|
Tiêu đề: Thơ thời chống Pháp. Gửi bởi: ov10 trong 21 Tháng Mười Một, 2007, 06:54:43 pm MÀU TÍM HOA SIM
Nàng có ba người anh đi bộ đội Những em nàng Có em chưa biết nói Khi tóc nàng đang xanh. Tôi người vệ quốc quân xa gia đình Yêu nàng như tình yêu em gái Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo mới Tôi mặc đồ quân nhân đôi giày đinh bết bùn đất hành quân Nàng cười xinh xinh bên anh chồng độc đáo. Tôi ở đơn vị về Cưới nhau xong là đi Từ chiến khu xa Nhớ về ái ngại Lấy chồng thời chiến binh Mấy người đi trở lại Lỡ khi mình không về thì thương người vợ chờ bé bỏng chiều quê... Nhưng không chết Người trai khói lửa Mà chết Người gái nhỏ hậu phương Tôi về không gặp nàng Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối Chiếc bình hoa ngày cưới thành bình hương tàn lạnh vây quanh Tóc nàng xanh xanh ngắn chưa đầy búi Em ơi giây phút cuối không được nghe nhau nói không được nhìn nhau một lần Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím áo nàng màu tím hoa sim Ngày xưa một mình đèn khuya bóng nhỏ Nàng vá cho chồng tấm áo ngày xưa... Một chiều rừng mưa Ba người anh trên chiến trường Đông Bắc Biết tin em gái mất trước tin em lấy chồng; Gió sớm thu về rờn rợn nước sông Đứa em nhỏ lớn lên ngợ ngàng nhìn ảnh chị Khi gió sớm thu về cỏ vàng chân mộ chí. Chiều hành quân Qua những đồi sim những đồi sim dài trong chiều không hết Màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt Nhìn áo rách vai Tôi hát trong màu hoa (áo anh sứt chỉ đường tà Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu...)./. Hữu Loan Tiêu đề: Re: Thơ thời chống Pháp. Gửi bởi: ov10 trong 21 Tháng Mười Một, 2007, 06:57:44 pm Điều thú vị là bài thơ "Màu tím hoa sim" được các tác giả ở MN trước năm 1975 phổ nhạc rất hay nên được nhiều ngưới hát và nghe, nhưng thực tế thì không phải ai cũng biết tác giả Hữu Loan là bộ đội, là vệ quốc quân.
Tiêu đề: Re: Thơ thời chống Pháp. Gửi bởi: ov10 trong 21 Tháng Mười Một, 2007, 07:01:16 pm HOA TRẮNG THÔI CÀI LÊN ÁO TÍM
Kiên Giang Lâu quá không về thăm xóm đạo Từ ngày binh lửa cháy quê hương Khói bom che lấp chân trời cũ Che cả người thương nóc giáo đường Mười năm trước em còn đi học Áo tím điểm tô đời nữ sinh Hoa trắng cài duyên trên áo tím Em còn nguyên vẹn tuổi băng trinh Quen biết nhau qua tình lối xớm Cổng trường đối diện ngó lầu chuông Mỗi lần chúa nhật em xem lễ Anh học bài ôn trước cổng trường Thuở ấy anh hiền và nhát quá Nép mình bên gác thánh lầu chuông Để nghe khe khẽ lời em nguyện Thơ thẩn chờ em trước thánh đường Mỗi lần tan lễ, chuông ngừng đổ Hai bóng cùng đi một lối về E lệ em cầu kinh nho nhỏ Thẹn thùng, anh đứng lại không đi Sau mười năm lẽ anh thôi học Nức nở chuông trường buổi biệt ly Rộn rã từng hồi, chuông xớm đạo Khi nàng áo tím bước vu quy Anh nhìn áo cưới mà anh ngỡ Chiếc áo tang liệm kín khối sầu! Hoa trắng thôi cài trên áo tím Giữ làm chi kỹ vật ban đầu! Em lên xe cưới về quê chồng Dù cách đò ngang cách mấy sông Vẫn nhớ bóng vang thời áo tím Nên tình thơ ủ kín trong lòng Từ lúc giặc ruồng vô xóm đạo Anh làm chiến sĩ giữ quê hương Giữ màu áo tím, cành hoa trắng Giữ cả trường xưa, nóc giáo đường Giặc chiếm lầu chuông xây ổ súng Súng gầm rung đổ gạch nhà thờ Anh đem gạch nát, xây tường lủng Chiếm lại lầu chuông, giết kẽ thù Nhưng rồi người bạn đồng song ấy Đã chết hiên ngang dưới bóng cờ Chuông đổ ban chiều, hồi vĩnh biệt Tiễn anh ra khỏi cổng nhà thờ Hoa trắng thôi cài trên áo tím Mà cài trên nắp áo quan tài Điểm tô công trận bằng hoa trắng Hoa tuổi học trò, mờ thắm tươi Xe tang đã khuất nẽo đời Chuông nhà thờ khóc đưa người ngàn thu Từ đây tóc rũ khăn sô Em cài hoa trắng lên mồ người xưa. ***** 28/ 5/ 58 Tiêu đề: Re: Thơ thời chống Pháp. Gửi bởi: ov10 trong 21 Tháng Mười Một, 2007, 07:03:44 pm Núi Đôi
Bảy năm về trước em mười bảy Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng Xuân Dục, Đoài Đông hai cánh lúa Bữa thì em tới bữa anh sang. Lối ta đi giữa hai sườn núi Đôi ngọn nên làng gọi núi Đôi Em vẫn đùa anh sao khéo thế Núi chồng, núi vợ đứng song đôi. Bỗng cuối mùa chiêm quân giặc tới Ngõ chùa cháy đỏ những thân cau Mới ngỏ lời thôi đành lỗi hẹn Đâu ngờ từ đó mất tin nhau. Anh vào bộ đội lên Đông Bắc Chiến đấu quên mình năm lại năm Mỗi bận dân công về lại hỏi Ai người Xuân Dục Núi Đôi chăng. Anh nghĩ quê ta giặc chiếm rồi Trăm nghìn căm uất bao giờ nguôi Mỗi tin súng nổ vùng đai địch Sương trắng người đi lại nhớ người. Đồng đội có nhau thường nhắc nhở Trung du làng nước vẫn chờ trông Núi Đôi bốt dựng kề ba xóm Em vẫn đi về những bến sông. Náo nức bao nhiêu ngày trở lại Lệnh trên ngừng bắn anh về xuôi Hành quân qua tắt đường sang huyện Anh ghé thăm nhà thăm núi Đôi. Mới đến đầu ao tin sét đánh Giặc giết em rồi, dưới gốc thông Giữa đêm bộ đội vây đồn Thứa Em sống trung thành, chết thủy chung. Anh ngước nhìn lên hai dốc núi Hàng thông, bờ cỏ, con đường quen Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói Núi vẫn đôi mà anh mất em. Dân chợ Phù Linh ai cũng bảo Em còn trẻ lắm, nhất làng trong Mấy năm cô ấy làm du kích Không hiểu vì sao chẳng lấy chồng. Từ núi qua thôn đường nghẽn lối Xuân Dục Đoài Đông cỏ ngút đầy Sân biến thành ao nhà đổ chái Ngổn ngang bờ bụi cánh dơi bay, Cha mẹ dìu nhau về nhận đất Tóc bạc thương từ mỗi gốc cau Nứa gianh nửa mái lều che tạm Sương nắng khuấy dần chuyện xót đau. Anh nghe có tiếng người qua chợ Ta gắng mùa sau lúa sẽ nhiều Ruộng thấm mồ hôi từng nhát cuốc Làng ta rồi đẹp biết bao nhiêu. Nhưng núi còn kia anh vẫn nhớ Oán thù còn đó anh còn đây Ở đâu cô gái làng Xuân Dục Đã chết vì dân giữa đất này? Ai viết tên em thành liệt sĩ Bên những hàng bia trắng giữa đồng Nhớ nhau anh gọi em, đồng chí Một tấm lòng trong vạn tấm lòng. Anh đi bộ đội sao trên mũ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường Em sẽ là hoa trên đỉnh núi Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm. VŨ CAO Tiêu đề: Re: Thơ thời chống Pháp. Gửi bởi: ov10 trong 21 Tháng Mười Một, 2007, 07:05:56 pm Bên kia sông Đuống Em ơi! Buồn làm chi Anh đưa em về sông Đuống Ngày xưa cát trắng phẳng lỳ Sông Đuống trôi đi Một dòng lấp lánh Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì Xanh xanh bãi mía bờ dâu Ngô khoai biêng biếc Đứng bên này sông sao nhớ tiếc Sao xót xa như rụng bàn tay Bên kia sông Đuống Quê hương ta lúa nếp thơm nồng Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp Quê hương ta từ ngày khủng khiếp Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn Ruộng ta khô Nhà ta cháy Chó ngộ một đàn Lưỡi dài lê sắc máu Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang Mẹ con đàn lợn âm dương Chia lìa đôi ngả Đám cưới chuột tưng bừng rộn rã Bây giờ tan tác về đâu ? Ai về bên kia sông Đuống Cho ta gửi tấm the đen Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên Những hội hè đình đám Trên núi Thiên Thai Trong chùa Bút Tháp Giữa huyện Lang Tài Gửi về may áo cho ai Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu Những nàng môi cắn chỉ quết trầu Những cụ già phơ phơ tóc trắng Những em xột xoạt quần nâu Bây giờ đi đâu ? Về đâu ? Ai về bên kia sông Đuống Có nhớ từng khuôn mặt búp sen Những cô hàng xén răng đen Cười như mùa thu tỏa nắng Chợ Hồ, chợ Sủi người đua chen Bãi Tràm Chỉ người dăng tơ nghẽn lối Những nàng dệt sợi Đi bán lụa mầu Những người thợ nhuộm Đồng Tỉnh, Huê Cầu