Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thảo luận Lịch sử bảo vệ Tổ quốc => Từ thuở mang gươm đi mở cõi... => Tác giả chủ đề:: donghai trong 29 Tháng Sáu, 2009, 05:38:22 am



Tiêu đề: Truyền thuyết Việt Nam - sưu tầm
Gửi bởi: donghai trong 29 Tháng Sáu, 2009, 05:38:22 am
Hai Bà Trưng

 
     Hai Bà Trưng Trắc, Trưng Nhị là hai chị em ruột, con gái vị Lạc tướng ở huyện Mê Linh (nay là vùng Sơn Tây cũ và tỉnh Vĩnh Phú), thuộc dòng dõi Hùng Vương.

     Hai Bà là những phụ nữ tài cao đức trọng và có đảm lược hơn người. Năm 19 tuổi, bà Trưng Trắc kết duyên cùng ông Thi Sách, con trai Lạc tướng huyện Chu Diên (nay là Hà Nam và Nam Hà), cũng là một người bất khuất, có ý chí quật cường.

     Thuở ấy, dân ta sống dưới ách đô hộ của người Hán vô cùng cực khổ.

     Nhà Đông Hán chia nước ta thành quận huyện. Đứng đầu mỗi quận là một viên Thái thú người Hán, còn dưới mỗi huyện phần lớn vẫn để các Lạc tướng người Việt trông coi, theo chính sách "dùng tục cũ mà cai trị".

     Nhưng "dùng tục cũ" cũng chỉ là cái vỏ và chẳng được bao lâu. Bọn cai trị vốn lòng tham không đáy, càng ngày càng vươn dài cánh tay xuống bên dưới bóp hầu bóp cổ dân ta. Nào xuống biển mò ngọc trai, lên rừng săn sừng tê, ngà voi. Rồi tô, thuế. Còn chiếm cả đất lập trang trại. Lại độc chiếm luôn sản xuất và buôn bán muối ...

     Các Lạc tướng cũng bị đối xử tàn tệ. Hạch sách, vòi vĩnh, cấm đoán, xỉ mắng đủ điều.

     Hai gia đình Lạc tướng thông gia với nhau , vốn căm thù sâu sắc bè lũ xâm lược, cùng nhau bàn định rồi chuẩn bị lực lượng, tập hợp dân chúng, rèn đúc vũ khí ... Nhưng sắp đếùn ngày khởi nghĩa thì công việc bại lộ. Thi Sách bị viên Thái thú Tô Định tàn ác, kẻ mới sang thay Tích Quang, giết chết.

     Không hề nao núng, Hai Bà Trưng vẫn tiếp tục sự nghiệp mà Thi Sách đã để lại. Tháng 3 năm 40 (theo dương lịch), Hai Bà phất cờ khởi nghĩa ở Mê Linh.

     Trước đó trên mọi miền đất nước, đã có những cuộc nổi dậy lẻ tẻ. Nay nghe tin hai Bà, vốn là dòng Hùng Vương dấy nghiệp, đều nhất tề đứng lên, Mê Linh đã trở thành nơi tụ nghĩa của đồng bào cả nước.

     Từ Mê Linh, nghĩa quân tiến đánh Luy Lâu (thuộc Thuận Thành, Hà Bắc) là thủ phủ của chính quyền Đông Hán ở Giao Chỉ. Thành Luy Lâu bị hạ, Tô Định phải cắt tóc cạo râu, ăn mặc giả làm con gái, tìm đường lẻn trốn về Nam Hải (thuộc Quảng Tây, Trung Hoa).

     Từ Luy Lâu, nghĩa quân tiến đánh nhiều phủ huyện khác, phối hợp với lực lượng nổi dậy ở các địa phương. Bọn quan lại ở Đông Hán hoảng sợ, có nơi mới chỉ nghe tin nghĩa quân đang đến, đã phải bỏ lại cả của cải, ấn tín, giấy tờ ... để cốt chạy tháo thân về nước.

     "65 huyện thành", nghĩa là toàn bộ nước ta hồi đó đã sạch bóng quân xâm lược. Bà Trưng Trắc được tất cả các tướng sĩ và quân lính suy tôn lên làm vua, đóng đô ở Mê Linh. Bà Trưng Nhị và các tướng lĩnh khác đều được phong tước, chia nhau ra giữ các miền xung yếu. Hai năm liền, mọi người cả nước được miễn tất cả các khoản sưu thuế.

     Đất nước độc lập, nhưng tính về so sánh lực lượng giữa ta và địch thì hãy còn quá chênh lệch. Sau khi thống nhất Trung Hoa, tất cả các chư hầu xung quanh đều phải phục tùng nhà Hán, và đế chế Hán lúc bấy giờ ở vào thời kỳ thịnh đạt nhất của nó.

     Tin Hai Bà Trưng khởi nghĩa và xưng vương đã làm chấn động cả vương triều Hán. Hán Quang Vũ vô cùng tức giận, lập tức hạ lệnh bắt các quận miền Nam (Trung Hoa) lo trưng tập binh mã, sắm sửa thuyền bè khí giới, sửa sang đường sá, tích trữ lương thảo ... để chuẩn bị đánh chiếm lại nước ta.

     Tháng 4 năm 42, vua nhà Hán phong Mã Viện làm "phục ba tướng quân" đem hai vạn quân cùng hai nghìn thuyền xe, vừa thủy vừa bộ, từ Hợp phố (Quảng Đông) tiến thẳng vào vùng Lãng Bạc (Tiên Sơn, Hà Bắc). Mã Viện là viên tướng già có nhiều mưu gian kế hiểm, và thuộc vào loại sừng sỏ nhất của nhà Hán thời đó. Một tay y đã từng đánh dẹp người Khương và đàn áp các cuộc khởi nghĩa trong nước.

     Hai Bà Trưng cùng các tướng lĩnh xuất phát từ Mê Linh xuống Lãng Bạc chống giặc. Tại đây một cuộc chiến đấu ác liệt đã diễn ra. Cuối cùng quân ta yếu thế hơn phải rút lui về Cẩm Khê (Yên Lạc, Vĩnh Phú). Mã Viện đem quân đuổi theo. Tại Cẩm Khê và các vùng lân cận lại diễn ra nhiều cuộc chiến đấu ác liệt nữa, kéo dài gần một năm sau. Hai bên đều bị hao binh tổn tướng. Nhưng quân giặc do đông hơn, lại có nguồn chi viện thường xuyên, còn quân ta lực lượng ít hơn, lại bị chặn các nẻo đường tiếp tế. Cuối cùng, do lực lượng quá chênh lệch, quân ta đã thất bại.

     Khi chạy tới vùng cửa sông Hát, thấy không còn cứu vãn nổi tình thế được nữa, Hai Bà Trưng thà chết chứ nhất định không chịu rơi vào tay giặc, đã cùng nhảy xuống sông tự tử. Đó là ngày mồng 6 tháng 2 Âm lịch, (Dương lịch là tháng 3 năm 43).

     Các tướng lĩnh khác như các bà Lê Chân, Thánh Thiên, Bát Nàn ... ở các mũi chiến đấu khác, khi sức cùng lực kiệt, cũng đều tự vận theo gương Hai Bà.

     Cuộc khởi nghĩa chính đã thất bại, nhưng tại nhiều nơi khác, quân ta vẫn còn tiếp tục chiến dấu. Mãi tới tháng 11 năm 43 Mã Viện vẫn còn phải mở đường qua Tạc Khẩu (Yên Mô, Ninh Bình) để vào quận Cửu Chân (Bắc Trung Phần) đàn áp tướng Đô Dương.

     Hai Bà Trưng là những hậu duệ trực tiếp của các vua Hùng, còn mẹ của Hai Bà, bà Man Thiện, cũng là cháu chắt bên ngoại của vua Hùng. Bà góa chồng sớm nhưng đã nuôi dạy hai con gái thành những trang anh hùng kiệt xuất, mở đầu cho lịch sử chống ngoại xâm vẻ vang của dân tộc. Khi hai con gái và con rể chuẩn bị khởi nghĩa, bà đã không quản đường xa mệt mỏi, đi lại khắp nơi để hẹn ước với nghĩa quân các địa phương. Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng sở dĩ mau chóng thắng lợi là vì các lực lượng trong nước đều nhất tề đứng đậy một lần, làm cho quân giặc trở tay không kịp. Với danh nghĩa là vợ một vị Lạc tướng lẫy lừng, đã đảm đang quán xuyến mọi công việc sau khi chồng chết, nên lời nói của bà được mọi người trong nước tin tưởng và hưởng ứng nhiệt liệt.

     Hiện nay ở làng Nam Nguyễn thuộc Huyện Ba Vì (Hà Tây) còn ngôi mộ của Bà mà mọi người trong vùng vẫn gọi là mả Dạ. "Dạ" là tiếng Việt cổ, để chỉ một bà già được kính trọng.

     Thiên Nam ngữ lục, áng sử ca dân gian cuối thế kỷ thứ 17, đã ghi lại lời Bà Trưng Trắc trên đàn thề trước nghĩa quân ở Mê Linh để chuẩn bị xuất trận như sau: Một xin rửa sạch nước thù Hai xin nối lại nghiệp xưa họ Hùng Ba kẻo oan ức lòng chồng Bốn xin vẹn vẹn sở công lênh này. Đó là tính chất chính nghĩa của cuộc khởi nghĩa, là ý chí nguyện vọng của cả dân tộc lúc bấy giờ.

     Các tướng lĩnh trong cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng có rất nhiều, đặc biệt, phần lớn là các tướng nữ.

     Theo điều tra chưa đầy đủ hiện nay ở nhiều làng thuộc Bắc Phần và Bắc Trung Phần có thờ thần Thành Hoàng nguyên là các tướng lĩnh của Hai Bà Trưng ngày trước như:

     -Bà Lê Chân ở Hải Phòng.

     -Bà Bát Nàn ở Thái Bình.

     -Bà Thánh Thiên, Diệu Tiên, Vĩnh Huy, Liễu Giáp, Ả Tắc, Ả Di ở Hà Bắc.

     -Bà Bảo Chân, Nguyệt Thai, Nguyệt Độ ở Hải Hưng.

     -Vợ chồng Đào Lý, Nàng Tía, Quốc Nương, Khỏa Ba Sơn, Ông Đống, Ông Nà, ở ngoại thành Hà Nội.

     -Chu Thước, Đỗ Năng Tế, Hoàng Đạo, Liên Quang Cai ở Hà Tây.

     -Ba anh em họ Trương ở Quảng Ninh.

     -Năm mẹ con bà Lê Thị Hoan ở Thanh Hóa, v.v ...

     Nhân dân Tày, Nùng ở Việt Bắc đến nay vẫn còn nhớ nhiều truyền thuyết về tổ tiên xưa của họ đã từng tham gia vào cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng.

     Từ bao đời nay, Hai Bà Trưng đã trở thành biểu tượng cho lòng yêu nước, ý chí quật cường bất khuất của toàn dân tộc.

     Ở Hà Nội, Hà Tây, và nhất là ở Vĩnh Phú, đều có lập đền thờ Hai Bà.

     Tên của Hai Bà được đặt cho quận, đường phố, và trường học khắp cả nước ...

                                                                                 Đ.Hải
                                                                         sưu tầm từ Internet


Tiêu đề: Truyền thuyết Thánh Tản Viên
Gửi bởi: donghai trong 29 Tháng Sáu, 2009, 05:44:06 am
Đức thánh Tản Viên
 

Phần 1:
     Trong tâm thức dân gian của người Việt, Tản Viên là một trong bốn vị Thánh bất tử (Tiên Dung Chử Đồng Tử, Gióng, Tản Viên, Liễu Hạnh ). Đây là vị Thánh biểu đạt cho những khả năng to lớn và vĩnh viễn của cộng đồng trong lao động sáng tạo ra nguồn của cải vô tận và trong chiến đấu chống thiên tai (lũ lụt) để bảo vệ cuộc sống chung.

     Tuy nhiên, đã có hai quan niệm và cách giải thích nguồn gốc của vị Thánh này:

     - Các học giả thời phong kiến (các sử gia, các nhà trước tác) cho Tản Viên là "hạo khí anh linh của trời đất sinh ra" (Kiều Phú, trong Lĩnh Nam chích quái), hoặc cho "Tản Viên là một trong 50 người con theo cha xuống biển của Lạc Long Quân, Âu Cơ" (Đúng ra thì phải là chắt khoảng đời thứ 19). chàng "từ biển đi vào, qua cửa Thần phù, ngược sông Hồng đến Long Đỗ (Hà Nội), Trấn Trạch, rồi ngược sông Lô, đến Phúc Lộc giang". Từ đấy, " nhìn thấy núi Tản Viên cao vời, xinh đẹp, lại thêm phía dưới dân chúng thuần phác, thái bình", nên chàng "đã làm một con đường thẳng như kẻ chỉ, từ Bạch Phiên Tân lên thẳng phía nam núi Tản Viên, tới động An Uyên, thì lập diện để nghỉ ngơi" (Trấn Thế Pháp, cũng trong "Lĩnh Nam chích quái", nhưng là một di bản). Các tác giả " Lịch triều hiến chương" (Phan Huy Chú) và "Việt sử thông giám cương mục" ... cũng đều có những quan niệm tương tự.

     - Trong khi đó theo quan niệm của mọi người, được thể hiện qua các bản thần thích thần phả ở các làng trong vùng Truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh (Hà Tây, Hà Nội, Vĩnh Phú) thì Thánh Tản Viên lại là người có thực, xuất thân từ tần lớp nghèo khổ trong dân chúng.

     Chúng tôi nhận thấy, quan niệm này phù hợp với những quan niệm chung đã có về các Thánh bất tử trong tâm thức dân gian, bởi vì chính quan niệm ấy đã tạo nên một hình tượng "Thánh Tản Viên" có tính nhất quán và hoàn chỉnh mà nếu so sánh thì cách quan niệm của các học giả thời phong kiến chỉ là rất phiến diện.

      Dưới đời Hùng Vương thứ mười tám, ở động Lăng Xương bên bờ sông Đà có vợ chồng ông Nguyễn Cao Hạnh, bà Đinh Thị Điên làm nghề đốt than. Đã đứng tuổi rồi mà ông bà vẫn chưa có con, nên đêm ngày mong ước, cầu nguyện có một đứa con trai nối dõi ...

     Một hôm bà vào rừng kiếm củi, đến trưa thấy nóng bức bèn tìm đến một hồ nước nhỏ ở cạnh để tắm. Nào ngờ đang tắm, bà bỗng thấy một con rồng từ trên cao cũng xà xuống đấy. Thế là bà mang thai, nhưng đến 14 tháng sau, mới sinh ra một đứa con trai trên tảng đá Thạch Bàn (Nay thuộc xã La Phù, Vĩnh Phú). Ông bà vô cùng sung sướng, đặt tên là Tuấn, vì thấy nó mặt mũi trông cũng khôi ngô, sáng sủa.

     Khi Nguyễn Tuấn lên 6 tuổi thì ông bố già yếu rồi mất. Còn lại hai mẹ con, bà Đinh Thị Điên thấy cảnh làm ăn cơ cực bèn dắt con sang mé chân núi Ngọc Tản (Ba Vì) nương nhờ trong nhà bà họ Ma.

     Bà họ Ma này vốn là một tù trưởng giàu có. Chồng chết, không có con, nhưng cơ ngơi nhà bà rất lớn, gồm tất cả sông núi, ruộng đất, khe lạch ở vùng Ngọc Tản. Nhà bà lại có rất nhiều gia nhân, đầy tớ và bà cũng là người có saÜn tấm lòng từ bi, đại lượng, nên được mọi người hết sức quý trọng.

     Lúc đầu, hai mẹ con bà Đinh Thị Điên ở trong nhà bà họ Ma làm gia nhân. Vì bà là người hiền lành, chất phác, lại chăm chỉ công việc, nên được bà họ Ma mến mộ và hay trò chuyện. Chú bé Nguyễn Tuấn, vừa khôi ngô lanh lợi, lại vừa lễ phép, siêng năng, nên cũng được bà hết sức quý mến. Dần dà bà họ Ma nhận Nguyễn Tuấn làm con nuôi, và đối xử với chú hệt như con đẻ.

     Khi Nguyễn Tuấn đến tuổi trưởng thành thì bà Đinh Thị Điên già yếu rồi qua đời. Chàng ở hẳn với mẹ nuôi, và chăm nom, phụng dưỡng bà chẳng khác nào mẹ đẻ. Lúc ấy, chàng là một chàng trai sức vóc, lại đảm đang, tài tuấn hơn người, nên được bà họ Ma quý mến, tin tưởng, và giao cho cai quản tất cả công việc, từ trong nhà đến ngoài đồng bãi. Ít lâu sau, bà họ Ma già yếu rồi cũng qua đời. Trong lúc lâm chung, trước mặt đông đủ gia nhân, đầy tớ, bà trối trăng lại: giao tất cả sản nghiệp cho con nuôi là Nguyễn Tuấn cai quản. Sau khi làm ma và chôn cất cho bà mẹ nuôi xong, Nguyễn Tuấn nghiễm nhiên trở thành một vị tù trưởng. Tuy nhiên, địa vị này đã không làm cho bản chất của chàng thay đổi.

     Không như nhiều kẻ nghèo khó sau này, khi được giàu sang thì lập tức quên ngay nguồn gốc xuất xứ, mặt mày vênh vênh váo váo và đối xử tàn nhẫn với đồng loại cứ y như một sự trả thù, trái lại, Nguyễn Tuấn lại là một chàng trai cực kỳ tốt bụng và hay thương người. Trong trang trại, chàng bãi bỏ hẳn chế độ gia nhân, đầy tớ: Từ đây mọi người sẽ cùng ăn cùng làm, còn chàng chỉ là người đứng mũi chịu sào, vừa làm lụng vừa lo toan quán xuyến công việc, mà thôi. Ai siêng năng chăm chỉ được chàng khuyến khích, động viên. Ai khó khăn, cơ nhỡ được chàng chăm sóc, giúp đỡ. Ai chây lười hoặc làm điều gì sai trái thì chàng khuyên nhủ, bảo ban. bản thân chàng là một tấm gương sáng, ai nhìn vào cũng thấy. Do vậy, trong khắp trang trại rộng lớn mà chàng cai quản, mọi người coi nhau như ruột thịt, nhường cơm sẻ áo cho nhau, và tuyệt nhiên không có những chuyện như chây lười, trộm cắp, hoặc chửi bới, gây gổ đánh nhau.

     Đối với những việc hiếu nghĩa, chàng lại càng đặc biệt coi trọng. Mộ phần của cả ba bố mẹ được chàng thường xuyên chăm sóc gọn gàng, sạch sẽ. Ngày tuần ngày tiếp, ngày kỵ ngày giỗ ... chàng đều đến thắp đèn nhang và dâng lễ vật chu đáo. Trước vong linh của người quá cố, bao giờ chàng cũng đều tóc để xõa, chắp hai tay, khấn vái thật là trang trọng, thành kính.

     Vào đầu năm mới, hay sau các kỳ thu hoạch lúa, hoa màu và đi săn về, chàng đều cùng mọi người làm lễ tạ trời đất, thổ thần, thổ địa, và cầu mong cho sự yên ấm thịnh vượng đời đời.

     Lòng thương người của chàng đã làm cho mọi người thật sự cảm phục, kính nể. Còn lòng hiếu nghĩa của chàng thì được mọi người hết sức ca ngợi, noi gương. Tiếng lành đồn xa: những đức tính của chàng được nhiều nơi đến, và đã cảm ứng tới cả đất trời.

     Một lần, vào đầu năm mới, Ngọc Hoàng Thượng Đế đang cùng triều thần ngồi bàn soạn công việc trần gian ở nơi thượng giới. Chợt thấy mùi khói nhang bay lên từ phía núi Tản. Ngài cho gọi hai vị Nam Tàu Bắc Đẩu lại để hỏi han cho rõ sự tình. Khi được tâu bày, Ngài cảm động, phái thần Thái Bạch Kim Tinh xuống núi Tản để dạy cho chàng chủ trại võ nghệ và các phép thuật thần tiên.Thần Thái Bạch y lệnh, ngay ngày hôm đó xuống trần và ở lại trong thời hạn một năm. Nhờ có thầy dạy võ, Nguyễn Tuấn đã trở thành một người chẳng những võ nghệ cao cường, mà các thuật pháp cũng thực cao siêu chưa từng thấy.

     Trước khi bay về trời, thần Thái Bạch còn ban cho chàng một chiếc gậy thần có đầu sinh và đầu tử. Một khi đầu sinh chỉ vào người hay vật đang ốm thì lập tức khỏi bệnh, chỉ vào người hay vật đã chết cũng lập tức sống lại. Còn đầu tử thì ngược với đầu sinh, chẳng những người hay vật đang sống phải chết, mà ngay cả núi non cũng phải lở, thành quách cũng phải đổ.

     Khi đã có thuật pháp và gậy thần trong tay, Nguyễn Tuấn giao nhà cửa, ruộng nương lại cho mọi người, còn mình thì chu du thiên hạ, cứu nhân đôï thế. Bàn chân chàng đặt lên khắp mọi miền quê hương đất nước, chẳng thiếu một nơi nào. Theo địa giới ngày nay, từ Nghệ An, Thanh Hóa trở ra, đến Nam Hà, Hà Tây, rồi Hà Nội, Hà Bắc, Vĩnh Phú ... chỗ nào chàng cũng có mặt . Chàng cứu chữa được rất nhều người, lại bảo ban khuyên nhủ đưọc nhiều kẻ xấu, kẻ ác quay về con đường lương thiện.

     Vốn tính tình hào hiệp, độ lượng, nên đi đến đâu chàng cũng đều có bạn thân hoặc anh em kết nghĩa. Cao Sơn, Quí Minh ở Tam Nông, Vĩnh Phú, Bảo Công ở núi Sài (Quốc Oai, Sơn Tây), Trần Khánh ở An Duyên (Thường Tín, Hà Tây), Bảo Ngà ở Vụ Bản (Nam Hà), Tuấn Cương, Quế Hoa ở Bạch Hạt (Vĩnh Phú) ... sau này đều là những tướng lĩnh tài ba của Nguyễn Tuấn cả. Còn những người được chàng cứu sống và thân nhân của họ thì nguyện saÜn sàng đi theo chàng để làm bộ hạ thân tín, đã kể như rất đông và nơi nào cũng có.

     Một ngày kia, trên đường về nhà, chàng đi ngang qua làng Ma Xá, ven sông Tích (huyện Ba Vì), gặp một đám trẻ chăn trâu đánh chết con rắn nước lớn rồi bỏ đi. Chàng lại gần chợt nghĩ rắn nước chỉ quen mò tép thì làm gì nên tội, nên thương tình, cầm đầu gậy sinh chỉ vào cho rắn sống lại. Chẳng ngờ rắn lại là rắn thần, là con cả của Long Vương đội lốt đi chơi xa, nên trong đêm ấy chàng được một vị sứ giả của Long Vương mặc quần trắng áo trắng, lại đội mũ đi giày cũng trắng, đến trao cho một quyển sách ước, để tạ ơn. Chàng vô cùng vui sướng. Nhân dịp trở về nhà sau mấy năm xa cách, chàng đi thắp hương ba cha mẹ, rồi đến thăm hỏi chữa trị cho mọi người trong trang trại, xong, chàng liền mở sách ước, xin một bữa tiệc thật thịnh soạn để tiếp đãi mọi người. Trong bữa tiệc, ai nấy dều vui vẻ, lại được thưởng thức những thứ của ngon vật lạ xưa kia chưa từng có bao giờ, nên chuyện trò cứ vui như mở hội. Cuối buổi tiệc, chàng dứng dậy, nói với mọi người rằng từ nay chàng sẽ đổi tên là Nguyễn Tùng. "Tùng" là cây tùng, chàng giải thích, là bao giờ cũng ngay thẳng quyết chẳng có sự thiên vị nào. Tùng cũng còn có nghĩa là "tòng", là từ nay làm điều gì cũng đều nhất nhất tuân theo lẽ phải và sự công bằng, bởi vì không lẽ, khi đã có gậy thần và sách ước trong tay, lại có thể tùy tiện muốn làm gì cũng được hay sao?

     Sau bữa tiệc, chàng hỏi han mọi người cách thức làm ăn sinh sống bấy lâu này, rồi mọi người bàn định công việc và giảng giải những cách làm ăn mới mà do đi ra ngoài, chàng đã học được. Từ đấy, chàng ở lại trang trại, cùng làm ăn sinh sống với mọi người. Tuy nhiên, thỉnh thoảng chàng cũng đi thăm thú và cứu chữa cho dân chúng ở các vùng lân cận. Mọi người do được chứng kiến những gì xảy ra từ các năm trước và gần đây, trong bữa tiệc nên đều một mực còn gọi chàng là "Đức Thánh Tản", là "Thánh Tản Viên", hay còn gọi là"Sơn Tinh" nữa. Và cái tên ấy cứ truyền ra xa, đến tận mọi miền đất nước, và còn mãi, cho đến ngày này ...

     Chính vào thời gian Sơn Tinh ở chân núi Ngọc Tản cùng mọi người làm ăn sinh sống ấy, thì ở Kinh đô Phong Châu, tại ngã ba Hạc Trì, công chúa Mỵ Nương, con gái yêu của vua Hùng thứ 18, đang cùng nhà vua và các vị đại thần đứng trên lầu cao tuyển kén phò mã ...

     Vua Hùng thứ 18, hiệu Hùng Duệ Vương, vốn là người thuần phát nhân hậu, nhưng Ngài hiếm hoi chỉ sinh mỗi một cô con gái. Nàng tên là Mỵ Nương, càng lớn lên, nhan sắc lại càng lộng lẫy xinh đẹp.

     Vua Thục nước láng giếng bấy giờ là Thục Phán, vốn nuôi tham vọng thôn tính nước Văn Lang từ lâu, nay thấy Mỵ Nương đã lớn, bèn sai sứ giả đến cầu hôn. Thục Phán tính rằng: nếu lấy được Mỵ Nương thì sau này khi Hùng Duệ Vương già yếu tất sẽ phải nhường ngôi lại cho con rể, và như vậy thật là một công đôi việc!"

     Khi sứ giả đến, Hùng Vương có ý phân vân. Mặc dù biết rõ ý định của Thục Phán nhưng nhà vua vẫn muốn gả Mỵ Nương cho, vì nghĩ rằng Thục Phán vốn cùng gốc gác Lạc Long Quân, Âu Cơ, hơn nữa, gả bán như thế cũng là môn đăng hộ đối: Chẳng gì con gái cũng là hoàng hậu của một nước kia mà!

     Tuy nhiên, đến khi đưa ra để các triều thần tham nghị, thì lại có mấy vị Lạc hầu không đồng tình, cho rằng như thế là mất nước. Một vị đứng lên:

     - Muôn tâu bệ hạ. Xưa kia ta và Thục tuy cùng chung một gốc, nhưng từ mấy đời nay, biên giới cương vực thật đã rõ ràng. Bệ hạ gả công chúa như thế, chẳng khác nào ta dâng nước không cho Thục. Bệ hạ bao nhiêu năm trị vì đất nước, há không cho rằng tất cả thần dân đều là con cái trong nhà cả hay sao? Vả lại nước ta, đất rộng người đông, hẳn chẳng thể thiếu nhân tài? Nay theo thiển ý của hạ thần, bệ hạ nên kén lấy một người trong nước tài cao đức trọng để làm phò mã cho công chúa. Rồi ra, sẽ tuyển mộ binh mã, củng cố lực lượng. Như thế, cương vực lãnh thổ của ta sẽ được lưu truyền, mà dân chúng đời đời cũng chẳng bao giờ quên ơn Bệ hạ ...

     


Tiêu đề: Re: Truyền thuyết Thánh Tản Viên
Gửi bởi: donghai trong 29 Tháng Sáu, 2009, 05:50:05 am
Truyền thuyết đức thánh Tản Viên - Phần 2


     Vua Hùng im lặng lắng nghe, rồi gật đầu tỏ ý tán thưởng, và Ngài quyết dịnh thôi không gả Mỵ Nương cho Thục Phán nữa. Theo lệnh Ngài, mấy ngày sau, nội cung và quân lính phải dựng một lầu cao ở ngã ba Hạc Trì, để công chúa kén chồng. Ngài lại cho sứ giả đi khắp trong nước truyền lệnh rằng: Tất cả trai tráng chưa thành gia thất, hễ ai có tài cán gì, hãy cứ đến Hạc Trì để thi thố.
     
      Thế là, hầu như tất cả anh tài trong nước đều đã có mặt ở Hạc Trì sau đó. Thật lắm người có tài! Tuy nhiên, đã gần hết một tuần mà chưa có ai lọt vào mắt xanh của nhà vua và công chúa cả. Nhưng đến sáng ngày thứ mười, ngay từ buổi sáng sớm, lại bỗng một lúc, có đến hai chàng trai vào xin ứng tuyển. Một chàng xưng tên là Sơn Tinh, quê ở chân núi Ngọc Tản, còn một chàng xưng tên là Thủy Tinh, quê ở miền biển. Nhà vua nhìn cả hai chàng, thấy đều lực lưỡng, khỏe mạnh và mặt mũi cũng đều khôi ngô tuấn tú. Tuy nhiên, chàng Sơn Tinh thì hiền lành, còn chàng Thủy Tinh lại có vẻ dữ tợn. Nhà vua trong bụng ưng chàng Sơn Tinh hơn, nhưng vẫn bảo cả hai chàng sẽ lần lượt trổ tài của mình.
   
       Chàng Sơn Tinh trổ tài trước. Chàng làm lễ bái kiến rồi đi một bài quyền, trông thật đường đường là một võ tướng, một trang phong lưu tuấn kiệt. Xong bài quyền, chàng cầm lấy gậy thần, múa tít, trông bên ngoài chỉ thấy loang loáng như ánh chớp, còn người thì chẳng thấy đâu. Chắc là chàng vừa múa gậy vừa nhẩm sách ước, nên tự nhiên có trái núi hiện ra. Rồi trái núi biến mất, để thay vào đó, lần lượt là đồi đất, rừng cây, khúc sông, cánh đồng ... cho đến cả lâu đài, thành quách. Tất cả vừa thoắt hiện rồi lại thoắt biến, như có phép lạ thần thông vậy ...

     Nhà vua, các đại thần và công chúa đều vui mừng ra mặt. Còn dân chúng đứng xem thì sung sướng nhảy lên reo hò như sấm dậy, khiến cho chàng Thủy Tinh chân tay bồn chồn, và thái độ giận dữ hiện cả ra bên ngoài. Biết ý, nhà vua phẩy tay cho chàng Sơn Tinh lui ra, thế là ngay lập tức, chàng Thủy Tinh nhảy tới.

     Chàng vừa nóng vội vừa tức giận đến nỗi quên cả làm lễ bái kiến, mà cứ thế, tay cầm một dãi lụa trắng, múa đi loang loáng. Tài nghệ của chàng quả thực cũng chẳng kém gì Sơn Tinh: Người ta chỉ thấy một vầng hào quang màu trắng, còn người thì dường như đã biến đi mất tăm. Xong bài múa, chàng Thủy Tinh đứng nguyên, tay phất dãi lụa. Thế là, mây đen ở đâu ùn ùn kéo đến, rồi sấm chớp đùng đùng, và mưa đổ nước xuống như trút. Tất cả mọi người đều bị ướt sũng, và tiếng ta thán nổi lên như ong, thế nhưng chàng Thủy Tinh mặt vẫn lạnh băng, lại còn khái chí cười lên khanh khách, như thể vừa trả xong một món nợ thù.

     Trên lễ đài, nhà vua đứng bật dậy toan nói điều gì. Biết ý, chàng Thủy Tinh lập tức phất mạnh dãi lụa, thế là tự nhiên mưa dứt, bầu trời mặt đất quang đãng như thường.

     Chẳng biết nhà vua nghĩ gì, nhưng có thể đoán được ý của Ngài định gả công chúa cho ai, qua lời nghiêm phán sau đây:

     - Ta xe tài năng của hai chàng, thấy đều xứng đáng là rể ta cả. Thế nhưng, ta chỉ có một con gái nên chẳng biết sẽ gả cho ai là hay hơn bây giơ ø ... Thôi hai chàng hãy trở về nhà chuẩn bị đồ sính lễ, nếu ngày mai ai đến trước, ta sẽ gả công chúa cho. Đồ sính lễ quý thế nào ta chẳng biết, nhưng nhất thiết phải có "voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao". Đấy là cái lệ mà các bậc tiên vương từ ngày trước đã định ra, ta đâu dám trái!
      Nghe thấy thế, cả hai chàng vội hướng lên lễ đài làm lễ cáo biệt, rồi lập tức về nhà chuẩn bị ...

     Chàng Thủy Tinh tuy pháp thuật cao cường, nhưng vốn xuất thân từ miền biển, nên chỉ có thể kiếm được rất nhiều ngọc trai, đồi mồi, rồi đến tổ yến sào và vàng bạc, chứ voi, ngựa, gà thì chàng bị chậm.

     Trong khi đó, chàng Sơn Tinh pháp thuật cao cường cũng chẳng kém, lại ở miền rừng núi và có sách ước, nên chỉ trong đêm ấy, mọi thứ chàng đều chuẩn bị xong. Vàng, bạc, ngọc đá các màu tha hồ. Mật gấu, gan tê rồi chim muông lạ và hoa quả quý có đủ. Mọi người trong trại và bạn bè xung quanh kéo đến chỉ việc đóng các thứ vào rương hòm, rồi cho lên xe và lùa voi, ngựa đi cho đúng hướng mà thôi.

     Mờ sáng hôm sau, đoàn rước dâu của Sơn Tinh đã có mặt tại Kinh đô Phong Châu. Chàng vào làm lễ ra mắt, được vua Hùng đón tiếp nồng hậu và nhận làm con rể. Ngay sáng hôm đó, sau khi tiến hành xong các nghi lễ, chàng Sơn Tinh đưa công chúa Mỵ Nương trở về núi Tản.

     Đoàn rước dâu của Thủy Tinh, từ cửa sông Hồng đi ngược lên, rồi vào sông Đà đến miền Phong Châu. Các rương hòm đựng đồ sính lễ nổi bập bềnh trên mặt nước do bọn ba ba, thuồng luồng vừa đội vừa bơi. Sóng lớn đập vào hai bên bờ, như đang xảy ra bão lớn. Chàng Thủy Tinh định bụng, sau khi lên bờ sẽ đi tìm bắt voi ngựa, gà ...

     Nào ngờ, khi chàng cùng đoàn bọn họ ngược lên vùng núi Tản, đã thấy đoàn rước dâu của Sơn Tinh trở về. Chàng điên tiết thét toáng lên một hồi, làm cho đám thuộc hạ sợ quá lặn sâu xuống nước, các rương hòm vì thế liền bị chìm nghỉm. Vô cùng tức giận, chàng giật phắt dãi lụa vẫn quấn tròn trong túi áo, rồi vung lên, vừa múa vừa phẩy xuống liên hồi, làm cho sấm chớp nổi lên đùng đùng và mưa đổ nước xuống như trút. Nước sông Đà dâng cao, rồi dâng cao mãi. Chẳng mấy chốc, cả một vùng quanh núi Tản , chỉ thấy mênh mông những nước ...
     Chàng Sơn Tinh rước dâu về đến nhà, định dựng rạp mở tiệc ăn mừng thì bỗng đâu cơn mưa ập tới. Rồi mưa mỗi lúc một to và nước dâng lên cao, khiến chàng phải đưa Mỵ Nương và mọi người trèo ngược lên các đỉnh núi. Từ đỉnh núi, chàng thấy cơ man nào là giải, mập, ba ba, thuồng luồng, đang lũ lượt bò lên. Lại nghe thấy cả tiếng của Thủy Tinh vang rền lên như sấm, hò hét bôï hạ xông vào. "À, hóa ra Thủy Tinh đánh đòn ghen định cướp Mỵ Nương đây. Được! Ta sẽ cho chúng biết thế nào là nghĩa lý".

     Chàng liền mở sách ước, đọc đến đâu thì thấy từng dãy đồi núi hiện ra, làm cho mức nước bị chặn ngay lại. Rồi chàng múa gậy thần, nhảy từ đỉnh núi này sang đỉnh núi khác, lại quay đầu gậy chỉ vào đám giải, mập, ba ba, thuồng luồng, làm cho chúng quay ra chết, xác chồng lên xác, rơi trở lại, và trôi lềnh bềnh trên mặt nước sông Đà, do nhiều quá, đã làm một khúc sông bị tắc nghẽn lại.

     Vừa đau đớn, vừa căm giận đến tím ruột, bầm gan, chàng Thủy Tinh vừa liên hồi quát lên những tiếng sấm hối thúc quân lính, vừa hóa phép, dùng lưỡi tầm sét và những luồng chớp nhằm vào Sơn Tinh mà đánh. Nhưng làm sao đánh trúng được Sơn Tinh! Gậy thần của chàng làm cho lưỡi tầm sét của Thủy Tinh bị bật văng ra xa, chỉ thấy vô số cây cối bị đổ, đất đá sụt lở, rơi xuống nước ầm ầm, còn chàng thì vẫn bình an vô sự.
     Quân lính của Thủy Tinh càng xông lên bao nhiêu lại càng bị chết bấy nhiêu. Nước mưa của Thủy Tinh càng làm dâng lên thì càng bị đồi núi của Sơn Tinh chặn lại và đồi núi cứ vươn lên, cao hơn mực nước. Rồi chàng vừa hóa phép, vừa cùng mọi người xây đắp cho đồi núi kết thành một dải, hiên ngang và vững chãi như lũy như thành, bủa vây luồng nước và quân lính của Thủy Tinh, chỉ còn để cho một đường rút lui duy nhất là lui ra biển. Cả một vùng rộng lớn, còn lại đến bây giờ, nào núi Chẹ, núi Đùng, rồi núi Mom, gò Cháy, ... đều là những đồi núi do Sơn Tinh và mọi người xây đắp, để chặn luồng nước của Thủy Tinh!

     Nhưng chàng Thủy Tinh đâu có dễ dàng cam chịu thất bại như vậy. Chàng vừa tung những lưỡi tầm sét cá hiểm, vừa cất giọng ồm ồm tập dợt quân sĩ ở Đầm Đượng (Ba Vì) để củng cố lực lượng. Chàng Sơn Tinh cùng mọi người lập tức tiến đến, dùng chông đá, lưỡi sắt vừa chặn lối, vừa bủa vây. Một trận đánh kinh hàng diễn ra ở đây. Cuối cùng quan của Thủy Tinh thất bại, phải chia ra làm 16 ngã để rút chạy.
     Khi tàn quân chạy về đến xã Minh Quang, chàng Thủy Tinh cho quân lính đào Ngòi Lạt, dẫn nước từ sông Đà vào để đánh úp Sơn Tinh ở phía sau núi Tản. Lập tức Sơn Tinh cho mỗi người một cái lạt, rồi cùng ném xuống đấy. Thế là trong chớp mắt, lạt đã biến thành tre, rồi tre liên kết với nhau thành từng lũy dày đặc, ngăn dòng nước của Thủy Tinh.

     Quân lính sống sót của Thủy Tinh chạy đến xã Tản Lĩnh, ở đó có một hồ nước lớn. Thủy Tinh cho hội quân, gọi là ao Vua. Nhưng ngay sau đó, Sơn Tinh cùng mọi người đã có mặt. Mỗi người cầm một nắm hạt mây rắc xuống xung quanh hồ, và cũng chỉ trong chớp mắt, một rừng mây hiện ra, trùng trùng lớp lớp, vây chặt quân lính của Thủy Tinh vào giữa.

     Những tên lính gan góc, liều lĩnh nhất của Thủy Tinh, mặc dầu sầy vẩy, bầm da, hay toạc đầu, gãy vây, vẫn liều chết chui qua đám gai mây nhọn sắc, vượt ra đến ngoài sông Đà. Khi đến Đầm Gà ở huyện Kỳ Sơn (Hòa Bình), đang trong đêm tối, Thủy Tinh định củng cố lực lượng phản công thêm một lần nữa, nhưng lại nghe thấy tiếng vỗ tay rồi tiếng gà gáy của Sơn Tinh, chàng ta tưởng là trời sáng, nên hoảng sợ, bèn vội vàng cho quan lính giải tán, mỗi tên mỗi ngã, cùng bơi đi thục mạng. Tàn binh cuối cùng của Thủy Tinh xuôi theo sông Đà, ra sông Hồng, tản đi các ngã, hoặc đi mãi ra biển ... và thế là chấm dứt trận đầu giao phong giữa hai chàng Sơn Tinh và Thủy Tinh.

     Mặc dù Thủy Tinh biết rằng yêu thuật và bộ hạ của mình chẳng những không hạ thủ được Sơn Tinh, cướp được Mỵ Nương, mà trái lại, còn phải chuốc lấy thất bại thảm hại. Nhưng chàng ta vẫn nuôi mối ghen tức và lòng thù hận đến mãi muôn đời.
     Năm nào cũng vậy, cứ vào khoảng tháng sáu, tháng bảy và tháng tám âm lịch khi có khi muộn hơn hoặc sớm hơn một tháng, chàng lại nổi cơn thịnh nộ, gào thét vang trời rồi làm mưa làm bão xuống địa bàn mà chàng Sơn Tinh cùng đồng bào của chàng đang sinh sống. Vì vâïy, năm nào cũng như năm nào, các con cháu chút chít, hậu duệ của chàng Sơn Tinh, đều phải cùng nhau tập hợp lại, xây đắp và củng cố những con đê cao ngăn chặn dòng nước lụt mà chàng Thủy Tinh cố tình gây hại. Chẳng có năm nào Sơn Tinh thất bại, cũng như chẳng có năm nàoThủy Tinh thất bại hoàn toàn. Chính vì vậy mà các hậu duệ của chàng Sơn Tinh sinh sôi phát triển đông đàn dài lũ, có rất nhiều cánh đồng phì nhiêu, làm ra những nguồn của cải vô cùng vô tận, để duy trì nòi giống của mình.
     Thế nhưng, cũng có năm, do chểnh mảng không đề phòng kỹ lũ mối cánh, tay sai tận tụy của Thủy Tinh, nên đã có một hoặc vài đoạn đê bị vỡ, để cho nước lũ của Thủy Tinh tràn vào đồng ruộng, gây ra thiêït hại. Tuy nhiên, đấy chỉ là những thất bại nội bộ. Tựu trung, con cái cháu chắt của Sơn Tinh, vẫn đời đời chiến thắng Thủy Tinh.
     Sơn Tinh cùng Mỵ Nương tuy phải hàng năm chống đỡ với Thủy Tinh, nhưng họ vẫn sống yên ổn và hạnh phúc ở núi Tản. Con cái cháu chắt của họ rất đông, tỏa ra các miền xung quanh, và đến sinh sống cả ở nhiều miền xa xôi khác nữa. Người con gái đầu tên gọi La Bình, lúc nhỏ thường được bố cho đi thăm thú các nơi. Đến tuổi trưởng thành, La Bình trở thành một phụ nữ tài giỏi và thông tuệ khác thường. Khi Sơn Tinh, Mỵ Nương về già, được Ngọc Hoàng thượng đế triệu về Thiên đình, trao cho phép trường sinh bất tử, trông nom nhiều công việc giúp Ngài, thì La Bình ở lại, cũng được ban phép trường sinh, trở thành bà Chúa Thượng ngàn, trông nom tất cả 81 cửa rừng của nước Nam ta ...

     


Tiêu đề: Re: Truyền thuyết Thánh Tản Viên
Gửi bởi: donghai trong 29 Tháng Sáu, 2009, 05:52:37 am
Truyền thuyết đức thánh Tản Viên - Phần 3


Nhưng đó là chuyện về sau ...

     Còn lúc bấy giờ, khi vừa chiến thắng xong Thủy Tinh hiệp đầu thì cũng vừa lúc hay tin Thục Phán điểm binh mã sang đánh Văn Lang. Thục phán hiện đang là vị vua trẻ tuổi, dũng mảnh can trường và đầy duệ khí. Nhưng đấy cũng là một người nông nổi, sau này sẽ để mất nước về tay Triệu Đa ø ... Khi quân của Thục Phán rầm rầm tiến đến Phong Châu, vua Hùng phải tức tốc triệu hội Sơn Tinh về Kinh, giao cho cầm quân chống Thục. Mặt khác, nhà vua cũng cho sứ giả đi khắp nước, truyền lệnh tòng quân. Chỉ trong vòng một tuần, số quân lính đã đông tới hàng vạn. Các bè bạn cũ và anh em kết nghĩa của Sơn Tinh cũng có mặt. Sơn Tinh giao cho Cao Sơn, Quí Minh hai người anh em kết nghĩa tài ba nhất, chỉ huy đạo quân tiên phong, còn tự mình đi thống lĩnh trung quân. Các tướng: Bảo Công chỉ huy tả quân, Trần Khánh chỉ huy hữu quân, tỏa ra hai gọng kiềm, còn các tướng khác, vốn là họ hàng con cháu vua Hùng, như Lang Bút, Lang Mao, Lang Lôi ... được giao cài chông, đặt bẫy phục kích quân Thục.

     Khi quân của Thục Phán tiến vào Phong Châu thì thế trận của Sơn Tinh cũng bày đặt xong. Ý định của Sơn Tinh là đánh cho Thục Phán một trận thua nhớ đời, không còn bao giờ dám đem quân tới xâm lấn nữa. Vì vậy, chàng đã không mở sách ước và gậy thần ra, bởi vì nếu không, Thục Phán và quan quân đã bị tiêu diệt hoàn toàn rồi.

     Tuy vậy, trận chiến đấu giữa hai bên vẫn cứ diễn ra vô cùng dữ dội. Lúc đầu, quân Thục chạm trán với đạo quân tiên phong của Cao Sơn , Quí Minh đã bị tổn thất khá lớn. Về sau, khi gặp trung quân của Sơn Tinh thì hoàn toàn bị núng thế, Thục Phán phải vừa đánh vừa rút lui. Sau một hồi, các cánh quân khác của Sơn Tinh cũng đồng thời ập tới bao vây.Thế là quân Thục Phán đại bại, Thục Phán phải mở đường máu mới khỏi bị bắt làm tù binh. Quân Sơn Tinh tiếp tục truy đuổi. Tuy không bắt được Thục Phán nhưng cũng bắt được hai tướng là Hùng Nỗ và Đà Gia, sau khi đuổi vào đến tận làng Hội Thống (thuộc Nghi Xuân Hà Tĩnh ngày nay).
     Cuộc chiến tranh Hùng Thục chấm dứt, Thục Phán phải cầu hòa, từ đấy vĩnh viễn từ bỏ ý đồ xâm lược. Sơn Tinh được vua Hùng hết sức quý mến, rồi nhà vua quyết định nhường ngôi cho chàng, vì cảm thấy mình đã già yếu. Từ chối mãi không được, cuối cùng Sơn Tinh đành phải nhận lời ...
     Sau khi lên ngôi trị vì đất nước, Sơn Tinh hết lòng chăm lo đến đời sống của dân chúng. Tuy nhiên, do bận nhiều công việc triều đình, nên chàng cũng không trực tiếp đến được nhiều nơi. Rồi lại còn phải lo chống những toán giặc nhỏ hay sách nhiễu ở các vùng biên giới, như giặc Hồ Xương, giặc Hồ Tôn, giặc Man và giặc mũi đỏ. Dưới thời chàng trị vì, đất nước luôn được thái bình và như thế, kéo dài suốt ba năm ...
     Vốn bản tính không thích làm vua mà chỉ muốn sống cuộc đời dân giã, nên khi nghe trong đám Lạc hầu LaÏc tướng dòng dõi các vua Hùng, có người dị nghị, cho rằng chàng không phải Hoàng tộc mà cũng được làm vua, thì chàng hoàn toàn tự ái, một mực đòi trả lại ngôi báu cho vua Hùng thứ mười tám.
     Không thuyết phục được Sơn Tinh nên nhà vua lại đành phải vời các triều thần đến để thương nghị. Sau khi bàn soạn kỹ lưỡng, mọi người cho rằng nên nhường ngôi cho Thục Phán là hơn. Thục Phán tuy có ngông ngạo gây chiến, nhưng dù sao cũng là cháu chắt của các vua Hùng và nay cũng đã biết hối lỗi rồi.
     Sau khi nhường ngôi báu cho Thục Phán, Sơn Tinh cùng Mỵ Nương lại trở về vùng núi Ngọc Tản. Vua Hùng thỉnh thoảng cũng về đấy ở với con rể và con gái. Còn Thục Phán sát nhập hai nước Thục và Văn Lang thành nước Âu Lạc, rồi xưng An Dương Vương. An Dương Vương lúc đầu xây dựng cung miếu ở vùng núi Nghĩa Lĩnh (Vĩnh Phú), sau đó một thời gian mới chuyển xuống Loa Thành (Đông Anh, Hà Nội). Để ghi nhớ sự kiện Sơn Tinh nhường ngôi cho mình, và cũng để tỏ lòng biết ơn, An Dương Vương cho lập ở Nghĩa Lĩnh một cột đá thờ rất lớn, rồi tới các ngày tuần tiết, đều tự đến đây thắp đèn hương dâng lễ vật và đọc lời thề nguyện.

