|
Tiêu đề: Vũ khí, khí tài lục quân Mỹ và Phương Tây Gửi bởi: Raptor Flanker trong 20 Tháng Ba, 2013, 11:37:32 pm Tôi mở topic này nhằm giúp mọi người tìm hiểu về các loại vũ khí lục quân hiện đang trang bị trong các nước Phương Tây, các nước trong khối NATO,... Bài viết tổng hợp từ các nguồn sau:
- fas.org - military-today.com - globalsecurity.org - army-guided.com - militaryfactory.com... Tiêu đề: Re: Những vũ khí lục quân hiện đại của Phương Tây Gửi bởi: Raptor Flanker trong 20 Tháng Ba, 2013, 11:42:25 pm Dòng xe tăng chiến đấu chủ lực M60 Patton (http://www.carlisle.army.mil/ahec/AHM/AHT/Patton/images/patton.jpg) Lịch sử phát triển M60 Patton là dòng xe tăng chiến đấu chủ lực (Main battle tank) đầu tiên của quân đội Mỹ, M60 được quân đội Mỹ bắt đầu nghiên cứu và phát triển từ năm 1957. Nó được thiết kế để chống lại các dòng xe tăng hạng trung T-54/55 của Liên Xô, những dòng xe tăng hạng trung vượt trội hơn hẳn so với dòng xe tăng M48 Patton của quân đội Mỹ lúc bấy giờ. Chiếc xe tăng M60 đầu tiên được xuất xưởng vào năm 1959 và nhà máy chế tạo xe Chrysler đã giành được hợp đồng chế tạo dòng tăng này với gói cung cấp 180 chiếc cho quân đội Mỹ vào năm 1961. Các phiên bản M60 được sản xuất trong thời gian từ năm 1960 đến 1987. Thiết kế và đặc điểm Về thiết kế, M60 là một phiên bản phát triển sâu hơn và hiện đại hơn so với các dòng tăng M26, M46, M47 và M48. Một số thành phần chính của xe tăng M60 được lấy từ dòng xe tăng M48A2, tuy nhiên M60 được bọc thép tốt hơn, hoả lực mạnh hơn và động cơ mạnh hơn, tốt hơn. Thân xe tăng M60 được thiết kế dạng hình thuyền đặc biệt, đúc từ 5 tấm thép tạo nên khả năng bảo vệ tốt, Xe tăng chiến đấu chủ lực M60 Patton được trang bị pháo chính nòng xoắn 105mm L7 của Anh, được Mỹ sản xuất theo giấy phép với tên gọi M68. Pháo này có thể thay thế ngay trên chiến trường nếu cần. Nó có thể bắn xuyên 120mm thép đồng nhất ở khoảng cách 2km. M60 mang theo 60 viên đạn thuộc 5 loại khác nhau cho pháo 105mm này. Ngoài ra M60 còn trang bị súng máy đồng trục 7.62mm M240 với 5.950 viên đạn và đại liên phòng không 12.7mm M85 gắn trên vòm chỉ huy. Động cơ của M60 là động cơ diesel Continental AVDS-1790-2A, công suất 750 mã lực. Động cơ này có thể thay thế trên chiến trường trong vòng 4 giờ. Đây là xe tăng đầu tiên của quân đội Mỹ trang bị động cơ diesel, vì những dòng xe tăng trước chạy bằng động cơ xăng. Xe tăng Patton có hệ thống treo thanh xoắn/ lò xo, được cấu thành bởi 6 lăn với bánh truyền động ở phía đuôi xe, cùng với 3 bánh đỡ xích. Ngoài ra xe còn trang bị bộ truyền động Allison CD-850-6/6A, giúp khả năng cơ động cao. (http://www.inetres.com/gp/military/cv/tank/M60/M60_AVDS-1790-2A.gif) Hình vẽ của động cơ diesel Continental AVDS-1790-2A Quá trình sản xuất M60 (phiên bản đầu tiên) chỉ diễn ra trong 2 năm, đến năm 1962, nó được thay thế bởi phiên bản mới tiên tiến hơn là M60A1. Thông số kỹ thuật cơ bản: Kíp chiến đấu (người): 4. Trọng lượng (tấn): 56.6. Chiều dài toàn bộ (m): 9.44 (kể cả nòng pháo). Chiều dài thân (m): 6.95. Rộng (m): 3.63. Cao (m): 3.27. Vũ khí: Pháo chính nòng xoắn L7/ M68. Cỡ nòng (mm): 105. Cơ số đạn (viên): 60. Góc nâng pháo (độ): -10…+20. Góc quay tháp pháo (độ): 360. Súng máy đồng trục M240. Cỡ nòng (mm): 7.62. Cơ số đạn (viên): 5.950. Súng máy phòng không M85. Cỡ nòng (mm): 12.7. Cơ số đạn (viên): 900. Động cơ: Động cơ diesel Continental AVDS-1790-2A, công suất 750 mã lực. Bộ truyền động Allison CD-850-6/6A. Tốc độ tối đa (km/h): 48. Tầm hoạt động (km): 480. Khả năng vượt chướng ngại vật Leo dốc (độ): 30. Vách đứng (m): 1.2. Hào rộng (m): 2.7 Vượt sông sâu (m): 1.3. (http://farm5.staticflickr.com/4085/4984835388_979d1a4afe_b.jpg) (http://www.military-today.com/tanks/m60_patton_l1.jpg) Tiêu đề: Re: Vũ khí, khí tài lục quân các nước Mỹ và phương Tây Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Ba, 2013, 11:51:24 pm 1. Đã sửa lại tên chủ đề.
2. Theo tớ, bạn tự lập ra một dàn bài. Ví dụ như đầu tiên là các dòng xe tăng, sau đó là máy bay, trực thăng các loại đạn, tên lửa thuộc quân chủng lục quân trong các nước phương Tây và Mỹ (ví dụ như xếp theo thời gian xuất hiện, gia nhập vào biên chế lục quân chẳng hạn hay xắp xếp theo cỡ nòng như với pháo binh)... thì bạn sẽ dễ viết hơn và người đọc cũng tiện theo dõi hơn (kinh nghiệm của tớ lúc dịch sách với tìm bài trên các trang mạng thôi). 3. Cố gắng lên bạn, vũ khí, khí tài của Mỹ và phương Tây đang bị "lép vế" trước vũ khí của Liên Xô và Nga trong Kiến thức quốc phòng ;D Tiêu đề: Re: Vũ khí, khí tài lục quân các nước Mỹ và phương Tây Gửi bởi: Raptor Flanker trong 21 Tháng Ba, 2013, 12:00:05 am 1. Đã sửa lại tên chủ đề. 2. Theo tớ, bạn tự lập ra một dàn bài. Ví dụ như đầu tiên là các dòng xe tăng, sau đó là máy bay, trực thăng các loại đạn, tên lửa thuộc quân chủng lục quân trong các nước phương Tây và Mỹ (ví dụ như xếp theo thời gian xuất hiện, gia nhập vào biên chế lục quân chẳng hạn hay xắp xếp theo cỡ nòng như với pháo binh)... thì bạn sẽ dễ viết hơn và người đọc cũng tiện theo dõi hơn (kinh nghiệm của tớ lúc dịch sách với tìm bài trên các trang mạng thôi). 3. Cố gắng lên bạn, vũ khí, khí tài của Mỹ và phương Tây đang bị "lép vế" trước vũ khí của Liên Xô và Nga trong Kiến thức quốc phòng ;D Vâng cảm ơn bạn đã giúp tớ, và tớ sẽ cố gắng tìm thật nhiều bài hay cho mọi người ;D, thân ;D Tiêu đề: Re: Vũ khí, khí tài lục quân Mỹ và Phương Tây Gửi bởi: Raptor Flanker trong 21 Tháng Ba, 2013, 12:17:54 pm Xe tăng chiến đấu chủ lực M60A1 (http://www.panzerbaer.de/archiv/pix/us_ftx_reforger_1988-007.jpg) Thiết kế và đặc điểm Xe tăng chiến đấu chủ lực M60A1 là phiên bản sản xuất chính từ năm 1963 đến năm 1980. Trang bị pháo nòng xoắn 105mm L7 với ốp cách nhiệt và thiết bị cản khói thuốc tràn ngược về tháp pháo, trang bị 63 viên đạn . Ngoài thiết kế tháp pháo mới, M60A1 giữ nguyên khung thân cơ bản như của M60, chỉ cải tiến một số thiết bị và hệ thống ở bên trong. M60A1 nhanh chóng được đưa vào dây chuyền sản xuất mà không gặp một vấn đề nghiêm trọng nào. Chiếc M60A1 đầu tiên được trang bị vào mùa xuân năm 1962, sau 2 năm khi chiếc M60 đầu tiên được xuất xưởng. Ngoài trang bị cho quân đội Mỹ, nó còn được viện trợ và bán cho các Đồng Minh của Mỹ như Đức, Áo, Iran, Israel, Jordan và Ý. M60A1 có tháp pháo được thiết kế theo hình chữ V giúp nó có khả năng bảo vệ tốt hơn, và được trang bị một bệ gắn pháo chính mới. Đối với những xe tăng đời trước, các bệ gắn pháo chính không có hệ thống ổn hướng, nhưng đến giữa thập kỷ 70, hầu hết đều đã được gắn hệ thống ổn hướng cho pháo chính. Vì thế mà dòng xe tăng M60A1 đã trở thành dòng xe tăng chiến đấu chủ lực cửa quân đội Mỹ từ những năm giữa thập kỷ 60 đến những năm đầu thập kỷ 70. Pháo nòng xoắn M68 105mm được Mỹ sản xuất theo giấy phép từ mẫu pháo L7 của Anh với một kiểu khoá nòng trượt theo chiều dọc. Loại pháo này cũng được trang bị cho dòng xe tăng chiến đấu chủ lực M1 Abrams, cho đến khi nó được thay thế bởi pháo nòng trơn 120mm mới cho các đời M1A1/ M1A2 sau này. Trọng lượng 58 tấn, kíp chiến đấu gồm 4 người: lái xe, trưởng xa, xạ thủ và nạp đạn. Tháp pháo M60A1 được tổ chức theo phong cách của Mỹ - xạ thủ ở bên phải tháp pháo, trưởng xa ngồi đằng sau xạ thủ và lính nạp đạn ngồi bên trái. Diện tích và nội thất của tháp pháo M60A1 cũng rộng rãi hơn so với những dòng xe tăng chiến đấu chủ lực lúc bấy giờ. Phát triển tiên tiến nhất trong thiết kế của M60A1 chính là M60A1 RISE Passive (Reliable Improved Selected Equipment Passive/ Thiết bị thụ động lựa chọn cho tăng khả năng tin cậy). Nó trang bị cho M60 một thiết bị khuếch đại ánh sáng hình ảnh ban đêm thụ động cho trưởng xa và xạ thủ. Ngoài ra còn có một số nâng cấp khác bao gồm trang bị động cơ AVDS-1790-2C RISE làm tăng công suất của động cơ, lắp 2 hệ thống phòng đạn khói ở 2 bên tháp pháo, làm nó mang phong cách của dòng xe tăng Chieftain. Dây cáp điều khiển chính chạy dọc 2 bên tháp pháo, được bảo vệ bời các tấm giáp mỏng và luồn vào bên trong gần bệ lắp đèn pha. Dòng xe tăng này nhanh chóng được đưa ra tiền tuyến ở nước ngoài phục vụ, chẳng hạn như Tây Đức, bắt đầu trang bị từ năm 1979. (http://i1290.photobucket.com/albums/b522/shevcheko2004/136191299790_zps8c49c35d.jpg) Trong chiến dịch Tấm Khiên Sa Mạc (Desert Shield), xe tăng chiến đấu chủ lực của Thuỷ Quân Lục Chiến Mỹ chính là M60A1, được trang bị thêm các tấm giáp giúp tăng khả năng bảo vệ, nhưng vẫn không thể chống lại đối thủ mạnh hơn, đó chính là những chiếc xe tăng T-72 của Liên Xộ trang bị cho Iraq, với kích cỡ nòng lớn hơn và tầm bắn xa hơn, đây chính là mối đe doạ trực tiếp đối với Thuỷ Quân Lục Chiến Mỹ lúc bấy giờ, khi sư đoàn Viễn Chinh số Một của Thuỷ quân Lục Chiến Mỹ (1st Marine Expeditionary Force) điều động 210 xe tăng M60A1 để hỗ trợ Thuỷ Quân Lục Chiến Ả Rập Saudi tiến vào thành phố Kuwait. Hiện nay Thuỷ Quân Lục Chiến Mỹ đã thay thế các xe tăng M60A1 bằng các xe tăng M1A1/ M1A2 Abrams cho phù hợp với tác chiến hiện đại vì dòng xe tăng M60A1 RISE đã không thể chứng minh khả năng chiến đấu tôt trong điều kiện tác chiến hiện đại nữa. Thông số kỹ thuật cơ bản: Kíp chiến đấu (người): 4. Trọng lượng (tấn): 58. Chiều dài toàn bộ (m): 9.44 (kể cả nòng pháo). Chiều dài thân (m): 6.95. Rộng (m): 3.63. Cao (m): 3.27. Vũ khí: Pháo chính nòng xoắn L7/ M68. Cỡ nòng (mm): 105. Cơ số đạn (viên): 63. Góc nâng pháo (độ): -10…+20. Góc quay tháp pháo (độ): 360. Súng máy đồng trục M240. Cỡ nòng (mm): 7.62. Cơ số đạn (viên): 5.950. Súng máy phòng không M85. Cỡ nòng (mm): 12.7. Cơ số đạn (viên): 900. Động cơ: Động cơ diesel Continental AVDS-1790-2C RISE, công suất 750 mã lực. Bộ truyền động Allison CD-850-6/6A. Tốc độ tối đa (km/h): 48. Tầm hoạt động (km): 480. Khả năng vượt chướng ngại vật Leo dốc (độ): 30. Vách đứng (m): 1.2. Hào rộng (m): 2.7 Vượt sông sâu (m): 1.3. (http://farm5.static.flickr.com/4121/4744990061_6f2e1ec65d.jpg) M60A1 RISE Pasive với thết bị khuếch đại ánh sáng ban đêm (http://farm5.staticflickr.com/4001/5131143624_cca321c230_z.jpg) (http://i423.photobucket.com/albums/pp320/29ToyA/M60/Other%20M60s/Interior%20photos/M60A1intgunnersstation.jpg?t=1235413309) Vị trí xạ thủ trên M60A1 RISE (http://i423.photobucket.com/albums/pp320/29ToyA/M60/Other%20M60s/Interior%20photos/M60A1int01.jpg?t=1235413398) Vị trí của trưởng xa (http://i423.photobucket.com/albums/pp320/29ToyA/M60/Other%20M60s/Interior%20photos/M60A1int05.jpg?t=1235413366) (http://www.patton-mania.com/M60_Patton/M60_the_real_thing/M60a3-28.jpg) (http://www.military-today.com/tanks/m60_patton_l2.jpg) Tiêu đề: Re: Vũ khí, khí tài lục quân Mỹ và Phương Tây Gửi bởi: Raptor Flanker trong 22 Tháng Ba, 2013, 12:15:08 am Xe tăng chiến đấu chủ lực M60A2 "Starship" (http://mainbattletanks.czweb.org/Tanky/m60a2_2.jpg) Thiết kế và đặc điểm M60A2 là một phiên bản của xe tăng chiến đấu chủ lực M60 và phát triển như một lực lượng tăng cường cho các đơn vị sử dụng M60A1. Và được bắt đầu phát triển vào những năm cuối thập kỷ 60. M60A2 bắt đầu trang bị cho quân đội Mỹ từ năm 1972. Có tổng cộng 526 chiếc M60A2 được sản xuất. M60A2 có biệt danh là Starship vì các công nghệ tinh vi được áp dụng trên nó. Nhưng quân đội Mỹ cũng đã loại bỏ dòng xe tăng này. M60A2 trang bị tháp pháo mới với khả năng mang pháo nòng xoắn có khả năng phóng tên lửa qua nòng 152mm M48. Loại pháo này có thể bắn các loại đạn thông thường và tên lửa chống tăng có điều khiển MGM-51 Shillelagh. Nó có tầm bắn hiệu quả là 1.5km với đạn thông thường và 3km với đạn chống tăng có điều khiển MGM-51 Shillelagh. Thế nhưng trong quá trình thử nghiệm hoạt động, pháo 152mm tỏ ra kém hơn về tầm bắn và độ chính xác so với pháo 105mm hay 120mm nếu bắn đạn thông thường, còn tên lửa chống tăng có điều khiển thì cũng không có khả năng xuyên giáp tốt. Ngoài ra nó cũng quá tốn kém và rắc rối để duy trì hoạt động. Lúc trước khẩu pháo cũng có một số vấn đề nhưng chúng cũng đã được giải quyết. Loại pháo này tương tự như khẩu sử dụng trên xe tăng hạng nhẹ M551 Sheridan. Ngoài ra xe tăng M60A2 là một trong những xe tăng đầu tiên trên thế giới lắp hệ thống đo xa laser giúp đo lường khoảng cách tới mục tiêu chính xác hơn và có thể dẫn đường cho tên lửa chống tăng MGM-51 Shillelagh. (http://www.williammaloney.com/Aviation/PattonMuseum/M551SheridanLightTank/images/09Shillelagh152mmMissile.jpg) Tên lửa chống tăng có điều khiển MGM-51C Shillelagh (http://www.toadmanstankpictures.com/m60a201.jpg) Cận cảnh hệ thống đo xa laser trên pháo M48 Vũ khí phụ của M60A2 gồm một khẩu súng máy đồng trục 7.62mm M240 và súng máy phòng không 12.7mm M85 trên vòm của trưởng xa. Các vũ khí này được khai hoả, nạp đạn và hoạt động tại một vị trí được bảo vệ tốt. M60A2 sử dụng động cơ diesel Continental AVDS-1790-2, công suất 750 mã lực, động cơ, bộ truyền động, hệ thống treo tương tự M60A1, tốc độ và khả năng vượt chướng ngại vật cũng giống như các phiên bản