Bây giờ đi đâu ? Về đâu ? Bên kia sông Đuống Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong Dăm miếng cau khô Mấy lọ phẩm hồng Vài thếp giấy dầm hoen sương sớm… Chợt lũ quỷ mắt xanh trừng trợn Khua giầy đinh đạp gẫy quán gầy teo Xì xồ cướp bóc Tan phiên chợ nghèo Lá đa lác đác trước lều Vài ba vết máu loang chiều mùa đông Chưa bán được một đồng Mẹ già lại quẩy gánh hàng rong Bước cao thấp trên bờ tre hun hút Có con cò trắng bay vùn vụt Lướt ngang dòng sông Đuống về đâu ? Mẹ ta lòng đói dạ sầu Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ. Bên kia sông Đuống Ta có đàn con thơ Ngày tranh nhau một bát cháo ngô Đêm líu ríu chui gầm giường tránh đạn Lấy mẹt quây tròn Tưởng làm tổ ấm Trong giấc thơ ngây tiếng súng dồn tựa sấm Ú ớ cơn mê Thon thót giật mình Bóng giặc dày vò những nét môi xinh Đã có đất này chép tội Chúng ta không biết nguôi hờn Đêm buông xuống dòng sông Đuống - Con là ai ? - Con ở đâu về ? Hé một cánh liếp - Con vào đây bốn phía tường che Lửa đèn leo lét soi tình mẹ Khuôn mặt bừng lên như dựng trăng Ngậm ngùi tóc trắng đang thầm kể Những chuyện muôn đời không nói năng Đêm đi sâu quá lòng sông Đuống Bộ đội bên sông đã trở về Con bắt đầu xuất kích Trại giặc bắt đầu run trong sương Dao loé giữa chợ Gậy lùa cuối thôn Lúa chín vàng hoe giặc mất hồn Ăn không ngon Ngủ không yên Đứng không vững Chúng mày phát điên Quay cuồng như xéo trên đống lửa Mà cánh đồng ta còn chan chứa Bao nhiêu nắng đẹp mùa xuân Gió đưa tiếng hát về gần Thợ cấy đánh giặc, dân quân cày bừa Tiếng bà ru cháu buổi trưa Chang chang nắng hạ võng đưa rầu rầu "À ơi... cha con chết trận từ lâu Con càng khôn lớn càng sâu mối thù" Tiếng em cắt cỏ hôm xưa Hiu hiu gió rét mịt mù mưa bay "Thân ta hoen ố vì mày Hờn ta cùng với đất này dài lâu..." Em ơi! Đừng hát nữa! Lòng anh đau Mẹ ơi! Đừng khóc nữa! Dạ con sầu Cánh đồng im phăng phắc Để con đi giết giặc Lấy máu nó rửa thù này Lấy súng nó cầm chắc tay Mỗi đêm một lần mở hội Trong lòng con chim múa, hoa cười Vì nắng sắp lên rồi Chân trời đã tỏ Sông Đuống cuồn cuộn trôi Để nó cuốn phăng ra bể Bao nhiêu đồn giặc tơi bời Bao nhiêu nước mắt Bao nhiêu mồ hôi Bao nhiêu bóng tối Bao nhiêu nỗi đời. Bao giờ về bên kia sông Đuống Anh lại tìm em Em mặc yếm thắm Em thắt lụa hồng Em đi trảy hội non sông Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh. Việt Bắc, tháng 4-1948 Tiêu đề: Re: Thơ thời chống Pháp. Gửi bởi: ov10 trong 21 Tháng Mười Một, 2007, 07:10:27 pm Đôi mắt người Sơn Tây
Quang Dũng Em ở thành Sơn chạy giặc về Tôi từ chinh chiến cũng ra đi Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì Vầng trán em mang trời quê hương Mắt em dìu dịu buồn Tây phương Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm Em đã bao ngày em nhớ thương? Mẹ tôi, em có gặp đâu không Bao xác già nua ngập cánh đồng Tôi nhớ một thằng con bé nhỏ Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông! Từ độ thu về hoang bóng giặc Điêu tàn ôi lại nối điêu tàn! Đất đá ong khô nhiều suối lệ Em đã bao ngày lệ chứa chan? Đôi mắt người Sơn Tây U ẩn chiều lưu lạc Buồn viễn xứ khôn khuây Tôi gửi niềm nhớ thương Em mang giùm tôi nhé Ngày trở lại quê hương Khúc hoàn ca rớm lệ Bao giờ trở lại đồn Bương Cấn Về núi Sài Sơn ngắm lúa vàng Sông Đáy chậm nguồn quanh Phủ Quốc Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng Bao giờ tôi gặp em lần nữa Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa Đã hết sắc mùa chinh chiến cũ Còn có bao giờ em nhớ ta? Tiêu đề: Re: Thơ thời chống Pháp. Gửi bởi: ov10 trong 21 Tháng Mười Một, 2007, 07:13:01 pm Tây tiến
Quang Dũng Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi! Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời! Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người Nhớ ôi Tây tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa Tây tiến đoàn quân không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành Tây tiến người đi không hẹn ước Đường lên thăm thẳm một chia phôi Ai lên Tây tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi. Phù Lưu Chanh -- 1948 Tiêu đề: Re: Thơ thời chống Pháp. Gửi bởi: ivanhoe1234 trong 21 Tháng Mười Một, 2007, 10:50:18 pm Ngày về - Chính Hữu
Có đoàn người lên đóng trên rừng sâu Đêm nay mơ thấy trở về Hà Nội Bao giờ trở lại ? Phố phường xưa gạch ngói ngang đường Ôi hôm nay họ nhớ mái nhà hoang Bức tường điêu tàn ngày xưa trấn ngự Nhớ đêm ra đi, đất trời bốc lửa Cả kinh thành nghi ngút cháy sau lưng Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng Hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa Mái đầu xanh thề mãi đến khi già Phơi nắng gió. Và hoa ngàn cỏ dại Nghe tiếng gọi của những người Hà Nội Trở về, trở về, chiếm lại quê hương Nguy nga sao cái buổi lên đường Súng chuốt gươm lan, mắt ngời sáng quắc A ha! nhà xiêu mái sập Xác oan cừu ngập lối chân đi Gạch ngói xưa mừng đón gót lưu ly Bước căm giận xéo quân thù lớp lớp Mịt mù khói ngợp Cờ máu huy hoàng Phất nắng Ôi bài chiến thắng reo vang. 1947 Tiêu đề: Re: Thơ thời chống Pháp. Gửi bởi: ivanhoe1234 trong 21 Tháng Mười Một, 2007, 10:51:55 pm Đồng chí - Chính Hữu
Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Anh với tôi đôi người xa lạ Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau. Súng bên súng, đầu sát bên đầu Đên rét chung chăn thành đôi tri kỷ Đồng chí! Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính. Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh, Sốt run người, vừng trán ướt mồ hôi. Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay! Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo. (2-1948) Tiêu đề: Re: Thơ thời chống Pháp. Gửi bởi: ivanhoe1234 trong 21 Tháng Mười Một, 2007, 10:53:13 pm Giá từng thước đất - Chính Hữu
Năm mươi sáu ngày đêm bom gầm pháo giội, Ta mới hiểu thế nào là đồng đội. Đồng đội ta là hớp nước uống chung Nắm cơm bẻ nửa Là chia nhau một trưa nắng, một chiều mưa Chia khắp anh em một mẩu tin nhà Chia nhau đứng trong chiến hào chật hẹp Chia nhau cuộc đời, chia nhau cái chết. Bạn ta đó Ngã trên dây thép ba tầng Một bàn tay chưa rời báng súng, Chân lưng chừng nửa bước xung phong. Ôi những con người mỗi khi nằm xuống Vẫn nằm trong tư thế tiến công! Bên trái: Lò Văn Sự Bên phải: Nguyễn Đình Ba, Những đêm tiến công, những ngày phòng ngự, Có phải các anh vẫn còn đủ cả Trong đội hình đại đội chúng ta ? Khi bạn ta lấy thân mình đo bước Chiến hào đi, Ta mới hiểu giá từng thước đất, Các anh ở đây Trận địa là đây, Trận địa sẽ không lùi nửa thước, Không bao giờ, không bao giờ để mất Mảnh đất Các anh nằm. Trong quá trình chiến dịch Điện Biên, các đồng chí hy sinh vẫn được chôn cất dọc theo hai bên đường phát triển của chiến hào. 1954-1961 Tiêu đề: Re: Thơ thời chống Pháp. Gửi bởi: altus trong 06 Tháng Mười Hai, 2007, 12:00:06 am NHỮNG NGÀY XƯA THÂN ÁI
Phạm Hổ 1957 Tôi bắn hắn rồi Những ngày xưa thân ái Không ngăn nổi tay tôi Những ngày xưa thân ái Chắc hắn quên rồi Riêng tôi, tôi nhớ: Đồng làng mênh mông biển lúa Sương mai đáp trắng cỏ đường Hai đứa tôi, Sách vở cặp chung Áo quần nhàu giấc ngủ Song song bước nhỏ chân trần Gói cơm mo mẹ vắt, sách tùng tơn Nón rộng hỏng quai Trong túi hộp diêm nhốt dế Những ngày xưa êm đẹp thế Không đem chung hai đứa một ngày mai Hắn bỏ làng theo giặc mấy năm nay Tôi buồn, tôi giận, Đêm nay gặp hắn, Tôi bắn hắn rồi. Những ngày xưa thân ái Không ngăn nổi tay tôi Xác hắn nằm bờ ruộng Không phải hắn thủa xưa Tôi cúi nhìn mặt hắn Tiếc hắn thời ấu thơ. Tiêu đề: Re: Thơ thời chống Pháp. Gửi bởi: altus trong 06 Tháng Mười Hai, 2007, 12:12:29 am Staline sống mãi
