn định bánh lái phương ngang và sự quan tâm đặc biệt đến công tác trực hành trình để tránh sụp xuống độ sâu đầy rẫy những hiểm họa diệt vong của con tàu; - đài radar "Flag" quét vòng và trạm tìm kiếm "Anker" dựa trên các ăng-ten kéo-xếp di động đảm bảo: định hướng đạo hàng ở khoảng cách đến 40 dặm, phát hiện các loại tàu mặt nước - lên đến 10 dặm, phát hiện sự làm việc của các radar "nước ngoài" - ở khoảng cách lên đến 30 dặm; - đài radar định hướng âm thụ động "Phoenix" trên nền tảng cơ sở thủy âm tốt, sonar thụ động-chủ động tần số cao có ăng-ten xoay "Tamir-5L" đảm bảo: phát hiện các tàu mặt nước ở khoảng 100-120 kabelt, phát hiện tiếng ồn của các tàu ngầm diesel khi chạy động cơ điện - đến 5-6 kabelt (tàu ngầm nguyên tử khi chạy GTZA - 25-30 kabelt), thông tin liên lạc thủy âm - đến 60 kabelt; - liên lạc vô tuyến đảm bảo: trên hướng "tàu ngầm-bờ" sử dụng thiết bị tác động cực nhanh “Akula” thông qua ăng-ten kéo xếp di động VAN; trên hướng truyền dẫn vô tuyến “bờ-tàu ngầm” sử dụng truyền dẫn sóng dài trong tư thế bơi ngầm. Các đổi mới kỹ thuật là: tổ chức 3 khoang "sinh tồn" (1, 3 và 7) với các thiết bị tạo khả năng đảm bảo cho đội ngũ thuyền viên thoát khỏi tàu ngầm đang chìm bằng phương pháp giải nén (thông qua cửa nắp tháp chỉ huy hoặc ống phóng ngư lôi) từ độ sâu đến 100 m (thực tế - 60 m). Trong giai đoạn 1951-1957 đã đóng xong 236 tàu ngầm đề án này. Ngoài ra, các bộ phận và các bán thành phẩm của 21 tàu ngầm cũng được gửi đến CHND Trung Hoa để lắp ráp thành phẩm tại nhà máy đóng tàu Trung Quốc. Trong những năm tiếp theo, đã đóng tiếp được 75 tàu ngầm với các đặc điểm chi tiết chuyên ngành hẹp khác nhau (các đề án 640, 644, 665 và những đề án khác). (http://flot.com/upload/blog/9b8//ShPubl2_37.jpg) Tàu ngầm đề án 613 trên biển (Hạm đội Thái Bình Dương) Sê ri tàu ngầm này đã lập một "kỷ lục" trong lịch sử tất cả các hạm đội hải quân trên thế giới. Trong "cơn sốt ngành đóng tàu", một số nhà chiến lược cầm quyền riêng rẽ đã nghĩ đến việc tăng số lượng tàu ngầm hạ thủy lên đến 1200. Trong giai đoạn "cao trào" căng thẳng nhất thời 1954-1956 riêng nhà máy hùng mạnh nhất “Red Sormovo", lần đầu tiên áp dụng phương pháp lắp ráp các phân đoạn thân tàu với "nhân" của các khoang bằng các cơ cấu máy và phụ tùng, đã hạ thủy 35-40 tàu ngầm mỗi năm, còn trong chế độ và đã buộc chế độ tăng cường có thể đưa công suất lên đến 150 tàu ngầm mỗi năm (theo các nguồn khác, có thể lên đến 300). Tổng số tàu ngầm được đóng ở nhà máy "Red Sormovo” là 146, sau đó chuyển hướng năng lực đóng tàu sang cho các đề án tàu ngầm khác. Trong giai đoạn 2 của chương trình (1957-1965) một phần các tàu ngầm đã đóng của đề án này (43 trong 236) được chuyển giao cho các lực lượng hải quân quốc gia "hữu nghị" thuộc "phe xã hội chủ nghĩa" hoặc "thế giới thứ 3" (Ba Lan, Bulgaria, Albania, Ai Cập và Indonesia), một phần được nâng cấp hiện đại hóa sang đề án 613-V nhằm tăng thời gian đi biển độc lập lên 1,5 lần. Hai tàu ngầm đã được trang bị lại dành cho Bộ Nghề Cá và được biết đến dưới các tên gọi "Severyanka" và "Slavianka". Tàu ngầm đề án này chứng tỏ phẩm chất kỹ thuật khá tin cậy và có sức sinh tồn tốt: 40 năm phục vụ trong biên chế các hạm đội tàu ngầm đề án này chỉ bị mất duy nhất 1 tàu - S-178 vào năm 1981, và nguyên nhân do sơ suất của kíp thủy thủ, mà không phải vì lỗi thiết kế và chế tạo, với họ người ta phải nói những lời vô cùng cám ơn riêng.
Sau khi hoàn thành công đoạn lắp ráp phân xưởng tại nhà máy "Sormovo Đỏ", các tàu ngầm được chuyển đi trên phương tiện vận tải chuyên dụng (trong phiên bản đã sẵn sàng về kỹ thuật) và khi hạ thủy được "thả" bằng dầm đỡ xuống nước, tàu chìm hẳn xuống dưới mặt nước rồi lại nổi lên trong tư thế "Vanka-vstanka” (“Vanka hãy đứng dậy”). (http://flot.com/upload/blog/0fe//ShPubl2_38w.jpg) Pháo đài hải quân vinh quang "Sormovo Đỏ" (http://sormovo.riverships.ru/ks.htm) Sau khi kiểm tra và hoàn tất trang bị, các tàu ngầm nằm trên các khoang-dok vận tải (còn vào dịp lũ mùa xuân - "bó thành cặp”) được kéo trên sông Volga xuống cảng Astrakhan, từ đó tự băng qua biển Caspian tới căn cứ thử nghiệm của nhà máy ở Baku (Azerbaijan). Với việc hoàn thành chương trình thử nghiệm căng thẳng của nhà máy và quốc gia tại Baku, các tàu ngầm thực hiện chuyến đi sang cảng Astrakhan, tại đây chúng lại được cẩu lên khoang dok, được ngụy trang cẩn thận, rồi kéo lên phía bắc trên sông Volga, trên hệ thống kênh Mariinsky và đi tiếp: hoặc theo kênh Belomor-Baltic tới Hạm đội Biển Bắc, hoặc theo hồ Ladoga và sông Neva – tới Hạm đội Baltic. Từ đó mà ta thấy được "tầm nhìn xa thiên tài" của Piotr Đại đế và Stalin. Ở giai đoạn này, các thông báo liên lạc từ bờ được ngừng lại, các chiến sỹ tàu ngầm hiên ngang chỉ được nhìn Đất Mẹ Nga từ dưới tấm bạt che. Khi đã tới phương Bắc, các tàu ngầm có ý định chuyển giao cho Hạm đội Thái Bình Dương sẽ đậu ở các bến tàu, nơi chúng được hàn tấm "áo băng" và lắp các chân vịt gang phá băng. Sau đó, các con tàu trong thành phần đoàn caravan Bắc Cực đi theo tàu phá băng thành đoàn thám hiểm có mục đích đặc biệt (EON) tới vịnh Providenie và biển Bering rồi tiếp tục đến Petropavlovsk-Kamchatsky. Tùy thuộc vào điều kiện băng giá, một số đoàn caravan tạm dừng dịp nghỉ đông tại Tiksi, một số "trượt qua" vì việc tìm đường đi đến cả năm trời. Tất nhiên, tất cả các chuyến di chuyển đó xảy ra trong những điều kiện xa vời với điều kiện của những chuyến du lịch. Do loạt tàu đóng sớm nhất và số lượng lớn nhất này là cơ sở thiết kế xuất phát cho việc xây dựng các tàu ngầm diesel các đề án khác "tươi mới" hơn, điều thích hợp là soi tỏ những yếu tố không kém phần quan trọng, như yếu tố tiện ích ở cho con người và đảm bảo sinh hoạt thường ngày cho thủy thủ đoàn tàu ngầm. Trong những năm đó, người ta đang tuyên truyền khẩu hiệu "tất cả vì lợi ích của con người". Nhược điểm chính của tàu ngầm đề án 613 là tính tiện ích ở khá nghèo nàn; điều đó đặc biệt quan trọng khi mà các tàu ngầm đã được lên kế hoạch từ trước sẽ hoạt động ở các vùng xa xôi trên không gian chiến trường phương Bắc và Viễn Đông, xuât phát từ các vịnh biển hoang vu và các bến cảng xa xôi. (http://flot.com/upload/blog/b76//ShPubl2_39.jpg) Chỉ có thuyền trưởng tàu ngầm, thuyền phó chính trị của ông và trưởng ngành tác chiến 5 có cabin-hộp bút (http://alex-anv.livejournal.com/305700.html) kích thước 1,7x0,8 m (và khoảng cách giữa chúng); các sĩ quan còn lại ẩn mình trên các divan nhỏ và các lưng ghế lật. Cá nhân các thủy thủ ("số hiệu chiến đấu") nói chung không có chỗ chính thức để nghỉ ngơi. ....... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 02 Tháng Tám, 2012, 03:44:32 pm (tiếp)
Vấn đề phát sinh đặc biệt khi phải bố trí dư người trên tàu (bộ chỉ huy đơn vị, sỹ quan ban tham mưu, cán bộ các phòng ban chính trị, những người làm việc đôi trên cùng vị trí và các thủy thủ học việc). Đã có những mệnh lệnh nghiêm ngặt cấm số lượng người đi trên tàu vượt quá 10% biên chế thủy thủ đoàn. Điều kiện vi khí hậu vẫn còn tồn tại nhiều điều xa mong muốn. Phương tiện thanh lọc hóa học không khí (tái sinh) không hiệu quả, và có nguy cơ cháy nổ cao. Thiếu điều hòa không khí trong khoang tàu (trên những con tàu ngầm Mỹ điều hòa không khí hoạt động một cách an toàn kể từ đầu những năm 1940) dẫn đến sự héo mòn vì nhiệt độ và làm suy yếu sức khỏe của các thuyền viên. Điều này thực dễ hiểu: con tàu được thiết kế để hoạt động trong các vùng biển lân cận tương đối lạnh. Và những vấn đề này thể hiện rõ nét ngay lập tức khi các tàu ngầm diesel đi xa vượt ra ngoài giới hạn các khu vực hoạt động tác chiến định trước của nó và bắt đầu hoạt động tại các khu vực cận xích đạo (ví dụ, trong khu vực hải lưu Gulf Stream và Kuroshio). Khi đi biển trong mùa đông tại các vùng biển "bản địa" xung quanh, trong các khoang ngư lôi hai đầu mút tàu sự cách ly nhiệt thân tàu được bao phủ bằng băng, còn ở các vùng biển phía Nam, nhiệt độ môi trường xung quanh trong các khoang "lạnh" nhất lên tới +50-55 ° C ở độ ẩm 90-95%. Trong bầu không khí của "nhà tắm hơi" và "không khí mục rữa" những chiến sỹ tàu ngầm dũng cảm đã bơi một thời gian dài và thực hiện nhiệm vụ huấn luyện và nhiệm vụ chiến đấu. (http://flot.com/upload/blog/c5e//ShPubl2_40.jpg) Kết cấu một số mui tàu ngầm xây dựng dựa trên đề án 613 Công tác chăm sóc y tế không đáp ứng các điều kiện cuộc sống thường nhật và làm việc của kíp thuyền viên. Các sỹ quan quân y trên tàu (trong giai đoạn ban đầu, tương tự như với các tàu ngầm thời kỳ trước chiến tranh - y sỹ, sau đó bác sĩ phẫu thuật có trình độ học viện quân y) không hề có cabin riêng, không có nơi điều trị cho thuyền viên bị bệnh. Tất cả "tài sản" nghề nghiệp của họ đóng gói trong vali phẫu thuật và hộp thuốc gắn ở mỗi khoang. Để phẫu thuật (chấn thương và bụng) người ta phải sử dụng bàn ăn trưa trong cabin-sinh hoạt chung (thường trong thời gian phẫu thuật tàu ngầm lặn sâu xuống, còn khi không có khả năng lặn - bàn phẫu thuật được cố định theo kiểu "trong bão tố"). "Theo luật đểu cáng" hầu như tất cả các ca mổ ruột thừa xảy ra trong các điều kiện trên biển, chứ không phải trong căn cứ. Tất cả những điều này dẫn đến tỷ lệ ốm đau cao của các thuyền viên (chủ yếu là dưới các dạng bệnh phong hàn-bệnh phổi, bệnh ngoài da-exzema và chấn thương). Nhưng tất cả những "than phiền về sinh hoạt thường nhật" không thể đến được các nhà thiết kế: các tàu ngầm mới nhất được thiết kế phù hợp với các yêu cầu kỹ-chiến thuật trên một bán kính hạn chế, còn các tàu ngầm diesel cỡ trung bình phù hợp với chính sách địa chính trị của quốc gia đã đi ra khoảng không gian hoạt động của các đại dương thế giới. Sự khác biệt rất lớn. Cần phải công bằng - tính tiện ích ở trên các tàu ngầm Đức cũng không tốt hơn. Còn yêu cầu sạch sẽ - tệ hơn. Vì chính sự công bằng đó, cần lưu ý rằng tàu ngầm Mỹ đến cuối năm 1944, ngoài điều hòa không khí trong khoang còn có các máy tự động pha cà phê, lò nướng bánh ... máy sản xuất kem (3-4 loại). (http://flot.com/upload/blog/51f//ShPubl2_41.jpg) Tàu ngầm cỡ trung đề án 613 có khả năng điều khiển tốt và ít tiếng ồn trong tư thế bơi ngầm, đạt các tính năng hàng hải tốt trong tư thế đi nổi (hành trình tuần dương). Trong điều kiện có bão, các tàu ngầm này "chiến thắng" tương đối tốt trên biển đang có sóng cấp 6-7, trên đại dương sóng cao 10-12 đôi khi đến 15 mét, tuy nhiên khi sóng xô tới, những khối lượng nước khổng lồ ập xuống cầu điều hướng tháp chỉ huy, đe dọa phá hủy và nhấn chìm xuống nước các thuyền viên. Có những trường hợp khi bão quá mạnh đã "quét sạch" đúng nghĩa mui tàu, và khi về tới căn cứ những thuyền trưởng can trường ra lệnh neo bến, đồng thời họ chui ra khỏi cửa nắp tháp chỉ huy giống hệt những chú ngỗng chui ra khỏi giỏ. Để tránh cái chết cho sỹ quan trực hành trình tầng thượng nên trong các điều kiện ở nhà máy người ta hàn đường ray cứng để gắn các dây đai an toàn (mượn từ các thuyền viên tàu cứu hỏa). Các tàu ngầm "cắt" sóng trên "mõm cắt", tiếp nhận vào mình toàn bộ sức nặng của đòn đánh, đặc biệt là trong các biển có sóng dốc và ngắn: các biển Barentsev, Chukotka, Bering và Okhot. Tàu điều khiển kém khi bơi trong biển có bão ở chế độ RDP gặp sóng tới và đặc biệt là các đợt sóng dồn nhau liên tiếp. Sau cái chết của tàu ngầm đại dương K-129 năm 1968, đã có mệnh lệnh của Tổng tư lệnh Hải quân cấm chế độ RDP với các tàu ngầm đang thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu. Trong khi thời hạn phục vụ theo kế hoạch là 20-25 năm, các tàu ngầm đề án 613 đã ở trong đội ngũ đến 30-35 năm, sau đó đưa vào bảo quản. Năm 1991 trong quân số bảo quản đã có đến 45 đơn vị, sau đó hầu hết trong số chúng được bán ra nước ngoài làm phế liệu. Cần lưu ý rằng chính những chiếc tàu ngầm ấy là trường học thực tế để huấn luyện và đào tạo đội ngũ sĩ quan chỉ huy tàu ngầm của hầu như tất cả sê ri tiếp theo, tàu ngầm diesel cũng như tàu ngầm hạt nhân thế hệ 1 và 2. (http://flot.com/upload/blog/121//ShPubl2_42.jpg) Phó đô đốc Anatoly Antonovitch Rulyuk (http://www.spbvmire.ru/?id=10§ion=show&sid=4) Từ ngày 30 tháng 12 năm 1961 lữ đoàn tàu ngầm số 50 thuộc Hạm đội Thái Bình Dương của chuẩn đô đốc Yu.Rulyuk (6 tàu ngầm dự án 613) được đưa vào Indonesia, trong tháng 8 năm 1962 tàu ngầm S-292 và S-236 đã được triển khai trên các vị trí chiến đấu với nhiệm vụ tiêu diệt các tàu và phương tiện nổi của Hà Lan. Sau 5 ngày tiến ra chiếm lĩnh vị trí, các con tàu được trả về cảng Bitung sau đó đến Surabaya, nơi họ tiếp tục đào tạo các thủy thủ đoàn Indonesia. Một năm sau khi bắt đầu "cuộc thám hiểm", sau khi chuyển giao các tàu ngầm cho Hải quân Indonesia, những chiến sỹ tàu ngầm của chúng ta đáp tàu "Vladivostok" trở về Tổ quốc. Theo vô số phát biểu của các sỹ quan các tàu ngầm nguyên tử tuần dương, các thuyền trưởng-tàu ngầm diesel ("những con bò rừng") là các nhân vật có uy tín không thể chối trước các thế hệ trẻ các thuyền trưởng "tàu ngầm nguyên tử" (như các chiến sỹ tàu ngầm Hạm đội Biển Bắc vẫn thích tự diễn tả về mình). Bản sửa đổi đề án 613 dưới tên mã 644 đã trở thành tàu ngầm mang tên lửa hành trình đầu tiên, và tàu ngầm S-144 (đề án 613 nguyên bản) vào tháng 10 năm 1957 tại trường bắn thử nghiệm Novaya Zemlya đã tiến hành xạ kích tác chiến đạn ngư lôi T-5 mang đầu đạn hạt nhân đầu tiên. Tàu ngầm cỡ lớn đề án 611 (Zulu) Được xây dựng trong các năm 1952-1955 tại các nhà máy đóng tàu biển - nhà máy "Sudomekh" (Leningrad) và Molotovsk (Severodvinsk). Tổng số tàu đã đóng 28 chiếc. Tổng công trình sư thiết kế - S.A.Egorov. Đây là các tàu ngầm cỡ lớn đầu tiên kể từ sau Chiến tranh Thế giới II của Hải quân Liên Xô. Việc thiết kế chúng bắt đầu ngay sau chiến tranh; phần nào vay mượn các ý tưởng kỹ thuật từ các tàu ngầm Đức sê ri XXI; về tổng thể, các giải pháp kỹ thuật khác khá ít so với đề án 613 (lắp khung ngang cứng từ bên ngoài, mui tàu với cầu điều hướng đài chỉ huy hành trình được đóng kín và bảo vệ tránh sóng tràn một cách chuyên dụng, vỏ nhẹ của tàu trở nên thuôn dòng thủy động học hơn, 3 chân vịt). (http://flot.com/upload/blog/637//ShPubl2_43w.jpg) S.А.Egorov, tổng công trình sư tàu ngầm các đề án 611, 641. Tàu ngầm đề án 611. Tàu ngầm đề án 611 ("Zulu") có độ choán nước 1900/2350 m3, ba trục diesel-điện lắp đặt trong cùng một sơ đồ: máy diesel 37-D - động cơ điện PG-101 - trục truyền động - chân vịt đẩy. Tốc độ tư thế nổi lên đến 18, tốc độ đi ngầm -16 hải lý. (Khi cả 3 trục truyền đồng thời làm việc). Hành trình tự chủ - 60 ngày (75 ngày - trong thực tế). Tầm bơi xa tư thế nổi khi ở tốc độ kinh tế 9,2 hải lý - 22 ngàn dặm, tư thế ngầm tốc độ 5 hải lý - 440 km. 6 ống phóng ngư lôi mũi cùng 4 ống phóng ngư lôi đuôi với cơ số 12 đạn ngư lôi. Nhờ các đặc điểm cấu trúc và đặc tính khối lượng-kích thước, đề án này vào năm 1955 đã được lựa chọn để lắp đặt thiết bị phóng tên lửa đạn đạo (ПУ БР). (http://flot.com/upload/blog/5f9//ShPubl2_44w.jpg) Bảng kỷ niệm S.P.Коroliov, đặt tại xí nghiệp Sevmash. Tên lửa đạn đạo chế tạo trong nước đầu tiên đặt trên tàu hải quân R-11FМ. (http://www.nkj.ru/archive/articles/10079/) (http://flot.com/upload/blog/37d//ShPubl2_45.jpg) Sơ đồ bố trí tên lửa đạn đạo trên tàu ngầm đề án 611. Một trong những tàu ngầm trên được trang bị lại để trở thành con tàu mang tên lửa đạn đạo đầu tiên trên thế giới R-11 FM với tầm bay xa đến 350 km (nguyên mẫu tên lửa lục quân "Scud"). Sự kiện phóng tên lửa đạn đạo từ tàu ngầm đầu tiên trên thế giới đã diễn ra ngày 16 tháng 9 năm 1955 từ tàu ngầm B-67 Hạm đội Biển Bắc, dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng thiếu tá hải quân F.I.Kozlov. Sau đó, trên cơ sở đề án V 611, đã xây dựng đề án chỉnh lý AV 611. Lần phóng tên lửa hành trình đầu tiên là tháng 10 năm 1957 – thủy thủ đoàn tàu ngầm B-64 đề án 611-P (thuyền trưởng V.A.Evdokimov), lần phóng đầu tiên tên lửa đạn đạo từ tư thế bơi ngầm dưới mặt nước diễn ra ngày 10 tháng 9 năm 1960 - Tàu ngầm B-67 (Thuyền trưởng – V.K.Korobov). (http://flot.com/upload/blog/ea6//ShPubl2_46.jpg) Việc phóng thành công tên lửa từ trên biển, dường như "khiêu khích" Hải quân Mỹ từ bỏ tên lửa "Regulus" và thúc đẩy các nhà phát triển đẩy nhanh chương trình "Polaris." Năm tàu ngầm đề án 611-AV (thuật ngữ của NATO "Zulu-5 ') được xây dựng như là vật mang tên lửa đạn đạo hạt nhân R-11 FM và có hai hầm phóng theo phương thẳng đứng bố trí trong phần mui tàu. Bốn tàu ngầm khác được chuyển đổi trang bị để phục vụ chương trình nghiên cứu hải dương học MGG (Năm Địa vật lý Quốc tế) và được đặt tên công khai "Lira", "Mars", "Vega" và "Orion". (http://flot.com/upload/blog/b2d//ShPubl2_47w.jpg) Năm 1979. Ấn Độ Dương. Thay đổi kíp thủy thủ tàu ngầm B-90 Hạm đội Thái Bình Dương (đề án 611) từ tàu nghiên cứu hải dương OIS Leonid Sobolev. Các tàu ngầm mang ngư lôi (không chuyển đổi trang bị) của sê ri này về cơ bản không phải là phân lớp thành công trong quá trình thực hiện chương trình đóng tàu vì vậy sau đó đã bị "gạt ra" cho một đề án triển vọng hứa hẹn hơn là đề án 641 ("Foxtrot"). Tuy nhiên, phân lớp này đã đóng góp công sức của nó vào lịch sử hạm đội tàu ngầm diesel đại dương của Liên bang Xô Viết. Ví dụ, tàu ngầm B-72 từ ngày 27/11/1958 đến 25/03/1959 đã thực hiện chiến dịch hành quân từ Petropavlovsk-Kamchatsky đến Nam Cực (vĩ tuyến 60 ° Nam). Thủy thủ đoàn, chỉ huy bởi thuyền trưởng thiếu tá hải quân R.A.Golosov và nhóm các nhà nghiên cứu khoa học Liên Xô trong 120 ngày đi biển đã thực hiện thành công các nhiệm vụ được giao (trong đó có 232 lần lặn trên hải trình 20 ngàn dặm không có tai nạn). Cũng trong năm 1958, hai tàu ngầm của Hạm đội Biển Bắc B-75 và B-80 đã thực hiện một chuyến đi biển 75 ngày dọc theo Iceland, Canada và Hoa Kỳ tới bờ biển Brazil (cắt qua đường xích đạo). Từ tháng 10 năm 1959 đến Tháng 3 năm 1960, nhóm tàu ngầm của Hạm đội Biển Bắc đề án 611 B-90 của P.T.Zenchenko và B-88 của N.A.Myshkin (chỉ huy cao cấp trong chuyến đi là đại tá hải quân B.A.Veshtort) trong sự đảm bảo của tàu quét mìn "Mikhail Kalinin" và tàu chở dầu "Vilyuisk" đã đi tới Kamchatka xuyên qua Đại Tây Dương đi vòng quanh châu Phi, qua Ấn Độ Dương – đi vòng quanh Úc (23.000 dặm trong 150 ngày). Đó là chuyến đi biển đầu tiên và duy nhất có hành trình liên đại dương của các tàu ngầm vòng quanh nước Úc. Kết quả của những chiến dịch đi biển trên đã cho phép khai thác những thông tin giá trị về chế độ hàng hải, về khả năng chống tàu ngầm của hải quân các nước NATO, và, tất nhiên - đưa ra được những khuyến nghị cho các nhà thiết kế và chế tạo các đề án tàu ngầm mới, bao gồm cả tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân. Đến năm 1990, tất cả các tàu ngầm đề án 611 đã được chuyển sang làm phế liệu. Tàu ngầm cỡ nhỏ đề án 615 (Quebec) (http://flot.com/upload/blog/a21//ShPubl2_48w.jpg) Abram Samuilovich Kassatsier. Tàu ngầm đề án 615 tại căn cứ. Được thiết kế dành riêng cho hoạt động chiến đấu trong các khu vực ven biển thuộc Biển Baltic và Biển Đen. Tổng công trình sư - A.S.Kassatsier. Trong quá trình phát triển đề án này, các kỹ sư tiếp tục công việc bắt đầu trước chiến tranh, trên cơ sở tàu ngầm thử nghiệm đề án 95. .......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 03 Tháng Tám, 2012, 04:47:01 pm (tiếp)
Động cơ diesel khi hành trình trong tư thế ngầm hoạt động theo chu trình khép kín với việc sử dụng oxy lỏng và chất hấp thụ hóa học dạng rắn. Ý tưởng của động cơ vay mượn từ đề án "Kreyslauf" của người Đức. Tàu ngầm thử nghiệm đầu tiên của loạt này được đóng tại nhà máy "Sudomekh" (Leningrad) và gia nhập biên chế Hải quân năm 1953. Việc sử dụng "động cơ duy nhất" cho phép so sánh với tàu ngầm tốt hơn loạt XV trước chiến tranh thì tốc độ bơi ngầm tăng hơn 2 lần, tầm bơi xa - 6 lần. Tàu ngầm để án 615 có các thông số kỹ-chiến thuật sau đây: độ choán nước - 460/540 m3; chiều sâu làm việc - đến 160 m; thủy thủ đoàn - 30 người; trang bị vũ khí: ống phóng ngư lôi - 4 (cơ số đạn ngư lôi – 8. Trang bị khác giống hệt đề án 613. Đặc tính cơ bản của tàu ngầm là ở GEU (thiết bị năng lượng chính): thiết bị ba trục với hai máy diesel chính ở 2 mạn hoạt động riêng biệt và một máy giữa phục vụ hành trình kinh tế dài hạn. Máy diesel phát ra trên trục truyền công suất đến 1.800 mã lực. Việc thử nghiệm lâu dài của tàu ngầm thí điểm cho phép đạt tới mức tốc độ tư thế nổi – hơn 17 hải lý, tư thế ngầm – đến 15,5 hải lý. Vấn đề lớn nhất là oxy lỏng, được đặt trong các "túi" chất dẻo bên ngoài vỏ bền và chịu áp lực nước từ bên ngoài, cực kỳ nguy hiểm do tính dễ bay hơi và dễ cháy nổ khi tiếp xúc với dầu. Để loại trừ vấn đề này đã cải tiến thay thế oxy lỏng sang superoxide natri dạng hạt rắn (NaO2 - Sodium superoxide - надперекись натрия), chất trong khoang tàu. (http://flot.com/upload/blog/638//ShPubl2_49.jpg) Anh hùng Liên bang Xô Viết Valentin Evghenevitch Sokolov với vợ và cháu gái (tàu ngầm đề án 615 do ông chỉ huy trong đoạn đường khởi đầu). Odessa. 2006 Việc đóng các tàu ngầm theo đề án điều chỉnh được thực hiện ở nhà máy "Sudomekh." Tổng số tàu đã đóng xong là 30 đơn vị. Tuy nhiên, đề án trên trong khai thác sử dụng không thể coi là loại đáng tin cậy vì nguy cơ cháy nổ cao. Tại các hạm đội, các tàu ngầm loại này có biệt danh là "bật lửa" do thường xuyên xảy ra các vụ nổ dẫn đến thương vong. Trong một số vụ như vậy các vách ngăn dính đầy theo nghĩa đen các mảnh thân thể thủy thủ đội động cơ. Tác giả đã trực tiếp ở trên tàu ngầm đề án này. Khoang động cơ chật hẹp đến mức các thao tác viên buộc phải thực hiện các chức năng của họ tại bàn điều khiển GEU gần như nửa nằm trước các thiết bị. Cuộc đấu tranh sinh tồn trên các tàu ngầm loại này là vô cùng khó khăn. Các tàu ngầm đi biển hộ tống đoàn công voa. Thường người ta quan sát thấy có trường hợp sau 2-3 giờ ra khơi tàu bỗng mở hết tốc lực "chạy như phải bỏng" về căn cứ và câu trả lời chỉ 1 nghĩa rất rõ ràng: "trên tàu bị cháy". Tất cả các tàu loại trên đã bị thu hồi làm phế liệu trong những năm 1970 với sự ra đời của các tàu ngầm hạt nhân thế hệ 1. Tàu ngầm cỡ trung đề án 617 ("Weil") Đầu tiên ta tóm tắt lịch sử của tàu ngầm với một động cơ duy nhất. Người đầu tiên có thể làm được điều đó trong thực tế là một kỹ sư Nga S.K.Dzhevetsky. Tàu ngầm "Người đưa thư" của ông với một động cơ xăng bốn xi-lanh (2x130 mã lực) được ra đời năm 1908, có độ choán nước 146 tấn, 4 óng ngư lôi 533 mm, tầm bơi xa 350 dặm với tốc độ kinh tế và 28 dặm tốc độ toàn tải, tốc độ tối đa tư thế nổi 11,4 hải lý, tốc độ tối đa tư thế ngầm 6.2 hải lý.. Tàu ngầm tiếp theo khác là R-1 của kỹ sư S.A.Bazilevski ra đời năm 1938. Động cơ REDO của ông (động cơ tái tạo duy nhất có mục đích đặc biệt - РЕДО -регенеративный единый двигатель особого назначения) là động cơ diesel công suất 800 mã lực, làm việc với sự bổ sung oxy trong lượng khí thải ra. Tàu ngầm này khi thử nghiệm đã cho tốc độ bơi ngầm 10 hải lý trong vòng 15 giờ. Tuy nhiên, công việc tiếp theo của đề án bị gián đoạn bởi chiến tranh. (http://flot.com/upload/blog/8ac//ShPubl2_50w.jpg) Sergei Аleksandrovitch Bazilevsky (http://lib.rus.ec/a/182727), tác giả ý tưởng động cơ REDO (РЕДО). V.S.Dmitrievsky, tác giả thiết kế kết cấu động cơ duy nhất ED-KHLI (ЕД-ХПИ) (hy sinh ngày 23 tháng 11 năm 1942 khi xảy ra vụ cháy trên tàu ngầm). Từ năm 1939, kỹ sư V.S.Dmitrievsky (OKB-196 thuộc NKVD) đã làm việc trên một dạng động cơ duy nhất khác - ED-KHPI (động cơ duy nhất với chất hấp thụ hóa học là đá vôi). Từ năm 1941, đề án tàu ngầm 95 đã thực hiện các thử nghiệm quy mô lớn ở biển Caspian, và mặc dù hy sinh năm 1942, tàu ngầm M-401 đã tiến hành được 74 chuyến đi biển, vượt qua 2.800 dặm, bao gồm 360 dặm tư thế ngầm. Đề án tàu ngầm tiếp theo với động cơ ED-VVD (ЕД-ВВД - единый двигатель с выхлопом в воду дизельный - động cơ diesel xuất khí thải vào trong nước) đã được thử nghiệm từ 1951 đến 1953 và được thừa nhận đã thất bại, bởi vì vệt bong bóng nước để lại sau tàu làm lộ con tàu. Tháng 7 năm 1946, theo quyết định của Chính phủ Liên Xô "Về những biện pháp tiếp tục phát triển công việc trong lĩnh vực chế tạo tàu ngầm với một động cơ duy nhất”, SKB-18 bắt đầu thiết kế một đề án tàu ngầm Liên Xô hoàn toàn mới, đề án 617. Vì tôn trọng sự thật lịch sử cần chú ý đến công tác dài hạn và hiệu quả (1945-1947) của Văn phòng Thiết kế Hải quân tại Berlin của L.A.Korshunov và của chi nhánh Văn phòng Thiết kế Hải quân tại thành phố Blankenburg. (http://flot.com/upload/blog/e79//ShPubl2_51w.jpg) Leonid Alekseevitch Korshunov, kỹ sư-đại tá hải quân, chủ nhiệm phòng thiết kế Hải quân tại Berlin. Aleksei Aleksandrovitch Antipin, chủ nhiệm chi nhánh phòng thiết kế Hải quân tại Blankerburge. Tàu ngầm đề án 617 được đóng năm 1954 tại nhà máy "Sudomekh" một chiếc duy nhất. Tổng công trình sư - A.A.Antipin. Để thử nghiệm con tàu được chuyển tới căn cứ hải quân Liepaja (Latvia) và cất giữ trong một khu vực đặc biệt được bảo vệ nghiêm ngặt. Số mạn trên thân tàu không có, tàu đi ra khu vực nước sâu nhất trong biển Baltic chỉ vào ban đêm. Tàu ngầm có một động cơ duy nhất kiểu "Walter" - tuabin hơi, hoạt động theo một chu trình khép kín với việc sử dụng hydro peroxide. Ý tưởng kỹ thuật của động cơ vay mượn từ dòng tàu ngầm Đức XXVI. Một tàu ngầm dòng này V-1407 vào năm 1945 bị đánh chìm bởi thủy thủ đoàn của nó, nhưng được người Anh trục vớt lên, họ xây dựng theo mẫu của nó hai tàu ngầm "Explorer" và "Excaliber". Hoạt động thử nghiệm của họ đã được tiến hành kèm với rất nhiều vụ cháy nổ và chấm dứt cuối những năm 1960. Tàu ngầm Liên Xô đề án 617 ("Cá vàng") đã có một đời sống thành công hơn. Tác giả đã có cơ hội vào năm 1955 tham gia vào việc đảm bảo thử nghiệm dưới biển cho "Cá vàng": theo các quan sát có được con tàu đã phát triển tốc độ bơi ngầm dưới nước lên đến 24 hải lý trong cả một thời gian dài. (http://flot.com/upload/blog/35f//ShPubl2_52.jpg) Tàu ngầm diesel-điện thử nghiệm đề án 617 với một động cơ duy nhất, dựa trên cơ sở thiết bị phát tuabin hơi (PGTU – ПГТУ) Các số liệu đặc điểm kỹ thuật: độ choán nước tư thế nổi - đến 1500 m3, tốc độ thiết kế tư thế ngầm - 20 hải lý. (Không có bất kỳ tàu ngầm diesel nào trong các hạm đội trên thế giới đạt được tốc độ này). Độ sâu lặn tối đa - 200 m, 6 ống phóng ngư lôi, thủy thủ đoàn 51 người. Năm 1956, trên tàu ngầm này dang ở độ sâu lặn đã xảy ra một đám cháy lớn, thủy thủ đoàn đã hành động một cách nhanh chóng và chính xác - tàu ngầm được cứu thoát và tự mình trở về căn cứ. (http://flot.com/upload/blog/c29//ShPubl2_53.jpg) Tàu ngầm đề án 613E với thiết bị phụ trợ là các máy phát điện hóa học. Kinh nghiệm của các hoạt động thử nghiệm thành công trong toàn bộ hoạt động thử nghiệm khai thác tàu ngầm trên đã được chuyển đổi thành một chương trình chế tạo 100 tàu ngầm của đề án này. Nhưng chương trình này đã được chấm dứt bởi sự xuất hiện của các tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân. SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG CÁC TÀU NGẦM DIESEL TRONG GIAI ĐOẠN HAI (1957-1965) Thời kỳ được miêu tả trước hết cần được xem xét từ quan điểm thực tế lịch sử đã diễn ra và đặt nó trong bối cảnh lĩnh vực chính trị-quân sự. Và điểm chính - cố gắng của các nước tư bản hàng đầu thế giới dùng vũ lực ngăn chặn sự lây lan của chủ nghĩa xã hội như một ý thức hệ và một thực thể kinh tế, Hoa Kỳ - muốn khẳng định sự thống trị của nó trên thế giới. Tất cả các dạng xung đột quân sự khác nhau vào những năm 1950 thì có nhiều, nhưng chúng ta quan tâm đến những cuộc xung đột mà trong đó lực lượng hải quân đóng vai trò hàng đầu. Ví dụ, trong năm 1950 Mỹ và 15 đồng minh đã bước vào cuộc chiến tranh chống lại nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên. Nói một cách ngắn gọn về mức độ tham gia của hạm đội trong cuộc chiến này: có sự tham dự của khoảng 800 tàu Mỹ và các đồng minh của họ, bao gồm 20 tàu sân bay, 4 thiết giáp hạm. Bằng đường biển họ đã chuyển đến bán đảo Triều Tiên 5 triệu người, 52 triệu tấn hàng khô và 22 triệu tấn nhiên liệu (sử dụng từ 300-658 tàu vận tải và 82 tàu chiến tại các thời điểm khác nhau). Thực tế sau nói lên sức mạnh kỹ thuật-quân sự của Hoa Kỳ đó là bằng đường hàng không mỗi tháng (trung bình cho giai đoạn 1950-1953) đã chuyển từ Hoa Kỳ đến 7500 người. (http://flot.com/upload/blog/a69//ShPubl2_54.jpg) Máy bay cất hạ cánh trên hạm F-4U «Corsair» trên tàu sân bay «Boxer». - Ảnh của Hải quân Mỹ trong Chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) (http://www.militarists.ru/?p=2321). Máy bay trên một số nhóm tàu sân bay xung kích đã thực hiện 205 ngàn phi vụ, ném xuống 1,8 triệu tấn đạn dược các loại, các máy bay trực thăng chiến đấu hải quân lần đầu tiên được sử dụng trong chiến đấu. Trong tiến trình chiến tranh, người Mỹ cùng với quân Đồng minh đã thực thi 13 cuộc đổ bộ, gồm 2 hoạt động chiến lược và 1 hoạt động chiến dịch. Tất nhiên, tất cả những sự kiện này xảy ra mà không có bất kỳ sự kháng cự nào trên đại dương và vùng biển lân cận. Ngoại trừ tại một số khu vực ven biển nơi do vấp mìn mà người Mỹ mất 5 tàu chiến và tàu đảm bảo, còn 73 tàu, bao gồm cả 4 thiết giáp hạm đã bị hư hại. Hỏa lực pháo binh bờ biển bắn hỏng 60 tàu chiến và đánh chìm chỉ 2 tàu chiến. Phải nói rằng Bộ chỉ huy Mỹ đã học được bài học một cách nhanh chóng và ra quyết định mau lẹ. Bởi từ cuối năm 1950 họ đã rút từ số tàu dự trữ đưa vào phục vụ 65 tàu vận tải kiểu "Victory" và tính đến các tàu thuê của tư nhân họ đã đưa biên chế hạm đội vận tải Hải quân tới tháng 8 năm 1951 lên đến 410 đơn vị, đến cuối cuộc chiến -. 658 đơn vị. Lực lượng quét-thả thủy lôi cũng được khôi phục cương quyết như vậy, trong tháng 1 năm 1951 đã khôi phục lại bộ tư lệnh của lực lượng này, và đến cuối chiến tranh họ đã nhận được 125 tàu mới, còn đến cuối những năm 50, người Mỹ có hơn 200 tàu khu trục quét mìn và tàu quét mìn căn cứ (tìm kiếm, quét và tiêu hủy mìn trong các khu vực duyên hải và vùng biển gần) cùng khoảng 100 tàu dò-quét mìn. Kết luận cực kỳ quan trọng được rút ra: các tàu sân bay như trước đây vẫn là lực lượng tấn công chủ chốt của hạm đội và có thể là yếu tố quyết định trong chiến tranh ở vùng ven biển (do tính di động cao của các AUG, khả năng cơ động cao và ít bị tổn thương của máy bay trên tàu sân bay so với máy bay ở căn cứ bờ). (http://flot.com/upload/blog/b3b//ShPubl2_55.jpg) Cuộc chiến tranh đã khẳng định khả năng sử dụng máy bay phản lực quân sự phiên bản cất hạ cánh trên tàu sân bay (ngày 03.7.1950 các máy bay phản lực F9F «Panther" từ tàu sân bay «Valley Forge» (http://www.history.navy.mil/photos/sh-usn/usnsh-v/cv45-n1a.htm) đã tham gia tấn công Bình Nhưỡng). Ngoài ra vào năm 1950 đã chứng minh được tính khả thi của việc sử dụng vũ khí hạt nhân từ các tàu sân bay (lần đầu tiên 1 máy bay mang 1 quả bom hạt nhân đã cất cánh trên tàu sân bay «Coral Sea» (CVB-43). Kết quả là năm 1952, chính phủ Mỹ quyết định tiếp tục việc xây dựng các tàu sân bay, đã dừng lại sau Chiến tranh thế giới thứ II, vì các cuộc tranh cãi giữa Lực lượng Không quân và Hải quân về hiệu quả của việc sử dụng vũ khí hạt nhân. Đầu tiên là tàu «Forrestal", rồi đến tàu sân bay hạt nhân đầu tiên «Enterprise», được đặt ky ngày 25.02.1958. Kinh nghiệm lớn thứ hai của việc sử dụng hải quân vào các cuộc xung đột quân sự quy mô lớn trong thời gian này là cuộc xâm lược của Anh, Pháp và Israel chống Ai Cập từ 29.10.1956 - 23.11.1956. Hạm đội thống nhất của những kẻ xâm lược có trong biên chế 130 tàu, bao gồm cả 7 tàu sân bay, 3 tàu tuần dương, 13 tàu khu trục, 11 tàu đổ bộ, 60 tàu vận tải, và ... 6 tàu ngầm. Trong 751 máy bay của quân Đồng minh - 290 chiếc ở trên các tàu sân bay của các nhóm AUG. Ngày 05 tháng 11 lúc 7:00 giờ, quân đồng minh thả 3000 lính nhảy dù, trong thời gian đó chỉ riêng máy bay trên hạm đã bay hơn 470 phi vụ yểm trợ trực tiếp cho quân đổ bộ. Ngày 06 tháng 11 cuộc đổ bộ thủy quân lục chiến bắt đầu, cùng lúc từ các tàu sân bay "Ocean" và "Teseus" trong vòng 90 phút 22 máy bay trực thăng thực hiện 4 đợt đổ bộ 415 lính thủy quân lục chiến và chuyển giao 22 tấn hàng hóa. Trong hai ngày đêm đã đổ bộ được 22.000 người, còn từ 8 đến 20 tháng 11 họ đổ bộ thêm 25.000 người cùng với trang thiết bị nặng và vũ khí. (http://flot.com/upload/blog/bbb//ShPubl2_56.jpg) Sau "sự phẫn nộ của cộng đồng thế giới" (bao gồm cả Mỹ) ngày 23 tháng 11 những kẻ xâm lược đã bắt đầu rút quân đội của họ. Tổn thất của hạm đội Ai Cập gồm 6 tàu chiến, bao gồm 1 tàu khu trục và 4 tàu phóng lôi. Quân Đồng minh mất 3 tàu chiến và 1 tàu vận tải quân sự. Tất nhiên, Bộ tư lệnh Hải quân Liên Xô, ban lãnh đạo Liên Xô không thể không nhìn thấy các sự kiện hiện tại và khuynh hướng phát triển nghệ thuật chiến tranh hải quân, xu hướng nhận thức mới mẻ một cách rõ ràng của công cuộc xây dựng lực lượng hải quân của các cường quốc trên thế giới. Điểm đặc trưng tại thời kỳ thứ hai này gần như trùng hợp với thời điểm khẳng định quyền lực của Nikita Khrushchev, với sự rời khỏi vũ đài quân sự và quyền lực chính trị của nguyên soái Zhukov, đô đốc N.Kuznetsov, và sự đi lên vị trí lãnh đạo Hải quân của đô đốc S.Gorshkov. Tất nhiên, sự thay đổi ban lãnh đạo chính trị và quân sự có ảnh hưởng rất lớn và trực tiếp đến tương lai các chương trình tiếp theo của công cuộc xây dựng lực lượng Hải quân, bao gồm cả tàu ngầm. Ưu tiên bây giờ thuộc về hạm đội hạt nhân được xây dựng lại, các tàu mặt nước chở máy bay và mang tên lửa. Giai đoạn này được đặc trưng bởi sự áp dụng vào ngành đóng tàu những thành tựu đầu tiên của cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật trong lĩnh vực tên lửa hạt nhân, các chương trình không gian, năng lượng hạt nhân và công nghệ điện tử. Nikita Khrushchev, nhà lãnh đạo quốc gia Xô Viết và độc quyền trong lĩnh vực lãnh đạo Đảng Cộng sản, tin tưởng vô điều kiện vào khả năng của vũ khí hạt nhân và vũ khí tên lửa, ông tin rằng 1 hạm đội tàu mặt nước tốn kém không có gì hơn là một gánh nặng ngân sách quân sự của đất nước, và chỉ có các tàu ngầm (do tính chất tương đối "rẻ" của nó và khả năng tạo ra một mối đe dọa bí mật trên các đại dương Thế giới) mới là một trong các thành tố của lực lượng quân sự quốc gia có thể đảm bảo sự cân bằng của các lực lượng chiến lược trong cuộc đối đầu giữa hai hệ thống. (http://flot.com/upload/blog/647//ShPubl2_57.jpg) Khrushev Nikita Sergheevitch lên án chủ nghĩa tư bản từ diễn đàn Liên Hợp Quốc. (http://infodon.org.ua/pedia/403) ....... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 03 Tháng Tám, 2012, 08:35:56 pm (tiếp)
Đây là tuyên bố của ông tại 1 phiên họp của Xô Viết Tối cao Liên Xô ngày 14 tháng 1 năm 1960, " Hạm đội tàu ngầm có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, trong khi đó các tàu mặt nước không còn đảm đương được vai trò nó đã có trong quá khứ" (tức là trong cuộc chiến tranh vừa qua - Tác giả). Sau này trong hồi ký của mình, ông đã viết: "Tôi không nghi ngờ rằng với lực lượng tàu ngầm, chúng ta có thể đánh chìm các tàu sân bay Mỹ, nếu họ (người Mỹ - Tác giả) bắt đầu cuộc chiến tranh ..." Trong thực tế, thái độ này đã dẫn đến sự đóng băng các chương trình đóng tàu mặt nước, giải trừ quân bị và phá hủy một phần các tàu thuyền mặt nước (nói thêm, cả máy bay chiến đấu), đổi hướng chương trình đào tạo đội ngũ sĩ quan "hạm đội tàu mặt nước" và từ phía bên kia - khuếch trương các chương trình đóng tàu ngầm diesel và tàu ngầm hạt nhân. Rất ít người thấy trước rằng điều ngứa ngáy "sáng tạo" này sẽ dẫn đến chi phí ngân sách lớn. Đô đốc Tổng tư lệnh Hải quân S.Gorshkov nhìn xa hơn: "Tàu ngầm diesel là loại tàu hoàn hảo và mạnh mẽ, chúng chắc chắn sẽ tìm thấy ứng dụng rộng rãi trong những điều kiện hiện đại. Ngay cả bây giờ, khi chúng ta xem xét tình trạng của ngành công nghiệp đóng tàu ngầm trong ánh sáng của những thành tựu tiến bộ khoa học và công nghệ to lớn, chúng ta phải công nhận vai trò quan trọng của kinh nghiệm xây dựng các tàu ngầm diesel được đóng sau chiến tranh, cho phép giải quyết vô số vấn đề có tính chất khoa học và kỹ thuật trong quá trình chuyển sang xây dựng các tàu ngầm hạt nhân mới", ông đã viết như vậy trong cuốn sách của ông "Sức mạnh trên biển của Quốc gia" (http://holmogorow.nigilist.ru/archive/gorshkov-morskaya-mosh/index.htm). (http://flot.com/upload/blog/e7c//ShPubl2_58w.jpg) Nhưng hạm đội nguyên tử (và hạm đội tên lửa, hạm đội đa mục đích) xung kích chỉ được "nhìn thấy" trong tương lai gần. Và trong lúc này vai trò của "người bảo vệ lợi ích quốc gia của Liên bang Xô Viết trong các đại dương Thế giới" cần phải được hạm đội tàu ngầm diesel đang hoạt động ở độ sâu lớn thực hiện. Khái niệm này được đáp ứng bởi giai đoạn hai xây dựng các tàu ngầm diesel, chủ yếu là tàu cỡ lớn, tức tàu ngầm viễn dương. Nói cách khác phải "cắt cành theo cách của mình" - tính đến khả năng kinh tế của đất nước và tình trạng tư tưởng khoa học-kỹ thuật. Trong giai đoạn này, điểm nhấn cơ bản được đặt vào công cuộc xây dựng các tàu ngầm phóng ngư lôi cỡ lớn đề án 641, các tàu ngầm mang tên lửa hành trình đề án 651 và tàu ngầm đề án 629 mang tên lửa đạn đạo, cũng như đề án tàu ngầm cỡ trung bình 633 và hiện đại hóa tàu ngầm đề án 613. Tàu ngầm cỡ lớn đề án 641 («Foxtrot») Hầu hết các tàu ngầm đề án trên được đóng tại nhà máy "Sudomekh" (Leningrad) từ năm 1958 và một phần tại nhà máy № 402 (Severodvinsk) vào năm 1962. Chiếc tàu ngầm đầu tiên được đặt ky ngày 03 tháng 10 năm 1956. Tổng số đã đóng được 62 tàu ngầm cho Hải quân Liên Xô và 17 cho các lực lượng hải quân các quốc gia "hữu nghị" (Cuba, Ấn Độ, Libya). Các tổng công trình sư - E.A.Egorov và Z.A.Deribin. (http://flot.com/upload/blog/b5c//ShPubl2_59.jpg) Tàu ngầm diesel-điện đề án 641. Các đặc điểm kỹ-chiến thuật chính: Độ choán nước 1950/2400 m3, độ sâu lặn giới hạn 300 m. Tàu có kết cấu vỏ kép, ba trục. Động cơ: hành trình trên mặt nước - 3 động cơ diesel 37-D trên các tàu đầu tiên, 42-D - trên các số tàu sau đảm bảo tốc độ đến 16 hải lý; 3 động cơ điện chính PG-102 đảm bảo tốc độ đi ngầm dưới nước là 15,5 hải lý. Thiết bị RDP đảm bảo bơi ở độ sâu kính tiềm vọng với tốc độ 8 hải lý. Nhiên liệu dự trữ 460 tấn (tăng cường) đảm bảo tầm bơi xa đến 20.000 dặm và hành trình tự chủ đến 90 ngày. Vũ khí: 10 ống phóng ngư lôi (6 ống phóng mũi, 4 ống phóng đuôi), cơ số ngư lôi - 22. Những điểm mới là: ăng-ten radio kiểu gập "Iva", tăng đáng kể bán kính liên lạc, sonar chủ động-thụ động "Hercules" mạnh hơn thay cho "Tamir-5L", máy bắn ngư lôi tự động mới "Leningrad". Về bản chất, các tàu ngầm này là sự phát triển tiếp tục của đề án tàu ngầm 611 ("Zulu"), và không phải là "từ mới" trong ngành công nghiệp đóng tàu ngầm. Mặc dù là lớn nếu so với các tàu ngầm cỡ trung, các tàu ngầm trên lại có tính tiện ích ở rất tồi tệ (năm 1968 trên 2 tàu ngầm đang thực hiện nhiệm vụ phục vụ chiến đấu trong biển Philippines đã xảy ra 6 cú choáng vì nhiệt và 1 ca tử vong vì "nhiệt" trong số các thuyền viên). (http://flot.com/upload/blog/ab2//ShPubl2_60.jpg) Không đặt mục đích mô tả chi tiết những nỗ lực của ban lãnh đạo Liên Xô sử dụng tàu ngầm như là một "cánh tay nối dài", tôi nghĩ rằng sẽ có ích nếu kể lại tóm tắt các giai đoạn của cái gọi là cuộc khủng hoảng Caribbean. Chiến lược của Tổng thống Mỹ (viên tướng-chiến trường) D.Eisenhower "đẩy lùi chủ nghĩa cộng sản" tiếp tục sống trong tâm trí và công việc của giới chóp bu chính trị và quân sự Mỹ. Sau khi cuộc đổ bộ quân sự chống Cuba tại "Vịnh Con Lợn" vào năm 1961 bị đập tan, Tổng thống Mỹ J.Kennedy trong tháng 8 năm 1961 thông qua kế hoạch "Operation Mongoose". Có một thực tế chứng tỏ mức độ nghiêm trọng của ý đồ chiến dịch nhằm tiêu diệt chế độ Fidel Castro này, đó là việc gọi 150 000 quân dự bị vào tháng 7 và phong tỏa kinh tế gắt gao Hòn đảo Tự do. Nhiều dấu hiệu trực tiếp và gián tiếp của cuộc xâm lược sắp xảy ra tháng 4 năm 1962 đã được biết đến tại Bộ Tổng tham mưu và Ủy ban Trung ương, do đó ngày 24 tháng 5 năm 1962 Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương đã ra quyết định tổ chức một đội quân Xô Viết đồn trú tại Cuba (chiến dịch "Anadyr"). Tới tháng 10 đã chuyển tới Hòn đảo tự do trên 40 ngàn nhân viên quân sự, 40 bệ phóng tên lửa đạn đạo R-12* và R-14 **, 12 bệ phóng TLPK S-75 (144 đạn tên lửa), 6 máy bay ném bom IL-28, 1 phi đội tiêm kích MiG-21 cũng như các xe tăng, pháo binh dã chiến và pháo phòng không, theo các ước tính khác nhau có khoảng 158 hoặc 162 đầu đạn hạt nhân. Việc chuyên chở được thực hiện bằng 80 tàu của hạm đội Bộ Hàng hải Liên Xô, còn hàng hóa dân sự - bằng các tàu nước ngoài thuê của chủ tàu. Thật khá kỳ lạ là chiến dịch quy mô lớn này diễn ra trước mũi nước Mỹ nhưng cộng đồng tình báo Mỹ vẫn chưa hề biết (họ bận rộn tập trung chuẩn bị cho chiến tranh) cho đến tận giữa tháng Mười. (http://flot.com/upload/blog/658//ShPubl2_61.jpg) Quân đội Xô Viết đồn trú tại Cuba. Bản đồ từ tạp chí "Life". (http://statehistory.ru/2061/Karibskiy-krizis--Trinadtsat-dney--kotorye-potryasli-mir--CHast-III/) Với việc nhận thức được thực tế là có sự hiện diện của một cụm quân đội Xô Viết hùng mạnh, và quan trọng nhất - tên lửa mang đầu đạn hạt nhân trong vòng bán kính cách Hoa Kỳ 50 dặm, tâm trạng người Mỹ trở nên cực kỳ hoang dại. Kennedy công bố ngày 22 tháng 10 rằng 500 dặm xung quanh Cuba được biến thành "khu vực phong tỏa", ngày 23 tháng 10 đã ban bố mệnh lệnh № 3504 đổi tên thành chiến dịch "cách ly", tức là chỉ cho phép các tàu chở hàng hóa dân sự đi qua; tại Florida 250.000 lính lục quân đã ở trong tư thế sẵn sàng xâm nhập Cuba; 238 tàu Hải quân Mỹ, bao gồm cả 8 tàu sân bay, 2 tàu tuần dương, 118 tàu khu trục, 13 tàu ngầm, 65 tàu đổ bộ và 32 tàu phụ trợ ra khơi đối đầu với các hạm đội của Liên Xô và bảo đảm cho cuộc xâm lược hòn đảo, toàn bộ lực lượng máy bay ném bom chiến lược B-52 «Stratofortress» chuyển sang chế độ tuần tra chiến đấu liên tục, và máy bay ném bom chiến thuật B-47 «Stratojet» được bố trí phân tán đến các sân bay dân sự, các nhóm AUG của người Mỹ xâm nhập các vùng biển Na Uy, Nhật Bản và Okhot. Hạm đội Xô Viết vào thời điểm đó được đại diện bởi 4 tàu ngầm đề án 641 trong khu vực quần đảo Bahamas, ba trong số họ đã phải nổi lên mặt biển bởi lực lượng chống-tàu ngầm Mỹ sử dụng bom chìm, xả đại bác và súng máy từ trên máy bay; một tàu ngầm - B-88 hoạt động thành công gần Trân Châu Cảng trong khu vực của nhóm AUG nong cốt là tàu sân bay "Constellation", một tàu ngầm B-75 không bị phát hiện hoạt động ngay cạnh căn cứ Mỹ tại Guantanamo. Vâng, thiết bị kỹ thuật có thể không, nhưng các thủy thủ thì có thể. (http://flot.com/upload/blog/3fa//ShPubl2_62.jpg) Tàu ngầm đề án 641. (http://www.navy.su/navysub1945/641/index.htm) Nhận thức về nguy cơ đe dọa rõ ràng của buổi khải huyền hạt nhân buộc Khrushchev và Kennedy phải cùng nhau "nhượng bộ", ngày 21 tháng 11 - bãi bỏ phong tỏa và hứa không đụng đến Cuba và rút các tên lửa đạn đạo "Torah" *** và "Jupiter" **** của họ khỏi nước Anh (60 bệ phóng "Tor "), khỏi Thổ Nhĩ Kỳ (15 bệ phóng "Jupiter"), khỏi Italy (30 bệ phóng "Jupiter") và không triển khai chúng ở Nhật Bản. Ngày 12 tháng 12 đã hoàn thành việc rút bộ đội Xô viết với vũ khí tên lửa hạt nhân khỏi Cuba. Sau cuộc khủng hoảng tên lửa Caribbean đã diễn ra việc hoàn thành theo luật định quá trình chuyển sang học thuyết "thiết lập những cây cầu" hay "nới lỏng chủ nghĩa xã hội từ bên trong" (dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa ở châu Âu chỉ 30 năm sau đó). Học thuyết này chính thức được Tổng thống L.B.Jonhson chấp nhận tháng 2 năm 1964. Trong thời hạn 30 năm phục vụ, các tàu ngầm đề án này đã tích cực thực hiện các chiến dịch phục vụ chiến đấu "không bí mật" ở Địa Trung Hải (Hạm đội Biển Bắc) và phần phía tây Ấn Độ Dương, (Hạm đội Thái Bình Dương); một phần trong số chúng sau khi trang bị thêm đã thực hành các chuyến khảo sát lực hấp dẫn ở các vùng phía Bắc và Nam Thái Bình Dương và phía nam Ấn Độ Dương trong các chuyến đi biển dài đến 6-8 tháng. Những tàu ngầm này đã được phong tên của các "vì sao" phù hợp quy định của "chương trình năm địa vật lý quốc tế MGG", như "Địa cầu", "Sao Thổ", "Sirius", v.v... * R-12 - tầm bắn 2000 km, 1 đầu đạn hạt nhân = 2.3 Mt. ** R-14 - tầm bắn 3.200-4.500 km, tùy thuộc vào sức mạnh của đầu đạn - hoặc 2.0 Mt, hoặc 2,3 Mt. *** MRBM "Tor" - tầm bắn xa 3000 km, sức mạnh đầu đạn hạt nhân -1,5 Mt. **** MRBM "Jupiter" - tầm vắn xa 3.000 km, sức mạnh đầu đạn hạt nhân 1 Mt. Những điều kiện thật sự khủng khiếp về tính tiện ích ở của những chiếc "Foxtrot" được đóng trong thời kỳ 1958-1962 không tìm được bất kỳ lời giải thích nào khác hơn ngoài cách nhìn của ban lãnh đạo đất nước và lãnh đạo các lực lượng vũ trang với các thủy thủ như đối với một món hàng tiêu dùng. (http://flot.com/upload/blog/856//ShPubl2_63.jpg) Các ví dụ: từ 15 Tháng 7 năm 1956 đến 1 tháng 9 năm 1957, 8 tàu ngầm đề án 613 và 611 đã thực hiện di chuyển từ Hạm đội Biển Bắc (thành phố Polyarny) sang Hạm đội Thái Bình Dương (Petropavlovsk), 6 tàu phải quay trở lại vì lý do kỹ thuật. Ngay từ đầu chiến dịch đã thấy rõ - các thủy thủ đoàn sẽ gặp khó khăn, qua 125 giờ đã đi được 1.100 dặm đến Dikson, ăn hết tất cả bánh mì và uống hết nước ngọt. Từ tháng 9 năm 1956 đến cuối tháng 6 năm 1957 họ trú đông tại cửa sông Kolyma (trong doanh trại đổ nát ở t = -50 ° C, và ... không có hai đô đốc-thủ trưởng - phó tư lệnh N.Basistyi và chỉ huy hải đoàn cơ động EON-66 V.Parkhomenko, họ im lặng bay về Moskva). Để không "buồn chán" các thủy thủ tàu ngầm dùng các thùng chứa dầu ăn chuyển từ sà lan lên tàu vận tải 5.500 tấn than. Nhưng khi đến Petropavlovsk các con tàu phải dừng lại cảng ngoài 10 ngày để vẻ ghê tởm của họ không làm hư hỏng cảnh quan, người ta hoãn chậm lại việc cho người phục vụ có thời hạn ra quân chuyển ngạch dự bị, hoãn nghỉ phép các sỹ quan và hạ sỹ quan. Sau 10 ngày cách ly, Tham mưu trưởng Hải quân Xô Viết đô đốc V.A.Fokin đến thăm các con tàu và tuyên bố rằng các căn hộ cho các anh chưa kịp xây dựng, các anh se đi nghỉ phép tại ... Bre, còn phụ cấp sẽ bị giảm bớt. Cuộc thử nghiệm Bắc Cực đã kết thúc như vậy đấy. (http://i1221.photobucket.com/albums/dd463/qtdc3/HabilitySSN-579.jpg) Buồng sinh hoạt chung và buồng ăn cho thủy thủ đoàn, USS "Swordfish" SSN-579, ngày 5 tháng 9 năm 1962. (http://www.navsource.org/archives/08/08579.htm) Một năm sau, các tàu ngầm của Hạm đội Biển Bắc, B-75 và B-80 ở chế độ chuột thí nghiệm đã trở lại bờ biển Brazil. Không có bất kỳ hoạt động của lực lượng chống tàu ngầm nào ở vùng nhiệt đới, nhưng các thủy thủ đoàn đã bị hành xác đến giới hạn tột cùng. Hàng tuần, nhiệt độ trong khoang được giữ ở mức +40 ° C, tất cả các thực phẩm đều đóng hộp, thiếu nước ngọt. Nhưng đó là con tàu "hiện đại viễn dương". Các thủy thủ đã sút mất 10-12 kg trọng lượng. Khi trở về nhà, chỉ huy của B-75 trung tá hải quân M.Malkov tại một hội nghị khoa học đặc biệt về tính tiện ích ở đã thực hiện một báo cáo chi tiết. Ông tin rằng các nhà lãnh đạo hải quân, các nhà khoa học sẽ tôn trọng ý kiến của ông trong việc thiết kế và chế tạo các tàu ngầm thuộc các đề án mới. (http://flot.com/upload/blog/b65//ShPubl2_64.jpg) Mikhail Kuzmitch Malkov. - N.Cherkashin. Hải đoàn đen. - M.: KUM-PRESS, 2003. Chắc chắn là không. Trợ lý thuyền trưởng tàu ngầm B-36 (đề án 641) đã viết trong nhật ký về việc trong chuyến hành quân tới Cuba, nghĩa là sau 1 tháng hành trình, tất cả thịt trong buồng lạnh đều bị thiu, các thủy thủ ba ngày liền bị ngất do nhiệt, và tất cả không trừ ai đều bị lở loét. Một tháng trước khi trở về trên tàu hết sạch bơ, bánh mì đóng hộp và bánh bích-quy, chẳng mấy chốc phải quẳng đi vì bị mốc. Chính các chiến sỹ tàu ngầm Liên Xô vào năm 1962 đã đi trên các tàu ngầm "mới nhất" kiểu như vậy để giành chiến thắng trước hạm đội Mỹ. Đó không phải là chuyện dễ ăn như xơi món kem trong phòng điều hòa! (http://flot.com/upload/blog/70e//ShPubl2_65.jpg) Các thành viên của thủy thủ đoàn B-36 thời kỳ cuộc khủng hoảng tên lửa Caribbean: Andreev Anatolii Petrovitch (Trợ lý thuyền trưởng), Mukhtar Azizovitch Aslan (ngành tác chiến 3), Naumov Vladlen Vasilievitch (hoa tiêu). Tuy nhiên, phần lớn ban lãnh đạo hải quân đã rút ra được kết luận và đã có hành động. Đến năm 1970, vai trò của khoa học đã tăng lên đáng kể. Chỉ ở văn phòng trung ương của Tổng tư lệnh Hải quân đã có 2 bác sỹ và 14 phó tiến sỹ khoa học hải quân làm việc, 16 phó tiến sỹ kỹ thuật và 2 phó tiến sỹ y học, 2 phó tiến sỹ khoa học lịch sử, và 1 phó tiến sỹ khoa học pháp lý. Tàu ngầm cỡ trung đề án 633 ("Romeo") Đây là những tàu ngầm thành công nhất trong tất cả các đề án tàu ngầm diesel - một cái gì đó nằm giữa đề án 613 ("Whiskey") và đề án 611 ("Zulu"). Được đóng tại nhà máy "Red Sormovo" từ năm 1958 đến năm 1962 tổng số 20 chiếc (chỉ dành cho Hạm đội Biển Đen và các hạm đội nước ngoài vùng trũng Địa Trung Hải (Ai Cập, Algeria, Syria, và Bulgaria). Tổng công trình sư - Z.A.Deribin, A.K.Nazarov và E.V.Krylov. Theo thiết kế của Liên Xô, một số lượng lớn các tàu ngầm loại này đã được đóng tại CHND Trung Hoa, trong đó đóng cho cả các nước khác như Ai Cập và Bắc Triều Tiên (tổng cộng - 120 đơn vị.). Chúng đã gia nhập biên chế hạm đội của bảy quốc gia. Độ choán nước 1330/1730 m3, độ sâu lặn tối đa 275-300 m, tốc độ cao nhất - 15,5 hải lý tư thế nổi, 13 hải lý tư thế ngầm. Bơi tự chủ - 60 ngày. ....... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 04 Tháng Tám, 2012, 10:06:56 am (tiếp)
Trên tàu ngầm này đã áp dụng các sáng kiến cải tiến kỹ thuật: hệ thống không khí áp suất cao hoàn thiện hơn, cho phép thực hiện thổi khẩn cấp ballast dằn chủ hai đầu con tàu; chân vịt có tiếng ồn thấp đặt trong các phễu đặc biệt; lần đầu tiên trên tàu ngầm có lắp thiết bị khử từ; sử dụng hệ thống điều khiển bắn ngư lôi mới, mà khi làm việc cùng trạm hydroacoustic mới sẽ cho phép thực hiện các cuộc tấn công ngư lôi trong chế độ bám tự động mục tiêu (với các độ sâu lớn) và hành động trong thành phần nhóm chiến thuật. Một tính năng đặc trưng trong kiến trúc của tàu ngầm này là cấu trúc thượng tầng hình tháp trên mui tàu dùng cho kính thiên văn tiềm vọng và hầm dùng choi RDP, cho phép tăng chiều sâu tiềm vọng lên 10 m, và điều đó tăng đáng kể tính dễ điều khiển của tàu ngầm trong các điều kiện bão biển. Nói ngắn gọn, trên tàu ngầm đề án này đã triển khai các cải tiến kỹ thuật tạo cơ sở coi đồ án thiết kế trên là một bước đi đáng kể trong lĩnh vực xây dựng các tàu ngầm diesel trang bị ngư lôi. Đồng thời, kinh nghiệm của các chuyến đi biển dài ngày, gồm cả trong các điều kiện tiếp xúc với các nhóm AUG (авианосная ударная группа) và AMG (авианосная многоцелевая группа), cho thấy khả năng chiến đấu thấp của các đề án 641 và 633. Trước hết, nó thường được giải thích bởi nhu cầu nổi lên để sạc ắc quy, không đủ sức hành trình tư thế ngầm dưới nước để theo dõi các nhóm tàu mặt nước của lực lượng hải quân NATO, và các ngư lôi với tư cách là vũ khí trong những năm đó để tiêu diệt tàu sân bay, tàu tuần dương tên lửa có điều khiển và tàu khu trục tên lửa có điều khiển đã cạn kiệt khả năng tấn công của chúng do mật độ dày đặc của lực lượng phòng thủ chống ngầm trong các khu vực biển gần. Sự hiện diện của vũ khí tên lửa trên tàu ngầm đã trở nên cực kỳ cần thiết và cấp bách. Tàu ngầm tấn công cỡ lớn đề án 651 ("Juliette") Tổng cộng có 16 chiếc được đóng ở "Red Sormovo" từ 1963-1969. Tàu ngầm tên lửa hành trình đầu đàn được đóng tại nhà máy đóng tàu Baltic. Tổng công trình sư - A.S. Kassatsier. Tàu ngầm diesel cỡ lớn đề án này được xây dựng mới từ đầu làm phương tiện mang tên lửa hành trình tự dẫn P-6 (Tầm bắn - 350 km, trọng lượng 5,6 tấn) và được dự định dùng tấn công mục tiêu mặt nước dạng nhóm (các tàu chiến và tàu vận tải), cũng như các căn cứ hải quân và bến cảng. (http://flot.com/upload/blog/090//ShPubl2_67.jpg) Tàu ngầm đề án 651. (http://artflot.ucoz.ru/photo/10-0-19) Chiếc tàu ngầm trang bị 4 tên lửa hành trình, bố trí trong các khối thùng chứa liền kề thành từng cặp một, khi bắn các thùng chứa được nâng lên một góc +15 °, loạt bắn diễn ra theo hướng mũi tàu. Việc phóng tên lửa – trên tư thế nổi, sẽ được thực hiện sau khi tàu ngầm hoàn thành công tác chuẩn bị pha tiền khởi động cho loạt bắn khi còn ở độ sâu dưới mặt nước. Một phẩm chất quan trọng của tổ hợp tên lửa là hệ thống điều khiển bắn và dẫn đường cho tên lửa tới mục tiêu, đang ở trong tầm nhìn thấy của các phương tiện quan trắc đo đạc của phương tiện mang-xạ kích (phương pháp lệnh vô tuyến). Khi xạ kích mục tiêu nhóm nó có khả năng bắn trúng một cách chọn lọc đối tượng chính. Ngoài các thiết bị điều khiển loạt bắn trên tàu, tàu ngầm có thể tiếp nhận hình ảnh radar của nhóm đối phương và chỉ thị mục tiêu từ máy bay trinh sát chúng qua hệ thống "Uspekh". Các đặc điểm kỹ-chiến thuật chính như sau: Độ choán nước 3300/3770 m3; độ sâu lặn – tới 400 m. Động cơ hành trình tư thế nổi 1D43 công suất đến 4000 mã lực đảm bảo tốc độ đến 16 hải lý; động cơ hành trình tư thế bơi ngầm MG141 tốc độ đến 17 hải lý. Lần đầu tiên trên tàu ngầm được lắp đặt hệ ắc quy kẽm-bạc. Một tính năng đặc biệt của kiến trúc vỏ bền thân tàu là khả năng thay thế thiết bị diesel-điện bằng thiết bị điện hạt nhân. (http://flot.com/upload/blog/a70//ShPubl2_68.jpg) Vũ khí: 4 container chứa tên lửa hành trình P-5C, 5D, P-6; 6 ống phóng ngư lôi tiêu chuẩn cỡ 533 mm (cơ số ngư lôi - 18) và 4 ống phóng ngư lôi đuôi cỡ 400 mm cho phép bắn ngư lôi tự dẫn vào các tàu ngầm của đối phương từ độ sâu đến 250 m Lần đầu tiên trong lịch sử Hải quân Liên Xô, một tàu ngầm đề án này được trang bị tổ hợp thu nhận dữ liệu chỉ thị mục tiêu từ vệ tinh trinh sát. Tàu ngầm tên lửa đề án trên từ năm 1968 đã thực hiện thành công nhiệm vụ phục vụ chiến đấu ở vùng biển Tây Ấn Độ Dương. Tàu ngầm tên lửa (đạn đạo) cỡ lớn đề án 629 ("Golf") Tổng số từ năm 1958 đến năm 1962 đã đóng được 23 chiếc, trong đó: nhà máy ở Severodvinsk - 16, nhà máy ở Komsomolsk-na-Amur - 7. Tổng công trình sư thiết kế - N.N.Isanin. Các bộ phận và thiết bị của một chiếc tàu ngầm năm 1958 được chuyển giao cho CHND Trung Hoa. Chiếc tàu ngầm tên lửa này sau đó được sử dụng để xây dựng lực lượng tên lửa hạt nhân của bản thân Hải quân Trung Quốc (với tên lửa đạn đạo có tầm bắn lên đến 800 km). Tàu ngầm - phương tiện mang tên lửa đạn đạo dạng "Scud" (phiên bản hải quân - R-11FM). Nó được thiết kế để tấn công các căn cứ hải quân, các bến cảng, các trung tâm công nghiệp và hành chính trên bờ biển và nằm sâu trong lãnh thổ đối phương. Loạt sản xuất đại trà của đề án tàu ngầm 629 có 3 hầm phóng. Đặc điểm kỹ-chiến thuật chính: độ choán nước 2820/3550 m3, hải trình tự chủ - 70 ngày đêm. Vũ khí: 3 tên lửa đạn đạo R-11FM, 6 ống phóng ngư lôi (4 mũi, 2 đuôi). Công đoạn chuẩn bị tiền khởi động được thực hiện ở độ sâu dưới mặt nước, trước khi phóng tên lửa tàu ngầm chuyển lên tư thế nổi. Tàu ngầm tên lửa đề án này có trong biên chế Hạm đội Baltic (4 đơn vị) và là chủ đề lo ngại sâu sắc của các chính trị gia Thụy Điển, và sự suy đoán của giới báo chí. (http://flot.com/upload/blog/ee8//ShPubl2_69.jpg) Tàu ngầm diesel đề án 629A (http://www.atrinaflot.narod.ru/1_submarines/01_plrb_629/0_629.htm). Tàu ngầm đầu tiên trong nước phóng được tên lửa đạn đạo ở tư thế bơi ngầm. Một phần các tàu ngầm này được trang bị lại theo đề án 629-A ("Golf -2") với việc phóng trong tư thế ngầm tên lửa R-13FM (Tầm bắn xa - 560 km, phóng đi từ độ sâu 40-50 m). Những tàu ngầm này đã thực hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu trong Thái Bình Dương và Đại Tây Dương. (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/8/84/K129_HGE_recoverysite.png/610px-K129_HGE_recoverysite.png) Năm 1968, một trong số các tàu trên (K-129, chỉ huy đại tá hải quân V.Kobzar) đã hy sinh trên vùng Bắc Thái Bình Dương do kết quả một cuộc va chạm trực diện không chủ định trước với một tàu ngầm hạt nhân Mỹ "Swordfish" đang theo dõi nó). (http://navsource.org/archives/08/575/0857910.jpg) USS "Swordfish" SSN-579 tháng 11 năm 1961. Trong nỗ lực đạt được sự nâng cao các khả năng tấn công, trên cơ sở công nghệ thực tế đã phát sinh 2 phiên bản: Đề án 605 phục vụ từ năm 1975 - mang tên lửa đạn đạo R-27K (Tầm bắn xa - 900 km, trọng lượng 13,25 tấn) và hệ thống tự dẫn bắn các mục tiêu biển, hầm chứa tên lửa được đặt thành cặp bên ngoài phần cabin mui. Có 4 ống phóng lôi mũi và 2 ống phóng lôi đuôi. (http://flot.com/upload/blog/1bc//ShPubl2_70.jpg) Tầu ngầm tên lửa cỡ lớn đề án 605 Đề án 601 phục vụ từ năm 1976 - tàu ngầm diesel duy nhất trên thế giới, mang tên lửa đạn đạo tầm liên lục địa R-29 (Tầm bắn xa - 7800 km, trọng lượng 33,3 tấn, phóng được cả tư thế nổi và tư thế ngầm), đã chế tạo 6 chiếc. Nhưng đồng thời lượng choán nước tăng gần gấp rưỡi, tầm hành trình kinh tế tư thế ngầm giảm đi 3 lần. Công cuộc xây dựng và khai thác hoạt động của các tàu ngầm 2 đề án này mang tính chất thử nghiệm và không được phát triển tiếp. (http://flot.com/upload/blog/14c//ShPubl2_71.jpg) Tàu ngầm tên lửa cỡ lớn đề án 601 Tàu ngầm-lai ghép Theo cách nói mỉa mai của thủy thủ tàu ngầm - "tàu ngầm-quái thai", đây là những con tàu chuyển đổi trang bị hoặc được đóng trên cơ sở đề án 613 ("Whiskey") và cho ra những phẩm chất chiến đấu rất đáng ngờ. Tàu ngầm mang tên lửa hành trình đề án 644 ("Whiskey xi-lanh đôi") (http://flot.com/upload/blog/d2e//ShPubl2_72.jpg) Tàu ngầm đề án 644 mang tên lửa hành trình P-5 Tổng số đã chuyển đổi trang bị cho 7 tàu ngầm đề án 613 sang thành phương tiện mang tên lửa hành trình P-5. Tên lửa hành trình P-5 (SSN-3 'Shaddok ") dùng để bắn các mục tiêu trên bờ của đối phương, không điều khiển trong quá trình bay, tầm bắn lên đến 745 km (theo phương vị và khoảng cách). Tên được bố trí trong thùng chứa 2 ống trên boong thượng tầng. Tên lửa được phóng khi tàu ngầm ở trong tư thế nổi. Các tầu ngầm trên đặt căn cứ tại các Hạm đội Biển Đen, Biển Bắc và Thái Bình Dương. Do chiều cao tâm nghiêng (metacentric) nhỏ trong tư thế nổi, tàu ngầm ở trạng thái cực kỳ nguy hiểm khi nổi lên bề mặt trong thời tiết có bão. Một tàu ngầm của đề án này (S-80) đã gặp nạn bị chìm khi bơi ở chế độ RDP năm 1961. Tàu ngầm mang tên lửa hành trình đề án 665 (Long Beach) Tổng số đã chuyển đổi trang bị cho 8 tàu ngầm, để mang tên lửa hành trình P-5 ("Shaddok). Vì vẻ ngoài xấu xí, tàu có tên lóng là "con ếch". Tổng công trình sư thiết kế - B.V.Leontiev. Được đóng tại Leningrad và Sormovo. (http://flot.com/upload/blog/95a//ShPubl2_73.jpg) Tàu ngầm diesel-điện mang tên lửa hành trình đè án 665. - Sư đoàn tàu ngầm số 16 Hạm đội Biển Bắc (Hạm đội Baltic). Con người, con tàu và sự kiện. St Petersburg: Số đặc biệt nguyệt san "Taifun", năm 2007. Tàu ngầm đề án này cực kỳ nguy hiểm do tính ổn định ngang nhỏ, đặc biệt là khi nổi lên mặt biển trong thời tiết có bão. Trong giai đoạn "bùng nổ tên lửa" của Khrushchev người ta đã lên kế hoạch chuyển đổi trang bị cho 75 tàu ngầm đề án 613, tuy nhiên chương trình này đã bị chấm dứt khi xuất hiện các tàu ngầm mang tên lửa hành trình đề án 651 ("Juliette"), cũng như các tàu ngầm hạt nhân đề án 658 ("Echo"). ......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 04 Tháng Tám, 2012, 09:04:41 pm (tiếp)
Tàu ngầm-radar đề án 640 ("Kansas Bag") (http://flot.com/upload/blog/77d//ShPubl2_74.jpg) Tàu ngầm đề án 640 4 con tàu đề án này là các tàu ngầm được chuyển đổi trang bị của đề án 613 ("Whiskey" class). Các tính năng: có ăng ten gập-mở của radar "Kasatka" để phát hiện các mục tiêu trên không. Để lắp đặt các khối radar, khối ắc quy số 2 được gỡ khỏi tàu ngầm (trong khoang thứ tư). Vì vậy tàu ngầm chỉ có thể ở dưới mặt nước một thời gian ngắn. Trong thực tế, nó là một trạm radar có khả năng nổi lên, được thiết kế để triển khai ở vị trí trạm tuần tra radar trên các hướng biển bị đe dọa trong một hệ thống phòng không thống nhất của đất nước. Với việc đưa vào hoạt động radar công suất cao, sau 3-4 giờ tàu ngầm đã xả hết nửa dung lượng ắc quy và phải nạp lại ắc quy trong tư thế nổi. Theo tiếng lóng của thủy thủ tàu ngầm, tàu ngầm-radar được đặt tên là "cái xẻng". Khả năng bơi độc lập chỉ có 10 ngày. Tính ổn định tác chiến của nó rất nhỏ. Việc sử dụng ngư lôi mang đầu đạn hạt nhân trên tàu ngầm này không được tính đến. SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG CÁC TÀU NGẦM DIESEL TRONG GIAI ĐOẠN THỨ BA (1966-1988) Sự tụt hậu của Hải quân Liên Xô trước Hải quân Hoa Kỳ và các đối tác quan trọng của họ trong vấn đề phát triển chất lượng kỹ thuật công nghệ hải quân đã tồn tại trước khi bắt đầu thời kỳ này, thì trong giai đoạn sau càng lộ rõ. Mặc dù Tổng tư lệnh Hải quân đô đốc S.G.Gorshkov nhiều lần nhấn mạnh ý tưởng xây dựng một hạm đội viễn dương cân bằng, trên thực tế vẫn tiếp tục diễn ra cuộc chạy đua về số lượng trong xây dựng tàu hải quân (trong đó có cả tàu ngầm); đồng thời khoa học quân sự ứng dụng và khả năng sản xuất không cho phép đạt đến một mức độ chất lượng cho các đòi hỏi đặt ra. (http://flot.com/upload/blog/68d//ShPubl2_75.jpg) Các tàu ngầm nguyên tử thế hệ đầu tiên có tiếng ồn (http://korabley.net/news/atomnye_podlodki_proekta_675_echo_ii_luchshie_podvodnye_korabli_v_mire/2010-03-10-503) lớn, được trang bị các tổ hợp vô tuyến điện tử lỗi thời (trước tiên - hệ thủy âm). Người Mỹ đã có bước nhảy lớn về chất lượng trong các lĩnh vực: - hệ thủy âm tần số thấp, sau đó là hệ thủy âm hạ âm (infrasonic); - xây dựng các tổ hợp phổ quát "tác chiến tầm xa" trong việc phát hiện, phân loại và sử dụng vũ khí tấn công và vũ khí chống tàu ngầm (ngắm bắn, tự dẫn, và sau đó là - vũ khí có độ chính xác); - áp dụng các công nghệ kỹ thuật đảm bảo mức tiếng ồn thấp và khả năng cơ động cao (dưới nước) cho các tàu ngầm của họ; - xây dựng và triển khai hệ thống thủy âm tích hợp hiệu quả phát hiện từ tầm xa các tàu ngầm của chúng ta, bí mật theo dõi và sẵn sàng tiêu diệt họ ở khoảng cách xa, nâng cao việc chống phát hiện cũng như các hành động đáp ứng. (http://www.tm-magazin.ru/rubriki_tm/rusoruhz/spiter_09_2010_04.jpg) Ngay từ đầu cuộc chạy đua cạnh tranh trong lĩnh vực chế tạo tàu ngầm, người Mỹ đã đi đến kiến trúc thuôn dòng hợp lý "Albakor" (http://www.tm-magazin.ru/rubriki_tm/217/2234) cho thân tàu ngầm, và loại bỏ bằng công nghệ tất cả các nguồn tiếng ồn cơ khí và tiếng ồn của dòng chảy rối. Ngay cả các tàu ngầm diesel "giai đoạn 2" của chúng tôi, cũng như các tàu ngầm hạt nhân thế hệ "thứ nhất, cũng có dạng thân hình thoi truyền thống, công nghệ động cơ và bộ dẫn tiến thấp, do đó bị phát hiện ở khoảng cách lớn, nếu tiếp tục đi ở những tốc độ cao. Kết quả là ngành công nghiệp đóng tàu ngầm của chúng ta vào lúc bắt đầu thời kỳ "thứ ba" đã "bắt kịp", tức là sao chép hình mẫu. Trong những điều kiện, khi càng ngày càng giữ ý nghĩa lớn hơn lại không phải là cuộc chiến tranh truyền thống trên mặt nước, mà là cuộc chiến tranh chống tàu ngầm dưới lòng biển sâu, hạm đội tàu ngầm diesel của chúng ta các thời kỳ xây dựng đầu tiên và thời kỳ xây dựng thứ hai sau chiến tranh đã bị tụt hậu trước đòi hỏi của cuộc chiến ấy ở mức độ còn nhiều hơn nữa. (http://flot.com/upload/blog/90a//ShPubl3_1.jpg) Đặc biệt kể từ khi Bộ chỉ huy tối cao khối NATO (http://zaiprotiv.info/novosti/4971-sily-nato-ostalis-bez-boepripasov) vào năm 1968 đã thông qua một điều khoản cho phép tiêu diệt các tàu ngầm Liên Xô bị phát hiện ra và không nổi lên trong vòng bán kính 100 dặm cách các tàu chiến Mỹ. Và tôi phải nói rằng, tới thời gian ấy, trường radar kiểm soát bao quanh tàu sân bay là gần 350 dặm, và trang bị của các máy bay thuộc lực lượng phòng thủ chống ngầm cất hạ cánh trên boong tàu sân bay có các loại bom chìm hạt nhân "Lulu" và "Betty". Các tàu ngầm diesel-đa mục đích (và do đó các tàu ngầm có chức năng chống tàu ngầm) các đề án 613, 641 và những đề án khác, khi so sánh với các tàu ngầm Mỹ về mức độ tiếng ồn dưới nước, đã trang bị các tổ hợp thủy âm phổ tần số cao, có tầm xa phát hiện nhỏ và tính hiệu quả trong tìm kiếm thấp trong cuộc chiến đấu chống lại các tàu ngầm đối phương. Nói ngắn gọn hơn, trong cuộc đấu tranh giành "loạt bắn đầu tiên" (tấn công phủ đầu trước) có thể sử dụng trong những trường hợp hạn chế (ví dụ, trong các "cuộc phục kích dưới nước"). Trong các điều kiện bằng nhau còn lại, chúng trở thành kém hiệu quả, và đôi khi vô dụng. Cuộc chiến tranh Ả Rập-Israel năm 1973 (06-25 tháng 10). Ở Địa Trung Hải, Mỹ và Liên Xô đã tập trung các nhóm mạnh nhất thuộc đủ loại lực lượng binh chủng khác nhau trong các hạm đội của mình. Người Mỹ có hơn 120 tàu, bao gồm cả 4 tàu sân bay tấn công, khoảng 8 tàu ngầm nguyên tử đa mục đích, hai tàu sân bay trực thăng tấn công đổ bộ, 20 tàu tuần dương, 40 tàu khu trục và tàu hộ tống, hơn một chục tàu đổ bộ. Binh đoàn Địa Trung Hải của chúng ta tính ra có hơn 100 tàu chiến và tàu phụ trợ, bao gồm cả tàu ngầm nguyên tử. Cả hai nhóm đều ở trong tình trạng sẵn sàng sử dụng vũ khí ngay lập tức, còn thuyền trưởng các tàu ngầm B-130 và B-409 được lệnh tiêu diệt ngay các tàu ngầm đối phương bị phát hiện. Đương nhiên, người ta đã tiến hành phân tích sự tham gia của các tàu ngầm của chúng ta trong "cuộc hôn nhân chó chết" và ra những quyết sách nhất định. Vì vậy, trong "giai đoạn thứ 3" (1966-1988), các nhà máy của chúng ta đã xây dựng các tàu ngầm diesel đáp ứng được về nguyên tắc các yêu cầu mới: tiếng ồn thấp và khả năng cơ động cao dưới nước, tầm phát hiện xa các tàu ngầm của đối phương, tự động hóa quá trình tấn công "đấu tay đôi" mau lẹ dưới mặt nước. Trong một mức độ nhất định, các yêu cầu đó được đáp ứng phần nào bởi các tàu ngầm của đề án "chuyển tiếp" 641-B và ở mức độ đáp ứng cao hơn cả là các tàu ngầm đề án 877 ("Varshavyanka"). (http://flot.com/upload/blog/1ac//ShPubl3_2.jpg) Tàu ngầm đề án 641B. - Đơn vị tàu ngầm Huân chương Cờ Đỏ Ushakov bậc 1 Hạm đội Biển Bắc, Số đặc biệt nguyệt san Taifun, St Petersburg 2003. Tàu ngầm chống tàu ngầm cỡ lớn đề án 641B ("Tango") Được đóng tại nhà máy "Red Sormovo" từ 1972-1982. Tổng số đã đóng 18 đơn vị. Tổng công trình sư - Z.A.Deribin, Yu.N.Kormilitsyn. Khi thiết kế, một phần lớn sử dụng lại các giải pháp kỹ thuật của đề án 641 ("Foxtrot"). Về cơ bản các giải pháp mới là: trang bị thủy âm mới, hệ thống thông tin quản lý và điều khiển tác chiến, hệ thống định vị đạo hàng hoàn thiện hơn, đảm bảo cho tàu đi biển và sử dụng vũ khí ở vùng vĩ độ cao. Tàu ngầm loại này chạy êm nhất thời gian đó. Trên tàu ngầm điều kiện ở đã được cải thiện: phòng sỹ quan là các cabin 2 chỗ, đảm bảo cho tất cả các thuyền viên có chỗ nằm (bao gồm cả 50% các hạ sỹ quan nhóm trưởng và thủy thủ - trong các cabin). Tôi phải nói rằng trong thời gian ấy nền khoa học và công nghiệp Liên Xô đã nỗ lực tập trung vào việc chế tạo các dạng mẫu mới của vũ khí "bản địa" của tàu ngầm - vũ khí ngư lôi. Thông số kỹ-chiến thuật các ngư lôi chính, được đưa vào phục vụ trong những năm 195x - 197x của thế kỷ XX (http://flot.com/upload/blog/b9b//ShPubl3_3.jpg) Tàu ngầm cứu hộ cỡ lớn đề án 940 ("Lenok", NATO -"India"). Đã đóng 2 tàu tại nhà máy ở Komsomolsk-na-Amur cho Hạm đội Thái Bình Dương và Hạm đội Biển Bắc. Những tàu ngầm này được thiết kế để cứu hộ các thủy thủ đoàn các tàu ngầm, bị chìm ở các vùng biển gần. Tàu mang theo 2 thiết bị lặn sâu cứu hộ. Ngoài ra, kết cấu đặc biệt phần mũi đã tính đến việc sử dụng tàu ngầm cứu hộ bằng phương pháp khớp nối cứng "mũi đấu mũi" với tàu ngầm bị chìm để đảm bảo di chuyển không cần buồng cách ly toàn bộ thuyền viên từ tàu bị đắm sang tàu cứu nạn. (http://flot.com/upload/blog/441//ShPubl3_4.jpg) Tàu ngầm cứu hộ đề án 940 (http://www.navy.su/navysub1945/940/index-photo.htm) Độ choán nước 3900/4800 m3, không trang bị vũ khí. Thật không may, kinh nghiệm thực tế sử dụng tàu ngầm đề án này tại Hạm đội Thái Bình Dương đã cho kết quả đáng ngờ. Đặt căn cứ tại vịnh Ulyss tàu ngầm-cứu nạn năm 1981 trong các điều kiện lý tưởng cho bản thân (khoảng cách 5 dặm đến nơi tàu ngầm S-178 bị đắm, chiều sâu 60 m), nhưng con tàu đã không thể thực hiện khớp nối "tàu ngầm-tàu ngầm" vì lớp nền ở 1 góc của tàu ngầm bị chìm. Kết quả là "tạo điều kiện" cho sự hy sinh của các thủy thủ tàu ngầm, những người đã chờ đợi trong khoang nửa chìm sự kết thúc thao tác kết nối và kiệt sức vì bị hạ thân nhiệt. ........ Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 05 Tháng Tám, 2012, 12:40:04 am (tiếp)
Tàu ngầm diesel chống tàu ngầm cỡ trung đề án 877 ("Varshavyanka", "Kilo") Là những tàu ngầm chuyên chống tàu ngầm ("sát thủ-tàu ngầm"). Từ năm 1982, đã đóng được 32 đơn vị cho các hạm đội trong nước và đóng cho hạm đội các nước "hữu nghị" khác là 14 đơn vị (Ấn Độ - 10, Ba Lan - 1, Algeria - 2, Romania - 2 và thực tế giao - 1, Iran - 3, Trung Quốc - 2) . Việc đóng loại tàu này vẫn đang tiếp tục. (http://flot.com/upload/blog/53b//ShPubl3_5.jpg) Phiên bản xuất khẩu của tàu ngầm "Varshavyanka" đề án 877 (http://topwar.ru/3942-rossijskaya-dyepl-chetvertogo-pokoleniya-stanet-principialno-novym-korablem.html) Nhà máy sản xuất: Komsomolsk-na-Amur, "Red Sormovo", Admiralty (Saint Petersburg). Tổng công trình sư - Yu.N.Kormilitsyn (SKB "Rubin"). "Varshavyanka" về bản chất là tàu ngầm diesel hiện đại thế hệ mới. Nó được thiết kế để chống lại tàu ngầm của đối phương (bao gồm cả các tàu ngầm nguyên tử hiện đại) ở các vùng biển bên trong và ngoại vi, các vùng biển lân cận, cũng chiến đấu chống lại các tàu chiến và phương tiện nổi của kẻ thù riêng một cách độc lập cũng như hợp đồng với các lực lượng hải quân khác. Ít tiếng ồn, có các đặc điểm tốc độ và vận động ưu việt, được trang bị các thiết bị điện tử hiện đại và hệ thống tự động hóa trong quản lý chỉ huy và sử dụng vũ khí. Hầu hết các cơ cấu máy có một lớp phủ hấp thụ dao động và được đặt trên các đệm giảm xóc, các khối-thành tố được bố trí trên các nền chuyên dụng đặc biệt Các tính năng kỹ-chiến thuật chủ yếu: Lượng choán nước 2 400/3 000 m3, thân dạng «albakor» (hình giọt nước). Tốc độ toàn tải tư thế ngầm - gần 20 hải lý. Đặc tính nổi bật của GEU: 2 máy phát diesel 1500 kW, động cơ điện đẩy chính công suất 5 500 sức ngựa trên một trục với chân vịt 6 cánh đường kính lớn. Vũ khí: 6 ống phóng ngư lôi (cơ số đạn ngư lôi - 12) có cơ chế điều khiển từ xa công tác chuẩn bị bắn và nạp đạn. Các tàu ngầm riêng biệt được trang bị tên lửa phòng không mang vác «Strela-2М» có hộp chứa đạn cho những phát bắn đầu tiên (Кранец первых выстрелов). (http://flot.com/upload/blog/708//ShPubl3_6.jpg) Tàu ngầm B-871 "Alrosa" (http://www.alrosa.net/photos/_1997_03.htm) (đề án 877) có bộ dẫn tiến thử nghiệm kiểu lực đẩy phản lực nước (phụt nước) thay vì chân vịt, được đóng tại nhà máy "Red Sormovo" năm 1990, hiện đang ở trong thành phần Hạm đội Biển Đen của Nga. Những thân tàu của 8 tàu đóng sau đề án 877 được tăng thêm hai khoảng dầm, cho phép lắp đặt thiết bị năng lượng mới, cải thiện tính dễ bảo trì sửa chữa. Các nhà thiết kế và chế tạo đã biết cách tăng tuổi thọ của thiết bị thêm hai lần. Trên cơ sở đề án "nguyên thủy" 877, các tàu ngầm dành cho các nước xã hội chủ nghĩa có thêm các phiên bản sửa đổi 877 E và 877 EKM. Việc đóng các "e-ka-em-mờ" trong những năm 90 của thế kỷ trước đã cho phép ngành công nghiệp Nga chuyển sang việc chế tạo một phiên bản xuất khẩu được cải tiến hoàn thiện của tàu ngầm đề án 877- đó là đề án 636 (Kilo cải tiến). Cụ thể: hệ thống sonar tiên tiến, máy phát /động cơ điện chính, máy phát điện diesel, động cơ hành trình kinh tế, tổng cộng có 36 đơn vị thiết bị được thiết kế đặc biệt dành riêng cho đề án này (tất cả đều có giảm rung), cho phép đạt tốc độ tối đa 20 hải lý mà tiếng ồn thấp hơn nhiều so với các thế hệ tàu đi trước. Kích thước và khối lượng thay đổi rất ít, chiều dài thân tàu tăng lên 120 cm, lượng choán nước chỉ tăng nhẹ. Hai tàu của đề án này hiện đang ở trong biên chế Hải quân CHND Trung Hoa. (http://flot.com/upload/blog/a97//ShPubl3_7.jpg) Tàu ngầm diesel-điện đề án 636 (http://www.oceanology.ru/krasnoye-sormovo-can-produce-again-diesel-submarine-kilo-class/) Sự phát triển tiếp tục của ngành đóng tàu ngầm phi hạt nhân trong thế kỷ 21 là đề án 636 M (SKB "Rubin", Công ty cổ phần "Nhà máy đóng tàu Admiralty"). Những tàu ngầm phân lớp "Kilo" này có hệ thống thiết bị năng lượng công suất mạnh hơn, ắc quy có thời hạn sử dụng không sạc tăng 2,5 lần cho cùng một công suất, tổ hợp sonar mạnh hơn, kính tiềm vọng có kênh nhìn đêm, máy đo xa theo kênh truyền hình và tia laser, anten kéo phổ sóng siêu dài và sóng ngắn (СДВ и КВ-диапазон), hệ thống dẫn đường quán tính mới nhất. Nhưng đặc tính chủ yếu của đề án tàu ngầm này là sự hiện diện tổ hợp tên lửa ở hai dạng: Tổ hợp «Club-S» với tên lửa chống hạm 3M-54E (Tầm bắn xa - 220 km ở tốc độ cận âm có sự chuyển sang siêu âm trong vòng 20 dặm cách mục tiêu, trọng lượng đầu đạn 220 kg) và «Club-S» với tên lửa chống hạm 3M-54E1 có tầm bắn xa lên đến 300 km và trọng lượng đầu đạn 300 kg. Hiện nay, đã ký kết các hợp đồng với Trung Quốc, Algeria và Việt Nam đóng 16 tàu ngầm, đang đàm phán với Indonesia để đóng 2 tàu ngầm đề án này. Từ năm 2010, "Nhà máy đóng tàu Admiralty" đã khởi công đóng cho Hải quân Nga tàu ngầm đề án 636,3 "Novorossiysk": độ choán nước tiêu chuẩn - 2.350 m3, độ choán nước tư thế lặn - 3.100 tấn; chiều dài 73,8 m, chiều rộng 9,9 m, mớn nước trung bình - 6,2 m; kết cấu thân 2 vỏ; thiết bị năng lượng: 2 động cơ diesel 150 kW, động cơ điện chính GED - 1x4040 kW, GED / hành trình kinh tế - 1x95 kW, hai nhóm ắc quy; tốc độ tối đa, tư thế nổi-11 hải lý, tư thế ngầm-20 hải lý; Tầm bơi xa trong chế độ RDP-7500 dặm ở tốc độ 7 hải lý, tầm bơi xa tư thế ngầm ở tốc độ 3 hải lý - 400 dặm; trang bị vũ khí: 6 ống phóng lôi 533 (18 đạn ngư lôi hoặc 24 mìn), TLPK có điều khiển (ZUR) - 6 đạn; chiều sâu lặn - 300 m; thời gian bơi độc lập - 45 ngày; thủy thủ đoàn 52 người. (http://flot.com/upload/blog/13f//ShPubl3_7b.jpg) Kormilitsyn Yuri Nikolaevitch (http://podlodka.info/shipbuilders/668-kormilitsin.html) Đề án 677 ("Lada") - thiết kế vào năm 1987 tại SKB MT "Rubin" (tổng công trình sư thiết kế Yu.N.Kormilitsyn), từ năm 1997 bắt đầu đóng tại "Nhà máy đóng tàu Admiralty" ở St Petersburg cho Hải quân Nga tàu ngầm "Saint Petersburg" và cho các đơn hàng xuất khẩu "Amur" ("Amur 950" và "Amur-1650"). Trong việc thực hiện thiết kế chúng tương tự như các tàu ngầm tiền nhiệm đề án 877 và 636, nhưng lần đầu tiên kể từ thập niên 40 của thế kỷ trước, tàu ngầm được xây dựng theo kiến trúc 1 thân duy nhất với sức nổi dự trữ tối thiểu nhằm đảm bảo tính chống chìm trong tư thế nổi, điều đó cho phép giảm lượng choán nước của nó xuống gần 1,3 lần. Thân tàu bằng thép, đồng trục có vỏ nhẹ, được chia thành 5 khoang và theo chiều cao - 3 tầng sàn, có đuôi ngang hình chữ thập, bánh lái bằng phía trước được đặt trên mui tàu. Tàu có thiết bị khử mặn và hệ thống điều hòa không khí chung trên tàu biển. Việc giảm tiếng ồn được đảm bảo bằng việc sử dụng máy phát điện diesel dòng biến đổi thay vì thiết bị GED dòng không đổi tần số thấp mọi chế độ, và một loạt các biện pháp tổng hợp để giảm mức trị số các trường vật lý. Tổ hợp thủy âm có hiệu suất cao, trong đó có cả ăng-ten sonar kéo, đem lại hy vọng cho việc phát hiện sớm các tàu chiến của đối phương, bao gồm cả tàu ngầm có tiếng ồn thấp. Việc điều khiển tàu ngầm, vũ khí và trang thiết bị kỹ thuật được tự động hóa và thực hiện từ các bàn điều hành trên buồng điều khiển trung tâm (GKP). Việc điều khiểm quản lý tất cả các thiết bị vô tuyến điện tử được thực hiện từ hệ thông tin chỉ huy tác chiến (БИУС - BIUS) "Lithium". (http://flot.com/upload/blog/095//ShPubl3_8.jpg) Tàu ngầm diesel-điện thế hệ IV đề án 677. Trang bị vũ khí bao gồm: ngư lôi phổ quát USET-80, UGST; các tên lửa siêu nhanh chống tàu ngầm "Shkval"; các tên lửa hành trình chống hạm "Biriuza» (SS-N-27 Sizzler) thuộc tổ hợp "Club-S". Việc ứng dụng các vũ khí trên thực hiện qua 6 ống phóng ngư lôi 533 mm đằng mũi (cơ số đạn 18 ngư lôi). Chu trình chuẩn bị vũ khí và khai hỏa vũ khí được điều khiển hoàn toàn tự động, sẵn sàng bắn loạt ngư lôi từ 2 ống phóng thường trực sau vài giây, tự động nạp đạn ngư lôi bằng phương pháp cơ giới hóa. Tổng số tàu ngầm đề án 677 ("Lada") đang đóng cho Hải quân Nga là 4 chiếc. Các tàu ngầm họ "Amur" ("Amur 950" và "Amur-1650") là phiên bản xuất khẩu của tàu ngầm diesel-điện lớp "Lada". Theo quan niệm của các nhà thiết kế và chế tạo, tàu ngầm đề án này có thể làm việc trong bất kỳ khu vực đại dương nào, trừ khu vực có băng bao phủ dày đặc quanh năm. Việc điều khiển tự động con tàu, cũng như toàn bộ các cơ cấu máy móc và vũ khí có thể làm giảm đáng kể số lượng kíp thủy thủ. Các giải pháp thiết kế cho phép lắp đặt một số loại thiết bị riêng, chẳng hạn như sản phẩm của khách hàng và các nước thứ ba. Các tính năng quan trọng nhất của đề án này là tàu ngầm có thể được trang bị thiết bị sinh năng lượng không phụ thuộc không khí sản phẩm của FGUB «SKB MT" Rubin", NPO "Energyia"*. Việc sử dụng các máy phát điện hóa học cho phép tăng đáng kể thời gian bơi độc lập và tầm bơi xa trong tư thế ngầm. Thiết bị với dự trữ chất phản ứng được đặt trong một module đặc biệt, có thể được kết hợp vào tàu ngầm khi đóng hoặc khi sửa chữa (nâng cấp). * tàu ngầm đề án 677 có GEU kết hợp trong đó có thiết bị diesel-điện và cả thiết bị năng lượng không phụ thuộc không khí (VNEU - ВНЭУ - воздухонезависимой энергоустановки) có tầm bơi xa liên tục khá lớn trong tư thế ngầm. Các đặc điểm chính (http://flot.com/upload/blog/bb0//ShPubl3_9.jpg) Cần thêm vào một lợi thế cạnh tranh rất quan trọng của đề án này là: - khả năng phóng loạt tên lửa chống hạm rất nhanh (t = 2 phút), làm giảm đáng kể tính hiệu quả của khả năng phòng thủ chống tên lửa của đối phương; - thời hạn khai thác phục vụ giữa các kỳ sửa chữa khá dài, nếu so với các tàu ngầm diesel-điện do phương Tây sản xuất. Khả năng tấn công các tàu ngầm này được xác định bởi sự có mặt tổ hợp tên lửa độc đáo "Club-S" - 10 bệ phóng phổ quát thẳng đứng với tên lửa chống hạm 3M-54E, hoặc 3M-54E1, hoặc với tên lửa hành trình 3M-14E (mục tiêu trên bờ) được sản xuất bởi OKB "Innovator" (thành phố Ekaterinburg). Hệ thống điều khiển tàu biển phổ quát sản phẩm của Công ty cổ phần "Kontsern "Morinformsystem-Agat"" (Moskva). Để cất giữ và phóng các tên lửa loại này có thể sử dụng ống phóng ngư lôi 533 mm. Tầm bắn xa - lên đến 300 km, độ cao bay 10-20 m, trọng lượng đầu đạn 200-450 kg, tốc độ 0,6-0,8 M, hệ thống dẫn đường kết hợp - quán tính + radar chủ động. Một loại vũ khí nữa trên "Amur" có thể là tên lửa chống ngầm có điều khiển (PLUR) 91RE1 và 91RTE2. Những tên lửa chống ngầm trên có thể phóng ra từ ống phóng ngư lôi 533 mm ở độ sâu từ 20-150 m, có tầm bắn xa 5-50 km với tốc độ 2-2,5 M, trọng lượng đầu đạn 300 kg. Trong loạt phóng vào một mục tiêu có thể phóng đến 4 đạn tên lửa, pha chuẩn bị tiền khởi động -10 giây. (http://flot.com/upload/blog/571//ShPubl3_10.jpg) Bốc xếp đạn thuộc hệ thống tên lửa "Club" trên tàu ngầm. (http://www.arms-expo.ru/049055051054124049048051055.html) Có lẽ, có thể công bằng mà coi rằng tàu ngầm «Varshavianka» trong đời phục vụ của nó đã trở thành hình mẫu xuất phát cho việc xây dựng các tàu ngầm mới của các hạm đội tương lai trong thế kỷ 21. Hiện nay, ngày càng nhiều cơ quan có uy tín về hải quân (trong số đó có cả Mỹ) tin rằng tương lai thuộc về các tàu ngầm hạt nhân và diesel. Tính đến kinh nghiệm quý giá trong đóng tàu, sự phức tạp trong việc khai thác hoạt động thiết bị năng lượng, và đặc biệt là trong việc giải trừ quân bị (việc đó các thủy thủ Hải quân Nga đã gặp phải trong quá trình chuyển đổi và giải trừ trang bị vũ khí cho các con quái vật tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân hiện đại). Khi giải quyết thuần túy các vấn đề trên biển (đấu tranh chống tàu ngầm, tiêu diệt các tàu mặt nước và phương tiện nổi) trong các khu vực hạn chế thì các tàu ngầm diesel hiện đại là không kém hiệu quả mà lại kinh tế hơn ("chi phí hiệu quả", theo định nghĩa của người Mỹ). ........ Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 05 Tháng Tám, 2012, 06:47:36 pm (tiếp)