     Sau khi nhường ngôi, Sơn Tinh cùng Mỵ Nương trở lại vùng núi Tản, lúc ấy họ còn rất trẻ. Vừa lo xây dựng kinh tế và chăm sóc đời sống của các thành viên trong trang trại, Sơn Tinh vẫn còn nhiều thời gian để đi thăm thú các vùng xung quanh. Đi đến đâu chàng cũng mang những điều hiểu biết của mình, do thu thập được ngay từ hồi trai trẻ chưa lấy vợ, để chỉ bảo cho dân chúng.
     Đến vùng Cẩm Đái (huyện Ba Vì) chàng rất ngạc nhiên thấy mọi người ở đây vẫn còn chưa biết cách lấy lửa, do vậy vẫn đang phải sống trong cảnh tối tăm. Sơn Tinh cho gọi tất cả các cụ già thổ dân lại, rồi bày cho họ cách lấy lửa như thế nào.

     Trước các cặp mắt sững sờ và đầy thán phục của các cụ, chàng làm các động tác thật chuẩn xác và điêu luyện, khiến cho từ đấy mọi người cứ một mực gọi chàng là thần và thưa bẩm thật là cung kính. Sự thực thì những động tác này cũng khá đơn giản và ai học xong cũng đều có thể làm ngay được.
     Trước hết, cần có một đống bùi nhùi khô và hai ống nứa hay hai ống giang già cũng thực khô. Đặt hai ống vào giữa đống bùi nhùi rồi kéo nhanh chúng cọ xát vào nhau vài lần, thế là thành lửa!

     Đến vùng rừng Mãng (nay là xã Sơn Đông, Ba Vì) Sơn Tinh thấy đám đông thợ săn đang chạy theo một con thú. Người ném đá người phóng lao, rồi reo hò vây đuổi mà cũng không bắt được nó. Con thú chạy nhanh quá. Chàng gọi mọi người lại, bày cho họ cách làm hầm đặt chông rồi ngụy trang ở trên hoặc gài bẫy để bắt các loại thú lớn. Đối với thú nhỏ hoặc gà rừng, công phượng ... thì cũng gài bẫy đặt mồi hoặc căng lưới để bủa vây mà bắt khi chúng bị sa lưới.

     Khi qua vùng sông Tích. Thấy cả môït vùng rộng lớn đất đai phì nhiêu (nay là xã Liệp Tuyết, Quốc Oai) mà tịnh không có cây lúa nào, chỉ thấy lau lách mọc đầy. Sơn Tinh cho gọi dân làng lại, bày cho họ cách đắp bờ giữ nước rồi phát hoang cỏ dại. Tiếp đến, chàng lại cho họ một ít hạt giống dao mang theo saÜn bên mình, và bày cho họ cách gieo mạ. Đến khi mạ lên xanh, chàng lại cho họ làm theo mình: nhổ mạ rồi chia ra từng vài dảnh một, cấy xuống các thửa ruộng đã be bờ, vơ cỏ, cày cuốc trước kia.

     Đến mùa thu hoạch, dân làng cho người đi mời chàng đến để dự tiệc mừng. Thấy mọi người chỉ biết ăn uống và chuyện trò, cười đùa không có trò vui nào cả, Sơn Tinh gọi trai gái làng lại, bày cho họ cách múa hát. Trước khi về nhà, chàng lại dặn hàng năm cứ đến sau kỳ thu hoạch thì lại mở hội và múa hát mừng mùa như thế này. Lâu dần rồi thành lệ, bây giờ ở đấy gọi là hội múa Rô.

     Cũng ở vùng sông tích, nơi mà Sơn Tinh vẫn thường hay qua lại, tôm cá có rất nhiều, nhất là vào những tháng lũ lụt, nước sông dâng lên cao. Bấy lâu, dân chúng trong vùng này mới chỉ biết mò cá bằng tay hoặc cùng lắm dùng nom để úp. Sơn Tinh, cho biết cách kiếm cá bằng lưới đan của người vùng biển, nên đã bày lại cho dân ở đây. Trước hết chàng bảo mọi người đi tìm cây gai là loại cây có ỏ mềm và dai về trồng. Đến kỳ cây lớn, chàng bảo họ tước lấy vỏ cây và xé nhỏ ra thành những sợi nhỏ và bền. Đem đan các sợi này vào nhau tạo thành các loại vó và lưới, sẽ đánh bắt được nhiều cá.

     Nhờ các loại lưới và vó ấy của Sơn Tinh mà dân ở vùng sông Tích đánh bắt được rất nhiều cá các loại. Sau này, để tưởng nhớ công ơn của chàng, ở vùng này có tục đánh cá thờ hàng năm để cúng. Tất nhiên, đấy phải là các loại cá quý hiếm và thật lớn, bởi vì lòng thành kính đòi hỏi phải được biểu lộ ra như vậy.
     Công ơn dạy dân biết thêm nhiều nghề mới để sinh sôi phát triển của Sơn Tinh kể ra còn thêm nhiều nữa, mà trên đây là một ví dụ.
     Ở khắp vùng truyền thuyết Sơn Tinh, chỗ nào cũng thấy ghi công đức của chàng, và lưu truyền đến tận ngày nay.
     Lại kể về nàng Mỵ Nương, vợ của chàng Sơn Tinh khả kính, cũng là người đã để lại nhiều công đức với dân chúng và được lưu truyền.
     Ấy là việc nàng dạy cho các bà các cô trong vùng núi Tản quê chồng biết nghề chăn tằm và ươm tơ dệt lụa, để may quần áo. Trước đó, nghề này mới chỉ lưu truyền ở vùng Phong Châu, vốn là Kinh đô của nước Văn Lang cũ. Đây là nghề tuy rất thiết yếu, nhưng chỉ các bà Hoàng hậu, công chúa và cung tần thân tín mới được chỉ dẫn cách thức và các bí quyết hành nghề. Lụa là, do vậy, mới chỉ được dùng trong hoàng tộc và nhà các đại thần (Lạc hầu, Lạc tướng), còn dân chúng và quân lính chỉ mới biết dùng các loại vải bằng xô gai lấy từ vỏ cây mà thôi.

     Mỵ Nương vốn là nàng công chúa của vua cha và hoàng hậu, nên ngay từ bé đã rất thành thạo nghề chăn tằm và ươm tơ dệt lụa. Nàng dạy lại cho các bà các cô ở vùng này biết được ghề đó. Những nương dâu bạt ngàn mọc lên ở ven sông. Nhà nào cũng có người chăn tằm, dệt lụa. Lụa ở vùng này, ngay từ thời đó, đã nổi tiếng khắp cả nước. "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây", hàng năm Mỵ Nương đều cho chọn một vài xúc lụa đẹp nhất, để đưa về Kinh, cung tiến vua cha và hoàng hậu.

     Dân chúng trong vùng vốn chăm chỉ, lại thấm nhuần sâu sắc ý thức ơn nghĩa, nên vẫn duy trì đến mãi sau này hội tiến lụa có từ thời Mỵ Nương vậy. Đám rước diễu hành theo thứ tự: Một người đầu mang nong ké, vừa đi vừa múa hát. Theo sau là những cô gái óng ả mặc toàn đồ tơ lụa, tay cắp rổ lá dâu, cũng vừa đi vừa múa hát. Thứ đến là một chiếc kiệu chất đầy lụa quý, do16 chàng trai lực lưỡng ăn mặc đẹp đẽ, khiêng. Dân chúng theo sau, vừa đi vừa reo hò để hôï tống.

     Sự tích, và nhất là công đức của Sơn Tinh Mỵ Nương đến nay vẫn còn được lưu truyền và in rất đậm trong tâm thức dân gian của người Việt. Cả một vùng truyền thuyết rộng lớn với nhiều nghi lẽ hội hè đã nhắc lại quá khứ vinh quang của hai ông bà. Ngoài danh vị " Thánh bất tử", hai ông bà còn được tôn xưng là "Đệ nhất danh sư" trong "Bách nghệ tổ sư" của nước Nam ta.

     Cao Biền là viên quan cai trị gian ngoa xảo quyệt, biết thiên văn địa lý lại tinh thông tướng số. Khi vua Đường sai sang dẹp quân Nam chiếu rồi ở lại làm Tiết độ sứ (866 - 874), y đã từng đi khắp nơi trong nước ta, thấy chỗ nào "địa linh" là tìm cách yểm bùa để diệt "nhan kiệt". Pháp thuật của y là bắt một người con gái mười bảy tuổi chưa chồng, đem mổ bụng vứt ruột đi, rồi lấy cỏ bấc nhồi vào, đoạn, mặc quần áo cho tử thi, đặt ngồi trên ngai. Y đem các thứ đó đến huyệt định yểm, rồi tế bằng trâu bò và đọc thần chú. Hễ khi thấy tử thi động đậy, tức là thần linh ở đấy đã nhập vào tử thi, là y dùng kiếm chém đầu để diệt, tức là đã trừ yểm xong.

     Khi đến chân núi Tản Viên, y cũng làm như thế, vì biết ở đây có vị thánh bất tử linh thiêng vào bậc nhất của nước Nam. Nhưng khi tế lễ, đọc thần chú, bắt quyết ... Biền thấy tử thi cứ trơ trơ ra chẳng cử động gì.

     Đấy chính lúc Thanh Tản Viên cưỡi ngựa trắng ngồi trên mây bay ngang qua, nhìn thấy. Để tỏ ý khinh bỉ trò khôi hài của Biền, Ngài bèn nhổ xuống một bãi nước bọt, rồi bỏ đi, không thèm nói năng.

     Cao Biền thấy vậy cả sợ, bèn dẹp ngay trò quỷ thuật lại, rồi than rằng: "Linh khí phương Nam không thể lường được. Vượng khí ở đây không bao giờ dứt. Ta phải về thôi". Về sau, quả nhiên Cao Biền được lệnh phải triệu hồi về nước, rồi chết sau đó mấy tháng.

                                                                                           Đ.Hải
                                                                                 sưu tầm từ Internet


Tiêu đề: Truyền thuyết Việt Nam - sưu tầm
Gửi bởi: donghai trong 29 Tháng Sáu, 2009, 07:02:31 pm
An Dương Vương (Ngọc Trai, Giếng Nước)

 
      Thục Phán, sau khi Hùng Vương thứ 18 trị vì đất nước, tiếp tục xưng vương, đặt tước hiệu là An Dương.

     An Dương Vương có người con gái tên gọi Mỵ Châu, thực là một trang giai nhân tuyệt sắc. Nàng được vua cha rất mực nâng niu, chiều chuộng, và lúc bấy giờ cũng đã bước vào tuổi lấy chồng.

     Là vị vua hết sức chăm lo đến việc triều chính, nên sau khi mở mang bờ cõi, An Dương Vương đã nghỉ ngay đến việc củng cố và phòng thủ quốc gia, mà trước hết phải xây dựng một Kinh đô mới, để làm kế bền vững lâu dài.

     Thấy Phong Châu không thích hợp nữa, An Dương Vương tìm đến miền Cổ Loa (thuộc Đông Anh, Hà Nội ngày nay) để chọn đất xây dựng Kinh đô . Khi chọn xong, Ngài truyền lệnh đi khắp cả nước, triệu tập đinh tráng, thay phiên nhau về Cổ Loa đắp lũy xây thành.

     Thời ấy, vì không hiểu kết cấu nền móng, lại chưa biết sản xuất gạch nung và sử dụng vôi vữa, nên thành xây đến đâu bị đổ đến ấy, vì lượng đất quá lớn đã đè xuống nền đất mềm phía dưới.

     Cả triều đình họp lại, nhưng chẳng ai tìm ra được kế sách gì. Nhà vua sai lập đàng tràng, rồi tự mình trai giới đủ mười ngày, sau đó bày biện lễ vật cầu cúng.

     Nghi lễ thật trọng thể. Lễ vật thật chu đáo.Có đủ thịt tam sinh đến sôi chè, hoa quả và các thứ cao lương mỹ vị. Rượu bày ra lũ lượt hàng vò. Đèn nến thắp sáng trưng. Khói hương trầm nghi ngút.

     Nhà vua mặc đại lễ phục, tóc để xõa, chắp hai tay, nghiêm trang đứng trước đàn tràng, đọc lời cầu khẩn.

     Đêm hôm ấy, An Dương Vương nằm mộng, thấy một cụ già râu tóc bạc phơ, đi từ phía biển lên, báo cho biết: Sáng mai sẽ có thần Kim Quy là sứ giả của thần Thanh Giang đến giúp.

     Sáng hôm sau, theo lệnh nhà vua, tất cả văn võ bá quan cùng thị vệ đứng trực ở ngoài cổng thành. Đúng đầu giờ Thìn, từ phía biển, một rùa vàng rất lớn hiện ra, rồi vươn cao đầu, tiến vào. Bốn thị vệ vội vàng quỳ xuống, đặt chiếc mâm bằng đồng cực lớn cho rùa trèo lên, rồi khiêng vào trong trướng phủ.

     Nhà vua ra tận ngoài thềm để đón thần Kim Quy (rùa vàng) và thi lễ rất mực cung kính. Sau khi chủ khách tề tựu trong phòng, thần lên tiếng trước:

     - Thành sở dĩ không xây cao được là do có nhiều loài yêu quái đến quấy phá. Ở dưới thủy cung, thấy dân chúng và quân lính mệt nhọc, lại có lời thỉnh cầu của nhà vua, nên Đức Thanh Giang đã phái tôi đến đây để trị giúp Ngài. Tôi sẽ vì quân dân Âu Lạc mà ra tay tiểu trừ bằng hết lũ yêu quái này. Yêu quái diệt xong, chẳng mấy chốc nhà vua sẽ có thành trì thật như ý.

     An Dương Vương vô cùng mừng rỡ, sai đặt tiệc chiêu đãi thần thật đặc biệt, rồi đích thân dẫn thần đến ở trong một cung thật kín đáo đã được trang hoàng lộng lẫy. Trước khi chia tay, thần hẹn nhà vua sau ba ngày nữa sẽ quay lại.

     Trong ba ngày, thần Kim Quy đã làm ra không biết cơ man nào là bùa pháp! Chúng được xếp làm ba đống lớn xung quanh chỗ thần nằm. Đống thứ nhất, nhỏ nhất, xếp ở bên ngoài, được nhuộm màu đỏ. Đống thứ hai, ở giữa, nhiều gấp bốn lần, được nhuộm màu xanh. Đống thứ ba, ở trong cùng, lại nhiều gấp mươi lần của đống thứ nhất, được nhuộm màu vàng.

     Từ trước đến nay, có lẽ chưa ai khám phá ra được điều bí mật nằm ở bên trong mỗi đạo bùa pháp ấy! Tuy nhiên, nhìn bên ngoài có thể thấy chúng là hình vặn thừng, như những bùa pháp mà các thầy phù thủy, thầy cúng vẫn làm ngày nay. Chứa đựng bên trong bùa pháp có lẽ là chút vảy, chút móng hay một chút gì đó trong cỏ thể của thần, nhưng đó chỉ là những điều phỏng đoán. Chỉ biết trong ba ngày mà thần làm được nhiều bùa như vậy thì quả là một kỳ tích!

     Đúng sáng thứ tư, An Dương Vương đến trước cung thất. Thần Kim Quy thong thả "bước" ra. Thần dẫn nhà vua ra khỏi trướng phủ, đến khu thành trì xây dựng cũ. Thần lắc đầu, rồi ra hiệu cho nhà vua theo mình. Thần lại bảo nhà vua mang theo năm mươi lính hộ vệ, mỗi người ôm một bó cọc tre gồm năm mươi chiếc, đi theo. Hễ thần Kim Quy đi tới đâu là An Dương Vương và lính hộ vệ lại đi tới đó và được đánh dấu bằng những chiếc cọc.

     Hết ngày thứ nhất, thần và nhà vua trở về trướng phủ. Thần bảo nhà vua chuẩn bị một vạn cọc tre để đóng xuống bốn xung quanh những cọc đã đánh dấu. Mỗi cọc tre sẽ là một gốc tre già, thẳng và lớn, dài đúng năm thước (bằng 2m bây giờ), ở đầu dưới có vạc nhọc. Trước khi đóng xuống đất, bùa phép mầu đỏ sẽ được "yểm" vào trong đốt cuối cùng, ở chỗ có vạc nhọn.

     Từ ngày thứ hai trở đi, giai đoạn " thi công" lần nhất bắt đầu. Hàng vạn tráng đinh và binh lính đi làm cọc tre, rồi gánh đất đá đổ lên những phần đất đã đóng cọc. Chỏ ba ngày sau, mộ bức tường đất hình vòng tròn hiện ra.

     Giai đoạn "thi công" lần thứ hai liền được tiếp tục. Bốn vạn tráng đinh và binh lính được huy động làm bốn vạn cọc tre, ở phần vạn nhọn sẽ "yểm" bùa pháp màu xanh vào. Trong ba ngày này, thần Kim Quy lại dẫn An Dương Vương và hai trăm lính hộ vệ, mỗi người ôm một bó cọc năm mươi chiếc, đi theo. Hễ thần "đi" đến đâu, là nhà vua và quân lính lại đi tới đó, rồi cọc nhọn đánh dấu. Cọc tre đã "yểm" bùa màu xanh liền được đóng tiếp vào bốn xung quanh, rồi theo đó, đất đá lại được gánh, đổ xuống và nện chặt. Bảy ngày nữa, lại một tường hình tròn, ở bên ngoài và ôm lấy bức tường lần trước hiện ra.

     An Dương Vương cho tráng đinh và binh lính nghỉ ngơi ba ngày đề lấy sức, chuẩn bị bước vào giai đoạn "thi công" lần cuối. Cũng trong ba ngày đó, đinh tráng và cả dân cúng nữa, lại được huy động thêm, vì lần này số nhân lực sẽ phải cần đến rát nhiều.

     Đến ngày thứ tư, tức là ngày thứ mười sáu, kể từ khi bắt đầu "thi công", mười vạn tráng đinh, binh lính và dân chúng đã có mặt, mỗi ngưòi làm một cọc tre có "yểm" bùa màu vàng. Trong lúc mọi người làm cọc thì thần Kim Quy lại dẫn An Dương Vương cùng năm trăm lính hộ vệ vẫn mang theo mỗi người năm mươi cọc nhỏ, đánh dấu. Mỗi khi cọc nhỏ đóng xong, thì cọc lớn có có "yểm" bùa, liềm được đóng vào bốn xung quanh, và đất đá cũng được đỗ xuống, nện chặt.

     Lần này, vì số lượng nhiều gấp hai lần rưỡi lần thứ hai, nên thời gian "thi công" phải mất nhiều hơn. Nhưng cũng chỉ mười bốn ngày sau, búc tường đất thứ ba cũng hoàn thành, ở bên ngoài và bao quanh bức tường lần trước.

     Thế là thành đã được xây xong, vì lũ yêu quái đã bị bùa pháp và cọc nhọn tiêu diệt rồi.! Tính ra, chỉ trong vòng chưa đầy một tháng mà đã xây dựng được ba bức tường coa chu vi lớn như thế (có dấu vết còn lại đến ngày nay) thì quả là một lỳ tích ở vào thời bấy giờ. Qua sự kiện này cũng còn có thể thấy thêm: quân dân ta trong thời kỳ nước Âu Lạc, khi cần thì có thể tập trung được một lực lượng hùng hậu như thế nào.

     Thành lúc ấy chưa có tên gọi, vì vùng đất Cổ Loa cũng chưa có tên, nhưng do có ba lớp tường đất, mà lớp bên trong, theo thứ tự, lại có hơn lớp bên ngoài, nên từ xa nhìn vào, thành giống hình một vỏ ốc khổng lồ. Tên "thành Ốc" do vậy mà có. Các nhà chép sử đời sau gọi và viết là "Loa thành" cho sang trọng hơn, nhưng thực ra chỉ là phiên âm từ từ Việt sang từ gốc Hán. Về sau này, khi vùng đất Cổ Loa có tên gọi, thì thành cũng được mang tên là thành Cổ Loa.

     Khi xây thành xong, An Dương Vương vô cùng sung sướng, cho binh lính và dân chúng ăn mừng suốt ba ngày liền. Lại khoản đãi thần Kim Quy rất hậu tình và chu đáo. Thế nhưng cũng đã đến lúc phải chia tay. Nhà vua đặt tiệc thật lớn để tiễn thần, có đông đủ văn võ bá quan cùng tham dự.

     Trong hai tiệc hệ trọng mà từ trước đến nay An Dương Vương vẫn thường bận tâm lo lắng, là xây thành và có vũ khí thật lợi hại, thì một việc đã xong, nhưng còn việc kia, liệu có thể nhờ cậy thêm ở thần được chăng? Vì vậy, trước lúc chia tay, nhà vua đã nói với thần:

     - Thật muôn đội ơn thần, nếu không có thần cất công khó nhọc thì dân cúng Âu Lạc này biết đến bao giờ mới có thể xây xong thành được. Tuy thế, nhưng chẳng dám dấu thần, nếu vạn nhất sau này có xảy ra giao chiến, quân giặc bủa vây đông đúc, tên nỏ trong thành bắn ra không xuể, thì liệu có cách nào, xin thần cũng dạy bảo cho quân dân Âu Lạc được nhờ.

     Thần Kim Quy mỉm cười: Điều An Dương Vương lo lắng thần cũng đã biết từ lâu. Thần cúi xuống tước một chiếc móng vuốt ở mé bàn chân phải, đưa cho nhà vua bảo:

     - Nhà vua khỏi phải nói, ta cũng đã hiểu. Nay ta tặng nhà vua vật này để dùng làm lẫy nỏ. Chỉ cần đem nỏ có lẫy này bắn ra vài phát là phá tan được quân giặc. Tuy thế cũng không thể chủ quan, lơ là việc canh phòng vàcủng cố lực lượng.

     An Dương Vương cung kính cúi đầu, rồi chấp hai tay lại vái thần, cử chỉ có phần còn rất lưu luyến. Thấy vậy, thần Kim Quy lại bảo:

     - Thôi, ta còn nhiều việc khác phải lo. Nhà vua hãy ở lại trong coi việc nước, cốt sao cho được trên thuận dưới hòa. Nếu mai sau, rủi có xảy ra chuyện gì chẳng lành, thì cứ gọi ba lần "Sứ giả Thanh Giang" là ta sẽ đến giúp.

     An Dương Vương và cả triều thần lại cung kính chắp tay, cúi đầu từ biệt. Thần Kim Quy thong thả quay trở ra phía biển.

     Nhà vua đưa chiếc vuốt đang cầm trên tay cho Cao Lỗ, viên Đại tướng phó tổng chỉ huy quân đội, bảo đi làm nỏ, tra lẫy đúng như lời thần đã dặn.

     Khi nỏ làm xong, đem ra bẳn thử, mỗi phát có đến hàng ngàn mũi tên vun vút bay đi. An Dương Vương vô cùng thích chí reo lên:

     - Thế là từ nay trở đi, ta chẳng có điều gì phải lo lắng nữa.

     Hồi ấy ở phương Bắc đang là cuối thời nhà Tần. Sau khi Tần Thủy Hoàng mất, Tần Nhị Đế lên thay, tình hình trong nước rối ren. Một viên tướng tài ba mưu lược đang trấn giữ phần đất phía Nam, tên gọi Triệu Đà, nhân cơ hội xưng Đế và lập ra nước NamViệt, vị trí ở phía Bắc nước Âu Lạc. Để chuẩn bị lực lượng đương đầu với "Trung nguyên" nếu cần, Triệu Đà mở mang bờ cõi xuống phía Nam, bằng việc bất ngờ cất quân sang đánh Âu Lạc.

     Quân Triệu Đà ùn ùn kéo đến, vây kín xung quanh mấy lớp Loa Thành.

     Sắp saÜn nỏ thần ở giữa cửa chính, chờ khi quân địch kéo vào vừa tầm, An Dương Vương hạ lệnh cho Cao Lỗ giương tên bắn. Hàng ngàn mũi tên vun vút lao ra, quân giặc chết như ngã rạ.

     Ở phía sau, Triệu Đà cung kiếm hò hét, đốc thúc lính liều chết xông vào, hết lớp này đếân lớp khác. Nhưng từ phíaLoa Thành, từng loạt tên lại nối tiếp bay ra, khiến cho quân giặc xác chồng lên xác, không thể tiến thêm một bước.

     Triệu Đà vô cùng tức tối, nhưng thấy tình thế không thể làm gì được, bèn hạ lệnh cho các tướng rút binh.

     Về nước, Triệu Đà xuống lệnh an dân, rồi lập tức cho quân cơ mật giả làm thường dân, sang dò la tin tức bên Âu Lạc. Hai tháng sau, bọn lính này đã về báo cho Triệu Đà đầy đủ các tin tức.

     Triệu Đà tính rằng, bên phía Âu Lạc có Loa Thành kiên cố, quân lính canh phòng nghiêm mật, lại có thứ vũ khí lợi hại là nỏ thần, thì trước mằt y không thể làm gì được. Vậy thì sẽ dùng kế, mà kế hay nhất lúc này chỉ là có thể giả vờ cầu hòa. Bởi thế, kh nghe tên lính bẩm báo tới việc An Dương Vương có con gái đến tuổi lấy chồng, và tục lệ của Âu LaÏc, con trai phải ở rể bên nhà vợ trong vòng ba năm đầu, thì y vô cùng mừng rỡ, nét mặt hớn hở, miệng luôn lẩm bẩm " Thời cơ đến rồi! Thời cơ đã đến với ta rồi!"

     Triệu Đà cũng có một người con trai đã lớn, tên gọi Trọng Thủy. Chẳng cần suy nghĩ lâu la, y đã định ngay ra mưu kế. Ấy là việc y sẽ cho Trọng Thủy sang Âu LaÏc xin giảng hòa và cầu hôn, ở lại Trọng Thủy sẽ tìm hiểu những việc quân cơ rồi tìm cách triệt phá nỏ thần, sau đó, y sẽ cất sang đánh.

     Đã thừa hiểu kế sách này chẳng mới mẻ gì, và cũng chẳng dễ dàng lừa được triều đình Âu Lạc. Tuy thế, suy đi tính lại, y thấy chẳng có cách nào hay hơn.

     "Điểm mấu chốt của kế sách này phải chiếm được lòng tin của đối phương, bởi vậy, những người thực hiện phải thật mềm mỏng, khéo léo, lại phải thật kín đáo, kiên trì nhẫn nhục.

     Thời đấy, thời Đông Chu Liệt Quốc vừa qua, chẳng đã có chuyện Phù Sai, Câu Tiễn đó sao? Dùng khổ nhục kế đến như Câu Tiễn, thì ai gặp cũng phải mủi lòng rồi bị mắc lừa, chứ chẳng cứ gì Phù Sai."

     Nghĩ vâïy, Triệu Đà sai chuẩn bị lễ vật thật hậu hĩnh, lại chọn một viên quan văn khôn ngoan, lọc lõi nhất làm sứ giả. Đoạn y cho gọi viên quan này cùng Trọng Thủy đến để bàn soạn, giao nhiêïm vụ. Xong xuôi, chính tay Triệu Đà viết biểu cầu hòa, lời lẽ thật khiêm nhường, một mực xin lỗi về việc đã xảy ra can qua, rồi cuối cùng, xin An Dương Vương đại xá, cho Trọng Thủy ở lại làm giai tế để được đêm ngày hầu hạ dưới gối, ngõ hầu từ nay hai nước hòa hiếu đời đời ...

     Để thật chắc chắn, trước hôm sứ giả và Trọng Thủy lên đường sang Âu Lạc, Triệu Đà còn cho gọi hai người lại, dặn đi dặn lại từng ly từng tí mới thôi.

     Nói cho đúng, Trọng Thủy không phải là kẻ có đủ nhẫn tâm để thi hành quỷ kế này, như ở phần kết cục sẽ rõ. Tuy vậy, dẫu là cha con, nhưng còn là đạo quân thần, nên mặc dù trong bụng không muốn, Trọng Thủy vẫn phải lên đường.

     Khi lính canh vào báo có sứ giả của Nam Việt muốn vào ra mắt, thì An Dương Vương và các đại thần còn trên bàn tiệc. Từ ngày đánh quân Triệu Đà tan tác đến nay, nhà vua cho rằng không có kẻ địch nào dám đụng tới Âu Lạc, nên thỉnh thoảng lại bày ra tiệc tùng hoặc đi săn, để vui chơi cho thỏa thích. Nay nghe nói sứ giả Nam Việt đến, nhà vua cho la chuyện chẳng đáng bận tâm, nhưng Đại tướng Cao Lỗ đã đứng dậy nói:

     - Tâu Bệ hạ. Thần nghe nói Triệu Đà là kẻ túc mưu đa trí, y phái người đến chắc là đã có quỷ kế. Xin Bệ hạ cho đuổi sứ giả đi để tránh hậu họa.

     An Dương Vương cả cười bảo Cao Lỗ ngồi xuống, rồi đáp:

     - Ừ, cứ cho là Triệu Đà đã có quỷ kế, nhưng sức hắn thì làm gì được ta? Nếu ta đuỏi sứ giả, e sẽ bị hắn chê là hẹp lượng. Thôi cứ để cho chúng vào, xem ăn nói thế nào. Vả lại, ta cũng muốn cho chúng thấy thế nào là oai phong của triều đình Âu Lạc, để chúng còn về mà bảo nhau đừng đến nhòm ngó nữa.

     Nói đoạn, An Dương Vương sai thiết triều. Sứ giả Nam Việt và Trọng Thủy được dẫn vào, dâng lên tờ biểu do chính tay Triệu Đà viết. Lại đang lên rất nhiều lễ vật của phương Bắc. Cử chỉ của hắn thật nhũn nhặn, cung kính. Lời lẽ của hắn thật ngọt ngào lễ phép.

     Sau khi đọc xong tờ biểu, An Dương Vương ngắm nhìn Trọng Thủy: Một chàng trai khôi ngô, nho nhã, cử chỉ nói năng lễ độ. Lại là con trai trưởng của Triệu Đà. Nhà vua gật đầu tỏ ý hài lòng rồi cho lính hầu dẫn hai người về phòng riêng tạm nghỉ.

     Nhà vua hỏi ý kiến các triều thần. Lần này lại Cao Lỗ đứng dậy nói trước:

     - Tâu Bệ hạ. Theo ý thần, đây là kế lừa gạt của Triệu Đà. Ta nên đuổi chúng về và không nhận lễ vật.

     Các triều thần khác cũng lần lượt đứng lên. Tựu trung ý kiến chia làm hai phía: nhận và không nhận.

     


Tiêu đề: Re: Truyền thuyết An Dương Vương (Ngọc trai, giếng nước)
Gửi bởi: donghai trong 29 Tháng Sáu, 2009, 07:05:28 pm
An Dương Vương ngồi im lặng, chú ý lắng nghe. Trong thâm tâm nhà vua, khi tiếp sứ giả và trông thấy Trọng Thủy, Ngài đã thiên về bên nhận. Nhà vua là người rất mực chiều chuộng con gái nên cũng muốn tìm cho nàng một nơi xứng đáng: Hoàng hậu của nước láng giềng. Lại nữa, hai nước hòa hiếu thì cũng tránh được nạn binh đao. Còn nếu vạn nhất xảy ra chiến tranh thì lúc ấy, chỉ càn vài phát nỏ thần ... Nghĩ vậy, nhà vua đứng dậy phán:

     - Ta đã nghe rõ lời các khanh, bên nào cũng đều có lý đúng cả. Nay Nam Việt là nước lớn, lại đích thân Triệu Đà viết biểu cầu hòa và cho con tai trưởng cầu hôn, thế là đủ biết kẻ địch đã biết lễ độ, chịu bước nhún nhường. Ta nhận cho họ cũng là cía đạo của nước lớn. Nhược bằng, nếu họ trở mặt thì sức ta đây cũng chẳng ngại gì. Chúng sẽ phải tơi bời như lần trước ...
 Các quan cúi đầu lạy tạ. Nhà vua ra lệnh bãi triều. Mấy hôm sau, khi chọn được ngày lành, nhà vua sai chăng đèn kết hoa, chuẩn bị tiệc tùng để cho con giá sánh duyên cùng Trọng Thủy.

     Trở thành giai tế nước Âu Lạc, trong thời gian đầu, trong lòng Trọng Thủy khấp khởi mừng thầm. Y được vua cha, mẫu hậu đối xử thâm tình, coi như con đẻ. Lại được công chúa Mỵ Châu yêu mến cũng thực hết lòng. "Thế là trúng kế của Nam Việt Vương rồi", y thầm nghĩ. Nhưng ngặt vì lúc ấy, triều đình Âu Lạc hãy còn cảnh giác. Lại nữa, bản thân y, nếu có muốn hành động thì cũng chưa thông tỏ đường đất, làm sao có thể điều tra các việc quân cơ và đánh tráo nỏ thần ngay được? Y đành phải chờ thời cơ thêm vậy.

     Và thời cơ ấy luôn luôn vẫn cứ đến, ngày mỗi thêm gần. An Dương Vương cho y được dự các buổi tiệc tùng, đi săn. Mẫu hậu cũng thường đến vấn an. Mỵ Châu coi y là người chồng "lý tưởng", mười phân vẹn mười. Còn các đại thần, lúc đầu nhiều vị cũng xét nét, nhưng về sau cũng quen mặt y dần ...

     Thế nhưng, lúc này lại chính là lúc Trọng Thủy thấy công việc mà y được giao phó, là khó thực hiện hơn lúc nào hết.Mọi người ở đây đối xử với y thân tình, độ lượng như vậy, làm sao y có thể phản bội họ được? Xứ sở này là quê hương thứ hai của y, còn thân thuộc hơn cả nơi y đã sinh ra, làm sao có thể để cho nạn can qua dày xéo? Không phải là kẻ nhẫn tâm như Triệu Đà, nên Trọng Thủy thấy thực khó xử. Những cơn vui buồn thất thường, do vậy, thường đến với y. Dưới cái vẻ nho nhã bề ngoài, trong lòng y lúc nào cũng là một cơn giông bão.

     Tuy ngồi ở nhà, nhưng Triệu Đà vẫn luôn luôn biết những hành vi của Trọng Thủy tại Kinh đô Âu Lạc, qua tin tức của nhiều tên "sứ giả" đi quà cáp thăm hỏi về bẩm báo. Những lần đầu y thấy hài lòng, nhưng càng về sau, thấy thời hạn sắp hết mà Trọng Thủy chưa có điều tra gì quan trọng, lại chưa đánh tráo được nỏ thần, thì y thấy thực sự sốt ruột. Viết một bức mật thư lời lẽ thật gay gắt, giục phải hành động ngay lập tức, Triệu Đà giao cho một tên "sứ giả" nữa lên đường.

     Khi nhận được bức mật thư này, Trọng Thủy thấy vô cùng choáng váng. Đây là thời điểm tình cảm của y và công chúa Âu Lạc đang vào giai đoạn mặn nồng. Thế rồi ... nhiều ngày, đêm tự đấu tranh, dày vò, giằng xé, cuối cùng Trọng Thủy vẫn thấy phải đi theo con đường mà cha y đã lựa chọn, bởi vì dầu sao quân lệnh cũng là như sơn!

     Trong khi đó, bên phía triều đình Âu Lạc, vẫn chẳng ai hay bết gì về bức mật thư, cũng như những điều đã diễn ra trong lòng Trọng Thủy. Y được tự do đi lại khắp nơi trong Loa Thành. An Dương Vương chẳng mấy lúc không cho y cặp kè, còn Mỵ Châu thì hoàn toàn tin tưởng, biết được điều gì cũng nói cho y biết cả, và thế là, thời điểm bị "đánh tráo nỏ thần" đã sắp đến gần ...

     Nguyên tướng quân Cao Lỗ, một vị tướng dũng cảm, tài ba và cương trực, từ trước đến nay là phó chỉ huy quan đội, là cánh tay đắc lực, thân cận nhất của An Dương Vương thì vẫn luôn đề cao cảnh giác. Ngay từ đầu, Ngài đã biết quỷ kế của Triệu Đà, kịch liệt phản đối cuộc hôn nhân Nam Việt Âu LaÏc, và khi sự việc đã "lỡ" rồi, tức là Trọng Thủy đã ở lại Loa Thành thì Ngài vẫn theo dõi từng nhất cử nhất động của y. Khi thấy Trọng Thủy có những biểu hiện đáng ngờ, như việc tự do đi lại trong Loa Thành hay vô cớ xuất hiện ở những nơi tháp cao ... thì Ngài đem điều dị nghị của mình nói lại với An Dương Vương, nhưng nhà vua khoát tay bảo rằng, chẳng cần phải đề phòng kỹ càng đến như thế.

     Đến khi thấy mối quan hệ giữa An Dương Vương và Trọng Thủy càng ngày trở nên khắng khít thì Ngài giận dữ, tỏ ý khó chịu ra mặt, và điều này làm phật ý nhà vua. Mối tình cảm thâm giao giữa ho, ngoài mối quan hệ vua tôi, vì thế, cũng đã đến hồi kết thúc.

     Một hôm, ngay giữa triều đình, tướng quân Cao Lỗ đã nói thẳng những suy nghĩ của mình, yêu cầu (tất nhiên là dưới dạng tâu trình) nhà vua không nên để Trọng Thủy được tự do đi lại và lúc nào cũng được cận kề. Nhưng vừa nghe thấy như thế, An Dương Vương đã nổi trận lôi đình. Ngài lớn giọn quát mắng Cao Lỗ là đồ vô lễ dám sàm tấu, rồi sau đó, hạ lệnh cách chức, lột mũ áo, đuổi thẳng về quê.

     Hỡi ôi là số phận của viên tướng tài da dũng cảm, lúc nào cũng môït lòng một dạ trung thành với sơn hà xã tắc! Bị nhục đến như thế thì thử hỏi còn mặt mũi nào đứng trong trời đất nữa? Bởi vậy, ngay lập tức, Ngài rút gươm ra khỏi vỏ, rồi đưa chéo một đường qua cổ và ngã vật xuống ...

     Sau khi Cao Lỗ chết, An Dương Vương cũng có phần hối hận, Ngài không cho Trọng Thủy được cặp kè như trước, nhưng nghi ngờ y thì Ngài vẫn hoàn toàn không. Bởi vậy, nỏ thần, từ trước đến nay do tướng quân Cao Lỗ giữ, thì bây giờ, Ngài trao nó lại cho Mỵ Châu. An Dương Vương chỉ sinh có mỗi Mỵ Châu là phận gái, vậy nhà vua có thể trao vật đó cho ai, ngoài người con gái được nâng niu và thân cận nhất của Ngài?

     Khi biết Mỵ Châu đang nắm trong tay bảo vật quốc gia thì Trọng Thủy đối xử với nàng cũng tận tụy hơn lúc nào hết. Đây chính là thời điểm sau khi y nhận được bức mật thư, rồi tự đấu tranh, hạ quyết tân thực hiện bằng được lời quân vương giao phó.

     Do Mỵ Châu đã thực sự tin tưởng, chẳng mảy may nghi ngờ, nên y cũng chẳng khó khăn gì, khi được nàng cho xem bảo vật. Rồi nàng còn truyền cả cho y cách thức làm nỏ, tra lẫy, cách làm tên và cách bắn. Là con gái một của vua Âu Lạc, vốn xuất thân võ biền, thì việc Mỵ Châu am hiểu và sử dụng thành thạo cung nỏ, cũng là điều hiển nhiên dễ hiểu.

     Vốn là kẻ sáng dạ, khéo tay, nên những ngày Mỵ Châu vắng nhà để đi săn bắn cùng vua cha. Trọng Thủy đã chế tạo xong một chiếc lẫy nỏ giả, giống y như thật. Đoạn, y đem tháo chiếc lẫy thật ra khỏi nỏ, và lắp lẫy giả vào. Sau đó, ngay lập tức, y phá hủy tại chỗ chiếc lẫy thật, rồi xóa hết mọi dấu vết. Công việc xong xuôi, y thở phào nhẹ nhõm. Đến lúc Mỵ Châu đi săn bắn trở về, y ra tận cổng đón, giọng điệu cử chỉ còn ngọt ngào, ân cần hơn cả mọi ngày.

     Chỉ mấy ngày sau, tin tức về công việc hệ trọng nhất mà Trọng Thủy tiến hành ở triều đình Âu lạc xong xuôi, đã về dến tai Triệu Đà. Y vô cùng mừmg rỡ, rồi vội nhẩm tính: Còn gần một năm nữa mới đủ thời hạn ba năm để Trọng Thủy gửi rể trở về.

     Bản thân Triệu Đà trong lòng lúc nào cũng nung nấu ý đồ thôn tính Âu Lạc, nên y muốn Trọng Thủy về nước ngay để tiện việc xuất binh, bởi vậy y nghĩ ra một mưu kế khác, ấy là kế giả ốm ...

     Một hôm, có viên sứ giả Nam Việt đến triều đình Âu Lạc dâng lên tờ biểu: Triệu Đà đang ốm nặng, xin An Dương Vương cho Trọng Thủy về nước gấp để nghe di mệnh. Tờ biểu lời lẽ vô cùng lâm li thống thiết, do viên quan tài giỏi nhất của triều đình Nam Việt thảo ra, ở dưới có chữ ký run rẩy của Triệu Đà và dấu quốc ấn vuông đỏ chót.

     Sau khi đọc xong tờ biểu, An Dương Vương rồi cả triều đình Âu Lạc chẳng một ai tỏ vẻ nghi ngờ. Khi tin ấy được báo tới Trọng Thủy, thấy y thở dài thườn thượt, lại nước mắt dàn dụa, thì mọi người lại càng tin là thực.

     Nhưng sự thực thì hoàn tàn ngược lại. Trọng Thủy biết đây là kế lừa gạt đã được mật báo trước, và mấy hôm nay, trong lòng y lúc nào cũng thấy thấp thỏm không yên. Y biết sự việc này thế nào rồi cũng đến, bởi vậy khi ngồi soát xét lại toàn bôï cuộc tình duyên với nàng công chúa Âu Lạc, thấy nàng mười phân vẹn mười, thì y bắt đầu hối hận. Nàng yêu thương y và y cũng thực sự yêu thương nàng. Bởi vậy, nếu như được quyền lựa chọn thì chắc chắn y sẽ ở lại với nàng, ở lại mãi mãi xứ sở tươi đẹp và giàu lòng hiếu khách này. Càng nghĩ y càng thấy buồn bã, bối rối. Bởi vậy, khi hay tin có sứ giả chính thức đến, thì y cầm lòng chẳng được, nước mắt lã chã tuôn rơi. Y khóc cho cuộc chia ly sắp tới gần ...

     Tuy vậy, là trang nam nhi, lại là người rồi sẽ kế vị ngai vàng, nên Trọng Thủy không thể than khóc như đàn bà, con gái. Y hắng giọng cho thật hết xúc động, lại sửa cả tư thế, trang phục cho thật chững chạc, rồi vào bệ kiến An Dương Vương, xin được về nước để túc trực bên người cha đau yếu ... Lời tấu trình của Trọng Thủy được An Dương Vương và cả triều đình Âu Lạc chấp thuận. Mỵ Châu lúc ấy cũng có mặt. Nàng xin phép vua cha cho được về Nam Việt cùn chồng. Nhà vua đang phân vân thì một vị đại thần đã đứng dậy tham kiến:

     - Tâu bệ hạ. Thần trộm nghĩ theo lẽ thường thì phận nữ nhi là phải theo chồng. Nhưng phong tục của Âu Lạc ta, lấy vợ phải gửi rể đủ ba năm, lúc ấy người vợ mới được theo về nhà chồng. Nhưng nay thời hạn ấy chưa đến, nếu ta cho công chúa về thì bàn dân thiên hạ chắc sẽ nhìn vào, còn đâu là thể thống quấc gia. Vả lại, lúc này chưa biết bệnh tình Nam Việt Vương thế nào. Nếu Ngài qua khỏi thì Trọng Thủy về ít bữa rồi lại sang đây, công chúa đi theo rồi quay về làm gì cho mệt. Còn nếu NamViệt Vương có mệnh hệ nào, Trọng Thủy sẽ được nối ngôi. Lúc ấy đường đường là nhà vua đi đón Hoàng hậu, nghi lễ chắc sẽ đầy đủ hơn nhiều ... Dám mong bệ hạ minh xét.

     An Dương Vương vừa gật gật đầu: Lời tâu ấy quả nhiên hợp ý Ngài: Con gái Ngài đã sắp sửa trở thành Hoàng hâïu! Ngài an ủi Mỵ Châu mấy câu, rồi bảo nàng hãy nán lòng chờ. Đoạn, Ngài sai chuẩn bị xe cộ, hành lý để Trọng Thủy lên đường về nước. Ngài cũng không quên sai chuẩn bị lễvật thật chu đáo để làm quà tặng cho Nam Việt Vương.

     An Dương Vương vừa dứt lời thì Trọng Thủy đã phủ phục đầu xuống đất lạy tạ, đoạn y xin phép về nhà riêng để từ biệt vợ. Lúc chỉ còn hai người, vẻ trang trọng nam nhi của y hoàn toàn biến mất, để thay vào đó là vẻ mặt ủ rủ héo hon. Y sụt sùi khuyên vợ hãy nán lòng chờ, nhưng trong thâm tâm thì y hiểu giờ phút vĩnh biệt đã điểm.

     Y biết chỉ ít bữa nữa chiến tranh nhất định sẽ xảy ra, nhưng y lại muốn sẽ còn gặp được Mỵ Châu vẹn toàn sau cuộc chiến kết thúc. Y mân mê chiếc áo lông ngỗng mà sứ giả, theo mật kế của Triệu Đà, vừa mới mang sang đây. Y hoàn toàn hiểu đây là chiếc áo oan nghiệt, chiếc áo sẽ giúp cho quân Triệu Đà tìm ra dấu vết của An Dương Vương, nhưng lại nói với Mỵ Châu những lời hệt như viên sứ giả đã dặn:

     - Sắp đến mùa đông rét mướt rồi, tôi xin gửi nàng chiếc áo ấm này, nàng hãy vui lòng ở lại. Đường xá xa xôi cách trở nhưng chẳng lúc nào lòng tôi nguôi quên nhớ nàng. Vạn nhất nếu có sự chẳng lành, sau này đi tới đâu, nàng hãy nhớ nhổ từng chiếc lông vứt xuống. Ấy là dấu vết để tôi tìm gặp lại nàng.

     

 



Tiêu đề: Re: Truyền thuyết An Dương Vương (Ngọc trai, giếng nước)
Gửi bởi: donghai trong 29 Tháng Sáu, 2009, 07:06:40 pm
Tuy mưu kế đã được sắp đặt từ trước, nhưng vừa nói nước mắt Trọng Thủy vừa lã chã tuôn rơi. Mỵ Châu vừa khóc cũng vừa ghi nhớ những lời chồng căn dặn, hoàn toàn không mảy may nghi ngờ một điều gì.

     Vừa thấy lính canh vào báo Trọng Thủy đã về đến trước kinh thành, lập tức Triệu Đà hạ lệnh xuất quân tiến đánh Âu Lạc. Lúc Trọng Thủy lên đường cầu hôn cũng là lúc Triệu Đà bắt tay vào việc chuẩn bị xe cộ, thuyền bè, lương thực và tuyển mộ thêm binh lính. Mộng làm bá chủ của một giang sơn rộng lớn không lúc nào khuây, khiến cho y chẳng thể để chậm trễ thêm ,dù chỉ lấy một phút. Mấy hôm nay Triệu Đà hối hả chuẩn bị xuất binh. Y tính rằng việc tiến đánh Âu Lạc ngay lúc này, sẽ có hai điều lợi lớn: An Dương Vương bị bất ngờ và Trọng Thủy đã được an toàn.

     Trong khi ấy, bên phía triều đình Âu Lạc, từ nhà vua dến quan lại và binh lính, chẳng một ai hay biết điều gì. Họa chỉ có tướng quân Cao Lỗ, nhưng lúc ấy Ngài cũng mồ yên mã đẹp rồi.

     Khi quân canh phòng biên giới chạy về cấp báo, thì An Dương Vương và triều đình đang còn mải mê săn bắn. Nhà vua vội vàng thúc ngựa hối hả chạy về Kinh đô , nhưng tất cả đều đã muộn. Tại các vị trí then chốt, đã thấy lố nhố quân Nam Việt, còn phía Âu Lạc, quân tướng vẫn chưa sắn sàng chiến đấu. An Dương Vương hạ lệnh mang nỏ thần ra giữa cửa chính bắn như lần trước, nhưng khi chuẩn bị xong, thì quân Nam Việt đã tới bao vây dày đặc. Một viên tướng trẻ thay Cao Lỗ trước kia, lắp tên và giương nỏ lên bắn, nhưng sau tiếng "Pựt", chỉ thấy có một mũi tên lao đi.