M60 khác. Hiện nay M60A2 đã không còn được sử dụng nữa, tuy nhiên vẫn còn một số ít đang được tồn kho, bảo quẩn, làm vũ khí dự bị. Đa số đã được chuyển đổi, nâng cấp thành M60A3, một số khác đã được chuyển đổ khung gầm thành xe bắc cầu M60 AVLB và những xe công binh dùng khung gầm M60 khác. Thông số kỹ thuật cơ bản: Kíp chiến đấu (người): 4. Trọng lượng (tấn): 44. Chiều dài toàn bộ (m): 7.3 (kể cả nòng pháo). Chiều dài thân (m): 6.95. Rộng (m): 3.63. Cao (m): 3.1. Vũ khí: Pháo chính nòng xoắn có khả năng phóng tên lửa qua nòng M48. Hệ thống tên lửa chống tăng có điều khiển MGM-51 Shillelagh. Cỡ nòng (mm): 152. Cơ số đạn (viên): 33. Số đạn tên lửa chống tăng có điều khiển (viên): 13. Góc nâng pháo (độ): -10…+20. Góc quay tháp pháo (độ): 360. Súng máy đồng trục M240. Cỡ nòng (mm): 7.62. Cơ số đạn (viên): 5.560. Súng máy phòng không M85. Cỡ nòng (mm): 12.7. Cơ số đạn (viên): 1080. Động cơ: Động cơ diesel Continental AVDS-1790-2, công suất 750 mã lực. Bộ truyền động Allison CD-850-6/6A. Tốc độ tối đa (km/h): 48. Tầm hoạt động (km): 480. Khả năng vượt chướng ngại vật Leo dốc (độ): 30. Vách đứng (m): 0.9. Hào rộng (m): 2.6 Vượt sông sâu không chuẩn bị ống thông hơi (m): 1.2. Vượt sông sâu có chuẩn bị ống thông hơi (m): 4.1. (http://svsm.org/albums/m60a2/IMGP0888.jpg) Vòm chỉ huy của trưởng xa (nằm chính giữa tháp pháo) (http://i1155.photobucket.com/albums/p548/raptor4224/m60a2_010_of_137_zps999b5a0e.jpg) Vị trí của xạ thủ (http://svsm.org/albums/m60a2/IMGP0873.jpg) Cửa ra vào và vị trí của lính nạp đạn (nắm bên trái tháp pháo) (http://military-vehicle-photos.com.s3.amazonaws.com/4961.jpg) (http://amuseum.cdstm.cn/AMuseum/weapon/image/upimg/userup/0804/201K60aD8.jpg) Tiêu đề: Re: Vũ khí, khí tài lục quân Mỹ và Phương Tây Gửi bởi: Raptor Flanker trong 22 Tháng Ba, 2013, 11:40:36 am Xe tăng chiến đấu chủ lực M60A3 (http://www.army-technology.com/projects/m60/images/m60_tank4.jpg) Lịch sử phát triển Xe tăng chiến đấu chủ lực M60A3 (tên gọi khác là M60A1E3) là một phiên bản nâng cấp sâu của M60A1. Một số nâng cấp cơ bản như gắn hệ thống ổn hướng độc lập 2 trục cho pháo chính, nâng cấp động cơ RISE và gắn hệ thống phóng đạn khói, đã từng lắp đặt cho những chiếc M60A1 những năm trước đó. Chiếc xe tăng M60A3 đầu tiên hoàn thành tại Nhà máy chế tạo xe tăng Detroit Arsenal vào tháng 3 năm 1978 là chiếc đầu tiên trong tổng số 296 chiếc M60A3 thuộc gói sản xuất tỉ lệ thấp và được tài trợ bới quý chuyển tiếp FY76 và FY77. Lục Quân Mỹ trang bị khoảng 5.400 chiếc M60A3, bao gồm 1.686 M60A3 sản xuất mới, 114 chiếc cải tiến từ M60A1 RISE Passive và 3.600 chiếc chuyển đổi từ những chiếc M60A1 đem trả từ Đức, vận chuyển từ Kho lưu trữ xe tăng Mainz ở Đức về Kho lưu trữ xe tăng Anniston ở Mỹ . Vào tháng 1 năm 1983, Ả Rập Saudi đặt mua 100 chiếc M60A3, với tổng giá trị lên đến 176 triệu USD, bao gồm các thiết bị phụ tùng, đạn dược…Năm 1987, đặt mua 150 bộ phụ tùng chuyển đổi M60A1 thành M60A3 với tổng giá trị là 120 triệu USD. Bộ phụ tùng chuyển đổi bao gồm cả Hệ thống Ảnh nhiệt lắp trên xe tăng (TTS/ Tank Thermal Sight). Thiết kế và đặc điểm Nâng cấp chính của xe tăng M60A3 chính là hệ thống điều khiển hoả lực. Thiết bị đó xa laser của Tập đoàn Raytheon System có tầm hoạt động tối đa là 5km, thay thế cho hệ thống đo xa quang học cũ, máy tính thay cho máy tính cơ khí. Thử nghiệm rất thành công trong 20 nguyên mẫu đầu tiên. Tập đoàn Raytheon System đã giành được hợp đồng trong việc sản xuất hệ thống đo xa laser cho M60A3 vào năm 1976. Hợp đồng cung cấp cho 69 đơn vị hệ thống đo xa laser với tổng giá trị 11 triệu USD. Dữ liệu về khoảng cách mục tiêu sẽ được nạp vào máy tính, cùng với các dữ liệu khác như vận tốc gió, nhiệt độ không khí, góc nghiêng pháo, mật độ không khí, tỉ lệ theo dõi mục tiêu và đường đạn bay. Các dữ liệu này cung cấp góc phương vị và góc tà một cách chính xác nhất cho trưởng xa và xạ thủ, lệnh bắn trực tiếp từ trưởng xa hoặc xạ thủ. Ngoài ra nó còn lắp thêm hệ thống ngắm bắn thụ động ban đêm, tăng khả năng chiến đấu vào ban đêm cũng như ban ngày. Tập đoàn Ratyheon System cung cấp cho hệ thống điều khiển hoả lực của M60A3 2 hệ thống con chính là hệ thống đo xa laser AN/WS-2 và máy tính đường đạn M21. Hệ thống chiếu laser/ bắt ngắm mục tiêu AN/WS-2 bao gồm 2 thiết bị chính: thiết bị tích hợp bắt ngắm/ chiếu laser từ trưởng xa với thiết bị điều khiển và thiết bị điện tử laser. Khoảng cách đến mục tiêu có thể nhập tự động vào máy tính hoặc được điều khiển và lựa chọn khoảng cách đến mục tiêu từ trưởng xa nếu có nhiều hơn một chùm tia laser nhận được và thông qua các đánh giá của trưởng xa đó về tình hình trên chiến trường. Xạ thủ và trưởng xa sử dụng chung một thiết bị đo xa laser nên xạ thủ lẫn trưởng xa đều có thể ích hoạt hệ thống đo xa laser và khai hoả vũ khí. Hệ thống máy tính phụ trên xe tăng M60A3 có các cảm biến chọn đạn. Trưởng xa hoặc xạ thủ có thể chọn một trong 4 các loại đạn cơ bản được trang bị trên xe tăng, máy tính lưu trữ thông tin của 6 kiểu loại đạn, với 4 kiểu cơ bản được đặt ở các vị trí lưu trữ khác nhau. Nó cũng cài đặt, lựa chọn điều kiện cho đạn và việc nạp đạn trong lúc xe tăng di chuyển hay đứng yên. Nửa trên bảng điều khiển của xạ thủ gồm 3 lựa chọn để nhập vào máy tính: nhiệt độ không khí, áp suất khí quyển và nhập khoảng cách mục tiêu bằng tay nếu như hệ thống đo xa laser bị hỏng. Các cảm biến đo tốc độ, cảm biến gió và cảm biến độ nghiêng hoàn toàn tự động. Cảm biến tốc độ dùng để tiêu diệt mục tiêu đang di chuyển trong khi xe tăng đang đứng yên. Khi xe tăng di chuyển, máy tính sẽ kích hoạt các hệ thống ổn hướng pháo chính giúp pháo chính thăng bằng và ổn định khi xe tăng di chuyển. Cảm biến gió có thể xếp lại theo chiều ngang để giảm thiệt hại khi đi qua các khu rừng hay các cây có nhánh cây thấp. Cảm biến độ nghiêng đo các chiều và hướng của trục ngang pháo. Có một dàn đèn trên bảng điều khiển của xạ thủ giúp xạ thủ theo dõi tình trạng các thiết bị. Nếu đèn xanh bật tức là hệ thống ổn định, không bị hư hại, đàn đỏ bật lên là hệ thống bị hỏng, đèn vàng bật lên là hệ thống vẫn có thể sử dụng nhưng độ chính xác sẽ giảm đi. Nửa dưới bảng điều khiển là hệ thống điều chỉnh ống ngắm, khoá nòng, đo tốc độ gió bằng tay và các nút chọn loại đạn. Thiết bị ngắm ảnh nhiệt trên xe tăng (TTS/ Tank Thermal Sight) AN/VSG-2 giúp xạ thủ tác chiến trong đêm tốt hơn vì ngoài khả năng tác chiến ban đêm, nó còn cò thể giúp xạ thủ bắt ngắm mục tiêu trong màn khói và có thiết bị che phủ như đất, tường gạch mỏng… AN/VSG-2 thay thế kính tiềm vọng nhìn đêm thụ động. Các cải tiến chính của M60A3: - Hệ thống pháo chính có thiết bị ổn hướng 2 trục, cả về góc phương vị và góc tà. - Lắp đặt hệ thống lọc không khí. - Đèn hồng ngoại AN/VSS-1 thay thế bằng đèn AN/VSS-3A. - Kính ngắm ảnh nhiệt AN/VSG-2. - Xích T97 thay bằng xích T142 với các miếng đệm nhựa có thể tháo ra. - Động cơ diesel AVDS-1790-2C RISE (Reliability Improved Selected Equipment). - Ốp lót cách nhiệt cho pháo chính. - Thiết bị đo xa laser AN/WS-2. - Máy phát điện làm mát bằng dầu 650A. - Máy tính tĩnh M21. - Thiết bị nhìn đêm hồng ngoại thụ động. - Bộ ống phóng 6 lựu đạn khói. - Bộ xả khói cho động cơ. - Hệ thống chữa cháy tự động Halon. M60A3 được lắp đạn bộ xả khói. Nhiên liệu được phun vào ống xả, đốt tạo ra khói. Tập đoàn TACOM và General Dynamics phát triển thiết bị lọc bụi cho dòng xe tăng M60 với tên gọi Hệ thống loại bỏ bụi cho hệ thống xả của xe (Vehicles Exhaust Dust Ejector System/ VEDES). Hệ thống này được lắp đặt cho toàn bộ xe tăng M60A3 vào cuối năm 1984. Thông số kỹ thuật cơ bản: Kíp chiến đấu (người): 4. Trọng lượng (tấn): 52.6. Chiều dài toàn bộ (m): 9.44 (kể cả nòng pháo). Chiều dài thân (m): 6.95. Rộng (m): 3.63. Cao (m): 3.27. Vũ khí: Pháo chính nòng xoắn L7/ M68. Cỡ nòng (mm): 105. Cơ số đạn (viên): 63. Góc nâng pháo (độ): -10…+20. Góc quay tháp pháo (độ): 360. Súng máy đồng trục M240. Cỡ nòng (mm): 7.62. Cơ số đạn (viên): 5.950. Súng máy phòng không M85. Cỡ nòng (mm): 12.7. Cơ số đạn (viên): 900. Hệ thống điều khiển hoả lực và bắt ngắm: - Máy tính tĩnh M21. - Thiết bị đo xa laser AN/WS-2. - Thiết bị ngắm ảnh nhiệt AN/VSG-2. - Thiết bị dò tìm hồng ngoại thụ động Mercury-Cadmium-Telluride (HgCdTe). Động cơ: Động cơ diesel Continental AVDS-1790-2C RISE, công suất 750 mã lực. Bộ truyền động Allison CD-850-6/6A. Tốc độ tối đa (km/h): 48. Tầm hoạt động (km): 480. Khả năng vượt chướng ngại vật Leo dốc (độ): 30. Vách đứng (m): 1.2. Hào rộng (m): 2.7 Vượt sông sâu (m): 1.3. (http://i1155.photobucket.com/albums/p548/raptor4224/TCHatch_zps02dd6e7b.jpg) Vị trí của trưởng xa, nắp màu xanh chính là cửa ra vào, bên góc dưới phía trái, dây màu xám là băng tiếp đạn cho súng máy 12.7mm (http://i1155.photobucket.com/albums/p548/raptor4224/GunnersStation_zpse6c5fb29.jpg) Bảng điều khiển của xạ thủ (http://farm9.staticflickr.com/8283/7740229432_7a18ae859b.jpg) (http://farm6.static.flickr.com/5030/5655415511_a344d31525.jpg) (http://www.mnd.gov.tw/UserFiles/Image/army_pics/%E9%99%B8%E8%BB%8D%E8%A3%9D%E5%82%99/M60A3.jpg) Tiêu đề: Re: Vũ khí, khí tài lục quân Mỹ và Phương Tây Gửi bởi: Raptor Flanker trong 22 Tháng Ba, 2013, 10:55:01 pm Xe tăng chiến đấu chủ lực Super M60 (http://i779.photobucket.com/albums/yy73/stillbrew/Tanks/superM60-1.jpg) Thiết kế và đặc điểm Super M60, hay còn gọi là “Super 60” là gói nâng cấp toàn diện cho dòng xe tăng M60 Patton, cung cấp vào đầu những năm 1980. Mặc dù gói nâng cấp này gia tăng đáng kể khả năng chiến đấu và bảo vệ cho các đội xe tăng M60, nhưng không có khách hàng nào đặt mua, chương trình nâng cấp bị huỷ bỏ bởi sư kết thúc của Chiến tranh Lạnh. Sự thất bại của gói nâng cấp Super M60 có thể là do lúc đó không có nhu cầu một dòng xe như vậy. Các nhà chế tạo có thể chế tạo hẳn một dòng xe tăng thế hệ mới như M1 Abrams hay Leopard 2 và ít quan tâm đến việc nâng cấp các dòng xe cũ có trong biên chế. Super M60 dài 9.5m, rộng 4.19m, cao 2.92m, nặng 53,6 tấn, áp lực xích lên mặt đất là 1kg/cm², các thuộc tính vật lý của Super M60 giống như các dòng M60 khác. Nó có thể giải phóng 0,4m mặt bằng, leo lên vách đứng 0.9m, và leo dốc lên đến 30 độ. Động cơ của Super M60 là động cơ diesel Teledyne Continental Motors CR-1790-1B, công suất 1.180 mã lực (21.53 mã lực/tấn). Sử dụng bộ truyền động Renk RK 304 với 4 số tiến và 4 số lùi. Hệ thống treo/ thanh xoắn cải tiến hơn so với M60A3, giúp Super M60 chạy mượt hơn trên các con đường gập ghềnh mặc dù trọng lượng nặng hơn các dòng M60 Patton khác. Các vũ khí trang bị trên Super M60 tương tự như M60A3, nhưng sử dụng phiên bản khác. Pháo chính nòng xoắn 105mm L52/M68A1, tương tự như loại sử dụng trên M1 và IPM1 Abrams. Loại pháo này bắn các loại đạn APFSDS (Armour-Piercing Fin Stabilized Discarding Sabot/ Đạn thanh xuyên động năng có guốc ốp nòng), HEAT (High Explosive Anti-Tank/ Đạn nổ mạnh chống tăng), HE (High Explosive/ Đạn nổ mạnh), HESH (High Explosive Squash Head/ Đạn thuốc nổ dẻo), APERS (Anti Personnels/ Đạn tiêu diệt bộ binh) và WP (White Phosphorus/ Đạn phốt pho trắng). Cơ số đạn là 63 viên, súng máy đồng trục 7.62mm M73 thay bằng M240C, súng máy phòng không 12.7mm M85 thay thế bằng M2HB. Hệ thống điều khiển hoả lực thì giống như M60A3, với hệ thống đo xa laser AN/WS-2, hệ thống ngắm ảnh nhiệt AN/VSG-2 và máy tính đường đạn M21. Đối với Super M60, ta có thể thấy việc nâng cấp đáng kể chính là khả năng phòng vệ của nó – một lớp giáp được sắp xếp đều nhau xung quanh tháp pháo góc cạnh thay vì tháp pháo tròn hình chữ V như vủa M60. Các tấm thép bổ sung lắp đặt ở phía trước, xung quanh và phia sau thân xe. Lắp hệ thống chữa cháy tự động Halon 1301 khả năng phòng hoá-sinh-phóng xạ được cung cấp bởi thiết bị M13A1 tương tự như M60A3. Thông số kỹ thuật cơ bản: Kíp chiến đấu (người): 4. Trọng lượng (tấn): 52.6. Chiều dài toàn bộ (m): 9.5 (kể cả nòng pháo). Chiều dài thân (m): 7.09. Rộng (m): 4.91. Cao (m): 2.92. Vũ khí: Pháo chính nòng xoắn L52/ M68A1. Cỡ nòng (mm): 105. Cơ số đạn (viên): 63. Góc nâng pháo (độ): -10…+20. Góc quay tháp pháo (độ): 360. Súng máy đồng trục M240C. Cỡ nòng (mm): 7.62. Cơ số đạn (viên): 5.950. Súng máy phòng không M2HB. Cỡ nòng (mm): 12.7. Cơ số đạn (viên): 900. Hệ thống điều khiển hoả lực và bắt ngắm: - Máy tính tĩnh M21. - Thiết bị đo xa laser AN/WS-2. - Thiết bị ngắm ảnh nhiệt AN/VSG-2. Động cơ: Động cơ diesel Teledyne Continental Motors CR-1790-1B, công suất 1.180 mã lực. Bộ truyền động Renk RK 304. Tốc độ tối đa (km/h): 72. Tầm hoạt động (km): 500. Khả năng vượt chướng ngại vật Leo dốc (độ): 30. Vách đứng (m): 0.9. Hào rộng (m): 2.6 Vượt sông sâu (m): 1.2. (http://www.patton-mania.com/M60_Patton/M60_the_real_thing/super-m60.jpg) (http://www.military-today.com/tanks/super_m60_l2.jpg) (http://jedsite.info/tanks-mike/mike-number-us/m60_series/super1/super1_000.jpg) (http://jedsite.info/tanks-mike/mike-number-us/m60_series/super1/super1_002.jpg) Tiêu đề: Re: Vũ khí, khí tài lục quân Mỹ và Phương Tây Gửi bởi: Bộ đội Cụ Hồ trong 23 Tháng Ba, 2013, 03:11:46 pm (http://image2.chaobuoisang.net/cs/2012/01/31/iran-khoe-mot-loat-vu-khi-khung-1.jpg)
