Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thảo luận Lịch sử bảo vệ Tổ quốc => Từ thuở mang gươm đi mở cõi... => Tác giả chủ đề:: mytam44 trong 10 Tháng Chín, 2007, 06:13:57 pm



Tiêu đề: Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam
Gửi bởi: mytam44 trong 10 Tháng Chín, 2007, 06:13:57 pm
Trận Bạch Đằng (Năm 938)

(http://i61.photobucket.com/albums/h53/mytam81/bachdg5.jpg)

Sau khi đánh bại Quân Nam Hán vào năm 1921, đất nước ta lại giành được quyền tự chủ.

Dương Đình Nghệ xưng là tiết độ sứ, Ngô Quyền, vị tướng giỏi và là con rể của ông được cử trông coi châu Ái. Đinh Công Trứ (bố Đinh Bộ Lĩnh) được giữ chứ thứ sử châu Hoan.

Năm 937 Dương Đình Nghệ bị một viên tướng của mình là Kiều Công Tiễn, Hào trưởng Châu Phong giết chết để đoạt chức Tiết độ sứ.

Nghe tin Dương Đình Nghệ bị giết, Ngô Quyền kéo quân từ châu Ái ra Bắc để trị tội tên phản bội (tháng 11 năm 938). Kiều Công Tiễn đã đê hèn cho người đem của cải sang đút lót vua Nam Hán để xin cứu viện. Hành động bán nước của y làm tăng thêm lòng căm giận của nhân dân. Vốn chưa từ bỏ dã tâm xâm lược nước ta, cuối năm 938 vua Nam Hán phong con là vạn vương Hoằng Thao làm Giao Vương, sai đem thuỷ quân sang xâm lược nước ta. Vua Nam Hán cũng tự cầm quân đóng ở Hải môn (Huyện Bác bạch, Quảng Đông) sẵn sàng tiếp ứng cho Hoằng Thao.

Ngô Quyền (899-944) người Đường Lâm, Hà Tây là con Ngô Mân, châu mục châu ấy. Ông có sức khoẻ, chí lớn, mưu cao, mẹo giỏi. Khi quân Nam Hán còn đang ngấp nghé ngoài bờ cõi thì Ngô Quyền được quân sỹ và nhân dân ủng hộ đã hạ được thành Đại La, giết chết tên bán nước Kiều Công Tiễn, trừ mối hoạ bên trong, ổn định tình hình trong nước, gấp rút tổ chức kháng chiến.

Nghe tin Hoằng Thao sắp sang xâm lược nước ta, Ngô Quyền bảo tướng tá rằng:"Hoằng Thao là một đứa trẻ dại, đem quân từ xa đến, quân lính mỏi mệt, lại nghe được tin công tiễn đã chết, không có người làm nội ứng, đã sợ mất vía trước rồi. Quân ta sức mạnh, đối địch với quân mỏi mệt, tất phá được. Song họ có lợi ở thuyền, nếu ta không phòng bị trước thì chuyện được thua chưa thể biết được. Nếu ta sai người đem cọc lớn đóng ngầm ở cửa biển trước, vạt nhọn đầu bịt sắt, thuyền của họ nhân khi nước triều lên tiến vào trong hàng cọc, bấy giờ ta sẽ dễ bề chế ngự. Không kế gì hơn kế ấy cả.

Nắm vững đường tiến quân của địch từ mặt biển vào, Ngô Quyền đã huy động lực lượng quân dân tại chỗ đẵn gỗ, đẽo cọc, đầu bịt sắt nhọn, cắm đầy lòng sông Bạch Đằng tại nơi hiểm yếu gần cửa biển, xây dựng thành một trận địa ngầm, có quân mai phục phía trong, sẵn sàng chờ giặc.

Hoằng Thao đem thuỷ binh ồ ạt kéo vào phía cửa Bạch Đằng, đang lúc nước triều lên ngập hết bãi cọc, Ngô Quyền khéo léo dùng thuyền nhẹ ra đánh nhử quân Nam Hán, dụ địch từ Vịnh Hạ Long vào sông Bạch Đằng. Quân ta vờ rút chạy. Tên tướng trẻ kiêu ngạo Hoằng Thao mắc mưu, thúc quân chèo thuyền chiến hăm hở đuổi theo, vượt qua bãi cọc ngầm của ta. Quân ta cầm cự với giặc, đợi khi thuỷ triều rút xuống mạnh, Ngô Quyền hạ lệnh cho toàn quân đánh quật lại. Thuỷ quân Nam Hán hốt hoảng quay đầu chạy. Ra đến gần cửa biển thuyền địch đâm phải cọc nhọn, bị vỡ và đắm rất nhiều. Quân giặc phần bị giết, phần chết đuối, thiệt hại đến quá nửa. Hoằng Thao cũng bỏ mạng nơi đây. Đội quân xâm lược đại bại. Vua Nam Hán đang điều quân sang tiếp viện cho con, nghe tin Hoằng Thao tử trận, y vội thu nhặt tàn quân rút chạy.




Tiêu đề: Re: Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam
Gửi bởi: seahawk1 trong 09 Tháng Mười, 2007, 08:13:53 pm
Trận Bạch Đằng (Năm 938)

(http://i61.photobucket.com/albums/h53/mytam81/bachdg5.jpg)

Sau khi đánh bại Quân Nam Hán vào năm 1921, đất nước ta lại giành được quyền tự chủ.




Xin mạo muội đính chính lại là năm 931. Từ sau 938 trở đi đến trước 1945, chúng ta đã phải đánh giặc bắc thêm những lần sau:
- Đánh Tống năm 981
- Đánh Tống giai đoạn 1075-1077
- Đánh Mông cổ lần 1 năm 1258
- Đánh Mông cổ lần 2 năm 1285
- Đánh Mông cổ lần 3 năm 1287-88
- Đánh Minh lần 1 (nhà Hồ) năm 1406
- Đánh Minh lần 2 (nhà Hồ) năm 1406-1407
- Kháng chiến chống Minh của Lê Lợi 1418-1427
- Đánh quân Thanh năm 1788-89





Tiêu đề: Re: Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam
Gửi bởi: Tunguska trong 14 Tháng Mười, 2007, 08:42:03 pm
- Đánh Minh lần 1 (nhà Hồ) năm 1406

Hình như lần này là đánh thắng đúng không bác nhỉ. Thấy sử sách ít nhắc đến quá.


Tiêu đề: Re: Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam
Gửi bởi: dongadoan trong 14 Tháng Mười, 2007, 08:53:36 pm
Hình như lần này là đánh thắng đúng không bác nhỉ. Thấy sử sách ít nhắc đến quá.
----------------------------------------------------------------------
 Thắng to ấy chứ!(http://thongdiepthoigian.bantay.net/Bm21/Anh/IconYM/4.gif)


Tiêu đề: Re: Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam
Gửi bởi: seahawk1 trong 15 Tháng Mười, 2007, 08:47:34 pm
- Đánh Minh lần 1 (nhà Hồ) năm 1406

Hình như lần này là đánh thắng đúng không bác nhỉ. Thấy sử sách ít nhắc đến quá.

Hic, lần duy nhất tớ đọc được về vụ này là trong một cuốn mượn của chú bạn hồi cấp 2, một nửa viết về Lê Lợi, một nửa viết về Quang Trung, hồi ấy đọc phê lắm. Đại khái chỉ nhớ có một tay tôn thất nhà Trần là Trần Thiên Bình được quân Minh đưa về nước theo chiêu bài "Diệt Hồ phù Trần", nhưng bị quân nhà Hồ đánh bại, có lẽ vì quân Minh cũng hơi chủ quan. Sau đó, Minh thành tổ cho danh tướng Trương Phụ dẫn hơn 200000 quân sang, kết quả là cha con Hồ Quý Ly thua to. (Nếu không kể Triệu Đà thì chỉ có vài lần quân Trung quốc nam chinh thành công, nhất là khi Việt nam đã lấy lại được độc lập. Để thắng được Hai Bà Trưng phải cậy nhờ đến danh tướng Mã Viện nổi tiếng, Trương Phụ cũng là một danh tướng của Minh triều, chưa kể đến anh chàng Địch Thanh nổi tiếng cũng phải toát mồ hôi hột mới hạ thủ được bác tù trưởng Nùng Trí Cao đã từng bị nhà Lý khống chế dễ dàng). Nhìn chung mặc dù Trung Quốc khoe khoang về binh pháp danh tướng của họ, nhưng trên thực tế tướng tàu cũng giống như các đội giải ngoại hạng anh, đánh lẫn nhau thì hay nhưng đi đánh xứ người thì kết quả chẳng lấy gì làm vẻ vang. Tiếc nhất cho Việt Nam là năm 1402, Tamerland đang định tấn công Trung Quốc bắt chước Hốt Tất Liệt thì bị bệnh chết, nếu không nhà Minh sẽ khốn khổ để đối phó với con Hổ thọt này, chẳng còn hơi sức đâu nam hạ, Việt Nam đã có thể thoát được 20 năm thuộc Minh, một giai đoạn đã làm mất hầu như toàn bộ di sản dưới dạng sách vở của nước ta cả thời Lý -Trần, kết quả là nguồn sử liệu từ thế kỷ 15 về trước của ta hiện giờ cực kỳ nghèo nàn.


Tiêu đề: Re: Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam
Gửi bởi: seahawk1 trong 15 Tháng Mười, 2007, 08:57:56 pm
Nếu bàn về những trận đánh có quy mô lớn trong lịch sử Việt Nam thì trận Bạch Đằng quy mô vẫn nhỏ, còn nhiều trận khốc liệt hơn nhiều. Chẳng hạn như lần viễn chinh lớn nhất trong lịch sử việt nam của Lê Thánh Tông năm Hồng Đức thứ 2 (1471), Lê Thánh Tông đã huy động đến 250 ngàn quân, trong đó ông tự dẫn 100 ngàn quân đi đường biển đánh thẳng vào Chiêm Thành, đồng thời một cánh quân bộ đông tơis 150 ngàn người tấn công theo đường bộ qua đèo ngang. Quân số huy động (nếu tin vào con số này) ngang ngửa với số quân Suleiman I đem đi tấn công Vienne năm 1529, cũng không kém gì quân số các chiến dịch thời Napoleon. Với quy mô như thế, chiến trận chắc phải ác liệt. Và sau chiến dịch này Chiêm Thành vĩnh viễn không bao giờ hồi phục được để đe dọa Việt Nam từ phía nam nữa.

Các trận đánh thời chiến tranh Nam Bắc triều (1533-1592) và thời Trịnh Nguyễn (1627- 1672) cũng rất khốc liệt. Tớ đọc cuốn "Nam triều công nghiệp diễn chí" có viết khá rõ về hai cuộc chiến này, nhất là chiến tranh trịnh nguyễn. Bác nào đọc "Gia tô bí lục" hay vài cuốn nói về chiến tranh giữa Tây Sơn và Nguyễn Gia Miêu cũng rất nhiều trận tóe lửa, phía nào cũng có trận thắng vẻ vang và có trận thua thê thảm.


Tiêu đề: Re: Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam
Gửi bởi: chiangshan trong 15 Tháng Mười, 2007, 09:47:48 pm
Tiếc nhất cho Việt Nam là năm 1402, Tamerland đang định tấn công Trung Quốc bắt chước Hốt Tất Liệt thì bị bệnh chết, nếu không nhà Minh sẽ khốn khổ để đối phó với con Hổ thọt này, chẳng còn hơi sức đâu nam hạ, Việt Nam đã có thể thoát được 20 năm thuộc Minh, một giai đoạn đã làm mất hầu như toàn bộ di sản dưới dạng sách vở của nước ta cả thời Lý -Trần, kết quả là nguồn sử liệu từ thế kỷ 15 về trước của ta hiện giờ cực kỳ nghèo nàn.

Nghĩ cũng đau là việc Mông Cổ thôn tính TQ đã vô tình sáp nhập hết Kim, Hạ, Đại Lý.... vào tay người Hán. Lãnh thổ TQ không bị sức ép gay gắt như trước, lại có thêm nhân lực, vật lực, càng rảnh tay nam chinh. Đại Việt ta sau này vẫn có những lần kháng chiến thắng lợi, nhưng cũng không thể trở lại thời kỳ ngang tàng, sẵn sàng mang quân đánh lên phía bắc như thời Lý, Trần được nữa. Cụ Hoàng Xuân Hãn sau này còn tiếc là lúc Nam Tống đang bị Mông Cổ o ép, nhà Trần đã không tận dụng thời cơ mà tiến lên thu hồi vùng lãnh thổ bị mất thời 1075-1077.


Tiêu đề: Re: Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam
Gửi bởi: seahawk1 trong 16 Tháng Mười, 2007, 11:06:51 pm
Tiếc nhất cho Việt Nam là năm 1402, Tamerland đang định tấn công Trung Quốc bắt chước Hốt Tất Liệt thì bị bệnh chết, nếu không nhà Minh sẽ khốn khổ để đối phó với con Hổ thọt này, chẳng còn hơi sức đâu nam hạ, Việt Nam đã có thể thoát được 20 năm thuộc Minh, một giai đoạn đã làm mất hầu như toàn bộ di sản dưới dạng sách vở của nước ta cả thời Lý -Trần, kết quả là nguồn sử liệu từ thế kỷ 15 về trước của ta hiện giờ cực kỳ nghèo nàn.

Nghĩ cũng đau là việc Mông Cổ thôn tính TQ đã vô tình sáp nhập hết Kim, Hạ, Đại Lý.... vào tay người Hán. Lãnh thổ TQ không bị sức ép gay gắt như trước, lại có thêm nhân lực, vật lực, càng rảnh tay nam chinh. Đại Việt ta sau này vẫn có những lần kháng chiến thắng lợi, nhưng cũng không thể trở lại thời kỳ ngang tàng, sẵn sàng mang quân đánh lên phía bắc như thời Lý, Trần được nữa. Cụ Hoàng Xuân Hãn sau này còn tiếc là lúc Nam Tống đang bị Mông Cổ o ép, nhà Trần đã không tận dụng thời cơ mà tiến lên thu hồi vùng lãnh thổ bị mất thời 1075-1077.

Có điều là hồi Nam Tống lâm nguy đã cuối thế kỷ 12, thời đó thì nhà Lý cũng đã kiệt quệ lắm rồi, nhất là sau khi Tô Hiến Thành mất năm 1179. Đến nỗi có ông sư Quách Bốc chán đi tu nổi dậy làm hảo hán mà thế tử nhà Lý đã phải bỏ Thăng Long khăn gói quả mướp chạy tít về tận Hải Dương. Rồi đủ thứ nội chiến liên miên đến tận gần hết phần tư đầu tiên thế kỷ 13, ốc còn mang chưa xong vỏ thế thì chiếm đất của ai được.

Nói về cuộc viễn chinh thê thảm nhất trong lịch sử việt nam trước kia thì phải kể đến lần Trần Duệ Tông nam chinh năm 1377. Đây là lần duy nhất (thì phải) vua Việt Nam chết trận xứ người như thế. Hay như trận Hồ Quý Ly (thực sự nghi ngờ khả năng quân sự của cái bác Đại Ngu Thái Tổ này) bị thua Chế Bồng Nga năm 1389, thê thảm đến mức có 76 tướng tử trận, tướng đã thế không biết quân chết bao nhiêu. Cũng may mà CHế Bồng Nga ăn đạn chết, chứ không thì Đại Việt cũng nguy to với CHiêm thành lần đó.


Tiêu đề: Re: Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam
Gửi bởi: caytrevietnam trong 28 Tháng Mười, 2007, 09:56:23 am
  Không thấy mọi người nhắc đến trận Bô Cô nhỉ, quân Hậu Trần trận đó đánh ác phết, thằng Mộc Thạch mang quân tăng viện sang bị dính đòn này sợ vãi, theo sách Đại Việt sử ký toàn thư thì trận này bọn Minh bị giết đến 10 vạn, chết mất mấy tướng lĩnh và văn quan cao cấp.
  Mấy bác bảo các cụ nhà mình ko tranh thủ bọn Tống đang thoi thóp mà đánh lên phía bắc là nhầm rồi, Trần Thái Tông có trực tiếp dẫn quân tấn công đấy chứ, ông còn tự xưng là Trai Lang...Có tài liệu nào đó nói phần đất mà Mạc Đăng Dung cắt cho bọn Minh thực ra ko phải của mình, nó vốn là đất Tàu bị các cụ nhà mình xẻo mất


Tiêu đề: Re: Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam
Gửi bởi: chiangshan trong 28 Tháng Mười, 2007, 11:53:08 am
Mấy bác bảo các cụ nhà mình ko tranh thủ bọn Tống đang thoi thóp mà đánh lên phía bắc là nhầm rồi, Trần Thái Tông có trực tiếp dẫn quân tấn công đấy chứ, ông còn tự xưng là Trai Lang...Có tài liệu nào đó nói phần đất mà Mạc Đăng Dung cắt cho bọn Minh thực ra ko phải của mình, nó vốn là đất Tàu bị các cụ nhà mình xẻo mất

Cụ đi loanh quanh rồi lại rút về chứ không phải chiếm đóng bác ạ. Mà cụ cũng chỉ loanh quanh ở Khâm, Liêm chứ có vào sâu được như thời Lý Thường Kiệt đâu, ngay cả cờ quạt cũng không trưng là quân Đại Việt.

Hình như chỉ có thời Trần Thánh Tông là các cụ lên chiếm ải Nam quan từ tay Tống, từ đó giao thương với Nguyên mới không phải qua đường Vân Nam nữa.


Tiêu đề: Re: Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam
Gửi bởi: caytrevietnam trong 01 Tháng Mười Một, 2007, 03:15:29 pm
  Nghĩ mà tiếc nhỉ, giá mà thời bọn Nam Tống đang èo ọt, các cụ nhà mình cho người đi liên minh với Liêu, Hạ ở phía bắc; Thổ Phồn, Tây Tạng...ở phía tây và Đại Lý ở phía Nam rồi cùng "tổng tấn công" thì đến giờ đâu cứ phải canh cánh nỗi lo từ phương bắc nữa...kekeke


Tiêu đề: Re: Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam
Gửi bởi: seahawk1 trong 02 Tháng Mười Một, 2007, 11:04:33 pm
  Không thấy mọi người nhắc đến trận Bô Cô nhỉ, quân Hậu Trần trận đó đánh ác phết, thằng Mộc Thạch mang quân tăng viện sang bị dính đòn này sợ vãi, theo sách Đại Việt sử ký toàn thư thì trận này bọn Minh bị giết đến 10 vạn, chết mất mấy tướng lĩnh và văn quan cao cấp.
  Mấy bác bảo các cụ nhà mình ko tranh thủ bọn Tống đang thoi thóp mà đánh lên phía bắc là nhầm rồi, Trần Thái Tông có trực tiếp dẫn quân tấn công đấy chứ, ông còn tự xưng là Trai Lang...Có tài liệu nào đó nói phần đất mà Mạc Đăng Dung cắt cho bọn Minh thực ra ko phải của mình, nó vốn là đất Tàu bị các cụ nhà mình xẻo mất

Trận Bô Cô là thời Giản Định Đế nổi dậy kháng Minh. Có công lớn ở trận này là Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân. Chỉ tiếc là chưa kịp bắn hết chim thì Giản Định đã bỏ ná sát hại cả hai người. Kết quả là phải đợi khi Lê Lợi khởi nghĩa nước ta mới thoát vòng thuộc Minh. Có lẽ Việt Nam là nước nhỏ, dân số cũng có hạn nên quy mô các trận đánh cũng vừa phải (nói thêm là Trung Quốc nhiều khi cũng phét lác quá. VD: Thời chiến quốc khéo cả thế giới cộng lại cũng chỉ được chưa đến 100 triệu dân, TQ chắc ko quá 20 triệu lại chia bao nhiêu nước, thế mà Triệu chết được đến 450 ngàn quân ở Trường Bình thì cũng khó tin). Có thể kể ra vài trận đánh đáng nói:
-Cả chiến dịch chống Tống năm 981 của Lê Hoàn. Theo như sách ta thì quân Tống huy động khoảng 100 ngàn quân và thất bại thê thảm. Chủ tướng Hầu Nhân Bảo toi mạng ở Chi Lăng.
-Nam chinh to nhất thì có chiến dịch năm 1471 của Lê Thánh Tông huy động đến 250 ngàn quân như đã nói trước đây. Tiếc là tớ không có nhiều tư liệu.
-Thời hai họ Nguyễn tranh hùng cũng có nhiều trận quy mô lớn, như trận quân Nguyễn Gia Miêu diệt thủy quân Tây sơn ở Thị Nại năm 1800 hay 1801,
-Thời Nam Bắc triều cũng có vài lần nhà Mạc huy động đến 100 ngàn quân tấn công nhà Lê, nhưng rút cục đều thất bại, lần tệ hại nhất năm 1592 theo đại việt sử ký quân Mạc chết đến 10 ngàn người, với quân số thời đó quả thực là khủng khiếp.
-Thời Trần hiển nhiên có nhiều trận đánh dữ dội, thắng thì nhiều người nói rồi, thua thì nổi tiếng nhất là Hồ Quý Ly bị Chế Bồng Nga nện cho đến mức mất 76 tướng trong một trận năm 1389.


Tiêu đề: Re: Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam
Gửi bởi: AK47 trong 10 Tháng Mười Một, 2007, 01:35:26 am
Còn nhà Hậu Trần cũng có kháng chiến chống giặc phương bắc nữa mà các thủ trưởng.
Giai đoạn này dường như ít thấy tài liệu đề cập quá


Tiêu đề: Re: Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam
Gửi bởi: seahawk1 trong 14 Tháng Giêng, 2008, 10:31:19 pm
Còn nhà Hậu Trần cũng có kháng chiến chống giặc phương bắc nữa mà các thủ trưởng.
Giai đoạn này dường như ít thấy tài liệu đề cập quá
Hình như giai đoạn này có nói ngay trong topic này rồi. Nổi tiếng nhất thời kháng chiến hậu trần (1407 - 1413) là trận Bô Cô. Trận này tổn thất của quân Minh rất lớn, cả đạo quân khoảng 100 ngàn người (con số này nhớ mang máng, không dám đoan chắc các bác nhé) bị đánh tan, bỏ mạng tại trận cũng vài chục ngàn. Tức là về quy mô chiến thắng thì oanh liệt không kém Can của Hannibal hay Austerlitz của Napoleon. Ngoài ra giai đoạn này cũng có rất nhiều anh hùng cứu quốc rất nổi tiếng, như Nguyễn Biểu, cha con Đặng Dung, Đặng Tất, cha con Nguyễn Cảnh Chân và Nguyễn Cảnh Dị. Bài thơ "Thuật hoài" mà bất cứ chú học trò cải cách nào cũng từng học qua cũng là của Đặng Dung sáng tác sau khi bị quân Minh bắt.


Tiêu đề: Hai trận đại thắng giặc Minh xâm lược
Gửi bởi: caytrevietnam trong 09 Tháng Hai, 2008, 12:06:37 am
chiến lược, xảy ra gần thành Đông-Quan [Hà-Nội], hầu như đã làm tê liệt lực lượng giặc lúc bấy giờ. Nhưng chiến thắng trước, trận Bồ-Cô [1409], mở đầu cho sự thất bại. Chiến thắng sau, trận Ninh-Kiều [1426], tạo nên bước ngoặt lịch sử [turning point], dẫn đến thắng lợi hoàn toàn. Người đọc sử cần tìm hiểu về sự thành bại, được mất của hai chiến thắng này.


1. Trận Bồ-Cô

Bồ-Cô là tên một bến đò thuộc xã Bồ-Cô, nay thuộc huyện Ý-Yên, tỉnh Nam-Hà. Đại Việt sử ký toàn thư [1] chép về trận đánh này như sau:

“Tháng 12, ngày 14, quốc công Đặng Tất cả phá quân Minh tại Bồ Cô hãn. Bấy giờ nhà Minh sai tổng binh Mộc Thạnh mang tước Kiềm quốc công, đeo ấn Chinh di tướng quân, đem 5 vạn quân từ Vân Nam đến Bồ Cô, vừa khi vua Giản Định cũng từ Nghệ An tới, quân dung nghiêm chỉnh, gặp lúc nước triều lên gấp, gió thổi mạnh, sai các quân đóng cọc giữ và lên hai bên bờ đắp lũy. Thạnh cũng chia quân thủy, quân bộ cùng cầm cự. Vua cầm dùi đánh trống, hạ lệnh các quân thừa cơ xông đánh từ giờ Tỵ [khoảng 11 giờ] đến giờ Thân [16 giờ], quân Minh thua chạy, chém được Binh bộ thượng thư Lưu Tuấn, Đô ty Lữ Nghị, cùng quân mới, quân cũ đến hơn 10 vạn tên. Chỉ một mình Mộc Thạnh chạy thoát trốn về thành Cổ Lộng.” [2]

Sử liệu từ Minh thực lục cũng xác nhận chiến thắng này, còn cho biết rõ hơn về lý lịch các tướng lãnh, quan lại cao cấp của nhà Minh tử trận, bản dịch như sau:

Ngày 24 tháng 12, năm Vĩnh Lạc thứ 6 [9/1/1409]

“Ngày hôm nay quan Tổng-binh Giao-Chỉ Kiềm-Quốc-công Mộc Thạnh giao tranh với đầu đảng giặc Giao-Chỉ, Giản Định, tại sông Sinh-Quyết [3] bị thua. Đô-đốc Thiêm-sự Lữ Nghị, Binh bộ Thượng-thư Lưu Tuấn, Tham-chính Giao-chỉ Bố-chánh ty Lưu Dục đều chết.

Lữ Nghị người đất Hạng-Thành, Hà-Nam; khởi đầu giữ chức Bách-hộ vệ Tế-Dương; thời Hoàng-thượng Tĩnh Nạn, Nghị theo chinh phạt mấy lần lập kỳ công, được thăng đến chức Đô-Chỉ-huy Đồng-tri. Năm Vĩnh Lạc thứ ba thăng Đô-đốc Thiêm-sự, cùng với Hoàng Trung luyện binh tại Quảng-Tây; lại cùng mang binh đem cháu Vương An-Nam là Trần Thiên Bình về nước. Vì làm trái chiếu chỉ, nên Nghị không tránh được thất bại ở Kê-Lăng; rồi được tha tội cho giữ nguyên chức tòng chinh, mệnh sung Ưng-Dương Tướng-quân. Giao-Chỉ bình, có công được giữ chức Đô-ty Giao-Chỉ. Nghị tính thâm trầm, dũng lược, đánh trận thâm nhập; bị hãm chết trận.