     "Nỏ thần mất linh ứng rồi", bên phía Nam Việt, quân lính vừa hô vừa ồ ạt xông lên, đông như kiến cỏ. Trong tình thế vô cùng khẩn cấp, An Dương Vương đang trên mình ngựa liền tuốt kiếm dẫn các tướng sĩ xông ra, đánh giáp lá cà. Quân Âu Lạc địch không nổi vội vã quay đầu tháo chạy.

     Nhưng tại các vị trí khác, quân Âu Lạc, do không kịp phòng thủ đã bị quân Nam Việt dùng thang trèo lên tường thành, tấn công vào. Nhiều vị trí bị thất thủ. Quân Nam Việt từ nhiều hướng, tràn vào nội thành. An Dương Vương cùng các tướng sĩ vội quay đầu ngựa, trở về cứu ứng, nhưng không kịp. Thế trận đã nghiêng hẳn về phía Nam Việt.

     Tại cửa chính, rồi nhiều cửa khác, quân Nam Việt tiếp tục tràn đến. An Dương Vương cùng các tướng sĩ tả xung hữu đột, nhưng vẫn không cứu vãn nổi tình thế. Nhà vua vội thúc ngựa phi thẳng vào nội cung, lúc ấy Mỵ Châu vẫn còn chưa hết bàng hoàng, đang ngồi ôm chiếc lông ngỗng. Thường ngày, nàng là người con gái vui tươi, linh hoạt, thỉnh thoảng cũng cưỡi ngựa khoát cung tên theo vua cha đi săn bắn, nhưng mấy hôm nay, do nỗi nhớ chồng nên nàng buồn bã, ngồi một mình. An Dương Vương dừng ngựa bảo con gái:"Theo ta", và khi thấy nàng đã ngồi ở đằng sau thì Ngài quay trở ra, múa kiếm xông vào quân địch. Các tướng sĩ, từ nãy vẫn đang chiến đấu, thấy vậy vội vã thúc ngựa lại, rồi cùng ngài hợp sức để phá vòng vây.

     Quả nhiên, không có tên tướng nào bên Nam Việt có thể địch lại lưỡi kiếm của An Dương Vương. Ngài phi ngựa tới đâu là quân giặc phải giãn ra tới đó. Các tướng sĩ theo Ngài cũng chiến đấu vô cùng dũng cảm. Vòng vây bị phá. An Dương Vương cùng các tướng phi ngựa hướng về phía nam.

     Lúc ấy trời bắt đầu tối. Quân Nam Việt hò hét đuổi theo, nhưng được một hồi sau thì mất dấu vết. Theo lệnh Triệu Đà, chúng đốt đuổi rồi đem soi khắp các ngã đường, hễ chỗ nào có lông ngỗng rơi xuống, là chúng lại hò hét chạy tới. Cứ như thế, cuộc rượt đuổi kéo dài đến hết đêm. Ngày hôm sau, rồi những ngày sau cuộc ruợt đuổi vẫn còn tiếp tục. An Dương Vương thấy vậy, bèn hạ lệnh cho các tướng lĩnh tản đi mỗi người mỗi hướng, để đánh lạc hướng quân địch. Nhưng lạ thay, khi chỉ còn lại hai cha con Ngài, thì ngoảnh lại, ở phía xa xa, vẫn thấy quân Nam Việt đang hò hét xông tới. Nghĩ lại phải phóng ngựa chạy tiếp ...

     Lúc ấy, có lẽ đã đến ngày thứ mười, sau nhiều ngày đêm vất vả, đói khát, hai cha con An Dương Vương đã chạy tới ngang dãy núi Mộ Dạ (thuộc Diễn Châu, Nghệ An bây giờ) ở sát bờ biển. Ngay lập tức, Ngài hiểu rẳng địa giới nước Âu Lạc chỉ còn lại mấy bước chân. Ngoảnh lại, nhà vua thấy quân Nam Việt vẫn còn đang truy đuổi. Tự biết mình đã thế cùng lực kiệt, chẳng còn cách nào để khôi phục giang sơn, lại nhớ đến lời dặn của Thần Kim Qui trước kia, Ngài bèn hô to lên ba lần :"Sứ giả Thanh Giang", để chờ hiển ứng.

     Ngay lập tức mặt biển ở trước mắt Ngài bỗng nổi lên những quầng sóng lớn, rồi Thần Kim Quy sừng sững hiện ra. Thần cất tiếng, nói như ra lệnh :

     - Còn chờ gì nữa, quân giặc đang ở ngay sau lưng nhà vua đó!

     An Dương Vương chợt như sực tỉnh. Ngoảnh lại, nhà vua thấy chiếc áo Mỵ Châu vẫn mặc nay đã xác xơ, và một bên tay nàng, vẫn còn giữ lại mấy chiếc lông ngỗng. "Hóa ra con gái cưng chiều rước giặc đuổi theo cha mình là thế này đây ", cơn giận giữ của Ngài bỗng chốc lên đến cực điểm. Ngài quắc mắt, rảy Mỵ Châu xuống chân ngựa, miệng thét lớn "Đồ phản bội", rồi vung kiếm chém ngang thân nàng. Mỵ Châu gục xuống chết ngay tại chỗ, chẳng kịp một lời trăn trối, giãi bày.

     Thần Kim Quy đã chứng kiến tất cả. Thần hiểu rằng An Dương Vương kiêu dũng có thừa, nhưng chưa đủ cơ trí để gánh vác quốc gia. Thần thương cho quân dân Âu Lạc, vất vả biết bao để xây dựng Loa Thành, lại vất vả biết bao để rèn đúc vũ khí, chế tạo, cung nỏ ... vậy mà, rút cục, vẫn còn thiếu một bậc minh quân. Thôi, đành chờ đến cơ hội khác vậy. Nghĩ vậy, thần gật đầu cho An Dương Vương theo mình, rồi quay ra ngoài khơi, rẽ nước thành một đường lớn , để nhà vua phóng ngựa theo sau.

     Trọng Thủy cùng một tốp lính, lần theo dấu lông ngỗng, chạy đuổi theo Mỵ Châu là để cốt được gặp nàng, còn việc bắt An Dương Vương, y hoàn toàn không mong muốn. Cứ mỗi lần tìm thấy dấu vết, Trọng Thủy lại khấp khởi mừng thầm, nhưng cũng mỗi lần như thế, bọn lính lại hò nhau đuổi tiếp để tranh công, mà y không có cách gì ngăn cản được.

     Đến chân núi Mộ Dạ, ở ngay chỗ giáp biển, Trọng Thủy thấy xác nàng Mỵ Châu cùng chiếc áo lông ngỗng xác xơ nằm giữa vũng máu, thì y hiểu rằng niềm hy vọng thế là đã hết. Trọng Thủy vội vã nhảy xuống ngựa, ôm lấy xác nàng, vừa vật vã vừa rống lên những hồi thảm thiết. Bọn lính tần ngần đứng lại, rồi sau khi hiểu rõ, chúng lựa lời an ủi và giúp y khâm liệm cho nàng. Đoạn, tất cả đoàn người ngựa quay đầu, phi nước đại theo hướng bắc, mang theo xác nàng Mỵ Châu bất hạnh.

     Dòng dã chục ngày sau, đoàn người ngựa mới về tới Loa Thành. Khi nhận được tin, Triệu Đà dẫn đoàn tùy tùng ra tận ngoài cổng thành để đón. Sau khi Trọng Thủy tấu trình về việc An Dương Vương mất tích, chỉ còn tìm thấy xác nàng Mỵ Châu, thì Nam Việt Vương trong lòng vô cùng hả hê, nhưng ngoài miệng y lại thốt ra những lời lâm ly, thống thiết. Y lại sai làm lễ an táng thật trọng thể cho Mỵ Châu, mà trong thâm tâm, y coi như một ân nhân, nhưng trên thực tế nàng lại hoàn toàn không phải như vậy.

     Sau lễ an táng Mỵ Châu, Trọng Thủy sống vật vờ như kẻ mất hồn. Y hiểu rất rõ y là một kẻ phản bội.

     Nhớ lại những ngày tháng êm đềm ở triều đình Âu Lạc, được vua cha, mẫu hậu, triều thần sủng ái, y thấy hổ thẹn trong lòng. Đối với họ, y chỉ còn là một kẻ hèn hạ nhuốc nhơ ghê tởm. Nhớ đến nàng Mỵ Châu lộng lẫy, yêu kiều, người con gái hết lòng yêu thương và chung thủy với y đến tâïn giờ phút chót, y lại càng thêm đau xót. Chính y đã đẩy nàng vào cái chết thảm khốc. Lại cũng chính y, vì y, mà khi chết đi, nàng còn phải chịu tiếng là kẻ phản bội lại xứ sở của mình. Càng nghĩ, Trọng Thủy càng cảm thấy cuộc đời y chỉ còn là nhục nhã, chẳng mặt mũi nào để sống trên đời. Đối với y, giờ đây mỗi hiện vật, mỗi kỷ niệm như một lời nguyền rủa. Một lời nguyền rủa nặng nề như trái núi, còn lại đến muôn đời.

     Chiếc ngai vàng mà mai sau y sẽ được kế vị kia, chỉ là chiếc ngai vàng đẫm máu, là hiện thân của sự phản trắc, lừa gạt. Bởi vì đã chẳng có lương tri thanh thản của một con người, thì càng ở trên cao sẽ càng cảm thấy chông chênh nguy hiểm, vì mọi người đều nhìn vào với cặp mắt nghê tởm.

     Càng nghĩ, Trọng Thủy càng chỉ thấy hận thêm Triệu Đà, một người cha thật tàn nhẫn, quỷ quyệt, đã đẩy y vào nông nỗi này. Thành quách, bạc vàng châu báu mà làm chi, khi tình yêu và lương tri đều bị cướp mất? Trọng Thủy âm thầm vật vã suốt mấy ngày trời, không ăn uống, không chuyện trò với ai. Mấy ngày sau, người ta tìm thấy xác y ở một cái giếng trong Loa Thành. Y đã lấy cái chết để rửa nỗi nhục.

     Cuộc đao binh Nam Việt Âu Lạc cuối cùng đã dẫn đến việc Triệu Đà mở đường cho sự cai trị của phương bắc gần suốt một thiên niên kỷ, gây ra biết bao đau khổ cho mọi người ta. Trong thời gian ấy, nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra, mà cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng là một sự khởi đầu ...

     Bài học cảnh giác cụ thể sau sự kiện Trọng Thủy đến đất Âu lạc có lẽ là việc tục gởi rể từ đó đã không còn ở cộng đồng của người Việt. Tuy vây, câu chuyện tình Mỵ Châu - Trọng Thủy lại được hậu thế lưu truyền như một sự cảm thông. Rốt cuộc, họ cũng chỉ là những nạn nhân của một mưu đồ đầy tham tàn, bạo ngược.

     Vì Mỵ Châu vô tình bị chết oan nên máu của nàng, theo nước mưa rồi chảy xuống biển, đã kết thành ngọc ở trong lòng những con trai, do ăn phải. Người ta bắt được những con trai ấy, đem tách lấy ngọc, nhưng màu sắc lấp lánh chưa thấy hiện rõ lên nhiều.

     Nhớ đến cái giếng mà Trọng Thủy tự tử ở Loa Thành, người ta đem múc nước giếng lên để rửa ngọc, thì lạ thay, tất cả sắc màu của ngọc đều rực sáng lấp lánh, như có thêm một vẻ đẹp mới mẻ, diệu kỳ.

     Thế là từ đó trở đi, hễ ai lấy được ngọc trai, lại đem về múc nước ở giếng Loa Thành lên để rửa cho đẹp. Về sau, để cho tiện, người ta múc nước ở giếng Loa Thành cho vào các chai, lọ, rồi đem đến những nơi có ngọc. Những khách phương bắc sang buôn ngọc ở nước ta từ thời Triệu Đà, đã rất thành thạo về việc này, nên đi đến đâu, họ cũng kè kè một lọ nước lấy từ giếng Loa Thành, để rửa và thử ngọc.

     Những chuỗi ngọc trai được chế tác tại phương nam, từ xưa, đã rất làm vừa lòng các hoàng hậu, công chúa và cung tần mỹ nữ của các triều đình phương bắc. Vì vậy, trong các đồ cống nạp của nước ta trước kia, bao giờ cũng có ngọc trai và các hũ nước lấy từ giếng ở Loa Thành. Việc cống nạp nước giếng Loa Thành, mới nghe tưởng chuyện lạ, nhưng hóa ra lại có thật, được ghi cả vào Đại Việt sử ký toàn thư. Mãi đến cuối thời Lê, việc cống nạp ấy mới bị bã bỏ, do công của Nguyễn Công Hãng, một vị chánh sứ tài ba.

     Truyền thuyết Ngọc trai Giếng nước này, hay còn gọi Mỵ Châu - Trọng Thủy, có phần liên quan dến truyền thuyết Loa thành mà chúng tôi đã thử đồng tái hiện, từ trước đến nay dã được nhiều thế hệ nhắc tới, cảm xúc, phẩm bình. Dưới đây, chỉ xin chọn một bài thơ (theo điệu vân thê) của th sĩ Tản Đà (1888 - 1939) mà chúng tôi cho là thể hiện đạt nhất mối thương tâm của mọi người với hai nhân vật Mỵ Châu Trọng Thủy:

Môït đôi kẻ Viêït người Tần,
Nửa phần ân ái, nửa phần oán thương,
Vuốt rùa chàng đổi máy,
Lông ngỗng thiếp đưa đường,
Thề nguyền phu phụ,
Lòng nhi nữ,
Việc quân vương,
Duyên nọ tình kia dở dở dang,
Nệm gấm, vó câu,
Trăm năm giọt lệ,
Ngọc trai giếng nước,
Nghìn thu khói nhang.

      Chúng tôi cũng băn khoăn tự hỏi: Bây giờ khi dùng ngọc trai liệu có ai còn đem nước giếng Loa Thành để rửa nữa không? Lại nữa, trải qua mấy ngàn năm lịch sử, không biết ngọc trai và giếng nước ấy có còn linh thiêng như xưa nữa không?

     Nhưng cho dù có câu trả lời như thế nào, thì cái còn lại muôn đời vẫn cứ là truyền thuyết về ngọc trai nước giếng, mà mỗi người mỗi thế hệ đều có thể tưởng tượng và tái hiện lại những cách thức riêng của mình.
                           
                                                                                Đ.Hải
                                                                     Sưu tầm từ Internet

**** Bác cho em cái nguồn nhé   ;)......


Tiêu đề: Re: Truyền thuyết An Dương Vương (Ngọc trai, giếng nước)
Gửi bởi: lonesome trong 29 Tháng Sáu, 2009, 11:57:28 pm


**** Bác cho em cái nguồn nhé   ;)......

http://my.opera.com/hunganh215/blog/2007/10/20/ngoc-trai-gieng-nuoc


Tiêu đề: Re: Truyền thuyết về Hai bà Trưng
Gửi bởi: lonesome trong 29 Tháng Sáu, 2009, 11:58:24 pm
http://my.opera.com/hunganh215/blog/index.dml/tag/Truy%E1%BB%81n%20thuy%E1%BA%BFt


Tiêu đề: Re: Truyền thuyết Thánh Tản Viên
Gửi bởi: lonesome trong 29 Tháng Sáu, 2009, 11:58:38 pm
http://my.opera.com/hunganh215/blog/index.dml/tag/Truy%E1%BB%81n%20thuy%E1%BA%BFt


Tiêu đề: Truyền thuyết đức Thánh Gióng
Gửi bởi: donghai trong 30 Tháng Sáu, 2009, 05:39:55 am
Đức Thánh Gióng

     Trong tâm thức dân gian của người Việt, Thánh Gióng biểu đạt cho sức mạnh to lớn của sự chiến đấu chống ngoại xâm của cộng đồng để bảo vệ cuộc sống chung.

     Tuy nhiên, trong đời sống mỗi dân tộc, không phải lúc nào cũng có nạn ngoại xâm. Chiến tranh tự vệ chẳng qua chỉ là hành động bất đắc dĩ của dân tộc đó. Còn bình thường, mọi thành viên sẽ phải chăm lo sản xuất, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho mình. Nguy cơ xâm lược, do vậy, chỉ còn ở thế tiềm ẩn. Và  để đối phó với nó, khả năng tự vệ của dân tộc, vì thế, sẽ luôn luôn ở thế tiềm ẩn.

     Đó là những điều có thể rút ra ra hình tượng Thánh Gióng, từ cậu bé lên ba không biết nói cười, bỗng chốc lớn lên thành dũng tướng, cầm roi sắt phi ngựa sắt, phá tan quân giặc.

     Khi giặc hết, Thánh Gióng liền bay thẳng vể trời, không màng đến công danh phú quý, như thế tục sau này ...

     Đấy cũng chính là bài học lịch sử, là mẫu mực đầu tiên, mà ngay từ thời tiền sử, trí tuệ dân tộc đã tổng kết lại cho các thế hệ con cháu về sau.

     Thánh Gióng đã và sống mãi trong tâm thức dân gian, như một vị Thánh bất tử, chính vì những lẽ ấy.
      Nước Văn Lang, kể từ Hùng Vương thứ nhất trị vì, trãi qua năm đời nữa, tuy dần dần dã trở thành một nước giàu mạnh, nhưng với nhà Ân bên Tàu, vẫn phải giữ thế thần phục.

     Đến đời HùngVương thứ sáu, nhà vua vốn là người đại lượng khoan hòa, nhưng cũng là người khẳng khái, cương nghị, bèn thôi không chịu triều cống nữa.

     Vua nhà Ân tức giận, chuẩn bị điều binh xuống xâm lược, bèn cho sứ giả đi dọ thám trước. Sứ giả đến triều đình Văn Lang nói rằng: "Vua của họ muốn đi tuần thú phương Nam. Khi nào tới, vua sở tại phải lo cung đón, tiếp đãi thật chu đáo". Vua Hùng trả lời: "Được, chúng tôi saÜn sàng tiếp đãi".

     Sau khi sứ giả ra về, vua Hùng cho vời tất cả triều thần lại để hội kiến. Ai cũng thấy nguy cơ xâm lược đang bày ra trước mắt rồi. Nhà vua đã có phần lo lắng. Một vị Lạc hầu đứng lên nói:

     - Muôn tâu Bệ hạ. Xin Bệ hạ chớ nên lo phiền. Trước mắt ta nên chiêu nạp binh mã, chuẩn bị thêm khí giới và tích trữ thêm lương thảo, để lo đối phó sau này. Đất nước ta nhỏ nhưng dầu sao, cũng chẳng thiếu nhân tài vật lực ...

     Nhưng một vị Lạc hầu khác lại nói:

     - Muôn tâu Bệ hạ. Xin Bệ hạ hà tất phải lo lắng. Bấy lâu nay ta vẫn chăm lo thờ cúng trời đất, tổ tiên nên nhất định phen này sẽ được phù hộ. Vả lại, từ đời các tiên đế còn truyền, là hễ trong nước có việc lớn, thì lập tức lập đ àn chay, xin Long Vương về cứu giúp cháu chắt kia mà. Vậy xin Bệ hạ bây giờ hãy cho làm ngay việc đó.

     Vua Hùng ngẫm nghĩ trong giây lát, thấy cả lời tâu ấy đều chí lý, nên rất yên tâm, nên bắt tay vào thực hiện.

     Một mặt, nhà vua sai sắm sửa cung tên, giáo mác, thu góp lương thực. Lại sai các lạc hầu, Lạc tướng đ àn tràng để cúng trời và thỉnh cầu Long Vương. Trên đ àn tràng, lễ vật bày biện thật chu đáo, đ èn nến thấp sáng trưng, khói hương trầm nghi ngút. Nhà vua trai giới xong thì cúng cấp đủ trong ba ngày, lại cầu khấn rất thành kính.

     Đến hết ngày thứ ba thì bỗng đâu mây đen kéo đến, sấm sét đ ùng đ ùng , rồi mưa đổ nước xuống như trút. Sau trận mưa, tự nhiên có một cụ già cao lớn, mặt mũi phương phi, râu tóc bạc trắng, đến ngồi nghỉ ở ngã ba đường ngay trước đ àn tràng, cụ già nói cười vui vẻ với mọi người khi có ai qua lại chào hỏi, như thể người ông đối với con cháu trong nhà vậy.

     Có vị Lạc hầu thấy lạ, đem việc ấy tâu lại với vua Hùng. Nhà vua chỉnh đốn trang phục, đích thân tới chỗ già  đang ngồi, rồi thưa bẩm rất lễ phép, và mời cụ lại chỗ dựng đ àn tràng để dùng cơm rượu.

     Nhà vua rót rượu rồi dâng lên cụ già bằng cả hai tay lễ phép như đối với bâïc trưởng thượng. Cụ già  đỡ chén rượu, đưa lên miệng nhấp, cử chỉ cũng thực tự nhiên. Nhà vua tiếp thức ăn rồi sới cơm mời cụ già thảy thảy đều rất mực cung kính, lễ độ.

     Sau khi dùng cơm, nhà vua mời cụ già lại bàn xơi nước rồi từ tốn thưa gởi:

     - Bẩm cụ. Nước nhà  đang sắp có giặc tràn sang. Bản triều cũng đã lo lắng tìm cách đối phó, nhưng cũng chưa dám chắc về sau thành bại thế nào. Chẳng hay cụ từ xa tới, có điều cao minh xin cụ chỉ bảo dùm cho.

     Cụ già vuốt râu mỉm cười:

     - Đa tạ nhà vua đã có thịnh tình tiếp đãi. Ba năm nữa giặc Bắc mới kép sang đây, nhưng khá khen cho nhà vua đã kịp thời lo liệu. Nay ở xứ Đông, Ngọc Hoàng thượng đế đã phái một thiên tướng xuống trần. Ba năm nữa, nhà vua sẽ cho sứ giả đến đón về để cầm quân chống giặc, khi ấy thiên tướng yêu cầu điều gì, phải lập tức có đầy đủ thì giặc mới tan. Còn bây giờ, những viêïc nhà vua và các quần thần đang làm đều là cần thiết và phải làm đến nơi đến chốn. Nhà vua nên nhớ mình là con rồng cháu tiên, làm điều gì cũng phải nêu gương cho mọi người. Phải hết lòng yêu quý, chăm sóc muôn dân như thể đối với người ruột thịt. Làm được như vậy, thì không giặc dã nào có thể xâm phạm được. Và  đất nước sẽ muôn thuở thái bình.

     Nói đoạn, cụ già phất tay rồi vụt bay lên trời. Vua Hùng lập tức quỳ xuống, vái theo, thực là cung kính.

     Bấy giờ ở làng Gióng, thuộc xứ Đông, về sau cải là làng Phù Đổng thuộc huyện Vũ Ninh, Kinh Bắc (nay là Võ Giàng, Hà Bắc) có ông bà nhà khá giả nhưng đứng tuổi rồi mà vẫn chưa có con. Một hôm, sau đ êm giông bão, bà đi thăm đồng, thấy một vết chân khổng lồ, bèn đặt chân mình vào ướm thử. Từ đấy, bà có mang, đến mười bốn tháng sau mới sinh ra môït chú bé bụ bẫm, kháu khỉnh. Hai ông bà sung sướng lắm. Sau tuần cử, ông chặt tre đan một chiếc nôi thật đẹp, rồi lót quần áo, đặt chú bé vào. Suốt ngày hai ông bà thay nhau đung đưa chiếc nôi, đung đưa chú bé. Chiếc nôi được treo bằng gióng, làm bằng tre. Cả đoạn cây gác ngang sà nhà  để đặt Gióng vào, cũng là một đoạn tre.


Tiêu đề: Re: Truyền thuyết đức Thánh Gióng
Gửi bởi: donghai trong 30 Tháng Sáu, 2009, 05:42:16 am
Truyền thuyết đức Thánh Gióng (tiếp)

     Được chăm sóc, nâng niu chiều chuộng, chú bé lớn dần và phỏng phao, đẹp đẽ, như mọi đứa bé được chăm sóc, nâng niu chiều chuộng khác. Ấy thế nhưng lạ thay, đã ba năm mà chú bé vẫn chưa biết cười, lại không biết cả lẫy, bò. Nói chi đến ngồi và  đi đứng, chú bé cũng không biết nốt.

     Chú chỉ suốt ngày nằm ngửa trên nôi, và nay đã lớn, nên ông bố phải làm cho một chiếc nôi khác, lớn hơn .Hai ông bà vẫn hết lòng chăm sóc nâng niu chiều chuộng con. Nào bú mớm, tắm táp, nào là nghiền bột nấu cháo rồi quấy cả trứng gà vào cháo rồi mới cho ăn. Sau năm đầu, tuy cháo nấu bằng gạo, nhưng lại cho cả xương lợn hay cá chép vào, ninh nhừ.

     Ngày tuần ngày tiết, ngày lễ ngày tết, hai ông bà lại bày biện lễ vật và thắp đ èn nhang, cầu khẩn trời đất, tổ tiên, để phù hộ độ trì. Ấy vậy mà chú bé không nói vẫn hoàn không nói, vẫn không biết lẫy, bò. Lại không cả ngồi dậy, đi đứng ...

     Suốt ngày chú chỉ nằm ngủ. Chỉ thức dậy lúc ăn và  đại tiện. Dường như mọi việc xung quanh, cả mọi sự xảy ra trên đời này, chú đều không biết và cũng không cần biết.

     Ông bố bà mẹ cũng đã bắt đầu có phần lo lắng, còn họ hàng làng xóm thì thực sự ngán ngẫm. Họ nhìn vào gương mặt chú bé thực sáng sủa, đẹp đẽ như thiên thần, mà không hiểu sắp tới điều gì sẽ xảy ra ...

     Rồi bỗng đến một hôm, có sứ giả ở tận Kinh đô về, đi một vòng quanh làng, vừa gõ thanh la vừa rao đọc từng hồi:

     Loa, loa, loa, loa ...

     Ớ làng, ớ xã!

     Giặc dã đến rồi!

     Tài giỏi ai người?

     Hãy ra giúp nước!

     Nhà vua trọng dụng,

     Làm tướng cầm quân.

     Đánh Bắc dẹp Đông

     Rồi về lĩnh thưởng!

     Ớ làng, ớ xã! ...

     Loa, loa, loa, loa...

     Ấy chính là lúc, chính lính canh phòng ở biên giới báo về kinh, báo tin giặc Ân sắp sửa tràn sang. Vua Hùng cũng nhẩm tính từ khi Long Vương giáng lâm đến nay đã vừa đúng ba năm. Vẫn nhớ đinh ninh lời dặn dò, nhà vua vội vàng phái ngay sứ giả đến xứ Đông để thỉnh cầu thiên tướng ...

     Ở làng Gióng, khi bà mẹ vừa đưa nôi, vừa nghe thanh la và tiếng loa rao đọc thì bỗng mỉm cười, rồi nựng với con rằng:

     - Ờ, ờ ... này con, có nghe thấy không? Sứ giả của nhà vua đang đi tuyển mộ nhân tài để làm tướng cầm quân đấy! Giá con lớn nhanh mà  đi đánh giặc rồi về lĩnh thưởng cho cha mẹ được nhờ, thì hay lắm nhỉ? Ờ, ờ ...

     Nào ngờ, khi bà mẹ vừa nói xong, đã thấy chú bé vươn vai rồi ngồi bật dậy làm cho chiếc nôi chòng chành. Bà mẹ vội vàng bế con đặt tên giường, chú bé nói:

     -Thưa mẹ, mẹ hãy ra mời ngay sứ giả vào đây cho con!

     Nghe thấy thế, bà mẹ tròn mắt ngạc nhiên, vội chạy ngay sang các nhà láng giềng. Ai nấy đều đổ xô tới. Chú bé cười nói, chào hỏi mọi người như đã là người lớn vậy.

     Tuy ai cũng thấy lạ lùng, nhưng nhắc đến việc mời sứ giả vào thì nhiều người hãy còn e ngại ... Chú bé lắng nghe, rồi lên tiếng giục:

     - Mẹ cứ ra mời sứ giả vào đây cho con. Không phải sợ sệt đều gì cả.

     Bà mẹ làm theo. Khi sứ giả đến, trong thấy chú hãy còn bé tý, cũng hết sức ngạc nhiên, rồi hỏi ngay:

     -Chú còn bé thế kia, làm sao có thể làm tướng cầm quân đánh giặc được mà cũng cho gọi ta vào?

     Chú bé mỉm cười, trả lời:

     - Xin ông đừng lo. Chỉ vài ngày tới nếu ông trở lại sẽ thấy tôi không còn bé nữa. Bây giờø thì ông hãy trở về Kinh đô , tâu với nhà vua rằng: Đúc cho tôi một con ngựa sắt, một thanh kiếm sắt và một chiếc khiên sắt. Được ba thứ ấy hãy cho người mang lại đây cho tôi. Lúc ấy, việc cầm quân sẽ do tôi đảm nhiệm. Ông cũng tâu lại thêm để nhà vua an tâm: giặc Ân nhất định sẽ tan, nên không có gì phải lo lắng cả.

     Sứ giả lắng nghe cả mừng, cúi đầu làm lễ cáo biệt, rồi sau đó tức tốc nhảy lên mình ngựa, phi nướùc đại chạy cấp báo về kinh.

     Sau khi nge sứ giả tâu trình, nhà vua cho vời các đình thần lại, rồi tươi cười nói với mọi người:

     - Thực đúng như lời Long Vương đã nói với ta từ ba năm trước. Bây giờ các khanh hãy cùng nhau đi lo các thứ mà thiên tướng yêu cầu. Xong xuôi đâu đấy, hãy đem lại, rồi điểm tất cả binh mã đến xứ Đông để theo Thiên tướng lên đường giết giặc.

     Các đình thần dạ ran, rồi cáo từ nhà vua, đi lo liệu các việc. Một vị Lạc tướng cho người đến tận Châu Hoan (vùng Diễn Châu, Nghệ An) mời "đệ nhất danh sư" nghề rèn là Lư Cao Sơn về kinh để rèn đúc các thứ bằng sắt. Vị danh sư nổi bễ, mọi người cùng xúm vào, kẻ nhóm than, kẻ đổ sắt, kẻ làm khuôn ... Thế là, chỉ trong vòng một tuần, cả ba thứ ngựa, kiếm và khiên sắt, đều đã rèn đúc xong.


Tiêu đề: Re: Truyền thuyết đức Thánh Gióng
Gửi bởi: donghai trong 30 Tháng Sáu, 2009, 05:43:47 am
Truyền thuyết đức Thánh Gióng (Tiếp)

     Nhà vua sai đóng một chiếc xe lớn, đặt cả ba thứ vào, rồi lại sai đóng 16 ngựa, cho kéo đi trước. Đoàn binh mã của triều đình rầm rộ tiến theo sau.

     Đi chưa hết một tuần thì cả đoàn đã tới làng Gióng.

     Lại nói, chú bé từ khi nói chuyện với sứ giả xong thì lớn nhanh, mỗi ngày mỗi khác. Mới vài ngày đã như chú bé lên bảy. Vài ngày nữa, lại thành chú bé tuổi mười lăm. Rồi một tuần sau, đã là một chàng trai tráng kiệt. Một tuần sau nữa, lại đã cao lớn gấp đôi một người trưởng thành ...

     Nhà cha mẹ chàng tuy là gia đình khá giả, vậy mà cũng không đủ cơm ăn áo mặt cho chàng. Họ hàng, làng xóm phải mang các thứ để giúp đỡ thêm. Người gánh thóc, người dăm cân thịt. Rồi có người mang cho cả một vài vại cà hoặc vại dưa. Quý hồ có thứ gì chàng trai ăn thứ ấy, chẳng hề kiểu cách, nề hà. Áo quần cũng phải đổi thay luôn cho vừa. Còn về nhà ở, khi đã cao gấp ba một người bình thường, thì làng xóm phải xúm lại, dựng riêng cho chàng một ngôi nhà, thật cao ...

     Thấy sự lạ lùng, khắp nơi trong vùng mọi người đều đổ xô tới làng Gióng. Lại được cổ vũ bằng tinh thần "Giết giặc lập công", nên người người tìm đến mỗi lúc một đông thêm. Trẻ chăn trâu bò, rồi thanh niên trai tráng, cả những bác nông phu đứng tuổi, ai đến cũng thành ngay bạn bè của chàng. Họ cùng nhau tập luyện võ nghệ: Côn, huyền, giáo, mác , cung, kiếm ... Thứ gì chàng cũng đều tài giỏi, lại chỉ bảo tận tình cho tất cả mọi người. Rồi họ tập đánh trận giả. Tiếng reo hò, tiếng chân chạy huỳnh huỵch, làm náo động cả một góc trời.

     Trong những ngày đó, chẳng những họ hàng làng xóm, mà tất cả dân chúng trong vùng, ai có thứ gì cũng chẳng nề hà, mang ngay đến cho chàng và bạn bè của tập luyện. Thóc gạo, thịt cá, dưa cà ... rồi đến vải vóc, nón đội và cả gậy gộc, giáo mác, cung tên ... Quanh vùng làng Gióng suốt ngày đ êm rầm rầm như đang trong mùa hội lớn ...Về sau này, có người tính. Khi Thánh Gióng lớn lên ăn hết bảy nong cơm với một nong cà, thì chúng ta e, có lẽ người làm tính đã quên không kể đến số bạn bè rất đông đến đây cùng tập luyện với Ngài chăng?

     Khi giặc Ân kéo đến chân núi Châu Sơn (thuộc huyện Tiên Du, nay là Tiên Sơn Bắc Ninh) thì đội quân của Ngài tập luyện đã thành thục cũng là lúc quan quân triều đình mang ngựa sắt, kiếm sắt và khiên sắt đến làng Gióng.

     Quan quân đóng trên một bãi đất rộng trong vùng. Cờ xí rợp trời, giáo mác cung tên tua tủa. Đội kỵ binh đóng riêng ở một khu vực, đến nay vẫn còn tên gọi là bãi quần ngựa. Còn đội voi chiến thì đóng ở khu vực khác, đến nay vẫn còn hồ tắm voi ...

     Sứ giả cùng một vị Lạc tướng dẫn đội quân đẩy chiếc xe lớn chở các thứ đến tận nhà thiên tướng. Ngài vái chào từ biệt cha mẹ và mọi người rồi vươn vai một cái, bỗng chốc lớn bổng người thêm. Đoạn, Ngài một tay cầm khiên, thét bảo đám bạn bè  đã gươm giáo sẵn sàng:

     - Tất cả theo ta đi giết giặc!

     Ngài phi ngựa chạy đằng trước, các bạn bè chạy theo sau. Chỉ trong chớp mắt tất cả đã tới chỗ quan quân triều đình đang đóng. Ngày lại dẫn đầu cả đoàn quân đông đảo, phi ngựa như bay về phía quân giặc. Loang loáng như ánh chớp sáng lòa, còn bản thân Ngài thét vang như sấm dậy.

     Quân giặc đã bày xong thế trận ỏ chân núi Châu Sơn. Ngài phi ngựa thẳng vào, chạy tới đâu quân giặc lăng ra chết tới đó, như đi vào chỗ không người. Mùi thịt cháy khét lẹt. Máu đổ ra lênh láng ...

     Nhiều tướng giặc bị giết, đích thân hoàng tử nhà Ân là Thạch Linh làm nguyên soái thống lĩnh ba quân, thấy vậy, múa kiếm xông vào giáp chiến với Ngài. Nhưng chỉ được vài hiệp, Thạch Linh đã phải quay ngựa bỏ chạy. Ngày đuổi theo đến chân núi Võ Sinh (Hải Hưng) thì vung một đường kiếm bổ xuống, Thạch Linh xác xẻ ra làm đôi.

     Giặc Ân mất chủ tướng, chạy tan tác như ong vỡ tổ. Quan quân triều đình cùng tốp bạn bè vùng làng Gióng của Ngài, chia nhau theo các ngã truy đuổi quân giặc.

     Hàng ngàn tên chạy đến vùng suối Hoa (Thị Cầu, Bắc Ninh) thì bị bao vây, rồi bị tiêu diệt không sót một tên nào.

     Sau khi chém chết chủ tướng giặc, Ngài tiếp tục thúc ngựa xông vào những chỗ còn chống cự quyết liệt với quan quân triều đình. Kiếm của Ngài chém xuống nhiều quá, đến nỗi bị gãy ra làm đôi. Ngài quăng đi, rồi dùng tay không, vớ lấy những khóm tre mọc rãi rác bên đường, cứ thế mà quật cả vào đám giặc.

     Quân giặc bạt vía kinh hồn, tên nào tên nấy mặt mày tái xanh tái xám. Những tên sống sót vội vàng quỳ xuống, tế như tế sao mỗi khi thấy Ngài thúc ngựa phi tới. Tuy vậy, cũng vẫn còn những tên liều lĩnh, ngoan cố khác vừa chạy vừa quay lại bắn cung nỏ, nhưng đều bị khiên sắt của Ngài gạt ra.

     Đuổi giặc đến làng Xuân Tảo (nay thuộc xã Xuân Đỉnh, Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội), Ngài cho ngựa nghỉ lại uống nước, rồi ngồi trên một phiến đá mở cơm nắm ra ăn. Đến nay phiến đá ấy vẫn còn. Cả phiến đá in dấu chân ngựa của Ngài ở làng Phú Viên nữa, cũng vẫn còn.

     Sau đó, Ngài tiếp tục lên ngựa, truy đuổi quân giặc. Đến chân núi Sóc (sau này còn có tên chữ là núi Vệ Linh, nay thuộc xã Phù Linh, huyện Mê Linh) thì Ngài thấy quân giặc đã tan tác hết cả. Ngoảnh lại, Ngài thấy phía xa xa, quan quân triều đình cũng đang thu quân rút về, vừa đi vừa dẫn theo những tốp tù thất trận.

     Từ trên mình ngựa, Ngài cởi áo, rồi cầm đến treo ở một mô đá có hình gốc cây mà hiện nay vẫn còn. Chắc là tấm áo thấm đẫm mồ hôi và thấm cả máu giặc tanh tưởi vào, nên Ngài muốn cởi ra cho thanh thản.

     Ngài phi ngựa lên giữa đỉnh núi. Tại đây, Ngài ngoảnh mặt đi khắp tám hướng, ngắm nhìn bao quát đất nước Văn Lang một lượt, rồi giật mạnh dây cương, cho ngựa bay vút lên trời.




Tiêu đề: Re: Truyền thuyết đức Thánh Gióng
Gửi bởi: donghai trong 30 Tháng Sáu, 2009, 05:45:52 am
Truyền thuyết đức Thánh Gióng

     Hai người bạn từ hồi còn tập luyện ở làng Gióng của Ngài, tên là Hiển và Dục phi ngựa theo sau, đến chân núi Sóc đã thấy Ngài đang bay lên trời rồi. Hai ông nhìn mãi đến hút tầm mắt rồi xuống ngựa, ngồi bệt ngay xuống vệ cỏ mà nghỉ. Ngao ngán quá! " Chủ tướng không ở lại lĩnh thưởng thì mình cũng chẳng nên lĩnh thưởng làm gì. Hai ông nghĩ . Vả lại, vàng bạc có phải do nhà vua làm ra đâu mà cũng là của dân đóng góp cả. Lĩnh thưởng như thế khác nào như lấy của dân, bắt dân cực khổ ra thêm mãi. Giặc dã đến xâm chiếm, bao nhiêu của nả dân đã phải bỏ ra, lại thêm bao nhiêu người vô tội bị chết, như thế còn có chưa đủ hay sao? Ôi! Chủ tướng thật anh minh, đã bay về trời cho dân được nhờ cậy"...

     Hai ông để mặc cho ngựa gặm cỏ ở đấy, rồi cứ thế, lững thững đi sâu mãi vào rừng.

     Khi quan quân dẫn đám tù binh về triều đình báo tin thắng trận thì vua Hùng cả mừng, ra tận ngoài cổng thành để đón.

     Nhà vua rất nóng lòng muốn biết mặt vị thiên tướng giáng trần, nhưng các Lạc hầu, Lạc tướng nhất loạt tâu rằng Ngài đã bay về trời, cả hai vị tướng của Ngài cũng đi biệt vào rừng, không thấy trở lại nữa. Nhà vua nét mặt đang vui bỗng trở nên đăm chiêu nghĩ ngợi. Ngài ra lệnh lập tức dựng một đ àn tràng thật lớn để lạy ơn trời đất, tổ tiên đã phù hộ độ trì và phái thiên tướng xuống trần. Đồng thời đ àn tràng cũng để Ngài cầu siêu cho linh hồn các tử sĩ trận vong. Sau đó, Ngài mở tiệc khao thưởng quân sĩ, tướng lĩnh, nhất nhất ai cũng có phần xứng đáng cả.

     Sự kiện chống giặc Ân này đã để lại cho nhà vua rất nhiều điều đáng suy nghĩ về đạo trị quốc. Bài học mà Ngài rút ra là phải hết lòng chăm lo đến đời sống muôn dân, đúng như ba năm trước Long Vương đã hiện về dạy bảo. Chính vì vậy, sau này về già, Ngài trao lại vương miện cho người con trai tài năng, đức độ nhất trong số 22 người con trai của Ngài, chứ không phải theo lệ cũ là trao cho người con trưởng. Người kế vị đó là Hùng Vương thứ bảy, vị vua đã nghĩ ra bánh chưng, bánh dày để dùng vào các dịp lễ tết, hội hè của cả muôn nhà, và truyền mãi cho đến ngày nay.

     Lại thêm về các sự kiện có liên quan đến cuộc kháng chiến chống giặcÂn.

     Nhà vua không biết lấy gì báo đáp cho vị thiên tướng giáng lâm, nên phong Ngài là Phù Đổng Thiên Vương và lập miếu thờ ngay tại vườn nhà Ngài khi trước. Lại cấp cho dân trong làng một trăm mẫu ruộng để dùng vào việc trông nom và bốn mùa cúng lễ.

     Giặc phương bắc bạt vía. Mặc dù là nước lớn nhưng 644 năm sau không dám động binh xuống xâm lược. Các nước xung quanh Văn Lang hay tin, đều tìm đến xin kết tình hòa hiếu.

     Những bụi tre mà Ngài nhổ lên đánh giặc bây giờ mọc thành rừng ở huyện Gia Bình, gọi là tre Đằng Ngà.

     Còn chỗ con ngựa của Ngài thét ra lửa đã làm cháy mất một làng. Làng ấy bây giờ gọi là làng Cháy.

     Các triều đại phong kiến trước đây đều có sắc thượng phong cho Ngài. Ngoài tôn hiệu "Phù Đổng Thiên Vương" từ trước, đến đời Lý Thái Tổ lại phong là "Xung Thiên Thần Vương". Còn dân chúng, từ bao đời nay vẫn gọi Ngài là Đức Thánh Gióng, một cách thực tự nhiên và giản dị.

     Trong tâm thức của mọi người, Ngài là vị Thánh bất tử đầy quyền năng, bởi vì chính Ngài đã là biểu tượng tuyệt vời nhất cho lòng dũng cảm và  đức quên mình của dân chúng.

     Từ trước đến nay, có rất nhiều thơ văn ca ngợi công đức của Ngài, cùng nhiều nghi lễ thờ cúng và hội hè. Chỉ xin ghi ra đây đôi câu đối nổi tiếng nhất của Cao Bá Quát:
Phá tặc đãn hiềm tam tuế vãn
Đằng không khước hận cửu thiên đ ê.
(Trừ giặc, chẳng nề ba tuổi là muộn Bay lên không, giận chín tầng trời vẫn chưa cao).
                                                                      Đ.Hải
                                                            Sưu tầm từ Internet


Tiêu đề: Truyền thuyết Thổ thần nước Nam
Gửi bởi: donghai trong 30 Tháng Sáu, 2009, 05:48:08 am
Thổ Thần Nước Nam

     Mùa xuân, tháng hai, niên hiệu Thiên huống bảo tượng thứ hai (1096) vua Lý Thánh Tông thân dẫn quân theo dường biển đánh Chiêm Thành. Nguyên phi Ỷ Lan lúc ấy cũng vừa mới sinh hoàng tử thứ hai, được giao giúp việc nội trị ở Kinh sư (Thăng Long).

     Quân sĩ rầm rộ kéo đi, đến biên giới, nhưng gặp phía Chiêm Thành phòng thủ kiên cố, nên phía Đại Việt đánh mãi không được.

     Sợ ở Kinh đô có biến động, Lý Thánh Tông rút quân về Châu Cư Liêm để củng cố lực lượng, và nghe ngóng tình hình hậu phương.

     Khi có tin từ Kinh đô tới báo mọi việc vẫn tiến triển tốt đẹp, dân chúng yên ổ làm ăn, không ở đâu có biến động gì, Lý Thánh Tông liền cho quân quay lại tiếp tục đánh. Đó cũng là theo kế sách của Lý Thường Kiệt "nhử cho địch vào thế bất ngờ, không kịp đối phó".

     Nhưng đoàn thuyền của nhà vua vừa đến cửa Hoàn Hải, thì bỗng đâu mây đen kéo đến, trời đất tối sẫm. Rồi trong phút chốc, mưa to gió lớn, sóng biển dâng lên cuồn cuộn. Thuyền ngự, thuyền chiến, thảy đều nghiêng ngả chòng chành, không thể tiến lên được. Bất đắc dĩ, Lý Thánh Tông phải cho các thuyền tạm lánh vào cửa sông, neo đậu lại ở một bên bờ khuất gió.

     Đêm ấy, trong thuyền ngự, nhà vua đang ngủ mơ màng, bỗng thấy một người con gái không biết từ đâu hiện ra, lại bước lên thuyền rồi tiến đến trước mặt ...

     Nhà vua ngồi dậy để tiếp đón. Người con gái ước chừng 20 tuổi, nét mặt thanh thú, dáng điệu dịu dàng, trông chẳng khác nào một tiên nga, nhưng ăn vận lại giản dị, quần xanh áo trắng và không trang điểm gì. Nhà vua hơi có vẻ ngỡ ngàng, chưa biết phải xử trí thế nào, thì người con gái ấy đã nói:

     - Tôi là linh khí của cõi đất ở nước Nam này. Tuy sinh ra từ đất, nhưng hồn lại lơ lửng trên cao, ở giữa chốn rừng xanh bạt ngàn. Thế rồi, bỗng đâu con tạo xoay vần, nay hồn tôi chơi vơi ở nơi sóng nước. Bệ hạ bây giờ hãy cho người đưa tôi lên thuyền, lần xuất chinh này có tôi âm phù, thế nào cũng toàn thắng.

     Lý Thánh Tông im lặng lắng nghe, một tay đỡ lên cằm, như cử chỉ quen thuộc lâu nay mỗi khi Ngài gặp điều gì khó xử. quả thực, tuy đã nghe rõ, nhưng Ngài vẫn chưa hình dung ra nổi sự thể như thế nào. Ngài nhíu trán lại để suy nghĩ, nhưng ngay lập tức, đã thấy người con gái ấy vụt biến đi ngay.

     Ngài thấy bàng hoàng cả người, bèn cho gọi ngay Tăng Thống Huệ Lâm lại thuyền để hỏi han nguyên cớ, tức là  để "giải mộng" cho Ngài.

     Nhà sư Huệ Lâm vốn nổi tiếng là một Đại sư thông tuệ, uyên bác, từ lâu được vua vời vào tham dự triều chính và phong chức "Tăng Thống", nay theo đi đánh dẹp cũng ví như là chỗ dựa tinh thần của Ngài vậy.

     Sau khi nghe Lý Thánh Tông thuật lại giấc mộng, Tăng thống Huệ Lâm nói:

     - Thần nói hồn ở trên cao, giữa chốn rừng xanh, chắc là hồn đã nhập vào thân cây cổ thụ. Lại nói nay hồn chơi vơi ở nơi sóng nước, thì tức la cây đã bị bão lớn đánh bậc gốc, hiên đang trôi nổi dập dềnh nhưng cũng chỉ quanh quẩn đâu đây, nên thần mới về để báo mộng. sáng sớm mai Bệ hạ hãy cho quân lính mang thuyền nhỏ đi tìm, ắt là sẽ tìm thấy thần.

     Quả nhiên, đúng như lời Tăng thống nói, sáng hôm sau quân lính đi thuyền tìm thấy một thân cây cổ thụ có hình dáng và kích thước trông bề ngoài rất giống hình người, bèn đưa lại trình nhà vua. Lý Thánh Tông cả mừng, sai vớt lên bàn đặt trước thuyền ngự, rồi mời tăng thống Huệ Lâm đến thắp hương dâng lễ vật và tụng king cầu nguyện. Bài vị thờ thần ghi rõ là: "Hậu thổ phu nhân", theo như lệnh của nhà vua.