Lịch sử của hạm đội tàu ngầm diesel sẽ không đầy đủ nếu chúng ta ít nhất không kể qua một cách ngắn gọn về các tàu ngầm nhỏ và siêu nhỏ. Những công việc đầu tiên để xây dựng các tàu ngầm siêu nhỏ ở Liên Xô bắt đầu vào giữa những năm 193x tại Leningrad. (http://flot.com/upload/blog/8c3//ShPubl3_11.jpg) Vladimir Ivanovitch Bekauri. (http://ru.wikipedia.org/wiki/%D0%91%D0%B5%D0%BA%D0%B0%D1%83%D1%80%D0%B8,_%D0%92%D0%BB%D0%B0%D0%B4%D0%B8%D0%BC%D0%B8%D1%80_%D0%98%D0%B2%D0%B0%D0%BD%D0%BE%D0%B2%D0%B8%D1%87) Trong năm 1936 các tổng công trình sư "Ostekhbyuro" (lãnh đạo V.I.Bekauri) F.V.Schukin và A.N.Scheglov đã xây dựng đề án" tàu ngầm tự hành" (APL-«автономной подводной лодки» -АПЛ) "Pygme", mẫu thử được đóng gần như ngay lập tức và cuối năm đó, đã đến thử nghiệm tại Hạm đội Biển Đen. Trong quá trình thử nghiệm đã cho thấy "những khiếm khuyết thiết kế" và công việc tạm ngừng (đã lên kế hoạch đóng loạt 10 chiếc). Thật không may, trong thời gian này nhiều người vô tội đã rơi vào nanh vuốt của Ezhov, gồm cả các công trình sư phòng thiết kế "Ostekhbyuro": năm 1938 cả Bekauri, Shchukin đều bị xử bắn, văn phòng bị giải tán. Số phận của con tàu không ai biết, theo một số báo cáo, nó bị người Đức đánh chìm năm 1944 gần Alupka. Chỉ còn các dữ liệu rời rạc về đặc điểm kỹ-chiến thuật của "Pygme": độ choán nước - 18,6 tấn, chiều dài 16 m, chiều rộng 2,6 m, tốc độ - 6 hải lý, tầm bơi xa - 290 dặm; độ sâu lặn - 30 m, vũ khí ngư lôi 2x450 mm nằm ngoài vỏ bền và 1 súng 1x7, 62 mm, thủy thủ đoàn 4 người. Năm 1984, tại phòng thiết kế SMBM "Malakhite" Leningrad, theo đồ án của tổng công trình sư L.V.Chernopyatov đã đặt ky thân tàu (thử nghiệm) đầu tiên của tàu ngầm đề án 865 ("Piranha") với mã MS-520. Tàu gia nhập biên chế hải quân tháng 12 năm 1988 và trước tháng 3 năm 1999 đã đưa vào khai thác thử nghiệm tại lữ đoàn tàu ngầm Liepaja, cùng với chiếc tàu thứ hai của đề án MS-521 (nhập biên chế Hải quân tháng 12 năm 1987). Công tác khai thác gặp nhiều khó khăn từ bản thân các cơ cấu của tàu ngầm, cũng như với việc sử dụng vũ khí đặc biệt trong chiến đấu và các chiến sỹ người nhái. Theo những lý do được biết, việc đóng các tàu ngầm lớp này đã ngưng lại, nhưng ... thiết kế và công nghệ phát triển thu được từ nó là không vô ích. Dưới đây là các đề án mới các tàu ngầm cỡ nhỏ kiểu "Piranha": (http://flot.com/upload/blog/368//ShPubl3_12.jpg) * Thân - titan + sợi thủy tinh, động cơ phát (DEU)-diesel 160 kW, mô tơ điện 220 mã lực, động cơ điện đẩy 60 kW, chân vịt-bánh lái quay, giảm chấn 2 tầng, kíp thuyền viên - 2 chiến đấu viên + 1 kỹ thuật viên. ** Đề án P-130 dự tính khả năng "đính kèm" các thiết bị. *** Đề án P-650 và P-750 dự trù phương án "B" - thêm một khoang với động cơ chu trình khép kín; "E" - khoang có máy phát điện hóa học và các bệ phóng tên lửa hành trình khác nhau. Trong các nguồn công khai, tác giả không tìm được các đặc điểm của động cơ chu trình khép kín và các loại máy phát điện hóa học hiện đại, cũng như thông tin về việc cung ứng các tàu ngầm các đề án này cho bất kỳ khách hàng nào. (http://flot.com/upload/blog/a27//ShPubl3_13.jpg) Tàu ngầm cỡ nhỏ đề án 865 (http://flot.com/upload/blog/bc5//ShPubl3_14.jpg) Tàu ngầm-phương tiện chở thợ lặn khí tài nhẹ đề án "Triton 2" Trong giai đoạn được xem xét kể trên, còn xây dựng các loại tàu ngầm khác, thiết kế cho các mục tiêu chuyên sâu (mục đích nghiên cứu và thử nghiệm). II. CÔNG TÁC HUẤN LUYỆN CÁC TÀU NGẦM TIẾN HÀNH HOẠT ĐỘNG CHIẾN ĐẤU Một thực tế cũng rất quan trọng: với sự khởi đầu công cuộc đóng mới hàng loạt quy mô lớn các tàu ngầm diesel việc làm chủ trang bị khí tài của các thủy thủ đoàn mới chưa được đảm bảo bởi một cơ sở giáo dục vững chắc. Cũng khá kinh ngạc là sự nghiệp xây dựng ồ ạt, thử nghiệm và phân phối liên không gian chiến trường cho các hạm đội diễn ra mà không có tai nạn nghiêm trọng nào với các tàu ngầm thế hệ đầu tiên. Ở một mức độ lớn, điều này được giải thích bởi thực tế hầu hết các thủy thủ đoàn đã được hình thành từ đội ngũ thuyền viên các tàu ngầm cũ kiểu "Shuka", "Maliutka", và các đề án khác v.v, đã có nhiều kinh nghiệm thực tế trong đào tạo và đảm bảo cho hoạt động an toàn của trang thiết bị kỹ thuật. Đại đa số các thuyền trưởng tàu ngầm mới đã có kinh nghiệm chiến đấu trong cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại. Và kinh nghiệm này, đặc biệt là trong quản lý và đấu tranh sinh tồn là các kinh nghiệm đã phải trả giá, nó rất quan trọng và vô cùng quý giá. (http://flot.com/upload/blog/b3f//ShPubl3_15.jpg) Các thủy thủ tàu ngầm Hạm đội Biển Bắc, nhiều lần đạt thành tích xuất sắc trong thi hành các nhiệm vụ phục vụ chiến đấu (từ trái sang phải): Lữ đoàn trưởng tàu ngầm Anh hùng Liên Xô đại tá hải quân I.A.Kolyshkin, thuyền trưởng tàu ngầm thiếu tá hải quân V.N.Kotelnikov, thuyền trưởng tàu ngầm trung tá hải quân I.I.Fisanovitch, thuyền trưởng tàu ngầm cận vệ Anh hùng Liên Xô đại úy hải quân V.G.Starikov, thuyền trưởng tàu ngầm Anh hùng Liên Xô trung tá hải quân N.A.Lunin (ảnh R. Diament). (http://energo.vstu.vinnica.ua/photo_of_war/index.html) Các thủy thủ đoàn các tàu ngầm đã hạ thủy, cũng như khi ra khỏi nhà máy sửa chữa phải thực hiện khối lượng các bài tập 1-A và 2-A. Bài tập 1-A: "Công tác tổ chức phục vụ và huấn luyện chuẩn bị cho tàu ngầm đi biển" Bài tập 2-A: "Điều khiển tàu ngầm trong tư thế nổi và tư thế ngầm" Khi đến gia nhập các đơn vị của hạm đội, các tàu ngầm được xếp vào danh sách dự bị và tiếp theo phải trải qua "Khóa huấn luyện chiến đấu cho các tàu ngầm" («Курса боевой подготовки подводных лодок» - КПЛ) một cách đầy đủ. Khóa học được chia thành hai giai đoạn: chuẩn bị của tàu ngầm hoạt động tác chiến độc lập và hoạt động tác chiến nhóm: Bài tập № 1: Tổ chức phục vụ và huấn luyện tàu ngầm đi biển. Bài tập № 2: Điều khiển tàu ngầm trong tư thế nổi và tư thế ngầm. Bài tập № 3: Trinh sát ngoài khơi vùng duyên hải của đối phương. Bài tập № 4: Huấn luyện xạ kích - tấn công ngư lôi (tên lửa), thủy lôi. Bài tập № 5: Hoạt động nhóm của tàu ngầm (trong đội hình thê đội và các nhóm chiến thuật). Trong tiến trình sát hạch tuần tự các bài tập ấy, tàu ngầm được đưa vào: chiến dịch (bài tập số 1), tuyến 2 (bài tập số 2), tuyến 1 (bài tập số 3 và 4) và "hạt nhân chiến đấu" (sau khi hoàn thành đầy đủ khối lượng của toàn bộ khóa học). Tàu ngầm thuộc "hạt nhân chiến đấu" sau các cuộc kiểm tra thích hợp sẽ được phép tiếp nhận vũ khí hạt nhân và thực hiện nhiệm vụ trực ban chiến đấu tại các điểm trú quân xa xôi (trên các quân cảng xa), được coi là các hoạt động đáng ghét nhất với các chiến sỹ tàu ngầm. "Khóa huấn luyện chiến đấu cho các tàu ngầm" về tổng thể rất căng thẳng, nhưng cân bằng tốt được sắp xếp phù hợp vào chiến dịch hàng năm; ở đây xứng đáng được coi là 1 kinh nghiệm tiêu cực của thời kỳ trước chiến tranh, khi mà các "khóa học" đã được kéo dài đến 2 chiến dịch hàng năm (kết quả là tới ngày 22 tháng 6 năm 1941, gần như 1/2 tàu ngầm của Hạm đội Baltic đã không được huấn luyện chuẩn bị cho các hoạt động chiến đấu). (http://flot.com/upload/blog/cdb//ShPubl3_16.jpg) Đài tưởng niệm các thủy thủ tàu ngầm Baltic đã qua đời và còn sống. Trong quá trình thực hiện bài tập số 1 các thuyền viên nghiên cứu các thiết bị và quy tắc hoạt động của các cơ cấu máy dưới sự giám sát cơ quan huấn luyện của mình, trả bài sát hạch và được cho phép theo thứ tự: trên tàu - tự bảo dưỡng các vị trí chiến đấu của mình, các sĩ quan - tự quản lý các nhóm và các ngành tác chiến, cũng như - tự trực hành trình trong tư thế nổi và tư thế ngầm (các sỹ quan trực và các kỹ sư cơ khí trực). Thuyền trưởng tàu ngầm khi tham gia chỉ huy có nghĩa vụ ngay lập tức trả bài sát hạch (hoặc xác nhận cho phép) điều khiển độc lập con tàu; các trợ lý chính của thuyền trưởng có nghĩa vụ đạt được sự cho phép này trong quá trình thực hiện khóa huấn luyện chiến đấu. Các thanh niên được gọi tới hạm đội và được dự định cho phục vụ trên tàu ngầm (mà các yêu cầu lựa chọn về mặt y tế rất khắt khe) có nghĩa vụ tham dự khóa đào tạo hàng năm UOPP (đội học tập đi biển trên tàu ngầm - УОПП - учебные отряды подводного плавания), sau đó họ được gửi tới các tàu ngầm với tư cách các học sinh, nơi họ có nghĩa vụ vượt qua kỳ sát hạch kiểm tra khóa đào tạo hai tháng để lấy phép được thi hành nhiệm vụ tại vị trí chiến đấu trong phạm vi "sổ tay số chiến đấu". Theo luật, thế hệ trẻ bước lên tàu ngầm đã có sự huấn luyện trong nhà trường từ các lớp 9-10; các yêu cầu với thủy thủ tàu chiến mặt nước thấp hơn. (http://flot.com/upload/blog/e5a//ShPubl3_17.jpg) Như vậy, sau 4 năm phục vụ một thủy thủ-tàu ngầm trung bình làm chủ được mức độ như sau: năm đầu tiên - chuyên gia hạng 3, năm thứ hai - chuyên gia hạng 2, và năm thứ ba - chuyên gia hạng 1 (trung sỹ hải quân - thủy thủ nghĩa vụ phục vụ quá hạn - mức "lành nghề", mặc dù còn xa mới là tất cả). Hệ thống này được thể chế hóa rất chặt chẽ và hoàn toàn hợp lý. Những sự vi phạm nó về sau này dưới dạng cắt ngắn thời hạn phục vụ còn ba năm và sau đó hai năm, và việc phục vụ hợp đồng cuối cùng dẫn đến sự gia tăng mạnh mẽ các tai nạn và các hiện tượng tiêu cực khác. Các đặc điểm huấn luyện của chiến sỹ tàu ngầm thời kỳ đó được thể hiện rõ trong việc huấn luyện ngư lôi, công tác đó được tổ chức trong các điều kiện đòi hỏi nghiêm khắc: tàu ngầm tập bắn trong toàn bộ khoa mục bài luyện tập số 4 (mục 4-B - tấn công một tàu độc lập, đi theo hướng thẳng, cho đến bài 4-I - tấn công mục tiêu tốc độ cao được bảo vệ mạnh trên đường di chuyển zik zak) theo một trình tự nghiêm ngặt. Tàu ngầm không được phép chuyển sang các kiểu tấn công phức tạp hơn khi chưa đạt được điểm "tốt" hoặc "xuất sắc". Việc xạ kích chỉ được thực hiện qua các loạt bắn ngư lôi đầy đủ (không phải vô tình người ta đề cập đến bắn ngư lôi "bọt", như sau này việc đó được đưa vào hệ thống). Vì vậy sự việc thường xảy ra như sau: vào buổi sáng tàu ngầm dỡ các ngư lôi tác chiến ra khỏi ống phóng, xếp 4 ngư lôi thực hành, nhổ neo ra khơi và tấn công "kẻ thù" bằng loạt bắn đầy đủ, sau đó khi trở về căn cứ ngay lập tức khôi phục lại cơ số đạn tác chiến; không cho phép tồn tại bất cứ sự đề cập "sau đó" nào. Tuần tự như vậy mà chu kỳ xử lý dỡ đạn-xếp đạn được lặp đi lặp lại. Tác giả dám đảm bảo: trong tuần lễ có cường độ hoạt động mạnh nhất tàu ngầm đã chuyển tải đạn ngư lôi đến 24-32 quả. Và sự cố khẩn cấp xảy ra với vũ khí gần như là số không! (http://flot.com/upload/blog/a0b//ShPubl3_18.jpg) Xếp đạn ngư lôi lên tàu qua cửa xếp dỡ ngư lôi. (http://rigapodplav.narod.ru/photoalbum_10.html) Cuộc tấn công cuối cùng (bài tập chiến đấu 4-I) được đặt trong điều kiện vô cùng khắc nghiệt: tàu ngầm tấn công phải phát hiện biên đội tàu chiến (OBK) ở phạm vi tối đa, tiếp cận bí mật trong các giới hạn "góc hướng quan trọng", chọc thủng tuyến phòng vệ một cách bí mật, đồng thời bắn trúng bằng ngư lôi tự dẫn 1-2 tàu hộ tống gần nhất rồi tiếp theo tấn công mục tiêu chính (thường là các tàu tuần dương) bằng loạt 4 đạn ngư lôi, đạt được điểm "trúng đích" (trúng mục tiêu) ít nhất hai đạn ngư lôi. Những hành vi vi phạm riêng biệt tính bí mật của cuộc tấn công - bị "kẻ thù" phát hiện ngắn hạn bởi lộ một xung radar hoặc kính tiềm vọng, tàu ngầm bị sonar tàu "địch" phát hiện "trước khi" phóng ngư lôi, hoặc bỏ lỡ loạt bắn - đều dẫn đến điểm đánh giá rất rõ ràng "không đạt". ........ Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 05 Tháng Tám, 2012, 10:01:59 pm (tiếp)
Một sự khẳng định đặc trưng cho trình tự ấy là cuộc tấn công tổng kết khóa học trong năm 1958 của tàu ngầm Hạm đội Thái Bình Dương S-150 (thuyền trưởng thiếu tá hải quân V.Kirienko) vào một biên đội tàu chiến gồm 1 tuần dương hạm và 4 tàu khu trục, đang đi từ Kamchatka vào vịnh Piotr Đại đế. Những người "ra đề" và kiểm tra cuộc tấn công là: chỉ huy binh đoàn tàu mặt nước, chuẩn đô đốc G.Chernobai, tư lệnh các lực lượng tàu ngầm của Hạm đội Thái Bình Dương, chuẩn đô đốc L.Khiyainen. Tàu ngầm S-150 (thuyền trưởng bị ốm, thân nhiệt 39 ° C; không vì thế mà được khoan dung) tấn công thành công OBK, tàu trước tiên bắn trúng bằng ngư lôi tự dẫn tàu bảo vệ và tiếp theo bắn trúng tàu tuần dương hai đạn ngư lôi. Nhưng vẫn bị đánh giá "không đạt": trước khi vào "hướng công kích" thuyền trưởng đã giương kính tiềm vọng ngắn hạn và đã bị phát hiện (trong khi cần phải ở chiều sâu không dưới 30 mét). Khi còn trên biển tàu ngầm nhận được điện: "Về căn cứ tôi sẽ làm việc với các anh". Khi tàu ngầm đến bến, chuẩn đô đốc Khyainen đã kiểm tra hết sức nghiêm khắc: ông bò đúng nghĩa bằng tay khắp các hầm tàu và các ngăn xép, sau đó nhìn các "chiến binh gà mờ dưới nước" một cách ảm đạm, và lầu bầu: "Tôi không trừng phạt các anh chỉ vì tàu sạch sẽ (http://www.farvater-submariners.com.ua/publication_far.html)". (http://flot.com/upload/blog/099//ShPubl3_19.jpg) Đánh giá tổng kết vẫn là "không đạt". Đó là dấu gạch chéo sổ toẹt khóa huấn luyện quân sự cả năm trời, tàu ngầm từ "sổ đỏ" chuyển sang "sổ đen" và được phép bắn lại (lấy điểm tổng kết) chỉ một năm sau! Trong suốt mùa đông tiếp theo, các cán bộ tham mưu và cán bộ chính trị tại tất cả các hội nghị và phong trào thi đua của hải quân không ngừng "chùi chân" vào con tàu S-150 xấu số và tay thuyền trưởng của nó. Trước cuộc tấn công thảm họa này, tàu ngầm đã hoàn tất mọi bài tập quân sự với điểm "xuất sắc"; nay tất cả các điểm đó bị hủy bỏ. "Cha Khi" là vậy đấy, theo cách người ta gọi chuẩn đô đốc L.Khiyainen một cách vừa sợ hãi vừa tôn kính trong giới của mình, ông là người đã chiến đấu trên các tàu ngầm của Hạm đội Biển Đen, nơi có những chiến sỹ tàu ngầm dũng cảm thời hậu Stalin. Kinh nghiệm của "khoa học tấn công và xạ kích" là thứ vô giá, truyền đạt cho các thuyền trưởng thông qua các nhà lý thuyết nổi tiếng-những ngôi sao sáng của khoa chiến thuật hệ đào tạo cao học chỉ huy Hải quân Xô Viết (VOLSOK VMF - ВОЛСОК ВМФ) - Lontsikh và Doronin, họ xứng đáng được nhớ mãi. Một giáo cụ thực sự quý báu và thiết thực cho các thuyền trưởng chỉ huy tàu ngầm, đặc biệt trong các cuộc tấn công "thủy âm" vào mục tiêu được bảo vệ có tốc độ cơ động cao, là bàn đạc Rulyuk (chỉ huy đơn vị, sau này là chuẩn đô đốc), qua nó mà nắm vững nghệ thuật phức tạp của cuộc tấn công thủy âm không chỉ 1 thế hệ thuyền trưởng tàu ngầm diesel. Tuy nhiên, trên các hạm đội khác người ta cũng có các bàn đạc kiểu rulyuk của họ. (http://flot.com/upload/blog/d4b//ShPubl3_20.jpg) Lontsikh Leonard Yakovlevitch ngồi thứ hai từ bên trái sang. Lớp học cho các thuyền trưởng. Leningrad, 1962-1963. Tư liệu trong bộ sưu tập của Kurenkov (http://../RigNVMU/40.HTM) Viktor Viktorovitch. Cuộc đấu tranh sinh tồn được thực hiện hàng ngày và không có chuyện làm ăn cẩu thả. Và ở đây một lần nữa kinh nghiệm tàn khốc và không khoan nhượng của các chiến sỹ tàu ngầm thời chiến tranh tỏ ra hữu ích. Hầu như tất cả các thuyền trưởng tàu ngầm trong Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại vẫn còn là sĩ quan trẻ, nhưng họ đã nếm đủ kinh nghiệm "chiến đấu cho con tàu sống còn" trong những điều kiện nặng nề, đôi khi khó khăn không thể tin được của hoàn cảnh chiến đấu. Quy tắc vàng là sự thao luyện hàng ngày "các biện pháp trọng yếu", kết quả là mỗi chiến sỹ tàu ngầm biết khoang tàu của mình "còn rõ hơn so với người mẹ ruột thịt", và nhắm mắt lao như viên đạn khắp khoang tàu trong bóng tối như hũ nút. Trong lúc có các các hoạt động trọng yếu và tập luyện các bài tập cứu nạn khẩn cấp trong các khoang, chỉ huy là trưởng khoang (theo luật, trung sĩ hoặc chuẩn úy hải quân), còn "các ngài sĩ quan" đã hành động trong tư thế các anh "binh nhì" (kể cả thuyền trưởng tàu ngầm). Giá mà độc giả nhìn thấy bao nhiêu vết xanh và vết bầm tím trên khuôn mặt thuyền trưởng khi tiếng cười của các thủy thủ bật lên! Nhưng tiếng cười và tiếng khúc khích không ác ý: nó không làm suy xuyển, mà củng cố uy tín của thuyền trưởng và sự gắn kết với đội ngũ chỉ huy: thuyền trưởng cũng biết làm những việc mà tôi vẫn làm". Cuộc đấu tranh vì sự sinh tồn và tính chống chìm trong tư thế lặn của tàu ngầm diesel thỉnh thoảng diễn ra như thế nào, ta có thể được hiểu khi nhắc lại dưới đây một cảnh tượng diễn ra đã rất lâu tại Hạm đội Thái Bình Dương. Tháng 8 năm 1959, tàu ngầm S-331 đi ra khu vực nước sâu để kiểm tra thân tàu khi lặn ở chiều sâu làm việc. Đi kèm nó là tàu giám sát - tàu ngầm S-150, mà tác giả câu chuyện chính là trợ lý chính của thuyền trưởng, quan sát được toàn bộ bức tranh diễn ra từ cầu điều hướng trên tàu ngầm của mình. (http://flot.com/upload/blog/bdd//ShPubl3_21.jpg) S-331 bên mạn tàu căn cứ nổi "Phương Bắc". Thông tin Lịch sử. (http://www.submarines.narod.ru/Substory/5_613_331.html) S-331 đang lặn ở tuyến thứ nhất; không đòi hỏi có bảo hiểm gì đặc biệt (dưới hình thức biên đội tàu của lực lượng cứu hộ). Con tàu duy trì tư thế lặn ở tất cả các độ sâu với bội số là 25-30 mét, kiểm tra sườn phía ngoài, phát tín hiệu mã hóa "chiều sâu... mét, tất cả bình thường", và lặn tiếp. Tàu ngầm-giám sát duy trì vị trí ở tầm tiếp xúc thủy âm và tiếp nhận các tín hiệu mã hóa. Tất cả đã diễn ra trôi chảy. Nhưng tại độ sâu kiểm tra cuối cùng là 170 mét, tàu ngầm đang lặn không phát tín hiệu. Sau đó đã có gì đó xảy ra, vì thế các quan sát viên từ phía tàu ngầm-giám sát bắt đầu thấy tóc gáy dựng ngược: đột nhiên S-331 gần như bay vút lên mặt biển: toàn bộ thân tàu ngầm chọc lên không trung từ khoang 1 đến khoang 6 (vọt lên đến - 60-65 mét), chỉ còn khoang 7 và bánh lái đuôi và chân vịt vẫn ngập trong nước. Tàu ngầm bảo hiểm S-150 tiến gần lại và hỏi qua đường điện đàm: "Cần giúp gì không? Có cần móc lai dắt không?" Từ tàu ngầm đang ở tình trạng khẩn cấp người ta trả lời bằng tín hiệu: "Tàu bị ngắt điện, chúng tôi đóng mạch máy diesel sang trục chân vịt, chúng tôi sẽ tự về đến nhà được". Các tàu ngầm khởi hành về căn cứ. Tàu ngầm lao vụt xuống dưới nước y như vậy, sau đó trồi vọt lên (lần này đến tận khoang số 5), tàu lặn ngược xuống, rồi ló lên trên mặt biển (nhô tháp buồng lái), sau đó lật sang một bên, lấy lại tư thế nổi và chao đảo trên mặt biển. Trên cầu điều hướng nhiều người xuất hiện. Sao, còn bên trong tàu thế nào? Dưới đây là lời kể của trợ lý chính thuyền trưởng S-331 A.Lutsky (sau này là chuẩn đô đốc): - Chúng tôi đang lặn theo đúng kế hoạch. Tôi cho rằng, tôi đang đứng dưới cửa nắp phía thấp đã lật ra và theo dõi sườn tháp chỉ huy, tay tôi bám chặt bậc thang thẳng đứng. Và đột nhiên, ở độ sâu 170 mét một tiếng rít như roi quất xé ngang tai, ngay lập tức xuất hiện một đám sương mù đặc quánh. Tàu lao vút lên trên, đập ngực tôi vào bậc thang đứng, và trong chốc lát tôi như thể bị "chẻ đôi" một cách tạm thời. Nhưng trước đó tôi còn kịp nhớ cử chỉ của thuyền trưởng: "Thổi dằn!" Không có khẩu lệnh, mà có cũng vô ích. Sau đó, tôi nhớ không gì nữa, trừ việc đôi chân của tôi lao lên phía trên, chợt tỉnh tôi lại bị giật xuống phía dưới và tôi đã ở vị trí thẳng đứng. (http://design.flot.com/upload/blog/49c//ShPubl3_22.jpg) Lutsky Anatoly Nikolaevitch. - Sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Con người, sự kiện, con tàu. - St Petersburg, năm 2005. Số đặc biệt nguyệt san Taifun. Sau này mới rõ: nắp bịt của một trong các van giữ tháp không khí áp suất thấp trên trần nhà bị bật ra. Đó là sự may mắn của chúng tôi, vì bung nắp nhưng không phải toàn bộ thân van. Luồng nước có độ dày chỉ cần bằng ngón tay ở độ sâu đó có thể phóng xuyên qua cơ thể con người. Khi thổi dằn khẩn cấp, tàu ngầm lao vụt mũi lên trên với góc chúi gần 90 °. Trong các hố ắc quy tất cả chất điện phân của các ngăn đổ trào, thiết bị bảo vệ trường hợp khẩn cấp làm việc, các đèn tắt phụt... Toàn bộ nhân viên lăn hết vào các vách ngăn. Tuy nhiên, sau này mới biết chẳng ai bị tàn tật. Tất cả các loại hộp, thùng chứa và các thiết bị xách tay đã được chằng giữ chắc chắn theo kiểu hành quân đi biển, điều đó đã cứu thoát nhiều người khỏi thương tích. Tóm lại, công tác tổ chức của thủy thủ đoàn khá cao. Thật may là đã có một "happy end" như vậy. Đến giữa những năm 195x, và sau này nữa, công tác thao luyện đấu tranh vì sự sinh tồn của con tàu trong những "điều kiện kẻ thù sử dụng vũ khí hạt nhân và vũ khí hóa học" đã trở nên một môn thực hành đặc biệt hợp thời. Cuộc "đấu tranh" này đôi khi mắc phải những hình thức khá kỳ khôi. Mọi việc diễn ra dù có êm nhưng không thiếu chuyện kỳ quặc vốn chỉ tồn tại trong hoạt động thực tế ở nước Nga. "Bảng chữ cái" chính của thủy thủ được coi là một "Bản cửu chương". Cần phải thuộc lòng nó. Trong quá trình "chiến dịch chống hạt nhân", các sỹ quan thanh tra từ tất cả các bộ tham mưu rải đầy lên tàu như hạt đậu. (http://design.flot.com/upload/blog/a06//ShPubl3_23w.jpg) Đôi khi kiến thức của những thanh tra viên tỏ ra nghèo nàn hơn câ "bản cửu chương" bất hạnh. Thường thì đó là một trò hề: thanh tra viên có mặt trên tàu, đi kèm sự phục vụ trên tàu, anh ta sải bước trịnh trọng trên boong. Trong phòng dưới, theo thường lệ, họ không xuống. Xem xét vẻ rất quan trọng và có trách nhiệm. Người nhà nước mà! Kìa một mẩu sắt, thế rồi anh ta đột nhiên hích vào một thủy thủ đứng gần nhất: "Bom nguyên tử nổ ngay trên boong mũi! Hành động của anh?" Hiệu quả của "đầu bài" như vậy luôn rất ấn tượng: thanh tra viên với vẻ đau xót cho quốc gia bước lên cầu tàu vội vã báo cáo cấp trên - "trên tàu này các thuyền viên không được huấn luyện gì!" Còn ban lãnh đạo con tàu (và cả tàu ngầm cũng vậy) làm vẻ mặt vô cùng giận dữ và giơ nắm đấm trước bộ dạng toát mồ hôi của cậu thủy thủ: "U-u, cậu, đ-đồ-h-hậu đậu!" Bởi lẽ trong Quân đội (tiểu đoàn, đại đội, trung đội) và Hải quân người ta đã ban hành theo một phương thức duy nhất các hướng dẫn về PAZ (ПАЗ - bảo vệ chống vũ khí nguyên tử - противоатомной защите) và PKHZ (ПХЗ - chống vũ khí hóa học - противохимической защите), nên hạm đội (tàu khu trục, tàu quét mìn, tàu ngầm) cũng đều hoạt động theo cùng một phương pháp tiêu chuẩn hóa đồng nhất. Khoa mục kết thúc, mà do đó là khoa mục quan trọng nhất của bài tập № 2 ("bảo vệ tàu ngầm chống vũ khí nguyên tử và vũ khí hóa học") được đạo diễn theo cùng một kịch bản: tàu ngầm đang đậu tại bến, máy bay kẻ thù công kích đột ngột, thả xuống chiếc tàu ngầm không may hoặc một quả bom hạt nhân, hoặc một thùng hơi độc-luzit. Đáp lại những hành vi đê hèn của kẻ thù trên tàu tuyên bố "báo động hóa học", từ trong thân tàu người ta leo ra khoác đầy các loại máy đo liều lượng phóng xạ, các hộp chất thử phản ứng trinh sát hóa học và vạch phấn "nơi này bị nhiễm". Theo sau họ trong bộ phòng hóa đầy đủ, vũ trang các chậu gỗ, bàn chải cọ sàn và các cây chổi dài mọi người leo lên các thang sắt như những con cua xấu xí, các nhân viên ODO và DDO (ban khử khí độc cơ bản và bổ sung), họ cẩn thận chà xát bằng nước ngoài mạn "các vị trí bị ô nhiễm". Thông thường, bố già-thuyền trưởng và trưởng ngành hóa người nghiệm thu bài tập sẽ đứng trên cầu điều hướng (tất nhiên, không có mặt nạ) và hét lên hách dịch: "Này, các anh ở chỗ kia! Đừng có rớt xuống biển!" Đương nhiên có thể di chuyển khỏi cầu tàu, lặn, và rửa sạch tất cả các thứ "nhảm nhí" này. Nhưng sáng kiến trái "phương pháp" và không được khuyến khích. Việc đào tạo các thuyền trưởng tàu ngầm được thực hiện rất khắc nghiệt. Và điều này, tất nhiên, có ảnh hưởng từ trường học trong thời kỳ chiến tranh. Người sỹ quan được phép điều khiển độc lập và bước vào chỉ huy tàu ngầm, được quyền mang trên ngực phù hiệu "Thuyền trưởng tàu ngầm (http://izhig.ru/nagrudnye-znaki-svs/znak-komandir-podvodnoi-lodki.php)" - một con "cá măng" cũ mạ bạc có ngôi sao ở giữa. Phù hiệu này được đeo với niềm tự hào đặc biệt và người ta đánh giá nó cao hơn cả các huân chương; nó gợi lên lòng kính trọng của tất cả các thủy thủ. (http://design.flot.com/upload/blog/238//ShPubl3_24.jpg) ........ Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 06 Tháng Tám, 2012, 11:39:07 pm (tiếp)
Người sỹ quan được bổ nhiệm cương vị trợ lý chính (hay trợ lý) thuyền trưởng tàu ngầm, có nghĩa vụ trong thời hạn 6 tháng phải vượt qua kỳ kiểm tra lý thuyết và thực hành để được quyền điều khiển độc lập con tàu thuộc đề án của mình. Trong phần lý thuyết ứng cử viên lấy giấy phép cần phải được sát hạch: - trước trưởng ngành hoa tiêu đơn vị - toàn bộ không gian chiến trường trên biển trong bán kính hoạt động chiến thuật của tàu ngầm: ghi vào trí nhớ kế hoạch của bất kỳ vịnh, và eo biển nào, v.v với tất cả các mối nguy hiểm về đạo hàng, các luồng lạch và các độ sâu; thực hiện kiểm soát công tác đạo hàng với tất cả các loại thủ thuật khéo léo, giải bài toán thiên văn trong thời hạn quy định. Thông thường trưởng ngành hoa tiêu không bận tâm về những hiểu biết xuất sắc: ông ta đơn giản cầm lấy bản đồ, so sánh và rít lên qua hàm răng nghiến chặt: "Đây này, anh không tránh hòn đá dưới nước này. Anh không biết. Anh cứ đi đi ... "; - trưởng ngành cơ điện (chỉ huy phó đơn vị phụ trách cơ điện hàng hải): ghi vào trong trí nhớ bất kỳ hệ thống nào của con tàu (mà thường là phức tạp hơn so với bất cứ mạch bán dẫn nào), thực hành tính toán nhanh sự ổn định và dự trữ nổi của con tàu theo các phương án khẩn cấp nước ngập khác nhau vào các khoang tàu và v.v; - chủ nhiệm trinh sát: lấy từ trong óc ra các số liệu kỹ-chiến thuật của các loại tàu chiến cơ bản của kẻ thù tiềm năng, phân loại phương tiện mang theo các tham số làm việc của hệ thống vô tuyến điện tử của chúng (radar và sonar); - với các "đầu rồng trưởng ngành" khác - như nhau, cộng thêm chỉ thị và hướng dẫn mới nhất. Sau khi vượt qua phần lý thuyết, ứng cử viên đi sang đơn vị của người khác, được họ sử dụng trong chế độ "nô lệ da đen", đồng thời học tập trên biển khoa học điều khiển con tàu (theo luật, trong bơi tự chủ, với việc thực hiện các nghĩa vụ chính thức hoặc nghĩa vụ kép). Như vậy, các thuyền trưởng đơn vị khác xác nhận phần thực hành bằng sự tô điểm của mình. Và chỉ sau đó đối tượng được thử thách mới có mặt tại lữ đoàn nhà mình, và trình lên vô số giấy tờ có chữ ký "đã qua sát hạch". Giấy phép được tuyên theo mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội. Nhưng điều đó chưa phải là tất cả: người sỹ quan được gửi đến Hệ đào tạo bổ túc cao cấp sỹ quan Hải quân (VOLSOK VMF) và chỉ sau khi hoàn thành chương trình học tập một năm mới trở thành một thuyền trưởng tàu ngầm có giá trị đầy đủ. (http://design.flot.com/upload/blog/822//ShPubl3_25.jpg) Đó là thời đại khi vị trí "thuyền trưởng tàu ngầm" là một niềm tự hào đặc biệt và là một mục tiêu ấp ủ của mỗi sỹ quan đi tàu. Thông tin từ người biên tập Về các chỉ huy Hải quân Xô Viết Từ tháng 5 đến tháng 9 năm 1938 đã đàn áp hơn 3.000 người. (trong giai đoạn 1933-1937 các trường hải quân đã đào tạo được 3233 thuyền trưởng của Hải Quân Công Nông ), bị xử bắn trong cuộc "thanh trừng vĩ đại" có 6 tư lệnh hạm đội và phân hạm đội, 5 tham mưu trưởng hạm đội, 14 lữ đoàn trưởng và 17 tiểu đoàn trưởng. Kết quả là sự thiếu hụt đội ngũ chỉ huy tới tháng 3 năm 1939 lên tới 30% biên chế chính thức. Được bổ nhiệm vào tháng 11 năm 1938 làm Dân ủy NKVD, L.P.Beria bắt đầu tẩy sạch khỏi "cơ quan" các nhân vật phản diện (tổng cộng 7.372 người bị đuổi ra khỏi NKVD - 22,9% tổng số cộng tác viên, thành phần lãnh đạo - 3.830 người, tức là 62% ), và sau đó phóng thích những người vô tội. Tổng số trong những năm 1939-1940 đã phóng thích và phục hồi 837.000 người, bao gồm cả những đô đốc trong tương lai như L.A.Kurnikov, M.A.Krupsky, N.I.Tsvetkov, bác học nổi tiếng A.I.Berg, nhà thiết kế chiếc tàu ngầm hạt nhân đầu tiên V.N.Peregudov (ngồi trong cùng một xà lim với nguyên soái trong tương lai Rokossovsky), các anh hùng tương lai của Chiến tranh Vệ quốc A.V.Eliseev, N.A.Lunin, G.N.Kholostyakov, B.V.Khoroshkhin và rất-rất nhiều những con người hữu ích khác cho hạm đội. (http://design.flot.com/upload/blog/629//ShPubl3_26.jpg) Khoroshkhin Boris Vladimirovitch (http://kortic.borda.ru/?1-10-0-00000029-000-120-0) Nhưng! Vào tháng 6 năm 1941 có 28,6% đội ngũ chỉ huy của Hồng quân Công Nông và Hải quân Công Nông là những người trẻ ở độ tuổi dưới 25 và 57% trong độ tuổi 26-35. Và trong số đó có một số lượng hợp lý các thuyền trưởng ở các trình độ khác nhau, được gọi phục vụ gấp trong số các thủy thủ các hạm đội tàu buôn và đánh cá. Theo tính toán của đại tá hải quân E.P.Sazansky, cựu thuyền trưởng tàu ngầm đề án 641 B-437 và B-146, chi phí đào tạo một thuyền trưởng tàu ngầm diesel trong những năm 60 -80 của thế kỷ trước là: 1. Đào tạo học viên trong trường quân sự (5 năm) - 500 000 rúp. 2. Chi phí một tàu ngầm diesel theo loạt - 3 5000 000 rúp. 3. Nuôi dưỡng tàu trong một tháng - 500.000 rúp, 1 năm - 6 triệu rúp. 4. Chi phí một ngư lôi theo loạt -100 000 rúp. 5. Chi phí 1 tấn nhiên liệu diesel - 800 rúp. 6. Chi phí một lần lên dock - 12 500 rúp. Và để trở thành một thuyền trưởng, bạn phải: 1. Hoàn thành toàn bộ khóa học đào tạo tàu ngầm. 2. Sử dụng 500 tấn nhiên liệu. 3. Hoàn thành 6 lần phóng ngư lôi. 4. Tiến hành đưa tàu của mình lên dok. 5. Nắm vững khoảng 750 tài liệu hướng dẫn. 6. Trải qua tất cả các tổ chức và các cơ quan, đảm bảo cho cuộc sống hàng ngày và huấn luyện chiến đấu của con tàu. Giáo dục trong trường quân sự - 500 000 rúp. Chi phí cho tàu ngầm - 35 triệu rúp. Nuôi dưỡng tàu ngầm - 6 triệu rúp. Ngư lôi - 600 000 rúp. Docking - 9 triệu rúp. Nhiên liệu - 400 000 rúp. Tất cả các dạng đảm bảo cho tàu ngầm - 5 triệu rúp. Tổng số: 56,5 triệu rúp. (http://design.flot.com/upload/blog/ba6//ShPubl3_27.jpg) Sazansky Evgheny Petrovitch (http://www.naflote.ru/user/3188/photo/photo/user_3188/1342/20159/). Thêm vào đó là chi phí bảo đảm y tế (bao gồm cả nghỉ ngơi-an dưỡng tại các nhà nghỉ) cho người sỹ quan và vợ anh ta, nhà trẻ (trường học) cho con cái họ, căn hộ của sỹ quan và các chi phí bảo đảm không phục vụ chiến đấu. Thế còn thống kê chi phí đảm bảo cho chiến đấu? - Các giờ bay của máy bay chống ngầm và hao mòn tài nguyên của các tàu mặt nước, công tác của SCH và TT thông tin, cơ quan trinh sát (bao gồm cả vệ tinh nhân tạo) và nhiều thứ nữa. "Và chỉ là - đất nước đang từ giã một cách không xót thương với các thuyền trưởng tàu ngầm". (I. Kasatonov Hạm đội đi ra đại dương - Moskva: NXB Ngọn cờ Thánh Andreev, 1996, trang 214-215.) Năm tháng trôi qua. Đã đến thời mà các sĩ quan từ chối chỉ huy những con tàu, còn các học viên tốt nghiệp trường quân sự tìm kiếm nơi trú ẩn trong các cơ quan tham mưu, kho tàng, viện nghiên cứu và nói chung ... những văn phòng không bụi bặm. Và hoặc là người ta chạy vào các công ty cổ phần và những nơi "hot" khác. ........ Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 07 Tháng Tám, 2012, 08:16:34 pm Cam Ranh ngày chưa xa lắm đây các bác các bạn ơi: (http://682pl.jimdo.com/l%E1%BB%8Bch-s%E1%BB%AD-h%E1%BA%A3i-%C4%91%E1%BB%99i-t%C3%A0u-ng%E1%BA%A7m-182/)
Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 08 Tháng Tám, 2012, 12:29:05 am (tiếp)
CÔNG TÁC HUẤN LUYỆN CÁC TÀU NGẦM ĐỂ HOẠT ĐỘNG TÁC CHIẾN THEO NHÓM Kinh nghiệm của các cuộc Chiến tranh Thế giới thứ Nhất và thứ Hai cho thấy các tàu ngầm diesel đơn lẻ với các kíp thủy thủ kinh nghiệm có thể là thứ vũ khí thực sự bí mật và đáng sợ, nhưng theo quy luật, họ đạt các kết quả chiến đấu xuất sắc trong những điều kiện đặc biệt, những điều kiện chiến trường thuận lợi đối với bản thân họ, được gọi là "món quà của trời cho". Nói ngắn gọn, đó là khi điều động tàu ngầm tới mục tiêu ngon ăn, và đối phương không được tổ chức tốt. Tác giả thấy có thể tái hiện lại số trường đoạn chiến đấu ít được biết, nhưng thú vị trong lịch sử các hạm đội trong nước và nước ngoài. Khi bắt đầu Chiến tranh Thế giới thứ Nhất, một tàu ngầm cũ của Đức U-9 đã đạt được những kết quả đáng kinh ngạc, đánh chìm ba tàu tuần dương Anh trong một cuộc tấn công. Dưới đây là một tài liệu kỳ lạ, được xuất bản chỉ có một lần ở nước Nga vào năm 1915. (http://flot.com/upload/blog/77b//ShPubl3_28.jpg) Báo cáo của thuyền trưởng tàu ngầm Đức U-9 đại úy hải quân Otto Weddigen (http://uboat.net/wwi/men/commanders/390.html) về vụ đánh chìm tuần dương hạm của Anh ở Hoek van Holland gần bờ biển Hà Lan ngày 22/11/1914. "Tôi đang bơi trên mặt nước, trừ trường hợp khi trên biển xuất hiện tàu, khi đó tôi sẽ lặn ngay, thậm chí không lộ cả kính tiềm vọng. Lúc 6:10 sáng, tôi thấy một trong các tuần dương hạm lớn của Anh đang ở cách Hoek van Holland 18 dặm; tàu ngầm của tôi rời khỏi căn cứ của mình ngoài 200 dặm khá xa; con tàu của tôi mặc dù là loại cũ, nhưng hoạt động còn rất tốt. Chúng tôi ở dưới nước, chỉ nhô kính tiềm vọng lên 5 foot. Nhưng khi chúng tôi nhìn thấy tàu tuần dương, thì chúng tôi đã hoàn toàn chìm trong nước và tiếp tục di chuyển về hướng các tàu tuần dương để chiếm lĩnh một vị trí giữa chúng sao cho nằm giữa một hình tam giác được hình thành bởi ba tuần dương hạm. Khi tôi đi lên trở lại, tôi đã ở khoảng cách phóng mìn, nhưng muốn chắc ăn, một lần nữa tôi lại lặn xuống và tiến gần hơn về phía các tàu tuần dương; sau đó tôi lại đi lên, ước lượng khoảng cách, quyết định từ vị trí hiện tại phóng mìn (khoảng cách không được tiết lộ, nhưng có thể giả định nhỏ hơn một dặm nhiều, mặc dù tầm bắn của mìn Đức là 4 dặm -.tác giả). Khi đó, lặn xuống tầm 12 foot, tôi phóng 1 trái mìn, nó rơi đúng vào thân tàu dưới hầm đạn, vụ nổ hầm tàu đã hoàn tất cái chết của tuần dương hạm (đó là HMS "Aboukir") trong thời gian một vài phút; tàu ngầm cảm nhận được tiếng ồn và rung động truyền tới từ vụ nổ tàu tuần dương; thủy thủ đoàn của nó chứng tỏ rất can đảm, họ đứng ở vị trí các khẩu đại bác cho đến tận khi thân tàu chìm và sẵn sàng bắn, nhưng không kết quả, bởi tôi đã lặn xuống nước, tuy nhiên tôi đã kịp nhận thấy 2 tuần dương hạm mở hết tốc lực tiến tới hỗ trợ cho đồng đội của mình. (http://flot.com/upload/blog/fe9//ShPubl3_29.jpg) Đi xuống độ sâu thích hợp, một lần nữa tôi lại phóng một trái mìn vào chiếc tàu gần nhất trong chúng (HMS "Hogue"); người Anh đã giúp tôi thực hiện nhiệm vụ của tôi; trái mìn rơi trúng "Hogue" nhưng ít thành công hơn lần đầu tiên, bởi vì tàu tuần dương còn nổi trên mặt nước trong khoảng 20 phút, sau đó nghiêng qua và chìm. Tàu tuần dương thứ ba, khi đó đã đánh giá được hiểm họa mà nó gặp phải, - nó tiếp cận thận trọng theo đường zigzag, vừa đi vừa khai hỏa các cỗ đại bác tốc độ bắn cao, nhưng không thành công, mặc dù một trong những phát trái phá rơi khá gần chúng tôi. Tới khoảng cách gần nhất, tôi phóng về "Cressy" hai trái mìn, tiếp theo là vụ nổ, đội thủy thủ đến phút cuối vẫn đứng bên các cỗ súng, chứng tỏ chủ nghĩa anh hùng truyền thống của các thủy thủ Anh. Rời khỏi tử địa của các tàu tuần dương, tôi cố gắng thỉnh thoảng xuất hiện trước khu trục hạm của đối phương, để thu hút chúng vào khu vực các tàu tuần dương của Anh bị chìm, và trong bóng hoàng hôn chúng nhìn thấy tôi, cố gắng cất vó tôi, nhưng chúng tôi không sập bẫy, và chẳng bao lâu họ chấm dứt truy đuổi" (Sổ tay tham khảo Hạm đội Đế quốc Nga, nxb Sytin, Petrograd năm 1915). Từ tài liệu ta thấy rõ ràng U-9 hoạt động trong những điều kiện lý tưởng cho bản thân nó và người Anh tỏ ra bất lực trước mối đe dọa từ dưới nước. Đồng thời đừng quên rằng trong 351 tàu ngầm Đức đã tham gia những năm chiến tranh 1914-1918, 178 tàu (50%) đã bị đánh chìm. Chúng ta đã biết rõ cuộc tấn công nổi tiếng của thuyền trưởng K-21 N.Lunin vào thiết giáp hạm Đức "Tirpitz" (1942), của thuyền trưởng S-13 A.Marinesko vào chiếc tàu thủy cỡ lớn của Đức "Wilhelm Gustlov" chở trên boong cả một trường đào tạo thủy thủ tàu ngầm (1945). Nhưng ít người biết về các cuộc tấn công không kém phần nổi tiếng của tàu ngầm Mỹ "Archerfish" (thuyền trưởng J. Wainwright) ngày 23 tháng 11 năm 1944, đánh chìm tàu chiến lớn nhất thời ấy - tàu sân bay Nhật Bản "Shinano" (http://historius.narod.ru/foto/carriers/shinano.htm) (lượng choán nước 72.000 tấn). (http://flot.com/upload/blog/263//ShPubl3_30.jpg) Trong tất cả các trường hợp chiến đấu này, tuy vậy, đi kèm các thủy thủ tàu ngầm dũng cảm là thần May Mắn của họ (tất nhiên, được nhân lên với kỹ năng của những thuyền trưởng tàu ngầm và thủy thủ đoàn). Đồng thời, các số liệu thống kê quân sự bình quân cho thấy rằng, khi hoạt động trong điều kiện khó khăn và môi trường luôn có sự tăng cường và cải tiến liên tục của hệ thống phòng thủ chống tàu ngầm, những tàu ngầm đơn lẻ chỉ đạt được những kết quả nặng về chiến thuật (không hoạt động tác chiến) và phải hứng chịu những tổn thất nặng nề. Theo chương trình nghị sự về chiến tranh mà nổi lên vấn đề quy tụ đòn tấn công của một nhóm tàu ngầm. Vì lý do này, trong "Trận chiến giành Đại Tây Dương" bộ chỉ huy Đức trong những năm 1940-1943 đã sử dụng phương pháp "bầy sói" để tập trung các đòn tấn công vào các đoàn tàu xuyên Đại Tây Dương của đối phương. Phương pháp "bầy sói" thực ra khá đơn giản: tàu ngầm đầu tiên phát hiện đoàn công voa đối phương sẽ báo cáo điều này (cho "bố già Doenitz") và chuyển sang giám sát bí mật đoàn tàu, định kỳ thông báo vị trí, hướng và tốc độ. Sở chỉ huy tập hợp về phía đoàn công voa tất cả các tàu ngầm đang ở trong vòng bán kính có thể kịp tăng tốc tiếp cận mục tiêu. Cùng với bóng tối đang xuống, những chiếc tàu cuối cùng đột nhập vào bên trong đội hình hành quân và trong tư thế nổi chúng hoành hành như lũ sói trong chuồng cừu. Ví dụ, một trong những "bầy sói" quân số bao gồm 6 chiếc tàu ngầm Đức trong thời gian 17-19 tháng 10 năm 1940 đã đánh chìm 20 tàu trong thành phần các đoàn công voa STS-7 (trong đó có cả các "ách" tàu ngầm nổi tiếng: Kretschmer (U-9) - 7, Frauenheim (U-101) - 8 tàu). Ngay sau cú đầu tiên, "đàn sói" trong khoảng từ 19 đến 20 tháng 10 đã tấn công đoàn công voa NKH-79 và tiêu diệt thêm 12 tàu nữa. Các cuộc tấn công chỉ bị ngừng lại vì đã hết đạn ngư lôi. Tổn thất của tàu ngầm là bằng không. Một phương pháp tương tự như phương pháp "bầy sói" (http://korabley.net/news/volchi_stai_karla_djonica_ili_podvodnye_lodki_tretego_rejkha/2010-03-31-523) (với một phạm vi và kết quả khiêm tốn hơn nhiều) cũng được các tàu ngầm Mỹ sử dụng trên Thái Bình Dương. (http://flot.com/upload/blog/4a0//ShPubl3_31.jpg) Tuy nhiên, phương pháp được đặt tên 1 cách khéo léo này cũng có nhược điểm lớn: dõi theo sự trao đổi điện vô tuyến nhộn nhịp, kẻ thù đồng thời sẽ đoán ra việc điều động các tàu ngầm hướng tới đoàn công voa; sự xuất hiện radar trên tàu biển làm giảm mạnh khả năng giữ bí mật tiếp cận của những "con sói" về phía các nạn nhân của "bầy sói"; sự xuất hiện của tàu sân bay hộ tống đoàn công voa đã nhanh chóng vô hiệu hóa tính hiệu quả của chiến thuật "bầy sói " (giờ đây đã đến lúc các tàu ngầm thường chịu những tổn thất còn lớn hơn so với các tàu trong đoàn công voa). Vậy nên trong tháng 5 năm 1943 quân Anh-Mỹ mất 42 tàu ở Đại Tây Dương, nhưng người Đức cũng mất 38 tàu ngầm (trong nửa đầu năm 1942, cứ một tàu ngầm Đức bị đánh chìm thì phải có 210.000 tấn tàu đối phương bị đánh chìm, và đến tháng 5 năm 1943 con số đó chỉ còn là 5.500 tấn). Trong tháng 6 năm 1943, tại giai đoạn đỉnh điểm của "Cuộc chiến giành Đại Tây Dương", Đức đã đánh chìm 20 tàu và bị mất 21 tàu ngầm, trong tháng 7 với 45 tàu bị đánh chìm họ mất 33 tàu ngầm. Trong tháng 9 và tháng 10, trong số 2468 tàu trong thành phần 64 đoàn công voa vượt Đại Tây Dương, Đức chỉ đánh chìm được 9 tàu và mất 30 tàu ngầm. Nhưng những “U-boat" Đức đã “thu hút về mình” hoạt động của hơn 3.000 tàu và một hạm đội nhiều ngàn máy bay của kẻ địch. Tiện thể cần lưu ý thích hợp đến những điều sau đây. Trong các nguồn nước ngoài có sự chấp nhận tán dương và khen ngợi sự táo bạo và chủ nghĩa anh hùng của các thủy thủ tàu ngầm Đức. Tuy nhiên, tới giai đoạn 1944-1945, khi các kíp thủy thủ được đào tạo tốt nhất đã chìm theo tàu, trong những điều kiện tổn thất tăng vọt tinh thần chiến đấu của các thủy thủ tàu ngầm Đức đã bị giáng 1 đòn mạnh đến mức không thể hồi phục được; năm 1955 một người Latvia từng phục vụ lâu năm tại căn cứ hải quân Libava (Liepaja) kể rằng vào năm 1944 các thủy thủ trên các tàu ngầm Đức neo đậu tại bến cảng Tosmare đã bỏ trốn vào rừng ra sao và bị bọn SS bắt và xử bắn thế nào. Chẳng hạn, theo số liệu của nhà báo Đức P.G.Freyer, "tới tháng 7 năm 1944 đã có 836 sỹ quan và thủy thủ hải quân của Hitler bị xử tử. Trong thời kỳ khó khăn chung này, các tòa án quân sự đã kết án tổng cộng 6.850 sĩ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp và thủy binh Hải quân Đức *. (http://flot.com/upload/blog/d90//ShPubl3_32w.jpg) * Paul Herbert Freyer. Những con sói biển của Hitler. (http://shop.armada.ru/books/287895/) / bản dịch từ tiếng Đức của I. Rozanov. - Moskva: nxb Đội Cận vệ Thanh niên, năm 2004, trang 220. Vì vậy, khi mà trong giai đoạn cuối cùng, cường quốc Xô viết bằng sự nghiệp xây dựng ồ ạt các tàu ngầm diesel đã đề ra 1 yêu cầu rất rõ ràng về cuộc chiến đấu giành quyền thống trị trên các biển và đại dương, thì khi đó trước các lý thuyết gia về nghệ thuật chiến tranh hải quân và bộ chỉ huy hải quân vấn đề đặt ra trong chương trình nghị sự hàng ngày là tập trung các đòn tấn công dưới mặt nước vào kẻ thù trên biển (đoàn công voa và các biên đội tàu chiến). Kinh nghiệm "bầy sói" của người Đức đã được phân tích kỹ càng và loại bỏ. Đã có sự xuất hiện và hoàn thiện các phương pháp mới: - thê đội treo (chỉ áp dụng trên các tuyến đường biển ven bờ của kẻ thù; phương pháp này được thử nghiệm chủ yếu trong cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại tại Hạm đội Biển Bắc); - thê đội tấn công (khi các tàu ngầm hoạt động ở các vùng biển mở và chỉ huy thê đội thực hiện từ SCH bờ); - chiến thuật nhóm (với phương pháp kết hợp dẫn đường về phía kẻ thù và hình thành cuộc tấn công hợp đồng theo nhóm). Để hoạt động trong thê đội tấn công, nhóm tàu ngầm phải được triển khai trước theo trình tự tìm kiếm các tuyến di chuyển có khả năng của đoàn công voa hoặc biên đội tàu chiến của đối phương (theo đội hình dàn hàng ngang, hoặc theo phương vị, ở các khoảng cách xa nhau đến 30 dặm). Theo mức độ tiếp cận của đoàn công voa (http://www.kbarieru.info/200904/?04_6_1) và các tàu ngầm, khoảng cách giữa họ thắt dần đến 10 - 6 dặm, và trước khi tấn công các tàu ngầm tập hợp lại "đội hình chiến đấu" (theo luật, hoặc hình "nêm" - в строй «клина» - mũi tên xuôi hoặc "nêm ngược" – «обратного клина» - mũi tên ngược). (http://flot.com/upload/blog/dc8//ShPubl3_33.jpg) Để dẫn đường thê đội tới đối phương người ta dành ra 1 mạng vô tuyến riêng biệt "SCH bờ - tàu ngầm"; để đảm bảo thông tin liên lạc vô tuyến tin cậy đã sử dụng đài phát vô tuyến công suất rất mạnh "Taran" với các ăng-ten có thể đưa lên cao trên khinh khí cầu. Khía cạnh tích cực của phương pháp: - có sự im lặng hoàn toàn về mặt vô tuyến của các tàu ngầm trong thê đội; - có cơ hội cho đòn tấn công tập trung trong một khu vực hẹp hoặc từ các hướng khác nhau, và do đó "nhận về mình" chỉ một phần lực lượng tàu bảo vệ vòng quanh đối tượng bị tấn công. Sự thành công của việc dẫn đường cho thê đội tàu ngầm nhắm tới đoàn công voa và tấn công được coi là "tiêu chuẩn ", và bằng 30% (tức là 1 trong ba tàu ngầm trong thê đội sẽ tấn công và đánh trúng mục tiêu). Những nhược điểm của phương pháp: - tính cồng kềnh và sự ổn định tác chiến kém của hệ thống dẫn đường và chỉ huy tác chiến thê đội; việc dẫn đường cho thê đội được dự trù thực hiện hoặc theo dữ liệu của không quân trinh sát (mà yếu tố này thì tùy thuộc vào thời tiết và có tính ổn định tác chiến yếu khi gặp phải lực lượng phòng không mạnh của đối phương), hoặc theo các thông tin tình báo vô tuyến ven biển (thậm chí còn đáng nghi ngờ hơn: theo lệ thường, đoàn công voa hay tắt vô tuyến đi trong im lặng). Trinh sát vệ tinh trong những năm đó còn chưa có; - nguy cơ giao cắt các hải trình của các tàu ngầm trong thê đội, và sự tiêu diệt lẫn nhau của họ khi phản-phát hiện ra nhau; - bán kính hoạt động tương đối nhỏ của công tác chỉ huy quản lý các thê đội trên đại dương. Để dẫn đường thành công thê đội tàu ngầm đi đến công kích cần phải phát hiện và "nhận dạng" đoàn công voa trong 1 khoảng cách đáng kể, cho phép tiến hành không ít hơn 2-3 lần tổ chức lại đội hình thê đội (ví dụ, ở khoảng cách 2,5-3 ngày hành trình của đoàn công voa). Cần lưu ý rằng tàu ngầm - đó là một "con thú dữ", ngay lập tức nó sẽ phản công bằng ngư lôi tự dẫn vào bất cứ mục tiêu nào, được phân loại giống như tàu ngầm (cuộc đấu tranh cho loạt bắn đầu tiên). Vì lý do này, người ta cấm các tàu ngầm của thê đội tấn công công kích vào các mục tiêu bị phát hiện và phân loại là tàu ngầm. Tuy nhiên, "kẻ thù tiềm năng" (người Mỹ, tất nhiên, không phải là lũ ngốc) đã nhanh chóng tìm thấy liều thuốc giải độc - đội hình phòng thủ bằng tàu chiến được thêm vào các tàu ngầm đi phía trước đoàn công voa. Trong trường hợp này, các tàu ngầm bị phát hiện của thê đội sẽ trở thành đối tượng của sự săn lùng đáp trả, còn trình tự chiến đấu sẽ bị đảo lộn. Trên thực tế việc thực hiện hoạt động của các tàu ngầm diesel trong các thê đội tấn công có thể hình dung như thế nào sẽ được minh họa rõ ràng trong ví dụ sau đây. Tháng 9 năm 1964 tại cuộc tập trận của Hạm đội Thái Bình Dương trên vùng phía tây Thái Bình Dương đã triển khai hai thê đội tấn công có quân số 3 tàu ngầm mỗi biên đội (một từ căn cứ Kamchatka, thê đội thứ hai - từ căn cứ chính của hạm đội). Mục tiêu chính ("tàu sân bay của kẻ địch") do tàu tuần dương "Kalinin" đóng giả, bỏ qua sự bảo vệ của các tàu hộ tống cho mình vì bão rất mạnh. (http://flot.com/upload/blog/d15//ShPubl3_34.jpg) Do điều kiện thời tiết nên máy bay trinh sát không cất cánh được. Trong suốt năm ngày đêm liên tục có bão cấp 7-8 và các tàu ngầm của thê đội đã bị tản mát trên những khoảng cách xa đến mức không ai phát hiện ra ai, ngay cả khi "tàu sân bay" tự nó đi đến những chỗ giả thiết có thê đội. ........ Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 08 Tháng Tám, 2012, 10:13:44 pm (tiếp)
Trong khi đó, trên tàu tuần dương đã cạn nhiên liệu. Bị đẩy đến cảnh tuyệt vọng, "tàu sân bay" (tàu tuần dương "Kalinin") bắt đầu chuyển các tọa độ thật, hướng thật và tốc độ thật của mình. Và ngay cả trong trường hợp này cũng không có chiếc nào trong số các tàu ngầm của thê đội có thể tìm thấy đối tượng của cuộc tấn công. Tác giả là thuyền trưởng của một tàu ngầm thuộc thê đội phía nam, chao đảo trong đại dương 3 ngày đêm, khi mà "tàu sân bay" đã kiệt sức, và không còn xứng được hưởng may mắn bị tấn công, nó chán ngán phẩy cả 2 tay mà lê về căn cứ. Tất nhiên, cảnh kể trên - không phải là hệ thống, có nhiều trường hợp về việc dẫn đường thành công cho thê đội tàu ngầm ở Hạm đội Thái Bình Dương và Hạm đội Biển Bắc. Nhưng nó cho thấy độ phức tạp của ý tưởng cổ điển sử dụng các tàu ngầm để tập trung đòn tấn công khi mà việc chỉ huy chúng được tập trung hóa quá cứng nhắc. Cũng không kém phần khó khăn trong thực tế là phương pháp sử dụng tàu ngầm trong các nhóm tấn công chiến thuật. Người tiên phong trong việc phát triển và làm chủ phương pháp này (vào giữa những năm 195х) là tư lệnh lực lượng dưới mặt nước của Hạm đội Thái Bình Dương chuẩn đô đốc L.Khiyainen, ông là người sáng tác chính bản "Hướng dẫn" tương ứng và đã kiên trì thực hiện và hoàn thiện phương pháp này cho đến đầu những năm 196х. (http://flot.com/upload/blog/4e3//ShPubl3_35.jpg) Khiyainen Lev Petrovitch (http://kortic.borda.ru/?1-10-0-00000315-000-0-0) Thực chất phương pháp là ở sự cơ động phù hợp không ngừng và bước vào công kích ngư lôi của nhóm chiến thuật gồm 2-3 tàu ngầm cùng loại, được chỉ huy bởi người trưởng nhóm chiến thuật nhờ sự trợ giúp của đường liên lạc âm thanh dưới nước. Bề ngoài đơn giản nhưng phương pháp ấy hóa ra rất khó chỉ huy. Những nhược điểm cơ bản của nó: - độ bí mật thủy âm thấp trước các tàu ngầm kẻ địch do nhu cầu tăng cường trao đổi các tín hiệu; - sự đặc biệt phức tạp khi sử dụng ngư lôi mang đầu đạn hạt nhân; - sự khó khăn trong việc khôi phục trình tự hành quân hoặc đội hình chiến đấu của nhóm chiến thuật, nếu vì một lý do nào đó đội hình đó bị tản mát. Тuy thế phương pháp này vẫn tồn tại dai dẳng và tiếp tục được phát triển trong lý thuyết áp dụng vào chiến đấu các tàu ngầm hạt nhân mang tên lửa hành trình có tầm bắn xa. Vì các tàu sân bay Mỹ trong giai đoạn sau chiến tranh vẫn được coi 1 cách truyền thống là đối tượng chính và là đối tượng rất đáng mong muốn trước các cuộc tấn công của các tàu ngầm, nên tư duy của các cơ quan tham mưu đã hình thành hình ảnh và cách đào tạo tương ứng cho các thuyền trưởng tàu ngầm, đôi khi rất không phù hợp với khả năng chiến đấu của những chiếc tàu ngầm ấy. Trong thời kỳ đấu những năm 195x tại các cuộc tập trận tham mưu-chỉ huy trên bản đồ, người ta đã thảo ra những phương pháp lạ lùng nhằm "tiêu diệt" các tàu sân bay, khi các tàu kể vừa kể hành quân rất kỷ luật trong 1 dải hẹp các đường zigzag chậm chạp, chúng ta sẽ nói, từ quần đảo Hawaii vào vịnh Avachinsky (http://velosipedizm.ru/mokrye-dela/chapaev-i-pustota-chast-2/), nơi các tàu ngầm xô viết đi lại nhộn nhịp (trên bản đồ thôi, tất nhiên là thế). (http://flot.com/upload/blog/d57//ShPubl3_36.jpg) Tàu sân bay chính bò gần như thể vào tới cổ họng vịnh Avachinsky, nơi các "ách" dưới mặt nước giáng cho nó một đòn chí mạng. Bản thân tác giả (khi đó còn là một hoa tiêu trẻ) đã tham gia vào các cuộc diễn tập TMCH bằng cách bò dán bụng xuống những tấm bản đồ khổng lồ được dán ghép lại với nhau. Tuy nhiên cần lưu ý một cách thích hợp đến một vài điểm kỳ quặc trong hệ thống đào tạo chiến thuật và huấn luyện cho các thủy thủ tàu ngầm xô viết: hoặc là sự huênh hoang khinh địch cho kẻ thù là ngu ngốc, hoặc ngược lại, cường điệu không kiềm chế khả năng chiến đấu và phẩm chất chiến đấu của nó, và do đó - làm việc trên sự hù dọa người của mình. Trong khi đó, "kẻ thù tiềm năng" mạnh mẽ (và người Mỹ cũng ở trong số đó) không hề thiếu gì các khiếm khuyết lớn trong các kế hoạch về cả mặt tổ chức và kỹ thuật. Điều cực kỳ quan trọng, ngoài những mặt mạnh, hãy tìm ra những mặt yếu của nó và lợi dụng chúng cho đúng cách. Dưới đây là một vài ví dụ. Tháng 9 năm 1965, khi tại phần phía bắc Biển Nhật Bản, Hạm đội Thái Bình Dương triển khai 1 cuộc tập trận quy mô lớn, tác giả (thời gian đó - thuyền trưởng 1 tàu ngầm) nhận được lệnh cho tàu mình bố trí theo hướng giả, trong khu vực phía bắc eo biển Triều Tiên, với nhiệm vụ thu hút lực lượng Hạm đội 7 Mỹ về phía mình. Trong mệnh lệnh tác chiến, Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương đô đốc N.Amelko ban cho người chỉ huy tàu ngầm quyền: làm việc trên đài phát vô tuyến bằng những phương pháp khác nhau nhất. Được phép chuyển đi những bức điện vô nghĩa, làm vỡ đầu các anh bạn Yankee siêu trí tuệ. Và điều đó đã xảy ra. Bộ chỉ huy Hạm đội 7 Mỹ đã điều động một nhóm tàu sân bay mà trong thành phần có cả tàu sân bay chống tàu ngầm "Bennington" cùng 8 tàu hộ tống dò theo những điện tín ba hoa khoác lác của chiếc tàu ngầm, đang hoạt động trong một "tam giác ẩm ướt". Trong suốt 3 ngày đêm, nhóm đã tiến hành tìm kiếm trong khu vực có phương vị của đài vô tuyến nhưng ... không phát hiện ra tàu ngầm. Vùi mình trong 1 lớp dày đất nền nhão đáy biển như 1 con nòng nọc trong bùn, "chàng Ivan láu cá" đã ghi lại được 1 cách chính xác trên bàn đạc tất cả các phương án tìm kiếm, theo đó các tàu chiến thuộc nhóm tàu sân bay xung kích chống ngầm (APUG) đã khuấy tung nước lên; nổi lưng chừng lên độ sâu kính tiềm vọng, tàu phát hiện ra trong không trung cả một cái chợ đã hình thành từ các radar đang làm việc trên các máy bay cánh cứng và máy bay trực thăng. Còn chiếc tàu ngầm sau khi thả điện tín vào không gian một lần nữa, lại lặn xuống ẩn trong lớp đột biến. Và những sonar của người Mỹ vốn được tán tụng không tóm được nó (chúng tìm kiếm con tàu ở "trên" và "dưới" lớp đột biến này). Cuối cùng, một cơn bão mạnh đang đến đã xua đuổi nhóm xung kích tàu sân bay. (http://flot.com/upload/blog/3ca//ShPubl3_37.jpg) Tháng 7 năm 1963 cũng chiếc tàu ngầm ấy trong khu vực quần đảo Izu (phía đông Nhật Bản) vào ban đêm ở độ sâu kính tiềm vọng, đã đi qua vành đai các tàu bảo vệ tàu sân bay mà không bị phát hiện, đó là đơn vị đặc nhiệm 70.4 APUG của Hạm đội 7 Mỹ (tàu sân bay chống tàu ngầm "Kiearsarge"- CV-33) và trong vòng 40 phút tàu ngầm đã hoàn thành 4 cuộc tấn công ngư lôi giả định vào tàu sân bay và các tàu hộ tống, theo các quy tắc xạ kích ngư lôi thông thường cũng như ngư lôi mang đầu đạn hạt nhân. Người Mỹ đã để chiếc tàu ngầm này qua mặt một cách đáng xấu hổ. (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/a/a7/Mercury_On_Deck_-_GPN-2000-001403.jpg/773px-Mercury_On_Deck_-_GPN-2000-001403.jpg) Trên đường đi thu hồi mô đun Faith 7 của trạm vũ trụ Mercury và nhà du hành vũ trụ Gordon Cooper ngày 15 tháng 5 năm 1963. (http://vi.wikipedia.org/wiki/USS_Kearsarge_(CV-33)) Đây cũng là chiếc tàu Mỹ ngày 7 tháng 3 năm 1960 đã cứu được 4 quân nhân công binh xô viết bị bão trôi dạt trên chiếc sà lan tự hành T-36 suốt 49 ngày đêm và được cả 2 bên tuyên truyền trong những năm 60 thế kỷ 20. (http://ru.wikipedia.org/wiki/%D0%A1%D0%B0%D0%BC%D0%BE%D1%85%D0%BE%D0%B4%D0%BD%D0%B0%D1%8F_%D0%B1%D0%B0%D1%80%D0%B6%D0%B0_%D0%A2-36) Cảnh trên đã được tôi mô tả trong câu chuyện "Lệnh im lặng vô tuyến và quan sát" («Приказано соблюдать радиомолчание»). Cũng cần lưu ý rằng sự kiện xảy ra chính xác tại khu vực nơi 20 năm trước chiếc tàu ngầm Mỹ "Archerfish" phóng ngư lôi đánh chìm tàu sân bay khổng lồ "Shinano" của Nhật Bản. SỰ NGHIỆP LÀM CHỦ ĐẠI DƯƠNG THẾ GIỚI VÀ LÀM NHIỆM VỤ CHIẾN ĐẤU CỦA CÁC TÀU NGẦM DIESEL Trong giai đoạn trước chiến tranh, trong quá trình Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại và trong thập kỷ tiếp (trước 1955) về mặt truyền thống người ta cho rằng các tàu ngầm Hải quân Liên Xô không nên vượt ra khỏi các vùng biển xung quanh. Cuối những năm 195x, truyền thống này đã bị vi phạm: các tàu ngầm xô viết đã xuất hiện trong các khu vực bất ngờ nhất (Địa Trung Hải, Indonesia, eo biển Alaska và vùng biển Bắc Đại Tây Dương), còn trong thời kỳ cuộc khủng hoảng Caribbean năm 1962 - xuất hiện trong vịnh Mexico, điều đó làm Hoa Kỳ và Anh quốc ngạc nhiên và vô cùng lo lắng. (http://flot.com/upload/blog/ca2//ShPubl3_38.jpg) Việc sử dụng các tàu ngầm diesel của Hải quân Liên Xô trong thời kỳ "chiến tranh lạnh" có thể được chia môt cách tưởng tượng thành 1 số giai đoạn kế tiếp nhau (tưởng tưởng, bởi vì tác giả cố tình tránh các số liệu thống kê của các cơ quan tham mưu và lưu trữ bị ý thức hệ hóa, mà chủ yếu dựa trên lời kể của các cựu chiến binh trực tiếp tham gia). Những thời kỳ này có thể cô đọng lại dưới các hình thức sau đây: a) các tàu ngầm diesel cỡ lớn thế hệ đầu tiên sau chiến tranh rời khỏi các khu vực biển gần truyền thống và phát triển thực sự kỹ năng chiến đấu tới các vùng xa xôi (1955-1957); b) sử dụng tàu ngầm như là một sự "trợ giúp anh em" đối với các quốc gia thuộc phe "xã hội chủ nghĩa" và "thế giới thứ ba" (1957-1960); c) sử dụng tàu ngầm đơn lẻ và sử dụng nhóm tàu ngầm để "biểu dương lực lượng" trong cuộc đối đầu giữa hai "phe" (1961-1964); d) các tàu ngầm thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu không thường xuyên trong các khu vực tác chiến quan trọng của Đại dương Thế giới (1965-1969); e) các tàu ngầm thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu thường trực trong thành phần các binh đoàn tác chiến cơ động theo khu vực của Hải quân Liên Xô (từ 1969); e) việc tuần tra chiến đấu thường xuyên của các tàu ngầm cỡ lớn mang tên lửa đạn đạo (SLBMs – BRPL - БРПЛ) trong các khu vực riêng biệt của Đại dương Thế giới - như một phương tiện đối đầu hạt nhân chống lại kẻ thù tiềm năng (từ năm 1967 cho đến khi xuất hiện hạm đội tàu ngầm hạt nhân như là một thành tố cấu trúc của lực lượng hạt nhân chiến lược của đất nước); g) việc sử dụng đơn vị tàu ngầm trong các nghiên cứu khoa học-quân sự Đại dương Thế giới (từ 1968). Ở giai đoạn đầu tiên các chiến dịch hành quân độc lập của các tàu ngầm xứng đáng để được chúng ta giành cho sự quan tâm đặc biệt. Tháng 8 năm 1955, tàu ngầm S-145 (thiếu tá hải quân R.Golosov) thực hiện chuyến đi đầu tiên trong lịch sử Hải quân Xô Viết đến biển Nhật Bản với 30 ngày đêm trên hải trình hoàn toàn tự chủ, tàu ở trong tư thế bơi ngầm suốt 100% thời gian đi biển (chạy động cơ điện, và sử dụng chế độ RDP). Thời gian ấy đó là một chiến công rực rỡ của thủy thủ đoàn. (http://flot.com/upload/blog/0e5//ShPubl3_39.jpg) Rudolf Aleksandrovitch Golosov trong bảo tàng phân hạm đội tàu ngầm số 1 trên nền các cờ thưởng thi đua của Bộ trưởng Quốc phòng Liên Xô "Vì sự can đảm và lòng dũng cảm trong phục vụ quân đội" ("За мужество и воинскую доблесть"). (http://foto.mail.ru/mail/korabl324/32) Trong giai đoạn thứ 2, trong thời kỳ mà đường lối chính trị của ban lãnh đạo tối cao Liên Xô là tích cực tác động để phá vỡ "hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc" và củng cố "phe xã hội chủ nghĩa" anh em, Hải quân Liên Xô vào những năm 196x, đã "bán" cùng với các tàu mặt nước một phần các tàu ngầm diesel (sáu chiếc) cho chế độ Sukarno ở Indonesia; trong đó các thủy thủ đoàn Liên Xô được sử dụng dưới hình thức đội thủy thủ huấn luyện-chuyển giao. Những chiếc tàu ngầm này ở Surabaya và Jakarta đã nhanh chóng bị đưa vào trạng thái dơ bẩn và không còn khả năng sẵn sàng chiến đấu. Sự sẵn sàng chiến đấu của Hải quân Indonesia được soi rọi chi tiết như sau: sau lễ kéo cờ buổi sáng và kiểm tra tàu ngầm, các thủy thủ tàu ngầm Indonesia lang thang đi làm nghề phụ kiếm sống, còn ca gác-bảo vệ từ bên ngoài thì thu xếp rang cà phê tại cầu tàu. Ca gác nội vụ không có ai. Thuyền trưởng một chiếc tàu ngầm bây giờ đã thuộc sở hữu của Indonesia tuyên bố với các đồng nghiệp xô viết: "Trên thực tế, về mặt tài chính, tôi – là chủ một nhà chứa, và tôi chỉ huy một chiếc tàu ngầm để lấy uy tín chính trị". Không phải ngẫu nhiên, khi Indonesia bước vào cuộc chiến tranh với thực dân Hà Lan ở Tây Irian (New Guinea), chính phủ Sukarno đã yêu cầu Liên Xô đưa các thủy thủ Liên Xô tham gia chiến sự. Đáng nhớ là trường hợp khi một chiếc tàu ngầm Indonesia, đang ở trên vị trí chiến đấu, phát hiện ra tuần dương hạm của Hà Lan và báo cáo: "Đã phát hiện tuần dương hạm, tôi có thể tấn công bằng ngư lôi, nhưng không thể tấn công vì đạn ngư lôi còn ở trong căn cứ". Ban lãnh đạo chính trị Liên Xô sẵn sàng đáp ứng vấn đề: các thủy thủ tàu ngầm Liên Xô đã chiến đấu chống chủ nghĩa đế quốc dưới vỏ bọc các "tình nguyện viên-chiến sỹ quốc tế vô sản". Ngay trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng Caribbean nổi tiếng tháng 10 năm 1962, để đáp ứng yêu cầu trợ giúp trên tình anh em hữu nghị từ Sukarno, theo chỉ đạo của Bộ Chính trị UBTU ĐCSLX, hạm đội đã vội vàng chuẩn bị một nhóm 6 tàu ngầm đề án 613 cùng tàu căn cứ nổi "Aykhta" để phái đến Indonesia dưới chiêu bài chuyển giao thêm một nhóm tàu ngầm nữa cho lực lượng hải quân bản địa. (http://flot.com/upload/blog/a4e//ShPubl3_40.jpg) Tàu ngầm đề án 613 dưới cờ Indonesia. (http://www.atrinaflot.narod.ru/81_publications/2008/flag_01.htm) ......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 09 Tháng Tám, 2012, 08:10:42 pm (tiếp)
Tại Surabaya người ta đã tiếp nhận các sỹ quan thông tin liên lạc hải quân Indonesia lên tàu ngầm; nhưng việc chỉ huy chiến đấu các con tàu vẫn được thực hiện từ SCH trung ương Hải quân Liên Xô và SCH Hạm đội Thái Bình Dương. Các tàu ngầm tiến vào khu vực được phân công theo lệnh báo động: ví dụ, S-236 ở eo biển Malakka. Theo tín hiệu các bức điện tác chiến được mở, trong đó có mệnh lệnh chiến đấu - "tiến hành chiến tranh dưới nước không hạn chế: tiêu diệt các tàu chiến và tàu vận tải của đối phương để ngăn chặn việc di chuyển các thiết bị và tài sản ra khỏi bờ biển Tây Irian". Đó là nội dung của sự "trợ giúp hữu nghị trên tinh thần quốc tế vô sản", xuất phát từ đó mà đảo lộn mọi khái niệm về luật hàng hải quốc tế. May mắn thay, cuộc xung đột Hà Lan-Indonesia đã được giải quyết bằng các phương pháp phi quân sự. Một số thuyền trưởng, đặc biệt là trung tá hải quân A.Protasov, khước từ một vinh dự đáng ngờ như vậy, và đã bị triệu hồi về Liên bang Xô Viết với những "hậu quả về mặt tổ chức" tương ứng. Vào cuối những năm 195x, khi phe xã hội chủ nghĩa đã được "tăng cường một cách thắng lợi", ban lãnh đạo Liên Xô chuyển tới Albania 1 lữ đoàn tàu ngầm diesel, lần đầu tiên ra một tuyên bố công khai về bước đột phá của các lực lượng hải quân xô viết trong chiến lược toàn cầu. Người đọc có lẽ cũng hiểu rõ rằng vấn đề không phải Albania mà là biển Địa Trung Hải, một trong những khu vực vận tải hàng hải quan trọng nhất của thế giới, được sự quan tâm lớn của ban lãnh đạo tối cao ở Moskva. Tháng 5 năm 1957, các đại diện Hải quân Liên Xô đã kiểm tra khu vực Viera (bến cảng Pasha Liman) và đảo Sazan vùng duyên hải Albania. Trong tháng 6 cùng năm, một nhóm bốn tàu ngầm diesel đề án 613, cùng với tàu căn cứ nổi "Nemchinov" hoàn thành di chuyển từ Baltisk đi vòng quanh châu Âu tới điểm đóng quân mới. Chuyến hành quân di chuyển 27 ngày đêm của 1 biên đội tàu ngầm dưới cờ tư lệnh lữ đoàn đại tá hải quân S.Egorov diễn ra trong sự kèm cặp liên tục của các tàu chiến và máy bay NATO; thêm vào đó từ phía các kẻ theo dõi còn có một loạt các hành động khiêu khích và những mối đe dọa va chạm nguy hiểm khác nhau. Tuy nhiên, biên đội đã thực hiện thành công chuyến di chuyển tới khu vực vẫn còn hiểm họa về mìn kể từ thời Chiến tranh thế giới thứ Hai (biển Adriatic). (http://flot.com/upload/blog/719//ShPubl3_41.jpg) Egorov Sergei Grigorievitch. Vịnh Konyushkova. Tháng 5 năm 1957. Trích lưu trữ của V.V.Bryskin. Nhưng đối thủ tiềm năng hồi đó không ngủ gật. Đến thời điểm hoàn thành chuyến hành quân di chuyển biên đội tàu ngầm vào Địa Trung Hải, thay vì hai nhóm tàu sân bay xung kích thường trực của Hạm đội 6, Hoa Kỳ đã tập trung tới đây 4 nhóm AUG. Trong tháng 8 biên đội tàu ngầm bắt đầu thường xuyên ra khơi trinh sát các tuyến giao thông hàng hải dẫn tới các eo biển Gibraltar, Malta và Tunis. Trong tháng 6 năm 1958, từ Baltisk đến vịnh Viera có thêm 1 biên đội tăng cường của lữ đoàn gồm 4 tàu ngầm thuộc cùng một đề án, và vào tháng 8 đến lượt tàu căn cứ nổi "Kotelnikov" của Hạm đội Biển Đen và nhóm thứ ba gồm 4 tàu ngầm từ Baltisk. Như vậy, tại Albania đã triển khai 1 lữ đoàn tàu ngầm tăng cường (12 tàu ngầm, hai tàu căn cứ nổi). Căn cứ của lực lượng trên được che chở bởi 1 lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải, 1 lữ đoàn tàu cao tốc phóng lôi, và các đơn vị phòng không Albania, được đảm bảo bởi một nhóm các tàu hậu cần phụ trợ của hạm đội, tàu dok nổi, xưởng sửa chữa tàu biển và căn cứ bờ tạm thời. Điểm căn cứ này giành được sự quan tâm trọn vẹn của Tổng tư lệnh Hải quân đô đốc hạm đội S.Gorshkov và cấp phó thứ nhất của ông đô đốc hạm đội V.Kasatonov. Nhiều lần tàu tuần dương "Slava" và các tàu chiến khác từ Sevastopol đã tiến ra biển Adriatic để thực hành huấn luyện tấn công ngư lôi cho các tàu ngầm. Năm 1959, Nikita Khrushchev và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nguyên soái R.Malinovsky đã đến thăm lữ đoàn, họ đã đánh giá rất cao các thủy thủ tàu ngầm. Tuy nhiên, năm 1960 do mối quan hệ giữa Liên Xô và Trung Quốc suy giảm mạnh trên cơ sở sự nhận thức khác nhau về vấn đề "sùng bái cá nhân" (Albania đi theo đường lối của Trung Quốc) lực lượng Hải quân Xô Viết đóng căn cứ ở vịnh Viera, đã trở về căn cứ Baltisk và Hạm đội Biển Đen. (http://flot.com/upload/blog/463//ShPubl3_42.jpg) Các thuyền trưởng đề án 613 tại Albania (http://foto.mail.ru/community/flot90998/598). Phải sang trái: I.B.Komarov, Yu.I.Emelyanov, V.S.Kozlov V.A.Grebenschikov. Vlera, tháng 8 năm 1958. Nói chung, quan hệ của người Albania với người Nga nổi bật bởi sự thân thiện và ấm áp. Nhưng nó đã thay đổi đáng kể từ khi ban lãnh đạo chính trị tối cao "không chia sẻ chủ nghĩa Mác-Lê-nin": Nikita Khrushchev cáo buộc Enver Hoxha đánh giá thấp vai trò lãnh đạo của đảng ở trong nước và giá trị của phong trào cộng sản thế giới. Kết quả là tại Albania, tư lệnh Hải quân đã bị xử bắn vì hiểu biết quá đơn giản về lý thuyết và thực hành trong vấn đề tình hữu nghị quốc tế vô sản. Trong giai đoạn thứ ba, nét đặc trưng là sự hoạt động tích cực trong chính sách địa chính trị của Liên Xô tại Trung Đông và khu vực Trung Mỹ, xứng đáng với sự quan tâm đặc biệt về nỗ lực của ban lãnh đạo chính trị Liên Xô nhằm xác định sức mạnh chiến đấu của mình (và mối đe dọa từ phía biển) đối mặt với "phe đế quốc chủ nghĩa". Trong giai đoạn cuộc chiến tranh giữa Anh-Pháp-Israel với Ai Cập năm 1956 giành quyền chiếm hữu kênh đào Suez, Hải quân Liên Xô đã triển khai một nhóm tàu ngầm diesel từ căn cứ ở Kamchatka tới vùng vịnh Alaska (mà tại sao lại tới đó?). (http://flot.com/upload/blog/a7c//ShPubl3_43w.jpg) Dưới đây tôi dẫn ra hồi ức của một trong những người tham gia nói về chiến dịch chưa từng có xét về mức độ nặng nhọc của đại úy hải quân V.Lebedko, sau đó - là chuẩn đô đốc: "Tàu ngầm trực chiến S-178 (thuyền trưởng - thiếu tá hải quân Yu.Sorokin) theo lệnh báo động ngày 6 tháng 11 năm 1956 tiến ra vị trí chiến đấu phía bờ biển tây Hoa Kỳ. Qua 1 thời gian dài neo đỗ trong trạng thái trực chiến vất vả, một phần các sỹ quan tàu ngầm đã được cử tạm thời đi "khử từ" ở Petropavlovsk-Kamchatsky; tôi được lệnh miệng đi thay thế cho trợ lý chính thuyền trưởng V.Bets (Bản thân tôi đang là trợ lý cho thuyền trưởng 1 con tàu khác, nhưng có quyền điều khiển độc lập tàu ngầm đề án này). Buổi tối trước ngày lễ, mặc áo vét và áo sơ mi trắng, với một gói "Belomor" bỏ trong túi, đã xoa xà phòng cạo râu sạch sẽ, tôi đến câu lạc bộ doanh trại đồn trú để xem phim. Đột nhiên trên đường đến câu lạc bộ, 1 thủy thủ đuổi kịp tôi: trên chiếc tàu ngầm đang trực chiến đã có lệnh báo động "sẵn sàng chiến đấu". Tôi chạy ra tàu, lắc đầu vì tiếng gầm rú của động cơ diesel. Trong sự nhốn nháo (lệnh sẵn sàng - một giờ) thay vì quân y sỹ và thuyền phó chính trị chính thức người ta đưa lên tàu ngầm một quân y sỹ tàu bên cạnh và bí thư chi bộ đảng, người do sợ hãi thay vì xách chiếc cặp đựng quần áo lót ra khơi thì lại xách chiếc khác - đựng các tấm thẻ đảng còn trống. Ra đến vịnh Avachinskaia, người ta mở điện tác chiến. Mệnh lệnh chiến đấu khẳng định: đi tiếp tới vịnh Alyaska (http://ru.wikipedia.org/wiki/%D0%90%D0%BB%D1%8F%D1%81%D0%BA%D0%B8%D0%BD%D1%81%D0%BA%D0%B8%D0%B9_%D0%B7%D0%B0%D0%BB%D0%B8%D0%B2), tới nút giao thông Hoa Kỳ - Nhật Bản. Nhiệm vụ: sẵn sàng tiêu diệt các tàu vận tải của đối phương. (http://flot.com/upload/blog/448//ShPubl3_44.jpg) Về thực chất tinh vi của mệnh lệnh này tôi sẽ không thảo luận (mặc dù nó không rõ ràng ở chỗ, nếu cuộc chiến tranh diễn ra ở khu vực kênh đào Suez, tại sao lại cần đánh chìm tàu vận tải ở Alaska? Hay là cuộc chiến tranh cục bộ đã phát triển thành chiến tranh thế giới). Các thủy thủ tàu ngầm, tất nhiên, còn chưa biết rằng chiến sự trong khu vực kênh đào Suez đã dừng lại vào ngày 05 tháng 11, còn tàu ngầm lao ra khơi theo lệnh báo động ngày 06 Tháng 11. Vào ngày thứ ba của chiến dịch viên quân y sỹ "xa lạ" (thời gian đó, trên tàu ngầm còn chưa có bác sĩ) báo cáo: nước ngọt dùng trên tàu đã không còn; két nước đã bị thối. Người ta lấy ý kiến sỹ quan: làm thế nào đây? Hầu hết các sĩ quan ủng hộ việc trở lại căn cứ. Thuyền trưởng hét lên: "Các đồng chí! Vâng, tôi sẽ đi trước khi ra tòa án binh!" Người ta đi với két nước thối trên tàu. Thời tiết thật khủng khiếp: biển động cấp 8-9, những núi nước 12-15 mét chiều cao; ngay cả ở độ sâu 140 mét tàu vẫn chao đảo 10-15 độ. Khi nổi lên ban đêm để nạp ắc quy, người sỹ quan (thường là trợ lý chính biệt phái) bám vào kim ngắn la bàn từ tính, "bơi" đến chỗ ống nói đàm thoại. Cửa nắp trên của tháp chỉ huy được chống lên: ở những khoảnh khắc nhất định, khi nó được hé lên, từng khối nước lớn rơi vào phòng điều khiển trung tâm, và các thuyền viên bị nước đẩy nhào vào khoang, nước ép đến tận vách ngăn số 65 của khung ngang vỏ tàu phía đuôi. Trong khoang có vài lần ngắn mạch và cháy bảng phân phối điện chính. Sóng vỗ xé sắt cầu điều hướng, cuối cùng lột tung cả rào chắn mui tàu. Một đêm, sỹ quan trực của nhìn chằm chằm lên bầu trời giữa những con sóng, hy vọng nhìn thấy thiên thần hộ mệnh và nhìn thấy ngay trên đầu... sống mũi 1 tàu vận tải lớn. Một làn sóng kế tiếp khổng lồ đã cứu con tàu khỏi cú taran không thể đỡ nổi, sóng nâng tàu ngầm lên cao và quăng chiếc tàu vận tải lăn xa xuống dưới. (http://flot.com/upload/blog/218//ShPubl3_45.jpg) Ivan Konstantinovitch Aivazovsky. Giữa những con sóng. (http://www.rodon.org/art-080418190701) Một lần sóng đánh trong thời gian mở tạm thời của nắp trên đài chỉ huy làm biến dạng cổ trục (cửa nắp đó nặng nửa tấn). Từ lúc đó con tàu bơi với tháp chỉ huy bị tràn nước. Các "anh hùng miễn cưỡng" bị sóng giày vò ngày 18 tháng 11 nhận được bức điện:: về căn cứ...» Tàu ngầm S-178 về tới vịnh Krasheninnikov lúc đêm sâu, thuyền trưởng neo tàu vào cầu bến, trong khi lấy thăng bằng với tháp chỉ huy tơi tả. Không ai trong bộ chỉ huy ra đón con tàu. Nghĩa là người ta đón vào... buổi sáng, khi kéo cờ hải quân trên các tàu ngầm của sư đoàn, người ta đi đi lại lại và lắc đầu: toàn bộ rào chắn quanh tháp chỉ huy đã bị tước ra khỏi vỏ bền. Thủy thủ đoàn không được ai động viên thăm hỏi - từ tổng tư lệnh cho đến người chỉ huy đơn vị. Về tới chưa? Người toàn vẹn không? Được rồi, không sao. Hãy tiếp tục phục vụ Tổ quốc. Nhưng vì sự thật, người ta thôi cho con tàu trực chiến và gửi nó đi sửa chữa. .......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: lantuyet trong 17 Tháng Tám, 2012, 10:51:12 pm Bác qtdc ơi, bác có thể tiếp tục chủ đề này được ko, em nghĩ là có nhiều người đang mong chờ bài viết của bác lắm, nhất là những người đã từng có thời gian gắn bó với căn cứ CR và những người muốn tìm hiểu thông tin về các chiến dịch của Hải Quân Liên Xô trước đây và Hải Quân Nga hiện nay. Rất mong bác quay trơ lại topic này. Cảm ơn bác nhiều.
Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 01 Tháng Chín, 2012, 09:11:47 pm (flot.com) (http://flot.com/upload/blog/785//logo-historyofNVMU-fin.jpg) BẢN ÁN CẢNH CÁO NGHIÊM KHẮC VÌ VỤ VA CHẠM VỚI TÀU NGẦM NGUYÊN TỬ MỸ. B.S. Bagdasarian. (http://flot.com/upload/blog/8cd//BagdaPubl_1.jpg) Chuẩn Đô đốc Vilen Vasilevitch Lobodenko kể về bạn cùng lớp, học viên tốt nghiệp trường hải quân Nakhimov Leningrad năm 1948 Boris Surenovitch Bagdasaryan (trích thư gửi nhà chép sử Nikolai Pavlovitch Sokolov). Sau khi tốt nghiệp trường hải quân mang tên M.V.Frunze, nơi tôi và anh kề vai sát cánh ngồi học với nhau trong bốn năm, đời phục vụ đã tách chúng tôi về các hạm đội khác nhau. Tính đến nguyện vọng của chúng tôi, anh được điều về Hạm đội Biển Đen, còn tôi - Hạm đội Biển Bắc. Cả 2 chúng tôi đề nghị được phục vụ trên các tàu ngầm. Boris đến phục vụ trên tàu ngầm cận vệ "S-33" ... ... Năm 1956, Boris Bagdasarian đã là một thủy thủ tàu ngầm nổi tiếng. Năm 1954, trên cương vị trợ lý chỉ huy tàu ngầm "S-70", anh tham gia vào chuyến đi biển tự lập đầu tiên trên một tàu ngầm diesel tại Biển Đen trong chế độ RDP. Bây giờ rất ít người hình dung được điều kiện đi biển trên một chiếc tàu ngầm diesel ở vùng biển phía nam nóng nực mà không nổi lên mặt nước. Và 30 ngày đêm của chuyến đi biển đầu tiên đã được chính phủ đánh giá cao. Boris nhận được tấm huân chương "Sao Đỏ" đầu tiên. (Theo ý kiến của tôi, anh là người đầu tiên trong số học viên tốt nghiệp khóa chúng tôi nhận được huân chương "Sao Đỏ"). Và tiếp sau tôi, vào năm 1957 anh cũng đến học các lớp bổ túc nâng cao cho các thuyền trưởng tàu ngầm tại Piter (tức St Petersburg), sau khi tốt nghiệp anh được bổ nhiệm vào thủy thủ đoàn của một trong các tàu ngầm nguyên tử đầu tiên được đóng ở vùng Viễn Đông, rồi anh gắn bó quãng đời phục vụ tiếp theo trên tàu hải quân với Hạm đội Thái Bình Dương. Đầu tiên trên cương vị trợ lý chính, còn từ năm 1962, thuyền trưởng các tàu ngầm hạt nhân tại Kamchatka và Primorye. Anh đã nhận được giải thưởng xạ kích tên lửa hành trình chống hạm và thực hiện thành công nhiệm vụ huấn luyện và chiến đấu trong các chuyến đi biển dài ngày, ngang dọc trên Thái Bình Dương. Ngày 21 tháng 7 năm 1970, khi đang là thuyền trưởng của tàu ngầm hạt nhân "K-108" làm nhiệm vụ phục vụ chiến đấu, anh đã "gặp gỡ" với một tàu ngầm Mỹ, đang theo dõi anh. Kết quả của "cuộc gặp gỡ" này, những người Mỹ cho đến những năm gần đây vẫn tin tưởng sâu sắc rằng chiếc tàu ngầm Liên Xô đã bị đánh chìm bởi cú va chạm. Nhưng thân chiếc tàu ngầm của chúng ta là một thân bền thực sự, và ở nhà mình Boris vẫn còn giữ làm kỷ niệm mảnh vụn kim loại từ "người Mỹ". (http://flot.com/upload/blog/aa1//BagdaPubl_2.jpg) Đại tá hải quân Boris Surenovitch Bagdasarian (chỉ huy thủy thủ đoàn tàu ngầm đề án 675). - Sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Con người, sự kiện, con tàu. - St Petersburg, năm 2005. Số đặc biệt tạp chí Taifun. Sau khi tốt nghiệp năm 1972 các khóa học tại Học viện Hải quân, Boris Surenovitch, người thủy thủ tàu ngầm lão luyện, bắt đầu phục vụ tại Cục Huấn luyện Chiến đấu Hải quân, tại đó ông đã có đóng góp lớn cho việc xuất bản một loạt các tài liệu chỉ dẫn cho các thuyền trưởng vãn còn hiệu lực cho đến ngày hôm nay ... Vào cuối năm 1987, tôi cùng Boris Surenovitch nghỉ hưu vì đã đến tuổi và bắt đầu làm việc tại Học viện Bộ Tổng tham mưu, tham gia hơn 10 năm vào quá trình đào tạo tại Khoa Nghệ thuật Tác chiến Hải quân, góp phần đào tạo đội ngũ chỉ huy. Trong thời gian này, tại khoa chúng tôi đã có một số nhân vật đến học tập mà ngày nay họ là các Tư lệnh các hạm đội và cả Tổng tư lệnh Hải quân. Trong đời phục vụ hải quân Boris được tặng thưởng 3 huân chương "Sao Đỏ" và huân chương "Phục vụ Tổ quốc trong LLVT Liên bang CHXHCN Xô Viết". Và tôi đã cố gắng để theo kịp ông, tôi cũng nhận được hai huân chương "Cờ Đỏ" và huân chương "Sao Đỏ", tất nhiên, còn cả nhiều huy chương. A.F.Mozgovoy. Hai thuyền trưởng của "Chiến tranh Lạnh". - Sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Con người, sự kiện, con tàu. - St Petersburg, năm 2005. Số đặc biệt tạp chí Taifun. (http://flot.com/upload/blog/e4e//BagdaPubl_3.jpg) Mozgovoi Aleksandr Fedorovitch (http://www.youtube.com/watch?v=MLNRMpAXy-U) Sau khi nhận nhiệm vụ tại Moskva, tại Bộ Tổng tham mưu Hải quân, Boris Surenovitch Bagdasarian thường chỉ mơ thấy đúng một giấc mơ. Đây là cái mà anh ấy vẫn tự kể: - Trên tàu ngầm K-108 tôi đi xuống dọc theo phố Tverskaia tới quảng trường Manezh. Tôi ngoặt sang dãy Okhotnyi và đuôi tàu chạm vào khách sạn "Quốc gia" ... Rồi đột ngột tôi thức giấc. Những con người đi găng tay da Trong trang phục "dân sự" ông trông giống như một nghệ sĩ hơn là một con sói biển già. Boris Surenovitch ăn mặc với một phong cách thanh lich một cách phóng khoáng, vốn là đặc điểm của các đại diện giới ngành nghề sáng tạo. Nhiều cô gái trẻ trên phố tò mò liếc nhìn người đàn ông không còn trẻ này nữa. Một lần tôi hỏi vợ ông, Larissa Leonidovna Bagdasarian, làm sao mà bà, vốn là cháu gái một sỹ quan trưởng ngành pháo Hạm đội Biển Đen, người mà tại Sevastopol kể từ khi còn trẻ luôn luôn có các sĩ quan hải quân sáng chói bao quanh, sao bà lại chọn một anh trung úy không ai biết đến với cái tên Armenia? Larissa Leonidovna trả lời đơn giản: - Boris rất đẹp. Không thể không yêu anh ấy. Boris Surenovitch - một thủy thủ từ thời thơ ấu và là thủy thủ Trời sinh. Năm 1948, ông ở trong số những học viên tốt nghiệp đầu tiên trường hải quân Nakhimov. Đó là nói về họ, các chàng trai áo đen đội mũ không lưỡi trai mà người ta đã viết "Hành khúc Nakhimov", bây giờ dù hiếm hoi, nhưng thỉnh thoảng những âm điệu của nó vẫn vang trên sóng đài phát thanh: "Không gian màu xanh lam. Đất liền sau đuôi tàu ..." (http://sovmusic.ru/person.php?idperson=52). (http://flot.com/upload/blog/be5//BagdaPubl_4.jpg) Hồi đó tất cả các đồng nghiệp đều ghen tị với anh. Và con trai của Suren Surabekovitch Bagdasarian, một viên chức có trách nhiệm quản lý bể bơi tây bắc, người đã chết trong cuộc phong tỏa Leningrad, Boris đã may mắn tốt nghiệp cơ sở đào tạo ưu tú này. Anh không chỉ là một học viên giỏi - anh là một tay đánh nhau rất liều lĩnh. Người anh em họ của Bagdasarian, Aleksei Nikolaevitch Khvalko nhớ lại, khi vào ngày nghỉ hè Boris đến thăm người thân tại Moskva, cậu đã không chỉ một hoặc hai lần chứng tỏ phẩm chất chiến đấu của mình. Trong một cuộc đánh nhau với một cậu bé lêu lổng người bản địa, trước sự khoái chí của các cô bé, cậu luôn luôn thắng. Nắm đấm của cậu làm việc không biết thương xót, và khi "kẻ thù" đông hơn, thì xuất hiện thứ "vũ khí tấn công" - một đai lưng da hải quân rộng bản với tấm khóa kim loại nặng trịch, mà anh chàng học viên Nahimovets trẻ làm chủ một cách diệu nghệ. Sau trường Nakhimov - là con đường thẳng tới Trường Cao đẳng Hải quân mang tên M.V.Frunze, và từ trường hải quân tới hạm đội. Tại đó Boris Bagdasarian không thường xuyên nhìn thấy "không gian xanh", ngoại trừ từ bờ biển hoặc qua thị kính kính tiềm vọng, bởi anh phục vụ trên tàu ngầm. Vào đầu những năm 195x, hạm đội được bổ sung tàu ngầm diesel mới nhất đề án 613. Không giống như những con tàu tiền nhiệm của chúng, chúng được trang bị thiết bị RDP cho phép tàu ngầm đi ở độ sâu kính tiềm vọng bằng động cơ diesel và đồng thời sạc ắc quy. Tuy nhiên, việc phục vụ trên các "dizelyukha", dù là loại tàu ngầm mới nhất, vẫn còn rất nặng nề và khó khăn. - Nhiều người, trong số đó có cả các sỹ quan tàu mặt nước đều gọi chúng tôi, các thủy thủ tàu ngầm là các "anh chàng công tử bột" vì thực tế chúng tôi hầu như không bao giờ cởi chiếc găng tay da - Bagdasarian kể lại. Tuy nhiên, những chiếc găng tay da tuyệt nhiên không chỉ là chứng nhân về một loại mốt của công ty thời trang, mặc dù sự thật là yếu tố này cũng có. Đeo găng tay là một thói quen vì các điều kiện phục vụ. Bởi lẽ trên các tàu ngầm diesel từng giọt nước ngọt đều phải tính toán. Trong những chuyến đi biển dài ngày, gần như người ta cấm sử dụng nó cho mục đích vệ sinh. Do đó thói quen tay không được loại bỏ, như vậy tay không chạm vào đồ, do đó không cần rửa tay thêm một lần nữa. Huân chương Sao Đỏ đầu tiên của Bagdasarian được trao tặng năm 1955 vì đã tham gia một cuộc thử nghiệm độc nhất vô nhị - chuyến đi biển tự lập trong tư thế bơi ngầm dài nhất thời gian ấy. Tàu ngầm S-70, chỉ huy bởi trung tá hải quân Leonid Rybalko mùa thu 1954 trong 30 ngày đêm liền đã không nổi lên mặt biển. Ắc quy được nạp qua thiết bị RDP. Đó là chuyến đi biển khó khăn cho tất cả, trong đó có người hoa tiêu trẻ - thượng úy Bagdasarian. - Khi Boris trở về từ chiến dịch, trông anh thật khủng khiếp. - Larisa Bagdasarian nhớ lại. - Thân thể của anh ấy và đặc biệt là đôi chân sưng tấy lên và phủ đầy vết lở loét. - Đó không chỉ là khổ nạn với tôi, mà là với tất cả các thành viên thủy thủ đoàn - Boris Surenovitch xác định lại. - Trên chiếc tàu ngầm tân tiến nhất vào thời điểm đó người ta chưa nghĩ ra cách tốt nhất bố trí hầm RDP và thiết bị ống thở, thông qua đó mà thông gió cho tàu ngầm trong thời gian sạc ắc quy dưới nước. Các chất khí thải được hút qua RDP rồi chạy ngược trở lại tàu. Mỗi khi chúng tôi thực hiện công việc này, mọi người thở hổn hển và nghẹn họng vì ho. Các cơ quan nhiễm độc, và cơ thể sưng tấy lên. Sau chuyến đi biển của chúng tôi các công trình sư đã áp dụng nhiều thay đổi thiết kế trong hệ thống thông gió. Sau khi hiện đại hóa, trong thời gian tàu đi trong chế độ RDP, việc nhiễm độc nặng khí thải không còn quan sát thấy nữa. Chuyến đi biển độc lập 30 ngày đêm liền đã được Hải quân Xô Viết tổ chức chắc chắn không chỉ để kiểm tra tính hợp lý của việc đặt thiết bị trượt di động. Hạm đội Xô Viết đang chuẩn bị tiến ra đại dương. Chiếc tàu ngầm hạt nhân đầu tiên của Liên Xô đã được xây dựng. Trong các văn phòng thiết kế đang vẽ ra những nét phác thảo của con tàu chạy bằng năng lượng hạt nhân trong tương lai. Vậy thì vì cái gì mà phải phái những con tàu ngầm diesel thực hiện những chuyến bơi ngầm trong thời hạn chưa từng có như vậy. Mọi người sẽ hành xử ra sao trong những điều kiện bất thường? Họ có thể giữ vững tâm lý không? - Con người đã khắc phục được. Thợ săn tàu sân bay Sau khi tốt nghiệp lớp bổ túc cao cấp cho sĩ quan ở Leningrad, Bagdasarian lại được phân về Hạm đội Biển Đen, nhưng người sỹ quan cầu xin đừng gửi anh ta đến "cái hồ nước nóng" ấy nữa, mà hãy gửi tới đại dương. Và lại học tập một lần nữa - tại Obninsk, nơi đào tạo, và cho đến ngày nay vẫn đang đào tạo các kíp thuyền viên tàu ngầm hạt nhân. Gần một năm mặc đồng phục thiếu tá lục quân mà không phải đồng phục thuyền trưởng bậc 3 - thiếu tá hải quân. Màn "giả trang" này được bộ chỉ huy cấp cao đặt ra nhằm giữ bí mật. (http://flot.com/upload/blog/d84//BagdaPubl_6.jpg) Bộ máy lãnh đạo Trung tâm Đào tạo Hải quân ở Opninsk. Thứ ba từ trái sang ở hàng đầu - Chỉ huy trưởng Trung tâm đào tạo, Thiếu tướng lục quân (Chuẩn Đô đốc) L.G.Osipenko. I.I.Pakhomov. Sư đoàn thứ 3. Sư đoàn đầu tiên tại hạm đội. St Petersburg, 2011. Và đây nơi phục vụ mới - Primorye. Ban tham mưu lữ đoàn tàu ngầm chỉ vừa mới đặt cơ sở trong làng Promyslovka, đường phố chính của làng có một cái tên nghe rất kêu là phố Nhà hát, nằm trong rừng taiga Ussuri. Lữ đoàn trưởng không có thời gian để đón tiếp viên sỹ quan mới đến, đặc biệt bởi vì chiếc tàu ngầm của ông vẫn còn đang được đóng tại Komsomolsk-na-Amur. Bagdasarian thậm chí còn chưa được sắp xếp chỗ nghỉ qua đêm. Anh đã ngủ đêm trên ... cây. Boris Surenovitch là một người đàn ông thành phố sâu sắc, và các tờ báo địa phương ông đã đọc, cho biết rằng tại làng Tinkan, bên cạnh làng Promyslovka, đã xuất hiện những con hổ-ăn thịt người. Đó là lý do tại sao, để không bị cám dỗ bởi số phận, người sĩ quan hải quân can đảm đã leo lên một cái cây, ngồi xuống trên một nhánh cây dày, ôm chặt thân cây bằng đôi tay của mình và ngủ thiếp đi. Sau đó, anh đã tìm hiểu và yêu mến mảnh đất này. Và thường trong các đợt nghỉ phép, anh cùng gia đình của mình ở trong rừng taiga, tại đó Bagdasarian đi săn và bắt cá. Tàu ngầm hạt nhân đề án 675 (http://www.atrinaflot.narod.ru/1_submarines/02_plark_675/0_675.htm) (Echo-II theo NATO phân loại) mà trên đó Boris Surenovitch đã thôi đi biển nhiều năm, thuộc về phân lớp tàu tấn công tên lửa. Tổng tư lệnh Hải quân S.G.Gorshkov gọi chúng là "tàu sân bay ngầm", bởi vì mỗi tàu ngầm ngoại trừ ngư lôi, còn mang theo 8 tên lửa hành trình P-6 có các đầu đạn hạt nhân hoặc thông thường, bù đắp một phần sự thiếu thốn máy bay trên tàu sân bay của Hải quân Liên Xô. Trong Hải quân Mỹ chúng được thánh hóa là "sát thủ tàu sân bay", bởi vì chúng được thiết kế chủ yếu để tấn công các các đơn vị hợp thành và các tàu mặt nước lớn, đặc biệt là tàu sân bay. (http://flot.com/upload/blog/43d//BagdaPubl_7.jpg) Nhiều lần Boris Surenovitch, khi đã trở thành thuyền trưởng, phải "làm việc" với tàu sân bay «Midway» của Hạm đội 7 Mỹ. Nhưng thường xuyên hơn cả, "đối tác" của ông là tàu tấn công đổ bộ chở máy bay trực thăng «Tripoli» của Mỹ. Năm 1968, Bagdasarian "tấn công" thiết giáp hạm Mỹ «New Jersey». Thời đó, Hoa Kỳ đang tiến hành chiến tranh ở Đông Nam Á, họ ném bom Đông Dương một cách tàn bạo, nhưng bản thân họ cũng phải chịu những tổn thất nghiêm trọng về nhân mạng và máy bay do lưới lửa PK của những người yêu nước. Đó là lý do tại sao Lầu Năm Góc quyết định bắn phá duyên hải Việt Nam từ phía biển. Để đạt mục đích này, phù hợp tốt nhất là các cỗ pháo tầm xa trên các thiết giáp hạm cũ, những con tàu nằm trong phương tiện dự trữ của Hải quân Mỹ. Năm 1968, họ mở niêm cất «New Jersey», và con tàu lấy hướng rong ruổi về phía Vịnh Bắc Bộ. - Tôi bắt gặp con tàu đó gần quần đảo Hawaii, Bagdasarian nói với tôi. - Con tàu mở hết tốc lực nhưng không có tàu bảo vệ hộ tống. Tôi bám chặt theo nó, cẩn thận ẩn dưới lườn chiếc thiết giáp hạm. Máy tàu gầm vang át hết các tiếng động xung quanh. Tôi đoán nó không phát hiện ra tôi. Sau đó, tôi được giao nhiệm vụ thực hiện cuộc tấn công giả định vào «New Jersey». Tình huống - lý tưởng, ngay cả trên thao trường cũng rất hiếm khi có được. Tuân theo tất cả các quy tắc của nghệ thuật tác chiến trên biển, tôi thực hành cơ động và chuẩn bị cho đòn tấn công. - Và ông đã đánh chìm nó sao? - Nếu có mệnh lệnh, thì đương nhiên điều đó đã xảy ra. «New Jersey» (http://www.navy.mil/navydata/nav_legacy.asp?id=130) là một con tàu được bọc thép rất dày, nhưng trúng 8 phát tên lửa của tôi nó sẽ không thể sống sót. Nhưng cuộc tấn công là giả định có điều kiện, dù cho khi ấy chúng tôi đã sẵn sàng để thực hiện bất kỳ mệnh lệnh nào. (http://flot.com/upload/blog/b5d//BagdaPubl_8.jpg) ........ Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 02 Tháng Chín, 2012, 12:32:42 pm (tiếp)
Một cảnh trên bờ vực lầm lỡ khác đã xảy ra giữa tàu ngầm của Bagdasarian với những tàu chiến Mỹ ở vùng biển Nhật Bản. - Chúng tôi đi đến thao trường tập bắn. Tôi giương kính tiềm vọng lên và quan sát kỹ lưỡng đường chân trời. Nhìn thấy một dải bọt sủi của một chiếc kính tiềm vọng khác. Nghĩa là tàu ngầm Mỹ. Lập tức các đội viên thủy âm bắt được nó. Chúng tôi bắt đầu chơi trò trốn tìm. Tôi nhận thấy người đồng nghiệp vô danh của tôi hoàn toàn làm chủ tình hình và hành động chiến thuật rất tốt. Anh ta hướng vào bờ - vào phía lãnh hải của chúng tôi. Sự việc xảy ra vào mùa xuân, khi từ những vách đá bờ những dòng nước tan băng cuồn cuộn đổ ra. Tiếng ồn của chúng tạo ra một màn nhiễu khổng lồ đối với sonar. Nhưng chúng tôi đã không cho phép bỏ qua chiếc tàu ngầm nước ngoài này. Nó vượt qua biên giới vùng lãnh hải, theo pháp luật của chúng tôi, tôi buộc phải dùng mọi phương tiện để ngăn chặn kẻ xâm nhập. Và các nguồn lực của tôi là gì? - Tên lửa và ngư lôi. Tôi ra lệnh: "Mở nắp mũi ống phóng ngư lôi". Tôi giương ăng ten lên khỏi mặt nước và báo cáo với bộ tư lệnh rằng đã sẵn sàng tấn công. Tôi được trả lời: "Đợi đã, chúng tôi sẽ đề nghị Moskva". Vậy là, thói quan liêu đáng nguyền rủa đời đời đã cứu vớt người Mỹ và giải trừ tội lỗi cho linh hồn tôi. - Thực tế là Boris luôn luôn sẵn sàng mạo hiểm, và người ta không ngừng đuổi theo anh ấy trên đại dương. Cả trên con tàu của mình, cả trên những môi trường khác, - Larissa Bagdasarian buồn bã nhận xét. - Tôi hiếm khi nhìn thấy anh trong ngôi nhà của mình và anh được gọi là "người thuyền trưởng lưu động". Tất cả các huân chương của anh ấy rất đắt giá với anh và với tôi. Nói ngắn gọn, như nhà văn Aleksandr Malyshkin, "chúng tôi là thủy thủ, chúng tôi là thuyền trưởng - chúng tôi điều khiển những con tàu điên dại". Năm 1969, Bagdasarian nhận nhiệm vụ mới - Kamchatka, nơi anh tham gia ban chỉ huy tàu ngầm K-108 đề án 675 (http://www.atrinaflot.narod.ru/1_submarines/02_plark_675/0_675.htm). (http://flot.com/upload/blog/516//BagdaPubl_9.jpg) Chuyên gia về "Những con bò cái rống" Bull Balderston - trẻ hơn Bagdasarian chỉ một năm, nhưng con đường của anh ta bước tới cương vị thuyền trưởng tàu ngầm hạt nhân lại khác. Anh ta hoàn toàn chẳng mơ đến bước đường sự nghiệp phục vụ hải quân. Thời trẻ con, anh ta bị mắc một dạng bệnh thấp khớp nặng. Tuy nhiên, anh ta đã chiến thắng bệnh tật và trở thành một vận động viên giỏi. Anh ta yêu thích bơi lội và điền kinh. Bull nghiên cứu về các loại côn trùng sa mạc tại Đại học Tổng hợp bang Nebraska, khi cuộc chiến tranh Triều Tiên bùng nổ. Bị xâm chiếm bởi cơn triều dâng của lòng yêu nước, anh ta xin gia nhập Hải quân. Nhưng anh ta lại rơi vào một đơn vị làm công tác thanh lý các loại đạn dược lỗi thời. Balderston và vợ anh ta, Irene, cảm thấy công việc quá nguy hiểm, đó là lý do tại sao anh sỹ quan trẻ chuyển đến phục vụ trên một tàu ngầm diesel. Chiến tranh kết thúc. Bull quyết định hoàn toànrời khỏi hải quân, tiếp tục cống hiến cuộc đời mình cho y học. Thậm chí anh ta còn viết một lá thư xin chuyển ngạch dự bị, nhưng chưa kịp trình thì viên Đô đốc Hyman Rickover con người luôn bất ngờ-khó đoán khuyến cáo Balderston (http://www.ebay.com/itm/B-G-Balderston-Navy-Commander-Signed-Auto-8x10-photo-/360442263227) tiếp tục phục vụ trên một chiếc tàu ngầm hạt nhân mới nhất vừa đưa vào biên chế trang bị. (http://flot.com/upload/blog/467//BagdaPubl_10.jpg) Ở đây cần làm rõ đề nghị này có nghĩa là gì. Nhỏ bé, yếu đuối, nếu không nói là tồi tàn, xuất thân từ một gia đình Do Thái nghèo di cư từ Ba Lan sang Hoa Kỳ, Hyman Rickover là một cơn giông bão và niềm tự hào của Hải quân Mỹ. Ông ta rất xứng đáng mang danh hiệu "cha đỡ đầu" của hạm đội tàu ngầm hạt nhân Mỹ. Rickover thực sự là một "đầu tàu" của ngành đóng tàu tàu ngầm hạt nhân. Ông ta thấu hiểu những chi tiết nhỏ nhất, cãi nhau với các nhà thầu - các tập đoàn hùng mạnh, yêu cầu họ tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu kỹ thuật trong việc xây dựng các tàu ngầm. Ông ta đích thân lựa chọn các thuyền trưởng và sỹ quan cho các con tàu chạy bằng năng lượng hạt nhân. Về những bài test khắc nghiệt của ông ta là cả một huyền thoại. Đô đốc có thể đặt câu hỏi cực kỳ vô lý và lạnh lùng nhìn xem viên sỹ quan có nhanh chóng tìm ra câu trả lời được hay không. Hoặc thậm chí đơn giản thế này: đặt thí sinh ngồi xuống một cái ghế có chân hỏng và khi anh kia ngã lăn ra sàn nhà, ông ta xem phản ứng của nạn nhân thế nào - hoảng hốt hay không? Rickover bị thù ghét và sợ hãi. Nhưng người ta cũng ngưỡng mộ và học hỏi ông ta. Trải qua trường học Rickover có rất nhiều thủy thủ quân sự Mỹ nổi tiếng và các nhà chính trị, chẳng hạn như Tổng thống Mỹ trong tương lai Jimmy Carter. (http://flot.com/upload/blog/f30//BagdaPubl_11.jpg) Đô đốc Hyman Rickover. (http://ru.wikipedia.org/wiki/%D0%A0%D0%B8%D0%BA%D0%BE%D0%B2%D0%B5%D1%80,_%D0%A5%D0%B0%D0%B9%D0%BC%D0%B0%D0%BD_%D0%94%D0%B6%D0%BE%D1%80%D0%B4%D0%B6) Vì vậy, khuyến nghị của Rickover đối với Balderston được tiếp nhận như thể một phần thưởng cao quý, và hơn nữa - như một dấu hiệu từ trên cao. Các đồng nghiệp tin rằng Bull - một ngôi sao đang lên của hạm đội tàu ngầm Mỹ. Anh ta nhanh chóng leo lên các bậc thang phục vụ. Thực ra, trong năm 1968, suýt nữa xảy ra một thất bại. Tàu ngầm hạt nhân "Scorpion" bị chìm ở khu vực quần đảo Azores trong quá trình di chuyển từ căn cứ hải quân Rota (Tây Ban Nha) tới Norfolk. Trong thời gian xây dựng chiếc tàu ngầm này Balderston là một sĩ quan giám sát từ phía Hải quân. Trong quá trình điều tra nguyên nhân của thảm họa Balderston bị thẩm vấn bởi đủ các loại ủy ban, nhưng người ta chẳng tìm thấy lỗi nào từ phía anh ta. Vào đúng thời điểm đó trung tá hải quân Bull Balderston đang chuẩn bị con tàu "Tautog" (tautog - một loại cá chẽm) cho một chuyến đi biển xa và đầy nguy hiểm. Con tàu chạy bằng năng lượng hạt nhân nguyên tử, biểu trưng của nó là "Silent Vigilance", thừa hưởng tên của một tàu ngầm diesel-điện trong thời gian Thế chiến II của Hải quân Mỹ đã lập kỷ lục về số lượng các trận đánh thắng. Thủy thủ đoàn của nó đã dìm xuống đáy biển 26 tàu vận tải và tàu chiến Nhật Bản, trong đó có hai tàu ngầm. (http://flot.com/upload/blog/8e7//BagdaPubl_12.jpg) Tên gọi cũng là nghĩa vụ. Balderston làm tất cả mọi thứ để con tàu của anh ta không đánh mất danh dự của những người tiền nhiệm đã xây đắp nên. Anh ta là một thuyền trưởng khắt khe nhưng không quân phiệt. Theo các đồng nghiệp của anh ta, trên bờ sau giờ làm, thuyền trưởng thích những bữa tiệc thân thiện. Ngoài ra bất kỳ thuyền viên nào cũng có thể túy lúy. Đồng thời Balderston cũng rất quan tâm chăm sóc sức khỏe của mình. Anh ta yêu cầu cà phê không chứa chất caffeine, trước mỗi chuyến ra khơi đi biển, anh ta cho chất đầy lên tàu hồ đào Hy Lạp mà Bull rất thích gặm, bởi vì anh ta tin rằng chúng tăng cường cơ tim và đặc biệt hữu ích cho cơ thể. Và Balderston còn nổi bật bởi những cử chỉ biểu cảm bất thường. Cặp lông mày rậm của anh ta như thể bay khắp mặt. Rồi thì hoặc nó xếch ngược lên trên trán, lúc lại dường như rơi xuống dưới mũi. Điều này xảy ra mỗi khi thuyền trưởng có chuyện gì không hài lòng hoặc đang rất lo lắng. Và mối bận tâm thì luôn có đủ ở mọi nơi. "Tautog" (http://www.navsource.org/archives/08/08639.htm) xuất phát hành quân về đông bắc Thái Bình Dương - tới bờ biển Xô viết - theo dõi tàu ngầm "Echo-II" để làm rõ các đặc tính kỹ-chiến thuật của "sát thủ tàu sân bay" và các khả năng của vũ khí tên lửa của nó. Mùa hè năm 1969 "Tautog" lần đầu tiên đến Kamchatka. Ở đó hồi ấy có một trong các tàu ngầm Nga lớp "Echo-II" lúc thì bắn tập lúc thì tiến hành thử nghiệm. Con tàu của Balderston "dính" với nó theo đúng nghĩa đen. Công việc này rất mệt mỏi. Để không làm lộ chính mình, thỉnh thoảng phải tắt tất cả các máy bơm, gồm cả máy bơm dồn nước làm mát lò phản ứng. Tại tốc độ siêu nhỏ, con tàu 4800-tấn phải khó khăn lắm mới duy trì đúng độ sâu. Phiên trực chỉ huy dường như dài vô tận. Balderston đã hoàn thành nhiệm vụ. Thông qua kính tiềm vọng, anh ta đã quay phim thành công không chỉ chiếc tàu ngầm Nga, mà còn cả việc nó.phóng đạn tên lửa. Các đội viên thủy âm "Tautog" ghi lại được tiếng ồn của "Echo" trong các chế độ khác nhau trên mặt nước cũng như khi bơi ngầm dưới nước. Nói cho đúng, nhiệm vụ thứ hai thuộc loại không phải nhiệm vụ đặc biệt khó khăn. Tàu ngầm Xô viết chạy bằng năng lượng hạt nhân thế hệ 1 khác hẳn tàu ngầm Mỹ bởi mức tiếng ồn cao, nhưng tàu ngầm đề án 675 về mặt này, nói chung không có đối thủ để so sánh. Tuabin "hát", chân vịt "rít" và thêm vào đó là tiếng ồn thủy động lực học tạo ra trong khu vực ống thoát khí của ống phóng tên lửa hành trình. Tám thiết bị phóng như vậy ăn sâu vào thân tàu, nơi mà khi tốc độ tàu cao làm hình thành nên dòng nước xoáy, và tạo ra âm thanh giống như tiếng gầm. Đó là lý do tại sao các thủy thủ Mỹ đã đặt cho "sát thủ tàu sân bay" một cái tên thứ hai rất nhạo báng - "Những con bò cái rống". Sau chiến dịch Balderston được trao tặng một trong những phần thưởng quân sự cao nhất - Huân chương "Công trạng" (Medal for Merit). Anh ta trở thành một thợ săn "bò cái rống" được công nhận. Thủy thủ đoàn đánh dấu sự kiện bằng cách đổi tên con tàu không chính thức sang "Tautog khủng khiếp" (http://en.wikipedia.org/wiki/USS_Tautog_(SSN-639)), hoặc viết gọn - "The Terrible T". (http://flot.com/upload/blog/d7c//BagdaPubl_13.jpg) Tháng 6 năm sau "The Terrible T" lại bơi qua đại dương đến bán đảo Kamchatka với một nhiệm vụ tương tự. Larissa cầu nguyện cho sự cứu rỗi của chồng Trên chiếc tàu ngầm hạt nhân mà đại tá hải quân Bagdasarian chỉ huy trong thời gian phục vụ tại Primorie có một con chuột. Thủy thủ thuần hóa nó và đặt tên cho nó là Masha. Nó sống trong phòng điều khiển trung tâm, nhưng không áp đặt sự hiện diện của nó trước mọi người - thường nó ẩn vào một nơi nào đó trong mạng đường ống và dây dợ. Tuy nhiên, bất cứ khi nào con tàu phải kiểm tra độ kín nước trước khi ra khơi thì con vật luôn xuất hiện. Một khi áp lực trong tàu giảm xuống và vang lên khẩu lệnh "Lắng nghe trong các khoang", con chuột chạy ra khỏi nơi ẩn nấp, ngồi trên hai chân sau, hai chân trước đập đập vào tai mình. Nào, cô nhỏ, hãy chấm dứt trò chơi của mình, màng nhĩ của tôi (http://premiuminfo.ru/samaya-simpatichnaya-krysa-32-foto/) sẽ nổ tung. (http://flot.com/upload/blog/a03//BagdaPubl_14.jpg) Một lần tàu ngầm chuẩn bị ra khơi thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu tiếp theo. Đến tiễn con tàu là sư đoàn trưởng, chuẩn đô đốc Vladimir Yakovlevitch Korban. Ông đứng trên bến tàu và nói chuyện với Bagdasaryan, còn trên tàu đang kiểm tra độ kín nước. Cuối cùng trợ lý chính báo cáo: "Tàu ngầm đã sẵn sàng chiến đấu và sẵn sàng hành quân. Masha không thấy đâu cả". Korban không hiểu cụm từ không đúng điều lệnh cuối cùng và yêu cầu giải thích. "Đây là mã đặc biệt của chúng tôi," - Bagdasarian nói ngắn gọn, tâm trạng anh xấu đi rõ rệt. - Tôi không thể bước vào một chuyến hành quân xa trên một con tàu, mà con chuột duy nhất trên đó đã bỏ chạy. - Bagdasarian giải thích cho tôi. - Cả kíp thủy thủ ngay lập tức nhận ra sự biến mất của Masha và vô cùng bỡ ngỡ. Bởi lẽ ngay cả dấu hiệu về sự đào tẩu của con chuột cũng đã được biết đến. Cần một cái gì đó để hoãn chuyến khởi hành. Bagdasarian báo cáo đô đốc, không sẵn sàng cho chuyến độc hành, bởi vì người ta chưa chở các bao toit đến cho con tàu. Korban không thích chuyện đó, nhưng ông đã ra lệnh cung cấp tỏi. Quân nhân trên tàu kiên trì tìm kiếm Masha. Nhưng nó đã biến đi đâu đó. Và đây, người ta quẳng bao tỏi bên cầu tàu, mà con chuột vẫn chưa được tìm ra. Lúc ấy Bagdasarian tìm thêm một cái cớ để trì hoãn: anh thông báo với chỉ huy sư đoàn rằng có một khối thịt đông lạnh trong tủ lạnh có nhãn 1939. "Chúng ta sẽ đầu độc toàn bộ kíp thuyền viên trong chiến dịch này", - anh chứng minh cho đô đốc thấy. Korban rất tức giận, gọi ngay người cung ứng, cạo cho anh ta một mẻ và ra lệnh thay thịt ngay. Bagdasaryan phải chuốc lấy sự khó chịu và bực bội vì làm dừng nhiệm vụ chiến đấu. Nhưng Boris Surenovitch chịu đựng được. Trong khi đó, người ta một lần nữa kiểm tra độ kín nước của con tàu. Trợ lý chính xuất hiện và vui mừng báo cáo: "Tìm ra Masha rồi và nó đang kéo phong cầm tại chỗ". "Phong cầm gì vậy?" - Vladimir Yakovlevitch hỏi lại. (http://flot.com/upload/blog/453//BagdaPubl_15.jpg) Chiếc sà lan trôi dạt "T-36" - chiến công của những người con của Liên bang Xô Viết. (http://korabley.net/news/drejf_barzhi_t_36_podvig_synovej_sovetskogo_sojuza/2010-11-22-709) Một thời gian ngắn trước khi có các sự kiện đang miêu tả, có một chiếc sà lan với bốn người lính trôi dạt ra Thái Bình Dương và lênh đênh trên sóng một thời gian dài trước khi họ được tàu sân bay Mỹ «Kearsarge» vớt lên. Những chàng trai bị bỏ đói trong thời gian trải qua thiên "Odysse" bắt buộc đã phải ăn cả ủng và bao da chiếc phong cầm. Câu chuyện đó trở thành một câu nói đùa của những thủy binh Hạm đội Thái Bình Dương khi nói về phong cầm. Tại nốt nhạc tếu này mọi người tản ra rồi tạm biệt. Chiếc tàu ngầm từ từ rời bến. Gần ba tháng sau khi trở lại, Korban vẫn hỏi vè"mã" bí ẩn và Masha. Bagdasarian đặt tất cả mọi thứ ra một cách công khai. Vladimir Yakovlevitch suy nghĩ một phút sau đó nói: "Nếu không có con chuột này, tôi cũng sẽ không ra khơi". Nhưng chuyến ra khơi này của tàu ngầm K-108 từ căn cứ tại Kamchatka ra thao trường huấn luyện trong vịnh Avachinsky, con tàu mà các thủy thủ, để một lần nữa không nhắc đến số chiến thuật bí mật một cách vô ích, người ta gọi với nhau nó là "Laila đen" – theo màu của thân tàu và để kỷ niệm một bài hát phổ biến trong những năm đó trong đội ngũ các thủy binh Hạm đội Thái Bình Dương, chuyến ra khơi đó không kèm theo bất kỳ điềm báo hiệu tai ương nào. Chuyến ra khơi này đã được lên kế hoạch, được thiết kế, tính toán tất cả mất ba ngày đêm. Một vài ngày sau Bagdasarian sẽ đi đến Leningrad nhập học tại Học viện Hải quân. Rõ ràng: tâm trạng của người sỹ quân đang hứng khởi. Không có dấu hiệu nào báo trước trục trặc. Kíp thủy thủ đi biển nhiều kinh nghiệm lắm rồi. Mọi người đều hiểu nhau khi chỉ mới nói nửa câu. Thời tiết tốt. Họ rời căn cứ ngày 23 tháng 6 năm 1970 và ngay lập tức bắt tay vào nhiệm vụ đào tạo cơ bản: lặn, nổi, cơ động, tiến vào tuyến phóng ngư lôi, v.v . ......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 02 Tháng Chín, 2012, 08:32:45 pm (tiếp)
- Gần 02:00 giờ ngày hôm sau, khi đang kiểm tra lệnh nhận được từ ban tham mưu trên bờ, dường như người ta đang để cho chúng tôi nghỉ ngơi trong yên lặng, tôi chấp thuận kế hoạch cơ động tiếp theo, - Bagdasarian cho biết. Thực tế là, khi ở trong tư thế bơi ngầm, con tàu phải "quay như chong chóng": sau một thời gian nhất định quay đổi hướng để lần lượt cho phép các đội viên sonar lắng nghe vùng nước phía các góc đuôi tàu ngầm, bởi lẽ tiếng ồn của cơ cấu máy và chân vịt ngăn ta nghe các cung phía lái. Con tàu làm một vòng ngoặt trong khoảng 40 độ để lắng nghe vùng nước bên phải, sau đó đến các vùng bên trái, nhưng hướng tiến chung vẫn không thay đổi. Nhưng lúc đó tôi quyết định để cho thủy thủ đoàn nghỉ ngơi trong khu vực dẫn vào thao trường huấn luyện, bởi vậy sơ đồ cơ động rất đơn giản: định kỳ đổi hướng 90 độ. Nói cách khác, con tàu giống như một vận động viên tại sân vận động, chạy vòng tròn ở độ sâu 40 mét với tốc độ 5 hải lý. (http://flot.com/upload/blog/d58//BagdaPubl_16.jpg) Hồi 5:40 giờ tàu nổi lên chiều sâu kính tiềm vọng. Chân trời - sạch. Anten vô tuyến được giương lên: đến giờ vào phiên liên lạc với bờ. Không ai gửi cho chúng tôi bất cứ mệnh lệnh gì. Chúng tôi lại lặn xuống độ sâu 40 m và lại bắt đầu vòng ngoặt 90 độ. Và bất chợt lúc 5:48 đội viên thủy âm báo cáo rằng nghe thấy tiếng ồn. Anh ta phân loại mục tiêu như là một loại khí tài mô phỏng tàu ngầm. Phương vị mục tiêu nhanh chóng chuyển về phía mũi. 4 phút sau anh ta ngừng lắng nghe đối tượng. Mục tiêu và con tàu của chúng tôi rơi vào vùng bóng tối thủy âm. Rồi hồi 5:54 giờ vang lên một cú va đập... Khi Boris Surenovitch dẫn câu chuyện của mình đến thời điểm va chạm, anh dừng lại rút ra một điếu thuốc, châm lửa rít, và tiếp tục: - Cú va đập đánh trúng tàu ngầm chúng tôi ở vị trí cánh ổn định chính. Tàu ngầm ngay lập tức chúc mũi và bắt đầu chìm xuống vực sâu. Mà dưới lườn tàu của chúng tôi - 2000 mét nước. Tôi tuyên bố lệnh báo động khẩn cấp. Tôi ra lệnh thổi cụm ballast chủ đằng mũi – không hề có tác dụng. Tàu ngầm tiếp tục chìm. Tôi ra lệnh: "Kiểm tra trong các khoang". Đáp lại – chỉ là im lặng. Các chàng trai rõ ràng đang bị sốc. Tôi thừa nhận, mình bắt đầu có những nghi ngờ nghiêm trọng về khả năng nổi lên một cách thành công. Cần phải nói qua đường liên lạc những lời mạnh mẽ. Tiếp theo là báo cáo: "Khoang kiểm tra xong, không có hiện tượng gì". Còn đội viên thủy âm báo cáo: "Tôi nghe thấy tiếng ồn xả khí nén". Đến lúc đó, tất nhiên, tôi đã nhận ra tàu mình va chạm với một tàu ngầm khác. Và tiếng ồn của không khí nén được xả là sự chứng nhận cho việc "cô bạn" của chúng tôi hoặc đang nổi lên, hoặc đang chìm xuống cùng một kiểu như chúng tôi. (http://flot.com/upload/blog/027//BagdaPubl_17.jpg) PLARK đề án 675: Echo-II class (http://www.atrinaflot.narod.ru/1_submarines/02_plark_675/0_675.htm) Bagdasarian châm điếu thuốc thứ 2, và sau khi tạm dừng, anh tiếp tục câu chuyện: - Độ chúi đằng mũi tăng lên rất lớn, đầu tiên 20", và sau đó gần 30". Chỉ huy ngành tác chiến 5 trung tá hải quân Volodia Dybsky lao từ khoang 2 vào phòng điều khiển trung tâm bằng cách bò tay, do cú sốc đôi chân ông từ chối tuân lệnh. Cảm ơn Chúa vì dung dịch điện phân ắc quy không bị trào ra ngoài, may mắn chúng tôi thoát khỏi hỏa hoạn và ngộ độc. Tôi đã muốn ra lệnh "đảo chiều", nghĩa là "đi lùi", còn bản thân mình thì nghĩ: "Đây sẽ là khẩu lệnh cuối cùng của tôi". Với độ chênh mớn dọc lớn đến mức này, rất khó chuyển sang chế độ khác vì đơn giản là các khớp nối không thể ăn khớp để đảm bảo đi lùi, thao tác cơ động đó sẽ không thành công. Và khi đó - chính là kết thúc. Đột nhiên, khi ở khoảng 70 mét, kim đo sâu phập phồng, kim dừng rồi bắt đầu di chuyển theo hướng ngược lại. Từ độ sâu khoảng 25 m, chúng tôi bay lên mặt biển giống như một chiếc nút chai bật tung khỏi chai sâm banh. Mà con tàu đó có độ choán nước đến 5 ngàn tấn rưỡi! - Bao nhiêu thời gian anh tiếp tục rơi xuống vực thẳm? - Từ bốn đến năm phút. Nhưng khi ấy chúng có vẻ như vô tận. Tóm lại, chúng tôi đã nổi lên. Chúng tôi cọ sạch cửa nắp. Mặt trời chiếu sáng. Đại dương - như một cái ao: không có gió, hoàn toàn yên tĩnh, tỏa sáng như tấm gương. Xung quanh không có ai và không có gì. Một suy nghĩ đáng sợ lóe lên: "Tôi đã đánh chìm một người anh em-thủy thủ tàu ngầm". Bất cứ anh ta là ai, người của mình hay người nước khác, rất khó để có thể nhận ra. Tai nạn được chúng tôi báo cáo về bờ. Ngay lập tức đội viên thủy âm cũng báo cáo nghe được tiếng ồn chân vịt của một mục tiêu ngầm dưới nước đang bỏ đi về phía đông nam với tốc độ 12 hải lý. (http://flot.com/upload/blog/a3a//BagdaPubl_18.jpg) Nghĩa là họ vẫn còn sống (http://www.navsource.org/archives/08/08639.htm). Và đối với chúng tôi đã đến thời gian di chuyển. Tôi ra lệnh: "Cả hai mạn vòng quay nhỏ tiến về phía trước". Đến đây chưa hết chuyện. Đường trục bên phải bị kẹt. Vậy là bằng một chân vịt bên trái chúng tôi đã đi về đến căn cứ. Mọi việc trôi qua may mắn không có cuộc phiêu lưu nào nữa. Các đồng nghiệp ra đón con tàu thậm chí còn khen: họ nói rằng chưa bao giờ thấy một cảnh neo tàu nào với chỉ một trục chân vịt làm việc mà đẹp như thế, như tôi đã thực hiện hồi đó. - Nhưng những cảm xúc tích cực ấy, xét toàn diện, không bị giới hạn chứ? - Những cảm xúc dễ chịu thì không nhiều. Ai đó đã kịp tung tin đồn về thị trấn Rybatchi, rằng tàu đã gặp tai nạn dưới nước. Hãy tưởng tượng tình trạng những người thân của chúng tôi! Sau đó, Larissa cho biết cô ấy đã cầu nguyện cho tôi được cứu rỗi. "Terrible T" chống lại "Laila đen" Tháng 1 năm 1991, tờ báo "Chicago Tribune" xuất bản một bài báo giật gân của Christopher Drew, trong đó tham khảo tài liệu các thành viên thủy thủ đoàn "Tautog" báo cáo rằng chiếc tàu ngầm Mỹ này đã đánh chìm một tàu ngầm Nga ngoài khơi bờ biển Kamchatka. Tôi đề nghị Bộ Tổng tham mưu Hải quân làm rõ vấn đề. Ở đó người ta dứt khoát từ chối sự khẳng định về cái chết của chiếc tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân của chúng tôi, nhưng xác nhận có vụ va chạm. Sau đó, chúng tôi đã làm quen với Bagdasaryan. Thời đại của "Chiến tranh Lạnh" đã kết thúc. Boris Surenovitch nảy sinh ý tưởng gặp gỡ thuyền trưởng tàu ngầm Mỹ. - Tôi không được cấp phép vào nước Mỹ, - anh nhận xét. - Tại Hoa Kỳ, tôi nghĩ rằng, chuyến đi ra nước ngoài sẽ dễ dàng hơn. Tôi mời người thuyền trưởng Mỹ tới thăm chúng tôi tại Moskva. Chúng tôi sẽ gặp nhau, sẽ cùng uống, và sẽ cùng nhớ lại "những ngày đã qua, những trận đánh đã qua, nơi chúng ta cùng nhau so kiếm ..." (http://flot.com/upload/blog/384//BagdaPubl_19.jpg) Xem ra tất cả có vẻ đơn giản. Liên lạc với Chris Drew và người ta chuyển lời mời của Bagdasarian tới viên chỉ huy "Tautog". Nhưng không có câu trả lời. Về sự cố xảy ra ngoài khơi bờ biển Kamchatka năm 1970 và số phận của người thuyền trưởng chỉ huy "Tautog" đã được Drew nói đến với một vài năm sau này trong cuốn sách của ông "Trò chơi trốn tìm, viết cùng Sherry Sontag. Dưới đây là cái nhìn sự kiện kịch tính này từ phía Mỹ. Khi đội viên thủy âm "Tautog" phát hiện ra "Black Leyla", ngay lập tức họ xác định rằng con tàu có những hành động khá kỳ lạ. Tàu đi thẳng nghĩa là một đối tượng lý tưởng cho cuộc "đi săn". "Terrible T" bám đuôi tàu ngầm Nga, và để không rời khỏi khu vực bóng tối thủy âm, nó tiếp cận tàu ngầm Nga ở khoảng cách cực ngắn. Thủy thủ Mỹ, như họ nói, "nhảy múa điệu cô-dắc dưới nước" vì tốc độ của cả hai tàu ngầm đều nhỏ, nên đòi hỏi rất nhiều nỗ lực để giữ hướng và độ sâu cho con tàu. Bull Balderston nhìn chằm chằm vào màn hình sonar, luôn luôn lặp đi lặp lại cùng một từ: "Nó đấy... Nó đấy...". Đồng thời cặp lông mày của anh ta thực hiện những đường pirouettes không thể tưởng tượng được, cho thấy sự căng thẳng và sự khích động tột bực của anh ta. Dấu hiệu trên màn hình hết lúc này sang lúc khác cho thấy khoảng cách giữa 2 con tàu bằng không, nhưng sau đó một lần nữa, khoảng cách giữa các con tàu lại tăng vọt. Đột nhiên chiếc tàu ngầm Nga bắt đầu nổi lên, sau đó lại lặn xuống, và bỗng dưng dấu hiệu trên màn hình biến mất. Trên "Tautog" người ta không thể xác định "Echo" đang ở chỗ nào, bên phải hoặc bên trái? Và rồi bất ngờ vang lên tiếng một đòn va chạm khủng khiếp. Có cảm giác hai chiếc ô tô đấu đầu nhau khi đang chạy trên đường cao tốc. Chân vịt của "Echo" bắt đầu đánh mạnh vào thân "Tautog" với tiếng nghiến kèn kẹt dữ tợn và tiếng rít khủng khiếp. (http://flot.com/upload/blog/e45//BagdaPubl_20.jpg) Trong phòng điều khiển trung tâm (http://www.flickr.com/photos/blazer8696/5212987844/), tách cà phê uống dở bay vèo xuống sàn nhà cùng với bút viết, bút chì, và bất cứ thứ gì có thể rơi được. "Tautog" bị nghiêng ngang 30 độ về mạn phải. Sau đó một sức mạnh khủng khiếp đẩy lùi con tàu và ghì nó xuống vực sâu. (http://flot.com/upload/blog/210//BagdaPubl_21.jpg) Đội viên thủy âm Paul Waters giật tai nghe khỏi tai. Anh ta cảm thấy màng nhĩ nổ tung vì tiếng ồn khủng khiếp, còn đồng nghiệp của anh - David Lindsay - bị cú đánh ném khỏi ghế bành, và anh ta vừa văng tục, vừa tụt như bay bằng gót chân theo chiếc cầu thang sắt xuống tầng thấp hơn. Theo thông lệ trong trường hợp như vậy, các thủy thủ đóng chặt các cửa vách ngăn. Trong khoang mũi còn lại một mình thủy thủ 18 tuổi Greg Greeley, mới xuống tàu ba tuần lễ trước khi ra khơi. Cậu bé, nói một cách nhẹ nhàng, đã phải trải qua một chục phút khó chịu, khi mà những đồng nghiệp lớn tuổi hơn còn chưa hồi tỉnh và nhớ đến sự tồn tại của cậu. Độ nghiêng ngang cân bằng dần còn khoảng 10 độ về phía mạn phải. Lindsay đi lên lầu, về vị trí của mình và đeo tai nghe. Anh ta nghe thấy một âm thanh tương tự như khi rang bỏng ngô. "Thân bền tàu ngầm Nga đã bị phá hủy" - anh chàng acoustician đi đến kết luận này, và báo cáo thuyền trưởng. Balderston ra lệnh mở hết tốc lực lấy hướng đi về Trân Châu Cảng, nhưng con tàu không thể ép tốc độ lên hơn 12 hải lý. Số phận của những người Nga thì không thấy ai nói. Khi tiến hành các chiến dịch bí mật, bộ chỉ huy có lệnh cấm nổi lên ngay cả trong trường hợp xảy ra sự cố, nhưng về tổng thể, điều đó giống như đối diện với cuộc đào thoát cuối cùng ra khỏi nơi xảy ra sự cố. Về phần "Tautog", do vụ va chạm với "Black Leyla", phần mui tàu bị ảnh hưởng nhiều nhất, đó là nơi lĩnh trọn cú va đập. Trong cuộc chạy trốn khỏi bờ biển nước Nga, các tấm thép tháp mui hết tấm này đến tấm khác bị giật tung ra và đập vào thân tàu với những tiếng gầm vang rền. Vào ban đêm khi «Тautоg» nổi lên, trông nó thật kinh sợ. Thay vào tháp mui — một kết cấu gì đó, như thể lẫn lộn những mảnh các tông nhàu nát, một trong 2 kính tiềm vọng bị gãy, thiết bị ăng ten cũng hư hỏng méo mó. Cửa nắp tháp mui không thể mở được. Nó bị kẹt bởi mảnh vỡ chân vịt tàu ngầm Nga. Các thuyền viên chưa bao giờ nhìn thấy thuyền trưởng của mình ê chề như vậy. "Tất cả hết rồi. Than ôi đường sự nghiệp của tôi đã chấm dứt, — anh ta rên rỉ. — Tôi buộc phải quên đi những ngôi sao ". Balderston nói đến ngôi sao đô đốc mà anh ta đang mơ ước. Vài giọt nước mắt trên đôi giày đầy bụi "Tautog" bò về đến Trân Châu Cảng ngày 01 tháng 7. Vào ban đêm, tàu được đưa lên dok, và tháp mui méo mó biến dạng được người ta dùng bạt che kín. Tất cả các thành viên của thủy thủ đoàn được người ta yêu cầu ký cam kết không tiết lộ thông tin liên quan đến vụ việc. Người ta lấy ra tất cả các mảnh kim loại Nga to nhỏ kẹt trong thân tàu mà các thủy thủ lấy làm kỷ niệm. Trái với mong đợi, Balderstona không bị buộc tội vì những gì đã xảy ra. Chỉ có một mệnh lệnh được ban hành, khuyến cáo các thuyền trưởng tàu ngầm khi theo dõi các tàu ngầm của đối phương phải "giữ khoảng cách". Balderston thậm chí còn được đẩy lên cao, được bổ nhiệm làm tư lệnh một đơn vị tàu ngầm, trong đó có "Tautog", nhưng cầu vai đô đốc thì anh ta không bao giờ nhận được. Ngôi sao của anh ta đã xuống và không còn kịp lên nữa. Bảy năm sau, anh ta rời Hải quân và trở thành ... nhà truyền giáo dòng Baptist. Còn ở phía bên kia của đại dương, các sự kiện diễn tiến theo kịch bản Xô viết "tội ác và trừng phạt": một số đồng chí thuyết phục Bagdasarian yên tâm, rằng đã đến lúc anh mặc quân phục đại lễ đục lỗ đêt đeo huân chương rồi, những người khác thì giữ ý kiến khác. Và, than ôi, những ý kiến sau đã được thời gian chứng minh là đúng. Bắt đầu công cuộc kéo lê giày trước các cấp trên. (http://flot.com/upload/blog/9e4//BagdaPubl_22.jpg) Sư đoàn tàu ngầm số 10. (http://www.sgan2009.ru/10_divisiy/10_divisiy.html) - Hướng vào học viện của tôi đã bị cắt đứt - Boris Surenovitch nói. - Người ta tuyên bố tình trạng không hoàn toàn phù hợp trong công tác phục vụ quân đội. Tuy nhiên, theo thông lệ thời đó, hình phạt cho tai nạn xảy ra vẫn là còn nhẹ. Sau đó, mới đến lượt tra tấn - Đảng ủy đưa ra xem xét trường hợp của tôi. Và anh có biết những loại thủy thủ nào dự họp không: các chủ nhiệm kho hậu cần, và những người chẳng bao giờ đi biển khác. Tư lệnh binh đoàn, chuẩn đô đốc Yakov Ionovitch Krivorutchko biết tính nóng nảy của tôi, trước khi cuộc họp đảng ủy bắt đầu ông ấy cho biết: "Đừng hà tiện. Hãy rỏ một vài giọt nước mắt xuống đôi giày bụi bặm". Tôi thỏa thuận với ông rằng nếu ông vỗ nhẹ vào đầu gối thì tôi phải im lặng, dù người ta nói tôi thế nào. Tôi hành động đúng theo lệnh của người chỉ huy cao cấp, nhưng tôi vẫn bị khiển trách nghiêm khắc ghi lý lịch. Nhưng sau 6 tháng thì tôi được phục hồi. Nhiều năm sau, khi có sự trao đổi các văn bản của đảng, dòng ghi chú đó biến mất khỏi sổ phục vụ của tôi, mặc dù tôi yêu cầu cứ để lại. Bởi sẽ tìm được rất ít những người cộng sản, mà trong cuốn sổ phục vụ của họ người ta đọc được: "Cảnh cáo nghiêm khắc về mặt đảng vì để xảy ra va chạm với tàu ngầm hạt nhân Mỹ trong tư thế bơi ngầm". (http://flot.com/upload/blog/45b//BagdaPubl_23.jpg) Krivorutchko Ionovich Yacov (bên phải) có thể thẳng thắn được liệt vào số những thủy thủ tàu ngầm huyền thoại của Hạm đội Thái Bình Dương, những người chỉ huy mà người ta coi việc được đi biển cùng họ là một vinh dự. - A.Ostrovsky. (http://suurpea.ru/) ........... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 03 Tháng Chín, 2012, 10:10:55 pm (tiếp)
(http://i668.photobucket.com/albums/vv46/qtdc/K108_1.png) Tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa hành trình K-108 đề án 675 - "Laila đen" và kíp thủy thủ tại Cam Ranh, tháng 10 năm 1982. - Tầu ngầm của anh bị thương thế nào? Nó có được các tàu khác trợ giúp gì không? -Sau khi chúng tôi báo cáo sự cố về bờ, người ta đã phái đến cho chúng tôi một chiếc tàu kéo, nhưng chúng tôi không yêu cầu nó trợ giúp gì cả. Tiện thể nói thêm rằng, người ta đã tổ chức tìm kiếm chiếc tàu mà chúng tôi đụng phải. Tàu chiến và máy bay đã cố gắng để tìm ra chiếc tàu ngầm kia nhưng vô ích. Ngay sau khi về đến căn cứ, phần ngầm của thân con tàu của chúng tôi đã được các thợ lặn khảo sát, và họ đã phát hiện trục truyền lực chân vịt bên phải bị bẻ cong. Và trên dock người ta mới thấy: cú đánh nện thẳng vào thân tàu theo đúng nghĩa đen. Trục truyền này đã cứu con tàu. Khi đó thủy thủ đoàn thậm chí đã tổ chức ăn mừng: "Hãy uống mừng vì trục chân vịt!" (Nói thêm, các thủy thủ “Tautog" cũng đã làm một cuộc ăn mừng tương tự theo nghĩa: ''Hãy nâng cốc vì thép NU-80" - thép mác NU-80 được dùng làm vỏ tàu ngầm). Trên phần vỏ nhẹ có một lỗ lớn: một chiếc xe buýt có thể dễ dàng chui qua. Trên thực tế, nếu "Tautog" cắt vài mét nữa về gần phía trung tâm tàu ngầm, chúng tôi sẽ chẳng thể thoát khỏi tai họa. Tàu ngầm Mỹ, không nghi ngờ gì nữa, đã đâm bị thương vỏ nhẹ và vỏ bền của tàu ngầm chúng tôi. (http://flot.com/upload/blog/802//BagdaPubl_24.jpg) Lỗ thủng ở thân K-108 sau vụ va chạm với USS "Tautog" SSN-639. Có thể nhìn thấy rõ trục truyền chân vịt phải. – Sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Con người, sự kiện, con tàu. - St Petersburg, năm 2005. Số đặc biệt nguyệt san Taifun. Vật kỷ niệm vụ va chạm với "Tautog" mà Boris Surenovitch còn giữ lại là một mảnh thép nặng của thân tàu - một mảnh vỡ từ vỏ tàu ngầm Mỹ, mắc vào thân tàu ngầm K-108. - Trong quá trình sửa chữa, chúng tôi tìm thấy rất nhiều miếng sắt Mỹ ở phần đuôi tàu của chúng tôi – Bagdasarian cho biết. - Thật không may, hầu như tất cả các thành viên thủy thủ đoàn đều được các nhân viên KGB yêu cầu nộp lại trước khi tàu ra khỏi nơi sửa chữa. Họ cũng yêu cầu tôi phải giao nộp mẩu thép nước ngoài - Tôi thẳng thừng từ chối. Họ phẩy tay và bỏ đi. - Kết thúc của câu chuyện này ra sao? - Mất một tháng sửa chữa, sau đó con tàu được gửi đi thực hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu ở bờ biển California. Như chúng tôi hồi đó thường nói đùa, "hãy tắm rửa bằng máu của kẻ phạm tội." Trước khi ra khơi, tôi đã tiến hành một cuộc khảo sát trong thủy thủ đoàn: ai từ chối đi với tôi, tôi sẽ để lại trên bờ mà không trách móc gì. Chỉ có một chuẩn úy hải quân từ chối. Tất cả những người còn lại vẫn bày tỏ sự tin tưởng vào thuyền trưởng chỉ huy. Hai tháng làm nhiệm vụ tại khu vực ngoài khơi San Francisco. Người ta cũng xóa bỏ cho tôi mọi hình phạt không phù hợp. Năm sau, họ vẫn gửi tôi đến học ở học viện. - Nếu tàu của anh hoặc của người Mỹ, hoặc thậm chí cả 2 tàu đều bị chìm, hậu quả gì có thể xảy ra? - Những hậu quả nghiêm trọng nhất. Ngoài các lò phản ứng hạt nhân, tàu ngầm của chúng tôi, cung tàu ngầm Mỹ theo tôi biết, đều mang theo trên tàu vũ khí hạt nhân. Các lò phản ứng đang ở chế độ hoạt động. Và hoàn toàn có khả năng người ta không tắt được chúng. Khi đó chỉ Thiên Chúa mới biết điều kết thúc là gì, thậm chí còn nhiều hơn những gì tưởng tượng như vậy trong thời đại gian nan của "Chiến tranh Lạnh". Boris Surenovitch còn nói nhiều về thời đại ấy. Bản thân anh ấy từng "săn lùng" các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo của Mỹ. (http://flot.com/upload/blog/735//BagdaPubl_25.jpg) - Tại sao "Black Leyla" và các "chị em" (http://www.atrinaflot.narod.ru/1_submarines/02_plark_675/0_675.htm) của nó, vốn được thiết kế để dành cho các cuộc tấn công các loại tàu mặt nước lớn, lại được huy động cho cả các chiến dịch chống tàu ngầm? - Tàu ngầm đề án 675 được lắp đặt hệ thống sonar "Kerch", mới nhất tại thời điểm đó – Bagdasarian cho biết. - Trên thực tế, tổ hợp đó được thiết kế để phát hiện các loại tàu mặt nước, nhưng nó cho thấy đạt kết quả rất tốt trong việc phát hiện các mục tiêu ngầm dưới nước. Theo đặc điểm của mình, nó gần với hệ của Mỹ. Đó là lý do tại sao chúng tôi được huy động tham gia các chiến dịch săn tàu ngầm. Tuy nhiên, do độ ồn cao của các tàu ngầm chúng tôi mà hiệu quả sử dụng tổ hợp này bị giảm đáng kể - phải nhờ đến các loại thủ thuật khác nhau chúng tôi mới hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu của mình. - Chúng là những loại gì? - Thường xuyên hơn cả, tôi phải theo dõi các tàu ngầm tên lửa hạt nhân Mỹ, đóng quân ở căn cứ Apra tại Guam. Tại đây, chiều sâu lớn và thủy văn phức tạp là những thứ gây khó khăn cho việc phát hiện và theo dõi. Theo mệnh lệnh tác chiến, chúng tôi không được phép tiếp cận tới giới hạn vùng lãnh hải của Hoa Kỳ gần hơn năm dặm. Mà chiều rộng vùng lãnh hải Hoa Kỳ thời đó là 3 dặm. Tổng cộng, chúng tôi đã có 8 dặm. Tuy nhiên, ở khoảng cách xa như vậy để phát hiện tàu ngầm Mỹ ra khơi tuần tra thì thật khó khăn. Tuy nhiên, trong các mệnh lệnh chiến đấu người ta cũng nói rằng chúng tôi cần "xác định" tàu ngầm tên lửa của Mỹ. Nghĩa là, đã có một sự mâu thuẫn giữa những gì chúng ta phải làm, và những gì chúng ta không có quyền làm – cần phải lựa chọn. Tôi hành động như thế này: khi nhận được tin tình báo về việc tàu ngầm Mỹ chuẩn bị ra khơi, tôi phái con tàu của mình đi vào vùng cấm 5 dặm đối với tôi, và trường hợp này tôi lựa chọn ở trong lãnh hải của Hoa Kỳ. (http://flot.com/upload/blog/b93//BagdaPubl_26.jpg) Căn cứ tàu ngầm Mỹ ở APRA. Ảnh vệ tinh. (http://kolyan.net/index.php?newsid=2928) - Anh vào sâu lãnh hải Mỹ bao xa? - Một dặm rưỡi. - Nhưng vậy thì anh đã vi phạm mệnh lệnh! - Đúng. Tuy nhiên, vi phạm chỉ một mệnh lệnh, chúng tôi lại thực hiện được mệnh lệnh khác quan trọng hơn – Phát hiện tàu ngầm Mỹ. - Anh có báo cáo bộ tư lệnh về các vi phạm đó không? - Theo các tài liệu và bản đồ chúng tôi xuất đi, chúng tôi không hề thực hiện bất kỳ hành vi vi phạm nào. Mà chỉ báo cáo với bộ tư lệnh về nhiệm vụ chính - phát hiện và theo dõi các tàu ngầm Mỹ. Tôi nghĩ rằng bộ tư lệnh có thể đoán ra trò hề của chúng tôi, nhưng quay mặt làm ngơ với nó, vì họ cần báo cáo với thủ trưởng cấp trên của họ về việc thực hiện nhiệm vụ chính, và thủ trưởng sẽ không xoa đầu vỗ về nếu như chúng tôi không thể phát hiện người Mỹ. - Đó là những chiến dịch mạo hiểm? - Vâng rất mạo hiểm. Đôi khi tôi cảm thấy mình bạc hết tóc trước cặp mắt các cấp dưới của mình trong phòng điều khiển trung tâm. Nhưng không có gì, mọi sự rồi cũng qua. (http://flot.com/upload/blog/82f//BagdaPubl_27.jpg) Hải cảng APRA, đảo Guam. (http://seaphotos.net/4Harbours/1z_ApraHarbour_ru.html) Lặp lại mà không lược trích! Bull Balderston không thể trả lời Bagdasaryan, cũng không nhận lời mời của ông. Người thủy binh Mỹ qua đời vì suy tim vào năm 1984, kết quả của bệnh thấp khớp mang từ thời thơ ấu, và, nhất là, vụ việc xảy ra ngoài khơi bờ biển Kamchatka. Cựu thuyền trưởng USS "Tautog" SSN-639 chắc chắn rằng ông ta đã đánh chìm chiếc tàu ngầm Nga. Nỗi đau đó vẫn được nhà truyền giáo dòng Baptist mang trong mình. Vợ ông và những người thân khác chỉ biết được sự việc xảy ra ở Thái Bình Dương nhiều năm sau khi Balderston đã chết. Phải nói thêm, Bộ chỉ huy Hải quân Mỹ và các nhà lãnh đạo chính trị hàng đầu của Hoa Kỳ cũng tin tàu ngầm Nga "Echo-2" đã chìm. Như cựu Bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird nhớ lại, lúc ông ta báo cáo sự việc cho Tổng thống Richard Nixon, tổng thống giữ một vẻ mặt rất khó hiểu. Việc kìm chế phản ứng của người đứng đầu Nhà Trắng có thể giải thích được. Hai năm trước, người Nga đã mất một tàu ngầm diesel mang tên lửa đạn đạo kiểu "Golf" tại Thái Bình Dương. Tuy nhiên, Lãnh đạo Sô Viết không bận tâm đến chuyện thông báo cho thế giới biết về sự việc bi thảm đó. Rõ ràng, Nixon đánh giá rằng, tại thời điểm này, điện Kremlin sẽ không làm ầm ĩ. Và ông ta không lầm. (http://flot.com/upload/blog/609//BagdaPubl_28.jpg) Phản ứng của Moskva (http://dic.academic.ru/dic.nsf/ruwiki/146489) - im lặng. Boris Bagdasarian sống sót thêm so với đối thủ dưới nước của ông mười sáu năm nữa. Ông mất ngày 04 tháng 5 năm 2000 do căn bệnh nghề nghiệp của các thủy thủ tàu ngầm nguyên tử thế hệ 1 – bệnh ung thư. Cũng là đủ để lật qua tài liệu "Tàu ngầm Nga. Tàu ngầm hạt nhân. Thế hệ đầu tiên. Lịch sử xây dựng và khai thác 1952-1996 (sổ tay tham khảo khoa học và lịch sử), St Petersburg, năm 1996. tập IV, phần 1.", để ta khẳng định: chiếc tàu ngầm hiếm hoi thoát được tai nạn lò phản ứng hạt nhân. Không thể thoát khỏi cuộc tấn công này là con tàu của Bagdasarian. Một lần, con tàu mà ông chỉ huy trở về sau một chuyến đi biển thực hiện nhiệm vụ phục vụ chiến đấu. Theo dự kiến, thủy thủ đoàn sẽ tiến hành kiểm tra tàu và thực hiện sửa chữa nhỏ sau chiến dịch đi biển. Bagdasaryan được báo cáo rằng trong một tuyến ống chính tại khoang lò phản ứng, dường như đã có những vết nứt siêu nhỏ, thông qua đó chất lỏng rỉ ra thành giọt, và chất lỏng này là chất "fonit" ghê gớm. Thuyền trưởng báo cáo lên cấp trên, tại đó người ta hứa sẽ gửi tổ chuyên gia sửa chữa, nhưng mãi không có ai xuất hiện trên tàu. Bagdasarian một lần nữa báo cáo cấp trên, người ta một lần nữa tiếp tục hứa hẹn, nhưng chuyên gia sửa chữa không thấy đến. Lúc đó Bagdasarian đã làm một động thái tuyệt vọng, theo ý nghĩa đầy đủ của từ này, ông bước vào vũng chất lỏng phóng xạ và ngay lập tức đi kiểm xạ tại bốt kiểm xạ ở đầu ra của căn cứ. Và tại đó bàn chân Bagdasarian "rung chuông báo" rằng có uric. Người ta tuyên bố báo động. Bagdasarian và thủy thủ đoàn của ông - cách ly. Xảy ra một vụ scandal, nhưng vì thế mà đội sửa chữa nhanh chóng được gửi đến. - Nếu tôi không làm điều đó, thì từ từ rồi cả nhóm sẽ bị nhiễm xạ hết - Boris Surenovitch giải thích lý do cho "trò hề côn đồ" của ông. - Tôi bước chân phải vào vũng chất lỏng, và sau đó “ung thư” chạy lên thận phải của tôi. Bagdasarian không hiểu sao chắc chắn rằng chính cảnh tượng đó đã sinh ra khối u ác tính. Có thể. Mặc dù những lý do khác dẫn đến sự phát triển bệnh ung thư ở ông đã có đủ. Ngày 10 Tháng 8 năm 1985 xui khiến ông có mặt tại vịnh Chazhma, nơi tại nhà máy sửa chữa tàu biển xảy ra một vụ nổ trong thời gian nạp liệu lò phản ứng tàu ngầm K-431. 10 người thiệt mạng ngay một lúc. Những cái chết khác, gây ra bởi mini-Chernobyl, sẽ đến trong nhiều năm nữa. Đại diện của Cục huấn luyện chiến đấu Bộ Tổng tham mưu Hải quân Bagdasaryan chịu trách nhiệm về đào tạo các kíp thủy thủ tàu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng hạt nhân, nói chung ông không bắt buộc phải đi vào địa ngục, nhưng ông có trong danh sách những người đi giải quyết hậu quả vụ tai nạn. (http://flot.com/upload/blog/9d2//BagdaPubl_29.jpg) Cùng một bến tàu đó ngày hôm nay - hoàn toàn hoang vu và ký ức ... - "THỰC TẾ ĐEN" trước khi CHERNOBYL. Sergei Smolyannikov. - Thế giới Nga. Ukraine. (http://rusmir.in.ua/ist/2334-chernaya-byl-pered-chernobylem.html) Boris Surenovitch không cắt đứt quan hệ với hạm đội cả sau khi nghỉ hưu năm 1988. Đến khi ấy, miễn là bệnh tật không đè gí ông xuống giường, ông vẫn làm việc tại Học viện Bộ Tổng tham mưu, tại đó ông chia sẻ kinh nghiệm và các bí mật nghề nghiệp của mình với các chỉ huy hải quân trong tương lai. Larissa Leonidovna Bagdasarian sống lâu hơn chồng thêm hơn một năm một chút. Bà đã xây dựng được một đài kỷ niệm chồng tại nghĩa trang Vostriakovskoie rồi mới chết ... Tôi đã có cơ hội chứng kiến cuộc phỏng vấn của Bagdasarian dành cho người dẫn chương trình "60 Minutes" của đài truyền hình Mỹ CBS Mike Wallace. Cuộc phỏng vấn này xảy ra ở khách sạn "Intourist", chỉ cách hai bước tới khách sạn "Quốc gia" mà Boris Surenovitch trong những giấc mơ vẫn thấy mình chạm đuôi tàu K-108 vào đó. - Tôi rất tiếc đã không gặp được thuyền trưởng "Tautog", - ông nói. - Tôi luôn luôn tôn trọng các thủy thủ Mỹ, mà chúng tôi đã "chiến đấu" với họ trong nhiều năm. Và tôi luôn nhớ đến thời ấy với niềm tự hào. Nếu tôi được sống lại cuộc đời tôi một lần nữa, tôi chỉ muốn lặp lại nó nguyên xi mà không hề lược trích. (http://flot.com/upload/blog/1d6//BagdaPubl_30.jpg) Bagdasarian Boris Surenovitch. Sinh ngày 14 tháng 3 năm 1930 tại Erevan thủ đô nước CHXHCN Xô Viết Armenia (ASSR). Giáo dục: Năm 1948, tốt nghiệp lớp 10 trường dự bị Hải quân Nakhimov Leningrad, năm 1952 – tốt nghiệp Cao đẳng Hải quân mang tên Frunze, năm 1959 – Tốt nghiệp Khóa bổ túc cao cấp cho sỹ quan Hải quân (VSOK VMF), năm 1972 – tốt nghiệp khóa dự thính Học viện Hải quân (AKOS VMA). Phong quân hàm: 5.7.1952 - Trung úy. 21.7.1954 – Thượng úy. 24.08.1956 – Đại úy hải quân, 17.09.1959 – Thiếu tá hải quân, 4.11.1962 – Trung tá hải quân, 21.7.1967 – đại tá hải quân. Phục vụ quân đội: học sinh Trường dự bị Hải quân Nakhimov Leningrad (đến 1948); học viên Cao đẳng Hải quân mang tên M.V. Frunze (19.08.1948); chỉ huy ngành tác chiến 1 S-33 (5.7.1952); chỉ huy ngành tác chiến 1-4 S-70 Hạm đội Biển Đen (9.3.1953); trợ lý thuyền trưởng S-70 Hạm đội Biển Đen (21.07.1954); trợ lý chính thuyền trưởng S-73 Hạm đội Biển Đen (24.06.1955); học viên dự thính Khóa bổ túc cao cấp cho sỹ quan Hải quân (VSOK VMF) (24.12.1958); trợ lý chính thuyền trưởng tàu ngầm nguyên tử Hạm đội Biển Bắc (17.7.1959); trợ lý chính thuyền trưởng K-59 Hạm đội Thái Bình Dương (29.6.1960); thuyền trưởng K-59 sư đoàn tàu ngầm số 26 Hạm đội Thái Bình Dương (5.5.1963); thuyền trưởng K-57 sư đoàn tàu ngầm số 26 Hạm đội Thái Bình Dương (21.1.1967); thuyền trưởng K-108 sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương (29.10.1968); học viên dự thính Học viện Hải quân (AKOS VMA) (19.10.1971); thuộc quyền điều động của Tổng tư lệnh Hải quân (29.7.1972); sĩ quan cao cấp Cục Huấn luyện Chiến đấu Hải quân (14.08.1972). Nghỉ hưu theo lệnh của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, 25.11.1987. (http://flot.com/upload/blog/4f5//BagdaPubl_31.jpg) Baghdasaryan với "chiến lợi phẩm" ảnh P.Krivtsov. – Cuộc đấu bò trên vực thẳm. Aleksandr Mozgovoi. – “Tạp chí Hàng hải” № 7 năm 1992. CÔ HÊU. Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 14 Tháng Chín, 2012, 12:58:59 am (tiếp theo post #103)
Cuộc đời trong ống kính tiềm vọng. Ảo ảnh của một thủy thủ tàu ngầm còn sót lại. Chuẩn đô đốc A.T.Shtyrov. Nhìn lại kế hoạch, nảy sinh hai câu hỏi. - Sự cần thiết nào bắt phải đưa tàu ngầm ra vị trí chiến đấu, khi mà chiến tranh cục bộ đang diễn ra ở đầu bên kia địa cầu? - Làm thế nào lại có thể đưa vào lệnh tác chiến nhiệm vụ chiến đấu cho một tàu ngầm (biển kín) cỡ trung – phải hành động vượt ra ngoài bán kính chiến thuật của con tàu trong khu vực có bão mùa đông khắc nghiệt, không có sự đảm bảo an toàn nào? Phải nói thêm rằng, chính đây là chiếc tàu ngầm S-178, con tàu đã thực hiện chiến dịch khó nhọc chưa từng có, nhưng 25 năm sau lại bị chìm trong một tình huống vô cùng đơn giản gần Vladivostok vì một vụ va chạm tàu đánh cá (http://www.vlms.ru/c178.html). (http://flot.com/upload/blog/d9b//ShPubl3_46.jpg) Các thành viên tham gia chuyến đi biển đã thừa nhận rằng sau khi đi biển được hơn một tuần, người ta lấy ra được từ bản thân mình một chất dịch nhầy màu đen, thoát ra từ bên trong thùng nước uống đã bốc mùi. Hoàn toàn không làm giảm nhẹ phẩm chất của kíp thủy thủ S-178 trong cuộc hành quân khó khăn trên, tác giả lưu ý trường hợp khi các tàu ngầm cùng đề án buộc phải hoạt động trong điều kiện có bão hoành hành với các đợt sóng khổng lồ (S-393 khi chiều cao sóng 20 mét, thuyền trưởng V.Kachanov chỉ huy, S -176 khi chiều cao sóng 30 mét, thuyền trưởng Yu.Stepantsev chỉ huy), nhưng những yếu tố này, tuy nhiên, có thời gian tác động ngắn hơn ... Trong cuộc khủng hoảng tên lửa Caribbean (tháng 10 năm 1962), khi hai nửa thế giới "nóng tai" theo nghĩa đen, vào đêm trước của Thế chiến 3 (lần này – chiến tranh hạt nhân), ban lãnh đạo Liên Xô đã đưa ra triền khai: - trong khu vực "Island of Freedom" (Sargasso Sea) – thê đội thứ nhất gồm bốn tàu ngầm diesel Project 641 ("Foxtrot"), vốn không phù hợp hoạt động trong khu vực cận xích đạo. Một số người hâm mộ những điều tương tự của lịch sử có thể phản đối: "Nhưng U-boat của Đức đã hoạt động ở Vịnh Mexico trong thời gian Chiến tranh Thế giới thứ II, và hơn nữa, hoạt động rất thành công!" Có, họ đã hành động. Tuy nhiên, thứ nhất, đó là trong một hoàn cảnh lực lượng săn ngầm của Hải quân Mỹ tương đối yếu; thứ hai, họ đã hành động giống như những chiếc tàu lặn (ban đêm – nổi lên mặt biển, ban ngày tùy thuộc vào mức độ rủi ro dự kiến). Tất nhiên, người Đức không bơi trong môi trường êm ái của một khu nghỉ mát. Các tàu ngầm Liên Xô hoạt động tại các khu vực tập trung quy mô lớn lực lượng Hạm đội 4 Hải quân Hoa Kỳ, theo nghĩa đen là bị đập tơi bời dưới mặt nước. Ba trong số họ đã bị người Mỹ phát hiện, bị truy đuổi liên tục và buộc phải nổi lên mặt biển sạc ắc quy. Như ta biết, sau khi nổi lên trước tàu chiến đối phương thì tàu ngầm - không còn là một tàu chiến nữa, mà chỉ còn là một chiếc bình chứa nổi. (http://flot.com/upload/blog/ea7//ShPubl3_47.jpg) Pr. 641: đang cắt qua vùng nước thù địch. Ảnh chụp từ một máy bay tuần biển của NATO (http://flot.com/upload/blog/ea7//ShPubl3_47.jpg) Rất đặc trưng là nhận xét của các nhà lãnh đạo cao cấp Bộ Quốc phòng Liên Xô khi nghe báo cáo của các thuyền trưởng trở về sau chiến dịch này: Thứ trưởng thứ nhất Bộ Quốc phòng Nguyên soái A.A.Grechko không thể hiểu "tại sao tàu ngầm lại nổi lên" (ông thực sự tin tưởng rằng đó là các tàu ngầm nguyên tử), và còn ngạc nhiên hơn nữa - tại sao các thủy thủ tàu ngầm Liên Xô, sau khi nổi lên, không ném lựu đạn cầm tay vào các tàu khu trục và tàu sân bay Mỹ. Vận động một thời gian dài trong dải cận xích đạo của hải lưu Gulf Stream, các kíp tàu ngầm "bị luộc chín như cua" bên trong thân tàu, không hề có hệ điều hòa không khí và hồi đó thì tuyệt nhiên không. Tuy vậy, một trong các tàu ngầm trên vẫn có thể thoát được cuộc truy đuổi. Một mệnh lệnh khủng khiếp của Hải quân Xô viết về chiến dịch này đã được ban hành kịp thời cho các nhóm tàu ngầm của Hạm đội Biển Bắc. Thật không may, các thủy thủ tàu ngầm kỳ cựu còn sống sót cho đến nay, rất miễn cưỡng kể lại việc làm vinh quang của họ, vì điều đó gián tiếp chỉ ra kế hoạch mà các bộ tham mưu chiến dịch đã lập và chuẩn bị mắc quá nhiều sai lầm và các thủy thủ tầu ngầm anh hùng cũng mắc phải vô số lỗi. Tiếp theo thê đội thứ nhất, một thê đội thứ hai được phái đến khu vực khủng hoảng Ca-ri-bê, gồm một nhóm tàu ngầm diesel mang tên lửa đạn đạo Project 629 ("Golf") có tên lửa chỉ phóng được trong tư thế nổi. Thê đội tàu ngầm này không kịp triển khai trong các khu vực thi hành nhiệm vụ chiến đấu trước khi đến giai đoạn thỏa hiệp của cuộc khủng hoảng, vì vậy các tàu ngầm được điều đến khu chờ (phân tán) của các lực lượng thuộc Hạm đội Biển Bắc, và sau đó trở về căn cứ. (http://flot.com/upload/blog/b5d//ShPubl3_48.jpg) Tàu ngầm đề án 629. Tranh vẽ của I. Pozdnyakov. (http://rigapodplav.narod.ru/photoalbum_17.html) Đồng thời, trong không gian chiến trường Thái Bình Dương, tại khu vực đông bắc đảo Honshu của Nhật Bản đang có mặt tàu ngầm S-393 (chỉ huy trung tá hải quân V.Kachanov) với ngư lôi hạt nhân trên tàu. Bí mật vận động đến vị trí trong một cơn bão lớn, tàu đã sẵn sàng bắt đầu chiến đấu trên tuyến đường xuyên đại dương nối Hoa Kỳ-Nhật Bản. May mắn thay, những cái đầu thông minh nào đó đã kịp dừng ý tưởng này lại. Khi vận động đến vị trí chiến đấu, tàu ngầm đã chứng kiến cái chết của tàu đánh cá Nhật Bản "Hado-Maru", bị đâm bởi một con tàu vận tải khổng lồ của Mỹ; con tàu vận tải kia không dừng lại để giúp con tàu đánh cá đang hấp hối. Sóng phát thanh ven biển Nhật Bản chặn được cho biết : 27 người bị giết chết, không có ai sống sót. Tàu ngầm quay trở lại căn cứ (Sovetskaya Gavan) mà không còn nổi một xô nhiên liệu diesel. Điều khẳng định của các nhà báo nhàn rỗi (cả Hoa Kỳ và Nga), rằng trong giai đoạn này, từ bờ biển phía đông cũng như phía tây Hoa Kỳ theo nghĩa đen luôn đặc kín các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo hạt nhân (xô viết), nói cho nhẹ nhàng, là không đúng sự thật. Trong những năm ấy, Hải quân Liên Xô chỉ có thể tạo ra các mối đe dọa quân sự từ dưới mặt nước, và ban lãnh đạo chính trị thường thổi phồng vô tội vạ, như nhà lãnh đạo Nikita Khrushchev hồi đó thường hay làm. Trong giai đoạn hậu Ca-ri-bê (1963-1965) các tàu ngầm diesel đơn lẻ liên tục được triển khai từ các căn cứ chính của Hạm đội Thái Bình Dương, vượt qua eo biển Triều Tiên được bảo vệ mạnh mẽ, tiến vào khu vực tập trận của Hạm đội 7 Hoa Kỳ (phía đông Nhật Bản) với mục tiêu trinh sát và theo dõi bằng khí tài. Khi bị phát hiện, họ đã bị tàu chiến và các vệ tinh của Mỹ theo dõi truy đuổi trước khi có thể sử dụng vũ khí phòng ngừa. Từ năm 1965, các tàu ngầm của Hạm đội Thái Bình Dương được triển khai tại biển Philippine (người Mỹ nói rằng đó là biển "hoàn toàn của mình") theo các nhóm cùng các các tàu căn cứ. Tính từ giai đoạn này, đã sử dụng trong trạng thái văn bản một thuật ngữ mới " hoạt động phục vụ chiến đấu của các lực lượng hải quân trong các khu vực có lợi ích quốc gia của Liên Xô". Chính từ thời điểm đó bắt đầu sự trình diễn trên thực tế cuộc đua tranh giữa hai chiến thuật hải quân - lực lượng chống tàu ngầm của Mỹ và lực lượng tàu ngầm Liên Xô. (http://flot.com/upload/blog/22f//ShPubl3_49.jpg) Một trong những chuyến ra khơi như thế là chuyến đi của ba tàu ngầm đề án 613 với tàu căn cứ nổi "Ivan Kucherenko" (http://www.lifeisphoto.ru/photo.aspx?id=698986), diễn ra tháng 7 năm 1966 (người chỉ huy là tư lệnh binh đoàn tàu ngầm số 6, chuẩn đô đốc E.Medvedev). Tàu Mỹ bu kín biên đội như đàn ruồi, và truy đuổi tàu ngầm một cách liều lĩnh, những chiếc tàu ngầm đang cố gắng lặn để thoát khỏi kẻ thù. Chúng ta phải nhìn thấy, những tên Yankee hoan hỉ quay những chiếc máy ảnh thế nào khi từ chiếc tàu ngầm đã nổi lên, giống như ma quỷ xuất hiện từ địa ngục, các thủy thủ tàu ngầm Liên Xô trong trang phục dùng một lần thời Ivan the Terrible (trong những chiếc quần đùi rách, vốn màu trắng và áo sơ mi lót). Các thủy thủ tàu ngầm không thể thoát khỏi các sonar Mỹ chĩa vào suốt nhiều ngày đêm và hơn nữa, mặc dù họ tích cực gây ra tất cả các loại nhiễu có thể có và phóng ra các mục tiêu giả, cho đến khi trên tàu căn cứ nổi nghĩ ra một mẹo: vứt xuống biển một khối lượng lớn các hộp đục lỗ chứa các tấm tái sinh không khí tạo ra một thê đội mạnh mẽ trong một hải tầng dày, làm cho người Mỹ váng đầu bất ngờ khi thấy một chiến thuật man rợ, nhưng hiệu quả đến vậy. Tiếp theo, khi gánh nặng nhiệm vụ phục vụ chiến đấu trên các khu vực đại dương do các tàu ngầm hạt nhân đảm nhiệm (khi đó không còn là tàu ngầm mà là tuần dương hạm ngầm), các tàu ngầm diesel chuyển sang đảm trách các vùng biển gần nước nông giáp Trung Quốc - Hoàng Hải và Hoa Đông. Khi đó, đột nhiên có một vấn đề đặt ra cho các bộ tham mưu cấp cao là việc quay lại với chiến thuật và vũ khí thời Chiến tranh Thế giới thứ II, bởi vì các tàu ngầm hạt nhân và các ngư lôi tầm xa hiện đại và các mìn biển loại mới không áp dụng được ở những khu vực này. .......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 14 Tháng Chín, 2012, 06:24:25 pm (tiếp)
(http://flot.com/upload/blog/8b1//ShPubl3_50.jpg) Trong giai đoạn tiếp đó, bắt đầu từ 1968-1969, nhiệm vụ phục vụ chiến đấu của các tàu ngầm diesel mang một hình thức khác, có tính biểu hiện, thực tế không che giấu: các tàu ngầm vũ khí ngư lôi và tàu ngầm vũ khí tên lửa của Hạm đội Thái Bình Dương thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu trong thành phần binh đoàn xung kích cơ động số 8 (8-й оперативной эскадры) (http://www.8opesk.su/) tại vùng biển Tây Ấn Độ Dương (bám trụ tại vũng cảng đảo Socotra) và các tàu ngầm của các Hạm đội Biển Bắc và Bantic – hoạt động trong thành phần phân hạm đội chiến dịch-chiến thuật số 5 hoạt động ở vùng phía Đông của Địa Trung Hải (với các chuyến di chuyển vòng quanh châu Âu và xuyên qua eo biển Gibraltar). Cần phải nói rằng họ đã phải hoạt động trong điều kiện phản ứng của các lực lượng chống ngầm hải quân NATO là vô cùng mạnh mẽ. Chẳng hạn, năm 1964, theo kiểm kê của tất cả các loại tin tức tình báo, ứng với mỗi tàu ngầm Hạm đội Baltic: S-250 của V.Venediktov và S-187 của A.Semenov đối phương đã huy động vào Địa Trung Hải 23 tàu chiến, 180 máy bay và 265 quân nhân chống ngầm so với mỗi thủy thủ tàu ngầm của chúng ta. Ngay cả khi đang tiến hành cuộc chiến tranh quy mô lớn ở Việt Nam, người Mỹ vẫn có thể đảm bảo một ưu thế tuyệt đối trên không gian chiến trường biển tại châu Âu. Gần như đồng thời các tàu ngầm diesel – mang tên lửa đạn đạo gắn đầu đạn hạt nhân uy lực lớn cũng tiến hành các chuyến hành quân bí mật ở các vùng phía Bắc của Thái Bình Dương và Đại Tây Dương, nơi họ thực hiện các cuộc tuần tra chiến đấu tại các khu vực mà tầm hoạt động của vũ khí mang trên tàu đạt đến các mục tiêu trên đất liền của Mỹ và NATO. Đây là những tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo đề án 629-A ("Golf") với tên lửa đạn đạo phóng được từ dưới mặt nước. Phát hiện ra mối đe dọa, người Mỹ vội vã triển khai một hệ thống giám sát chống ngầm toàn cầu "SOSUS" *, thành phần quan trọng nhất của nó là các hệ thống hydrophone đáy biển phát hiện và cảnh báo từ xa "Caesar-Artemis", sau đó là hệ thống "Sea-Spider", và phát triển một mạng lưới rộng khắp các sân bay cho máy bay tuần biển tầm xa (máy bay "Orion", "Atlantic" và các loại máy bay khác có hệ thống tự động hóa các công việc phát hiện, theo dõi, tiêu diệt các tàu ngầm đối phương ngay khi khởi đầu chiến tranh). * Ước tính chi phí thiết kế, xây dựng và triển khai hệ thống "SOSUS" là khoảng $ 200 tỷ USD, còn chi phí cho chương trình phòng thủ tên lửa quốc gia của Mỹ là 500 tỷ USD. (http://flot.com/upload/blog/4e8//ShPubl3_51.jpg) Phương án xây dựng tuyến chống tàu ngầm tại vùng Tây Thái Bình Dương: eo biển Triều Tiên - quần đảo Kuril - quần đảo Aleutian. (http://flot.com/upload/blog/a03//ShPubl3_52.jpg) Phương án xây dựng tuyến tiền duyên chống tàu ngầm tại Đại Tây Dương: Greenland-Iceland-Vương quốc Anh. Một phần các chuyến hành quân như vậy của các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo từ năm 1967 được thực hiện từ các căn cứ ở Kamchatka. Trong một chuyến hành quân tháng 3 năm 1968 tàu ngầm K-129 (đại tá hải quân V.Kobzar) đã hy sinh do đòn “taran” của tàu ngầm hạt nhân Mỹ "Swordfish” đang theo dõi K-129. Kể từ đầu những năm 1970, các hình thức tuần tra chiến đấu như vậy trên các đại dương sẽ không do các tàu ngầm động cơ diesel đảm nhiệm nữa mà thuộc về các tàu ngầm nguyên tử-tuần dương mang tên lửa. Đồng thời với các dạng chiến dịch và các hình thức phục vụ chiến đấu kể trên, từ năm 1968 các tàu ngầm diesel cỡ lớn riêng lẻ (được trang bị thêm và thường là tàu đề án 641) đã thực hành các chuyến đi biển xa dài ngày với các mục đích khoa học- quân sự, chủ yếu để ghi lại theo hải trình (các thông số) của trường trọng lực của Trái Đất, cũng như để nghiên cứu các hải tầng theo chương trình của Năm Địa vật lý Quốc tế. Một trong những chiến dịch hành quân đầu tiên là một chiến dịch không thành công năm 1968 của tàu ngầm B-62 (trung tá hải quân B.Charny) ở khu vực phía bắc Thái Bình Dương. Chiến dịch gần như đã kết thúc trong bi kịch: tại phía bắc Hawaii động cơ diesel thứ nhất trên tàu bị hỏng, ngoài khơi bờ biển phía tây Hoa Kỳ hỏng động cơ diesel thứ hai, và động cơ diesel thứ ba hỏng ở phía nam chuỗi đảo Aleutian (động cơ cuối cùng). Tàu ngầm mất khả năng hành trình, ắc quy cạn, bị bão biển mà không ai trợ giúp trong đại dương. Cứu B-62 là một trong những tàu thủy dân sự Liên Xô, tàu dân sự tròng dây thòng lọng theo nghĩa đen vào tháp chiến đấu của tàu ngầm và kéo nó về vịnh Avacha. Thuyền trưởng tàu dân sự tất nhiên không nhận được sự cám ơn của chính quyền (thời ấy tất cả mọi thứ được thực hiện hoàn toàn bởi động cơ yêu nước của các cá nhân). (http://flot.com/upload/blog/cd3//ShPubl3_53.jpg) Tàu ngầm B-62 đề án 611 ZULU-I (tàu thứ 2 trong loạt tàu đề án này) đang thực hiện các thử nghiệm quốc gia (Nhà máy đóng tàu Admiraltei với hạm đội tàu ngầm Nga. St.Petersburg, "Gangut", năm 2003.) (http://military.tomsk.ru/blog/topic-204.html) Nguyên nhân của tình trạng khẩn cấp trên là: trình độ tổ chức huấn luyện chuẩn bị thấp cho chuyến đi biển kéo dài trong mùa đông ở các vĩ độ có bão biển thường xuyên và sự bất cẩn trong quá trình hành quân. Trước khi ra đại dương trên B-62 mới nạp được 25% tổng cơ số nhiên liệu toàn phần. Tuy nhiên, cũng nên thừa nhận rằng một trong những điều kiện tiên quyết để xảy ra tai nạn là sự chi li khét tiếng của hạm đội trong việc phân bổ lực lượng và phương tiện hỗ trợ chiến dịch, cũng như tính không đầu óc trong kế hoạch hành quân của cơ quan tham mưu. Rất thường xuyên, các tàu ngầm được phái đi làm nhiệm vụ phục vụ chiến đấu trong tình trạng "chữa cháy". Phương pháp này đã chấm dứt thế nào, thì chúng ta cũng đã biết, chẳng hạn số phận của tàu ngầm K-219, chúng ta chỉ không biết tất cả các trường hợp trước đây, các thuyền viên im lặng bởi vì họ là người đã chết, các thành viên bộ tham mưu còn sống cũng im lặng như người chết, bởi vì họ không muốn thừa nhận sự nhục nhã của họ. Và đây là một bằng chứng vẫn còn sống thuyền trưởng M.Lipnitsky của tàu ngầm B-59, được cử đi phục vụ chiến đấu năm 1965, – KHỒNG CÓ sửa chữa bình thường theo quy định, mà chỉ chẩn đoán nhanh và sửa chữa chiếu lệ (ППР), không cần đưa tàu lên dok. Trong tổng số 90 ngày chiến dịch có 52 ngày chỉ làm công tác sửa chữa. "Nó không phải là một chiến dịch đi biển mà là một cuộc đấu tranh liên tục để sinh tồn" – thuyền trưởng nhớ lại. Thiếu cơ sở hạ tầng ven biển theo quy chuẩn (sửa chữa, bảo trì tất cả các loại khí tài vật chất, nghỉ ngời và thay kíp thủy thủ đoàn, v.v.) không cho phép hạm đội tàu ngầm của Liên Xô trong những năm 1960 đạt được hệ số sử dụng trong hoạt động của các RPKSN (tàu ngầm tuần dương mang tên lửa đạn đạo chiến lược) thuộc các đề án 629 và 629A lớn hơn 0,25. Trong khi đó, người Mỹ liên tục giữ được hệ số KOI (коэффициент оперативного использования) chỉ thấp hơn 0,7 một chút. Tuy nhiên, chỉ với những tàu ngầm đang ở trên biển thuộc các Hạm đội Biển Bắc và Baltic, cũng đủ để trong một vài phút biến khu vực bờ biển phía đông và phía tây của nước Mỹ trở thành một sa mạc phóng xạ (các tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm R-13 có tầm bắn Dstr = 560 km, R-21 có Dstr = 1420 km). (http://flot.com/upload/blog/de9//ShPubl3_54.jpg) Trong các chuyến đi biển "gravimetry" (đo trọng trường) cuối cùng người ta sử dụng hai kíp thủy thủ hoán đổi cho nhau bằng cách thuê thêm một tàu chở khách. Một trong những chuyến đi biển này có độ dài sáu tháng vào năm 1974, được thực hiện bởi tàu ngầm B-164 (sỹ quan cao cấp chỉ huy biên đội là đại tá hải quân V.Gridnev, sau này thăng chuẩn đô đốc) với một tàu chở khách "Maria Ulyanova" (http://filocart.narod.ru/trans.htm) hải trình : quần đảo Kuril – đảo Midway - Đảo Phục Sinh - phía nam lục địa Nam Cực - khu vực đảo Tasmania - phần phía nam Ấn Độ Dương - đảo Quajaleine - Vladivostok. Chiến dịch được thực hiện với điểm đánh giá "xuất sắc", không tai nạn, không bị thương hay mất mát về người, dù phần chủ yếu trong hải trình của tàu ngầm diễn ra dọc theo “vĩ tuyến 40 gầm thét” ("Roaring Forties") nổi tiếng. Tổng cộng cho đến năm 1984, các tàu ngầm Liên Xô đã thực hiện hơn 70 chuyến đi đến Bắc Cực, còn đến châu Mỹ - 26. (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/f/f7/ClipperRoute.png) ......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 14 Tháng Chín, 2012, 10:17:34 pm (tiếp)
III. CÁC TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT. CÁC TRƯỜNG HỢP KHẨN CẤP VÀ TAI NẠN LỚN Trong toàn bộ thời gian được mô tả (1947-1988) trong số 495 tàu ngầm trong biên chế đã có 7 tàu ngầm diesel thế hệ sau chiến tranh hy sinh cùng kíp thuyền viên. Tổng số đã đóng được 518 tàu ngầm động cơ diesel và 256 tàu ngầm hạt nhân. Trong số các nạn nhân có: - 1 tàu ngầm - do lỗi trong thiết kế của đề án; - 5 tàu ngầm - do kíp thuyền viên hành động sai lầm; - 1 tàu ngầm - do lỗi lỗi trực tiếp của đội ngũ chỉ huy (tổ chức kém, bỏ bê chức trách của họ) *. Để so sánh, cũng đáng để ta nhớ lại rằng trong giai đoạn từ 1900 đến 1982 tại tất cả các hạm đội nước ngoài do các vụ tai nạn (trừ thương vong trong chiến đấu của Thế chiến I và Thế chiến II) đã có đến 200 tàu ngầm diesel bị chìm (4 600 người). Đặc biệt, chỉ có 9% trong tổng số các trường hợp trên được coi là "bất khả kháng". Tôi sẽ không nói về các trường hợp khẩn cấp không dẫn đến mất mát lớn về người (lật tàu ngầm trên dok, cháy trong các khoang, va chạm, v.v.). Nhưng có thể khẳng định chắc chắn là hầu hết trong số đó không xảy ra vì những hoàn cảnh bất ngờ và không thể khắc phục, sự khiếm khuyết trong kỹ thuật công nghệ tàu ngầm, mà vì ngu dốt hoặc do các hành vi sơ suất của các thành viên. Dưới đây mô tả một số tai nạn riêng của các tàu ngầm diesel không phải theo cách nêu trong các tài liệu chính thức, mà dưới cái nhìn của các đồng nghiệp-thủy thủ tàu ngầm chứng kiến. * Tổng cộng trong 50 năm hạm đội tàu ngầm Liên Xô đã có hơn 750 sĩ quan, hạ sỹ quan và thủy thủ hy sinh, trong đó 69% trường hợp là tàu ngầm diesel. (http://flot.com/upload/blog/0cf//ShPubl3_55.jpg) Requiem. Tưởng niệm các thủy thủ tàu ngầm thế kỷ XX (Cyril Rivel) (http://www.stihi.ru/2010/07/25/2647) Tàu ngầm S-80 đề án 644 Tàu bị chìm vào mùa đông năm 1961 khi đang hoàn thiện bài tập số 2 trong thao trường huấn luyện chiến đấu của hạm đội Biển Bắc trong thời tiết có bão biển. Tác giả đã đề cập đến việc khó điều khiển của tàu ngầm thuộc đề án này ở độ sâu khả dụng của kính tiềm vọng và sự ổn định kém trong tư thế dương (Позиционное положение – Positionslage – tư thế nửa nổi chỉ nhô phần tháp chiến đấu và cầu điều hướng hành trình của tàu ngầm). (http://img-fotki.yandex.ru/get/5602/viktor3951.a7/0_5c5f0_cac3d1e9_L) Tàu ngầm Sh-215 của Hạm đội Biển Đen trong tư thế dương. Thời kỳ Thế chiến II. (http://fotki.yandex.ru/users/viktor3951/date/2010-11-04) Tàu ngầm S-80 chìm tại chiều sâu 235 mét với tất cả thủy thủ đoàn. Một vài năm sau phòng cứu hộ-khẩn cấp hạm đội đã trục vớt nó lên. Ủy ban điều tra đã xác lập nguyên nhân thảm họa: băng đóng van phao ống thông khí trời của giếng RDP, đẫn đến sự "không đóng kín" khi tàu ngầm sụt khỏi độ sâu kính tiềm vọng. Ủy ban cũng kết luận rằng người chỉ huy là thuyền trưởng tàu ngầm thiếu tá hải quân A.Sitarchik đã bỏ qua sự vi phạm hướng dẫn cấm bơi ở chế độ RDP trong vùng biển sóng lớn và có đóng băng. Tuy nhiên, hướng dẫn, cũng như một chiếc lá vả, có thể che chở cho cơ quan tham mưu, đồng thời trong thời gian đó tại các hạm đội người ta mê mẩn một loại "phương pháp" độc đáo khuyến khích về tinh thần cho các thuyền trưởng sử dụng đầy đủ chế độ RDP, được coi là biện pháp "bí mật", là thước đo trình độ huấn luyện và mức trưởng thành về chiến thuật. Và trên S-80 lại là một thuyền trưởng còn thiếu kinh nghiệm, nhưng có xu hướng liều lĩnh. Đồng thời, có thiếu sót nghiêm trọng trong việc tổ chức điều khiển quản lý tàu ngầm trên biển từ phía các cơ quan tham mưu. V.Sukhomlinov tư lệnh lữ đoàn khi biết thuyền trưởng tàu ngầm thiếu kinh nghiệm vẫn phái tàu ra khơi mà không có người cố vấn-giám sát. Khi nhận tin báo mất tàu, dường như ông lên cơn “bệnh gấu" và né tránh hoạt động giải cứu-khẩn cấp. Cơ quan tham mưu lực lượng tàu ngầm của hạm đội, nhận được từ SCH Hạm đội Biển Bắc thông tin dự báo thời tiết không thuận lợi, đã "phớt lờ" cảnh báo bão trên biển và không áp dụng các biện pháp thực hiện nghiêm mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội khẩn trương cho tàu quay về ngay căn cứ. Sở Chỉ huy của hạm đội, đến lượt mình, không có hành động kiểm soát chặt chẽ việc thực hành mệnh lệnh đã ban bố của tư lệnh hạm đội. (http://flot.com/upload/blog/67d//ShPubl3_56.jpg) Vịnh Olenia, năm 1969, lễ chôn cất thủy thủ đoàn tàu ngầm diesel "S-80". (http://forum.sevastopol.info/viewtopic.php?f=22&t=42031&start=75) ......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 19 Tháng Chín, 2012, 01:54:30 am (nguồn: http://www.38brrzk.ru/public/russia-parl-harbor) TRẬN TRÂN CHÂU CẢNG CHƯA ĐƯỢC BIẾT ĐẾN CỦA NGƯỜI XÔ VIẾT (http://www.38brrzk.ru/files/kontr-admiral-karev-v.a..jpg) Chuẩn đô đốc về hưu Vladimir Anisimovitch Karev (nguyên chủ nhiệm trinh sát hạm đội Thái Bình Dương) (http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,19157.300.html) 1. Hoàn cảnh xuất phát Tháng 9 năm 1982. Cao trào của "chiến tranh lạnh" giữa Mỹ và Liên Xô, trong đó cả hai bên đều tìm kiếm mọi cách để đạt được lợi thế trong đối đầu hạt nhân. Người Mỹ để đáp trả việc Liên Xô triển khai tên lửa tầm trung "SS-20" (theo phân loại của NATO) ở miền Tây nước Nga, đang cố gắng sao cho từ giữa năm 1981 sẽ bố trí tại các nước Tây Âu tên lửa tầm trung mang đầu đạn hạt nhân "Pershing". Chúng có khả năng trong vòng 5-7 phút sẽ bắn trúng tất cả các mục tiêu trên lãnh thổ Liên Xô cho tới dãy Urals. Tất nhiên, mục tiêu chính - Moskva. Ở các nước Tây Âu đã dấy lên một làn sóng các cuộc biểu tình quy mô lớn phản đối của quần chúng, lo ngại mối đe dọa ngày càng tăng của hành động trả đũa từ phía Liên Xô. Tại Anh, hàng ngàn nhà hoạt động phản kháng đã phong tỏa một thời gian dài căn cứ sẽ được triển khai các bệ phóng tên lửa "Pershing". Về một số mặt nó nhắc ta nhớ tới tình hình hiện nay, liên quan đến kế hoạch triển khai hệ thống phòng thủ chống tên lửa (NMD - ПРО) ở các nước Đông Âu (Ba Lan, Cộng hòa Séc, Romania). Đồng thời, Hải quân Mỹ (các tàu ngầm hạt nhân đa năng mới nhất loại "Los Angeles" và các tàu mặt nước) được trang bị các tên lửa hành trình "Tomahawk" trong phiên bản hầm phóng có tầm bắn 2.500 km, bao gồm cả tên lửa mang đầu đạn hạt nhân, cũng như quy ước được trang bị đầu đạn chùm (cassette) và đầu nổ khoan phá beton. Loại nói sau có khả năng "vặn vỏ đỗ" đường băng các sân bay, chế ấp hệ thống phòng không, phá hủy các trung tâm chỉ huy quản lý và các căn cứ hải quân của đối phương trên toàn bộ chiều sâu đội hình tác chiến của họ. Tuy nhiên, nhiệm vụ chính đối mặt trước các lực lượng hải quân Hoa Kỳ, đó là cuộc đấu tranh với các tàu ngầm nguyên tử Xô viết mang tên lửa đạn đạo. Theo phân loại của Liên Xô, chúng được gọi là "tàu ngầm tuần dương mang tên lửa chiến lược", viết tắt - RPKSN (SSBN). Đây là các tàu ngầm đề án 667 và các phiên bản của nó như 667B, 667BD, 667BDR, 667BDRM, chúng nổi bật ở các tên lửa đạn đạo tinh vi hơn, bao gồm cả các tên lửa mang nhiều đầu đạn. Tổng số đến năm 1981, đã đóng được 14 tàu đề án 667BDR, 5 chiếc trong số đó đóng ở các căn cứ thuộc Hạm đội Biển Bắc và 9 - ở Hạm đội Thái Bình Dương. Đến năm 1982, tình hình đã cho thấy rõ ràng người Mỹ muốn phá vỡ sự cân bằng hạt nhân giữa Hoa Kỳ và Liên Xô theo hướng có lợi cho họ. Cuộc đấu tranh nóng bỏng được chuyển xuống môi trường ngầm dưới nước, mà trong tương lai, nhờ khoa học gia-chuyên gia phân tích Stephanic, cuộc đấu đó được đặt tên "Chiến tranh chống tàu ngầm chiến lược". Cuộc chiến đó dự định: - đảm bảo phát hiện 100% các tàu ngầm Liên Xô trong không gian rộng lớn của Thái Bình Dương và Đại Tây Dương và trong các căn cứ; - định danh các tàu ngầm đó cho đến cả số mạn của tàu dựa trên "chân dung tiếng ồn" - đặc điểm tiếng ồn của chúng, mà đã được thu thập trước đó (giống như dùng dấu vân tay để xác định người phạm tội, về sơ đồ là như nhau); - thiết lập việc trực tiếp theo dõi chúng và sẵn sàng tiêu diệt những tàu ngầm Xô viết đó. Thậm chí đã xem xét các phương án ném bom nguyên tử xuống các khu vực có khả năng tuần tra chiến đấu của các RPKSN Xô viết. Những nhiệm vụ này xuất phát từ định đề cơ bản: "Nếu trong cuộc chiến tranh hạt nhân mà chỉ còn tồn tại dù một tàu ngầm Xô viết mang tên lửa đạn đạo, con tàu đó vẫn có thể gây thiệt hại nghiêm trọng đối với Hoa Kỳ". Mối đe dọa lớn thứ hai đối với Mỹ và các đồng minh của nó được xem là các tàu ngầm hạt nhân đa năng Xô viết trang bị tên lửa chống hạm có tầm bắn đến 500 km cùng các loại ngư lôi hiện đại. Những tàu ngầm đó có nhiệm vụ: - chiến đấu chống các tàu ngầm hạt nhân Mỹ mang tên lửa đạn đạo hệ thống "Polaris-Poseidon" lớp "George Washington" và "Ethan Allen" trong các khu vực tuần tra chiến đấu của các tàu ngầm loại này; - tấn công tên lửa vào các nhóm tàu sân bay xung kích của Mỹ; - cũng như có thể hoạt động thành công trên các tuyến đường biển của Mỹ và các đồng minh (Anh, Nhật Bản, Australia) trên Ấn Độ dương, Thái Bình Dương và Đại Tây Dương. (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/6/69/USS_George_Washington_%28SSBN-598%29.jpg/320px-USS_George_Washington_%28SSBN-598%29.jpg) (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/7/75/USSEthanAllenSSBN-608.jpg) SSBN loại George Washington (ảnh trên) và Ethan Allen (ảnh dưới). Để giải quyết tất cả các nhiệm vụ chiến đấu với các tàu ngầm hạt nhân của Liên Xô ở Đại Tây Dương và Thái Bình Dương, từ cuối những năm 1960 đã bắt đầu triển khai hệ thống thủy âm phát hiện tầm xa độc nhất vô nhị SOSUS (SOSUS - Sound Surveillance System). Hệ thống "SOSUS" bao gồm vài chục ăng-ten thủy âm bố trí dưới đáy Thái Bình Dương và Đại Tây Dương, và các trạm thu nhận tín hiệu ven bờ biển Hoa Kỳ, Canada, Vương quốc Anh, Na Uy, Iceland, Nhật Bản, Bermuda, Bahamas, Antilles, Hawaii, quần đảo Aleutian, quần đảo Marian và đảo Midway. Hệ thống cho phép phát hiện các tàu ngầm qua tiếng ồn của chân vịt và các cơ cấu máy đang làm việc trên tàu tư khoảng cách vài trăm dặm. Các cảm biến thủy âm của hệ thống "SOSUS" kết nối với các trạm thu nhận tín hiệu, bố trí trên các tuyến đường biển có nhiều khả năng triển khai của các tàu ngầm Liên Xô, đã được thiết kế để phát hiện các tàu ngầm đó, phân loại chúng và cung cấp chỉ thị mục tiêu cho máy bay chống ngầm "Orion", cho các tàu ngầm đa mục đích của mình và nhóm tàu hải quân săn tìm-tấn công (KPUG - корабельная поисково-ударная группа) . Ngoài ra, tại các lối ra khơi ở các căn cứ tàu ngầm Xô viết, luôn luôn có các tàu ngầm hạt nhân đa năng của Mỹ lớp "Los Angeles" trực chiến trên các vị trí tìm kiếm và đánh chặn với hệ thống ăng-ten thủy âm kéo dài "SURTASS" (The Surveillance Towed Array Sonar System). (http://www.orcafree.org/study/study4_files/surtass.jpe) Sơ đồ minh họa hệ SURTASS (The SURTASS-SLF system could detect nearly silent submarines (Photo courtesy U.S. Navy)). Tồn tại một vấn đề: các tàu ngầm Mỹ hoạt động êm hơn, có khả năng phát hiện bằng hệ thống thủy âm ở phạm vi xa hơn, có các vũ khí chống ngầm tinh vi hơn, và khả năng cơ động cao hơn. Trong thời điểm đó, hệ vũ khí trên các tàu ngầm hạt nhân đa năng loại "Los Angeles" của Mỹ đang bắt đầu nhận được ngư lôi tự dẫn mới nhất MK-48, có cự ly lớn hơn và độ chính xác xạ kích cao hơn. Hoạt động hiệp đồng chặt chẽ với hệ thống "SOSUS" và các tàu ngầm đa mục đích, có các máy bay chống ngầm "Orion", xuất kích từ các sân bay đặt ở miền duyên hải các nước NATO, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, trên các đảo thuộc Thái Bình Dương và Đại Tây Dương. Khu vực hoạt động của chúng gần như bao phủ tất cả các mặt nước đại dương và các vùng biển tiếp giáp miềm duyên hải của Liên bang Xô Viết. Để phát hiện các tàu ngầm Liên Xô, đối phương đã sử dụng các phao sonar mới nhất và các thiết bị khác, cho phép theo các trường vật lý khác nhau mà phát hiện ra các đối tượng mục tiêu ngầm dưới nước, bao gồm cả việc đo từ trường. (http://www.fas.org/programs/ssp/nukes/images/impecc.jpg) Tàu Mỹ - USNS Impeccable đi nâng cấp hệ SURTASS towed array và Low Frequency Array. Tàu va chạm với các tàu TQ năm 2008 trên Biển Đông. (http://www.fas.org/programs/ssp/nukes/images/impec.jpg) Căn cứ hải quân Tam Á (Yulin) trên đào Hải Nam (TQ) và vị trí va chạm với tàu Mỹ cách căn cứ đang xây dựng (năm 2008) chỉ khoảng 75 dặm biển. (http://www.fas.org/programs/ssp/nukes/images/impec-surtass.jpg) Hệ phát hiện-giám sát SURTASS LFA thụ động-chủ động được thiết kế để phát hiện các tàu ngầm và tàu mặt nước ở khoảng cách xa trong cả vùng nước sâu và nước nông. (http://www.fas.org/blog/ssp/2009/03/incident.php) Hàng ngày, khoảng hai lần trong một ngày đêm, các căn cứ tàu ngầm Liên Xô bị theo dõi bằng cách sử dụng khí tài trinh sát điện tử và quang học trên các vệ tinh do thám, cho phép xác định số lượng và số hiệu các tàu ngầm (theo hình đổ bóng), đang đậu tại cầu cảng trong vịnh. Bây giờ người ta viết rất nhiều về vấn đề trong cuộc khủng hoảng tên lửa Ca-ri-bê, thế giới đã đứng trên bờ vực cuộc chiến tranh hạt nhân. Tuy nhiên, người ta còn rất ít viết về điều đó, khi mà thế giới cũng đứng trên vực thẳm như vậy trong thời kỳ "chiến tranh chống tàu ngầm chiến lược". (http://www.fas.org/programs/ssp/nukes/images/Hainan-full.jpg) Ví dụ:Ảnh vệ tinh Mỹ năm 2008 chụp căn cứ tàu ngầm Trung Quốc trên đảo Hải Nam phát hiện một SSBN Jin-class (Type 094) tại đây; (A new satellite photo purchased by FAS from DigitalGlobe shows a Chinese Jin-class SSBN at Yulin (Sanya) Naval Base on Hainan Island. Additional piers are outside the left frame of the photo. Click on image for larger photo. North is left.) (http://www.fas.org/programs/ssp/nukes/images/Hainan-full.jpg) ........ Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 19 Tháng Chín, 2012, 05:52:12 pm (tiếp)
Một ví dụ. Tác giả những dòng này từng nghe một câu chuyện hấp dẫn của người bạn lâu năm của mình từng phục vụ chiến đấu ở Ấn Độ Dương. Tôi sẽ không nêu tên ông ấy. Thời kỳ đó ông là chỉ huy trưởng một toán OSNAZ (đặc nhiệm, mà đúng hơn là trinh sát kỹ thuật) trên một chiếc tàu ngầm diesel. Ông tốt nghiệp Trường cao đẳng tàu ngầm Hải quân Leningrad mang tên Đoàn Komsomol Lenin và được đào tạo chuyển ngạch ở Trường Cao đẳng VTĐT Hải quân mang tên A.S.Popov tại Peterhof. Sau chiến dịch đến Ấn Độ Dương trở về, tôi đề nghị ông tiếp tục sự nghiệp của mình trong ngành quân báo Hạm đội Thái Bình Dương. Tuy nhiên, ông từ chối, nói rằng muốn trở thành người thủy thủ tàu ngầm thuần túy. Ông đã phục vụ đến cấp trợ lý chính thuyền trưởng RPKSN "K-500". (http://farm9.staticflickr.com/8179/8002940817_c3886426f0_z.jpg) K-500 đề án 667B, Hạm đội Cờ Đỏ Thái Bình Dương. (http://deepstorm.ru/) Và đây là câu chuyện của ông ấy. RPKSN "K-500" đang trên đường ra khỏi căn cứ tàu ngầm ở Pavlovsk (Primorye), đến khu vực tuần tra chiến đấu ngoài khơi bờ biển phía tây Hoa Kỳ. Ngay sau khi rời khỏi căn cứ trong vịnh Piotr Đại Đế, họ thấy mình đang bị theo dõi bởi một tàu ngầm nước ngoài. Toàn bộ thời gian di chuyển qua Thái Bình Dương sự theo dõi ấy vẫn tiếp tục diễn ra. Các biện pháp sử dụng để cắt đuôi chiếc tàu ngầm theo dõi không hiệu quả. Theo các quy định và hướng dẫn của chúng tôi, điều chủ yếu là sự bí mật của RPKSN trong thời gian phục vụ chiến đấu, do đó đội thủy thủ không vội vàng báo cáo về việc bị theo dõi. Nếu không, điều đó sẽ được đánh giá như một sự phá hỏng nhiệm vụ phục vụ chiến đấu với những hậu quả không tốt. Trong thời gian tuần tra chiến đấu, "K-500", theo chu kỳ nhận được các thông tin từ Cục Chính trị Hạm đội Thái Bình Dương về tình hình trong nước và tại hạm đội, về tiến trình huấn luyện quân sự và chính trị, và những thứ thập cẩm khác. Rất ít tin tức về tình hình trên thế giới. Một ngày nọ, trắc thủ sonar báo cáo rằng anh ta nghe được âm mở ống phóng ngư lôi của tàu ngầm đang theo dõi và hình như là tiếng trái ngư lôi phóng ra. Trong thực tế, điều đó là sự giả lập. Thuyền trưởng hoảng loạn. Trong cabin của mình, ông thảo luận cùng với trợ lý chính và thuyền phó chính trị. Phải làm gì? Có thể chiến tranh bắt đầu rồi? Có thể phóng ngư lôi vào con tàu đang theo dõi mình không? Người ta thuyết phục anh ta không nên bị kích động. Cuối cùng, "K-500" nổi lên và quay trở về căn cứ một cách nhục nhã. Thế giới trên bờ vực chiến tranh, bởi vì người ta tin rằng việc đánh chìm tàu ngầm tuần dương mang tên lửa đạn đạo chiến lược (RPKSN) - là dấu hiệu chính bắt đầu chiến tranh. Chúng ta phải tôn trong một thực tế là người Mỹ đến lượt họ, đã giải quyết một cách căn cơ triệt để vấn đề an toàn của các tàu ngầm hạt nhân mang tên lửa đạn đạo (SSBN – theo thuật ngữ của chúng ta là PLARB - ПЛАРБ). Hải đoàn SSBN số 15 với 10 tàu ngầm lớp "George Washington" và "Ethan Allen" thuộc hệ thống "Polaris-Poseidon", đóng căn cứ ở vịnh APRA đảo Guam đã bị giải tán. Trinh sát Hải quân Xô Viết và Hạm đội Thái Bình Dương đã thâm nhập nó. Sau đó người Mỹ thành lập hải đoàn SSBN số 17 gồm 8 tàu ngầm lớp "Ohio" thuộc hệ thống "Trident" với tầm bắn của tên lửa đạn đạo lên đến 12 ngàn cây số, đóng căn cứ tại Bangor, bang Washington, ngay trên biên giới với Canada. Bây giờ các SSBN ấy có thể được triển khai từ căn cứ Bangor qua eo biển Juan de Fuca ra Thái Bình Dương để tuần tra chiến đấu, trở nên hầu như không thể phát hiện được bởi lực lượng chống tàu ngầm Xô viết. Những nỗ lực hiếm hoi của Liên Xô và sau đó là các lực lượng chống tàu ngầm của Nga nhằm phát hiện và thiết lập sự theo dõi các SSBN của Mỹ không mang lại thành công. (http://media.defenseindustrydaily.com/images/SHIP_SSBN_Ohio_Class_Tubes_Open_and_Full_lg.jpg) Tàu ngầm lớp Ohio với các hầm phóng tên lửa đạn đạo. (http://www.defenseindustrydaily.com/CMC-contract-to-Define-Future-SSBN-Launchers-for-UK-USA-05221/) Tại cơ quan trinh sát Hạm đội Thái Bình Dương thậm chí người ta đã xem xét đến phương án triển khai các SSBN Mỹ vào Ấn Độ Dương thông qua eo biển Indonesia để tạo ra một hướng (tấn công) tên lửa-không gian vũ trụ từ phía Nam mới. Dấu hiệu về sự chuẩn bị này đã có tại cơ quan trinh sát Hạm đội Thái Bình Dương. Tính đến các yếu tố này, tới năm 1982 Hoa Kỳ đã thông qua "Chiến lược hải quân Hoa Kỳ" mới và rất chủ động, mà người khởi xướng và cũng là tác giả của nó là viên bộ trưởng trẻ tuổi và đầy tham vọng của Hải quân Hoa Kỳ - Lehman. Nó dự kiến: - thiết lập sự theo dõi toàn diện để sẵn sàng tiêu diệt các RPKSN của Liên Xô; - giáng đòn tấn công phòng ngừa bằng tên lửa "Tomahawk" lên toàn bộ cơ sở hạ tầng quân sự của đối phương (hệ thống phòng không, các SCH, các căn cứ hải quân, các sân bay căn cứ của không quân hải quân mang tên lửa hành trình, các cụm quân đội, các kho chứa nhiên nguyên liệu, v.v ...); - sau các đòn tấn công đầu tiên bằng tên lửa hành trình "Tomahawk", việc chế áp hệ thống PK của đối phương và tiêu diệt các đối tượng chủ yếu của các cuộc tấn công, trước tiên là các căn cứ của các RPKSN Xô viết và các SCH, - giáng đòn tấn công ồ ạt bằng không quân hải quân trên tàu sân bay xuống toàn bộ cơ sở hạ tầng quân sự của đối phương. Nhiệm vụ chính: chiếm lĩnh thế thượng phong trên không trung, trên biển, dưới mặt nước, và hoàn tất các hoạt động quân sự theo các điều khoản có lợi cho Hoa Kỳ. Đồng thời, không loại trừ đổ bộ đường biển thủy quân lục chiến xuống vùng duyên hải của đối phương. (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/1/17/John_Lehman%2C_official_photo_as_Secretary_of_the_Navy%2C_1982.JPEG/384px-John_Lehman%2C_official_photo_as_Secretary_of_the_Navy%2C_1982.JPEG) Bộ trưởng Hải quân John Lehman, người khởi xướng chương trình "600 tàu hải quân" dười thời TT Mỹ Reagan và giai đoạn 2003-2004 là một thành viên ủy ban 11/9. (http://en.wikipedia.org/wiki/John_F._Lehman) Phản ứng với quyết định của người Mỹ đặt tên lửa "Pershing"ở Tây Âu, lãnh đạo Liên Xô dưới sự lãnh đạo của L.I.Brezhnev, và sau đó là Yu.Andropov đã thực hiện các biện pháp thích hợp. Đã quyết định: gửi đến bờ biển phía Tây nước Mỹ các RPKSN Xô viết có khả năng tấn công hạt nhân vào các mục tiêu chiến lược của Hoa Kỳ, trong đó gồm cả các thành phố. Về điều này Bộ trưởng Hải quân Lehman mỉa mai nhận xét: "Hãy để Liên Xô gửi những con "bò rống " của họ (đó là ông ta nói về những RPKSN đề án 667, có tiếng ồn lớn) đến bờ biển của chúng tôi. Chúng tôi sẽ theo dõi tất cả và sẽ tiêu diệt hết chúng khi cần". Ví dụ về "K-500" cho biết hành động này của họ là hoàn toàn có khả năng. Vào thời điểm đó, Hạm đội Thái Bình Dương của Liên Xô đang ở đỉnh cao sức mạnh chiến đấu của mình. Thành phần biên chế của nó gồm có các lực lượng có thể giải quyết đầy đủ các nhiệm vụ mà một hạm đội hiện đại có thể giải quyết. Để chiến đấu chống lại các tàu ngầm hạt nhân Mỹ, mà trước hết là với các SSBN trên các vị trí phóng của chúng trong đại dương, để chống lại các tàu ngầm và tàu mặt nước được triển khai trên các tuyến chống ngầm, trong biên chế Hạm đội Thái Bình Dương của Liên Xô có các tàu ngầm hạt nhân đa năng thuộc các đề án 671, 671RT và 671RTM. Có trên tàu các tổ hợp vũ khí chống tàu ngầm mới nhất, ngoài ra các tàu ngầm đa năng đó cũng có các tổ hợp khí tài chống hạm hiện đại để phóng tên lửa hành trình chống hạm "Granat" chống lại các tàu sân bay Mỹ. Trong thành phần Hạm đội Thái Bình Dương còn có cả các tàu ngầm hạt nhân thuần túy mang tên lửa hành trình để chiến đấu chống các tàu sân bay (viết tắt PLARK - SSGN) thuộc các đề án 670-A, 661, 670-M, 675-M, trang bị các tên lửa hành trình "Amethyst", "Malachite", "Bazalt". Trong khi đó tại Kamchatka, phân hạm đội tàu ngầm số 2 dưới sự chỉ huy của phó đô đốc Baltin, anh hùng Liên bang Xô viết, đang thực hiện nhiệm vụ đấu tranh chống các nhóm tàu sân bay xung kích mà thành phần trực tiếp là sư đoàn tàu ngầm chống tàu sân bay (viết tắt là "PAD" - «ПАД» - противоавианосной дивизии подводных лодок). Baltin sau này trở thành Tư lệnh phó thứ nhất Hạm đội Thái Bình Dương, sau đó là Tư lệnh Hạm đội Biển Đen, được biết đến bởi nguyên tắc không khoan nhượng của mình trong các bộ phận của Hạm đội Biển Đen. Ai có thể biết thời đó rằng sau này chúng ta sẽ lăn đến đâu? Ngoài các tàu ngầm hạt nhân đa mục đích mang tên lửa hành trình, nhiệm vụ chính yếu đấu tranh chống lại nhóm xung kích tàu sân bay (AUG) còn được giao cho không quân hải quân mang tên lửa hành trình bao gồm hai sư đoàn máy bay mang tên lửa hành trình TU-16 và Tu-95 đóng ở Primorye (Knevitchi) và Kamchatka (Elizovo). Chúng được lệnh sẽ giáng đòn tấn công quy mô lớn bằng bom-tên lửa vào các nhóm tàu sân bay. Nhưng sự đau đầu lớn nhất cho người Mỹ là các tuần dương hạm hạng nặng chở máy bay "Minsk" và "Novorossisk" vừa mới gia nhập hạm đội với các máy bay cất cánh thẳng đứng Yak-38, cũng như tuần dương hạm nguyên tử mang tên lửa đề án 1144 "Frunze" với tổ hợp vũ khí tên lửa tấn công "Granit", có khả năng bắn trúng mục tiêu mặt nước ở khoảng cách đến 500 km. (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/2/29/Novorossijsk_Kiev-class_1986.jpg/633px-Novorossijsk_Kiev-class_1986.jpg?uselang=ru) Tuần dương hạm hạng nặng chở máy bay lớp Kiev đề án 1143.3 "Novorossisk" năm 1986. Để tiến hành các chiến dịch đổ bộ quy mô lớn Hạm đội Thái Bình Dương bố trí sư đoàn TQLC số 55. Cũng như còn toàn bộ một sư đoàn tàu đổ bộ, gồm các tàu đổ bộ cỡ lớn "Ivan Rogov". Tiềm năng chiến đấu lớn như vậy của hạm đội đòi hỏi một nguyên tắc sử dụng lực lượng trong tác chiến một cách phù hợp. Đến thời điểm này đã hình thành các binh đoàn hỗn hợp binh chủng cơ động tác chiến cấp chiến dịch-chiến thuật số 10 và số 8 hoạt động tương ứng trong các khu vực của Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Hạm đội Thái Bình Dương đã tiến ra không gian các đại dương thế giới. Hạm đội Thái Bình Dương trở thành một trong những công cụ quan trọng nhất thực thi chính sách đối ngoại của Liên Xô trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. Sự tham gia của các tàu quân sự thuộc Hạm đội Thái Bình Dương trong công tác rà phá bom mìn các hải cảng Bangladesh sau cuộc xung đột Ấn Độ-Pakistan, rà phá mìn tại kênh đào Suez sau cuộc xung đột Ả Rập-Israel, sự có mặt của binh đoàn cơ động số 8 ở Ấn Độ Dương, ngăn chặn cuộc xung đột Iran-Iraq và những việc khác đã nâng cao uy tín quốc tế của Liên Xô trong khu vực. Để phù hợp với các nhiệm vụ mà Hạm đội Thái Bình Dương của Liên Xô phải giải quyết, đã xây dựng một hệ thống trinh sát của Hạm đội Thái Bình Dương, khu vực trách nhiệm của nó trải dài từ miền duyên hải phía tây Hoa Kỳ qua Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, cho đến vùng bờ biển phía đông châu Phi, bao gồm cả vịnh Aden và Biển Đỏ. .......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 20 Tháng Chín, 2012, 12:26:29 am (tiếp)
Trong thành phần hệ thống trinh sát của Hạm đội Thái Bình Dương có: - Trinh sát kỹ thuật VTĐT trên bờ gồm 3 đội trinh sát kỹ thuật tại Primorye, Sovetskaya Gavan và Kamchatka, với mạng định hướng vô tuyến phân nhánh trên đảo Iturup, trong vịnh Providenia, Cam Ranh và Aden. Nó kiểm soát toàn bộ dải tần số sóng ngắn và có thể định hướng tất cả các đối tượng mục tiêu từ bờ biển phía Tây Hoa Kỳ cho đến eo biển Malacca ở Ấn Độ Dương. - Trinh sát trên biển trong thành phần lữ đoàn tàu trinh sát số 38 - 14 tàu, liên tục hoạt động phục vụ chiến đấu tại bờ biển phía tây nước Mỹ, tại quần đảo Hawaii, trong biển "Nam Trung Hoa" và Ấn Độ Dương. Kể từ năm 1979, trong biên chế lữ đoàn đã có tàu trinh sát chiến lược cỡ lớn chạy bằng năng lượng nguyên tử "Ural", có nhiệm vụ trinh sát các vụ phóng tên lửa đạn đạo của Mỹ tại trường bắn tên lửa phía Tây (từ căn cứ không quân Vandenberg đến khu vực đảo san hô Kwajalein). Ngoài ra, nó còn có nhiệm vụ tiến hành trinh sát các hoạt động triển khai cái gọi là "Sáng kiến Phòng thủ Chiến lược SDI" của Tổng thống Mỹ Ronald Reagan. - Trinh sát đường không trong biên chế có trung đoàn máy bay trinh sát tầm xa độc lập số 304 của (viết tắt ODRAP - ОДРАП) với các máy bay TU-95 RtS, có khả năng không chỉ phát hiện mục tiêu mặt nước cách xa đến 300 km, mà còn truyền chỉ thị mục tiêu cho các tàu ngầm và tàu mặt nước đến các đối tượng thực sự. Nơi đóng căn cứ - sân bay Khorol (Primorye). Ngoài ra, trong thành phần trung đoàn không quân hỗn hợp số 169 thuộc LLKQHQ của Hạm đội Thái Bình Dương có các máy bay trinh sát TU-16R, đặt căn cứ ở các sân bay Knevitchi (Primorye) và Elizovo (Kamchatka). Trong khu vực gần kề việc tiến hành trinh sát được thực hiện bởi các máy bay-trinh sát An-12RR thuộc trung đoàn không quân vận tải độc lập 593 (OTAP - ОТАП). Nhìn chung, khu vực trinh sát trên không bao phủ từ vùng bờ biển của chúng ta đến đảo Midway. - Trinh sát từ không gian vũ trụ. Hệ thống trinh sát không gian vũ trụ "Legenda" được sử dụng rất hiệu quả phục vụ cơ quan trinh sát Hạm đội Thái Bình Dương, gồm có các trạm trinh sát radar và trinh sát quang-điện tử trên các vệ tinh do thám. Đôi khi, các dữ liệu thu được từ trinh sát không gian là phương tiện duy nhất cho phép phát hiện ra vị trí của các tàu sân bay Mỹ. Ngoài ra, trong hoạt động còn có trinh sát điệp báo và trinh sát đường biển nhưng giá trị của chúng trong hệ thống trinh sát tổng thể là không đáng kể. Nhiều năm sau những sự kiện tháng 9 năm 1982, tôi bắt đầu hiểu hệ thống trinh sát của Hạm đội Thái Bình Dương được xây dựng một cách đúng đắn và hữu ích như thế nào. Nó bao gồm ngoài việc lập kế hoạch trinh sát của các chủ nhiệm trinh sát bộ phận, trong đó có cả trinh sát điệp báo, còn có cả SCH độc lập của mình, không nằm trong cấu trúc tổng thể của SCH hạm đội, bởi vì nó có những nhiệm vụ chuyên ngành cụ thể, cũng như một trung tâm thông tin tình báo của hạm đội - là bộ não của ngành quân báo hạm đội. Ngược lại với các đơn vị tương tự của lục quân, dưới quyền Tổng cục Tình báo Bộ Tổng tham mưu các lực lượng vũ trang Liên Xô, ngành trinh sát hạm đội giải quyết nhiệm vụ một cách tự thân, trực thuộc Cục Trinh sát Hải quân. Điều này làm cho nó có thể giải quyết được nhiệm vụ của mình một cách tự chủ, không có áp lực từ trên cao. Và không bao giờ ngay cả trong cơn ác mộng, tôi cũng sẽ không mơ ước rằng chúng ta sẽ bị các anh chàng ở Lubyanka quản lý. Nhưng thực tế là ngành tình báo quân sự của nước Nga đã không còn tồn tại trong thế giới của những cải tiến mới nhất của Bộ trưởng Quốc phòng ngài Serdyukov. Tuy nhiên, những lưu ý đó hãy xếp ở bên lề. Và tất nhiên, trong chất lượng sẵn sàng chiến đấu của Hạm đội Thái Bình Dương của Liên Xô, yếu tố con người đóng một vai trò to lớn. Thời đó, hạm đội được dẫn dắt bởi các chuyên gia thực sự: - Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương - Đô đốc Vladimir Vasilevitch Sidorov (1981-1986), có kinh nghiệm phong phú trong việc chỉ huy các đơn vị binh chủng khác nhau của hạm đội; - Phó Tư lệnh thứ nhất Hạm đội Thái Bình Dương, phó đô đốc Yasakov Nikolai Yakovlevitch (1979-1987), cựu tư lệnh binh đoàn số 8 với tất cả các hậu quả tiếp theo. Một người chỉ huy cứng rắn đến cùng cực, nhưng để đạt được mục tiêu đề ra; - Tham mưu trưởng Hạm đội Thái Bình Dương, phó đô đốc Gennady Aleksandrovitch Khvatov, đã trải qua con đường từ một thuyền trưởng tàu ngầm hạt nhân đến tư lệnh phân hạm đội quân sự Kamchatka, sau đó là Tham mưu trưởng Hạm đội Thái Bình Dương. Cuối cùng là Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương (1986-1993), được phong hàm đô đốc năm 1987; - Và dĩ nhiên, Tổng tư lệnh Hải quân Liên Xô, Đô đốc Hạm đội Sergei Georghievitch Gorshkov, người đã biến hạm đội Xô viết thành hạm đội đại dương, hạm đội tên lửa-hạt nhân, thách thức quyền bá chủ của Mỹ trên các đại dương của thế giới. Tôi khi đó còn là một trung úy trẻ phục vụ dưới tàu, đã tự hào vì được phục vụ dưới sự chỉ huy của một Tổng tư lệnh như thế. Cũng như hồi xưa trong những năm chiến tranh và sau chiến tranh, cha tôi, một sĩ quan hải quân Hạm đội Thái Bình Dương đã tự hào được phục vụ dưới sự chỉ huy của Đô đốc Nikolai Gerasimovitch Kuznetsov. Tháng 9 năm 1982 đã đến trong một hoàn cảnh "chiến tranh lạnh" như vậy, khi mà Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ bắt đầu các hoạt động tích cực ở Thái Bình Dương, mà sau này chúng ta đã biết, đó là cuộc tập trận quy mô lớn của Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ có tên mã là "Flitekh-82» (Fleetex-82) để thực hiện các mục tiêu của chiến lược hải quân mới của người Mỹ. Tại sao bài viết này được gọi là "Trận Trân Châu Cảng chưa được biết đến của người Xô Viết"? Đó là bởi vì sự kiện ngày 07 tháng 12 năm 1941 rất giống các sự kiện tháng 9 năm 1982, chỉ có điều sự kiện sau xảy ra trong một kịch bản hiện đại. 2. Cuộc tập trận hải quân của Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ "Flitekh-82» (Fleetex-82) (tháng 9 năm 1982) Bây giờ tôi phải viết ở ngôi thứ nhất, với tư cách người đã tham gia vào các sự kiện đó. Cần phải nói rằng tới thời gian này cơ quan trinh sát Hạm đội Thái Bình Dương đã có văn bản chiến lược hải quân mới của Hoa Kỳ. Các trinh sát viên đã thu được nó cho chúng ta từ các tàu trinh sát đang thực hành trinh sát ở khu vực San Diego bên bờ biển phía tây của nước Mỹ. Cá nhân tôi dịch văn bản này. Tuy nhiên, cuối cùng chúng tôi cũng đã không nhận ra thực chất của nó. Không có đủ dữ liệu bổ sung khác về các tính năng của tên lửa hành trình "Tomahawk", việc sử dụng máy bay trên tàu sân bay trong môi trường mới, vai trò và vị trí của các tàu ngầm hạt nhân đa năng được trang bị tên lửa hành trình "Tomahawk", và các thông tin tình báo khác. Ngoài ra, tình trạng đối đầu của trinh sát Hạm đội Thái Bình Dương Xô viết và Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ đã đạt đến đỉnh cao của nó. Các đối tượng chính của cơ quan trinh sát Hạm đội Thái Bình Dương – các tàu sân bay Mỹ. Nếu trong ngày, chúng tôi không có dữ liệu về vị trí của các tàu sân bay ở phần Tây Thái Bình Dương, đó sẽ là một thảm họa. Lệnh SSCĐ cao được tuyên bố với tất cả các bộ phận trinh sát vô tuyến ven biển, cảnh báo tất cả các tàu trinh sát trên biển, nâng cấp sẵn sàng cho các phi vụ xuất kích của các máy bay trinh sát TU-95 RtS, sở chỉ huy cơ quan trinh sát được đặt vào chế độ SSCĐ cao. Cùng lúc đó, Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ đã thực hiện các biện pháp nhằm đảm bảo việc triển khai bí mật của nhóm tàu sân bay tấn công từ San Diego sang Tây Thái Bình Dương. Khi đó, người ta coi rằng (sự triển khai) bí mật - là điều kiện chủ yếu tạo tính bất ngờ cho một cuộc tấn công phủ đầu thứ nhất. Chúng ta hãy nhớ lại năm 1941. Việc đó thể hiện như thế nào. Trước hết: tắt radar của các con tàu trong thời gian có các chuyến bay của các vệ tinh do thám thuộc hệ thống "Legenda" của Liên Xô. Chỉ sử dụng băng sóng cực ngắn UKV để liên lạc giữa các con tàu. Thay đổi tuyến đường biển triển khai nhóm AUG tới phần Tây Thái Bình Dương (hải trình tiêu chuẩn theo cung vòng tròn lớn), và lựa chọn tuyến đường biển phía Nam hoặc phía Bắc. Thực hiện chế độ im lặng vô tuyến. Tạo thông tin sai lạc trên các phương tiện truyền thông đại chúng và các phương pháp ngụy trang và che giấu thông tin khác. Ngày 11 tháng 9 năm 1982, Thứ Bảy. Hạm đội Thái Bình Dương của chúng tôi vừa hoàn thành tập trận tổng kết hàng năm. Tất cả các tàu đã trở về căn cứ. Đã hoàn thành các bài tập đấu tranh chống nhóm đặc nhiệm tàu sân bay xung kích của kẻ thù ở vùng duyên hải của chúng ta, công tác đảm bảo cho các RPKSN rời căn cứ ra khơi thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu, đổ bộ TQLC, phòng thủ bờ biển, v.v... Tình hình thực tế trong khu vực hạm đội. Những số liệu mới nhất của cơ quan trinh sát Hạm đội Thái Bình Dương. Nhóm tàu sân bay xung kích dẫn đầu là tàu sân bay hạt nhân USS "Enterprise" đã hoàn thành di chuyển từ San Diego đến Trân Châu Cảng và đang tiến hành tiếp nhiên liệu cho các tàu hộ tống, bắt đầu được triển khai ở hướng tây bắc về phía Kamchatka (nói chung đó là điều không bình thường nhưng người ta không chú ý nhiều). Số liệu về nhóm AUG được xác nhận qua trinh sát vệ tinh, trinh sát ven biển và các con tàu trinh sát của chúng tôi, đang tiến hành trinh sát ở khu vực Hawaii. Đối tượng chính thứ 2 phải trinh sát - tàu sân bay USS "Midway" trong thành phần nhóm tàu sân bay ngày thứ Tư mùng 9 tháng 9 đã rời khỏi căn cứ Yokosuka (Nhật Bản), bị phát hiện bởi tàu trinh sát "Kursograph" của chúng tôi, nhưng đã cắt đuôi theo dõi và theo báo cáo cuối cùng của "Kursograph", nó đã đi theo hướng tây-nam tiến về phía eo biển Malacca. Ngày thứ hai cũng không thấy "Midway" trên mạng truyền tin vô tuyến. Trinh sát vệ tinh cũng không phát hiện ra nó. Chuông điện thoại gọi về nhà từ trực ban trinh sát Hạm đội Thái Bình Dương: "Chủ nhiệm trinh sát Hạm đội Thái Bình Dương chuẩn đô đốc Maksimenko Yuri Spiridonovitch gọi khẩn cấp anh và nhóm trưởng nhóm 1 trung tâm dữ liệu trinh sát Hạm đội Thái Bình Dương. Nhanh chóng có mặt tại Bộ tham mưu Hạm đội Thái Bình Dương, không chậm trễ". (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/1/19/USS_Midway%3B024105.jpg/489px-USS_Midway%3B024105.jpg) USS Midway ở Tây Thái Bình Dương năm 1974. (http://en.wikipedia.org/wiki/USS_Midway_(CV-41)) Chúng tôi có mặt tại văn phòng của chủ nhiệm trinh sát. ""Midway" ở đâu"? Ngày thứ hai rồi mà chúng ta chưa biết nó ở đâu? Ngay lập tức các anh hãy phân tích tất cả các thông tin tình báo và báo cáo lại cho tôi trong vòng một giờ". Chúng tôi vào văn phòng nhóm 1 phân tích tình hình cập nhật thuộc trung tâm thông tin trinh sát Hạm đội Thái Bình Dương. Vào lúc đó tôi làm nhiệm vụ Phó chỉ huy trung tâm thông tin trinh sát Hạm đội Thái Bình Dương và Chudin - Trưởng nhóm 1. Đánh giá tất cả các báo cáo từ các đơn vị và các tàu trinh sát gửi về, dữ liệu trinh sát vệ tinh. Không thể giả định điều gì khác: tàu sân bay "Midway" hoặc đã vào Ấn Độ Dương hoặc biển Philippine để tập trận. Có thể yên tâm về điều này. Sau đó, "nhìn lại" khi "bình giá các phi vụ" mới biết trinh sát bờ biển của chúng tôi, vốn giám sát mạng vô tuyến chỉ huy tác chiến của quân đội Mỹ, không chú ý đến thực tế là trong mạng vô tuyến đã ngừng truyền các tín hiệu tập trận chỉ huy chiến đấu. Nghĩa là mạng vô tuyến đã được chuyển mức SSCĐ cao để truyền các mệnh lệnh chiến đấu thực sự. Chỉ về sau tôi mới cắt nghĩa được một sự thật trong trường đoạn này: "Không thể dựa vào khuôn mẫu. Cần phải đặt trước các phương án tồi tệ nhất. Ví dụ, việc bí mật triển khai nhóm AUG tới bờ biển Primorie hoặc bờ biển Kamchatka. Nếu chúng ta đã sẵn sàng đáp ứng mối đe dọa ấy, nghĩa là chúng ta đã chuẩn bị vũ trang đầy đủ". Sau các sự kiện tháng 9 năm 1982, tôi đã bị thuyết phục tin vào một điều, trong lý thuyết xác suất: "Thà báo động giả còn hơn bỏ sót mục tiêu". Nhưng đó là sau này. Sau đó đến lượt các chuỗi xuyênthủng, cho phép gọi chúng là "Trân Châu Cảng Xô viết". ........ Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 20 Tháng Chín, 2012, 06:15:11 pm (tiếp)