Lưu Tuấn người đất Giang-Lăng, Hồ-Quảng; đậu Tiến-sĩ năm Ất Sửu; thời Hồng-Vũ, giữ chức Chủ-sự bộ Binh, rồi được thăng lên Tả Thị-lang bộ này. Thời Kiến Văn [4] giữ chức Thị-trung; khi Thiên-tử [Thành Tổ] tức vị, được thăng hàm Thượng-thư. Tuấn cẩn thận, cần mẫn trong công việc, có mưu trí, giỏi ứng biến, nên được tín nhiệm. Trước đây quan Tổng-binh chinh phạt Giao-Chỉ, mệnh Tuấn tham mưu quân vụ, góp nhiều công ích, nên sau khi bình Giao-Chỉ được ban thưởng. Rồi lại được cử sang Giao-Chỉ để tham mưu quân vụ cho Thạnh. Thạnh bại, Tuấn bị vây, bèn thắt cổ tự tử.

Lưu Dục người Vũ-Thành, Sơn-Đông; xuất thân từ Lại-khoa Cấp-Sự-trung, thăng Thông-chính Sứ-ty Tả-Thông-chính, rồi đến chức Tả-Tham-chính ty Bố-chánh Hà-Nam; được đổi đến Giao-Chỉ giữ chức Hữu-Tham-chính. Dục tính hà khắc, ít nói, thiếu ân; tuy nhiên làm việc giỏi, đến nơi nào thuộc lại và dân cũng đều sợ, đến nay cùng chết với Tuấn.” [5]

Sau chiến thắng này, quan điểm về tiến, thủ của vua Giản Định và Quốc-công Đặng Tất hoàn toàn khác nhau. Toàn thư chép:

“Vua bảo các quân:

‘Hãy thừa thế chẻ tre, đánh cuốn chiếu thẳng một mạch, như sét đánh không kịp bịt tai, tiến đánh thành Đông-Quan thì chắc chắn phá được chúng.’

Tất tâu:

‘Hãy bắt hết bọn giặc còn sống sót, không nên để mối lo về sau.’

Do dự mãi không quyết định được. Quân giữ thành Đông-Quan đến cứu viện, đón Mộc Thạnh về.”

Từ sự việc này, nội bộ vua tôi nhà hậu Trần trở nên chia rẽ, mấy tháng sau vua nghe lời gièm, giết Nguyễn Cảnh Chân và Đặng Tất. Con Nguyễn Cảnh Chân là Nguyễn Cảnh Dị, con Đặng Tất là Đặng Dung tức giận bỏ đi, phò Trần Quí Khoách lên làm vua.

Vua Giản Định tuy được vua mới (Trần Quí Khoách) tôn làm Thái-Thượng-hoàng, nhưng không có thực quyền, rồi chẳng bao lâu bị đạo quân của Trương Phụ tăng viện cho Mộc Thạnh truy kích và bắt sống. Sự việc được chép trong Minh thực lục như sau:

Ngày 10 tháng 11, năm Vĩnh Lạc thứ 7 [16/12/1409]

“Quan Tổng-binh Giao-Chỉ Anh-Quốc-công Trương Phụ, chinh di Tướng-quân Kiềm-Quốc-công Mộc Thạnh bắt được bọn giặc Giản Định. Lúc bấy giờ Định tới sách Cự-Lặc, rồi từ sách Địa đến trấn Thiên-Quan tụ tập chống trả. Thạnh mang binh từ Lỗi-Giang hướng về sách Cự-Lặc; bọn Đô-đốc Chu Vinh, Đô-Chỉ-huy La Văn dùng lính đi thuyền theo sông Lỗi-Giang lên Ngưu-Tỵ quan; Trương Phụ điều bọn Đô-đốc Chu Quảng, Đô-Chỉ-huy Trần Hoài dùng bộ binh và kỵ binh từ Lỗi-Giang lên sách Địa để kịp đến trấn Thiên-Quan. Giản Định lại từ sách Đông-Hoàng hướng đến sách Đa-Bôi, quan quân đuổi tới huyện Mỹ-Lương [6] , sách Cát-Lợi. Giản Định vừa mới trú tại nhà dân, nhìn đằng xa thấy quan quân đến, bèn bỏ các vật như ngựa, ấn tín, chạy trốn vào rừng. Quan quân lục soát không bắt được, bèn vây chặt rừng, rồi bắt sống được Giản Định cùng các tướng giặc Trần Hy Cát, Nguyễn Nhữ Lệ, Nguyễn Yến.” [7]

Xét về sự thất bại, có thể do vua tôi nhà hậu Trần phạm những lỗi lầm sau đây:

- Việc binh, có sự thảo luận tham gia ý kiến lúc bàn bạc tham mưu, nhưng một khi đã quyết định thì mọi người phải hòa thuận để thi hành, nên người xưa gọi quân môn là “hòa môn”. Nói cách khác, đạo quân không thể nào chiến thắng trong tình trạng bất hòa, “trống đánh xuôi kèn thổi ngược”.

- Trong khi hai bên tương tranh, rất kỵ tình huống “nằm ngủ trên chiến thắng”. Nếu ta không có hoạt động để triển khai thành quả chiến thắng, thì kẻ địch sẽ thay ta làm chủ chiến trường và tình thế sẽ đảo ngược, như đã thấy ở trên.


Tiêu đề: Re: Hai trận đại thắng giặc Minh xâm lược
Gửi bởi: caytrevietnam trong 09 Tháng Hai, 2008, 12:06:59 am
2. Trận Ninh Kiều

Chiến công về trận Ninh-Kiều cũng được ghi lại trong các bộ chánh sử của nước ta và Trung-Quốc. Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép như sau:

“Nghe nói các tướng Đinh Lễ và Lê Xí đang đóng tại Thanh-Đàm, Lê Triện bèn sai báo gấp cho họ đến tiếp ứng. Bọn Lễ và Xí lựa lấy 3000 quân tinh nhuệ và 2 thớt voi, tức tốc ngay ban đêm đến hội quân ở Cao-Bộ. Họ chia quân đặt phục tại Tốt-Động và Chúc-động.

Bắt được gián điệp của địch, ta đã biết Vương Thông tiến đóng tại Ninh-Kiều, ngầm cho kỳ binh tiến nhanh đến phía sau quân của Triện, còn chính binh của Thông sẽ vượt sông tiến lên phía trước. Chúng hẹn nhau hễ nghe tiếng súng pháo nổ, thì các mũi quân địch cùng lúc đánh khép lại. Hồi canh năm đêm ấy, bọn Lễ sai quân bắn súng pháo ở nơi yếu hại để đánh lừa giặc. Giặc nghe súng nổ đều đổ xô đi chiếm lấy chỗ thuận lợi. Chúng lùa quân đi tắt vào. Bấy giờ trời mưa, đường lầy lội, chúng kéo đến Tốt-Động, bị phục binh ta bốn bề nổi dậy. Quân ta hợp sức chiến đấu, cả phá được quân giặc. Chém Thượng thư Trần Hiệp, và Nội-quan Lý Lượng. Quân Minh cùng giày xéo chồng chất lên nhau, chết đến hơn 5 vạn. Số quân địch chết đuối cũng rất nhiều, làm nghẽn cả khúc sông Ninh-Giang.”

Sử Trung-Quốc, Nam Việt truyện [8] của danh thần Vương Thế Trinh thuộc đời Gia Tĩnh triều Minh, xác nhận số quân Minh bị chết khoảng hai, ba vạn người, trong đó có Thượng-thư Trần Hiệp.

Riêng Minh thực lục chép đầu đuôi trận đánh này như sau:

Ngày 9 tháng 11, năm Tuyên Ðức thứ nhất [7/12/1426]

“Ngày hôm nay quan Tổng-binh Thành-Sơn-hầu Vương Thông tiến binh đánh giặc bị thua to, giặc bèn vây thành Đông-Quan.

Trước đó tướng giặc Lê Thiện [Triện] chia quân làm 3 đạo, tới đánh thành Giao-Chỉ. Một đạo từ cửa phía tây đánh vào thành đất Thanh-Oai, một đạo từ Giáo-Trường đánh Hạ-Quan; bị Đô-đốc Trần Tuấn dùng súng lửa, hỏa tiễn đánh lui; một đạo đánh vào cửa nhỏ tại ven sông gặp Sự-quan Lý An mang quân tinh nhuệ giao chiến, giặc bị chết rất nhiều, nửa đêm bèn rút lui.

Lúc này Thông điều quân chia đường mà tiến. Tham-tướng Đô-đốc Mã Ánh mang quân đến Thanh-Oai gặp giặc, đánh bại chúng. Rồi đến huyện Thạch-Thất họp quân với Thông, cả hai mang quân đến huyện Ứng-Bình, trú quân tại Ninh-Kiều. Các tướng nói đất này hiểm trở nên lập trại để xem tình hình, không nên coi thường mà tiến. Thông không nghe, cho điều quân qua cầu, đường sá lầy trơn, người ngựa lặn lội, phục binh nổi lên, quan quân bị bại; Thượng-thư Trần Hiệp chết, Chỉ-huy Lý Đằng bị chết vào tay giặc, Thông trúng thương nên quay về. Lê Lợi tại Nghệ-An nghe tin bèn mang đại quân tới Thanh-Đàm, đánh các xứ tại Bắc-Giang, rồi vây thành Đông-Quan.” [9]

Đúng như Minh thực lục chép, các bộ sử nước ta đều xác nhận sau chiến thắng Ninh-Kiều, vua Lê Lợi đích thân dẫn đại quân và 20 thớt voi chia hai đường thủy, bộ ngày đêm đi gấp. Quân ta lần lượt chiếm các mục tiêu chung quanh thành Đông-Đô, rồi bắt đầu vây thành này. Để chặn đường tiếp viện, cùng làm suy yếu tinh thần quân Minh đang bị vây, nhà vua sai các tướng chiếm các thành trì nằm trên trục lộ huyết mạch qua Trung-Quốc như các thành Điêu-Diêu [10] , Thị-Cầu [11] , Tam-Giang [12] , Xương-Giang [13] , Khâu-ôn [14] .

Thế lực quân Minh lúc này bị co cụm lại, Vương Thông tại thành Đông-Quan sa vào tình thế tuyệt vọng, đành phải giao lại đất đai từ Thanh-Hóa trở vào nam cho vua Lê Lợi và ra lệnh quan quân đóng tại các nơi này phải rút lui về thành Đông-Quan gấp.

Bấy giờ có tên Tri-châu Thanh-Hóa tên là La Trung mang nhiều tội ác với dân ta, sợ ra khỏi thành sẽ bị giết, nên đánh liều giữ thành không chịu ra; sự việc chép trong Minh thực lục như sau:

Ngày 5 tháng 12, năm Tuyên Ðức thứ nhất [1/1/1427]

“Ngày hôm nay giặc họ Lê đánh châu Thanh-Hóa không hạ được. Trước đó, từ khi thất bại tại Ninh-Kiều, Thành-Sơn-hầu Vương Thông không còn vững lòng như trước, tự tiện cho Lê Lợi cai quản từ Thanh-Hóa trở vào nam, truyền hịch cho quan quân tại nơi này rút về thành Đông-Quan. Riêng châu Thanh-Hóa không chịu nghe lệnh.

Trước đó Lê Lợi đánh Thanh-Hóa, Tri-châu La Thông, Chỉ-huy Đả Trung suất quân dân kiên thủ, có lúc mang quân đánh núi đất, sát thương giặc nhiều, thế giặc bớt căng thẳng. Lúc này hịch tới, người trong thành kinh sợ. Thông nói với Trung rằng:

‘Bọn chúng ta chống cự, mấy lần đánh bại giặc, ra khỏi thành thì không sống được; nay tại đây thành cao, hào sâu, lương nhiều, dân đông; so với việc chịu trói, chi bằng tận trung mà chết, mà chưa chắc đã chết đâu! Bọn [Vương] Thông bán thành cho giặc, lệnh này không thể theo được.’

Rồi cùng với Trung tưởng lệ quân sĩ, giữ thành vững thêm; giặc đánh không hạ được, bèn bỏ đi. Khi Vương Thông bỏ Giao-Chỉ, bọn [La] Thông cũng trở về kinh đô.” [15]

Qua văn bản nêu trên, cần phải nhấn mạnh rằng Thanh-Hóa là quê hương của vua Lê Lợi. Trong những ngày đầu khởi nghĩa, La Thông và bè lũ quân Minh tại đây đã gây nhiều tội ác đối với gia đình nhà vua cùng nghĩa quân; như việc con gái vua bị Mã Kỳ đưa sang Tàu làm nô tỳ rồi chết tại đó [16] . Đối với người bình thường, ở vào địa vị vua Lê Lợi, ắt phải dùng đại quân đánh vào thành này, trừng trị cho hả giận. Nhưng nhà vua nghĩ đến đại sự trước việc riêng tư, thấy thành này không cần đánh cũng có thể cô lập được, nên để yên cho bọn chúng sống. Với tầm nhìn chiến lược của bậc thiên tài quân sự, nhà vua quyết định dùng quân đánh vào thành Xương-Giang, nằm trên con đường huyết mạch đến biên giới Việt Hoa, dù tổn thất cũng đánh cho kỳ được. Trận tấn công rất gay go; Minh thực lục mô tả như sau:

Ngày 2 tháng 4, năm Tuyên Ðức thứ hai [28/4/1427]

“Ngày hôm nay giặc Giao-Chỉ Lê Lợi công hãm thành Xương-Giang. Lợi cho rằng Xương-Giang là nơi quan trọng, [trên đường] đại quân ra vô; bèn dùng hơn 8 vạn quân đánh. Quan giữ thành Đô-Chỉ-huy Lý Nhiệm, Chỉ-huy Cố Phúc ra lệnh già, trẻ, phụ nữ đều lên mặt thành, giương cờ hò hét, ngày đêm chống cự; Bọn Nhiệm bất ngờ mang quân tinh nhuệ ra công kích, đốt phá dụng cụ đánh thành. Bốn phía giặc đều xây núi đất, dùng phi minh bắn vào thành; Nhiệm sai quân cảm tử ban đêm mở cửa thành ra đánh, giết giặc giữ núi đất. Mưu tập kích doanh trại, giặc đào địa đạo vào thành, Nhiệm sai đào hào ngang chặn địa đạo, rồi ném đá xuống, khiến giặc chết nhiều.

Giặc nghe tin đại binh của Chinh-di Tướng-quân [Liễu Thăng] sắp tới, sợ sẽ dùng thành này làm chỗ dựa, bèn tăng cường thêm quân và voi tấn công. Tên đá bắn vào như mưa. Nhiệm dùng trăm cách để chống cự, trải qua 9 tháng trời, giao tranh hơn 30 trận; khởi đầu trong thành có hơn 2000 tướng sĩ, lúc này chết và tật bệnh đến một nửa, nhưng giặc vẫn quyết vây đánh, dùng thang mây leo lên thành, rồi đoạt cửa, Nhiệm điều lính quyết tử ba lần đánh lui, nhưng giặc lại xua voi và lính vào. Bọn Nhiệm kiệt sức, đánh không xuể, Nhiệm và Phúc đều tự tử; quan trong thành là Phùng Trí khóc ròng, hướng về phía bắc bái tạ, rồi cùng Chỉ-huy Lưu Thuận, Tri-phủ Lưu Tử Phụ thắt cổ chết. Trong thành các quan quân, cùng trai gái chết rất đông; giặc phóng hỏa đốt, cướp phá đến sạch không.” [17]

Nỗi gian khổ về cuộc tấn công tại thành Xương-Giang được đền bù một cách xứng đáng, vì đã làm suy sụp đoàn quân tiếp viện, cùng đem lại chiến thắng cuối cùng. Sau khi quân tiên phong bị phục kích chết cùng Liễu Thăng tại núi Mã-Yên, lực lượng còn lại do Thôi Tụ chỉ huy đến thành Xương-Giang, thì được tin thành này đã mất, chúng càng kinh hoàng sợ hãi; quân ta tấn công, đại quân giặc tan rã tại đó. Minh thực lục cố tình nói bớt sự tổn thất, nhưng cũng không thể chối bỏ sự thất bại hoàn toàn của đoàn quân cứu viện:

Ngày 9 tháng 9, năm Tuyên Ðức thứ 2 [29/9/ 1427]

“Ngày hôm nay quân của quan Tổng-binh An-Viễn-hầu Liễu Thăng đến Ải-Lưu quan; Lê Lợi cùng các Đầu-mục lớn nhỏ sai người đến cửa quân dâng thư xin bãi binh để yên dân, lập con cháu họ Trần làm chủ đất này. Bọn Thăng nhận thư, không mở ra xem, sai người tâu về kinh. Những chỗ quan quân đi qua, giặc làm trại để thủ, quan quân liên tiếp công phá, đến ngay ải Trấn-Di, như vào chỗ không người. Ý Thăng xem thường. Lúc này Tả Phó-Tổng-binh Bảo-Định-bá Lương Minh, Tham-tán quân sự Thượng-thư Lý Khánh đều bệnh; Lang-trung bộ Lễ Sử An, Chủ-sự Trần Dung nói với Khánh rằng:

‘Xem lời lẽ, sắc mặt của chủ tướng có vẻ kiêu; kiêu là điều tối kỵ của nhà binh. Vả lại bọn giặc ngụy trá, hoặc có thể làm ra vẻ yếu để dụ chúng ta; huống tỷ thư dụ rõ ràng là phải phòng ngừa giặc đặt phục binh. Đây là phút an nguy, Ngài nên nói gấp.’

Khánh rán ngồi dậy, gặp Thăng, hết sức can gián. Thăng ừ ào, nhưng vẫn không nghiêm chỉnh phòng bị. Đến Đảo-Mã pha, cùng với hơn trăm quân kỵ qua cầu; nửa chừng cầu bị sập, quân đằng sau không tiến được. Thăng rơi xuống vũng lầy, phục binh giặc nổi lên bốn phía, Thăng bị đâm chết bằng giáo, đám quân theo Thăng cũng bị giết sạch. Lúc này Hữu Tham-tướng Đô-đốc Thôi Tụ thu thập quan quân, chỉnh đốn đội ngũ. Cũng ngày hôm đó Lương Minh bệnh chết, lại ngày hôm sau Lý Khánh cũng chết. Rồi đến ngày hôm sau nữa, Thôi Tụ điều quan quân tiến; đến Xương-Giang gặp giặc, quan quân ít mà giặc thì đông, cố gắng đánh nhưng giặc xua voi vào trợ chiến, nên quân lọan, Thôi Tụ bị bắt sống.

Giặc hô lớn: ‘Kẻ hàng không bị giết.’

Quan quân hoặc tử trận, hoặc chạy về biên giới, không một ai hàng. Lang-trung Sử An, Chủ-sự Trần Dung, Lý Tông Phương đều chết vào ngày hôm đó; duy một mình Chủ-sự Phan Hậu thoát trở về được…” [18]

Nam Việt truyện [19] chép về trận đánh này: “Bảy vạn người không còn sót ai” (thất vạn nhân vô di giả 七 萬 人 無 遺 者); có thể hiểu là tất cả bảy vạn quân Minh đã bị chết hoặc bị bắt.

Từ chiến thắng Ninh-Kiều trở về sau, nghĩa quân của vua Lê Lợi tấn công liên tiếp, khiến Vương Thông phải nhượng bộ giao đất đai từ Thanh-Hóa trở vào nam cho quân ta. Rồi sau khi đoàn quân tiếp viện của Liễu Thăng thất bại, Thông hoảng hốt không đợi lệnh vua, tự tiện làm lễ thề với vua Lê Lợi để được rút quân về nước:

Ngày 7 tháng 2 năm Tuyên Ðức thứ 3 [21/2/1428]

Bọn quan Tổng-binh Giao-Chỉ Thành Sơn-hầu Vương Thông sai người đến tâu rằng:

“… Thần trộm nghĩ phụng mệnh diệt giặc, đáng dốc lòng trung thành liều chết để đợi viện binh, nhưng trong thành quân ít, lòng người kinh sợ, chí không vững; bọn giặc lại điên cuồng giảo hoạt hơn trước, các đường thủy bộ quan trọng đều bị chúng chiếm, cho dù có viện binh cũng khó đến ngay được. Nếu thành trì bị hãm, không khỏi phải hưng binh một lần nữa; vì một góc đất mà mệt nhọc nhiều người trong thiên hạ, khiến đấng quân phụ phải lo, không hợp với lòng trung thành của kẻ thần tử. Thần và chúng [quan] bàn rằng nhân cơ hội này, chỉnh đốn quân lữ, vượt trở về đất sống rồi tái mưu đồ hậu sự. Thần đã đốc suất các nha lại trực thuộc Giao-Chỉ cùng quan quân trở về Nam-Ninh, Quảng-Tây để phục mệnh, và trông đợi Hoàng-thượng xét Trần Cảo có đúng danh nghĩa con cháu nhà Trần không? Hoặc sai sứ qua lại xem xét, nếu có sự giả mạo, xin ước lượng cho thêm quân mã thủy bộ chia đường cùng tiến thảo; nếu còn một lần nữa không có hiệu quả, bọn thần xin chịu tru lục. Kính cẩn phủ phục đợi mệnh.”

Thiên-tử xem tờ tấu, nói với thị thần rằng: “Quan Tổng-binh ở ngoài tự tiện liên lạc với giặc, không đợi mệnh lệnh của triều đình mà mang quân trở về, không còn theo lễ của bề tôi nữa!” [20]

Hai chiến thắng Bồ-Cô và Ninh-Kiều tầm cỡ ngang ngửa như nhau, nhưng một đằng vì bất hòa dẫn đến thất bại, một đằng được chỉ đạo khéo léo tài tình, mang lại thắng lợi cuối cùng. Thành quả chiến thắng ở đây không phải chỉ được hưởng một lần. Trải qua mấy trăm năm dưới triều đại nhà Minh, về phía nước ta cũng có những thời điểm suy vi, như lúc Mạc Đăng Dung tự trói, nộp mình đầu hàng vào năm Canh Tý [1540], nhưng nhà Minh đã không dám lợi dụng cơ hội này để đặt chân đến nước ta. Phải chăng dân ta hái được cái “quả” bình yên lúc đó, cũng là nhờ “nhân” tốt của trận Ninh-Kiều và những chiến thắng kế tiếp đã làm tởn lòng quân giặc!
1]Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch của Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, tập 2, trang 224. Xin lưu ý, Toàn thư ghi trận Bồ-Cô xảy ra vào ngày 14/12 năm Mậu Tý, tức Vĩnh Lạc thứ 6; Minh thực lục ghi trận này xảy ra vào ngày 24/12 năm Vĩnh Lạc thứ 6; như vậy lịch Trung-Quốc trước ta 10 ngày. Theo Hoàng Xuân Hãn trong bài khảo cứu “Lịch Và Lịch Việt Nam” (La-Sơn Yên-Hồ Hoàng Xuân Hãn, tập 1, trang 930) thì sau khi nước ta giành độc lập, khoảng đời Lý Thánh Tông, cùng lúc với việc đặt quốc hiệu Đại-Việt, ta tự làm lịch riêng. Vì vậy, kể từ thời đó trở về sau, sử nước ta ghi tháng nhuận nhiều trường hợp khác với lịch Trung-Quốc. Chúng tôi dò các thời điểm lịch sử trong sử Trung-Quốc và sử nước ta, nhận thấy năm, tháng ít khi sai lệch, nhưng ngày thì có thể xê dịch.
[2]Theo chú thích từ bản dịch Toàn thư: Thành Cổ-Lộng do người Minh đắp, thuộc xã Bình-Cách, huyện Ý-Yên, tỉnh Nam-Hà, tục gọi là thành Cách.
[3]Sông Sinh-Quyết gần núi Thiên-Kiện; theo Cương mục, núi Thiên-Kiện còn có tên là núi Địa-Cận, ở xã Thiên-Kiện, huyện Thanh-Liêm, tỉnh Nam-Hà.
[4]Kiến Văn: niên hiệu của Minh Huệ-đế.
[5]Minh thực lục, quyển 86, trang 1144.
[6]Mỹ-Lương: Tên huyện thuộc tỉnh Sơn-Tây, giáp với Nho-Quan, Ninh-Bình.
[7]Minh thực lục, quyển 98, trang 1290.
[8]Nam Việt truyện, Vương Thế Trinh, Kỷ Lục Vựng Biên, quyển 49, trang 4.
[9]Minh thực lục quyển 22, trang 0594.
[10]Thành Điêu-Diêu: ở huyện Gia-Lâm, Hà-Nội.
[11]Thành Thị-Cầu: nay thuộc thị xã Bắc-Ninh, tỉnh Hà-Bắc.
[12]Thành Tam-Giang: ở huyện Lâm-Thao tỉnh Phú-Thọ, nay thuộc huyện Phong-Châu, tỉnh Vĩnh-Phú.
[13]Thành Xương-Giang: nay là thị xã Bắc-Giang, tỉnh Hà-Bắc.
[14]Thành Khâu-Ôn: là tỉnh lỵ Lạng-Sơn ngày nay.
[15]Minh thực lục quyển 23, trang 0606.
[16]Đại Việt sử ký toàn thư tập 2, trang 297.
[17]Minh thực lục, quyển 27, trang 0701.
[18]Minh thực lục, quyển 31, trang 0800.
[19]Nam Việt truyện, quyển 49, trang 5.
[20]Minh thực lục, quyển 36, trang 0897-0899


Tiêu đề: Một số sử liệu về trận đại phá quân Thanh của vua Quang Trung
Gửi bởi: caytrevietnam trong 09 Tháng Hai, 2008, 01:02:33 am
Từ các sử liệu của Trung-Quốc và trong nước liên quan đến việc vua Quang Trung đại phá quân Thanh, nhân đó đính chính một vài điều về lịch sử

Phiên dịch Cao Tông thực lục, chúng tôi rất lưu ý đạo dụ của vua Càn Long, liên quan đến việc quân Thanh bị tấn công tại thành Thăng-Long vào dịp đầu xuân Kỷ Dậu [1789]. Sự kiện lịch sử trọng đại này còn được chép trong các sách như Thanh thông giám, Khâm định Việt sử thông giám cương mục của Quốc Sử Quán triều Nguyễn, cùng Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia văn phái. Nhằm nhìn rõ vấn đề từ mọi hướng, xin chép lại các sử liệu nêu trên; để cuối cùng qua phần lời bàn, người viết cố gắng phân tích vấn đề, tìm tòi sự khác biệt đúng sai, với niềm hy vọng có thể thấy được sự thực.