Chế Lan Viên Đồng chí Staline mất rồi Đồng chí Staline đã mất Tin dữ truyền đi, nỗi đau xé cắt Vạt áo nhân dân thấm đầy nước mắt Dao đâm qua triệu triệu tim người... Nhớ bài thơ Nơ-ruy-đa cũ Ca ngợi đêm khuya phòng điện Krem-lanh Vời vợi bóng đèn sáng tỏ Có một người đêm khuya không ngủ Thức canh cho thế giới hòa bình Đồng chí Staline ta đó Staline nay không còn nữa Vắng vẻ dáng hình lãnh tụ Một vầng ráng đỏ Vinh viễn hòa vào xa xanh... Nhớ những người phụ nữ đất Hy Nguyện cầu van vỉ "Chúng tôi hy sinh vài năm tuổi trẻ Cho Staline sống thêm một phút một giờ Chúng tôi đông, tuổi chất thành thế kỉ Staline bền vững thiên thu" Staline ngày nay đã mất Phụ nữ đất Hy tay ôm lấy mặt Nỗi đau còn mãi thiên thu... Đồng chí Staline ơi! Đồng chí Staline không bao giờ lại chết Đế quốc ra tro Quân thù tiêu diệt Thế giới ta còn nguyên vẹn mặt trời Anh đội viên sẽ kể: "Máu của tôi ra nhiều" Trong đạn lửa tôi bỗng nghe "Đồng chí" Ngửng mặt lên nhìn thấy hình Thống chế Mắt tôi hoa trong mắt của Mặt trời Máu tôi ra nhưng máu lại thêm rồi Xung phong! Giết! Giết! Ai tung tôi qua bảy từng giây thép Staline là tiếng thét Staline là bộc lôi Staline trăm lưỡi mác sáng ngời Cháy tan vị trí Cờ đỏ mọc lên Trong cờ đỏ tôi thấy hình Thống chế Giai cấp chúng ta quang vinh là thế Nhìn chiến công tôi, Thống chế mỉm cười..." Mẹ hiền ta ơi, em bé ta ơi Đồng chí Staline không bao giờ lại chết Cộng sản là mùa xuân Cuộc đời lên bất tuyệt Đảng ta là núi thép Mỗi chúng ta là một giọt máu người Chúng ta còn Staline còn mãi mãi Triệu triệu mẹ già em dại Đều là súng Staline để lại Giữ lấy hoà bình thế giới Tiếng nổ ca vang dội thấu mặt trời. (3-1953) Tiêu đề: Re: Thơ thời chống Pháp. Gửi bởi: altus trong 06 Tháng Mười Hai, 2007, 12:14:35 am QUÊ HƯƠNG
Giang Nam Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ: "Ai bảo chăn trâu là khổ ?" Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao Nhớ những ngày trốn học Đuổi bướm cầu ao Mẹ bắt được... Chưa đánh roi nào đã khóc Có cô bé nhà bên Nhìn tôi cười khúc khích... Cách mạng bùng lên Rồi kháng chiến trường kỳ Quê tôi đầy bóng giặc Từ biệt mẹ tôi đi Cô bé nhà bên (có ai ngờ!) Cũng vào du kích Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi) Giữa cuộc hành quân không nói được một lời... Đơn vị đi qua tôi ngoái đầu nhìn lại Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi Hòa bình tôi trở về đây Với mái trường xưa, bãi mía, luống cày Lại gặp em Thẹn thùng nép sau cánh cửa Vẫn khúc khích cười khi tôi hỏi nhỏ - Chuyện chồng con... (khó nói lắm anh ơi)! Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn, ngậm ngùi Em để yên trong tay tôi nóng bỏng Hôm nay nhận được tin em Không tin được dù đó là sự thật: Giặc bắn em rồi quăng mất xác Chỉ vì em là du kích em ơi! Đau xé lòng anh chết nửa con người! Xưa yêu quê hương vì có chim, có bướm Có những ngày trốn học bị đòn roi Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất Có một phần xương thịt của em tôi. 1960 Tiêu đề: Re: Thơ thời chống Pháp. Gửi bởi: motthoang_hn02 trong 24 Tháng Ba, 2008, 03:42:59 pm QUÊ HƯƠNG Giang Nam Hôm nay nhận được tin em Không tin được dù đó là sự thật: Giặc bắn em rồi quăng mất xác Chỉ vì em là du kích em ơi! Đau xé lòng anh chết nửa con người! Xưa yêu quê hương vì có chim, có bướm Có những ngày trốn học bị đòn roi Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất Có một phần xương thịt của em tôi. 1960 Thích nhất 2 khổ thơ cuối này ! Nó làm tôi nhớ đến cũng mối tình ấy với " Núi đôi " của Vũ Cao. Tình yêu thật thiêng liêng & cao quý, nhưng dường như có những điều còn linh thiêng hơn thế bởi : " Khi Tổ Quốc cần họ biết sống xa nha " - nhà thơ Nguyễn Mỹ trong " Cuộc chia ly màu đỏ " đã thật tinh tế khi phát hiện ra điều đó ! Ôi ! Tình yêu :P Tiêu đề: Nửa thế kỷ thơ về người lính Gửi bởi: chichbong trong 03 Tháng Sáu, 2008, 01:54:15 pm BỨC TRANH DỌC ĐƯỜNG HÀNH QUÂN
Hoàng Nhuận Cầm Xa trung du nên tôi chửa thấy đồi Nhà đá ong âm thầm mang lời đất Cây xấu hổ giấu bao nhiêu cổ tích Mắc cỡ gì mà khép cánh ư em? Chim rất nhiều mà tôi chẳng biết tên Kêu chi mãi đến rối lòng lính trẻ Bằng lăng rụng nói điều mơ mộng quá Hoa bên đường khiến mắt đến rưng rưng Có rất nhiều tơ nhện trắng mung lung Đường anh bạn giao liên vừa đến Tiểu đội trưởng nhắc tên những đồi sẽ chiếm Trâu ven đồi thành tĩnh vật trong tranh Bứt ngọn cỏ lên cho thấu tận trời xanh Huế bảo quê nhà giờ đang mùa cấy Cả Hùng nữa, sao cứ cười hòai vậy Nhớ cô bạn nào hay hát bâng quơ Bỗng nghĩ đất nước mình chả thế mà thơ Mỗi mảnh đất biết bao tình ấp ủ Chuồn kim ơi thân dài cánh đỏ Em khâu gì trên áo xám của sườn non Có thể rồi sau sẽ gian khó hơn Nhưng cái chết sẽ thuộc về chúng nó Rừng của ta dẫu na-pan giặc thả Vẫn bật chồi vẫn hát những mầm cây Trời không mây mà lạ lắm hôm nay Đường ra trận lòng ta thành náo động Sờ lên súng thấy bàn tay mình nóng Hiểu đốt lòng người đâu chỉ lúc xung phong. KHÚC TƯỞNG NIỆM Ở NGÃ BA ĐỒNG LỘC Trần Huy Đản Mộ em còn thiếu bóng tre Vùng trời Hà Tĩnh nắng hè gắt gay Đất khô thơm dọc luống cày Mười ngôi mộ, mười bàn tay nối hàng Mây như tóc gió lang thang Bâng khuâng đậu xuống giếng làng đung đưa Trời đem vàng nắng xuống trưa Cho mười ngôi mộ vẫn chưa xế tà Về đây cháu ngủ cạnh bà Chỉ đời mẹ nữa là ba đời rồi Trầu xanh còn thiếu trắng vôi Bao nhiêu khát vọng dấu môi thêm nồng Mười ngôi mộ gái chưa chồng Bồng bềnh như sóng giữa dòng sông La Một dòng sông nặng phù sa Em nằm trẻ mãi tôi già nhớ mong… *** Ở quê còn lắm bão dông Lúa thì con gái trổ đòng nghiêng chao Ngẩn ngơ cau mọc bờ ao Thầm mong có buổi hôm nào làm dâu CHiến tranh qua vẫn còn đau Mười lần héo úa quả cau lá trầu Tuổi xuân mẹ khác gì đâu Quanh năm gánh mãi những câu đợi chờ Bố đi khắp bến cùng bờ Gửi về cho mẹ câu thơ vội vàng Bao năm thắt dải khăn tang Địu con đi cấy mùa màng bão mưa Vẫn là câu chuyện ngày xưa Gió Lào xém mặt sớm chưa bao đời Trong câu hát có mưa rơi Trong đá sỏi có một thời sắn khoai Trên đồi bóng mẹ đổ dài Đường quê mòn bước chân ai tháng ngày *** Ngã ba Đồng Lộc nơi đây Mười cô gái trẻ tràn đầy sức xuân Mỗi ngày bom dội bao lần Nhưng không cản nổi bước chân mở đường Tuổi thơ cắp sách đến trường Vẫn mùi rơm rạ còn vương mái đầu Bàn tay chai sạn dắt trâu Vết càng cua cắn in màu đất quê Miếng trầu như thả bùa mê Mảnh trăng hò hẹn trên đê đợi chờ Sông quê bồi lở đôi bờ Khát khao hạnh phúc từng giờ đầy vơi Mười cô gái trẻ trong tôi Mười đôi mắt sáng vùng trời tôi qua Mười cô gái tuổi thơm hoa Nhói trong nỗi nhớ làm ta thẫn thờ. Mộ sâu em có còn mơ Tiếng con thơ khóc tỏ mờ đêm thâu Em nằm ở dưới đất nâu Có thèm bồ kết gội đầu sông La Mộ em trẻ mãi không già Mây thành tán lá và hoa tháng ngày Mắt không lệ ướt mà cay Khói hương theo gió nhẹ lay cỏ mềm… LỄ HỘI TÌNH YÊU Đông Hà Em không nghĩ rằng mình lại yêu anh Người lính suốt đời ôm mòn bông huệ trắng Bông huệ đi qua hai miền bom đạn Bây giờ run rẩy trước Tình Yêu Chiến tranh đi qua enm chẳng biết được nhiều Cái thời sống lạ lùng hơn sự chết Cái thời yêu không hơn lời vĩnh biệt Nước mắt người cứ đỏ chiêm bao Chiến tranh đi qua trên vai áo bạc màu Anh cầm súng dịu dàng như cầm bút Câu thơ xanh thơ hồng thơ tím Cứ buốt đau bông huệ trắng trên bàn Có thể em chẳng biết gì về người lính của anh Chỉ thấy bông hoa lặng thầm nở hoài trong trang sử Trang sử trắng trong chép tên người vội vã Vào nơi tận cùng đỏ thắm cả trời xanh Và em cũng không biết rằng có thể lại yêu anh Yêu cái gian lao trập trùng lau trắng Yêu như thể anh không là lính Mà chỉ là hoàng tử Cầm đóa hồng vàng đi cưới một tình nhân Em không nghĩ cuối cùng mình lại yêu anh Người lính ôm trong tay vô ngần bông huệ trắng… Tiêu đề: Re: Nửa thế kỷ thơ về người lính Gửi bởi: baoleo trong 04 Tháng Sáu, 2008, 03:56:38 pm Xin gửi lời nhắn đến đồng chí chichbong:
Đ/C ở thư viện TW QĐ, nếu có điều kiện, chichbong thử tìm bài thơ, nói về người con gái đi thăm mộ người yêu nhé. Baoleo chỉ còn nhớ cái tứ đó thế này: Cô gái được đồng đội cùng đơn vị dẫn đi viếng mộ người yêu. Qua bao nhiêu suối, đèo. Rất vất vả nhưng cô gái vẫn nâng niu bó hoa trên tay. Đã về chiều, sau nhiều gian nan, cuối cùng, cô gái đã đến nơi. Ở đó có 2 ngôi mộ. Một là của người yêu cô gái. Một là của đồng đội của anh. Không kịp đợi chiến sỹ dẫn đường. Cô gái chạy băng lên trước và đặt bó hoa vào ngôi mộ của người đồng đội kia. Thấy thế, chiến sỹ dẫn đường kêu lên, chị nhầm rồi, anh ấy nằm ở bên kia cơ. Nhưng, cô gái bình thản trả lời, chị không nhầm đâu, vì: Viếng mộ anh đây, đã có chị đây rồi. Đó cũng là câu kết của bài thơ. Baoleo rất ấn tượng về bài thơ này. Đã có lúc tự nhủ: nếu mình nằm xuống, mà người thân của mình làm như vậy, cắc chắn mình sẽ vui cười. Chichbong thử tìm nhé. Tiêu đề: Re: Nửa thế kỷ thơ về người lính Gửi bởi: chichbong trong 05 Tháng Sáu, 2008, 08:54:52 pm @baoleo: Vâng lúc nào rảnh em sẽ tìm bài thơ mà bác baoleo nói tới. Em cũng rất thích đọc thơ viết về người lính ;)
Tiêu đề: Re: Nửa thế kỷ thơ về người lính Gửi bởi: chichbong trong 05 Tháng Sáu, 2008, 08:56:38 pm Sinh nhật
Hồng Thanh Quang Những đám mây trốn vào kỷ niệm trời cao hơn mà không xa hơn tôi nhận đoá phong lan của bạn mới giật mình ngẫm nghĩ và thương Cái tuổi trẻ chúng ta vất vả miếng ǎn thôi cũng là chuyện xao lòng ta xuống bể lên rừng trong áo lính cuộc trường chinh không vợ không chồng Đã ngỡ ngàng ta nhìn vào cái chết rướn sức lên trong mất mát không ngờ bom tan khói cháy bùng nỗi nhớ một khoảnh đời ai cũng ngây thơ Ta đã tưởng chẳng bao giờ đứng tuổi chiếc ba lô đựng mọi vui buồn đồng đội nay mỗi người một ngả nhớ hay quên cũng chuyện bình thường Ta chìm giữa những lo toan đời sống đêm ngủ không, nghe tóc chuyển trên đầu đến em cũng thôi là khao khát hồ nghi gì ta phải luôn có nhau Sinh nhật ta đâu ngờ bạn nhớ rượu thế nào chưa uống mà say khi bất giác hương phong lan toả ngát mang một thời tưởng đã đoạn về đây.... Tiêu đề: Re: Nửa thế kỷ thơ về người lính Gửi bởi: Trungsy1 trong 08 Tháng Sáu, 2008, 08:26:05 pm Biên kia biên giới anh sang
Trước giờ nổ súng về làng làm chi ? Mẫn và tôi tính chi li Gia đình má Bảy lấy gì nuôi anh ? Bài thơ này viết về tác giả nào vậy, chichbong ơi ời? Tiêu đề: Re: Nửa thế kỷ thơ về người lính Gửi bởi: chichbong trong 08 Tháng Sáu, 2008, 09:02:07 pm Thảo nào em cứ hắt xì hơi mãi hoá ra có người gọi tên mình ;D
Dạ báo cáo bác trungsy1 đó là tác giả Phan Tứ với tác phẩm Mẫn và tôi (1972) và Gia đình Má Bảy (1968)... ;D Bác làm thơ hay quá, hay như thơ Xuân Sách vậy ;) Tiêu đề: Re: Nửa thế kỷ thơ về người lính Gửi bởi: Trungsy1 trong 08 Tháng Sáu, 2008, 09:26:22 pm Xuân Sách đấy! Đọc "Chân dung các nhà văn" thấy bật cười mà cũng ngâm nga ra phết nhỉ! Cười suốt tối đến giờ chichbong à!
Đưa bài viết của bác ấy lên đây đi nào bông! Hưởng ứng ầm ầm ngay. Tiêu đề: Re: Nửa thế kỷ thơ về người lính Gửi bởi: chichbong trong 09 Tháng Sáu, 2008, 07:07:18 pm Xin gửi lời nhắn đến đồng chí chichbong: Đ/C ở thư viện TW QĐ, nếu có điều kiện, chichbong thử tìm bài thơ, nói về người con gái đi thăm mộ người yêu nhé. Baoleo chỉ còn nhớ cái tứ đó thế này: Cô gái được đồng đội cùng đơn vị dẫn đi viếng mộ người yêu. Qua bao nhiêu suối, đèo. Rất vất vả nhưng cô gái vẫn nâng niu bó hoa trên tay. Đã về chiều, sau nhiều gian nan, cuối cùng, cô gái đã đến nơi. Ở đó có 2 ngôi mộ. Một là của người yêu cô gái. Một là của đồng đội của anh. Không kịp đợi chiến sỹ dẫn đường. Cô gái chạy băng lên trước và đặt bó hoa vào ngôi mộ của người đồng đội kia. Thấy thế, chiến sỹ dẫn đường kêu lên, chị nhầm rồi, anh ấy nằm ở bên kia cơ. Nhưng, cô gái bình thản trả lời, chị không nhầm đâu, vì: Viếng mộ anh đây, đã có chị đây rồi. Đó cũng là câu kết của bài thơ. Baoleo rất ấn tượng về bài thơ này. Đã có lúc tự nhủ: nếu mình nằm xuống, mà người thân của mình làm như vậy, cắc chắn mình sẽ vui cười. Chichbong thử tìm nhé. Báo cáo bác baoleo hôm nay em tìm được bài thơ mà bác yêu cầu rồi ạ. Đó là bài "Viếng chồng" của Trần Ninh Hồ. Em xin phép được post bài thơ ấy vào phần thơ trong box Văn học chiến tranh ạ! ;) Quả thật đọc bài thơ này em cũng thấy rất xúc động, và em cũng rất ấn tượng với người vợ trong bài thơ. Tiêu đề: Re: Nửa thế kỷ thơ về người lính Gửi bởi: baoleo trong 10 Tháng Sáu, 2008, 04:49:01 pm ....hôm nay em tìm được bài thơ mà bác yêu cầu rồi ạ. Đó là bài "Viếng chồng" của Trần Ninh Hồ. Em xin phép được post bài thơ ấy vào phần thơ trong box Văn học chiến tranh ạ! ;) Cám ơn chichbong đã tìm lại được bài thơ hay.Quả thật đọc bài thơ này em cũng thấy rất xúc động, và em cũng rất ấn tượng với người vợ trong bài thơ. Những người lính ra đi và sẵn sàng chắn đạn cho đất mẹ, một phần cũng là vì có những người con gái ĐẸP như trong bài thơ trên. Tiêu đề: Re: Nửa thế kỷ thơ về người lính Gửi bởi: dangsauquay trong 16 Tháng Sáu, 2008, 01:27:46 pm Cả nhà ơi, lâu lắm rồi, có lẽ khoảng 10 năm trước, một lần nhậu lai rai trong chiều mưa người bạn của mình đã đọc bài thơ: Điểm danh đồng đội" và giới thiệu sơ sơ là của Phạm Sĩ Sáu. Lâu rồi mình không thể nhớ được câu nào chính xác nhưng bài thơ thật sự ám ảnh mình. Mấy năm qua mình đã đi tìm bài thơ này với tất cả mọi cách có thể nhưng chưa được. Đồng đội nào biết giúp với nhé.
Thank trước Tiêu đề: Re: Nửa thế kỷ thơ về người lính Gửi bởi: motthoang_hn02 trong 25 Tháng Sáu, 2008, 09:26:02 am Em cũng thích món này, cho em tham gia mới nhé ;D
Em thích bài " Quê hương " của Giang Nam trong í có đoạn : Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ: "Ai bảo chăn trâu là khổ ?" Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao Nhớ những ngày trốn học Đuổi bướm cầu ao Mẹ bắt được... Chưa đánh roi nào đã khóc Có cô bé nhà bên Nhìn tôi cười khúc khích... Thỉnh thoảng lại chế tác như nài (các bác đừng giận em mà tội nghiệp ) ;D Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ Ai bảo chăn trâu là khổ? Em chăn anh còn khổ hơn nhiều ******************************************** Nhớ những ngày trốn học Đuổi bướm cầu ao Vợ bắt được... Chưa đánh roi nào đã khóc Có cô bé nhà bên Nhìn tôi cười khúc khích... Chị giận rồi, tối sang ngủ với em ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D Tiêu đề: Re: Nửa thế kỷ thơ về người lính Gửi bởi: LeDuyYenLan trong 21 Tháng Bảy, 2008, 03:32:11 pm Tớ sưu tầm được hai đoạn thơ nói về người lính từ lâu mà không biết tác giả và xuất xứ của nó. Nay xin gửi lên đây nhờ mọi người bổ sung tác giả và xuất xứ của nó với nhé !