Cùng ngày, một cặp máy bay trinh sát TU-95 RtS của trung đoàn KQTSTX độc lập 304 cất cánh từ sân bay Khorol bay vào trung tâm Thái Bình Dương để làm rõ vị trí của nhóm AUG "Enterprise". Sau này mới biết, khi bay ngang về phía đông quần đảo Kuril, trắc thủ radar qua cửa sổ máy bay phát hiện ra một cụm đèn, nhưng không cho nó là quan trọng, bởi vì anh ta có nhiệm vụ phát hiện nhóm AUG "Enterprise". Với nhiệm vụ này, các phi công đã thành công. Trong thực tế, họ đã bay qua đầu các tàu chiến của nhóm AUG "Midway", đang bí mật triển khai gần Kamchatka về phía nhóm AUG "Enterprise" để hình thành một đơn vị tàu sân bay tấn công (AUS - авианосное ударное соединение (АУС). (http://www.seaforces.org/usnair/CVW/Carrier-Air-Wing-11-Dateien/image079.jpg) Không đoàn máy bay trên hạm 11 CVW-11 trên USS Enterprise tại Trân Châu Cảng, Hawaii ngày 15 tháng 6 năm 1984. (http://www.seaforces.org/usnair/CVW/Carrier-Air-Wing-11.htm) Vào buổi tối thứ bảy, có báo cáo về các đám cháy trong các doanh trại các trung tâm định hướng vô tuyến của chúng tôi trên đảo Iturup và vịnh Providenie với gián cách thời gian 10 giờ. Điều này gây khó khăn thêm cho công việc của mạng tầm phương vô tuyến của chúng tôi. Tôi không loại trừ rằng việc đó do các toán lực lượng đặc biệt Mỹ «SEAL» (nhóm «những con sư tử biển") gây ra trong lãnh thổ của chúng ta. 12 tháng 9, Chủ Nhật. Buổi sáng theo lệnh của Tổng Tham mưu trưởng Hải quân, từ sân bay Elizovo (Kamchatka) một cặp máy bay trinh sát TU-16R của trung đoàn không quân hỗn hợp 169 LLKQ Hạm đội Thái Bình Dương cất cánh bay đi trinh sát nhóm AUG "Enterprise". Theo báo cáo của họ, họ đã bị các máy bay tiêm kích trên các tàu sân bay ngăn chặn. Và thêm một cú chọc thủng nữa. Trong báo cáo, họ không cho biết loại máy bay chiến đấu nào đã bám sát họ. Sau này theo ảnh chụp mới biết, họ đã bị chặn bởi các máy bay tiêm kích F-4 "Phantom" chỉ duy nhất có trên tàu sân bay" Midway ". Các tàu sân bay còn lại đã chuyển đổi trang bị sang các máy bay tiêm kích kiểu mới F-14 "Tomcat". Như vậy, chúng tôi đã ở trong tình trạng không rõ nhóm AUG "Midway" đang ở vị trí nào. Và chỉ đến nửa sau ngày Chủ Nhật chúng tôi mới nhận được báo cáo từ nhóm trinh sát kỹ thuật VTĐT ven bờ của chúng tôi tại Kamchatka, cho biết các trạm quan trắc phát hiện sự làm việc của các tàu chiến trên các tần số liên lạc nội bộ hạm đội của nhóm AUG "Midway". Đó là một cú sốc. Kết quả định vị vô tuyến cho thấy đơn vị tàu sân bay xung kích mới thành lập ("Enterprise" và "Midway"), bao gồm hơn 30 tàu chiến đang cơ động ở khoảng cách 300 dặm về phía đông- nam bán đảo Petropavlovsk-Kamchatskaia và máy bay trên hạm đang tiến hành các phi vụ cách bờ biển của chúng ta 150 km. Báo cáo khẩn cấp về Bộ Tổng tham mưu Hải quân. Tổng tư lệnh Hải quân đô đốc hạm đội LBXV S.G. Gorshkov ngay lập tức ra quyết định. Khẩn trương phái tàu tuần tra "Storozhevoi", 3 tàu ngầm hạt nhân đa năng đề án 671 RTM đi theo dõi đơn vị tàu sân bay xung kích (AUS), tổ chức trinh sát đường không liên tục, vào cấp SSCĐ cao toàn bộ lực lượng máy bay hải quân mang tên lửa hành trình của Hạm đội Thái Bình Dương, thiết lập hợp đồng chặt chẽ với hệ thống phòng không vùng Viễn Đông, chuyển tất cả các đơn vị và các tàu trinh sát của Hạm đội Thái Bình Dương sang cấp SSCĐ cao nhất. Đáp trả những hành động xâm lược như vậy của người Mỹ, phía chúng ta đã chuẩn bị cho các máy bay của sư đoàn không quân hải quân trang bị tên lửa hành trình sẵn sàng xuất kích, vào ngày thứ hai phải xác định đòn tấn công tên lửa không-biển xuống đơn vị tàu sân bay xung kích. Đồng thời các tàu ngầm hạt nhân đa năng cũng chuẩn bị sẵn sàng tấn công bằng tên lửa hành trình. Ngày 13 tháng 9, Thứ Hai. Cơ quan trinh sát Hạm đội Thái Bình Dương sẽ xác định vị trí của AUS và chuyển thông tin đó cho sư đoàn máy bay mang tên lửa hành trình của hải quân. Tuy nhiên, tại thời điểm này trên các tàu chiến của đơn vị tàu sân bay Mỹ đang áp dụng chế độ im lặng vô tuyến. Chúng tắt tất cả các hệ thống radar. Chúng tôi cẩn thận nghiên cứu các dữ liệu trinh sát quang điện tử từ vệ tinh trinh sát trên không gian. Không có dữ liệu đáng tin cậy về vị trí của các tàu sân bay. Tuy nhiên máy bay trinh sát biển đã cất cánh từ Kamchatka. Họ bay vào nơi trống rỗng. Chỉ một ngày sau, vào thứ Ba ngày 14 tháng 9, chúng tôi mới biết theo số liệu của các trạm quan trắc PK trên quần đảo Kuril, rằng đơn vị tàu sân bay xung kích đang cơ động diễn tập ở phía đông đảo Paramushir (quần đảo Kuril), các máy bay hải quân trên tàu sân bay đang tiến hành các chuyến bay. (http://www.seaforces.org/usnair/CVW/Carrier-Air-Wing-11-Dateien/image035.jpg) Máy bay trên hạm thuộc CVW-11 bay trên đầu USS Nimitz. (http://www.seaforces.org/usnair/CVW/Carrier-Air-Wing-11.htm) Sau đó, đã dẫn đường thành công cho tàu tuần tra "Storozhevoi" tiến tới các tàu sân bay (SKR "Storozhevoi" trong thời gian phục vụ của nó đã chịu một tiếng xấu tại Bộ Tổng tư lệnh Hải quân sau các sự kiện nổi tiếng ở Baltic liên quan đến việc con tàu bỏ chạy năm 1975 theo lệnh của thuyền phó chính trị Sablin, người không đồng ý với chính sách của điện Kremlin. Sablin bị xử bắn, thủy thủ đoàn thì bị giải tán, và con tàu đã được chuyển giao từ Baltic sang Kamchatka). Bây giờ con tàu đó đang là chiếc tàu trực tiếp theo dõi AUS. Các tàu ngầm nguyên tử đa năng được phái đi giám sát AUS của Mỹ không hoàn toàn thực hiện được tất cả nhiệm vụ của mình, vì đó là một nhiệm vụ hết sức nặng nề với người thuyền trưởng tàu ngầm. Để không bị phát hiện thấy trong thành phần đội hình đơn vị tàu sân bay xung kích, các thuyền trưởng tàu ngầm phải hết sức nỗ lực. (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/6/6b/USS_Aspro_SSN-648_at_Pearl_Harbor_circa_1980.jpg/640px-USS_Aspro_SSN-648_at_Pearl_Harbor_circa_1980.jpg) USS Aspro SSN-648 Sturgeon-class submarine, tham gia Fleetex 82. Ảnh chụp tại Trân Châu Cảng khoảng 1980. (http://en.wikipedia.org/wiki/USS_Aspro_(SSN-648)) Cuối cùng, đơn vị tàu sân bay xung kích của Mỹ đi về phía đông quần đảo Kuril, nhằm xác định khả năng của lực lượng phòng không Liên Xô trong việc bảo vệ biên giới của mình. Đỉnh điểm của chuyến di chuyển này là việc vi phạm không phận Liên Xô gần dãy đảo đá Malyi Kuril (đảo Tanfilyeva, Anchuchina, Yuri, Polonsky, Đảo Xanh, Shikotan) của các máy bay hải quân trên các tàu sân bay. Hóa ra không quân tiêm kích "trong mọi thời tiết" của chúng ta chỉ là các máy bay tiêm kích lỗi thời MiG-19 và MiG-21, không có khả năng chống lại các máy bay trên hạm của Mỹ như tiêm kích "Phantom" và cường kích "Intruder". Thời tiết không cho phép sử dụng chúng. Sau đó đến bãi nước bọt tiếp theo được nhổ về phía chúng ta, đơn vị tàu sân bay xung kích ("Enterprise", "Midway") thông qua eo biển Tsugaru (Sangarsky) đi vào biển Nhật Bản. Ở đây, tất nhiên, chờ đợi họ là cả một cục các lực lượng đối kháng: sư đoàn không quân hải quân độc lập mang tên lửa hành trình, sư đoàn tàu ngầm nguyên tử đa năng, các tàu sân bay "Minsk" và "Novorossiysk", tàu tuần dương hạt nhân hạng nặng trang bị tên lửa "Frunze". Sau khi các đòn không kích xuống bờ biển Primorye của máy bay trên hạm thực hiện xong, đơn vị tàu sân bay xung kích đã an toàn vượt qua eo biển Triều Tiên vào biển Hoàng Hải. Tại đây kết thúc cuộc tập trận hải quân của Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ "Flitekh-82". Hệ thống chỉ huy tác chiến của quân đội Mỹ trở về chế độ cũ. Còn vào lúc này, chúng tôi bắt đầu ngồi phân tích những sai lầm của mình trong các ủy ban đặc biệt. Nhưng kết quả của chúng cho đến tận ngày hôm nay cũng chưa được đưa ra. 3. Những bài học từ trận "Trân Châu Cảng Xô Viết" Thứ nhất, Hạm đội Thái Bình Dương với tư cách một hạm đội đại dương, hạm đội tên lửa-hạt nhân đã không còn tồn tại. Bây giờ hạm đội đó chỉ còn khả năng chiến đấu chống lại hải tặc Somalia ở Vịnh Aden. Điều này được mô tả như thể đó là công trạng lớn nhất đối với hạm đội. Thứ hai, khi vào thập kỷ 90 thế kỷ trước, người ta tuyên bố về cải cách quân đội và các cơ hội thương mại để bán các tàu mặt nước và tàu ngầm của chúng tôi, nhiều nhà lãnh đạo quân sự đã vớ bẫm. Người ta đã bán các tàu sân bay "Minsk" và "Novorossiysk" một cách rẻ mạt. Vấn đề phức tạp hơn với các con tàu chạy bằng năng lượng hạt nhân. Tàu tuần dương tên lửa hạng nặng chạy năng lượng nguyên tử "Frunze", và tàu trinh sát cỡ lớn chạy bằng năng lượng nguyên tử "Ural". Chúng là những con tàu không thể bán. Từ lâu chúng đã cần phải thay thế nhiên liệu hạt nhân. Tuy nhiên, không có ai trong chính phủ Nga đứng ra đảm nhận trách nhiệm này. Làm sao có thể giải trừ những con tàu như vậy? Biết làm gì với cái lõi hạt nhân của những con tàu này? Trong hơn 20 năm, vấn đề này vẫn chưa được giải quyết. Các con tàu thì mục nát dần ở các cầu cảng, như trong ký ức của những năm 80 vinh quang. Thứ ba, hồi đó là lần đầu tiên tại bờ biển Viễn Đông của nước Nga, đã hoàn thành xây dựng một mô hình chiến dịch tấn công đường không mới của Hải quân Mỹ. Như sau này ta được biết, cuộc tấn công quy mô lớn đầu tiên bằng tên lửa hành trình "Tomahawk" từ năm tàu ngầm hạt nhân đa năng lớp "Los Angeles" đã được xác định từ khoảng cách 1500 km ngoài khơi vùng bờ biển bán đảo Kamchatka. Các mục tiêu chính của cuộc tấn công - sân bay căn cứ của lực lượng không quân hải quân mang tên lửa hành trình ở Elizovo, căn cứ tàu ngầm xô viết trên bán đảo Kamchatka, hệ thống phòng không và SCH lực lượng vũ trang Liên Xô ở Kamchatka. Điều này được thực hiện nhằm đảm bảo giảm tối đa tổn thất cho các máy bay hải quân đóng căn cứ trên các tàu sân bay "Enterprise" và "Midway" khi chúng tấn công từ tuyến xuất phát cách 1.200 km tới Kamchatka. Nó chiếm thời gian khoảng nửa giờ giữa các đợt máy bay tấn công. (http://farm9.staticflickr.com/8311/8008471466_ba4a950e30.jpg) USS Los Angeles (SSN-688) hành quân trên biển, sau khi tham gia Fleetex-82, ngày 1 tháng 12 năm 1982. (http://www.navsource.org/archives/08/08688.htm) Khi tại cơ quan trinh sát Hạm đội Thái Bình Dương, chúng tôi nghiên cứu mô hình chiến dịch tấn công đường không này, nhiều thứ mới trở nên rõ ràng. Phải nói thêm rằng sau này, trong chiến dịch quân sự lần thứ nhất chống Iraq "Bão táp sa mạc» («Desert storm») và chiến dịch thứ hai "Tự do cho Iraq” (« Freedom of Iraq »), người Mỹ đã sử dụng chính mô hình này: ban đầu là đòn tấn công bằng tên lửa hành trình "Tomahawk", sau đó đến đòn không kích ồ ạt quy mô lớn của không quân hải quân trên tàu sân bay và không quân chiến thuật vào các mục tiêu của đối phương, và cuối cùng đến chiến dịch mặt đất. Thứ tư, kết quả cuộc tập trận năm trước "Flitekh-82" đã trở thành động lực cho cuộc tập trận "Flitekh-83" năm sau tích cực hơn, và sau đó là cuộc tập trận "Passex" gần miền duyên hải của chúng ta với sự tham gia của ba nhóm tàu sân bay xung kích, được triển khai từ căn cứ hải quân mới "Bremerton" trên biên giới với Canada và căn cứ San Diego, có các tàu sân bay hạt nhân "Nimitz", "Enterprise", "George Washington", dọc theo quần đảo Aleutian đến tận bán đảo Kamchatka. Nhưng tại thời điểm này, chúng tôi đã chuẩn bị sẵn sàng đáp trả chúng. Hai tàu trinh sát tốc độ cao, sư đoàn tàu ngầm nguyên tử chống tàu sân bay, sư đoàn không quân hải quân với các máy bay mang tên lửa hành trình không đối hải, lực lượng không quân trinh sát tầm xa và các tàu theo dõi trực tiếp. Đó là lý do tại sao người Mỹ đã không gây được bất ngờ. Nhưng năm 1983 đã mang đến một sự kiện làm căng thẳng tình hình quốc tế liên quan đến chiếc máy bay dân dụng "Boeing 747" của hãng hàng không Hàn Quốc «Korean Air Line 007» («KAL-007") bị máy bay tiêm kích của chúng ta bắn rơi trong khu vực đảo Moneron, phía nam đảo Sakhalin. Thực tế đó là một hành động khiêu khích sau hai cuộc tập trận "Fleetex" và tôi không hề nghi ngờ điều này. Nhưng đó lại là một vấn đề riêng biệt. Để kết thúc, tôi nghĩ rằng điều quan trọng là phải hiểu hạm đội hải quân của nước Nga bây giờ như thế nào và tại sao các sĩ quan hải quân Nga lại có đôi mắt buồn như vậy? Một mặt, khi mà bạn đang phục vụ trong Hải quân, bạn biết rằng đằng sau bạn là quốc gia, bạn đang bảo vệ nó, và nó sẽ không bao giờ phản bội bạn, không lừa gạt bạn và đánh giá cao sự đóng góp của bạn. Khi đó bạn và quốc gia - một thực thể duy nhất. Một mặt khác – hoàn toàn trái ngược. Thật không may, bây giờ - lại đang là điều hoàn toàn trái ngược. Bởi vậy, trường đoạn được mô tả trên trong lịch sử Hạm đội Thái Bình Dương – nó chỉ đơn giản là "câu chuyện cổ tích của bà Matriona” ngày hôm nay. "Cần phải cho người Mỹ thêm ít bột và tất cả sẽ được giải quyết". Tôi tin rằng điều đó là không đúng. Điều đó là gì với người Nga, họ sẽ hiểu những gì tôi muốn nói. CÔ HÊU. Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 22 Tháng Chín, 2012, 12:17:23 am (tiếp theo post #110)
Cuộc đời trong ống kính tiềm vọng. Ảo ảnh của một thủy thủ tàu ngầm còn sót lại. Chuẩn đô đốc A.T.Shtyrov. Tàu ngầm B-37 đề án 641 Hạm đội Biển Bắc Ngày 11 tháng 1 năm 1962 trong thời gian kiểm tra buổi sáng và vận hành các cơ cấu máy khi tàu ngầm đậu ở cầu tàu thì nổ đạn ngư lôi trong khoang mũi. Nguyên nhân có khả năng nhất của thảm kịch: động cơ điện của tời đứng, bố trí trong tàu ngầm phía trên đạn ngư lôi xếp trên giá đỡ bị ngắn mạch và nóng chảy rơi xuống đầu đạn ngư lôi. Nguyên nhân thứ hai có thể xảy ra: nổ một ngăn ắc quy ngư lôi điện trên giá đỡ do thông gió kém, đồng thời với việc đang làm công tác hàn trong khoang trong thời gian vận hành vốn là sự vi phạm quy trình trắng trợn. "Thuyền trưởng B-37 trung tá hải quân V.Begeba trong thời gian vận hành máy và xảy ra nổ không hiểu sao lại đang ở trên bến và bận nghe điện thoại. Theo hướng dẫn điều lệnh, ông phải ở trong phòng điều khiển trung tâm. Vào thời điểm vụ nổ ông đã bị xé toạc cả hai chân. Tuy nhiên tòa án quân sự vẫn kết án cựu thuyền trưởng 10 năm tù. Không biết người thuyền trưởng tàn tật liệu có thụ án cho đến mãn hạn không, nhưng vụ nổ cũng làm đắm chiếc tàu ngầm gần đó giết chết toàn bộ 122 thủy thủ tàu ngầm", - truyền thuyết về sự kiện này suốt ba thập kỷ đã lưu truyền trong giới thủy thủ tàu ngầm tại tất cả các hạm đội xô viết. Với đoạn trích này đã nảy sinh ít nhất hai ý kiến. Đầu tiên, nếu ngay cả các thuyền trưởng các tàu ngầm sau nhiều thập kỷ cũng không biết đích xác hoàn cảnh của thảm kịch được mô tả và tin tưởng rằng tòa án đã định án 10 năm cho người thuyền trưởng cụt cả hai chân, thì ... đó là có lợi cho các nhà lãnh đạo quân sự cấp cao, nhất là lãnh đạo Hải quân. Bởi lẽ thật là đáng sợ! Thứ hai, cả Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và Bộ trưởng Quốc phòng đều yêu cầu thiết lập lại trật tự ở Hạm đội Biển Bắc dưới hình thức cực kỳ khắc nghiệt. (http://flot.com/upload/blog/e8e//ShPubl3_57.jpg) Trật tự bắt đầu lập lại với việc cách chức tư lệnh hạm đội của đô đốc A.T.Chabanenko (http://kortic.borda.ru/?1-10-0-00000029-000-270-0) và đưa thuyền trưởng trung tá hải quân A.S.Begeba ra tòa án quân sự. Tư lệnh mới của Hạm đội Biển Bắc đô đốc V.A.Kasatonov thẳng thừng tuyên bố với chánh án tòa án quân sự Hạm đội Biển Bắc đại tá F.D.Titov rằng, ông sẽ sử dụng bản án nghiêm khắc của tòa án như một "đòn bẩy cho sự củng cố kỷ luật một cách kiên quyết". Cần phải nói cả về tốc độ siêu nhanh mà từ ông ta chiếc đòn bẩy ấy được chuẩn bị. Đó là trong đúng ngày hôm ấy, ngày 11 tháng 1 năm 1962, tại Poliarnyi, một ủy ban nhà nước đã có mặt tại nơi xảy ra tai nạn, đứng đầu là Tổng tư lệnh Hải quân S.G.Gorshkov (trong ủy ban đó có một nhóm nhà khoa học do viện sỹ A.P.Aleksandrov lãnh đạo). Ủy ban đã dừng lại ở 4 trong 22 phương án. Phải nói thêm, kết luận của một ủy ban đầy uy tín này là hãy sẵn sàng... vớt tàu. Sau 3 tháng, 6 tập hồ sơ hình sự đã đến tay Titov, 2 tháng ông đích thân nghiên cứu các tài liệu điều tra sơ bộ, kiểm tra các phần còn lại của con tàu đã được vớt lên, kiểm tra bến tàu, cầu tàu, nói chuyện với các nhân chứng, thêm 8 ngày làm quen với các tài liệu của các hội thẩm nhân dân (là các sĩ quan tàu ngầm). Phiên tòa diễn ra từ 18-22 tháng 6 năm 1962 tại thành phố Polyarnyi. Vào cuối phiên đọc cáo trạng và tranh biện, trong đó Begeba tự bào chữa cho mình mà không cần luật sư, các thẩm phán đã phải hội ý từ 10 giờ đến 22 giờ 40 phút, và ra phán quyết... trắng án. Mặc dù có những tiếng la ó, đấm tay và dậm chân của Kasatonov, có kháng nghị của Viện kiểm sát Severomorsk và những âm mưu bí mật khác, Hội đồng Quân sự Tòa án tối cao Liên Xô đã giữ nguyên bản án đã tuyên của Toà. Tôi muốn đề cập đến một vài khoảnh khắc. Thuyền trưởng B-37 không phải là đang "ba hoa không biết ở chỗ nào nữa", "vắng mặt do nhu cầu riêng đến 8-9 phút", 10 phút sau đó ông đã đứng trên bến tàu ngay cạnh mạn tàu ngầm, "quan sát quá trình vận hành đối với phần bên ngoài của tàu ngầm", và khi xuất hiện khói ở hàng rào tháp chỉ huy thì ông ngay tức khắc dùng điện thoại bờ báo cáo ban tham mưu về vụ cháy. Sau đó ông đã cố gắng leo qua cửa nắp thượng trên tháp chỉ huy vào tàu, nhưng vụ nổ đã ném ông xuống biển. Công bằng mà nói cũng nên ghi nhận sự buộc tội giả tạo của những nhà báo không hiểu biết về tất cả những việc lộn xộn trên tàu trước khi xảy ra bi kịch. Năm 1961, tàu phục vụ ở tuyến 1 hơn 80 ngày thi hành nhiệm vụ trực ban chiến đấu, ngày 10 tháng 1 năm 1962 vừa mới trả bài sát hạch đầu tiên được điểm "tốt". Và quan trọng nhất - tàu nằm trong kế hoạch phục vụ chiến đấu, và đang chuẩn bị "độc hành" trong một phiên đi chiến dịch đầy đủ. Sự dối trá có cả trong con số người thiệt mạng, một lần nữa nhằm tuyên truyền nâng cao sự kinh hãi suốt nhiều năm sau: không phải 122, mà là 70 thủy thủ tàu ngầm, 59 người của B-37 và 11 người của tàu S-350 đậu cạnh. (Chú thích - V.Novikov). (http://flot.com/upload/blog/406//ShPubl3_58w.jpg) Begheba Аnatoly Stepanovitch, học viên tốt nghiệp Cao đẳng Hải quân mang tên М.V.Frunze năm 1948. (lưu trữ của S.V.Liubimova), thuyền trưởng B-37 (N.Cherkashin. "Đời sống thường nhật của các thủy thủ tàu ngầm Nga". Мoskva, năm 2000.). Để công bằng nữa thì cũng cần nhắc lại rằng việc xảy ra tai nạn trên tàu ngầm có từ thời trước đây. Tuy nhiên, dưới thời Stalin việc xử sự với những người đứng đầu có khác nhau. Ví dụ, sau vụ đắm tàu ngầm Hạm đội Thái Bình Dương S-117 tháng 12 năm 1952, tư lệnh hạm đội, chỉ huy lữ đoàn và chủ nhiệm chính trị phải báo cáo gần 8 giờ cho Malenkov, Bulganin, Beria và những người khác, và đồng thời một ủy ban nhà nước đến làm việc ngay tại Sovgavan, và ... sự đàn áp vô cùng khắc nghiệt: cách chức tất cả ba chỉ huy lữ đoàn tàu ngầm, còn lãnh đạo hạm đội bị cảnh cáo. Cũng gần cùng một hậu quả như vậy diễn ra theo kết quả điều tra nguyên nhân và hoàn cảnh dẫn đến cái chết của tàu ngầm S-80 Hạm đội Biển Bắc, bị đắm tháng Giêng năm 1961. Sự thật là Thứ trưởng Quốc phòng Nguyên soái Rokossovsky đã lãnh đạo cuộc điều tra tại chỗ. Vậy thì, vấn đề không chỉ nằm trong hệ thống, mà còn là con người. Tác giả coi là cần thiết việc lưu ý rằng các vụ hỏa hoạn khẩn cấp kiểu này đã diễn ra trong các hạm đội từ trước kia, nhưng vụ nổ ngư lôi có thể tránh được thông qua những hành động nhanh chóng và khéo léo của tập thể sỹ quan và thuyền viên bằng việc cho nước ngập khoang chứa ngư lôi. Một ví dụ cho việc này là vụ cháy khoang thuốc nổ của một quả ngư lôi trên tàu ngầm S-221 năm 1961. Lãnh đạo cứu hộ là thuyền trưởng tàu ngầm S-78 bên cạnh, thiếu tá hải quân I.Stikhin, sau khi nhảy qua tàu bị nạn, ông đã ra lệnh xả nước khẩn cấp vào khoang tàu thứ nhất, còn người thay thế thuyền trưởng chính thức là tham mưu trưởng S. đã bỏ chạy khỏi tàu ngầm một cách nhục nhã. Tàu ngầm diesel mang tên lửa đạn đạo К-129 đề án 629-А Tàu bị chìm ở Thái Bình Dương cùng toàn bộ thủy thủ đoàn ngày 08 tháng 3 năm 1968 (ngày tính toán) khi đang cơ động đến khu vực tuần tra chiến đấu. Kịch bản có khả năng nhất của tai nạn này như đã nói phần trước: tàu ngầm đi trong chế độ RDP và khi cải hướng hải trình đã vô tình bị tàu ngầm hạt nhân Mỹ "Swordfish" đang theo dõi nó và đang cơ động rất nguy hiểm đâm phải. Tàu ngầm "Swordfish» (SSN-579 Swordfish (http://www.ranger95.com/navy/submarines/nuclear_powered_attack_subs/uss_swordfish_ssn579.htm)) – là một tàu ngầm nguyên tử đa mục đích, lớp "Skate". Được thiết kế lúc đầu theo đề án tàu ngầm diesel "Tange". Được đưa vào quân số phục vụ từ 1958 đến 1989. Độ choán nước 2360/2848 tấn, chiều dài 81,6 m, chiều rộng 7,6 m, tốc độ đi nổi - 15 hải lý, tốc độ đi ngầm - 20 hải lý, độ sâu lặn tối đa 250 m. Thủy thủ đoàn 84 người. Vũ khí: 6 ống phóng lôi khoang mũi và 2 ống phóng lôi khoang đuôi cỡ 533mm. (http://flot.com/upload/blog/852//ShPubl3_59.jpg) Tàu ngầm nguyên tử Mỹ "Swordfish" bị phát hiện trong thời gian tiến hành chiến dịch săn lùng chống ngầm ở vịnh Piotr Đại Đế. Mùa hè 1973. Tuy nhiên, cần tính đến thực tế là các tàu ngầm ở Kamchatka thời kỳ đó thường lạm dụng chế độ RDP, và điều đó còn được khuyến khích bởi các bộ tư lệnh. Chế độ RDP trong các chuyến hành quân dài ngày trên biển cho phép đội ngũ quân nhân hút thuốc trong khoang động cơ diesel. Mà thuyền trưởng K-129 lại là một người hút thuốc liên tục. Sau khi sự thật về cái chết của một tàu ngầm bị "nổi lên bề mặt" đã có chỉ thị đặc biệt của Tổng tư lệnh Hải quân cho các tàu ngầm đang làm nhiệm vụ phục vụ chiến đấu rằng từ nay về sau nghiêm cấm sử dụng chế độ RDP (trước khi xảy ra thảm họa của K-129 thì yêu cầu là hoàn toàn ngược lại). Những thăng trầm còn lại của thảm kịch đủ để được mô tả trong vô số các ấn phẩm suy đoán "văn học-sự kiện và nhân chứng" về đề tài đó. Các tài liệu của ủy ban chính phủ nhận xét: "... tiến độ thực hiện nhiệm vụ phục vụ chiến đấu đã phê duyệt không phải lúc nào cũng được tuân thủ, quyết định sửa đổi kế hoạch được đưa ra đôi khi không linh hoạt, nhiều khi không phân tích thấu đáo tình trạng thực tế của các tàu ngầm, không thường xuyên đảm bảo được thời gian thích hợp để hoàn thành các bài huấn luyện theo giáo án,... trong công tác của cơ quan tham mưu và Cục Chính trị Hạm đội Cờ Đỏ Thái Bình Dương thiếu hàng loạt mối liên lạc và thông tin đa chiều, kết quả là trong việc lập kế hoạch nhiệm vụ phục vụ chiến đấu không có sự tham gia cần thiết của cơ quan chính trị hạm đội, họ không phải lúc nào cũng biết về việc phân công các con tàu đi thực hiện nhiệm vụ chiến đấu và thời gian huấn luyện của các con tàu đó"*. Sau nhiều năm, tiếc thay có thể nói rằng, việc phân tích đầy đủ những thiếu sót trong công tác của các cơ quan chỉ huy ở tất cả các cấp - cả trong huấn luyện trước khi đi biển làm nhiệm vụ phục vụ chiến đấu, cũng như khi tiến hành các hoạt động tìm kiếm-cứu nạn - vẫn chưa được thực hiện, minh chứng cho điều đó là sự hy sinh của các tàu ngầm nguyên tử "Komsomolets" và "Kursk", và cả sự hy sinh của S-178 cũng là bằng chứng cho nhiều vấn đề trong lương tâm nghề nghiệp của các cơ quan tham mưu. Hay nói cách khác là không thể, sau hàng đống những cụm từ to tát và dài dòng khủng khiếp ẩn giấu khả năng kém cỏi và tính vô trách nhiệm của chính các cơ quan tham mưu. Chỉ cần nhớ rằng giáo trình đào tạo hàng hải (KMP-52 - Курс морской подготовки - КМП-52) suốt ba thập kỷ đã trở thành một di tích bảo tàng trong thời đại của hạm đội tên lửa-hạt nhân, hạm đội tàu sân bay, hạm đội đại dương và các hạm đội khác. Tài liệu mới về đề tài này đã ra đời năm 1985 (năm 1973, tại Hạm đội Thái Bình Dương tàu ngầm nguyên tử trang bị tên lửa hành trình K-56 ban đêm đã đâm phải tàu khảo sát-nghiên cứu khoa học "Viện sĩ hàn lâm Berg", trong hai khoang ngập nước nhiều người hy sinh, bộ tham mưu và hai tư lệnh sư đoàn vẫn còn sống). * I. Kasatonov. Hạm đội tiến vào đại dương. - Moskva. NXB Ngọn cờ Thánh Andreev, năm 1996, trang 267. Các thủy thủ hy sinh của tàu ngầm K-129 không liên quan đến cái gọi là thủy thủ đoàn "ẩm ướt", chắc chắn đã bỏ qua một số sai lầm bi thảm, nhưng họ xứng đáng không phải với màn kịch "Yaroslavna sướt mướt", mà xứng đáng với sự kính trọng của quân đội. (http://flot.com/upload/blog/aef//ShPubl3_60.jpg) Thủy thủ đoàn K-129 trước chiến dịch đi biển cuối cùng. Ở giữa ảnh - trợ lý chính của thuyền trưởng Zhuravin. ........ Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 22 Tháng Chín, 2012, 06:40:20 pm (tiếp)
Tàu ngầm S-178 đề án 613 Ngày 21 tháng 10 năm 1981 tại lối vào eo biển Bosphor Đông (Vladivostok), cách hải đăng trên đảo Skryplev một vài dặm, do va chạm với tàu biển "Tàu đông lạnh-13" mà tàu ngầm S-178 đã bị chìm. Khi mô tả tai nạn các thủy thủ tàu ngầm-nhà yêu nước và các nhà văn-nhà đi biển ở mọi cấp độ thường tập trung vào chủ nghĩa anh hùng và sự chưa hoàn thiện của lực lượng cứu hộ hải quân và các phương tiện cứu hộ của chính tàu ngầm. Tất cả những điều này đều có thật. Tuy nhiên, họ lại "che khuất" một thực tế khó coi: "con tàu biển "Tàu lạnh-13" mà nhiều người trên đó say rượu và vô kỷ luật không chỉ "ba hoa" trên lối ra của eo biển Bosphor Đông trong vịnh Ussuri, mà còn tạo ra độ lệch dư và độ lệch vô tuyến trong trường bắn biển B-26, nó cơ động theo những luồng lạch biến đổi, mà về nó đáng lẽ SCH Hạm đội Thái Bình Dương cần phải biết. Việc quan sát tình hình đường biển trên tàu tỏ ra không đạt yêu cầu. Tàu ngầm S-178 (thuyền trưởng – thiếu tá hải quân V.Marango, có mặt trên tàu – Tham mưu trưởng lữ đoàn tàu ngầm và một bộ phận cơ quan tham mưu lữ đoàn) sau khi thực hiện thành công bài tập số 2 tại trường bắn biển thì đi tiếp trong tư thế nổi trở về căn cứ đồng thời vi phạm quy tắc cắt qua góc trường bắn. Trên cầu điều hướng tàu ngầm, những chàng cướp biển trong lòng đại dương đang trong tâm trạng vui vẻ vì đã đạt điểm thi "xuất sắc" đứng đầy cầu điều hướng hành trình như một đàn quạ, và mải tham gia vào một cuộc "săn biển", làm mất tập trung anh chàng đánh tín hiệu đang phiên trực. Quan sát tình hình trong tư thế nổi KHÔNG thực hiện; báo động chiến đấu khi vào eo biển cũng KHÔNG. Một trạng thái lâng lâng tương tự của thủy thủ đoàn, khi mà thời tiết trong sáng, biển êm, cứ kéo dài mãi cho đến khi sống mũi tàu lạnh chỉ còn cách thân tàu ngầm từ 1-1,5 kabelt. (http://flot.com/upload/blog/45b//ShPubl3_61.jpg) "Tàu lạnh-13" (http://vladimir-pelevin.blogspot.com/2011/10/178.html) đâm vào mạn trái tàu ngầm ở vùng thuộc khoang động cơ điện. Những người đang đứng trên cầu điều hướng tháp chỉ huy, bao gồm cả thuyền trưởng, bị hất tung xuống biển. Tàu ngầm bị thủng một lỗ lớn trong vỏ bền và nước tràn vào đầy các khoang (không có báo động, và các vách ngăn không đóng lại) đã chìm ngay xuống đáy biển nằm im ở độ sâu 32 mét. Các hoạt động cứu hộ sau đó đã cho thấy sự phá sản hoàn toàn của công tác cứu hộ-khẩn cấp của hạm đội khi làm việc với chiếc tàu ngầm chìm trong điều kiện "lý tưởng" cho chính mình: chỉ cách căn cứ gần 3 dặm, đáy biển bằng phẳng và nền đất đáy biển rất chắc, chỉ sâu khoảng 30-35 mét, thời tiết êm ả. Sau bài trả sát hạch số 2 "xuất sắc" của tàu ngầm S-178, người ta mới biết rằng trong các thùng cứu hộ khẩn cấp đặt trong khoang tàu ngầm, ở nơi đã quy định có chứa sô-cô-la, đường, sữa đặc, hình như còn cả khoai tây, các bộ khí tài cứu hộ-cá nhân IDA-51 đã thải, còn bộ khí tài lặn khẩn cấp bên trong là len thô để tránh trộm cắp thì lại bị bỏ lại trong kho ở căn cứ. Kết quả là mọi người trong các khoang bị ngập nước không có phương tiện duy trì sự sống. Các thủy thủ được cứu thoát lên mặt nước thông qua ống phóng ngư lôi đã thể hiện sự tự thân vận động. Các thủy thủ còn lại trong các khoang, chờ đợi chỉ dẫn của bộ chỉ huy từ trên mặt nước một cách hoài công, và họ đã chết vì bị hạ thân nhiệt và kiệt sức. Thuyền trưởng tàu ngầm, đang ở trên mặt biển, thể hiện sự hèn nhát và hét lên với tàu lạnh: "Tôi - thuyền trưởng đây! Hãy cứu tôi trước tiên!" Ngược lại, trợ lý chính Kubynin và sỹ quan trưởng ngành cơ điện Zybin dù trong tình trạng nguy kịch vẫn xử sự rất xứng đáng. Nhưng điều này cũng không làm họ thoát được tội đã buông lỏng chức trách, làm thảm kịch thành trầm trọng. Tham mưu trưởng lữ đoàn V.Karavekov, ở lại bên trong chiếc tàu ngầm chìm, thể hiện sự mất hoàn toàn ý chí và đã chết về tinh thần trước khi chết về thể chất. Cú đâm của tàu lạnh vào mạn tàu ngầm mạnh đến mức nó tách đôi thân bền, và trong khoang mô tơ điện của tàu ngầm, hai thủy thủ bị "gói" trong mạng đường ống và đường dây của khoang, như trong một cái kén. Sau khi vớt tàu lên và đặt tàu ngầm lên dok ở nhà máy, người ta mới có thể tách thân thể họ ra khỏi "cái kén" bằng máy cắt khí. Thuyền trưởng tàu ngầm bị kết án 10 năm. Trong nhà tù anh ta đã bị các tù nhân nhạo báng một cách cay nghiệt, sau khi họ biết được các thông tin tương ứng từ "ý trên". (http://flot.com/upload/blog/469//ShPubl3_62.jpg) Sergei Mikhailovitch Kubynin (http://www.vladtime.ru/9540-spasennyj-stal-spasatelem.html) Trong quá trình điều tra, các công tố viên viện kiểm sát hạm đội và viện kiểm sát hàng hải đã làm việc chăm chỉ để giảm nhẹ mức độ tội lỗi người "của mình", thổi phồng đổ lỗi cho phía bên kia: ai đâm và đâm ai vào mạn trái thay vì mạn phải và v.v. Trong khi đó, với các thủy thủ tàu ngầm có kinh nghiệm thì ngay từ đầu đã rõ ràng: điều kiện tiên quyết dẫn đến thảm họa được tạo ra từ cả hai bên. Nhưng chiếc tàu ngầm với ban tham mưu lữ đoàn trên tàu - vi phạm ở mức độ lớn hơn. Quy tắc hàng hải thiêng liên cổ xưa đã bị vi phạm: "Nếu trên biển bạn nhìn thấy một con tàu đi về phía mình, hãy coi rằng một thằng ngốc đang điều khiển nó". Trong trường hợp này, chẳng có nguyên tắc nào được áp dụng, bởi vì việc quan sát tình hình trên biển không được bên nào thực hiện, cả trên tàu lạnh lẫn trên tàu ngầm. Tác giả câu chuyện có quyền về mặt tinh thần để khẳng định dứt khoát, bởi lẽ trong 15 năm đi biển trên các tàu ngầm thuộc đề án này trong cùng một khu vực, đã hàng chục, nếu không phải hàng trăm lần đi qua đi lại một cách an toàn trong khu vực đó cùng với tất cả các loại tàu thuyền ra vào các cảng biển ở Vladivostok trong bão, trong sương mù, và khi mà trên biển tàu thuyền các loại rất đông đúc. Tác giả đã từng phục vụ ở cương vị trợ lý chính thuyền trưởng tàu ngầm tại chính lữ đoàn đó và nhớ rõ tất cả các "truyền thống" của đơn vị. Rõ ràng, V.Marango cựu thuyền trưởng thuộc vào thể loại các anh chàng lính thủy nông nổi ở hạm đội mà với họ, số mệnh đã chơi một trò đùa vô cùng tàn nhẫn. (http://flot.com/upload/blog/7f6//ShPubl3_63.jpg) Đám tang của các thủy thủ chết trong tai nạn. Nghĩa trang hàng hải tại Vladivostok. Năm 1981. (http://www.dive-tek.ru/archiv/2006/4/62-65.html) Khi nói đến tai nạn đắm tàu ngầm, luôn luôn phát sinh câu hỏi về việc chăm sóc của nhà nước đối với các thân nhân của các thủy thủ chết. Vào cuối thế kỷ 20, mối quan tâm này đã mang tính chất phù du với đậm nét pi-a. Mặc dù dưới thời I.V.Stalin có những phương pháp tiếp cận khác (bí mật, vâng, - vượt quá giới hạn hợp lý), nhưng các giải pháp hoàn toàn có tính con người. Một ví dụ: sau sự cố đắm tàu năm 1952 của tàu ngầm S-117, toàn bộ vợ những thủy thủ tàu ngầm hy sinh đều nhận được một căn hộ ở phần châu Âu của Liên Xô, các bậc cha mẹ - nhận được một khoản trợ cấp (tại thời điểm đó) là tương đối khá. Và hoàn toàn tuyệt vời đối với ngay thời đại chúng ta: "... em gái của thủy thủ Korolev là Koroleva Valentina Stepanovna được nhận một khoản trợ cấp 300 rúp mỗi tháng cho đến khi tốt nghiệp đại học". YÊU CẦU SẴN SÀNG CHIẾN ĐẤU Kể từ năm 1965, nhiệm vụ phục vụ chiến đấu đã trở thành phương thức hoạt động chính của lực lượng hải quân, bao gồm cả tàu ngầm. Trong khi ở giai đoạn đầu, việc thực hiện các chiến dịch hành quân phục vụ chiến đấu mang tính lẻ tẻ và về cơ bản nhằm vào hai mục đích - trinh sát không gian chiến trường và phô bày sự hiện diện, - thì sau đó từ năm 1967 đã đưa vào áp dụng một hệ thống sử dụng các tàu ngầm quay vòng theo chu kỳ. Trong một thời gian ngắn hoạt động phục vụ chiến đấu được hình thành trong hình thức cao nhất của việc duy trì sự sẵn sàng chiến đấu cho các lực lượng hải quân. Trong khoảng thời gian từ 1965 đến 2000, các tàu ngầm đã thực hiện 3800 chiến dịch đi biển phục vụ chiến đấu, trong đó: 1300 - của các tàu ngầm tuần dương mang tên lửa chiến lược, 900 - tàu ngầm nguyên tử đa năng, 1600 - tàu ngầm diesel, tức là hơn 40%. Thống kê theo các hạm đội: Biển Bắc - 54%, Thái Bình Dương - 40%, Baltic - 5% và Biển Đen - 1%. Thêm vào đó các tàu ngầm Hạm đội Biển Bắc từ giữa năm 1969 bắt đầu các chiến dịch phục vụ chiến đấu ở Địa Trung Hải trong thành phần lữ đoàn và ở tại đấy từ 7 đến 13 tháng (và điều đó kéo theo sự căng thẳng của vấn đề hậu cần nổi - sửa chữa, cung ứng vật chất, tạo điều kiện nghỉ ngơi cho thủy thủ đoàn, v.v.) (http://flot.com/upload/blog/2ec//ShPubl3_64.jpg) Oh, thật không dễ dàng, đời phuc vụ tàu ngầm... - N.Cherkashin. Hải đoàn đen. - Moskva. NXB Kum-Press, 2003. Đến giữa những năm 197х, trong số 2 100 phương tiện mang vũ khí hạt nhân (có tính chiến lược) thì 26% thuộc Quân chủng Hải quân. Cùng một lúc trong các khu vực tuần tra chiến đấu phía Tây và phía Đông Hoa Kỳ có đến 8 RPKSN (trên cự ly 3 000 km) với thời gian bay tới mục tiêu của tên lửa đạn đạo là 20 phút. Khoảng từng ấy tàu ngầm trong thời gian này đang trên đường di chuyển "tới đó" và "trở lại". ........ Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 23 Tháng Chín, 2012, 12:18:39 pm (tiếp)
Tàu ngầm Liên Xô khi đi chiến dịch thực hiện nhiệm vụ phục vụ chiến đấu phải giải quyết 3 nhiệm vụ, thực chất là các nhiệm vụ chiến lược: tìm kiếm và theo dõi các tàu ngầm nước ngoài, đồng thời sẵn sàng tiêu diệt chúng (khi khởi đầu chiến tranh, hoặc theo mệnh lệnh); các RPKSN tuần tra chiến đấu trong tư thế sẵn sàng tấn công các mục tiêu mặt đất; săn tìm và theo dõi nhóm xung kích đổ bộ (DUG- ДУГ), nhóm trinh sát-tấn công (RUG- РУГ) và các biên đội tàu chiến đấu (OBK- ОБК) của lực lượng hải quân NATO nhằm sẵn sàng khai hỏa vũ khí vào các đối tượng đó. Kể từ năm 1965, lực lượng thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu đã hơn 1500 lần phát hiện các tàu ngầm hạt nhân nước ngoài, trong đó có 885 trường hợp (60%) là do tàu ngầm phát hiện, và 80% trong số đó – do tàu ngầm diesel. Việc theo dõi giám sát (380 ngày đêm) đạt hiệu quả nhất về độ dài thời gian thực hiện, tất nhiên vẫn thuộc về tàu ngầm hạt nhân. Nói về độ khắc nghiệt của các trò chơi "mèo vờn chuột" dưới mặt nước là những sự cố va chạm tàu ngầm trong tư thế đi ngầm: từ tháng 12 năm 1967 đến tháng 3 năm 1993 đã ghi nhận 12 vụ va chạm (2 trong số đó là va chạm với tàu ngầm Anh), bao gồm 7 vụ - tại bờ biển của chúng ta và chỉ có 1 vụ - ngoài khơi bờ biển Scotland (căn cứ hải quân Holy Loch). 2 trong 12 vụ xảy ra vào các năm 1992 và năm 1993, tức là sau sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản và thắng lợi của nền dân chủ ở Nga. Với một xác suất khá cao, có thể giả định rằng sự hy sinh của những con tàu K-129, K-219 và "Kursk" của chúng ta là kết quả của các vụ va chạm. Trong những năm 1950-1960 trong số các tàu ngầm ở trong biên chế có ít nhất 60 tàu ngầm phải được duy trì trong lực lượng "thường trực sẵn sàng chiến đấu" (với thời gian chuẩn bị trước khi ra khơi hoạt động chiến đấu: các tàu ngầm trực chiến – 1 giờ, các tàu ngầm đang ở trên các dok và đang sửa chữa thiết bị dẫn đường - 5 ngày). Để so sánh: Hải quân Nhật Bản duy trì sự sẵn sàng chiến đấu của tàu ngầm - 70%, Hải quân Trung Quốc - 30%, Hải quân Thổ Nhĩ Kỳ - 35%. Trong thực tế, nếu tại các đơn vị tàu ngầm duy trì được mức độ sẵn sàng chiến đấu như vậy, thì đó là nhờ gắng gượng mà thôi. Lý do chính – căn cứ sửa chữa-thay thế nghèo nàn và hệ thống căn cứ triển khai không đầy đủ. (http://flot.com/upload/blog/d89//ShPubl3_65.jpg) Biển khơi - chiến trường của số phận.... - N.Cherkashin: Những độ sâu nổi loạn. Các chiến dịch bí mật của các tàu ngầm xô viết trong những năm Chiến tranh Lạnh. - Мoskva: NXB Những ngọn lửa chiều, 2011 г. Trong thời gian có các cơn bão biển dữ dội những năm 195x-197x phần lớn các tàu ngầm rời các điểm đóng quân đến các khu neo đậu, còn tại các vịnh độc lập thì chúng được đặt nằm xuống nền đáy vịnh. Do cấp sẵn sàng tránh bão № 3, 2 và 1 như thế nên các kíp thủy thủ thường xuyên được giữ trong trạng thái căng thẳng. Bộ tổng tư lệnh Hải quân trong việc theo đuổi thành phần định lượng các hạm đội đã chi tiêu rất hà tiện những đồng "cô-pếch" cho sự phát triển của các nhà máy sửa chữa tàu biển, các dok sửa chữa, các cầu cảng và các căn cứ kho tàng*. Trong đó lực lượng ngầm nếu so sánh với hạm đội mặt nước lại được ở trong một vị trí ưu tiên đặc quyền đặc lợi. Tuy nhiên, sự phục hồi mức sẵn sàng về kỹ thuật của các tàu ngầm, đặc biệt là sau những chuyến đi biển dài ngày gặp mưa bão, bị kéo dài thời gian hành quân mà không có chỉ thị cho phép nào lường trước được. Trong những trường hợp này, cục kỹ thuật các hạm đội, phòng kỹ thuật phân hạm đội và ban kỹ thuật các đơn vị phải nỗ lực hết sức nặng nề để duy trì và khôi phục lại trạng thái kỹ thuật cho các con tàu. Và nếu trong các căn cứ đóng quân theo truyền thống "cũ" (Hạm đội Baltic và Thái Bình Dương), mức sẵn sàng của các tàu ngầm ít nhiều gì cũng duy trì được, thì trong các điểm đóng quân mới xa các nhà máy, vấn đề duy trì mức sẵn sàng kỹ thuật cho các tàu ngầm được giải quyết rất tệ. (http://flot.com/upload/blog/590//ShPubl3_66.jpg) * Điều kiện bảo quản, chuẩn bị và nạp cho phương tiện mang các loại vũ khí ngư lôi, tên lửa và mìn, phụ tùng thay thế và các tài sản hàng hải khác là rất khác các điều kiện bảo quản tồn trữ ... đệm lót ủng hoặc bánh mì khô. Từ đó mà phát sinh mối nguy cơ lớn nhất trong tất cả các mối nguy hiểm của hoạt động ngầm dưới nước - "sức mạnh của thói quen”, bơi với những sai sót "chấp nhận được" và đã quá hạn sửa chữa hoặc thay thế các cơ phận. Tác giả (với tư cách một sỹ quan phân hạm đội Kamchatka chịu trách nhiệm việc duy trì các tiêu chuẩn đã thiết lập về sẵn sàng chiến đấu và chương trình đào tạo cho các tàu ngầm trước khi đi chiến dịch phục vụ chiến đấu) đã nhiều khi gặp phải những hiện tượng như vậy. Ví dụ, tàu ngầm từ Magadan đến Petropavlovsk-Kamchatskaia để huấn luyện bổ sung và thử nghiệm trước khi đi làm nhiệm vụ. Thanh tra xuống tàu, đi quanh các khoang và hoài nghi mãi mà không nhớ ra thiếu cái gì. Thiếu gì đây? Và đột nhiên nhận ra: máy diesel - không có máy đo tốc độ góc (тахометров)! - Vậy các anh định bơi thế nào đây? - Ôi chúng tôi quen rồi, - anh em cơ điện vui vẻ báo cáo. – Chúng tôi nghe tiếng máy diesel để mà "điều chỉnh". - Rất hay! Họ chuyển chế độ máy diesel theo âm thanh, xác định nhiệt độ của các ổ đỡ trục chân vịt, và tình trạng thời tiết – bằng phương pháp bôi bẩn ngón tay! Sức mạnh "của thói quen" là như vậy. Sau nhiều năm đòi hỏi khắc nghiệt nhất cũng đã đi vào quá khứ, cùng với các kinh nghiệm quân sự của các thuyền trưởng. Tại các hạm đội đã xuất hiện các yếu tố công tử bột, kiêu ngạo, và từ đó là thái độ không quan tâm đối với con tàu, thủy thủ đoàn, đối với cả các nghĩa vụ thuyền trưởng của mình. Đặc biệt giữa các chùm sao chỉ huy, đó là người thuyền trưởng đã nổi lên với "những cẳng chân lông lá". (http://flot.com/upload/blog/bf9//ShPubl3_67.jpg) Tôi từng gặp người như vậy. Thuyền trưởng một tàu ngầm thuộc lực lượng tàu ngầm Kamchatka, đến từ Hạm đội Biển Đen, trong những năm 196x tại một trong những lần đi sửa chữa ở nhà máy đã khéo xoay xở để xây dựng một nhà tắm tại nơi hầm pháo (артпогреб) đã tháo dỡ với một chìa khóa đánh riêng trong túi cho mình. Người thuyền trưởng ấy trước chuyến di chuyển liên căn cứ Primorye-Kamchatka đã không thể tìm thấy trên bản đồ eo biển Kuril thứ tư (!), mà đi qua eo biển đó là tất cả các loại tàu thuyền đến Kamchatka, Chukotka, và Bắc Băng Dương. Bạn có thể tưởng tượng quan hệ kiểu gì sẽ tồn tại giữa thủy thủ đoàn trên chiếc tàu ngầm đó. THỐNG KÊ GIẢ TẠO Hạm đội như một đứa trẻ sơ sinh đã nhiễm đại dịch báo cáo láo của đất nước chẳng khác mấy môi trường đã tạo ra nó. Điều này đặc biệt rõ ràng sau khi loại bỏ vào năm 1957 Bộ trưởng Quốc phòng Nguyên soái Zhukov (và một năm trước đó - Đô đốc N.Kuznetsov). Khắp nơi người ta áp dụng phong cách lãnh đạo "Leninit" (phong cách Khrushchev-Brezhnev). Xuất hiện một mong muốn làm ra những con tàu "xuất sắc" (đơn vị chiến đấu và phục vụ chiến đấu), với tất cả các dung sai cho phép, những sự nối dài và các công ước. Con tàu không thể xếp đặt là "xuất sắc" vì những thành tựu hoặc các lý do khác, cho dù ta muốn, hãy thoát ra khỏi thiên hà danh dự này: không cho phép có tất cả các số liệu thống kê "được làm đẹp". Thường thì ta thấy rằng các con tàu “xuất sắc” (tàu ngầm cũng vậy) có bên trong thân tàu rất nhiều tệ lậu được che giấu, mà những con tàu tầm thường cũng không mơ thấy. Thường thì cái gọi là "thi đua xã hội chủ nghĩa" chỉ tồn tại trên giấy, bằng cách sử dụng những điển hình khéo léo . (http://flot.com/upload/blog/6bf//ShPubl3_68.jpg) Theo thời gian, theo các lý do tiết kiệm tiền và các nguồn tài nguyên những việc sau đã trở thành phổ biến: tấn công ngư lôi có nghĩa là "ngư lôi bọt", tấn công tên lửa - "phóng điện tử", ra khơi kiểm tra – ra khơi "rút gọn", sự thay thế phụ tùng và cơ cấu máy tổng thành cần thiết – “thủ đoạn” giấy tờ của công vụ theo biên bản kiểm tra. Một nghịch lý đã được tạo ra: đơn vị tàu ngầm đóng quân cách khá xa cơ quan tham mưu hạm đội, thường có sự sẵn sàng chiến đấu cao hơn so với các đơn vị “cận kề”. Tuy nhiên, việc áp dụng phong cách "Leninnit" (giáo dục-thuyết phục) đã dẫn đến tình huống trong đó người thuyền trưởng trở thành vật tế thần chung cho một núi trách nhiệm cùng một nhúm quyền lực. Trái với tất cả các điều lệnh và quy định quân sự, thuyền trưởng không thể thoát được những kẻ vô lại công khai khi tòa án trả lại chúng (thống kê của tòa án và cơ quan chính trị đòi hỏi tỷ lệ ra tòa cũng như các vụ vi phạm thô bạo kỷ luật quân đội phải thường xuyên hạ thấp và xu hướng ấy phải là không đổi, đòi hỏi một sự cân bằng kiểu jesuistes – cái được coi là "vi phạm thô bạo", cũng như - “vi phạm không thô bạo"). Kết quả là đã xảy ra cái mà chưa bao giờ có tại hải quân Nga: các sỹ quan xứng đáng được bổ nhiệm lại từ chối việc bổ nhiệm vào cương vị thuyền trưởng các con tàu (trong quá khứ - giới hạn mơ ước cuối cùng của một sĩ quan hải quân – đứng trên cầu điều hướng hành trình, nâng cao cờ hiệu "của mình"). BẢO ĐẢM VẬT CHẤT Lực lượng tàu ngầm theo truyền thống được coi là bộ phận có đặc quyền tài chính trong hạm đội. Điều này phản ánh trong việc trả lương, cấp nhà ở cho sỹ quan và hạ sỹ quan, và trong việc bố trí thủy thủ đoàn. Thuyền trưởng tàu ngầm diesel phóng ngư lôi (tàu hạng hai), bậc cao trong bảng kê tài chính, nhận được: lương chức vụ - 170 rúp (tiêu chuẩn năm 1961), phụ cấp quân hàm - từ 60 đến 70 rúp, phụ cấp khi tàu đi "chiến dịch" 30% tổng 2 khoản đầu tiên, phụ cấp binh chủng tàu ngầm - 20% (tàu ngầm nguyên tử - 50%), trừ thuế thu nhập - 13%, trừ đảng phí 3%. Các thủy thủ tàu ngầm tại căn cứ, có điều kiện tương đương miền Bắc, nhận được gấp rưỡi, vùng Cực Bắc lương gấp đôi. Tuy nhiên, trong khi đó các mẹo cân bằng tài chính lại rất phổ biến: các tàu ngầm, chuyển sang các nơi trú quân mùa đông nằm về phía nam Magadan tại các vịnh không đóng băng, lập tức bị trừ các khoản phụ cấp miền Bắc; các tàu ngầm chuyển sang các căn cứ tạm thời tại khu vực miền Bắc, ngược lại, chẳng nhận được khoản phụ cấp nào. Và cứ như vậy đấy. Trong nhiều năm, tại hạm đội đã tạo nên một hiện tượng thú vị: kể từ cuối Thế chiến II cho đến giữa những năm 195x, các sĩ quan-trưởng ngành tác chiến được bố trí thêm 30 rúp "cho Đun-ka" (tức là, cho cần vụ), các thuyền trưởng - 50 rúp phụ cấp chỉ huy. Tất cả những khoản phụ phí đó dần dần được nâng lên không ngừng bởi Nikita Khrushchev theo trình tự "thể hiện sự chăm sóc của Đảng và Chính phủ cho phúc lợi của nhân dân." (http://flot.com/upload/blog/384//ShPubl3_69.jpg) Năm 1957, tại một cuộc họp của Bộ Chính trị, E.Furtseva (http://ria.ru/analytics/20101207/305601637.html) đã nêu lên để bàn bạc vấn đề bỏ phụ cấp quân hàm ("theo cầu vai"), nhưng biểu hiện cảm động của sự quan tâm "chăm sóc" đến hẹn lại lên này đã bị G.K.Zhukov ngăn chặn (hồi đó còn là Bộ trưởng Quốc phòng). Chẳng mấy chốc người ta đã "giúp" Zhukov rời khỏi vị trí Bộ trưởng Quốc phòng, nhưng tiền lương quân hàm thì những người lãnh đạo Đảng tiếp tục không động đến. Trong hơn 40 năm phục vụ, tác giả có nhận xét về tính ổn định tài chính được gìn giữ một cách đáng kinh ngạc: Trung úy – gần 350 rúp, Đô đốc - hơn 400 rúp một ít. Nghĩa là nó xấp xỉ bằng khoản mà một lính thủy tình nguyện Hải quân Mỹ nhận được trong năm đầu tiên phục vụ theo thang lương năm 1975. ......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: lantuyet trong 06 Tháng Mười, 2012, 03:24:29 pm Bác qtdc bỏ vắng topic này lâu quá rồi, đề nghị bác tiếp tục các bài về các chiến dịch của Hải quân Liên xô trước đây cho mọi người được hiểu thêm về những năm tháng hào hùng của Hải quân Xô viết. Trân trọng cám ơn bác qtdc.
Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 13 Tháng Mười, 2012, 12:30:06 am (tiếp)
ĐIỀU KIỆN SỐNG HÀNG NGÀY Đặc điểm phục vụ trên các tàu ngầm có một truyền thống là các đơn vị tàu ngầm cũ thường đóng quân ở vùng ngoại ô các thành phố biển lịch sử (Sevastopol, Leningrad, Vladivostok, Riga, v.v.), còn các đơn vị mới được triển khai ở các thị trấn kiểu doanh trại đồn trú. Trong quá khứ, thật vô cùng khó khăn để có thể tìm thấy việc làm (mà phù hợp nghề nghiệp - gần như không thể) cho các bà vợ các quân nhân tàu ngầm và một cái gì đó thuộc về văn hóa văn minh cho con cái của họ. Càng xa những năm chiến tranh, càng dần dần biến mất những hiện tượng hàng ngày như thế này: gia đình các sĩ quan chui rúc trên các tàu doanh trại nổi, trong các căn cứ bờ, các khu đất (và đôi khi là những cái hố có mái che). Tuy nhiên, các bà vợ-người Leningrat truyền thống của hải quân thẳng thừng từ chối đi đến những nơi "khỉ ho cò gáy ấy" và thích ở lại nhà mà nhận được tiền phụ cấp của chồng. Tình hình như vậy đôi khi xuất hiện cả sau này, khi đã có không chỉ các nhà ở riêng, mà còn có cả các CLB Sỹ quan, nhà trẻ, trạm y tế, trường học, hồ bơi, và các đơn vị đồn trú đã có đường giao thông liên lạc trên bộ và trên biển khá đầy đủ. Nhưng điều đó xuất hiện khá lâu về sau, khi hạm đội tàu ngầm hạt nhân đang kỳ phát triển rực rõ đột nhiên chuyển sang quá trình chết từ từ, và sự lãng mạn của phụ nữ biến thành một thứ chủ nghĩa thực dụng trọng thương trường. (http://flot.com/upload/blog/9ee//ShPubl3_70.jpg) Mặt tiền Nhà Sỹ quan ở Severomorsk. (http://novozemelets.livejournal.com/124347.html) Các sỹ quan độc thân sống trong doanh trại với thủy thủ đoàn. Thông báo báo động là một vấn đề truyền thống. Trong nước Mẹ Nga bao la rộng lớn, đã từ lâu điện thoại nhà riêng được coi là một thứ xa xỉ. Vì vậy, tín hiệu báo động tại tất cả các thị trấn hải quân và các doanh trại đơn vị đồn trú hải quân, kể từ thời Piotr Đại Đế được người ta thể hiện bằng cách ném thật mạnh các đôi giày thủy thủ, coi nó như là hình thức thông báo đáng tin cậy nhất. Đính chính của người biên tập: các độc giả trẻ sẽ thú vị khi được biết một số phát hiện mà các nghiên cứu của Học viện Quân y St.Petersburg đã rút ra: trên các tàu ngầm hiện đại, có khoảng 200 yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến sức khỏe của các thuyền viên, tuổi thọ trung bình của các quân nhân tàu ngầm (nghĩa là các sỹ quan và hạ sỹ quan tàu ngầm hải quân chuyên nghiệp) ngắn hơn 7 năm so với tuổi thọ trung bình của các cư dân Liên Xô - LB Nga. Và, như một sử gia hải quân đã viết, kết quả của những nỗ lực của các nhà thiết kế, các nhà đóng tàu, các lãnh đạo hải quân và các nhà y học "có thể được đọc thấy trên các thập tự giá cắm trên những ngôi mộ". CƠ QUAN CHÍNH TRỊ. CÁC THUYỀN PHÓ CHÍNH TRỊ Do "yêu cầu của Đảng" không ngừng tăng cường sự sẵn sàng chiến đấu và không chỉ chiến đấu, mà còn phải đảm bảo từng bước đạt tới các kết quả mới cao hơn trong lĩnh vực giáo dục đạo đức-tinh thần cho những người bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, nên "mã số đạo đức của những người xây dựng chủ nghĩa cộng sản" đã được tuyên truyền thâm nhập vào cơ thể hạm đội bằng những cố gắng như dã tràng xe cát, vì thế các cơ quan chính trị hải quân ở trong tình thế rất khó khăn. Một mặt, nó cần khuấy động phong trào, mặt khác nó phải cung cấp lên cấp trên những số liệu thống kê ngày càng tốt hơn. (http://flot.com/upload/blog/c1f//ShPubl3_71.jpg) Cuộc họp Đảng trên tàu. P.Savushkin. (http://www.gophoto.it/view.php?i=http://www.navy.su/gallery/19/savushkin/01.jpg) Cuộc đấu tranh giành danh hiệu con tàu "xuất sắc" đòi hỏi một nghệ thuật chứng minh nhất định - thường khi phải nhắm mắt làm ngơ cho một số "nốt ruồi đen trong quá khứ", không-không thể để len lỏi vào các con tàu tiên tiến các "tập thể nhỏ" (các nhóm nghiện rượu), các vụ ẩu đả, và đôi khi các nhân vật chống Liên Xô. Nhưng, than ôi, "các nốt ruồi đen" sinh ra không phải từ quá khứ mà từ chính hiện tại đang được tô vẽ bây giờ. Bất kỳ người thuyền trưởng chu đáo nào đều hiểu rõ rằng có một người thuyền phó chính trị tinh tế trên một chiếc tàu ngầm - đó là một thành công lớn. Nghệ thuật của người phó chính trị: nhẹ nhàng nhưng kiên quyết thực thi các chỉ thị của cấp trên trong tập thể thuyền viên, anh ta phải trở thành linh hồn của tất cả cũng như của mỗi người, không cần phải áp lực mà vẫn làm cho các thủy thủ cởi mở lòng mình, không trốn sau lưng người thuyền trưởng và đồng thời thấu suốt cuộc sống đang diễn ra trong các khoang tàu bị cách ly, không đẩy áp lực sang cho thuyền trưởng, không "áp đặt" anh ta. Tất cả những điều này không phải người thuyền phó chính trị nào cũng làm được. Trong nhiều trường hợp, người cán bộ chính trị chỉ là cái bóng vật vờ trên biển và lăng xăng vô ích trên bờ. Đa số trường hợp, họ chỉ làm công tác tổ chức nghỉ ngơi giải trí sau chiến dịch (cơ sở nghỉ ngơi kiểu "Paratunka", các nhà an dưỡng, bệnh viện, v.v.), sửa chữa các phòng ở doanh trại của thủy thủ đoàn, tham gia lao động cộng sản thứ bảy-chủ nhật tại các trường mẫu giáo và trường học của đơn vị, lao động tại các trại nuôi heo và khu đổ rác trong doanh trại đơn vị đồn trú, trấn an các cuộc "cãi vã gia đình", gặp gỡ các tân binh và những người lính nghĩa vụ sắp giải ngũ. Họ "xổ lòng" trả lời mọi người khi có mặt các loại vũ khí đặc biệt và các nhân viên cơ yếu. Họ là những người lao động trung thực, hoặc như chính họ được gọi, "những người làm công tác chính trị". Một số người say mê các trò tuyên truyền nhảm nhí, không hiệu quả trong cuộc sống dưới mặt nước, những người khác thì cố gắng uốn nắn các thuyền trưởng và thường không thành công. Những người như vậy không tồn tại được. Nhưng tất cả đều vò đầu bứt tóc than rằng "bị ép", và rằng không thể - báo lên trên, lên các phòng ban chính trị. Chỉ tố cáo là không đủ. Bởi vì điều đó được tung ra giống như vũ khí boomerang (của thổ dân châu Úc) đập lên đầu ban chỉ huy cũng như hội đồng chính ủy. Tác giả bày tỏ lòng tưởng nhớ và kính trọng lớn lao đến những cấp phó chính trị binh chủng tàu ngầm như vậy (các "chính ủy" chân chính), như V.Anikin, V.Kaloshin, P.Burlachenko (trong đơn vị tàu ngầm của mình), V.Panin (phân hạm đội Kamchatka). (http://flot.com/upload/blog/cf0//ShPubl3_72.jpg) Đô đốc Vasily Ivanovich Panin. Năm 2001. V.A.Pechatin. (http://tsushima.su/forums/viewtopic.php?id=4241&p=117) ....... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 15 Tháng Mười, 2012, 02:36:11 am (flot.com) Chiến tranh và tuổi thơ. Chuẩn đô đốc Alfred Semenovitch Berzin. (http://flot.com/upload/blog/f61//BerzinPubl_1.jpg) 19 tháng 6 năm 1941, tôi tròn 8 tuổi, ba ngày sau cuộc chiến tranh với nước Đức Quốc xã bắt đầu. Khi đó chúng tôi đang sống gần Moskva, thị trấn Rabotchii huyện Krasnogorsk, nhà ga Trikotajnaia. Từ sáng sớm tiếng gầm như sấm sét đã đánh thức cả gia đình chúng tôi, tất cả nhìn ra ngoài cửa sổ, còn tôi chạy ra ngoài và nhìn thấy những chiếc máy bay đang bay về phía Moskva, phía dưới chúng là những đám khói trắng đạn cao xạ bắn lên. Mới một tuần trước đây, có thông báo của TASS, trấn an cư dân toàn Liên bang về "tin đồn" chiến tranh với nước Đức. Bà tôi đọc báo "Sự thật" vào đêm trước chiến tranh và nói với tôi rằng cuộc chiến tranh với Đức sẽ không xảy ra, nhưng nói thêm: "Bà không tin Hitler đâu cháu ạ". Buổi sáng hôm đó, qua hệ thống loa tăng âm trên đường phố, chúng tôi nghe được giọng nói thống thiết của Levitan (http://www.retroportal.ru/levitan.html), người phát thanh viên nổi tiếng: "Sáng nay, bằng hành động vô cùng xảo trá, không tuyên bố chiến tranh, nước Đức quốc xã đã tấn công Tổ quốc chúng ta". (http://flot.com/upload/blog/65b//BerzinPubl_2.jpg) Ăn sáng thật nhanh rồi mẹ vội vàng vào nhà máy. Mọi người đều lo âu và bối rối. Đến tối thì biết rằng máy bay Đức không đột kích vào được đến trung tâm, chúng ném bom xuống Krasnaia Presnya, ở đó bắt đầu có các đám cháy. Nhà máy được tuyên bố trở thành xí nghiệp làm việc cho tiền tuyến. Gần cổng ra vào người ta treo một tấm bản đồ Liên bang khá lớn, qua mỗi ngày những lá cờ sẽ đánh dấu tuyến mặt trận. Nhưng rồi tấm bản đồ nhanh chóng bị dỡ đi, bởi vì đà tiến của quân đội Đức sẽ đè nặng lên tâm trạng thất vọng của người dân. Ngay lập tức quanh Moskva và ở chỗ chúng tôi, xuất hiện các "hang ổ" của các pháo thủ phòng không, bầu trời buổi tối lơ lửng những chiếc khinh khí cầu, xung quanh người ta bắt đầu đào công sự. Một lần nào đó hồi 1987, tôi đến thăm Thư viện Hải quân, tại đó trong phòng đọc sách tôi nhìn thấy một kệ báo "Pravda" thời kỳ 1933-1941. Những hình ảnh trông thật buồn cười: lúc đầu chúng ta nguyền rủa chủ nghĩa phát xít, sau đó im lặng, tiếp theo thì bắt đầu thán phục sự nghiệp của họ và còn chúc mừng những thành công quân sự của họ nữa chứ. Ngay cả những tờ báo ra ngày 22 tháng 6, cũng không có một lời nào về cuộc xâm lược. Sau đó, ngay lập tức người ta sáng mắt ra và bắt đầu nguyền rủa chúng! Trong những ngày đầu chiến tranh, người ta cho biết các trận đánh đang diễn ra ở nơi nào, sau đó họ chỉ viết về những trận đánh ác liệt. Vào mùa thu, chúng tôi được biết rằng người Đức đã đến gần Moskva, một số đơn vị xe tăng riêng lẻ thậm chí đã đột phá đến Khimki. Người Đức chưa ném bom xuống thị trấn Rabotchii của chúng tôi, nơi chỉ có một nhà máy sản xuất bít tất, nhà máy thứ hai thì làm ủng dạ, và chúng tôi như thể đứng bên lề cuộc chiến. Tuy nhiên, mỗi khi có không kích vào Moskva, các trận địa pháo phòng không xung quanh làng bắn tới tấp lên các máy bay, và các mảnh vỏ đạn trút xuống mặt đất như mưa đá. Người già và trẻ em được đưa tới nơi trú ẩn là tầng hầm của một ngôi nhà chưa hoàn thành. Người ta báo động phòng không qua tiếng còi hú đặt trên tháp cứu hỏa, tiếng rít của nó tôi sẽ chẳng bao giờ quên cho đến khi nhắm mắt xuôi tay lìa đời. Theo tiếng còi báo động, bà tôi tay xốc cô em gái 4 tuổi của tôi, còn tôi bên cạnh, xách một túi đồ cần thiết (NZ), tất cả cùng nhau chạy nhanh đến hầm trú ẩn. (http://flot.com/upload/blog/03a//BerzinPubl_4.jpg) Cư dân trong một hầm trú bom tại nơi sinh sống. - Nước Nga qua cặp mắt Margaret Burke-White. (http://humus.livejournal.com/2192958.html) Một lần, khi chúng tôi đang chạy như thế thì các khẩu đội phòng không đã bắn và một mảnh đạn dài 10 cm đã bay sượt qua cổ em gái tôi chỉ trong gang tấc. Tôi nhặt lấy mảnh đạn nhưng phải thả ra ngay vì nó nóng bỏng. Các cậu bé, trong đó có tôi, thường nhặt và sưu tập các mảnh đạn, mà đối với chúng tôi, đó là dấu vết có thể nhìn thấy của cuộc chiến tranh đã bắt đầu. Mẹ ngủ qua đêm tại nhà máy, bởi lẽ khi có báo động phòng không mẹ phải tham gia đội y tá cứu thương, đội này hiện mới chỉ có một y tá. Người ta áp dụng một hệ thống tem phiếu và ngay lập tức phải "thắt lưng buộc bụng" vì dự trữ phòng "trường hợp chiến tranh" là không có. Lãnh đạo nhà máy quyết định gửi trẻ con đi nghỉ hè tại làng Efremovka huyện Yegoryevsky thuộc tỉnh Moskva, cách xa nơi đang bị ném bom, ý định tốt nhưng lại là đường đến địa ngục. Nhà máy dành vài chiếc xe buýt cho trẻ em, trong đó có tôi và em gái, ba người phụ nữ đi kèm, gồm cả Mẹ chúng tôi. Cảnh chia tay của cha mẹ với con em, đến nay vẫn còn hiển hiện trước mắt tôi, đó là những tiếng sụt sùi nức nở vẫn tiếp tục ngay cả trên tàu trong một vài ngày sau. Và đây là làng Efremovka, nơi chúng tôi được đón nhận rất tốt, người ta xếp chúng tôi ở trong câu lạc bộ, cho ăn 3 bữa một ngày. Mẹ phải quay trở lại nhà máy, và bây giờ đến lượt em gái và tôi khóc nức nở. Rồi đến ngày 01 tháng 9, tôi vào lớp Một ở làng Evremovka. Thời gian này bà tôi đã đến và bắt đầu làm việc trong phòng ăn nhà trẻ của chúng tôi, cùng một người dân địa phương. (http://flot.com/upload/blog/68f//BerzinPubl_5.jpg) Moskva bị bao vây (http://www.svoi.lv/index.php?lang=ru&level=2&cat2=946) Trong tháng mười, Moskva bị đe dọa: nhiều doanh nghiệp được sơ tán về phía Đông, nhưng nhà máy "Chiến công Lao Động" của chúng tôi vẫn ở lại. Bí thư Đảng ủy nhà máy Bogachev nói chuyện với mẹ rằng Đảng bộ Thành phố đã để ông lại hoạt động bí mật khi xảy ra "trường hợp cần thiết". Trong huyết quản của mẹ, gen nội (một nhà cách mạng) bắt đầu lên tiếng, và sau khi nói chuyện với bà ngoại, mẹ cũng đã quyết định sẽ tham gia hoạt động "bí mật". Nhờ số phận mà mọi việc đều suôn sẻ: người Đức bị đánh bại ở gần Moskva, và họ phải rút lui. Thực tế là không có sự chuẩn bị nào để "hoạt động bí mật". Người ta phát giấy thông hành giả, bố trí phòng tại Tushino, nơi mà hầu như các nhà máy đã được sơ tán hết, và một mật mã liên lạc để "báo cáo tin tức". Mẹ đã thất bại ngay từ những ngày đầu tiên của nghề nghiệp với "sự chuẩn bị" ấy, do tại Tushino nhiều người biết mẹ. Tình trạng "bất hợp pháp" đối với mẹ vẫn còn duy trì cho đến tháng 2 năm 1942. (http://flot.com/upload/blog/df1//BerzinPubl_6.jpg) Ngày 19 tháng 11 năm 1941. Các nữ du kích. Trong khu vực bị quân Đức chiếm đóng ở vùng phụ cận Moskva. Ảnh của M. Bachurin. (http://www.gazeta.lv/story/10615.html) Vậy là bà tôi và chúng tôi đã ở lại một mình trong làng, trong khi các phụ huynh khác đã đến và đưa con cái mình về thị trấn Rabotchii. Quân Đức ngày càng tiến gần Moskva. Giờ đây máy bay của họ bắt đầu bay qua làng chúng tôi. Chúng tôi ra khỏi trường học và nhìn thấy một chiếc máy bay Đức, ở độ cao rất thấp, lướt trên đầu chúng tôi, sau đó nó vòng lại cánh đồng làng, nơi người ta chăn thả đàn gia súc nông trang tập thể và bắt đầu xả súng máy vào những con bò và người chăn bò, nhiều con bò đã bị giết, nhiều con khác bị thương, người chăn bò cũng bị giết chết. Tuyến đường sắt đi cách làng một cây số, và đúng lúc ấy có một đoàn tàu chở khách chạy qua. Chiếc máy bay vòng trở lại, nó vừa ném bom và xả súng máy xuống đoàn tàu chở khách, hiện đã dừng lại để cho mọi người nhảy ra khỏi các toa xe mà chạy vào rừng tránh máy bay. Cô giáo của tôi cho phép chúng tôi sống ở nhà cô, thu xếp chỗ ở một hàng hiên kín, nơi đó không có lò sưởi. Chúng tôi không có gì để sống bởi vì Mẹ tôi đã đi hoạt động bí mật. Giám đốc nông trang cho chúng tôi một bao lúa mạch đen, và tôi mang đến xay tại nhà một bạn cùng lớp. Bà tôi chạy vạy xin vỏ khoai tây tại nhà ăn nông trang, mang về nướng chúng trên bếp. Sau đó đến mùa giá lạnh, sống ngoài hàng hiên không thể được nữa, cô giáo cho chúng tôi vào ở trong nhà bếp của mình, ngủ trên ghế dài. Mặt trận đã rất gần, ngày và đêm đều có thể nghe thấy tiếng nổ của bom và đạn trái phá, ban đêm bầu trời phía Tây sáng rực những quầng lửa đỏ thẫm. Tất cả chúng tôi gầy rộc đi, đầu tôi và em gái đầy rận và những lớp vảy bong tróc do thiếu vitamin, căn bệnh mà hầu như tất cả các trẻ em trong lớp đều bị. Luôn luôn có cảm giác thèm ăn. Trong làng người ta thành lập một đội kỵ binh và một đơn vị bộ binh. Hoạt động chính - tập đội ngũ. Đêm đêm các cỗ xe chở quan tài đi qua. Trong suốt mùa đông, chúng tôi chỉ được tắm một lần trong bồn tắm, nước tắm biến màu đen thẫm. Tôi học rất dễ vì Bà đã dạy tôi đọc khi tôi 6 tuổi. Nhưng viết thì thật khó vì tôi là người thuận tay trái. Khi viết bằng tay trái, tôi thường bôi bẩn chữ viết, vì quản bút gắn ngòi bút thép bị rách nhúng trong lọ mực gây ra. Khi cô giáo ốm, tôi được đưa lên chỗ cô ngồi và tôi đọc truyện Prishvin cho lũ trẻ nghe. Đội kỵ binh đã đi, để lại một số phụ nữ trong trạng thái kỳ lạ, một trong số họ cố gắng tự mình bỏ thai và chết vì chảy máu, chồng cô ấy còn đang ở mặt trận. Cả làng tiễn đưa cô, những người phụ nữ hát những bài thánh ca cầu nguyện. Lũ trẻ nài tôi kể chuyện Moskva. Hầu hết chúng chưa bao giờ nhìn thấy tàu điện ngầm, xe điện bánh sắt, xe điện bánh hơi và nhiều thứ khác nữa. Các cô gái đến chỗ Bà tôi và yêu cầu bà đọc thơ cho họ nghe. Sớm hay muộn, tất cả những điều xấu cũng sẽ kết thúc, mùa xuân đến, và sau đó vào hè. Chúng tôi đi vào rừng, nơi hái được cơ man là nấm và ăn no nê cái bụng rỗng. (http://flot.com/upload/blog/f0d//BerzinPubl_8.jpg) Bayuskin Stepanovich. "Đi hái nấm về". (http://www.liveinternet.ru/users/2010239/post108367469) Mẹ được "rút khỏi công tác bí mật" và nhanh chóng quay về với chúng tôi. Người ta bổ nhiệm mẹ làm Phó Giám đốc bệnh viện sơ tán Krasnogorsk. Mặt trận cách không xa và khá nhiều thương binh. Cha tôi không sống với chúng tôi, khi bắt đầu chiến tranh, ông và em trai ông đã tình nguyện ra mặt trận, họ hy sinh gần Smolensk. Mẹ đưa chúng tôi đến thị trấn Krasnogorsk, nơi chúng tôi sống trong một căn hộ công xã. Đối diện là nhà trẻ, nhưng vào thời điểm đó nhà trẻ được sử dụng làm bệnh viện. (http://flot.com/upload/blog/81f//BerzinPubl_9.jpg) Con gấu Misha này đã 75 tuổi (http://alfred-berzin.livejournal.com/67847.html). Cha mua nó tặng tôi, Người bị bắt năm 1939, đến cuối năm 1940, ông được phục hồi và trả tự do. Ai đó đã vu khống ông. Tôi gìn giữ nó như một ký ức về người cha của mình. Tôi bắt đầu học lên lớp hai, cô giáo của chúng tôi là Vera Mikhailovna Nekrasova. Trong lớp tôi có các bạn bè như: Yura Rybakov và Yura Likhachev. Người ta xây dựng ở vùng ngoại ô Krasnogorsk một trại tù binh chiến tranh, tù binh nhanh chóng được đưa đến. Chúng tôi thu thập các chiến lợi phẩm của chiến tranh: của cả quân ta và quân Đức: vỏ đạn, các mẩu thuốc nổ, giống những mẩu xà phòng, khóa nòng súng trường, lưỡi lê, dao, liều phóng đạn pháo trông như thể sợi mì ống. Chúng tôi tự tay làm các "mồi cháy" nhồi thuốc xám, và chúng tôi đốt nó cạnh gốc cây, qua một khe hẹp, chủ yếu để có được các mụ "phù thủy". Một hôm từ trường học về nhà, tôi thấy Bà ngoại đã ném hết đồ của tôi ra hố rác, tôi lập tức chạy ra đó bới, thu lại đồ chơi, và sau đó cất vào nơi Bà không với tới. Chúng tôi làm ra một số lượng lớn các sổ tay nhỏ có chứa các hình vẽ, trình bày dưới hình thức phổ biến cấu tạo súng trường, lựu đạn, cách chế tạo cocktail Molotov, cách phá nổ chính xác cầu đường sắt. Hầu hết các chú bé tự mình nghiên cứu những điều này, mà không ai yêu cầu cũng như bắt buộc, bởi chúng tôi muốn tham gia bảo vệ Tổ quốc của chúng tôi. Mẹ được bổ nhiệm làm biên tập báo nhà máy "Người yêu nước". Nhà máy sản xuất cho mặt trận các thiết bị quang học. (http://flot.com/upload/blog/afc//BerzinPubl_10w.jpg) Tranh cổ động thời chiến. (http://pobeda1945-art.ru/gal4/photo19.htm) ........ Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 19 Tháng Mười, 2012, 04:54:34 pm (tiếp)
Báo viết: "Tôn vinh chiến thắng mới của Hồng quân". Hưởng ứng chiến thắng mới của Hồng quân vinh quang vừa giải phóng thành phố Terijoki, nữ công nhân tiện xuất sắc nhất của nhà máy đồng chí Ferapontova đêm 12 tháng 6 đã có một ca thi đua Stakhanov. Khi lao động trong dây chuyền sản xuất chi tiết số 37, cô đã sử dụng một dao tiện thay vì hai dao và đã hoàn thành nhiệm vụ ở mức 500%. Ngày 12 tháng 6 các chiến sỹ thi đua Stakhanov giỏi nhất phân xưởng là Babaeva, Matyushina, Lobkova, các đội công nhân tiên phong của các đồng chí Ruzanova, Evstratova, Morskova để tôn vinh chiến thắng vinh quang đã giành về mình những nghĩa vụ cụ thể, những nhiệm vụ lao động bổ sung. Kết quả lao động quên mình, tăng thêm sản phẩm cho mặt trận để chào mừng chiến thắng mới của Hồng quân tại tập thể lao động Cờ Đỏ phân xưởng № 3. Z.Feofilova, quản đốc phân xưởng lao động tiên tiến số 3". Toàn thể cán bộ nhân viên của nhà máy ăn tại bếp ăn nha máy của mình, nơi đôi khi tôi cũng đã tới. Mẹ cho tôi vé ăn của bà, để tôi phần nào phục hồi lại sau nhiều tháng đói khát ở làng quê. Mùa hè, tôi được gửi đi trại hè gần ba tháng. Về việc này báo "Patriot" cũng viết trong bài báo "Hãy giương cao lá cờ!" - "Ngày 13 tháng 6 trại hè thiếu nhi đã khai mạc trọng thể. Đúng 5:00 giờ chiều, theo hiệu kèn, các đội viên thiếu niên xếp thành hàng thẳng tắp. Sau hiệu lệnh “Nghỉ!”, đội trưởng thiếu nhi trại hè Volodia Samsonov báo cáo Tổng phụ trách thiếu nhi Ana Bulavin. Anhia đến lượt mình, báo cáo với trại trưởng Antonina Mikhailovna Nemchinova, trại trưởng lại báo cáo kỹ sư trưởng của nhà máy đồng chí Shiryaev về công tác những việc đã thực hiện trong vòng 12 ngày chuẩn bị và đã sẵn sàng khai mạc trại. Theo lệnh của đồng chí Shiryaev, lá cờ đỏ đã được kéo lên tại cột cờ chính, thông báo việc mở trại. Trẻ em gắn huy hiệu thiếu niên tiền phong danh dự cho đồng chí Shiryaev và đồng chí bí thư đảng ủy nhà máy, đồng chí ấy nói lời chúc mừng nhân dịp khai mạc trại hè cho các em, chúc các em nghỉ ngơi vui chơi tốt, lấy thêm sức mạnh mới để đạt được thành tích học tập xuất sắc. Phát biểu chào mừng còn có cả đại diện Ủy ban Trung ương toàn Liên bang, nữ đồng chí Melnik. Sau lễ khai mạc trọng thể là một cuộc biểu diễn nghệ thuật tự biên tự diễn của trại hè. N.Lvova". (http://flot.com/upload/blog/200//BerzinPubl_11.jpg) Khai mạc trại hè - Trại hè thiếu nhi tại Krasnoarmeisk (http://www.library.krasno.ru/Pages/Kraevedenie/Pioneras.htm). Và tất cả những điều ấy diễn ra trong giai đoạn những trận đánh khốc liệt với nước Đức Quốc Xã. Vâng, khi đó người ta nghĩ về thế hệ trẻ như vậy. Họ đã nuôi nấng chúng tôi rất tốt. Gần trại người ta bố trí một tuyến phòng thủ, tại đó có các chiến hào đào sâu ở tầm cao người, các hầm trú ẩn, nơi mà quân Đức đã đến rất gần. Giáo viên quân sự trong trại là một sĩ quan tham gia bảo vệ Moskva năm 1941, tại đó ông đã mất một cánh tay và một con mắt. Ông hướng dẫn chúng tôi tập đội ngũ, chơi trận giả, trong trại không có thời gian để buồn chán. Các nhân viên phụ trách đội thiếu niên đã cạn kiệt, các chàng trai không còn ai, tất cả ra mặt trận và vào nhà máy. Trong năm sau, tôi không được đi trại hè nữa, nhưng ở trường học người ta "huy động" đi lấy trên than bùn. Họ phát xẻng, giao chỉ tiêu, chúng tôi đào các bánh than bùn và xếp chồng lên nhau theo một cách nhất định để người ta sấy khô. (http://flot.com/upload/blog/103//BerzinPubl_11a.jpg) Khai thác than bùn tại làng Tesovo huyện Novgorod. F.8025. Sách niên giám thống kê. D.2412. - "Ngày Chiến thắng, còn cách xa chúng ta ..." (kỷ niệm 65 năm Ngày Chiến thắng trong Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại 1941 - 1945.) - Chương 3 - (1941-1944) Chiến công Lao động ở vùng hậu phương Novgorod (http://novarchiv.org/index.php/ganino/2010-07-08-13-03-08/66-2009-02-10-14-14-32.html?start=3). Khi kết thúc công việc người ta cho chúng tôi một miếng bánh nhỏ (bánh rán), thế là chúng tôi đã vô cùng hài lòng. Khi đi hái các cây thuốc, thu thập phế liệu kim loại cho nhu cầu của ngành công nghiệp chúng tôi cũng được đối xử như vậy. Nếu tôi nhớ còn chính xác, thì trong năm 1943, Hồng quân đã áp dụng hệ thống quân hàm quân hiệu mới, việc này đã làm thất vọng mọi người khá nhiều. Đối với họ đó là các biểu tượng của quân Bạch Vệ. Bạn tôi Yura Likhachev cho biết: "Bây giờ đó sẽ là thứ để giành cho giới quý tộc, và các linh mục sẽ bắt họ hôn thập giá!" Chúng tôi tổ chức một "đội du kích" chơi các trò chơi chiến tranh khác nhau trong một ngôi nhà chưa hoàn thành. Vì đã bám một sợi dây lớn đu từ tầng ba xuống được tầng hầm, tôi được "trao tặng" Huân chương Lenin, tấm huân chương được cắt từ sách ảnh đem dán lên một tấm bìa các tông. Một lần khác, khi đáp lời thách thức, tôi đã tụt từ tầng hai xuống bằng một đoạn dây thừng bện bằng vải, nhưng tốc độ tụt xuống quá nhanh và tôi đã bị tuột da lòng bàn tay. Bà ngoại, thay vì trừng phạt tôi, đã tức giận bôi rất nhiều iốt, khiến tôi xót đến mức tối tăm mặt mũi. Tính cách của tôi được tôi luyện như vậy đấy. (http://flot.com/upload/blog/af8//BerzinPubl_12.jpg) Cùng với mẹ, chúng tôi được xem bộ phim "Lúc 6 giờ buổi tối sau chiến tranh" (http://films.imhonet.ru/element/188468/gallery/). Tôi còn mơ thấy bộ phim này suốt vài tháng sau khi xem. Chiến tranh vẫn đang diễn ra và bộ phim như vậy thật tuyệt! Đó là một sự hỗ trợ lớn lao về tinh thần cho nhân dân. Mùa hè trẻ em đi chân trần để tiết kiệm giày, điều đó đã thành nề nếp. Lũ trẻ đánh nhau chảy máu đầu lần đầu tiên, một đấu một, đó là mật mã ngầm thể hiện danh dự. Một lần trên báo chí có viết về "Đội cận vệ Thanh niên", chiến đấu với quân Đức ở Krasnodon. Tôi cùng lũ trẻ bàn tán rất nhiều về chuyện này, chúng tôi đặt mình vào vị trí của họ, thành thật ngưỡng mộ chủ nghĩa anh hùng của những người Thanh niên Cận vệ. Năm 1944, Mẹ được cử đến Latvia, Daugavpils (Dvinsk), nơi Mẹ bắt đầu làm việc trên cương vị biên tập viên tờ báo của quận. Bà ngoại, em gái và tôi ở lại thị trấn Krasnogorsk. Việc cấp hơi ấm sưởi trong nhà suốt chiến tranh không làm được, do đó chúng tôi phải sưởi bằng lò nướng. Mẹ được chia hai súc gỗ dài khoảng sáu mét, chất thành đống cạnh nhà. Bà cùng tôi dùng rìu xẻ chúng ra. Tôi đã 10 tuổi, sức mạnh còn chưa đủ, nhưng vẫn tham gia cưa xẻ, Bà cũng không còn là Ilya Muromets, tay bà nhanh chóng bị tưa và rất đau. Bạn không còn sức nhưng biết làm sao, vẫn phải cố gắng thôi... Bổ củi cũng không phải là dễ ăn. (http://flot.com/upload/blog/126//BerzinPubl_13.jpg) Mùa đông lạnh giá, và củi hết rất nhanh. Bà đưa cho tôi chiếc giỏ và bảo tôi vào khu rừng gần đó, để tôi nhặt quả thông, cành cây khô và vỏ những cây thông (http://www.1000listnik.ru/lekarstvennie-travi/17/207-sosna-obyknovennaya.html) già. Một nhân viên hậu cần nào đó đi qua khu rừng đã hét lớn rằng tôi là kẻ tội phạm, ăn trộm của nhân dân, và ông ta đuổi theo tôi. Tôi chạy thoát được ông ấy, nhưng trở về nhà mà không mang được củi về để sưởi. Lần đi mót củi tiếp theo, tôi thận trọng hơn, ngụy trang rất cẩn thận. Số tiền mà mẹ để lại, rồi cũng hết, Bà xoay xở chạy vạy hết mức để nấu được súp, gom từng hạt mạch. Mà tôi cũng chẳng có gì để mặc. Bà lấy một cái vỏ chăn cũ khâu cho tôi một cái quần ống rộng, rất giống quần của những người Cossacks Zaporogie. Cặp sách không có, tôi tự làm một chiếc túi xách từ những mặt nạ phòng độc vương vãi trong khu rừng xung quanh. Trong chiếc quần dài ống rộng, khoác chiếc túi, tôi đến trường học, tại trường tôi gây nên sự thán phục của các bạn cùng lớp với mình. Cuối cùng, thư của Mẹ cũng đến với anh em tôi, trong đó Mẹ viết: "Chủ Nhật 24 Tháng Chín năm 1944. Chào Mẹ và các con yêu quý! Con sẽ kể mẹ nghe bắt đầu từ chuyến đi và chuyện sắp xếp công việc thế nào. Con đến nơi sáng hôm qua, trên đường đi có 3 lần nghỉ tạm, chỉ có đoạn từ Moskva đến Velikie Luki là đi tàu khách, còn từ Velikie Luki đến Nevel đi bằng xe tải, từ Nevel đến Polotsk đi toa tàu không mui, từ Polotsk đến Dvinsk lại đi xe tải. Buổi sáng ở Dvinsk con chia tay với các bạn đi đường, con thuê một cậu bé mang đồ đạc đi thẳng từ nhà ga theo đường phố Riga về thẳng khu trung tâm. (http://flot.com/upload/blog/9a1//BerzinPubl_14.jpg) Con đã nhanh chóng tìm được chỗ làm việc của mình, nhưng còn phải chờ đợi vì trời còn sớm và các nhân viên hầu như chưa đến. Trình xong mọi giấy tờ, con đề nghị cho nghỉ một vài ngày tại Dvinsk (http://dinaburg.ru/viewtopic.php?id=170&p=4). Con được bố trí ở ký túc xá, tắm rửa xong, con thay quần áo, đi ăn tối, và mặc dù còn mệt mỏi, con vẫn đi tham quan thành phố. Thành phố bị phá hủy rất nhiều, có những đường phố hầu như không còn nổi một ngôi nhà nguyên vẹn. Đây là kết quả các vụ nổ mìn phá hoại mà quân Đức quốc xã đã gài lại trước khi rút chạy. Trên các tòa nhà, hàng rào vẫn còn những dòng chữ mới viết của công binh quân ta "nhà đã gỡ xong mìn", có nghĩa là ngôi nhà đó đã an toàn, và nói chung toàn thành phố đã quét sạch những thứ rác rưởi đó. Không gian đã yên tĩnh lại từ lâu. Thành phố, mặc dù bị thiệt hại nghiêm trọng, vẫn cho con ấn tượng tuyệt vời. Tất cả là những ngôi nhà xây bằng đá, kiến trúc đẹp, các đường phố thẳng tắp, bó vỉa lát đá ngay ngắn, vỉa hè rộng, mặt đường trải nhựa, mọi thứ đều rất sạch sẽ. Daugava đẹp lắm, nhưng cây cầu qua sộng đã bị phá sập, và người ta dùng cầu phao tổ chức qua sông, như ở Irkutsk. Có lẽ con sẽ phải sống ở đây đến mùa xuân. (http://flot.com/upload/blog/20e//BerzinPubl_15.jpg) Cầu Thống Nhất năm 1944 (http://ru.wikipedia.org/wiki/%D0%9C%D0%BE%D1%81%D1%82_%D0%95%D0%B4%D0%B8%D0%BD%D1%81%D1%82%D0%B2%D0%B0) Người dân ở đây trước chiến tranh sống rất sung túc, đó vẫn là điều hiển nhiên ngay cả bây giờ, sau ba năm người Đức chiếm đóng, những kẻ đã cố gắng cướp tất thảy đưa về nước mình, nhưng mọi thứ vẫn khác hẳn chỗ chúng ta. Vật dụng dù là thứ đơn giản nhất, cũng mang dấu ấn của những sản phẩm đẹp có chất lượng tốt và trang nhã. Chợ vẫn còn hoạt động kém. Người phụ nữ cùng làm chỉ cho con một căn hộ. Đây là một nửa ngôi nhà của cùng một người chủ, nhà có ba phòng và một nhà bếp. Cô ấy chiếm cho mình một phòng, cô ấy còn chưa lập gia đình, con ở một phòng, còn phòng kia để dự trữ. Bếp ăn thì như Mẹ nói với con: bếp nấu, cạnh bếp nấu có bình đun nước nóng, lò nướng bánh, tất cả đều được lát gạch. Đồ nội thất bây giờ chưa có, nhưng sẽ có chỉ bằng nửa giá thành thông qua Ban Tài chính-Quản trị, cơ quan chịu trách nhiệm các vấn đề này. Dân địa phương, những người đã bỏ đi cùng người Đức, đã chở hết các (đồ gỗ) đi cùng đến nơi mà nó được trưng dụng. Con nghĩ rằng một thời gian nữa sẽ thu xếp xong mọi việc. Không có gì xảy ra mà không có khó khăn. Điều chính yếu bây giờ là làm việc, tổ chức lại từ đầu và chiếm được sự tín nhiệm ở nơi công tác mới. Con quên chưa viết cho mẹ biết về thực phẩm, nhưng việc đó mẹ đừng lo. Ở đây có một nhà ăn, tại đó người ta cho ăn ba lần một ngày bằng bánh mì. Về tiền lương và các chuyện khác thì con chưa biết, nhưng chắc không có thay đổi gì đặc biệt. Con sẽ nhanh chóng về đón mọi người. Con gửi những cái hôn thắm thiết cho mẹ và các cháu". Vậy là chúng tôi chuyển đến Iluksta, chúng tôi được bố trí một căn hộ hai phòng. Nhà trường nằm ở nơi cao nhất thành phố, đó là một tòa nhà năm tầng, tại đó người ta giảng dạy bằng cả tiếng Nga và tiếng Latvia. (http://flot.com/upload/blog/949//BerzinPubl_16.jpg) Trước cổng trường là một công viên, ở phần cuối công viên có một bức tượng Chúa Giê-su cao 3 mét đóng đinh trên Thập Giá. Mỗi khi lũ trẻ đi học về, chúng đều đi ngang qua bức tượng này. Các giáo viên của chúng tôi là người địa phương, họ giảng dạy như thời còn là một nước cộng hòa tư sản, và như trong thời gian quân Đức còn chiếm đóng. Nữ giáo viên tiếng Nga là vợ của một linh mục Chính thống giáo, và con gái của họ cùng học với tôi một lớp. Thành phố có ba nhà thờ: Chính Thống Giáo, Công Giáo (http://www.panoramio.com/photo/40666338) và Tin Lành. Ngôn ngữ Latvia là ngôn ngữ phải học ngay từ đầu, nghĩa là từ lớp 1 đến lớp 5. Khi chúng tôi sống ở Krasnogorsk, Bà và Mẹ đã dạy tôi tiếng Latvia, dù tất nhiên còn nhiều thiếu sót. Mùa đông năm 1944, tôi gặp một đứa trẻ cùng độ tuổi tôi, đến Ilukste bằng con ngựa của mình kéo theo một chiếc xe trượt tuyết, cậu ta chở ai đó đến từ trang trại. Cậu trai tự hào về các ông anh của mình, họ đã phục vụ trong quân đội Đức, một trong số đó là hạ sĩ quan. Tất cả bọn họ khi đó còn bị vây trong dải đất Kurliandsk, sau này bị quân đội của chúng ta tiêu diệt năm 1945. Trong hạt có các nhóm vũ trang còn sót lại hoạt động trong rừng sau khi người Đức rút lui. Chúng bao gồm chủ yếu là các toán Aizsarg (tiếng Latvia Aizsarg là «cảnh bị"). Họ là lực lượng dân quân bán quân sự tại Latvia giai đoạn 1919-1940. Họ được thành lập ngày 20 tháng 3 năm 1919 bởi nghị định của Chính phủ Lâm thời Latvia và Bộ trưởng Bộ nội vụ M.Walters như là một tổ chức tự vệ bán vũ trang ở khu vực nông thôn - làm nhiệm vụ trợ giúp lực lượng cảnh sát (thể hiện trong việc hỗ trợ cảnh sát tiến hành tìm kiếm và bắt giữ tội phạm, tuần tra đường giao thông, chống-cướp ở nơi có chiến sự sau Nội Chiến) và hỗ trợ quân đội (trong thời chiến) - nghĩa là làm nhiệm vụ Cảnh vệ Quốc gia. (http://flot.com/upload/blog/cd7//BerzinPubl_17.jpg) Ảnh chụp cùng các sỹ quan Ba Lan. Phía sau, đứng giữa tướng Каrlis Prauls và đại tá Vladislav Rusin là lãnh đạo cơ quan thông tin Bộ Tổng tham mưu LL Cảnh Bị - Alfred Berzinyts [Alfrēds Bērziņš] - nhà tư tưởng chính của chế độ tự trị quốc gia Ulmanis và LL Cảnh Bị. - Аisarg, ảnh chọn lọc. (http://sammler.ru/index.php?showtopic=62639) Quân Cảnh Bị sống ở khu vực biên giới, thực hiện phụ trợ tuần tra biên giới. Về tổ chức họ có thể tiếp nhận các nam công dân từ 20 tuổi trở lên (sau khi hết hạn phục vụ trong quân đội) cho đến 60 thuộc bất cứ quốc tịch nào. Chúng tôi gọi họ là phỉ, và cậu trai này gọi họ là các Anh Em Rừng Xanh. Quân phỉ thường xuyên chiến đấu chống lại chính quyền xô viết. Bộ Nội vụ (NKVD), đã tổ chức các đội "chim ưng" từ các phần tử nông dân nghèo nàn nhất, cấp cho họ súng trường và đạn dược. Về mùa đông quân phỉ ẩn náu tại các nơi trú ẩn, khi vào xuân lại tích cực hoạt động. ........ Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 20 Tháng Mười, 2012, 10:48:03 am (tiếp)
(http://flot.com/upload/blog/bac//BerzinPubl_18.jpg) Mẹ được bổ nhiệm làm trưởng ban biên tập tờ báo của hạt. Từ Moskva, có lệnh tiến hành tập thể hóa. Latvia, không có làng, chỉ có điền trang của các hộ gia đình nông dân, tại đó các thành viên gia đình tự mình làm công việc đồng áng, trước khi có chính quyền xô viết họ có thể thuê mướn lao động. Sau cuộc họp thường xuyên của cơ quan Đảng bộ hạt thuộc Đảng Cộng sản Liên Xô (b), đã có quyết định cử các thành viên Đảng bộ xuống địa phương giải thích-vận động thực hiện chủ trương của Đảng. Người lái xe chở Mẹ đi, Mẹ ăn mặc rất giản dị cùng một chiếc khăn choàng đầu. Bọn phỉ phục kích sẵn, chúng không chặn Mẹ và người lái xe lại mà để cho họ đi, sau này mới biết chúng đang chờ đón bí thư thứ nhất đảng ủy hạt Matuz. Ông ấy đi một chiếc xe chiến lợi phẩm của Đức (loại BMP), đi kèm hộ tống ông là một nhóm quân của Bộ Nội vụ và nhóm “Chim Ưng”. Bọn phỉ bắn họ, trận chiến đấu bắt đầu, quân ta hy sinh bốn người, họ được chôn cất trong nghĩa trang, đó là những nạn nhân đầu tiên, tới tháng 5 năm 1945 tại nghĩa trang đã có trên 150 ngôi mộ. Mẹ đã được Đức Chúa Trời cứu thoát, Mẹ trở về không hề hấn gì, không kể gì cho chúng tôi, vẻ ngoài hoàn toàn bình tĩnh. Về mùa hè, tôi cùng hai người bạn đi chơi hồ, cách thành phố khoảng hai cây số. Khi chúng tôi đến nơi và đang định nhảy xuống bơi thì từ trong những bụi rậm những viên đá to bay thẳng về phía chúng tôi. Chúng tôi sợ hãi chạy về nhà, lúc lúc lại ngoái đầu nhìn lại. Khi chúng tôi đã chạy khá xa, từ trong những bụi cây đó có một nhóm năm người đi ra, họ mặc quân phục Đức, và mang theo vũ khí. Về tới nhà, tôi kể cho Mẹ nghe chuyện xảy ra với chúng tôi và những gì mà chúng tôi đã thấy. Một nhóm binh sĩ và đội Chim Ưng được phái đến hồ. Tất cả năm tên cướp đã bị giết trong cuộc giao tranh, xác chúng được chở về quảng trường trước tu viện cũ, vốn đã bị đốt cháy trong cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất vì bị pháo kích. Xác chết được đặt trên quảng trường, có người canh gác. Chúng được để đó ba ngày, để thân nhân đến nhận. (http://flot.com/upload/blog/b71//BerzinPubl_19.jpg) Không ai muốn chết (Vytautas Zhalakyavichyus). 1965 (http://www.torrentino.tv/torrents/166271) Tôi cùng bọn trẻ em thường đi chơi trong các khu rừng bao quanh Ilukste. Một lần, chúng tôi đi vào rừng dọc theo đường ô tô dẫn về thành phố Daugavpils. Ở đó có rất nhiều chiến hào, trong đó chúng tôi tìm thấy một quả lựu đạn Đức có tay cầm dài, rất thuận tiện cho việc thực hiện động tác ném. Đây là loại lựu đạn cầm tay tấn công chống bộ binh của Đức với cán gỗ kiểu Stielhandgranate. Chúng tôi quyết định sử dụng nó đúng mục đích, tôi tháo nắp chụp ở đầu mút cán, giật nụ xòe và ném quả lựu đạn qua chiến hào, tất cả thụp người xuống đáy công sự, lựu đạn phát nổ khoảng 8 giây sau. Ngoài ra có rất nhiều viên đạn và mẩu TNT. Mỗi người mang chiến lợi phẩm của mình trở về nhà. Trong số chúng tôi có một cậu trai lớn hơn chúng tôi ba tuổi. Cậu mang theo một chai samargon và một miếng thịt xông khói. Tại chỗ nghỉ chân, cậu uống hết chai rượu và chẳng mấy say khướt. Khi chúng tôi đi tiếp, tôi nhìn thấy một trái mìn Đức, nhô ba chiếc râu mìn lên khỏi mặt đất. Đó là một loại mìn được sử dụng rộng rãi trong Chiến tranh thế giới thứ Hai. Nó được thiết kế để chống lại bộ binh tấn công. Người ta phát triển hai phiên bản SMI-35 và SMI-44. Chỉ có một sự khác biệt rất nhỏ giữa hai phiên bản. Trong thời gian quân Đồng minh chuyển sang phản công ở châu Âu, mìn S được gọi bằng một biệt hiệu trứ danh do lục quân Hoa Kỳ đặt cho "Betty nhảy nhót» («Bouncing Betty»). Mìn S có tác động tâm lý lớn đến lực lượng Đồng Minh. Trên mặt trận phía đông nó thường được gọi là "mìn nhái", hoặc theo kiểu Đức "shpringmina". (http://flot.com/upload/blog/b9c//BerzinPubl_20.jpg) Mìn nhái (http://www.popmech.ru/article/1939-minyi-lyagushki/) Tôi hét lên để lũ trẻ phải cẩn thận. Cậu trai say rượu, nhấc cao chân mình qua các râu mìn và bắt đầu dọa chúng tôi chuyện gì sẽ xảy ra, chúng tôi chạy hộc tốc ra đường ô tô vừa chạy vừa la, sau đó cậu ta cũng đến tập hợp cùng chúng tôi. Tôi nhớ lớp học của chúng tôi được người ta phái đi lấy củi trong rừng như thế nào, tại đó chúng tôi xẻ những cây gỗ vừa sức với chúng tôi. Vào mùa thu năm 1945, tôi đọc được trên báo rằng Trường thiếu sinh quân hải quân Nakhimov Riga bắt đầu nhận quân, tôi đã 12 tuổi. Chúng tôi được mượn chiếc xe chiến lợi phẩm của bí thư thứ nhất, Mẹ chở tôi đến Riga, ba đội viên Chim Ưng cùng vũ khí đi hộ tống chúng tôi, bởi vì trên các tuyến đường bộ bọn phỉ vẫn đang hoạt động. Trên đường cao tốc mà chúng tôi đang đi, mới đây thôi đã có ba phi công bị giết chết, họ đi đến Willis. Bọn phỉ lấy dây cáp chăng ngang đường xe chạy. Đến nửa đường thì hỏng thanh kéo lái bánh xe trước bên trái. Chúng tôi dừng lại trên đoạn đường cao tốc mà chúng tôi đang đi, xung quanh hai bên là những cây vân sam khổng lồ, việc xảy ra khi trời đã chuyển về chiều, xung quanh không gian đang tối dần và ảm đạm. Đội viên Chim Ưng lập hàng rào bảo vệ, người lái xe tập trung sửa chữa bằng cách sử dụng "dây thừng và cây gậy". Trên đường cao tốc một người đàn ông đang đến gần chúng tôi, đội viên Chim Ưng chặn anh ta lại kiểm tra giấy tờ, sau đó cho anh ta đi. Vấn đề cuối cùng cũng được giải quyết, và chúng tôi lái xe đi tiếp đến thị trấn gần nhất, ngủ đêm lại đó và chiếc xe đã được sửa chữa. Tiếp theo, chúng tôi lái xe đi đến Riga một cách an toàn, tại đó Mẹ giao tôi và các giấy tờ cho nhà trường. Chiến tranh và thời thơ ấu đã kết thúc, phía trước là sự nghiệp học tập ở trường dự bị hải quân. (http://flot.com/upload/blog/e95//BerzinPubl_21.jpg) Cửa chính vào Nhà Học tập trường dự bị hải quân Nakhimov Riga (trích album của F.G.Kuzovkov). Kopiev Aleksandr Fedorovitch ("Một chút về hạm đội tàu ngầm và những con người của nó"): "Trong Lực lượng Hải quân Xô viết có các đô đốc và sỹ quan như: Golosov Rudolph Aleksandrovitch, Berzin Alfred Semenovitch, Styrov Anatoly Tikhonovitch, Gromov Boris Ivanovitch, Davydovitch Boris Glebovitch, các đại tá hải quân Khraptovitch Albert Ivanovitch, Semenov Arkady Ivanovitch, Vdovin Victor Vladimirovitch, Gontarev Valery Pavlovitch, Lyudmirsky Isaac Iosìovitch, Gnatusin Fedor Ivanovitch - họ bây giờ sống ở Moskva và St Petersburg, Obninsk, Vladivostok Họ không trở thành các tư lệnh hạm đội và tư lệnh các đơn vị chỉ vì một lý do duy nhất: họ gọi sự vật bằng đúng tên gọi của nó, gây khó chịu cho các thủ trưởng cấp trên, họ là các chuyên gia viết bằng chữ hoa, họ tôn trọng mọi người và luôn lo lắng cháy bỏng cho hạm đội ". (http://flot.com/upload/blog/eed//BerzinPubl_22w.jpg) Alfred Semenovitch Berzin sinh ngày 19 tháng 6 năm 1933 tại thị trấn Krasnogorsk, tỉnh Moskva. Đào tạo: Tốt nghiệp năm 1955 Trường cao đẳng tàu ngầm hải quân VVMUPP tại Leningrad (ВВМУПП - Высшее военно-морское училище подводного плавания) - (khoa hoa tiêu, chuyên ngành "sĩ quan-hoa tiêu tàu ngầm"); năm 1963 - khóa 6 Lớp Bổ túc Cao cấp Chuyên ngành cho Sỹ quan Hải quân VSOK 6 (khoa chỉ huy, chuyên ngành "thuyền trưởng tàu ngầm"); năm 1974 - AKOS (Академические курсы офицерского состава - bổ túc chương trình học viện cho thành phần sỹ quan) VMA (chuyên ngành "tham mưu-chỉ huy, tác chiến-chiến thuật Hải quân"). Quá trình phục vụ: học viên khóa 1 Cao đẳng tàu ngầm hải quân VVMUPP (08.1951); trưởng nhóm bánh lái ngành hoa tiêu tác chiến (ngành 1) tàu ngầm "S-264" đề án 613 hạm đội Baltic (10.1955); trưởng ngành 1-4 tàu ngầm "S-264" đề án 613 hạm đội Baltic (06.1957); thuộc quyền trực tiếp của tư lệnh lực lượng tàu ngầm hạm đội Baltic (11.1958); trợ lý thuyền trưởng "S-163" đề án 613 hạm đội Baltic (07.1960); trợ lý chính của thuyền trưởng "S-279" đề án 613 hạm đội Baltic (09.1961); học viên VSOK Hải quân (12.1962), trợ lý thuyền trưởng "K-56" hạm đội Thái Bình Dương đề án 675 (07.1963); trợ lý chính thuyền trưởng "K-31" đề án 675 hạm đội Thái Bình Dương ( 10.1965), thuyền trưởng "K-184" đề án 675 hạm đội Thái Bình Dương (02.1969); học viên AKOS VMA (10.1973); thuộc quyền Tổng tư lệnh Hải quân, Leningrad (07.1974); Tham mưu trưởng-Phó tư lệnh sư đoàn tàu ngầm số 26 hạm đội Thái Bình Dương (08.1974); Phó tư lệnh sư đoàn tàu ngầm số 10 hạm đội Thái Bình Dương (09.1976); Tư lệnh sư đoàn tàu ngầm số 10 hạm đội Thái Bình Dương (08.1977); Chủ nhiệm khoa Hệ Bổ túc Cao cấp Chuyên ngành cho Sỹ quan Hải quân VSOK (08.1982). Khen thưởng: Huân chương Sao Đỏ (1972), "Phục vụ Tổ quốc trong lực lượng vũ trang Liên Xô" bậc 3 (1988) và các huy chương "40 năm lực lượng vũ trang Liên Xô" (1957), "Phục vụ gương mẫu" bậc 3 (1962), "20 năm ngày Chiến thắng Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại 1941-1945" (1965), "Phục vụ gương mẫu" bậc 2 (1967), "50 năm lực lượng vũ trang Liên Xô" (1967), "Vì lòng dũng cảm của quân nhân nhân dịp kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của Lenin" (1970), "Phục vụ gương mẫu" bậc 1 (1971), "60 năm lực lượng vũ trang Liên Xô" (1978), "Cựu chiến binh lực lượng vũ trang Liên Xô" (1984), "70 năm lực lượng vũ trang của Liên Xô" (1988). Tham gia các chiến dịch phục vụ chiến đấu tại: Bắc Đại Tây Dương, Biển Philippine, "Biển Nam Trung Hoa", Bắc Băng Dương, Bắc Thái Bình Dương, Biển Baltic. Có giấy phép điều khiển tàu ngầm các đề án 613, 675, 675MK, 670. (http://flot.com/upload/blog/29c//BerzinPubl_23.jpg) Những tặng vật gần gũi và vô cùng thân thiết với trái tim người chiến sỹ tàu ngầm và luôn được gìn giữ cẩn thận. (http://flot.com/upload/blog/d8c//BerzinPubl_24.jpg) Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 20 Tháng Mười, 2012, 06:54:30 pm (tiếp theo post #120)
Cuộc đời trong ống kính tiềm vọng. Ảo ảnh của một thủy thủ tàu ngầm còn sót lại. Chuẩn đô đốc A.T.Shtyrov. SỰ KHUYẾN KHÍCH ĐỐI VỚI CÔNG VIỆC PHỤC VỤ TRÊN TÀU NGẦM "Các công nhân lái máy kéo ngầm dưới nước" không được người ta nuông chiều bằng huân chương. Nếu huân chương được trao, thì người ta rất keo kiệt và hầu hết là được phân phối trong các dịp lễ kỷ niệm: "tặng tất cả các chị em bông đeo tai". Được quan tâm nhất trong thời làm Tổng tư lệnh Hải quân của của Đô đốc hạm đội S.Gorshkov là hạm đội hạt nhân. Những con người của hạm đội hạt nhân thường xuyên được trao tặng huân chương, dù rằng các thủy binh hạm đội tàu ngầm diesel đôi khi hoạt động trong các điều kiện khó khăn hơn nhiều, mà họ phải thực hiện những nhiệm vụ không kém phức tạp hơn. Danh hiệu Anh hùng thì các thủy thủ tàu ngầm diesel "các chàng lái máy kéo" rõ ràng không với tới. Nhưng Tổng tư lệnh nhìn xa trông rộng và khôn ngoan đã khéo léo dập tắt những bất mãn nội bộ. Ông lập ra một huy hiệu-huy chương cài ngực áo "Vì chuyến hành quân xa" («За дальний поход») với hình ảnh biểu tượng một chiếc tàu ngầm (sau này đối với các thủy binh tàu mặt nước - đó là biểu tượng miêu tả một chiếc tàu tuần dương). Những phù hiệu này được Tổng tư lệnh Hải quân trao tặng đích danh theo sắc lệnh và nhiều khi còn có giá trị cao hơn cả huân chương. Cũng đáng để xem các thủy thủ và hạ sỹ quan tự hào thế nào khi gắn phù hiệu đó lên đồng phục của mình, và các trung úy gắn lên áo khoác, khi đi nghỉ phép tại Sosnovka và Berezovka thân yêu. Tuy nhiên, giống như tất cả mọi thứ trong Cường Quốc của chúng ta, chiếc phù hiệu-biểu tượng này nhanh bị mất giá: các thủy thủ tàu ngầm hạt nhân bắt đầu đẽo gọt phù hiệu riêng của họ, luôn luôn là một chú "cá heo"; các nỗ lực của cơ quan chính trị làm cho việc tặng thưởng huy hiệu "Vì chuyến hành quân xa" trở nên dễ dàng với tất cả những người được rời bờ ra biển ít nhất là nửa ngày: các thanh tra viên, nhà báo, nghệ sĩ, "các sếp" nông trang tập thể. Sau này người ta bắt đầu phát hành huy hiệu cho một nhóm người, cho bất kỳ ai muốn có. Niềm tự hào của thủy thủ tàu ngầm chuyên nghiệp đã mất giá như vậy đấy. (http://flot.com/upload/blog/d24//ShPubl3_73.jpg) Cũng có những khuyến khích vật chất, chẳng hạn: nếu bạn đi biển xuyên đại dương, tàu của ban vượt qua các kinh tuyến và vĩ tuyến cụ thể (mỗi hạm đội - có quy định của nó) thủy thủ được thanh toán thêm các món "bonus" (thay thế cho đồng rúp chuyển đổi được), mà các thủy thủ thực sự không nghĩ được phải làm gì với nó. Đã có phát sinh việc đầu cơ từ một số nhà chỉ huy hải quân, đánh tráo món bonus trả cho thủy thủ gấp đôi lên bằng đồng rúp. Nhưng đây là những trường hợp riêng lẻ. Trong tài liệu này tôi không đề cập đến tên của những người (họ có chức vụ cao), đã phá vỡ sự nghiệp của mình với những vụ áp phe xấu xa như vậy. Thủy thủ tàu ngầm được hưởng quyền ưu tiên nhận vé đi an dưỡng, được tạo việc làm cho các bà vợ trong các doanh trại đồn trú hỗn hợp, họ được nhận quân hàm sỹ quan sơ cấp sớm hơn một chút và có thể về hưu cũng sớm hơn một chút. KỶ LUẬT Vấn đề kỷ luật trên tàu ngầm luôn luôn khác hẳn vấn đề kỷ luật trên tàu mặt nước. Các tập thể trên tàu ngầm gắn bó với nhau nhiều hơn hoặc kém hơn sẽ là nhân tố quan trọng trong việc đảm bảo bảo vệ con tàu chống lại những tiêu cực phổ biến trên các tàu mặt nước lớn. Thứ nhất, thủy thủ đoàn tàu ngầm quân số ít hơn và "ai cũng biết rõ nhau"; thứ hai, việc tuyển chọn của cấp chỉ huy quân sự nghiêm ngặt hơn - không phải ai người ta cũng chọn xuống tàu. Và thứ ba, ở một mức độ nào đó, đối với thủy thủ tàu ngầm câu châm ngôn cũ này vẫn luôn chiếm ưu thế: "trên tàu ngầm nếu chết thì tất cả cùng chết". (http://flot.com/upload/blog/d09//ShPubl3_74.jpg) Hadjiev Magomed Imadutinovitch (http://museum-polar.narod.ru/): "Không ở đâu có thể có được sự bình đẳng trước cái chết như với thủy thủ đoàn tàu ngầm, tại đó hoặc mọi người đều chết hoặc mọi người đều chiến thắng". Án mạng thì không bao giờ. Các cuộc ẩu đả không được khuyến khích. Việc khua khoắng đồ trên hầu hết các tàu ngầm là không có. Việc ma cũ ma mới bắt nạt nhau cũng không. Không chỉ với các tàu "xuất sắc", mà các tàu bình thường, tầm thường đi nữa thì niềm tự hào về con tàu, về kíp thuyền viên, về nghề nghiệp lao động cực nhọc của mình luôn luôn tồn tại. Có những khoảnh khắc khi một bộ phận các thủy thủ bị giải nhiệm lên bờ (do bệnh tật, hoặc vì các lý do khác) họ sẽ phẫn nộ phản đối: "Anh không có quyền! Tôi sẽ phục vụ đến cùng trên con tàu của tôi! Tôi sẽ phản đối lên tận Tổng tư lệnh!". Và điện tín của thủy thủ chuyển tải một cách chính xác thông tin về những con tàu, ở đó: người quân hàm cao hơn - gọi là "anh" và họ không xúc phạm người chỉ huy trẻ tuổi - còn những con tàu khác - tất cả đều như nhau. Nhưng tất cả những điều này, tất nhiên chỉ là phần "hoa thơm". Còn có cả những món "độc dược". Về cơ bản, chúng được diễn đạt tùy ý và theo "thói quen" của tập thể. Gián tiếp góp phần tạo ra điều đó là "phương pháp giáo dục-thuyết phục" và kỷ luật kế toán thống kê kép. Tại các đơn vị áp dụng phổ biến một hệ thống hồ sơ kỷ luật ranh mãnh và phức tạp: nếu một thủy thủ say rượu bị bắt trong lãnh địa của đơn vị, mà không phải thuộc quyền chỉ huy của đơn vị đồn trú - số liệu thống kê không tính; một "tập thể" sẽ chịu trận do một hành vi vi phạm kỷ luất thô bạo, thêm một lần nữa, nếu nó qua tay ban quân quản. Có những trường hợp được ghi nhớ khi tại căn cứ hải quân, nơi có hàng ngàn thủy thủ quân sự, trong những ngày lễ XHCN lớn, người ta không ghi nhận được bất kỳ vụ say rượu nào, trừ khi một trong các thủy thủ tàu ngầm tỉnh dậy trên chiếc giường kỷ luật của ban quân quản (http://www.autolada.ru/viewtopic.php?t=273078). Đó sẽ là một bản ghi của anh, văn phòng ban quân quản sẽ chế ra miếng bánh của mình. (http://flot.com/upload/blog/f0d//ShtPubl4_1.jpg) Trên các tàu mặt nước cỡ lớn họ có những hình phạt riêng (mặc dù trái phép); các đơn vị tàu ngầm không bố trí nhà giam. Người ta cho rằng đối với đời phục vụ của họ - đó là các doanh trại đơn vị đồn trú. Doanh trại thì luôn đông đúc như kiểu Trung Quốc. Có một vấn đề tồn tại đã lâu: làm thế nào để tống giam một thủy thủ đã bị tuyên bố bắt giữ? Vì vậy, trước khi tuyên bố bắt giữ cậu thủy thủ nghịch ngợm, người chỉ huy suy nghĩ rất lung cách làm sao thực hiện quyền lực của mình mà không phải thấy những nụ cười ranh mãnh trong hàng quân? Ở đây có một phương pháp đã được chứng minh sẽ trợ giúp ta rất tốt: biên bản bắt giữ được ghi thêm hiện vật đi kèm (chai rượu "sil" và hộp cá taranka). Hiện vật tác động rất tốt - "anh hãy kê biên thêm cho chính mình - cả một đường phố màu xanh lá cây". Để lấy chỗ giam những tên cướp biển gan dạ dưới lòng biển, chất "bộ binh" được giũ sạch khỏi phòng, các thủ trưởng "lục quân", theo lệ thường, không nâng chiến lược kỷ luật lên một tầm cao như thế. Tôi có một câu chuyện đáng nhớ. Năm 1955. Bộ trưởng Quốc phòng Zhukov đến thăm vùng Viễn Đông. Người ta sợ Zhukov đến mức mắc chứng nói lắp và hội chứng gấu đông. Tại lữ đoàn tàu ngầm Ensk, nơi đang gấp rút chuẩn bị chúc mừng cuộc viếng thăm của Nguyên soái, tất cả doanh trại nhà cửa được lau sạch sẽ, người ta cạo sạch hà cầu tàu, giẫy cỏ dọn sạch ổ mối kiến. Có người sực nhớ ra: còn đường ray nữa (để vận chuyển ngư lôi từ kho vũ khí ra cầu cảng) - nó đang bị gỉ! Người ta bỏ ra một số lượng lớn công sức, đánh gỉ, lấy vải chà kỹ, bôi trơn bằng dầu mỡ. Bóng nhoáng! Tất cả tập hợp thành đội ngũ. Mọi người mặc quân phục mới tinh. Bộ trưởng - được trông chờ từng phút. Ban chỉ huy lữ đoàn chạy lên chạy xuống dọc hàng quân, gặm ngón tay, cọ ngón chân mà lo lắng. Người ta bố trí qua cánh cổng mở sẵn - để nhìn thấy từ xa - các thông tín viên đánh tín hiệu tay trá hình. Cuối cùng họ cũng đánh về tín hiệu "Sếp đang đến! Xe đang đến! " Tất cả cứng đờ người. Đúng lúc đó, các thủy thủ phòng nồi hơi chụp cho chú dê Vaska của doanh trại một chiếc áo sọc xanh thủy thủ rách nát, họ xoắn đuôi của nó và thả nó chạy rông. Tức giận bởi thái độ này, cậu dê cưng Vaska hí lên một tiếng "be!" rất to và vội vã lao ra với cộng đồng hải quân, đang đứng nghiêm chết cứng trong hàng lối ngay ngắn. Đúng là một vụ bạo động. Thủ trưởng Lữ đoàn vò đầu bứt tai: "Đuổi đi ngay! Giết ngay tên vô lại!" Nhưng con dê khéo léo lách vào giữa các hàng quân, nó vừa rung rung râu vừa cố gắng dùng sừng húc những người muốn bắt nó. May thật là may, các cậu đánh tín hiệu đã lầm: thay vì Bộ trưởng đi trên xe jeep thì lại là một quan chức quân sự nào đó. Còn Bộ trưởng đã đột ngột thay đổi lộ trình của ông. May thay ... (http://flot.com/upload/blog/6af//ShtPubl4_2.jpg) Bộ trưởng Quốc phòng Nguyên soái Liên bang Xô viết G.К. Zhukov với các nhà chỉ huy quân sự Liên Xô. Năm 1955 (http://www.auction-imperia.ru/wdate.php?t=offline&i=18659). Từ trái sang phải: Chủ tịch Ủy ban An ninh Quốc gia trung tướng I.А.Serov, Phó Tổng tư lệnh Không quân Nguyên soái Không quân А.А.Novikov, G.К.Zhukov, Thứ trưởng thứ nhất Bộ Quốc phòng Liên Xô, Tổng tư lệnh Hải quân N.G.Kuznetsov, Phó Tổng tư lệnh thứ nhất Hải quân phó đô đốc S.G.Gorshkov. NHỮNG "CHA ĐẺ" NỔI TIẾNG CỦA HẠM ĐỘI TÀU NGẦM DIESEL Trong khi giành sự kính trọng sâu sắc cho những người sáng lập và các "cha đẻ" của hạm đội tàu ngầm diesel, tác giả nói chung không định "đưa" họ ra dưới dạng một sự phản ảnh kiểu lý lịch hóa. Và tôi cố gắng xác định họ trong câu chuyện lịch sử như cách mà họ được nhìn nhận và nhớ đến trong những năm khó quên của đời phục vụ tàu ngầm bởi các học trò và cấp dưới của mình. Tất cả chúng ta - không phải là thiên thần với đôi cánh bằng sáp. Tuy nhiên, "không được lãng quên ai, không có gì bị quên lãng". Và những con người ấy, các bậc thầy chân chính trong ngành nghề của mình, đôi khi vẫn bị lãng quên một cách không xứng đáng. (http://flot.com/upload/blog/683//ShtPubl4_3.jpg) Savitch-Demyanyuk Vasily Ivanovitch (http://www.town.ural.ru/ship/means/mens_s.php3) (đầu những năm 195x là tư lệnh sư đoàn tàu ngầm của Hạm đội 7, sau đó - chỉ huy lực lượng tàu ngầm Hạm đội Biển Đen, chuẩn đô đốc). Ông là mối đe dọa với các chỉ huy đơn vị tàu ngàm và các căn cứ bờ. Sự đòi hỏi của ông cao đến khắc nghiệt. Một con người tự hào và tàn nhẫn. Một nhà giáo dục thông minh cho các thủy thủ tàu ngầm trẻ tuổi thế hệ đầu tiên sau chiến tranh. Chính là ông trong thời đại Beria (1952, Kamchatka), bất chấp các hướng dẫn nghiêm ngặt từ Moskva đã ngay lập tức thu hồi và trả về bản sao duy nhất (để tiêu hủy) công trình của Giáo sư-Đô đốc A.Tomashevich "Hoạt động của các lực lượng hải quân đồng minh trong các chiến dịch vận chuyển đường biển trên không gian chiến trường Biển Bắc", giữ lại và buộc viết lại bằng tay "cho hậu thế". Bề ngoài trông ông giống như N.Lunin nổi tiếng, theo tính cách và ý chí không gì lay chuyển - ông là nguyên mẫu của "Đức Cha Doenitz" (đối với các thủy thủ tàu ngầm trẻ). Do kết quả các âm mưu của Mát-xcơ-va, ông đã chết sớm vì một cơn đau tim. (http://flot.com/upload/blog/6cd//ShtPubl4_4.jpg) Khiainen Lev Petrovitch (http://submarine-at-war.ru/mens/hiyaynen_l_p.html) (giữa những năm 195x - chỉ huy lực lượng tàu ngầm Hạm đội Thái Bình Dương, chuẩn đô đốc, và sau đó - Trưởng khoa tại Học viện Hải quân). Trong môi trường các thủy thủ tàu ngầm ông có biệt danh Đức Cha Khi. Ông rất nghiêm khắc. Thủy thủ tàu ngầm rất sợ ông, đặc biệt cảm thấy những yếu điểm bí mật của bạn. Không bao giờ ông tha thứ cho thái độ bất cẩn với những chiếc tàu ngầm và công việc phục vụ. Một cuộc kiểm tra có thể sẽ bắt đầu từ một cuộc "bò sấp" của cá nhân trong hầm tàu với một cái gì đó trong tay hoặc từ lan can tháp chỉ huy tàu ngầm; khi có dù chỉ một thiếu sót nhỏ ông cũng không bao giờ tiếp nhận bất kỳ bản báo cáo hoặc lời phân trần nào. Nhà tư tưởng chính và nhà thực hành áp dụng vào hạm đội các phương pháp sử dụng các tàu ngầm diesel chiến đấu theo nhóm trong đội hình thê đội và nhóm chiến thuật. Những ý tưởng này đã không được phát triển và thực hiện bởi vì thời gian của nó chưa tới. ......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 17 Tháng Mười Một, 2012, 05:13:51 pm Sách Lịch sử Công binh Mỹ ở Việt Nam 1965-1970 có một số tư liệu về quá trình xây dựng căn cứ Cam Ranh:
http://www.history.army.mil/books/Vietnam/Engineers/ Chương 3 : http://www.history.army.mil/books/Vietnam/Engineers/ch3.htm#p42 (http://www.history.army.mil/books/Vietnam/Engineers/pic-39.jpg) Cam Ranh, tháng 8 năm 1965. và chương 4: http://www.history.army.mil/books/Vietnam/Engineers/ch4.htm#p52 (http://www.history.army.mil/books/Vietnam/Engineers/pic-52.jpg) Cầu tàu tại Cam Ranh trong quá trình xây dựng. Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 17 Tháng Mười Một, 2012, 05:47:23 pm Video về lịch sử xây dựng căn cứ Cam Ranh:
http://www.youtube.com/watch?v=LswzKY5BMOw http://www.youtube.com/watch?v=qW70-3gGo_s http://www.youtube.com/watch?v=xhkZWJKIsvk TT Mỹ Johnson và tướng Oét tại Cam Ranh: http://www.youtube.com/watch?v=mw2ELwrqOPs Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 17 Tháng Mười Một, 2012, 06:02:53 pm 16 video về Cam Ranh giai đoạn là căn cứ Mỹ:
http://www.youtube.com/playlist?list=PLD38AA0F71230D7BA Căn cứ bị pháo binh và đặc công Việt Nam tấn công: http://www.youtube.com/watch?v=WDHTFo82BQo http://www.youtube.com/watch?v=Ubl2-OsMgcw Mỹ rút: http://www.youtube.com/watch?v=LSdOOqOYokY Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 17 Tháng Mười Một, 2012, 06:46:31 pm Phi đội trinh sát đặc nhiệm P2E (chặn bắt thông tin vô tuyến, giải mã) đóng tại Cam Ranh 1965-1972:
http://www.youtube.com/watch?v=M3l6s47Ym6U http://www.youtube.com/watch?v=2uP0Fd1SN5I http://www.youtube.com/watch?v=YVFAycE3XlQ Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: Trần Anh trong 18 Tháng Mười Một, 2012, 05:36:58 pm Xin phép bác qtdc cho em dán bàn này vào đây ;D:
Người Trung Quốc nói về yếu tố Mỹ, Nga ở vịnh Cam Ranh Vịnh Cam Ranh hết sức quan trọng đối với Việt Nam, nó có khả năng khống chế đối với bất cứ đảo nào tại Biển Đông, cao hơn bất cứ căn cứ hải quân nào của Trung Quốc hiện nay. (http://i1150.photobucket.com/albums/o617/redsvn/slide/slide-camranh.jpg) Trang “Quan điểm Trung Quốc” mới đây đăng bài viết “Nhân tố Mỹ, Nga trong vấn đề vịnh Cam Ranh” của chuyên gia bình luận quốc tế Cao Vinh Vĩ, có nội dung như sau: Trên toàn cầu, rất hiếm có một cảng biển như vịnh Cam Ranh của Việt Nam. Trong chưa đến 100 năm, vịnh Cam Ranh lần lượt trở thành căn cứ quân sự của các nước lớn như Mỹ, Nga – nó từng tập trung hàng trăm tàu chiến của thời Nga Hoàng; từng được Mỹ xây dựng thành “cứ điểm hải quân trọng yếu và xa hoa nhất châu Á”; đồng thời nó cũng từng là căn cứ quân sự lớn nhất bên ngoài lãnh thổ của Liên Xô trước đây. 1. Vịnh Cam Ranh có giá trị chiến lược đặc biệt quan trọng Vịnh Cam Ranh rốt cuộc là một cảng biển như thế nào, vì sao vai trò của nó lại quan trọng đến mức khiến các cường quốc trên thế giới đua nhau tranh giành, đằng sau các động thái này là gì? Cảng Cam Ranh nằm ở phía Đông Nam tỉnh Khánh Hoà của Việt Nam, cách quần đảo Nam Sa (quần đảo Trường Sa của Việt Nam) khoảng 600 km, cửa vịnh hẹp, địa thế hiểm yếu, dễ phòng ngự, là một trong những cảng nước sâu tự nhiên tốt nhất trên thế giới. Vịnh Cam Ranh nắm giữ yết hầu của Nam Hải (Biển Đông), là con đường chiến lược thông sang Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, chỉ cách tuyến đường biển quốc tế nối liền Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương khoảng 1 giờ hành trình, có thể khống chế eo biển Malắcca và eo biển Singapo, ngoài ra còn có thể tiến hành theo dõi, giám sát điện tử đối với khu vực Đông Bắc Ấn Độ Dương, vịnh Pécxích. Đông Hải (Biển Hoa Đông) và Nam Hải. Tại đây tàu sân bay và hàng trăm tàu chiến có thể cập bến, và được coi là quân cảng số một châu Á. Toàn bộ vịnh Cam Ranh được các ngọn núi có độ cao trung bình khoảng 400m bao bọc xung quanh, địa thế hiểm yếu, kiểm soát cao điểm nên rất dễ bố trí canh phòng, thuận tiện cho việc phòng thủ, có thể triển khai tên lửa phòng không và các loại pháo cao xạ. Tại đây, các tàu hàng chục triệu tấn có thể tự do ra vào, đồng thời có thể làm điểm đỗ cho khoảng 40 tàu chiến cỡ lớn, bao gồm cả tàu sân bay hoặc hơn 100 tàu chiến có trọng tải dưới 40.000 tấn, hơn nữa do cửa vịnh hẹp, cảng vịnh nằm sâu trong lục địa khoảng 17km, nên có giá trị hết sức to lớn về mặt quân sự. Hơn một thế kỷ qua, nhiều siêu cường quân sự thay phiên nhau coi vịnh Cam Ranh là báu vật. Là một cảng biển tự nhiên quan trọng của Việt Nam, vịnh Cam Ranh từ xưa đến nay là vùng đất tranh giành của các nước lớn. Năm 1905, trong cuộc hải chiến Nhật-Nga, hàng trăm tàu chiến của Nga Hoàng đã tập trung tại đây. Năm 1935, Pháp bắt đầu thi công xây dựng căn cứ hải quân tại đây. Năm 1940, vịnh Cam Ranh rơi vào tay Nhật Bản, trở thành căn cứ để xâm lược Đông Nam Á. Từ năm 1945 đến 1954, Pháp đóng quân tại đây. Trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam từ năm 1965 đến năm 1967, Mỹ đã đầu tư rất lớn, mở rộng cảng Cam Ranh thành căn cứ quân sự liên hợp hải-lục-không quân và căn cứ tiếp tế hậu cần khổng lồ của Mỹ tại Đông Nam Á. Chiến tranh Việt Nam kết thúc, người Mỹ buộc phải rút chạy. Trước khi Việt Nam thực hiện thống nhất đất nước năm 1975, lần lượt Nga, Pháp, Nhật Bản, Mỹ đã từng sử dụng căn cứ vịnh Cam Ranh. Năm 1979, sau khi ký hiệp định thuê miễn phí 25 năm với Việt Nam, Liên Xô trở thành chủ nhân mới của vịnh Cam Ranh. Sau đó, quân đội Liên Xô đã xây dựng vịnh này thành căn cứ quân sự lớn nhất của mình ở nước ngoài. Sau khi Liên Xô tan rã, Nga tiếp tục kế thừa căn cứ này. Tháng 9/2000, mặc dù Nga đã xoá 85% trong tổng số nợ 11 tỷ USD của Việt Nam, nhưng Việt Nam vẫn tiếp tục yêu cầu Nga mỗi năm phải trả 400 triệu USD tiền thuê vịnh Cam Ranh. Căn cứ tình hình kinh tế khó khăn của đất nước, căn bản không đủ sức gánh vác nên năm 2002, Nga rút khỏi vịnh Cam Ranh trước thời hạn, và quân đội Việt Nam tiếp quản từ đó cho đến nay. Trên thực tế, các tập đoàn quân sự quan trọng trên thế giới, nhất là Mỹ, Nga đã có thời gian dài sử dụng vịnh Cam Ranh, vì vậy luôn có ý muốn quay trở lại vịnh này. Do vị trí chiến lược quan trọng của vịnh Cam Ranh, mấy năm gần đây nó một lần nữa trở thành cứ điểm chiến lược quan trọng tranh giành giữa Mỹ và Nga. .... 2. Mỹ luôn mong muốn kiểm soát vịnh Cam Ranh Sau khi Nga rút quân vào năm 2002, vịnh Cam Ranh đã ít được quan tâm trong cục diện quốc tế nhiều biến động gần 10 năm qua, song cách đây không lâu, một lần nữa nó trở thành tiêu điểm chú ý của dư luận quốc tế. Thứ nhất, Mỹ từ lâu đã muốn tái sử dụng vịnh Cam Ranh nên sớm quan tâm đến vịnh này. Những năm gần đây, sở dĩ Mỹ “từ bỏ hiềm nghi trước đây” đối với Việt Nam, ra sức lôi kéo Việt Nam chính là do muốn quay trở lại vịnh Cam Ranh. Sau Chiến tranh Lạnh, Mỹ luôn chú ý đến vịnh Cam Ranh. Trong thời gian này, Mỹ không ngừng đề xuất mức tiền thuê vịnh Cam Ranh đối với Việt Nam, đặc biệt là năm 1992, sau khi quân đội Mỹ rút khỏi thành trì cuối cùng tại khu vực Đông Nam Á – căn cứ hải quân Subic và căn cứ không quân Clark (Philíppin) nên rất muốn quay trở lại vịnh Cam Ranh, nhưng không thể thực hiện trong bối cảnh các nước xung quanh phản đối. Vịnh Cam Ranh nằm gần Biển Đông hơn so với một số cảng vịnh của Mỹ như tại Yokosuka, thậm chí gần hơn so với căn cứ Changi của Singapo và Busan của Hàn Quốc, có thể nói là nắm chặt yết hầu của Biển Đông, hơn thế nữa là trấn giữ con đường trọng yếu chiến lược quan trọng nhất nối Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương. Vì thế, nhân quay trở lại châu Á, Mỹ tỏ ra tích cực hơn so với các nước khác đối với vịnh Cam Ranh. Lâu nay liên tục có nhũng tin đồn về quân đội Mỹ muốn đóng quân tại vịnh Cam Ranh. Năm 1994, Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ Richard từng đề xuất tái trở lại căn cứ quân sự vịnh Cam Ranh với phía Việt Nam; năm 2002, Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ Blair chính thức đề nghị sử dụng căn cứ hải quân tại vịnh Cam Ranh với Việt Nam, với tiền thuê mỗi năm lên đến 1 tỉ USD; sau khi Obama lên cầm quyền, đồng thời với việc tuyên bố “quay trở lại châu Á”, Mỹ đã nhiều lần lên tiếng nhấn mạnh “quay trở lại Đông Nam Á”, đồng thời tích cực can dự vào các công việc của Biển Đông. Tháng 6/2012, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Panetta thăm chính thức Việt Nam hai ngày. Ngày 3/6, Panetta đã tham quan căn cứ quân sự trước đây của Mỹ tại vịnh Cam Ranh, trở thành quan chức cấp cao nhất của Mỹ thăm vịnh Cam Ranh kể từ khi kết thúc Chiến tranh Việt Nam năm 1975 đến nay. Trong cuộc họp báo chung cùng Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh, Panetta nêu rõ vịnh Cam Ranh là một cảng biển quan trọng, nếu Việt Nam có ý muốn cải tạo khu vực vịnh Cam Ranh và có nhu cầu giúp đỡ, Mỹ sẵn sàng ủng hộ. Hải quân Mỹ sau này có ý muốn thăm định kỳ vịnh Cam Ranh. Panetta nhấn mạnh mục đích chuyến thăm Việt Nam của ông chính là muốn xây dựng lòng tin giữa chính phủ và quân đội hai nước. Mỹ và Việt Nam cần tiếp tục phát triển quan hệ song phương trên các lĩnh vực, đặc biệt là về mặt hợp tác quốc phòng và an ninh. Có tin Việt Nam đã đồng ý cung cấp dịch vụ cho tàu chiến phi chiến đấu Mỹ tại vịnh Cam Ranh. Chuyến thăm của Panetta đồng nghĩa với việc thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận. Một bài viết có tựa đề “đế quốc quay trở lại” đăng trên tờ báo mạng nổi tiếng của Mỹ “Huffington Post” đánh giá: năm 2003 tàu chiến của hải quân Mỹ đã tới thăm Việt Nam; tháng 11/2011, Mỹ-Việt tổ chức diễn tập quân sự chung. Chuyến thăm lần này của Panetta được coi là cao trào, cho thấy quan hệ quân sự Mỹ-Việt được tăng cường hơn. Việt Nam thậm chí yêu cầu Mỹ xoá bỏ lệnh cấm xuất khẩu vũ khí sang Việt Nam. Các dấu hiệu trên cho thấy rõ quyết tâm hợp tác giữa Việt Nam và Mỹ. Từ góc độ của Mỹ; quay trở lại vịnh Cam Ranh, quay trở lại Việt Nam không chỉ có thể tăng cường sự tồn tại quân sự của Mỹ tại Đông Nam Á, mà còn có thể đạt được mục đích kiềm chế Trung Quốc về mặt quân sự. Có chuyên gia quân sự nói thẳng rằng Mỹ bày binh bố trận tại Việt Nam, mũi nhọn trực tiếp là nhằm vào Biển Đông và eo biển Đài Loan. Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: Trần Anh trong 18 Tháng Mười Một, 2012, 05:38:34 pm 3. Nga có khát vọng quay trở lại vịnh Cam Ranh nhàm chấn hưng vị thế cường quốc biển.