     Sau khi cúng thần xong, mọi người thấy tự nhiên trời quang mây tạnh, sóng yên biển lặng. Lý Thánh Tông bèn hạ lệnh cho quân sĩ lên đường. Lạ thay, lúc ấy không có gíó thổi, vậy mà tất cả các thuyền đều lướt sóng băng băng.

     Khi đỗ bộ lên đất Chiêm Thành, đại tướng tiên phong Lý Thường Kiệt đã dẫn đại quân xuất kỳ bất ý, đánh thẳng vào trại lớn của đối phương, nơi hành dinh của vua Chiêm Thành Chế Củ.

     Đã tưởng quân Đại Việt rút cả về rồi, nên sau đó Chế Củ không cho phòng bị gì, vì vậy, chỉ sau một đợt chống cự yếu ớt, đã phải đầu hàng.

     Chế Củ bị bắt, khi giải đến trước mặt Lý Thánh Tông, để chuộc khỏi tội chết, đã phải cất đất xin dâng ba châu Địa Lý, Ma Linh, và Bố Chính ...

     Quân Đại Việt hoàn toàn thắng lợi, trở về vào tháng 6 năm ấy. Khi đoàn thuyền đến cửa Hoàn Hải, Lý Thánh Tông hạ lệnh cho dừng lại, bảo các thuyền ghé vào bến cũ neo đậu như lần trước.

     Ý của nhà vua là muốn tổ chức ở đây một bữa tiệc để khao thưởng quân sĩ và dân chúng, đồng thời nhà vua sẽ dâng cỗ Thái lao (trâu, dê, lợn, mỗi thứ một con) để hậu tạ "hậu tổ phu nhân", rồi sau đó sẽ lập đền thờ thần vĩnh viễn ở đây. Thế nhưng, nhà vua chỉ vừa mới ban lệnh đó ra, đã thấy đất trời tối sẫm, rồi mưa to gió lớn đ ùng đ ùng, hiện tượng kỳ lạ hệt như lần trước.

     Tăng thống Huệ Lâm thấy thế tâu rằng:

     - Linh khí cõi đất của cả nước Nam này, tất phải được thờ ở chốn Kinh đô . vậy xin Bệ hạ hãy xuống lệnh cho rước thần về Thăng Long, để xứng đáng với địa vị cao quý của thần, rồi sẽ lập đền thờ sau vậy.

     Lý Thánh Tông cho lời tâu ấy là phải, bèn ra lệnh bảo quân sĩ cứ giết mổ gia súc để tế thần ở nơi đã tìm thấy lần trước, rồi sau đó mọi người sẽ ăn mừng, còn chưa tổ chức lập đền thờ thần vội.

     Lạ thay, khi lệnh ấy vừa ban ra, đã thấy trời quang mây tạnh trở lại.

     Về tới Kinh đô , nhà vua sai chọn một khu đất cao ráo ở làng An Lăng (tức làng Láng) ven kinh thành, để làm nơi lập đền thờ Thần.


Tiêu đề: Re: Truyền thuyết Thổ thần nước Nam
Gửi bởi: donghai trong 30 Tháng Sáu, 2009, 05:50:06 am
     
Truyền thuyết Thổ thần nước Nam (tiếp)

    Đền đài nguy nga, tráng lệ. Tượng thần đặt trên ngai, được tạc lại chính từ gốc cây cổ thụ có hình dáng người đã tìm thấy ở cửa Hoàn hải khi trước. Từ mặt mũi cho đến hình dáng, trang phục của thần, đều giống y như người con gái mà nhà vua đã mộng thấy trong thuyền ngự khi tránh mưa bão trước đây.

     Đền rất thiêng. Đầu năm mới nào nhà vua cũng cử quan đại thần đến để làm lễ quốc tế. Năm nào dân chúng làm ăn cũng thấy được mùa, sản vật trong nước dồi dào. Những khi hạn hán hay sâu bệnh, đến cầu đến cầu đảo cũng đều ứng nghiệm cả.

     Ấy vậy mà, có kẻ bán bổ lại dám bảo thần chỉ là một khúc gỗ trôi được vớt lên thôi, vì vậy, đã phải chuốc lấy tai vạ. Tuy thần chẳng chấp những lời ấy, nhưng lệnh của nhà vua, và sau đó là lệnh của bà Ỷ Lan nhiếp chính, vốn là người cũng rất sùng lễ bái, nhưng lại có gan giết Dương Thái Hậu và 76 cung nữ vô tội, đã ban ra phạt rất nặng những người dám báng bổ này.

     Đến thời Lý Anh Tông trị vì (1138 - 1175), khi ấy ngôi đền xây cất đã được trọn một trăm năm, trong nước xảy ra hạn hán lớn. Quần thần xin với nhà vua lập đ àn Nam giao để tế trời, đồng thời với tế thần "Hậu thổ phu nhân" ở đền An Lăng, gọi là "phối thờ", "hợp tế".

     Quả nhiên, sau đó được trận mưa to, lúa má hoa màu tươi tốt, dân chúng hồ hởi, vui mừng ... Vua Lý Anh Tông bèn gia phong cho thần thêm chữ "đại", gọi là "hậu thổ đại phu nhân".

     Đến triều Trần, thần lại còn được trọng vọng hơn nữa. Năm Trùng Hưng thứ nhất (1285) đời Trần Nhân Tông, phong thần là " Hậu thổ thần địa kỳ nguyên quân". Năm Hưng Long 21 đời Trần Anh Tông, gia phong thêm bốn chữ "Ứng thiên hóa dục". Còn tục lệ thờ cúng thần thì vẫn y theo như từ triều Lý: Đến tiết lập xuân, cùng với lễ quốc tế, đều "phải đem một con trâu bằng đất nặn, để ở dưới đền thờ thần" (lệnh có từ thời Lý Anh Tông).


Tiêu đề: Re: Truyền thuyết Việt Nam - sưu tầm
Gửi bởi: donghai trong 30 Tháng Sáu, 2009, 10:42:08 pm
Thần Tô Lịch
[/b]
 
     Thành Đại La ngày xưa được xây dựng tên phần đất cửa làng Long Đỗ. Làng này nằm bên bờ sông nhỏ chảy ra sông cái (Sông Hồøng).

     Tương truyền, xưa kia trong làng có nhà họ Tô, tuy gia tư không giàu có lắm, nhưng mọi người ăn ở với nhau thật là hiếu nghĩa, hòa thuận.

     Đó là vì gia đình này từ nhiều đời này luôn luôn có ba thế hệ cùng ở chung với một nếp nhà, nhưng do chăm chỉ làm ăn lại biết trên kính dưới nhường, nên chẳng hề xảy ra chuyện gì to tiếng. Đối với dân làng, họ cũng đối xử khoan dung và làm nhiều việc nhân nghĩa, nên được mọi người kính nể.

     Sang đến đời Tô Lịch, chẳng những ba đời, mà cả ba anh em trai, tuy đều có gia đình riêng, nhưng vẫn cùng ăn cùng làm, vậy mà trong nhà luôn luôn êm ấm, không bao giờ có đều gì xâu. Còn đối với dân làng, những khi giáp hạt hoặc những năm mất mùa, họ saÜn sàng bỏ thóc gạo ra cứu trợ người nghèo hoặc cho dân làng vay không lấy lãi. Vì thế lại càng được mọi người mến phục.

     Thời ấy, Giao Châu đang bị nhà Tấn cai trị (264 - 420). Nhà Tấn có lệ đề cử nhưng người hiền đức, hiếu nghĩa và các chức vị ở địa phương nên người anh cả Tô Lịch được chức vụ Long Đỗ. Ông điều hành và xử đoán các việc có lý có tình, lại biết thương yêu quý trọng mọi người nên hương ấp ấy yên vui, mọi người chăm lo sản xuất và không xảy ra những chuyện như tranh giành, đánh chửi nhau hoặc cờ bạc, trai gái trộm cướp.

     Tiếng lành đồn xa, vì thế khi ông còn sống, dân chúng trong vùng lân cận, khi gọi tên trong làng Long Đỗ, thường lại hay nói: "Đấy là làng ông Tô Lịch".

     Khi Tô Lịch già yếu rồi mắt, dân chúng trong vùng tiếc thương, đã lập đền thờ ông để tưởng nhớ, và cái tên làng Tô Lịch mãi mãi được lưu truyền.

     Khoảng 400 năm sau, lúc ấy vào đười tùy đường cai trị, quân lâm ấp, Nam chiếu ở phía nam thường hay ra Giao Châu cướp phá. Trương Bá Nghi (đời Đường) mới đắp lai La Thành cách sông Tô Lịch khoảng 200 thước, rồi về nhiệm sở từ Long Biên (khoảng thị xã Bắc Ninh) về đây (767). Cao Chính Bình thay Trương Bá Nghi. Khi Phùng Hưng khởi nghĩa đánh Cao Chính Bình rồi chiếm phủ đô hộ, cũng ở trong La Thành (791).

     Triệu Xương rồi Trương Chu sang cai trị sau đó, đều củng cố La Thành thêm. Đến đời Lý Nguyên Gia lại đặt đến trên nền nhàcũ của ông họ Tô thuở trước.

     Lý Nguyên Gia là viên quan cai trị khôn ngoan, lại am tường thiên văn địa lý và thông hiểu lý, số.

     Trước lễ động thổ, y đi dò la nhìn ngắm thế đất và hỏi han các bậc phụ lão trong vùng, nên đã hiểu rất rõ lai lịch. Khi đặt nhiệm sở trên nền nhà của họ Tô và Lý đã có tính toán kỹ càng. Đó là vùng đất bằng phẳng, cao ráo hơn so với chung quanh, lại được cái thế là "rốn của con rồng" (Lông Đỗ).

     Lý Nguyên Gia cho nấu rượu, mổ thịt gia súc làm cổ thật hậu để khao quan sĩ và mời tất cả các bặc ky lão trong vùng tới dự. Lý tỏ ý với mọi người rằng sẽ làm sớ tâu lênh vua đường xin lập Tô Lịch làm thần thành hoàng. Rồi cũng mọi người ăn uống, chuyện trò vui vẻ.

     Lý Nguyên Gia cho rằng như thế mọi việc suôn sẻ, không bị dân sở tại có phản ứng gì. Nhưng đ êm ấy, khi nằm bên cửa sổ thiu thiu ngủ, Lý bỗng thấy một trận gió ào tới, rồi bụi cuốn cát bay mù mịt. Tan cơn gió, trước mặt Lý hiện ra một cụ già phương trượng, râu tóc bạc trắng, vận phảm phục màu tía, cưỡi hươu trắng đến trước mặt bảo:

     - Tôi được bẩm báo khi ban ngày Ngài có nói với mọi người rằng sẽ lập sớ tâu lên nhà vua cho tôi được làm Thần Thành Hoàng của đất này. Xin cám ơn Ngài, Nhưng đó cũng chỉ là cái danh viï thừa, vì có hay không đối với tôi cũng chẳng có can hệ gì . Sự thực thì từ mấy trăm năm trước, khi ấy Ngài con chưa có mặt ở trên đời này, tôi đã được dân làng tưởng nhớ lập đền thờ. Rồi Ngọc Hoàng thượng đế cũng phong tôi làm thần cai quản cả vùng đất này, kể từ ngày ấy trở đi. Bây giờ Ngài lập phủ lệ trên đất của tôi, sự ấy là tùy Ngài, tôi không chấp làm gì, vì ai sống ở trên đời thì cũng cần có một nơi để ở. Chỉ mong Ngài làm quan đầu xứ hãy bão lũ thuộc hạ và quân lính chớ có cướp bóc, sách nhiều chúng dân, và bản thân, khi xét xử việc gì, cũng phải thật công minh. Có như thế thì mới xứng đáng với danh phận và trách nhiệm của mình. Tiếng thơm của tôi để lại, hẳn Ngài hỏi hang các bậc phụ lão trong vùng, nên biết rõ rồi. Mong Ngài cùng hãy làm như thế?

     Tuy nói như vậy nhưng nết mặt cụ già vẫn không hề biến sắc còn giọng vẫn ôn tồn và không hề tức giận. Lý Nguyên Gia mở mắt, há mệng ra mà lắng nghe, như nghe lời thầy dạy bảo. Nói xong, cụ già chợt biến mắt. Lý chỉ còn biết cách cung kính vái theo.

     Khi tỉnh dậy, Lý trong đ èn ngồi suy nghỉ trước sau. Lý quyết định chỉ xây phủ đệ vừa phải, và  đắp thành bên ngoài cũng nhỏ thôi, chứ không làm to tát. Một mặt Lý thấy binh lực tiền bạc ít, sợ "lực bất tòng tâm" mặt khác Lý cũng sợ người và thần ở đất này không dung. Lý không có biến động, mà chỉ mong được yên thân, rồi còn có ngày trở về phương bắc vẹn toàn.

     Đến thời Cao Biền sang dẹp quân Nam Chiếu cướp phá và ở lại làm tiết độ sứ (866), ý cho xây dựng phủ to tát, nguy nga hơn nhiều. Lại xây đắp la thành cũng bề thế, vững chắc hơn rất nhiều so với thời Lý Nguyên Gia. Biền cậy mình có vũ công lớn, lại bản thân là tay tướng số lão luyện, có nhiều thuật phép và mưu mẹo thâm hiểm, nên y tưởng răng sẽ bất chấp và khuất phục được tất cả. Nhưng y đã lầm to!

     Một buổi đang giữa thang sáu, nước sông cái tràn vào sông nhỏ dâng cao, Biền ngồi thuyền nhẹ thuận theo dòng nước mà vào trong thành. Đi khoảng một dặm, y thấy một cụ già phương trượng đang vừa bơi vừa tăm ở dòng sông, dang điệu có vẻ ung dung phấn trấn lắm. Biền bèn dừng thuyền lại hỏi:

     - Ta chỉ mới thử nhà ngươi một chút đó thôi.

     Sau buổi đó Biền về phủ đệ, đọc hết giấy tờ cũ. Rồi đi hỏi han các cụ phụ lão trong vùng thêm. Bề ngoài thơn thớt nói cười, nhưng trong bụng thì y căm giận, muốn trừ diệt bằng được thần Tô Lịch.

     Một buổi sớm, Biền ra đứng ở bờ sông Cái, phía đông thành Đại La, để ngắm nghìn các thế đất và tìm huyệt định yểm. Bỗng nhiên, một trận bão nổi lên, lá rụng các bay mù mịt và nước sông cũng dâng sóng lên cuồn cuộn. Đứng trên mặt sóng là thần Tô Lịch mà y đã từng gặp mặt, nhưng bây giờ trang phục thật uy nghi, tề chỉnh, lại cười trên một con hươu trắng.

     Biền giương mắt ra nhìn, chưa kịp có phản ứng gì. Bỗng nhiên, cụ già cưỡi hươu bay vút lên, rồi đến trên đầu Biền dâng lên hạ xuống ba lần. Đến lần thứ ba, Biền nghe thấy tiếng nói vọng xuống:

     - Nhà ngươi đừng hòng che được mắt ta, giả vờ ra đây ngắm cảnh. Ta thừa biết bụng dạ nhà ngươi nghĩ thế nào rồi.

     Biền kinh hãi, rồi bảo mấy tên lính hầu cùng nhau lui bước về phủ. Tuy vậy y vẫn cò nuôi ý định trả thù.

     Một tháng sau, khi đã chuẩn bị xong xuôi, Biền xây dựng đ àn tràng để niệm chú, bắt quyết. Bùa yểm của Biền là kim đồng thiết phủ. Đêm hôm ấy, Biền xõa tóc, cầm kiếm đứng giữa đ àn tràng, miệng lẩm bẩm còn tay thì khua khoắng lia lịa. Bỗng nhiên, sấm chớp nổi lên đ ùng đ ùng, nước mưa đổ xuống như trút. Trong cơn mưa gió, có tiếng thiên binh thần tướng hò reo vang lừng. Rồi trong khoảng khắc, trái với ý đồ của Cao Biền, kim đồng thiết phủ bật ra khỏi đất rồi biến ngay thành tro bụi, bay đi mù mịt ...

     Biền khiếp đảm, ngã vật ra đất, hai mắt trợn ngược, bọt mép sùi ra, nom thật gớm guốc, thảm hại. Quân sĩ phải vực y vào trong trướng, đánh gió, xoa bóp và cho uống thuốc, một hồi lâu sau là Biền mới tỉnh. Y than thầm:

     - Xứ sở này nhân kiệt địa linh không thể nào chế ngự được. Ta ở lâu ắt sẽ chuốc lấy tai họa.

     Từ đấy Biền vơ vét tích cóp thạt hiều vàng bạc, châu báo, lụa là, cùng nhiều thứ quý giá khác. Y cho người thân tín mang về dứt lót quan thái quỳ nha đường. Mấy tháng sau, Biền nhận được chiếu chỉ về kinh thăng chức. Tuy là mừng đấy, nhưng khi ra về người ngượm tay chân y cứ rung lên như rẽ.Về đến nước, y vẫn còn mắc chứng run. Mấy tháng sau thì y mới chết.

     Đây lại nói về thần Tô Lịch do có nhiều công đức với dân chúng nên Ngài được lập là Thần hoàng, như khi nói với Lý Nguyên Gia, Ngài đã bảo như vậy, Ngài lại có hiều công đức với cả đất nước, vì đây là  đất của quốc đô Thăng Long sau này, như đã mấy lần Ngài cho Lý Nguyên Gia, rồi cao Biền, biết thế nào là  đất có chủ.

     Dân chúng thờ phụng Ngài ở nơi lập đền thờ thật là tôn nghiêm, thành kính. Các triều đại trước đây cũng đều có sắc thượng phong, coi Ngài như vị Thành hoàng thứ hai của quốc đô, sau thần chính khí Long Đỗ vậy. Hàng năm, nhà vua đều cử quan đại thần đến đây để làm lễ quốc tế.

     Đến khi người Pháp cai trị, chắc là họ có mở sách cũ, học được thói đối xử của Cao Biền, nên đã san bằng đền thờ thần Tô Lịch, để xây dựng lên ở đó, là Nhà Thờ lớn hiện nay vậy.




Tiêu đề: Re: Truyền thuyết Việt Nam - sưu tầm
Gửi bởi: lonesome trong 30 Tháng Sáu, 2009, 11:33:39 pm

     Đến khi người Pháp cai trị, chắc là họ có mở sách cũ, học được thói đối xử của Cao Biền, nên đã san bằng đền thờ thần Tô Lịch, để xây dựng lên ở đó, là Nhà Thờ lớn hiện nay vậy.




Đống bài mà bạn copy về đây thực chất là những tài liệu đã được/bị xào nấu nhiều, độ chính xác không còn nữa. Chẳng hạn như đoạn tôi quote lại: Ai bảo bạn Nhà Thờ Lớn hiện nay là do người Phám san bằng đền thờ Thần Tô Lịch để xây nên? Đền thờ thần Tô Lịch mà sao lại nằm xa sống Tô thế? Bạn có biết nền Nhà Thờ Lớn ngày nay là của công trình nào không?
Copy 1 mớ kiến thức tạm nham thế này, thiết nghĩ hơi phí công bạn.


Tiêu đề: Re: Truyền thuyết Việt Nam - sưu tầm
Gửi bởi: donghai trong 01 Tháng Bảy, 2009, 06:03:24 am
  Định Nghĩa
  Truyền thuyết: tác phẩm tự sự dân gian kể về sự kiện và nhân vật lịch sử(hoặc có liên quan đến lịch sử) theo xu hướng lí tưởng hóa, qua đó thể hiện sự ngưỡng mộ và tôn vinh của nhân dân đối với những người có công với đất nước, dân tộc hoặc cộng đồng cư dân của vùng.
  Truyền thuyết không chú trọng tính chính xác như các văn bản lịch sử  , mà truyền thuyết phản ánh lịch sử một cách độc đáo: những câu truyện trong lịch sử dựng nước, giữ nước của cha ông ta dược khúc xạ qua lời kể của nhiều thế hệ rồi kết tinh thành những hình tượng nghệ thuật đặc sắc, nhuốm màu thần kì mà vẫn thấm đẫm cảm xúc đời thường. Chỉ có hiểu đúng và sâu sắc nội dung cùng nghệ thuật của truyền thuyết khi xem xét tác phẩm trong mối quan hệ ảnh hưởng qua lại với môi trường lịch sử - văn hóa mà nó sinh thành, lưu truyền và biến đổi.
                                                     Nguồn: SGK-NV10/tập1


Tiêu đề: Re: Truyền thuyết Việt Nam - sưu tầm
Gửi bởi: donghai trong 01 Tháng Bảy, 2009, 06:12:44 am
      "Đến khi người Pháp cai trị, chắc là họ có mở sách cũ, học được thói đối xử của Cao Biền, nên đã san bằng đền thờ thần Tô Lịch, để xây dựng lên ở đó, là Nhà Thờ lớn hiện nay vậy."

     Theo định nghĩa trên thì tôi thấy câu văn "Đến khi người Pháp cai trị, chắc là họ có mở sách cũ, học được thói đối xử của Cao Biền, nên đã san bằng đền thờ thần Tô Lịch, để xây dựng lên ở đó, là Nhà Thờ lớn hiện nay vậy."  mà bạn bảo sai về lịch sử. Tôi nghĩ không cần đi sâu quá về khía cạnh lịch sử nhiều, đó chỉ là một hạt sạn nhỏ  trong bài do nhân dân các thế hệ truyền miệng và muốn tạo cho câu truyện có độ thật và huyền bí hơn nên đã lồng ghép thêm lịch sử với truyền thuyết.
     


Tiêu đề: Re: Truyền thuyết Việt Nam - sưu tầm
Gửi bởi: danngoc trong 01 Tháng Bảy, 2009, 06:23:27 am
Đồng ý với Lon Xằm. Khuynh hướng popular hóa lịch sử thậm chỉ không có cả tác dụng giải trí.


Tiêu đề: Re: Truyền thuyết Việt Nam - sưu tầm
Gửi bởi: lonesome trong 01 Tháng Bảy, 2009, 09:06:23 am
      "Đến khi người Pháp cai trị, chắc là họ có mở sách cũ, học được thói đối xử của Cao Biền, nên đã san bằng đền thờ thần Tô Lịch, để xây dựng lên ở đó, là Nhà Thờ lớn hiện nay vậy."

     Theo định nghĩa trên thì tôi thấy câu văn "Đến khi người Pháp cai trị, chắc là họ có mở sách cũ, học được thói đối xử của Cao Biền, nên đã san bằng đền thờ thần Tô Lịch, để xây dựng lên ở đó, là Nhà Thờ lớn hiện nay vậy."  mà bạn bảo sai về lịch sử. Tôi nghĩ không cần đi sâu quá về khía cạnh lịch sử nhiều, đó chỉ là một hạt sạn nhỏ  trong bài do nhân dân các thế hệ truyền miệng và muốn tạo cho câu truyện có độ thật và huyền bí hơn nên đã lồng ghép thêm lịch sử với truyền thuyết.
     

Từ thời Pháp xây Nhà Thờ Lớn tới nay là bao nhiêu năm mà tạo thành 1 "truyền thuyết" sai lạc lịch sử như thế hả bạn? Truyền thuyết đành là TP văn học dân gian nhưng nó cũng là 1 tài liệu lịch sử. Về thời xa xôi thì không nói chứ những gì mới diễn ra cách nay hơn 100 năm mà sai thế này thì làm sao mà châp nhận được?


Tiêu đề: Re: Truyền thuyết Việt Nam - sưu tầm
Gửi bởi: donghai trong 01 Tháng Bảy, 2009, 10:24:52 am
    
[/quote]

Từ thời Pháp xây Nhà Thờ Lớn tới nay là bao nhiêu năm mà tạo thành 1 "truyền thuyết" sai lạc lịch sử như thế hả bạn? Truyền thuyết đành là TP văn học dân gian nhưng nó cũng là 1 tài liệu lịch sử. Về thời xa xôi thì không nói chứ những gì mới diễn ra cách nay hơn 100 năm mà sai thế này thì làm sao mà châp nhận được?
[/quote]

            Đúng là đoạn văn trên đã sai về phần lịch sử. Tôi đã tìm hiểu nhiều và xin cải chính lại Nhà thờ lớn Hà Nội được Pháp xây dựng từ năm 1883 và được khánh thành 4 năm sau trong dịp lễ Giáng sinh 1887 trên  mảnh đất Chùa Báo Thiên.

 http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=12522&rb=0401


Tiêu đề: Re: Truyền thuyết Việt Nam - sưu tầm
Gửi bởi: donghai trong 01 Tháng Bảy, 2009, 10:29:47 am
    Tôi sẽ cố gắng kiểm tra tính chính xác của các câu truyện truyền thuyết sắp tơi sẽ đưa lên diễn đàn. Nếu có gì nhầm lẫn, sai sót mong các bạn nhắc nhở góp ý thêm cho tôi!
                                                         Đ.Hải


Tiêu đề: Re: Truyền thuyết Việt Nam - sưu tầm
Gửi bởi: donghai trong 01 Tháng Bảy, 2009, 06:33:39 pm
Thiếu Phụ Nam Xương

 
Phần 1:
     Đời vua Lý Thánh Tông (1054 - 1072), ở huyện Nam Xương, thuộc ven sông Hoàng, nay là thôn Vũ Điện, xã Chân Lý, huyện Lý Nhân (Nam Hà), có nhà họ Vũ, tuy gia sư không thuộc khá giả, nhưng lại nức tiếng gần xa vì có cô con gái xinh đẹp, nết na, vừa khéo tay, hay làm, lại biết đảm đang quán xuyến công việc. Nàng tên là Vũ Thị Thiết.

     Con trai trong vùng đến dạm hỏi. Cha mẹ nàng cũng nhiều phen cân nhắc, đắn đo và cuối cùng nhận lời gã cho một chàng trai cùng làng, thuộc dòng họ Trương. Gia đình chàng Trương này rất giàu có, lại chỉ có hai mẹ con. Tuy nhiên, anh chàng này thuôïc loại người vai u thịt bắp, không đến trường lớp học hành gì cả.

     Sự cân nhắc của cha mẹ cô gái kể ra cũng chu đáo. Xưa nay cha mẹ nào không muốn gả con cho gần? Lại gả vào nơi khá giả và không phải tranh giành với ai thì càng tốt chứ sao? Còn chàng rể tương lai, xem ra cũng thuộc loại "được": Khỏe mạnh, chăm chỉ lại hiền lành. Tuy kém về đường học hành, nhưng không ai thấy chàng ta đi ngang về tắt, hoặc sa vào con đường cờ bạc rượu chè. Ở nhà quê, suốt đời cày sâu cuốc bẩm và lo chí thú làm ăn, thì thử hỏi, chọn được chàng rể và gia đình như thế, có khác nào như bắt được vàng.

     Họ nhà gái phấn khởi đã đ ành, còn họ đ àng trai sự vui mừng càng tăng thêm gấp bội. Có cô con gái nhất làng làm về làm dâu họ, thì sao lại không vui mừng? Phen này nhất định sẽ tổ chức đám cưới thật to, các họ khác nhìn vào cứ gọi là lác mắt! Hoa thơm đã có người hái, người họ khác ngồi mà chờ đến mùa quýt sang năm!

     SaÜn của, họ nhà trai thịt đến ba bò bảy lợn. còn rượu thì hàng trăm vò, thả sức uống say. Mọi người trong làng trong xã được dịp ra ra vào vào, nên mặt lúc nào cũng trông đỏ tưng bừng, còn làng nước thì đua nhau kéo đến trông nườm nượp. Ăn uống dòng dã suốt ba ngày liền. Phường chèo cũng về hát và làm trò suốt ba đ êm. Từ các mâm rượu, từ các cuộc vui, mọi người cười nói oang oang. Xóm mạc tưng bừng như mở hội. Ở ngõ ngách nào cũng chỉ bàn về đám cưới. Thôi thì đủ các ý đẹp lời hay và các kiểu tán tụng. Rượu thịt nhiều thì kể ra cũng khác thật!

     Vì thói đời thì hay phù thịnh, nên trong lúc say sưa, người nào người nấy cũng chỉ thấy nói đến sự tốt đẹp. Nào môn đăng hộ đối, nào giai lão bách niên, rồi con đ àn cháu đống, rồi lại như hoa như nụ ... Thôi thì chẳng thiếu một mỹ tự nào!

     Ngay cha mẹ cô dâu cũng vậy, cứ đinh ninh là  đã chọn được một chàng rể nên người. Họ mừng thầm cho con gái, dẫu chưa vào được nơi sang quý, nhưng chí ít, cũng là chốn mát mặt thảnh thơi. Hỏi thử khắp cả làng này, đã có ai bằng được?

     Nhưng thói đời thường hay phù thịnh, vì thế mà cũng thành ra nông nỗi thế nào. Chàng rể của họ, được tiếng rằng hiền, nhưng thực ra lại là một người rất cục. Nhà con một, lại được nuông chiều từ nhỏ và chẳng hay tiếp xúc với ai, nên cái cục ấy chưa có dịp phát lộ ra bên ngoài.

     Không học hành gì, nên sự suy xét của chàng Trương cũng thật xốc nổi, nông cạn, chỉ được cái khôn vặt. Đã thế, đến lúc có vợ, tính khí của chàng lại thêm những điểm lạ lùng. Cứ như trên đời này chỉ mỗi vợ mình là  đẹp, nên chàng ta canh chừng, cấm đoán, chẳng muốn cho vợ tiếp xúc , chuyện trò với ai. Đã đ ành trai gái hay ghen, nhưng ở chàng Trương, sự ghen tuông đã đến mức lố bịch, nó là sản phẩm của một lòng dạ nhỏ nhen và một đầu óc rất mực u tối. Từ khi về nhà chồng, cô gái họ Vũ quả nhiên trở thành một người vợ hiền, dâu thảo. Mọi việc, từ trong nhà  đến đồng bãi đều do một bàn tay nàng quán xuyến, đảm đang. Lo ruộng trên bờ dưới nước phân giống má. Lo con lợn con gà, đường kim mũi chỉ, rồi cơm ngon canh ngọt cho cả nhà. Thôi thì thượng vàng hạ cám, chẳng thấy lúc nào nàng để tay chân không, công việc nối tiếp công việc, mà việc nào cũng thực chu đáo, đâu vào đấy cả. Mẹ chồng thấy nàng dâu như thế, vui như mở hội trong lòng. Còn anh chồng thì được thể, lại càng ăn no ngủ kỹ, giao hết công việc cho vợ lo liệu. Duy có điều, mỗi lần vợ ra khỏi nhà, anh ta cảm thấy lòng dạ chẳng yên, nên tìm mọi cách để theo, vì vậy, tiếng là  đi làm, nhưng thực tình là  để canh chừng vợ.

     Biết ý chồng, chị vợ mỗi khi tiếp xúc với ai cũng hết sức dè chừng. Còn lo công việc thì dường như đã thành bản tính của chị. Vì thế, gia đình họ được tiếng là gia đình êm ấm, thuận hòa, đáng làm gương cho mọi gia đình khác. Lúc này chị vợ cũng đã bắt đầu có mang.

     Giá như không có chiến tranh, không có sâu bệnh hạn hán lụt lội để cho dân chúng yên ổn làm ăn, lúc nào cũng ngô lúa đầy bồ, gia súc đầy sân thì còn vui mừng nào bằng. Và gia đình chàng Trương, dẫu anh chồng có tính hay ghen thì cũng chẳng làm sao. Anh ta ghen thế chứ ghen gấp mười lần thế, chị vợ cũng dè chừng được, và gia đình họ mãi mãi chẳng hề hấn gì.

     Tuy nhiên, tai họa từ trên cao đổ ập xuống đầu mọi người: Chiến tranh nổ ra giữa Đại Việt và Chiêm Thành đúng lúc mà gia đình chàng Trương đang sum họp yên ổn ấy.

     Vua Lý Thánh Tông Đại Việt cho rằng vua Chiêm Thành Chế Củ không biết lễ độ: Không giữ tình lân bang, chẳng chịu triều cống, lại còn hay cho quân lính cướp phá ở biên giới. Vậy nên cần phải mang quân đi "dậy" cho một bài học nhớ đời.

     Nhà vua đích thân làm Đại nguyên soái thống lĩnh ba quân. lệnh ban xuống cho mỗi thôn ấp phải lấy cho đủ quân số. tất cả trai tráng, dù con một mà không đươc học hành gì, cũng phải lên đường. Bà mẹ chàng Trương ở lại miền Nam Xương, dù  đã khóc đến hết nước mắt, lại mang lễ vật đến tất cả các cửa, mà cuối cùng con trai cũng không thoát "nạn".

     Ngày chàng Trương lên đường, chị vợ nước mắt chạy quanh, lại đang bụng mang dạ chửa, nhưng cũng làm mâm cơm để mời anh em, họ hàng đến dự. Thôi thì đủ các lời động viên, cho nên bà mẹ phải chờ cho mọi người về hết mới dám khuyên con:

     - Thôi thì đ ành vậy. Nhà vua đã có lệnh, mẹ cũng chẳng giữ được con ở nhà. Chỉ xin con nhớ rằng nhà mình mấy đời chân lấm tay bùn, nên chẳng cần con phải xông pha nơi mũi tên hòn đạn để thăng quan chức làm gì. Vinh hoa để dành cho người khác, còn con giữ lấy hai chữ "bình an" mà trở về, cho mẹ khỏi lo phiền.

     Chị vợ cũng nắm lấy chồng vạt áo chồng, nói tiếp:

     - Thiếp chỉ mong chàng làm được như lời mẹ dặn. Ở nhà mọi việc chàng cứ yên tâm, đã có thiếp đảm đương. Vợ chồng là nghĩa trăm năm. Đời thiếp trước sau chỉ một chàng. Gia đình ta mai ngày rồi sẽ được đoàn tụ ...

     Chàng Trương lặng thinh không nói năng gì, cũng chẳng có cử chỉ nào. Chàng ta nhìn chăm chăm vào bụng vợ, rồi đột ngột đặt tay lên ngực mình mà nói:

     - Tôi đã suy tính kỹ càng, chẳng có gì lo cho tôi đâu. Nàng hãy lo đến công việc ở nhà. Rừng ruộng nhiều thì cố mà làm, không nên chung đụng với người khác. Khi sinh con, đặt tên cho nó là thằng Đản, chắc nó sẽ là con trai ...

     Nói rồi chàng điềm tĩnh bước ra khỏi nhà, không một lần ngoái đầu nhìn lại.

     Anh lính họ Trương quả nhiên đã là một tay khôn ranh có hạng, nên trong suốt cuộc chiến tranh, đều tìm được cách thoát hiểm dễ dàng. Hiển nhiên anh ta không dũng cảm, cũng chẳng hăng máu vịt bao giờ. Luôn luôn tìm mọi cách, mọi cớ để tụt hậu, không phải đánh giáp lá cà. Khi ở tuyến sau, khi vào đội tải lương, lúc thì làm liên lạc. Khi buộc phải xông lên phía trước cùng đội quân đầu tiên, thì chỉ chục bước chân, anh ta đã tìm được cách ngã. Nếu quân ta thắng thì anh ta xông lên phía sau, còn nếu quân ta thua anh ta chạy lui phía trước. Suốt cuộc chiến tranh, anh ta chỉ "diễn" độc có "trò" đó mà xem cũng thành công mỹ mãn, chẳng phải sứt đầu mẻ trán gì. SaÜn tính dễ ăn dễ ngủ, anh ta bỏ qua mọi lo lắng ưu phiền. Nếu có lúc nào đó chợt nhớ đến mẹ già, vợ trẻ thì anh ta tặc lưỡi: "Vẫn thế cả thôi mà", rồi ngủ tiếp.

     Ấy vậy mà trong những ngày này, bà mẹ chàng Trương lại lo đến phát ốm. Chị vợ đã mệt lại càng thêm mệt. Tuy nhiên, là người phụ nữ đảm đang, chị vẫn gắng gượng mọi việc lo tròn.

     Kể từ ngày chàng Trương ra đi, nửa năm sau, ở nhà vợ chàng sinh được một mụn con trai. Thằng bé hơi gầy nhưng nét mặt thì giống bố như tạc. Nhớ lời chồng dặn, chị đặt tên cho nó thằng Đản.

     Trong những ngày con dâu nằm "ổ", công việc lặt vặt tự nhiên phải "trút" sang cho mẹ chồng, vì gia đình không nuôi người ở. Bà cụ, tuy mừng thì có mừng, nhưng tuổi cao lại saÜn bệnh tật, nên cũng không thể "trụ" được lâu dài. Bởi vậy, khi con dâu rời "ổ" thì cũng là lúc bà mẹ ốm liệt giường.

     Một nách con nhỏ, lại công việc, ấy thế mà chị vẫn chạy vạy, lo tìm thầy thuốc rồi cơm cháo hậu hạ bà mẹ chu đáo hàng mấy tháng trời. Làng xóm thấy vậy ai cũng ngợi khen, còn bà mẹ thường nắm tay con mà nói:

     - Mẹ biết sức mẹ cũng chẳng cố thêm được đâu, con đừng quá lo lắng, chạy vạy mà sinh ốm sinh đau thì khổ ...

     Đến khi sắp hấp hối, bà cụ còn căn dặn thêm:

     - Mẹ thấy ... trong người ... yếu lắm ..., không còn được gặp ... bố thẳng Đản ... trở về ... con ở lại ... trông nom ... có con có cháu ... thế này ... mẹ cũng ... hả lòng hả dạ ... Ới con ơi ... Ai gây ra ... cuộc binh đao ... có thấu cho ... mẹ con tôi ... nông nỗi ...

     Vừa nói bà cụ vừa nức nở, rồi nấc khan vài tiếng, đoạn, hai tay buông xuôi, vành mắt cũng từ từ khép lại ... Bà cụ đã "đi" rồi, trên gò má vẫn còn đọng lại mấy giọt nước mắt nóng hổi.



Tiêu đề: Re: Truyền thuyết Việt Nam - sưu tầm
Gửi bởi: donghai trong 01 Tháng Bảy, 2009, 06:35:00 pm
 
Thiếu phụ Nam Xương
Phần 2:
     Chị vật vã than khóc bên xác mẹ. Họ hàng, làng xóm kéo đến, cùng chị lo liệu đám tang. Tuy không có người chồng ở nhà, nhưng mọi vệc đều chu đáo, ai ai cũng đều cảm phục và ca ngợi lòng hiếu thảo của chị.

     Từ ngày bà mẹ chồng qua đời, vợ chàng Trương phải một mình đảm đương quán xuyến công việc. Những việc không đừng được chị mới nhờ người, mà toàn là chỉ đ àn bà con gái với nhau cả. Giữ cho được một gia tư bề thế, đầy những ruộng cả ao liền, quả là  điều không dễ. Lại phải bồng bế, nuôi nấng con thơ nên nỗi vất vả lại càng chồng chất. Đi đến đâu chị cũng phải địu con theo. Lúc nào chị cũng tất bật vội vội vàng vàng ... Những khi mưa dầm gió bấc hoặc đ êm hôm khuya khoắt, trong căn nhà trống trải chỉ thui thủi có hai mẹ con, thì nỗi buồn lại càng như nẫu ruột nẫu gan thêm.

     Nhưng rồi những ngày ảm đạm nhất cũng qua đi. Đứa bé lớn dần. Biết lẫy, biết bò, rồi tập đi, tập nói. Có đứa trẻ trong nhà, thỉnh thoảng lại bi bô, nỗi buồn của chị cũng vơi nhẹ và nhà cửa cũng đỡ quạnh hiu. Chị hay bày ra các trò chơi và  đồ chơi để con ngồi một mình, vì dẫu sao cũng phải làm nhiều công việc khác.

     Khi đứa trẻ nói sõi và bắt đầu biết nhận xét đôi chút thì một hôm nó hỏi:" Mẹ ơi, bố đi đâu?". Mặc dù biết rồi có lúc con sẽ hỏi câu hỏi này, nhưng cứ nghĩ nó còn bé quá, nên chị trả lời cho xong việc: "Bố đi vắng rồi."

     Nào ngờ, thằng bé vẫn hỏi tiếp:" Thế bao giờ bố trở về?"

     Chị lăng ra lúng túng, rồi đ ành phải trả lời thật:"Bố đi đánh giặc xa lắm, chưa về nhàđược". Thế là thằng bé lắc đầu quày quạy, rồi lăng ra khóc, đòi mẹ:" Phải đưa bố về! Phải đưa bố về nhà kia! ..."

     Chị thực sự bối rối, nước mắt chảy quanh dỗ con mà lòng dạ tan nát. Đứa bé vẫn cứ khóc. Lúc ấy, lợn trong chuồng lại đang rít lên đòi ăn. Không thể ngồi lâu, và thế là chị đã buột miệng thốt ra cái câu tai hại nhất:"Đến tối bố về!". Đến tối! khi người mẹ thấp đ èn lên để trong nhà sáng sủa cũng là lúc đứa bé nhớ ra, và nó lại đòi đến mấy lần: "Mẹ ơi bố đâu rồi!".

     Chị thảng thốt nhìn quanh, như thể chờ đợi sự xuất hiện của phép thần. Cửa lúc ấy đã khép và cổng bên ngoài cũng đã đóng ... chợt nhìn thấy cái bóng của mình đang lung linh trên vách, chị nhanh trí chỉ liền cho con thấy:"Đấy!Bố đấy! bố đã về với đản đấy!".

     Đứa bé trố mắt ra ngạc nhiên, mọi lần trước, nó hoàn toàn chưa để ý đến chuyện này. Thế là nó reo lên, chạy về phía ấy. Biết ý, chị vẫy tay để cái bóng cũng vẫy tay theo, và thằng bé sung sướng, cười lên như nắc nẻ ...

     Chuyện đời nhiều khi nghĩ cũng thật oái ăm. Cái trò chơi vô hại ấy, cuối cùng rồi cũng trở thành có hại. Nhưng đó là chuyện xảy ra về sau, còn bây giờ, tối nào thằng Đản cũng bắt mẹ thắp đ èn lên để cho bố nó về. Tối nào hai mẹ con chị cũng chơi đến tận khuya, chỉ khi nào thằng riú mắt lại buồn ngủ, nó mới chịu thôi. Đấy cũng còn là cái cách một công đôi việc của người mẹ: Trong lúc thằng bé đ ùa nghịch, chị cũng tranh thủ vá may và làm được vô khối công việc nửa.

     Kể ra, nếu đầu óc thằng bé bớt đần độn đi đôi chút, chắc trò chơi này cũng không kéo dài được lâu. Cái sự đần độn của nó, cũng như cái tính thiển cận dẫn đến hay ghen của người bố, chắc là do trời định. Và cũng là do trời định, cả cái tài đảm đang tháo vát của người thiếu phụ chờ chồng, đã bày đặt ra trò vui, để tự động viên, nhưng cũng là  để tự lừa dối mình.

     Giá như người mẹ chẳng nghĩ cách tạo ra thêm nhiều hình thù mới mẻ, ngộ nghĩnh trên vách, thì chỉ sau mấy lần, thằng bé cũng sẽ chán. Đằng này, để cho đứa con vui, dường như chị cũng tự huyễn hoặc ngay cả bản thân mình. Khi về chàng Trương biết chuyện chắc sẽ mãn nguyện mà cười vang lên, hả hê sung sướng lắm ...

     Vẫn nhớ đinh ninh cái tính hay ghen đến kỳ cục của chồng, tối nào chị cũng gài chặt cánh cổng ngõ. Lại còn tấp thêm mấy ngọn tre gai ở phía trong.

     Quả nhiên, đ êm hôm chẳng có kẻ nào mò đến cả. Thế nhưng, tiếng nói tiếng cười của hai mẹ con và ánh đ èn, thì chẳng cánh cổng nào ngăn lại được. Theo kẽ vách, ánh sáng hắt cả ra ngoài sân, còn tiếng nói tiếng cười thì văng vẳng tận hàng chòm hàng xóm ...

     Mấy ngày nay sao có con chim khách về hót trước nhà: "Chim báo điềm lành chăng?" Lòng người thiếu phụ thấy xốn xang: Chồng chị mãn hạn lính sắp trở về đây. Tính từ ngày chàng Trương ra đi, đến nay đã ngoài hai năm và  đứa con cũng đã gần ba tuổi. Nếu lúc này chồng chị về thật, thì còn niềm vui sướng nào bằng? Chị nghĩ thầm. Bà mẹ dầu sao cũng đã mồ yên mả đẹp, và chị cũng đã làm trọn bổn phận làm dâu của mình, nếu bây giờ chị hay nghĩ đến chồng thì cũng có gì đáng trách? Ôi! Chẳng phải xe ngựa hay võng giá xênh xang, mà chỉ cầu chồng mặt mũi tay chân lành lặn trở về là  được rồi. Nghĩ đến đấy, đôi mắt chị long lanh, hai gò má chị ửng hồng, còn trong lồng ngực, trái tim đập thình thịch ...

     Thế rồi chỉ mấy ngày sau, chàng Trương chồng chị đã trở về nhà thật!.

     Vua Đại Việt tưởng có thể đ è ngay bẹp vua Chiêm Thành, nhưng nào ngờ, mấy trận đầu đã bị thua liểng xiểng. Nhà vua rút quân về sâu trong lãnh thổ, cách thật xa biên giới để củng cố lực lượng và có lúc chán nản, đã toan rút quân về. Nhưng rồi sau có quân tiếp viện và lương thực tới, có thượng tướng Lý Thường Kiệt can ngăn, lại có "biểu" khích lệ của bà Nguyên phi nhiếp chính Ỷ Lan, nên cuối cùng nhà vua cũng lấy lại được sĩ khí, quyết tâm xuất binh thắng trận.

     Khi bài học mà nhà vua "dậy" xong, nghĩa là quân Chiêm Thành đã đại bại, thì bên phía quân ta, thiệt hại cũng không phải ít. Tính ra, phải ngoài hai năm cuộc chiến mới thật tàn, cướp đi vô số sinh mạng và của cải.

     Anh lính họ Trương, như đã nói, do có máng khóe, nên cuối cùng vẫn bình yên vô sự. Chàng ta trở về mà lòng dạ hân hoan. Lại sắp được cặp kề bên vợ. Lại được nhìn thấy mẹ già. Lại có cả thằng con nhỏ lũn cũn chạy theo sau. Nổi mừng tựa như chấp cánh mà bay lên vậy.

     Nhưng nào ngờ, vừa đặt chân tới đầu làng, chàng Trương đã hay tin mẹ mất. Chàng nắc lên nức nở rồi vội vả bước thật nhanh về nhà. Đẩy cổng bước vào, thấy vợ con lúi húi dưới bếp, chàng cũng chỉ nhìn qua, rồi vội bước trên nhà trên, quẳn bọc quần áo xuống đất và lăn ra khóc thảm thiết. Về sau trong làng, có người bảo đấy là người con hiếu thảo hết lòng, nhưng có người lại cười thầm: Sao mà nông nỗi hồ đồ đến vậy!

     Chị vợ dắt con từ nhà bếp lên, tần ngần một hồi trước cảnh tượng, rồi cuối cùng cũng phải lựa lời khuyên nhủ chồng. Chàng ta đã thôi cơn khóc, liền xòa tay ôm lấy đứa con, như thể cầu mong một sự chở che, nhưng đứa bé rãy nãy vùng chạy ra, làm cho chàng ta cảm thấy bị hụt hẫng. Chị vợ chẳng biết làm thế nào, chỉ trơ mắt đứng nhìn chồng. Chàng ta bảo vợ tìm nắm hương, be rượu, mấy quả cau và lá trầu không để đi viếng mộ mẹ. Lúc vợ đi chuẩn bị, thì người chồng cũng tìm cách dỗ dành đứa con, nhưng hai mắt nó dương thao láo, nghe thấy mà chẳng nói năng gì. Chắc là nó vừa lạ vừa sợ.

     Chàng Trương cầm lễ vật, bế cả đứa con để đi viếng mộ mẹ, bởi vì lúc này họ hàng làng xóm cũng đã bắt đầu đến chơi, chị vợ phải lo đun nước, dọn dẹp nhà cửa ... nên bế nó không tiện.

     Dường từ nhà ra mộ mẹ cũng khá xa,nhưng biết đám ruộng chôn nên chàng Trương cũng không phải hỏi ai. Vừa đi chàng vừa sụt sùi, làm cho đứa bé sợ hãi, hai tay cứ ôm riết lấy cổ bố. Đến mộ, đặt lễ vật và thắp hương xong chàng ta lại òa lên khóc nức nở. Vừa khóc vừa kể lể nguồn cơn. Rồi vật vã, rồi lại gào lên những hồi thảm thiết. Thấy người lớn khóc, đứa bé cũng khóc theo. Một lúc lâu sau, dường như chợt tỉnh ngộ, chàng Trương mới nhớ tới việc dỗ con. Và lần đầu tiên trong đời, đứa bé được nghe chàng ta gọi là "con" và xưng là "bố":

     - Thôi, nín đi con, đừng khóc nữa. Bà đã mất rồi, lòng bố cũng đang tan nát đây. Nào đứng lên, về với bố đi con.

