Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thảo luận Lịch sử bảo vệ Tổ quốc => Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước... => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 30 Tháng Sáu, 2009, 12:24:51 am



Tiêu đề: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Sáu, 2009, 12:24:51 am
    Trong :
        http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.0
Chúng ta đã được đọc những bài viết, hồi ký của các nhà lãnh đạo và các cán bộ, chiến sĩ trực tiếp tham gia đấu tranh ngoại giao trong trại Đa-vít. Mặc dù đã cung cấp 1 lượng lớn thông tin nhưng do chỉ là 1 cuốn sách cho nên nó vẫn chỉ nói được 1 phần nào trong cuộc đấu tranh ngoại giao rất phong phú nhưng cũng đầy cam go ngày ấy.

        Để góp phần làm sáng tỏ và làm phong phú thêm những dữ liệu về trại Đa-vít tôi xin mở topic này mong bạn đọc gần xa ủng hộ, tham gia thảo luận, sưu tầm các tài liệu về trại Đa-vít hoặc trực tiếp viết bài về Đa-vít. Các nguồn tài liệu từ phía VNCH và phía Hoa Kỳ về Đa-vit cũng được hoan nghênh vì hiện nay mảng này đang rất thiếu.

       Do số lượng tham gia trực tiếp trong trại Đa-vít không nhiều ( gần 1000 của cả 2 đoàn VNDCCH và CPLTCHMNVN ) -  không thể sánh được với ( hàng trăm nghìn ) Biên giới Tây Nam hoặc Biên Giới phía Bắc nên rất mong các bác ủng hộ         


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Sáu, 2009, 07:22:03 am
Ở http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.160 phần "DANH SÁCH CÁC HÃNG THÔNG TẤN, VÔ TUYÊN TRUYÊN HÌNH, ĐÀI PHÁT THANH, BÁO NƯỚC NGOÀI CÓ ĐẠI DIỆN TẠI SÀI GÒN ĐÃ DỰ CÁC CUỘC HỌP BÁO CỦA TATRONG THỜI GIAN 1973 - 1975" không hiểu tại sao không hề có các hãng thông tấn của Liên Xô, Trung Quốc đến dự ? Các nước XHCN khác cũng không thấy có đại diện đến dự ( trừ Hung-ga-ri và Ba-lan là 2 nước nằm trong Ủy ban Quốc tế ). Chả nhẽ chúng ta không còn được sự ủng hộ rộng rãi của Quốc tế nữa sao ?


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Bảy, 2009, 04:15:46 am
   
Trại Đa-vít: Trận địa cách mạng giữa sào huyệt địch

        Nhận định về vai trò của trại Đa-vít, trong cuốn sách "Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng", Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết: "Cũng có thể coi đây là một hàn thử biểu báo thời tiết chính trị - quân sự lúc này, đặt ngay trong lòng địch…".
 
Giữa hang ổ địch

        Trại Đa-vít vốn là doanh trại của một đơn vị chuyên môn thuộc không quân Mỹ. Người Mỹ đặt tên này để tưởng niệm người lính Mỹ đầu tiên chết trận tại miền Nam Việt Nam. Trại ở gần sát phía Tây nam sân bay Tân Sơn Nhất, phía Tây giáp với nhà ga sân bay hiện nay (nay thuộc phường 4, quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh) nằm trong khu vực quân sự. Việc lấy một trại lính làm trụ sở hai phái đoàn quân sự của ta đã nói rõ ý đồ của đối phương, muốn cô lập, không để người dân Sài Gòn tiếp xúc với phái đoàn ta.
 
        Khuôn viên trại Đa-vít như hình thang có đáy và cạnh không đều, chiều rộng nhất khoảng 200m, cạnh ngắn nhất 100m. Trại được xây dựng kiểu dã chiến, theo từng dãy nhà gỗ, nền đất nện và bê tông, lợp phi-brô xi măng, trang thiết bị bên trong từ giường, ghế, bàn, tủ đều bằng sắt, hàng rào vòng trong là lưới sắt. Buổi trưa, trời nắng nóng như nung, cộng với tiếng động cơ máy bay lên xuống cứ 5 phút 1 chuyến cất và hạ cánh, khiến môi trường sống rất căng thẳng.
 
        Bất chấp mọi khó khăn và thủ đoạn của địch, từ tháng 1-1973 đến ngày 30-4-1975, hai đoàn đại biểu quân sự của ta đã kiên cường bám trụ tại trại Đa-vít để đấu tranh. Trại được ví như một căn cứ lõm giữa sào huyệt đối phương, được pháp lý của Hiệp định Pa-ri thừa nhận, một trận địa cách mạng công khai trong lòng địch. Hoạt động của hai phái đoàn ta đã góp phần đặc biệt xuất sắc phối hợp với quân dân cả nước buộc quân Mỹ và quân chư hầu phải rút khỏi nước ta, đánh cho quân ngụy sụp đổ hoàn toàn ngay trong sào huyệt của chúng.
 
Những người lính có văn hóa

        Trước những khó khăn về đời sống vật chất và tinh thần cùng những mưu ma chước quỷ của kẻ địch, những chiến sỹ cách mạng vừa giữ vững khí tiết của người lính Cụ Hồ, vừa chứng tỏ với thế giới rằng họ là những người có tầm văn hóa cao. Đại tá Vũ Nam Bình (tên thật là Nguyễn Văn Khả), Trưởng ban Liên lạc CLB Ban Liên hợp quân sự "Trại Đa-vít", khu vực phía Bắc, nguyên là Trưởng ban Bảo vệ an ninh của Đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cho biết, nhiều nhà báo và sỹ quan của đoàn Hung-ga-ri và Ba Lan trong Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát (ICCS) việc thi hành Hiệp định Pa-ri đã phải thốt lên: "Chỉ có mỗi đạo quân này chịu đựng được như thế". "Chúng tôi ngày đó không chỉ vượt qua khó khăn mà còn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao", Đại tá Bình nói. Nguyên nhân sâu xa của chiến thắng trong lòng địch là bởi họ là những người lính có văn hóa.
 
        Từ chiến trường khốc liệt với tiếng súng, tiếng bom, họ bước vào cuộc chiến đấu mới, cuộc chiến đấu về ngoại giao quân sự xung quanh những vấn đề quan trọng đầu tiên của Hiệp định Pa-ri. Thứ nhất, vấn đề ngừng bắn và vấn đề quân Mỹ, quân chư hầu của Mỹ phải rút khỏi miền Nam Việt Nam. Thứ hai, trao trả nhân viên quân sự bị bắt, thường dân nước ngoài bị bắt và nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và bị giam giữ.
 
        Những chiến sĩ cách mạng công khai giữa lòng địch, dù cuộc sống bị giới hạn bởi hàng rào dây thép gai tứ phía, 13 vọng gác xung quanh, vẫn rất lạc quan, yêu đời. Họ sống có kỷ luật, trật tự và sạch sẽ. Những hoạt động rèn luyện cơ thể, tinh thần như thể dục thể thao (bóng bàn, bóng chuyền, ten-nít), ca nhạc, chiếu phim được duy trì đều đặn. Thậm chí có đợt bị cắt liên lạc, tiếp tế lâu ngày, không có phim mới để thay thế, đến buổi chiếu phim thì người phụ trách chiếu phim nói rõ ràng, hôm nay chiếu "Trần Quốc Toản "lại" ra quân".

        Dù bị đối xử bằng những lời lẽ và hành vi thô bạo, nhưng những người lính Cụ Hồ vẫn cư xử lịch sự, nói năng đúng mực với mọi người xung quanh, từ những người phục vụ, người làm vệ sinh, người đưa hàng… đến những nhà báo nước ngoài, các sỹ quan Hung-ga-ri, Ba Lan, Ca-na-đa... Việc tổ chức những cuộc họp báo đàng hoàng, chững chạc đã khiến các nhà báo của hơn 80 hãng thông tấn, truyền hình, phát thanh, báo in, tạp chí nổi tiếng trên thế giới có mặt ở Sài Gòn khi đó nể phục và tôn trọng.
 
        Đại tá Đinh Quốc Kỳ, nguyên là sỹ quan liên lạc của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, đã từng có mặt tại trại Đa-vít kể lại, trong những buổi họp báo vào những dịp lễ, tết, đoàn ta thường tặng hoa cho các nhà báo nữ. Họ đã rất ngạc nhiên khi biết đó là hoa do chính những người lính cộng sản trồng. Đại tá Kỳ cho biết, ở trại Đa-vít, hai đoàn ta trồng nhiều loại cây, phần để cải thiện cuộc sống, phần để tạo môi trường. Các loại hoa như lay ơn, đồng tiền, hồng, cúc… được trồng bằng giống hoa làng Ngọc Hà (Hà Nội) đưa vào. Thậm chí, họ còn trồng các loại cây chuối, cam, chanh… nhiều loại đã cho quả; mít thì đã cao hơn 2m vào ngày giải phóng.
 
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Trandiagiualongdich.jpg)
        Do đối phương liên tục gây khó khăn cho CBCS đoàn ta, thậm chí không cấp nước sinh hoạt, bộ đội ta tại trại Đa-vít đã chủ động đào giếng lấy nước.
        Trong ảnh: Thiếu tướng, Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ CMLT Cộng hòa miền Nam Việt Nam Hoàng Anh Tuấn (thứ hai từ trái sang) đang chỉ cho Chuẩn tướng Phan Hòa Hiệp, Trưởng đoàn đại biểu quân sự Việt Nam Cộng hòa trong BLH Quân sự hai bên  xem giếng do bộ đội ta đào.


Mưu trí giành chiến thắng

        Nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Dy Niên đánh giá: "Nếu như Hội nghị Pa-ri về Việt Nam là thắng lợi của cuộc đấu tranh ngoại giao kéo dài, đầy khó khăn và phức tạp thì cuộc đấu tranh buộc đối phương phải tuân thủ các điều khoản của Hiệp định Pa-ri cũng là cuộc đấu trí, đấu lý hết sức cam go và quyết liệt".
 
        Trong suốt 823 ngày đêm đấu tranh ngoại giao quân sự giữa sào huyệt của địch, với lòng quả cảm, các chiến sỹ cách mạng đã giương cao ngọn cờ chính nghĩa của Tổ quốc Việt Nam, phát huy cao độ tinh thần yêu nước, dũng cảm, mưu trí, chủ động tấn công địch. Đồng thời, hai phái đoàn đã thể hiện sự khôn khéo, nhạy bén, mềm dẻo theo phương châm "dĩ bất biến ứng vạn biến" của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh.
 
        Dựa vào chính nghĩa của cuộc đấu tranh cách mạng, dựa vào pháp lý của Hiệp định Pa-ri, được thắng lợi giòn giã của quân và dân ta trên chiến trường cổ vũ, những chiến sỹ trên mặt trận ngoại giao quân sự, mà tiêu biểu là các chiến sỹ tại trại Đa-vít, đã đấu tranh sắc sảo, chiến thắng kẻ thù và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần tích cực đấu tranh buộc quân viễn chinh Mỹ và quân chư hầu phải rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam ngày 29-3-1973; buộc địch phải trao trả những cán bộ, chiến sỹ của ta bị địch bắt và một số nhân viên dân sự - những cán bộ chính trị, cơ sở cách mạng của ta. Đại tá Vũ Nam Bình nói, hai phái đoàn của ta cũng đã vạch trần những âm mưu, thủ đoạn và mọi hành động phá hoại Hiệp định Pa-ri một cách có hệ thống của Mỹ, ngụy trước dư luận trong nước và thế giới.

        Trại Đa-vít trở thành một biểu tượng sáng ngời của tư tưởng cách mạng tiến công và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, một sự kiện chưa từng thấy trong lịch sử chiến tranh trên thế giới.

        Nguồn : http://www.hanoimoi.com.vn/vn/35/205691/


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Bảy, 2009, 04:42:58 am
   
Những chiến sĩ Công an trên mặt trận ngoại giao

        Thiếu tướng Nguyễn Đức Minh, trong những người có thâm niên lâu nhất ở Trại Đa-vít, kể về chuyến đưa đoàn Ba Lan, Hungari trong Ban Giám sát quốc tế gặp Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ CMLT Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình. Đêm ngủ ở Huế, các cán bộ trong đoàn Hungari đưa ông về ngủ cùng. Họ nói: "Chúng tôi sẽ bảo vệ đồng chí!".

         Ngày 30/4, trong không khí tưng bừng kỷ niệm về ngày chiến thắng lịch sử của nhân dân cả nước, tại một góc phố nhỏ và khiêm nhường nằm ven hồ Tây đã diễn ra buổi gặp gỡ tri ân của gần 300 cán bộ, chiến sỹ Quân đội, Công an, Ngoại giao… từng kề vai sát cánh trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên và hai bên thi hành Hiệp định Pari từ cuối tháng 1/1973 đến ngày giải phóng Sài Gòn 30/4/1975.

        823 ngày đêm sống trong Trại Đa-vít (doanh trại của một đơn vị chuyên môn thuộc không quân Mỹ), đấu tranh với địch trên mặt trận quân sự, ngoại giao cam go.

        Trong buổi gặp mặt hôm nay đã có thêm 149 cán bộ, chiến sĩ, trong đó có 58 cán bộ, chiến sĩ của lực lượng Công an được Bộ trưởng Bộ Ngoại giao tặng Kỷ niệm chương vì có thành tích đóng góp vào việc thi hành Hiệp định Pari về Việt Nam.

        58 cán bộ của lực lượng Công an được Bộ Ngoại giao trao tặng Kỷ niệm chương hôm nay chỉ là một con số nhỏ và chắc chắn chưa dừng lại ở đó. Bởi hơn 30 năm toàn thắng, người còn, người mất, người bị thất lạc, nhưng ký ức về một thời làm công tác đấu tranh ngoại giao vẫn còn tươi nguyên trong những người lính.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nhungchiensicongan.jpg)
Cán bộ, chiến sĩ Công an ôn lại những kỷ niệm hồi chiến đấu tại Trại Đa-vít

         Đại tá Đào Tâm Châu, nay là Phó Cục trưởng Tổng cục An ninh, Bộ Công an tâm sự: Hồi đó ông mới 24 tuổi, được lệnh của Bộ Công an là đi ngay cùng đoàn Liên hợp quân sự bốn bên vào Kon Tum làm phiên dịch.

        Phiên dịch là đấu tranh, là phải tìm từng chữ thể hiện tư thế của người chiến thắng, của chính nghĩa Việt Nam trước kẻ thù. Sau này ông còn được Bộ Công an cử sang Mỹ nhiều lần để hợp tác chống khủng bố, tìm lính Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt Nam.

        Còn Đại tá Nguyễn Viết Sành, nguyên Phó Cục trưởng A18, Bộ Công an (cũng được giao nhiệm vụ phiên dịch và lễ tân) khi kể chuyện cho chúng tôi nghe, giọng ông như nghẹn lại vì năm 1972, Mỹ đánh bom vào Mễ Trì, Từ Liêm (Hà Nội) đã cướp đi cuộc sống của mẹ đẻ, bốn người con của ông, vợ ông thì bị thương nặng.

        Năm 1973, ông vào miền Nam nhận nhiệm vụ mới tại Trại Đa-vít mà nỗi buồn riêng tư đè nặng, nhưng gạt tình riêng, nén nỗi đau vào lòng, Đại tá Sành đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

        Còn Đại tá Hoàng Văn Thắng, nguyên Trưởng phòng Tổng cục An ninh bồi hồi nhớ về những ngày nằm ở Trại Đa-vít với quân hàm trung uý quân đội, ra đi để dấn thân vào tận sào huyệt của kẻ địch mà lòng dâng tràn niềm tin tưởng vào thắng lợi ngày mai. Anh vô cùng xúc động khi nhận được giấy mời đến nhận Kỷ niệm chương.

       Đặc biệt, tại buổi gặp gỡ này có Thiếu tướng Nguyễn Đức Minh, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục XDLL CAND. Ông có lẽ là một trong những người có thâm niên lâu nhất ở Trại Đa-vít.

        Hồi ấy khi đang công tác ở Ban An ninh Khu VI thì ông được Bộ Công an điện vào cử tham gia Ban Liên hợp quân sự với tư cách là sỹ quan liên lạc.

        Theo ông, ngay từ tháng 10/1972, Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn đã chủ động triệu tập một lớp cán bộ có năng lực và năng khiếu ngoại ngữ, khẩn trương cho học thêm ngoại ngữ để chuẩn bị vào Nam nhận nhiệm vụ trong Ban Liên hợp quân sự.

        Từ tháng 2/1973 đến tháng 11/1973, Thiếu tá liên lạc Nguyễn Đức Minh ở hẳn trong Trại Đa-vít.

        Thiếu tướng Nguyễn Đức Minh còn ấn tượng mãi chuyến đưa đoàn Ba Lan, Hungari trong Ban Giám sát quốc tế từ Tân Sơn Nhất ra Quảng Trị gặp Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình.

        Biết địch gây khó khăn, đêm ngủ ở Huế, các cán bộ trong đoàn Hungari đã tìm cách đưa ông về ngủ cùng. Họ bảo: "Tất cả chúng tôi sẽ bảo vệ đồng chí!".

        Thiếu tướng tâm sự: "Đây là quãng thời gian ngắn nhưng để lại nhiều dấu ấn cho chúng tôi. Anh em cán bộ Công an như tôi vừa chiến đấu ở rừng ra, được cấp trên điều đi đấu tranh quân sự ngoại giao ngay giữa sào huyệt của kẻ thù.

        Khó khăn, hy sinh gian khổ nhiều lắm, nhưng gặp được một số anh em ở miền Bắc vào và đặc biệt là tình nghĩa bạn bè quốc tế dành cho ta rất tốt, chúng tôi nhận thấy ngay sự lãnh đạo toàn diện của Đảng và các đồng chí lãnh đạo Bộ Công an. Chỉ nghĩ đến điều đó là lòng chúng tôi lại náo nức hướng về ngày chiến thắng".

        Thiếu tướng Nguyễn Đức Minh băn khoăn, cuộc gặp mặt hôm nay còn vắng nhiều anh em, nhất là số chiến sỹ ở đoàn B (số cán bộ ở miền Nam), do nhiều lý do chưa về gặp mặt kịp.

        Ông mong mỏi, thời gian tới, Ban Liên hợp quân sự Trại Đa-vít sẽ có thêm nhiều thành viên mới, để những buổi gặp mặt cùng được sum vầy, được ôn lại một thuở dâng hiến tô thêm truyền thống tốt đẹp của lực lượng CAND…

 Nguồn: http://ca.cand.com.vn/vi-VN/thoisuxahoi/tintucsukien/2006/7/103493.cand


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Bảy, 2009, 04:54:41 am
   
Công tác bảo vệ an ninh Trại Davis thời kỳ 1973 - 1975

        Đầu tháng 2/1973, hai phái đoàn quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (sau đây gọi tắt là phái đoàn ta) có mặt tại “Trại Davis” trong sân bay Tân Sơn Nhất, tham gia Ban Liên hợp quân sự Trung ương 4 bên, có nhiệm vụ phối hợp hành động bảo đảm thi hành những điều khoản về quân sự của Hiệp định Paris.

        Tháng 1/1973, Hiệp định Paris về kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, đã mở ra thời cơ mới cho cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam theo phương châm “Mỹ cút, ngụy nhào”.

        Giữa sào huyệt của địch, phái đoàn ta đã hiên ngang, kiên định đấu tranh trực diện, công khai với Mỹ - ngụỵ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đóng góp vào thắng lợi đó, công tác bảo vệ  an ninh có vai trò rất lớn. Trưởng ban Bảo vệ an ninh của phái đoàn ta ở Trại Davis năm ấy là đồng chí Vũ Nam Bình (tên thật là Nguyễn Văn Khả), năm nay 82 tuổi. Với sức khỏe và trí nhớ hiếm thấy của một người ở tuổi thượng thọ, ông đã dành cho chúng tôi cuộc trao đổi quanh vấn đề bảo vệ an ninh cho phái đoàn ta ở Trại Davis...

        Hiệp định Paris. Giữa sào huyệt của địch, phái đoàn ta đã hiên ngang, kiên định đấu tranh trực diện, công khai với Mỹ-ngụỵ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đóng góp vào thắng lợi đó, công tác bảo vệ  an ninh có vai trò rất lớn. Trưởng ban Bảo vệ an ninh của phái đoàn ta ở Trại Davis năm ấy là đồng chí Vũ Nam Bình (tên thật là Nguyễn Văn Khả), năm nay 82 tuổi. Với sức khỏe và trí nhớ hiếm thấy của một người ở tuổi thượng thọ, ông đã dành cho chúng tôi cuộc trao đổi quanh vấn đề bảo vệ an ninh cho phái đoàn ta ở Trại Davis...

Mưu sâu của địch...

        Theo thỏa thuận giữa hai bên, 9h sáng 28/1/1973, phía Mỹ sẽ đưa trực thăng tới sân bay Thiện Ngôn (bắc Tây Ninh, do ta kiểm soát) để đón Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ CMLT do Trung tướng Trần Văn Trà làm trưởng đoàn vào Trại Davis. Vốn là người thận trọng, đồng chí Trần Văn Trà gọi chúng tôi tới trao đổi: “Cần hết sức cảnh giác, đề phòng với những thủ đoạn của Mỹ - ngụy phá hoại việc thi hành Hiệp định, kể cả việc địch có thể tấn công vào các đoàn đại biểu ta”. Với vai trò Trưởng ban Bảo vệ an ninh, tôi đề xuất: “Để bảo đảm an toàn, đoàn ta chưa nên ra điểm hẹn. Đề nghị anh cho một tổ trinh sát đi tiền trạm”.

        Đúng như nhận định của đồng chí Trần Văn Trà, đúng giờ hẹn, xuất hiện 2 chiếc máy bay lượn vòng rồi trút hàng loạt bom xuống điểm đón đoàn ta! Nhờ cảnh giác, phía ta không thiệt hại về người. Phái đoàn ta ra thông cáo kịch liệt phản đối hành động đê tiện này và yêu cầu Mỹ - ngụy phải đón đoàn tại sân bay Lộc Ninh, nơi Mỹ - ngụy đã chịu nhiều thảm bại, trong đó toàn bộ Ban chỉ huy Chiến đoàn 8 của ngụy bị ta bắt làm tù binh.

       Để xoa dịu dư luận sau vụ ném bom hèn hạ bị tố cáo, Mỹ - ngụy buộc phải chấp nhận yêu cầu của phái đoàn ta. Sau khi hai phái đoàn ta vào Trại Davis, Ban bảo vệ an ninh tiến hành ngay các biện pháp bảo đảm an ninh và chính trị nội bộ, vốn đã được xây dựng chu đáo từ vài tháng trước khi Hiệp định Paris được ký kết. Chúng tôi thu được một số thiết bị điện tử địch cài trong các phòng họp, phòng làm việc, thậm chí cả phòng ngủ... Chúng tôi buộc phải xây dựng mới nhiều phòng làm việc bằng vật liệu sẵn có.

        Qua công tác nắm tình hình, chúng tôi biết địch có kế hoạch rất chi tiết nhằm theo dõi, kiểm soát hoạt động của đoàn ta. Địch sẽ triệt để khai thác sơ hở của ta, dùng tâm lý chiến móc nối, lôi kéo, thậm chí bắt cóc người của ta rồi khống chế, vu khống là chiêu hồi, về với “chánh nghĩa quốc gia”! Hầu hết các nhân viên tạp vụ, lái xe, điện nước... đều là người của cơ quan an ninh, tình báo ngụy cài vào “phục vụ” phái đoàn ta.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Congtacbaoveanninh.jpg)
Một số cán bộ bảo vệ an ninh tại Trại Davis - Tân Sơn Nhất thời kỳ 1973-1975
 (đồng chí Vũ Nam Bình đứng thứ 3 từ trái qua).

        Sau ngày 30/4/1975, Nguyễn Văn Học, nguyên Đại tá, Trưởng phòng phản tình báo Cục An ninh quân đội ngụy, đã khai nhận đúng như vậy. Chúng có kế hoạch tình báo hỗn hợp để “đánh vào hai phái đoàn Việt Cộng và Bắc Việt”. Địch cho rằng, những thành viên của hai phái đoàn ta chắc chắn đã được lựa chọn rất kỹ, hầu hết là những “phần tử trung kiên” nên không dễ dàng bị lôi kéo.

        Song có thể, một số thành viên của phái đoàn có người thân thích, ruột thịt đang làm việc cho địch, hoặc sống tại vùng địch kiểm soát. Hơn nữa, sau bao năm gian khổ kháng chiến, giờ được sống giữa thành phố Sài Gòn, biết đâu sẽ có người dao động trước những cám dỗ...

        Nguyễn Văn Học còn khai thêm những âm mưu, thủ đoạn hết sức manh động và hèn hạ của các cơ quan an ninh, tình báo ngụy. Trong trường hợp chiến trường có những đột biến bất lợi, chúng sẽ đầu độc nguồn nước, thực phẩm; bắt cóc lãnh đạo phái đoàn ta; thậm chí cho bọn lưu manh, côn đồ khiêu khích và kiếm cớ tấn công vào trại tàn sát phái đoàn ta.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Bảy, 2009, 05:09:59 am
   
... Đụng phải những “bức tường thép”

       Song với bản lĩnh của từng thành viên trong phái đoàn ta và nghiệp vụ dày dạn của các cán bộ làm công tác an ninh, mọi âm mưu, thủ đoạn của địch đều gặp phải những “bức tường thép”. Địch thường nhắm đến các sĩ quan trẻ của ta để tác động, lôi kéo; vì chúng cho rằng họ còn ít kinh nghiệm và chưa được tôi luyện, thử thách nhiều qua chiến đấu. Hôm ấy, nhân giờ giải lao của cuộc họp bàn về trao trả tù binh, viên Thiếu tá ngụy Đinh Công Chất (Tiểu ban trao trả) lại gần một thiếu úy trẻ của ta làm quen.

        Khi câu chuyện đã bớt khách khí, viên sĩ quan ngụy chặc lưỡi và nheo mắt nửa đùa, nửa thật: “Sang với tụi này đi, sung sướng lắm; đủ cả các mùi, các vị...”. Đồng chí thiếu úy trẻ của ta quắc mắt, đốp trả: “Này, chiến tranh tâm lý kiểu gì đấy? Có mà vứt vào sọt rác thôi!”. Tên Chất tẽn tò, vội chuồn thẳng.

        Còn viên Đại tá ngụy Dương Đình Thụ thì hỏi với giọng điệu rất ngạo mạn và khiêu khích một đại úy của phái đoàn ta: “Này Đại úy, cấp trưởng các tiểu ban bên tôi đều là đại tá, cấp trưởng các tiểu ban bên anh thì toàn trung tá. Chênh lệch cấp hàm và  trình độ như thế, tôi thấy khi ngồi họp rất bất tiện...?”.

        Đồng chí đại úy của ta dõng dạc đối lại: “Tôi xin trao đổi với ông hai vấn đề. Thứ nhất, ngay cả Tổng thống của các ông cũng không so sánh được với chiến sĩ của chúng tôi đâu. Tổng thống của các ông là kẻ bán nước, còn chiến sĩ chúng tôi là người bảo vệ Tổ quốc. Thứ hai, hiện giờ chỉ huy cấp sư đoàn của chúng tôi hầu hết là trung tá, thượng tá. Nhưng thưa ông Đại tá, qua thực tế chiến trường, nhiều sư đoàn tinh nhuệ do những sĩ quan chỉ huy cấp tướng của các ông cầm quân, lại có sự giúp sức của cố vấn Mỹ, song đều bị chúng tôi đánh cho tơi tả. Vì vậy, đại tá của các ông cũng không so với trung tá của chúng tôi được”.

        Khẩu khí của một đại úy “Việt Cộng” khiến Đại tá Dương Đình Thụ tái mặt và phải lánh đi nơi khác. 

        Sau ngày 30/4/1975, viên Đại tá, Trưởng phòng phản tình báo ngụy Nguyễn Văn Học khai: “Chúng tôi đã gặp một đối thủ quá cứng rắn. Tất cả những lần tiếp xúc thông thường thì không sao, nhưng khi đụng vào những nội dung cần thiết thì đều bị đánh bật ra; khiến những sĩ quan có hạng của chúng tôi cũng phải lắc đầu...”.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nuchiensi.jpg)
Những nữ chiến sĩ quân giải phóng có mặt tại trại Davis tháng 2/1973
 (ảnh thu được sau giải phóng miền Nam của cục An ninh quân đội nguỵ).

Câu chuyện cảm động về tình ruột thịt giữa hai người khác chiến tuyến

        Trong số các nhân viên điện - nước của địch tại Trại Davis, có một sĩ quan công binh mang quân hàm thiếu tá, tên là Bùi Thiện Khiêm, chừng hơn 30 tuổi. Khiêm tỏ ra mẫn cán, nhiều lần kiểm tra hoạt động của hệ thống điện - nước và đến được những nơi “cần đến” trong Trại Davis. Nhưng có điều đáng nghi ngại, mỗi khi gặp ai trong phái đoàn ta, Khiêm nhìn người đó rất lâu...

        Được báo cáo việc này, tôi tạo ra một tình huống ngẫu nhiên để gặp Khiêm, thì thấy đúng như thông tin được phản ánh. Anh em bảo vệ an ninh hội ý và thống nhất nhận định: Phải chăng, Khiêm có người quen trong phái đoàn của ta. Có thể lúc Khiêm còn nhỏ, cha hoặc anh trai của Khiêm đi tập kết, nay cũng có mặt trong phái đoàn...

        Tôi tập trung rà soát toàn bộ danh sách phái đoàn thì phát hiện một người có họ, tên đệm trùng khớp với Khiêm; xét về tuổi tác thì có thể là anh trai của Khiêm. Người này tên Bùi Thiện Hùng, làm nhiệm vụ phiên dịch tiếng Nga cho đoàn ta khi làm việc với đoàn Hungary và đoàn Ba Lan (trong Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát thi hành Hiệp định Paris).

        Quả nhiên hôm ấy, sau một phiên họp, khi phái đoàn ta tiễn đoàn Hungary và đoàn Ba Lan ra về, thì bất ngờ Bùi Thiện Khiêm xuất hiện và – có lẽ vì quá xúc động, không thể kìm nén được – đã chạy ào về phía đoàn ta, ôm chầm lấy đồng chí Hùng rồi kêu lên: “Ối anh Hùng ơi, em là Khiêm đây!”. Hai anh em họ ôm chặt lấy nhau và trào nước mắt, khiến những người chứng kiến không khỏi bùi ngùi.

        Đồng chí Hùng sau đó đã báo cáo đầy đủ về mối quan hệ với người em trai. Khi đồng chí Hùng ra Bắc tập kết, Bùi Thiện Khiêm mới trên dưới 10 tuổi. Gần 20 năm, anh em họ mới gặp lại nhau trong một hoàn cảnh rất đặc biệt. Khi tôi báo cáo việc này, đồng chí Trần Văn Trà trầm ngâm giây lát và nhận định: “Việc này cũng bình thường thôi, đó là vì chiến tranh. Ta cứ cho anh em họ gặp nhau thêm; nhưng phải xin ý kiến cơ quan nghiệp vụ cấp trên”.

        Được sự đồng ý của cấp trên, tôi đã bố trí cho hai anh em họ gặp nhau. Trong cuộc gặp ấy, đồng chí Hùng với tư thế của người chiến thắng, đồng thời là người anh trai đã dành cho đứa em ruột những tình cảm chân thành. Sau khi hỏi thăm sức khỏe cha mẹ và những người thân, đồng chí Hùng nhắc nhở Khiêm, đại ý: Gia đình mình có truyền thống tốt, chưa làm gì hại đến Tổ quốc, bản thân em phải ghi nhớ và thực hiện điều đó...

        Cuối cùng, đồng chí Hùng nhắc Khiêm phải làm tốt việc bảo đảm điện nước phục vụ phái đoàn. Sau này, qua đánh giá tình hình thực tế, chúng ta quyết định không tiến hành các biện pháp nghiệp vụ để sử dụng Bùi Thiện Khiêm. Phần đồng chí Hùng, sau ngày giải phóng miền Nam đã vào TP HCM tiếp tục công tác và đoàn tụ với gia đình.

        Có mặt 823 ngày đêm tại Trại Davis (từ 28/1/1973 đến 30/4/1975), phái đoàn quân sự Chính phủ CMLT Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên mặt trận ngoại giao, quân sự, đấu tranh bảo đảm việc thi hành Hiệp định Paris về Việt Nam.

        Vào lúc 9h30' ngày 30/4/1975, đồng chí Phạm Văn Lãi cùng đồng chí Cẩn, hai thành viên Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Trại Davis đã cắm lá cờ của Cách mạng lâm thời giải phóng miền Nam Việt Nam lên đỉnh tháp nước của trại –  một trong những lá cờ giải phóng đầu tiên tung bay trên thành phố mang tên Bác trong ngày Chiến thắng 30/4/1975.

Nguồn: http://antg.cand.com.vn/vi-VN/tulieu/2009/6/69307.cand


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Bảy, 2009, 05:25:02 am
   
Chiếu phim trong trại Davis, Sài gòn

        Chúng tôi là cán bộ, chiến sĩ của Phòng điện ảnh (có mật danh là B8) thuộc Cục Chính trị Quân giải phóng miền Nam  (Cục Chính trị B2).

        Như những thành viên khác của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (CPCMLTCHMNVN - Đoàn B), chúng tôi từ Lộc Ninh vào trại Davis bằng máy bay trực thăng của Mỹ. Tổ chiếu phim gồm 4 thành viên: Anh Trần Trung Đệ quê Bến Tre, anh Nghiệp quê Khánh Hòa, anh Nguyễn Cảnh Hòe quê Nghệ An. Các anh được đi trước, còn tôi là Phạm Văn Lãi, quê Thái Bình vào sau.

        Trại Davis (Sài Gòn) vốn là doanh trại cũ của đơn vị thuộc Tập đoàn Không quân số 7 Mỹ. Khi mới đến đây thật khủng khiếp... khắp nơi nhan nhản tạp chí, sách báo, tranh ảnh lõa lồ...

        Ổn định xong nơi ăn ở, chúng tôi bắt tay ngay vào làm nhiệm vụ. Các buổi chiếu phim của chúng tôi không chỉ phục vụ cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị, mà còn cả những người là lái xe cho các phái đoàn, nhà thầu cung cấp lương thực, thực phẩm và phóng viên của hơn 80 tờ báo, tạp chí trong nước, ngoài nước khi vào dự họp báo (trong số phóng viên đó, nhiều người là tình báo an ninh, mật vụ của Mỹ và quân đội Sài Gòn).

        Những tối thứ tư, thứ bảy hàng tuần, chiếu phim phục vụ đơn vị ở ngoài trời còn có thêm những người xem bên kia hàng rào. Họ là lính gác xung quanh khu vực trại Davis, trên các chòi canh, các ụ súng đang chĩa nòng vào chỗ ở của hai phái đoàn ta. Tuy hơi xa nhưng họ xem phim được vì màn ảnh khá rộng và có loa phóng thanh công suất lớn...

        Chúng tôi còn phục vụ cả những “khán giả đặc biệt” nữa.

        Hôm đó là ngày 6/2/1973, gần tối, một thiếu tá Mỹ trong bộ phận sĩ quan liên lạc dẫn vào trụ sở hai đoàn ta 7 lính Mỹ của một đơn vị thông tin. Số lính Mỹ này vào làm giấy “chứng minh thư” cho các thành viên của ta trong Ban Liên hợp quân sự 4  bên. Họ chụp ảnh chân dung từng người, đánh máy họ tên, cấp bậc, đơn vị và bọc nilon.

        Rất nhanh, chỉ vài phút là hoàn chỉnh một chiếc vì mẫu đã được in sẵn theo thỏa thuận của các đoàn. Viên thiếu tá sĩ quan liên lạc của Mỹ sau khi bàn giao 7 người lính này thì ra về. Số ở lại người cấp bậc cao nhất là hạ sĩ, tuổi mười chín, đôi mươi. Có 2 người da đen, 5 da trắng. Họ mới từ Hawaii sang Việt Nam.

        Trông những người lính Mỹ này không thấy vẻ hung hãn man rợ như bọn lính đi càn quét vào các xóm làng, vào căn cứ cách mạng của ta. Họ vui vẻ làm việc, ánh đèn Plasma của máy ảnh liên tục lóe sáng. Tiếng lách tách của chiếc máy đánh chữ Opstima làm cho hội trường nhộn nhịp hẳn lên.

        Ngoài cửa hội trường, chúng tôi căng phông để tối chiếu phim. Một lính Mỹ có cấp bậc hạ sĩ đến gặp đồng chí sĩ quan liên lạc của ta, mạnh dạn đề nghị cho phép họ lần lượt đứng dưới ảnh Bác Hồ chụp ảnh lưu niệm. Được phép, cả 7 người lính Mỹ, từng người đứng nghiêm trang, vẻ mặt kính cẩn dưới bức ảnh lãnh tụ kính yêu của chúng ta để cho bạn mình chụp ảnh.

        Lúc đó, cán bộ, chiến sĩ ta đến chụp ảnh làm “chứng minh thư” ai nấy trên ngực áo mình đều có huy hiệu Bác Hồ. Một lính Mỹ da đen, cấp hạ sĩ, sau nhiều lần lưỡng lự đã mạnh dạn hỏi xin tấm huy hiệu Bác Hồ. Các đồng chí ta vui vẻ đồng ý ngay, từng người tự gỡ huy hiệu của mình và tặng  những người lính Mỹ. Thế là, cả 7 lính Mỹ mỗi người được tặng một huy hiệu Bác Hồ. Họ vui sướng tự tay cài huy hiệu lên ngực và nhờ bạn chụp cho một tấm ảnh có đeo tấm huy hiệu của Bác. Chụp xong, họ gỡ huy hiệu ra, lấy bọc cẩn thận và cất vào túi áo mình. Một người lính bỗng hô to: “Việt Nam, Hồ Chí Minh” cả tốp lính Mỹ cùng đồng thanh hô theo.

        Giờ chiếu phim đã đến. Hôm ấy, chúng tôi phục vụ đơn vị hai cuộn phim. Một cuộn phim tài liệu “Bác Hồ với thiếu nhi” và cuộn phim vũ kịch  “Ngọn lửa Nghệ Tĩnh”. Người xem đến ngồi trước sân hội trường, họ bê ghế ra ngoài và ngồi gần bên máy chiếu. Các đồng chí lãnh đạo hai đoàn ngồi hàng ghế trên, anh em trẻ ngồi bệt trên dép cao su ở phía trước.

        Tốp lính Mỹ đang làm việc trong hội trường thấy phim đã chiếu, hình ảnh Bác Hồ xuất hiện trên màn ảnh, nói với đồng chí phiên dịch: “Cho chúng tôi thay nhau ra xem phim được không”. Họ đứng bên cạnh máy chiếu và nghe lời thuyết minh phim qua đồng chí phiên dịch của ta.

        Chúng tôi cảm thấy vui vì hôm nay phục vụ cho những khán giả "đặc biệt" này. Bảy lính Mỹ chăm chú xem phim. Khi hình ảnh một cháu bé đưa bàn tay xinh xắn vuốt chòm râu bạc của Bác, Người cúi xuống hôn cháu xuất hiện trên phông, cả tốp lính Mỹ lúc ấy đều hết sức ngạc nhiên.

        Viên hạ sĩ da đen nói như để mọi người xung quanh cùng nghe: “Ông già Noel của Việt Nam”. Buổi chiếu phim tối hôm đó thật nhiều ý nghĩa. Những người lính Mỹ kia sau khi xem hai bộ phim của Việt Nam và được tặng tấm huy hiệu Bác Hồ, chụp ảnh lưu niệm dưới bức chân dung của Người và cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, vô cùng phấn khởi.

        Những ngày đầu xuân 1975, toàn đơn vị được phổ biến phải khẩn trương chuẩn bị chiến đấu.

        Ngày 28 và 29/4/1975, tiếng pháo 130 ly đã nổ rất gần Sài Gòn. Đại quân của chúng ta không còn cách xa nữa. Pháo binh từ Nhơn Trạch đã trút xuống Tân Sơn Nhất, đường băng bị phá nát, cày xới thành những hố sâu, máy bay địch không thể lên xuống sân bay này.

        Sáng 30/4/1975, đã nghe rõ tiếng nổ của súng AK của bộ binh ta.

        Vào khoảng 9 giờ sáng, đồng chí Mười Sương - Trưởng ban chính trị gọi tôi giao nhiệm vụ trèo lên tháp nước của trại Davis cắm lá cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Đúng 9 giờ 30 phút lá cờ cách mạng tung bay trên điểm cao trại Davis.

        Lát sau, phía đường Hoàng Hoa Thám đã thấp thoáng những chiếc mũ tai bèo tiến về khu vực trại Davis. Tới trại, các đồng chí tự giới thiệu là đơn vị thuộc Quân đoàn 3 (Binh đoàn Tây Nguyên) vào  giải phóng Sài Gòn. Đồng chí, đồng đội gặp nhau trong những giờ phút chiến thắng hào hùng nhất của dân tộc xúc động không bao giờ quên

Phạm Văn Lãi(kể), Quốc Kỳ (ghi)

Nguồn: http://antg.cand.com.vn/News/PrintView.aspx?ID=66218


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Bảy, 2009, 01:35:30 pm
        Thông tin về 2 đoàn Mỹ và VNCH rất ít ỏi. Sau đây xin trích 1 vài đoạn hồi ký có liên quan tới trại Đa-vít của Dương Hiếu Nghĩa, đại tá Quân lực VNCH : "28 ~ 30/04/1975 Hồi Ký Dang Dở"
       
        " Ngày 28 tháng 4/1975:

        8 giờ sáng,

        Đại Tá Nguyễn Hồng Đài từ tư dinh của Đại Tướng Dương Văn Minh điện thoại trực tiếp cho tôi nhờ đưa một phái đoàn đại diện cho Tổng Thống đến gặp phái đoàn Cộng Sản Bắc Việt và Việt Cộng (MTGPMN) ở trại Davis. Phái đoàn gồm có Luật Sư Nguyễn Văn Huyền, Phó Tổng Thống, Luật Sư Vũ Văn Mẫu Thủ Tướng và chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, quyền Tham Mưu trưởng QLVNCH từ ngày 28 tháng 4/75.(một bộ hạ thân tín của tướng Dương Văn Minh ở Bộ Tư Lệnh Hành Quân từ 1955, sau nầy mới được biết là đã làm tay sai cho CS từ đầu thập niên 70 và từ đó đã trở thành một Việt Cộng nằm vùng rất đắc lực của Bắc Việt. ) Khối Ngoại Vụ chúng tôi cho biết là CSBV và Việt Cộng không tiếp phái đoàn, nhưng Đại Tá Đài cho tôi biết là “ông già nhấn mạnh là tôi nên cố gắng, vì cuộc gặp mặt nầy rất quan trọng”. Tôi đành phải đích thân gọi vào trại Davis, gặp Đại Tá Sĩ để điều đình và cuối cùng phái đoàn của Tổng Thống Minh “được đồng ý cho vào trại Davis gọi là để viếng thăm hai phái đoàn Cộng Sản Bắc Việt và CPLTMN” (nguyên văn lời Đại Tá Sĩ trực tiếp nói với tôi qua điện thoại).

        Xin mở một dấu ngoặc ở đây để nói rõ về anh Đại Tá Sĩ nầy. Tôi biết đưọc anh Nguyễn Văn Sĩ trước học ở trường Collège Cần Thơ, có biệt danh là “Sĩ Kiến”. Theo bản trận liệt mà chúng ta biết được thì anh Sĩ là Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh của MTGPMN. Chúng tôi hai đứa gặp nhau và nhìn lại nhau ở cương vị đối nghịch nhau tại bàn hội nghị Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên ở Tân sơn Nhất . Nhờ đó mỗi khi gặp bế tắc trong bất cứ vấn đề gì ở bàn Hội Nghị, nhất là về trao trả tù binh thì anh Sĩ lại được tướng Trần văn Trà cho làm đại diện cho Cộng Sản để “mật đàm với Đại Tá Nghĩa” nhằm tìm ra giải pháp. Đến năm 1989, sau khi ra khỏi trại tù cải tạo, nhân một dịp đi xuống Cần Thơ, tôi lại được gặp anh Sĩ vài lần ở ngay sân quần vợt Cần Thơ, và đươc biết là anh đã rời khỏi quân ngũ từ 1977, vì lý do đảng tịch, và là người Miền Nam nên anh phải “đi một xuồng” với tướng Trà.

        Phái đoàn của Luật Sư Huyền vào trại Davis lúc 9 giở 30 và rời khỏi trại hồi 10 giờ hơn. Tôi tò mò muốn biết kết quả của cuộc gặp gỡ nầy, nhưng Đại Tá Đài không cho biết vì anh không được biết hay vì anh không muốn tiết lộ, hay vì một lý do nào khác? Qua Đại Tá Sĩ thì tôi cũng không được biết gì hơn ngoài câu “như đã thỏa thuận với anh hồi nãy”, tức phải được hiểu ngầm là “chỉ có viếng thăm xã giao mà không có bàn đến các vấn đề gì khác”

        Tò mò hơn, qua điện thoại với trung tá chánh văn phòng Trương Minh Đẩu, tôi được biết là Ông Dương Văn Minh đã “mò” lên tận vùng Long Khánh (không rõ chính xác ở đâu) với liên lạc viên Dương Văn Nhật để gặp Lê đức Thọ từ mấy ngày trước, qua đường dây liên lạc đặc biệt nào đó mà anh không biết.

        (Dương Văn Nhật là em ruột của tướng Minh, tập kết ra Bắc năm 1954, về Nam với quân hàm trung tá của MTGPMN, vào ở ngay Dinh Hoa Lan tại đường Trần quý Cáp với gia đình tướng Minh từ lâu, dĩ nhiên trong nhiệm vụ sĩ quan liên lạc của Cộng Sản .)

        Vẫn theo lời anh Đẩu thì sau khi phái đoàn của ông Nguyễn Văn Huyền về đến Dinh Hoa Lan, ông Minh họp Hội đồng Chánh Phủ và cho biết là MTGPMN đã bác bỏ đề nghị của ông nhằm tìm một giải pháp chánh trị cho Miền Nam Việt Nam . Vì vậy ông đã quyết định là “chỉ còn một cách duy nhất là “đầu hàng vô điều kiện” mà thôi.

        4 giờ chiều :

        Tôi muốn nhắc lại ở đây một đoạn đàm thoại ngắn giữa tôi và thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ qua điện thoại mà ông gọi tôi lúc 4 giờ chiều ngày hôm nay từ tư dinh của ông ngay trong căn cứ Không quân Tân Sơn Nhất .

        - Anh còn ở đây chưa đi đâu sao anh Nghĩa ?

        - Thưa thiếu tướng chưa, vì tôi còn trách nhiệm phải lo cho gia đình các anh em quân nhân của Ban Liên Hợp đi cho xong rồi tôi mới đi. Dự trù chiều mai 29 thưa thiếu tướng.

        6 giờ chiều

        Chúng tôi vào D.A.O. đưa một toán 200 người thuộc gia đình sĩ quan và hạ sĩ quan /Ban Liên Hợp Quân sự ra phi cơ trong chương trình di tản (toán thứ 8 ).

        Chờ cho phi cơ cất cánh xong (9 giờ) chúng tôi mới trở về lại Ban Liên Hợp, vẫn phải trực như mọi người và mọi đơn vị.

10 giờ đêm:

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Hoiuc1.jpg)

        Từ 10 giờ đêm, Bắc Việt bắt đầu pháo kích và bắn hỏa tiễn vào sân bay Tân Sơn Nhất . Ngay ban chiều vào khoảng 7 giờ, họ đã cho một loạt tác xạ điều chỉnh vào khu vực sân bay rồi : tất cả 5,6 quả và 2 hỏa tiễn đều rơi vào khu dân cư ở xóm Trương minh Giảng và Lăng Cha Cà ở bên ngoài khu vực sân bay. Nhưng từ 10 giờ đêm trở đi thì tất cả đạn pháo nặng nhẹ từ 130 ly đến bích kích pháo 82 ly và hỏa tiễn đều rơi vào các đường bay, các ụ chứa phi cơ và các kho bom đạn cũng như Bộ chỉ huy các Không Đoàn. Riêng Ban Liên Hợp chúng tôi cũng được hưởng mấy trái hỏa tiễn và đạn pháo 130 ly làm cho 3 dãy nhà bị cháy và gây tử thương vài binh sĩ, làm bị thương một số khác


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Bảy, 2009, 01:36:15 pm
        Chúng tôi và Đại Tá Ba ra ngoài đường thoát nước lộ thiên bằng xi măng trước văn phòng nằm tránh đạn. Chiếc xe của tôi đậu cách chỗ nằm của chúng tôi chừng 15 thước bị một mảnh đạn và bốc cháy mà chúng tôi không dám chữa. Từ đó, Bắc Việt pháo kích từng chập từng chập cách nhau chừng 15 phút, đủ loại, không ngừng cho đến sáng hôm sau. Hầu như không có phi cơ quan sát hay tiềm kích nào cất cánh lên được suốt đêm nay, và cũng không nghe thấy có tiếng súng phản pháo nào.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Hoiuc2.jpg)

        Riêng trại Davis của hai phái đoàn Cộng Sản, cách văn phòng chúng tôi chừng 100 thước, thì không bị một quả đạn nào, tất nhiên đây là vị trí của tiền sát viên Bắc Việt giúp điều chỉnh tác xạ suốt đêm nay thật chính xác, vì trong 2 năm ở đây họ đã nắm rõ từng vị trí trong sân bay nầy rồi !

        Ngày 29 tháng 4:

        9 giờ sáng:

        Chúng tôi qua Phòng họp của Ban Liên Hợp Quân sự không bị trúng đạn pháo, từ đó mới sử dụng được đường dây điện thoại để báo cáo đi các nơi về thiệt hại vật chất và nhân mạng đêm qua..

        Đến 9 giờ sáng thì có một chiếc trực thăng Mỹ (sơn toàn trắng) đáp xuống ngay trước phòng họp để bốc chúng tôi đi. Nhưng không hiểu sao tôi lại không chịu đi . Và tôi cho trực thăng nầy di tản 6 sĩ quan của toán thanh tra ngừng bắn, người Nam Dương .

        Tôi vẫn còn nhớ ơn Đại Tá Abbas, phó trưởng đoàn và trưởng phòng Tình Báo của phái đoàn Nam Dương nầy đã 2 lần đích thân kín đáo trao cho tôi bản đồ trận liệt ghi rõ tiến trình xâm nhập vào Miền Nam của đầy đủ 16 sư đoàn chánh quy bộ binh Bắc Việt và các sư đoàn thiết giáp và sư đoàn pháo binh nặng, vừa được cập nhật vào đầu tháng giêng năm 1975.

        -  Lần đầu ngày 3 tháng giêng 1975. (tôi đích thân mang tay lên trình cho Tổng Thống Thiệu ngày 4 tháng 1, với lời giải thích miệng rất đầy đủ theo đúng tin tức tình báo mà phái đoàn Nam Dương đã sưu tầm rất chính xác và rất đầy đù, (nhưng sau đó tôi đã không thi hành lệnh của Tổng Thống, chỉ vì ông bảo tôi phải mang sang cho Trung Tướng Đặng văn Quang)

        -  Lần thứ hai ngày 1 tháng 3, với chú thích về mục tiêu tiến chiếm dự trù của Cộng Sản là Ban Mê Thuột . Đây là tin tức hết sức chính xác về mục tiêu và thời điểm tấn công của Bắc Việt: tiến chiếm Ban Mê Thuột vào tháng 3/75. Tôi cũng đã mang tay bản đồ và tin tức nầy đến trình cho Tổng Thống Thiệu, nhưng lần nầy thì ông bảo tôi mang sang cho Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng.. Tôi đã y lệnh thi hành. Dĩ nhiên tôi không biết với tư cách Tổng Tư Lệnh Quân Đội và Tổng Tham Mưu Trưởng hai ông đã có quyết định kịp thời về một “đường lối hành động” nào hay không . .

        10 giờ sáng:

        Tôi liên lạc với Đại Tá Nguyệt, Hải Quân, để đưa một số sĩ quan và quân nhân các cấp, khoảng 30 người xuống tàu, di tản theo Hải Quân. Trong số nầy có các Đại Tá Chuân, Đại Tá Đóa,v.v. thuộc Khối Nghị Hội / Ban Liên Hợp. Số anh em sĩ quan và nhân viên còn lại của Ban Liên Hợp, chúng tôi dự trù cũng sẽ xuống luôn bến Bạch Đằng khoảng 12 giờ trưa sau khi thu xếp việc tản thương xong cho một số anh em quân nhân và nữ trợ tá xã hội tử thương và bị thương đêm qua .

        11 giờ 30 sáng:

        Chúng tôi nghe thấy có tiếng súng liên thanh từ dưới đất bắn lên các phi cơ đang cố gắng cất cánh khỏi phi trường. Anh em cho biết là chiếc xe jeep mui trần có gắn liên thanh 12 ly 7 của đại úy Quân Cảnh / phi trường đang nằm ngay giữa các phi đạo bắn lên bất cứ loại phi cơ và trực thăng nào muốn cất cánh rời khòi phi trường. (sau ngày 30/4, đích thân tôi gặp đại úy Quân Cảnh nầy, mang súng lục đang đứng gác ngay tòa nhà Quốc Hội ở đường Tự Do. Thì ra đây là một tên Cộng Sản nằm vùng đã nhận lệnh của Cộng Sản từ trại Davis trong công tác ngăn chận không cho phi cơ cất cánh từ khuya ngày 29 tháng 4.)

        8 giờ 30 tối:

        Các trực thăng của Thủy Quân Lục Chiến Mỹ ồ ạt đáp xuống D.A. O. (Phòng Tùy viên Quân Lực Mỹ) ở ngay phía sau lưng tòa nhà chánh của Bộ Tổng Tham Mưu để bốc người Mỹ theo đúng tiến trình hành quân di tản của Hoa Kỳ . Không có một tiếng súng nhỏ lớn hay hỏa tiễn phòng không nào của Bắc Việt từ dưới đất bắn lên, điều nầy cho thấy rõ là giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt đã có một mật ước nào đó rồi cho thời gian và lộ trình di tản của Hoa Kỳ ."
Nguồn : http://ongvove.wordpress.com/2009/04/28/28-30041975-qua-c%E1%BB%B1u-d%E1%BA%A1i-ta-d%C6%B0%C6%A1ng-hi%E1%BA%BFu-nghia/


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: _new trong 06 Tháng Bảy, 2009, 07:29:06 pm
Em xin phép khoe sách tí  ;D:

(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/linh%20tinh/60ngay.jpg)


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Bảy, 2009, 07:12:10 am
        Bác số hoá nó cho mọi người xem đi!


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2009, 01:22:42 am
        Hình ảnh về các bên ký hiệp định Pari :

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Binhky.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Ky2.jpg)


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2009, 01:23:57 am

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Ky.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Myky.jpg)


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2009, 01:25:50 am
        Chữ ký của các bên trong hiệp định :

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/ChukyBinh-Trinh.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/ChukyLam-My.jpg)


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2009, 01:27:47 am
        Tân Sơn Nhất 1/1973

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/TanSonnhat1973.jpg)


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2009, 01:31:50 am
       Phía trước, phần gần cổng trại Đa-vít. Nhà màu trắng phía bên phải là hội trường, kiêm thư viện, kiêm nhà thi đấu các môn thể thao trong nhà ( bóng bàn, cầu lông , ... )

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Doan5.jpg)


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2009, 01:36:06 am
        Dãy nhà phía ngoài gần công trại Đa-vít dùng làm nhà kho, nhà để xe, nơi ở của bộ phận vệ binh và bảo vệ

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Davit1.jpg)
 

        Dãy nhà ở phía sau :

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Davit2.jpg)


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: altus trong 13 Tháng Bảy, 2009, 06:48:54 am
Cái trại Đa Vít này thì tôi có đọc bọn Mỹ nó kể khổ là HĐ đặt ra Ủy ban 4 bên, rồi Ủy ban giám sát, nhưng chẳng ghi ai chi tiền cho những hoạt động của các vị này. Tiền ăn uống điện nước đi lại các kiểu, nhà thầu Nam VN xuất hóa đơn, đều về tay Mỹ. Mang ra họp, đề nghị chia, đoàn nào cũng ngó lơ. Cuối cùng Mỹ đành bao tất.  ;)


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2009, 04:22:24 am
      Ở http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7565.0 #7 chúng ta đã theo dõi 1 góc nhin của 1 đại tá Quân lực Việt Nam Cộng Hòa về trại Đa-vít. Sau đây chúng ta theo dõi 1 góc nhìn khác của 1 ký giả người Pháp về Ủy ban Quốc tế và trại Đa-vit:

Tháng Tư Nghiệt Ngã
1975 - Sài gòn Thất Thủ

                                                                                 Olivier Todd
                                                                             (Dương hiếu Nghĩa dịch)

( trích )

        Từ ngày ký Hiệp Định, Air America thường được dùng để chuyên chở nhân viên của Ủy Ban Quốc Tế, kể cả các thành viên Ba Lan và Hung gia Lợi. Kể từ khi Ủy Ban đến SàiGòn, Polgar giải thích là nếu các thành viên của Ủy Ban Quốc Tế gồm có Gia nã Đại (sau nầy được Iran thay thế), Nam Dương, Ba Lan và Hung gia Lơị, mang theo phi cơ của họ nữa thì chắc chắn sẽ có nhiều tai nạn xảy ra lắm. Do đó ông đề nghị dùng phi cơ của hàng không Air America. Mọi người ai cũng biết phi cơ nầy là của CIA. Đại sứ Ba Lan đầu tiên của Ủy Ban trước kia là giám đốc hàng không LOT của Ba Lan nên rất am tường vấn đề và thúc đẩy các đồng chí Hung gia Lơi của ông nên chấp nhận đề nghị của Polgar. Đề nghị nầy giúp hai phái đoàn nầy tiết kiệm được ngoại tệ mà các nước Đông Âu nầy vốn thiếu. Và như vậy cũng tránh được tai nạn. Nhưng có một lần người của Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam đã bắn hạ hai trực thăng của Ủy Ban Quốc Tế. Một trong hai chiếc đó có chở một sĩ quan Bắc Việt

        Ủy Ban Quốc Tế có một Tổng hành dinh ở trong thành phố và các cơ sở khác thì đóng ở sân bay Tân sơn Nhứt. Nhiệm vụ của Ủy Ban là Kiểm soát và Giám sát việc ngừng bắn, nhưng họ không kiểm soát gì hết và cũng không giám sát được bao nhiêu. Do đó phía Gia nã Đại nhanh chóng mĩa mai chuyển danh từ tiếng Pháp CICS (Comité internationale de Controle et de Surveillance) ra tiếng Anh ICCS (International Committee of Control and Survey) để họ đọc trại ra là "I Can't Control Shit" (Tôi không kiểm soát được gì hết, tôi chỉ kiểm soát mấy cục gạch chơi thôi !) Người Miền Nam Việt Nam hằn học hơn dịch ra là "Im Cho Coi Sao" (ngồi yên lặng chơi để coi cái gì sẽ xảy ra !)

        Hiệp Định Paris dành trọn 18 điều khoản cho cơ cấu pháp lý nầy, trên nguyên tắc CICS ( Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát và Giám Sát Ngừng Bắn) thay thế cho CIC (Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến), một ủy ban "hữu danh vô thực " có mặt ở cả SàiGòn và Hà Nội từ 1954 cho đến 1973 mà không có làm gì hết. Phái đoàn Gia nã Đại thấy rõ là Ủy Ban không hữu hiệu nên họ nhanh chân rút lui khỏi Ủy Ban, và họ được phái đoàn hoàng gia Ba Tư (IRAN) thay thế. Như vậy Hoàng đế Ba Tư coi như bước vào sân khấu quốc tế.

        Các thành viên của Ủy Ban Quốc Tế nầy có nhiệm vụ phải đi điều tra mỗi lần một trong Hai Bên có báo cáo hay phản kháng về vi phạm Hiệp Định của phía Bên kia. Và trên nguyên tắc tất cả các quyết định của Ủy Ban đều phải đạt được sự "đồng thuận". Hai phái đoàn Ba Lan và Hung gia Lợi luôn luôn khước từ mọi sự điều tra vi phạm do Chánh Phủ SàiGòn yêu cầu, Từ đó hai phái đoàn Nam Dương và Ba Tư chán nản vì họ thường đơn phương đi điều tra. Dù công việc có trịnh trọng thì trên phương diện pháp lý những bản phúc trình của họ cũng không có giá trị (vì thiếu chữ ký của Ba Lanvà Hung gia Lợi).

        Ngày 10 tháng giêng 1975, một người Ba Lan và một người Hung gia Lợi cùng hai cộng sự viên Ba Tư và Nam Dương đồng ký tên trong một bản phúc trình xét thấy bất lợi cho Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam , trong quận Long Khánh nằm về hướng Đông Bắc SàiGòn 80 cây số. Khi về đến SàiGòn, được cấp trên của họ khiển trách và nhắc nhở, hai người Ba Lan và Hung gia Lợi nầy khai là họ bị bắt buộc phải ký vào văn kiện nầy mà không hiểu gì hết.

        Hiệp Định Paris dự trù triển khai 7 toán Quốc Tế ở địa phương để giám sát quân dụng khi có sự thay thế. Các thành viên của Ủy Ban Quốc Tế đều biết rằng phần lớn những toán địa phương nầy không bao giờ được thành lập và không bao giờ có mặt đầy đủ ở những địa điểm hay địa phương được quy định. Khởi đầu quân số của Ủy Ban Quốc Tế tính chung là 3.300 người . Tổ chức nầy lần lần trở thành một cơ cấu hành chánh nặng nề, tự nuôi sống lấy. Họ không có quan sát viên ở tỉnh Phước Long. Trường hợp rất điển hình: Việt Nam Cộng Hòa yêu cầu họ có thái độ, Phái đoàn Ba Lan và Hung gia Lợi thì đổ thừa là họ "thiếu tin tức" , Phái đoàn Nam Dương và Ba Tư đề nghị gởi các toán quan sát lên xem, Phía Ba Lan và Hung gia Lợi từ chối hẳn, viện lẽ "không có an ninh". Cho nên ở SàiGòn không có ai ngạc nhiên hết.

         Sỹ quan của Ủy Ban thường tổ chức tiệc tùng ăn uống, chơi tennis hoặc bơi lội ở Câu lạc bộ Thể Thao SàiGòn nhưng lúc nào cũng làm ra vẻ tài phán. Các báo cáo phản kháng vi phạm thì luôn luôn bị xếp xó bằng phủ quyết để không đi đến đâu cả. Trong những phiên đại hội, người ta không bàn cải về Phước Long, trừ khi để lấy một quyết định quan trọng và nhanh chóng là người ta không thể làm gì hết. Người ta dùng thì giờ để bàn cãi những chuyện thiết thực hơn như : tại sao hồ bơi ở Tân sơn Nhứt không chịu thay nước mỗi ngày ? Tuần nầy chúng ta được cấp bao nhiêu xăng ? Giá mỗi phần ăn ở Câu lạc bộ có cao lắm không ? Làm sao cho sửa chữa các máy điều hòa ? Chiều nay phái đoàn nào sẽ đại diện cho Ủy Ban chúng ta ở Tòa Đại sứ Pháp ? và ngày mai ở Tòa Đại sứ Úc Châu ? Các phái đoàn sẽ cho trình chiếu phim gì ở phòng chiếu bóng ?..... v.v...


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2009, 04:25:01 am
        Đối với người Ba Lan và Hung gia Lợi thì đây là chuyến du hành đầu tiên ra nước ngoài của họ. Họ chóa mắt về đồng lương được trả bằng mỹ kim cho họ. Họ di chuyển trong thành phố bằng những xe buýt có lưới che ngừa lựu đạn, thăm viếng các đình chùa, mua sắm nữ trang và vàng, chơi gái và học cách chơi bóng bầu dục của Hoa Kỳ . Trong những buổi dạ hội ở SàiGòn tướng Czeslaw nặng nề và đại sứ Fijalkowski mảnh dẻ hơn, đều tỏ ra bình dân. Họ hôn tay kiểu Ba Lan rất là vui vẻ và lịch thiệp. Tướng Dega còn làm ngạc nhiên nhiều người khi ông cất tiếng ca tụng "cuộc cách mạng trắng của hoàng đế Ba Tư " và những "dự án cải cách đầy cao vọng" của Ngài. Tướng Dega chơi thân với Tùy viên Quân lực của Pháp, Đại tá Yves Gras, một sử gia chu đáo về trận chiến tranh của người Pháp ở Đông Dương nhưng hiểu rất ít về cuộc chiến hiện tại. Hai sĩ quan nầy thảo luận về Nã phá Luân, về bà Walewska, về ông tướng Foch. Đại tá nầy khá đấy chứ. Ông ta tâm sự với tướng Ba Lan :

        -" Bài toán Việt Nam quá rắc rối để người ta có thể giải quyết bằng "chánh trị đô la"

         Người Ba Lan biết rành Việt Nam hơn người Hung gia Lợi. Họ có đại diện ở Miền Bắc và ở Miền Nam từ hơn 20 năm nay rồi. Nhiều người Ba Lan đã dùng phi cơ của Ủy Ban Quốc Tế trên các chuyến bay con thoi nối liền SàiGòn và Hà Nội mỗi thứ sáu hàng tuần. Còn người Hung gia Lợi thì chuyên lo tìm tin tức có lẽ vì họ cần phải theo kịp các đồng chí Ba Lan của họ về mọi sự hiểu biết. Họ cứ mang máy ảnh đi quanh quẩn các cầu, các trại lính, các căn cứ không quân, các kho đạn v.v.. Người dân Miền Nam giận lắm, họ khiếu nại. Làm gì được họ ? Các thành viên của Ủy Ban Quốc Tế đều có quyền đặc miễn ngoại giao. Người Ba Tư thì rất là mềm mỏng và hiếu khách. Họ cung cấp cho mọi người món trứng "caviar" để nhậu với rượu vodka của Ba Lan hay với rượu vang của Hung gia Lợi. Riêng người Nam Dương thì làm việc hoàn toàn trong tinh thần của Hiệp Định Paris. Họ luôn luôn có mặt bất cứ chỗ nào có nhận tiếp tế từ viên đạn thường đến viên đạn pháo, họ đánh giá và so sánh lực lượng , và tính sổ hết các vi phạm.

        - " Tại sao các ông hoạt động tích cực như vậy ? Polgar hỏi thử một sĩ quan cao cấp Nam Dương.

        - "Chúng tôi có lẽ phải chiến đấu với người Việt Nam , không phải trong hiện tại đâu, mà có lẽ một ngày nào đó....

        Trong hai năm, người Ba Lan, Hung gia Lợi và người Mỹ, dân chính hay quân nhân, họ đều gắn bó với nhau. Dù sao họ cũng đều là người da trắng, đối diện với người Việt Nam dù họ là người quốc gia hay cộng sản thì cũng khó mà nắm được họ lắm khi người ta từ Budapest (Hung) hay từ Varsovie (Ba Lan) hay từ Hoa thạnh Đốn xa xôi tới. Hơn nữa, giữa những người công chức cao cấp hay những quân nhân nhà nghề vẫn có sự tương quan với nhau. Mặc kệ ý thức hệ hay sự rủ rê của người nầy người kia. Các phái đoàn của Ủy Ban Quốc Tế đầy sĩ quan tình báo. Họ lùng bắt những người đào ngũ nhưng không bao giờ thành công. Ở trong Ủy Ban Quốc Tế người ta không giám sát chiến sự ở Việt Nam mà người ta giám sát kỹ người nầy người kia trong nội bộ. Các sĩ quan Ba Lan và Hung Gia Lợi canh chừng các đồng chí đảng viên cộng sản của họ, điều nầy làm cho CIA nhẹ lo. Polgar nói: " Có việc làm cho tất cả mọi người . Ngay như anh có tiểu tiện vào đại dương thì anh cũng có thể làm tăng mực nước biển lên được vậy

         Ông Đại sứ Graham Martin cũng tỏ ra một thái độ lịch sự với người Ba Lan. Khi Đại sứ Ba Lan tới SàiGòn ông ta có đến chào người bạn đồng sự Hoa Kỳ . Trái lại Đại sứ thô kệch Hung gia Lợi kia đã coi thường thủ tục nầy, cho nên ông Martin không gặp ông ta bao giờ.

        Trái lại ông Polgar thì liên lạc chặt chẻ và rất tốt với người Hung gia lợi, nhất là với đại tá Janos Toth và cố vấn chánh trị Antyon Tolgyes. Polgar gốc người Hung gia Lợi. Đại tá Toth chỉ huy cơ quan tình báo Hung. Là đồng nghiệp với nhau hai người thích nhau lắm, mà cũng rất dè dặt nhau. Để thấy rõ trong lãnh vực mênh mông của ngành tình báo nầy, và để giúp đỡ lẫn nhau, Polgar và Toth đặt ra một phương thức tài tình mới lạ lắm: vào một giờ nào đó, ở hai địa điểm tại SàiGòn , một nhân viên CIA và một sĩ quan tình báo Hung mỗi người thuyết trình cho nhau nghe về tình hình của phe bên kia. Một phương pháp rất kín đáo: người Hoa Kỳ và người Hung không thể gạt nhau hay báo cáo sai với nhau được hay dùng lại những gì họ tin cậy trao đổi cho nhau. Nhưng trong tiến trình cuộc chơi nầy hình như phía Ba Lan muốn lợi dụng. Sỹ quan của họ mặc thường phục, đi vào Tòa Đại sứ Hoa Kỳ và được Frank Snepp, một cộng sự viên của Polgar tiếp.

        Theo chỗ riêng tư mà nói thì trước mặt người Mỹ người Ba Lan chê người Hung, và ngược lại người Hung cũng chê người Ba Lan. Rất có lễ độ, người Mỹ than phiền giùm cho Miền Nam . Các sĩ quan thuộc hai phái đoàn Hung và Ba Lan thật thà thú thật rằng họ cũng khó xử với những đồng chí cộng sản Việt Nam

        - " Những đồng chí Việt Nam của chúng tôi can đảm thiệt, bướng bỉnh và cương quyết lắm, nhưng rất khó mà hiểu được họ lắm.

        Mặc dầu họ cố nài nỉ nhưng các sĩ quan Hung và Ba Lan không thể biết được một tin tức nào từ các đồng chí cộng sản Việt Nam về sự kiện họ chiếm tỉnh Phước Long. Niềm nở hơn, người Mỹ đã cho các thành viên của Ủy Ban biết diễn tiến của sự việc.

        Các đồng chí cộng sản Việt Nam của họ cũng có mặt ở Sài Gòn, với một số không ít hành trang, và một vài vũ khí, đóng ngay sân bay Tân sơn Nhứt từ năm 1973 : 250 binh sĩ và sĩ quan việt cộng - có nghĩa là thuộc CPLTCHMN- và lối 50 bộ đội và sĩ quan Bắc Việt , khó tiếp cận lắm vì nụ cười của họ không khác biểu ngữ bao nhiêu. Họ đóng trong những dảy nhà thẳng hàng nhau, có kẽm gai và bao cát bao quanh, dĩ nhiên dưới sự dòm ngó canh chừng từ các chòi gác của binh sĩ Miền Nam . Họ là thành phần thuộc Hai trong Bốn Bên có liên quan đến cả 19 điều trong Hiệp Định Paris. Binh sĩ thuộc CPLTCHMN thì mặc quân phục màu xanh lá cây, còn bộ đội Bắc Việt thì mặc quân phục màu be, gọn ghẽ hơn chút. Các đại diện CPLTCHMN thì nói toàn giọng Bắc.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2009, 04:28:04 am
        "Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên" gồm có Hoa Kỳ, quân đội Miền Nam , Miền Bắc , và bộ đội của CPLTCHMN. Họ có nhiệm vụ tìm người chết và mất tích.

"Ban Liên Hợp Quân Sự 2 Bên" chỉ gồm có đại diện của SàiGòn và của CPLTCHMN

        Cả hai Ban Liên Hợp nầy phải đi theo các Tổ Quốc Tế khi được họ chánh thức báo cho biết lộ trình và khi được yêu cầu. Trong hai năm nay, hai Ban Liên Hợp nầy coi như không còn hoạt động gì hết. Khi các sĩ quan Ba Lan và Hung Gia Lợi hỏi các sĩ quan việt cộng tin tức của trận chiến ở Phước Long thì họ chỉ cười trừ : "chúng tôi không hay biết gì hết "

        Cộng sản ít khi ra khỏi trại của họ, được gọi là "trại Davis". Tên của một binh sĩ Mỹ tử trận đầu tiên ở Việt Nam . Trong tài liệu, báo chí sách vở của họ, cộng sản cũng gọi là "trại Davis". Có hai dãy trại, một cho bộ đội Bắc Việt, một cho CPLTCHMN. Khi mới tới đây, cộng sản và nhất là tướng Trần văn Trà, đại diện cho CPLTCHMN, (về sau nầy là người có trách nhiệm các cuộc hành quân ở Phước Long) thấy nhiều bộ phận thâu âm được gắn cùng khắp, từ ngoài sa lông đến phòng ngũ phòng tắm. Toàn là của người Mỹ.

        Hiền hậu quá, nên tướng Trà được tướng Hoàng anh Tuấn thay thế, cương quyết hơn. Nhưng trên thực tế, nhân vật quan trọng ở trại Davis năm 1975 là đại tá Võ đông Giang. Đó là nguyên tắc ngoại giao bôn sơ vích: người số 2 chánh thức có trách nhiệm hơn người số 1. Binh sĩ cộng sản tổ chức trồng rau, trồng bông và trồng cây trong trại, và cũng làm công tác gián điệp nữa. Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Bắc Việt , tướng Văn tiến Dũng đã thường nói : " Các đồng chí của chúng ta ở Tân sơn Nhứt giữ một vị trí đặc biệt, ngay giữa lòng địch. Điểm quan sát triền tiêu đó là biểu tượng của cuộc cách mạng của chúng ta, và từ vị trí tốt đó họ sẽ giúp chúng ta biết được dư luận hằng ngày và những phản ứng của địch trước giờ hấp hối của họ".

        Phái đoàn cộng sản ở trại Davis không ngừng trao đổi điện tín với Hà Nội . Tướng Văn tiến Dũng giải thích một cách chân thật : " Ban Quân Sự Hỗn Hợp của tướng Hoàng anh Tuấn cho Hà Nội tin tức trong ngày thật nhanh về những cuộc điều động binh sĩ mà phái đoàn nhận được từ nhiều nguồn tin kể cả từ công tác quan sát trực tiếp." Thật vậy, không chỗ nào có thể quan sát được hết các chuyến bay bằng vị trí nầy

        Nỗi ưu tư chính của phái đoàn cộng sản ở trại Davis là được bảo đảm từ phía người Mỹ không quấy nhiễu bằng cách chen vào phá mật mã của họ. Hoạt động chánh yếu của họ là cuộc họp báo vào mỗi sáng thứ bảy hàng tuần, ngay dưới chân dung Hồ chí Minh hay dưới các ảnh bán thân của các cấp lãnh đạo của họ. Báo chí chẳng biết được gì cả. Sau tuần trà, nuớc cam hay thuốc lá, (thuốc lá Điện Biên Phủ loại đen trong các bao xanh, hay thuốc vàng trong bao đỏ), các sĩ quan cộng sản đem chuyện phản kháng ra trình bày với cái lưỡi cây truyền thống của họ: SàiGòn và Hoa Thạnh Đốn vi phạm Hiệp Định. Họ phải chịu trách nhiệm về các vi phạm lệnh ngừng bắn. Họ không tôn trọng tinh thần Hiệp Định, Họ không cho những binh sĩ cộng sản của chúng tôi vô ra dễ dàng trại Davis v.v....

        - "Ở Phước Long, lực lượng của chúng tôi đang trả lời cho những khiêu khích của chế độ SàiGòn ", họ xác nhận như vậy.

        Tuy nhiên, trong tỉnh Phước Long bộ đội Bắc Việt đã vi phạm rõ ràng các điều khoản chính của Hiệp Định Paris. Từ năm 1973, bộ đội Bắc Việt không bao giờ tôn trọng lệnh ngừng bắn. Hà Nội đã cho quân đội "xâm nhập" và đưa quân dụng vào Miền Nam tự do không bao giờ kiểm soát được.. Quân đội Bắc Việt dùng các căn cứ Lào và Cam bốt. Chỉ có một điều khoản duy nhất mà Hà Nội không vi phạm : đó là vùng phi quân sự ở vĩ tuyến 17 không bị họ tràn qua như trong năm 1972

        Chuyện hết sức lạ lùng là Trại Davis đã có ghi trong Hiệp Định. Những người cộng sản ở trại Davis nầy đã đến từ Hà Nội và từ chiến khu của họ ở Miền Nam, trì chí, dạn dày, đã xác nhận về trận tấn công của họ vào Phước Long, như một "đêm giữa ban ngày". Họ sống ở đây từ gần 2 năm rồi, chỉ cách Văn Phòng Tùy Viên Quân Lực Hoa Kỳ và các dinh thự của các tướng lãnh Miền Nam có vài trăm thước. Một sự hỗn độn lạ kỳ, kiểu SàiGòn. Chúng ta hãy tưởng tượng xem trường hợp của một toán truyền tin quân sự Hoa Kỳ hay Nga Sô ở ngay tại thủ đô Bá Linh của Đức trước ngày chấm dứt Thế Chiến Hai. Hay vài đại đội của Đức Quốc Xã ở ngay tại thủ đô Luân Đôn năm 1944 !

        Ở Hà Nội người ta gặp các sĩ quan Ba Lan và cũng có vài sĩ quan liên lạc Hoa Kỳ , chỉ trong vài tiếng đồng hồ thôi không hơn không kém.

        Sự có mặt của cộng sản ở trại Davis chọc tức ông Thiệu, người ta biết như vậy. Hồi năm 1973 khi những binh sĩ cộng sản nầy tới Tân sơn Nhất (SàiGòn), chánh quyền muốn họ phải điền vào các phiếu nhập cảnh. Nhưng họ từ chối vì họ không muốn đương nhiên công nhận chủ quyền của Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa . Và vì thế mà họ không được cho nhập cảnh. Sau nhiều giờ ngồi trên phi cơ chờ đợi, và sau nhiều áp lực của phía Hoa Kỳ, hai phái đoàn Hà Nội và CPLTCHMN mới được ra khỏi phi cơ (Mỹ) và được chở thẳng vào trại Davis.

        Sau khi tỉnh Phước Long bị hoàn toàn thất thủ, ông Thiệu nghĩ tới chuyện trả thù những người cộng sản ở trại Davis. Chỉ có một phương thức bắt bí bọn nầy thôi: cúp nước. Nhưng ông không làm như vậy được , vì lý do nhân đạo.

Nguồn : http://tusach.vietnhim.com/showthread.php?t=686&page=3


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Chín, 2009, 05:33:52 am
Thêm 1 chuyện trong đấu tranh ngoại giao

Ngày 31/1/1973

Nhận được tin: đi theo đoàn Liên hiệp quân sự 4 bên làm tin, ảnh, đóng vai sĩ quan. Chưa biết cụ thể ra sao.

Ngày 1/2/1973

Chạy nháo khắp nơi để liên hệ về việc đi công tác. Mệt bã ra, không muốn ăn uống gì cả.
Gặp Như Cảnh - thiếu tá - anh quen tôi từ trước và chuyến này cùng đi trong đoàn Liên hiệp quân sự 4 bên vào Đà Nẵng. Vui quá.
Anh cho biết: sẽ chuyển qua sinh hoạt quân đội - trang bị cũng vậy.
Sáng mai sẽ đi Trà Mi - có máy bay lên thẳng đón ở đó.
Các anh lãnh đạo căn dặn khá nhiều. Vinh dự lớn lao, trách nhiệm nặng nề - tôi sẽ cố gắng hết sức mình để hoàn thành nhiệm vụ.

... Những ngày chờ đợi sốt ruột. Nằm ở gần sân bay mà đón Tết, một cái Tết long đong, nghèo về vật chất mà háo hức. Đêm 30, ngồi trên võng, dưới những lùm chuối, đón giao thừa. Bắt đầu từ ngày một, sáng nào cũng ba lô gọn gàng chờ ra sân bay mà hụt mãi. Cơm thì chỉ có rau với mắm.

... Chính trong những ngày này, khu V chúng tôi lại diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt với kẻ địch. Chỉ sau khi Hiệp định Pari về Việt Nam có hiệu lực 3 ngày, địch dã giở mặt, lấn chiếm vùng giải phóng. Ta phải chống lấn chiếm. Địch nống ra vùng giải phóng. Ta tổ chức nhiều mũi nhọn thọc sâu vào các thị trấn, thành phố tạm thời dưới quyền kiểm soát của chúng, làm cho hậu cứ của địch mất ổn định. Khẩu hiệu của chúng ta là Một tấc đất, một tấc vàng - Một góc gíang san, một dòng máu đỏ, quyết giữ các chốt điểm, nơi cắm cờ Mặt trận dân tộc giải phóng. Chiến sự diễn ra phức tạp và ác liệt. Địch đã chiếm được chốt điểm Bàn Tân - Lâm Phụng trên tuyến đường 14 của ta, nằm trên vùng đất Đại Lộc. Chiến sự tiếp tục ác liệt. Mười ngày sau, chúng chiếm chốt điểm trên đồi Dương Thông thuộc huyện Duy Xuyên.

Ngày 11/2/1973

Được thông báo trước, anh em vệ binh đem vải trắng ra sân bay làm dấu hiệu cho máy bay xuống: căng thành một hình chữ thập, mỗi chiều dài 30 mét. Hôm nay, máy bay lên thẳng Mỹ sẽ đưa anh Diễm, sĩ quan liên lạc của đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam trong ban Liên hợp quân sự 4 bên ở Trung ương đến.

12 giờ 45 phút, có tiếng động cơ phành phạch, lượn rất thấp. Vì ở xa, khuất cây, chúng tôi không nhìn thấy máy bay. Tiếng động cơ cứ nổ rền vang mãi. Khoảng 10 phút sau thì nhỏ dần và tắt hẳn.

Ngoài sân bay gọi điện thoại vào cho biết: chúng chỉ đưa anh Diễm xuống, hẹn ngày 12 sẽ đến đón anh Diễm và ngày 13 tới đón cả đoàn đi.
Mãi vẫn không nghe tiếng máy bay cất cánh. Anh Dũng nói: “Hơn nửa giờ rồi, bọn này ở lâu hè, thiện chí hè”. Anh cười, nói thêm: “Bọn nó thường chỉ xuống bắt tay mình rồi xin lỗi, đi luôn, đâu có dám ngồi lâu nói chuyện với mình?” Gần 2 giờ sau, anh Diễm đến. Anh xách một cái túi du lịch nhỏ, đi giày đen, mặc bộ quân phục bay bằng vải K.T khá đẹp. Anh em xúm lại thăm hỏi anh. Anh cho biết bọn Mỹ, ngụy lái máy bay rất sợ hãi khi phải bay vào vùng giải phóng. Trước khi đi, chúng đòi anh ký vào biên bản bảo đảm an toàn cho chuyến bay. Anh không chịu ký, với lý do: “Tôi đi từ Sài Gòn ra đây, đi trong vùng các ông kiểm soát rất nhiều mà có cần các ông viết giấy bảo đảm đâu?”. Bọn chúng đùn nhau, không thằng nào chịu lái đi. Có lẽ chúng không muốn là kẻ chết cuối cùng của cuộc chiến tranh này.

Khi bay, chúng luôn giở bản đồ chỉ đường bay cho anh Diễm xem và hỏi: “Liệu phía các anh có bắn lên không?”. Anh Diễm trả lời: “Tôi cùng ngồi trên máy bay nên cũng không trả lời chắc chắn cho các anh được. Nhưng lực lượng vũ trang của chúng tôi rất tôn trọng Hiệp định”.

Tới sân bay, chỉ một chiếc hạ cánh, còn một chiếc chỉ quần lượn quanh sân bay. Các sĩ quan liên lạc Mỹ, Sài Gòn, cả phi công, đều vội vàng bắt tay, chào ta rồi lên máy bay đi, không vào nhà uống nước.
Anh Diễm cho biết, khi từ Lộc Ninh vào Tân Sơn Nhất, anh và đồng chí trưởng đoàn vừa xuống khỏi máy bay, liền bị bọn quân cảnh vây quanh. Chúng nhìn chòng chọc vào mặt và chụp ảnh lia lịa, chụp từ đầu tới chân. Phải phớt lờ, coi như không có chúng.

Anh em tiếp tục nghiên cứu Hiệp định và các Nghị định thư, đồng thời bàn kỹ phương án đấu tranh với đối phương.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Chín, 2009, 05:34:28 am
Ngày 13/2/1973

Máy bay đến chở anh Diễm về.
Sân bay của ta có 2 cột cờ cắm cờ cách mạng miền Nam Việt Nam và cờ hòa bình. Nhà tiếp khách lợp tranh nhưng trang trí cũng khá đẹp mắt.
12 giờ 50 phút, có tiếng máy bay từ hướng Đông. Sau đó, xuất hiện 2 chiếc bay khá thấp. Anh em vệ binh ném một quả mù, tỏa khói vàng mù mịt. Vẫn như hôm qua, chỉ một máy bay hạ cánh, còn một chiếc quần lượn quanh sân bay. Các sĩ quan và phiên dịch Mỹ, Sài Gòn bước xuống, chụp ảnh lia lịa. Một phiên dịch Sài Gòn mượn cái mũ cứng của anh phiên dịch ta, có gắn quân hiệu Sao vàng trên nền xanh đỏ, để đội vào chụp ảnh kỷ niệm. Lần này thì họ vào nhà tiếp khách trong khi phi công vẫn ở máy bay và máy bay vẫn nổ máy.

Ta tiếp đón cũng khá lịch sự. Mọi người đều bắt tay nhau, cười vui vẻ. Sĩ quan liên lạc Mỹ là đại úy Đanien, người không cao to lắm, tóc mềm, màu hung, da đỏ hồng, hay cười. Còn sĩ quan liên lạc Sài Gòn là đại úy Lộc, người nhỏ bé - anh ta có một cái máy ảnh nhỏ, chụp rất nhiều. Phía ta, có anh Diễm và anh Thanh, thiếu tá.

Bia, kẹo, thuốc bày ra nhiều nhưng dùng ít. Trong tiếng máy bay rền vang, câu chuyện tiếp diễn khá khó khăn và vội vã. Cuối cùng, đã giải quyết chớp nhoáng mấy vấn đề:
- Trao đổi tần số, giờ liên lạc máy PRC 25.
- Đồng ý để anh Thanh và Hanh (phiên dịch) vào Đà Nẵng trước, bàn về chỗ ăn ở. (Điều này tưởng sẽ khó khăn nhưng lại khá dễ dàng được giải quyết).
- Đanien hẹn sáng mai, 8 giờ, sẽ đưa máy bay đón đoàn đi (nếu ta đồng ý). Mỗi chuyến 3 chiếc - cứ 2 giờ 45 phút một chuyến. Chở đến hết thì thôi và Đanien sẽ ở lại sân bay điều khiển việc lên xuống máy bay.

Anh em đem thuốc và bia ra cho phi công Mỹ - 3 đứa. Lái chính là một tên khá già, ria mép màu hung, rậm, dài, người cao to sù sụ.
Hai tên kia còn rất trẻ, cao nhưng không to lắm. Chúng uống bia, hút thuốc và cám ơn ta. Anh Kháng đưa một bao Thăng Long cho một tên, nó đưa lại một bao thuốc Mỹ và nói: “Hoà bình! Hữu nghị!”. Nói chung, bọn Mỹ rất sốt sắng trong việc liên lạc với ta, rút quân. Có lẽ chúng cũng quá ê ẩm với cuộc chiến tranh thua thiệt này. Tuy nhiên, chúng không chịu phá bỏ căn cứ quân sự mà chuyển giao cho quân nguỵ.
Trời nắng nhưng nhiều mây.

Ngày 14/2/1973

Theo hiệp đồng, hôm nay máy bay Mỹ sẽ đưa anh Thanh trở lại.
Đêm trước, trời tập kích một trận mưa dữ dội. Hôm nay cũng mưa lắc rắc. Đợi mãi không có máy bay.

Một số vị đến định tiễn đoàn đi: anh Hồ An và một số ở Mặt trận, Phụ nữ, cả anh Phú và Trần Đống (điện ảnh) nữa - vì tưởng hôm nay đoàn lên đường, sẽ quay phim làm tài liệu.

Theo điện của anh Diễm, sự việc diễn biến như sau: máy bay không đáp tại nơi ở của đoàn mà đáp tại sân bay Đà Nẵng. Bọn ngụy bắt thiếu tá Thanh và thượng sĩ phiên dịch Hanh làm giấy căn cước và gửi 2 anh lại sân bay - 2 anh không chịu làm - đòi đưa trở lại Trà Mi - chúng đồng ý và hẹn sẽ đưa về trong ngày nay - nhưng tới tối, vẫn không thấy máy bay lên.

Phải dự kiến trước phương án đấu tranh nếu địch bắt giữ 2 đồng chí của ta. Anh Chính được phân công viết điện báo cáo lên trên. Anh Cảnh viết sẵn tuyên bố về việc đó, khi cần là công bố để đấu tranh.
Các đơn vị, địa phương đang chuẩn bị để tiễn đưa đoàn vào Đà Nẵng cho có khí thế: tổ chức đội ngũ, cờ, hoa, khẩu hiệu. Đoàn cũng đã chuẩn bị diễn văn để đọc tại sân bay.

Trong khi đó, chiến sự vẫn diễn ra sôi động ở khắp nơi. Ngồi đây, nhìn thấy cờ hòa bình bay phấp phới trên cột cờ đầu sân bay, và vẫn nghe rõ tiếng pháo nổ uỳnh oàng phía Bắc, thỉnh thoảng nghe mấy loạt B52 nổ rền phía xa.
 
Ngày 15/2/1973

Anh Thanh điện về: hôm đến sân bay bị đối phương bắt làm thủ tục, anh không làm. Tới đó, các anh ở chỗ đoàn quân sự Mỹ.

Sáng hôm sau, Đanien và Lộc đến báo giấy tờ đã làm xong, mời về chỗ Ban Liên hiệp quân sự 4 bên ở. Anh Thanh đến kiểm tra, thấy chỗ ở chưa ổn: nhà trưởng, phó đoàn chưa có, cán bộ thì xếp ở tập thể. Đang tiếp tục bàn, đòi tạo điều kiện ở tốt hơn. Sáng mai, máy bay sẽ đưa anh Thanh về.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Chín, 2009, 05:35:33 am
23/2/1973 - Lần thứ 3 giáp mặt

Theo hợp đồng, hôm nay đối phương đưa đồng chí Thanh về báo cáo với đoàn. Đồng chí Thanh sẽ làm việc khoảng 3 - 4 tiếng, sau đó lại vào Đà Nẵng. Trong khi đó, sĩ quan liên lạc và phi công đối phương sẽ chờ tại sân bay.

9 giờ 45, có tiếng máy bay phành phạch. Lát sau, từ phía Bắc xuất hiện một chiếc trực thăng. Nó bay thẳng tới hướng sân bay với cái vẻ hăm hở và thành thạo. 4 khoanh mầu đỏ da cam sơn quanh đuôi, quanh bụng nó nổi lên khá rõ. Nó sà tới, vòng một vòng rồi hạ xuống sân bay. Khác hẳn mấy lần trước, lần này không có một chiếc khác quần trên bầu trời yểm trợ cho nó và nó không nổ máy rền rĩ trong khi chờ đợi nữa. Nó đứng im lìm giữa sân bay, cánh quạt giang rộng, hơi trùng xuống, như con chuồn chuồn khổng lồ đang ngủ.
Anh Thanh về thẳng nơi làm việc.

Sĩ quan và phi công đối phương được mời vào nghỉ ở phòng khách. Những chiến sĩ bảo vệ được phân công gác máy bay, bồng súng đứng nghiêm túc. Thái độ thiện chí của ta làm những phi công Mỹ yên tâm và họ mau lẹ rời khỏi máy bay, vào nhà khách. Trời nắng và nóng điên người. Trong nhà có bia, nước trà “Thanh Tâm”, rất cần thiết cho họ.
Đầu tiên vẫn là những câu chuyện xã giao. Thiếu tá Giôn Pi Kennơđi - trưởng phi hành đoàn - nói anh ta 32 tuổi, có vợ, con bên Mỹ, nhà có cả ô tô. Anh ta tóc đen, mày rậm, mắt xanh đậm đà, môi đỏ chót - nói chung, trông mặt anh ta màu sắc loè loẹt như một con vẹt. Đại úy Lộc - sĩ quan liên lạc ngụy - hỏi đến lương, anh ta khoe được 2.000 đôla một tháng. Nhân đó, Thành - phiên dịch viên ngụy - hỏi:
- Còn lương các ông bao nhiêu?

Một sĩ quan ta trả lời:
- Quân đội Giải phóng không ăn lương. Đồng bào cung cấp bao nhiêu thì chúng tôi có bấy nhiêu.

Lộc nói rằng anh ta đã đóng quân nhiều ở miền núi: Tu Lang, Bến Giằng, Tiên Phước, Trà Mi. Một sĩ quan ta hỏi:
- Về đời sống, anh thích gì?
- Tôi thích hội hoạ.

Anh ta cười, trả lời bằng giọng Huế khá lịch thiệp. Anh ta nói tới những bức tranh đẹp. Với con mắt nhìn ra xa, hơi mơ mộng, có vẻ đang quay về với dĩ vãng, anh ta nói:
- Trước tôi làm đại đội trưởng, đóng đồn ở Trà My, trên gò cao kia. Tôi muốn trở lại thăm nơi ở cũ, xem còn kỷ niệm gì, các anh cho phép chứ?

Anh Tiết, phụ trách sân bay, vội đáp:
- Cũng được thôi!
Thiếu tá Nhung - phụ trách vấn đề bảo vệ của đoàn - cười cười:
- Đại úy đi cũng được, nhưng bây giờ lau lách mọc đầy, sợ phải chui rúc, mệt.
Lộc hỏi lại:
- Vậy ra không có đường lớn?
- Đại úy coi đấy, trước đây có ai ở vùng này, lau lách, cỏ dại mọc đầy cả.

Bây giờ có chuyện đón đoàn, chúng tôi mới về đây phát sân bay, dựng tạm mấy ngôi nhà.
Lúc này, Thành chăm chú lắng nghe. Anh ta khá cao, mặt đầy những mụn trứng cá, trông sù sì và đỏ như da gà trọi. Anh ta chợt đề xuất:
- Nóng quá, chúng ta ra sông tắm được chứ?
- Vâng, mời các anh đi!

Sĩ quan ta đáp ứng ngay lời yêu cầu ấy. Mọi người đi dọc sân bay, rẽ qua phải, xuống bờ sông. Qua mấy hố bom mà bọn B.57 thả cách đây ít ngày, khi lệnh ngừng bắn sắp có hiệu lực, không ai nói một lời nào. Những phi công liếc nhìn những hố bom với đám cây cỏ nát nhừ còn xám ngoét màu thuốc nổ, rồi vội nhìn ra sông. Còn sĩ quan của ta thì nhìn thẳng vào mặt họ. Lúc này, tốt nhất là để sự thật nói lên lời.
Bãi sông trắng loá, trống trải, chẳng có gì hấp dẫn cả. Nhìn xuôi, nhìn ngược cũng chỉ thấy cát và đá trắng cùng với làn không khí bị nung nóng khẽ xao động. Mọi người đi dạo trên bờ sông chứ không tắm. Rồi lại quay về.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Chín, 2009, 05:36:13 am

Càng về trưa, câu chuyện càng sôi nổi. Lộc có vẻ cởi mở:
- Tôi nhập ngũ năm 1952, nhanh thật, 21 năm rồi!
Có lẽ vì cái không khí cởi mở ấy mà một sĩ quan ta buột miệng:
- Anh cũng giống tôi, cùng năm nhập ngũ, cùng cấp bậc!
Lộc cười rộng miệng, nheo cả mắt lại.
Tới giờ ăn cơm, đoàn để 2 sĩ quan tiếp “khách”. Bữa ăn khá đàng hoàng: gà quay, khoai rán, miến xào, canh cải.

Khi chúng tôi trở lại, hai phi công đã ra máy bay và mọi người vẫn đang nói chuyện rôm rả. Thấy tôi, Thành khoe:
- A, anh có cái ảnh chụp với tôi rất đẹp.

Tôi nhớ hôm nọ lúc tôi đứng gần Thành, Lộc có đưa máy lên chụp. Tôi cười:
- Vâng, cảm ơn anh!
Lộc ngồi tận phía trong, nói to:
- Chà, ảnh đẹp lắm, ai coi cũng nói anh Thành chụp chung với con gái. Bây giờ thì thấy đó, con trai chứ không phải con gái đâu nghe!
Hai sĩ quan Mỹ ngơ ngác nhìn và khi được nghe dịch lại, họ cũng cười thích thú.

Câu chuyện lại tiếp diễn và Lộc cứ khen mãi bữa cơm thịnh soạn. Anh ta xuýt xoa:
- Rô ty gà thật giỏi, vừa ngon. Rô ty gà là khó lắm nghe, quá là cháy, còn không lại sống!

Thành vừa san sẻ 2 cốc nước qua nhau cho mau nguội, vừa gật gù:
- Khó thật đó! Không biết là có bàn tay phái đẹp trong ấy không? Chà, cũng muốn thấy mặt các cô quá!
- Tới hôm đoàn đi, ở đây tiễn đưa, sẽ thấy!
Một sĩ quan ta trả lời và biết mình lỡ lời, anh vội im.
Rót một cốc nước khác, lại san sẻ qua cốc khác cho mau nguội, Thành tấm tắc:
- Nấu nướng khéo thiệt đó. Ngay cả mấy lát khoai cũng cắt thành hình ngôi sao, rán vàng thật đẹp.
Thiếu tá Nhung cười:
- Anh em chúng tôi cũng yêu mỹ thuật lắm. Tuy ở rừng núi, chúng tôi làm việc cũng có giờ giấc, vẫn vui hát, chơi thể thao.

Lộc tán dương:
- Tôi cứ nghĩ các ông ở rừng chắc xanh xao lắm, không ngờ lại đỏ đắn, mạnh khỏe vậy. Các ông cũng có chơi ban à?
- Có chứ, bữa tết, anh em chúng tôi tổ chức đấu bóng chuyền, vui lắm.
Thành mừng rỡ:
- Vậy à? Vậy thì chúng ta tới sân bóng, đánh chơi!
Lộc tán thành:
- Phải đó, nếu cần thì phía Việt Nam mình ở một đội, cho phía Hoa Kỳ một đội, đấu thử!

Đanien khoái chí:
- Được, chúng ta đánh bóng với nhau!
Anh Nhung cười:
- Vâng vâng, chúng tôi sẵn sàng đánh ban với các anh, nhưng để khi xuống đó đã. Chứ sân ban ở xa lắm, lại sắp tới giờ các anh phải đi rồi, làm sao kịp?
Thành xoa xuýt vẻ tiếc rẻ:
- Vậy à, ra các anh ở xa lắm à!

Chúng tôi tiếp tục mời “khách” ăn kẹo, bánh. Thành và Lộc ngắm nghía mãi những chiếc kẹo “Hải Châu” sản xuất ở Hà Nội. Cả hai đều chọn trong đĩa kẹo lộn xộn các loại, cả miền Bắc, miền Nam, lấy mấy cái. Lộc nói:
- Xin các anh mấy cái về làm quà cho các cháu!
Thành tiếp:
- Xin cho mỗi đứa nhỏ một chiếc thôi, tôi 5 đứa, 5 chiếc.
Lộc nhón lên một cái kẹo chuối của miền Nam sản xuất, hỏi:
- Cái này có phải không hè? Tôi muốn mỗi thứ một loại.
Thành có vẻ thành thạo:
- Không phải, ông cứ xem cái nào có chữ “Quốc doanh” là đúng!
Lộc cười:
- Đem về cho lũ nhỏ coi, rồi cất kỹ làm kỷ niệm thôi, đâu dám ăn?
Tôi nói:
- Cứ cho các cháu ăn cho chúng biết vị ngọt của kẹo chúng tôi, rồi giữ giấy làm kỷ niệm cũng được chứ sao.
Thành nói:
- Sau này quan hệ bình thường, chắc những thứ này sẽ nhiều!
- Vâng, chúng tôi đều mong muốn quan hệ Bắc Nam chóng trở lại bình thường.

Chúng tôi trả lời vậy và đưa Thành một gói trà miền Bắc. Anh ta cầm gói trà, ngắm nghía, đọc nhãn hiệu “Thanh Tâm” và gật gù:
- Uống trà này thì tâm hồn lúc nào cũng thanh bạch.

Anh ta đưa cao gói trà về phía Lộc, nháy mắt rồi với cái áo khoác vắt ở thành ghế, đút vào túi. Trong câu chuyện, Thành luôn ca thán nhà đông con, nghèo, làm ăn vất vả. Anh ta nói:
- Trước tôi ở bên dân sự, có Hiệp định mới qua bên quân sự làm thông dịch.

Với giọng phân bua, anh ta tiếp:
- Cũng không muốn qua bên này, nhưng vẫn phải qua, vì làm nghề này có tiền nuôi các cháu - nhà tôi đông con, nghèo lắm.
Để phụ Họa thêm cho giọng nói, anh ta ngửa hai bàn tay, đưa ra phía trước. ánh nắng bên ngoài rọi vào chiếc đồng hồ loại hảo hạng đeo trên cổ tay trái anh ta, loé lên như một tia chớp.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Chín, 2009, 05:36:52 am
12 giờ 30 phút, Đanien sốt ruột hỏi:
- Thiếu tá Thanh đã làm việc xong chưa?
- Có lẽ còn phải làm việc một thời gian nữa.
- Vậy đến giờ, chúng tôi về, ngày mai sẽ tới đón thiếu tá được không?
- Chắc thiếu tá làm việc khoảng một tiếng nữa thôi, đại úy có thể chờ được chứ?
- Vậy để tôi cho máy bay cất cánh lên cao, báo về Đà Nẵng cho thượng cấp chúng tôi biết?
- Vâng, nhưng đại úy chờ chúng tôi gọi điện thoại hỏi ý kiến cấp trên chúng tôi!

Ngoài sân bay, hai phi công Mỹ đang lúi húi, chỉ trỏ vào bộ phận nào đó ở đầu máy bay. Họ có vẻ tận tâm với nghề nghiệp. Để giảm bớt sự sốt ruột của Đanien, anh Nhung hỏi:
- Chiếc máy bay kia trị giá bao nhiêu đô la?
Thành trả lời:
- Đắt lắm, tới mấy vạn đô la.
Anh ta nói thêm:
- Đây là loại mới, đã cải tiến, cái ống xả hơi của nó làm vểnh lên chứ không cụp xuống như loại cũ.
Lộc giải thích:
- Như vậy, hơi nóng tỏa lên trên sẽ được cánh quạt quạt phân tán hết, giảm nhiệt, chống được tên lửa tìm nhiệt.
Và Lộc lại khoe:
- Cái ghế bên cạnh dùng cho xạ thủ đại liên.
- Ồ, hẹp vậy thì để đại liên chỗ nào?
- Không, đại liên gắn phía ngoài, xạ thủ ngồi ghế, chúc súng xuống đất mà bắn.
Liên lạc về báo cấp trên đồng ý để máy bay lên cao liên lạc với Đà Nẵng.
Đanien đề nghị:
- Mời các anh cùng lên máy bay với chúng tôi.
Đanien đứng dậy kéo anh Tiết cùng đi. Mọi người cùng đứng dậy. Cả Lộc và Thành đều sốt sắng:
- Đi, mời các anh cùng đi chơi!
Tôi lưỡng lự:
- Thôi, để một số đi, kẻo chật.
Thành dắt tay tôi:
- Không, không chật đâu, đi cho vui.

Tôi liếc nhìn anh Nhung. Thấy anh cười và bước ra cửa, tôi cũng bước theo. Thành tỏ vẻ rất cởi mở, thân mật với tôi. Làm như vô tình, anh ta hỏi độp một câu:
- Anh vào đây năm nào?
Tôi trả lời:
- Tôi sinh sống ở đây lâu rồi anh ạ!

Khi lên máy bay, Thành cẩn thận buộc người tôi vào ghế bằng dây bạt có móc sắt.

Máy bay rồ máy. Bao quanh mang tai tôi là một mớ âm thanh ồn ào, náo động. Không còn nói chuyện được nữa. Cánh quạt quay tít, làm bụi cuộn thốc lên. Máy bay bốc lên cao khá nhẹ nhàng. Lên được một đoạn, nó đứng sững lại rồi quay từ từ 180 độ. Sau đó, nó vừa lên cao vừa tiến tới phía trước. Tôi có cảm giác như đang ngồi xe ô tô leo ngược lên dốc, có điều êm hơn chứ không xóc lộn ruột như khi đi ô tô.

Tôi chú ý quan sát dưới đất xem lũ giặc lái phát hiện quân ta như thế nào. Bây giờ mới hiểu rằng trước mình “điếc không sợ súng”, quá chủ quan. Tôi nhìn rõ sân bay với chữ thập trắng, với những đường đi ngang dọc, với mấy ngôi nhà tranh, với lá cờ bay phấp phới và thấy rõ cả mấy đồng chí vệ binh đứng nghiêm bồng súng. Máy bay lên cao, lượn vòng theo hướng tay trái. Thân máy bay nghiêng đi, muốn đổ mọi thứ ra ngoài. Nhìn về bên phải thấy điệp trùng những núi - những dẫy núi cũng chênh đi như sắp đổ.

Nhìn xuống dưới thấy rất rõ mặt đất. Mặt đất đẹp, hiền và đáng yêu quá. Những thửa ruộng lúa xanh rì, những vạt rừng non thưa thớt, và dòng sông nước trong vắt chảy gợn sóng lăn tăn xen vào nhau, nổi bật lên như một bức tranh màu đẹp đẽ. ồ, ở độ cao 7 - 800 thước mà nhìn rõ cả gợn nước, những phiến đá và mấy người đi trên bãi sông. Kia nữa, thấy rõ hai chiếc áo trắng ai phơi trên bãi cỏ, thấy một anh bộ đội đang đi ngoái lại ngước nhìn lên. Thấy căn nhà tôn, mấy ngôi nhà tranh nấp dưới mấy bụi chuối, lùm cây. Máy bay vòng lại sân bay. Thấy bóng máy bay in trên sân bay với cái cánh quạt quay tít mù ngồ ngộ. Thấy gần bờ sông một ngôi nhà và rất nhiều người đứng ở sân. Được 20 phút, máy bay hạ cánh. Người cảm thấy bị hẫng, nhưng không nôn nao. Mát quá, vì suốt quá trình bay, gió lùa vào lồng lộng.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Chín, 2009, 05:38:44 am

Ra khỏi máy bay, Đanien kéo Lộc và Thành lại bàn bạc gì đó.
Vào nhà, Thành báo:
- Đại úy Đanien nói rằng đã liên lạc về Đà Nẵng, thượng cấp đồng ý để chúng tôi 2 giờ rưỡi về.
- Vâng, vâng, đúng một giờ rưỡi chúng tôi, thiếu tá Thành sẽ ra.

Thành giải thích:
- Hồi này Hoa Kỳ thực hiện chương trình rút quân, việc nhiều mà máy bay ít nên bố trí giờ giấc xít xao lắm.
Lộc nói thêm:
- Sợ rằng sau phi vụ này phải thực hiện phi vụ khác nên phải báo về trên.

Thành hỏi:
- Các anh bay thấy ngợp không?
- Gió quá, lúc bay thường chắc phải đóng cửa lại chứ?
- Đóng bí hơi lắm.
Thành giảng giải:
- Hồi nãy phải quần và phải bay cao để liên lạc nên bay mệt, chứ khi thường chỉ bay 5 - 600 mét, bay thấp là là, êm lắm.


Lộc hỏi:
- Hồi nãy thấy cái nhà nào phía sau cột cờ đó hè?
- Nhà anh em ở đó anh ạ.
- Phía ấy là gì mà thấy đông người quá?
- Đường anh em đi lại đó mà.
- À, thấy cả phụ nữ nữa, tôi muốn qua chụp ảnh với các cô ấy được không? - Lộc hỏi.

Thành phụ hoạ:
- Ồ, có cả phụ nữ. Bữa trước bay lên thấy mấy cô tắm ở suối nữa (vừa nói anh ta vừa cười thích thú), giá được sang chụp ảnh thì hay đó!
Thiếu tá Nhung trả lời:
- Chắc các anh cũng biết tính nết phụ nữ Việt Nam hay e thẹn, sợ các anh lạ, mấy cô ấy không chịu chụp, đi mất công chớ.
Thành tán:
- Hay đại úy muốn thì xin ở lại luôn!
Lộc cười:
- Sợ nhà đương cục địa phương không cho phép.

Anh Nhung nói:
- Sợ các anh không có thời gian thôi. Khi nào có điều kiện thì mời các anh ở chơi.
Thành nháy mắt, vỗ vai Lộc:
- Mà ở đây thôi, chứ không được qua với mấy cô đâu nghe!
Anh ta hất hàm về phía bờ sông và nói thêm:
- Ở thì vui, chỉ tội mấy con gà chết oan!

Anh Nhung đáp:
- Gà anh em chúng tôi tự nuôi đấy. Chắc chúng nó cũng vui lòng khi được chết vì mối tình thân thiện của chúng ta.

Sắp tới giờ cất cánh, mấy sĩ quan Mỹ và anh em ta trao đổi với nhau những vật kỷ niệm nhỏ. Anh Nhung tặng Đanien một quyển lịch “Quân giải phóng”, anh ta cảm ơn và cười:
- Nhưng ông nhớ là tôi vẫn có những cú đập rất mạnh khi gặp ông trên sân bóng đấy!

Anh ta có vẻ quan tâm thực sự tới chuyện thể thao.
Tôi và Bé - phiên dịch - ra máy bay nói chuyện với phi công Mỹ.
Hỏi chuyện viên phi công có bộ ria mép dài hung hung mà bữa trước tôi cho là già mới biết anh ta có 25 tuổi thôi. Với giọng ồm ồm, anh ta kể:
- Tôi có 1 vợ, 1 con lên 4 tuổi. Tôi qua Việt Nam năm 69, 70 rồi về nước, sau đó lại qua, được 3 tháng rồi.

Anh ta cười, nụ cười có vẻ bình dị. Nhìn nụ cười, nghe giọng nói thấy anh ta có vẻ nông dân. Anh ta là chuẩn uý. Bé đưa tặng anh ta quyển lịch, anh ta cảm ơn, mở ra coi và hỏi:
- Hồ Chí Minh?

Anh ta chỉ vào tấm ảnh Bác và chữ Hồ Chí Minh dưới một câu ghi lời Bác. Anh ta ngắm nghía, gật gật đầu và cười. Anh ta tên là Hogan.
Tôi qua hỏi chuyện Henson - 19 tuổi. Anh ta cao nhưng không to, có nét mặt thư sinh và tính tình có vẻ e dè, hay thẹn. Hồi sáng, khi mọi người xúm đến hỏi, anh ta lúng túng ngó quanh và ấp úng không biết nói gì.

Lúc này anh ta đang ngồi trên ghế, cầm cái mũ bộ đội Giải phóng ngắm nghía rồi đội lên, gật đầu vui thú. Anh ta ra hiệu cho Kennơđi chụp ảnh anh ta với chiếc mũ đó. Tôi lại ngồi bên cạnh và nhờ Bé hỏi chuyện. Henson cho biết anh ta sang Việt Nam 2 năm rồi. Tôi hỏi:
- Anh có thể cho biết cảm tưởng của anh khi tới gặp chúng tôi tại đây?
Anh ta cười và nói nhỏ một câu gì đó. Lúc ấy, Hogan chuyển xuống một can nước bằng nhựa. Henson đỡ lấy, dùng nắp hứng và ấn nút cho nước chảy ra mời tôi uống. Đó là thứ nước máy nồng nặc mùi Clo, tanh vô kể. Bé dịch lại lời anh ta:
- Thật khó nói quá!

Kennơđi đang ở buồng lái cũng chồm người qua ghế góp chuyện với chúng tôi. Có lẽ anh ta sợ anh chàng Henson ngây thơ nói những điều hớ hênh với chúng tôi chăng?
Đúng 1 giờ 30’ anh Thanh ra. Chúng tôi nắm tay anh, chúc anh hoàn thành nhiệm vụ. Mọi người tiễn biệt nhau. Lộc, Thành bắt tay tôi. Lộc chỉ vào tôi và Thành, nói:
- Đôi này có vẻ ăn ý với nhau lắm!

Tôi cười và thầm nghĩ: “Cuộc chiến đấu trên mặt trận ngoại giao thật phức tạp, tế nhị, phải hết sức cảnh giác”.
Bắt tay và chào nhau lần cuối, Lộc nhắc lại lời cảm ơn: “Quý vị đã cho chúng tôi một bữa ăn thật thịnh soạn”. Có lẽ, đó là câu nói chân thành nhất của anh ta trong ngày hôm nay.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Chín, 2009, 05:39:51 am
 
Về nhà tổng kết về buổi tiếp xúc này, rút ra nhiều điều hay.
Anh em dự đoán Thành là tình báo CIA, cấp bậc có thể ngang hoặc cao hơn Lộc, Lộc là tình báo quân đội. Cả hai đều tìm cách dò hỏi và muốn đi quan sát nơi ăn, chốn ở của ta. Riêng tôi, tôi thấy Thành có vẻ muốn dùng đòn ngọt với tôi để lợi dụng khai thác những gì có lợi cho hắn. Có thể hắn đánh giá tôi “ngon ăn” bởi thái độ ôn hoà, “cởi mở” của tôi.

Trong buổi tiếp xúc, anh em ta cũng có nhiều chỗ hớ: nói lộ lý lịch mình, lộ việc, chưa thực hiện nghe nhiều để tìm hiểu địch, phiên dịch chưa lắng nghe xem bọn Mỹ - Nguỵ bàn riêng gì với nhau, cảnh vệ chưa chú ý quan sát bọn địch khi chúng đi vệ sinh xem chúng có làm gì khác không...
Trong khi tiếp xúc với địch, cần phải biết hỏi để moi tin, biết trả lời có vẻ cởi mở mà chung chung. Hanh - phiên dịch, mới đi Đà Nẵng về - cho biết câu chuyện giữa Hanh và tên lính nấu ăn của bọn sĩ quan ngụy như sau:
- Các anh ăn bao nhiêu tiền một ngày?
- Cấp trên chúng tôi cấp bao nhiêu thì chúng tôi nấu ăn bấy nhiêu.
- Thường thường nhà ăn này có bao nhiêu người ăn?
- Dạ, lúc thì nhiều, lúc thì ít người ăn.

Một tên lính còn biết trả lời như vậy, nói chi đến những tên sĩ quan, nhất là những sĩ quan được phân công tiếp xúc với ta.
Chân tình là bản tính của anh em ta - quen sống với nhau cởi mở, thương yêu nhau mà! Nhưng với kẻ địch thì phải biết sống cho có thủ đoạn, biết nói dối như thật.
Từ tháng 3 năm 1973

Tiếp tục những ngày chờ đợi, nhưng chưa thấy triển vọng gì về hoạt động của đoàn Liên hiệp quân sự. Đối phuơng vẫn cố tình phá hoại việc thi hành Hiệp định.Tôi vẫn làm việc theo dõi tin tức qua đài và qua các báo cáo để tổng hợp tình hình thời sự giúp đoàn. Chỉ trong vòng nửa đầu tháng 2, ở các tỉnh đồng bằng Trung Trnng bộ đã có 648 vụ địch vi phạm Hiệp định, trong đó có 323 vụ bắn pháo vào vùng giải phóng (có những trận dùng 8 đến 20 khẩu pháo bắn từ 1.000 đến 3.000 quả đạn vào một thôn), 224 vụ dùng bộ binh từ 1 đại đội đến 4 tiểu đoàn có xe tăng, bọc thép đánh phá vùng giải phóng. Chiều mùng một tết âm lịch vừa qua, tại Quảng Ngãi, một đoàn thiếu nhi xã Nghĩa Thuận xuống Mỹ Lợi, Nghĩa Kỳ huyện Tư Nghĩa tổ chức đón binh sĩ ngụy về mừng xuân hòa bình, bọn pháo binh ở Gò Huỳnh dùng cối 82 và súng DKZ bắn vào xã Mỹ Lợi, làm chết 2 em, bị thương một số em. Bọn bộ binh còn tới bắt một số em.

Tại Quảng Đà, bọn ngụy huy động pháo binh, bộ binh, xe tăng, xe bọc thép lấn chiếm các xã Xuyên Hòa, Xuyên Thanh, Xuyên Khương (Tây Duy Xuyên) dài ngày, có ngày máy bay thả bom phá, hàng trăm bom bi vào xã Xuyên Thanh làm chết và bị thương hàng trăm thường dân, phá hoại hoàn toàn nhà cửa, hoa mầu. Tại Tây nguyên, có 178 vụ địch vi phạm Hiệp định, với 57 vụ bắn pháo, 59 vụ máy bay, 62 vụ bộ binh; riêng trục đường 14, 19 có ngày chúng bắn tới 1.202 quả đạn pháo.
Tôi mở một lớp đào tạo cấp tốc về nhiếp ảnh cho anh em trong đoàn. Mọi người rất hăng hái theo học và nhanh chóng nắm bắt những kiến thức cơ bản, biết chụp ảnh, tráng phim.

Ngoài Hà Nội vẫn tiếp tục sử dụng tin, bài do Khu Năm gửi ra, trong đó có bài của tôi gửi ra cách đây ít lâu:
Bài đăng trên Bản tin đấu tranh thống nhất Một cuộc dàn xếp Hà Nội ( VNTTX 1-3-1973) - Hòng thực hiện âm mưu lấn đất, bọn chỉ huy quân đội Sài Gòn ở Quảng Nam đã thúc ép đơn vị X hành quân lấn chiếm vùng giải phóng của ta sau ngày lệnh ngừng bắn có hiệu lực. Kiên quyết bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, các chiến sĩ Giải phóng đã chặn đánh quyết liệt, buộc chúng phải cụm lại trên các điểm cao. Đơn vị X quân đội Sài Gòn lâm vào tình trạng nguy kịch, thương binh không được chuyển đi cứu chữa, lương thực không được tiếp tế, trong khi đó, tiếng loa của các chiến sĩ Giải phóng vẫn vang lên.

- Hỡi anh em binh sĩ Sài Gòn! Hiệp định Pa ri đã ký, hòa bình đã được lập lại. Anh em hãy trở về vị trí của mình, đừng cầm súng đánh nhau nữa!
Toàn bộ binh sĩ đều im lặng lắng nghe. Anh em binh lính yêu cầu chỉ huy phải ra dàn xếp với quân Giải phóng. Trước tình hình ấy, ban chỉ huy đơn vị quân Sài Gòn đã liên lạc với quân Giải phóng.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Chín, 2009, 05:46:05 am
Tới chỗ hẹn, viên sĩ quan được một cán bộ quân Giải phóng dẫn vào nhà. Đồng chí cán bộ mời viên sĩ quan ngồi và hỏi:
- Chắc anh mệt và đói lắm?
Viên sĩ quan khẽ thở ra, đáp:
- Cảm ơn ông. Suốt mấy ngày nay chúng tôi không được tiếp tế...
Đồng chí cán bộ rót nước đưa anh ta uống rồi lấy gói cơm nắm đưa anh ta:
- Mời anh ăn bữa cơm của quân Giải phóng.

Trước thái độ chân tình của đồng chí cán bộ, anh ta cám ơn rồi cầm lấy nắm cơm ăn ngon lành.
Sau đó, viên sĩ quan nói:
- Thưa ông, tôi được cử đến đây để dàn xếp với các ông về việc đổi khu vực trú quân.

Với giọng vừa ôn tồn vừa kiên quyết, đồng chí cán bộ nói:
- Có lẽ anh lầm. Anh phải nói là đến để bàn giao đất cho chúng tôi mới đúng vì đây là vùng giải phóng. Các anh lấn chiếm sau khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực.
Viên sĩ quan lúng túng:
- Dạ, tôi cũng không nắm vững việc này.

Đồng chí cán bộ hỏi:
- Có lẽ anh chưa được nghiên cứu Hiệp định và các Nghị định thư?
Viên sĩ quan vội đáp:
- Vâng, cấp trên chúng tôi chỉ phổ biến sơ qua.
Đồng chí cán bộ rút trong cặp ra mấy xếp giấy đánh máy, đưa anh ta và căn dặn:
- Đây là các văn bản của Hiệp định, anh đem về cùng anh em đọc cho kỹ.

Thật tai hại, cấp trên các anh cố tình bưng bít sự thật, cố tình đẩy các anh vào chỗ chết.
Ngừng lại một chút, đồng chí cán bộ hỏi:
- Chắc các anh gặp nhiều khó khăn trong việc cứu chữa thương binh?
Viên sĩ quan gật đầu:
- Bị các ông vây chặt, chúng tôi không chuyển thương binh về hậu cứ được, thuốc men cũng thiếu.

Đồng chí cán bộ lấy ra một số thuốc, bông bằng rồi nói:
- Chúng tôi biết rất rõ tình trạng nguy khốn của các anh. Bây giờ, chúng tôi có đủ điều kiện để tiêu diệt các anh. Nhưng thi hành đúng đắn chính sách hòa giải và hòa hợp dân tộc, chúng tôi muốn cứu các anh. Anh cầm số thuốc này về tạm băng bó cho anh em và báo cáo với chỉ huy các anh là chúng tôi đồng ý cho các anh chuyển số thương binh về nơi an toàn theo hành lang chúng tôi qui định.
Mặt khác, trong khi chờ bàn giao đất, các anh phải nằm tại chỗ, không được bắn phá bừa bãi.

Trước lý lẽ đúng đắn và thái độ thiện chí của quân Giải phóng, binh lính và sỹ quan đơn vị X. quân đội Sài Gòn nhận ra lẽ phải, hết sức cảm động. Họ nói với nhau:
- Hòa bình rồi, tội gì mà đi đánh nhau cho chết uổng mạng?
- Nếu mấy ông Giải phóng mà làm hung, chắc bữa nay mình không còn mà đón xuân!
- Phải đó. Rút đi. Thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định là tốt nhất!

Qua một ngày bàn bạc với các chiến sĩ Giải phóng, ngày hôm sau, cả đơn vị quân Sài Gòn đồng loạt rút theo con đường mà quân Giải phóng đã vạch sẵn.