Nga cũng đang có những bước chuẩn bị nhằm quay trở lại vịnh Cam Ranh. Sau khi Putin lên cầm quyền, bên cạnh việc tăng cường thực lực tổng hợp quốc gia, Nga bắt đầu vươn dài chiếc vòi chiến lược của hải quân, không quân của mình ra bên ngoài. Putin từng nói thẳng nếu từ bỏ chiến lược xây dựng hải quân, Nga sẽ đánh mất quyền phát ngôn trên vũ đài quốc tế. Trong khi đó, quay trở lại vịnh Cam Ranh không chỉ tạo thuận lợi cho quyết tâm chấn hưng cường quốc biển, mà còn là một trong những bước then chốt nhằm khôi phục sức mạnh uy hiếp chiến lược trước đây của hải quân viễn dương Nga. Ngày 6/10/2010, Bộ Tham mưu Hải quân Nga “đột nhiên” cho biết hải quân Nga đã hoàn thành luận chứng tư liệu liên quan đến việc khôi phục căn cứ hải quân ở Vịnh Cam Ranh. Nếu có thể, trong vòng 3 năm tới họ có thể quay trở lại sử dụng căn cứ hải quân tại vịnh Cam Ranh của Việt Nam. Tờ “Độc lập” của Nga dẫn nguồn tin từ hải quân Nga cho biết lần này Nga sẽ quay trở lại vịnh Cam Ranh theo hình thức cho thuê. Thời gian thuê ít nhất là 25 năm, sau khi kết thúc hợp đồng có thể thương lượng kéo dài. Từ ngày 26/7/2012, Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang thực hiện chuyến thăm chính thức Nga kéo dài 5 ngày. Chuyến thăm Nga của Chủ tịch Trương Tấn Sang không thực sự thu hút sự chú ý của dư luận, nhưng có một điểm được ông đề cập đến đã thu hút mọi con mắt của dư luận quốc tế – đó là vịnh Cam Ranh. Khi trả lời phỏng vấn báo chí Nga, ông Trương Tấn Sang nêu rõ trong thời gian tới, Việt Nam sẽ tăng cường hợp tác quân sự với Nga. Mặc dù ông Trương Tấn Sang nhấn mạnh Việt Nam không có ý hợp tác với bất kỳ quốc gia nào về việc sử dụng vịnh Cam Ranh vào mục đích quân sự, nhưng việc một vị nguyên thủ của Việt Nam đưa ra tuyên bố trên đúng vào dịp 10 năm Nga rút quân khỏi vịnh Cam Ranh, lập tức tạo ra nhiều phán đoán khác nhau. Có lẽ một việc không hoàn toàn ngẫu nhiên là ngày 26/7, Tư lệnh Hải quân Nga Viktor Chirkov cho biết Nga đang bắt tay vào việc triển khai các căn cứ quân sự bên ngoài lãnh thổ Nga. Đồng thời, ông cũng nói: “Chúng tôi đang thương thảo để xây dựng trung tâm sửa chữa trên biển tại Cuba, Xâysen và Việt Nam”. Ngày 27/7, Tổng thống Putin tuyên bố Nga sẽ cung cấp khoản vay khoảng 10 tỷ USD cho Việt Nam. trong đó khoảng 8 tỷ USD dùng vào việc xây dựng nhà máv điện hạt nhân tại Việt Nam. Đáp lại, Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang lập tức bày tỏ phía Việt Nam sẽ cho phép Nga thiết lập một cơ sở sửa chữa tàu thuyềntại cảng Cam Ranh. Vịnh Cam Ranh nhanh chóng thu hút sự chú ý của mọi người, trở thành tiêu điểm quan tâm của thế giới. Putin hào hiệp giúp đỡ, dùng khoản tiền lớn để đổi lấy việc Việt Nam cho phép Nga tiến vào cảng Cam Ranh, mục đích rất rõ ràng đó chính là muốn ngăn cản Mỹ kiểm soát vịnh Cam Ranh, từ đó tìm cách khôi phục sức mạnh răn đe chiến lược của hải quân viễn dương thời Liên Xô trước đây. Hợp tác Nga-Việt trong vấn đề vịnh Cam Ranh đã mở ra cục diện tranh giành Mỹ-Nga xung quanh vịnh Cam Ranh. Ban đầu dường như Nga chiếm thế thượng phong, nhưng không có nghĩa đã đẩy MỸ ra khỏi cuộc chơi. Có một luồng quan điểm cho rằng đối với Việt Nam, ý nghĩa của chính vịnh Cam Ranh không lớn như vậy mà nó nằm ở chỗ các chiến hạm cỡ lớn có thế đồn trú tại đây. Cho nên, Việt Nam một mặt hướng về phía Mỹ, còn mặt khác lại hướng về Nga, lợi dụng giá trị chiến lược của vịnh Cam Ranh để chờ giá cao, hai bên đều không bị mắc tội, coi vịnh Cam Ranh là quân bài trong cuộc chơi giữa Mỹ và Nga. 4.Nhân tố quốc tế đối kháng với Trung Quốc Nhưng nhìn từ phương diện khác, vịnh Cam Ranh hết sức quan trọng đối với Việt Nam, nó có khả năng khống chế đối với bất cứ đảo nào tại Biển Đông, cao hơn bất cứ căn cứ hải quân nào của Trung Quốc hiện nay. Vì thế, Việt Nam chắc chắn sẽ biến nó thành căn cứ quân sự quan trọng nhằm tranh giành Biển Đông với Trung Quốc, từ đó kiểm soát vùng biển này. .... Bộ Ngoại giao Việt Nam nhiều lần cho biết không cho thuê vịnh Cam Ranh sử dụng vào mục đích quân cảng, cho rằng “Việt Nam nhiều lần nhấn mạnh không hợp tác với nước ngoài trong việc sử dụng vịnh Cam Ranh vào mục đích quân sự, nhưng sẽ khai thác tiềm năng của khu vực vịnh Cam Ranh phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc”. .... Ý đồ của Việt Nam phù hợp với lợi ích chiến lược của Mỹ và Nga. Tạp chí “Lợi ích quốc gia” của Mỹ bình luận rằng hợp tác an ninh với Việt Nam là một bộ phận cấu thành quan trọng trong chiến lược quay trở lại châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ, là một trong những sách lược “kiềm chế” Trung Quốc của Chính quyền Obama. .... Đối với Nga, có nhà quan sát chỉ rõ cùng với tình hình Xyri ngày càng căng thẳng, Nga có thể đánh mất căn cứ quân sự duy nhất ở bên ngoài khu vực Liên Xô trước đây. Tại khu vực Đông Nam Á, Nga cũng mong muốn mở rộng sức ảnh hưởng chứ không phải là đối tác và trợ thủ của Trung Quốc. .... Hiện nay, Mỹ và Nga đang tranh giành vịnh Cam Ranh của Việt Nam, chưa biết ai thắng ai thua, nhưng chắc chắn sẽ có một cuộc cạnh tranh thú vị. Căn cứ vào quan hệ hợp tác truyền thống Nga-Việt và những vướng mắc lịch sử Mỹ-Việt, trong cuộc đua giành quyền kiểm soát vịnh Cam Ranh giữa Mỹ và Nga, có lẽ phần thắng nghiêng về phía Nga nhiều hơn. Tuy nhiên, cho dù Mỹ hay Nga có thể giành thắng lợi đều hết sức bất lợi cho Trung Quốc, nhất là nếu Mỹ có thể kiểm soát vịnh Cam Ranh, như vậy đồng nghĩa với việc bóp chặt yết hầu của Biển Đông, tạo thành mối nguy hiểm đặc biệt nghiêm trọng đối với Trung Quốc. .... Nguồn:http://reds.vn/ (http://reds.vn/) Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 13 Tháng Ba, 2013, 02:06:57 am (tiếp theo post #426 phần 1) http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,19157.420.html)
Các cán bộ chủ chốt (http://clubadmiral.ru/camranh/index.php?i=14#text) (http://clubadmiral.ru/camranh/pril.files/image004.jpg) Chuẩn đô đốc Anokhin Ronald Аleksandrovitch, tư lệnh đầu tiên của binh đoàn 17 (1982–1984). Sinh ngày 27.10.1932 tại thành phố Gitomiг CHXHCNXV Ucraina, ngày nay là CH Ucraina, trong một gia đình quân nhân, dân tộc Nga. 1950–1954 — học viên trường Hải quân mang tên М.V.Frunze. 1954–1959 — thuyền trưởng tàu phóng lôi cao tốc, biên đội trưởng tàu phóng lôi Hạm đội Biển Bắc, cảng Liinakhamari. 1959–1960 — học viên khóa sỹ quan cao cấp chuyên ngành Hải quân Liên Xô (VSOK VMF), khoa cán bộ chính trị. Tốt nghiệp VSOK VMF vói điểm xuất sắc. 1960–1966 — thuyền phó chính trị tàu ngầm diesel, trợ lý chính thuyền trưởng tàu ngầm Hạm đội Biển Bắc. 1966–1969 — học viên Học viện Hải quân. Tốt nghiệp Học viện với điểm xuất sắc. 1969–1971 — thuyền trưởng tàu ngầm diesel, trợ lý chính thuyền trưởng tàu ngầm nguyên tử Hạm đội Biển Bắc. 1971–1973 — thuyền trưởng tàu ngầm nguyên tử К-444 đề án 667А phân hạm đội tàu ngầm nguyên tử số 3-Hạm đội Biển Bắc. 1973–1975 — tham mưu trưởng sư đoàn tàu ngầm nguyên tử số 31-Hạm đội Biển Bắc. 1975–1979 — tư lệnh sư đoàn tàu ngầm số 16-Hạm đội Biển Bắc, từ năm 1976 — Hạm đội Baltic. Từ 30.10.1978 chuẩn đô đốc. 1979–1982 — tham mưu trưởng — phó tư lệnh thứ nhất phân hạm đội tàu ngầm nguyên tử số 4-Hạm đội Thái Bình Dương. 1982–1984 — tư lệnh binh đoàn 17-Hạm đội Thái Bình Dương đóng căn cứ trong vịnh và trên bán đảo Cam Ranh; CHXHCN Việt Nam. 1984–1988 — đại diện toàn quyền cao cấp ủy ban quốc gia nghiệm thu tàu Hải quân Liên Xô. Từ 8.07.1988 chuyển ngạch dự bị. Tặng thưởng huân chương «Phục vụ Tổ quốc trong LLVT Liên Xô» hạng III, nhiều huy chương. Từ tháng 8 năm 1988 — biên tập viên khoa học lý thuyết Hải quân tạp chí «Tập san Hàng hải». Từ trần ngày 20.10.1991 tại Моskva; chôn cất tại nghĩa trang Vostriakov. (http://clubadmiral.ru/camranh/pril.files/image005.jpg) Phó đô đốc Kuzmin Anatoly Аlekseevitch, tư lệnh thứ 2 binh đoàn 17 (1984–1987). Sinh ngày 12.03.1933 tại thành phố Leningrad. 1951–1955 — học viên trường Hải quân М.V.Frunze. 1955–1960 — trưởng ngành hoa tiêu quân sự tàu quét mìn căn cứ, tàu cứu hộ tàu ngầm; Hạm đội Baltic. 1960–1961 — trưởng nhóm bánh lái tàu ngầm B-57 đề án 641; Hạm đội Biển Bắc. 1961–1963 — trưởng ngành hoa tiêu quân sự, trợ lý thuyền trưởng tàu ngầm B-116 đề án 641; Hạm đội Biển Bắc. 1963–1965 — trợ lý chính thuyền trưởng tàu ngầm B-95 đề án 641 binh đoàn tàu ngầm số 4; Hạm đội Biển Bắc. 1965–1966 — học viên VSOK VMF. 1966–1969 — thuyền trưởng tàu ngầm B-95. Từ tháng 10 năm 1968 đến tháng 5 năm 1969 B-95 tham gia cuộc thám hiểm dưới tên gọi «Triều cường-2» tại Ấn Độ Dương để khảo sát khả năng trú đóng cơ động của các tàu ngầm và tàu mặt nước; đã vượt qua gần 35 ngàn dặm biển. 1969–1971 — học viên khoa chỉ huy Học viện Hải quân. 1971–1974 — tham mưu trưởng lữ đoàn tàu ngầm 161-Hạm đội Biển Bắc. 1974–1978 — tư lệnh lữ đoàn 69-binh đoàn tàu ngầm số 4. Trong những năm 1977–1978 lữ đoàn 69 dưới sự chỉ huy của ông đã thực hiện các nhiệm vụ quân sự tại Địa Trung Hải với thời gian 14 tháng. Từ 22.02.1978 chuẩn đô đốc. 1978–1981 — tham mưu trưởng — phó tư lệnh binh đoàn tàu ngầm số 4-Hạm đội Biển Bắc. 1981–1984 — tư lệnh binh đoàn tàu ngầm số 6-Hạm đội TBD. Hoàn thiện các phương pháp sử dụng ngư lôi, chỉ huy các cuộc tập huấn về huấn luyện ngư lôi cho các thuyền trưởng tàu ngầm. Từ 28.04.1984 phó đô đốc. 1984–1987 — tư lệnh binh đoàn 17-Hạm đội TBD đóng căn cứ trong vịnh và trên bán đảo Cam Ranh; СHXHCN Việt Nam. 1987–1988 — phó tư lệnh thứ nhất Hạm đội Biển Đen. Năm 1988 tốt nghiệp khóa cao cấp học viện tại Học viện BTTM các LLVT Liên Xô. 1988–1992 — phó Tổng tư lệnh Hải quân Liên Xô về huấn luyện chiến đấu — chủ nhiệm Tổng cục HLCĐ Hải quân Liên Xô. Nắm vững và đưa vào hoạt động 2 đề án tàu ngầm mới. Tiến hành thử nghiệm ngư lôi điều khiển từ xa và các thiết bị của hệ thống phát hiện tàu ngầm, soạn thảo tập bảng bắn ngư lôi, liên tục hoàn thiện phương pháp sử dụng vũ khí ngư lôi. Tham gia biên soạn và hoàn thiện quy phạm và điều lệnh điều khiển tàu ngầm có tính đến sự thay đổi tình hình chính trị-quân sự trong khu vực. Tham gia 6 hoạt động quân sự tại các vùng khác nhau trên các Đại dương Thế giới. Tặng thưởng các huân chương Sao Đỏ, «Phục vụ Tổ quốc trong LLVT Liên Xô» hạng II và III, «Hữu Nghị» của CHXHCN Việt Nam, nhiều huy chương. Từ 1.04.1993 chuyển ngạch dự bị. (http://clubadmiral.ru/camranh/pril.files/image006.jpg) Phó đô đốc Beregovoy Nikolai Nikitovitch, tư lệnh thứ 3 binh đoàn 17 (1987–1991). Sinh ngày 2.10.1939 tại thành phố Kharkov CHXHCNXV Ucraina. Dân tộc Ucraina. 1957–1962 — học viên trường tàu ngầm Hải quân số 2, từ tháng 8 năm 1959 — trường tàu ngầm Hải quân Baltic, từ tháng 8 năm 1960 — khoa hoa tiêu trường Hải quân Hạm đội TBD mang tên S.О.Маkarov. Sau khi tốt nghiệp trường Hải quân phục vụ tại Hạm đội TBD. 1962–1965 — trưởng nhóm bánh lái tàu ngầm B-62 đề án АV611 sư đoàn tàu ngầm 29 binh đoàn tàu ngầm số 15 phân hạm đội quân sự Kamchatka, từ tháng 5 năm 1963 — binh đoàn tàu ngầm số 6-Hạm đội TBD. Tháng 2 — tháng 10 năm 1965 — trưởng ngành hoa tiêu quân sự tàu tuần tra SКR-54 lữ đoàn tàu chống ngầm 202-sư đoàn tàu chống ngầm số 9. 1965–1967 — trưởng ngành hoa tiêu quân sự tàu ngầm S-88 lữ đoàn số 90-binh đoàn tàu ngầm số 6, từ tháng 7 năm 1966 — lữ đoàn tàu ngầm độc lập 90. 1967–1968 — trợ lý chính thuyền trưởng tàu ngầm hạng trung S-88 lữ đoàn tàu ngầm độc lập 90. 1968–1969 — học viên VSOK VMF. 1969–1970 — trợ lý kíp trưởng kíp thuyền viên số 1 tàu ngầm tuần dương К-116 đề án 675 sư đoàn tàu ngầm số 10 binh đoàn tàu ngầm số 15. 1970–1971 — trợ lý chính kíp trưởng kíp thuyền viên số 1 tàu ngầm tuần dương cận vệ К-116 lữ đoàn xây dựng và sửa chữa tàu ngầm độc lập số 72. 1970–1971 — chỉ huy trưởng kíp thuyền viên số 2 tàu ngầm tuần dương К-94 đề án 675 sư đoàn tàu ngầm số 10 binh đoàn tàu ngầm số 15. 1971–1973 — thuyền trưởng tàu ngầm tuần dương К-94 với kíp thủy thủ số 2. 1973–1978 — thuyền trưởng tàu ngầm tuần dương К-366 đề án 667B, từ tháng 8 năm 1973 — kíp thuyền viên số 1 của К-366, từ tháng 5 năm 1974 — kíp thuyền viên số 2 tàu ngầm К-366. 1978–1983 — sư đoàn phó sư đoàn tàu ngầm số 21. 1983–1987 — phó tư lệnh binh đoàn cơ động chiến dịch chiến thuật số 8 Hải quân Liên Xô. Năm 1984 tốt nghiệp Học viện Hải quân (hàm thụ từ xa). Từ 5.11.1985 chuẩn đô đốc. 1987–1991 — tư lệnh binh đoàn 17-Hạm đội Thái Bình Dương. Từ 1.11.1989 phó đô đốc. 1991–1992 — tư lệnh binh đoàn cơ động số 8-Hải quân Liên Xô. 1992–1994 — phó tham mưu trưởng thứ nhất Hạm đội Thái Bình Dương. Trong thời gian phục vụ tại binh đoàn 8-Hải quân Liên Xô và binh đoàn 17 Hạm đội Thái Bình Dương đã thực hiện các chuyến ghé thăm chính thức và làm việc tại các nước khu vực Ấn Độ Dương và "Biển Nam Trung Hoa". Từ 17.11.1994 chuyển ngạch dự bị. Tặng thưởng các huân chương Sao Đỏ (2), «Phục vụ Tổ quốc trong LLVT Liên Xô» hạng III và II, nhiều huy chương. (http://clubadmiral.ru/camranh/pril.files/image007.jpg) Đại tá hải quân Prisiazhnyuk Anatoly Romanovitch, chủ nhiệm chính trị đầu tiên của binh đoàn 17 (1982–1984). Sinh ngày 21.01.1936 tại làng Pasetchnoie huyện Ostropolsky tỉnh Khmelnitsky (nay là CH Ucraina). Trước khi vào phục vụ các LLVT — hướng dẫn viên huyện đoàn Đoàn TNCS Ucraina tại khu vực trạm máy kéo Ostropolsky, bí thư thứ 2 huyện đoàn Đoàn TNCS Ucraina Ostropolsky. 1956–1959 — học viên trường chính trị hải quân mang tên Zhdanov; thành phố Leningrad. 1959–1963 — bí thư tổ chức Đoàn, thư ký văn phòng Đoàn TNCS, thư ký văn phòng Đảng căn cứ kỹ thuật-hàng không; Hạm đội Biển Đen. 1963–1965 — hướng dẫn viên chính công tác Đoàn thuộc ban chính trị không quân; Hạm đội Biển Đen. 1965–1968 — hướng dẫn viên chính công tác Đoàn thuộc phòng chính trị; Hạm đội Biển Đen. Năm 1967 tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Quốc gia Rostov (hàm thụ từ xa). 1968–1974 — chủ nhiệm chính trị lữ đoàn tàu tên lửa cao tốc — lữ đoàn phó chính trị; Hạm đội TBD. Năm 1972 tốt nghiệp Học viện Chính trị-Quân sự mang tên V.I.Lenin (hàm thụ từ xa). 1974–1978 — chủ nhiệm chính trị lữ doàn tàu tên lửa cao tốc — lữ đoàn phó chính trị; Hạm đội TBD. 1978–1983 — phó chủ nhiệm chính trị căn cứ, phó chủ nhiệm chính trị thứ nhất phân hạm đội hỗn hợp Sakhalin; Hạm đội TBD. 1983–1984 — chủ nhiệm chính trị — phó tư lệnh chính trị binh đoàn 17 Hạm đội TBD; căn cứ Cam Ranh, СHXHCN Việt Nam. 1984–1989 — chủ nhiệm chính trị — phó chủ nhiệm hậu cần; Hạm đội Biển Bắc. 1989–1992 — bí thư đảng bộ ngành hậu cần Hải quân Liên Xô. Tặng thưởng các huân chương: «Phục vụ Tổ quốc trong LLVT Liên Xô» hạng III, Danh dự, Sao Đỏ, nhiều huy chương của LBCHXHCN Xô Viết, huy hiệu của TU Đoàn TNCS Liên Xô «Lòng dũng cảm của quân nhân», 2 huy chương của CHXHCN Việt Nam. Từ 5.04.1992 chuyển ngạch dự bị. Từ tháng 12 năm 2003 đến tháng 10 năm 2007 — một trong các sáng lập viên và chủ tịch CLB «Tình anh em Komsomol hạm đội» — tổ chức xã hội của các cựu cán bộ Đoàn TNCS trong Hải quân, những người mà thời trẻ chuyên trách lãnh đạo trên những cương vị khác nhau tổ chức Đoàn trong Hải quân, sau đó còn tiếp tục phục vụ Tổ quốc lâu dài trên các cương vị quân sự khác nhau tại các vùng khác nhau của đất nước. Từ trần ngày 2.10.2007 tại thành phố Moskva; an táng tại nghĩa trang Preobrazhensk. (http://clubadmiral.ru/camranh/pril.files/image008.jpg) Chuẩn đô đốc Alekseev Oleg Viktorovitch, chủ nhiệm chính trị thứ 2 binh đoàn 17 (1984–1987). Sinh ngày 27.12.1940 tại stanitsa Krym (nay là thành phố Krymsk) huyện Krym, khu Krasnodar trong gia đình quân nhân — phi công máy bay rải mìn-phóng lôi Hải quân Liên Xô. Dân tộc Nga. 1958–1960 — học viên trường kỹ sư vũ khí Hải quân (thành phố Leningrad), sau khi giải thể trường, các năm từ 1960–1963 — học viên trường Hải quân mang tên M.V.Frunze. 1963–1966 — trưởng ngành thủy lôi-ngư lôi, từ tháng 4 năm 1965 — trợ lý thuyền trưởng tàu thử nghiệm «Karp» lữ đoàn tàu thử nghiệm 177-căn cứ Hải quân Leningrad. 1966–1970 — trợ lý công tác Đoàn TNCS cho chủ nhiệm chính trị trường Hải quân mang tên M.V.Frunze, từ tháng 12 năm 1968 hướng dẫn viên chính ban công tác Đoàn TNCS phòng chính trị căn cứ Hải quân và cơ sở đào tạo hải quân tại thành phố Leningrad. 1970–1972 — thuyền phó chính trị tàu ngầm nguyên tử tuần dương mang tên lửa hành trình К-1 đề án 675 sư đoàn 7-phân hạm đội tàu ngầm nguyên tử số 1-Hạm đội Biển Bắc. 1972–1975 — hướng dẫn viên chính ban công tác thanh niên Cục Chính trị Hải quân Liên Xô. 1975–1977 — phó chủ nhiệm chính trị sư đoàn 11-phân hạm đội tàu ngầm nguyên tử số 1-Hạm đội Biển Bắc. 1977–1980 — chủ nhiệm chính trị — phó sư đoàn trưởng về chính trị sư đoàn 33-phân hạm đội tàu ngầm số 1. Năm 1978 tốt nghiệp xuất sắc với huy chương vàng Học viện Chính trị-Quân sự mang tên V.I.Lenin (hàm thụ từ xa). 1980–1984 — trưởng ban cán bộ Cục Chính trị Hạm đội Biển Bắc. 1984–1987 — chủ nhiệm chính trị — phó tư lệnh chính trị binh đoàn 17-Hạm đội TBD (quân cảng Cam Ranh, СHXHCN Việt Nam). 1987–1991 — phó chủ nhiệm chính trị, từ 14 tháng 3 năm 1991 — phòng chính trị -quân sự Hạm đội Вiển Đen. Từ 16 tháng 8 năm 1989 chuẩn đô đốc. Trên các tàu ngầm của phân hạm đội số 1 và trong các cương vị khác nhau đã hoàn thành một số chuyến đi biển xa phục vụ nhiệm vụ chiến đấu, trong đó tháng 8 — tháng 9 năm 1979 trên tàu ngầm К-513 đề án 671RТ với cương vị chủ nhiệm chính trị sư đoàn — hành quân ngầm dưới lớp băng Bắc Băng Dương và nổi lên tại Bắc Cực. Trên các con tàu mặt nước đã thực hiện hơn 10 chuyến đi biển phục vụ chiến đấu. Đã ghé thăm các cảng của Nauy, Rumani, Bulgari, Мalta. В 1989–1991 được bầu làm thành viên Đảng bộ thành phố Sevastopol Đảng CS Ucraina. Được tặng thưởng huân chương «Phục vụ Tổ quốc trong LLVT Liên Xô» hạng III và nhiều huy chương (10) của LBCHXHCN Xô Viết, huy hiệu của TU Đoàn TNCS Liên Xô «Lòng dũng cảm của quân nhân». Ngày 3 tháng 7 năm 1992 chuyển ngạch dự bị vì lý do bệnh tật. (http://clubadmiral.ru/camranh/pril.files/image009.jpg) Chuẩn đô đốc Маtiushin Nikolai Faefanovitch, chủ nhiệm chính trị-quân sự binh đoàn 17 (1987–1991). Sinh ngày 13.11.1943. Dân tộc Nga. 1961–1962 — học viên dự bị trường Hải quân Hạm đội Biển Đen mang tên P.S.Nakhimov, thủy thủ tuần dương hạm hạng nhẹ «Мikhail Кutuzov» Hạm đội Biển Đen. 1962–1967— học viên chính thức trường Hải quân Hạm đội Biển Đen mang tên P.S.Nakhimov. 1967 — tháng 12 năm 1969 — kỹ sư phòng thí nghiệm, kỹ sư chính phòng thí nghiệm căn cứ kỹ thuật-tên lửa phân hạm đội tàu ngầm số 1-Hạm đội Biển Bắc. 1970–1972 — nhóm trưởng thuộc ngành tên lửa kíp thủy thủ thứ nhất tàu ngầm tuần dương К-131 đề án 675 sư đoàn 11-phân hạm đội tàu ngầm số 1, từ tháng 12 năm 1970 — sư đoàn 7-phân hạm đội tàu ngầm số 1. 1972–1973 — học viên VSOK VMF. 1973–1975 — thuyền phó chính trị tàu ngầm B-73 đề án АV611 lữ đoàn 161-binh đoàn tàu ngầm số 4-Hạm đội Biển Bắc. Tháng 9 năm 1974 — tháng 4 năm 1975 — trong biên chế kíp thủy thủ dự bị tại binh đoàn cơ động số 5-Hải quân Liên Xô để thay phiên cho các kíp thủy thủ tàu ngầm diesel binh đoàn 4, rời cảng Аleksandria (CH Ả rập Thống nhất) về nghỉ ngơi tại nhà an dưỡng quân đội Hạm đội Biển Đen. Tháng 5 — tháng 8 năm 1975 — thuyền phó chính trị tàu ngầm cỡ lớn đề án 641 B-440 lữ đoàn 211-binh đoàn tàu ngầm số 4. 1975–1978 — học viên khoa Hải quân Học viện Quân chính Lenin. Tốt nghiệp Học viện xuất sắc với huy chương vàng. 1978–1980 — phó chủ nhiệm chính trị sư đoàn 10-phân hạm đội tàu ngầm nguyên tử số 2-Hạm đội Thái Bình Dương. 1980–1983 — chủ nhiệm chính trị — phó sư đoàn trưởng về chính trị sư đoàn 29-phân hạm đội tàu ngầm nguyên tử số 4. Được bầu thành viên đảng bộ huyện ĐCSLX huyện Olghinsk khu Primorie. 1983–1987 — phó chủ nhiệm chính trị thứ nhất phân hạm đội tàu ngầm nguyên tử số 4. Tháng 8 — 9 năm 1985 tham gia trực tiếp khử xạ tai họa thảm khốc xảy ra trên tàu ngầm nguyên tử K-431 đề án 675 của sư đoàn 29 trong vịnh Chazma. CCB các phân đội nguy hiểm đặc biệt CHLB Nga. 1987–1991 — chủ nhiệm chính trị — phó tư lệnh về chính trị, từ tháng 3 năm 1991 — trưởng ban chính trị-quân sự — phó tư lệnh binh đoàn 17-Hạm đội Thái Bình Dương. Từ 1.11.1989 chuẩn đô đốc. Tháng 10 năm 1991 — tháng 4 năm 1992 — thuộc quyền điều động của Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương. Từ 22.04.1992 chuyển ngạch dự bị. Được tặng thưởng huân chương «Phục vụ Tổ quốc trong LLVT Liên Xô» hạng III, các huy chương của LBXHXHCN Xô Viết, huy chương của nước CHXHCN Việt Nam. 1993–1997 — trưởng ban thanh tra và kiểm định vận tải đường thủy tỉnh Moskva Thanh tra giao thông Nga thuộc Bộ GTVT CHLB Nga. 1997–2008 — phó tổng giám đốc công ty trách nhiệm hữu hạn, từ tháng 2 năm 2009 — trưởng ban, phó chủ tịch thứ nhất ban chấp hành tổ chức xã hội khu vực các đô đốc và tướng lĩnh Hải quân "CLB các đô đốc" («Клуб адмиралов»). ......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 13 Tháng Ba, 2013, 11:11:08 pm (tiếp)
(http://clubadmiral.ru/camranh/pril.files/image010.png) Chuẩn đô đốc Deviataikin Viktor Vasilevitch, tham mưu trưởng đầu tiên binh đoàn 17 (1983–1985). Sinh ngày 25.03.1945 tại tỉnh Gorky. 1963–1968 — học viên trường Hải quân М.V.Frunze. 1968–1969 — trưởng nhóm ngành tác chiến 2 tàu tuần tra đề án 61 lữ đoàn tàu chống ngầm 173-phân hạm quân sự Kamchatka Hạm đội Thái Bình Dương. 1969–1971 — trưởng ngành tác chiến 2 tàu tuần tra đề án 61 lữ đoàn tàu chống ngầm 173-phân hạm Kamchatka Hạm đội Thái Bình Dương. 1971–1972 — trợ lý thuyền trưởng SKR «Lunh» lữ đoàn tàu chống ngầm 173 phân hạm Kamchatka Hạm đội Thái Bình Dương. 1972–1973 — thuyền trưởng SKR «Lunh» lữ đoàn tàu chống ngầm 173 phân hạm Kamchatka Hạm đội Thái Bình Dương. 1973–1976 — học viên Học viện Hải quân mang tên A.A.Gretсhko, thành phố Leningrad. 1976–1978 — tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn tàu chống ngầm 117-lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải 114-Hạm đội Thái Bình Dương. 1978–1980 — tham mưu trưởng — lữ đoàn phó lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải 137-phân hạm Kamchatka Hạm đội Thái Bình Dương. 8.02.1980 lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải 137 chuyển thuộc phân hạm hỗn hợp Sakhalin. 1980–1983 — lữ đoàn trưởng lữ đoàn tàu chống ngầm 202-phân hạm hỗn hợp Sakhalin. 1983–1985 — tham mưu trưởng — phó tư lệnh binh đoàn 17-Hạm đội Thái Bình Dương. Năm 1985 được phong quân hàm «chuẩn đô đốc». 1985–1987 — tham mưu trưởng — phó tư lệnh và ủy viên Hội đồng Quân sự phân hạm hỗn hợp Primorie Hạm đội Thái Bình Dương. 1987–1989 — cố vấn cho Tư lệnh Hải quân CHXHCN Việt Nam — trưởng nhóm cố vấn và chuyên gia cho Hải quân CHXHCN Việt Nam. Hy sinh trong tai nạn máy bay 8.07.1989 khi hạ cánh tại sân bay Cam Ranh trong điều kiện khí tượng phức tạp. V.V.Deviataikin được an táng tại làng Тhái Bình Dương huyện Skotovsk khu Primorie. Chuẩn đô đốc V.V.Deviataikin — một trong những người đầu tiên xây dựng bộ tham mưu binh đoàn 17-Hạm đội Thái Bình Dương. Là người trẻ nhất về tuổi đời trong ban lãnh đạo binh đoàn 17 (được bổ nhiệm cương vị tham mưu trưởng binh đoàn cơ động khi mang quân hàm «trung tá hải quân» ở tuổi 38), biết cách trong thời hạn ngắn nhất tạo dựng và gắn kết bộ tham mưu binh đoàn. (http://clubadmiral.ru/camranh/pril.files/image011.jpg) Chuẩn đô đốc Krasnikov Aleksei Grigorievitch, tham mưu trưởng thứ 2 binh đoàn 17 (1985–1988) Sinh ngày 2.01.1945 tại thành phố Nevel tỉnh Pskov. Dân tộc Nga. 1962–1968 — học viên trường hải quân М.V.Frunze. 1968–1969 — trưởng ngành thủy lôi-ngư lôi tàu tuần tra; Hạm đội Thái Bình Dương; 1969–1970 — trợ lý thuyền trưởng tàu tuần tra; Hạm đội Thái Bình Dương; 1970–1971 — học viên VSOK VMF. 1971–1972 — trợ lý thuyền trưởng tàu tuần tra; Hạm đội Thái Bình Dương; 1972–1976 — thuyền trưởng tàu tuần tra; Hạm đội Thái Bình Dương; 1976–1978 — học viên Học viện Hải quân, thành phố Leningrad. 1978–1980 — tham mưu trưởng lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải. Hạm đội Thái Bình Dương, thành phố Petropavlovsk-Каmchatka; 1980–1982 — cố vấn binh đoàn tàu chiến Hải quân CHXHCN Việt Nam. 1982–1985 — lữ đoàn trưởng lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải. Hạm đội Thái Bình Dương, thành phố Petropavlovsk-Каmchatka. 1985–1988 — tham mưu trưởng binh đoàn 17-Hạm đội Thái Bình Dương; Cam Ranh, CHXHCN Việt Nam. 1988–1990 — học viên Học viện BTTM các LLVT Liên Xô 1990–1994 — tham mưu trưởng phân hạm hỗn hợp Primorie Hạm đội Thái Bình Dương. Năm 1993 được phong quân hàm «chuẩn đô đốc». 1994–1999 — cố vấn tư lệnh Hải quân CH Arab Syri; Từ tháng 11 năm 1999 chuyển ngạch dự bị. Trong thời gian phục vụ quân đội đã ghé thăm chính thức và làm việc với các tàu của Hải quân CHXHCN Việt Nam (đảo Phú Quốc, thị xã Đồ Sơn, cảng Cam Ranh), CH Arab Syri, Ấn Độ (cảng Bombay), Yemen (cảng Aden), đảo Socotra, CH Маldive (cảng Mali), Somali (Моgadisho, Hargais). Được tặng thưởng các huân chương «Phục vụ Tổ quốc trong LLVT Liên Xô» hạng III và II, «Chiến công», các huy chương của LBCHXHCN Xô Viết, LB Nga, CH Arab Syri. (http://clubadmiral.ru/camranh/pril.files/image012.png) Chuẩn đô đốc Pivak Anatoly Ignatievitch, chủ nhiệm thứ 2 ngành cơ điện-hàng hải binh đoàn 17 (1986–1989). Sinh ngày 20.12.1943 tại thành phố Yagodinsk tỉnh Kiev. Người Ucraina. 1961–1962 — học viên dự bị trường kỹ thuật Hải quân Leningrad (ВВМИУ), thợ máy tàu tuần tra Hạm đội Baltic. 1962–1967 — học viên chính thức trường kỹ thuật Hải quân Leningrad. Tốt nghiệp chuyên ngành «thiết bị năng lượng chạy bằng hơi nước» với quân hàm «trung úy-kỹ sư» và được bổ nhiệm thuộc quyền đều động của Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương. 1967 — trưởng nhóm máy tàu-nồi hơi ngành tác chiến 5 tàu-bia SL-77 lữ đoàn tàu chống ngầm 193-căn cứ Hải quân Sovietsk-Gavansk Hạm đội Thái Bình Dương. 1968–1969 — trưởng ngành cơ điện-hàng hải tàu-bia SL-77 lữ đoàn tàu dự bị số 82-căn cứ Hải quân Strelok. 1969–1974 — trưởng ngành tác chiến 5 khu trục hạm «Vkradtchivyi» lữ đoàn tàu dự bị số 82-căn cứ Hải quân Strelok. 1974–1975 — học viên VSOK VMF — lớp kỹ sư-cơ khí trưởng ngành các đơn vị tàu mặt nước. 1975–1979 — trưởng ngành tác chiến 5 BPK «Vikhrevoi» lữ đoàn tàu mặt nước bảo vệ lãnh hải 45-căn cứ Hải quân Strelok. 1979–1982 — lữ đoàn phó ngành cơ điện hàng hải lữ đoàn tàu dự bị số 82-căn cứ Hải quân Strelok. 1982–1984 — học viên Học viện Hải quân mang tên A.A.Gretсhko. 1984–1986 — tư lệnh phó phụ trách ngành cơ điện-hàng hải binh đoàn cơ động số 10-Hạm đội Thái Bình Dương; 1986–1989 — tư lệnh phó phụ trách cơ điện-hàng hải — chủ nhiệm ngành cơ điện-hàng hải binh đoàn 17-Hạm đội Thái Bình Dương. 1889–1993 — viện trưởng viện nghiên cứu khoa học số 40, về công tác cứu hộ-cứu nạn và lặn sâu Bộ Quốc phòng. Năm 1991 được phong quân hàm «chuẩn đô đốc». Từ 1993 chuyển ngạch dự bị. Thiếu tướng quân pháp Nizovtsev Valery Ivanovitch. Luật sư công huân LB Nga. Thời kỳ từ 1989 đến 1991 giữ cương vị Chánh án Tòa án Quân sự căn cứ đồn trú Cam Ranh. (http://clubadmiral.ru/camranh/pril.files/image013.jpg) (http://clubadmiral.ru/camranh/pril.files/image014.jpg) Chuẩn đô đốc Spirin Yuri Fedorovitch, tư lệnh đầu tiên sư đoàn tàu ngầm 38-binh đoàn 17-(1982–1989). Sinh ngày 4.05.1940 tại thành phố Vologda tỉnh Gorky. 1957–1962 — học viên khoa tên lửa trường tàu ngầm Hải quân mang tên Đoàn TNCS Lenin. 1962–1963 — kỹ sư nhóm lắp ráp đơn vị quân sự Tổng cục 12-Bộ Quốc phòng Liên Xô. 1963–1966 — nhóm trưởng ngành vũ khí tên lửa tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa hành trình đề án 675 К-189 sư đoàn tàu ngầm 26-Hạm đội Thái Bình Dương. 1966–1968 — ngành trưởng ngành vũ khí tên lửa tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa hành trình К-189 sư đoàn tàu ngầm số 10-Hạm đội Thái Bình Dương. 1968–1969 — ngành trưởng ngành pháo hạm tàu căn cứ nổi «Đoàn viên TNCS Каmchatka» phân hạm quân sự Kamchatka. Tháng 7 — 12 năm 1969 — trợ lý thuyền trưởng tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa hành trình К-34 đề án 675 sư đoàn tàu ngầm số 10. 1969–1970 — trợ lý chính kíp trưởng kíp thủy thủ số 2 tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa hành trình К-175 đề án 675 sư đoàn tàu ngầm số 10. 1970–1971 — học viên VSOK VMF. 1971–1974 — trợ lý chính kíp trưởng kíp thủy thủ số 2 tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa đạn đạo К-252 đề án 667 sư đoàn tàu ngầm số 8-phân hạm tàu ngầm nguyên tử số 2-Hạm đội Thái Bình Dương. 1974–1979 — thuyền trưởng tàu ngầm nguyên tử tuần dương mang tên lửa đạn đạo К-258 đề án 667АU sư đoàn tàu ngầm số 25-phân hạm đội tàu ngầm nguyên tử số 2-Hạm đội Thái Bình Dương. 1979–1981 — tham mưu trưởng lữ đoàn xây dựng và sửa chữa tàu ngầm độc lập số 72-Hạm đội Thái Bình Dương. 1981–1983 — phó sư đoàn trưởng sư đoàn 8-phân hạm đội tàu ngầm số 2-Hạm đội Thái Bình Dương. Năm 1983 tốt nghiệp Học viện Hải quân mang tên А.А.Gretchko (hàm thụ từ xa). 1983–1989 — sư đoàn trưởng sư đoàn tàu ngầm 38-binh đoàn 17-Hạm đội Thái Bình Dương trú đóng tại cảng Cam Ranh; СHXHCN Việt Nam. Tháng 11 năm 1985 được phong quân hàm «chuẩn đô đố». 1989–1992 — trưởng phòng huấn luyện tàu ngầm Tổng cục HLCĐ Hải quân Liên Xô. 1992–1994 — tham mưu phó BTTM Hải quân. Được tặng thưởng huân chương «Phục vụ Tổ quốc trong LLVT Liên Xô» hạng III, các huy chương của LBCHXHCN Xô Viết, LB Nga và СHXHCN Việt Nam. Từ tháng 9 năm 1994 chuyển ngạch dự bị. 1995–2005 — phó trưởng ban an ninh khách sạn "Меtropol", thành phố Моskva. (http://clubadmiral.ru/camranh/pril.files/image015.jpg) Đô đốc Sysuev Yuri Nikolaevitch, tư lệnh thứ 2 sư đoàn tàu ngầm số 38-binh đoàn 17-Hạm đội Thái Bình Dương (1989–1991). Sinh ngày 6.02.1949 tại làng Vozdvizhenka huyện Mikhailov khu Primorie. 1966–1971 — học viên trường Hải quân mang tên S.М.Кirov. 1971–1975 — ngành trưởng ngành hoa tiêu quân sự, trợ lý chính thuyền trưởng tàu ngầm đề án 613 lữ đoàn tàu ngầm 171‑Hạm đội TBD. 1975–1976 — học viên VSOK VMF. 1976–1977 — trợ lý chính thuyền trưởng tàu ngầm hạng trung S-365 đề án 613 phân hạm đội Кamchatka. 1977–1980 — thuyền trưởng tàu ngầm hạng trung S-224 đề án 613. 1980–1982 — học viên Học viện Hải quân mang tên А.А.Gretchko. 1982–1985 — kíp trưởng kíp thủy thủ số 305-tàu ngầm nguyên tử tuần dương mang tên lửa hành trình đề án 670 sư đoàn tàu ngầm số 10-Hạm đội Thái Bình Dương. 1985–1989 — sư đoàn phó sư đoàn tàu ngầm 28-Hạm đội Thái Bình Dương. 1989–1991 — sư đoàn trưởng sư đoàn tàu ngầm 38-binh đoàn 17-Hạm đội Thái Bình Dương (cảng Cam Ranh, СHXHCN Việt Nam). 1991–1993 — sư đoàn phó, từ 1992 — tư lệnh binh đoàn cơ động số 5-Hạm đội Biển Đen. Từ 1992 chuẩn đô đốc. 1993–1999 — tư lệnh căn cứ Hải quân Kerch-Feodosi — chỉ huy trưởng Trung tâm thử nghiệm khoa học số 31-Hải quân Nga. 1995–1996 — học viên khóa cao cấp Học viện (ВАК-VAK) ВTTM các LLVT LB Nga. Từ 1996 — phó đô đốc. 1999–2003 — chủ nhiệm hệ VSOK VMF — học viện đào tạo bổ sung chuyên ngành. 2003–2009 — hiệu trưởng Học viện Hải quân mang tên N.G.Кuznetsov. 12.06.2004 được phong quân hàm «đô đốc». Chủ tịch hội đồng chuyên gia — cơ quan tư vấn tập thể trực thuộc Tổng tư lệnh Hải quân Nga. Phó tiến sỹ khoa học quân sự. Phó giáo sư. Từ 2009 chuyển ngạch dự bị. Được tặng thưởng các huân chương Sao Đỏ, «Chiến Công», huân chương Đại công tước phong Thánh Dmitri Donskoi, nhiều huy chương. Thành viên hội đồng Liên hiệp Quốc tế các tổ chức xã hội cựu chiến binh hạm đội tàu ngầm và thủy thủ-tàu ngầm. (http://clubadmiral.ru/camranh/pril.files/image016.jpg) Phó đô đốc Sergheev Valery Nikolaevitch, tư lệnh đầu tiên lữ đoàn tàu mặt nước 119 (1983–1985). Sinh ngày 17.08.1938 tại thành phố Ruzhino khu Primorie. 1955–1959 — học viên khoa pháo binh trường Hải quân Hạm đội TBD mang tên S.О.Мakarov. Tháng 9 — 12 năm 1959 — trưởng nhóm điều khiển ngành tác chiến 2 khu trục hạm đề án 30bis «Velitchavyi» lữ đoàn tàu khu trục số 52-sư đoàn tàu chiến số 15-Hạm đội TBD. Tháng 12.1959 — tháng 2.1961 — trưởng nhóm điều khiển ngành tác chiến 2 khu trục hạm đề án 30bis «Vspyltchivyi» lữ đoàn tàu chiến số 174-Hạm đội TBD. Tháng 2.1961 — tháng 8.1961 — trợ lý chỉ huy đại đội pháo vạn năng tuần dương hạm «Đô đốc Lazharev». Tháng 8.1961 — tháng 9.1964 — chỉ huy tháp pháo chính, trưởng nhóm điều khiển tiểu đoàn pháo vạn năng tuần dương hạm «Đô đốc Lazharev». Tháng 9.1964 — tháng 11.1968 — trưởng ngành tác chiến 2 khu trục hạm đề án 56 «Vesky» lữ đoàn tàu tên lửa 175. Tháng 11.1968 — tháng 7.1969 — học viên VSOK VMF, thành phố Leningrad. Tháng 9.1969 — tháng 10.1971 — trưởng ngành pháo hạm, chủ nhiệm PK lữ đoàn tàu chống ngầm 202-Hạm đội TBD. Tháng 10.1971 — tháng 10.1973 — trợ lý chính thuyền trưởng tuần dương hạm «Dmitry Pozharsky». Tháng 10.1973 — tháng 10.1975 — thuyền trưởng BPK «Vladivostok». Tháng 10.1975 — tháng 3.1979 — thuyền trưởng tuần dương hạm «Dmitry Pozharsky». Tháng 3.1979 — tháng 10.1981 — thuyền trưởng tuần dương hạm «Aleksandr Suvorov». Tháng 10.1981 — tháng 7.1982 — học viên khóa Học viện cho sỹ quan thuộc Học viện Hải quân A.A.Gretchko. Tháng 7.1982 — tháng 1.1983 — lữ đoàn trưởng lữ đoàn tàu dự bị số 82. Tháng 1.1983 — tháng 7.1986 — học viên Học viện Hải quân A.A.Gretchko (tốt nghiệp xuất sắc khoa hàm thụ từ xa). Tháng 1.1983 — tháng 3.1985 — tư lệnh lữ đoàn tàu mặt nước 119-binh đoàn 17. Tháng 3.1985 — tháng 4.1987 — tham mưu trưởng — phó tư lệnh thứ nhất binh đoàn cơ động số 8-Hải quân Liên Xô. Tháng 4.1987 — tháng 10.1991 — tư lệnh binh đoàn cơ động số 8-Hải quân Liên Xô. Năm 1990 được phong quân hàm «phó đô đốc». Tháng 10.1991 — tháng 12.1993 — tư lệnh căn cứ Hải quân Kerch-Feodosi — chỉ huy trưởng trung tâm thử nghiệm khoa học số 31-Hải quân Liên Xô. Từ tháng 12.1993 chuyển ngạch dự bị. ........ Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: lantuyet trong 15 Tháng Ba, 2013, 01:11:28 pm Bài viết của bác qtdc trên vnmilitaryhistory được báo Tiền phong đưa lên http://www.tienphong.vn/hanh-trang-nguoi-linh/616807/Giai-mat-cuoc-doi-dau-tau-ngam-o-Bien-Dong-ky-I-tpol.html
Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 15 Tháng Ba, 2013, 08:12:18 pm Bài viết của bác qtdc trên vnmilitaryhistory được báo Tiền phong đưa lên http://www.tienphong.vn/hanh-trang-nguoi-linh/616807/Giai-mat-cuoc-doi-dau-tau-ngam-o-Bien-Dong-ky-I-tpol.html Ồ, cám ơn bác lantuyet thông tin. Các bạn Tienphong mắc mấy lỗi:- Tàu ngầm Mỹ Guardfish không phải là tàu ngầm chiến lược. Nó là tàu ngầm chiến thuật thôi, hay gọi là tàu ngầm nguyên tử tấn công nhanh lớp Thresher (the Thresher class was a class of nuclear-powered fast attack submarines) hay Permit-class cũng vậy. Ký hiệu tắt phân loại của nó là SSN, tàu Guardfish có ký hiệu SSN-612. - Tình hình tương tự như vậy với Echo-II (đề án 675). - Ảnh chân dung chuẩn đô đốc Berzin (thuyền trưởng K-184 năm 1972, đối đầu cùng David Milton thuyền trưởng Guardfish) thực ra là ảnh phó đô đốc A.V.Konev (năm 1972 là thượng úy hải quân, hoa tiêu trên K-184 trong cuộc đối đầu tháng 5 năm đó tại Biển Đông giữa tàu ngầm Mỹ với các tàu ngầm Xô Viết của sư đoàn tàu ngầm số 26 Hạm đội Thái Bình Dương). Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 15 Tháng Ba, 2013, 09:19:56 pm (tiếp)
(http://clubadmiral.ru/camranh/pril.files/image017.jpg) Phó đô đốc Ustimenko Yuri Gavrilovitch, tham mưu trưởng thứ nhất lữ đoàn tàu mặt nước 119 (1982–1985), tư lệnh thứ 2 của lữ đoàn tàu mặt nước 119 (1985–1987). Sinh ngày 19.05.1946 tại cảng Vladimir khu Primorie trong gia đình quân nhân. Dân tộc Ucraina. 1960–1961 — công nhân chế tạo công cụ tại nhà máy đồng hồ Petrodvorets. 1961 — tốt nghiệp trường đào tạo công nhân thanh niên tại Petrodvorets. 1961–1962 — học viên dự bị trường thông tin VTD Hải quân mang tên A.S.Popov, hiệu thính viên, thông tín viên trên tàu quét mìn Hạm đội Bantic. 1962–1967 — học viên chính thức trường thông tin VTD Hải quân mang tên A.S.Popov. Tốt nghiệp trường chuyên nghiệp Hải quân với chuyên ngành «kỹ sư thông tin vô tuyến quân sự». 1967–1969 — trưởng ngành thông tin liên lạc quân sự và quan trắc khu trục hạm «Nhesokrushimyi» Hạm đội Biển Bắc. 1970–1972 — trợ lý chính thuyền trưởng khu trục hạm «Soznatelnyi» Hạm đội Biển Đen. 1972–1973 — học viên VSOK VMF. 1973–1974 — thuyền trưởng tàu tên lửa cỡ lớn «Prozorlivyi» Hạm đội Biển Đen. 1974–1976 — trợ lý chính thuyền trưởng tàu chống ngầm cỡ lớn «Оtchakov» Hạm đội Biển Đen. 1976–1978 — học viên Học viện Hải quân mang tên A.A.Gretсhko. 1978–1983 — thuyền trưởng tàu chống ngầm cỡ lớn «Tallin» Hạm đội TBD. 1983–1987 — tham mưu trưởng, tư lệnh lữ đoàn tàu mặt nước 119-binh đoàn 17-Hạm đội TBD. Trong thành phần lữ đoàn có 14 tàu các loại khác nhau — từ tàu cao tốc tên lửa đến tuần dương hạm. Trên cơ sở lữ đoàn tàu mặt nước 119 đã thành lập một nhóm lực lượng chống ngầm và tấn công đa binh chủng. Trong số các nhiệm vụ mà lữ đoàn phải giải quyết, có nhiệm vụ trinh sát, phòng thủ căn cứ Cam Ranh, tổ chức hiệp đồng tác chiến với Hải quân Việt Nam, tiến hành tập trận chung. 1987–1991 — tham mưu trưởng binh đoàn cơ động số 8 (Ấn Độ Dương) Hải quân Liên Xô. Binh đoàn đã thực hiện nhiệm vụ đấu tranh với cướp biển, đảm bảo an toàn giao thông hàng hải cho tàu bè qua lại và biểu dương màu cờ quốc gia trong các khu vực vịnh Aden và biển Ả-rập. Tham gia các cuộc giao tranh cục bộ và xung đột vũ trang tại Haiti, Аngola, Somali, Yemen, CH đảo quốc Xây-sen, Việt Nam, tại Biển Đỏ, vịnh Ba Tư. Tham gia hoạt động tác chiến quét mìn tại vịnh Ba Tư. 1991–1992 — tư lệnh binh đoàn cơ động số 7-(Đại Tây Dương) Hạm đội Biển Bắc. 1992 — học viên khóa cao cấp cho sỹ quan Học viện BTTM. Năm 1992 được phong quân hàm «phó đô đốc». 1992–1995 — phó tư lệnh thứ nhất Hạm đội Biển Bắc. 1995–1999 — chủ nhiệm hệ đào tạo VSOK VMF. Tên tuổi ông gắn liền với các thành tựu lớn trong phát triển khoa học tại VSOK VMF: khôi phục hệ dự bị, mở hội đồng đề tài luận án tại các lớp đào tạo, hình thành các khuynh hướng khoa học mới trong quá trình đào tạo và giáo dục quân sự, tổ chức huấn luyện chiến đấu, sư phạm quân sự và tâm lý quân sự trong hoạt động của các thuyền trưởng, chỉ huy hoạt động hàng ngày của các lực lượng hạm đội, đặt cơ sở máy tính hóa quá trình đào tạo. Trong thời gian lãnh đạo VSOK VMF ông đã chuẩn bị và bảo vệ thành công luận án phó tiến sỹ và tiến sỹ. Được phong danh hiệu khoa học «giáo sư» bộ môn chiến thuật lực lượng Hải quân Liên Xô. Được tặng thưởng các huân chương «Phục vụ Tổ quốc trong LLVT Liên Xô» hạng III, huy hiệu «Chiến đấu quét mìn», vũ khí khắc tên, nhiều huy chương của LBCHXHCN Xô Viết, LB Nga và các quốc gia khác. Hiệu thính viên công huân LBCHXHCN Xô Viết, thành viên danh dự Hạm đội Hàng hải LBCHXHCN Xô Viết. (http://clubadmiral.ru/camranh/pril.files/image018.jpg) Polyakov Yuri Melentievitch, tư lệnh thứ 3 lữ đoàn tàu mặt nước 119 (1987–1990). 1971–1976 — học viên trường Hải quân Hạm đội TBD mang tên S.О.Мakarov. 1976–1978 — trưởng nhóm đạo hàng điện tử ngành hoa tiêu quân sự tuần dương hạm «Мurmansk», Hạm đội Biển Bắc. 1978–1979 — trưởng ngành tác chiến 1 tuần dương hạm hạng nặng chở máy bay «Мinsk». 1979–1980 — học viên VSOK VMF. 1980–1982 — trợ lý chính thuyền trưởng tuần dương hạm hạng nặng chở máy bay «Мinsk». (http://i1221.photobucket.com/albums/dd463/qtdc3/1980_11_Minsk_CR.jpg) Tàu sân bay "Minsk" tại bờ biển nam Việt Nam, tháng 10-11 năm 1980. 1982–1984 — học viên Học viện Hải quân mang tên A.A.Gretсhko. 1984–1987 — thuyền trưởng tuần dương hạm hạng nặng chở máy bay (ТАVKR) «Мinsk». Phát triển và đề xuất thiết lập cho ТАVKR «Мinsk» tư thế neo đuôi tàu vào các phao neo (бочки), cho phép con tàu có thể đứng yên một cách an toàn khi gió lên đến tốc độ 21 m/giây. Trước khi có điều đó ТАVKR phải tháo phao neo khi tốc độ gió lên đến 14 m/giây. 1987–1990 — tư lệnh lữ đoàn tàu chiến mặt nước 119. 1990–1992 — học viên Học viện Quân sự BTTM các LLVT Liên Xô. 1992–1994 — giảng viên Học viện Quân sự BTTM. 1994 — chết vì tai nạn giao thông. (http://www.47br-ovra.com/files/Palivoda_%20Foto%201.jpg) Cam Ranh năm 1981. Yak-38 trên tàu sân bay "Minsk" bị tai nạn gần Côn Đảo đã được kíp thủy thủ tàu quét mìn đại dương MT-Zapal phát hiện, được tàu cần cẩu Kilektor-23 trục vớt lên MT-Zapal đưa về căn cứ Cam Ranh. (http://www.47br-ovra.com/mt-zapal) Chuẩn đô đốc Floriak Vasily Ivanovitch, tư lệnh thứ 4 lữ đoàn tàu mặt nước 119 (1990–1991). Sinh ngày 10.04.1950 tại làng Fagadeu huyện Falesht nước CHXHCNXV Моldavi. Dân tộc Ucraina. 1967–1972 — học viên chính thức trường Hải quân Hạm đội Biển Đen mang tên P.S.Nakhimov, thành phố Sevastopol. 1972–1974 — đội trưởng chống ngầm BPK, Hạm đội Biển Bắc. 1974–1976 — ngành trưởng ngành tác chiến 3 BPK Hạm đội TBD. 1976–1977 — học viên VSOK VMF, thành phố Leningrad. 1977–1978 — trợ lý thuyền trưởng BPK, Hạm đội TBD. 1978–1979 — trợ lý chính thuyền trưởng BPK, Hạm đội TBD. 1979–1985 — thuyền trưởng BPK Hạm đội Тhái Bình Dương. 1985–1987 — học viên Học viện Hải quân mang tên A.A.Gretсhko, Leningrad.. 1987–1989 — phó tư lệnh lữ đoàn tàu tên lửa, Hạm đội TBD. 1989–1990 — phó tư lệnh lữ đoàn tàu chống ngầm, Hạm đội TBD. 1990–1991 — tư lệnh lữ đoàn 119-binh đoàn 17 Hạm đội TBD, cảng Cam Ranh. 1991–1993 — tư lệnh lữ đoàn tàu thuyền hỗn hợp độc lập 119-Hạm đội TBD tại cảng Cam Ranh. 1993–2002 — tư lệnh sư đoàn tàu huấn luyện hải quân số 4-căn cứ Hải quân Lenin, thành phố Kronshtadt. Được phong quân hàm «chuẩn đô đốc» ngày 23.12.1994. Tháng 10 năm 2002 chuyển ngạch dự bị. .... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: lantuyet trong 15 Tháng Ba, 2013, 09:38:45 pm Thêm bài viết của bác qtdc trên vnmilitaryhistory cũng được báo Tiền phong đưa lên http://www.tienphong.vn/hanh-trang-nguoi-linh/616789/Tiet-lo-vu-tau-ngam-Lien-Xo-dam-chim-tau-ngam-Trung-Quoc-ky-1-tpol.html
Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 16 Tháng Ba, 2013, 01:55:23 am (tiếp)
(http://clubadmiral.ru/camranh/pril.files/image019.jpg) Chuẩn đô đốc Eryomin Yuri Prokopievitch, tư lệnh cuối cùng căn cứ đảm bảo hậu cần-kỹ thuật 922 (1999–2002). Sinh ngày 28.09.1956 tại cảng Leonidovo huyện Poronaisk tỉnh Sakhalin. Dân tộc Nga. 1974–1979 — học viên trường Hải quân М.V.Frunze, thành phố Leningrad. 1979–1981 — kỹ sư nhóm đạo hàng điện tử ngành hoa tiêu quân sự thủy thủ đoàn tàu ngầm nguyên tử, Hạm đội Thái Bình Dương. 1981–1982 — trưởng nhóm đạo hàng điện tử ngành hoa tiêu quân sự thủy thủ đoàn tàu ngầm nguyên tử. Trong thành phần một kíp thủy thủ tàu ngầm nguyên tử (K-305 đề án 671RTM) đã ghé cảng Cam Ranh năm 1982 để bổ sung dự trữ vật chất và cho các quân nhân nghỉ ngơi ngắn hạn. (http://clubadmiral.ru/images/f78f22c4bc6f9ef859addb63196e275f.png) 1982–1985 — trưởng ngành hoa tiêu quân sự thủy thủ đoàn tàu ngầm nguyên tử. 1986–1987 — học viên VSOK VMF. 1987–1991 — trợ lý chính thuyền trưởng tàu ngầm tuần dương. 1991–1993 — thuyền trưởng tàu ngầm tuần dương. 1993–1996 — học viên Học viện Hải quân, thành phố Saint-Petersbourg. 1996–1999 — chỉ huy phó đơn vị quân đội 72175, thành phố Norinsk tỉnh Moskva. 1999– 2002 — tư lệnh căn cứ 922 PМТО, cảng Cam Ranh, СHXHCN Việt Nam. 2002–2006 — chủ nhiệm hậu cần — phó tư lệnh hậu cần các lực lượng trên hướng Đông-Bắc. Năm 2003 tốt nghiệp khóa Học viện của Học viện Hậu cần và Vận tải quân sự. Ngày 12.12.2003 được phong quân hàm «chuẩn đô đốc». Từ tháng 3 năm 2006 — trưởng chi nhánh trung tâm khoa học-đào tạo Hải quân "Viện hàn lâm Hải quân", thành phố Saint-Petersbourg. 2010 — giám đốc tòa nhà Bộ Hải quân của Piotr Đại Đế — Viện Hải quân Saint-Petersbourg. Phó tiến sỹ khoa học quân sự, phó giáo sư. Được tặng thưởng: huân chương Sao Đỏ, huân huy chương «Có công với Nước» hạng II, huy chương Hồ Chí Minh «Phục vụ Hải quân xuất sắc» của СHXHCN Việt Nam, huy chương «Hoạt động hàng hải xuất sắc» (theo quyết định của hội đồng Hàng hải), 18 huy chương khác. (http://clubadmiral.ru/camranh/pril.files/image020.jpg) Đại tá hải quân Khorkov Vladimir Arkadievitch, tham mưu trưởng thứ 2 lữ đoàn tàu chiến mặt nước 119 (1985–1989). Sinh ngày 1.07.1950 tại làng Altynai tỉnh Sverdlov trong gia đình thủy thủ quân sự. 1967–1972 — học viên khoa vũ khí tên lửa trường tàu ngầm Hải quân mang tên Người Đoàn viên TNCS. Năm 1968 khi thực tập tại tiểu đoàn tàu cao tốc quét mìn Hạm đội Baltic đã thay thế thuyền trưởng tàu cao tốc quét mìn, tham gia quét mìn có kiểm soát mà ngư dân phát hiện tại vịnh cảng lớn Kronshtad. Năm 1969 trong giai đoạn thực tập trên tàu ngầm К-110 đề án 629 (vịnh Оlenhia) đã phải ở trong khoang máy diesel nước ngập đến trần khoang do đóng không kín miệng xả khí khi tàu ngầm lặn trong chế độ RDP. 1972–1974 — trưởng ngành pháo hạm tàu tuần tra SKR-11 đề án 159 phân hạm quân sự Kamchatka Hạm đội TBD. 1974 — trợ lý thuyền trưởng tàu cao tốc tên lửa cỡ lớn đề án 205 R-122 phân hạm quân sự Kamchatka Hạm đội TBD. 1974–1979 — thuyền trưởng tàu cao tốc tên lửa cỡ lớn đề án 205 R-107 phân hạm quân sự Kamchatka Hạm đội TBD. Khi thực hành tập bắn tên lửa tên lửa P-15 đã rơi thẳng xuống boong làm chìm chiếc tàu cao tốc-bia tập bắn duy nhất КtS-62 tại phân hạm quân sự Kamchatka Hạm đội TBD. 1979–1980 — trợ lý chính thuyền trưởng tàu tuần tra đề án 1135M "Gordelivyi" Hạm đội TBD. Thành lập kíp thủy thủ, trải qua tất cả các giai đoạn đóng mới ở nhà máy «Yantar» cùng với việc chuyển công tác từ Hạm đội Baltic sang Hạm đội TBD và thực hiện nhiệm vụ chiến đấu. Tham gia thử nghiệm tổ hợp phòng không «ОSА-МА». Được phong quân hàm «thiếu tá hải quân» trước thời hạn. (http://ussgrayback574.com/LPSSDive.jpg) USS Grayback 574 sau khi chuyển đổi thành tàu tác chiến thủy bộ (LPSS-574) năm 1968 đã tham gia vào Chiến tranh Việt Nam, làm nhiệm vụ vận chuyển biệt kích hải quân Mỹ, tìm cứu phi công Mỹ. Tháng 4-tháng 6 năm 1972, tàu chở biệt kích hải quân Mỹ (U.S. Navy SEAL Team One và Underwater Demolition Team 11 (UDT-11)) từ căn cứ Subic vào vịnh Bắc Bộ thực hiện chiến dịch Thunderhead cứu phi công Mỹ từ Hanoi Hilton nhưng thất bại, đó là nỗ lực cuối cùng giải cứu tù binh phi công Mỹ bằng vũ lực trong Chiến tranh Việt Nam. Trong ảnh: tàu đang ở trong một phi vụ ngoài bờ biển Việt Nam năm 1970. (http://ussgrayback574.com/pictures1.html) 1980–1983 — thuyền trưởng tàu tuần tra đề án 1135 «Letutchi» binh đoàn cơ động số 10-Hạm đội TBD. Đã liên tiếp thực hiện nhiệm vụ của tàu là trực tiếp theo dõi các nhóm АUG và АМG Hải quân Mỹ dẫn đầu là các tàu sân bay: «D.Eisenhower», «Enterprise» «Ch.Nimitz», «Кarl Vilson», «Ranger», «Кitty Hawk», «Мidway», cũng như các nhóm tác chiến thủy bộ «Тarava» và «Ivojima». Trong thời kỳ ấy ông đã cùng tàu ở trên biển 2 năm rưỡi. Đã hoàn thành các nhiệm vụ mà tư lệnh Hạm đội TBD giao phó, trong thời gian diễn ra tất cả các cuộc tập trận thời ấy của Hải quân NATO «Тeam Spirit» và «Asveks». Tại cuộc tập trận «Аsvek-82» ông đã phát hiện và buộc tàu ngầm đổ bộ của Hải quân Mỹ «Grayback» phải nổi lên mặt nước. Trong tình trạng đạo hàng khó khăn ông đã phát hiện nhóm tác chiến thủy bộ, đang đi theo đội hình vòng tròn tới nơi thả quân đổ bộ. (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/5/51/USS_Grayback_DN-ST-86-01652.jpg/800px-USS_Grayback_DN-ST-86-01652.jpg) USS Grayback SSG-574 năm 1982. (http://en.wikipedia.org/wiki/USS_Grayback_(SSG-574)) Để phát hiện thành phần tàu đối phương chính xác theo danh định tàu "Letutchi" đã tiến gần tới trung tâm đội hình chặt chẽ của họ mà không xâm phạm luật hàng hải quốc tế và quy định cảnh báo tai nạn do va chạm trên biển. Tàu tiến cùng với mục tiêu chính là tàu tham mưu-chỉ huy «Blue Ridge» của Hạm đội 7 Hải quân Mỹ mang kỳ hạm của tư lệnh hạm đội. Theo đường liên lạc sóng cực ngắn ông đã đề nghị người Mỹ cho phép tiến cùng đội hình và nhờ đó nhận được đề xuất hãy chiếm lĩnh vị trí thuận lợi để quan sát vị trí, đường di chuyển, thời hạn, các mục tiêu và các nhiệm vụ được thực hiện. (http://ussgrayback574.com/graybackregulusII.jpg) Tháng 9 năm 1958, SSG-574 Grayback phóng thử thành công tên lửa hành trình Regulus-II. (http://ussgrayback574.com/pictures.html) Trong khóa học sau đó về luật hàng hải quốc tế tại Học viện Hải quân ông đã tốt nghiệp với điểm «xuất sắc». Cùng với BPK «Тallin» ông đã hỗ trợ chính quyền CH Đảo quốc Seychell dẹp tan một âm mưu đảo chính. Trên đường chuyển sang khu vực hoạt động của binh đoàn cơ động số 8 từ Vladivostok và trở về, ông đã chỉ huy một biên đội tàu chiến gồm: kỳ hạm — SKR «Letutchi», SKR đề án 50, tàu quét mìn biển «Т.Uiantsev», tàu chở dầu «Irkut», «Izhora», «Petchenga», «Аlatyr». Số lượng các lần tiếp dầu và nước bằng phương pháp song song đạt tới 36–38 lần một năm. SКR «Letuchi» thường trong một năm thời kỳ đó phải trải qua hành trình 30–40 ngàn dặm trên biển. Tháng 5 năm 1983 do bội chi các năm (năm vừa qua) lượng nhiên liệu và tài nguyên mà Tư lệnh Hạm đội TBD đã khấu trừ, sau đó rа mệnh lệnh (khi họp phân tích tình hình) khiển trách vì vượt định mức kinh tế về nhiên liệu và tài nguyên. Đã ghé thăm xã giao và ghé thăm làm việc nhiều lần các cảng: Jibuti, Аden, Pоrt-Louis, quần đảo Seychell, Мaputo, Dakhlak, Cam Ranh. (http://www.8opesk.su/images/image020_0008.jpg) SKR "Letutchi" đề án 1135 (1977-2005). (http://www.8opesk.su/index40.html) 1983–1985 — học viên khoa chỉ huy Học viện Hải quân mang tên А.А.Gretchko, thành phố Leningrad. 1985–1989 — tham mưu trưởng — phó tư lệnh thứ nhất lữ đoàn tàu mặt nước thuộc binh đoàn 17-Hạm đội TBD. Chỉ huy hầu hết các chiến dịch cứu trợ cứu nạn các quân nhân và các tàu của Vùng 4 Hải quân CHXHCN Việt Nam gặp tai nạn tại các đảo và các bãi đá san hô ngầm ở quần đảo Trường Sa và Biển Đông. Ba lần được ban lãnh đạo Việt Nam khen thưởng. 1989–2000 — Trưởng ban thanh tra an toàn hàng hải 85-Hải quân Xô Viết và Nga; trưởng phòng giám sát kiểm tra an toàn hàng hải, công tác lặn khí tài nhẹ và lặn sâu quân chủng Hải quân. Biên soạn và áp dụng vào quân chủng Hải quân hệ thống giám sát kiểm tra an toàn hàng hải hoạt động hiệu quả. Trong thời gian phục vụ được tặng thưởng các huân chương «Phục vụ Tổ quốc trong LLVT Liên Xô» hạng III, «Chiến Công», các huy chương của LBCHXHCN Xô Viết, LB Nga và CHXHCN Việt Nam. Được tặng danh hiệu «Chuyên gia quân sự công huân». Trong thời gian phục vụ quân đội ông thường xuyên quan tâm đến các vấn đề duy trì khả năng SSCĐ cao của các tàu và các đơn vị hợp thành, hoàn thiện hệ thống giáo dục quân sự, tăng cường kỷ luật quân sự, nâng cao uy tín của nghề binh. Sau khi thôi phục vụ quân đội ông làm việc trong các tổ chức thương mại lớn với cương vị phó tổng giám đốc rồi tổng giám đốc, phó chủ tịch phụ trách tiếp thị và bán hàng. ......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: lantuyet trong 16 Tháng Ba, 2013, 08:42:18 pm Thêm bài viết về căn cứ Cam Ranh tại vnmilitaryhistory được đưa trên Tiền Phong Online: http://www.tienphong.vn/hanh-trang-nguoi-linh/616330/Cam-Ranh-huyen-thoai-mot-quan-cang-tpov.html
Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 16 Tháng Ba, 2013, 09:59:39 pm Thêm bài viết về căn cứ Cam Ranh tại vnmilitaryhistory được đưa trên Tiền Phong Online: http://www.tienphong.vn/hanh-trang-nguoi-linh/616330/Cam-Ranh-huyen-thoai-mot-quan-cang-tpov.html Đây một "bí mật" được giải mật nữa nằm ở chú thích, hi hi: ;D (http://www.tienphong.vn/ImageHandler.ashx?ThumbnailID=294520&Width=480) Tàu vận tải đổ bộ cỡ lớn lớp Ropucha Project 775 tại quân cảng Cam Ranh. (http://www.tienphong.vn/hanh-trang-nguoi-linh/616330/Cam-Ranh-huyen-thoai-mot-quan-cang-tpov.html) Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 17 Tháng Ba, 2013, 12:04:08 pm (tiếp)
(http://clubadmiral.ru/camranh/pril.files/image021.jpg) Chuẩn đô đốc Baranov Andrey Nikolaevitch; khi phục vụ trong biên chế binh đoàn 17 từ tháng 7 năm 1986 — tháng 8 năm 1987, ông là thuyền trưởng МPK-155. Sinh ngày 4.04.1959 tại làng Lvov tỉnh Moskva. Tham gia Hải quân Xô Viết từ tháng 8 năm 1976. 1976–1981 - học viên trường Hải quân mang tên М.V.Frunze. Tốt nghiệp chuyên ngành «Vũ khí tàu mặt nước». Tháng 8 năm 1981 — tháng 7 năm 1982 — ngành trưởng ngành thủy lôi-ngư lôi tàu chống ngầm cỡ nhỏ МPК-155 lữ đoàn tàu cao tốc số 33-phân hạm hỗn hợp Sakhalin. Tháng 7 năm 1982— tháng 8 năm 1984 — trợ lý thuyền trưởng МPК-37 lữ đoàn tàu cảnh vệ lãnh hải số 33. 1984–1985 — học viên VSOK VMF. Tháng 9 năm 1985— tháng 8 năm 1988 — thuyền trưởng tàu chống ngầm cỡ nhỏ МPК-155 lữ đoàn 33-phân hạm hỗn hợp Sakhalin. 1988–1991 — học viên Học viện Hải quân mang tên N.G.Кuznetsov. Tháng 8 năm 1991 — tháng 12 năm 1994 — tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn tàu chống ngầm cỡ nhỏ 146-lữ đoàn tàu cao tốc bảo vệ lãnh hải số 33-phân hạm hỗn hợp Sakhalin. Tháng 1 năm 1995 — tháng 8 năm 1998 — sỹ quan cao cấp-điều phối viên phòng 6 Tổng cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu các LLVT LB Nga. Tháng 1 năm 1998— tháng 8 năm 2000 — nhóm trưởng thuộc phòng 4 Tổng cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu các LLVT LB Nga. 2000–2002 — học viên Học viện BTTM các LLVT LB Nga. Tháng 12 năm 2002— tháng 3 năm 2009 — trưởng phòng tác chiến Bộ tham mưu — phó tham mưu trưởng Hạm đội Biển Đen. 23.02.2004 được phong quân hàm «chuẩn đô đốc». Tháng 3 năm 2009— tháng 4 năm 2010 — cục trưởng tác chiến Bộ TTM Hải quân — Tham mưu phó Bộ TTM Hải quân LB Nga. Khi còn là thuyền trưởng, trong lúc thi hành nhiệm vụ trực chiến và thực hiện nhiệm vụ quân sự đã nhiều lần ghé vào các cảng nước ngoài. Ở trong biên chế binh đoàn 17 những năm 1986–1987. Từ tháng 5 năm 2010 chuyển ngạch dự bị. (http://clubadmiral.ru/camranh/pril.files/image022.jpg) Anh hùng Liên bang Nga đại tá hải quân Astapov Aleksandr Sergheevitch, trợ lý thuyền trưởng các tàu ngầm đề án 675МК, 675 К-48, К-108 phục vụ chiến đấu trong thành phần binh đoàn 17. Sinh ngày 6.06.1953 tại thành phố Kiev, Ucraina. Dân tộc Nga. 1971–1976 — học viên trường Hải quân Hạm đội Biển Đen mang tên N.S.Nakhimov. 1976–1980 — kỹ sư ngành tác chiến 2 tàu ngầm nguyên tử đề án 675 К-48. 1980–1983 — trợ lý thuyền trưởng tàu ngầm nguyên tử đề án 675МК К-108. Trợ lý chính thuyền trưởng các tàu ngầm К-48 (1983–1986) và К-108 (1987–1990). Trong biên chế các kíp thủy thủ tàu ngầm đã nhiều lần tham gia các chuyến hành quân dài ngày thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu và ghé vào quân cảng Cam Ranh (1980, 1982). (http://clubadmiral.ru/camranh/photo.files/image036.jpg) Đại úy hải quân A.S.Astapov (áo trắng) trên mặt boong K-108 tại Cam Ranh năm 1982. 1986–1987 — học viên VSOK VMF. 1990–1993 — thuyền trưởng tàu ngầm nguyên tử tuần dương mang tên lửa hành trình đề án 949А К-266 «Оriol». (http://www.polarpost.ru/forum/download/file.php?id=21527&t=1) (http://www.atrinaflot.narod.ru/1_submarines/02_plark_949/949a_22.jpg) K-266 "Oriol" (sư đoàn tàu ngầm số 11 Hạm đội Biển Bắc, căn cứ Zapadnaya Litsa), phía sau là một khu trục chống ngầm cỡ lớn đề án 1155 (BPK đề án 1155). (http://www.atrinaflot.narod.ru/1_submarines/02_plark_949/0_949a.htm) 1993–1996 — thuyền trưởng tàu ngầm nguyên tử tuần dương đề án 949А К-186 «Оmsk», do PО «Liên hiệp xí nghiệp Sеvmash» tại thành phố Severodvinsk chế tạo. Tháng 8 — tháng 9 năm 1994 PLARK «Оmsk» dưới sự chỉ huy của А.S.Аstapov đã thực hiện chuyến hành quân di chuyển sang Hạm đội TBD dưới băng Bắc Cực. Chỉ huy cao cấp trên tàu — tư lệnh sư đoàn 10 chuẩn đô đốc I.N.Коzlov. Tàu ngầm ra khỏi vịnh Zapadnaya Litsa, đi vòng quanh mũi cực bắc của Novaya Zemlya, đi dưới băng và theo đường khe nhỏ Sviataia Anna mà tiến vào vùng vĩ độ cao của Bắc Băng Dương. Trong 15 ngày đêm tàu ngầm đã bơi ngầm dưới biển băng được gần 4000 dặm, trong đó có 500 dặm nằm ở các khu vực nguy hiểm về mặt đạo hàng trong điều kiện vùng nước hiếm của biển Tchukotka. (http://photos.wikimapia.org/p/00/02/86/64/86_big.jpg) Với sắc lệnh của Tổng thống Liên bang Nga ngày 23 tháng 7 năm 1996, vì sự dũng cảm và chủ nghĩa anh hùng, thể hiện khi thi hành nhiệm vụ đặc biệt trong các điều kiện nguy hiểm tới sinh mạng, đại tá hải quân Аleksandr Sergheevitch Аstapov được phong danh hiệu Anh hùng Liên bang Nga và được trao tặng ngôi «Sao Vàng». (http://mw2.google.com/mw-panoramio/photos/medium/3497959.jpg) Hai tàu ngầm đề án 949A sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội TBD tại cầu cảng căn cứ Viliutchinsk trong vịnh Krashennikov, thuộc thành phố Viliutchinsk, khu Kamchatka, Liên bang Nga. Bên trái K-150 "Tomsk", bên phải K-186 "Omsk". Trong những năm Chiến tranh Lạnh, do số lượng tàu ngầm đóng quân trong căn cứ cũng như số tàu ngầm xuất phát từ bến cảng này đến bờ biển Hoa Kỳ là rất lớn, người Mỹ đã đặt cho Viliutchinsk biệt danh "hang hùm" («осиное гнездо»). 1996–2002 — nhóm trưởng thuộc ban huấn luyện tàu ngầm Cục HLCĐ Hải quân Liên bang Nga. Từ tháng 3 năm 2002 chuyển ngạch dự bị. Hiện nay — phó chủ tịch thứ nhất Quỹ xã hội liên vùng ủng hộ các Anh hùng Liên bang Xô Viết và Liên bang Nga. Được tặng thưởng huân chương Dũng Cảm (2001), nhiều huy chương. ......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 27 Tháng Ba, 2013, 12:40:25 am (tiếp theo post 388 phần 1)
Ba lần bị đánh dấu (http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,19157.370.html) A.A.Kalinitchenko (http://avtonomka.org/images/stories/image076.png) "Người đoàn viên TNCS thành Rostov" ("Rostovskii Komsomolets") K-42 đề án 627A, phục vụ trong thành phần sư đoàn tàu ngầm 38 binh đoàn 17 tại Cam Ranh năm 1983. "Con tàu cũng như con người, đều có số phận của nó. Một loại tàu - sang trọng và đầy hứa hẹn, đã ra đi, mang theo xuống đáy biển cuộc đời của những con người cùng với lịch sử số phận của chính mình, đôi khi cực kỳ ngắn ngủi. Một loại khác, kéo lê ngày tháng của mình, không có những phút thăng hoa huy hoàng, không quấy rầy con người cũng như biển cả. Loại thứ ba hàng chục năm liên miên trực chiến trên các biển và đại dương, nhắc ta nhớ đến đời phục vụ của nó cũng giống như số phận con người mà cuộc sống không phải tất cả đều phẳng lặng, tại đó lao động nâng cao phẩm giá con người, danh dự cao hơn lòng kiêu ngạo. Những con tàu như vậy đã giáo dục con người khi giao phó cho họ dự trữ độ bền của mình, nhưng chính nó lại đau khổ vì con người có tinh thần yếu đuối, chỉ biết đi biển một cách kém cỏi...." (http://avtonomka.org/images/stories/image079.jpg) Khu trục hạm Mỹ trong kính tiềm vọng K-42 sau khi bị tàu ngầm Xô Viết tấn công ngư lôi giả định. Sự kiện diễn ra trong thời gian chiến dịch "Fleetex-82" của Hải quân Mỹ ngoài bờ biển Viễn Đông của Liên Xô năm 1982. (http://avtonomka.org/images/stories/image080.png) USS "Enterprise" trong kính tiềm vọng của K-42. Sự kiện diễn ra trong thời gian chiến dịch "Fleetex-82" của Hải quân Mỹ. Cùng với việc tấn công ngư lôi giả định vào các khu trục hạm Mỹ và tàu sân bay Midway, thiết lập được sự theo dõi tàu sân bay "Enterprise" giữa vòng vây các khu trục hạm hộ tống, thủy thủ đoàn K-42 đã minh oan được cho mình sau lần bị đánh dấu vào sổ đen đầu tiên. (http://avtonomka.org/images/stories/image083.jpg) K-42 neo đậu bên cạnh tàu căn cứ nổi cho tàu ngầm "Ivan Kutcherenko" tại Cam Ranh, sau khi hoàn thành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu thứ 2 ở khu vực căn cứ Subic của Hải quân Mỹ. Tháng 7 năm 1983. Bên trái chuẩn úy hải quân Tumanov – đội trưởng đội hầm tàu, bên phải – thủy thủ đánh tín hiệu-điều khiển bánh lái Mukhin). (http://vspm.od.ua/wp-content/uploads/PL.jpg) K-42 trong tư thế nổi đang vượt qua eo biển Singapore chuyển sang phục vụ trong đội hình binh đoàn cơ động số 8 Hải quân Xô Viết. (http://avtonomka.org/images/stories/image086.png) K-42 vượt qua đường Xích Đạo. Từ trái sang phải: Thần Biển Neptune – chuẩn úy hải quân Peredery, chỉ huy nhóm đạo hàng điện tử trung úy hải quân Kustov, trợ lý chính cho thuyền trưởng thiếu tá hải quân А.Ryzhuk, trưởng ngành tác chiến 4, chuyên ngành radar thượng úy hải quân S.Кrivomazov, trợ lý cho thuyền trưởng đại úy hải quân A.А.Кalinitchenko). (http://avtonomka.org/images/stories/image088.png) Trên đảo Sokotra. Trên nền trước từ trái sang phải: trợ lý thuyền trưởng tàu ngầm A.A.Каlinitchenko, chỉ huy nhóm thủy âm Yarantsev, chỉ huy tiểu đoàn đấu tranh sinh tồn Lifinsky. (http://avtonomka.org/images/stories/image090.png) Phần thưởng vinh dự cho phiên trực chiến xuất sắc nhất. Trái sang phải: kỹ sư cơ khí trực ban, chỉ huy tiểu đoàn kỹ thuật điện N.Trushkov, sỹ quan trực ban trợ lý thuyền trưởng tàu ngầm A.А.Каlinitchenko, trợ lý chính cho thuyền trưởng tàu ngầm А.Ryzhuk. (http://vspm.od.ua/wp-content/uploads/51.jpg) Khu trục hạm đề án 56A "Nakhodtchivyi" ngày 17 tháng 5 năm 1983 và... (http://vspm.od.ua/wp-content/uploads/61.jpg) ...Tàu tuần tra đề án 50 "Volk". SKR "Volk" cùng với khu trục hạm "Nakhodtchivyi" đi bảo vệ 4 tàu cá Liên Xô trên Ấn Độ Dương và K-42 có nhiệm vụ đi kèm đoàn công voa này trong cuộc tập trận "Đại dương-83" của Hải quân Xô Viết tại phân đoạn diễn ra trong khu vực binh đoàn cơ động số 8. Tuy vậy do lạc đường, do hỏng radar và nhận định lầm, thuyền trưởng K-42 đã cho lệnh tấn công (giả định) đoàn công voa mà lẽ ra mình phải hộ tống - lần đánh dấu và ghi sổ đen thứ 2 của "Rostovskii Komsomolets". (http://avtonomka.org/images/stories/image0921.jpg) K-42 trên dok sửa chữa trước khi xảy ra tai nạn tại vịnh Tchazma, Vladivostok. (http://avtonomka.org/images/stories/image0951.png) Bảo quản K-42 (bên phải) sau tai nạn của K-431 tại vịnh Tchazma năm 1985. Lần đánh dấu và ghi sổ đen thứ 3 và cũng là cuối cùng của K-42. Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: lantuyet trong 29 Tháng Ba, 2013, 08:40:58 am Trên trang Tienphongonline liên tiếp đưa các bài viết về thời kỳ Hải quân Liên xô đóng tại căn cứ Camranh http://www.tienphong.vn/hanh-trang-nguoi-linh/619857/Cam-Ranh-thoi-vang-bong-oai-hung-ky-III-tpot.html, nhưng một sô chú thích ảnh các sự kiện khác với các bài viết của bác qtdc trên vnmilitaryhistory
Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 29 Tháng Ba, 2013, 07:26:42 pm Bác lantuyet thân mến, cám ơn bác. Kệ các bạn ấy, việc ai người ấy làm thôi.
Tu-95RtS tại Cam Ranh năm 1991: http://www.youtube.com/watch?v=KgNs9hRNEgs Tai nạn An-12 năm 1989 tại Cam Ranh: http://www.youtube.com/watch?v=SToyJIoevWc Cam Ranh năm 1991-1993: http://www.youtube.com/watch?v=KZsOYeCRAFg http://www.youtube.com/watch?v=u8ewBYCHbCI http://www.youtube.com/watch?v=K8s7JaC_n4s Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 29 Tháng Ba, 2013, 11:30:46 pm (Trích "Cam Ranh: 1978-2002" của A.Chmyr, N.Liskovets, A.Tartynsky, V.Ermolkin xuất bản năm 2011)
Thủ tướng Phạm Văn Đồng thăm Cam Ranh tháng 2 năm 1980 (http://energyvostok.narod.ru/publishing/camranh/tekst/37.jpg) TT Phạm Văn Đồng cùng đoàn tùy tùng trên mặt boong tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa hành trình K-259 (tức K-59) đề án 659T thuộc sư đoàn tàu ngầm 26 Hạm đội Thái Bình Dương. Chỉ huy cao cấp trên tàu đại tá hải quân A.Makarenko, thuyền trưởng trung tá hải quân V.D.Khapersky, con tàu vừa hoàn thành nhiệm vụ quân sự tại Biển Đông và ghé vào quân cảng Cam Ranh, tháng 2 năm 1980. (http://energyvostok.narod.ru/publishing/camranh/tekst/38.jpg) TT Phạm Văn Đồng và đoàn tùy tùng chụp ảnh lưu niệm cùng thủy thủ đoàn K-259. (http://energyvostok.narod.ru/publishing/camranh/tekst/39.jpg) Ảnh trên: TT Phạm Văn Đồng, đại tướng Văn Tiến Dũng, cùng đoàn tùy tùng duyệt đội danh dự trên tàu căn cứ nổi cho tàu ngầm "Magadansky Komsomolets". Ảnh dưới: Các vị khách sang thăm tàu ngầm đề án 659T bằng phương tiện của tàu ngầm. Trên ảnh là TT Phạm Văn Đồng, đại tướng Văn Tiến Dũng, chuẩn đô đốc Giáp Văn Cương và đại sứ đặc mệnh toàn quyền Liên Xô tại Việt Nam B.N.Saplin. (http://energyvostok.narod.ru/publishing/camranh/tekst/40.jpg) Ảnh trên: Đón TT Phạm Văn Đồng và đoàn đại biểu bộ tư lệnh các LLVT Việt Nam. Ảnh dưới: Tặng quà lưu niệm cho thủy thủ đoàn K-259. (http://energyvostok.narod.ru/publishing/camranh/tekst/41.jpg) Ảnh trên: Đại sứ Liên Xô tặng quà lưu niệm cho thủy thủ đoàn K-259. Ảnh dưới: TT Phạm Văn Đồng hô khẩu hiệu: "Tình hữu nghị Việt-Xô đời đời bền vững!". Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 30 Tháng Ba, 2013, 06:52:08 pm Тu-142: NHÌN TỪ BUỒNG LÁI
Ảnh của thiếu tá Shinko Dmitri Andreevitch — hoa tiêu trung đoàn KQ chống ngầm tầm xa độc lập 310 có căn cứ tại Моngokhto, biên khu Khabarov. Ảnh chụp từ trên khoang máy bay Тu-142 trong giai đoạn 1989 đến 1993 trong thời gian thực hiện nhiệm vụ quân sự ở Cam Ranh, Việt Nam. (http://ser-sarajkin.narod2.ru/ALL_OUT/AiKOut10/AmAvKamr/AmAvKamr001.jpg) Mig-23 trung đoàn KQ hỗn hợp 165 (?) hộ tống Tu-142. (http://ser-sarajkin.narod2.ru/ALL_OUT/AiKOut10/AmAvKamr/AmAvKamr002.jpg) F-4J «Phantom» II của LLPV Nhật Bản bay kèm Тu-142 trên vùng nước trung lập. (http://ser-sarajkin.narod2.ru/ALL_OUT/AiKOut10/AmAvKamr/AmAvKamr003.jpg) А-6Е «Intruder» và F-18C «Hornet» từ tàu sân bay Mỹ «Кitty Hawk». (http://ser-sarajkin.narod2.ru/ALL_OUT/AiKOut10/AmAvKamr/AmAvKamr004.jpg) F-14A «Тоmcat» phi đoàn VF-2 Hải quân Mỹ. (http://ser-sarajkin.narod2.ru/ALL_OUT/AiKOut10/AmAvKamr/AmAvKamr005.jpg) «Тоmcat» bảo vệ tàu sân bay của mình. (http://ser-sarajkin.narod2.ru/ALL_OUT/AiKOut10/AmAvKamr/AmAvKamr006.jpg) Dưới cánh Тu-142 — А-7Е «Corsair» II phi đoàn 97 Hạm đội Thái Bình Dương Hải quân Mỹ. Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 30 Tháng Ba, 2013, 07:22:01 pm Cam Ranh, từ chiều cao chim bay:
http://www.youtube.com/watch?v=23t559d8DTA Cậu lính thủy đánh bộ Grisha: http://www.youtube.com/watch?v=o0JOZNds3rQ Một số video của các kênh TH LB Nga về các loại vũ khí trang bị từng có trong thành phần binh đoàn 17: Tàu ngầm nguyên tử đề án 675: http://www.youtube.com/watch?v=N9F0Cqzlm5A ...đề án 670: http://www.youtube.com/watch?v=f9qKj6-LcsA ...đề án 671: http://www.youtube.com/watch?v=-5V4qp2ch8s ...tàu ngầm phi hạt nhân - "lỗ đen giữa đại dương": http://www.youtube.com/watch?v=4NfB58u9wX4 Cuộc chiến giành đại dương: http://www.youtube.com/watch?v=TNZv5W7LV8Q http://www.youtube.com/watch?v=h-Dk_xtvdIc http://www.youtube.com/watch?v=pQFaOLTBNGM http://www.youtube.com/watch?v=tOEz0DZEAvg Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: lantuyet trong 30 Tháng Ba, 2013, 08:32:13 pm Đề nghị bác qtdc tiếp tục các bài viết về căn cứ 922 và binh đoàn 17 của Hải quân Liên xô tại căn cứ Cam Ranh để cho những người đã từng có thời gian đóng quân tại Cam Ranh được biết thêm những thông tin hữu ích về mối quan hệ Việt Nam -Liên Xô cũng như quá trình xây dựng và duy trì căn cứ quân sự lớn nhất của Liên Xô ở nước ngoài.
Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 31 Tháng Ba, 2013, 01:47:00 pm Tham khảo thêm:
Tàu ngầm, các bí mật và các gián điệp: http://www.youtube.com/watch?v=OqbTI-_AN6g Cuộc chiến âm thầm dưới mặt nước: http://www.youtube.com/watch?v=3bm0xhcVeUk http://www.youtube.com/watch?v=kXyNVuAv_VI http://www.youtube.com/watch?v=yIi-ngiEgvQ http://www.youtube.com/watch?v=K49NwTlXYsA Nhìn từ phía Mỹ (có phụ đề tiếng Anh): http://www.youtube.com/watch?v=qy8l3Flqj_g http://www.youtube.com/watch?v=tdSIxsJfTec http://www.youtube.com/watch?v=ZcGNMOd4qIA http://www.youtube.com/watch?v=MfKbpW2-swo Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 31 Tháng Ba, 2013, 10:31:16 pm (tiếp theo post #139 phần 2)
Lịch sử tóm tắt của К-42 đề án 627А «Cá Voi», số xuất xưởng 290 28 tháng 11 năm 1962 – đặt ky tại phân xưởng №-42 PО «Xí nghiệp liên hiệp chuyên ngành Sevmash» thành phố Severodvinsk. 17 tháng 8 năm 1963 – hạ thủy và gia nhập biên chế lữ đoàn đóng tàu và sửa chữa tàu ngầm độc lập 339 (339 обрсрк - 339-я отдельная бригада строящихся и ремонтируемых подводных лодок) thuộc căn cứ hải quân Biển Trắng (Беломорской ВМБ). 23 tháng 8 – 22 tháng 10 – thử nghiệm khi neo tại nhà máy (заводские швартовные испытания (http://dic.academic.ru/dic.nsf/ruwiki/1469027)). 22 – 26 tháng 10 – thử nghiệm hành trình tại nhà máy (заводские ходовые испытания (http://dic.academic.ru/dic.nsf/ruwiki/1469027)). 27 tháng 10 – 30 tháng 11 – thử nghiệm quốc gia (государственные испытания (http://dic.academic.ru/dic.nsf/ruwiki/1469027)). 30 tháng 11 năm 1963 – ký biên bản nghiệm thu nhà nước và được xếp vào đội ngũ tàu ngầm tuần dương. 14 tháng 12 năm 1963 – gia nhập biên chế sư đoàn tàu ngầm số 3 phân hạm đội tàu ngầm số 1 Hạm đội Cờ Đỏ Biển Bắc, tại đây trước tháng 12 năm 1966 đã thực hiện các bài huấn luyện khác nhau, thử nghiệm trang bị kỹ thuật mới và huấn luyện kíp thủy thủ của tàu ngầm mới xây dựng. Trong giai đoạn này đã thực hành theo dõi các lực lượng NATO tham gia cuộc tập trận «Phoenix-64» (7 tháng 9 – 2 tháng 10 năm 1964). Tháng 12 năm 1966 – tháng 2 năm 1968 – sửa chữa thường kỳ tại nhà máy sửa chữa tàu biển SRZ-10 với việc thay lò hơi. Tháng 2 – tháng 8 năm 1968 – thiết lập lại quan hệ tuyến tính và chuẩn bị đi làm nhiệm vụ quân sự. 20 tháng 8 – 5 tháng 9 năm 1968 – thực hiện chuyến đi biển liên hạm đội trong thành phần một biên đội tàu chiến chuyển từ Hạm đội Cờ Đỏ Biển Bắc sang Hạm đội Cờ Đỏ Thái Bình Dương. Bí mật di chuyển căn cứ đóng quân từ Hạm đội Biển Bắc sang Hạm đội Thái Bình Dương tại Petropavlovsk-Каmchatka cùng tàu ngầm К-55 đề án 658. Chỉ huy hành quân – tư lệnh phân hạm đội tàu ngầm Hạm đội Biển Bắc đại tá hải quân А.P.Мikhailovsky, thuyền trưởng tàu ngầm mang tên lửa hành trình đại tá hải quân V.I.Zamoriev. Đã vượt qua 1749 dặm biển dưới băng trong 137 giờ 19 phút. Chuyến hành quân này khác với các cuộc hành quân tương tự ở chỗ các tàu ngầm mang trên tàu vũ khí hạt nhân chính thức. Ngày 24 tháng 8 đã tiến hành (với lần thử thứ 3) nổi lên trong hố nước (полынь) có kích thước 400х200 m, còn ngày 27 tháng 8 – gần trạm trôi SP-16 nổi lên trong hố nước kích thước 500х400 m. Khi nổi lên trong khoảng tan băng ngày 24 tháng 8 tàu ngầm đã bị hư hại nhẹ vỏ ngoài - một lỗ thủng 2х1,5 m. (I.Golotvy có mô tả chi tiết hơn). 12 tháng 9 năm 1968 – gia nhập biên chế sư đoàn tàu ngầm 45 phân hạm tàu ngầm số 2 Hạm đội Cờ Đỏ Thái Bình Dương (Кamchatka). Tháng 9 năm 1968 – tháng 3 năm 1969 – huấn luyện chiến đấu và thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu đầu tiên dài 50 ngày. 21 tháng 3 năm 1969 – tại chiều sâu 70 m xảy ra tràn nước hầm khoang tuabin, tàu ngầm chuyển lên trong tư thế nổi với độ chênh mớn dọc 5° về phía đuôi. Do dồn nước về đuôi tàu nên xảy ra hiện tượng nhiễm mặn nước ngọt của chu trình II và dầu tuần hoàn của tuabin hơi có bánh răng truyền động chủ (ГТЗА) thông qua sự không kín khít trong hệ thống ngưng tụ nước ngọt. (Tai nạn tương tự tại đơn vị này cũng đã từng xảy ra với tàu ngầm К-66 đề án 659 vì vậy mà trợ lý chính của thuyền trưởng А.P.Sоfronov đã bị cách chức một cách không xác đáng). Tháng 11 năm 1972 – tháng 10 năm 1975 – sửa chữa trung tu, thay thế trang bị (sonar МGК-400 «Rubikon», tổ hợp đạo hàng «Sigma») và nạp lại các lò phản ứng tại nhà máy «Ngôi Sao» vùng Viễn Đông tại thị trấn Bolshoi Kamen (Primorie), sau đó tàu ngầm trở lại sư đoàn tàu ngầm 45 tại Каmchatka. 28 tháng 6 năm 1978 – Khi hoàn thiện bài tập huấn luyện chiến đấu trong các chuyến hành quân tới vịnh Аvachin trong sương mù đã va vào tàu chở dầu «Siluet», bị hư hại không đáng kể phần vỏ của thân ngoài và bầu che sonar. tàu ngầm nguyên tử nổi lên trong 2 giờ 50 phút và lập tức mở radar trực chiến. Phát hiện được 3 mục tiêu. Trên biển sương mù bao phủ, tầm nhìn không quá một kabelt rưỡi, biển động – cấp 1. Tàu ngầm nguyên tử đi theo hướng 56° với tốc độ 9,3 hải lý và trong 3 giờ đã chuyển hướng mới 25° để tách xa mục tiêu №-2. Tuy vậy vào 3 giờ 01 phút mục tiêu №-2 ngoặt phải sang hướng 50°, nhưng vòng ngoặt của nó trên tàu ngầm nguyên tử không phát hiện ra, vì vậy hiệu lệnh «sẵn sàng chiến đấu №-1» để bơi trong sương mù không được tuyên bố và kíp chiến đấu của Trung tâm Thông tin Tác chiến (БИП) không kịp triển khai. Thuyền trưởng tàu ngầm nguyên tử không biết về việc đổi hướng của mục tiêu №-2, vào lúc 3 giờ 05 phút đã ra lệnh lấy hướng 350° để tăng giãn cách với mục tiêu. Sau một phút hoa tiêu xác định được sự chuyển hướng của mục tiêu và các yếu tố di chuyển của nó. Báo cáo của hoa tiêu đến thẳng thuyền trưởng trên đài chỉ huy hành trình trước khi phát hiện trực quan mục tiêu №-2. Тàu chở dầu «Siluet» tiếp tục đi với tốc độ 8,5 hải lý theo hướng 277° và sau khi ngoặt phải giảm tốc độ đi 1 hải lý. Đèn hành trình của nó được phát hiện ra bằng mắt thường vào lúc 3 giờ 10 phút. Đồng thời nhìn thấy nó có thuyền trưởng, sỹ quan trực và thủy thủ đánh tín hiệu tại khoảng cách chưa đến 300 mét ở phương vị 60° về bên phải. Không chậm trễ trên tàu ngầm nguyên tử tuabin được đảo chiều và bánh lái đánh về tư thế «sang mạn trái». Nhưng những biện pháp đó đã chậm và sau 2 phút đã xảy ra va chạm với tàu chở dầu. Với quán tính sắp hết của hành trình tiến tàu ngầm va phần mũi vào diềm đuôi của tàu chứa «Siluet». Năm 1980 – sửa chữa thường xuyên tại nhà máy «Ngôi Sao» Viễn Đông với việc lắp đặt phụ hệ thứ 5 của sonar «Rubikon» (ăng-ten kéo) và thiết bị phát hiện tàu ngầm theo vệt rẽ nước để thử nghiệm và làm công tác đảm bảo cho tàu ngầm mới xây dựng đề án 671 RТМ. Cuối năm 1980 – gia nhập quân số sư đoàn tàu ngầm 26 phân hạm tàu ngầm số 4 Hạm đội Cờ Đỏ Thái Bình Dương (vịnh Pavlov). 8 tháng 5 năm 1981 – nhận danh hiệu danh dự «Người đoàn viên thanh niên cộng sản thành Rostov». 1981 – nhiệm vụ phục vụ chiến đấu thứ 2 tại biển Okhot. 1982 – theo dõi nhóm tàu sân bay xung kích Hải quân Mỹ tại biển Nhật Bản. 23 tháng 3 – 6 tháng 12 năm 1983 – nhiệm vụ phục vụ chiến đấu thứ 3 dài ngày trong khu vực hoạt động của các binh đoàn cơ động số 17 và số 8 tương ứng tại Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Tháng 9 năm 1984– tham gia các cuộc tập trận của Hải quân Liên Xô (lắp lại lò phản ứng từ nơi đang sửa chữa và ra khơi). 10 tháng 8 năm 1985 – do nổ lò phản ứng hạt nhân trên tàu ngầm К-431, bị nhiễm phóng xạ nặng. Chi tiết tai nạn được phản ánh khá đủ trong các hồi ức của tư lệnh phân hạm đội tàu ngầm số 4 Hạm đội Thái Bình Dương V.М.Khramtsov, tham mưu trưởng tiểu đoàn tàu ngầm độc lập số 92 đại tá hải quân А.G.Кrashenin, các chỉ huy trưởng các thủy thủ đoàn chính thức và dự bị tàu ngầm К-431 các đại tá hải quân V.N.Shepel và L.V.Fedchik và các tài liệu đã công bố khác. 14 tháng 3 năm 1989 – đưa ra khỏi biên chế chiến đấu Hải quân Liên Xô. Trong các giai đoạn khác nhau những sỹ quan sau đã lãnh trách nhiệm thuyền trưởng tàu ngầm К-42: đầu tiên – Panov I.I.(1963-1967), Zamoriev V.I.(1967-08.1969), Моkienko А.F.(10.1969-08.1971), Аleksanhian L.М.(08.1971-03.1973), Perepetch V.М.(04.1973-08.1975), Bаzhev V.А.(08.1975–08.1978), Lukiantsev V. (08.1978-08.1982), Тravin Е.I.(08.1982-12.1983), Ryzhuk А.(12.1983-03.1989) – cuối cùng. Tổng cộng từ lúc đóng xong tàu ngầm nguyên tử «К-42» đã đi qua 144481 dặm biển với 17486 giờ hành trình. Bảng so sánh các đặc điểm sử dụng trong chiến đấu của các tàu ngầm nguyên tử đề án 627A thuộc Hạm đội Thái Bình Dương (hay là tàu ngầm nào trong số này "gặp may" hơn cả?) (http://vspm.od.ua/wp-content/uploads/81.jpg) ...... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 01 Tháng Tư, 2013, 10:57:03 pm (tiếp)
Tham khảo, tàu ngầm siêu nhỏ đề án 865 "Pirannha" (Подводная лодка "Пиранья"): http://www.youtube.com/watch?v=PXHtb0LcIqQ Lời bạt (http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/K-122_pr659_zps346ece69.jpg) Tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa hành trình K-122 đề án 659 và 659T trên biển. (http://www.deepstorm.ru/) Đôi lời về lịch sử đơn vị hợp thành, nơi K-122 kết thúc con đường phục vụ và về các tàu ngầm kế tục sự nghiệp chiến đấu. Ngày 30 tháng 12 năm 1959 tiểu đoàn tàu ngầm độc lập 423 đóng căn cứ trong vịnh Pavlovsk (Primorye) được thành lập. Ngày 30 tháng 4 năm 1960 tiểu đoàn triển khai trong thành phần lữ đoàn tàu ngầm độc lập số 9 Hạm đội Thái Bình Dương. Ban chỉ huy đầu tiên của lữ đoàn gồm, lữ đoàn trưởng - đại tá hải quân Prygunkov Nikolai Petrovitch, tham mưu trưởng lữ đoàn - đại tá hải quân Korban Vladimir Yakovlevitch, lữ phó chính trị - thiếu tá hải quân Mukhin Konstantin Nikandrovitch và người lao động không biết mệt mỏi, người chỉ huy trưởng căn cứ bờ - trung tá hải quân Derikot Anatoly Alexandrovitch. Ngày 2 tháng 10 năm 1960 hồi 00:13 tàu ngầm nguyên tử đầu tiên của Hạm đội Thái Bình Dương - tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa hành trình "K-45" đề án 659 đã neo đậu trong vịnh Pavlovsk. Với việc hoàn thành chương trình thử nghiệm quốc gia của chiếc tàu ngầm nguyên tử-mang tên lửa đầu đàn trong loạt 5 tàu, vào tháng 7 năm 1961, lữ đoàn độc lập số 9 đã triển khai trong thành phần sư đoàn tàu ngầm nguyên tử 26 Hạm đội Thái Bình Dương, người tư lệnh đầu tiên là Chuẩn Đô đốc Yuri Vasilevitch Ivanov. Năm 1978, tại căn cứ của sư đoàn 26 đã triển khai phân hạm đội tàu ngầm số 4 Hạm đội Thái Bình Dương, sư đoàn tham gia trong thành phần của phân hạm này cùng với sư đoàn tàu ngầm chống tàu sân bay số 29 và sư đoàn tàu ngầm tuần dương chiến lược mang tên lửa đạn đạo hạt nhân số 21. (http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/RubkaK-66_pr659T_zps29b22f73.jpg) Tháp chỉ huy tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa hành trình K-66 đề án 659 và 659T trong khuôn viên nhà máy "Ngôi Sao" Viễn Đông. (http://www.deepstorm.ru/) Sau tổn thất mà sư đoàn tàu ngầm 26 Hạm đội Thái Bình Dương gánh chịu trong thời bình (cụ thể là khu vực phản ứng của K-66 bị "cháy thui" sau chuyến hành quân độc lập của con tàu tới bờ biển Việt Nam để bảo vệ Việt Nam trước sự xâm lăng của Trung Quốc vào năm 1979, vụ hỏa hoạn trên K-122 năm 1980 và vụ va chạm của K-45 năm 1981), đơn vị được bổ sung thêm 4 tàu ngầm đề án 627A: K-14, K-42, K-115 và K-133. Và từ năm 1983, để thay thế cho các tàu ngầm nguyên tử trang bị ngư lôi thuộc thế hệ đầu tiên, các tàu ngầm huyền thoại thuộc thế hệ thứ hai đề án 671V đã được chuyển giao cho sư đoàn tàu ngầm 26: đó là K-314, K-454 và K-469. Tại sao lại gọi chúng là huyền thoại? Bởi vì thủy thủ đoàn của K-454 sau khi hoàn thành chuyến di chuyển đầu tiên của các tàu ngầm nguyên tử một trục chân vịt đi ngầm qua Bắc Cực đã không được tặng thưởng. Chuyến hành quân liên hạm đội của K-314 qua vùng nước của 4 đại dương, vòng qua mũi Hảo Vọng đến Kamchatka cũng vẫn không được Tổ quốc đánh giá cao. Chỉ có thủy thủ đoàn của K-469 (và thuyền trưởng Urezchenko cũng không được phong danh hiệu Anh hùng), đi qua eo biển Francis Drake vào Thái Bình Dương, mới "bắt được trận mưa sao vinh dự". Ba chiếc tàu ngầm nguyên tử ấy đã thể hiện mình như thế nào? (http://content.foto.mail.ru/community/vmf.rf/297/i-305.jpg) Trong phòng điều khiển trung tâm K-469 đề án 671V: trợ lý thuyền trưởng A.V.Priadko, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3 V.V.Sokolovsky, thợ máy trưởng Zaitsev. Năm 1975, trong thời gian diễn ra cuộc tập trận "Okean-75" tàu ngầm K-454 với thủy thủ đoàn số 89 (trung tá hải quân A.V.Makarenko - sau đó đến sư đoàn 26 làm nhiệm vụ phó sư đoàn trưởng) đã tiến hành theo dõi một tàu ngầm nước ngoài trong suốt 72 giờ. Tiếp xúc chỉ bị gián đoạn theo mệnh lệnh của bộ chỉ huy cấp trên. Năm 1976, tất cả các tàu ngầm đề án 671V thuộc Hạm đội Thái Bình Dương nằm dưới sự chỉ huy của đại tá hải quân V.I.Zamoriev, người đã ở trên một trong những chiếc tàu ngầm này tham gia vào chiến dịch săn tìm trong biển Philippine. Đại tá hải quân V.P.Gontarev, vốn được coi là một CCB kỳ cựu của hạm đội tàu ngầm, trên chiếc K-314 của mình đã ngăn chặn một SSBN của Hải quân Mỹ đang trên đường triển khai từ căn cứ (vịnh APRA, đảo Guam) và bám sát nghiêm ngặt chiếc tàu ngầm Mỹ, buộc "đối thủ-chiến lược" phải ngừng cuộc tuần tra chiến đấu của nó. Năm 1979, K-469 thực hiện thành công cuộc theo dõi xuyên đại dương tàu sân bay "Ranger" (CV-61) qua khắp Thái Bình Dương. (http://content.foto.mail.ru/community/vmf.rf/297/i-298.jpg) K-469 tại căn cứ. Thành phần chiến đấu của sư đoàn 26 trong suốt thời gian tồn tại của nó được đại diện bởi 33 tàu ngầm nguyên tử theo trình tự thời gian phục vụ của chúng trong đơn vị: - 5 tàu ngầm đề án 659 (1960-1962): K-45 (V.G.Belashev), K- 59, K-66, K-122, K-151 (sau khi nâng cấp lên 659T, trở lại sư đoàn trong thời kỳ 1968-1976); - 13 tàu ngầm đề án 675 (1962 - 1968): K-175 (A.N.Karpenko), K-31, K-184, K-56, K-57, K-189, K-48, K-10, K-94, K-108, K-7, K-23, K- 34; - 1 tàu ngầm đề án 667A (1970): K-399 (A.P.Katyshev); - 4 tàu ngầm đề án 627A (1980-1982): K-42 (V.Lukyantsev), K-14, K- 115, K-133; - 1 tàu ngầm đề án 658T (1984): K-178 (Merkulov); (http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/K-454_pr671V_zps12ad34eb.jpg) Tàu ngầm nguyên tử mang vũ khí ngư lôi và ngư lôi-tên lửa K-454 đề án 671V sau khi đi biển trở về, năm 1994. Vịnh Pavlovsk. (http://www.deepstorm.ru/) - 3 tàu ngầm đề án 671V (1983-1984): K-314 (A.M.Evseenko), K-454, K-469; - 3 tàu ngầm đề án 671RTM (1984-1985): K-264 (V.N.Tsarev), K-247, K-305; - 1 tàu ngầm đề án 971 (1985): K-284 (V.A.Alekseev); - 2 tàu ngầm đề án 667B (1996): K-500 (S.V.Kolesnichenko), K-530. (http://content.foto.mail.ru/community/voen_mor/210/i-213.jpg) K-314 đề án 671V tại cầu tàu rỉ sét. Như vậy, trong thời gian tồn tại của mình, đã nhiều lần sư đoàn được tái vũ trang, liên tiếp thay đổi cấu hình của nó: sư đoàn tàu ngầm chiến lược, sư đoàn tàu ngầm chống tàu sân bay, sư đoàn tàu ngầm hỗn hợp và kết thúc đời chiến đấu của mình ngày 01 tháng 8 năm 2000, để lại sau nó 2 ngôi mộ tập thể tại thành phố Fokino và trong vịnh Pavlovsk. Tàu ngầm nguyên tử "K-178" đề án 658T đã đặt dấu xác thực lên số phận của các tàu ngầm ngư lôi thế hệ đầu tiên của Hạm đội Thái Bình Dương với trái đạn ngư lôi SET-65, bắn trúng thân tàu trong khi tập xạ kích ngư lôi. (http://avtonomka.org/images/stories/image097.png) Tàu ngầm K-178 đề án 658 cùng với trái ngư lôi tập trên thân tàu phóng ra từ tàu ngầm nguyên tử K-451 đề án 671V. Khác hẳn với hậu thế! Nếu nói về hiệu quả của việc sử dụng chiến đấu các tàu ngầm hạt nhân phóng ngư lôi thế hệ đầu tiên, phục vụ trong biên chế sư đoàn tàu ngầm 26, câu trả lời hùng hồn cho vấn đề này độc giả có thể nhận được sau khi xem các bảng dưới đây. Bảng tóm tắt quá trình sử dụng các tàu ngầm nguyên tử mang vũ khí ngư lôi chuyển sang từ Hạm đội Biển Bắc của sư đoàn tàu ngầm 26 Hạm đội Thái Bình Dương (http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/Bang1a-Kalinitchenko_zps490a3bea.png) (http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/Bang1b-Kalinitchenko_zpse777d6e2.png) Bảng kê tóm tắt quá trình sử dụng các tàu ngầm nguyên tử trang bị vũ khí ngư lôi thuộc sư đoàn tàu ngầm 26 Hạm đội Thái Bình Dương, đóng mới tại Hạm đội Thái Bình Dương (http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang2-kalinitchenko_zpsc05bb2ee.png) (http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang2b-kalinitchenko_zpsbb95d812.png) Kết luận: sử dụng hiệu quả nhất là tàu ngầm nguyên tử mang vũ khí ngư lôi "K-151" theo thống kê đã thi hành 9 nhiệm vụ phục vụ chiến đấu (799 ngày), có 3 nhiệm vụ ở Ấn Độ Dương! Trong đó, thành tích không nhỏ là của thủy thủ đoàn tàu ngầm này và đặc biệt là kỹ sư trưởng ngành cơ điện hàng hải của nó - trung tá hải quân Pavlenko Boris Aleksandrovitch. ....... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 02 Tháng Tư, 2013, 08:24:56 pm (tiếp)
Trích từ DVD "Regulus: The First Nuclear Missile Submarines": http://www.youtube.com/watch?v=Nsj8lmUUcZ8 Sự đáp trả đích đáng (Симметричный ответ) A.A.Kalinitchenko Ngày 21 tháng 1 năm 1954 tàu ngầm hạt nhân đầu tiên của thế giới "Nautilus" đã được hạ thủy. Ngày 30 tháng 9 cùng năm, con tàu này gia nhập biên chế chiến đấu của Hải quân Mỹ. Ngày 17 tháng 1 năm 1955 một báo cáo bay vào thinh không: «Underway on nuclear power» («Chúng tôi đang đi bằng năng lượng hạt nhân"). Bằng một sự phản ứng bất đối xứng như vậy, người Mỹ đã đáp trả lại mạnh mẽ chương trình đóng tàu hùng mạnh của Liên Xô để xây dựng lực lượng tàu ngầm diesel các đề án 611, 613 và 615A. Chẳng bao lâu sau đứa con đầu lòng của hạm đội hạt nhân, người Mỹ lại có tiếp 2 sê-ri tàu ngầm hạt nhân phóng ngư lôi: chiếc đầu tiên trong loạt 4 tàu ngầm hạt nhân phóng ngư lôi kiểu "Skate" (SSN-578), và chiếc thứ 2 trong 6 tàu ngầm hạt nhân phóng ngư loại "Skipjack" (SSN-585), hoạt động quân sự của chúng còn tiếp tục cho đến tận giữa những năm 80 của thế kỷ XX. Câu trả lời cho sự thách thức của người Mỹ là việc bắt đầu sê-ri các tàu ngầm hạt nhân Liên Xô đề án 627A mà 4 chiếc trong số đó đã được chuyển giao sang không gian chiến trường Thái Bình Dương. Ngoài ra, trên biển, cả hai quốc gia đã bắt đầu thực hiện chương trình tên lửa. (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/c/c2/USS_Tunny_SSG-282_Regulus1_launch_NAN9-58.jpg/800px-USS_Tunny_SSG-282_Regulus1_launch_NAN9-58.jpg) USS "Tunny" SSG-282 phóng tên lửa SSN-M-8 Regulus. (http://fr.wikipedia.org/wiki/Sous-marin_nucl%C3%A9aire_lanceur_de_missiles_de_croisi%C3%A8re) Khúc dạo đầu về tên lửa Năm 1942, từ chiếc tàu ngầm của quân đội Đức Quốc xã U-551 đã tiến hành thành công một số loạt phóng tên lửa tầm ngắn. Năm 1943, người Đức phát triển một kế hoạch bắn phá New York bằng các tên lửa hành trình V-1. Tuy nhiên, đã không có được sự hợp tác cần thiết của không quân Đức đối với công việc này, và dự án không thực hiện được. Sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai, trên cơ sở thành tựu của người Đức, bắt đầu việc xây dựng tên lửa hành trình cho tàu ngầm của Liên Xô và Mỹ. Ban đầu, tên lửa hành trình là vũ khí chiến lược được thiết kế nhằm đánh vào các mục tiêu mặt đất, ví như các căn cứ quân sự hoặc các thành phố ven biển. Việc phóng tên lửa được thực hiện chỉ từ tư thế nổi. Sự cần thiết phải điều khiển tên lửa dẫn đến một thực tế là tàu ngầm phải ở trong tư thế nổi trong suốt hành trình bay của tên lửa, điều đó làm cho con tàu trở thành một tấm bia tuyệt vời cho máy bay chống ngầm. (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/c/c7/Graybackmissle.jpg/640px-Graybackmissle.jpg) USS "Grayback" SSG-574 chuẩn bị phóng Regulus II. Khoảng 1960, địa điểm chưa rõ. (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/c/c7/Graybackmissle.jpg/640px-Graybackmissle.jpg) Người Mỹ sử dụng hangar chứa thủy phi cơ, thu được từ các tàu ngầm Nhật Bản kiểu I-400 để vận chuyển tên lửa Đức V-1. Hệ thống được xây dựng từ năm 1947 và được đặt tên là «Loon». Cho đến trước năm 1953 đã có không ít lần phóng thành công, sau đó tên lửa «Regulus» được chính thức đưa vào trang bị. Để phóng chúng, người Mỹ tân trang lại các tàu ngầm diesel-điện thời Thế chiến như "Tunny" (SSG-282) và "Barbero" (SSG-317). Sau đó, các tàu ngầm diesel "Growler" và "Grayback" và tàu ngầm nguyên tử "Halibut" được xây dựng với tư cách là phương tiện mang các tên lửa "Regulus". Tàu ngầm "Halibut" được hạ thủy tại nhà máy đóng tàu Hải quân ở Mare Island ngày 11 tháng 4 năm 1957 với phiên hiệu SSGN-587. Chữ cái «G» có nghĩa là "hỏa tiễn có điều khiển» - Guided Missile. "Halibut" trở thành chiếc tàu ngầm hạt nhân đầu tiên và duy nhất, được thiết kế để sử dụng các tên lửa có điều khiển. (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/c/c6/Wfm_mare_island_aerial.jpg/640px-Wfm_mare_island_aerial.jpg) Không ảnh phần phía nam Mare Island California và xưởng đóng tàu. (http://en.wikipedia.org/wiki/File:Wfm_mare_island_aerial.jpg) Kế hoạch ban đầu là lắp đặt trên tàu ngầm một thiết bị động lực diesel-điện, nhưng tàu ngầm lại nhận được thay vào đó một lò phản ứng Westinghouse S3W công suất 6000 mã lực truyền động sang hai tuabin hơi, gắn với hai chân vịt đẩy. Phần mũi con tàu có bốn ống phóng ngư lôi, ở phần đuôi - hai ống phóng. Để kiểm soát xạ kích ngư lôi có hệ thống điều khiển hỏa lực Mk 101 Mod 11. "Halibut" được thiết kế và xây dựng để sử dụng tên lửa hành trình "Regulus". Hệ thống tên lửa SSM-N-8A «Regulus I» được bố trí trong hangar giữa chóp mũi tàu và tháp chỉ huy. Hangar được tính toán để có thể chứa 5 tên lửa, trong đó có một đạn nằm trên bệ phóng. Tên lửa chỉ có thể khởi động trong tư thế nổi. Tầm bay xa của đạn phản lực có điều khiển "Regulus" là 400 km, tên lửa có thể nạp đầu đạn tác chiến loại W-5 hay W-27. Hệ thống điều khiển tên lửa trên quỹ đạo - điều khiển bằng lệnh vô tuyến. Đã có kế hoạch trang bị cho tàu ngầm "Halibut" hai bệ phóng tên lửa siêu âm "Regulus II" (tầm bay xa 2200 km), nhưng việc bố trí tên lửa đạn đạo "Polaris A1" trên các tàu ngầm hạt nhân tỏ ra có triển vọng hơn. (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/1/1f/USS_Halibut_SSGN-587.jpg/800px-USS_Halibut_SSGN-587.jpg) USS "Halibut" SSGN duy nhất của Mỹ trong Chiến tranh Lạnh. (http://fr.wikipedia.org/wiki/Sous-marin_nucl%C3%A9aire_lanceur_de_missiles_de_croisi%C3%A8re) Với việc hủy bỏ chương trình phát triển hệ thống tên lửa "Regulus", tàu ngầm "Halibut" trở lại Mare Island và được chuyển đổi thành tàu ngầm tấn công lớp SSN. Công tác chuyển đổi bao gồm việc tháo gỡ hoàn toàn tổ hợp "Regulus" và tất cả mọi thứ gắn với nó. Tại hangar đã lắp đặt một thiết bị lái đẩy nhằm cải thiện khả năng cơ động của con tàu trong tư thế đi ngầm. Tàu được lắp dàn máy tính mạnh nhất thời bấy giờ là "Yunivak". Ngoài ra, trong hangar tên lửa có bố trí các phòng ở cho các binh sĩ lực lượng đặc biệt hải quân và thiết kế sẵn lối ra và lối vào cho lực lượng biệt kích trong tư thế bơi ngầm của tàu. "Halibut" được sử dụng vào các chiến dịch bí mật, đặc biệt để kết nối với các đường thông tin liên lạc của Liên Xô đặt dưới đáy Thái Bình Dương, để thu thập các mảnh vỡ tên lửa đạn đạo của Liên Xô trong khu vực trường bắn biển ở Kamchatka. Tàu ngầm hạt nhân "Halibut" ra khỏi biên chế tác chiến của Hải quân Mỹ ngày 30 tháng 6 năm 1976. "Halibut" đã trở thành tàu ngầm đạt nhiều công trạng nhất của Hải quân Mỹ trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh - Lời cảm ơn của Tổng thống Mỹ và ba phù hiệu xuất sắc của Hải quân Mỹ! (http://avtonomka.org/images/stories/image001.jpg) Bản đồ 1. Các khu vực tuần tra chiến đấu của các SSBN Mỹ tại không gian chiến trường Thái Bình Dương. ....... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 04 Tháng Tư, 2013, 02:12:47 pm (tiếp)
Phản ứng lại chương trình "Regulus" của Hoa Kỳ, ở Liên Xô đã triển khai chương trình bất đối xứng vượt gấp 3 lần về tàu ngầm diesel và 5 lần về tàu ngầm nguyên tử, chương trình tái trang bị tàu ngầm diesel đề án 613 để mang tên lửa hành trình P-5 (đề án 644 và 665 cho sáu tàu) và xây dựng sê-ri 6 tàu ngầm hạt nhân đề án 659 với mỗi chiếc mang được 6 tên lửa. Chỉ mới xây dựng thành công 5 tàu và chúng được sử dụng ở không gian chiến trường Thái Bình Dương. Về đứa con đầu lòng "K-45" của hạm đội tàu ngầm hạt nhân tại Hạm đội Thái Bình Dương người ta đã viết nhiều. Các cuốn sách gây được mối quan tâm đặc biệt là "Tàu ngầm nguyên tử đầu tiên ở vùng Viễn Đông" của R.I.Kalinin và "K-45" tàu ngầm nguyên tử đầu tiên của Hạm đội Thái Bình Dương. Con người và số phận" của A.V.Konev. Ở Hoa Kỳ cũng như ở Liên Xô, trong vấn đề phát triển tên lửa chống lại mục tiêu trên bờ, người ta nghiêng về sử dụng tên lửa đạn đạo và sê-ri tàu ngầm nguyên tử đề án 659 đã được chuyển đổi sang phiên bản tàu ngầm phóng ngư lôi. Do đó tại Hạm đội Thái Bình Dương số lượng tàu ngầm ngư lôi thế hệ đầu tiên đã tăng lên đến 10 đơn vị (1 tàu đề án 658T, 4 - đề án 627A và 5 - đề án 659T). Chẳng bao lâu, nhờ có thêm ba tàu ngầm đề án 671V thuộc thế hệ thứ 2, tại Thái Bình Dương đã hình thành "một tá quỷ" («чертова дюжина», ám chỉ con số 13) các tàu ngầm ngư lôi của Liên Xô, một số trong đó đã từng phục vụ ở cả 3 sư đoàn tàu ngầm của Hạm đội Thái Bình Dương: sư đoàn 45 (Kamchatka), sư đoàn 26 (Primorie) và sư đoàn 28 (Sovetskaya Gavan). Chính là trên đôi vai của họ gánh gánh nặng của cuộc chiến chống lại các tàu ngầm tên lửa của "kẻ thù tiềm năng" (xem bản đồ số 1) và lực lượng săn ngầm bảo vệ các tàu ngầm chiến lược của nó (xem bản đồ số 2) trong khi mà "tá quỷ" thứ 2 gồm 13 tàu ngầm hạt nhân đề án 671RTM chưa kịp cất lên tiếng hát và tình thế trên không gian chiến trường Thái Bình Dương chưa đi vào ổn định. (http://avtonomka.org/images/stories/image003.jpg) Bản đồ 2. Các khu vực tuần tra chiến đấu trong không gian chiến trường Thái Bình Dương của các tàu ngầm tên lửa Liên Xô Họ là những người đầu tiên Tàu ngầm "K-45" thả neo ngày 02 tháng 10 năm 1960 trong vịnh Pavlovsk, trở thành người sáng lập đơn vị hợp thành đầu tiên của các tàu ngầm hạt nhân thuộc Hạm đội Thái Bình Dương. Chiến dịch hành quân chiến đấu đầu tiên trong lịch sử Hạm đội Thái Bình Dương của tàu ngầm nguyên tử diễn ra trong khoảng thời gian từ ngày 5 tháng 6 đến ngày 20 tháng 7 năm 1962. Người tiên phong thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu là tàu ngầm tên lửa "K-59" đề án 659 dưới sự chỉ huy của trung tá hải quân A.V.Ganrio. Chỉ huy cấp cao trên tàu trong chiến dịch này là tư lệnh sư đoàn 26, Chuẩn Đô đốc Yu.V.Ivanov. Trưởng ngành kỹ thuật điện ban tác chiến 5 của sư đoàn M.O.Zdorovenin miêu tả về chiến dịch như sau: "Tàu ngầm đã hoàn thành nhiệm vụ đề ra. Khi đi từ biển Nhật Bản vào biển Okhot, tiến ra Thái Bình Dương, thủy thủ đoàn đã kiểm tra hệ thống trang bị đang làm việc, họ thu được kinh nghiệm đi biển ... Trong chiến dịch máy phát tuabin hơi bị rò, nồng độ khí gaz trong lò phản ứng và các khu vực lân cận tăng cao. Phải làm gì, quay trở lại khi mà không hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu của mình, hoặc tiếp tục cuộc hành trình trên biển? Người chỉ huy sư đoàn tập hợp đội ngũ sĩ quan không ở trong phiên trực vào cabin sinh hoạt chung, lắng nghe đề nghị của họ, bắt đầu từ người cấp bậc thấp nhất. Tất cả các sĩ quan từ người trưởng nhóm đên thuyền trưởng tàu ngầm đều nhất trí tiếp tục chuyến đi. Họ ngắt máy phát tuabin hơi hiện tại, và tiếp tục hành quân. Tư lệnh sư đoàn đã hành động một cách sáng suốt, tập hợp được toàn bộ thủy thủ đoàn thành một khối ... Trong lễ tổng kết chuyến hành quân độc lập, thủy thủ đoàn đã được tặng thưởng, thuyền trưởng và kỹ sư máy tàu (trung tá hải quân V.M.Nikitin - chú thích của A.A.Kalinitchenko) được trao tặng huân chương Lenin, trợ lý chính của thuyền trưởng và thuyền phó chính trị - huân chương Sao Đỏ. Cùng trong sắc lệnh này do có thành tích làm chủ vũ khí trang bị mới mà huân chương Sao Đỏ cũng được trao tặng cho thuyền trưởng tàu ngầm "K-45" trung tá hải quân V.G.Belashev và trưởng ngành cơ điện hàng hải quân sự trung tá hải quân I.E.Brigid". Tàu ngầm "K-122" ngày 18 tháng 6 năm 1963 lần đầu tiên đến Kamchatka, trở thành người sáng lập sư đoàn tàu ngầm số 45. Con tàu cũng là tàu ngầm đầu tiên được tiến hành hiện đại hóa theo đề án 659T và đến đầu tháng 4 năm 1969 quay trở lại với sư đoàn tàu ngầm số 26. (http://avtonomka.org/images/stories/image005.png) Chuyến đi biển hoàn toàn tự chủ thực hiện nhiệm vụ phục vụ chiến đấu đầu tiên của "K-151" có triển khai phóng đạn thật tên lửa được A.N.Sidenko nhớ lại như sau - hồi ấy ông là đại diện toàn quyền của cơ quan an ninh KGB: "Tháng 9 năm 1963 tại Primorye trời đầy nắng và ấm áp lạ thường. Đang là mùa thu vàng. Vào một trong những ngày này, tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa hành trình "K-151" đề án 659 ra khỏi vịnh Pavlovsk đi làm nhiệm vụ chiến đấu. Cách đây chưa lâu con tàu vừa được đưa vào biên chế Hải quân Xô Viết, tàu ngầm được trang bị ngư lôi và tên lửa hành trình "P-5"... Thủy thủ đoàn của "K-151" dưới sự chỉ huy của trung tá hải quân I.V.Vasilenko đã tiếp nhận chiếc tàu ngầm tại Komsomolsk-na-Amur, thực hiện xong các bài thử nghiệm tại nhà máy và thử nghiệm quốc gia, vượt qua một cách thành công tất cả các bài kiểm tra huấn luyện. Điểm đặc biệt của chiến dịch này nằm ở chỗ lần đầu tiên tại Hạm đội Thái Bình Dương có một tàu ngầm nguyên tử hành quân hoàn toàn độc lập tự chủ khi tiến xuống các vĩ độ phía nam của Thái Bình Dương. Mệnh lệnh tác chiến của bộ chỉ huy dự tính một chuyến di chuyển bí mật trong khu vực làm nhiệm vụ phục vụ chiến đấu, tuần tra trên biển trong vòng 30 ngày, xạ kích tên lửa ở biển Bering và di chuyển sang căn cứ đóng quân mới ở Kamchatka. Trong chiến dịch cần phải kiểm tra sự hoạt động của toàn bộ hệ thống lò phản ứng hạt nhân và tổ hợp tên lửa trong điều kiện đi biển khi nhiệt độ nước biển ngoài thân tàu là +28-29 độ. Vấn đề như vậy, về thực chất có cơ sở ở tầm bắn xa và tốc độ bay trung bình của đạn tên lửa tổ hợp "P-5" cũng như sự sẵn sàng chiến đấu của tổ hợp này phụ thuộc đáng kể vào biến động nhiệt độ của không khí và nước biển ngoài thân tàu ... Trong chiến dịch không thiếu những sự cố. Khoảng ngày thứ mười của chuyến đi biển, xảy ra sự giảm áp lực của chất tải nhiệt trong chu trình thứ nhất của thiết bị năng lượng chính. Thanh bảo vệ khẩn cấp của lò phản ứng đã hạ. Tàu ngầm bị thất tốc, và trong các khoang, đặc biệt là trong khoang tuabin và khoang lò phản ứng, mức phóng xạ tăng mạnh. Cần phải ra mệnh lệnh cần thiết cho các nhà vận hành máy, trước hết là chỉ huy ngành tác chiến 5, và tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1, đại úy hải quân Aleksei Pshenitchnyi. Họ đã nhanh chóng xác định được điểm "rò" tại máy phát tuabin hơi nước và khắc phục ngay. Hành động một cách mau lẹ và xuất sắc còn có hạ sỹ quan đội trưởng đội tuabin chuẩn úy hải quân Tregub. Lò phản ứng và tuabin được đưa vào hoạt động trở lại. Trên tàu tiến hành công tác khử nhiễm xạ, ban đêm tàu ngầm nổi lên để thông gió các khoang. Không có ai trong số các thành viên thủy thủ đoàn bị chiếu xạ liều lượng lớn, nhiệm vụ quân sự vẫn tiếp tục được thực hiện. Nguyên nhân tai nạn là thiếu sót trong kết cấu máy phát tuabin hơi, thiết bị này trên các tàu ngầm nguyên tử thế hệ đầu tiên đã bị mất độ kín ngay từ trong các thử nghiệm nhà máy và thử nghiệm quốc gia ... Mặc dù tất cả những khó khăn trên, thủy thủ đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ đề ra cho họ. Dẫu chúng tôi về đến căn cứ vào ban đêm, bộ tư lệnh sư đoàn và binh đoàn vẫn ra đón chúng tôi". Năm 1972, một biên đội tàu ngầm của Hạm đội Thái Bình Dương lần đầu tiên tham gia vào một cuộc đối đầu với bốn tàu sân bay của Hải quân Mỹ đang tác chiến chống lại nước Việt Nam. Giữa đội hình 4 tàu ngầm tên lửa đề án 675 có tàu ngầm "K-45" đã được hiện đại hóa sang phiên bản tàu ngầm mang vũ khí ngư lôi. Hoa tiêu "K-45" đại úy hải quân Valery Kozhevnikov nhớ lại: "Ngày 08 Tháng 5 sư đoàn tàu ngầm 26 có báo động chiến đấu cho các tàu ngầm đang ở trong lực lượng trực sẵn sàng chiến đấu. Sứ giả chạy đến nhà tôi truyền lệnh triệu tập tôi khi ấy đang nghỉ phép và nhắc tôi khẩn trương đến ngay chỗ tàu ngầm ... Mọi người thường tụ tập trong làng khi không đi đâu xa trong kỳ nghỉ phép. Thay thế cho thuyền trưởng đại tá hải quân Yu.N.Ganzh của chúng tôi để đi thực hiện nhiệm vụ quân sự là trung tá hải quân Evgheny Astashin (thuyền trưởng tàu ngầm "K-59"). Chúng tôi ra khỏi vịnh Pavlovsky lúc 03:00 ngày 11 tháng 5. Khu vực làm nhiệm vụ - Biển "Nam Trung Hoa", đối thủ tiềm năng - các tàu chiến của Hải quân Mỹ ... Từ bản tin trinh sát chúng tôi biết được rằng các tàu sân bay xung kích "Coral Sea", "Kitty Hawk", "Saratoga" đang tiến hành các hoạt động chiến đấu, còn hoạt động từ khu vực cách 170 dặm về phía đông-nam Sài Gòn - tàu sân bay xung kích "Constellation" ... Nhiệm vụ quân sự này diễn ra khá êm ả, không có ý kiến gì đặc biệt về sự làm việc của vũ khí và trang bị kỹ thuật, mặc dù cuộc tập hợp ngắn ngủi, mọi thứ được thực hiện vội vàng, như trong một nước chiếu bí trên bàn cờ. Ngành trưởng ngành tác chiến 5 trung tá hải quân A.I.Trofimov đã đảm bảo cho con tàu đi biển an toàn không có tai nạn ... Ngày 26 tháng 6 năm 1972 "K-45" sau khi kết thúc chuyến đi biển, đã có mặt trong vịnh Pavlosk". Ngày 1 tháng 6 năm 1983 "K-45" dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng trung tá hải quân A.V.Konev lần đầu tiên đến vũng Postovaia trong vịnh Sovietskaya Gavan, sau khi thành lập sư đoàn tàu ngầm số 28. Tiểu sử tự thuật A.A.Kalinitchenko (http://avtonomka.org/images/stories/kalinichenko.jpg) Tôi, Kalinichenko Aleksandr Aleksandrovitch, sinh ngày 17 tháng 3 năm 1954 tại thành phố Nikolaev trong gia đình quân nhân mặt trận. Dân tộc Ukraina. Khi còn là một đứa trẻ, tôi được rửa tội theo nghi thức Chính thống giáo tại Nhà thờ Thánh Nicholas. Học vấn đại học. Lúc 3 tuổi, sau khi cha tôi - chuẩn úy hải quân Hạm đội Biển Đen, giải ngũ (thẻ quân nhân cha tôi có ghi - hạ sỹ quan đội trưởng (старшина команды) đội quản lý vận hành thiết bị chỉ huy hỏa lực pháo PK (приборов управления артиллерийским зенитным огнём - ПУАЗО) trên tuần dương hạm), tôi cùng gia đình chuyển đến thành phố Uman, tỉnh Cherkasy. Năm 7 tuổi, tôi đi học lớp 1 tại trường phổ thông Uman № -2 mang tên I.Ya.Franko. Tôi chơi thể thao trong ban bóng rổ của nhà trường. Theo lứa tuổi tôi lần lượt được kết nạp vào đội nhi đồng Tháng Mười và Thiếu niên Tiền phong, trở thành chủ tịch hội đồng phân đội TNTP mang tên chị em Shura và Zoya Kosmodemyanskaia. Là người cầm cờ của đội TNTP và trong thời gian một buổi lễ có mang cờ của đội TNTP do căng thẳng thần kinh vì quá được tín nhiệm, tôi đã bất giác làm dấu thánh giá, kết quả là bị mất tất cả các địa vị xã hội hiện có. Bắt đầu đời lao động của mình ở tuổi 13 khi làm việc trong kỳ nghỉ hè tại nhà máy chế tạo các sản phẩm đinh tán kim loại Uman. Sau khi tốt nghiệp lớp 8 năm 1969, khi còn chưa là đoàn viên Komsomol, tôi vào học trường dự bị Hải quân Nakhimov Leningrad (đại đội 1, trung đội 3, lớp 13 - trung đội trưởng là thiếu tá hải quân K.Vasilev), tại đó đã học đến năm học thứ 2, thực hiện trách nhiệm lớp trưởng và có cấp bậc chuyên nghiệp "quyền-hạ sĩ" («вице-старшина 2-й статьи»). Năm 1970, tôi phải lên bàn mổ tại Học viện Quân y Hải quân mang tên S.M.Kirov để loại bỏ các khiếm khuyết theo chỉ tiêu y học nhằm có thể phục vụ trên tàu ngầm. Trong năm học thứ 2 bị giáng chức, tước quyền nghỉ hè và bị gửi đi làm thủy thủ ở trường trung cấp hải quân Hạm đội Baltic. Sau khi được khôi phục quyền học tập, tôi được phục hồi danh hiệu "Nakhimovets" cùng với lệnh không cho học tập tiếp trong nhóm đào tạo bậc đại học hải quân tại căn cứ hải quân Leningrad. Năm 1971, sau khi tốt nghiệp trường dự bị hải quân Leningrad tôi được nhận thẻ đoàn viên Komsomol và tự nguyện chọn nơi học tập tiếp là Khoa ngư lôi-thủy lôi Trường Cao đẳng Hải quân Hạm đội Thái Bình Dương mang tên S.O.Makarov. Trong thành phần nhóm "con trăn" năm thứ 4-trường Nakhimov tôi đã thực hiện chuyến đi bằng thuyền buồm trên sông Đông, sau đó đến Vladivostok. Tôi bắt đầu học tập trên cương vị trưởng lớp cùng với việc được phong danh hiệu quân sự "học viên chính" («старший курсант») và "hạ sỹ hải quân" («старшина 2-й статьи»). Cũng như tại trường dự bị hải quân Nakhimov, tôi tiếp tục sở thích đi thuyền buồm và có thêm một sở thích mới - lặn. Ngày 8 tháng 9 năm 1973, tôi kết hôn với nữ sinh viên Đại học Tổng hợp Quốc gia Odessa Zinaida Aleksandrovna Savina, và vì vậy vợ tôi chuyển sang học tiếp tại Vladivostok. Vào cuối tháng 12 năm 1974, tôi bị trục xuất khỏi trường vì vô kỷ luật, bị giáng xuống lảm thủy thủ Hạm đội Thái Bình Dương và gửi đi phục vụ tiếp tại một kíp thủy thủ học việc, còn đầu năm 1975 chuyển đến phục vụ tại kho vũ khí ngư lôi-thủy lôi chính của Hạm đội Thái Bình Dương đặt tại bán đảo Egersheld thành phố Vladivostok. Trong khoảng thời gian phục vụ có kỳ hạn ở khẩu đội ngư lôi 275 của chuẩn úy hải quân Shaikhutdinov tôi đã làm chủ một cách thành công công tác chuẩn bị và bảo dưỡng ngư lôi tác chiến và ngư lôi hơi gaz tập bắn, tôi đã đệ đơn xin hợp lý hóa vài lần và đến ngày 2 tháng 7 năm 1975 tôi được chuyển ngạch dự bị, cùng người vợ đang mang thai - người vừa tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Quốc gia Viễn Đông tôi trở về Uman, nơi cha mẹ chúng tôi cư trú. Sau khi về đến Ukraine, tôi đi tìm việc đầu tiên ở thành phố Odessa, sau đó ở thành phố Illichevsk, tại đây tôi được ghi danh thủy thủ hạng 2 trên tàu kéo biển "Brigadir" thuộc thương cảng Illichevsk. Ngày 18 tháng 8 năm 1975 tôi trở thành cha của cô con gái Galina. Trong thời gian làm việc trên tàu kéo biển "Brigadir" tôi cũng đã đưa ra các đề xuất hợp lý, nâng được mức đánh giá trình độ lên "thủy thủ hạng 1" và theo yêu cầu của giám đóc cảng. cuối năm 1975 đã có lệnh của Cục trưởng Nhà trường Hải quân Liên Xô cho tôi được phục hồi học tập tại năm thứ 4 Trường Cao đẳng Hải quân Hạm đội Thái Bình Dương mang tên S.O.Makarov. Tháng 2 năm 1976, cùng với vợ, tôi đi đến nơi học tập tại thành phố Vladivostok. Mùa hè cùng năm đó, trong đợt thực tập trên tàu tôi đã làm việc trên các tàu ngầm diesel, thực hiện nhiệm vụ quân sự đầu tiên của mình với tư cách người dự bị thay thế cho đội trưởng đội thợ điện vũ khí ngư lôi của tàu ngầm diesel hạng trung "S-392" đề án 613 trong khu vực biển Hoa Đông (thuyền trưởng - đại úy hải quân Belyakov, sỹ quan chỉ huy cấp cao trên tàu - đại tá hải quân Zakharovsky). Năm 1977, tôi tốt nghiệp trường hải quân hạng xuất sắc và được phong hàm "trung úy" cùng quyền lựa chọn nơi phục vụ. Tôi bắt đầu đời phục vụ của sĩ quan với chức trách chỉ huy ngành ngư lôi-thủy lôi trên tàu ngầm tuần dương mang vũ khí ngư lôi "K-45" đề án 659T (tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân đầu tiên tại Hạm đội Thái Bình Dương), tại đơn vị tàu ngầm nguyên tử lâu đời nhất của hạm đội - sư đoàn tàu ngầm nguyên tử độc lập số 26, đóng quân trong vũng Pavlovsk thuộc vịnh Strelok, vịnh này đến lượt mình lại nằm trong khu mặt nước của vịnh Piotr Đại Đế trên biển Nhật Bản. Đời phục vụ của tôi lần lượt trải qua các cương vị công tác sau: 1977-1979 - trưởng ngành ngư lôi-thủy lôi tàu ngầm nguyên tử phóng lôi "K-45". Trong thời gian phục vụ trên tàu ngầm đã "cứu" được một đầu đạn hạt nhân của đạn ngư lôi với giá NSS khỏi tư lệnh phân hạm đội Phó Đô đốc Belashev (thuyền trưởng đầu tiên của tàu ngầm "K-45"). Quá trình phục vụ trên con tàu này kết thúc bằng việc xạ kích ngư lôi không thành công trong cuộc thi giành giải thưởng của Tổng tư lệnh Hải quân (thuyền trưởng - trung tá hải quân A.Gubin) và chuyển sang một tàu ngầm cùng loại, chuẩn bị cho việc đi biển độc lập. 1979-1981 - trưởng ngành ngư lôi-thủy lôi tàu ngầm nguyên tử phóng ngư lôi "K-122" đề án 659T. Đã thực hiện trên tàu ngầm này 2 nhiệm vụ phục vụ chiến đấu (1979 - dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng đại tá hải quân A.Guriev tại biển "Nam Trung Hoa" (Biển Đông), tại đây tôi nhận được quân hàm "thượng úy" và giấy chứng nhận đảng viên dự bị Đảng Cộng sản Liên Xô, đến năm 1980, sau khi nhận thẻ đảng - tôi ở dưới quyền chỉ huy của trung tá hải quân G.Sizov cùng chỉ huy cao cấp trên tàu là tham mưu trưởng sư đoàn tàu ngầm 26 đại tá hải quân G.Zavarukhin, thực hiện nhiệm vụ chiến đấu ở biển Philippin, khi kết thúc nhiệm vụ, trong một vụ hỏa hoạn bao trùm khoang kỹ thuật điện vào cuối chuyến hành quân chiến đấu đã có 14 thủy thủ hy sinh). ...... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 04 Tháng Tư, 2013, 10:39:59 pm (tiếp)
1981-1982 - trợ lý thuyền trưởng tàu ngầm nguyên tử phóng ngư lôi (PLAT - ПЛАТ) «К-122» (thuyền trưởng – trung tá hải quân V.Vasilishyn, trung tá hải quân G.Garusov). Trong thời gian phục vụ được nâng quân hàm «đại úy hải quân» năm 1982 và tự nguyện chuyển sang tàu ngầm nguyên tử hiện tại «К-42» đề án 627А (thuyền trưởng trung tá hải quân V.Lukiantsev). 1982-1983 - trợ lý thuyền trưởng PLAT "K-42". Trong thời gian phục vụ tại tàu ngầm dưới quyền chỉ huy của thuyền trưởng đại tá hải quân E.I.Travin đã theo dõi thành công trong tư thế chiến đấu một đơn vị xung kích tàu sân bay Hải quân Mỹ đang xuyên phá vào vùng biển Nhật Bản và thực hiện nhiệm vụ chiến đấu dài ngày trong khu vực hoạt động của các binh đoàn 17 và 8 trên Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Trong chuyến "độc hành" này, theo mệnh lệnh của Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương № 0627 ngày 11 tháng 10 năm 1983 tôi đã được phép tự mình điều khiển tàu ngầm nguyên tử phóng ngư lôi đề án 627A. 1983-1985 - trợ lý chính PLAT "K-42". Năm 1984, trong điều kiện vắng mặt thuyền trưởng chính thức của tàu ngầm trung tá hải quân A.Ryzhuk, tôi tham gia vào các cuộc tập trận quan trọng của Hải quân Xô Viết, đưa lò phản ứng vào hoạt động và cùng tàu ra khơi từ vị trí đang sửa chữa bảo trì khi mà bức xạ nền tăng cao do sự cố của thiết bị năng lượng chính một bên mạn tàu. Trải qua 2 tháng đào tạo tại khóa 6 VSOOLK của Hải quân Liên Xô theo chuyên ngành "thuyền trưởng tàu ngầm hạng nhất". Tháng 3 năm 1985, tôi được thăng quân hàm "thiếu tá hải quân". Tháng 9 năm 1985, theo sáng kiến của chủ nhiệm chính trị sư đoàn 26 đại tá hải quân Plyusnin, tôi bị đình chỉ đào tạo một năm tại khóa 6 VSOOLK Hải quân Xô Viết tại Leningrad. Tôi tạm thời thực hiện chức trách trợ lý chính cho chỉ huy trưởng một kíp thủy thủ thay thế của các tàu ngầm nguyên tử phóng ngư lôi thế hệ thứ 2 đề án 671V cho đến tháng 12 năm 1985. Trong thời gian này, tôi được gia nhập thủy thủ đoàn phi tuyến của trung tá hải quân E.Lapshin, người vừa đến từ Kamchatka. Ngày 30 tháng 12 năm 1985 tôi trở thành cha của cô con gái thứ hai - Ekaterina. Tháng 1-2 năm 1986 - trưởng ngành hoa tiêu quân sự PLAT "K-454" đề án 671V (thuyền trưởng - đại tá hải quân N.Bondar), tàu đang được sửa chữa. Trái ngược với quyết định của tổ chức đảng cơ sở, tôi bị Đảng bộ sư đoàn 26 phân hạm đội tàu ngầm số 4 Hạm đội Thái Bình Dương khai trừ ra khỏi Đảng Cộng sản Liên Xô. Tháng 2 - 7 năm 1986 - trưởng nhóm trinh sát kỹ thuật của tàu ngầm nguyên tử phóng ngư lôi "K-264" đề án 671RTM mới nhất hiên có ở phân hạm đội (thuyền trưởng - trung tá hải quân I.Rusanov). Tôi đã nhiều lần ra khơi với nhiệm vụ đảm bảo chạy thử nghiệm các tàu ngầm nguyên tử đa nhiệm thế hệ thứ 3 đề án 971 và theo dõi các tàu ngầm hạt nhân chống tàu ngầm của đối thủ tiềm năng trong biển Nhật Bản. Tháng 7, Đảng bộ Hạm đội Thái Bình Dương đã khôi phục cho tôi đảng tịch Đảng Cộng sản Liên Xô. 1986-1989 - trợ lý chỉ huy trưởng thủy thủ đoàn thứ 2 tàu ngầm mang tên lửa chiến lược "K-415" đề án 667A sư đoàn tàu ngầm 21, phân hạm tàu ngầm 4 Hạm đội Thái Bình Dương (thuyền trưởng - trung tá hải quân V.Fedyukovsky). Năm 1987, tôi tốt nghiệp hàm thụ Trường Hàng hải Vladivostok thuộc Bộ Hàng hải Liên Xô chuyên ngành "kỹ thuật viên lái tàu" và nhận bằng chứng nhận hàng hải "hoa tiêu tàu nhỏ" («штурман малого плавания») từ thuyền trưởng hải cảng thương mại Vladivostok. Khi vắng mặt trợ lý chính trong biên chế trong suốt thời gian phục vụ, tôi đã dẫn dắt toàn bộ thủy thủ đoàn một cách đúng đắn, là thành viên thủy thủ đoàn đào tạo chuyển loại đề án 667AU tại Trung tâm Đào tạo Paldisk và với mệnh lệnh №-023 của Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương ngày 25 tháng 1 năm 1988, tôi đã được cho phép tự chỉ huy tàu ngầm tuần dương mang tên lửa chiến lược đề án 667AU. Trong giai đoạn thao luyện các bài tập chiến đấu, có thực hành bắn 2 tên lửa đạn đạo R-27U tại trường bắn biển Kamchatka trên tàu ngầm tên lửa chiến lược "K-417" đề án 667AU, tôi đã phát hiện ra các thiếu sót trong ứng dụng tác chiến của vũ khí và mối đe dọa thực sự với người dân lành, và từ đó trở đi hàng năm cho đến cuối đời phục vụ tôi đã chuyển tháng lương thứ 14 của mình cho Quỹ Hòa bình và từ chối đi làm nhiệm vụ quân sự trên con tàu này cùng với thủy thủ đoàn của thuyền trưởng trung tá hải quân V.Fedyukovsky ("giá trị thực" của những nhiệm vụ phục vụ chiến đấu kiểu này trên không gian chiến trường Thái Bình Dương đã được chuẩn đô đốc A.Shtyrov phơi bày và hành vi của tôi không hề gây ra trong tôi bất kỳ sự hối tiếc nào dù nhỏ nhất). 1989-1990 - trợ lý thuyền trưởng tàu ngầm tên lửa chiến lược "K-434" đề án 667A (thuyền trưởng - trung tá hải quân Yu.Lavrenov). Sau khi cắt khoang tên lửa tại nhà máy "Ngôi Sao" tại Bolshoi Kamen, tàu ngầm (thuyền trưởng G.Lepeshkin) được chuyển vào biên chế tiểu đoàn thu dung tàu (дивизион отстоя) sư đoàn tàu ngầm 26. Trong thời gian này, tôi thực hiện hai chuyến đi dài trên tàu cá RS-300 "Tioplyi" với cương vị trợ lý thứ 3 cho thuyền trưởng và tàu cá cỡ lớn SRTM "Rodino" ở cương vị trợ lí thứ 2 và thứ 3 cho thuyền trưởng, thực hiện trinh sát khu vực Thái Bình Dương phục vụ sư đoàn tàu ngầm chiến lược số 21. Thuyền trưởng hải cảng nghề cá Nakhodka đã trao cho tôi chứng nhận "hoa tiêu viễn dương" («штурман дальнего плавания»). Theo sắc lệnh của Bộ trưởng Quốc phòng Liên Xô ngày 30 tháng 5 năm 1990 tôi được chuyển khỏi lực lượng thường trực Quân đội Liên Xô sang ngạch dự bị theo đề án cắt giảm biên chế. 1990-1996 - sống ở thành phố Odessa và làm việc tại Liên hiệp sản xuất chế biến thủy sản Biển Đen "Nam Cực" sau đó là kỹ sư ban tổ chức động viên, tham mưu trưởng binh đoàn phòng thủ dân sự và thuyền trưởng cao cấp-cố vấn về huấn luyện hải quân. Tháng 3 năm 1991, nửa năm trước sự kiện chính biến 1991, ngừng đóng đảng phí và tự nguyện ra khỏi hàng ngũ Đảng Cộng sản Liên Xô. Ngày 09 tháng 4 năm 1992 tuyên thệ trung thành với Ukraina. Vào cuối năm 1993 - đầu năm 1994 là thành viên ủy ban nghiệm thu của Liên hiệp "Nam Cực" và lãnh đạo tiểu ban quân sự về nghiệm thu các tàu nghề cá đóng mới. Năm 1994, trên cương vị thuyền trưởng cao cấp-cố vấn về huấn luyện hải quân, tôi thực hiện chuyến viễn dương đầu tiên trong lịch sử Hải quân Ukraina trên frigate "Getman Sagaidachny" đề án 1135P (thuyền trưởng - thiếu tá hải quân S.Nastenko, chỉ huy chiến dịch - đại tá hải quân Yu.Shalyt) và đã tham gia vào sự kiện quốc tế "Armada of Freedom" (tại Pháp) vào dịp kỷ niệm 50 năm cuộc đổ bộ của quân Đồng Minh lên Normandy trong Thế chiến II. Trong suốt mùa hè và mùa thu năm 1996, tôi thực hiện chuyến đi đầu tiên của mình trên một chiếc tàu nước ngoài của Hà Lan trong cương vị trợ lý thứ 2 của thuyền trưởng, đồng thời trong thời gian đó, tôi được gọi gia nhập Hải quân Ukraina đảm nhận cương vị thuyền trưởng tàu ngầm diesel trên cơ sở tự nguyện. Ngày 4 tháng 11 năm 1996 cha tôi - Kalinichenko Aleksandr Ivanovitch, qua đời. Do thiếu tàu ngầm trong Hải quân Ukraina, ngày 28 tháng 12 năm 1996, tôi tiếp nhận quyền chỉ huy tàu đổ bộ cỡ lớn "Rovno" đề án 1171. Tháng 4 năm 1997, tôi được thăng quân hàm "trung tá hải quân". Ngày 09 tháng 5 năm 1997 tôi tổ chức lễ kéo lá cờ Hải quân Ukraina trên tàu, kết quả là bị công tố viên quân sự truy tố. Tháng 8 năm 1997, tôi từ chối ân xá. Ngày 08 tháng 12 năm 1997, do việc phân loại lại con tàu sang tàu biển chở hàng khô cỡ lớn cùng với sự thay thế kíp thủy thủ quân sự bằng kíp thủy thủ dân sự, tôi được bổ nhiệm làm thuyền trưởng tàu vận tải quân sự "Rovno". Từ năm 1997, tôi tham gia hoạt động sáng tác. Tháng 1 năm 1998, tôi bị tống vào sau song sắt Phòng cách ly điều tra № -1 (СИЗО №-1 - Следственный Изолятор № 1) trong 8 ngày, tôi đã thực hiện "tuyệt thực" («сухую голодовку») để phản đối. Ngày 01 tháng 8 năm 1998 tôi được chuyển khỏi lực lượng vũ trang Ukraina sang ngạch dự bị vì lý do sức khỏe. Năm 1998, tôi ứng cử vào hội đồng thành phố Odessa với tư cách đại diện đảng Rukh (Đảng phong trào Nhân dân Ucraina). 1999-2008 đi biển trên các tàu buôn của các chủ tàu nước ngoài trong cương vị hoa tiêu và trợ lý chính cho thuyền trưởng ở các vùng khác nhau của đại dương thế giới. Trong cùng thời gian đó, tôi tham gia vào các sinh hoạt chính trị-xã hội, với tư cách điều phối viên của hiệp hội các tổ chức xã hội của tỉnh Odessa "Ủy ban Bảo vệ Hiến pháp Ucraina-(Kozak)" cho đến khi tổ chức này tự giải tán năm 2006. Năm 2002, cuối cùng thì vụ kiện tụng của tôi với công tố viên quân sự khu vực phía Nam Ukraina về bảo vệ nhân phẩm, danh dự và uy tín trong công việc cũng được thỏa mãn. Cùng năm này, tôi tranh cử đại biểu nhân dân cho Đảng Đại hội Quốc dân Ukraina trong cùng một khu vực bẩu cử theo lãnh thổ với S.Kivalov, thường được gọi là "Seriozha-thằng chỉ biết đếm" («Сережа-пидрахуй»). Theo trình tự thẩm tra tư pháp các cấp thứ nhất và cấp thứ hai tôi bị loại khỏi cuộc bầu cử vì lý do thừa các sự kiện trong tiểu sử tự thuật. Năm 2003, Ủy ban Nhà nước về chứng nhận bằng cấp cho các thuỷ thủ của Ukraina đã công nhận danh hiệu "thuyền trưởng viễn dương", mà thuyền trưởng thương cảng Odessa đã trao cho tôi. Năm 2004, tôi tham gia công tác tổ chức và tiến hành Hội nghị Quốc tế lần thứ 41 các thủy thủ tàu ngầm ở Odessa. Trong giai đoạn từ 2005 đến 2006 tôi kết hợp việc trực tiếp điều khiển với công tác giảng dạy kỷ luật lái tàu trong các chuyến đi biển tại trường Cao đẳng Hàng hải Odessa mang tên A.I.Marinesko. Năm 2006, khi đang ở Nam Đại Tây Dương, vào dịp kỷ niệm 20 năm thảm họa Chernobyl, Bộ trưởng Quốc phòng Ucraina ra sắc lệnh № -140 ngày 10 tháng 3 năm 2006 phong cho tôi quân hàm "đại tá hải quân". Năm 2007, tôi trở thành người khởi xướng đề án toàn Ucraina "Vinh danh biển Ukraina" dưới sự bảo trợ của Chủ tịch "Hội hữu nghị các thủy thủ Ukraina" chuẩn đô đốc N.Kostrov. Ngày 29 tháng 1 năm 2008 tôi lại bị truy tố hình sự vì tham gia vào tổ chức quốc tế dân tộc-yêu nước thể thao-quốc phòng "Cô dắc Ukraina". Từ ngày 01 tháng 9 năm 2008 đến 20 tháng 4 năm 2010, tôi học lớp ban ngày khoa Lịch sử Viện Đổi mới và Đào tạo sau đại học của Đại học Tổng hợp Quốc gia Odessa mang tên I.I.Mechnikov, tôi đã bảo vệ tốt nghiệp và nhận bằng chuyên ngành "giáo viên môn lịch sử". Ngày 15 tháng 9 năm 2008 vụ án hình sự đối với tôi bị chấm dứt vì thiếu bằng chứng. Từ 2006 đến 2010 tôi là điều phối viên dự án quốc tế "Zvezda Comandor" kỷ niệm 400 năm hạm đội tàu ngầm Ukraina. Từ ngày 24 tháng 4 năm 2010 đến nay, tôi làm sỹ quan-hướng dẫn viên huấn luyện đội ngũ thủy thủ và chỉ huy tàu khách của Trung tâm Đào tạo chuyên gia vận tải biển (thành phố Odessa). Tôi nhận được các tặng thưởng như sau: 1. Xô viết Tối cao Liên Xô - huy chương "60 năm lực lượng vũ trang Liên Xô", 1978 2. Bộ Quốc phòng Liên Xô - huy chương "Phục vụ trung thành hạng 3", 1982 3. Bộ Quốc phòng Liên Xô - huy chương " Phục vụ trung thành hạng 2", 1987 4. Xô viết Tối cao Liên Xô - huy chương "70 năm lực lượng vũ trang Liên Xô", 1988 5. Tổng thống Ukraina - huy chương "Bảo vệ Tổ quốc", 2004 6. Hội đồng hàng tỉnh và cơ quan hành chính quốc gia khu vực Lviv - huân chương "Thập tự Dũng cảm» № -1227, 2005 7. Hiệp hội quốc tế thủy thủ tàu ngầm - huy chương "100 năm lực lượng tàu ngầm Nga", 2006 8. Vua Rusi-Ukraina và Quỹ phục sinh Hạm đội Biển Đen Ukraina - huân chương "Ngôi sao Huân tước» № -13, 2006 9. Hội hữu nghị thủy thủ Ukraina - huy chương "Vinh quang biển Ukraina" hạng 1 (hạm đội Cổ đại), hạng 2 (hạm đội của Công tước) và hạng 3 (hạm đội Cô dắc), 2007 10. Tổ chức xã hội các học viên tốt nghiệp trường hải quân Nakhimov - cựu chiến binh Hải quân và phục vụ quốc gia - kỷ niệm chương "Phục vụ Tổ quốc từ thời thơ ấu. 65 năm trường dự bị Hải quân Nakhimov", 2009 11. Hội đồng hàng tỉnh và cơ quan hành chính quốc gia khu vực Ivano-Franko - kỷ niệm chương danh dự "100 năm Stepan Bandera» № -1238, 2010 ....... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 06 Tháng Tư, 2013, 05:11:49 pm (tiếp theo post 275# phần 1)
Binh đoàn 17 Hạm đội Thái Bình Dương (http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/Bang1-bd17_zps72de770e.png) (http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang2-bd17_zpsda4c853f.png) (http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang2b-bd17_zps2f25a5f4.png) Ghi chú: AU (АУ) - автономная система управления TU (ТУ) - система телеуправления SN (СН) - система самонаведения R (Р) - радиокомандные системы T (T) - телекомандные системы (http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang1-119_zpsf6d22a0c.png) (http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang1b-119_zpsb72e1d81.png) (http://clubadmiral.ru/camranh/gl6.files/image020.jpg) (http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/bang3-119_zpsb118ab7f.png) (http://clubadmiral.ru/camranh/gl6.files/image021.jpg) ....... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 08 Tháng Tư, 2013, 01:55:34 am (tiếp)
Tàu quét mìn căn cứ "BT-470" đề án 1265 Số xuất xưởng - 908 1978 -1990 – đơn vị 81337, 1990 -1994 – 87151, 1994 -1997 – 81337 00.00.1976 - đặt ky tại nhà máy chế tạo tàu thủy Vladisvostok. 00.00.1978 - hạ thủy. 00.00.1978 - bắt đầu thử nghiệm quốc gia. 30.12.1978 - đưa vào biên chế Hạm đội TBD. Quân số thuộc tiểu đoàn tàu quét mìn 81 lữ đoàn tàu quét mìn số 7. Tàu đã có mặt tại căn cứ cơ bản - vũng Razboinik (vịnh Strelok). 05.1984 - 08.1985 - nhiệm vụ phục vụ chiến đấu tại biển "Nam Trung Hoa" trong thành phần lữ đoàn tàu mặt nước 119 binh đoàn 17. Thuyền trưởng đại úy hải quân Оmakhin Yu.А. Nhiệm vụ phục vụ chiến đấu đã được hoàn thành thắng lợi. Cảng ghé vào: Cam Ranh (Việt Nam). Toàn bộ thủy thủ đoàn được thưởng huy hiệu «Vì chuyến hành quân xa». 08.1986. - 10.1987 - nhiệm vụ phục vụ chiến đấu tại biển "Nam Trung Hoa" trong thành phần lữ đoàn tàu mặt nước 119 binh đoàn 17. Thuyền trưởng thượng úy Luniov М.А. Trong thời kỳ phục vụ thượng úy hải quân Gusev S.E. đã thay ông. Nhiệm vụ phục vụ chiến đấu đã được hoàn thành thắng lợi. Cảng ghé vào: Cam Ranh (Việt Nam). Toàn bộ thủy thủ đoàn được thưởng huy hiệu «Vì chuyến hành quân xa». 07.1989 - lên dok sửa chữa tại dok nổi PD-45 nhà máy sửa chữa tàu biển số 92 của Hải quân, thành phố Vladivostok, vịnh Diomid. 17-21.041990 - con tàu cùng với tàu quét mìn căn cứ «BТ-347» tham gia trong thành phần nhóm tàu quét mìn КТG № 1 (КТG № 2 – các tàu quét mìn căn cứ «BТ-266», «BТ-327) tiểu đoàn tàu quét mìn 187 tại cuộc tập trận chiến dịch - chiến thuật của Hạm đội TBD trong biển Nhật Bản. Đã hoàn thành các nhiệm vụ đảm bảo chống thủy lôi cho việc triển khai lực lượng của hạm đội, bảo vệ chống thủy lôi gần bờ cho biên đội tàu đổ bộ khi di chuyển, đảm bảo đổ bộ cho lính thủy đánh bộ. 04.1990 - trong khuôn khổ các biện pháp biên chế-tổ chức được tiến hành của Hạm đội TBD, nhằm tái tổ chức phân hạm hỗn hợp Primorie liên quan đến việc giải tán lữ đoàn tàu quét mìn số 7, tàu được chuyển quân số sang tiểu đoàn tàu quét mìn 187 thuộc lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải 47. Tàu đã chuyển nơi đóng quân mới tại vũng Paris (đảo Russky) 06 - 07.1990 - sửa chữa trên dok nổi PD-54 nhà máy sửa chữa tàu biển số 92 của Hải quân, thành phố Vladivostok, vũng Diomid. 06.1991 - 05.1993 - sửa chữa định kỳ và lên dok tại nhà máy sửa chữa tàu biển số 92 của Hải quân, thành phố Vladivostok, vũng Diomid. 1991 - theo cách phân loại tàu mới của Hải quân, con tàu được xếp loại tàu hạng 3. Phù hợp với nó, chức trách của thuyền trưởng, trợ lý thuyền trưởng và trưởng ngành điện máy được nâng bậc cao hơn; 26.07.1992 - lễ trọng thể hạ cờ HQ LBCHXHCNXV và kéo cờ thánh Аndreev. 1994 - khi tiến hành các biện pháp tổ chức-biên chế lần lượt của Hạm đội TBD, tiểu đoàn tàu quét mìn 187 trong thành phần lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải số 47 đã bị giải tán. Tàu chuyển sang biên chế tiểu đoàn tàu quét mìn số 81 và chuyển từ vũng Paris về căn cứ mới tại bến № 2 vũng Аbrek. 30.07.1995 - tham gia (trong hàng ngũ) diễu binh trên biển tại vịnh Аmur, nhân ngày truyền thống Hải quân. 1996 - căn cứ của tiểu đoàn tàu quét mìn 81 được xác định là vũng Маlyi Uliss (thành phố Vladivostok). Tàu chuyển về nơi đóng quân mới. 17.07.1997 - loại khỏi biên chế hạm đội, giải tán thủy thủ đoàn. (http://www.47br-ovra.com/files/Gusev_%20Foto%201.jpg) Năm 1987, Cam Ranh, "BT-470" tại điểm neo đậu trước khi nhổ neo trở về căn cứ cơ bản (ảnh của trung tá hải quân dự bị S.E.Gusev). (http://www.47br-ovra.com/files/Gusev_%20Foto%205.jpg) Năm 1987, đảo Bình Ba, kíp thủy thủ "BT-470" trên bãi biển tại đảo Bình Ba (ảnh của trung tá hải quân dự bị S.E.Gusev). (http://www.47br-ovra.com/files/Gusev_%20Foto%204.jpg) Năm 1987, Cam Ranh, một phần thủy thủ đoàn "BT-470" tại tời kéo (ảnh của trung tá hải quân dự bị S.E.Gusev). (http://www.47br-ovra.com/files/Gusev_%20Foto%203.jpg) Năm 1987, Cam Ranh, Việt Nam. Trên cánh trái cầu điều hướng. Từ trái sang phải: đội trưởng đội thủy âm chuẩn úy hải quân Grigorovitch, trưởng ngành 1-4-Radar thượng úy Nigmatyazov А.Kh., …?..., thuyền trưởng thượng úy hải quân Gusev S.E., …?... Hàng ngồi trưởng ngành 5 thượng úy Bаdelev V.М (lưu trữ của trung tá hải quân dự bị Gusеv S.E.) Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 08 Tháng Tư, 2013, 09:19:47 pm (tiếp)
MPK "Người đoàn viên TNCS vùng Duyên Hải" đề án 1124 "Albatros" (МПК «Приморский комсомолец» (МПК-221)) Số xuất xưởng - 80; đơn vị quân đội 49284; Ngày truyền thống của con tàu - 14 tháng Hai. 08.02.1985 - đặt ky tại nhà máy đóng tàu Khabarovsk mang tên 60 năm Liên bang Xô Viết (А-3126) (tàu đầu đàn đề án 1124М. Tên gọi đầu tiên МPК-200). 11.04.1986 - ghi danh vào biên chế Hạm đội TBD. 29.04.1987 - hạ thủy. 11.08.1987 - đổi tên thành МPК "Người đoàn viên TNCS vùng Duyên Hải". 30.12.1987 - chính thức vào biên chế trang bị. 19.02.1988 - gia nhập quân số tiểu đoàn tàu chống ngầm số 29 lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải số 45. Tàu đến căn cứ đóng quân tại vịnh Vladimir (cảng Timofeevka huyện Olghin). 00.00.1989 - 00.00.1990 - nhiệm vụ phục vụ chiến đấu tại biển "Nam Trung Hoa" trong thành phần binh đoàn 17. Thuyền trưởng … … … … Cảng ghé vào Cam Ranh (Việt Nam). Toàn bộ thủy thủ đoàn được tặng thưởng huy hiệu "Vì chuyến hành quân xа". 00.04.1990 - trong khuôn khổ các biện pháp tổ chức-biên chế của Hạm đội TBD nhằm tổ chức lại phân hạm đội hồn hợp Primorie và biên chế lại lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải số 45 thành lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải độc lập 169, tàu gia nhập quân số tiểu đoàn vừa thành lập. 15.02.1992 - đổi tên hiệu thành МPК-221 26.07.1992 - cử hành trọng thể lễ hạ cờ Hải quân Liên Xô và kéo cờ Thánh Andreev. 1994 - trong khi tiến hành các biện pháp tổ chức-biên chế tuần tự của Hạm đội TBD và giải tán lữ đoàn tàu cảnh vệ lãnh hải độc lập 169, con tàu được chuyển quân số sang tiểu đoàn tàu chống ngầm 11 lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải số 47 và chuyển từ vịnh Vladimir tới căn cứ đóng quân mới trong vũng Paris. 1996 - nơi đóng quân mới của lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải số 47 được xác định là vũng Malyi Uliss (thành phố Vladivostok). Tàu di chuyển đến căn cứ mới. 1998 - các biện pháp biên chế-tổ chức tuần tự của Hạm đội TBD được thực hiện, kết quả là lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải 47 và lữ đoàn tàu cao tốc tên lửa số 165 bị giải tán và trên cơ sở đó thành lập lữ đoàn tàu mặt nước 165. Tàu chuyển sang biên chế tiểu đoàn tàu bảo vệ lãnh hải số 11 lữ đoàn tàu mặt nước 165. (http://www.47br-ovra.com/files/MPK-200.jpg) Ngày 31 tháng 7 năm 2005. Vịnh Amur, ngày Hải quân, MPK "Primorsky Komsomolets" diễu hành và thực hiện bài bắn đạn thật RBU-6000 (ảnh của đại tá hải quân Priamushko G.V.). (http://www.47br-ovra.com/files/lysenko_%20foto%203(1).jpg) Việt Nam, Cam Ranh 1989. Thủy thủ đoàn MPK "Người đoàn viên TNCS vùng Duyên Hải" tập hợp đội ngũ buổi sáng (ảnh của đại úy hải quân Lysenko I.N.). ............. Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 08 Tháng Tư, 2013, 11:30:43 pm (tiếp)
"MPK-81" đề án 1124 (http://www.47br-ovra.com/files/Skachko_%20Foto%205.jpg) 27 tháng 7 năm 1982, Vịnh Amur, ngày Hải quân. "MPK-81" diễu qua và bắn đạn thật RBU-6000 (ảnh của trung tá hải quân dự bị Skatchko G.M.). (http://www.47br-ovra.com/files/Ragimov_%20foto%201.jpg) Năm 1975, đảo Russky. Thủy thủ đoàn trên trường bắn. Thuyền trưởng đang hướng dẫn (ảnh của hạ sỹ hải quân Raghimov M.I.). (http://www.47br-ovra.com/files/Alekseenko_%20foto%201(1).jpg) 12 tháng 5 năm 1986, vũng Paris, bến của tiểu đoàn tàu quét mìn 187. Tiễn MPK-81 đi thực hiện nhiệm vụ phục vụ chiến đấu tại biển "Nam Trung Hoa" (Căn cứ hải quân Cam Ranh) Từ trái sang phải: …?..., …?..., …?..., tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn tàu quét mìn 187 thiếu tá hải quân Polnikov N.I., các người nhà của đội thủy thủ, tham mưu phó lữ đoàn trung tá hải quân Bоrovkov B.N. (ảnh của đại tá hải quân dự bị Аlekseenko V.М.) (http://www.47br-ovra.com/files/Alekseenko_%20foto%202.jpg) 7 tháng 11 năm 1986, vịnh Cam Ranh, МPК-81. Trái sang phải hàng ngồi: thuyền phó chính trị đại úy hải quân Dolghikh V.I., thuyền trưởng đại úy hải quân Alekseenko V.М., trưởng ngành 5 thượng úy Ermakov V.I., trợ lý thuyền trưởng thượng úy Mikhailyuk А.V., thủy thủ trưởng chuẩn úy hải quân Ivanov. Hàng đứng, hàng giữa: trưởng ngành radar thượng úy Vasiliev О., đội trưởng radar chuẩn úy hải quân ...?..., trưởng ngành 2 trung úy Маrkidonov А.V., y sỹ chuẩn úy hải quân ...?..., trưởng ngành 3 Nesterenko А.V., ...?... , trưởng ngành 1 thượng úy hải quân Gusev G. Hàng trên: đội trưởng hiệu thính viên chuẩn úy pháo binh Аbrosimov, ...?..., trưởng ngành 4-VTDT thượng úy Letov S.А. (ảnh của đại tá hải quân dự bị Аlekseenko V.М.) (http://www.47br-ovra.com/files/Alekseenko_%20foto%205.jpg) 1987. Căn cứ hải quân Cam Ranh, sân tập hợp của binh đoàn 17. Kíp thủy thủ МPК-81 sau khi kiểm tra đội ngũ (ảnh của đại tá hải quân dự bị Аlekseenko V.М.) .......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 09 Tháng Tư, 2013, 09:11:01 pm (tiếp)
(http://content.foto.mail.ru/list/victor-lin/-51-/i-806.jpg) (http://content.foto.mail.ru/list/victor-lin/-51-/i-758.jpg) Bồ nông trên đảo Dakhlak. 1982 (ảnh Viktor Linnikov). (http://content.foto.mail.ru/list/victor-lin/-51-/i-789.jpg) "Orion" cả ngày quần trên đầu chúng tôi trên biển (ảnh Viktor Linnikov). (http://content.foto.mail.ru/list/victor-lin/-51-/i-704.jpg) Trong cabin liên lạc tàu căn cứ nổi "Ivan Kutcherenko" (ảnh Viktor Linnikov). (http://content.foto.mail.ru/list/victor-lin/-51-/i-693.jpg) (http://content.foto.mail.ru/list/victor-lin/-51-/i-725.jpg) Chứng nhận đã vượt qua đường Xích Đạo của thần Biển Neptune. (http://content.foto.mail.ru/list/victor-lin/-51-/i-762.jpg) Việt Nam 1984. Trong vịnh Cam Ranh (ảnh Viktor Linnikov). (http://content.foto.mail.ru/list/victor-lin/-51-/i-778.jpg) Việt Nam năm 1984 (ảnh của Viktor Linnikov). (http://content.foto.mail.ru/list/victor-lin/-51-/i-769.jpg) Việt Nam năm 1984. Trong ngày lễ 7 tháng 11 (ảnh của Viktor Linnikov). (http://content.foto.mail.ru/list/victor-lin/-51-/i-791.jpg) Phong cảnh Việt Nam (ảnh Viktor Linnikov). (http://content.foto.mail.ru/list/victor-lin/-51-/i-788.jpg) Phong cảnh Việt Nam (ảnh Viktor Linnikov). (http://content.foto.mail.ru/list/victor-lin/-51-/i-768.jpg) Việt Nam năm 1984 (ảnh của Viktor Linnikov). (http://content.foto.mail.ru/list/victor-lin/-51-/i-809.jpg) Tàu căn cứ nổi (trạm nổi) cho tàu ngầm "Ivan Kutcherenko" tại cầu tàu số 5 quân cảng Cam Ranh năm 1984 (ảnh của Viktor Linnikov). (http://content.foto.mail.ru/list/victor-lin/-51-/i-765.jpg) Việt Nam năm 1984 (ảnh của Viktor Linnikov). (http://content.foto.mail.ru/list/victor-lin/-51-/i-767.jpg) Việt Nam năm 1984 (ảnh của Viktor Linnikov). (http://content.foto.mail.ru/list/victor-lin/-51-/i-786.jpg) Các chiến sỹ tàu ngầm của chúng ta trên mặt boong (ảnh của Viktor Linnikov). (http://content.foto.mail.ru/list/victor-lin/-51-/i-770.jpg) Việt Nam năm 1984 (ảnh của Viktor Linnikov). (http://content.foto.mail.ru/list/victor-lin/-51-/i-774.jpg) Việt Nam năm 1984 (ảnh của Viktor Linnikov). (http://content.foto.mail.ru/list/victor-lin/-51-/i-757.jpg) Việt Nam năm 1984 (ảnh của Viktor Linnikov). (http://content.foto.mail.ru/list/victor-lin/-51-/i-759.jpg) Chiến sỹ tàu ngầm Việt Nam (ảnh của Viktor Linnikov). (http://content.foto.mail.ru/list/victor-lin/-51-/i-777.jpg) Việt Nam năm 1984 (ảnh của Viktor Linnikov). (http://content.foto.mail.ru/list/victor-lin/-51-/i-782.jpg) Các nghệ sỹ Việt Nam biểu diễn trước các thủy thủ chúng ta (ảnh của Viktor Linnikov). (http://content.foto.mail.ru/list/victor-lin/-51-/i-760.jpg) Việt Nam năm 1984 (ảnh của Viktor Linnikov). (http://content.foto.mail.ru/list/victor-lin/-51-/i-781.jpg) Các nghệ sỹ Việt Nam biểu diễn trước các thủy thủ chúng ta (ảnh của Viktor Linnikov). (http://content.foto.mail.ru/list/victor-lin/-51-/i-764.jpg) Việt Nam năm 1984 (ảnh của Viktor Linnikov). (http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/K-48_CamRanh-1986_zpsecfab9e7.jpg) Tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa hành trình К-48 đề án 675К tại PMTO Cam Ranh (СHXHCN Việt Nam). Năm 1986. Ảnh trong bộ sưu tập của A.Yakovlev. (http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/B-397_641pr_CamRanh-1987_zps5060eae7.jpg) Tàu ngầm diesel B-397 đề án 641 tại PMTO Cam Ranh. Tháng 7 năm 1987. Ảnh từ bộ sưu tập của A.Krivoshekov, ảnh do A.Yakovlev cung cấp. (http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/B-28_CamRanh_641pr-1987_zps83a3e05d.jpg) Tàu ngầm diesel B-28 đề án 641 tại PMTO Cam Ranh. Năm 1987. Ảnh từ bộ sưu tập của E.Nosik. (http://content.foto.mail.ru/mail/stepin_andrey/_myphoto/i-6.jpg) "Đô đốc Oktiabrsky" đề án 1134A neo tại cầu tàu Cam Ranh. Năm 1989. (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/f/f3/Admiral_Zakharov_501.jpg/800px-Admiral_Zakharov_501.jpg) BPK đề án 1155 "Đô đốc Zakharov" thả neo trong vịnh Cam Ranh năm 1991. Sau khi thi hành nhiệm vụ quân sự trong thành phần binh đoàn số 8 và tham gia bảo đảm thông thương hàng hải trong vịnh Ba Tư, tàu quay về thi hành nhiệm vụ trong thành phần binh đoàn 17 từ tháng 8 năm 1990 đến tháng 2 năm 1991. Các số mạn: 472(trước 1984), 443(1984), 464(1987), 541(1990), 501(1991), 513(1993). (http://content.foto.mail.ru/list/victor-lin/-51-/i-796.jpg) RPKSN K-211 đề án 667BDR "Petropavlovsk-Kamchatka", 28/9/1994 (Ảnh Viktor Linnikov). ......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 09 Tháng Tư, 2013, 11:26:26 pm (tiếp)
(http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/28/2/218212955.jpg) BPK "Chapaev" đề án 1134A. Chiến dịch trên biển Philippin từ 25.05.1978 - 29.06.1978. ảnh của Ostanin Viatcheslav. (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/28/2/684941439.jpg) BPK "Chapaev" đề án 1134A. Cam Ranh tháng 4 năm 1979 (ảnh của Volodia Ilin). (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/28/2/212686980.jpg) BPK "Chapaev" đề án 1134A. Cam Ranh tháng 4 năm 1979 (ảnh của Druzhkov Vladimir Aleksandrovitch, thợ máy nồi hơi trên BPK "Chapaev" 77-79). (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/28/2/143825680.jpg) BPK "Chapaev" đề án 1134A. Hai tiểu đoàn trưởng. Cam Ranh 1979. (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/28/2/466620744.jpg) BPK "Chapaev" đề án 1134A. Những chiếc tàu đầu tiên vào Cam Ranh, tháng 3 năm 1979. (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/28/2/83698474.jpg) BPK "Chapaev" đề án 1134A. Cam Ranh, 1979. Một trận bóng đá. Bên trái: kỹ sư ngành 2 thượng úy hải quân Chizhov. người thứ 3 - hoa tiêu BPK "Chapaev" thiếu tá hải quân Salanghin V.I. (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/28/474760943.jpg) BPK "Chapaev" đề án 1134A. Cam Ranh, 1979. Thượng úy Taran V.E. chỉ huy đội thợ máy. (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/28/941158598.jpg) BPK "Chapaev" đề án 1134A. Cam Ranh, 1979. (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/28/625503924.jpg) BPK "Chapaev" đề án 1134A. Cam Ranh, 1979. (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/28/2/716397316.jpg) BPK "Chapaev" đề án 1134A. Cam Ranh, 1979. (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/28/2/26955878.jpg) BPK "Chapaev" đề án 1134A. Cam Ranh, 1979. (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/28/2/889813975.jpg) BPK "Chapaev" đề án 1134A. Ngày truyền thống của con tàu. Cam Ranh, tháng 9 năm 1985. (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/28/2/272210138.jpg) BPK "Chapaev" đề án 1134A. Bãi biển Cam Ranh, năm 1985. (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/28/2/370532960.jpg) BPK "Chapaev" đề án 1134A. Trên đường đi tìm kẻ đào ngũ. Cam Ranh, năm 1985. (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/28/2/415358697.jpg) BPK "Chapaev" đề án 1134A. Hiệp 2 trận bóng đá. Cam Ranh, năm 1985. (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/28/2/60833780.jpg) BPK "Chapaev" đề án 1134A. Cam Ranh, 1986. (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/28/138230359.jpg) BPK "Chapaev" đề án 1134A. Cam Ranh, năm mới 1986. ........ Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 10 Tháng Tư, 2013, 10:53:15 pm (tiếp)
(http://forum.pogranichnik.ru/uploads/1163395313/med_gallery_2761_22_53741.jpg) PSKR "Kedrov". Cam Ranh 1990. Tàu tuần tra biên phòng "Kedrov" thuộc sư đoàn tàu tuần tra biên phòng số 1 Kamchatka thả neo trong vịnh. (http://forum.pogranichnik.ru/uploads/1163395313/med_gallery_2761_22_73237.jpg) PSKR "Kedrov". Trên đường từ Cam Ranh vào Ấn Độ Dương 1990. Cá mập. (http://www.47br-ovra.com/files/%D0%A1%D0%B5%D1%80%D0%B5%D0%B4%D0%B0-3.jpg) Tàu quét mìn trên biển đề án 266M "MT-200". Cam Ranh 1981. (http://www.47br-ovra.com/files/1_003.jpg) Tàu quét mìn trên biển đề án 266M "MT-200". Cam Ranh 1981. (http://www.47br-ovra.com/files/1_004.jpg) Tàu quét mìn trên biển đề án 266M "MT-200". Cam Ranh 1981. (http://www.47br-ovra.com/files/41-1.jpg) Tàu quét mìn trong cảng đề án 1258 "RT-41". Cam Ranh 1990. (http://www.47br-ovra.com/files/41-2.jpg) Tàu quét mìn trong cảng "RT-41". Cam Ranh 1990. (http://www.47br-ovra.com/files/41-3(1).jpg) Tàu quét mìn trong cảng "RT-41". Cam Ranh 1990. (http://www.47br-ovra.com/files/41-4.jpg) Tàu quét mìn trong cảng "RT-41". Cam Ranh 1990. .......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 11 Tháng Tư, 2013, 01:04:03 am (tiếp)
Ở nơi xa bờ biển quê hương 2.500 dặm (http://old.redstar.ru/2001/04/05_04/a_t31.html) Báo Sao Đỏ (thuộc Bộ QP LB Nga) ngày 5 tháng 4 năm 2001 Trung úy Natalya Kuzmina. Đại tá hải quân Nikolai Litkovets. Ảnh của các tác giả. Cam Ranh. Ở đây, trong một khu vực nhỏ trên đất Việt Nam tạm thời được nhà nước Nga sử dụng, bố trí một căn cứ đảm bảo hậu cần-kỹ thuật (PMTO). Quanh năm trong điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng bức với độ ẩm cao, cách xa bờ biển quê nhà hơn 2.500 dặm, các quân nhân Nga đang tận tâm thực hiện nhiệm vụ của mình. (http://old.redstar.ru/2001/04/05_04/a_t31b.jpg) Nhóm đầu tiên trong biên chế PMTO quân số 50 người đến bán đảo Cam Ranh vào tháng 4 năm 1980, và chẳng bao lâu sau hợp đồng về việc xây dựng các công trình mà đất nước chúng ta viện trợ không hoàn lại cho CHXHCN Việt Nam đã được ký kết với phía Việt Nam. Trong giai đoạn 1984-1992, tất cả có khoảng 30 công trình được xây dựng. Vào đầu những năm 90 hầu hết các cầu tàu của hạm đội và các công trình bến cảng đã chuyển sang cho phía Việt Nam sử dụng thường xuyên. Nghển cổ chờ máy bay Thập kỷ cuối cùng tại PMTO, như ở đây người ta vẫn đùa, mọi người sống theo kiểu "mỏi mòn chờ giữa các chuyến máy bay". Người ta sống trong mong đợi thư từ, báo chí, những tờ báo được truyền tay nhau đọc đến rách nát. Cùng chiếc máy bay hiếm hoi bây giờ ở miền xa xôi này (trước kia thì 2 chuyến mỗi tháng) một ủy ban đang từ Đất Lớn bay đến. Còn các thành viên phục vụ tại PMTO vẫn tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ của mình. Cùng chỉ huy trưởng căn cứ đại tá hải quân Yuri Eremin chúng tôi đi vòng quanh thị trấn quân sự. Một chi tiết thú vị đập ngay vào mắt - các tầng đầu tiên của hầu hết các ngôi nhà đều không có người ở. Người ít hơn, vậy nên các căn hộ cũng trống vắng. Cắc căn hộ không có chủ nhà bị lũ mối tấn công không thương tiếc. Gỗ không thể chống lại sự xâm nhập của loài côn trùng phàm ăn. Trong ba tháng nó chỉ còn là gỗ mục: các dầm và khung cửa đã bị phá hủy trơ xương. - Chúng tôi đã quyết định bảo tồn không gian ở: cách ly đường dây dẫn, phá nốt các đoạn gỗ mà mối "ăn dở" chưa hết - Yuri Prokopievitch giải thích. - Dù lo sợ, nhưng chuyện "hỗn loạn" này sẽ không tiếp tục xảy ra. Chúng tôi có thể khôi phục các căn hộ một cách tự chủ không cần sự tham gia của các nhà xây dựng. Và chúng tôi chỉ cần một ít tiền và vật liệu để làm việc đó mà thôi. Lối vào nhà được sơn cẩn thận. Trên các ngôi nhà đều có các biểu tượng: các phi công vẽ biểu tượng bay của mình, các bác sĩ - sơn biểu tượng của họ. Nhà trẻ không được dự kiến trong biên chế, vì vậy một trong những căn hộ này được người ta biến thành phòng giải trí "Bạch tuộc" cho trẻ em vui chơi. Phòng được trang bị theo đủ các kiểu, các bức tường trang trí bằng các bức tranh trong phim hoạt hình. Và những cuốn sách cùng những món đồ chơi thiếu thốn được phu nhân Đại sứ Nga tại Việt Nam Irina Ivanova thân ái gửi từ Hà Nội vào cho các cháu. Ở đây có 16 công dân Cam Ranh trẻ thơ đang giết thời gian. Trong một khu "rỗng tuếch" khác người ta tổ chức một câu lạc bộ sĩ quan sang trọng theo tiêu chuẩn địa phương, bằng cách đó giải quyết vấn đề nhàn cư vi bất thiện vào buổi tối. Mọi người tụ tập ở đây đề nghe nhạc "sống", đọc thơ, hoặc đơn giản là ngồi sau một tách cà phê hoặc tách trà thơm phức. Vào các ngày lễ có tổ chức hòa nhạc. Trong tương lai - sẽ khai trương gian chơi bi-a và phòng đọc sách. Chủ tịch câu lạc bộ là thiếu tá hải quân Aleksei Riaguzov, vợ ông là Natalia và nữ trợ lý Veronica Bortnikova làm việc ở trung tâm nghỉ dưỡng độc đáo này trong thời gian riêng của mình. Bằng nỗ lực chung người ta cải tạo lại các ô đất trống gần khu nhà. Đầu tiên là xây dựng một sân chơi trẻ em, trồng dừa, đặt mua tại các vườn ươm cây Việt Nam giống thông California để trồng dọc các lối đi. Nhưng thế chưa đủ. Người ta xây dựng một đài phun nước nhỏ, làm các quầy hàng xinh đẹp nhỏ nhắn, mắc điện chiếu sáng. Người ta chở cát đỏ từ mỏ về và rải chúng trên những con đường nhỏ. Khi tiếp xúc với nước nó sẽ trở nên đặc chắc, kết quả là ta có một lớp asphalt tạm thời. Bên mái đường sẽ trồng cây xanh, còn tại các ô trống khác người ta xây dựng sân thể thao và sân bóng đá. Tuy nhiên, PMTO tự cảm thấy mình cô lập, thể hiện ở sự đói thông tin. Hai kênh truyền hình trung ương Nga và việc thiếu báo chí kịp thời không làm tình thế thay đổi. Vậy là người ta đi đến ý tưởng tạo ra một studio truyền hình. Những người tình nguyện có sở hữu máy quay video tiến hành quay phim theo các chủ đề, đạo diễn là vợ của chỉ huy trưởng căn cứ Tatiana Mukhailovna. Một trường quay được trang bị, và từ tháng Mười Hai năm ngoái, mỗi tháng một lần, trên màn hình xanh lam của máy thu hình đã xuất hiện một vi nhét đẹp: "studio truyền hình PMTO Cam Ranh giới thiệu". Ngoài tin tức về đời sống nội bộ đơn vị và các sự kiện liên quan đến Hạm đội Thái Bình Dương, người ta còn phát các phim video mà xí nghiệp liên doanh "Vietsovpetro" có nhã ý cung cấp. Phó Tổng Giám đốc xí nghiệp liên doanh khai thác dầu khí Việt-Nga Fanis Badikov không chỉ là một nhà chuyên môn dầu khí, có học vị tiến sĩ khoa học, ông còn là một con người tuyệt vời, một người đàn ông chân thành, một người yêu nước Nga. Nhờ những nỗ lực của ông mà tại trường phổ thông của PMTO đã khai trương được phòng máy tính trang bị các máy tính đời mới nhất, trường cũng mua được các sách giáo khoa mới. Các hạng mục của căn cứ nằm rải rác trong toàn bán đảo trên những khoảng cách khá xa nhau, nếu không có phương tiện vận tải thì không thể đi thăm thú được. Tuy nhiên, các máy móc thiết bị đang hỏng dần mà phụ tùng thay thế rất khó kiếm được, rồi sau đó thì đến vấn đề khó khăn về tiền. Trong các trường hợp khẩn cấp thế này người Việt Nam rất sẵn lòng đến giúp một tay - họ sẽ xúm vào đẩy giúp để khởi động chiếc xe Uaz con trông âu sầu cũ rích, họ đảm bảo với chúng tôi về điều đó. PMTO đã "làm việc" Tại đây người ta phải chống chội với những điều kiện khí hậu khó khăn, với rắn độc, các bệnh nhiệt đới và tình trạng máy móc thiết bị dần dần hư nát. ... Một cơn lốc mạnh đã phá hủy nhiều trụ kim loại mỏng manh dùng làm trụ tạm đỡ đường cung cấp điện cho thị trấn. Cùng một lúc tất cả các máy điều hòa không khí, các đồ điện gia dụng, bếp điện ngừng làm việc... Người Việt Nam đề nghị giúp đỡ. Sự trợ giúp ấy mất đến 25 ngàn đô la với thời hạn ít nhất là hai tuần. Sự "xa xỉ" này thì đại tá hải quân Yuri Eremin không thể cho phép mình có được. Ông tập hợp cấp dưới và làm một cuộc tham khảo ý kiến. Cùng ngày, toàn bộ dân số nam (gồm cả các cháu trai-học sinh phổ thông), trang bị xẻng cuốc, hành quân đến nơi tai nạn. Họ phải đào trong đất cát một cái mương sâu một mét và chiều dài 2,5 km. Mọi người làm việc vất vả từ sáng sớm đến chiều tối. Mưa nhiệt đới và ánh nắng thiêu đốt không bẻ gãy được tính cách Nga, không làm mọi người sợ hãi. Khi rãnh cáp đã được hoàn tất, nảy sinh một vấn đề mới: kiếm đâu ra loại cáp có đường kính cần thiết? Người ta đã tìm thấy nó ... cách nơi công việc đang diễn ra 5 cây số. Cáp được đào lên và vận chuyển vác vai đến nơi lắp đặt (sau này mới tính ra rằng mỗi m cáp nặng đến 60 kg). Tới ngày thứ chín bản anh hùng ca lao động kết thúc với sự kiện việc cung cấp điện đã được khôi phục lại. Tư lệnh vùng Hải quân Việt Nam đã đích thân đến nơi và bày tỏ sự ngưỡng mộ của mình đối với hành động của các quân nhân Nga. (http://old.redstar.ru/2001/04/05_04/a_t31a.jpg) Theo các sỹ quan và nhân viên phục vụ tại PMTO, để thúc đẩy mọi người tham gia vào một nhiệm vụ lớn lao và khó khăn như vậy chỉ có thể là một người đàn ông tính cách rất mạnh mẽ và có uy tín cao, đó là người chỉ huy trưởng căn cứ, đại tá hải quân Yuri Eremin. Kể từ khi ông được bổ nhiệm, tại đơn vị đã có thay đổi đáng kể trong mối quan hệ giữa mọi người, người ta cảm thấy có sự quan tâm thực sự đối với người lao động. Ông không bao giờ có kiểu xử sự đại khái, mà cố gắng tìm hiểu kỹ lưỡng, lắng nghe ý kiến của đa số, nhưng cũng không ngại đi ngược lại, nếu vấn đề trở nên tồi tệ. Ông vừa nghiêm khắc và vừa mềm dẻo, người ta có thể từ chỗ ông đi ra mà không được hài lòng, nhưng không bao giờ bị xúc phạm. Dựa vào các cấp phó của mình, dựa vào những người cùng chí hướng (mà những người như vậy là đa số), người chỉ huy trưởng căn cứ cố gắng biến cuộc sống cô lập của PMTO trở thành một cuộc sống thú vị và sôi động. - Tôi đã có dịp làm việc dưới ba đời chỉ huy trưởng, nhưng sự quan tâm như hiện nay đối với các cư dân của thị trấn, đặc biệt đối với trường học thì chưa bao giờ tôi được thấy - hiệu trưởng trường trung học địa phương Lyudmila Surenovna Chilingaryan nhận xét. - Lũ trẻ cảm thấy sự quan tâm chăm sóc thực sự của bậc cha mẹ từ phía người chỉ huy trưởng. Mà người chỉ huy căn cứ vẫn còn một giấc mơ - xây dựng trong thị trấn một nhà nguyện nhỏ. Đã có được sự "đồng ý" từ Bộ chỉ huy Hạm đội Thái Bình Dương và phía Việt Nam. Các đồng nghiệp ủng hộ ý tưởng. Đã gửi thư cho Giáo chủ Moskva và Giáo hội Chính giáo Toàn Nga Aleksey II, yêu cầu gửi đến đây một vị linh mục. Bây giờ mọi người đang chờ đợi trả lời. Làm việc ở PMTO là một đội ngũ nhân viên dân sự, như người ta vẫn goi là các chuyên gia được tuyển dụng đặc biệt. Hầu hết trong số họ được phái đến từ các phòng quân vụ của các tỉnh Rostov, Lipetsk và Bryansk. Thật không may, trong số tình nguyện viên được chọn có nhiều người không nằm trong số tốt nhất xét trên cả phương diện phẩm chất đạo đức và chuyên môn. Có khá nhiều trường hợp do vi phạm kỷ luật lao động mà phải gửi trả về nước những vị "khách du lịch" kiểu như vậy. Và đó là những nguồn tài chính không nhỏ đã bị nhà nước ném qua cửa sổ. Bộ chỉ huy PMTO cho rằng việc xem xét lại các vấn đề bổ sung quân số và chuyển nó đến nơi có thẩm quyền ở khu vực Viễn Đông đã thực hiện quá muộn. Thay đổi lộ trình một vấn đề quan trọng như vậy sẽ làm giảm bớt chi phí cho việc đi lại của các chuyên gia từ các vùng phía tây của đất nước, cho phép lựa chọn con người một cách có chất lượng hơn và chịu trách nhiệm về những ứng cử viên được cử đi công tác nước ngoài. Ngày hôm nay do sự tắc trách của các phòng quân vụ mà tại thị trấn thừa ra nhiều giáo viên tiểu học, nhưng lại thiếu giáo viên vật lý và một giáo viên toán. Tuy nhiên, nếu trẻ em sau khi đọc sách giáo khoa có thể tự mình nghiên cứu những điều sơ đẳng cơ bản về đối tượng, thì ở đây không có bác sĩ không thể làm được gì. Trong khi đó, tại bệnh viện địa phương chẳng có biên chế bác sĩ phụ khoa và bác sĩ nhi khoa, lại đang còn vấn đề cắt giảm chức trách bác sĩ phẫu thuật thứ hai ... Những chuyến ghé thăm hiếm hoi của các tàu chiến Nga, các tàu hậu cần, các chuyến máy bay hãn hữu - tất cả những điều này từ lâu đã dẫn một số người đến ý nghĩ về cái chết sắp xảy ra. Tuy nhiên, năm nay, tình hình bắt đầu có thay đổi. Việc một biên đội tàu chiến của Hạm đội Thái Bình Dương ghé vào cảng, trên đường trở về nhà từ chuyến thăm Ấn Độ, đã phá vỡ cảnh "trì trệ" này. Và, mặc dù đoàn tàu đậu lại một thời gian rất ngắn, chỉ một vài ngày, nhưng PMTO đã "làm việc" ... ........ Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 11 Tháng Tư, 2013, 10:56:38 pm (tiếp)
(http://www.47br-ovra.com/files/Palivoda_%20Foto%201.jpg) MT "Zapal" đề án 266M. Cam Ranh năm 1981. (http://www.47br-ovra.com/files/Palivoda_%20Foto%202.jpg) MT "Zapal" đề án 266M. Cam Ranh, năm mới 1981. (http://www.47br-ovra.com/files/Palivoda_%20Foto%207.jpg) MT "Zapal" đề án 266M. Cam Ranh năm 1981. Trên cầu tàu: đại úy thuyền trưởng và đại úy KGB. (http://pm-156.narod.ru/Kamran82/1.jpg) Tàu công binh xưởng PM-156. Cam Ranh 1980-1981. (http://pm-156.narod.ru/Kamran82/9.jpg) Tàu công binh xưởng PM-156. Cam Ranh 1982.Trực canh chống người nhái. (http://pm-156.narod.ru/84-86/3.jpg) Tàu công binh xưởng PM-156. Cam Ranh 1984-1986. (http://pm-156.narod.ru/84-86/4.jpg) Tàu công binh xưởng PM-156. Cam Ranh 1984-1986. Nhìn từ trên boong thượng của tàu xuống căn cứ. (http://pm-156.narod.ru/90-91/K-20.jpg) Tàu công binh xưởng PM-156. Tiến vào Cam Ranh, 1991. (http://pm-156.narod.ru/90-91/K-18.jpg) Tàu công binh xưởng PM-156. Cam Ranh 1991. Ngư dân địa phương. (http://pm-156.narod.ru/90-91/K-19.jpg) Tàu công binh xưởng PM-156. Cam Ranh, 1991. ......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 12 Tháng Tư, 2013, 08:41:16 pm (tiếp)
Tàu quét mìn trên biển MT "Chuẩn úy hải quân Pavlov" đề án 266, lữ đoàn 26 (http://www.47br-ovra.com/files/%D0%A1%D0%B5%D1%80%D0%B5%D0%B4%D0%B0-5.jpg) Biển Đông năm 1980, tàu sân bay "Minsk" nhìn từ MT "Chuẩn úy hải quân Pavlov" (http://www.47br-ovra.com/files/%D0%9A%D0%B0%D0%BC%D1%80%D0%B0%D0%BD%D1%8C-80%D0%B3_.jpg) Năm 1980, Biển Đông, quân cảng Cam Ranh, một phần thủy thủ đoàn MT "Chuẩn úy hải quân Pavlov" trong thời gian nghỉ ngơi. (http://www.47br-ovra.com/files/%D0%A1%D0%B5%D1%80%D0%B5%D0%B4%D0%B0-6.jpg) (http://www.47br-ovra.com/files/%D0%A1%D0%B5%D1%80%D0%B5%D0%B4%D0%B0-8.jpg) (http://www.47br-ovra.com/files/%D0%A1%D0%B5%D1%80%D0%B5%D0%B4%D0%B0-13.jpg) (http://www.47br-ovra.com/files/%D0%A1%D0%B5%D1%80%D0%B5%D0%B4%D0%B0-14.jpg) (http://www.47br-ovra.com/files/%D0%A1%D0%B5%D1%80%D0%B5%D0%B4%D0%B0-17.jpg) (http://www.47br-ovra.com/files/%D0%A1%D0%B5%D1%80%D0%B5%D0%B4%D0%B0.jpg) Năm 1980, Biển Đông, cảng Đà Nẵng, thủy thủ đoàn MT "Chuẩn úy hải quân Pavlov" trong chuyến thăm thành phố. .......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 12 Tháng Tư, 2013, 09:52:24 pm (tiếp)
(http://admiral-umashev.narod.ru/img/chapai/ekipaj/chap092.jpg) BPK "Chapaev", Cam Ranh 1985. (http://admiral-umashev.narod.ru/img/chapai/ekipaj/chap112.jpg) BPK "Chapaev", Cam Ranh 1985. (http://admiral-umashev.narod.ru/img/chapai/ekipaj/chap093.jpg) BPK "Chapaev", Cam Ranh 1985. (http://admiral-umashev.narod.ru/img/chapai/ekipaj/chap102.jpg) BPK "Chapaev", Cam Ranh 1985. (http://admiral-umashev.narod.ru/img/chapai/ekipaj/all_sunduk.jpg) BPK "Chapaev", Cam Ranh 1985. ........ Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 12 Tháng Tư, 2013, 10:37:32 pm (tiếp)
(http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/45/2/744716670.jpg) BPK "Nguyên soái Voroshilov". Nhiệm vụ quân sự 87-88. Tàu đang ở gần bờ biển Việt Nam, ảnh chụp từ trực thăng. (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/45/2/898977940.jpg) BPK "Nguyên soái Voroshilov". Nhiệm vụ quân sự 87-88. Dưới gốc dừa. (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/45/2/204585400.jpg) BPK "Nguyên soái Voroshilov". Nhiệm vụ quân sự 87-88. Sân trực thăng trong chuyến ra khơi huấn luyện cứu nạn trên biển Đông. (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/45/2/903218757.jpg) BPK "Nguyên soái Voroshilov". Nhiệm vụ quân sự 87-88. Chùa Việt Nam. (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/26/2/853438719.jpg) BPK "Nguyên soái Voroshilov". Nhiệm vụ quân sự 87-88. Cam Ranh 1988. (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/45/2/228320192.jpg) BPK "Nguyên soái Voroshilov". Tư lệnh Hạm đội TBD và Nguyên soái Moskalenko. Kamchatka 1976. (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/26/2/969648567.jpg) BPK "Nguyên soái Voroshilov". Nhiệm vụ quân sự 87-88. Cam Ranh tháng 12 năm 1987. ....... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 12 Tháng Tư, 2013, 11:18:34 pm (tiếp)
(http://kara-1134b.ucoz.ru/_ph/10/2/907555442.jpg) BPK "Tallin", Cam Ranh 1986. (http://kara-1134b.ucoz.ru/_ph/12/2/876674203.jpg) BPK "Tallin", gần bờ biển Việt Nam, 1986. (http://kara-1134b.ucoz.ru/_ph/12/2/835996799.jpg) BPK "Tallin", ban 3, Cam Ranh 1986. (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/40/2/683472825.jpg) BPK "Đô đốc Oktiabrsky". Kiểm tra điều lệnh. Cam Ranh 1990. (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/40/2/145636063.jpg) BPK "Đô đốc Oktiabrsky". Kiểm tra điều lệnh. Cam Ranh 1990. (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/40/2/369215108.jpg) BPK "Đô đốc Oktiabrsky". Cam Ranh 1990. (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/31/2/843213825.jpg) BPK "Đô đốc Oktiabrsky". Cam Ranh 1990. (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/31/2/674162482.jpg) BPK "Đô đốc Oktiabrsky". Kiểm tra điều lệnh. Cam Ranh 1990. (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/31/2/989542552.jpg) BPK "Đô đốc Oktiabrsky". Kiểm tra điều lệnh. Cam Ranh 1990. ........... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 13 Tháng Tư, 2013, 09:49:58 pm (tiếp)
Tàu sân bay "Minsk", Cam Ranh, Việt Nam, năm 1980 (ảnh: Vladimir Melnik, trung đoàn cường kích độc lập trên tàu sân bay số 311) (http://content.foto.mail.ru/community/navyaviation/27/i-1427.jpg) (http://content.foto.mail.ru/community/navyaviation/27/i-1083.jpg) (http://content.foto.mail.ru/community/navyaviation/27/i-1486.jpg) (http://content.foto.mail.ru/community/navyaviation/27/i-1082.jpg) (http://content.foto.mail.ru/community/navyaviation/27/i-1086.jpg) (http://content.foto.mail.ru/community/navyaviation/27/i-1049.jpg) (http://content.foto.mail.ru/community/navyaviation/27/i-1417.jpg) (http://www.avianosec.com/foto/861.jpg) Trên boong "Minsk". Phi công thử nghiệm Oleg Kononenko (thứ 2 bên phải) một tuần trước khi xảy ra tai nạn Yak-38 ở khu vực gần Côn Đảo (ảnh của L.A.Kononenko) (http://www.avianosec.com/foto/2803.jpg) Trưởng ngành 4 tàu sân bay "Minsk" Viktor Blytov và thanh niên địa phương. Nha Trang 1980 (ảnh của V.Blytov). ........ Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 14 Tháng Tư, 2013, 12:25:58 am (tiếp)
Tàu sân bay "Minsk" 1979-1980 (Ảnh của thượng úy V.L.Komyze trong chuyến di chuyển qua 3 biển từ Sevastopol về Hạm đội TBD năm 1979 và tại Việt Nam năm 1980) (http://content.foto.mail.ru/mail/57komvik/73/i-98.jpg) (http://content.foto.mail.ru/mail/57komvik/73/i-86.jpg) Ra Địa Trung Hải (http://content.foto.mail.ru/mail/57komvik/73/i-81.jpg) Đảo Sokotra (http://content.foto.mail.ru/mail/57komvik/73/i-90.jpg) Đi thăm Luanda, Angola (http://content.foto.mail.ru/mail/57komvik/73/i-76.jpg) Luanda, Angola (http://www.avianosec.com/foto/budyak.jpg) Sỹ quan trực trung tâm thông tin tác chiến. Eo Malakka, tháng 6 năm 1979 (http://content.foto.mail.ru/mail/57komvik/73/i-80.jpg) Tàu đã vào vịnh Cam Ranh, mùa hè 1980 (http://content.foto.mail.ru/mail/57komvik/73/i-68.jpg) Trên bãi biển vịnh Cam Ranh (http://content.foto.mail.ru/mail/57komvik/73/i-74.jpg) Trên bãi biển vịnh Cam Ranh (http://content.foto.mail.ru/mail/57komvik/73/i-77.jpg) Chụp ảnh cạnh Iroquois (http://content.foto.mail.ru/mail/57komvik/73/i-92.jpg) Trong căn cứ Cam Ranh (http://content.foto.mail.ru/mail/57komvik/73/i-93.jpg) Trong căn cứ Cam Ranh (http://content.foto.mail.ru/mail/57komvik/73/i-95.jpg) Trong căn cứ Cam Ranh (http://content.foto.mail.ru/mail/57komvik/73/i-91.jpg) Trong căn cứ Cam Ranh (http://content.foto.mail.ru/mail/57komvik/73/i-85.jpg) Trong căn cứ Cam Ranh (http://content.foto.mail.ru/mail/57komvik/73/i-96.jpg) Thư giãn, tắm nắng (http://content.foto.mail.ru/mail/57komvik/73/i-97.jpg) Tránh vào bóng râm (http://content.foto.mail.ru/mail/57komvik/73/i-100.jpg) Trên Biển Đông (http://content.foto.mail.ru/mail/57komvik/73/i-106.jpg) Trinh sát khí tượng trong sự bám sát của kẻ thù ..... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 16 Tháng Sáu, 2013, 03:08:36 pm (tiếp)