Trận đánh thành Thăng-Long theo Cao Tông thực lục:

Ngày 25 tháng Giêng, năm Càn Long thứ 54 [19/2/1789]

Tổng-đốc Lưỡng-Quảng Tôn Sĩ Nghị tâu rằng sau khi thành nhà Lê được thu phục, vị trí dải đất về phía nam thành tiếp giáp với đất giặc. Theo lời Lê Duy Kỳ báo, vào ngày mồng hai tháng giêng năm nay quân lính của viên Quốc-vương phòng thủ nơi này bị giặc đánh đuổi, bọn chúng rêu rao rằng sẽ trả thù rửa hận. Thần sai quan binh đến tiễu trừ, đánh bại bọn giặc. Rồi Lê Duy Kỳ nghe tin Nguyễn Huệ thân tới, sợ hãi gan mật tê liệt, tay bế con nhỏ, cùng với mẹ chạy trốn qua sông Phú-Lương; khiến dân tình hoảng hốt, người trong nước rần rần chạy loạn. Thần cùng Ðề-đốc Hứa Thế Hanh lại đốc suất quan binh quyết tâm huyết chiến, nhưng không địch nổi, vì giặc quá đông, vây kín đại binh bốn phía. Từ đó Thần và Ðề-đốc Hứa Thế Hanh không thấy mặt nhau nữa, Thần phá vòng vây, tiến thẳng tới cầu nổi, ra lệnh Tổng-binh Lý Hóa Long qua sông để chiếm lấy bờ phía bắc. Lý Hóa Long đi đến giữa cầu, chẳng may trướt chân rơi xuống nước.Thần ra lệnh Phó-tướng Khánh Thành quay đầu bắn súng điểu thương chặn địch, rồi mang binh từ từ theo cầu nổi tới bờ phía bắc, đọan rút về sông Thị-Cầu trú đóng. Một mặt cho người chạy đến vùng Lạng-Sơn, ải Nam-quan tìm mẹ con Lê Duy Kỳ; tạm trú bọn họ tại quan ải. Thần mang trọng trách không làm xong việc sớm, lần này lại bị giặc đánh chặn, xin được cách chức trị tội về việc điều binh sai lầm để làm răn.

Nay dụ các Quân Cơ Ðại-thần: Trẫm trước kia đã cho rằng Lê Duy Kỳ mềm yếu không có khả năng, xem ra trời đã ghét họ Lê nên không thể hỗ trợ được, mà dân tình An-Nam lại phản phúc khó tin; nên đã giáng chỉ dụ lệnh Tôn Sĩ Nghị cấp tốc triệt binh. Nếu như Tôn Sĩ Nghị nhận được chỉ dụ bèn lập tức triệt hồi, thì ngày hôm nay đại quân đã về đến cửa quan ải rồi. Nay Nguyễn Huệ dám ra chặn đánh, nguyên do là Tôn Sĩ Nghị hy vọng Nguyễn Huệ sẽ hối lỗi đầu hàng để mọi việc được hoàn mỹ, nên chần chừ ngày giờ, mới xảy ra như vậy. Hiện tại vào tiết mùa xuân, tại nơi này mưa nhiều lắm chướng khí; nếu muốn cử đại binh cũng chưa phải lúc. Huống các tỉnh Quảng-Ðông, Quảng-Tây trước đây tiếp tục điều binh, thì đã ra lệnh đình chỉ; nay lại rầm rộ truyền hịch điều động, thì cũng không đáp ứng được tình hình khẩn cấp, mà lại khiến cho lòng người thêm kinh hãi. Nói tóm lại đem binh triệt hồi, vẹn toàn quốc thể là điều cốt yếu.

Tôn Sĩ Nghị là người thống suất toàn quân, không thể làm việc mạo hiểm; viên Tổng-đốc phá vòng vây để ra, hành động này rất đúng. Thứ đến, Hứa Thế Hanh là viên chức lớn với cấp bực Ðề-đốc cũng rất quan hệ; hiện nay chưa có tin tức, đang hết sức trông ngóng. Hai người phải lưu tâm thận trọng, đốc suất quan binh đến quan ải gấp. Theo lời tâu của Tôn Vĩnh Thanh thì Lê Duy Kỳ đến quan ải vào ngày mồng 7 tháng giêng, hiện cho trú tại Nam-Ninh. Bàn về việc hành quân từ trước tới nay không phải mỗi lần ra quân đều thuận lợi, như các cuộc hành quân tại Tân-Cương, Tây-Lộ, cho đến Lưỡng Kim-Xuyên đều có những tổn thất nhỏ rồi mới thành công. Lần nầy Tôn Sĩ Nghị mang quân đến An-Nam đánh giặc thành công quá dễ, nay có sự tổn thất biết đâu đây chính là Nguyễn Huệ tự mang lấy mầm diệt vong vậy. Tôn Sĩ Nghị và Hứa Thế Hanh hãy mang quân ra cho vẹn toàn, đừng làm tổn thương quốc thể; tương lai có liệu biện việc này hay không do chính Trẫm thao túng, rồi sẽ từ từ quyết định. Còn việc Tôn Sĩ Nghị tâu xin cách chức trị tội; thì việc tổn thương này ngoài ý muốn, không phải do viên Tổng-đốc lầm lỡ mạo muội, tại sao lại tâu như vậy! Viên Tổng-đốc phải gia tăng trấn tĩnh để lo liệu việc triệt thoái, chớ nên hoang mang ý loạn, đó là điều hết sức quan trọng. Chắc bọn Nguyễn Huệ cũng không dám xâm phạm biên giới của Thiên triều, tuy nhiên dọc theo quan ải cần dàn binh lực để làm mạnh thanh thế và chuẩn bị việc tiếp ứng. Hiện theo lời tâu của Tôn Vĩnh Thanh đã điều 1 ngàn quân tiến trước hợp với quân phòng thủ gồm 3 ngàn tên [1] , sẽ lo điều động thêm. Nay dụ Tôn Vĩnh Thanh hãy tính toán kỹ, nếu số binh lính không đủ dùng, thì có thể một mặt tiếp tục điều tại các doanh, một mặt tấu lên. Quân Quảng-Tây hiện đang triệt hồi, còn đạo quân Vân-Nam do ngã Tuyên-Quang An-Biên cũng phải triệt thoái gấp. Quân lính tại các doanh đồn trú tại Vân-Nam tương đối nhiều, nếu quân số dưới quyền của Phú Cương và Ô Ðại Kinh hiện nay không đủ dùng, thì đừng ngại lấy thêm quân từ các doanh để phòng thủ dọc biên giới, khiến cho thanh thế càng thêm mạnh mẽ. (Cao Tông thực lục quyển 1321 tờ 868-869).

Trận đánh thành Thăng-Long theo Thanh thông giám

Ngày mồng 5 tháng giêng:

Quân Thanh bị bại, Tôn Sĩ Nghị mang tàn quân chạy về bắc.

Vào cuối năm năm ngoái, quân của Nguyễn Huệ nước An-Nam vượt sông Gián-Thủy đánh bại quân phòng thủ của Lê Duy Kỳ [Lê Chiêu Thống]; lại bắt toán quân Thanh tuần thám giết sạch. Ngày mồng hai, Tôn Sĩ Nghi được tin hoảng hốt ngự địch; ra lệnh Tổng-binh Trương Triều Long mang 3000 quân tăng cường cho các đồn Hà-Hồi, Ngọc-Hồi để chống cự, lại ra lệnh cho Ðề-đốc Hứa Thế Hanh mang 1500 tên, tự đốc suất 1200 tên để tiếp ứng. Quân Nguyễn Huệ tiến tới đông như ong, vây đồn 4 phía, đánh nhau một ngày một đêm, quân Thanh bị đánh tan bèn bỏ chạy.

Vào canh năm ngày này [mồng 5] Nguyễn Văn Huệ mang đại binh tiến đánh, thân tự đốc chiến, dùng 100 thớt voi khỏe làm tiên phong. Rạng sáng quân Thanh cho kỵ binh nghênh địch, ngựa bị voi quần kinh hãi bỏ chạy, quân rút lui vào trại cố thủ. Phía ngoài trại, lũy đầy chông sắt, bên trong bắn súng ra cự địch. Vào giờ Ngọ quân Nguyễn bắn hỏa châu, hỏa tiễn tới tấp; lại dùng rạ bó to lăn mà tiến đều, khinh binh theo sau, trước ngã sau tiến lên một lòng quyết chiến, tại các trại quân Thanh đồng thời tan vỡ, quân Nguyễn thừa thắng chém giết, quân Thanh tử thương quá nửa.

Ðề-đốc Hứa Thế Hanh thấy thế lực nhiều ít rõ ràng, bảo gia nhân đem ấn triện Ðề-đốc mang đi, rồi ra sức đánh, bị chết tại trận. Lúc này quân địch càng bị giết càng nhiều, chia cắt quân Thanh từng nhóm rồi vây kín. Thống-soái Tôn Sĩ Nghị mất liên lạc với Hứa Thế Hanh và các đại viên Ðề,Trấn; bèn ra lệnh Phó-tướng Khánh Thành, Ðức Khắc Tinh Ngạch mang 300 quân đoạt vây chạy về phía bắc. Khi tàn quân của Tôn Sĩ Nghị chạy đến bờ sông, thì số quân Thanh 3000 tên trú đóng tại bờ phía nam đã được Tổng-binh Thượng Duy Thanh mang đi tiếp ứng cho Hứa Thế Hanh, bèn ra lệnh cho Tổng-binh Lý Hóa Long vượt qua cầu nổi chiếm cứ bờ phía bắc, để tiện việc yểm hộ qua sông. Không ngờ Lý Hóa Long đi đến giữa cầu, trượt chân rơi xuống nước chết, số quân mang đi kinh hãi không biết làm gì. Tôn Sĩ Nghị ra lệnh Khánh Thành yểm hộ mặt sau bằng cách bắn súng điểu thương vào quân Nguyễn Văn Huệ đang truy kích, riêng mình tự mang quân theo cầu nổi lui về bờ phía bắc; rồi lập tức cho chặt đứt cầu nổi, cùng với bọn Khánh Thành rút lui về sông Thị-Cầu.

Quân Thanh tại phía nam sông thấy cầu đã bị đứt chìm, không có đường về, bèn đánh trở lại thành nhà Lê. Các Tổng-binh Thượng Duy Thăng, Trương Triều Long, Phó-tướng Na Ðôn Hành, Tham-tướng Dương Hưng Long, Vương Tuyên, Anh Lâm đều tử trận. Tri-châu Ðiền-Châu Sầm Nghi Ðống không được viện binh đành tự tử, số thân binh tự tử cũng đến hàng trăm. Quốc-vương An-Nam Lê Duy Kỳ vào lúc binh thua tới dinh Tôn Sĩ Nghị họp bàn, thấy Tôn Sĩ Nghị đã bỏ chạy, bèn hoảng hốt vượt sông chạy lên phương bắc, đến đây nhà Lê diệt vong.

Nguyễn Văn Huệ xua quân tiến vào thành, chiến bào mặc trên người nhuốm đen, do bởi thuốc súng. Ðề-đốc Ô Ðại Kinh mang đạo quân Thanh tại Vân-Nam xuất phát từ Mã-Bạch quan vào ngày 20 tháng 11 năm ngoái, đến Tuyên-Quang vào ngày 21 tháng 12; khi đến sông Phú-Lương thấy cầu nổi bằng tre đã bị chìm đứt, nhìn sang bên kia bờ thấy lửa rực bốn phía, bèn triệt hồi Tuyên-Quang, rồi lập tức lui vào trong nước. (Thanh thông giám, quyển 146, trang 4565-4567).

Khâm định Việt sử thông giám cương mục:

Hồi trống canh năm sớm hôm sau (mồng 5 tháng giêng), Văn Huệ xắn tay áo đứng dậy, đốc thúc bản bộ lùa quân rầm rộ tiến lên. Chính Văn Huệ tự mình đốc chiến, cho hơn trăm voi khỏe đi trước. Tờ mờ sáng quân Thanh lùa toán quân kỵ tinh nhuệ ồ ạt tiến. Chợt thấy bầy voi, ngựa quân Thanh đều sợ hãi, hí lên, tế chạy, lồng lộn quay về, chà đạp lẫn nhau. Giặc [2] lại lùa voi xông đến: quân Thanh trong cơn gấp rút, không cứu nhau được, ai nấy rút trong lũy để cố thủ. Bốn mặt đồn lũy quân Thanh đều cắm chông sắt, súng và tên bắn ra như mưa. Giặc dùng những bó rơm to để che đỡ mà lăn xả vào, rồi quân lính tinh nhuệ tiến theo sau. Kẻ trước ngã, người sau nối, thảy đều trổ sức liều chết mà chiến đấu. Các lũy quân Thanh đồng thời tan vỡ và đều chạy. Giặc đuổi đến đồn Nam-Ðồng, thừa thắng ập lại giết chết. Quân Thanh bị chết và bị thương đến quá nửa. Thế Hanh, Tiên-phong Trương Sĩ Long và Tả-dực Thượng Duy Thăng đều chết. Sầm Nghi Ðống đóng đồn tại Loa-Sơn (tục gọi Ðống-Ða) bị một tướng khác của giặc đánh, quân cứu không có, Nghi Ðống phải tự thắt cổ mà chết. Toán thân binh của Nghi Ðống cũng tự ải chết theo đến vài trăm người. (Bản dịch của Viện sử học, tập 2, trang 846).

Hoàng Lê nhất thống chí:

Vua Quang Trung lại truyền lấy sáu chục tấm ván, cứ ghép liền ba tấm làm một bức, bên ngoài lấy rơm dấp nước phủ kín, tất cả là 20 bức. Ðoạn kén loại lính khỏe mạnh, cứ 10 khiêng một bức, lưng giắt dao ngắn. Hai mươi người khác đều cầm binh khí theo sau, dàn thành trận chữ “nhất”; vua Quang Trung cưỡi ngựa voi đi đốc thúc, mờ sáng ngày mồng 5 tiến sát đồn Ngọc-Hồi. Quân Thanh nổ súng bắn ra chẳng trúng người nào cả. Nhân có gió bắc, quân Thanh bèn dùng ống phun khói lửa ra, khói tỏa mù trời, cách gang tấc không thấy gì, hòng làm cho quân Nam rối loạn. Không ngờ trong chốc lát trời bỗng trở gió nam, thành ra quân Thanh lại tự làm hại mình.

Vua Quang Trung liền sai đội khiêng ván vừa che vừa xông thẳng lên phía trước. Khi gươm giáo hai bên đã chạm nhau thì quăng ván xuống đất, ai nấy cầm dao ngắn chém bừa; những người cầm binh khí theo sau cũng nhất tề xông tới mà đánh. Quân Thanh chống không nổi bỏ chạy tán loạn, giày xéo lên nhau mà chết. Tên Thái-thú Ðiền Châu Sầm Nghi Ðống tự thắt cổ chết. Quân Tây Sơn thừa thế chém giết lung tung, thây nằm đầy đồng, máu chảy thành suối, quân Thanh đại bại (Bản dịch của Nguyễn Ðức Vân và Kiều Thu Hoạch, trang 223-224).


Tiêu đề: Re: Một số sử liệu về trận đại phá quân Thanh của vua Quang Trung
Gửi bởi: caytrevietnam trong 09 Tháng Hai, 2008, 01:03:07 am
Lời bàn của người dịch (Cao Tông thực lục):

Duyệt qua các tài liệu lịch sử từ các nguồn khác nhau giúp người đọc có một cái nhìn mới về trận đánh của vua Quang Trung vào thành Thăng-Long với những điều đáng lưu ý sau đây:

1. Ðánh trước mặt và ngang hông cùng một lúc:

Báo cáo của Tôn Sĩ Nghị trong Cao Tông thực lục không cho biết chi tiết về trận đánh, chỉ nói rằng “Quân giặc quá đông, vây kín đại binh bốn phía”. Ðây là lời báo cáo của một kẻ hoảng hốt, thấy có tiếng súng chung quanh rồi tưởng rằng đã bị vây chặt, thực ra chỉ là nghi binh mà thôi. Căn cứ vào Thanh thực lục và Khâm định Việt sử thông giám cương mục, thì lực lượng chính của vua Quang Trung như hai quả đấm vung lên cùng một lúc để đánh gục đối phương, đó là các trận Ngọc-Hồi và Ðống-Ða. Rạng ngày mồng 5 tết, trận Ngọc-Hồi bùng nổ tại phía nam thành Thăng-Long, trong lúc quân Thanh đang dồn nỗ lực tiếp cứu, thì mặt trận phía tây bùng nổ tại Ðống-Ða. Quân Thanh bị đánh bất ngờ ngang hông, không có quân tiếp viện, Tri-phủ Ðiền-Châu Sầm Nghi Ðống phải thắt cổ tự vẫn. Sau khi chiến thắng tại Ngọc-Hồi và Ðống-Ða, quân ta “chia cắt quân Thanh từng nhóm rồi vây kín”, quân giặc lớp chết, lớp đầu hàng; thành Thăng-Long được giải phóng trong ngày.

2. Ðính chính lịch sử về chiến thuật hành quân tại trận Ngọc-Hồi:

Trong Hoàng Lê nhất thống chí, một bộ tiểu thuyết lịch sử của Ngô Gia Văn Phái viết theo lối chương hồi, đoạn văn trích dẫn ở phần trên nằm trong chương 14 với nhan đề:

Ðánh Ngọc-Hồi quân Thanh bị thua trận
Bỏ Thăng-Long, Chiêu Thống trốn ra ngoài

Trong đoạn văn này, không kể đến chi tiết sai lầm về nơi chết của Sầm Nghi Ðống (y tự tử tại Ðống-Ða chứ không phải tại Ngọc-Hồi), Hoàng Lê nhất thống chí mang lỗi lầm chung của tiểu thuyết lịch sử [3] là viết hấp dẫn, nhưng nhiều khi không đúng với sự thực. Những người có chút kiến thức sơ đẳng về quân sự đều biết rằng đoàn quân “dàn trận hình chữ nhất ” rầm rộ tiến vào, mà “Quân Thanh nổ súng bắn ra chẳng trúng người nào cả” là một việc khó có thể xảy ra. Ngoài ra, chi tiết “Vua Quang Trung lại truyền lấy sáu chục tấm ván, cứ ghép liền ba tấm làm một bức, bên ngoài lấy rơm dấp nước phủ kín, tất cả là 20 bức. Ðoạn kén loại lính khỏe mạnh, cứ 10 khiêng một bức, lưng dắt dao ngắn. Hai mươi người khác đều cầm binh khí theo sau, dàn thành trận chữ “nhất”; vua Quang Trung cửi voi đi đốc thúc, mờ sáng ngày mồng 5 tiến sát đồn Ngọc-Hồi”. Chúng ta tự hỏi rằng 10 người khiêng một bức, cho dù đồn giặc bằng phẳng như một sân đá banh (mà thực tế không thể có như vậy) cũng phải nhắc tấm ván lên khỏi mặt đất vài chục phân mới di chuyển được, giặc trang bị đầy đủ súng điểu thương, ống phun lửa; cứ nhắm chân mà bắn ắt phải có người bị thương, ngã xuống không khiêng được. Một bức ván với 30 quân sĩ (kể cả 20 quân tháp tùng) đã gặp khó khăn như vậy, thì toàn bộ 20 bức ván gặp khó khăn đến nhường nào, và làm sao có thể xung phong mạnh mẽ, chế ngự đồn giặc được!

Nhà quân sự giỏi về “công đồn” có thể thấy được ở chỗ: lập kế hoạch sát với thực tế, gây sự bất ngờ, thi triển đồng loạt, ít tổn thất, hiệu năng cao, hỏa lực phía trước mạnh. Sử liệu do hai bộ sử Thanh thực lục và Khâm định Việt sử thông giám cương mục của triều Nguyễn nước ta đã mô tả rõ nét thiên tài của vua Quang Trung về chiến thuật công đồn với đủ những yếu tố nêu trên. Thanh thực lục chép:

“Vào canh năm ngày này (mồng 5) Nguyễn Văn Huệ mang đại binh tiến đánh, thân tự đốc chiến, dùng 100 thớt voi khỏe làm tiên phong. Rạng sáng quân Thanh cho kỵ binh nghênh địch, ngựa bị voi quần kinh hãi bỏ chạy, quân rút lui vào trại cố thủ. Phía ngoài trại, lũy đầy chông sắt, bên trong bắn súng ra cự địch. Vào giờ Ngọ quân Nguyễn bắn hỏa châu, hỏa tiễn tới tấp; lại dùng rạ bó to lăn mà tiến đều, khinh binh theo sau (Ngọ thời Nguyễn quân loạn phóng hỏa tiễn, hỏa châu, tịnh dĩ hòa cán tác đại thúc, loạn cổn nhi tiền, khinh binh tùy chi), trước ngã sau tiến lên một lòng quyết chiến, tại các trại quân Thanh đồng thời tan vỡ, quân Nguyễn thừa thắng chém giết, quân Thanh tử thương quá nửa.”

Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục cũng chép tương tự:

“Hồi trống canh năm sớm hôm sau (mồng 5 tháng giêng), Văn Huệ xắn tay áo đứng dậy, đốc thúc bản bộ lùa quân rầm rộ tiến lên. Chính Văn Huệ tự mình đốc chiến, cho hơn trăm voi khỏe đi trước. Tờ mờ sáng quân Thanh lùa toán quân kỵ tinh nhuệ ồ ạt tiến. Chợt thấy bầy voi, ngựa quân Thanh đều sợ hãi, hí lên, tế chạy, lồng lộn quay về, chà đạp lẫn nhau. Giặc lại lùa voi xông đến: quân Thanh trong cơn gấp rút, không cứu nhau được, ai nấy rút trong lũy để cố thủ. Bốn mặt đồn lũy quân Thanh đều cắm chông sắt, súng và tên bắn ra như mưa. Giặc dùng những bó rơm to để che đỡ mà lăn xả vào, rồi quân lính tinh nhuệ tiến theo sau. Kẻ trước ngã, người sau nối, thảy đều trổ sức liều chết mà chiến đấu. Các lũy quân Thanh đồng thời tan vỡ và quân Thanh đều chạy.”

Hai sử liệu từ hai nước Hoa, Việt đều xác nhận vua Quang Trung dùng voi để chống lại kỵ binh. Ngựa sợ voi là chuyện tự nhiên, lính tháp tùng trên lưng voi từ trên cao khống chế quân kỵ một cách dễ dàng, lại còn có sức mạnh đàn áp tinh thần địch về mặt tâm lý. Việc sử dụng voi đúng chỗ hiện diện của kỵ binh, chứng tỏ đạo quân vua Quang Trung hơn hẳn về mặt tình báo.

Việc dùng rạ (hòa cán) bó thành bó lớn như bánh xe lăn khổng lồ (dùng để cán sửa đường lộ), bó nọ nối liền bó kia cùng lăn đều, tạo thành bức tường di động giúp quân lính núp đằng sau tương đối an toàn, vừa tiến lên vừa bắn, để đánh chiếm đồn giặc là một sáng kiến tuyệt diệu; xin được phân tích như sau:

* Vật liệu lấy tại chỗ: Bấy giờ vào đầu tháng giêng, nhà nông tại vùng xung quanh Ngọc-Hồi có thể còn phơi rạ ngoài đồng, hoặc làm đụn rạ trong vườn để dành dùng đun nấu, cho bò ăn, hoặc đánh tranh lợp nhà. Rạ là vật liệu rất cần thiết cho nông dân, ở nhà quê đâu đâu cũng có. Còn dây buộc là tre non chẻ ra, hoặc cây mây; hầu như có sẵn trong mọi vườn.

* Dễ bó thành bó tròn lớn: Dịch giả lớn lên từ nhà quê, đã nhiều lần thấy nông dân bó rạ với cung cách dùng hai đòn xọc cắm sâu xuống đất, cách nhau khoảng 1 mét làm điểm tựa, chất rạ vào giữa hai đòn xóc lên cao đến đỉnh đầu, đứng lên trên đống rạ nén chặt, khi đã ưng ý, kéo những sợi dây đã đặt sẵn dưới đống rạ lên rồi buộc chặt. Những nông dân có kinh nghiệm bó những bó rạ chắc chắn, lăn cách nào cũng không tung ra. Dịch giả cũng thấy tận mắt tại nông trại ở Mỹ, có những bó cỏ cho ngựa ăn, bó chặt cao quá đầu người; lính Việt-Nam phần lớn xuất thân từ nông dân, nếu ba bốn người hợp lực có thể bó những bó lớn như vậy.

* Khi khai triển đội hình hàng ngang, những bó rạ được lăn đều, nhanh chậm tùy theo hiệu lệnh của cấp chỉ huy.

* Nếu bó rạ lớn được nhúng nước, có khả năng ngăn cản đạn nhỏ của súng điểu thương, là loại súng quân Thanh được trang bị. Quân ta khom lưng tiến sau bó rạ tương đối an toàn, ngoài việc lăn rạ còn có khả năng bắn phủ đầu đối phương.

* Hãy tưởng tượng hàng trăm bó rạ tạo thành bức thành di động, dù súng bắn vẫn lăn đều lên; lại còn có khả năng bắn trả lại; lúc lăn đến gần, quân Thanh ắt phải kinh hoàng mà bỏ chạy.


Ngoài ra cần phải nhắc thêm, trong buổi sáng vua Quang Trung cho voi quần khiến kỵ binh giặc tháo chạy, rồi quân ta dùng “hỏa châu, hỏa tiễn” bắn tới tấp lúc xung phong vào giờ ngọ, thật đúng bài bản “tiền pháo, hậu xung”, có thể ứng dụng bài học này cho ngay cả chiến tranh trong thời hiện đại!

Rất tiếc những bộ sử ngày nay như Việt-Nam sử lược của cụ Trần Trọng Kim [4] và Ðại cương lịch sử Việt Nam [5] của nhà xuất bản Giáo dục Hà-Nội vẫn dùng sử liệu “ghép ván có phủ rơm” của bộ tiểu thuyết chương hồi Hoàng Lê nhất thống chí, mà không đề cập đến “bó rạ lăn tròn”được chép trong sử nhà Thanh và sử triều Nguyễn. Thiết tưởng lịch sử là một bộ môn trong khoa học nhân văn, cần được nghiên cứu một cách khoa học không thiên kiến; lại được biết trong nước có Viện Lịch sử Quân sự, nếu Viện này cho trắc nghiệm bằng cách tập trận về hai chiến thuật nêu trên, thì sẽ thực sự thấy được đáp án.

3. Chặt đứt cầu nổi bắc qua sông Hồng

Ðể cầu sự an toàn cho bản thân, trong lúc hoảng hốt Tôn Sĩ Nghị ra lệnh chặt cầu phao bắc qua sông Hồng-Hà, khiến hầu hết các Ðề Trấn và quân lính dưới quyền kẹt lại tại thành Thăng-Long rồi bị giết, bị bắt. Vua Càn Long không trực tiếp đưa vụ này ra ánh sáng. Vị vua già có hơn nửa thế kỷ cầm quyền hiểu rằng công khai việc làm đớn hèn của Tôn Sĩ Nghị, khiến quân lính nổi giận làm loạn, thì hậu quả sẽ không lường được. Hơn nữa Càn Long, tác giả cuốn Thập toàn võ công ký, tự khoe mình võ công vô địch, vướng phải vết nhơ này, thì còn đâu là thập toàn nữa.