Nguồn : trích từ Truyện "Bê trọc", tác giả: Phạm Việt Long

http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nqn0n31n343tq83a3q3m3237nvn





Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Chín, 2009, 10:50:52 pm
        
        Ngày 19/9/2009 Ban liên lạc Trại Đa-vít phía bắc đã họp tại Hà Nội. Đến dự có nhiều anh em ở Hà Nội và các tỉnh lân cận như Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng, Vĩnh Phú, Bác Giang, ...  Cuộc gặp gỡ tập trung thảo luận về cuốn dự thảo "Trại Đa-víy 823 ngày đêm - Tập II (sẽ đưa tin chi tiết sau). Sau đây là 1 số hình ảnh trong buổi gặp mặt, Các cựu binh trại Đa-vít đang sôi nổi bàn về nội dung cuốn sách và cùng nhau nhớ lại các kỷ niêm trong trại Đa-vít

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/20090919a.jpg)
Từ trái sang phải : Trần Quang Nhạ, Vũ Nam Bình(chủ biên tập I và tập II sắp ra), Nguyễn Ngọc Ảnh


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/20090919b.jpg)
Từ trái sang phải :Nguyễn Như Kim, Nguyễn Thế Quy, Hoàng Huân, Hoàng Duy Hòa
Trên bàn là cuốn dự thảo "Trại Đa-vít 823 ngày đêm" tập II dùng cho các cựu binh đọc, góp ý, hoàn thiện cuốn sách


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Chín, 2009, 10:53:24 pm
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/20090919c.jpg)
Từ trái sang phải: Anh Kỳ, Nguyễn Sinh, Phạm Văn Hồng, Trần Văn Nam, Nguyễn Đức Minh

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/20090919d.jpg)
Từ trái sang phải: Nguyễn Đức Minh, Nguyễn Trần Thiết,Nguyễn Như Kim, Nguyễn Thế Quy

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/20090919e.jpg)
Từ trái sang phải: Vũ Nam Bình, Trần Văn Nam trong bữa cơm thân mật sau cuộc gặp


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: _new trong 23 Tháng Chín, 2009, 10:56:38 pm
Giá mà có lời giới thiệu thì hay nữa bác giangtvx ơi  :). Hí, cuốn sách photo các cụ cầm là cuốn gì ấy bác nhỉ.  ::)


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Chín, 2009, 10:08:20 pm
Giá mà có lời giới thiệu thì hay nữa bác giangtvx ơi  :). Hí, cuốn sách photo các cụ cầm là cuốn gì ấy bác nhỉ.  ::)

Đã bổ sung thông tin vào các ảnh. Phần lớn các cựu binh trong ảnh đều có bài viết trong quyển "Trại Đa-vít 823 ngày đêm" tập I. Quyển sách photo để trên bàn là quyển "Trại Đa-vít 823 ngày đêm" tập II đang ở dạng dự thảo.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: napoleon trong 25 Tháng Chín, 2009, 10:11:34 pm
Giá mà có lời giới thiệu thì hay nữa bác giangtvx ơi  :). Hí, cuốn sách photo các cụ cầm là cuốn gì ấy bác nhỉ.  ::)

Đã bổ sung thông tin vào các ảnh. Phần lớn các cựu binh trong ảnh đều có bài viết trong quyển "Trại Đa-vít 823 ngày đêm" tập I. Quyển sách photo để trên bàn là quyển "Trại Đa-vít 823 ngày đêm" tập II đang ở dạng dự thảo.
Bác có tham gia vào việc biên tập cuốn này à? Hình bác ở đâu vậy? ;D


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Chín, 2009, 10:59:42 pm
Không! Tôi không là gì ở đấy cả. Tham gia biên tập thường là các bậc chỉ huy có quân hàm cao (thiếu tướng, đại tá, ...) hoặc cỡ 8x, 7x  ;D ( 8x, 7x : không phải là năm sinh mà là tuổi đời  ;D ) và có khả năng viết và tổ chức tốt. Đại tá Vũ Nam Bình chủ biên năm nay 81 tuổi (xem ảnh)


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười, 2009, 09:30:22 pm

Rất mong các thành viên của QUANSU nếu có các tài liệu nào liên quan tới trại Đa-vít(các ảnh, các bài viết, .. )  viết bài gửi lên diễn đàn này. Ngoài các yêu cầu chung của QUANSU tài liệu cần phải :

1- Có nguồn gốc rõ ràng
2- Có bản quyền (để được phép sử dụng)


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười, 2009, 10:46:54 am
    
        Để giúp bạn đọc theo dõi các bài viết 1 cách có hệ thống, trước khi đăng các bài mới, xin giới thiệu mục lục của cuốn tập I

Mục lục “Trại Đa-vít 823 ngày đêm” Tập I

Lời giới thiệu
   Nguyễn Thị Bình
Nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, nguyên Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại hội nghị Pa-ri về Việt Nam, nguyên Phó Chủ Tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.0

Lời tựa  
Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn
Nguyên trưởng đoàn đại biểu quân sự CPCMLTCHMNVN trong Ban Liên hợp quân sự  hai bên trung ương.
            http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.0

Hiệp định Pa-ri là thắng lợi ngoại giao tuyệt vời
   Phạm Văn Đồng
Nguyên ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
   http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.0

Hiệp định Pa-ri là một thất bại lớn đối với Mỹ
Lê Đức Thọ
Nguyên Ủy viên Bộ chính trị,Trung ương đảng,  nguyên trưởng ban tổ chức trung ương.  Nguyên cố vấn đặc biệt đoàn đàm phán  chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa tại hội nghị Pa-ri về Việt Nam.Mất ngày 13 tháng 10 năm 1990.
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.0

Đây là 1 hàn thử biểu báo thời tiết chính trị - quân sự lúc này, đặt ngay trong lòng địch
   Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.0

Thế đứng công khai hiên ngang giữa lòng địch
   Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.0

Một số vấn đề về hiệp định Pa-ri
   Xuân Thủy
Nguyên Bộ trưởng - Trưởng đoàn đàm Việt Nam dân chủ cộng hoà tại Hội nghị Pa-ri về Việt Nam; nguyên Bí thư Trung ưng Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam dân chủ Cộng hoà
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.10

Hiệp định Pa-ri : 30 năm nhìn lại
   Nguyễn Thị Bình
Nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, nguyên Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại hội nghị Pa-ri về Việt Nam, nguyên Phó Chủ Tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.10

Tôi đi vào trại Đa-vít
   Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn
Nguyên trưởng đoàn đại biểu quân sự chính phủ CMLTCHMNVN trong ban liên hợp quân sự hai bên, nguyên thứ trưởng bộ ngoại giao nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.20

Ăn tết trong trại Đa-vít
   Thượng tướng Trần Văn Trà
Nguyên là Trưởng đoàn đại biểu quân sự chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam trong ban liên hợp quân sự bốn bên.
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.20

Hồi ức của nhà quân sự
   Thiếu tướng Đoàn Huyên
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.20

Trận địa ngoại giao trong lòng địch
   Thiếu tướng Nguyễn Đôn Tự
Nguyên thành viên Đoàn đảm phán Việt Nam dân chủ cộng hòa tại Hội nghị Pa-ri - Trưởng đoàn đại biểu quân sự Việt Nam dân chủ cộng hòa trong Tổ Liên hợp quân sự bốn bên về tim kiếm người chết và mất tích tại trại Đa-vit
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.40

Những ánh mắt trìu mến của nhân dân thành phố Sài Gòn với phái đoàn quân sự của cách mạng
   Võ Đông Giang
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.40

Quân và dân khu 6 đấu tranh thi hành hiệp định Pa-ri
   Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên
Nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên khu vực IV – Phan Thiết
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.40



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười, 2009, 11:00:35 am
Thực hiện hiệp định Pa-ri chặng đường gian truân
   Thiếu tá Nguyễn Ngọc Dung
   Nguyên thành viên Đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Pa-ri - Nguyên thiếu tá Quân giải phóng miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên và hai bên tại trại Đa-vít.
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.50

Một cuộc đấu tranh ở nhà lao Tam Hiệp
   Nguyễn Văn Khả (tức đại tá Vũ Nam Bình)
   http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.50

Chuyến đi kiểm soát Hoa Kỳ và chư hầu rút quân
   Phú Thành
   http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.60

Một đợt trao trả
   Phạm Hồng
Nguyên sĩ quan Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam.
   http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.60

Tết – ghi được ở Sài Gòn
   Trân Duy Hinh
   Nguyên sĩ quan Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà.
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.60

Những cuộc đấu trí khi trao trả tù binh
   Hoàng Duy Hòa
   http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.60

Quân Mỹ “go home”
   Nguyễn Ngân
   http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.60

Đi giám sát trao trả tù binh ngụy bị pháo phòng không ta bắn
   Nguyễn Quang Biểu
Nguyên phiên dịch Đoàn đại biểu quân sự Chinh phó Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam
   http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.60

Hai ngày ba cảnh
   Phạm Hồng
Nguyên sĩ quan Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam
   http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.70

Những ánh mắt Sài Gòn
   Nguyễn Danh
   http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.70

Những nhân viên quân sự và dân sự Hoa Kỳ được trao trả đợt cuối cùng
   Nguyễn Hùng Đào
   Nguyên sĩ quan báo chí của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hỏa miền Nam Việt Nam.
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.70

Những câu truyện còn nhớ mãi
   Vũ Nam Bình
   http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.70

Trao trả nhân viên dân sự
Vũ Bình và Duy Hòa
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.80

Gương cao ngọn cờ chính nghĩa đấu tranh trên mặt trận dư luận hỗ trợ chiến trường
   http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.90

Hiệp định Pa-ri và sự tan rã ý chí của quân đội ngụy Sài Gòn
   Tư Tiên
   http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.100

Một phiên họp đặc biệt hai bài phát biểu : Hai bản cáo trạng
   Nguyễn Hùng Đào
Nguyên sĩ quan Báo chí của Phái đoàn Chính phủ Câch mạng lâm thời ghi lại phiên họp cuối cùng của Ban Liên hợp quán sự bốn bên trung ương.
   http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.100

Ai là thủ phạm vụ thảm sát “Cai Lậy”
   Hà Cân
Nguyên sĩ quan Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thởi Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
   http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.100

Vụ điều tra chính quyền Sài Gòn vi phạm ngừng bắn tại khu vực Phật Đá – Sáu Ầu
   Nguyễn Quang Biểu
Nguyên phiên dịch của Phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hợp quân sự hai bên.
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.100

Trại Đa-vít “Ốc đảo cách mạng”
   Nguyễn Hồng Việt ghi theo lời kể của đại tá Đào Chí Công
   http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.100

Trại Đa-vít một địa danh không thể nào quên
   Tạ Hưng
Nguyên là sĩ quan trong Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam
   http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.100


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười, 2009, 11:13:18 am
Trại Đa-vít xứng đáng là một di tích lịch sử
   Huỳnh Văn Trình
      Nguyên trung tá, ủy viên Đoàn đại biểu quân sự Chinh phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên trung ương - Phó Trưởng đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa trong Tổ liên hợp quân sự bốn bên về người chết và mất tích tại Sài Gòn 1973-1974
   http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.110

Nghe tiếng đàn bầu trong trại Đa-vít
   Đinh Quốc Kỳ
   http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.110

Hai đoàn trong bốn bên
   Ngô Thế Kỳ
   http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.110

Ta vào trận mới
   Linh Giang
   http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.110

Hoa nở trong trại Đa-vít
   Hoàng Khánh
   http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.120

Về thăm trại Đa-vít
   Quốc Kỳ
   http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.120

Những ngày cuối cùng tại trại Đa-vít
   http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.120

Một kỷ niệm không bao giờ quên
   Hoàng Duy Hòa
   http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.120

Lá cờ cách mạng đầu tiên ở Sài Gòn treo trong trại Đa-vít
   Vũ Bão
   http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.120

Kỷ niệm sâu sắc sáng 30-4-1975 ở trại Đa-vít
   Trần văn Khánh
Nguyên sĩ quan phiên dịch tiếng Anh của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lăm thởi Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
   http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.130

Ủy ban Quốc tế
   http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.130

Chúng tôi sống và chiến đấu giữa hang ổ kẻ thù
   Hà Thanh Minh
   http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.130

Cuộc gặp mặt sau 30 năm của các nhà ngoại giao mặc áo lính
   Nguyễn Như Kim
      Cán bộ Thông tấn xă Việt Nam
   http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.140

Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại Hòa Bình ở Việt nam
    http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.140

Nghị định thư của hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập, lại hòa bình ở Việt Nam về ngừng bắn ở miền nam Việt Nam và về các ban liên hợp quân sự
   http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.150

Nghị định thư của hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập, lại hòa bình ở Việt Nam về Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát
   http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.150

Nghị định thư của hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập, lại hòa bình ở Việt Nam về việc trao trả nhân viên quân sự bị bắt, thường dân nước ngoài bị bắt và nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ
   http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.150

Nghị định thư của hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập, lại hòa bình ở Việt Nam về tháo gỡ, làm mất hiệu lực vĩnh viễn, phá hủy mìn ở vùng biển, các cảng, sông ngòi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
   http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.160

Danh sách các hãng thông tấn, vô tuyến truyền hình, đài phát thanh, báo nước ngoài có đại diện tại Sài Gòn đã dự các cuộc họp báo của ta trong thời gian 1973-1975
   http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.160


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười, 2009, 10:06:40 pm
Cái quyển xanh xanh ở trên bàn là cái quyển này:

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/scan-2.jpg)


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2009, 07:52:25 am
        Xin trân trọng giới thiệu loạt bài viết của Đại tá Đinh Quốc Kỳ, một thành viên của trại Đa-vít. Ông đã tham gia biên tập các cuốn "Trại Đa-vít 823 ngày đêm - Tập I", "Trại Đa-vít 823 ngày đêm - Tập II" (sắp ra mắt bạn đọc), ... Ông cũng có nhiều bài viết trong các tập sách nói trên và được các bài viết khác đăng rải rác trong mội số tờ báo trong nước như "An ninh thế giới", ... với nhiều các bút danh khác nhau như ĐINH QUỐC KỲ, HOÀNG KHÁNH, HOÀNG KỲ, LINH GIANG, HÀ THANH MINH, ...  

Bài và ảnh do tác giả cung cấp.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Ky1974.jpg)

Thiếu úy Đinh Quốc Kỳ năm 1974
(Ảnh chụp tại Hội trường họp của Ban liên hợp quân sự 4 bên và 2 bên, nay là phòng giao ban của Cục quản lý hành chính - C59B Bộ tổng tham mưu, Bộ Quốc phòng - Tân Sơn Nhất Thành phố Hồ Chí Minh)


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Ky2009.jpg)

35 năm sau : Đại tá Đinh Quốc Kỳ - Hà Nội 2009



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Hai, 2010, 04:00:00 pm
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Ky1974anhnho.jpg)

TỔ CHIẾU PHIM CỦA CHÚNG TÔI
               
PHẠM VĂN LÃI kể
 QUỐC KỲ ghi

        Chúng tôi là cán bộ, chiến sĩ của Phòng điện ảnh (Có mật danh là B8) thuộc Cục chính trị Quân giải phóng miền Nam (Cục chính trị B2).

        Như những thành viên khác của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam (CPCMLTCHMNVN - Đoàn B), chúng tôi từ Lộc Ninh vào Trại Davis bằng máy bay trực thăng của Mỹ. Tổ chiếu phim gồm 4 thành viên : Anh Trần Trung Đệ quê Bến tre, anh Nghiệp quê Khánh Hoà, anh Nguyễn Cảnh Hoè quê Nghệ An. Các anh được đi trước, còn tôi là Phạm Văn Lãi, quê Thái Bình vào sau.

        Trại Davis vốn là doanh trại cũ của đơn vị thuộc tập đoàn không quân số 7 Mỹ. Khi mới đến đây thật khủng khiếp, đúng là khu ổ chuột. Có lẽ đạo quân xâm lược nào cũng có lối sống thác loạn, kém văn hoá như nhau. Nơi này đối với lính Mỹ xứng đáng được bình chọn vào loại nhất trong số những hạng lính viễn chinh về lối sống bê tha mất nhân tính, bẩn thỉu, dâm ô…. Khắp nơi nhan nhản tạp chí, sách báo, tranh vẽ loã thể, làm tình… Những ống bơm tiêm bằng nhựa trong suốt còn nhờ nhờ máu vứt hàng đống, những mảng bông băng đầy máu mủ tanh nồng…. thật khủng khiếp.

        Một người lái xe cho phái đoàn ta khoảng 40 tuổi nói giọng Bắc với anh em chúng tôi.

        - Các ông phải chú ý, đừng dẫm đạp lên những ống bơm kim tiêm, phải gom lại đốt thật kỹ, tẩy uế tất cả mọi thứ đồ dùng lính Mỹ bỏ lại, cả chậu rửa, bồn tắm, nhà vệ sinh… Lây những thứ bệnh này thì khổ cả đời đấy !

        Mất cả tuần lễ dọn dẹp làm vệ sinh, chúng tôi mới dám sử dụng các loại đồ đạc dùng cho sinh hoạt hàng ngày.

        Đời sống tinh thần của lính Mỹ còn tệ hại hơn, bên vách tường, sàn nhà chằng chịt những dòng chữ than vãn, chửi rủa số phận, oán trách nhà cầm quyền Mỹ, bọn chỉ huy…
Một đạo quân có đời sống vật chất, tinh thần thảm hại như vậy thì thất bại trong cuộc chiến không có gì là đáng phải ngạc nhiên cả.

        Tổ chiếu phim của chúng tôi chỉ làm việc trong trại Davis là trụ sở của hai đoàn ta. Các buổi chiếu phim không chỉ phục vụ cán bộ chiến sĩ trong đơn vị, có cả những người là lái xe cho phái đoàn, nhà thầu cung cấp lương thực, thực phẩm phóng viên của hơn 80 tờ báo, tạp chí trong nước, ngoài nước và các hãng thông tấn lớn trên thế giới khi vào dự họp báo (trong số phóng viên đó nhiều người là tình báo an ninh, mật vụ của Mỹ, nguỵ). Những tối thứ tư, thứ bảy hàng tuần, chiếu phim phục vụ đơn vị ở ngoài trời còn có thêm những người xem bên kia hàng rào nữa. Họ là lính gác xung quanh khu vực trại Davis, trên các chòi canh, các ụ súng đang chĩa nòng vào chỗ ở của hai phái đoàn ta. Họ xem phim được vì màn ảnh khá rộng có loa phóng thanh nghe rất rõ nội dung… Trại Davis chiều  rộng hơn một trăm mét, dài hơn hai trăm mét, họ đứng gác trên cao nên càng dễ xem. Theo dõi số lính các vọng gác xung quanh, họ thay đổi xoành xoạch. Có lẽ bọn chỉ huy sợ số lính này bị tác động phim ảnh và văn hoá của cách mạng nên không dám để lâu. Hàng ngày họ tận mắt nhìn thấy cán bộ, chiến sĩ ta sinh hoạt tiếp xúc và làm việc trong một khu vực hẹp như  thế thì Mỹ nguỵ bưng bít sao được. Những cái miệng tâm lý chiến, những kẻ ngoa ngôn tìm mọi cách bôi nhọ cách mạng đều bất lực vì sự thật hiện ra trước mắt những người lính kia đủ phản bác các điều bịa đặt ấy.

        Ngày mới vào trại Davis, chúng tôi còn phục vụ cho cả loại "khán giả đặc biệt" nữa. Hôm đó là ngày 06-02-1973, gần tối một thiếu tá Mỹ trong bộ phận sĩ quan liên lạc dẫn vào trụ sở hai đoàn ta 07 lính Mỹ của một đơn vị thông tin. Số lính Mỹ này vào làm giấy "chứng minh thư" cho các thành viên của ta trong Ban Liên Hợp quân sự 4 bên. Họ chụp ảnh chân dung  từng người, đánh máy họ tên, cấp bậc, đơn vị và bọc nilon. Rất nhanh, chỉ vài phút là hoàn chỉnh một chiếc vì mẫu đã được in sẵn theo thoả thuận của các đoàn. Viên thiếu tá sĩ quan  liên lạc Mỹ sau khi bàn giao 7 người lính này thì về. Còn lại cấp bậc cao nhất là hạ sĩ, tuổi xấp xỉ mười chín, hai mươi. Có hai da đen, năm da trắng. Họ mới từ Ha Oai sang Việt Nam. May mắn cho họ là Hiệp định Pari vừa ký, sẽ không có ai phải ra trận, đi càn quét, giết hại người dân Việt Nam nữa. Đối với họ, Hiệp định Pari là bùa hộ mệnh thật sự giá trị, đảm bảo cho họ không phải bỏ xác nơi đất khách quê người. Các địa danh Việt Nam xa lạ đã làm cho họ khiếp sợ khi chưa đặt chân tới vì ở đó có hàng trăm nghìn lính Mỹ trở về bằng chiếc quan tài hoặc kẻ nào may mắn còn thất thểu lê bước được cũng bạt vía kinh hồn…

        Trông những người lính Mỹ này không thấy vẻ hung hãn man rợ như bọn lính đi càn quét vào các xóm làng, vào căn cứ cách mạng của ta. Trên khuôn mặt non choẹt, tươi tỉnh đã có lún phún những sợi lông tơ lờ mờ hai bên mép. Họ vui vẻ làm việc, ánh đèn Plasma của máy ảnh liên tục loé sáng. Tiếng lách tách của chiếc máy đánh chữ Opstima làm cho hội trường nhộn nhịp hẳn lên.

        Ngoài cửa hội trường, chúng tôi căng phông để tối nay chiếu phim. Phía Tây bầu trời đã nhợt nhạt hẳn đang chuyển dần sang màu xám. Gió biển lồng lên làm cho tấm phông trắng rung phần phật. Loa phóng thanh có tiếng thổi phù phù của gió vào Micro. Máy chiếu đã căn chỉnh hình lên màn phông, chỉ chờ đến giờ phục vụ.

        Trong hội trường, những lính Mỹ vẫn làm việc. Lúc này cán bộ, chiến sĩ ta đã ra ngoài sân, trong nhà chỉ còn ít người. Công việc không hối hả như trước, một lính Mỹ có cấp bậc hạ sĩ đến gặp đồng chí sĩ quan liên lạc của ta, mạnh dạn đề nghị cho phép họ lần lượt đứng dưới ảnh Bác Hồ chụp ảnh lưu niệm. Được phép, cả bảy người lính Mỹ, từng người đứng nghiêm trang, vẻ mặt kính cẩn dưới bức ảnh lãnh tụ kính yêu của chúng ta để cho bạn mình chụp hộ. Mỗi người đều có một tấm ảnh vô cùng quý giá ấy.

        Lúc đó cán bộ, chiến sĩ ta đến chụp ảnh làm "chứng minh thư" ai nấy trên ngực áo mình đều có huy hiệu Bác Hồ. Một lính Mỹ da đen, cấp hạ sĩ, sau nhiều lần lưỡng lự đã mạnh dạn hỏi xin tấm huy hiệu Bác Hồ. Có thể họ ngỡ là trang bị cần thiết cho một người nên không dám hỏi. Nhưng rồi không thể đừng được nên đã liều thử hỏi xem sao ?


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Hai, 2010, 04:23:38 pm
        Các đồng chí ta vui vẻ đồng ý ngay, từng người tự gỡ huy hiệu của mình và trao cho những người lính Mỹ. Thế là cả bảy lính Mỹ mỗi người được tặng một huy hiệu Bác Hồ họ vui sướng tự tay cài huy hiệu lên ngực và nhờ bạn chụp cho một tấm ảnh có đeo tấm huy hiệu của Người. Chụp xong, họ gỡ huy hiệu ra, lấy ni - lon bọc cẩn thận và cất vào túi áo mình. Một người lính khác bỗng hô to: "Việt Nam, Hồ Chí Minh" Cả tốp lính Mỹ cùng đồng thanh hô theo. Họ phấn khởi và tỏ ra tự hào thật sự khi được nhận món quà vô giá đó.
Ngoài sân, trời Sài Gòn đã tối hẳn. Giờ chiếu phim cũng đến rồi. Hôm nay chúng tôi phục vụ đơn vị hai cuộn phim. Một cuộn phim tài liệu "Bác Hồ với thiếu nhi" và cuộn phim vũ kịch Ba lê "Ngọn lửa Nghệ Tĩnh". Người xem đến ngồi trước sân hội trường, họ bê ghế ra ngoài và ngồi gần bên máy chiếu. Các đồng chí lãnh đạo hai đoàn ngồi hàng ghế trên, anh em trẻ ngồi bệt trên dép cao su ở phía trước.

        Tốp lính Mỹ đang làm việc trong hội trường thấy phim đã chiếu, hình ảnh Bác Hồ xuất hiện trên màn ảnh, họ nói với đồng chí phiên dịch : "Cho chúng tôi thay nhau ra xem phim". Lúc này trên phông hình ảnh các cháu thiếu nhi đang chạy ùa về phía Bác Hồ, mấy người lính Mỹ còn lại không muốn bỏ lỡ dịp bèn nài nỉ : "Chúng tôi sẽ làm bù dù có phải thức khuya đến mấy cũng được". Họ đứng bên cạnh máy chiếu và nghe lời thuyết minh phim qua đồng chí phiên dịch của ta. Chúng tôi cảm thấy vui vì hôm nay phục vụ cho những khán giả đặc biệt này.

        Bảy lính Mỹ chăm chú xem phim, lời thuyết minh được người phiên dịch minh hoạ làm cho hình ảnh thêm sống động. Họ thích thú thật sự, nhiều lần nhìn thấy chủ tịch Hồ Chí Minh vui cười bên đàn cháu nhỏ. Người gần gũi biết bao, không chỉ với các em nhỏ Việt Nam mà với cả các em thiếu nhi của nhiều đất nước xa lạ khác…. Bác đang từ thềm Phủ Chủ tịch bước xuống đón đàn cháu nhỏ, các cháu xúm quanh, Bác chia kẹo cho từng cháu. Có một hình ảnh gây thích thú nhất là một cháu bé đưa bàn tay xinh xắn vuốt chòm râu bạc của Người, Bác cúi xuống hôn cháu… Cả tốp lính Mỹ lúc ấy đều vui cười, trong ánh mắt chứa chan niềm kính yêu và họ cảm thấy như đang đứng rất gần vị lãnh tụ nổi tiếng trên khắp thế giới.

        Viên hạ sĩ da đen nói như để mọi người xung quanh cùng nghe: "Ông già Noel của Việt Nam ". Giai điệu bài hái "Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn chúng em nhi đồng" đang vang xa, bay cao trên vùng trời Tân Sơn Nhất.

        Buổi chiếu phim tối hôm đó thật nhiều ý nghĩa. Những người lính Mỹ kia sau khi xem hai bộ phim của Việt Nam và được tặng tấm huy hiệu Bác Hồ, chụp ảnh lưu niệm dưới bức chân dung của Người trên nền cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam sẽ là món quà vô giá đối với họ. Khi trở về bên kia bán cầu nhất định những người lính đó sẽ nói nhiều điều tốt đẹp về Việt Nam, về cách mạng và về Bác Hồ kính yêu của chúng ta !

        Ngoài công việc chiếu phim phục vụ đơn vị và khách, chúng tôi còn tranh thủ cải tạo đất xung quanh nhà ở để trồng rau cải thiện bữa ăn, trồng hoa điểm tô cho cuộc sống thêm lạc quan tin tưởng ngày chiến thắng. Hậu phương lớn miền Bắc gửi quà vào như vải thiều Thanh Hà, nhãn lồng Hưng Yên, sau khi ăn chúng tôi ươm hạt và trồng bên những luống rau xanh. Anh em còn trồng cả xoài, mít, sầu riêng… vì cuộc sống, chiến đấu có thể còn kéo dài, Mỹ nguỵ vẫn còn chống trả quyết liệt, chúng tôi không bao giờ lơ là mất cảnh giác trước kẻ thù, luôn sẵn sàng giáng trả khi cần thiết.

        Ở giữa vòng vây của quân thù, cuộc sống sinh hoạt và làm việc của chúng tôi vẫn giữ nề nếp bình thường như những ngày còn trong căn cứ đơn vị. Tuỳ theo sở thích của từng người tham gia các môn thể thao, văn nghệ. Tôi vốn cao hơn một mét bảy nên vào đội bóng rổ, anh Hoè chơi bóng chuyền. Những trận thi đấu bóng bàn, bóng rổ, bóng chuyền, tenis với các đội trong Uỷ ban quốc tế luôn diễn ra sôi nổi, quyết liệt, hấp dẫn và hữu nghị. Khán giả là cán bộ, chiến sĩ của hai đoàn ta, có cả vợ, con binh lính nguỵ bên khu gia binh gần đó. Vào dịp lễ, tết không khí sinh hoạt của chúng tôi trong trại Davis nhộn nhịp khác thường. Nhiều lúc chúng tôi quên rằng xung quanh hàng rào doanh trại có mấy chục vọng gác. Các họng súng đen ngòm tua tủa chĩa vào mình. Bên kia đường Lê Văn Lộc là trại lính dù có hàng nghìn tên, mỗi sáng chúng hò hét "Đả đảo cộng sản". Các căn cứ quân sự của Mỹ nguỵ dày đặc vây ép xung quanh trụ sở của hai đoàn ta. Tất cả những trò uy hiếp ấy không làm cho chúng tôi mảy may sờn lòng, tiếng cười vui, tiếng reo hò cổ vũ, tiếng hát, tiếng đàn cứ vút cao bay xa. Mặc cho quân thù suốt đêm ngày ăn, mất ngủ để tìm mọi mưu sâu, kế độc hòng hãm hại chúng tôi. Nhiều lần chúng cắt điện, cắt nước, cắt chuyến bay liên lạc với hậu phương. Chẳng còn ai đếm xem bao nhiêu lần địch khiêu khích bỉ ổi với những người làm công tác "ngoại giao quân sự" của cách mạng nữa.

        Không chỉ có vậy, chúng còn đề ra nhiều phương án đê hèn khác hòng huỷ diệt trại Davis, tiêu diệt hàng trăm cán bộ, chiến sĩ ta.

        Những ngày đầu xuân 1975, toàn đơn vị được phổ biến phải khẩn trương chuẩn bị chiến đấu. Từ ngoài nhìn vào trại Davis vẫn duy trì nề nếp sinh hoạt bình thường, những buổi tập thể dục, vui chơi thể thao rất đúng giờ. Nghe tiếng còi báo thức là mọi người khẩn trương ra điểm tập trung, tiếng hô các động tác, nghiêm, nghỉ vẫn dõng dạc như không có chuyện gì sắp xảy ra. Còn anh em theo sự phân công đã bắt tay ngay vào từng việc của mình. Mọi người đều xác định cuộc chiến đấu sắp tới sẽ vô cùng quyết liệt, có thể phải thương vong hoặc hy sinh. Dù thế nào cũng không ngần ngại. Bao năm thử lửa trên chiến trường, bom chùm, pháo bày, đạn thẳng như vãi trấu, những bộ mặt lỳ lợm hung dữ của kẻ thù chẳng làm ai nao núng. Giờ đây giữa hang ổ quân thù nhưng có cả nước luôn ở bên chúng tôi, bạn bè trên thế giới, nhiều người đã biết và ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của ta nên mọi người rất vững vàng, kiên định…. Cả đơn vị đã bắt tay vào đào đắp công sự ngay trong căn phòng đang ở. Xẻng cuốc không có vì khi vào đây chẳng ai nghĩ sẽ phải chiến đấu với kẻ địch bằng vũ khí làm gì. Chỉ với mấy chiếc xẻng cá nhân, những mảnh tôn của cánh tủ, cọc sắt đập dẹp… chúng tôi đào đắp thành hầm hào nối liên hoàn, từ nhà nọ sang nhà kia giúp cho việc đi lại khi cần chiến đấu rất thuận tiện. Có cả hầm quân y, hầm hậu cần dự trữ lương thực, thực phẩm, nước uống.

        Tất cả anh chị em của Đoàn đại biểu quân sự CPCMLTCHMNVN và Tổ LHQS 4 bên của CP VNDCCH đều đã sẵn sàng chiến đấu với những vũ khí có trong tay gồm tiểu liên AK47, súng ngắn K59 và K54. Gần đến chiến dịch Hồ Chí Minh, chúng tôi được bổ sung thêm hai hòm thủ pháo chống tăng. Loại vũ khí này nếu địch dùng xe tăng, xe bọc thép để chà sát trại Davis hòng tiêu diệt chúng tôi thì nhất định chúng phải chịu tổn thất đáng kể.

        Ngày 28 và 29/4/1975, tiếng pháo 130 ly đã nổ rất gần Sài Gòn. Đại quân của chúng ta không còn cách xa nữa. Pháo binh từ Nhơn Trạch đã trút xuống Tân Sơn Nhất, đường băng bị phá nát, cày xới thành những hố sâu, máy bay địch không thể lên xuống sân bay này. Các loạt pháo bắn khá chính xác, trúng vào các vị trí cần tiêu diệt, chứng tỏ sự phối hợp giữa chúng tôi với pháo binh ta khá tốt…



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Hai, 2010, 04:27:31 pm
        Sáng 30/4/1975, đã nghe rõ tiếng nổ của súng AK, bộ binh của ta đã đến rồi! Đồng đội ơi! Đồng đội ơi ! Lòng tôi xốn xang vì trận chiến đấu đang diễn ra xung quanh.

        Vào khoảng 9 giờ sáng, đồng chí Mười Sương - Trưởng ban chính trị gọi tôi giao nhiệm vụ cho tôi trèo lên tháp nước của Trại Davis cắm lá cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Vì tháp nước là một cao điểm ở Thành phố Sài Gòn. Tôi đi tìm cán cờ, loay hoay một lúc mới tìm được đoạn ống nước. Cẩn gác tại cổng cũng phụ giúp tôi. Tôi lên trước, Cẩn theo sau tới điểm cao ở tháp nước chừng 8m đến 8.5m. Đúng 9 giờ 30 phút lá cờ cách mạng tung bay trên điểm cao trại Davis. Đứng trên tháp nước, nhìn xung quanh khu vực về hướng Tây của sân bay Tân Sơn Nhất tôi thấy có nhiều tiếng súng nổ dữ dội, có cả tiếng pháo lớn, tiếng xe tăng ta gầm rú đang tiến về ngã tư Bảy Hiền. Có thể hướng này địch chống cự quyết liệt nên tiếng súng không hề ngớt. Tôi chợt nghĩ nếu được phép chia lửa với các anh thì từ đây thành một cánh quân đánh ngang sườn chi viện rất tốt cho các anh đang tiến vào từ hướng Bà Quẹo về ngã tư Bảy Hiền  làm như thế sẽ đỡ đổ máu của đồng đội tôi trước cửa ngõ Sài Gòn.

        Phía đường Hoàng Hoa Thám đã thấp thoáng những chiếc mũ tai bèo tiến về khu vực trại Davis. Có một tổ cùng với cán bộ quân giải phóng đã vào được trụ sở của phái đoàn ta. Các đồng chí tự giới thiệu là đơn vị thuộc quân đoàn 3 (binh đoàn Tây Nguyên) vào và xin ý kiến đồng chí trưởng đoàn Hoàng Anh Tuấn. Anh Tuấn và ban chỉ huy Đoàn B cùng các đồng chí Tổ Liên hiệp quân sự 4 bên của Đoàn A gặp bộ phận anh em cán bộ, chiến sĩ của Quân đoàn 3 thật xúc động. Anh Tuấn nói với đồng chí phụ trách là cứ tiếp tục hành tiến theo như đã phân công. Đơn vị quân  giải phóng được sự chỉ dẫn của anh em trong đoàn ta rời trụ sở theo đường Lê Văn Lộc tiến về Bộ Tổng tham mưu nguỵ chỉ còn cách đó hơn một cây số.

        Lúc gặp gỡ anh em quân giải phóng, vui quá quên cả hỏi thăm tình hình quê hương, dù biết các anh đều mới từ Bắc vào. Đồng chí chỉ huy cánh quân xin phép trưởng đoàn tiếp tục dẫn quân tiến về hướng nội đô. Chúng tôi như đang sống trong những giờ phút hào hùng nhất, giờ phút  chiến thắng của dân tộc.

        11 giờ 30 phút, quân ta chiếm dinh Độc lập Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng không điều kiện.

        Đại thắng rồi ! Đại thắng rồi, không ai bảo ai những tiếng hô vang, tiếng hò reo, tiếng gào thét vui sướng…

        Nước mắt nóng hổi cứ trào ra khoé mắt, chảy tràn trên gò má. Mặc, nước mắt của Độc lập, của tự do, của thống nhất đất nước bị dồn nén từ bao năm rồi giờ đây mới có dịp tuôn trào. Bao máu xương, bao mồ hôi, của cải mới giành được ngày này. Nước mắt của sướng vui dâng trào trong trái tim chúng tôi.

        Tôi ngước mắt nhìn lên, lá cờ cách mạng  no gió đang ngạo nghễ tung bay trên bầu trời. Có lẽ gió đã hoà vào niềm vui của chúng tôi đưa nó bay lên cao, mang tin chiến thắng bay đi xa cùng hàng triệu trái tim của nhân dân cả nước và bạn bè trên thế giới đón chào ngày Đại thắng của dân tộc.

        Nhìn sang dãy nhà của các đồng chí lãnh đạo đoàn ta, tôi thấy đồng chí Hoàng Anh Tuấn cũng đang dùng khăn tay thấm vào khoé mắt. Hai mắt tôi nhoà đi, sống mũi cay xè, tôi cứ để cho nước mắt tuôn rơi, nước mắt hạnh phúc của cả dân tộc Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Hai, 2010, 04:33:46 pm

Trích Tập II "Trại Đa-vít 823 ngày đêm":

LỜI NÓI ĐẦU

        823 ngày đêm 1à một khoảng thời gian rất ngắn trong toàn bộ cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam ta.

        Nhưng 823 ngày đêm mà một lực lượng cán bộ, nhân viên, chiến sỹ của Quân đội nhân dân Việt Nam, của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, của các ngành Ngoại giao, Công an nhân dân, Thông tấn báo chí hai miền Nam Bắc cắm giữa sào huyệt của địch, công khai hiên ngang với tư thế của đội quân chiến thắng đấu tranh buộc kẻ thù phải thi hành Hiệp định Pari về Việt Nam lại là một sự kiện độc đáo. Kẻ thù rắp tâm và bằng mọi âm mưu, thủ đoạn để phá hoại Hiệp định Pari nên cuộc đấu tranh đó vô cùng gay go quyết liệt và phức tạp.

        Đây là một sự kiện có một không hai trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta cũng như trong lịch sử các cuộc chiến tranh trên thế giới.

        Năm 2005, sau khi tập một "Trại Đavít 823 ngày đêm" được bà Nguyễn Thị Bình nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao- Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam trong cuộc hội đàm Pari giới thiệu và được đông đảo bạn đọc cũng như các nhân chứng lịch sử tham gia đấu tranh ngoại gìao quân sự rất hoan nghênh đón nhận cuốn sách. Những nội dung trong tập sách đó đã nói được một phần về hai đoàn Đại biểu quân sự cách mạng trong đấu tranh thi hành Hiệp định Pari về Việt Nam.

        Nguyện vọng của các nhân chứng lịch sử muốn ra tiếp tập hai để có thể phản ánh được sâu hơn, toàn diện hơn về sự kiện lịch sử "Trại Đavít" tại Tân Sơn Nhất- Sài Gòn. Thể theo nguyện vọng đó, Ban liên lạc Câu lạc bộ truyền thống Ban liên hơp quân sự của hai miền Nam Bắc đã thảo luận, bàn bạc và đi đến nhất trí tổ chức thực hiện để ra được tập hai "Trại Đavít 823 ngày đêm". Rất nhiều đồng chí đã dày công nghiên cứu, sưu tầm tư liệu và viết bài lần lượt gửi về cho Ban liên lạc chúng tôi.

        Vào đầu năm 2009, trên tay chúng tôi đã có hàng trăm tư liệu được sưu tầm, có những tài liệu và những tấm ảnh qua thời gian đã hoen ố, biến dạng. Nhiều bài viết khá công phu, ghi rõ sự thật, người thật, việc thật của cuộc đấu tranh, những hoạt động nhiều mặt trong các công việc cụ thể, trong cuộc sống và chiến đấu giữa sào huyệt địch.

        Thật xúc động. Chúng tôi đã nghiêm túc xem xét tất cả các tư liệu, những tấm ảnh, những chứng minh thư liên hợp quân sự, những giấy uỷ nhiệm công tác của trưởng đoàn Trung tướng Trần Văn Trà và của phó trưởng đoàn Võ Đông Giang ký. Chúng tôi đọc từng bài, nhận thấy rõ nội dung thật là phong phú và đa dạng về cách thể hiện. Đã gần 40 năm mà nhiều đồng chí đã hết sức tâm huyết, cố gắng nhớ lại, lục tìm những ghi chép của thời đó rồi viết lại những điều mình tâm đắc nhất. Có những vấn đề được tác giả ấp ủ từ lâu, suy ngẫm khá sâu và nay được viết ra rất cẩn trọng. Tác giả đã phân tích khá cặn kẽ những điều mà bản thân mình thấy vinh dự tự hào. Đồng thời cũng mạnh dạn nêu lên những kinh nghiệm được thử thách trong thực tiễn đấu tranh cách mạng mà mình đã trực tiếp tham gia.

        Chúng tôi đã cố gắng chọn lựa những bài phù hợp trong đó có sử dụng các ý kiến của các đồng chí lãnh đạo Đảng ta và các đồng chí trực tiếp tham gia đấu tranh trong cuộc hội đàm Pari giúp bạn đọc có cái nhìn tổng quát về hiệp định và quá trình thi hành hiệp định Pari để đưa vào tập hai này. Nhưng thật khó khăn vì bài nào cũng có những nết riêng cụ thể hấp dẫn, lời văn mộc mạc chân thành, ẩn chứa trong đó những nét đẹp tinh tuý nhiều góc cạnh của một thời kỳ đấu tranh gay go quyết liệt với kẻ thù.

        Vì khuôn khổ của tập sách có hạn, không thể đưa tất cả các bài viết vào được chúng tôi chỉ mong mỏi những bài đưa vào tập này cùng với tập một sẽ phản ánh được rõ nét hơn về mọi mặt hoạt động phong phú, sinh động của cuộc đấu tranh mà các nhà ngoại giao quân sự đã thực hiện trong suốt 823 ngày đêm tại sào huyệt địch. Bằng bản lĩnh chiến đấu kiên cường, quan điểm lập trường chính trị vững vàng của những anh bộ đội cụ Hồ có ý chí cách mạng, có tầm cao văn hoá đã vận dụng linh hoạt và sáng tạo phương châm "Dĩ bất biến ứng vạn biến" theo tư tường ngoại giao Hồ Chí Minh có hiệu quả nhất và đặc biệt là đã giữ vững vị trí chiến đấu trên trận địa ngoại giao quân sự tới ngày thắng lợi cuối cùng- 30/4/1975.

        Với trách nhiệm chính trị, trong phạm vi khả năng và điều kiện thực tiễn. Ban liên lạc chúng tôi đã cố gắng cao nhất để hoàn thành nhiệm vụ được tập thể các thành viên Câu lạc bộ truyền thống BLHQS tin cậy giao phó. Giờ đây, các bạn đã có trên tay tập hai cuốn "Trại Đavít - 823 ngày đêm".

        Xin trân trọng giới thiệu với các đồng chí, với đông đảo bạn đọc, rất mong được sự cảm thông và góp ý.

        Rất chân thành cảm ơn!

                                                       BAN LIÊN LẠC CÂU LẠC BỘ TRUYỀN THỐNG
                                                            BAN LIÊN HỢP QUÂN SỰ "TRẠI ĐAVÍT"



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Hai, 2010, 07:54:22 pm
Câu lạc bộ truyền thống                                                          Ngày  11  tháng  2  năm 2010
   BLHQS- Trại Đa-vít

Lời  Cám  Ơn

        Câu lạc bộ truyền thống Ban Liên hợp quân sự "Trại Đa-vít" chân thành cám ơn các cơ quan, đơn vị và các cá nhân đã nhiệt tình ủng hộ và động viên chúng tôi chuẩn bị xuất bản tập II cuốn hồi ức "Trại Đa-vít 823 ngày đêm"

        Đây là tập bổ sung cho tập I gồm những bài của một số các đồng chí tham gia trực tiếp ở cuộc hội đàm Paris và những cán bộ chiến sĩ hai đoàn đại biểu quân sự chính trị trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên và hai bên đã trực tiếp đấu tranh trên trận tuyến ngoại giao quân sự từ 27/1/1973 đến 30/4/1975

        Các cơ quan, đơn vị và các cá nhân đã từng cung cấp cho chúng tôi những tư liệu, tài liệu, ảnh ...  và đã tài trợ cho xuất bản cuốn sách:

        - Bộ ngoại giao và Ban nghiên cứu lịch sử truyền thống của Bộ ngoại giao.

        - Bộ Công an có các Tổng cục xây dựng lực lượng, Tổng cục An ninh nhân dân và Báo Công an nhân dân (Chuyên đề An ninh thế giới).

        - Tổng cục II và Cục Đối ngoại quân sự, Bộ quốc phòng.

        - Các cá nhân có các đồng chí: Huỳnh Văn Trình, Trịnh Quang Tuyến, Đào Chí Công, Nguyễn Hồng Đào, Phan Đức Thắng, Vương Đình Vân, Nguyễn Huy Hiệu, Nguyễn Ngọc Sơn, Phạm Văn Lãi, Phạm Văn Hồng, Trần Quang Nhạ, ...

        Tập II "Trại Đa-vít 823 ngày đêm"sẽ xuất bản vào đầu tháng 4/2010. Kính mời đông đảo bạn đọc đón chờ để đăng ký mua. Nếu đăng ký trước thì đăng ký với địa chỉ Nhà Xuất bản Quân đội nhân dân số 23 phố Lý Nam Đế Ha Nội hoặc với quansuvn.net

        Nhân dịp này chúng tôi xin chân thành cám ơn và hoan nghênh việc đưa cuốn "Trại Đa-vít 823 ngày đêm" tập I và cuốn "Một thời ở Cục Chính trị Quân giải phóng miền Nam Việt Nam (B2) lên mạng Quân sử Việt Nam (quansuvn.net)

        Rất mong các đông chí và các bạn hưởng ứng.


                                                                                (http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/ChukyNamBinh.jpg)

        Chú thích: Đại tá Vũ Nam Bình ( Tên thật là Nguyễn Văn Khả ), nguyên phó cục trưởng Cục An ninh Quân đội, Chủ biên các cuốn "Trại Đa-vít 823 ngày đêm" T1&2, "Một thời ở cục chính trị Quân giải phóng miền Nam (B2)"  


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Hai, 2010, 09:59:23 pm
        Thực ra các đoàn của BLHQS 4 bên và 2 bên đều đã giải thể từ lâu. Để có được "Trại Đa-vít 823 ngày đêm", các thành viên cũ đã tự động tập hợp nhau lại, tự tổ chức, cùng nhau viết bài, biên tập và in ấn. Để có được kinh phí in ấn, Ban liên lạc đã kêu gọi tài trợ của 1 số cơ quan, đơn vị, cá nhân. Do không có kinh phí nên cuốn 2 chỉ có thể in khoảng 1000 cuốn và với số lượng ít như vậy nên chỉ phân phối nội bộ chứ không đưa ra nhà sách phát hành được.

      Dự kiến cuốn 2 sẽ dày khoảng 600 trang, và nếu in 1000 cuốn thì giá thành vào khoảng 100.000/cuốn. 60% số tiền đó phải đi vay. Do vậy nếu bác nào quan tâm và muốn ủng hộ các CCB Đa-vít thì có thể vào lập danh sách đăng ký mua ở đây:

     Danh sách đăng ký mua "Trại Đa-vít 823 ngày đêm" tập II

1/ Giangtvx
2/ Ptlinh
3/ -  

        Các chi tiết sẽ xin thông báo sau


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: trauxanh trong 28 Tháng Hai, 2010, 10:47:13 pm
cho em xin đặt mua 1 cuốn nhé


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Hai, 2010, 11:09:24 pm

Cám ơn bác! Thế mà em cứ tưởng là không còn ai quan tâm. Vây:
1/ Giangtvx
2/ Ptlinh
3/ Trauxanh
4/ -


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: danngoc trong 01 Tháng Ba, 2010, 12:03:54 am
Em mua tập 1 và 2


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Ba, 2010, 12:23:25 am
Cám ơn bác! Nhưng chỉ có tập 2 thôi, tập 1 bác vào quân sử xem tạm vậy.
1/ Giangtvx
2/ Ptlinh
3/ Trauxanh
4/ Dangoc
5/ -


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: luonchinguoc trong 03 Tháng Ba, 2010, 10:29:52 pm
em đăng ký mua tập 2, nếu có thể thì cả tập 1 luôn.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Ba, 2010, 10:55:16 pm
1/ Giangtvx
2/ Ptlinh
3/ Trauxanh
4/ Dangoc
5/ luonchinguoc
6/ -

Bác ơi, em đã nói là không còn tập I mà. Xem tập I, mời bác vào đây : http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7235.0


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: bob trong 22 Tháng Ba, 2010, 11:45:01 am

Trích Tập II "Trại Đa-vít 823 ngày đêm":

LỜI NÓI ĐẦU

        823 ngày đêm 1à một khoảng thời gian rất ngắn trong toàn bộ cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam ta.

        Nhưng 823 ngày đêm mà một lực lượng cán bộ, nhân viên, chiến sỹ của Quân đội nhân dân Việt Nam, của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, của các ngành Ngoại giao, Công an nhân dân, Thông tấn báo chí hai miền Nam Bắc cắm giữa sào huyệt của địch, công khai hiên ngang với tư thế của đội quân chiến thắng đấu tranh buộc kẻ thù phải thi hành Hiệp định Pari về Việt Nam lại là một sự kiện độc đáo. Kẻ thù rắp tâm và bằng mọi âm mưu, thủ đoạn để phá hoại Hiệp định Pari nên cuộc đấu tranh đó vô cùng gay go quyết liệt và phức tạp.

        Đây là một sự kiện có một không hai trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta cũng như trong lịch sử các cuộc chiến tranh trên thế giới.

        Năm 2005, sau khi tập một "Trại Đavít 823 ngày đêm" được bà Nguyễn Thị Bình nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao- Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam trong cuộc hội đàm Pari giới thiệu và được đông đảo bạn đọc cũng như các nhân chứng lịch sử tham gia đấu tranh ngoại gìao quân sự rất hoan nghênh đón nhận cuốn sách. Những nội dung trong tập sách đó đã nói được một phần về hai đoàn Đại biểu quân sự cách mạng trong đấu tranh thi hành Hiệp định Pari về Việt Nam.

        Nguyện vọng của các nhân chứng lịch sử muốn ra tiếp tập hai để có thể phản ánh được sâu hơn, toàn diện hơn về sự kiện lịch sử "Trại Đavít" tại Tân Sơn Nhất- Sài Gòn. Thể theo nguyện vọng đó, Ban liên lạc Câu lạc bộ truyền thống Ban liên hơp quân sự của hai miền Nam Bắc đã thảo luận, bàn bạc và đi đến nhất trí tổ chức thực hiện để ra được tập hai "Trại Đavít 823 ngày đêm". Rất nhiều đồng chí đã dày công nghiên cứu, sưu tầm tư liệu và viết bài lần lượt gửi về cho Ban liên lạc chúng tôi.

        Vào đầu năm 2009, trên tay chúng tôi đã có hàng trăm tư liệu được sưu tầm, có những tài liệu và những tấm ảnh qua thời gian đã hoen ố, biến dạng. Nhiều bài viết khá công phu, ghi rõ sự thật, người thật, việc thật của cuộc đấu tranh, những hoạt động nhiều mặt trong các công việc cụ thể, trong cuộc sống và chiến đấu giữa sào huyệt địch.

        Thật xúc động. Chúng tôi đã nghiêm túc xem xét tất cả các tư liệu, những tấm ảnh, những chứng minh thư liên hợp quân sự, những giấy uỷ nhiệm công tác của trưởng đoàn Trung tướng Trần Văn Trà và của phó trưởng đoàn Võ Đông Giang ký. Chúng tôi đọc từng bài, nhận thấy rõ nội dung thật là phong phú và đa dạng về cách thể hiện. Đã gần 40 năm mà nhiều đồng chí đã hết sức tâm huyết, cố gắng nhớ lại, lục tìm những ghi chép của thời đó rồi viết lại những điều mình tâm đắc nhất. Có những vấn đề được tác giả ấp ủ từ lâu, suy ngẫm khá sâu và nay được viết ra rất cẩn trọng. Tác giả đã phân tích khá cặn kẽ những điều mà bản thân mình thấy vinh dự tự hào. Đồng thời cũng mạnh dạn nêu lên những kinh nghiệm được thử thách trong thực tiễn đấu tranh cách mạng mà mình đã trực tiếp tham gia.

        Chúng tôi đã cố gắng chọn lựa những bài phù hợp trong đó có sử dụng các ý kiến của các đồng chí lãnh đạo Đảng ta và các đồng chí trực tiếp tham gia đấu tranh trong cuộc hội đàm Pari giúp bạn đọc có cái nhìn tổng quát về hiệp định và quá trình thi hành hiệp định Pari để đưa vào tập hai này. Nhưng thật khó khăn vì bài nào cũng có những nết riêng cụ thể hấp dẫn, lời văn mộc mạc chân thành, ẩn chứa trong đó những nét đẹp tinh tuý nhiều góc cạnh của một thời kỳ đấu tranh gay go quyết liệt với kẻ thù.

        Vì khuôn khổ của tập sách có hạn, không thể đưa tất cả các bài viết vào được chúng tôi chỉ mong mỏi những bài đưa vào tập này cùng với tập một sẽ phản ánh được rõ nét hơn về mọi mặt hoạt động phong phú, sinh động của cuộc đấu tranh mà các nhà ngoại giao quân sự đã thực hiện trong suốt 823 ngày đêm tại sào huyệt địch. Bằng bản lĩnh chiến đấu kiên cường, quan điểm lập trường chính trị vững vàng của những anh bộ đội cụ Hồ có ý chí cách mạng, có tầm cao văn hoá đã vận dụng linh hoạt và sáng tạo phương châm "Dĩ bất biến ứng vạn biến" theo tư tường ngoại giao Hồ Chí Minh có hiệu quả nhất và đặc biệt là đã giữ vững vị trí chiến đấu trên trận địa ngoại giao quân sự tới ngày thắng lợi cuối cùng- 30/4/1975.

        Với trách nhiệm chính trị, trong phạm vi khả năng và điều kiện thực tiễn. Ban liên lạc chúng tôi đã cố gắng cao nhất để hoàn thành nhiệm vụ được tập thể các thành viên Câu lạc bộ truyền thống BLHQS tin cậy giao phó. Giờ đây, các bạn đã có trên tay tập hai cuốn "Trại Đavít - 823 ngày đêm".

        Xin trân trọng giới thiệu với các đồng chí, với đông đảo bạn đọc, rất mong được sự cảm thông và góp ý.

        Rất chân thành cảm ơn!

                                                       BAN LIÊN LẠC CÂU LẠC BỘ TRUYỀN THỐNG
                                                            BAN LIÊN HỢP QUÂN SỰ "TRẠI ĐAVÍT"


Sáng 30/4/1975 tôi dẫn đầu một một mũi vào Sân bay tân sơn nhất. May mắn, chúng tôi Gặp được phái đoàn của ta ở trại Đa vít (Như tôi đã kể trong Topic "Truyên của Bob"). Thật cảm động: sáng hôm ấy các anh ùa ra ôm lấy anh em bộ đội chúng tôi mừng vui, và rưng rưng nước mắt... có anh kể: chúng tôi bị chúng nó(Mỹ + VNCH) giam lỏng ở đây mấy năm nay. Sáng nào bọn lính dù tập thể dục cũng hô: "Đả đảo VC..." và chửi CS không tiếc lời. Chúng nó xây dựng lô cốt vây quanh và chĩa mũi súng vào nơi ở của phái đoàn...
- Tôi rất mong có anh nào trong phái đoàn của ta ở trại Đa vít chứng kiến giây phút gặp gỡ Quân giải phóng vào sáng 30/4/1975 kể lại tâm trạng lúc ấy...
 - Xin cảm ơn các anh. tôi xin đăng ký mua một cuốn "trại Đa vít-823 ngày đêm". (Tôi "Bob" nguyên là chính trị viên C11,D6,E24,F10,QĐ3 sáng 30/4/1975 gặp được phái đoàn ta tại trại Đa vít)


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giang tvx trong 14 Tháng Tư, 2010, 04:34:52 pm
        Ngày 29/4/2010 Ban liên lạc Câu lạc bộ BLHQS "Trại Đa-vít" (khu vực phía Bắc) tổ chức cuộc gặp mặt truyền thống kỷ niệm 35 năm ngày Đại thắng của dân tộc 30/4/1975 - 30/4/2010 và Bộ Ngoại giao trao tặng Kỷ niệm chương bổ sung cho 43 đồng chí có thành tích đóng góp vào việc thi hành Hiệp định Pa ri về Việt Nam.

        Xin trân trọng kính mời các đồng chí đã tham gia chiến đấu công tác tại Trại Đa-vít chưa có giấy mời, khẩn trương liên hệ với Ban liên lạc hoặc đăng ký tại đây để có thể nhận giấy mời bổ sung.

        Hiện nay đã có sách "Trại Đa-vít 823 ngày đêm" tâp II. Giá bán là 145.000 đ/quyển.

        Tôi đã liên hệ với Ban biên tập và Ban biên tập cũng đồng ý bán cho các thành viên của QUÂN SỬ VIỆT NAM với giá là 100.000Đ/cuốn. Thời gian đăng ký và mua sách và được hưởng giá ưu đãi trên là từ nay tới ngày 28/4/2010 (nếu còn sách)

        Xin mời các thành viên đã đăng ký tới mua và nhận sách. Địa chỉ và thời gian nhận sách sẽ gửi qua tin nhắn tới từng người.

        Các thành viên chưa đăng ký nhưng muốn mua sách có thể gửi tin nhắn cho "Giangtvx" hoặc "Giang tvx" trong thời hạn trên. (Không đăng ký mua tại đây)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/scan-4.jpg)


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tư, 2010, 11:23:46 pm
Cuộc họp mặt tổ chức tại số 1 Trấn Vũ, thời gian từ 8h đến 12h ngày 29/4/2010


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: HUY_AK_47 trong 14 Tháng Năm, 2010, 04:19:58 pm
[anh ơi cho em hỏi trên thế giới có sự kiên trại Davit nào nữa không?


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Năm, 2010, 11:01:15 am
Nếu nói về "trại Davis" thì bên Mỹ cũng có 1 cái trại như thế (và rất nổi tiếng) dành riêng cho các tổng thống Mỹ làm nơi nghỉ ngơi.

Còn nếu hiểu "sự kiện trại Davit" là sự kiện đấu tranh ngoại giao trong lòng đối phương thì tôi chưa biết có sự kiện nào tương tự như thế


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Năm, 2010, 11:10:12 am
    Vài thông tin về cuộc gặp gỡ qua ảnh:

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Davit2901.jpg)

Tranh thủ lúc vắng, chụp ảnh kỷ niệm:
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Davit2902.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Davit2903.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Davit2904.jpg)
Đại tá Nguyến Văn Khả (Vũ Nam Bình) - Đại tá Nguyễn Duy Thùy
hai bố con cùng trên trận tuyến an ninh


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Năm, 2010, 11:32:50 am

Tặng sách "Trại Đa-vít 823 ngày đêm" Tập II cho các đại biểu và các CCB có bài trong cuốn sách

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Davit2905.jpg)

Bán sách cho các CCB:

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Davit2906.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Davit2907.jpg)


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Năm, 2010, 11:33:46 am
Chia sẻ các bài viết về Trại Đa-vít trên các báo Hà Nội mới (số ra ngày 28/4), báo Sài Gòn Giải phóng (số ra ngày 29/4) :

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Davit2908.jpg)

Gặp mặt - tâm tình :

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Davit2909.jpg)


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Năm, 2010, 10:09:18 pm

Xẻ chia kỷ niệm qua các tấm ảnh xưa :

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Davit2910.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Davit2911.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Davit2912.jpg)


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Năm, 2010, 10:14:33 pm

Cùng chụp ảnh kỷ niệm :

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Davit2913.jpg)

Chụp ảnh kỷ niệm với phóng viên :

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Davit2914.jpg)

Bên trong hội trường :

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Davit2915.jpg)


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: altus trong 24 Tháng Năm, 2010, 06:14:56 am
Nhặt bên ACG một video quay cảnh quân ta ở Trại Davis:

http://www.youtube.com/watch?v=7d0zUlrAElY

Bác Giang thử cho các cụ xem có nhận ra được mình hay đồng đội trong đó không.  :)

Khoảng giây 00:37 - 00:40 camera quay cảnh chiến sỹ cảnh vệ (?) ta cầm khẩu súng gì bé tí thế các bác?


Còn đây là hành trình của một CCB từng đóng quân ở trại Davis đi tìm lại chốn cũ mới tháng trước.

http://www.youtube.com/watch?v=BDXYGymplvI


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: thainhi_vn trong 13 Tháng Sáu, 2010, 02:17:07 am
Không biết em có góp được gì mới không, nhưng đây là bài em mới viết và đăng trên Wiki. Mong các bác chỉ giáo thêm và đừng ném đá em  ;D

Trại Davis, mà trong một số tài liệu viết nhầm thành trại David, là một địa danh để chỉ một trại trại quân sự nằm ở phía Tây Nam Căn cứ không quân Tân Sơn Nhứt, Sài Gòn, trong thời gian diễn ra Chiến tranh Việt Nam[1]. Tuy nhiên, nó thường được biết đến nhiều hơn với tư cách là nơi đặt trụ sở của hai phái đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam thi hành Hiệp định Paris 1973 về chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam.

Sự hình thành

Nguyên thủy, đây là một trại cư trú của một nhóm công tác An ninh Quân đội Hoa Kỳ, được xây dựng vào khoảng giữa năm 1961. Đây là một đơn vị trực thuộc Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ, được đưa sang Việt Nam với danh nghĩa Tổ Viễn thám số 3 (3rd Radio Research Unit - 3rd RRU), trực thuộc Phái bộ Cố vấn Quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam (Military Assistance Advisory Group, Vietnam - MAAG-V). Thực chất, đây là một đơn vị phụ trách về việc thu thập và giải mã các tín hiệu, cũng như xác định vị trí điện đài của đối phương, ngoài ra còn làm công tác cố vấn và hỗ trợ chuyên môn cho Nha An ninh Quân đội Việt Nam Cộng hòa.

Nguồn gốc tên gọi

Ban đầu trại không có tên gọi riêng. Ngày 22 tháng 12 năm 1961, một thành viên của Tổ Viễn thám số 3 là Hạ sĩ chuyên viên (Specialist Four) James Thomas Davis (1936-1961) bị quân du kích Cộng sản phục kích và giết chết tại vùng Đức Hòa, tỉnh Hậu Nghĩa (nay thuộc tỉnh Long An). Nhiều tài liệu thường nhầm lẫn, ông là người lính Mỹ đầu tiên bị giết chết tại Việt Nam.[2]

Để tưởng niệm ông, ngày 10 tháng 1 năm 1962, các bạn bè trong Tổ đã đặt trại cư trú của mình theo tên ông. Họ cũng dựng một khu tưởng niệm Davis nho nhỏ ở trong trại.

Ban đầu trại được gọi là "Davis Station". Đến năm 1966, Tổ Viễn thám số 3 được thay thế bằng Nhóm Viễn thám 509 (509th Radio Research Group - 509th RRG). Trại được nâng cấp và mở rộng, một thời gian thì được gọi là "Davis Camp". Nơi đây trở thành trại cư trú của 509th RRG cho đến cuối năm 1972 thì Nhóm được rút về nước theo điều khoản quy định của Hiệp định Paris 1973. Từ đó, trại bị bỏ hoang.[3]

Trụ sở 2 phái đoàn đại biểu quân sự

Theo các điều khoản của Hiệp định Paris, chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã chọn trại Davis để làm nơi làm việc của phái đoàn đại biểu quân sự 4 bên cũng như nơi ở của hai phái đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, với lý do thuận tiện cho việc di chuyển của các phái đoàn bằng máy bay, đồng thời cơ sở vẫn còn tiện nghi. Tuy nhiên, theo Thiếu tướng Nguyễn Đôn Tự thì: "Sắp xếp cho hai đoàn ta ở trại Trại Đa-vít, chính quyền Sài Gòn muốn cô lập, ngăn không cho ta có điều kiện tiếp xúc với người dân Sài Gòn, đồng thời dễ bề kiểm soát thông tin, phá sóng, gây nhiễu điện của ta.".[4]

Phiên họp đầu tiên của Ban liên hợp quân sự 4 bên Trung ương được khai mạc vào 15 giờ 15 phút ngày 2 tháng 2 năm 1973 với sự có mặt của 4 vị trưởng đoàn gồm: Trung tướng Trần Văn Trà (Cộng hòa Miền Nam Việt Nam), Thiếu tướng Lê Quang Hòa (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), Trung tướng Ngô Du (Việt Nam Cộng hòa) và Thiếu tướng Gilbert H. Woodward (Hoa Kỳ). Ngày 28 tháng 3 năm 1973, Ban liên hiệp quân sự 4 bên Trung ương chấm dứt hoạt động. Ngày 29 tháng 3 năm 1973, người lính Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam. Không lâu sau, đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng rời khỏi trại.

Sau đó, Ban Liên hợp quân sự chỉ còn 2 bên là Đoàn của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn làm Trưởng đoàn và Đoàn của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa do Chuẩn tướng Phan Hòa Hiệp làm Trưởng đoàn. Phái đoàn đạo biểu quân sự của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam làm việc tại trại cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Hiện trạng

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, trại có thời gian được sử dụng làm nơi làm việc của tướng Trần Văn Trà, với tư cách là Tư lệnh quân quản Sài Gòn. Một thời gian dài trại bị bỏ hoang. Hiện nay (2010), trại nằm trong khu quân sự thuộc sự quản lý của Sư đoàn không quân 370 và được sử dụng một phần để làm sân bóng đá. Tuy nhiên, khu vực trại đã được đề nghị phục dựng và công nhận trại Davis là Di tích lịch sử cấp Quốc gia.


Chú thích
   1. ^ Nay thuộc phường 12, quân Tân Bình.
   2. ^ Thực ra người lính Mỹ đầu tiên được xem là chết ở Việt Nam là Trung tá OSS Albert Peter Dewey, người bị bắn chết bởi một sự nhầm lẫn của du kích Việt Minh vào ngày 26 tháng 9 năm 1945. Ngoài ra, người lính Mỹ đầu tiên chết trong Chiến tranh Việt Nam là Trung sĩ Kỹ thuật (Technical Sergeant) Richard B. Fitzgibbon Jr. (1920-1956), bị giết tại miền Nam Việt Nam ngày 6 tháng 8 năm 1956 bởi một người bạn đồng ngũ. Người lính Mỹ đầu tiên bị giết bởi đối phương trong Chiến tranh Việt Nam là Thiếu tá Lục quân Richard Dale Buis (1921-1959) và Thượng sĩ Chester Melvin Ovnand (1914-1959) trong một cuộc tấn công bằng bom của quân Cộng sản vào ngày 8 tháng 7 năm 1959 tại Biên Hòa.
   3. ^ Phạm Thắng Vũ, "Chuyện về Trại Davis trong Phi trường Tân Sơn Nhứt thời thi hành Hiệp định Paris năm 1973".
   4. ^ "Trại Đa-vít 823 ngày đêm", phần hồi ức của Thiếu tướng Nguyễn Đôn Tự.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Bảy, 2010, 10:08:08 am
Để có thêm cái nhìn về Đa-vít từ phía bên kia, xin trích dẫn 1 đoạn trong cuốn "Sài Gòn sụp đổ" của Pauk Dreyfrus đã được số hóa tại : http://www.quansuvn.net/index.php?topic=949.0

3
UỶ BAN QUỐC TẾ GIÁM SÁT LÀM NHIỆM VỤ

29 tháng 1 năm 1973
 
Sáng hôm qua, Uỷ ban quốc tế giám sát ngừng bắn đã họp phiên đầu tiên ở Sài Gòn trong khung cảnh thiểu não: Từ phía xa xa tiếng đạn pháo vẫn nổ rền không ngớt. Không phải pháo nhỏ. Toàn cỡ 105, 155... Một lần nữa, pháo lại bắn suốt đêm chung quanh thành phố Sài Gòn bị ngột ngạt vì oi bức và xao xuyến vì hoang mang lo lắng. Bản hoà tấu đơn điệu này vẫn kéo dài mãi, trong lúc các thành viên có trách nhiệm giám sát việc thực hiện ngừng bắn theo Hiệp định Pari, gặp nhau lần đầu tiên.


Mười giờ sáng, Bộ tham mưu quân đội Nam Việt Nam công bố bản thông báo hằng ngày. Không phải để báo tin các hoạt động chiến sự đang giảm bớt. Ngược lại, 335 trận chiến đấu đã xảy ra, trong đó có một số là những trận chiến đấu thật sự, trong ngày thứ Bẩy. Tuy nhiên, ngày hôm trước kỷ lục còn cao hơn. Có tới 426 trận chiến đấu. Đến ngày thứ Hai, mọi người có thể sẽ nghĩ rằng cường độ giao tranh sẽ tiếp diễn, phụ thuộc vào ý chí quyết liệt của cả hai phía, không ai chịu nhường ai.


Vậy mà, tờ Sao và Vạch của quân đội Mỹ vừa phát hành cách đây mấy tiếng đồng hồ vẫn còn in trên trang nhất dòng chữ đậm nét to tướng It's all over (Mọi chuyện đã kết thúc). Quả là một nhận định kỳ quái!



Đại diện bốn nước ngồi chung quanh một chiếc bàn

Chào đón các thành viên Uỷ ban quốc tế chỉ có một nhóm nhà báo, khoảng một chục nữ nhân viên phục vụ dáng vẻ tò mò và vài đứa trẻ con ăn mặc bẩn thỉu.

Địa điểm đón tiếp thật thảm hại. Đó là một trại lính cũ của Pháp từ thời xưa, có những dãy nhà quét vôi màu vàng trên một bãi đất trọc, trụi cỏ, trồng cây, gần Câu lạc bộ thể thao. Khu vực này từ thời thuộc Pháp đã được gọi là “Trại lính lắm hồ ao".


Một viên cảnh sát đã mở những cánh cổng màu xanh dẫn vào khu nhà lớn nhất, cũng là ngôi nhà ít thảm hại nhất. Trong một gian phòng rộng hình chữ nhật trơ trụi, ngửi thấy mùi mốc, đã bố trí sẵn một chiếc bàn. Mặt bàn được phủ vội vã một tấm khăn có lẽ là khăn trải bàn mầu trắng từ thời chiến tranh thuộc địa của tướng Galliéni. Trên bàn có đặt vài chiếc cốc thuỷ tinh cọ rửa qua loa và bốn chai đựng nước uống, hứng từ vòi nước máy.


Ngồi chung quanh bàn là hai chục người đàn ông, gương mặt lộ rõ vẻ mệt nhọc. Bởi vì, tất cả đều vừa mới trải qua một chuyến đi dài để tới chiếc bàn không sang trọng này. Một số đã không chợp mắt từ hai đêm nay.


Phần lớn các thành viên đều trang phục mùa hè, màu sám hoặc xanh lơ, thắt cra-vát trên cổ áo sơ mi trắng theo đúng quy cách.


Nếu mọi người nhận ra ngay các thành viên quốc tịch Indonexia thì lại rất khó phân biệt những người Canada, Hungari và Ba Lan. Có hai sĩ quan Hungari mặc quân phục với những chiếc mũ mềm ka ki có lưỡi trai che mắt rất kỳ cục. Có hai người Canada, cũng là hai sĩ quan, mặc quần cộc màu xanh đậm, áo sơ mi xanh nhạt cộc tay. Ngồi sát gần chỗ tôi là một đại tá Ba Lan quân phục chải chuối, đeo đầy huân chương. Đây là người tôi có dịp trò chuyện, trước khi khai mạc cuộc họp.


Đến từ ba lục địa và thuộc những nước có chế độ chính trị khác nhau, song những thành viên này đều cùng chung mục đích: cố góp phần vào việc lập lại một nền hoà bình thật sự ở Nam Việt Nam.



Không làm gì cả.

Cuộc họp đầu tiên này kéo dài một giờ.

Buổi trưa, các nhà báo chúng tôi đến trụ sở của người Canada, đón đợi trưởng đoàn là ông Michel Gauvin, 53 tuổi, đã từng giữ chức đại sứ tại Hi Lạp, nay tới đây cùng với phó đoàn là thiếu tướng Mac Alpine.

Nhà ngoại giao này nói:

- Chúng tôi đã thảo luận về khả năng cử các phái đoàn giám sát tới bẩy bộ tư lệnh địa phương ở Nam Việt Nam. Nhưng trong lúc này chưa thực hiện được vì những lý do mà các ông đã biết. Lý do thứ nhất là các hoạt động chiến sự vẫn tiếp diễn. Uỷ ban quốc tế giám sát dĩ nhiên chỉ có thể hoạt động được nếu có ngừng bắn thật sự và có những đường ranh giới rõ ràng giữa các lực lượng đối địch.

Chúng tôi hỏi lại đại sứ:

- Nếu những cuộc chiến đấu cứ tiếp tục, các ngài sẽ làm gì?

Ông trả lời bằng tiếng Pháp:

- Chúng tôi không thể làm gì được.

Ông Michel Gauvin vừa mới tới Sài Gòn hồi hai giờ rưỡi sáng hôm nay. Nhưng ông biết rõ xứ sở này vì đã ở đây từ năm 1955. Dù chỉ mới trở lại đây một khoảnh khắc ngắn, qua giọng nói của ông chúng tôi được biết ông không nuôi ảo vọng gì về tương lai của Uỷ ban giám sát trong sứ mệnh kéo dài sáu mươi ngày. Ít nhất cũng là những ảo vọng trong tương lai gần.

Đại sứ tiếp tục nói:

- Chúng tôi chỉ có thể thực thi nhiệm vụ trong chừng mực hiệp định ngừng bắn được cả hai bên tôn trọng.

Một nhà báo Mỹ vụt hỏi ông:

- Có một cuộc chiến đấu bùng nổ ngay ở bên kia phố, thì các ngài sẽ làm gì?

Ông đáp lại bằng tiếng Anh, thẳng thừng như quất một ngọn roi:

- Nothing! (Không làm gì cả!)



Sự cố ở sân bay

Lý do thứ hai khiến cho Uỷ ban quốc tế giám sát ngừng bắn không thể nào bắt tay làm việc nhanh chóng như đã định là một bộ phận đoàn đại biểu Ba Lan chưa tới kịp Sài Gòn. Bộ phận này bị chậm trễ vì Hà Nội thiếu máy bay. Bởi vì tuyến đường bay duy nhất từ Hà Nội vào Sài Gòn chỉ có thể thực hiện trên một phương tiện duy nhất là bay qua Lào, một nước trung lập, nếu không nói là có xu hướng trung lập. Từ Hà Nội, mỗi tuần chỉ có một chuyến bay của hãng Aeroflot của Nga bay đi Viếng Chăn. Mọi người hình như quên mất chi tiết này.


Lý do thứ ba, quan trọng vô cùng, đang kìm hãm công việc của Uỷ ban quốc tế giám sát. Uỷ ban quân sự bốn bên do Hiệp định Paris chỉ định vẫn chưa bắt đầu thực hiện nhiệm vụ. Phía Nam Việt Nam, Bắc Việt Nam và Mỹ đã có thể sẵn sàng công việc vì đã có mặt tại những toà nhà lớn có điều hoà không khí, trong căn cứ không quân Tân Sơn Nhất, tất cả các cổng ra vào đều canh gác kỹ. Nhưng các cấp tướng và sĩ quan cấp cao Việt cộng vẫn chưa có mặt. Người ta giải thích:

- Thật ra, họ đang ngồi trên một chiếc máy bay quân sự của Nam Việt Nam. Chiếc máy bay này đã hạ cánh, đậu gần nhà ga, nhưng họ không chịu xuống.


Lý do? Các nhà chức trách Nam Việt Nam đã đưa máy bay đón phái đoàn Việt cộng từ Băng Cốc. Phái đoàn này đã từ Paris tới thủ đô Thái Lan trên một chiếc máy bay của hãng hàng không Pháp Air France. Nhưng khi tới Sài Gòn, các nhân viên cảnh sát và hải quan yêu cầu họ làm các thủ tục nhập cảnh như những người nước ngoài. Và các sĩ quan Việt cộng đã đáp lại, không phải không có lý:


- Nước Việt Nam là một, không thể chia cắt được. Nguyên tắc này đã được công bố rõ trong Hiệp định Paris vừa ký kết. Đó cũng là điều Hiệp định Genève 1954 đã ghi nhận. Hôm nay là ngày chúng tôi trở về đất nước của chúng tôi. Đây là nhà của chúng tôi. Chúng tôi kiên quyết không chịu để đối xử như những người nước ngoài…


Những sĩ quan Việt cộng này vẫn sẽ còn ngồi trong khoang máy bay nếu như đến giờ ăn trưa chính quyền Sài Gòn không nhượng bộ bằng cách tạo ra một cái cớ để đỡ mất thể diện, theo kiểu châu Á.



Và đến bây giờ?

Cuối cùng, các tiểu ban đã có thể bắt tay vào việc.

Tiểu ban quân sự bốn bên có nhiệm vụ làm cho các lực lượng quân sự Bắc Việt, Nam Việt và Việt cộng1 (Trong cuốn sách này, Paul Dreyfus dùng từ "Việt cộng" để chỉ những thành viên thuộc Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam) “đóng ở nguyên các vị trí” (theo điều 3 chương A Hiệp định Paris) và cấm ngặt "các hoạt động thù địch, khủng bố, đàn áp" (điều 3, chương C).


Về phần uỷ ban quốc tế giám sát, các thành viên sẽ đi khắp lãnh thổ Nam Việt Nam để thừa nhận hoặc ghi nhận những vi phạm hiệp định đã ký kết tại phố Kleber Paris.


Nhưng, để làm việc này, trước hết phải có ngừng bắn. Mà, lúc này, súng lại bắn gấp đôi.

Cuộc chiến tranh giữa Mỹ và cộng sản Việt Nam đã kết thúc. Nước Mỹ thở phào nhẹ nhõm.

Nhưng cuộc chiến tranh Việt - Việt đang ác liệt. Nhìn về phía chân trời lúc này, chỉ thấy máu và nước mắt.  
(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Bảy, 2010, 10:31:44 am
(Tiếp theo)
4
SPIRO AGNEW ĐẾN SÀI GÒN TRONG CẢNH TRÀN NGẬP RỐI REN

30 tháng 1 năm 1973
....
Chúng tôi không chịu ra khỏi đây

Tân Sơn Nhất, sân bay dân sự và quân sự, chiếm một diện tích lớn như một thành phố loại trung bình của nước Pháp, là một căn cứ luôn luôn được phòng thủ vững chắc. Đây là một vị trí có tầm quan trọng chiến lược quá lớn tới mức không thể bỏ mặc cho đặc công Việt cộng được trang bị vũ khí phóng rốc két tầm xa mười một kilômét tự do bắn phá.


Ngay cả khi đã có hiệp định ngừng bắn, Tân Sơn Nhất vẫn còn là một pháo đài ghê gớm tua tủa vũ khí như con nhím. Sáng hôm qua, chúng tôi chỉ có thể vào được đây do được phép ngồi trong một chiếc xe quân sự của Mỹ có một thiếu tá quân phục chỉnh tề mở đường tiên vào sân bay. Tại sao phải áp dụng những biện pháp đề phòng này? Trên thực tế hiện nay sân bay đang có những phái đoàn cộng sản thành viên của các tiểu ban quân sự đình chiến. Vậy mà, mới hôm qua, một sự cố nghiêm trọng đã đẩy một trong các phái đoàn này vào tình trạng đối lập với các nhà chức trách Sài Gòn.


Câu chuyện như sau:

Khoảng một trăm sĩ quan Bắc Việt vừa tới căn cứ không quân Tân Sơn Nhất trên hai chiếc máy bay vận tải hai động cơ C130 Hercules của lực lượng không quân vận tải Hoa Kỳ. Các nhà chức trách Sài Gòn lại có ý định buộc các đại biểu này phải tiến hành các thủ tục nhập cảnh như đã áp dụng đối với những người nước ngoài. Ngày hôm trước, phái đoàn Việt cộng đã không chịu theo các thủ tục do cảnh sát và nhân viên hải quan yêu cầu. Hôm nay, đến lượt các sĩ quan Bắc Việt cũng không chịu làm thu tục, với các lý do tương tự. Họ nói:

- Sự thống nhất của nước Việt Nam đã được công nhận ngay từ Hiệp định Genève 1954, và tuần trước lại được Hiệp định Paris 1973 tái khẳng định ngay trong điều một của văn bản. Chúng tôi không thể bị đối xử như những người nước ngoài. Chúng tôi từ chối tuân theo các thủ tục do chính quyền Sài Gòn tự tạo ra nhằm làm chậm trễ công việc của các tiểu ban trong Uỷ ban giám sát. Chúng tôi sẽ không ra khỏi đây chừng nào vấn đề này chưa được giải quyết. Chúng tôi cứ ngồi ở ngay trong khoang máy bay này.



Những người vô hình

Họ đã ngồi trên máy bay hết giờ này sang giờ khác. Kể lại trong một hàng chữ thì rất ngắn. Nhưng thực tế thì rất dài. Cũng cần biết thêm, trong chiếc máy bay vận tải quân sự Hercules của Mỹ không có đầy đủ tiện nghi vì loại này chỉ dùng để chở hàng hoặc thả dù. Thời tiết rất nóng. Máy bay lại đỗ trên đường băng xi măng bị hun nóng như lò bánh mì.


Những lính canh của quân đội Sài Gòn đội mũ sắt được bố trí vây quanh máy bay.

Còn những lính Mỹ, vừa mới hôm qua còn là kẻ địch thì thỉnh thoảng lại mang bánh mì kẹp thịt, nước chanh giải khát... tới mời các sĩ quan tự nguyện ngồi lì trên máy bay.


Trong khi đó chính quyền Sài Gòn vẫn cứng đầu cứng cổ. Họ tuyên bố:

- Hôm qua, chúng tôi đã tìm được một giải pháp đối với Việt cộng. Dù sao đó cũng là những người Nam Việt Nam. Nhưng, đối với những phái viên của Bắc Việt, không có vấn đề nhân nhượng nào cả.

Đại sứ Hoa Kỳ phải ra tay can thiệp, nói:

- Phó tổng thống Agnew đang tới thăm các ngài. Nhất định, các ngài phải tìm ra giải pháp. Nếu sự cố này không được giải quyết trong thời gian Phó tổng thống qua thăm, có thể sẽ dẫn đến hậu quả xấu nhất.


Như vậy là, chỉ ba mươi nhăm phút sau khi chiếc Boeing màu trắng và xanh chở ngài Spiro Agnew hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất, chính quyền Sài Gòn đã tìm được giải pháp. Các đại biểu Bắc Việt bước ra khỏi máy bay, mệt mỏi vì đã ngồi trong khoang nóng bỏng tới hai mươi giờ. Nhưng họ đã thắng.


Nhưng rồi họ đi đâu? Không ai biết. Một trong số bạn đồng nghiệp của tôi vừa đi một mình vào cổng sân bay căn cứ không quân Tân Sơn Nhất đã bị lính canh của quân đội Sài Gòn tịch thu hết giấy tờ. Một người khác, vừa lái xe tới gần rào cản, đã bị một loạt đạn bắn vỡ lốp xe.


Không nhà báo nào được liếp xúc với các thành viên phái đoàn Bắc Việt và Việt cộng. Cũng không biết họ ở đâu Trong lúc này, họ đang là những người vô hình.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Bảy, 2010, 10:55:23 am
(Tiếp theo)
10
CUỘC TIẾP XÚC CHỚP NHOÁNG VỚI MỘT ÔNG TƯỚNG VIỆT CỘNG


3 tháng 2 năm 1973

Ngày hôm qua, ngay tại Trung tâm thành phố Sài Gòn tôi đã gặp một ông tướng Việt cộng mặc quân phục. ông đang ăn cơm trưa tại thành phố. Dĩ nhiên, không phải là một bữa ăn thịnh soạn. Đây là bữa cơm "vừa ăn vừa làm việc" do đại sứ Michel Gauvin, trưởng đoàn Canada trong ban quốc tế kiểm soát ngừng bắn, tổ chức. Chung quanh bữa ăn tại biệt thự trồng nhiều hoa, có các trưởng đoàn Ba Lan, Hungari, Indonexia.


Cùng đi với bốn người mặc thường phục là các quân nhân: Đó là bốn trưởng đoàn đại biểu thuộc tiểu ban quân sự bốn bên: Thiếu tướng Mỹ Gilbert Woodward tham mưu trưởng bộ tư lệnh quân sự Mỹ tại Sài Gòn, trung tướng Ngô Du, trung tướng Bắc Việt Lê Quang Hoà, Phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị quân đội nhân dân Việt Nam tại Hà Nội và tướng Trần Văn Trà, Tư lệnh thuộc tổng hành dinh Mặt trận dân tộc giải phóng, do một chiếc máy bay lên thẳng lên tận bưng biền Lộc Ninh tìm đón, đưa về đây vài hôm trước.


Tướng Bắc Việt mặc quân phục ka ki với các cấp hiệu và huân chương. Tướng Việt cộng mặc bộ đồ trận màu xanh lá cây, không đeo sao và dải huân chương, đội mũ cứng như các sĩ quan của Mặt trận dân tộc giải phóng. Trong các khách mời với các bộ đồ may đo sang trọng, ông là vị tướng chiến đấu xuất hiện từ rừng rậm.


Cũng như người đồng nghiệp Bắc Việt, đây là lần đầu tiên ông ra khỏi sân bay Tân Sơn Nhất là nơi ông từng sống kể từ ngày tới Sài Gòn, trong một căn nhà có máy điều hoà không khí, được canh gác, bảo vệ nghiêm mật hơn cả bảo vệ những kho trang sức quý giá của hoàng hậu Ran.

Ông đến đây trên một xe hơi to lớn của Mỹ.

Sau bữa ăn, các vị khách ra khỏi phòng, đứng trên bậc thềm, đồng ý cho chụp ảnh. Đây là lần đầu tiên các cựu địch thủ thoả thuận cùng để lộ mặt trên phim ảnh. Tất nhiên, họ từ chối một cuộc phỏng vấn. Trung tướng Việt cộng Trần Văn Trà vẫn muốn trả lời ngắn gọn vài câu hỏi. Cũng như bạn đồng nghiệp Bắc Việt, ông khẳng định rõ ý muốn thiết lập một cuộc ngừng bắn thật sự. Ông nói:

- Chúng tôi đến đây để góp phần vãn hồi hoà bình. Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam cũng như Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà muốn hoà bình.


Ông phàn nàn về những khó khăn đã ngăn trở tiểu ban quân sự bốn bên công tác hiệu quả như cần thiết. Ông tố cáo chính quyền Nam Việt Nam, nhưng không nêu đích danh, đã chọc gậy vào bánh xe. Ông bộc lộ một sự lo ngại về tương lai khi vạch rõ tất cả những trở ngại này còn xa mới vượt được.

Sau khi nói xong, ông tiến lại gần một lính dù đang làm nhiệm vụ canh gác biệt thự. Ông giơ tay, nói:

- Chiến tranh đã kết thúc. Phải hoà giải.

Tên lính dù sững sờ, không biết phản ứng như thế nào. Bắt tay ư? Rất có thể sẽ bị cấp trên khiển trách. Bồng súng chào ư? Điều này không ghi trong điều lệnh, nhất là trong những tình huống như thế này. Hạ gục tại chỗ viên tướng Việt cộng ư? Ngay trên bậc thềm toà nhà ngoại giao, đây là một hành động gây ấn tượng xấu.

Anh lính quyết định đứng im. Dù sao anh cũng mỉm cười. Đây là nụ cười đầu tiên của hoà bình.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Bảy, 2010, 06:30:36 pm
(tiếp theo)
Đoạn sau đây mô tả Thiếu tá Nguyễn Thị Ngọc Dung tại Sài Gòn:
59
BÀ THIẾU TÁ TRUY QUÉT NHỮNG KẺ THÙ CỦA NHÂN DÂN
Thứ Hai 12 tháng 5

Trong bộ quân phục màu xanh lá cây, người đàn bà này không đeo một cấp hiệu gì hết. Vậy mà bà đã là thiếu tá và giữ một vai trò quan trọng trong bưng biền Việt cộng.

Tuần trước, tôi đã nhìn thấy bà ngồi bên cạnh tướng Trần Văn Trà, phiên dịch cho Chủ tịch Uỷ ban quân quản. Hôm nay, tôi lại nhìn thấy bà tại Bộ Ngoại giao chưa có Bộ trưởng.

Bà có những dáng nét hài hoà, cặp mắt hạt dẻ gợi cảm, bộ tóc đen dài. được tết lại và cuộn thành một búi nhỏ, khó đoán được tuổi. Tiếng Pháp của bà không chê vào đâu được. Bà đã ở Paris ba năm.

- Vậy thưa bà thiếu tá, chúng tôi có thể sắp tới sẽ được rời khỏi Sài Gòn.

- Tôi mong muốn như vậy.

- Tại sao người ta lại yêu cầu chúng tôi tới đăng ký, nếu không phải để tổ chức cho chúng tôi về nước.

- Đó là do chúng tôi muốn biết chính xác, có bao nhiêu người nước ngoài ở Sài Gòn.


Quả là bất ngờ. Chính nhân dịp này đã phát hiện thấy còn có những người Mỹ ở Sài Gòn. Tôi không nói tới các nhà báo, còn lại tới hàng chục mà là những "cố vấn, Mỹ bị lỡ chuyến máy bay lên thẳng cuối cùng. Số này có lới mấy chục người.

Bà thiếu tá hỏi lại tôi:

- Tại sao các ông không ở lại Việt Nam một thời gian nữa?

- Bởi vì chúng tôi thấy, thời hạn của chúng tôi đã kéo dài quá lâu rồi. Nếu còn có thể được chúng tôi muốn đi Huế, Đà Lạt, Đà Nẵng hoặc vùng châu thổ sông Cửu Long.

- Tôi khuyên ông đừng làm như vậy.

- Tại sao? Không còn một nguy hiểm nào nữa, chỉ có xăng là thiếu, buộc chúng tôi phải tê liệt.

- Ông nghĩ sai rồi. Những kẻ thù của chúng ta chưa chịu khuất phục. Chứng cớ là, chúng tôi đã ra lệnh phải nộp vũ khí, nhưng mới chỉ thu hồi được một số rất ít.

- Nhưng mọi cuộc kháng cự đã ngừng từ lâu. Đất nước hoàn toàn yên tĩnh.

- Đúng vậy. Chúng tôi biết, các ông là những người tốt, và chúng tôi cũng biết các ông làm việc cho những tờ báo nào. Nhưng vẫn còn có những kẻ bất lương.

- Nếu không được đi xa thì liệu chúng tôi có được gặp các vị thành viên trong Chính phủ Cách mạng lâm thời không? Cho tới nay, chúng tôi mới chỉ được nhìn thấy một vị.

- Tại sao các ông không tìm gặp những thanh niên, sinh viên? Các ông biết, họ có những chuyện lý thú.

- Đúng vậy. Và chúng tôi đã liếp xúc với họ rồi. Nhưng chúng tôi còn muốn tiếp xúc tới những nhân vật cấp cao hơn.

- Tôi sẽ chú ý đến việc này. Tôi sẽ cố gắng theo khả năng. Đến đây, kết thúc buổi nói chuyện với bà thiếu tá Nguyễn Ngọc Dung.

(Hết trích dẫn)


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: bob trong 06 Tháng Tám, 2010, 03:44:57 pm
Bác GiangTVX ơi. Sau ngày 30 tháng 4/1975, E24, f10 của Bob đứng chân ngay khu vực sân bay Tân sơn nhất. Hôm lang thang trong khu nhà của phái đoàn Ba lan (phía ngoài sân bay). Bob "sưu tầm" được cái xà cột bằng da của Ba lan (chính hiệu) Bob còn giữ đến nay: Bob có ý định gửi về bảo tàng quân đội (coi như một hiện vật chứng minh sự có mặt của đoàn Ba lan ở VN giám sat thực hiện HĐ Pa ri). Xin ý kiến bác: có nên gửi  về bảo tàng không? -Điện thoại của Bob:  0963 461 603. Xin cảm ơn. 


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2010, 10:15:32 pm

Xin phép thành viên vansi được đăng lại tin nhắn của bạn tại đây (theo tôi cũng không có gì cần bí mật cả)

Kính gửi Bác Giangtvx
Vì cháu ko biết tuổi của Bác nên xưng hô như vậy. Qua trang mạng của Quân sử VN cháu được biết Bác liên lạc rất nhiều với Ban liên hợp quân sự bốn bên. Gia đình cháu mất mộ bác cháu là Liệt sĩ Nguyễn Văn Sĩ sinh năm 1941 mất ngày 15/02/1975. Khi mất bác cháu công tác tại Ban liên hợp quân sự bốn bên, hy sinh khi đang chuyển tài liệu từ địa phương mới được giải phóng về Tây Ninh. Bác cháu rất giỏi về tiếng Anh. Khi mất bác là Đại đội phó. Cháu rất mong Bác giúp cháu liên lạc được với các Bác, các cô các chú của Ban liên lạc quân sự bốn bên để hỏi tin tức về bác cháu. Số điện thoại của cháu là 0904112134. Rất mong nhận được sự giúp đỡ của Bác!


Đè nghị Ban liên lạc Hội cựu chiến binh trại Đa-vít và các thành viên khác, ai có thông tin về trường hợp này thông tin cho thành viên vansi.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2010, 10:23:15 pm
Bác GiangTVX ơi. Sau ngày 30 tháng 4/1975, E24, f10 của Bob đứng chân ngay khu vực sân bay Tân sơn nhất. Hôm lang thang trong khu nhà của phái đoàn Ba lan (phía ngoài sân bay). Bob "sưu tầm" được cái xà cột bằng da của Ba lan (chính hiệu) Bob còn giữ đến nay: Bob có ý định gửi về bảo tàng quân đội (coi như một hiện vật chứng minh sự có mặt của đoàn Ba lan ở VN giám sat thực hiện HĐ Pa ri). Xin ý kiến bác: có nên gửi  về bảo tàng không? -Điện thoại của Bob:  0963 461 603. Xin cảm ơn. 

Bác nên gửi. Tuy vậy để 1 hiện vật được chấp nhận như 1 chứng tích lịch sử đôi lúc cũng hơi nhiêu khê 1 chút. Phải làm "lý lịch" cho nó: Tìm thấy nó ở đâu, trong hoàn cảnh nào, ai chứng kiến, độ bảo tồn là bao nhiêu %, ...

Mong bác cố gắng!


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: vansi trong 06 Tháng Chín, 2010, 10:31:58 am
Cảm ơn bác Giang
Cháu đã vào Tỉnh Tây Ninh và xem toàn bộ danh sách trên sở Thương binh xã hội tỉnh Tây Ninh, và cũng đã liên lạc với bác Nguyễn Bạch Vân và Nguyễn Hồng Sơn ( là những người tham gia chiên dịch đường 14 Phước Long) nhưng không nhưng ko có thêm được thông tin nào về bác cháu. Rất mong nhận được thông tin từ bác.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: nguyenchung trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 01:03:28 pm
Xin phép hỏi các bác một chút về vấn đề này:
Trại Davis là nơi làm việc của Ban liên hợp 4 bên để giám sát việc thực thi Hiệp định Paris, có nghĩa là nơi này phải đảm bảo an toàn, không bị tấn công bởi 1 trong các bên.
Vậy theo hồi ký của Dương Hiếu Nghĩa, đại tá Quân lực VNCH thì đêm 29/04/1975: "Riêng Ban Liên Hợp chúng tôi cũng được hưởng mấy trái hỏa tiễn và đạn pháo 130 ly làm cho 3 dãy nhà bị cháy và gây tử thương vài binh sĩ, làm bị thương một số khác"   

Các bác có ý kiến gì về vấn đề này không ạ?


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: ancakho trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 01:08:33 pm
Trong hồi kí, chuyện kể lại của các bác đoàn VNDCCH cũng có màn đào hầm tránh pháo ta .., lý do bom rơi, đạn lạc.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: ov10 trong 25 Tháng Mười Hai, 2010, 12:42:42 am
Trong hồi kí, chuyện kể lại của các bác đoàn VNDCCH cũng có màn đào hầm tránh pháo ta .., lý do bom rơi, đạn lạc.

Cả nghĩa đen và nghĩa bóng cụ ạ.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: ov10 trong 25 Tháng Mười Hai, 2010, 12:45:06 am
...
   2. ^ Thực ra người lính Mỹ đầu tiên được xem là chết ở Việt Nam là Trung tá OSS Albert Peter Dewey, người bị bắn chết bởi một sự nhầm lẫn của du kích Việt Minh vào ngày 26 tháng 9 năm 1945.
...

Cha này bị bắn chết ở ngay chợ Hạnh Thông Tây cũ vì du kích tưởng là lính... Pháp.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: nguyenchung trong 28 Tháng Mười Hai, 2010, 12:05:10 pm
Em nghĩ nếu nói bom rơi đạn lạc thì phe bên kia chơi xấu sẽ nã cho vài trái pháo vào khu vực của đoàn nhà mình rồi bảo là bom rơi đạn lạc thì cũng chết.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: aladanh trong 30 Tháng Mười Hai, 2010, 08:23:33 am

Xin phép thành viên vansi được đăng lại tin nhắn của bạn tại đây (theo tôi cũng không có gì cần bí mật cả)

Kính gửi Bác Giangtvx
Vì cháu ko biết tuổi của Bác nên xưng hô như vậy. Qua trang mạng của Quân sử VN cháu được biết Bác liên lạc rất nhiều với Ban liên hợp quân sự bốn bên. Gia đình cháu mất mộ bác cháu là Liệt sĩ Nguyễn Văn Sĩ sinh năm 1941 mất ngày 15/02/1975. Khi mất bác cháu công tác tại Ban liên hợp quân sự bốn bên, hy sinh khi đang chuyển tài liệu từ địa phương mới được giải phóng về Tây Ninh. Bác cháu rất giỏi về tiếng Anh. Khi mất bác là Đại đội phó. Cháu rất mong Bác giúp cháu liên lạc được với các Bác, các cô các chú của Ban liên lạc quân sự bốn bên để hỏi tin tức về bác cháu. Số điện thoại của cháu là 0904112134. Rất mong nhận được sự giúp đỡ của Bác!


Đè nghị Ban liên lạc Hội cựu chiến binh trại Đa-vít và các thành viên khác, ai có thông tin về trường hợp này thông tin cho thành viên vansi.
Hôm qua cháu có về hỏi bố cháu (trước công tác tại Davis cho đến ngày giải phóng) về trường hợp Liệt sĩ Nguyễn Văn Sĩ. Bố cháu có biết về trường hợp này lúc hy sinh do nghe mọi người trong đoàn thông báo lại, nhưng hy sinh thế nào, ở đâu thì bố cháu không biết phần vì cụ đã lớn tuổi nên quên nhiều, phần vì bố cháu ở trong còn chú ấy làm liên lạc hy sinh nên không biết nhau, phần vì các trường hợp hy sinh thế này thường không phổ biến rộng rãi trong nội bộ nên bố cháu không nắm được chi tiết!
Chúc anh sớm tìm được thêm thông tin!


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Giêng, 2011, 09:41:51 pm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Phamvandong.jpg)

“HIỆP ĐỊNH PA-RI LÀ THẮNG LỢI NGOẠI GIAO TUYỆT VỜI …”

( Trích bài trả lời một nhà bình luận Truyền hình Mỹ nhân dịp kỷ niệm 10 năm giải phóng miền Nam )

PHẠM VĂN ĐỒNG                  

Nguyên ủy viên Bộ Chính trị ,                    
nguyên Thủ tướng Chính phủ                    
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

       “ Đáng lẽ người Mỹ phải rút bài học kinh nhiệm từ thất bại của người Pháp mà không nên tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam . Nhưng họ đã không làm như vậy, họ còn tưởng người Mỹ có thể làm được điều mà người Pháp đã không làm được”.

        “...Chúng tôi biết rõ chúng tôi phải chiến đấu chống lại một cường quốc giàu mạnh nhât trên thế giới ngày nay , và sẵn sàng chấp nhận những hy sinh to lớn. Song đối với chúng tôi, như chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “ Không có gì quý hơn độc lập tự do”, vì vậy ngay từ đầu, chúng tôi đã chiến đấu với một niềm tin sắt đá rằng thắng lợi cuối cùng nhất định thuộc về chúng tôi..”

        “…Tôi cho rằng cuộc Tổng tấn công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân 1968 là bước ngoặt của cuộc chiến tranh. Nó là một chiến thắng to lớn và vang dội của quân và dân chúng tôi, nhất là về chính trị và tâm lý. Nó đánh dấu thất bại của chiến lược “ chiến tranh cục bộ” của Mỹ. buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, đi vào đàm phán và bắt đầu quá trình rút khỏi miền Nam Việt Nam .”

        “…Nhà cầm quyền Mỹ đã tiến hành chiến dịch oanh tạc 12 ngày đêm vào Hà Nội và vùng phụ cận vào dịp Noen năm 1972 hòng cứu vãn và đảo ngược tình thế hết sức khó khăn và lúng túng của Mỹ hổi đó. Nhưng Mỹ đã vấp phải sự đánh trả quyết liệt và tài tình của lực lượng phòng không và không quân chúng tôi, đưa đến sự thất bại thảm hại của Mỹ . Dư luận và thế giới lúc đó đã gọi đây là “ Điện Biên Phủ Trên Không ”. Thất bại của Mỹ nặng nề đến nỗi nhiều phi công lái máy bay B.52 của họ đã từ chối tiếp tục chiến dịch oanh tạc Hà Nội. Chính thất bại đó đã buộc Mỹ phải tiếp tục cuộc đàm phán đi đến ký kết hiệp định Pa-ri ngày 27 tháng 1 năm 1973 ”.

        “…Hiệp định Pa-ri là một thắng lợi quan trọng của nhân dân chúng tôi trong cuộc chống Mỹ, cứu nước. Đối với chúng tôi, những điều khoản của đó là thỏa đáng, như một điều đảm bảo cho những quyền dân tộc cơ bản của nhân dân chúng tôi. Điều 5 quy định việc rút hết quân đội viễn chinh Mỹ ra khỏi miền nam Việt Nam, và điều 21 ghi rõ Mỹ sẽ đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công cuộc xây dựng lại Việt Nam sau chiến tranh. Hiệp định Pa-ri mở đường cho thắng lợi vĩ đại mùa xuân năm 1975, kết thúc hơn một nửa thế kỷ đô hộ của bọn chủ nghĩa thực dân cũ và mới trên đất nước chúng tôi, đem lại độc lập tự do và thống nhất cho Tổ Quốc chúng tôi”.
    


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Giêng, 2011, 10:03:15 pm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/LeDucThovaKissinger1.jpg)

Lê Đức Thọ (trái) và H. Kissinger bắt tay sau khi ký Hiệp định Paris

“ HIỆP ĐỊNH PA-RI LÀ MỘT THẤT BẠI LỚN ĐỐI VỚI MỸ “

                                                                                  Lê Đức Thọ

                                                                       Nguyên Ủy viên Bộ chính trị,Trung ương đảng,
                                                                       nguyên trưởng ban tổ chức trung ương.
                                                                       Nguyên cố vấn đặc biệt đoàn đàm phán
                                                                       chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa
                                                                       tại hội nghị Pa-ri về Việt Nam.
                                                                       Mất ngày 13 tháng 10 năm 1990.


        Nhân dịp kỷ niệm 10 năm giải phóng miền Nam, tháng 4 năm 1985, đồng chí Lê Đức Thọ đã trả lời phỏng vấn nàh báo I-ca-oa, đặc phái viên báo A-sha-hi Chim-bun ( Nhật Bản ). Đưới đây là trích đăng phần liên quan đến ngoại giao thời kỳ chống Mỹ và đám phán Pa-ri.

       Câu hỏi : Thời kỳ nào là khó khăn nhất và nguyên nhân vượt được khó khăn?

        Trả lời : Khó khăn nhất là biết mở đầu cuộc chiến tranh và biết kết thúc nó một cách đúng nhất. Khi chúng tôi vừa thắng Pháp xong, thì Mỹ đặt chân can thiệp vào Việt Nam. Bấy giờ mở đầu cuộc chiến tranh vào lúc nào là đúng nhất, và kết thúc nó thì chúng tôi lại qua hai giai đoạn. Hiệp định Pa-ri là một bước kết thúc để đuổi quân đội Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam. Giai đoạn sau là đánh đổ toàn bộ ngụy quyền ở Sài Gòn. Bởi vì chúng tôi biết mở đầu đúng và kết thúc đúng, cho nên chúng tôi mới giành được thắng lợi.

        Câu hỏi : Xin ngài cho biết cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968 có nhằm mục đích cụ thể là đánh đổ chính quyền Sài Gòn không?

        Trả lời : Tết Mậu Thân năm 1968, chúng tôi đánh cả ba vùng chiến lược bằng ba thứ quân. Mở cuộc tấn công vào thành phố , chúng tôi thấy có hai khả năng. Một là có thể địch bị suy sụp rồi tiến hành đàm phán. Hai là, nếu địch chưa suy sụp hẳn, mà bị thiệt hại nặng, thì cũng đi vào đàm phán. Cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968 đã làm địch thiệt hại rất lớn, làm cho chúng giảm sút ý chí chiến đấu. Và lúc đó chúng tôi chủ động đề xuất vấn đề ngồi vào đàm phán. Đàm phán kéo dài năm năm. Trong quá trình đó chúng tôi tiếp tục đánh và kéo địch xuống thang chiến tranh. Kết cục là giải quyết được vấn đề một cách thắng lợi.

        Câu hỏi : Xin ngài cho biết khó khăn nhất trong cuộc đàm phán Pa-ri phản ánh tình hình rất quyết liệt, gay gắt ở chiến trường, cho nên nó kéo dài và rất căng thẳng. Và cái khó khăn nhất ở đó là vấn đề gì?

        Trả lời : Có hai vấn đề : Quân sự và chính trị. Về quân sự Mỹ đòi quân đội chúng tôi rút ra khỏi miền Nam Vịêt Nam. Chúng tôi thì đòi Mỹ phải rút quân đội Mỹ và quân đội chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, còn quân đội chúng tôi thì ở lại miền Nam Việt Nam. Về chính trị, chúng tôi đòi Thiệu phải từ chức và tiến hành tổng tuyển cử tự do ở miền Nam Việt Nam. Mỹ thì muốn duy trì Thiệu. Đó là hai vấn đề chính, căng thẳng nhất, còn các điểm khác chỉ là phụ mà thôi. Cuối cùng, chúng tôi Mỹ và các chư hầu của Mỹ phải tôn trọng độc lập, chủ quyền và thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, quân đội Mỹ và các nước chư hầu phải rút khỏi miền Nam Việt Nam. Đó là Mỹ phỉa nhược bộ và quân đội chúng tôi thì vẫn đóng ở miền Nam Việt Nam. Chúng tôi cho rằng chúng tôi là một dân tộc thống nhất thì quân đội chúng tôi đóng ở nước chúng tôi chứ biết rút đi đâu. Mỹ phải nhược bộ chúng tôi về điểm này là rất căn bản. Vì khi quân đội Mỹ và quân đội chư hầu Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam thì quân đội ngụy không còn chỗ dựa nữa. Đó là một sự thay đổi về căn bản so với lực lượng. Thấy quân đội Mỹ của Mỹ và chư hầu phải rút khỏi miền Nam Việt Nam, còn quân đội miền Bắc vẫn còn ở lại, Nguyễn Văn Thiệu rất bực. Thiệu nói là quân đội Ngụy mất phần lớn chỗ dựa của nó rồi! Do Mỹ đã nhượng bộ về quân sự rồi thì về chính trị chúng tôi mềm dẻo. Lúc đó, chúng tôi không đòi Thiệu phải từ chức ngay, mà chúng tôi đòi thực hiện các quyền tự do, dân chủ ở miền Nam Việt Nam và đòi tổng tuyển củ tự do. Chúng tôi cho rằng, dù Thiệu có từ chức và đưa người khác lên thay thì cũng là tay sai của Mỹ. Và nếu so sánh lực lượng quân sự đã thay đổi về căn bản, thì chính quyền của ngụy cũng không thể đứng vững được. Cái khó ở cuộc đàm phán kéo dài như vậy. Cuối cúng chúng tôi đã thắng lợi, tức là đuổi quân đội Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đánh đổ chính quyền ngụy sau này.

        Câu hỏi : Người ta nói rằng do có những ngăn trở của Mỹ và Trung Quốc nên có những điều khoản bị ép phải nhược bộ về vấn đề Lào và Campuchia, vậy, thưa ngài có đúng không?

        Trả lời: Ông Kít-xinh-giơ đã nói với tôi nhiều lần là giải quyết vấn đề ở Việt Nam thì giải quyết cả vấn đề Lào và Campuchia. Nhưng tôi nói với ông ta rằng cái tên gọi của nó là “ Hiệp định Pa-ri về Việt Nam “ và các bên đều đồng ý ngay từ lúc đầu cuộc đàm phán là hội nghị Pa-ri về Việt Nam chứ không giải quyết vấn đề về Lào và Cam-pu-chia. Cho nên ký hiệp định Pa-ri hoàn toàn về Việt Nam. Còn về Lào thì sau này các bên ở Lào ngồi nói chuyện với nhau để giải quyết. Chúng tôi không giải quyết thay cho Lào được. Và vấn đề Cam-pu-chia cũng vậy...Có thể nói trong lịch sử 200 năm của nước Mỹ chưa bao giờ Mỹ phải ký một hiệp định như hiệp định Pa-ri. Đó là một thất bại lớn đối với Mỹ.

        Câu hỏi : Xin ngài cho biết về chiến dịch Hồ Chí Minh. Do tình hình nào, vào thời điểm nào ban lãnh đạo Việt Nam quyết định đánh đổ chính quyền Sài Gòn bằng biện pháp quân sự?

        Trả lời: Trước hết, tôi nói với ông về một vấn đề mà ông Kit-xinh-giơ đã viết trong hồi ký. Chắc ông đã đọc. Trong đàm phán, tôi phân tích tình hình quân sự của Mỹ và của ngụy ở miền Nam Việt Nam. Sau khi tôi phân tích rồi, ông ta đã phải thừa nhận như ông ta viết trong hồi ký, thấy đúng là quân đội Mỹ tiến thoái lưỡng nan. Tôi nói với ông ấy thế này: Mỹ có rút hết quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam để thực hiện Việt Nam hóa chiến tranh thì các ông cũng thất bại mà thôi. Bởi vì Mỹ có một triệu quân ngụy và Mỹ cũng đưa vào gần nửa triệu triệu quân Mỹ, chưa kể phần hải quân và không quân Mỹ mà vẫn không thắng được chúng tôi. Bây giờ quân đội Mỹ và chư hầu của Mỹ phải rút ra khỏi miền Nam Việt Nam, thì một mình quân đội ngụy thực hiện cái các ông bảo là Việt Nam hóa chiến tranh làm sao mà thắng được. Trong hổi ký ông Kít-xing-giơ đã thừa nhận là sự phân tích nói trên của tôi là sâu sắc, đã đâm chúng tim ông ta, làm cho ông ta phải đau đầu. Chúng tôi biết rằng Mỹ - ngụy không bao giờ thi hành hiệp định Pa-ri và chúng tôi có kinh nhiệm về hiệp đinh Giơ-ne-vơ rồi. Quả đúng như vậy, Mỹ tiếp tục giúp ngụy đánh chiếm vùng giải phóng. Cho nên, sau khi ký hiệp định Pa-ri, chúng tôi bắt tay vào chuẩn bị, bởi vì thấy Mỹ và ngụy không thi hành hiệp định Pa-ri. Chúng tôi đã đánh giá đúng tình hình và chúng tôi đã tiến hành một cuộc tổng tấn công một cách táo bạo và thần tốc giải phóng miền Nam Việt Nam trong 55 ngày đêm.

        Câu hỏi : Khi đó ngài có tính đến sự can thiệp trở lại của Mỹ không?

        Trả lời : Sau khi quân đội Mỹ và quân chư hầu rút khỏi miền Nam Việt Nam rồi, chúng tôi cho rằng Mỹ không thể trở lại được nữa. Vì sự thất bại của Mỹ lớn quá, nhân dân Mỹ không cho phép chính quyền Mỹ đưa quân trở lại bằng bất cứ cách nào, chỉ trừ giúp cho ngụy phần nào về kinh tế và vũ khí. Đã đến lúc Mỹ phải bỏ miền Nam Việt Nam rồi, đã thua phải ra đi thì không thể trở lại. Ông kít-xinh-giơ đã vào Hà Nội và có đi thăm Viện bảo tàng lịch sử của chúng tôi. Tôi chỉ lên bốn câu thơ của Lý Thường Kiệt. Bốn câu thơ đại ý là nước Việt Nam của người Việt Nam, đã phân định rõ ràng, bất cứ một cứ kẻ nào đếm xâm lược cũng sẽ bị đánh bại. Ông Kít-xinh-giơ nói với tôi: “ Đúng như vậy?”. Điều đó chứng tỏ chính ông Kit-xinh-giơ thừa nhận sự thất bại của Mỹ.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Giêng, 2011, 10:29:11 pm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Daituong.jpg)

ĐÂY LÀ MỘT HÀN THỬ BIỂU
BÁO THỜI TIẾT CHÍNH TRỊ - QUÂN SỰ LÚC NÀY,
ĐẶT NGAY TRONG LÒNG ĐỊCH

      
       ...” Gặp anh Trần Văn Trà - Trưởng đoàn đại biểu quân sự chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong ban liên hợp quân sự bốn bên vừa ra Hà Nội, tôi được biết thêm về âm mưu, thái độ, thủ đoạn của đối phương ở chiến trường và trên bàn đàm phán ở trại Đa-vít trong sân bay Tân Sơn Nhất.

        Anh còn cho biết ngay sau ngày kí hiệp định Pa-ri chúng đã tráo trở ném bom vào sân bay Thiện Ngôn đúng vào giờ và địa điểm chúng hẹn đưa trực thăng đến đón Đoàn đại biểu quân sự của chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam vào Sài Gòn làm việc. Nhờ khôn ngoan và cảnh giác, đoàn ta vẫn an toàn.

        Có thể coi đây là trận thắng đầu tiên của ta trước sự phản trắc đê hèn của Mỹ- ngụy.
Mặt giáp mặt với kẻ thù, anh đã có những nhận định sâu sắc về so sánh lực lượng giữa ta và địch. Không thể chỉ thấy một số triệu trứng bề ngoài cùng với những hành động quân sự hung hăng, những âm mưu đen tối của Mỹ-ngụy mà cho là chúng mạnh hơn trước khi quân Mỹ rút đi....”

        ...” Các thành viên hai phái đoàn quân sự Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ở trại Đa-vít trong sân bay Tân Sơn Nhất cũng cung cấp nhiều tình hình đáng chú ý.

        Thái độ ngoan cố ngang ngược của địch giảm dần, tỷ lệ nghịch với đà tiến công và nổi dậy của quân và dân ta.

        Không còn những lời nói cục cằn, thô lỗ, những hành động tắt điện, cắt nước. Thay vào đó, đối phương đã hạ giọng...tỏ ra biết điều trong giao tiếp, tìm cách thăm dò thái độ ta, thậm chí ngỏ ý muốn có cuộc nói chuyện để hoãn binh, cố tránh một cuộc tấn công lớn vào Sài Gòn, cứu ngụy quyền khỏi nguy cơ sụp đổ.

        Cũng có thể coi đây là một hàn thử biểu báo thời tiết chính trị - quân sự lúc này, đặt ngay trong lòng địch...”


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Giêng, 2011, 10:33:41 pm

THẾ ĐỨNG CÔNG KHAI HIÊN NGANG GIỮA LÒNG ĐỊCH
     
        ...” Và ngay tại Tân Sơn Nhất trong những ngày sôi động trên toàn miền Nam. Có một bộ phận các bộ chiến sĩ ta vẫn ở trong đó. Đấy là phái đoàn quân sự của ta trong ban liên hợp quân sự hai bên do thiếu tướng Hồ Xuân Anh ( Tức Hoàng Anh Tuấn ) làm trưởng đoàn. Thông báo tin tức hàng ngày vẫn giữ được đều đặn và trong những ngày đó các đồng chí cũng đoán chắc là ta sắp đánh vào Sài Gòn rồi, mặc dù chúng tôi không điện cho các đồng chí đó biết kế hoạch. Các đồng chí sống giữa vòng vây địch đã gần ba năm, giữ vững lập trường đấu tranh không khoan nhượng với kẻ thù, chấp hành nghiêm túc và nhanh chóng các chỉ thị của cấp trên và cũng kịp thời báo cáo cho chúng tôi những tin tức, dư luận các giới đồng bào, tin tức về địch mà các đồng chí ở đó nắm được bằng nhiều cách, kể cả quan sát bằng mắt thường.

        Thấy máy bay địch dồn về Tân Sơn Nhất nhiều quá, đậu gần ngay khu nhà của phái đoàn ở, các đồng chí điện ra đề nghị bắn pháo vào sân bay...”

        ...” Khu nhà các đồng chí ở do ngụy quyền bố chí, mái tôn, nền đất, tường ván, và chung quanh “ trang trí “ toàn bằng rào kẽm gai. Nhưng gặp tình huống như hiện nay thì gặp khó khăn trong việc đào công sự cá nhân, phát triển thành hào giao thông, hào chiến đấu. Các đồng chí cần đào hầm về đêm, không có xẻng quốc, phải dùng cọc dây thép gai và dao găm để đào, đất đào đem ép xuống nền nhà hoặc cho vào bao tải, gói vào quần áo, cất vào kho.
Nhân dịp có việc trao đổi một số nhân viên Ban liên hợp quân sự bị mắc kẹt hôm ta đánh ở Buôn Mê Thuật, chúng tôi chủ trương đưa ra mấy đồng chí thật cần thiết cho chiến dịch, còn anh em ta vẫn ở lại, trong đó có cả đồng chí trưởng đoàn. Và khi làm kế hoạch cho pháo bắn vào Tân Sân Nhất, chúng tôi đã nhiều lần dặn các đồng chí phụ trách pháo binh biết khu vực phái đoàn ta đang ở để đảm bảo an toàn cho các đồng chí đó.

        Trong thế trận chung to lớn ta đã hình thành bước vào chiến dịch Hồ Chí Minh, các đồng chí của ta ở Tân Sơn Nhất cũng có thế đứng riêng của mình, thế đứng công khai hiên ngang giữa lòng địch.
Thế đứng đó không những tiêu biểu cho cách mạng cho đại nghĩa về mặt chính trị mà còn giúp cho Đảng hiểu được thêm lòng dân đối với sự nghiệp giải phóng và hiểu kẻ thù trước những ngày chúng giãy chết. Chắc là trong những ngày đêm sôi sục này, các đồng chí mong đợi quân ta vào hơn ai hết..”

        ...” Vào lúc 2 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, phái đoàn quân sự của ta ở trại Đa-vít “ trong Tân Sơn Nhất điện về bộ chỉ huy chiến dịch báo cáo: “ Có ba người do chính quyền Sài Gòn cử đến gặp chúng tôi để thăm dò việc ngừng bắn. Đồng chí Võ Đông Giang tiếp họ và nói rõ lập trường, quan điểm của ta trong tuyên bố của chính phủ ngày 26 tháng 4. Sau đó họ xin ra về. Ta nói pháo của quân ta đang bắn mạnh vào sân bay, rất nguy hiểm, không nên ra về. Cuối cùng cả ba người đồng ý ở lại. Hiện giờ họ đang ở hầm với chúng tôi”. Lúc này những người cầm đầu ngụy quyền nóng ruột ngồi chờ ba “ sứ giả “ của họ mãi không thấy về, gọi hỏi nhau rất bối rối, lúng túng. Vài giờ trước khi cho ba người nói trên đến gặp ta ở Tân Sơn Nhất, họ đã cử bốn “ sứ giả “ khác đến thăm dò phái đoàn ta về chuyện “ ngừng bắn “. Cán bộ ta mời họ ăn chuối của anh em ta tự trồng và giới thiệu cho họ biết tuyên bố của chính phủ ta ngày 26 tháng 4.

        Phái đoàn quân sự ta những ngày cuối tháng 4 này chứng kiến sự tất tưởi, bối rối cùng đường của Mỹ - ngụy. Trước đây, trụ sở phái đoàn ta nhiều lần bị chúng vây hãm, khiêu khích, gây nhiều khó khăn như cắt điện, cắt nước, không cho tiếp xúc với người ngoài... Vào những ngày này, đây lại là nơi chúng đến cầu cạnh nhiều nhất. Ma - tin “ Đại sứ“ Mỹ, xin được gặp đại diện phái đoàn ta. Ta từ chối. Ngụy quyền còn xin phái đoàn ta cho phép chúng cử người đáp máy bay ra Hà Nội để “ thương lượng “ ngừng bắn. Ta cũng bác “.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Giêng, 2011, 10:33:09 am

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/xuanthuy-1.jpg)
 
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HIỆP ĐỊNH PA-RI

XUÂN THUỶ                

     Nguyên Bộ trưởng - Trưởng đoàn đàm Việt Nam dân chủ cộng hoà tại Hội nghị Pa-ri về Việt Nam; nguyên Bí thư Trung ưng Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam dân chủ Cộng hoà

        Thấm thoắt đã mười năm kể từ ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Pa-ri được ký kết buộc Mỹ tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Từ ngày ấy, chúng ta đã nhận định: đó là thắng lợi to lớn của nhân dân Việt Nam, đồng thời là thắng lợi của nhân dân Đông Dương, thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, của phong trào độc lập dân tộc và hoà bình trên thế giới. Mặc dù Mỹ không thi hành đầy đủ Hiệp định Pa-ri mà còn ra sức phá hoại, song Hiệp định đó đã tạo điều kiện cho nhân dân ta thực hiện ý thơ của Bác Hồ. "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào, ... Bắc Nam sum họp, xuân nào vui hơn!"

BẮT BUỘC MỸ ĐÀM PHÁN

        Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam lần thứ hai (sau Cách mạng tháng 8 năm 1945) bị quân và dân ta đánh cho đại bại, phi ký Hiệp định Giơ-ne-vơ tháng 7 năm 1945. Theo hiệp định đó, quân Pháp phải tập kết ở phía Nam vĩ tuyến 17 để rút ra khỏi Việt Nam; tháng 7 năm 1956, nước Việt Nam tổng tuyển cử để thống nhất nước nhà. Nhưng đế quốc Mỹ đã thay chân thực dân Pháp, lập nên ở miền Nam nước ta một chính quyền tay sai, biến miền Nam thành một căn cứ quân sự và thuộc địa kiểu mới của Mỹ. Tất nhiên, Mỹ bị nhân dân ta từ Nam đến Bắc chống trả một cách quyết liệt. Mỹ trắng trợn đưa quân viễn chinh vào miền Nam, gây chiến tranh cục bộ, rồi ném bom miền Bắc, gây chiến tranh phá hoại.

        Một câu hỏi được đặt ra hồi bấy giờ là: Hoa Kỳ là trùm đế quốc, giàu tài nguyên, lắm đô-la, nhiều vũ khí hiện đại, nhất là vũ khí hạt nhân, mạnh gấp nhiều lần Pháp và Mỹ chưa chịu thua ai bao giờ; Việt Nam anh dũng thật, song có chống nổi Mỹ không?
 
        Bộ chính trị, Ban Bí thư, Quân uỷ Trung ưng và toàn thể Ban chấp hành Trung ưng Đảng ta đã nhiều lần thảo luận và nhiều lần khẳng định rằng: Miền Bắc sau khi đuổi hết thực dân Pháp, nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ cở bn đã hoàn thành, miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ tiên lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời nhân dân ta phi đấu tranh giải phóng miền Nam đặng hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ trong cả nước. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta nhất định thắng lợi. Bởi vì nhân dân ta vốn có truyền thống đoàn kết đấu tranh chống ngọi xâm, lại có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng. [....] Cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược của nhân dân ta là chính nghĩa, được nhân dân thế giới đồng tình ủng hộ. Vấn đề là chúng ta phải biết đánh như thế nào để thắng Mỹ. Chúng ta đánh Mỹ trên ba mặt trận: Chính trị, quân sự, ngoại giao. Ba mặt trận này phải kết hợp chặt chẽ. Chúng ta đánh luì Mỹ từng bước, đánh bại Mỹ từng bộ phận, cuối cùng hoàn toàn đuổi Mỹ ra khỏi Việt Nam. Theo đường lối chủ trưng đó, toàn dân ta đánh Mỹ trên khắp các mặt trận bằng nhiều hình thức khác nhau, làm cho Mỹ ngày càng bị thiệt hại nặng.

.....

        Sau khi bị tiến công bất ngờ trong dịp Tết Mậu Thân (tháng 2 năm 1968), Mỹ mới cảm thấy những nơi họ đóng quân không còn nơi nào an toàn, kể cả Sài Gòn mà họ từng khoe khoang là đất thánh, bất khả xâm phạm. Trước tình hình đó, Mỹ đành phải ngừng ném bom từ Ninh Bình trở ra phía Bắc và nhận ngồi đàm phán với ta ở Pa-ri.

        Cuộc đàm phán này kéo dài gần năm năm (1968-1973), có thể chia làm hai giai đoạn:

        Giai đoạn thứ nhất là cuộc đàm phán hai bên. Một bên là Đoàn đàm phán Việt Nam dân chủ cộng hoà do Bộ trưởng Xuân Thuỷ làm trưởng đoàn và đồng chí Lê Đức Thọ, Uỷ viên Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng ta làm cố vấn đặc biệt. Một bên là bàn đàm phán Chính phủ Hoa Kỳ do Đại sứ Ha-ri-man làm trưởng đoàn, đó là nhà đàm phán có nhiều kinh nghiệm của Mỹ, đã từng làm bộ trưởng trong nhiều Chính phủ Mỹ trước đây.

        Trong giai đoạn này, cuộc đàm phán diễn ra từ tháng 5 năm 1968 đến hết tháng 10 năm 1968 tại trung tâm Hội nghị quốc tế ở đường Klê-béc Pa-ri.

        Phía Mỹ đòi giải quyết toàn bộ vấn đề Việt Nam. Phía ta một mực đòi Mỹ phi chấm dứt hoàn toàn và vô điều kiện việc ném bom miền Bắc thì mới bàn đến việc khác. Trong khi đó, trên chiến trường hai bên vẫn nổ súng. Cho mãi đến ngày cuối cùng của tháng 10 năm 1968, chính phủ Hoa Kỳ mới chịu chấm dứt nốt việc ném bom phần còn lại ở miền Bắc từ Thanh Hoá đến Vĩnh Linh.

        Cả thế giới đều reo mừng cùng chúng ta. Đoàn chúng tôi đóng trụ sở tại một địa điểm ở thị trấn Xoa -di Lơ Roa, sát Pa-ri, có tường bao bọc xung quanh, bên ngoài có cảnh sát Pháp canh gác. Trong những ngày đầu tháng 11 năm 1968, sáng nào chúng tôi ra sân cũng lượm được rất nhiều hoa và những bức thư chúc mừng thắng lợi của những người qua đường ném vào. ấy là chưa kể đến những bức thư, bức điện chúc mừng mà chúng tôi nhận được qua bưu điện.

        Giai đoạn thứ hai: là cuộc đàm phán giữa bốn đoàn. Tháng 11 năm 1968 ở Mỹ có cuộc bầu cử Tổng Thống Giôn-xơn người của Đảng Dân chủ vì thất bại trong chiến tranh ở Việt Nam, không ra ứng cử tổng thống. Ních-Xơn, người của Đảng cộng hoà trúng cử tổng thống Mỹ. Tháng 1 năm 1969 Ních-xơn lên cầm quyền, đồng ý tiếp tục đàm phán theo thoả thuận có thêm đại biểu chính quyền Sài Gòn. Phía ta có đại biểu của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Thế là hội nghị có bốn đoàn.

        Đoàn đàm phán Chính Phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà vẫn do Bộ trưởng Xuân Thuỷ làm trưởng đoàn và cố vấn đặc biệt là đồng chí Lê Đức Thọ. Đoàn chính phủ Mỹ do đại sứ Ca-bốt-lốt làm trưởng đoàn, người đã từng bày mưu kế cho bọn tay sai giết hại nhân dân ta ở miền Nam. Đoàn mặt trận Dân tộc giải phóng mìên Nam Việt Nam do đồng chí Trần Bửu Kiếm làm trưởng đoàn, sau thay bằng Đoàn chính Phủ Cánh mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam do bộ trưởng Nguyễn Thị Bình làm trưởng đoàn. Đoàn chính quyền Sài Gòn đo Đại sứ Phạm Đăng Lâm làm trưởng đoàn. Bốn đoàn này vẫn họp ở Trung tâm Hội nghị quốc tế tại đường Kle-béc.

        Đến mùa thu năm 1969 còn có cuộc họp tay đôi ở địa điểm khác trong thành phố Pa-ri giữa một bên là cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Xuân Thuỷ, còn phía bên kia là Tiến sĩ Kít-xinh-giơ, cố vấn của tổng thống Mỹ Ních-xơn. Lúc đầu, Kít-xinh-giơ đề nghị cuộc họp tay đôi này giũ bí mật nhưng dần dần tự phía Mỹ lại đưa ra công khai.

        Cả cuộc họp bốn đoàn và cuộc họp tay đôi đều có một nội dung chính giống hệt nhau: Phía Mỹ coi vĩ tuyến 17 trở vào phía Nam Việt Nam là một quốc gia riêng biệt, đó là Việt Nam cộng hoà do chính quyền Nguyễn Văn Thiệu cai trị, cho nên họ đòi quân đội Việt Nam dân chủ cộng hoà phi rút về miền Bắc. Chúng ta đã hoàn toàn bác bỏ ý kiến đó với lập luận: Nước Việt Nam là một, không ai có thể chia cắt , vĩ tuyến 17 là ranh giới quân sự tạm thời không phi là ranh giới chính trị và lãnh thổ. Quân đội Việt Nam cũng như nhân dân Việt Nam có quyền ở trên đất nước của mình và có quyền chống kẻ xâm lược ở bất cứ ni nào trên lãnh thổ Việt Nam. Mỹ là kẻ xâm lược phải rút hết khỏi Việt Nam. Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu do Mỹ lập ra, cần phải được xoá bỏ. Nich-xơn cho rằng cái gì không giành được ở chiến trường thì cố giành được ở bàn đám phán, Khi không giành đựơc ở bàn đàm phán thì họ lại tăng cường chiến tranh. Họ ra sức càn quét miền Nam, ném bom lại miền Bắc, dùng Lon Non lật đổ Xi-ha-nuc, xua quân Thiệu đánh sang Cam-pu-chia và đánh sang Lào, mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương. Nhưng tất cả những hành động tàn ác đó của Mỹ và tay sai đều bị thất bại. Trong lúc đó, Mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược do các nước xã hội chủ nghĩa làm nòng cốt, đã hình thành trên thực tế. Pa-ri là nơi giao thông liên lạc thuận tiện với khắp các nước trên thế giới. Đoàn chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và Đoàn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam ở cách nhau 5 Km, ngày nào cũng tiếp khá nhiều khách quốc tế từ bốn phưng qua lại. Sau khi nghe chúng ta giải thích, ai nấy đều tỏ ra tin tưởng và dứng về phía chúng ta. ở nhiều nước, những cuộc biểu tình, mít tinh đòi chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam diễn ra sôi nổi, càng làm cho chính quyền Mỹ bị cô lập và rất lúng túng.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Giêng, 2011, 10:48:35 am

BẮT BUỘC MỸ PHẢI KÝ HIỆP ĐỊNH

        Trong lúc thua đau ở chiến trường và chưa giành được gì trên bàn đàm phán, Mỹ tưởng có thể lợi dụng Trung Quốc và Liên Xô để gây sức ép với ta. Song những người kháng chiến Việt Nam có chính sách đối nội, đối ngoại độc lập tự chủ. Chúng ta có thể mạnh trên chiến trường có lập trường vững chắc trên bàn đàm phán, nhân dân tiến bộ trên thế giới ủng hộ chúng ta, không khi nào chúng ta chịu thừa nhận chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và sự có mặt của Mỹ ở miền Nam. Không gây được sức ép với ta, Mỹ đành phải nhận ký Hiệp định Pa-ri về Việt Nam trong tháng 10 năm 1972, trên cở sở bản dự thảo của Việt Nam dân chủ cộng hoà. Nhưng sau khi vượt qua cuộc bầu cử tháng 11 năm 1972 với việc Nich-xơn được tái cử tổng thống rồi họ lại lật lọng không ký. Nich-xơn và Kít-xinh-giơ đòi sửa đổi những điều quan trọng trong bản dự thảo mà hai bên đã thoả thuận nhằm giành phần lợi cho Mỹ. Ta không đồng ý. Cuộc đàm phán tay đôi lại bế tắc. Ngày 15 tháng 12 năm 1972, Kít-xinh-giơ về Oa-sinh-tơn, đồng chí Lê Đức Thọ về Hà Nội. ở Pa-ri chỉ còn hội nghị bốn đoàn đàm phán vẫn tranh luận ở phố Kle-béc.