" Anh nhảy dù vào trái tim em Và nhả đạn vào hàng rào thứ nhất Trái tim em vốn là tên hèn nhát Đã đầu hàng từ phát súng đầu tiên !" ( Sưu tầm năm 1994 ) " Em ơi rất có thể Anh chết giữa chiến trường Đôi môi tươi đỏ máu Chưa một lần biết hôn !" ( Phim Hồi ức một binh nhì ) Tớ nghĩ, chắc cũng nên có thêm mục " Thơ vui về người lính " cho đủ vị và màu sắc nhỉ ! Tiêu đề: Re: Nửa thế kỷ thơ về người lính Gửi bởi: shmel trong 21 Tháng Bảy, 2008, 04:09:51 pm Tớ sưu tầm được hai đoạn thơ nói về người lính từ lâu mà không biết tác giả và xuất xứ của nó. Nay xin gửi lên đây nhờ mọi người bổ sung tác giả và xuất xứ của nó với nhé ! " Anh nhảy dù vào trái tim em Và nhả đạn vào hàng rào thứ nhất Trái tim em vốn là tên hèn nhát Đã đầu hàng từ phát súng đầu tiên !" ( Sưu tầm năm 1994 ) " Em ơi rất có thể Anh chết giữa chiến trường Đôi môi tươi đỏ máu Chưa một lần biết hôn !" ( Phim Hồi ức một binh nhì ) Tớ nghĩ, chắc cũng nên có thêm mục " Thơ vui về người lính " cho đủ vị và màu sắc nhỉ ! Đoạn sau là trích trong bài Hôn của Phùng Quán. Hôn Trời đã sinh ra em Ðể mà xinh mà đẹp Trời đã sinh ra anh Ðể yêu em tha thiết Khi người ta yêu nhau Hôn nhau trong say đắm Còn anh, anh yêu em Anh phải ra mặt trận Yêu nhau ai không muốn Gần nhau và hôn nhau Nhưng anh, anh không muốn Hôn em trong tủi sầu Em ơi rất có thể Anh chết giữa chiến trường Ðôi môi tươi đạn xé Chưa bao giờ được hôn Nhưng dù chết em ơi Yêu em anh không thể Hôn em bằng đôi môi Của một người nô lệ. Tiêu đề: Re: Nửa thế kỷ thơ về người lính Gửi bởi: shmel trong 21 Tháng Bảy, 2008, 04:10:46 pm Sự tích bài thơ "Hôn" của Phùng Quán
Nhà thơ Phùng Quán để lại nhiều bài thơ hay, được hàng triệu người đọc Việt Nam thuộc nằm lòng như Lời mẹ dặn, Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe, Say… Trong đó Hôn là bài thơ hay được nhắc đến nhiều nhất. Bài thơ Hôn có trong hành trang của bao thế hệ chiến sĩ cách mạng Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Bài thơ được tuyển đi tuyển lại trong hàng chục tuyển tập thơ từ 50 năm nay. Được in trong tuyển tập Panorama de la Littérature Vietnamism do nhà văn hoá Hữu Ngọc dịch. Bài thơ được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc. Khi người ta yêu nhau Hôn nhau trong say đắm Còn anh, anh yêu em Anh phải đi ra trận! Nhưng: Yêu nhau ai không muốn Gần nhau và hôn nhau Nhưng anh, anh không muốn Hôn em trong tủi sầu! Bài thơ được coi như là tuyên ngôn tình yêu của người lính khi Tổ quốc đang bị giày xéo dưới gót giày quân xâm lược: Nhưng dù chết em ơi/ Yêu em anh không thể/ Hôn em với đôi môi/ Của một người nô lệ! Âm hưởng bài thơ giống như khẩu khí thơ của các nhà thơ cộng sản Nadim Hikmet, Pe-tơ-pi. Bài thơ viết năm 1954, khi Phùng Quán 22 tuổi. Đọc bài thơ tôi cứ ngỡ nhà thơ viết tặng một cô gái nào đó mà anh từng yêu thương, nhớ nhung dọc đường ra trận. Nhưng không phải! Sự tích bài thơ bi hùng hơn rất nhiều. Tôi dùng chữ “sự tích” vì đây là một câu chuyện dài, đầy chất anh hùng ca, liên quan đến “Tuổi thơ dữ dội” của Phùng Quán. Mới đây nhà văn Nguyễn Khắc Phê đã cung cấp cho tôi lai cảo một bài viết dài của Phùng Quán viết tại Chòi Ngắm Sóng Hồ Tây năm 1992, có tựa đề: “Bản anh hùng ca bị mối xông và mười bảy bộ hài cốt…”. Tôi đọc và bàng hoàng vì câu chuyện được kể lại vô cùng lẫm liệt về cuộc chiến đấu và sự hy sinh dũng cảm, khí phách của 17 chiến sĩ cảm tử của Trung đoàn Vệ quốc quân Trần Cao Vân giữa lòng thành phố Huế năm 1946. Bài viết cũng nói rõ xuất xứ của bài thơ Hôn. Nhà thơ Phùng Quán viết: “… Cách đây trên ba mươi năm có lẻ, trong những ngày gian khó nhất của đời mình, trong nỗi buồn bã và thất vọng khôn cùng, tôi khởi viết một thiên hùng ca… Thiên hùng ca kể lại một câu chuyện có thật, những người anh hùng có thật, hơn nữa những người anh hùng mà tôi quen biết, và tôi có mối hàm ơn sâu nặng vì một lần họ đã cứu tôi thoát khỏi đạn đại liên giặc ăn thịt trong trận đánh kinh hồn vào vị trí Miễu Đại Càng… Thiên anh hùng ca gồm 10 chương, khoảng nghìn câu thơ, với một Khai từ và một Hậu từ. Từ năm 1958 đến 1988, tôi bị mất quyền in sách nên thiên hùng ca chịu chung số phận với nhiều tác phẩm khác của tôi: Mối xông! Nghìn câu thơ nay không còn nhớ nữa. Nhưng cốt truyện, đoạn khai từ và lác đác dăm câu thơ, đoạn thơ khắc hoạ ý tưởng chính tôi vẫn còn nhớ như in… Thiên hùng ca ấy có tên là Huyệt lửa chôn chung”. Xin gác lại chuyện các chiến sĩ Trung đoàn 101 Trần Cao Vân đã cứu sống và đã phạt roi Phùng Quán như thế nào, để tập trung vào sự tích bài thơ Hôn. Điều cực kỳ thiêng liêng và cảm động là bài thơ Hôn là một đoạn được trích ra từ Thiên hùng ca ấy, viết về tình yêu của người chiến sĩ thật có tên là Phùng Huấn! Tháng 7-1992, nhà văn Nguyễn Đắc Xuân có bài viết Tìm được hài cốt của 17 liệt sĩ hy sinh từ năm 1946 in trên báo Lao động. Bài báo kể lại, ngày 4-6-1992, trong lúc đào móng cải tạo công trình nhà của Uỷ ban Khoa học kỹ thuật tỉnh TT-Huế tại 18 - Hà Nội - Huế, người ta phát hiện ra 17 bộ hài cốt Vệ quốc đoàn. Trong đó có một bộ hài cốt có sợi dây chuyền nhỏ có đeo lủng lẳng một miếng nhôm, rửa sạch miếng nhôm hiện lên dòng chữ khắc: “Phùng Huấn - VQĐ - Thuận Hoá”. “VQĐ” là Vệ Quốc Đoàn. Còn Phùng Huấn là anh con bác của Phùng Bốn (tức ông Nguyễn Vạn, nguyên Bí thư tỉnh uỷ TT-Huế) chú ruột của Phùng Quán. Tức Phùng Quán gọi liệt sĩ Phùng Huấn là bác! Đọc bài báo đó, Phùng Quán bàng hoàng nhớ lại thiên anh hùng ca mình đã viết 30 năm trước… … Nhân vật mà tôi mất nhiều công sức nhất để miêu tả và khắc hoạ tính cách với cả trăm câu thơ, là nhân vật chiến sĩ. Anh tên là Phùng Huấn, xuất thân nông dân, quê ở làng Thanh Thuỷ Thượng. Phùng Huấn yêu một cô gái làng, sắp làm lễ cưới. Mặt trận Huế bùng nổ, anh hoãn ngày cưới, cùng nhiều trai làng xung phong gia nhập Vệ quốc đoàn. Anh được tuyển chọn vào cảm tử quân… Bài thơ Hôn là tôi trích ra từ Thiên hùng ca ấy: Em ơi rất có thể Anh chết giữa chiến trường Đôi môi tươi đạn xé Chưa bao giờ được hôn! Nhưng dù chết em ơi Yêu em anh không thể Hôn em bằng đôi môi Của một người nô lệ! Đó là lời của Phùng Huấn nói với vợ chưa cưới của mình trước giờ xung trận. Phùng Huấn là bác họ của tôi. Trong Thiên hùng ca tôi không nói chi tiết này, chỉ miêu tả mỗi lần chúng tôi đứng cạnh nhau, cả đơn vị ai cũng lầm là hai anh em ruột vì chúng tôi giống nhau như hai cục bùn móc dưới ruộng sâu lên… Trong đội cảm tử quân, Phùng Huấn được phân công vào “Tổ vũ khí nặng”. “Vũ khí nặng” Phùng Huấn phụ trách là một cặp đầu đạn đại bác 75 ly tịt ngòi được công binh xưởng biến báo thành mìn đánh xe tăng… Tổ “vũ khí nặng” là siêu cảm tử, nên mỗi chiến sĩ được Mặt trận phát một chiếc “lập lắc” bằng nhôm cứng, trên mặt khắc tên họ, giây đeo bằng thép không rỉ, để lỡ hy sinh xác người nọ khỏi lẫn xác người kia… Một buổi sáng, Phùng Huấn