Xét ra, những thảm họa về việc phá cầu không phải chỉ xảy ra một lần trong lịch sử chiến tranh. Khi chiến tranh bùng nổ tại bán đảo Triều-Tiên vào ngày 25 tháng 6 năm 1950, chính phủ Nam Triều-Tiên có kế hoạch phá cầu bắc qua sông Hán để bảo vệ thủ đô Hán-Thành ở phía nam. Nhưng vì quân Bắc Triều-Tiên tiến công quá nhanh, trong cơn hoảng hốt cho giật mìn cây cầu quá sớm, khiến hơn một vạn quân nam Triều-Tiên bị kẹt không rút lui được, nên tinh thần quân dân Nam Triều-Tiên lúc bấy giờ bị suy sụp mau chóng.

4. Trút tất cả lỗi lầm lên đầu Lê Chiêu Thống

Sau khi thất bại, Tôn Sĩ Nghị tìm cách đổ lỗi cho Lê Chiêu Thống, y tố cáo với vua Càn Long rằng:

“Lê Duy Kỳ nghe tin Nguyễn Huệ thân tới, sợ hãi gan mật tê liệt, tay bế con nhỏ, cùng với mẹ chạy trốn qua sông Phú Lương; khiến dân tình hoảng hốt, người trong nước rần rần chạy loạn. Thần cùng Ðề-đốc Hứa Thế Hanh lại đốc suất quan binh quyết tâm huyết chiến, nhưng không địch nổi, vì giặc quá đông, vây kín đại binh bốn phía.”

Càn Long thua trận, muốn bỏ cuộc nhưng sợ dư luận chê cười, nhân đó về hùa với Sĩ Nghị để lên án Lê Chiêu Thống. Sự thực các sử sách Hoa Việt đều xác nhận Tôn Sĩ Nghị đã chạy trước Lê Chiêu Thống. Thanh thông giám chép:

“Quốc-vương An-Nam Lê Duy Kỳ vào lúc binh thua tới dinh Tôn Sĩ Nghị họp bàn; thấy Tôn Sĩ Nghị đã bỏ chạy, bèn hoảng hốt vượt sông, chạy lên phương bắc, đến đây nhà Lê diệt vong.”

Hoàng Lê nhất thống chí cung cấp thêm chi tiết như sau:

“Tôn Sĩ Nghị sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc giáp, dẫn bọn lính kỵ mã của mình chuồn trước qua cầu phao, rồi nhắm hướng bắc mà chạy. …Vua Lê trong điện, nghe tin có việc biến ấy, vội vã cùng bọn Lê Quýnh, Trịnh Hiến đưa Thái-hậu ra ngoài. Cả bọn chạy đến bờ sông thì thấy cầu phao đã đứt, thuyền bè cũng không, bèn gấp rút chạy đến Nghi-Tàm thình lình gặp được chiếc thuyền đánh cá, vội cướp lấy rồi chèo sang bờ bắc. Trưa ngày mồng 6, vua Lê và những người tùy tùng chạy đến núi Tam-Tằng, nghe nói Tôn Sĩ Nghị đã đi khỏi nơi đó.” (trang 226).

Vua tôi nhà Thanh cảm thấy hài lòng vì đã tìm cách trút mọi lỗi lầm lên đầu Lê Chiêu Thống, để dọn đường cho việc thân tiện với vua Quang Trung trong tương lai.

© 2005 talawas

[1]Sử nhà Thanh cố tình nói bớt quân số. Theo Thanh thông giám, lúc bấy giờ dân Trung-Quốc tại vùng biên giới Quảng-Ðông, Quảng-Tây nghe tin quân Nguyễn Huệ sẽ sang trả thù rửa hận, nên đều bỏ chạy để nhà cửa trống không; tình hình như vậy mà chỉ có vài ngàn quân phòng thủ biên giới, thì chắc số lính này cũng không có gan ở lại để phòng thủ! Tham khảo với các sách khác, về quân số nhà Thanh thường nói bớt khoảng mười lần!
[2]Nhà Nguyễn gọi nhà Tây Sơn là giặc, hoặc ngụy Tây.
[3]Thông lệ chung các bộ tiểu thuyết lịch sử thường cường điệu để câu chuyện thêm đậm đà, như Tam quốc chí diễn nghĩa kể chuyện Quan Công, Lưu Bị, Trương Phi đánh Lữ Bố (Tam anh chiến Lữ Bố) hết sức hấp dẫn; nhưng đây là những sự kiện được tiểu thuyết hóa; còn sử Tam quốc chí của Trần Thọ không chép chuyện này. Ngoài ra, những sự việc như các tướng thách đánh nhau, tướng đánh tướng, là chuyện trong tiểu thuyết, tuồng kịch; còn thực tế, chiến tranh thời xưa cũng không có như vậy
[4]Việt-nam sử lược, Quyển 2, trang 133.
[5]Ðại cương lịch sử Việt-Nam, Tập 1, trang 425.


Tiêu đề: Re: Một số sử liệu về trận đại phá quân Thanh của vua Quang Trung
Gửi bởi: chiangshan trong 09 Tháng Hai, 2008, 11:28:22 am
Những người có chút kiến thức sơ đẳng về quân sự đều biết rằng đoàn quân “dàn trận hình chữ nhất ” rầm rộ tiến vào, mà “Quân Thanh nổ súng bắn ra chẳng trúng người nào cả” là một việc khó có thể xảy ra. Ngoài ra, chi tiết “Vua Quang Trung lại truyền lấy sáu chục tấm ván, cứ ghép liền ba tấm làm một bức, bên ngoài lấy rơm dấp nước phủ kín, tất cả là 20 bức. Ðoạn kén loại lính khỏe mạnh, cứ 10 khiêng một bức, lưng dắt dao ngắn. Hai mươi người khác đều cầm binh khí theo sau, dàn thành trận chữ “nhất”; vua Quang Trung cửi voi đi đốc thúc, mờ sáng ngày mồng 5 tiến sát đồn Ngọc-Hồi”. Chúng ta tự hỏi rằng 10 người khiêng một bức, cho dù đồn giặc bằng phẳng như một sân đá banh (mà thực tế không thể có như vậy) cũng phải nhắc tấm ván lên khỏi mặt đất vài chục phân mới di chuyển được, giặc trang bị đầy đủ súng điểu thương, ống phun lửa; cứ nhắm chân mà bắn ắt phải có người bị thương, ngã xuống không khiêng được. Một bức ván với 30 quân sĩ (kể cả 20 quân tháp tùng) đã gặp khó khăn như vậy, thì toàn bộ 20 bức ván gặp khó khăn đến nhường nào, và làm sao có thể xung phong mạnh mẽ, chế ngự đồn giặc được!
....
Việc dùng rạ (hòa cán) bó thành bó lớn như bánh xe lăn khổng lồ (dùng để cán sửa đường lộ), bó nọ nối liền bó kia cùng lăn đều, tạo thành bức tường di động giúp quân lính núp đằng sau tương đối an toàn, vừa tiến lên vừa bắn, để đánh chiếm đồn giặc là một sáng kiến tuyệt diệu; xin được phân tích như sau:

* Vật liệu lấy tại chỗ: Bấy giờ vào đầu tháng giêng, nhà nông tại vùng xung quanh Ngọc-Hồi có thể còn phơi rạ ngoài đồng, hoặc làm đụn rạ trong vườn để dành dùng đun nấu, cho bò ăn, hoặc đánh tranh lợp nhà. Rạ là vật liệu rất cần thiết cho nông dân, ở nhà quê đâu đâu cũng có. Còn dây buộc là tre non chẻ ra, hoặc cây mây; hầu như có sẵn trong mọi vườn.

* Dễ bó thành bó tròn lớn: Dịch giả lớn lên từ nhà quê, đã nhiều lần thấy nông dân bó rạ với cung cách dùng hai đòn xọc cắm sâu xuống đất, cách nhau khoảng 1 mét làm điểm tựa, chất rạ vào giữa hai đòn xóc lên cao đến đỉnh đầu, đứng lên trên đống rạ nén chặt, khi đã ưng ý, kéo những sợi dây đã đặt sẵn dưới đống rạ lên rồi buộc chặt. Những nông dân có kinh nghiệm bó những bó rạ chắc chắn, lăn cách nào cũng không tung ra. Dịch giả cũng thấy tận mắt tại nông trại ở Mỹ, có những bó cỏ cho ngựa ăn, bó chặt cao quá đầu người; lính Việt-Nam phần lớn xuất thân từ nông dân, nếu ba bốn người hợp lực có thể bó những bó lớn như vậy.

* Khi khai triển đội hình hàng ngang, những bó rạ được lăn đều, nhanh chậm tùy theo hiệu lệnh của cấp chỉ huy.

* Nếu bó rạ lớn được nhúng nước, có khả năng ngăn cản đạn nhỏ của súng điểu thương, là loại súng quân Thanh được trang bị. Quân ta khom lưng tiến sau bó rạ tương đối an toàn, ngoài việc lăn rạ còn có khả năng bắn phủ đầu đối phương.

* Hãy tưởng tượng hàng trăm bó rạ tạo thành bức thành di động, dù súng bắn vẫn lăn đều lên; lại còn có khả năng bắn trả lại; lúc lăn đến gần, quân Thanh ắt phải kinh hoàng mà bỏ chạy.


Ngoài ra cần phải nhắc thêm, trong buổi sáng vua Quang Trung cho voi quần khiến kỵ binh giặc tháo chạy, rồi quân ta dùng “hỏa châu, hỏa tiễn” bắn tới tấp lúc xung phong vào giờ ngọ, thật đúng bài bản “tiền pháo, hậu xung”, có thể ứng dụng bài học này cho ngay cả chiến tranh trong thời hiện đại!

Rất tiếc những bộ sử ngày nay như Việt-Nam sử lược của cụ Trần Trọng Kim [4] và Ðại cương lịch sử Việt Nam [5] của nhà xuất bản Giáo dục Hà-Nội vẫn dùng sử liệu “ghép ván có phủ rơm” của bộ tiểu thuyết chương hồi Hoàng Lê nhất thống chí, mà không đề cập đến “bó rạ lăn tròn”được chép trong sử nhà Thanh và sử triều Nguyễn. Thiết tưởng lịch sử là một bộ môn trong khoa học nhân văn, cần được nghiên cứu một cách khoa học không thiên kiến; lại được biết trong nước có Viện Lịch sử Quân sự, nếu Viện này cho trắc nghiệm bằng cách tập trận về hai chiến thuật nêu trên, thì sẽ thực sự thấy được đáp án.

Cái chuyện dùng ván hay dùng bó rạ lăn tròn này hồi trước cũng tranh luận kha khá bên TTVN. Bác này phân tích rất hay về ưu điểm của việc dùng bó rạ, nhưng lại quên mất một chi tiết là khi gặp hào sâu hay vật cản nổi (chiến lũy, hàng rào, bãi chông....) là bó rạ chịu chết. Những chỗ như thế dùng ván có thể vượt qua.

Ưu điểm của ván vừa là lá chắn, vừa là cầu để vượt vật cản, vừa để tải thương binh tử sĩ, chiến lợi phẩm sau trận đánh.

Như thế cũng hợp lý nếu quân TS sử dụng cả ván lẫn bó rạ, tuỳ thuộc địa hình từng chỗ.

Còn dùng súng điểu thương, từ trên bắn xuống mà trúng được chân thì hơi bị khó. Mà ngay cả có trúng vẫn có người lên thay thế được.


Tiêu đề: Re: Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam
Gửi bởi: ChienV trong 12 Tháng Hai, 2008, 04:31:23 pm
Nói về những trận vĩ đại thì có lẽ phải có trận Rạch Gầm - Xòai Mút chứ các thầy nhỉ!

Một trận điển hình về nghi binh cấp chiến thuật và chiến lược!


Tiêu đề: Re: Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam
Gửi bởi: seahawk1 trong 12 Tháng Hai, 2008, 05:21:35 pm
Nói về những trận vĩ đại thì có lẽ phải có trận Rạch Gầm - Xòai Mút chứ các thầy nhỉ!

Một trận điển hình về nghi binh cấp chiến thuật và chiến lược!

Nói về hải chiến thời có súng ống thì trận này đúng là lớn, cùng với trận Thị Nại năm 1800. Có lẽ trận Thị Nại có quy mô còn lớn hơn nhiều, vì vào thời điểm diễn ra trận này hạm đội Tây Sơn của Vũ Văn Dũng khá mạnh. Đọc đến trận Thị Nại tớ lại nhớ đến Xích Bích, cũng là một trận hỏa công ngoạn mục. Trận này cũng là một trận đánh quan trọng, có lẽ là quyết định trong việc xoay chuyển tình thế trong cuộc chiến Tây SƠn - Gia Miêu cùng trận thắng giúp Gia Long chiếm Quy Nhơn trước đó. Thành Bình Định (Quy Nhơn) đã trở thành con mồi nhử để điệu hổ ly sơn, đẩy Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng vào thế buộc phải xuất quân, đưa toàn bộ 100 ngàn quân tinh nhuệ cuối cùng của Tây Sơn đánh về phía nam. Cuộc tấn công quy mô lớn này đúng là đặt cả canh bạc vào một lá bài, vì nó để trống toàn bộ hậu phương của Tây Sơn từ Phú Xuân trở ra không còn lực lượng nào phòng ngự. Nhưng Diệu và Dũng cũng không phải là tướng tồi, chừng nào hạm đội của Vũ Văn Dũng còn ở Thị Nại canh mặt biển thì Trần Quang Diệu có thể thoải mái công thành Bình Định mà không lo Gia Long theo gió nồm đánh tập hậu. Gia Long cũng đã nhìn ra cơ hội trời cho để giáng đòn quyết định vào Tây Sơn theo kiểu "Vây Ngụy cứu Triệu", có điều thực tế xảy ra gọi là "Thí Triệu diệt Ngụy" thì chuẩn hơn. Nếu Trần Quang Diệu bỏ Bình Định lui gấp về giữ Phú Xuân ngay sau khi quân thủy Tây Sơn bị tiêu diệt ở Thị Nại thì rất có thể chiến cuộc đã khác. Với khoảng 50 ngàn quân tinh nhuệ trong tay, Quang Diệu chắc chắn sẽ làm khó dễ nhiều cho Gia Long, cho dù với một ông vua tồi tệ như Quang Toản thì vận mệnh Tây Sơn không thể nào thay đổi. Nếu Nguyễn Huệ giống như Hạng Vũ thì Nguyễn Ánh quả đúng là Lưu Bang.


Tiêu đề: Re: Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam
Gửi bởi: dongadoan trong 12 Tháng Hai, 2008, 05:30:43 pm
Rạch Gầm-Xoài Mút thì chỉ là nghi binh cấp chiến thuật thôi chứ nhỉ? Mấy cái đưa thư "lời lẽ nhún nhường" với "giả thua, nhử địch" thì chắc chưa đến mức chiến lược! ;D


Tiêu đề: Re: Một số sử liệu về trận đại phá quân Thanh của vua Quang Trung
Gửi bởi: seahawk1 trong 12 Tháng Hai, 2008, 05:31:18 pm
Những người có chút kiến thức sơ đẳng về quân sự đều biết rằng đoàn quân “dàn trận hình chữ nhất ” rầm rộ tiến vào, mà “Quân Thanh nổ súng bắn ra chẳng trúng người nào cả” là một việc khó có thể xảy ra. Ngoài ra, chi tiết “Vua Quang Trung lại truyền lấy sáu chục tấm ván, cứ ghép liền ba tấm làm một bức, bên ngoài lấy rơm dấp nước phủ kín, tất cả là 20 bức. Ðoạn kén loại lính khỏe mạnh, cứ 10 khiêng một bức, lưng dắt dao ngắn. Hai mươi người khác đều cầm binh khí theo sau, dàn thành trận chữ “nhất”; vua Quang Trung cửi voi đi đốc thúc, mờ sáng ngày mồng 5 tiến sát đồn Ngọc-Hồi”. Chúng ta tự hỏi rằng 10 người khiêng một bức, cho dù đồn giặc bằng phẳng như một sân đá banh (mà thực tế không thể có như vậy) cũng phải nhắc tấm ván lên khỏi mặt đất vài chục phân mới di chuyển được, giặc trang bị đầy đủ súng điểu thương, ống phun lửa; cứ nhắm chân mà bắn ắt phải có người bị thương, ngã xuống không khiêng được. Một bức ván với 30 quân sĩ (kể cả 20 quân tháp tùng) đã gặp khó khăn như vậy, thì toàn bộ 20 bức ván gặp khó khăn đến nhường nào, và làm sao có thể xung phong mạnh mẽ, chế ngự đồn giặc được!
....
Việc dùng rạ (hòa cán) bó thành bó lớn như bánh xe lăn khổng lồ (dùng để cán sửa đường lộ), bó nọ nối liền bó kia cùng lăn đều, tạo thành bức tường di động giúp quân lính núp đằng sau tương đối an toàn, vừa tiến lên vừa bắn, để đánh chiếm đồn giặc là một sáng kiến tuyệt diệu; xin được phân tích như sau:

* Vật liệu lấy tại chỗ: Bấy giờ vào đầu tháng giêng, nhà nông tại vùng xung quanh Ngọc-Hồi có thể còn phơi rạ ngoài đồng, hoặc làm đụn rạ trong vườn để dành dùng đun nấu, cho bò ăn, hoặc đánh tranh lợp nhà. Rạ là vật liệu rất cần thiết cho nông dân, ở nhà quê đâu đâu cũng có. Còn dây buộc là tre non chẻ ra, hoặc cây mây; hầu như có sẵn trong mọi vườn.

* Dễ bó thành bó tròn lớn: Dịch giả lớn lên từ nhà quê, đã nhiều lần thấy nông dân bó rạ với cung cách dùng hai đòn xọc cắm sâu xuống đất, cách nhau khoảng 1 mét làm điểm tựa, chất rạ vào giữa hai đòn xóc lên cao đến đỉnh đầu, đứng lên trên đống rạ nén chặt, khi đã ưng ý, kéo những sợi dây đã đặt sẵn dưới đống rạ lên rồi buộc chặt. Những nông dân có kinh nghiệm bó những bó rạ chắc chắn, lăn cách nào cũng không tung ra. Dịch giả cũng thấy tận mắt tại nông trại ở Mỹ, có những bó cỏ cho ngựa ăn, bó chặt cao quá đầu người; lính Việt-Nam phần lớn xuất thân từ nông dân, nếu ba bốn người hợp lực có thể bó những bó lớn như vậy.

* Khi khai triển đội hình hàng ngang, những bó rạ được lăn đều, nhanh chậm tùy theo hiệu lệnh của cấp chỉ huy.

* Nếu bó rạ lớn được nhúng nước, có khả năng ngăn cản đạn nhỏ của súng điểu thương, là loại súng quân Thanh được trang bị. Quân ta khom lưng tiến sau bó rạ tương đối an toàn, ngoài việc lăn rạ còn có khả năng bắn phủ đầu đối phương.

* Hãy tưởng tượng hàng trăm bó rạ tạo thành bức thành di động, dù súng bắn vẫn lăn đều lên; lại còn có khả năng bắn trả lại; lúc lăn đến gần, quân Thanh ắt phải kinh hoàng mà bỏ chạy.


Ngoài ra cần phải nhắc thêm, trong buổi sáng vua Quang Trung cho voi quần khiến kỵ binh giặc tháo chạy, rồi quân ta dùng “hỏa châu, hỏa tiễn” bắn tới tấp lúc xung phong vào giờ ngọ, thật đúng bài bản “tiền pháo, hậu xung”, có thể ứng dụng bài học này cho ngay cả chiến tranh trong thời hiện đại!

Rất tiếc những bộ sử ngày nay như Việt-Nam sử lược của cụ Trần Trọng Kim [4] và Ðại cương lịch sử Việt Nam [5] của nhà xuất bản Giáo dục Hà-Nội vẫn dùng sử liệu “ghép ván có phủ rơm” của bộ tiểu thuyết chương hồi Hoàng Lê nhất thống chí, mà không đề cập đến “bó rạ lăn tròn”được chép trong sử nhà Thanh và sử triều Nguyễn. Thiết tưởng lịch sử là một bộ môn trong khoa học nhân văn, cần được nghiên cứu một cách khoa học không thiên kiến; lại được biết trong nước có Viện Lịch sử Quân sự, nếu Viện này cho trắc nghiệm bằng cách tập trận về hai chiến thuật nêu trên, thì sẽ thực sự thấy được đáp án.

Cái chuyện dùng ván hay dùng bó rạ lăn tròn này hồi trước cũng tranh luận kha khá bên TTVN. Bác này phân tích rất hay về ưu điểm của việc dùng bó rạ, nhưng lại quên mất một chi tiết là khi gặp hào sâu hay vật cản nổi (chiến lũy, hàng rào, bãi chông....) là bó rạ chịu chết. Những chỗ như thế dùng ván có thể vượt qua.

Ưu điểm của ván vừa là lá chắn, vừa là cầu để vượt vật cản, vừa để tải thương binh tử sĩ, chiến lợi phẩm sau trận đánh.

Như thế cũng hợp lý nếu quân TS sử dụng cả ván lẫn bó rạ, tuỳ thuộc địa hình từng chỗ.

Còn dùng súng điểu thương, từ trên bắn xuống mà trúng được chân thì hơi bị khó. Mà ngay cả có trúng vẫn có người lên thay thế được.

Cũng cần nhớ thêm là uy lực và độ chính xác của súng điểu thương (chắc là từa tựa như hỏa mai) không phải như Mauser hay CKC mà bắn đâu chết đó được. Món điểu thương này chắc không thể hiện đại hơn súng trường mà quân đội châu Âu thời đó thường dùng. Vậy mà để có được hỏa lực hiệu quả, các binh đoàn châu Âu thời đó xung phong thường xếp thành khối dày đặc sát liền nhau. Theo tôi thiển nghĩ chiến thuật này thịch hành không phải vì người châu Âu "vai u thịt bắp" chỉ biết đánh nhau bằng cơ bắp mà không biết đến "nghệ thuật chiến tranh, binh pháp ..." như nhiều "cao nhân" Việt nam ta đã tự sướng thốt lên ở nhiều forum. Sở dĩ vậy có lẽ do phải tập trung thành khối dày đặc thì hỏa lực súng trường mới hữu hiệu và cho phép đối phó với kỵ binh. Điều này cũng chứng tỏ súng trường và kể cả đại bác thời đó chĩa vào đám đông dày đặc như thế cũng không dễ gì làm thịt được nhau, tới được tầm bắn hiệu quả thì đối phương cũng đã khá gần. Lực xuyên của đạn súng trường thời đó không biết thế nào, nhưng thế kỷ 17, khi công phá Dunkirk, thống chế Luxemburg đã cho quân vác các túi len che phía trước để che đạn hỏa mai. Thế nên món ván bọc rơm đằng trước của Nguyễn Huệ chắc chắn không ngán súng điểu thương lắm đâu và thực tế đã phát huy tác dụng.


Tiêu đề: Re: Một số sử liệu về trận đại phá quân Thanh của vua Quang Trung
Gửi bởi: hath trong 16 Tháng Hai, 2008, 02:35:59 pm
Ngô Thì Nhậm và cuộc lui quân về Tam Điệp

Trong các cuộc chiến tranh vệ quốc của dân tộc Việt Nam, cuộc chiến chống hơn 20 vạn quân Thanh xâm lược vào mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789) là một điểm son chói lọi trong lịch sử chống ngoại xâm của quân và dân nước ta. Yếu tố quan trọng để lập nên chiến công lẫy lừng ấy là nhờ thiên tài quân sự của Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ và nước cờ lui quân trấn giữ Tam Điệp trong những ngày đầu của cuộc chiến. Tác giả nước cờ chiến lược này là tiến sĩ Ngô Thì Nhậm, Tả Thị Lang bộ Lại của nhà Tây Sơn.

Cuối năm Mậu Thân (1788), vua Lê Chiêu Thống cầu viện, hơn 20 vạn quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị, thống đốc Lưỡng Quảng, cầm đầu kéo sang nước ta với chiêu bài diệt Tây Sơn, dựng lại nhà Lê. Tôn Sĩ Nghị chia quân làm ba đạo. Một đạo do tổng binh tỉnh Vân Nam và Quý Châu kéo sang mạn Tuyên Quang. Một đạo do Sầm Nghi Đống kéo sang mạn Cao Bằng. Một đạo do Tôn Sĩ Nghị cùng Đề đốc Hứa Thế Hanh kéo sang mạn Lạng Sơn. Ba đạo quân của Tôn Sĩ Nghị xuất phát cuối tháng mười năm Mậu Thân, tiến vào nước ta thế mạnh như nước vỡ bờ!

Trấn thủ Lạng Sơn là Phạm Khải Đức khiếp sợ kéo cờ hàng. Phó tướng là Nguyễn Văn Diễn chạy về Kinh Bắc cùng Nguyễn Văn Hòa cố thủ, rồi sai người về Thăng Long cấp báo. Được tin, Ngô Văn Sở dùng kế hoãn binh, sai Nguyễn Quý Nha, Trần Bá Lãm mang ba tờ bẩm văn ký tên Sùng Nhượng Công và bá quan văn võ, đến quân thự Tôn Sĩ Nghị cầu hòa. Nghị bác khước!

Ngô Văn Sở bèn nhóm các quan văn võ lại, bàn biện pháp đối phó. Nhiều người đề nghị dùng phục binh đánh địch. Ngô Thì Nhậm nói:

- Quân địch mới tới, sức còn mạnh, khí đương hăng, lại khoa trương thanh thế làm kinh động nhân tâm. Nếu ta đem quân ra khỏi thành sẽ bị chúng sát hại. Cựu binh sĩ của Bắc Hà, nhuệ khí vốn đã nhụt, thừa cơ trốn hết. Chừng ấy ta mới đánh thì không hơn, mà muốn giữ cũng không được. Chi bằng rút hết quân thủy bộ vào đóng giữ từ Tam Điệp ra đến biển, để bảo toàn lực lượng, rồi cấp báo về Phú Xuân. Lúc ấy ta sẽ quyết chiến cũng không muộn.

Cuối cùng, mọi người đều thống nhất ý kiến của Ngô Thì Nhậm, rồi thừa đêm tối đem quân ra đi. Từ Thăng Long, Ngô Văn Sở theo đường bộ lui quân về giữ núi Tam Điệp (Ninh Bình). Quân thủy chở lương thực theo đường biển rút về đóng ở Biện Sơn (Thanh Hóa).