        Nich-xơn điên cuồng hạ lệch dùng máy bay B52 ném bom Hải Phòng, Hà Nội từ đêm 18 tháng 12. Trong cuộc xâm lược này, đế quốc Mỹ đã phạm rất nhiều tội ác, trong đó có việc triệt hạ làng Sơn Mỹ, giết chết trẻ con, ông bà già và phụ nữ, rải hoá chất độc ở Trường Son và nhiều nơi khác, nay họ lại phạm tội ác lớn hon nữa là dùng máy bay B52 ném bom Hà Nội, Hải Phòng nhằm huỷ diệt từng dãy phố, giết hại hàng loạt người Việt Nam. Ních-xơn và Kít-xinh-giơ có ngờ đâu họ lại một lần nữa thất bại thảm hại. Suốt 12 ngày đêm, từ 18 đến 29 tháng 12 năm 1972, quân và dân ta chiến đấu rất ngoan cường và anh dũng. Toàn miền Bắc đã hạ 81 máy bay, trong đó có 34 máy bay B52, riêng Hà Nội hạ 32 chiếc, ngoài ra còn hạ nhiều chiếc máy bay hiện đại khác và bắt nhiều giặc lái Mỹ. Hết ngày 29 tháng 12 năm 1972, Mỹ đành phi ngừng cuộc ném bom này và Ních-xơn đề nghị nỗi lại cuộc đàm phán tay đôi ở Pa-ri. Lần này, cố vấn Tổng thống Mỹ Kít-xinh-giơ khi ngồi vào bàn đàm phán với cố vấn đặc biệt Lê-Đức-Thọ và Bộ trưởng Xuân Thuỷ ( theo danh từ gọi hồi đó ) càng ở vào thế yếu, cho nên sau khi nghe ta lên án kịch liệt về việc ném bom bằng B52, ông ta phải đấu dịu, đề nghị sửa đổi một số câu chữ mà ta có thể chấp nhận, rồi đi đến thoả thuận ký hiệp định Pa-ri về Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973, cơ bản như dự thảo của Việt Nam dân chủ cộng hoà đưa ra tháng 10 năm 1972.

        Theo thủ tục quốc tế thì việc ký kết hiệp định là do các bộ trưởng ngoại giao của các bên đàm phán ký kết, nhưng khi bàn đến ký chính thức thì Hoa Kỳ chỉ muốn ký tay đôi giữa bộ trưởng Ngoại giao Mỹ và Bộ trưởng ngoại giao Việt Nam dân chủ cộng hoà. Chúng ta thừa hiểu rằng Hoa Kỳ không muốn thừa nhận chữ ký của đại diện ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Hơn nữa, Mỹ muốn có chỗ hở để sau này Nguyễn Văn Thiệu viện cớ không ký thì không thi hành hiệp định. Ta kiên quyết đòi bốn bộ trưởng ngoại giao của bốn đoàn đàm phán đều phi ký vào bản hiệp định. Mỹ phải chịu theo ý ta và đề nghị: Cùng một bản hiệp định Pa-ri về Việt Nam, buổi sáng 27 tháng 1 năm 1973, bốn bộ trưởng ngoại giao của bốn đoàn đàm phán ký, buổi chiều ngày 27 tháng 1 năm 1973 hai bộ trưởng Ngoại giao Mỹ và Việt Nam dân chủ cộng hoà dân chủ cộng hoà ký. Do đó cũng ở trung tâm Hội nghị quốc tế tại đường Kle-béc, buổi sáng 27 tháng 1 năm 1973 có cuộc ký kết giữa bộ trưởng Ngoại giao W.Rô-giơ, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyện Thị Bình và Bộ trưởng Ngoại giao Trần Văn Lắm ( chính quyền Nguyễn Văn Thiệu ) với sự có mặt của bốn đoàn đàm phán. Buổi chiều 27 tháng 1 năm 1973, chỉ có Bộ trưởng Ngoại giao W. R-giơ và Bộ trưởng Ngoại Giao Nguyễn Duy Trinh cùng ký kết với sự có mặt của đoàn đàm phán Hoa Kỳ và Việt Nam dân chủ cộng hoà. Buổi chiều cũng như buổi sáng, mỗi bên ký xong đều có nâng cốc sâm-banh. Những người tham dự của phía bên ta hôm ấy đều thấy sâm-banh ngọt nồng, còn phía bên kia không rõ họ cảm thấy chát chua hay cay đắng.

       Trong khi đó, ngoài đường phố Pa-ri rợp bóng cờ bay: cờ đỏ sao vàng, cờ nửa đỏ nửa xanh sao vàng ở giữa, cờ xanh lam có chim bồ câu trắng cùng những tiếng hô vang: “ Việt Nam thắng lợi”, hoà bình muôn năm.

        Hiệp định Pa-ri về Việt Nam sau khi được ký kết, Mỹ rút hết quân ra khỏi Việt Nam và đưa được tù binh Mỹ về nước, còn lại những điều khoản khác của Hiệp định, Mỹ không thi hành nữa mặc dù Hiệp định đã viết: Hoa Kỳ và các nước phải tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Nhưng chữ ký chưa ráo mực, thì phía Mỹ đã giày xéo lên chữ ký của họ. Nich-xơn chủ trương “Việt Nam hoá chiến tranh”, dùng người Việt Nam đánh người Việt Nam, với vũ khí và sự chỉ huy của Mỹ. Vũ khí Mỹ lại được ùn ùn chở vào miền Nam, cố vấn và chuyên gia Mỹ được tăng cường bên cạnh chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Theo lệnh Mỹ, Thiệu không chịu ngừng bắn, tiếp tục đánh lấn chiếm ra vùng tự do của chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Sự việc diễn ra như thế càng ngày càng tăng. Chính vì vậy, quân và dân ta có cuộc đại tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 , quân và dân ta đã đánh đuổi hết bọn xâm lược Mỹ ra khỏi Việt Nam. đánh sập nguỵ quyền Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà [...]

        Những gì mà Kít-xinh-giơ viết trong tập hồi ký của ông ta, không giống sự thật trên đây. Tiếc rằng trong phạm vi một bài báo, tôi chỉ có thể kể lại một cách tóm tắt những nét chính như vậy.

        Nhân dịp  này, chúng ta càng nhớ đến đồng bào, chiến sĩ và cán bộ ta đã đấu tranh gian khổ trên các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, nhớ đến tất cả những ai đã góp người góp của, góp công, góp sức vào thắng lợi này, kể cả người Việt Nam trong nước và người nước ngoài, nhất là việt kiều ở Pháp. Chúng ta cảm ơn các nước xã hội chủ nghĩa anh em và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới đã đồng tình và ủng hộ chúng ta...


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Giêng, 2011, 11:01:50 am

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/NguyenThiBinh.jpg)

HIỆP ĐỊNH PA-RI: 30 NĂM NHÌN LẠI

NGUYỄN THỊ BÌNH                 

     Nguyên Bộ trưởng bộ ngoại giao chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Trưởng đoàn đàm phán của chính phủ cách mạng lâm thời tại hội nghị Pa-ri, nguyên ủy viên trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, nguyên Phó chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

        Đúng 30 năm về trước, ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đ ược ký kết, đánh dấu thắng lợi hết sức quan trọng của chúng ta trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất tổ quốc. Hiệp định Pa-ri có ý nghĩa chính trị - ngoại giao to lớn, tạo điều kiện cho nhân dân ta tiếp tục đấu tranh đi đến toàn thắng năm 1975. Buộc Phải ký hiệp định Pa-ri, Mỹ mặc nhiên thừa nhận hành động xâm lược và thất bại của họ. Điều 1 của hiệp định ghi rõ: “ Hoa kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như hiệp định Giơ - ne -vơ năm 1954 về Việt Nam đã công nhận. “ Về quân sự, việc Mỹ rút quân hoàn toàn, cam kết không tiếp tục dính líu quân sự đã làm cho tương quan trên chiến trường thay đổi có lợi cho cách mạng. Chính vì thế, chỉ có hơn hai năm sau khi hiệp định Pa-ri được ký, với cuộc tổng tiến công mùa xuân năm 1975, kêt thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, chúng ta đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ Quốc.

        Khoảng cách 30 năm nhìn lại cho phép chúng ta thấy rõ hơn không chỉ ý nghĩa của hiệp định Pa- ri mà còn cả mối quan hệ của hiệp định này với một mốc lịch khác trước đó - Hiệp định Giơ - ne - vơ không chỉ cho ta thấy tại sao Việt Nam thắng lợi trong đàm phán, mà còn để lại cả những bài học cho ngày hôm nay.

HIỆP ĐỊNH GIƠ-NE-VƠ - TIỀN ĐỀ CHO THĂNG LƠI
CỦA CÔNG CUỘC GIẢI PHÓNG DÂN TỘC,
THÔNG NHẤT ĐẤT NƯỚC

        Nói đến hiệp định Pa-ri, chúng ta không thể không nhắc đến hiệp định Giơ- ne- vơ 1954. Tuyên bố cuối cùng của hội nghị và hiệp định đình chỉ chiến sự Pháp - Việt đã tạo cơ sở pháp lý và điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Điều 11 của tuyên bố quy định: “ Hội nghị chứng nhận lời tuyên bố của chính phủ Pháp nói rằng chính phủ ( Pháp )... sẽ căn cứ trên sự tôn trọng độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Cao Miên, Lào và Việt Nam. Với hiệp định Giơ-ne-vơ chúng ta có một miền Bắc được giải phóng, làm căn cứ địa cách mạng của cả nước. Đây là một trong những điều kiện quan trọng nhất để duy trì và phát triển cuộc chiến đấu ở miền Nam.

        Tại hội nghị Giơ- ne-vơ, Pháp muốn giải quyết trên thế mạnh và trong khuôn khổ thỏa thuận giữa các nước lớn. Mỹ tìm cách phá hoại hội nghị và có ý đồ can thiệp vào Đông Dương bằng một hành động tập thể.

        Kết quả cuối cùng là Pháp buộc phải công nhận và tôn trọng độc lập chủ quyền, thống nhất lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Cam- pu- chia, thừa nhận nguyên tắc rút quân đội Pháp ra khỏi ba nước Đông Dương.

        Đối với Việt Nam, nước Pháp và tất cả các nước tham gia hội nghị, trừ Mỹ, đều trịnh trọng tuyên bố công nhận và tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam. Giới tuyến quân sự chỉ là tạm thời, thời hạn tổng tuyển cử để thống nhất đất nước cũng được ấn định: Chậm nhất là ngày 20 tháng 7 năm 1956.

        Tóm lại, tranh thủ được hòa bình là một thắng lợi lớn của ta. Hiệp định Giơ - ne - vơ không những đã chấm dứt cuộc chiến tranh Đông Dương, phá âm mưu của thế lực chủ chiến hòng kéo dài và mở rộng chiến tranh mà còn tạo những điều kiện căn bản để thực hiện các quyền dân tộc cơ bản của ba nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia. Trong bối cảnh hai đồng minh chủ yếu của ta, đều mong muốn hòa hoãn với phương tây và kết thúc chiến tranh, chúng ta khó có thể đạt được kết quả như chúng ta mong muốn. Song ỹ nghĩa của hiệp định Giơ-ne-Vơ là rất to lớn.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Giêng, 2011, 11:06:52 am
 
"VỪA ĐÁNH VỪA ĐÀM" - NGHÊ THUẬT KẾT HỢP
ĐẤU TRANH QUÂN SỰ VỚI ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO

        Quân sự và ngoại giao là hai mặt trận gắn liền hữu cơ và hỗ trợ lẫn nhau. Trên bàn đàm phán không thể giành được những gì không giành được trên chiến trường. Nhưng những gì giành được trên chiến trường sẽ không được khẳng định nếu không có nghệ thuật giành thắng lợi trên bàn đàm phán. Hơn thế nữa, thắng lợi trên bàn đàm phán tạo thêm điều kiện thuận lợi để giành thắng lợi lớn hơn trên chiến trường. Hội nghị Pa-ri là sự thể hiện trình độ cao của nghệ thuật vừa đánh vừa đàm của Việt Nam. Hội nghị cho thấy chúng ta đã vận dụng một cách nghệ thuật mối quan hệ hữu cơ đó, biết mở đàm phán đúng lúc và kết thúc đàm phán đúng lúc, phù hợp với tình thế trên chiến trường.

        Ngay từ cuối năm 1965, lãnh đạo ta đã tính đến việc đàm phán với Mỹ. Nhưng chỉ sau hội nghị lần thứ 13 Ban chấp hành Trung ương, chúng ta mới thực sự triển khai kế hoạch này. Ngày 28 tháng 1 năm 1967, trả lời phỏng vấn nhà báo Bớt-séc, Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Duy Trinh tuyên bố:” Chỉ sau khi Mỹ chấm dứt không điều kiện và vĩnh viễn việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và Mỹ mới có thể nói chuyện” ( Báo nhân dân ngày 28 tháng 1 năm 1967). Cuối tháng 12 năm 1967, Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh lại nêu: Sau khi Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Việt Nam dân chủ cộng hòa sẽ nói chuyện với Mỹ về những vấn đề có liên quan. Như vậy, đầu năm chúng ta nói “ có thể “, đến cuối năm chúng ta đã chuyển sang khẳng định là “ sẽ “ nói chuyện vơi Mỹ nếu Mỹ chấp nhận ngừng ném bom. Việt Nam muốn Mỹ ngừng ném bom trước. Chính vì thế, hai bên vẫn chưa tiến hành gặp gỡ. Chỉ đến khi cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân làm giảm ý chí xâm lược của Mỹ, Tổng thống Giôn-xơn mới buộc phải tuyên bố hạn chế ném bom miền Bắc, chịu nhượng bộ và đi bước trước trên con đường tới bàn phán. Đây không những là sự thừa nhận về sự phá sản của chiến tranh phá hoại bằng không quân, mà còn là bước đầu của qúa trình xuống thang chiến tranh của Mỹ. Như vậy, thắng lợi quân sự đã mở cánh cửa cho đàm phán ngoại giao. Nhưng cho đến ngày 31 tháng 10 năm 1968, Giôn-xơn mới ra lệnh cho không quân và hải quân Mỹ chấm dứt mọi cuộc đánh phá chống Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ngày 2 tháng 11 năm 1968, Việt Nam dân chủ cộng hòa ra tuyên bố ghi nhận việc Mỹ chấp nhận chấm dứt không điều kiện ném bom và mọi hành động chiến tranh chống Việt Nam dân chủ cộng hòa và mở ra hội nghị bốn bên . Cùng ngày, tôi đến Pa-ri với tư cách trưởng đoàn tiền trạm của mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam. Tổng thống Việt Nam cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu còn trì hoãn, mãi đến ngày 8 tháng 12, ông ta mới cử một phái đoàn đi Pa-ri do đại sứ Phạm Đăng Lâm dẫn đầu. Ngày 10 tháng 12, Mặt trận cử đoàn đàm phán chính thức do đồng chí Trần Bửi Kiếm, ủy viên đoàn chủ tịch mặt trận làm trưởng đoàn. Về phía Việt Nam dân chủ cộng hòa, bộ trưởng Xuân Thủy, người dẫn đầu đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa trong cuộc đàm phán hai bên từ tháng 5 năm 1968, tiếp tục làm trưởng đoàn trong đàm phán bốn bên.

        Hội nghị Pa-ri có thể chia làm bao giai đoạn chính và gắn chặt với ba bước ngoặt trên chiến trường Việt Nam. Giai đoạn một là từ khi bắt đầu đàm phán cho đến khi Mỹ hoàn toàn chấm dứt ném bom miền Bắc, bốn bên ngồi vào đàm phán chính thức. Giai đoạn này gắn với thắng lợi Tết Mậu Thân 1968. Giai đoạn hai kéo dài từ lúc bốn bên ngồi vào bàn đàm phán cho đến giữa năm 1972. Lúc này trên chiến trường ta chưa giành được thắng lợi quyết định, thậm chí trong thời gian đầu, chúng ta còn lâm vào tình thế khó khăn. Chính vì thế, đàm phán giẫm chân tại chỗ, như “ xe lửa cán đường ray”. Các bên chủ yếu là thăm dò tố cáo lẫn nhau. Chỉ sau thắng lợi của các cuộc tiến công chiến lược Xuân - Hè 1972 , ta mới giành được thế chủ động trên chiến trường, đàm phán mới đi vào thực chất ( có thể xem đây là giai đoạn ba ) và đi đến ký kết hiệp định vào tháng 1 năm 1973.

       Ngày 25 tháng 1 năm 1969, hội nghị bốn bên chính thức khai mạc. Đây là một thắng lợi bước đầu của ta. Từ chỗ không chịu, nay Mỹ phải ngồi vào đàm phán bốn bên, có mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tham dự với tư cách một bên độc lập, bình đẳng.

       Trong phiên họp đầu tiên này, Trưởng đoàn của mặt trận dân tộc giải phóng Trần Bửi Kiếm đưa ra lập trường năm điểm, thực chất là tuyên bố chính trị, và bốn tháng sau đưa ra    Giải pháp toàn bộ mười điểm về vấn đề miền Nam Việt Nam [1]. Đây là giải pháp hoàn chỉnh đầu tiên được đưa ra tại hội nghị. Đối phó lại, ngày 14 tháng 5 năm 1969, tổng thống Ních-xơn đưa ra kế hoạch tám điểm với nội dung chính là việc rút quân Mỹ với việc rút quân miền Bắc và giữ chính quyền Sài Gòn. Với sự ra đời của liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam được mở rộng. Ngày 6 tháng 6 năm 1969, chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam tại bàn đàm phán càng vững mạnh. Tôi được cử làm bộ trưởng ngoại giao đồng thời là trưởng đoàn đàm phán của chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Pa-ri. Hai ngày sau, tổng thống Ních- xơn công bố chính sách “ Việt Nam hóa chiến tranh “ và việc rút đợt đầu 25.000 quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam. Trong giai đoạn hai này, trên cơ sở phát triển Giải pháp toàn bộ Mười điểm, thông qua các tuyên bố của chính phủ cánh mạng lầm thời cộng hòa miền nam Việt Nam ( Tám điểm ngày 14 tháng 9 năm 1970, Bảy điểm ngày 1 tháng 7 năm 1971, và Hai điểm nói rõ thêm trong giải pháp Bảy điểm ), ta đòi Mỹ phải rút nhanh toàn bộ quân đội Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, thành lập ở miền Nam Việt Nam một chính phủ hòa hợp dân tộc ba thành phần để tổ chức tuyển cử.

        Sau chiến thắng Xuân - Hè 1972 trên năm mặt trận lớn, từ Trị Thiên đến đồng bằng sông Cửu Long, ta giải phóng một vùng rộng lớn, làm thay đổi lớn so sánh lực lượng, tạo ra khả năng kết thúc chiến tranh. Tháng 7 năm 1972, Bộ chính trị đã đưa ra quyết sách: Chuyển từ chiến lược chiến tranh sang chiến lược hòa bình. Giai đoạn ba đàm phán bắt đầu từ đây. Trong ba tháng bảy, tám và chín, ở Pa-ri, Lê Đức Thọ và Kít-xing-giơ có một loạt cuộc gặp riêng bàn vấn đề một cách thực chất. Trên cơ sở “ Dự thảo hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam “ do Việt Nam dân chủ cộng hòa đưa ra trong cuộc gặp riêng ngày 8 tháng 10 năm 1 972, hai bên bắt đầu mặc cả từng điều khoản, từng câu chữ của hiệp định. Ngày 20 tháng 10, tổng thống Nich-xơn gửi thư cho thủ tướng Phạm Văn Đồng khẳng định “ văn bản của hiệp định bây giờ có thể xem như đã hoàn thành “ và thỏa thuận sẽ ký vào ngày 31 tháng 10 năm 1972.

        Trong suốt quá trình đàm phán, sự phối hợp và hỗ trợ giữa hao đoàn của ta rất nhịp nhàng và chặt chẽ. Đòan Mặt trận và chính phủ cách mạng lâm thời thường công khai đưa ra các sáng kiến hòa bình, đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa luôn hậu thuẫn và ủng hộ các sáng kiến đó, đồng thời tập trung vào cuộc đấu tranh thương lượng với Mỹ khi cuộc đàm phán đi vào giai đoạn thực chất.

       Quan hệ hỗ trợ nhau giữa quân sự với ngoại giao một lần nữa lại thể hiện ở chính giai đoạn chót của đàm phán này. Sau khi vượt qua được tuyển cử, Mỹ trở mặt, đàm phán diễn ra căng thẳng trong suốt tháng 11 và đầu tháng 12. Đến ngày 12 tháng 12, hai bên chỉ còn phải thỏa thuận vấn đề khu phi quân sự và cách ký các văn kiện, và hai nhà đàm phán chính phải về nước xin chỉ thị. Nhưng khi đồng chí Lê Đức Thọ vừa về đến Hà Nội cũng là lúc bắt đầu cuộc tập kích chiến lược bằng B52 đánh phá Hà Nội và Hải Phòng. Đúng như dự đoán của Bác Hồ là nhất định Mỹ sẽ thất bại, nhưng sớm muộn Mỹ sẽ dùng B52 đánh phá Hà Nội và Hải Phòng trước khi chúng chịu thua. Bị tổn thất nặng nề trong trận “ Điện Biên Phủ trên không” và bị dư luận lên án, ngày 29 tháng 12 năm 1972. Mỹ buộc phải ngừng ném bom phía Bắc vĩ tuyến 20, phải ký tắt ngày 23 tháng 1 năm 1973 và ký chính thức ngày 27 tháng 1 năm 1973 “ Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam “ mà nội dung chủ yếu vẫn giữ nguyên như văn bản đã thỏa thuận ngày 20 tháng 10 năm 1972.
----------------
[1] Giải pháp toàn bộ Mười điểm là :
      (1 ) Tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam
      (2 ) Rút hết quân Mỹ, nhân viên quân sự, vũ khí và dụng cụ chiến tranh
      (3 ) Vấn đề các lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam do các bên    Việt Nam giải quyết
      (4 ) Nhân dân miền Nam Viẹt Nam tự giải quyết công việc nội bộ của mình.
      (5 ) Thành lập Chính phủ Liên hợp lâm thời
      (6 ) Miền Nam Việt Nam thực hiện chính sách ngoại giao hoà bình, trung lập.
      (7 ) Thực hiện thống nhất từng bước Việt Nam bằng các biẹn pháp hoà bình
      (8 ) Hai miền Nam - Bắc không tham gia liên minh quân sự
      (9 ) Giải quyết những hậu quả chiến tranh
     (10) Thoả thuận giám sát quốc tế đối với việc rút quân


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Giêng, 2011, 11:09:24 am

ĐOÀN KẾT QUỐC TÊ - NGHỆ THUẬT KẾT HỢP
SỨC MẠNH DÂN TÔC VỚI SỨC MẠNH
CỦA THỜI ĐẠI

       Nếu nghệ thuật “ vừa đánh vừa đàm “ đã chuyển được những thắng lợi quân sự thành những thắng lợi ngoại giao trên bàn đàm phán, thì nghệ thuật tranh thủ sự ủng hộ quốc tế đối với cuộc đấu tranh của nhân dân ta là nghệ thuật kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại. Sự kết hợp này không phải là khẩu hiệu, mà đã là một thực tế.
 
        Tính chất chính nghĩa của cuộc đấu tranh của Việt Nam chống Mỹ là nguồn gốc khơi dậy sự ủng hộ quốc tế đối với cuộc đấu tranh của ta. Đường lối và sự chỉ đạo đúng đắn về đối ngoại của Đảng đối với miền Bắc và miền Nam có ý nghĩa quyết định xây dựng mặt trận đoàn kết đấu tranh của nhân dân trong cả nước và huy động tập hợp hết sức rộng rãi các lực lượng yêu chuộng hòa bình, công lý hình thành trên thực tế mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược.
 
        Miền Bắc tập trung tranh thủ sự ủng hộ của tất cả các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Ngay cả Liên Xô và Trung Quốc, mặc dù có những bất đồng với nhau, đều dành cho Việt Nam sự giúp đỡ to lớn. Đó là vì chúng ta đã khôn khéo giữ thái độ cân bằng giữa hai nước lớn đồng minh này. Sự ủng hộ to lớn, quý báu, đầy hiệu quả của Liên Xô, Trung Quốc, Cuba và các nước xã hội chủ nghĩa khác đã góp phần quan trọng vào thắng lợi quân sự, thắng lợi ngoại giao cũng như thắng lợi cuối cùng của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

        Phong trào quốc tế ủng hộ Việt Nam là sức mạnh tạo điều kiện cho chúng ta tiến công kẻ thù trên bàn đàm phán. Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam giương cao khẩu hiệu hòa bình trung lập để tập hợp sự ủng hộ rộng rãi của quốc tế. Nhiều chính phủ đã công nhận về mặt ngoại giao chính phủ cách mạng lâm thời. Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Cuộc đấu tranh kiên cường vì độc lập tự do của nhân dân ta đã lay động tình cảm và lương tri của những người yêu chuộng hòa bình, công lý trên thế giới. Nhà văn nữ Thụy Điển Sa-ra Li-man đã ca ngợi Việt Nam là “ lương tri của loài người “, “trái tim của nhân loại “.

        Lúc đầu người dân Mỹ không quan tâm, thậm chí còn ủng hộ hành động chiến tranh của tổng thống Mỹ. Nhưng sau đó, do nhận ra tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh do giới cầm quyền Oa-sinh-tơn phát động và phản chiến phát triển càng mạnh, đặc biệt là tại các trường đại học Mỹ. Ở Hà Nội, ở Pa-ri và tại nhiều diễn đàn quốc tế, chúng ta tiếp xúc với nhiều đại diện phong trào nhân dân Mỹ chống chiến tranh với phong trào nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam, gây thêm khó khăn cho chính quyền Mỹ ngay trong nước Mỹ.
 
       Chúng ta đã cử nhiều đoàn đi qua các địa phương trong nước Pháp, các nước Tây Âu, Bắc Âu, Châu Phi, Mỹ Latinh, dự các cuộc mít tinh và hội họp “ đoàn kết với Việt Nam “. Giải thích chính sách, lập trường của ta nói chung, nhất là phân biệt rõ các thế lực hiếu chiến với nhân dân Mỹ và coi lính Mỹ là nạn nhân của chiến tranh đế quốc. Chúng ta hết sức coi trọng dư luận và vai trò của giới báo chí. Chính họ đã góp phần làm cho nhân dân các nước hiểu về cuộc chiến đấu của chúng ta, những tội ác tày trời của Mỹ, những cuộc tàn sát, đàn áp, tù đầy đối với những người dân yêu nước. Chúng ta ghi nhớ công lao của giới trí thức các nước đã tạo nên các hoạt động và diễn đàn ủng hộ Việt Nam rất quy mô, đầy tính nhân văn và có tác động lớn như tòa án quốc tế Béc-tơ-răng Rút-xen xử tội ác chiến tranh của Mỹ, hội nghị quốc tế Stóc-khôn ủng hộ nhân dân Việt Nam chống Mỹ ( 1967 ). Thời kỳ này, nếu ở Việt Nam chúng ta có thế hệ Hồ Chí Minh thì trên thế giới có “ thế hệ Việt Nam “. Nhiều người thuộc thế hệ Việt Nam này hiện nay đang giữ cương vị lãnh đạo nhiều nước trên thế giới và họ luôn tự hào bởi đã là người tham gia phong trào chống chiến tranh Việt Nam.
 
        Trong lúc đang chiến đấu, chúng ta cũng bày tỏ tình đòan kết ủng hộ các cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân các nước như Cuba, Ni -ca-ra-goa, Nam Phi, Dim- ba-bu-le. Mô-dăm-bích, Ăng-go-la, Na-mi-bi-a, Pa-le-xtin... Điều đó càng gắn kết đấu tranh của nhân dân Việt Nam với các cuộc đấu tranh của nhân dân các nước. Hiện nay, dù chủ nghĩa xã hội có tạm thời thoái lui, ý thức độc lập, tự tôn dân tộc vẫn phát triển. Tình cảm đối với cuộc chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của nhân dân Việt Nam vẫn sâu đậm trong lòng nhân dân thế giới.
 
       Cũng cần khẳng định công lao và đóng góp rất to lớn của việt Kiều yêu nước, đặc biệt là Việt Kiều ở Pháp trong quá trình đàm phán Pa-ri. Bà con Việt Kiều không chỉ tham gia mít tinh, biểu tình ủng hộ các sáng kiến của ta, mà còn thiết thực giúp đỡ cho hoạt động của hai đoàn miền Bắc và miền Nam trong suốt năm năm diễn ra hội nghị.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Giêng, 2011, 11:10:22 am

MỘT VÀI BÀI HỌC

        Có thể nói, cuộc đàm phán của ta thắng lợi ở Pa-ri khẳng định đường lối và nghệ thuật đấu tranh ngoại giao tài tình của đường lối chính trị, quân sự của Bác Hồ, của đảng đã đạt đến trình độ cao nhất trong lịch sử từ trước đến nay. Cuộc đàm phán này để lại nhiều bài học cho hiện tại và tương lai của đất nước.
 
        Bài học đầu tiên là phải xác định mục tiêu rõ ràng. Chúng ta kiên định mục tiêu độc lập, thống nhất và tập trung lực lượng của toàn dân tộc thực hiện mục tiêu đó. Mục tiêu đó được Bác Hồ cô đọng lại trong tuyên bố nổi tiếng của người: “ Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi “. Xác định rõ mục tiêu rồi còn phải có bước đi, có sách lược uyển chuyển thích hợp. Bước đi đó phải tùy thuộc vào tương quan lực lượng trên chiến trường nhưng cũng phải gắn với tình hình quốc tế, thái độ các nước lớn, phong trào và dư luận nhân dân các nước. Muốn thực hiện mục tiêu trên phải đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào, là giải phóng miền nam, thống nhất nước nhà, nhưng phải đi từng bước, phải "thắng từng bước, đánh đổ từng bộ phận". Hiệp định giơ-ne-vơ giải phóng nửa đất nước và tạo cơ sở đấu tranh giải phóng dân tộc thắng lợi. Hiệp định Pa-ri làm thay đổi so sánh lực lượng trên chiến trường Việt Nam, tiếp tục làm cơ sở cho việc hoàn thành công cuộc giải phóng dân tộc, thống nhất tổ quốc.

        Bài học thứ hai là phải có chính sách độc lập, tự chủ. Đồng chí Lê Duẩn nói: Vấn đề Việt Nam giải quyết không phải chỉ ở Việt Nam mà cả trên trường quốc tế. Chúng ta hiểu ý nghĩa của các mối quan hệ quốc tế, đặc biệt là quan hệ giữa các nước lớn ảnh hưởng rất lớn đến cuộc kháng chiến của chúng ta, nhưng chúng ta kiên định chính sách độc lập, tự chủ. Chúng ta coi trọng sự giúp đỡ và những ý kiến đóng góp của các nước anh em bè bạn, nhưng chúng ta độc lập quyết định dựa trên yêu cầu của tình hình trong và ngòai nước. Chúng ta trực tiếp đàm phán và giải quyết với Mỹ, không chịu sức ép nào.

        Bài học thứ ba là đoàn kết quốc tế. Không chỉ đoàn kết trong nước mà còn cần đoàn kết quốc tế. Hội nghị Pa-ri cho thấy, sự ủng hộ của quốc tế có ý nghĩa như thế nào đối với thắng lợi hội nghị. Điều này khẳng định sự cần thiết hình thành Mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược, trong đó vai trò của ngoại giao nhân dân là vô cùng quan trọng. Kinh nghiệm này cho thấy quan tâm đến ngoại giao nhân dân cũng sẽ giúp ta thực hiện thành công những nhiệm vụ của ngày hôm nay.
 
        Cuối cùng, chúng ta cần khẳng định rằng, tuy Bác Hồ sớm ra đi, nhưng toàn bộ quá trình đàm phán Pa-ri là thực hiện phương châm của người: “ Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” và “ sãn sàng trải thảm đỏ nếu Mỹ muốn rút quân”. Đàm phán thành công là nhờ luôn nhận được sự lãnh đạo, chỉ đạo của bộ chính trị ban chấp hành trung ương đảng, đặc biệt là của các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Duy Trinh. Đàm phán thắng lợi là nhờ có sự lãnh đạo trực tiếp, uyển chuyển của các đồng chí Lê Đức Thọ, Xuân Thủy.
 
        Nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày thắng lợi của đoàn đàm phán Pa-ri, chúng ta tôn vinh và cảm ơn quân và dân hai miền Nam - Bắc đồng bào và chiến sĩ thủ đô, các vị tướng lĩnh đã anh dũng chiến đấu hy sinh, lập nên những chiến công lẫy lừng, đặc biệt là chiến thắng “ Điện Biên Phủ trên không”, tạo điều kiện cho cuộc đàm phán Pa-ri kết thúc thắng lợi. Đây cũng là dịp tốt để chúng ta ghi công những đóng góp của tất cả các đồng chí đã trực tiếp hay gián tiếp tham gia trận chiến trên bàn ngoại giao này. Chính trong trận chiến đặc biệt này, nhiều cán bộ của chúng ta đã được tôi luyện, trưởng thành để sau này trở thành các cán bộ lãnh đạo giữ trọng trách trong các cơ quan của Đảng và Nhà nước.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Giêng, 2011, 02:04:54 pm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/HoangAnhTuan.jpg)

TÔI ĐI VÀO TRẠI ĐA-VÍT

HOÀNG ANH TUẤN                 

     Nguyên trưởng đoàn đại biểu quân sự chính phủ CMLTCHMNVN trong ban liên hợp quân sự hai bên, nguyên thứ trưởng bộ ngoại giao nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

        Tôi đang công tác ở cục tham mưu quân khu 5 thì Hiệp định Pa-ri được ký. Bộ tư lệch Quân Khu gọi lên bảo đại ý: Hiệp định đã ký được rồi, bây giờ chuyển sang một giai đoạn đấu tranh mới với hình thức mới, quân ủy trung ương chỉ định anh tham gia công tác Liên hợp quân sự, làm trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miêng Nam Việt Nam trong ban liên hiệp quân sự bốn bên khu vực III đóng tại Plây Cu ( Tỉnh lỵ Gia Lai ). Công việc này mới mẻ chưa ai quen cứ vừa làm vừa học, chú ý nghiên cứu kỹ các văn kiện đã ký kết và chấp hành đúng sự chỉ đạo của cấp trên. Riêng anh đã từng tham gia Ủy ban liên hợp đình chiến sau hiệp định Giơ-ne-vơ chắc cũng đã có ít nhiều kinh nghiệm”.

        Duyên nợ cuộc đời đây chăng? Trước đấy 19 năm, tháng 7 năm 1954, tôi đã được cử vào đoàn đại biểu bộ tổng tư lệnh quân đội nhân dân Việt Nam trong ủy ban liên hiệp đình chiến trung ương với ý nghĩa là cán bộ đại diện cho chiến trường Liên khu 5, cũng như anh Đồng Văn Cống đại diện cho chiến trường Nam Bộ ( Sau này là thiếu tướng Đồng Văn Cống, Phó tư lệnh Quân giải phóng Miền, sau đó là trung tướng ). Ủy ban liên hợp hồi đó họat động thiết thực được 300 ngày, sau khi lực lượng vũ trang hai bên ( Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân đội liên hợp Pháp ) tập kết xong sang hai bên sông Bến Hải tức giới tuyến quân sự tạm thời, thì phía Pháp bắt đầu trở mặt, chây lỳ trong các phiên họp ủy ban liên họp không chịu bàn bạc giải quyết vấn đề gì nữa, cuối cùng ủy ban liên hợp mặc nhiên tan rã. Trước đó tôi được điều trở lại đơn vị chiến đấu, rồi trở về miền Nam tham gia cuộc kháng chiến lần thứ hai đánh Mỹ. Và giờ đây, với một hiệp định mới, với đối phương mới, lại được gọi lại vào công tác liên hợp quân sự.

        Đúng vào lúc này, đầu tháng 2 năm 1973, sau tết quý sửu mấy ngày, anh Năm Công ( tức đồng chí Võ Chí Công, ủy viên trung ương Đảng. Phó bí thư trung ương Cục. Bí thư ủy khu 5 ) vừa từ Hà Nội vào triệu tập cuộc họp cán bộ cao cấp quân - dân - chính - đảng để phổ biến nghị quyết nóng hổi của bộ chính trị về Hiệp định Pa-ri. Nghị quyết đánh giá ý nghĩa thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ và của hiệp định Pa-ri phân tích các nguyên nhân thắng lợi dự kiến khả năng diễn biến tình hình, xác định nhiệm vụ cách mạng của cả nước và của từng miền Nam, Bắc trong giai đoạn mới, các nguyên tắc và quan điểm cần nắm vững trong mọi tình hình, các công tác lớn trong thời gian sắp tới. Chính cuộc họp quan trọng này đã trang bị cho tôi những nhận thức và quan điểm cơ bản về tình hình và nhiệm vụ mới, giúp chúng tôi sau này trong hoàn cảnh đơn độc xa sự chỉ đạo trực tiếp của cấp trên, có đủ bản lĩnh chủ động xử lý đúng hướng một số tình huống gay cấn mà không chờ được chỉ thị cụ thể.
 
        Sau cuộc họp tôi cùng các bộ phận trong đoàn khu vực III hành quân đến căn cứ Trà My ( thuộc tỉnh Quảng Nam ) chờ lệnh đi Plây Cu. Chờ mãi hết tháng 2 đến tháng 3 năm 1973 vẫn không thấy lệnh. Sau này mới biết là, kịp thời rút kinh nhiệm về việc địch cho tổ chức hành hung cán bộ ta vào làm nhiệm vụ liên hợp ở một số nơi như Huế, Buôn Mê Thuột , Bảo Lộc ( Lâm Đồng ) Quân ủy trung ương quyết định đình chỉ không cho triển khai tiếp các tổ địa phương nữa. Thượng tuần tháng 3 năm 1973, tôi được điện chỉ thị: Tách khỏi đoàn, đi ngay lên đường dây 559 sẽ được sắp xếp đi vào Lộc Ninh nhận nhiệm vụ mới. Thế là tôi rời đoàn, rời chiến trường khu 5 đã bao năm gắn bó. Đi gần một tuần đến binh trạm 34. Đến đây gặp lại anh Nguyễn Lang, Đại tá phó tư lệch đoàn 559. Là bạn chiến đấu cũ ở trung đoàn 108 chủ lực liên khu 5 thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Đường 559 từ trước đó khá lâu đã bảo đảm cho xe vận tải vào ra tấp nập chở quân, chở vũ khí đạn dược, lương thực cho các chiến trường. Nó còn được gọi là đường Trường Sơn, đường Hồ Chí Minh. Vào khỏi Quảng Bình trên cơ sở thỏa thuận với lãnh đạo kháng chiến của hai nước bạn, nó dọc theo phía đông của Hạ Lào và Đông Bắc Cam-pu-chia đến B3 ( Mặt trận Tây Nguyên ). Anh Lang xếp cho tôi một chiếc xe con Bắc Kinh, bố trí đi khắp ngày đêm, thay lái xe từng trạm. Biên giới giữa Lào và Cam-pu-chia ở đây là con suối Tà Ngân . Nó chỉ là một suối cạn tương đối rộng nhưng ít nước, xe qua lại không phải bắc cầu. Đây là một trong những điểm bị máy bay Mỹ đánh phá ác liệt, xơ xác từng mét rừng, từng tấc đất. Sau này ở Tân Sơn Nhất nghe Trần Thị Tuyết ngâm:
“ Tà Ngân trong vắt mắt gương
Xốn xang trông lửa chiến trường mà cay
”...

         Hóa ra mấy tháng sau, anh Tố Hữu cũng vượt ngàn dặm nước non theo đúng con đường tôi đã đi, và cũng có cùng cảm xúc. Xe tôi không rẽ xuống B3 mà lên nhập vào quốc lộ 13 của Cam-pu-chia đi tiếp. Một đêm vào khoảng hơn ba giờ sáng đến một trạm 559 tại Stung-treng tỉnh Lỵ Ra-ta-na-ki-ri. Anh em đưa tôi vào phòng khách bảo ngồi nghỉ tạm giây lát, sẽ gặp thủ trưởng cấp trên, vì đã được dặn là bất cứ lúc nào tôi đến là phải gọi ngay đồng chí ấy dậy. Chỉ mấy phút sau cả anh Mười Khang    ( tức trung tướng Hoàng Văn Thái) và anh Sáu Dân ( đồng chí Võ Văn Kiệt ) [1] từ phòng ngủ ra tiếp tôi. Hai anh trên đường ra họp trung ương tính toán sẽ gặp tôi tại đâu để giao nhiệm vụ. Các anh đã biết tôi từ trước nên tôi cũng không bỡ ngỡ. Anh Mười Khang nói ngắn gọn đại ý: “ Quân Mỹ sắp rút hết, ban liên hợp quân sự bốn bên sắp hết hạn, trung ương quyết định rút anh Trà về lại chỉ huy chiến trường, cử anh vào thay anh ấy tại ban liên hợp quân sự hai bên trung ương. Anh sẽ lấy tên mới là Hoàng Anh Tuấn, với cấp quân hàm thiếu tướng ( theo nghị định thư được ký ở Pa-ri thì trưởng đoàn các bên liên hợp quân sự phải là cấp tướng ). Tóm tắt là thế còn nhiệm vụ cụ thể và cung cách làm ăn thì vào trong ấy anh Trà sẽ phổ biến. Thời gian gấp lắm rồi, cần đi suốt ngày đêm cho kịp. Chỉ vẻn vẹn trong mấy phút tôi được giao một nhiệm vụ mới mẻ, nặng nề, và chắc là khó khăn ( hai năm ở ủy ban liên hợp thời Giơ-ne-vơ với cương vị khác nhau chẳng để lại kinh nhiệm gì phong phú lắm đâu ). Anh Mười hỏi có gì cần hỏi thêm, có gì thắc mắc không, tôi đáp “ đã rõ, xin chấp hành “. Thế là hai anh bắt tay tôi, chúc “ Tiếp tục lên đường mạnh khỏe, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, hẹn sớm đến ngày gặp lại “. “ May “ là lần này chỉ mất hơn hai năm chứ không phải là 21 năm như từ ngày ký hiệp định Giơ-ne-vơ.
---------------
[1] Anh Mười Khang Lúc đó là Ủy viên Thường vụ Trung ương Cục, Tư lệnh Miền và Phó bí thư Quân ủy Miền. Anh Sáu Dân là Ủy viên Trung ương Cục, Bí thư Khu ủy Khu 9. Ra họp Trung uuwng xong anh Mười Khang ( Hoàng Văn Thái ) ở lại, sau này là đại tướng, Ủy viên Trung ương Đang, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Thương tiếc anh qua đời không lâu sau ngày thắng lợi. Anh Sáu Dân vào lại Khu 9, sau giải phóng có thời làm Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, sau này là Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ rồi cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Giêng, 2011, 02:13:38 pm
 
       Tôi lại lên đường ngay từ đây do cục hậu cần Miền phụ trách và phải đổi phương tiện. Không đi ô tô nữa mà chuyển sang “ xe ôm “. Tôi được đem theo một đồng chí cần vụ và một quân y sĩ [2] và thế là đoàn chúng tôi sáu xe honda ( loại đời 64-66 ): 1 xe đồng chí tổ trưởng dẫn đầu, ba xe của ba anh em chúng tôi và hai xe trở vali và đồ đạc. Tất cả trang bị vốn có từ kháng chiến đều được mang theo, trừ cái gậy của tôi. Ôi, tiếc chiếc “ gậy Trường Sơn “ trong bao nhiêu năm đã giúp cho đôi chân và con mắt khập khiễng của tôi lên núi xuống đồng, trèo đèo lội suối đi ngày đi đêm. Anh em vệ binh đã luôn tìm cách tìm khắp cánh rừng Đồng Làng ( phía tây huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam ), kiếm được một cây rất thẳng, tuổi già mà thân lại vừa cầm nắm tay, vừa cứng vừa dẻo, anh em còn cần thận vạt nhọn chân gậy và bịt đồng để khỏi mòn. Đành phải để lại, chỉ cố giữ hình ảnh nó trong một phần sâu thẳm ký ức thôi.

        Chúng tôi theo đường 13, đến khoảng giữa tỉnh Mon-đôn-ki-ri thì rẽ về Mi-mốt ( vẫn còn thuộc đất Cam-pu-chia ). Đến đâu gặp lại anh Mười Tân, phó chủ nhiệm hậu cần Miền, cũng là bạn chiến đấu cũ quen nhau từ năm 1964, cũng say ngất xỉu trong một bữa liên hoan do bộ chỉ huy Miền chiêu đãi đoàn anh Tư Thuận ( tức đồng chí Nguyễn Đức Thuận, sau này là ủy viên trung ương Đảng. Chủ tịch tổng công đoàn Việt Nam, đã qua đời ). Các anh vừa được chính quyền mới của Sài Gòn trả tự do từ chuồng cọp Côn Đảo sau cuộc đảo chính lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm. Mười Tân vẫn Lùn, vẫn dí dỏm nhưng mập và già hơn nhiều ( gần 10 năm rồi ). Anh xếp cho tôi đi ngay về Lộc Ninh, với một tổ Honđa khác. Lộc Ninh thuộc tỉnh Bình Long, nay là Bình Phước ) đã được giải phóng từ đầu năm 1972 trong chiến dịch Nguyễn Huệ cùng một số khu vực rộng lớn nối liền nhau giữa các tỉnh Bình Long, Bình Dương và Tây Ninh, liền biên giới với Cam-phu-chia.

        Có ai biết được lịch sử xe ôm có từ lúc nào và trong hoàn cảnh nào không? Riêng với tôi có lẽ là từ thời kỳ này đây, một sáng kiến tuyệt vời của cục hậu cần Miền, một phương tiện vận tải vô cùng linh hoạt, luồn lách được qua mọi nẻo đường rừng.

                              “ Chú lái trước anh ngồi sau
                                Rừng cao su ngát một màu xanh
                                Xe bay nghiêng gió dạt cành,
                                Đã quen lối tắt đường quanh hiểm nghèo.
                                Tới đâu anh cũng bám theo.
                                Áo bà ba mũ tai bèo chú em!...
”

        Một buổi sáng đến một con suối hẹp nhưng sâu, có cây cầu gỗ bắc qua dài khoảng 5 mét. Anh em cho biết: Đây là biên giới, bên kia là Tổ quốc rồi. Trước đây, khoảng cuối năm 1965, tôi đã từng hoạt động phía biên giới tình Phước Long ( nay là Bình Phước ), hàng ngày vẫn lội qua lội lại sông Đắc - Huýt, ngày “ trở về Tổ quốc “ hoạt động, đêm “ sang nước bạn “ngủ nhờ nên lần nào qua cầu biên giới Bình Long chỉ có một cảm giác nhẹ nhàng, nhưng Tố Hữu lại khác, anh đã ghi nhận một cách sâu sắc:

                                “... Đơn sơ một khúc cầu con
                                 Một khe suổi nhỏ cũng hồn quê ta
                                 Ôi gò đất mịn son pha,
                                 Thắm tươi dòng máu ông cha bao đời!
”...

        Qua Lộc Ninh anh em chở chúng tôi đi thẳng vê căn cứ Bộ chỉ huy Miền ở Tà Thiết. Đầu tiên gặp anh Hai Nhã ( tức Lương Văn Nho ) Tham mưu phó Miền [3]. Thủ trưởng cơ quan 315 là đơn vị đặc trách giúp Quân ủy và bộ chỉ huy Miền theo dõi chỉ đạo các đơn vị các đơn vị làm công tác liên hợp quân sự trong vùng địch thuộc phạm vi quản lý của Miền. Anh Hai Nhã đưa tôi đến gặp anh Chín Vinh tức đồng chí Trần Độ, Phó chính ủy Miền [4]. Anh tiếp tôi niềm nở, thông báo khái quát tình hình thắng lợi ở các chiến trường, nói chuyện tình cảm ( anh cũng đã biết tôi từ 1964, hồi đó anh vào đến cơ quan Bộ chỉ huy Miền thì tôi đang công tác ở phòng tác chiến ), còn nhiệm vụ mới thì vào trong ấy đã có anh Tư Nguyễn ( tức trung tướng Trần Văn Trà ).
-----------------
[2] Đồng chí Hoàng Hóa người dân tộc Mường, sau này xuất ngũ về tiếp tục học Đại học Sư phạm, ra làm Phó hiệu trưởng trường cấp III huyện Lương Sơn ( tỉnh Hòa Bình )
       Đồng chí Nguyễn Hưu Yểng quân y sĩ, sau giải phóng về làm Chính trị viên huyện đội quê nhà ở tỉnh Phú Thọ.

[3] Sau này là Thiếu tướng Lương Văn Nho – Thương tiếc anh sớm qua đời sau ngày thắng lợi.

[4] Sau này là Trung tướng Trần Độ, Ủy viên Trung ương Đảng, đại biểu Quốc hội, mất năm 2001 tại Hà Nội. Đáng tiếc cho ông, về cuối đời đã từ bỏ lý tưởng cách mạng, tự rời con đường của Đảng tách khỏi đội ngũ những người con của dân tộc được kính trọng, mếm yêu và tưởng nhớ muôn đời.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Hai, 2011, 10:21:14 pm
       Anh Hai Nhã gấp rút thu xếp cho tôi đủ các trang bị tối thiểu cần thiết cho tư thế hình thức của một cán bộ đi đấu tranh ngoại giao, từ quấn áo giày mũ cho đến đôi tất, cặp kính mát và cả cái mùi xoa nữa, phải chạy ngược chạy xuôi rất chật vật vì không dự kiến trước, có cái mới cái cũ nhưng rồi cũng ổn cả. Riêng quân phục không có sẵn, anh lấy hết đưa cho tôi hai bộ bằng hàng tê-tô-rông của anh mới may, chỉ cái tội là bụng anh to hơn bụng tôi nhiều nên quá thụng thịnh, lại phải điều thợ may đến sửa cấp tốc xong cho tôi ngay trong ngày. Tình cảm của tôi đối với anh càng thêm sâu đậm.

        Sáng ngày 23 tháng 3 năm 1973 chúng tôi được ra Lộc Ninh -khoảng 9 giờ sáng hai máy bay lên thẳng từ hướng nam bay đến, trung tá Khúc Đình Bính sĩ quan liên lạc được cử ra đón [5]. Khoảng 10 giờ chúng tôi đến sân bay Tân Sơn Nhất thuộc khu quân sự không có máy bay dân dụng và hành khách, chỉ thấy vô số lính quân cảnh, tuần cảnh và xe quân sự. Phải chờ khoảng 15 phút mới có xe của đoàn ta từ “ Trại Đa-vít “ ra đón. Trong thời gian đó không biết bao nhiêu người cầm máy ảnh đến bao quanh và chụp ảnh chúng tôi, nhất là tôi, bấm máy lách cách liên tục với tất cả các góc độ có thể. Có người mặc quân phục có người thường phục, nhưng qua thái độ và cử chỉ thì có lẽ hầu hết là quân lính. Đây là lần đầu tiên tôi tiếp cận môi trường đối phương, và cảm xúc đầu tiên là một ấn tượng mạnh mẽ sâu sắc - mặc dù đã được báo và chuẩn bị tư tưởng từ trước - về phong cách xử sự kém văn minh lịch sự, kém văn hóa của một đội quân tay sai đế quốc Mỹ.
 
        Thiếu tá Nguyễn Ngọc Diễm [6] chánh văn phòng đoàn đón chúng tôi về doanh trại, đường xe đi chừng năm sáu trăm mét nhưng sau này mới biết thực ra chỉ cách một khoảng sân bê tông, một bức tường ngăn và mấy dây hàng rào bùng nhùng.
Và thế là trưa thứ sáu ngày 23 tháng 3 năm 1973 tôi đã đến “ Trại Đa-vít “, từ đây gắn cuộc đời chiến đấu của mình vào nhiệm vụ mới liên tục cùng với các đồng chí và anh chị em khác cho đến ngày quân đội ta vào chiếm lĩnh Tân Sơn Nhất và Sài Gòn, thật sự và hoàn toàn giải phóng miền Nam. Chỉ hơn hai năm mà thấy nó dài hơn 12 năm lăn lộn khắp chiến trường.
 
        Tôi được gặp ngay anh Trà và anh Hòa [7] hai anh tiếp tôi niềm nở, thân tình, cùng với các đồng chí khác trong hai bên lãnh đạo hai đoàn. Anh Trà là thủ trưởng cũ từ năm 1964 rồi, anh Hòa thì lần đầu gặp ở đây, nhưng trong hoàn cảnh đặc biệt này thấy thân thiết ngay. Tôi lần lượt gặp chào tất cả các đồng chí các bộ chiến sĩ hai đoàn, bạn bè thân quen cũ cũng nhiều và cũng không ít người chưa biết mặt mà cũng lạ thay, đều cùng mừng rỡ chan hòa ngay không hề phân biệt. Đối phương bố trí cho cả hai đoàn ta cùng chia nhau ở chung một khu doanh trại, lại là doanh trại của một đơn vị cơ sở, hầu hết tiện nghi đều công cộng, đây là một dụng ý xấu của cả Mỹ và chính quyền Sài Gòn, chưa kể việc doanh trại này còn nằm sâu trong khu căn cứ quân sự xa phố xá và nhân dân. Nhưng họ không hiểu được rằng đây lại là một điều hay, rất hay. Hai đoàn ta cùng chung một cội nguồn, nhằm chung một cái đích, được ở cùng nhau một chỗ là vô cùng thuận lợi, tuy hệ thống tổ chức và chỉ đạo nội bộ khác nhau nhưng là một khối thống nhất, hai mà là một, một lại là hai, đối phương và mọi luồng dư luận đều thấy mà chẳng làm gì chia rẽ được. Giả dụ họ khôn hơn, xếp cho mỗi đoàn ở một nơi cách xa nhau, dù tiện nghi có sang trọng thỏa đáng đến mấy thì sự phối hợp hành động cũng chắc chắn sẽ khó khăn trở ngại hơn nhiều. Tôi vào “ Trại Đa-vít “ 5 ngày trước khi ban liên hợp quân sự bốn bên kết thúc nhiệm vụ. Tôi được dự ba phiên họp cuối cùng của ban liên hợp quân sự bốn bên trung ương, được trung tướng Trần Văn Trà giới thiếu tướng phó trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ cách mạng lâm thời ( bổ sung thêm với ba phó trưởng đoàn đã có ). Ngày 28 tháng 3 năm 1973, trong cuộc họp cuối cùng thiếu tướng Lê Quang Hòa ( chủ vị theo chế độ luân phiên ) tuyên bố ban liên hợp quân sự bốn bên đã hoàn thành sứ mạng giải thể.
 
        Sáng thứ năm 29 tháng 3 năm 1973, ban liên hợp quân sự hai bên trung ương họp phiên đầu tiên, đoàn ta vẫn do trung tướng Trần Văn Trà làm trưởng đoàn, các phó trưởng đoàn là tôi thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn, đại tá Võ Đông Giang ( cũ ), đại tá Bùi Thanh Khiết ( mới ) đại tá Nhuyễn Văn Sĩ ( mới ) [8] . Phiên họp này quyết định thành lập các tiểu ban để giúp hai trưởng đoàn trong từng lĩnh vực cần giải quyết theo quy định của hiệp định. Khởi động bộ máy mới xong, anh Trà coi như hoàn thành nhiệm vụ ở đây, giao công việc lại cho tôi và chuẩn bị ra đi. Anh cũng chẳng giao dặn gì nhiều và cụ thể, triệu tập các đồng chí trong ban lãnh đạo đoàn lại, bảo “ công việc mới mẻ và phức tạp lắm, kẻ địch thì tráo trở và ngoan cố, luôn tìm cách vi phạm, tuy nhiên những kẻ yêu cầu bức thiết của ta đã đạt được: Tống hết quân Mỹ ra khỏi miền Nam rồi, nhận lại một số lớn cán bộ chiến sĩ ta bị bắt. Bây giờ anh em hãy đoàn kết bàn bạc tập thể với nhau và làm, phối hợp chặt chẽ với các đồng chí đoàn A ( tức đoàn đại biểu quân sự chính phủ cộng hòa trong tổ liên hợp quân sự bốn bên ), cố đấu tranh đòi thực hiện tiếp một số điều khoản quan trọng nữa, đặc biệt chú ý: Duy trì ngừng bắn, trao trả nhân viên, dân sự ( tù chính trị ), phân định vùng kiểm soát, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh dư luận, tranh thủ ủy ban quốc tế, tố cáo mạnh mẽ địch vi phạm hiệp định, phối hợp tốt đấu tranh dư luận với hoạt động của chiến trường. Giữ đếu liên lạc với hậu phương ( cả Hà Nội và Miền ) để báo cáo, nhận thông báo tình hình và chỉ thị “.
---------------
[5] Anh Khúc Đình Bính là người dân tộc quê ở Quảng Ninh, sau ngày giải phóng là đại tá công tác ở Hà Nội – thương tiếc anhđã sớm qua đời vì bệnh hiểm nghèo.

[6] Sau này là Đại tá Nguyễn Ngọc Diễm.

[7] Trung tướng Trần Văn Trà trước khi vào Ban Liên hợp quân sự là Phó tư lệnh Quân giải phóng Miền, từ trại Đa-vít trở về làm Tư lệnh Quân giải phóng Miền, phó tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, sau giải phóng làm Chủ tịch ủỵ ban quân quản thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, sau là Tư lệnh Quân khu 7, rồi Thượng tướng Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Anh qua đời đột ngột năm 1997 vì bạo bệnh trên đường đi chữa bệnh ở nước ngoài về.
        Thiếu tướng Lê Quang Hòa là Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, vào trại Đa-vít làm Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên trung ương, sau về lại Tổng cục Chính trị, lên thượng tướng - Anh qua đời năm 1993, tại Hà Nội.

[8]  Đồng chí Võ Đông Giang là cán bộ dân sự, Vụ trưởng thuộc Ban thống nhất Trung ương đang làm đại sứ lưu động thì dược gọi về làm Phó trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên trung ương với quân hàm đại tá, và chuyển sang hai bên cho đến cuối. Sau giải phóng đồng chí về làm Thử trưởng Bộ Ngoại giao rồi Bộ trưởng biệt phái tại Bộ Ngoại giao, rồi chuyển qua tham gia thành lập Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Đồng chí đã qua đời.
         Đại tá Bùi Thanh Khiết là Phó chủ nhiệm Cục Chính trị Miền rồi Chính ủy Quân khu 9 (miền Tây Nam Bộ), rồi làm Phó trưởng đoàn kiêm Bí thư Đảng ủy đoàn ta tại Ban Liên hợp quân sự hai bên trung ương.
        Sau giải phóng đồng chí là ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Thứ trưởng kiêm Bí thư Ban Cán sự Đảng Bộ Giáo dục. Đồng chí dã qua đời.
        Đại tá Nguyên Văn Sĩ là Tham mưu phó Miền, ra làm Phó trưởng đoàn ta tại Ban Liên hợp quân sự hai bên trung ương đến trước chiến dịch Hồ Chí Minh. Sau này là thiếu tướng - Phó tư lệnh Quân khu 9. Đồng chí đã qua đời


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Hai, 2011, 10:23:34 pm
        Sau khi khéo thu xếp khắc phục được khó khăn và sự tế nhị về việc anh Trà trở về luôn chiến trường mà không để cho địch biết được ý định của ta, sáng 30 tháng 3 năm 1973, đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa cùng thiếu tướng Lê Quang Hòa cũng lên máy bay Mĩ trở về Hà Nội, để lại một bộ phận tham gia tổ liên hợp quân sự bốn bên phụ trách điều 8b của hiệp định về “ tìm kiến người chết và mất tích “.
Đầu tháng 5 năm 1973, tôi nhận được giấy ủy nhiệm của chủ tịch chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam cử làm trưởng đoàn. Tôi tham gia ban liên hợp quân sự hai bên vào lúc ban liên hợp quân sự bốn bên giải thể, cũng là thời điểm mà việc thi hành tương đối có hiệu quả hiệp định Pa-ri ( tuy cũng chỉ được vài điều khoản nhưng là những điều khoản rất quan trọng ) coi như cơ bản kết thúc, Mỹ đạt được hai yêu cầu bức thiết là rút quân gọn, an toàn và nhận lại hết người của họ bị bắt. Từ nay Mỹ không còn gì thúc bách nữa nên họ khuyến khích hoặc làm ngơ cho ngụy quyền Sài Gòn phá hoại hiệp định. Ta đấu tranh đòi được việc phía Sài Gòn cùng bàn bạc thực hiện một số đợt trao đổi nhân viên dân sự ( tù chính trị ) trong năm 1973 và đầu năm 1974, nhân việc chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa cho Mỹ nhận 23 bộ hài cốt Mỹ vào tháng 3 năm 1974. Về các mặt khác, lúc đầu đoàn Sài Gòn làm ra vẻ cũng muốn thi hành hiệp định, cũng nêu một số vấn đề thảo luận, nhưng chỉ là những trò giả tạo, nghi binh cho các hành động chiến tranh của họ trên chiến trường.

        Theo từng bước chỉ đạo của cấp trên, dần dần nhiệm vụ chủ yếu của chúng tôi tập trung vào đấu tranh tranh thủ dư luận, phát huy cuộc đấu tranh này trên cả 3 mặt trận địa:
 
        -   Tại các phiên họp của ban liên hợp quân sự.
 
        -   Trong quan hệ với ủy ban quốc tế

        -   Trong tiếp xúc với các nhà báo quốc tế và các cuộc họp báo hàng tuần.
 
        Cuộc chiến đấu không súng đạn này thật gian truân vất vả, lắm lúc dễ gây chán nản, không tránh khỏi đôi khi nuối tiếc đời họat động sôi nổi ở chiến trường, nhất là từ sau khi giải phóng Buôn Ma Thuột.
 
                       “ Đã hay đâu cũng say tiền tuyến
                         Mà vẫn băn khoăn mộng chiến trường “ mà!
 
        Phải, tự động viên mình, động viên lẫn nhau, làm công tác tư tưởng với cả đơn vị để giữ vững quyết tâm trên mặt trận mới, quán triệt yêu cầu nóng bỏng của cách mạng là phải tranh thủ cho được sự đồng tình ủng hộ hoặc ít nhất cũng là sự chấp nhận của dư luận thế giới đối với tình thế bất đắc dĩ buộc ta phải kiên quyết đánh trả các hành động chiến tranh của ngụy quyền nguyễn Văn Thiệu. Đáng phấn khởi là, với trận quyết chiến lược tiến tới hoàn toàn giải phóng miền Nam ngày 30 tháng 4 năm 1975, các tin tức được phát đi từ Sài Gòn đã ghi nhận và nêu bật khá khách quan thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta, không còn chuyện vạch lá tìm sâu như buổi ban đầu trước đó hai năm nữa.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Hai, 2011, 10:24:31 pm

*

*          *

        Ba năm đã đi qua từ thắng lợi cách mạng tháng 5 năm 1975, với hai cuộc kháng chiến lâu dài gian khổ, hai hiệp định đình chiến và một trận quyết chiến lược cuối cùng.

        Hiệp định Giơ-ne-vơ kết thúc tháng 9 năm kháng chiến chống pháp đã giải phóng được gần nửa đất nước. Hiệp định được thi hành thuận lợi trong 300 ngày. Sau khi việc tập kết quân sang hai bên giới tuyến quân sự tạm thời được hoàn thành thì Pháp phủi tay, lặng lẽ rút lui nhường miền Nam cho Mỹ xây dựng, viện trợ tiền của và vũ khí ngày càng mạnh lên và xé bỏ hiệp định Giơ-ne-vơ trong khi miền Bắc mới bắt đầu xây dựng.

        Phải mất 5 năm, đến 1959 Đảng mới có được nghị quyết trung ương15 khẳng định sự nghiệp giải phóng miền Nam chỉ có thể thực hiện được bằng sự bạo lực cách mạng.

        Đánh Mỹ và chế độ ngụy quyền Sài Gòn tay sai Mỹ khó khăn ác liệt hơn chống Pháp bội phần. Phải đánh liên tục 13 năm ( từ 1960 đến 1973 ) với phương châm đẩy lùi địch từng bước giành thắng lợi từng phần mới đi đến hiệp định Pa-ri.
 
        -   Năm năm đánh bại chiến tranh đặc biệt với quân ngụy và tiền bạc vũ khí cùng cố vấn Mỹ.
 
        -  Mỹ phải đưa quân vào trực tiếp tiến hành chiến tranh cục bộ, trong 3 năm đã đưa tổng lực lượng đến hơn nửa triệu quân Mỹ, hơn mười vạn quân 5 nước đồng minh của Mỹ cùng 1,2 triệu quân ngụy. Sau 3 năm làm thất bại 4 chiến dịch phản công tổng lực của cả quân Mỹ ngụy và chư hầu, đòn tập kích chiến lược Tết Mậu Thân 1968 đã buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, ngồi vào bàn đàm phán, và đã thúc đẩy quá trình đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ.
 
        Gần 5 năm vừa đánh vừa đàm đã đưa đến sự thỏa thuận về toàn bộ nội dung hiệp định, nhưng cũng phải đến sau trận Điện Biên Phủ trên không Hiệp định Pa-ri mới được ký kết.
 
        Hiệp định Pa-ri đánh dấu một bước thắng lợi rất to lớn, một bước ngoặt, thực hiện trọn vẹn yêu cầu “ đánh cho Mỹ cút “, làm thay đổi cơ bản so sánh lực lượng giữa ta và địch. Nhưng hiệp định Pa-ri cũng chỉ được thực hiện trong 60 ngày.

        Phải hơn hai năm nữa và cũng phải thông qua bạo lực cách mạng mới quét sạch đến tên xâm lược cuối cùng, giải phóng hòan toàn miền Nam tiến tới thống nhất tổ quốc.

        Công lao vĩ đại thuộc về các lực lượng vũ trang trùng điệp của cả nước. Lực lượng cán bộ chiến sĩ và cán bộ nhân viên dân sự tham gia đấu tranh liên điệp của nhà nước. Lực lượng cán bộ chiến sĩ và cán bộ nhân viên dân sự tham gia đấu tranh liên hợp quân sự cả bốn bên và hai bên, cả các đoàn miền Bắc và miền Nam trước sau vẻn vẹn không đến 500 người cũng đã góp phần tích cực của mình trên mặt trận khá độc đáo: Chính thức công khai đại diện cho chính quyền và quân đội cách mạng đứng sâu trong trung tâm đầu não của địch cho đến ngày cuối cùng để bảo vệ lẽ phải, bảo vệ chính nghĩa của công cuộc chiến đấu vũ trang “ đánh cho ngụy nhào “, thực hiện mục tiêu độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước mà hiệp định Pa-ri đã công nhận.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Hai, 2011, 10:56:14 pm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/TranVanTra.jpg)

ĂN TẾT TRONG TRẠI ĐA-VIT

Thượng tướng TRẦN VĂN TRÀ                  

     Nguyên là Trưởng đoàn đại biểu quân sự chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam trong ban liên hợp quân sự bốn bên.
        Thượng tướng đã đi xa, chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc bài “ Ăn tết trong trại Đa-vít của thượng tướng viết năm 1995.


        Đây là một cái tết rất đặc biệt, cả đời người hẳn chỉ có một lần. Đó là cái tết Quý Sửu năm 1973 của tôi.
 
        Ngày 27 tháng 1 năm 1973. Hiệp định Pa-ri được ký kết quy định thành lập ban liên hợp quân sự bốn bên. ( Mỹ - ngụy Sài Gòn, Việt Nam dân chủ cộng hòa và cách mạng lâm thời chính phủ miền Nam Việt Nam ) để bàn việc thi hành hiệp định. Tôi được quyết định làm trưởng đoàn quân sự chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Hai đoàn quân sự của ta do Mỹ đón bằng máy bay và trực thăng từ Hà Nội vào Lộc Ninh vào Sài Gòn để ăn và họp ở đấy, tại trại lính cũ – trại Đa-vít, trong sân bay Tân Sơn Nhất. Tuy tới chậm theo quy định theo quy định nhưng đến ngày 1-2 chúng tôi đủ mặt để ngày 2 tháng 2 họp phiên đầu. Mỹ đòi họp tiếp ngày 3-2 nhưng tôi phản đối và cả đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa và ngụy quyền Sài Gòn cũng đồng tính thống nhất là phải nghỉ ngày ấy vì là ngày 1 tết âm lịch là tết truyền thống của dân tộc Việt Nam ta. Mỹ phải chịu.
 
        Đoàn chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ăn tết trước ở Lộc Ninh rồi, nhưng vì sau bao năm chiến tranh, lần đầu tiên sống ở đất Sài Gòn thân yêu của mình, chúng tôi muốn được tận hưởng những phút bình yên nhất bên cạnh tách trà và một ít bánh mứt đem theo, để nhớ công đức ông cha đã tạo dựng được xứ sở đẹp đẽ này mà ta sẵn sàng đem xương máu ra giữ nó.
 
        Đêm giao thừa, chúng tôi chúc tết lẫn nhau, cả hai đoàn, miền Bắc, miền Nam xen kẽ. Một không khí đầm ấm vui tươi. Một xã hội cỏn con chan hòa tỉnh cảm, thống nhất tâm tư, trong vòng thành và lô cốt bảo vệ của kẻ địch. Mùi khói thuốc “ Thăng Long “ quyện với hương cà phê Lộc Ninh ngọt ngào lan tỏa – nhưng cả trại chỉ có một gốc đào Ngọc Hà cưỡi máy bay C.130 và một cành mai vàng mang trên trực thăng từ rừng căn cứ. Đủ lắm rồi hương vị một mùa xuân!
 
        Từ một góc nào đó anh em đã mở nghe đài tiếng nói Việt Nam, một giọng thơ ngân dài:
 
                                       “ Ta lại về ta, những đứa con
                                          Máu hòa trong máu, đỏ như son
                                         Sài Gòn ơi, Huế ơi! Xin đợi
                                         Tái hợp huy hoàng, cả nước non!
”

        Khoảng 3 giờ sáng ngày 1 tết, tôi đang ngủ say thì bị lay dậy báo cáo” địch đang uy hiếp bằng trực thăng vũ trang và bao vây bằng xe bọc thép, ta phản đối với sĩ quan liên lạc nhưng không có kết quả mà địch càng lồng lộn điên cuồng”. Hỏi rõ đầu đuôi tôi mới biết rằng, một đồng chí thông tin của đoàn anh Hòa cao hứng treo cờ đỏ sao vàng trên cột ăng ten để ăn tết. Toàn bộ các vọng gác của địch xung quanh rộn rịp. Bốn trực thăng quần đảo, rà soát gầm rú trên nóc nhà, chiếu đèn pha vào trại sáng rực. Ngoài cổng 6 chiếc xe tăng bọc thép rít bánh sắt xuống đường, các xe lớn đổ quân bao vây trại, súng ống cắm lưỡi lê sáng lòa. Xe quân cảnh rú còi inh ỏi. Tất cả náo động một vùng như có một trận đánh lớn.
 
        Đôi bên đang thảo luận về các thủ tục như dùng cờ, giấy chứng minh đi lại,v v... chưa ngã ngũ... Vì vậy thấy cờ đỏ sao vàng xuất hiện chúng hốt hoảng phản ứng mạnh đòi rút cờ. Anh em ta thì cứng ngắt không nghe.
 
        Tôi phải gặp anh Hòa thuyết phục: Chưa nhất trí thì không treo cờ. Chúng đã cứng ta phải mềm mà xử, chúng như lửa ta lấy nước mà dập tắt. Đây chỉ là chuyện nhỏ, nhân nhượng một chút không là gì cả. Thi hành hiệp định như ngừng bắn... mới là chuyện lớn cần giữ vững nguyên tắc. Nghe ra anh em ta rút cờ. Thế là mọi việc êm thấm. Chúng rút lui mọi lực lượng. Không khí trở lại yên bình để anh em vui tết trọn vẹn ngày mùng 1.
 
        Qua ngày sau họp 4 trưởng đoàn, 2 trưởng đoàn ta phản kháng mạnh mẽ. “ Các ngài quen dùng vũ lực tàn bạo để đe dọa những kẻ yếu bóng vía. Bom đạn của Mỹ nhiều thật nhưng đã bất lực rồi, chúng tôi vào đây chỉ để nói chuyện hòa bình hòa giải, không phải để chiến đấu. Các ngài có biết rằng nếu quân giải phóng chúng tôi, chỉ quan sát Sài Gòn đây thôi, biết rằng các ngài đón khách kém văn hóa, kém văn minh, láo xược và thô bạo như vậy thì sẽ nghĩ và làm gì không?”
 
        Tướng Út-uốt, Trưởng đoàn Hoa Kỳ, giả hay thật không rõ, tỏ ra ngơ ngác không biết có chuyện xảy ra, ngó qua Ngô Du, trưởng đoàn ngụy Sài Gòn. Du lúng túng đổ cho lực lượng sân bay của không quân vì họ có trách nhiệm bảo vệ. Để qua đi sự việc này, tôi nhấn mạnh chúng tôi yêu cầu những hành động khoa trương sức mạnh súng đạn không bao giờ xảy ra nữa.
 
        Chúng tôi ăn tết Quý Sửu năm 1973 giữa Sài Gòn trong vòng vây của địch như vậy đó. Vừa đánh địch đau điếng ở chiến trường nay vào tận sào huyệt của chúng nói chuyện hòa bình. Chúng tức khí đấy thôi. Kẻ địch đã mê muội không hiểu ngay sức lực của mình, không hiểu cha đỡ đầu Hoa Kỳ đã mất hết ý chí xâm lược. Vì vậy chúng ta phải tạo ra những mùa xuân thực sự hòa bình và hạnh phúc, những mùa xuân rực rỡ sau 30 tháng 4.

                                                                                                                       Xuân năm 1995
                                                                                                                       TRẦN VĂN TRÀ



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Hai, 2011, 11:08:16 pm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/DoanHuyen.jpg)

HỒI ỨC CỦA NHÀ QUÂN SỰ

ĐOÀN HUYÊN                  

     Thiếu tướng Đoàn Huyên là thành viên Đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Hội nghị Pa-ri về Việt Nam và là Phó trưởng đoàn đại biểu quan sự  Chinh phủ Cách mạng lâm thời trong Ban Liên hợp quán sự bốn bên và hai bên tại "Trại Đa-vit".
        Đồng chi đã đi xa, chúng tôi xin trích đăng phần nói về thời kỳ đầu tranh thi hành Hiệp định Pa-ri trong bài "Hồi ức của nhà quán sự" đã in trong tập sách "Mặt trán Dân tộc giải phóng. Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Hội nghị Pa-ri về Việt Nam"

TIẾN VỀ SÀI GÒN

        Đầu năm 1973, khi Hiệp định Pa-ri có triển vọng sắp được ký kết, tôi nhận được quyết định làm Phó trưởng đoàn quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam Việt Nam, từ Pa-ri về Sài Gòn tham gia Ban Liên hợp quân sự bốn bên để đấu tranh thi hành Hiệp định.

        Đối với tôi đây là một vinh dự và niềm vui lớn. Không chỉ vì nguồn vui chung được "đánh cho Mỹ cút" và nay bước sang "đánh cho ngụy nhào", mà còn vì một lẽ riêng đặc biệt sâu sắc: đây là lần thứ hai tôi được nhận nhiệm vụ Nam tiến, trở lại mảnh đất Sài Gòn thân yêu - sau gần mười nghìn ngày kháng chiến liên tục, kể từ trận chiến đấu đầu tiên tại cầu Bình Lợi ngay ở cửa ngõ Sài Gòn, cùng đơn vị Giải phóng quân Thuận Hóa và Chi đội 3 Nam Long, sau ngày 23 tháng 9 năm 1945 mở đầu cuộc kháng chiến chống Pháp của quân dân Nam Bộ.

         Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam do Trung tướng Trần Văn Trà, Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam làm trưởng đoàn, hình thành từ ba nguồn: từ vùng giải phóng Lộc Ninh) ra, từ Pa-ri về và Hà Nội vào.

         Sáng ngày 27 tháng 1 năm 1973, cũng là lúc lễ ký kết chính thức Hiệp định Pa-ri diễn ra giữa các Bộ trưởng Ngoại giao bốn bên tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Klê-béc (Pa-ri), tôi đáp máy bay về thẳng Sài Gòn cùng một số sĩ quan và phiên dịch để kịp họp cấp phó trưởng đoàn chuẩn bị cho việc triển khai Ban Liên hợp quân sự bốn bên, như đã thỏa thuận giữa các trưởng đoàn bốn bên tại Hội nghị Pa-ri. Một bộ phận của Phái đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa do Đại tá Lưu Văn Lợi, chuyên viên cấp cao, dày dạn kinh nghiệm ngoại giao, được chỉ định làm Phó trưởng đoàn đại biểu quân sự Việt Nam dân chủ cộng hoà dẫn đầu cũng từ Pa-ri về. Theo sự thỏa thuận với phía Mỹ ở Pa-ri, một trung tá Mỹ chịu trách nhiệm hướng dẫn và hộ tống cả hai đoàn về trại Đa-vít, trụ sở chung của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà trong khu vực Tân Sơn Nhất. Cùng đi còn có Phó trưởng đoàn Ba Lan trong Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát.

        Trưa 28 tháng 1 năm 1973, đến Băng Cốc, tạm nghỉ tại sân bay, có một đại diện Bộ Ngoại giao Thái Lan ra đón. Chiểu hôm ấy, một máy bay quân sự của Mỹ đưa chúng tôi về Tân Sơn Nhất, đỗ tại khu vực sân bay quân sự.

NHỮNG VI PHẠM ĐẦU TIÊN CỦA PHÍA ĐỐI PHƯƠNG

        Máy bay chở hai đoàn chưa kịp đô hẳn thì đã thấy mấy toán cảnh sát an ninh của Sài Gòn ùa đến cửa máy bay, lập hàng rào ngăn chặn không để chúng tôi bước xuống đất lấy chút gió giữa cái nắng như bốc lửa của sân bay vào mùa nắng mới. Vụ rắc rối đầu tiên đã xảy ra do phía Sài Gòn cố tình gây ra. Ta đã từng biết tuyên bố của Thiệu "chính sách 4 không" [1] : "không nhìn nhận kẻ thù; không trung lập hóa Nam Việt Nam; không có Chính phủ Liên hợp; không nhượng lãnh thổ cho kẻ thù". Vì vậy, mặc dù cho đến cuối cùng, dưới sức ép tối đa của Ních-xơn "hoặc là ký Hiệp định, hoặc là cắt giảm viện trợ", Thiệu không còn cách lựa chọn nào khác, buộc phải chấp nhận ký Hiệp định Pa-rì, nhưng ngay từ khi Hiệp định ký chưa ráo mực thì chúng đã ráo riết chống phá một cách có hệ thống.
        
        Khi hai đoàn ta chưa kịp bước ra khỏi máy bay thì nhân viên phía Sài Gòn đã chìa ra những mẩu giấy in sẵn, có tiêu đề "Việt Nam cộng hòa" và "Giấy xin nhập cảnh", yêu cầu đề vào để "làm thủ tục nhập cảnh". Họ muốn, thể hiện chủ quyền của Việt Nam cộng hoà. Đồng chí Lưu Văn Lợi và tôi thống nhất không chấp nhận: "Việc thành viên hai đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà từ Pa-ri về Tân Sơn Nhất để tiến hành những phiên họp đầu tiên cấp phó trưởng đoàn chuẩn bị cho việc triển khai Ban Liên hợp quân sự bốn bên, đã được các phái đoàn bốn bên ở Pa-ri thỏa thuận", và nhìn về phía trung tá Mỹ đứng cạnh, tôi nói: "Chính trung tá đã được giao nhiệm vụ từ Pa-ri hộ tống và hướng dẫn hai đoàn chúng tôi về trụ sở ở trại Đa-vít - Tân Sơn Nhất, để kịp tham gia cuộc họp đầu tiên của các phó trưởng đoàn Ban Liên hợp quân sự bốn bên đã được quy định vào ngày 28 tháng 1 năm 1973. Nếu phía các vị gây khó khăn và cuộc họp dự kiến hôm nay của các phó trưởng đoàn không tiến hành được thì coi như các vị đã cản trở việc thi hành Hiệp định ngay từ ngày đầu và phải chịu lấy trách nhiệm...".

       Ta đề nghị với đại biểu đoàn Ba Lan trong Ủy ban Quốc tế làm việc với phía Mỹ và Sài Gòn để hai đoàn ta sớm được về trụ sở như đã thỏa thuận. Đồng chí hứa sẽ tích cực đấu tranh với Sứ quán Mỹ và phía Sài Gòn để giải quyết. Còn viên trung tá Mỹ đến xế chiều mới đến phân bua rằng đã báo cáo lên trên và "chờ Oa-sinh-tơn can thiệp..." đổ lỗi cho phía Sài Gòn. Cuộc đấu tranh kéo dài từ chiều 28 tháng 1 năm 1973 đến chiều 29 tháng 1 năm 1973, cả hai đoàn ngồi trên máy bay, không nhân nhượng. Tối 28 tháng 1 năm 1973, đúng vào thời gian đã sắp xếp để họp phiên đầu của các phó trưởng đoàn Ban Liên hợp quân sự bốn bên, Đoàn Mỹ gửi cho ta công hàm phản đối việc hai đoàn ta không đến họp. Ta trả lời cực lực phản đối phía Mỹ và phía Sài Gòn đã cố tình gây khó khăn cản trở, đòi họ phải lập tức đưa ta về trụ sở dành cho hai đoàn mà không được kèm theo bất cứ điều kiện nào. Họ buộc phải xoa dịu và lại đổ tội cho Sài Gòn.
----------
[1] Jerrold L.Schectcr. TS. Nguyễn Tiến Hưng: Từ Tòa Bạch ốc đến dinh Độc Lập, Nxb Trẻ. Thành phố Hồ Chí Mình. 1990.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Hai, 2011, 11:10:36 pm

        Sáng 29 tháng 1 năm 1973, phía Sài Gòn hạ thấp yêu cầu, đề nghị chỉ lập bản "manifest", tức bản kê khai danh sách kèm theo cấp bậc, chức vụ từng thành viên của mỗi đoàn, họ sẽ tự làm thủ tục nhập cảnh. Ta vẫn một mực phản đối.

        Cuối cùng do sức ép của phía Mỹ, khoảng 14 giờ ngày 29 tháng 1 năm 1973, phía Sài Gòn buộc phải bỏ qua thủ tục nhập cảnh cũng như làm "manifest" và phía Mỹ đã đưa xe đến đón ta về trụ sở dành cho hai đoàn tại trại Đa-vít.

        Tối hôm đó, 29 tháng 1 năm 1973, các phó trưởng đoàn bốn bên họp phiên đầu tiên.

        Đồng thời với bộ phận từ Pa-ri về do Đại tá Đặng Văn Thu (tức Đoàn Huyên), phó trưởng đoàn dẫn đầu, tại Hà Nội đồng chí Võ Đông Giang - đại sứ lưu động của Chính phủ Cách mạng lâm thời - cũng được chỉ định làm đại tá phó trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời và ngày 28 tháng 1 năm 1973 cùng với Trung tá Nguyễn Đôn Tự (sau này là thiếu tướng) phụ trách tiền trạm của Đoàn Việt Nam dân chủ cộng hoà, đi theo chuyến máy bay của Ủy ban Quốc tế vào Sài Gòn; cùng đi có một đại biểu Đoàn Ba Lan. Lại diễn ra ở sân bay Tân Sơn Nhất cái cảnh như đã xảy ra đối với hai đoàn từ Pa- ri về. Chẳng hẹn gì trước với nhau nhưng các đoàn của ta đều không chấp nhận yêu cầu làm "Giấy xin nhập cảnh" của nhân viên an ninh phía Sài Gòn; Việt Nam là một nước, người Việt Nam từ miền Bắc vào miền Nam, việc gì phải "nhập cảnh". Hơn nữa máy bay này là của Ủy ban Quốc tế được quyền đi lại ở Việt Nam để làm nhiệm vụ kiểm soát và giám sát việc thi hành Hiệp định, phía ta đã bàn với phía Mỹ và Sài Gòn ở Pa-ri và đã làm mọi thủ tục cần thiết với ủy ban Quốc tế rồi. Đồng chí đại biểu của Đoàn Ba Lan đã tích cực can thiệp với phía Mỹ - Sài Gòn tại nhà ga sân bay và tự mình làm một danh sách và cấp bậc cán bộ hai đoàn ta đã được ủy ban Quốc tế đồng ý cùng đi từ Hà Nội vào Sài Gòn làm nhiệm vụ trong Ban Liên hợp quân sự và nhấn mạnh với họ không nên gây khó khăn và cản trở những người đi tiền trạm làm nhiệm vụ để thi hành Hiệp định.

        Cũng trong ngày 28 tháng 1 năm 1973, hai máy bay C130 của Mỹ, cùng lúc đưa Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa do Thiếu tướng Lê Quang Hòa (sau này là thượng tướng), Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, làm trưởng đoàn, Đại tá Hoàng Hoa là phó trưởng đoàn. Cùng đi chuyến này, còn có một số cán bộ khác của miền Nam đang công tác và học tập ở Hà Nội, nay được quyết định vào Sài Gòn để nhận công tác trong Ban Liên hợp quân sự trung ương và khu vực. Đến Tân Sơn Nhất, cả hai đoàn này đều bị gây khó khăn như đã xảy ra đối với đoàn ở Pa-ri về. Cả hai đoàn đều phản đối không chịu làm thủ tục nhập cảnh và cũng phải ở lại trên máy bay trong ngày 28 tháng 1 đến chiều 29 tháng 1, và cuối cùng buộc phía Mỹ - Sài Gòn phải giải quyết đưa về trụ sở của ta ở trại Đa-vít.

        Những cán bộ của hai đoàn đã về trại Đa-vít đều sốt ruột chờ đợi đoàn của Trung tướng Trần Văn Trà đáng lý theo thỏa thuận đã phải được đón từ vùng giải phóng vào Tân Sơn Nhất và trại Đa-vít trong ngày 28 tháng 1 năm 1973. Điểm hẹn để máy bay trực thăng của Mỹ đến đón đoàn là sân bay Thiện Ngôn, Ở phía Bắc Tây Ninh, trong chiến tranh là căn cứ một chiến đoàn Mỹ, sau chuyển giao cho quân đội Sài Gòn và đã bị ta tiêu diệt trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972.

        Nhưng một vụ phá hoại Hiệp định trắng trợn và nghiêm trọng lại xảy ra tại đây: đúng giờ hẹn, máy bay trực thăng Mỹ không đến đón, trái lại hai máy bay chiến đấu của không quân Sài Gòn lại đến lượn và ném bom quanh sân bay Thiện Ngôn! Ta đã cảnh giác đề phòng nên không bị tổn hại gì và cũng đã chuẩn bị sẵn một địa điểm khác là sân bay Lộc Ninh. Thị trấn Lộc Ninh phía Bắc tỉnh Bình Long (nay thuộc Sông Bé) trên quốc lộ 13 sát biên giới với Cam-pu-chia, đã được giải phóng năm 1972, được coi là thủ phủ của vùng giải phóng miền Nam Việt Nam, nơi đặt trụ sở của Chính phủ Cách mạng lâm thời và các cơ quan lãnh đạo chỉ huy Miền.

        Trong phiên họp đầu tiên cấp phó đoàn, hai đoàn ta đã nghiêm khắc lên án hành động lật lọng và phá hoại Hiệp định của phe Mỹ, đòi Mỹ phải trực tiếp chịu trách nhiệm bảo đảm tuyệt đối an toàn cho đoàn của Trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam từ địa điểm đón mới là Lộc Ninh về Tân Sơn Nhất và trại Đa-vít.

        Trong hai ngày 1 và 2 tháng 2 năm 1973, máy bay trực thăng Mỹ đã đón hết đoàn ta vào Tân Sơn Nhất và đón về trại Đa-vít thông suốt.

        Nhân dân Lộc Ninh và các đơn vị Quân Giải phóng đã tổ chức mít tinh trang trọng tiễn đoàn trong không khí ngày hội chiến thắng.

        Thái độ bất chấp Hiệp định đã được ký kết, những cản trở và vi phạm đối với đoàn ta tiến về Sài Gòn để triển khai Ban Liên hợp quân sự bốn bên, đặc biệt là cuộc ném bom vào sân bay Thiện Ngôn cùng những tin tức nhận được từ Bộ chỉ huy quân sự Miền thông báo trong những ngày đầu trước và sau ngày lệnh ngừng bắn có hiệu lực (kể từ 24 giờ GMT ngày 27-l-1973) đã cho thấy Mỹ và Sài Gòn rắp tâm phá hoại Hiệp định ngay tử đầu.

        Cuộc đấu tranh để thi hành Hiệp định Pa-ri chắc chắn sẽ ngày càng gay go và phức tạp!


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Hai, 2011, 11:15:18 pm

TRẠI ĐA-VÍT

        Căn cứ vào Nghị định thư về các Ban Liên hợp quân sự, Ban Liên hợp quân sự bơn bên đóng tại Sài Gòn. Trong cuộc họp chuyên viên bốn đoàn, trước khi Hiệp định được ký kết, tại Pa-ri phía Mỹ đề nghị đặt nơi ở và làm việc của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và Chính phủ Cách mạng lâm thời tại một địa điểm trong khu vực Tân Sơn Nhất và đưa ảnh giới thiệu khu trại Đa-vít làm trụ sở chung của hai đoàn.

        Hôm tôi sang Soa-di Lơ Roa để chào các đồng chí lãnh đạo Lê Đức Thọ, Xuân Thủy và các đồng chí Đoàn A (Việt Nam dân chủ cộng hoà) trước khi bay về Sài Gòn theo nhiệm vụ được giao, bất chợt gặp đồng chí Nguyễn Cơ Thạch, vừa mới từ cuộc họp chuyên viên giữa ta với Mỹ.

        Biết tôi sắp về Tân Sơn Nhất, anh vui vẻ bắt tay và kéo tôi ngay vào phòng làm việc, chìa ngay ra cho tôi mấy tấm ảnh màu giới thiệu trại Đa-vít, phía Mỹ vừa trao cho anh sáng hôm ấy. Anh nói :"Thời gian quá gấp nên ta không thể đặt vấn đề cử tiền trạm đi xem trước ở thực địa. Tạm đồng ý với phía Mỹ như vậy để Ban Liên hợp quân sự bốn bên kịp triển khai hoạt động. Nhưng tôi đã nhấn mạnh với họ, đây chỉ là địa điểm tạm thời, còn trụ sở chính thức lâu dài của hai đoàn ta phải được đưa vào trong thành phố Sài Gòn. Họ đã ghi nhận yêu cầu của ta, anh nhớ báo cáo lại với anh Trà và anh Hòa, cần tiếp tục đấu tranh với họ về vấn đề này".

        Trại Đa-vít vốn là doanh trại của một đơn vị chuyên môn thuộc không quân Mỹ, mang tên này để tưởng niệm quân nhân Mỹ đầu tiên chết tại miền Nam Việt Nam.

        Khi ta vào triển khai ở trại này, còn thấy một tấm bia ghi rõ tên của Đa-vít.

        Trại này ở gần sát phía tây nam sân bay Tân Sơn Nhất, phía tây giáp với nhà ga sân bay hiện nay (nay thuộc địa phận phường 4, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh) nằm trong khu vực quân sự. Một trại lính Mỹ lại trở thành trụ sở của hai phái đoàn quân sự của hai chính phủ có nghĩa vụ cùng họ thi hành Hiệp định Pa-ri nói lên rõ ràng ý đồ của họ muốn cô lập, không để người dân Sài Gòn dễ dàng tiếp xúc với hai phái đoàn ta. Xung quanh khu doanh trại có những bốt gác canh phòng nghiêm ngặt vòng trong vòng ngoài với lớp lớp hàng rào dây thép gai dày đặc. Trại Đa-vít gần như hình thang, đáy và cạnh không đều, chiều rộng nhất khoảng 200m, cạnh ngắn nhất 100m; án ngữ trước cổng trại còn có trại huấn luyện Hoàng Hoa Thám của sư đoàn dù. Xây dựng kiểu dã chiến, theo từng dãy nhà gỗ, nền đất nện và bê tông, lợp fibro xi măng, trang thiết bị bên trong toàn bằng sắt, giương, ghế, bàn, tủ đều bằng sắt, hàng rào vòng trong là lưới sắt, cho nên trưa nắng nóng như nung, cộng với tiếng động cơ máy bay lên xuống liên tục, tiếng ồn từ xưởng sửa chữa máy bay ở sát cạnh, tạo nên một môi trường sống căng thẳng.

        Để tỏ "nhã ý" với hai trưởng đoàn ta, họ đành cho một nhà ngăn đôi, mỗi bên mỗi người, có nhiều phòng tiện nghi khá đầy đủ, kể cả máy điều hòa nhiệt độ. Nhưng hai đồng chí trưởng đoàn đã không ở riêng mà ở chung với đoàn mình. Mấy hôm sau, bộ phận kỹ thuật chống nghe trộm của ta đã phát hiện ra trong căn nhà ngăn đôi đó những máy ghi âm tinh xảo được gài vào. Họ còn phá sóng, gây nhiễu và ghi trộm điện của ta. Sợ ta có điều kiện đi ra ngoài mua bán tiếp xúc với dân, họ không để chị em ta đi chợ mà mọi cái đều phải đặt hàng qua các nhà thầu do họ chỉ định, hầu hết là vợ con sĩ quan an ninh của họ hoặc nhân viên của tổ chức "Thiên Nga" trong ngành an ninh quân đội Sài Gòn.

        Đối với hai đoàn đại biểu quân sự cấp trung ương của ta, họ đã như thế, thì đối với các đoàn đại biểu ta ở các khu vực, còn tệ hại hơn nhiều: ở Biên Hòa họ bố trí cho ta ở một gara cũ, nhà tôn, không có trần; khu vực Mỹ Tho được bố trí ở trại gà vừa mới dọn trong căn cứ Đồng Tâm. Trắng trợn hơn cả là các điểm hẹn đón các trưởng đoàn khu vực như ở khu vực V và VI, họ đã tổ chức phục kích, bắn pháo, riêng ở khu vực IV (Phan Thiết) làm ta hy sinh bốn đồng chí. Ở các nơi khác như Plây Cu, Buôn Ma Thuột, Huế, Đà Năng, Đức Phổ, Tam Kỳ.., họ tổ chức cảnh sát trá hình côn đồ hành hung các sĩ quan liên lạc của ta đi làm nhiệm vụ, gây nhiều trọng thương.

        Trại Đa-vít chủ yếu là chỗ ở của hai đoàn ta, cũng là nơi ta tiếp khách và họp báo hàng tuần, có lúc cả trăm phóng viên báo chí và hãng truyền hình nước ngoài và Sài Gòn đến dự, nhất là vào những thời điểm quan trọng.

        Ta đã nhiều lần đòi đối phương chuyển trụ sở hai đoàn vào thành phố. Nhưng đó là điều tối kỵ đối với họ, nhất là đối với chính quyền Sài Gòn: họ rất sợ sự tiếp xúc của ta với dân, nên cứ lần lữa, chối từ với lý do không bảo đảm an ninh.

        Cách trại Đa-vít khoảng 500m, cũng nằm trong khu căn cứ quân sự Tân Sơn Nhất là khu hội trường dành cho các cuộc họp của Ban Liên hợp quân sự.

        Trại Đa-vít từ tháng 1 năm 1973 đến tháng 5 năm 1975, là nơi hai đoàn đại biểu quân sự của ta đã kiên cường bám trụ để đấu tranh như một căn cứ lõm ở giữa sào huyệt đối phương, được pháp lý của Hiệp định Pa-ri thừa nhận, một trận địa cách mạng công khai cắm sâu trong lòng địch, cuối cùng đã góp phần đặc biệt xuất sắc phối hợp với quân dân cả nước đánh cho ngụy sụp đổ hoàn toàn ngay trong sào huyệt của chúng!
 
        Trại Đa-vít trở thành một biểu tượng sáng ngời của tư tưởng cách mạng tiến công và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, một sự kiện chưa từng thấy trong lịch sử chiến tranh trên thế giới.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Hai, 2011, 11:16:56 pm

BAN LIÊN HỢP QUÂN SỰ BỐN BÊN
       
        Ban Liên hợp quân sự trung ương bốn bên gồm bốn đoàn hợp thành:

•   Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà do Thiếu tướng Lê Quang Hòa, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị (sau này là thượng tướng) làm trưởng đoàn.

•   Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam do Trung tướng Trần Văn Trà, Tư lệnh Bộ chỉ huy Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam (sau này là thượng tướng) làm trưởng đoàn.

•   Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Hoa Kỳ do Thiếu tướng Út-uốt làm trưởng đoàn.

•   Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam cộng hòa do Trung tướng Ngô Du, nguyên Tư lệnh Quân đoàn li và Vùng II chiến thuật ngụy làm trưởng đoàn (sau thay bằng Trung tướng Dư Quốc Đống, Tư lệnh quân dù).

        Hai đoàn ta gồm khoảng 250 cán bộ, chiến sĩ, nhân viên, số đông ở chiến trường và ở miền Bắc, một số từ Pa-ri về Đội vệ binh khoảng 30 cán bộ chiến sĩ được trang bị súng AK, tất cả sĩ quan đều được trang bị súng ngắn để tự vệ theo quy định của Hiệp định.

        Cấp phó trưởng đoàn bốn bên:

•   Việt Nam dân chủ cộng hoà: Đại tá Lưu Văn Lợi.

•   Chính phủ Cách mạng ]âm thời: Đại tá Đặng Văn Thu (tức Đoàn Huyên, sau này là thiếu tướng).

•   Hoa Kỳ: Chuẩn tướng Úych-kham.

•   Việt Nam cộng hoà: Chuẩn tướng Phan Hòa Hiệp.

        Tối 29 tháng 1 năm 1973 mới họp được phiên họp đầu tiên, do những rắc rối phía bên kia gây cho hai phó trưởng đoàn ta khi từ Pa-ri về Tân Sơn Nhất.

        Ngay trong phiên đầu này, phía Hoa Kỳ lại gây rắc rối đòi đại diện các bên đến họp phải trình giấy ủy nhiệm. Đồng chí Lưu Văn Lợi và tôi đều bác bỏ đòi hỏi đó, vì chúng tôi là thành viên các phái đoàn dự Hội nghị Pa-ri về với tư cách là phó trưởng đoàn để dự các phiên họp đầu tiên chuẩn bị cho cuộc họp chính thức sắp tới của cấp trưởng đoàn. Để khỏi mất thì giờ đôi co vô ích, tôi rút "Thẻ ngoại giao" của thành viên Hội nghị bốn bên ở Klê-béc, giơ cao cho họ thấy và nhấn mạnh: "Các bên ở Pa-ri đã thông báo cho nhau cả rồi".

        Cuối cùng, cuộc họp đi vào bàn nội dung.

        Sáng hôm sau, ngày 30 tháng 1 năm 1973, đáng lẽ tiếp tục đi vào bàn những thủ tục làm việc của Ban Liên hợp quân sự bốn bên và chuẩn bị cho cuộc họp chính thức của các trưởng đoàn sắp tới thì đã bị ngắt quăng do phía Việt Nam cộng hoà đưa ra lời tố cáo "phía Chính phủ Cách mạng lâm thời vi phạm ngừng bắn ở Cửa Việt (Quảng Trị) ngày 28 tháng 1 năm 1973". Họ còn gửi công hàm tố cáo ta trước ủy ban Quốc tế.

        Do hai đoàn ta mới triển khai vào trại Đa-vít, không kịp được thông báo từ trên về tình hình ở đây, nên ta chỉ trả lời gọn: "Chúng tôi phải cảnh giác với những gì các vị nêu lên. Chờ xem thực hư ra sao, chúng tôi sẽ có ý kiến sau".

        Sau khi hỏi lên trên và được trả lời rõ ràng, ta đã bác bỏ hoàn toàn vụ đổi trắng thay đen này của đối phương, vạch rõ đây là vụ vi phạm trắng trợn Hiệp định, "vừa ăn cướp, vừa la làng" của phía Việt Nam cộng hoà. Ngay trong đêm 27 tháng 1 năm 1973, đêm "bản lề" bước sang giờ ngừng bắn có hiệu lực theo Hiệp định (8 giờ Việt Nam ngày 28-l-1973), quân Sài Gòn đã dùng toàn bộ pháo từ hạm đội bắn vào trận địa quân ta ở Cửa Việt. Dưới sự yểm trợ của pháo binh, họ đã cho hơn 200 xe tăng, xe bọc thép và lữ đoàn thủy quân lục chiến số 147, lợi dụng lúc thủy triều xuống, đêm tối, sóng gầm, theo mép nước biển tiến sâu đánh chiếm cảng. Trong một đêm, họ đã chiếm một vùng đất mà mấy tháng trước, trong chiến dịch Quảng Trị họ không sao chiếm lại nổi.

        Luôn dây, xin mở một dấu ngoặc để nêu sự việc xảy ra trong trận đánh đêm hôm đó, vào điểm giao thời này trên chiến trường, để phản ánh nhận thức chập chững của cán bộ ta đối với việc thi hành Hiệp định.

        Cảng Cửa Việt đã rơi vào tay địch, nhưng có đồng chí cấp dưới, chỉ huy trực tiếp hướng Cửa Việt lúc đó đã báo cáo lên Trung tướng Lê Trọng Tấn, Tư lệnh chiến dịch: "Chúng nó đã lấn chiếm mất một ít, chúng tôi đã cho người gặp tên lữ trưởng để phản đối về việc này...".

        Anh Tấn ra lệnh giọng gay gắt:

        - Chúng nó dùng cả một lữ xe tăng và một lữ lính thủy đánh bộ đánh chiếm cảng Cửa Việt không phải để nghe anh phản đối đâu! Tôi hạ lệnh anh phải lập tức chiếm lại cảng! Rõ chưa? 

        - Rõ ạ!

        - Rõ rồi thì chấp hành ngay. Tại sao anh chỉ lo mình vi phạm mà không thấy phía địch đã thực sự xóa bỏ Hiệp định rồi? [2].

        Ngay sau đó vào mờ sáng 28 tháng 1, quân ta hợp đồng tác chiến chặt chẽ giữa xe tăng, bộ binh và pháo binh đã phản kích mạnh mẽ, giáng cho địch một đòn trừng trị đích đáng, buộc chúng hoảng hốt tháo chạy, bỏ lại nhiều xác chết, hơn 100 xe tăng, xe bọc thép trên bãi biển, bằng chứng sờ sờ của sự vi phạm Hiệp định của chúng. Bốn ngày sau, ủy ban Quốc tế ra xem xét phải công nhận vụ vi phạm hết đường chối cãi này của chính quyền Sài Gòn.
------------
[2] Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng, Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội, 2000, tr.45.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Hai, 2011, 11:18:01 pm

       Hội nghị các phó trưởng đoàn lại tiếp tục và sau 8 phiên họp từ tối 29 tháng 1 năm 1973 đến 2 tháng 2 năm 1973, đã đạt được các thỏa thuận sau đây:

        -   Các phiên họp cấp trưởng đoàn có một "chủ vị" chỉ đơn giản để duy trì trật tự phiên họp, do các trưởng đoàn luân phiên thay nhau làm, mỗi người làm trong ba ngày. Chủ vị phát biểu trước, các trưởng đoàn khác lần lượt phát biểu theo thứ tự chiều kim đồng hồ.

        Hai ngày họp một lần, sáng từ 10 giờ đến 12 giờ 30, chiều từ 15 giờ đến 17 giờ 30. Người phát biểu chính thức là trưởng đoàn và phó trưởng đoàn, người phát biểu thay trưởng, phó đoàn phải có giấy ủy nhiệm.

        -   Quy định về nguyên tắc bảo mật nội dung các cuộc họp, không để phóng viên báo chí dự.

        -   Do yêu cầu khẩn trương, họp trưởng đoàn cả trong những ngày tết.

        -   Ký hiệu Ban Liên hợp quân sự bốn bên (trên xe, máy bay, tàu bè):
                  + Cờ màu da cam có vẽ con số 4.
                  + Băng tay màu da cam có con số 4.
                  + Máy bay có 4 vòng tròn màu da cam trên đuôi và 4 vạch thẳng cùng màu bên ngoài buồng lái.

        Xảy ra chuyện vui sau đây, khi thảo luận về màu cờ: để tránh tranh cãi kéo dài, trước phiên họp, hai phó trưởng đoàn ta thống nhất với nhau đề xuất lấy màu xanh da trời, là màu tượng trưng cho hòa bình. Chúng tôi tưởng chừng phía bên kia sẽ dễ dàng chấp thuận. Nhưng Phó trưởng đoàn Hoa Kỳ không đồng ý vì màu xanh da trời rất khó nhận thấy từ xa, cả trên mặt đất, trên mặt nước và trên không, ông ta đề nghị chọn màu "da cam" và chìa ra luôn trên bàn họp một lá cờ màu da cam đã chuẩn bị sẵn. Tôi cảm thấy thú vị khi cầm xem kỹ mẩu vải màu da cam đó, thấy màu này đỏ đậm chẳng khác mấy với màu cờ Tổ quốc. Cả hai phó trưởng đoàn ta nhanh chóng tán thành một cách thú vị. Phía Sài Gòn không thể có một ý kiến nào khác vì đây là một màu cờ do phía Mỹ đề nghị. Màu cờ da cam của Ban Liên hợp quân sự đã được quyết định.

        Từ đó, màu cờ đỏ ấy của Ban Liên hợp quân sự tự nhiên biến thành biểu tượng riêng của phía cách mạng mỗi khi xe của hai đoàn ta xuất hiện trên đường phố Sài Gòn trong các dịp đi làm việc với các trưởng đoàn Hung-ga-ri và Ba Lan trong ủy ban Quốc tế hoặc trong các cuộc gặp gỡ khác. Sự chú ý của nhân dân dọc đường làm cho phía Sài Gòn khó chịu nên chúng đã báo cho cảnh sát giao thông dẹp đường trước ở các giao lộ để tránh không để đồng bào có dịp dừng lâu để dõi theo và bày tỏ tình cảm với những người đại diện của cách mạng.

        -   Không làm thủ tục nhập cảnh với người của Việt Nam dân chủ cộng hòa từ Hà Nội vào và của Chính phủ Cách mạng lâm thời từ Lộc Ninh ra, chỉ cần ghi danh sách.

        -   Sau khi lên án mạnh mẽ vụ vi phạm nghiêm trọng ở Thiện Ngôn ngày 28 tháng 1 năm 1973, ta đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu phía Mỹ bảo đảm tuyệt đối an toàn cho các chuyến bay đón trưởng đoàn và đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời từ Lộc Ninh ra.  ấn định phiên họp đầu tiên các trưởng đoàn bốn bên sẽ tiến hành vào 15 giờ ngày 2 tháng 2 năm 1973 (tức vào chiều 30 tháng chạp năm Nhâm Tý), do Trưởng đoàn Hoa Kỳ làm chủ vị.

        Do đã phải chậm đi mấy ngày nên dù ngày giáp Tết, Ban Liên hợp quân sự bốn bên bắt tay vào làm việc rất khẩn trương.

        Theo Hiệp định, Ban Liên hợp quân sự bốn bên trung ương hoạt động trong 60 ngày kể từ 28 tháng 1 năm 1973 đến 28 tháng 3 năm 1973 và có nhiệm vụ bảo đảm sự phối hợp của các bên thực hiện các điều khoản về ngửng bắn, rút quân Mỹ và quân nước ngoài ra khỏi miền Nam Việt Nam, trao trả nhân viên quân sự các bên và thường dân nước ngoài bị bắt, giúp đỡ nhau tìm kiếm những tin tức về những người bị mất tích trong chiến đấu. Ban Liên hợp quân sự làm việc theo nguyên tắc hiệp thương và nhất trí giữa bốn bên.

        Các trưởng đoàn thỏa thuận thành lập các tiểu ban chuyên trách để giúp mình xem xét và quyết định các vấn đề lớn thuộc chức năng Ban Liên hợp quân sự bốn bên, như các vấn đề quân sự, trao trả, thủ tục...

        Ngoài ra, hai bên miền Nam Việt Nam (Chính phủ Cách mạng lâm thời và Việt Nam cộng hoà) còn thỏa thuận lập tiểu ban hai bên để bàn chuẩn bị cho việc thành lập Ban Liên hợp quân sự hai bên sau khi Ban Liên hợp quân sự bốn bên thôi hoạt động.

        Lẽ ra cần nhanh chóng đi vào bàn việc thi hành các điều khoản trọng tâm trong hạn định 60 ngày thì Ban Liên hợp quân sự bốn bên đã mất nhiều thời gian tranh cãi về thành lập các tiểu ban thủ tục, trao trả và tiểu ban quân sự, chủ yếu do thái độ cố tình gây trở ngại của phía Sài Gòn, nên mãi đến ngày 6 tháng 2 năm 1973 mới bắt đầu hoạt động. Chính trong suốt thời gian đó, phía Sài Gòn vi phạm nghiêm trọng việc triển khai các đoàn ta ở Ban Liên hợp quân sự các khu vực và địa phương, tổ chức hành hung sĩ quan hai đoàn ta ở một số nơi.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Hai, 2011, 11:20:19 pm

        Bắt buộc phải ký vào Hiệp định dưới sức ép và sự đe dọa của Ních-xơn, Nguyễn Văn Thiệu không hể từ bỏ ý đồ phá hoại Hiệp định và mục tiêu xuyên suốt của họ là giải quyết vấn đề bằng quân sự. Được Mỹ dung túng, họ lấy lấn chiếm và bình định làm trung tâm; xây dựng quân đội và chính quyền mạnh làm trụ cột; phục hồi kinh tế đi đôi bao vây kinh tế của phía ta và dùng không quân và hải quân Mỹ ở Đông Nam Á hòng "răn đe" ta. Họ mở những chiến dịch "Tràn ngập lãnh thổ" khắp nơi. Quân Sài Gòn lợi dụng điều khoản ngừng bắn, đã ra sức cắm cờ lấn đất giành dân, tiếp tục đẩy mạnh "bình định đặc biệt", chiếm lại các căn cứ "lõm" của ta, nống ra các vùng giáp ranh, lấn chiếm vùng giải phóng, trọng điểm là Trị Thiên, Quảng Đà, Quảng Ngài, Bình Định, Kon Tum và quanh Sài Gòn...

        Ngoài vụ vi phạm nghiêm trọng quy mô cấp lữ - sư đoàn đánh vào Cửa Việt như đã nêu, họ còn lấn chiếm tiếp với lực lượng tương đương vào Sa Huỳnh (Quảng Ngài), bắc Kon Tum, Cai Lậy, Tây Ninh, Chương Thiện, Tân Châu, Hồng Ngư.., phối hợp lực lượng chủ lực với quân bảo an ở các địa phương.

        Trên chiến trường, riêng súng không hề chấm dứt ngay từ ngày Hiệp đinh được ký kết, ta cũng biết là Mỹ và Sài Gòn không thi hành Hiệp định, mà tiếp tục ra sức "Việt Nam hóa chiến tranh". Nhiều địa phương do sơ hở, mất cảnh giác, đã để mất đất, mất dân. Có nơi chủ trương phân tuyến, phân vùng với địch, để mất thế "da báo". Có nơi rút các sư chủ lực về giữ các căn cứ, giao cho bộ đội địa phương chống dịch lấn chiếm... Ngay ở Tổng hành dinh cũng có ý kiến không muốn đánh trả, e vi phạm Hiệp định Pa-ri.

        Cho đến đầu tháng 3 năm 1973, tình hình ngày càng sáng tỏ, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Trung ương Cục miền Nam đánh giá đúng tình hình chiến trường và có chủ trương toàn diện cả về quân sự, chính trị, ngoại giao, để kịp thời chặn đứng âm mưu, thủ đoạn của địch đang ra sức lấn đất, giành dân, đánh phá cơ sở cách mạng, chống phá Hiệp định.

        Cuộc đấu tranh ở Ban Liên hợp quân sự trong tình hình trước và sau Hiệp định Pa-ri ngày càng gay go phức tạp và căng thẳng.

        Trên hết là đấu tranh chông các vi phạm ngừng bắn của Sài Gòn được Mỹ dung túng. Ta liên tiếp tố cáo mạnh mẽ quân Sài Gòn càn quét lấn chiếm. Trong thế bị động không chống đỡ được sự tố cáo của ta, tướng Ngô Du, Trưởng đoàn Việt Nam cộng hoà chỉ có một cách trả lời công thức: "Lấy làm tiếc... Đã nhận bản phản kháng của quý vị sẽ đệ trình lên chính phủ...". Có lần ta căn cứ vào các điều khoản cụ thể về ngừng bắn được ghi rõ trong Hiệp định và Nghị định thư, tố cáo chúng càn quét lấn chiếm vùng giải phóng của ta, sát hại nhân dân.., tướng Ngô Du ra sức tìm cách chối cãi, nói đó chỉ là những cuộc di chuyển, tuần tra thông thường và là quyền hợp pháp của quân Việt Nam cộng hoà...". Khi tôi đọc cho họ nghe Điều 2 trong chương Ngừng bắn ở miền Nam Việt Nam quy định: "Bắt đầu từ khi ngừng bắn có hiệu lực, tất cả các lực lượng chiến đấu ở miền Nam Việt Nam ở nguyên vị trí của mình.., cấm các cuộc tuần tra vũ trang sang vùng do lực lượng vũ trang đối phương kiểm soát...; cấm mọi cuộc hành quân chiến đấu trên bộ, trên sông, trên biển và trên không..., các hành động đối địch, khủng bố, trả thù.., mọi hành động xâm phạm đến các tính mạng và tài sản công và tư", thì ông ta lúng túng, hỏi phó trưởng đoàn ngồi bên cạnh đưa xem lại Hiệp định. Đọc xong đoạn nói trên, ông ta ngớ người ra và lúng búng trong miệng: "Ủa sao lại có thể có những điều như vậy chỉ còn khóa tay, khóa chân chúng tôi, còn hoạt động thế nào được. Sao chính phủ chúng tôi lại có thể chấp nhận ký vào một Hiệp định thiệt thòi cho chúng tôi đến như vậy?". Tôi cố nhịn cười. Anh em ta trong đoàn khi nghỉ họp, có người bình luận: "Thì ra vị trung tướng này của Sài Gòn, ít ra cũng thốt lên được suy nghĩ thật thà của mình".  Thực ra, họ chỉ muốn chống lại ngừng bắn, tiếp tục càn quét lấn chiếm thì làm sao có thể chấp nhận được những quy định trên của Hiệp định?

        Đấu tranh trên bàn Hội nghị thường căng thẳng nhưng thỉnh thoảng cũng có chuyện vui như vậy để thư giãn. Lại một lần khác xảy ra với Đoàn đại biểu quân sự Hoa Kỳ trong một phiên họp Ban Liên hợp quân sự bốn bên. Hôm ấy họ làm chủ vị. Vừa vào cuộc họp. Chuẩn tướng Úych-kham, Phó trưởng đoàn Hoa Kỳ, chưa kịp nói gì, vẻ mặt khi nào cũng căng thẳng, đứng dậy đi thẳng đến bức tường đối điện với Đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời, trên đó họ vừa treo lên một bức ảnh màu xanh lá cây phóng to 60cm x 60cm. Vẻ hí hửng, tay cầm que chỉ bản đồ, ông ta nói: "Hôm nay, thay mặt Đoàn đại biểu quân sự Hoa Kỳ, tôi nghiêm khắc tố cáo phía các vị vừa mới đưa tên lửa phòng không SAM-2 vào Quảng Trị, vi phạm nghiêm trọng Điều 7 Hiệp định Pa-ri (quy định việc đưa vào thay thế vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh ở miền Nam Việt Nam)". Họ đòi ủy ban Quốc tế tổ chức điều tra việc này tại chỗ, dựa "chứng cứ" của bức ảnh đó.

        Ngồi cạnh trưởng đoàn - Trung tướng Trần Văn Trà, tôi ghi nhanh mấy ý chuyển sang đồng chí:

        "Trong chiến dịch Quảng Trị 1972, SAM-2 ta (Trung đoàn 236B tên lửa phòng không) được đưa vào Bắc Quảng Trị và đã bắn rơi B.52. Báo chí phương Tây đã từng nói tới sự xuất hiện của SAM-2 hồi đó. Sau đó đã rút ra. Nếu còn d (tiểu đoàn) nào ở lại thì cũng là "ở nguyên vị trí" theo quy định của Hiệp định. Ai bảo đảm rằng "bức không ảnh" không phải là bản sao của một ảnh chụp cũ từ hồi đó, nay đưa ra để lừa bịp?".

        Đồng chí Trần Văn Trà vốn là người có nguyên tắc, đồng thời luôn nắm vững chủ động và ứng biến linh hoạt, chỉ đáp gọn, rất bình tĩnh: "Hôm nay tôi mới nghe ý kiến các vị, chưa rõ thực hư, sẽ nắm lại tình hình và có ý kiến thêm sau. Nhưng chắc chắn là không có chuyện đưa vũ khí mới vào".


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Hai, 2011, 11:21:06 pm

        Sau khi báo cáo lên trên và được trả lời "Đó chỉ là chuyện bịa đặt của đối phương, không có chuyện ta đưa thêm bất cứ loại vũ khí mới nào vào miền Nam...", đoàn ta trả lời trên bàn Hội nghị Liên hợp quân sự bốn bên và gửi công hàm cho ủy ban Quốc tế như sau: "SAM-2 vốn có ở Quảng Trị trước khi Hiệp định ký kết, không ít phi công Mỹ bay qua vùng đó đã được thử thách và báo chí hồi đó đã nói đến. Không có chuyện đưa vũ khí mới nào vào. Sau khi ngừng bắn, không cần thiết bố trí như cũ nữa, có thể nó được xê dịch sang một địa điểm khác trong phạm vi đóng quân của nó ở Quảng Trị".

        Vụ này được kết thúc vì cơ quan điều tra nào lại xác định được số tên lửa đó được đưa vào trước hay sau khi có Hiệp định? Ta đã trình bày với đại sứ Ba Lan và Hung-ga-ri trong ủy ban Quốc tế, các đồng chí rất đồng tình. Sau khi nhận được công hàm của ta, ủy ban Quốc tế không đòi điều tra tại chỗ nữa.

        Cũng trong tháng 2 năm 1973, một máy bay lên thẳng Si-núc loại lớn của Mỹ, trên đường bay từ Tân Sơn Nhất lên An Lộc (tỉnh lỵ tỉnh Bình Long, nay thuộc Sông Bé) bị ta bắn. Mỹ lại lớn tiếng tố cáo ta vi phạm, ta kiên quyết bác bỏ và khẳng định lại: chính đây trước tiên là một vụ vi phạm của Mỹ đối với Điều 3b của Hiệp định, vì đã không hề thông báo cho ta về chuyến bay đó, lại đã vi phạm những điều đã thỏa thuận về hành lang bay và đã xâm phạm không phận vùng kiểm soát của Chính phủ Cách mạng lâm thời. Họ phải chịu hậu quả của chính sự vi phạm của họ. Phía Mỹ không còn cách gì biện hộ cho hành động sai trái của họ nữa.

        Trên đây chỉ phản ánh đôi nét về cuộc đấu tranh chống các vi phạm ngừng bắn của đối phương.

        Trong các phiên họp trưởng đoàn bốn bên, tướng Út-uốt Trưởng đoàn Hoa Kỳ vừa có thái độ bao che, vừa thúc ép Việt Nam cộng hoà để đạt được các yêu cầu chủ yếu trước mắt của Hoa Kỳ trong thời gian 60 ngày là nhận hết tù binh Mỹ, thực hiện rút quân, đồng thời đạt yêu cầu lâu dài Mỹ rút nhưng quân lực Việt Nam cộng hoà mạnh lên.

        Về việc rút quân, họ tự hoãn không thông báo cho Ban Liên hợp quân sự theo quy định. Khi ta tố cáo thì đến ngày 16 tháng 2 năm 1973, phía Mỹ mới gửi công hàm chính thức báo cho Tổ Liên hợp quân sự bốn bên đến các địa điểm quy định để quan sát việc rút quân Mỹ và Hàn Quốc. Trong khi đó, họ lại vi phạm Điều 8 Nghị định thư, khi rút quân thay vì vũ khí đạn dược phải mang theo thì họ để lại tất cả cho Sài Gòn. Bị chất vấn, họ trả lời đối phó là vũ khí trang bị đã chở bằng tàu thủy mà không hề thông báo cho Ban Liên hợp quân sự và ủy ban Quốc tế hoặc đã bàn giao cho Sài Gòn trước khi Hiệp định được ký kết. Mặc dù vũ khí trang bị và các căn cứ quân sự của Mỹ đã được họ tìm cách tránh khỏi sự ràng buộc của Hiệp định để chuyển giao tăng sức mạnh cho quân lực Việt Nam cộng hoà, nhưng cũng không cứu nổi Sài Gòn sụp đổ.

        Việc thực hiện trao trả nhân viên quân sự (tù binh) các bên bị bắt, thường dân nước ngoài bị bắt và nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ là vấn đề quan trọng đối với cả Mỹ và ta, còn phía Sài Gòn thì tỏ ra không mấy quan tâm tới người của họ bị ta bắt, trong khi họ còn giam giữ một số lớn cán bộ chiến sĩ ta. Mỹ muốn được trao trả người của họ bị bắt thì họ cũng buộc phải đáp ứng đòi hỏi của ta, buộc phía Sài Gòn thực hiện trao trả người của ta. Trong vấn đề này có sức ép của Mỹ nên dù miễn cưỡng, phía Sài Gòn cũng phải đi vào thực hiện, nhưng tìm cách gây khó khăn.

        Cho đến lúc kết thúc thời kỳ bốn bên, Chính phủ Cách mạng lâm thời đã trả cho Mỹ 128 nhân viên quân sự Mỹ và nước ngoài bị bắt; đồng thời nhận về 26.492 người của ta và trả cho Sài Gòn 5.426 người (nhân viên quân sự).

        Phần còn lại nhân viên dân sự bị bắt giữa ta và Sài Gòn sẽ được trao trả trong thời kỳ hai bên.

        Một vấn đề quan trọng ta đặc biệt quan tâm và đã tích cực đấu tranh liên tục trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên và cuối cùng đã buộc phía Sài Gòn phải thỏa thuận những thể thức bảo đảm Điều 11 về quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao đối với đoàn ta, tạo một lợi thế rất cơ bản giúp Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời hoạt động có hiệu quả trong Ban Liên hợp quân sự hai bên trung ương sau này. Kết quả quan trọng nữa là Mỹ và quân đồng minh nước ngoài của họ đã phải rút hết, dưới sự quan sát của ta và giám sát của ủy ban Quốc tế. Sáng ngày 15 tháng 3 năm 1973, USARV - Bộ chỉ huy quân đội Mỹ ở Việt Nam đã làm lễ cuốn cờ. Chiều hôm ấy, MACVI - Bộ Tư lệnh tối cao của Mỹ, đóng trụ sở ở Tân Sơn Nhất, được báo chí gọi là "Lầu Năm Góc phương Đông" cũng hạ cờ. Để tránh dùng những lời nặng nề đối với kẻ chiến bại, tôi tự hỏi không biết các sử gia Mỹ đã nói gì về những hình ảnh lịch sử u tối này của quân đội viễn chinh xâm lược Mỹ ở Việt Nam.

        Mỹ rút nhưng chiến tranh Việt Nam vẫn tiếp diễn. Chỉ có khác là "Thay màu da trên xác chết". Đó là nhiệm vụ quan trọng bậc nhất mà Ban Liên hợp quân sự bốn bên không hoàn thành: sau Hiệp định Pa-ri không hề ngừng tiếng súng! Theo thông cáo của ủy ban tố cáo tội ác chiến tranh Việt Nam ra ngày 6 tháng 4 năm 1973, chính quyền Sài Gòn đã vi phạm Hiệp định Pa-n hơn 7 vạn lần, như hành quân lấn chiếm, giội bom, bắn pháo, phục kích các điểm hẹn của sĩ quan các Ban Liên hợp quân sự ở các địa phương, đóng thêm đồn bốt, lấn đất giành dân... Tình hình vi phạm ngừng bắn càng thêm nghiêm trọng rõ rệt khi chuyển sang thời kỳ Ban Liên hợp quân sự hai bên.

        Ngày 28 tháng 3 năm 1973, Ban Liên hợp quân sự bốn bên kết thúc nhiệm vụ. Trung tướng Trần Văn Trà ra Hà Nội trước khi trở lại nhiệm vụ Tư lệnh Bộ chỉ huy quân sự Miền ở chiến trường. Đồng chí không chỉ là một vị tướng tài ba mà còn là một nhà ngoại giao sắc sảo trên bàn hội nghị Ban Liên hợp quân sự, đối phương phải kính nể.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Hai, 2011, 11:23:14 pm


BAN LIÊN HỢP QUÂN SỰ HAI BÊN

        Từ ngày 29 tháng 3 năm 1973, Ban Liên hợp quân sự hai bên trung ương bắt đầu hoạt động và họp phiên đầu tiên:

•   Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam do Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn làm trưởng đoàn.

•   Đoàn đại biểu quân sự Việt Nam cộng hoà do Trung tướng Phạm Quốc Thuần làm trưởng đoàn. Đến tháng 10 năm 1973, Phan Hòa Hiệp thay Phạm Quốc Thuần làm trưởng đoàn.