(http://flot.com/upload/blog/a38//Tkach_1.jpg) Làng Kamranevka. Yuri Tkachev. (http://flot.com/blog/historyofNVMU/3039.php) Đã có một thời gian mà tôi, một thiếu tá hải quân, có cơ hội phục vụ tại Việt Nam. Ở đó, trong thời kỳ Xô viết (và hậu Xô Viết, cho đến năm 2002), có một căn cứ đảm bảo vật chất-kỹ thuật của chúng ta phục vụ cho các tàu mặt nước và tàu ngầm của binh đoàn 17 Hạm đội Thái Bình Dương. (http://flot.com/upload/blog/456//Tkach3_23.jpg) Căn cứ hải quân của Liên Xô tại Cam Ranh, tranh vẽ của Edward L. Cooper, năm 1985 - Site "Cựu chiến binh Cam Ranh" (http://www.camranh.ru/index.html) Căn cứ hậu cần này nằm trong vịnh Cam Ranh trên bờ biển đông nam Việt Nam. Chúng tôi, những thủy binh Hạm đội Thái Bình Dương, gọi nơi phục vụ của mình theo phong cách Nga - Kamranevka. Phục vụ tại đây trước chúng ta có người Mỹ, và thậm chí sớm hơn nữa là người Pháp. Nam Việt Nam đã từng là thuộc địa của Pháp. Khí hậu ở đó thật là khủng khiếp - nóng bức và độ ẩm cao. Khi tôi bay đến Kamranevka và bước chân xuống đường, cảm giác đầu tiên dường như tôi đã mắc kẹt trong một lò nung. Và đang tháng Mười cơ đấy! Tóm lại để có thể sống được ở đây - mà không buồn nản, chỉ là vì phục vụ trung thành cho Tổ quốc phải không ạ? Người ta nói rằng người Mỹ phục vụ ở đây theo cách luân phiên - hai tuần rồi về nhà hưởng khí hậu quê hương. Còn chúng tôi được phái đến Kamranevka những hai năm. Tùy theo nguyện vọng ta có thể phục vụ lâu hơn. Bộ chỉ huy hạm đội luôn chào mừng chuyện đó. Chỉ huy PMTO, người Ukraina ông Titenok, cũng như tất cả các sĩ quan ngành hậu cần hải quân của hạm đội, mang quân hàm lục quân - đại tá và ông phục vụ ở Kamranevka đã được 5 năm khi tôi đến. Có điều gì đó không kéo ông về Liên Xô mà để ông bén rễ ở bờ biển Việt Nam. Đại loại là gia đình ông đang ở đâu đó tại Sevastopol, mà không chuyển đến đây. Ở đây ông là ông chủ của một mẩu nước ngoài, còn ở đó, ở Sevastopol, ông sẽ chỉ là một đại tá bình thường, có vô số trên đất Nga. (http://dic.academic.ru/pictures/wiki/files/99/check_vneshposyltorg.jpg) Và phụ cấp bằng tiền cũng giữ chân người ta trong ngôi làng nóng nực Kamranevka. Mức lương rất tốt tại thời điểm ấy. Còn khi đi về nghỉ phép hoặc nghỉ hẳn, lấy tổng lũy kế những đồng séc mà cơ quan Ngoại thương ban hành có thể "luộc" được trong các "cửa hàng đặc biệt" (http://dic.academic.ru/dic.nsf/ruwiki/807580) các trang thiết bị khan hiếm và các loại quần áo thời trang hợp mốt. Các bà vợ của chúng tôi, khi bước vào một cửa hàng như vậy vào buổi sáng, sẽ dạo chơi ở đó với một vẻ say mê quyến rũ giống như đi bảo tàng, cho đến tận lúc của hàng đóng cửa. Trong các cửa hàng thông thường, tại các quầy, hàng hóa còn nghèo nàn hơn cả so với chỗ ông tiên có bà lão ngồi trong cái thùng trong nhà kho. Ngắm hay không ngắm cũng vậy thôi - đến bánh tiểu mạch cũng chẳng đủ. (http://flot.com/upload/blog/a11//Tkach3_24.jpg) Lúc đầu, tôi hầu như không thể hít thở được thứ không khí bị đốt nóng này, nó thiêu cháy ta từ bên trong, và sau này khi đã quen, ta dần dần sạm đen bởi mặt trời và khô xác như một con sứa trên bờ biển. Mỡ nhểu ra khỏi cái bụng Hải quân và nhỏ giọt xuống cát. Thức ăn không trôi được qua cổ họng - trời quá nóng. Cũng nhờ vậy mà - giảm cân. Sau một thời gian, khi đã quen với khí hậu nóng nực, tôi bắt đầu nhận thấy thiên nhiên tuyệt đẹp của vịnh Cam Ranh - những hàng dừa, những bãi biển cát trắng tinh khiết, biển Đông xanh biếc như màu ngọc. Tôi đến Kamranevka thay phiên nhà hóa học-đồng nghiệp Ghena Romanov. Ghena ốm đau trầm trọng và một tuần trước khi tôi đến, anh đã trở về Liên bang. - Yura - Viktor Khozov, phó chủ nhiệm ngành hóa học hạm đội nói một cách bí ẩn trước chuyến đi của tôi đến Việt Nam - Hãy nhớ rằng Titenok thiếu 24 kí-lô rượu. Ông ấy sẽ đẩy cậu đi đâu đó, hoặc trao đổi hàng hóa theo kiểu hàng đổi hàng. Tôi sẽ cho cậu biết điều bí mật tuyệt vời - chúng tôi đã "quay phim" lão ta. Nhưng! Titenok không biết chuyện đó. (http://flot.com/upload/blog/131//Tkach3_26w.jpg) Học viên trường dự bị hải quân Nakhimov, Viktor Khozov, năm 1966. Viktor Khozov (đứng giữa) cùng với các bạn cùng lớp. - Tôi hiểu ý anh! - Tôi đáp, - Chúng tôi sẽ hành động dứt khoát và mạnh mẽ. Ra nước ngoài khi đó được phép mang theo hai chai vodka "Moskva". Và, đương nhiên, rượu ở Việt Nam cũng là loại hàng khan hiếm. Hai chai "Moskva" tôi mang theo được hải quan Liên Xô phê "duyệt", được các bạn chiến đấu mới của chúng tôi thưởng thức không lâu - chừng năm phút. Trước cuộc gặp gỡ các đồng nghiệp, tôi đến trình diện chỉ huy của mình - đại tá Titenok. Ông sống trên tầng hai một ngôi nhà gỗ hai tầng mà thực dân Pháp xây dựng cuối những năm bốn mươi - đầu những năm năm mươi. Các căn biệt thự sau ba mươi lăm năm mối không ăn nổi, bởi tất cả các súc gỗ đã được tẩm một loại chất độc nào đó của miền nhiệt đới nhiều tai ương này. - Tôi đã tiếp nhận công việc - tôi vui vẻ báo cáo - giấy tờ các loại theo quy định, tài sản hiện có trong kho, ngoại trừ hai mươi bốn kí-lô rượu. - Rượu nào vậy? - người Ucraina ranh mãnh Titenok có vẻ mặt rất sửng sốt. - Của phòng thí nghiệm hóa học quân sự di động, thưa đồng chí đại tá: Tất cả ba thùng chứa đều rỗng không. Titenok hiểu ra rằng dắt mũi tôi rất khó. Trên thực tế, tôi sẽ chịu trách nhiệm về sự mất mát tài sản, nếu duyệt ký biên bản bàn giao của người chỉ huy mà không đề cập đến sự thiếu hụt này. - Được rồi, nhà hóa học, cứ đi đi, hãy viết phiếu, cậu sẽ nhận được món đồ của cậu, tôi chỉ có ba lít thôi, tôi còn phải làm việc. Rồi tôi sẽ ký chúng giúp cậu - Người chỉ huy mới của tôi nói. (http://flot.com/upload/blog/2b3//Tkach3_25w.jpg) Phiên bản trong nước và phiên bản xuất khẩu Và khi các sỹ quan của PMTO đã nốc cạn chai "Moskva" mừng tôi đến, tôi hỏi họ ai là người chịu trách nhiệm món shilo. - À, đây, Volodia Babaev! - họ chỉ cho tôi một đại úy hải quân da ngăm đen. - À, à, Volodya ibn Ali Babaevitch, vậy xin anh hướng dẫn cho tôi vào được kho châu báu của mình! - Tôi long trọng tuyên bố - Lễ hội vẫn tiếp tục nhé! Tôi chìa cho anh ấy xem phiếu xuất rượu, có chữ ký của người chỉ huy PMTO. Trên phiếu ghi rõ ngày - ngày 17 tháng 10 năm 1985. Ngày tôi đến vịnh Cam Ranh. - Trời, cậu đã kịp làm việc với Titenok khi nào vậy? - Mọi người đều vui vẻ ngạc nhiên trước tính khẩn trương của tôi, - thật là nhanh như phản ứng hóa học! Chủ nhiệm quân lương, Mishka Smykov - một viên thượng úy to lớn, vụng về, ra lệnh chuẩn bị một bữa ăn tối đặc biệt để mừng dịp tôi đến, và anh nhanh nhẹn chạy đi, lo bữa ăn buổi tối thật ngon cho chúng tôi. Còn tôi và Volodya lấy hẳn ấm trà bằng nhôm 5 lít của hải quân và để không gây sự chú ý không lành mạnh, chúng tôi cứ chậm rãi lang thang trong cái nóng, đi lấy đồ uống. Khi bóng đêm dày đặc miền nhiệt đới hoang dại, giống như chiếc lều thổ dân Bắc Mỹ, buông xuống căn nhà gỗ 2 tầng của chúng tôi một cách đột ngột bất thường, chẳng hề có dấu hiệu báo trước của hoàng hôn, khi đó trời mới mát mẻ được một chút, bầu trời bắt đầu sáng lên bởi những ngôi sao lớn rậm rịt, tiếng bọn ve sầu kêu như rang trong các bụi cây mộc lan, anh em sĩ quan ngồi vào bàn và mở màn lễ "nhập trạch" vào Kamranevka của tôi. Tại hạm đội, cũng như ở lục quân, hay không quân, bất cứ ngành phục vụ nào cũng bắt đầu với một lễ "nhập trạch". Nó là đạo luật quân sự "nghiêm túc". Và không phải một bữa tiệc rượu theo nghĩa hiểu thông thường của từ này. Đơn giản là sau này, trong cảnh hối hả và nhộn nhịp của công việc hàng ngày, ta sẽ không có thời gian để làm quen. Một người mới cần phải được tìm hiểu xem anh ta là ai, anh ta thở kiểu gì, anh ta từ đâu đến. Và ngoài ra, anh ta có thể là đồng hương của bạn hay không? Ở đó, ở vùng Viễn Đông, người ta coi là đồng hương nếu ta cùng tỉnh hay cùng một vùng của đất nước với nhau. Sau bàn nhậu, dưới âm thanh du dương của những tiếng chạm cốc thủy tinh chứa thứ rượu đã pha loảng bớt, dưới khẩu vị những món ăn đơn giản của hải quân, chúng tôi giao tiếp với nhau và tìm được bạn cho mình, những người bạn mà ta sẽ không bao giờ phản bội và sống chết có nhau kể cả trong lúc khó khăn. Sau khi Mỹ rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, tại đấy những cấu trúc cơ sở hạ tầng dần dần bị những người cai quản phá hủy. Tháng Tư năm 1975, Bắc Việt Nam sau khi giải phóng Miền Nam, đã thay đổi đột ngột theo hướng Bolshevik, hình ảnh tư sản của cuộc sống của người dân. Sài Gòn được đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh, các cô gái Việt Nam - làm nghề mại dâm bị đày ra đảo để khai thác đá, còn những người đàn ông - cựu công chức của chế độ tay sai đế quốc bị buộc phải làm việc trên cánh đồng. Người ta cày bừa để trồng lúa. Đổi lại là những gì - từ Liên Xô chuyển đến Việt Nam một số lượng lớn xe máy trang bị kỹ thuật. Nhà hàng, siêu thị, sòng bạc bị đóng cửa. Đèn đỏ bị dập tắt tại các tụ điểm xa hoa của Sài Gòn. Công việc không có. Cái nghèo của miền Bắc Việt Nam lây lan về phía nam của đất nước. Trong những tiệm tạp hóa nghèo nàn, người ta bán các đồ lưu niệm, chế tạo thủ công - mành mành với những vỏ trai, vỏ ốc, hoa quả. Một bánh xà phòng có thể trao đổi lấy một nải chuối hoặc một cặp trái thơm khổng lồ. Ai đó trong chúng tôi đã dùng một từ tiếng lóng, và chúng tôi, những người Nga, đối với họ là các "korefan". - Korefan! Kinem (đổi không)? - một người Việt Nam gầy còm hỏi. Và chúng tôi thì chúng tôi "kinemili" (trao đổi) là đương nhiên. (http://flot.com/upload/blog/da1//Tkach3_27.jpg) Phố Cửa Hiệu, ảnh G.Trofimov - Căn cứ hải quân trong vịnh Cam Ranh tại Việt Nam (http://www.camranh.ru/history.html) "Kinem" đã bị ban chỉ huy cấm, nhưng trên thực tế họ làm ngơ. Để đổi lấy những trái cây kỳ lạ của Việt Nam, vỏ trai ốc và quà lưu niệm, phía chúng tôi dùng xà bông, thịt hộp, quân phục hải quân. Giày là loại hàng được đặc biệt đánh giá cao nhất là giày cỡ nhỏ và áo sơ mi hải quân màu kem cộc tay. Nạn ăn cắp từ phía những người anh em chung vũ khí non trẻ của chúng tôi là hành vi bình thường. Trong khi tôi tắm trong nhà tắm có vòi hoa sen mùa hè, một người Việt Nam nào đó trong trung đội quản lý đã đánh cắp chiếc áo sơ mi mà tôi vô tình vắt trên bức tường phòng tắm . Và đại tá hải quân trưởng ngành hoa tiêu Zayko của chúng tôi đã hai lần từ bãi biển trở về trong độc một chiếc quần sịp. Vợ ông, người mà ông đưa đến Cam Ranh (các sỹ quan bộ tham mưu được phép mang theo gia đình), đã lớn tiếng la mắng ông bằng đủ loại từ ngữ vì sự mất mát do thiếu cảnh giác này. Phụ nữ gần như không có, nhưng các cô gái Việt thì thậm chí không muốn nhìn - họ gầy gò, nhỏ bé, ngực phẳng. Ngay cả đàn ông Việt cũng thích những nữ đồng tộc béo tốt. Dấu hiệu của một người Việt Nam giàu có là sự viên mãn vợ ông ta. Vợ của người chỉ huy trung đội quản lý Việt Nam theo quan điểm Việt Nam là một người phụ nữ khá tươi tốt. - Người giàu ấy à! - ông ta nói với cấp dưới của mình một cách đố kỵ - vợ bao giờ cũng béo, họ nuôi vợ rất tốt. Mà tại sao lại không nuôi tốt, bởi người Việt Nam tháo vát thường nuôi heo, và tất cả các đồ thải từ bộ phận phục vụ của chúng tôi ông ấy lấy đi hết. Những con heo vui vẻ ụt ịt trong bãi chăn. Và chăm chăm nhìn chúng cũng như nhìn bà chủ tươi tắn béo tốt của chúng với vẻ thèm muốn là những người lính suốt đời đói khát thuộc trung đội quản lý Việt Nam. Người ta chuẩn bị bữa ăn trưa cho mười người bằng một nồi cơm với một số đồ biển. Họ không có bữa sáng và bữa tối. Do đó người Việt Nam đánh bắt và ăn tất cả mọi thứ di chuyển được hoặc đơn giản là động đậy được. Một món ăn đặc biệt là loài thằn lằn lớn, chẳng hạn như kỳ giông. Lúc thủy triều xuống thấp, hàng trăm người Việt Nam ra bờ biển đào bới - họ kiếm đồ ăn. Cần phải nói rằng người dân bản địa, dù gầy gò nhưng mạnh mẽ và dẻo dai. Cá nhân tôi đã có cơ hội để khẳng định điều đó. Ngày hôm đó tôi đổi phiên trực. Ba đến bốn lần một tháng, các sỹ quan PMTO làm nhiệm vụ trợ lý trực ban tác chiến và phụ trách các vấn đề đảm bảo hoạt động cho các tàu mặt nước và tàu ngầm ghé vào vịnh Cam Ranh. - Này nhà hóa học! - Titenok gọi cho tôi, - tôi sẽ đưa cậu về nhà, hãy lên xe đi. Khu nhà ở cách bến tàu quân sự những mười hai km. Sau phiên trực cần phải tìm một chiếc xe trên đường đi về. - Cảm ơn! - Tôi ngồi thoải mái trên ghế sau chiếc UAZ của ông ấy. - Trước tiên ta cứ đi, rồi ta đến xem công tác xây dựng bệnh viện tiến triển đến đâu - người chỉ huy của tôi báo trước cho tôi. .......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 17 Tháng Sáu, 2013, 12:50:50 am (tiếp)
Động cơ gầm gừ một cách ấm cúng, chiếc xe lăn bánh đều đều trên con đường êm ả dọc theo bờ biển. Tôi bắt đầu thiếp đi sau một phiến trực đêm không ngủ trên chiếc tàu công binh xưởng bị ánh nắng mặt trời thiêu đốt nung nóng bỏng, nơi đặt văn phòng trực ban tác chiến. (http://flot.com/upload/blog/15f//Tkach2_31.jpg) - Đứng lại! Đứng lại! - đột nhiên đại tá hét lên. Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ xe và nhìn thấy một người Việt Nam đang chạy trốn cõng trên vai một bao xi măng đầy ự, đánh cắp từ công trường xây dựng. Xương sườn của anh ta nhô ra như những chiếc răng bừa cào cỏ, anh ta trông gầy nhỏ và yếu đuối. Món hàng của anh ta đè dúi dụi anh ta. Người thổ dân chỉ hơi trượt chân một chút trên bãi cát, rồi anh ta nhảy lên và chạy nhanh như một con sóc. Anh ta chạy thẳng vào hướng rừng, còn cách đó không quá năm trăm mét. - Này các cậu lính thủy! Ê, mấy cậu lính thủy - Titenok hét lên - chạy lại đây! Hai cậu thủy thủ lính nghĩa vụ lười biếng chạy bộ đến chỗ chiếc xe, các cậu ấy được cử đến làm việc tại công trường xây dựng bệnh viện. - Nhìn đi đâu thế, các cậu cả thộn! Người ta lấy xi măng trước mũi các cậu, mà các cậu có đủ cả tai lẫn mồm! Chạy ngay theo! Đuổi kịp và lấy lại! - Đại tá Titenok chỉ về phía tên trộm đang bỏ chạy. Các cậu lính thủy lạch bạch chạy. Họ không thực sự chạy, bởi lẽ họ đã cam kết "kinem" với người Việt Nam: một bao xi măng lấy một chai rượu gạo giá rẻ. Nhưng đằng sau đại tá đang nổi giận - phải đuổi kịp và lấy lại. Chắc chắn, người ta sẽ thì thầm với "korefan" hãy chờ đợi cho đến khi thủ trưởng bỏ đi. Phía sau hai thủy thủ cùng khênh một bao xi măng. Và nói cho cùng, hãy thử chạy nhảy trên bãi cát nóng rực với một khối nặng trên vai như vậy xem. - Thế đấy, thưa đồng chí đại tá, người Việt Nam tự tay bê đồ về nhà của mình, còn với các cậu chiến sỹ này của chúng ta mớ xi-măng đó hoàn toàn vô dụng - Tôi nói với người chỉ huy. Titenok bực tức quá chỉ nhổ nước bọt, mà không tìm ra lời để nói. (http://flot.com/upload/blog/35d//Tkach3_29.jpg) Toàn bộ công việc quân sự bắt đầu từ sáu giờ sáng và kết thúc chỉ sau khi ăn trưa. Tiếp đến là giấc ngủ trưa. Tất cả chỉ sống lại vào buổi tối, khi nhiệt độ giảm xuống một chút. Trong giờ nghỉ trưa dài, chúng tôi có thể ngủ trong ngôi biệt thự gỗ, và có thể đi đến bãi biển "Mỹ" để bơi và tắm nắng. Tôi thích lặn ngụp trong làn nước ấm áp của Biển Đông, còn cát trên bãi biển thì nhỏ và trắng như thể tinh bột. Để tránh mặt trời nóng bỏng, người ta thường trú ẩn dưới những bóng dừa hiếm hoi. Rồi đến buổi tối - món bài bạc preferans muôn thưở của sỹ quan kiểu nửa kô-pếch cho bài "twist" hoặc bi-a. Điều thú vị - đó không phải là những người bạn thường xuyên của thủy thủ - những con gián có biệt danh "stasik". Trong thời đại của chúng ta, tôi đã thôi không quan sát thấy chúng, - có lẽ lý do dẫn tới điều đó - là bức xạ điện từ. Bây giờ, mọi người đều có điện thoại di động, toàn bộ đất nước đã computer hóa. Tôi nghĩ rằng stasik đã rời khỏi nước Nga. Vâng, người ta có thể sống ở những nơi mà nền văn minh chưa từng đặt chân tới. Nhưng ở đó, tại Kamranevka, lý do lại nằm ở chỗ khác. Tất cả stasik có mặt trên các tàu quân sự và các loại tàu thuyền khác đều bị lũ gián Việt Nam màu đen khổng lồ nuốt hết. Nhìn thấy một trong những con gián ấy tóc trên đầu bạn có lẽ cũng phải dựng đứng. - Khr ... khr...khr ...... - Tôi thức dậy lúc nửa đêm trong bungalow của mình, tôi bật điện sáng và nhìn thấy cạnh mình, trên bức tường dán giấy bồi, những con gián khổng lồ to như lòng bàn tay đang gặm giấy. Có khoảng một chục con. Mắt chúng lóe lên những ánh đói khát. Chúng đi kiếm ăn đêm bằng lớp hồ dán đã khô, mà trước đây được người ta dùng dán giấy bồi. Đôi hàm mạnh mẽ của chúng nghiến ngấu không chỉ những chú stasik gầy gò khốn khổ. Có vẻ như nếu tôi ngủ thiếp đi, khi đó những con vật này sẽ bò lên người và xử lý luôn cả tôi. - Còn ở trên trần ngay trên đầu, với những ngón chân nhỏ xíu nhưng bám cực chắc để treo mình là "Masha" - con thằn lằn màu hồng trong suốt. Trong ánh đèn chiếu sáng thấy rõ cả cột sống và các cơ quan nội tạng của nó. Nó cũng chưa là gì. Tầng đầu tiên ngôi biệt thự của chúng tôi nhiều khi còn được những con rắn, rết, và bọ cạp đến thăm. Đó là những kỳ trùng dị vật của miền nhiệt đới. Và cho đến nay Cam Ranh vẫn luôn ở trong tâm trí tôi. Một trong những mốc quan trọng của đời phục vụ hải quân của tôi có độ dài hơn một phần tư thế kỷ. Và bây giờ là một tài liệu tham khảo từ internet. (http://flot.com/upload/blog/84c//Tkach3_28.jpg) "Cam Ranh là căn cứ quân sự lớn nhất của Liên Xô ở nước ngoài. Diện tích của nó khoảng 100 km vuông. Hầu như tất cả các cầu cảng, đường giao thông, các tòa nhà đều được các nhà xây dựng của Liên Xô (Nga) xây dựng. Tàu mặt nước và tàu ngầm quân sự của Liên Xô (Nga), khi thực hiện các chuyến đi biển xuyên đại dương (bao gồm cả vào Ấn Độ Dương và vùng Vịnh Ba Tư), đều được tiếp tế tại căn cứ các loại nhiên liệu, bổ sung hàng hóa dự trữ, tiến hành sửa chữa. Tại căn cứ bố trí một trung đoàn không quân hỗn hợp (OSAP) bao gồm - 4 Tu-95, 4 - Tu-142, phi đội Tu-16 các kiểu khác nhau có 20 chiếc, một phi đội MiG-23 (khoảng 15 chiếc), 2 máy bay vận tải An-24 và 3 máy bay trực thăng Mi-8 (số liệu 1986).... Ngoài ra trực thuộc trung đoàn còn có một căn cứ vũ khí chống ngầm và vũ khí tên lửa và bộ phận TECH (ban bảo dường khai thác kỹ thuật). Nhưng ... ngày 24 tháng 7 năm 2001 Bộ trưởng Quốc phòng Nga Sergei Ivanov cho biết, Nga sẽ rút khỏi Cam Ranh".... Và chúng tôi đã đi. Đáng tiếc thay. Nếu không có các căn cứ hải quân được trang bị tốt - nói chung sẽ không có hải quân, và không có căn cứ hải quân đóng quân tiền tiêu như Kamranevka của chúng ta - không thể có Hạm đội Đại Dương của một cường quốc vĩ đại. Và các chàng trai của hạm đội chúng ta sẽ không phục vụ tại một đất nước nhiệt đới xinh đẹp nữa - đất nước Việt Nam. Ghi chú: *"korefan" - nói trại của từ "cố vấn". **"kinem" - nói trại của từ "kỷ niệm". ........ Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 07 Tháng Bảy, 2013, 11:43:39 pm (tiếp)
Quân đội và Hải quân Liên Xô trong sự nghiệp ngăn chặn cuộc xâm lược của Trung Quốc đối với Việt Nam năm 1979 (http://www.generalarmy.ru/articles/#article1) Aleksandr Rozin (Alerozin.ru) Vào đêm trước cuộc chiến tranh Sau khi kết thúc chiến tranh Việt Nam và thống nhất 2 miền Bắc và Nam Việt Nam, mặc dù sự trợ giúp toàn bộ của Liên Xô trong thời gian chiến tranh, các nhà lãnh đạo Việt Nam không muốn phụ thuộc vào Liên Xô, họ thực hành một chính sách độc lập và các mối quan hệ giữa hai nước đã lạnh nhạt phần nào. Nhưng rất nhanh chóng người ta thấy rõ rằng ý định dựa vào Trung Quốc có thể dẫn đến sự phụ thuộc lớn hơn nữa của đất nước, đặc biệt là người Trung Quốc muốn thống trị toàn bộ khu vực. Kết quả là sự lựa chọn của các nhà lãnh đạo Việt Nam dừng lại ở Liên Xô, nhưng trước cuộc xâm lược của Trung Quốc vào tháng Hai-tháng Ba năm 1979, mối quan hệ dẫu sao vẫn còn lạnh nhạt. Cuộc tấn công của Trung Quốc buộc ban lãnh đạo Việt Nam xích gần lại với Liên bang CHXHCN Xô Viết, bao gồm cả trong lĩnh vực hải quân. Rạng sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979, sau nhiều hành động khiêu khích quân đội Trung Quốc bắt đầu cuộc xâm lược chống CHXHCN Việt Nam. Lý do cho cuộc xâm lược của Trung quốc thì rất nhiều. Công cuộc cải tạo XHCN trong lĩnh vực kinh tế ở miền Nam đã gây ra nhiều thiệt hại, chủ yếu là cho cộng đồng rộng lớn người Hoa tại Việt Nam. Xung đột của cộng đồng đó với người Việt Nam đã mang hình thức hận thù sắc tộc và tác động tiêu cực đến mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Mùa xuân - mùa hè 1978, Bắc Kinh đã phát động chiến dịch "Nạn Kiều", tổ chức đưa những người dân tộc Trung Quốc - Hoa Kiều về Trung Quốc. Cư trú tại Việt Nam có hơn 1,2 triệu người gốc Trung Quốc, và "Nạn Kiều" được nặn ra như một chiến dịch "giết chết một sinh vật sống mà không dùng đòn dao găm công khai, cũng không đầu độc trực tiếp". Người ta cho rằng ở tỉnh Quảng Ninh toàn bộ dân cư gốc Trung Quốc sẽ rời bỏ tỉnh, có nghĩa phải chấm dứt công việc khai thác gỗ, rằng không đủ lao động chân tay trong thời gian thu hoạch lúa, rằng các công nhân ụ tàu sẽ rời bỏ các cảng Hồng Gai, Cẩm Phả và Hải Phòng. Điệp viên của Bắc Kinh đã giúp Hoa Kiều trốn bất hợp pháp về phía Trung Quốc, sau đó chính họ lại đóng cửa biên giới. Vì vậy mà gây ra cảnh tắc nghẽn tại các cửa khẩu biên phòng. Các phần tử khiêu khích người Trung Quốc xúi giục những người bị bỏ lại vô gia cư tấn công các đại diện của chính phủ Việt Nam, tạo ra tình trạng bất ổn, vượt biên về Trung Quốc, mặc dù ngoài chính người Trung Quốc, chẳng ai kìm giữ họ ở khu vực biên phòng. Hơn 170.000 người bị lừa gạt một cách hợp pháp và bất hợp pháp đã rời Việt Nam đi Trung Quốc. Nhiều người trong số họ trở về lục địa quê hương lịch sử của họ, còn một số đi đường qua Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) trên những chiếc thuyền. Người TQ bắt đầu tạo ra những khó khăn trong các công trình khác nhau được xây dựng tại Việt Nam. Việc cung cấp bản vẽ và máy móc cần thiết bị trì hoãn. Trang thiết bị đến không đầy đủ. Công nhân và kỹ sư Trung Quốc đột ngột bỏ đi. Tất cả những điều này đã có tác động tiêu cực đến việc xây dựng và bàn giao khai thác các công trình cần thiết cho CHXHCN Việt Nam, kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế quốc gia. Ngày 12 tháng 5 năm 1978 chính phủ Trung Quốc quyết định hủy bỏ tất cả các đơn hàng cung cấp thiết bị cho Việt Nam. Bắc Kinh tuyên bố rằng các phương tiện đã phát hành sẽ được sử dụng để tạo việc làm cho những người có quốc tịch Trung Quốc, mà Việt Nam bị cáo buộc đã "trục xuất" họ khỏi đất nước mình. Tiếp theo là các hành động gây áp lực mới từ Bắc Kinh: họ rút hầu hết các chuyên viên kỹ thuật, bắt đầu thắt chặt việc thực hiện liên lạc thương mại, đơn phương hủy bỏ một số thỏa thuận đã ký của các chính phủ hai quốc gia. Bắc Kinh đã đưa ra một loạt các biện pháp ảnh hưởng đến lợi ích của các nước khác. Ví dụ, họ bắt đầu cấm hoặc hạn chế vận chuyển từ châu Âu qua Trung Quốc các thiết bị và nguyên vật liệu cho Việt Nam. Về vấn đề hàng hóa từ Liên Xô họ đã gây khó khăn trong thập niên 60, thời còn chiến tranh với Hoa Kỳ. Nhiều thiết bị quân sự và hàng hóa khác không đi đến nơi. Chính phủ Trung Quốc không dựa trên cơ sở nào đã quyết định đóng cửa vào ngày 16 Tháng Sáu năm 1978 các Tổng lãnh sự Việt Nam tại Côn Minh, Nam Ninh và Quảng Châu, đòi tất cả các nhân viên của cơ quan lãnh sự phải rời khỏi Trung Quốc. Tất cả bọn họ đã rời Trung Quốc vào ngày 03 Tháng Bảy. Đây là một hành động nghiêm trọng hướng tới việc làm gay gắt hơn nữa mối quan hệ Trung-Việt. Đồng thời, Bắc Kinh tăng cường gây căng thẳng trên biên giới, kích động phát ngôn chống Việt Nam của người có nguồn gốc Trung Quốc trên đất Việt Nam. Nhưng mối quan hệ đặc biệt căng thẳng do tình hình ở Campuchia (ngày nay là Cambodge). Trung Quốc đứng về phe chế độ Pol Pot ở Campuchia (nay là Cambodge) gây nên tội ác diệt chủng trong nước (1,7 triệu người chết trong tổng số 7 triệu dân). Sau khi bắt đầu trong tháng 12 năm 1978, các hoạt động chiến đấu của các lực lượng yêu nước Campuchia chống lại quân đội Pol Pot và sự hỗ trợ tích cực cho họ từ phía Hà Nội thể hiện qua việc đưa các cụm quân chính quy Việt Nam quân số đến 120 000 người vào Cam-pu-chia, Trung Quốc tiếp nhận sự xâm nhập của quân đội Việt Nam vào lật đổ chế độ Pol Pot là một đòn giáng mạnh vào uy tín của mình và họ tăng áp lực đối với Việt Nam. Người Trung Quốc, cụ thể, đã triệu hồi đại sứ và tùy viên quân sự của họ từ Hà Nội về, cắt giảm biên chế sứ quán xuống còn 1/3, hủy bỏ các thỏa thuận về đi lại miễn thị thực giữa hai nước, chấm dứt viện trợ kinh tế, và tháng 12 năm 1979 họ ngừng giao thông đường sắt. Đồng thời, trong tháng mười và tháng mười một năm 1978 dưới vỏ bọc các cuộc tập trận quân sự ở khu vực biên giới họ đã chuyển đến 9 sư đoàn và bắt đầu di chuyển bí mật không quân từ các khu vực nội địa vùng trung tâm Trung Quốc đến các sân bay của các quân khu Côn Minh và Quảng Châu. Thời gian của cuộc tấn công vào Việt Nam được chọn không ngẫu nhiên. Khoảng 85% các đơn vị chính quy của Việt Nam đang ở Campuchia, ngoài ra, còn khoảng 25.000 binh lính Việt Nam tại Lào. Bắc Kinh đã hoàn thành một quá trình chuẩn bị về tâm lý chính trị-quân sự và tiến hành thăm dò ngoại giao. Đặng Tiểu Bình đã đến thăm Washington (29.01-05.02.1979) và trên đường trở về tại Tokyo đã gieo rắc những mối đe dọa với Việt Nam mà không nhận được sự phản kháng cần thiết. Trong những hành động của Mỹ và Nhật Bản, các chuyên gia phân tích chính trị nhìn thấy những quan điểm đồng lõa rõ ràng. Cả Washington và Tokyo cùng với một loạt các bên đều hưởng lợi từ cuộc xung đột Việt-Trung. Những quan điểm thuận lợi đối với chính quyền Bắc Kinh đã xây dựng nên Hiệp ước Trung-Nhật, thiết lập quan hệ ngoại giao với Mỹ. Những nhượng bộ được người Mỹ thực hiện về vấn đề Đài Loan, cho phép Trung Quốc rút một phần quân đội ném tới biên giới với Việt Nam. Ngay trước khi nổ ra cuộc xâm lược, ngày 29 tháng sáu năm 1978, Việt Nam gia nhập Comecon. Ngày 3 tháng 11 năm 1978, tại Moskva hiệp ước hữu nghị Xô-Việt giữa Liên Xô và Việt Nam đã được ký kết. Ngoài các điều khoản tiêu chuẩn của một bản hợp tác thương mại và văn hóa, hiệp ước có những điều khoản quân sự quan trọng đề cập đến "phòng thủ chung" có nghĩa là "tham vấn chung và hành động một cách hiệu quả để đảm bảo an ninh của cả hai nước". Đối với Bắc Kinh, sự kiện ký kết hiệp ước là một mũi chích đau đớn. Bởi lẽ các bằng chứng về sự phát triển hợp tác Liên Xô - Việt Nam đã xuất hiện ngay từ mùa hè năm 1978, trong bối cảnh mâu thuẫn ngày càng tăng giữa Việt Nam và Trung Quốc. Theo các nguồn tin chính thức của Mỹ tới tháng 8 năm 1978 ở Việt Nam đã có 4000 cố vấn và các chuyên gia Liên Xô, còn tới giữa năm 1979 số lượng của họ là 5000-8000. Vào tháng Chín năm 1978 Liên Xô bắt đầu thực hiện cung cấp các loại vũ khí mới (máy bay, tên lửa, xe tăng và đạn dược) đến Việt Nam bằng đường hàng không và đường biển. Đến thời gian này, các mối quan hệ Liên Xô-Trung Quốc đã trải qua những khó khăn thử thách lớn. Ngày 01 tháng 11 năm 1977 cơ quan ngôn luận của những người Cộng sản Trung Quốc, tờ "Nhân dân nhật báo", trong một bài xã luận đã xác định Liên Xô như một kẻ thù nguy hiểm nhất của Trung Quốc, trong khi Hoa Kỳ hiện nay được coi là một đồng minh. Ngày 26 tháng 3 năm 1978 Bộ Ngoại giao Trung Quốc yêu cầu Moskva, ngoài việc công nhận sự tồn tại của các vấn đề khu vực biên giới Trung-Xô, phải rút xa hẳn các đơn vị của Liên Xô tại CHND Mông Cổ, và giảm số lượng của họ trên toàn tuyến biên giới Trung-Xô. Đáp trả đòi hỏi của Trung Quốc, Tổng bí thư Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô Leonid Brezhnev, vào đầu tháng 4 năm 1978 khi thăm Siberia và Hạm đội Thái Bình Dương, đã tuyên bố rằng các hệ thống vũ khí mới ngoài số đã tồn tại sẽ được triển khai tiếp trên biên giới Trung-Xô. Vũ khí mới này, theo lời Brezhnev cho biết, sẽ đảm bảo an ninh cho bạn bè xã hội chủ nghĩa của chúng ta, chống lại sự xâm lược có thể xảy ra, nguồn xâm lược thì ông không chỉ ra, nhưng vậy là quá rõ ràng. Ngoài những lời tuyên bố của Liên Xô, ngày 12 tháng 4 năm 1978 Ulan Bator cũng đã công khai bác bỏ yêu cầu của Bắc Kinh, khi tuyên bố rằng những chi đội quân đội Liên Xô bổ sung đã được triển khai dọc theo biên giới với Trung Quốc của Mông Cổ, là thể theo yêu cầu của Mông Cổ, nhằm đáp trả sự gia tăng quân đội Trung Quốc tại biên giới. Tình hình trên biên giới phức tạp thêm. Trong tháng 5 năm 1978 tại tuyến biên giới Xô-Trung đã phát sinh sự cố biên giới nghiêm trọng nhất kể từ năm 1969, tham gia sự kiện thậm chí có cả các máy bay trực thăng. Liên Xô đến lượt mình đã gây áp lực tích cực lên Trung Quốc nhằm tiếp tục kéo dài và mở rộng Hiệp ước Hữu nghị, Liên minh và hỗ trợ lẫn nhau có giá trị 30 năm với Trung Quốc, được ký kết vào ngày 14 Tháng Hai năm 1950, nay sắp hết hạn. ....... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 08 Tháng Bảy, 2013, 12:50:32 pm (tiếp)
Trung Quốc đang chuẩn bị cho chiến tranh. Năm 1978, Trung Quốc đã thực hiện 583 hành vi khiêu khích đối với Việt Nam, nay trong tháng một và tháng hai năm 1979 số lượng của chúng là 230. Trên nền trao đổi các công hàm ngoại giao và đối thoại của các chính ủy biên phòng, đã có 9 sư đoàn của các quân đoàn lục quân 14, 41 và 42 quân PLA kéo tới biên giới Việt Nam, chiếm lĩnh các vị trí xuất phát để tấn công. Với số quân đội đi ngang qua (trên đường tập hợp lại và trên các thao trường gần đó) người ta đã tiến hành các cuộc tập trận chiến thuật có bắn đạn thật cấp trung đoàn và tiểu đoàn. Và cần lưu ý rằng các đơn vị hợp thành và cơ sở của quân đội Trung Quốc ngay từ đầu đã không dự kiến khi hoàn thành khóa huấn luyện chiến đấu thì họ sẽ trở về nơi triển khai thường trực. Ngoài ra, trong khu vực biên giới, từ QK Thành Đô đã triển khai đến đây các đơn vị của các quân đoàn lục quân 13 và 50. Tới lúc sắp nổ ra chiến tranh còn có quân đoàn lục quân số 55 tập hợp lại gần biên giới. Bộ đội PLA thuộc các QK giáp giới với Việt Nam được bổ sung quân số theo biên chế thời chiến (thông qua tổng động viên, thông qua di chuyển một số đơn vị nhất định từ sâu trong nội địa đất nước). Thông qua Hoa Kiều (người Trung Quốc chạy tị nạn từ Việt Nam về) tại khu vực biên giới đã hoàn thành bổ sung quân số và triển khai các sư đoàn quân địa phương mới. Số lượng các đơn vị hợp thành như vậy lên đến sáu đơn vị. Các phân đội mang vác người Hoa Kiều được hình thành. Có điều này là do trong địa hình rừng núi việc sử dụng chuyên chở bằng lực lượng các phân đội ô tô và xe kéo bánh xích bị hạn chế. Tới lúc bắt đầu cuộc chiến tranh, đã hoàn thành việc di chuyển KQ từ QK Nam Kinh về các sân bay quân khu Côn Minh và Quảng Châu. Lực lượng hạm đội Nam Hải đã được phân tán trong các căn cứ hải quân và các điểm căn cứ (bao gồm cả đảo Hải Nam). Trong vùng biên giới 200-km đã thực hiện tăng cường hệ thống phòng không (có tính đến việc triển khai các trận địa TLPK mới và trận địa radar mới). Đã xây dựng các SCH được bảo vệ cẩn mật, các trung tâm TT và đặt các tuyến TTLL. Trang bị các trận địa hỏa lực pháo binh cố định được bảo vệ tránh đòn không kích. Sát trước khi bùng nổ chiến tranh, trong vùng lân cận biên giới với Việt Nam đã ghi nhận các cuộc diễn tập nhiều lượt trên quy mô quân đoàn-sư đoàn. Ngày 08 Tháng Một năm 1979, các các thường dân đã được di tản khỏi mỏm nhô Lào Cai. Để thực hiện nhiệm vụ và kế hoạch các chiến dịch sắp diễn ra, theo quyết định của Hội đồng Quân sự UBTU DCS TQ, đầu tháng hai đã thành lập PDQ Vân Nam (trụ sở BTM đóng ở Nam Kinh), trong thành phần có các lực lượng quân sự của hai QK, cũng như các đơn vị hợp thành và cơ sở chuyển từ bên trong đất nước tới. Trong các QK giáp biên giới với Việt Nam của Trung Quốc đã thành lập các cụm quân xung kích và cụm tàu của hạm đội Nam Hải, gồm có: sư đoàn bộ binh - 22, sư đoàn quân địa phương - 6, 550 xe tăng và xe bọc thép, 480 cỗ pháo và 1260 súng cối hạng nặng (theo các nguồn khác - xe tăng và pháo tự hành - khoảng 600, pháo dã chiến và súng cối - 4000), máy bay chiến đấu (bao gồm cả không quân hải quân) - 520, tàu chiến và thuyền chiến - 211. Từ kúc khởi đầu các hoạt động quân sự đã có kế hoạch đưa vào tham chiến ngay trong thê đội một là 15 sư đoàn bộ đội BCHT (sư đoàn dã chiến - 9, sư đoàn địa phương quân - 6). Các quân đoàn lục quân số 41 và 42 có đội hình tác chiến nằm trong một thê đội (dự bị có 2 trung đoàn tăng cường), quân đoàn lục quân số 14 - bố trí trong hai thê đội (tại thê đội thứ hai - một sư đoàn). Chờ đợi lệnh là toàn thể thê đội 2 - 11 sư đoàn dã chiến quân. Để đạt được chiến thắng cuối cùng "trước các chỉ huy chiến trường độc lập và các nhóm vũ trang bất hợp pháp", trong tay các nhà lãnh đạo quân sự Trung Quốc có cả lực lượng dự bị cơ động - quân đoàn lục quân 50 biên chế gồm ba sư đoàn. Ngày 14 tháng 2 năm 1979 UBTU DCS TQ đã quyết định phát động cuộc xâm lược Việt Nam, mệnh lệnh vượt biên giới và bắt đầu tấn công đến với bộ đội vào ngày 15 tháng 2. Cũng ngày 15 tháng 2 đó, Đặng Tiểu Bình đã tuyên bố ý định của mình "trừng phạt" Việt Nam, đó là ngày đầu tiên về mặt hình thức có thể rút khỏi Hiệp ước 30 năm giữa Trung Quốc với Liên Xô. Ngày 16 tháng 2, ông ta tuyên bố cho Moskva biết đã sẵn sàng tiến hành cuộc chiến tranh toàn diện quy mô lớn của Trung Quốc với Liên Xô. Có đến 1,5 triệu binh sĩ quân đội Trung Quốc tập trung trên biên giới với Liên Xô (đánh giá chung của PLA - 3,6 triệu người). Quân nhân các đơn vị hợp thành và cơ sở ở các QK giáp biên giới với Liên Xô và CHND Mông Cổ được triệu hồi khỏi các kỳ nghỉ phép và công tác. Trong các đơn vị PK thực hiện trực chiến có các khẩu đội chiến đấu tăng cường. Trong các đơn vị dân quân tự vệ người ta đã phát vũ khí bộ binh. Tăng cường bảo vệ tuyến biên giới Trung-Xô. Tiến hành công tác trang bị công trình công binh bổ sung cho các cứ điểm dọc biên giới, tổ chức trực chiến tại đó. Sơ tán một phần người dân địa phương ra khỏi khu vực biên giới. Cụm bộ đội Việt Nam tại phần phía bắc của đất nước đã được Trung Quốc tìm hiểu khá chính xác và xác định gồm mười sư đoàn bộ binh biên chế thời bình và hai lữ đoàn xe tăng. Trên các bản đồ địa hình, PLA đã định ra vị trí của họ và tất cả 15 trung đoàn bộ đội địa phương. Đã xác định được một cách chi tiết, với độ chính xác cần thiết cho pháo binh bắn phá, các trận địa chiến đấu của 13 trung đoàn bộ binh quân địa phương. Người Trung Quốc đã lên kế hoạch và thời gian dự kiến có mặt của các LL dự bị thuộc BTTM QDNDVN trong thành phần QD 1. Các chỉ huy PLA chờ đợi sự xuất hiện trong khu vực chiến sự của ba sư đoàn bộ binh và một lữ đoàn xe tăng. Nhìn chung, tỷ lệ tổng thể giữa các lực lượng khi bắt đầu của cuộc xung đột nghiêng về phía Trung Quốc, về quân nhân - 3:1, về sư đoàn - 1.8:1, xe tăng và pháo tự hành - 7,6:1, về dã pháo và súng cối 4.5:1, máy bay chiến đấu - 13:1, tàu chiến và thuyền chiến - 5,3:1. Tương quan lực lượng trên các hướng chính - Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai theo số lượng quân nhân - 4,8:1, về xe tăng và pháo tự hành - 7:1, pháo binh -. 12:01 nghiêng về Trung Quốc. Ngày giờ xâm lược thì Trung Quốc có thể xác định rằng đêm trước "D-Day" của ban lãnh đạo Việt Nam - Phạm Văn Đồng, Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng và các thành viên văn phòng CP Việt Nam bay tới Phnom Penh để ký hiệp ước hữu nghị giữa Việt Nam và chế độ Heng Samrin. ........ Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 08 Tháng Bảy, 2013, 02:29:10 pm (tiếp)
Chiến tranh Trong thực tế, cuộc xâm lược bắt đầu vào tối 16 tháng 2, khi một số phân đội trong biên chế các đơn vị hợp thành thế đội đầu tiên, có Hoa Kiều dẫn đường đã thâm nhập trong đêm qua biên giới đến độ sâu 3-6 km và bí mật tiến vào phía sau bộ đội Việt Nam đang chiếm lĩnh tuyến phòng ngự thứ nhất. Ngày 17 tháng 2 năm 1979 từ 3:30 đến 5:20 ở những thời điểm khác nhau bảy sư đoàn PLA sau 30-35 phút pháo bắn chuẩn bị (còn trên hướng Lào Cai không có pháo binh bắn chuẩn bị) đã vượt qua biên giới Việt Nam tại 26 địa điểm trên khắp tuyến biên giới 1460 km. Phà để các phân đội tiền tiêu PLA vượt qua sông Hồng đoạn biên giới được làm bằng bè tre. Cụm quân chính bắt đầu vượt sông lúc 6:00 ngày 17 tháng Hai - trên cầu phao và các ngầm có trang thiết bị đến thời điểm đó. Pháo binh VNA bắn trả rất muộn, chỉ vào lúc 7:00. Hầu hết các tiểu đoàn pháo binh tại thời điểm này không thể bắn được vì một loạt trạm quan trắc pháo binh đã bị kẻ thù đánh chiếm. Đòn tấn công đầu tiên người Trung Quốc tung ra bằng LL hai sư đoàn từ phía bắc hướng về phía thị xã Cao Bằng dọc theo thung lũng sông Hồng. Đòn tấn công chính gồm LL năm sư đoàn diễn ra từ phía đông bắc hướng đến thành phố Lạng Sơn, từ đấy về Hà Nội chỉ có 141 cây số. Còn một mũi tấn công nữa, mũi bổ trợ, được sử dụng từ phía tây bắc đánh theo hướng thành phố Lai Châu. Những kẻ tấn công phải đối mặt chỉ với một sư đoàn thường trực và một sư đoàn "làm kinh tế" của Quân đội nhân dân Việt Nam (VNA), các đơn vị biên phòng và các lực lượng dân quân tự vệ. Vào lúc bắt đầu, các lực lượng xâm lược có đến 6-7 sư đoàn quân số 75-85 nghìn người, trong một tuần họ tăng lên đến 14 sư đoàn có quân số 120-144 nghìn người, sau đó khi đưa LL dự bị thê đội 2 vào chiến đấu, họ tăng quân số, theo các dữ liệu của Hoa Kỳ, tới 300 nghìn người. Chỉ huy chung các lực lượng xâm lược là tướng Dương Đắc Chí (Phó tư lệnh các lực lượng Trung Quốc trong cuộc chiến tranh Triều Tiên). Giao tranh dữ dội nhất diễn ra trên các hướng Lạng Sơn và Lào Cai, còn từ ngày thứ hai của cuộc xâm lược - là hướng Cao Bằng. Trong quá trình tấn công, lực lượng quân sự Trung Quốc không có một tuyến mặt trận vững chắc mà các sư đoàn và và trung đoàn hành động dọc theo các tuyến đường bộ và đường mòn. Khi hành động trực tiếp dọc theo các con đường chính, TQ chỉ phân bố một lực lượng hạn chế, còn LL chủ yếu được sử dụng để chiếm giữ các khu vực và điểm cao liền kề với đường. Đồng thời họ tổ chức rộng rãi các chiến dịch cục bộ nhằm tiêu diệt tàn quân của đối phương để ngăn chặn sự luồn sâu của quân đội nước này vào trong hậu phương của họ tạo ra các ổ kháng cự. Quân đội Trung Quốc vòng qua các khu định cư lớn, bao vây và dội hỏa lực pháo binh nặng, chủ yếu là của các đơn vị pháo binh quân đoàn và sư đoàn. Trên các đường giao thông họ chiếm các nút chủ chốt, các đoạn đèo thuận lợi, tổ chức phòng thủ và sử dụng các biện pháp tiêu diệt hoặc dồn ép tàn quân VNA hoặc cụm quân VNA bị bao vây vào rừng núi. Các hình thức cơ động cơ bản trong chiến đấu của họ là đi vòng, bọc hậu và sau đó bao vây, cũng như càn quét. Tại tỉnh Hoàng Liên Sơn có hai sư đoàn Trung Quốc xâm nhập, chúng được hỗ trợ bằng xe tăng và pháo binh, đã mở một cuộc tấn công mạnh mẽ trên khắp tuyến biên giới của tỉnh từ hướng tây bắc đến hướng đông bắc. Ngay khi trời còn tối, trước lúc bình minh ngày 17 tháng Hai, do kết quả của đòn tấn công bất ngờ, các huyện Bát Xát và Mường Khương đã bị đánh chiếm. Sau khi pháo binh bắn chuẩn bị và lắp cầu phao qua sông Hồng và sông nhánh của nó là sông Nậm Thi hội tụ tại Lào Cai, xe tăng Trung Quốc xông vào thành phố. Hỏa lực pháo binh Việt Nam chụp xuống các chuyến phà qua sông và các đại đội pháo binh bắn phá từ lãnh thổ của nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa. Lực lượng dân quân bước vào trận đánh khốc liệt với kẻ xâm lược ngay trên các đường phố Lào Cai và các vùng ngoại ô của nó. Giao tranh dữ dội diễn ra tại các đồi Cốc San, Bản Son, Bản Lau và ở các ngã tư đường trong thị trấn Bản Phiệt và trong khu vực Duyên Hai. Trong số 18 xe tăng Trung Quốc bị bỏ lại trong cuộc tấn công vào Mường Khương, có 8 xe đã bị phá hủy cùng với cây cầu. Các nhân viên dân sự Liên Xô và gia đình họ đã được sơ tán khỏi Lào Cai ngày 17 tháng Hai ngay dưới mũi những người lính Trung Quốc đang giật mìn phá nổ trên các đường phố, theo đúng theo nghĩa đen. Bằng lực lượng một sư đoàn bộ binh, được hỗ trợ bởi xe tăng và pháo binh vào lúc bình minh ngày 17 tháng Hai, những tên xâm lược đã cố gắng chinh phục các điểm cao khống chế trên biên giới của tỉnh Hà Tuyên, tiến ra đường số 2 và đường 13A và tách làm đôi tuyến phòng thủ dọc biên giới Việt Nam, mở rộng bàn đạp, đe dọa ngay lập tức bên sườn 4 tỉnh lân cận - Hoàng Liên Sơn, Cao Bằng, Bắc Thái và Vĩnh Phú, chặn các đường tiếp cận đến đồng bằng châu thổ sông Hồng, tới Hà Nội thủ đô của nước cộng hòa. Nhưng kế hoạch này đã thất bại bởi các chiến sỹ biên phòng Việt Nam và các chi đội dân quân tự vệ. Trên hướng Cao Bằng, đối phương tiến hành tấn công bằng 2 sư đoàn tăng cường. Cuộc tấn công của kẻ thù bị đẩy lui trong quá trình diễn ra các trận đánh đẫm máu ngoan cường tại Hòa An, Quảng Hòa, Cao Bằng. Thông tấn xã Việt Nam loan báo rằng tại tỉnh Cao Bằng trên con đường dẫn đến khu vực Hoà An, các phân đội Việt Nam đã giáng đòn phản công bất ngờ vào một đoàn xe Trung Quốc, gồm xe tăng, xe quân sự và các đơn vị bộ binh. Kết quả 13 xe tăng bị phá hủy và 300 quân địch bị tiêu diệt. Những cuốn sổ tay hội thoại Hoa-Việt tìm thấy bên xác lính Trung Quốc bị giết chứng minh cho ta thấy quân xâm lược đã chuẩn bị một thời gian dài. Và chỉ trong ba ngày, từ ngày 17-ngày 19 tháng Hai, người Việt Nam đã loại khỏi vòng chiến đấu 4 tiểu đoàn đối phương, hàng chục xe tăng và xe bọc thép. Chẳng hạn các chiến sỹ tiểu đoàn 1 lực lượng địa phương Cao Bằng chỉ trong ngày 17 tháng 2, đã loại khỏi vòng chiến đấu 2 tiểu đoàn quân Trung Quốc, phá hủy 15 xe tăng. Binh sĩ đại đội 10 tiểu đoàn bộ đội địa phương 9 của tỉnh trong ba ngày đầu tiên chiến đấu đã ngăn chặn đường di chuyển của các đoàn xe tăng, phá hủy 29 xe chiến đấu của đối phương. Tại tỉnh Lạng Sơn, đối phương với LL của 2 sư đòan đã triển khai tấn công vào các huyện Đình Lập, Lộc Bình, Văn Lãng và thị trấn Đồng Đăng. Các phân đội Việt Nam đã đánh trả, và trong thời gian từ ngày 17-ngày 20 Tháng Hai, đối phương phải dừng lại ở phía tây đường quốc lộ 1A và 1B. Các nhân chứng của nhữn trận đánh đầu tiên trên hướng Lạng Sơn là một nhóm các nhà báo có mặt ở Lạng Sơn (cách biên giới 20 km) vào tối ngày 16 tháng 2. Phóng viên AFP mô tả tình hình ngày xâm lược chính xác theo giờ như sau: "... hồi 05.00 theo giờ địa phương thành phố đang ngủ say đột nhiên bị đánh thức bởi âm thanh của hỏa lực pháo binh hạng nặng - đang bắn qua biên giới. Một số nhà báo cho biết họ có thể phân biệt tiếng nổ của đạn cối hạng nặng, pháo 105-mm và đạn cối 120-mm. Rất khó để hình dung rõ ràng về tình hình, vì chính quyền Việt Nam do cường độ pháo kích của Trung Quốc rất mạnh đã không để cho chúng tôi rời thành phố, nhưng tới 08:30 tiếng đại bác dường như đã gần hơn. Hồi 09:45 đại diện chính quyền địa phương cho biết: "quân đội Trung Quốc đã phát động một cuộc tấn công tổng lực trên địa bàn toàn tỉnh. Tất cả các đồn biên phòng đều bị bắn phá bằng pháo hạng nặng". Ông nói thêm: "Trên tuyến chiều dài 250-km đường biên giới giữa tỉnh và Trung Quốc lính bộ binh Trung Quốc đang di chuyển vào lãnh thổ của chúng tôi và cắm cờ Trung Quốc, Đang diễn ra các trận đánh đẫm máu Một số đồn biên phòng do công an và bộ đội biên phòng của chúng tôi bảo vệ đang bị bao vây. Có 100.000 dân thường sống trong các xã biên giới của chúng tôi đang bị đe dọa. Chúng tôi chưa xác định được bất kỳ dữ liệu nào. nhưng sự tổn thất nhân mạng, tất nhiên, là rất lớn. Tiến hành cuộc tiến công này là các đơn vị quân đội thường trực của Trung Quốc. Về phía chúng tôi, trên mặt trận chỉ có các chiến sỹ công an nhân dân, bộ đội biên phòng và các đơn vị quân sự địa phương". Tới 11:30 hỏa lực pháo binh lại tiếp tục và diễn ra với cường độ ngày càng tăng. Các tiếng nổ có thể nghe được với gián cách 10-30 giây. Tại bệnh viện Lạng Sơn những người bị thương bắt đầu được đưa đến, bác sỹ trưởng cho biết: "Họ được chở về từ Đồng Đăng (cách biên giới một vài cây số). Chúng tôi đã phải dừng trước khi về được đến đây. Chúng tôi dừng lại vì bị bắn quá dữ dội và những trận đánh khốc liệt. Chúng tôi còn để lại đằng sau nhiều người bị thương". Hồi 14:30, chúng tôi được phép đi về phía biên giới. Trên đường đi, chúng tôi gặp một vài nhóm dân thường đang đi ra khỏi vùng chiến sự, mang theo đầy đồ đạc. Các ngôi nhà bị bỏ hoang, còn súc vật nuôi được thả hoang trên đồng. Tiếng nổ của đạn pháo và tiếng súng tự động nghe ngày càng rõ hơn; đi được 10 cây số, chúng tôi rẽ ra khỏi đường cái đi vào đường mòn trên núi. Khi chúng tôi ra đường một lần nữa, đi được 2 km, chúng tôi bị chặn lại bởi một nhóm binh sĩ Việt Nam. Chỉ huy Phạm Hồng Ngọc của họ giải thích, "Chúng tôi đã bị bao vây và rút khỏi vòng vây qua cánh đồng. Lính chính quy quân đội Trung Quốc chỉ cách đây một km. Chúng rất đông". ... Tiếng tạch tạch của súng tự động đang xích gần và yêu cầu khẩn thiết của những người Việt Nam đã thuyết phục được chúng tôi trở lại. Lần này trên đường đã có thêm nhiều người chạy nạn, và một số người trong số họ nói rằng, Đồng Đăng đã bị xe tăng Trung Quốc bao vây ". Mặc dù gặp phải sức đề kháng mạnh, ngày 18 tháng 2, Trung Quốc vẫn chiếm được thành phố Lào Cai và Móng Cái. Các đơn vị Việt Nam gặp phải tổn thất lớn nhất là các đơn vị tập trung xung quanh các thành phố Lào Cai, Mường Khương, Cao Bằng, Lạng Sơn và Móng Cái. Đổi lại, trong hai ngày 17 và 18 tháng Hai các chiến sỹ biên phòng Việt Nam, các phân đội bộ đội địa phương trong khu vực và lực lượng dân quân tự vệ đã loại khỏi vòng chiến đấu 3500 binh sĩ của đối phương, gây thiệt hại nặng nề cho 12 tiểu đoàn địch, bắn cháy 80 xe tăng, bắt tù binh hàng chục lính địch và thu giữ một số lượng lớn đạn dược. Trong ba trung tâm tỉnh lỵ định đánh chiếm, kẻ thù chỉ kiểm soát được Lào Cai, mà tại đó các đơn vị độc lập quân đội Việt Nam vẫn tiếp tục chiến đấu và người TQ chỉ tiến được ở một số khu vực riêng biệt đến 15 km, nhưng không phải ở khắp mọi nơi. Tại tỉnh Lai Châu, họ không thể tiến lên được trong toàn bộ cuộc chiến tranh. Tại đó cuộc chiến đấu diễn ra ở các vùng phía bắc gần biên giới. Đơn vị đầu tiên tiếp nhận một trận chiến không cân sức với kẻ thù xâm lược ngày 17 Tháng 2 là đồn biên phòng Pa Nậm Cúm trên đường số 10, họ đã đẩy lùi hàng chục cuộc tấn công, nhưng không rời khỏi vị trí. Bị cắt rời khỏi các đơn vị của mình, các chiến sỹ biên phòng đồn Pa Nậm Cúm đã tổ chức phòng thủ trong ba mươi ngày đêm của cuộc chiến. Ở Lai Châu, những kẻ xâm lược đã mất hơn 10.000 binh lính. Mặc dù lực lượng hạn chế có sẵn tại biên giới lúc đầu cuộc xâm lược của Trung Quốc, quân đội Việt Nam vẫn tỏ rõ sự kháng cự ngaon cường, gây thiệt hại nặng nề cho quân đội Trung Quốc, và trên thực tế, đã phá vỡ tính toán của họ về một hành động quân sự chớp nhoáng. Thông tin của các bộ tham mưu bộ đội địa phương sáu tỉnh phía bắc của CHXHCN Việt Nam cho thấy, từ những phút đầu tiên trong cuộc xâm lược của Trung Quốc, ở khắp mọi nơi chúng đều gặp sự kháng cự mạnh mẽ. Việc phòng thủ có tính chất khác nhau, vì phụ thuộc nhiều vào vũ khí và đạn dược có tại các huyện. Trên các hướng chính các cỗ pháo đã tiếp đón đối phương, nhưng trên các đường mòn miền núi bộ đội biên phòng và người dân chỉ sử dụng vũ khí BB nhẹ. Vì các lực lượng địa phương của Việt Nam và lực lượng dân quân thua kém quân Trung Quốc về số lượng và trang thiết bị, họ không tham gia các trận đánh vỗ mặt. Các phân đội trang bị nhẹ Việt Nam, sử dụng các bãi mìn để ngăn chặn các đơn vị thiết giáp Trung Quốc, tiến hành các hoạt động quấy rối, bắn phá quân Trung Quốc từ trên những ngọn đồi bằng súng tự động và súng cối, cũng như tên lửa chống tăng. Khi người Trung Quốc đến gần họ, người Việt Nam biến mất và họ nổ súng từ những ngọn đồi khác. Ưu điểm của chiến thuật này là nó cho phép hạn chế tổn thất của người Việt Nam và gây tổn thất nặng cho những kẻ xâm lược. Các đoàn xe Trung Quốc bị tấn công hỏa lực từ phía trước, hai bên sườn và cả từ phía sau. Các đơn vị đặc biệt của người Trung Quốc cưỡi ngựa để cơ động nhanh, được Hoa Kiều dẫn đường, những người này biết rõ những con đường mòn đã tiến sâu hơn vào lãnh thổ Việt Nam để vu hồi. Ở một số nơi, những toán kỵ binh này đã vào được sau lưng các phân đội Việt Nam. Tuy nhiên, khi triển khai tấn công dọc theo đường sắt gần Lạng Sơn và Lào Cai, đám quân kỵ binh này lập tức bị hỏa lực súng cối bao bọc. Mặc dù vậy, chiến thuật cơ động của quân đội Trung Quốc gây rất nhiều khó khăn cho tình thế các đơn vị Việt Nam. Ngay ngày 17 tháng Hai, hầu hết các khẩu đội pháo binh của một trung đoàn pháo thuộc một trong các QK của VNA đã nằm trong hậu phương kẻ thù. Ngày 18 Tháng Hai tình trạng tương tự xảy ra với các khẩu đội pháo binh của trung đoàn pháo binh quân khu bên cạnh. Thậm chí dù ở trong vòng vây và hậu phương của các đơn vị Trung Quốc đang tiến công, những người lính Việt Nam đã cho thấy sức kháng cự rất cao và chủ nghĩa anh hùng tập thể khi chiến đấu với kẻ thù xâm lược. Thực tế là quân đội Trung Quốc đã vấp phải sức kháng cự mãnh liệt được chính người Trung Quốc xác nhận. Báo quân đội Trung Quốc ngày 20 tháng 2 tờ "Tsefansiungpao" phàn nàn: "Nhà cầm quyền Việt Nam đang hành xử quá ngạo mạn. Dựa vào việc đế quốc xã hội-chủ nghĩa Liên Xô đang đứng đằng sau họ, họ điên cuồng chống lại chúng ta". Reuters dẫn lời phóng viên của mình tại Bắc Kinh nói rằng tại Bắc Kinh người ta không bác bỏ tuyên bố của Hà Nội về tổn thất nhân mạng của Trung Quốc kể từ khi cuộc chiến bắt đầu trong năm ngày qua đã vượt quá con số 5000 người. Cuộc xâm lược của Trung Quốc đã làm phát lộ các thiếu sót nghiêm trọng của bộ chỉ huy Việt Nam. Khi chuẩn bị để đẩy lùi một cuộc xâm lược có thể có, các nhà lãnh đạo Việt Nam đã nhầm lẫn về quy mô có thể có của các hoạt động quân sự. Kế hoạch chuẩn bị để đẩy lùi cuộc xâm lược và thực hiện các hoạt động có tính toán đã không được phát triển. Tất cả những vấn đề này được xử lý bằng trình tự hành chính. Về tổng thể, tới khi khởi đầu cuộc xâm lược của kẻ thù, cụm quân đội dự kiến đã được thành lập. Tuy nhiên, một loạt các biện pháp để chuẩn bị cho chiến tranh đã không được thực hiện. .......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 08 Tháng Bảy, 2013, 06:57:26 pm (tiếp)
Chẳng hạn, tuyến phòng thủ đã định hầu như không được trang bị gì về mặt công binh công trình. Không điều gì được thực hiện trong việc tăng cường bổ sung cho cụm quân ở miền Bắc Việt Nam các đơn vị quân thường trực cũng như quân địa phương. Việc chuẩn bị tuyến triển khai và đường tiến quân cho các đội quân dự bị để giáng các đòn phản công khả dĩ cũng không được thực hiện. Các SCH QK nằm cách bộ đội đến 200 km. Tuy nhiên, hệ thống chỉ huy và liên lạc cần thiết không được thành lập. Tuyến phòng thủ của các sư đoàn không được xác định. Các đơn vị hợp thành phòng thủ trên các hướng phân tán với nhau trên một mặt trận rộng 40-60 km và hơn nữa. Các khoảng cách quãng và hai bên sườn giữa các trung đoàn, tiểu đoàn và thậm chí các đại đội không được bao bọc bằng hệ thống hỏa lực và chướng ngại công binh, bãi mìn-vật nổ. Việc cơ động các lực lượng và phương tiện để thiết lập các nút chặn và phục kích trên các tuyến đường vòng tránh của kẻ thù từ hai bên sườn và phía sau không được tính trước. Trong quá trình hoạt động chiến đấu đã phát lộ việc thiếu khả năng tổ chức phòng thủ của bộ chỉ huy VNA trên các hướng quan trọng để đánh trả các lực lượng đối phương, thiếu các kỹ năng cần thiết trong việc sử dụng xe tăng, pháo binh, và tổ chức hiệp đồng giữa chúng với bộ binh. Ngày 20 tháng 2, quân đội Trung Quốc phát động cuộc tấn công ác liệt nhất vào trận địa của người Việt Nam trên hướng Lạng Sơn. Các sư đoàn của 2 quân đoàn cùng tăng thiết giáp trực thuộc và các đơn vị pháo binh đã đột phá bằng 2 mũi nêm - từ phía tây bắc qua huyện Thông Nông và phía đông bắc qua các huyện Quảng Hòa và Thạch An - tới thành phố Cao Bằng. Kể từ 20 tháng 2, quân đội Trung Quốc đã phát động một cuộc tấn công mới để chiếm các điểm cao khống chế phía nam Đồng Đăng. Bộ đội và cư dân trong tỉnh đã thể hiện sức kháng cự mạnh mẽ chống lại kẻ thù xâm lược và tấn công vào hậu phương của kẻ địch. Giao tranh dữ dội xảy ra tại khu vực điểm cao 409, cũng như tại mốc đánh dấu biên giới số 15, cách sáu km về phía đông bắc Đồng Đăng. Các đơn vị Việt Nam phản công và loại khỏi vòng chiến đấu một đại đội lính Trung Quốc, đốt cháy 5 xe tăng. Đại đội 10 tiểu đoàn 3 bộ đội địa phương tỉnh Lạng Sơn đẩy lùi quân xâm lược Trung Quốc tại hai điểm cao Chậu Cảnh và Cây Xanh. Chúng có vị trí khống chế trong khu vực xã Tam Lung tại huyện Văn Lãng và cho phép kiểm soát các con đường gần đó, giữ trong tầm bắn tuyến giao thông dẫn tới Đồng Đăng. Trong 4 ngày đầu tiên của các trận đánh tại tỉnh Lạng Sơn đã có 4 tiểu đoàn bộ binh bị tiêu diệt, hàng chục xe tăng và xe bọc thép của kẻ thù bị phá hủy. Dân quân, bộ đội địa phương Việt Nam và các trinh sát viên dân tộc thiểu số đã đánh trả một cách tự tin các cuộc tấn công trực diện với lực lượng áp đảo của đối phương và đồng thời giáng những đòn vu hồi vào phía sau kẻ thù. Các nhóm quân Trung Quốc dần dần bị chia cắt tại Quốc lộ 3 và 4, kết quả là kẻ xâm lược đã mất trong 12 ngày hơn 4000 binh sĩ và rất nhiều trang bị quân sự. Kể từ khi cuộc xâm lược bắt đầu, cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao cũng đã diễn ra. Việt Nam quay sang Liên Hiệp Quốc yêu cầu lên án sự xâm lược của Trung Quốc, nhưng Việt Nam không cắt đứt quan hệ ngoại giao với Trung Quốc. Liên Xô và Đài Loan cáo buộc Mỹ ủng hộ Trung Quốc, Trung Quốc đến lượt mình cũng đã tiến hành công tác ngoại giao. Mặc dù số lượng binh lính tham gia cuộc xâm lược của quân đội Trung Quốc đang tăng lên, Bộ Ngoại giao Trung Quốc phổ biến trong giới các nhà ngoại giao nước ngoài một phiên bản của họ về cái gọi là "tính chất giới hạn" của các hoạt động quân sự của Trung Quốc tại Việt Nam. Trong tinh thần này, họ đã gặp gỡ với các đại sứ Nhật Bản, Pháp, Đức và các nước thành viên ASEAN. Các hành động tương tự đã được Trung Quốc phát động để cố gắng che đậy quy mô thực sự của cuộc xâm lăng của Trung Quốc và đồng thời chống đỡ làn sóng lên án, đang tăng lên trên toàn thế giới do sự xâm lăng của Trung Quốc. Trên các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng quân Trung Quốc đã tiến hành các cuộc tàn sát dã man hàng loạt dân thường Việt Nam, những người không kịp sơ tán vào sâu nội địa nước cộng hòa. Kể từ ngày 17 tháng 2 chiến sự bùng nổ tại xã Thanh Lòa (tỉnh Lạng Sơn), chúng đã đốt gần 100 ngôi nhà và tàn sát tất cả những người không kịp sơ tán - người già, phụ nữ và trẻ em. Trẻ em nhỏ bị xách ngược chân lên và xé làm đôi. Phụ nữ bị đâm vào bụng. Người già bị đánh chết bằng báng súng. Tại xã Bản Lầu xe tăng và bộ binh Trung Quốc đã bắt giữ một xe khách Việt Nam, chở thường dân ra khỏi khu vực chiến sự, và tất cả 30 người đều bị chúng giết chết ngay tại chỗ. Các vụ giết hại dân thường tương tự có đến hàng trăm. Trong bảy ngày chiến đấu, từ 17-23 tháng Hai theo dữ liệu của VNA, các chiến sĩ Việt Nam đã tiêu diệt 16.000 lính quân đội Trung Quốc, bắn cháy bắn hỏng 160 xe tăng và xe bọc thép, 110 xe ô tô. Trên hướng Móng Cái sau một tuần chiến đấu quân đội Trung Quốc tiến chỉ được 2-4 km, và vào ngày thứ tám đã phải lùi về lãnh thổ của họ. Các cuộc tấn công lặp đi lặp lại đã bị các đơn vị Việt Nam đẩy lùi. Mặc dù tổn thất, người Trung Quốc vẫn từ từ tiếp tục tấn công theo hướng về Hà Nội. Trên hướng Lạng Sơn cuộc tấn công của các đơn vị hợp thành thê đội 1 bị chặn lại và nhiệm vụ trước mắt trên hướng này chỉ được thực hiện vào ngày chiến tranh thứ tám 24 tháng 2 sau khi đã đưa thê đội 2 của quân đoàn vào tham chiến. Ngày 25-27 tháng Hai, người Trung Quốc đưa vào chiến đấu thê đội 2 và lực lượng dự bị của các sư đoàn. Bộ tham mưu các quân đoàn lục quân, đang tấn cong trên các hướng chủ yếu, đã tiến hành các bước cải thiện công tác thông tin liên lạc, chỉ huy bộ đội. Trên hướng Lạng Sơn đã đưa vào tham chiến quân đoàn lục quân số 55 (thiếu 1 sư đoàn BB), trên hướng Lai Châu - sư đoàn 39 quân đoàn lục quân 13. Ngày 01 tháng 3, Trung Quốc đề nghị Việt Nam đàm phán, hy vọng buộc Hà Nội đi đến giải quyết tranh chấp theo điều kiện riêng của họ. Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo Việt Nam chỉ nghĩ đến các cuộc đàm phán cũng chưa muốn. Mặc dù từ đấu cuộc chiến, người Trung Quốc tuyên bố về mục tiêu của họ: " Chúng tôi không cần một tất đất nào tại Việt Nam. Tất cả những điều chúng tôi cần - tình hình hòa bình ổn định trên biên giới. Sau khi trừng phạt những kẻ xâm lược, các đơn vị biên phòng của của chúng tôi sẽ trở lại lãnh thổ Trung Quốc và sẽ bảo vệ biên giới của Tổ quốc.", nhưng người Trung Quốc vẫn không dừng lại. Sau khi nhận được tiếp viện, kẻ thù đã cố gắng đánh chiếm trung tâm của Lạng Sơn - rất quan trọng về chiến lược đối với họ. Ở khắp mọi nơi, cuộc tấn công của Trung Quốc luôn gặp phải sự kháng cự ác liệt. Ngày 03 tháng 3 VNA báo cáo rằng tại Lạng Sơn người Việt Nam đã loại khỏi vòng chiến đấu 5 xe tăng và 1.100 quân Trung Quốc. Tại phía Tây Nam tỉnh Lạng Sơn, một nỗ lực của quân đội Trung Quốc chuyến sang tấn công trên hướng Lộc Bình đã thất bại, tại đây đối phương trong một ngày mất 1370 binh sĩ. Như vậy, trên hướng Lạng Sơn, tại nam Đồng Đăng, trong ba ngày chiến đấu đã có 4.000 binh sĩ địch bị tiêu diệt, 9 xe tăng, 36 pháo và súng cối hạng nặng của địch bị phá hủy. Giao tranh dữ dội diễn ra trên cả các hướng khác. Trong khu vực đèo Khau Chia, các phân đội bộ đội địa phương tỉnh Cao Bằng, bộ đội biên phòng, dân quân tự vệ đã kìm giữ các sư đoàn địch trong vòng 12 ngày, tiêu diệt hơn 4.000 lính và sỹ quan Trung Quốc. Ngày 12 tháng 3 bọn kẻ cướp đã buộc phải rút lui. Nhưng người Trung Quốc đã tìm đường vu hồi. Để thực hiện đi vòng họ sử dụng rộng rãi các đơn vị bộ binh và các phân đội đã qua huấn luyện đặc biệt để hoạt động trong khu vực địa hình khó khăn. Ví dụ, trong các trận đánh chiếm Cao Bang, một trung đoàn bộ binh của quân đoàn lục quân 42 đã đi trên những con đường núi phía sau lưng quân đội Việt Nam, cắt đường ô tô, chiếm cầu qua sông Hiến (9 km về phía nam thị xã Cao Bằng) và đảm bảo việc tiến quân xa hơn nữa cho các đơn vị của sư đoàn mình. Ví dụ điển hình cho việc vu hồi là việc sử dụng các đơn vị xe tăng bơi trên hướng Lào Cai. Xe tăng bơi trên sông Hồng hơn 15 km (từ Lào Cai đến Thái Nhiên) và tiến vào phía sau quân đội Việt Nam. Vào đầu tháng Ba, người Trung Quốc bằng cách đưa vào tham chiến các thê đội 2 và các đội dự bị của các quân đoàn lục quân thê đội thứ nhất trên mặt trận, đã đạt được thành công trong việc chiếm được các tỉnh lỵ trung tâm ngày 2 tháng Ba (hoặc 25 tháng 2) thị xã Cao Bằng và ngày 04 tháng 3, thị xã Lạng Sơn, và trên các hướng chủ yếu họ tiến được 45 - 50 km tính từ đường biên giới quốc gia. Như vậy, nhiệm vụ tiếp sau của chiến dịch chỉ mới thực hiện được một phần và chỉ đến ngày thứ mười sáu của cuộc chiến. Các điều kiện cơ bản để đạt được thành công trong quân đội Trung Quốc được coi là phải xây dựng được sự vượt trội lớn về hỏa lực và đặc biệt là ưu thế quân số (thường tạo ra sự vượt trội về sinh lực 5-6-lần so với đối phương). Những thành công mà quân Trung Quốc đạt được có cơ sở là những tính toán sai lầm của bộ chỉ huy quân sự Việt Nam. Các sư đoàn bộ binh chính quy VNA bước vào trận chiến theo từng đơn vị và chỉ ở những hướng mà kẻ thù tiến đến tuyến phòng thủ của các trung đoàn và các khu vực phòng thủ tiểu đoàn. Các trung đoàn còn lại của sư đoàn tiếp tục ở nguyên các khu vực đang chiếm lĩnh hoặc ở các khu vực tập trung, thụ động chờ đợi kẻ thù tiến ra các tuyến phòng thủ của mình. Ngay cả khi gặp mối đe dọa đối phương từ 2 sườn đột phá hoặc vu hồi các khu vực phòng thủ, các trung đoàn này trong giai đoạn ban đầu của cuộc chiến tranh vẫn không được sử dụng để thực hiện các đòn phản công hoặc tăng cường phòng thủ trên các hướng đang bị đe dọa. Các trung đoàn trong sư đoàn và ngay các sư đoàn cũng hành động một cách riêng biệt, sự hiệp đồng giữa họ là không có. Hai bên sườn và các khoảng trống như trước đây vẫn tiếp tục không được bảo vệ. Đối thủ đã tận dụng lợi thế này. Kết quả là, sư đoàn BB 346 bị bao vây ở Cao Bằng, còn sư đoàn BB 345, trung đoàn BB 148 thuộc sư đoàn BB 316 ở phía nam Lào Cai đã bị các đơn vị TQ cắt đứt khỏi tất cả các tuyến đường giao thông. Các chỉ huy quân sự Việt Nam tổ chức rất kém công tác trinh sát địch. Các chỉ huy và bộ tham mưu không theo dõi hành động của đối phương, không áp dụng các biện pháp đối phó lại ý đồ bao vây đơn vị mình. Kỹ năng sử dụng trong chiến đấu các phương tiện hỏa lực mạnh hiện có như các khẩu đội RS30, các tiểu đoàn pháo 130-mm, ATGM "Maliutka" và MANPADS "Strela-2" còn rất yếu. Hoạt động phản công hiếm khi được sử dụng, khi thực hành lại thiếu tính tổ chức, lực lượng sử dụng rất nhỏ, và không có yểm trợ pháo binh. Chỉ vào cuối tháng Hai tại hướng Lạng Sơn người Việt Nam mới thành lập quân đoàn BB. Kết quả là, tại khu vực này đã cải thiện được công tác tổ chức và tính nhanh nhạy trong chỉ huy bộ đội. Tuy nhiên, quân đoàn như một binh đoàn tác chiến chiến dịch-chiến thuật, chưa thể hiện được mình bằng điều gì. Mặc dù bộ tư lệnh Trung Quốc đang sử dụng chiến thuật "biển người" và không coi trọng tổn thất tương đối lớn về nhân mạng (2-3 nghìn người một ngày đêm), họ vẫn phải trả giá đắt kể cả cho những thành công nhỏ. Trong chưa đầy mười ngày chiến đấu trên hướng Cao Bằng, các lực lượng dân quân tự vệ và bộ đội địa phương đã loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 10 ngàn binh sĩ Trung Quốc, bắn cháy và bắn hỏng 134 xe tăng, bắt nhiều tù binh. Cần lưu ý rằng trên hướng Cao Bằng người Trung Quốc sử dụng độc lập các đơn vị xe tăng để thực hiện đòn vu hồi sâu. Xe tăng cùng các đội bộ binh đổ bộ trong 2 ngày tiến theo các hướng hội tụ tới khu vực Cao Bằng và bao vây cụm quân đội Việt Nam ở phía Bắc thành phố. Nhưng tiếp sau, xe tăng trên hướng này chỉ được sử dụng như phương tiện hỗ trợ hỏa lực trực tiếp cho bộ binh. Đối với tất cả các phương pháp hoạt động của xe tăng trong địa hình rừng núi, thiệt hại là rất đáng kể. Việc sử dụng xe tăng trong những điều kiện tương tự như vậy, người Trung Quốc đã sớm loại bỏ. Ba ngày diễn ra trận chiến đường phố ở Cao Bằng, quân Trung Quốc đã có 1140 người chết và bị thương. .......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 09 Tháng Bảy, 2013, 03:27:18 pm (tiếp)
Hơn nữa, Cao Bằng vốn ở trong vòng vây của các lực lượng vượt trội, đã được các chiến sĩ Việt Nam bỏ lại theo mệnh lệnh của bộ chỉ huy, họ chọn cách rút quân mình ra tránh đòn tấn công ồ ạt, như thể để cho đối phương đi qua rồi mới phản công vào hai bên sườn địch. Chẳng hạn, trong một thung lũng nhỏ ở Cao Bằng, người Việt Nam đã tiêu diệt 18 xe tăng lội nước PT-76 Trung Quốc. Trung tướng Đàm Quang Trung cho biết, khi quân du kích bao vậy ở khu vực Cao Bằng một toán 300 quân Trung Quốc, ông đi trên xe BTR-152 lái thẳng đến nơi chúng tập trung, và bằng tiếng Trung Quốc mà ông biết hoàn hảo, ông giao tiếp với nhóm quân bị vây. Chúng lúc đầu tưởng ông là một chỉ huy Trung Quốc, nên xin ông đưa chúng ra khỏi vòng vây. Tuy nhiên, các xạ thủ ngồi trên xe bọc thép, đã nhanh chóng xua tan hy vọng của chúng. Tất cả đều đầu hàng. Trên các khu vực khác, tình hình cũng tương tự, ví như ở trên các dãy núi và các hẻm núi của tỉnh Hoàng Liên Sơn, ngườiTrung Quốc trước khi bắt đầu cuộc rút lui, tổn thất đến 11.000 người chết và bị thương, mất 50 xe tăng, bảy khẩu đội pháo binh, hàng trăm phương tiện vận tải. Bất chấp sự kháng cự ngoan cường của người Việt Nam, trong khoảng thời gian từ 25 tháng 2 - 5 tháng 3, tốc độ tấn công của người Trung Quốc đã tăng lên đáng kể. Sự hiện diện của LL dự bị quân đông và được huấn luyện kỹ, là cơ sở cho sự thành lập các đơn vị hợp thành mới, bù đắp thiệt hại, và cho phép người Trung Quốc tạo ra ưu thế về sinh lực, giải quyết các nhiệm vụ chiến đấu, bất chấp sự mất mát. Chẳng hạn, khi tấn công thị xã Lạng Sơn, người Trung Quốc đã tiến hành đến 17 đợt tấn công mỗi ngày. Tới ngày 05 tháng 3 năm 1979, quân đội Việt Nam rút lui trên hướng Lạng Sơn đến 30 km, hướng Cao Bằng - đến 55 km tính từ biên giới. Bộ chỉ huy Việt Nam chuyển từ LL dự bị của mình 2 sư đoàn BB để tăng cường phòng thủ trên hướng Lạng Sơn. Các sư đoàn có nhiệm vụ chuẩn bị và chiếm lĩnh tuyến phòng thủ, ngăn chặn kẻ thù phát triển tấn công về phía Hà Nội. Khả năng phát triển này trong ngày 5 tháng 3 năm 1979 là rất thực tế. Ngày 04 tháng 3 Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam gửi tới các binh sĩ và toàn thể đồng bào lời kêu gọi quét sạch bọn xâm lược ra khỏi đất đai quê hương mình, bảo vệ vững chắc biên cương của Tổ quốc. Tại Hà Nội, đáp lời hiệu triệu, hàng ngàn người bắt đầu xây dựng hầm trú ẩn, đào chiến hào và công sự. Tờ báo "Nhân Dân" ra bài xã luận trên trang nhất, "Cả nước đánh bại kẻ thù xâm lược, mọi người dân - đều là chiến sỹ!". Còn ngày 05 tháng 3 vào hồi 22 giờ Việt Nam đã tuyên bố lệnh tổng động viên. Khi xác định phạm vi của lệnh tổng động viên, Quốc hội Việt Nam dự kiến quy mô đó bao trùm một phạm vi lớn hơn cả số cư dân hạn chế thời kỳ đánh trả cuộc xâm lược của Mỹ. Họ kêu gọi tất cả mọi người, đàn ông từ 16 đến 45 tuổi và phụ nữ từ 18 đến 40 tuổi. Tại các thành phố, thị xã, các đơn vị tự vệ được thành lập. Ban lãnh đạo các nhà máy xí nghiệp, nông trường quốc doanh và hợp tác xã, cơ quan hành chính và các cơ sở giáo dục có nghĩa vụ bảo vệ vũ trang cho các cơ sở của họ. Trong một hành động khẩn cấp đã diễn ra việc tái triển khai 2 quân đoàn BB từ Cam-pu-chia về khu vực nằm cách Hà Nội 50 km về phía bắc. Việc chuyển quân thực hiện bằng đường sắt, bằng cách này chuyên chở được hơn 8.000 người, pháo binh, đạn dược, vũ khí và trang thiết bị đặc biệt. Trên không trung, kế hoạch là chuyên chở 6 ngàn 750 quân nhân trang bị vũ khí nhẹ từ sân bay Tân Sơn Nhất tới các sân bay Nội Bài và Kep. Nhằm mục đích này, đã huy động tham gia vận chuyển gần như tất cả máy bay vận tải và hàng không dân dụng tại Việt Nam - 14 máy bay. Theo đường biển, kế hoạch là chuyển các xe tăng và xe bọc thép của hai lữ đoàn tăng thiết giáp từ cảng bốc xếp Sihanoukvin (Campuchia) và Sài Gòn tới cảng Hải Phòng. Việc tái triển khai lên kế hoạch thực hiện trong mười ngày. Nhưng trên thực tế, nó chỉ kết thúc sau 25 ngày. Người ta phát hiện ra không chỉ tình trạng tồi tệ của các tuyến đường sắt, mà của cả trang bị kỹ thuật khi vận hành. Hầu như không có bất kỳ sự hỗ trợ và đảm bảo kỹ thuật nào. Không đạt được mục tiêu chính trị đề ra, và đối mặt với khả năng khởi đầu một cuộc chiến tranh lớn, ngày 5 tháng 3, chính phủ Trung Quốc đã quyết định rút quân khỏi Việt Nam và đã tuyên bố về điều đó. Quyết định này xuất phát từ một loạt yếu tố chính trị và quân sự mà cơ sở của nó là: sự hỗ trợ kiên quyết và chắc chắn cho Hà Nội từ phía Moscow, đòi hỏi chấm dứt ngay lập tức cuộc xâm lược; việc chuẩn bị tiến hành và thực hiện các hành động quân sự của Liên bang Xô Viết tại Viễn Đông; sự bất đồng ý kiến tăng lên trong giới lãnh đạo Bắc Kinh trong quá trình phát triển cuộc xung đột; sự phản đối trên trường quốc tế, sự kháng cự ngoan cường của Quân đội Nhân dân Việt Nam, gây thiệt hại nặng nề cho kẻ xâm lược; sự phơi bày những thiếu sót nghiêm trọng trong việc huấn luyện chiến dịch - chiến thuật cho đội ngũ chỉ huy các lực lượng vũ trang Trung Quốc, trong việc trang bị các loại vũ khí và trang thiết bị quân sự hiện đại, các khó khăn trong công tác hậu cần. Ngày 5 Tháng Ba Đài phát thanh Hà Nội ra thông cáo, "Thể hiện ý thức tốt đẹp và chủ nghĩa nhân đạo truyền thống của nhân dân ta, Bộ Ngoại giao Việt Nam tuyên bố rằng, nếu Trung Quốc, như họ đã thông báo, thực sự rút quân đội của họ ra khỏi lãnh thổ Việt Nam về bên kia đường biên giới lịch sử, có thỏa thuận về việc theo dõi quá trình rút quân, phía Việt Nam có thể bước vào cuộc đàm phán với Trung Quốc về việc khôi phục quan hệ bình thường giữa hai nước .. " Ngày 06 tháng 3 Vụ Thông tin và Báo chí Bộ Ngoại giao Việt Nam tổ chức tại câu lạc bộ quốc tế ở Hà Nội một cuộc họp báo về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc. Đại diện Vụ Báo chí Bộ Ngoại giao Việt Nam, cho biết: " Chúng tôi biết rằng kế hoạch dài hạn của ban lãnh đạo Bắc Kinh - là sáp nhập Đông Nam Á, thực hành chính sách cưỡng ép, chủ nghĩa bá quyền và bành trướng. Tại sao Trung Quốc công bố việc rút quân khỏi Việt Nam? Có ba lý do chính: Thứ nhất, những tên kẻ cướp Trung Quốc đã chịu một thất bại nghiêm trọng trên các mặt trận tại Việt Nam. Thứ hai, làn sóng quốc tế phản đối cuộc xâm lược của Trung Quốc đang dâng cao và lan rộng. Và thứ ba, ngay tại Trung Quốc cuộc đấu tranh chính trị nội bộ đang tăng lên. Khi cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam đang ở đỉnh cao, lúc đó một số quan chức Washington bắt đầu nhận ra rằng chiến thắng sẽ không đến, Thượng nghị sĩ George Aiken đã đưa ra lời khuyên cho giới cầm quyền: "Hãy thông báo với thế giới rằng Hoa Kỳ đã chiến thắng và rút quân ra khỏi Việt Nam." Họ đã không lắng nghe Aiken, và nhiều lần phải hối tiếc về điều đó ... Vậy thì, lời khuyên của Thượng nghị sĩ Mỹ rất hữu ích cho Bắc Kinh. Việc rút đạo quân viễn chinh ra khỏi Việt Nam sẽ đi kèm với tiếng kèn tuyên truyền của TQ. Tờ "Nhân dân Nhật báo", ví dụ, đã chúc mừng quân đội có một "chiến thắng lớn". Nhưng toàn thế giới, ngoại trừ người Trung Quốc, đều biết rằng nước CHXHCN Việt Nam, chưa cần đưa vào tham chiến các lực lượng chủ yếu, đã đánh bại lực lượng xung kích của bè lũ Mao-ít. ... kẻ xâm lược Trung Quốc, vượt qua biên giới Việt Nam, đã bị tiêu diệt ". Ngày 06 Tháng Ba năm 1979 theo lệnh của bộ chỉ huy của mình, quân đội Trung Quốc bắt đầu chậm chạp rút khỏi các vùng lãnh thổ chiếm đóng của CHXHCNVN. Để yểm hộ cho cuộc rút quân của mình, họ đưa các đơn vị dự bị của các sư đoàn và quân đoàn lục quân, tiến phía trước và hai bên sườn, các đơn vị đó sẽ tổ chức phòng thủ tại các nút giao thông, các cầu, phà trên các hướng dễ dàng tiếp cận. Trong một số trường hợp, họ chiếm giữ các điểm cao khống chế, tổ chức tấn công nghi binh thu hút và chuyển đến các tuyến mới. Các hành động như vậy của họ được tiếp tục cho đến khi rút được hoàn toàn các LL chính. Khi rút họ sử dụng rộng rãi màn hỏa lực pháo-cối ngăn chặn ồ ạt, gài mìn các con đường, đánh sập các cây cầu, phá hủy các cơ sở kinh tế quốc dân. Ngày 08 Tháng 3 người Việt Nam thiết lập quyền kiểm soát hoàn toàn Lạng Sơn, tại đây ngày 7 tháng 3 một phát đạn bắn tỉa đã giết chết nhà báo Nhật Bản Isao Takano, ngày 08 Tháng 3, các đơn vị Trung Quốc, khi bỏ lại Sapa và Bản Phiệt, đã tái triển khai và tiếp tục cuộc tấn công. Tại ban tham mưu bộ đội địa phương, đại tá Hoàng Mạc nói với các phóng viên nước ngoài: " Những hành động của đối phương không giống với hoạt động rút quân. Nó chỉ là sự phân bố lại lực lượng. Có tin tức cho thấy các đơn vị viện binh từ sâu bên trong lãnh thổ Trung Quốc đang tới với họ. Các hành động cướp bóc dân lành trên lãnh thổ Việt Nam bị quân xâm lược chiếm đóng vẫn tiếp diễn. Tại các điểm dân cư Trung Quốc đã và đang đặt mìn. Bệnh viện thị trấn Phố Lu được giải phóng chứa đầy các xác những người chết vì không được chăm sóc, nhân viên y tế bị xử bắn. Chúng tôi đang sẵn sàng đẩy lùi các cuộc tấn công mới có thể xảy ra của bọn xâm lược ... " Trong thời gian từ ngày 08-ngày 10 tháng 3 người Trung Quốc phát động tấn công ở khu vực Tài Hồ Sìn, Bảo An (tỉnh Cao Bằng), ở khu vực phía tây nam Đồng Đăng (tỉnh Lạng Sơn), trong khu vực đường QL số 7 và đường nối Lào Cai với Cam Đường và Sapa tỉnh Hoàng Liên Sơn. Quân xâm lược chiếm đóng các khu vực mới trên địa bàn tỉnh Hà Tuyên. Đồng thời chúng liên tục giết hại dân lành. Ngày 10 tháng 3 tại xã Hưng Đạo, các pháo thủ người Hoa đã giết chết 43 người Việt Nam. Hầu hết trong số họ là người các dân tộc thiểu số Tày, Nùng, Mán. Hơn một chục xác chết bị ném vào một cái giếng. Những người còn lại bị băm vằm ra từng mảnh. Trong số những người thiệt mạng - có 20 trẻ em và 21 phụ nữ, 2 cụ già. Thực tế là bất chấp tuyên bố rút quân của mình, quân đội Trung Quốc vẫn tiếp tục các hoạt động quân sự của họ tại Việt Nam, chính người Trung Quốc tự khẳng định, khi họ tuyên bố rằng trong các ngày 9 và 10 tháng Ba, quân đội của họ đã "giáng đòn tấn công mạnh mẽ" vào các đơn vị Việt Nam. Ngược lại, người Việt Nam đã giáng đòn tấn công vào các đơn vị Trung Quốc đang rút đi. Chẳng hạn, trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, các đơn vị Việt Nam chặn đánh hai đoàn xe của quân đội Trung Quốc di chuyển theo hướng các đèo Khau Liêu và Bản Đông. Một trong các đoàn xe chở các tài sản ăn cướp tại xã Nà Bao, hơn 300 lính Trung Quốc bị tiêu diệt. Tính toàn bộ trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, từ ngày 09-ngày 12 tháng 3, đã có hơn một nghìn quân địch bị loại khỏi vòng chiến đấu. Ngày 13 Tháng 3 quân Trung Quốc vi phạm biên giới Việt Nam tại một số điểm trên hướng Khau Giang lấn vào lãnh thổ Việt Nam. Tại tỉnh Cao Bằng, chúng phát động tấn công vào khu vực Tài Hồ Sìn và Nà Bao. Ngày 13 tháng 3, Trung Quốc tiếp tục chiếm giữ thành phố Lào Cai, thị xã Cao Bằng, Bát Xát và Mường Khương. Quân đội Trung Quốc tập trung cách Lào Cai khoảng sáu km. Trên hướng Lạng Sơn quân đội Trung Quốc rút về bên kia đường biên giới theo hướng đông, đông bắc và phía bắc thị trấn Lộc Bình. Quân xâm lược đã rút khỏi thị trấn Đồng Đăng. Ngày 16 tháng 3 năm 1979, Trung Quốc chính thức tuyên bố hoàn thành việc rút quân đội của mình khỏi Việt Nam. ........ Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 09 Tháng Bảy, 2013, 09:29:58 pm (tiếp)
Vì các lý do chính trị, với mục đích làm cho cuộc xâm lược có tính chất của một cuộc xung đột vũ trang biên giới, các hoạt động chiến tranh của PLA chỉ tiến hành bằng lực lượng lục quân. Mặc dù Bộ chỉ huy Trung Quốc trước chiến tranh đã thành lập một nhóm không quân mạnh có 700 máy bay (J-6, J-7 và A-5), đóng căn cứ tại các sân bay biên giới Nam Ninh, Debao, Quảng Nam và Mông Tự. Không quân Trung Quốc từ cuối tháng Giêng đã thực hiện các chuyến bay trong các khu vực trực chiến, nằm gần biên giới Việt Nam mà không vi phạm không phận,họ đã tiến hành đến 40 phi vụ trong một ngày đêm trước khi nổ ra cuộc xâm lược, và trung bình 200 phi vụ một ngày đêm trong giai đoạn chiến tranh. Máy bay trinh sát thực hiện do thám các khu vực hoạt động chiến đấu và khu vực lãnh thổ biên giới của Việt Nam đến độ sâu 15 km tính từ đường chiến tuyến giữa các bên. Chính trị, tất nhiên, đóng một vai trò nhất định, nhưng số lượng giới hạn các phi vụ (không nhiều hơn 4000 mỗi tháng) được xác định phần lớn bởi chất lượng hệ thống phòng không của Việt Nam, và tóc độ tăng cường đáng kinh ngạc của cụm không quân Liên Xô tại Mông Cổ. Cuộc xâm lược đã chuyển thành sự phá sản của cỗ máy chiến tranh Trung Quốc - 300 nghìn người Trung Quốc, được trang bị vũ khí hạng nặng, bị kiềm chế không phải bởi quân đội Việt Nam, mà là bởi bộ đội biên phòng, công an nhân dân và lực lượng dân quân các tỉnh biên giới. Trong 30 ngày xung đột, người Trung Quốc tiến xa nhất được khoảng 80 km. Theo số liệu của Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam, tổn thất của các lực lượng Trung Quốc trong khoảng thời gian tiến hành các hoạt động quân sự từ 17 Tháng Hai - 18 tháng 3 năm 1979 là 62.500 người (trong tuần đầu tiên của chiến tranh thiệt hại tổng cộng 16.000, tới 27 tháng 2 - 27.000, tới ngày 05 tháng 3 - 45 nghìn), ba trung đoàn và 18 tiểu đoàn địch bị tiêu diệt hoàn toàn, phá hủy 550 xe quân sự, trong đó có 280 xe tăng và xe bọc thép, 115 pháo và súng cối. Người Trung Quốc đánh giá tổn thất của họ là 15 nghìn người. Theo số liệu phía Việt Nam, ở tỉnh Lai Châu, những kẻ xâm lược đã thiệt mạng hơn mười nghìn binh lính, tới ngày 18 tháng 3, trên địa bàn tỉnh Hoàng Liên Sơn đã có 11.500 binh lính và sĩ quan bị tiêu diệt, 255 xe quân sự bị phá hủy, trong đó có 66 xe tăng và xe bọc thép. Trong suốt 30 ngày chiến tranh tại tỉnh Cao Bằng người Việt Nam đã tiêu diệt được 18.000 lính và sĩ quan, loại khỏi vòng chiến đấu 7 tiểu đoàn địch, phá hủy 134 xe tăng và xe bọc thép; ở tỉnh Lạng Sơn, trong 30 ngày chiến tranh, có 19.000 lính và sĩ quan địch bị loại khỏi vòng chiến đấu, 127 xe quân sự bị bắn cháy bắn hỏng, trong đó có 78 xe tăng, phá hủy 95 pháo và súng cối. Hầu như ở tất cả mọi nơi, quân Trung Quốc đều phải chịu các thiệt hại vật chất do các đơn vị dân quân tự vệ địa phương gây ra cho chúng, bởi vì các lực lượng vũ trang thường trực VNA đến khu vực chiến sự chỉ vào giai đoạn cuối của cuộc xung đột. Không quân Việt Nam, mà kinh nghiệm chiến đấu được chuẩn bị tốt hơn so với Trung Quốc cũng không hoạt động. Kết quả của cuộc xâm lược theo số liệu của Trung Quốc, chỉ trong tuần đầu tiên của cuộc chiến tranh, phía Việt Nam mất 10.000 người. Còn tổng cộng theo một đánh giá của học giả Trung Quốc hiện đại, tổn thất của Việt Nam vào khoảng 20.000 người chết và bị thương, tại 6 tỉnh Việt Nam có 45.000 ngôi nhà bị phá hủy tại nông thôn, hơn 600 nghìn mét vuông không gian ở tại các thành phố thị xã thị trấn trực thuộc tỉnh bị phá hủy. Có 350.000 người bị mất nhà cửa. Bị phá hủy còn có 32 trường dạy nghề, 900 trường phổ thông: 180.000 học sinh không được đến lớp. Tài sản của 428 bệnh viện, trung tâm y tế và nhà thuốc đã bị cướp phá. Chỉ tính riêng trong bốn huyện ở tỉnh Lạng Sơn mà quân đội Trung Quốc đã tiến qua, kết quả của cuộc xâm lược như sau: 24 xí nghiệp, 25 bệnh viện, 72 trường mẫu giáo và nhà trẻ, 30 trường học, 115 km đường giao thông và 17 km đường sắt, 57 cây cầu, 22 trạm biến áp, 402 ngàn mét vuông nhà ở bị phá hủy. Tại các tỉnh bị bị xâm lược có 164 làng Việt Nam bị xóa sạch khỏi mặt đất, 25 hầm mỏ bị phá hủy, 55 trong 68 xí nghiệp công nghiệp đã bị tấn công. Chịu thiệt hại nặng là các mỏ quan trọng về mặt kinh tế, tại đó người ta sản xuất apatit và thiếc, bị phá hủy có các nhà máy dệt may tại Lào Cai, nhà máy dầu hồi ở Lạng Sơn, gần như toàn bộ mạng lưới giao thông ở khu vực phía bắc Việt Nam mất năng lực vận tải, các cây cầu, các công trình thuỷ lợi, 10 trạm thuỷ điện và trạm bơm lớn bị hư hỏng; mạng đường sắt bị đặt mìn phá nổ 90 km. Người Trung Quốc phá hủy hoặc cướp đi theo 500 xe ô tô, 20.000 con trâu, ngựa, bò, đốt cháy 34 khu rừng, dẫn đến làm hư hại nặng hàng ngàn ha rừng ở Lai Châu, Hà Tuyên, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh. Liên Xô tham gia trong việc chấm dứt cuộc xung đột (http://www.generalarmy.ru/photos/images/05.jpg) Đại tướng G.Obaturov và vợ tại Việt Nam. Ngay sau khi bắt đầu cuộc xâm lược của Trung Quốc, Liên Xô tuyên bố một cách rõ ràng về sự ủng hộ của mình đối với nhân dân Việt Nam và sẵn sàng thực hiện các nghĩa vụ của mình, tuân thủ theo Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác ngày 03 tháng 11 năm 1978. Ngày 19 tháng 2 đã công bố bản "Tuyên bố của Chính phủ Xô Viết" số 1, trong đó có đoạn: "... Nhân dân Việt Nam anh hùng, đang trở thành nạn nhân của một cuộc xâm lược mới, có khả năng tự đứng vững, và lần này, đặc biệt họ có những người bạn tin cậy. Liên bang Xô Viết sẽ thực hiện các nghĩa vụ được quy định bởi Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác giữa Liên Xô và Việt Nam. Những ai đang hoạch định chính sách ở Bắc Kinh nên dừng lại trong khi chưa quá muộn ... Liên bang Xô Viết cương quyết đòi hỏi chấm dứt cuộc xâm lăng và rút ngay lập tức quân đội Trung Quốc ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ... " Kể từ đầu cuộc xung đột Bộ chỉ huy Xô Viết ngay lập tức tiến hành bổ sung các bức ảnh vệ tinh và trinh sát điện tử nhằm giám sát chiến trường. Họ đã chụp ảnh những gì đang xảy ra, chặn bắt tất cả các bức xạ điện từ trong không trung, đặc biệt là các báo cáo và mệnh lệnh mà bộ chỉ huy đối phương trao đổi. Để đảm bảo giám sát tình báo một khu vực phức tạp như bán đảo Đông Dương và theo dõi sát sự di chuyển LL KQ và HQ của đối phương, Không quân Xô viết đã phái đến vịnh Bắc Bộ một số máy bay trinh sát điện tử Tu-95 được trang bị các thiết bị giám sát điện tử hiện đại nhất. Các chuyên gia Liên Xô đang có mặt tại Việt Nam, ngay lập tức bắt tay vào các hoạt động quân sự cùng với người Việt Nam. Để bổ sung cho họ, bắt đầu tập hợp LL tiếp viện từ Liên Xô. Cầu không vận Liên Xô-Việt Nam được thành lập. Ngày 19 tháng 2 năm 1979, một nhóm 20 cố vấn và các chuyên gia về các quân binh chủng, dẫn đầu bởi đại tướng Gennady Ivanovitch Obaturov, đã đến Hà Nội, nhằm giúp quân đội Việt Nam trong tình hình khó khăn. Nhanh chóng tiếp nhận công việc từ Trưởng nhóm chuyên gia PK trung tướng M.Vorobiev, G.Obaturov làm quen với báo cáo của Tổng Tham mưu trưởng VNA Lê Trọng Tấn và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Văn Tiến Dũng về tình hình ở tiền tuyến. Mặc dù có sự phản đối của Bộ chỉ huy Việt Nam, Obaturov đòi hỏi một chuyến xe lên thị sát mặt trận. Lo ngại của phía Việt Nam không phải là vô căn cứ - trong khu vực Lạng Sơn đoàn xe của các cố vấn đã bị phục kích. Họ thoát được chỉ nhờ phép màu. Sau chuyến đi vào khu chiến, họ đã thuyết phục người đứng đầu Việt Nam Lê Duẩn bắt đầu cho rút một quân đoàn BB từ Campuchia về hướng Lạng Sơn, đưa lên đấy tiểu đoàn pháo phản lực BM-21 mới thành lập trên cơ sở đơn hàng quân sự của Liên Xô mới cung cấp, huy động một loạt các đơn vị hợp thành và cơ sở, rút sư đoàn bộ binh 346 ra khỏi vòng vây, sư đoàn này đang chiến đấu trong hậu phương địch. Không phải tất cả các khuyến nghị của các cố vấn của chúng ta đều được phía Việt Nam sử dụng. Dù có chậm trễ, quân đoàn BB 2 bắt đầu được chuyển từ Kampuchea về. Trung đoàn pháo phản lục BM-21 thuộc dự bị Bộ TTL chỉ được đưa vào trận địa ngày 05 tháng 3 năm 1979 và đứng yên ở đó cho đến ngày 24 tháng 3, mà không bắn được một phát nào, nó đã quay trở lại căn cứ triển khai thường xuyên. (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/2/23/VTA_Airlift_Routes_to_Vietnam%2C_1979.png/596px-VTA_Airlift_Routes_to_Vietnam%2C_1979.png) Cầu hàng không Xô-Việt năm 1979. Điều kiện phục vụ của các cố vấn Liên Xô trở nên dã chiến hơn. " Điện chiếu sáng chỉ có trong một lúc ngắn trong một thời gian nhất định - vợ của một trong các cố vấn nhớ lại. - Tất cả mọi thứ trong tủ lạnh đều không dùng được, do đó, các sản phẩm được sử dụng chủ yếu là dạng đồ hộp. Điều kiện mất vệ sinh thật khủng khiếp, nước phải lọc qua một miếng gạc và bông còn rau phải xử lý một cách cẩn thận bằng thuốc tím. Chúng tôi ngủ dưới một màn chống muỗi đặc biệt. Các bức tường của ngôi nhà bị ẩm ướt, và đủ các loại côn trùng khác nhau bay và bò khắp nơi: muỗi, kiến, mối, gián, tắc kè, thằn lằn. Một lần tỉnh dậy, chúng tôi thấy treo phía trên giường là một thảm và lắc lư và dày đặc những con kiến rất lớn, kích thước cỡ ngón tay ". Góp phần vào chiến thắng có một số chuyên gia Liên Xô. Các phi công phi đội vận tải "AN-12" đã thực hiện tái triển khai một quân đoàn bộ binh từ Kampuchea về hướng Lạng Sơn. Chẳng hạn trong tháng 2 năm 1979, phi hành đoàn thuộc một trung đoàn KQ vận tải độc lập (doanh trại đồn trú Primorye ở Vladivostok) của đại úy Bargan trên máy bay An-12 thực hiện nhiệm vụ của chính phủ làm công tác vận chuyển các thiết bị quân sự tới Việt Nam và Lào. Họ phải làm việc gần như trong điều kiện chiến đấu, với điều kiện thời tiết bất lợi, thiếu điều kiện đảm bảo sân bay và vô tuyến điện tử. Mặc dù tất cả những khó khăn, phi hành đoàn đã giải quyết thành công tất cả các nhiệm vụ và được trao tặng thưởng của Nhà nước. Các nhân viên TTLL của Trưởng Đoàn Cố vấn Quân sự, quân số khoảng 120 người đã ở đây từ tháng 8 năm 1978, và có 68 người được chuyển đến bổ sung sau khi cuộc xung đột bắt đầu, đảm bảo TTLL cho các cố vấn của chúng ta, trong đó cả tại khu vực chiến sự. Trong tháng Ba, đoàn cố vấn quân sự Liên Xô đã chịu tổn thất, trong khi hạ cánh tại Đà Nẵng, một máy bay vận tải AN-24 của Việt Nam bị rơi và 6 phi công - huấn luyện viên, dẫn đầu bởi Thiếu tướng KQ Malykh đã hy sinh. Ngoài các nỗ lực quân sự, Liên Xô cũng đã thực hiện các hành động ngăn chặn chiến tranh với sự lôi kéo Liên Hiệp Quốc tham gia, các đại diện của Liên Xô đã đặt vấn đề lên án Trung Quốc là kẻ thù xâm lược, nhưng vì chính sách của các nước phương Tây, hành động của người Trung Quốc đã không bị kết án. Ngày 22 Tháng Hai tùy viên quân sự Liên Xô tại Việt Nam, đại tá N.A.Trarkov đe dọa người Trung Quốc "Liên bang Xô Viết sẽ làm các nghĩa vụ của mình theo hiệp ước với Việt Nam", nhưng trong khi cuộc xung đột còn nằm trong giới hạn, Liên Xô không muốn thổi bùng lên một cuộc chiến lớn. Báo "Time" trong tháng Ba năm 1979 đã viết: " Miễn là quân đội Việt Nam còn đứng vững, Liên Xô sẽ tiếp tục cuộc chiến tranh trên mặt trận tuyên truyền. Điều nguy hiểm là nếu Bắc Kinh đi xa hơn nữa, tấn công Hà Nội và Hải Phòng, hoặc quyết định vẫn giữ sự hiện diện của quân đội nước này trong lãnh thổ Việt Nam, Liên Xô, không muốn biểu thị sự yếu đuối và do dự, sẽ can dự vào cuộc xung đột. Liên Xô sẽ hành động thế nào trong trường hợp này? Theo ý kiến các chuyên gia, khoảng không cho chúng là rất lớn. Liên Xô có thể còn tăng thêm các gói cung cấp thiết bị quân sự cho Việt Nam, gửi tới Việt Nam một số lượng lớn cố vấn, và thậm chí cả các hành động quân sự trực tiếp. Viễn cảnh hành động của Liên Xô trên biên giới 4500-km với CHND Trung Hoa nguy hiểm hơn rất nhiều, dọc theo tuyến này hiện đang triển khai 44 sư đoàn Liên Xô. Quân đội Liên Xô có thể xuất hiện trên các đồng bằng phủ tuyết Tân Cương, nhưng nhiều khả năng là Mãn Châu - trung tâm của ngành công nghiệp nặng Trung Quốc. Các chuyên gia gọi các cơ sở hạt nhân của Trung Quốc ở Lobnor như là một mục tiêu của "ngày phán xử" (mục tiêu này được ưu tiên hơn trong con mắt của giới quân sự Liên Xô) ". ....... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 10 Tháng Bảy, 2013, 11:13:14 pm (tiếp)