M-60A1 lắp lớp áo giáp phản ứng nổ ERA Kontakt-1 của Quân đội Iran. (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/f/fb/M60A1-Patton-Blazer-latrun-4.jpg/800px-M60A1-Patton-Blazer-latrun-4.jpg) Xe tăng Magach 6 của Israel, phiên bản nâng cấp với giáp ERA "Blazer" của M60A1. Tiêu đề: Re: Vũ khí, khí tài lục quân Mỹ và Phương Tây Gửi bởi: Raptor Flanker trong 24 Tháng Ba, 2013, 09:58:37 pm (http://image2.chaobuoisang.net/cs/2012/01/31/iran-khoe-mot-loat-vu-khi-khung-1.jpg) M-60A1 lắp lớp áo giáp phản ứng nổ ERA Kontakt-1 của Quân đội Iran. (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/f/fb/M60A1-Patton-Blazer-latrun-4.jpg/800px-M60A1-Patton-Blazer-latrun-4.jpg) Xe tăng Magach 6 của Israel, phiên bản nâng cấp với giáp ERA "Blazer" của M60A1. Sẽ có bài viết về 2 chương trình nâng cấp này ;D Tiêu đề: Re: Vũ khí, khí tài lục quân Mỹ và Phương Tây Gửi bởi: Raptor Flanker trong 24 Tháng Ba, 2013, 10:12:05 pm MỘT SỐ CHƯƠNG TRÌNH NÂNG CẤP DÒNG XE TĂNG CHIẾN ĐẤU CHỦ LỰC M60 Xe tăng chiến đấu chủ lực M60 120S (http://www.areamilitar.net/DIRECTORIO/IM_ter/M602K_001.jpg) Thông tin chung 120S là một gói nâng cấp dòng xe tăng chiến đấu chủ lực M60 của Tập đoàn General Dynamics Land System dàng cho thị trường xuất khẩu. 120S bắt đầu phát triển vào tháng 12 năm 2000 và đến tháng 8 năm 2001, công ty tung ra thị trường một nguyên mẫu với đầy đủ các chức năng của 120S tại một cơ sở ở Detroit, Michigan. Nguyên mẫu này xuất hiện trước công chúng lần đầu tại triễn lãm vũ khí quân sự IDEF tại Thổ Nhĩ Kỳ vào tháng 10 năm 2001, sau đó trình diễn cho các sĩ quan cấp cao của Lực lượng Chỉ huy Mặt đất Thổ Nhĩ Kỳ (TLFC/ Turkish Land Force Command).trước khi về trở lại Mỹ. Một số quốc gia khác như Ai Cập cũng được thông báo về chương trình 120S này. Tên gọi “120S” là sự kết hợp của 2 nâng cấp chính của dòng xe tăng này, “120” là ký hiệu cho pháo chính cỡ nòng 120mm và chữ “S” là chữ viết tắt cho “Speed (Tốc độ)” và “Survivability (Khả năng sống sót)”. “M60” không còn xuất hiện trong tên gọi “M60 120S” nữa vì nó không còn liên quan nhiều đến hình dạng rất giống M1 Abrams khi nó mới xuất hiện. General Dynamics Land System là cơ quan thiết kế tổng thể cho dòng xe tăng chiến đấu chủ lực M60 và công ty này có nhiều kinh nghiệm trong việc nâng cấp dòng xe tăng chiến đấu chủ lực này cũng như các dòng xe tăng chiến đấu chủ lực khác cho thị trường nước ngoài cũng như trong việc chuyển giao công nghệ cho nước khác. Một ví dụ điển hình là trong việc hợp tác cùng với Ai Cập sản xuất M1A1 tại Nhà máy Lắp ráp xe tăng Ai Cập, không chỉ lắp ráp các phụ tùng mà còn giúp sản xuất các hệ thống con, bao gồm sản xuất cả khung thân hoành chỉnh. Đối với chương trình 120S, tháp pháo M1 và khung thân M60 được thuê từ Quân đội Mỹ, Đối với khung thân, bộ truyền động, dây xích, hệ thống lái, hệ thống treo được lấy từ M1A1. Theo nhà sản xuất, 120S có khả năng tác chiến cao, công nghệ áp dụng cũng thuộc loại tiên tiến, khả năng chiến đấu và phòng vệ gần như là toàn diện. 120S ban đầu được nhắm vào gói thầu nâng cấp xe tăng chiến đấu chủ lực M60A3 cho Lực lượng Chỉ huy Mặt đất Thổ Nhĩ Kỳ, thế nhưng cuối cùng bên phía Thổ Nhĩ Kỳ lại chọn dòng sản phẩm của công ty Israel Military Industry, đó là xe tăng chiến đấu chủ lực M60 nâng cấp có tên gọi Sabra III. Hợp đồng được ký kết mà không trải qua một cuộc đấu thầu nào. Đến năm 2006, không có một chiếc 120S nào được bán ra nước ngoài. Mô tả thiết kế và đặc điểm 120S là sự kết hợp giữa khung gầm M60 và tháp pháo M1A1 với một số chi tiết được sửa đổi cho phù hợp với nhau. Nó cũng được nhấn mạnh rằng không có lớp giáp DU (Depleted Uranium/ Uranium Nghèo) ở khung thân hay tháp pháo. Khi mà tháp pháo vẫn M60 có thể nâng cấp nhưng các nhà thiết kế lại đưa ra quyết định lấy tháp pháo M1A1 là vì một số lý do như tăng khả năng bảo vệ và tháp pháo mới có thể mang một số lượng đạn 120mm tốt hơn so vớ itha1p pháo M60 cũ. Tháp pháo 120S trang bị pháo nòng trơn 120mm M256 với súng máy đồng trục 7.62mm M240. Trưởng xa được trang bị súng máy phòng không 12.7mm M2 trong khi lính nạp đạn sử dụng súng máy 7.62mm M240. Có 2 giàn phóng 6 lựu đạn khói nắm ở 2 bên thân của tháp pháo dùng để khai hoả để che mắt các thiết bị quang học của đối phương, khi bị đối phương bắt ngắm laser, ngoài ra nó có thể tạo ra khói bằng cách phun dầu diesel vào trong ống xả để tạo ra khói. Pháo nòng trơn 120mm có thể bắn tất cả các loại đạn NATO có cỡ nòng 120mm từ Mỹ, Anh, Pháp, Israel, Đức… Hệ thống điều khiển hoả lực được máy tính hoá nên cho phép 120S có thể bắn chính xác mục tiêu ngay từ phát đầu tiên trong khi di chuyển ban ngày lẫn ban đêm. Xạ thủ được trang bi hệ thống đo xa laser/ bắt ngắm hồng ngoại (FLIR/ Forward Looking Infrared) có ổn hướng với tia laser không gây hại cho mắt và kính ngắm ảnh nhiệt thế hệ thứ hai 240x4 hoặc 480x2, mặc dù ở thời điểm hiện tại không rõ có cho xuất khẩu rộng rãi đối với hệ thống này không. Tháp pháo lắp trên khung thân M60 sử dụng một vòng kết nối chuyễn đổi đơn giản cho phép việc lắp tháp pháo M1A1 vào bên trong dễ hơn và không cần phải thay đổi gì nhiều. Khung thân M60 được trang bị các hệ thống treo sử dụng trên các xe tăng chiến đấu chủ lực M1A1 để hỗ trợ cho khả năng cơ động của xe khi tiếp nhận thêm phần trọng lượng từ tháp pháo, giúp xe hoạt động ổn định khi trọng lượng được tăng thêm bởi tháp pháo mới và các lớp giáp mới. Bộ dây xích sử dụng loại dây xích trọng lượng nhẹ T-158. 120S được nâng cấp động cơ với công suất cao hơn, tỉ lệ vòng quay lớn hơn và công suất/tấn được cải thiện giúp xe có tốc độ di chuyển nhanh, vượt chướng ngại vật tốt và có thể ổn định tốt khi xe khai hoả. Hệ thống treo thanh xoắn có thể được thay thế bằng hệ thống treo khí nén thuỷ lực (Hydropneumatic) nếu như khách hàng yêu cầu. Ưu điểm của hệ thống này là giúp tăng khả năng vượt chướng ngại vật và tiết kiệm một số khoảng không gian trong khung thân Phía trên hệ thống treo được gắn với các tấm giáp bảo vệ mới và phần 2 bên sườn được làm mới để chứa các thiết bị như nguồn điện hoặc các thùng dầu diesel phụ. 2 bên sườn được thiết kế lại trông mượt hơn trước. Về khung thân M60, tuỳ vào yêu cầu khách hàng mà nó sẽ lắp các tấm giáp bảo vệ 2 bên sường hoặc không. Nguyên mẫu 120S với đầy đủ các chức năng vẫn giữ lại động cơ AVDS-1790 của M60. Nhưng các nhà thiết kế hình dung rằng nó sẽ được trang bị động cơ mới hơn, đó là động cơ diesel General Dynamics Land Systems AVDS-1790-9 công suất 1.200 mã lực cùng với bộ truyền động Allison X-1100-5 và bộ điều khiển của M1A1. Loại động cơ này hiện đã và đang sản xuất ở BAE System, Ground System Division cho các loại xe như xe cứu kéo bọc thép M88A2 và xe tăng chiến đấu chủ lực Merkava Mk III. General Dynamics Land System sẽ cung cấp dòng động cơ AVDS này có hoặc không có hệ thống phun dầu điện tử. (http://farm4.static.flickr.com/3542/5732759576_acaa201fef_z.jpg) General Dynamics Land System có một số lựa chọn cho khách hàng vều xe tăng chiến đấu chủ lực 120S bao gồm bộ động cơ mới (ví dụ như các động cơ thuộc dòng MTU), bộ nguồn điện phụ trợ ngoài, lắp đặt thiết bị điều khiển kỹ thuật số, kính hồng ngoại cho lính lái xe, kính ngắm ảnh nhiệt độc lập thế hệ 1 và 2 cho trưởng xa, thiết bị điều hoà nhiệt độ và lắp hệ thống Xây dựng để Thử nghiệm (Built In Test Equipment/ BITE). Nhưng đây chỉ mới là một số lựa chọn chính cho dòng xe tăng chiến đấu chủ lực này mà thôi. Thông số kỹ thuật cơ bản: Kíp chiến đấu (người): 4. Trọng lượng (tấn): 56.2. Chiều dài toàn bộ (m): 9.54 (kể cả nòng pháo). Chiều dài thân (m): 6.95. Rộng (m): 3.77. Cao (m): 3.25. Vũ khí: Pháo chính nòng trơn M256. Cỡ nòng (mm): 120. Cơ số đạn (viên): 42. Góc nâng pháo (độ): -10…+20. Góc quay tháp pháo (độ): 360. Súng máy đồng trục M240C. Cỡ nòng (mm): 7.62. Cơ số đạn (viên): 11.400. Súng máy phòng không M2HB. Cỡ nòng (mm): 12.7. Cơ số đạn (viên): 1000. Súng máy phụ trơ M240. Cơ số đạn (viên): 11.400. Động cơ: Động cơ diesel Continental AVDS-1790 công suất 750 mã lực (hoặc động cơ diesel AVDS-1790-9 công suất 1.200 mã lực). Bộ truyền động Allison X-1100-5. Tốc độ tối đa (km/h): 52. Tầm hoạt động (km): 450. Khả năng vượt chướng ngại vật Leo dốc (độ): 30. Vách đứng (m): 0.9. Hào rộng (m): 2.6 Vượt sông sâu (m): 1.2. (http://btvt.narod.ru/3/120S.files/8.jpg) (http://i423.photobucket.com/albums/pp320/29ToyA/M60/Other%20M60s/img_6_7412_1.jpg) Tiêu đề: Re: Vũ khí, khí tài lục quân Mỹ và Phương Tây Gửi bởi: Raptor Flanker trong 31 Tháng Ba, 2013, 01:04:15 am CHƯƠNG TRÌNH NÂNG CẤP XE TĂNG CHIẾN ĐẤU CHỦ LỰC M60 CỦA ISRAEL Xe tăng chiến đấu chủ lực Magach (http://www.israeli-weapons.com/weapons/vehicles/tanks/magach/magach__1.jpg) Magach 6B Mô tả chung Magach là tên gọi của dòng xe tăng chiến đấu chủ lực M48 và M60 khi phục vụ tại Lực lượng Phòng vệ Israel (IDF/ Israel Defense Force). M48 được nậng cấp hệ thống sau khi phục vụ tại IDF vào năm 1965, làm chúng hầu như không thể phân biệt với M60. Trang bị pháo chính nòng xoắn 105mm L7 sản xuất theo giấy phép, kiểu khoá nòng trượt theo chiều dọc. Tất cả các xe tăng chiến đấu chủ lực của Israel được nâng cấp sâu, tháp chỉ huy Urdan, tăng thêm diện tích chứa hàng ở bên ngoài, ốp lót nhiệt cho pháo chính, lắp súng cối 60mm và súng máy phụ trợ trên tháp pháo. Trang bị động cơ diesel Teledyne Continental AVDS-1790-2A và giáp phản ứng nổ (Explosive Reactive Armour/ ERA) Blazer cũng đước lắp đặt. Những chiếc Magach trang bị giáp phản ứng nổ Blazer có tên là Magach 6B. Đến năm 1985, mắc dù tất cả các xe tăng Magach được nâng cấp nhưng vẫn trở nên lỗi thời trước các dòng xe tăng chiến đấu chủ lực khác của đối phương. Đặc biệt chính là sự rắc rối trong việc khả năng phòng vệ đường đạn của xe tăng, tháp pháo là điểm yếu chính nếu như xảy ra cuộc chạm trán giữa 2 xe tăng với nhau. Phần dày nhất của tháp pháo M60 là 254mm giáp đồng nhất (RHA/ Rolled Homogeneous Armour), những phần còn lại giáp mỏng hơn rất nhiều. Từ những năm 1970, sự ra đời của đạn xuyên động năng (KE/ Kinetic Energy) có thể xuyên 400mm giáp đồng nhất, đến năm 1990, đạn thanh xuyên động năng có guốc ốp nòng (APFSDS/ Armour-Piercing Fin Stabilized Discarding Sabot) có thể xuyên đến 800mm giáp đồng nhất. Giáp phản ứng nổ Blazer năng khoảng 800-1000kg, có thể giúp xe tăng có được sự bảo vệ chống loại đạn xuyên lõm chống tăng tương đương 10 tấn thép thông thường. Nhưng mặc dù được Blazer bảo vệ, nó vẫn không đủ sức để chống lại các đạn xuyên động năng. Nếu trang bị thêm giáp đồng nhất thì nó sẽ tăng trọng lượng vượt mức cho phép. Vì thế vật liệu thụ động đã được yêu cầu, nhẹ hơn giáp đồng nhất, nhưng có thể giúp xe tăng chống lại đạn xuyên lõm chống tăng lẫn đạn thanh xuyên động năng. Lực lượng Phòng vệ Israel quyết định mượn vật liệu bảo vệ đường đạn từ dự án đang phát triển Merkava để nâng cấp các xe tăng Magach. Quá trình này đã dẫn tới một phiên bản mới của Magach xuất hiện vào giữa thập kỷ 90. Magach 7A (Tên Do Thái là Aleph). Xe tăng này được trang bị giáp thụ động với hộp số và thiết bị cung cấp năng lượng được thay đổi để phù hợp với trọng lượng tăng thêm. Một hệ thống điều khiển hoả lực mới được lắp đặt. (http://mainbattletanks.czweb.org/Tanky/magach7.jpg) Magach 7C (Tên Do Thái là Gimel). Chiếc xe tăng này tương tự Aleph, tuy nhiên giáp thụ động thuộc thế hệ mới. (http://www.military-today.com/tanks/magach_7.jpg) (http://i1155.photobucket.com/albums/p548/raptor4224/Magach-7-latrun-5_zps0ebf177f.jpg) Magach 7B (Tên Do Thái là Hebrew). Mẫu xe tăng này là mẫu xe tăng thay thế tạm thời khi chuyển từ Magach 7A sang Magach 7C. Chỉ có một số ít Magach 7B được sản xuất trước khi có Magach 7C, thiết kế với khả năng bảo vệ đường đạn tốt hơn. Magach được nâng cấp theo từng lô nhỏ. Điều này xảy ra là do chi phí cũng như nâng cấp theo từng lô nhỏ sẽ dễ kiểm soát hơn, chất lượng tốt hơn. Giáp thụ động giá thành quá cao nên không phải tất cả Magach đều được trang bị. Do đó các dòng Magach cũ vẫn phục vụ song song với các dòng Magach mới. Vào tháng 11 năm 1997, 2 chiếc Magach 6B trang bị giáp Blazer đã bị hạ gục bởi các tên lửa chống tăng bắn từ phiến quân Hezbollah, khác với năm 1982, khi mà RPG và tên lửa chống tăng không thể xuyên qua Blazer, đây chính là gày mà giáp phản ứng nổ bị hạ gục. Trong trận ấy, một lính nạp đạn thiệt mạng và 5 người khác bị thương. Sau trận đó, người ta nhận ra rằng giáp Blazer không thể chống lại đạn thanh xuyên động năng và đạn nổ lõm chống tăng thế hệ mới, như kiểu đầu đạn được lắp trên tên lửa chống tăng Spigot. Năm 1999, Lực lượng Phòng vệ Israel đã đưa ra một yêu cầu về kiểu giáp rẻ hơn nhưng hiệu quả hơn Blazer dùng cho nâng cấp dòng Magach 6B, bên