        Tôi vui mừng được gặp lại đồng chí Hoàng Anh Tuấn, người bạn học cũ và từng là bạn chiến đấu trong thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp ở địch hậu Khánh Hòa và Liên khu 5. Anh từng lăn lộn trên chiến trường miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ, chiến đấu kiên cường, bình tĩnh và năng động, sáng tạo, trước đây đã từng hoạt động trong ủy ban Liên hợp của Hiệp định Giơ-ne-vơ, nên đã nhanh chóng nhập cuộc trong nhiệm vụ công tác mới. Sau ngày thống nhất đất nước, anh được chuyển hẳn sang công tác ngoại giao và trở thành Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

        Theo quy định của Hiệp định Pa-ri, Ban Liên hợp quân sự hai bên trung ương có nhiệm vụ bảo đảm sự phối hợp hành động của hai bên miền Nam Việt Nam trong thực hiện các điều khoản về các vấn đề quân sự và việc trao trả nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt.

        Sau khi chiến dịch "tràn ngập lãnh thổ" thất bại, Thiệu chủ trương đặt trọng tâm đẩy mạnh lấn chiếm bình định ở ấp xã coi đó là khâu "giải quyết 75% toàn bộ cuộc chiến tranh, thắng là đây và thua cũng là đây". Đến tháng 10 năm 1973, phía Sài Gòn đã lấn chiếm thêm 900 ấp, đóng thêm 523 đồn bốt, riêng loại ấp A quân sự do họ kiểm soát từ 4.271 ấp cuối năm 1972 đã lên 5.508 ấp cuối năm 1973 [3].

        Do chủ trương của Việt Nam cộng hoà tăng cường đàm phán trên chiến trường và phá bĩnh trên bàn hội nghị, cuộc đấu tranh ở Ban Liên hợp quân sự hai bên trở nên rất căng thắng, quyết liệt. Hai bên liên tiếp tố cáo lẫn nhau, ta tố nhiều vụ, phía họ cố gây to chuyện với ta, trong đó cộm lên hai vụ: vụ Tống Lê Chân và vụ Ly Tôn - Quảng Trị... Tống Lê Chân là một đồn lẻ cấp đại đội, lấn sâu vào vùng giải phóng, bị ta bao vây, triệt đường tiếp tế tải thương. Thời kỳ bốn bên, phía Sài Gòn cũng có lần đề cập đến vấn đề Tống Lê Chân. Họ đã lợi dụng thiện chí của ta cử sĩ quan liên lạc làm môi giới cho sĩ quan chỉ huy hai bên gặp nhau để tải thương và tiếp tế đạn dược.

        Lần này phía Sài Gòn trắng trợn tuyên bố, nếu phía ta không giải quyết vấn đề Tống Lê Chân thì Ban Liên hợp quân sự hai bên trung ương không có gì phải bàn bạc. Bị thiệt hại thì họ gửi công hàm phản đối thưa kiện với ủy ban Quốc tế còn buộc rút lui thì họ lờ đi. Vụ này kéo dài cho tới khi buộc phải rút chạy (12-4-1974), họ cắt các chuyến bay liên lạc giữa đoàn ta với Lộc Ninh, kéo dài đến 12 tuần.

        Còn vụ Ly Tôn, một máy bay lên thẳng của ủy ban quốc tế do phi công Mỹ lái bị bắn rơi do cố tình bay chệch hành lang quy định, xâm phạm sâu vào vùng kiểm soát của ta, làm thiệt mạng 2 sĩ quan Hung-ga-n và 2 sĩ quan In-đô-nê-xi-a. Phía Sài Gòn kích vụ này lên cùng với đoàn Ca-na-đa buộc tội ta trước ủy ban quốc tế. Nhưng hai đoàn Hung-ga-ri và Ba Lan đã hết lòng ủng hộ ta. Mặc dù hai sĩ quan Hung-ga-ri tử nạn, nhưng Đoàn Hung-ga-ri phối hợp với Đoàn Ba Lan đã kiên trì thuyết phục Ủy ban Quốc tế, cuối.cùng kết luận lỗi đầu tiên do máy bay Ủy ban Quốc tế bay sai hành lang quy định. Sau mùa Xuân 1975 toàn thắng, Thiếu tưởng Nguyễn Văn Sĩ, Phó trưởng đoàn đại biểu quân sự ta trong thời kỳ Ban Liên hợp quân sự có dịp sang Hung-ga-ri, đề nghị Bộ Quốc phòng bạn đưa đến nghĩa trang Bu-đa-pét viếng mộ hai đồng chí bạn đã tử nạn, để tỏ lòng tri ân.

        Tuy tình hình ngày càng thêm căng thẳng trên bàn hội nghị Liên hợp quân sự hai bên, ta vẫn rất kiên trì đấu tranh với phía Sài Gòn về việc trao trả nhân viên dân sự và nhân viên quân sự còn lại của hai bên. Kéo dài từ tháng 4, 5, 7 năm 1973 cho đến tháng 3 năm 1974, họ đã phải trả cho ta 5.075 nhân viên dân sự và 130 nhân viên quân sự; ta trả cho họ 637 nhân viên dân sự và 410 nhân viên quân sự.

        Sở dĩ trong tình hình trên chiến trường ngày càng căng thẳng, phía Sài Gòn vẫn không thể cắt đứt việc trao trả người của ta, vì Mỹ nóng lòng muốn sớm được nhận hài cốt người chết của họ và triển khai tìm kiếm người bị mất tích, nên đã ép Sài Gòn tiếp tục thực hiện. Hơn nữa, họ còn bị sự lên án của dư luận cả ở miền Nam và trên thế giới về vấn đề rất nhạy cảm này. Tuy vậy, cho đến ngày thắng lợi Xuân 1975, vẫn còn cả chục vạn nhân viên dân sự của ta còn bị phía Sài Gòn giam giữ. Chính quyền cách mạng đã thực hiện tích cực nghĩa vụ đón đồng bào, đồng chí ta về chu đáo.
----------
[3] Theo số liệu tổng kết của phía Sài Gòn (UV 17/4).


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Hai, 2011, 11:24:48 pm

        Chiến sự ngày càng lan rộng và quyết liệt. Mỗi khi ta đánh trả lấn chiếm và chống phá bình định thắng lợi, phía Sài Gòn lại trả đũa các đoàn ta ở trại Đa-vít bằng cách cúp điện nước, thậm chí còn phun hơi cay vào trụ sở của đoàn. Bị ta tố cáo thì chối là phun thuốc diệt muỗi. Phản đối hành động trả thù đó của Việt Nam cộng hoà, ta ngừng họp.

        Tuy vậy, trong thời gian này ta vẫn dựa vào văn bản pháp lý 11 điểm quyền ưu đãi, miễn trừ mà Sài Gòn không xóa bỏ được. Do thế mạnh chính trị, ngoại giao và pháp lý của ta, đoàn ta cũng như đại diện Việt Nam dân chủ cộng hoà trong Tổ Liên hợp quân sự bốn bên, vẫn ở lại trại Đa-vít và tiếp tục hoạt động tiếp xúc với ủy ban Quốc tế, tổ chức họp báo mỗi thứ bảy hàng tuần. Ta tăng cường cuộc tiến công trên mặt trận dư luận.

        Chiến trường sôi động, có lúc từ giữa tháng 4 đến đầu tháng 6 năm 1973, phía Sài Gòn phá không để các cuộc họp báo của ta thực hiện được thì nhà báo càng rõ bộ mặt và ý đồ phá hoại Hiệp định của Nguyễn Văn Thiệu. Họ đấu tranh với phía Sài Gòn để bảo vệ quyền tự do báo chí và chờ đón các cuộc họp báo của ta, tăng cường liên lạc với đoàn ta để săn tin. Càng ngày các cuộc họp báo của ta càng thu hút số đông các nhà báo nước ngoài và giới báo chí Sài Gòn. Đoàn ta có quan hệ, tiếp xúc và trả lời phỏng vấn với các phóng viên của hơn 80 tờ báo, hãng thông tấn, vô tuyến truyền hình và phát thanh của 21 nước trên thế giới. Tất nhiên chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã phải ra sức sử dụng bộ máy tuyên truyền của họ để chống trả lại chính nghĩa cách mạng. Nhưng phần đông các báo như Tia Sáng, Điện Tín, Đại dân tộc và giới báo chí nói lên tiếng nói chân chính được đông đảo bạn đọc ủng hộ, đồng tình... Hoạt động tích cực của đoàn ta đã góp phần làm sáng tỏ chân lý cách mạng trong giới báo chí và phối hợp với mặt trận đấu tranh của đồng bào các giới đòi nghiêm chỉnh chấp hành Hiệp định Pa-ri.

        Qua các cuộc họp báo và tiếp xúc khác, các nhà báo ngày càng hiểu rõ ta, đồng tình với cuộc đấu tranh của nhân dân ta, kể cả khi quân ta chủ động đánh trả và trừng trị những hành động vi phạm của quân Sài Gòn. Hội nhà báo nước ngoài đã đến chào Trưởng đoàn ta và bày tỏ cảm tình với đoàn. Trong buổi họp báo, đúng vào ngày 19 tháng 5, một nhà báo Mỹ và hai vợ chồng nhà báo nước ngoài, vào lúc giải lao đã tìm đến chào đồng chí Dương Đình Thảo, phụ trách phát ngôn của đoàn, để tỏ lòng ngưỡng mộ Chủ tịch Hồ Chí Minh và kín đáo trao tặng quà mừng nhân kỷ niệm ngày sinh của Người. Theo yêu cầu của một số nhà báo muốn đi thăm vùng giải phóng, ta đã tổ chức cho họ đi và khi về họ đã viết những bài phóng sự khá tốt. Có nữ phóng viên nước ngoài nhân một cuộc họp báo đã bí mật trao cho ta danh sách tù chính trị của ta bị chính quyền Sài Gòn giam giữ. Thật là một tấm lòng quý hóa.

        Ngoài các cuộc họp báo, ta còn tổ chức cuộc đi thăm làm việc với Trưởng đoàn Ba Lan ở nhà khách Lý Thái Tổ hoặc với Trưởng đoàn Hung-ga-ri ở khách sạn Palace ở phố Nguyễn Huệ, mặc dù quân cảnh Sài Gòn tìm cách ngăn cản, đồng bào nhận ra những chiếc xe đen bóng treo cờ đỏ da cam là tìm đến gần để dõi nhìn những đại biểu của Quân Giải phóng, bày tỏ tình cảm dù chỉ trong ánh mắt nụ cười hoặc cái vẫy tay kín đáo. Vào những dịp này, khi tiễn ta ra xe, bạn cố ý nán lại trên lề đường kéo dài cuộc nói chuyện, thể hiện sự thông cảm của bạn về những biếu hiện tình cảm này của đồng bào thành phố với đoàn ta.

        Nhân dịp những ngày lễ lớn của hai đoàn, ta tổ chức chiêu đãi mời các đoàn trong ủy ban Quốc tế đến đấu giao hữu về quần vợt, bóng bàn, bóng rổ, bóng chuyền, với sự tham gia không hề kém tích cực của các đồng chí trưởng và phó đoàn ta. Những cuộc biểu diễn văn nghệ với sự tham gia của một số nghệ sĩ văn công Quân Giải phóng từ Lộc Ninh ra hoặc của Tổng cục Chính trị từ Hà Nội vào đã gây ấn tượng rất tất đẹp với khách. Những cuộc tiếp xúc giao lưu như vậy giúp cho bạn cũng như các thành viên khác trong ủy ban Quốc tế hiểu thêm "Quân đội nhân dân Việt Nam không chỉ là một quân đội anh hùng mà còn là một quân đội rất có văn hóa..." như có lần một thành viên Đoàn In-đô-nê-xi-a nói với tôi. Những lần Đoàn Ba Lan chiêu đãi nhân ngày lễ của bạn cũng là dịp ta gặp gỡ rộng rãi không chỉ với các thành viên trong ủy ban Quốc tế hoặc các nhân vật trong quân đội và chính quyền Sài Gòn mà còn với một số nhân sĩ trí thức khác trong lực lượng thứ ba như bà Ngô Bá Thành, ni sư Huỳnh Liên...


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Hai, 2011, 11:27:27 pm
   
BUỚC NGOẶT LỊCH SỬ DẪN ĐẾN "NGỤY NHÀO"

        Trên chiến trường, quân Sài Gòn càng ra sức tiến công lấn chiếm, bình định "cấp tốc". Cuối tháng 5 năm 1973, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp mở rộng bàn về vấn đề miền Nam, với sự tham gia của các đồng chí lãnh đạo và tư lệnh chiến trường và đi đến chủ trương: "Trong khi địch dùng hành động quân sự đánh ta, ta vẫn cần phải chủ động tiến công địch, kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và pháp lý... Tiến công quân sự bằng phản công của ta là chủ động, chỉ có qua đó mà từng bước đánh bại mọi hành động vi phạm của địch" [4].

        Quân ủy Trung ương đã chỉ đạo cho các chiến trường: " tiến công quân sự bằng phản công của ta là chủ động tiến công, chủ động phản công, không phòng ngự đơn thuần. Không những phản công ở địa bàn địch tấn công ta, mà còn hiệp đồng với các lực lượng chính trị, quân sự, binh vận phản công ở các địa bàn khác, nơi ta có chủ lực mạnh" [5].

        Ngày 4 tháng 10 năm 1973, Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 21 (khoá III) hình thành từ Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng tháng 5 năm 1973, khẳng định: "Con đường cách mạng của miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Bất kể trong tình hình nào ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công". Như một luồng gió mới, Nghị quyết 21 đến với các chiến trường.

        Tiếp đó, Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam công bố quyết định kiên quyết đánh trả vi phạm ngừng bắn của quân Sài Gòn và sau đó quyết định         thêm không chỉ đánh trả tại chỗ mà còn giành quyền đánh trả tại nơi xuất phát vi phạm.

        Từ tháng 6 đến cuối năm 1973, đầu năm 1974, tình hình đã chuyển biến rõ rệt: quân dân ta chủ động chống trả quyết liệt chặn đứng được phần lớn các cuộc "bình định" lấn chiếm của quân Sài Gòn. Ở Trị Thiên ta khôi phục lại thế đứng trước ngày ký Hiệp định Pa-ri. Ở Khu 5, ta giành lại các vùng bị lấn chiếm. Ở Tây Nguyên, ta mở thêm nhiều khu vực ở Chư Nghé (Plây Cu) và Trung Nghĩa (Kon Tum). Ở miền Đông Nam Bộ, ta đánh mạnh, giải phóng thêm vùng Kiến Đức - Bù Bông, giải phóng hành lang nối liền Nam Bộ với Tây Nguyên. Ở Khu 8, ta làm chủ một số vùng ở phía Nam, Bắc đường số 4. Ở Khu 9, do ngay từ đầu đã kịp thời tiến công và phản công nên không những giữ vững được hình thái địch, ta trước ngày 27 tháng 1 năm 1973, mà còn giải.phóng thêm nhiều địa bàn quan trọng.

        Tình hình đã rõ rệt là không còn khả năng đạt được kết quả gì tích cực tại bàn đàm phán nữa. Ngày 22 tháng 6 năm 1974, Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời tuyên bố đình chỉ họp Ban Liên hợp quân sự hai bên vô thời hạn. Ngày 8 tháng 10 năm 1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời ra tuyên bố về tình hình miền Nam Việt Nam, đòi Mỹ chấm dứt dính líu quân sự và can thiệp vào công việc của miền Nam Việt Nam, đòi lật đổ Nguyễn Văn Thiệu, lập ra ở Sài Gòn một chính quyền tán thành hòa bình, hòa hợp dân tộc, thi hành Hiệp định Pa-ri, đồng thời tuyên bố chính thức đình chỉ mọi cuộc họp của Ban Liên hợp quân sự hai bên và Tổ Liên hợp quân sự bốn bên, rút khỏi diễn đàn La Xen-sanh-clao Ở Pháp. Ngày 11 tháng 10 năm 1974, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà cũng ra tuyên bố tương tự.

        Ngày 6 tháng 1 năm 1975, ta tiến công giải phóng tỉnh lỵ và toàn bộ tỉnh Phước Long (nay thuộc Sông Bé), nhằm thử sức quân Sài Gòn, phản ứng của Mỹ và dư luận quốc tế. Kết quả mọi mặt đều thuận lợi. Tiếp theo, sau một loạt trận khác vào chi khu, quận lỵ, ngày 10 tháng 3 năm 1975 quân ta tiến công giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột, mở đầu đòn tiến công chiến lược Xuân - Hè 1975. Từ sau trận Phước Long, sức ép và đe dọa trực tiếp của quân Sài Gòn đè nặng xuống trại Đa- vít Chúng công khai đào hào vây quanh, sâu 5 mét, rộng 5 mét, xây dựng thêm 7 bốt gác chĩa súng vào trại; từ tháng 4 năm 1975 tăng cường một đơn vị xe tăng và một đại đội bộ binh, phối hợp với trại huấn luyện sư đoàn dù, ngày đêm khống chế nghiêm ngặt trụ sở của hai đoàn ta.

        Từ cuối tháng 3 đầu tháng 4 năm 1975, tuy cấp trên không tiện phổ biến sớm nhưng qua điện đài, theo dõi sự phát triển của cuộc tiến công như vũ bão của quân ta từ Đà Nẵng đến Nha Trang và Đà Lạt, hai đoàn ta đã nhìn rõ triển vọng tiến về Sài Gòn...

        Lãnh đạo hai đoàn đã họp bàn, dự kiến khả năng và triển vọng phát triển tình hình, hạ quyết tâm chuẩn bị sẵn sàng đối phó với các tình huống xấu nhất có thể xảy ra. Cán bộ chiến sĩ cùng bắt tay xây dựng các công trình chiến đấu theo hình thái trận địa chiến, có thể nói là một kỳ công, với một hệ thống giao thông hào liên hoàn, gần như địa đạo nối liền 7 khu vực chiến đấu, hai hầm ngầm chỉ huy, một hầm quân y, kho dự trữ lương thực, vật chất cần thiết... Tất cả đều được xây dựng tuyệt đối bí mật bên trong trại. Vấn đề khó khăn và quan trọng nhất là vũ khí đạn dược, lựu đạn, thủ pháo chống tăng đã được cấp trên đồng ý tăng cường cho một ít, nhưng chuyển vào thế nào từ Lộc Ninh cho suôn sẻ, che mắt được địch? Đoàn ta đã sử dụng chuyến máy bay của ủy ban Quốc tế ra Lộc Ninh đón hai thành viên của Phái đoàn In-đô-nê-xi-a và I-ran bị quân ta giữ từ trận đánh giải phóng Buôn Ma Thuột về Tân Sơn Nhất, để lèn các thứ đó vào các vận hành lý thông thường vẫn được dùng trong các chuyến bay công tác Đáng kể thêm là trước đó, Phái đoàn Hung-ga-ri cũng đã tặng ta một số súng nhỏ và 60 túi chống lạnh dùng trong trường hợp ngủ dã chiến.

        Trong lúc này Bộ chỉ huy Miền đã cử cán bộ vào cho biết đã sẵn sàng phương án cử một đơn vị đặc công vào trại Đa-vít đưa đoàn ta ra nơi an toàn, khi quân ta bắt đầu cuộc Tổng tiến công vào Sài Gòn.

        Đảng ủy Đoàn lại họp bàn, nhận định "trong lúc này ta vẫn có đủ yếu tố cần thiết để chiến đấu và bám trụ thắng lợi tại chỗ". Cuộc họp nhất trí đề nghị Quân ủy và Bộ chỉ huy Miền "cho phép đoàn tự tổ chức chiến đấu tại chỗ, và bảo đảm sẽ đủ sức bảo toàn lực lượng". Đề nghị đó đã được cấp trên đồng ý.

        Được điện thăm hỏi và động viên "Vững vàng trên vị trí chiến đấu. Ngày thắng lợi không còn xa nữa!" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Quân ủy Trung ương và Bộ Tống Tư lệnh toàn thê cán bộ chiến sĩ trong đoàn càng củng cố niềm tin và ý chí quyết tâm sắt đá: "Chiến đấu và chiến thắng".
-----------
[4] Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tông hành dinh trong mùa xuân toàn thắng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2000, tr.67.

[5] Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Sđd, tr.55 - 56.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Hai, 2011, 11:29:51 pm
    
NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG TRÊN TRẬN ĐỊA KIÊN CƯỜNG

        Ngày 26 tháng 4 năm 1975, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mở màn, đánh vào vành đai ngoại vi Sài Gòn.

        Chính phủ Cách mạng lâm thời ra tuyên bố kêu gọi quân đội Sài Gòn hạ vũ khí để bớt đổ máu và bớt thiệt hại cho nhân dân.

        Đúng như nhận định, trước các đòn tiến công của quân ta từ mọi phía, quân đội Sài Gòn tan rã nhanh chóng. Vào những ngày cuối tháng 4 năm 1975, một trung tá của đơn vị dù đóng đối diện với trụ sở đoàn ta, đến trại Đa-vít xin tiếp xúc, ta khuyến khích họ trở về đơn vị, treo cờ trắng khi Quân Giải phóng vào và nộp súng về quê.

        Chiều 28 tháng 4 năm 1975, vào khoảng 17 giờ 15, một biên đội máy bay A37 (loại máy bay cường kích của không quân Sài Gòn ) [6] đột nhiên đến ném bom đồng loạt xuống khu vực quân sự sân bay Tân Sơn Nhất, cạnh trại Đa-vít. Mảnh bom bay rào rào sang dãy nhà đoàn ta ở cách dãy hầm cất máy bay và xưởng sửa chữa của sân         bay chỉ một bức tường. Anh chị em ta nhảy xuống hầm, may không ai việc gì. Định thần lại, hỏi nhau xem đó là phi công Sài Gòn phản chiến hay chính là trận tấn công của ta. Có điều ai cũng hiểu là đại sự đã bắt đầu. Mừng chiến thắng cuối cùng đang đến gần, mỗi người càng đề cao trách nhiệm sẵn sàng chiến đấu của mình theo quy định và lệnh của chỉ huy đoàn, rất tự giác. Đêm hôm đó, tất cả mọi người đều xuống ngủ hầm cạnh vị trí chiến đấu của mình. Việc tuần tra canh gác được tăng cường theo kế hoạch tác chiến, chế độ trực chiến của các bộ phận được chấp hành nghiêm cách.

        Khoảng 3 giờ sáng 28 tháng 4 năm 1975, bỗng nhiên đạn pháo lớn và hoả tiễn của ta nổ vang, bay tới tấp vào khu vực Tân Sơn Nhất. Anh chị em ta đều có đủ công sự ẩn nấp, bảo đảm chống được đạn pháo, có thể yên tâm.

        Nhưng sau đợt cấp tập đầu tiên, Sở chỉ huy được báo cáo: một đồng chí đại úy và một trung sĩ cảnh vệ canh gác trên hầm nổi, bị hy sinh do đạn pháo; bốn đồng chí khác do đứng ở miệng hầm để nhìn ra ngoài, bị trọng thương do trúng mảnh đạn pháo, trong đó có một đồng chí trung tá sau phải cưa một chân.

        Từ sáng ngày. 28 tháng 4 năm 1975 đến suốt ngày 29 tháng 4 năm 1975, pháo và hỏa tiễn của ta từng đợt bắn vào Tân Sơn Nhất.

        Sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975, đại sứ Mỹ Ma-tin, thông qua Đoàn Hung-ga-ri, muốn gặp Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời trong Ban Liên hợp quân sự hai bên, nhưng ta không trả lời. Lúc này, còn gì để bàn bạc? [7].

        Trưa ngày 29 tháng 4 năm 1975, có một đoàn khách, tự giới thiệu là "phái viên của Phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền" của Việt Nam cộng hòa, gồm bốn thành viên xin gặp trưởng đoàn ta, nhưng đoàn ta chỉ cử cán bộ ra chuyển lời trưởng đoàn là đoàn không được ủy quyền bàn bạc vấn đề gì, mọi điều cần thiết đã được nêu rõ trong Tuyên bố ngày 26 tháng 4 năm 1975 của Chính phủ Cách mạng lâm thời [8].

        Sau đó, khoảng 14 giờ 30, một đoàn thứ hai cũng xin gặp Giáo sư Châu Tâm Luân cho biết được ông Dương Văn Minh cử làm bộ trưởng. Đoàn ta cũng cử cán bộ trả lời như với đoàn đến trước.

        Đến khoảng 17 giờ 30, có thêm luật sư Trần Ngọc Liễn giáo sư Châu Tâm Luân và Linh mục Chân Tín lại đến thiết tha xin gặp để bàn làm sao cho việc ta đánh chiếm Sài Gòn đỡ đổ máu và bớt tổn hại về vật chất.
-------------
[6] Do Nguyễn Thành Trung chỉ huy, cất cánh từ sân bay Thành Sơn Phan Rang ta mới chiếm được cùng với số máy bay A37 nói trên.

[7],[8] Ban Liên hợp quân sự và trại Đa-vít, những tháng ngày, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997, tr.205, 206.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Hai, 2011, 11:31:04 pm
 
       Xét vì họ là những người thuộc lực lượng thứ ba ở Sài Gòn lâu nay đối lập với chế độ độc tài của Nguyễn Văn Thiệu, không nề nguy hiểm lại đến lần thứ hai nên ta báo để họ biết có thể tiếp với tư cách cá nhân chứ không có tính chất đại diện nào. Họ đồng ý và đồng chí Võ Đông Giang, phó trưởng đoàn tiếp họ tại hầm Sở chỉ huy dự bị. Họ vừa xuống hầm thì một đợt pháo cấp tập bắt đầu trực tiếp đánh vào Tân Sơn Nhất. Để tránh nguy hiểm cho khách, ta khuyên họ tạm ở lại chờ ngơi tiếng súng sẽ bố trí hộ tống họ ra về an toàn. Họ xin ở lại và có dịp trong cái đêm lịch sử 29 tháng 4 năm 1975 này được trò chuyện với một sĩ quan cách mạng và theo dõi nhịp độ tiến công thần tốc của quân ta vào giải phóng Sài Gòn. Một cuộc trò chuyện hiếm có giữa một giáo sư, một luật sư và một linh mục Thiên chúa giáo với một cán bộ Mặt trận Giải phóng trong khung cảnh và thời điểm lịch sử khắc sâu trong hồi ức của cả chủ và khách. Đồng chí Võ Đông Giang đã tranh thủ cơ hội này để trò chuyện tâm tình và giải thích với họ mọi vấn đề cách mạng mà họ quan tâm tìm hiểu. Với tài thuyết khách khôn khéo và thái độ chân thành của mình, đồng chí đã chinh phục được tình cảm và lý trí của những vị nhân sĩ trí thức và nhà tu hành này - tiêu biểu cho lực lượng thứ ba.

        Sáng ngày hôm sau 30 tháng 4 năm 1975, khi tiếng súng ở Tân Sơn Nhất đã im, ta mời họ dự một bữa liên hoan nhẹ trước khi chia tay và theo yêu cầu của khách, tặng mỗi người hai chai rượu "Lúa mới" và một gói lương khô mà họ rất quý vì "chỉ Quân Giải phóng mới có". Sau đó, ta tiễn họ ra về chu đáo.

*

*           *

        Khoảng 6 giờ sáng 30 tháng 4 năm 1975, ta phát hiện đơn vị dù Sài Gòn đóng trước cổng hò nhau tháo chạy, vừa chạy vừa cởi quần áo rằn ri vứt bỏ đầy đường. Đơn vị xe tăng đóng gần trại Đa-vít đã biến mất từ lúc nào không rõ.

        Một điều đáng tự hào là có lẽ sớm nhất ở Sài Gòn, từ 9 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, trên tháp nước, nơi cao nhất ở trại Đa-vít một lá cờ rất to của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã tung bay trong gió lộng trời xanh. Đến hơn 10 giờ, vọng gác của ta báo cáo đã thấy bộ đội ta tiến gần đến trại Đa-vít. Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 9, Sư đoàn 10, Quân đoàn 3, do đồng chí Sơn, tiểu đoàn trưởng dẫn đầu đã vào với anh chị em ta. Còn cuộc gặp mặt nào vui sướng hơn! Nghẹn ngào xúc động, tràn đầy nước mắt. Thế rồi, trong đoàn có được bao nhiêu bia, nước ngọt đều dưa ra khao đơn vị chiến thắng... 11 giờ 30 ngày 30 tháng 4 năm 1975, xe tăng và bộ binh quân ta chiếm lĩnh dinh Độc Lập, lúc đó là phủ tổng thống của phía Sài Gòn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ vinh quang mà Bác Hồ và Đảng, Tổ quốc và nhân dân đã giao phó:

                            " Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào".
                              "Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước".

        Với thắng lợi ngày 30 tháng 4 năm 1975, suốt quá trình hai năm ba tháng ba ngày, tính từ ngày 29 tháng 1 năm 1973, hai đoàn ta trong Ban Liên hợp quân sự, đã kiên cường bám trụ ở trại Đa-vít kết thúc thắng lợi nhiệm vụ lịch sử được giao.

        Toàn thể cán bộ chiến sĩ đã từng sống và chiến đấu tại "tiền đồn" này, hàng năm có dịp đến với nhau trong ngày truyền thống của đoàn, thiết tha bày tỏ nguyện vọng mong trại Đa-vít được Chính phủ công nhận là di tích lịch sử - biểu tượng xứng đáng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong cuộc đấu tranh trong lòng địch để phát triển những thắng lợi đã giành được trong Hiệp định Pa-ri, phối hợp chặt chẽ với chiến trường, tích cực góp phần vào thắng lợi mùa Xuân 1975.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Hai, 2011, 12:01:23 am

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/62214409-52-Thuong-ta-Nguyen-Don-Tu-.jpg)
Thiếu tướng NGUYỄN ĐÔN TỰ (trái)

TRẬN ĐỊA NGOẠI GIAO TRONG LÒNG ĐỊCH

Thiếu tướng NGUYỄN ĐÔN TỰ                  

             Nguyên thành viên Đoàn đảm phán Việt Nam dân chủ cộng hòa tại Hội nghị Pa-ri - Trưởng đoàn đại biểu quân sự Việt Nam dân chủ cộng hòa trong Tổ Liên hợp quân sự bốn bên về tim kiếm người chết và mất tích tại trại Đa-vit

        Cuối năm 1972, tôi đang công tác tại mặt trận Quảng Trị thì được điều về Hà Nội để vào Sài Gòn tham gia Ban Liên hợp quân sự bốn bên đấu tranh thi hành Hiệp định Pa-ri về Việt Nam.

        Từng là thành viên Tổ quân sự trong Đoàn đàm phán Việt Nam dân chủ cộng hòa tại Hội nghị Pa-ri, được chứng kiến những năm tháng đấu tranh gay go, quyết liệt trên bàn đàm phán để đạt được hiệp định, tôi cố hình dung những khó khăn, thử thách mới đang chờ đợi mình và đồng đội trong những ngày sắp tới.

        Sáng ngày 27 tháng 1 năm 1973, trong khi tại Pa-ri đang diễn ra lễ ký chính thức Hiệp định, bộ phận tiền trạm của hai đoàn ta từ Pa-ri đã đáp máy bay trở về Sài Gòn để kịp họp phiên đầu tiên cấp phó trưởng đoàn chuẩn bị cho việc triển khai Ban Liên hợp quân sự bốn bên, dự kiến vào tối 28 tháng 1 năm 1973. Đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa do Đại tá Lưu Văn Lợi, chuyên viên cao cấp, dày dạn kinh nghiệm ngoại giao, làm phó trưởng đoàn, còn Phó trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là Đại tá Đặng Văn Thu (tức Đoàn Huyên). Hôm sau, ngày 28 tháng 1 năm 1973, cũng có hai đoàn ta tử Hà Nội đi theo chuyên cơ của ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát vào tham gia Ban Liên hợp. Đồng chí Võ Đông Giang - Đại sứ lưu động của Chính phủ Cách mạng lâm thời, với hàm đại tá, là Phó trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời. Còn tôi, khi đó là trung tá, phụ trách tiền trạm Đoàn đại biểu quân sự Việt Nam dân chủ cộng hòa.

        Chúng tôi, ai cũng hiểu rằng Mỹ và chính quyền Sài Gòn sẽ không dễ chấp nhận thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định và do đó, nhiệm vụ "ngoại giao trong lòng địch" lúc này sẽ rất phức tạp và đầy thử thách cam go. Quả nhiên, đúng như chúng tôi dự đoán. Hiệp định đã bị đối phương vi phạm ngay khi còn chưa ráo mực. Lúc chuyến bay đưa đoàn chúng tôi vừa đáp xuống sân bay Tân Sơn Nhất, phía Sài Gòn đã bày ra cái gọi là làm thủ tục nhập cảnh, nhằm thể hiện chủ quyền" của mình. Mỹ đưa đoàn xe du lịch đón Đoàn tiền trạm, nhưng xe lại cắm cờ trắng, chúng tôi phản đối vì dây là đoàn làm nhiệm vụ theo Hiệp định Pa-ri, không phải là đi đầu hàng. Cờ của Ban Liên hợp quân sự phải do các bên thỏa thuận, không thể do Mỹ định đoạt. Chúng tôi từ chối lên xe, trừ khi tháo hết cờ trắng. Cá hai đoàn ta đều kiên quyết không chấp nhận những đòi hỏi vô lý của họ và đòi phía Mỹ và Sài Gòn phải lập tức đưa chúng tôi về trụ sở dành cho hai đoàn mà không được kèm theo bất cứ điều kiện gì. Đây không phải là vụ rắc rối dầu tiên do phía Sài Gòn gây ra đối với các đoàn ta. Cùng hôm đó, tại sân bay Tân Sơn Nhất, phía Sài Gòn cũng đã gây khó khăn tương tự đối với cả hai đoàn từ Pa-ri về cũng như cả hai đoàn từ Hà Nội vào (là Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa do Thiếu tướng Lê Quang Hòa làm Trưởng đoàn dẫn đầu và một bộ phận Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam). Chẳng hẹn gì trước với nhau, nhưng các đoàn của ta đều phản đối không chịu làm "giấy xin nhập cảnh" và đều cùng ở lại trên máy bay trong suốt cả ngày 28, cho đến chiều ngày 29 tháng 1 năm 1973, khi phía Mỹ - Sài Gòn bị đuối lý, buộc phải đưa tất cả các đoàn ta về trụ sở ở trại Đa-vít. Đặc biệt, chính quyền Sài Gòn đã gây ra một vụ phá hoại Hiệp định trắng trợn và nghiêm trọng đối với đoàn của Trung tướng Trần Văn Trà, Trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời. Đáng lẽ theo thỏa thuận, đoàn đã phải được đón từ sân bay Thiện Ngôn trong vùng giải phóng về trại Đa-vít trong cùng ngày 28. Nhưng đến giờ hẹn, trực thăng Mỹ đã không đến đón Đoàn ta, trái lại máy bay chiến đấu của không quân Sài Gòn đến ném bom xung quanh sân bay, may mà ta đã cảnh giác đề phòng nên không bị tổn hại gì.

        Như vậy, do phía Mỹ và Sài Gòn rắp tâm phá hoại Hiệp định ngay từ đầu, mãi đến tối 29 tháng 1 năm 1973, các phó trưởng đoàn bơn bên mới họp được phiên đầu tiên, chậm hơn một ngày so với thỏa thuận giữa các trưởng đoàn bốn bên tại Hội nghị Pa-ri. Ngay tại phiên họp này, hai đoàn ta đã nghiêm khắc lên án hành động lật lọng và phá hoại Hiệp định của phía Mỹ và Sài Gòn, đòi Mỹ phải trực tiếp chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn tuyệt đối cho Đoàn của Trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời từ địa điểm đón mới do ta lựa chọn là sân bay Lộc Ninh về sân bay Tân Sơn Nhất và trại Đa-vít. Rốt cuộc, Mỹ không còn cách nào khác là phải đáp ứng yêu cầu của ta. Trong hai ngày 1 và 2 tháng 2 máy bay trực thăng Mỹ đã đón hết đại biểu của cả hai đoàn ta vào trại Đa-vít.

        Trại Đa-vít, vốn là doanh trại của một đơn vị chuyên môn thuộc không quân Mỹ, mang tên Đa-vít là để tưởng niệm quân nhân Mỹ đầu tiên chết trận tại miền Nam Việt Nam. Trại được cải tạo làm nơi ở và làm việc cho hai đoàn ta. Phía ta coi đây chỉ là địa điểm tạm thời,, còn trụ sở chính thức lâu dài của hai đoàn ta phải được đưa vào trong thành phố Sài Gòn. Phía Mỹ ghi nhận nhưng sau đó dù ta nhiều lần nhắc nhở, họ vẫn cố tình không thực hiện.

         Trại Đa-vít ở gần sát phía tây nam sân bay Tân Sơn Nhất, nằm trong khu vực quân sự, xung quanh có bốt gác canh phòng nghiêm ngặt vòng trong, vòng ngoài với lớp lớp hàng rào dây thép gai dày đặc, được xây theo kiểu dã chiến bằng bê tông, cốt thép, lợp fibrô xi măng. Với kiểu xây dựng như vậy, cộng thêm tiếng gầm rú suốt ngày của động cơ máy bay, rồi khí hậu nắng nóng của miền Nam... khiến cho môi trường làm việc của hai đoàn ta hết sức nặng nề và căng thẳng. Sắp xếp cho hai đoàn ta ở trại Trại Đa-vít Đa-vít, chính quyền Sài Gòn muốn cô lập, ngăn không cho ta có điều kiện tiếp xúc với người dân Sài Gòn, đồng thời dễ bề kiểm soát thông tin, phá sóng, gây nhiễu điện của ta. Riêng với hai trưởng đoàn ta, phía Sài Gòn lại tỏ ra đặc biệt "ưu ái", thu xếp ở trong một nhà ngăn đôi có đầy đủ tiện nghi. Việc đó làm chúng tôi phải suy nghĩ và nâng cao cảnh giác. Quả nhiên, "sự ưu ái" này là có mục đích. Chỉ mấy hôm sau, tổ kỹ thuật chống nghe trộm của ta đã phát hiện ngôi nhà "đầy đủ tiện nghi" đó có cả những "tiện nghi" không thích hợp là những chiếc máy ghi âm vô cùng tinh xảo.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Hai, 2011, 12:11:25 am

        Theo Hiệp định Pa-ri, Ban Liên hợp quân sự bốn bên trung ương hoạt động trong vòng 60 ngày kể từ ngày 28 tháng 1 năm 1973 đến 28 tháng 3 năm 1973, có nhiệm vụ giám sát việc ngừng bắn, rút quân Mỹ và quân nước ngoài ra khỏi miền Nam Việt Nam, trao trả nhân viên quân sự các bên và thường dân nước ngoài bị bắt... Ban Liên hợp làm việc theo nguyên tắc hiệp thương nhất trí giữa bốn bên.

        Các cuộc họp của Ban Liên hợp quân sự thường diễn ra căng thẳng, thậm chí còn cãi vã nhau chẳng khác gì những "cuộc chiến" thực sự về ngoại giao. Tại đây, ta cực lực lên án các hành động vi phạm nghiêm trọng Hiệp định của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu được Mỹ dung túng, trước hết là vi phạm quy định ngừng bắn, như mở các cuộc hành quân bình định, lấn chiếm, ném bom vùng giải phóng sau ngày Hiệp định Pa-ri có hiệu lực. Đồng thời, ta cũng hết sức cảnh giác và kiên quyết bác bỏ những cái gọi là bằng chứng mà phía Mỹ, chính quyền Sài Gòn đưa ra hòng vu cáo ta vi phạm Hiệp định. Điển hình là vụ Cửa Việt. Trong phiên họp ngày 30 tháng 1 năm 1973, phía Sài Gòn tố cáo "phía Chính phủ Cách mạng lâm thời vi phạm ngừng bắn ở Cửa Việt ngày 28 tháng 1 năm 1973" và gửi công hàm tố cáo ta trước ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát. Trên thực tế, đây là hành động "vừa ăn cướp, vừa la làng" của phía Việt Nam cộng hòa. Bốn ngày sau, đoàn kiểm tra thực địa của ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát đã ra kết luận trách nhiệm vi phạm ngừng bắn thuộc về phía Sài Gòn. Thực tế là ngay trước giờ ngừng bắn có hiệu lực, quân đội Sài Gòn đã lấn chiếm cảng Cửa Việt do ta kiểm soát, ta đã giáng cho chúng đòn trừng trị đích đáng và chiếm lại cảng Cửa Việt.

        Liên quan đến vấn đề rút quân Mỹ và quân đồng minh - vấn đề mấu chất của Hiệp định, phía Mỹ cố tình trì hoãn việc thông báo lịch trình cụ thể cho Ban Liên hợp. Ta đã đấu tranh với Mỹ tại Ban Liên hợp quân sự bốn bên, đồng thời thông báo cho ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát. Trước đòn tấn công này, ngày 16 tháng 2 năm 1973, phía Mỹ phải gửi công hàm chính thức thông báo về việc rút quân và đề nghị Ban Liên hợp cử người đến giám sát việc rút quân Mỹ và quân Hàn Quốc. Kết quả là dưới sự giám sát của Ban Liên hợp quân sự bốn bên và ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát, ngày 15 tháng 3 năm 1973, USARV - Bộ chỉ huy quân đội Mỹ ở Việt Nam làm lễ cuốn cờ. Chiều hôm ấy, MACVI - BỘ Tư lệnh tối cao của Mỹ, đóng trụ sở tại Tân Sơn Nhất, được báo chí gọi là đầu Năm Góc phương Đông" cũng hạ cờ. Và ngày 29 tháng 3 năm 1973, lính Mỹ cuối cùng đã phải rút khỏi Việt Nam. Được chứng kiến những cảnh ấy, tôi tự hỏi rồi đây lịch sử sẽ viết gì về những hình ánh u tối này của đội quân viễn chinh Mỹ ở Việt Nam.

        Tuy phải chấp hành việc rút quân nhưng phía Mỹ lại trắng trợn vi phạm hiệp định, lén lút đê lại hơn một vạn nhân viên quân sự, đội lốt dân sự. Khi rút quân, thay vì mang theo toàn bộ vũ khí đạn dược, theo Điều 8 Nghị định thư, họ đã để lại toàn bộ cho phía Sài Gòn, thoái thác rằng mọi vũ khí và trang thiết bị quân sự đã được chở đi bằng tàu thủy (mà không thông báo cho Ban Liên hợp quân sự và ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát). Đến khi ta đưa ra bằng chứng về những vũ khí của Mỹ đã được chuyển giao cho phía Sài Gòn thì Mỹ lại ngụy biện rằng việc chuyển giao đã được tiến hành trước khi ký Hiệp định. Những vũ khí và thiết bị quân sự mà Mỹ chuyển giao trái phép lại cho chính quyền Sài Gòn cũng không thể cứu vãn được sự sụp đổ của một chế độ chỉ tồn tại nhờ dựa vào sức mạnh quân sự và sự hỗ trợ trực tiếp của hỏa lực Mỹ.

        Một vấn đề hết sức gai góc trong chương trình làm việc của Ban Liên hợp là thực hiện việc trao trả những người bị bắt, bao gồm nhân viên quân sự các bên, thường dân nước ngoài và nhân viên dân sự Việt Nam. Đây là vấn đề quan trọng đối với cả ta và Mỹ. Tuy nhiên, phía Sài Gòn lại tỏ ra không mấy quan tâm tới người của họ bị ta bắt vì họ cố tình giữ lại phần lớn số cán bộ chiến sĩ của ta đang bị họ giam giữ. Do đang bị thúc ép rất lớn ở trong nước về vấn đề tù binh, chính quyền Mỹ buộc lòng phải ra mặt hối thúc phía Sài Gòn đi vào giải quyết thực chất vấn đề này. Kết quả là cho đến khi Ban Liên hợp quân sự bốn bên kết thúc hoạt động, Chính phủ Cách mạng lâm thời đã trao trả cho Mỹ 128 nhân viên quân sự Mỹ và nước ngoài bị bắt, trao đổi cho phía Sài Gòn 5.426 nhân viên quân sự, đồng thời nhận về 26.492 người của ta. Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã trao trả cho phía Mỹ 459 phi công bị bắt ở miền Bắc. Còn số nhân viên dân sự bị bắt giữa ta và Sài Gòn sẽ được trao trả khi Ban Liên hợp quân sự hai bên đi vào hoạt động.

        Ngày 28 tháng 3 năm 1973, theo đúng quy định trong Hiệp định, Ban Liên hợp quân sự bốn bên chấm dứt hoạt động. Tuy người lính Mỹ cuối cùng cũng đã rời khỏi Việt Nam vào ngày hôm sau, nhưng chiến tranh không vì thế mà chấm dứt; miền Nam vẫn chưa im tiếng súng. Ta nắm được ý định của Nguyễn Văn Thiệu là: "không chấp nhận giải pháp của Hiệp định Pa-ri vì quân miền Bắc còn ở lại miền Nam thì chắc chắn chế độ Sài Gòn sẽ thua và sụp đổ" Do đó, Thiệu chủ trương xóa thế da báo, đẩy lùi chủ lực ta ra vùng biên giới để dùng phi pháo và lực lượng cơ động tiêu diệt, tạo ra thế chiến trường là quân đội Sài Gòn làm chủ hoàn toàn. Như vậy, sẽ xóa bỏ được mọi giải pháp theo Hiệp định Pa-ri, ngược lại Thiệu sẽ áp đặt giải pháp theo quan điểm của Sài Gòn.

        Từ chủ trương đó, Thiệu liên tục cho lấn chiếm, ném bom vùng giải phóng, tiêu diệt các cơ sở của ta ở nông thôn, hoàn toàn dựa vào giải pháp quân sự, quên rằng hơn nửa triệu quân Mỹ trong gần 20 năm không đẩy lùi được quân miền Bắc: làm sao quân Sài Gòn yếu hơn nhiều lại có thể làm được việc đó. Các hành động vi phạm Hiệp định của phía Sài Gòn ngày càng thêm nghiêm trọng, đặc biệt là về điều khoản ngừng bắn, khi bước sang giai đoạn họp Ban Liên hợp quân sự hai bên. Dù sao, việc hai đoàn ta tích cực đấu tranh liên tục trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên cũng đã buộc phía Sài Gòn phải thỏa thuận những thể thức đảm bảo 11 điều về ưu đãi miễn trừ ngoại giao đối với Đoàn đại biểu quân sự của ta tại Tân Sơn Nhất, tạo một lợi thế rất cơ bản giúp đoàn hoạt động có hiệu quả trong Ban Liên hợp quân sự hai bên sau này. Trong cuộc đấu tranh này, các đồng chí trưởng đoàn của ta đã thể hiện rõ vai trò của mình, đấu tranh sắc sảo trên bàn hội nghị Ban Liên hợp quân sự, khiến đối phương phải kính nể.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Hai, 2011, 12:13:53 am

        Ban Liên hợp quân sự hai bên, bắt đầu hoạt động từ ngày 29 tháng 3 năm 1973, có nhiệm vụ giám sát việc thực hiện các điều khoản về các vấn đề quân sự và trao trả nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt. Bên cạnh ban này còn có Tổ Liên hợp quân sự bốn bên, chuyên lo vấn đề người Mỹ mất tích.

        Phối hợp đấu tranh đòi Mỹ, chính quyền Sài Gòn nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định, hai đoàn ta tại Ban Liên hợp quân sự rất coi trọng đấu tranh trên mặt trận dư luận. Đoàn ta tại trại Đa-vít có quan hệ, tiếp xúc và trả lời phỏng vấn với các phóng viên của hơn 80 tờ báo, hãng thông tấn, vô tuyến truyền hình và phát thanh của 21 nước trên thế giới. Hoạt động này của đoàn ta đã góp phần tranh thủ được giới báo chí miền Nam và quốc tế, kịp thời tố cáo và ngăn chặn các hành động vi phạm Hiệp định của chính quyền Sài Gòn, phối hợp với mặt trận đấu tranh của đồng bào các giới đòi Mỹ, chính quyền Sài Gòn nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Pa-ri. Có phóng viên nước ngoài, nhân một cuộc họp báo, đã bí mật trao cho ta danh sách tù chính trị đang bị chính quyền Sài Gòn giam giữ. Đó thực sự là một tài liệu rất quý, là cơ sở để ta đấu tranh đòi phía chính quyền Sài Gòn thả hết người bị bắt. Trong các đợt đàm phán kéo dài từ tháng 4 năm 1973 cho đến tháng 3 năm 1974, do ta đấu tranh mạnh trên vấn đề trao trả nhân viên dân sự và nhân viên quân sự còn lại của hai bên, cuối cùng, phía Sài Gòn buộc phải trả cho ta 5.075 nhân viên dân sự và 130 nhân viên quân sự; ta trả cho họ 637 nhân viên dân sự và 410 nhân viên quân sự. Tất nhiên, với bản chất lật lọng, xảo quyệt, cố tình phá hoại Hiệp định Pa-ri, chế độ Sài Gòn vẫn còn giam cầm hàng vạn tù nhân chính trị và số người này chỉ được giải phóng cùng ngày giải phóng miền Nam.

        Do chính quyền Nguyễn Văn Thiệu rút các quyền ưu đãi đối với các thành viên Ban Liên hợp quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời, ngày 22 tháng 6 năm 1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời tuyên bố đình chỉ họp vô thời hạn Ban Liên hợp quân sự hai bên miền Nam Việt Nam ở La-xen-la Sanh-clao (Pa-ri); đồng thời chỉ thị cho đoàn vẫn bám trụ lại Tân Sơn Nhất. Đoàn đại biểu quân sự Việt Nam dân chủ cộng hoà trong Tổ Liên hợp quân sự bốn bên chuyên lo về vấn đề người Mỹ mất tích cũng được chỉ thị ở lại trại Đa-vít.

        Quan điểm nhất quán từ đầu của ta là đấu tranh trên ba mặt trận: chính trị, quân sự, ngoại giao; Hiệp định Pa-ri là giải pháp tốt nhất cho tình hình miền Nam Việt Nam. Quan điểm này được nói trực tiếp với Phái đoàn Mỹ, Sài Gòn và các nhà báo Sài Gòn cũng như quốc tế và Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát.

        "Hơn 300 cán bộ chúng tôi đã ở giữa sào huyệt của chế độ Sài Gòn là để sẵn sàng thi hành Hiệp định Pa-ri".

        Quan điểm của ta và nhất là sự có mặt của đoàn ta sau khi Ban Liên hợp quân sự đình chỉ hoạt động đã có tác động đến nhận định của Mỹ và Sài Gòn. Họ cho rằng ta đánh đến Biên Hoà là có lợi thế về ngoại giao, lúc đó chắc Ban Liên hợp quân sự sẽ họp trở lại. Do đó, họ vẫn giữ quan hệ với đoàn ta, coi đây là cầu liên lạc để thăm dò, truyền đạt quan điểm khi cần thiết.

        Tình hình ngày một thêm căng thẳng. Do bị thua đau trên chiến trường, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu quay sang trả đũa vào hai đoàn đại biểu ta tại trại Đa-vít. Chúng cắt điện, nước, thậm chí phun cả hơi cay vào trại. Khi bị ta tố cáo thì chúng lấy cớ là phun thuốc diệt muỗi. Trong các buổi họp báo tại trại Đa-vít và trong tiếp xúc với Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát, ta tố cáo mạnh mẽ những đòn trả thù hèn mạt này của chính quyền Sài Gòn. Hoạt động tuyên truyền của đoàn ta không chỉ làm chính quyền Sài Gòn chùn tay mà còn tranh thủ được sự ủng hộ của đồng bào các giới, của lực lượng báo chí tiến bộ, tăng thêm sức mạnh trong đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Pa-ri. Tuy nhiên, đoàn ta tại trại Đa-vít cũng luôn cảnh giác đề phòng trường hợp xấu nhất là chính quyền Sài Gòn điên cuồng liều lĩnh với trại Đa-vít.

        Lúc này, đoàn ta trong Ban Liên hợp quân sự hai bên và Tổ Liên hợp quân sự bốn bên tại trại Đa-vít gồm hơn 300 cán bộ chiến sĩ, chủ yếu từ đại úy trở lên. Tuy là Đoàn quân sự, nhưng do hoạt động mang tính chất đấu tranh ngoại giao, nên theo quy định của Hiệp định chỉ được trang bị vũ khí nhẹ: 30 cảnh vệ trang bị AK, mỗi cán bộ có một khẩu súng ngắn và sau này đoàn được tăng cường hai vali lựu đạn chống tăng. Địch dường như không che giấu ý đồ của chúng đối với trại Đa-vít; án ngữ trước cửa trại là trại huấn luyện của sư đoàn dù; xung quanh trại Đa-vít, địch cho đào hào sâu, chăng dây thép gai và dựng tới mười ba trạm gác có đặt súng cỡ đạn 12,7mm. Đến đầu năm 1975, đối phương còn cho tăng cường thêm một đơn vị xe tăng và một đại đội bộ binh đến bao vây, ngày đêm khống chế nghiêm ngặt trụ sở của hai đoàn ta.

        Nhân đây, tôi xin kể thêm một chút về ý đồ của Sài Gòn muốn hủy diệt trại Đa-vít là có thật. Trong quyển lịch công tác mà Đại tá Nguyễn Văn Bổ, phụ trách bảo vệ Đoàn Việt Nam dân chủ cộng hoà, tìm thấy sáng ngày 1 tháng 5 năm 1975 trên bàn làm việc của tướng Cao Văn Viên, khi đó là Tổng tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn, thì tướng Viên có ghi: "Chỉ thị cho cấp dưới được quyền sử dụng các biện pháp sau đây đối với trại Đa-vít không cần phải xin chỉ thị của Bộ Tổng tham mưu, chỉ cần phát hiện thấy có tiếng súng từ trại Đa-vít bắn sang sân bay: 1) Bắn pháo và cối vào trại Đa-vít; 2) Cho xe tăng và bộ binh tấn công; 3) Ném bom; 4) Rải chất độc hoá học với điều kiện gió không thổi về phía thành phố". Cao Văn Viên bỏ đi di tản vào chiều ngày 28 tháng 4 năm 1975, nên lệnh này có thể được phát vào ngày 27 hoặc sáng 28 tháng 4 năm 1975. Rõ ràng, lý do mà Cao Văn Viên đưa ra để các đơn vị hành động là rất mơ hồ và xảo quyệt vì chúng hoàn toàn có thể tạo ra cớ để tấn công trại. Hơn nữa, cũng không thể nào kiểm tra được chứng cứ, vì từ ngày 26 tháng 4, khu vực sân bay Tân Sơn Nhất và trại Đa-vít nằm trong tầm khống chế của pháo ta. Như vậy, có thể thấy thực chất của lệnh này là chính quyền Sài Gòn khuyến khích các đơn vị của họ hủy diệt trại Đa-vít kể cả bằng chất độc hoá học.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Hai, 2011, 12:14:31 am

        Chiến đấu trong lòng địch, chúng tôi cũng đã sớm dự đoán được ý đồ tàn bạo này của kẻ thù và hạ quyết tâm chuẩn bị sẵn sàng đối phó với các tình huống xấu nhất có thể xảy ra. Song, lãnh đạo đoàn đã không lường được trước âm mưu của chúng dùng chất độc hoá học, mà chỉ dự kiến khả năng địch bắt cả đoàn hoặc ban lãnh đạo của đoàn làm con tin để mặc cả khi Ban Liên hợp quân sự hoạt động trở lại.

        Mặc dù vậy, theo sự chỉ đạo của anh Lê Quang Đạo, lúc ấy là Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, thay mặt Quân ủy Trung ương, ta đối xử với sĩ quan và binh sĩ Sài Gòn làm nhiệm vụ xung quanh trại Đa-vít trước sau vẫn rộng lượng, thể hiện rõ bản chất anh Bộ đội Cụ Hồ trong công tác địch vận. Thời gian ở trại Đa-vít mỗi khi lính nguy kêu đói xin gói lương khô, ta đều ném qua hàng rào cho họ, có khi còn cho cả bao thuốc lá. Cán bộ bảo vệ của ta, trong khi ngồi trong xe chờ đợi đoàn họp, thường mang rượu "Lúa mới", bia Trúc Bạch, kẹo Hải Châu ra mời, họ rất mừng và thường xin chai uống dở mang về cho những người ở nhà được hưởng hương vị của miền Bắc. Tuy ở ngay giữa lòng địch, đoàn ta vẫn duy trì các sinh hoạt hết sức bình thường như thi đấu thể thao hoặc biểu diễn văn nghệ, binh lính Sài Gòn thường leo lên trạm gác để xem. Vẫn biết ở chiến trường thì hai bên thù địch nhau, nhưng khi có dịp trò chuyện, ta nêu tinh thần hoà giải, không lên án quá khứ của họ mà tập trung giải thích chính nghĩa của cuộc chiến đấu bảo vệ độc lập của nhân dân Việt Nam, đòi Mỹ rút về nước. Chính vì vậy, sau ngày giải phóng, tôi được nghe lời nhận xét của một số sĩ quan quân đội Sài Gòn là "các anh (phía ta) trong Ban Liên hợp quân sự đều là những người lởn".

        Sau khi Ban Liên hợp quân sự đình chỉ hoạt động, ta vẫn duy trì cuộc họp báo vào ngày thứ bảy hàng tuần; đông đảo nhà báo các nước đến dự, nghe tin chiến sự, thăm dò quan điểm của ta có tấn công quân sự vào Sài Gòn không. Ta vẫn giữ kín ý đồ quân sự của mình, tố cáo mạnh mẽ việc Sài Gòn lấn chiếm và đánh phá vùng giải phóng, nêu rõ ta có quyền trả đũa không chỉ ở nơi lấn chiếm mà cả ở nơi xuất phát cuộc tấn công, chuẩn bị dư luận hỗ trợ các chiến dịch quân sự của ta.

        Chúng tôi luôn theo sát tình hình và hết sức xúc động được biết các lực lượng của ta bắt đầu áp sát Sài Gòn. Bộ Tư lệnh chiến dịch thông báo cho đoàn là đêm đầu tiên của cuộc tấn công, sẽ có đơn vị đặc công vào đưa đoàn ra khu an toàn cách Sài Gòn l0km. Ban lãnh đạo đoàn họp bàn nhận định "trong lúc này đoàn ta có đủ yếu tố cần thiết để chiến đấu và bám trụ thắng lợi tại chỗ", và đề nghị Bộ Tư lệnh chiến dịch và Quân ủy Miền cho phép đoàn tự tổ chức chiến đấu tại chỗ và bảo đảm sẽ đủ sức để bảo toàn lực lượng. Đề nghị đó được cấp trên đồng ý.  Đồng chí Lê Đức Thọ gửi điện động viên đoàn: "Giữ vững bản chất anh Bộ đội Cụ Hồ". Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi điện thông bao chiến thắng đang đến gần, nhắc phải đề phòng kẻ địch có thể có hành động tàn bạo với đoàn và động viên đoàn "vững vàng trên vị trí chiến đấu, ngày thắng lợi không còn xa nữa". Cán bộ chiến sĩ trong đoàn rất phấn khởi theo dõi chiến sự và nghe thông báo Quân đoàn 2, rồi Quân đoàn 1 của Sài Gòn bị tiêu diệt và tan rã Quân đoàn 3 ngụy bị đánh tơi tả, cửa ngõ Sài Gòn dã được mở, càng vững tin vào thắng lợi cuối cùng. Trước sự o ép của địch, chúng tôi vẫn bình tĩnh, hàng ngày vẫn duy trì mọi sinh hoạt bình thường, sáng vẫn thể đục, chiều thể thao, tối văn nghệ.

        Từ giữa tháng 4 năm 1975, tình hình quân sự trở nên rất ác liệt. Thực hiện chỉ thị của cấp trên, lãnh đạo đoàn tổ chức cho anh em sẵn sàng đối phó với tình huống xấu nhất nhằm bảo toàn được lực lượng, giữ được vị trí trong vòng ba đến năm ngày để chờ Quân Giải phóng tới. Muốn vậy cần phải có các hố chiến đấu và các hầm có nắp tránh được pháo các loại của ta và của địch, phải có giao thông hào có nắp nối liền bảy khu vực chiến đấu, với hầm ngầm chỉ huy, hầm quân y, hầm làm kho dự trữ nước lương thực các loại. Bên trong trại, dưới sàn nhà là một hệ thống điện thoại được lắp đặt, nối từ các đài quan sát đến các khu chiến đấu và hầm chỉ huy. Lương thực và nước cũng được dự trữ đủ trong mười ngày, quân y có thể làm trung phẫu thuật. Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn chỉ huy chung. Với quyết tâm cao của cán bộ chiến sĩ nên chỉ trong vòng một ngày, mặc dù không có xẻng cuốc, chỉ dùng cọc màn bằng sắt các hố chiến đấu và một phần giao thông hào đã được đào xong. Tất cả đều được xây dựng tuyệt đối bí mật, có thể yên tâm pháo cối không gây thương vong được cho ta, chúng tôi sẵn sàng chiến đấu ngay cả khi xe tăng và bộ binh địch tiến đánh.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Hai, 2011, 12:15:01 am

        Khi bộ đội ta tiến sát gần cửa ngõ Sài Gòn thì thái độ lo sợ của Mỹ - ngụy càng lộ rõ. Những cuộc "chạy vạy" gấp gáp của họ hòng cứu vãn sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn càng trở nên ráo riết. Ngày 25 tháng 4 năm l975 khi Mỹ tổ chức chuyến bay liên lạc C.130 ra Hà Nội. Trung tá Sam-mơ của Đoàn Mỹ đề nghị với tôi (khi đó là thượng tá) báo cáo với Đại tướng Võ Nguyên Giáp là "Mỹ chịu thua Việt Nam rồi, không cần có cuộc tấn công quân sự vào Sài Gòn nữa. Việt Nam đề ra điều kiện gì, Mỹ sẽ thực hiện hết nên cuộc tấn công không còn cần thiết". Phía Sài Còn cũng định phái Bộ trưởng Thông tin là Phan Hoà Hiệp ra Hà Nội để "thương lượng", nhưng ta không chấp nhận. Chiều ngày 25 tháng 4, Đại sứ Mỹ Ma- tin được chỉ thị tìm cách gặp Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn trong bửa chiêu đãi của Đại sứ Ba Lan, đồng chí Tuấn không đi dự nên không có cuộc gặp này. Đến ngày 29 tháng 4, khi pháo của ta từ ngoại ô Sài Gòn dồn dập bắn vào nội thành, Đại sứ Ma-tin thông qua Đoàn Hung- ga-ri (thành viên ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát) đề nghị muốn gặp trưởng đoàn đại biểu quân sự ta để "thương lượng", nhưng ta không trả lời. Đến trưa cùng ngày, một đoàn ba người là giáo sư Châu Tâm Luân, Trần Ngọc Liễn, linh mục Chân Tín nói là do Dương Văn Minh, khi đó đã lên làm Tổng thống Việt Nam cộng hoà, phái vào Tân Sơn Nhất để gặp đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời. Ta không nhận gặp nếu họ đến với danh nghĩa phái viên của Dương Văn Minh. Khi họ nói là đại diện của lực lượng thứ ba và đến với danh nghĩa cá nhân, ta đồng ý tiếp. Họ đề nghị không nên tấn công Sài Sòn bằng quân sự, và nếu Chính phủ Cách mạng lâm thời có yêu cầu gì thì cứ dọc cho họ ghi, họ sẽ chuyển cho Dương Văn Minh. Thay mặt đoàn, anh Võ Đông Giang đã nhắc lại tuyên bố ngày 26 tháng 4 của Chính phủ Cách mạng lâm thời đòi "xóa bỏ hoàn toàn ngụy quyền Sài Gòn và bộ máy chiến tranh kìm kẹp của nó".

        Sáng ngày 28 tháng 4, pháo và hỏa tiền của ta bắn dồn dập vào Tân Sơn Nhất. Tất cả cán bộ chiến sĩ đều ở trong hầm. Không may là một mảnh đạn pháo bay qua cửa thông hơi của hầm có nắp làm một dại úy hy sinh, một mảnh khác trúng một đồng chí cảnh vệ đang đổi gác ở ngoài công sự. Đến rạng sáng ngày 29 tháng 4, pháo binh ta tiếp tục các đợt cấp tập yểm trợ cho các mũi bộ binh tiến vào nội đô, nhưng đã không xảy ra sự cố gì cho đoàn ta tại trại Đa-vít.

        Cho đến 10 giờ sáng ngày 30 tháng 4, Tiểu đoàn 6, Sư đoàn 10, quân đoàn 3 do đồng chí Sơn, tiểu đoàn trưởng dẫn đầu, tiếp cận trại Đa-vít, anh em của ta ào ra đón, nghẹn ngào chào hỏi nhau, hoan nghênh những người đến giải phóng cho mình, rồi đưa cả kho nước ngọt ra mời đồng đội. Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn, thay mặt cán bộ chiến sĩ tại Ban Liên hợp quân sự, chào mừng và cảm ơn đơn vị và các chiến sĩ đến giải phóng cho đoàn. Buổi trưa, Phó trưởng đoàn ủy ban Quốc tế kiếm soát và giám sát Hung-ga-ri đi nhờ xe quân Giải phóng của anh Phùng Ngọc Bảo vào thăm đoàn. Tất cả đều hoan hỉ vì đoàn Hung-ga-ri và Ba Lan đều được an toàn, các đồng chí bạn chúc mừng thắng lợi của ta và bày tỏ lòng khâm phục quân ta đã nhanh chóng giải phóng Sài Gòn.

        Đúng 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975, cùng với quân dân cả nước, chúng tôi chào đón thời khắc lịch sử dối với dân tộc ta. Riêng đối với tôi cũng như anh em cán bộ chiến sĩ trong Ban Liên hợp quân sự, thời khắc còn có ý nghĩa đặc biệt: đó là thời điểm kết thúc quá trình hai năm ba tháng ba ngày kiên cường bám trụ tại trại Đa-vít chúng tôi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ khó khăn, phức tạp nhưng rất vinh quang trên trận địa ngoại giao trong lòng địch, thể hiện rõ bản chất anh Bộ đội Cụ Hồ.

        Gần 30 năm đã trôi qua, nhưng ký ức về những tháng ngày oanh liệt ấy vẫn không phai mờ trong tâm trí chúng ta Thực sự trại Đa-vit đã trở thành biểu tượng xứng đáng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong cuộc đấu tranh thi hành Hiệp định Pa-ri, góp phần đem lại thắng lợi vẻ vang cho dân tộc trong mùa Xuân 1975 lịch sử.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Hai, 2011, 05:56:49 am
NHỮNG ÁNH MẮT TRÌU MẾN
CỦA NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÀI GÒN
VỚI PHÁI ĐOÀN QUÂN SỰ CỦA CÁCH MẠNG
                 
             
       Ngày 10 tháng 4 năm 2004, Bà Nguyễn Thị Bình nguyên là Bộ trưởng Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam gửi cho Ban liên lạc Câu lạc bộ truyền thống Ban Liên hợp quân sự (khu vực phía Bắc) một bức thư. Nội dung bức thư thế hiện sự gắn bó trách nhiệm của Bà với các phái đoàn quân sự của ta từ trại Đa-vít, Bà gửi kèm một bức thư của đồng chí Võ Đông Giang đã gửi cho Bà từ năm 1973 và Bà đề nghị xem có thể đăng vào cuốn Hồi ức về Ban Liên hợp quân sự phần nào ghi lại hoạt động của các đồng chí ta tại trại Đa-vít.

        Trao đổi với Ban liên lạc của Câu lạc bộ, chúng tôi đăng bức thư của Bà Nguyễn Thị Bình và trích đăng bức thư của đồng chí Võ Đông Giang.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/NguyenThiBinhtailetraokyniemchuong.jpg)

THƯ CỦA BÀ NGUYỄN THỊ BÌNH

                                                                                             Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2004

        Thưa các đồng chí trong Câu lạc bộ truyền thống Ban Liên hợp quân sự bốn bên và hai bên khu vực miền Bắc!

        Tôi không phải là cán bộ hoạt động tại Camp David [1], nhưng với trách nhiệm của tôi trong thời gian trước, trong và sau Hiệp định Pa-ri về Việt Nam, giữa chúng ta có sự gắn bó mật thiết. Hơn nữa, tại Camp David, tôi có những đồng chí, những người bạn thân cùng hoạt động từ lâu, trong đó có Đại tá Võ Đông Giang, Thiếu tá Ngọc Dung, Đại tá Dương Đình Thảo.

        Đồng chí Võ Đông Giang cùng công tác với tôi ở Ban Tíông nhất Trung ương, tôi là tổ trưởng 1A, đồng chí Giang là tổ trưởng 1B. Trong những năm đầu hoạt động đối ngoại, chúng tôi rất bỡ ngỡ. Trước đó tôi hoạt động chủ yếu trong các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, là một cán bộ hoạt động bí mật tại Thành phố Hồ Chí Minh (lúc đó là Sài Gòn ) tôi có kinh nghiệm đấu tranh chính trị, tổ chức biểu tình, bãi công, bãi khóa. Đồng chí Võ Đông Giang đã từng là Bí thư tỉnh Phú Yên, có hoạt động trong Liên khu đình chiến một thời gian ngắn. Trước yêu cầu của hoạt động ngoại giao rộng lớn của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam, sau đó là của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, chúng tôi phải vừa làm, vừa học, tích cực ủng hộ nhau.

        Đồng chí Võ Đông Giang nay không còn nữa. Vì trách nhiệm và vì tình cảm bạn bè, đồng chí thân thiết nên tôi muốn có cái gì đó nói về anh Giang. Vừa qua, soạn lại tài liệu, tôi tìm được bức thư của anh Giang. Tôi xin chuyển lạị các đồng chí để xem có thể đăng phần nào để ghi lại hoạt động của các đồng chí ta ớ Camp David không.

        Xin kính chúc các đồng chí dồi dào sức khỏe.

  
                                                                                                               NGUYỄN THỊ BÌNH


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Hai, 2011, 06:10:56 am

        Trích thư của đồng chí Võ Đông Giang nguyên là Phó đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên và hai bên gửi cho Bà Nguyễn Thị Bình để phản ánh tình hình về cuộc đấu tranh của phái đoàn quân sự ta trong trại Đa-vít.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/VoDongGiang-1.jpg)

Ngày 18 tháng 10 năm 1975            
 

        ... "Chị Bình thân mến.

        ...  Tôi vừa đi dự một cuộc chiêu đãi ở Sài Gòn về ngày quân đội Ba Lan - cứ mỗi lần đi như vậy, tôi thấy được động viên thêm, về đến nhà lại được thư và quà của chị, quà thuốc lá, trong lúc một số anh em phải thức đêm, có cái để tỉnh người.

        Để có sức động viên mạnh mẽ mà tôi tiếc là không thé mô tả một cách đầy đủ là sự trìu mến biểu hiện trong ánh mắt của hầu hết những người dân ở thành phố này đối với những người đại diện của chính quyền cách mạng mà họ gặp lướt qua trên đường phố. Có lẽ phải biết làm thơ thì mới ghi và nói lại được một cách đầy đủ... ".

        ... "Một điều động viên nữa là thái độ "thiên Việt cộng" của số đông các nhà báo phương Tây mà tôi gặp trong chiêu đãi.

         Trong cái ồn ào của cuộc chiêu đãi, ớ đó ai cũng nói chuyện tay đôi, tay ba thì họ cũng tự do nói chuyện một cách tự nhiên. Họ cởi mở hơn vì ít sợ bị lính kín của Sài Gòn theo dõi như là trong các cuộc họp báo của đoàn tại trụ sở Tân Sơn Nhất.

        Họ có điều kiện hơn đã nói toạc ra với mình những cảm nghĩ không lấy gì làm tốt đẹp của họ đối với chế độ Sài Gòn.
        Tôi xin kể chị nghe vài mâu chuyện mà tôi cho là lý thú.

        Với tay Sharrock, giám đốc phân xã Roi-tơ. Tôi hỏi:

        - Chào ông Sharrock, gần đây không thấy ông đến dự cuộc họp báo của chúng tôi.

        - Tôi có vấn đề., hơi ngượng vớì các ông, tôi không tưởng tượng được rằng Chính phủ Anh của chúng tôi lại là chính phủ đầu tiên công nhận chế độ đảo chính ở Chi-lê, đi trước cả chế độ Sài Gòn nữa.

        - Không có lẽ đó lại là lý do đến ông không đến với chúng tôi ?

        - Tôi biết là Chính phủ Cách mạng lâm thời đã cắt đứt quan hệ ngoại giao với chế độ Chi-lê, đó là thái độ đúng đắn.

        - Ông cho rằng tôi không phân biệt được Chính phủ Anh với nhân dân Anh hay sao?

       - Nếu các ông phân biệt được như vậy thì tôi rất cảm ơn. Đúng là tôi có quyền tự tách mình ra khói thái độ của chính phủ nước tôi.

        Với bà Victoria, đại diện báo Lon don Times (gọi là bà, nhưng rất trẻ và khá đẹp đây chị ạ).

        - Chào bà Victoria, tôi cảm ơn bà đưa tin khách quan về việc chính quyền Sài Gòn ném bom Gò Dầu Hạ.

        - Đó là nghề nghiệp của chúng tôi.

        - Nhưng tôi chưa rõ là bà viết như thế nào mà khi đưa lại tin của bà, đài phát thanh của chúng tôi cứ oang oang lên là "ông ta" đã nói thế này, "ông ta" đã nói thế nọ...

        - Không sao, đài giải phóng họ ở xa, trách làm gì? Ở đây các ông biết, thế là tôi đã đưa "Recompenséc", dù rằng khi đưa tin, tôi không chờ mong chuyện ấy... ".



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Hai, 2011, 06:19:10 am

       "... Bây giờ tôi trả lời thư chị. Hội nghị cấp cao không liên kết ở Alger, tiếng vang ở Sài Gòn lớn lắm chị ạ.

        Thằng ngụy như chó cụp đuôi hay như mèo bị cắt tai cũng thế. Bởi nó chủ quan, tưởng dễ phá ta, cho nên mới làm ồn ào lộ liễu, cuối cùng đã chẳng phá được lại còn phải xơi một cái nghị quyết độc quá, chắc là điếng cả người.

        Mấy tờ báo đối lập ở Sài Gòn như Điện Tín, Đại dân tộc lại xỏ cho máy bài bình luận rất ác, thằng ngụy lại càng tức Trong khi đó, tại Ban Liên hợp, cứ mỗi lần nó muốn đánh ngang bằng ta với nó trong việc vi phạm hay không vi phạm hiệp định thì quân ta lại đem phần nghị quyết "ác độc" của Hội nghị Alger ra đọc cho nó nghe chơi cho tỉnh người, "minh mẫn trí tuệ" thêm một chút. Hoặc là mỗi khi nó muôn giành thêm "thượng phong thì quân ta lại vác nghị quyết Alger ra bình một trận... ".

        Ức quá thằng ngụy bèn cho mấy tờ báo phản động nhất chửi đổng Hội nghị không liên kết. Nhưng mà nói càn nên tiền hậu bất nhất, chỉ càng làm trò cười và tự cô lập thêm. Đại thể có 3 pha: Ban đầu thì ve vãn người ta, sau không được mới lý sự rằng Nga, Tàu, Mỹ gì cũng đã hòa hoãn, bắt tay nhau, khối không liên kết không còn có tác dụng nữa. Cuối cùng bị cái nghị quyết đau quá, bèn lý sự rằng làm gì có chuyện không liên kết. Thời buổi này không đi với Mỹ thi đi với Nga. Tàu, không đi với phe "tự do" thì chỉ có đi với cộng sản mà thôi. Cái thứ lý sự lôm côm như vậy, các báo đối lập họ đều có sửa khéo cả đấy, tuy rằng có nhiều đoạn bị "tự ý đục bó".

        "... Tôi lại nhớ ra còn mấy việc nữa: Thằng ngụy vẫn lấy vụ tấn công hồi Tết Mậu Thân để gây căm thù đối với Việt cộng, nói là ta giết hại đồng bào. Không phải là không có người nghe đâu chị ạ. Tại bàn hội nghị để đập lại luận điệu bậy bạ của nỏ, tôi có một loạt tin của UPI, AP lúc bấy giờ tố cáo Mỹ cho ném bom, bắn phá thẳng tay thành phố Huế cho đến khi lấy lại được thành phố này. Nhưng thấy chưa đủ nhờ chị hỏi thứ các anh Tôn Thất Dương Tiềm, anh Trân, hoặc bà Chi, v.v.., lúc bấy giờ ở đó, có cách gì vạch mặt vu cáo và đổ vấy của nó không? Nêu có cái gì hùng hồn và thuyết phục, chắc là bổ ích lắm. Đưa lên đài hoặc gửi cho chúng tôi sử dụng.

        - Gần đây Bộ Ngoại giao ta ra tuyên bố liền tù tì, có nhiều cái sử dụng tốt lắm cùng một quả bóng đó mà tung lên, tung xuống kiểu này, kiểu khác. Đó là cách "phản phúc động viên " đỡ nhàm nhất.

        - Vấn đề tù chính trị, gần đây hơi lút, thực tế vẫn là vấn đề có cơ khởi động và cần khơi động trở lại. Vẫn là vấn để âm ỉ, chực bùng nổ; có liên quan đến các phe phái đối lập, là để tài mà chúng tôi chực nắm lấy để đá thằng Thiệu và cũng là đề tài mà thằng ngụy trông làm dịu đi được chừng nào tốt chừng ấy. Chúng tôi đang tính đưa vấn đề này trở lại như thế nào mà không loãng vấn đề ngừng bắn...

        Thôi chị nhé, hẹn chị thư sau. Xin chúc chị, các anh trong Ban Cán sự và tất cả anh chị em trong cơ quan luôn luôn vui khỏe và công tác ngày càng thắng lợi, chúng tôi cũng được phần"


 
VÕ ĐÔNG GIANG                


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Hai, 2011, 06:27:46 am

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/NguyenTrongXuyen.jpg)

QUÂN VÀ DÂN KHU 6 ĐẤU TRANH
THI HÀNH HIỆP ĐỊNH PA-RI

Thượng tướng NGUYỄN TRỌNG XUYÊN                  

                    Nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên khu vực IV – Phan Thiết


        Sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân Việt Nam ta lại có thêm một trận tuyến đấu tranh mới với phương thức đấu tranh mới. Đó là đấu tranh thi hành Hiệp định Pa-ri.

        Hiệp định Pa-ri là kết quả và là một thắng lợi chiến lược to lớn, tạo bước ngoặt quyết định trong cuộc chiến đầy ác liệt và máu xương của quân và dân ta trên chiến trường trong gần 21 năm vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, cho Bắc - Nam liền một dải, cho non sông thu về một mối. Và đây cũng là một thất bại to lớn và nhục nhã nhất của đế quốc Mỹ xâm lược trong cuộc chiến này.

        Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, quân và dân Việt Nam đã thực hiện một cách tuyệt hảo phương châm chiến lược thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại: Đánh cho Mỹ cút. đánh cho ngụy nhào". Thi hành Hiệp định Pa-ri, buộc hơn nửa triệu quân Mỹ phải cút khỏi miền Nam nước ta, không được can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam. Quân Mỹ rút không những làm cho cán cân lực lượng nghiêng hẳn về ta, rất không có lợi cho địch, mà còn làm cho ngụy quân, ngụy quyền mất chỗ dựa sống còn vốn có xưa nay, đưa đến sự suy sụp không sao cứu vãn nổi về mặt tâm lý - tinh thần, ý chí chiến đấu và khó khăn trang bị vũ khí của chúng.

        Nhưng là tên đế quốc hùng mạnh và nham hiểm nhất, bọn xâm lược Mỹ chưa hề chịu từ bỏ mưu đồ đen tối của chúng đối với Tổ quốc Việt Nam ta. ỷ cỏ sức mạnh của một siêu cường tựa hồ không ai địch nổi, chúng tưởng chỉ tạm thời lùi một bước để rồi tiến lên phản kích, phá hiệp định, lật lại thế cờ đã mất. Đúng lời "Cà cuống chết, đít vẫn còn cay?". Nào ngờ, mưu sâu thì họa càng sâu. Bước thất bại này đã và đang đẩy chúng càng rơi nhanh vào vực thẳm thất bại càng ê chề và nhục nhã hơn.

        Tuy nhiên, dù trong tình thế nào, quân và dân Khu 6 vẫn thề luôn khắc cốt ghi xương lời dạy của Bác muôn vàn kính yêu là phải "đánh" thì nguy mới nhào chứ không phải cứ Mỹ cút thì nguy tự khắc sẽ nhào.

        Chính nhờ nghiêm chỉnh chấp hành chỉ thị và mệnh lệnh của trên, quán triệt tình hình và nhiệm vụ mới tử khi có Hiệp định Pa-ri quân và dân Khu 6 càng ý thức sâu sắc rằng, công cuộc giải phóng miền Nam vẫn sẽ còn muôn vàn hy sinh và ác liệt. Vì vậy lúc này hơn lúc nào hết càng phải quán triệt sâu sắc hơn nữa quan điểm bạo lực của Đảng, nắm vững tư tưởng tích cực tấn công bằng sức mạnh tổng hợp của hai lực lượng, hai phương thức và ba mũi giáp công. Đặc biệt là lực lượng vũ trang phải luôn chắc tay súng, không được ảo tưởng.

        Đồng thời chúng tôi cũng ý thức được rằng, Hiệp định Pa-ri là cơ sở pháp lý rất quan trọng để ta tiến hành cuộc đấu tranh trên trận tuyến mới.

        Do đó một mặt chúng tôi dựa vào các điều khoản của hiệp định để đấu tranh với địch. Đây là một cuộc đấu tranh không kém phần gay go và phức tạp một chút nào.      Đồng thời, một mặt khác có ý nghĩa quyết định nhất là phải luôn sẵn sàng và kiên quyết hành động để kịp thời đánh trả, ngăn chặn những âm mưu và hành động phá hoại hiệp định của địch. Chính vì vậy, tuy Hiệp định Pa-ri đã được ký, nhưng cuộc chiến đấu đã không chấm dứt, mà trái lại, nó vẫn và cần được tiến hành một cách kiên quyết, tích cực và khẩn trương hơn cho đến khi giành được thắng lợi hoàn toàn trong công cuộc giải phóng miền Nam.

        Với nhận thức đó, Khu 6 đã khẩn trương và kịp thời chấn chỉnh và nắm vững các lực lượng, lực lượng vũ trang, lực lượng chính trị của quần chúng, luôn sẵn sàng để kiên quyết đánh bại âm mưu "tràn ngập lãnh thổ', của địch, không những chỉ đánh lùi các cuộc tiến công lấn chiếm của chúng, mà còn tích cực và chủ động tiến công giải phóng nhiều vùng đất đai, giành dân, mở rộng vùng giải phóng, tạo thế và lực mới cho cách mạng, trước mắt là ở vùng tranh chấp. Chủ trương trên đã được các tỉnh, các đơn vị bộ đội và các huyện thực hiện một cách thật nghiêm túc và đều khắp.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Hai, 2011, 06:29:34 am

        Tranh thủ thời gian khi hiệp định chưa có hiệu lực, ta huy động tất cả lực lượng kể cả bộ đội cảnh vệ, trinh sát và cả lực lượng sản xuất, làm kinh tế, cả dân quân du kích và cả lực lượng chính trị của quần chúng, nhân lúc địch chưa kịp đề phòng, ta đồng loạt hành động thật nhanh chóng làm cho kẻ địch không kịp trở tay. Kết quả ta thu được thật bất ngờ. Khi Hiệp định có hiệu lực, trong thế bị động, quân địch cố xua quân ra hòng đánh chiếm lại những vùng đã bị mất nhưng đều bị ta đánh trả gây cho chúng nhiều thiệt hại nặng nề buộc địch phải rút quân, ta vẫn giữ được vùng mới giải phóng. Tất nhiên, ta không hề dừng lại ở kết quả đã giành được mà còn tích cực chủ động tiến lên giành thêm nhiều thắng lợi hơn nữa.

        Đi đôi với mũi tấn công quân sự, ta huy động quần chúng dựa vào tính pháp lý của Hiệp định tiến hành đấu tranh đã buộc địch phải rút lui ở một số nơi.

        Lợi dụng lúc tâm trạng địch không ổn định, ta đẩy mạnh công tác địch vận một cách thật táo bạo và mạnh mẽ với nhiều hình thức phong phú và sinh động. Đồng bào nói với binh lính nguy: "Thi hành hiệp định, quân Mỹ thua, Mỹ về nước còn các chú về đâu? Hơn nửa triệu quân Mỹ hùng mạnh như thế mà còn bị Quân Giải phóng đánh cho phải rút chạy, bỏ lại một mình các chú với thân cô thế cô phải chống lại Quân Giải phóng, chẳng khác nào "trứng chọi đá". Các chú biết thân phải liệu sớm thì Mặt trận sẽ khoan hồng. Còn nếu không cứ hùng hùng hồ hổ thì đến lúc cùng dù có hối cũng không kịp. Lúc đó chẳng ai cứu các chú đâu, vì vậy bây giờ các chú hãy tự cứu lấy mình là đúng nhất".

        Nhờ quán triệt quan điểm và đường lối của Đảng và mà còn phát triển thêm lực lượng, cả lực lượng chính trị của quần chúng và cả lực lượng vũ trang, củng cố và cải thiện được cả thế và lực của ta tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc chiến trên chiến trường cũng như cho cuộc đấu tranh của phái đoàn ta trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên ở khu vực IV - Phan Thiết.

        Dẫu đã chủ trương và hành động như vậy, nhưng chúng tôi vẫn lo vì điều kiện chiến trường xa nên chưa nhận được chỉ thị cụ thể của trên. May mà trong khi ấy chúng tôi lại nhận được thông báo của Bộ Tư lệnh Miền về kinh nghiệm của Khu 9 đấu tranh thi hành Hiệp định Pa-ri là không được ảo tưởng ôm súng ngồi chờ quân địch thi hành Hiệp định, phải tranh thủ tấn công giành thắng lợi.

        Trong khi chúng tôi đang tích cực tiến hành những phương án tác chiến và đấu tranh mới thì nhận được chỉ thị của trên điều tôi đi làm trưởng đoàn quân sự khu vực IV trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên ở Phan Thiết, gồm các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Đồng, Tuyên Đức, Bình Tuy và Quảng Đức. Chấp hành chỉ thị của trên, Thường vụ Khu ủy 6 thống nhất đề nghị để đồng chí Bùi Văn Mỹ - Phó tu lệnh đi thay tôi, còn tôi ở nhà lo chiến đấu.

        Đề nghị của Thường vụ Khu ủy 6 không được chấp nhận thế là tôi phải lên đường ra Phan Thiết với nhiệm vụ là trưởng đoàn quân sự Ban Liên hợp quân sự bốn bên ở khu vực IV. Từ đây, tôi phải đảm trách một nhiệm vụ mới với phương thức đấu tranh mới, rất mới mẻ đối với tôi.

        Đoàn khu 6 vào Phan Thiết có gần 40 người theo quy định, gồm có cán bộ tham mưu, chính trị, hậu cần, phiên dịch, cơ yếu, thông tin, điện đài và cảnh vệ. Trung tá Võ Thọ Son ở miền Bắc vào và Trung tá Đinh Sĩ Uẩn chủ nhiệm chính trị khu làm phó đoàn.

        Chúng tôi chọn một trảng trống có bố trí và thiết bị đầy đủ các tín hiệu theo quy định cho trực thăng Mỹ đáp xuống đón chúng tôi, và đồng thời cũng chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu đánh trả nếu quân địch lật lọng không đưa trực thăng đến đón mà đem bom đến đánh phá, như đã từng xảy ra ở một số nơi.

        Trước khi đi làm nhiệm vụ mới, toàn đoàn đã được quán triệt đi là vào chốn sào huyệt của địch với cuộc đấu tranh mới không kém phần gay go và quyết liệt. Vì vậy cần phải chuẩn bị sẵn sàng về các mặt, nhất là về mặt tinh thần - tư tưởng và ý chí chiến đấu, nắm chắc nội dung của Hiệp định để đấu tranh thắng lợi, cũng như độc lập chiến đấu và chiến thắng. Tôi nhấn mạnh thêm, trong cuộc đấu tranh trực diện với địch lần này, ta phải nắm vững quan điểm địch - ta rõ ràng, lập trường phải kiên định, tích cực tấn công, tư thế phải đàng hoàng chững chạc của người đang chiến thắng, còn thái độ phải lịch thiệp trong giao tiếp.
        Theo đúng hiệp đồng, Mỹ đưa bốn trực thăng đến đón đoàn chúng tôi ra Phan Thiết. Trong bốn chiếc trực thăng đó có một chiếc dành riêng cho trưởng đoàn, có một tên sĩ quan Mỹ, phó đoàn ngụy và Trung tá Võ Thọ Son phó đoàn của ta đang ngồi chờ sẵn trong đó. Lên trực thăng cùng tôi có một phiên dịch, một sĩ Quan liên lạc và bốn chiến sĩ mang theo một khẩu B40 và 3 khẩu AK để đề phòng trường hợp xấu có thể xảy ra. Tôi đã chuẩn bị sẵn một bài phát biểu để khi trực thăng đáp xuống sân bay Phan Thiết thì đọc để báo cáo với Đảng, chính quyền và nhân dân các dân tộc thuộc chiến trường Khu 6 về đoàn ta làm nhiệm vụ. Về trang phục, chúng tới mặc quân phục mùa hè miền Bắc màu xanh, áo bỏ trong quần, đội mũ cối có sao giải phóng, đi giày đen, cánh tay trái đeo băng có con.số 4 của Ban Liên hợp quân sự bốn bên.

        Khi trực thăng chở chúng tôi vừa đáp xuống sân bay Phan Thiết đã có đông đảo các nhà báo đứng xung quanh, tôi tranh thủ đọc bài phát biểu đã chuẩn bị sẵn, đồng thời anh em ta cũng kịp thời phân phát bài phát biểu ấy cho các nhà báo. Đọc xong, không đợi anh em xuống hết, tôi lên ô tô về trụ sở của đoàn tại trại Ê-sép-póc ở Phan Thiết, trong một khu cùng đoàn miền Bắc do Trung tá Tạ Viết Quý - làm trưởng đoàn.

        Đoàn tôi ở trong một khu nhà cấp bốn có hàng rào bao bọc xung quanh, cảnh vệ ta gác bên trong rào, quân cảnh nguy gác ngoài rào. Ban ngày hai đoàn ta có gì cần bàn thì qua cổng chính. Ban đêm cổng chính đóng, ta qua hàng rào đi sang với nhau một cách dễ dàng.

        Đoàn Mỹ ở khu vực IV do Đại tá Phoóc-man làm trưởng đoàn. Đoàn nguy Sài Gòn do Đại tá Nguyễn Mạnh Đĩnh làm trưởng đoàn. Đĩnh Ở tuổi 42, dân công giáo Kẻ Sặt di cư vào Nam năm 1954, là một tên chống cộng khét tiếng.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Hai, 2011, 06:30:09 am

        Bảo đảm ăn uống cho đoàn ta, Mỹ thuê một nhà thầu cung cấp cho ta lương thực, thực phẩm, củi đốt, còn việc nấu nướng thì tự lo lấy cho an toàn. Nước được chứa vào bể, thả cá sống vào để kiểm tra độ an toàn nếu cá chết phải xả bỏ hết nước ngay. Ở chân gường của mỗi người đều có một can nước 20 lít để đề phòng địch cắt nước, mới người đều có 5 cây nến để phòng khi địch cắt điện. Chúng tôi còn đục một lỗ lên trần nhà có thang leo lên leo xuống, sẵn sàng để khi có sự cố thì đưa điện đài, phương tiện tài liệu và người lên đó để liên lạc với anh Trần Văn Trà - trưởng đoàn của ta ở Ban Liên hợp trung ương và các đoàn Hung-ga-ri và Ba Lan để tới cứu. Chúng tôi còn đặt nhà thầu mua củi đun có độ dài khoảng 0,8m chắc chắn với lý do là để đun được lâu. Nhưng thực ra là để chọn những thanh củi chắc chắn để đầu giường làm vũ khí tự vệ. Trưởng đoàn ở một phòng, còn đoàn viên thì cứ hai người một phòng. Phòng ở cũng được luân chuyển luôn để đề phòng địch theo dõi, đặt máy nghe trộm. Khi bàn phương án đấu tranh, vào phòng tắm mở cho nước chảy rồi trao đổi. Sống trong sào huyệt của địch, chúng tôi buộc phải chuẩn bị mọi thứ bảo đảm luôn sẵn sàng đối phó với mọi tình huống có thể xảy ra trong bất cứ lúc nào.

        Nơi họp của bốn đoàn nguyên là một nhà thờ công giáo. Phòng họp đặt ở giữa nhà có một chiếc bàn vuông to mỗi đoàn ngồi một cạnh. Bốn góc nhà có bốn phòng dành riêng cho bốn đoàn.

        Buổi sáng họp từ 8 giờ. Sau mỗi giờ họp lại nghỉ ba mươi phút. Buổi chiều có hôm không họp.

        Trước phiên khai mạc, Ban Tổ chức đo lại các cạnh của chiếc bàn xem có bằng nhau không. Ghế ngồi của các đoàn phải giống nhau. Trưởng đoàn ngồi ghế đỏ. Ngồi bên phải tôi là đồng chí phiên dịch, bên trái tôi là phó đoàn, phía sau là năm sĩ quan, trong đó có đồng chí lo việc ghi chép, đồng chí ghi âm.

        Hôm khai mạc, các nhà báo được quay phim, chụp ảnh trong vòng mười phút rồi ra ngay, sau đó các đoàn lần lượt phát biểu theo chiều kim đồng hồ. Chủ tịch hội nghị cũng được thay phiên từng ngày. Đoàn Việt Nam dân chủ cộng hoà ngồi đối diện với Đoàn Mỹ, Đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ngồi đối diện với Đoàn nguy Sài Gòn. Khi vào phòng thì ai vào trước đứng dậy bắt tay người vào sau. Nhưng điều đó chỉ được thực hiện giữa Đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam với Đoàn Việt Nam dân chủ cộng hoà, và sau đó, đoàn Mỹ chủ động đến bắt tay hai đoàn ta trước rồi mới vào ghế ngồi. Chỉ có Đoàn Mỹ bắt tay Đoàn ngụy.

        Khi đọc diễn văn khai mạc, các trưởng đoàn đều ngồi tại chỗ. Đọc xong để bài phát biểu trên bàn. Không ai vỗ tay cho ai. Nội dung bài diễn văn chủ yếu xoay quanh danh tính của mình hứa "đem hết sức mình thực hiện hiệp định..." rồi kêu gọi các đoàn nghiêm chỉnh thực hiện hiệp định... Cuối cùng "chúc sức khỏe...".

        Lúc đầu, chúng tôi chú ý thăm dò thái độ của đối phương. Sau ba ngày họp đầu, chúng tôi đã có cơ sở để khẳng định được âm mưu và hành động của địch trong cuộc đấu tranh này như chúng tôi đã xác định lúc ra đi, là địch sẽ phá hoại hiệp định bằng mọi giá, chỉ thi hành điều mà có lợi cho chúng. Minh chứng rõ ràng là những vấn đề lớn có tính xây dựng mà ta đưa ra, đối phương không quan tâm xem xét, mà chỉ tập trung vu cáo ta nổ súng chỗ này, đánh chiếm chỗ kia, làm cho không khí hội nghị càng trở nên căng thẳng, chứ không giải quyết được vấn đề gì cả tử đó, chúng tôi tập trung vào việc vạch trần những âm mưu và hành động phá hoại hiệp định của địch.

        Thật vậy, trên bàn hội nghị, trưởng đoàn Mỹ luôn thờ ơ vẻ mặt lạnh tanh, thỉnh thoảng còn cố khiêu khích hai phái đoàn của ta.

        Không chỉ khiêu khích trên bàn hội nghị, địch còn bày bao trò lố bịch khác. Có một buổi sáng khi ngủ dậy chúng tôi thấy một tốp khoảng bốn năm mươi tên cởi trần, trên ngực, trên cánh tay có xăm những hình hài thật quái dị đang múa võ, nhào lộn bên cạnh chỗ đoàn ta ở để phô trương.

         Trong buổi họp sáng hôm ấy, khi giải lao tôi nói với Nguyễn Mạnh Định, Trưởng đoàn nguy:
       
        - Sáng nay tôi thấy quân của ngài múa võ, xem ra động tác còn vụng về lắm, so với đặc công của chúng tôi thì còn kém xa.

        Từ đó không thấy bọn đầu trâu mặt ngựa ấy xuất hiện nữa. Nhưng chúng lại bày trò bỉ ổi khác, đưa một toán con gái ăn mặc hở hang nhố nhăng đến gần chỗ đoàn ta ở ăn uống, nhảy nhót hát ca trông thật ghê tởm.

        Tôi lại nói với Nguyễn Mạnh Đình:

        - Quân đội chúng tôi, doanh trại ra doanh trại, chứ không giống như trong doanh trại quân đội của các ông lại có cảnh lố lăng như tôi vừa thấy sáng nay.

        Chúng lại dẹp cái trò ấy.

        Ngoài ra địch còn tìm mọi cách thăm dò tìm hiểu tình hình ta, như cho những tên giả danh nhà thầu đến đưa thức ăn và tên đi phun thuốc diệt muỗi, để xem xét tình hình đoàn ta.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Hai, 2011, 01:03:14 pm

        Khi Hiệp định Pa-ri có hiệu lực, Nguyễn Văn Thiệu được Mỹ tiếp tay đã trắng trợn tuyên bố chống phá hiệp định đến cùng. Chúng nêu khẩu hiệu "bốn không": không có hoà bình, không có ngừng bắn, không có giải pháp chính trị, không có tổng tuyển cử. Chúng còn ngang nhiên ra lệnh cho quân nguy thực hiện chính sách "tràn ngập lãnh thổ “, lấn chiếm vùng giải phóng của ta.

        Ngày 10 tháng 3 năm 1973, địch cho tiểu đoàn 202 bảo an ra lấn chiếm xóm Bầu. Xóm Bầu nằm ven đường số 8, cách thị xã Phan Thiết 4 cây số. Ta dùng đấu tranh chính trị để buộc địch phải lui quân, nhưng không thành. Ta lập tức tấn công tiêu diệt gọn một đại đội, bắt tù binh, thu vũ khí và bảo vệ được xóm Bầu. Bọn địch sống sót chạy thục mạng bỏ lại xác đồng bọn và số lính bị thương. Ta dùng bộ đàm báo cho phép địch đến mang xác đồng bọn và lính bị thương về.

        Hôm sau địch đưa vụ xóm Bầu ra tố cáo ta trong cuộc họp Ban Liên hợp bốn bên. Tôi trả lời ngay:

        - Xóm Bầu là thuộc vùng giải phóng của cách mạng. Các ngài xua quân đến lấn chiếm, tức là phía Sài Gòn đã trắng trợn vi phạm hiệp định. Bộ đội giải phóng đánh trả để bảo vệ chủ quyền là phù hợp với hiệp định.

        Đuối lý Trưởng đoàn nguy bèn đề nghị tổ chức điều tra xóm Bầu.

        Tôi lập tức bác ngay. Tới tuyên bố: Xóm Bầu là vùng giải phóng, bố trí mìn và phòng không rất mạnh đã không an toàn, đoàn chúng tôi không đi, Đoàn Việt Nam dân chủ cộng hoà cũng tuyên bố không đi thế là vụ xóm Bầu cho qua luôn.

        Một hôm, Đoàn nguy Sài Gòn đến họp chậm khoảng ba mươi phút. Đến giờ giải lao, Đĩnh nói với tôi:

- Thưa ngài, ngài có biết vì sao hôm nay chúng tôi đã họp chậm không.
 
Tôi chưa kịp nói thì Định nói ngay:

- Hôm nay trước khi chúng tôi đi họp, có một đoàn dài đến chỗ chúng tới đòi gặp các ngài để đấu tranh.

        Tôi nói ngay:

         - Tôi cần nới để các ngài biết, những người Việt Nam chân chính và yêu nước không bao giờ lại đi gây rắc rối với chúng tôi. Còn những người đòi gặp chúng tôi để gây rối là loại người nào, chắc ngài đã hiểu rõ hơn ai hết.

        Một lần khác Định lại nói với tôi:

        - Tôi và ngài đều có tuổi, chúng ta đều muốn đem lại hoà bình cho đất nước, cho con cháu mai sau.

        Tôi nói:

        - Chúng tôi cũng luôn mong muốn như ngài. Song vấn đề quan trọng nhất bây giờ là người Mỹ phải nhanh chóng rút khỏi miền Nam Việt Nam ta. Còn người Viết Nam với nhau, chắc chắn sẽ sớm có hoà bình.

        Một hôm địch lại vu cáo ta vi phạm hiệp định, đánh chỗ này, bắn chỗ kia ... Tôi nói luôn:

        - Chúng tôi đã báo cho phía Sài Gòn về địa điểm và thời gian đón Tổ Lâm Đồng. Tại sao các ngài không những không đến đón mà còn đưa máy bay đến bắn phá, buộc chúng tôi phải đánh trả. Tôi yêu cầu, từ nay các ngài phải chấm dứt những hành động phá hoại hiệp định để khỏi bị Quân Giải phóng đánh...

        Đến giờ giải lao, Đình gặp tôi thanh minh:

        - Thưa ngài, ngài thông cảm cho. Ngài là trưởng đoàn, đồng thời là tư lệnh, ngài ra lệnh cho đơn vị được. Còn tới là người chỉ được cử đi họp, mọi việc đều phải xin ý kiến cấp trên.

        Qua tiếp xúc càng thấy rõ hơn sự phụ thuộc của ngụy vào Mỹ. Chúng đi lại lom khom, đầu cúi thấp, đang phát biểu mà thấy sĩ quan Mỹ trừng mắt là im luôn, không dám ho he.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Hai, 2011, 01:04:46 pm

        Trong phiên họp chuẩn bị cho cuộc họp bế mạc Hội nghị bốn bên khu vực IV ở Phan Thiết, Trưởng đoàn Mỹ đề nghị, nhân dịp này "chúng ta nên đến chào các ông tỉnh trưởng các tỉnh và các ông chủ tịch mặt trận giải phóng các tỉnh trong phạm vi khu vực IV". Sau khi Trưởng đoàn Mỹ nói xong, đoàn ngụy liền phụ họa đồng ý.

        Nắm được âm mưu của chúng là đưa ta đến chào các tên tỉnh trưởng của chúng là để hạ uy thế của ta, đồng thời tổ chức cho bọn côn đồ gây rối với ta, tôi trả lời ngay:

        - Theo ý kiến của các ngài, chúng tôi thấy không cần, vì khi chúng ta đến đây có đi chào ai đâu. Vì vậy nay cũng không nên đến chào ai cả. Hơn nữa chúng tôi được lệnh phải vào Sài Gòn ngay để chuẩn bị cho hoạt động Ban Liên hợp hai bên.

        Thêm âm mưu của địch đã bị bác bỏ.

        Hôm trước phiên họp bế mạc, Đoàn Mỹ gọi điện hỏi tên họ đồng chí phiên dịch của ta. Tôi bảo hỏi lại để làm gì? Sau khi được biết Đoàn Mỹ có tặng phẩm muốn khắc tên người được tặng, tôi trao đổi với đồng chí Tạ Viết Quý là ta phải chuẩn bị. Nhưng kẹt là ta không được ra phố thì lấy đâu ra tặng phẩm. May quá, các đồng chí miền Bắc có mang vào mấy bức tranh cô gái Mèo đang xoè ô múa và thanh niên Mèo đang thổi khèn và một số bức ảnh Quân Giải phóng hành quân, ngồi nghỉ đang thổi sáo Chúng tôi lấy các bức tranh đó làm tặng phẩm.

        Phiên họp bế mạc, tôi làm chủ tịch. Đọc diễn văn bế mạc xong, tôi bèn chủ động trao luôn tặng phẩm. Đoàn nguy không có chuẩn bị, bị bất ngờ, vội ấp úng nói mấy câu vu vơ để thanh minh. Sau đó Đoàn Mỹ mới đưa mấy chiếc bật lửa Zip-pô ra tặng các trưởng đoàn và phiên dịch.

        Khi nhiệm vụ ở Ban Liên hợp bốn bên đã hoàn thành chúng tôi tổ chức một bữa cơm liên hoan, có mời một số người phục vụ cho đoàn ta. Tên đến phun thuốc diệt muỗi cũng đã dự và chủ động thú nhận với đoàn ta: "Chúng giao cho tôi dò la theo dõi các ông để hàng ngày báo cáo cho chúng. Tôi chỉ nói lung tung mà không hề nói thật!".

        Sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ ở Ban Liên hợp bốn bên, chúng tôi suy nghĩ nhiều về cách đưa đoàn ra vùng giải phóng, vì ở trong sào huyệt của địch nên việc này không dễ dàng và đơn giản chút nào, may quá, đúng vào lúc chúng tôi đang suy tính thì trên đã cử một đồng chí ra gặp chúng tôi và nói:

        - Đoàn phải về ngay Sài Gòn để chuẩn bị triển khai Ban Liên hợp quân sự hai bên. Trước khi đi cần chuẩn bị một số lương thực và những thứ cần thiết để sẵn tại trại Ê-sép-póc để khi xong việc ở Sài Gòn sẽ trở lại làm nhiệm vụ mới ở Phan Thiết. Tôi hiểu ngay đây là kế nghi binh để đoàn ta rút khỏi hang ổ của địch được an toàn.

        Thế là sau 55 ngày đêm đấu tranh trực diện với địch trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên ở khu vực IV - Phan Thiết, cuối tháng 3 năm 1973, hai phái đoàn của ta đã rút khỏi hang ổ của địch một cách an toàn về với phái đoàn quân sự Ban Liên hợp trung ương tại trại Đa-vít, sân bay Tân Sơn Nhất Sài Gòn.

        Sau khi đến Sài Gòn, tôi và một số anh em Khu 6 đi máy bay Mỹ về Lộc Ninh, rồi từ Lộc Ninh về lại Khu 6 tiếp tục chiến đấu cho đến thắng lợi cuối cùng trên chiến trường cực nam Trung Bộ.

        Phái đoàn của ta ở trại Đa-vít đã vượt qua muôn vàn thử thách đầy hiểm nguy khôn lường trong sào huyệt cuối cùng của địch, với lập trường thật kiên định, tinh thần kiên cường và chủ động sáng tạo có kế hoạch bảo vệ ta và dũng cảm đấu tranh với kẻ thù. Đã hoàn thành xuất sắc vẻ vang sứ mạng cao cả của đoàn cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975.

        Và lá cờ đầu tiên của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ngạo nghễ tung bay sớm nhất trên bầu trời Sài Gòn chính là lá cờ của đoàn ta được treo trên trại Đa- vít vào lúc 9 giờ 30 ngày 30 tháng 4 năm 1975 lịch sử ấy.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Hai, 2011, 02:17:49 pm

(http://img41.imageshack.us/img41/8518/nguyenngocdung.jpg)

THỰC HIỆN HIỆP ĐỊNH PA-RI
CHĂNG ĐƯỜNG GIAN TRUÂN

NGUYỄN NGỌC DUNG                    

            Nguyên thành viên Đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Pa-ri - Nguyên thiếu tá Quân giải phóng miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên và hai bên tại trại Đa-vít.

        Ba mươi năm đã trôi qua kể từ ngày ký kết Hiệp định Pa-ri kết thúc cuộc đàm phán gần 5 năm vì hoà bình ở Việt Nam. Hồi nhớ giai đoạn lịch sử ấy tôi luôn sống lại những cảm xúc bồi hồi về những buổi đầu ra quân, những năm dài gay go trên địa bàn hội nghị, rồi thời gian đấu tranh quyết liệt để thi hành Hiệp định Pa-ri, lòng tôi tràn ngập niềm vui xen lẫn tự hào.

        Ngày ấy, quyết định tham gia Ban Liên hợp quân sự đến với tôi thật sự bất ngờ, chỉ 24 giờ trước khi Hiệp định Pa-ri về Việt Nam được ký kết, khiến người tôi như đi trong mơ. Hai niềm phấn khởi quá lớn đến cùng một lúc.

        Cuộc đấu tranh ngoại giao của ta giành thắng lợi và bản thân tôi được vinh dự về thẳng Sài Gòn, tham gia bộ máy thực thi Hiệp định, ngay tại sào huyệt Mỹ - nguy, nơi mẹ và hai con tôi đang sống mà hơn 20 năm chưa hề gặp lại.

        Sáng ngày 27 tháng 1 năm 1973, tôi ngồi trong Hội trường Klê-béc rộng lẫy ánh đèn, trong giờ phút cử hành trọng thể lễ ký Hiệp định và đến chiều, cũng tại Klê-béc tôi tham dự phiên họp đầu tiên của Ban Liên hợp quân sự bốn bên. Công việc hai phiên họp này vô cùng quan trọng và có tầm vóc lịch sử, nhưng đầu óc tới chỉ chăm chăm suy tính đến việc phải làm gì, chuẩn bị nội dung gì để lên dường bước vào trận địa gay go mới trong lòng địch.

        Rời Pa-ri về đến Hà Nội đúng mồng 1 Tết Quý Sửu, tôi chỉ có một ngày để chuẩn bị mọi việc trước khi vào Nam nhận nhiệm vụ. Quân phục của tôi đã được quân nhu thức suốt đêm may gấp, còn đôi giày da không sao đóng kịp. Tôi đôn đảo đi tìm mượn khắp nơi, nhưng hồi ấy các chị không ai mang giày da đen cả, vì hầu hết chị em, kể cả các nữ quân nhân, chỉ đi dép nhựa có quai hậu. Đến nửa đêm, các đồng chí quân nhu đành phải đánh xe vào tận Hà Đông, tìm Đoàn văn công quân đội đang sơ tán ở trong ấy để mượn giày mặc dù bị đánh thức lúc đêm khuya, nhưng ai nấy đều vui vẻ giúp tôi chọn giày. Chị em nói: "Phải chuẩn bị cho đầy đủ tư thế trước mặt kẻ thù. Có được nữ sĩ quan đại biểu của ta đối chọi cho họ biết tay!". Tôi còn nhận thêm một khẩu súng lục và mấy chục viên đạn, những thứ này tôi chưa bao giờ đụng đến. Rồi với tư cách là sĩ quan đại biểu, với quân hàm thiếu tá thành viên Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời, tôi cùng với hơn năm mươi đồng chí trong lực lượng vũ trang giải phóng lên chiếc C.130 của Mỹ, bay vào trụ sở đoàn tại trại Đa-vít (Tân Sơn Nhất) bắt đầu nhiệm vụ mới.

        Có chi tiết đáng nói là trong bốn đoàn (Mỹ, Sài Gòn, Hà Nội và Đoàn Quân Giải phóng) thời kỳ đàm phán ở Pa-ri rồi đến Ban Liên hợp quân sự bốn bên ở Tân Sơn Nhất, chỉ duy nhất Đoàn Quân Giải phóng miền Nam là có nữ thành viên và nữ sĩ quan đại biểu.

        Công việc của tôi giai đoạn "hậu Hiệp định Pa-ri" khác hẳn với giai đoạn đàm phán. Trong khi ở Hội nghị Pa-ri ngoài việc tham dự các phiên họp hàng tuần vào thứ năm ở Hội trường Klê-béc, tôi làm thường trực "Nhóm tiếp xúc" của đoàn (mà anh Nguyễn Văn Tiến là nhóm trưởng) chuyên đi "tiếp xúc, nối mạng" với các nhân sĩ, chính khách, các tổ chức, đoàn thể, phong trào yêu chuộng hoà hình và công lý của nhân dân các nước trên thế giới, kể cả ở Mỹ. Mục đích nhằm cung cấp thông tin, vận động, thuyết phục, phân hoá, để họ ủng hộ mục tiêu đấu tranh vì độc lập dân tộc của ta và gây sức ép dư luận, cùng với ta buộc Mỹ đi vào thương lượng nghiêm chỉnh để đi đến ký kết Hiệp định. Còn lần này về Sài Gòn, là thành viên Đoàn đại diện lực lượng vũ trang giải phóng của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, tôi sẽ cùng đồng đội của hai đoàn ta trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên trực tiếp tham gia đấu tranh, buộc đối phương nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Pa-ri, nhằm phát huy những thắng lợi về chính trị và pháp lý đã được ghi trong văn bản Hiệp định.

        Theo Điều 16 của Hiệp định, Ban Liên hợp quân sự bốn bên hoạt động trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày 28 tháng 1 năm 1973, chịu trách nhiệm giám sát và thúc đấy các bên thực hiện các điều khoản về ngừng bắn, rút quân Mỹ và quân nước ngoài ra khỏi miền Nam Việt Nam; hủy bỏ tất cả các căn cứ quân sự của Mỹ; trao trả nhân viên quân sự và thường dân nước ngoài của các bên bị bắt; và giúp đỡ nhau tìm kiếm tin tức về những nhân viên quân sự và thường dân nước ngoài của các bên bị mất tích trong chiến đấu. Còn việc trao trả các nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ ở miền Nam Việt Nam sẽ do Ban Liên hợp quân sự hai bên miền Nam Việt Nam chịu trách nhiệm giải quyết trong vòng 90 ngày sau khi ngừng bắn có hiệu lực.

        Thời hạn 60 ngày đầu của Hiệp định là những ngày đấu tranh sôi động nhất, nhiều lúc rất căng thẳng, liên quan hàng loạt những vi phạm của Mỹ và Sài Gòn, nhất là về ngừng bắn.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Hai, 2011, 02:21:56 pm

        Sở dĩ có tình hình trên là vì mục tiêu chiến lược và lợi ích chủ yếu của các bên trong Hiệp định đều khác nhau, thậm chí đối nghịch nhau. Do đó, thái độ thi hành các điều khoản trong Hiệp định và mức độ chống đối, vi phạm cũng có sự khác nhau giữa Mỹ và Sài Gòn.

        - Về phía Mỹ, họ chỉ quan tâm thực hiện và ép Sài Gòn thực hiện những điều khoản nào cần thiết đến với họ, như bảo đảm an toàn cho việc rút quân Mỹ và quân đồng minh, đặc biệt nhất là việc nhận lại tù binh Mỹ sớm và an toàn. Còn đối với nhiều điều khoản khác thì Mỹ lại dung túng hoặc để mặc cho chính quyền Thiệu vi phạm Hiệp định.

        - Về phía Sài Gòn, ngay từ đầu, họ đã chủ tâm chống lại không chịu thi hành bất cứ điều khoản nào của Hiệp định. Bởi vì họ coi đó là con đường "tử địa", xoá sổ chế độ của họ. Song do bị lệ thuộc Mỹ về mọi mặt, nhất là luôn bị Mỹ đe dọa cắt viện trợ, họ miễn cưỡng thực hiện một số việc, nhưng luôn tìm cách gây khó khăn, chậm trễ, từ việc lớn đến việc nhỏ.

        - Về phía ta, việc đòi Mỹ rút quân là mối quan tâm hàng đầu, là mục tiêu cơ bản mà ta kiên trì, ưu tiên theo đuổi trong suốt quá trình đàm phán và ký kết văn bản Hiệp định. Còn đối với Mỹ, việc đưa được quân nhân bị bắt và toàn bộ lực lượng vũ trang Mỹ về nước là yêu cầu bức thiết số một của họ. Khi giải quyết tốt vấn đề này ta buộc đưa phía Mỹ phải nghiêm chỉnh thi hành Điều 5, Điều 6 của Hiệp định, chấm dứt sự có mặt về quân sự của Mỹ ở miền Nam Việt Nam.

        Điều đó lý giải phần nào tính chất gay go, quyết liệt của cuộc đấu tranh thi hành Hiệp định Pa-ri trong những tuần đầu ra quân của Ban Liên hợp quân sự bốn bên dọn đường dẫn đến giờ G lịch sử quét sạch quân Mỹ ra khỏi miền Nam "đánh cho Mỹ cút", tiền đề cực kỳ quan trọng mà toàn quân, toàn dân ta mong đợi.

        Theo Điều 16a của Hiệp định Pa-ri, hai đoàn đại biểu của ta trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên, cùng với các sĩ quan bốn đoàn ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát thực hiện việc giám sát và kiểm soát việc rút quân Mỹ và đồng minh của Mỹ. Trong suốt thời gian này, Đoàn đại biểu của Quân đội nhân dân Việt Nam và Đoàn đại biểu Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã thường xuyên có mặt trong các tổ chức liên hợp bốn bên tại các sân bay Tân sơn Nhất, Đà Nẵng, Nha Trang là ba nơi được chỉ định để rút quân Mỹ và đồng minh của Mỹ.

        Việc kiểm soát và giám sát rút quân Mỹ được thực hiện chính xác từng chi tiết về thời gian, tên người số quân hiệu, đơn vị binh chủng. Tôi còn nhớ như in, chiều ngày 27 tháng 3 năm 1973, dưới nắng chói chang, trong quân phục chỉnh tề, đại biểu bốn Tổ Liên hợp quân sự đứng tận chân máy bay. Sĩ quan đại biểu Mỹ và sĩ quan đại biểu ta cùng cầm danh sách để điểm danh. Từng sĩ quan Mỹ được gọi, bước lên cầu thang. Chiếc máy bay hôm ấy là chiếc phản lực Boeing hai tầng mới tinh, hiện đại nhất của Mỹ. Trong chuyến rút quân cuối cùng này, số quân được rút đều là sĩ quan cao cấp từ đại tá trở lên. Sau đợi rút này, xem như toàn bộ kế hoạch rút quân Mỹ và quân đồng minh của Mỹ đã được thực hiện xong. Ngày hôm sau, ngày 28 tháng 3 năm 1973, Bộ chỉ huy Mỹ đã làm lễ cuốn lá cờ sao vạch của Hoa Kỳ (đã được kẻo lên từ tháng 2 năm 1962) chấm dứt mười một năm có mặt ở miền Nam Việt Nam.

        Như vậy là sau mấy chục năm can thiệp và trực tiếp xâm lược, chiếm đóng, gieo bao đau thương tang tóc cho dân tộc Việt Nam, cuối cùng Mỹ đã phải chấp nhận thất bại trước ý chí chiến đấu kiên cường của nhân dân ta, buộc phải đặt bút ký Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam và rút quân về nước. Nhìn cảnh toán quân Mỹ cuối cùng rời khỏi Tân Sơn Nhất, tôi nhớ lại gần mười năm trước đây, quân Mỹ ồ ạt kẻo vào miền Nam nước ta mà họ cứ tưởng như vào chốn không người, không có ai và không có cách nào đánh đuổi họ đi được. (Cần nói rõ thêm, sau ngày 28 tháng 3 năm 1973, Mỹ vẫn cố tình vi phạm Hiệp định bằng cách lén lút để lại ở miền Nam Việt Nam hơn một vạn nhân viên quân sự đội lết dân sự).

        Nhiệm vụ thứ hai mà phái đoàn ta tích cực thực hiện là đấu tranh - đòi đối phương trao trả các chiến sĩ, đồng bào thân yêu đã bị bắt và giam giữ. Trong việc trao trả này, điều quan trọng nhất là phải đảm bảo nhịp độ trao trả tù binh cân bằng giữa hai bên, không để xảy ra tình trạng phía Hoa Kỳ nhận được người của họ mà phía ta lại chậm nhận được người của mình. Địa điểm trao trả tù binh ở miền Bắc là tại sân bay Gia Lâm, còn ở miền Nam nằm rải rác ở nhiều tỉnh trong vùng kiểm soát của Chính phủ Cách mạng lâm thời, có khi ở cả những điểm nằm xen kẽ giữa vùng của ta với vùng do chính quyền Sài Gòn kiểm soát. Do địa điểm trao trả ở miền Nam không cố định, thường phải di dời nhiều nơi, nên việc trao trả tù binh của các bên gặp nhiều trục trặc, gian nan. Đôi khi, trực thăng đưa đại diện bốn bên đi làm nhiệm vụ, do không tìm thấy địa điểm, đành phải quay về. Thậm chí, có lần đã xảy ra xung đột tại nơi trao trả, phía Sài Gòn gây thương tích cho thường dân, như các vụ ở xã Phổ Phong Đức Phổ, Quảng Ngãi ngày 8 tháng 3 năm 1973 đã có 25 người chết và 40 người bị thương và vụ ở Minh Hoà (Bình Long).

        Sự cố quan trọng nhất đã xảy ra trong đợt trao trả đầu tiên tại Lộc Ninh (ngày 12 tháng 2 năm 1973)- Trong lúc này, cả phía ta và phía Mỹ đều nôn nóng muốn việc trao trả quân Mỹ và quân ta đợt đầu diễn ra suôn sẻ để mở đường cho những đợt sau. Giờ quy định đã qua, từ Hà Nội điện liên tục hỏi tin để ngoài ấy mới khởi sự đợt trao trả toán tù binh phi công Mỹ đầu tiên. Nhưng chờ mãi quá hai giờ vẫn không thấy chiếc máy bay C.130 từ Biên Hoà bay đến theo kế hoạch. Hoá ra là anh em bộ đội ta bị giam giữ ở trại giam Phú Quốc, vốn là những chiến sĩ kiên cường, ưu tú của các lực lượng vũ trang ta, do thường xuyên bị bọn cai tù khủng bố tàn bạo, nên lúc nào cũng phải cảnh giác. Sau khi được tập kết về sân bay Biên Hoà, anh em chưa tin là mình được trao trả, mà vẫn còn nghi ngờ chính quyền Sài Gòn đưa đi thủ tiêu hoặc giam giữ ở nơi bí mật nào khác. Anh em kiên quyết không chịu lên máy bay đi tiếp. Trung tướng (sau này là thượng tướng) Trần Văn Trà, Trưởng đoàn đại biểu Quân Giải phóng miền Nam, đã phải cấp tốc phái sĩ quan đại biểu của ta đến Biên Hoà gặp, giải thích rõ, khẳng định với anh em ta là đã có phái đoàn đại diện vào Sài Gòn và tổ chức đón, đảm bảo cho anh em được trả tự do theo đúng tinh thần Hiệp định Pa-ri. Khi đó, mọi người mới thực sự tin và chịu lên máy bay.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Hai, 2011, 02:23:42 pm

        Đến tận bây giờ, tôi vẫn không thể nào quên được cảnh tượng diễn ra hôm ấy khi chiếc C.130 hạ cánh. Trong cát bụi, 150 chiến sĩ ta, tuy bị thương tật nhiều người phải chống nạng hoặc dìu cõng nhau, vẫn ngẩng cao đầu giữa hai hàng quân cảnh Sài Gòn lăm lăm tay súng, mặt đầy sát khí. Khi các anh ấy nhìn thấy được cờ Tổ quốc, cờ Mặt trận và đồng bào, đồng đội giăng hàng đón tiếp, anh em bất ngờ rút ra những lá cờ đỏ sao vàng và cờ đỏ nửa xanh của Chính phủ Cách mạng lâm thời, không biết giấu từ đâu ra, cùng với những dải băng khẩu hiệu cắm vào que nhỏ. Tất cả vừa đi thẳng hàng vừa giương cao băng cờ, đồng thanh hát bài "Kết đoàn" và "Vì nhân dân quên mình" xong đồng loạt cởi bỏ, liệng trả hết quần áo tù, chỉ giữ lại trên người độc chiếc quần đùi. Nghĩa cử cao đẹp bất ngờ của những quân nhân cách mạng từ chốn ngục tù trở về đã gây ngạc nhiên, xúc động và sự khâm phục đối với các thành viên ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát, phi công lái trực thăng và đồng bào vùng giải phóng Lộc Ninh có mặt hôm ấy. Các má, các chị lo khiêng cáng, phân phát quần áo, bánh trái, thuốc men, ân cần đón tiếp, mừng mừng, tủi tủi.

        Hai hôm sau đó, cũng tại sân bay Lộc Ninh, tinh thần bất khuất ấy lại được tái diễn sinh động trong cuộc đón tiếp 904 nữ chiến sĩ ta bị địch giam cầm trở về. Nhiều chị nằm trên cáng, có những đứa trẻ chạy lúp xúp bên cạnh. Được biết, các em được sinh ra trong tù vì khi mẹ các em bị bắt, các em còn trong bào thai.

        Trong nhiệm vụ trao trả người bị bắt và giam giữ, còn có một công tác quan trọng khác mà ta rất quan tâm là đấu tranh đòi đối phương đi thăm nơi giam giữ cuối cùng và gặp gỡ tù nhân trước khi họ được trao trả. Thực hiện điều này (Điều 9a Nghị định thư trao trả), các bên sẽ thỏa thuận chỉ định hai Hội chữ thập đỏ quốc gia hoặc nhiều hơn, cùng với ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát đến thăm nơi giam giữ nhân viên quân sự của các bên bị bắt. Tuy vậy phía Sài Gòn vẫn tìm cách tránh né không chịu hợp tác, viện đủ lý do để thoái thác. Hai đoàn ta phải gây sức ép, yêu cầu cả đại diện của Đoàn Mỹ và Đoàn Sài Gòn buộc tên phụ trách trại giam phải cho các Tổ Liên hợp quân sự bốn bên và ủy ban Quốc tế vào thăm trại.

        Chuyến thăm trại giam Phú Quốc (ngày 14 tháng 2 năm 1973), nơi giam giữ 40 nghìn chiến sĩ, cán bộ quân đội ta bị địch bắt giữ, đã để lại ấn tượng sâu sắc. Đây là chuyến đi Phú Quốc lần thứ ba. Hai chuyến trước, ta chỉ đến sân bay An Thôi rồi phải quay về. Lần này, ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát đi rất đông, lại có một đội vô tuyến truyền hình. Hai đoàn ta trong Tổ Liên hợp quân sự bốn bên đã phải "khẩu chiến" gay gắt gần nửa giờ với tên chúa ngục Bùi Bằng Dục, trước mặt bốn Tổ Liên hợp quân sự và bốn đại diện các nước ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát. Đến khi chống chế không được nữa, hắn mới chấp nhận. Nhưng lại nói chỉ để đoàn Liên hợp quân sự vào thăm nhà giam mà thôi, còn hắn sẽ không vào "vì còn vợ còn con nên không muốn chết". Vẻ mặt hắn hớt hải ngay trước mặt lính tráng quân cảnh của hắn đứng vòng trong vòng ngoài cho thấy hắn đang đoán giờ cuối cùng đã điểm.

        Khi vào thăm trại giam, qua tám vòng rào dây thép gai cao ba mét, chúng tôi thấy điều kiện sống của tù nhân vô cùng khắc nghiệt. Quanh trại không một bóng cây một ngọn cỏ. Dưới mái tôn, nắng nóng đổ lửa như một hầm lò. Thật khó tưởng tượng khi đã có Hiệp định Pa-ri với các điều khoản rõ ràng quy định trách nhiệm các bên mà phía Sài Gòn vẫn xem như không có Hiệp định, vẫn khủng bố, hành hạ tù nhân. Do vậy, các chiến sĩ tù nhân đã không có con đường nào khác là bất khuất chống trả quyết liệt.

        Lên trực thăng rời trại giam Phú Quốc trở về Tân Sơn Nhất, lòng chúng tôi bùi ngùi, vô cùng lo lắng cho số phận các chiến sĩ ta còn trong trại như cá năm trên thớt.         Liệu mai này, các đồng chí chúng tôi vừa được gặp có được trao trả về đủ, an toàn trong vòng tay đồng đội?

        Tôi liên tưởng đến thời kỳ cuối, khi Hội nghị Pa-ri đi vào soạn thảo văn bản Hiệp định, tôi rất nhớ ơn bạn bè quốc tế đã giúp ta cung cấp nhiều tư liệu, tiền lệ lịch sử về các cuộc trao đổi tù binh sau chiến tranh. Các bạn đã lùng sục các trung tâm lưu trữ từ Pa-ri đến Giơ-ne-vơ, Luân Đôn để giúp vào việc xây dựng tốt văn bản Hiệp định nói chung và Nghị định thư về trao trả người bị bắt nói riêng.