     Đứa bé lúc này đã nín, nhưng nó lại giương cặp mắt nhìn người bố ngơ ngác. Nó nhớ nó đã cómột người bố đen truùi trũi, đ êm nào cũng trở về với hai mẹ con nó kia. Người bố ấy tuy không bao giờ nói, nhưng lần nào mẹ nó cũng bảo đấy là bố thật, và nó đã tin theo. Bởi vậy, nó trả lời chàng Trương - người bố đang đứng trước mặt:

     - Ô ... ông ... Không phải là bố. Bố tôi đến tối mới về kia!

     - Ai bảo thế? Chàng Trương liền saÜng giọng.

     Đứa bé giương mắt thao láo đáp: "Mẹ!"

     Chỉ vừamới nghe có thế đã thấy chàng Trương giận dữ điên cuồng. Máu dồn lên mặt, hai tai ù  đặc, chàng ta toan giang tay tát thằng bé, nhưng như chợt tỉnh, hai tay chàng bỗng buông sõng, lẩy bẩy, và hai tròng mắt cứ tự nhiên cũng ráo hoảnh. Thay vì nỗi đau, bây giờ trong lòng chàng chỉ còn là sự căm giận và cơn ghen đang mỗi lúc mỗi bốc lên ngùn ngụt.

     Chẳng nói chẳng rằng, lại quên cả thu lễ vật, chàng ta vội vã bế thốc đứa bé. Do cảm nhận được thái đôï của "người bố", đứa bé cũng chẳng dám, dù chỉ là cựa quậy. Miệng nó nín câm như thóc còn mặt mũi thì tái xanh tái xám.

     Chàng Trương dường như đã chạy thẳng về nhà, nét mặt hằm hằm, gặp ai cũng khồn chào hỏi. Cơn giận dữ của chàng đang đến độ điên khùng.

     Đặt phịch đứa con xuống sân, chẳng chào hỏi ai, chàng ta vội vàng xuống bếp túm lấy tóc vợ, lôi đi sềnh sệch. Vừa chửi, chàng ta vừa vung tay tát vợ liên hồi. Khách khứa đột nhiên thấy cảnh này, ai cũng tròn xoe mắt, một hồi sau mới dám vào can.



Tiêu đề: Re: Truyền thuyết Việt Nam - sưu tầm
Gửi bởi: donghai trong 01 Tháng Bảy, 2009, 06:37:25 pm
Thiếu phụ Nam Xương

Phần 3:

     Chị vợ bị đau, bị nhục quá, vừ khóc vừa chạy thẳng ra khỏi nhà ... cơn giận của chàng Trương vẫn chưa hả, lại chợt nhớ nỗi đau mất mẹ, chàng ta còn quát với theo:

     - Bước! Đồ đĩ! Giá mày chăm sóc mẹ tao tử tế thì đâu đến nỗi. Mẹvừa nằm xuống mà mày đã vội rước trai về nhà. Đồ quạ tha. Bước! Bước! ...

     Lúc ấy, họ hàng làng xóm mới bắt đầu bình luận. Những người ở xa thì bảo: "Xưa nay có thấy chị ấy chuyện trò lâu với ai bao giờ?" hoặc "Bận việc nhà,việc đồng bãi. Lại nách con nhỏ như thế, hỏi còn bụng dạ nào mà nghĩ đến chuyện trai trên gái dưới?" Nhưng những người láng giềng lại nói: "Đêm nào cũng thấy cửa đóng im ỉm, mà trong nhà  đ èn thắp sáng trưng, đến khuya vẫn còn tiếng cười tiếng nói." Chưa ai hiểu thế nào. Thế rồi có một người độc mồm độc miệng đã hạ một câu: "Tâm ngẩm mà  đấm chết voi. Loi choi đấm voi không chết". Lại một người nữa: "Xưa nay ai biết ma ăn cỗ bao giờ?". Thật rõ là "miệng lưỡi thế gian!", và mọi người vẫn còn bàn tán mãi ...

     Chị vợ chàng Trương vùng chạy khỏi nhà  để thoát khỏi bị chửi bới đánh đập, để khỏi con mắt nhìn khinh rẻ của những người đến chơi. Khi đã mệt, sức không chạy được nữa thì chị lảo đảo rồi ngồi bệt xuống bên vệ đường và những suy nghĩ lộn xộn cũng từ đâu dồn cả lại. "Sao thằng chồng lại vũ phu, đểu giả đến thế? Vừa về đến nhà, chưa kịp hỏi han đầu đuôi xuôi ngược ra sao, mà hắn đã chửi đã đánh?"

     Chị hiểu ngay là do đứa con nói "Tối bố mới về", nên hắn tưởng thật mới đánh đòn ghen, nhưng lúc này đây, nỗi phẫn uất tím ruột bầm gan khiến chị không thể quay về để thanh minh với hắn và với mọi người. "Ta không thèm trở về nhà hắn nữa", chị nghĩ, rồi đứng dậy, lững thững bước ra mé bờ sông Hoang vắng vẻ.

     Ở phía trước, nước sông vẫn cuồn cuộn, vô tình trồi như bao giờ. Chị nhìn xung quanh, xa xa có vài bóng người vẫn đi lại làm lụng như mọi khi, nhưng ở phía nhà "hắn", tịnh không có ai chạy ra đây cả. "A! Thế nghĩa là anh em họ hàng xa gần nhà hắn cũng đều nghi ta". Chị nghĩ. "Được, các người cứ ngồi ở đấy mà bàn tán với nhau đi, ta đây chẳng thèm nói lại nửa lời. Ta khinh thường tất cả các người! Nào giỗ tết, nào ma chay, sao kéo đến ăn thì đông, mà bây giờ không có ai đứng ra để nói được một lời tử tế?".

     "Ruộng cả ao liền, tưởng như thế mà muốn chửi bới đánh đâïp ta được à? Bao mồ hôi công sức vất vả khó nhọc mấy năm nay của ta, sao các người không mở mắt ra mà ngẫm cho kỹ?"

     Đến lúc này, khi cơn giận dữ người chồng đã chuyển sang giận dữ cả anh em họ hàng nhà chồng, thì lập tức chị cũng hiểu ngay: Con đường rút về nhà bố mẹ đẻ của mình đã hết. "Về lúc này chỉ chuốc thêm lấy nhục nhã ê chề", chị nghĩ tiếp, "Họ hàng có người sẽ bảo không có lửa làm sao có khói?, vậy ta biết ăn nói thế nào? Dẫu cây ngay không sợ chết đứng", nhưng làm sao mà tránh khỏi được sự nghi ngờ?".

     Càng nghĩ chị càng thấy mình đang lâm vào tình cảnh cùng quẫn, không còn lối thoát nào. Nhớ lại đoạn đời từ khi bước chân về nhà chồng đến nay, chị cũng chỉ cảm thấy ghê tởm. "Nhà con một giàu có, bố mẹ ta cứ ngỡ là vàng, nhưng nào có biết hắn chỉ là thằng đần độn, vũ phu, còn ta thì chẳng khác cái thân tù, đi đâu cũng phải xét nét. Bây giờ mà hắn đánh đập thế, thì thử hỏi mai sau, liệu có thoát được không?"

     "Thôi! Thà rằng chết quách đi cho rảnh, còn sống làm gì nữa?" Cuối cùng chị đi tới quyết định. "Ta chết đi để cho bố con hắn sống một mình". Ôi! Thằng con! "Đản ơi! Sao ba tuổi rồi mà mày không phân biệt nổi một người với một cái bóng? Mặt mũi mày giống bố mày thế, thì thử hỏi mai sau tao biết trông cậy vào ai? ..."

     Người thiếu phụ loạng choạng đứng dậy, nhìn xuống dòng sông một hồi như thể còn cân nhắc điều gì, đoạn thấy chị ngoái nhìn lại phía sau và khắp bốn xung quanh. Trong sâu thẳm cõi lòng, chị vẫn còn le lói một tia hy vọng cuối cùng, tia hy vọng sự sống, và  đấy là cái bản năng muôn thuở của con người ta, dù rằng về lý trí thì đã quyết một bề : Chết! Nếu lúc ấy một người ở phía gia đình nhà chồng hay một người thân nào đó của chị, hoặc thậm chí một người không quen biết xuất hiện, thì có lẽ sau đó chị cũng chẳng nhảy xuống sông tự tử ở dưới dòng sông, nhưng hỡi ơi, dường như tất cả mọi người đều đã quay lưng lại với chị, dù vô tình hay hữu ý!

     Ở gia đình chàng Trương, cho đến lúc này mọi người vẫn còn ngồi đấy mà bàn tán, đoán già  đoán non . Không một ai nghĩ đến cái điều tai hại nhất có thể xảy ra, do vậy, hệt đúng như trường hợp "cha chung không ai khóc", không một ai nói và bàn tới chuyện đi tìm chị về.

     Ở phía gia đình bố mẹ đẻ của chị, do ở xa, nên đến lúc này cũng chưa ai hay biết điều gì. Còn những người đi làm đồng bãi, những người không quen biết, trước đó dẫu có đi qua cũng không ai hiểu chị ngồi đó vì sao. Đến lúc chị đứng dậy nhìn quanh thì ba bề bốn bên, lại tịnh không có một bóng người nào ở gần đó. Thế là hết! Hỡi ơi! Thế là niềm hy vọng cuối cùng của chị đã hết!

     "Ai nghĩ ta, cười ta rước trai về nhà thì chỉ đến tối nay thôi, hãy mởi mắt to ra mà nhìn, xem có phải như thế không? Ta đây đâu phải hạng lang chạ. Ta đây đâu phải loạn con nhà mèo mả gà  đồng? Bao công phu khó nhọc bỏ ra vun đắp cho cái nhà ấy, kể từ nay, ta cũng coi như đã đổ xuống sông xuống biển. Cậy giàu cậy có của thì hai bố con cứ ngồi đây mà ăn, ta đấy không thèm ngõi nữa. Ôi, cái số ta sao lại phải sa vào với cái giống vừa ngu đần, vừa vũ phu và bạc ác đến thế? Ôi, thật ghê tởm! Vĩnh viễn từ nay ta ghê tởm!"

     Vừa nghĩ như thế, người thiếu phụ vừa loạng choạng bước xuống dòng sông tới thẳng mép nước và lội ra một đoạn. Chị cúi xuống, lấy hai tay vốc nước rửa mặt, rồi trong cơn khát, uống liền môït hơi nước đầy bụng, cảm thấy cái mát đang thấm sâu vào cơ thể mình. Ôi khoan khoái quá, chị nghĩ, và chị muốn mình cũng được mát mẻ mãi như dòng nước này!

     "Ơi sông ơi, nước ơi ... hãy đón ta vào lòng. Hãy giúp ta quên cõi đời ngang trái này ...". Vừa lẩm bẩm, hạ bàn chân chị vừa đạp mạnh xuống đất, rồi cùng lúc, dang hai tay nhoài người ra như thể định ôm lấy dòng nước vào lòng.

     Chỉ trong chốc lát, dòng sông đã cuốn trôi đi thân thể của chị.

     Khi nghe bên nhà chàng Trương có tiếng ồn ào, làng xóm thi nhau kéo đến, mỗi lúc một đông. Chẳng hỏi han, chẳng nước nôi, cũng chẳng tiếp đón mà lẽ ra khi trong nhà có người đi xa trở về, phải có. Người ta đến là vì tò mò, vì chàng Trương mới ở lính về mà  đã đánh đòn ghen. Lúc chị vợ vùng chạy được ra khỏi nhà thì cơn giận của anh chồng phải một hồi sau mới hả. Giá không có người khuyên can ngăn lại chắc chàng ta cũng đuổi theo đánh vợ đến chết. Có người hỏi vì sao mà thế thì chàng ta hất hàm: "Hỏi thằng Đản ấy!" Thế là mọi cặp mắt đổ dồn về phía đứa trẻ, khiến nó sợ hết hồn. Lúc nãy, khi chàng Trương đánh mẹ nó, nó khiếp hãi quá khóc thét lên, còn bây giờ, nó hoàn toàn ngơ ngơ ngác ngác, hệt như "mèo cắt tai".

     Khi có người đánh bạo đến bên nó hỏi: "Đản ơi, thử nói xem ai đ êm nào cũng đến nhà mày đi" thì thấy mặt nó bần thần, chỉ giương mắt ra nhìn lại. Điều nó thực sự không hiểu vì sao "ông kia" lại đánh mẹ nó, và vì sao mọi người kéo đến đây đông thế? Ấy vậy mà, căn cứ thái độ bề ngoài ấy, mọi người lại bàn tán rồi phhỏng đoán ra lung tung.

     Hàng tiếng đồng hồ sau, cuộc bàn tán cũng nhạt dần, các cặp mắt nhìn nhau đã thoáng phần nghi ngại. Thế rồi người ta lục tục ra về, cũng nhộn nhạo y như hồi mới đến. Và thật buồn: Không ai nói và bàn tới chuyện đi tìm vợ chàng Trương cả.

     Đến lúc chỉ còn lại hai bố con, chàng Trương mới đi xem xét, thu dọn nhà cửa. Thằng Đản đang ngồi thu lu ở xó nhà, ngủ gà ngủ gật. Chàng Trương đến bên, bế nó lên giường rồi lấy chiếu đắp qua cho khỏi ruồi. Chẳng biết làm gì, lại thấy đói bụng, chàng mới đi tìm gạo thổi cơm. Khi cơm chín, chàng lên nhà, thấy thằng bé vẫn ngủ, bèn lấy bát đũa và xuống ăn ngay tại bếp. Bát vục thẳng vào nồi y nhu hồi còn ở lính. Khi đã no nê, chàng ra bể uống một gáo nước, rồi cứ thế lên nhà, xoa hai chân vào nhau, leo lên giường nằm ngủ. Chỉ một lát sau, tiếng ngáy đã vang khắp nhà.

     Đứa con cựa mình thức dậy vào lúc chập tối. Đói, mệt và sợ, khiến nó ngủ li bì. Chỉ đến khi chàng Trương, do quá say sưa gác chân lên người nó, thì nó mới tỉnh. Nó dụi mắt nhìn quanh thấy lạ quá, rồi gọi "Mẹ ơi" một hồi không thấy gì bèn khóc thét lên, làm cho chàng Trương giật mình tỉnh dậy. Trong nhà tối, tiếng khóc của đứa bé lại càng làm tăng thêm vẻ thê lương.

     Chàng Trương ghé sát mặt vào để nhìn cho rõ, làm cho nó sợ quá, nín bặt. Bỗng nhiên, chàng cảm thấy có cái gì đó đang đổ sụp trong lòng. Ôi sao mà ngao ngán, mà tủi nhục cái ngày đầu tiên trở về nhà!

     Chàng lập cập bước đi tìm đ èn, rồi châm lửa. Căn nhà  đang tối bỗng sáng bừng lên như có phép màu, và cái bóng của chàng cũng in rõ lên trên vách. Thằng bé, dụi mắt mấy cái, ngơ ngác một lúc, rồi bỗng thét lên: "A! Mẹ ơi! Bố về! Mẹ ơi! Bố đã về!" Vừa thét, nó vừa chạy lại ôm chầm lấy cái bóng.

     Chàng Trương vừa nghe vừa nhìn theo con, bàng hoàng, và bỗng thấy tim thót lại. Rồi nước mắt chàng ứa ra ...

     Dù  đần độn đến mức nào thì cuối cùng chàng cũng hiểu: đứa bé gọi cái bóng là bố, thế nghĩa là  đ êm hôm không có ai đến cả!

     Chàng khóc lên như mưa. Càng khóc càng thấy xót xa ân hận trong lòng. "Phải đi tìm vợ gấp! Phải đi tìm vợ gấp!". Chàng nghĩ.

     Chàng lật đật chạy sang các nhà hàng xóm, nhờ họ đi tìm cho. Đèn đuốc thắp lên rồi mọi người bủa đi các nơi, các ngã. Có người còn chạy cả đến nhà bố mẹ đẻ của nàng. Chó sủa lên inh ỏi. Người gọi nhau í ới. Nhưng đến hết đ êm ấy cũng chẳng ai tìm thấy nàng. Nét mặt ai nấy đều ngơ ngơ ngác ngác. Và người ta bắt đầu bàn tán, chê cười chàng Trương.

     Mờ sáng hôm sau, bây giờ chính yếu là anh em họ hàng nội ngoại cùng đi tìm nàng. Do đoán rằng nàng đã ra sông tự tử, nên mọi người đi dọc theo hai bên bờ sông, dùng sào dùng gậy gạt bèo gạt cỏ, để nhìn cho rõ. Quả nhiên, đến quãng gần trưa, người ta đã tìm thấy xác nàng lẫn vào một vạt bèo, ở khúc sông ngoặt phía dưới, cách khoảng hai cây số. Khi vớt lên, mặt mũi tay chân nàng nhợt nhạt, hai mắt nhắm nghiền.

     Chàng Trương hớt hơ hớt hải chạy tới, lăn lộn bên xác vợ mà vật vã, than khóc. Vừa than khóc chàng cũng vừa tự xỉ vả mình, nhưng được một hồi thì ngất xỉu. Người ta phải dùng hai cái cáng để cáng cả hai vợ chồng chàng về nhà.

     Đám tang vợ chàng Trương sau đó, được tổ chức rất to, theo như ý nguyện của chồng, nghĩa là cũng thịt đến ba bò bảy lợn như ngày lễ cưới, duy chỉ còn những lời tán tụng! Sau lễ an táng, chàng Trương còn mời cả thầy phù thủy về lập đ àn tràng và bắc cầu giải oan cho nàng ở bến sông Hoàng, nơi phỏng đoán là nàng đã nhảy xuống tự tử. Trong những ngày này, nét mặt chàng ủ rủ, tiều tụy, thật tương phản với vẻ hùng hùng hổ hổ hôm trước.

     Tiếng đồn về vợ chàng Trương chết oan, mấy ngày sau, đã lan ra khắp trong phủ ngoài huyện. Lý ra chàng phải vào tù, nhưng quan trên xét thấy chàng vừa đi chiến trận về lại đang bận con nhỏ nên đã tha cho. Từ đấy tính tình của chàng cũng điềm đạm hơn, không còn nông nổi cục sức như trước. Ba năm sau chàng lại lấy vợ mới.

     Nhưng bến sông Hoàng từ đấy trở đi đã không còn bình thường như trước nửa. Đây là bến đò đông, người của mấy xã thường xuyên qua lại, đi làm lụng, buôn bán. Lẽ tự nhiên, người ta nói và bàn nhiều về vụ tự tử vừa mới xảy ra. Lại nói và bàn cả về lễ giải oan, mời được ông thầy cao tay, gọi "hồn" về ngay cả ban ngày ban mặt. Thế rồi tiếng đồn ngày mỗi lan xa, và càng về sau, càng nhiễm thêm màu huyền bí. Người ta bảo rằng tờ mờ sáng nào cũng thấy "nàng" hiện về, có khi còn đứng nói chuyện hay cùng đi chợ với người này người khác, nhưng chỉ được một thoáng đã biến mất. Người ta lại bảo nàng "đòi" lập đền thờ, nếu không bến sông này còn xảy ra nhiều vụ tự tử, hoặc đò đầy sông sâu có khi còn bị lật úp nữa ...

     Thế rồi mấy tháng sau, dân chúng trong vùng góp công góp của dựng một ngôi đền ở bến sông Hoàng để thờ "nàng", từ nay được gọi là bà Thiết. Hương khói ở đó quanh năm không lúc nào dứt, do ngày nào cũng có người đi chợ, đi buôn bán ngang qua.

     Đến đời Lê Thánh Tông, nhà vua lại mang quân đi đánh Chiêm Thành như thời nhà Lý, với ông vua có cùng miếu hiệu với Ngài, cách đó 400 năm.

     Khi thuyền rồng đi qua bến sông Hoàng, ngoảnh lên thấy ngôi miếu dưới bóng cây cổ thụ, lại thấy dân chúng và cả quân lính nữa, ra vào khấn vái tấp nập, nhà vua lấy làm ngạc nhiên lắm. Ngài ra lệnh mời quan sở tại đến để hỏi han. Sau khi nghe quan sở tại tấu trình về xuất xứ và hình trạng của vị thần được thờ, Ngài châu mày như thể không vừa ý điều gì lại cũng như thể đang suy nghĩ về điều gì. Thế rồi người ta thấy Ngài đứng dậy đi quanh một vòng, đoạn ngồi xuống bàn, quẹt đầu bút vào nghiêng mực, rồi đề ngay một bài thơ tứ tuyệt lên tờ giấy đã để saÜn. Xong xuôi, Ngài đọc lại một lần, vừa đọc vừa gật gật đầu, dấu hiệu sự tự tán thưởng. Lát sau, có mấy vị trong hội Tao đ àn đi theo xuất chinh đến, Ngài đưa bài thơ cho họ truyền nhau đọc. Ở đây chẳng nói thì mọi người cũng rõ: Tất cả bọn họ đều cúi đầu bái phục tài xuất khẩu thành thơ và xuất khẩu khí đế vương trong bài thơ của Ngài.

     Sự thật thì trong bài thơ ấy, nhà vua chẳng hề nhắc đến chuyện chiến tranh, là nguyên nhân sâu xa dẫn đến cái chết của người thiếu phụ. Điều này có thể giải thích được: Việc Ngài đi xuất chinh lần này cũng giống như việc đã xảy ra trước đó 400 năm, do vậy, Ngài thấy trực tiếp nói e ra không tiện. Hơn nữa xưa nay, cái mạng của dân chúng đối với vua chúa thì có đáng giá gì đâu. Mạng một người lính hay mạng vợ, đều "không là cái gì" so với công việc "thế thiên hành đạo" của Ngài. Bởi vậy, việc vợ người lính tự tử sau đó được tôn lên làm thần, làm cho Ngài tỏ ra không vừa ý - nếu không muốn nói thẳng ra là Ngài thấy khó chịu. Đối với Ngài, dù ai đó có là thần thì cũng chỉ ở dưới tầm mắt của Ngài, do bộ Lễ của Ngài cai quản và phong tặng. Cái "khẩu khí đế vương" của Lê Thánh Tông chẳng những thể hiện ở việc xem thường thần, mà còn thể hiện cả ở chỗ: Nhân dịp này Ngài muốn dạy cho tất cả thần dân của Ngài một bài học truyền đời. Ấy là bài học: "Đừng bao giờ nghe trẻ con mách", nhưng xem ra, đấy lại là một bài học không "chuẩn", nếu không muốn nói là bài học tầm phào.

     Nguyên bài thơ của Lê Thánh Tông, về sau được khắc đề ở "Đền bà Thiết", như sau:
Nghi ngút bên đường tỏa khói hương
Miếu ai như miếu vợ chàng Trương
Ngọn đ èn dù tắt đừng nghe trẻ
Dám trách chàng Trương khéo phũ phàng.
      Người ta kể rằng: Sau khi có bài thơ của vua Lê Thánh Tông, các vị chức sắc ở Nam Xương đã lệnh ngay cho tổng và xã sở tại tu sửa lại ngôi đền cho thật khang trang, đẹp đẽ, không phải để xứng đáng với vị thần được thờ mà chính yếu là  để xứng đáng với bài thơ của nhà vua sẽ được khắc đặt ở trong đó. Bởi vì, xưa nay "ngọc bút", có bao giờ lại không quan trọng.


                                                                 Đ.Hải
                                                     Sưu tầm từ Internet


Tiêu đề: Re: Truyền thuyết Việt Nam - sưu tầm
Gửi bởi: donghai trong 01 Tháng Bảy, 2009, 09:53:44 pm
Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng
[/b]
 

     Thôn Cam Lâm, xã Đường Lâm (Ba Vì Hà Tây) xưa nay là miền đất đai trù phú, sản vật dồi dào, lại có sông ngòi bao quanh, tạo nên nhiều phong cảnh đẹp.

     Vào thời nước ta thuộc Đường (603-906) ở thôn này có gia đình họ Phùng thuộc loại giàu có, truyền qua 5 đời đều là quan lang, làm tù trưởng Châu Đường Lâm (gần bằng một huyện bây giờ). Các đời trước là Phùng Khiêm, Phùng Thông, Phùng Đạt. Đến Phùng Viễn thì sinh con trai trưởng là Phùng Hưng. Ba năm sau lại sinh hai con trai nữa là Phùng Hải và Phùng Mâu.

     Đến tuổi trưởng thành ba anh em họ Phùng đều là những chàng trai chí khí, đảm được hơn người. Đặt biệt Phung Hưng và Phùng Hải lại có thêm sức mạnh phi thường.

     Một lần vào rừng, Phùng hưng bị hổ vồ nhưng nhanh nhẹn né tránh được rồi vật nhau với hổ, và cuối cùng đánh chết hổ, mang về.

     Còn Phùng Hải thì đã có lần thử sức, vác cả một con thuyền nặng nghìn hộc, đi được hơn mười dăm mới dừng.

     Khi người cha già yếu thì phùng hưng mới nói nghiệp, cũng làm tù trưởng Châu Đường Lâm, được các châu ấp lân cận mến phục.

     Dưới ách cai trị của quan quân nhà Đường, dân ta thường ấy phải triệu trăm bề điêu đứng. Trước đó đã có các cuộc khởi nghĩa của Lý Tự Tiên (năm 687) rồi của Mai Thúc Loan (năm 722) nhưng đều bị đ àn áp.

     Đến năm đại lịch thứ hai (767) có giặc cướp đi thuyền lớn từ biển phía nam (đảo Java) tới, Đô úy Châu Vũ Định là Cao Chính Bình đánh dẹp được. Rồi bình ở lai cái trị, bắt dân đống góp rất nặng nề.

     Phùng Hưng tự nhủ: Đất nước ta từ khi có vua Hùng lập quốc, có núi tả Sông Hồng anh linh đến vạn thuở, cớ sau bây giờ vẫn phải chìm đắm mãi trong cảnh lầm than? Ta phải cùng các anh hùng hào kiệt cứu lấy gian sơn, đánh cho giặc bắt tan tành. Đất nước ta phải do người nước ta làm chủ, chứ lẽ nào phải cống nạp mãi?

Thế rồi Phùng Hưng nuôi ý định dấy binh.

     Trước hết ngài bàn việc đó với hai người em. Cả hai người em cũng cùng có chí hướng như Ngài.

     Vào đúng ngày đầu tháng ba (âm lịch), ba anh em lập một đ àn tràng, thảo sớ tấu trình Ngọc Hoàng Thượng đế, xin về việc dấy binh khởi nghĩa sắp tới.

     Đột nhiên có đám mây ngũ sắc sà xuống, một tiên ông tóc bạc trắng đỗ hạc bước ra. Anh em Phùng Hưng cúi đầu bái tạ.

     Tiên ông nói:

     - Ta ở Tây Vực, đi chu du chín châu tám biển, thấy hương trầm ngào ngạt, lại thấy đ àn tràng thiết lập trang ngghiêm, nên cảm động mà tới.

     Nói xong, tiên ông lấy từ túi áo ra một chiếc móng rồng và một khối ngọc, đưa cho Phùng Hưng.

     Ba anh em cúi đầu cảm tạ, nhưng vừa ngẩng lên, đã thấy đám mây ngũ sắc sà xuống, và tiên ông cưỡi hạc bay đi. ba anh em lại vội vàng nhìn xuống ...

     Nhìn hai báu vật, cả ba anh em đều băn khoăn, không biết dùng để làm gì? Lại phải thỉnh cầu Thượng đế lần thứ hai vậy.

     Họ thay lễ vật trên đ àn tràng, thay đ èn nhang và cùng quỳ xuống. Phùng Hưng đọc tờ sớ như sau:

     - Chúng con lòng thành, xin kính dâng Ngọc Hoàng Thượng đế. Ngài đã ban cho hai báu vật, nhưng chúng con người trần mắt tục, chưa biết dùng vào việc chi. Vậy kính mong Ngài hãy mở lòng chỉ bảo.

     Phùng Hưng vừa dứt lời, đã thấy giữa không trung nổi lên môït ánh chớp sáng lòa. Lập tức, bốn thiên thần đội mũ trụ, cũng cưỡi mây bay xuống. Một vị nói:

     - Ngọc Hoàng phái Tiên ông xuống cho Ngài hai báu vật ấy, một làm chuôi kiếm, một làm quốc ấn. Tác thành như vậy là  để Ngài dùng vào việc giữ nước.

     Nói xong, cả bốn thiên thần liền cươic mây bay đi. Anh em Phùng Hưng chỉ còn biét quỳ xuống bái tạ.

     Thế là thhuận lòng trời! Sau lễ tế cáo, ba anh em chế tạo ngay một thanh kiếm thật sắc, ròi tra vào chuôi được làm từ móng rồng, ở giữa khắc ba chữ "Thiên linh kiếm". Còn khối ngọc đã saÜn có hình vuông, chỉ khắc vào mấy chữ là thành quốc ấn. Ba anh gọi đó là "Thiên bảo ấn".

     Từ đó, Phùng Mâu ở nhà trông coi công việc trong châu, còn Phùng Hưng và Phùng Hải chia nhau đi khắp các vùng gần xa, chiêu tập hào kiệt.

     Để đánh lạc hướng chú ý giặc, Phùng Hưng đổi tên Cự Lão, Phùng Hải đổi tên là Cự Lực. SaÜn có sức khỏe hơn người, hai anh em đến các sới vật thường xuyên tổ chức trong các kỳ lễ hội tại các địa phương, vừa để tham gia mà cũng vừa là cách tốt nhất để nhận mặt làm quen với các anh tài. Phùng Hưng xưng là Đô Quân, Phùng Hải xưng là Đô Bảo.

     Đi đến đâu hai anh em cũng được mọi người mén mộ. Các tay đô vật ở khắp các trang ấp đều rất mực phục tài anh em Đô Quân và Đô Bảo, lại vừa nhận thấy ở họ những tấm lòng thật hào hiệp, quảng đại, nên khi nghe nói tới việc dựng cờ khởi nghĩa, họ đều nhiêït liệt hưởng ứng và cùng nhau hẹn ngày khởi sự.

     Sau mấy tháng đi khắp các vùng, anh em Phùng Hưng, Phùng Hải trở về nhà. Nhân ngày húy kỵ ông bố 11 tháng 3, ba anh em làm cỗ thật to, mời tất cả anh em, họ mạc và dân làng. Lại mời tất cả bạn bè và hàng ngũ chức sắc dưới quyền trong châu Đường Lâm, đó là các trang ấp trưởng.

     Trong bữa cổ, mọi người ăn uống vui vẻ, rồi sau đó bàn sang chuyện khởi nghĩa. Anh em Phùng Hưng đưa ra "Thiên linh kiếm" và "Thiên bảo ấn". Các trang ấp trưởng và mọi người đều đặt tay lên ngựa mà và hứa: "Chúng tôi nguyện xin đem hết tài năng" ...

     Ba ngày sau, mấy ngàn dân binh đã được tuuyển mộ. Để Phùng Mâu ở lại trông coi các việc, còn Phùng Hưng, Phùng Hải mượn tiếng là  đi tuần thú trong châu, đã dẫn quân chếch xuống phía nam, đến Thời Trung trang (nay là làng Chuông, tức xã Phương Trung - Thanh Oai - Hà Tây) thì dừng lại.

     Đây là  địa điểm thuận lợi cho việc tập luyện, phiên chế quân ngũ, vừa đủ xa để bọn giặc đóng ở thành Đại La (Hà Nội) không dòm ngó tới, lại vừa đủ gần để từ đây có thể hành quân bất ngờ tấn công quân địch.

     Thời Trung trangd cách thành Đại La khoảng ngoài hai chục cây số (theo đơn vị đo lường chiều dài bây giờ), hành quân nửa ngày là  đã lên tới nơi.

     Tại đây, như đãhẹn trước, các anh tài khắp nơi mang theo những người cùng chí hướng, lục tục tìm về. Trong vòng một tuần quân số đã lên tới hàng vạn.

     Sau mấy tuần phiên chế và tập luyện, vào đầu mùa Hạ, tháng 4 - 791 (Đường Trinh Nguyên năm thứ 7), theo kế của Đỗ Anh Luân một danh sĩ cùng người Đường Lâm, là bạn chơi với Phùng Hưng từ nhỏ, nay là quân sư lo việc bày binh bố trận- anh em Phùng Hưng, Phùng Hải đã mang quân chia làm hai ngả, bao vây thành Đại La trong đ êm tối.

     Cao Chính Bình mặc dù là viên tướng đảm lược, nhưng cũng đ ành chịu bó tay thúc thủ trong thành, vì quá bị bất ngờ. Không thể đem quân nống ra ngoài được, vì các nơi hiểm yếu đã bị chặn giữ, Cao Chính Bình đ ành phải cho một vài tên lính lanh lợi, giữa đ êm tối tìm cách lẻn ra, đưa thư cấp báo về nhà Đường, xin tiếp viện.

     Ba tháng ròng, thành Đại La bị vây chặt. Các đòan viện binh của nhà Đường đến đều bị quân của Phùng Hưng đánh tan. Cao Chính Bình hay tin lo lắng quá thành khối u lớn ở sau lưng. Rồi khối u vỡ, Coa chính Bình rồi cũng chết.

     Khi tin Cao Chính Bình chết bay ra ngoài thành, Phùng Hưng hạ lệnh cho quân lính từ các nơi hiểm yếu, nhất loạt tiến công. Quân nhà  đường chống không nổi, phải kéo cờ trắng ra hàng.

     Phùng Hưng dẫn đại binh vào chiếm Đô hộ phủ trong niềm hân hoan của mọi người. Tướng sĩ suy tôn ngài là Vi đô Tướng quân.

     Vi đô Tướng quân lập tức bắt tay vào việc chấn hưng đất nước và xây thành đắp lũy, luyện tập binh mã, đẻ đối phó với nhà Đường sau này. Ngài chưa xưng Đế, nhưng thực sự đã điều hành công việc như một vị Hoàng đế. Ngài mang lại cho muôn dân cảnh no ấm, thái bình, không phải đem lễ vật cống nạp cho ngoại bang, và các thuần phong mỹ tục trong nước cũng đang được khôi phục lại.


Tiêu đề: Re: Truyền thuyết Việt Nam - sưu tầm
Gửi bởi: donghai trong 01 Tháng Bảy, 2009, 09:56:43 pm
Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng

(Tiếp theo)
   
     Nhưng thật tiếc thay, những công việc mà Ngài thực thi đang tiến triển thì dừng lại, bởi cái chết đến quá đột ngột, vào đúng bảy năm sau tức năm 798, lúc đó Ngài mới đang ở độ tuổi sung mãn.

     Xét về công lao cũng như tài năng, đức độ, nhiều người muốn lập Phùng Hải lên thay, vì thấy ông xứng đáng nhất. Nhưng một người đầu mục phụ tá cho Phùng Hưng, và sau này phụ tá cho Phùng An, con trai trưởng của Phùng Hưng tên là Bồ Phá Cần, không tán thành.

     Bồ Phá Cần là người có sức mạnh vô song, nhưng liều lĩnh và thiển cận, một mực lập Phùng An lên thay, rồi đem quân chống lại Phùng Hải. Không muốn nhìn thấy cảnh máu chảy đầu rơi, lại cốt nhục tương tàn nên Phùng Hải né tránh, cùng vài người thân tín, bỏ lên ở động Chu Nham, rồi sống cuộc đời dân giã cho đến lúc mã chiều xế bóng.

     Phùng An nối nghiệp bó, nhưng là người không có đảm lược lớn. Một người như thế chỉ có thể trị vì đất nước trong cảnh thái bình, còn khi đất nước có biến động thì sẽ không đảm đương nổi.

     Công việc đầu tiên mà Phùng An tiến hành là tổ chức lễ an táng cho cha thật trọng thể. Sự trọng thể lại càng tăng gấp bội phần, vì tất cả dân chúng và binh lính đều thực lòng tiếc thương vị anh hùng của mình vừa nằm xuống.

     Dân chúng và binh lính đưa tang, khóc Ngài đến đỏ hoe cả hai con mắt. Họ thương tiếc, gọi Ngài là Bố Cái, tức cha mẹ, theo cách gọi của thời bấy giờ. Rồi họ lại gọi Ngài là Đại vương, như trước đó vẫn gọi Ngài như thế. Phùng An con trai Ngài, do cảm nhận được những tình cảm ấy của dân chúng và binh lính cũng suy tôn Ngài làm "Bố Cái đại vương". Và cái tên ấy còn mãi đến ngày nay.

     Nhưng tiếc thay, Phùng An là người tài hèn trí mọn, không nối được cái chí của cha, chú. Hai năm sau Đường Đức Tông sai Triệu Xương sang làm An Nam Đô hộ phủ. Xương đi sau, sai sứ giả đem đồ lễ vật đi trước để dụ dỗ An. An sắp xếp nghi vệ đầy đủ, dẫn quần thần ra hàng.

     Những người họ Phùng nhiều chí khí và nhiều người họ khác nữa, thấy vậy, bèn tản đi các nơi, không muốn ở lại hợp tác với giặc.

     Khi Phùng Hưng mất, mộ được táng tại phía tây bắc Kinh thành và  được lập miếu thờ. Ngày nay, ở đầu phố Giảng Võ - Hà Nội, vẫn còn ngôi mộ của Ngài, trên có văn bia, đề bốn chữ "Phùng Hưng cố lăng". Còn tại quê hương của Ngài, ngay từ khi Ngài mới mất, dân chúng đã lập miếu thờ. Truớc là  để tỏ lòng nhớ thương, còn sau là  để cúng lễ, cầu mong Ngài ban cho mưa thuận gió hòa, tai qua nạn khỏi hoặc làm ăn phát đạt.

     Tất cả đều thấy ứng nghiệm, vì vậy "mỗi khi vào ngày tạ lễ, người đến nhiều như núi như biển, bánh xe chật đường". Về sau, dân chúng xây dựng thêm,"miếu maọ nguy nga, lửa hương bất tuyệt"(theo Việt điện u linh).

     Đúng 100 năm, sau ngày Ngài mất, cũng tại quê hương của ngài (Đường Lâm), một người anh hùng nữa đã ra đời. Đó là Ngô Quyền (898 - 944). Sau khi giết Kiều Công Tiễn trả thù cho bố vợ (Dương Đình Nghệ), Ngô Quyền xưng vương, rồi đánh tan quân Nam Hán ở cửa sông Bạch Đằng. Trước trận đó, thấy quân giặc đông, nhả vua cũng có phần lo lắng, nhưng"đ êm nằm mộng, bỗng thấy một ông già tóc bạc, mũ áo nghiêm trang ... xưng là Phùng Hưng đến cổ vũ và hứa sẽ đem vạn đội thần binh mai phục trước ở chỗ hiểm yếu" (theo Việt điện u linh).

     Sau trận thắng, nhà vua tạ ơn, xuống chiếu lập đền thờ Phùng Hưng ở làng Cam Lâm to hơn quy môcũ, và tổ chức lễ hội thật trọng thể. Từ đó thành điển lệ. Các triều đại về sau đều có sắc thượng phong: "Phụ hựu", "Chương tín", "Sùng nghĩa". Đó là những tên hiệu mà các triều Trần trùng hưng đã tặng thêm cho Ngài.

     Ngày nay, nhiều trường học, đường phố cũng mang tên Ngài.
 
                                                                  Đ.Hải
                                                         Sưu tầm từ Internet


Tiêu đề: Re: Truyền thuyết Việt Nam - sưu tầm
Gửi bởi: donghai trong 02 Tháng Bảy, 2009, 06:04:06 am
Việt Quốc Công Thái Úy Lý Thường Kiệt


Phần 1:
 
     Lý Thường Kiệt là nhà chính trị kiệt xuất, nhà quân sự thiên tài, đã có nhiều đóng góp vào sự nghiệp chấn hưng đất nước và giữ vững nền độc lập dân tộc. Đức độ và tài năng của Ngài là một tấm gương sáng ngời để các thế hệ Việt Nam mãi mãi soi chung.

     Theo sách Việt điện u linh thì Lý Thường Kiệt là người phường Thái Hòa, ở bên phải kinh thành Thăng Long, thời Lý. Mãi đến gần đây, quê quán của Ngài mới được xác định cụ thể thêm, nhờ vào mọi người làng Bắc Biên còn giữ được một quả chuông lớn đúc năm Canh Ngọ (1690), nay treo ở chùa trong làng. Trên chuông có khắc bài minh nói rõ quê gốc của Lý Thường Kiệt là làng An Xá (trong nội thành Thăng Long), rồi sau đó chuyển đến Cơ Xá. Cơ Xá đổi thành Phúc Xá rồi hợp nhất với bãi Trung Hà. Cho đến khi boãi Trung Hoà bị lỡ hết, mọi người lại dời về Bắc Biên, nằm ven sông Hồng, ở phía Bắc chân cầu Long Biên ngày nay, cách nột thành khoảng 4 cây số.

     Cha của Lý Thường Kiệt là Lý An Ngữ, làm quan triều Lý Thái Tổ đến chức Sùng ban lang tướng. Lý Thường Kiệt được nối nghiệp cha, ngay từ lúc còn ít tuổi đã đượcđưa vòa cung Long Đức ở ngoài thành để hầu cận Thái tử Phật Mã tức Lý Thái Tông sau này, với chức "Hoàng môn chi hậu".

     Không quản là chức danh nhỏ mọn mà ngay từ thời ấy, nhiều thiên tư của Nhài đã được bộ lộ, khiến cho nhà vua tương lai rất mực hài lòng. Ngoài ra, Ngài là người đẹp trai và có phong tư tuấn nhã, nên đã nổi tiếng vào khắp kinh thành Thăng Long lúc bấy giờ.

     Khi Lý Thái Tông lên ngôi, Ngài được phong "Nội thị sảnh đô tri", tức là giám sát các công việc xảy ra trong hoàng cung. Điều đó nói lên Ngài là người trung tín, được nhà vua tin cẩn ngay từ khi còn ít tuổi.

     Quả vậy, tính tình của Ngài khảng khái cương trực, lại biết giữ tín lễ tiết và làm việc cần mẫn siêng năng, xét đoán các việc công minh, nên được nhà vua càng nể trọng thêm, và thăng lên chức Đình úy sứ, trông coi các việc về hình án trong triều. Cuối năm Nhâm Ngọ (1042) Ngài được nhà vua ủy nhiệm cùng một số đại thần khác soạn thỏa bộ "Hình thư". Đó là bộ luật Hình sự đầu tiên của nước ta.

     Lý Thái Tông băng hà, Lý Thánh Tông nối ngôi (1054), ngài được phong là Hiệu úy Thái bảo. Ngài giữ chức một cách cung cẩn, trung tín, không để xảy ra sai sót điều gì. Lý Thánh Tông tin tường, giao cho Ngài "Tiết việt", tức là thay mặt nhà vua, đi kinh lý các sự việc xảy ra trong hai quận Thanh Hóa, Nghệ An và năm châu, ba nguồn kế cậ đó, thuôïc các boọ tộc người thiểu số. Sau máy tháng không quản đường xa, lại thêm leo đ èo vượt suối mệt nhọc, Ngài trở về, công việc hoàn thành mỹ mãn.

     Tháng 2 - 1069, Lý Thánh Tông thân làm tướng thống lãnh mang đại quân đi đánh Chiêm Thành vì quân lính nước này thường hay quấy nhiễu biên giới. Ngài được phong chức Đại tướng, dẫn đạo binh tiên phong đi mở đường. Do Chiêm Thành chuẩn bị từ trước đã phòng thủ chắc chắn, nê quân ta đánh mãi không được. Lý Thánh Tông rút quân về châu Cư Liêm để nghe ngóng nội tình. Sau khi có lính cấm vệmang thư của Nguyên phi Nhiếp chính Ỷ Lan tới, báo tin Kinh đô vẫn vững vàng, lòng dân vẫn hòa hợp, nên nhà vua cho quân quay trở lại quyết chiến với Chiêm Thành. Lý Thường Kiệt đốc xuất binh lực, xông lên phá tan các tuyến phòng ngự của đối phương, bắt được vua Chiêm Thành là Chế Củ cùng 5 vạn người, cả lílnh lãn dân.

     Chế Củ xin cắt đất dâng ba châu:Địa Lý (nay là huyện Lệ Ninh - Quảng Trị), Ma Linh (Bến Hải - Quảng Bình)và Bố Chính (Quảng Trạch, Bố Trạch, Tuyên Hóa - Quảng Bình) để chuộc tội tha về.

     Sau trận đại thắng, Lý Thương Kiệt được phong Phụ quốc Thái phó kiêm các chức Chử trấn tiết độ, Đồng trung thư môn hạ, Thượng trụ quốc, Thiên tử nghĩa đệ, Phụ quốc thượng tướng quân, tước là Khai Quốc công. Đó là những tước vị quan trọng, được thay mặt nhà vua trong những trong nhiều việc quốc gia đại sự, từ việc quân cơ đến viênội trị. Lại được nhận em kết nghĩa của nhà vua (Thiên tử nghĩa đệ) thì thực là một vinh dự hiếm có!

     Tuy nhiên, đó còn là trách nhiệm, lại là sự ký thác của nhà vua mà Lý Thường Kiệt phải gánh vác vì dân vì nước. Và quả nhiên, Ngài đã không phụ lòng tin tưởng ấy của nhà vua, như càng về sau càng thấy rõ.

     Tháng giêng năm 1072, Lý Thánh Tông băng hà ở điện Hội Tiên, thọ 50 tuổi, tức là bằng sau chiến thắng Chiêm Thành vàLý Thường Kiệt được phong thưởng với nhiều người khác. Lý Nhân tông lên kế vị lúc ấy mới 7 tuổi. Đã từng là nhiếp chính nên mọi công việc triều chính lúc bấy giờ đều do bà Linh Nhân hoàng thái phi, và ngay sau đó là Linh Nhân Hoàng thái hậu, tức Ỷ Lan phu nhân, mẹ đẻ của Lý Nhân tông thao túng.

     Cùng trong năm 1073, do nắm quyền hành tuyệt đối mà bà ta, tất nhiên là dưới danh nghĩa nhà vua, đã bắt giam rồi bức tử Dương Thái hậu (vợ chính thất, tức Hoàng hậu của Lý Thánh Tông) và 76 cung nữ để chôn theo lăng Thánh tông! Và Thái sư Lý Đạo Thành, tức Tể tướng, người đứng đầu hàng các quan giúp vua trông coi việc triều chính, cũng bị cất chức cho vào trấn thủ vào tận Nghệ An ...

     Trong tình trạng như vậy, nếu một người giữ nhiều trọng trách như Lý Thường Kiệt mà tỏ ra ham hố quyền lực thì ắt sẽ bị thanh trừng ngay không thương tiếc. Tuy nhiên, Lý tướng quân đã không hề tỏ ra nao núng, đúng như câu thành ngữ xưa: "Cây ngay không sợ chết đứng!". Ngài lẳng lặng thi hành trách nhiệm của mình mà không tham gia vào các vụ tranh giành quyền lực.

     Từ trước đến nay Ngài vẫn nổi tiếng trong giới quan trường là người khoan hòa chính trực, bản thân sống cần kiệm giản dị, được cả dân chúng lẫn giới quan chức kính nể. Ngài không xu thời, không kết bè  đảng, không vun vén quyên lợi cho bản thân và cho họ hàng nhà mình. Đối với Ngài chỉ có công việc, tức việc nước, việc dân là trọng. Và Ngài đã đem hết tài năng và sức lực ra để phấn đấu cho mục đích ấy, còn mọi thứ khác thì Ngài đều xem thường.

     Trong trường hợp ấy, lẽ dĩ nhiên những người ham hố quyền lực khi nắm được quyền hành tuyệt đối, thì họ cũng chẳng dại gì mà hạ bệ Ngài và những người như Ngài, bởi như vậy chỉ có hại cho họ mà thôi, cả về danh tiếng cũng như trong thực tế. Thử hỏi, nếu một người như Ngài mà bị phế bỏ thì quốc gia còn cóm gì là thể thống nữa? Và khi gặp chuyện đại sự thì sẽ lấy ai ra để gánh vác?

     Quả nhiên bà Linh Nhân hoàng thái hậu, quyên biến và khôn ngoan có thừa, đã không động chạm gì đến Ngài thật. Hơn nữa bà ta còn khuyến khích Ngài làm nhiều việc có lợi cho sự cai trị của mình.

     Lý tướng quân, lẽ dĩ nhiên cũng hiểu rõ lòng dạ của bà hoàng thái hậu. Ngài không làn điều gì khinh suất để bà ta mất lòng, còn bản thân vẫn luôn luôn kiên trì phương châm "hiến việc tốt, can việc xấu" của một bề tôi trung thành và công minh chính trực.

     Sau khi Thái sư Lý Đạo Thành bị bãi chức, đương nhiên Ngài trở thành một vị quan đầu triều, nhưng chưa được phong. Nếu phải một người xu thời thì lập tức họ sẽ vào hùa với Hoàng thái hậu để mau được thăng chức, nhưng Lý tướng quân đã không làm như thế. Trái lại, Ngài còn làm một việc xưa nay chưa từng có, nhưng rất hợp đạo lý và  được nhiều người đồng tình.