IMI đã phản ứng rất nhanh với yêu cẩu đó, chỉ mất có 10 tuần từ khi thành lập ý tưởng đến khi sản xuất. Và gói nâng cấp ấy được gọi là Magach 6 BATASH (BATASH là tên viết tắt tiếng Do Thái của từ Bitachon Shotef, nghĩa là “Bảo vệ toàn diện”). Khả năng bảo vệ Magach 7A và Magach 7C đều trang bị giáp thụ động có khả năng chống lại đạn thanh xuyên động năng lẫn đạn nổ lõm chống tăng. Công nghệ chế tạo loại giáp thụ động này vẫn là tuyệt mật. Magach 7A trang bị vào những năm đầu thập kỷ 1990 và Magach 7C trang bị vào giữa thập kỷ 1990. Cả hai dòng Magach 7A và Magach 7C trang bị thêm các lớp giáp phụ ở tháp pháo và phía trước thân xe. Tầm chắn 2 bên thân cũng được lắp đặt với sự kếp hợp giữa 2 tấm giáp thụ động và các tấm thép. Magach 7A có cạnh phẳng được tán đinh, trang bị giáp module. Trong khi đó, giáp thụ động module trang bị cho Magach 7C được IMI sản xuất có tên mã là “Envelope”, có góc cạnh đường đạn tốt hơn, tuy nhiên tháp pháo hình mũi tên khiến cho lái xe khó có thể thoát li nhanh ra ngoài nếu trong xe bị cháy. Bên phía IMI chắc chắn rằng cho dù tháp pháo có hình dạng gì, lái xe vẫn có thể thoát li dễ dàng. Magach 6 BATASH có giáp kết hợp giữa giáp phản ứng nổ và giáp thụ động. Một công ty đại diện cấp cao đã đề cập đến nó như là được thiết kế đặc biệt cho các hoạt động LIC (Low Intensity Conflict/ Giao Tranh Ở Cường Độ Thấp). Kiểu giáp kết hợp này giúp xe tăng tăng khả năng sống sót hơn trước những cuộc tấn công mạnh bằng những tên lửa chống tăng. Phần trước tháp pháo trang bị giáp phản ứng nổ thế hệ 2 “Super Blazer”. Tấm giáp chắn 2 bên thân tương tự Magach 7. (http://en.valka.cz/files/magach_6b_gal_batash_-_obr.3_351.jpg) Magach 6 BATASH (http://en.valka.cz/files/magach_6b_gal_batash_-_obr.2_125.jpg) Các dòng Magach đang phục vụ đã và đang hệ thống hoá với hệ thống cảnh báo laser Moked (Focus/ Tiêu điểm), với nhiệm vụ cảnh báo kíp chiến đấu xe tăng đang bị đánh dấu bởi hệ thống chiếu laser. Ngoài ra Magach còn trang bị thêm hệ thống chữa cháy tự động Spectronix do Israel sản xuất. Hoả lực Magach vẫn giữ lại pháo chính nòng xoắn 105mm với nâng cấp hệ thống hoả lực. Cơ cấu xoay tháp pháo bằng thuỷ lực để bù đắp cho việc tăng trọng lượng thêm từ các tấm gíáp. Một số xe tăng chiến đấu chủ lực Magach 6B được gắn hệ thống điều khiển hoả lực Gal (Wave), trên thị trường vũ khí quốc tế, nó được sản xuất bởi Elbit/ EL-OP với tên gọi là Matador. Những xe tăng chiến đấu chủ lực Magach 6B gắn hệ thống điều khiển hoả lực Gal được đặt tên là Magach 6B Gal. Hệ thống này cũng lắp trên các xe tăng chiến đấu chủ lực Magach 7. Hệ thống đo xa quang học được thay thế bằng hệ thống đo xa laser trong khi xạ thủ có kính ngắm ban ngày lẫn ban đêm. Lắp thêm máy tính đường đạn mới và hệ thống cảm biến khí tượng cho xe tăng. Israel tự chế tạo một ốp lót cách nhiệt cho nòng pháo giúp hỗ tợ pháo băn ổn định hơn. Để tăng khả năng khai hoả chính xác, kính ngắm của xạ thủ và bệ đặt súng được lắp thiết bị ổn hướng độc lập. Trưởng xa có kính ngắm lắp trên phần giáp hình bán cầu bên phải tháp pháo. Nó sử dụng một phần hệ thống đo xa quang học cũ. Mặc dù các loại đạn sử dụng trên Magach là tuyệt mật nhưng Israel luôn có tiếng tốt về việc chế tạo đạn cho xe tăng, điển hình là đạn xuyên động năng có guốc ốp nòng vạch đường M413 (APFSDS-T/ Armour Piercing Fin Stabilized Discarding Sabot-Tracer), được tin tưởng rằng có khả năng xuyên giáp cực tốt. Magach còn được trang bị cối 60mm đặt trên mái của tháp pháo để tiêu diệt bộ binh. Khả năng cơ động Trọng lượng cơ bản của M60 là 49.7 tấn, Magach 7 sau khi nâng cấp với các tấm giáp bổ sung thì nặng khoảng 54-55 tấn. Trọng lượng này đã tăng thêm rất nhiều cho dù xích của Magach đã được thay thế bằng bộ xích guốc thép bền hơn, nhẹ hơn, thừa hưởng từ xích của Merkava, chỉ nặng có 1.7 tấn. Vì trọng lượng tăng nhiều như vậy nên việc tăng khả năng cơ động rất được chú trọng. Động cơ gốc công suất 750 mã lực đã được thay thế bằng động cơ diesel General Dynamics Land Systems Division AVDS 1790-5A công suất 908 mã lực cùng với bộ truyền động của Merkava Mk I. ngoài ra công ty Kinetics cũng đã đưa ra vài gói nâng cấp cho các bộ bánh di chuyển. Lắp bộ giảm xóc mới và bộ giảm chấn thuỷ lực cho bánh lăn số 1, 2, 5 và 6. Lắp thanh xoắn độ bền cao têu chuẩn. Sự kết hợp này đã nâng bánh lăn từ 180-200mm. Phân tán trọng lượng rất ấn tượng, 355%. Trong kiểm nghiệm thực tế, Magach 7A và Magach 7C có khả năng vượt địa hình tốt và tăng tốc vượt trôi hơn so với M60. Cải thiện vật chất cho kíp chiến đấu, giảm rung lắc cho khung thân, khả năng khai hoả chính xác cũng được cải thiện. Đối với Magach 6 BATASH, vì trọng lượng không tăng nhiều, bộ xích đã được thay bằng bộ xích tiêu chuẩn của Merkava Mk I nên trọng lương không tăng đáng kể, vì thế việc thay bộ động cơ là hoàn toàn không cần thiết. Biến thể mới của Magach Từ khi công nghệ chế tạo giáp mới xuất hiện, giáp module đã cho phép nâng cấp thêm cho Magach. Ví dụ, vào năm 2003, giáp phụ đã được thêm vào phía trước mái của Magach 7C. Tuy nhiên Magach sẽ không còn phát triển thêm cho Lực lượng Phòng vệ Israel nữa. Chính vì thế một gói nâng cấp phong phú xuất hiện, với gói nâng cấp M60 cho Thổ Nhĩ Kỳ, đó là Sabra. Với khả năng bảo vệ đường đạn tốt hơn, trang bị pháo 120mm mới. Trong cuộc chiến 1973 đã chỉ ra một lỗ hỏng trong thiết kế của M48 và M60, đó là ngay phía trước, ở dưới bệ nâng pháo và bệ quay tháp pháo, nơi mà tập trung hệ thống thuỷ lực áp suất cao, nếu tháp pháo bị xuyên thủng, hệ thống thuỷ lực bị thường gãy và phun vào kíp chiến đấu một chất lỏng dễ gây cháy. Trong thực tế, tháp pháo điện của Centurion quay chậm hơn nhưng an toàn hơn. Trong cuộc chiến năm 1973, hệ thống quay thuỷ lực với chất lỏng dễ gây cháy cao hơn trong tháp pháo Magach. Trong trường hợp của Sabra, cơ cấu quay tháp pháo bằng điện đã được lắp. Thông số kỹ thuật cơ bản: Kíp chiến đấu (người): 4. Trọng lượng (tấn): 55. Chiều dài toàn bộ (m): 9.43 (kể cả nòng pháo). Chiều dài thân (m): 7. Rộng (m): 3.63. Cao (m): 3.26. Vũ khí: Pháo chính nòng xoắn L7. Cỡ nòng (mm): 105. Cơ số đạn (viên): N/A. Góc nâng pháo (độ): -10…+20. Góc quay tháp pháo (độ): 360. Súng máy đồng trục M240C. Cỡ nòng (mm): 7.62. Cơ số đạn (viên): N/A. Súng máy phòng không M2HB. Cỡ nòng (mm): 12.7. Cơ số đạn (viên): N/A. Súng máy phụ trơ M240. Cơ số đạn (viên): N/A. Súng cối 60mm Cơ số đạn (viên): N/A. Động cơ: Động cơ diesel General Dynamics Land Systems Division AVDS 1790-5A, công suất 908 mã lực. Tốc độ tối đa (km/h): 60. Tầm hoạt động (km): 500. Khả năng vượt chướng ngại vật Leo dốc (độ): 30. Vách đứng (m): 0.9. Hào rộng (m): 2.6 Vượt sông sâu (m): 1.2. Tiêu đề: Re: Vũ khí, khí tài lục quân Mỹ và Phương Tây Gửi bởi: Raptor Flanker trong 31 Tháng Ba, 2013, 11:37:02 am Xe tăng chiến đấu chủ lực Sabra (http://www.army-technology.com/projects/sabra/images/sabra2.jpg) Sabra Mk.I Thiết kế và đặc điểm Xe tăng chiến đấu chủ lực Sabra là một phiên bản nâng cấp dòng xe tăng M60A3, phát triển bởi hãng IMI tại nhà máy vũ khí hạng năng Slavin ở Ramat Hasharon. Gói nâng cấp Sabra này được tuỳ chỉnh để đáp ứng nhu cầu nâng cấp M60A3 cho một quốc gia. Vũ khí chính của Sabra là pháo nòng trơn 120mm tương tự như loại pháo được phát triển bởi IMI (trước đây là TAAS) cho xe tăng chiến đấu chủ lực Merkava Mk.III. Pháo được gắn thiết bị cản khói thuốc tràn ngược về tháp pháo và ốp lót cách nhiệt để tối đa hóa xác suất đợt bắn đầu tiên bằng cách giảm biến dạng do nhiệt gây ra. Xe tăng mang được 42 viên đạn. Pháo 120mm có tầm bắn xa hơn và độ xuyên tốt hơn so với pháo 105mm. Nó có thể bắn được tất cả các loại đạn 120mm của NATO, bao gồm cả đạn thanh xuyên động năng có guốc ốp nòng. Súng máy đồng trục có thể là súng máy 7.62mm hoặc 5.56mm. Sabra còn được trang bị cối 60mm phát triển bởi Soitam, trụ sở đặt tại Haifa. Sabra còn được trang bị hệ thống chữa cháy tự động, hệ thống cảnh báo toàn diện và hệ thống phóng lựu đạn khói. Xe tăng còn được trang bị gíáp module thụ động. Phiên bản nâng cấp với giáp phản ứng nổ có tên gọi là Sabra Mk.II. Hệ thống điều khiển lai của tháp pháo bao gồm hệ thống nâng pháo bằng thuỷ lực và hệ thống quay tháp pháo bằng điện. Sabra trang bị hệ thống điều khiển hoả lực kỹ thuật số Knights cung cấp bởi EL-OP (Electro-Optics) Industries ở Rehovot và Elbit System ở Haifa. Hệ thống điều khiển hỏa lực được tích hợp vào điều khiển tháp pháo và chủ động kiểm soát các động lực tháp pháo. Hệ thống ổn hướng cho kính ngắm giúp tăng tình ổn định và khả năng bắn chính xác cho pháo chính khi đứng yên hoặc di chuyển. Hệ thống có 4 chế độ: chế độ ổn định với trục súng lệ thuộc vào đường ngắm, chế độ phụ thuộc khi đường ngắm của xạ thủ phụ thuộc vào trục súng, chế độ không ổn định và chế độ hỗ trợ sử dụng bằng tay trong trường hợp khẩn cấp. Pháo chính có thể khai hoả từ xạ thủ hoặc trưởng xa. Vị trí của xạ thủ gắn kính tiềm vọng của EL-OP với hệ số phóng đại x8 vào ban ngày và x5.3 vào ban đêm. Kính ngắm được ổn hướng 2 trục. Hệ thống đo xa laser Nd:YAG không gây hại cho mắt hoạt động trong phạm vi từ 200-9995 mét với độ chính xác -/+5 mét. Động cơ của Sabra là động cơ 4 kỳ làm mát bằng không khí General Dynamics AVDS-1790-5A, công suất 908 mã lực với tốc độ vòng quay là 2.400 vòng/ phút. Tỉ lệ giữa mã lực và tấn là 16.5 mã lực/ tấn. Các bộ bánh di chuyển được nâng cấp cho khả năng vượt địa hình tốt. 6 bánh lăn có hệ thống treo thanh xoắn, bộ giảm chấn piston, 3 bộ giảm xóc piston ở mỗi bên và xích guốc thép. Tốc độ tối đa của Sabra là 48km/h, nó có thể tăng tốc từ 0-32km/h trong vòng 9.6 giây. Tầm hoạt động trên đường ghồ ghề là 450km. Xe tăng có thể leo dốc 30 độ, vượt hào rộng 2.6m và tường cao 0.91m. Khi không chuẩn bị, nó có thể lội nước sâu 1.4m, có chuẩn bị thì lội sâu 2.4m. Sabra có 3 phiên bản chính, thứ nhất là Sabra Mk.I, nâng cấp M60 với pháo 120mm MG253, hệ thống điều khiển hoả lực mới, sử dụng giáp thụ động, động cơ mới và bộ di chuyển được nâng cấp. (http://2.bp.blogspot.com/_PQ_7ZjzHC4A/S970RoC3WCI/AAAAAAAAIUU/OuHtCJWfEp4/s1600/sabra1.jpg) Sabra Mk.I Sabra Mk.II, lắp giáp phản ứng nổ thế hệ mới thay vì sử dụng giáp thụ động, có thể thay thế nếu bị hư hỏng, đặc điểm nhận dạng chính là vòm tháp chỉ huy lớn trên tháp pháo, sử dụng động cơ MTU M881 công suất 1.000 mã lực của Đức, phiên bản này được sử dụng ở Thổ Nhĩ Kỳ với tên gọi là M60T. (http://www.military-today.com/tanks/sabra.jpg) Sabra Mk.II/M60T của Thổ Nhĩ Kỳ (http://www.armyrecognition.com/europe/Turquie/exhibition/IDEF_2007/pictures/M60T_Turkish_Upgrade_IDEF_2007_001.jpg) (http://img293.imageshack.us/img293/82/m60t030ag4wm4.jpg) Sabra Mk.III, sử dụng giáp tương tự Merkava Mk.IV, súng máy phòng không 12.7mm được điều khiển từ xa. (http://img17.imageshack.us/img17/3536/sabramk31.jpg) Sabra Mk.III (http://img38.imageshack.us/img38/8439/sabramk33.jpg) Thông số kỹ thuật cơ bản: Kíp chiến đấu (người): 4. Trọng lượng (tấn): 55. Chiều dài toàn bộ (m): 9.4 (kể cả nòng pháo). Chiều dài thân (m): 8.76. Rộng (m): 3.63. Cao (m): 3.05. Vũ khí: Pháo chính nòng trơn MG253. Cỡ nòng (mm): 120. Cơ số đạn (viên): 42. Góc nâng pháo (độ): -10…+20. Góc quay tháp pháo (độ): 360. Súng máy đồng trục M240C. Cỡ nòng (mm): 7.62. Cơ số đạn (viên): N/A. Súng máy phòng không M2HB. Cỡ nòng (mm): 12.7. Cơ số đạn (viên): N/A. Súng máy phụ trơ MG3A1. Cơ số đạn (viên): N/A. Súng cối 60mm Cơ số đạn (viên): N/A. Động cơ: Động cơ diesel General Dynamics Land Systems Division AVDS 1790-5A, công suất 908 mã lực. Tốc độ tối đa (km/h): 48. Tầm hoạt động (km): 450. Khả năng vượt chướng ngại vật Leo dốc (độ): 30. Vách đứng (m): 0.9. Hào rộng (m): 2.6 Vượt sông sâu khi không chuẩn bị ống thông hơi (m): 1.4. Vượt sông sâu khi chuẩn bị ống thông hơi (m): 2.4. Tiêu đề: Re: Vũ khí, khí tài lục quân Mỹ và Phương Tây Gửi bởi: BOM BI trong 06 Tháng Tư, 2013, 02:38:53 am Từ đầu thập niên 1970, Mỹ đã bắt đầu tiến hành viện trợ hàng loạt xe tăng M60 và M60A1 cho Israel. Trong thời kỳ diễn ra chiến tranh Yom Kippur, việc viện trợ trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết, những chiếc tăng vừa nhận được đều được Israel điều động vào tham chiến trên cả hai mặt trận Sinai và Golan. Vài ngày sau khi quân đội Ai Cập kiểm soát được kênh đào Suez, lực lượng M60 của Israel đã chịu tổn thầt nặng nề trước các tên lửa chống tăng AT-3 Sagger của bộ binh Ai Cập. Tuy nhiên, trong các trận phản công sau đó của IDF, các xe tăng M60 đã chứng tỏ được khả năng vượt trội về mặt hỏa lực trước T-54/55 và T-62 của lực lượng Ả Rập Sau chiến tranh, Mỹ tiếp tục chuyển giao hàng loạt M48, M60 và M60A1 cho Israel. M60 tiếp tục được IDF sử dụng trong các chiến dịch xâm lược Lebanon năm 1982. Vào ngày 10 tháng 6 năm 1982, trong trận giao tranh lớn kéo dài hai ngày với hơn 400 xe tăng của quân đội Syria ở phía nam Beirut, lực lượng M60A1 của Israel đã phá hủy nhiều xe tăng T-72 của Syria.