Đây chính là "cổ họng" của bắc-nam. Vì thế đèo Tam Điệp là một phòng tuyến, phòng ngự lợi hại, mang vị trí chiến lược trong quân sự như bức tường thành thiên nhiên án ngữ con đường thiên lý ra bắc vào nam của đất nước. Án ngữ đèo Tam Điệp thì địch khó có thể tiến đánh quân Tây Sơn ở kinh đô Phú Xuân.

Thế là trong giai đoạn đầu, quân Thanh mặc dù chiếm được Thăng Long, nhưng chúng không hoàn thành được kế hoạch chiến lược, tức là không tiêu diệt được quân Tây Sơn và không chiếm được tuyến địa hình có lợi cho sự phát triển của chiến tranh. Còn quân Tây Sơn tuy tạm thời rời bỏ kinh thành, vẫn bảo tồn được lực lượng, chiếm được tuyến địa hình quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc phản công chiến lược sau này. Chính vì vậy, khi tới Tam Điệp, vua Quang Trung đã đánh giá cao kế hoạch rút quân của Ngô Thì Nhậm.

Ngày 20 tháng chạp năm Mậu Thân, đại binh Tây Sơn tới Tam Điệp. Ngô Văn Sở, Ngô Thì Nhậm, Phan Văn Lân ra chịu tội. Vua Quang Trung cười nói:

- Ta biết đây là kế của Ngô Thị Lang. Lui quân để tránh thế giặc, trong khuyến khích sĩ khí, ngoài kích động lòng kiêu ngạo của giặc. Kế dụ địch vào chỗ hiểm yếu như thế là phải. Các khanh không có tội chi cả!

Tại Tam Điệp, vua Quang Trung cho chỉnh đốn quân sĩ 10 ngày. Đến ngày 30 tháng chạp , nhà vua cho mở tiệc khao quân ăn Tết trước và tuyên bố trước ba quân:

- Nay ta ăn Tết Nguyên đán trước, đợi sang xuân ngày mùng 7, vào Thăng Long, sẽ mở tiệc ăn Tết Khai hạ.

Sự việc diễn ra như vua Quang Trung đã nói. Chỉ trong 5 ngày, ngày mùng 5 Tết Kỷ Dậu (1789) quân Tây Sơn chiến thắng anh dũng ở Ngọc Hồi-Đống Đa (Thăng Long), đập tan hơn 20 vạn quân Thanh xâm lược.

Nước cờ Tam Điệp của Ngô Thì Nhậm đã góp phần vào chiến thắng lẫy lừng đó. (st)


Tiêu đề: Re: Một số sử liệu về trận đại phá quân Thanh của vua Quang Trung
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 14 Tháng Năm, 2008, 11:48:44 am
Những người có chút kiến thức sơ đẳng về quân sự đều biết rằng đoàn quân “dàn trận hình chữ nhất ” rầm rộ tiến vào, mà “Quân Thanh nổ súng bắn ra chẳng trúng người nào cả” là một việc khó có thể xảy ra. Ngoài ra, chi tiết “Vua Quang Trung lại truyền lấy sáu chục tấm ván, cứ ghép liền ba tấm làm một bức, bên ngoài lấy rơm dấp nước phủ kín, tất cả là 20 bức. Ðoạn kén loại lính khỏe mạnh, cứ 10 khiêng một bức, lưng dắt dao ngắn. Hai mươi người khác đều cầm binh khí theo sau, dàn thành trận chữ “nhất”; vua Quang Trung cửi voi đi đốc thúc, mờ sáng ngày mồng 5 tiến sát đồn Ngọc-Hồi”. Chúng ta tự hỏi rằng 10 người khiêng một bức, cho dù đồn giặc bằng phẳng như một sân đá banh (mà thực tế không thể có như vậy) cũng phải nhắc tấm ván lên khỏi mặt đất vài chục phân mới di chuyển được, giặc trang bị đầy đủ súng điểu thương, ống phun lửa; cứ nhắm chân mà bắn ắt phải có người bị thương, ngã xuống không khiêng được. Một bức ván với 30 quân sĩ (kể cả 20 quân tháp tùng) đã gặp khó khăn như vậy, thì toàn bộ 20 bức ván gặp khó khăn đến nhường nào, và làm sao có thể xung phong mạnh mẽ, chế ngự đồn giặc được!
....
Việc dùng rạ (hòa cán) bó thành bó lớn như bánh xe lăn khổng lồ (dùng để cán sửa đường lộ), bó nọ nối liền bó kia cùng lăn đều, tạo thành bức tường di động giúp quân lính núp đằng sau tương đối an toàn, vừa tiến lên vừa bắn, để đánh chiếm đồn giặc là một sáng kiến tuyệt diệu; xin được phân tích như sau:

* Vật liệu lấy tại chỗ: Bấy giờ vào đầu tháng giêng, nhà nông tại vùng xung quanh Ngọc-Hồi có thể còn phơi rạ ngoài đồng, hoặc làm đụn rạ trong vườn để dành dùng đun nấu, cho bò ăn, hoặc đánh tranh lợp nhà. Rạ là vật liệu rất cần thiết cho nông dân, ở nhà quê đâu đâu cũng có. Còn dây buộc là tre non chẻ ra, hoặc cây mây; hầu như có sẵn trong mọi vườn.

* Dễ bó thành bó tròn lớn: Dịch giả lớn lên từ nhà quê, đã nhiều lần thấy nông dân bó rạ với cung cách dùng hai đòn xọc cắm sâu xuống đất, cách nhau khoảng 1 mét làm điểm tựa, chất rạ vào giữa hai đòn xóc lên cao đến đỉnh đầu, đứng lên trên đống rạ nén chặt, khi đã ưng ý, kéo những sợi dây đã đặt sẵn dưới đống rạ lên rồi buộc chặt. Những nông dân có kinh nghiệm bó những bó rạ chắc chắn, lăn cách nào cũng không tung ra. Dịch giả cũng thấy tận mắt tại nông trại ở Mỹ, có những bó cỏ cho ngựa ăn, bó chặt cao quá đầu người; lính Việt-Nam phần lớn xuất thân từ nông dân, nếu ba bốn người hợp lực có thể bó những bó lớn như vậy.

* Khi khai triển đội hình hàng ngang, những bó rạ được lăn đều, nhanh chậm tùy theo hiệu lệnh của cấp chỉ huy.

* Nếu bó rạ lớn được nhúng nước, có khả năng ngăn cản đạn nhỏ của súng điểu thương, là loại súng quân Thanh được trang bị. Quân ta khom lưng tiến sau bó rạ tương đối an toàn, ngoài việc lăn rạ còn có khả năng bắn phủ đầu đối phương.

* Hãy tưởng tượng hàng trăm bó rạ tạo thành bức thành di động, dù súng bắn vẫn lăn đều lên; lại còn có khả năng bắn trả lại; lúc lăn đến gần, quân Thanh ắt phải kinh hoàng mà bỏ chạy.


Ngoài ra cần phải nhắc thêm, trong buổi sáng vua Quang Trung cho voi quần khiến kỵ binh giặc tháo chạy, rồi quân ta dùng “hỏa châu, hỏa tiễn” bắn tới tấp lúc xung phong vào giờ ngọ, thật đúng bài bản “tiền pháo, hậu xung”, có thể ứng dụng bài học này cho ngay cả chiến tranh trong thời hiện đại!

Rất tiếc những bộ sử ngày nay như Việt-Nam sử lược của cụ Trần Trọng Kim [4] và Ðại cương lịch sử Việt Nam [5] của nhà xuất bản Giáo dục Hà-Nội vẫn dùng sử liệu “ghép ván có phủ rơm” của bộ tiểu thuyết chương hồi Hoàng Lê nhất thống chí, mà không đề cập đến “bó rạ lăn tròn”được chép trong sử nhà Thanh và sử triều Nguyễn. Thiết tưởng lịch sử là một bộ môn trong khoa học nhân văn, cần được nghiên cứu một cách khoa học không thiên kiến; lại được biết trong nước có Viện Lịch sử Quân sự, nếu Viện này cho trắc nghiệm bằng cách tập trận về hai chiến thuật nêu trên, thì sẽ thực sự thấy được đáp án.

Cái chuyện dùng ván hay dùng bó rạ lăn tròn này hồi trước cũng tranh luận kha khá bên TTVN. Bác này phân tích rất hay về ưu điểm của việc dùng bó rạ, nhưng lại quên mất một chi tiết là khi gặp hào sâu hay vật cản nổi (chiến lũy, hàng rào, bãi chông....) là bó rạ chịu chết. Những chỗ như thế dùng ván có thể vượt qua.

Ưu điểm của ván vừa là lá chắn, vừa là cầu để vượt vật cản, vừa để tải thương binh tử sĩ, chiến lợi phẩm sau trận đánh.

Như thế cũng hợp lý nếu quân TS sử dụng cả ván lẫn bó rạ, tuỳ thuộc địa hình từng chỗ.

Còn dùng súng điểu thương, từ trên bắn xuống mà trúng được chân thì hơi bị khó. Mà ngay cả có trúng vẫn có người lên thay thế được.

Cũng cần nhớ thêm là uy lực và độ chính xác của súng điểu thương (chắc là từa tựa như hỏa mai) không phải như Mauser hay CKC mà bắn đâu chết đó được. Món điểu thương này chắc không thể hiện đại hơn súng trường mà quân đội châu Âu thời đó thường dùng. Vậy mà để có được hỏa lực hiệu quả, các binh đoàn châu Âu thời đó xung phong thường xếp thành khối dày đặc sát liền nhau. Theo tôi thiển nghĩ chiến thuật này thịch hành không phải vì người châu Âu "vai u thịt bắp" chỉ biết đánh nhau bằng cơ bắp mà không biết đến "nghệ thuật chiến tranh, binh pháp ..." như nhiều "cao nhân" Việt nam ta đã tự sướng thốt lên ở nhiều forum. Sở dĩ vậy có lẽ do phải tập trung thành khối dày đặc thì hỏa lực súng trường mới hữu hiệu và cho phép đối phó với kỵ binh. Điều này cũng chứng tỏ súng trường và kể cả đại bác thời đó chĩa vào đám đông dày đặc như thế cũng không dễ gì làm thịt được nhau, tới được tầm bắn hiệu quả thì đối phương cũng đã khá gần. Lực xuyên của đạn súng trường thời đó không biết thế nào, nhưng thế kỷ 17, khi công phá Dunkirk, thống chế Luxemburg đã cho quân vác các túi len che phía trước để che đạn hỏa mai. Thế nên món ván bọc rơm đằng trước của Nguyễn Huệ chắc chắn không ngán súng điểu thương lắm đâu và thực tế đã phát huy tác dụng.

Luyên thuyên, mấy nhà sử học đểu. Đã dốt lại còn bậy.
Mấy cái ý trên mình đọc rồi, của một lão nào đó đăng báo, chứ không phải trên forum đâu, mấy lão này tên tuổi đàng hoàng-chuyên nghề nói phét, chứ không như anh em ta chuyên nghề tán gẫu. Ngày nay chuyện chê tiền nhân, vĩ nhân là sai, ngu... nhan nhản. Thời buổi nợn làm người mà. Mấy từ ở đây tớ dùng để nói về đám đó, không phải anh em ta nhé, thông cảm.

Súng dùng để chỉ chung các vũ khí từ hỏa đồng, pháo cho đến súng ngắn. Mấy ông nợn này cứ tưởng súng là súng trường nên mới đã ngu còn láo. mà kể cả súng trường thì ngày đó cũng chỉ xuyên gỗ được 2-3 phân, dùng ván là đúng rồi. Nợn ngu tưởng súng bắn liên thanh xuyên khỏe như 12,7mm, nên phải dùng ván 20 phân. Nợn không biết súng ngày đó thế nào, ngu si suy diễn. Trong khi quân tây Sơn dùng ván cửa bức bàn dầy có 2-3 phân bọc rơm.

Súng trường là thương (枪槍), tức là thương giáo đấy, đây là vũ khí chính của bộ binh, vừa chỉ giáo thời giáo, chỉ súng thời súng. Thương cổ đại là gậy, đồng thời là động từ có nghĩa "làm gậy", sau là "giáo"... phát triển theo kỹ thuật quân sự. ;D ;D ;D ;D ;D ;D
Súng to là pháo (礮), tức là cái máy bắn đá.
Pháo+thương+hỏa đồng đều là súng, 铳銃. Súng tức "rìu lỗ", rìu lỗ là rìu có chọc lỗ để tra cán, chứ cán không bao bên ngoài. Đúc súng rèn súng cũng giống như làm lỗ rìu lỗ cuốc, nên thừa kế chữ súng. Điều này cũng như nhà ta có "ống", trong từ "súng ống". Điều này cũng giống như tây có cannon, tức là cái ống tiến Ý.
Tiếng Vịt dân dã hiện đại thường dùng Pháo chỉ súng to, súng chỉ súng nhỏ. Vậy nên nhiều chú ngu si đần thộn nhầm lẫn. Đặc biệt anh tẹc nẹt thường phát triển bởi mấy thằng em út Hàn Triệu vốn uyên thâm như lưu manh. Sách vở chuyên ngành thì súng vẫn là vũ khí có nòng thôi, to bé không hề, nhưng lưu manh mấy khi được chạm đến mà bít.
Nghe thấy súng là tưởng súng trường súng ngắn.

Ngày đó, Âu cũng như Á, súng còn rất yếu. Nạp đạn vài phút một quả, trái phá nổ sát thương cỡ nửa quả lựu đạn trái na ngày nay. Mà rất ít trái phá, chủ yếu là đạn đặc. Súng kiểu đó chỉ dùng bắn thuyền bè xe cộ và công thành, hầu như không có khả năng sát thương. Ở châu Á, lực lượng vũ khí sát thương chủ yếu vẫn là các ống hỏa đồng và giàn nỏ liên châu, phụ thêm là loại pháo trên bắn đạn ria. Ống hỏa đồng 火筒, còn gọi hỏa hổ, là tiền thân của súng, mỏng, đường kính lớn, nhồi loại thuốc cháy chậm (trộn tỷ lệ than lớn, ít lưu hoàng), đặt nghiêng khỏang 45 độ chếch lên. Khi bắn, phun lửa và tàn than ra sát thương, tầm rất gần (2-3 chục mét). Ở châu Âu, lực lượng sát thương chính vẫn là kỵ binh, ngoài ra bắn nhiều trái phá "sát thương dần dần", châu Âu lúc này phát triển hơn Á, đã cơ động kông phụ thuộc thành trì nên Hỏa Đồng mất điện.

Âu hay Á thì cũng có đoạn xung phong. Cho đến Nội Chiến Mỹ thì chiến thuận vẫn cổ điển. Thật ra, mỗi trận đánh có vài vạn người tham gia thì trận tuyến rất mỏng, chỉ cùng lắm là vài chục hàng ngang, nên mới có khái niệm "xung lực xung phong", thời điểm cái hàng ngang mỏng teo ấy tiếp cận công sự địch, khác với trận đánh lớn bố trí quân bát giác, và dễ hiểu hỏa đồng tác dụng thế nào, làm thủng luôn hàng ngang đó. Nói rõ hơn, áp lực của hàng ngang tuy mạnh nhưng "mỏng", rất dễ bị dập tắt. Hiểu được thế thì cũng hiểu tại sao lại dùng ván tẩm rơm ướt, chống cả súng và hỏa hổ. Cũng hiểu được bó rơm lăn không thể có nhiều để che được, không thể lăn tốc độ cao, không thể xung phong được. Việc dùng ván hay loại khiên rất to có từ lâu khi xung phong, đây cũng là chiến thuật cổ có được nói trong binh thư. Khi giáp nhau, ván được vứt đè đối phương xuống, tạo thành bàn đạp xung phong, vừa đè người, chông, hào, bờ thành thấp.... CÒn dùng biển lửa của rơm thì lấy chỗ chó nào xung phong. Mà mấy con nợn chưa nhìn thấy doanh trại bao giờ, chông hào lũy nó để đâu để cho nợn lăn rơm.
Mấy chú ngu láo cứ tưởng trận đánh 1 vạn người cũng giống trận đánh 50 vạn người, quân đội trùng trùng điệp điệp, hết lớp này đến lớp khác.
Ngu láo cũng tưởng súng như ngày nay, bắn 600 phát phút, xuyên thép dầy 25mm gỗ dày 200mm. Hay ngu láo tưởng pháo bắn 10 phát phút, mỗi đạn hàng vạn mảnh chết cả sào người. Muộn hơn thời điểm này gần 20 năm, Nã Phá Luân buồn chán đứng nhìn quả trái phá đang cháy ngòi đợi chết (địch vừa bắn đến), "ùm", đến hạt bụi cũng không dính.

Trận đánh đồn Khương Thượng ban đêm, quân Tây Sơn dùng đuốc cùng với dân vùng này, tạo thành mũi xung phong dài, chứ không dàn hàng ngang. Ban đêm, đây là chiến thuật tiến quân hay được dùng, người sau đi theo người trước, chứ dàn hàng ngang dễ tan hàng. Quân Thanh nhìn thấy như rồng lửa.



Cái ngu thứ ba ở đây là "điểu thương". Khỉ, thời buổi này thằng ngu làm thầy, bốc phét văng mạng, càng ngu càng láo, càng láo càng lắm thằng ngu.
Phương Đông không dùng "điểu thương". Điểu thương là súng cá nhân dùng đã lửa, cái mỏ đá lửa giống đầu chim nên gọi là "điểu thương" hay "điểu đầu thương", "điểu súng" 鳥銃. Phương Đông dùng thiết kế của "Hỏa khí doanh" (đơn vị của Hồ Nguyên Trừng), tên là "hỏa thằng thương", loại súng trường có cò mồi bằng thừng cháy chậm. Tuy nhiên, đó là thời Minh, còn lúc diễn ra trận Hạ Hồi Ngọc Hồi, thì chỉ Nhật dùng. Súng thời Thanh đi lùi khủng so với Minh. Sắt chất lượng tồi, đúc rỗ và thiếu loại thép chất lượng cao để làm những bộ phận chi tiết phức tạp của súng trường. Hồi đánh ta, súng nhỏ của quân Thanh chỉ là loại thần cơ nhỏ, bỏ cò, khác gì pháo to đâu trừ kích thước. Vậy nên đều gọi súng là "thần cơ" hay là "thần công". Súng của phương Đông không có giai đoạn điểu đầu, mà chuyển ngay qua đoạn súng kíp với hạt nổ làm bằng ống lông vũ, điểu súng là từ tầu chỉ súng tây.

Mấy láo ngu ngày thích nói láo, lại dốt, bới được mấy trang web còn dốt hơn, bọn nó gọi "thằng" là "điểu", bê nguyên vào rồi ra vẻ nghị luận. Tời buổi ngu si đần thộn làm thầy nó thế.

Còn đây là hỏa thằng và điểu đầu. Ai có quen biết thì mách cho lũ ngu si biết là nó ngu. Ờ, nhưng mà điều đó hơi khó.
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1307.20

Hoàng Lê Nhất Thống viết: "Trời gió nam, quân Thanh dùng hỏa đồng bắn ra".
Ngô văn gia thuyết: "sai đội khiêng ván chạy kíp vào trận".
Hỏa đồng đây
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/BinhKhiCo/sung/Chinese_Cannon_hoa_long_kinh.jpg)


Những người có chút kiến thức sơ đẳng về quân sự đều biết rằng đoàn quân “dàn trận hình chữ nhất ” rầm rộ tiến vào, mà “Quân Thanh nổ súng bắn ra chẳng trúng người nào cả” là một việc khó có thể xảy ra.
Thế mới ngu si. Thời buổi ngu si đi dậy đời, nợn làm người nó thía nì. Diến biến thế nào ????
Súng tầm bắn 100 mét, xuyên 2-3 phân, tốc độ bắn 3 phút một phát, người chạy 5 mét giây (15km/h, bằng xe đạp đi vừa), 100 mét hết hai mươi giây, tức là súng chỉ bắn được 1 loạt duy nhất là đang trôi 1/10 thời gian chuẩn bị loạt sau. Nợn tưởng là quân Thanh dùng PKM, bắn được vài trăm viên rồi, hay chí ít cũng là AK. Thực tế là quân Thanh không kịp nạp đại bác, và cũng rất ít đại bác theo yêu cầu, có thể là không có, vì đại bác đặt ở Thăng Long hoặc tiền quân. Kể cả có nhiều đại bác thì số thương vong không đáng kể, vì như trên nói, đây không phải vũ khí sát thương, mỗi viên đạn chết 1 người, để sát thương đáng kể, quân Thanh cần có lẽ đến cả vạn pháo lớn Thần Cơ. Còn loại tên đạn súng nhỏ, ván cửa bức bàn bọc rơm quá cả xe tăng rồi.
Đấy là bước đầu, tiếp theo, khi chữ nhất đã tiến sát công sự, khoảng cách còn 2-3 chục mét theo cách nói hiện đại, quân Thanh dùng hỏa đồng bắn ra, trận chiến đã được mô tả hết sức thực tế, chuyên nghiệp, súc tích ngắn gọn. Tác giả đã nói hai bên đều thạo binh thư, được huấn luyện kỹ, đánh đúng bài bản, nhưng quân Thanh không chuẩn bị kỹ, thiếu hẳn lực lượng phản xung phong nên mới chết, đoạn văn quá hay. Thế nhưng ngu láo si đần luôn chê tiền nhân, chê tiền nhân vì quá ngu si biết mịe giề đâu. Thằng thần kinh luôn tưởng thiên hạ thần kinh, mỗi nó khôn, cái quy luật này ở đâu cũng đúng.
Cái chiến thuật vác ván này còn dùng dài dài, cả Âu lẫn Á. Chỉ có mỗi mấy thằng nợn thần kinh dở mới chê bai thôi. Cái thời nợn làm thầy đông như kiến, sa sả chê bai tiền nhân vĩ nhân nó thế.

Ở đây cũng thấy rõ một đặc điểm của giống nợn bại não nói chung là rất thích dùng những câu từ văn hoa như là nợn có hiểu biết lắm, mặc dù chưa biết cái trại lính hay bó rơm như thế nào, nhưng "những người có hiểu biết một chút về quân sự"... ý hẳn tự cho mình trên "hiểu biết một chút" đây. Trong khi dưới cả một chút là chông hào luỹ ven đồn thì éo thèm bít. Hay cái đồn vạn quân nó giống vườn hoa, mà vườn hoa thì người ta cũng rào, ai cho nợn chạy lung tung.

Người muốn hiểu biết cần học kỹ bản năng từ bé, sau mới hấp thụ được kiến thức. Cũng như trẻ em mới đẻ phải ti trước làm căn bản, có cơ địa rồi sau mới rượu chè. Nợn ngu si dốt nát, cũng như trẻ em cho uống rượu, càng đọc thiên kinh vạn thư càng loạn chữ bại não. Cũng là một bài học thời "tiếp thị thương hiệu Bush".

Đọan bình luận trên mình đọc trên báo, cũng lâu rồi, của giáo sư đứng tên hẳn hoi. Nghĩ lại, thời này lắm nợn làm thầy thế, thời đại bốc phét ngu si.


Tiêu đề: Re: Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 14 Tháng Năm, 2008, 01:02:17 pm
  Không thấy mọi người nhắc đến trận Bô Cô nhỉ, quân Hậu Trần trận đó đánh ác phết, thằng Mộc Thạch mang quân tăng viện sang bị dính đòn này sợ vãi, theo sách Đại Việt sử ký toàn thư thì trận này bọn Minh bị giết đến 10 vạn, chết mất mấy tướng lĩnh và văn quan cao cấp.
  Mấy bác bảo các cụ nhà mình ko tranh thủ bọn Tống đang thoi thóp mà đánh lên phía bắc là nhầm rồi, Trần Thái Tông có trực tiếp dẫn quân tấn công đấy chứ, ông còn tự xưng là Trai Lang...Có tài liệu nào đó nói phần đất mà Mạc Đăng Dung cắt cho bọn Minh thực ra ko phải của mình, nó vốn là đất Tàu bị các cụ nhà mình xẻo mất

Trận Bô Cô là thời Giản Định Đế nổi dậy kháng Minh. Có công lớn ở trận này là Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân. Chỉ tiếc là chưa kịp bắn hết chim thì Giản Định đã bỏ ná sát hại cả hai người. Kết quả là phải đợi khi Lê Lợi khởi nghĩa nước ta mới thoát vòng thuộc Minh. Có lẽ Việt Nam là nước nhỏ, dân số cũng có hạn nên quy mô các trận đánh cũng vừa phải (nói thêm là Trung Quốc nhiều khi cũng phét lác quá. VD: Thời chiến quốc khéo cả thế giới cộng lại cũng chỉ được chưa đến 100 triệu dân, TQ chắc ko quá 20 triệu lại chia bao nhiêu nước, thế mà Triệu chết được đến 450 ngàn quân ở Trường Bình thì cũng khó tin). Có thể kể ra vài trận đánh đáng nói:
-Cả chiến dịch chống Tống năm 981 của Lê Hoàn. Theo như sách ta thì quân Tống huy động khoảng 100 ngàn quân và thất bại thê thảm. Chủ tướng Hầu Nhân Bảo toi mạng ở Chi Lăng.
-Nam chinh to nhất thì có chiến dịch năm 1471 của Lê Thánh Tông huy động đến 250 ngàn quân như đã nói trước đây. Tiếc là tớ không có nhiều tư liệu.
-Thời hai họ Nguyễn tranh hùng cũng có nhiều trận quy mô lớn, như trận quân Nguyễn Gia Miêu diệt thủy quân Tây sơn ở Thị Nại năm 1800 hay 1801,
-Thời Nam Bắc triều cũng có vài lần nhà Mạc huy động đến 100 ngàn quân tấn công nhà Lê, nhưng rút cục đều thất bại, lần tệ hại nhất năm 1592 theo đại việt sử ký quân Mạc chết đến 10 ngàn người, với quân số thời đó quả thực là khủng khiếp.
-Thời Trần hiển nhiên có nhiều trận đánh dữ dội, thắng thì nhiều người nói rồi, thua thì nổi tiếng nhất là Hồ Quý Ly bị Chế Bồng Nga nện cho đến mức mất 76 tướng trong một trận năm 1389.


Công của hủ nho nhà khựa đấy. Khựa cứ ôm sách khổng hủ, tự hào là văn minh, trong khi phần lớn thời gian lịch sử của khổng con khổng cháu bị dân man di đô hộ. Một trong những công lao lớn nhất của khổng hủ là an dân trị nước bằng thơ nhạc, học thơ nhạc được làm quan. Còn toán thì chỉ làm lại, lý làm thợ, sinh vật thì làm nghề hạ đẳng nhất xã hội là nông dân. Vì cái kiểu đó, nên cái gọi là chính sử chỉ là tập hợp những lịch tế lễ và tụng ca hoàng triều.