ngoắc tay gọi tôi: “Bê! Bê!” (tên gọi tôi ngày còn ở nhà) ghé sát tai tôi nói nhỏ: “Tối ni đơn vị tau đi cảm tử vị trí nhà hàng Sap-phăng-giông (Cửa hàng bách hoá số 1, đường Hà Nội, Huế hiện nay). Mặt trận sẽ đãi tụi tau một bữa thịt bò, thịt heo với xôi, ở sân chùa Vạn Phước, để lỡ có chết thì anh em được chết no! Tắt mặt trời mi nhớ chạy xuống mà ăn chực…” Bữa ăn đó, cũng được kể trong bài báo Lao động nói trên, qua lời kể của người vợ chưa cưới của liệt sĩ Phùng Huấn: “Vợ chưa cưới của đồng chí Phùng Huấn, đã 70 tuổi, từ xã Thuỷ Dương (tên mới của làng Thanh Thuỷ Thượng), chống gậy lên thăm hài cốt của người yêu xưa. Bà kể: Chiều đó tôi lên thăm anh ấy, rủ anh đi ăn. Anh ấy nói: “Tối nay đi đánh Pháp, thế nào cũng được ăn một bữa thịt bò, bây giờ ăn ngang bụng”. Anh ấy không đi. Thấy trên tay anh có đeo một cái “lập lắc”, tôi hỏi: “Người ta đeo vòng vàng xuyến bạc, còn anh đeo chi miếng thiếc ni?” Anh nói: “Đơn vị bảo đeo. Đi đánh giặc lỡ có chết người ta biết tên mà nhận xác”. Tôi tưởng anh nói chơi, ai ngờ anh chết thiệt. Từ sau đó gia đình cứ lấy ngày 10 tháng chạp giỗ anh ấy”. Trận “cảm tử” vào nhà hàng Sáp-phăng-giông đêm ấy không kết quả. Toàn đơn vị rút ra căn cứ cả, còn Trung đội cảm tử bị mắc kẹt lại ở trong ngôi nhà hai tầng. Địch bắn như điên, kêu gọi đầu hàng, các anh vẫn chống trả quyết liệt. Giặc phun xăng đốt ngôi nhà. Các chiến sĩ đã xuống tầng trệt, dùng bộc phá nổ tung ngôi nhà, biến ngôi nhà thành ngôi mộ chôn chung của 17 anh em! Ôi, 46 năm sau, cô gái trong bài thơ Hôn của Phùng Quán mới gặp lại hài cốt người yêu của mình! Ngày xưa ở Huế, đối với con gái nhà lành, chuyện hôn nhau vô cùng hệ trọng, nhà trai đi hỏi rồi vẫn chưa dám hôn nhau, chờ khi cưới. Cho nên: Em ơi rất có thể Anh chết giữa chiến trường Đôi môi tươi đạn xé Chưa bao giờ được hôn Hiểu “sự tích” tích bài thơ ta càng muôn lần cám ơn nhà thơ Phùng Quán, anh đã lấy “tuổi thơ dữ dội” của mình làm chất liệu để viết nên những câu thơ tình thế kỷ, đẹp như kinh cầu nguyện! (Theo Kiến Thức Ngày Nay) Tiêu đề: Re: Nửa thế kỷ thơ về người lính Gửi bởi: Galaxy trong 21 Tháng Bảy, 2008, 09:57:51 pm Trời đã sinh ra em Ðể mà xinh mà đẹp Trời đã sinh ra anh Ðể yêu em tha thiết Khi người ta yêu nhau Hôn nhau trong say đắm Còn anh, anh yêu em Anh phải đi ra trận! Yêu nhau ai không muốn Gần nhau và hôn nhau Nhưng anh, anh không muốn Hôn em trong tủi sầu Em ơi rất có thể Anh chết giữa chiến trường Ðôi môi tươi đạn xé Chưa bao giờ được hôn Nhưng dù chết em ơi Yêu em anh không thể Hôn em bằng đôi môi Của một người nô lệ. Cách đây gần 10 năm, khi mới là sinh viên năm thứ nhất, tôi hay ngồi trên thư viện trường học bài. Và tôi được biết đến bài thơ "Hôn" trên ... bức tường của thư viện. Không biết bậc đàn anh nào (nét bút cứng cáp, hơi gà bới chứng tỏ không phải là của một đàn chị) khoá trước đã chép 20 câu thơ này lên tường. Cả học kỳ I, tôi gần như chỉ ngồi 1 chỗ trên thư viện, và tôi thuộc bài thơ này lúc nào cũng không hay. Hồi đó, tôi cũng chưa có người yêu, và hiển nhiên, chưa biết "nụ hôn" là như thế nào ;D ... Trận “cảm tử” vào nhà hàng Sáp-phăng-giông đêm ấy không kết quả. Toàn đơn vị rút ra căn cứ cả, còn Trung đội cảm tử bị mắc kẹt lại ở trong ngôi nhà hai tầng. Địch bắn như điên, kêu gọi đầu hàng, các anh vẫn chống trả quyết liệt. Giặc phun xăng đốt ngôi nhà. Các chiến sĩ đã xuống tầng trệt, dùng bộc phá nổ tung ngôi nhà, biến ngôi nhà thành ngôi mộ chôn chung của 17 anh em! ... Hồi cấp 3, tôi có đọc bài viết của nhà thơ Phùng Quán trên báo ANTG về trận đánh cảm tử trên. Trước tấm gương hi sinh bi tráng của cha anh như vậy, ai mà chẳng xúc động? Rồi theo thời gian, những gì chi tiết nhoà dần đi, chỉ còn những mảnh vụn kí ức. Thỉnh thoảng đọc các bài viết về giai đoạn đầu kháng chiến chống Pháp, tôi vẫn chợt nhớ lại "đôi chút" về trận đánh quyết tử tại Huế. Tôi vẫn nhớ 1 số chi tiết của trận đánh như : "giặc bao vây gọi hàng không được thì tưới xăng chuẩn bị đốt", "trước khi hết thời gian chúng đưa ra, các liệt sĩ đã bắn toàn bộ số đạn còn lại rồi rút xuống hầm, dùng thuốc nổ đánh sập cửa hầm", "khi tìm được hài cốt thì chiếc lập-lắc vẫn còn nguyên", ... Không ngờ bài thơ mà tôi rất thích, được biết đến trong học kỳ đầu của đại học, lại có liên quan đến một trận đánh bi tráng, được biết đến khi học cấp 3. Cảm ơn Shmel. Tiêu đề: Re: Nửa thế kỷ thơ về người lính Gửi bởi: LeDuyYenLan trong 22 Tháng Bảy, 2008, 08:36:26 am ...Em ơi rất có thể
Anh chết giữa chiến trường Ðôi môi tươi đạn xé Chưa bao giờ được hôn... Đoạn thơ này tôi biết đến khi xem bộ phim " Hồi ức một binh nhì " vào năm 199... Từ nhỏ tôi đã ấp ủ ước mơ trở thành bộ đội hay công an. Nhưng ước mơ ấy không bao giờ có thể thành hiện thực ( Vì không đủ chiều cao ! ). Nhưng hình ảnh về những anh bộ đội và những bài thơ tình về tình yêu người lính -không hiểu sao- tôi cứ muốn tìm hiểu mãi. Nhiều người bảo tôi " hâm ". Nhưng tôi " hâm" theo cách của tôi ! Cảm ơn Shmel và các bạn đã giúp tôi hiểu thêm về " sự tích " của đoạn thơ trên. Còn đoạn thơ này, không biết có phải là của một anh "bộ đội nhảy dù" không ? ... Anh nhảy dù vào trái tim em Và nhả đạn vào hàng rào thứ nhất Trái tim em vốn là tên hèn nhát Đã đầu hàng từ phát súng đầu tiên !.. Tiêu đề: Re: Thơ thời chống Pháp. Gửi bởi: altus trong 01 Tháng Ba, 2009, 05:31:00 am Kẻ trước người sau lao vào giặc
Giữ vững ngàn thu một giống nòi Dù cho thịt nát xương phơi Cái còn vĩnh viễn là người Việt Nam! Đêm liên hoan Hoàng Cầm Anh ơi! Đêm nay đầu người nhấp nhô như gợn sóng Đang trào lên sức sống muôn đời Niềm vui bát ngát trăng soi Mảnh trăng úa máu chân trời Việt Nam Đêm Liên Hoan! Trời ơi, đêm Liên Hoan! Đầu người nhấp nhô như sóng bể ngang tàng Ta muốn thét như vỡ toang lồng ngực Vì say sưa tình thân thiết Việt Chính Đoàn -- Anh từ phương nào lại ? -- Tôi từ đất dấy lên Anh có nghe ngọn thủy triều Đông Hải Đang hờn ghen cùng thúc máu triền miên Thúc máu không tên dội tràn bốn nẻo Cỏ không gầy, cây không già, hoa không héo Ngàn năm đất nước vững bền -- Anh từ phương nào lại ? -- Tôi từ đất dấy lên Chúng ta cùng một mẹ hiền Lúa thơm bầu sữa bông mềm áo tơ Chúng ta chung một mối thù Gươm tung uất hận đạn vù đắng cay -- Anh đi từ đâu đến đó ? -- Tôi đi giết giặc đây Đêm nay gặp bạn cùng nhau chén Máu giặc đang nồng ta phải say Đây ruộng đồng Trung Nam Kia núi rừng Việt Bắc Cỏ cây đang căm hờn như vùng lên đuổi giặc Tôi với anh gặp nhau trong ngày hội Liên Hoan Tay bắt tay, mừng trên giải đất Việt Nam -- Gia đình anh ở đâu ? -- Mẹ hiền tôi đã khuất Nhưng trước khi nhắm mắt Mẹ mừng cho đàn con Máu tôi mai sẽ chảy Trôi phăng hết kiếp ngựa trâu Xương tôi, tôi bắt nên cầu Cho đàn con bước lên lầu Tự Do! -- Anh giết bao nhiêu giặc mà mắt anh long lanh ? -- Mời anh lên rừng xanh Hỏi những cành lá