        Cũng không thể quên sự giúp đỡ của một phóng viên nước ngoài nhân cuộc họp báo của đoàn ta ở trại Đa-vít, đã bí mật trao danh sách tù chính trị của ta còn bị chính quyền Sài Gòn giam giữ. Đặc biệt đáng nhớ là sự đóng góp của hai anh bạn Pháp André Menras và Jean Debris vì treo cờ Mặt trận ở Sài Gòn phải chịu hai năm tù ở nhà giam Chí Hòa. Ngay đêm được trở về Pháp, cuối tháng 12 năm 1972, đã cung cấp cho thế giới những bằng chứng sống về "chuồng cọp", "những địa ngục trần gian" và trao cho ta những danh sách tù, thư tố giác của đồng đội, đồng bàn ta còn bị giam, mạng sống còn bị đe dọa. Chính những sự đóng góp quý báu ấy đã góp phần giúp chúng tôi có dữ liệu đấu tranh có hiệu quả, chống lại các thủ đoạn, hành vi đánh tráo, gian lận của Sài Gòn và cố gắng đòi và đưa được càng nhiều đồng bào, đồng đội trở về.

        Hết thời hạn 60 ngày, ngày 28 tháng 3 năm 1973; hoàn thành các nhiệm vụ rút quân Mỹ và quân đồng minh của Mỹ, trao trả nhân viên quân sự và thường dân nước ngoài của các bên bị bắt. Ngày 28 tháng 3 năm 1973, Ban Liên hợp quân sự hai bên trung ương, với sự tham gia của đại diện chính quyền Sài Gòn và Chính phủ Cách mạng lâm thời, có nhiệm vụ đảm bảo sự phối hợp hành động của hai bên miền Nam Việt Nam trong việc thực hiện các điều khoản, các vấn đề quân sự và việc trao trả các nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và số nhân viên quân sự còn lại của hai bên.

        Trong giai đoạn này, tôi vinh dự được tiếp tục tham gia Ban Liên hợp quân sự hai bên. Cục diện đấu tranh chuyển sang thế trận mới. Lần này còn căng thẳng hơn vì chính quyền Thiệu công khai tiếp tục phá hoại Hiệp định một cách có hệ thống, trong khi ấy Đoàn đại biểu Quân đội nhân dân Việt Nam đã rút về miền Bắc (rút cùng thời gian với Đoàn Mỹ căn cứ theo hiệp định).

        Nhìn lại giai đoạn lịch sử hào hùng này, tôi thấy Hiệp định Pa-ri được xây dựng rộng rãi hơn bốn năm, bằng sự hy sinh xương máu trên chiến trường hai miền Nam - Bắc, cộng với sự đấu trí quyết liệt trên bàn đàm phán và sự đoàn kết ủng hộ nhiệt tình của nhân dân thế giới, là một thành quả ngoại giao đánh - đàm xuất sắc. Chặng đường tiếp theo thực thi Hiệp định Pa-ri lại là một chặng đường khúc khuỷu, gian truân khác, đã thể hiện chiến lược chiến thuật đấu tranh chính trị, quân sự, ngoại giao tuyệt vời của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

        Đối với tôi được chứng kiến và trực tiếp góp phần nhỏ bé vào giai đoạn đấu tranh này, từ Pa-ri đến trại Đa-vít, đến ngày thắng lợi cuối cùng - đó là niềm vinh hạnh lớn lao nhất trong đời tôi.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Hai, 2011, 02:48:39 pm

(http://img46.imageshack.us/img46/288/nguyenvankha.jpg)

MỘT CUỘC ĐẤU TRANH
Ở NHÀ LAO TAM HIỆP

NGUYỄN VÀN KHẢ                  
           
        Câu chuyện này xảy ra khi phái đoàn quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam chúng tôi đang công tác ở trong trại Đa-vít giữa thành phố Sài Gòn.

        Lúc 22 giờ ngày 11 tháng 2 năm 197'3, Đại tá Trần Vĩnh Đắt, Trưởng tiểu ban trao trả của ngụy Sài Gòn gọi điện cho đồng chí Lê Trực, trưởng tiểu ban trao trả của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, báo một tin đặc biệt: "Trên 900 tù binh bên phía quý vị không chịu đi trao trả nên ngày mai không thể trao trả số người đó như đã thoả thuận của các trưởng phái đoàn trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên".

        Đồng chí Lê Trực hỏi lý do tại sao mà số người này không chịu đi trao trả, hiện đang ở trại giam nào? Trần Vĩnh Đắt trả lời rằng: "Chúng tôi chỉ được giám đốc trại giam Tam Hiệp ở Biên Hoà báo cáo như vậy, chúng tôi không hiểu tại sao? Chỉ biết rằng họ đòi được gặp đại diện của Chính phủ Cách mạng lâm thời”.

        Theo thỏa thuận của bốn trưởng phái đoàn trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên thì 8 giờ sáng ngày mai 12 tháng 2 năm 1973, cuộc trao trả đầu tiên được tiến hành. Ta trao trả trên 100 tù binh Mỹ ở sân bay Gia Lâm, 27 tên Mỹ ở sân bay Lộc Ninh và họ phải trao trả 935 người của ta bị bắt tại sân bay Lộc Ninh và ở một địa điểm tại Quảng Trị.

        Ban lãnh đạo đoàn chúng tôi liền triệu tập một cuộc họp. Mọi người tham gia thảo luận sôi nổi về sự kiện này. Cuối cùng, anh Trần Văn Trà kết luận hai khả năng: Một là địch phá hoại và hai là anh em ta không tin có việc trao trả nên đòi gặp cho được phái đoàn ta.

        Chúng ta cử một đoàn sĩ quan đến thẳng trại giam Tam Hiệp trực tiếp xem xét tại chỗ để căn cứ vào thực tiễn mà xử lý. Yêu cầu số một là phải làm cho cuộc trao trả được tiến hành theo đúng tiến trình mà các trưởng đoàn đã thoả thuận. Bất kỳ trường hợp nào cũng không được hoãn việc trao trả. Đồng thời với việc cử phái đoàn đến trại giam Tam Hiệp sáng mai, Trung tướng Trần Văn Trà trưởng đoàn quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, trưởng Ban Liên hợp quân sự bốn bên sẽ triệu tập Hội nghị các trưởng đoàn để giải quyết vấn đề này.

        Đoàn đi Tam Hiệp, tôi được cử làm trưởng đoàn. Tôi tên chính là Nguyễn Văn Khả, nhưng hồi hoạt động trong Nam với tên là Vũ Nam Bình, thường gọi là Vũ Bình. Bấy giờ tôi đang giữ chức phó trưởng tiểu ban trao trả của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Cùng đi với tôi có đồng chí Nguyễn Văn Bốn làm phó đoàn. Bên đoàn Việt Nam dân chủ cộng hoà là anh Hoàng Thương và anh Lục. Cùng đi với chúng tôi còn có một số phóng viên, báo chí, quay phim, chụp ảnh và một vài cán bộ khỏe mạnh, chắc chắn, bình tĩnh, vững vàng để hỗ trợ đoàn. Chúng tôi báo cho phái đoàn Mỹ và phái đoàn nguy cử người đi theo và đến đón đoàn vào 6 giờ sáng cùng lên Biên Hoà. Chúng tôi mang theo một ít thuốc lá Thăng Long, Điện Biên và một ít gói chè miền Bắc để có dịp thuận lợi thì tặng anh em ta ở trại giam.

        Chỉ còn hai giờ nữa là ô tô của đoàn Mỹ-nguy đón chúng tôi lên Biên Hoà. Với cương vị là trưởng đoàn, tôi nằm nghĩ miên man về cuộc xử trí ngày mai. Tôi thấy vẫn chưa có một cái gì là cái bảo bối chắc chắn nhất cho mình, tức là một "cái gậy" gì đây, một nội dung gì mà từ đấy mình có thể đối phó được với sự xảo quyệt của kẻ thù. Tôi suy nghĩ đến việc có nên báo cáo với ngoài Trung ương, đề nghị hoãn trao trả trên 100 tên Mỹ ở ngoài Bắc và 27 tên Mỹ ở Lộc Ninh để bắt chúng phải trả người của ta thì ta mới trả Mỹ hay không?...

        Xem đồng hồ đã 4 giờ rưỡi sáng, tôi mạnh dạn lên phòng anh Trà. Anh cũng chưa ngủ và anh Lê Quang Hoà cũng đang có mặt. Tôi liền báo cáo ý kiến của mình. Các anh cho gọi thêm mấy anh có liên quan đến để bàn. Sau khi bàn bạc, anh Trà kết luận là chúng ta đã báo cáo ra Trung ương cách đây trên một giờ. Bây giờ điện ra báo cáo là việc trao trả ở Hà Nội như thế nào do Trung ương quyết định, nhưng riêng 27 tù binh Mỹ được trả ở Lộc Ninh vào 9 giờ sáng nay xin được hoãn lại. Ta báo cho Mỹ biết là chúng ta tạm hoãn đến khi nào có chuyến máy bay đầu tiên chở người bị bắt của ta hạ cánh xuống sân bay Lộc Ninh, lúc ấy mới bắt đầu làm thủ tục trao trả 27 quân nhân Mỹ bị bắt...

        Vì lý do gì không rõ, bọn sĩ quan của Mỹ-nguy hơn 9 giờ mới đến đón đoàn chúng tôi lên Tam Hiệp. Đinh Công Chất, thiếu tá sĩ quan an ninh quân đội nguy và một trung tá Mỹ dẫn chúng tôi đi. Ngồi trên ô tô, mắt nhìn ra ngoài, nhưng hầu như tôi chẳng chú ý gì đến quang cảnh, vì trong đầu óc tôi đang suy nghĩ, xếp sắp những nội dung phương pháp xử trí khi đến nhà lao Tam Hiệp. Chúng ta sắp đến trại giam Tam Hiệp rồi" - Thiếu tá Chất nói với tôi như vậy!

        Nhìn ra ngoài thấy rất nhiều quân cảnh nguy, súng lăm lăm trong tay, cứ mười lăm đến hai mươi mét có một tên, tên nào ngó bộ cũng hung dữ. Tôi hỏi Thiếu tá Chất: "Họ làm cái gì đấy". Thiếu tá Chất trả lời là hình như họ bảo vệ cho cuộc trao trả hôm nay đấy! Tôi mỉm cười thốt lên: họ bảo vệ ai đấy nhỉ?

        Vào đến cổng trại giam, có khoảng một đại đội quân cảnh cùng với súng trong tay hình như họ đang phải đề phòng một chuyện gì nguy hiểm lắm? Xuống xe, Đinh Công Chất dẫn tôi vào một hội trường lớn. Có mấy sĩ quan nguy ra đón. Đinh Công Chất giới thiệu chúng tôi với một trung tá nguy, ngực gắn chữ Phong và nói đấy là giám đốc trại giam Biên Hoà.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Hai, 2011, 02:53:25 pm

        Tên Phong nói một câu bâng quơ là các ông đến xem số người của các ông không chịu đi trao trả. Tôi trả lời gì với câu nói đó?

        Tôi hỏi một câu: ở đây ai là người có trách nhiệm nói chuyện với phái đoàn của chúng tôi? Người đó phải nói với chúng tôi cho đúng đắn, rõ ràng và chính xác. Nhìn tên Phong, thấy sắc mặt có biến đổi. Tôi nói tiếp: Hôm nay là ngày các bên tiến hành trao trả người bị bắt chuyến đầu tiên. Nếu ở đây mà trở ngại việc trao trả người của chúng tôi thì ảnh hưởng đến toàn bộ việc trao trả ngày hôm nay. Chúng tới đến đây để gặp tất cả những người bị bắt của chúng tôi để hiểu rõ tại sao anh em chúng tôi theo như các ông báo cáo là không chịu đi trao trả, không chịu về với Chính phủ Cách mạng lâm thời.

        Đinh Công Chất nói với Phong là sẵn sàng trả lời những câu hỏi của Trung tá Vũ Bình để giải quyết sự việc nhanh chóng. Tên sĩ quan Mỹ đến thì thầm với Phong.

        Tôi hỏi: Tất cả số anh em của chúng tôi bị giam giữ ở nhà lao này đã được phổ biến nghị định thư trao trả chưa? Và đã phổ biến cho 935 anh em được trao trả ngày hôm nay như thế nào?

        Tên Phong lúng túng trả lời rằng: Tối hôm qua chúng tôi đã cho cán bộ tâm lý chiến xuống phổ biến về trao trả cho anh em rồi nhưng họ nhất định không đi? Họ đòi gặp các ông, tôi cũng không biết họ đòi gặp các ông để làm gì?

        Thế là dấu hiệu đầu tiên đã hé ra. Tôi xác định phải đánh một cú phủ đầu. Tôi nói to để cho tất cả số sĩ quan nguy đang ngồi ở đó cũng nghe được.

        Hôm qua, tức ngày 11 tháng 2 năm 1973, các ông mới nói đến vấn đề trao trả với anh em chúng tôi ở nhà lao này. Các ông biết không; Điều 13 của nghị định thư về việc trao trả nêu rõ rằng: trong vòng 5 ngày sau khi ký nghị định này, các bên sẽ công bố và thông báo toàn văn nghị định thư đến tất cả những người bị bắt nói trong nghị định thư này mà bên mình đang giam giữ. Ngày 27 tháng 1 năm 1973, nghị định thư trao trả đã được ký. Đây là một sự vi phạm Hiệp định Pa-ri về Việt Nam. Tôi, thay mặt phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam cùng với phái đoàn Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà nghiêm khắc lên án và cảnh cáo Ban giám đốc trại giam Tam Hiệp - Biên Hoà đã vi phạm Điều 13 của Nghị định thư trao trả".

        Bọn sĩ quan nguy ở xung quanh đó im phăng phắc. Chúng chăm chăm nhìn vào tôi. Tên Phong không nói lại một câu nào nữa.

        Tôi nêu tiếp, chúng tôi yêu cầu được gặp tất cả 935 anh em của chúng tôi mà các ông trả trong đợt này. Chúng tôi cần gặp tất cả và ở ngay tại đây. Chúng tôi sẽ phổ biến cho anh em biết nghị định thư trao trả và nói rõ về đợt trao trả này. Chỉ có làm như thế thì anh em chúng tôi mới thông suốt và lúc đó họ mới nhận đi trao trả. Bọn sĩ quan nguy nhìn nhau, chúng nhìn tên trung tá Mỹ và tên Thiếu tá Đinh Công Chất. Chúng sửng sốt trước vấn đề chúng ta đưa ra, nhất là việc ta yêu cầu gặp 935 anh em ở tại đây.

        Tên Trung tá Phong, giám đốc nhà lao Tam Hiệp hạ giọng với thái độ khẩn cầu nói: Xin trung tá và các vị cho phép chúng tôi được đưa những anh em đại diện của từng khu vực đến gấp các vị. Phong nói thêm là tất cả anh em lên đây sẽ không bảo đảm được an toàn. Anh Tư Bốn nói: Không bảo đảm an toàn cho ai? Và tại sao là không bảo đảm an toàn?

        Tên Phong tỏ vẻ nhăn nhó nói là: Anh em bên quý vị dữ lắm, nếu 900 người đến đây thì không an toàn cho chúng tôi. Anh Tư Bốn lại nói: Các ông ở đây có biết bao quân cảnh với súng ống thế kia mà sợ anh em của chúng tôi à!

        Tên giám đốc trại giam năn nỉ rằng: Anh em bên phía quý vị họ căm thù chúng tôi lắm, số quân cảnh ở đây vẫn không bảo đảm, họ có thể nhảy vào cướp súng mà bắn chúng tôi. Xin các vị thông cảm cho chúng tôi.

        Trao đổi với anh Tư Bốn, anh Hoàng Thương và anh Lục xong, tới hỏi: "Những người mà các ông gọi là đại diện của từng khu vực là người các ông cử ra hay là do anh em chúng tôi cử ra". Tên Phong trả lời ngay: Thưa, đúng là người của anh em cử ra chứ không phải chúng tôi cử.

        Chưa thể tin các ông được - tôi nêu ra hai vấn đề sau đây: Nếu tôi phát hiện một vấn đề nàn dù là nhỏ nhất không phải là người của anh em chúng tôi cử ra thì tôi sẽ hủy bỏ cuộc gặp, lúc đó các ông phải đế chúng tôi gặp tất cả 935 người. Nếu không gặp được 935 người, tức là không có việc trao trả hôm nay. Và như vậy, cũng sẽ không có việc trao trả 27 quân nhân Mỹ ở Lộc Ninh hôm nay.

        Nhìn sang phía sĩ quan Mỹ và sĩ quan nguy trong đoàn trao trả, tôi hỏi: "Các ông có đồng ý với ý kiến của chúng tôi không"? Họ không dám trả lời và nhìn vào Phong, giám đốc trại giam. Phong nói rằng: Nếu những người đại diện không đúng là những người do anh em cử ra, chúng tôi sẽ thực hiện theo ý kiến của các vị …

        Chúng tôi chờ anh em ta tới... Nhìn từ xa xa, thấy anh em ta thân hình gầy còm, đi chậm chạp, có người đi khập khiễng. Chúng tôi quan sát rất kỹ anh em ta để tìm ra một điều gì là người của ta hay của địch. Khi anh em gần tới anh Tư Bốn, anh Hoàng Thương và các đồng chí đưa tay ra nhưng anh em không bắt tay, tình hình khá căng thẳng, qua ánh mắt và nét mặt thấy toát lên là những con người kiên cường mãnh liệt.

        Chúng tôi rất xúc động nhưng cũng suy nghĩ ngay đây là người của ta, đồng thời cũng phán đoán là anh em còn ấp ủ một điều gì đó đang chờ cơ hội để bộc lộ. Cũng có thể là anh em chưa tin chúng tôi là phái đoàn của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Việt Nam dân chủ cộng hoà.

        Sau khi giới thiệu vài nét tóm tắt về đoàn của chúng tôi, tôi đi thẳng vào một câu hỏi đã được tính toán kỹ. Tôi nói: Tôi hỏi các đồng chí, chỉ một câu thôi, nếu có, các đồng chí nói là có, nếu không, nói là không, không cần nói thêm một ý nào nữa. Mười hai anh em nhìn thẳng vào tôi tôi hỏi: "Các đồng chí đã được phổ biến nghị định thư trao trả chưa ?" Vừa dứt lời tất cả 12 đồng chí đồng thanh nói không có. Thật là tuyệt vời, các đồng chí của ta đây rồi. Một đồng chí giơ tay lên và xin có ý kiến. Tôi mời đồng chí đó nói. Đồng chí nói rằng: Khoảng vài tuần nay, chúng tôi có nghe một vài sĩ quan ở trại giam này nói chuyện với nhau về Nghị định Pa-ri gì đó. Hoàn toàn không có ai phổ biến về trao trả, về hiệp định. Chúng tôi yêu cầu phái đoàn phổ biến cho chúng tôi biết về Hiệp định Pa-ri.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Hai, 2011, 02:54:00 pm

        Thế là rõ, đây chính là các đồng chí của ta, những đồng chí kiên cường, bất khuất. Ngừng một phút, nén xúc động.

       Tôi nói ngay hai điều với 12 đồng chí:

        - Điều thứ nhất là hôm qua Ban giám đốc trại giam này báo cáo lên với các phái đoàn Liên hợp quân sự rằng anh em không chịu đi trao trả, không chịu về với cách mạng Trung tướng Trần Văn Trà, Thiếu tướng Lê Quang Hoà và các sĩ quan hai phái đoàn chúng tôi không tin điều đó. Nay xuống đây, chúng tôi hỏi giám đốc trại giam thì được trả lời là tối hôm qua mới cho cán bộ tâm lý chiến xuống nới về trao trả. Như vậy Ban giám đốc trại giam này đã vi phạm Hiệp định Pa-ri. Từ khi ký nghị định thư đến nay là đã qua 16 ngày mà họ không phổ biến nghị định thư trao trả đến các đồng chí. Tôi thay mặt hai phái đoàn của ta trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên lên án và cảnh cáo Ban giám đốc nhà lao này về việc vi phạm đó.

        - Điều thứ hai, là tôi rất xúc động và thông cảm với các đồng chí. Chính là các đồng chí không tin về cuộc trao trả này nên mới đòi được gặp phái đoàn của ta. Không tin vào việc trao trả, không phải lỗi của các đồng chí mà đây là một sự cảnh giác cần thiết. Chính là do kẻ thù đã từng lừa dối các đồng chí. Có trường hợp họ nói cho người này người kia chuyển trại nhưng là đi thủ tiêu. Các đồng chí đã rất vững vàng và tỉnh táo. Chúng tôi hoan nghênh các đồng chí. Nói đến đây tôi thấy nét mặt của anh em phấn khởi hẳn lên. Các đồng chí trong hai đoàn của chúng tôi cũng rất vui. Thuốc lá Thăng Long, Điện Biên và chè Ba Đình được anh Hoàng Thương, anh Tư Bốn đưa tặng các đồng chí. Đây là món quà của miền Bắc, của cả nước tặng các đồng chí. Các phóng viên quay phim, chụp ảnh, báo chí hoạt động chụp, quay ghi hình liên tục...

        Đến đây tôi thấy phải bắt đầu làm một việc quan trọng đó là phổ biến nghi đinh thư trao trả cho 12 đồng chí. Tôi ngoảnh lại nói với các sĩ quan Mỹ - nguy rằng: Các ông không phổ biến nghị định thư cho anh em của chúng tôi, nên tôi phải phổ biến tại đây. Nếu những người này thông suốt và cả 12 đồng chí của chúng tôi mang theo những nghị định thư về báo lại với anh em ở trại thì mọi người mới đi trao trả.

        Tên giám đốc trại giam không muốn tôi phổ biến tại đây trước mấy chục sĩ quan nguy và hàng trăm lính quân cảnh Chúng chỉ muốn anh em về nới lại như tôi đã nói là đủ. Nhưng không dừng lại ở đây được, tôi nghĩ bụng, ta phải tấn công tiếp. Tôi cầm quyển Nghị định thư và đọc rõ ràng dõng dạc, dừng lại từng chỗ cần thiết nói rõ thêm. Bọn sĩ quan Mỹ - nguy rất sốt ruột nhưng chúng phải ngồi im để nghe. Hàng trăm lính quân cảnh lúc này ngồi cả xuống, lắng nghe gần như không nhúc nhích.

        Tôi nhấn mạnh điều Nghị định thư quy định phải trao trả hết những người bị bắt, không được từ chối, không được trì hoãn với bất cứ lý do gì, đặc biệt làm nổi bật về những người bị bắt phải được đối xử nhân đạo. Họ được bảo vệ và chống lại mọi hoạt động bạo lực xúc phạm đến tính mệnh và thân thể, nhất là việc giết hại họ bằng mọi hình thức, việc làm cho họ bị tàn phế, việc tra tấn nhục hình và mọi hành động xúc phạm đến nhân cách phẩm giá con người. Họ phải được ăn, mặc, ở đầy đủ và được chăm sóc về y tế theo nhu cầu của tình hình sức khỏe.

        Cả mười hai đồng chí nhìn tôi, nhìn mọi người trong hai phái đoàn ta với tình đồng chí rất thân thương. Dõi theo nội dung trình bày của tôi, các đồng chí phấn khởi khi thấy ta thắng lợi, địch thua to, và phải trao trả hết những người bị bắt. Nhưng khi tôi nói đến các bên phải đối xử nhân đạo với người bị bắt thì các đồng chí biểu hiện sự phẫn uất căm thù đối với kẻ địch.

        Như dồn nén bấy lâu nay, tôi vừa dứt lời và phát nghị định thư trao trả cho anh em thì hàng chục cánh tay giơ lên và xin phát biểu ý kiến. Gần như đồng chí nào cũng phát biểu, các đồng chí vạch mặt kẻ thù, lên án kẻ thù một cách rất sâu sắc, với một thái độ rất căm phẫn, đồng thời đề nghị một số ý kiến, có thể nói là làm cho kẻ thù phải hoảng sợ, phải nhục nhã; có tên không dám ngẩng mặt lên.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Hai, 2011, 02:55:26 pm

        Đại ý có những nội dung các đồng chí phát biểu như sau:

        - Chúng tôi không đi trao trả hôm nay mà đòi gặp được phái đoàn của chúng tôi là vì chúng tôi không tin các ông. Các ông lừa dối chúng tôi nhiều lần lắm rồi nên hoàn toàn không tin được.

        - Chúng tôi đồng ý đi trao trả, càng nhanh càng tốt, nhưng phải trả gọn từng trại, không được chọn nhặt lẻ tẻ; những người ốm nặng phải được trả trước.

        - Từ trong trại ra đến xe ô tô, chúng tôi không cần các ông cáng hoặc dìu anh em chúng tôi. Việc đó chúng tôi tự làm: Ai còn hai chân giúp người một chân, ai còn hai tay giúp người một tay, ai còn cả hai chân hai tay thì khiêng cõng người ốm. Cả thời gian giam giữ, các ông hành hạ chúng tôi, bây giờ làm ra vẻ nhân đạo lắm!

        - Những quần áo mới mà các ông phát, chúng tôi không thèm mặc, ăn mặc rách rưới, hôi hám, bẩn thỉu suốt cả quá trình chúng tôi bị giam; nay khoác áo mới cho chúng tôi để biểu thị là mình tốt... Thôi, hãy bỏ cái kiểu ấy đi.

        - Chúng tôi yêu cầu những xe ô tô đưa chúng tôi ra sân bay không được cắm cờ "ba que" hoặc có sơn cờ "ba que".

        Bọn sĩ quan nguy ngồi tím mặt, một số tên nhìn trừng trừng vào anh em ta, nhưng một số tên mặt cúi gầm.

        Tôi quay lại nói với bọn sĩ quan nguy rằng: Các vị có ý kiến gì về những đề nghị của các đồng chí chúng tôi không?

        Tên Phong nói xin chấp nhận những ý kiến đó. Những lá cờ cắm từ trước, nếu các ông không muốn thì chúng tôi cất đi.

        Đinh Công Chất có ý kiến là: Nếu các vị không chấp nhận quần áo thì thôi, nhưng tôi đề nghị với Trung tá Vũ Bình là bên phía trung tá cũng đừng phát quần án mới cho người bị bắt của chúng tôi.


        Tôi liền trả lời Đinh Công Chất rằng: Việc không nhận quần áo mới, không đi xe ô tô có cờ "ba que", không yêu cầu cáng hoặc dìu các người bị thương, bị ốm là do chính những người bị các ông giam giữ và đối xử với họ nên họ đề nghị như vậy. Còn số tù binh mà chúng tôi bắt giam giữ, tôi tin chắc rằng họ sẽ phấn khởi nhận những bộ quần áo của cách mạng để làm kỷ niệm. Tại sao ông Chất lại thay họ để đề đạt ý kiến đó?

        Lại một đồng chí nữa đứng lên dõng dạc nói to: Tôi xin được nói thẳng với các vị phụ trách trại giam này rằng: Các vị đừng có gài những tên phản động trà trộn trong số trao trả về vùng giải phóng của chúng tôi. Các vị cố tình gài thì chúng tôi sẽ xử trí ngay trước khi xuống đất vùng giải phóng của cách mạng.

        Tên Phong đứng lên nói là chúng không dám làm điều đó.

        Tôi thấy cuộc gặp gỡ đã đến lúc kết thúc được rồi. Lúc này là 14 giờ ngày 12 tháng 2 năm 1973, nếu khẩn trương thì có thể trao trả được 1 đến 2 chuyến máy bay lên Lộc Ninh. Cả hai phái đoàn chúng tôi đứng xen lẫn với 12 anh em để chụp ảnh và quay phim. Chúng tôi ôm nhau mà nước mắt cứ trào ra. Thương các đồng chí ta quá chừng, rất phục tinh thần chiến đấu của các đồng chí ta, một đồng chí ghé tai tôi và nói: Chụp ảnh quay phim như thế này là bảo đảm lắm rồi, kẻ thù ức lắm nhưng không dám thủ tiêu chúng tôi đâu.

         Tất cả mọi người trong hai phái đoàn của ta đều lên máy bay với trên 100 anh em trao trả chuyến đầu tiên để xuống sân bay Lộc Ninh. Ngồi trên máy bay C. 130, anh em hát vang những bài ca cách mạng.

N.V.K             


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Hai, 2011, 04:15:38 pm

(http://img209.imageshack.us/img209/4544/09sanbaybienhoavaothoid.jpg)
Sân bay Biên Hòa tại thời điểm xảy ra vụ Tam Hiệp


(http://img28.imageshack.us/img28/553/10nhatutanhiep1973.jpg)
Nhà tù Tam Hiệp năm 1973



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Hai, 2011, 04:18:35 pm

(http://img694.imageshack.us/img694/4223/11nhatutanhiep19732.jpg)
Nhà tù Tam Hiệp năm 1973


(http://img831.imageshack.us/img831/359/12nhatutanhiep19733.jpg)
Nhà tù Tam Hiệp năm 1973


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Hai, 2011, 04:26:15 pm

(http://img534.imageshack.us/img534/4632/13cuocgapgiuatubinhvoib.jpg)
Cuộc gặp giữa tù binh với Ban liên hợp Quân sự 4 bên tại nhà tù Tam Hiệp

(http://img96.imageshack.us/img96/7646/14nhatutanhiepngaynay.jpg)
Chứng tích nhà tù Tam Hiệp ngày nay



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Hai, 2011, 04:33:29 pm

(http://img17.imageshack.us/img17/6540/16daituongniemnhatutanh.jpg)
Đài tưởng niệm nhà tù Tam Hiệp

(http://img718.imageshack.us/img718/2720/15daituongniemnhatutanh.jpg)
Đài tưởng niệm nhà tù Tam Hiệp




Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Hai, 2011, 09:41:54 pm
(http://)

CHUYẾN ĐI KIỂM SOÁT HOA KỲ
VÀ CHƯ HẦU RÚT QUÂN
Phú Thành                    
           
         Từ trước đến nay phía Hoa Kỳ vẫn tìm mọi cách từ chối không để Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát và Ủy ban Liên hợp quân sự bốn bên đến kiểm soát việc rút quân của họ.

        Trước sự đấu tranh của các đoàn đại biểu quân sự ta và sự lên án của dư luận thế giới, mới đây phía Hoa Kỳ đã phải chấp nhận thực hiện đúng như quy định của Hiệp định Pa-ri.

        Ngày 14 tháng 3, lúc 16 giờ (giờ địa phương), tại sân bay Tân Sơn Nhất, Tổ Liên hợp quân sự bốn bên đã tiến hành kiểm tra việc Hoa Kỳ rút 90 nhân viên, trong đó có 72 là nhân viên quân sự.

        7 giờ trước đó, một Tổ Liên hợp quân sự bốn bên nữa đã đáp máy bay từ Sài Gòn đi kiểm soát việc rút quân của Hoa Kỳ và đồng minh tại hai địa điểm khác. Chiếc máy bay H21, sơn màu đen, 8 chỗ ngồi, chở các sĩ quan thuộc Tổ Liên hợp quân sự bốn bên cất cánh từ Sài Gòn lúc 9 giờ 40 phút và đến Nha Trang sau 70 phút bay. Phía Hoa Kỳ báo cáo là có 185 lính Pắc Chung Hy từ binh nhì đến trung tá rút về nước, hiện một số đã lên chiếc máy bay Boeing 707 bốn động cơ. Và họ cũng đã buộc phải đế Tổ Liên hợp quân sự bốn bên và Tố Quốc tế lên máy bay kiểm soát số quân và hành lý.

        Tên trung tá đội quân đánh thuê báo cáo số nhân viên quân sự này là bộ phận cuối cùng của sư đoàn 9 - tức sư đoàn ngựa trắng" Pắc Chung Hy hoạt động Ở các vùng Bình Định, Khánh Hoà, An Khê. Trong số chúng có đứa đã sang Việt Nam gần 5 năm, cũng có đứa mới sang được 5 tháng.

        Các sĩ quan của Chính phủ Cách mạng lâm thời và Việt Nam dân chủ cộng hoà hỏi chuyện tên chỉ huy... trong khi nhóm lính Pắc Chung Hy tranh nhau xin thuốc lá Hà Nội".

        Phát hiện thấy không có trang bị vũ khí trên máy bay, các sĩ quan ta, buộc Hoa Kỳ phải xuất trình bản kê khai. Họ lúng túng, nấn ná mãi đến 20 phút mới đưa ra một bản kê khai gồm có: 3 súng M16, 78 súng các bian, 22 súng ngắn. Các sĩ quan ta vạch ra rằng số vũ khí này chẳng những đã quá ít so với con số 185 nhân viên quân sự, hơn nữa, đây cũng chỉ là "súng ghi trên giấy" vì phía Hoa Kỳ không chịu để ta kiểm soát tại chỗ, ấp úng nói rằng số vũ khí đó "đã đóng thùng rồi".

        Phía Hoa Kỳ buộc phải ghi vào biên bản sự việc trên đây.

        Buổi chiều, Tổ Liên hợp quân sự lại tiếp tục bay ra Đà Năng, một trung tá của Đoàn Hung-ga-ri, một đại úy của Đoàn Ca-na-đa, một trung úy của Đoàn ln-đô-nê-xi-a cùng viên trung tá Mỹ tên là Rốp-xơn phụ trách đưa quân Mỹ về nước chuyến máy bay này, đã ra đón các sĩ quan bốn bên.

        15 giờ 58 phút, 165 quân nhân Mỹ, trong đó người cấp bậc cao nhất là đại tá bắt đầu xếp hàng một lên chiếc máy bay Boeing 727, mang số 381.

        Phía Hoa Kỳ nộp bản danh sách. Ta đòi họ phải để kiểm tra tại chỗ. Họ xin sau 20 phút trả lời, sau đó, đã buộc phải để các sĩ quan trong Tổ Liên hợp quân sự bốn bên lên máy bay. Ta lại phát hiện thấy số nhân viên quân sự này không mang theo trang bị và đã đòi phía Hoa Kỳ và quân đội Sài Gòn phải ký vào biên bản ghi nhận là "không mang theo vũ khí nào cả", "vi phạm Hiệp định Pa-ri". Sĩ quan Hoa Kỳ luống cuống ra mặt. Họ đề nghị chỉ ghi sự việc "không mang theo vũ khí" và nói loanh quanh là trang bị của số quân nhân trên "'đã được đóng vào hòm", sau đó lại nói "đã được chở bằng tàu biển về trước rồi".

        Các sĩ quan ta chợt phát hiện thấy gần đó có 1 chiếc C 130, ta hỏi: viên trung tá Mỹ nói là trên đó có 12 sĩ quan không quân đi sang Na-khan - Pa-son. Ta lại hỏi: số đó có nằm trong danh sách rút quân không? Tại sao không để kiểm tra? Viên trung tá Hoa Kỳ đề nghị chờ 10 phút để thỉnh thị về Sài Gòn. Cuối cùng phía Hoa Kỳ lại buộc phải để các sĩ quan ta lên kiểm soát trên máy bay.

P.T.            


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Hai, 2011, 09:55:57 pm

(http://img718.imageshack.us/img718/8829/19linhmyvenuoc5.jpg)
Hoa kỳ rút quân


(http://img809.imageshack.us/img809/3884/18linhmyvenuoc1.jpg)
Hoa kỳ rút quân dưới sự kiểm soát và giám sát và Ủy ban Liên hợp quân sự bốn bên


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Hai, 2011, 10:19:44 pm

(http://img717.imageshack.us/img717/8384/20linhmyvenuoc.jpg)
Hoa kỳ rút quân dưới sự kiểm soát và giám sát và Ủy ban Liên hợp quân sự bốn bên


(http://img692.imageshack.us/img692/5996/21diemdanhtungtenxamluo.jpg)
Điểm danh từng tên xâm lược rút về nước


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Hai, 2011, 10:19:56 pm
MỘT ĐỢT TRAO TRẢ

PHẠM HỒNG                      

            Nguyên sĩ quan Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam.

         Sân bay Lộc Ninh, giữa vùng giải phóng miền Nam đã trải qua mấy ngày sôi nổi. Cuộc trao trả của 3 bên Hoa Kỳ, Việt Nam cộng hoà và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã đồng thời diễn ra trên đường băng này.

        Trời nắng to. Mặt trời Lộc Ninh soi rõ từng lá cây ngọn cỏ, mặc dù thỉnh thoảng những chiếc máy bay C 130 ầm ĩ lao xuống đường băng, cuốn theo những đám bụi mù.

        Các đồng chí sĩ quan Hung-ga-ri (trong Tổ Quốc tế dự cuộc trao trả) người ướt đầm mồ hôi tươi cười nói với tôi: - Mấy hôm nay chúng tôi vất vả thật, nhưng thấy được nhiều vấn đề rất quý báu.

        Từ chiều 12 tháng 2 năm 1973, cuộc trao trả bắt đầu. Mỗi ngày có từ 6 đến 8 chuyến máy bay vận tải cỡ lớn đến sân bay.Mọi sự việc diễn ra trước con mắt theo dõi của các sĩ quan Ba Lan, Hung-ga-ri, Ca-na-đa, In-đô-nê-xi-a trong Tổ Quốc tế, các sĩ quan Quân Giải phóng Chính phủ Cách mạng lâm thời, các sĩ quan Quân đội nhân dân Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà, các sĩ quan Hoa Kỳ và Việt Nam cộng hoà trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên.
    
NHỮNG NGƯỜI MỸ ĐƯỢC TRẢ TỰ DO

        Trong ngày 12 tháng 2 năm 1973, có 27 nhân viên quân sự và dân sự Hoa Kỳ được trả tự do. Ba Ker, một phi công Mỹ trước kia lái máy bay thám thính OVIO, nay mặc bộ quần áo bà ba bằng vải phin màu xanh biển nhạt nét mặt tươi cười: "Xin cảm ơn tất cả về tấm lòng rộng lượng". Người Mỹ đó reo lên, tay vẫy vẫy các chiến sĩ Quân Giải phóng. Có một quân nhân Mỹ khác, vết thương chưa khỏi hẳn nhưng da dẻ hồng hào, 8 tháng sống trong vùng giải phóng của ta, anh đã được cung cấp nhiều thứ thuốc men. Một đại úy Mỹ chỉ một bác sĩ Quân Giải phóng nói: "Nhờ ông giải phóng kia không thì tôi chết rồi". Đặc biệt có 4 quân nhân Mỹ, năm trước bị Quân Giải phóng bắt sống tại sân bay Lộc Ninh này, đi đi lại lại bên đường băng nói: trái đất là tròn. Chúng tôi đã bị bắt ở đây, và bây giờ được trao trả cũng chính nơi đây".

        Tất cả 27 người Mỹ, nhân viên quân sự và dân sự, đều tỏ ra rất xúc động. Họ bộc lộ lòng biết ơn đối với Quân Giải phóng và tỏ rõ mềm vui được trở về nước, thoát khỏi một cuộc chiến tranh chẳng được ai hoan nghênh.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Hai, 2011, 10:52:21 pm
  
NHỮNG SĨ QUAN VÀ BINH LÍNH SÀI GÒN

        Đi cùng hướng với những người Mỹ này là những sĩ quan và binh lính Sài Gòn bị bắt trong các trận chiến đấu Nét mặt của họ kín đáo hơn những người Mỹ - Hai hàng quân cảnh Sài Gòn kèm họ lên máy bay. Họ mặc những bộ đồng phục màu xanh lá cây non của Chính phủ Cách mạng lâm thời cấp cho. Họ đã được đối xử với tinh thần nhân đạo.

        Vị đại úy In-đô-nê-xi-a nọ lại có nhận xét: "Sao trông cái đám người này kém linh hoạt thế. Hình như họ chẳng hiểu biết chính trị gì cả".

        - Họ đã phát biểu ý kiến trước khi rời trại giam rồi. Bây giờ là lúc họ phải giữ mồm, giữ miệng.

        Anh Sáu Văn, cán bộ ở một trại giam trả lời viên đại úy In-đô-nê-xi-a và kể lại câu nói của anh lính Sài Gòn Nguyên Tấn trước khi ra sân bay. Tấn nói: "Chúng tôi vui được trở về với gia đình. Nhưng cái vui lớn của chúng tôi là đến giờ đây chúng tôi đã thấy rõ ràng đâu là lẽ phải, đâu là chính nghĩa, là nhân đạo. Chúng tôi ra về nhưng để cả tấm lòng lại đây với cách mạng".
  
NHỮNG NGƯỜI CỦA CHÚNG TA

        Giữa hai hàng quân cảnh Sài Gòn súng cầm tay lăm lăm, những người của ta bị chính quyền Sài Gòn tra tấn thành tàn phế, ốm yếu dìu nhau từ trên máy bay bước xuống.

        Anh em ta hô to những khẩu hiệu:

       - Vì Tế quốc, vì nhân dân, sẵn sàng hy sinh tất cả.

       - Hoan hô Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam.

       - Không có gì quý hơn độc lập tự do.

        Các thủ tục trao trả làm xong, sau khi mặc bộ quần áo mới của cách mạng, anh em ta tự động tập hợp cạnh sân bay. Sĩ quan các nước kéo đến gần, vừa theo dõi, vừa tò mò. Anh em ta đứng nghiêm chào cờ. Rồi cúi đầu mặc niệm những đồng chí đã anh dũng hy sinh trong các trại giam của nhà cầm quyền Sài Gòn. Trước cảnh này, các sĩ quan Sài Gòn lủi mất.

        Anh em nhà lao Phú Quốc cho biết, giữa ngày mùng 3 Tết vừa rồi, sau khi có hiệp định chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam, bọn sĩ quan Sài Gòn ra lệnh xả súng vào trại giam, giết nhiều anh em ta. Ở Phú Quốc chúng nó đã cưa tay, cưa chân anh em tuỳ thích, chúng nó muốn lấy máu anh em cho vàn bình đem bán và nộp lên cấp trên. Chúng nó còn kéo bọn Hoa Kỳ,. Nam Triều Tiên đến thử thuốc độc, thuốc thí nghiệm trên thân thể anh em ta.

        Trước khí thế cách mạng của anh em ta trên sân bay hôm nay, một đại úy In-đô-nê-xi-a đã nói với đại úy Lê Thanh Văn, sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam: "Xin chân thành nói với ông rằng tôi hết sức khâm phục tinh thần dũng cảm bất khuất của những con người đó. Mặc dầu bị đọa đầy, nhưng hôm nay, ở đây họ đã tỏ cho mọi người thấy rằng họ vững vàng đến thế nàn...".

        Đó là những người chiến thắng trở về.

P.H.            


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2011, 08:54:36 pm
NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG
CÁC PHÁI ĐOÀN TRẠI ĐA VÍT  
SẮP TRỞ THÀNH
ĐƠN VỊ ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: bob trong 30 Tháng Mười, 2011, 10:00:27 am
NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG
CÁC PHÁI ĐOÀN TRẠI ĐA VÍT  
SẮP TRỞ THÀNH
ĐƠN VỊ ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG
_ Nếu đúng như thông tin bác giangtvx đã thông báo trên bob tui cũng vui lây. Nhiệt liêt chúc mừng các phái đoàn, các anh các chị đã sống và làm việc trong trại Đa vit. Nếu anh chị nào trong đoàn còn sống cho phép bob gửi lời chúc sức khỏe và hạnh phúc. Tin chắc anh, chị nào có mặt ở trại sẽ không thể nào quên ngày 30/4/1975. Niềm vui vỡ òa trong nước mắt...các anh ôm chầm chúng tôi tình cảm ấy truyền qua chúng tôi, bob thấy mắt các anh rơm rớm  mà ánh lên niềm vui khó tả... Rồi các anh cho người khuân cơ man nào thuốc lá Điện biên, nước ngọt Hà nội, cả bia trúc bạch nữa...Có anh còn tâm sự với bob: "Chúng tôi bị chúng "giam lỏng" ở đây từ đầu năm 73 tới giờ, sáng nào cũng nghe tụi lính dù nó chửi... mỗi buổi sáng sớm tụi nó tập thể dục là nghe chúng hô khẩu hiệu tập thể: "Đả đảo CS"...Nhức cả tai. Xung quanh trại, chúng bố trí các ụ súng đại liên chĩa nòng súng đen ngòm vào trại. Các anh đã bị tra tấn về tinh thần ghê gớm, chỉ nói về sự chịu đựng ấy để hoàn thành nhiệm vụ , các anh cũng xứng đáng là những anh hùng. Một lần nữa bob chân thành chúc mừng các anh, các phái đoàn. (bob nguyên là chính trị viên C11,D6,E24,F10, QĐ3. đơn vị đầu tiên liên lạc được với phái đoàn ta ở trại Đa vit sáng 30/4/1975)     


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: vietcong91 trong 30 Tháng Mười Hai, 2011, 09:15:52 pm
Em không hiểu tại sao sau năm 1973, lãnh đạo đảng ta không rút toàn bộ các bác cán bộ về, mà lại để trong hang hùm vậy  ???


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: bob trong 03 Tháng Giêng, 2012, 08:41:14 am
Em không hiểu tại sao sau năm 1973, lãnh đạo đảng ta không rút toàn bộ các bác cán bộ về, mà lại để trong hang hùm vậy  ???
Phái đoàn liên hợp quân sự của ta (VNDCCH & CMLTCHMNVN) ở Sài gòn (1973 theo thoả thuận tại hội nghị Pa ri), nhằm giám sát việc thực thi hiệp định giữa các bên liên quan trong cuộc chiến tranh VN. Nhưng phía VNCH với ý đồ phá hoại hiệp định, nên họ đã bố trí ở trại Đa vít nhằm khống chế và gây rất nhiều khó khăn cho phái đoàn của ta. bob tui được các anh trong đoàn kể lại như trên... Nhưng trong hoàn cảnh ở "hang hùm" căng thẳng như vậy các phái đoàn của ta đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Thật đáng kính nể.
 -bạn đọc bài của bác Giangtvx@ sẽ rõ.
   


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Hai, 2012, 09:57:11 pm
NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG
CÁC PHÁI ĐOÀN TRẠI ĐA VÍT  
ĐÃ ĐƯỢC CÔNG NHẬN LÀ
ĐƠN VỊ ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Hai, 2012, 08:23:49 pm
(http://)

TẾT - GHI ĐƯỢC Ở SÀI GÒN

TRẦN DUY HÌNH                      

            Nguyên sĩ quan Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà.        

        Tôi đến Sài Gòn vào một ngày giáp Tết Quý Sửu năm 1973. Đã cuối đông mà ở đây vẫn nóng như đang còn giữa hạ. Cát bay bụi mù. Nắng như đổ lửa. Tiếng gầm rú của máy bay Mỹ đinh tai nhức óc suất 24 tiếng đồng hồ. Ngột ngạt quá.

        Tôi nhớ mãi đêm 30 Tết, giữa lúc Trung tướng Trần Văn Trà - Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đang chúc tết anh em cả hai đoàn quân sự ta trong trại Đa-vít, thì mái nhà tôn bỗng rung lên vì những chiếc trực thăng bay quá thấp. Từ trên đó nhiều pha đèn hồ quang chiếu thốc xuống. Chính quyền Sài Gòn làm cái trò gì đây? Mặc họ. Cuộc họp mặt dạt dào tình nghĩa Bắc - Nam giữa hai đoàn không hề bị ảnh hưởng. Họ có sức thì cứ việc bay. Ngày mai ta sẽ có công hàm phản đối. Còn anh em chúng tôi vẫn ung dung ngồi quây quanh chiếc máy thu thanh, nhấp trà Ba Đình, hút thuốc lá Thủ đô, ăn mứt gừng uống bia Trúc Bạch.., chuyện trò rôm rả đón gian thừa và chờ nghe Bác Tôn kính yêu chúc Tết. Tất cả hướng về Hà Nội.

         Ôi pháo nổ rồi, giao thừa đến rồi. Ngoài ấy mới tưng bừng nhộn nhịp làm sao. Qua âm thanh, chúng tôi như thấy cả Hà Nội bừng dậy đón mừng Xuân mới.

        Còn ở đây, so với Hà Nội chậm một tiếng đồng hồ. Tôi quyết định thức trọn đêm nay để xem xuân đến Sài Gòn. Không ra được phố. Chúng tôi xem vô tuyến truyền hình của Sài Gòn. Làn sóng huỳnh quang nhấp nháy. Chiếc loa phía dưới báo rằng- "Có tổng thống Việt Nam cộng hoà chúc Tết". Và chỉ trong nháy mắt ở cái khuôn vuông vuông trăng trắng của máy hiện ra một người khăn xếp, mặc áo the thâm quần trắng ống sớ... Lạ mặt quá. Tôi ngớ người: Ồ đây là Nguyễn Văn Thiệu ư? Sao giống Ngô Đình Diệm ngày xưa đến thế !

        Giao thừa đến rồi, nhưng sao ở đây im ắng quá? À, dân Sài Gòn bị cấm đốt pháo từ hàng chục năm nay. Bây giờ cũng vẫn còn bị cấm. Tôi nhớ ra điều ấy. Nhìn sang khu "gia binh" và phố Lê Văn Lộc, vắng ngắt. Vài ba ngọn đèn đường hiu hắt. Cửa mọi nhà đều đóng im ỉm dưới bóng những lá cờ vàng ba sọc ủ rũ. Trên mặt đường nhựa mấy con chó hoang đang đùa rỡn, bóng tụi lính tuần tra thấp thoáng trong màn sương. Xuân đã về rồi, sao ở đây không ai đón? Bà con ngủ cả rồi ư? Hay vẫn thức đón xuân kín đáo trong nhà? Bên phi trường Tân Sơn Nhất, đèn dù vẫn nối nhau nhấp nhoáng. Xa xa tiếng đại bác chốc chốc lại oàng oàng. Phía ấy là Củ Chi, Gò Vấp...

        Gần sáng, không gian bỗng rung lên bần bật như động đất bởi sức nặng và tiếng gào rú của chiến xa. Chúng kẻo đàn kẻo lũ đi đâu? Đi hái lộc đầu xuân? Một em bé trong ngôi nhà gần đường giật mình khóc thét lên. Tiếng khóc ấy bị nghiến ngay vào tiếng rít của xích sắt xe tăng. Anh đèn pha loang loáng quét dọc hàng rào. Những chiếc gai sắt nhọn hoắt lạnh lẽo túa ra. Nhưng nếu chúng nó dựng lên trăm tầng nghìn lớp rào thép như thế cũng không thể chia cắt nổi lòng người dân Sài Gòn đối với đoàn ta. Tôi để ý hàng ngày có biết bao ánh mắt hiền hậu từ bên kia kín đáo ngắm sang. Các cháu nhỏ cởi trần nghịch đất lấy cớ đuổi nhau băng qua mặt lính gác đến sát hàng rào để nhìn cho rõ các chú bộ đội của ta. Có cháu khe khẽ gọi sang giọng đầy xúc động: "Chú ơi!". Thương quá. Ngày Tết mà chẳng thấy các cháu hơn ngày thường tý nào. Một đồng chí ta khẽ vẫy các cháu lại, luồn kẹo bánh qua cho. Những đứa trẻ vô tội vừa đến sát hàng rào thì một tiếng quát làm chúng giật bắn người:

        - Ê con nít! Đù mẹ tụi bay, muốn chết hả? Tên quân cảnh hùng hổ xách tiểu liên ARI5 xông tới vung tay tát bốp vào giữa mặt một em bé. Bọn trẻ sợ hãi khóc thét lên hớt hải chạy về nhà. Mấy bà mẹ thấy thế cũng chỉ nghẹn ngào gạt nước mắt len lén quay đi. Tôi không hiểu những ông bố - hầu hết là lính - trong khu gia đình ấy nghĩ gì khi con mình bị người khác đánh đòn giữa ngày mồng 1 Tết

        Một bác công nhân già, đi làm trong sân bay về, dừng lại nhìn vào trụ sở ta xem anh em đấu bóng chuyền vui Tết, liền bị tên quân cảnh non choẹt chỉ vào giữa mặt quát:

        - Cút mẹ mày khỏi liền, nhìn, nhìn ông nội mày gì? Muốn đi tù hả? - Cụ già đành phải lầm lũi quay đi.

        Một điểm đặc biệt là Sài Gòn ngày Tết trẻ em rất thích chơi diều. Mỗi cháu trên tay đều có một chiếc diều. Cháu thì diều vuông, cháu thì diều gấp, cháu diều cánh cốc, cánh cung...

        Những chiếc diều no gió bay lên đem theo niềm vui của đàn trẻ nhún nhẩy cái đuôi như cùng các cháu múa giữa trời xanh. Ở đây gần biển nên lúc nào cũng lộng gió. Được gió nắng, diều càng bay cao, niềm vui của đàn trẻ cứ thế tăng lên mãi mãi. Càng ngắm các cháu chơi diều vui vẻ, hồn nhiên, tôi càng thương các cháu gấp bội. Ngày Tết mà các cháu chỉ chơi mỗi trò này ư ? Tiếng nhạc "xuynh", nhạc "gia" của Mỹ đang eo éo đây kia không hấp dẫn các cháu. ôi tuổi thơ vô tư và đầy thú vị, chúng tôi bị lôi cuốn thật sự về cái trò chơi thú vị này. Nếu không có hàng rào kẽm Mỹ tàn nhẫn dựng lên để chia mặt cắt lòng sửng sừng trước mặt này, thì chúng tôi đã ùa ra chơi diều với các cháu.

        Cả đám diều đủ màu sắc nghiêng nghé, đùa rỡn như một chùm hoa trắng khổng lồ. Đàn diều cứ nhích dần, nhích dần như vô tình bay trên bầu trời trại Đa-vít chúng tôi hớn hở ngắm nhìn. Bỗng một chiếc chao mạnh rồi đứt dây, rối léo, rớt xuống. Cháu nào bên ấy mất diều chắc là rầu lắm. Biết của ai mà mang trả bây giờ? Chúng tôi nhặt chiếc diều lên ngắm nghía. Diều bồi nửa đỏ nửa xanh. Màu sắc của lá cờ Giải phóng? Chúng tôi đều sững sờ cả người khi đọc dòng chữ viết giữa thân diều: "Năm mới, các cháu cùng bà con chúc Tết mấy chú mạnh giỏi. Nhớ các chú nhiều!". Thật là kỳ lạ, thật là thân thương! ôi chiếc diều đầy nghĩa tình. ôi, tấm lòng của bà con bên ấy! Chúng tôi xúc động chuyền nhau chiếc diều mà nước mắt lưng tròng. Thế là giữa ngày mồng 1 Tết, dù xa nhà chúng tôi vẫn được sống giữa những tấm lòng, nhân hậu, đầy tình thương mến của bà con Sài Gòn đang hướng về cách mạng. Nhìn đàn trẻ, tôi như thấy cháu nào cũng là chủ nhân chiếc diều tuyệt diệu này. Chắc chủ nhân của nó cũng xúc động không kém chúng tôi. Thế là mạch máu đã khai thông. Bức tường mà Mỹ - nguy cố dựng lên đã bị chọc thủng. Từ nay đối với chúng tôi, bà con bên ấy là người nhà, những chiếc diều đáng yêu kia chính là tín hiệu của những trái tim vàng.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Hai, 2012, 08:27:41 pm
        Khác với lối đón xuân của con trẻ, các "ngài sĩ quan không quân quân lực Việt Nam cộng hoà" ở câu lạc bộ không quân Huỳnh Thúc Bạc đón xuân độc đáo hơn. Họ chăng xúc xích giấy đầy nhà, quân cảnh được dàn ra đầy các ngõ ngách. Họ tiếp khách bằng máy vô tuyến thông tin và chơi những tờ tranh lạ mắt. Một con quạ đứng trên cành một quả bom, dưới mang hai chữ "Hoà bình" được treo ngay giữa cửa chính. Thật là một kiệt tác của loại tranh xuân Sài Gòn. Chúng tôi đến câu lạc bộ này vào lúc chiều tà, không gian đỏ lòm, mọi vật như tắm màu. Trên xác chiếc xe tăng có lẽ từ năm 1968 đã gỉ nhoèn, một hàng chữ viết vội làm bọn quân cảnh lồng lên: "Tụi Trâu điên là đồ chó đẻ". Tụi Trâu điên chính là cái tiểu đoàn quỷ quái đang ngày đêm "bảo đảm an toàn" cho trại Đa-vít. Chúng đã được một người nào đó chúc mừng năm mới.

        Lúc trời sẫm lại, bỗng tiếng kèn trom-pét ré lên ở một ngôi nhà trong ngõ, ánh đèn màu lá chuối hắt ra nhấp nháy chập chờn. Người tài xế do hãng Pa-xi-phích thầu - giới thiệu: - Đấy là nơi tiệm cô Ba, bán hủ tiếu Mỹ Tho và nhảy đầm. Thế nào tối cũng có "xếch-xi" 100% (không mặc quần áo). Tiệm này đông khách lắm.

        - Sài Gòn có nhiều tiệm nhảy "xếch-xi" không?

        - Nhiều chớ, Tết này là họ hốt bạc. Được dịp của khách làng chơi, họ nhảy suốt ngày suốt đêm. Toàn những tay chơi cỡ "bự".

        - Tối qua nhà bác đón giao thừa có vui không.

        - Không, tôi đi làm mệt, thành thử ngủ quên mất. Ở phố tôi chỉ những nhà có ti vi là dậy coi thôi.

        - Tết này chắc Sài Gòn vui lắm bác nhỉ?

        - Đâu có Phải chi đừng Tết còn hơn. Loại như chúng tôi Tết vẫn phải lăn lưng ra mà làm kiếm miếng. Chẳng dám đến nhà ai. Tết là Tết người ta thôi.

        Nếu cứ quan sát quanh trại Đa-vít thì tưởng Sài Gòn không có Tết.

        Sáng mồng 2 Tết, chúng tôi theo Thiếu tướng Lê Quang Hoà vào trung tâm Sài Gòn để tiếp xúc lần đầu tiên với ủy ban Quốc tế. Xe chạy qua cầu Công Lý. Bọn quân cảnh đưa đường tiền hô hậu hét nhộn nhạo cả phố phường. Chúng cho xe đi rất nhanh để tránh ta tiếp xúc với dân. Nhưng chốc chốc vẫn phải dừng lại vì những tai nạn xe cộ bất ngờ. Thấy ta. đồng bào kéo nhau chạy ùa xuống mặt đường. Những ánh mắt thân thương, những nụ cười hồ hởi, những giọt nước mắt sung sướng nghẹn ngào.

        Người Sài Gòn nhận ra hai đoàn đại biểu ta rất nhanh. Người nọ truyền người kia, cả thành phố bàn tán xôn xao. Người đang đi dừng lại, ngắm, người trên gác chạy ùa ra ban công xem. Có tiếng reo to: "Ôi cha, phái đoàn quân sự Hà Nội đẹp dữ quá hè". Quân cảnh, cảnh sát đầy đường. Những tiếng còi nạt nộ thét lên- Giày đinh nện cồm cộp. Coi chừng bị bắt.

        Một đôi nam nữ cưỡi xe hon đa, cố vượt lên chạy song song với các xe ta. Anh con trai bảo người yêu:

        - Em coi cho kỹ nè, các anh giải phóng đội nón cát, vận đồ pô-li-te. Còn các anh bộ đội ngoài Bắc thì đội nón kê-pi, mang ngù vai vàng. Đó, đó em thấy rõ chưa? Họ nhìn vào xe tôi, tôi cười vẫy họ- Cả hai cùng cười: "Chúc mấy anh mạnh giỏi", rồi rú ga rẽ sang phố khác, lẫn vào dòng người đang hối hả ngược xuôi. Đoàn xe lướt đi rất nhanh rồi đỗ trước một khách sạn loại nhỏ. Xung quanh đã thấy bọn quân cảnh, cảnh sát Sài Gòn chen chúc đông đặc. Các ngả phố đều bị chặn lại. Ở một góc hành lang, trong vòng dây ni lông trắng, tôi thấy các phóng viên nước ngoài đang đứng chờ sẵn. Nhìn thấy các đại biểu ta, họ ào ra định quay phim, chụp ảnh. Lập tức bị quân cảnh Sài Gòn chặn lại.

        Chính quyền Sài Gòn rước Mỹ vào cùng với đô la, chắc dân Sài Gòn phải giàu có lắm? - Không. Viên trung tá Chí phụ trách an ninh "phủ tổng thống", đến khoe với sĩ quan liên lạc ta: "Tôi rất lấy làm vui mừng vì dân Sài Gòn được ăn cái Tết hoà bình đầy đủ. Nhà nào cũng có một hai chiếc bánh chưng trong tủ ướp lạnh". Chí khoe thế, nhưng biết bao người ăn mày nhan nhản khắp đường phố kia, họ đào đâu ra tủ ướp lạnh, họ sẽ lấy gì mà ăn trong những ngày Tết? Hỏi vì sao Sài Gòn không đốt pháo mừng xuân? Chí giải thích: "Để đảm bảo an ninh ba ngày Tết, không những chính phủ chúng tôi cấm đốt pháo mà còn cấm tụ tập đông người, cấm đi lại từ 10 giờ đêm, báo động quân đội. Nói thật, chúng tôi rất sợ cái Tết như... Mậu Thân 1968". Vậy ra đấy là nguyên nhân sự tẻ nhạt của những ngày Tết cổ truyền ở Sài Gòn.

        Nhớ hôm đoàn chúng tôi lên đường, Hà Nội nhộn nhịp khác thường. Cả thành phố rực màu cờ đỏ, ngập trong trăm sắc thắm hoa tươi. Người từ bốn phương nườm nượp đổ về Hà Nội. Những nụ cười tươi đọng mãi trên môi. Những gương mặt rạng rỡ chứa chan hạnh phúc: Hoà bình đã trở lại, súng đã ngừng nổ, quân xâm lược phải hạ cờ cuốn gói cút. Ngồi trên chiếc xe "giải phóng ngắm nhìn Hà Nội, lòng tôi bồi hồi bao xúc động. Tôi nôn nao muốn vào ngay Sài Gòn để cùng bà con ta đón xuân hoà bình. Chắc là vui vẻ lắm. Nhưng thực tế lại quá phũ phàng...

        Những sĩ quan liên lạc Sài Gòn được phép lui tới các đoàn quân sự ta phát ghen lên vì cảnh Tết của anh em chúng tôi vui vẻ, đầy đủ quá. Những cây đào Nhật Tân tươi thắm, những bộ phim hay, những chiếc bánh chưng ngon lành, những đĩa dưa hành chín tới, những câu đối đẹp, bức tranh xuân sắc màu rực rỡ... đều được chở từ Hà Nội và từ vùng giải phóng vào. Ngay cả Đoàn In-đô-nê-xi-a trong ủy ban Quốc tế cũng phải trầm trồ ngắm nghía rất lâu hai cây đào to nở đầy hoa đỏ chói trong phòng khách. Họ rất lạ về những cây đào Hà Nội đã vào tận đây nở đầy hoa giữa Sài Gòn. Cũng bên những cây đào ấy, Trung tướng Trần Văn Trà đã nhắc đến vua Quang Trung ngày trước, sau khi quét sạch lũ xâm lược Mãn Thanh, đưa quân sĩ vào Thăng Long ăn Tết, lúc trở lại Phú Xuân, nhà vua đã chọn những cành đào đẹp nhất Hà thành đem về tặng người vợ yêu quý là công chúa Ngọc Hân. Đào thắm đàng ngoài khoe sắc bên mai vàng đàng trong, tượng trưng cho sự thanh bình của đất nước. Việc đó xảy ra vào Tết Mậu Thân năm 1968.

        Lịch sử đã lặp lại vào Tết Quý Sửu năm 1973. Những cây đào Hà Nội đã cùng phái đoàn quân sự ta vào Sài Gòn nở hoa tươi thắm, mừng xuân đại thắng, chứng kiến bè lũ xâm lược Hoa Kỳ với bọn lính chư hầu hạ cờ, vác súng cuốn gói cút khỏi đất nước ta.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Hai, 2012, 09:56:48 pm
(http://)

NHỮNG CUỘC ĐẤU TRÍ
KHI ĐI TRAO TRẢ TÙ BINH

HOÀNG DUY HOÀ                      
                 
        Xuân Quý Sửu năm 1973, hai phái đoàn quân sự của ta vào Sài Gòn để làm nhiệm vụ thi hành Hiệp định Pa-ri, liên tục đi các tỉnh giám sát việc Mỹ rút quân, việc trao trả tù binh của các bên. Đồng chí Trần Văn Trà Trưởng phái đoàn quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam thường nhắc nhở cán bộ của đoàn. "Chúng ta là người chiến thắng, mỗi lần đi làm việc với phía Mỹ và Sài Gòn phải giành được điểm thắng vê đấu tranh chính trị và ngoại giao. Đây cũng là cơ hội trực tiếp làm công tác địch vận...".

AI XÂM LƯỢC AI

        Ngày 3 tháng 3 năm 1973, Tổ Liên hợp quân sự bốn bên bay ra Hà Nội quan sát việc trao trả giặc lái Mỹ, viên thiếu tá Sài Gòn nói:

        - Chiến tranh đã tàn, ta không nói chuyện chính trị mà nói chuyện tình cảm cho vui.
    
        Tôi cười đáp:
    
        - Chuyện gì cũng được, cũng phải có chân lý.

       - Tôi nghe ông nói vẫn lai giọng miền Bắc.

       - Vâng! Tôi người gốc Hà Nội, nên nói giọng Bắc, giọng Nam đều được.

        Một sĩ quan Mỹ rất thạo tiếng Việt hỏi luôn:

        - Thế ông là người miền Bắc, ông xâm lược Việt Nam cộng hòa từ bao giờ?

        Tôi nhìn quân hàm và tên trên ngực áo anh ta nói:

        - Thiếu tá Hi-gin là người bang Ca-li-phoóc-ni-a phải không?

        - Đúng thế"

        - Có bao giờ thiếu tá xâm lược nước Hoa Kỳ không?

        Hi-gin đáp:

        - Ông nói lạ, tôi là người Hoa Kỳ sao lại xâm lược nước Hoa Kỳ.

        - Vậy thiếu tá đã trả lời hộ tôi câu hỏi và hiểu ai xâm lược ai rồi đó. Tôi là người Việt Nam sao lại xâm lược Việt Nam.

        Hi-gin ngượng ngùng quay đi không nói gì nữa.

KHÔNG ĐI MÁY BAY SƠN CỜ SÀI GÒN

        Ngày 26 tháng 2 năm 1973, xe chở Tổ Liên hợp quân sự chúng tôi ra sân bay Tân Sơn Nhất đi Bình Định quan sát việc trao trả tù binh, một máy bay Ka-ra-bu đã chờ sẵn, một thiếu tá của Việt Nam cộng hoà mời chúng tôi lên máy bay và ra lệnh nổ máy. Chúng tôi chỉ vào đuôi máy bay nói không đi máy bay có cờ của Sài Gòn mà đi máy bay của Liên hợp quân sự bốn bên có sơn bốn vạch màu da cam có con số 4. Viên thiếu tá bực tức nói:

        - Các ông ở rừng chỉ lội bộ, vào đây chúng tôi phải phục vụ, máy bay nào chả được, chỉ vê chuyện, bay tít trên bầu trời ai biết cờ quạt của ai mà không đi.

        Bên ta nói, máy bay bay qua nhiều vùng giải phóng của Chính phủ Cách mạng sơn cờ của chính quyền Sài Gòn là vi phạm hiệp định. Nếu bị cao xạ quân giải phóng bắn rơi, phía Sài Gòn phải chịu trách nhiệm, buổi trao trả hôm nay không thực thi được là do phía Sài Gòn gây trở ngại, chúng tôi sẽ công bố cho đài, báo chí trong và ngoài nước biết.

        Sĩ quan Mỹ và Sài Gòn xách cặp xuống máy bay đi vào nhà ga, ba mươi phút sau có máy bay Liên hợp quân sự lăn bánh ra phi trường. Họ mời chúng tôi lên máy bay bay ra Phù Cát - Bình Định. Anh em ta vui cười bấm nhau: "Đã giành được điểm thắng".


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Hai, 2012, 10:00:22 pm

KHÔNG CHO ĐẠI TÁ SÀI GÒN VÀO VÙNG GIẢI PHÓNG

        Trời nắng gay gắt, đường băng hầm hập nóng, mọi thành viên trong Ban Liên hợp quân sự phải đứng chờ trực thăng ở phi trường Plây Cu để bay vào vùng giải phóng thăm nơi giam giữ cuối cùng trước khi trao trả tù binh Sài Gòn. Đại tá Hiền khu vực trưởng Liên hợp quân sự vùng Tây Nguyên phía Sài Gòn bước lên máy bay mời chúng tôi lên máy bay và nhắc phi hành đoàn cất cánh.

        Bên ta nói: Trong ủy nhiệm thư phía các vị được vào vùng giải phóng có ba sĩ quan, không thể đi quá số lượng được.

        - Hắn bảo sẽ cho một đại úy xuống thay cho hắn vào vùng giải phóng.

        - Thay không được vì đại tá không phải là người của Ban Liên hợp quân sự trung ương, không có danh sách trong ủy nhiệm thư vào vùng kiểm soát của Chính phủ Cách mạng nên đại tá không được vào vùng giải phóng.

        Đại tá Hiền hằn học nói:

        - Tôi là đại tá khu vực trưởng Liên hợp quân sự khu vực III có quyền đi quan sát trong toàn khu vực.

        - Vâng! ông được quyền đi khu vực Sài Gòn kiểm soát, không được quyền vào vùng giải phóng khi ủy nhiệm thư không có danh sách. Nếu hôm nay không thực hiện được nhiệm vụ là do phía Sài Gòn gây khó khăn, các vị phải chịu trách nhiệm.

        Đại tá khu vực trưởng bực dọc nói oang oang:

        - Máy bay của chúng tôi, phi hành đoàn của chúng tôi, bay từ lãnh thổ của chúng tôi, tôi là đại tá, các ông giở nguyên tắc lấn át vừa vừa chứ.

        Nói rồi hắn ta nhảy xuống đi thẳng vào nhà ga với thái độ hằn học.

        Sau chuyến này về báo cáo, đồng chí Võ Đông Giang nói "Các cậu lại giành được điểm thắng hay".

BÊN HỌ PHẢI NHẬN LỖI

        Tổ Liên hợp quân sự bốn bên của ta đi quan sát trao trả tù binh cho phía Sài Gòn tại Đức Nghiệp, máy bay trực thăng đỗ sẵn ở phi trường Plây Cu đón chúng tôi.   Định lên máy bay, thấy có cột trụ gắn súng đại liên và 8 dây đạn, chúng tôi chụp ảnh xong, gọi sĩ quan Sài Gòn đến để phản đối việc họ đã lợi dụng máy bay sơn ký hiệu Liên hợp quân sự để oanh tạc nhân dân vùng giải phóng. Sĩ quan Liên hợp quân sự trung ương của Sài Gòn hỏi sĩ quan Liên hợp quân sự địa phương, họ lúng túng đổ lỗi cho cấp dưới làm ăn tùy tiện. Bên ta mời phái bộ quốc tế bốn nước đến chứng kiến và yêu cầu phía Sài Gòn ký vào biên bản. Về Sài Gòn phiên họp trưởng phái đoàn, ta đưa chứng cứ ảnh và biên bản ra phản đối và lên án họ. Trưởng phái đoàn Sài Gòn, tưởng Phan Hòa Hiệp đã phải nhận lỗi là cấp dưới ở địa phương họ làm sai, xin lỗi.

ĐẠI TÁ ỌUÂN ĐỘI SÀI GÒN BỊ VẠCH MẶT

        Ta trao trả 3 tù binh sĩ quan cho Sài Gòn tại Lộc Ninh là Đại tá Nguyễn Công Vĩnh chiến đoàn trưởng Chiến đoàn 8 và hai trung tá là Dương và Thông. Phía Sài Gòn đi nhận có Đại tá Trần Vĩnh Đắt, bàn giao ký kết xong, tù binh vui vẻ nhận quà tặng của trại và cảm ơn. Trần Vĩnh Đắt tỏ ra bực dọc đẩy họ lên máy bay giục phi hành đoàn cất cánh. Về Sài Gòn, anh ta tổ chức họp báo vu khống là: Việt cộng không chịu trao trả sĩ quan cao cấp của Sài Gòn, tôi phải đấu tranh quyết liệt đủ chứng lý, kết hợp với biện pháp nghệ thuật nhà nghề mới cướp được 3 sĩ quan đưa về an toàn, báo chí Sài Gòn đăng tin và ảnh theo lời họp báo của hắn.

        Kỳ họp Ban Trao trả, trưởng ban tù binh của ta đưa báo cho Đắt xem và nói: ông cần nghe băng ghi âm buổi trao trả tại Lộc Ninh để đối chiếu với lời nói họp báo của ông không?

        Trần Vĩnh Đắt sa sầm mặt ngượng ngùng nói:

        - Các ông còn lạ gì báo chí Sài Gòn, họ muốn bán được nhiều thì họ tô vẽ giật gân mà thôi, tôi đâu có nói là cướp tù binh, mà cướp sao nổi tại nơi trao trả thuộc lãnh thô của Chính phủ Cách mạng.

        - Sao ông không nói với báo chí, Lộc Ninh là nơi Chiến đoàn 8 tử thủ đã thất thủ, nơi này đại tá chiến đoàn trưởng Nguyễn Công Vĩnh bị bắt làm tù binh và cũng nơi này họ đã được trao trả, đại tá đã xuyên tạc sự thật.

        Đắt đưa trả tờ báo nói:

        - Quý vị thông cảm báo chí Sài Gòn đăng tải tin tức là thế đó, rồi lảng sang chuyện khác.

        Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chúng tôi gặp lại Nguyễn Công Vĩnh trong buổi trình diện học tập cải tạo: hỏi lại chuyện này, anh ta thú nhận: Trần Vĩnh Đắt muốn khoe công trạng của mình với quân đội Sài Gòn và nhận sự ban ơn của chúng tôi, nhưng nói sai sự thật khiến chúng tôi cũng phát ngượng, chắc bây giờ ông ta đã chạy trốn rồi.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Hai, 2012, 05:09:55 am

QUÂN MỸ "GÔ-HÔM"
NGUYỄN NGÂN                      
                                    
ĐÀ NĂNG, TÁM NĂM SAU

         Đà Nẵng tháng 3 năm 1965

         Lính thuỷ đánh bộ Mỹ ồ ạt tràn lên biển Sơn Trà. Những lính cổ da kiệu binh ấy của nước Hoa Kỳ đứng đầu phe đế quốc, đầu đội mũ sắt, tay xách súng tiểu liên cực nhanh M16, tay cầm máy vô tuyến điện thoại, mặt ngửng cao, ngước nhìn bầu trời xanh nhiệt đới xa lạ tràn ngập ánh nắng.

        Tiếng kèn đồng thổi nhức óc. Chính khách, tướng lãnh "bản xứ" chen chúc nhau trong phòng khánh tiết, mặt mày rạng rỡ...

        Từ đó đến nay, tám năm đã qua rồi. Đà Năng tháng 3 năm 1973. Sự trùng hợp lịch sử sao mà oái oăm: lính Mỹ 'hồi hương".

        Những người còn lại hôm nay "khăn gói" về nước, xếp hàng thứ tự dưới sự giám sát của đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Việt Nam dân chủ cộng hoà trên sân bay Đà Năng. Họ nối đuôi nhau lên máy bay.

        Có những bộ mặt hốc hác, tái xanh, dầu tóc bù xù, mắt trắng dã lờ đờ vì ma tuý, bên những bộ mặt mỏi mệt rã rời nhưng sung sướng thoát được cái chết thảm hại trên chiến trường...

        Nhiều tên lính Mỹ cắp theo những bức tranh kiếm hiệp xanh đỏ loè loẹt hay tấm tranh thủy mặc bôi vôi, bày bán trên vỉa hè Sài Gòn.

        Từ trong cửa sổ một ngôi nhà sang t-rọng có gắn máy lạnh, mấy sĩ quan quân đội Sài Gòn có mấy cô vũ nữ ngó nhìn theo ngán ngẩm - Người Mỹ đến, người Mỹ đi rồi...

CHIẾC MŨ GIẢI PHÓNG
VÀ NHỮNG TẤM HUY CHƯƠNG MỸ

        Làm việc xong với người sĩ quan liên lạc trong phái đoàn quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời, viên sĩ quan trẻ tuổi của Hoa Kỳ đứng dậy ra về. Vừa ra đến cửa, anh ta bỗng nhiên dừng bước đứng tần ngần một lúc rồi quay lại, lột chiếc mũ ca lô đang đội trên đầu xuống.

        - Thưa ông... ông có thể đổi cho tôi chiếc mũ của ông.

        Viên sĩ quan Hoa Kỳ nói với sĩ quan ta. Sĩ quan liên lạc ta bảo anh ta ngồi xuống, rót mời một chén nước trà.

        Nét mặt viên sĩ quan Hoa Kỳ tươi hẳn lên, anh ta nói tiếp:

        - Nếu ông đồng ý tôi được cầm chiếc mũ này về, tôi sẽ nói với mọi người ở bên quê chúng tôi rằng đây là chiếc mũ của những người anh hùng. Ngôi sao lấp lánh này tượng trưng lý tưởng cao đẹp của họ. Việc chúng ta (Mỹ) đánh nhau với họ là sai lầm bi thảm nhất trong lịch sử nước Mỹ.

        Mấy hôm trước, một anh lính Sài Gòn trong khi lục lọi chiếc tủ rỗng trong một trại lính Mỹ vừa rút đi đã nhặt được một chiếc hộp khá đẹp. Mở hộp ra xem, anh ta thấy có đến sáu tấm huy chương sao đồng và sao bạc. Anh lính Sài Gòn tìm gặp một người lính Mỹ để trả lại. Người lính Mỹ mở chiếc hộp ra xem rồi trao lại cho anh lính Sài Gòn:

        - Anh giữ lấy thì tốt hơn, anh đã bắt được - người lính Mỹ nói.

        - Nhưng đây là những tấm huy chương, vinh dự của người được ân thưởng.

        Người lính Mỹ cười:

        - Nếu người chủ của những tấm huy chương này nghĩ lại vinh dự thì chắc chắn anh ta đã không bỏ lại. Thôi anh giữ lấy.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Hai, 2012, 05:11:49 am

ĐÓNG THÙNG GỬI VỀ NƯỚC

        Khắp miền Nam, người Mỹ không trống không kèn "dẹp tiệm". Bộ chỉ huy tập đoàn không quân số 7 hùng mạnh "dẹp tiệm" trong sân bay Tân Sơn Nhất. Tướng Mỹ đưa vợ cùng bậu sậu với hàng trăm tấn máy móc điện tử sang bên nước Thái. Cuộc ra đi ấy đúng vào hôm trên sân bay Tân Sơn Nhất có hàng trăm sĩ quan thuộc hai đoàn đại biếu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời và Việt Nam dân chú cộng hoà đang đợi đón Trung tướng Trần Văn Trà. Một chiếc máy bay sang trọng của không quân Mỹ nổ máy chờ sẵn trên sân. Viên tướng và vài ba sĩ quan cấp tá được máy bay lên thẳng vừa chở đến. Họ mặc lễ phục, ngực loè loẹt huân chương, đeo "Coóc-đông" vàng chóe. Họ bước từ máy bay lên thẳng xuống, bắt tay một vài nhân viên sứ quán Mỹ làm việc ở đó rồi lên máy bay đi Thái Lan...

        Bến cảng Sài Gòn, những chiếc cần trục làm việc suốt ngày đêm, bốc xuống tàu "Đồ tế nhuyễn, của riêng tây". Ngay cạnh đó công binh Mỹ tháo gỡ hệ thống bến tàu nổi. Đơn vị không vận số 1 cuốn cờ; Bộ tư lệnh quân đội "Đại Hàn" cuốn cờ; phái bộ cố vấn "Trung Hoa dân quốc" cuốn cờ.

        Khách sạn T.N, một P.X cuối cùng còn lại bên đường Phạm Ngũ Lão - Sài Gòn, thường là nơi đi đêm về hôm của đủ loại tướng tá và các ông bự, bà bự chuyên buôn lậu và chứa cũng đã "dẹp tiệm" cách đây vài hôm. Một đoàn vận tải đỗ dài phía trước, lính Mỹ cởi trần trùng trục mồ hôi đầm đìa chất lên xe những chiếc thùng lớn đựng máy lạnh, "ti vi", thiết bị nhà bếp... Tiếng búa đóng đinh nện xuống thùng gỗ chan chát, chan chát.

CHỢ CHIỀU VÀ ĐỒ BỎ LẠI

        Dân Sài Gòn bây giờ quá quen với cảnh "chợ chiều ấy cũng chăng ai buồn dửng lại nhìn. Một đôi người đi qua liếc mắt tủm tỉm cười. Mấy chú bé nghịch ngợm lò dò đến. Một lính Mỹ trợn mắt, vung chiếc gậy sắt, lũ trẻ vụt chạy vào một ngõ hẻm, chốc chốc lại nhô ra nói: "Mẽo, gô- hôm".., Mẽo gô-hôm". Bên kia đường một cô gái mặc váy cũn cỡn đứng tựa cột đèn điện nhìn sang. Một viên cai cảnh sát súng sệ hông đi đi lại lại.

        Trong phòng khách trang nhã của một giáo sư đại học có tiếng ở Sài Gòn, chiều hôm ấy có cuộc nói chuyện về thời cuộc. Một ông bác sĩ chỉ lên tấm chân dung Tổng thống Thiệu và lá cờ sọc hỏi:

        - Đến bao giờ thì người Mỹ đóng thùng chở về nước mấy thứ này hả?

        Một kỹ sư trẻ tuổi tốt nghiệp ở Mỹ về nói:

        - Vậy thì anh hổng hiểu người Hoa Kỳ rồi, người ta thực dụng lắm.

        Mọi người ngước mắt nhìn chờ đợi anh kỹ sư trẻ nói tiếp. Anh gảy tàn thuốc lá vào cái gạt rồi nói chậm rãi:

        - Họ chỉ đóng thùng những cái gì còn dùng được bên nước họ thôi. Chớ những thứ này họ chở về để làm gì? Khi họ không dùng nữa thì họ liệng ra đường như liệng cái vỏ đồ hộp thôi mà.

DÙ MUỐN HAY KHÔNG MUỐN
       
        Mỹ đến. Mỹ thua. Mỹ rút.

        Thắng lợi ấy của dân tộc ai cũng vui tự hào, chỉ có một số ít cam tâm liếm gót ngoại bang mới rầu rĩ.

       Trong một cuộc họp của Ban Liên hợp quân sự bốn bên, khi làm việc kiểm soát và giám sát rút quân Mỹ, người phản đối nhất lại là ông đại diện của Nguyễn Văn Thiệu.

        Ông ta nói giọng hằn học cay cú:

        - Mấy ông đâu có cần giám sát, mấy ông chỉ cần quay phim, chụp ảnh để nói với thế giới là Mỹ thua, Mỹ phải rút thôi.

        Xung phong cản trở việc giám sát của ta chẳng những vì muốn đỡ đòn cho chủ, xấu thầy hổ ai, mà còn muốn che giấu nhiều âm mưu đen tối.

        Hàng vạn người Mỹ đã cởi áo lính, khoác áo dân sự để ở lại miền Nam. Bộ chỉ huy Mỹ đội lốt các tòa lãnh sự... Nhân dân ta luôn luôn cảnh giác sẵn sàng không ai là không phấn khởi tự hào trước cảnh tượng này.

        16 giờ ngày 15 tháng 3 năm 1973, lá cờ Mỹ sao và vạch suốt bảy tám năm trời phấp phới trên nóc lầu của sở chỉ huy Mỹ trong sân bay Tân Sơn Nhất, nơi thường được gọi là "Lầu Năm Góc phương Đông". Hay "Tiểu ngũ giác đài" tượng trưng cho quyền lực của bộ máy chiến tranh khổng lồ hùng mạnh nhất của "thế giới tự do" đã hạ xuống. Một viên tướng Mỹ nét mặt không thể nói là tươi cười đưa hai bàn tay không nén được xúc động, run run đỡ lá cờ, xếp lại bỏ vào thùng để đưa lên máy bay chở về Mỹ.

        Dù muốn hay không muốn, việc đó tự nó nói nhiều.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Hai, 2012, 11:54:08 am

ĐI GIÁM SÁT TRAO TRẢ TÙ BINH NGỤY
Ở ĐỨC CƠ BỊ PHÁO PHÒNG KHÔNG TA BẮN

NGUYỄN QUANG BIỂU                      

     Nguyên phiên dịch Đoàn đại biểu quân sự Chinh phó Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam                         
            
        Hiệp định về chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết giữa bốn bên Việt Nam dân chủ cộng hòa, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Việt Nam cộng hòa ngày 27 tháng 1 năm 1973 tại Pa-ri, Thủ đô nước Cộng hòa Pháp.

        Một trong những điều quan trọng của Hiệp định (Điều 3) là vấn đề trao trả tù binh giữa các bên. Đối với Mỹ đó là những giặc lái bị bắn rơi, bắt giam, chủ yếu ở miền Bắc. Đối với chính quyền Sài Gòn, số lượng tù binh bị bắt và giam tại các vùng giải phóng của ta rất ít. Chủ yếu là hàng trăm nghìn chiến sĩ cách mạng của ta bị địch bắt và giam cầm tại các nhà tù của Mỹ-nguv trong nhiều năm. Việc giám sát trao trả tù binh của các bên do Ủy ban Quốc tế về kiểm soát và giám sát (tiếng Anh viết tắt là ICCS, gồm Ba Lan, Hung-ga-ri, I-ran và ln-đô-nê-xi-a) đảm nhiệm.

        Câu chuyên mà tôi muốn kể sau đây liên quan đến một cuộc trao trả tù binh ngụy bị quân giải phóng bắt diễn ra tại một vùng giải phóng giáp ranh Đức Cơ, Tân Cảnh vào tháng 3 năm 1974. Lúc đó tôi là phiên dịch trong Ban Liên hợp quân sự hai bên trung ương Đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam.

        Tôi và Thiếu tá Phương Nam trong Tiểu ban Thông tấn - Báo chí được lãnh đạo đoàn cử làm sĩ quan liên lạc cho ủy ban Quốc tế đi giám sát buổi trao trả này.

        Phải nói thêm rằng lúc đó đi công tác lẻ tại vùng ngụy tạm thời kiểm soát, như giám sát trao trả, điều tra vi phạm ngừng bắn, được coi là một trong những nhiệm vụ đặc biệt nguy hiểm. Tuy Mỹ-ngụy, do không đảo ngược được tình hình, buộc phải ký Hiệp định, nhưng chúng không thi hành Hiệp định, chúng muốn việc chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam chỉ tồn tại trên giấy mà thôi. Trên chiến trường, chúng tung quân hàng ngày lấn chiếm vùng giải phóng nhằm thu hẹp thế "da báo", nhổ căn cứ của ta ở vùng "lõm". Trên bàn hội nghị, chúng dùng mọi thủ đoạn phá hoại các phiên họp, ngăn cản không cho các nhân viên trong phái đoàn của ta, trong Ban Liên hợp quân sự hai bên trung ương hoạt động theo tinh thần của Hiệp định. Do đó việc cử sĩ quan liên lạc đi với ủy ban Quốc tế thực thi nhiệm vụ giám sát trao trả tù binh, ngừng bắn phải gọn nhẹ, thường chỉ hai người, một sĩ quan chỉ huy cấp thiếu, trung tá am hiểu tình hình địch, địa bàn khu vực và một phiên dịch có kinh nghiệm. Một đòi hỏi nữa là phải hoàn toàn độc lập tác chiến. Tuy trao trả ở vùng giải phóng hoặc giáp ranh nhưng chúng tôi không liên lạc trực tiếp với quân giải phóng và cũng không liên lạc được với phái đoàn trung ương. Mọi việc ăn uống phải dựa vào các đồng chí Ba Lan và Hung-ga-ri trong ủy ban Quốc tế.

        Trở lại câu chuyện. Tôi và đồng chí Phương Nam được máy bay của ủy ban Quốc tế chở lên thị xã Plây Cu, nghỉ đêm ở đó. Sáng hôm sau đúng giờ quy định, chúng tôi cùng 2 sĩ quan liên lạc của ngụy, một trung tá và một thiếu úy phiên dịch và tổ sĩ quan ủy ban Quốc tế 12 người đóng tại thị xã Plây Cu, dùng 2 máy bay trực thăng UH-l do các phi công Mỹ điều khiển bay đi Đức Cơ, Tân Cảnh giám sát trao trả. Số lượng tù binh ta trao trả cho ngụy đợt này là 10 người. Giờ bay, đường bay, bãi đáp, địa điểm trao trả, nhóm sĩ quan liên lạc của ta đã thông báo kỹ càng cho Ủy ban Quốc tế, tổ lái và sĩ quan liên lạc của nguy. Do ít khi được đến vùng giải phóng hoặc giáp ranh nên các sĩ quan ủy ban Quốc tế đều háo hức, chuẩn bị máy ảnh để tranh thủ chụp ảnh làm tư liệu và kỷ niệm.

        Ngồi trên máy bay, bay được 25-30 phút, tôi ước chừng đến địa điểm trao trả, nhưng sao không thấy máy bay hạ cánh Tôi đã bắt đầu hơi lo nhưng không sao liên lạc được với đồng chí sĩ quan chỉ huy, vì anh ấy ngồi ở máy bay sau, cùng với viên sĩ quan trung tá nguy. Bay thêm khoảng 10 phút nữa, vẫn chưa thấy máy bay hạ cánh. Các thành viên ủy ban Quốc tế ngồi cùng máy bay đã tỏ ra sốt ruột và lo lắng. Bỗng nhiên tôi nghe thấy hàng loạt tiếng nổ bụp bụp, có cảm giác như đạn nổ chui vào thân máy bay. Máy bay chao đảo và lại nghe thấy một loạt tiếng nổ tiếp. Phi công cố gắng hỏi tôi điều gì đó, nhưng do tiếng ồn của động cơ máy bay và gió thổi, nên không nghe rõ anh ta nói gì. Anh ta hèn cởi mũ có tai nghe và đội vào đầu tôi. Lúc đó tôi mới hiểu anh ta hỏi bay tiếp tìm bãi đáp hay trở về Plây Cu. Tôi nghĩ chắc đã bay trật hành lang, vượt quá địa điểm trao trả, do đó nếu bay tiếp là cực kỳ nguy hiểm, dễ bị ăn đạn dưới đất bắn lên như vụ ở Ly Tôn, Quảng Trị. Tôi ra lệnh cho viên phi công Mỹ bay trở về Plây Cu. Chiếc máy bay bay sau cũng ngay lập tức quay đầu bám theo.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Hai, 2012, 11:55:07 am

        Xuống sân bay, trên đường đi về trụ sở ủy ban Quốc tế, các đồng chí Hung-ga-ri thông báo ủy ban Quốc tế triệu tập họp khẩn cấp và mời sĩ quan liên lạc của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời trình bày và đánh giá tình hình xem chiều có nên bay tiếp không. Nếu chiều không bay tiếp thì nhiệm vụ không hoàn thành. Ngụy sẽ vu cáo ta chủ tâm bắn máy bay ủy ban Quốc tế, phá hoại cuộc trao trả và như vậy là phá hoại Hiệp định.Tranh thủ thời gian đi đường anh Phương Nam và tôi hội ý, thống nhất nhận định do buổi sáng trời mù, không thấy bãi đáp, máy bay Ủy ban Quốc tế đã bay trật hành lang, đáng lẽ phải hạ cánh xuống Đức Cơ nhưng đã bay vượt quá sang vùng Tân Cảnh, nên đã bị pháo phòng không mặt đất của Quân Giải phóng bắn cảnh cáo. Chúng tôi thông báo quyết định này cho các đồng chí Hung-ga-ri và Ba Lan để phối hợp đấu tranh với phía bên kia trong buổi họp và thống nhất yêu cầu ủy ban Quốc tế chiều bay tiếp để hoàn thành nhiệm vụ trao trả, không tạo cớ cho ngụy vu cáo ta. Với lý luận sắc bén đó của sĩ quan liên lạc Chính phủ Cách mạng lâm thời và sự ủng hộ của 2 phái đoàn Ba Lan và Hung-ga-ri, tổ lái của ủy ban Quốc tế phải thừa nhận đã bay trật hành lang quy định và do đó đã bị bắn cảnh cáo. Họ cam kết chiều bay đúng hành lang và bay thấp để dễ quan sát bãi đáp.

        Buổi chiều do trời quang nên bay được khoảng 30 phút đã nhìn thấy bãi đáp quét vôi trắng hình thập ác trên đường. Máy bay hạ cánh, anh Phương Nam và tôi tranh thủ gặp đồng chí phụ trách buổi trao trả hỏi han tình hình, đề nghị đồng chí thay mặt quân giải phóng vùng Đức Cơ, Tân Cảnh cảnh cáo máy bay ủy ban Quốc tế buổi sáng nay đã bay trật hành lang quy định, dẫn đến việc quân giải phóng buộc phải bắn cảnh cáo, yêu cầu không được tái diễn.

        Sau đó ra chỗ vắng tôi và anh Phương Nam hỏi đồng chí phụ trách buổi trao trả:

        - Sáng nay pháo ta bắn cảnh cáo hay bắn thật đấy?

        Đồng chí phụ trách trả lời:

        - Cao xạ 37 ly ở Tân Cảnh bắn thật đấy nhưng không trúng vì anh em cho rằng máy bay của nguy giả danh chứ không phải máy bay của ủy ban Quốc tế.

        Thật là một phen hú vía. Vả lại Mỹ-nguy đã nhiều lần sử dụng máy bay giả danh ủy ban Quốc tế để lấn chiếm, bắn phá vùng giải phóng của ta. Tôi không khỏi thầm nghĩ quyết định của mình sáng nay bay quay trở về Plây Cu để chiều bay tiếp là hoàn toàn đúng.

        Buổi trao trả 10 tù binh ngụy diễn ra suôn sẻ, có sự chứng kiến và ký biên bản của ủy ban Quốc tế và sĩ quan liên lạc hai bên. 10 tù binh này sau khi hoàn thành thủ tục trao trả, được sĩ quan liên lạc của ngụy gọi máy bay trực thăng bốc đi. Theo yêu cầu đồng chí phụ trách trao trá, chúng tôi lợi dụng việc một máy bay trực thăng Uy ban Quốc tế bị trục trặc phải sửa chữa đế dẫn các thành viên Uy ban Quốc tế đi xem vùng giải phóng (gọi là đi xem nhưng thực ra là kéo dài thêm thời gian vì đây là vùng giáp ranh), để cho các chiến sĩ giải phóng của ta có thêm thời gian rút ra xa vùng nguy hiểm về căn cứ an toàn, vì từ địa điểm trao trả đến vùng an toàn, các chiến sĩ ta phải vận động chạy bộ khoảng 10 cây số. Khi kết thúc trao trả, ủy ban Quốc tế rút đi là Mỹ-nguy ném bom, bắn phá chặn đường rút của các chiến sĩ ta. Tôi vừa dẫn các đồng chí Ba Lan và Hung-ga-ri đi "thăm" vùng giải phóng giáp ranh vừa quan sát cây cối, đất đá bị bom đạn phạt ngang, cày xới, nhà cửa đổ nát, không một bóng người dân, lèo tèo vài lán đơn sơ, chiến sĩ ta mới dựng lên, phục vụ cho buổi trao trả, mới thấy sự ác liệt của chiến tranh, của bom đạn mà các chiến sĩ giải phóng của ta phải trải qua, giữ cho 10 tên tù binh ngụy được an toàn để trao trả theo đúng tinh thần Hiệp định. Nhìn các chiến sĩ trẻ của ta vây quanh các đồng chí Ba Lan, Hung- ga-ri chỉ trỏ, hỏi chuyện mà lòng tôi trào lên một niềm khâm phục và thương cảm vô hạn.

        Nhân dịp 30 tháng 4, ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, sạch bóng quân thù, người viết bài này muốn ôn lại một kỷ niệm xưa, khó quên và cũng xin gửi lời chào thắm thiết đến các chiến sĩ giải phóng đã tham gia cuộc trao trả tù binh ngụy ở Đức Cơ, Tân Cảnh tháng 3 năm 1974.

                             Hà Nội, tháng 4 năm 2004


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Hai, 2012, 07:07:39 pm

HAI NGÀY BA CẢNH

PHẠM HÔNG                      

     Nguyên sĩ quan Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam    

        Trong hai ngày 18 và 19 tháng 2 năm 1973, có một số sự việc đồng thời diễn ra trên những địa điểm khác nhau và không cần mất công so sánh, người ta thấy ngay đâu là thiện chí, đâu là phá đám. Đó là bốn cuộc đi thăm ba nơi giam giữ nhân viên quân sự bị bắt, do các tổ sĩ quan liên hợp bốn bên tiến hành.

1. PHÚ QUỐC

       Ngày 18 tháng 2, sáng sớm, trên sân bay Tân Sơn Nhất, trong khi 2 chiếc máy bay U21 (loại 2 động cơ, 8 chỗ ngồi, cánh cố định) chở Tổ Liên hợp bốn bên đi quan sát trại giam Phú Quốc thì một chiếc vận tải C.130 cũng cất cánh đưa một Tổ Liên hợp quân sự và một Tổ Quốc tế ra Hà Nội quan sát trại giam phi công và cuộc trao trả các phi công Mỹ.

        Sau một giờ bay của 2 chiếc U21, chúng tôi đã đến sân bay Phú Quốc. Các sĩ quan bốn bên vừa đặt chân xuống đường băng đã thấy gần 200 quân cảnh vũ trang và lính các loại đứng kín ba phía.

        Đường băng ở sát ngay mép biển. Nhìn ra biển, cách vài trăm mét, một số pháo hạm và tàu tuần của hải quân Sài Gòn dập dềnh trên sóng, các dàn súng nghếch cao.

        Trung tá Đức, trưởng trại giam Phú Quốc ra gặp Tổ Liên hợp. Và suốt buổi sáng hôm ấy, trên đường băng nóng bỏng, trong tiếng động cơ ầm ầm của mấy chiếc C 130, C.123, U20, các đại biểu Sài Gòn luôn mồm từ chối và lắc đầu.

        Đức nói: "Tôi chưa có lệnh cấp trên, tôi không để bất cứ ai vào nhà giam quan sát".

        Thiếu tá Tiên, đại biểu quân sự Việt Nam dân chủ cộng hòa liền quay lại hỏi đại úy Nam, sĩ quan Sài Gòn trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên.

        - Thế các ông đã thông báo cho trại giam biết việc Tổ Liên hợp quân sự xuống đây để quan sát chỗ ăn ở trong trại giam để nói chuyện với đại biểu những người bị bắt chưa? Đó là một nghị quyết cuộc họp Tiểu ban Trao trả mà chính ông cũng có dự họp thì phải?

        Đại úy Nam ú ớ mấy câu "chạy làng" và giở ngay một trò phá đám. Đại úy Nam nói:
    
        - Trong các cuộc họp đã nói cụ thể thế nào là quan sát một trại giam đâu? Ví dụ ta đứng đây tại sân bay, đằng kia có mấy tù binh người phía các ông đang lên máy bay ra nơi trao trả ở Quảng Trị. Đứng dòm bộ dạng tù binh như vậy là chưa quan sát sao? Dòm như vậy theo tôi cũng là một cách quan sát trại giam rồi đấy, hà tất phải vào trong trại giam...

        Thấy những sĩ quan Sài Gòn cố tình cãi bậy, Tổ Liên hợp bốn bên quyết định rời sân bay Phú Quốc trở về Tân Sơn Nhất, báo cáo với cấp trên là không thể làm được nhiệm vụ như đã quy định trong Nghị định thư và trong cuộc họp của Tiểu ban Trao trả là đi thăm nơi giam giữ, thăm nơi ăn chốn ở của những người bị bắt và nói chuyện với đại biểu những người bị bắt về tình hình trao trả.

        Sáng ngày hôm sau, 19 tháng 2 năm 1973, với thiện chí của mình, các đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời và Việt Nam dân chủ cộng hoà lại đồng ý vào Tổ liên hợp bốn bên đi xuống trại giam Phú Quốc lần nữa. Lúc này phía Sài Gòn không thấy mặt đại úy Nam đâu mà thay vào đó là Đại úy Văn.

        Cuộc trao đổi thủ tục làm việc lần này diễn ra trong một căn nhà gỗ cạnh sân bay. Với nội dung rõ ràng như ban ngày ghi trong Nghị định thư và các văn kiện ở Tiểu ban về việc đi thăm các người bị bắt và thăm nơi giam giữ cuối cùng, đại biểu Sài Gòn thấy cãi cù nhầy không được, bèn giở trò giật gân ngay.

        Một trung úy Sài Gòn ở đâu chạy vội lại cuộc họp bốn bên, đưa đến một điện khẩn.

        Bức điện ghi: "Đại tá tư lệnh Đặc khu Phú Quốc xin thông báo không được biết gì về hoạt động của Đoàn Liên hợp quân sự bốn bên trên đảo này. Đại tá hoàn toàn không chịu trách nhiệm vấn đề an toàn cho Đoàn Liên hợp trong quá trình họ xuất hiện và di chuyển trên lãnh thổ này".

        Đức, trưởng trại giam Phú Quốc, đứng ngay dậy ra điều vội vã: Thực đáng tiếc! Thực đáng lo! Quý vị nên rời ngay nơi này, kẻo có khi lại liên lụy rắc rối đến tôi". Thiếu tá Giôn-xơn, đại biểu Hoa Kỳ trong Tổ Liên hợp bốn bên, hình như xấu hổ với trò này, mặt đỏ bừng. Các đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời và Việt Nam dân chủ cộng hòa chất vấn đại úy Văn phía Sài Gòn.

        - Ông ở trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên, hôm nay Tổ Liên hợp về quan sát trại giam Phú Quốc trong vùng kiểm soát của các ông. Vậy sao các ông không thông báo cho nhà cầm quyền địa phương biết? Đó là một thủ tục sơ đẳng, một trách nhiệm tối thiểu mà phía các ông cũng làm không ra cái gì. Rõ ràng phía các ông đã cố tình phá hoại cuộc thăm này và vi phạm hiệp định về phần bảo đảm an toàn cho đại biểu bốn bên khi hoạt động.

        Đại úy Văn nói lí nhí chẳng còn nghe ra cái gì nữa. Thiếu tá Mỹ Giôn-xơn phải đỡ lời: "Thôi? Đây là một thiếu sót của phía Việt Nam cộng hòa. Chúng tôi xin ghi nhận và báo cáo lên cấp trên. Bây giờ, trong điều kiện không an toàn, Tổ Liên hợp quân sự bốn bên không thể tiếp tục công việc được".

        Thế là hai cuộc đi thăm trại giam Phú Quốc đã bị phía Sài Gòn phá hoại và bãi bỏ.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Hai, 2012, 07:08:23 pm

2. LỘC NINH

        Chiều ngày 19 tháng 2 năm 1973, hai chiếc trực thăng có sơn ký hiệu màu da cam đưa Tổ Liên hợp quân sự bốn bên đỗ xuống sân bay Lộc Ninh. Một sĩ quan quân giải phóng tại sân bay mời Tổ Liên hợp vào nhà nghỉ ngơi, uống nước, hút thuốc trong khi chờ ô tô quân giải phóng đưa đoàn vào thăm trại giam.

        Sau 50 phút chạy qua thị trấn, xóm ấp và rừng cao su, đoàn xe đến trại. Một cán bộ quân giải phóng, trưởng trại giam ra đón Tổ Liên hợp, mời vào nhà ăn một ít hoa quả tươi cho đỡ mệt. Anh giới thiệu cho sĩ quan liên hợp biết tình hình trại giam. Ỏ đây có nhiều sĩ quan binh lính thuộc nhiều binh chủng trong quân đội Sài Gòn bị bắt giữ. Anh cho biết sức khỏe tù binh nói chung là tốt. Có một số mắc bệnh sốt rét, đã được điều trị. Một số mắc bệnh lậu từ khi còn ở trong quân đội Sài Gòn cũng được bác sĩ quân giải phóng chữa cho sắp lành. Gạo ăn đủ no, thức ăn có cá, thịt, rau tùy bữa. Hàng ngày có từ 30 đến 40 gia đình đến thăm những tù binh này. Trong trại có đài thu thanh cho anh em nghe tin tức.

        Sau khi thăm tất cả nơi ăn, chốn ở trong trại, các sĩ quan Việt Nam cộng hòa và Hoa Kỳ công nhận lời nói của trưởng trại là đúng, vì chính họ đã gặp gỡ các tù binh khi họ đang nấu cơm, cắt tóc, ngồi chơi, nghe đài.

        Một lát sau, trong khi nói chuyện với các đại biểu tù binh, Thiếu tá Trung phía Sài Gòn hỏi:

        - Người chủ trại cử các anh ra đây hay các anh tự cử lấy?

        - Chúng tôi, tù binh tự cử đại biểu.

        - Các anh có khỏe không?

        - Khỏe.

        - Ăn có no không?

        - No.

        - Biết Hiệp định đình chiến từ bao giờ?

        - Từ 24 giờ đêm ngày 27 tháng 1 năm 1973.

        - Các anh đã được học về Nghị định thư trao trả chưa?

        - Rồi.

        Thấy không còn gì để thăm dò, vặn hỏi nữa, mọi việc làm ở đây đều đúng theo tinh thần hiệp định, Thiếu tá Trung và Thiếu tá In-man mời cả Tổ Liên hợp lại. Thiếu tá Trung phía Sài Gòn phát biểu:

        - Tôi xin nói cuộc đi thăm trại giam hôm nay tiến hành kết quả tết.

        Thiếu tá In-man tiếp:

        - Xin cảm ơn ông trưởng trại giam đã đón tiếp chúng tôi tử tế và tạo điều kiện cho cuộc đi thăm đạt kết quả tết đẹp.

        Trong khi Tổ Liên hợp lên xe trở ra sân bay Lộc Ninh, đại úy Tạ Thành Danh, sĩ quan Việt Nam dân chủ cộng hòa cho Thiếu tá Trung và Thiếu tá In-man biết sáng 18 tháng 2, sáng 19 tháng 2, Tổ Liên hợp quân sự bốn bên đi thăm trại giam Phú Quốc đã bị phía Sài Gòn phá đám, phải bãi bỏ hoạt động.

        Thiếu tá Hoa Kỳ im lặng, Thiếu tá Trung nói: "Hay Tổ Liên hợp ta xuống Phú Quốc xem sao?".

        Không hiểu sao lúc bấy giờ trung úy Dương, một sĩ quan Sài Gòn cứ nhìn chằm chằm vào mặt Thiếu tá Trung.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Hai, 2012, 07:08:53 pm

3. HÀ NỘI

        Tại Hà Nội, ngày 18 tháng 2 năm 1973, Đoàn đại biểu Ban Liên hợp quân sự bốn bên đã ra thăm nơi giam giữ phi công Mỹ và quan sát việc trao trả 20 phi công Mỹ ở sân bay Gia Lâm. Đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ và trở về Sài Gòn trong đêm hôm ấy.

        Tại Sài Gòn, trưa 19 tháng 2 năm 1973, trong cuộc họp các trưởng đoàn quân sự bốn bên ở khu vực Tân Sơn Nhất, tướng Út-uất, Trưởng đoàn Hoa Kỳ đã hai lần cảm ơn các đại diện Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà về thái độ đàng hoàng tử tế trong khi tiếp Đoàn đại biểu Ban Liên hợp quân sự ra Hà Nội để thăm trại giam, dự cuộc trao trả và đi thăm thủ đô Hà Nội.

        Tướng Út-uốt kết luận: "Đó là một cuộc tiếp đón mẫu mực ".

        Đại biểu Hoa Kỳ nói như vậy, lúc ra nghỉ 15 phút, tướng Dư Quốc Đống, phía Việt Nam cộng hoà đã đến gặp Thiếu tướng Lê Quang Hoà và nói rằng: "Tôi đã được báo cáo đầy đủ, tôi xin ghi nhận và hoan nghênh cuộc tiếp đón nồng hậu của Hà Nội đối với Đoàn đại biểu Liên hợp bốn bên trong chuyến đi ra Hà Nội".

        Đoàn đại biểu Liên hợp đã được đại diện Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà đưa vào thăm trại giam phi công Mỹ và gặp gỡ các phi công Mỹ đang sinh hoạt bình thường. Các đại biểu quốc tế, đại biếu phía Hoa Kỳ và Sài Gòn cũng đã tự do hỏi han đại biểu các phi công Mỹ bị bắt giam là Thiếu tá Pai-ri và Đại úy ép-bốp. Các câu trả lời đã thỏa mãn các câu hỏi. Ở trại giam này, việc đối xử với người bị bắt hoàn toàn đúng với Hiệp định Pa-ri.

        Sau đó, trong khi chờ đợi đi quan sát việc trao trả ở sân bay Gia Lâm, Đoàn đại biểu Ban Liên hợp quân sự bốn bên và Đoàn đại biểu Ủy ban Quốc tế đã được mời đi tham quan phong cảnh Hà Nội. Các đại biểu đã đi xem đường phố, đi quanh hồ Hoàn Kiếm, thăm Công viên Thống nhất xanh tươi hoa lá. Các đại biểu thấy rõ Hà Nội tự do, trật tự, thanh lịch. Các đại biểu quay phim chụp ảnh tùy thích. Hà Nội không như Sài Gòn chằng chịt dây thép gai, bốt gác và đâu đâu cũng lố nhố mũ sắt của quân cảnh vũ trang.

        Khi về ăn cơm trưa tại khách sạn Hoà Bình, sĩ quan đại biểu Ca-na-đa đã cảm ơn đại diện Việt Nam dân chủ cộng hoà, Trung tá Rốp-sơn Trưởng đoàn Hoa Kỳ đã nâng cốc chúc sức khỏe các đại biểu, cảm ơn sự nhiệt tình và mến khách của Việt Nam dân chủ cộng hoà, cảm ơn cuộc đi quan sát trại giam và tham quan thành phố, cảm ơn những người phục vụ và xin ghi nhớ những kỷ niệm tốt đẹp hôm nay. Đại biểu phía Sài Gòn thì ngồi im.

        Sau đó các đại biểu ra sân bay Gia Lâm dự cuộc trao trả phi công gọn gàng, trật tự, có đông đảo các nhà báo trong nước, nước ngoài được tự do chụp ảnh, lấy tài liệu. Sự việc đã rõ ràng, mọi hoạt động của Đoàn đại biểu quân sự bốn bên và Đoàn đại biểu ủy ban Quốc tế đã đước bảo đảm chu đáo.

        Thiêu tá Phạm Huấn, sĩ quan Sài Gòn trong Đoàn đại biểu Việt Nam cộng hoà ra Hà Nội hôm ấy, trước sự thật lớn lao, không dám nói năng bậy bạ.

        Sự việc thế nào thì đã có câu kết luận của tướng Út-uốt và tướng Dư Quốc Đống, cấp trên của Huấn rồi. Chỉ có điều là tới hôm sau (19-2) trở về Sài Gòn, Huấn đã lên đài phát thanh rên rỉ: "Tôi vốn là người Hà Nội. Chuyến đi thăm này làm cho tôi thấy cô đơn, thấy đau đớn, Hà Nội không như 19 năm về trước, năm 1954 khi tôi từ giã " Huấn luyến tiếc cái thời làm nô lệ cho thực dân Pháp và hắn lải nhải ca ngợi cái kiếp làm nô lệ mới cho Mỹ hiện nay của hắn.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Hai, 2012, 09:47:34 pm

NHỮNG ÁNH MẮT SÀI GÒN

NGUYỄN DANH          
       
        Đến Sài Gòn ngay sau ngày ngừng bắn nhưng mãi đến trưa 4 tháng 2 năm 1973, chúng tôi mới có dịp gặp mặt với đông đảo đồng bào. Hôm ấy theo lời mời của Đại sử Mi-sen Gô-vin, Trưởng đoàn Ca-na-đa, Chủ tịch ủy ban Quốc tế, hai đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà trong Ban Liên hợp quân sự đến dự cuộc họp mặt với ủy ban Quốc tế.

        Các đại biểu quân giải phóng mặc quân phục màu xanh lá cây, đội mũ cứng, đeo quân hiệu ngôi sao vàng trên nền đỏ và xanh. Các sĩ quan quân đội nhân dân mặc quân phục mùa đông, lấp lánh quân hàm trên vai áo, quân hiệu sao vàng trên nền đỏ.

        Từ phòng họp trong căn cứ Hoa Kỳ ở sân bay Tân Sơn Nhất đoàn xe của hai đoàn đại biểu ta có xe quân cảnh chính quyền Sài Gòn dẫn đường, đi theo đường Công Lý, rẽ qua đường Hiền Vương, đường Trần Quốc Toản, qua Pê-tơ-ruýt-ký đến trụ sở phái đoàn Ca-na-đa tại số 1 đại lộ Lý Thái Tổ. Xe chạy nhanh, nhưng tất cả những gì chúng tôi thấy được đã một lần nữa giúp chúng tôi khẳng định thêm lòng tin vô hạn đối với lòng yêu nước và ý chí cách mạng của đồng bào. Một người đàn bà ngồi sau chiếc xe máy hon đa - lúc ấy đang bị dẹp sang một bên đường để nhường lối cho đoàn xe - vừa trông thấy Trung tướng Trần Văn Trà và các đồng chí ngồi cùng xe đã đưa tay lên kéo vài người đàn ông ngồi phía trước.

        - Giải phóng", "giải phóng"! Chị vừa lắc mạnh vai người đàn ông vừa reo lên. Tiếng reo mừng rỡ bật lên đột ngột, vượt qua hết thảy mọi âm thanh hỗn độn của đường phố Sài Gòn bay đến với chúng tôi. Nhiều đồng chí trong đoàn ngay từ phút gặp gỡ đầu tiên ấy đã không nén được xúc động. Xe đi dần vào trung tâm thành phố, người đi lại càng đông, những biểu hiện tình cảm càng dồn dập, sâu đậm. Một bác xích lô dừng xe bên vệ đường lúc đầu bác chỉ đứng yên, nhưng chợt nhận ra chúng tôi, bác vội đưa tay ra vẫy vẫy. Một anh lính trẻ Sài Gòn quay lại nói gì với người cảnh sát đứng cạnh. Người cảnh sát ngoảnh mặt ra phía khác, còn anh lính trẻ thì đứng thẳng, đưa tay cất mũ trên đầu xuống, mặt hướng ra phía đoàn xe.

        Hàng vạn cặp mắt nhìn chúng tôi. Những cặp mắt mở to, lấp lánh một niềm vui bất chợt. Có người chớp chớp mắt, có người cười, có người gật gật đầu. Ở quãng cuối đường Trần Quốc Toản, một thanh niên đeo kính trông thấy quân hiệu của các đoàn ta, vội nhảy từ trên xe máy xuống, luýnh quýnh không biết làm gì. Cuối cùng anh đứng thẳng, hướng về đoàn xe, một bàn tay úp lên phía trái ngực. Chúng tôi mỉm cười chào anh. Chưa đến lúc chúng ta ôm chầm lấy nhau, nói với nhau những điều sâu kín của lòng mình. Nhưng ơi anh bạn trẻ của Sài Gòn anh dũng, chúng tôi nghe rõ nhịp đập của trái tim anh và trái tim của hàng triệu người dân Sài Gòn yêu nước.

        Chính quyền Sài Gòn bố trí dày đặc cảnh sát, mật vụ quanh ngôi nhà trụ sở phái đoàn Ca-na-đa, bịt chặt mọi lối ra vào. Nhưng, khi xe các đoàn ta vừa dừng bánh, hàng trăm phóng viên các báo, các hãng thông tin, điện ảnh nước ngoài và của Sài Gòn đã ùa tới. Tất cả ống kính máy ảnh, máy quay phim, ống thu máy ghi âm chĩa vào Trung tướng Trần Văn Trà, Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Thiếu tướng Lê Quang Hoà, Trưởng đoàn đại biếu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà. Có người bị cảnh sát cản không đến gần được, phải từ xa chĩa ống thu máy ghi âm, miệng hét to câu phỏng vấn.

        Tươi cười, thoải mái, Trung tướng Trần Văn Trà dừng lại một lúc trước hành lang, vẫy chào và nói chuyện với các nhà báo. Đồng chí cảm ơn ủy ban Quốc tế, cảm ơn các đại biểu dư luận, nêu bật thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam, nêu quyết tâm thi hành nghiêm chỉnh hiệp định đã ký kết. Thiếu tướng Lê Quang Hoà cùng nói chuyện một lúc với các nhà báo.

        Một nhà báo Sài Gòn đánh lừa cảnh sát, cố len được vào gần. Nét mặt hả hê, anh bấm máy lia lịa. Khi đến gần chúng tôi, anh nói: - Đã quá mấy anh ơi! Anh còn định nói nữa, nhưng đã bị hai lính quân cảnh đến xóc nách lôi.đi. Chân bước đi mặt vẫn ngoảnh lại, anh cười và nháy mắt chào tạm biệt.

        Một nhà báo nước ngoài cũng gặp chúng tôi. ông ta nói:

        - Sự xuất hiện của các ông ở đây là một điều kỳ diệu. Tôi đã thấy những cặp mắt người Sài Gòn nhìn các ông. Những cái nhìn ấy mạnh gấp trăm lần những thứ kia.

        Ông ta hất hàm về phía những cảnh sát, những lá cờ sọc và những khẩu hiệu đang chăng đầy đường.

        Quả thế thật. Có lẽ trên thế giới không một nơi nào lắm khẩu hiệu, lắm cờ, lắm cảnh sát, mật vụ bằng Sài Sòn hiện nay.

        Nhưng hoà bình, độc lập, dân chủ, hoà hợp dân tộc là suy nghĩ, tình cảm và mục tiêu vươn tới của đồng bào Sài Gòn mà không gì có thể ngăn nổi.

        


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Hai, 2012, 08:28:07 am

NHỮNG NHÂN VIÊN
QUÂN SƯ VÀ DÂN SỰ HOA KỲ
ĐƯỢC TRAO TRẢ ĐỢT CUỐI CÙNG

NGUYỄN HÙNG ĐÀO            

     Nguyên sĩ quan báo chí của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hỏa miền Nam Việt Nam.    
  
        Một trong những hoạt động được ghi nhận là sôi động nhất, diễn ra trên diện rộng (một địa điểm ở miền Bắc và nhiều địa điểm ở miền Nam) với thời gian dài nhất, là hoạt động trao trả nhân viên quân sự và nhân viên dân sự của các bên bị bắt trong chiến tranh.

        Mỗi cuộc trao trả là một cuộc đấu trí, đấu lý và đấu pháp quyết liệt giữa ta và đối phương mà lần nào phía ta cũng là người chiến thắng.

        Xin ghi lại sau đây đợt trao trả cuối cùng đối với nhân viên quân sự và dân sự Hoa Kỳ mà ý nghĩa của nó đã vượt xa nghĩa đen thông thường của cặp động từ "trao trả".

TRAO TRA ĐỢT CUỐI CÙNG
NHÂN VIÊN QUÂN SỰ VÀ DÂN SỰ HOA KỲ
BỊ BẮT TAI MIỀN NAM VIỆT NAM CHO PHÍA HOA KỲ

        Lẽ ra đợt trao trả này được diễn ra trước đó, tức ngày 24 tháng 3 năm 1973, nhưng phía Hoa Kỳ âm mưu trì hoãn việc rút quân nên lật lọng bằng cách đưa ra đòi hỏi phi lý, đã bị phía ta bác bỏ, buộc họ phải chấp nhận thời gian trao trả lùi lại 3 ngày.

        Vậy Hoa Kỳ âm mưu trì hoãn việc rút quân và gây trở ngại hoàn thành việc trao trả nhân viên quân sự của họ bị bắt và bị giam giữ thế nào?

        Trong cuộc họp tối ngày 21 tháng 3 năm 1973, của Ban Liên hợp quân sự bốn bên trung ương, phía Hoa Kỳ đã thỏa thuận với phía Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà là đến sáng ngày 23 tháng 3 năm 1973 sẽ trao danh sách các nhân viên quân sự Hoa Kỳ được trao trong đợt 4, tức là đợt cuối cùng. Ngày 24 tháng 3, sẽ trao trả các nhân viên quân sự Hoa Kỳ bị bắt ở miền Nam Việt Nam, ngày 25 tháng 3, sẽ trao trả các nhân viên quân sự Hoa Kỳ bị bắt ở miền Bắc Việt Nam. Cũng trong thời gian đó, Hoa Kỳ hoàn thành về cơ bản việc rút các lực lượng của họ khỏi miền Nam Việt Nam. Số lính còn lại làm việc trong Ban Liên hợp quân sự đến hết thời hạn này cũng sẽ rút ra hết.

        Nếu làm đúng như thỏa thuận nói trên thì việc trao trả các nhân viên quân sự Mỹ bị bắt cũng như việc rút quân sẽ được hoàn thành một cách tốt đẹp và đúng thời hạn như hiệp định đã quy định.

        Đột nhiên, sáng ngày 22 tháng 3 năm 1973, phía Mỹ đã lật ngược hoàn toàn thỏa thuận. Phó trưởng đoàn đại biểu quân sự Mỹ trong công hàm gửi Trung tướng Trần Văn Trà và Thiếu tướng Lê Quang Hoà đã đòi phía Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà phải đưa cho họ danh sách và trao trả cho họ tất cả tù binh Mỹ và nhân viên dân sự của Mỹ bị bắt trên toàn chiến trường Đông Dương, chứ không phải riêng số tù binh bị bắt trên chiến trường Việt Nam. Họ còn nói là có được như vậy họ mới rút hết số quân còn lại ra khỏi miền Nam Việt Nam. Trong một công hàm khác cùng ngày, Mỹ cũng không nói rõ là số quân Mỹ còn lại trong cơ quan liên hợp quân sự và một số nơi khác có rút hết sau ngày 28 tháng 3 hay không?

        Chính phủ Mỹ, một trong các bên giữ bản Hiệp định trong tay biết rất rõ Hiệp định Pa-ri và các Nghị định thư không hề có một điều khoản nào cho phép Mỹ gắn việc trao trả tù binh Mỹ bị bắt ở các nước khác ngoài Việt Nam với việc rút hết quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam. Chúng ta đã bác bỏ đòi hỏi vô lý này của Mỹ.

        Cuối cùng Mỹ đành chấp nhận chỉ được phép lùi lại 3 ngày, tức ngày 27 tháng 3 năm 1973.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Hai, 2012, 08:29:13 am
        Xin ghi lại những diễn biến chính của đợt trao trả cuối cùng nhân viên quân sự và dân sự Hoa Kỳ bị bắt tại miền Nam Việt Nam cho phía Hoa Kỳ nhằm giúp chúng ta nhớ lại dư luận trong nước và thế giới một lần nữa ghi nhận lòng nhân đạo truyền thống của nhân dân ta và thái độ nghiêm chỉnh thi hành hiệp định của phía Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa.

        Ngày 27 tháng 3 năm 1973, tại sân bay Gia Lâm (Hà Nội), ông Lê Khoan Hồng, ủy viên Đoàn đại diện đặc biệt Cộng hoà miền Nam Việt Nam tại Việt Nam dân chủ cộng hoà và Thiếu tá Bùi Văn Thanh, được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam ủy nhiệm đã trao cho Chính phủ Hoa Kỳ 32 nhân viên quân sự và dân sự của họ bị bắt ở miền Nam Việt Nam. Đây là đợt thứ 4 và là đợt trao trả cuối cùng các nhân viên quân sự và dân sự Hoa Kỳ và đồng minh của Hoa Kỳ bị Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam bắt và giam giữ.

        Lúc 11 giờ 30 phút, máy bay chở Tổ Liên hợp quân sự bốn bên và Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát hạ cánh xuống sân bay Gia Lâm.

        Các vị trong Tổ Liên hợp quân sự bốn bên trung ương và ủy ban Quốc tế hoàn toàn nhất trí về chương trình cuộc trao trả do đại diện của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đưa ra.

        Đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã trao cho đại diện phía Hoa Kỳ bản danh sách những nhân viên quân sự và dân sự của họ được trao trả đợt này.

        Đúng 15 giờ, cuộc trao trả bắt đầu với sự chứng kiến của Tổ Liên hợp quân sự bốn bên, Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát, hàng trăm nhà báo, phóng viên quay phim, vô tuyến truyền hình trong nước và nước ngoài.

        Cuộc trao trả tiến hành nhanh gọn 25 nhân viên quân sự trong đó có 1 lính, 5 hạ sĩ quan, 5 chuyên viên, 3 thiếu úy, 3 trung úy, 6 đại úy và 2 thiếu tá gồm đủ các quân chủng trong quân đội Hoa Kỳ và 7 nhân viên dân sự Hoa Kỳ lần lượt lên máy bay. Họ là số nhân viên quân sự và dân sự Hoa Kỳ cuối cùng được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam trao trả đúng như Nghị định thư về việc trao trả những nhân viên quân sự và dân sự nước ngoài bị bắt. Tất cả họ đều bị quân và dân miền Nam bắt sau cuộc Tổng tiến công hồi Tết Mậu Thân, trong đó người cuối cùng bị bắt là Phi-líp A-lân Kin-xlơ, thiếu tá, số lính 073.30.2438, lái máy bay hải quân Mỹ, bị bắn rơi và bị bắt ngày 26 tháng 1 năm 1973, một ngày trước khi ký Hiệp định Pa-ri về Việt Nam. Anh ta rất mạnh khỏe và phấn khởi vì đã thoát chết và được trở về sau hai tháng bị giam giữ. Tất cả 32 người trên đều bị thương, có nhiều người bị thương rất nặng. Nhưng họ đều được các thầy thuốc quân giải phóng cứu chữa, đến nay các vết thương đều đã lành, sức khỏe họ rất tất. Đa-nhi-en Hê-ri Hê-phin, chuyên viên bậc 4; Giôn Uy-liên Pa-xơn, đại úy Tom I-ô-si-hi-xa Cô-ba-si-gô-oa, chuyên viên bậc 5 cùng đi trên một máy bay bị trúng đạn của quân giải phóng bốc cháy, máy bay rơi vào rừng. Khi bị bắt ba tên này hoàn toàn mê man bất tỉnh. Tám ngày sau khi về đến trại giam, họ mới tỉnh, và mới biết là bị bắt. Họ được quân giải phóng hết lòng cứu chữa. Họ đều tỏ lòng biết ơn sâu sắc Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã cứu sống và đối xử hết sức nhân đạo đối với họ.

        Đa-nhi-en Hê-ri Hê-phin xúc động nới với cán bộ quân giải phóng: "Các ông đã "tái sinh" cho tôi. Đời tôi không bao giờ quên ơn này". Trong nhà giam, Rô-bớt Phlếch On-xơn, nhân viên dân sự bị bắt ngày 2 tháng 2 năm 1968 tại Thừa Thiên rất chịu khó học tiếng Việt. Anh ta đã nói lên lòng biết ơn của mình đối với Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh. Hôm nay được trở về anh ta còn cố xin đem theo chiếc nón lá và chiếc điếu cày Việt Nam làm kỷ niệm.

        15 giờ 15 cuộc trao trả kết thúc, đại diện phía Hoa Kỳ nói cuộc trao trả đã được tiến hành đúng kế hoạch thỏa thuận. ông Lê Khoan Hồng phát biểu ý kiến một lần nữa khẳng định quyết tâm của nhân dân Việt Nam thực hiện nghiêm chỉnh hiệp định này, nhanh chóng tiến hành trao trả các nhân viên dân sự bị bắt.