Ví dụ, Quang Trung Đại Phá Quân Thanh được mô tả là quân Thanh đánh trận lớn ở Đáp Cầu, toàn thắng, Nguyễn Huệ sợ quá quy hàng. Rồi vua thanh sai vẽ 6 bức tranh quý rất lớn, mô tả chiến công này, nêu gương cho hậu thế. Nợn, số phận cũng hài hước, Cố Cung điêu tàn, bọn hoạn quan trộm đồ quý rồi đốt cung phi tang. 2 trong số 6 bức quý đó được một nhà sưu tầm am hiểu lịch sử phương đông tặng cho..... Vịt nhân 200 năm trận chiến.  ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D Mà hình như Vịt tặng lại khựa  ;D ;D ;D ;D ;D, bạn nào bít chiện này không nhỉ. ?

Những cuộc chiến tranh bị bóp méo như thế. Mỗi trận nào thắng, số quân tham chiến được chính sử tầu tâng lên đôi ba, những trận thua thì tụt xuống. Rồi những người sau đó mất thế lực cũng bị ngu hủ nho viết sử cắt bớt quyền lực bằng giảm bớt quân...... Hủ nho nhà Vịt lại lấy Minh Sử nhai lại thành sử Nguyễn. Nước thối chảy tràn khắp nơi.

Đấy mới là ngu si cố ý. Rồi sự ngu si của những thằng hủ nho ở cung đình không hiểu thực tế. Ví dụ, quân Trung Uơng Tầu khi vượt biên thường lôi theo cả lũ thổ phỉ địa phương, bọn này sống không có lương, bằng gì tự hiểu, đôi khi đông bằng và hơn quân được tính trong sổ. Sự ngu tối này được những nhà nghiên cứu thủ dâm hậu thế cắt lọc đi và quân số chỉ còn nhiều khi là 1/10.

Ví dụ, 4-5 cuộc Mạc Bắc Viễn Chinh cùng thời với Lê Lợi quân Minh mang 50 vạn, đích thân Chu Lệ thân chinh, thắng. Cùng thời đó Liễu Thăng chỉ được mang 10 vạn khi chết và sử ghi tụt xuống còn 7 vạn. Hay cuộc xâm lăng lần thứ nhất của quân Minh đánh Đại Ngu của Hồ Quý Ly chỉ 5 ngàn người  ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D. Quân Minh thiên về đại quân, những trận chiến thường huy động số quân rất lớn và thường xuyên có Hoàng Đế thân chinh (đặc diểm của những khởi nghĩa tầu, nghi kỵ nhau, đem tất đi cho an toàn). Thế nhưng có lần đem 5 ngàn người đi đánh một nước mấy trăm năm hùng mạnh, ngu đến không còn gì ngu hơn.  ;D ;D ;D ;D ;D ;D

Dân khựa đời đài nhớ ơn khổng tử, phần lớn lịch sử tầu khựa là nằm dưới ách đô hộ của lũ "man di địch...". Nhờ khổng tử, dân tầu là lũ súc vật nô lệ chuyên nghiệp và thỉnh thoảng lại bị làm thịt hàng loạt trong nhã nhạc thi ca.

Thế nhưng nhờ hủ nho mà khổng con khổng cháu thường vỗ ngực về văn minh văn hóa. Thiên niên kỷ tứ 2 bắt đầu bằng việc nước tống suy và gọi Tây Hạ, Liêu là em kết nghĩa, mỗi năm biếu em... để khỏi dùng chữ nộp cống. Rồi thì Kim lấy Bắc Tống. Rồi thì cái mẩu Nam Tống bị Mông Cổ chén nốt. Nhà Minh tồn tại dặt dẹo với khoảng vài chục năm đời Vĩnh Lạc đè được Nguyên, rồi sau đó lại bị Nguyên Thanh gặm nhấm. Rồi cuối cùng thanh cũng chén sạch Minh. Rồi ..... Cả Thiên niên Kỷ thứ 2, khựa chỉ duy nhất hoàn toàn độc lập được thời Minh. Nhưng cái độc lập của họ dân chúng còn chuối hơn cả làm nô lệ, các cuộc khởi nghĩa chống nguyên dừng lại lập ra nhà Minh chỉ vì dân chúng chết đã sạch đàn ông, chiến tranh vì thế mà chấm dứt. Lúc chưa mất minh,hủ nho ra rả chửi Sùng Trinh. Cái thằng lùng trinh này có cái giường di động, đi khắp nơi, kết ẻm nào là lôi lên liền. Nhưng mà hắn có vấn đề với máy móc, nên có lần các ẻm nổi loạn thắt cổ hắn trong giường, may bà không chết. Sau khi Sùng Trinh bị sấm vương giết, Minh mất, lũ hủ nho khựa lại sa sả để tang cho Sùng Trinh mấy trăm năm liền, biểu tượng của độc lập  ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D. Mà Thiếu Lâm cũng đi đầu trong phong trào ủng hộ Sùng Trinh  ;D ;D ;D ;D ;D Các sư hình như kính phục hắn khoản ăn chơi.  ;D ;D ;D ;D ;D

Thiên niên kỷ thứ nhất thì còn tệ hơn cả thế. Cộng cả lại, dân khựa sống được 1/4 hoàn toàn độc lập và trong thời gian đó ngày đêm cầu mong được làm nô lệ. Đâu như nhà ta, sử hủ nho cũng nhiều, nhưng các cụ còn truyền được bí kíp, nên phần lớn thời gian làm trưởng xóm  ;D ;D ;D ;D
Dưng cơ mừ càng ngày hủ nho vịt càng mạnh, cú thía. Tớ đang có cảm giác của Nhậm Ngã Hành, muốn phá văn miếu kheóet mặt tượng không tử quá.  ;D ;D ;D ;D ;D ;D


Tiêu đề: Re: Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam
Gửi bởi: Tunguska trong 14 Tháng Năm, 2008, 04:57:22 pm
Chẹp, bác Phúc lại thế rồi. Đề nghị bác sửa lại những chỗ nợn, ngu, dốt, khựa... đi nhé. Bài của bác sẽ có giá trị hơn nhiều nếu không có mấy cái chỗ đấy đấy.


Tiêu đề: Re: Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 14 Tháng Năm, 2008, 07:46:55 pm
Hờ hờ hờ.
Kể ra, chửi bọn hủ nho thế là còn nhẹ.
Sau những nỗ lực của Vương An Thạch bất thành, hủ nho toàn thắng. Ngày nay, dân tầu căm thù Tư Mã Quang, nhưng ngày đấy, cả dân tầu vươn cổ ra chịu Hung Nô chém giết, mất dần đến hết nước... tất cả trong nhã nhạc thi ca của hủ nho.

Thật ra, hủ nho ở ta cũng chả kém gì. Những cải cách của Hồ Quý Ly, Mạc, Tây Sơn... đều bị hủ nho làm cho hỏng, kể cả đánh trước mặt và đánh từ trong nà đánh ra. Một trong những người chống hủ nho nhà ta là Hồ Nguyên Trừng cuối cùng tìm được việc làm lớn bên Minh Triều. Ông đã chế tạo nhiều loại súng và xây dựng công nghệ luyện sắt khổng lồ nhà Minh.

Chu Nguyên Chương giành được chính quyền, nhưng hủ nho rất lắm mẹo, chúng bám vào thái tử và con ông, làm thối nát triều đình. Vinh quang gì cái lũ sống bằng váy đàn bà trẻ em đó, thế mà, chúng làm nhiều chuyện bi thảm mà các chiến binh anh hùng phải chịu chết cả 9 họ. Toàn bộ các bạn của Chu Nguyên Chương cùng các tướng lập quốc bị lũ nợn này chém sạch và người chịu trách nhiệm dĩ nhiên, là Chu nguyên Chương. Còn lũ hủ nho, hoạn quan, đàn bà đứng sau... vô can.  Ngoài tam giáo cửu lưu, đàn bà giáo, hoạn quan giáo phát triển trong bóng tối mà hèn hạ không bao giờ xưng tên. Thịnh Đường là triều đại mà hủ nho thường ca tụng, chính là nơi mà đàn bà giáo thịnh trị. Người ta giành chính quyền không phải bằng gươm đao, trị nước không phải bằng cày cuốc, mà bằng cái ở giữa hai chân chị em. Lúc đó, người ta chỉ mong đẻ con gái.

Tuy nhiên, hủ nho chém sạch tướng binh giành chính quyền, yên hưởng Nam Kinh, thì con thứ của Chu Nguyên Chương là Chu lệ dẫn quân từ Bắc Kinh về làm gỏi sạch cả đàn bà, hoạn quan, hủ nho và tên vua bị chúng làm cho hủ bại. Rồi Chu Lệ xây dựng một kinh thành mới, tránh xa hủ nho, nhờ vậy mà Minh Triều có kinh tế đại quy mô, thợ thuyền như Nguyễn An được tôn vinh, khoa học được nỗ lực đài thọ. Chính trong môi trường đó, Hồ Nguyên Trừng đã tạo được sự nghiệp của mình và chế ra súng.

Đối địch với Hồ Nguyên Trừng là những kẻ nào: những kẻ gọi quân Minh và đánh nước ta, gọi quân Thanh vào đánh nước ta.... Hủ nho biểu hiện muôn hình muôn vẻ, nơi đâu cũng lươn lẹo léo lá, giết muôn người chỉ đổi lấy miếng cơm thừa. Những kẻ coi khinh toán lý sinh học... Mở mồm ra là nhạc ư, thơ ư.

Thời Tuyên Đức, hoạn quan thịnh trị, hủ nho đời sau thường lấy đấy làm ví dụ để nói này nọ !!!!! lúc nào chúng cũng muốn làm ngu si thiên hạ. Hoạn Quan thời này là những người đặc biệt, đó là những anh tài khắp nơi được các chiến minh của Chu Lệ lùng săn về, đem hoạn để xây dựng kinh thành Bắc Kinh, trong đó có Nguyễn An, Trịnh Hòa. Số phận của lớp người này thật bi thương, nhưng ít ra trong vài chục năm họ đã lấn át được quyền của lũ hủ nho ngu dốt. Chu Lệ cũng ngu si, nếu không hoạn lớp người này thì nhà Minh có khi đã thành nước tư bản lớn. Nhưng gen tinh hoa này của loài người mất đi, Bắc Kinh lại toàn hủ nho thối như 2 ngàn năm trước. Hủ nho lại lải nhải nhồi sọ lũ ngu si về cái hoạ hoạn quan. Chúng ỉm phéng đi với các nạn nhân của chúng rằng, đấy không phải là đệ tử của hoạn quan giáo, đồng minh của đàn bà giáo. Hoạn quan thân hủ nho là lũ thay quần cho chị em, đâu phải những người tung hoành 4 biển như Trịnh Hoà.


Em chữa rùi pác ạ.


Tiêu đề: Re: Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam
Gửi bởi: dongadoan trong 14 Tháng Năm, 2008, 07:50:48 pm
Hờ hờ hờ.
Kể ra, chửu bọn hủ nho thế là còn nhẹ.

--------------------------------------------------------
 Chú lúc nào cũng thế, quy định của diễn đàn chú đọc chưa? Chưa thì đi đọc ngay rồi vào tự sửa bài đi!


Tiêu đề: Re: Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 15 Tháng Năm, 2008, 02:01:03 pm
Hình như lần này là đánh thắng đúng không bác nhỉ. Thấy sử sách ít nhắc đến quá.
----------------------------------------------------------------------
 Thắng to ấy chứ!(http://thongdiepthoigian.bantay.net/Bm21/Anh/IconYM/4.gif)

Nhà Nguyễn đê hèn thế nào không cần nói. Đã thấp hèn thì thường đi ngang cái ngu dốt, cái óc dược cái tim dẫn lối mà.  ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D

Nhà Nguyễn lấy Minh Sử và vài sách, như Đại Sự Ký (một loạt sử viết về đương thời, rộng hơn, nhiều hơn và công được coi "chính thống" như chính sử của sử quán), rồi ngào nặn bóp méo lịch sử ngắn ngủi của Đại Ngu. Nhiều người đã tưởng nhầm mà tin theo "Khâm định Việt sử khâm giám cương mục". Những cuộc cải cách lớn như Hồ, Mạc, Quang Trung (và chúng ta ngày nay), đều là đại thù của hủ nho, ngày đêm bọn khổng thối ấy tìm cách bôi xóa. Nhà Nguyễn thì lại có nguyên lý cõng rắn cắn gà, như những kẻ mượn họ trần sang cầu quân minh, mượn họ lê sang cầu thanh, nguyên lý ấy ngược lại với truyền thống chống ngoại xâm.
Tóm lại, Đại Ngu cải cách kinh tế, phát triển khoa học, chống ngoại xâm.... đều ngược với nguyên lý của triều Nguyễn và lũ hủ nho, hai loại đê hèn. Khen Đại Ngu là "cách không chỉ chưởng" mắng nhà Nguyễn. Nhưng đã đê hèn lại càng thối khi nhà Nguyễn bóp méo lịch sử trong Khâm Giám làm nhiều người nhầm.


Hơn nũa, Hồ Nguyên Trừng, Nguyễn An là những Việt Kiều vĩ đại. Từ thân phận nô lệ, họ đã vươn lên chiếm những vị trí lớn trong triều đình nhà Minh. Hồ Nguyên Trừng dâng vua Minh "thần cơ thương pháo pháp" đổi lấy mạng cha em và các tù binh, liền được cho làm quan (binh trượng cục chủ sự). Ông bất chấp việc hặc tội lớn (có thể chết cả nhà), không nộp lý lịch cho đến năm 1426. Thái độ cương cường bất hợp tác đó tồn tại cho đến khi 17 ngàn tù binh và con cháu đã được tôn trọng, trở thành một bộ phận quan trọng của công nghiệp tầu, nền móng chủ chốt cho ngành luyện sắt khổng lồ của thế giới lúc đó (10kg đầu người một năm sau đó vài chục năm). Ông chỉ nộp lý lịch khi cuộc kháng chiến của ta đã coi như thắng lợi và bản thân ông được giấy tờ viết là "Hoàng tử nước An Nam" chứ không là "em của con giặc đầu sỏ".
Suốt đời Hồ Nguyên Trừng không công nhận hai binh thư quan trọng là do ông viết hay tham gia viết, mặc dù ông và con ông nối nhau đứng đầu súng pháo tầu 63 năm liền !!!!! xây dựng nên đại công nghiệp luyện sắt và người Tầu ra rả đó là kiến thức của An Nam. Minh sử ghi "Thành Tổ bình giao chỉ, được thần cơ thương pháo pháp, đặt thần cơ doanh". Thời gian bên Tầu ông chỉ nhận là tác giả "Nam ông mộng lục".

Thái độ và tài năng của ông hoàn toàn ngược với những kẻ bán nước, cõng rắn cắn gà, đê hèn về tinh thần và dẫn đến ngu si về tri thức.
Kiến thức của ông thì muôn đời bọn ngu si không thèm học toán không thể bình luận dược. Nhưng đê hèn sinh ra ngu si thì ngu si cũng làm phát triển đê tiện. Hủ nho 2500 năm qua đê tiện thế nào thì chả cần phải bàn. Lũ ăn bám chê bai toán lý hóa sinh, bắt các đạo này lưu trong bóng tối. Hủ nho lại có lý thuyết trị nước bằng thơ nhạc, lại luôn vỗ ngực là trụ cột của thiên hạ,  ;D ;D ;D ;D ;D và chê toán lý hóa sinh, đúc sắt xây thành, đào mương khẩn hoang, đóng thuyền viễn du... là công việc của lũ... éo thèm nói nữa.
------------------------


Bùn cừi, tớ bắt đầu nghi Khăm Gián khí đọc đến đoạn trương phụ bố trí Thần Cơ Thương Pháo bắn vào Đa Bang. Bản thân tớ biết được đó là đoạn viết ngu si, không thể nào lại có mặt trong chính sử, trừ loại chính sử ngu si. Và thế là, tớ biết được có loại chính sử ngu và hèn.

Các lý do sau:
Thần Cơ Thương Pháo không phải là một loại vũ khí. Thần Cơ là loại súng có kết cấu do Hồ Nguyên Trừng phát minh. Thần Cơ Thương là súng cá nhân bộ binh. Thần cơ pháo là súng lớn cộng đồng. "Thần cơ thương pháo" không được dùng ở đây, mà dùng từ "súng". "Thần cơ thương pháo" thường dùng trong cụm từ "thần cơ thương pháo pháp", nguyên lý thần thánh chế tạo súng pháo, sản phẩn là "thần cơ súng". Người dùng cụm từ trên đã dùng theo cách hiểu "Thần Cơ Thương Pháo" là một loại vũ khí.

Minh sử ghi như trên "Thành Tổ bình giao chỉ, được thần cơ thương pháo pháp, đặt thần cơ doanh". Như vậy, Thần cơ là tên nhà Minh chỉ loại súng có động năng đầu đạn rất mạnh của Hồ Nguyên Trừng, nhưng ở đây, nó lại dược dùng để đánh Đa Bang.  ;D ;D Và còn nhiều sách vở nữa nói về "Thần Cơ", "nguyên lý thần thánh" là một thương hiệu Hồ Nguyên Trừng đặt ra, quảng cáo và sinh sống khi sao chiếu mệnh mờ tối. Thương hiệu "Thần Cơ" này rất nổi tiếng ở Tầu. Đến nay tầu con tầu trẻ vưỡn thương vỗ ngực uỳnh uỵch về nó. Khăm gián tra Minh Sử, thấy đời Minh Thành Tổ chu lệ nổi tiếng có thương hiệu này, liền chế ngay ra đoạn hợp lý, tại sao không đem nó đi đánh Đa Bang nhỉ.

Cái đê hèn nó dẫn đường cho ngu si và ngu si làm người ta tỏ rõ hèn hạ nó như thế. Đến mạt kiếp cũng không giải thích cho bọn hủ nho thế nào là đúc là rèn, là giòn là chắc, áp lực nhiệt độ, đường ngắm và thời điểm bóp cò. Vì vậy, 2500 năm lũ hủ nho bồi bút cũng không thể hiểu súng nòng dài và nòng ngắn, mồi châm và mồi cò. Vì vậy, có đào mả 2500 tổ sư nhà hủ nho cũng không thể giải thích thần cơ nó khác loại hỏa đồng nòng ngắn như thế nào. Thực tế thì ở Đa Bang, Minh Sử và Thực Lục, Đại Sự đều ghi Trương Phụ dùng tên áp chế mặt thành, chiến thuật phổ biến của quân Minh lúc đó.
-------------------------




Tiêu đề: Re: Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam
Gửi bởi: Lancer trong 15 Tháng Năm, 2008, 05:41:01 pm
Một số biên khảo của nhà nghiên cứu Nguyễn Duy Chính về chiến thắng quân Thanh năm Kỉ Dậu

Quân Thanh tiến vào Thăng Long: http://vietkiem.stackmedia.com/old/vietkiem/nc/ndc/VuaQuangTrungRaBac.pdf

Vua Quang Trung ra Bắc: http://vietkiem.stackmedia.com/old/vietkiem/nc/ndc/QuanThanhTienVaoThangLong.pdf

Bình Định An Nam Chiến Đồ: http://vietkiem.stackmedia.com/old/vietkiem/nc/ndc/AnNamChienDo.pdf

Vai trò của hải phỉ trong chiến thắng Kỷ Dậu: http://vietkiem.stackmedia.com/old/vietkiem/nc/ndc/VaiTroCuaHaiPhi.pdf



Tiêu đề: Ngô Thì Nhậm và cuộc lui quân về Tam Điệp
Gửi bởi: yeulichsu1982 trong 16 Tháng Năm, 2008, 03:05:20 pm
Trong các cuộc chiến tranh vệ quốc của dân tộc Việt Nam, cuộc chiến chống hơn 20 vạn quân Thanh xâm lược vào mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789) là một điểm son chói lọi trong lịch sử chống ngoại xâm của quân và dân nước ta. Yếu tố quan trọng để lập nên chiến công lẫy lừng ấy là nhờ thiên tài quân sự của Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ và nước cờ lui quân trấn giữ Tam Điệp trong những ngày đầu của cuộc chiến. Tác giả nước cờ chiến lược này là tiến sĩ Ngô Thì Nhậm, Tả Thị Lang bộ Lại của nhà Tây Sơn.
Cuối năm Mậu Thân (1788), vua Lê Chiêu Thống cầu viện, hơn 20 vạn quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị, thống đốc Lưỡng Quảng, cầm đầu kéo sang nước ta với chiêu bài diệt Tây Sơn, dựng lại nhà Lê. Tôn Sĩ Nghị chia quân làm ba đạo. Một đạo do tổng binh tỉnh Vân Nam và Quý Châu kéo sang mạn Tuyên Quang. Một đạo do Sầm Nghi Đống kéo sang mạn Cao Bằng. Một đạo do Tôn Sĩ Nghị cùng Đề đốc Hứa Thế Hanh kéo sang mạn Lạng Sơn. Ba đạo quân của Tôn Sĩ Nghị xuất phát ngày 28 tháng mười năm Mậu Thân (25-11-1788), tiến vào nước ta thế mạnh như nước vỡ bờ!

Trấn thủ Lạng Sơn là Phạm Khải Đức khiếp sợ kéo cờ hàng. Phó tướng là Nguyễn Văn Diễn chạy về Kinh Bắc cùng Nguyễn Văn Hòa cố thủ, rồi sai người về Thăng Long cấp báo. Được tin, Ngô Văn Sở dùng kế hoãn binh, sai Nguyễn Quý Nha, Trần Bá Lãm mang ba tờ bẩm văn ký tên Sùng Nhượng Công và bá quan văn võ, đến quân thự Tôn Sĩ Nghị cầu hòa. Nghị bác khước!

Ngô Văn Sở bèn nhóm các quan văn võ lại, bàn biện pháp đối phó. Nhiều người đề nghị dùng phục binh đánh địch. Ngô Thì Nhậm nói:

- Quân địch mới tới, sức còn mạnh, khí đương hăng, lại khoa trương thanh thế làm kinh động nhân tâm. Nếu ta đem quân ra khỏi thành sẽ bị chúng sát hại. Cựu binh sĩ của Bắc Hà, nhuệ khí vốn đã nhụt, thừa cơ trốn hết. Chừng ấy ta mới đánh thì không hơn, mà muốn giữ cũng không được. Chi bằng rút hết quân thủy bộ vào đóng giữ từ Tam Điệp ra đến biển, để bảo toàn lực lượng, rồi cấp báo về Phú Xuân. Lúc ấy ta sẽ quyết chiến cũng không muộn.

Cuối cùng, mọi người đều thống nhất ý kiến của Ngô Thì Nhậm, rồi thừa đêm tối đem quân ra đi. Từ Thăng Long, Ngô Văn Sở theo đường bộ lui quân về giữ núi Tam Điệp (Ninh Bình). Quân thủy chở lương thực theo đường biển rút về đóng ở Biện Sơn (Thanh Hóa).

Đây chính là "cổ họng" của bắc-nam. Vì thế đèo Tam Điệp là một phòng tuyến, phòng ngự lợi hại, mang vị trí chiến lược trong quân sự như bức tường thành thiên nhiên án ngữ con đường thiên lý ra bắc vào nam của đất nước. Án ngữ đèo Tam Điệp thì địch khó có thể tiến đánh quân Tây Sơn ở kinh đô Phú Xuân.

Thế là trong giai đoạn đầu, quân Thanh mặc dù chiếm được Thăng Long, nhưng chúng không hoàn thành được kế hoạch chiến lược, tức là không tiêu diệt được quân Tây Sơn và không chiếm được tuyến địa hình có lợi cho sự phát triển của chiến tranh. Còn quân Tây Sơn tuy tạm thời rời bỏ kinh thành, vẫn bảo tồn được lực lượng, chiếm được tuyến địa hình quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc phản công chiến lược sau này. Chính vì vậy, khi tới Tam Điệp, vua Quang Trung đã đánh giá cao kế hoạch rút quân của Ngô Thì Nhậm.

Ngày 20 tháng chạp năm Kỷ Dậu (15-1-1789), đại binh Tây Sơn tới Tam Điệp. Ngô Văn Sở, Ngô Thì Nhậm, Phan Văn Lân ra chịu tội. Vua Quang Trung cười nói:

- Ta biết đây là kế của Ngô Thị Lang. Lui quân để tránh thế giặc, trong khuyến khích sĩ khí, ngoài kích động lòng kiêu ngạo của giặc. Kế dụå địch vào chỗ hiểm yếu như thế là phải. Các khanh không có tội chi cả!

Tại Tam Điệp, vua Quang Trung cho chỉnh đốn quân sĩ 10 ngày. Đến ngày 30 tháng chạp (25-1-1789), nhà vua cho mở tiệc khao quân ăn Tết trước và tuyên bố trước ba quân:

- Nay ta ăn Tết Nguyên đán trước, đợi sang xuân ngày mùng 7, vào Thăng Long, sẽ mở tiệc ăn Tết Khai hạ.

Sự việc diễn ra như vua Quang Trung đã nói. Chỉ trong 5 ngày, ngày mùng 5 Tết Kỷ Dậu (1789) quân Tây Sơn chiến thắng anh dũng ở Ngọc Hồi-Đống Đa (Thăng Long), đập tan hơn 20 vạn quân Thanh xâm lược.

Nước cờ Tam Điệp của Ngô Thì Nhậm đã góp phần vào chiến thắng lẫy lừng đó. Vì vậy năm 1790, vua Quang Trung đã giao cho Ngô Thì Nhậm giữ chức Binh Bộ Thượng Thư
Nguồn- Báo Quân đội nhân dân


Tiêu đề: Cái chết mở đường sống
Gửi bởi: yeulichsu1982 trong 16 Tháng Năm, 2008, 03:08:55 pm
Lê Lai là một danh tướng trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi chủ xướng. Quê ông là xã Dựng Tú, huyện Thuỵ Nguyên, tỉnh Thanh Hóa (nay là huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa). Có tài liệu nói ông là người làng Dựng Tú (huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa). Ba người con của ông là Lê Lô, Lê Lộ, Lê Tâm và người anh cả Lê Lãn đều là tướng soái quan trọng của nghĩa quân Lam Sơn. Ông được xếp vào hạng thứ 3 trong số 18 công thần dự hội thề Lũng Nhai.