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/7/7d/Israeli_M60_tank_captured_by_Egypt.jpg/800px-Israeli_M60_tank_captured_by_Egypt.jpg) Xe tăng M60 của Israel bị bắt ở Ai Cập năm 1973 Năm 1991, M60 đã tham chiến với quân đội Mỹ trong chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất. Số xe tăng này chủ yếu là M60A1 và M60A3 của Hải quân đánh bộ Hoa Kỳ. 210 xe tăng M60A1 được trang bị giáp phản ứng nổ ERA của Hải quân đánh bộ Hoa Kỳ đã phối hợp với quân đội Ả rập Xê út tiến vào thành phố Kuwait, nơi họ đã tham gia vào một cuộc chiến đấu xe tăng hai ngày tại sân bay Kuwait chỉ với xe hư hỏng không thể sửa chữa và không có thương vong. Sau chiến tranh, lính Hải quân đánh bộ Mỹ báo cáo không gặp khó khăn gì trong việc đánh bại thiết giáp đối phương. Họ thậm chí còn báo cáo phá huỷ một chiếc T-72 bằng một viên đạn APFSDS xuyên qua giáp trước và bay ra từ động cơ, mặc dù điều này được thực hiện ở tầm gần. Thành công của M60 đã bị bao trùm bởi xe tăng M1A1 Abram. Tuy nhiên, M60A1 và M60A3 vẫn tìm được đường đến sử sách của Mỹ với tư cách một phần của lực lượng liên quân trong chiến dịch Bão cát sa mạc. Với sự chấp nhận xe tăng M1 Abram, các phát triển của M60 bị dừng lại. Từ các đơn vị ở tiền tuyến đến lực lượng dư bị và vệ binh quốc gia đều được nâng cấo với xe tăng Abram. Những chiếc M60 cũ được bán hoặc cho các quốc gia khác. Quyết định huỷ bỏ phát triển M60 đến một năm sau sự sụp đổ Bức tường Berlin cũng như chấm dứt chiến tranh lạnh. Chiến tranh lạnh kết thúc, chính phủ Mĩ quyết định giảm quy một quân đội để tiết kiệm tiền. Kết quả là cả một sư đoàn thiết giáp và các đơn vị hổ trợ bị ngừng hoạt động. Việc giảm quy một lực lượng khiến cho xe tăng M1 được trang bị cho Quân dự bị và vệ binh quốc gia không bao lâu sau khi họ nhận M60A3. Để tồng khứ số lượng xe tăng M60 lớn của mình mà vẫn đảm bảo hiệp ước CAFE(Conventional Armed Forces in Europe), chính quyền Mĩ bắt đầu chuyển phần lớn xe tăng M60A3 cho các nước trên thế giới. Các nước này chỉ có thể nhận 7400 chiếc M60. Để tống khứ số còn lại, người ta quyết định biến chúng thành các rặng san hô nhân tạo quanh bờ biển Mĩ. Kế hoạch REEF-EX đòi hỏi tháo bỏ động cơ và rửa sạch thân xe bằng hơi nước để loại bỏ các chất độc hại. Các hách ra vào bị hàn kín để đề phòng các thợ lặn tò mò chui vào và bị kẹt. Xe tăng sau đó được thả xuống biển. Vùng biển đông nước Mĩ đã nhận được một số lượng lớn M60 và M551 nhờ chương trính này. Một số xe tăng khác được tặng cho các hội cựu chiến binh, thành thị, bảo tàng ở Mĩ để làm tượng đài. Một số khác có số phận hẩm hiu kết thúc tại các bải tập bắn hay thả bom. (http://www.aquaexplorers.com/herbsegarstank.jpg) Đơn vị Mĩ cuối cùng trang bị M60A3 là Tiểu đoàn số 1 của Trung đoàn thiết giáp số 365 thuộc Vệ binh quốc gia bang Kansas thay thế các xe M60 bằng M1A1 vào tháng 5 năm 1997. Vào năm 2005, Quân đội Hoàng gia Thái Lan đã điều động M60A3 trong trận đụng độ với quân đội Myanma nhằm giành lại cột mốc biên giới số 9631 bị phía Myanma lấn chiếm vào năm 2001. Trong trận giao tranh giành quyền kiểm soát ngôi đền cổ Preah Vihear 900 năm tuổi giữa Thái Lan và Campuchia vào năm 2011, phía Thái Lan đã di chuyển khoảng 20 xe tăng M60A3 tới một doanh trại quân sự ở quận Kantaralak, tỉnh Sri Sa Ket, ngay sát biên giới tranh chấp. 13 xe tăng M60A3 đã được Hy Lạp đưa sang Afgahanistan tham gia chiến đấu vào năm 2007. Năm 1995, một người Mỹ tên Shawn Nelson đã đánh cắp một chiếc M60A3 TTS từ doanh trại của lực lượng Vệ binh quốc gia California và gây nên vụ bạo loạn tại San Diego. Shawn Nelson sau đó đã bị cảnh sát bắn chết do không chịu đầu hàng khi chiếc xe tăng của ông bị mắc kẹt trên đường cao tốc. Chiều ngày 17 tháng 02 năm 2012, tiểu đoàn tăng thuộc lữ đoàn 66 hải quân đánh bộ Đài Loan khi huấn luyện tại Khanh Tử Khẩu, Tân Trúc đã xảy ra tai nạn. Một chiếc xe tăng M60A3 khi thay đổi trận địa do trời nhá nhem tối đã tông vào 5 binh sĩ, trong đó 1 người bị xe tăng chèn chết tại chỗ, 4 người khác bị thương. Tiêu đề: Re: Vũ khí, khí tài lục quân Mỹ và Phương Tây Gửi bởi: Raptor Flanker trong 07 Tháng Tư, 2013, 01:35:44 am CHƯƠNG TRÌNH NÂNG CẤP XE TĂNG CHIẾN ĐẤU CHỦ LỰC M60 CỦA JORDAN xe tăng chiến đấu chủ lực M60 Phoenix (http://www.military-today.com/tanks/m60_phoenix.jpg) Mô tả chung Dự án M60 Phoenix được phát triển bởi King Abdullah II Design and Development Bureau (KADDB) . Dự án này dùng để để giải quyết các vấn đề trước mắt về khả năng chiến đấu và hoạt động của dòng xe tăng chiến đấu chủ lực M60. Sử dụng công nghệ module và khả năng linh hoạt giúp xe tăng có thể bắn trong khi di chuyển, tăng khả năng tiêu diệt mục tiêu, cơ động và khả năng phòng vệ được cải thiện. Dự án nâng cấp này khá phù hợp nhờ chi phí nâng cấp thấp và kỹ thuật sửa chữa dễ dàng. Trước khi nâng cấp - Hệ thống điều khiển hoả lực cũ (TTS), tấn công mục tiêu chậm. - Pháo chính nòng xoắn 105mm. - Không thể bắn mục tiêu khi di chuyển. - Hệ thống ngắm ảnh nhiệt không ổn định. - Giáp bảo vệ không phù hợp cho tác chiến hiện đại. - Động cơ và hệ thống treo quá hạn sử dụng. Các chương trình nâng cấp chính - Khả năng tấn công mục tiêu đang di chuyển cũng như đứng yên. - Xác suất trúng mục tiêu ngay từ phát đầu tiên cao. - Tăng khả năng bảo vệ cho xe. - Tăng tính cơ động và tính thao diễn. Các thông số nâng cấp - Nâng cấp khả năng tấn công mục tiêu khi di chuyển cho Phoenix Khả năng tấn công mục tiêu khi di chuyển, phát hiện mục tiêu cả ngày lẫn đêm, cải thiện khả năng đánh trúng mục tiêu ngay từ phát đầu tiên. - Nâng cấp khả năng tiêu diệt cho Phoenix Cải thiện đáng kể hỏa lực và sát thương của dòng xe tăng chiến đấu chủ lực M60 hiện nay thông qua việc thay thế pháo chính nòng xoắn 105mm bằng pháo nòng trơn rút ngắn L50 120mm của RUAG Land Systems. - Nâng cấp tính cơ động cho Phoenix Cải thiện khả năng tăng tốc cũng như vượt chướng ngại vật bằng gói nâng cấp tính cơ động do General Dynamics Land Systems cung cấp. - Nâng cấp khả năng phòng vệ cho Phoenix Khả năng phòng vệ được cải thiện thông qua việc bổ sung các tấm giáp cho tháp pháo và khung thân của M60. Việc nâng cấp giáp bảo vệ giúp xe tăng có thể có khả năng sống sót cao, phù hợp cho tác chiến hiện đại. Hệ thống điều khiển hoả lực và các thiết bị ngắm/ trinh sát - Thiết bị đo xa laser không gây hại cho mắt của xạ thủ, phạm vi chiếu laser: từ 200-9995 m. - Hệ thống kính hồng ngoại thế hệ 2 của xạ thủ. - Hệ thống ổn hướng 2 trục cho pháo chính và thiết bị ngắm mục tiêu. - Cảm biến đo góc tà pháo. - Thay thế máy tính đường đạn cơ khí bằng máy tính đường đạn kỹ thuật số - Gắn cảm biến đo độ nghiêng của xe. - Hệ thống Dải dây cáp tích hợp (Ribbonised Organised Intergrated/ ROI) - Hệ thống ổn hướng cho tháp pháo. - Thiết bị chứa dữ liệu kỹ thuật số MIL-STD 1,553. Thiết bị cảnh báo laser Bán cầu bao phủ đến -30 độ Vùng phủ sóng liên tục từ 500-180nm. Xác suất phát hiện: 95% với xung đơn. 99% với xung liên tục. Hệ thống này thuộc thế hệ mới nhất, bao gồm phát hiện, cảnh báo, bám chúm laser và gây nhiễu tia laser. Thiết bị phát hiện kính ngắm quang học và nhận dạng mục tiêu. Các thông số của pháo Khoá nòng bán tự động Độ giật lùi trung bình: 440mm. Độ giật lùi tối đa: 450mm. Lực giật lùi trung bình: 290kn. Lực giật lùi tối đa: 390kn. Áp lực khí theo thiết kế: 2.700 bar. Khối lượng nâng tối đa: 3.780kg. Khối lượng giật lùi: 1.860kg. Tốc độ bắn: 6-10 viên/ phút. Khả năng phòng vệ Lắp thêm các tấm giáp xung quanh tháp pháo và khung thân, vị trí lưu trữ đạn dược. 20 viên đạn lắp sẵn trên giá. Hệ thống quay tháp pháo và nâng pháo bằng cơ điện. Phát triển đầy đủ phần mềm hệ thống điều khiển tháp pháo và ổn định tháp pháo. Ống phóng đạn đánh chặn tốc độ cao (High Speed Directed Launcher/ HSDL) với 12 ống phóng. Khả năng cơ động Nâng cấp với động cơ 950 mã lực (Do General Dynamics cung cấp). Nâng cấp bộ truyền động CD-1000. Lắp hệ thống điều hoà, lọc không khí và cảm ứng không khí. Nâng cấp hệ thống treo. Thông số kỹ thuật cơ bản: Kíp chiến đấu (người): 4. Trọng lượng (tấn): 55. Chiều dài toàn bộ (m): 9.85 (kể cả nòng pháo). Chiều dài thân (m): 7. Rộng (m): 3.7. Cao (m): 3.27. Vũ khí: Pháo chính nòng trơn L50. Cỡ nòng (mm): 120. Cơ số đạn (viên): N/A. Góc nâng pháo (độ): -10…+20. Góc quay tháp pháo (độ): 360. Súng máy đồng trục M240C. Cỡ nòng (mm): 7.62. Cơ số đạn (viên): 1000. Súng máy phòng không M2HB. Cỡ nòng (mm): 12.7. Cơ số đạn (viên): 900. Động cơ: Động cơ diesel General Dynamics công suất 950 mã lực. Tốc độ tối đa (km/h): 48. Tầm hoạt động (km): 450. Khả năng vượt chướng ngại vật Leo dốc (độ): 30. Vách đứng (m): 0.9. Hào rộng (m): 2.6 Vượt sông sâu khi không chuẩn bị ống thông hơi (m): 1.2. (http://3.bp.blogspot.com/-TEMKLfw5c1I/USifcnoIHqI/AAAAAAAATv8/aX-le3t9jzM/s1600/13.jpg) (http://mainbattletanks.czweb.org/Tanky/phoenix.jpg) (http://img17.imageshack.us/img17/7667/p1333694.jpg) (http://www.mdc.idv.tw/mdc/army/m60-phoenix3.jpg) (http://www.army-guide.com/images/m60_phoenix_dsfscsdfjk002.jpg) Tiêu đề: Re: Vũ khí, khí tài lục quân Mỹ và Phương Tây Gửi bởi: Raptor Flanker trong 14 Tháng Tư, 2013, 03:43:29 pm Dòng xe tăng chiến đấu chủ lực M1 Abrams (http://www.blogcdn.com/green.autoblog.com/media/2010/06/331335579567dd558208b.jpg) M1 Abrams - Phiên bản Abrams đầu tiên Mô tả chung và lịch sử hoạt động Nhận thấy những xe tăng chiến đấu chủ lực M60 đã lỗi thời, Lục Quân Hoa Kỳ đã bắt đầu phát triển chương trình MBT-70 với sự cộng tác cùng với Tây Đức trong những năm 1960. MBT-70 có nhiều tính năng tiên tiến như hệ thống treo khí nén điều chỉnh chiều cao và thiết kế tháp pháo giúp tầm nhìn của lính lái xe luôn rõ ràng về phía trước. Nhưng mẫu dự án này quá nặng, quá phức tạp và tốn kém. Nhận thấy sự thất bại của MBT-70, Lục Quân Hoa Kỳ đã đưa ra mẫu mới đó là XM803, đây là mẫu xe tăng trang bị hệ thống điện tử tiên tiến, hiện đại và tốn kém nhưng chất lượng vẫn như M60. (http://i1155.photobucket.com/albums/p548/raptor4224/MBT-70_zps058c2ae1.jpg) MBT-70, mẫu xe tăng chiến đấu chủ lực hợp tác với Tây Đức (http://i1155.photobucket.com/albums/p548/raptor4224/P1110587_zps8932976e.jpg) Nguyên mẫu XM803 Quốc Hội Hoa Kỳ đã huỷ bỏ 2 dự án MBT-70 vào tháng 11 và dự án XM803 vào tháng 12 năm 1971, phân phối, điều chỉnh lại các khoản tiền để dành cho dự án XM815, sau đổi tên thành XM1 Abrams, được đặt theo tên của Tướng quân Creighton W. Abrams, Tổng Tham Mưu trưởng và chỉ huy của Tiểu đoàn Thiết Giáp 37 ở Việt Nam. Nguyên mẫu đầu tiên được chuyển giao vào năm 1976 bởi Chrysler Defense và General Motors trang bị cho XM1 pháo nòng xoắn 105mm M68A1. Động cơ turbine khí do Chrysler chế tạo đã được chọn để phát triển cho Abrams, hãng Chrysler có nhiều kinh nghiệm trong việc chế tạo động cơ turbine cho xe từ những năm 1950. Vào tháng 3 năm 1982, General Dynamics Land Systems Division đã mua lại Chrysler Defense, sau khi Chrysler đã sản xuất hơn 1.000 chiếc M1. (http://img232.imageshack.us/img232/9092/xm1vils4.jpg) XM1, nguyên mẫu đầu tiên của dòng xe tăng Abrams, đây là nguyên mẫu XM1 do Chrysler thiết kế (http://img12.imageshack.us/img12/2071/generalmotorsxm1prototywl5.jpg) XM1 do General Motor phát triển (http://military-vehicle-photos.com.s3.amazonaws.com/4250.jpg) Phiên bản XM1 sản xuất ban đầu với tỷ lệ thấp (Low-Rate Initial Production/ LRIP) với tên gọi là "Thunderbolt" Dòng xe tăng này là xương sống của Lực lượng Tăng-Thiết Giáp của Hoa Kỳ và một số Đồng minh của Hoa Kỳ. Nhiệm vụ của xe này là cung cấp hoả lưc cơ động cho các lực lượng thiết giáp, bộ binh cơ giới, tiêu diệt các xe tăng địch và cung cấp sự bảo vệ tốt cho kíp chiến đấu của nó trong bất kỳ điều kiện môi trường chiến đấu nào. Nó có thể chiến đấu trong mọi điều kiện thời tiết, ban ngày lẫn ban đêm, chiến trường phi tuyến tính nhờ sử dụng hỏa lực của nó, khả năng cơ động cao trên chiến trường. Hệ thống đồng bộ trên tăng Abrams hoạt động với nhịp độ cao, phân phối khả năng thao diễn của xe tăng thông qua nhận thức tình huống được số hóa và sự hợp nhất của cảm biến trên khoang và từ các cảm biến trên chiến trường. Công việc sản xuất xe tăng M1A1 cho Quân đội Hoa Kỳ đã hoàn tất. Hơn 8.800 xe tăng M1 và M1A1 đã xuất xưởng và phục vụ cho Lục Quân Hoa Kỳ, Thuỷ Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, Lục Quân Ai Cập, Lục Quân Ả Rập Saudi và Lục Quân Kuwait. 