     Ấy là việc từ trước đến nay, các đại thần dù giả trẻ, khi vào chầu vua, nhất nhất đều quỳ mọp dưới bệ rồng. Điển là một "điển lệ", một "phép trời", là biểu hiện quyền hành tuyệt đối, tối thượng của "Thiên tử" đối với tất thảy mọi người còn lại.

     Đứng bề ngoài trông vào, trường hợp của nhà vua già mà các bề tôi trẻ thì cong khả dĩ coi được. Nhưng trong trường hợp ngược lại, tức nhà vua còn trẻ, thậm chí còn quá trẻ, mà bề tôi lại có người già lụ khụ thì thật là trớ trêu, nghịch mắt! Đương nhiên như thế là trái với đạo lý truyền thống "kính lão đắc thọ" của dân tộc, mà ai ai cũng đều nhận thấy, nhưng lại chưa có ai dám nói đến chuyện đó trước cả triều đình!

     Lý tướng quân lúc ấy chưa phải đã già. Ngài mới đang còn ở độ tuổi tráng niên sung mãn, nhưng nhìn cảnh nhiều lão thần có công từ các đời vua trước, nay phải quỳ mọp trước mặt nhà vua tí hon, mới có 7, 8 tuổi thì Ngài cảm thấy chạnh lòng. Vả ại, sự kính trọng về hình thức đâu phải là sự kính trọng từ thâm tâm? Hơn nữa, nếu nhà vua bé tý chưa đủ nhận thức, lại coi đây là trò đ ùa từ đấy dung dưỡng thêm tính tàn bạo và thói hống hách sau này, thì thật là tai hại cho dân cho nước!

     Sau khi cân nhắc kỹ càng, Lý tướng quân làm sớ tấu trình xin hxo các vị công thần cao tuổi mỗi khi vào chầu thì được chống gậy, được ngồi nghế và không phải quỳ.

     Lời tấu trình của Ngài được nhà vua chấp nhận. Hơn thế nữa, Linh Nhân Hoàng thái hậu còn lấy lòng mọi người thêm bằng cách sai thị vệ lấy nghế cho tất cả các quan đều được ngồi và tặng thêm các lão thần mỗi người một chiếc gậy trúc!

     Dẫu sao thì đấy mới là một ví dụ nhỏ, cũng khá diển hình, để nói lên Lý Thường Kiệt đã làm nhà cải cách nền "hành chính quốc gia" ngay từ thuở ấy. Sự suy nghĩ của Ngài đối với vận hôïi, vận mệnh của đất nước thực ra còn to lớn và ý nghĩa hơn gấp nhiều lần. Ngài là chính trị nhìn xa thấy rộng nhất trong số những người đương thời, và khôg chỉ là  đương thời.

     Nhận thấy sự học lúc bấy giờ đã phát triển ra nhiều tầng lớp mọi người trong nước, vậy mà nhiều việc công lại làm không chạy. Nhiều viên quan lại ở địa phương, thậm chí cả triều đình trung ương, lại khôngđược học hành gì cả, họ không óc tri thức, nên xử đoán nhiều việc chỉ theo cảm tính. Ngay cả sự bàn bạc công việc giữa triều đình, nhiều vị đại thần cũng tỏ ra lúng túng, do thiếu hiểu biết. Đúng như sách đã nói : "Nhân bất học bất tri lý", và tình trạng này nếu kéo dài thì chỉ làm cho mọi việc ngưng trệ và  đất nước suy yếu đi mà thôi.


Tiêu đề: Re: Truyền thuyết Việt Nam - sưu tầm
Gửi bởi: donghai trong 02 Tháng Bảy, 2009, 06:05:18 am
Việt Quốc Công Thái Úy Lý Thường Kiệt



Phần 2:

     Sua khi cân nhắc, Lý tướng quân đã làm sớ, tâu trình với nhà vua hết mọi đường lợi hại, rồi xin cho mở hai khoa thi "Minh tinh bác học" và "Nho học tam trường". Khoa thi trên để để chọn người tài giỏi trong nước ra đảm nhiệm các công việc quan trọng trong triều nôïi, còn khoa thi dưới thì chọn người thực hành các công việc giấy tờ, sổ sách tạ các địa phương.

     Lời tấu trình này cũng ngay lập tức đuợc chuẩn y, để thay cho cách tuyển dụng "cha truyền con nối" và dùng tiền "mua quan tiến chức" trước đây.

     Tháng 2 năm Ất Mão (1075) nhà vua xuống chiếu cho mở hai khoa thi này. Và Lê Văn Thịnh, chàng trai vùng Kinh Bắc đã đỗ trạng nguyên trong kỳ thi tuyển "Minh tinh bác học", tức là người mở đầu cho nền khoa bảng của nước ta.

     Người Chiêm Thành, sau lần thất bại phải cắt đất (1069) vẫn ấm ức nuôi ý chí phục thù. Lực lượng của họ lại mạnh dần lên, Nhận thấy Đại Việt có sự lục đục sau cái chết của Lý Thánh Tông, quân Chiêm Thành lại ra cướp biên giới (1074), và ở phía bắc, quân Tống cũng đang chuẩn bị lực lượng để kéo sang.

     Trước tình thế ấy, bà Linh Nhân Hoàng thái hậu đã có sự thay đổi về triều chính. Lý Đạo Thành bị biếm chức vào Nghệ An nay được triệu về kinh làm Thái phó bình chương quân quốc trọng sự (1074). Và năm sau (1075), đầu tháng 8, Phụ quốc Thái phó Lý Thường Kiệt lại dẫn quân đi đánh Chiêm Thành.

     Thấy Lý Thường Kiệt dẫn quân đến, quân Chiêm Thành liền rút vào cố thủ. Nhận thấy không nên để hao tổn lực lượng nhiều vào quân Chiêm Thành mà chính yếu là phải bảo toàn lực lượng để đối phó với nhà Tống ở mạn Bắc, nên Lý Thường Kiệt cho lui binh, sau khi đã củng cố và tăng cường thêm lực lượng ở lại phòng bị.

     Để vua Chiêm Thành phải từ bỏ ý định đò lại đất, Lý Thượng Kiệt cho họa địa đồ hình thế núi sông ba châu Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính. Ngài đổi tên hai châu phía trong, Địa Lý thành Lâm Bình, Ma Linh thành Minh Linh, dặn dò quan sở tại chiêu mộ thêm dân chúng ở các nơi về ở, và lo phòng thủ cho chắc, rồi kíp lên đường về Kinh đô .

     Lúc bấy giờ ở bên nước Tống, Tể tướng Vương An Thạch quỷ quyệt đang thi hành chính sách "thanh miêu" để tăng cường ngân khố, chuẩn bị tiềm năng và lực lượng sắp bành trướng cuống phía Nam và lo đối phó với nước Kim ở phía Bắc ...

     Nhận thấy Đại Việt sau hai lần chiến tranh với Chiêm Thành chắc đã hao binh tổn tướng nhiều. Lại bây giờ thêm quân Chiêm Thành đang chuẩn bị lực lượng đánh ra đòi đất, còn trong nước thì đ àn bà nhiếp chính đang làm sáo trộn nội tình ... nên Vương An Thạch tâu với vua Tống nên nhân cơ hội này mà dấy binh xuống phía Nam xâm lấn ...

     Vua Tống y theo và lập tức cho chuẩn bị. Sai Thẩm Khải, Lưu Di đến trị nhậm Quế Châu (nay là Quế Lâm - Quảng Tây), một mặt kích động các bôï tộc thiểu số ở trên đất ĐaÏi Việt nổi loạn, mặt khác, điều quân các nơi về tập trung huấn luyện, cả đánh thủy lẫn đánh bộ, rồ tích trưc lương thực, khí giới, thuyền bè, xe cộ ...

     Nạn xâm lược đã rành rành ra ở trước mặt rồi! Vua Nhân tông lúc ấy mới trong 10 tuổi, quyền phụ chính ở bà Linh Nhân Hoàng thái hậu.

     Bà Linh Nhân tuy là người quyền biến, có tài trị quốc (đã thử thách qua lần nhiếp chính khi Ý Thánh tông đi đánh Chiêm Thành ), nhưng không thể bị quần thần và dân chúng dị nghị, mất lòng tin, qua vụ sát hại Dương thái hậu cùng 76 cung nữ và hạ bệ Thái sư tông thất Lý Đạo Thành, vừa mới cùng xảy ra 2 năm về trước.

     Tuy bà  đã kịp sữa chữa sai lầm (và cả tội lỗi!) bằng cách hết sức lấy lòng các quan đại thần (như ở đoạn trước đã nói) rồi đưa về Kinh đô và thăng lại cho Lý Đạo Thành từ Tổng trấn lên Thái phó để lo việc quân cơ ("Thái phó bình chương quân quốc trọng sự"), nhưng dẫu sao bà cũng không thể thay đổi được thực chất tình hình nếu như không dựa hẳn vào Lý Thường Kiệt.

     Quan Phụ chính Thái phó, thượng tướng Lý Thường Kiệt, sau khi từ biên giới phía Nam trở về, liền được phong ngay vào Thái úy, tức là chính thức đứng đầu hàng các quan võ tướng trong triều.

     Như đã nói, đối với Lý Thái úy, chỉ có việc nước, dù to dù nhỏ thế nào,thì từ trước đến nay, Ngài đều không hề bận tâm, ham hố. Đối với Ngài, đó chỉ là trách nhiệm và bổn phận, không hơn. Và phải nói, chính đức độ và tài năng của Ngài, trong tình hình triều chính lúc bấy giờ và trong hoàn cảnh đất nước ở hai đầu biên giới như vậy, đã là ngọn cờ, là tấm gương để mọi người, từ dân chúng, binh lính đến quan lại nhìn váo mà  đoàn kết, cùng nhau đưa hết sức lực ra gánh các vác công việc chung. Ngài là vị tướng văn võ song toàn.

     Lý Thái úy cho rằng ngồi chờ giặc đến rồi mới đánh trả lại, là hạ sách. Chi bằng lúc chúng đang chuẩn bị lực lượng ở gần biên giới, mọi thứ hãy còn dở dang, mà  đem quân đánh trước tốt hơn cả. Đánh như thế là  đánh trên thế mạnh và  đánh đúng thời cơ. Chúng tưởng ta nội tình lục đục, trên dưới không một lòng là chúng lầm to. Chúng tưởng ta hao tổn lực lượng và sa lầy ở Chiêm Thành là chúng cũng lầm to nốt. Đánh một kẻ chủ quan thiếu phòng bị lại chưa đủ long đủ cánh như thế như thế là rõ ràng chắc thắng hơn, dẫu rằng đường đất đi có xa và  điều kiện tác chiến tuy có khó hơn. Lời bàn của Lý Thái úy lập tức được cả triều đình tán thưởng. Và không phải ai khác, chính Ngài sẽ thống lĩnh đại binh, cùng với phó tướng là Tông Đản, đi đánh quân Tống ở bên kia biên giới. Thế là, đầu mùa đông năm ấy, tháng 10 - 1075, tức là sau khi từ Chiêm Thành trở về, Ngài đem hơn 10 vạn quân, bằng cả hai dường thủy, bộ tiến đánh Châu Khâm và Châu Liêm (thuộc quảng Đông - Trung quốc). Sau trận chiến đấu ngắn, hai viên chi châu này rút vào cố thủ . Ngài lập tức cho quân ta bao vây. Vua Tống Lệnh cho đô giám Quảng Tây là Trương Thủ Tiết đến cứu ứng. Tuy ở đông đất nước người nhưng Lý Thái úy nghiên cứu địa hình địa chất rất kỹ. Ngài cho đặt phục ninh tai điểâm yếu trên con đường từ Quảng Tây tới, mà quân của trương thủ tiết nhất định phải đi qua. Đó là cửa ải Côn Lôn tai Nam Ninh. Một mặt, vẫn cho quân vây hãm hai Châu Khâm, Liêm; mặt khác, Ngài rút một lực lượng mạnh và bố trí saÜn thời gian tai Côn Lôn. Khi toàn bộquân của Trương Thủ Tiết rơi vào trận địa, quân của ta từ hai bên nhất loạt dùng cung tên bắn ra. Lúc bấy giờ, quân ta từ bốn phía mới xông vào đánh quân Tống tan tành. Trương Thủ Tiết bị chém đầu tại trận.

     Sau khi nghe tin quân cứu viện bị đánh tan tành, hai viên tri châu Khâm, Liêm đều kéo cờ trắng ra hàng (tháng 11). Quân ta vào thành, tịch thu lương thực khí giới rồi rồi tiếp tục tiến đánh châu Ung (tháng 1 - 1076).

     Tri châu Tô Giam đốc xuất binh mã cố thủ đến hơn một tháng sau mà không nao núng. Lý Thái úy cũng quyết tâm hạt thành cho bằng được. Sau khi đi quan sát kỹ bốn mặt thành về, Ngài cho quân lính chuẩn bị thật nhiều bao đất. Trong đ êm tối, từ nhiều hướng phụ, Ngài sai đốt đuóc tiến công để thu hút lực lượng địch, còn tại các hướng chính, Ngài cho quân lính mang bao đất áp sát chân thành, đắp thành ụ mà trèo lên. Quân ta từ đó vào được thành, đánh địch từ nhiều phía. Tô Giam thế cùng lực kiệt, phải cho quyến thuộc 36 người uống thuốc độc, còn mình cũng tự sát theo. Quân ta toàn thắng.

     Mười vạn quân với ba trận thắng liên tiếp, vang dội, đủ để cho triều đình nhà Tống biết thế nào là sức mạnh Đại Việt rồi. Lý Thái úy cho rút binh ngay.

     Quả nhiên, tháng ba năm ấy, nhà Tống đốc xuất 30 vạn binh mã từ Quảng Đông, Quảng Tây do Quách Quì, Triệu Tiết chỉ huy, ồ ạt kéo sang. Ở biên giới phía Nam, nhà Tống cũng xúi dục hai nước Chiêm Thành, Chân Lạp cùng đem quân tiến đánh.

     Không hề nao núng, triều đình Đại Việt chia binh ra hai ngã tiếp chiến. 10 vạn quân ở mặt trận phía bắc do Lý Thái úy chỉ huy. Thấy quân giặc đông, quân ta ít, Ngài cho củng cố tuyến phòng ngự kiên cố ở phía bắc sông Như Nguyệt (sông Cầu). Quân Tống kéo đến, vấp phải lực lượng đề kháng mạnh mẽ, đã không tiến thêm được nữa.

     Để cổ vũ tinh thần chiến đấu của ba quân, trong đ êm tối, Lý Thái úy cho mọt viên tướng thật tốt giọng, cầm loa quả bầu khô, đứng ở sông Nam Quận ngay trước cửa đền Trương Hát, đọc một bài thơ như sau:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tuyệt nhiên định phâïn tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khang thủ bại hư.
Nghĩa:
Sông núi nước Nam thì do vua Nam ở
Rành rành ranh giới đã phân định tại sách trời
Cớ sao lũ giặc kia dám kéo đến xâm phạm?
Chúng bay xem: rồi sẽ chuốc lấy bại vong.
      Đó là bài thơ "thần" của chính Thái úy Lý Thường Kiệt viết. Lời thơ đanh thép, như là kết tinh ý chí kiên cường, bất khuất của dân tộc, được thể hiện qua tâm hồn và nghị lực của vị tướng tài ba lỗi lạc.

     Trong đếm tối, dưới ánh trăng sao vằng vặc, lời thơ sang sảng vang lên ôm trùm lấy sông núi, như thấm sâu vào mỗi đường gân, thớ thịt của từng chiến sĩ. Ai cũng thấy bồi hồi xúc động và náo nức, quyết chiến đấu hy sinh đến cả tính mạng của mình để giữ lấy nền độc lập của tổ quốc.

     Lời thơ ấy cũng chính là lời của hai vị thần tướng Trương Hống, Trương Hát, hai vị tướng tài ba và bất khuất của Việt Vương Triệu Quang Phục trước kia. Khi sinh thời hai vị thà chết chứ không chịu quỳ gối trước kẻ phản trắc là Lý Phật Tử tức hậu Lý Nam Đế, và sau khi mất, đã từng phù trợ cho Nam Tấn vương (tức Ngô Xương Văn, con thứ Ngô quân Ngô Quyền, người truất bỏ Dương Tam Kha tiếm ngôi để kế nghiệp cha, lên làm vua) đánh thắng Lý Huy làm loạn ở châu Tây Long rồi được lập đền thờ tại cửa sông Như Nguyệt và cửa sông Nam Quận.


Tiêu đề: Re: Truyền thuyết Việt Nam - sưu tầm
Gửi bởi: donghai trong 02 Tháng Bảy, 2009, 06:07:07 am
   
Việt Quốc Công Thái Úy Lý Thường Kiệt




Phần cuối:

    Được lời "hịch non sông" cổ vũ, quân ta trên dưới một lòng, dưới sự chỉ huy tài tình của Thái úy Lý Thường Kiệt đã tổ chức nhiều đợt tập kích đánh vào phòng tuyến của địch. Phó tướng Triệu Tiết bị giết cùng với hơn hơn một nghìn quân Tống khác. Quách Quì núng thế, mặc dù quân số nhiều hơn gấp ba lần, cũng phải tính đường rút quân lui về phía châu Quảng Nguyên là  địa phận của nước ta ở giáp biên giới với nước Tống. Quách Quì tính nước ăn chắc, vì không thể đối mặt với Lý Thái úy màtiến vào kinh thành Thăng Long, nên y chiếm lấy châu Quảng Nguyên để dâng lên vua Tống.

     Ở biên giới phía Nam quân dân ta đã không để cho binh lính Chiêm Thành, Chân LaÏp tái chiếm. Thế là nền độc lập của dân tộc vẫn được giữ vững mà trong đó, Lý Thái úy chính là ngọn cờ, là linh hồn của cuộc chiến đấu.

     Tuy nhiên, sau chiến thắng địa vị quan trường của Thái Úy không tăng mà cũng không giảm, nghĩa là vẫn giử nguyên như cũ. Vẫn kiên trì phương châm "hiến việc tốt, can việc xấu" của một bề tôi chung thành và không màng danh lợi cho mình, Ngài lại ra sức tu bổ cho nền văn trị trong nước. Với trọng trách "trong thì cầm đại chính, ngoài thì coi sự lữ", Ngài" dốc một lòng lấy việc an xã tắt" làm vui. Triều Lý lúc bấy giờ, vua Hải còn nhỏ tuổi, bà Linh Nhân phụ chính, quả là đã biết người trụ cột là ngài, nên đã chắn hưng được đất nước.

     Ngay sau chiến thắng (1076) có chiếu của nhà vua cầu lời nói thẳng. Rồi cắét nhắc nhưng người hiền lương có tài văn võ, cho quản quân dân. lại chọn quan viên quan chức, người nào biết chữ cho vào Quốc Tử Giám học.

     Tiếp đến năm sau (1077) mở hội tụng kinh "phật thuyết Nhân Vương" trong đó có đoạn nói rằng "vua các nước cầu nguyện kinh này thì muôn dân được tay qua nạn khỏi"và thi "lại viên" bằng phép viết chữ, phép tính và hình luật.

     Năm 1078 sửa lại Thành Đại La, rồi đòi được nhà Tống sửa lại Châu Quảng Nguyên ...

     Rồi tiếp những năm sau nữa. Năm 1085, tháng 8, mờ kỳ thi văn học, chọn nhân tài lần thứ hai. Mạc Hiển Tích đỗ đầu ... Năm 1089 định lại quan chức, v.v..

     Lúc bấy giờ nhà vua cũng đã khôn lớn, có thể đảm đương được việc trị quốc và  đất nước đang buổi thái bình. Lý Thái úy lúc ấy cũng đã già, nhưng vẫn như xưa, là vị quan thanh liêm, chính trực. Năm 1101 nhân đổi niên hiệu , Lý Nhân tông cho Ngài kiêm chức "Nội thi phán thủ đô áp nha hành điện nội ngoại đô tri sự" nghĩa là từ nay Ngài sẽ là người phán quyết các việc phải trái xảy ra trong triều ngoài nội trước khi đưa lên nhà vua phê duyệt . Có thể nói, Ngài là người cao nhất trên thực tế, đã nắm quyền "cầm cân nảy mực" tức thi hành công bằng xã hội lúc bấy giờ!

     Tuy nhiên, chức trách chính của Ngài vẫn là vị tướng cầm quân mỗi khi đất nước lâm sự. Vì vậy, năm 1103, Ngài lại lên đường đi đánh Lý Giác ở Diễn Châu (Nghệ An). Lý Giác thua trốn sang Chiêm Thành.

     Vua Chiêm Thành là Chế Ma Na nghe theo Lý Giác xúi bẩy, đã đem quân chiếm lại ba châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính mà trước đây Chế Củ đã dâng Lý Thánh Tông để chuộc mạng.

     Tháng 2-1104, Lý Thái úy lại phải xuất chinh, dẫn đại binh đi đánh Chiêm Thành. Chế Ma Na đại bại, phải nộp lại đất như cũ. Và  đấy cũng là trận thắng cuối cùng của Lý Thái úy.

     Do đường sá xa xôi, lại phải trèo đ èo vượt dốc mà tuổi đã cao, sức đã yếu nên khi trở về, Lý Thái úy bị ốm nặng. Tháng 6 năm 1105 Ngài qua đời, khép lại một sự nghiệp lẫy lừng từ lúc thiếu thời cho đến khi mãn chiều xế bóng. Cả triều đình và muôn dân đều thương tiếc Ngài. Lý Nhân tông truy tặng Ngài thêm chức"Nhập nội điện đô tri kiểm hiệu, Thái úy, bình chương quân quốc trọng sự" và tước "Việt quốc công". Lại cho người em của Ngài là Lý Thường Hiển được kế phong tước hầu.

     Lúc sinh thời, Ngài rất ghét chuyện đồng cốt quàng xiên mà nhiều kẻ đã lừa gạt mọi người để kiếm lợi. Ngài phạt bọn chúng rất nặng, nên thói tục nhơ bẩn cũng được rửa sạch phần nhiều. Tuy nhiên, Ngài đã rất khuyến khích việc thờ phụng những người có công với dân với nước, công nhận họ là những phúc thần. Đó cũng là  đóng góp thêm về văn hóa và tín ngưỡng, nằm trong sự nghiệp chấn hưng đất nước và giữ vũng nền độc lập đân tộc của Ngài.

     Các triều đại trước đây mỗi khi chính vị, đều có sắc phong tặng Ngài. Chỉ riêng thời Trần đã có các mỹ hiệu "Trung phụ công", "Dũng mãnh", "Uy thắng" ...Đền thờ chính của Ngài ở xã Ngọ Xá, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. Hương khói quanh năm, tôn nghiêm, kính cẩn. Ngày nay, nhiều trường học, đường phố ... đã mang tên Ngài.

     Sau đây là một bài "minh", khắc trên bia chùa Linh Xứng, nói về con người, hành trạng và công đức của Ngài: "Thái úy trong thì sáng suốt khoan hòa, ngoài thì nhân từ giản dị. Những việc đổi dời phong tục nào có quản công. Làm việc thì siêng năng, sai bảo dân thì ôn hậu, cho nên dân được nhờ cậy. Khoan hòa giúp đỡ dân chúng, nhân từ giúp đỡ mọi người, cho nên mọi người kính trọng. Dùng uy vũ để trừ bọn gian ác. Đem minh chính để giải quyết ngục tụng, cho nên hình ngục không quá lạm. Thái úy biết dân lấy no ấm làm đầu, nước lấy nghề nông làm gốc, cho nên không để lỡ thời vụ. Tài giỏi mà không khoe khoang, nuôi dưỡng cả đến người già ở nơi thôn dã, nên người già nhờ đó mà  được an thân. Phép tắc như vậy có thể gọi là cái gốc trị nước, cái thuật yên dân, mọi sự tốt đẹp đều ở đấy cả. Giúp chính sự có ba triều, dẹp yên loạn ngoài biên tái, chỉ khoảng vài năm mà tám phương yên lặng. Công thật lớn lao"

     Lý Thường Kiệt là nhân vật truyền thuyết mà cũng là nhân vật lịch sử. Ở Ngài, xét cả hai phương diện, đều thấy mang ý nghĩa thật là trọn vẹn, cả về tầm vóc, cũng như về giá trị văn hóa!"

                                                        Đ.Hải
                                               Sưu tầm từ Internet


Tiêu đề: Re: Truyền thuyết Việt Nam - sưu tầm
Gửi bởi: donghai trong 11 Tháng Bảy, 2009, 04:29:21 pm
Truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ
________________________________________

       Cách đây lâu đời lắm, ở Lĩnh Nam có một thủ lĩnh tên là Lộc Tục, hiệu là Kinh Dương Vương, sức khoẻ tuyệt trần, lại có tài đi lại dưới nước như đi trên cạn. Một hôm, Kinh Dương Vương đi chơi hồ Ðộng Ðình, gặp Long Nữ là con gái Long Vương, hai người kết thành vợ chồng và ít lâu sau sinh được một trai, đặt tên là Sùng Lâm. Lớn lên Sùng làm rất khoẻ, một tay có thể nhấc bổng lên cao tảng đá hai người ôm. Cũng như cha, Sùng Lâm có tài đi lại dưới nước như đi trên cạn. Khi nối nghiệp cha, chàng lấy hiệu là Lạc Long Quân.

      Lúc bấy giờ ở đất Lĩnh Nam còn hoang vu, không một nơi nào yên ổn, Lạc Long Quân quyết chí đi du ngoạn khắp nơi.

      Ðến vùng bờ biển Ðông Nam, Lạc Long Quân gặp một con cá rất lớn. Con cá này đã sống từ lâu đời, mình dài hơn năm mươi trượng, đuôi như cánh buồm, miệng có thể nuốt chửng mười người một lúc. Khi nó bơi thì sóng nổi ngất trời, thuyền bè qua lại đề bị nó nhận chìm, người trên thuyền đều bị nó nuốt sống. Dân chài rất sợ con quái vật ấy. Họ gọi nó là Ngư tinh. Chỗ ở của Ngư tinh là một cái hang lớn ăn sâu xuống đáy biển, trên hang có một dãy núi đá cao ngăn miền duyên hải ra làm hai vùng.

      Lạc Long Quân quyết tâm giết loài yêu quái, trừ hại cho dân, Lạc Long Quân đóng một chiếc thuyền thật chắc và thật lớn, rèn một khối sắt có nhiều cạnh sắc, nung cho thật đỏ, rồi đem khối sắt xuống thuyền chèo thẳng đến Ngư Tinh, Lạc Long Quân giơ khối sắt lên giả cách như cầm một người ném vào miệng cho nó ăn. Ngư Tinh há miệng đón mồi. Lạc Long Quân lao thẳng khối sắt nóng bỏng vào miệng nó. Ngư Tinh bị cháy họng vùng lên chống cự, quật đuôi vào thuyền của Lạc Long Quân. Lạc Long Quân liền rút gươm chém Ngư Tinh làm ba khúc. Khúc đầu hoá thành con chó biển. Lạc Long Quân lấy đá ngăn biển chặn đường giết chết con chó biển, vứt đầu lên một hòn núi, nay gọi hòn núi ấy là Cẩu Ðầu Sơn, khúc mình của Ngư Tinh trôi ra xứ Mạn Cẩu, nay còn gọi là Cẩu Ðầu Thủy, còn khúc đuôi của Ngư Tinh thì Lạc Long Quân lột lấy da đem phủ lên hòn đảo giữa biển, đảo ấy nay còn mang tên là Bạch Long Vĩ.

     Trừ xong nạn Ngư Tinh, Lạc Long Quân đến Long Biên. Ở đây có con cáo chín đuôi sống đến hơn nghìn năm, đã thành tinh. Nó trú trong một hang sâu, dưới chân một hòn núi đá ở phía Tây Long Biên. Con yêu này thường hóa thành người trà trộn trong nhân dân dụ bắt con gái đem về hang hãm hại. Một vùng từ Long Biên đến núi Tản Viên, đâu đâu cũng bị Hồ Tinh hãm hại. Nhân dân hai miền rất lo sợ, nhiều người phải bỏ cả ruộng đồng, nương rẫy, kéo nhau đi nơi khác làm ăn.

      Lạc Long Quân thương dân, một mình một gươm đến sào huyệt Hồ tinh, tìm cách diệt trừ nó. Khi Lạc Long Quân về đến tới cửa hang, con yêu tinh thấy bóng người, liền xông ra, Lạc Long Quân liền hoá phép làm mưa gió, sấm sét vây chặt lấy con yêu. Giao chiến luôn ba ngày ba đêm, con yêu dần dần yếu sức, tìm đường tháo chạy, Lạc Long Quân đuổi theo chém đứt đầu nó. Nó hiện nguyên hình là một con cáo khổng lồ chín đuôi. Lạc Long Quân vào hang cứu những người còn sống sót, rồi sai các loài thủy tộc dâng nước sông Cái, xoáy hang cáo thành một vực sâu, người đương thời gọi là đầm Xác Cáo, đời sau mới gọi là Tây Hồ.

      Dẹp yên nạn Hồ Tinh nhân dân quanh vùng lại trở về cày cấy trên cánh đồng ven hồ, và dựng nhà lập xóm trên khu đất cao nhất gọi là làng Hồ, đến nay vẫn còn.

     Thấy dân vùng Long Biên đã được yên ổn làm ăn Lạc Long Quân đi ngược lên vùng rừng núi đến đất Phong Châu. Ở vùng này có một cây cổ thụ gọi là cây chiên đàn, cao hàng nghìn trượng, trước kia cành lá sum suê tươi tốt che kín cả một khoảng đất rộng, nhưng sau nhiều năm, cây khô héo, biến thành yêu tinh, người ta gọi là Mộc Tinh. Con yêu này hung ác và quỷ quyệt lạ thường. Chỗ ở của nó không nhất định, khi thì ở khu rừng này, khi thì ở khu rừng khác. Nó còn luôn luôn thay hình đổi hạng ẩn nấp khắp nơi, dồn bắt người để ăn thịt. Ði đến đâu cũng nghe thấy tiếng khóc than thảm thiết, Lạc Long Quân quyết ra tay cứu dân diệt trừ loài yêu quái. Lạc Long quân phải luồn hết rừng này đến rừng kia và qua nhiều ngày gian khổ mới tìm thấy chỗ ở của con yêu. Lạc Long Quân giao chiến với nó trăm ngày đêm, làm cho cây long đá lở, trời đất mịt mù mà không thắng được nó. Cuối cùng Lạc Long Quân phải dùng đến những nhạc cụ như chiêng, trống làm nó khiếp sợ và chạy về phía Tây Nam, sống quanh quất ở vùng đó, người ta gọi là Quỷ Xương Cuồng.

     Diệt xong được nạn yêu quái, Lạc Long Quân thấy dân vùng này vẫn còn đói khổ thiếu thốn, phải lấy vỏ cây che thân, tết cỏ gianh làm ổ nằm bèn dạy cho dân biết cách trồng lúa nếp, lấy ống tre thổi cơm, đốn gỗ làm nhà sàn để ở, phòng thú dữ. Lạc Long Quân còn dạy dân ở cho ra cha con, vợ chồng. Dân cảm ơn đức ấy, xây cho Lạc Long Quân một toà cung điện nguy nga trên một ngọn núi cao. Nhưng Lạc Long Quân không ở, thường về quê mẹ dưới thủy phủ và dặn dân chúng rằng: "Hễ có tai biến gì thì gọi ta, ta sẽ về ngay! "

      Lúc bấy giờ có Ðế Lai từ phương Bắc đem quân tràn xuống phương Nam. Ðế Lai đem theo cả người con gái yêu rất xinh đẹp của mình là Âu Cơ và nhiều thị nữ. Thấy Lĩnh Nam phong cảnh tươi đẹp, lại nhiều chim muông, nhiều gỗ quý. Ðế Lai sai quân dựng thành đắp lũy định ở lâu dài. Phải phục dịch rất cực khổ, nhân dân chịu không nổi, hướng về biển Ðông gọi to: "Bố ơi! Sao không về cứu dân chúng con!". Chỉ trong chớp mắt, Lạc Long Quân đã về.

     Nhân dân kể chuyện, Lạc Long Quân hóa làm một chàng trai rất đẹp, có hàng trăm đầy tớ theo hầu, vừa đi vừa hát đến thẳng chỗ Ðế Lai ở. Lạc Long Quân không thấy Ðế Lai đâu cả, mà chỉ thấy một cô gái nhan sắc tuyệt trần cùng vô số thị tỳ và binh lính. Cô gái xinh đẹp đó là Âu Cơ. Thấy Lạc Long Quân uy nghi tuấn tú nàng đem lòng say mê, xin đi theo Lạc Long Quân. Lạc Long Quân đưa Âu Cơ về ở trong cung điện của mình, trên núi cao. Ðế Lai về, không thấy con gái đâu, liền sai quân lính đi tìm khắp nơi, hết ngày này qua ngày khác. Lạc Long Quân sai hàng vạn các ác thú ra chặn các nẻo đường, xé xác bọn chúng làm cho chúng khiếp sợ bỏ chạy. Ðế Lai đành thu quân về phương bắc.

     Lạc Long Quân ở với Âu Cơ được ít lâu thì Âu Cơ có mang, sinh ra một cái bọc. Sau bảy ngày cái bọc nở ra một trăm quả trứng. Mỗi trứng nở ra một người con trai. Trăm người con trai đó lớn lên như thổi, tất cả đều xinh đẹp khoẻ mạnh và thông minh tuyệt vời.

      Hàng chục năm trôi qua, Lạc Long Quân sống đầm ấm bên cạnh đàn con, nhưng lòng vẫn nhớ thủy phủ. Một hôm Lạc Long Quân từ giã Âu Cơ và đàn con, hóa làm một con rồng vụt bay lên mây, bay về biển cả. Âu Cơ và đàn con muốn theo Lạc Long Quân, nhưng không đi được, buồn bã ở lại trên núi. Hết ngày này qua ngày khác, họ mỏi mắt trông chờ mà vẫn biền biệt tăm hơi. Không thấy Lạc Long Quân trở về, nhớ chồng quá, Âu Cơ đứng trên ngọn núi cao hướng về biển Ðông lên tiếng gọi: "Bố nó ơi! Sao không về để mẹ con chúng tôi sầu khổ thế này".

      Lạc Long Quân trở về tức khắc. Âu Cơ trách chồng:

     - Thiếp vốn sinh trưởng ở núi cao, động lớn, ăn ở với chàng sinh được trăm trai, thế mà chàng nỡ lòng bỏ đi, để mặc con thiếp sống bơ vơ khổ não.

     Lạc Long Quân nói:

     - Ta là loài rồng, nàng là giống tiên, khó ở với nhau lâu dài. Nay ta đem năm mươi con về miền biển, còn nàng đem năm mươi con về miền núi, chia nhau trị vì các nơi, kẻ lên núi, người xuống biển, nếu gặp sự nguy hiểm thì báo cho nhau biết, cứu giúp lẫn nhau, đừng có quên.

     Hai người từ biệt nhau, trăm người con trai tỏa đi các nơi, trăm người đó trở thành tổ tiên của người Bách Việt. Người con trưởng ở lại đất Phong Châu, được tôn làm vua nước Văn Lang lấy hiệu là Hùng Vương. Vua Hùng chia ra làm mười năm bộ, đặt tướng văn, võ gọi là lạc hầu, lạc tướng. Con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mỵ Nương. Ngôi vua đời đời gọi chung một danh hiệu là Hùng Vương.

     Lạc Long Quân là người mở mang cõi Lĩnh Nam, đem lại sự yên ổn cho dân. Vua Hùng là người dựng nước, truyền nối được mười tám đời. Do sự tích Lạc Long Quân và Âu Cơ, nên dân tộc Việt Nam vẫn kể mình là dòng giống Tiên Rồng.


                                                              Đ.Hải
                                                   Sưu tầm từ Internet


Tiêu đề: Re: Truyền thuyết Việt Nam - sưu tầm
Gửi bởi: lonesome trong 11 Tháng Bảy, 2009, 09:33:29 pm
Sùng Lãm chứ không phải Sùng Lâm.

Mong bạn khi copy các bài viết được tag là "Truyền thuyết" thì cũng nên coi lại xem sourrce của mình có thật là truyền thuyết không hay lại là truyện do người đời nay chế biến dựa trên các bản gốc. Tôi nói thế vì trong topic này của bạn đã có nhiều bài kiểu này rồi.
Thân.


Tiêu đề: Re: Truyền thuyết Việt Nam - sưu tầm
Gửi bởi: donghai trong 12 Tháng Bảy, 2009, 11:21:40 am
Truyện Tranh
  Truyền thuyết Lạc Long Quân- Âu Cơ ( Trăm trứng, trăm con)

http://www.public.asu.edu/%7Eickpl/reading/tienrong.htm



Tiêu đề: Re: Truyền thuyết Việt Nam - sưu tầm
Gửi bởi: donghai trong 12 Tháng Bảy, 2009, 06:16:20 pm
Quả Dưa Hấu

Mai An Tiêm

Phần 1
 
     Thời vua Hùng Thứ 17, như thường lệ diễn ra từ các đời vua trước, có người khách buôn dông buồm từ phương Nam tới Kinh đô Phong Châu, bán cho nhà vua hàng hóa và một số nô lệ.

     Bản thân nhà vua chắc cũng không thiếu thứ gì, nhưng vì là người toàn quyền trong các việc mua bán, đổi chác với khách nước ngoài, nên trong những trường hợp như thế, Ngài thường mua tất cả hàng hóa và nô lệ.

     Hàng hóa là những thứ quý hiếm hoặc sản vật lạ mà trong nước không có, được đưa về kho để nhà vua phân phát dần cho các đại thần và quan lại, hoặc thưởng cho những người có công. Còn nô lệ, đôi khi cũng được chia cho các đại thần, nhưng phần lớn là  để làm các việc trong nội cung, như xây dựng cung điện nhà cửa, làm các việc thủ công, vì họ đều là những người thợ khéo tay cả ...

     Những người nô lệ này được đặt trực tiếp dưới sự sai khiến của quan Thái giám. Thời gian đầu họ vừa làm việc vừa học nói theo tiếng bản địa. Dần dà, khi đã quen với phong tục tập quán, họ trở thành người bản xứ, cũng lấy vợ lấy chồng, làm ăn sinh sống như mọi người. Tuy nhiên trong quan niệm về tôn giáo, vì là thấm nhuần từ nhỏ ở trong "nôi" dân tộc của họ, nên vẫn có những sự khác biệt nhất định. Điều này đôi khi dẫn họ đến chỗ bị phiền nhiễu hoặc phải trả giá đắt, trước khi mọi người có thể hiểu và hoàn toàn thông cảm được. Hơn nữa, trong số họ, nếu có ai mong chóng thành đạt, hoặc được nhà vua sủng ái điều gì, thì thường là  đối tượng để chuốc lấy sự đố kỵ, ghét ghen của những người xung quanh, nhất là những người ở trong đám quan lại.

     Mai An Tiêm, người mà sau này được dân chúng tôn xứng là "ông tổ của dưa tây" (hay dưa hấu), lúc đầu cũng chính là một người nô lệ như thế, trong lần mua bán vừa rồi.

     Chàng là một thanh niên hiền lành, mặt mũi khôi ngô sáng sủa, đặc biệt rất khéo tay. Ở quê hương phương Nam xa xôi của chàng, nam giới ngay từ nhỏ, ai cũng phải đến chùa học hành và  đi tu, do vậy, tôn giáo đã thấm sâu vào từng người ngay từ tấm bé. Riêng bản thân chàng sau khi ở chùa về, gặp lúc gia cảnh quẩn bách, phải bán mình để cha mẹ chuộc nợ. Về đất Phong Châu, những ngày đầu Mai An Tiêm âu sầu thương cha nhớ mẹ, nhưng rồi chàng cũng mau chóng nhận ra mình chẳng bao giờ còn có thể quay trở về, nên đã định tâm tuân theo lời dạy của vị cao tăng, người thầy đầu tiên đã khai tâm cho chàng, khi ở trong chùa:"Con ạ. Ở trên đời này, mọi sự xảy ra đều do có tiền kiếp cả. Người ta chẳng nên vui hay nên buồn về những cái từ bên ngoài đưa tới cho mình. Ở hiền găïp lành, ở bạc gặp ác, hãy cứ gieo nhân nào thì gặt quả ấy, bởi vì trời đất và quỷ thần luôn luôn chứng giám và soi xét hành vi, lời nói, việc làm của mình".

     Do hành xử theo lời dạy đó nên dần dần chàng có thái độ thản nhiên trước mọi biến đổi, bản thân cũng mau chóng hòa nhập với công việc và với mọi người. Là người thông minh linh lợi nên chàng học nói tiếng bản địa rất nhanh, còn trong công việc, cũng tỏ ra có rất nhiều sáng kiến. Đang lát, xây dựng nhà cửa vốn là những việc từ nhỏ chàng đã quen làm cho nên bây giờ khi làm những việc đó, chàng thấy hoàn toàn thoải mái và phát huy hết sở trường đã có có của mình. Những vật dùng mà chàng đan lát, những kèo, mộng nhà mà chàng cưa đục, cùng những hình chạm trổ trên cột, trên xà ... Khiến cho ai nhìn vào cũng đều tấm tắc khen ngợi. Vốn là người chăm chỉ, ít nói năng, lại rất mực khiêm tốn, nên mọi người xung quanh đều cảm thấy yêu mến quý trọng chàng.

     Vua Hùng thứ 17 là người độ lượïng, khoan hòa, trong hành xử Ngài luôn tỏ ra vừa có ân lại vừa có uy, nên được triều thần cũng như dân chúng rất mực tôn kính, ngưỡng mộ. Tuy các việc trong cung đều giao cho quan thái giám, nhưng nhiều khi Ngài cũng thăm nom, bảo ban điều này điều khác.

     Thấy An Tiêm là chàng trai hiền lành, lanh lợi, lại khéo tay chăm làm, nên Ngài đem lòng mến mộ rồi nhận làm con nuôi. Mấy năm sau Ngài cưới vợ cho chàng.

     Vợ chàng, nguyên là một cô gái con nhà nghèo khó nhưng xinh đẹp, được tuyển vào cung làm thị nữ cho các nàng công chúa. Vua Hùng thấy nàng lễ phép, chăm chỉ, lại chịu khó nên cũng nhận làm con nuôi và  đặt tên cho là nàng Ba.

     Thuở ấy, phong tục thuần phát, cho nên việc nhà vua nhận nhiều người làm con nuôi cũng là  điều xảy ra khá bình thường. Các con nuôi của nhà vua không có ân sủng gì đặc biệt mà  đơn giản chỉ là có thêm chút quan hệ gần gũi mà thôi. Việc nhà vua dựng vợ gã chồng cho các con nuôi, do vậy, cũng chỉ là theo lẽ thường tình vốn có.

     Tháng ngày yên ả trôi đi, Mai An Tiêm được nhà vua tín nhiệm, ban cho một chức quan nhỏ. Đến năm ba mươi lăm tuổi chàng đã có một gia cư vào loại khá giả: Một vợ hai con, ngôi nhà khang trang sạch sẽ và các vật dụng đầy đủ, đẹp đẽ. Nói cho công bằng thì tất cả cơ ngơi đó đều do công sức của hai vợ chồng chàng, còn chức quan nhỏ cũng không mang lại bổng lộc nhiều. Nếu thỉnh thoảng có ban thưởng cho chàng, thì đó là kết quả của công việc chứ không phải kết quả của phẩm tước.

     Nhiều người vui mừng cho hạnh phúc của chàng, nhưng cũng không ít kẻ đã đem lòng ghen ghét đố kỵ. Trong con mắt của những người này, việc một người nô lệ không biết từ đâu tới chẳng những không bị đối xử khinh miệt mà còn được nhận quan chức, lại có nhà cửa vợ con đề huề, thì họ cảm thấy hết sức khó chịu và tìm mọi cách để chà  đạp ...

     Một hôm, nhân trong nhà có công việc, vợ chồng Mai An Tiêm làm thêm mấy mâm cổ để mời quan khách và bạn bè thân hữu đến dự. Nói là quan khách nhưng thực ra chỉ là những người cùng có địa vị thấp như chàng. Trong số quan khách này, có những người Mai An Tiêm không thích nhưng chẳng lẽ lại thiếu người này người kia nên buộc lòng phải mời cho đầy đủ, và thế là tai họa đã nảy sinh.

     Đứng trước gia tư của chàng, các quan khách đều không ngớt lời ca ngợi. Đáp lại tấm thịnh tình của mọi người, Mai An Tiêm đã đặt cả hai tay lên ngực mà thưa:

     - Đa tạ các quan bác quá khen. Những thứ này có đáng gì đâu, chẳng qua đấy là những vật truyền kiếp thôi mà.

     Do không ai hiểu tôn giáo cũ của chàng thế nào nên nghe câu nói ấy, mọi người hết sức ngạc nhiên. Tuy vậy trong bữa cỗ, không ai nói gì thêm về điều này và mọi người ăn uống vui vẻ.

     Ấy thế mà, sau khi từ nhà Mai An Tiêm ra về, lại có một vài vị quan khách xấu bụng đã để ý đến câu nói của chàng. Tuy saÜn có định kiến lại ghen ghét, nên họ cho rằng như thế là Mai An Tiêm đã vô ơn, bởi vì không có nhà vua thì dẫu khéo tay hay tài giỏi thế nào, cơ ngơi của chàng cũng không thể khang trang như thế được. Thế là mấy ngày sau, câu nói của An Tiêm đa được họ bẩm báo đến tận tai nhà vua, lại được thêm thắt ra rất nhiều. Nhà vua, mặc dù  đại lượng nhưng nghe thấy thế trong lòng cũng tức giận, Ngài hạ lệnh tống giam Mai An Tiêm để chờ xét hỏi.

     Ngay ngày hôm sau, đình thần được triều họp. Mai An Tiêm bị dẫn ra trước sân rồng, đích thân nhà vua xét xử và các quan đại thần tham kiến.

     Khi Mai An Tiêm quỳ xuống rồi ngẩng mặt lên, người ta thấy cử chỉ của chàng thận điềm đạm và nét mặt cũng thật bình thản. Điều đó khiến cho những người saÜn có ác cảm với chàng cảm thấy tức tối. Sau khi nhân chứng trình bày lại lời của chàng khi trước thì cử chỉ và nét mặt ấy vẫn không thay đổi.

     Một vị đại thần thấy thế, kìm lòng không được, vội đứng dậy buộc tội:

     - Khởi bẩm Bệ hạ. Mai An Tiêm vốn xuất thân là tên nô lệ, được ân sủng mà dám quên ơn. Hơn nữa, thái độ của y cũng thật bất kính. Nay tội đã rõ ràng, xin Bệ hạ nghiêm trị để giữ gìn phép nước.

     Một vị đại thần khác cũng vào hùa, luận tội thêm:

     - Khởi bẩm Bệ hạ. Theo ý thần, Mai An Tiêm như vậy đã mắc vào tội khi quân, đáng phải chém đầu để thị chúng.

     Nét mặt nhà vua trầm ngâm, Ngài chưa nói năng gì, cũng chưa có động thái nào. Không khí buổi xét xử có phần như lắng xuống. Các quan đưa mắt nhìn nhau, thăm dò.

     Một vị đại thần vốn khảng khái, không có ác cảm với Mai An Tiêm bao giờ, đứng dậy nói:

     - Khởi bẩm Bệ hạ. Mai An Tiêm tuy trước kia là nô lệ, nhưng từ ngày được Bệ hạ trọng dụng, cũng đã chăm chỉ siêng năng, có nhiều công lao. Nay y nói năng như vậy chắc là có ẩn ý gì khác, chưa nên khép tội vội. Xin Bệ hạ minh xét.

     Nhà vua vừa lắng nghe vừa gật gật đầu suy nghĩ, sau đó Ngài thong thả phán về phía tội phạm:

     - An Tiêm. Ta vốn trọng tài, nên đối xử với nhà ngươi cũng chẳng hẹp hòi gì, mọi người đều biết cả. Nhưng chẳng lẽ từ bấy đến nay ngươi vẫn chưa cam lòng, nên đã coi thường cả phép nước?

     Mai An Tiêm từ nãy vẫn quỳ, kính cẩn thưa lên:

     - Muôn tâu Bệ hạ. Kẻ hạ thần nhờ ân sủng của Bệ hạ, được như ngày nay, có lẽ nào lại dám quên ơn và khinh nhờn phép nước. Hạ thần nói vật truyền kiếp là muốn nói rằng người ta thu được quả nào ở kiếp này là do đã gieo nhân từ kiếp trước. Ở xứ sở của hạ thần trước kia, từ nhỏ đến lớn, ai ai cũng được học hành và tâm niệm như vậy, dám mong Bệ hạ soi xét.