biếc Rừng âm u đang tưng bừng mở tiệc Bằng thịt, xương và máu của quân thù -- Trong tiểu đội anh, những ai còn ai mất ? -- Không, không ai còn ai mất Ai cũng chết mà thôi! Kẻ trước người sau lao vào giặc Giữ vững ngàn thu một giống nòi Dù cho thịt nát xương phơi Cái còn vĩnh viễn là người Việt Nam! Đêm Liên Hoan, trời ôi, đêm Liên Hoan! Đầu người nhấp nhô như sóng vỗ ngang tàng Ta muốn thét cho vỡ toang lồng ngực Vì say sưa tình thắm thiết Việt Chính Đoàn Người bạn mến thương ơi! Nắm chặt lấy tay tôi -- Kìa, sao anh lại khóc ? -- Tôi quá mừng anh đó thôi! Lần thứ nhất trên đời Tôi quay cuồng nhảy múa Giặc kia ơi! Không bao giờ còn nữa Ta đếm từng ngày Ta trông từng phút, ta đợi từng giây Lửa hờn nghi ngút chờ người đêm nay Chờ người đến đây Ta băm, ta giết! Giặc kia phải chết Núi đồng phơi thây Anh đi hỏi núi Anh về hỏi cây Anh hỏi biển rộng Anh hỏi sông dài Anh hỏi ngô non Anh hỏi lúa bé Anh đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ Rằng ta là Việt Chính Đoàn Đêm nay say tiệc liên hoan Ngày mai xé xác moi gan quân thù ! Tiệc liên hoan lại tưng bừng hiển hiện Giữa đoàn quân bách chiến Đổ về thủ đô như nước vỡ bờ! Từ mũi Cà Mau cho đến biên giới Lạng Từ nắng sớm Sơn La cho đến mưa chiều Vạn Tượng! Muôn đội đội hùng binh phất phới cờ bay Đoàn quân bách chiến đi suốt đêm ngày -- Mẹ ơi! Con đã về đây! Chị hiền từ tốn đưa tay đón mừng... ...Anh ơi! Anh tỉnh lại Nước mắt tôi rưng rưng Hình như tôi đã mơ màng Phải rồi, anh Việt Chính Đoàn Đêm nay say tiệc Liên Hoan Ngày mai xé xác moi gan quân thù Bao giờ thu lại tới thu Liên Hoan bừng nở bốn mùa Non Sông! (10/1947) Tiêu đề: Re: Thơ thời chống Pháp. Gửi bởi: altus trong 01 Tháng Ba, 2009, 05:35:31 am Bình Yên
Hoàng Cầm Anh ở ngoài mặt trận Sừng sững đồi cao Mắt rọi nền trời đặc khói Máy bay giặc vo vo Đem cái chết khổng lồ Úp xuống đầu anh đang bốc lửa Em ơi đừng sợ Anh thu cái chết tới đây Cho em sống trọn một ngày Trời của em xanh màu bình yên Chiều nay em nhé đừng quên Ra ngõ ngoài hong tóc Trời để em bay lên Với tiếng em chợt khóc Yêu em anh sống như mặt giời Dù xác anh tàn rơi Mặt giời còn chiếu mãi Trong lòng người thứ hai Sẽ yêu em ngày mai. (1950) Tiêu đề: Re: Thơ thời chống Pháp. Gửi bởi: kimlongkhanh trong 16 Tháng Tám, 2009, 02:33:06 pm Thơ HUỲNH VĂN NGHỆ
NHỚ BẮC Ai về Bắc ta đi với Thăm lại non sông giống Lạc Hồng Từ độ mang gươm đi mở cõi Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long. Ai nhớ người chăng ? Ôi Nguyễn Hoàng ! Mà ta con cháu mấy đời hoang Vẫn nghe trong máu buồn xa xứ Non nước Rồng Tiên nặng nhớ thương Vẫn nghe tiếng hát thời quan họ Xen nhịp từng câu vọng cổ buồn Vẫn thương vẫn nhớ mùa vải đỏ Mỗi lần phảng phất hương sầu riêng. Sứ mạng ngàn thu dễ dám quên Chinh Nam say bước quá xa miền Kinh đô nhớ lại xa muôn dặm Muốn trở về quê, mơ cảnh tiên CKĐ 1946 DU KÍCH ĐỒNG NAI ( Kính tặng anh Chín Quỳ- người chỉ huy du kích Đồng Nai - ) Chiến khu Đ có từ thuở ấy Có một anh đồng chí Sau Nam Kỳ khởi nghĩa năm bốn mươi Đưa chi bộ về rừng Đồng Nai Lập chiến khu nuôi chí lớn. Nước ngọt, dân thương, rừng rộng Tiếng súng đêm đêm phá mộng bọn lính, tề Bạn với núi rừng, trái cám, măng le. Đêm lắng nghe gió trời muôn dặm: Thuyền Hít-le chìm đắm Biển Liên Xô sóng đỏ dâng trào Pháp mở cửa Đông Dương quỳ gối Rước Nhật vào Hơn hai triệu đồng bào chết đói ... Chi bộ võ trang mới tròn tiểu đội Cơ sở nhân dân chỉ nội huyệnTân Uyên. Phải chống nguỵ, tề bố ráp ngày đêm Suốt năm năm, hai chính quyền Pháp Nhật. Ngày đói ăn rau, đêm lo thao thức Mỗi năm thêm nấm mộ giữa rừng: Ba Tôn, Bảy Chiếp, Út Liễng, Tư Mừng .... Bỗng một chiều sương Gío thu đang tô vàng lá cám. Động bước chân ai, giật mình rừng thẳm Anh Giỏi về, người thợ xưởng Ba Son. Lá cờ son Tay anh hé mở Lệ du kích Đồng Nai thấm vào vải đỏ Giữa mùa thu mà hoa nở thình lình. Đọc truyền đơn như đọc bức thư tình Từng chữ một đánh vần đến thuộc Chiến khu xanh đêm vui đỏ đuốc Suối mừng reo, tiếng guốc nhịp đều đều. Chợ Tân Uyên bỗng lên giá lụa điều Mua lụa đỏ cũng bị tra, bị đánh. Cờ Việt Minh, ngôi sao năm cánh Như tim vàng ngự giữa lòng son. * * * Cách mạng đến giữa mùa trăng tháng Tám Chiến khu Đ, rừng vắng bỗng tưng bừng. Sợi dây thừng thắt bao đạn quanh lưng Áo rách vai, đầu trần, đi khởi nghĩa. Những tròng mắt bừng bừng ánh lửa Gót chân chai giậm vỡ nhựa đường Cờ đỏ sao vàng Đã ngập trời Nam Bộ: Những đoàn người như thác đổ Tiếng hò reo đất lở nghiêng trời Bọn giặc Nhật rụng rời Quỳ dâng lại Sài Gòn và lục tỉnh * * * Người du kích Đồng Nai gác toà thị sảnh Ngỡ từ nayhết nghe lạnh rừng sâu. Bắc Sơn 1954 Tiêu đề: Re: Thơ thời chống Pháp. Gửi bởi: kimlongkhanh trong 16 Tháng Tám, 2009, 02:36:46 pm Thơ HỒNG CHƯƠNG
Khoảng năm 1937, đồng chí Hồng Chương thoát li gia đình để đi nhận công tác đoàn thể. Bà mẹ nhớ thương trông đợi, đồng chí viết bài thơ “ Con đây rồi” gửi về nhà, nói lên lòng yêu quý mẹ và nỗi băn khoăn giữa nợ nước và tình nhà. Nhưng sau khi cân nhắc, tác giả cả quyết đi theo con đường cách mạng giải phóng dân tộc, vì quyền lợi của gia đình phải gắn liền với quyền lợi của đất nước. Hồng Chương quê ở Quảng Trị. Năm 1937 là cán bộ Đoàn Thanh niên Dân chủ ở Huế. Đã từng bị đế quốc bắt giam ở Huế ( 1939 ) đày đi Ban Mê Thuột ( 1941 ). Công tác ở Tạp chí Học tập của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Đã viết : Máu lửa đồng quê ( thơ ), Ngược đường số chín, Một luồng gió mới, Phương pháp sáng tác trong văn học nghệ thuật. CON ĐÂY RỒI Con biết giờ đây mẹ khổ nhiều ! Trông chờ tin tức đứa con yêu. Mẹ ngồi ngong ngóng trong khung cửa, Nước mắt đầm hoen dải yếm điều. Con biết giờ đây mẹ ốm gầY. Mẹ chờ thất vọng một bàn tay - Khi nằm hấp hối trong giường bệnh Vuốt mắt quầng thâm mây phủ dày. Nhưng mẹ, lòng con đã quyết rồi Ra đi khi nắng tắt bên đồi. Tình nhà nợ nước đem cân nhắc Nặng nhẹ bên nào, hỡi mẹ ôi! Con dấn thấn ra dưới bóng cờ Mẹ đừng lầm tưởng con bơ vơ. Xa bàntay mẹ, bàn tay dịu Sẽ có bao tay mẹ đón chờ. Con đã bao phen gặp giữa đường Trong đời hoạt động chốn tha hương Những bà mẹ quý dang tay rộng Ôm chặt vào lòng xiết mến thương. Như thế nhiều khi giữa cuộc đời Tình cờ mẹ gặp chốn xa xôi Những người say khói đương tranh đấu Ôm lấy con hôn, con đây rồi ! Tiêu đề: Re: Thơ thời chống Pháp. Gửi bởi: kimlongkhanh trong 16 Tháng Tám, 2009, 02:40:25 pm Thơ TRẦN HUY LIỆU