3 phiên bản chính của dòng tăng Abrams đang phục vụ là M1, bắt đầu sử dụng vào đầu thập niên 1980, 2 phiên bản mới hơn là M1A1 và M1A2. M1A1 sản xuất từ năm 1985 đến năm 1993, thay thế pháo chính nóng xoắn 105mm bắng pháo nòng trơn 120mm và kết hợp nhiều cải tiến khác, bao gồm cả một hệ thống treo cải tiến, một tháp pháo mới, tăng giáp bảo vệ, và một hệ thống phòng vệ NBC. Phiên bản mới nhất là M1A2, mang tất cả các tính năng của M1A1, trang bị thêm kính nắm ảnh nhiệt riêng cho trưởng xa, trạm điều khiển vũ khí riêng cho trưởng xa, thiết bị định vị toàn cầu, hệ thống máy tính kỹ thuật số nội bộ và radio nội bộ, cung cấp toàn diện về hình ảnh chiến trường giữa các xe tăng M1A2 với nhau. (http://www.fas.org/man/dod-101/sys/land/m1a1-980120-A-0000K-002.jpg) M1A1 (http://www.fas.org/man/dod-101/sys/land/abrams-122.jpg) M1A2 Thay vì sản xuất mới, quân đội nâng cấp khoảng 1.000 xe tăng M1 cũ thành phiên bản M1A2. Quân đội cũng đã phát triển một chương trình sửa đổi cho M1A2 để tăng cường khả năng kiểm soát và điều khiển kỹ thuật số và hệ thống trinh sát hồng ngoại thế hệ 2 (FLIR/ Forward Looking Infra-Red) để tăng cường khả năng chiến đấu của xe tăng trong điều kiện hạn chế. Chương trình nâng cao hệ thống này sẽ được triển khai vào khung trong năm 2000, đồng thơi với M2A3 Bradley và các hệ thống điện tử tiên tiến khác. Đầu tiên, M1A2 sẽ được biên chế cho Sư đoàn Kỵ binh thứ nhất tại Fort Hood, Texas. Quân đội sẽ tiếp tục triển khai M1A2 cho các quân đoàn phản ứng nhanh (dự phòng khẩn cấp) của tại chính quốc và cho các đơn vị tiền tuyến trong thập kỷ tới. Dòng xe tăng chiến đấu chủ lực M1 được trang bị động cơ turbine khí Lycoming Textron công suất 1500 mã lực cùng với bộ truyền động Allison với 4 số tiến và 2 số lùi. Phạm vi hành trình chiến thuật của nó là khoảng 275 dặm (442,6km). Mặc dù trọng lượng của nó khá năng, nhưng M1 có thể đạt vận tốc lên đến 42 dặm/h (72.5km/h). Đối với M1A1 và M1A2, vũ khí chính của nó là pháo nòng trơn 120mm, còn dòng M1 đầu tiên trang bị pháo nòng xoắn 105mm. Nó có thể chiến đấu trong ban ngày lẫn ban đêm, trong khi đứng yên hay di chuyển nhờ có hệ thống đo xa laser, hệ thống ngắm ảnh nhiệt, kính ngắm hồng ngoại và kính ngắm ban ngày cùng với máy tính đường đạn kỹ thuật số. Khoang chứa nhiên liệu và khoang chứa đạn dược được tăng cường khả năng bảo vệ. Khung xe và tháp pháo được bọc giáp tiên tiến như giáp Chobham phát triển bởi Bộ Quốc Phòng Anh, khi cần thiết, M1 Abrams có thể được trang bị giáp phản ứng để chống lại vũ khí xuyên phá giáp của đối phương. Mặc dù đã được trang bị vào năm 1980, nhưng dòng xe tăng Abrams vẫn không được kiểm tra trong hơn 10 năm. Khi Iraq xâm lược Kuwait vào tháng 8 năm 1990, nhiều người đã cho rằng M1 sẽ bị lún trong cát và sẽ bị hư hỏng trong những tháng dài hoạt động liên tục mà không những cơ sở bảo dưỡng sang trọng trong thời bình. Cũng có một số nghi ngờ về khả năng sống sót của nó trên chiến trường vì tháp pháo quá rộng và trang bị nhiều hệ thống điện tử. Ngay sau quyết định của Tổng thống Bush cam kết sẽ đưa quân Hoa Kỳ đến Vùng Vịnh giúp bảo vệ Kuwait và Ả Rập Saudi. Đơn vị Tăng-Thiết giáp Hoa Kỳ gặp một trở ngại lớn trong quá trình di chuyển đến khu vực. Vì thân M1 quá rộng và trọng lượng quá nặng, nên những chiếc C-5 Galaxy,máy bay vận tải chiến lược lớn nhất của Không Quân Hoa Kỳ chỉ có thể chở được một chiếc. Điều này có nghĩa đa số các xe tăng M1 được vận chuyển bằng tàu vận tải. Mặc dù triển khai chậm, nhưng sự xuất hiện của M1 Abrams rất được hoan nghênh bởi Lực lượng Đồng Minh như nó có khả năng đánh bại bất kỳ xe tăng nào của Iraq. Quân đội Iraq có số lượng xe tăng khá nhiều, chủ yếu mua từ Liên Xô cũ. Đứng đầu trong số này là 700 chiếc xe tăng chiến đấu chủ lực T-72. Chiếc xe tăng hiện đại của Liên Xô cũ này được trang bị pháo nòng trơn 125mm và có nhiều tính năng tiên tiến cũng được tìm thấy trên Abrams. Mặc dù có thiết kế tiên tiến, nhưng T-72 vẫn chứng tỏ là kém hơn so với M1 đã được triển khai trong Chiến tranh Vùng Vịnh và ngang sức với M60A3 của Thuỷ Quân Lục Chiến Hoa Kỳ. Ngoài ra Iraq còn có khoảng 700 chiếc T-54/55 và hơn 1.600 chiếc T-62, cả 2 loại này đều được phát triển vào năm 1960. Những xe tăng này rõ ràng thua kém hơn nhiều so với M1 Abrams nhưng có độ tin cậy cơ học cao Chiến tranh Vùng Vịnh cung cấp chiến thuật gia quân sự với cơ hội để đánh giá sự phát triển trong thiết kế xe tăng đã không được đưa ra từ Thế chiến II. Trong cuốn sách “Desert Victory – War For Kuwait” của tác giả Norman Friedman có viết ” The U.S. Army in Saudi Arabia probably had about 1,900 M1A1 tanks. Its ability to fire reliably when moving at speed over rough ground (because of the stabilized gun mount) gave it a capability that proved valuable in the Gulf. The Abrams tank also has... vision devices that proved effective not only at night, but also in the dust and smoke of Kuwaiti daytime. On average, an Abrams outranged an Iraqi tank by about 1,000 meters.” Dịch là: “Lục Quân Hoa Kỳ ở Ả Rập Saudi có thể có đến 1.900 xe tăng M1A1. Nó có khả năng bắn tốt trong khi di chuyển ở địa hình gồ ghề (vì nhờ có hệ thống ổn hướng cho pháo) nhờ đó chứng tỏ giá trị của nó trong Vùng Vịnh. Abrams cũng có… những hệ thống ngắm giúp tăng hiệu quả không những trong đêm mà còn trong môi trường khói bụi vào ban ngày ở Kuwait. Trung bình một chiếc M1A1 Abrams có tầm bắn xa hơn 1.000 mét so với các xe tăng khác của Iraq. “. Những con số thực tế của M1 và M1A1 Abrams triển khai đến Chiến tranh Vùng Vịnh (theo nguồn tin của Bộ Quốc phòng chính thức) như sau: Tổng cộng có 1.848 xe tăng M1A1 và M1A1 "giáp nặng" (HA/ Heavy Armor) đã được triển khai giữa Lục Quân Hoa Kỳ và Thuỷ Quân Lục Chiến Hoa Kỳ (lực lượng đã triển khai 16 xe tăng M1A1 và 60 xe tăng M1A1 HA). Từ Chiến dịch Tấm Khiên Sa Mạc (Operation Desert Shield) đến Chiến dịch Bão Táp Sa Mạc (Operation Desert Storm) trong Chiến tranh Vùng Vịnh, việc chuẩn bị bắn phá được tiến hành, Các xe tăng Abrams của Hoa Kỳ đã dẫn đầu cuộc tấn công vào các công sự của Iraq và tiêu diệt các xe tăng của đối phương ở mọi lúc mọi nơi. Giống như trong chiến tranh Iran-Iraq, Quân đội Iraq đã dùng xe tăng thành những khẩu pháo và vũ khí chống tăng cố định, chôn những chiếc xe tăng xuống đất để làm giảm tín hiệu phản xạ. Tuy nhiên điều này dã làm giảm khả năng di chuyển nhanh chóng và Không Quân Đồng Minh đã tiêu diệt gần 50% số xe tăng của Iraq trước khi Lực lượng Tăng-Thiết Giáp của Đồng Minh di chuyển qua biên giới. Sau đó, các xe tăng Abrams nhanh chóng tiêu diệt số xe tăng còn lại của Iraq dùng cho việc di chuyển tấn công. Hệ thống ngắm ảnh nhiệt của Abrams ko bị ảnh hưởng bởi khói đen dày đặc bao phủ trên chiến trường gây nên bởi việc đốt các mỏ dầu ở Kuwait. Thậm chí các xạ thủ dựa vào kính nhìn đêm dù vào giữa ban ngày. Trường hợp đó lại không áp dụng được cho các xe tăng của Iraq, thậm chí các xe tăng Iraq còn bị trúng đạn từ đơn vị mà họ không nhìn thấy được. Quan ngại về tầm hoạt động của M1A1 đã bị tiêu trừ do các chiến dịch tiếp vận khổng lồ. Các chiến dịch này sẽ được dùng làm chiến lệ để học tập nhiều năm tới như một mô hình tiêu biểu của sự hiệu quả chiến thuật. Trong chiến tranh vùng Vịnh, chỉ có 18 xe tăng Abrams bị loại khỏi vòng chiến đấu do thiệt hại trên chiến trường: 9 chiếc thiệt hại không thể khắc phục, 9 chiếc khác có thể sửa chữa, hầu hết nguyên nhân là do mìn. Không một thành viên kíp lái nào tử thương trong chiến đấu. Đồng thời cũng có rất ít các báo cáo về các trục trặc kỹ thuật. Các chỉ huy lực lượng Tăng-Thiết giáp Hoa Kỳ duy trì trạng thái sẵn sàng chiến đấu đến 90% cho các xe tăng chủ lực Abrams của mình. Tiêu đề: Re: Vũ khí, khí tài lục quân Mỹ và Phương Tây Gửi bởi: Raptor Flanker trong 14 Tháng Tư, 2013, 11:59:18 pm Xe tăng chiến đấu chủ lực M1/ IPM1 Abrams (http://i1155.photobucket.com/albums/p548/raptor4224/105mm_M1_Abrams_zps4a6c7d4d.png) M1 Abrams Đặc điểm thiết kế Được thiết kể trong những năm thập niên 70 bởi Land System Division của Tập đoàn General Dynamics Coporation dùng để đáp ứng chương trình MBT-70 của Lục Quân Hoa Kỳ, chiếc xe tăng M1 đầu tiên lăn bánh ra khỏi dây chuyền sản xuất vào năm 1978, sau 2 năm thử nghiệm, những chiếc xe tăng này đã được chuyển giao cho Lục Quân Hoa Kỳ vào ngày 28 tháng 2 năm 1980. Giáp của M1 là giáp tổng hợp từ nhiều tấm thép và các tấm gốm, tương tự như giáp Chobham của Anh, ngoài ra nó cũng có thể gắn giáp phản ứng nổ. Bên trong xe tăng được lót những tấm Kevlar giúp bảo vệp kíp chiến đấu khỏi các mảnh pháo. Đạn dược được chứa trong các khoang ở phía sau tháp pháo, nơi có những tấm chắn hất đạn ra ngoài nếu như đạn phát nổ. Xe tăng chiến đấu chủ lực M1 được trang bị pháo nòng xoắn 105mm M68A1, loại pháo được Hoa Kỳ sản xuất theo giấy phép theo mẫu pháo L7 của Anh. Pháo này được nạp đạn bằng tay với 44 viện đạn chứa ở khoang sau tháp pháo, với 11 viên đạn phụ chứ trong các container bảo vệ ở trong thân. M1 có hệ thống điều khiển hoả lực hiện đại cho phép đánh trúng mục tiêu ngay từ phát đầu tiên với xác suất cao. Nó có thể tiêu diệt một chiếc xe tăng chiến đấu chủ lực khác ở khoảng cách đến 2km trong khi di chuyển. (http://img835.imageshack.us/img835/6862/mbt1n.jpg) Pháo nòng xoắn 105mm M68A1 Những vũ khí phụ bao gồm súng máy đồng trục 7.62mm M240, súng máy phòng không 12.7mm M2HB của trưởng xa và súng máy 7.62mm M240 dành cho lính nạp đạn gắn trên nóc tháp pháo. Súng máy 12.7mm M2HB của trưởng xa có thể bắn từ bên trong tháp pháo nhờ kính ngắm phóng đại 3 lần, cùng với dây điều khiển nối từ súng đến vòm của trưởng xa, giúp trưởng xa có thể bắn mà không cần phải bước ra ngoài. Xe tăng chiến đấu chủ lực M1 Abrams được trang bị động cơ turbine khí đa nhiên liệu Avco Lycoming (nay là Honeywell) AGT1500, có thể chạy bằng dầu hoả, dầu diesel, xăng hoặc thậm chí dầu hàng không. Nó có khoảng thời gian phục vụ lâu hơn đáng kể hơn so với động cơ diesel, tuy nhiên để duy trì khá rắc rối và có mức tiêu thụ nhiên liệu rất cao so với động cơ diesel. Động cơ có thể được thay thế trong điều kiện thực địa trong vòng 30 phút. Xe có thể được trang bị lưỡi ủi mìn và bộ lăn cào chống mìn. (http://a3.ec-images.myspacecdn.com/images02/113/79ba7439eb5845f6a8673a931030767a/l.jpg) động cơ turbine khí đa nhiên liệu AGT1500 việc sản xuất M1 bắt đầu từ năm 1979 và kéo dài đến năm 1985, có hơn 3.273 chiếc M1 được chế tạo. 110 chiếc M1 đầu tiên do nhà máy Chrysler sản xuất có tên gọi là XM1 "Thunderbolt". Những chiếc "Thunderbolt" này được sản xuất ban đầu với tỷ lệ thấp (Low-Rate Initial Production/ LRIP) nên cũng được gọi là XM1 LRIP. (http://i1155.photobucket.com/albums/p548/raptor4224/Aberdeen_Tank-Museum-XM1-Abrams_zpsd90d25e9.jpg) XM1 "Thunderbolt" (http://i1155.photobucket.com/albums/p548/raptor4224/xm-1Abrams2-1_zps4ff04e9c.jpg) XM1 LRIP với sơn ngụy trang MERDC Các phiên bản tiếp theo của M1 là M1A1 và M1A2 được trang bị giáp tốt hơn cùng với tăng cường hoả lực và hệ thống điện tử. Những chiếc xe tăng chiến đấu chủ lực M1 đã không còn phục vụ trong