        Như vậy, từ ngày 15 tháng 2 năm 1973 đến ngày 27 tháng 3 năm 1973, trong 4 đợt Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã trao trả cho phía Hoa Kỳ toàn bộ số nhân viên quân sự và dân sự Hoa Kỳ và đồng minh của Hoa Kỳ. Tổ Liên hợp quân sự bốn bên và ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát đều chứng kiến các cuộc trao trả được tiến hành nhanh, gọn, tốt.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Hai, 2012, 08:30:00 am

TRAO TRẢ ĐỢT CUỐI CÙNG
NHỮNG TÊN GIẶC LÁI MỸ ĐÃ TỪNG GÂY NHIỀU TỘI ÁC
ĐỐI VỚI NHÂN DÂN MIỀN BẮC NƯỚC TA
CHO PHÍA HOA KỲ

        Lúc 15 giờ 20 phút ngày 29 tháng 3 năm 1973, An-phơi Nao-ớt Ac-niu, người cuối cùng trong bản danh sách dài những nhân viên quân sự Hoa Kỳ bị quân và dân ta bắt và giam giữ ở miền Bắc nước ta được Chính phủ ta trao trả cho phía Hoa Kỳ, bước lên chiếc máy bay C.141, số hiệu 50238 trở về Mỹ.

        Từ tên trung úy án-va-rết bị quân và dân Quảng Ninh bắt ngày 5 tháng 8 năm 1964 ngày đầu tiên của cuộc chiến tranh phá hoại tàn bạo của đế quốc Mỹ đến tên Thiếu tá An-phơi Nao-ớt Ac-niu bị bắt ngày 28 tháng 12 năm 1972 tại Hà Tây, con số nhân viên quân sự Hoa Kỳ và đồng minh của họ bị bắt và được trao trả toàn bộ.

        Trong 2 ngày liên tiếp 28 và 29 tháng 3 năm 1973, sân bay Gia Lâm (Hà Nội) khá nhộn nhịp. Đợt cuối cùng ngày 29 tháng 3 này Chính phủ ta trao trả cho Hoa Kỳ 107 nhân viên quân sự. Lẽ ra, số 107 nhân viên quân sự này đã được sớm về đoàn tụ với gia đình họ từ ngày 25 tháng 3 năm 1973 như kế hoạch mà Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên trung ương đã thông báo, nhưng do thái độ ngang ngược và những đòi hỏi vô lý của phía Hoa Kỳ cản trở nên hôm nay họ mới được rời khỏi trại giam, chậm một ngày so với quy định của Hiệp định Pa-ri về Việt Nam.

        107 tên giặc lái đều bị bắt ở hầu hết các địa phương trên miền Bắc từ Quảng Bình đến Lạng Sơn. Tất cả chúng đều là bọn giặc lái máy bay đến gây tội ác với nhân dân chúng ta trong thời kỳ đế quốc Mỹ phiêu lưu gây trở lại cuộc chiến tranh phá hoại dã man ở miền Bắc nước ta. Trong hơn một năm kể từ 18 tháng 12 năm 1971 đến ngày 31 tháng 12 năm 1972 đã có 122 tên giặc lái bị tóm cổ. Con số này gần bằng 1/3 số giặc lái quân và dân ta bắt trong 4 năm chiến tranh phá hoại trước đây. 16 loại máy bay, kể cả máy bay chiến đấu hiện đại nhất của Hoa Kỳ F.111A cánh cụp cánh xòe và B.52G, máy bay chiến lược siêu đẳng đã bị phơi xác khắp đồng ruộng núi rừng hoặc rơi xuống biển ở miền Bắc và ngay cả trên đường phố của thủ đô Hà Nội.

        Một trong những cảnh nhộn nhịp nhất là phóng viên báo chí trong nước và ngoài nước tranh thủ ghi lại những hình ảnh tên giặc lái Mỹ không phải lúc ngồi trên máy bay ấn nút cắt bom gây tội ác bị bắn rơi, bị tóm cổ vào trại giam mà là lúc đã vào trại giam, đến sân bay Gia Lâm, biết chắc là đã thoát chết nên phấn khởi lên máy bay Hoa Kỳ để về Mỹ. Trong số hàng trăm nhà báo có mặt hôm đó người ta thấy có rất nhiều phóng viên các hãng thông tấn AFP. UPI, AP, các hãng vô tuyến truyền hình NBC, CBS, ABC, phóng viên của nhiều báo lớn ở Mỹ: Nữu ước Thời báo, Ngôi sao Hoa Thịnh Đốn... Số nhà báo nước ngoài này chẳng những họ ghi nhiều hình ảnh đợt trao trả cuối cùng ở sân bay Gia Lâm, diễn ra nhanh, gọn rất nhộn nhịp nhưng rất trật tự mà còn ghi lại rất nhiều hình ảnh nơi ăn ở, nơi giam giữ những tên giặc lái như: sân bóng rổ, bóng chuyền, phòng đọc sách trong khu vực trại giam khi họ được phép cùng với ủy ban Quốc tế và Tổ Liên hợp quân sự đến tận nơi giam giữ cuối cùng bọn giặc lái Mỹ trước khi trao trả. Họ đều tỏ ý rất hài lòng, có người lấy làm ngạc nhiên về chính sách tù binh của phía ta và lòng nhân đạo của nhân dân ta đối với bọn giặc lái Mỹ đã từng gây quá nhiều tội ác đối với nhân dân chúng ta.

        Đúng 14 giờ 30 phút, Trung tá Nguyễn Phương đại diện phía Việt Nam dân chủ cộng hoà tuyên bố cuộc trao trả bắt đầu. Các tên giặc lái Mỹ xếp hàng chờ đến lượt gọi tên mình. Khi tên giặc lái cuối cùng vào hẳn trong máy bay thì hai chiếc máy bay C.141 lần lượt cất cánh rời đường băng đưa những tên giặc lái được Chính phủ và nhân dân ta cho trở về với gia đình và đất nước họ.

        Phát biểu ý kiến về cuộc trao trả, Đại tá Giêm-đen- nét, đại diện phía Hoa Kỳ tỏ lời cảm ơn Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã tạo mọi điều kiện cho cuộc trao trả tiến hành tốt.

        Trung tá Trần Tấn, đại biểu quân sự Việt Nam dân chủ cộng hòa, Đại úy Hoàng Duy Hòa, đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Trung tá Nguyễn Văn Thọ đại biểu quân sự Việt Nam cộng hoà, Đại tá Rút-xen, đại biểu quân sự Hoa Kỳ trong Tổ Liên hợp quân sự bốn bên trung ương đều ghi nhận cuộc trao trả hoàn thành đúng thời gian quy định, đúng về thể thức đã thỏa thuận. Các vị trong ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát cũng tỏ ý hài lòng về kết quả cuộc trao trả này.

        Qua 4 đợt mà đợt ngày 29 tháng 3 năm 1973 là đợt cuối cùng, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà đã trao trả cho phía Hoa Kỳ toàn bộ số nhân viên quân sự của Hoa Kỳ và đồng minh của Hoa Kỳ bị quân và dân ta bắt giam ở miền Bắc nước ta.

        Như vậy là ngày 29 tháng 3 năm 1973 là ngày tất cả những nhân viên quân sự và nhân viên dân sự Hoa Kỳ bị bắt và giam giữ trên cả hai miền Nam - Bắc nước ta đã được trao trả cho phía Hoa Kỳ.

        Có một vấn đề đặt ra là tại sao Mỹ lại ngang ngược đòi hỏi một cách rất phi lý là Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và Chính phủ Cách mạng lâm thời phải trao trả họ tất cả tù binh Mỹ bị bắt trên toàn chiến trường Đông Dương.

        Chúng ta hiểu rõ rằng, đây là một mưu đồ nham hiểm của Mỹ, họ kiếm cớ, tạo ra lý do để lại một bộ phận quân Mỹ không rút đúng thời hạn cùng với các hành động khác để tiếp tục dính líu về quân sự ở miền Nam nước ta.

        Chúng ta kiên quyết lên án, vạch trần mưu đồ của Mỹ và thẳng thừng bác bỏ đòi hỏi phi lý đó, Mỹ đã phải chấp nhận, không dám dây dưa việc rút quân, phải nhận số nhân viên quân sự và dân sự bị bắt ở Việt Nam ngày 29 tháng 3 năm 1973 đồng thời cũng đúng ngày 29 tháng 3 năm 1973 những tên lính cuối cùng của Mỹ phải rút khỏi Việt Nam.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/3k-HoaLoHN1973.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/3g-TraotratubinhMytaiHaNoi1973.jpg)

Giặc lái Mỹ ra sân bay Gia Lâm về nước



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Hai, 2012, 05:55:16 pm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Davit2903.jpg)

NHỮNC CÂU CHUYỆN CÒN NHỚ MÃI

VŨ NAM BÌNH                      
                     
CÂU CHUYỆN THỨ NHẤT

        Theo sự thỏa thuận của bốn bên ký kết Hiệp định Pa-ri, ngày 28 tháng 1 năm 1973 hai đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam có mặt ở Sài Gòn.

        Phía đối phương hẹn đưa trực thăng của Mỹ ra đón Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời do Trung tướng Trần Văn Trà làm trưởng đoàn ngày 28 tháng 1 năm 1973, tại địa điểm sân bay Thiện Ngôn, phía Bắc Tây Ninh.

        Đoàn chúng tôi đã chuẩn bị chu đáo cho việc vào Sài Gòn để làm nhiệm vụ đấu tranh thi hành Hiệp định Pa-ri về Việt Nam. Đồng thời vẫn rất tỉnh táo đề phòng mọi sự phản trắc của kẻ thù. Quá trình đấu tranh để đi đến ký được Hiệp định Pa-ri đã chứng minh biết bao nhiêu lần kẻ thù phản trắc, lật lọng đổi thay.

        Đồng chí Trần Văn Trà đã nói với chúng tôi rằng: Cảnh giác và luôn đề phòng với Mỹ và nguy Sài Gòn không bao giờ thừa cả, chỉ sợ chúng ta không đủ tỉnh táo để đối phó với những mưu đồ xảo quyệt và ty tiện của chúng mà thôi.

        Còn 4, 5 ngày nữa mới tết nhưng chúng tôi tổ chức ăn một cái tết ở vùng căn cứ với các đồng chí đồng đội thật tưng bừng mừng thắng lợi của Hiệp định Pa-ri và sau đó đi vào cuộc đấu tranh mới.

        Ăn tết trước, vua Quang Trung cũng đã cho quân sĩ ăn tết trước để tiến quân đại phá quân Mãn Thanh. Tết Mậu Thân 1968 quân ta cũng ăn tết trước để đi vào cuộc tổng tấn công nổi dậy trên toàn miền Nam nhằm đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ và cũng sau cuộc tổng tiến công đó, Mỹ phải xuống thang chiến tranh, phải ngồi vào bàn đàm phán với ta.

        Sau gần 5 năm, hôm nay chúng ta lại ăn tết trước để tiến quân trên mặt trận đấu tranh mới - đấu tranh ngoại giao quân sự - tại địa điểm Ở giữa cái gọi là thủ đô của nguy Sài Gòn.

        Đồng chí Trần Văn Trà đã chỉ đạo cho cơ quan tham mưu phái một bộ phận trinh sát đến tại sân bay Thiện Ngôn từ sáng sớm 28 tháng 1 năm 1973. Yêu cầu bộ phận trinh sát này phải có công sự bảo đảm, phải tinh tường nhạy bén nắm tình hình mọi động tĩnh trên khu vực xung quanh Thiện Ngôn. Cừ 15 phút phải báo cáo về một lần.

        Đúng vào lúc cuối bữa tiệc Tết, mọi người đều nghe thấy mấy loạt bom nổ ở hướng sân bay Thiện Ngôn. Thế là có chuyện rồi.

        Ngay sau đó, chúng tôi được thông báo: "Đúng vào giờ mà Mỹ hẹn đưa trực thăng ra đón đoàn chúng tôi, tổ trinh sát báo cáo là không thấy có trực thăng nào cả. Chỉ có 2 máy bay của địch, bay lượn vài vòng trên sân bay Thiện Ngôn rồi thả những loạt bom xuống sân bay. Các mảnh bom và mảnh các loại xác xe tăng thiết giáp của địch bỏ lại ở sân bay bay tung toé xung quanh hầm công sự của các đồng chí trinh sát. Sau những loạt bom, tình hình vẫn im ắng, không có trực thăng nào đến".

        Thật là nực cười - Kẻ thù của chúng ta như thế đó.

        Một cuộc bàn tán rất sôi nổi về sự kiện vừa xảy ra. Ai cũng cho rằng chúng ta đã đúng, rất đúng khi xem xét về kẻ thù.

        Bọn xâm lược Mỹ đã trực tiếp vào đây gần 20 năm và một đội quân xâm lược trên 50 vạn tên cũng đã trực tiếp chiến đấu 10 năm rồi mà Mỹ đã phải chịu thua - Đã phải ký Hiệp định Pa-ri và điều quan trọng nhất là phải rút hết quân Mỹ, quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam trong vòng 60 ngày.

        Quân Mỹ phải rút ra, còn quân ta ở lại nguyên trạng thì nhất định ngụy sẽ chết. Vì vậy ngụy Sài Gòn kiên quyết phản đối ký Hiệp định Pa-ri - Nhưng ngụy phải theo lệnh của quan thầy Mỹ nên phải ký. Ngụy buộc phải ký nên chúng sẽ phá quyết liệt Hiệp định Pa-ri.

        Hành động thả bom vào địa điểm đón đoàn đại biểu quân sự của ta là một hành động phá hoại cụ thể.

        Chúng không muốn có phái đoàn quân sự của ta giữa Sài Gòn.

        Nhưng chúng ngăn cản làm sao được. Đây chỉ là một hành động phản ứng đê hèn mà thôi. Nhất định Mỹ phải đón đoàn ta vào Sài Gòn.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Hai, 2012, 05:56:10 pm
        
        Việc rút quân Mỹ, việc nhận những tù binh Mỹ bị ta bắt và giam giữ là một yêu cầu bức thiết của nhân dân Mỹ. Chính quyền Mỹ buộc phải thực hiện, chậm ngày nào mà Ban Liên hợp quân sự bốn bên không làm việc sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến rút quân và trao trả. Chúng ta kịch liệt lên án và phản đối kẻ thù về sự việc ném bom vào đúng địa điểm và đúng giờ hẹn đón đoàn đạl biểu quân sự của ta.

        Chúng ta yêu cầu phía đối phương phải nhanh chóng đón Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời vào Sài Gòn để bảo đảm sự phối hợp hành động của các bên thi hành Hiệp định Pa-ri.

        Chúng ta nói rõ địa điểm đón là sân bay Lộc Ninh, ngày đón là 1 tháng 2 năm 1973.

        Lộc Ninh trong chiến tranh là một cứ điểm kiên cố cấp chiến đoàn của quân đoàn 3 nguy để án ngữ vòng ngoài bảo vệ Sài Gòn.

        Cứ điểm kiên cố này đã bị quân ta tiêu diệt năm 1972 trong chiến dịch "Nguyễn Huệ" - Ta tiêu diệt hoàn toàn chiến đoàn đồn trú tại đây và diệt nhiều đơn vị bộ binh xe tăng thiết giáp của địch đến ứng cứu. Ta đã bắt sống toàn bộ cơ quan chỉ huy Chiến đoàn 8 nguy, trong đó có tên Đại tá Nguyễn Công Vĩnh chiến đoàn trưởng.

        Từ đó, Lộc Ninh là vùng giải phóng khá trù phú, có đông dân và nó đã trở thành một trung tâm chính trị của vùng giải phóng trên chiến trường Nam Bộ và cực nam Trung Bộ.

        Lộc Ninh là biểu tượng chiến thắng của ta.

        Lộc Ninh cũng là nỗi nhục thất bại của địch.

        Đã một lần đánh hụt thất bại ở Thiện Ngôn. Việc có mặt đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời ở Sài Gòn là cấp thiết.

        Nhất định kẻ thù phải ra đón đoàn ta và phải đón tại sân bay Lộc Ninh - Không thể khác được và cũng không thể chậm trễ hơn nữa.

        Đối phương phải chấp nhận làm đúng theo yêu cầu của ta.

        Các cơ quan của ta ở vùng giải phóng chuẩn bị rất tốt cho cuộc tiễn đưa Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời vào Sài Gòn.

        Ngày 1 tháng 2 năm 1973, đúng như giờ đã hẹn, những chiếc trực thăng Mỹ bay đúng theo đường bay và tầm cao do ta quy định đến vùng trời Lộc Ninh, lượn một vòng trên vùng trời và lần lượt hạ cánh theo đội hình thứ tự từ đầu Bắc sân bay.

        Như một ngày hội lớn, từ sáng sớm, rất đông đồng bào ở Lộc Nmh và vùng phụ cận cùng nhiều cán bộ, bộ đội lần lượt kéo đến sân bay Lộc Ninh để tiễn đoàn đại biểu quân sự thân yêu của mình đi vào cuộe đấu tranh thi hành Hiệp định Pa-ri. Một rừng cờ cách mạng cầm trong tay, treo trước của các nhà, trên các cành cây dọc đường, nét mặt của mọi người rạng rỡ hân hoan với khí thế chiến thắng cùng đội ngũ chỉnh tề tiến vào sân bay mớĩ lúc một đông biến thành một cuộc mít tinh lớn tiễn đoàn đại biểu quân sự của ta và hoan nghênh thắng lợi của Hiệp định Pa-ri.

        Cuộc mít tinh ngắn gọn, sôi nổi và rất hào hùng. Những sĩ quan lái máy bay người Mỹ đứng lặng lẽ nhìn, hẳn là họ cũng cảm nhận được khí thế của quần chúng cách mạng. Còn các sĩ quan nguy lại khác, họ ngồi lỳ trong máy bay mà không dám ra ngoài, họ nghĩ gì đây nhưng chắc là tức tối bực bội lắm.

        Trưởng đoàn Trần Văn Trà thay mặt đoàn chúng tôi phát biểu cảm ơn đồng bào, cán bộ, chiến sĩ đã tiễn đưa thân tình và trọng thể, hứa hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và xứng đáng với niềm tin mà đồng bàn đồng chí đã gửi gắm.

        Tất cả chúng tôi, những sĩ quan chiến sĩ trong đoàn hết sức xức động. Biết rằng kẻ thù sẽ còn phá hoại nhiều hơn nữa, còn lật lọng phản trắc trên nhiều vấn đề và sẽ gây khó khăn trở ngại cho sự thực hiện nhiệm vụ của phái đoàn ta, nhưng không ai trong chúng tôi thể hiện một sự nao núng nào.

        Từ vị trí chiến thắng này, chúng tôi hiên ngang đi vào giữa sào huyệt của địch, tiến hành mặt trận đấu tranh mới - đấu tranh ngoại giao quân sự - để thi hành Hiệp định Pa-ri về Viêt Nam.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/1a-1.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/1d.jpg)

Trung tướng Trần Văn Trà trong buổi mít tinh tại sân bay Lộc Ninh tiễn đoàn B vào Đa-vít làm nhiệm vụ


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Hai, 2012, 05:58:40 pm

CÂU CHUYỆN THỨ HAI

       Trong một cuộc họp của cấp trưởng đoàn Ban Liên hợp quân sự hai bên đã diễn ra một câu chuyện rất lý thú. Hôm nay là ngày đồng chí Võ Đông Giang Phó đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời đi họp thay trưởng đoàn. Mấy bữa họp trước đó, vấn đề trao trả nhân viên dân sự là vấn đề rất gay cấn. Chúng ta đã vạch rõ sự vi phạm Hiệp định Pa-ri của ngụy Sài Gòn. Họ cãi chày cãi cối và chống chế một cách yếu ớt.

        Lần này, hai đoàn đại biểu quân sự vừa vào chỗ họp, Phan Hoà Hiệp chuẩn tướng trưởng đoàn của ngụy Sài Gòn chủ động nêu ra một vấn đề không ăn nhập gì với những nội dung mà hội nghị cấp trưởng đoàn đang còn bàn trong mấy phiên họp vừa qua.

        Phan Hoà Hiệp nói nội dung về lai lịch của đồng chí Võ Đông Giang. Hiệp thao thao bất tuyệt nêu ra rằng: "Ông phó đoàn của Chính phủ Cách mạng lâm thời mang tên là Võ Đông Giang nhưng ông không phải là Võ Đông Giang, ông cũng không phải là đại tá. Chính ông tên là Phan Bá, ông là Vụ trưởng của Bộ Ngoại giao Bắc Việt. Trong thời kháng Pháp, ông là liên Bí thư tỉnh ủy Gia Lai - Kon Tum rồi ông ra miền Bắc làm ngoại giao. Ông không ở trong quân đội ngày nào.

        Chúng tôi biết rất rõ về ông. Các ông lấy vải thưa che mắt thánh, nhưng không giấu được chúng tôi đâư".

        Nói xong, Hiệp ngồi im.

        Quan sát thái độ của Hiệp và bộ hạ của nó hôm đó, chúng tôi thấy chúng có vẻ đắc chí về các tin tức mà Hiệp vừa nói. Chắc chúng nghĩ rằng với tin tức mà Hiệp vừa nói, Võ Đông Giang sẽ lúng túng, không chối cãi vào đâu được Nhưng đồng chí Võ Đông Giang của chúng ta rất bình thản. Anh tiếp tục ngậm tẩu hút thuốc lá.

        Sau một lúc, bằng giọng nói chắc, gọn và rõ, anh Giang hỏi Phan Hoà Hiệp rằng Hiệp còn gì nói thêm nữa không, sẵn sàng nghe tiếp tin tức lý thú mà Hiệp vừa nói. Tiếp theo, anh Giang hỏi luôn là, có phải Phan Hoà Hiệp đưa nội dung này ra để bàn trong hội nghị hôm nay hay chỉ là một câu chuyện tầm phào.

        Hiệp ấp úng, lúng túng ậm ậm ờ ờ rằng tôi nêu vấn đề vậy thôi và cũng để ông biết là chúng tôi đã biết rõ như thế.
  
        Đồng chí Võ Đông Giang, vẫn với thái độ bình tĩnh, ngồi ỉm một lúc khá lâu.

        Một số sĩ quan đi họp cùng anh Giang hôm đó ghi những mẩu giấy đưa cho anh Giang. Sau hội nghị, được biết các đồng chí sĩ quan ghi rằng đây là đòn khiêu khích, anh hãy bác bỏ hoàn toàn. Riêng tôi biết rõ lai lịch Phan Hoà Hiệp nên ghi vội vài dòng cho anh Giang. Hiệp là con một người Pháp, mẹ Việt Nam, Phan Hòa Hiệp là phiên âm từ chữ Franẹois Hiệp. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 Hiệp là lính của Đệ tam sư đoàn. Khi Pháp đánh trở lại, sư đoàn này tan rã và đầu hàng Pháp.

        Hiệp cũng nằm trong số đó...

        Anh Võ Đông Giang, lại một lần nữa hỏi Hiệp có nói thêm gì không. Hiệp không nói gì nữa.

        Anh Giang chậm rãi nói, bây giờ đến lượt tôi phát biểu.

        Anh Giang nêu ra 3 ý kiến cụ thể.

        Một là, trước hết và ngay lập tức sau cuộc họp này ông Phan Hoà Hiệp chuẩn tướng của quân đội Việt Nam cộng hoà hãy cách chức tất cả những tên tình báo nào đưa cho ông cái tin về lai lịch của tôi mà ông vừa nói. Đây là tin bịa đặt nên phải cách chức những tên đưa tin đó.

        Hai là, nếu ông chuẩn tướng muốn lấy tin tức này để thành một nội dung thảo luận trên diễn đàn của cấp trưởng đoàn hôm nay thì tôi đồng ý. Chúng ta sẽ cùng nhau lật ngửa con bài. Ông Hiệp trình bày hết những gì mà ông có về lai lịch của tôi. Và tôi cũng sẽ trình bày tại đây và ngay bây giờ về lai lịch của ông chuẩn tướng. Xin nói rằng lai lịch của ông chuẩn tướng không đẹp đẽ gì đâu và tôi cũng dám chắc rằng nhiều người bên quý vị và ngay những người của phía quý vị ngồi tại đây cũng không hiểu rõ lai lịch chính trị của ông chuẩn tướng đâu.

        Ba là, nếu đưa tin tức làm câu chuyện tầm phào, đi đến cãi cọ nhau một cách vô bổ để lảng tránh hoặc làm mất thời gian bàn bạc việc chính yếu thì đó chỉ là trò lố bịch. Không thể lảng tránh vấn đề mà ta đang bàn bạc là vấn đề trao trả nhân viên dân sự được đâu. Đó không phải là tư cách của những nhà ngoại giao quân sự để bàn việc thực thi Hiệp định Pa-ri mà các bên đã ký kết. Ở diễn đàn cấp trưởng đoàn này không có chỗ cho việc đưa ra tin tức theo kiểu đó. Hãy bỏ kiểu đó đi.

        Phan Hoà Hiệp và đồng bọn ngồi im phăng phắc, chúng không dám nhìn thẳng vào đoàn ta nữa.

        Phan Hoà Hiệp bẽ bàng gỡ thế bí nên nêu ý kiến là hội nghị tạm nghỉ giải lao 15 phút, sau vào tiếp tục.

        Ngồi trong phòng nghỉ giải lao, Hiệp nói với anh Giang là các ông phê phán tôi dữ quá. Tôi chỉ là lính đánh nhau, là loại võ biền thôi chứ đâu có được làm ngoại giao như đại tá..

        Câu chuyện đấu tranh giữa Võ Đông Giang và Phan Hoà Hiệp là một câu chuyện khá lý thú, tôi ghi lại để chúng ta cũng nhớ lại.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/VoDongGiang-2.jpg)

Đại tá Võ Đông Giang


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Hai, 2012, 06:19:12 pm

CÂU CHUYÊN THỨ BA

        Quân Mỹ và quân chư hầu phải rút hết trong vòng 60 ngày, Mỹ phải hủy tất cả các căn cứ quân sự, Mỹ không được tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp nội bộ của miền Nam Việt Nam là điều khoản rất quan trọng của Hiệp định Pa-ri.

        Trong hội nghị cấp trưởng đoàn của bốn bên, lần nào hai trưởng đoàn của ta là Trung tuớng Trần Văn Trà, Thiếu tướng Lê Quang Hoà cũng yêu cầu phía Mỹ phải báo cho Ban Liên hợp quân sự biết kế hoạch rút quân Mỹ và quân chư hầu, kế hoạch phá hủy các căn cứ quân sự... để Ban Liên hợp quân sự phái các Tổ Liên hợp quân sự đến theo dõi, kiểm tra giám sát.

        Thiếu tướng trưởng đoàn quân sự Mỹ Út-uết ậm ừ rồi tảng lờ sang vấn đề khác. Hai trưởng đoàn ta nhắc lại rằng việc này không thể cho qua được mà phái đoàn Hoa Kỳ phải báo cáo rõ để Ban Liên hợp quân sự thi hành nhiệm vụ.

        Trong một cuộc họp tiếp theo, Út-uết trưởng đoàn quân sự Mỹ trịnh trọng tuyên bố rằng, Hoa Kỳ đã nghiêm chỉnh thi hành hiệp định và đã rút ra khỏi miền Nam Việt Nam 8.000 quân của Mỹ và đồng minh.

        Hai trưởng đoàn ta lập tức phản đối quyết hệt. Các trưởng đoàn ta nêu rõ rằng chúng ta không chấp nhận một sự thông báo hời hợt của phía Hoa Kỳ. Có cái gì để chứng minh cho việc rút quân Mỹ và chư hầu là có thật. Phải chăng những con số mà Thiểu tướng Út-uốt nêu ra là bịa đặt. Thiếu tướng Trưởngđoàn Lê Quang Hoà tuyên bố rằng bất cứ một cuộc rút quân nào của Hoa Kỳ và đồng minh, nếu không thông báo trước, không có sự theo dõi giám sát tại chỗ của Ban Liên hợp quân sự bốn bên cững như sự kiểm soát giám sát của ủy ban Quốc tế thì không con số nào, không cuộc rút quân nàn là có giá trị cả.

        Trung tướng Trần Văn Trà khẳng định rằng, đến hôm nay, chúng tôi xác định rằng chưa có một người lính Mỹ nào hay quân của một nước đồng minh nào của Mỹ đã rút khỏi miền Nam Việt Nam từ sau khi ký kết Hiệp định Pa-ri.

        Út-uết ngồi im chịu trận.

        Trưởng đoàn nguy Sài Gòn là Dư Quốc Đống lại đỡ đòn cho quan thầy Mỹ một cách hết sức vụng về. Đống nói rằng các ngài (ý nói hai trưởng đoàn ta) có cần kiểm tra giám sát đâu. Các ngài đòi hỏi như vậy chẳng qua là các ngài muốn quay phim, chụp ảnh rồi tuyên bố với thế giới rằng quân Mỹ đã thua, quân Mỹ phải rút hết khỏi miền Nam Việt Nam.

        Thật đáng thương hại cho trưởng đoàn ngụy Sài Gòn, một thân phận của kẻ tay sai khi đang bị quan thầy bỏ rơi mà phải nói lên điều đó.

        Chỉ một thời gian ngắn, ngay cuộc họp tiếp theo, ngày 16 tháng 2 năm 1973, Mỹ phải gửi công hàm cho ta và phải chính thức để các Tổ Liên hợp quân sự bốn bên đến các địa điểm quan sát, kiểm tra việc rút quân Mỹ và chư hầu. Các sĩ quan của hai đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và Chính phủ Cách mạng lâm thời chững chạc trong bộ quân phục cầm danh sách do nhà chức trách Mỹ cung cấp đọc từng tên sĩ quan và binh lính Mỹ, chư hầu rút quân cho đến những tên sĩ quan và binh lính cuối cùng.

        Các lần kiểm tra giám sát rút quân, sĩ quan ta phát hiện thấy không có tên nào mang theo vũ khí trang bị gì cả. Sĩ quan ta chất vấn, chúng trả lời là vũ khí trang bị đã mang theo đường biển. Đây là sự bịp bợm.

        Còn vấn đề phá căn cứ quân sự, chúng ta cũng yêu cầu Mỹ phải báo cáo rõ cho Ban Liên hợp quân sự biết để kiểm tra. Út-uốt trả lời rằng đã bàn giao các căn cứ quân sự của Mỹ cho Việt Nam cộng hoà từ trước khi có Hiệp định Pa-ri. Hiện chúng cũng phải ở nhờ các căn cứ của ngụy Sài Gòn. Thật là trơ trẽn, đến lúc phải cuốn gói thì kẻ xâm lược lại càng nói bừa nới ẩu theo đúng tính cách của nó.

        Cho đến ngày 29 tháng 3 năm 1973, thật chính xác là hồi 17 giờ 30 phút giờ Sài Gòn (16 giờ 30 phút giờ Hà Nội) của ngày 29 tháng 3 năm 1973 những tên lính Mỹ cuối cùng đã cút khỏi miền Nam Việt Nam. Các sĩ quan của hai đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và của Chính phủ Cách mạng lâm thời đã có mặt tại chỗ để kiểm tra giám sát những tên lính cuối cùng đó.

        Đúng ngày 29 tháng 3 năm 1973 ấy, vai trò quân sự của Mỹ ở Việt Nam đã chấm dứt và nó được đánh dấu bằng một buổi lễ âm thầm cuốn lá cờ của Bộ chỉ huy Mỹ, tư lệnh Mỹ tướng Uây-en và đại sứ Mỹ Bân-cơ đã đứng chào lá cờ ấy cùng với 42 quân nhân Mỹ đại diện cho 4 quân chủng của Mỹ đứng để duyệt binh trong buổi lễ 15 phút này.

        Sau đó, đúng một giờ, 42 quân nhân Mỹ này đáp một máy bay phản lực chở họ ra khỏi miền Nam Việt Nam cùng với 2.500 người nữa trong số những lính Mỹ cuối cùng đó.

        Đại tá không quân Đê-vít ô-đen là người cuối cùng rời khỏi miển Nam Việt Nam.

        Về sự kiện ngày 29 tháng 3 năm 1973, xã luận báo Nhân dận số 6914 ngày 31 tháng 3 năm 1973 đã viết: Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc quân viễn chinh của chúng phải rút hết khỏi nước ta. Ngày 29 tháng 3 năm 1973 đánh dấu một cái mốc lịch sử của cuộc đấu tranh giải phóng của dân tộc Việt Nam ta.

        Kể từ 115 năm nay, lần đầu tiên trên toàn bộ lãnh thổ nước ta, quân đội xâm lược của các đế quốc đã bị quét sạch. Đó là kết quả rực rỡ của cuộc chiến đấu lâu dài đầy hy sinh gian khổ nhưng vô cùng anh dũng của nhiều thế hệ người Việt Nam... Tên lính cuối cùng của Mỹ và cũng tức là của cáe nước đế quốc rút khỏi nước ta. Đối với bọn xâm lược Mỹ cũng như bọn xâm lược Pháp và cả bọn phát xít Nhật nữa, những kỷ niệm về Việt Nam thật là chua chát...

       … Lịch sử đấu tranh giải phóng của các dân tộc và của loài người tiến bộ chắc rằng hàng nghìn đời sau cũng sẽ ghi mãi những chiến công của người Việt Nam: Một dân tộc nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ...".

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/3d-Diemdanhtungtenxamluoccuoicung-1.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/3d-Linhmyvenuoc1.jpg)

Điểm danh từng tên xâm lược cuối cùng

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/3d-DaitaDavisOdelltenxamluoccuoicung17h4527-3-1973.jpg)

Đại tá không quân Đê-vít ô-đen là người cuối cùng rời khỏi miển Nam Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Hai, 2012, 09:34:06 pm

TRAO TRẢ NHÂN VIÊN DÂN SỰ

VŨ BÌNH VÀ DUY HÒA                      
                     
        Cuộc đấu tranh đòi phía Sài Gòn phải trao trả nhân viên dân sự hay gọi là tù chính trị của ta là một cuộc đấu tranh hết sức gay go, quyết liệt và kéo dài trong thời kỳ Ban Liên hợp quân sự hai bên.

        Việc trao trả nhân viên quân sự trong thời kỳ Liên hợp quân sự bốn bên đã cơ bản xong. Chúng ta đã trao trả tất cả nhân viên quân sự, dân sự Mỹ mà chúng ta bắt, giam giữ. Chúng ta cũng đã trả cho phía Sài Gòn 5.016 tù binh. Còn lại 410 tù binh Sài Gòn mà ta chưa trả được là do địa điểm trao trả ở Đức Nghiệp (Gia Lai) bị quân Sài Gòn oanh tạc nên ta phải để lại trao trả vào thời kỳ hai bên.

        Phía Sài Gòn cũng đã trao trả phần lớn nhân viên quân sự cho ta, nhưng vẫn không đầy đủ theo như danh sách mà phía Sài Gòn đã trao tại Pa-ri, hôm ký hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam ngày 27 tháng 1 năm 1973.

        Chúng giữ lại 242 người mà chúng nêu lý do là số người này xin "hồi chính", "xin ở lại với chính nghĩa quốc gĩa"(!)

        Ngay trong số chúng đã trao trả, khi kiểm tra chúng ta phát hiện có 2.478 người không đúng với tên trong danh sách ban đâu chúng trao tại Pa-ri. Ta còn phát hiện hàng trăm dân thường bị bắt trong các cuộc càn quét mà chúng cũng gắn cho cái tên là nhân viên quân sự.

        Sang thời kỳ Liên hợp quân sự hai bên, chúng ta biết rõ là bọn ngụy Sàì Gòn sẽ phá việc trao trả nhân viên dân sự - Thời kỳ bốn bên, chúng phải trao trả cho ta phần lớn nhân viên quân sự là do sức ép của Mỹ mà chúng phải thi hành.

        Đến vấn đề nhân viên dân sự thì ngay trong Hìệp định Pa-ri, tuy dừng những lời lẽ có vẻ thống thỉết nhưng cũng chỉ là kêu gọi và Mỹ thì cũng tìm mọi cách để tránh né trong hiệp định ghi vấn đề nhân viên dân sự do hai bên miền Nam Vìệt Nam giải quyết. Haí bên miền Nam Vlệt Nam sẽ Iàm việc đó trên tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc nhằm chấm dứt thù hằn, giảm bớt đau khổ và đoàn tụ các gia đình. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ gáng hết sức mình để giải quyết vấn đề này trong vòng 90 ngày sau khi ngừng bắn có hiệu lực.

        Nguyễn Văn Thiệu và bè lũ của chúng buộc phải ký Hiệp định Pa-ri theo lệnh quan thầy Mỹ - Và chính chúng được sự hỗ trợ của Mỹ phá Hiệp định Pa-ri ngay từ đầu. Mỹ cũng chỉ mong lấy được tù bmh Mỹ và đưa được quân Mỹ về nước còn thì vẫn thi hành chính sách Việt Nam hóa chiến tranh để Mỹ tiếp tục thực hiện mưu đồ của mình ở Việt Nam.

        Ngụy thì giữ đúng phương châm "4 không" mà chính Thiệu nêu ra là:

-   Không nhượng đất cho "Cộng sản";
-   Không trung lập;
-   Không liên hợp với "Cộng sản";
-   Không nói chuyện với "Cộng sản".

        Bọn nguy buộc phải ngồi vào bàn hội nghị, nhưng có bao giờ chúng nới chuyện nghiêm túc đâu. Chúng nói bừa, nói ẩu, cãi chày, cãi cối, nói hôm nay nhưng mai không thi hành, chỉ nói chứ không làm theo lời nói dó.

        Vấn đề hệ trọng nhất của Hiệp định Pa-ri là ngừng bắn mà bọn Thiệu đã phá một cách rất quyết liệt. Tên Nguyễn Văn Thiệu đã không giấu giếm mà tuyên bố thẳng thừng rằng Việt Nam cộng hòa sẽ thi hành điều khoản ngừng bắn khi:
      
        1. Quân đội Việt Nam cộng hòa không còn ủng hộ tôi.

        2. Khi quân viện Hoa Kỳ chỉ đủ để 1o việc phòng thủ.

        3. Khi quân 1ực Việt Nam cộng hòa không còn đủ sức bảo vệ các khu quan trọng tại miền Nam Việt Nam.

        Về vấn đề trao trả nhân viên dân sự, tên Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố rằng: Không trao trả nhân viên dân sự, đây là tù chính trị mà trả tù chính tn là thả hổ về rừng. Đây cũng là thể hiện sự sợ hãi của chúng với những cán bộ chính trị, những cơ sở cách mạng của ta.

        Phái đoàn quân sự của chúng ta trong trại Đa-vít ngày đêm trao đổi bàn bạc tính toán về cuộc đấu tranh này. Ngay từ những phiên họp đầu tiên của hai bên, chúng ta đã chủ động đưa ra vấn đề trao trả nhân viên dân sự và suốt cả quá trình liên tục đấu tranh với phía Sài Gòn.

        Trong hội nghị cấp trưởng đoàn và Tiểu ban trao trả, có thể nói rằng bọn ngụy Sài Gòn cố tình dây dưa. Chúng bày ra đủ trò để tranh cãi một cách vô bổ những cái mà trong thời kỳ bốn bên đã thực hiện như địa điểm trao trả, thể thức trao trả, các điều kiện bảo đảm an toàn, v.v.., cốt là để kéo dài thời gian và cái chính là để không trao trả nhân viên dân sự của ta.

        Trên cơ sở tính toán kỹ lưỡng, chúng ta đòi rõ những đồng chí cán bộ mà ta thấy có thể nói công khai được thì bọn ngụy viện đủ lý do để tránh né, từ chối.

        Đoàn ta đòi chị Võ Thị Thắng, chúng lảng tránh rồi sau lại nói chị Thắng là phạm pháp hình sự, không phải tù chính trị.

        Ta đòi thả anh Huỳnh Tấn Mẫm, chúng lái sang chuyện anh Mẫm là đại biểu sinh viên hay đòi yêu sách cho học đường, đâu phải là tù chính trị.

        Ta đòi chị Trần Thị Lan, Trần Thị Huệ.., chúng trí trá nói rằng đây là những người hay biểu tình gây rối mất trật tự học đường, nếu các vị bảo là tù chính trị thì không phải nên chúng tôi không trả.

        Khi phía Sài Gòn đưa danh sách mà chúng trao trả thì trong đó có một số chúng tráo trở hồ sơ, chúng đưa người phạm pháp hình sự như trộm cắp, giết người buôn lậu, v.v... nói là tù chính trị trả cho ta.
  


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Hai, 2012, 09:35:57 pm
        Trong cuộc đấu tranh này, chúng ta cố gắng khai thác những lợi thế mạnh tương đốì - Đó là Mỹ nóng lòng muốn nhận hài cất ngườỉ chết và tìm kiếm người mất tích - Đó là dư luận thế giới và trong nước lên án mạnh mẽ về vấn đề giam giữ và đối xử vô nhân đạo của chế độ Sài Gòn đối với tù chính trị. Họ lên tiếng đòi trả tự do cho tù chính trị, họ nêu cả những con số tù chính tn mà ngụy Sài Gòn đang giam giữ.

        ông Mục sư Tin lành người ý-Tullo Visay-nói là Việt Nam cộng hòa còn giam 200.000 tù chính trị, đài BBC đưa tin là Hội ân xá quốc tế đưa con số 70.000 đến 100.000 tù chính trị ở Việt Nam cộng hòa. Báo đối diện của Sài Gòn cũng nêu con số 200.000 tù chính trị đang trong các trại giam của Việt Nam cộng hòa, v.v...

        Chúng ta còn yêu cầu phía Sài Gòn cùng mời Hội đồng thập tự quốc tế và hồng thập tự một số quốc gia đến thăm các trại giam của hai bên.

        Phía Sài Gòn còn giở thủ đoạn nêu con số rất lớn nhân viên dân sự mà ta giam giữ của chúng. Thực ra số lượng những tên phản cách mạng, phản động, những loại gián điệp ác ôn, v.v.., thì chúng ta bắt không phải là ít - Nhưng chủ trương của ta là giáo dục họ một thời gian rồi thả cho họ về. Hơn nữa, chiến trường chia eắt, xen kẽ, chúng ta cũng không có điều kiện để giam giữ nhiều. Kẻ thù cũng biết rõ điều đó, nhưng chúng cứ nêu con số vống lên thật nhiều để lấy cớ rằng ta không trả số đó thì chúng không trả tù chính trị của ta. Trong phiên họp ngày 6 tháng 4 năm 1973, thông báo cho họ là ta còn giam giữ 637 nhân viên dân sự, họ thông báo chỉ giam giữ của ta có 5.081 người và đòi ta phải trả của họ là 67.000 người.

        Khi chúng ta đấu tranh mạnh mẽ và dư luận quốc tế, trong nước đòi hỏi mà họ buộc phải trả nhân viên dân sự thì họ trả rất nhỏ giọt và vẫn có nhiều lý do giả tạo, nhiều hành động để cản trở. Có thể nói rằng, gần như không có cuộc trao trả nào là suôn sẻ và cũng gần như cuộc trao trả nào chúng cũng cài những tên chiêu hồi để xin trở về với "chính nghĩa quốc gia"(!). Chính bọn chúng đã bị ngay những người cùng trong đợt trao trả tố cáo, lên án, vạch mặt và đả đảo - Chúng hết sức bẽ mặt và lm lặng rút lui.

        Tính chung trong toàn bộ giai đoạn hoạt động của Liên hợp quân sự hai bên, ta trao trả cho nguy Sài Gòn 410 nhân viên quân sự còn lại của thời kỳ bốn bên và 637 nhân viên dân sự. Họ trao trả cho ta 130 nhân viên quân sự và 5.075 nhân viên dân sự.

        Những cuộc trao trả nhân viên dân sự của ta diễn ra vô cùng xúc động. Các sĩ quan của phái đoàn quân sự ta và nhân dân chứng kiến những buổi đón tiếp các tù chính trị của ta trở về không thể cầm được nước mắt, bao nỗi uất ức trào lên càng nung nấu lòng căm thù những bọn đồ tể dã man của chế độ nguy Sài Gòn.

        Trung số nhân viên dân sự của ta được trao trả không nhiều, chỉ trên 5.000 người trong số hàng trăm ngàn đang bị giam giữ. Nhưng trong số đó có cả nam và nữ. Có chị khi bị bắt đang mang thai, sinh các cháu trong nhà tù, các cháu cũng ở tù với mẹ, khi trao trả các cháu mới 3, 4, 5 tuổi.

        Có những anh, chị bị bắt đã rất lâu từ những năm 1958-1959-1960, đã trải qua hàng chục nhà tù của Mỹ - nguy, nếm đủ các đòn tra tấn, đọa đày. Nhiều người bị mang tật suốt đời do bọn Mỹ - nguy tra tấn nhục hình, có một số đồng chí ta về đến vùng giải phóng bị ngất xỉu, không đi nổi vớì thân hình gầy còm, ốm yếu chỉ còn da bọc xương...

        Nhưng khí phách của các anh các chị thì thật là tuyệt vời Các anh các chị trương cờ cách mạng, hô đả đảo bọn cướp nước và bán nước. Có anh chị đứng lên vạch mặt kẻ thù thể hiện lòng căm thù cao độ đối với chúng.

        Những cán bộ và nhân dân ta có mặt tiếp đón các anh các chị tù chính trị trở về đều rất xúc động và cảm phục.

        - Xin kể một câu chuyện nhỏ trong buổi trao trả cuối cùng tại sân bay Lộc Ninh. Theo thỏa thuận của Ban Liên hợp quân sự hai bên thì ngày 7 tháng 3 năm 1973 có cuộc trao trả tại Lộc Ninh. Phía Sài Gòn trả cho ta 25 nhân viên dân sự và 97 nhân viên quân sự.

        Bộ phận trao trả của ta nắm danh sách thấy có tên chị Võ Thị Thắng - mọi người vui mừng, đem theo cả tờ báo có in hình của chị trước tòa án nguy Sài Gòn để đối chiếu xem chúng trả có đúng người hay không. Khi tiến hành bàn giao ở sân bay Lộc Ninh, lúc gọi đến người thứ 3 là chị Võ Thị Thắng thì đột nhiên viên trung tá nguy Sài Gòn Nguyễn Thế Thứ chạy tới ra lệnh cho binh sĩ phía họ là dừng lại không trao trả nữa và gọi trực thăng đưa tù chính trị trở lại Biên Hòa. Tổ trao trả của ta dứt khoát không cho đưa tù chính trị về Biên Hòa mà phải trao trả số đã đưa lên Lộc Ninh - Đây là quyết định đã được trưởng hai phái đoàn Liên hợp quân sự nhất trí nên không thể có ai thay đổi được.

        Tên Nguyễn Thế Thứ nói rằng, khi chiếc trực thăng trở tù chính trị lên đây trở về thì giữa đường bị Việt cộng bắn, một trung sĩ của phi hành đoàn bị chết nên chúng tôi được lệnh không trao trả nữa. Chúng ta kiên quyết đấu tranh, mời Tổ giám sát của ủy ban Quốc tế đến chứng kiến, chúng ta khẳng định việc trao trả ở đây không có lý do gì hoãn được và cũng không thể bắt tù nhân đi đâu được.

        Lệnh của chỉ huy các vị nói là không trao trả nữa là không có giá trị gì với cuộc trao trả này. Không thể đưa việc xảy ra ở chỗ khác để gán vào việc ở đây, và cũng không ai rõ là việc đó có hay không và xảy ra như thế nào, thiếu gì việc các vị bày đặt ra để phá hoại trao trả. Chúng tôi nói để các vị rõ rằng, nếu không tiến hành trao trả, không gọi danh sách tù nhân để bàn giao, cuộc trao trả không thành, các vị sẽ là người hoàn toàn chịu trách nhiệm. Các đồng chí ta nhấn mạnh, chúng tôi sẽ tổ chức họp báo ngay tại đây tố cáo âm mưu phá hoại trao trả của các vị một cách có hệ thống. Nếu tù nhân bất bình tự giải tán họ đả đảo sự lật lọng của các vị thì các vị không thể ngăn cản được, Ở đây không phải là trại giam của các vị.

        Cùng lúc đó, 25 tù chính trị và 97 tù quân sự hô to "đả đảo đế quốc Mỹ, đả đảo bọn tay sai ngụy Sài Gòn" với khí thế trào dâng, lòng căm thù sôi sục, các lời hô đả đảo bọn Mỹ - nguy vang lên mạnh mẽ, liên tục. Các anh, các chị tự động đứng lên đi sang phía các đồng chí Tổ trao trả của ta, bọn ngụy không dám làm gì.

        Trung tá nguy Nguyễn Thế Thứ mặt tái đi nói lẩm bẩm, các ông cậy quyền lãnh thổ của các ông, tù nhân của các ông; đông đảo cán binh của các ông làm áp lực nên buộc chúng tôi phải trao trả. Những tên khác im 1ặng, tiến bành làm nhanh gọn các loại thủ tục để trao trả 25 nhân viên dân sự, 97 nhân viên quân sự của ta được trả về trước sự đón tiếp đầy tình thương yêu của đồng chí, đồng đội, đồng bào tại sân bay Lộc Ninh

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/5e-Traotra2.jpg)

Trao trả tại Lộc Ninh

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/3j-Vevoinhandan3.jpg)

Trao trả tại Thạch Hãn


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Hai, 2012, 10:06:06 pm
Xin chia xẻ thêm 1 thông tin thú vị.

Trong quá trình thi hành Hiệp định Paris về vấn đề trao trả tù binh, ta đã đấu tranh rất quyết liệt đòi chúng thả các tù binh chiến tranh và tù chính trị trong đó nổi lên vai trò rất quan trọng của các phái đoàn trong trại Đa-vít. Địch đã phải trao trả cho chúng ta hơn 31 nghìn người. Một trong số những người được trao trả ngày ấy bây giờ lại là người ký quyết định công nhận các phái đoàn trong trại Đa-vít là đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đó là chủ tịch nước Trương Tấn Sang!  


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Hai, 2012, 06:32:33 am

GIƯƠNG CAO NGỌN CỜ CHÍNH NGHĨA
ĐẤU TRANH TRÊN MẶT TRẬN DƯ LUẬN
HỖ TRỢ CHIẾN TRƯỜNG
[1]
                       
                  
        Hiệp định Pa-ri chưa ráo mực thì tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu đã ra sức phá hoại một cách có hệ thống. Họ thẳng tay đàn áp các lực lượng yêu nước, lực lượng đối lập trong vùng kiểm soát của họ. Họ không từ một thủ đoạn nào để bưng bít sự thật trước dư luận trong nước và trên thế giới.

        Trong tình hình đó, quá trình hơn hai năm đấu tranh của ta tại Tân Sơn Nhất thực chất là đấu tranh dư luận và nó đã trở thành nhiệm vụ cơ bản xuyên suốt của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Ban Liên hợp quân sự hai bên trung ương.

        Lãnh đạo Đảng ta đã hiểu rõ từ đầu dã tâm và ý đồ của Nguyễn Văn Thiệu được Mỹ hỗ trợ nên không trông đợi nhiều vào khả năng thi hành thông suốt toàn bộ Hiệp định Pa-ri. Tuy nhiên vì việc ký được Hiệp định là một thắng lợi quan trọng của ta, nó lại ràng buộc Mỹ vào và được một hội nghị quốc tế quan trọng bảo đảm nên ta cố         kiên trì đấu tranh để nó được thực hiện cho đến lúc rõ ràng không còn triển vọng gì hòa bình tiến tới được nữa; ta phải kiên quyết dùng hành động vũ trang để giữ vững thành quả và đạt mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

        Trong cuộc đấu tranh này, việc tranh thủ dư luận, cả dư luận ở miền Nam và dư luận quốc tế, là điều hết sức quan trọng, nhằm một mặt vạch trần âm mưu phá hoại của địch, mặt khác chứng minh sự thực tâm của ta, và đặc biệt là giải thích có lý có tình những hành động quân sự mà bất đắc dĩ ta phải tiến hành trên chiến trường trước sự phản trắc của địch. Nó là một bộ phận trong mặt trận chính trị và mặt trận ngoại giao đã nổi lên hàng đầu sau khi có Hiệp định Pa-ri để tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ quốc tế.

        Vì vậy đi đôi với đấu tranh thi hành Hiệp định, ta đã triển khai ngay từ đầu thế trận đấu tranh dư luận, bởi vì ngay từ khi Hiệp định Pa-ri sắp được ký kết Nguyễn Văn Thiệu đã bắt đầu phá bằng cái kế hoạch "tràn ngập lãnh thổ' rồi.

        Nhiều cán bộ thông tấn báo chí nhiếp ảnh có năng lực và kinh nghiệm của Thông tấn xã Việt Nam, Thông tấn xã Giải phóng, Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam và Giải phóng, các báo lớn, cùng với một số nhân viên thông tin và tê lếch giỏi được chọn vào Tân Sơn Nhất, hình thành một Ban Thông tấn báo chí mạnh giúp đắc lực cho đoàn trên trận địa quan trọng này.

        Vận dụng 11 quyền ưu đãi miễn trừ đã được Ban Liên hợp quân sự bốn bên thỏa thuận, ta đã đòi được quyền tổ chức hàng tuần một cuộc họp báo vào sáng thứ bảy, và quyền liên lạc trực tiếp bằng điện thoại với các nhà báo.

        Sáng thứ bảy 17 tháng 3 năm 1973, Trung tướng Trần Văn Trà đã mở cuộc họp báo của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên trung ương, gần 100 nhà báo đã đến dự. Đây là cuộc tiếp xúc đầu tiên của đại diện cách mạng với giới báo chí ngay tại Sài Gòn, và là dịp để ta trình bày với dư luận lập trường của ta thi hành Hiệp định và đòi các bên khác cùng nghiêm chỉnh thi hành. Sài Gòn là một trung tâm hội tụ đông đảo đại diện các tờ báo lớn, các đài phát thanh và truyền hình của nhiều nước, nhất là các nước tư bản lớn, vì trong thời điểm lịch sử đó miền Nam Việt Nam là tiêu điểm của tình hình nóng bỏng trên thế giới; lại là nơi mà Mỹ buộc phải chấp nhận rút quân, công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Phần lớn trong số họ có cách nhìn và quan điểm khác ta trong nhiều vấn đề, một số thật sự ghét Cộng sản, chưa kể không ít "nhà báo" Việt Nam là người của phía Sài Gòn. Nhiều người trong số này có lẽ chưa biết gì về ta thật nên sau cuộc họp họ bàn tán: "Việt cộng đâu có ốm tong ốm teo (tức gầy đét), cha nào cũng sáng láng"... (Từ thời Ngô Đình Diệm đã lưu hành một giai thoại chế giễu "Việt cộng" đói khát gầy còm đến mức bảy "tên" cùng đeo vào một cọng đu đủ mà không gãy). Cũng có người, cả người nước ngoài và người trong nước, tỏ cảm tình (người Việt Nam thì kín đáo hơn), nêu câu hỏi chân thành và đúng đắn. Có phóng viên Việt Nam trong giờ giải lao tìm cách khéo léo nói nhỏ cho cán bộ ta biết tên A là của CIA, tên B thuộc Nha chiến tranh tâm lý...
  
         Trong thời kỳ Ban Liên hợp quân sự bốn bên, tuy phía Sài Gòn đã vi phạm Hiệp định ngay từ đầu mà vẫn được Mỹ dung túng trong chừng mực không hại đến lợi ích của Mỹ, một số điều khoản quan trọng có được thực hiện (ngừng bắn chung lúc đầu, rút quân Mỹ và quân nước ngoài, trao trả nhân viên quân sự các bên và nhân viên dân sự nước ngoài), Ban Liên hợp quân sự còn bàn bạc giải quyết thiết thực công việc, các vi phạm Hiệp định của phía Sài Gòn ít nhiều còn bị kiềm chế, nên các cuộc họp báo cũng tương đối thuận chiều, các nhà báo tập trung theo dõi các vấn đề rút quân, trao trả, Hiệp định dù sao cũng có được thi hành.

        Bước sang Ban Liên hợp quân sự hai bên, tình hình có đổi khác, thời kỳ "thực hiện" coi như đã qua, nay nổi lên hàng đầu cuộc đấu tranh giữa ta và đối phương tố cáo nhau vi phạm Hiệp định, trước hết là vi phạm ngừng bắn. Trong khi các hành động quân sự của họ được đẩy mạnh trên các chiến trường. Đoàn Sài Gòn tại bàn hội nghị trong thời gian đầu một mặt làm ra vẻ sốt sắng bàn bạc các vấn đề do Hiệp định đặt ra, mặt khác lớn tiếng vu cáo ta vi phạm ngừng bắn.

        Về phía các nhà báo, không ai không biết Nguyễn Văn Thiệu chẳng hề giấu giếm ý đồ phá hoại Hiệp định, nhưng cũng không nhiều người tin rằng ta thực sự tôn trọng ngừng bắn. Nhất là những người không cảm tình với Cộng sản và cách mạng thì không quan tâm nhiều đến việc phía Sài Gòn vi phạm, mà chủ tâm nhiều hơn đến những cái gọi là vi phạm của ta.

        Cuộc đấu tranh trên trận địa này, nhất là thời kỳ đầu Ban Liên hợp quân sự hai bên, thật không dễ dàng. Đối phương lại có ưu thế vật chất về bảo đảm ăn ở và tiện nghi nghiệp vụ để tranh thủ các nhà báo, về khả năng phương tiện thông tin đại chúng, về quyền của kẻ "chủ nhà".

        Mỗi lần có một sự kiện vi phạm hoặc được nêu là vi phạm Hiệp định mà nhập nhằng về nguyên nhân giữa ta và địch (và thường là nhập nhằng vì không ai có mặt ở hiện trường để làm chứng), nhiều nhà báo tìm cách moi móc vặn vẹo để tìm xem ta vi phạm như thế nào, đến mức nào.
---------------------
[1] Trích trong cuốn: "Ban Liên hợp quân sự và trại Đa-vít những tháng ngày..., " Nxb Quân đội nhân dân. H. 1997.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Hai, 2012, 07:21:20 am
        Ngay mới mấy ngày đầu làm việc của Ban Liên hợp quân sự hai bên trung ương, phía Sài Gòn đã kêu to lên về việc cứ điểm Tống Lê Chân bị ta vây hãm. Ngày 7 tháng 4 năm 1973, lại xảy ra vụ Ly Tôn, một máy bay lên thẳng của ủy ban Quốc tế do người Mỹ lái từ Quảng Trị đi Lao Bảo (nơi có tổ Ủy ban Quốc tê) đã cố tình bay chệch khỏi hành lang quy định, thọc sâu vàn vùng căn cứ của ta, và bị rơi, chết hai sĩ quan In-đô-nê-xi-a, hai sĩ quan Hung-ga-ri, hai sĩ quan liên lạc của ta. Phía Sài Gòn lợi dụng vụ này vu cáo ta chống lại Ủy ban Quốc tế. Cuối tháng 6 năm 1973, việc Đoàn Ca-na-đa tuyên bố rút khỏi ủy ban Quốc tế cũng là cơ hội để họ rêu rao ta không hợp tác. Ngày 8 tháng 6 năm 1973 có vụ cháy nhỏ trên chuyến bay từ Hà Nội vào, ngày 22 tháng 9 năm 1973 ta đánh diệt đồn Lệ Minh (Chư Nghé - Gia Lai), ngày 12 tháng 10 năm 1973 ta thu hồi vị trí Bạch Mã (nam Thừa Thiên) bị quân Sài Gòn lấn chiếm, ngày 5 tháng 11 năm 1973 ta pháo kích sân bay Biên Hòa, ngày 3 tháng 12 năm 1973 kho xăng Nhà Bè bị đốt cháy, ngày 18 tháng 1 năm 1974 với sự kiện Hoàng Sa, và rất nhiều sự kiện khác xảy ra trên các chiến trường, là những dịp đối phương lợi dụng mối quan hệ chủ nhà với Ủy ban Quốc tế và bộ máy thông tin đại chúng đồ sộ để vu cáo ta hòng lấp liếm tội phá Hiệp định của mình. Ngoài số bồi bút và tay chân được họ cài vào giới báo chí, lúc đầu không ít nhà báo nước ngoài vốn đã không mấy thiện cảm với "Cộng sản" cũng cho là ta cũng vi phạm, chí ít thì cả hai bên đều cùng có lỗi. Những tin tức và bình luận họ đưa ra có lợi cho ta không nhiều.

        Do liên lạc qua điện thoại được với đoàn ta, ngoài các cuộc họp báo ra, các nhà báo thường gọi điện thoại cho sĩ quan báo chí ta hỏi về bất cứ điều gì họ muốn biết, câu hỏi để thật sự tìm hiểu sự thật cũng có, và cũng nhiều câu hỏi để thăm dò tình báo, để tìm sơ hở qua các nội dung trả lời. Về sau ta biết được là phía Sài Gòn đã tổ chức ghi trộm tất cả các cuộe đàm thoại đó, họ đã ra một bản tin mật dùng trong nội bộ, lấy tên là "Tin Bắc đẩư', ghi lại các câu hỏi và trả lời giữa các nhà báo và cán bộ đoàn ta hàng ngày. Để xử lý được tốt và không vấp váp trong loại tiếp xúc này, cán bộ báo chí của ta phải có tính nguyên tắc và tính kỷ luật chặt chẽ trong phát ngôn, lại phải có phong độ cởi mở cần thiết trong ứng xử, để giữ tốt quan hệ và dần dần tranh thủ được người ta, không thể khô khan cứng nhắc.

        Buổi đầu chưa có kinh nghiệm, trong một số sự việc nổi cộm lên ta cững có lúng túng trong việc xoay xở đối phó với cả ba phía: Ủy ban Quốc tế, phía Sài Gòn và giới báo chí, nhất là với những sự kiện quan trọng mà đoàn chưa nhận được sự chỉ đạo xử lý của cấp trên.

        Mới tuần đầu bắt tay vào việc đã đụng ngay phải vụ Ly Tôn, máy bay Ủy ban Quốc tế rơi, người của Ủy ban Quốc tế chết, lại Ở trong vùng kiểm soát của ta. Vụ này trở thành một sự kiện quan trọng mà ta phải đối phó vì liên quan đến vấn đề an toàn của Ủy ban Quốc tế. Phía Sài Gòn hí hửng được dịp vu cáo. Báo chí thì muốn biết có phải phía ta bắn không, mà bắn Ủy ban Quốc tế là vi phạm nghiêm trọng. Đoàn In-đô-nê-xi-a (được Đoàn Ca-na-đa ủng hộ mạnh mẽ) sốt ruột vì có người chết, đòi phải bảo đảm cho họ và ủy ban Quốc tế đến ngay tận nơi để tìm kiếm. Hai giờ sáng ngày 8 tháng 4 năm 1973, Đại sứ Trưởng đoàn In-đô-nê-xi-a yêu cầu Trưởng đoàn ta cấp tốc đến gặp, có cả viên phó đoàn phía Sài Gòn đã ngồi sẵn đó rồi- Ta bày tỏ thông cảm nỗi xót xa và sự sốt ruột của phía In-đô-nê-xi-a, nhưng việc này đột ngột, ta chưa đượe tin tức, nên chỉ có thể ghi nhận và tích cực tìm hiểu rồi mới có ý kiến được, còn việc tìm kiếm thì chỉ có lực lượng vũ trang và dân quân du kích cùng đồng bào ta tróng vùng mới đủ khả năng và điều kiện lùng sục để tìm kiếm đượe chính xác. Mấy hôm sau nhận được thông báo sự việc, biết tỏng cái trò của bọn CIA, nhưng làm sao có thể nói toạc ra được? Ta dựa vào pháp lý các điều thỏa thuận về hành lang bay mà chỉ trong đó ta mới có trách nhiệm bảo đảm an toàn, còn Ở đây máy bay đã cố ý đi quá xa hành lang quy định mà không phải do lầm lẫn. Ta biểu thị chân thành thông cảm với sự mất mát của các đoàn có người chết (trong khi ta cũng có hai sĩ quan hy sinh), tạo điều kiện cho họ đưa thi hài về Sài Gòn chu đáo. Tổ ủy ban Quốc tế Gio Linh (phụ trách khu vực trong đó có địa phương Ly Tôn) đi điều tra đã xác định là tổ lái chiếc máy bay lên thẳng đã không tuân thủ hành lang bay được quy định. Ngày 27 tháng 4 năm 1973, Ủy ban Quốc tế trung ương cũng phải chấp nhận những kết luận của tổ ủy ban Quốc tế Gio Linh. Trong sự kiện này Đoàn Hung-ga-ri đã tỏ rõ hiểu được ta, không hề có thái độ hoặc lời nới phàn nàn oán trách. Chúng ta hết sức trân trọng tấm lòng của bạn. Còn về phía Mỹ, đây là thêm một lần để họ biết thêm về ta, nên họ im thin thít. Một thời gian khá dài về sau có mấy đoàn trong Ủy ban Quốc tế đòi mở rộng hành lang bay, nhất là Đoàn Ca-na-đa đòi mở rộng ra 10km. Ta không nhân nhượng.

        Ngày 18 tháng 1 năm 1974, xảy ra vụ Hoàng Sa (lúc đó do quân Sài Gòn đóng giữ và bị đánh chiếm), thì sáng thứ bảy 19 tháng 1 có cuộc họp báo do trưởng đoàn ta chủ trì để kiểm điểm một năm thi hành Hiệp định. Hôm đó nhà báo đến dự rất đông, bọn tay sai đối phương đội lốt phóng viên cũng tăng lên nhiều. Họ không mấy chú ý đến vấn đề một năm Hiệp định mà đều đổ dồn vào chất vấn; moi móc thái độ ta về vụ Hoàng Sa này.

        Đây là một vấn đê rất tế nhị, phải chờ sự chỉ đạo của cấp trên, nên tạm thời ta chỉ nói chung: đất đai Tổ quốc là thiêng liêng, Hoàng Sa đang do phía "chính quyền Sài Gòn" quản lý nên phải hỏi trách nhiệm của họ, còn về phần ta chưa nhận được tin tức, khi nắm được sự việc rồi sẽ bày tỏ thái độ sau. Vài hôm sau ta nhận được chỉ thị về tuyên bố ba điểin của Chính phủ Cách mạng lâm thời:

       1 Vấn đề chủ quyền và toàn vẹn 1ãnh thổ 1à vấn đề thiêng liêng đối với mỗi dân tộc.

        2. Trong vấn đề biên giới 1ãnh thổ, các nước 1áng giẽng thường có sự tranh chấp do lịch sử để lại, có khi rất phức tạp cần được nghiên cứu và xem xét kỹ.

        3. Các nước có 1iên quan cần xem xét vấn đề này theo tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, hữu nghị và láng giềng tốt, giải quyết vấn đề bằng thương lượng.

        Trước thái độ này, các nhà báo không còn đặt thêm vấn đề gì nữa.

        Trong điều kiện hoạt động độc lập xa cấp trên, lại với đặc biệt và tính chất của cuộc đấu tranh, cán bộ trong đoàn nhất là những đồng chí có trách nhiệm chính, phải có tính tổ chức kỷ luật cao, lại phải nắm vững được đường lối chủ trương của Đảng để biết linh hoạt chủ động khi cần thiết. Nói chung khi gặp những tình huống quan trọng và không bình thường, thường phải tranh thủ điện xin cho được chỉ thị, có hôm bước lên xe đi họp hoặc sắp đến giờ họp báo rồi mới nhận được trả lời. Cũng có trường hợp phải tự mình quyết định cách xủ trí tốt nhất, vì đoàn ở tại trận, thường xuyên tiếp xúc và hiểu các loại đối tượng hơn.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Hai, 2012, 09:36:34 am
        Khoảng cuối tháng 6 năm 1973 (đã ở thời kỳ Ban Liên hợp quân sự hai bên) một chiếc máy bay lên thẳng của phía Sài Gòn đi Lộc Ninh phục vụ chuyến liên lạc thường kỳ của ta, trên đường về phi công đột nhiên hạ cánh xuống bên rìa quốc lộ 13 đoạn Tân Khai (phía bắc Bến Cát thuộc tỉnh Bình Dương, nay thuộc Sông Bé), chỉ vào một lỗ thủng bên hông máy bay, nói với sĩ quan liên lạc của ta rằng đó là do súng trường của phía ta từ mặt đất bắn lên. Sĩ quan liên lạc Sài Gòn lấy phấn đánh dấu lỗ thủng, lập biên bản và yêu cầu sĩ quan liên lạc của ta ký. Sĩ quan của ta không ký, vì: máy bay kêu ồn không nghe được gì khác; không có gì chứng tỏ là máy bay vừa bị bắn; cho dù có vừa bị bắn cũng không có gì chứng minh là phía ta bắn vì ở đây xen kẽ cả vùng ta và vùng họ. Vụ việc được phía đối phương đưa ra phản đối liên tiếp tại các phiên họp trưởng đoàn và lấy cớ này họ đình chỉ cả mấy chuyến bay liên lạc về Lộe Ninh. Họ còn làm công hàm kiện với Ủy ban Quốc tế. Đoàn ta phải cân nhắc giữa hai thái độ: nhận hay không nhận. Sự thật là có vết đạn mới, trước khi hạ xuõng Tân Khai máy bay đã ra ngoài hành lang quy định (quốc lộ 13) và bay trái phép trên không phận vùng kiểm soát của ta thì việc quân du kích của ta có bắn lên cũng là ehính đáng và bình thường. Không nhận và để kéo dài vụ này không lợi, gây nghi ngờ cho Ủy ban Quốc tế và giới báo chí đối với sự trung thực của ta. Vào cuối một phiên họp Ban Liên hợp quân sự giữa tháng 7 năm 1973, đồng chí phó trưởng đoàn ta (đi họp thay trưởng đoàn) chính thức thông báo: Ta đã nhận được tin là quân du kích của ta có bắn chiếc máy bay lên thẳng vì nó đi ra khỏi hành lang bay quy định khá xa, và lâu nay thường có nhiều chiếc máy bay ngụy trang bằng ký hiệu Ban Liên hợp quân sự và Ủy ban Quốc tế đi ném bom và bắn phá vùng giải phóng của ta, gây thiệt hại về người và tài sản, ta cũng đã nhiều lần tố cáo. Đối phương bị bất ngờ không phản ứng được gì, từ đó họ không nhắc đến việc này nữa, và theo các Đại sứ Ba Lan và Hung-ga-n trong Ủy ban Quốc tế, họ cũng rút đơn kiện ở Ủy ban.

        Một điều đáng chú ý là mọi động thái giữa đoàn ta với Đoàn Sài Gòn và với Ủy ban Quốc tế đều được giới báo chí theo dõi sát, đưa tin và bình luận.

        Thái độ đàng hoàng chính trực của ta trong trường hợp trên đây (cũng như trong một số trường hợp khác tương tự) đã bịt miệng những kẻ muốn nói xấu và được những người trung thực trong giới báo chí đồng tình.

        Ta có sức mạnh chính nghĩa, ta có thể mạnh pháp lý Hiệp định và từng bước thêm kinh nghiệm nên trong các sự kiện xảy ra ta đều có cách giải thích hợp tình hợp lý với thái độ thật sự tôn trọng dư luận. Bên cạnh đó còn có một yếu tố tâm lý tuy không lớn nhưng cũng có phần tác động của nó: để cùng đối phương phối hợp thi hành Hiệp định mà bốn bên đã cùng ký kết, eác đoàn đại biểu của ta.phải vào sống và hoạt động trong vùng kiểm soát của phía Sài Gòn. Những thủ đoạn và hành động của họ lợi dụng tình hình này để gây sức ép ngăn cản và hạn chế các hoạt động hình thường của ta đều bị các đoàn trong Ủy ban Quốc tế và các nhà báo chân chính chê trách.

        Về phía đối phương, bằng cả lời nới và hành động Nguyễn Văn Thiệu ngày càng tỏ rõ bất chấp Hiệp định Pa-ri, không giấu giếm ý đồ "đánh bật lực lượng Cộng sản còn xử sự với nhà báo thì của quyền hách dịch, khi không lợi cho mình thì không ngần ngại đưa ra những hạn chế trắng trợn mà không nước nào áp dụng với báo chí: cản trở không cho vào dự họp báo của đoàn ta, cắt liên lạc điện thoại của họ với ta- Từ ngày 13 tháng 4 đến ngày 1 tháng 6 năm 1974, trong tám tuần liền họ phá không để các cuộc họp báo của ta thực hiện được. Đó là chưa kể trong nhiều thời gian khác thỉnh thoảng họ lại ngăn cản một cuộc mà không cần nêu lý do gì cả. Họ còn có những hành động thô bạo xúc phạm khác: ngày 6 tháng 7 năm 1973 trục xuất đại diện báo Asahi Shimbun của Nhật vì đã dám nói lên sự thật "Việt Nam cộng hòa còn giam giữ hàng trăm ngàn tù chính trị”. Nghiêm trọng hơn, đầu năm 1975 cảnh sát Sài Gòn đã bắn chết nhà báo Pháp Paul Léandry ngay tại trước cửa văn phòng cảnh sát vì đưa tin không lợi cho chế độ Sài Gòn và cãi lại cảnh sát khi bị chất vấn.

        Chính vì những lẽ đó, càng ngày các nhà báo càng thấy rõ bộ mặt thật và ý đô phá Hiệp định có hệ thống của tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu, dần dần hiểu được và đồng tình với thái độ và hành động của ta, nếu không thì cũng tỏ ra thông cảm. Các bản tin và bình luận có lợi cho ta ngày càng nhiều hơn. Các nhà báo tỏ thiện cảm với ta cũng tăng lên. Ban chấp hành Hội nhà báo nước ngoài Ở Sài Gòn đã xin vào trại Đa-vít chào trưởng đoàn ta và bày tỏ cảm tình với đoàn. Trong một buổi họp báo, đến giờ giải lao một nhà báo Mỹ đến gặp đồng chí Thượng tá Dương Đình Thảo (ủy viên Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời chủ trì cuộc họp báo) trao một hộp bánh và nói: "Tôi biết các ông và nhân dân Việt Nam kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi không đem hoa đến được vì sẽ bị chính quyền Sài Gòn ngăn cản và gây khó khăn cho hoạt động nghề nghiệp của tôi. Mong các ông thông cảm và nhận, chúc vui vẻ trong ngày kỷ niệm ". Cũng trong dịp này có cặp vợ chồng nhà báo nước ngoài khác nán lại sau buổi họp báo để kín đáo tặng quà mừng ngày sinh của Hồ Chủ tịch. Có nữ phóng viên nướe ngoài mượn dịp dự họp báo để bí mật trao cho ta danh sách một số tù chính trị của ta bị phía Sài Gòn giam giữ. Nhiêu phóng viên nước ngoài xin được đl thăm vùng giải phóng, đã được ta tổ chức cho đi và khi về họ đã đưa tin và viết bài khá tốt. Một số người hết hạn trước khi về nước tìm cớ cố xin gặp trưởng đoàn ta chào từ biệt và nói những lời tốt đẹp.

        Cùng với những lẽ trên, sự thay đổi so sánh lực lượng và thế trận trên chiến trường đã là nhân tố quyết định sự chuyển biến một khối dư luận rộng rãi như vậy. Ai cũng biết Thiệu là kẻ gây sự trước ngay từ sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết. Ta ở hoàn cảnh buộc phải đánh trả để giữ vững những gì đã đạt được, lúc đầu cũng có gây hiểu lầm hoặc sự cố ý không đồng tình của một số nhà báo, nhưng rồi tình hình dần dần đổi khác. Cả thế và lực của ta trên chiến trường đều mạnh, càng lấn chiếm quân địch càng thua. Ta đánh trả đến một lúc thấy đã có sự chuyển hướng trong đánh giá của dư luận thì ngày 15 tháng 10 năm 1973, Bộ chỉ huy lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam công bố mệnh lệnh đánh trả vi phạm. Sau đó ta tuyên bố tiếp thêm là không chỉ đánh trả tại nơi vi phạm mà còn giành quyền trừng trị tại những nơi xuất phát.

        Sau các tuyên bố đó, ta đã pháo kích sân bay Biên Hòa (5-11-1973), đốt cháy kho xăng Nhà Bè (3-12-1973) và tiếp đó tiến lên diệt nhiều cứ điểm, chi khu và quận lỵ trên cả các hướng.

       Kho xăng Nhà Bè cháy rực liền mấy ngày đêm, thiệt hại rất nặng, gây xôn xao dư luận. Các nhà báo tới tấp gọi điện thoại hỏi sĩ quan báo chí đoàn ta. Tất nhiên "ta còn chờ tìm hiểu tin tức". Với trách nhiệm của người tại chỗ, đối diện với dư luận và đã có kinh nghiệm về tâm lý các nhà báo, phải trả lời thế nào đây cho hợp thực tiễn và có tính thuyết phục, không để người ta nghĩ là mình chối sự thật cũng không cho phép để người ta cho là mình vi phạm Hiệp định. Sự kiện lớn quá, khó đổ cho rủi ro hoặc phá hoại nội bộ, vả lại chiến công của anh em đặc công biệt động của ta rực rỡ quá, ta lại có thế mạnh "mệnh lệnh đánh trả" trong tay, thì việc gì phải tránh né? Đoàn ta bàn và chủ trương trả lời trong cuộc họp báo: Đúng là do quân ta đánh, thực hiện mệnh lệnh của Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam về việc đánh trả vi phạm đã được công bố ngày 15 tháng 10 năm 1973, sau đó được nói rõ thêm là không chỉ đánh trả tại chỗ mà còn giành quyền trừng trị tại các nơi xuất phát vi phạm. Nghe xong nhiều nhà báo nước ngoài gật gù và không ai hỏi thêm gì nữa.

        Tại một phiên họp Trưởng đoàn Ban Liên hợp quân sự hai bên trung ương sau đó, do đã biết thái độ của ta nên Đoàn Sài Gòn không đề cập đến, chỉ đến lúc giải lao, ngồi trong phòng nghỉ chung Phan Hòa Hiệp (Trưởng đoàn) mới chặc lưỡi than phiền "các vị chơi cú Nhà Bè ác quá, chúng tôi đau lắm". (Theo lệ từ thời Ban Liên hợp quân sự bốn bên, các phiên họp thường có nghỉ giải lao giừa chừng, các đoàn cùng sang một phòng nghỉ chung, uống nước, thư giãn và nói chuyện với nhau).

        Bị đánh ngày càng đau, Nguyễn Văn Thiệu lồng lộn lên, ra lệnh ném bom liên tiếp các khu giải phóng, huy động cả hải lục không quân đi đánh phá, và trả đũa vào hai đoàn đại biểu của ta tại Tân Sơn Nhất, phá các phiên họp liên hợp cắt điện thoại, cấm cung cấp báo chí cho ta, ngăn cản họp báo, đồng thời kêu gào thế giới lên án, nhưng sự hưởng ứng quốc tế ngày càng teo lại, Ủy ban Quốc tế cũng chăng thể làm gì được đế có những kết luận nhất trí cả bốn thành viên.

        Một điều có vẻ nghịch lý mà lại cũng lý thú là nếu trong buổi đầu của Ban Liên hợp quân sự hai bên, chỉ một vài hành động quân sự nhỏ với tính chất tự vệ chính đáng của ta cũng bị báo chí phanh phui phê phán cật vấn đủ điều, về sau này càng ngày ta càng đánh trả mạnh trên chiến trường thì ngược lại các bản tin và bình luận được tung ra bốn phương thế giới lại có tác dụng tuyên truyền có lợi cho ta nhiều hơn.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Hai, 2012, 09:38:10 am
         Ngày 22 tháng 3 năm 1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời ra tuyên bố sáu điểm đòi phải giải quyết gắn liền bốn vấn đề liên quan chặt chẽ với nhau là ngừng bắn, tự do dân chủ, thành lập Hội đồng hòa giải hòa hợp dân tộc đi đến tổng tuyển cử tự do. Về trao trả nhân viên quân sự và nhân viên dân sự bị bắt, phải hoàn thành trong vòng ba tháng, chậm nhất là 30 tháng 6 năm 1974. Đặc biệt nhân viên quân sự và dân sự bị bắt trước ngày 28 tháng 1 năm 1973 còn giam giữ thì phải trao trả không chậm trễ.

        Ngày 23 tháng 3 năm 1974, trưởng đoàn ta họp báo phổ biến tuyên bố nói trên, các nhà báo chủ yếu chỉ hỏi cho rõ ý ta, sau đó đưa tin và bình luận khá khách quan.

        Ngày 12 tháng 4 năm 1974, địch rút chạy khỏi đồn Tõng Lê Chân, từ đó phía Sài Gòn lại bắt đầu một đợt phản ứng trả đũa mới tương đối dài: phá rối trong các phiên họp Ban Liên hợp quân sự (cả cấp Trưởng đoàn và Tiểu ban), cướp lời, nói năng thô lỗ, bỏ họp nửa chừng; oanh tạc Lộc Ninh, Lộc Tấn và nhiều địa điểm khác trong vùng giải phóng, cắt các cuộc họp báo của ta trong tám tuần liên tục từ 13 tháng 4 đến ngày 1 tháng 6 năm 1974, cắt điện thoại, cắt các chuyến bay đi Lộc Ninh.

        Trước tình hình đó, trong phiên họp trưởng đoàn ngày 10 tháng 5 năm 1974 ta đến trao bản tuyên bố đình chỉ họp Ban Liên hợp quân sự hai bên cho đến khi họ chấm dứt phá hoại, khôi phục đầy đủ các quyền ưu đãi miễn trừ. Ngày 30 tháng 5 năm 1974, tại Tổ Liên hợp quân sự bốn bên Đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời và Đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa cùng tuyên bố đình họp không thời hạn. Có thể việc này chạm trực tiếp đến lợi ích của Mỹ, cộng với sự công phẫn và đấu tranh của giới nhà báo nên ngày 7 tháng 6 năm 1974 viên trưởng đoàn phía Sài Gòn gửi công hàm cho trưởng đoàn ta hứa khôi phục chuyến bay Lộc Ninh, nối lại điện thoại, để ta thực hiện các cuộc họp báo, và đề nghị họp lại Ban Liên hợp quân sự.

        Sáng 8 tháng 6 năm 1974, đồng chí Võ Đông Giang, Phó trưởng đoàn tổ chức lại cuộc họp báo sau tám tuần bị đứt quãng, hội trường lại đông đúc trong đó có 54 nhà báo nước ngoài. Ngày 11 tháng 6 năm 1974, phiên họp Trưởng đoàn được nối lại, phía Sài Gòn tỏ thái độ đấu dịu, ta đòi phải ký kết lại văn bản bảo đảm về các quyền ưu đãi miễn trừ, họ cũng chấp nhận. Ngày 13 tháng 6 năm.1974, chuyến bay liên lạc đi Lộc Ninh được khôi phục, Tổ Liên hợp quân sự bốn bên cũng họp lại.

        Nhưng tình hình này diễn ra không lâu. Bị Mỹ ép, phía Sài Gòn phải tạm nhân nhượng nhưng vẫn tìm cách cưỡng lại.

        Tại cuộc họp trưởng đoàn ngày 18 tháng 6 năm 1974 họ bác bỏ bản dự thảo của ta về các quyền ưu đãi miễn trừ. Tại Tổ Liên hợp quân sự bốn bên viên đại diện Sài Gòn còn láo xược ném trả lại.

        Ngày 20 tháng 6 năm 1974, hải quân Sài Gòn bắn chìm chiếc tàu vận tải của Việt Nam dân chủ cộng hòa LC174 trên vùng biển quốc tế. Trong phiên họp ngày 21 tháng 6 năm 1974, viên trưởng đoàn Sài Gòn giành nói mấy giờ liền để phá cuộc họp.

        Tình hình đã rõ rệt là không còn khả năng đạt được kết quả gì tích cực tại bàn hội nghị nữa, ngày 22 tháng 6 năm 1974, Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng 1âm thời tuyên bố đình chỉ họp Ban Liên hợp quân sự hai bên vô thời hạn. Ngày 8 tháng 10 năm 1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời ra tuyên bố về tình hình miền Nam Việt Nam, đòi Mỹ chấm dứt dính líu quân sự và can thiệp vào công việc của miền Nam Việt Nam, đòi lật đổ Nguyễn Văn Thiệu, lập ra ở Sài Gòn một chính quyền tán thành hòa bình hòa hợp dân tộc, thi hành Hiệp định Pa-ri, đồng thời cũng tuyên bố chính thức đình chỉ mọi cuộc họp của Ban Liên hợp quân sự hai bên và Tổ Liên hợp quân sự bốn bên, rút khỏi diễn đàn La Celle Saint Cloud ở Pháp. Ngày 11 tháng 10 năm 1974, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa cũng ra tuyên bố tương tự.

        Thế là từ nay không còn hoạt động chung liên hợp và trực tiếp tiếp xúc chính thức giữa hai bên nữa. Do thế mạnh chính trị, ngoại giao và pháp lý của ta trong một bối cảnh chung tương đối thuận lợi, hai đoàn ta vẫn ở lại trại Đa-vít và tiếp tục hoạt động sôi nổi qua việc giữ quan hệ làm việc bình thường với Ủy ban Quốc tế, với hai đoàn bạn, nhất là tăng cường liên hệ với các nhà báo, và chính họ cũng muốn tăng cường liên hệ với ta.

        Lúc này bên Mỹ cũng đang gặp rối rắm chính trị: ngày 9 tháng 8 năm 1974, Ních-xơn phải từ chức nửa chừng do vụ Watergate; ngày 10 tháng 8 năm 1974, Garald Ford nhậm chức tống thống, tất nhiên phải tiếp tục chính sách và thái độ của Mỹ về Việt Nam đã được xác định từ khi ký Hiệp định Pa-ri, lại với tư thế của một người mới nắm việc, phải thận trọng trong từng bước đi.

        Nguyễn Văn Thiệu căm tức, những muốn tống các đoàn của ta đi, nhưng không còn mạnh và có thể làm gì được trái với lợi ích và sự khống chế của Mỹ. Họ ra sức cản trở hạn chế các hoạt động của hai đoàn ta, trước hết là cắt các chuyến bay liên lạc về Lộc Ninh: trong bảy tuần cuối năm 1974 họ cắt bốn chuyến, từ tháng 1 năm 1975 trong 18 tuần (cho đến tuần thứ tư tháng 4 năm 1975) họ chỉ thực hiện hai chuyến vào giữa tháng 1 năm 1975. Từ 20 tháng 1 năm 1975 trở đi họ hoàn toàn không bảo đảm cho ta đi về Lộc Ninh nữa. Tuy nhiên trong hai ngày 15 tháng 4 và 17 tháng 4 năm 1975 có hai chuyến máy bay lên thẳng đặc biệt của ủy ban Quốc tế vào Lộc Ninh để giải quyết việc ta trao trả một sĩ quan In-đô-nê-xỉ-a và một sĩ quan I-ran thuộc tổ Buôn Ma Thuột bị quân ta giừ từ ngày 11 tháng 3 năm 1975 khi giải phóng thị xã này. Ta cử người kết hợp đi nhờ hai chuyến bay đó, và trong hai chuyến này giải quyết được rất nhiều chuyện liên quan đến công việc chuẩn bị của đoàn ta trước ngày mở màn chiến dịch Hồ Chí Minh. Với chuyến bay đi Hà Nội (do Mỹ chịu trách nhiệm), phía Mỹ thỉnh thoảng cũng làm khó dễ để xoa dịu Thiệu nhưng chỉ cắt vài chuyến với lý do kỹ thuật, còn thì việc liên lạc với Hà Nội nói chung vẫn được bảo đảm đến giữa tháng 4 năm 1975. Và như vậy ta vẫn không bị cắt cầu nối với hậu phương.

        Đối phương còn cố hạn chế việc ta đi lại với các đoàn Ủy ban Quốc tế là liên lạc với các nhà báo, nhưng việc này khó khăn hơn nhiều vì đây là vấn đề thái độ ngoại giao quốc tế của họ trong khi hơn bao giờ hết họ rất cần sự đồng tình, ít nhất cũng là sự quan tâm của dư luận thế giới đối với số phận của họ. Các đoàn trong Ủy ban Quốc tế rất cần giữ liên lạc với ta để theo dõi diễn biến tình hình nên có thể nói hàng ngày, có ngày nhiều lần, luôn luôn có đại diện của đoàn này hay đoàn khác vào tiếp xúc và làm việc với ta. Việc các trưởng đoàn ta đi vào thành phố gặp các đại sứ trong Ủy ban Quốc tế hoặc đi dự chiêu đãi tuy cũng gặp nhiều cản trở, nhưng không thể bị ngăn cản hoàn toàn.

        Còn về phía báo chí thì đây là thời kỳ họ có cơ hội làm ăn và lập công nhiều nhất, đưa những tin nóng hổi nhất, những phỏng đoán phong phú nhất và những bình luận sôi nổi nhất về tình hình đang chuyển biến từng ngày trên toàn miền Nam Việt Nam. Vì vậy họ rất sốt sắng giữ chặt liên lạc với ta.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Hai, 2012, 09:41:07 am

*

*          *

        Ngày 6 tháng 1 năm 1975, ta tấn công thị xã Phước Long (nay thuộc Sông Bé) và núi Bà Đen (thuộc tỉnh Tây Ninh). Đây là trận đánh lớn đầu tiên giải phóng một tỉnh ly cách Sài Gòn không xa. Trận này có tác dụng thử sức ta và sức quân Sài Gòn trong việc đánh các thị xã thành phố, thăm dò phản ứng của Mỹ và dư luận quốc tế. Cả ba mặt đều thuận lợi. Tiếp theo một loạt các trận đánh khác vào chi khu quận lỵ, ngày 10 tháng 3 năm 1975 ta đánh thị xã Buôn Ma Thuột, chính thức mở đầu chiến dịch xuân - hè 1975.

        Một điều rất thú vị là từ ít lâu nay, nhiều nhà báo nước ngoài thường gọi điện thoại báo cho đoàn ta ở Tân Sơn Nhất biết tin về các trận đánh lớn ở các chiến trường, họ có phương tiện thuận lợi giúp nắm tin được sớm, nên đoàn ta thường nhận được tin thắng trận trước khi nhận được điện thông báo của cấp trên. Lần này cũng vậy, khoảng 10 giờ 30 ngày 11 tháng 3 năm 1975 một phóng viên Nhật đã gọi điện thoại cho sĩ quan báo chí ta cho biết là Buôn Ma Thuột bị đánh và có thể đã thất thủ rồi. Có lẽ đoàn ta ở trại Đa-vít là một trong số ít nơi xa mà biết được tin thắng lợi ở Buôn Ma Thuột sớm như vậy.

        Từ đó về sau nhiều nhà báo tự mình chủ động cung cấp cho ta những tin mới nhất ở chiến trường mà không hề chất vấn hoặc thắc mắc điều gì.

        Đây là thời kỳ vui sướng nhất của anh chị em ta ở trại Đa-vít, bởi vì nhiệm vụ cơ bản và khó khăn nhất là tranh thủ dư luận đã được thực hiện có kết quả, còn thắng lợi liên tục ở chiến trường thì đặt ra hy vọng (không ai nói ra lời nhưng đều hiểu cả lòng nhau) là ngày càng gần đến lúc được trở về với hậu phương, với gia đình, với tự do theo ý nghĩa đầy đủ nhất của nó.

        Và thế là kể từ chiến thắng Buôn Ma Thuột đã hình thành một tục lệ vui vẻ là hễ ta giải phóng một thị xã hay thành phố nào thì Ban Hậu cần (phối hợp chung cả hai đoàn) lại tổ chức một bữa tiệc (cũng chỉ dùng kinh phí trong tiêu chuẩn sinh hoạt thôi, vì được cấp trên chu cấp khá cao), có bia rượu, để cùng biểu thị niềm hân hoan vô hạn, với kỷ luật nghiêm ngặt là không được uống say.

        Thời gian từ 10 tháng 3 đến 17 tháng 4 năm 1975 không dài, nhưng đã diễn ra biết bao nhiêu sự kiện phấn khởi liên tục: 17 tháng 3 dứt điểm thị xã Kon Tum; 18 tháng 3 giải phóng thị xã Plây Cu và tỉnh Gia Lai; 19 tháng 3 Cheo Reo và tỉnh Phú Bổn (nay thuộc Gia Lai); 20 tháng 3 An Lộc và tỉnh Bình Long (nay thuộc Sông Bé); 24 tháng 3 thị xã và tỉnh Quảng Ngãi, thị xã Gia Nghĩa và tỉnh Quảng Đức (nay thuộc Đắc Lắc); 26 tháng 3 Huế và tỉnh Thừa Thiên; 27 tháng 3 Tam Kỳ và tỉnh Quảng Tín (nay thuộc Quảng Nam - Đà Nẵng); 28 tháng 3 Hội An (Quảng Nam); 29 tháng 3 giải phóng hoàn toàn Đà Nẵng; 1 tháng 4 thành phố cảng Quy Nhơn và tỉnh Bình Định, Tuy Hòa và tỉnh Phú Yên; 3 tháng 4 Đà Lạt và tỉnh Tuyên Đức (nay thuộc Lâm Đồng), Nha Trang và tỉnh Khánh Hòa; 17 tháng 4 Phan Rang và tỉnh Ninh Thuận.

        Bị thất trận dồn dập, đội hình rút chạy rối loạn từ Tây Nguyên xuống, từ miền Trung vào, địch không có thì giờ để dùng điện mật nữa, phải dùng điện rõ để báo cáo từ dưới lên và ra lệnh từ trên xuống. Bộ phận vô tuyến điện kỹ thuật của Đoàn A đã có cơ hội theo dõi sát tình hình qua mạng điện đàm đó, giúp cho đoàn báo cáo kịp thời lên cấp trên những tin tức mình nắm được.

        Ở Cam-pu-chia, ngày 12 tháng 4 sứ quán Mỹ rút khỏi Phnôm Pênh, và ngày 17 tháng 4 năm 1975 quân kháng chiến giải phóng hoàn toàn thủ đô Phnôm Pênh (tiếc rằng sau đó bọn Pôn Pốt lấy oán trả ân, chuyển bạn thành thù quay lại đánh ta và dìm dân tộc Cam-pu-chia dưới chế độ diệt chủng gần bốn năm liền cho đến mùa xuân 1979).

        Trong suốt thời gian tháng 3 và tháng 4 năm 1975 ta liên hệ càng chặt chẽ và thường xuyên với các nhà báo, và ngày thứ bảy 26 tháng 4 năm 1975, trùng hợp ngẫu nhiên với ngày mở màn chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đồng chí Võ Đông Giang đã chủ trì phiên họp báo cuối cùng bốn ngày trước khi Sài Gòn được hoàn toàn giải phóng.

        Điều tưởng như ngược đời là nếu trước đây phía Sài Gòn hậm hực tìm mọi cách ngăn cản sự tiếp xúc của ta với báo chí và phá các cuộc họp báo, thì trong hai tháng cuối này họ lại để thông suốt điện thoại và để các nhà báo dễ dàng vào trại Đa-vít hàng tuần, kèm theo rất nhiều "nhà báo" người Việt Nam. Hóa ra trước thất bại liên tục của quân Sài Gòn và xu thế tấn công của ta, Mỹ - Thiệu phải tận dụng mọi biện pháp và cơ hội - trong đó mối quan hệ của đoàn ta với các nhà báo là một yếu tố quan trọng để tìm hiểu ý đồ của ta. Đặc biệt trong 3 phiên họp báo cuối cùng, phòng họp chật cứng vì người dự rất đông, phỉên nào cũng trên trăm. Người trung thực cũng như những kẻ đến điều tra cho Mỹ - Thiệu, ai cũng cố tìm hiểu xem ta sẽ đánh đến đâu, có tấn công vào Sài Gòn không, có thương lượng nữa không. Một chi tiết đáng nói nữa là trong hai phiên 19 và 26 tháng 4 năm 1975, có một "phóng viên" người Pháp tên Vanuxem của báo Ngã tư (Carrefour) nguyên là thiếu tướng chỉ huy lực lượng Com-măng-đô (biệt động quân) của Pháp tại miền Bắc hồi chiến tranh Đông Dương của Pháp. Trong thời gian sôi động nhất tại chiến trường từ tháng 2 năm 1975, chính Vanuxem tự nguyện hô hào phía Sài Gòn tổ chức lữ đoàn biệt kích "để đánh Việt cộng". (Tên này còn ở lại Sài Gòn sau 30 tháng 4 năm 1975 và định dự cuộc họp báo ra mắt của ủy ban Quân quản ngày 7 tháng 5 năm 1975, nhưng một số phóng viên Pháp phản đối và yêu cầu ta không phân phối giấy mời cho hắn).

        Sau khi Sài Gòn được giải phóng, các cơ quan thông tin bưu điện của Sài Gòn tan rã, tin tức bài vở của nhà báo không phát đi được. Sáng 1 tháng 5 năm 1975 một phóng viên nước ngoài đã có sáng kiến trương trên xe một lá cờ lớn xanh đỏ có ngôi sao vàng (cờ của Chính phủ Cách mạng lâm thời) cùng với một tấm biến "nhà báo" xin vào trại Đa-vít cho kỳ được, vừa chúc mừng ta thắng lợi vừa nhờ ta giúp phát bài đi bằng telex và vô tuyến điện để được sốt dẻo. Một số nhà báo khác cũng bắt chước tiếp tục vào theo. Cảnh tượng nhộn nhịp tưng bừng thật khó quên...



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Hai, 2012, 09:43:49 am

HIỆP ĐỊNH PA-RI
VÀ SỰ TAN RÃ Ý CHÍ
CỦA QUÂN ĐỘI NGỤY SÀI GÒN
TƯ TlÊN                      
                     
         Tháng 4 năm 1975... Trong trận chiến đấu ở Phan Rang, tướng ngụy Nguyễn Vĩnh Nghi bị quân giải phóng bắt làm tù binh và được đưa cấp tốc về hậu phương để lấy cung, kịp thời phục vụ làm kế hoạch tác chiến giải phóng Sài Gòn. Tôi được giao nhiệm vụ cùng tham gia làm việc với tướng Nghi để tìm hiểu tình hình có liên quan đến mặt công tác an ninh khi quân giải phóng tiến vào giải phóng Sài Gòn. Nhân lúc nghỉ giải lao, tôi đọc báo "Quân đội nhân dân" để thông báo tin tức chiến sự cho tướng Nghi rõ. Lúc này đang có cuộc đọ sức quyết liệt giữa quân giải phóng và quân đội ngụy Sài Gòn Ở mặt trận Xuân Lộc. Khi nghe tin tức chiến sự, tướng Nghi bỗng nhiên thở dài thốt ra miệng: "Lúc này mọi sự kháng cự chỉ uổng công vô ích. Trong hàng ngũ tướng lĩnh chúng tôi đã cảm nhận được sự thất bại kể từ sau khi ký kết thỏa hiệp Pa-ri. Tháng 1 năm 1973". Nhân đó tôi hỏi tướng Nghi: Các anh đánh giá thế nào về Hiệp định Pa-ri?

        Tướng Nghi nói: "Trong thỏa hiệp Pa-ri tuy có nhiều điều khoản khác nhau, nhưng rút lại chỉ có một điều khoản quan trọng nhất là: Mỹ rút lui để dổi lấy tù binh Mỹ và quân đội miền Bắc được hợp pháp hóa ở lại miền Nam. Từ đó, làm thay đổi hẳn cục diện chiến trường. Tuy biết vậy, nhưng ông Thiệu vẫn buộc lòng phải ký. Vì Mỹ đã quyết định rồi… thì ông Thiệu cưỡng sao nổi... Và suy đến cùng thì cả ông Ních-xơn cũng không còn con đường nào khác nữa. Vì chiến tranh đã đi vào nội tình nước Mỹ, nhân dân Mỹ không chấp nhận nữa rồi. Sau khi ký kết thoả hiệp Pa-ri, trong một cuộc họp giữa ông Thiệu và các tướng lĩnh. ông Thiệu bị các tướng lĩnh chất vấn, có người nêu câu hỏi: Mỹ rút rồi… sau này Việt cộng nó lại tổng tiến công nổi dậy nữa thì ông tổng thống tính sao?

        Ông Thiệu phân giải… nói: Tôi đã được sự bảo đảm từ chính Tổng thống Ních-xơn... Nếu xảy ra như vậy, thì quân Mỹ lại nhào dô liền à... Có gì mà các ông phải lo...".

        Nghe ông Thiệu giải thích, bề ngoài các tướng lĩnh không ai có ý kiến gì nhưng trong thâm tâm mọi người vẫn suy đoán ngược lại: Mỹ đã chọn con đường tháo lui rồi, làm sao mà dám quay trở lại nữa. ông Thiệu nói như vậy, cất để làm yên lòng các tướng lĩnh chứ làm gì có chuyện quân Mỹ lại nhào dô liền... ông Thiệu đã tự dối mình và dối cả cấp dưới... Từ đó, tôi có cảm nghĩ rằng: Ý chí chiến đấu của quân đội chúng tôi (tức quân đội nguy Sài Gòn) đã bắt đầu tan rã từ sau khi ký kết thỏa hiệp Pa-ri rồi. Con đường dẫn đến thất bại hoàn toàn, nay đang diễn ra đúng như chúng tôi đã dự đoán.


 


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Hai, 2012, 11:42:58 am

MỘT PHIÊN HỌP ĐẶC BIỆT
HAI BÀI PHÁT BIỂU: HAI BẢN CÁO TRẠNG

NGUYÊN HÙNG ĐÀO        

     Nguyên sĩ quan Báo chí của Phái đoàn Chính phủ Câch mạng lâm thời ghi lại phiên họp cuối cùng của Ban Liên hợp quán sự bốn bên trung ương.          
        
        Một trong những sự kiện đặc biệt được dư luận, nhất là dư luận trong nước quan tâm là cuộc họp cuối cùng của Ban Liên hợp quân sự bốn bên trung ương ngày 28 tháng 3 năm 1973. Nó đặc biệt vì nó khác hẳn so với tất cả các phiên họp khác trước và sau nó. Đó là phiên họp với hai bài phát biểu như hai bản cáo trạng "luận tội đối phương vi phạm có hệ thống và rất nghiêm trọng Hiệp định Pa-ri về Việt Nam và các Nghị định thư kèm theo. Có người còn bảo rằng đó là phiên họp rất đặc biệt vì hầu như mọi người dự phiên họp này đều có chung một cảm giác rằng: phía ta, Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Đoàn đại biếu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa là chủ tọa của phiên tòa, đọc hai bản "cáo trạng" kịch liệt lên án phía Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn vi phạm hầu hết các điều khoản của Hiệp định Pa-ri về Việt Nam; còn phía Mỹ và nguy quyền Sài Gòn như những "bị cáo" ngậm đắng nuốt cay, buộc phải ngồi ghe sự phê phán nghiêm khắc của đối phương.

        Trước khi chính thức họp, phóng viên báo chí, nhiếp ảnh, quay phim và vô tuyến truyền hình đã được vào ghi hình của phiên họp cuối cùng này.

        Đánh giá tình hình hoạt động của Ban Liên hợp quân sự bốn bên trong 2 tháng qua, Trung tướng-Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Trần Văn Trà, nêu rõ:

        “Trong 60 ngày qua, Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã làm hết sức mình trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên với thiện chí và lòng mong muốn các điều khoản của Hiệp định được nghiêm chỉnh và triệt để thực hiện.

        Trái lại trong thời gian qua, phía Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn đã cố tình vi phạm và phá hoại có hệ thống và rất nghiêm trọng những điều khoản cơ bản và cấp bách nhất của Hiệp định. Họ chỉ thi hành những điều khoản có lợi cho họ và những điều khoản bắt buộc họ phải thi hành.

        Như mọi người đều biết, vấn đề khẩn thiết nhất phải được thực hiện là ngừng bắn, đình chỉ chiến sự, chấm dứt chiến tranh. Về phần mình, các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam đã nghiêm chỉnh thực hiện các điều khoản ngừng bắn. Song, trái lại, được sự ủng hộ và đồng tình của Hoa Kỳ, chính quyền Sài Gòn vẫn tiếp tục chiến tranh tạo nên một tình hình hết sức căng thẳng và vô cùng nguy hiểm ở miền Nam Việt Nam. Cho đến nay, nhân dân miền Nam Việt Nam chưa được hưởng một ngày hòa bình mà còn phải chịu không biết bao nhiêu đau thương tang tóc.

        Đối với các điều khoản của Hiệp định và Nghị định thư mà Hoa Kỳ có nghĩa vụ và trách nhiệm phải trực tiếp thi hành họ cũng vi phạm và chưa nghiêm chỉnh thực hiện. Hoa Kỳ đã chấm dứt các hoạt động quân sự trực tiếp của họ Ở miền Nam, rút quân Hoa Kỳ và quân đồng minh nước ngoài của Hoa Kỳ ra khỏi miền Nam Việt Nam. Song họ không mang đi vũ khí và phương tiện chiến tranh, không chịu phá huỷ căn cứ quân sự. Họ đã chuyển nhiều nhân viên quân sự trá hình thành nhân viên dân sự. Họ đã ngang nhiên tuồn vũ khí và phương tiện chiến tranh một cách trái phép vào miền Nam Việt Nam. Rõ ràng là Hoa Kỳ vẫn tiếp tục dính líu về quân sự ở miền Nam Việt Nam dưới nhiều hình thức.

        Về tự do dân chủ, ngay cả trong việc thông thường nhất như tự do đi lại làm ăn sinh sống, chính quyền Sài Gòn cũng không chịu thi hành một điều khoản nào.

        Họ đã ráo riết thực hiện chương trình "Bình định", mở hàng vạn cuộc hành quân càn quét, vây ráp, bắt bớ, kìm kẹp, khủng bố tàn sát nhân dân, đàn áp vô cùng man rợ những người hoạt động ủng hộ hòa bình, đòi tự do dân chủ và hòa hợp dân tộc.

        Cho đến nay, chính quyền Sài Gòn chưa chịu trao trả một nhân viên dân sự nào trong số hàng chục vạn người mà họ đang giam giữ. Hoặc đưa ra xử án hàng loạt một cách trái phép, chuyển nhân viên dân sự thành thường phạm để dễ bề thực hiện âm mưu đen tối của họ. Vì họ mà đến nay, hàng chục vạn gia đình Ở miền Nam Việt Nam còn sống trong cảnh chia ly đau khổ, chưa được đoàn tụ.

        Chính quyền Sài Gòn còn gây nhiều khó khăn trong viêc trao trả các nhân viên quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Họ còn tìm cách giấu người không chịu trao trả hết.

        Họ đã có nhiều hành động ngang ngược, phá hoại việc triển khai và hoạt động của Ban Liên hợp quân sự bốn bên và gây khó khăn trở ngại cho hoạt động của Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát.

        Những hành động vi phạm và phá hoại đó đã phơi bày rõ ràng dã tâm và âm mưu của họ tiếp tục thực hiện chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Hoa Kỳ Ở miền Nam Việt Nam, chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam.

        Từ trước đến nay, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam luôn tỏ rõ thiện chí và hết sức tự kiềm chế trước những hành động vi phạm, phá hoại Hiệp định của phía Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn".



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Hai, 2012, 11:45:13 am
        Trung tướng Trần Văn Trà đòi Chính phủ Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn đình chỉ mọi hoạt động vi phạm và phá hoại Hiệp định phải tôn trọng và triệt để thi hành tất cả các điều khoản của Hiệp định. Chính quyền Sài Gòn phải đảm bảo cho Ban Liên hợp quân sự hai bên mọi điều kiện như đã quy định trong Điều 26 và 17 của nghị định thư về các Ban Liên hợp quân sự và thực hiện đúng những điều đã thoả thuận trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên về vấn đề này để tổ chức này có thể triển khai nhanh chóng và hoạt động có hiệu lực. Phải hợp tác và giúp đỡ Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát thực hiện mọi nhiệm vụ của ủy ban này.

        Tiếp theo bài phát biểu của Trung tướng Trần Văn Trà, trong phát biểu của mình, Thiếu tướng Lê Quang Hòa, Trưởng đoàn Đoàn đại biêu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa nói:

       "Trong 2 tháng qua, Ban Liên hợp quân bốn bên trung ương đã làm được một số việc như: Ra lời kêu gọi chung về củng cố ngừng bắn, phối hợp giữa các bên thực hiện trao trả những nhân viên quân sự của các bên và thường dân của nước ngoài của các bên bị bắt ở Việt Nam, hợp tác với Ủy ban Quốc tế và giám sát việc rút quân đội Hoa Kỳ và quân đội Nam Triều Tiên tại một số địa điểm và đi điều tra một số vụ ngừng bắn, thoả thuận được 11 điểm về thủ tục, về bảo đảm các quyền ưu đãi và miễn trừ về ngoại giao cho các đoàn đại biểu trong Ban Liên hợp quân sự các cấp.

       Tuy nhiên, công việc của Ban Liên hợp quân sự bốn bên còn vấp phải nhiều khó khăn, trở ngại. Nhiều vấn đề rất quan trọng chưa được giải quyết, nhiều Điều khoản của Hiệp định và Nghị định thư chưa được thực hiện. Tiếng súng chưa chấm dứt; việc trao trả nhân viên dân sự Việt Nam chưa tiến hành được. Việc triệt phá các căn cứ quân sự nước ngoài ở miền Nam Việt Nam chưa được thực hiện theo đúng Điều 6 của Hiệp định. Việc quy định vùng do mỗi bên kiểm soát Ở miền Nam Việt Nam và những thể thức trú quân, các cửa khẩu và thể thức thay thế vũ khí, dụng cụ chiến tranh; việc quy định các hành lang, các tuyến đường và các quy định khác cho việc vận chuyển từ bên này qua vùng bên kia kiểm soát ở miền Nam Việt Nam đều chưa được giải quyết. Về mặt tổ chức triển khai bộ máy liên hợp xuống các khu vực và các tổ gặp nhiều khó khăn, hoàn toàn không được bảo đảm lại còn bị đe dọa nghiêm trọng, quyền ưu đãi miễn trừ không được thựe hiện.

        Thiếu tướng Lê Quang Hòa nêu rõ thái độ thiện chí và nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. "Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã làm rất tốt việc trao trả các nhân viên quân sự và dân sự nước ngoài khác bị bắt. Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã thực hiện đúng đắn việc trao trả nhân viên quân sự của chính quyền Sài Gòn.

        Về hoạt động sắp tới của Ban Liên hợp quân sự hai bên trung ương, miền Nam Việt Nam, Thiếu tướng Lê Quang Hòa mong rằng trong thời gian tới, hai bên miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hợp quân sự sẽ làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, tạo nên không khí thuận lợi hiểu biết lẫn nhau, thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, nhằm thực hiện triệt để ngừng bắn, củng cố hòa bình ngày càng vững chắc, thực hiện trao trả những nhân viên dân sự bị bắt và giải quyết những vấn đề cửa khẩu, hành lang, thay thế vũ khí… trên tinh thần hiểu biết lẫn nhaư".

        Thiếu tướng Lê Quang Hòa một lần nữa khẳng định: "Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa" miền Nam Việt Nam tiếp tục thi hành triệt để Hiệp định Pa-ri về Việt Nam và các Nghị định thư kèm theo và kiên quyết đòi Chính phủ Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn cũng phải thi hành triệt để như thế. Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa sẽ làm hết sức mình để hòa bình trên đất nước Việt Nam được củng cố vững chắc, để hòa bình và hòa hợp dân tộc được thực hiện, tiến tới một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, thống nhất và phồn vinh mà toàn thể nhân dân Việt Nam thiết tha mong đợi".

        Đại tá Võ Đông Giang, Phó trưởng đoàn Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam một trong những người trực tiếp dự phiên họp cuối cùng này, đã có lần nói vởi tôi, đại ý rằng: Hội nghị trưởng đoàn là hoạt động thường xuyên và quan trọng nhất của hai đoàn ta. Mỗi cuộc họp là một cuộc đấu trí, đấu lý và đấu pháp quyết liệt giừa ta và đối phương. Nhưng mình thích nhất, khoái nhất là phiên họp cuối cùng của Ban Liên hợp quân sự bốn bên trung ương ngày 28 tháng 3. Cuộc họp này thể hiện rõ vị trí, thế mạnh của những người chiến thắng, thế yếu của kẻ chiến bại. Hai đoàn ta nổi bật lên hơn hẳn các cuộc họp trưởng đoàn trưởc đó. Anh Trần Văn Trà và anh Lê Quang Hòa trở thành 2 nhân vật trung tâm, thu hút sự chú ý của hội nghị đặc biệt này. Anh Giang còn bảo: Vì đây là phiên họp nên gọi là bài phát biểu, nhưng thực tế chẳng khác nào 2 bản "cáo trạng" luận tội đối phương trong một "phiên tòa". Chính quyền Sài Gòn vừa muốn duy trì hội nghị với âm mưu thăm dò phía ta, nhưng cũng rất ớn những cuộc họp cấp trưởng đoàn mà phiên họp Ban Liên hợp quân sự bốn bên trung ương là phiên họp mà họ ớn nhất.

        Hai bài phát biểu quan trọng này của Trung tướng Trần Văn Trà và Thiếu tướng Lê Quang Hòa, thông qua hệ thống thông tin vô tuyến (Tê-lê-típ) được chuyển trực tiếp ngay cho Thông tấn xã giải phóng và Thông tấn xã Việt Nam (hãng thông tấn tuy hai mà một, tuy một mà hai này) nhận để rổi từ đó cung cấp cho các cơ quan thông tin đại chúng khác như báo Nhân dân, Báo Quân đội nhân dân, Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam; Đài phát thanh giải phóng... đăng tải hoặc phát thanh bằng tiếng Việt hoặc bằng nhiều thứ tiếng nước ngoài, nhất là tiếng Anh và tiếng Pháp… phối hợp đấu tranh chính trị và ngoại giao trên bàn hội nghị với dư luận trong nước và quốc tế.

        Tại phiên họp cuối cùng này của Ban Liên hợp quân sự bốn bên trung ương ngày 28 tháng 3 năm 1973, Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ghi đậm nét dấu ấn lịch sử trong cuộc đấu tranh chính trị ngoại giao trên bàn hội nghị không phải ở Pa-ri Thủ đô nước Cộng hòa Pháp mà ở ngay giữa sào huyệt địch mà không ít người cho rằng khó tìm thấy trong các cuộc đấu tranh ngoại giao trên chính trường quốc tế.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Hai, 2012, 01:58:49 pm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/6c-TruongCaiLay.jpg)

AI LÀ THỦ PHẠM VỤ THẢM SÁT "CAI LẬY“

Đại tá HÀ CÂN      

     Nguyên sĩ quan Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thởi Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

        Giữa tháng 3 năm 1974, vào giai đoạn ta và ngụy căng nhau, không còn hội họp gì nữa thì xảy ra một vụ làm chấn động dư luận: Ngụy quyền Sài Gòn vu cáo ta bắn đạn cối vào trường tiểu học cộng đồng Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho (nay thuộc tỉnh Tiền Giang) làm chết và bị thương nhiều em học sinh.

        Ngụy quyền gửi công hàm cho Ủy ban Quốc tế đòi đi điều tra vụ này. Công hàm của ngụy nói rõ đó là 1 quả đạn cối 82mm nhãn hiệu Trung Quốc.

        Các báo Sài Gòn đưa tin này với sự bình luận khác nhau. Các báo tay sai ngụy quyền chửi ta hết lời. Các báo khác lại nghi vấn, thắc mắc. Báo Đại dân tộc ra ngày 13 tháng 3 năm 1974 cho biết một phóng viên nhiếp ảnh đã bị canh giữ hết sức nghiêm ngặt và buộc phải đi xin phép tướng Nguyễn Vĩnh Nghi - Tư lệnh vùng 4 chiến thuật, mới được chụp ảnh hiện trường. Báo Hòa bình ngày 14 tháng 3 năm 1974 viết: Ngay sau khi được tin các phóng viên đã đến trường tiểu học Cai Lậy, nhưng họ bị cấm ngặt không được chụp ảnh. Lúc có được phép, thì hiện trường đã được dọn dẹp để phi tang, không còn gì để chụp. Báo Thế giới (Le Monde) ngày 14 tháng 3 năm 1974 viết: Gần Cai Lậy pháo binh ông Thiệu vẫn thường bắn vào vùng đông dân. Các báo thắc mắc: Nếu nói là tội ác của Việt cộng, tại sao lại ngăn cản phóng viên đến tận nơi để phanh phui?
    
       Một số anh em trong Tiểu ban Quân sự của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời đặt vấn đề nghiên cứu: Tại sao đối phương khẳng định đó là 1 quả đạn cối 82mm? Tại sao địch đổ vấy cho ta mà lại muốn bịt mắt phóng viên báo chí? Ắt là có vấn đề trong vụ này.

        Chỉ huy đoàn ta đã điện về hỏi Bộ tư lệnh Miền về tình hình các căn cứ lõm của ta quanh thị trấn Cai Lậy. Mấy hôm sau, được "R" trả lời: Xung quanh thị trấn Cai Lậy, căn cứ gần chợ Cai Lậy nhất là 4km.

        Cơ sở ta đã đến tận trường tiểu học xem xét hố đạn thì chỉ thấy "bằng cái bát ô tô" và nhiều vết mảnh đạn trên tường.

        Tiểu ban quân sự đề xuất ý kiến: Đề nghị đoàn chấp nhận việc đi điều tra tại chỗ vì nghiên cứu những tư liệu đã có thì đây là một vụ mà đối phương dựng lên để vu cáo ta, che lấp tội ác của chúng. Mà đã dựng chuyện thì thế nào cũng có những điểm sơ hở. Ta có đi đến nơi thì mới phát hiện sơ hở để đập lại địch.

        Quá trình trao đổi công hàm giữa ta và ngụy cùng với Ủy ban Quốc tế cũng chứng tỏ ý đồ vu cáo của ngụy.

        Sự việc xảy ra ngày 9 tháng 3 năm 1974, đến ngày 11 tháng 3 năm 1974, phía ngụy quyền gửi cho ta một công hàm yêu cầu điều tra mà không ghi rõ tên và chức vụ người ký. Đương nhiên đoàn ta không chấp nhận. Ngày 12 tháng 3 năm 1974, ngụy bỏ phiên họp cấp trưởng đoàn.

        Ngày 15 tháng 3 năm 1974, trong phiên họp cấp trưởng đoàn, ta phê phán thái độ không hợp tác của ngụy quyền Sài Gòn. Ta gửi công hàm cho Ủy ban Quốc tế yêu cầu điều tra tại chỗ.

        Ngày 18 tháng 3 năm 1974, Ủy ban Quốc tế gửi công hàm yêu cầu hai bên Việt Nam hợp tác điều tra - ngụy quyền lẩn tránh.

        Ngày 19 tháng 3 năm 1974, ta gửi công hàm cho ngụy quyền đề nghị hai bên cử tổ sĩ quan cùng với Ủy ban Quốc tế đi điều tra.

        Ngày 22 tháng 3 năm 1974, trong cuộc họp cấp trưởng đoàn, một lần nữa ta lại đề nghị đi điều tra, nhưng ngụy quyền từ chối.

        Ngày 25 tháng 3 năm 1974, người phát ngôn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra tuyên bố. Đây là một vụ thảm sát hết sức dã man của ngụy quyền Sài Gòn nằm trong âm mưu của chính quyền Sài Gòn nhằm đánh lạc hướng dư luận đang lên án Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn vi phạm ngày càng nghiêm trọng các điều khoản trọng yếu của Hiệp định Pa-ri.

        Cuối cùng, các bên thỏa thuận ngày 30 tháng 3 năm 1974 Ủy ban Quốc tế sẽ đi điều tra, có sự tham gia của sĩ quan liên lạc hai bên Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Hai, 2012, 02:05:19 pm
        Tôi được cử làm sĩ quan liên lạc với Tổ Quốc tế. Cùng đi với tôi có đồng chí Vũ Dũng, sĩ quan phiên dịch giỏi (nay là Thứ trưởng BỘ Ngoại giao). Trưởc khi đi, tôi đã trao đổi kỹ với đồng chí Đoàn Huyên về lý thuyết đường đạn. Anh Huyên là Phó tư lệnh Phòng không - Không quân phụ trách tên lửa, còn tôi đã học súng cối 120mm nên chúng tôi đã nhất trí những điểm cơ bản.

        Chúng tôi mang theo máy ảnh và máy ghi âm. Trong cặp của hai chúng tôi đều có độn thêm bìa các tông để làm mộc đỡ đòn, vì chắc chắn đối phương sẽ hành hung.

        Tổ điều tra của Ủy ban Quốc tế do Đại tá Grôm-bô-sơ (Hung-ga-ri) làm chủ tịch, các đoàn khác cũng do một đại tá dẫn đầu. Đoàn đi máy bay UH- 1 đến Mỹ Tho, bổ sung thêm thành viên rồi từ Mỹ Tho bay đi Cai Lậy. Hai bên quốc lộ 4 (nay là quốc lộ l), quang cảnh hoang vắng, ruộng đồng bỏ hoang. Máy bay hạ cánh xuống một đám đất trống phía đông thị trấn Cai Lậy rồi đi ô tô vào thị trấn. Trên đường rẽ vào trường tiểu học Cai Lậy có căng nhiều băng rôn đả đảo, vu cáo ta. Từng nhóm phòng vệ dân sự mặc đồ đen hò hét, yêu cầu dân chúng hô khẩu hiệu đả đảo Việt cộng.

        Tất cả các thành viên của tổ điều tra đều ngồi trên xe Scout hoặc Jeep có sơn chữ ICCS.

        Bước vào sân trường Cai Lậy, tôi chú ý tìm ngay cái gọi là 'hố đạn cối 82mm". Nếu không có cái biển đánh dấu thì không thể biết đó là cái "hố đạn" vì nó nông choèn, chỉ cần lấy mũi giày đá vài cái là có thể thành một cái hố như vậy. Thấy ngay đây không phải là một hố đạn cối vì nó không tròn, trái lại là hình bầu dục, dài 40cm, rộng 20cm, sâu 5cm, tôi chụp ảnh cái hố đó.

        Quan sát các bức tường: phía nam không có dấu vết gì, nhưng tường phía đông "hố đạn" chi chít vết nhỏ bằng đầu đũa, có thể là mảnh đạn cộng với đất đá bắn lên.

        Những điều quan sát được đã củng cố giả thiết "không phải là đạn cối 82mm" mà tiểu ban quân sự của ta đã xác định.

        Hơn 10 giờ, tổ điều tra bắt đầu làm việc cũng có tranh cãi giữa vị đại biểu có "cảm tình với ngụy quyền Sài Gòn" với Chủ tịch Ủy ban Quốc tế, nhưng rồi cũng nhất trí: "Hôm nay là cuộc điều tra chính thức của Ủy ban Quốc tế. Sau khi điều tra ở trường học sẽ đến bệnh viện thăm các em học sinh bị thương, xem bệnh án trong ngày hôm nay".

        Sau khi xem hiện trường, bắt đầu hỏi nhân chứng: Hiệu trưởng trường tiểu học Cai Lậy nói "Đang ngồi làm việc trong phòng, nghe thấy nổ quá lớn, khói tràn vào phòng, định thần lại thấy mình còn sống. Chạy ra sân thấy học sinh nằm sắp lớp, số bị thương nhẹ chạy vào văn phòng trường, chạy ra sân đến chỗ "hố đạn", lượm được cái đuôi đạn cối 82mm ở ngay tại hố nổ". Trời đất ơi, một hiện tượng chưa từng có: Một quả đạn cối nổ, đuôi văng thẳng đứng rồi rơi xuống đúng cái hố nổ, nơi quả đạn chạm đất. ông hiệu trưởng này đã bị lòi đuôi là kẻ vu khống. Khi bị tôi vặn hỏi, ông ta lại khẳng định: Tôi không lạ gì đạn cối 82mm nhãn hiệu Trung Quốc, trước tôi đi lính đã từng thấy, và đúng là tôi đã nhặt được cái đuôi đạn tại hố này.

        Người thứ hai là quận trưởng Cai Lậy, Trung tá Lê Văn Lý. Khi Chủ tịch Tổ Quốc tế hỏi: "Xin ông cho biết cự ly từ trường tiểu học Cai Lậy đến vùng kiểm soát của Chính phủ Cách mạng lâm thời", y dương dương tự đắc: ở quận Cai Lậy không có vùng kiểm soát của Mặt trận giải phóng, nhưng rồi thấy hố, y vội chữa: Nhưng có du kích hoạt động! Khi một sĩ quan quốc tế hỏi: Ai báo cho ông biết tai nạn và lúc nào thì ông đến hiện trường? Tên thông dịch ngụy dịch láo là: ông có cho là tiếng nổ đó do giải phóng pháo kích không?

        Đồng chí Vũ Dũng phiên dịch của đoàn ta đã chỉnh đốn ngay tên thông dịch và nói cho tổ điều tra biết là nó dịch láo. Trước đó, đồng chí Dũng cũng đã chỉnh một nữ thông dịch không dùng đúng từ ngữ của Hiệp định làm cô đó sợ quá phải xin thay người khác.

        Một sĩ quan quốc tế mớm lời: Xin ông cho biết ai pháo kích và từ hướng nào?

       Một lần nữa tên quận trưởng lại khoác lác: "Không cần phải suy nghĩ, ai cũng biết là Việt cộng pháo kích và bắn từ hướng đông bắc tới".

        Tôi phản đối y dùng từ ngữ sai Hiệp định và yêu cầu phải nói đúng, y tlếp tục khai đúng là cốì 82mm tạo thành hố đạn hình bầu dục và đuôi văng về phía tây hố nổ.

        Khi được đề nghị giải thích thêm về hướng bắn, tên quận trưởng lại có dịp phô trương "bản lĩnh" của mình, liền vẽ trên bảng đen để giảng giải: Xem dấu đạn nổ chuồi xuống, mảnh đạn văng ra, đằng trước nhiều nên tôi xác định được hướng bắn. Điều này trái với lý thuyết đạn cối nên các thành viên Tổ Quốc tế đều cười ồ!

        Tôi đã chụp ảnh hình vẽ "minh họa" của tên quận trưởng vì thấy "hay" quá: Đường đạn súng cối mà nó vẽ y hệt đường đạn pháo bắn thẳng. Cuộc hỏi nhân chứng kết thúc lúc 15 giờ 10.

        Thấy bị "bể", không còn cách nào lấp liếm khác hơn là phá vỡ cuộc điều tra, chúng giở ngón nhà nghề "bảo bối" của bọn ngụy quân, ngụy quyền là hành hung.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Hai, 2012, 02:05:57 pm
        Bước ra cửa phòng họp, đã thấy một đám lưu manh và phòng vệ dân sự mặc đồ đen từ một trụ sở cảnh sát xông ra hò hét, chửi bới. Chỉ vào Đại tá Hung-ga-ri và chúng tôi, chúng nó gào lên: Mấy thằng đầu sỏ Cộng sản đó, đánh cho một trận! Bọn côn đồ tập trung tấn công vào xe chúng tôi, chửi, ném đá và cản xe, một thằng mặc quần áo đen, bê một tảng đá to bằng một cái mũ cối, đập vào cửa kính bên phải xe. Tôi nói to: Dũng lấy cặp da đỡ, hòn đá bật ra ngoài. Mảnh kính vỡ, cứa vào cổ làm chảy máu ở cổ Trung tá l-ran ngồi sát cửa. Tôi lấy ngay bông, băng dính mang theo để cầm máu cho vị trung tá. Nếu đồng chí Dũng không đỡ được cú đó thì chắc chắn cái đầu của vị Trung tá I-ran đã vỡ toác.