Tiêu đề: Re: Truyền thuyết Việt Nam - sưu tầm
Gửi bởi: donghai trong 12 Tháng Bảy, 2009, 06:17:41 pm
Quả Dưa Hấu
Mai An Tiêm

Phần 2

     Nghe những lời này từ chính miệng Mai An Tiêm, nhà vua cũng lộ vẻ băn khoăn: "Chẳng lẽ lại có chuyện như thế ư?", tuy nhiên là người quyết án, Ngài còn muốn nghe thêm những lời tham kiến.

     Hai vị đại thần khi nãy đã khép Mai An Tiêm vào tội chết đã đứng lên, xin nhà vua bắt Mai An Tiêm phải tự xử bằng kiếm trước mặt mọi người. Cái lý mà họ đưa ra là: "Ở đâu thì phải theo phong tục ở đấy".

     Nhà vua lơ đãng lắng nghe, rồi bất thình lình truyền lệnh thị vệ mang ra một thanh kiếm thật. Trong lúc nhiều vị đại thần còn đang ngơ ngác nhìn nhà vua cầm ngang thanh kiếm ngắm nghía thì bỗng nhiên đã nghe thấy tiếng Ngài phán:

     - Từ nãy ta đã nghe các khanh tham kiến, nhưng pháp luật vốn nghiêm minh với tất cả mọi người. Nếu An Tiêm từ bé sinh ra trên đất Văn Lang thì thanh kiếm này ta sẽ giao cho y phải tự xử trước mặt mọi người. Nhưng nay An Tiêm lại sinh ra từ xứ sở khác, làm như thế ta e là  đã phạm vào điều hiếu sát. Vậy bây giờ ta xử thế này: An Tiêm nhận thanh kiếm đến tận miền hoang đảo, ở đó nhà ngươi sẽ được tự xử lấy. Rủi có chết hay phải tự chết thì ngươi cũng đừng oán trách ta, còn nếu sống sót thì sẽ có ngày ta cho người đến đón.

     Các vị đại thần thở phào, còn Mai An Tiêm thì gập đầu xuống lạy tạ. Đọan, chàng ngẩng mặt đứng dậy, rồi bước lên nhận thanh kiếm cử chỉ vừa cung kính lại vừa thật ung dung, đ àng hoàng. Quả thật, từ trước đến nay chưa bao giờ Mai An Tiêm biết sợ, cũng như chưa bao giờ biết xung xoe nịnh nọt. Khi bị bán làm nô lệ, khi được phong chức, khi tiếp khách trong nhà hay khi bị tống giam rồi dẫn ra đây, lúc nào chàng cũng thật bình tĩnh, thản nhiên, như chẳng hề xảy ra chuyên gì. Và các vị đại thần có mặt, lần đầu tiên đã được chứng kiến một người có phong thái như vậy!

     Theo lệnh của nhà vua, ba ngày sau nội cung phải chuẩn bị một thuyền lớn để đưa An Tiêm tới hoang đảo ở nơi tận cùng của đất nước do một viên bộ tướng chỉ huy và quân lính đi kèm.An Tiêm có mang vợ đi hay không là tùy, còn lương thực chỉ cấp vừa đủ ba tháng, một số nồi niêu bát đĩa và tư trang, ngoài ra lệnh không được mang theo một thứ gì, ngoại trừ thanh kiếm để tự xử hay để tùy thân, như lời nhà vua đã phán quyết.

     An Tiêm khuyên nàng Ba hãy ở lại nuôi con rồi đi bước nữa, chứ chẳng nên theo chàng làm gì, vì sống ở hoang đảo một mình đã khó, làm sao lại đ èo bòng thêm cả vợ con, nhưng nàng Ba nhất định không nghe, nói rằng vợ chồng ăn ở với nhau thuận hòa, đã gần chục năm lại có hai mặt con, sống chết cũng phải có nhau chứ không tể kẻ đi người ở được.

     Bất đắc dĩ, An Tiêm cũng phải nghe theo, rồi vợ chồng con cái bước xuống thuyền để đến nơi biệt xứ.

     Thuyền lênh đ ênh trên mặt sông rồi lại lênh đ ênh trên mặt biển trọn nửa tháng trời, đã cập bến tại một hoang đảo ở vùng biển thuộc Nga Sơn - Thanh Hóa bây giờ.

     Đúng là hoang đảo thật! Khi thuyền quay mũi vào đất liền và vợ chồng con cái An Tiêm bước lên bãi cát, thì trước mặt họ thực sự là một cõi hoang vu mịt mùng. Chỉ có những vách đá nhô ra và cây cối rậm rạp, um tùm. Tiếng sóng biển ì ầm không lúc nào ngớt, rồi tiếng vượn hú từ các lùm cây thỉnh thoảng lại cất lên đến rợn người. Hai đứa trẻ bấu riết lấy bố mẹ. Nàng Ba tần ngần nhìn chồng, còn Mai An Tiêm thì thản nhiên nhìn bao quát khung cảnh một lượt, rồi lựa lời khuyên nhủ vợ con:

     - Ông trời luôn luôn có mắt. Phụ vương và triều đình rồi cũng sẽ hiểu cho tấm lòng của chúng ta. Mọi sự rồi sẽ đâu vào đấy cả thôi.

     Chàng cầm kiếm tiến lên phía trước. Nàng Ba ôm đồ đạc. Hai đứa trẻ lũn cũn theo sau. Mai An Tiêm phát cây, mở lối đến chân một vách đá dựng đứng, ở đó có thể làm tạm một chiếc lều dựa vào. Thế rồi ngay ngày hôm ấy, chiếc lều đã dựng xong, bên trong chàng lại còn làm thêm cả một chiếc giường bằng cành cây. Nàng Ba đi tìm nguồn nước ngọt rồi đem về lều, kê  đá, nấu bữa cơm đầu tiên.

     An Tiêm bỏ ra hẳn ba ngày liền để tìm hiểu hoang đảo. Chàng đi một vòng xung quanh rồi phát cây mở lối tiến sâu vào bên trong. Vẫn chỉ có cây cối và dây leo chằng chịt, và ở bên ngoài có mấy bãi sỏi và vách đá dựng đứng. Tuy nhiên, ở chỗ giáp ranh giữa rừng cây và bãi sỏi cũng có mấy vạt đất, lại có dấu chân rùa, vích và hang chuột đ ào. trong rừng sâu, tiếng khỉ vượn thỉnh thoảng xen lẫn với tiếng chim hót. An Tiêm tự nhủ: Ở đây có thể dung thân lâu dài được, nhưng cái chính là phải thật kiên trì.

     An Tiêm chẳng hề phàn nàn điều gì, cũng chẳng oán trách một ai. Mấy ngày sau, chàng cùng vợ con củng cố nơi ăn chốn ở cho thật chu đáo rồi bắt tay vào việc đan lờ, đan rọ, làm bẫy ... để bắt cá và bắt chim, thú. Cuộc sống lại có phần tươi ra, do ngày cũng có thịt cá, duy chỉ có điều cơm ăn phải thật dè sẻn.

     Cùng vợ con làm lụng và cười nói chuyện trò, An Tiêm cảm thấy trong lòng thật ấm áp. Nhớ lại lúc lại vợ khăng khăng đòi đi theo, chàng càng thêm yêu mến quý trọng nàng bội phần. Nhìn thanh kiếm mà nhà vua trao cho, chàng cảm thấy mình không tự xử mà dùng nó để mở mang, khơi dậy cuộc sống, là một việc làm hoàn toàn đúng, hoàn toàn hợp danh dự và hợp lý, cho chàng, và cho cả vợ con chàng. Tuy giữ vẻ mặt bên ngoài hoàn toàn thản nhiên, nhưng trong lòng An Tiêm lúc nào cũng âm ỉ một câu hỏi: Phải tìm ra hạt giống, bởi vì đó mới là sinh kế lâu dài.

     Vốn bẩm sinh linh lợi, thông minh, nên bằng suy luận, An Tiêm đã tự hiểu rằng: Cây cối trên đảo có được một phần nữa là do chính có từ đời nảo đời nào, còn phần nữa là do chim chóc đã mang hạt giống từ nơi khác đến. Trên đất liền trước kia là thế, thì bây giờ trên đảo cũng phải như thế cả thôi. Chàng liền giảng giải điều ấy với vợ con và dặn dò kỹ lưỡng: Dù có làm gì cũng thỉnh thoảng nhìn ngó lên trời, khi thấy chim bay từ đâu tới thì hãy để ý xem chúng có đánh rơi vật gì xuống hay không?

     Ấy thế mà chàng, cũng như vợ con chàng, vừa làm lụng vừa ngó lên bầu trời có đến cả trăm, cả ngàn, thậm chí cả vạn lần, mà tuyệt nhiên vẫn chẳng thấy chim choác mang hạt giống tới. Nhiều lần hai đứa con nản chí thì chàng lại lựa lời khuyên nhủ, rồi bày ra trò chơi cho chúng vui lên.

     Cuộc sống của Mai An Tiêm và gia đình trên hoang đảo cứ thế mà trôi đi, có vui có buồn, nhưng chưa bao giờ thấy tuyệt vọng. Một tháng trôi qua. Hai tháng trôi qua. Rồi ba tháng nữa cũng trôi qua. Số lương thực mà gia đình chàng được phép mang đi cũng chỉ vơi mất một phần, do hết sức dè sẻn, và như vậy vẫn còn nhiều thời cơ để hy vọng.

     Và quả nhiên thời cơ hy vọng ấy cuối cùng cũng đã đến!

     Một hôm, gia đình Mai An Tiêm ăn cơm xong, đang ngồi uống nước thì bỗng nhiên có một đ àn chim lớn từ phía tây bay tới, rồi đỗ xuống bãi biển trước mặt. Lũ chim vừa kêu vừa thi nhau mổ những vật gì đó. Không lỡ thời cơ, từ trong nhà, An Tiêm nhặt vội mấy khúc củi rồi lao thẳng ra, vừa chạy vừavung ném củi. Lũ chim hoảng sợ vội bay hoảng lên. Đến nơi, An Tiêm thấy còn xót trên bãi cát mấy mẫu trái quả do chúng bỏ lại. Chàng nhặt lên ngắm nghía. Đấy là những mãnh tựa như những mảnh dưa chuột ở miền Phong Châu, nhưng vỏ ngoài xanh thẫm và trong ruột thì đỏ, lại có những hàng hạt đen nhức. "Đây có lẽ là một loại dưa mới", Mai An Tiêm thầm nghĩ.

     Cho rằng chim ăn được thì người cũng ăn được, nên An Tiêm đưa một miếng quả ấy lên miệng nhấm thử, sau khi đã lau chùi sạch. Quả nhiên, chàng thấy một vị ngọt thanh, lan ra từ nơi đầu lưỡi. Chàng ăn hết miếng quả, không quên nhằn hạt lại, và cảm thấy trong lòng khoan khoái dễ chịu. Thế là chàng đi nhặt cho kỳ hết những mảnh quả còn lại và những hạt đang vương vãi trên bãi cát, cho vào vạt áo, túm lại, rồi đưa về nhà. Nàng Ba và hai đứa con, sau khi nêm thử, cũng đều nhận ra cảm giác như An Tiêm.

     Ngay chiều hôm ấy, An Tiêm cùng vợ con dùng kiếm phát cây, đ ào rễ rồi rào dậu một vạt đất nhỏ trước nhà  để trồng giống dưa lạ, sau khi hạt đã được phơi khô cẩn thận. Những ngày sau, sớm chiều hai lượt, vợ chồng con cái lại đi xach nước ngọt tưới lên những luống hạt cho vừa độ ẩm. Được bảy ngày, từ những luống đất, những hạt tách vỏ nhô lên. Bảy ngày nữa, từ hai lá mầm thành những cây dưa non mơn mởn. Lại bảy ngày tiếp, những cây dưa đã trưởng thành, lan ra trên mặt đất nhiều lớp ngọn, và từ nách mỗi cuống lá, những quả non nhỏ bé cũng nhú ra. Trong những ngày này, gia đình Mai An Tiêm thường xuyên tưới nước ngọt và thu dọn phân đem bón vào luống.

     Những quả dưa lớn dần, mỗi ngày mỗi khác. Thoạt đầu chỉ như hạt ngô, rồi đã bằng quả ổi nhưng hơi dài. Chẳng mấy chốc đã lại như quả muỗm tròn trịa, và cuối cùng thì như quả dừa cực lớn và  đầy đặn, có lớp vỏ bao quanh màu xanh sẫm. Đến lúc đó, dưa thôi không lớn nữa, lớp vỏ cũng xanh thẫm màu hơn, và  đồng thời, cũng hiện lên rõ hơn những khía màu xanh nhạt. Lớp lông bên ngoài vỏ, có từ lúc quả còn nhỏ, nay cũng đã lụi đi, và thay vào đó là một vài mảnh phấn trắng. An Tiêm hiểu rằng dưa đã tới độ chín. Chàng hái một quả già nhất, rồi lấy kiếm bổ ra, đưa cho mỗi người một miếng.

     Đưa miếng dưa lên miệng, ai cũng ngửi thấy mùi thơm ngon, rồi ăn vào, thấy cái ngọt cái mát thấm sâu vào trong dạ. Cái ngọt, cái mát, sự khoan khoái ..., nếu lần trước ăn chỗ quả còn sót lại của chi, mới là sự khởi đầu, thì bây giờ đây, những cảm giác ấy mới đạt đến mức tràn đầy, viên mãn. Cả nhà Mai An Tiêm đều sung sướng, tuy nhiên, ai cũng vẫn nhớ là phải chừa hạt lại. Ôi! những hạt giống mơ ước bấy lâu nay! Chúng đen nhaÜn và tựa tựa như những hạt na, hứa hẹn rồi sẽ có đầy dưa trong nhà, ngoài bãi, và có thể dùng ăn thay cơm được!

     Mai An Tiêm tin tưởng điều ấy nhất định sẽ xảy ra, bởi vì sau khi ăn xong miếng dưa lớn, chàng cảm thấy trong người khỏe khoắn, tựa như vừa được bồi bổ thêm một nguồn sinh lực mới. "Từ những quả hạt dưa lạ này, gia đình ta rồi sẽ có thêm lúa gạo, thêm quần áo và các vật dụng khác", Mai An Tiêm thầm nghĩ.


Tiêu đề: Re: Truyền thuyết Việt Nam - sưu tầm
Gửi bởi: donghai trong 12 Tháng Bảy, 2009, 06:19:34 pm
Quả Dưa Hấu
Mai An Tiêm

Phần cuối

     Chàng vẫn đinh ninh nhớ khi ra đảo, gia đình chàng đã đi từ hướng Tây tới. Bấy lâu quan sát thật kỹ, Mai An Tiêm thấy rằng, dù trời yên biển lặng hay nổi phong ba bão táp, thì sóng biển bao giờ cũng vỗ về phía tây, hoặc thẳng hướng, hoặc chếch lên chếch xuống tùy theo từng mùa. Điều khám phá này, tuy đơn giản nhưng lại vô cùng hệ trọng, bởi vì từ đây An Tiêm có thể liên hệ được với đất liền, nơi có nhiều người sing sống, có đầy đủ lúa gạo, vải vóc và các vật dụng, bằng những quả dưa do chính bàn tay gia đình chàng làm ra. Thế là, ngay vụ dưa đầu tiên, chàng chọn lấy ba quả, đánh dấu bằng cách vạch lên lớp vỏ bên ngoài bốn hình người, rồi thả xuống biển, cho trôi vào đất liền.

     Những ngày những tháng tiếp theo, gia đình Mai An Tiêm luôn bận rộn với việc trồng dưa, hết vụ này đến vụ khác. Tất cả các hạt chắc đều được chừa lại, phơi khô. Các vạt đất xung quanh nhà, qua thanh kiếm đều được phát cây, khai khẩn để trở thàng ruộng trồng. Và  đúng như Mai An Tiêm đã dự đoán, lúc nào trong nha ngòi bãi cũng đều có dưa cả. Dưa ăn no nê, thỏa thích, mỗi ngày chỉ cần một lưng cơm mà ai cũng thấy trong người mạnh khỏe. Và vẫn đều đặn, An Tiêm đem thả những quả dưa già có vạch hình bốn người cho trôi vào đất liền như thường lệ.

     Quả nhiên, cũng đúng như An Tiêm dự đoán, một ngày kia có chiếc thuyền từ phía đất liền đã nhận ra tín hiệu của chàng và mang gạo mang vải ra đổi lấy dưa. Thế là từ đó trở đi, qua trao đổi, cuộc sống của gia đình chàng đã hoàn toàn sung túc, chẳng còn phải lo thiếu gạo và các thứ cần thiết nữa.

     Về phần vua Hùng thứ 17, từ ngày lúc trao kiếm để Mai An Tiêm đi tự xử ở miền hoang đảo đến nay, những khi nhớ lại, nhà vua cảm thấy buồn người trong dạ. Nếu không có mấy vị đại thần cứ khăng khăng đòi khép Mai An TIêm vào tội chết kia thì chắc chắn Ngài cũng xử chàng nặng đến như thế. Một đằng là con nuôi nhưng một đằng lại là phép nước, nên buộc lòng Ngài phải thật công minh. Tuy nhiên, tin ở tài trí của An Tiêm nhà vua vẫn hy vọng sẽ có ngày được đón chàng về.

     Trước kia nhà vua chỉ giao cho gia đình An Tiêm ba tháng gạo là có ý để chàng, phải tự lo liệu từ tháng thứ tư, chứ không phải ngay từ đầu đã triệt đường sinh kế. Trong thâm tâm, Ngài định đúng ba năm sẽ cho người hỏi tin tức, nếu An Tiêm còn sống thì se được đón về, còn nếu không coi như chàng cũng đ ành phải chấp nhận trả giá cho lời nói và niềm tin của mình.

     Ba năm sau, kể từ ngày An Tiêm ra đi, nhà vua sai chuẩn bị một thuyền lớn gồm đầy đủ lương thực, quần áo, vật dụng, cũng do viên bộ tướng ngày trước chỉ huy, dông buồm thẳng tới miền hoang đảo, để thi hành công vụ này.

     Khi thuyền đến vùng ven biển, đỗ lại để lấy sức để ngày mai ra đảo thì quân lính lên bờ thấy bày bán ở chợ đầy một giống dưa lạ mà trước kia chưa hề có thì viên bộ tướng cho lính đến mua và hỏi han gốc tích ra sao thì được biết đấy là giống dưa đổi được của vợ chồng An Tiêm ở ngoài đảo vắng. Cả tướng lẫn quân đều hết sưa vui mừng, ngay ngày hôm sau, dong buồm bẻ lái cho thuyền đi ra hướng đảo đến nơi, được chứng kiến cơ ngơi của vợ chồng An Tiêm, lại được tha hồ ăn dưa thỏa thích, nên ai nấy đều vui mừng vùa hết lòng cảm phục. Tuy nhiên, về phần Mai An Tiêm thái độ của chàng vẫn cứ thản nhiên như bao giờ.

     Quan quân truyền lệnh của nhà vua rồi giúp An Tiêm thu dọn đồ đạc và trảy dưa mang xuống thuyền. Muời ngày sau, tất cả mọi người đều đã có mặt ở Kinh đô Phong Châu và ra mắt nhà vua.

     Khi được hỏi về những ngày sinh sống trên hoang đảo, An Tiêm thưa gửi nhà vua rất mực từ tốn, thuật lại các việc từ đầu đến cuối và trong khi nói không hề tỏ ra oán hận nhưng cũng không mảy may tỏ ý vui mừng. Nhà vua nhìn người con nuôi vừa mến phục lại cũng vừa thầm nghĩ: "Đúng. Trước kia nơi An Tiêm đã nói thật, chứ không hề có ý coi thường quân vương. Có vật truyền kiếp tức là có ở hiền gặp lành, ở bạc gặp ác, ngẫm ra xưa nay mọi sự đều là như thế cả. Nhưng tiếc thay thiên hạ lại không mấy người có thể hiểu và tin theo điều đó!"

     Trong buổi thiết triều đầu tiên, kể từ khi An Tiêm về lại đất Phong Châu, có đông đủ văn võ bá quan tham dự. Nhà vua sai bổ dưa đem chia đều cho mọi người. Số còn lại cũng đưa chia hết cho các gia đình không có người dự họp. Ý định của nhà vua và cũng là nguyện vọng của An Tiêm: Để cho ai ai cũng được thưởng thức thứ dưa quý, lạ, sau đó, mọi người đều có hạt giống để trồng sau này.

     Trong khi vừa ăn dưa, mọi người vừa tấm tắt khen ngon. Nhà vua hỏi An Tiêm đây là giống dưagì, thì chàng đứng dậy:

     - Tâu Bệ hạ. Hạ thần tự đặt tên là dưa tây, khi có những người mang hàng hóa đến đổi hỏi thần. Sở dĩ như vậy là do lúc đầu, thần thấy bầy chim đưa hạt từ phía tây tới.

     Nhà vua ngẫm nghĩ giây lát, rồi nói:

     - Từ phía tây tức là từ trong đất liền, nhưng từ trước đến nay ta có nghe nói ở vùng ấy có giống dưa nào đâu? Nếu giống ấy từ nước nào khác ở phía tây đến, thì chẳng lẽ ta lại gọi cây mọc trên đất của ta, bằng tên của nước người hay sao?

     Các quan có mặt ngồi suy nghĩ hồi lâu và  đưa mắt nhìn nhau. Một vị đại thần vốn thật thà trực tiếp đã đứng dậy:

     - Tâu Bệ hạ. Theo thiển ý của thần chi bằng cứ có sao thì gọi như vậy. Giống dưa này vừa ngọt vừa mát là do ruột xốp nên chứa được nhiều nước, vậy nên gọi là dưa hẩu cho tiện.

     Nhà vua lắc đầu:

     - Tên ấy cũng đúng một phần, nhưng nghe ra thì bạc bẽo quá. Theo ý ta nên chữa lại là dưa thấu. Thấu là ăn vào cái ngọt cái mát thấm vào đến tận gan ruột. Thấu cũng là từ nay mọi người hãy thấu tỏ cho nỗi oan của An Tiêm. Ngoài ra, thấu còn là khi nói hay làm điều gì, mọi người đều phải suy trước ngẫm sau cho thật thấu suốt.

     Nghe nhà vua nói vậy, tất cả văn võ bá quan đều như có vẻ lặng hẳn người. Trong thâm tâm, ai ai cũng thầm cảm phục nhà vua là bậc cao minh, bởi vì họ nhớ lại ba năm trước đây, chính tay Ngài sau khi phán quyết, đa trao thanh kiếm tự xử cho An Tiêm như thế nào.

     Từ đấy giống dưa Mai An Tiêm đưa về Kinh đô đã được gieo trồng ở khắp mọi nơi, với tên gọi là "dưa thấu". Nhưng về sau có lẽ do biến âm, nên trở thành "dưa hấu".

     Cũng có thể, "dưa hấu" là biến âm của cả "dưa thấu" lẫn "dưa hẩu" chăng?

     Còn mọi người ở vùng biển thuộc Nga Sơn (Thanh Hóa) thì trước đến nay, vẫn quen gọi đó là dưa tây, như một cách ghi công ơn của người đầu tiên đã trồng và  đặt tên cho giống dưa lạ ấy.

     Nơi hoang đảo, chỗ lần đầu tiên Mai An Tiêm nhận được giống dưa, được các đời sau truyền nhau gọi là bãi An Tiêm. Tại nền nhà cũ mà thuở trước An Tiêm cùng gia đình lập nghiệp, sau đó, được mọi người lặp ngôi đền thờ để đời đời tưởng nhớ "ông bà tổ của dưa tây".

     Tại hoang đảo, sau khi gia đình Mai An Tiêm rời đi, đã có nhiều người khác đến ở. Họ lập thành làng xóm và tiếp tục nghề trồng dưa của Mai An Tiêm để lại. Trải thời gian, làng xóm ấy càng ngày càng thêm đông vui trù mật, và  được gọi là làng Mai An Tiêm, còn lại đến ngày nay. Nhưng vì để kiêng tên gọi của vị thủy tổ, nên mọi người chỉ gọi đó là làng Mai An.

                                                           Đ.Hải
                                               Sưu tầm từ Internet


Tiêu đề: Re: Truyền thuyết Việt Nam - sưu tầm
Gửi bởi: tuaans trong 12 Tháng Bảy, 2009, 07:54:37 pm
Tớ thì thấy quai quái cái chuyện nguồn gốc dân ta!
- Lạc Long quân thấy Âu Cơ đẻ ra bọc 100 trứng bèn phán "yêu quái" rồi đem vứt ra cánh đồng Tương. Mưa nắng, chúng nở thành trăm người con. Cả đám chạy về kêu: "Cha ơi, mẹ ơi!"

Bác nào giải thích cho nhà em cái niềm tự hào "đồng bào" cái đi!


Tiêu đề: Re: Truyền thuyết Việt Nam - sưu tầm
Gửi bởi: donghai trong 13 Tháng Bảy, 2009, 10:33:14 am
Tớ thì thấy quai quái cái chuyện nguồn gốc dân ta!
- Lạc Long quân thấy Âu Cơ đẻ ra bọc 100 trứng bèn phán "yêu quái" rồi đem vứt ra cánh đồng Tương. Mưa nắng, chúng nở thành trăm người con. Cả đám chạy về kêu: "Cha ơi, mẹ ơi!"

Bác nào giải thích cho nhà em cái niềm tự hào "đồng bào" cái đi!

             Ông tuaans có cách suy luận hay thật!
        Đã là truyền thuyết thì phải mang yếu tố thần kì, thư ảo chứ. Nếu suy luận như ông anh thì truyện Tiên Dung và Chữ Đồng Tử gặp nhau sẽ thành kiểu này à: "Ngày xưa ở nàng Chử Xá có hai cha con Chử Cù Vân và Chử Đồng Tử, nghèo khổ, mò cua bắt ốc, chỉ có một chiếc khố chung nhau, hễ ai đi đâu thì đóng: Chử Cù Vân ốm sắp chết dặn con cứ táng trần cho cha. Nhưng khi Chử Cù Vân qua đời thì Chử Đồng Tử đã lấy khố đóng cho cha rồi mới chôn cất. Ngày ngày Chử Đồng Tử vẫn xuống sông mò cua bắt cá kiếm sống. Thuở ấy có nàng Tiên Dung, công chúa của vua Hùng thứ ba, nhan sắc tuyệt trần, đã 17, 18 tuổi mà không chịu lấy chồng, chỉ thích chèo thuyền đi xem sông núi. Một hôm, thuyền của nàng đến khúc sông làng Chử Xá, thấy cảnh sông nước bờ bãi xinh đẹp, nàng bèn ra lệnh cho thị nữ vây màn tứ vi vào một nơi có bóng mát để tắm. Không ngờ nơi đó Chử Đồng Tử đang náu mình dưới cát. Tiên Dung giội nước một lúc, nàng giật mình thấy một chàng trai trồi lên. Cả hai người đều trong tình trạng không quần không áo, có khi cảm phục Chử Đồng Tử công chúa tiên Dung đã dâng trọn tấm thân mình cho Chử Đồng Tử rồi khi về sợ vua tra trách phạt bèn bịa ra truyện được trời se duyên "Tôi đã nguyện không lấy chồng, nay duyên trời run rủi, lại gặp chàng chốn này mới biết cưỡng không được với trời".

 Nhưng không nên nghĩ nhiều phân tích quá sâu vào truyện mà báng bổ thần thánh....


Tiêu đề: Re: Truyền thuyết Việt Nam - sưu tầm
Gửi bởi: donghai trong 13 Tháng Bảy, 2009, 10:35:57 am
Chử Đồng Tử - Tiên Dung

Ngày xưa, vua Hùng Vương thứ ba có một người con gái nhan sắc như tiên, đặt tên là Tiên Dung. Tiên Dung rất đẹp, song tự nguyện không lấy chồng, chỉ ham thích phong cảnh, thường đi du lịch khắp nơi trong nước. Được vua cha nuông chiều, mỗi năm vào độ mùa xuân Tiên Dung ngồi thuyền du ngoạn, có khi ra tận ngoài biển, lắm lúc mê cảnh đẹp quên về.

Thuở ấy, ở làng Chử Xá (thuộc tỉnh Hưng Yên ngày nay) có người tên là Chử Cù Vân và con trai tên là Chử Đồng Tử. Hai cha con thương mến nhau rất thắm thiết. Nhà họ Chử vốn nghèo lại càng thêm sa sút sau một trận cháy, trong nhà chỉ còn mỗi một chiếc khố. Hai cha con phải thay phiên nhau mà mặc mỗi khi ra ngoài. Khi người cha bị bệnh nặng sắp mất, dặn con giữ khố lại, còn cứ chôn mình xác trần. Chử Đồng Tử không nỡ để cha chết trần truồng, dùng chiếc khố độc nhất liệm cha mà đem chôn. Từ đó Chử Đồng Tử không có gì che thân, đợi đến đêm mới đi ra câu cá, ban ngày thì dầm nửa người dưới nước, đến gần thuyền để bán cá hoặc xin ăn.

Một hôm, thuyền rồng chở công chúa Tiên Dung đến vùng đó. Nghe tiếng chuông trống, đàn sáo lại thấy cờ quạt, người hầu rầm rộ, Chử Đồng Tử hoảng sợ, chui vào bụi lau ở bãi cát bờ sông, nấp mình xuống đó rồi phủ cát lên che người.

Thuyền rồng ghé vào bờ, Tiên Dung lên chơi trên bãi, thấy cảnh thanh tú, sai người hầu quây màn ở bụi lau để làm nơi cho mình tắm, đúng ngay vào chỗ Chử Đồng Tử nấp. Đến khi Tiên Dung xối nước, cát trôi để lộ thân hình trần truồng của người trai lạ. Nàng ngạc nhiên hỏi chuyện mới rõ tình cảnh của Chử Đồng Tử, nghĩ ngợi bảo chàng:
"Tôi đã định không lấy chồng, nay tình cờ gặp anh thế này, chắc do là trời xui khiến. Anh dậy mà tắm rửa đi!"

Rồi Tiên Dung lấy quần áo trao cho Chử Đồng Tử mặc để cùng xuống thuyền ăn uống. Người ở trên thuyền hiểu chuyện, cho là một cuộc gặp gỡ lạ lùng. Tiên Dung nghĩ là duyên tiền định, đòi kết làm vợ chồng. Chử Đồng Tử cho là phận mình thấp hèn, không dám nhận lời, Tiên Dung nói:

"Đây là do trời tác hợp, sao anh lại từ chối"?

Rồi hôn lễ giữa nàng công chúa với anh chàng trần như nhộng cử hành ngay trên sông.

Tin đưa về kinh đô, Hùng Vương giận dữ nói với triều thần: "Con gái ta không kể danh tiết, hạ giá lấy kẻ nghèo hèn, còn mặt mũi nào mà trông thấy ta nữạ Từ nay mặc cho nó muốn đi đâu thì đi, không được về cung". Tiên Dung biết vua cha tức giận, sợ không dám về, bèn cùng chồng mở chợ Hà Thám, đổi chác với dân gian. Lâu dần mở mang thành chợ lớn, gọi là chợ Hà Thám, có phố xá khách buôn nước ngoài lui tới giao thương ngày càng phồn thịnh.

Một hôm có khách buôn bán đến rủ Tiên Dung đem vàng cùng ra nước ngoài mua hàng về bán sẽ có lãi tọ Tiên Dung mới bảo chồng rằng: "Chúng ta lấy nhau là do trời định, cơm áo cũng do trời cho. Vậy việc này âu cũng là trời xui khiến, chúng ta nên làm".

Chử Đồng Tử bèn cùng khách buôn nọ ra đị Đến một hòn núi giữa biển gọi là núi Quỳnh Tiên, thuyền ghé lấy nước ngọt, Chử Đồng Tử vui chân trèo lên cái am nhỏ trên núi gặp một đạo sĩ trẻ tên là Phật Quang. Chuyện trò ý hợp tâm đầu, Chử Đồng Tử theo lời Phật Quang giao vàng nhờ khách buôn đi mua hàng còn mình thì ở lại đây học đạo.

Đến khi thuyền trở lại, Chử Đồng Tử theo về đất liền. Khi từ giã, Phật Quang tặng Chử Đồng Tử một cái gậy, một cái nón và bảo:

"Đây là vật thần thông".

Về đến nhà Chử Đồng Tử truyền đạo lại cho vợ. Tiên Dung giác ngộ bèn bỏ việc buôn bán để cùng chồng đi tìm thày học đạo.

Một hôm trời tối, hai vợ chồng đi đã mệt mà chưa thấy nhà cửa đâu, mới dừng bước lại, cầm gậy che nón nằm dưới mà nghỉ. Vào khoảng nửa đêm, tự nhiên chỗ ấy nổi lên thành quách, cung điện bằng châu ngọc và kho tàng đầy đủ của cải, màn gấm chiếu hoa, không thiếu một thứ gì. Lại thêm tiên đồng ngọc nữ, tướng sĩ lính hầu xum xít quanh hai vợ chồng.

Sáng hôm sau, dân ở quanh vùng đều lấy làm kinh dị, mang hương hoa thực phẩm đến xin làm tôị Họ vào thành thấy các quan văn võ, lính tráng tấp nập đông đảo như một nước riêng.

Hùng Vương được tin báo cho là con gái làm loạn, vội phái quân đi đánh. Đoàn quân sĩ nhà vua gần tới nơi, bộ hạ Tiên Dung xin ra chống cự, nàng cười mà bảo rằng:

"Tất cả mọi việc đều do ở trời chứ không phải tự tạ Ta đâu dám cự lại phụ vương. Sống hay chết đều nhờ ở trời, dẫu ta có bị phụ vương giết cũng không dám oán hận".

Trời đã tối, quân của Hùng Vương không kịp tấn công, dừng lại đóng ở bãi Tự Nhiên, cách đối phương một con sông lớn. Đến nửa đêm trời bỗng nổi bão, sóng gió cuồn cuộn, nhổ cây ở bãi, đại quân của Hùng Vương rối loạn. Trong chốc lát thành quách cung điện và bộ hạ của hai vợ chồng Tiên Dung đều bay cả lên trờị Sáng hôm sau, người ta kinh dị thấy chỗ đó đã hóa thành một cái đầm lớn. Dân chúng bèn lập đền thờ để cúng tế hàng năm, gọi đầm ấy là đầm Nhất Dạ (Một đêm), thuộc phủ Khoái Châu (Hưng Yên).

Về sau, Triệu Quang Phục chống nhau với quân nhà Lương, lấy đầm này làm chỗ ẩn nấp để đánh nhau trong mấy năm trờị Đêm đêm quân của Quang Phục cỡi thuyền độc mộc tiến ra đánh úp làm cho quân giặc mỗi ngày một hao tổn. Một hôm Quang Phục lập đàn cầu thần phù hộ, bỗng thấy Chử Đồng Tử cỡi rồng giáng xuống hứa giúp diệt giặc, rồi trao cho Quang Phục một chiếc móng rồng bảo gắn vào mũ để làm bùa thiêng.

Trận đó quả nhiên đại thắng, Quang Phục giết được tướng nhà Lương, quân giặc tan vỡ. Họ Triệu tự lập làm vua, tức là Triệu Việt Vương.


                                                                       Đ.Hải
                                                             Sưu tầm từ Internet


Tiêu đề: Re: Truyền thuyết Việt Nam - sưu tầm
Gửi bởi: tuaans trong 13 Tháng Bảy, 2009, 10:43:21 am
Tớ thì thấy quai quái cái chuyện nguồn gốc dân ta!
- Lạc Long quân thấy Âu Cơ đẻ ra bọc 100 trứng bèn phán "yêu quái" rồi đem vứt ra cánh đồng Tương. Mưa nắng, chúng nở thành trăm người con. Cả đám chạy về kêu: "Cha ơi, mẹ ơi!"

Bác nào giải thích cho nhà em cái niềm tự hào "đồng bào" cái đi!

@donghai đọc Lĩnh Nam chích quái chưa vậy?


Tiêu đề: Re: Truyền thuyết Việt Nam - sưu tầm
Gửi bởi: donghai trong 13 Tháng Bảy, 2009, 05:42:29 pm


[/quote]@donghai đọc Lĩnh Nam chích quái chưa vậy?[/quote]


Em cũng dã từng xem rồi. Có dẫn chứng gì hay bác nói thử để anh em cùng bàn bạc.


Tiêu đề: Re: Truyền thuyết Việt Nam - sưu tầm
Gửi bởi: tuaans trong 13 Tháng Bảy, 2009, 05:45:28 pm
Hehe, đoạn văn trên là tui mô tả lại!

Còn đây là trong Truyện Hồng Bàng Thị (LNCQ):
... Long Quân lấy âu Cơ rồi đẻ ra một bọc, cho là điềm bất thường, vứt ra cánh đồng; qua sáu bảy ngày, bọc vỡ ra một trăm quả trứng, mỗi trứng nở ra một con trai, mới đem về nhà nuôi ...


Tiêu đề: Re: Truyền thuyết Việt Nam - sưu tầm
Gửi bởi: donghai trong 13 Tháng Bảy, 2009, 06:07:10 pm
http://lichsuvietnam.info/index.php?option=com_content&task=view&id=105&Itemid=22

Đúng là trong truyện "Chuyện Hồng Bàng" có đoạn:
5. Âu Cơ ở với Lạc Long Quân giáp một năm, sinh ra một bọc trứng, cho là điềm không hay nên đem bỏ ra ngòai đồng nội; hơn bảy ngày, trong bọc nở ra một trăm trứng, mỗi trứng là một con trai, bà đem về nuôi nấng, không cho ăn, cho bú mà tự nhiên trường đại, trí dũng song tòan, ai cũng úy phục, bảo nhau đó là những anh em phi thường.

  Chứ ông anh lại sáng tác thêm đoạn "Lạc Long quân thấy Âu Cơ đẻ ra bọc 100 trứng bèn phán "yêu quái" rồi đem vứt ra cánh đồng Tương. Mưa nắng, chúng nở thành trăm người con. Cả đám chạy về kêu: "Cha ơi, mẹ ơi!" " cũng hơi buồn cười!
   Nhưng nói gì đi nữa thì Lĩnh Nam chích quái Hay nói chung là các Truyền thuyết thì đều không chú trọng nhiều về yếu tố lịch sử, mà phản ánh lịch sử qua một cách nhìn độc đáo: những câu truyện trong lịch sử dựng nước và giữ nước của ông cha ta được khúc xạ qua lời kể của nhiều thế hệ để rồi kết tinh thành những hình tượng nghệ thuật đặc sắc, nhuốm màu thần kì mà vẫn thấm đẫm cảm xúc đời thường .

        Nên cái niềm tự hào "đồng bào"! mà ông anh hỏi có khi nhân dân nhà mình tự hào vì Lạc long quân và âu Cơ đạt được kỉ lục thế giới về đẻ nhiều đó (100 người con mà).!.


Tiêu đề: Re: Truyền thuyết Việt Nam - sưu tầm
Gửi bởi: donghai trong 14 Tháng Bảy, 2009, 05:42:24 am
Bánh Dầy Bánh Chưng

 

 
 
     Ngày xưa, đời Vua Hùng Vương thứ 6, sau khi đánh dẹp xong giặc Ân, vua có ý định truyền ngôi cho con.

     Nhân dịp đầu Xuân, vua mới họp các hoàng tử lại, bảo rằng: "Con nào tìm được thức ăn ngon lành, để bày cỗ cho có ý nghĩa nhất, thì ta sẽ truyền ngôi vua cho".

     Các hoàng tử đua nhau tìm kiếm của ngon vật lạ dâng lên cho vua cha, với hy vọng mình lấy được ngai vàng.

     Trong khi đó, người con trai thứ 18 của Hùng Vương, là Tiết Liêu (còn gọi là Lang Lèo) có tính tình hiền hậu, lối sống đạo đức, hiếu thảo với cha mẹ. Vì mẹ mất sớm, thiếu người chỉ vẽ, nên ông lo lắng không biết làm thế nàọ

     Một hôm, Tiết Liêu nằm mộng thấy có vị Thần đến bảo: "Này con, vật trong Trời Đất không có gì quý bằng gạo, vì gạo là thức ăn nuôi sống con ngườị Con hãy nên lấy gạo nếp làm bánh hình tròn và hình vuông, để tượng hình Trời và Đất. Hãy lấy lá bọc ngoài, đặt nhân trong ruột bánh, để tượng hình Cha Mẹ sinh thành"

     Tiết Liêu tỉnh dậy, vô cùng mừng rỡ. Ông làm theo lời Thần dặn, chọn gạo nếp thật tốt làm bánh vuông để tượng hình Đất, bỏ vào chõ chưng chín gọi là Bánh Chưng. Và ông giã xôi làm bánh tròn, để tượng hình Trời, gọi là Bánh Dầỵ Còn lá xanh bọc ở ngoài và nhân ở trong ruột bánh là tượng hình cha mẹ yêu thương đùm bọc con cáị

     Đến ngày hẹn, các hoàng tử đều đem thức ăn đến bày trên mâm cỗ. Ôi thôi, đủ cả sơn hào hải vị, nhiều món ngon lành. Hoàng tử Tiết Liêu thì chỉ có Bánh Dầy và Bánh Chưng. Vua Hùng Vương lấy làm lạ hỏi, thì Tiết Liêu đem chuyện Thần báo mộng kể, giải thích ý nghĩa của Bánh Dầy Bánh Chưng. Vua cha nếm thử, thấy bánh ngon, khen có ý nghĩa, bèn truyền ngôi Vua lại cho Tiết Liêu con trai thứ 18.

    Kể từ đó, mỗi khi đến Tết Nguyên Đán, thì dân chúng làm bánh Chưng và bánh Dầy để dâng cúng Tổ Tiên và Trời Đất.

                                                                               Đ.Hải
                                                                     Sưu tầm từ Internet


Tiêu đề: Re: Truyền thuyết Việt Nam - sưu tầm
Gửi bởi: donghai trong 15 Tháng Bảy, 2009, 07:06:04 pm
   
Sự tích Hồ Gươm
   Vào thời giặc Minh đặt ách đô hộ ở nước Nam, chúng coi dân ta như cỏ rác, làm nhiều điều bạo ngược, thiên hạ căm giận chúng đến xương tuỷ. Bấy giờ ở vùng Lam Sơn, nghĩa quân nổi dậy chống lại chúng, nhưng trong buổi đầu thế lực còn non yếu nên nhiều lần nghĩa quân bị thua. Thấy vậy, đức Long Quân quyết định cho nghĩa quân mượn gươm thần để họ giết giặc.
   Hồi ấy ở Thanh Hóa có một người làm nghề đánh cá tên là Lê Thận. Một đêm nọ, Thận thả lưới ở một bến vắng như thường lệ. Khi kéo lưới lên, thấy nằng nặng, Lê thận chắc mẩm được một mẻ cá to. Nhưng khi thò tay vào bắt cá, chàng vhỉ thấy có một thanh sắt. Chàng vứt luôn thanh sắt xuống nưởcoif lại thả lưới ở một chỗ khác.
    lần thứ hai cất lưới lên cũng thấy nặng tay, thận không ngờ thanh sắt vừa vứt lại chui vào lưới mình. Chàng lại ném xuống sông. Lần thứ ba, vẫn thanh sắt ấy mắc vào lưới. Lấy làm lạ, Thận đưa thanh sắt cạnh mồi lửa nhìn xem. Bỗng chàng reo lên:
   - Ha ha! Một lưỡi gươm!
   về sau Thận gia nhập đoàn quân khởi nghĩa lam Sơn. Chàng hăng hái, gan dạ, không nề nguy hiểm. một hôm chủ tướng Lê Lợi cùng mấy người tùy tòng đến nhà Thận. Trong túp lều tối om thanh sắt hôm đó tự nhiên sáng rực lên ở xó nhà. Lấy làm lạ, Lê Lợi cầm lên xem và thấy hai chữ "Thuận thiên" khắc sâu vào lưỡi gươm. song mọi người vẫn không biết đó là vật báu.
   Một hôm, bị giặc đuổi, Lê Lợi và các tướng rút lui mỗi người một ngả. Lúc đi qua một khu rừng, Lê Lợi bỗng thấy có ánh sáng lạ trên ngọn cây đa. Ông trèo lên xem mới biết là một chuôi gươm nạm ngọc. Nhớ đến lưỡi gươm ở nhà Lê Thận, Lê Lợi giát chuôi vào lưng.
   Ba ngày sau, Lê Lợi gặp lại mọi người trong đó có Lê thận. Lê lợi mới đem chuyện bắt được chuôi gươm kể lại cho họ nghe. Khi đem tra gươm vào chỗi thì thấy vừa như in.
   lê Thận nâng gươm ngang đầu nói với lê Lợi:
   - Đây là ý trời phó thác cho minh công làm việc lớn. Chúng tôi nguyện đem xương thịt của mình theo minh công, cùng với thanh gươm thần này để báo đền Tổ quốc!
   
   Từ đó nhuệ khí của nghĩa quân ngày một tăng. Trong tay Lê Lợi, Thanh gươm thần tung hoành khắp các trận địa, làm cho quân Minh bạt vía. Uy thế của nghĩ quân vang khắp nơi. Họ không phải trốn tránh như trước nữa mà xông xáo đi tìm giặc. Họ không phải ăn uống khổ cực như trước nữa, đã có những kho lương mới chiếm đựơccủa giặc. Gươm thần mở đường cho họ đánh tràn ra mãi, cho đến lúc không còn bóng một tên giặc nào trên đất nước.
   
  một năm sau khi đuổi giặc Minh, một hôm Lê Lợi - bấy giờ đã làm vua - cưỡi thuyền rồng dạo quanh hồ Tả Vọng. Nhân dịp đó, Long Quân sai Rùa vàng lên đồi lại gươm thần. Khi thuyền tiến ra giữ hồ, tự nhiên có một con rùa lớn nhô đầu và mai lên khỏ mặt nước. Theo lệnh vua thuyền đi chậm lại. Đúng ở mạn thuyền, vua thấy lưỡi gươm đeo bên mình tự nhiên động đậy. Còn rùa vàng không sợ người, nhô đầu lên cao nữa và tiến lại về phía thuyền vua và nói: " Xin bệ hạ hoàn lại gươm cho Long quân!"
 
   Vua hiểu ra bèn rút gươm hướng về phía rùa vàng.  Nhanh như cắt, rùa há miệng đớp lấy thanh gươm và lặn xuống nước. Gươm và rùa từ từ chìm xuống nước, người ta vẫn thấy vật gì ánh sáng lé loi dưới mặt hồ.

  Từ đó, hồ tả Vọng bắt đầu mang tên là hồ Gươm hay hồ hoàn kiếm.

                                                                SGK-Ngữ văn 6/T1/tr39


Tiêu đề: Re: Truyền thuyết Việt Nam - sưu tầm
Gửi bởi: lonesome trong 16 Tháng Bảy, 2009, 09:48:16 am
Đa số bài của bác DH nên được gọi là truyện cổ tích trên nền truyền thuyết thì hơn. Các truyền thuyết bác gửi lên đều có trong Lĩnh Nam Chích Quái hoặc Việt Điện U Linh rồi, người ta dựa trên đó vẽ rồng thêm mắt rồi khoác cho cái vỏ truyền thuyết thôi chứ có phải là truyền thuyết đâu.


Tiêu đề: Vạn lý kỳ và thiên lý mã
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Bảy, 2009, 09:10:10 am
Các bác đã bao giờ nghe chuyện về hai con ngựa Vạn lý kỳ và Thiên lý mã chưa?

Ở Trung Quốc có nhiều sự tích về những con ngựa chạy cực nhanh, ngày phi ngàn dặm, gọi là thiên lý mã. Ở Việt Nam thì hơi ít, mãi đến đời Tây Sơn mới nghê chuyện về 5 con ngựa quý của các tướng lĩnh Tây Sơn, nổi tiếng nhất là con ngựa bạch của Nguyễn Nhạc và con ngựa của đô đốc Nguyễn Văn Tuyết.

Hồi năm Ngọ (tức khoảng 6 năm trước), em có đọc trên số báo xuân một truyền thuyết về 2 con ngựa nổi tiếng là Vạn lý kỳ và Thiên lý mã. Đặc biệt con Vạn lý kỳ thì theo tên tức là giống ngựa một ngày có thể đi vạn dặm, vượt cả thiên lý mã. Tiếc là hồi chuyển nhà, sách báo cũ mất cả, giờ chỉ kể theo trí nhớ, nên tên tuổi các nhân vật và tên làng quê bị sót, chỉ còn nhớ tình tiết thôi.