Lục Quân Hoa Kỳ và phần lớn đã được nâng cấp lên chuẩn M1A2. Vào năm 1985, các đánh giá thực tiễn đã thúc đẩy đề nghị thay đổi đầu tiên, và dây chuyền sản xuất được chuyển sang M1A1. Những chiếc M1A1 đầu tiên được chuyển giao cho đơn vị vào tháng 8 năm 1985. Lục Quân đã chuyển đổi 368 chiếc M1 thành chuẩn M1A2. Thêm 580 chiếc M1 nữa được chuyển đổi thành M1A2 trong hợp đồng 5 năm được ký kết vào năm 1996, với tổng số 998 chiếc M1 có kế hoạch được chuyển đổi. Trong năm 1999, Lục Quân nâng cấp M1 thành chuẩn M1A2 SEP (System Enhancement Program/ Chương trình Tăng Cường Hệ Thống) với khả năng số hoá trong cấu trúc điện tử của Abrams, loại bỏ yêu cầu cho các thiết bị điện tử thêm vào (bổ sung). IPM1 (Improved Performance) Ngoài ra, trong năm 1984, trước khi sản xuất M1A1, xuất hiện mẫu nâng cấp M1 là IPM1 với tháp pháo dài hơn, giáp phía trước tháp pháo cũng dày hơn, từ 650mm lên 880mm, có 894 chiếc được chế tạo. (http://i1155.photobucket.com/albums/p548/raptor4224/m1ip_zps8dc5a111.jpg) M1IP Thông số kỹ thuật cơ bản: Kíp chiến đấu (người): 4. Trọng lượng (tấn): 55.7. Chiều dài toàn bộ (m): 9.77 (kể cả nòng pháo). Chiều dài thân (m): 7.92. Rộng (m): 3.65. Cao (m): 2.38. Vũ khí: Pháo chính nòng xoắn M68A1. Cỡ nòng (mm): 105. Cơ số đạn (viên):55. Góc nâng pháo (độ): -10…+20. Góc quay tháp pháo (độ): 360. Súng máy đồng trục M240. Cỡ nòng (mm): 7.62. Cơ số đạn (viên): 8.800. Súng máy phòng không M2HB. Cỡ nòng (mm): 12.7. Cơ số đạn (viên): 900. Súng máy dành cho lính nạp đạn M240. Cỡ nòng (mm): 7.62. Cơ số đạn (viên): 1000. Động cơ: Động cơ turbine khí đa nhiên liệu Honeywell AGT1500 công suất 1500 mã lực. Bộ truyền động Allison DDA-X-1100-3B. Tốc độ tối đa (km/h): 72.4. Tầm hoạt động (km): 498. Khả năng vượt chướng ngại vật Leo dốc (độ): 40. Vách đứng (m): 1.24. Hào rộng (m): 2.74 Vượt sông sâu khi không chuẩn bị ống thông hơi (m): 2. (http://www.military-today.com/tanks/m1_abrams.jpg) (http://www.military-today.com/tanks/m1_abrams_l5.jpg) Tiêu đề: Re: Vũ khí, khí tài lục quân Mỹ và Phương Tây Gửi bởi: Raptor Flanker trong 21 Tháng Năm, 2013, 12:01:47 am Xe tăng chiến đấu chủ lực M1A1 Abrams (http://i1155.photobucket.com/albums/p548/raptor4224/RiverXing-JSCunningham_zpsca33ded5.jpg) Đặc điểm M1A1 là một phiên bản cải tiến của dòng xe tăng chiến đấu chủ lực M1 Abrams, bao gồm pháo nòng trơn 120mm, hệ thống phòng vệ NBC tăng áp và giáp bảo vệ cũng được cải thiện. Xe tăng này đã nâng cao năng lực đáng kể của lực lượng Thuỷ Quân Lục Chiến Hoa Kỳ trên các phương diện cho một cuộc xung đột tương lai gần và trung hạn. Ngoài nâng cấp pháo chính, hệ thống phòng vệ NBC và giáp bảo vệ thì M1A1 còn được trang bị mộ bộ hỗ trợ lội nước sâu (Deep Water Fording Kit/ DWFK), hệ thống báo cáo vị trí toạ độ (Position Location Reporting System/ PLRS), hệ thống kiểm soát điện tử kỹ thuật số (Digital Electronic Control Unit/ DECU) cho phép tiết kiệm nhiên liệu đáng kể. Pháo chính nòng trơn 120mm M256 của M1A1 được thiết kế bởi Rheinmetall Corporation của Đức. Tầm bắn lên đến 4000 mét đã được chứng minh thành công trong chiến dịch Bão Táp Sa Mạc. Loại đạn xuyên giáp chính của pháo này chính là đạn thanh xuyên động năng có guốc ốp nòng (Armour-Piercing Fin Stabilized Discarding Sabot/ APFSDS) với điểm đặc trưng là thanh xuyên làm từ uranium nghèo. Uranium nghèo có mật độ lớn hơn thép 2 lần và khả năng xuyên cao hơn thép nhiều lần. Loại đạn này rất đáng tin cậy, chính xác đến chết người và có tỷ lệ trúng/ diệt cực cao, nó có thể bằng hoặc hơn hẳn bất kỳ loại đạn pháo nào của các xe tăng trên thế giới. (http://i1155.photobucket.com/albums/p548/raptor4224/untitled_zpsc62161d0.jpg) Pháo nòng trơn M256 120mm (http://i1155.photobucket.com/albums/p548/raptor4224/120MMRDS_zps4a1e8350.jpg) Một số loại đạn sử dụng bới pháo M256 Như mọi dòng xe tăng khác của Hoa Kỳ, M1A1 được trang bị súng máy phòng không 12.7mm M2HB Browning, khẩu “Ma Duece” này được gắn ở vòm chỉ huy với kính ngắm phóng đại 3 lần. Lính nạp đạn thì được trang bị súng máy M240 gắn trên nóc, ngay vị trí cửa sập của lính nạp đạn. Ngoài ra còn có một khẩu súng máy M240 khác được gắn đồng trục với súng chính, để chế áp lực lượng bộ binh đối phương. Cách bố trí của M1A1 Abrams theo kiểu bố trí cổ điển của các dòng xe tăng với kíp chiến đấu gồm 4 người: trưởng xa, xạ thủ, lính nạp đạn và lính lái xe. Trưởng xa và xạ thủ ngồi ở vị trí bên phải tháp pháo, xạ thủ ngồi trước, trưởng xa ngồi đằng sau xạ thủ, lính nạp đạn thì ngồi ở vị trí bên trái tháp pháo. Vòm trưởng xa được trang bị 6 kính tiềm vọng, giúp trưởng xa có được tầm nhìn bao quát 360 độ xung quanh tháp pháo. Có một kính ngắm phóng đại 3 lấn hỗ trợ trưởng xa bắn súng máy phòng không 12.7mm ngay trong tháp pháo mà không cần phải bước ra ngoài. Ngoài ra còn được trang bị các hệ thồng thông tin liên lạc và các thiết bị giúp theo dõi các hoạt động trên xe tăng. (http://i1155.photobucket.com/albums/p548/raptor4224/m1a1tccupola_zps7c9943b1.jpg) Vòm trưởng xa trên M1A1. Có thể thấy 6 kính tiềm vọng xung quanh vòm trưởng xa và giá gắn súng máy 12.7mm M2HB. Kế bên giá súng là kính ngắm phóng đại giúp trưởng xa có hình ảnh mục tiêu tốt hơn khi bắn ở trong tháp pháo (http://i1155.photobucket.com/albums/p548/raptor4224/m1a1tc2_zps06894eb7.jpg) Tay quay góc phương vị của súng máy 12.7mm và nút bấm khai hoả (http://i1155.photobucket.com/albums/p548/raptor4224/m1a1tc3_zpsfd6bd7fe.jpg) Cần điều khiển tháp pháo của trưởng xa. Trưởng xa có thể thực hiện quay tháp pháo, ngắm và khai hoả pháo chính như xạ thủ (http://i1155.photobucket.com/albums/p548/raptor4224/m1a1tc4_zps7da9835a.jpg) Bảng điều khiển của trưởng xa. Xạ thủ được trang bị Kính ngắm chính theo đường ngắm thẳng của xạ thủ (Gunner's Primary Sight-Line of Sight/ GPS-LOS) được phát triển bởi công ty Electro-Optical Systems Division of Hughes Aircraft. Kính ngắm ảnh nhiệt (Thermal Imaging System/ TIS) cũng được phát triển từ Hughes, tạo ra một hình ảnh dựa trên sự phát xạ nhiệt của mục tiêu trên chiến trường. Hình ảnh nhiệt được hiển thị trong các thị kính của kính ngắm xạ thủ cùng với hệ thống đo xa trong phạm vi chính xác đến 10 mét, hệ thống đo xa laser của Hughes cũng tích hợp vào hệ thống điều khiển hoả lực. Trên Abrams cũng có một máy tính điều khiển hỏa lực kỹ thuật số. Dữ liệu về khoảng cách đến mục tiêu bao được hệ thống đo xa laser cung cấp và chuyển trực tiếp đến máy tính điều khiển hỏa lực, tự động tính toán các giải pháp điều khiển hỏa lực. Dữ liệu bao gồm: 1/ Đo lường chính góc 2/ Độ cong của pháo đo bằng hệ thống tham chiếu nòng pháo chính. 3/ Phép đo tốc độ gió từ một cảm biến tốc độ gió trên nóc tháp pháo 4/ Dữ liệu từ một cảm biến con lắc tĩnh nằm ở trung tâm của nóc tháp pháo. Xạ thủ hoặc trưởng xa có thể nhập bằng tay các dữ liệu như loại đạn cần bắn, nhiệt độ, áp suất khí quyển để chuẩn bị tham chiến. (http://i1155.photobucket.com/albums/p548/raptor4224/m1a1gps_zpsfe1122e4.jpg) Kính ngắm chính của xạ thủ. Các kính ngắm quang học, ảnh nhiệt, đo xa laser được đặt trong một cái lồng sắt gọi là "doghouse", giúp bảo vệ các thiết bị quang học tốt hơn (http://i1155.photobucket.com/albums/p548/raptor4224/m1a1coax_zps7f848663.jpg) Súng máy đồng trục 7.62mm M240 (http://i1155.photobucket.com/albums/p548/raptor4224/interiorm1a2gunnerstation-1_zpsa8b1f866.jpg) Vị trí của xạ thủ (http://i1155.photobucket.com/albums/p548/raptor4224/m1a1gunner2_zpsd30737e7.jpg) Cần điều khiển chính của xạ thủ và cần khai hoả pháo (cần màu đỏ) (http://i1155.photobucket.com/albums/p548/raptor4224/m1a1loaderpanel_zps1987d700.jpg) Bảng hiện thị tình trạng của pháo chính Vị trí của lính nạp đạn nằm bên trái tháp pháo và không có thiết bị điều khiển hỏa lực đặc biệt nào. (http://i1155.photobucket.com/albums/p548/raptor4224/m1a1turret2_zps3a7556a2.jpg) Vị trí của lính nạp đạn, hộp trắng ở kế bên có dòng chữ "Coax Ready Ammo" là hộp tiếp đạn cho súng máy đồng trục 7.62mm Vị trí của lái xe được bố trí ở phần giữa, phía trước của thân xe. Người lái điều khiển xe ở tư thế nửa nằm khi đóng nắp và nó là yêu cầu mỗi khi xe đang vận hành. Xung quanh vị trí của anh ta được trang bị các loại các loại đồng hồ, bảng điều khiển tiêu chuẩn phản ánh tình trạng xăng dầu, pin và các thiết bị điện. Lái xe có 3 kính tiềm vọng quan sát bao gồm 2 kính 2 bên và 1 kính tiềm vọng nhìn đêm tăng khả năng quan sát "Starlight - Ánh sáng sao". Các kính này cung cấp góc nhìn 120 độ. Thiết bị nhìn đêm cho phép tăng hoạt động bình thường trong điều kiện ban ngày cũng như khi tối hoặc trong các điều kiện tầm quan sát giảm như bụi, khói, những điều kiện thường gặp trên chiến trường. (http://i1155.photobucket.com/albums/p548/raptor4224/this-marine-took-a-moment-to-show-me-the-inside-of-his-m1a1-abrams-tank-and-where-he-sits-when-he-drives1_zpsd720d445.jpg) Vị trí của lái xe và tư thế nửa nằm khi lái của lính lái xe (http://i1155.photobucket.com/albums/p548/raptor4224/m1a1driver3_zps9b3fc6a0.jpg) Cần lái dạng vô -lăng Tháp pháo được trang bị 2 giàn phóng 6 lựu đạn khói M250, lựu đạn khói tiêu chuẩn chưa một hợp chất phốt pho có thể che mắt các thiết bị ngắm ảnh nhiệt của đối phương. Ngoài ra xe tăng cũng có thể tạo ra khói bằng cách phun dầu diesel vào trong ống xả để tạo ra khói. (http://i1155.photobucket.com/albums/p548/raptor4224/m1a1smoke_zps8280b36b.jpg) Giàn phóng 6 lựu đạn khói M250 Một chương trình cải tiến cho tất cả các xe tăng chiến đấu chủ lực M1A1 với việc thay thế giáp thường bằng giáp làm từ uranium nghèo, với mật độ các phân tử urainum nghèo dày đặc gấp 2 lần rưỡi so với thép. Việc trang bị giáp uranium nghèo sẽ làm tổng trọng lượng của M1A1 Abrams lên 65 tấn nhưng sẽ cho xe tăng một khả năng bảo vệ toàn diện. Đạn dược dành cho vũ khí chính được đặt trong một ngăn chứa bọc thép phía sau cửa trượt được bọc thép. Vách ngăn bọc thép ngăn cách kíp chiến đấu với thùng nhiên liệu. Các xe tăng được trang bị hệ thống chữa cháy tự động Halon. Hệ thống này sẽ tự động hoạt động nếu có một tia lửa hay đám cháy xuất hiện trong 2 phần triệu giây ở các khoang trong xe. Có tấm panel trên nóc xe có tác dụng hất các viên đạn ra ngoài nếu xe tăng bị trúng đạn nổ lõm chống tăng. (http://i1155.photobucket.com/albums/p548/raptor4224/m1a1rack_zpsfe67ddd5.jpg) Ngăn chứa đạn Khả năng bảo vệ cho kíp chiến đấu trong mội trường xạ - sinh - hoá (NBC) được ung cấp bởi hệ thống điều hoà không khí tăng áp, một hệ thống cảnh báo phóng xạ, một máy phát hiện tác nhân hoá học. Kíp chiến đấu được trang bị thêm với áo bảo hộ và mặt nạ. Tiêu đề: Re: Vũ khí, khí tài lục quân Mỹ và Phương Tây Gửi bởi: Raptor Flanker trong 21 Tháng Năm, 2013, 02:43:47 pm Thuỷ quân Lục Chiến Hoa Kỳ đã nhận được các xe tăng chiến đấu chủ lực M1A1 để thay thế các xe tăng chiến đấu chủ lực M60A1 RISE cũ đã hết thời hạn sử dụng và không có khả năng tồn tại và đánh bại các loại xe tăng thế hệ mới khác trong chiến trường hiện đại Trong chiến dịch Tấm Khiên Sa Mạc và Bão Tố Sa Mạc, Thuỷ Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đã thuê 60 chiếc M1A1HA (hay gọi là M1A1 “Giáp Nặng”) từ Lục quân Hoa Kỳ. Cũng có 16 chiếc M1A1 của Thuỷ Quân Lục Chiến được giao theo một lịch trình tăng tốc cho việc triển khai của lực lượng trong chiến dịch. Tổng số 76 chiếc xe tăng M1A1 này được sử dụng bởi Tiểu đoàn Tăng – Thiết giáp Số 2 (2nd Tank Battalion) và Tiểu đoàn Tăng – Thiết giáp Số 4 (4th Tank Battalion). Các xe tăng đã cho thấy khả năng triển khai hành động ngay lập tức trong Lực lượng Thuỷ Quân Lục Chiến Viễn Chinh (I Marine Expeditionary Force/ IMEF) khi thực hiện nhiệm vụ đốt các mỏ dầu ở Kuwait. Tất cả các xe tăng được trả lại cho Lục quân Hoa Kỳ sau Chiến dịch Bão Táp Sa Mạc.