Năm 1416, tại Lũng Nhai (Lam Sơn) Lê Lai cùng Lê Lợi và 17 tướng lĩnh tâm phúc thề cùng nhau sống chết chống lại giặc Minh xâm lược đang ngày đêm giày xéo quê hương, đất nước. Sau hội thề Lũng Nhai, ông được trao chức Đô Tổng quan (tước quan Nội hầu) chiến đấu dưới cờ của Lê Lợi. Nghĩa quân xây dựng miền rừng núi Lam Sơn, Thanh Hóa thành căn cứ để tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Do tương quan lực lượng nên cuộc chiến trong giai đoạn đầu chủ yếu là du kích, nhằm chống lại các cuộc vây quét của địch. Quân Minh dựa vào ưu thế binh lực, huy động những lực lượng lớn - có khi hàng chục vạn quân, để bao vây, càn quét hòng tiêu diệt cuộc khởi nghĩa vừa nhen nhóm. Trong thế trận không cân sức buổi đầu, nghĩa quân Lam Sơn đã phải chịu đựng muôn vàn khó khăn, gian khổ hy sinh; vượt qua nhiều thử thách hiểm nghèo. Đã bao lần nghĩa quân bị vây hãm ở núi Chí Linh (Thanh Hóa) và Khôi Huyện (Ninh Bình) rơi vào cảnh quân hao, lương cạn...

... Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần

Khi Khôi Huyện quân không một đội.

(Nguyễn Trãi - Đại cáo bình ngô)

Hoặc: … Đến như phá vòng khốn quẫn, tạo cuộc hanh thông. Chín phần tử, một phần sinh, tuy ở chốn hiểm nghèo mà còn ngất trời khí thế…”.

(Nguyễn Mọng Tuân-Phú núi Chí Linh)

Vào khoảng tháng 3 năm 1419, nghĩa quân Lam Sơn bị quân địch bao vây lần thứ hai ở núi Chí Linh. Vòng vây quân Minh ngày càng khép chặt, lương thực của nghĩa quân đã hết sạch “Hơn 10 ngày chỉ ăn củ nâu và mật ong, người, ngựa đều khốn đốn…” (Đại nam thông sử, Đế kỷ). Mọi con đường liên lạc với bên ngoài bị cắt đứt. Lực lượng cũng ngày một hao mòn.

Trong thế bị vây hãm khốn đốn nghĩa quân có nguy cơ bị tiêu diệt, Lê Lợi họp Bộ tham mưu bàn kế giải nguy. Ông nói rằng: “Bây giờ ai có thể làm như Kỷ Tín ngày xưa để ta ẩn náu trong rừng núi, mưu tính cử sự về sau” (Việt sử thông giám cương mục, quyển 13, tr.8).

Thấu hiểu ý đồ chiến lược của Lê Lợi, Lê Lai đã khảng khái xin nguyện hy sinh để cứu minh chủ, giải vây cho nghĩa quân Lam Sơn. Liền sau đó, Lê Lai cải trang làm Lê Lợi, lĩnh 500 quân và hai con voi chiến, tự xưng là Chúa Lam Sơn kéo ra tập kích địch. Quân Minh tập trung lực lượng vây đánh đội nghĩa binh dũng cảm đó và bắt được Lê Lai.

Điều đáng khâm phục, ngợi ca hơn là Lê Lai không cam chịu bó tay hàng giặc mà ông đã chỉ huy đội cảm tử quân chiến đấu đến phút cuối cùng mới chịu rơi vào tay giặc. Ông bị giải về thành Đông Quan và bị xử bằng những hình phạt vô cùng tàn ác.

Tưởng rằng thủ lĩnh Lê Lợi đã bị bắt, bị giết và lực lượng khởi nghĩa đã hoàn toàn bị đánh bại, quân Minh bỏ núi Chí Linh kéo về Tây Đô (thành nhà Hồ, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa). Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn nhờ đó có cơ hội xây dựng lại lực lượng để tiếp tục hoạt động.

Trước tinh thần nghĩa liệt quên mình cứu chúa của Lê Lai, Lê Lợi đã cảm khái cầu khấn với trời đất rằng: “Lê Lai vì đại nghĩa mà xả thân, tôi thề ngày sau chẳng quên ơn ấy, nếu nuốt lời thề thì cung điện thành rừng núi. Ấn báu thành đồng, gươm thần thành đao”.

Nhớ công ơn Lê Lai, sau khi kháng chiến thành công, lên ngôi vua, Lê Lợi đã truy tặng ông là “Đệ nhất công thần”, và giao cho Nguyễn Trãi soạn thảo hai đạo: “Tiên ước thệ từ”, “Lai Công thệ từ” cất giấu trong tủ vàng để mãi mãi ghi nhớ công lao Lê Lai.

Cái chết của Lê Lai là một trong những cái chết trở thành bất tử. Cái chết đó đã mở con đường sống cho nghĩa quân Lam Sơn để làm nên những trang sử chống ngoại xâm hào hùng của dân tộc.

Nguồn- Báo Quân đội nhân dân


Tiêu đề: Nghĩa quân Lam Sơn thắng trận Chi Lăng- Xương Giang
Gửi bởi: yeulichsu1982 trong 16 Tháng Năm, 2008, 03:13:33 pm
Cuối năm 1406, khi triều đình nhà Minh nhận được cấp báo của Vương Thông xin viện binh thì ở Đại Việt, địch đã chỉ còn giữ được một số thành Đông Quan (Hà Nội), Điêu Diêu (thị trấn Gia Lâm), Xương Giang (thị xã Bắc Giang), Chí Linh (Phả Lại), Cổ Lộng (Ý Yên-Nam Định), Thị Cầu (Bắc Ninh), Tây Đô (Thanh Hóa). Số quân trong các thành đó vẫn còn khá đông, đông nhất là thành Đông Quan, 5 vạn, nhưng đều đã bị bao vây, không dám ra phản kích và hết sức lo lắng, bị động. Sở chỉ huy của Lê Lợi – Nguyễn Trãi đã tiến ra Bồ Đề (Gia Lâm). Lực lượng nghĩa quân đông, khí thế mạnh mẽ, hăng hái, sẵn sàng bước vào cuộc tổng tiến công.

Có được hình thái chiến lược này là do Bộ chỉ huy nghĩa quân đã sớm phát hiện ra tình thế mới của cuộc chiến tranh và triển khai ứng xử thích hợp với tình thế ấy. Từ hiện tượng địch phá vây ở thành Nghệ An, cố đưa một bộ phận vượt biển ra tăng cường cho Đông Quan, lãnh đạo nghĩa quân có ngay nhận định: sức mạnh và tinh thần của binh sĩ và bọn chỉ huy chóp bu ở Đông Quan đã lung lay đến mức ta có thể đánh đòn cuối cùng, kết thúc chiến tranh và lập tức quyết định chuyển trọng tâm của cuộc kháng chiến từ Thanh – Nghệ ra Bắc, tạo, nắm thời cơ chuẩn bị đột phá tiêu diệt Đông Quan.

Đầu năm 1427, khi hai đạo viện binh quân Minh với tổng số 15 vạn quân đã áp sát biên giới đối diện với Lạng Sơn, Lào Cai, thì Bộ chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn đứng trước ba câu hỏi lớn: Một là, diệt quân địch ở Đông Quan trước, hay diệt quân viện trước? Hai là, cùng lúc diệt quân viện ở cả hai hướng, hay chỉ tập trung diệt một hướng; nếu diệt một hướng thì chọn hướng nào? Ba là, cách triển khai kế hoạch đánh địch ra sao?

Để trả lời đúng được ba câu hỏi trên trong thực tế, Bộ chỉ huy nghĩa quân đã căn cứ vào tương quan so sánh lực lượng; tương quan so sánh sức mạnh chiến đấu; căn cứ vào mức độ nguy hiểm của từng đối tượng và yêu cầu chiến thuật. Cụ thể: Địch ở Đông Quan còn đông tới 5 vạn, có một bộ phận lực lượng tinh nhuệ, lại được sự bảo vệ của thành cao, hào sâu, trong khi ta ít kinh nghiệm, ít vũ khí, phương tiện để công thành. Nếu đột phá, chắc chắn phải tổn thất lớn và kéo dài, gặp tình huống gay cấn, đột phá chưa xong mà viện binh đã ập tới thì nguy hiểm vô cùng. Nhưng vây Đông Quan, triệt tiếp tế, bức hàng, đồng thời mai phục, lợi dụng địa hình, phát huy sở trường đánh địch ngoài công sự: phục kích, tập kích quân viện thì nghĩa quân có thể đánh thắng mà ít bị tổn thất, thương vong. Mặt khác, giữa hai đối tượng quân viện thì đạo quân của Liễu Thăng nguy hiểm hơn đạo quân của Mộc Thạnh, vì đạo quân này đông và mạnh hơn (10 vạn so với 5 vạn), phải vượt chặng đường ngắn hơn (160 so với 320 cây số), Liễu Thăng hung hăng hơn, không chỉ là tổng chỉ huy quân viện mà còn là tướng chỉ huy trực tiếp hướng chủ yếu, đang muốn khẳng định vị trí, vai trò. Còn Mộc Thạnh đã 2 lần thua trận ở Đại Việt, nỗi sợ chưa thể quên. Nhưng đoạn đường Lạng Sơn-Đông Quan có nhiều khúc quanh và đèo dốc hiểm trở, đặc biệt là ải Chi Lăng vẫn được truyền gọi là “Bách nhị cửa quan” (cửa quan hai người trấn giữ có thể ngăn cản được một trăm người tiến công). Liễu Thăng lại quá tự tin, chủ quan, hiếu thắng, dễ sơ suất, sai lầm. Cho nên ta hoàn toàn đủ sức tiêu diệt đạo quân này. Hơn nữa, nếu ta tiêu diệt được đạo quân Liễu Thăng thì chẳng những có ý nghĩa quyết định đến trận Chi Lăng – Xương Giang mà còn có ý nghĩa quyết định đến việc đánh đuổi đạo quân của Mộc Thạnh và hơn nữa đến công cuộc giải phóng hoàn toàn đất nước. Về yêu cầu chiến thuật, muốn rảnh tay tập trung đánh quân viện thì nhất thiết phải tiêu diệt hết và tiêu diệt trước các lực lượng địch trên đường mà quân viện sẽ đi qua, phải thường xuyên đánh cắt giao thông, làm gián đoạn tiếp tế để làm rối loạn phía sau, khó khăn phía trước. Theo chủ trương ấy, khi địch đã tới cánh đồng Xương Giang mà Pha Luỹ, Chi Lăng, Bàng Quan, huyết mạch vận chuyển của chúng vẫn thường xuyên bị quân ta tập kích, thành Xương Giang bị hạ vào cuối tháng 9, rồi biến thành trận địa chốt chặn rất quan trọng của ta. Để hạ được thành này, Lê Lợi đã phải phái tướng giỏi nhất của mình là Trần Nguyên Hãn trực tiếp chỉ huy, với tinh binh, mọi vũ khí, phương tiện và phương pháp chiến đấu tiên tiến nhất mà nghĩa quân có thể có.
 

Từ trận thành Xương Giang, ta lại thấy sự linh hoạt, uyển chuyển của Lê Lợi - Nguyễn Trãi khi vận dụng nghệ thuật quân sự. Theo các ông “Đánh thành là hạ sách”, nhưng nếu ta không đánh và hạ thành Xương Giang trước, đẩy Thôi Tụ, Hoàng Phúc vào hoàn cảnh mất chỗ trú quân an toàn, phải lâm thời phòng ngự giữa cánh đồng, công sự dã chiến thì cũng không có trận tập kích đại quân địch thắng lợi trên cánh đồng Xương Giang (diệt 5 vạn, bắt 3 vạn, bắt cả chủ tướng), không triệt tiêu được gọng kìm nguy hiểm thứ hai của 5 vạn quân Mộc Thạnh và cũng không có chuyện Tổng chỉ huy Vương Thông cùng 5 vạn quân phải đầu hàng, đưa tới kết thúc mỹ mãn cuộc kháng chiến mười năm chống quân Minh xâm lược. Tìm hiểu những nguyên nhân dẫn tới sự đầu hàng của Vương Thông, ta thấy ngoài những chiến thắng quân sự giòn giã, còn có sự đóng góp quan trọng của đòn tiến công địch vận, kết hợp giữa đòn tiến công của nghĩa quân, với đòn nổi dậy phối hợp khắp nơi của dân chúng, khiến quân địch khiếp sợ, lực lượng bị căng, kéo, phân tán, tiêu hao đến đuối sức, phải cố thủ trong thành rồi bị vây hãm, chờ chết; trong khi chủ lực ta có điều kiện tập trung, đánh những trận quyết định, giành thắng lợi quyết định.

Đến tháng 10, 11 năm nay, trận Chi Lăng – Xương Giang đã đi vào lịch sử gần 580 năm, nhưng chiến công hiển hách, quyết định số phận của giặc Minh xâm lược, giành lại độc lập, tự do cho đất nước, cùng những cống hiến xuất sắc về nghệ thuật quân sự của nghĩa quân Lam Sơn, mãi mãi vẫn là niềm tự hào to lớn cho chúng ta, mãi mãi vẫn là những kinh nghiệm, bài học có giá trị, giúp chúng ta có cơ sở để nghiên cứu, phát triển, vận dụng sáng tạo, hiệu quả vào công cuộc bảo vệ Tổ quốc tương lai.

Nguồn- Báo Quân đội nhân dân


Tiêu đề: Re: Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam
Gửi bởi: vodoi trong 13 Tháng Bảy, 2008, 12:19:42 pm
Trận đánh vĩ đại phải có tầm quan trọng thể hiện tài thao lược của tướng lĩnh chứ không nhất thiết phải quân đông


Tiêu đề: Re: Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam
Gửi bởi: caytrevietnam trong 13 Tháng Bảy, 2008, 08:10:01 pm
Trận đánh vĩ đại phải có tầm quan trọng thể hiện tài thao lược của tướng lĩnh chứ không nhất thiết phải quân đông

Theo ý kiến cá nhân tôi thì tài thao lược của tướng lĩnh chỉ là 1 phần, cái quan trọng nhất là kết quả của trận đánh đó có ảnh hưởng đến toàn cuộc.

@ voidoi: Bác là thành viên mới nên nhà em "nhân nhượng" không xóa bài mà còn chỉnh lại cho bác. Nhưng lần sau bác viết bài không dấu là em "del" đấy. Mời bác vào đây dow về mà dùng http://www.unikey.org/index.php?langset=vie (http://www.unikey.org/index.php?langset=vie)


Tiêu đề: Re: Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam
Gửi bởi: mig21-58 trong 17 Tháng Bảy, 2008, 09:38:26 am
Thực ra cả hai yếu tố trên đều quan trọng cả.Tướng giỏi,đòn đánh trúng huyệt làm cho địch choáng váng mất hết tinh thần, quân số không cần nhiều nhưng phải đủ. Có thể nói nó quan hệ hữu cơ với nhau./.


Tiêu đề: Re: Nghĩa quân Lam Sơn thắng trận Chi Lăng- Xương Giang
Gửi bởi: Bí Bếp trong 21 Tháng Bảy, 2008, 10:28:30 am
Cuối năm 1406, khi triều đình nhà Minh nhận được cấp báo của Vương Thông xin viện binh thì ở Đại Việt, địch đã chỉ còn giữ được một số thành Đông Quan (Hà Nội), Điêu Diêu (thị trấn Gia Lâm), Xương Giang (thị xã Bắc Giang), Chí Linh (Phả Lại), Cổ Lộng (Ý Yên-Nam Định), Thị Cầu (Bắc Ninh), Tây Đô (Thanh Hóa). Số quân trong các thành đó vẫn còn khá đông, đông nhất là thành Đông Quan, 5 vạn, nhưng đều đã bị bao vây, không dám ra phản kích và hết sức lo lắng, bị động. Sở chỉ huy của Lê Lợi – Nguyễn Trãi đã tiến ra Bồ Đề (Gia Lâm). Lực lượng nghĩa quân đông, khí thế mạnh mẽ, hăng hái, sẵn sàng bước vào cuộc tổng tiến công.


Quân Minh chưa tiến đánh Đại Việt đến năm 1407 thì mần răng có chuyện Vương Thông gửi cấp báo xin viện binh được ...  các bác có gõ nhầm về mốc điểm thời gian chăng?  ::)


Tiêu đề: Re: Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam
Gửi bởi: Bí Bếp trong 21 Tháng Bảy, 2008, 10:39:09 am
Trích dẫn
"Từ trận thành Xương Giang, ta lại thấy sự linh hoạt, uyển chuyển của Lê Lợi - Nguyễn Trãi khi vận dụng nghệ thuật quân sự. Theo các ông “Đánh thành là hạ sách”, nhưng nếu ta không đánh và hạ thành Xương Giang trước, đẩy Thôi Tụ, Hoàng Phúc vào hoàn cảnh mất chỗ trú quân an toàn, phải lâm thời phòng ngự giữa cánh đồng, công sự dã chiến thì cũng không có trận tập kích đại quân địch thắng lợi trên cánh đồng Xương Giang (diệt 5 vạn, bắt 3 vạn, bắt cả chủ tướng):

Vừa tiêu diệt vừa bắt cả 80,000 ngàn lính trong một trận ... quả là một trận đánh quá vĩ đại ... đánh sánh cùng trận Xích Bích giữa Đông Ngô và Bắc Ngụy của thời Tam Quốc (cũng cỡ chừng nớ thương vong từ số 230,000 quân của Bắc Ngụy trấn đóng ở đó).

Theo qui cách tấn công bình thường mình cần tỉ lệ 3:1 (ba chọi một); còn đơn phương thì cũng cần 1:1 (một đánh một) thì ít ra trận đánh nầy cả hai bên cần huy động tối thiểu 200,000 lính, quả là một con số quá to lớn để điều hành ở bất kỳ thời đại nào ....; mong các bác suy tính và cho biết tình trạng khả thi cúa trận đánh (quân ta là nghĩa quân so cựa cùng lính chuyên nghiệp của nhà Minh và kết quả là quân Minh bị tiêu diệt gần như 100% ở trận nầy).

Trích dẫn
XƯƠNG GIANG:

địa danh lịch sử trong cuộc "vây thành diệt viện" những năm 1426 - 27 của nghĩa quân Lam Sơn chống giặc Minh (Ming) xâm lược. Thời thuộc Minh, thành XG được xây dựng tại thôn Đông Nham - một thành khá lớn (rộng khoảng 25 ha, tường đất cao và dày, xung quanh có hào sâu, có khoảng trên 2.000 quân tinh nhuệ đồn trú) và giữ vị trí án ngữ (cách bờ Sông Thương 3 km về phía bắc, cách thị xã Bắc Giang 2 km) trên con đường dịch trạm độc đạo từ Quảng Tây sang Đông Quan. Từ cuối 1426, nghĩa quân Lam Sơn đã tổ chức vừa vây vừa dụ hàng. Nhưng quân Minh vẫn ngoan cố, liều chết cố thủ, chờ viện binh. Nắm rõ tình thế, Lê Lợi - Nguyễn Trãi quyết định đánh gấp trước khi viện binh giặc kéo sang. Cánh quân đang vây thành do Lê Sát chỉ huy được tăng cường thêm cánh quân tiếp ứng của thái uý Trần Nguyên Hãn. Được sự giúp đỡ của nhân dân địa phương, từ tháng 8.1427, nghĩa quân bắt đầu trận công kích. Các loại nỏ cứng, hoả pháo, hoả tiễn ngày đêm cấp tập bắn vào thành. Đến đêm 28.9.1427, nghĩa quân bắc thang ào ạt đánh chiếm thành. Tướng giặc tự tử, toàn bộ quân lính bị tiêu diệt.

Thắng lợi trong trận công phá thành XG đã tạo điều kiện thuận lợi cho bộ chỉ huy nghĩa quân tổ chức thành công trận tiêu diệt viện binh tại ải Chi Lăng và trên cánh đồng XG (8.10 - 3.11.1427). Sau Kháng chiến chống Minh 1406 - 07 thắng lợi, thành XG được phá đi lấy đất thưởng cho các thôn, xã xung quanh.

Đây là một nguồn khác từ VN về thành Xương Giang.

Các bác có nghĩ rằng mình đã thổi phồng con số ... hơi quá đáng chăng?  :o


Tiêu đề: Re: Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam
Gửi bởi: Galaxy trong 21 Tháng Bảy, 2008, 04:13:48 pm
Trích dẫn
"Từ trận thành Xương Giang, ta lại thấy sự linh hoạt, uyển chuyển của Lê Lợi - Nguyễn Trãi khi vận dụng nghệ thuật quân sự. Theo các ông “Đánh thành là hạ sách”, nhưng nếu ta không đánh và hạ thành Xương Giang trước, đẩy Thôi Tụ, Hoàng Phúc vào hoàn cảnh mất chỗ trú quân an toàn, phải lâm thời phòng ngự giữa cánh đồng, công sự dã chiến thì cũng không có trận tập kích đại quân địch thắng lợi trên cánh đồng Xương Giang (diệt 5 vạn, bắt 3 vạn, bắt cả chủ tướng):

Theo qui cách tấn công bình thường mình cần tỉ lệ 3:1 (ba chọi một); còn đơn phương thì cũng cần 1:1 (một đánh một)
...
Các bác có nghĩ rằng mình đã thổi phồng con số ... hơi quá đáng chăng?  :o

Em thì chắc không đủ trình để tra cứu chéo nhiều tài liệu cổ. Nhưng em nghĩ cũng tuỳ vào hoàn cảnh mà áp dụng cách so sánh như trên, và tỉ lệ này nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố lắm. Ví dụ: "xét trường hợp đánh 1 đội quân không có cứ điểm vững chắc (thành) mà phải đóng quân giữa cánh đồng, trong công sự dã chiến":

+ Giả sử lúc đó còn là giai đoạn quân Minh đang thắng quân Đại Ngu hay Hậu Trần như chẻ tre thì có lẽ tỉ lệ trên phải là 5:1 hoặc hơn

+ Giả sử lúc đó còn thành XG, nghĩa là cánh quân phòng ngự chưa bị mất tinh thần, tin rằng có thể cố gắng cầm cự để tạo thành thế ỷ dốc. Bên tấn công cũng không dám toàn lực tấn công, vừa tấn công vừa lo chống quân trong thành ra đánh tập hậu, ... thì có lẽ tỉ lệ trên là 3:1

+ Nhưng trong thực tế, lúc đó XG mất rồi, viện quân vừa tất tả tiến sang, trơ trọi nơi đất khách quê người, lòng quân hoang mang, ... thì có khi không cần đánh cũng tự động rút lui. Có khi chỉ cần vài đồn tiền tiêu bị vỡ, vài cánh quân tháo chạy là tạo lên hiệu ứng thác đổ, toàn quân hỗn loạn, lúc đó chỉ có chạy và bị tiêu diệt mà thôi.

Em tạm lấy ví dụ như vậy. Tóm lại, ý của em là không nên áp dụng các thông số về tỉ lệ một cách quá máy móc


Tiêu đề: Re: Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam
Gửi bởi: menthuong trong 25 Tháng Mười Một, 2009, 10:18:57 pm
Trận Bạch Đằng (Năm 938)

(http://i61.photobucket.com/albums/h53/mytam81/bachdg5.jpg)

Sau khi đánh bại Quân Nam Hán vào năm 1921, đất nước ta lại giành được quyền tự chủ.


Trận Bạch Đằng thời Ngô Quyền diễn ra vào tháng 12/938 nếu gặp Trương Nghệ Mưu sẽ có một bộ phim cực hay. Còn ở ta thig chưa thấy ai dựng.


Tiêu đề: Re: Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam
Gửi bởi: nguyengiabinh trong 02 Tháng Mười Hai, 2009, 08:12:59 am
hay nhất vẫn là mấy lần đánh trên sông bạch đằng.ta thắng,trong vinh quang của những người giữ nước đâu giống như bọn cướp nước như tống , nguyên....
vì thế mới đúng là người việt yêu hoà bình,chúng ta đánh vì chúng ta giữ nước mà.... :)


Tiêu đề: Re: Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam
Gửi bởi: superhv trong 06 Tháng Mười Hai, 2009, 11:54:06 am
 Em thì vote cho chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa vì những lý do sau:
- Quân Thanh lúc đó khá mạnh quân số đông (thời Càn Long thịnh trị chẳng lý do gì để yếu cả) lại có sự nội ứng của hội Lê Chiêu Thống.
- Đất nước lúc đó không đồng lòng miền bắc còn vấn vương nhà Lê. miền nam còn mơ chúa Nguyễn. Nội bộ anh em Nguyễn Huệ lại lục đục.
 Vào lúc đất nước nguy cấp như thế mới thấy hết giá trị của chiến thắng chớp nhoáng này đánh cho nhà Thanh trở tay không kịp trong thời gian ngắn quét sạch hơn 20 vạn quân Thanh ( Nếu cuộc chiến dai dẳng em nghĩ quân Thanh chắc sẽ điều thêm hàng chục vạn quân tiếp viện, điều này chắc chắn xảy thì còn biết bao gia đình Việt phải ly tán đây). Em rất cảm phục các bậc nhân sĩ Bắc Hà quyết định ra làm quan cho nhà Tây Sơn lúc ấy. Giữa lúc tư tưởng trung quân còn nặng nề, họ đã quyết định đặt lợi ích của dân tộc lên trên hết. Thử hỏi các bậc tự cho mình là cao nhân là danh sĩ trung thành với nhà Lê lúc đó đã làm gì khi nhìn gót sắt hàng chục vạn quân xâm lược dẫm đạp lên nhân dân ta. Thế mới thấy hết tầm của chiến thắng đã cứu đất nước qua cơn thập tử nhất sinh.


Tiêu đề: Re: Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam
Gửi bởi: menthuong trong 06 Tháng Mười Hai, 2009, 03:19:45 pm
Mỗi chiến thắng có một sự vĩ đại riêng:

- Chiến công trên sông Bạch Đằng thể hiện sự mưu trí tuyệt vời, biết sử dụng yếu tố thiên nhiên (thủy triều) thành vũ khí tuyệt diệu, biết huy động sức người. Và chiến thắng ấy mở ra kỷ nguyên độc lập (chống quân Nam Hán) hay giữ vững độc lập (kháng chiến chống Nguyên Mông) cho đất nước.

- Chiến thắng Ngọc Hồi-Đống Đa thể hiện tài năng trong việc tổ chức hành quân, chớp thời cơ, thần tốc và nó cứu đât nước khỏi rơi vào vực thẳm (ách chiếm đóng ngoại bang).


Tiêu đề: Re: Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam
Gửi bởi: chiangshan trong 06 Tháng Mười Hai, 2009, 03:41:43 pm
- Quân Thanh lúc đó khá mạnh quân số đông (thời Càn Long thịnh trị chẳng lý do gì để yếu cả) lại có sự nội ứng của hội Lê Chiêu Thống.