        Trung tá No-vak (Hung-ga-ri), ngồi bên trái, lấy nắm đấm đập vào đầu lái xe, giục nó cho xe chạy. Các xe khác của Tổ Quốc tế cũng có nhừng cảnh giằng co, nhưng không mạnh bằng chỗ xe chúng tôi. Trong lúc bọn côn đồ hành hung, cản xe, cảnh sát và lính ngụy chỉ đứng nhìn, không can thiệp, còn sĩ quan liên lạc ngụy thì tránh mặt.

        Như đã dự kiến, lúc rời phòng họp, tôi đã gửi máy ảnh và máy ghi âm cho Trung tá No-vak, đề phòng tụi nguy có thể cướp giật thì mình mất hết tư hệu.

        Các đồng chí Hung-ga-ri có ý thức bảo vệ chúng tôi, thu xếp cho Dũng và tôi ngồi ghế sau, bên trái là Trung tá No-vak bên phải là Trung tá I-ran. Không hề trao đổi trước với nhau, nhưng các đồng chí Hung-ga-ri và chúng tôi đều đã đề phòng.

        Trở về Mỹ Tho, chúng tôi đề nghị tổ điều tra họp phản đối ngụy quyền Sài Gòn.

        Chủ tịch Tổ Quốc tế lên án Việt Nam cộng hòa tổ chức cuộc hành hung, cho nên Tổ Quốc tế dừng cuộc điều tra.

        Chúng tôi cũng lên án ngụy tổ chức hành hung thành vỉên Tổ Quốc tế và sĩ quan liên lạc của Chính phủ Cách mạng lâm thời và nêu rõ là:

        1 Khu vực trường tiểu học Cai Lậy được canh gác kỹ, xảy ra vụ hành hung là do nhà chức trách nguy quyển sắp xếp.

        2. Cảnh sát và binh sĩ ngụy không hề ngăn cản mà còn kích động bọn côn đồ ném đá làm bị thương 1 sĩ quan I-ran.

        3. Sĩ quan 1iên 1ạc Việt Nam cộng hòa tránh mặt.

        4. Lái xe 1à người của Việt Nam cộng hòa bố trí, cố tình không cho xe chạy để bọn côn đồ hành hung.

        Về đến ga Ủy ban Quốc tế Ở sân bay Tân Sơn Nhất, chúng tôi phải ở lại chờ xe ôm ra đón đưa về trại. Đồng chí No-vak chờ khi có xe ra đón chúng tôi mới đưa trả máy ảnh và máy ghi âm tôi đã gửi. Thật chu đáo.

        Trong cuộc họp báo vài ngày sau đó, tôi được đồng chí Võ Đông Giang giới thiệu trình bày: Sự thật về vụ thảm sát Cai Lậy.

        Trước đông đảo các nhà báo quốc tế và trong nước, chúng tôi đã trình bày những ý kiến, nhừng tư liệu thu thập được trong cuộc điều tra, những chỗ vô lý trong lời vu khống của quận trưởng Cai Lậy, mâu thuẫn giữa hai nhân chứng về vị trí đuôi đạn cối 82mm, mâu thuẫn ngay trong sự huênh hoang của quận trưởng Cai Lậy (đã hoàn toàn kiểm soát toàn quận, tại sao lại để du kích pháo kích vào quận lỵ giữa ban ngày)? Thái độ không hợp tác của phía Việt Nam cộng hòa với Ủy ban Quốc tế, tổ chức bọn côn đồ hành hung sĩ quan quốc tế và sĩ quan liên lạc của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

        Kết luận rõ ràng là: Ngụy quyền Sàì Gòn đã gây ra vụ nổ thảm sát học sinh trường tiểu học Cai Lậy, rồi đổ vấy cho phía Chính phủ Cách mạng lâm thời, lại phá cuộc điều tra của Ủy ban Quốc tế.

        Tất cả các nhà báo đã hiểu đầy đủ, cặn kẽ, không có ai hỏi gì thêm.

        Toàn bộ bản tường trình hôm đó đã được Thông tấn xã Việt Nam phát đi. Phòng thông tin của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ở Pa-ri đã in thành 1 tập nhỏ: "Qui est l'auteur du massacre de Cai Lậy" (Ai là thủ phạm vụ thảm sát Cai Lậy) để góp phần đấu tranh dư luận.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Hai, 2012, 05:37:18 pm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/NguyeenxQuangBieeuf.jpg)

VỤ ĐIỀU TRA CHÍNH QUYỀN SÀI GÒN
VI PHẠM NGỪNG BẮN
TẠI KHU VỰC PHẬT ĐÁ - SÁU ẦU

NGUYỄN QUANG BlỂU      

     Nguyên phiên dịch của Phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hợp quân sự hai bên.      

        Những ai đã từng sống, chiến đấu Ở Quân khu 8 thời kỳ sau Hiệp định Pa-ri về chấm dữt chiến tranh và lập lại hòa bình Ở Việt Nam khoảng tháng 3 tháng 4 năm 1973, chắc không lạ gì khu vực giải phóng Phật Đá - Sáu Ầu thuộc tỉnh Kiến Tường xưa.

        Mặc dù đã ký Hiệp định, nhưng chính quyền Sài Gòn không muốn thi hành. Hiệp định chưa ráo mực, chúng đã tiến hành chiến dịch "tràn ngập lãnh thổ" trên khắp chiến trường miền Nam, nhằm lấn chiếm những vùng giải phóng của ta, đánh bật quân ta ra khỏi những khu vực "lõm" mà ta đã đứng chân từ lâu; hoặc dùng không quân, pháo binh bắn phá vùng giải phóng, gây thương vong cho ta. Khu vực Phật Đá - Sáu Ầu thuộc tỉnh Kiến Tường là một trong những khu vực nằm trong diện này.

        Nhằm tố cáo trước dư luận quốc tế hành động lấn chiếm lãnh thổ, bắn phá vùng giải phóng, phá hoại Hiệp định của chính quyền Sài Gòn, ta quyết định chọn một vài vụ điển hình, yêu cầu ủy ban Quốc tế đi điều tra để đưa hành động vi phạm Hiệp định của bè lũ Mỹ - ngụy ra ánh sáng. Trong hàng trăm trường hợp như thế, ta đã chọn trường hợp ở Phật Đá - Sáu Ầu.

        Đồng chí Trung tá Quốc Khánh (Sáu Khánh) Tham mưu phó quân khu, được lệnh triệu tập lên Lộc Ninh, rồi từ Lộc Ninh vào Tân Sơn Nhất bằng máy bay trực thăng liên lạc tuần 2 chuyến Sài Gòn - Lộc Ninh để báo cáo tình hình với phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hợp quân sự hai bên trung ương Tân Sơn Nhất và làm công tác chuẩn bị cho cuộc điều tra.

        Tổ sĩ quan liên lạc của phái đoàn ta được lựa chọn đi xuống thị xã Mỹ Tho thuộc tỉnh Kiến Tường để cùng tổ ủy ban Quốc tế khu vực VI điều tra vụ vi phạm ngừng bắn này gồm Trung tá Sáu Khánh làm tổ trưởng, thiếu tá Việt Hương thuộc Tiểu ban Quốc tế, một đồng chí ở Tiểu ban thông tấn báo chí và tôi làm phiên dịch. Phía ngụy lấy sĩ quan liên lạc tại chỗ. Chúng tôi dự kiến có thể có.2 phương án xảy ra để lãnh đạo đoàn thông qua làm cơ sở trao đổi với các đồng chí Hung-ga-ri và Ba Lan (hàng sáng phái đoàn ta đều có giao ban với sĩ quan hên lạc Phái đoàn Hung-ga-ri và Ba Lan trong ủy ban Quốc tế để phối hợp hành động):

        Phương án 1: Xuống Kiến Tường, phía ngụy có thể chấp nhận cùng ủy ban Quốc tế tiến hành điều tra. Tình huống này khó có thể xảy ra (kinh nghiệm cho hay, từ ngày Ủy ban Quốc tế chính thức hoạt động chưa có cuộc điều tra vi phạm lệnh ngừng bắn nào thành công).

        Phương án 2: Xuống Kiến Tường, ngụy sẽ kiên quyết phá, không đi điều tra, lấy lý do an ninh không bảo đảm, hoặc bất kỳ một lý do nào đấy miễn là sĩ quan liên lạc của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam chỉ dừng ở Mỹ Tho không dẫn ủy ban Quốc tế đi khu vực Phật Đá - Sáu Ầu được, như vậy cuộc điều tra sẽ thất bại. Khả năng này xảy ra là nhiều, nhưng nếu nó xảy ra tổ sĩ quan liên lạc của ta phải cùng các đồng chí Hung-ga-ri và Ba Lan trong tổ Ủy ban Quốc tế khu vực VI ghi bằng được trong biên bản là phía ngụy đã cố tình phá hoại cuộc điều tra.

        Chúng tôi được máy bay trực thăng UH-l của ngụy chở xuống căn cứ quân sự Đồng Tâm, sau đó đi xe ô tô vào thị xã Mỹ Tho, đến khách sạn Mỹ Cảnh để tham gia họp với ủy ban Quốc tế. Bước xuống xe để đi vào khách sạn, tôi thấy dân chúng vây quanh chật kín lối vào để xem quân giải phóng như thế nào, có phải gầy như phía ngụy thường tuyên truyền "bảy tên Việt cộng trèo lên một cọng đu đủ mà không gãy". Đồng chí Sáu Khánh to, mập, trắng trẻo, đầu húi cua, khoảng 65-67kg, anh Việt Hương, cao lm70 nhưng không gầy, còn đồng chí thông tấn và tôi năm đó mới 26-27 tuổi, dân ngoài Bắc mới vào, đang sức ăn sức ngủ, da dẻ hồng hào trắng trẻo, đẹp trai. Chúng tôi đều mặc quân phục giải phóng may bằng vải Tô Châu, có cầu vai, đầu đội mũ cối Trung Quốc, có ngôi sao trên nền nửa đỏ, nửa xanh, vai đeo xắc-cốt da, chân đi giày da đen sĩ quan của Liên Xô. Chưa bao giờ người dân thị xã Mỹ Tho lại được chứng kiến một đội quân giải phóng dù chỉ có bốn người lại đàng hoàng giữa ban ngày tiến vào khách sạn dành cho Ủy ban Quốc tế. Tôi đi mà vẫn cảm nhận thấy có nhiều ánh mắt tò mò, đầy ngạc nhiên, xen lẫn sự khâm phục dõi theo. Có nhiều tiếng nói của người dân đứng hai bên đường trầm trồ ca ngợi: "Việt cộng béo khỏe, đẹp trai quá". Chúng tôi đồng loạt ngả mũ cối vẫy chào. Đám đông được thể xô đẩy, chen lấn, muốn tiếp cận chúng tôi gần hơn, nhưng ngay lập tức bị một trung ciội cảnh sát ngụy được huy động đến bao vây khách sạn, giải tán đám đông.

        Họ hoảng sợ, không muốn dân chúng tiếp cận, nói chuyện với chúng tôi.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Hai, 2012, 05:39:22 pm
        Các đồng chí Hung-ga-ri và Ba Lan đã được báo trước, ra cổng khách sạn, dẫn chúng tôi vào trong phòng họp. Phiên họp do phái đoàn Hung-ga-ri làm chủ tịch điều khiển. Viên đại tá tỉnh trưởng nằng nặc yêu cầu Ủy ban Quốc tế không cho đoàn chúng tôi ở tại khách sạn Mỹ Cảnh mà phải ra ở căn cứ Đồng Tâm cùng với sĩ quan liên lạc của họ. Đồng chí Sáu Khánh bác bỏ thẳng thừng đòi hỏi vô lý đó, với lý do trong giấy công tác mà Ban Liên hợp quân sự hai bên cấp cho đoàn chúng tôi có chữ ký của trưởng đoàn hai bên ghi rõ: tổ sĩ quan liên lạc của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam sẽ ở tại khách sạn Mỹ Cảnh, thị xã Mỹ Tho, tỉnh Kiến Tường trong suốt thời gian điều tra. Cuộc họp giằng co, kéo dài gần hết buổi chiều, không ngã ngũ. Đứng trước tình hình đó, chúng tôi hội ý với các đồng chí Hung-ga-ri nhận định: phía ngụy sẽ cố tình ngăn cản Ủy ban Quốc tế không cho đi điều tra, đồng thời đề nghị 2 phái đoàn Hung-ga-ri và Ba Lan phối hợp hành động. Trong cuộc họp tiếp theo, phái đoàn Hung-ga-ri với tư cách là chủ tịch tuyên bố nếu sĩ quan liên lạc của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra ở tại căn cứ Đồng Tâm thì ngay lập tức cả phái đoàn Hung-ga-ri sẽ bỏ sang ở khách sạn khác và sẽ không thanh toán tiền ăn ở của phái đoàn từ trước đến nay, đồng thời sẽ chỉ mặt, chỉ tên những nhân viên CIA được cài vào khách sạn nhằm mục đích theo dõi hai phái đoàn Hung-ga-ri và Ba Lan. Chúng tôi nghe lời tuyên bố đó mà sướng trong lòng. Còn phái đoàn Ca-na-đa và In-đô-nê-xi-a thì đấu dịu.

        Với những lý lẽ sắc bén, đanh thép và thái độ cương quyết của đoàn chúng tôi và của các đồng chí Hung-ga-ri, viên đại tá tỉnh trưởng hết sức cay cú, đành rút lui, nhưng ra lệnh điều thêm lực lượng cảnh sát đến bao vâv khách sạn "nội bất xuất, ngoại bất nhập", không cho đoàn chúng tôi ra ngoài mua đồ ăn, không cho khách sạn bán bất kỳ thức gì cho đoàn chúng tôi, kể cả nước giải khát và thuốc lá Mọi sinh hoạt đều phải nhờ vào các đồng chí Hung-ga-ri. Các đồng chí đó cho chúng tôi mượn túi ngủ dã chiến trải xuống nền nhà ngủ vì khách sạn được lệnh không bố trí phòng, cho chúng tôi ăn đồ hộp dự trữ vì không mua được đố ăn.

        Sang đến ngày thứ hai tình hình không có gì chuyển biến, phía ngụy vẫn đòi chúng tôi ra ở căn cứ Đồng Tâm. Rõ ràng phía họ đã ra mặt phá bĩnh, không thực hiện cam kết tạo điều kiện cho ủy ban Quốc tế và sĩ quan liên lạc của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tiến hành điều tra.

        Cái thứ đồ hộp ăn một bữa còn chịu được, ăn liền vài bữa không có rau xanh thấy xót ruột. Ở trên đất mình mà lại chịu nhịn đói, nhịn khát, có tiền trong túi mà không ra ngoài mua được đồ ăn, thức uống. Đầu giờ chiều anh Sáu Khánh cho gọi tôi, đưa tôi một ít tiền và bảo tìm cách mua mấy ổ bánh mì ba tê có rau và dưa chuột để tối ăn. Tôi đi xuống tầng hai định tìm một đồng chí Hung-ga-ri nhờ mua hộ nhưng không thấy, chỉ thấy hai sĩ quan In-đô-nê-xi-a đang thi đấu bóng bàn. Tôi bèn đứng xem. Cùng xem còn có 4-5 nhân viên khách sạn tuổi chừng 17-18, cả trai lẫn gái. Họ chăm chú theo dõi và trầm trồ khen ngợi mỗi khi đôi bên có nhừng quả đập hay. Kết thúc séc đấu, viên sĩ quan In-đô-nê-xi-a thắng cuộc, đưa vợt, mời tôi thi đấu. Tôi chấp nhận vì ở phái đoàn Tân Sơn Nhất tôi cũng là cây vợt có thứ hạng, đôi khi chúng tôi cũng tổ chức thi đấu với Ủy ban Quốc tế. Chỉ có khác là hôm nay thi đấu tại một khách sạn vùng địch chiếm đóng có khán giả trẻ tuổi là các em nhân viên khách sạn đứng xem cổ vũ. Tôi xác định phải thắng, không thể nào thua được vì thể diện của quân giải phóng trước khán giả vùng địch chiếm đóng. Vừa đánh tôi vừa quan sát nét mặt của các em cổ vũ, thấy họ từ ngạc nhiên, trầm trồ, đến vui mừng hớn hở, khi tôi kết thúc trận đấu với tỉ số 3-2 nghiêng về tôi. Tôi nghĩ bụng dịp may đã đến, mình có thể nhờ mấy em này mua hộ bánh mì ba tê có rau sống đây. Tôi trả vợt, cám ơn viên sĩ quan In-đô-nê-xi-a, tôi mời một em lại gần và nói:

       - Tôi nhờ mấy em mua giúp mấy cái bánh mì kẹp thịt có rau sống và mấy lon nước ngọt để tối ăn.

        Em ngần ngừ và trả lời:

       - Giám đốc khách sạn cấm không mua, không bán đồ cho mấy ông. Tụi tôi mua hộ, ổng phát hiện thì mất việc. Nói xong em chạy lại với đám bạn bè. Tôi thất vọng định quay lên gác nhưng lại thấy 2 em, một trai, một gái tiến lại gần và nói:

        - Chúng cháu đã bàn với nhau và quyết định có thể mua giúp chú. Thế chú mua mấy cái?
   
        - Sáu bánh mì ba tê có rau sống và sáu lon nước ngọt. Tôi đưa tiền cho các em và nhanh chóng lên báo cáo anh Sáu Khánh. Đợi một lúc thấy hai em mang bánh mì và nước ngọt vào phòng. Anh Sáu Khánh vui ra mặt, cám ơn và bắt tay các em. Như vậy là giữa vòng vây dày đặc của cảnh sát, với lệnh nghiêm cấm không giao lưu, không bán đồ, không mua đồ cho Việt cộng, bốn sĩ quan liên lạc của ta vẫn có đủ bánh mì ba tê kẹp rau sống và nước ngọt thưởng thức. Ở thế giới đã có ngoại giao bóng bàn, còn ở đây đoàn chúng tôi đã phá cấm vận của địch cũng bằng ngoại giao bóng bàn.

        Đúng lúc đó các đồng chí Hung-ga-ri báo biên bản làm việc của Ủy ban Quốc tế đã thảo xong, có chữ ký của bốn trưởng đoàn Ủy ban Quốc tế, phản đối chính quyền Sài Gòn, mượn cớ không bảo đảm an ninh, không hợp tác với Ủy ban Quốc tế, trì hoãn điều tra, vi phạm Hiệp định. Đúng là như dự kiến ban đầu, dù cuộc điều tra không được tiến hành, do có sự phá hoại của phía ngụy, nhưng ta đã ghi được điểm trước dư luận quốc tế. Như vậy mục tiêu của đoàn giao cho, tổ sĩ quan liên lạc chúng tôi đã hoàn thành xuất sắc.

        Để cảm ơn sự đùm bọc và hợp tác chân tình của các đồng chí Hung-ga-ri và Ba Lan, trước khi rời khách sạn Mỹ Cảnh về Tân Sơn Nhất, anh Sáu Khánh đã yêu cầu giám đốc khách sạn chuẩn bị một bữa chiêu đãi để mời chung Ủy ban Quốc tế. Bữa chiêu đãi chia tay để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp. Đoàn chúng tôi trở về Tân Sơn Nhất với tâm trạng phấn khởi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong đó không bao giờ quên sự đùm bọc, giúp đỡ quý báu của các đồng chí Hung-ga-ri và Ba Lan ở khu vực Mỹ Tho.

Hà Nội tháng 4 năm 2004           


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Hai, 2012, 07:44:47 pm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/DDaofChisCoong.jpg)

(Đào Chí Công)

TRẠI ĐA-VÍT "ỐC ĐẢO CÁCH MẠNG"

NGUYỄN HỒNG VIỆT      
   
Ghi theo lời kể của Đại tá Đào Chí Công.      

        Trại Đa-vít, báo chí ngày đó gọi là "ốc đảo cách mạng".  Nơi đây đã diễn ra cuộc đấu trí, đấu lý căng thẳng và quyết liệt cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng đất nước thống nhất.

        Suốt từ năm 1973 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, các phái đoàn của ta trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên và hai bên đã diễn ra nhiều cuộc họp báo, là một bộ phận của mặt trận đấu tranh dư luận góp phần buộc Mỹ - ngụy phải thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Pa-ri. Có lẽ sôi nổi nhất là những ngày cuối tháng 4 năm 1975, phái đoàn của ta theo dõi tin chiến thắng của quân giải phóng qua rađio để tiếp tục đấu tranh với kẻ thù trên thế thắng của chiến trường. Tin chiến thắng trên chiến trường là niềm cổ vũ động viên cán bộ, chiến sĩ ở trại kiên quyết tấn công kẻ thù. Càng những ngày cuối tháng 4 không khí ở trại Đa-vít càng sôi động. Trái tim mọi người rạo rực, tuy không ai bộc lộ qua cử chỉ, nét mặt, giữ không khí sinh hoạt bình thường, không để cho địch nghi ngờ, đồng thời bí mật đối phó với mọi tình huống có thể xảy ra.

        Thời gian này, nguy quân đặt thêm các trạm gác để quan sát mọi hoạt động bên trong trại. Để che mắt kẻ thù, mọi người vui mừng trước chiến thắng chỉ thông qua ánh mắt, nhiều lúc muốn reo lên nhưng lại im lặng.

        Quân ủy Trung ương và Bộ chỉ huy quân sự Miền rất quan tâm và lo lắng đến việc bảo vệ an toàn tuyệt đối cho cán bộ, chiến sĩ ta trong trại Đa-vít. Cùng với chiến thắng của quân giải phóng trên chiến trường, từ ngày 18 tháng 4 cán bộ, chiến sĩ trong trại Đa-vít chuẩn bị các phương án chiến đấu. Suốt đêm ngày, lợi dụng máy bay địch ở sân bay Tân Sơn Nhất khởi động, cất cánh, anh em tranh thủ cắt sàn nhà để chui xuống đào hầm (nhà ở trong trại Đa-vít được dựng tạm, sàn gỗ và lợp tôn hoặc fibrô xi măng). Xẻng cuốc không đủ anh em phải dùng lưỡi lê, dao găm, cọc màn bằng sắt đập dẹt làm xà beng. Nhiều chỗ đất cứng phải đổ nước cho mềm, dễ đào. Thế là chỉ trong thời gian ngắn trong trại Đa-vít đã hình thành hệ thống hầm hào, công sự liên hoàn, có hầm chỉ huy, hầm quân y.

        Ngày thứ bảy hàng tuần trong tháng 4 các cuộc họp báo của đoàn ta vẫn diễn ra đều đặn, cuộc họp báo vào sáng thứ bảy ngày 26 tháng 4 năm 1975 có rất đông các nhà báo quốc tế. Hơn 100 nhà báo tới dự. Không còn đủ chỗ họ phải đứng ra ngoài cửa chăm chú theo dõi cuộc họp báo do Đại tá Võ Đông Giang, Phó trưởng đoàn của ta chủ trì xem có điểm gì mới về chiến sự trên chiến trường. Nhiều nhà báo thăm dò xem quân giải phóng có tiến công vào Sài Gòn không. Có một nhà báo quốc tế không giấu được ý định đã hỏi Đại tá Võ Đông Giang:

        - Thưa đại tá, các ông có tiến công vào Sài Gòn - Gia Định không?

        Đại tá Võ Đông Giang trả lời:

        - Rất tiếc là Bộ chỉ huy của chúng tôi không có thói quen nói trước ý định của mình?
    
        Câu trả lời hóm hỉnh, chứa đựng nhiều ý nghĩa khiến các nhà báo không hỏi thêm điều gì. Và cũng chính họ cũng hiểu rõ điều gì sắp xảy ra. Trong giờ giải lao, các nhà báo tranh thủ xin chụp ảnh kỷ niệm với cán bộ chiến sĩ ta. Vì biết đâu, đây là buổi họp cuối cùng của đoàn ta tại trại Đa-vít. Và quả đúng như vậy.

        Đêm 28 tháng 4, mọi người trong đoàn được lệnh xuống hầm, sẵn sàng ở vị trí chiến đấu... Gần sáng pháo binh của ta bắn vào các mục tiêu quân sự của địch, càng lúc pháo càng cấp tập. Nằm dưới hầm mọi người nghe rõ tiếng đạn pháo rít trên đầu.

        Trưa ngày 29 tháng 4 có một đoàn khách đến trại giới thiệu là phái viên của phó tổng thống Sài Gòn Nguyễn Văn Huyền đến xin gặp trưởng đoàn ta. 14 giờ 30 phút lại có một đoàn khách, 17 giờ 30 phút đoàn khách thứ 3 gồm ba người khẩn khoản xin được gặp trưởng đoàn ta. Ba vị khách đó là luật sư Trần Ngọc Liễn, ông Châu Tâm Luân và linh mục Chân Tín. Ba vị khách được mời xuống hầm để bảo đảm an toàn, đều trố mắt ngạc nhiên trước hệ thống công sự, hầm hào mới được đào. Sau khi lấy lại bình tĩnh, ba vị khách cho biết họ được ông Dương Văn Minh mới lên nhận chức tổng thống chính quyền Sài Gòn cử đến gặp Đại tá Võ Đông Giang đề nghị trình với thượng cấp thương lượng để tránh thương vong và đổ nát cho Sài Gòn khi quân giải phóng tiến vào. Đại tá Võ Đông Giang giải thích rõ chính sách của ta cho ba vị và yêu cầu nói với ông Dương Văn Minh phải đầu hàng. Bây giờ không còn gì đế bàn, mọi vấn đề đã được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam khẳng định rõ trong tuyên bố ngày 26 tháng 4 năm 1975.

        Các vị khách đã hiểu rõ lập trường của ta nên xin phép trở về Sài Gòn nhưng lúc này pháo ta đã bắn vào các mục tiêu quân sự càng cấp tập nên ba vị phải ở lại một đêm trong trại Đa-vít.

        Rạng sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, chúng tôi nghe rõ tiếng gầm rú của xe tăng Quân Giải phóng vượt qua sân bay Tân Sơn Nhất tiến vào trung tâm Sài Gòn. Rồi tiếp đó là bộ đội giải phóng rầm rập tiến quân qua đường trước cổng trại Đa-vít. Lúc này tất cả cán bộ, chiến sĩ đều nhảy lên reo hò sung sướng. Chúng tôi ôm nhau trong niềm hân hoan, đôi mắt nhòa lệ. Bên ngoài trại Đa-vít không còn một bóng tên lính ngụy. Mặt đường la liệt quần áo, giày dép, mũ sắt, súng đạn... 9 giờ 30 phút đồng chí Hoàng Anh Tuấn và đồng chí Võ Đông Giang tiễn ba vị khách đã qua đêm trong trại Đa-vít về Sài Gòn thì gặp một đơn vị Quân Giải phóng áo nhuốm đỏ bụi đường, nét mặt rạng rỡ. Được chứng kiến tận mắt đội quân hùng dũng tiến vào thành phố, linh mục Chân Tín xúc động, dang rộng hai tay nói to: "Đây, giờ phút sung sướng nhất của dân tộc chúng ta".

        Cả đêm 30 tháng 4 năm 1975 hòa trong không khí đại thắng của quân dân ta, cán bộ, chiến sĩ trong trại Đa-vít thức thâu đêm cho tới lúc này mọi người thỏa sức reo hò.

        Với chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975, đoàn ta tại trại Đa-vít chấm dứt nhiêm vụ.

        Hơn ba mươi năm trôi qua, kỷ niệm những năm tháng Ở trại Đa-vít không bao giờ phai mờ trong ký ức của cán bộ, chiến sĩ. Không trực tiếp cầm súng nhưng bằng trí thông minh linh hoạt nhạy bén, hai đoàn của trại Đa-vít đã góp phần vào chiến thắng chung của dân tộc.

        Trại Đa-vít hôm nay chỉ còn dấu vết không thể nhận ra. Mong "ốc đảo cách mạng" được tôn tạo thành di tích lịch sử.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Hai, 2012, 08:25:30 pm

TRẠI ĐA-VÍT
MỘT ĐỊA DANH KHÔNG THỂ NÀO QUÊN

Đại tá TẠ HƯNG      

     Nguyên là sĩ quan trong Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.      

       Trong mặt trận đấu tranh ngoại giao sau Hiệp định Pa-ri, có một cái tên - một địa danh - tuy nhỏ nhưng cũng đã ghi lại một dấu ấn đáng nhớ của những người lính làm nhiệm vụ đấu tranh thi hành Hiệp định Pa-ri giữa sào huyệt của địch.

        Cái địa danh đó là "DAVIS CAMP" (Trại Đa-vít) là trụ sở của Ban Liên hợp quân sự bốn bên rồi hai bên sau Hiệp định Pa-ri về Việt Nam.

        Là người vinh dự được tham gia từ đầu đến cuối đơn vị đặc biệt này và sau đó tham gia Ủy ban Quân quản Sài Gòn - Gia Định, tôi muốn nhân dịp này - dịp kỷ niệm 30 năm giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà - xin kể lại với bạn đọc một số kỷ niệm của thời kỳ đầu với ấn tượng sâu sắc không thể nào quên.
   


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Hai, 2012, 08:38:15 pm

CUỘC HÀNH QUÂN VÀO TRẠI ĐA-VÍT

        Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam sắp được ký kết. Trong Hiệp định có vấn đề thành lập ủy ban Liên hợp quân sự bốn bên và hai bên ở Trung ương (Sài Gòn) và các khu vực ở miền Nam Việt Nam. Lúc đó, tôi đang công tác tại Cục Nghiên cứu Tổng cục Chính trị được điều động đi làm nhiệm vụ mới và được phân công công tác trong đoàn của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội cũng như gia đình, bạn bè đến lưu luyến chia tay. Niềm vui rạng rỡ trên nét mặt và nụ cười của mọi người.

        Đêm 26 tháng 1 năm 1973, một đoàn xe U-oát xuất phát đưa chúng tôi đi vào Lộc Ninh để từ Lộc Ninh vào Sài Gòn. Sáng 27 tháng 1 năm 1973, chúng tôi dừng chân tại một khu rừng của Thanh Hóa, chuẩn bị đêm lại đi tiếp. Trưa ngày 27 tháng 1 năm 1973, đoàn nhận được điện khẩn của Tổng cục Chính trị là phải quay ra Hà Nội ngay vì Hiệp định Pa-ri sắp ký, đi dọc Trường Sơn vào sẽ không kịp. Đêm 27 tháng 1 năm 1973, thay vì đi vào Nam, chúng tôi lại trở ra Hà Nội. Ra đến Hà Nội, chúng tôi được biết, để kịp triển khai hoạt động, Mỹ đã đồng ý đưa hai đoàn ta vào Sài Gòn bằng máy bay C130 của Mỹ. 8 giờ 15 phút, thứ hai, ngày 29 tháng 1 năm 1973, chúng tôi rời địa điểm đi sân bay Gia Lâm để vào Sài Gòn. Tại sân bay Gia Lâm, hai chiếc C130 - một chiếc cho đoàn miền Bắc, một chiếc cho đoàn miền Nam - đã chờ sẵn. Đoàn miền Bắc do Thiếu tướng Lê Quang Hòa dẫn đầu, quân phục mới, quân hàm, quân hiệu chỉnh tề, đoàn lên đường với khí thế chiến thắng. Đoàn miền Nam chúng tôi lúc đó với danh nghĩa đi công tác nước ngoài về ghé qua Hà Nội, nay được lệnh của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam vào Sài Gòn công tác. Chúng tôi với quân phục giải phóng mới, mũ tai bèo mới, vali ngoại giao mới tiến về chiếc C130 dành riêng cho đoàn. 11 giờ 25 phút ngày 29 tháng 1 năm 1973, máy bay cất cánh. Chúng tôi vui mừng khôn xiết. Đảng, Nhà nước, nhân dân, quân đội đã tạo điều kiện thuận lợi, tạo thế cho chúng tôi vào lòng địch để thực hiện một cuộc chiến đấu mới, một cuộc chiến đấu tuy không phải bằng súng đạn, song cũng không đơn giản và dễ dàng.

        14 giờ 45 phút cùng ngày, máy bay hạ cánh an toàn xuống sân bay Tân Sơn Nhất. Qua cửa sổ máy bay, chúng tôi thấy xe quân cảnh của Mỹ, ngụy chạy tới tấp, rồi cả hai máy bay được bao vây bởi hàng rào lính dù trong tư thế sẵn sàng nổ súng. Trời nắng gắt, sân bay nóng ran. Một, hai, rồi ba giờ trôi qua chúng tôi vẫn không được rời máy bay. Chúng tôi ăn lương khô, uống nước bi đông mang theo và chờ đợi. Đoàn miền Bắc cũng vậy. Hai máy bay đậu gần nhau, việc liên lạc, phối hợp đấu tranh không khó khăn gì. Nguyên nhân chính chúng tôi chưa được rời máy bay là vì chúng tôi kiên quyết không chấp nhận điều kiện vô lý của phía ngụy Sài Gòn lúc bấy giờ. Họ yêu cầu chúng tôi phải làm giấy xin nhập cảnh, hai đoàn chúng tôi không chấp nhận. Việt Nam là một nước, người miền Bắc vào miền Nam việc gì phải nhập cảnh. Bọn ngụy Sài Gòn muốn thể hiện chủ quyền quốc gia của họ, còn chúng ta không bao giờ coi miền Nam dưới chế độ Sài Gòn là một quốc gia. Chúng ta là đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, đến miền Nam Việt Nam để cùng các bên thi hành Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam.

        Cuộc đấu tranh tiếp tục qua đêm, ngày hôm sau chúng phải chấp nhận không làm thủ tục nhập cảnh và chúng phải đưa xe ra đón đoàn chúng tôi vào trại Đa-vít. Theo tin được biết thì đây vốn là khu kho của sân bay, sau thành trung tâm huấn luyện biệt kích: bọn mũ nồi xanh do Mỹ huấn luyện chuyên làm nhiệm vụ phá hoại, do thám ở các vùng biên giới; sau đó chuyển thành khu vực của không quân Mỹ thuộc tập đoàn không quân số 7. Cái tên trại Đa-vít có từ đó, nhà bằng gỗ thông, cưa xẻ từ Mỹ theo quy cách thống nhất, sàn gỗ cách mặt đất 50cm, xung quanh có quây lưới thép nhỏ, trần gỗ thông dán. Hơn 80 nhà lớn nhỏ đánh sốtừ T- 501 (phòng hành chính văn thư) đến số 582 (phòng giải trí).

        Thẳng cổng vào, bên phải sân lớn là bãi đậu xe và khu A (khu sĩ quan) có 11 nhà, nhà ăn, nhà tắm riêng. Phía đông, trên một khu chữ nhật là khu B bố trí 32 nhà ở của binh sĩ theo hình chữ U, ở giữa là nhà ăn, nhà kho, nhà bếp và nhà vệ sinh. Phía nam, trên một tam giác sát đường Lê Văn Lộc là khu C gồm những nhà phục vụ chung như nhà xem chiếu bóng của sĩ quan, phòng họp lớn, kho tiếp liệu, kho nhiên liệu, bãi đậu máy bay lên thẳng, nhà căng tin, nhà giải trí cho lính, bệnh xá, nhà Bóc-đen (hộp đêm) cho sĩ quan, sân quần vợt, tháp nước.

        Sân và đường lớn, nhỏ đều bằng xi măng. Đường chéo lớn ngăn cách khu B và khu C Mỹ đặt tên là đường Mi-si-gân. Một sự bố trí hợp lý hoá cao độ kiểu Mỹ cho một trại lính Mỹ Ở vùng nhiệt đới. Mọi khoảnh đất đều được tận dụng, có thuốc diệt chuột ở gầm nhà, có lưới thép phòng muỗi và rắn độc...

        Một sự ngăn cách lớn giữa sĩ quan và binh lính của một quân đội đế quốc, cách bức nhau trong sinh hoạt và hưởng thụ. Màu sắc lính tẩy còn đây đó: những bức tranh phụ nữ khỏa thân dán trên tủ sắt; vài bức họa sơn dầu thô kệch sặc mùi thực dân; hàng lô tập playboy tục tĩu, chuyện trinh thám giật gân, truyền đơn van xin lính Mỹ cai nghiện hê-rô-in bên những ống tiêm hê-rô-in bằng nhựa đã bóp hết thuốc vào mạch máu, và khủng khiếp hơn là những bông băng dính đầy máu và mủ Ở các xó gầm tủ, thùng rác, hố rác... Một người lái xe nhắc chúng tôi: các ông phải đốt cho kỹ, phải tẩy uế cho thật dữ các nơi rửa mặt, nhà tắm, nhà vệ sinh của bọn này kẻo lây bệnh đó. Anh em ta làm vệ sinh kịch liệt hơn một tuần lễ mới tạm sạch. Ỏ mỗi căn nhà đều có một biển gỗ lớn treo ở trên cửa ra vào, in những hàng chữ: Khi bị tấn công không được đứng, ngồi, đi hoảng hốt và phải bò ngay ra hầm, đội nậm lên đầu, nghe theo lệnh của trung đội trưởng. Hầm bao quanh các dãy nhà. Hầm của quan sâu hơn của lính, có kèo gỗ và vỉ sắt Ở trên, đắp thêm bao cát, đất, xi măng pha cát Hầm lính ở gần sân bóng rổ có khắc một loạt dấu hiệu phản chiến hình tròn có ba mũi súng chụm nhau. Phía trong hầm, những hàng chữ nguệch ngoạc: '!Đây là địa ngục, ngày thằng Đích chết ở đây: 16-5-1972 - lạy chúa! Tôi sẽ lên thiên đàng vì tôi đã ở địa nguc này rồi!".

        Trại Đa-vít - nơi hai đoàn đại biểu quân sự của ta Ở và làm việc trên 800 ngày đêm là như thế đó.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Hai, 2012, 08:52:17 pm

TRƯỞNG ĐOÀN TRẦN VĂN TRÀ VÀO SÀI GÒN

        Đoàn miền Nam bay từ Hà Nội vào là bộ phận của đoàn tiền trạm. Sáng 31 tháng 1 năm 1973, các phó đoàn của ủy ban Liên hợp quân sự bốn bên họp bàn việc đón Trung tướng Trần Văn Trà, trưởng phái đoàn quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Với cương vị và uy tín của mình, việc đồng chí Tư Chi (Trần Văn Trà) vào Sài Gòn được dư luận quan tâm, kể cả các phái đoàn trong ủy ban Quốc tế giám sát và kiểm soát (ICC) cũng như các đoàn Mỹ, nguy.

        Theo thỏa thuận thì đáng lẽ phái đoàn quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời do Trung tướng Trần Văn Trà làm trưởng đoàn từ vùng giải phóng Ở miền Nam vào Sài Gòn từ ngày 28 tháng 1 năm 1973. Địa điểm hẹn cho máy bay lên thẳng của Mỹ đến đón là sân bay Thiện Ngôn, phía bắc Tây Ninh.

        Sau khi báo cho địch ngày giờ đón, đoàn phái một bộ phận trinh sát đến Thiện Ngôn, dựa vào công sự sửa sang lại, chờ địch trước, trong và sau giờ hẹn. Toàn đoàn ung dung ăn Tết Quý Sửu trước, chờ có tin báo về sẽ ra sân bay vào Sài Gòn.

        Ăn Tết trước, cũng đã một vài lần trong lịch sử chiến đấu của dân tộc diễn ra như vậy. Quang Trung - Nguyễn Huệ khao quân ăn Tết trước năm Kỷ Dậu (1789). Rồi xuân 1968 cũng ăn Tết trước khi Tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân. Và lần này ăn Tết trước để vào giữa sào huyệt quân thù đòi chúng thi hành Hiệp định Pa-ri về Việt Nam.

        Đúng giờ hẹn, không có trực thăng Mỹ nào đến đón mà có 2 máy bay của địch bay lượn vài vòng rồi thả một số loạt bom quanh sân bay. Đây là một sự phản trắc của kẻ thù. Phản trắc để ngăn chặn sự có mặt đối với một phái đoàn của Ban Liên hợp quân sự bốn bên mà Hiệp định Pa-n đã xác định.

        Ta càng thêm cảnh giác và thấy rõ nhiệm vụ khó khăn và phức tạp của mình. Đoàn ta kịch liệt lên án và phản đối. Chúng hẹn ngày 1 tháng 2 năm 1973 đưa trực thăng, Mỹ ra đón tại Lộc Ninh.

        Lộc Ninh trước đây là một cứ điểm kiên cố do Quân đoàn 3 nguy phụ trách, trong chiến dịch Nguyễn Huệ, ta đã tiêu diệt cứ điểm cấp chiến đoàn này và diệt nhiều trung đoàn xe tăng thiết giáp và các chiến đoàn sừng sỏ khác. Ỏ đây đã bắt sống nhiều sĩ quan, binh lính nguy trong đó có tên đại tá nguy Nguyễn Công Vĩnh.

        Lộc Ninh là biểu tượng chiến thắng của ta, nỗi nhục thất bại của địch. Trực thăng Mỹ ra đón đoàn ta ở đây để từ địa điểm vinh quang này chúng ta hiên ngang đi vào trung tâm đầu não của địch.

        Sáng 1 tháng 2 năm 1973 (tức 29 Tết Nguyên đán), tại sân bay Lộc Ninh, hàng ngàn nhân dân, cán bộ, chiến sĩ ta với cờ hoa và biểu ngữ trong tay lưu luyến tiễn đồng chí Tư lệnh lực lượng vũ trang miền Nam vào làm việc tại Sài Gòn. Các sĩ quan và phi công Mỹ, nguy làm nhiệm vụ đón đồng chí Tư Chi tỏ ra ngạc nhiên và bối rổi trước sức mạnh và tình cảm của đồng bào, chiến sĩ miền Nam đối với Mặt trận Dân tộc giải phóng, Chính phủ Cách mạng lâm thời và lực lượng vũ trang thân yêu của mình. Từ sân bay Lộc Ninh, những chiếc trực thăng treo cờ bốn bên đã đáp xuống sân bay Tân Sơn Nhất. Đại diện ICC, đại diện các đoàn trong ủy ban quân sự bốn bên cùng nhiều cán bộ của hai đoàn miền Bắc, miền Nam có mặt tại Sài Gòn ra đón đồng chí Tư Chi và các cộng sự của ông. Trong bộ quân phục giải phóng màu xanh ô liu, với nụ cười tươi tắn và tư thế của người chiến thắng, đồng chí Tư Chi lần lượt chào các quan khách, đồng đội và không quên giơ tay vẫy chào lại những người của phía bên kia đứng rất xa đang hướng về buổi đón tiếp đồng chí. Các tin tức, báo chí đã đưá tin đậm nét và đăng các hình ảnh người Tư lệnh lực lượng vũ trang của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trở lại Sài Gòn với cương vị và trọng trách mới. Thế là 1 tháng 2 năm 1973, đoàn miền Nam đã tập hợp đầy đủ lực lượng từ các hướng về: Hà Nội vào, Ở "R" ra, Ở Pa-ri về và còn có các đồng chí đã từng chiến đấu trên các chiến trường miền Nam và cả một số đồng chí hoạt động ở nội thành Sài Gòn nữa. Trưởng đoàn Trần Văn Trà, các phó đoàn Đặng Văn Thu, Bùi Thanh Khiết, Võ Đông Giang, Nguyễn Văn Sĩ, Trần Quốc Minh quây quần bên cán bộ, chiến sĩ của mình chuẩn bị vui đón xuân và bước vào cuộc chiến đấu mới không kém phần khó khăn và phức tạp.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Hai, 2012, 09:38:10 pm

ĐÓN XUÂN MỚI TẠI TRẠI ĐA-VÍT

        Theo Hiệp định Pa-ri về Việt Nam, phái đoàn của chúng ta được hưởng quy chế ngoại giao, được tự do đi lại mua bán lương thực, thực phẩm và các nhu yếu phẩm khác phục vụ cho công tác, sinh hoạt và được giao tiếp với đồng bào Sài Gòn thân yêu của mình. Nhưng Mỹ - nguy đã rất sợ điều này, vì vậy mọi thứ thiết yếu phải mua qua nhà thầu (cơ quan mật vụ trá hình) của chúng. Cán bộ của đoàn đi lại làm việc thì "quân cảnh" và "tuần cảnh" chặn đầu khóa đuôi.

        Biết được tình trạng đó, tại Hà Nội, Tổng cục Chính trị đã chuẩn bị cho cả hai đoàn đầy đủ bánh chưng, giò chả, các loại lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm để hai đoàn ăn Tết cổ truyền đàng hoàng tại Sài Gòn. Số hàng này sẽ được chuyển vào Sài Gòn bằng chuyến bay liên lạc C130 thường lệ Sài Gòn - Hà Nội và ngược lại như Hiệp định Pa-ri đã quy định.

        Đúng dịp này, tại trại Đa-vít số lính Mỹ phục vụ bỏ về với lý do "đã giao trách nhiệm cho chính quyền ông Thiệu. Phía nguy Sài Gòn thì không đến... Đoàn chúng ta rơi vào tình trạng thiếu điện, thiếu nước, không lương thực, thực phẩm. Chúng tôi đấu tranh thì Mỹ đổ cho ngụy, ngụy đổ cho Mỹ - một chiến thuật "lúc giao thời". Dã tâm này càng bộc lộ rõ khi chuyến bay liên lạc C130 đến bầu trời Hà Nội, bay lượn vài vòng trên sân bay Gia Lâm rồi bay trở lại Sài Gòn với lý do không thể hạ cánh vì "thời tiết xấư". Số hàng Tết Tổng cục Chính trị chuẩn bị cho hai đoàn phải nằm lại ở Hà Nội. Hiểu rõ mưu đồ ti tiện của kẻ thù, hai đoàn chúng tôi vẫn ăn một cái Tết thật tưng bừng và thể hiện một khí thế chiến thắng đón xuân giữa sào huyệt của địch.

        Chúng tôi ăn Tết - đón giao thừa - vẫn có những cành đào, cành mai, một cái Tết mà hai đoàn Nam - Bắc chúc mừng nhau, Tết đầm ấm tươi vui chan chứa tình cảm thống nhất Nam - Bắc một nhà. Thật là cảm động, thât là thân tình và cũng thật là vui mừng của nhừng người bạn chiến đấu cùng sống chết với nhau trên khắp chiến trường đánh giặc, nay lại gặp nhau ở đây vào đúng dịp Tết Quý Sửu để tiếp tục phát huy chiến thắng đấu tranh làm thất bại mọi mưu đồ của kẻ thù.

        Trong chúng tôi, ai cũng có một ý nghĩ là, chúng ta ăn Tết, đón xuân giữa Sài Gòn này chính là đón một chiến thắng rất lớn, một cái Tết mà chỉ vài ngày sau cái Tết này là chúng ta, những sĩ quan của Quân đội nhân dân Việt Nam sẽ đi giám sát kiểm tra quân Mỹ và quân các nước chư hầu của Mỹ phải cút khỏi miền Nam Việt Nam.

        Một cái Tết mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã thực hiện được cái vế thứ nhất, cũng là cái vế quan trọng và cơ bản nhất trong thư chúc Tết của Bác năm 1969 là "Đánh cho Mỹ cút...".

        Đúng giao thừa, các đồng chí lãnh đạo của hai đoàn đến từng chỗ ở của từng tiểu ban, từng bộ phận xiết chặt tay từng cán bộ, chiến sĩ mừng Đảng, mừng xuân, mừng chiến thắng và chúc nhau sức khỏe để hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ của mình.

        Cái đặc biệt trong đón xuân Ở trại Đa-vít của chúng tôi là như vậy. Chưa hết, đêm 30 rạng mồng 1 Tết cũng đúng ngày kỷ niệm thành lập Đảng (3-2-1973), một đồng chí trong phái đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa cao hứng treo cờ Tổ quốc để mừng xuân, mừng Đảng. Mỹ, ngụy đã lồng lộn cho bốn trực thăng vũ trang quần đảo, chiếu đèn pha trên bầu trời của trại Đa-vít, 6 xe bọc thép đến án ngữ trước cổng, tiếp đó bốn xe chở đầy quân đến vây quanh trụ sở của đoàn ta. Chúng tưởng uy hiếp được chúng ta, chúng đã lầm to. Ngày 5 tháng 2 năm 1973, họp phiên đầu tiên của các trưởng phái đoàn quân sự bốn bên. Phía ta đã tố cáo mạnh mẽ thái độ và hành động của Mỹ - ngụy đối với hai đoàn ta và nói thẳng cho họ biết rằng chúng tôi vào đây để nói chuyện thi hành Hiệp định Pa-ri, không phải để chiến đấu. Hãy bỏ những hành động kém văn hóa láo xược và thô bạo đó đi. Địch chống chế đổ lỗi cho cấp dưới và sau đó buộc phải từng bước đảm bảo cuộc sống và làm việc bình thường cho hai đoàn ta.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Hai, 2012, 10:50:05 pm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/005.jpg)

TRẠI ĐA-VÍT
XỨNG ĐÁNG LÀ MỘT DI TÍCH LỊCH SỬ

HUỲNH VÀN TRÌNH      

     Nguyên trung tá, ủy viên Đoàn đại biểu quân sự Chinh phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên trung ương - Phó Trưởng đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa trong Tổ liên hợp quân sự bốn bên về người chết và mất tích tại Sài Gòn 1973-1974    

        Sau ký kết Hiệp định Pa-ri ngày 27 tháng 1 năm 1973 về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình Ở Việt Nam, trong khí thế chiến thắng, một đội ngũ hùng mạnh gồm gần 900 tướng lĩnh, sĩ quan, chiến sĩ hai đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam lần lượt tiến về Sài Gòn vào cuối tháng 1, đầu tháng 2 năm 1973, bằng các phương tiện vận chuyển hiện đại do Mỹ cung cấp, để cùng với hai đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Mỹ và Việt Nam cộng hòa thành lập các Ban Liên hợp quân sự bốn bên và hai bên ở trung ương và các cấp địa phương nhằm tổ chức thực hiện Hiệp định.

        Ngoài bộ phận tiền trạm của hai đoàn miển Bắc, miền Nam đi từ Pa-ri đã vào Sài Gòn ngày hôm trước, ngày 29 tháng 1 năm 1973, Thiếu tướng Lê Quang Hòa, trưởng đoàn cùng Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và một bộ phận thành viên Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời, tất cả hơn 200 người, đã đáp máy bay C130 cua Mỹ rời sân bay Gia Lâm đến sân bay Tân Sơn Nhất cùng ngày, một chuyến bay lịch sử đầu tiên nối liền Hà Nội - Sàỉ Gòn kể từ ngày độc lập 2 tháng 9 năm 1945.

        Ngày 1 tháng 2 năm 1973, Trung tướng Trần Văn Trà, trưởng đoàn và các thành viên lãnh đạo khác của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ cách mạng lâm thời từ Lộc Ninh (căn cứ R) cũng đến Sài Gòn bằng một số máy bay trực thăng của Mỹ.

         Ngày 2 tháng 2 năm 1973, phiên họp đầu tiên của bốn đoàn trong Ban Liên hợp quân sự, bốn bên Trung ương chính thức bắt đầu với sự có mặt của bốn trưởng đoàn là Thiếu tướng Lê Quang Hòa (Việt Nam dân chủ cộng hòa), Trung tướng Trần Văn Trà (Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam) - thời gian sau, Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn làm trưởng đoàn, Thiếu tướng Út-uất (Mỹ) và Trung tướng Ngô Du (Việt Nam cộng hòa).

        Đây là một cuộc tiến công độc đáo, hiên ngang và hùng dũng vởi thanh thế lớn có một không hai trong hch sử của quân đội nhân dân ta ở cả hai miền, được tiến hành công khai, đột nhập thẳng vào Sài Gòn, trung tâm đầu não Mỹ, vòng vây của kẻ thù, trong khi quân xâm lược Mỹ và chư hầu vẫn còn chiếm đóng ở miền Nam Việt Nam cùng với hàng triệu quân nguy Sài Gòn.

        "Trại Đa-vít - Tân Sơn Nhất”, nơi đặt chân đầu tiên của hai đoàn đại biểu quân sự của cách mạng trên đất “Thành đồng Tổ quốc”, từ 29 tháng 1 năm 1973, cũng là trụ sở hai đoàn ăn, ở, làm việc căng thẳng và liên tục trong suốt 823 ngày đêm, cho đến ngày hoàn toàn giải phóng miền Nam 30 tháng 4 năm 1975.

        Khu vực này khá rộng, ở phía nam "không cảng Tân Sơn Nhất", sát đường băng sân bay, vốn là khu doanh trại của phi công sư đoàn không quân Mỹ, nằm gần cơ quan Bộ Tư lệnh không quân ngụy (nhà con ó), chỉ cách Bộ Tổng tham mưu Quân đội Việt Nam cộng hòa 1 km theo đường chim bay. Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã bàn giao để ta hoàn toàn tự quản khu doanh trại này với sơ đồ xác định vị trí của các căn nhà sàn lớn, nhỏ bằng gỗ, mái phi-bờ-rô xi măng, có đánh số nhà theo công dụng riêng: nhà ở, nhà ăn, nhà làm việc, hội trường, nhà kho; khu thể thao, hệ thống thông tin điện thoại và các phương tiện xe cộ đi lại. Điều đập ngay vào mắt chúng ta là, ngoài sự bố phòng rất cấn mật của khu vực sân bay Tân Sơn Nhất nói chung, riêng trại này còn bị vây kín bằng đày đặc quân cảnh, cảnh sát và máy bay trực thăng thường xuyên quần đảo trên đầu, bằng chằng chịt nhiều lớp hàng rào dây thép gai cuộn tròn, với 13 chòi canh cao gắn trọng liên 12 ly 7 lăm lăm chĩa họng súng vào trong trại, với đường hào sâu 4m bao quanh... Mỹ - ngụy nơm nớp sợ đặc công ta xuất quỷ nhập thần tấn công chúng!

       Mặc dù vậy, từ tổng hành dinh này, hai đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã tiến hành thắng lợi các hoạt động liên hợp ở cấp Trung ương và chỉ đạo triển khai hoạt động của các đoàn ở bảy Ban Liên hợp quân sự khu vực (Huế, Đà Nẵng, Plây Cu, Phan Thiết, Biên Hòa, Mỹ Tho, Cần Thơ) và ở 26 tổ liên hợp quân sự địa phương.


        "Trại Đa-vít - Tân Sơn Nhất" đã trở thành biểu tượng sâu sắc của cuộc đấu tranh chính trị - ngoại giao - quân sự - dư luận trong thực thi Hiệp định Pa-ri, gắn với cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc của nhân dân cả nước.

        Có nhiều nhân tố đã tạo nên ý nghĩa lịch sử của trại Đa-vít:

        1 Đây 1à nơi hội tụ 1ực 1ượng thống nhất của cả hai miền, gồm nhiều luồng cán bộ khác nhau: ngoại giao, quân sự, công an, và một số ngành dân sự khác (thông tấn, báo chí, thông tin - văn hoá...), đến từ nhiều hướng: Hội nghị Pa-ri, Hà Nội, Lộc Ninh (căn cứ R), các vùng giải phóng ở từng địa phương, tiến về Sài Gòn để trực tiếp đấu tranh một mất, một còn với địch, triển khai thi hành Hiệp định Pa-ri tại trung tâm đầu não và trong vòng vây của Mỹ, ngụy ngoan cố, côn đồ và ngông cuồng chống phá.

        2. Đây 1à mảnh đất được đàng hoàng, công khai giải phóng đầu tiên ở Sài Gòn - Gia Định (l-1973), trở thành lãnh thổ bất khả xâm phạm của chính quyền cách mạng cho đến ngày hoàn toàn giải phóng; trung tâm thu hút sự chú ý của dư luận miền Nam và quốc tế về tình hình Việt Nam kể từ khi đàm phán ở Pa-ri kết thúc.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Hai, 2012, 10:57:30 pm
        3. Về chính trị và pháp 1ý, việc một bộ phận 1ực 1ượng quân sự Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời đứng chân được ở trại Đa-vít và mở ra sự liên lạc thường xuyên giữa hai miền mà không thông qua một thủ tục mang tính địa lý quốc gia nào đã buộc địch phải thừa nhận trên pháp lý và thực tế nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Thủ đoạn của ngụy quyền Sài Gòn buộc ta phải làm thị thực nhập cảnh theo "thẻ nhập nội" của Việt Nam cộng hòa và ngăn không cho hai đoàn ta rời khỏi máy bay trong suốt 21 tiếng đồng hồ khi mới đến lần đầu 29 tháng 1 năm 1973 đã hoàn toàn thất bại trước sự đấu tranh kiên quyết của ta; cuối cùng chúng đã lùi bước, đưa xe đón hai đoàn ta về trụ sở chiều ngày 30 tháng 1 năm 1973. Từ đó về sau, việc ra vào Sài Gòn - Hà Nội theo các chuyến bay liên lạc hàng tuần không phải làm bất cứ thủ tục xuất - nhập cảnh nào.

        4. Đây 1à diễn đàn quan trọng đấu tranh toàn diện về pháp lý, chính trị, ngoại giao, quân sự và dư luận 'buộc địch thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Pa-ri; nơi biểu thị bằng người thực, việc thực sức mạnh áp đảo của miền Bắc xã hội chủ nghĩa và của lực lượng giải phóng, làm tăng lòng tin vào cuộc đấu tranh của đồng bào miền Nam; nơi tuyên truyền đối ngoại một cách nhanh chóng, rộng rãi và cởi mở, tranh thủ tình cảm và sự ủng hộ của nhân dân ta và bạn bè quốc tế đối với đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước.

        Với tinh thần chủ động tấn công, ta đã đấu tranh buộc Mỹ và chư hầu phải rút hết quân vào ngày 29 tháng 3 năm 1973, đánh dấu mốc lịch sử sau 115 năm từ 1858, lần đầu tiên nước ta sạch bóng quân xâm lược. Ta đã kiểm soát 65 chuyến bay rút hết quân gồm 53 chuyến quân Mỹ, 12 chuyến quân Nam Triều Tiên tại các sân bay Tân Sơn Nhất, Nha Trang, Đà Nẵng; làm tốt việc đòi trao trả được phần lớn các nhân viên quân sự và 5.075 nhân viên dân sự của ta. Việc ta trao trả hết tù binh Mỹ là cuộc biểu dương thắng lợi, ví như thời Nguyễn Trãi cấp thuyền, ngưa cho quân Minh rút về nước; luôn luôn đấu tranh củng cố ngừng bắn, đẩy lùi âm mưu lấn chiếm "tràn ngập lãnh thổ" đàn áp tự do dân chủ, chiến tranh tâm lý của địch; đề cao Chính phủ Cách mạng lâm thời; thúc đẩy hoạt động Ủy ban Quốc tế phối hợp với đấu tranh của ta; đòi cải thiện quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao; liên hệ mật thiết và tranh thủ tốt giới báo chí; giữ vững đoàn kết và an toàn đội ngũ 825 sĩ quan và chiến sĩ của hai đoàn.

        5. Đây 1à nơi ta tiến hành các biện pháp tình báo bằng con người và kỹ thuật phục vụ cho cuộc đấu tranh chính trị và chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công vào dinh lũy cuối cùng của địch. Khi chiến dịch Hồ Chí Minh mở ra, từ đây cán bộ, chiến sĩ các đoàn ta trong Ban Liên hợp quân sự đã trực tiếp tham gia chiến đấu, góp phần xương máu vào giải phóng Sài Gòn - Gia Định, trong đó 2 đồng chí đã anh dũng hy sinh và 4 đồng chí bị thương (có 1 đồng chí bị thương nặng).

        6. Đây 1à nơi đặt chân đầu tiên của Bộ Chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh để tiến vào trung tâm thành phố Sài Gòn vừa được giải phóng, gồm các đồng chí Phạm Hùng, Lê Đức Thọ, Văn Tiến Dũng...

        7. Từ trại Đa-vít, Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã tham gia tiếp quản dinh Độc Lập, làm nòng cốt đầu tiên cho công tác ngoại vụ của ủy ban Quân quản Sài Gòn - Gia Định do Thượng tướng Trần Văn Trà làm chủ tịch.

        Với sự đấu tranh kiên cường, dũng cảm và những đóng góp xuất sắc của hai đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong giai đoạn thi hành Hiệp định Pa-ri và trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, chúng tôi cho rằng: "Trại Đa-vít - Tân Sơn Nhất" xứng đáng trở thành biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam và của đấu tranh ngoại giao - quân sự độc đáo của Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, gắn với Hiệp định Pa-ri; cũng giống như địa danh Trung Giã (Hà Nội) - trụ sở của Ban Liên hợp quân sự Trung ương Việt Nam - Pháp trong kháng chiến chống Pháp, gắn với Hiệp định Giơ-ne-vơ.

        Chúng tôi rất phấn khởi khi được biết trong Công văn số 685/BQP ngày 5 tháng 3 năm 2003 của Bộ Quốc phòng do Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Trung tướng Nguyễn Văn Được ký gửi ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và ông Hoàng Anh Tuấn nguyên là trưởng phái đoàn quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hợp quân sự hai bên đã nói rõ về vấn đề di tích lịch sử "trại Đa-vít".

        Công văn đó đã nêu rõ rằng, liên Bộ Văn hóa - thông tin và Bộ Quốc phòng đã có Thông tư số 1083/TTVH-BQP ngày 16 tháng 12 năm 1986, xác định khu di tích chiến dịch Hồ Chí Minh là một trong bốn di tích lịch sử quan trọng mà trong đó "trại Đa-vít" là một trong những điểm tiêu biểu của khu di tích chiến dịch Hồ Chí Minh.

        Bộ Quốc phòng cũng nêu rõ "trại Đa-vít" là một chứng cứ lịch sử. Ở đó đã chứng kiến quá trình đấu tranh kiên cường của cán bộ, chiến sĩ ta; thể hiện ý chí Việt Nam, tính độc đáo về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng và hoạt động ngoại giao quân sự của ta trong quá trình đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Pa-ri về Vỉệt Nam. Vì vậy trại Đa-vít xứng đáng là một địa danh lịch sử.

        Cũng trong công văn đó, Bộ Quốc phòng còn cho biết năm 1990, Bảo tàng chiến dịch Hộ Chí Minh (Bảo tàng Quân khu 7) cùng với Bảo tàng quân đội đã biên tập nội dung hồ sơ di tích 'ltrại Đa-vít" và bàn giao cho Sở Văn hóa - thông tin thành phố Hồ Chí Minh. Theo quy định của pháp lệnh sử dụng và bảo vệ di sản văn hoá thì việc xếp hạng di tích hch sử văn hóa thuộc trách nhiệm của Ủy ban nhân dân địa phương - tức là thuộc trách nhiệm của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh do đó Bộ Quốc phòng đề nghị Ủy ban nhân dân và Sở Văn hóa - thông tin thành phố Hồ Chí Minh xem xét giải quyết.

        Chúng tôi là những cán bộ, chiến sĩ quân đội, ngoại giao và các ngành khác đã từng sống và hoạt động trong hai đoàn đại biểu quân sự của ta ở "trại Đa-vít" hết sức trân trọng về địa danh lịch sử "trại Đa-vít".

        Năm nay (2005) kỷ niệm 30 năm ngày toàn thắng của dân tộc mà "trại Đa-vít" một di tích lịch sử tiêu biểu của chiến dịch Hồ Chí Minh vẫn chưa thấy có động tĩnh gì trong việc triển khai xây dựng khu di tích đó. Với tư cách là những nhân chứng lịch sử chúng tôi thiết tha mong muốn các cơ quan có trách nhiệm khẩn trương có kế hoạch xâỳ dựng khu di tích lịch sử "trại Đa-vít" nhằm tôn vinh một địa danh lịch sử cách mạng và góp phần vào giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ hôm nay và mai sau.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Hai, 2012, 11:06:17 pm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Ky2009.jpg)

NGHE TIẾNG ĐÀN BẦU
TRONG TRẠI ĐA-VÍT
ĐlNH QUỐC KỲ      
           
        Hồi đó, vào những ngày cuối tháng 12 năm 1973, để chuẩn bị kỷ niệm 29 năm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944 - 22-12-1973), Tổng cục Chính trị và Cục Chính trị Quân giải phóng miền Nam quyết định cử hai tổ văn nghệ xung kích vào phục vụ trong "trại Đa- vít', Đây là trụ sở làm việc, sinh hoạt của hai phái đoàn đại biểu quân sự cách mạng trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên và hai bên Trung ương tại khu vực cạnh đường băng sân bay Tân Sơn Nhất - Sài Gòn (nay là thành phố Hồ Chí Minh).

        Chuyến bay C130 do Mỹ lái từ Hà Nội vào Tân Sơn Nhất Ngoài những thành viên của Ban Liên hợp quân sự còn có một số anh chị em trong đội văn nghệ xung kích. Họ được tuyển chọn từ Đoàn văn công Tổng cục Chính trị. Hướng Lộc Ninh vào Tân Sơn Nhất có 3 người của Đoàn văn công Quân giải phóng miền Nam. Máy bay lên thẳng cũng do phi công Mỹ lái. Từ hai hướng, văn công của ta đã tập kết tại "trại Đa-vít" trước ngày lễ kỷ niệm. Trong số họ, có người đệm đàn, có người là diễn viên hát, tuổi đời chưa quá ba mươi.

        Có văn công, "trại Đa-vít" vui hẳn lên, cách nói năng, sinh hoạt thay đổi rõ rệt. Đám con trai chưa vợ cứ lúng túng, ngượng nghịu mỗi khi gặp gỡ, tiếp xúc với các nữ diễn viên. Có anh đỏ mặt, tía tai, lúng búng nói không thành lời. Bởi trong số họ, có người đã hàng chục năm trờỉ xa quê hương, chưa một lần gặp gỡ và chuyện trò cùng bạn gái. Chỉ có rừng thẳm, núi cao, suối sâu, dốc đứng. Chỉ có bom gào, đạn thét, khét lẹt mùi thuốc nổ và cay nồng của chất độc hóa học do giặc Mỹ trút xuống đầu họ. Những cơn sốt rét ác tính triền miên của rừng thiêng, nước độc, nhạt muối, đói cơm luôn thường xuyên bám đeo quanh năm, suốt tháng. Đôi khi, cũng có dịp gặp các má, các em trong vùng địch tạm chiếm hoặc thoát ly gia đình lên vùng giải phóng làm y tá, dân công, thanh niên xung phong.., nhưng cái cảm giác gặp gỡ ấy không làm cho đám con trai lúng túng đến khó tả như vậy. Lần này, có cái gì đó làm họ xốn xang, nhộn nhạo trong tim (?).

        Gần đến ngày lễ kỷ niệm, mọi hoạt động của ta trong "trại Đa-vít" càng sôi nổi. Chiều chiều, mọi người đều ra sân bóng rổ, bóng chuyền và ten-nit. Ai không vào thi đấu thì đứng ngoài cổ vũ, hò reo. Các sân chơi náo nhiệt, bừng bừng không khí của ngày hội. Các đồng chí thủ trưởng phụ trách cũng hăng hái tham gia. Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn vừa chơi ten-nit, vừa tham gia đội bóng rổ. Đại tá Đặng Văn Thu say mê ten-nit hơn cả. ông thường thi đấu với Thượng tá Nguyễn Đôn Tự. Bóng bàn dù đặt ở trong nhà nhưng không kém hào hứng.

        Bốn thành viên trong ủy ban Quốc tế cũng được mời tham gia đủ các môn: bóng bàn, ten-nit, bóng rổ và bóng chuyền.

        Cũng giờ đó, tiếng đàn, tiếng hát để chuẩn bị cho đêm diễn vang lên khắp khu vực đóng quân, lan sang "khu gia binh" và "trại huấn luyện lính dù" nằm bên kia đường Lê Văn Lộc.

        Mỹ - nguy rất lo sợ, chúng tăng cường lực lượng cơ động, thiện chiến nhất (lính dù, biệt kích, cảnh sát dã chiến...) cùng xe tăng, thiết giáp án ngữ ngoại vi "trại Đa- vít". Từ trong khu vực đóng quân, ta có thể thấy rõ sự gia tăng của các sắc lính, các chòi canh và hỏa lực mà chính quyền ngụy Sài Gòn có "nhã ý" bố trí dày đặc xung quanh.

        Còn một lý do nừa làm chúng lo lắng là những nhân viên quân sự, dân sự làm việc trong sân bay Tân Sơn Nhất các gia đình của ngụy quân, nguy quyền ở tại căn cử Hàng ngày, "trại Đa-vít" diễn ra những hoạt động văn nghệ, thể thao, các trận đấu hào hứng, sôi nổi là họ kéo đến bên ngoài hàng rào thép gai đứng xem rất đông. Họ cổ vũ nồng nhiệt cho các vận động viên đang tận tình thi đấu trong sân. Họ như hóa thân vào các hoạt động thể thao, văn nghệ của những người mà hàng ngày quen gọi là "Việt cộng", "Cộng sản Bắc Việt"... Nhất là những trận thi đấu giữa ta với các độí thành viên của Ủy ban Quốc tế, số khán giả đó đã cổ vũ cho "đội nhà" với sự thiên vị rõ rệt. Có một cháu nhỏ chừng mười một, mười hai tuổi hét toáng lên: "Đập mạnh đi chú ơi?". Một chị đứng bên có lẽ là mẹ cháu vội đưa tay che miệng đứa bé, mắt liếc nhanh về phía mấy nhân viên mật vụ đứng cách đó không xa.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Hai, 2012, 11:26:36 pm
        
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/062.jpg)

        Ấn tượng nhất là những buổi liên hoan văn nghệ. Các tiết mục ca hát, độc tấu đàn làm cho người xem xúc động. Tuyết Mai ngồi nép sau cây đàn A-coóc-đê-ông với bản nhạc Pô-lô-ne, cúi đầu lắc lư theo điệu nhạc với đôi mắt tròn, to và sáng. Kim Chi trong bộ trang phục Quân giải phóng mạnh mẽ với bài hát "Miền Nam, nhớ mãi ơn Người!" của Lưu Cầu. Minh Quang và Quang Đỗ với chất giọng khỏe khoắn, trầm hùng trong các bản hành khúc. Mộng Tước, Phương Linh và Bích Toàn trong trang phục áo dài thướt tha vởi nhừng bài hát về quê hương đất nước. Các tiết mục được biểu diễn với tất cả nhiệt tình của họ. Họ say sưa đàn hát như trên một sân khấu lớn. Họ quên rằng từ trong các vọng gác, các chòi canh bố trí dày đặc quanh "trại Đa-vít" là hàng trăm họng súng của quân thù đang hướng vào mục tiêu này. Các căn cứ quân sự, các sắc lính thiện chiến, cùng các loại hỏa lực hiện đại, các phương án hủy diệt được soạn sẵn cùng nhăm nhăm chờ lệnh đế nghiền nát khu vực trụ sở của chúng ta. Mặc, tiếng đàn, tiếng hát vẫn vút cao, vang xa.

        Có lần, trong một buổi họp báo của ta tổ chức tại "trại Đa-vít" có các phóng viên thông tấn, báo chí của những hãng thông tấn và báo chí lớn nước ngoài, có cả phóng viên trong nước của báo chí Sài Gòn và trong số họ không thiếu các nhân viên CIA, an ninh và "Phủ đặc ủy tình báo" ngụy. Các nhà báo thay nhau chất vấn nhiều nội dung, nêu những câu hỏi khá hóc búa được chuẩn bị trước. Người phát ngôn của ta giải đáp kịp thời, thỏa đáng, rất ôn tồn và lịch sự.

        Sau cuộc họp báo, họ được xem một chương trình biểu diễn văn nghệ do phái đoàn ta "chiêu đãi". Họ, rất thích thú, chăm chú theo dõi, có nhiều người chưa hiểu hết nội dung bài hát, bản nhạc nhưng nhìn họ tập trung theo dõi từng tiết mục, họ lặng người để thu nhận trọn vẹn những âm thanh, giai điệu một bài hát, một bản nhạc thì mới thấy được hết sức cuốn hút của các tiết mục đó. Có người không nén được xúc động đã reo lên: "Tuyệt vời! Thật tuyệt vời!"... Có người giơ ngón tay cái về phía sân khấu biểu hiện của lời khen: Hạng nhất! Số một! Miệng la to: "Năm-bơ-oăn!". Họ mặc cho những cặp mắt soi mói của mấy nhân viên an ninh ngụy, họ mặc cho sự giám sát của những "đồng nghiệp" mặc áo nhà báo nhưng ăn lương của các cơ quan mật vụ, CIA... Có người còn mạnh dạn lên gần sân khấu để được nhìn thấy rõ hơn diễn viên vừa biểu diễn tiết mục đó và các máy ảnh, máy quay phim ghi lại hình ảnh rất đầy đủ, kịp thời và họ muốn được thấy tận mắt vẻ đuyên dáng, xinh tươi của mấy nữ diễn viên đang chuẩn bị tiết mục tiếp theo. Họ không ngớt vỗ tay và ngợi khen mỗi khi kết thúc một tiết mục. Có một phóng viên nước ngoài, nói tiếng Việt chưa được rõ lắm, ghé vào tai Minh Quang và nói: "Các ông thật tuyệt vời? Như thế này thì làm sao các ông không thắng Mỹ. Họ thua là đương nhiên thôi?". Minh Quang vừa kịp quay lại, thấy người phóng viên nước ngoài bị các phóng viên khác chen lấn và không rõ anh ta là người của hãng thông tấn, báo chí nước nào. Lúc đó mà người phóng viên này đã có lời nhận xét như vậy chứng tỏ anh ta hết sức khách quan, chính xác.

        Từ phía sau, tôi đứng nhìn nhừng hình ảnh, những cảm xúc của người xem đối với các bản nhạc, bài hát vừa biểu diễn trong lòng cứ lâng lâng, bay bổng. Trong tôi lại chỉ thấy những cánh rừng bạt ngàn trơ cành, trụi lá vì chất độc hóa học, những hố bom chằng chịt làm lở loét mảnh đất quê hương, tiếng bom gào, đạn rú... Cảnh đoàn quân bì bõm trong đêm mưa, trên vai nào súng, nào đạn, nào gạo nặng trĩu đè xuống lưng tưởng như không nhấc được chân khi ngập vào vũng bùn... ánh pháo sáng chập chờn trong khoảng không phía chân trời. Và đoàn quân vẫn tiến về phía trước không quản gian lao, không nề nguy hiểm để quyết diệt giặc thù bằng sức mạnh hờn căm đang chất chứa trong lòng... Mắt tôi mờ nhòe, cay xè trong cảm xúc.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/019.jpg)

Biểu diễn kỷ niệm ngày thành lập Quân Đội Nhân Dân Việt Nam 21-12-1973 trong
       trại Đa-vít

        Ngày lễ kỷ niệm thành lập quân đội được tổ chức trọng thể và đầy ý nghĩa. Hôm đó, trời Tân Sơn Nhất buổi tối như thẫm hơn, màn đêm kéo xuống nhanh hơn. Đội văn nghệ xung kích đã chuẩn bị xong, chờ đến giờ biểu.diễn. Sâu khấu ngoài trời với những tấm vải treo lên để làm phông và cánh gà. Gió lồng lộng như muốn nhấc cả sân khấu mang đi. ánh sáng được tăng cường nên từ xa có thể nhìn thấy những giọt mồ hôi lăn dài trên khuôn mặt và thẫm đẫm lưng áo của diễn viên.

        Trên hàng ghế đầu, các thủ trưởng và lãnh đạo hai đoàn ta cùng các quan khách gồm trưởng, phó đoàn quân sự trong ủy ban Quốc tế đã ngồi kín chỗ. Khán giả là cán bộ, chiến sĩ ta ngồi và đứng phía sau. Đêm nay, vẫn những tiết mục đã trình diễn từ mấy buổi trước, chỉ khác là biểu diễn ngoài trời, có mời các vị khách nhân dịp ngày lễ.

        Tiết mục mở màn của dàn đồng ca nam nữ là bài hát "Sài Gòn quật khởi" của Hồ Bắc. Lời ca có đoạn "Rầm rập bước chân ta đi rung chuyển đường phố Sài Gòn... " làm cho mọi người cảm giác như đang sống lại không khí chiến đấu của mùa Xuân Mậu Thân và những mùa Xuân tiếp theo, những trận chiến đấu quyết liệt trên đường phố và tại các cơ quan đầu não của Mỹ - nguy hôm nào? Dáng đứng hiên ngang của người chiến sĩ giải phóng quân trên đường băng Tân Sơn Nhất như đang sừng sững hiện lên trước mắt mọi người. Anh đã làm nên dáng đứng Việt Nam, kiêu hãnh và bất khuất trước kẻ thù. Ngoài đường băng, ánh đèn dẫn đường máy bay chập chờn sáng tối trông như một người ốm đang cơn hấp hối...


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Hai, 2012, 11:45:56 pm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/031.jpg)

        Chương trình tiếp tục với những tiếp mục của Kim Chi, Mộng Tước, Bích Toàn, Phương Linh, Minh Quang và Quang Đỗ. Tiếng vỗ tay, những lời khen râm ran của người xem. Tuyết Mai và Xuân Trung, ngoài việc đệm đàn cho các tiết mục hát, họ còn độc tấu những bản nhạc quốc tế dân ca của từng nước thành viên trong ủy ban Quốc tế. Các vị khách này có người châu Á, có người châu Âu nhưng âm nhạc đã làm cho họ dễ hiểu về đất nước và con người Việt Nam hơn cả. Họ thích thú và xúc động thật sự khi nghe những âm thanh, những giai điệu được phát ra từ cây đàn A-coóc-đê-ông do Tuyết Mai và Xuân Trung biểu diễn. Có người mơ màng theo tiếng đàn như đang đứng trên đảo dừa giữa biển khơi mênh mông ầm ầm sóng vỗ.

        Đến tiết mục độc tấu đàn bầu do Phạm Kim Hạng biểu diễn. Anh là một chàng trai quê lúa Thái Bình, nước da xạm đen bởi nắng gió phương Nam, xanh xám vì sốt rét, cặp môi tím tái khi cơn đau dạ dày hành hạ anh. Kim Hạng độc tấu bài dân ca In-đô-nê-xi-a và bản nhạc "Vì miền Nam" của Huy Thục. Nhìn anh chơi đàn, đôi tay mềm mại và linh hoạt. Đôi mắt sáng rực khi tiết tấu của bản nhạc thúc giục đoàn quân lên đường tiến về phía trước nơi bom rơi, đạn nổ... Khán giả ngồi xem, theo dõi bàn tay rung cần đàn nảy ra những thanh âm làm mê đắm lòng người của anh với vẻ thán phục. Trong dòng âm thanh ấy có lúc đưa ta đến một vùng quê thanh bình yên ả, có khi hừng hực lửa tranh đấu, có tiếng bom gào, đạn xé, tiếng con trẻ khóc thét đòi mẹ vì giặc Mỹ đã giựt mất dòng sữa nóng hổi, ngọt ngào từ cặp môi thơ ngây, có tiếng kèn gọi đoàn quân xung phong nơi trận tiền mịt mù khói lửa... Kết thúc bản nhạc, khán giả như lặng đi, bỗng chợt tỉnh với tràng pháo tay liên hồi cùng những lời khen tốt đẹp nhất dành cho Hạng.

        Bỗng từ hàng ghế đầu, một vị khách mời trong ủy ban Quốc tế đứng bật dậy, ông tiến về phía sân khấu. Tới vị trí đặt chiếc đàn bầu mà Kim Hạng vừa biểu diễn, ông đưa tay nâng mảnh vải phủ chiếc bàn gỗ nơi đặt đàn để lộ một khoảng trống rỗng, không hề có vật lạ nào dưới đó. Trên mặt bàn, chiếc đàn bầu hơi xê dịch một chút vì khi nhấc mảnh vải đã chuyển động tới vị trí đặt đàn. Cây đàn một dây nằm đó, ông không tin vào mắt mình bởi sự cấu tạo quá thô sơ ấy đã cho ông và mọi người thưởng thức một chuỗi âm thanh phong phú nhiều cung bậc đến vậy! Càng ngạc nhiên hơn khi ông nhìn thấy thân đàn chỉ là một hộp gỗ không hề có những bộ phận hỗ trợ âm thanh nào khác. Hơn nừa, loại gỗ này chắc chắn không phải là loại gỗ đắt tiền để làm ra những cây vĩ cầm danh giá mà ông từng biết. ông cứ đứng như vậy thật lâu trên sân khấu để ngắm nhìn thật kỹ cây đàn độc đáo này. Chắc chắn đây là lần đầu ông được thấy, được nghe tiếng đàn bầu Việt Nam. Những âm thanh ấy đã cuốn hút sự chăm chú của ông, làm mê đắm ông và khán giả ngồi xem. ông quay về hàng ghế mà như đi trong mơ...

        Kết thúc buổi liên hoan văn nghệ với bài dân ca quan họ "Người ơi? Người Ở đừng về...". Lời ca thắm thiết, níu kéo làm cho người xem với người biểu diễn không còn khoảng cách, cứ lưu luyến mãi, dùng dằng không nỡ chia xa. Trời đêm Tân Sơn Nhất càng thêm huyền ảo. Những vì sao như sáng hơn, lung linh hơn.

        Đêm ấy, mọi người ra về không biết tâm trạng của họ thế nào? Còn tôi, về đến phòng ngủ, mắc màn xong, tắt đèn và không tài nào chợp mắt được. Tiếng gió Jồng lên trên nóc mái nhà, qua một khe hở tạo ra thứ tiếng ù ù như lời trò chuyện lúc to, lúc nhỏ càng làm tôi không thể nào ngủ được. Nhưng không phải vậy, chính là tiếng đàn bầu tối nay của Kim Hạng biểu diễn, vẫn văng vẳng đâu đây, đa diết quá. Tiếng đàn cho tôi nhớ về miền quê trăm nhớ, nghìn thương. Nơi đó con sông quanh năm ngầu đỏ phù sa và điểm tô cho đôi bờ bãi ngô xanh ngát. Cánh buồm nâu ngược xuôi mang theo bao câu chuyện tình vui, buồn oan trái Kỷ niệm tuổi thơ lại ùa về, như hôm nào cùng lũ bạn vẫy vùng trên sông mùa nước cạn, những bọt phù sa còn bám đầy trên tóc, trên lưng. Mỗi lần như vậy, mẹ lại lôi tôi ra bắt tắm gội lại. Gáo nước sạch gội xuống đầu kéo theo những hạt phù sa màu mỡ của dòng sông quê hương. Tôi cứ để hình ảnh ấy chế ngư mãi trong đầu.

        Từ nơi xa xôi này, tôi được nghe tiếng đàn bầu quê mẹ, đó không phải là tài nghệ của người biểu diễn, của những giai điệu độc đáo chỉ riêng có trong đàn bầu mà đây là món quà tinh thần quý giá mà Đảng, quân đội và nhân dân đã dành cho những đứa con thân yêu của mình đang từng giờ, từng phút đối mặt công khai, trực tiếp với quân thù. Sự quan tâm ấy, sự chăm lo ấy tạo cho chúng tôi niềm tin vào ngày thắng lợi cuối cùng, cho chúng tôi có thêm sức mạnh để tiếp tục cuộc chiến đấu trên trận địa ngoại giao giữa nơi hang ổ của kẻ thù.

        Thật vậy, niềm tin và sức mạnh ấy đã cùng với chúng tôi đi tới ngày Đại thắng mùa Xuân (30-4-1975).

        Đất nước sạch bóng quân thù, nhân dân ta tiếp tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trên mỗi chặng đường ấy tôi vẫn thấy tiếng đàn bầu Việt Nam luôn là nguồn cổ vũ cho mọi hoạt động của mình trong mỗi lúc khó khăn và động viên tôi khi thuận lợi.

        Sau này tôi còn nhiều dịp được nghe biểu diễn đàn bầu của những nghệ sĩ tài danh, trong các nhà hát có trang âm hiện đại. Nhưng chưa bao giờ có ấn tượng sâu sắc như lần được nghe tiếng đàn bầu do Phạm Kim Hạng biểu diễn trong "trại Đa-vít".

        Tiếng đàn ấy là một kỷ niệm sâu sắc nhất đối với tôi trong suốt chặng đường phục vụ quân đội và đi cùng tôi đến ngày hôm nay.

                                   4-2004


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Hai, 2012, 08:17:23 am

              HAI ĐOÀN TRONG BỐN BÊN

                                                                                         NGÔ THẾ KỶ      
            
                              Nhằm đích Sài Gòn ta tiến quân
                              Bước vào trận đấu lắm gian truân
                              Hiên ngang sông giữa bao đồn giặc
                              Khỏe đẹp nhu hiền trong mắt dân
                              Đên các sân bay coi Mỹ cút
                              Qua bao ngục tôí đón người thân
                              Trên bàn hội nghị: lời đanh thép
                              Phôí hợp Bắc Nam đẹp tuyệt trần
                              Giọng hát điệu đàn say đắm khách
                              Đường cầu nhịp bóng rộn trên sân
                              Tám trăm ngày đấu tranh bền bỉ
                              Giải phóng miền Nam đã góp phần.


        Nhân kỷ niệm 30 năm ngày ký Hiệp định Pa-ri và họp mặt truyền thống anh chị em trong hai Đoàn đại biểu quân sự chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hà Nội.

                                                            Hà Nội, ngày 27-4-2003
                           


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Hai, 2012, 08:25:14 am

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/038AnhKy1973.jpg)

                            TA VÀO TRẬN MỚI
                                                                
            
                              Nhằm đích Sài Gòn ta tiến quân
                              Bước vào trận đấu lắm gian truân
                              Hiên ngang sông giữa bao đồn giặc
                              Khỏe đẹp nhu hiền trong mắt dân

                              Đên các sân bay coi Mỹ cút
                              Qua bao ngục tôí đón người thân
                              Trên bàn hội nghị: lời đanh thép
                              Phôí hợp Bắc Nam đẹp tuyệt trần

                              Giọng hát điệu đàn say đắm khách
                              Đường cầu nhịp bóng rộn trên sân
                              Tám trăm ngày đấu tranh bền bỉ
                              Giải phóng miền Nam đã góp phần.


                              Ngày ấy, em vừa đôi tám
                              Lên đường theo giải phóng quân
                              Qua rồi mấy mùa mưa, nắng,
                              Bưng biền in những dấu chân.

                              Lại đên mùa khô chiến dịch
                              Bom thù ngăn trước, chắn sau,
                              Cây khô trơ cành, trụi lá
                              Chất độc nồng cay, máu trào...

                              Em vẫn cùng anh ra trận
                              Băng qua trăm suối, ngàn đèo,
                              Cơn sốt dìm mình trong nước,
                              Chân run, em cố bước theo.

                              Gian nguy mà nghe em hát
                              Anh càng tin vào ngày mai
                              Lời ca bay trên lửa đạn,
                              Theo anh suốt chặng đường dàỉ.

                              Hiệp đinh Pa-ri vừa ký
                              Chúng mình được lệnh lên đường
                              Ta đã bước vào trận mới  Hẹn ngày về với quê hương.

                              Sáng nay vào Tân Sơn Nhất
                              Em vui rạng rỡ nụ cười
                              Hoa rừng trên tay thắm đỏ
                              Em là hoa ngát muôn đời.

                              Nhớ Tết Mậu Thân năm ấy,
                              Đường băng ai đứng hiên ngang,
                              Súng vẫn trong tay nắm chặt,
                              Làm nên dáng đứng Việt Nam.

                              Cùng đôi dép mòn chiến trận,
                              Cánh mũ tai bèo nhấp nhô,
                              Nắng sớm tô hồng đôi má,
                              Em về đây nơi thành đô.

                              Hôm nay ta vào trận mới,
                              Đạn bom lùi phía cuốí trời
                              Đốí mặt trước bầy quỷ dữ,
                              Tiếng ca em vang muôn nơi

                              Vầng đông sẽ hồng thành phố,
                              Đêm tàn úa dưới chân mây,
                              Vui giữa cờ, hoa chiến thắng,
                              Ta về, tay nắm trong tay...


                                                          Xuân 1973-2003
                                                               LlNH GlANG


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Hai, 2012, 09:56:32 am

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Ky1974.jpg)

                            HOA NỞ TRONG TRẠI ĐA-VÍT
                                                                 
            
                              Hoa đã nở trên một vầng đất mỏng
                              Giữa mùa khô nắng nóng khét thịt da,
                              Bao ngày tháng cùng gió lay, chớp giật,
                              Hòa mồ hôi trong mỗi giọt mưa sa.

                              Hoa từ quê hương mang niềm vui của Mẹ,
                              Đến với con khi đang phải xa nhà,
                              Lòng thầm nhủ, Mẹ thương con nhiều lắm,
                              Là tấm áo này che bão tố, phong ba.

                              Trông hoa nở lại thấy hình dáng Mẹ,
                              Mảnh thân gầy mòn mỏi đợi tin con,
                              Nào ai biêt bao đêm đông rơi lệ,
                              Ngóng trời Nam vọng tiếng súng công đồn.

                              Xa quê hương mấy ngàn ngày không nghỉ
                              Dấu chân vương mây trắng đỉnh Trường Sơn,
                              Từ Plây Me đến Đắc Tô, Tân Cảnh,
                              Sóc Con Trăng hay Dầu Tiếng, Sài Gòn...


                              Trong bom đạn, lúc đói cơm, nhạt muối
                              Chỉ một lòng son sắt với quê hương.
                              Nay đang ở giữa hang hùm, miệng sói
                              Hoa cho ta một sức mạnh phi thường.

                              Ơi em gái tưới hoa bên hồ Hữu Tiệp
                              Xác “pháo đài bay" gục dưới chân em,
                              Cánh hoa mỏng manh hơn ngàn sắt thép,
                              Quỷ dữ kia, tội ác đã phải đền.

                              Hoa vẫn nở trên một vùng đất bỏng,
                              Mặc mùa khô nắng nóng khét thịt da.
                              Xin dâng Mẹ, đây bông hoa chiên thắng,
                              Để quê hương tươi thắm những mùa hoa.

                                                            Tân Sơn Nhất 1-1974
                                                                 Hà Nội 1-2004
                                                                 HOÀNG KHÁNH    


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Hai, 2012, 10:09:02 am

                            VỀ THĂM "TRẠI ĐA-VÍT"
                                                                 
                                 Kính tặng hương hồn các liệt sĩ đã hy sinh tại "trại Đa-vít"  

                             Tôi về thăm "trại Đa-vít" xưa,
                             Mảnh đất nằm nghiêng bên đường băng Tân Sơn Nhất.
                             Nơi ấy, một thời chúng tôi đốí mặt
                             Với quân thù lắm chước quỷ, mưu ma...

                             Tôi đi tìm nhữug kỷ niệm chưa xa,
                                   Một vách gỗ,
                                          Một bóng cây,
                                                 Một căn hầm tránh đạn,
                                                        Một bóng dáng thân quen,
                                                                Một nụ cười bè bạn...
                             Khuất xa rồi, man mác mấy bờ lau (!)  

                             Tôi đi tìm vạt đất, luống rau,
                             Bông cúc nở, ngát căn phòng làm việc.
                             Cây trứng cá lắng nghe lời từ biệt,
                             Để ngẩn ngơ
                                             "Người ơi! Người ở đùng về!..."  

                             Trong hoang sơ tôi vẫn bước đi,
                             Làn mây trắng che lưng trời bớt nắng.
                             Ở đâu đó vẳng lên tiêng đàn bầu trầm bổng
                             Nhớ đêm nào ta đứng lặng cùng nghe...

                             Ngoài rào kia đang rộn rã tiếng ve,
                             Cỏ ngập lối mắt nhòe, tôi đứng lặng.
                             Anh ngã xuống trước hồi kèn chiến thắng
                             Máu đỏ loang thắm mảnh đất nơi đây.

                             Đồng đội ơi! Anh có thấy hôm nay,
                             Ngày đại thắng cùng đứng vào đội ngũ
                             Rừng cờ đỏ đang rợp trời thành phố
                             Khúc quân hành hát mãi đên mai sau...

                                 Tân Sơn Nhất, 4-2001
                                                                    QUỐC KỲ

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/025.jpg)

Xuân Ất Mão tại Đa-vít. Trong ảnh có đồng chí Nông Văn Hưởng (tức Kiên)  hy sinh ngày 28-4-1975 trong trại Đa-vít


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Hai, 2012, 10:40:28 am

NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG TẠI TRẠI ĐA-VÍT
[1]
   
       Từ cuối tháng 3 đầu tháng 4 năm 1975, sau khi quân ta liên tiếp giải phóng từ Đà Nẵng đến Nha Trang và Đà Lạt, hai đoàn ta đã nhìn rõ triển vọng tiến về Sài Gòn, cấp trên không tiện phổ biến sớm, nhất là qua điện đài, nhưng biết rằng cán bộ ta đủ sức hiểu. Không còn liên lạc máy bay được với Lộc Ninh từ đầu năm, các chuyến bay Hà Nội vẫn còn tiếp tục tuy không đều đến cuối tháng 3 năm 1975. Hai đoàn có cử người ra xin chi viện một số vũ khí, nhất là vũ khí chống tăng, và phương tiện đào công sự. Cấp trên bày tỏ thông cảm nhưng không thể đáp ứng, vì chở trên máy bay Mỹ một đoạn đường dài trong thời điểm đó là mạo hiểm.

        Ngày 8 tháng 1 năm 1975, Đảng ủy hai đoàn họp bàn rất kỹ, dự kiến khả năng và triển vọng diễn biến tình hình, tính đến các tình huống xấu có thể xảy ra với đoàn, và hạ quyết tâm chuẩn bị mọi mặt để sẵn sàng chiến đấu: dự trữ lương thực, thực phẩm, thuốc men, làm kế hoạch chiến đấu, vẽ sơ đồ hệ thống công sự, tổ chức và phân công lực lượng, v.v… và kế hoạch lãnh đạo tư tưởng.

      Ngày 15 tháng 4 năm 1975 có chuyến máy bay lên thẳng đặc biệt của ủy ban Quốc tế vào Lộc Ninh tiếp xúc chuẩn bị cho việc đón hai sĩ quan In-đô-nê-xi-a và I-ran trong Tổ ủy ban Quốc tế bị quân ta giữ từ trận đánh giải phóng Buôn Ma Thuột, Đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời kết hợp cử cán bộ vào Miền báo cáo tình hình, quyết tâm và kế hoạch của đoàn, và xin một ít lựu đạn thủ pháo chống tăng (là vấn đề kẹt nhất của đoàn ta nếu phải chiến đấu chống xe tăng địch, vì chỉ có mấy chục tiểu liên và súng trường). Bộ Chỉ huy Miền giao cho đồng chí cán bộ trở ra chuyển đạt ý định và kế hoạch của Bộ Chỉ huy là khi ta bắt đầu cuộc Tổng tấn công vào Sài Gòn, sẽ có một cánh đặc công vào ngay trại Đa-vít đón đoàn ra nơi an toàn, chỉ để lại lực lượng vệ binh và một số ít cán bộ. Đoàn phải chuẩn bị sẵn sàng để thời điểm đến là đi được ngay.

        Đảng ủy đoàn lại phải họp bàn ngay. Mọi người đều suy nghĩ như nhau: rút như thế này không lợi, dễ bị động và tổn thất nếu đụng địch, trong lúc ta có đủ yếu tố cần thiết để chiến đấu và bám trụ thắng lợi tại chỗ. Mặt khác còn hai đoàn bạn Hung-ga-ri và Ba Lan, họ đã và đang hết lòng tương trợ ta trong những ngày giờ căng thẳng đang trải qua, nay ta lặng lẽ rút đi một mình thì không thể được. Cuộc họp nhất trí đề nghị Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền cho phép đoàn tự tổ chức chiến đấu tại chỗ và bảo đảm sẽ đủ sức bảo toàn lực lượng.

        Ngày 17 tháng 4 năm 1975 lại có một chuyến máy bay lên thẳng đặc biệt của ủy ban Quốc tế đi Lộc Ninh đón hai sĩ quan nói trên, đồng chí Nguyễn Văn Sĩ, phó trưởng đoàn - được lệnh điều động về hẳn Bộ Tham mưu Miền - được giao nhiệm vụ vào trực tiếp báo cáo và chuyển đề nghị của đoàn. Cấp trên đồng ý, và sĩ quan liên lạc ta khi trở về Tân Sơn Nhất còn được cấp hai va li thủ pháo mà Bộ Tham mưu đã chuẩn bị sẵn. Món hàng gọn, không nặng quá và cũng giống những va li hàng được mang đi mang về trước đây, lại đi nhờ máy bay của Ủy ban Quốc tế nên giữ được bí mật. Từ nay đã có vũ khí đánh tăng rồi, tuy thuộc loại nhẹ và không nhiều, nhưng cũng tăng được khả năng chiến đấu thực tế chống xe tăng địch.

        Từ ngày 18 tháng 4 năm 1975, toàn bộ lực lượng hai đoàn ta tại trại Đa-vít bằt tay vào đào công sự và chuẩn bị chiến đấu. Khó khăn nhất là có quá ít cuốc xẻng, phải dùng thêm lưỡi lê, dao găm và những thanh sắt (có sẵn rải rác, trước không dùng) được đập dẹt ra để đào, lại phải đào về đêm và không gây tiếng động để giữ bí mật, vì hàng chục vọng gác quân Sài Gòn vẫn bao quanh doanh trại. Toàn khu doanh trại chia thành 7 khu vực chiến đấu, mỗi khu vực có hệ thống công sự chiến đấu của mình, 7 khu vực nối liền với nhau bằng hệ thống giao thông hào có nắp dày gần như địa đạo, mỗi nhà đều có hầm ẩn nấp và nghỉ ngơi dưới sàn. Như vậy trong thời gian chiến đấu có thể ăn ở luôn dưới mặt đất, và liên lạc liên hoàn với nhau bằng địa đạo. Chỉ huy toàn lực lượng có Sở chỉ huy ngầm (chính thức và dự bị), có mạng điện thoại nối Sở chỉ huy với tất cả các khu vực và đầu mối. Bảo đảm thương binh có hầm quân y tương đối sâu và rộng, có hai bác sĩ phụ trách. Lương thực, thực phẩm và thuốc men do từ lâu đã có ý thức dự trữ đề phòng địch phong tỏa nên nay chuẩn bị thuận lợi, đầy đủ, ít nhất 7 ngày, đủ thời gian cần thiết cho việc thực hiện sứ mạng bám trụ của đoàn. Đèn dầu hỏa và đèn sáp (nến) được phân phối đủ cho các bộ phận. Nước sôi để nguội cũng được chuẩn bị sẵn và thường xuyên bổ sung. Công tác chính trị tư tưởng lần này tiến hành khá dễ dàng và thuận lợi, có thể nói tất cả cán bộ, chiến sĩ và nhân viên đều thông suốt phấn khởi, tự giác tích cực tham gia công việc, chủ động tìm cách khắc phục khó khăn. Không khí đoàn kết và kỷ luật trong toàn đơn vị chưa bao giờ nổi bật lên sâu sắc và cảm động như trong thời gian này. Không đến 10 ngày mọi việc chuẩn bị được hoàn thành, đơn vị đã sẵn sàng chiến đấu trước ngày quân ta bắt đầu nổ súng đánh vào Sài Gòn, địch không hay biết gì cả.

        Sau này có người kể rằng đoàn có gửi điện ra Quân ủy Trung ương hứa sẵn sàng "hy sinh vì đại cuộc". Điều này không đúng.

        Trong cuộc họp Đảng ủy ngày 8 tháng 4 đã nêu trên, đúng là có đôi ý kiến nêu ra như thế. Đoàn ta đơn độc, có quá ít vũ khí, khả năng tự vệ hạn chế, nhưng vì thắng lợi cuối cùng ta sẵn sàng hy sinh. Ý kiến đó về bản chất thì tốt, thể hiện tinh thần cách mạng và lòng dũng cảm đáng quý, nhưng nó thụ động và không phù hợp với tình thế. Phần lớn các đồng chí trong Đảng ủy đã lần lượt phân tích, dự kiến tất cả các tình huống, cân nhắc tất cả các khía cạnh, cuối cùng đã kết luận: bây giờ không phải như năm 1973 nữa. Quân ta thắng lợi như chẻ tre, chẳng mấy chốc sẽ dồn về tràn ngập Sài Gòn từ bốn phía. Mỹ không phản ứng. Nguyễn Văn Thiệu bị cô lập cao độ, nội bộ đối phương lục đục, quân Sài Gòn bị làn sóng tan rã từ Tây Nguyên và từ dọc ven biển miền Trung tràn về làm cho mất tinh thần. Đã bị đánh thì đứa nào lo mạng đứa nấy, vào gây sự tại trại Đa-vít sẽ đạt được cái gì? Nếu có đơn vị nào được lệnh quay vào đánh ta thl chúng cũng không còn tinh thần đâu mà chấp hành triệt để. Ta ít vũ khí nhưng ta chuẩn bị đầy đủ và sẵn sàng. Điều quan trọng nhất là ta ở thế thắng và ý chí chiến đấu kiên định. Đồng chí Thượng tá Nguyễn Văn Hoàn (tức đồng chí Hai An, Đảng ủy viên của đoàn, sau này là Thành ủy viên thành phố HỔ Chí Minh, nay đã mất), người thường xuyên ốm yếư nhưng lập trường luôn kiên định, hôm nay lại nhắc lại câu mà đồng chí thường nói: "thế ta là thế đứng trên đầu thù". Vì vậy cho dù quân địch có quay vào đánh ta, cho dù cả xe tăng, ta cũng đủ sức cầm cự một số ngày, đủ để cho đại quân kịp tiến vào tiếp ứng. Nếu có thương vong thì cũng là điều bình thường như trong các trường hợp chiến đấu khác không thể có chuyện phải hy sinh cả đơn vị. Kết luận này được toàn thể Đảng ủy nhất trí, và được tất cả anh chị em thông suốt và quán triệt. Khẩu hiệu động viên chung là: "Chiến đấu và chiến thắng".

       Trước ngày nổ súng, đoàn ta có nhận được một bức điện ngắn từ Hà Nội của Đại tướng Võ Nguyễn Giáp, đại ý: Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh rất thông cảm hoàn cảnh của các đồng chí. Hãy động viên anh chị em vững vàng ý chí chìến đấu, đứng vững trên vị trí của mình. Ngày thắng lợi không còn xa nữa. Trưởng đoàn đã điện trả lời ngay, với tinh thần: "Tất cả anh chị em đã sẵn sàng chiến đấu cả tinh thần và vật chất và xin hứa sẽ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình".
------------------------
[1] Trích trong cuốn: “Ban Liên hợp quân sự và trại Đa'vít - những tháng ngày... “. Nxb Quân đội nhân dân, H. 1997.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Hai, 2012, 10:55:38 am

*

*            *

        Tối 21 tháng 4 năm 1975, Nguyễn Văn Thiệu xuất hiện trên vô tuyến truyền hình, hằn học chửi rủa người Mỹ và tuyên bố từ chức. Mấy hôm sau hắn lên máy bay chuồn ra nước ngoài, định cuỗm theo cả mười bảy tấn vàng (nghe báo chí kể lại) nhưng bị ngay tay chân cũ giữ lại. Nguyễn Văn Hương, Phó tổng thống lên thay, cố chịu trận được một tuần rồi cũng rút. ông Dương Văn Minh, người cầm đầu cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm tháng 11 năm 1963, nay được Mỹ khuyến khích hòng có cơ may thương lượng với phía cách mạng, lại được sự góp ý và thúc đấy của một số nhân vật mong muốn cuộc chiến tranh kết thúc mà không gây đổ máu nhiều và tàn phá lớn cho Sài Gòn, nhận đứng ra làm tổng thống, mong vớt vát được chút gì cho cái chế độ "Việt Nam cộng hòa" trước vực thẳm, hoặc nếu không thì cũng thực hiện việc "chuyển giao chính quyền" một cách êm ả.

        Muộn quá rồi, tội ác chồng chất tày trời của chế độ nguy quyền tay sai Mỹ đối với nhân dân và Tổ quốc, tội lỗi của Nguyễn Văn Thiệu phá hoại Hiệp định Pa-ri đã đến lúc phải được thanh toán. Tuy nhiên như ta đã thấy, cuộc Tổng tiến công giải phóng Sài Gòn đã được thực hiện nhanh gọn, không có sự đổ máu nào của nhân dân và cũng chẳng có sự tàn phá nào về tài sản.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Hai, 2012, 12:21:57 pm

*

*           *

        Ngày 26 tháng 4 năm 1975, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử được mở màn đánh vào vành đai phòng thủ ngoại vi Sài gòn, Chính phủ Cách mạng lâm thời ra tuyên bố kêu gọi quân đội Sài Gòn hạ vũ khí để bớt đổ máu và bớt thiệt hại cho nhân dân.

        Vào khoảng 17 giờ 15 chiều thứ hai 28 tháng 4 năm 1975, một toán máy bay A37 (loại máy bay oanh tạc mới của quân Sài Gòn) đột nhiên đến ném bom đồng loạt khu vực quân sự của sân bay Tân Sơn Nhất. Mảnh bom bay rào rào sang khu vực trại Đa-vít, vì trại này chỉ cách khu để máy bay quân sự có một bức tường, một dãy hàng rào kẽm gai và một dãy hầm cất máy bay. Bị bất ngờ, tất cả anh chị em ta nhảy xuống hầm. Sau một lúc định thần lại, cùng nhau nhận định đây chỉ có thể là phi công Sài Gòn phản chiến hoặc chính là trận tấn công của ta. Và mọi người hiểu rằng đã đến lúc bắt đầu đại sự rồi. Đêm đó tất cả các bộ phận được lệnh của chỉ huy đoàn xuống ngủ dưới hầm theo đội hình chiến đấu đã được chuẩn bị, triển khai canh gác tuần tiễu theo kế hoạch tác chiến, vận hành ngay mạng điện thoại bảo đảm thông suốt từ Sở chỉ huy đến tất cả các đầu mối, trạm quân y dã chiến được bố trí sẵn sàng nhận thương binh, điện đài cơ yếu canh trực liên tục đón mệnh lệnh chỉ thị của cấp trên.

        Phần lớn đêm 28 tháng 4 yên tĩnh. Mọi người đang ngủ ngon, bỗng nhiên vào khoảng 3 giờ sáng tiếng đạn pháo lớn và hỏa tiễn nổ vang, bay tới tấp vào khu vực Tân Sơn Nhất. Hai đoàn ta đã chuẩn bị kỹ công sự từ trước nên yên tâm, mặc dù tiếng đạn rít trên trời, cả tiếng đạn nổ vang ngay trong khu doanh trại nghe thật khủng khiếp. Một lát sau Sở chỉ huy được báo cáo: một đồng chí đại úy bảo vệ và một trung sĩ cảnh vệ đang làm nhiệm vụ canh gác trên hầm nổi bị trúng đạn pháo hy sinh. Còn bốn đồng chí nữa, do đứng ở miệng hầm để nhìn, bị mảnh pháo và hỏa tiễn bay trúng bị thương, trong đó có một đồng chí sau phải cưa một chân.

        Từ lúc đó đến suốt ngày 29 tháng 4 đạn hỏa tiễn và đạn pháo 130 ly của ta lúc dày lúc thưa vẫn tỉếp tục được bắn vào Tân Sơn Nhất. Sau này xong việc rồi, ta cho đi đếm lại, có đúng 25 viên đã rơi vào trại Đa-vít. Từ cự ly 18 đến 24km bắn hàng ngàn viên vào đường băng sân bay, việc một số ít viên tản mát sang là điều tất yếu không tránh khỏi.

        Trong buổi sáng 29 tháng 4, đại sứ Mỹ Ma-tin mấy lần qua Đoàn Hung-ga-ri bắn tin muốn gặp trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời trong Ban Liên hợp quân sự hai bên trung ương, nhưng lúc này còn gì để bàn bạc? Ta không trả lời.

        Trưa 29 tháng 4 có một đoàn khách khá đặc biệt đến xin gặp trưởng đoàn ta, tự giới thiệu là "phái viên của Phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền" đến "bàn việc bàn giao chính quyền". Đoàn gồm các ông:

        - Nguyễn Văn Diệp, Tổng trưởng tiếp thương, Trưởng đoàn;

        - Nguyễn Đình Đầu, phụ tá Phó tổng thống đặc trách hòa đàm;

        - Tô Văn Cang, chuyên viên của Văn phòng Phó tổng thống;

        - Nguyễn Văn Hạnh, chuyên viên của Văn phòng Phó tổng thống.

        Trong tình huống lúc này lãnh đạo đoàn ta không thể tiếp nên cử cán bộ ra chuyển lời Trưởng đoàn là đoàn không được ủy quyền bàn bạc vấn đề gì, mọi điều cần thiết đã được nêu rõ trong Tuyên bố ngày 26 tháng 4 năm 1975 của Chính phủ Cách mạng lâm thời.

        Khoảng 14 giò 30 phút, một đoàn thứ hai tự giới thiệu là giáo sư Châu Tâm Luân và linh mục Chân Tín xin gặp. Trung tá Bùi Thiệp, Trưởng ban Thông tấn báo chí được cử ra, trao cho họ bản Tuyên bố ngày 26 tháng 4 của Chính phủ Cách mạng lâm thời và cũng trả lời như với đoàn buổi sáng. ông Châu Tâm Luân cho biết được ông Dương Văn Minh cử làm Bộ trưởng.

        Đến khoảng 17 giờ 30 có thêm luật sư Trần Ngọc Liễn cùng với ông Châu Tâm Luân và linh mục Chân Tín lại đến thiết tha xin gặp để bàn làm sao cho việc ta đánh chiếm Sài Gòn đỡ đổ máu, bớt tổn hại về vật chất.

        Ta cũng không thể làm gì khác hơn hai lần trước. Tuy nhiên, xét đây là những người thuộc lực lượng thứ ba lâu nay đối lập với chế độ độc tài của Nguyễn Văn Thiệu, không nề nguy hiểm đến lại lần thứ hai, nên ta nể tình báo cho biết có thể tiếp ba vị với tư cách cá nhân của họ chứ không với tính chất đại diện nào. Họ đồng ý, và ta cho đón vào phía trong, phân công đồng chí Võ Đông Giang, Phó trưởng đoàn tiếp tại hầm Sở chỉ huy dự bị. Họ vừa vào đến hầm thì đợt pháo cấp tập của trận đánh trực tiếp vào Tân Sơn Nhất bắt đầu, và chắc chắn suốt đêm nay sẽ không ngơi tiếng súng. Để bảo đảm an toàn tính mạng, ta khuyên họ ở lại cho đến lúc xong trận. Tuy nhiên để tránh bị hiểu lầm là ta cố tình giữ họ lại, ta nói sẽ cho lực lượng yểm trợ nếu họ muốn về. Sau mấy phút suy nghĩ và trao đổi ý kiến với nhau, họ xin ở lại, vì cũng thấy trở về lúc này là quá mạo hiểm. Như vậy là trong cái đêm 29 tháng 4 năm 1975 lịch sử trong một Sở chỉ huy quân cách mạng ở ngay tại Tân Sơn Nhất, có ba vị khách không phải là quân giải phóng, một giáo sư, một luật sư và một linh mục Thiên chúa giáo, cùng với một sĩ quan cộng sản thức trắng để trò chuyện và theo dõi nhịp độ thần tốc của cuộc Tổng tiến công giải phóng Sài Gòn. Đồng chí Võ Đông Giang đã tranh thủ cơ hội tâm tình và giải thích cho họ cặn kẽ mọi vấn đề về cách mạng mà họ còn băn khoăn nghi ngại.

        Ngày hôm sau 30 tháng 4, khi tiếng súng phía Tân Sơn Nhất đã im và ta đã gặp được lực lượng bên ngoài vào, ta mời họ dự một bừa liên hoan trước khi chia tay và theo yêu cầu của khách tặng mỗi người hai chai rượu lúa mới và một gói lương khô mà họ nói rất quý vì "chỉ quân giải phóng mới có". Sau đó ta cấp giấy cho họ ra về, và được biết họ không gặp trở ngại gì dọc đường.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Hai, 2012, 12:23:16 pm

*

*          *

        Trong khi vạch kế hoạch đánh vào Tân Sơn Nhất, cấp trên rất quan tâm đến vấn đề an toàn của hai đoàn ta.

        Mặc dù đã đồng ý cho đoàn tự tổ chức chiến đấu tại chỗ, Bộ Chỉ huy chiến dịch vẫn cho chỉ định (và đã kiếm cách thông báo trước được cho đoàn) một cánh đặc công và một cánh xe tăng có nhiệm vụ đặc biệt phải tìm cách sớm nhất tới được trại Đa-vít để tùy tình hình mà xử trí, tăng cường bảo vệ cho đoàn hoặc đưa bớt lực lượng đi ra khu vực an toàn. Có lẽ vì trận đánh vào Sài Gòn diễn ra nhanh và thuận quá, mọi dự kìến tình huống đã đảo lộn, mọi kế hoạch xử trí cũng thay đổi, nên suốt đêm đến khi thắng lợi không thấy cánh đặc công nào cả. Còn đơn vị xe tăng đoàn đã được phổ biến tần số liên lạc từ trước) thi khoảng 2 giờ sáng có lên tiếng, đại úy: "Xin chào các đồng chí, đúng là lúc đầu chúng tôi có được giao nhiệm vụ vào tiếp cứu, nhưng bây giờ tình hình khác rồi, chúng tôi được lệnh chuyển đên mục tiêu khác. Xin chúc an toàn khỏe mạnh".

        Sau khì nghe cán bộ điện đài báo cáo, mọi người không ai tỏ chút buồn phiền mà trái lại hân hoan phấn khởi vì thấy trận quyết chiến cuối cùng diễn biến thật là thuận lợi.  Anh em thông tin điện đài thuộc bộ phận "kỹ thuật" còn có sáng kiến dò sóng để theo dõi liên lạc chiến đấu của các đơn vị của ta tiến gần. Vào khoảng hơn nửa đêm 29 tháng 4, có một đơn vị tiểu đoàn từ hướng Bà Quẹo đã tiến đến ngã tư Bảy Hiền. Anh em điện đài đưa máy dến gần cho Trưởng đoàn và mấy đồng chí gần đó cùng nghe. Từ trong cái đài nhỏ bé vọng ra những câu đàm thoại thật thú vị và cảm động đại ý: "Báo cáo đạỉ đội tôi đã đến ngã tư Bảy Hiền, đúng, đồng bào nói đây là ngã tư Bảy Hiền. Chưa đụng địch, còn đồng bào cho quà nhiều lắm". Một giọng khác vẳng lạỉ, có lẽ là của chính trị viên tiểu đoàn: "Hoan nghênh các đồng chí. Phải tìm cho trúng địch đánh, không được làm cho nhân dân hoảng sợ. Đồng bào cho thì lấy nhưng chỉ lấy một ít thứ ăn được lót lòng thôi, không được tham. Đặc biệt nhắc lại anh em không được đụng đến cây kim sợi chỉ của dân...". Ôi cái câu cuối cùng, cái mệnh lệnh và là điều đầu tiên trong 12 điều kỷ luật của quân đội nhân dân, cái khẩu hiệu thiêng liêng đã đi theo các chặng đường chiến đấu gian khổ và chiến thắng nhờ được nhân dân đùm bọc, nay trong đợt vũ bão tiến vào sào huyệt cuối cùng của quân thù nó vẫn vang lên nghiêm khắc, trong trẻo và đầm ấm xiết bao.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Hai, 2012, 12:24:32 pm

*

*           *

        Sau này được biết, trước rạng sáng 30 tháng 4 năm 1975, đại sứ Ma-tin cùng tốp người Mỹ cuối cùng tại Sài Gòn và  miền Nam Việt Nam đã lên chiếc máy bay lên thẳng cuối cùng từ nóc Đại sứ quán Mỹ bay ra biển. Như vậy là quân và dân ta đã thực hiện trọn vẹn quyết tâm sắt đá được Bác Hồ long trọng tuyên bố năm 1966: "Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải chiến đấu quét sạch nó đi".

        Khoảng sáu giờ sáng 30 tháng 4 năm 1975, anh em ở vọng gác phía cổng chính báo cáo là đơn vị bổ sung quân dù trước cổng đang hô nhau tháo chạy, vừa chạy vừa cởi áo quần rằn ri vứt đầy đường. Đại đội xe tăng thì biến từ lúc nào không rõ. Nhìn quanh bốn mặt, tất cả các vọng gác và tháp canh đều trống, không còn bóng dáng một tên lính gác và một họng súng nào. Như vậy rõ là phía này đã xong, nhưng tiếng súng còn rền vang các hướng khác. Tất cả các bộ phận đều được lệnh vẫn ở yên tại vị trí và vẫn phải sẵn sàng chiến đấu không được lơ là mất cảnh giác.

        9 giờ 30 phút sáng 30 tháng 4 năm 1975, ông Dương Văn Minh tuyên bố trên Đài phát thanh Sài Gòn sẵn sàng chuyển giao chính quyền cho đại diện của cách mạng, ra lệnh cho quân Sài Gòn ở nguyên tại chỗ.

        Ban chính trị của đoàn có sáng kiến đưa ngay lá cờ nửa đỏ nửa xanh to nhất của Chính phủ Cách mạng lâm thời mà ta có lên treo ở đỉnh tháp nước là chỗ cao nhất của trại Đa-vít và cũng là chỗ cao đối với một khu vực rộng lớn xung quanh. Có lẽ đây là lá cờ hoặc một trong số lá cờ được kéo lên sớm nhất trên thành phố Sài Gòn giải phóng.

        Khoảng hơn 10 giờ anh em báo cáo đã thấy bộ đội ta tiến đến gần trại Đa-vít. Và Tiểu đoàn 6 thuộc Trung đoàn 9, Sư đoàn 10, Quân đoàn 3, do đồng chí Sơn tiểu đoàn trưởng dẫn đầu đã vào với anh chị em ta. Có lời nào diễn tả được những giây phút xúc động đến nghẹn ngào và khắc eốt suốt đời này? Đúng là "mừng ra nước mắt....". Sau đó đồng chí trung đoàn trưởng Trung đoàn 9, sư trưởng và chính ủy Sư đoàn 10 ghé vào thăm trên đường vào chỉ huy việc chiếm lĩnh Tân Sơn Nhất.

        11 giờ 30 ngày 30 tháng 4 năm 1975, xe tăng và bộ binh quân ta chiếm lĩnh "Dinh Độc Lập", lúc đó là Phủ tổng thống của phía Sài Gòn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ vinh quang mà Bác Hồ đã đề ra trong lời thơ chúc Tết năm xưa: "Vì độc lập, vì tự do, đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngưy nhào", để rồi:

"Tiến lên chiên sĩ đồng bào
Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn ! "



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Hai, 2012, 12:25:11 pm

*

*          *

        Với thắng lợi ngày 30 tháng 4 năm 1975, hai đoàn ta tại trại Đa-vít chấm dứt nhiệm vụ.

        Ngày 2 tháng 5, Đại tướng Văn Tiến Dũng cùng Bộ Tham mưu tiền phương chiến dịch đã đến đây, tổ chức cuộc họp với một số cán bộ cấp cao các quân đoàn, sư đoàn trước khi chuyển đến Sở chỉ huy mới.

        Ngày 3 tháng 5, Trung tướng Trần Văn Trà, Tư lệnh quân giải phóng Miền (B2), Phó tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, đã từng là trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời trong những ngày tháng đầu tiên, vào thăm lại anh chị em và tuyên bố Quân ủy Miền công nhận đơn vị trại Đa-vít "là một tiền tiêu của chiến dịch Hồ Chí Minh".

        Ngày 4 tháng 5 năm 1975, Bộ Chỉ huy Miền điều động phần lớn cán bộ, chiến sĩ Đoàn B chuyển sang tham gia lực lượng thuộc ủy ban quân quản thành phố Sài Gòn - Gia Định, số còn lại sau đó trở về đơn vị cũ hoặc nhận nhiệm vụ mới. Đoàn A trở về thủ đô Hà Nội.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Hai, 2012, 06:41:56 pm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/HoangfDuwyHoaf.jpg)

MỘT KỶ NIỆM KHÔNG THỂ NÀO QUÊN

HOÀNG DUY HÒA       
         
        Cuối năm 1972, tôi được biệt phái về Sư đoàn 5 tham gia chiến dịch Nguyễn Huệ.

        Tôi nhận được điện của Cục Chính trị Miền gọi về nhận nhiệm vụ mới. Tôi được giao nhiệm vụ vào công tác ở phái đoàn quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam - công tác cụ thể ở trong Tiểu ban Trao trả.

        Ngày 12 tháng 2 năm 1973, tôi được tham gia vào tổ trong phái đoàn quân sự ra Hà Nội giám sát về việc trao trả tù binh Mỹ tại sân bay Gia Lâm.

        Buổi tối, trước hôm ra Hà Nội, thủ trưởng chính trị gọi tôi lên và báo cho biết là tôi vào B2 đã lâu rồi, mai ra Hà Nội sẽ được gặp gia đình. Tổng cục Chính trị cho xe về đón gia đình lên Hà Nội, nhưng do điều kiện đặc biệt của công việc nên toàn bộ cuộc làm việc trao trả và sau đó gặp gia đình, tính cả đi về chỉ trong ngày. Tôi hoàn toàn hiểu rõ về điều này nên đã dự tính sẽ gặp được gia đình khoảng 15-20 phút 1à cùng.

        Vui mừng quá, suốt đêm không tài nào ngủ được nghĩ miên man nhiều chuyện. Nghĩ mình vào Nam Bộ bằng đi bộ trên đường Trường Sơn, nay có phi công Mỹ lái máy bay đưa ra Hà Nội làm việc và gặp vợ con thì thật là hiếm có. Cùng đi trong tổ công tác có anh Nam Bình, anh Hùng Trí cả hai anh cũng có gia đình ở miền Bắc và hôm nay chắc các chị và các cháu cũng sẽ lên Hà Nội và cũng sẽ thật sung sướng khi được gặp các anh.

        Vừa xuống đến sân bay Gia Lâm, tôi nhìn thấy ngay một người đàn bà từ phía xa xa đang chỉ trỏ và đẩy đứa con gái chạy ra phía chúng tôi. Khi cháu đang chạy ra thì có anh bộ đội lôi cháu lại, tôi nhận ra đó là vợ và con mình. Để tránh sự xúc động trước mặt sĩ quan đối phương, tôi đi lùi lại một chút và giơ tay ra hiệu là đã nhận biết được rồi.

        Vào nơi làm việc trao trả, khi ban tổ chức vừa tuyên bố lý do xong, có cán bộ bấm vào vai tôi nói nhỏ: "ra phía nhà căng tin gặp gia đình".

        Vừa trông thấy tôi, nhà tôi òa lên khóc kể lể rằng bao nhiêu năm không nhận được thư từ nào. Năm Mậu Thân làng ta có nhiều giấy báo tử, ai cũng bảo anh đã hy sinh, mẹ thương con dâu còn trẻ, mẹ bảo nó không còn sống thì tùy con tìm nơi xây dựng bước nữa. Em chỉ biết khóc và biết chờ đợi. Nay anh còn sống, còn đủ chân tay... Tôi chỉ vội hỏi hai bên bố mẹ anh em ai còn, ai mất, gia đình có bị bom Mỹ bắn phá hay không? Và biết mẹ tôi ốm, muốn lên thăm con mà không đi được và gia đình tôi lại sợ như trường hợp anh Vinh nên bảo chú em cùng đi.

        Nhà tôi kể rằng: "Cách đây 20 hôm, đơn vị bộ đội có xe con về làng đón chị Vinh và các cháu. Anh bộ đội nói rằng nghe đâu anh Vinh bị thương ở chiến trường ra điều dưỡng nên đón chị lên thăm. Khi tới nơi thì được biết là anh bị thương rất nặng và đã chết nên đưa thi hài về quê chôn cất. Tối hôm qua lại có xe con và anh bộ đội về nói là anh ở chiến trường ra, trên cho về đón gia đình lên thăm, yêu cầu phải đi gấp, 4 giờ sáng đi thì mới kịp. Thế là cả nhà ai cũng đoán chắc lại như trường hợp anh Vinh, rồi khóc lóc ầm ĩ.

        Đêm đã khuya mà dân làng đến hỏi thăm đông lắm. Em hỏi riêng anh bộ đội, anh nói là chỉ được nhận nhiệm vụ đón gia đình lên Hà Nội gấp chứ anh ấy cũng không biết gì thêm. Ngồi trên xe với con, em nghĩ thầm nếu chẳng may anh có làm sao thì ở vậy nuôi con khôn lớn, sau này chọn đứa con rể tết khuyên nó ở rể cũng được. Xe ô tô khóng vào Hà Nội mà rẽ vào sân bay Gia Lâm. Em thấy rất đông người mà không thấy người già, trẻ con, thấy nhiều người nước ngoài vác máy quay phim, máy ảnh. Nhìn khắp không thấy anh, bảo con tìm xem có thấy bố không, nó bảo con không biết mặt bố. Chú em hỏi anh cán bộ thì được biết là chờ Sài Gòn ra trao trả tù binh.

        Đến đây nhà tôi lại nghĩ rằng tôi bị bắt làm tù binh nên được trao trả. Thôi như thế còn hơn là đã hy sinh.

        Rồi anh bộ đội đưa đi lại bảo, máy bay sắp hạ cánh, chị và cháu đừng có chạy ra đường băng khóc lóc, bọn sĩ quan Mỹ - nguy nó hỏi Phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời sao lại có vợ con ngoài Bắc thì phiền. Nhà tôi lại càng không hiểu câu nói của anh.

         Khi thấy tôi xuống máy bay đeo băng màu da cam (màu của Liên hợp quân sự) và nhìn kỹ xác định đúng là chồng mình rồi thì rất vui mừng không hỏi han gì nữa. còn con tôi, khi tôi vào chiến trường cháu một tuổi, nay đã học lớp 5. Mẹ cháu bảo bố của con đấy, cháu cũng chẳng hỏi han gì mà chỉ chạy đi xem tù binh Mỹ được trao trá.

        Xem đồng hồ, đã được 15 phút, tôi phải vào vì còn để các anh khác ra gặp gia đình.

        Vợ tôi vội vàng nhét vào túi du lịch cho tôi 2 tút thuốc lá Tam Đảo và mấy gọi kẹo. Tôi rút cái lược I-nốc tự làm bằng xác máy bay Mỹ cài vào tóc vợ tôi rút cái khăn rằn quấn vào cổ con rồi chia tay, quên cả cám ơn các đồng chí ở nhà căng tin.

        Trao trả xong, chúng tôi lên máy bay về trại Đa-vít, vợ con tôi được xe đưa về gia đình.

        Sau nhận được thư nhà tôi viết: "Xe về đến đầu làng họ hàng bà con chạy đến xúm quanh hỏi hết chuyện nọ đến chuyện kia. Người chê trách đã ra đến Hà Nộl mà không về thăm nhà hẳn có vấn đề gì đây. Người bảo đi gần chục năm gặp có 15 phút thì ăn thua gì? người khen anh còn khỏe, không cụt chân cụt tay là hạnh phúc lắm đây...".