Chuyện rằng, có một người văn võ toàn tài, thời Lê Trung Hưng thi đỗ tiến sĩ, rồi sau được cử vào Nam giúp chúa Nguyễn (như vậy chắc là thời chưa có chiến tranh Trịnh-Nguyễn). Nhờ có tài hoa nổi trội, ông được chúa Nguyễn tin yêu. Nhưng sau có bề tôi của chúa ghen ghét, mà gièm pha ông với chúa. Chúa Nguyễn tin nên định lập kế ngầm giết ông. May có người thiếp của chúa biết mưu ấy, lại thầm cảm phục ông, nên báo tin cho ông, và bảo ông rằng chúa có 2 con ngựa quý là Thiên lý mã và Vạn lý kỳ, ông hãy trộm con Vạn lý kỳ mà bỏ trổn. Ông biết không thể thanh minh cùng chúa, lại không nỡ để vị phu nhân ấy ở lại có thể bị tội, nên ăn cắp con ngựa của chúa và chở theo người phu nhân, chạy về hướng bắc. Trời sáng, gần đến sông Gianh, chợt nghe có tiếng truy binh. Nhìn lại thì thấy một viên tướng cưỡi con Vạn lý kỳ cùng một toán quân đuổi theo. Thì ra đêm tối, ông đã lấy trộm nhầm con Thiên lý mã. Trước mặt là sông chắn, sau có truy binh. Thế cùng, ông múa đao quay lại, chém viên tướng ấy và đánh tan toán quân, đoạt được cả con Vạn lý kỳ. Rồi ông ra bắc, trở thành danh tướng của chúa Trịnh. Vị phu nhân nọ trở thành vợ ông. Nhưng sau bà mất sớm. Vị tướng đưa bà về quê mình chôn cất. Sau ông cầm quân Trịnh giao chiến với quân Nguyễn. Nghĩ đến ân tình xưa của chúa, có những lần ông vây được quân Nguyễn, lại ngầm mở đường thả cho đi. Bản thân ông cũng có một lần bị quân Nguyễn vây hãm; viên tướng cầm đầu của quân Nguyễn biết về câu chuyện của ông, cũng thầm thông cảm, đã mở cho ông một "Hoa Dung tiểu lộ". Sau này ông mất, cũng đưa về chôn cạnh vợ. Nghe đồn trước mộ của hai người có hai cái gò hai bên, chính là mộ của hai con danh mã Vạn lý kỳ và Thiên lý mã đã từng theo ông rong ruổi khắp nơi. Cuộc đời ông rất kỳ lạ, trước là tiến sĩ của vua Lê, rồi sủng thần của chúa Nguyễn, cuối cùng là danh tướng của họ Trịnh, lại có được hai con thần mã hiếm thấy.

Trong truyện em nhớ có tên làng quê nơi có điển tích này, tiếc là không nhớ nổi tên làng ấy là gì. Nhưng có lẽ đó là chuyện có từ xưa rồi chứ không phải mới sáng tác gần đây (tuy rằng về phương diện lịch sử thì chuyện này không thể có thật ;D). Đã search trên google từ khóa "Vạn lý kỳ" mà không thể tìm được kết quả mong muốn. Mong các cao thủ nào có thông tin thì bổ sung đầy đủ cho câu chuyện của em.


Tiêu đề: Re: Truyền thuyết Việt Nam - sưu tầm
Gửi bởi: donghai trong 17 Tháng Bảy, 2009, 03:46:22 pm
Tiền, Hậu Lý Nam Đế Và Triệu Việt Vương

Phần 1
     Thời nhà Lương đô hộ nước ta (502 - 540) khi Tiêu Tư sang làm Thức sử, y đã thi hành chính sách tận thu vô cùng hà khắc tàn bạo, làm cho dân tình điêu đứng, lòng người oán hận.

     Ở huyện Thái Bình (thời ấy đơn vị huyện bằng cả tỉnh bây giờ) có Lý Bí vốn nhà nối đời làm hào trưởng, tiếng tăm lừng lẫy khắp vùng. Đai Việt sử ký toàn thư ghi rằng tổ tiên của Ngài là người phương Bắc, là dân chạy loạn sang đây từ thời Tây Hán, rồi sinh con đẻ cái, lập nghiệp ở Thái Bình. Nhưng cũng trang ấy, sách ấy lại ghi tiếp "được bảy đời thì thành người Nam".

     Câu chuyện truy nguồn gốc lai lịch như vậy kể ra cũng là tỉ mỉ, chu đáo, nhưng thực ra cũng không cần thiết lắm. Đến bảy đời thì dòng máu đã pha trộn, lại tiếng nói, phong tục, tập quán, đến suy nghĩ và cung cách làm ăn sinh sống ... cũng là người bản xứ rồi.

     Vả lại, quan quân nhà Lương sang cai trị, thực tế cũng đã coi Ngài như một người bị đô hộ, không khác gì những người bản xứ khác. Câu ghi tiếp của Đại Việt sử ký toàn thư như vậy cũng là xác đáng.

     Lý Bí là người có nhiều tài năng và chí khí hơn người. Từ văn chương chữ nghĩa cho đến côn quyền cung kiếm, Ngài đều thông tỏ. Tính tình của Ngài lại quảng bác, độ lượng, nên bạn bè xa gần đều rất mến mộ.

     Thấy bọn quan lại nhà Lương chỉ chăm vơ vét bóc lột của nả để mang về nước, còn mọi nỗi khổ nhục thì đ è lên đầu lên cổ dân chúng, và các tầng lớp xã hội khác cũng đều bị chúng khinh rẻ, nên Ngài đã nuôi saÜn ý định liên kết với các anh hùng hào kiệt, để chờ khi thời cơ đến là khởi sự, đánh đuổi chúng đi.

     Từ nhiều đời trước, chính sách cai trị của phương Bắc đại đế là cử một viên Thái thú hoặc Thứ sử đứng đầu, cùng với bộ máy cai trị và quân đội, kéo sang. Viên Thứ sử cũng là tổng chỉ huy quân đội này đóng ở thành Long Biên (nay là vùng gần thị xã Bắc Ninh) cắt đặt người của chúng vào các chức vụ ở quận, huyện, châu. Quân đội cũng được chia ra, phần lớn tập trung ở quận và các nơi trọng yếu, số còn lại thì đến các huyện, châu.

     Một số người bản xứ cũng được tham gia vào bộ máy cai trị đó, nhưng tất nhiên chỉ là những cấp bậc thấp và tại các địa phương. Ở đây, một mặt là do chúng thiếu người, nhưng mặt khác là chính sách lừa mị, dùng người Việt trị người Việt của kẻ xâm lược.

     Cũng như nhiều hào trưởng bản xứ lúc bấy giờ, Lý Bí được nhận một chức quan nhỏ tại địa phương. Nhận thấy Ngài là người tài giỏi, lại có uy tín, nếu để lâu tất không có lợi, nên Thứ sử Tiêu Tư đưa Ngài vào tận châu Cửu Đức (nay huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh) làm chức giám quân.

     Ở làng của Ngài ở Thái Bình, có môït người bạn từ hồi còn nhỏ là Tinh Thiều rất hay chữ và có chí tiến thủ. Tinh Thiều ngày đ êm miệt mài đ èn sách, những mong có dịp đến Kinh đô nhà Lương thi tài, rồi được hiển đạt như Lý Cầm, Lý Tiến ở tờii nhà Hán. Lý Cầm, Lý Tiến trước kia là người bản xứ, học hành giỏi giang đỗ đạt rồi làm quan bên Tàu, vẫn được dùng làm miếng mồi nhử mà các viên quan cai trị đời sau, dến khi Giao châu, thường tung ra để mê hoặc giới trí thức và quan lại người bản xứ.

     Sau khi chữ nghĩa đã "chứa đầy bụng" rồi, theo lời "khích lệ" của huyện lệnh trưởng Thái Bình, và sau đó là của Thứ sử Tiêu Tư, Tinh Thiều liền khăn gói lên đường, đến tận Kinh đô nhà Lương để được tiến cử.

     Nào ngờ công lặn lội đường xa,lại mệt mỏi đói khát dã hóa thnàh công cóc! Lại bôï thượng thư lúc bấy giờ là Sái Tôn, khi thử văn tài của Tinh Thiều thì niềm nở, luôn khen miệng "Hay!" hoặc "Khá", nhưng hôm sau, khi gọi đến để bổ nhiệm, trì trở mặt lạnh lùng mà mỉa rằng:

     - Ta xem họ Tinh nhà ngươi xưa nay chưa có ai tài giỏi được làm quan cả. Tài của nhà ngươi ở đất Trung nguyên này xe chở đấu đong không thiếu. Nhưng ta thương tình nhà ngươi đường xa công khó đến đây, vậy ta ban cho chức môn lang ở thành Quảng Dương, cầm giấy nàu ngày mai đến đấy mà nhận.

     Tinh Thiều nghe mà không tin ở tai mình. Máu dồn lên mặt, hai má đỏ bừng. Bao nhiêu công phu đ èn sách vất vả lặên lội đến đây để làm thằng canh cổng và chạy việc sai vặt ư? Quân lừa phỉnh, lũ đểu giả, sỉ nhục người ta tàn tệ đến thế là cùng!

     Ngày hôm sau, Tinh Thiều lẳng lặng ra về, giận đến tím ruột bầm gan và nung nấu ý chí sẽ có ngày "ăn miếng trả miếng" với bọn quan quân đô hộ.

     Tinh Thiều về quê, nhưng lúc ấy Lý Bí đã vào châu Cửu Đức. Tìm vào đến tận nơi, Tinh Thiều gặêp lại Lý Bí rồi lại ở đấy cùng Lý Bí bàn tính công việc và chuẩn bị lực lượng khởi nghĩa.

     Dưới danh nghĩa tuyển mộ thêm binh lính - một trong công việc mà Lý Bí vẫn thường làm, hai người đã liên hệ rồi tập hợp được những người võ nghệ cao cường lại cùng chí hướng, về châu lỵ. Khi đã đủ lực lượng, trong đ êm tối, theo lêïnh của Lý Bí, các vị hảo hán tấn công bất ngờ. Viên quan trị nhậm cùng bộ hạ người Lương trở tay không kịp, bị giết ngay tại trâïn.

     Thanh thế của nghĩa quân mỗi ngày mỗ lớn. Chỉ trong vòng một tuần, các châu mục xung quanh đã kéo về nhiệt liệt hưởng ứng. Quân số đông tới hàng vạn. Mọi người đồng ý tôn phù Lý Bí lên làm chủ tướng.

     Từ Cửu Đức, Lý Bí chia quân đi đánh các ngả. Cả vùng đất phía nam thuộc hai quận Cửu Chân và Nhật Nam (trước kia) về tay nghĩa quân.

     Từ phía nam, Lý Bí kéo đại binh ra Bắc. Ở huyện Chu Diên (thuộc vùng Phả Lại ngày nay) có vị tù trưởng là Triệu Túc, vốn cũng là người hào kiệt, lại nghe danh biết tài của Lý Bí từ lâu, đã đem toàn bộ binh trong địa hạt của mình cai quản, đến hợp với quân của Lý Bí để đánh Long Biên (vùng thị xã Bắc Ninh).

     Bấy lâu, do chỉ lo vơ vét bóc lột cho thật nhiều, mà  đến nỗi để trễ nãi việc binh, nên khi nhận được tin cấp báo quân của Lý Bí dang tiến đến gần, Thứ sử Giao Châu Tiêu Tư sợ quá, chỉ còn cách thu gom của cải cho vào hòm siiểng, rồi tống vội lên xe, chuồn thẳng về Quảng Châu ...

     Lại sợ chạy không kịp, Tiêu Tư bèn cho một tốp lính chở một số vàng bạc ngược đường đến gặp Lý Bí, để "xin Ngài tha tội". Đó là mưu mẹo trí trá của Tiêu Tư hòng đánh lạc hướng nghĩa quân, nhưng đó cũng còn là một việc làm vô tiền khoáng hậu của quân xâm lược trên đất Đại Việt.

     Lý Bí cùng tướng sĩ vào thành Long Biên, không phí một mũi tên nào. Sự việc đó xảy ra vào năm 541 và  đã kết thúc một thời kỳ dài 314 năm (227 - 540) nước ta thuộc Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương.

     Ở trong thành Long Biên, Lý Bí củng cố lực lượng và ổn định tình hình, bởi Ngài vàmọi người đều hiểu rằng quân Lưong nhất định sẽ kéo sang.

     Quả vậy, ngay năm sau vua Lương sai Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng dẫn quân sang xâm chiếm. Quýnh, Hùng lấy cớ mùa xuân chướng khí đang bốc, xin đợi đến mùa thu, nhưng Thứ sử Quảng Châu và Tiêu Tư cũng đang ở đấy, giục phải lên đường ngay. Bọn Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng đ ành phải thúc lính đi, nhưng mới đến Hợp Phố thì đội quân đã tan rã, phần vì đau ốm, phần vì tâm lý bọn lính đều sợ phải bỏ xác ở Giao Châu, nên trốn biệt. Quýnh và Hùng bị vua Lương bắt uống thuốc độc tự tử.

     Bọn thống trị phương Bắc vốn thâm hiểm, từ trước đến đây và từ đây về sau, mỗi khi định đánh ĐaÏi Việt thì bao giờ cũng tìm cách xúi giục Chiêm Thành mang quân ra trợ chiến, để đánh từ hai phía.

     Đầu mùa hạ năm 543 quân Lâm Ấp (Chiêm Thành) vào cướp đất Nhật Nam. Lý Bí sai Lý Phục Nam, Phạm Tu vào đánh tan chúng ở Cửu Đức. Quân Lâm Ấp phải rút chạy về nước.

     Đất nước thái bình, ở hai đầu giặc gi4 đều tan. Đặc biệt tin quân Lương chưa đến biên giới đã vỡ, làm cho dân tình trong nước hết sức hào hứng phấn khởi, lòng tự tôn dâng tộc dâng cao.

     Thể theo nguyện vọng của mọi người, Lý Bí lên ngôi Hoàng đế vào đầu mùa xuân năm 544. Ở phương Bắc có Đế, vậy phương Nam ta cũng phải có Đế.

     Ngài xưng là Nam Việt Đế với ý thức từ nay nêu gương cho các đời sau, rồi làm lễ đăng quang, đặt niên hiệu là Thiên Đức (nghĩa là Đức của Trời) và  đặt tước hiệu cho các quan.

     Quốc hiệu (tên nước) Ngài lấy là Vạn Xuân, ý muốn mong cho xã tắc từ nay lưu truyền đếnmuôn thuở. Rồi cho dựng điện Vạn Thọ để làm nơi triều hội. Ngài phong Lý Phục Man làm Thái úy, Triệu Túc làm Thái phó, Tinh Thiều làm tướng văn, Phạm Tu làm tướng võ ...

     Sau khi giết Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng, vua Lương lại càng tức giận khi hay ting ở Giao Châu, Lý Bí đã cưng "Đế".

     Tháng 6 - 545 vua Lương phong Dương Thiêu làm Thứ sử Giao Châu, Trần Bá Tiên làm Tư mã, mang đại binh đi đánh nước Vạn Xuân. Lại sai Thứ sử Định Châu là Tiêu Bột đem quân trợ chiến, đến hội với quân trợ chiến, đến hội với quân của Thiêu, Tiên cở Giang Tây. Tiêu Bột lo sợ tìm cách thoái thác, Dương Thiêu cũng ngần ngại, chỉ có Trần Bá Tiên muốn lập công, nên hùng hổ dẫn đại binh đi.

     Hay tin, Lý Nam Đế dẫn các tướng cùng ba vạn quân đi chặn quân Trần Bá Tiên ở mạn Phả Lại. Thủy binh của Trần Bá Tiên đã được huấn luyện nên rất thiện chiến, khiến cho quân Lý Nam Đế chặn không được, phải rút về sông Cái mạn của sông Tô Lịch (sau là chỗ xây thành Đại La), rồi lại rút vào thành Gia Ninh, cố thủ. Quân Lương đuổi theo vây thành.


Tiêu đề: Re: Truyền thuyết Việt Nam - sưu tầm
Gửi bởi: donghai trong 17 Tháng Bảy, 2009, 03:47:33 pm
Tiền, Hậu Lý Nam Đế Và Triệu Việt Vương

Phần 2

     Đầu năm sau (546) Trần Bá Tiên đánh được thành Gia Ninh. Lý Nam Đế rút quân vào đất của người Lạo ở Tân Xương.

     Điều suy nghĩ và lo lắng của Lý Nam Đế cùng các tướng không phải ở chỗ quân ta ít và thiếu dũng cảm. Trái lại, quân ta không ít và dũng cảm có thừa, nhưng lực lượng của quân ta quả thực còn yếu và mỏng manh, không đáp ứng được các trận thủy chiến. Sự hành quân chậm chạp của bộ binh không thể cứu kịp thời những nơi chiến sự xảy ra gay go ác liệt.

     Để bổ túc cho khiếm khuyết này, ở Tân Xương, Lý Nam Đế cho đóng mới rất nhiều thuyền bè rồi cho tập trung ở hồ Điển Triệt (Lập Thạch, Vĩnh Phú) để chuẩn bị phản công.

     Lúc ấy đang là mùa mưa, nước sông Cái dâng cao, tràn cả vào hồ Điển Triệt (Lập Thạch, Vĩnh Phú) để chuẩn bị phản công.

     Lúc ấy đang là mùa mưa, nước sông Cái dâng cao, tràn cả vào hồ Điển Triệt. Trần Bá Tiên cho rằng quân Vạn Xuân vừa thua mấy trâïn bây giờ mới tập họp thêm, lại có nhiều người di, lạo (thiểu số), nên cần phải đánh gấp. Lợi dụng đ êm tối, lại thuận dòng nước, y dốc toàn bộ thủy binh tiến vào quyết liều một trận.

     Quả nhiên, y đã tính không lầm. Lý Nam Đế bị bất ngờ, thế trận bị tan vỡ, phải lui quân sâu vào trong độngKhuất Lạo. Tại đây nhà vua lại tiếp tục củng cố lực lượng, rồi giao cho Triệu Quang Phục dẫn thủy binh đi đánh Trần Bá Tiên.

     Số còn lại trong động Khuất Lạo phần lớn là người thiểu số (di, lạo) do Thái úy Lý Phục Man đảm trách, cùng với nhà vua.

     Tiếc thay, giữa lúc vận nước đang "bĩ" thì nhà vua đau yếu, do nỗi ngày đ êm lo lắng, lại nhiễm phải lam chướng nơi rừng thiêng nước độc, nên Nài đã qua đời (548) để lại một sự nghiệp hãy còn dang dở.

     Tuy nhiên, những gì mà Ngài xây dựng được, vẫn còn nguyên giá trị từ đó đến nay. Đó là tinh thần độc lập, ý thức tự cường và một ý chí kên trinh "Thua keo này sẽ lập tức bày keo khác".

     Tuy Ngài không còn, nhưng Triệu Quang Phục, người mà Ngài ủy thác, sẽ tiếp tục sự nghiệp của Ngài, cho đến khi hoàn toàn thắng lợi.

     Triệu Quang Phục, con của Thái phó Triệu Túc, là một tướng trẻ có nhiều tài năng và  đảm lược hơn người. Từ nhỏ ở quê hương đã quen sông nước, lớn lên lại cùng cha theo phò Lý Nam Đế, Ngài đã lập nhiều chiến công hiển hách. Là một người rất mực trung tín và  độ lượng, nên Ngài được quân lính hết sức tin yêu. Khi lên ngôi, Lý Nam Đế đã phong cho Ngài làm Đại tướng, chức Tả tướng quân. Khi ở động Khuất Lạo, nhà vua lại trao cho Ngài toàn bộ thủy binh, nghĩa là toàn bộ lực lượng tinh nhuệ lúc ấy, để đánh Trần Bá Tiên, tức cũng là một cách "chọn mặt gửi vàng", tin tưởng tuyệt đối.

     Là vị tướng thiện chiến, Triệu Quang Phục hiểu rất rõ địa hình địa vật ở miền Chu Diên, là nơi quê hương Ngài.

     Sau nhiều trận dàn quân đánh nhau với Trần Bá Tiên không phân thắng bại, Ngài nhận thấy quân ta có phần núng thế cì quân của Bá Tiên đông hơn. Để bảo toàn lực lượng, Ngài rút toàn bộ hai vạn quân về đầm Dạ Trạch, để giữ thế phòng ngự.

     Đầm Dạ Trạch hồi ấy là một hồ nước mênh mang, xung quanh cây cối lau sậy um tùm, rậm rạp mọc lên từ mặt bùn lầy, nhưng ở giữa, nhưng ở giữa lại có một cồn đất cao ráo có thể ở được. Xe ngựa không thể vào đây, chỉ có thể dùng thuyền độc mộc bằng sào thì mới đến được. Đường đi lối lại vừa như có lại vừa như không, nên chỉ những ai thông thuộc mới không bị lạc. Nếu không may, lỡ rơi ra khỏi thuyền, thì lập tức sẽ bị rắn độc cắn chết.

     Triệu Quang Phục là người vùng này nên chẳng lạ gì đường đất Dạ Trạch. Ngài cho quân lính dùng thuyền tiến sâu vào đầm, đến ở tại bãi Tự nhiên giữa đầm. Ngài đề ra kỷ luật rất nghiêm: Ban ngày không để lộ dấu vết nào là có người ơ.û Phải dùng củi khô để nấu cho đỡ khói, và nếu có khói thì phải lấy quạt , quạt luôn tay, do bị khuất rừng cây, sẽ không thể khám phá ra khói được. Còn mỗi khi ra vào khu vực đầm, là phải lập tức quay lại, khéo léo xóa dấu vết, không cho quân giặc khám phá.

     Như thế mà suốt thời kỳ quân ta ở đây, Trần Bá Tiên cho quân đi sục sạo nhiều lần mà cũng chẳng khám phá được gì. Chúng chỉ thấy ban đ êm, không hiểu quân ta từ đâu tới, xông vào các doanh trại, hết trại này đến trại khác, giết hoặc bắt sống quân lính và lấy hết lương thực của chúng mang đi.

     Trần Bá Tiên và quân lính hết sức hoang mang. Còn bên phía ta, quân và dân đều vui mừng phấn khởi. Mọi người yêu mến gọi Triệu Quang Phục là Dạ Trạch Vương và truyền nhau kể câu chuyện Ngài được gặp hai vị Thánh bất tử là Tiên Dung và Chử Đồng Tử, vốn ngày xưa xây dựng lâu đ ài thành quách ở đây, để lại nền đất cũ (bài tự nhiên) và cả vùng đầm Dạ. Trạch này. Hai vị thánh tuy về trời trời nhưng từ đấy vẫn hiể linh, giúp đở anh hùng hào kiệt trong nước, mỗi khi họ gian khó xây dựng cơ nghiệp buổi đầu. Nhận thấy Triệu Quang Phục là người hiền tài, có chí đuổi giặc cứu nước, Tiên Dung - Chử Đồng Tử hiện về, trao cho Ngài một chiếc vuốt rồng mà bảo " Tướng quân hãy cài giặc lên mũ đâu nâu, tất sẽ diệt được giaÜcđa hồn vía lên mây, rung lên cầm cập, không còn dám quay đầu lại giao chiến. Năm 550, vua lương thăng chức cho Trần Bá Tiên để cổ vũ y, nhưng sau đó gọi y về để dẹp loạn Hầu cảnh trong nước. Quân quyền ở Giao Châu ủy cho Dương Sằn, vốn là tướng tâm phúc của bà tiên. Cũng mai cho Bá Tiên. bởi nếu không y sẽ chết, vì lúc này lực lượng của Triệu Quang Phục đốc sức toàn bộ lực lượng của triệu quang phục đã phát triển rất mạnh. Hay tin bbên bà Lương đang có biến, Triệu quang phục đốc xuất toàn bộ lực lượng từ đầm Dạ Trạch ra, tiếng đánh Dương sằn. Dương sằn đâu phải là  đối thủ cuả Triệu Quang Phục! Vừa trông thấy dáng vẻ hùng dũng uy nghi của Ngài, y đã kinh hồn bạt vía quay đầu ngựa. Nhưng chạy đi đâu cho thoát? Triệu Quang Phục ngay lập tức đã phóng ngựa tới sát bên, tay đưa một nhát dao, Dương Sằn chết ngay tại trận. Quân ta ào ạt xông lên đuổi theo đám loạn quân Lương đang chạy thục mạng.

     Thắng trận, Triệu Quang Phục dẫn tướng sĩ vào thành Long Biên. Từ hai năm trước, Ngài đã hay tin Lý Nam Đế lâm bệnh mất ở động Khuất Lạo, lại không có con nối dõi, nên Ngài bèn xưng Vương, gọi là Triệu Việt Vương.

     Tạm thời Triệu Việt Vương đóng đô ở Long Biên, nhưng sau đó Ngài dời sang Vũ Ninh (thuộc Quế Võ, Hà Bắc).

     Sự việc Triệu Quang Phục, sau khi đánh đuổi xong quân Lương, chỉ xưng "vương" chứ không xưng "đế", bấy lâu chưa thấy ai giải thích. Phải chăng Ngài cho rằng, dẫu là "vương" hay "đế" thì cũng đều là vua cả, nhưng vì thế lực chưa đủ mạnh, nên không nên để phương bắc tự ái, hay Ngài còn nghĩ, dẫu sao mình cũng là tướng được ủy quyền chống giặc của Lý Nam Đế, nên chỉ lo làm tròn bổn phận, còn việc lên ngôi chẳng qua chỉ là do bất đắc dĩ mà thôi?

     Dẫu sao mặc lòng, tuy không tự tôn xưng như Lý Nam Đế, nhưng thực tế Ngài cũng đã là người kế vị xứng đáng, và phải chăng điều ấy nói lên rằng Ngài là người trung tín và rất mực khiêm nhường, mặc dù Ngài là vị tướng thao lược, có công lớn nhất đã đánh đuổi giặc ngoại xâm lúc bấy giờ?

     Và những phẩm chất của Ngài lại đặc biệt sáng giá khi ta đem so sánh với Lý Phật Tử, tức hậu Lý Nam Đế, là một kẻ tham lam đầy tham vọng và phản trắc ...

     Khi Lý Nam Đế chạy sâu vào động Khuất Lạo để củng cố lực lượng thì một cánh quân khác rất đông, đến ba vạn người, do lý Thiên Bảo, anh ruột Lý Nam Đế chỉ huy, chạy vào giữ đất Cửu Chân. Trần Bá Tiên phái tướng dưới quyền đuổi theo đánh, Lý Thiên Bảo chống cự bị thua mất già nữa quân số, phải chạy sang động Dã Năng, là phần đất thuộc địa phận nước Ai Lao (Lào).

     Dưới quyền Lý Thiên Bảo bấy giờ có người cùng họ làm tướng, tên gọi Lý Phật Tử. Ở đất Dã Năng, Lý Thiên Bảo xây thành đắp lũy, hùng cứ một vùng, xưng là Đào Lang Vương, có Lý Phật Tử giúp sức.

     Năm 555 Đào Lang Vương lâm bệnh mất ở Dã Năng. Lý Phật Tử nối quyền.

     Nghĩ mình bây giờ mới là người kế vị chính thống, vì Lý Nam Đế và Lý Thiên Bảo đều mất, lại không có con nối dõi, nên Lý Phật Tử nhổ trại, đem quân tiến về vùng Thái Bình là quê hương cũ, đánh đuổi quan quân trị nhậm của Triệu Việt Vương. Triệu Việt Vương đem quân đi đánh, qua 5 trận, bên Lý Phật Tử túng thế, phải xin giảng hòa.

     Triệt Việt Vương nghĩ Phật Tử là người cùng họ của Lý Nam Đế, dẫu sao thì cũng nể tình cũ, bèn chấp nhận, rồi chia cho phần đất phía tây của Nước, còn mình vẫn ở phía đông, ranh giới là bãi Quần Thần (nay là xã Thượng Cát, Hạ Cát thuộc huyện Từ Liêm, Hà Nội).

     Lý Phật Tử dời đến đống đô tại thành Ô Diên (xã Hạ Mỗ, Từ Liêm), còn Triệu Việt Vương vẫn đóng ở Vũ Ninh (Quế Võ, Hà Bắc).

     Lý Phật Tử có một người con trai tên gọi là Nhã Lang, còn Triệu Việt Vương có một người con gái tên gọi Cảo Nương. Cả hai đã ở độ tuổi dựng vợ gã chồng. Cái mẹo của Triệu Đà xưa kia, dùng con trai gửi rể để làm gián điệp, sau đánh chiếm lấy nước Âu Lạc của An Dương Vương, được Lý Phật Tử đem ra áp dụng.

     Phật Tử thừa biết Triệu Việt Vương là người độ lượng trung tín lại khoan hòa, nên rất dễ mắc vào mẹo này. Ấy là cái mẹo của những kẻ lừa lọc phản trắc, những kẻ chỉ biết lấy oán trả ân, và những kẻ có tâm địa độc ác, luôn luôn dùng cái vẻ thơn thớt bề ngoài để che đậy.

     Phật Tử cử đại thần cùng con trai mang lễ vật rất hậu đến ra mắt Triệu Việt Vương để xin làm thông gia, cho Nhã Lang sánh duyên cùng Cảo Nương. Triệu Việt Vương chấp nhận, nghĩ rằng hai nước hòa hiếu sẽ tránh được nạn binh đao, dân chúng, do vậy cũng được yên ổn mà làm ăn sinh sống.


Tiêu đề: Re: Truyền thuyết Việt Nam - sưu tầm
Gửi bởi: donghai trong 17 Tháng Bảy, 2009, 03:48:19 pm
Tiền, Hậu Lý Nam Đế Và Triệu Việt Vương



Phần cuối

Hồi ấy, phong tục tập quán của nước ta vẫn còn tục gửi rể (bây giờ ở một số dân tộc thiểu số vẫn còn tục lệ này), cho nên sau lễ thành hôn, đương nhiên Nhã Lang sẽ ở lại làm phò mã trong triều đình của Triệu Việt Vương.

     Trong những tháng đầu năm đầu, tình yêu của nàng công chúa với chàng phò mã cũng chan chứa nồng đượm, chẳng khác nào Mỵ Châu, Trọng Thủy trước kia. Và cũng như Mỵ Châu, Trọng Thủy, tình yêu của Cảo Nương là ngây thơ, chân thực, còn của Nhã Lang thì chỉ là bề ngoài, giả tạo.

     Khi nhận thấy Cảo Nương đã thương yêu mình hết lòng, đến mức không còn đề phòng gì nửa, thì Nhã lang bảo cảo Nương dẫn tới các nơi trọng yếu như kho tàng, chỗ đóng doanh trại của quân đội ..., lấy cớ đi dạo chơi cho biết. Triệu Việt Vương do hết sức thương yêu và nuông chiều con gái, thấy thế cũng chẳng nhắc nhở điều gì. Thế là, chỉ mấy tháng sau, mọi đường đi lối lại trong thành Vũ Ninh cùng thực lực trong thành thế nào, Nhã Lang đều đã nắm rõ và có thể ghi chép , họa lại thành bản đồ được.

     Tiến thêm một bước nữa, Nhã Lang hỏi Cảo Nương rằng vua cha (tức triệu Việt Vương) có pháp thuật gì mà  đánh quân Lương tài tình đến thế? Cảo Nương thật lòng kể lại là vua cha có "vuốt rồng cài lên mũ đâu mâu", rồi lén đi lấy cho Nhã Lang xem. Nhã Lang ngắm nghía, suýt xoa, rồi thừa lúc Cảo Nương đi ra ngoài lâu, đã lấy chiếc vuốt giả thay lấy vuốt thật. Khi Cảo Nương quay lại rồi đi cất mũ, đã hoàn toàn không hay biết gì.

     Cả Triệu Việt Vương và triều đình Vũ Ninh cũng không ai hay biết điều gì, bao gồm tất cả mọi việc làm của Nhã Lang và dã tâm mà hai cha con y đang ráo riết theo đuổi.

     Sau mấy năm điều tra hết nội tình và pháp thuật của triều đình Vũ ninh, Nhã Lang lên đường về nước, lấy cớ là lâu ngày chưa về thăm nhà. Lớit âu trình của y được Triệu Việt Vương chấp thuận ngay vì nó thật hợp tình. Nhà vua lại ban cho Nhã Lang rất nhiều tặng vật quý để về làm quà biếu thông gia, như phong tục tốt đẹp từ lâu đời vẫn thế. Khi vào từ biệt vợ để lên đường, Nhã Lang tặng nàng một chiếc áo lông ngỗng, nói là mùa đông đã đến mà ở một mình thì lạnh lẽo, rồi y nói thêm:

     - Nếu chẳng may có sự gì xảy ra, đi đến đâu nàng cũng nhỗ một chiếc lông trên áo nvứt xuống, để tôi còn biết dấu vết mà tìm.

     Cảo Nương bùi ngùi, hai tay nân mê chiếc áo, hoàn toàn chẳng đoán được thâm ý của Nhã Lang qua lời dặn dò này. Nàng chỉ gật gật đầu, rồi tự nhiên, hai mắt nhòa đẫm lệ ...

     Về đến nhà, Nhã Lang đem hết mọi chuyện đã biết ở triều đình Vũ Ninh nói lại cho Lý Phật Tử. Phật Tử cả mừng, hết lời khen ngợi đứa con chí hiếu đã biết nghe lời cha (!). Khi giở đến tặng vật mà Triệu Việt Vương đã biếu, Lý Phật Tử cười tít mắt. Vàng bạc châu báu thì ông ta chẳng thiếu thứ gì, nhưng ông ta cười là vì Triệu Việt Vương tài ba lỗi lạc mà sao lại vô tâm đến như vậy!

     Sau mấy năm vẫn giữ hòa hiếu để che mắt Triệu Việt Vương nhằm chuẩn bị thêm lực lượng, rồi đến một ngày, hai cha con Lý Phật Tử bí mật hành binh tiến đánh Triệu Việt Vương. Khi quân của Lý Phật Tử tiến vào biên giới, Triệu Việt Vương cả giận, vội điểm binh mã ra đối địch. Vẫn hùng dũng như xưa, ngồi trên mình ngựa, đầu đội mũ đâu mâu, aty xách đại đao, Triệu Việt Vương đứng dưới cờ thách thức hai cha con Lý Phạt Tử ra đấu. Nưng cha con Lý Phật Tử hèn nhát đâu dám ra! Chỉ có mấy viên tướng trẻ hùng hổ cầm vũ khí xông tới. Trận đấu diễn ra quyết liệt. Thật đáng tiếc cho Triệu Việt Vương, bây giờ vuốt rồng trên mũ đầu mâu chỉ còn là vuốt giả, nên sức lực của Ngài đã không còn được như xưa.

     Bây giờ càng đánh sức lực của Ngài càng suy giảm chứ không phải càng đánh càng mạnh như hồi chống quân Lương!

     Ngó thấy ba mặt, quân của Lý Phâït Tử đang trùng trùng kéo đến bao vây mà trong khi đó quân của Ngài rõ ràng là thua kém về số lượng (do mấy năm Lý Phật Tử chiêu tập binh mã rất nhiều, còn Ngài thì vẫn giữ nguyên quân số) nên Ngài gạt một đường đao rồi quay ngựa, hét bảo tướng sĩ lui binh.

     Quân của Triệu Việt Vương chạy vào thành Vũ Ninh xong thì chốt ngay cánh cổng lại. Quân của Lý Phật Tử bao vây bên ngoài. Hai bên cầm cự nhau có đến cả tháng trời. Nhã Lang dâng kế với Lý Phật Tử cho y dẫn một toán quân lẻn vào thành đốt kho lương thực, vì y biết rõ mọi vị trí. Lý Phật Tử lưỡng lự bởi ông ta lúc ấy chỉ có mỗi Nhã Lang là con nối dõi, nhưng muốn phá thành thì chẳng còn cách nào khác, nên cuối cùng đ ành phải chấp nhận.

     Lừa thời cơ đ êm tối, Nhã Lang cùng tốp lính đã vào được thành, qua một con đường bí mật mà y đã biết từ trước. Nhưng ngọn lửa của y vừa đốt lên thì quân của Triệu Việt Vương từ đâu xông tới. Nhã Lang đã bị chém chết ngay tại trận. Bọn lính đi theo y cũng bị chém chết cũng không còn một mống nào. Nhưng lúc ấy ngọn lửa đã bốc lên rất cao. Những người lính của Triệu Việt Vương tức giận, ném tất cả chục cái xác vào đống lửa. Không một ai, kể cả người lính đã làm việc này, biết rằng chàng phò mã quý hóa của thành Vũ Ninh, thế là  đã bị thiêu thành tro bụi!

     Nhận được tin kho lương thực bị cháy Triệu Việt Vương gầm lên một tiếng, bảo tướng sĩ ngày mai mở thành quyết sống mái một trận. Mọi người có mặt lúc ấy đều hiểu rằng nhà vua chẳng còn có cách lựa chọn nào khác.

     Sáng hôm sau, cổng thành vừa mở, Triệu Việt Vương nai nịt gọn gàng, ngồi trên mình ngựa có Cảo Nương khoát áo lông ngỗng ngồi ở đằng sau, cầm đại đao xông ra phá vòng vây của Lý Phật Tử. Tướng sĩ và quân lính cùng ùn ùn kéo ra theo Ngài.

     Cơn giâïn đã làm cho sức lực của Trệu Việt Vương tăng lên gấp bội, mặc dù vuốt thần nay đã mất hiệu lực. Cây đại đao của Ngài khua đi đến đâu là lính của Lý Phật Tử phải dạt ra đến đấy.

     Vòng vây bị phá, tướng sĩ và quân lính của Triệu Việt Vương chạy tản đi khắp nơi. Lý Phật Tử hô quân đuỏi theo, nhưng suốt một buổi chiều hôm ấy vẫn không bén gót được Triệu Việt Vương. Đêm xuống, cả hai bên đều nghỉ để sáng sớm hôm sau lại tiếp tục cuộc chạy, đuổi, và như thế, kể đã được mấy ngày đ êm liền.

     Triệu Việt Vương, mặc dù  đã chọn được những lối đi bất ngờ, nhưng không hiểu hiểu sao, quân của Lý Phật Tử vẫn cứ laÜng ngaÜng bám theo sau. Còn những cánh quân khác, hoặc bị bắt, hoặc đều đã tìm được lối thoát rồi.

     Khi chạy đến cửa biển Tiểu Nha, thấy trước mắt chỉ mặt nước mênh mông trắng xóa, ngó lại , thì thấy quân của Lý Phật Tử vẫn đang đuổi theo mỗi lúc một gần. Nhà vua bảo con gái xuống ngựa, rồi Ngài cũng nhảy xuống đến bên mép nước, chắp hai tay lại mà khấn: "Xin Long Vương hãy hiện về cứu giúp chúng con!".

     Đó là lời cầu khẩn đã được truyền lại ngay từ đời các vua Hùng, mỗi khi có ai bị gặp nạn. Khi Triệu Việt Vương vừa dứt lời, thấy rồng vàng đội nước nhô đầu lên bảo:

     - Tại nhà vua quá tin vào con gái và chàng rể đó! Hãy nhìn chiếc áo lông ngỗng kia.

     Triệu Việt Vương vẫy con gái lại gần, bảo nàng quay lưng lại, và Ngià không còn tin vào mắt mình nữa: Chiếc áo xơ xác, lông ngỗng đã bị bứt đi gần hết!

     Ngài gầm lên: "Đồ phản bội", rồi vung đao chém xuống, Cảo Nương gục xuống chết ngay tại chỗ.

     Nhà vua nhảy lên mình ngựa, phi tiếp. Nhằm phía đông, vượt qua một cánh đồng, đến cửa Đại Nha thì Ngài vẫn chỉ thấy mặt nước mênh mông phía trước. Đang định nảy xuống ngựa để khấn vái như lần trước,thì Ngài đã thấy rồng vàng hiện ra. Rồng vàng quẫy đuôi, nước rẽ sang hai bên, và Triệu Việt Vương phóng ngựa chạy theo.Nước ở đằng sau cũng từ từ khép lại ngay ...

     Sự việc đó xảy ra vào mùa đông năm 570, chấm dứt 23 năm đánh giặc và trị vì đất nước của một vị tướng tài ba thao lược, nhưng đã vô tình để mất cảnh giác, đến nỗi phải sa cơ bởi dã tâm của một kẻ phản bội.

     Từ trước đến nay đã có nhiều người nói đến sự giống nhau của hai tấn bi kịch An Dương Vương, Mỵ Châu và Triệu Việt Vương, Cảo Nương. Quả là lịch sử đã có sự lặp lại gần giống nhau như thế thật! Có nhà nghiên cứu bảo đây là sự lặp lại của môtíp dân gian trong truyện kể thời trước. Vâng, điều ấy, đương nhiên là  đúng, không thể bác bỏ được về mặt lý thuyết. Tuy nhiên nếu ta quan sát cuộc sống, thấy rằng: Bao nhiêu mẹo lừa cũ rích mà người thời hiện đại nay vẫn còn mắc phải, thì thử ngẫm, sự giống nhau của hai tấn bi kịch kể trên cũng có gì khó hiểu đâu!

     Lý Phật Tử sau khi hại xong Triệu Việt Vương bèn dẫn quân vào Vũ Ninh thu vén vàng bạc châu báu, bắt đ àn bà con gái, rồi rút về Ô Diên, tự đắc lên ngôi Hoàng đế , cũng xưng là Lý Nam Đế, người đời sau gọi Lý Bí là Tiền Lý Nam Đế, còn Lý Phật Tử là hậu Lý Nam Đế.

     Những ngày mới lên ngôi, tuy bề ngoài hớn hở vui tươi, nhưng bên trong thì Hậu Lý Nam Đế đau xót âm thầm vì đứa con nối dõi đã chết. Việc đầu tiên mà Hậu Lý Nam Đế làm là cho xây dựng ở thành Ô Diên (xã Hạ Mỗ, Từ Liêm) một ngôi đền đã tờ Nhã Lang, đứa con mà xác đã thành tro bụi ở thànhVũ Ninh từ mấy tháng trước.

     Nhận thấy ở Ô Diên chỉ gợi lại nỗi buồn phiền làm cho lương tâm luôn luôn cắn rứt, nên Hậu Lý Nam Đế cho dời đô về Phong Châu,nơi đất Kinh đô của các vua Hùng thuở trước. Ý của Hậu Lý Nam Đế là nối lại chính thống của các vua Hùng từ xa xưa để lại, chứ Tiền Lý Nam Đế bất quá cũng chỉ là người ngang hàng với ông mà thôi.

     Vị Hoàng đế không còn chút liêm sĩ này, chỉ có mỗi một tài là tài lừa lọc, đã không nhìn thấy Ô Diên (ở ngay cành thành Đại La, tức là thành Thăng Long sau này)là vị trí trung tâm để chấn hưng đất nước và phát triển quân đội (đặc biệt thủy quân) nhằm kế sách lâu dài,mà chỉ thấy trước mắt cần phải chính thống ngay tức khắc.

     Quả là Hậu Lý Nam Đế đã chính thống được cái tước hiệu.Thực tế ông ta đã kéo lùi sự phát triển của đất nước lại 32 năm, tức là cả thời gian hết cha đến con trị vì.

     Mặc dù lúc bấy giờ đã lớn tuổi, nhưng Hậu Lý Nam Đế vẫn mãng "đi lại" với các cung nữ. Thế rồi ông ta cũng sinh được một người con trai nữa đặt tên là Lý Sư Lợi.

     Là một kẻ vô lại, nên dưới quyền Hậu Lý Nam Đế, chỉ là một lũ quan lại bất tài, vừa tham vừa ác chẳng nghĩ gì đến dân, đến nước. Cũng may, một thời gian dài phương Bắc có loạn liên miên, hết nhà Lương là  đến nhà Trần ngắn ngủi, nên cha con Hậu Lý Nam Đế mới bình yên kéo dài được 32 năm (571 - 602).

     Quả nhiên, nhà Tùy vừa chính vị được năm thứ nhất (602) đã cử ngay Dương Tố sang làm Tổng quản Giao Châu. Tố tiến cử Lưu Phương, người Trường An, vốn là một kẻ mềm mỏng, dẫn đại binh đi trước mở đường.

     Quân Lưu Phương ùn ùn kéo sang, lúc bấy giờ Hậu Lý Nam Đế đã mất được mấy năm, và Lý Sử Lợi, cũng vẫn tự xưng là Lý Nam Đế, đang trị vì.

     Vị Hậu Lý Nam Đế thứ hai này, đang trẻ người non dại, vốn chỉ quen ăn chơi hưởng lạc, nên vừa nghe tin quân giặc tới, là  đã mặt xanh nanh vàng, mất hết can đảm của một người điều binh khiển tướng.

     Lưu Phương đánh đến núi Đô Lương thì gặp một tốp lính nhỏ người địa phương xông ra chống cự, y cho quân dẹp được ngay, rồi tiến vào Phong Châu, đóng doanh trại ngay sát cạnh dinh của Lý Sư Lợi.

     Nếu gặp phải một triều đình có sĩ khí nào khác, thì trước khi đến đây, ít nhất quân của Lưu Phương cũng phải bị sứt trán bứu đầu, đằng này Lưu Phương vẫn cứ dẫn quân lẳng lặng mà tiến, hầu như không vấp phải một sức đề kháng nào đáng kể.

     Lý Sư Lợi cùng triều đình hèn nhát đã đ ành. Ngay cả hai người tôn thất, một là Lý Đại Quyền làm Thái Bình hầu giữ thành Long Biên, và một người nữa là  đại tướng Lý Tấn Đỉnh làm An Ninh hầu giữ thành Ô Diên, ca hai viên tướng này trong tay đều cóhàng vạn quân, vậy mà vẫn ngồi yên, không đi tiếp ứng! Thật đúng là cha nào con nấy, vua nào tướng ấy, kể từ đời Lý Phật Tử, họ chỉ mang lại nỗi nhục cho dân cho nước!

     Lưu Phương cho người sang tận triều đình Lý Sư Lợi để dụ hàng. Vị Hoàng đế hèn mạt cùng trăm quan vội vàng quỳ ngay xuống để nghe chếu chỉ. Thế là Hậu Lý Nam Đế thứ hai cũng chấm dứt nốt.

     Lưu Phương cho quân dẫn Lý Sư Lợi về phương Bắc, rồi cho chết biệt tăm ở nơi đất khách quê người. Còn các viên tướng của triều đình Hậu Lý Nam Đế, Lưu Phương cho bắt tất cả, rồi mang ngay ra bãi chém hết!

     Chắc đến lúc chết, cả Sư Lợi và các tướng đãhiểu được thế nào là lời lẽ phủ dụ của những ke chuyên đi xâm lược!

     Sau khi Triệu Việt Vương đi xuống biển ở cửa Đại Nha (cũng có sách viết rằng nhà vua đã tự tử) mọi người trong vùng thương tiếc bèn lập đền thờ ở đấy để thờ Ngài.

     Về sau những người họ Lý cùng chi phái của Lý Phật Tử cũng lập ở của Tiểu Nha đền thờ Hậu Lý Nam Đế.Tiểu Nha đối diện Đại Nha, codnghĩa là Hậu Lý Nam Đế đã đối mặt với Triệu Việt Vương mà song song tồn tại vậy!

     Chả biết vì thần linh không cho có sự đánh lộn sòng hay do trời xui đất khiến thế nào, mà một đ êm mứa gió bão bùng, sấm sét nổ ra dữ dội, sáng hôm sau thấy ngôi đền Tiểu Nha bị đánh bạt xuống sông, không còn tăm tích.

     Dân làng Độc Bộ, vốn đã lập đền thờ Triệu Việt Vương ở Đại Nha, nay dựng thêm ngôi đền khác ở Tiểu Nha. Họ không thờ Hậu Lý Nam Đế như làng Phù Xa trước kia, mà thờ Ngô Nhật Khánh, một trong 12 vị xứ quân của đời sau, cách gần 400 năm.

     Đại Việt sử ký toàn thư vân gọi Lý Phật Tử là vua, là  đế, nhưng cũng không ngần ngại đưa ra lời bình "không bằng chó lợn" để chỉ nhhững hành vi và việc làm của vị đế này.

     Ngày nay, tên cua Triệu Việt Vương và Tiền Lý Nam Đế đã được đặt cho nhiều đường phốm, trường học. Về tên của Triệu Việt Vương thì đương nhiên là rõ ràng, không có gì để bàn bạc. Nhưng tên của (Tiền) Lý Nam Đế. Phải chăng cũng nên có cách gì để phân biệt với Hậu Lý Nam Đế? Chỉ ghi là Lý Nam Đế, e có người sẽ tưởng nhầm là Hậu Lý Nam Đế (tức Lý Phật Tử) cũng được hậu thế tôn vinh, vì Lý Phật Tử cũng xưng là Lý Nam Đế, như Lý Bí.

                                                                                 Đ.Hải
                                                                    sưu tầm từ Internet



Tiêu đề: Re: Truyền thuyết Việt Nam - sưu tầm
Gửi bởi: 1thoang trong 17 Tháng Bảy, 2009, 08:29:09 pm
Cứ theo thứ tự này chẳng mấy chốc sẽ tới truyền thuyết về ông Cạn Tài Yếu...