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/0/0a/2nd_Tank_Battalion_insignia.jpg/225px-2nd_Tank_Battalion_insignia.jpg) Logo của Tiểu đoàn Tăng – Thiết giáp Số 2 (2nd Tank Battalion) (http://www.marineparents.com/units/logos/490.jpg) Logo của Tiểu đoàn Tăng – Thiết giáp Số 4 (4th Tank Battalion) (http://farm4.static.flickr.com/3168/2872279484_ac30018303.jpg) Một chiếc xe tăng M1A1 của Trung đoàn Tăng – Thiết giáp Số 4 Do yêu cầu có khả năng đổ bộ đặc biệt từ Thuỷ Quân Lục Chiến và sự hỗ trợ cần thiết trong khả năng tương tác giữa Thuỷ Quân Lục Chiến và Lục quân, 2 lực lượng đồng ý hợp tác sản xuất xe tăng chiến đấu chủ lực M1A1 Xe tăng M1A1 có khả năng hoạt động trên bờ và ven biển và tương thích với các tàu đổ bộ và tàu đệm khí đổ bộ như LCAC của Hải Quân Hoa Kỳ, tàu vận tải tiếp tế hàng hải (Maritime Prepositioning Ship/ MPS). Thuỷ Quân Lục Chiến đã thử nghiệm hết các xe tăng, bao gồm các hoạt động, bảo trì, hoạt động trên MPS và kho nổi bảo trì (Depot Maintenance Float/ DMF) trong năm 1996. Năm 1995, Đơn vị Thuỷ Quân Lục Chiến Viễn Chinh số 26 (26th Marine Expeditionary Unit/ MEU) là đơn vị đầu tiên triển khai M1A1. Điều này đã gây thêm một số phức tạp cho hậu cần của đơn vị do trọng lượng của xe tăng. Do trọng lượng xe tăng nặng hơn 65 tấn nên xe đòi hỏi sự bảo dưỡng đặc biệt trong các hoạt động đổ bộ. Một chiếc M1A1 có thể được chở bằng tàu đổ bộ đệm khí (Landing Craft Air Cushion/ LCAC), hoặc 2 chiếc M1A1 được chở cùng lúc nếu dùng tàu đổ bộ đa dụng (Landing Craft Utility/ LCU), nhưng chúng chỉ chở được nếu vùng biển êm và không có sóng to. Để thực hiện tốt với lực lượng Thuỷ Quân Lục Chiến, xe tăng đã được trang bị một hệ thống hỗ trợ lội nước đặc biệt. Bao gồm kéo dài hệ thống lấy khí và ống xả khói để xe tăng hoạt động khi lội qua sông, trong vùng nước nông hoặc ở khu ven bờ mà Thuỷ Quân Lục Chiến hoạt động. (http://images.vector-images.com/217/26th_marine_expeditionary_unit_emb_n12165.gif) Logo của Đơn vị Thuỷ Quân Lục Chiến Viễn Chinh số 26 (26th Marine Expeditionary Unit/ MEU) (http://img163.imageshack.us/img163/117/366679.jpg) Một chiếc xe tăng M1A1 của Đơn vị Thuỷ Quân Lục Chiến Viễn Chinh số 26 (http://i602.photobucket.com/albums/tt104/vor033/USMC%20-%202/5f042ac7.jpg) Đơn vị Thuỷ Quân Lục Chiến Viễn Chinh số 26 trong buổi diễn tập trong một khoá gọi là "Lực lượng Cơ Giới tấn công chớp nhoáng (Mechanized Raid Course) (http://www.modelshipbuilding.com/350images/lcac-pc.jpg) M1A1 vận chuyển bằng tàu đổ bộ đệm khí (LCAC) (http://i1155.photobucket.com/albums/p548/raptor4224/450x300_q75_zps7840b3e4.jpg) M1A1 đổ bộ từ tàu độ bộ đa dụng (LCU) Tiêu đề: Re: Vũ khí, khí tài lục quân Mỹ và Phương Tây Gửi bởi: Raptor Flanker trong 23 Tháng Năm, 2013, 12:41:34 am Một số phiên bản của M1A1 Abrams M1A1HA "Heavy Armor" (http://i1155.photobucket.com/albums/p548/raptor4224/M1A1HA-3rdACR-DStorm_zps613501fd.jpg) Là phiên bản M1A1 trang bị giáp uranium nghèo thế hệ 1, với độ dày của thân xe là 600mm đối với đạn thanh xuyên động năng có guốc ốp nòng, 700mm đối với đạn nổ lõm chống tăng. Độ dày tháp pháo là 800mm đối với đạn thanh xuyên động năng có guốc ốp nòng, 1300mm đối với đạn nổ lõm chống tăng. Một số được nâng cấp trang bị giáp uranium nghèo thế hệ 2 được gọi với tên không chính thức là M1A1HA+. M1A1HC "Heavy Common" (http://eastofeton.files.wordpress.com/2010/05/110.jpg) M1A1 nâng cấp với giáp uranium nghèo thế hệ 2, hệ thống kiểm soát động cơ kỹ thuật số và một số nâng cấp nhỏ và chung cho Lục Quân và Thuỷ Quân Lục Chiến. M1A1D "Digital" (http://i1155.photobucket.com/albums/p548/raptor4224/M1A1_Abrams_710x495_zps32f66730.jpg) Phiên bản M1A1D là phiên bản được số hoá với khả năng nhận thức tình huống tốt hơn và phát hiện mục tiêu ở khoảng cách xa hơn. Việc lắp đặt hệ thống chỉ huy kỹ thuật số và các gói kiểm soát là điều cần thiết cho M1A1 để tích hợp hệ thống chỉ huy Force XXI. Một kế hoạch cải tiến thay thế các Hộp Mạng Tháp Pháo (Turret Network Box/ TNB) và Hộp Mạng Thân Xe (Hull Network Box/ HNB) dạng analog sang các đơn vị mới dạng kỹ thuật số để loại bỏ các vấn đề lạc hậu, cho phép đưa vào sử dụng hệ thống kiểm tra tích hợp sẵn (Built-In-Test/ BIT), tạo khả năng hỗ trợ cho cấu trúc bảo trì. Các Hộp Mạng Tháp Pháo và Hộp Mạng Thân Xe kỹ thuật số đồng thời cho phép các hệ thống điện tử phát triển bằng cách cấp các hệ thống VME không được phổ biến lắm. Để tăng khả năng sống sót, Lục Quân đang phát triển và đưa ra những tấm giáp dự phòng mỏng và nhẹ, nhưng với khả năng bảo vệ cao . Những giáp này có thể được áp dụng cho một trong hai bên sườn hoặc mặt trước của xe tăng Abrams để cung cấp bảo vệ bổ sung theo yêu cầu của nhiệm vụ. Lục quân cũng đang tìm kiếm nguồn tài trợ để nâng cấp hệ thống điều khiển hỏa lực M1A1 cùng với hệ thống trinh sát hồng ngoại phía trước (Forward Looking Infra-Red/ FLIR) thế hệ 2 như M1A2. M1A1AIM version 1(Abrams Integrated Management) (http://i1155.photobucket.com/albums/p548/raptor4224/f2455688_zpsbc9f8cc7.jpg) M1A1AIM version 1 của Lục quân Phòng vệ Australia Chương trình nâng cấp M1A1 với hệ thống trinh sát hồng ngoại phía trước (Forward Looking Infra-Red/ FLIR), cảm biến định vị mục tiêu ở khoảng cách xa (Far Target Locate Sensor), hệ thống liên lạc mới, bao gồm hệ thống chỉ huy FBCB2 (Force XXI Battle Command Brigade and Below) và Blue Force Tracking để hỗ trợ khả năng nhận thức tình huống cho kíp chiến đấu, gắn thiết bị ngắm ảnh nhiệt cho súng máy 12.7mm. General Dynamics đã trúng thầu để cung cấp cho Lục Quân Hoa Kỳ phiên bản này. M1A1AIM version 2/ M1A1SA (Situation Awareness) (http://i1155.photobucket.com/albums/p548/raptor4224/9a38f690_zps262234f1.jpg) M1A1AIM/SA của Lục Quân Phòng vệ Australia Phiên bản nâng cấp như M1A1AIM version 1, trang bị thêm giáp uranium nghèo thế hệ 3. M1A1FEP (Firepower Enhancement Package) (http://i011.radikal.ru/1011/ee/47bf7b7bc54a.jpg) Phiên bản nâng cấp cho Thuỷ Quân Lục Chiến với gói nâng cấp tương tự như M1A1AIM version 2. M1A1KVT (Krasnovian Variant Tank) Phiên bản M1A1 được thay đổi trực quan thành xe tăng Liên Xô, sử dụng ở Trung tâm Huấn Luyện Quốc Gia (National Trainning Center). M1A1M (http://i1155.photobucket.com/albums/p548/raptor4224/42f5435ae8254e29a2733f7_zps543fdaed.jpg) Phiên bản xuất khẩu cho Lục quân Iraq. M1A1SA "Special Armor" Phiên bản dự kiến xuất khẩu cho Lục Quân Hoàng Gia Morrocco. Tiêu đề: Re: Vũ khí, khí tài lục quân Mỹ và Phương Tây Gửi bởi: Raptor Flanker trong 23 Tháng Năm, 2013, 10:15:38 am Lịch sử hoạt động Chiến tranh Vùng Vịnh Abrams vẫn chưa được kiểm tra trong chiến đấu cho đến khi chiến tranh Vùng Vịnh diễn ra vào năm 1991. Trong chiến dịch Bão Táp Sa Mạc, tổng cộng có 1.848 xe tăng M1A1 đã được triển khai đến Ả Rập Saudi để tham gia vào giải phóng Kuwait. Các M1A1 là vượt trội so hơn với các xe tăng thời Liên Xô như T-54/55, T-62 của Iraq, cũng như T-72 nhập khẩu từ Liên Xô và Ba Lan. Sự tồn tại của xe tăng T-72 được sản xuất theo giấy phép (biệt danh là Asad Babil) đã gây nên một số tranh cãi. Theo các quan chức Ba Lan, xe tăng nội địa không được sản xuất vì nhà máy xe tăng Iraqi Taji đã bị phá hủy trong 1991.T-72 của Iraq giống như hầu hết các thiết kế xuất khẩu của Liên Xô, thiếu hệ thống nhìn đêm và máy đo xa hiện đại, mặc dù họ có một số xe tăng chiến đấu ban đêm với hệ thống đèn hồng ngoại hoặc đèn pha. Tổng cộng có 23 xe tăng M1A1 bị hư hại hoặc bị phá hủy trong chiến tranh. Trong 9 xe M1A1 Abrams bị phá hủy, 7 chiếc đã bị phá huỷ bở hoả lực của đồng minh, và 2 chiếc còn lại cố tình phá hủy để ngăn chặn việc bị bắt giữ sau khi bị hư hại. Một số chiếc khác thì chỉ thiệt hại nhỏ trong chiến đấu, với ít ảnh hưởng đến sự sẵn sàng hoạt động của chúng. Rất ít xe tăng M1A1 bị trúng đạn kẻ thù, kết quả là không có trường hợp tử vong và chỉ có một số người bị thương. Các M1A1 có tầm bắn hơn 2.500 mét (8.200 ft). Phạm vi này là rất quan trọng trong chiến đấu chống lại xe tăng thế hệ trước của Liên Xô trong Bão Táp Sa Mạc, tầm bắn hiệu quả của pháo chính trong các xe tăng Liên Xô/ Iraq là ngắn hơn 2.000 mét (6.600 ft). Điều này có nghĩa là xe tăng Abrams có thể tiêu diệt xe tăng Iraq trước khi đối phương có được tầm bắn - một lợi thế quyết định trong các loại hình chiến đấu. Trong sự cố trúng đạn của đồng minh, giáp trước và phía bên tháp pháo đã giúp xe tăng sống sót trực tiếp bởi đạn xuyên động năng có guốc ốp nòng bắn từ xe tăng M1A1 khác. Đây không phải là trường hợp cho giáp bên của thân và giáp phía sau của tháp pháo, cả hai vị trí này đã bị bắn trúng ít nhất là hai lần bởi đạn xuyên động năng làm từ uranium nghèo bắn bời đồng minh trong trận Norfolk. Trong quá trình hoạt động trong chiến dịch Tấm Khiên Sa Mạc và Bão Táp Sa Mạc một số xe tăng IPM1 và M1A1 đã được sửa đổi tại địa phương. Các xe tăng này được gắn thêm giáp đồng nhất ở mặt trước tháp pháo. M1 có thể được trang bị bộ lắn cào chống mìn. (http://www.israeli-weapons.com/history/desert_storm/ds_abrams.jpg) M1A1 trong Chiến dịch Bão Táp Sa Mạc Chiến tranh Iraq năm 2003 Năm 2003 khi các lực lượng Hoa Kỳ tấn công Iraq và lật đổ nhà lãnh đạo Iraq Saddam Hussein trong Chiến dịch Iraq Tự Do . Tính đến tháng 3 năm 2005, khoảng 80 xe tăng Abrams đã buộc phải rời khỏi giao tranh do các cuộc tấn công của đối phương. Thành tựu không cân xứng của M1A1 là sự tàn phá của 7 chiếc T-72 trong một trận đánh giáp lá cà quy mô nhỏ (ít hơn 50 thước (46 m)) gần Mahmoudiyah, khoảng 18 dặm (29 km) về phía nam Baghdad, không có thiệt hại cho phía Mỹ. Ngoài các "Abrams đã được trang bị vũ khí hạng nặng, một số kíp chiến đấu cũng đã mang theo vũ khí chống tăng vác vai AT4 M136 theo giả định rằng họ có thể phải tham gia tấn công xe tăng đối phương trong không gian hẹp, nơi mà các pháo chính của xe tăng khó có thể khai hoả. Sau bài học kinh nghiệm trong Bão Táp Sa Mạc, các xe tăng Abrams và nhiều phương tiện chiến đấu khác của Hoa Kỳ sử dụng trong cuộc xung đột đã được trang bị các tấm bảng Nhận diện trong chiến đấu (Combat Identification Panels) để giảm sự cố bắn nhầm bởi đồng minh. Chúng được trang bị ở hai bên và phía sau của tháp pháo, với tấm bảng có hình ảnh bốn góc hình chữ nhật ở hai bên phía trước tháp pháo. Một số Abrams cũng được trang bị với một giá lưu trữ thứ cấp trên mặt sau của tháp pháo. Là một phần mở rộng các giá chứa đồ để cho phép kíp chiến đấu mang nhiều đồ dùng hơn. (http://i1155.photobucket.com/albums/p548/raptor4224/a0109941_498af3f189113_zps16a3abb6.jpg) Tấm bảng Nhận diện trong chiến đấu có hình ảnh bốn góc hình chữ nhật ở hai bên phía trước tháp pháo (http://i1155.photobucket.com/albums/p548/raptor4224/f9979a897906_zps0dcbe5df.jpg) Tấm bảng Nhận diện trong chiến đấu trang bị ở hai bên tháp pháo Một số xe tăng Abrams đã được thu hồi do mất tính di động hoặc các trường hợp khác là bị phá hủy bởi các lực lượng đồng minh để ngăn chặn việc bắt giữ các xe tăng của họ bời đối phương, thường là bằng cách dùng xe tăng Abrams khác bắn vào. Một số xe tăng Abrams đã bị vô hiệu hóa bởi bộ binh Iraq phục kích. Một số binh lính sử dụng tên lửa chống tăng tầm ngắn và bắn vào các dây xích, phía sau xe và nóc tháp pháo. Một số xe tăng thì bị gây tê liệt bới các pháo tự động. Đa số xe tăng Abrams bị hư hỏng sau cuộc tấn công là bởi các thiết bị nổ tự chế (Improvised Explosive Devices/ IED). Trong tháng năm 2008, có tin nói rằng một chiếc xe tăng M1 của Mỹ cũng đã bị hư hại bởi súng chống tăng vác vai RPG-29, loại đạn của súng này là đạn nổ lõm liều kép, dùng xuyên qua giáp phản ứng nổ (ERA) cũng như áo giáp tổng hợp phía sau nó. Hoa Kỳ coi RPG-29 là mối đe dọa cho các xe tăng, xe thiết giáp của Hoa Kỳ và từ chối không cho quân đội Iraq mới được thành lập mua nó, vì sợ rằng nó sẽ đã rơi vào tay quân nổi dậy. Chiến tranh Afghanistan Các xe tăng khó hoạt động ở Afghanistan do địa hình gồ ghề, mặc dù Canada và Đan Mạch đã triển khai xe tăng chiến đấu chủ lực Leopard 1 và 2 đã được sửa đổi đặc biệt để hoạt động trong các điều kiện tương đối bằng phẳng và khô cằn ở phía tây nam Afghanistan. Vào cuối năm 2010 theo yêu cầu của khu vực Tây Nam, Thủy quân Lục Chiến Hoa Kỳ triển khai một đội nhỏ bao gồm 14 chiếc M1A1 Abrams từ Delta Company, Tiểu Đoàn Tăng – Thiết giáp Số 1 (1st Tank Battalion) , Sư Đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến Số 1 (1st Marines Division) tới miền nam Afghanistan để hỗ trợ cho các hoạt động tại các tỉnh Helmand và Kandahar. (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/5/5b/1st_Tnk_battalion_insignia.png/225px-1st_Tnk_battalion_insignia.png) Logo của Tiểu Đoàn Tăng – Thiết giáp Số 1 (1st Tank Battalion) (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/9/9f/1st_MARDIV_2_insignia.png/225px-1st_MARDIV_2_insignia.png) Logo của Sư Đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến Số 1 (1st Marines Division) Tiêu đề: Re: Vũ khí, khí tài lục quân Mỹ và Phương Tây Gửi bởi: Raptor Flanker trong 23 Tháng Năm, 2013, 09:26:16 pm (http://i1155.photobucket.com/albums/p548/raptor4224/M1A1_USMC_T_zps657f8d18.png) Hình vẽ của M1A1 Abrams Thông số kỹ thuật cơ bản: Kíp chiến đấu (người): 4. Trọng lượng (tấn): 63. Chiều dài toàn bộ (m): 9.83 (kể cả nòng pháo). Chiều dài thân (m): 7.93. Rộng (m): 3.66. Cao (m): 2.89. Áp lực xích lên mặt đất (kg/cm2): 1.05. Vũ khí: Pháo chính nòng trơn M256. Cỡ nòng (mm): 120. Cơ số đạn (viên): 40. Góc nâng pháo (độ): -10…+20. Góc quay tháp pháo (độ): 360. Hệ thống ổn hướng: 2 trục. Súng máy đồng trục M240. Cỡ nòng (mm): 7.62. Cơ số đạn (viên): 11.400. Súng máy phòng không M2HB. Cỡ nòng (mm): 12.7. Cơ số đạn (viên): 1.000. Súng máy dành cho lính nạp đạn M240. Cỡ nòng (mm): 7.62. Cơ số đạn (viên): 11.400. Khả năng bảo vệ: Kiểu giáp: Giáp kiểu Chobham, giáp đồng nhất, giáp uranium nghèo, giáp phản ứng nổ, các tấm bọc Kevlar. Độ dày tương ứng (mm): - M1A1: 600mm đối với đạn xuyên động năng có guốc ốp nòng. 700mm đối với đạn nổ lõm chống tăng . - M1A1HA: 600mm (thân xe)/ 800mm (tháp pháo) đối với đạn xuyên động năng có guốc ốp nòng 800mm (thân xe)/ 1300mm (tháp pháo) đối với đạn nổ lõm chống tăng. Động cơ: Động cơ turbine khí đa nhiên liệu Honeywell AGT1500 công suất 1500 mã lực. Bộ truyền động Allison DDA-X-1100-3B. Tốc độ tối đa (km/h): 67. Tầm hoạt động (km): 479. Khả năng vượt chướng ngại vật Leo dốc (độ): 40. Vách đứng (m): 1.24. Hào rộng (m): 2.74 Vượt sông sâu khi không chuẩn bị ống thông hơi (m): 2. Quốc gia sử dụng: - Hoa Kỳ (M1A1, M1A1HA, M1A1HA+, M1A1HC, M1A1AIM, M1A1AIM v 2/ SA, M1A1D, M1A1FEP, M1A1KVT). - Australia (M1A1AIM, M1A1AIM v 2/SA). - Ai Cập (M1A1). - Iraq (M1A1M). (http://i1155.photobucket.com/albums/p548/raptor4224/M1A1_05_zps143d78fc.jpg) M1A1 với lưỡi cào mìn (Mine-Clearing Blade/ MCB) (http://i1155.photobucket.com/albums/p548/raptor4224/M1A1_MCR_00_zps4620a6c5.jpg) M1A1 với bộ lăn chống mìn (Mine-Clearing Roller/ MCR) Tiêu đề: Re: Vũ khí, khí tài lục quân Mỹ và Phương Tây Gửi bởi: Raptor Flanker trong 30 Tháng Sáu, 2013, 11:01:16 am Xin các admin. moderator tạm thời khóa topic của tôi lại nhé, vì hiện tại tôi đang có vài việc bận nên trong khoảng thời gian này chưa thể viết tiếp được. Khoảng hè năm sau tôi sẽ viết lại. Khi nào tôi pm tôi sẽ nhờ các admin, moderator mở khóa giúp tôi. Xin cảm ơn.
Tiêu đề: Re: Vũ khí, khí tài lục quân Mỹ và Phương Tây Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Bảy, 2013, 07:40:29 pm Tạm khóa theo yêu cầu của thành viên mở chủ đề.
|