Khi cuối tháng Hai - đầu tháng Ba, quân đội Trung Quốc tập trung nỗ lực chiếm Lạng Sơn, từ đó mở ra tuyến đường ngắn nhất tới Hà Nội, Liên Xô thông báo về sự sẵn sàng của mình can thiệp vào cuộc xung đột. Ngày 2 tháng 3 đã công bố "Tuyên bố của Chính phủ Liên Xô" thứ hai, trong đó nói, "Cuộc xâm lược của Trung Quốc chống lại nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vẫn tiếp tục mở rộng ... ... Liên bang Xô Viết xét thấy cần thiết tuyên bố một cách chắc chắn rằng: hành động của Trung Quốc khiến những người đang thực sự quan tâm đến việc đảm bảo an ninh của các dân tộc, duy trì hòa bình không thể thờ ơ. Quân đội Trung Quốc cần phải ngay lập tức rút ra khỏi lãnh thổ Việt Nam ..." Người Trung Quốc được khẳng định rằng nếu quân đội của họ không rút ngay khỏi Việt Nam, họ sẽ phải chiến đấu trên hai mặt trận. Tổng Bí thư UBTU Đảng Cộng sản Liên Xô Leonid Brezhnev, ngày 02 tháng 3, cho biết: "Không ai cần phải nghi ngờ gì: Liên bang Xô Viết tin tưởng Hiệp ước hữu nghị và hợp tác đã và đang liên kết hai đất nước chúng tôi ". Tuyên bố của Liên Xô được củng cố bởi những lực lượng thực sự. Các đơn vị tên lửa Liên Xô, các sư đoàn Xô Viết đóng trên biên giới Xô-Trung được chuyển trạng thái SSCD № 1. Cụm quân có trong thành phần của nó 250 nghìn người với sự yểm trợ của không quân, bắt đầu tập trung dọc biên giới. Nhưng đùa với Trung Quốc khi chơi các biện pháp nửa chừng và các bước đi hời hợt, đó là điều không thể có về nguyên tắc, còn trong tình hình hiện nay khi cuộc xâm lược Việt Nam đã bắt đầu, đây là con đường không còn lối thoát khác. Moskva đã quyết định hành động, như người ta nói, không đơn giản hóa và không nhân nhượng. Các trung đoàn KQ chiến đấu từ Ukraine và Belarus được chuyển về các sân bay ở Mông Cổ. Ở đây không nói đến hàng chục máy bay rút ra từ các đơn vị thường trực SSCD riêng biệt với các phi công được đào tạo tốt nhất, mà là nói về những trung đoàn KQ nguyên vẹn với biên chế đầy đủ. Bảo trì và tiếp nhiên liệu trong trường hợp này do các đơn vị của 5 quân khu tiến hành. Cùng với các trung đoàn KQ chiến đấu còn có KQ vận tải và các phân đội bảo trì kỹ thuật-phục vụ sân bay. Tại những thời điểm riêng trong không trung cùng một lúc có mười trung đoàn không quân chiến thuật. Việc tái triển khai các đơn vị hợp thành và cơ sở của các quân binh chủng khác không kém quy mô hơn. Trong những điều kiện khí hậu và điều kiện tự nhiên khó khăn, họ đã hành quân qua một khoảng cách rất lớn từ Siberia đến Mông Cổ (trên 2 nghìn km). Trong đó, bộ đội triển khai đến bằng đường sắt, đường bộ, đường không. Đặc biệt, một sư đoàn đổ bộ đường không từ Tula được được máy bay vận tải quân sự chuyển đến khu vực Chita qua khoảng cách 5,5 nghìn km bằng một chuyến bay chỉ trong hai ngày. Để chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh có thể, người ta đã xem xét phát triển các vẫn đề tổ chức phòng thủ, đẩy lùi cuộc xâm lược của kẻ thù, giáng đòn đáp trả và tổ chức phản công. Theo mệnh lệnh của Tổng tư lệnh KQ đã bắt đầu sơn ngụy trang máy bay chiến đấu. Các phi công nhớ lại: " Chúng tôi bắt đầu từ MiG-23, sơn trực tiếp trong đơn vị. Những màu sắc được lựa chọn phù hợp với cảnh quan châu Á: màu cát, màu nâu nhạt, màu xanh lục-xám-sáng, gần với màu cỏ úa ". Sau khi bùng nổ chiến sự, để bảo vệ tuyến xe lửa Transiba tại Viễn Đông trước các hành động có thể của người Trung Quốc, đã tái lập lại đoàn xe lửa bọc thép. (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/4/4e/Key_Soviet_Forces_Opposite_Norteastern_China.png/573px-Key_Soviet_Forces_Opposite_Norteastern_China.png) Cụm QD Liên Xô tại Mông Cổ và các Quân khu Bắc Kinh và QK Thẩm Dương giáp giới với cụm, cuối những năm 196x-đầu 7x. (http://ru.wikipedia.org/wiki/%D0%A1%D0%BE%D0%B2%D0%B5%D1%82%D1%81%D0%BA%D0%B8%D0%B5_%D0%B2%D0%BE%D0%B9%D1%81%D0%BA%D0%B0_%D0%B2_%D0%9C%D0%BE%D0%BD%D0%B3%D0%BE%D0%BB%D0%B8%D0%B8) Cựu chiến binh Trung Quốc Michzhou Hay nhớ lại: " Để giúp Việt Nam, quân đội Xô Viết đã bắt đầu tập trung dọc theo biên giới Mãn Châu, đe dọa xâm lược, nếu Trung Quốc không ngay lập tức rút khỏi Việt Nam. Khi đó đang là năm thứ hai trong cuộc đời phục vụ của tôi tại trung đoàn 5 của QK Thẩm Dương. Chúng tôi đóng quân ở rặng núi Khingan Lớn. Chúng tôi quyết định rút hầu hết các đơn vị của mình về sau dãy núi, để chúng không bị tổn thương quá dễ. Chúng tôi được thông báo rằng đối diện với chúng tôi là 25 sư đoàn bộ binh cơ giới của Liên Xô, quân số khoảng 250 ngàn người có không quân yểm trợ, và chúng tôi được yêu cầu cầm cự được trước cuộc xâm lược của họ ít nhất 24 giờ trước khi quân tiếp viện của TDQ dã chiến 23 từ mỏ khí đốt Đại Khánh tới. Chúng tôi có tổng cộng 12 nghìn người và thậm chí còn cả một mạng lưới các đường hầm dưới đất và các công sự, được xây dựng trong 20 năm qua. Theo tin đồn, bộ tư lệnh không tin vào khả năng chúng tôi có thể giữ được 24 giờ khi xảy ra cuộc xâm lược của Liên Xô trong trường hợp một cuộc tấn công ba chiều của máy bay, xe tăng và bộ binh. Bởi vì thế nên chúng tôi đã dạy cho thường dân chiến thuật chiến tranh du kích và sử dụng vật liệu nổ và bom mìn có cơ cấu hẹn giờ. May mắn thay, cuộc xâm lăng của Liên Xô không xảy ra, vì người Trung Quốc đã rút khỏi Việt Nam sau 9 ngày chiến đấu ".Tuy nhiên, Trung Quốc đã cố gắng biểu dương sức mạnh của họ. Chỉ trong vài ngày, 3 máy bay Trung Quốc bay với tốc độ tối đa từ sâu trong lục địa ra, chúng đến gần biên giới duyên hải tới khoảng 500 m tại ga Khasan, rồi tăng gấp độ cao bay ngược trở lại, mô phỏng một cuộc tấn công. Mỗi chiếc trong số đó có thể mang theo đầu đạn hạt nhân, và ở tốc độ đó, từ chiều cao đó, đầu đạn hạt nhân này có thể bay tới tận Vladivostok đang ở trong tầm nhìn. Trong không trung, cũng như mười năm trước đây, đầy hơi thở chiến tranh. Hầu như mỗi người lính đều tin rằng nó sẽ sớm bắt đầu. Trong khoảng thời gian từ ngày 12-26 tháng 3 năm 1979 với mục đích tạo áp lực quân sự lên Trung Quốc vì cuộc xâm lược của nó đối với Việt Nam, ở các QK biên giới phía Đông Liên Xô và ở Mông Cổ đã tiến hành nhiều cuộc diễn tập quân sự. Tổng cộng tham gia có hai mươi sư đoàn BCHT và sư đoàn không quân. Tổng quân số tập trận hơn 200 nghìn người, hơn 2,6 nghìn xe tăng, khoảng 900 máy bay. Những cuộc diễn tập quân sự lớn nhất ở Mông Cổ, có sự tham gia của sáu sư đoàn xe tăng và bộ binh cơ giới (ba trong số đó bổ sung đến Mông Cổ từ Siberia và Transbaikal), hai lữ đoàn, ba sư đoàn không quân, cũng như các đơn vị hợp thành và cơ sở tăng cường. Các bên tập trận phân ra "quân Bắc" và "quân Nam". Để yểm trợ lục quân đẩy lùi cuộc xâm lược của kẻ thù và trong quá trình tiến quân, cũng như yểm trợ khi tấn công đánh trả trong quá trình các trận đánh tao ngộ, đã huy động 3 sư đoàn không quân biên chế đầy đủ, hai trung đoàn trực thăng và 2 trung đoàn KQ trinh sát. Với sự có mặt của các trung đoàn không quân từ các QK phía tây, các bài diễn tập thực sự trở thành một bài tập trận không quân song phương với việc ứng dụng thực tế các vũ khí thông thường trên phạm vi thao trường. Trong thời gian tập trận đã thực hiện 2987 phi vụ với 2834 giờ bay. Nhưng bề ngoài các hoạt động diễn tập được thực hiện ở biên giới phía đông bắc Trung Quốc trông cũng rất ấn tượng. Tổng cộng, chỉ tính các trung đoàn xe tăng (gần 100 xe tăng mỗi trung đoàn) cũng đã huy động 12 trung đoàn vào sự kiện này. Đó là cả một hạm đội thiết giáp (theo biên chế và quân số chiến đấu - tương đương hai TDQ xe tăng thời Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại), về mặt lý thuyết có thể trong vài ngày đêm sẽ tiến tới các khu vực trung tâm Trung Quốc. Và nó không thể không làm Bắc Kinh lo ngại. Đừng nghĩ rằng "giá của vấn đề" đối với Moskva là không đáng kể. Thứ nhất khi di chuyển một khối lượng cực lớn xe máy kỹ thuật và con người như vậy, không thể tránh được tổn thất nhân mạng. Chẳng hạn, cuối tháng Hai, một phần sư đoàn dù 106 đổ bộ cách biên giới Mông Cổ-Trung Quốc một vài mét trong gió bão. Gió đạt tốc độ 40 mét một giây, do đó hơn mười người thiệt mạng và bị thương. Cuộc đổ bộ các lực lượng chính của sư đoàn đang chờ đợi trên các sân bay Transbaikal đã phải hủy bỏ. Khi cất cánh trong lúc diễn tập vào tháng 3 trên một máy bay MiG-21bis, đại úy biên đội trưởng Vladimir Samoilov đã hy sinh. Ngoài ra hao mòn trang thiết bị vật chất rất lớn. Đặc biệt, khi tham gia các cuộc diễn tập có đến 2.600 xe tăng. Mỗi chiếc bơm bổ sung một tấn nhiên liệu, mà trong điều kiện hành quân thuận lợi chỉ đủ đi có 400-450 km. Tiêu thụ nhiên liệu trực tiếp trong quá trình "hoạt động chiến đấu" tăng thêm 30%. Số dặm hành trình trung bình của xe tăng tính trên một đơn vị xe máy trong sự kiện này là hơn một ngàn rưởi cây số. Không khó khăn gì ta sẽ tính toán ra phải có bao nhiêu chi phí để chuyển từng ấy trang bị tăng thiết giáp. Cộng thêm vào đó là 13 nghìn đơn vị xe ô tô với số dặm trung bình 1.400 km và số máy bay đã nói ở trên. Dự trữ nhiên liệu được Bộ Quốc phòng khôi phục lại trong hai năm. Chi phí đưa quân đội trở lại điểm đóng quân thường trực cao đến mức hai sư đoàn BB cơ giới của quân khu Transbaikal, theo quyết định của Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, được để lại Mông Cổ. Xây dựng và trang bị cơ sở cho họ ở đó còn rẻ hơn so với đưa họ trở lại chỗ cũ. Cùng với điều này, những cuộc diễn tập nghiêm túc như vậy đã cho các bộ chỉ huy, các ban tham mưu một kinh nghiệm thực tế không thể thiếu và rất hiếm gặp trong các điều kiện hiện đại, khi thực sự chỉ huy một số lượng rất lớn các đơn vị hợp thành và cơ sở, các loại tàu thuyền, thực hiện những nhiệm vụ đặt ra cho họ, cũng như cho phép kiểm chứng những tính toán tham mưu tác chiến qua các hoạt động thực tiễn của bộ đội. Tuy nhiên, trong quá trình diễn tập đã phát hiện ra những sai sót rất nghiêm trọng, bị ẩn đi trong thời bình sau bức màn của các hoạt động hàng ngày của bộ đội. Số lượng bình quân ngày của các xe ô tô và xe máy tăng thiết giáp không làm việc lên đến 2% biên chế, cao hơn đáng kể so với chỉ tiêu quy định thời bấy giờ. Quán quân không thể tranh cãi về số các vụ việc trang bị xe máy kỹ thuật hỏng hóc là BTR-60. Chiếc xe này rất khó sử dụng, yêu cầu kíp lái và đội ngũ sửa chữa phải được đào tạo rất nghiêm túc. Thật khó mà mong đợi kết quả tốt khi ngồi sau tay lái chiếc xe vận tải bọc thép là người lính nghĩa vụ chỉ có kinh nghiệm lái GAZ-51. Trong 36 giờ, anh ta có một cuộc hành quân dài đến 2000 km. Sự làm việc chung đồng bộ của hai động cơ, hai hộp truyền động và các cụm ly hợp của BTR-60 đòi hỏi phải được điều phối rất chính xác, với nó không phải bất kỳ người sỹ quan nào tốt nghiệp trường đào tạo sỹ quan BCHT cấp phân đội ra, cũng có thể xử lý được. Vì vậy, có lẽ không có gì đáng ngạc nhiên với những kỷ lục đặc biệt do BTR-60 thiết lập. Trong suốt các cuộc hành quân vô tận, có đến 30% xe vận tải bọc thép bị hư hỏng. Không phải ngẫu nhiên mà trong những năm sắp tới sau này tại Afghanistan, xe thiết giáp vận tải chạy diesel BTR-80, ngay cả cho đến ngày nay, vẫn được coi là một trong những chiếc xe tốt nhất trong loại xe này. Cùng với điều này, khi đó đã thấy rõ nhược điểm rất lớn trên mọi cấp độ của các phương tiện sơ tán, công tác bảo trì kỹ thuật và sửa chữa. Nổi bật là sự thiếu vắng một cách phi lý các chuyên gia-thợ sửa chữa. Năm 1979 để tăng cường công tác kỹ thuật cho một sư đoàn được điều chuyển từ Siberia đến, đã buộc phải điều động hơn 50 máy kéo K-700 của nền kinh tế quốc dân và triển khai tất cả các xưởng sửa chữa quân sự. Tuy nhiên, cuối cùng thì các tiểu đoàn sửa chữa của các sư đoàn chỉ có mặt tại khu vực tập trận 5-6 ngày sau khi bắt đầu "các hoạt động chiến đấu" và không thể có bất kỳ sự tham gia nào vào việc chuẩn bị và sửa chữa trang bị kỹ thuật. Việc loại bỏ các sai sót phát hiện ra theo quyết định ở cấp rất cao đã phải mất ba năm hoạt động liên tiếp sau đó của Bộ Quốc phòng và BTTM. Rất nhiều người, khi đánh giá kết quả cuộc xâm lăng của Trung Quốc, cùng với việc cho rằng quân đội Trung Quốc về mặt quân sự đã cho thấy sự yếu kém của kẻ xâm lược, thì đồng thời cũng nói về chiến thắng ngoại giao của Trung Quốc đối với Liên Xô. Tuồng như Liên Xô không thể giúp đỡ đồng minh, khi thể hiện mình chỉ là một "con gấu giấy Bắc cực", điều khẳng định này là đáng ngờ và chỉ dựa trên lập luận rằng Liên bang Xô Viết đã không tấn công trực tiếp vào Trung Quốc. Và rằng mục tiêu có thể đạt được bằng các biện pháp đơn giản hơn mà đã không được đưa vào xem xét. Tuy nhiên, chính lập trường trước sau như một của Liên Xô, cùng với sự kiên cường của người Việt Nam cuối cùng đã buộc người Trung Quốc phải dừng lại, thậm chí không đạt được mục tiêu của họ. Quân đội Việt Nam vẫn không rút khỏi Campuchia, việc loại bỏ các dải thân Liên Xô trên bản đồ biên giới phía nam của TQ đã không thành công, hơn thế nữa, sự hiện diện của Việt Nam tại Campuchia và Lào lại còn gia tăng, giống như số lượng quân đội trên biên giới Việt Nam-Trung Quốc. Ngoài ra, Việt Nam còn thực hiện một loạt hành động trên mặt trận ngoại giao. Ngày 15 tháng Ba năm 1979 Bộ Ngoại giao Việt Nam đã công bố một bản ghi nhớ về biên giới Trung Quốc-Việt Nam, điều 9 bản ghi nhớ này lần đầu tiên trực tiếp lên án việc Trung Quốc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa hồi tháng 1 năm 1974. Còn Liên Xô do kết quả cuộc phiêu lưu của Trung Quốc đã mở rộng sự hiện diện của mình trong khu vực, sau khi xây dựng được một số căn cứ và hỗ trợ đáng kể cho các đồng minh mới của mình. Chỉ trong giai đoạn 1979-1982, viện trợ quân sự của Liên Xô cho Lào và Campuchia đạt đến 100 triệu USD. ......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 12 Tháng Bảy, 2013, 01:27:43 am (tiếp)
Hạm đội Thái Bình Dương và chiến tranh Hạm đội Thái Bình Dương (Tư lệnh là đô đốc Vladimir Petrovitch Maslov, Tham mưu trưởng là phó đô đốc Yaroslav Maksimovitch Kudelkin, Chủ nhiệm Chính trị Hạm đội Thái Bình Dương phó đô đốc V.D.Sabaneev) cũng không còn đứng bên lề sự kiện mà đã tham gia đóng góp. Sau khi bắt đầu nổ ra chiến sự ở biên giới Việt Nam, trên các con tàu của hạm đội người ta công bố: "Quân đội Trung Quốc bắt đầu các hoạt động quân sự chống lại nước Việt Nam thân thiện với chúng ta. Nhớ đến cuộc xung đột trên đảo Damansky, chúng ta không thể đảm bảo rằng vũ khí của bọn quân phiệt Trung Quốc sẽ không chĩa sang phía biên giới của chúng ta. Các sự kiện phát triển tiếp theo tại Việt Nam có thể yêu cầu sự tham gia của hạm đội chúng ta vào sự nghiệp giúp đỡ nhân dân Việt Nam thân thiện. Trên các tàu từ nay tuyên bố lệnh sẵn sàng chiến đấu ". Trên các con tàu, cũng như trong cả nước đã có các cuộc biểu tình lên án cuộc xâm lược của Trung Quốc. Các thủy thủ tàu tuần dương tên lửa "Vladivostok" vừa trở về từ một chuyến đi biển dài, căm phẫn lên án cuộc xâm lược của Trung Quốc và ủng hộ tuyên bố của chính phủ Liên Xô, đồng thời họ cho biết sẽ duy trì mức sẵn sàng chiến đấu cao để thực hiện bất kỳ mệnh lệnh nào của chính phủ. Chẳng mấy chốc họ đã có cơ hội để chứng minh điều này bằng việc làm thực tế, vào đầu tháng Ba tàu "Vladivostok" đã ra khơi đi chiến dịch. Tổng cộng có khoảng 50 tàu của Hạm đội Thái Bình Dương, trong đó có ít nhất sáu tàu ngầm đã được hạm đội triển khai sau khi cuộc xung đột nổ ra cho đến khi nó kết thúc. Trong tháng 2-tháng 3 năm 1979, đã thực hiện triển khai trung đoàn 390 thuộc Sư Đoàn TQLC 55 theo biên chế thời chiến do cuộc xâm lăng của Trung Quốc chống Việt Nam. Đã tiến hành một cuộc diễn tập chiến thuật trên biên giới với Trung Quốc, có đổ bộ TQLC và tổ chức một số cuộc tập trận chiến thuật cấp tiểu đoàn có bắn đạn thật. Các tàu của Hạm đội Thái Bình Dương đang phục vụ chiến đấu trong các khu vực then chốt của Biển Hoa Đông và Nam Trung Hoa (Biển Đông) đã giám sát các tàu của Hải quân Trung Quốc trong số các tàu khác. Về số lượng, hải quân Trung Quốc vào năm 1979 trội hơn đáng kể so với nhiều hạm đội. Quân số của nó vào khoảng 300.000 người, trong đó có 38.000 lính thủy quân lục chiến, về biên chế tàu: 75 tàu ngầm, 11 tàu khu trục, 65 tàu tuần tra, 70 tàu cao tốc tên lửa, 715 tàu cao tốc và tàu quét mìn khác, 494 tàu đổ bộ và 700 máy bay chiến đấu của hạm đội. Đồng thời phần lớn các tàu đều đã cũ, hơn nữa, nhiều tàu đang neo đậu không sử dụng được vì thiếu phụ tùng thay thế. Một vài con số ấn tượng - có thể liệt vào loại tàu lớn nhiều hơn hoặc ít hơn một cách có điều kiện 494 tàu đổ bộ, nhưng trong đó chỉ có 15 tàu đổ bộ-xe tăng, 14 tàu đổ bộ cỡ trung và 15 tàu vận tải chở quân. 450 chiếc còn lại - xuồng đổ bộ cao tốc. Trong các loại tàu mặt nước chỉ có 7 tàu khu trục tên lửa có thể tạm phân loại là hiện đại. Bộ tư lệnh hải quân Trung Quốc bằng sức mình cố gắng hoàn thiện hạm đội. Sau 5 năm, quân số của nó đã gần như tăng gấp đôi. Điều này diễn ra bằng cách tăng cường lực lượng tàu mặt nước và tàu ngầm của ba hạm đội cơ động: hạm đội Bắc Hải, Đông Hải và Nam Hải. Kết quả là tại Hạm đội Bắc Hải, ranh giới mở rộng từ cửa sông Yalu đến Liên Vân Cảng, tới năm 1979 đã có khoảng 150 tàu, các căn cứ chính Thanh Đảo và Lữ Thuận đang được hiện đại hóa. Hạm đội Đông Hải được tăng cường đáng kể lên đến 500 tàu, các đường biên của nó là Liên Vân Cảng ở phía bắc và Triều Dương ở phía nam, với các căn cứ chính Thượng Hải và Trấn Giang. Hạm đội Nam Hải có số lượng 200 tàu, căn cứ chính của nó là Trạm Giang, ranh giới của nó trải rộng về phía bắc đến Triều Dương và tới lãnh hải Việt Nam ở phía nam. Sự tập trung số lượng lớn nhất các tàu vào hạm đội Đông Hải cho phép cơ động lực lượng tự do hơn, tùy thuộc vào việc Bắc Kinh có ý định gây tình hình căng thẳng tại khu vực nào. chẳng hạn, liên quan đến các hành động khiêu khích vũ trang láo xược chống lại Việt Nam và thổi phồng yêu sách chủ quyền với các đảo ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), nhiều tàu hải quân của Trung Quốc đã tập trung tại các cảng phía nam của đất nước này và ở đảo Hải Nam. Trung Quốc thường sử dụng hạm đội quân sự và thương mại vào các hành động khiêu khích chống lại Việt Nam. Từ 1975 đến 1977 tàu Trung Quốc đã 1.500 lần xâm phạm lãnh hải của Việt Nam. Dưới đây là một số sự cố trước chiến tranh. Mùa hè năm 1978, Trung Quốc đã gửi tới Hải Phòng và TP Hồ Chí Minh hai tàu thủy chở khách để đón khỏi Việt Nam những Hoa Kiều giàu có. Họ "vội vàng" đến nỗi, thậm chí "quên" cả xin phép ghé vào cảng của Việt Nam. Các ngày 10, 15 và 23 tháng Tám năm 1978 cơ quan an ninh của Bắc Kinh đã cho một lực lượng hàng trăm tàu đánh cá Trung Quốc xâm phạm lãnh hải Việt Nam trong khu vực các đảo của các tỉnh Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên, ngăn cản công việc bình thường của ngư dân Việt Nam và đe dọa an ninh của Việt Nam. Ngày 08 tháng Một năm 1979 vào lúc 3:00 giờ sáng một sà lan có động cơ trọng tải 40 tấn của Trung Quốc đã đi sâu vào lãnh hải Việt Nam tại khu vực đảo Trà Cổ huyện Móng Cái. Bộ đội biên phòng Việt Nam yêu cầu người Trung Quốc lập tức phải rời khỏi lãnh hải Việt Nam. Đáp lại, nhiều phát súng vang lên. Một vài giờ sau hai tàu chiến Trung Quốc có mặt hội quân với chiếc sà lan. Đương nhiên Hạm đội Thái Bình Dương không thể đứng ngoài. Ngay từ tháng Sáu năm 1978 sau sự cố biên phòng trên biên giới Việt Nam và Trung Quốc, một đơn vị hợp thành lớn của Liên Xô bao gồm hai tàu tuần dương và hai tàu khu trục đã tiến hành một cuộc diễn tập ở eo biển Bashi giữa đảo Đài Loan và Philippines. Vào tháng Giêng-tháng Hai năm 1979 tàu tuần dương Liên Xô "Vladivostok" (trung tá hải quân Yu.Balashov) cùng một tàu khu trục trở về sau khi hoàn thành nhiệm vụ quân sự tại Ấn Độ Dương, đã ở lại khu vực biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) để biểu thị sự ủng hộ của Liên Xô cho Việt Nam, khi có thông tin rằng Trung Quốc chuẩn bị "trừng phạt" người Việt Nam. Sau khi có thông tin Trung Quốc sắp "trừng phạt" Việt Nam, các tàu của Hạm đội Thái Bình Dương đã được điều động đến Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Ngày 23 tháng 1 tàu tuần tra đề án 159A "SKR-46", tàu quét mìn trên biển đề án 266M "Tral" (đại úy hải quân Zabekin R.V., chỉ huy cao cấp trên tàu là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn tàu quét mìn 646 lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải số 45, thiếu tá hải quân Kharlampovitch V.V,) và tàu chở dầu "Ilim" đã đến gần đảo Hải Nam (CHND Trung Hoa). Tại đó đã có các tàu trinh sát Liên Xô (RZK) giám sát tình hình. Ngày 17 tháng 2 khi cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và Việt Nam nổ ra, BPK đề án 1134A "Vasily Chapaev" (chỉ huy Eduard Gheorghievitch Znakhurenko) đã đến tham gia cùng nhóm tàu này, trên đó đặt bộ tham mưu lữ đoàn cơ động số 22 của Hạm đội Thái Bình Dương (chỉ huy lữ đoàn là đại tá hải quân D.N.Cherivaty, tham mưu trưởng bộ tham mưu chiến dịch V.A.Peterkov). Các tàu ở lại biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), để thể hiện sự hỗ trợ cho Việt Nam của Liên Xô. Tàu quét mìn "Tral" và "SKR -46" đảm bảo sự ổn định trong chiến đấu cho tàu trinh sát cỡ trung SRZK "Kursograph" tại Vịnh Bắc Bộ (4 chiến dịch hành quân). Sau khi chiến tranh bắt đầu, có các tàu đổ bộ cỡ lớn BDK, tàu ngầm nguyên tử đến tham gia chi đội tàu chiến trên, đã tổ chức tăng cường cho bộ tham mưu binh đoàn cơ động số 22, điều động đến - các trưởng ngành thủy lôi, trưởng ngành pháo hạm, trưởng ngành máy tàu. Tới cuối tháng Hai, ở biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) đã có 13 tàu chiến của Liên Xô và họ đợi một nhóm mới tàu chiến đang đến, dẫn đầu là tuần dương hạm "Đô đốc Senyavin". Glukhov Vladimir Efimovitch - trung tá hải quân, nhà hải dương học của Hải quân Xô Viết, - nhớ lại: "Tôi đang là tham mưu trưởng tiểu đoàn và được bổ nhiệm làm chỉ huy chuyến đi của các con tàu của chúng ta tới Việt Nam. Chúng tôi được chuẩn bị cho chuyến đi trong một ngày, sau năm ngày chúng tôi đã vào cảng Đà Nẵng. Nhiệm vụ của chúng tôi là khẩn trương đảm bảo các điều kiện cho các tàu chiến Liên Xô ghé vào các cảng Việt Nam. Chúng tôi đo độ sâu, xác định luồng vào, dòng chảy và các vấn đề khác. Thậm chí chúng tôi kiểm tra cả các cầu cảng hiện có. Sau đó chúng tôi đi đến bán đảo Kam Ranh, nơi sẽ xây dựng một căn cứ của Hải quân Liên Xô. Chúng tôi làm việc quần quật cả tháng, vừa chờ đợi một biên đội tàu chiến của Hạm đội Thái Bình Dương tới đây. Gió rất mạnh, trời nóng bức đến không thể chịu đựng nổi. Biển ấm. Các chàng trai-thủy thủ tàu ngầm nói với tôi rằng họ cảm thấy giống như ở trong một nồi nước sôi. Tôi cho rằng, nhờ các hành động kịp thời của Hải quân chúng ta, chiến tranh giữa Trung Quốc và Việt Nam đã trở thành một sự kiện quân sự không lớn ". Các con tàu của chúng tôi đã sẵn sàng không chỉ hỗ trợ Việt Nam bằng các hoạt động có tính biểu dương. Tham mưu trưởng Bộ tham mưu binh đoàn tác chiến cơ động số 22 V.A.Peterkov nhớ lại: "Đang ở trong vùng nước nông vịnh Bắc Bộ, chúng tôi không tiến sâu vào trong vịnh vì sợ bẫy thủy lôi từ các xuồng Trung Quốc, một lần sau khi phát hiện ra một biên đội tàu chiến Trung Quốc kiểu tàu tuần tra đề án 50 gồm 5 chiếc, chúng tôi nghi ngờ chúng rải thủy lôi, chúng tôi báo cáo về bộ tham mưu binh đoàn, nhưng lệnh cho chúng tôi triển khai tác chiến quét mìn không tới. Đơn vị hợp thành tàu chiến Xô Viết ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) đến tháng 4 năm 1979. Kết quả các hành động của họ là hạm đội Nam Hải CHND Trung Hoa đã không tham gia vào cuộc tấn công Việt Nam, nó bao gồm vài chục tàu tuần tra SKR đề án 50 và tàu chống ngầm PLK đề án 122, các xuồng còn lại trang bị súng máy và súng phóng lựu. Trên các sân bay có ba mươi chiếc IL-28. Một vài lần những chiếc máy bay đó đã thực hiện những động tác nhằm vào chúng tôi để ném bom chính xác ". Các con tàu đều chuẩn bị sẵn sàng trước những tình huống phát triển xấu nhất. Như Glukhov V.E. khẳng định: " Nếu Trung Quốc bắt đầu đẩy mạnh chiến tranh, các con tàu của chúng tôi sẽ vào Vịnh Bắc Bộ. Và ở đó ... ở đó chúng tôi có thể đã phóng tên lửa. Cảm ơn Chúa vì điều này đã không xảy ra ". Trung Quốc đã không quyết định sử dụng lực lượng hải quân của mình xâm lược Việt Nam vì có sự hiện diện của các tàu chiến Liên Xô. Tuy nhiên, từ ngày 17 tháng 2, ngay khi mới bắt đầu cuộc chiến trên đất liền, trong vùng biển thuộc lãnh hải Việt Nam đã bắt đầu xuất hiện các tàu Trung Quốc-vi phạm. Đội tàu của họ có những nhiệm vụ hoàn toàn xác định do Bộ Tổng tham mưu Quân đội Trung Quốc giao. Đó là - trinh sát sự phòng vệ bờ biển, xác định số lượng và đặc điểm của các lực lượng trên đất liền Việt Nam, đang nằm trong thành phần dự bị của BTTL, LLKQ và Hải quân tại tỉnh ven biển Quảng Ninh, đổ bộ các nhóm phá hoại và khiêu khích, bắt liên lạc với các điệp viên nằm vùng, xác định nơi triển khai đổ bộ. Đội thám tử gồm các trinh sát viên chuyên nghiệp và các tình báo viên quân sự, nằm trong số các "dân quân miền biển" tuyển dụng ở vùng bờ biển Quảng Đông và đảo Hải Nam từ số ngư dân, cũng như các cựu Hoa Kiều biết các đảo ngầm của Việt Nam. Với các tàu cỡ nhỏ thì hải quân Việt nam tự mình đối phó được. Chứng kiến một trong những sự kiện chiến đấu này là nhà báo quốc tế V.N.Skvortsov sau khi thực hiện một chuyến đi trên xuồng tuần tra cao tốc số 17 (thuyền trưởng trung úy Đồng Xuân Tụ, chỉ huy chuyến hành quân là tiểu đoàn phó đại úy Lê Hữu Lộc) thuộc lữ đoàn tàu chiến 172, thời điểm cuối tháng 2 năm 1979. "Các dãy đảo đã hết, biển rộng mở ra trước mắt chúng tôi. Ngay lập tức còi báo động chiến đấu hú vang. Từ cầu điều hướng đài chỉ huy có thể nhìn rõ tháp pháo bọc thép của các cỗ pháo tốc độ bắn nhanh đang quay thế nào. Tàu tăng tốc độ, hướng tới chỗ có đám tàu thuyền đang cụm lại phía xa. Thủy thủ đánh tín hiệu nhường tôi chiếc ống nhòm một phút. Trong ống kính nhìn thấy rõ trên cột buồm chiếc thuyền vận tải là lá cờ đỏ có ngôi sao vàng Việt Nam. ... Chiếc thuyền hai cột buồm hạ cánh buồm màu nâu xuống và tăng vòng quay động cơ rất mạnh của nó lên toàn phần, chạy ngoằn ngoèo giữa các hòn đảo. Nó xả ra xung quanh những vòi nước phun màu đen. Xung quanh đều là đá ngầm, đạn pháo chạm đáy. Lớp gỗ bay lả tả ra khỏi mạn và cột buồm: xạ thủ súng máy nã đạn vào con tàu đang chạy trốn thục mạng giữa những tiếng nổ. "17" đã sẵn sàng húc thẳng vào chiếc thuyền buồm, vì vậy người ta hãm động cơ trên tàu. Tốc độ của kẻ đào tẩu chưa giảm, và họ đã đẩy khẩu súng máy đặt ở buồng lái xuống biển. Đạn súng tự động bay thành từng vệt từ phía đối diện lại, vô hình với chúng tôi, họ còn vứt xuống đáy biển một cái gì đó. Nhưng từ phía chiếc tàu tuần tra cỡ nhỏ, các xạ thủ súng tự động Việt Nam đã xả đạn kín mặt chiếc thuyền vi phạm. Một thợ lặn đeo mặt nạ cao su và chân vịt lặn: sẵn sàng kiểm tra "món đồ" ném dưới đáy. Trên lớp sơn véc-ni mặt thuyền những vết sước màu máu đỏ rực lên vì vết đạn bắn, đạn làm trầy xước lóp gỗ màu gụ. Từ hai mạn thuyền gỗ bị tách phả ra mùi phoi bào tươi. Từ đảo ngầm một chiếc tàu tuần tra khác phóng ra để trợ chiến cho "17" nếu chiếc thuyền buồm kia có đồng bọn yểm trợ. Thủy thủ đánh tín hiệu ở trên hai cầu điều hướng vẫy những lá cờ đuôi nheo màu đỏ. Trên chiếc thuyền đột nhiên cột buồm đổ sụp có lẽ bị mảnh đạn pháo phạt gãy. Nó kéo cả xuống nước mớ quần áo lót treo trên dây neo buồm. Bốn người ở phía đuôi thuyền tay giơ lên túm lấy nó. Trên những cái bụng để trần rung rinh bùa hộ mệnh làm bằng răng cá mập. Nói chuyện với những tên cướp biển chẳng để làm gì. "Thú vui" tương tụ không cần đặt câu hỏi thừa là đưa lên bờ giao cho Phòng Trinh sát Bộ tham mưu Hải quân. Ở đó họ sẽ làm việc với chúng. Chiếc thuyền được người ta móc cáp kéo. Bắt tàu thuyền vi phạm, đuổi các tàu Trung Quốc ra khỏi lãnh hải Việt Nam thì chuyến đi biển nào tiểu đoàn cũng phải làm. Công việc này, theo lời các thủy thủ, không khó. Tuy nhiên, xem các hành động khéo léo của đội thủy thủ trên tàu ruần tra "17", không khó khăn gì ta có thể hình dung được họ sẽ xử lý ra sao trong tình hình phức tạp hơn ". Hai BDK Liên Xô cùng phối hợp với các tàu "LST -2" và "LST -1" Việt Nam (tàu đổ bộ chiến lợi phẩm của Mỹ) tham gia chuyển xe tăng và xe bọc thép của 2 lữ đoàn xe tăng từ cảng bốc hàng Sihanoukvin (ở Campuchia) và Sài Gòn về Hải Phòng. Thời tiết xấu trên biển đã dẫn đến việc chuyến đi từ Sài Gòn tới Hải Phòng mất đến cả một tuần. Một lần người Việt Nam đề nghị cùng với binh lính cho họ bốc lên BDK cả những chú heo sống. Lữ đoàn trưởng đại tá hải quân Cherivaty D.N. cấm làm dơ dáy các con tàu Liên Xô. ........ Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 13 Tháng Bảy, 2013, 03:44:33 pm (tiếp)
(http://content.foto.mail.ru/community/letuchey/156/i-185.jpg) Tàu tuần tra SKR "Letutchi" đề án 1135 tại cầu cảng Cam Ranh, tháng 9 năm 1979. (http://foto.mail.ru/community/letuchey/156/189.html#185) Các con tàu của chúng tôi đảm bảo cho chuyến đi an toàn và đưa hàng hóa đến cảng Đà Nẵng của Việt Nam, tất cả hàng quân sự từ Liên Xô được chở tới đây, vì cảng Hải Phòng nằm cách mặt trận chỉ 100-250 km, và nằm sâu trong Vịnh Bắc Bộ, trong khu vực hoạt động của không quân Trung Quốc, điều đó gây ra một số khó khăn nhất định. Kể từ khi bắt đầu cuộc xung đột cho đến cuối tháng Ba, đã vận chuyển bằng đường biển đến hơn 400 xe tăng, xe chiến đấu bộ binh và xe bọc thép chuyển quân, 400 cỗ pháo và súng cối, 50 dàn RS30 "Grad", hơn 100 dàn vũ khí PK, 400 hệ thống TLPK mang vác và một ngàn đạn tên lửa cho các tổ hợp đó, 800 súng phóng lựu chống tăng cầm tay, 20 máy bay chiến đấu. Chúng tôi cũng cung cấp các máy móc kỹ thuật chuyên ngành và trang thiết bị để sửa chữa xe bọc thép, xe ô tô, và vũ khí. Số lượng khổng lồ các trang thiết bị và vũ khí này được phân phối và chuyển cho Việt Nam gần như chỉ trong vòng một tháng. Chúng ta cần lưu ý rằng tất cả các trang bị kỹ thuật đã được chuyển giao trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Nó được các ủy ban quan trọng nhất kiểm tra, các chuyên gia trực tiếp khai thác trang bị và và có nhiều kinh nghiệm sử dụng trang bị đã được điều động đến chuẩn bị cho nó. Vì vậy, xe máy trang bị kỹ thuật từ phương tiện vận tải đưa thẳng xuống, không cần chuẩn bị bổ sung có thể bước ngay vào chiến đấu. Mặc dù có những khó khăn nảy sinh, hai phần ba số hàng hóa được cung cấp cho Việt Nam bằng đường biển, đã qua cảng Hải Phòng. Đây là một cơ sở cảng biển lớn sử dụng hơn 7000 người lao động. Để hoạt động của cảng hiệu quả hơn, vài năm trước cuộc xung đột, với sự giúp đỡ của Liên Xô cùng sự tham gia của các chuyên gia Liên Xô cảng Hải Phòng đã được hiện đại hóa. Chẳng hạn vào năm 1978, đã đưa vào sử dụng các dãy nhà kho, tân trang lại bến tàu, đặt bốn giàn cần cẩu, cải thiện hệ thống báo hiệu, trải bê tông nhựa các đường vào cảng. Chiến sự không làm giảm lưu lượng hàng hóa lưu thông qua cảng, trong giai đoạn này tại cảng Hải Phòng luôn có 5-6 tàu Liên Xô bốc dỡ hàng hóa dân sự. Ngày 24 tháng 2 tại cảng Hải Phòng đã tổ chức một cuộc mít tinh đông đảo, có sự tham dự của các thủy thủ Liên Xô, những người chuyên chở các hàng hoá kinh tế có giá trị cho Việt Nam. Tại cuộc mít tinh trên, thuyền phó thứ nhất tàu hàng "Tin tức" S.A.Zolotnikov đã lên phát biểu. Thủy thủ tàu hàng đã ký thỏa ước XHCN với các công nhân cảng Hải Phòng. Tới ngày 27 tháng 2 dự kiến sẽ hoàn thành dỡ xong toàn bộ hàng trên tàu. Tuy nhiên, Hải Phòng cũng là một thành phố ở tuyến đầu. Chứng kiến các sự kiện, nhà báo quốc tế V.N.Skvortsov nhìn Hải Phòng như sau: " Hải Phòng nghiêm trang và ảm đạm thấy rõ trong những ngày chiến tranh. Trong một công viên gần một nhà thờ Hồi giáo được xây dựng khi xưa bởi các thương nhân tơ lụa Pakistan, có đặt những cỗ súng phòng không. Trên tháp chuông xám-vàng của nhà thờ Dòng Tên lờ mờ hiện ra những quan trắc viên. Ống nhòm của họ phản chiếu những vệt chói sắc nét. Nhiều thủy thủ đeo súng tự động đi tuần tra. Trong cảng tại những bến tàu buôn, hình dáng im lìm dữ tợn của những con tàu chiến hòa lẫn cùng mặt nước xám ". Khi tàu dỡ hàng nảy sinh khó khăn vì hầu hết công nhân xếp dỡ trong cảng là người dân tộc Hoa, trước lúc bắt đầu cuộc xâm lược theo lệnh gọi của Bắc Kinh họ đã rời bỏ nơi làm việc của họ, dẫn đến sự dồn ứ các tàu chở hàng ở các cảng Việt Nam. Vấn đề xảy ra đã được giải quyết khi có các chuyên gia từ Liên Xô đến. Ngày 19 tháng 3 năm 1979, một nhóm lớn hơn 150 công nhân cảng, các kỹ sư và chuyên gia từ Vladivostok, Nakhodka, Korsakov và Vanino, dẫn đầu là Chủ nhiệm cảng Nakhodka G.I.Pikus đáp tàu hàng "Olga Androvskaya" (thuyền trưởng V.Scherbacheny) đã có mặt tại Hải Phòng. Các máy móc trang bị kỹ thuật được đưa đến Việt Nam trên tàu gồm: xe tải và máy hút vật tư dạng hạt, hơn 200 khay hàng phổ dụng, các trang thiết bị mang tải khác nhau, dây chão. Cuộc mít tinh vừa mới kết thúc, các chuyên gia Liên Xô bắt tay ngay vào làm việc. Đội công nhân cảng đầu tiên trực sản xuất là đội của cảng Vanina do V.Sevryukov dẫn đầu. Ngày làm việc thường kéo dài 12 giờ. Trong tháng Ba tại Hải Phòng, giữa những tàu hàng khác của Liên Xô đang được bốc dỡ như tàu "Gheorghy Chicherin", "Valery Mezhlauk", "Bela Kun" có một loạt tàu của các nước xã hội chủ nghĩa khác - Ba Lan, Đông Đức và Bulgaria. Tại cảng Hải Phòng và Sài Gòn trong 99 ngày làm việc, các công nhân cảng của Liên Xô đã xử lý được 26 tàu và hơn 100.000 tấn hàng hóa. Tại Hải Phòng với sự hỗ trợ của họ đã xử lý 79,1 nghìn tấn hàng, dỡ 14 nghìn tấn hàng trên phương tiện đường sắt, bốc xong hàng 16 tàu. Tại Sài Gòn - 25,7 nghìn tấn và 13 tàu. Tiết kiệm thời gian neo đậu được hơn bốn ngàn năm trăm giờ tàu. Và hiệu quả kinh tế chỉ tính việc xử lý các tàu Liên Xô đã vượt trên 550 ngàn rúp. Khi tàu "Olga Androvskaya" rời Sài Gòn, nó tặng lại miễn phí tất cả các xe máy trang bị kỹ thuật, trên bến cảng không còn một chiếc tàu nào còn hàng. Tờ báo "Nhân Dân" đã viết: "Trong suốt thời gian các công nhân cảng và chuyên gia Liên Xô làm việc tại cảng Hải Phòng, người lao động Việt Nam đã học hỏi được rất nhiều ở họ về tính tổ chức và kỷ luật. Sự hợp tác lao động chung giữa các công nhân bến cảng Việt Nam và Liên Xô đã trở thành một trường học độc đáo về nghề nghiệp cho các công nhân cảng Việt Nam. Trên các cơ sở kinh nghiệm Xô Viết, trong tháng 5 năm 1979 tại cảng Hải Phòng sẽ tiến hành cải tổ toàn bộ quá trình xử lý hàng và tổ chức quản lý kinh tế ". Theo nghị định của Chủ tich nước CHXHCNVN, 4 cảng đã gửi sứ giả đến giúp đỡ họ - Vladivostok, Nakhodka, Vanino, Korsakov, đã được trao tặng huân chương "Hữu Nghị". (http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/026442_zpsdc8af222.jpg) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/026442_zpsdc8af222.jpg.html) USS Constellation (CV-64) hành quân trên biển với Không đoàn máy bay trên tàu sân bay số 9 (Carrier Air Wing Nine (CVW-9)) đang bố trí trên tàu, khoảng tháng 5 năm 1979, thời gian gần cuối của đợt triển khai lần thứ 11 của "Connie" đến Tây Thái Bình Dương (Westpac). Đợt triển khai này dự kiến kết thúc vào tháng Ba, nhưng được mở rộng để phản ứng lại cuộc khủng hoảng chính trị tại Yemen. CVW-9 bao gồm các máy bay Tomcat F-14A, A-7E Corsair II, "Kẻ xâm nhập" A-6E Intruder và KA-6D, S-3A Viking, E-2C Hawkeyes, EA-6B Prowlers, RF-8G Thập tự chinh và SH-3H Sea King. (http://www.navsource.org/archives/02/64.htm) Ngoài Trung Quốc, người Mỹ cũng là một vấn đề. Sau khi chiến tranh bùng nổ ngoài việc thực hiện trinh sát vệ tinh, người Mỹ gửi tới căn cứ không quân chiến lược ở Okinawa (Nhật Bản), một số máy bay Grumman E-2C Hawkeye. Được thiết kế và chế tạo đặc biệt để tiến hành giám sát điện tử, những chiếc máy bay này theo dõi chặt chẽ động thái của hạm đội Liên Xô, đánh chặn tất cả các bức xạ điện từ của các phương tiện TTLL và radar của hạm đội. Phân tích và giải mã những bức xạ này sẽ cho Hoa Kỳ thấy bức tranh thực sự của các ý định hoạt động của Liên Xô. Cuộc chiến tranh Trung-Việt đã cho Mỹ một cơ hội độc đáo để thử nghiệm trong thế giới thực hệ thống chỉ huy, kiểm soát và thông tin liên lạc của họ, dựa vào đó mà áp dụng đòn tấn công khả dĩ của lực lượng hạt nhân Hoa Kỳ. Trước sự ngạc nhiên và kinh hoàng của mình, Tổng thống Carter nhận ra rằng toàn bộ hệ thống của Mỹ hiện giờ rất dễ bị tổn thương trước vũ khí không gian mới của Liên Xô. Lẽ tự nhiên hạm đội Mỹ không thể bỏ qua khu vực xung đột. Đơn vị hợp thành tàu sân bay xung kích dẫn đầu là tàu sân bay «Constellation» (CV-64), trực chiến gần các bờ biển vùng Đông Nam Á từ ngày 6 tháng 12 năm 1978, trong đơn vị này có các tuần dương hạm «Leany» (CG 16), khu trục hạm «Morton» (DD 948), tàu vận tải «Takelma» (ATF 113). Ngày 25 tháng 2 đơn vị xung kích tàu sân bay do tàu sân bay «Constellation» (CV-64) dẫn đầu đã triển khai gần bờ biển Việt Nam trong vùng biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), với mục đích như chính phủ Mỹ tuyên bố là để kiểm soát tình hình. Để giữ chúng cách xa khu vực chiến sự quy mô lớn, các tàu ngầm diesel của chúng ta đã chặn đường tiếp cận của các tàu chiến Mỹ. Một phần các tàu ngầm này còn ẩn dưới mặt nước, còn một phần hiên ngang triển khai trong tư thế nổi. Thần kinh của các thủy thủ của chúng ta tỏ ra vững chắc hơn - người Mỹ quyết định không vượt qua tuyến chướng ngại trên biển này. Ngày 6 tháng 3 nhóm AUG do tàu sân bay «Constellation» cầm đầu đã rời đi khu vực vịnh Aden, nơi đó cuộc xung đột giữa 2 miền Nam và Bắc Yemen đang sôi sục. Nhiều tàu đã sẵn sàng ra khơi. Vào tháng Giêng - tháng Hai năm 1979 tàu quét mìn trên biển "Paravan" tiến hành sửa chữa trên dok tại dok nổi nhà máy sửa chữa đóng tàu hải quân 92 (Vladivostok, vịnh Diomid). Với việc ra khỏi dok sau ngày 19 tháng Hai do cuộc xâm lăng của Trung Quốc chống Việt Nam đã bắt đầu, con tàu được giao nhiệm vụ chuẩn bị đi phục vụ chiến đấu ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Công tác chuẩn bị diễn ra đến trước ngày 10 tháng 3 ngay bên tường bến nhà máy 92. Trong tháng Ba, con tàu đã di chuyển từ vịnh Diomid sang vịnh Abrek, neo tại bến tàu số 3 để chờ quyết định của bộ chỉ huy ra khơi thực hiện nhiệm vụ quân sự. Đồng thời từ vịnh Abrek MT "Yakor" (thuyền trưởng Bulgakov N.Ya., tiểu đoàn tàu quét mìn 186 lữ đoàn tàu quét mìn số 7) đã ra khơi thực hiện nhiệm vụ quân sự ở biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), nhưng sau một vài ngày đã phải quay về từ eo biển Triều Tiên. Tàu đi thực hiện nhiệm vụ quân sự trong khi chỉ một động cơ chính làm việc. Công tác phục hồi được tiến hành đối với động cơ chính bị hỏng. Tuy nhiên việc sửa chữa động cơ đã không đạt kết quả. Con tàu đi đến eo biển Triều Tiên rồi sau đó trở về căn cứ. Quyết định cho MT "Paravan" ra khơi thực hiện nhiệm vụ quân sự không được bộ chỉ huy ban hành. Tháng Ba năm 1979 đơn vị hợp thành các tàu chiến Liên Xô trong khu vực xung đột đã có 30 tàu. Các con tàu ở biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) cho đến tháng 4 năm 1979. Trong thành phần của đơn vị có: tuần dương hạm chỉ huy "Đô đốc Senyavin" (tháng hai-tháng năm), tuần dương hạm tên lửa "Đô đốc Fokin" (trung tá hải quân A.Samofal), các tàu chống ngầm cỡ lớn BPK "Vasily Chapaev" (trung tá hải quân E.G.Znakhurenko, từ ngày 17 tháng 2), "Sposobnyi", "Stroghi", khu trục hạm "Vozbudennyi" (trung tá hải quân N.Ivanov), tàu tuấn tra SKR "Raziatsi", "SKR-46" (tháng Một-tháng Tư), MT "Tral" (từ tháng một-tháng tư (tiểu đoàn tàu quét mìn 646 lữ đoàn bảo vệ lãnh hải số 45 (vịnh Vladimir)) và các tàu khác. Vì lòng dũng cảm và chủ nghĩa anh hùng trong khi thực hiện nhiệm vụ, 36 thủy thủ của binh đoàn thuộc Hạm đội Thái Bình Dương đã được trao tặng các phần thưởng nhà nước, trừ bộ tham mưu lữ đoàn cơ động số 22 Hạm đội Thái Bình Dương. Tại sao như thế thì tham mưu trưởng bộ tham mưu dã chiến của binh đoàn 22 V.A.Peterkov nhớ lại: "Danh sách đã đưa ra, nhưng tại lữ đoàn 202 chủ nhiệm chính trị lữ đoàn và tham mưu trưởng đã cho vào trong nó cả bản thân mình vốn là người gần gũi với Việt Nam và không đi. Thực ra người ta đã đưa vào lữ đoàn trưởng đại tá hải quân D.N.Cherivatyi. Vì việc này ông đã nói CÁM ƠN NHIỀU với chủ nhiệm chính trị bằng những lời không tiện in ra ". Cùng với các tàu mặt nước của Hạm đội Thái Bình Dương, trong khu vực đối đầu còn có các tàu ngầm hoạt động. Vào đầu tháng hai, khi thấy rõ khả năng xảy ra chiến tranh đã trở nên rất cao, các tàu ngầm của chúng ta bắt đầu được triển khai. Thuyền trưởng tàu ngầm diesel "B-88" Fedor Ivanovitch Gnatusin nhớ lại:"Vào đầu năm 1979, chúng tôi được thư giãn - tàu đang nằm sửa chữa định kỳ trong nhà máy, khi cuộc chiến tranh không thể hiểu nổi giữa hai quốc gia xã hội chủ nghĩa châu Á nổ ra. Nhưng một tuần sau đó, người ta đưa chúng tôi ra biển. Việc giao nhiệm vụ rất nhanh, bốc thủy lôi và ngư lôi tác chiến, còn một tuần - chất tải và lèn vào các khoang chật chội hàng tấn tấm tái sinh không khí, ZIP, thực phẩm, trang thiết bị của toán trinh sát biệt phái ... Chúng tôi đi vào cuộc chiến. Tại Vladivostok, Nakhodka, Odessa các đoàn lữ hành được chất hàng viện trợ quân sự cho quốc gia châu Á nhỏ bé. Vào ngày mai ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) chúng tôi có thể gặp những chiếc thuyền buồm và xuồng máy-cảm tử của họ, những chiếc tàu pháo và xuồng cao tốc phóng lôi và các tàu khu trục của "những người anh em vĩnh viễn", các tàu thuyền của Liên Xô, các tàu tuần tra và khu trục hạm cùng một đề án sẽ tham gia chiến đấu với họ. Còn chúng tôi, những thủy thủ tàu ngầm, sẽ gặp phải hỏa lực và thanh kiếm của Hải quân Trung Quốc trên những con đường tiếp cận khả dĩ tới bờ biển Việt Nam. Chúng tôi không chỉ có một mình. Chỉ từ Uliss đã có 6 tàu đi tới bờ biển Việt Nam. Còn cả Konyushko, Avangard, Rakushka, Sovgavan, Magadan và Bitchevo. Lực lượng chúng tôi rất nhiều và tất cả chúng tôi mặc áo lót thủy thủ!". Hầu hết các tàu ngầm diesel được đặt trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu và hoàn toàn sẵn sàng ra khơi. Ban chỉ huy lữ đoàn tàu ngầm độc lập 90 (Sovgavan, cảng Zavet Ilitch) đã chọn ra hai tàu ngầm tốt nhất để đi làm nhiệm vụ ở bờ biển Việt Nam, một trong số đó là "S-145" đề án 613. Có mặt ở lữ đoàn 19 (thành phố Vladivostok), nạp ngư lôi đầu đạn hạt nhân, sau đó tàu xuất bến và ở trong tình trạng sẵn sàng № 1 ngoài khơi bờ biển Nhật Bản, cho đến khi có lệnh trở về. (http://www.deepstorm.ru/DeepStorm.files/45-92/dts/613/S-145/image003.jpg) Kíp thủy thủ "S-145" đề án 613, 613V xếp đội ngũ theo điều lệnh trên mặt boong. Ảnh chụp sau 1977. Năm 1979 tàu thực hiện nhiệm vụ có mặt trong khu vực xung đột Trung - Việt cùng tàu ngầm S-93. Tàu ngầm S-145 đã đến lữ đoàn tàu ngầm số 19 nạp ngư lôi có đầu đạn hạt nhân, sau đó ra khơi, và ở trong trạng thái sắn sàng chiến đấu số 1. (http://deepstorm.ru/) Các con tàu chạy bằng năng lượng hạt nhân cũng không nằm ngoài lề. Trong tháng 1 năm 1979 PLARK đề án 670 "K-201" (điều khiển tàu là thủy thủ đoàn 305 dưới sự lãnh đạo của trung tá hải quân A.F.Kopiev, người chỉ huy thứ hai đại tá hải quân A.A.Shikov) đang ở trong thành phần sư đoàn tàu ngầm số 10 phân hạm đội tàu ngầm số 2, đã rời căn cứ - Viluchinsk (vịnh Krasheninnikov, bán đảo Kamchatka). Tình hình trong khu vực thi hành nhiệm vụ quân sự, đặc trưng bởi sự đối đầu chính trị gay gắt của 2 quốc gia xã hội chủ nghĩa là Trung Quốc và Việt Nam. Khi chiến sự bắt đầu vào tháng Hai, tàu ngầm đã một thời gian ở trong một khu vực của biển Philippine, chặn lối vào Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) từ phía đại dương - eo biển Bashi. Về việc triển khai sớm các tàu ngầm của Hạm đội Thái Bình Dương trên các tuyến hải trình có khả năng nhóm AUG từ bờ biển phía tây nước Mỹ đi qua để vào khu vực xung đột quân sự thấy rõ, có thể đánh giá theo một tiêu chí riêng. Với sự xuất hiện trong khu vực tìm kiếm tại một nơi cách xa Kamchatka bằng một chuyến đi hàng chục ngày đêm, thuyền trưởng "K-201" nhận được một bức điện xoay vòng với các yếu tố dẫn đường ban đầu nhằm tới nhóm AUG, phát đi từ SCH Hạm đội Thái Bình Dương. Bức điện đó không chỉ đến với "K-201". Trong đó có tọa độ AUG và mệnh lệnh: "Khi phát hiện ra AUG hãy bắt đầu việc theo dõi ngay". Triển khai gần "K-201" trong khu vực là tàu ngầm nguyên tử "K-66" đề án 659T thuộc sư đoàn tàu ngầm 26 từ Primorye tới dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng trung tá hải quân Sizov Gennady Mikhailovitch. ........ Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 14 Tháng Bảy, 2013, 02:29:57 pm (tiếp)
(http://flot.com/upload/blog/e88//gruppa7500tayfungorlov20031208.jpg) PLARK "К-201" đề án 670. Neo tàu vào bến sau khi trở về từ khu vực thi hành nhiệm vụ quân sự. Vịnh Krasheninnikov, tháng 3 năm 1979. Hàng thứ nhất: thủy thủ trưởng chuẩn úy hải quân А.I.Isaev. Hàng thứ 2 (trái sang phải): trung tá hải quân А.F.Коpiev, người chỉ huy thứ 2 — đại tá hải quân А.А.Shikov, thuyền phó chính trị đại tá hải quân А.М.Sarnitsky, trợ lý chính cho thuyền trưởng Е.P.Мiakishev (ảnh do А.F.Коpiev cung cấp)... Trích từ : "Sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Con người, sự kiện, con tàu." - St Petersburg, 2005. Số đặc biệt nguyệt san Taifun. (http://flot.com/blog/historyofNVMU/index.php?year=2008&month=12&print=Y) Sau vài ngày ở trong khu vực đầu tiên và có được thông tin tình báo đáng tin cậy về việc nhóm AUG tiến vào khu vực quần đảo Nhật Bản, tàu ngầm nguyên tử "K-201" theo lệnh của SCH Hạm đội Thái Bình Dương di chuyển sang khu vực phía đông đảo Okinawa. Tháng Ba năm 1979 "K-201" hoàn thành chuyến đi thực hiện nhiệm vụ quân sự dài 67 ngày đêm và trở về vịnh Krasheninnikov (Kamchatka). Vì nhiệm vụ quân sự trùng hợp với các sự kiện Việt-Trung, thủy thủ đoàn đã được tặng thưởng, trong đó thuyền trưởng được trao tặng huân chương Sao Đỏ. Không phải tất cả mọi thứ đều diễn ra trôi chảy. Năm 1979. tàu ngầm nguyên tử "K-122" (đại tá hải quân A.Gurevich) đề án 659T của sư đoàn tàu ngầm 26 từ Primorye tới thực hiện nhiệm vụ chiến đấu trong Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), đã bỏ lỡ tàu sân bay " Constellation" chỉ vì giãn cách chỉ thị mục tiêu từ SCH lên đến sáu giờ. (http://oosif.ru/d/382057/d/k-455-2-y-ekipazh-ois-baykal-1979-dlya_1.jpg) Thủy thủ đoàn thứ 2 của K-455 trên OIS "Baikal" năm 1979. (http://oosif.ru/perehod-k-455pr.667bdr-s-ksf-na-k?view=29985606) Cuộc xung đột còn ảnh hưởng gián tiếp đến các tàu ngầm đang thực hiện chuyến đi chuyển đổi liên hạm đội về Hạm đội Thái Bình Dương. Ngày 21-23 tháng Một năm 1979 các tàu ngầm tuần dương mang tên lửa đạn đạo chiến lược đề án 667BDR "K-455" (đại tá hải quân Tolstolytkin I.A.) và "K-490" (đại tá hải quân Kuznetsov V.M.) từ Hạm đội Biển Bắc đi sang Hạm đội Thái Bình Dương, để đảm bảo cho chuyến di chuyển Hạm đội Cờ Đỏ Biển Bắc đã phân công tàu khảo sát đại dương OIS "Baikal" đề án 1537 (thuyền trưởng thiếu tá hải quân Bochinsky G., chỉ huy cao cấp đại tá hải quân Klimov P.L.), trên tàu phải có thủy thủ đoàn thứ hai của "K-455" (đại tá hải quân Chefonov I.G.). Chỉ huy biên đội tàu là tư lệnh sư đoàn tàu ngầm số 13, Chuẩn Đô đốc A.I.Pavlov. Ngày 01 tháng 2 khi đi ngang qua Gibraltar, OIS "Baikal" cùng với thủy thủ đoàn của đại tá hải quân Chefonov gặp tàu sân bay "Minsk", xuất phát từ Sevastopol đang đi đến cảng đăng ký mới - Vladivostok. Tại Nam Đại Tây Dương, "Minsk" ngoặt trái và đi vòng qua châu Phi, qua Ấn Độ Dương để đến Vladivostok. Các tàu ngầm cùng với OIS "Baikal" tiếp tục di chuyển tới cực nam của Nam Mỹ thì họ bắt được tin tức về cuộc xung đột. Ngày 17 tháng Hai các con tàu nhận được điện từ Bộ tham mưu Hạm đội Biển Bắc thông báo về cuộc tấn công Việt Nam của Trung Quốc vì quần đảo đang tranh chấp Trường Sa. Ngày 18 tháng 2 chính phủ Liên Xô đã phát thông báo chính thức, bản chất là: "Chúng tôi sẽ thực hiện nghĩa vụ của mình với Việt Nam". Ngày 19 tháng 2 hồi 17:30 sỹ quan chỉ huy cao cấp trên "Baikal" đại tá hải quân Klimov P.L. ra lệnh: "Chỉ huy của OIS "Baikal" thiếu tá hải quân Bochinsky G. và chỉ huy thủy thủ đoàn thứ hai K-455 đại tá hải quân Chefonov I.G. theo lệnh tôi hãy sẵn sàng cho việc bắt đầu các hoạt động chiến đấu ... Dựa trên quyết định của mình để đặt kế hoạch chuẩn bị cho OIS "Baikal" cùng với thủy thủ đoàn tàu ngầm tuần dương tên lửa chiến lược đang ở trên tàu đưa con tàu chuyển sang tình trạng SSCD cao ". Quyết định của mình và các mệnh lệnh đã ban hành của Klimov P.L được báo cáo về SCH Trung ương Hải quân Liên Xô bằng một bức điện mã hóa. Ngày 21 tháng 2 điện trả lời có chữ ký của Tổng tham mưu trưởng Hải quân Đô đốc G.M.Yegorov đến với tàu "Baikal": "Nhiệm vụ chính của anh không phải là các hoạt động chiến đấu, mà là dẫn đường an toàn cho các tàu ngầm tuần dương mang tên lửa chiến lược RPK SN. Hãy báo cáo về cuộc gặp với RPK SN, tình trạng của chúng và giai đoạn đầu hành trình ... ". Tại đây, sự tham gia của các con tàu vào cuộc xung đột đã kết thúc. Aleksandr Rozin (http://www.aliaswebdesign.com/components/com_datsogallery/img_pictures/190195314-18.jpg) Sơ đồ di chuyển của K-455, K-490 và OIS "Baikal" năm 1979. (http://www.aliaswebdesign.com/index_option_com_content_task_view_id_163_Itemid_208.html) Tham khảo: Glukhov V. "Tôi tin vào sự hồi sinh của hạm đội!" "Zvezda-ONLINE» 2001/07/27. Demidov M.V. "Tiểu luận về lịch sử Hạm đội Thái Bình Dương." Tạp chí "Taifun» № 3 năm 1999. trang 13. Ilinsky M.M. "Đông Dương. Tro tàn của bốn cuộc chiến tranh (1939 1979) ". Kozlov V. "Chiến tranh ngầm dưới nước. Chân trời của cuộc xung đột lớn giữa các siêu cường". M. Yauza, Eksmo, 2005. trang 214-222. "Tin tức hàng ngày" (Vladivostok) 28.07.2000. "Người ta đã đánh chìm "Enterprise" như thế nào. Litkovets N., Kuzmina N. "Chuyện thường ngày tại PMTO "Kam Ranh"'. Tạp chí " Bộ sưu tập Biển» № 10 năm 2001. trang 45-47. Potchtarev A. "... Và tất cả hoa tại Việt Nam". Báo "Sao Đỏ" 16.01.2001. trang 2. V. Filatov "Ngọn cờ của tình Hữu Nghị trên cảng Hải Phòng". Báo "Sao Đỏ" ngày 29.03.1979. "Sao Đỏ" 20/02/1979, 1979/03/03., 1979/11/03, 1979/11/05. "Sao Đỏ" 14/07/1988. Tạp chí "Hạm đội Biển» № 11, năm 1979. trang 10. Bruce Elleman "Quan hệ Xô-Trung và cuộc xung đột Trung-Việt Tháng Hai 1979" "Hải quân CHÂU ÂU trong thời đại của Chiến tranh Lạnh, trên trang web http://ppe.pearsoned-ema.com/marketing/Sp/Fakenham/0%20582%2050613%201/08ch08.pdf Hervé Coutau-Bégarie "Sức mạnh trên biển của Liên Xô" trên trang web http://www.stratisc.org/SSP_6.htm "Cuộc chiến của những người anh em nổi giận", tạp chí "Time" 5 tháng Ba 1979 từ trang web http://www.damanski-zhenbao.ru/files/vietnam-06-rus.doc Từ trang web VIF-2 NE forum, http://vif2ne.ru/nvk/forum/0/0.htm Từ trang web http://www.47br-ovra.com/morskoi-tralshchik-proekta-266m-paravan Từ trang web http://www.heritage.org/Research/AsiaandthePacific/asb8.cfm Từ trang web HTTP :/ / www . UNU . edu / unupress / unupbooks / 80 a 04 e / 80 04 E 0 B htm . Từ trang web http://www.ussconstellation.org/constellation_awards.html Từ trang web http://www.newsru.com/arch/world/13nov2003/kamra.html Từ trang web http://www.solantamity.com/Extraneous/Crisis.htm Từ trang web http://www.airwar.ru/enc/spy/tu95rc.html Từ trang web http://www.zeka.ru/mil_bases/facts/camranh_about/print.html Từ trang web http://www.heritage.org/Research/AsiaandthePacific/asb8.cfm Từ trang web http://cg-18.com/Command_History_1979/ Từ trang web http://www.globalsecurity.org/military/library/report/1987/TLH.htm ......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 15 Tháng Bảy, 2013, 12:20:54 am (tiếp)
Về sự hợp tác kỹ thuật quân sự với nước Cộng hoà XHCN Việt Nam Yu.P.Prishchepo Tạp chí "Vũ khí và trang bị kỹ thuật" số 02 năm 2005 (Техника и вооружение 2005 02) (trích) Về vấn đề HTKTQS giữa Liên Xô và Việt Nam việc viết và kể, có vẻ như đã rất nhiều. Tuy nhiên, còn nhiều chi tiết và các vấn đề cụ thể cho đến ngày nay vẫn còn ít được biết đến. Một số trong chúng sẽ được "chi tiết hóa" dưới đây qua hồi ức của Yu.P.Prishchepo. Về tác giả. Thiếu tướng đã nghỉ hưu Prishchepo Yuri Porfirievitch. Ông làm việc trong hệ thống HTKTQS từ năm 1965 trên cương vị một sĩ quan cao cấp, trưởng ban, trưởng phòng tác chiến Tổng cục Kỹ thuật, phó chủ nhiệm TCKT, là Phó Cố vấn về các vấn đề kinh tế của Đại sứ quán Liên Xô - đại diện đặc mệnh toàn quyền TCKT UBQG về HTKT với nước ngoài (GTU GKES) tại Cộng hòa Dân chủ Somali. Hiện nay, Yuri Porfirievitch là Phó giám đốc Viện Sinh thái và Tiến hóa, Viện Hàn lâm khoa học Nga, thành viên của Ủy ban Điều phối Trung tâm Nhiệt đới. (http://lib.rus.ec/i/68/382268/pic_11.jpg) Làm việc trên trang bị kỹ thuật hàng không quân sự (Su-27) tại Trung tâm NCKHKT Nhiệt đới, CHXHCN Việt Nam. (http://lib.rus.ec/b/382268/read) .......... Về căn cứ Cam Ranh Đây chính là lúc để suy nghĩ về công việc của TCKT (GTU- ГТУ) với Việt Nam trong vấn đề xây dựng các công trình "chìa khóa trao tay". Việt Nam không phải là nước đầu tiên tại đó GTU thực hiện loại hình hợp tác này. Xin lỗi các bạn. Đất nước đầu tiên như vậy là SDR (SDR - Cộng hòa Dân chủ Somali - СДР (Сомалийская Демократическая Республика)). Tại đây trên thực tế đã thành lập Liên hiệp xí nghiệp xây dựng Xô Viết và tất cả các công việc được các chuyên gia Liên Xô - các nhà xây dựng quân sự - thực hiện. Đồng Chủ nhiệm của LHXN này là một sĩ quan Somalia đã tốt nghiệp Học viện Công binh của chúng tôi hạng ưu tú, và cùng với anh ta, tất cả các vấn đề kỹ thuật đều dễ dàng được giải quyết. Tại đó GTU đã làm chủ các nguyên tắc tổ chức công việc khi xây dựng công trình "chìa khóa trao tay". Tại đó người ta hiểu ra rằng cái nền giáo dục trung học phải là yêu cầu bắt buộc đối với tất cả các loại công nhân xây dựng. GTU thời đó đã đặt hàng tất cả các loại xe máy và máy móc cho việc xây dựng hai sân bay, đã gửi tới các trang bị kỹ thuật khai thác đá cùng các thợ máy, các chuyên gia nổ mìn xô viết, các máy nghiền đá của chúng tôi, các máy đào máy xúc, và tất nhiên, các xe tải chở nặng. (http://varlamov.me/img/somali_put5/08.jpg) Cất cánh, nhìn từ trên cao đường băng sân bay Xô Viết tại Berbera, Somalia, năm 2010. Chiều dài đường băng 4140 m, được Liên bang Xô Viết xây dựng cho lực lượng KQHQ đầu những năm 197x. Tại Berbera có căn cứ HQ của Liên Xô (1964-1978). Hiện Berbera thuộc Somaliland - nước cộng hòa tự xưng trên lãnh thổ Somalia. (http://zyalt.livejournal.com/744199.html) Năm 1976, chúng tôi đã hoàn thành xây dựng sân bay ở Berbera. Đó là một sân bay xuất chúng với kích thước kỷ lục về chiều rộng và chiều dài của các đường băng CHC, tính cho việc sử dụng máy bay Tu-95, những chiếc máy bay cần phải tuần tra trên khắp hành tinh, đối trọng lại với kẻ thù tiềm năng chiến lược của chúng ta thời ấy (và ngay cả bây giờ đối với tôi). Tại đó cũng có bến cảng cho tàu mặt nước và tàu ngầm. Còn có hai công trình hoàn toàn mới so với kinh nghiệm xây dựng của tôi tại Berbera - trạm bunker không có cầu tàu và một trạm khử muối trên cơ sở các nguyên tố trao đổi ion - người ta bổ sung tổ hợp này. Tất cả cùng được gọi là trạm đảm bảo vật chất-kỹ thuật. Nhưng nó tồn tại không lâu với chúng tôi. Trong năm 1977, chúng tôi, có nghĩa là các chuyên gia quân sự Liên Xô, do các mâu thuẫn chính trị giữa đất nước chúng tôi, Somalia và Ethiopia, đã bị buộc phải rút ngay lập tức khỏi SDR, sau khi đã kịp tháo dỡ và mang đi khỏi căn cứ các trang thiết bị đặc biệt. Nhưng "nơi đất thánh không bao giờ hoang vắng". Thay vào đó, người Mỹ đến thế chân chúng ta, và tôi rất hài lòng, khi đọc trên tạp chí "Newsweek", thấy họ đánh giá cao kết cấu đường băng và chất lượng xây dựng tại Berbera. Tuy nhiên, hiện nay ở đó chẳng hề dành cho chúng tôi hoặc người Mỹ, hoặc Somalia. Đó là một chút lịch sử GTU, để ta quay lại với Việt Nam. Vì xây dựng theo các điều kiện tổng thầu ("chìa khóa trao tay") thì GTU đã rất nổi tiếng ở Iraq và Libya. Nhưng ở Việt Nam, hai công trình rất mạnh - PMTO tại bán đảo Cam Ranh và Trung tâm Hợp tác Nghiên cứu Khoa học và Thử nghiệm Nhiệt đới - cũng được xây dựng theo các điều kiện tổng thầu, và công trình đầu tiên trong số đó đã được xây dựng thành công. Công trình thứ hai đã được hoàn thành phần còn lại dựa vào nguồn tài chính của Việt Nam và đến nay vẫn hoạt động bình thường. (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/4/4c/Radar_installation_operated_by_Somalian_troops.JPEG/800px-Radar_installation_operated_by_Somalian_troops.JPEG) Một khu vực bố trí radar cảnh giới P-12, do Liên Xô chế tạo, của quân đội Somalia năm 1983 tại sân bay Berbera. Ảnh chụp trong thời gian diễn tập GIÓ ĐÔNGG 83, giai đoạn đổ bộ lực lượng tác chiến thủy bộ trong cuộc tập trận SAO SÁNG 83. (http://en.wikipedia.org/wiki/Somalia) Sau đó, vào năm 1978 tôi tham gia vào việc tái thiết ngành công nghiệp quốc phòng của Việt Nam. Đó là một câu chuyện hoàn toàn khác. Đứng về phía Việt Nam chống Mỹ không chỉ có chúng tôi (tức là Liên Xô). Còn có những quốc gia thân thiện khác của phe xã hội chủ nghĩa. Ví dụ, Đông Đức đã xây dựng ở phía Bắc Việt Nam một nhà máy sản xuất khí tài quang học quân sự (kính ngắm, kính thiên văn, ống nhòm, vv.). Nhà máy này ngay từ đầu đã tìm thấy nguồn cát thạch anh tuyệt đẹp để nấu thủy tinh quang học, và mọi việc còn lại là cong việc của các kỹ thuật viên các nhà máy "Carl Zeiss", "Iena". Nhưng không ai trong số các chuyên gia của chúng tôi, ít nhất là trong GTU GKES, không biết rằng Trung Quốc đã giúp đỡ Việt Nam xây dựng nhà máy sản xuất vũ khí bộ binh, đạn dược, các thành phần gây nổ, kíp nổ, ngòi nổ, dây dẫn nổ, súng cối, mìn, RPG và đạn lõm cho RPG. Tất cả đều là các mẫu của Liên Xô trước đây được Liên Xô chuyển giao cho Trung Quốc. Và công nghệ cũng là của chúng ta, nhưng rất cũ. Nhưng tất cả mọi thứ đã làm việc và sẽ làm việc nếu như không có mâu thuẫn lâu đời giữa Việt Nam và Trung Quốc, dựa trên các tranh chấp từ xa xưa về lãnh thổ các vùng biên giới. Sau khi đánh bại người Mỹ, tất cả trở về với các vấn đề trong nước, kết quả việc đó là đột nhiên nổ ra cuộc chiến tranh giữa CHXHCN Việt Nam và CHND Trung Hoa tại khu vực biên giới phía bắc Việt Nam. Tất nhiên, Trung Quốc ngay lập tức ngừng cung cấp tài liệu và các thiết bị thành phần cho các nhà máy QP này. Vậy ai là người sẽ giúp Việt Nam? Tất nhiên, chính là GTU, nhưng không phải tự bản thân nó, mà với sự hỗ trợ mạnh mẽ của Ủy ban Kế hoạch Nhà nước Liên Xô và các Bộ, ngành công nghiệp quốc phòng. Tất cả các nhà máy đã được kiểm tra và ở mỗi nơi sẽ có một biện pháp cụ thể được áp dụng. Các mẫu mã mô hình mới và các công nghệ mới đã được chuyển giao, các vật tư tiêu hao cần thiết được đặt hàng. Trong quá trình kiểm tra ban đầu các nhà máy kiểu "Trung Quốc", chúng tôi cũng đã có cơ hội xem xét một số nhà máy được người Mỹ xây dựng ở miền Nam Việt Nam phục vụ nhu cầu của quân đội của họ. Tao cho tôi ấn tượng mạnh là nhà máy sửa chữa ô tô và các mẫu trang bị thông thường của Mỹ. Người ta nhập vào nhà máy xác khí tài cũ, tháo dỡ nó thành các bộ phận và các chi tiết, hoặc được hoặc phục hồi, hoặc nấu chảy. Và sau đó diễn ra quá trình lắp ráp trên dây chuyền từ các chi tiết thông thường đã phục hồi thành chiếc xe ô tô mới. Kết quả ta có một chiếc xe gần như mới hoàn toàn. Chúng tôi cũng đã đến thăm các nhà máy sửa chữa tàu biển cũ của Hoa Kỳ (sau này chúng tôi bổ sung trang bị cho nhà máy này để sửa chữa tàu phụ trợ và hậu cần của Hải quân Liên Xô), và nhà máy sửa chữa trang bị hàng không, cơ sở hạ tầng của chúng có ích cho công tác tổ chức sửa chữa các máy bay MiG của chúng tôi. Trên đường từ Bắc vào Nam, nhóm của chúng tôi đã ghé vào bán đảo Cam Ranh. Đó không phải là chuyện ghé thăm cho vui, mà tất nhiên người ta có ý đưa chúng tôi vào đó để tìm hiểu khả năng sử dụng các công trình của căn cứ Mỹ phục vụ cho quân đội CHXHCN Việt Nam. (http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/z-lcq-CamRanh_Tigerlake_zps7aca76b4.jpg) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/z-lcq-CamRanh_Tigerlake_zps7aca76b4.jpg.html) Hồ Bạch Hổ (Tiger lake). Ảnh Peter A.Byrd. Bây giờ ta đi chi tiết một chút về Kam Ranh. Cam Ranh - là một bán đảo dài, một bờ (phía nam) của nó gần như tiếp giáp với đất liền. Một eo đất hẹp và một ngõ thắt đầm lầy để đi qua, bán đảo có thể được coi gần như một hòn đảo. Và nó được người Mỹ lựa chọn để xây dựng căn cứ của họ cùng kiểu như căn cứ chúng ta có ở Berbera. Trên một số phương diện tất nhiên nó trội hơn hẳn căn cứ của chúng ta, nhất là ở chỗ nó có hai đường băng. Tuy nhiên, người Việt Nam từ miền Bắc tấn công vào miền Nam quá nhanh làm cho họ chưa hoàn thành đường băng thứ hai. Nhưng tất cả mọi thứ còn lại đều được thực hiện với quy mô của người Mỹ. Đường ô tô bằng bê tông, các dãy nhà ở nhỏ cho sỹ quan, doanh trại cho quân lính và thủy thủ, đường cấp nước mà họ đã tháo dỡ và kịp mang đi theo, cũng như các nhà máy điện. Khá ngang nhiên, ở trung tâm của hòn đảo trên bờ một cái hồ nội đảo họ xây dựng một công trình gọi là "nhà nghỉ của Johnson". Đây là một biệt thự sang trọng, có một tháp nhảy cầu năm mét để lặn và nhào lộn, sân tennis, sân golf, v.v. Nghĩa là, họ nghĩ rằng họ sẽ ở đó mãi mãi. Chúng tôi xem xét các con đường thường xuyên phủ cát do những cơn gió liên tục thổi mang đến, phần gốc của cầu tàu nổi đã bị phá hủy một phần, dãy nhà của sỹ quan đã bị cướp phá hết đồ mộc và mái lợp, phần còn lại của đường cấp nước và cấp nhiên liệu đã bị tháo dỡ. Sân bay chưa hoàn thành. Một đường băng, thực tế vẫn hoạt động, người ta vẫn cất cánh và hạ cánh trên đó. Nhưng người Mỹ đã đem đi tất cả các thiết bị mặt đất của sân bay, và đường băng chỉ phục vụ để hạ cánh bằng mắt thường các máy bay hạng nhẹ, mà những khí tài bay như vậy thì người Việt Nam không có, và bây giờ vẫn chưa có. Cái mà có thể làm việc được đó là những bãi biển tuyệt đẹp. Chúng tôi có thể đánh giá nó trên thực tế trong vài giờ ngắn ngủi ở trên bán đảo. Rất dễ dàng để đến với nó và cũng rất dễ dàng bỏ đi một cách nhanh chóng và nghĩ để mà không nghĩ rằng mình sẽ phải đến bán đảo này tham gia vào xây dựng một công trình rất quan trọng. Các quyết định của các cơ quan cấp trên của chúng tôi là ngắn gọn và mạnh mẽ. Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng Liên Xô đã ký một thỏa thuận với Việt Nam về việc sử dụng Kam Ranh vào việc triển khai tạm thời các tàu chiến và máy bay của Hải quân Liên Xô. Còn Tổng cục Kỹ thuật UBHTKT với NN cùng với Bộ Quốc phòng Liên Xô: a) xác định tập các công trình cần thiết, và do đó, xác định khối lượng công việc và chi phí trang bị bổ sung cho bán đảo với mục đích đã nêu ở trên, và b) tiến hành nghiên cứu dự án kinh tế-kỹ thuật khả thi, tức là, nói theo ngôn ngũ hiện nay, làm kế hoạch kinh doanh, và c) kiến nghị với Chính phủ Liên Xô về phương pháp xây dựng, chi phí, các tính toán với phía Việt Nam, và sau khi nhận quyết định thì tiến hành đàm phán và ký một thỏa thuận kỹ thuật với phía Việt Nam về việc xây dựng trên bán đảo Cam Ranh. Cuộc tranh luận kéo dài về việc sẽ đặt tên đối tượng này thế nào, đối tượng mà cần phải bao gồm hàng chục hạng mục có chức năng riêng biệt, cuối cùng thì họ quyết định - căn cứ đảm bảo vật chất-kỹ thuật (PMTO). .......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 15 Tháng Bảy, 2013, 08:33:20 pm (tiếp)
(http://bigleytl.com/VP-40/SallySoundAtCamRanh.jpg) USS Salisbury Sound (AV-13) và thủy phi cơ P5M Marlins (Patrol Squadron 40) trong vịnh Cam Ranh năm 1966. (http://bigleytl.com/VP-40/) GTU khốn khổ thay, còn những nhiệm vụ nào mà tập thể của nó chưa phải giải quyết: lúc thì là việc xây dựng các lăng mộ, lúc thì là việc tổ chức giao thông trên đường phố và áp dụng đèn giao thông cho đàn kiến xe đạp trên đường phố Hà Nội, bây giờ thì lại là một kế hoạch kinh doanh về Kam Ranh. Tập hợp những cái đầu "có sỏi" từ các phòng ban chuyên môn, cục quản lý giá và cục quản lý hợp đồng xây dựng tổng thầu, chúng tôi bắt đầu suy nghĩ. PMTO này cần để làm gì? Để neo đậu tạm thời, để nạp liệu cho bunker, để các thủy thủ đến nghỉ ngơi, đặc biệt là các thủy thủ tầu ngầm nguyên tử, để bảo dưỡng vũ khí, để sửa chữa. Và để cho ai? Để phục vụ cho binh đoàn Ấn Độ Dương của Hạm đội Thái Bình Dương, đang đóng quân tại Ấn Độ Dương song song với Hạm đội 7 của Mỹ. Nhưng người Mỹ có các căn cứ hải quân và không quân ở xung quanh, còn binh đoàn của chúng tôi - một vị khách không mong muốn tại các cảng nước ngoài, và nếu được phép ghé vào, ví dụ, để sửa chữa khẩn cấp, thì giá cả, nói một cách nhẹ nhàng, cũng là trên mức bình thường. Để chất liệu phải mua nhiên liệu tại các cảng của các nước tư bản hay phái từ Vladivostok đến các tàu chở dầu để bơm nhiên liệu giữa đại dương. Đối với các kíp thủy thủ việc nghỉ mát tại đất nước Singapore "chanh chuối", không chỉ là tốn kém, mà cũng đầy cạm bẫy khiêu khích chính trị chống lại con người Liên Xô chất phác của chúng ta. Còn vì các loại vũ khí theo quy định cần phải lang thang hết nửa vòng trái đất về căn cứ ruột tại nước Nga, sau đó lại quay về trực chiến. Và ở đây bạn có hẳn một căn cứ để tính toán làm các việc như vậy. Còn cả tính đóng kín của thị trường trong nước của chúng ta so với thị trường tiền tệ thế giới. Giá của chúng tôi bằng đồng rúp thấp hơn nhiều giá của họ tính bằng những "tờ xanh lục". Đó là tính toán, được xác nhận qua những con số rõ ràng dễ hiểu tính chất có lợi trong việc trang bị một PMTO tại Kam Ranh, gần khu vực làm nhiệm vụ trực chiến. (http://i1185.photobucket.com/albums/z356/qtdc2/z-lcq-CamRanh_WhiteHouse_zpscc71193c.jpg) (http://s1185.photobucket.com/user/qtdc2/media/z-lcq-CamRanh_WhiteHouse_zpscc71193c.jpg.html) Biệt thự hồ Bạch Hổ của Chỉ huy trưởng căn cứ Cam Ranh thời Mỹ. Ảnh Peter A.Byrd. Tất cả mọi thứ đã sẵn sàng. Bạn có thể bắt đầu đàm phán về việc ký kết Hiệp định với CHXHCN Việt Nam. Đoàn đại biểu được tập hợp từ tất cả các tổ chức có liên quan, mỗi thành viên của phái đoàn đều mang theo các chỉ dẫn về lợi ích mà chính tổ chức ấy quan tâm, những lợi ích đó không phải luôn luôn trùng hợp, và trên một số khía cạnh nhắc ta nhớ đến con thiên nga, con tôm và con chó. Nhưng trách nhiệm về việc ký kết vô điều kiện được giao cho GTU. Và trong việc này không được quên lợi ích của bên chủ chốt thứ hai - CHXHCN Việt Nam. Hoàn toàn không công bằng với Cam Ranh khi mà người ta giao trách nhiệm cho GTU đàm phán và ký kết Hiệp định liên chính phủ, còn tại GTU người ta ra lệnh dẫn đầu phái đoàn cho tôi. Bởi vì trước kia, tất cả các công trình hợp tác được xây dựng cho quốc gia khách hàng tại đất nước họ và tất cả mọi thứ rất đơn giản: hai bên, hai nhóm quyền lợi, mà có thể dễ dàng điều hòa. Còn ở đây là lợi ích của chúng tôi trên lãnh thổ của quốc gia khác, mặc dù là quốc gia thân thiện, đã trao lãnh thổ mà họ giành được bằng xương máu cho một quốc gia nước ngoài, mặc dù là một đồng minh. Và đồng minh này trong bản thân nó cũng có sự không hoàn toàn trùng lặp lợi ích giữa các mục tiêu quân sự và các khả năng kinh tế. Tóm lại, chúng tôi làm thành một phái đoàn lớn đến CHXHCN Việt Nam, thăm Cam Ranh, một lần nữa tất cả xem xét cẩn thận, làm kế hoạch triển khai các hạng mục và cơ sở công nghiệp cơ bản (tôi sẽ giải thích: đó là căn cứ của các nhà xây dựng, có nó bạn có thể xây dựng bất cứ điều gì mà trái tim của bạn mong muốn, tức là, cần các nhà máy sản xuất bê tông thương phẩm và vữa, chế tạo các sản phẩm BTCT - dầm, vì kèo, cầu dầm, cột, v.v., nhà máy sản xuất đồ gỗ và kết cấu kim loại). Sau đó, chúng tôi quay trở lại Hà Nội, ngồi vào bàn đàm phán. Trong các cuộc đàm phán, chúng tôi được biết vì căn cứ Cam Ranh mà người Mỹ hàng năm trả tiền cho chính phủ bù nhìn Nam Việt Nam 20 triệu USD chỉ để có quyền xây dựng ở đó tất cả những gì người Mỹ muốn. Chúng tôi sẽ trả bao nhiêu? Không có gì cả, bởi vì chúng tôi là đồng minh của nhau. Vâng, chúng tôi là đồng minh, nhưng chính người Việt Nam đã đánh bại người Mỹ, dùng xương máu của mình để giành lại đất đai của mình, và giờ đây chúng tôi cho rằng họ không thể trao nó cho một quốc gia khác như vậy được. Với các quan điểm như thế, cuộc đàm phán đã bắt đầu. Điều kiện hợp đồng tổng thầu xây dựng tại Cam Ranh và bản thân cuộc đàm phán về việc xây dựng và sử dụng trong tương lai của các công trình được xây dựng lên cho thấy trình độ cao trong cái nhìn dài hạn của các nhà đàm phán Việt Nam. Ngày nay, khi nước Nga bỏ rơi căn cứ Cam Ranh ta có thể thán phục trí tuệ của người Việt Nam và quan điểm của họ trong các cuộc đàm phán. Thời đó nhiệm vụ rất cấp bách của chúng tôi là ký kết Hiệp định này và bắt đầu xây dựng cơ sở quan trọng trong vấn đề đối đầu quân sự với chủ nghĩa đế quốc. Tính khả thi kinh tế, mà GTU đã tính toán cùng với các thủy thủ của chúng ta, dựa trên một sơ đồ có giá rẻ hơn trong công tác đảm bảo cho một binh đoàn của Hạm đội Thái Bình Dương. Tất nhiên, chúng tôi đã đồng ý và ký kết Hiệp định. Bao nhiêu đêm chúng tôi ngồi tại trung tâm thông tin của Trưởng Cố vấn Quân sự, báo cáo với Bộ Tổng Tham mưu tình hình và các chi tiết đã thỏa thuận, không đi đến bất cứ so sánh nào về số lượng các tế bào thần kinh của chúng tôi đã mất. Tuy nhiên, đã đạt được thỏa thuận về đặc quyền ngoại giao trên bán đảo đối với PMTO của chúng tôi, có nghĩa là quy tắc và giá cả hoạt động tại đó sẽ như ở Liên Xô. Đã thống nhất một danh sách các hạng mục được xây dựng ở đó, hoàn toàn được soạn thảo và được tăng cường bằng luật hóa trong điều khoản Hiệp định và các thủ tục và phương pháp xây dựng của tổng thầu và phương thức thanh toán cho lực lượng lao động địa phương. Điều này được thực hiện bằng cách cung cấp hoặc chuyển giao cho Việt Nam các trang thiết bị xây dựng, các xe máy và máy móc đã giải phóng, tương đương theo giá trị của số lượng thuộc loại hàng trao đổi. Nhưng về điểm này, chúng tôi phải giải quyết vì quyền lợi của Việt Nam - đó là tất cả các công trình xây dựng sẽ là sở hữu của Việt Nam. Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam, thượng tướng Phùng Thế Tài, như mọi khi, vẫn mỉm cười trong quá trình đánh giá các điều kiện xây dựng và khai thác các hạng mục, nhưng ông rất kiên định và thậm chí có một chút cứng rắn trong việc bảo vệ quan điểm của mình. Sự thật của ông vẫn là sự thật. Quyền sở hữu này được coi là đã chuyển giao cho chúng ta sử dụng miễn phí trong vòng đời của PMTO. Lẽ tự nhiên, điều đó không áp dụng đối với các thiết bị nhập khẩu - thuộc thể loại này có các thiết bị sân bay để đảm bảo cho các chuyến bay trong mọi thời tiết, một số cầu tàu nổi cho tàu mặt nước và tàu ngầm, dok nổi, thiết bị TECH cho máy bay MiG và các phân xưởng chuẩn bị vũ khí và nhiều thứ khác nữa. Tất cả những thứ này đã được sơ tán thành công ra khỏi Kam Ranh ngay sau khi nước Nga tư sản (xin lỗi, "dân chủ" chứ), từ chối địa điểm tuyệt vời này. Sau cuộc di tản các thiết bị đảm bảo sân bay đã dẫn đến tai nạn hàng không của một số máy bay của chúng ta thuộc phi đội "Tráng sĩ Nga" trở về từ Salon quốc tế tại Kuala Lumpur và cố gắng hạ cánh xuống Kam Ranh trong điều kiện tầm nhìn rất kém, mây thấp và đang có mưa nhiệt đới. Hầu như chẳng có ý nghĩa gì việc nhớ lại các hạng mục được xây dựng trên bán đảo, bây giờ điều đó không còn nằm trong chủ đề bàn luận. Tại đó, tất cả những gì cần thiết cho hoạt động của hạm đội đều có. Cho các thủy thủ tàu ngầm nguyên tử nghỉ ngơi (nói chính xác hơn - các nhà hàng hải, còn cho các sỹ quan thì có hẳn khách sạn kiểu căn hộ đã được xây dựng), cho Tu-95 và các kíp bay. Thậm chí đã xây dựng lần đầu tiên trong thực tế công tác của tôi, chúng tôi bắt đầu từ việc xây dựng cho mình những ngôi nhà ở bình thường, dù là loại tạm thời, nhưng là nhà ở, chứ không phải những ngôi lều hoặc những túp nhà rách. Và nếu bạn thêm vào đó những bãi biển đẹp và tiện nghi, sân quần vợt với lớp phủ nhân tạo, khi đó bức tranh về PMTO sẽ còn rõ ràng hơn. Bây giờ tôi cần phải phản đối những người luôn luôn tính toán đến tiền và thể hiện mình như một chiến sỹ đấu tranh cho công cuộc tiết kiệm tiền của nhân dân. Tính khả thi kinh tế của PMTO tại Kam Ranh là không còn nghi ngờ gì nữa, mà phải nói rằng, đã trình bày rõ ràng ở trên. Tất cả các nhà khoa học và phi hành gia của chúng tôi cảm thấy thế nào, khi người ta nhận chìm trạm không gian "Mir" của Liên Xô, thì bản thân chúng tôi, các CCB của cục quản lý hợp đồng tổng thầu GTU cũng cảm thấy như vậy khi người ta "nhận chìm" Cam Ranh. Thông tin tham khảo Trong những năm 1960, Hoa Kỳ xây dựng tại Việt Nam trên bán đảo Cam Ranh một căn cứ hải quân và không quân cho các tàu chiến của Hạm đội 7 Hoa Kỳ, bao gồm cả các tàu sân bay và tàu ngầm, cũng như cho các máy bay ném bom, máy bay vận tải quân sự, máy bay cường kích và tiêm kích, trong đó có "pháo đài bay" B-52. Căn cứ này cũng được sử dụng phục vụ cuộc xâm lược của Mỹ ở Việt Nam, Lào, Campuchia và các khu vực khác tại Đông Nam Á. Căn cứ được trang bị tất cả những gì cần thiết cho các trang bị kỹ thuật cũng như cho đội ngũ quân nhân. Sau chiến thắng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và việc trục xuất người Mỹ ra khỏi Kam Ranh, trên thực tế căn cứ hầu như ở trong cảnh đổ nát, toàn bộ cơ sở hạ tầng đã bị phá hủy (cả người Mỹ và các chiến sỹ quân giải phóng đều cố gắng làm như vậy). Căn cứ quân sự đã hầu như được Liên Xô xây dựng lại trong các điều kiện tổng thầu thông qua GTU GKES và được phía Việt Nam chuyển giao cho lực lượng hải quân và không quân thuộc Bộ Quốc phòng Liên Xô thuê dài hạn, đảm bảo sự hiện diện đáng tin cậy và liên tục của chúng ta trong khu vực Ấn Độ Dương và Đông Nam Á. Khi nước Nga đơn phương cắt đứt hợp đồng thuê mượn vào cuối những năm 1990 và tiếp sau rời khỏi Kam Ranh, điều đó gợi nên sự hoài nghi của phía Việt Nam. Tại nước Nga, Cam Ranh đã mang lại tin buồn vào giữa những năm 1990, trong lúc tiếp cận để hạ cánh, nhóm thuật lái cao cấp danh tiếng "Tráng sĩ Nga" của chúng ta đã gặp phải tai nạn bi thảm (Bộ phận dịch vụ mặt đất của chúng ta đã rời khỏi sân bay, còn phía Việt Nam thì chưa có đủ kỹ năng). (http://content.foto.mail.ru/community/letuchey/156/i-157.jpg) Cam Ranh năm 1980. SKR "Letutchi". (http://foto.mail.ru/community/letuchey/156/185#157) ......... Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 28 Tháng Mười, 2015, 01:03:02 am Tu-95 tại Cam Ranh:
http://www.youtube.com/watch?v=KgNs9hRNEgs SKR của biên phòng: PSKR "Kedrov", 1990: (http://i63.fastpic.ru/big/2014/0830/98/229905d717278d25810e9a64c4424698.jpg) Một kíp tàu ngầm tập hợp trên cầu cảng trước khi lên căn cứ bờ: (http://static1.repo.aif.ru/1/11/356335/c/8c4754091ffa38650fade5e8e0482873.jpg) (http://russkievesti.ru/assets/images/003/russkie_idut2.jpg) Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 22 Tháng Mười Một, 2015, 12:08:15 pm (http://www.38brrzk.ru/photos/original_425.jpg)
"Protraktor" trên Biển Đông, tàu có mặt tại đây từ năm 1964, là nhân chứng của vụ tàu Maddox tiến vào lãnh hải VNDCCH (http://www.38brrzk.ru/photos/original_1069.jpg) "Ampemetr" trên Biển Đông, năm 1966 (http://nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/Balakin-7.jpg) Trên đầu "Ampemetr", B-52 xuất phát từ Guam, lấy đường bay tới Việt Nam, năm 1966 (http://www.38brrzk.ru/photos/original_856.jpg) Biển Đông, tháng 10 năm 1970 - tháng 1 năm 1971, tàu trinh sát cỡ nhỏ "Deflektor", thủy thủ đọc tin nhà (http://www.38brrzk.ru/photos/original_857.jpg) Biển Đông, tháng 10 năm 1970 - tháng 1 năm 1971, tàu trinh sát cỡ nhỏ "Deflektor" đang ở giữa đội hình nhóm xung kích tàu sân bay (AUG) của hạm đội 7 Hoa Kỳ (http://www.38brrzk.ru/photos/original_535.jpg) (http://www.38brrzk.ru/photos/original_544.jpg) Tháng 1 năm 1972, tàu trinh sát cỡ lớn "Primorie" trên Biển Đông - tiếp tế cho tàu trinh sát cỡ nhỏ "Ampemetr" (http://www.38brrzk.ru/photos/original_228.jpg) Tàu chở dầu Egorlyk trên Biển Đông năm 1972, chụp từ Kursograf, thời điểm này đang trực theo dõi hoạt động của Hạm đội 7 Hoa Kỳ trên Biển Đông (http://www.38brrzk.ru/photos/original_842.jpg) Kíp thủy thủ Kursograf trong thời gian trực chiến từ 14.12.1972 - 18.03.1973 trên Biển Đông. Tàu chở dầu Egorlyk. (http://www.38brrzk.ru/photos/original_841.jpg) Tàu do thám Kursograf trên Biển Đông năm 1972, hiệu thính viên Vladimir Griaznov (http://www.38brrzk.ru/photos/original_90.jpg) Trung úy V.A.Karev, mới tốt nghiệp trường vô tuyến hải quân Popov, trưởng toán OSNAZ (trưởng toán trinh sát kỹ thuật di động trên biển - Командир ПМРГ) tàu Aneroid trên khu vực Biển Đông, năm 1969 (http://www.38brrzk.ru/photos/original_333.jpg) Cờ hiệu ngành hải văn thường được treo trên các tàu do thám Soviet (http://www.38brrzk.ru/photos/original_838.jpg) (http://www.38brrzk.ru/photos/original_324.jpg) Tàu trinh sát Aneroid trong một chuyến trực chiến tại đảo Guam (6.6.1972 - 24.8.1972), theo dõi động tĩnh của hải đoàn tàu ngầm chiến lược 15 và căn cứ KQ chiến lược Andersen của Hoa Kỳ tại đảo. "Nhóm đặc nhiệm khai thác san hô" đang kiểm đếm chiến lợi phẩm. (http://www.38brrzk.ru/photos/original_690.jpg) Tàu do thám Kursograf trên Biển Đông tháng 8 năm 86 (http://www.38brrzk.ru/photos/original_691.jpg) Kursograf trên Biển Đông, 1986 (http://www.38brrzk.ru/photos/original_1728.jpg) (http://www.38brrzk.ru/photos/original_1729.jpg) (http://www.38brrzk.ru/photos/original_1727.jpg) Kíp thủy thủ Kursograf tại Cam Ranh năm 1986 (http://nhat-nam.ru/vietnamwar/foto/Karev-5.jpg) Cựu chỉ huy phó nhóm đặc nhiệm OSNAZ tàu Kursograf trong Vịnh Bắc Bộ tháng 12 năm 1972, nay là Tham mưu trưởng Cục trinh sát Hạm đội TBD V.A.Karev tại Cam Ranh năm 1987 (http://www.38brrzk.ru/photos/original_692.jpg) Thủy thủ trưởng, nhân viên điện đài, kíp trưởng động cơ tàu Kursograf. Ngày Hải quân Soviet tại Cam Ranh Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 24 Tháng Mười Một, 2015, 05:32:46 am Nhóm phi công Tu-95, ảnh của kỹ thuật viên trưởng trên máy bay Tu-95 số 22 đại úy V.Pokhomchikov (http://khorol-avia.clan.su/photo/)
(http://khorol-avia.clan.su/_ph/7/2/155316727.jpg) Trên sân đậu (http://khorol-avia.clan.su/_ph/7/2/675786646.jpg) Lang thang vùng lân cận (http://khorol-avia.clan.su/_ph/7/2/642969752.jpg) Chợ Đầm, Vova cùng Slava (http://khorol-avia.clan.su/_ph/7/2/247536368.jpg) Đại úy V.Pokhomchikov trực ban (http://khorol-avia.clan.su/_ph/7/2/638324776.jpg) Với một em bé Việt Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 12 Tháng Hai, 2016, 04:30:08 pm 1980-1981
Từ Vladivostok tớ sang đây (http://forum.camranh.ru/download/file.php?id=583) Tu-95, mỗi lần lên xuống nhức óc đinh tai (http://forum.camranh.ru/download/file.php?id=575) Đài kiểm soát của sân bay trông nó thế này (http://forum.camranh.ru/download/file.php?id=619) Bến tàu chính và cầu tàu đây (http://forum.camranh.ru/download/file.php?id=572) Trên boong lái thượng (http://forum.camranh.ru/download/file.php?id=580) Trên tháp pháo đuôi (http://forum.camranh.ru/download/file.php?id=581) Biển động (http://forum.camranh.ru/download/file.php?id=588) Boong nghiêng sóng nhồi (http://forum.camranh.ru/download/file.php?id=587) Lên bờ thay đồ xi vin đi chơi phố biển về (http://forum.camranh.ru/download/file.php?id=604) Ra ngoài nhớ dùng tiền này mà tiêu (http://forum.camranh.ru/download/file.php?id=576) (http://forum.camranh.ru/download/file.php?id=577) Không ra ngoài được thì quanh quẩn chổ này (http://forum.camranh.ru/download/file.php?id=605) Chưa có nước máy thì xài giếng đào (http://forum.camranh.ru/download/file.php?id=607) Bãi biển đẹp thì phải đi tắm và chơi bóng chuyền trên bãi biển (http://forum.camranh.ru/download/file.php?id=616) Chụp thì chụp nhưng nhớ căng khẩu hiệu "Muôn năm, muôn thưở..." lên (http://forum.camranh.ru/download/file.php?id=614) Leo lên ghềnh đá thì thôi, khỏi căng khẩu hiệu (http://forum.camranh.ru/download/file.php?id=613) Ngày xuân cũng nắng chang chang, thú vui còn món chọc lỗ nhưng vui chơi thì phải có thưởng (http://forum.camranh.ru/download/file.php?id=610) Lính thì hút món được phát này cũng ổn rồi (http://forum.camranh.ru/download/file.php?id=590) Xứ nhiệt đới nóng lắm (http://forum.camranh.ru/download/file.php?id=633) Trời nóng xài đồ được phát này này (http://forum.camranh.ru/download/file.php?id=589) Vô núi vô rừng nhớ hỏi lính bạn và soi cho kỹ, món này còn nhiều lắm, đá phải thì cụt giò oan gia (http://forum.camranh.ru/download/file.php?id=620) Đã vào trong vịnh rồi thì sóng yên biển lặng, cứ neo đấy mà chơi (http://forum.camranh.ru/download/file.php?id=644) (http://forum.camranh.ru/download/file.php?id=585) (http://forum.camranh.ru/download/file.php?id=584) Đã chơi thì phải lặn mò nên phải đeo cái này (http://forum.camranh.ru/download/file.php?id=638) Lặn lặn mò mò rồi cũng được cái này (http://forum.camranh.ru/download/file.php?id=622) Đứng trước doanh trại bạn thì phải mướn đồ nóng của bạn mà chụp (http://forum.camranh.ru/download/file.php?id=627) Còn lên boong nhà mình thì khỏi mướn (http://forum.camranh.ru/download/file.php?id=625) Kỷ niệm mang về (http://forum.camranh.ru/download/file.php?id=593) Ráng không mắc lỗi khỏi vô com-lét khi hết hạn về Liên bang sẽ được thứ này (http://forum.camranh.ru/download/file.php?id=592) Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 13 Tháng Hai, 2016, 02:06:38 am Cầu tàu CR nhìn từ trên boong một tàu khác
(https://pp.vk.me/c623919/v623919259/454de/mNzw4TGU5Nk.jpg) TAKR project 1143.2 "Minsk", một ống phóng SM-241 chứa TLCH "Bazalt" đang ở tư thế trước khi phóng (1982-1983) (http://razgromflota.ru/wp-content/uploads/2013/12/JwSKB.jpg) Biển hiệu nhà máy (http://razgromflota.ru/wp-content/uploads/2013/12/%D0%B4%D0%BE%D0%BA%D1%83%D0%BC%D0%B5%D0%BD%D1%82%D1%8B-127.jpg) Lắp vũ khí trang bị, chuẩn bị chuyển sang Hạm đội TBD, Sevastopol 1978 (http://razgromflota.ru/wp-content/uploads/2013/12/Gtlcc.jpg) Sau khi ký nghiệm thu bàn giao cấp nhà nước: công trình sư trưởng đóng tàu, phó công trình sư trưởng đóng tàu, chủ tịch ủy ban nghiệm thu quốc gia, tổng công trình sư thiết kế, đại diện nhà máy sản xuất "Osa-M", nhà chế tạo tổ hợp vũ khí tên lửa chủ lực "Bazalt" tại Nikolayev ngày 27.9.1978 (http://razgromflota.ru/wp-content/uploads/2013/12/059f105b.jpg) Yak-38 và Ka-25 trên boong "Minsk" trong một chuyến hành quân trên biển. Trong giai đoạn từ 12.1979 đến 9.1980 trên "Minsk" tiến hành hàng loạt thử nghiệm cất hạ cánh chạy đà ngắn của Yak-38 trong điều kiện hoạt động trên boong tàu ở các vùng vĩ độ khác nhau. Kết quả cho thấy các luồng không khí thổi trên boong tạo điều kiện tiếp tục cải thiện động lực học cất cánh. (http://razgromflota.ru/wp-content/uploads/2013/12/1368416636_605ff98d674d1.jpg) Phi công thử nghiệm Oleg Kononenko (hy sinh ngày 8.9.1980 khi bay thử nghiệm trên máy bay Yak-38 trên Biển Đông gần Côn Đảo, sau khi đã từng nhảy dù thành công trong một vụ tai nạn khác trước đó 9 tháng ở vịnh Ussurisky). Các vụ tai nạn chỉ ra sự cần thiết cải tiến hệ thống tự động cho phi công thoát khỏi máy bay khi gặp sự cố. (http://razgromflota.ru/wp-content/uploads/2013/12/21-22-1024x728.jpg) Cẩu xác máy bay lên tàu cứu hộ "Kilektor-23" đưa về CR (http://ic.pics.livejournal.com/tv817/64553740/23569/23569_600.jpg) (http://ic.pics.livejournal.com/tv817/64553740/24227/24227_600.jpg) "Minsk" năm 1984 trên Biển Đông, ghé CR, tham gia tập trận của hạm đội TBD từ 27 tháng 3 đến 24 tháng 4. Năm 1986 ghé CR lần 2 tham gia tập trận chung Xô-Việt trong giai đoạn tháng 3 - tháng 4 năm 1986 (http://razgromflota.ru/wp-content/uploads/2013/12/s4164143.jpg) Hợp đồng bán sắt vụn cho "Young Distribution" Nam Hàn năm 1994 (http://content.foto.mail.ru/community/voen_mor/slom/i-307.jpg) Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 17 Tháng Hai, 2016, 10:34:38 pm Tàu công binh xưởng PM-5 tại cầu tàu CR, 1984
(http://cs10226.vk.me/u50930255/38398555/x_3da927fb.jpg) (http://cs4734.vk.me/u50930255/38398555/x_d4a32ca5.jpg) (http://cs10226.vk.me/u50930255/38398555/x_f9ca0959.jpg) (http://cs9452.vk.me/u74353837/38398555/x_5a247274.jpg) (http://cs9452.vk.me/u74353837/38398555/x_cb43db7f.jpg) (http://cs9452.vk.me/u74353837/38398555/x_6fc4c633.jpg) (http://cs9452.vk.me/u74353837/38398555/x_8128f84f.jpg) Đường trên bãi biển 1985 (http://cs9452.vk.me/u74353837/38398555/x_5b1c7f98.jpg) Thăm quân bạn 1984 (http://cs9452.vk.me/u74353837/38398555/x_684a3bac.jpg) (http://cs9452.vk.me/u74353837/38398555/x_bc597b1f.jpg) Bãi biển Việt Nam đầy nắng 1984 (http://cs9452.vk.me/u74353837/38398555/x_3e275105.jpg) Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 17 Tháng Hai, 2016, 10:54:02 pm Một cô gái tại CR 1985
(http://cs9452.vk.me/u74353837/38398555/x_77bf5034.jpg) (http://cs4143.vk.me/u74353837/38398555/x_7ea017a2.jpg) Kỹ thuật viên thủy âm PM-5 (http://cs9452.vk.me/u74353837/38398555/x_35cebf02.jpg) Năm 1986, lính thủy đánh bộ (http://cs630731.vk.me/v630731550/29e9/KNgi8hvwmY4.jpg) (http://cs9558.vk.me/u9205550/38398555/x_46b610fd.jpg) (http://cs630731.vk.me/v630731550/29e2/F9DcKu3yzKw.jpg) Chuối là món dễ kiếm (http://cs630731.vk.me/v630731550/29d9/ngm182z3yYg.jpg) (http://cs630731.vk.me/v630731550/29d0/uLFjAlL33p4.jpg) Trung trưởng khi không đeo kính "cơn" và SK (http://cs630731.vk.me/v630731550/2949/uayVjTq1MhU.jpg) (http://cs630731.vk.me/v630731550/28e7/Ik0eJWYmAu0.jpg) Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 17 Tháng Hai, 2016, 11:31:33 pm Trên con đường không tên tại CR
(http://cs630731.vk.me/v630731550/29f2/Af_CEctYeXc.jpg) (http://cs630731.vk.me/v630731550/29c7/11PY9PdRF-A.jpg) (http://cs630731.vk.me/v630731550/29be/KGuladd5faU.jpg) (http://cs630731.vk.me/v630731550/29b5/ulnl2q80bMs.jpg) (http://cs630731.vk.me/v630731550/29ac/-cloMs64jyE.jpg) (http://cs630731.vk.me/v630731550/2940/MM6iM56hi3w.jpg) (http://cs630731.vk.me/v630731550/2901/v3hTKfho7ZI.jpg) (http://cs630731.vk.me/v630731550/28f8/PLclYqKUSUc.jpg) Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 25 Tháng Hai, 2016, 10:47:26 pm K-247 (1992: B-247) project 671RTM, đơn vị quân sự 69177, sư đoàn tàu ngầm 45, phân hạm đội tàu ngầm số 2, Hạm đội Cờ Đỏ TBD, thuyền trưởng V.V.Afonin, thủy thủ đoàn số 556 tập hợp đội ngũ tại cầu tàu CR nhân Ngày Hải quân Xô Viết. 25 tháng 7 năm 1982. K-247 có mặt tại CR xuân-hè 1982. Ảnh từ sưu tập của A.E.Yakovlev.
(http://funkyimg.com/i/28rxE.jpg) B-247 project 671RTM tại cầu tàu vịnh Pavlovsky năm 2007. Tháng 8 năm 2007 nhận được tài trợ từ chương trình Nga-Nhật về phá hủy và tận dụng phế liệu các tàu ngầm nguyên tử. Khối lò phản ứng được lưu giữ trong tư thế nổi tại vịnh Razboinik để chờ bảo quản lâu dài vào năm 2012. Từ khi vào biên chế trang bị 30.12/1978 đến khi loại ngũ 31.7.1996 K-247 (B-247) đã thực hiện 12 chuyến đi biển làm nhiệm vụ chiến đấu. Ảnh từ bộ sưu tập của A.S.Nikolayev (http://funkyimg.com/i/28ry4.jpg) Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 07 Tháng Ba, 2016, 01:03:19 am B-427 đề án 641, đơn vị quân sự 22983. Trở về Cam Ranh sau bão, năm 1988
(http://funkyimg.com/i/28QvA.jpg) (http://funkyimg.com/i/28Qvm.jpg) Trở về căn cứ sau một chuyến đi biển thực hiện nhiệm vụ. (http://funkyimg.com/i/28QvL.jpg) Năm 1998, lên tàu dok chuẩn bị từ Úc sang Cali làm hiện vật bảo tàng Hàng hải Hoa Kỳ tại Long Beach. (http://funkyimg.com/i/28QvY.jpg) Năm 1986, B-427 là "mục tiêu thật" cho lữ đoàn 161 HQNDVN tập luyện chống ngầm tại vùng biển ngoài khơi Đà Nẵng. Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 14 Tháng Ba, 2016, 12:26:23 pm Không nên cho cô cậu nào vào CR nữa, nhất là vào nuôi cá lồng anh bạn KH nhé
http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/293366/loi-the-dia-quan-su-doc-nhat-vo-nhi-cua-cam-ranh.html http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/293021/khong-co-gay-than-nhung-vn-co-cam-ranh.html Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 25 Tháng Ba, 2016, 12:54:23 pm "Phénix" (Q157) của hải quân Pháp tại CR 1938-1939, chìm tại đây tháng 6 năm 1939
(https://img-fotki.yandex.ru/get/26001/69185483.85a/0_14fc31_9bcff27a_XL.jpg) (https://img-fotki.yandex.ru/get/6807/69185483.85a/0_14fc32_1a96d9aa_XL.jpg) (https://img-fotki.yandex.ru/get/41207/69185483.85a/0_14fc33_9f4f31ab_XL.jpg) (https://img-fotki.yandex.ru/get/4913/69185483.85a/0_14fc34_c8ea4cec_XL.jpg) (https://img-fotki.yandex.ru/get/9823/69185483.85a/0_14fc35_16304aad_XL.jpg) (https://img-fotki.yandex.ru/get/6843/69185483.85a/0_14fc36_f7481bd9_XL.jpg) (https://img-fotki.yandex.ru/get/6712/69185483.85a/0_14fc37_b7a45cb_XL.jpg) Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 25 Tháng Ba, 2016, 01:26:35 pm Tàu trinh sát cỡ lớn "Ural" tại CR
(http://dg55.mycdn.me/image?t=0&bid=562115344261&id=562115344261&plc=WEB&tkn=*sOtgid0Q0zCmnty9ZwBVSOWMo6U) Lính binh đoàn 8 Ấn Độ Dương tại CR (http://xn--8-ttblek5e.xn--p1ai/125.%2038-1%D0%B2.%20%D0%A4%D0%BE%D1%82%D0%BE%20%D0%91%D0%B0%D0%BB%D0%BA%D0%BE%20%D0%9C.%D0%92..files/image034.jpg) (http://gdb.voanews.com/586974B1-A614-4CD1-B4C1-2C82764A2936_cx0_cy4_cw0_mw1024_s_n_r1.jpg) Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 25 Tháng Ba, 2016, 11:23:27 pm Năm 1979, Cam Ranh, BPK Chapaev. Các Gulliver và các Liliput
(http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/28/2/687507294.jpg?1458922207) Các cô bạn gái (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/28/2/954945989.jpg?1458922241) (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/28/2/398965296.jpg?1458922273) (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/28/2/789282806.jpg?1458922290) (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/28/2/220408200.jpg?1458922311) Việt Nam, Cam Ranh, mùa xuân 1979. Tiễn đưa BPK Chapaev. Chúng tôi đi rồi sẽ trở về. (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/28/2/690460582.jpg?1458922445) Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 25 Tháng Ba, 2016, 11:43:30 pm BPK Chapaev, Việt Nam, Cam Ranh, năm 1986
(http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/47/2/638803992.jpg?1458923859) (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/47/2/754966200.jpg?1458923938) (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/47/2/565460933.jpg?1458923959) (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/47/2/124669379.jpg?1458923974) Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 25 Tháng Ba, 2016, 11:45:28 pm BPK Chapaev, Việt Nam, Cam Ranh, năm 1986
(http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/47/2/821092282.jpg?1458924020) (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/47/2/327861464.jpg?1458924039) (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/47/2/266473902.jpg?1458924060) (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/47/2/776749297.jpg?1458924076) (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/47/2/205845770.jpg?1458924092) Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 25 Tháng Ba, 2016, 11:47:39 pm BPK Chapaev, Việt Nam, Cam Ranh, năm 1986
(http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/47/2/759974300.jpg?1458924167) (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/47/2/790312502.jpg?1458924182) (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/47/2/443856981.jpg?1458924197) (http://kresta-ii.ucoz.ru/_ph/47/2/277977484.jpg?1458924213) Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: phuongxuanhieu trong 19 Tháng Năm, 2016, 02:46:38 pm Bài viết hay. Nhiều tư liệu. Vote cho bác chủ.
Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 24 Tháng Sáu, 2016, 11:51:09 am Cam Ranh 1985. Kíp tàu ngầm K-454 đề án 671V trên sân bóng
(http://funkyimg.com/i/2dm8S.png) Vịnh Pavlovsky năm 1994. K-454 đi neo đậu giảm xạ (http://funkyimg.com/i/2dm8T.png) Cam Ranh 1986. BPK Chapaev. Lính tàu nổi săn ngầm tập bắn súng lục trên cạn (http://admiral-umashev.narod.ru/img/chapai/ekipaj/chap043.jpg) (http://admiral-umashev.narod.ru/img/chapai/ekipaj/chap042.jpg) Tư lệnh binh đoàn 17, phó đô đốc A.A.Kuzmin, đi kiểm tra BPK Chapaev tại cầu càng CR, 1986 (http://admiral-umashev.narod.ru/img/chapai/ekipaj/chap033.jpg) (http://admiral-umashev.narod.ru/img/chapai/ekipaj/chap032.jpg) (http://admiral-umashev.narod.ru/img/chapai/ekipaj/chap023.jpg) Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 30 Tháng Sáu, 2016, 01:51:50 am Ural đề án 1941 tại Cam Ranh năm 1989
(http://funkyimg.com/i/2dyuA.jpg) (http://funkyimg.com/i/2dyuJ.jpg) Trong vịnh Strelok năm 2006 (http://funkyimg.com/i/2dyuE.jpg) Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 22 Tháng Bảy, 2016, 05:25:30 pm Năm 1978. SKR "Letuchi". Thứ 7 đi trồng cây cùng bộ đội Việt nam.
(https://content.foto.my.mail.ru/community/letuchey/156/h-211.jpg) (https://content.foto.my.mail.ru/community/letuchey/156/h-268.jpg) (https://content.foto.my.mail.ru/community/letuchey/156/h-247.jpg) (https://content.foto.my.mail.ru/community/letuchey/156/h-269.jpg) (https://content.foto.my.mail.ru/community/letuchey/156/h-160.jpg) (https://content.foto.my.mail.ru/community/letuchey/156/h-161.jpg) (https://content.foto.my.mail.ru/community/letuchey/156/h-188.jpg) (https://content.foto.my.mail.ru/community/letuchey/156/h-216.jpg) Đưa các sĩ quan sang tàu sân bay "Minsk" (https://content.foto.my.mail.ru/community/letuchey/156/h-162.jpg) Trên sân cầu cảng. Tàu căn cứ cho tàu ngầm "Người đoàn viên TNCS Kamchatka" (https://content.foto.my.mail.ru/community/letuchey/156/h-185.jpg) Đi lặn lấy san hô (https://content.foto.my.mail.ru/community/letuchey/156/h-163.jpg) Phải nhờ các chú bé con lặn lấy giùm (https://content.foto.my.mail.ru/community/letuchey/156/h-219.jpg) (https://content.foto.my.mail.ru/community/letuchey/156/h-217.jpg) (https://content.foto.my.mail.ru/community/letuchey/156/h-167.jpg) Tiêu đề: Re: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2 Gửi bởi: qtdc trong 22 Tháng Bảy, 2016, 05:36:38 pm Năm 1980. SKR "Letuchi". Campuchia. Ngay trên cầu cảng.
(https://content.foto.my.mail.ru/community/letuchey/156/h-181.jpg) (https://content.foto.my.mail.ru/community/letuchey/156/h-220.jpg) (https://content.foto.my.mail.ru/community/letuchey/156/h-221.jpg) (https://content.foto.my.mail.ru/community/letuchey/156/h-222.jpg) (https://content.foto.my.mail.ru/community/letuchey/156/h-223.jpg) (https://content.foto.my.mail.ru/community/letuchey/156/h-224.jpg) (https://content.foto.my.mail.ru/community/letuchey/156/h-159.jpg) (https://content.foto.my.mail.ru/community/letuchey/156/h-158.jpg) (https://content.foto.my.mail.ru/community/letuchey/156/h-180.jpg) (https://content.foto.my.mail.ru/community/letuchey/156/h-187.jpg) Tiễn tàu rời Compongsom (https://content.foto.my.mail.ru/community/letuchey/156/h-174.jpg) |