QUA THĂM GỐC ỔI Tôi đến thăm đây một buổi chiều Màu trời đùng đục gió hiu hiu Bờ khe nấm đất lô nhô mọc Phủ tấm màn thâm của núi đèo. Chỗ này nghe nói mấy năm xưa Ổi mọc ngang đầu lá phất phơ Nhường chỗ hôm nay làn ngải cứu Trùm trên mộ chi chữ lu mờ. Điểm lại người nằm dưới đất đen Bốn ba chiến sĩ lạ và quen Đã từng tranh đấu bao oanh liệt Cho đến hơi cùng chịu ngủ yên. Có người xưa vốn bạn thanh niên Ngày tháng trôi đi với sách đèn Một buổi gió triều dồn giục tới Bỏ trường dấn bước hội đua chen. Có người xưa vốn bậc văn nhân Cùng với từ chương trót nợ nần Một buổi máu đào sôi sục sục Ném tung nghiên bút học tòng quân. Có người xưa vốn hạng lưu manh Ngang dọc ngông nghênh chẳng kể mình Một buổi nhận ra đường giác ngộ Theo đòi quần chúng quyết hi sinh. Có người xưa ở đám công nhân Bán sức cho đời chẳng đủ ăn Một buổi lợi quyền xô đẩy tới Chống phường bóc lột bọn sâu dân. Có người xưa ở đám lao nông Địa chủ vua quan ách chập chồng Một buổi rủ nhau đoàn kết lại Phất cờ phản đế với bài phong. Có người xưa ở đám dân trung Khủng hoảng lần đưa tới bước cùng Một buổi gia tư vừa khánh kiệt Nhập theo hàng ngũ của công nông. Có người xưa ở xóm dân nghèo Thuế nặng sưu cao đóng góp nhiều Một buổi khốn cùng không chịu nổi Phá tan xiềng xích vẫn thường đeo. Tất cả những người ở dưới đây Nạn nhân của chế độ đời nay Thịt xương đã gửi cho rừng núi Hận vẫn còn sôi với tháng ngày. Những buổi sương mù phủ kín non Như bao uất khí của oan hồn Những đêm mưa gió ngàn cây rít Như tiếng ai kia vẫn thở dồn. Nhưng này chiến sĩ của ta ơi! Sứ mạng thiêng liêng bạn trọn rồi Trên bước đường xa người nối gót Vầng đông le lói một phương trời. Rồi một ngày kia xã hội thay ... Vườn đời tươi tốt cỏ hoa đầy Nơi này để lại bao thương nhớ Bạn sẽ cười vang dưới khóm cây. ( Nhà tù Sơn La đầu năm 1940 ) Gốc Ổi là bãi tha ma ở sau nhà tù Sơn La, nơi chốn chính trị phạm. Gốc Ổi nguyên là một đám đất hoang. Cỏ nhiều ổi mọc rậm rì. Mỗi khi có tù chết, bọn cai tù tiện việc đem vùi vào vườn ổi, lâu dần đã thành ra bãi tha ma của tù nhân. Năm 1939, Trần Huy Liệu bị đày lên Sơn La, qua thăm gốc Ổi, cảm xúc và làm bài thơ này. Trần Huy Liệu sinh năm 1901, quê ở làng Vân Cát, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Hà. Hoạt động chính trị từ năm 1922. Nhiều lần bị bắt và bị giam ở Côn Đảo, Khám lớn Sài Gòn, Hoả lò Hà Nội, Sơn La, Bá Vân, Nghĩa Lộ. Là Viện trưởng viện Sử học, uỷ viên Ủy ban thưởng vụ Quốc hội. Ông viết báo từ năm 1917, qua nhiều báo chí công khai và bí mật ở trong Nam và ngoài Bắc. Mất năm 1969. Tiêu đề: Re: Nửa thế kỷ thơ về người lính Gửi bởi: kimlongkhanh trong 18 Tháng Tám, 2009, 05:46:05 pm Thơ XUÂN SÁCH
TRÊN ĐƯỜNG CHÚNG TA ĐI Việt Nam trên đường chúng ta đi Nghe gió thổi đồng xanh quê ta đó Nghe sóng biển ầm vang xa tận tới chân trời Nghe ấm lòng những khi đang dồn bước Mà vui sao ta chẳng nói nên lời. Dặm đường xa Ta đi giữa mùa xuân ta đi giữa tình thương của Đảng tiếng Bác Hồ rung động mãi trong tim Đường ta đi ánh lửa soi đêm dài đường ta về trong nắng ấm ban mai Việt Nam, Việt Nam Qua từng bước gian nan lớn lên rồi đẹp những mùa xuân. Ta đi qua phố qua làng Ngọn đèn sáng giục lòng ta đó Lời mẹ nói ấm lành ngọn gió Đàn em vui ríu rít mái trường Ta đi, đường rợp bóng hàng dương Đất bom đào đã lên màu cỏ mới Những cặp mắt đêm đêm trông đợi Chiến trường xa dồn dập những chiến công. Miền Nam, miền Nam Ơi những dòng sông soi bóng dừa xanh những đỉnh núi mây mù xa tắp Ta sẽ đến nơi đâu còn giặc Ta chưa về khi Tổ quốc chưa yên Miền Nam, miền Nam Nghe từng tiếng vang vang ! 1968 CÙNG ANH TIẾN QUÂN TRÊN ĐƯỜNG DÀI Tưởng nhớ Anh hùng quân đội Nguyễn Viết Xuân Qua núi qua sông qua đồng lúa chín Ta nghe xao xuyến tiếng gọi thiết tha Ngọn lửa trong tim những chiều hành quân Sáng lên lời ca nhớ người anh hùng Qua đất trung du xanh màu lá biếc Quê anh yêu dấu tím đỏ đồi sim Chân bước đi xa lòng còn để lại Quê hương anh đấy ngỡ quê hương mình Nguyễn Viết Xuân Lời anh nói thiết tha theo ngọn gió bay xa như khúc ca giục giã thôi thúc trong lòng tôi tiến quân trên đường dài. Đường hành quân qua núi cao vực sâu tôi đi, hờn căm sôi trong máu Nguyễn Viết Xuân Trận địa khắp nơi nơi Anh lại đứng bên tôi “ Nhằm quân thù mà bắn” Đôi mắt như lửa soi đốt thiêu quân thù này. Trận địa đây đất nước của mình đây lời anh vẫn vang lên hùng tráng Kể từ nay Sông hay biển khơi Còn in dấu chân anh đời đời. Tiêu đề: Re: Nửa thế kỷ thơ về người lính Gửi bởi: altus trong 19 Tháng Tám, 2009, 12:23:22 am 1968 Anh hùng quân đội Nguyễn Viết Xuân Chống Pháp bác ơi! Tiêu đề: Re: Thơ thời chống Pháp. Gửi bởi: kimlongkhanh trong 19 Tháng Tám, 2009, 07:06:23 am Vâng, nhưng tác giả lại sáng tác sau năm 1954, tức trong thời kì chống Mĩ thành ra tôi đưa vào tiêu đề ấy.
Tiêu đề: Re: Thơ thời chống Pháp. Gửi bởi: altus trong 19 Tháng Tám, 2009, 07:13:10 am Vâng, nhưng tác giả lại sáng tác sau năm 1954, tức trong thời kì chống Mĩ thành ra tôi đưa vào tiêu đề ấy. Không hiểu ý bác. "Tiêu đề ấy" của bác là tiêu đề nào tôi chưa rõ nhưng mục này dành cho thơ sáng tác vào /có chủ đề về thời kỳ chống Pháp. Tiêu đề: Re: Thơ thời chống Pháp. Gửi bởi: kimlongkhanh trong 19 Tháng Tám, 2009, 07:30:10 am À, tôi thấy phía trên có ai đó ghi tiêu đề là " Re: Nửa thế kỷ thơ về người lính ", nên đưa vào tiêu đề này ( cũng không biết ổn không nữa ). Tôi thích mấy bài thơ của Xuân Sách nên ghi vào vậy thôi mà. Giá có trang " Thơ thời chống Mĩ" thì hay biết mấy nhỉ ? Có những nhân vật và sự kiện xảy ra thời chống Pháp, nhưng người sáng tác lại viết thời chống Mĩ thành ra đưa vào chống Pháp tôi sợ lạc chủ đề. Dù sao tôi cũng cám ơn lời góp ý của bạn.
Tiêu đề: Re: Thơ thời chống Pháp. Gửi bởi: kimlongkhanh trong 19 Tháng Tám, 2009, 03:49:17 pm Thơ Xuân Diệu
BÀ CỤ MÙ LOÀ Nhà tranh, bà cụ mù loà Chiều chiều cõng cháu trông nhà một thân. Con trai hăng hái tòng quân, Dâu hiền tất tả lo chăm việc đồng. Một đời cấy rẽ làm công, Làm bao nhiêu, chỉ đau lòng, thiếu ăn ! Nghèo không sắm nổi cái khăn, Khổ như trái bưởi chìm lăn dập vùi. Goá chồng từ lúc bốn mươi, Chết con ba đứa, sẩy thai một lần. Mắt đau lông cặm mờ dần, Người chăm, thuốc chữa một phần cũng không. Tuổi già nay sáu mươi đông, Mười lăm năm chẳng được trông mặt trời. Thương dâu chạy bữa lần hồi, Sào khoai, con lợn, mù rồi vẫn chăm. Lần mò nhúm lửa, nấu cơm, Tối tăm sờ soạng đêm hôm ngợ ngàng. Mẹ ơi ! Con đến trong làng, Con nhìn mắt mẹ lòng càng xót xa ! Một trăm năm mất nước nhà, Nghìn năm địa chủ làm ta đói nghèo. Mẹ mù vì thuế phải đeo, Vì tô phải trả, lại đèo nợ non. Một đời của mẹ héo hon Có hai con mắt chết mòn cả hai Quanh năm chỉ một đêm dài, Sáng trời không thấy mặt người thân yêu. Lòng bà thương cháu nâng niu Chỉ nghe thấy tiếng sớm chiều mà thôi ! Sáu mươi tuổi, khổ chưa rồi, Đó là tội ác của loài dã man: Quân địa chủ, lũ thực dân ! Chúng bay cướp cả mọi phần sướng vui ! Cướp trâu, cướp ruộng, cướp đồi, Bay còn cướp giật cả đôi mắt người. Trả đây nước mắt, mồ hôi, Ruộng nương, nhà cửa, cuộc đời chúng tao Trước kia bay ở trên cao, Bây giờ sẽ quật bay vào đất đen ! Dân cày ta đã đứng lên, Nụ cười đem lại ở trên môi già. Mẹ dù đau đớn mù loà. Ánh xuân sẽ dọi chan hoà tâm can. 9-1953 ( Trích Tuyển tập Thơ Việt Nam 1945-1960, Nhà Xuất bản Văn học - Hà Nội ) |