À, giờ vẫn còn tranh cãi về số quân mà nhà Thanh điều sang VN. Thậm chí có người còn cho là quân của Tôn Sĩ Nghị chỉ có nhõn 5000 kỵ binh ::)


Tiêu đề: Re: Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam
Gửi bởi: superhv trong 06 Tháng Mười Hai, 2009, 08:18:41 pm
Thực ra về quân số quân xâm lược qua các thời kỳ giữ nước của dân tộc em chẳng bao giờ than phiền hay lăn tăn cả, vì mình có ở thời kì đó đâu mà biết, sử sách thì chẳng có tài liệu nào mang tính chân thưc cả đến như cuộc chiến biên giới Việt Trung con số thương vong mỗi bên 1 phách thôi thì đành tin các cụ nhà ta bàn làm gì cho mệt. Em muốn hỏi luôn có bác nào biết quân số nhà Minh hồi sang xâm lược lần 1 bị nhà Hồ đánh bại không, em nghe giang hồ đồn thổi có mỗi 5000 lính, nếu thế công nhận mấy lão hoàng đế Tàu mắc bệnh hoang tưởng nặng chắc nghĩ binh lính mình toàn 1 chấp 10 chấp 20 như không  ;D. Mà có bác nào biết diễn biến trận thắng Minh lần 1 thế nào không nhỉ?


Tiêu đề: Re: Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam
Gửi bởi: menthuong trong 07 Tháng Mười Hai, 2009, 05:42:35 pm
nhà Minh hồi sang xâm lược lần 1 bị nhà Hồ đánh bại không,  ;D. Mà có bác nào biết diễn biến trận thắng Minh lần 1 thế nào không nhỉ?

Cái chuyện này tui cũng muốn nghe bởi cứ thắng là khoái rồi!


Tiêu đề: Re: Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam
Gửi bởi: caytrevietnam trong 07 Tháng Mười Hai, 2009, 10:03:05 pm
Thực ra về quân số quân xâm lược qua các thời kỳ giữ nước của dân tộc em chẳng bao giờ than phiền hay lăn tăn cả, vì mình có ở thời kì đó đâu mà biết, sử sách thì chẳng có tài liệu nào mang tính chân thưc cả đến như cuộc chiến biên giới Việt Trung con số thương vong mỗi bên 1 phách thôi thì đành tin các cụ nhà ta bàn làm gì cho mệt. Em muốn hỏi luôn có bác nào biết quân số nhà Minh hồi sang xâm lược lần 1 bị nhà Hồ đánh bại không, em nghe giang hồ đồn thổi có mỗi 5000 lính, nếu thế công nhận mấy lão hoàng đế Tàu mắc bệnh hoang tưởng nặng chắc nghĩ binh lính mình toàn 1 chấp 10 chấp 20 như không  ;D. Mà có bác nào biết diễn biến trận thắng Minh lần 1 thế nào không nhỉ?


Hoang tưởng thì bọn nó bị nặng, ai mà chả biết. Còn vụ kia quân nó phải nộp lại tên Trần Thiêm Bình mới thoát được; diễn biến thì mấy cuốn sử xưa nay có ghi cả


Tiêu đề: Re: Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam
Gửi bởi: 3t_92 trong 11 Tháng Mười, 2010, 05:46:21 pm
xin lỗi cả nhà cho cháu spam tí.cháu từng đọc 1 cuốn sách nói về 9 chúa,13 vua triều Nguyễn.trong đấy có nói về 1 vị chúa Nguyễn nào đấy 2 lần đánh bại hải quân Hà Lan xâm phạm biển VN.các mem trên QSVN có ai có thể cho chúa thông tin về 2 trận đánh này và vị chúa Nguyễn đấy được kkhoong ạ?cháu xin cảm ơn


Tiêu đề: Re: Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam
Gửi bởi: Trần Anh trong 11 Tháng Tám, 2012, 03:46:13 pm
TƯ LIỆU QUÝ: PHAN KHÔI VIẾT VỀ CHIẾN THẮNG NGỌC HỒI - ĐỐNG ĐA

MỘT BÀI BÁO CỦA PHAN KHÔI VỀ CHIẾN THẮNG NGỌC HỒI – ĐỐNG ĐA, TẾT KỶ DẬU 1789
Dưới đây là một bài báo Phan Khôi đăng hồi đầu năm 1940 trên “Dân báo” ở Sài Gòn về chiến dịch đánh đuổi quân Thanh vào đông xuân 1788-89, tức chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa. Trong bài có một vài tên riêng nhân vật lịch sử có thể không thật khớp với các tài liệu đang phổ cập hiện nay.
Tài liệu này do bạn Kim Hiền tìm giúp tôi ở Thư viện quốc gia Paris (Pháp). Xin cảm ơn bạn Kim Hiền và trân trọng giới thiệu với độc giả các trang báo mạng bạn bè.

LẠI NGUYÊN ÂN

TẾT VỚI CHIẾN TRANH:
ĂN TẾT VÀO NGÀY KHAI HẠ


[bị kiểm duyệt bỏ một đoạn]
…mở lịch sử ra xem, trước đây bờ một trăm sáu chục năm, chúng ta cũng có một lần đánh nhau với quân Tàu giữa ngày nguyên đán, làm cho cái tết phải hoãn lại đến ngày mồng bảy tháng giêng là ngày khai hạ mới ăn được.
Ấy là chuyện ở đời vua Quang Trung nhà Nguyễn Tây Sơn.
Năm đinh vị (1787), Nguyễn Huệ sai Võ Văn Sĩ cầm quân ra Bắc Hà hỏi tội Nguyễn Hữu Chỉnh. Khi Sĩ ra chưa tới Thăng Long thì Hữu Chỉnh đã bỏ Thăng Long chạy sang Kinh Bắc, và vua Chiêu Thống cũng sợ mà đi trốn đâu mất rồi. Lúc Sĩ đến Thăng Long, bắt được Hữu Chỉnh đem hành hình ở đó thì không có mặt vua Chiêu Thống cho nên Sĩ mới lập Lê Duy Cẩn làm giám quốc.
Kế đó Võ Văn Sĩ bị cáo là mưu phản, Nguyễn Huệ đương ở Thuận Hóa vội vàng dẫn binh ra Bắc bắt Sĩ giết đi; người cũng còn để Lê Duy Cẩn làm giám quốc, và sắp đặt xong mọi việc rồi thì kéo binh trở về Thuận Hóa.
Không ngờ, vua Chiêu Thống không phải chạy trốn mà chỉ là đi tránh chỗ kinh đô ra các tỉnh cùng bầy tôi vận động qua Tàu cầu cứu.
Bấy giờ bên Tàu, Tôn Sĩ Nghị đương làm Tổng đốc Lưỡng Quảng, Tôn được thơ xin viện binh của vua Lê thì tâu cùng hoàng đế Càn Long nhà Thanh mà xin nhận lời. Hoàng đế nhà Thanh phê y lời xin của Tôn.
Mùa đông năm mậu thân (1788), hai mươi vạn binh của bốn tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Quý Châu, chia làm hai đạo kéo sang nước An Nam. Đạo thứ nhứt đi do đường Lạng Sơn, Sĩ Nghị cầm đầu; đạo thứ nhì đi do đường Tuyên Quang, một viên Tổng binh cầm đầu nhưng vẫn ở dưới quyền Sĩ Nghị.
Quân Tàu vừa đến Lạng Sơn đã rải ra một tờ hịch, rao có ai bắt sống được hai anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ thì sẽ được thưởng đầu công. Các tướng giữ thành Lạng Sơn của Tây Sơn bấy giờ là Nguyễn Văn Diệm và Phan Khải Đức nghe lời rao, đều sợ hoảng, kẻ thì xin hàng, người thì bỏ đi trốn. Quân Tàu trẩy tới Kinh Bắc (tức Bắc Ninh bây giờ), vua Chiêu Thống đích thân đến rước và chào mừng họ Tôn. Ngày 21 tháng 11 năm mậu thân (1788) Tôn Sĩ Nghị đứng làm lễ tuyên phong cho vua làm An Nam quốc vương, vì từ hồi Tuyên Thống lên ngôi đến giờ bên Tàu chưa kịp làm cái lễ long trọng ấy.
Sau khi Nguyễn Huệ giết Võ Văn Sĩ, cất Ngô Văn Sở lên làm đại tướng, giao binh quyền cho ở giữ Bắc Hà rồi mới đi về miền Nam. Nhưng khi quân Tàu tràn sang đây, Sở liệu bề chống không nổi, đã truyền lịnh cho các đạo binh rút về giữ mặt Ninh Bình, Thanh Hóa, và cho người vào Thuận Hóa cáo cấp cùng chúa mình.
Bấy giờ 20 vạn quân Tàu, trừ ra một số ít chia đi tuần tiễu các nơi, còn thì đóng cả ở trên bãi cát bờ phía nam sông Nhị Hà. Sĩ Nghị sai bắt nhiều chiếc thuyền kết lại làm cái cầu nổi để cho quân lính đi thông sang bờ phía bắc.
Vua Chiêu Thống đã trở về, các quan trước kia chạy tản lạc, bây giờ cũng dần dần họp lại. Họ rủ nhau đến yết kiến Tôn Sĩ Nghị và xin lập tức ra binh kéo về miền Nam đánh anh em nhà Nguyễn Tây Sơn. Sĩ Nghị trả lời: “Ngày hết tết tới rồi, việc gì mà vội vàng dữ vậy? Đây ta không đánh gấp. Giặc nó còn gầy, để ta nuôi nó cho béo rồi khiến nó đem thịt tới dâng ta!” Nói thế rồi Tôn hạ lịnh cho lui quân an nghỉ, đợi đến ngày mồng sáu ra giêng hãy xuất quân.
Ở Thuận Hóa, Nguyễn Huệ được tin cấp báo, nổi giận thét mắng ầm ầm, và hạ lịnh cho cử binh lập tức.
Các tướng xin Huệ trước khi cử binh hãy lên ngôi hoàng đế để buộc chặt lòng người. Huệ làm theo lời. Liền trong ngày 26 tháng 11 ấy lên ngôi hoàng đế tại Phú Xuân, xưng niên hiệu là Quang Trung. Và cũng liền trong ngày ấy, chính mình làm tướng kéo cả thủy quân lục quân ra Bắc.
Ngày 29, quân đi đến Nghệ An thì trú lại đó hơn mười ngày. Lựa thêm tráng đinh xứ Nghệ, cứ ba tên lấy một, thúc vào quân đội. Cộng cả các quân cũ và mới có được hơn mười vạn và mấy trăm con voi. Làm lễ đại duyệt xong, lại bắt đầu tấn phát.
Ngày 20 tháng chạp đến đèo Ba Dội. Ngô Văn Sở chực sẵn bên đường, sập xuống lạy và xin chịu tội. Vua Quang Trung phán: “Các ngươi, tội đã đáng tội rồi, nhưng nghĩ vì Bắc Hà mới yên, lòng dân chưa phụ, mà các ngươi biết giữ trọn binh lực mình để lánh mũi giặc đương hung hăng, cũng không hại gì lắm, thôi thì ta tha cho đái tội lập công”. Rồi nội ngày 20 ấy đãi tiệc quân sĩ, ngài phán cùng họ: “Hôm nay hãy ăn sơ sài một bữa, đợi đến ngày mồng bảy tháng giêng vào thành Thăng Long rồi sẽ bày diên yến mừng xuân cho luôn. Các ngươi hãy ghi lấy lời ta thử có sai không nhỉ?”.
Đêm ba mươi Tết, quân đi qua sông Gián, đánh bại đạo binh của Hoàng Phùng Nghĩa, quan trấn thủ Sơn Nam của nhà Lê. Bao nhiêu quân Tàu đi tuần tiễu ở đó đều bị bắt giết hết, cho nên tuyệt chẳng có tin báo về Thăng Long cho Sĩ Nghị biết.
Đêm mồng ba, quân đến làng Hà Hồi. Ở đó có đồn bảo của quân Tàu, gác súng lớn, chôn ngầm địa lôi, cách phòng thủ rất kiên cố. Quân của vua Quang Trung vây các đồn ấy, lấy ống vọi truyền hô, có tiếng dạ đến mấy vạn người. Trong đồn nghe thấy thế đều run sợ, rồi không giao chiến, quân Tàu tự vỡ tan cả. Hết thảy lương thực khí giới đều bị quân Tây Sơn bắt lấy.
Tảng sáng ngày mồng năm, quân tới sát bên đồn Ngọc Hồi. Trên đồn bắn đạn xuống như mưa. Vua Quang Trung khiến mỗi người lính mang một miếng ván xông vào, còn ngài thì cỡi voi ở đằng sau giục tới. Cửa đồn bị vỡ. Ai nấy đều ném miếng ván xuống đất, cầm dao chặt tứ tung. Quân Tàu không chống lại được, bỏ chạy. Quân Tây Sơn đuổi theo, phá luôn mấy đồn Văn Điển, An Quyết, các quan Tàu, đề đốc Hứa Thế Hanh, tổng binh Trương Triều Long, Thượng Duy Thăng, tri phủ Sầm Nghi Giản đều tử trận.
Bấy giờ Tôn Sĩ Nghị ở nơi đại đồn trên bãi cát, nghe tin, lật đật lên ngựa chạy về phương Bắc. Rồi quan và lính chạy theo. Họ tranh nhau qua cầu, cầu gãy, rơi xuống sông mà chết không biết bao nhiêu, đến nỗi sông Nhị Hà không chảy được. Vua Chiêu Thống cũng chạy theo Sĩ Nghị về Tàu.
Sáng ngày mồng năm, chính mình vua Quang Trung kéo binh vào thành Thăng Long, cái áo chiến bào của ngài mặc nguyên sắc vàng mà biến ra sắc đen sạm, vì ăn mùi thuốc súng.
Đợi đến ngày mồng bảy mới mở tiệc khao thưởng quân sĩ, ăn Tết nguyên đán năm kỷ dậu, cho đúng với lời vua đã phán cùng họ hôm trước.
P. K.
Dân báo, Sài Gòn, 14 Fevrier 1940
 
Nguồn:http://nguyenxuandien.blogspot.com/2011/02/tu-lieu-quy-phan-khoi-viet-ve-chien.html (http://nguyenxuandien.blogspot.com/2011/02/tu-lieu-quy-phan-khoi-viet-ve-chien.html)


Tiêu đề: Re:Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam
Gửi bởi: Trần Anh trong 17 Tháng Tám, 2012, 05:52:16 pm
xin lỗi cả nhà cho cháu spam tí.cháu từng đọc 1 cuốn sách nói về 9 chúa,13 vua triều Nguyễn.trong đấy có nói về 1 vị chúa Nguyễn nào đấy 2 lần đánh bại hải quân Hà Lan xâm phạm biển VN.các mem trên QSVN có ai có thể cho chúa thông tin về 2 trận đánh này và vị chúa Nguyễn đấy được kkhoong ạ?cháu xin cảm ơn

Theo em biết thì chỉ có một trận đánh thực sự giữa thủy quân nhà Nguyễn với Hà Lan (Ô Lan) thôi, trận cảng cửa Eo. ;D


Bên cạnh người Bồ Đào Nha, từ đầu thế kỷ 17, Công ty Đông Ấn Hà Lan đã nổi lên như một thế lực hùng mạnh trong công cuộc khai thác thuộc địa châu Á của thực dân phương Tây. Với những chiến hạm lớn được trang bị vũ khí tối tân vào bậc nhất vào thời bấy giờ, họ đã chinh phục được vùng quần đảo Indonesia và trở thành nỗi sợ hãi của nhiều triều đại phong kiến trong khu vực.
Tuy vậy, trong một trận đánh với đội thủy binh chúa Nguyễn, người Hà Lan đã phải chịu thất bại thảm hại.
Trận đánh này xảy ra trong bối cảnh của thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh, khi nước Việt bị chia cắt làm hai phần, gồm Đàng Ngoài (từ sông Gianh trở ra Bắc) do chúa Trịnh kiểm soát và Đằng Trong (từ sông Gianh vào Nam) dưới quyền chúa Nguyễn.
Sau 3 lần đem đại binh vào Nam đánh chúa Nguyễn không thành, năm 1641, chúa Trịnh Tráng đã thương lượng với Toàn quyền Đông Ấn Hà Lan tại Batavia (Jakarta ngày nay) để mượn chiến hạm và các tay súng đánh chúa Nguyễn. Đổi lại, chúa Trịnh sẽ tặng cho người Hà Lan hàng vạn lạng bạc cùng lời hứa dâng Quảng Nam cho họ cai trị và bắt dân Đàng Trong phải nộp cống cho Toàn quyền Đông Ấn Hà Lan khi đánh bại được Đàng Trong.
Cơ hội mở rộng thuộc địa cùng những mâu thuẫn từ trước với Đàng Trong khiến phía Hà Lan nhanh chóng chấp thuận đề nghị của chúa Trịnh.
Trong hai năm sau đó, giữa quân của chúa Nguyễn và người Hà Lan đã có nhiều cuộc đụng độ, nhưng chưa có trận chiến quyết định nào để thay đổi cục diện giằng co.
Theo yêu cầu của Chúa Trịnh, ngày 3 tháng 6, chiến thuyền của Công ty Đông Ấn Hà Lan đã tiến về phía Bắc ra thẳng Đàng Ngoài, Đoàn thuyền của người Hà Lan được chia làm hai nhóm:

Nhóm thứ nhất do Isaac Davids chỉ huy, tiến thẳng ra Đàng Ngoài để hội quân với chúa Trịnh.

Nhóm thứ hai, gồm 3 chiếc do Pieter Baeck chỉ huy.Đây là  ba pháo hạm lớn bằng đồng  trang bị đầy đủ đến để hội quân với họ Trịnh tại sông Gianh (Quảng Bình). Trong hải trình của mình, hạm đội này đã bị gió thổi giạt vào gần cảng Eo của Đàng Trong (Thuận An, Phú Vang, Thừa Thiên – Huế ngày nay).

Biết tin, chúa Nguyễn Phúc Lan họp các tướng lĩnh Đàng Trong để bàn xem có nên đưa chiến thuyền ra đánh người Hà Lan hay không. Thủy binh của chúa Nguyễn thời ấy thuộc hàng rất mạnh trong khu vực, nhưng tiếng tăm của chiến hạm Đông Ấn Hà Lan khiến không ai dám tự tin sẽ chắc thắng.

Sách Đại Nam thực lục đã ghi lại:
"Bấy giờ, giặc Ô Lan đậu thuyền ngoài biển, cướp bóc lái buôn. Quân tuần biển báo tin. Chúa đương bàn kế đánh dẹp. Thế tử (tức Nguyễn Phúc Tần) tức thì mật báo với chưởng cơ Tôn Thất Trung (con thứ tư của Hy Tông), ước đưa thủy quân ra đánh. Trung lấy cớ chưa bẩm mệnh, ngần ngại chưa quyết. Thế tử tự đốc suất chiến thuyền của mình tiến thẳng ra biển. Trung bất đắc dĩ cũng đốc suất binh thuyền theo đi, đến cửa biển thì thuyền của thế tử đã ra ngoài khơi. Trung lấy cờ vẫy lại, nhưng thế tử không quay lại. Trung bèn giục binh thuyền tiến theo. Chiếc thuyền trước sau lướt nhanh như bay, giặc trông thấy thất kinh hoảng sợ"
Khi Nguyễn Phúc Lan tham vấn một người Hà Lan đang giúp việc thì người này trả lời với thái độ kiêu ngạo: “Tàu Hà Lan chỉ sợ mãnh lực và quân đội của Chúa trời thôi”. Chính điều này khiến chúa Nguyễn tức giận và quyết định sẽ “dạy cho người Hà Lan một bài học”.

Ngày 7/7/1643, đích thân chúa Nguyễn Phúc Lan và Thế tử Nguyễn Phúc Tần dẫn 50 thuyền tiến thẳng ra cảng Eo. Khi nhìn thấy đối phương, thủy binh Nguyễn lao thẳng vào tấn công.

Dù một số thuyền bị trúng đạn, nhưng nhờ nhỏ, cơ động, cùng số lượng vượt trội, đội thuyền chúa Nguyễn nhanh chóng bao vây ba chiến hạm Hà Lan và đánh phá quyết liệt.
Chiến hạm lớn nhất của Hà Lan mang tên De Wijdeness do thuyền trưởng Pieter Baek chỉ huy đã chống trả rất dữ dội nhưng không đủ sức ngăn cản sự công phá của thủy binh Nguyễn. Quân Nguyễn đã áp sát và tràn lên boong tàu, bẻ bánh lái, chặt gẫy cột buồm khiến chiến hạm này bị tê liệt hoàn toàn.
Bị dồn vào bước đường cùng, thuyền trưởng con tàu Hà Lan cho châm lửa đốt kho thuốc súng. Con tàu nổ tung khiến hầu hết 200 thành viên trên tàu, kể cả Baek thiệt mạng. Hai chiến hạm còn lại cố thoát vòng vây và tăng hết tốc lực để bỏ chạy. Một chiếc trong số đó đâm vào đá ngầm và chìm xuống biển khi bị truy đuổi.
Thủy quân của chúa Nguyễn đã giành chiến thắng. Hỏa lực mạnh mẽ của người Hà Lan đã khiến họ chìm 7 thuyền và mất 700-800 binh sĩ.
Theo các ghi chép lại của Giáo sĩ Alexandre de Rhodes năm 1651 thì:
Chúa Đàng Ngoài tấn công chúa Đàng Trong, như tôi sẽ nói sau, ba lần đem quân đi đánh nhưng đều thất bại. Chúa liền cầu cứu với thương gia người Hoà Lan chiếm đóng bến tàu Java Cả, gọi là Jaquetra hay Tân Hoà Lan. Chúa phái người đem lễ vật tới xin cung cấp cho mấy chiếc tàu tròn của họ, để nhờ đó chúa quyết định phá huỷ hạm đội người Đàng Trong. Người Hoà Lan nhận lời ngay vì biết là để tấn công chúa Đàng Trong đã công khai từ mấy năm nay tự xưng thù địch với nước mình.
Họ liền phái tới chúa Đàng Ngoài ba chiếc tàu tròn trang bị đầy đủ và có mấy khẩu súng. Đoàn tàu vô ý tới gần một hải cảng Đàng Trong vì bị gió đánh dạt, đúng lúc tình cờ chúa đang có mặt với mấy thuyền chiến. Chúa nhận thấy đây là viện trợ người Hoà Lan gởi chúa Đàng Ngoài để gây chiến. Cơn giận nổi lên (như thể chúng dám táo bạo thách thức ở biên giới), chúa liền bàn xem có nên cho thuyền đuổi theo. Chúa hỏi ý kiến một người Hoà Lan mấy năm nay sống sót sau cơ bão biển và ở lại phục vụ chúa lo việc binh đao. Tên lính này kiêu căng và khinh thị đáp rằng đoàn tàu này chỉ sợ có thế lực và thịnh nộ võ khí của ông Trời. Tức giận vì thái độ hỗn xược, chúa không thèm đáp, nhưng ra lệnh cho các thuyền trưởng lập tức cho nhổ neo rời bến và tấn công đoàn tàu Hoà Lan trông rõ ngoài khơi. Nhờ lúc này biển lặng, chỉ có gió nhẹ thổi, nên việc tấn công mang lại kết quả: chỉ có chiếc tàu nhỏ hơn cả của người Hoà Lan nhờ gió nhẹ thổi mà chạy thoát, còn chiếc kia muốn chạy trốn đoàn thuyền rượt theo, mất hướng đụng phải cồn vỡ tan và chìm dưới làn sóng. Chiếc thứ ba lớn hơn hết dĩ nhiên nặng nề hơn cả, gió không đẩy nổi, liền bị bốn thuyền chiến bao vây và chiếm giữ, sau khi hết sức chống cự và bắn vô hiệu vào đoàn thuyền chiến rất thấp đã tới sát nách. Tay lái và cột buồm bị phá. Trong cơn nguy khốn cùng cực, thuyền trưởng và lính Hoà Lan mất hết hy vọng cứu thoát giữa biển khơi, liền châm lửa vào kho thuốc súng đốt chiếc tàu cùng thuỷ thủ, tất cả chừng hai trăm, trừ bảy người tránh ngọn lửa nhảy xuống biển trôi theo làn sóng, được thuyền chiến Đàng Trong vớt và đem đi trình chúa ở trên bến đang đợi đoàn tàu chiến thắng trở về.
Chúa thấy bảy người Hà Lan thoát hoả tai và đắm tàu chiến quỳ phục dưới chân, liền quay về phía người Hoà Lan xấc xược đã khoe tàu nước họ vô địch và chế giễu hắn:
"Này ngươi, hãy hỏi xem lính nước ngươi ở đâu mà đến?"
Xấu hổ, hắn lí nhí trong miệng và run sợ thưa: "Chúng thoát nạn do tàu chiến của Chúa đánh bại tàu người Hoà Lan." Chúa tiếp:
"Thế thì chẳng phải đợi thế lực võ trang của Trời để thắng, vì đoàn thuyền chiến của ta đủ để phá vỡ".
Rồi Chúa truyền cho binh sĩ của Chúa:
"Bớ ba quân, bây giờ hãy chặt đầu tên kiêu căng và gỡ cho thế giới thoát khỏi loài sâu bọ không đáng sống này".
Tức thì lệnh được thi hành. Chúa còn cho cắt đầu mũi không những của tám tên lính sẽ đem đi chém đầu mà còn của tất cả những tên khác bị cháy hay đắm tàu, bỏ vào một thúng gửi ra biếu chúa Đàng Ngoài kèm theo vài lời chua chát, đắng cay tương tự như: xin nhận một phần đạo binh chúa đã chuẩn bị để tấn công và xin lần sau chuẩn bị một viện binh khá hơn. Việc này làm cho chúa Đàng Ngoài rất xúc động đến nỗi chúa chẳng còn muốn đón tiếp chiếc tàu thứ nhất của người Hoà Lan chạy trốn theo chiều gió, chúa cũng chẳng thèm cung cấp lương thực cần để sống, chiếc tàu này đành phải về tới Trung Quốc tìm lương thực, xa chừng sáu trăm dặm.
Trận đánh này là lần đầu tiên trong lịch sử thuỷ quân của người Việt chiến thắng trước một hạm đội châu Âu. Đây cũng là một sự tổn thương nặng nề đối với thanh thế đội thuyền hùng mạnh của Công ty Đông Ấn Hà Lan.
Thất bại này khiến người Hà Lan từ bỏ tham vọng mở rộng ảnh hưởng tại Việt Nam. Sau trận đánh, do e ngại thủy binh chúa Nguyễn mà Công ty Đông Ấn Hà Lan không còn dám đưa tàu thuyền ra Đàng Trong.
Đến năm 1651, chúa Nguyền và người Hà Lan đã đạt được thỏa thuận bỏ qua những tranh chấp cũ để phát triển giao thương. Sức mạnh của chúa Nguyễn ngày càng được củng cố và họ Nguyễn đã đánh bại họ Trịnh vào thế kỷ sau đó.

P/S: trận này tuy cũng là một mốc son trong lịch sử Dựng nước_Giữ nước của dân tộc ta nhưng mà để được xếp vào danh sách :Những trận đánh vĩ đại trong lịch sử Quân sự Việt Nam, thì chưa xứng :D