        Thật là một cuộc gặp mặt hiếm có, một kỷ niệm rất sâu sắc


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Ba, 2012, 07:00:38 pm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/PhamjVawnLaix.jpg)
Phạm Văn Lãi

LÁ CỜ CÁCH MẠNG ĐẦU TIÊN
Ở SÀI GÒN TREO TRONG TRẠI ĐA-VÍT

VŨ BÃO      
         
      Sống giữa sào huyệt của Mỹ - nguy lại bị căn cứ lính dù thiên thần mũ đỏ", căn cứ thiết giáp "mũ nồi đen", căn cứ lính biệt kích vây quanh, sĩ quan và chiến sĩ trong Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và Đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ngày đêm phải sống và làm việc dưới các nòng súng trọng liên của 13 trạm gác. Sau này khi đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn, quân báo của ta còn bắt được mật lệnh của tên cầm đầu quân đội Sài Gòn chỉ thị cho các đơn vị đóng ở sân bay Tân Sơn Nhất nếu phát hiện dấu hiệu cộng sản chuẩn bị tiến công thì phải chủ động tràn vào trại Đa-vít tiêu diệt cộng sản. Lưỡi hái của thần chết ngày đêm treo trên đầu, trong trại Đa-vít anh em ta vẫn biểu diễn văn nghệ, vẫn thi đấu bóng chuyền, bóng rổ, quần vợt.., và hàng tuần vẫn tổ chức chiếu phim. Binh lính Sài Gòn thường leo lên nóc dãy công sự bằng bao cát xem phim xã hội chủ nghĩa của chúng ta.

        Sang tháng 4 năm 1975, đại quân ta tiến sâu xuống miền Trung Trung Bộ, phía Mỹ viện cớ vì lý do kỹ thuật đã cắt đứt các chuyến bay hàng tuần Tân Sơn Nhất - Hà Nội - Tân Sơn Nhất. Phạm Văn Lãi, phụ trách tổ chiếu phim không nhận được phim mới của Điện ảnh quân đội Hà Nội gửi vào nữa, anh đành chiếu bộ phim Trần Quôc Toản ra quân và Vợ chồng anh Lực để duy trì chương trình sinh hoạt văn hóa hàng tuần trong trại Đa-vít.

        Trong những ngày bị cắt đứt liên lạc bằng đường hàng không với Hà Nội, Đoàn đại biểu quân sự Việt Nam dân chủ cộng hòa và đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam nhận được điện của Đại tưởng Võ Nguyên Giáp gửi vào: Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh rất thông cảm với hoàn cảnh của các đồng chí. Hãy động viên anh em vững vàng ý chí chiến đấu, đứng vững trên vị trí của mình. Ngày thắng lợi không còn xa nữa!

         Mãi đến ngày 25 tháng 4 năm 1975, theo yêu cầu của đoàn ta, phe Mỹ phải bố trí một chuyến bay C130 ra Hà Nội. Điện ảnh quân đội gửi vào cho Lãi cả 5 tập phim Giải phóng châu Âu. Ngày 26 tháng 4 năm 1975, Phạm Văn Lãi chiếu cả 5 tập Giải phóng châu Âu Ở ngoài bãi chiếu phim của đoàn. Chương trình chiếu phim quá dài, anh em vẫn hào hứng theo dõi những cảnh phim Hồng quân Liên Xô tiến quân giải phóng thủ đô các nước Đông âu. Riêng với Lãi, hình ảnh gây ấn tượng mạnh với anh nhất là ba chiến binh Liên Xô leo lên treo cờ trên nóc nhà Quốc hội Đức Anh nghĩ ngày các đồng đội của anh treo cờ lên nóc cơ quan đầu não của chính quyền Sài Gòn chắc cũng "không còn xa nữa".

        Ngay đêm hôm ấy nằm nghe tiếng pháo 130 ly từ xa vọng về và cả về sau này Lãi càng ngẫm nghĩ càng thấy bộ phim Giải phóng châu Âu vận vào đúng câu cuối cùng trong bức điện của Đại tướng Võ Nguyễn Giáp. Có lẽ lúc ấy Đại tướng chỉ có thể nói với anh chị em trong trại Đa-vít ngắn gọn như thế.

        Tiếng pháo lớn vọng đến trại Đa-vít mỗi ngày một gần hơn và đúng 3 giờ sáng 29 tháng 4 năm 1975, đạn pháo 130 1y và đạn hỏa tiễn của ta bắn tới tấp vào sân bay Tân Sơn Nhất. Nằm dưới công sự có nắp nghe được cả tiếng nổ đầu nòng, Lãi ước tính từ trận địa pháo chiến dịch đến trại Đa-vít chỉ còn cách ngót nghét 15, 16 ki-lô-mét là cùng "ngày thắng lợi không còn xa nữa".

        Gần sáng 30 tháng 4 năm 1975, tiếng đạn pháo nổ thưa dẩn rồi ngừng hẳn. Tổ điện đài dò sóng, bắt được sóng của một tiểu đoàn Quân giải phóng đang tiến vào nội thành Sài Gòn. Mẩu chuyện ngắn gọn trên làn sóng điện ấy đã được truyền xuống anh em đang chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu trong công sự ở trại Đa-vít, Lãi và các đồng chí trong công sự cũng có cảm giác như ngày trước ngong ngóng giữa tiếng pháo nổ trong giờ phút giao thừa đón chờ Xuân mới.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Ba, 2012, 07:03:53 pm
        Giữa lúc ấy, Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn, Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam điện xuống Ban chính trị triệu tập Phạm Văn Lãi lên nhận nhiệm vụ mới. Còn gì vui sướng bằng giừa lúc các sư đoàn chủ lực đang tiến đánh nội thành Sài Gòn lại được đi nhận nhiệm vụ mới. Phạm Văn Lãi khom người luồn theo các ngách trong giao thông hào lên Sở chỉ huy. Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn với giọng bốc lửa chỉ thị cho Lãi: chủ lực của ta đang tiến vào nội thành Sài Gòn, đồng chí vào kho lấy cờ đem xuống đội vệ binh truyền đạt mệnh lệnh của tôi cắm cờ lên đỉnh tháp nước để quân ta biết hướng tiến công và quân địch đóng trong sân bay nhìn thấy lá cờ sẽ hoang mang, buông súng, không còn khả năng chiến đấu. Phạm Văn Lãi "rõ" một tiếng thật to rồi chạy như bay về nhà kho của Ban chính trị.

        Lá cờ sao vàng nằm trên nền nửa xanh nửa đỏ này được may bằng 4 khổ vải 80cm, nếu nối liền cả 4 khổ vải ấy lại với nhau thì chiều dài cũng gần 20 mét nên Lãi phải ôm chặt lá cờ vào ngưc, chạy băng qua sân trại Đa-vít ra tận cổng trại, trận địa của đội vệ binh đang dàn đội hình sẵn sàng chiến đấu, truyền lệnh treo cờ. Đội trưởng vệ binh bảo Lãi đứng chờ mình rồi chạy đi tìm người. Vừa lúc ấy Cẩn, vệ binh cũng vừa chạy đến. Biết chuyện, Cẩn nói ngay: Tôi đi. Cẩn là Việt kiều ở Cam-pu-chia gia nhập Quân giải phóng. Các buổi chiều, lúc Cẩn chơi bóng chuyền với Lãi, lúc Cẩn chơi bóng rổ với Lãi nên hai người cũng thân nhau.

        Lãi ôm cờ chạy trước, Cẩn chạy theo sau, cả hai nhằm hướng chân tháp nước lao tới. Hôm nay không biết trời phật run rủi thế nào mà khi chạy qua hội trường Lãi thấy hai đoạn dây thép không biết ai đi treo băng-rôn bỏ lại và khi đến chân tháp nước, Lãi lại thấy một ống dẫn nước do anh thợ Sài Gòn vào chữa hệ thống dẫn nước bỏ lại, Lãi bảo Cẩn xách theo ống nước làm "cán cờ".

        Hai anh em chui vào vòng bảo hiểm, Lãi ôm cờ leo lên trước, Cẩn xách ống dẫn nước leo theo sau. Leo lên tới đỉnh tháp nước. Lãi cúi xuống với tay ra hiệu cho Cẩn chuyển ống dẫn nước lên cho anh. Sẵn đoạn dây thép mang theo, Lãi xuyên một đầu dây thép vào cuối cạp cờ, quấn mấy vòng rồi buộc hai đầu dây thép vào cán cờ rồi Lãi chuyển sợi dây thép khác cho Cẩn buộc ghì cán cờ vào thanh sắt dọc ốp bên ngoài thành tháp nước.

        Lay lay cán cờ thấy căng chắc, Lãi mới buông hai mép cờ ra khỏi lòng bàn tay. Theo đà gió, lá cờ bung thật mạnh nghe đánh phật một tiếng. Từng nếp cờ no gió, uốn sóng, phần phật bay, vui mừng chờ đón giờ toàn thắng.

        Đứng trên đỉnh tháp nước, Lãi nhìn sang căn cứ xe tăng của quân đội Sài Gòn. Chỉ còn những chiếc xe tăng tháp pháo xoay ngang, nòng trọng liên gục xuống. Lãi nhìn sang căn cứ lính dù. Bọn chúng đang cởi bộ đồ trận, quẳng "bốt-đờ-xô", vứt súng, đứa nào đứa ấy chỉ mặc quần đùi và áo may ô trắng trông cứ như đàn vịt gặp gió lớn.

        Vừa lúc đó, Vinh, chiến sĩ nhiếp ảnh và Bất Diệt, chiến sĩ quay phim Quân giải phóng đã chạy đến chân tháp nước ngửa cổ hét thật to: Đứng yên, cho chúng tôi làm một "pô". Chính nhờ hai nghệ sĩ - chiến sĩ ấy mà đến hôm nay chúng ta mới biết lá cờ sao và trên nền nửa đỏ nửa xanh to nhất, phấp phới bay sớm nhất trên bầu trời Sài Gòn chính là lá cờ trên tháp nước trại Đa-vít.

        Lúc bấy giờ là 9 giờ 30 phút. Một giờ sau, xe tăng 390 mới húc đổ cánh cổng chính dinh Độc Lập. Ngày hôm sau, ủy ban quân quản thành phố Sài Gòn quyết định treo lá cờ sao vàng trên nền nửa đỏ nửa xanh to hơn lá cờ đã treo ngày 30 tháng 4. Người được phân công leo lên cột cờ dinh Độc Lập treo lá cờ mới chính là: Phạm Văn Lãi, cán bộ Ban chính trị ủy ban quân quản Sài Gòn.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/D0.jpg)

Ngọn cờ đầu tiên trong trại Đa-vít. Anh Lãi đứng phía trên, anh Cẩn đứng phía dưới


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Ba, 2012, 08:00:18 pm

KỶ NIỆM SÂU SẮC SÁNG 30-4-1975
Ở TRẠI ĐA-VÍT
TRẦN VĂN KHÁNH      

     Nguyên sĩ quan phiên dịch tiếng Anh của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lăm thởi Cộng hòa miền Nam Việt Nam.      
 
       Đoàn cán bộ phiên dịch tiếng Anh trong Ban Liên hợp quân sự được tập trung trước khi Hiệp định Pa-ri ký khoảng hai tháng.

        Lớp bổ túc tiếng Anh có trên 30 người, anh Huyền và 11 chuyên gia khác giảng dạy. Giáo trình là nguyên bản Hiệp định Giơ-ne-vơ về Việt Nam và những đoạn văn ngắn do chuyên gia biên soạn. Chúng tôi tranh thủ mọi thời gian học tập, phấn khởi, háo hức, mong sớm được mang kiến thức của mình phục vụ nhân dân trong mặt trận đấu tranh mới.

        Ngày vào Nam đã đến. Để chủ động và kịp thời triển khai các tổ Liên hợp khi hiệp định được ký, chúng tôi được lệnh hành quân bằng đường bộ theo đường Trường Sơn vào Nam. Gần 100 xe con được điều động. Mỗi xe chỉ có 1 lái và 1 người đi cùng, mang đầy đủ tư trang, quần áo, va li như những cán bộ ngoại giao.

        Dọc đường từ Hà Nội đến Thanh Hóa, chúng tôi không bao giờ quên hình ảnh và tình cảm của nhân dân hai bên đường và trong những đoàn tàu hỏa. Họ hoan hô, reo mừng, không nói thành lời. Nhiều thanh niên nhoài ra khỏi các toa tàu hô to: Hoan hô, hoan hô đã có giải pháp. Ý là đã có giải pháp để chấm dứt chiến tranh sau bao nhiêu năm chiến tranh tàn khốc. Đoàn xe cứ nối đuôi nhau đi mãi. Gió từ biển, từ những cánh đồng vùng Nam Định, Hà Nam thổi mát rượi. Từng bầy cò trắng vỗ cánh bay cao. Lòng chúng tôí xốn xang, tự hào, sung sướng, nghĩ tới quãng đường mình sắp qua, nơi mình sắp tới, công việc mình sắp làm.

        Trước ngày lên đường, bác Tố Hữu tặng mỗi người một bản bài thơ: "Việt Nam máu và hoa" dưới đề dòng chữ: "Thân tặng các đồng chí lên đường vào cuộc chiến đấu mới". Chúng tôi hiểu nhiệm vụ sắp tới, không kém phần gay go gian khổ.

        Xe tới Thanh Hóa vào bốn giờ chiều. Dán tỉnh Thanh cũng như ở nhiều miền quê khác, phải thắt lưng buộc bụng, chi viện cho tiền tuyến, gánh chịu những trận bom đạn của đế quốc Mỹ. Họ mừng vui, nhìn chúng tôi và đoán những diễn biến mới của cuộc kháng chiến. Ở Thanh Hóa đến tám giờ tối thì nhận được điện của Hà Nội: "Tất cả các trưởng, phó đoàn của các khu vực cùng tất cả anh em phiên dịch quay về Hà Nội ngay trong đêm để đi Sài Gòn bằng máy bay. Khả năng Hiệp định Pa-ri sẽ được ký nay mai. Anh em còn lại tiếp tục đi bằng ô tô".

        Thời gian này, Đài tiếng nói Việt Nam chốc chốc lại hát bài "Việt Nam trên đường chúng ta đi" làm rung động lòng người và mở ra trước mắt chúng ta một chân trời mới. Vài ngày sau, chúng tôi vào Sài Gòn bằng hai chiếc máy bay C130 của Mỹ. Tôi còn nhớ một thủ trưởng đoàn nói: "Các đồng chí vào Sài Gòn lần này, giống như Nguyễn Huệ đưa quân vào thành Thăng Long năm xưa".

        Từ tháng 3 năm 1973 đến 30 tháng 4 năm 1975, nhừng năm tháng ấy, để lại trong lòng mỗi thành viên của đoàn những kỷ niệm tốt đẹp và sâu sắc. Tôi xin ghi lại những gì đã diễn ra, ghi sâu vào tâm trí tôi sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975.

        Độc lập và tự do đến với trại Đa-vít sớm hơn bên ngoài khoảng mấy tiếng đồng hồ. Khoảng trên 9 giờ sáng, lá cờ của Mặt trận giải phóng được kéo lên đỉnh tháp nước mà không có phản kháng nào từ phía đối phương. Ngước lên, thấy cờ, nước mắt tôi cứ ứa ra, không sao ngăn nổi. Tôi nghĩ tới sự hy sinh, mất mát của toàn Đảng, toàn đân và toàn quân ta gần hai chục năm qua trong cuộc kháng chiến chống Mỹ ác liệt này. Thậm chí trước giờ toàn thắng, một khoảnh khắc thời gian, cũng có bao nhiêu người phải ngã xuống.

    


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Ba, 2012, 08:02:08 pm
        Ngay sau khi lá cờ cách mạng tung bay trên tháp nước giữa trại Đa-vít. Cánh quân giải phóng, khoảng hai mươi em, tuổi mười tám, đôi mươi, giọng nói miền Bắc, xé hàng rào sân bay Tân Sân Nhất, băng vào doanh trại của đoàn. Người các em đen sạm vì nắng mưa, bụi đường, đi dép cao su, trong mang tất, lưng đèo bòng, toòng teng vài bộ quần áo, thắt lưng chặt đạn B40, tay cầm súng, chiếm các ụ, nóc hầm, gốc cây. Các em được lệnh tiêu diệt địch và bảo vệ đoàn. Lúc đó tôi không rõ các em thuộc quân đoàn nào, sư đoàn nào, tiểu đoàn nào. Vì sinh mạng, cuộc sống của chúng tôi, mà các em có thể có người đã hy sinh. Vì sự sống còn của chúng tôi, trong khi vạch kế hoạch chiến đấu, Bộ tư lệnh chiến dịch phải đắn đo, suy nghĩ, chỉnh pháo, căn chính xác tọa độ để không gây thương vong cho chúng tôi Nghĩ đến đây lòng tôi se lại và biết ơn. Nghĩa tình của các chiến hữu chiến đấu trên cùng một mặt trận đánh Mỹ là như thế đó. Thật là xúc động. Mười giờ, tôi đang ở cổng gác, thấy một đoàn người trong đó có Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn, Đại tá Võ Đông Giang tiễn ba ông Nghị của Sài Gòn. Đó là giáo sư Châu Tâm Luân, linh mục Chân Tín, luật sư Trần Ngọc Liễn cùng nhau đi trên con đường ra cổng.

        Tôi nghĩ ngay một điều là, chính chiều tối hôm qua (29-4-1975) họ còn là những người của phía bên kia xin vào gặp đại diện phái đoàn quân sự của cách mạng để thăm dò, đề nghị với phái đoàn ta điều gì đó...

        Khi họ vừa vào thì pháo ta bắn dữ dội vào những điểm mà quân ta tấn công. Họ xin ở lại với chúng ta, chờ cho khi ngớt tiếng súng thì ra về. Nhưng quân ta tấn công dồn dập vì đêm nay cuộc tổng công kích vào Sài Gòn hết sức mãnh liệt.

        Thế là họ thấy ra về sẽ nguy hiểm nên xin ở trong căn hầm của Quân giải phóng suốt cả đêm 29 tháng 4 năm 1975.

        Sự kiện này thật là lý thú. Nằm trong hầm của ta, chắc chắn là họ theo dõi được nhịp độ thần tốc cuộc tấn công của quân ta vào sào huyệt cuối cùng của kẻ thù.

        Rồi miên man, tôi nghĩ tới nghĩ lui. Khi chúng ta mới vào cái trại Đa-vít này, kẻ thù bằng mọi mưu mô bỉ ổi, mọi hành động côn đồ để uy hiếp, dọa nạt, khiêu khích chúng ta. Chúng ra sức ngăn chặn những hoạt động của chúng ta và bằng mọi cách để hạn chế chúng ta tiếp xúc với phóng viên các cơ quan thông tấn báo chí và không tiếp xúc được với nhân dân Sài Gòn.

        Thế mà những ngày cuối cùng của chiến tranh, trụ sở của phái đoàn ta Ở trại Đa-vít lại biến thành nơi mà từ Đại sứ Mỹ Ma-tin đến những tên đầu sỏ nguy quân nguy quyền Sài Gòn dồn dập tìm đến để thăm dò, để cầu cạnh phái đoàn ta làm cầu nối báo cáo với Nhà nước ta để chúng mong gỡ gạc được phần nào sự thất bại thảm hại của chúng.

        Những suy nghĩ này của tôi nó xuất hiện ngay trong buổi sáng sớm ngày 30 tháng 4 năm 1975 và tôi rất lấy làm sung sướng tự hào trong giờ phút đầu tiên của ngày toàn thắng. Mười giờ bốn mươi phút, đồng chí thiếu tướng trưởng đoàn Hung-ga-ri trong ủy ban Quốc tế chen, lách đám đông ngoài phố vào được doanh trại, chúc mừng thắng lợi của quân dân ta. ông bỏ qua những thông lệ ngoại giao, bế bổng Đại tá Võ Đông Giang, đi một vòng từ đầu nhà đến cuối nhà. Trong ba năm từ 28 tháng 1 năm 1973 đến 30 tháng 4 năm 1975; hai phái đoàn Hung-ga-ri và Ba Lan đã cùng Ban Liên hợp quân sự Trung ương đấu tranh tích cực để thi hành Hiệp định. Đoàn Hung-ga-ri nhiệt tình, sôi nổi, giúp ta tinh thần lẫn vật chất khi phía chính quyền Sài Gòn gây khó khăn cho ta. Trong giờ phút gay go, ác liệt nhất của chiến dịch Hồ Chí Minh, hai phái đoàn bạn vẫn ở cạnh đoàn ta. Chỉ có bạn bè thực sự chân thành thì mới có cuộc hội ngộ như buổi sáng hôm ấy.

        Mười một giờ ba mươi phút, chúng tôi được đoàn thông báo: "Vào mười hai giờ ba mươi hôm nay sẽ có chuyến bay từ Tân Sân Nhất ra Hà Nội, anh em tranh thủ biên thư về nhà". Tôi vội vàng ghi được hai dòng gửi cho bố mẹ vợ vì không có thời gian biên cho bố mẹ mình, mặt khác lúc này còn bao nhiêu suy nghĩ bung lung. Tôi báo tin cho gia đình biết là miền Nam đã hoàn toàn được giải phóng, tôi vẫn còn sống trong trại Đa-vít.

        Hơn một trăm năm nay, hôm nay mới có chuyến bay cửa ta đi suốt từ Nam ra Bắc. Chuyến bay mở đầu, sau hơn một giờ đất nước được hoàn toàn giải phóng. Chuyến bay báo tin cho toàn dân biết đất nước đã hoàn toàn được giải phóng.

        Tôi tin rằng đã có nhiều đồng chí trong hai phái đoàn quân sự của chúng ta và các nhà văn, nhà báo viết về Ban Liên hợp quân sự Trung ương cho cháu, con mai sau biết. Viết về những người con ung dung, thư thái trong tác phong, thông minh, nhanh nhẹn, kiên cường trong đấu tranh với địch; chung thủy, vẹn tròn với dân với Đảng, để lại dấu ấn trong lịch sử đấu tranh của dân tộc.

        Riêng với tôi vào dịp 30 năm toàn thắng, Bắc Nam sum họp một nhà xin ghi lại vài dòng cảm nghĩ mà tôi thấy là không bao giờ có thể quên được buổi sáng 30 tháng 4 năm 1975 ở trại Đa-vít, Tân Sơn Nhất.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Ba, 2012, 09:13:53 pm

ỦY BAN QUỐC TẾ
[1]
     
I

        Song song với cơ quan Liên hợp quân sự, Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát cũng được thành lập theo quy định của Điều 18 Hiệp định Pa-ri và của Nghị định thư về Ủy ban Quốc tế, với nhiệm vụ kiểm soát và giám sát việc thi hành một số điều khoản của Hiệp định bằng cách:

        "- Theo dõi việc thực hìện qua liên lạc với các bên và quan sát tại chỗ ở những nơi cần thiết;

        - Điều tra các vụ vi phạm những điều khoản thuộc thẩm quyền kiểm soát và giám sát của ủy ban;

        - Khi cần thiết, hợp tác với Ban Liên hợp quân sự trong việc ngăn ngừa và phát hiện vi phạm các điều khoản nói trên".

        Ủy ban Quốc tế "sẽ điều tra những vụ vi phạm các điều khoản nói trong Điều 18 của Hiệp định theo yêu cầu của Ban Liên hợp quân sự bốn bên, hoặc của Ban Liên hợp quân sự hai bên, hoặc của bất cứ bên nào, hoặc đối với Điều 9b của Hiệp định về tổng tuyển cử của Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc, hoặc trong bất cứ trường hợp nào mà Ủy ban Quốc tế có đầy đủ căn cứ khác để cho rằng đã xảy ra vi phạm đối với các điều khoản đó"... Khi tiến hành nhiệm vụ này, Ủy ban Quốc tế sẽ hành động với sự giúp đỡ và hợp tác cần thiết của các bên có liên quan".

        Ủy ban Quốc tế "làm việc theo nguyên tắc hiệp thương và nhất trí", ".., các bản báo cáo của Ủy ban Quốc tế phải được sự nhất trí thỏa thuận của đại diện tất cả bốn thành viên. Trong trường hợp không có sự nhất trí thì Ủy ban sẽ chuyển các ý kiến khác nhau cho bốn bên.., hoặc cho hai bên miền Nam Việt Nam.., nhưng không được coi đó là báo cáo của ủy ban". "Ủy ban Quốc tế và mỗi tổ của Ủy ban Quốc tế hành động như một cơ quan thống nhất ba gồm đại biểu của tất cả bốn thành víên".

        Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát gồm đại điện của bốn nước: Ba Lan, Ca-na-đa, Hung-ga-ri, In-đô-nê-xi-a (Ba Lan và Hung-ga-ri do phía ta đề cử, Ca-na-đa và ln- đô nê-xi-a do phía Mỹ đề cử, và được bốn bên ký kết Hiệp định thỏa thuận mời). Về sau Ca-na-đa rút lui nửa chừng, với lý do Ủy ban Quốc tế hoạt động không hiệu quả, bốn bên lại tham khảo nhau và thỏa thuận mời I-răng thay thế.

        Các thành viên của Ủy ban Quốc tế "luân phiên làm chủ tịch trong từng thời gian do Ủy ban Quốc tế quy định". Sau khi thành lập, Ủy ban đã thống nhất thời gian làm chủ tịch luân phiên là một tháng. (Khác với Ủy ban Quốc tế thời Hiệp định Giơ-ne-vơ: hồi đó chỉ có ba nước: Ấn Độ, Ba Lan, Ca-na-đa, Ấn Độ làm chủ tịch cố định).

        Trụ sở Ủy ban Quốc tế đặt tại Sài Gòn (12 Trần Quốc Toản, sau giải phóng là trụ sở Ủy ban nhân dân quận 10 trên đường 3 tháng 2, nay là khu khách sạn Kỳ Hòa). Cũng như Ban Liên hợp quân sự, dưới ủy ban chung có 7 tổ Ủy ban Quốc tế khu vực đóng tại Huế, (I), Đà Nẵng (II), Plây Cu (IlI), Phan Thiết (IV), Biên Hòa (V), Mỹ Tho (VI) Cần Thơ (VII), và 26 tổ hoạt động ở địa phương và đóng cùng nơi với các tổ Liên hợp quân sự từ Quảng Trị đến Quản Long (Cà Mau). Ngoài ra, Ủy ban Quốc tế còn được cử ba tổ cho khu vực Sài Gòn - Gia Định, thêm 12 tổ địa phương Ở Gio Linh (phía nam giới tuyến quân sự tạm thời), Lao Bảo (Quảng Trị), Bến Hét (Kon Tum), Đức Cơ (Gía Lai), Chu Lai (Quảng Ngãi), Quy Nhơn (Bình Định), Nha Trang, Vũng Tàu, Xa Mát (Tây Ninh), sân bay Biên Hòa, Hồng Ngự (Đồng Tháp), Cần Thơ; bảy tổ cửa khẩu (đóng ở những nơi do hai bên miền Nam Việt Nam chọn để đưa vũ khí và dụng cụ chiến tranh vào thay thế; bảy tổ kiểm soát và giám sát việc trao trả người bị bắt.

        Mỗi đoàn thành viên Ủy ban Quốc tế được có 300 người, gồm một bộ phận cán bộ nhân viên ngoại giao và dân sự, một bộ phận quân sự, chủ yếu là sĩ quan. Đứng đầu là một đại sứ, một phó trưởng đoàn dân sự và một cấp tướng phó trưởng đoàn kiêm trưởng bộ phận quân sự.

        Các đại sứ trưởng đoàn được phía Sài Gòn bố trí ở biệt thự dành riêng (riêng Đại sứ Hung-ga-ri ở khách sạn), các thành viên dân sự của các đoàn ở rải rác trong trung tâm thành phố, các bộ phận quân sự ở tập trung từng đoàn trong khu vực Tân Sơn Nhất, nhưng họ được tự do đi lại ra vào thành phố mà không bị vây hãm như các đoàn đại biểu của ta.

        Trong thời gian đầu Ủy ban Quốc tế triển khai tổ chức hầu khắp mạng lưới được quy định. Về sau do việc thi hành Hiệp định ngày càng trục trặc, từ đó nảy sinh khó khăn trong việc bảo đảm an toàn, mặt khác do bị hạn chế về kinh phí nên Ủy ban rút bớt một số tổ xa xôi hẻo lánh như Bến Hét (Kon Tum), Đức Cơ (Gia Lai), v.v.., và rút bớt số người của các đoàn.

        Từ tháng 1 năm 1973 đến tháng 4 năm 1975, mỗi đoàn thành viên Ủy ban Quốc tế (trừ Đoàn Ca-na-đa rút sớm và Đoàn I-ran đến sau) thay quân và nhân viên đến hai lần, đón ba lượt đại sứ trưởng đoàn và ba lượt cấp tướng phó trưởng đoàn kiêm trưởng bộ phận quân sự.
-----------------
[1] Trích trong cuốn: "Ban Lìên hợp quân sự và trại Đa-vít những tháng ngày...". Nxb. Quân đội nhân dân. H.1997
  

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/089.jpg)
Đồng chí Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn trưởng đoàn CPCMLTCHMNVN tiếp đồng
chí thiếu tướng trưởng đoàn  Hung ga ri năm 1974


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Ba, 2012, 09:16:55 pm

II

        Ủy ban Quốc tế bắt đầu hoạt động cùng lúc với Ban Liên hợp quân sự bốn bên. Trong thời gian 60 ngày của Ban Liên hợp quân sự bốn bên, Ủy ban Quốc tế tập trung làm nhiệm vụ kiểm soát và giám sát một số công việc nổi lên do các bên ký kết Hiệp định cùng bảo đảm thực hiện: rút quân Mỹ và quân Nam Triều Tiên, trao trả nhân viên quân sự của các bên và thường dân nước ngoài bị bắt và giam giữ. Trong thời kỳ này chưa có vấn đề gì gay cấn lớn giữa các đoàn trong nội bộ Ủy ban Quốc tế cũng như giữa ủy ban với các bên thuộc Ban Liên hợp quân sự. Các tổ của Ủy ban Quốc tế đã được cử đi kiểm soát và giám sát thông suốt các chuyến trao trả tại các địa điểm do: Ban Liên hợp quân sự bốn bên thỏa thuận, kiểm soát và giám sát thường xuyên các đợt rút quân Mỹ và quân Nam Triều Tiên tại các sân bay Đà Nẵng, Nha Trang và Tân SơnNhất, và đã chứng kiến toán quân Mỹ cuối cùng rời khỏi miền Nam Việt Nam tại sân bay Tân Sơn Nhất ngày 27 tháng 4 năm 1973.

        Qua thời kỳ Ban Liên hợp quân sự hai bên, Ủy ban Quốc tế chỉ còn thực hiện được một phần rất nhỏ nhiệm vụ kiểm soát và giám sát vào đợt trao trả nhân viên dân sự giữa ta và phía Sài Gòn cuối tháng 2 đến đầu tháng 3 năm 1974 (còn với mấy chuyến trao trả trước thì không tham dự vì có chuyện đấu tranh với ta đòi mở rộng hành lang bay, sau đó Đoàn Ca-na-đa rút đi nên không đủ bốn thành viên).

        Từ buổi đầu Ban Liên hợp quân sự hai bên trở đi, việc thi hành Hiệp định Pa-ri càng trục trặc, phía Sài Gòn vi phạm ngày càng nghiêm trọng và toàn diện, trước hết là vi phạm ngừng bắn, cho nên hoạt động chủ yếu của Ban Liên hợp quân sự là hai bên không ngừng đấu tranh tố cáo nhau vi phạm Hiệp định.

        Nhiệm vụ nổi lên của Ủy ban Quốc tế từ lúc này, căn cứ vào chức năng theo quy định của Nghị định thư về Ủy ban Quốc tế, là điều tra vi phạm. Nhưng thực tế cho thấy nhiệm vụ này khó thực hiện biết chừng nào, có thể nói hầu như không thể thực hiện.

        Tháng 4 năm 1973, sau vụ Ly Tôn (vụ máy bay lên thẳng của Ủy ban Quốc tế rơi đã nói trên đây), Đoàn In-đô-nê-xi-a và Đoàn Ca-na-đa tập trung đòi phải mở rộng hành lang bay cho Ủy ban Quốc tế, trước nay quy định cho máy bay lên thẳng là 1km, máy bay có cánh 3 km, nay họ đòi rộng ra 8 đến l0km. Ta kiên quyết không chấp nhận. Do vụ đấu tranh về hành lang bay đó và do thiếu sự tham gia của hai đoàn trên nên Ủy ban Quốc tế không thực hiện việc kiểm soát và giám sát các chuyến trao trả nhân viên dân sự trong tháng 4 và tháng 5 năm 1973 (và phía Sài Gòn đã vin vào cớ này để đơn phương đình chỉ việc trao trả).

        Có một thời gian trong nội bộ Ủy ban Quốc tế không thống nhất quan điểm về tổ chức điều tra vi phạm: In-đô-nê-xi-a và Ca-na-đa (và sau này là In-đô-nê-xi-a và I-ran) cho rằng Ủy ban Quốc tế có thể hoạt động độc lập không cần sự phối hợp của Ban Liên hợp quân sự hai bên, và khi chưa có sự nhất trí trong nội bộ Ủy ban thì các đoàn thành viên có thề tự mình đi điều tra. Phía Sài Gòn đã lợi dụng tối đa quan điểm này, họ liên tiếp tố cáo ta, mời và tổ chức cho hai đoàn đó đi hết nơi này đến nơi khác, trong tháng 4 và tháng 5 năm 1973 họ còn bày trò gọi là bắt được "tù binh Bắc Việt", và Đoàn In-đô-nê-xi-a và Đoàn Ca-na-đa lại đơn phương đi điều tra về "tù binh Bắc Việt". Đoàn Ba Lan và Đoàn Hung-ga-ri kiên quyết chống lại kiểu hành động sai tráỉ này, nó ngược với cả tinh thần và lời văn của Hiệp định Pa-ri và Nghị định thư về Ủy ban Quốc tế. Đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Ban Liên hợp quân.sự hai bên trung ương cũng cực lực phản đối và tuyên bố rõ không thừa nhận tính hợp pháp và giá trị của các hành động đơn phương. Trưởng đoàn ta đến gặp riêng Đại sứ - Trưởng đoàn In-đô-nê-xi-a để thuyết phục, nói rõ quan điểm của ta và phân tích những hành động không lợi nói trên. Ta dựa vào tinh thần dân tộc chống đế quốc của In-đô-nê-xi-a và những điều giống nhau giữa hai dân tộc, từng bước tranh thủ được ông ta nhận ra cái nên và cái không nên.

        Ngày 28 tháng 6 năm 1973, hai sĩ quan Ca-na-đa ở Tổ Ủy ban Quốc tế Xuân Lộc tự ý đi vào vùng Cam Tiêm và không thấy về. Đoàn Ca-na-đa hoảng hốt. Tối ngày 29 tháng 6, Đại sứ Trưởng đoàn Ca-na-đa đến trại Đa-vít yêu cầu Trưởng đoàn ta giúp đỡ tìm kiếm. Sau đó ta được thông báo là hai viên sĩ quan kia đi vào vùng kiểm soát của ta không có phép nên lực lượng địa phương đã bắt giữ. Ngày 15 tháng 7 năm 1973, ta đã trao trả họ cho Đoàn Ca-na-đa tại khu vực Xuân Lộc, với điều kiện nghiêm ngặt là quân Sài Gòn phải ngừng các hoạt động quân sự trong vùng có liên quan.

        Trước đó, ngày 30 tháng 5 năm 1973, Đại sứ Trưởng đoàn Ca-na-đa đến thăm xã giao Trưởng đoàn ta và báo tin Chính phủ Ca-na-đa quyết định rút khỏi Ủy ban Quốc tế. Trong tháng 6 năm 1973, họ tuyên bố công khai việc đó và lần lượt rút sĩ quan và nhân viên ở các khu vực và các tổ địa phương về Sài Gòn. Ngày 19 tháng 7 năm 1973, Đại sứ và bộ phận cuối cùng của Đoàn Ca-na-đa rời Sài Gòn về nước.

        Các hoạt động của Ủy ban Quốc tế tiếp tục bị đình trệ đến đầu tháng 10 năm 1973 vì thiếu một thành viên.

        Các bên ký kết Hiệp định lại phải hiệp thương vởi nhau, sau đó thỏa thuận mời I-ran tham gia Ủy ban Quốc tế và nước này nhận lời. Ngày 29 tháng 8 năm 1973, đoàn tiền trạm I-ran đến Sài Gòn, cuối tháng 9 thì Đại sứ Trưởng đoàn cùng toàn đoàn đến đủ.

        Có thể nói từ tháng 4 năm 1973 (tức là không lâu sau khi Ban Liên hợp quân sự hai bên bắt đầu hoạt động) đến đầu tháng 10 năm 1973 Ủy ban Quốc tế chưa hoạt động bình thường đúng với tính chất là một cơ quan thống nhất bao gồm đại biểu của tất cả bốn thành viên, trừ một lần trong tháng 5 năm 1973 tổ chức điều tra vụ oanh tạc Lộc Tấn (phía đông bắc Lộc Ninh) do ta tố cáo.

         Sau khi Đoàn I-ran đến đủ và chính thức tham gia công việc từ tháng 10 năm 1973, Ủy ban Quốc tế đã có đủ điều kiện về tổ chức để thực hiện nhiệm vụ. Yêu cầu chính về hoạt động lúc này là điều tra vi phạm. Sự chia rẽ do quan điểm và hành động điều tra đơn phương rồi cũng được giải quyết, vì những hoạt động này rõ ràng trái với Hiệp định và Nghị định thư, nó không đưa lại kết quả gì, lại bị cả trong nội bộ ủy ban và phía ta phản đối nên cuối cùng cũng được chấm dứt.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/090.jpg)
Các bạn Hung ga ri sang thăm đoàn ta tại Đa-vít năm 1974


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Ba, 2012, 09:41:02 pm
        Vì sự tồn tại của ủy ban Quốc tế và vì danh dự nước mình trước dư luận, các đoàn thành viên phải chú ý giữ đoàn kết trong nội bộ Ủy ban, và cố gắng tránh để những khác biệt quan điểm gây chia rẽ đưa đến đổ vỡ. Vì vậy, mặc dù vẫn thường có những quan điểm khác nhau trong một số vấn đề, nhất là trong vấn đề đánh giá vi phạm đối với hai bên miền Nam Việt Nam, các đoàn thành viên Ủy ban Quốc tế vẫn cũng làm việc và giữ quan hệ hợp tác với nhau cho dến giai đoạn cuối cùng.

        Ủy ban Quốc tế nhận được rất nhiều công hàm của hai đoàn đại biểu tại Ban Liên hợp quân sự hai bên trung ương tố cáo nhau vi phạm và yêu cầu điều tra. Ủy ban cố thảo luận sắp xếp một bản danh sách các vụ cần và có thể xem xét tổ chức điều tra. Nhưng trong vấn đề tế nhị này (đỉều tra để đi đến kết luận bên này hay bên kia vi phạm) thật khó đạt được sự nhất trí cho nên suốt thời gian tồn tại của mình Ủy ban Quốc tế chỉ thực hiện được mấy cuộc điều tra vi phạm mà điển hình là các cuộc điều tra ở Phổ Phong (đã nêu trong phần trao trả nhân viên quân sự thời kỳ Ban Liên hợp quân sự bốn bên), Ở Lộc Tấn (ta tố cáo phía Sài Gòn cho máy bay oanh tạc) và ở Cai Lậy (phía Sài Gòn tố cáo ta pháo kích trường trung học).

        Trong tháng 5 năm 1973, máy bay đối phương nhiều lần đến ném bom xã Lộc Tấn phía đông bắc Lộc Ninh và một số nơi khác. Do ta yêu cầu mạnh mẽ và Đoàn Ba Lan và Đoàn Hung-ga-ri thúc đẩy, Ủy ban Quốc tế đã nhất trí cử một tổ đi Lộc Tấn. Đến quan sát tại chỗ, sĩ quan Ca-na-đa ghi nhận có hành động oanh tạc nhưng không có bằng chứng xác minh việc oanh tạc đó xảy ra trước hay sau ngày 27 tháng 1 năm 1973 tức là ngày ký Hiệp định Pa-ri. Tổ ủy ban Quốc tế trở về mà không đi đến được kết luận vi phạm.

        Tháng 3 năm 1974, phía Sài Gòn dựng lên chuyện trường trung học Cai Lậy (thuộc Mỹ Tho nay thuộc tỉnh Tiền Giang) bị lực lượng vũ trang của ta dùng súng cối pháo kích, và nhất thiết yêu cầu ủy ban Quốc tế điều tra. Đoàn ta tại Ban Liên hợp quân sự hai bên trung ương biết là chuyện được dàn dựng, nhưng nếu chỉ bác bỏ thôi thì không đủ thuyết phục nên quyết định đồng ý để Ủy ban Quốc tế điều tra, và cử sĩ quan liên lạc vững vàng trong ứng phó cùng đi. Đúng là có vết đạn súng cối thật, nhưng nó tản mạn tỏa ra tất cả các hướng. Sĩ quan Hung-ga-ri dựa vào đặc điểm này, phân tích về mặt kỹ thuật, nếu đây là một trận pháo kích thì đạn phải tập trung về một hướng theo chiều đường đạn từ trận địa bắn đi chứ không thể chĩa đều ra bốn hướng được, vì vậy không có bằng chứng gì xác minh là Quân giải phóng pháo kích. Và thế là lần này Tổ ủy ban Quốc tế cũng không kết luận được vi phạm. Bất mãn vì không quy lỗi được cho ta, đối phương cho bọn côn đồ gây sự, đập vỡ kính xe của các sĩ quan Ba Lan và Hung-ga-ri.

        Từ tháng 6 năm 1974 trở đi, sau khi ta đình chỉ các cuộc họp và các hoạt động thực tiễn chung với phía Sài Gòn tại Ban Liên hợp quân sự hai bên; Ủy ban Quốc tế không còn điều kiện để thực hiện đầy đủ chức năng kiểm soát và giám sát, điều tra vi phạm vì thiếu sự phối hợp của Ban Liên hợp quân sự (đây là nói về mặt nguyên tắc, còn về thực tế thì với tính chất cơ cấu của nó và với cục diện tình hình đang diễn biến ở miền Nam Việt Nam, dù Ban Liên hợp quân sự hai bên có tiếp tục hoạt động thì Ủy ban Quốc tế cũng khó làm gì đưa lại được kết quả thiết thực). Ủy ban Quốc tế chỉ còn chủ yếu làm một việc nội bộ với nhau và duy trì sự tồn tại của mình như một sự nhắc nhở quốc tế về Hiệp định Pa-ri.

        Từ sau khi ta đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột, với đà tan rã và rút chạy của quân Sài Gòn, các Tổ ủy ban Quốc tế ở các khu vực và địa phương phía bắc cũng rút cuốn chiếu về Sài Gòn.

        Trong trận đánh Buôn Ma Thuột ngày 11 tháng 3 năm 1975, quân ta có giữ một đại úy In-đô-nê-xi-a và một đại úy I-ran trong Tổ ủy ban Quốc tế ở đó. Đại sứ In-đô-nê-xi-a và Đại sứ I-răng đến trại Đa-vít nhờ Trưởng đoàn ta can thiệp xin trao trả cho họ. Phía ta đã chăm sóc hai sĩ quan trên chu đáo và cho đưa về Lộc Ninh. Ngày 15 tháng 4 năm 1975, một máy bay lên thẳng đặc biệt của Ủy ban Quốc tế được phép vào Lộc Ninh để làm các thủ tục chuẩn bị, ngày 17 tháng 4 một chuyến máy bay lên thẳng đặc biệt nữa đã vào đón hai sĩ quan đó về. Nhân có hai chuyến bay này, Đoàn ta đã kết hợp thực hiện hai chuyến liên lạc trực tiếp cuối cùng rất quan trọng với hậu phương trước khi chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu).

        Trong đợt tổng tấn công của quân ta vào Sài Gòn, bị bất ngờ trước tốc độ chiến sự, Đoàn In-đô-nê-xi-a và Đoàn I-ran cấp tốc về nước cùng với đội di tản của Mỹ, và Ủy ban Quốc tế đã bị động giải thể.

        Đoàn Ba Lan và Đoàn Hung-ga-ri vẫn bình tĩnh ở lại, vẫn giữ liên lạc với Đoàn ta tại trại Đa-vít cho đến lúc mạng điện thoại Sài Gòn bị tê liệt (29-4-1975). Bạn đã chứng kiến những giờ phút lịch sử của cuộc Tổng tiến công với hợp điểm của các cánh quân tiến vào giải phóng Sài Gòn, không ai bị thương vong.

        22 giờ đêm 30 tháng 4 năm 1975 đã có 2 phái viên Bộ Tư lệnh chiến dịch đến bắt liên lạc với 2 phái đoàn Ba Lan và Hung-ga-ri tại trụ sở của họ (nay là khách sạn Kỳ Hòa quận 10).

        Ngay sáng 1 tháng 5 năm 1975 ta đã bắt liên lạc lại với bạn. Trưởng đoàn ta ra khách sạn và biệt thự thăm các Đại sứ Trưởng đoàn. Tối 6 tháng 5 hai đoàn ta tại Tân Sơn Nhất mở tiệc chiêu đãi trọng thể và thân tình, ngày 7 tháng 5 năm 1975 tiễn bạn lên máy bay về nước.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/091.jpg)
Quốc khánh Hung ga ri 1973 tại Sài Gòn


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Ba, 2012, 09:42:54 pm

III

        Để giữ quan hệ với Ủy ban Quốc tế và với hai đoàn bạn, Đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Ban Liên hợp quân sự hai bên trung ương thành lập một bộ phận chuyên trách, Tiểu ban quốc tế do một phó trưởng đoàn được phằn công trực tiếp nắm.

        Việc tiếp xúc với hai đoàn bạn được thực hiện hầu như hàng ngày, chuyên viên của bạn vào cung cấp cho ta những thông tin mà bạn nắm được, nhận thông báo của cán bộ ta về tình hình chiến trường, thường xuyên trao đổi với ta về công việc. Hàng tuần hoặc khi có việt đột xuất, Trưởng phó đoàn ta vào Sài Gòn gặp Trưởng phó đoàn bạn, hoặc bạn vào trại Đa-vít gặp ta. Trong phần lớn các vấn đề bạn thống nhất quan điểm với ta, cố gắng bàn bạc đấu tranh trong nội bộ Ủy ban Quốc tế theo yêu cầu chính đáng của ta. Sự phối hợp chặt chẽ giữa bạn với ta trở thành một nền nếp tốt đẹp và có hiệu quả.

        Với Đoàn In-đô-nê-xi-a và Ca-na-đa (sau là I-ran) ta vẫn giữ liên lạc thường xuyên, cán bộ ta gặp gỡ trao đổi tình hình với chuyên viên họ khi cần thiết. Hàng tháng Phó trưởng đoàn ta tranh thủ đến từng đoàn thông báo tình hình chiến trường cho rộng rãi sĩ quan và cán bộ của họ. Trưởng đoàn ta cũng giữ tiếp xúc và thỉnh thoảng gặp gỡ Đại sứ Trưởng đoàn hoặc vị tướng phó trưởng đoàn quân sự.

        Với In-đô-nê-xi-a, do sự kiện Ly Tôn, thời gian đầu quan hệ có phần căng thẳng, họ muốn quy kết ta vi phạm, Bau đó họ chủ trương điều tra đơn phương, trong một số trường hợp họ có thiên về phía Sài Gòn. Nhưng đặc điểm dân tộc và hoàn cảnh lịch sử của họ cũng gần giống ta, giữa họ với ta không có lợi ích chiến lược đối địch nên dần dần ta cũng tranh thủ làm cho họ hiểu phần nào chính nghĩa của ta. Trong những lần đầu cán bộ ta đến giới thiệu tình hình cho đoàn họ, cán bộ và sĩ quan In-đô-nê-xi-a đặt những câu hỏi chứng tỏ họ không hiểu biết mấy về thực chất tình hình miền Nam Việt Nam và chịu ảnh hưởng khá nặng sự tuyên truyền xuyên tạc của đối phương. Các đồng chí ta đã nhân cơ hội giải thích làm cho họ thấy được sự thật, điều này rất có lợi, dần dần họ đã có cách nhìn nhận khách quan và đúng đắn hơn.

        I-ran cũng thuộc diện nưởc đang phát triển, họ ở xa, không có tranh chấp chính trị kinh tế gì với ta, nên ngoài quan hệ thân Mỹ và quan điểm theo phía phương Tây của họ (lúc đó I-ran còn ở dưới chính quyền vua Pahlevi), về mặt cá nhân ta cũng từng bước tranh thủ được.

        Quan hệ giữa ta với Ủy ban Quốc tế luôn giữ được đúng mức. Trong một số dịp ta mời họ đi thăm vùng ta:

        - Ngày 12 tháng 9 năm 1973, ta mời họ vào thăm Lộc Ninh một ngày. Lúc này Đoàn Ca-na-đa đã rút, chỉ còn ba đoàn nhưng đây chỉ là một chuyến thăm hữu nghị nên tuy không đủ bốn thành viên họ cũng vẫn đi. Trung tướng Trần Văn Trà đã tiếp sang trọng.

        - Từ 12 đến 14 tháng 11 năm 1973, Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời mời ủy ban thăm vùng giải phóng Đông Hà thuộc Quảng Trị. Lúc này đã đủ bốn thành viên. Cả bốn đại sứ và bốn tướng đều tham gia chuyến đi. Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình đã tiếp.
        - Ngoài ra Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã mời ủy ban ra thăm Hà Nội từ 29 tháng 1 đến 1 tháng 2 năm 1974.

        Các chuyến thăm đó đã gây ấn tượng tốt đối với họ, về rnặt cá nhân có cảm hóa thêm họ được một phần.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/021.jpg)

Các đồng chí lãnh đạo 2 đoàn tiếp Thiếu tướng trưởng đoàn Hung ga ri trong Ủy ban
Quốc tế tại trại Đa-vít

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/026.jpg)
Đoàn ta làm việc với Ủy ban Quốc tế

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/027.jpg)
Trung tướng Trần Văn Trà đi thăm đoàn Indonexia. Ảnh chụp lúc đi trên đường phố
Sài Gòn 1973


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Ba, 2012, 09:44:30 pm
        Một môi trường thuận lợi cho công tác tranh thủ hữu nghị của ta và cũng là những dịp để cán bộ các đoàn ta ở Tân Sơn Nhất có điều kiện đi vào phố Sài Gòn, là các cuộc chiêu đãi. Mỗi đoàn trong Ủy ban Quốc tế đều muốn thông qua hoạt động này đề cao vị trí của nước mình, và trong chừng mực khác nhau đều có ý tạo điều kiện cho những sự tiếp xúc giữa các bên, giữa các đối tượng. Trong các ngày kỷ niệm lớn của nước mình (Quốc khánh, Tết dân tộc, ngày quân đội, v.v...), các đại sứ trưởng đoàn đều tổ chức chiêu đãi trọng thể, tại biệt thự hoặc tại khách sạn, mời khách khá đông và luôn luôn mời cả phía ta (hai đoàn) và phía Sài Gòn tại Ban Liên hợp quân sự. Nhiều nhà báo cũng thường được mời. Nhiều lần đại sứ hai đoàn bạn còn mời một số nhân vật thuộc lực lượng thứ ba ở Sài Gòn đến dự để có dịp cho ta tiếp xúc. Trong một số trường hợp khác như thay đại sứ trưởng đoàn, thay tướng, họ cũng tổ chức chiêu đãi để tiễn người cũ, đón người mới.

        Về phần ta cũng vậy, dịp Tết cổ truyền, các ngày lễ của Việt Nam dân chủ cộng hòa, của Chính phủ Cách mạng lâm thời và Mặt trận Dân tộc giải phóng, hai đoàn ta tại Tân Sơn Nhất (tùy sự kiện mà Đoàn A hay Đoàn B đứng ra chủ trì) đều tổ chức chiêu đãi trọng thể tại trại Đa-vít, nhưng chỉ mời được các đoàn trong Ủy ban Quốc tế và các nhà báo, mà nhà báo cũng rất ít lần được phía Sài Gòn để cho vào dự. Được sự chi viện của Cục Chính trị Miền và Tổng cục Chính trị về văn công, trong các dịp này ta còn tổ chức biểu diễn văn nghệ, nhẹ nhàng nhưng cũng góp phần tranh thủ thiện cảm.

        Một hình thức khác để tăng cường hữu nghị là hoạt động thể thao. Tháng 8 năm 1973, nhân Quốc khánh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa hai đoàn ta tổ chức thi đấu môn bóng bàn, bóng chuyền, bóng rổ và quần vợt, mời hai đoàn bạn Ba Lan và Hung-ga-ri và Đoàn In-đô-nê-xi-a cùng dự. Họ đều vui vẻ và tích cực tham gia. Đại sứ In-đô-nê-xi-a nhiệt tình thi đấu bóng bàn. Từ đó trở đi thành tục lệ, mỗi đoàn đến dịp lễ, Tết đều đứng ra tổ chức và mời nhau cùng thi đấu. Các đại sứ, tướng tá và cán bộ cao cấp ai biết môn nào đều ra sức hưởng ứng. Đây là một loạt hoạt động có hiệu quả để tăng cường hiểu biết lẫn nhau, tạo không khí thoải mái trong tiếp xúc, góp phần cải thiện quan hệ làm việc.

        Trong thời gian ta đình chỉ các cuộc họp Ban Liên hợp quân sự hai bên, cả trong thời kỳ sôi động từ sau khi giải phóng Buôn Ma Thuột và Tây Nguyên, Đoàn In-đô-nê-xi-a và Đoàn I-ran vẫn giữ liên lạc và cử người thường xuyên tiếp xúc với ta tại trại Đa-vít cho đến ngày mở đầu chiến dịch Hồ Chí Minh.

        Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát được thành lập vào cuối tháng 1 năm 1973 đã tồn tại đến những ngày cuối tháng 4 năm 1975. Nó đã thực hiện được nhiệm vụ kiểm soát và giám sát việc rút quân Mỹ và quân nước ngoài theo Mỹ, trao trả nhân viên quân sự của các bên và thường dân nước ngoài bị bắt, trao trả một phần nhân viên dân sự hai bên miền Nam Việt Nam bị bắt và giam.

        Sau đó, trước tình hình tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu được Mỹ dung túng vi phạm tiến tới phá hoại Hiệp định Pa-ri ngày càng nghiêm trọng, Ủy ban Quốc tế không thể làm gì được để ngăn ngừa vi phạm và kết luận vi phạm. Sống trong vùng do phía Sài Gòn kiểm soát, dựa vào sự cung cấp và bảo đảm vật chất và phương tiện của đối phương, ủy ban này không thể tiến hành những hoạt động chủ động và những cuộc điều tra khách quan để xác định trách nhiệm của bên vi phạm và góp phần hạn chế vi phạm. Điều quan trọng nữa là, do cơ cấu thành phần của nó, Ủy ban Quốc tế không thể có một hành động hay kết luận nào nghiêng hẳn về phía có lợi cho ta hoặc cho phía bên kia.

        Điều này thể hiện so sánh lực lượng giữa các bên khi ký Hiệp định Pa-ri, ta không thể trông đợi tốt hơn nữa.

        Tuy nhiên vì Hiệp định Pa-n là một thắng lợi của ta và được Hội nghị quốc tế bảo đảm, sự có mặt và tồn tại của Ủy ban Quốc tế về cơ bản là có lợi cho ta, nó góp phần xác nhận vị trí của Chính phủ Cách mạng lâm thời và có tác dụng kiềm chế nhất định đối với phía Sài Gòn trong việc phá hoại Hiệp định.

        Hai đoàn bạn Ba Lan và Hung-ga-ri đã phối hợp chặt chẽ và ủng hộ ta trong nhiều trường hợp để bảo vệ Hiệp định Pa-ri, ngăn chặn và vô hiệu hóa những hành động đơn phương thiên vị trong Ủy ban Quốc tế chống lại ta, và không để cho phía đối tượng lợi dụng ưu thế vật chất mà chi phối hoạt động của Ủy ban Quốc tế.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/022.jpg)
Chụp ảnh lưu niệm với đoàn Hung ga ri 28-11-1973

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/023.jpg)
Đại sứ Indonexia và đại sứ Ba lan vừa đi thăm vùng giải phóng Quảng Trị về được
Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn đón tiếp tại trại Đa-vít


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Ba, 2012, 10:21:49 pm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/063.jpg)

CHÚNG TÔI SỐNG VÀ CHIẾN ĐẤU
GIỮA HANG Ổ KẺ THÙ

HÀ THANH MlNH (Hoàng Khánh)      
         
        Cuối năm 1972, sau nhừng thất bại nặng nề trên chiến trường miền Nam Việt Nam, đặc biệt là chiến dịch tập kích chiến lược bằng lực lượng không quân của đế quốc Mỹ đánh phá Hà Nội, Hải Phòng và vùng phụ cận đã bị quân và dân ta đập cho dập đầu, gẫy cánh. Biết không thể khuất phục nổi chúng ta bằng canh bạc cuối cùng sử dụng vũ lực, giặc Mỹ đành chịu thất bại, Ních-xơn cho Kít-sing-giơ sang Pa-ri cam kết những điều khoản mà chúng biết là trói chân, trói tay, bất lợi đối với cả thầy, lẫn tớ. Đó là văn bản "Hiệp định về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam".

        Chương VI của Hiệp định và các điều ghi trong Nghị định thư về ngừng bắn ở miền Nam Việt Nam và về các Ban Liên hợp quân sự đã quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan này. Do đó, Hiệp định Pa-ri được ký kết, có hiệu lực thi hành thì các Ban Liên hợp quân sự đã có thể thực hiện ngay nhiệm vụ của mình.

        Trước đó, Quân ủy Trung ương và Quân ủy Miền đã sớm chỉ đạo các cơ quan chuẩn bị tổ chức lực lượng, phương tiện vật chất để tiếp nhận nhiệm vụ khi hiệp định được ký kết. Hầu hết anh, chị em được điều động về làm nhiệm vụ trong Ban Liên hợp quân sự của cả hai phái đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là những người được rèn luyện, thử thách trong lửa đạn chiến trường. Nhiều người trên thân thể còn mang thương tích của cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Họ đón nhận nhiệm vụ mới với tinh thần phấn khởi, tin tưởng, xác định tốt trách nhiệm nặng nề, gian khổ và hiểm nguy như bước vào một trận đánh đầy bão đạn, mưa bom. Phía trước sẽ trực tiếp đối diện với kẻ thù Mỹ - nguy lắm mưu sâu, kế độc, tàn ác và xảo quyệt.

        Trụ sở của hai phái đoàn ta là trại Đa-vít. Quá trình đàm phán tại Pa-ri, phía Mỹ - nguy đã dày công toan tính để bố trí nơi làm việc và sinh hoạt của hai phái đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại trại Đa-vít nằm lọt trong căn cứ quân sự sân bay Tân Sơn Nhất Nơi đây, được Mỹ - nguy bố phòng cẩn mật nhất vì trụ sở của Bộ chỉ huy quân sự Mỹ (Lầu Năm Góc phương Đông) chỉ cách khoảng một cây số. Bộ tổng tham mưu nguy cách hơn một cây số đường chim bay. Từ đây vào trung tâm Sài Gòn chưa tới mười cây số. Thành phố Sài Gòn tập trung cả bộ máy điều hành chiến tranh, các cơ quan đầu não phản động nhất của địch, đây là sào huyệt cuối cùng cho cả thầy lẫn tớ ẩn náu khi bị lực lượng cách mạng tiến công. Nỗi ám ảnh của cuộc Tổng tiến công và nổi dậỵ mùa Xuân Mậu Thân như còn ở quanh đây. Hơn thế, Mỹ - nguy không muốn sự có mặt bằng xương, bằng thịt, đi lại công khai của cán bộ, chiến sĩ ta ngay tại hang ổ của chúng. Vì như vậy, mặc nhiên Mỹ - ngụy phải thừa nhận thất bại trên chiến trường mới có sự kiện này.

        Ngày 28 tháng 1 năm 1973, ngày đầu tiên Hiệp định Pa-ri có hiệu lực, Mỹ - ngụy đã phải chịu thất bại khi chúng lật lọng dùng máy bay ném bom bắn phá sân bay Thiện Ngôn, nơi chúng sẽ đón phái đoàn quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, do Trung tướng Trần Văn Trà làm trưởng đoàn vào Tân Sơn Nhất làm nhiệm vụ của Ban liên hợp quân sự. Nhờ tinh thần cảnh giác cao, biết rõ bản chất đê hèn, tráo trở của kẻ thù nên chúng ta không bị tổn thất gì.

        Tiếp đó, tổ tiền trạm từ Hà Nội vào đến sân bay Tân Sơn Nhất, Mỹ - ngụy đòi chúng ta phải làm "thủ tục nhập cảnh". Người Việt Nam, đi lại trên đất nước quê hương mình mà phải làm thủ tục như người nước ngoài? Thật nực cười! Cả hai đoàn ta cương quyết phản đối, không chịu "làm thủ tục nhập cảnh". Họ lên máy bay Mỹ, ngồi ăn lương khô và tiếp tục phản đối Mỹ - nguy cản trở việc thi hành Hiệp định. Biết không thể làm thay đổi được lập trường của hai tổ tiền trạm này, bọn chúng phải nhượng bộ, mời anh em ta lên xe về trại Đa-vít. Trước khi lên xe, Mỹ - nguy lại giở trò bỉ ổi khác, bọn chúng đeo băng trắng trên cánh tay, cắm cờ trắng trên đầu xe, chúng giải thích "Đây là cờ của Ban Liên hợp quân sự". Thấy vậy, hai tổ tiền trạm ta kiên quyết không lên xe. Chúng buộc phải cắt bỏ cờ trắng. Khi đó ta mới lên xe về trụ sở.

        Trại Đa-vít là một doanh trại nằm cạnh đường băng sân bay Tân Sơn Nhất. Từ đây, quan sát xung quanh mớí thấy được thủ đoạn của Mỹ - nguy định cô lập chúng ta. Chúng không để cho nhân dân Sài Gòn có điều kiện tiếp xúc với cán bộ, chiến sĩ ta. Các vọng gác tầng tầng, lớp lớp, có công khai, cả bí mật giám sát mọi hoạt động của chúng ta trong khu vực đóng quân. Các loại phương tiện kỹ thuật hiện đại nhất của Mỹ được áp dụng triệt để vào việc quan sát, thu thập thông tin về những hoạt động của ta trong trụ sở của hai đoàn.

        Sân bay Tân Sơn Nhất, một sân bay nhộn nhịp nhất khu vực Đông Nam Á cứ năm phút có một chuyến máy bay hạ cánh hoặc cất cánh. Cả ngày và đêm inh tai nhức óc vì tiếng ồn. Giấc ngủ luôn chập chờn vì những âm thanh của động cơ máy bay rít mạnh khi vọt lên bầu trời. Phần lớn những chuyến bay này chúng đi đánh phá vùng giải phóng của chúng ta. Mỗi lần có máy bay cất cánh là một lần Mỹ - nguy đi gây tội ác với đồng bào ta ở một nơi nào đó (?). Đòn tra tấn bằng tiếng ồn kéo dài quanh năm, suốt tháng, lâu dần mọi người cũng thành quen. Bọn chúng cho rằng trụ sở của hai phái đoàn ta đặt vào địa điểm này thì "Việt cộng sẽ không tài nào tiến công Sài Gòn được!".



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Ba, 2012, 11:01:59 pm

        Bọn chúng đã lầm? Chúng ta vào đây đâu phải để tiến công chúng bằng quân sự với một lực lượng như thế này. Cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, bất kể nơi đâu có bọn xâm lược Mỹ và bè lũ tay sai, Ở đó sẽ có tiến công. Chúng ta đánh chúng bằng đủ loại vũ khí, đến cả con ong, ngọn tre, hòn đá còn được dùng để tiến công thì việc ta đóng trụ sở ở đây không cần thiết phải sử dụng vào mục đích đó. Chúng ta vào đây để buộc Mỹ - nguy phải nghiêm chỉnh thi hành những điều khoản đã cam kết trong Hiệp định Pa-ri, kiểm soát và giám sát việc rút hết quân Mỹ, quân chư hầu và phương tiện chiến tranh của Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam. Ngày 29 tháng 3 năm 1973, tên xâm lược Mỹ cuối cùng đã phải rút khỏi miền Nam Việt Nam dưới sự giám sát của chúng ta. Ta đã đòi chúng phải trao trả hàng chục nghìn đồng chí, đồng bào yêu nước của ta hiện bị chúng giam cầm, đọa đày nơi tù ngục. Nhưng để hạn chế những ảnh hưởng của cách mạng, thắng lợi bước đầu của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc mà nhân dân ta đã bền bỉ chiến đấu suốt mấy chục năm ròng thì việc Mỹ - nguy vây hãm, cản trở mọi hoạt động của chúng ta trong vùng chúng tạm thời kiểm soát là lẽ đương nhiên. Chúng sẽ không từ một thủ đoạn đê hèn nào, bất chấp luân thường đạo lý và luật pháp quốc tế để nhằm đạt được ý đồ đó.

        Việc đi lại của ta trong thành phố Sài Gòn bị chúng đặc biệt chú ý. Mỗi lần phải vào trung tâm thành phố để họp bàn, trao đổi, dự tiệc mời chiêu đãi hoặc trao công hàm cho ủy ban Quốc tế, tùy theo số lượng, người và xe của ta, chúng sẽ bố trí lực lượng "hộ tống" thích hợp nhằm khống chế, giám sát chặt chẽ suốt chặng đường đi và về trụ sở.

        Chỉ một xe ô tô, trên xe có hai người của ta, sĩ quan liên lạc và một đồng chí phiên dịch, cùng ngồi trong xe này có một nhân viên an ninh quân đội ngụy, còn lái xe thường là người của "Phủ đặc ủy tình báo" hoặc cơ quan an ninh quân đội ngụy. Chúng ngồi trên xe để giám sát anh em ta. Chúng bố trí hai xe Jeép Mỹ đi "hộ tống", một chiếc đi trước, một chiếc đi sau chiếc xe có hai người của ta. Mỗi xe đó đều có đủ bốn tên quân cảnh, một tên lái xe, một tên sử dụng máy vô tuyến điện léo nhéo, luôn mồm từ khi chuẩn bị ra đi cho đến lúc quay trở về trại Đa-vít hai tên còn lại lăm lăm súng AR15 trên tay, sẵn sàng nhả đạn vào chúng tôi.

        Lần nào cũng vậy, không hề thay đổi, dần dần không ai lạ lẫm gì với chuyện này. Có khi ngồi vào xe rồi, chưa đủ "bạn đồng hành bất đắc dĩ" ấy, chúng tôi thấy như thiếu một thứ gì đó(!). Mấy nhân viên an ninh ngụy thấy lủng củng người, xe và trang bị mỗi lần đi với hai anh em ta, có người tỏ vẻ lấy lòng, ghé vào tai chúng tôi với thái độ cẩn trọng: "Quý vị đi như thế này oai hơn Tổng thống của chúng tôi đấy!". Trên đường đi, ngoài hai xe Jeép "hộ tống” trước và sau, còn có các lực lượng cảnh sát, an ninh nổi, chìm "bảo vệ". Phía trước đầu xe cắm lá cờ của Ban Liên hợp quân sự màu da cam có số "4” nhỏ. Lâu ngày, mưa nắng làm cho lá cờ chuyển sang màu đỏ tươi, phần phật tung bay trong gió trông rất đẹp. Nhân dân đi trên đường thấy đoàn xe này đi qua là vẫy tay chào. Ngồi trong xe chúng tôi đã nghĩ đến ngày toàn thắng được hòa vào dòng người đang đi trên đường phố kia.

        Những nhân viên an ninh và quân cảnh ngụy rất sợ tình huống phải dừng xe dọc đường. Khi đoàn xe đang đi tới các ngã ba, ngã tư dù đèn giao thông báo hiệu màu đỏ, mọi loại xe khác phải dừng ngay, còn đoàn xe của Ban Liên hợp quân sự vẫn đi thẳng. Bọn đi "hộ tống” rất lo lắng khi gặp tình huống phải dừng xe dọc đường. Dân chtmg được nhìn thấy Quân giải phóng rõ hơn, niềm vui, sự tin yêu bộc lộ rất rõ trong ánh mắt, nụ cười thật tươi và trìu mến. Những hình ảnh ấy, tình cảm ấy làm cho chúng tôi vô cùng xúc động, là nguồn sức mạnh động viên anh em ngày càng kiên định hơn, tin tưởng hơn vào ngày chiến thắng, càng mưu trí, sáng tạo và dũng cảm hơn trong đấu tranh trực diện với kẻ thù. Đó cũng là hậu phương, là chỗ dựa về tinh thần rất tin cậy của chúng tôi.

        Có lần bị tắc đường, xe ùn cả lại, không thể nào vượt lên hoặc tránh sang lối khác, xe dừng khá lâu. Anh em ta mở cửa xe, lên vỉa hè đứng. Nhân dân Sài Gòn được nhìn thấy Quân giải phóng giữa ban ngày, công khai, bằng xương, bằng thịt trước mắt mình. Niềm vui được biểu lộ công khai của đồng bào bất chấp sự soi mói canh chừng của cảnh sát, mật vụ nguy. Viên sĩ quan an ninh ngụy cùng đi trên xe rất lúng túng, vội mở của xe và yêu cầu chúng tôi lên xe. Hắn phân trần với vẻ mặt méo xệch: "Các ông ra ngoài xe, không đảm bảo an toàn, chúng tôi không chịu trách nhiệm?".

        Nhiều người đứng gần đó cười ồ lên. Có ai đứng trong đám đông nói to:"Sợ dân Sài Gòn biết Quân giải phóng cũng là người như mình chứ gì (?)".

        Một bà cụ khoảng bảy mươi tuổi, mái tóc đã bạc trắng, miệng cười móm mém, tiến lại gần đồng chí sĩ quan liên lạc và chậm rãi nói như để mọi người đứng quanh đó cùng nghe: "Mấy chú giải phóng đẹp vầy mà người ta biểu là bảy Việt cộng bám cọng đu đủ không gãy. Thiệt là xạo!". Nói xong, cụ cứ để cho nước mắt trào ra trên đôi gò má nhăn nheo. Nước mắt của niềm vui, của tình thương yêu ruột thịt. Chắc má cũng có con cháu đang cùng chúng tôi chiến đấu chống quân xâm lược Mỹ và bè lũ tay sai (?).

        Đường đã thông, xe đã chạy về hướng trung tâm thành phố, má vẫn còn đứng đó, nhìn theo chúng tôi, mái tóc bạc bay bay trong gió như vẫy chào.

        Trên bàn hội nghị, những trận chiến đấu trực diện thường diễn ra gay go, quyết liệt cần đến sự mưu trí, sáng tạo và dũng cảm. Bởi Mỹ - ngụy không cam chịu thất bại, ngay từ giờ phút đầu tiên Hiệp định Pa-ri có hiệu lực, Mỹ ngưy đã nổ súng lấn chiếm vùng giải phóng và hai đoàn đại biểu quân sự của cách mạng không thể triển khai trụ sở tại các khu vực trên toàn miền Nam Việt Nam. Nơi đây, dù không phải dùng đến súng đạn, không phải đổ máu nhựng tính chất quyết liệt gay gắt không kém. Nó đòi hỏi người tham chiến phải có đủ bản lĩnh chiến đấu, có một lập trường kiên định cách mạng tuyệt vời, hiểu sâu, biết rộng, đầy sáng tạo và trí tuệ. Ở đây mới đề cao được vị thế của cách mạng, tư thế của nhừng người chiến thắng. Đã có lúc kẻ thù phải công khai thừa nhận sự thấp hèn, thất thế của chúng ngay tại bàn hội nghị. Bản chất phản động tay sai bán nướe, lưu manh, côn đồ của chúng rất dễ dàng bộc lộ mỗi khi đuối lý trong tranh luận các chủ đề về yêu nưởc với bán nước, cách mạng với phản cách mạng, nhân đạo với vô nhân đạo, chống xâm lược với xâm lược, chính nghĩa và phi nghĩa.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Ba, 2012, 11:03:00 pm
        Đấu tranh trong quá trình trao trả giữa ta với địch là một cuộc chiến đấu hết sức căng thẳng. Lúc này phía Mỹ đã lẩn tránh, để cho phía ngụy đảm nhiệm. Họ không muốn trả lại cho ta hàng chục nghìn cán bộ, chiến sĩ ưu tú và hàng trăm nghìn đồng bào yêu nước bị chúng bắt, giam hãm trong tù nguc. Để đổi được đồng chí, đồng bào yêu nước của mình đang bị địch đọa đày cả thể xác lẫn tinh thần nơi lao tù là một sự phối hợp chặt chẽ của rất nhiều lực lượng, của các hướng tiến công, có công khai và cả bí mật. Một nhà báo nước ngoài đã không quản hiểm nguy cung cấp cho ta một bản danh sách người của chúng ta bị Mỹ - ngụy giam cầm. Đây là minh chứng hùng hồn nhất cho cuộc chiến đấu chính nghĩa của chúng ta được sự ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Địch buộc phải trao trả, khi ta có đủ chứng cứ chính xác về địa điểm, thời gian, con người. Thậm chí khi biết rằng không thể chối cãi được, chúng đã thay đổi ngay địa điểm giam giữ, tráo đổi tù binh, hèn hạ hơn, chúng còn đem những đồng chí, đồng bào yêu nước ưu tú nhất của cách mạng đi thủ tiêu, giết hại. Trong cuộc chiến đấu này, chúng ta đã buộc địch phải trao trả hàng chục nghìn cán bộ chiến sĩ quân giải phóng, hàng chục nghìn cán bộ dân chính và đồng bào yêu nước của ta. Nhìn những đồng chí, đồng bào yêu nước của ta trở về, trên thân hình còn mang đầy thương tích, bệnh tật, ốm yếu mà lòng chúng tôi xót xa. Nhưng trông họ vẫn hiên ngang, kiêu hãnh đi trong hàng ngũ. ánh mắt rực sáng đầy niềm tin chiến thắng như đang nâng bước họ đi trong sự chào đón của đồng chí, đồng bào vùng giải phóng Lộc Ninh và các địa điểm trao trả khác. Nhiều người giương cao lá cờ cách mạng của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, họ giương cao và hô lớn những băng biểu ngữ được viết vội từ trong nguc tù của giặc. "Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam muôn năml', "Chúng ta đã chiến thắng", "Đả đảo chế độ hà khắc của nhà tù Mỹ - nguy" hoặc "Đả đảo Mỹ - nguy đàn áp tù binh"...

        Những băng cờ, biểu ngữ dài, rộng như thế đã được anh chị em cất giấu rất khéo trước sự kiểm soát gắt gao của bọn "quân cảnh" nguy. Bọn chúng hết sức ngạc nhiên, tức tối, không hiểu bằng cách nào chúng đã lục soát đến thế vẫn không phát hiện được? Chúng làm sao hiểu được tình yêu quê hương đất nưởc, trung với Đảng hiếu với dân, sáng tạo mưu tn và dũng cảm tuyệt vời đã cho họ sức mạnh kỳ diệu để vượt qua mọi hiểm nguy luôn rình rập quanh mình. Họ trở về với tư thế của những người chiến thắng!

        Trong cuộc chiến đấu này, Mỹ - nguy không từ một thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt nào mà chúng không dùng đến. Thậm chí, chúng còn đưa cả bọn lưu manh, côn đồ đến hành hung cán bộ trao trả của chúng ta. Máu của các anh đã đố xuống để đổi lấy tự do cho đồng chí, đồng bào yêu nước của mình.

        Cuộc sống của chúng ta trong trại Đa-vít cũng chính là một trận chiến đấu liên tục đã làm kẻ thù phải nể sợ. Giừa vòng vây hãm dày đặc của kẻ thù, vài trăm cán bộ, chiến sĩ vẫn lạc quan cách mạng, tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng. Kẻ địch không chỉ vây hãm, kiềm chế những hoạt động thông thường của một phái đoàn ngoại giao. Chúng diễu võ dương oai sức mạnh của các loại vũ khí hiện đại để uy hiếp tinh thần, chúng khoe khoang mức sống vật chất dư thừa, cảnh vợ đẹp con khôn, chúng tìm mọi cách lôi kéo, rủ rê, dụ dỗ anh chị em ta. Mấy cô gái nhà thầu đem thực phẩm vào trại Đa-vít cho ta thực chất là nhân viên mật vụ, người của cơ quan chiến tranh tâm lý nguy hoặc "Thiên nga", "Phượng hoàng!' và "Phủ đặc ủy tình báo" ngụy... Chúng lân la dò hỏi, tìm hiểu quê quán, nghe cách phát âm của từng người để xác định nơi sinh trưởng, quay phim, chụp ảnh để bọn đầu hàng, phản bội nhận mặt... Chúng cố nắm bắt lai lịch, tâm lý, nhu cầu của từng người để tìm cách rủ rê, lôi kéo. Khi biết được quê quán, người thân, chúng cho người về địa phương để hù dọa, gạ gẫm. Có trường hợp bọn chúng về tận quê mời bà cụ thân sinh của đồng chí cán bộ lãnh đạo của đoàn ta lên Sài Gòn và hứa sẽ đưa vào trại Đa-vít gặp con trai. Người mẹ nào xa con lâu ngày lại không muốn gặp con? Nhưng mẹ đã cố nén lòng mình, trả lời thẳng với chúng: "Nếu các ông cho biết đó là con tôi, tôi xin cảm ơn? Con tôi đi theo cách mạng để đánh đuổi giặc Mỹ xâm lược, giờ Mỹ thua đã phải rút quân về nước rồi. Mấy ông không làm gì được lại về đây bày đặt, nhờ tôi lôi kéo nó. Nó có lý tưởng của nó, tôi làm sao biểu nó về được?".

        Biết không thể lợi dụng được mẹ, bọn chúng hậm hực, lủi thủi ra về, ném lại phía sau những câu chửi thề tục tĩu.

        Mặc cho chúng giở đủ nhừng trò ma giáo, anh chị em ta vẫn lạc quan yêu đời. Cuộc sống hàng ngày còn được điểm tô bằng những bông hoa. Cây giống đem từ miền Bắc vào trồng trong vạt đất nhỏ chỉ bằng nửa chiếc chiếu. Gọi là đất thực chất chỉ có cát vàng. Thứ vật liệu này quân Mỹ đưa từ đâu đến để san ủi mặt nền và nhồi vào bao tải làm công sự dã chiến. Chúng tôi xếp những bao cát dọc bên hông nhà làm chỗ chứa đất. Hàng ngày vét từng xẻng nhỏ mùn rác dưới rãnh nước lên, đưa vào các khoang để độn cho có khoảng cách với cát vàng và gieo hạt giống hoa, hoa đồng tiền và trồng cả hoa lay ơn tại các vạt đất đó. Nhãn lồng, vải thiều và mít cũng vậy. Phải đào hố sâu hơn, mùn rác được lấy từ ven hàng rào đem về. Sau một thời gian, hoa đã nở rất đẹp, nhãn, vải, mít và chuối lớn rất nhanh, có tán cây xanh trông càng vui mắt. Những luống rau non mơn mởn bổ sung vào bữa ăn hàng ngày. Chính hoa, rau, cây trái được trồng như vậy đủ nói lên với bạn bè trong ủy ban Quốc tế, các phóng viên nước ngoài rằng cuộc sống của chúng tôi lạc quan như vậy đó! Họ hết sức cảm phục. Buổi liên hoan văn nghệ đã có hoa tươi để tặng diễn viên sau tiết mục biểu diễn. Dù không nhiều, chỉ một bông cho từng người đã đủ để ai cũng thấy tự hào và vui sướng lắm rồi. Cuộc sống của chúng tôi nền nếp, khoa học và lãng mạn. Phải có một tâm hồn thanh cao và kiên định cách mạng thật sự mới tạo ra cho mình một cách sống đẹp đến thế?

        Cứ vào các tối thứ tư, thứ bảy hàng tuần, tổ chiếu phim lại căng phông lên, gió chiều lồng lộng thổi làm tấm phông no gió. Tối đó, chúng tôi được sống với những nhân vật trong phim, được thưởng thức những khúc ca, những điệu múa của mọi miền đất nước. Mỹ - ngụy nhiều lần gây trở ngại cho những chuyến bay liên lạc giữa Tân Sơn Nhất với Hà Nội. Chúng cắt chuyến bay? Ta không thay được phim mới, đem phim cũ ra chiếu lại, mọi người vẫn đến bãi xem rất đông. Nhiều người xem đến nỗi thuộc gần hết lời thoại của nhân vật trong phim. Chiều đến, mấy chiến sĩ cảnh vệ nôn nóng, thấy căng phông vội gọi thật to về phía mấy anh trong tổ chiếu phim: "Tối nay chiếu phim gì thế anh ơi?". Có tiếng trả lời cũng to không kém:"Trần Quốc Toản "lại" ra quân!". Tiếng "lại" được nhấn mạnh hơn gây sự chú ý cho người nghe. Cả hai bên cùng cười vang. Tiếng cười vọng sang phía bên kia hàng rào. Tên lính ngụy đứng gác trên chòi nghe thấy tiếng cười to giòn giã của mấy "ông giải phóng" cũng vui lây. Hắn vội quay đi để giấu nụ cười vừa bật ra từ khóe miệng.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Ba, 2012, 06:32:13 am
        Tối đó chúng tôi được xem phim "Trần Quốc Toản ra quân". Nghĩ tới mấy từ "Trần Quốc Toản "lại" ra quân" tự nhiên mọi người bỗng bật ra tiếng cười. Tiếng cười lạc quan mà thật ý nghĩa. Bởi lẽ khí thế đánh giặc Nguyên Mông đã chuyển thành khí thế đánh Mỹ, diệt ngụy ngày nay.

        Thỉnh thoảng chúng giở trò cắt điện, cắt nước. Trại Đa-vít mà thiếu hai thứ đó thì chẳng khác gì sa mạc. Cái nắng nóng như đổ lửa, sân xi măng, mái lợp tôn fibrô xi măng hấp thụ nhiệt và tỏa ra xung quanh làm cho mọi người như đang sống trong lò luyện gang. Mọi người được hun bằng nắng nóng như thế nên đều có nước da màu nâu bóng. Mặc chúng giở trò, mặc nắng nóng, ta đã khắc phục bằng cách chủ động đào giếng đề phòng nếu bị cắt nước dài ngày vẫn có đủ nước sử dụng.

        Đồng chí thiếu tướng, trưởng đoàn Hung-ga-ri trong ủy ban Quốc tế thấy chúng tôi sống đàng hoàng lạc quan như vậy đã mạnh dạn đề nghị với lãnh đạo của phái đoàn ta là vào ngày chủ nhật hàng tuần cho phép đồng chí đưa sĩ quan của mình sang trại Đa-vít giao lưu và vui chơi thể thao với chúng ta. Đồng chí giải thích: "Chúng tôi sang để học tập các đồng chí. Cuộc sống của các đồng chí đã hết sức khó khăn, Mỹ - ngụy luôn vây hãm ngặt nghèo thường gây trở ngại và hiểm nguy đêm ngày rình rập mà các đồng chí vẫn lạc quan yêu đời, tin tưởng ngày chiến thắng, có một cuộc sống thật đẹp, thật đàng hoàng. Chúng tôi nghĩ không học tập các đồng chí thì còn học ở đâu?

        Từ đó các đồng chí ở hai phái đoàn Hung-ga-ri và Ba Lan thường xuyên sang trại Đa-vít với chúng ta. Nhất là những khi địch gây trở ngại, uy hiếp an toàn của hai phái đoàn ta, các đồng chí có mặt ngay bên cạnh chúng tôi, kịp thời đấu tranh buộc chúng phải chấp hành theo Hiệp định! Những buổi giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể thao của chúng ta còn gây được thiện cảm với các phái đoàn khác trong ủy ban Quốc tế, họ đã hưởng ứng và tham gia đầy đủ. Họ càng hiểu và thấy rõ sự nghiệp cách mạng chính nghĩa của chúng ta.

        Những ngày tết truyền thống của dân tộc lại càng đặc biệt, từ Hà Nội chuyển vào trại Đa-vít bánh kẹo, trà, thuốc, quý nhất là cành đào Nhật Tân. Trên bàn 'thờ Tổ quốc đón xuân có đào và mai cùng khoe sắc mừng mùa xuân mới như thầm hẹn vớí mọi người Bắc Nam sẽ sớm Bum họp một nhà.

        Sau trận Buôn Ma Thuột, địch thất bại nặng nề trên toàn chiến trường miền Nam Việt Nam. Mất thế chiến lược chúng co cụm và rút bỏ nhiều vùng chiến thuật. Trại Đa-vít trở thành một địa chỉ cần thiết để Mỹ - ngụy thăm dò, liên hệ. Độ căng thẳng càng ngày càng tăng lên khi các mũi tiến công của ta đang nhằm hướng tiến về Sài Gòn.

        Chiến dịch Hồ Chí Minh mở màn, trại Đa-vít trở thành tiền đồn của chiến dịch và đã có những đóng góp đáng kể trong hoạt động chính trị, quân sự, tạo được lợi thế cho cách mạng qua đấu tranh ngoại giao và được dư luận trong nước, quốc tế đồng tình ủng hộ, cung cấp kịp thời những thông tin về tình hình địch phục vụ đắc lực cho cấp trên hoạch định kế hoạch tác chiến và đề ra hướng, mũi tiến công. Nhiều đồng chí từ trại Đa-vít trở về căn cứ cũng có mặt trong các binh đoàn tiến vào giải phóng Sài Gòn.

        Dưới sự lãnh đạo của Quân ủy Trung ương, Quân ủy Miền và Đảng ủy ta trong phái đoàn đã kịp thời tổ chức lực lượng, xây dựng trận địa chiến đấu ngay tại trại Đa-vít. Chỉ vởi những dụng cụ thô sơ, một ít xẻng cuốc, phần lớn là vật dụng trong doanh trại của địch như cọc màn bằng sắt, cánh tủ sắt, thang giường sắt đã được sử dụng triệt để vào việc đào hầm, hào giao thông. Sau ít ngày đào đắp, ta đã có hầm chỉ huy, hầm quân y, quân lương, hầm dự trữ nước và có thể di chuyển từ nhà nọ sang nhà kia bằng đường hào. Địch canh gác xung quanh nhưng không hề phát hiện được việc làm này của ta.

        Tốp máy bay A37 do phi công ta lái ném bom vào sân bay Tân Sơn Nhất cùng pháo lớn và hỏa tiễn của ta từ Nhơn Trạch đã rót trúng và xới tung đường băng. Những đám cháy, những tiếng nổ rung chuyển mặt đất. Chế độ Sài Gòn sắp tới giờ hấp hối. Sáng sớm ngày 30 tháng 4 năm 1975, địch từ trại huấn luyện lính dù tháo chạy, chúng vứt bỏ quần áo rằn ri dọc đường Lê Văn Lộc. Những chòi canh, những vọng gác xung quanh trại Đa-vít không còn bóng dáng tên lính nguy nào.

        9 giờ 30 phút sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, 1á cờ cách mạng của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ngạo nghễ tung bay trên đỉnh tháp nước của trại Đa-vít. Nhìn lên lá cờ chiến thắng, lòng mọi người rạo rực niềm vui. Khúc khải hoàn ca của dân tộc đã đến rồi. Nước mắt của niềm tự hào, của độc lập, tự do cứ trào ra.

        11 giờ 30 phút, Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng.

        Đất nước được Độc lập, Tự do và ngày sum họp đã trở thành hiện thực.

        Ngày 1 tháng 5 năm 1975, trên bàn làm việc của Cao Văn Viên - Tổng tham mưu trưởng quân đội nguy, quyển lịch công tác nằm chỏng chơ trên bàn. Một trang giấy để ngỏ với những dòng viết vội bản "Chỉ thị cho cấp dưới”. Đại ý của "chỉ thị" này là được quyền sử dụng các biện pháp sau đây đối với trại Đa-vít không cần xin chỉ thị cấp trên, chỉ cần phát hiện có tiếng súng từ đó bắn sang sân bay:

        - Dùng pháo và cối hủy diệt.

        - Cho xe tăng và bộ binh tràn ngập.

        - Ném bom.

        - Rải chất độc hóa học với điều kiện gió không thổi về phía thành phố.

        Bản "chỉ thị" nguy hiểm này được Viên ra lệnh trước lúc trốn chạy. Lý do để hủy diệt trại Đa-vít rất mơ hồ. Kẻ thực hiện chỉ cần tạo cớ có tiếng súng sẽ thẳng tay đánh phá vào trụ sở của phái đoàn ta. Từ ngày 26 tháng 4 năm 1975, khu vực sân bay Tân Sơn Nhất thiếu gì tiếng súng nổ (!). Cao Văn Viên ra lệnh như vậy sẽ khuyến khích cấp dưới có thể dễ dàng thực hiện "mật lệnh" của y.

        Ban lãnh đạo của phái đoàn ta cũng dự kiến những tình huõng tương tự mà kẻ thù sẽ giở trò và đã có những phương án tác chiến phù hợp. Địch không kịp thực hiện bản "chỉ thị" cho cấp dưới vì bọn chúng quá hoang mang, tan rã quá nhanh chóng trước sức mạnh tiến công của các binh đoàn chủ lực ta như vũ bão vào hang ổ kẻ thù. Chúng chỉ lo trốn chạy, vơ vét của cải, cứu lấy bản thân, nên mưu đồ thâm độc kia đành bỏ dở.

        Tính từ ngày hai phái đoàn ta vào để làm nhiệm vụ đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, là tám trăm hai mươi ba ngày đêm. Ngần ấy ngày đêm hên tục phải chiến đấu vởi kẻ thù tại giữa sào huyệt của chúng, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ quân đội nhân dân ta đã không quản hiểm nguy, không nề gian khó luôn xứng đáng với sự tin yêu của Đảng, của quân đội và nhân dân ta, giữ vững khí tiết, phẩm chất người chlến sĩ cách mạng, đó là "giàu sang không quyến rũ, uy vũ chẳng chuyển lay", ta sống vui tươi, lânh mạnh, lạc quan tín tưởng vào ngày thắng lợi cuối cùng. Cho tới ngày Đại thắng mùa Xuân, non sông thu về một mối, chúng tôi đã trở về vẹn nguyên cùng với các binh đoàn chủ lực, các lực lượng vũ trang nhân dân, quần chúng yêu nước trên toàn miền Nam Vìệt Nam và trong thành phố Sài Gòn có mặt để chứng kiến sự cáo chung của chủ nghĩa đế quốc Mỹ xâm lược và bè lu tay sai sau cuộc trường chính vĩ đại của dân tộc.

        Chúng tôi đã sống và chiến đấu giữa hang ổ kẻ thù trong suốt tám trãm hai mươi ba ngày đêm tại trại Đa-vít như thế đó.

                             Hà Nội, tháng 11 năm 2004



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Ba, 2012, 08:40:29 am

CUỘC GẶP MẶT SAU 30 NĂM
CỦA CÁC NHÀ NGOẠI GIAO MẶC ÁO LÍNH
NGUYỄN NHƯ KlM      
    Cán bộ Thông tấn xă Việt Nam      
        
        Đầu năm 1973, hơn 300 sĩ quan và chiến sĩ quân đội ta đã vào Sài Gòn tham gia Ban Liên hợp quân sự bốn bên và hai bên. Sau chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975, số sĩ quan và chiến sĩ này nhập vào các đơn vị khác nhau làm nhiệm vụ quân quản và ngày nay phần lớn trong số họ đã về hưu, một vài người còn lại cũng tuổi 50-55. Khi vào trại Đa-vít làm sĩ quan của các tiểu ban trực tiếp đấu tranh trên bàn hội nghị bốn bên, hai bên, sĩ quan trong các ban nghiệp vụ sĩ quan liên lạc, thông tin, bảo vệ, báo chí, phần lớn họ ở lứa tuổi khoảng 30 trừ các anh trong ban lãnh đạo hai phái đoàn tuổi cao hơn một chút.

        Cuộc gặp lần đầu sau 30 năm của các sĩ quan và chiến sĩ trong Ban Liên 1ạc quân sự bốn bên và hai bên vừa tổ chức ngày 27 tháng 4 tại nơi đây là trận địa pháo cao xạ bên bờ hồ Trúc Bạch, Hà Nội. Đó là cuộc gặp hết sức cảm động và thân tình của những nhà ngoại giao mặc áo lính mà nay phần lớn tóc đã bạc, đã là ông bà nội ngoại.

        Chỉ tiếc là không biết địa chỉ của nhau, cho nên cuộc gặp lần này hội tụ mới được gần 100 người.

        Mở đầu cuộc gặp, mọi người xúc động dành 1 phút tưởng nhớ Thượng tướng Trần Văn Trà và Thượng tướng Lê Quang Hòa hai vị trưởng đoàn đầu tiên của hai phái đoàn, cùng một số sĩ quan đã mất.

        Thiếu tướng Nguyễn Đôn Tự, trưởng đoàn quân sự Việt Nam dân chủ cộng hòa trong tổ Liên hợp quân sự bốn bên, nay đã 78 tuổi nhưng vẫn nhiệt tình kể lại những kỷ niệm hoạt động cách đây 30 năm tại trại Đa-vít. ông nói. "Cuộc đấu tranh ngoại giao với Mỹ - ngụy sau thời kỳ 60 ngày của Tổ Liên hợp quân sự bốn bên là hết sức gay gắt. Phía ngụy quân tại bất kỳ cuộc họp nào cũng chỉ có phá bĩnh. Phía Mỹ thì khá hơn vì họ muốn nhờ ta tìm hài cốt của khoảng 1.000 lính Mỹ chết và mất tích ở cả hai miền Nam Bắc. Những ngày diễn ra chiến dịch Hồ Chí Minh, hơn 300 anh chị em của hai đoàn Ở trại Đa-vít phải lo đào hầm, dự trữ lương thực, nước uống chuẩn bị cho các loại phương án chống kẻ thù kể cả trường hợp xe tăng ngụy có thể tràn vào… ". Ông kể: Chúng ta cũng nắm được dã tâm của kẻ thù và theo tài liệu ở bàn làm việc của tướng Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng nguy quân mà sau này ta thu được thì chỉ cần một phát súng từ trại Đa-vít bắn ra là xe tăng ngụy sẽ tràn vào nghiền nát hơn 300 cán bộ, chiến sĩ ta ở trong trại. Chính vì vậy, kỷ luật của hai đoàn ta rất nghiêm, tuyệt đối không để xảy ra tiếng nổ để địch có cớ tiến công. Mặt khác ta cũng trang bị hai va li đạn chống tăng để tự vệ". Ông kể tìếp, ngày 26 tháng 4 năm l975, tức là bốn ngày trước khi giải phóng Sài Gòn, ông được lệnh ra Hà Nội và trở về Sài Gòn vào buôi tối. Biết được tin này, tướng nguy Phan Hòa Hiệp đã đề nghị cho y cùng ra Hà Nội để "thương lượng với Hà Nội". Ông Tự từ chối và nói Hiệp có việc gì thì cứ gặp Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn, Trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Tất nhiên Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn cũng từ chối không gặp Hiệp vì có gì mà phải thương lượng với ngụy quân Sài Gòn nữa khi mà ta sắp mở đợt tổng công kích. Ông Tự kể, tối 26 tháng 4 năm 1975, ông trở 1ại Sài Gòn và ngay đêm hôm đó pháo binh ta từ Nhơn Trạch bắt đầu nã vào các điểm chiến lược ở trong và ngoại vi Sài Gòn, mở đầu một cuộc tổng công kích vào sào huyệt cuối cùng của địch.

        Đại tá Vũ Nam Bình, phụ trách tổ trao trả tù binh, kể lại chuyện đấu tranh trả lại tự do cho các anh, chị Võ Thị Thắng, Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Văn Nuôi, Võ Như Lanh.., và tình hình về cuộc sống thường nhật của hơn 300 người trong trại Đa-vít giữa vòng vây của địch suốt hơn 820 ngày đêm.

        Đại tá Hoàng Duy Hòa, nay về hưu Ở quê hương Đông Hưng, Thái Bình cũng có mặt và tâm sự: "Mình đang ở trong rừng Tây Ninh thì được lệnh tới Lộc Ninh để vào Sài Gòn làm sĩ quan liên lạc. Lần đầu được đi máy bay Mỹ dọc theo đường 13 vào Sài Gòn cũng thấy lạ lẫm. Sau này mình còn đi 70 lần máy bay Mỹ tới các nơi ở miền Nam để thực thi Hiệp định Pa-ri. Giải phóng Sài Gòn xong mình được cấp trên giao cho làm quản giáo cai quản 33 viên tướng nguy. Đó là những ngày tuyệt vời đối với mình với tư cách là một sĩ quan quân đội nhân dân".

        Nhà giáo Trần Hán Ngọ, một giáo viên tiếng Anh ở thành phố Nam Định vào Sài Gòn làm phiên dịch kể rằng "ngay từ lần đầu cùng đồng đội từ Sài Gòn bay ra Đức Phổ, đoàn của anh đã bị bọn ác ôn ngụy dùng búa gậy đánh đập. Chúng đánh mạnh vào đầu làm anh bất tỉnh tại chỗ. Sau khi được cấp cứu, anh bay trở lại Sài Gòn rồi được đưa ra điều trị tại Bệnh viện Trung ưdng quân đội 108.

        Nhà báo Nguyễn Như, trưởng đoàn Thông tấn xã Việt Nam tại Ban Liên hợp quân sự bốn bên kể về cuộc hành trình bằng máy bay C130 của Mỹ từ sân bay Gia Lâm vào Tân Sơn Nhất với niềm xúc động khi bay qua mảnh đất miền Nam thân yêu sau hơn 20 năm chia cắt. Anh cho biết "mình được đi thăm nhà tù Biên Hòa, Phú Quốc, dự các buổi trao trả tù binh ở Lộc Ninh, Xa Mát, Hoài Nhơn và Đức Nghiệp, chứng kiến những tên lính Nam Hàn cuối cùng rút khỏi Nha Trang, những tên lính Mỹ cuối cùng rút khỏi Đà Nẵng và Sài Gòn.., có thể nói đó là những điều không phải những nhà báo nào cũng có được".

        Câu chuyện cứ dài như mạch nước ngầm tuôn chảy không bao giờ cạn. Gần 100 nhà ngoại giao mặc áo lính đã quyết định lập Câu lạc bộ Ban Liên hợp quân sự trại Đa- vít, tập hợp các sĩ quan, chiến sĩ trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên và hai bên đang sinh sống tại khu vực phía Bắc để làm nơi gặp mặt hàng năm vào những ngày kỷ mệm lịch sử của dân tộc.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Ba, 2012, 11:20:44 am

DANH SÁCH CÁC HÃNG THÔNG TẤN,
VÔ TUYÊN TRUYÊN HÌNH, ĐÀI PHÁT THANH,
BÁO NƯỚC NGOÀI CÓ ĐẠI DIỆN TẠI SÀI GÒN
ĐÃ DỰ CÁC CUỘC HỌP BÁO CỦA TA
TRONG THỜI GIAN 1973 - 1975
     
   
 1. MỸ
        - Thông tấn: UPl, AP
        - Vô tuyến truyền hình: NBC, ABC, CBS
        - Phát thanh: VOA
        - Báo: NY-T, BOSTN GLOBE, WASHINGTON POST, LOS ANGELES TIMES, TIMES, TIMES MAGAZINE, NEWS WEEK, RELIGION NEWS SERVICE, US AND WORLD REPORT, USIS, NEWSPAPER, THE WALL STREET, CHICAGO TRIBUNE, BALTIMORE SUN, NEWS DAV.

2. ANH
        - Thông tấn: REUTER - Phát thanh: BBC.
        - Báo: TIMS LONDON, LONDON DAILY, LONDON SUNDAY.

3. PHÁP
        - Thông tấn: AFP
        - Phát thanh: ORTF
        - Chuyên về ảnh: SIGMA
        - Báo: LE FIGARO, LE MONDE, LA-CROIX, CARREFOUR, LIBERATION, LA VOIX DU NORD, EXPRESS.

4. CHLB ĐỨC
        - Vô tuyến truyền hình: ZDF
        - Báo: DER SPIEGEL, DPA, DIEWELT.

5. Ý
        - Báo: LA STEMPA, IN TEMPO, CORRIERE DELLA, ANSA.

6. HÀ LAN
        - Phát thanh: RADIO HOLLANDAISE
        - Vô tuyến truýền hình: HOLLANDE TIVI.

7.THỤỴ SĨ
        - Vô tuyến truyền hình: SUISSE TIVI.

8. ĐAN MẠCH
        - Phát thanh: RDIO DANEMARK

9. TÂY BAN NHA
        - Thông tấn: SAPISA AGENCY
        - Vô tuyến truyền hình: SUEDE TIVI.

10 THỤY ĐIỂN:
        - Vô tuyến truyền hình: SHEDE TIVI.

11. NA UY
        - Phát thanh - Vô tuyến truyền hình: NORVEGIAN RADlO/TIVI.

12. HUNG'GA-RI
        - Báo: BÁO ĐẢNG CÔNG NHÂN XHCN HUNG-GA-RI.

13. BA LAN
        - Báo: BÁO ĐẢNG CÔNG NHÂN THỐNG NHẤT BA LAN.

14.CA~NA-ĐA
       - Phát thanh: CANADIAN B.L CB (CANADIAN BROADCASTING SYSTEM).

13. ÚC
       - Vô tuyến truyền hình: ABC.
       - Báo: SYDNEY MORNING, ANP (AUSTRALIAN NEWS PAPER).

16. NIU DI-LÂN
       - Báo: NEW ZEALAND PRESS.

17. NHẬT
       - Thông tấn: KYODO NEWS
       - Vô tuyến truyền hình: NHK, ASAHI TIVI, JIJI TIVI, FUJI TIVI, NET TIVI.
       - Báo: MAINICHI, YOMINURI, SENKEI, JIJI, JIJI PRESS, TBS, NIKKEL, ASAHI.

18. PAKISTAN:
        - Liên hợp báo chí Pakistan.

19. ĐÔNG NAM Á: FEER (tạp chí Kinh tế Viễn Đông).

20. NAM TRIỂU TIÊN:
        - Báo: KOREA REPORT.

21. ÁC-HEN-TI-NA:
        - Phát thanh: RADIO ARGENTIINE.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Ba, 2012, 11:37:41 am

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/LeDuan-1.jpg)

"MẤU CHỐT LÀ Ở CHỖ QUÂN MỸ PHẢI RA
CÒN QUÂN TA THÌ Ở LẠI"
[1]
LÊ DUẨN              
    Nguyên Tổng Bi thư Đảng Cộng sản Việt Nam(Trích Phát biểu kết luận đợt một Hội nghị Bộ Chính trị,  được nêu trong thư "Gửi anh Bảy Cường" [2] ngày 10 tháng 10 năm 1974)  
 
... "Ý đồ chiến lược của ta khi ký Hiệp định Paris là gì?

        Tuy nói Mỹ phải ra vì thua, vì yếu, nhưng ta biết rằng Mỹ vẫn còn tiềm lực lớn và nhiều mưn đồ độc ác. Ta không bao giờ chủ quan mà cho rằng chúng đã "sức tàn lực kiệt". Ta tuy thắng liên tiếp và đã mạnh lên, nhưng còn gặp nhiều khó khăn. Đến lúc này, sự viện trợ của phe ta không phải đầy đủ và kịp thời như ta mong muốn... Trong hoàn cảnh đó, ta phải tạo ra một thế đi lên vững nhất, một thế thắng chắc nhất. Chính vì lẽ đó mà ta ký Hiệp định Paris. Đối với ta, điều quan trọng của Hiệp định Paris không phải là ở chỗ thừa nhận hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát tiến tới thành lập chính phủ ba thành phần, mà mấu chốt là ở chỗ quân Mỹ phải ra còn quân ta thì ở lại, hành lang Nam Bắc vẫn nối liền, hậu phương gắn liền với tiền phương thành một dải liên hoàn thống nhất; thế trận tiến công của ta vẫn vững. Ý định của ta là giữ nguyên thế và lực của mình ở miền Nam để tiến lên tiếp tục tiến công địch. Thông qua Hiệp định Paris, ta đấu tranh đòi thi hành dân chủ, phá bỏ kìm kẹp; ta tổ chức, tập hợp quần chúng mở rộng mặt trận yêu nước, phân hoá bọn tay sai, cô lập kẻ thù, nhằm làm yếu hơn nữa lực lượng mọi mặt của ngụy quân, nguy quyền, tiến lên hoàn toàn xoá bỏ chúng. Trong trường hợp địch không thi hành hiệp định, gây lại chiến tranh, thì ta có sẵn thế và lực mạnh để phản công tiêu diệt chúng. Tình hình phát triển theo khả năng nào, chúng ta cũng hoàn toàn chủ động. Quyết tâm của chúng ta là tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn chứ không bao giờ dừng lại. Ký Hiệp định, ta tỏ ra rất kiên quyết, nhưng cũng rất mềm dẻo. Ta quyết giành thắng lợi cuối cùng, nhưng biết thắng từng bước... Từ Cách mạng tháng Tám đến nay, nhân dân ta phải liên tiếp đương đầu với nhiều tên đế quốc lớn mạnh.

        Cách mạng đã trải qua nhiều chặng đường, không ngừng phát triển từ bước này đến bước khác, và cuối cùng nhất định phải thành công trong cả nước Việt Nam. Con đường phát triển của cách mạng nước ta tất yếu phải như vậy...".
---------------

[1] Lê Duẩn: "Gửi anh Bảy Cường':, Thư vào Nam, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1986, tr.372-373. Tựa đề do Ban Biên soạn đặt.

[2] Anh Bảy Cường tức đồng chí Phạm Hùng, nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, nguyên Bí thư Trung ương Cục miền Nam từ năm 1967 đến 1975.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Ba, 2012, 02:18:43 pm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/TruongChinh.jpg)

MUỐN CHIÊN THẮNG ĐẾ QUỐC MỸ,
PHẢI LẬP BA TẦNG MẶT TRẬN
[1]
TRƯỜNG CHINH              
        Nguyên Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
        Nguyên Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam..
        Nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam
(Trích Phát biểu tại Đại hội lần thứ III Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ ngày 14 đến 17 tháng Tư 1971)

 
        "Đứng trước kẻ thù hung bạo và nham hiểm là đế quốc Mỹ xâm lược, nhân dân Việt Nam ta phải làm gì? Phải đấu tranh dưới mọi hình thức: đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao, đề tống cổ bọn xâm lược ra khỏi nước ta...

        Về đấu tranh ngoại giao, nhân dân ta nhiệt liệt ủng hộ lập trưởng Bảy điểm của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã được nêu ra tại Hội nghị bốn bên ở Paris ngày 1 tháng Bảy 1971. Đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị của quần chúng nhân dân trong nước phải tạo cơ sở vững chắc cho đấu tranh ngoại giao. Đấu tranh ngoại giao phải nêu cao mục đích đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta, kịp thời vạch trần mọi âm mưu và hành động của địch, bóc trần những luận điệu lừa bịp, mị dân của chúng; chỉ rõ thế tất thắng của ta và thế thất bại của địch; góp phần tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân thế giới đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta.

        Muốn cho cuộc đấu tranh về cả ba mặt trên đây đạt được thắng lợi ngày càng to lớn dẫn đến thắng lợi hoàn toàn, một điều kiện quan trọng là phải động viên và tập hợp lực lượng.

        Chúng ta chủ trương lập ba tầng Mặt trận thống nhất để bao vây đế quốc Mỹ xâm lược và chiến thắng chúng.

        Mặt trận dân tộc thống nhất chống Mỹ ở Việt Nam, Mặt trận thống nhất chống Mỹ của các dân tộc Đông Dương và Mặt trận của nhân dân thế giới chống đế quốc Mỹ, bảo vệ độc lập dân tộc và hoà bình, đó là ba tầng Mặt trận bao vây và đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược. Lập được ba tầng mặt trận như thế thì giác Mỹ bị vây hãm chặt trong muôn trùng lưới thép, nhất định không tránh khỏi bị thất bại hoàn toàn".

------------------
       [1] Trường Chinh: Về công tác Mặt trận hiện nay. Nhà xuất bản Sự thật Hà Nội. 1972, tr.18-26. Tự đề do Ban Biên soạn đặt.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Ba, 2012, 04:23:02 pm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/NguyenDyNien.jpg)

ĐÀM PHÁN PARIS - ĐỈNH CAO CỦA MẶT TBẬN
NGOẠI GIAO THỜI KỲ CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC

NGUYỄN DY NIÊN                
        Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Bộ trưởng Bộ Ngoại giao
 
        Nhân dịp tròn 30 năm ngày ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam (27-l-1973 - 27-1-2003), Bộ Ngoại giao phối hợp với Ban Đối ngoại Trung ương, Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương, Bộ Văn hoá Thông tin đã tổ chức trọng thể nhiều hoạt động kỷ niệm cả ở Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Các cơ quan thông tin đại chúng đã liên tiếp đăng tải nhiều thông tin và bài viết phân tích đề cao sự kiện quan trọng này. Cũng nhân dịp này, tại Paris, với sự bảo trợ của Bộ Ngoại giao Pháp, một cuộc hội thảo quốc tế đã được tổ chức quy tụ hàng trăm học giả đến từ nhiều nước trên thế giới nhằm đánh giá tác động của cuộc chiến tranh của Mỹ đối với châu Âu và ý nghĩa của Hiệp định Paris về Việt Nam.

        Hiệp định Paris là một văn bản pháp lý quốc tế có ý nghĩa rất quan trọng đối với cuộc chiến tranh giải phóng thần thánh của dân tộc ta, là đỉnh cao của cuộc đấu tranh ngoại giao bền bỉ trong một giai đoạn đầy khó khăn, phức tạp của sự nghiệp giải phóng dân tộc thống nhất Tổ quốc của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu.

        Đối với nền ngoại giao cách mạng Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, Hội nghị Paris và Hiệp định Paris đã đi vào lịch sử như một mốc son sáng chói, đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc mà các thế hệ cán bộ ngoại giao rất đỗi tự hào. Ba mươi năm đã trôi qua kể từ thời kỳ đầy sôi động và hào hùng đó, thế giới đã đổi thay nhiều. Dân tộc ta đã đi tiếp những chặng đường mới, thực hiện khát vọng ấp ủ từ ngàn đời nay là độc lập, thống nhất và phát triển đất nước phồn vinh, bảo vệ vững chắc giang sơn mà cha ông đã gây dựng và những thành quả của cách mạng. Nhưng ý nghĩa và bài học kinh nghiệm của Hội nghị Paris và Hiệp định Paris vẫn có giá trị thời sự và thực tiễn hết sức to lớn.

        Nhìn nhận lại cuộc đấu tranh ngoại giao đưa đến việc ký kết Hiệp định Paris còn là ôn lại lịch sử, nhìn lại những chặng đường đã đi suy ngẫm về đường lối chỉ đạo và sách lược đã được vận dụng, về những đợt tiến công của ta cũng như những ý đồ, mưu mô, hành động của đối phương, để hiểu hơn và đánh giá đúng hơn về diễn biến của Hội nghị, về nguyên nhân thành công và ý nghĩa của thắng lợi. Đối với ngành ngoại giao, kỷ niệm sự kiện lịch sử này còn là dịp để giáo dục truyền thống vẻ vang của ngành và thể hiện lòng biết ơn, sự tôn vinh đối với các thế hệ ngoại giao cha anh đã làm nên mốc son ngời sáng đó.

        Hội nghị Paris là cuộc đụng đầu ngoại giao tay đôi đầu tiên giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, kết thúc bằng Hiệp định Paris trong đó Chính phủ Hoa Kỳ đã phải làm điều mà họ đã lẩn trốn ở Hiệp định Genève 1954: "tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam". Hội nghị Paris và Hiệp định Paris đã góp phần tạo nên bước ngoặt rất quan trọng trong cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta khi buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, từng bước đi vào giải pháp, chấm dứt chiến tranh và can thiệp ở Việt Nam, chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc, rút quân đội xâm lược ra khỏi miền Nam. Việc Mỹ buộc phải "cút”  khỏi miền Nam đã mở ra cục diện chính trị và chiến trường thuận lợi để quân và dân ta tiến tới "đánh cho nguy nhào" mà đỉnh cao là đại thắng trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Thắng lợi của cách mạng Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc kháng chiến của nhân dân Lào và Campuchia, góp phần đưa sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân hai nước láng giềng này đến thắng lợi cuối cùng.

        Nhân dân các dân tộc yêu chuộng hoà bình và bị áp bức trên thế giới chúc mừng Việt Nam và hoan nghênh Hiệp định Paris, vì hơn ở đâu hết, cuộc đấu tranh ngoại giao ở Pans và Hiệp định Paris thể hiện thắng lợi của cuộc đấu tranh của chính nghĩa chống phi nghĩa, của đại nghĩa chống bạo lực hung tàn. Chính vì thế mà thắng lợi của Việt Nam kết tụ trong Hiệp định Paris và trong việc kết thúc cuộc chiến tranh giải phóng, thu giang sơn về một mối đã củng cố niềm tin, đã khích lệ tất cả các dân tộc yêu chuộng hoà bình, độc lập và tự do trên toàn thế giới.

        Ý nghĩa to lớn của Hiệp định Paris còn thể hiện ở tính thời đại của nó. Cuộc đấu tranh ngoại giao ở Paris đã chứng minh cho tính tất thắng của sự nghiệp chính nghĩa, cho sức mạnh bất diệt của một dân tộc nhỏ dám "thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ", cho chân lý "không có gì quý hơn độc lập, tự do". Những bài học kinh nghiệm của Việt Nam từ Hội nghị Paris và Hiệp định Paris vì thế cũng là di sản của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới.

        Bài học kinh nghiệm bao trùm lên tất cả là bài học về sự lãnh đạo sáng suốt và bản lĩnh lãnh đạo vững vàng của Đảng ta và về vận dụng đúng đắn tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Mình trong tất cả những vấn đề liên quan đến Hội nghị Paris. Nhờ đó mà trong mọi hoàn cảnh, trước mọi diễn biến của tình hình thế giới, ở mọi thời khắc khó khăn và phức tạp, trước mọi ý đồ và mưu mô xảo quyệt của đối phương, chúng ta vẫn kiên định đường hướng, son sắt lòng tin, đối sách thích hợp, ứng phó linh hoạt. Nhờ đó mà chúng ta tạo được sự phối hợp nhịp nhàng giữa các mặt trận đấu tranh chính trị quân sự và ngoại giao, giữa trong nước và ngoài nước, giữa Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, giữa nền ngoại giao miền Bắc xã hội chủ nghĩa và nền ngoại giao miền Nam hoà bình, trung lập để có được "tuy hai mà một, tuy một mà hai", giành thắng lợi từng bước tiến tới thắng lợi cuối cùng. Nhờ đó, cuộc đấu tranh ngoại giao của chúng ta ở Paris luôn kiên định mục tiêu nhất quán mà vẫn linh hoạt trong bước đi và sách lược; luôn giữ vững độc lập, tự chủ mà vẫn tranh thủ rộng rãi bạn bè, dư luận và không ngừng chủ động tấn công.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Ba, 2012, 04:23:55 pm
        Hai là bài học về độc lập, tự chủ. Đây là bài học kinh nghiệm lớn của cách mạng Việt Nam nới chung và cuộc đấu tranh ngoại giao xung quanh và tại Hội nghị Paris nói riêng. Độc lập, tự chủ trong mọi quyết sách, trong từng bước đi, đã giúp chúng ta đứng vững ngay cả khi tình hình quốc tế đã xuất hiện không ít diễn biến và yếu tố bất lợi. Nhờ giữ vững độc lập, tự chủ mà chúng ta luôn ở thế chủ động tiến công, kiên định nguyên tắc nhưng linh hoạt trong sách lược đàm phán, luôn bảo vệ được lợi ích đất nước, gạt được các tác động tiêu cực của bên ngoài để thực hiện được mục tiêu đề ra.

        Ba là bài học về thời cơ. Quá trình đi vào đàm phán, tiến hành đàm phán, giành thắng lợi từng bước và kết thúc đàm phán ở Hội nghị Paris là kết quả của sự vận dụng tài tình tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong việc đánh giá cục diện quốc tế, diễn biến và so sánh lực lượng ở chiến trường, nội tình nước Mỹ, từ đó xác định các thời cơ lớn của ngoại giao và đàm phán. Tạo dựng thời cơ, đánh giá đúng thời cơ, nắm bắt được thời cơ và tận dụng mọi thời cơ, chúng ta đã phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của đất nước, gắn kết sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại để giành thắng lợi. Trong quá trình đàm phán, vận dụng ba nhân tố chiến trường, đàm phán và quốc tế chúng ta tiếp tục tăng cường thế và lực cho đất nước, tiếp tục tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi của dư luận tiến bộ trên thế giới, kể cả ở Mỹ, đưa cuộc đấu tranh chính nghĩa của chúng ta ngày càng mạnh lên, thắng lợi ngày càng lớn hơn.

        Bốn là bài học về sự kết hợp và hỗ trợ lẫn nhau tài tình giữa đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao, giữa chiến trường và bàn đàm phán. Đó là sự phối- hợp giữa đánh Và đàm. Thắng lợi trên chiến trường, thực lực trên chiến trường đóng vai trò quyết định đối với thắng lợi trên bàn đàm phán và ngược lại, đấu tranh trên bàn đàm phán cũng góp phần tác động đến thắng lợi trên chiến trường và tạo điều kiện cho chiến thắng lớn hơn. Thắng lợi trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 mở ra cục diện đàm phán với Mỹ ở Paris. Những thắng lợi quân sự tiếp theo, nhất là chiến thắng Xuân-hè 1972 đã làm thất bại chính sách "Việt Nam hoá chiến tranh" của Tổng thống Nixon, buộc Hoa Kỳ phải chấp nhận nội dung dự thảo hiệp định do ta đưa ra tháng Mười 1972, và cuối cùng trận "Điện Biên Phủ trên không" đã buộc Hoa Kỳ phải chấp nhận ký Hiệp định Paris về Việt Nam. Mặt khác, những đòn tấn công ngoại giao của ta trên bàn hội nghị đã buộc Mỹ phải chấm dứt ném bom miền Bắc, chấp nhận ngồi vào đàm phán và đơn phương rút dần quân Mỹ. Và điều đó đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho miền Bắc hàn gắn vết thương chiến tranh và tăng cường chi viện cho miền Nam đánh thắng trong chiến dịch Xuân-hè 1972. Cũng như vậy, việc đấu tranh đi đến ký kết Hiệp định Paris tháng Giêng 1973 đã làm chuyển đổi so sánh lực lượng có ý nghĩa quyết định đưa đến đại thắng mùa Xuân 1975.

        Năm là bài học coi trọng đấu tranh dư luận và giành lợi thế trên mặt trận này. Cuộc đấu tranh ngoại giao ở Paris trước hết là cuộc đấu tranh dư luận, đấu tranh về đạn lý và pháp lý, phân rõ phải trái, đúng sai, tranh thủ dư luận đồng tình với cuộc chiến đấu của Việt Nam, với đường lối, sách lược và lập luận đàm phán của ta, gây khó khăn cho đối phương trên trường quốc tế và ngay trong nước Mỹ. Phát huy lợi thế địa bàn Paris, những bài phát biểu chính thức, các cuộc họp báo, trả lời phỏng vấn, thông cáo và tiếp xúc báo chí, các cuộc gặp gỡ quốc tế của Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, nhất là các sáng kiến hoà bình của hai Đoàn đã góp phần làm cho chính nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng của dân tộc ta và thiện chí hoà bình của chúng ta thêm ngời sáng; tính chất phi nghĩa, những mưu đồ đen tối, hoà bình giả tạo, sự lật lọng và tội ác của đối phương bị vạch trần.

        Đấu tranh dư luận tại Hội nghị Paris, phối hợp nhịp nhàng với các hoạt động tuyên truyền quốc tế, với chiến thắng trên chiến trường, với sự giúp đỡ quý báu của bạn bè quốc tế đã góp phần tranh thủ được sự đồng tình rộng rãi của dư luận thế giới, đưa cuộc chiến tranh vào lòng nước Mỹ, dẫn tới hình thành một phong trào, một mặt trận thế giới ủng hộ Việt Nam rộng lớn chưa từng có. Sự ủng hộ của nhân dân và dư luận thế giới dành cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta đã góp phần rất quan trọng vào thắng lợi của chúng ta. Vì thế, Đảng ta coi sự giúp đỡ và ủng hộ quốc tế là một trong những yếu tố quyết định thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.

        Đối với nền ngoại giao cách mạng Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, cuộc đấu tranh ngoại giao ở Paris là sự vận dụng tư tưởng, nghệ thuật và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh. Hiệp định Paris là kết quả, đồng thời cũng là đỉnh cao của nghệ thuật đàm phán ngoại giao Việt Nam. Bài học từ Hội nghị Paris và Hiệp định Paris đối với ngoại giao Việt Nam và hoạt động đối ngoại trong bối cảnh tình hình phức tạp hiện nay là bài học về tổ chức cuộc đấu tranh ngoại giao, tập hợp lực lượng, đấu tranh dư luận và nghệ thuật đàm phán ngoại giao.

        Kỷ niệm 30 năm ngày ký Hiệp định Paris là dịp để giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ, để biểu thị sự khâm phục và biết ơn đối với công lao to lớn của các thế hệ cha anh, nhớ đến và biết ơn tất cả những người đã trực tiếp tham gia vào cuộc đấu tranh ngoại giao ở Paris cũng như những cán bộ, chiến sĩ và đồng bào trong nước và kiều bào ta ở nước ngoài đã cống hiến, đã góp phần quan trọng để có được thắng lợi trên bàn đàm phán. Chúng ta suy tôn các nhà ngoại giao lớn của đất nước thời kỳ này: các đồng chí Lê Đức Thọ, Nguyễn Duy Trinh, Xuân Thuỷ, Nguyễn Cơ Thạch,... Chúng ta tôn vinh đồng chí Nguyễn Thị Bình, một ngôi sao sáng của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam.

        Tất cả những gì có thể học hỏi được từ Hội nghị Paris vẫn có giá trị thời sự thiết thực đối với tất cả chúng ta hôm nay và mai sau.

        Ôn lại lịch sử, chúng ta vô cùng biết ơn Đảng quang vinh và Bác Hồ kính yêu, vô cùng biết ơn chiến sĩ và đồng bào ta đã hy sinh biết bao xương máu để chúng ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác và được như ngày hôm nay. Thực hiện Nghị quyết của Đại hội lần thứ IX của Đảng, với sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, với đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương hoá, da dạng hoá, chúng ta sẽ vượt lên mọi thách thức để thực hiện thành công mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc thân yêu.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Ba, 2012, 06:23:56 pm

SUY NGHĨ VỀ CHUYỂN THẾ TRẬN ĐÁNH - ĐÀM
THEO TƯ DUY BÁC HỒ

                                                                                                         (http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/NguyenPhucLam.jpg)
               
        Nhà nghiên cứu lịch sử ngoại giao, nguyên Phó Vụ trưởng Bộ Ngoại giao, thành viên Ban Tổng kết lịch sử ngoại giao
 
Tư duy Hồ Chí Mình với việc hình thành
thế trận đánh - đàm

        Cuộc đàm phán Paris là biểu tượng của trí tuệ ngoại giao Việt Nam: biết mở đầu cuộc đàm phán và biết kết thúc nó đúng lúc, có lợi nhất, thực hiện mục tiêu quan trọng là "đánh cho Mỹ cút". Từ lâu Chủ tịch Hồ Chí Minh đã suy ngẫm :... đối với Mỹ, ta có cách chủ động để đi tới cho nó rút ra, vì rất phức tạp. Một tay đánh, một tay mở cho nó ra, trước cửa cần có rèm chống[1]. Từ các hoạt động trên mặt trận chính trị và ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chú ý làm rõ lập trường kiên định, mục tiêu trong sáng của cuộc đấu tranh vì độc lập tự do của nhân dân ta, đồng thời sớm nêu rõ điều kiện để hướng tới một giải pháp kết thúc chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam - Đông Dương.

        Trên tinh thần đó, ngày 22 tháng Ba 1965, Mặt trận Dân tộc Giải phóng đưa ra lập trường Năm điểm và ngày 8 tháng Tư 1965, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tuyên bố lập trường Bốn điểm để giải quyết vấn đề Việt Nam. Vào dịp này, Tổng thống Mỹ Johnson cũng đưa ra tuyên bố Baltimore (7 tháng Tư 1965) kiến nghị "thương lượng không điều kiện". Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra tuyên bố bác bỏ: Các đề nghị nói chuyện không điều kiện của Mỹ là tuyệt đối không thể chấp nhận được.

        Tiếp tục làm rõ lập trường Việt Nam trước công luận thế giới, đồng thời hé mở giải pháp kết thúc chiến tranh, ngày 24 tháng Giêng 1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi giác thư đến gần 70 nguyên thủ quốc gia và các vị đứng đầu chính phủ các nước trên thế giới khẳng định quyết tâm và khả năng thắng Mỹ của nhân dân ta, tố cáo tội ác và âm mưu tăng cường mở rộng chiến tranh của tập đoàn Johnson và khẳng định: "Nhân dân Việt Nam quyết không bao giờ khuất phục trước sự đe dọa của đế quốc Mỹ... Nếu Chính phủ Mỹ thật muốn giải quyết hoà bình, thì họ phải công nhận lập trường Bốn điểm của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và chứng tỏ điều đó bằng việc làm thật sự; phải chấm dứt vĩnh viễn và vô điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống lại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Như vậy thì mới có thể tính đến một giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam [2].

Điều dễ cảm nhận là Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, ngay từ những ngày đầu Mỹ leo thang chiến tranh, đã vạch trần mưu đồ "chiến tranh thật hoà bình giả" của Nhà Trắng, kiên quyết làm thất bại kế sách "thương lượng không điều kiện", một biến tướng của "thương lượng trên thế mạnh", đánh đồng kẻ đi xâm lược và người bị xâm lược, buộc nhân dân Việt Nam phải thương lượng dưới sức ép của bom đạn Mỹ.
        Trong thời kỳ này, nổi lên những hoạt động đối ngoại của Bác Hồ, thể híện rõ tính định hướng cho mặt trận ngoại giao, trong đó đáng lưu ý:

        - Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư trả lời đến Tổng Thống Johnson (ngày 15 tháng Hai 1967). Trong thư, một lần nữa, Người khẳng định: "Chính phủ Mỹ đã gây ra chiến tranh xâm lược Việt Nam thì con đường đưa đến hoà bình ở Việt Nam là Mỹ phải chấm dứt xâm lược"[3]. Về đề nghị thương lượng giữa Việt Nam và Mỹ của Tổng thống Johnson, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Chỉ sau khi Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thì Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mỹ mới có thể nói chuyện và bàn các vấn đề có liên quan đến hai bên"[4].
-------------------------
[1]. Sự nghiệp và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1990, tr. 223.
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.12, tr.32-33.  
[3],[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.12, tr.231, 232.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Ba, 2012, 06:27:20 pm
         Năm 1967, lịch sử còn ghi nhận một cử chỉ ngoại giao giàu tính nhân văn cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh: mời đối phương uống nước trà. Năm đó, khi tiếp hai vị trí thức có tên tuổi của Mỹ đến Việt Nam để thăm dò khả năng đi đến một giải pháp kết thúc chiến tranh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời họ uống trà. Qua câu chuyện với họ; Người bày tỏ quan điểm của Việt Nam: "Nếu ông Johnson đồng ý thì tôi mời ông ấy sang Hà Nội, trải thảm đỏ đón ông và cũng mời ông uống chè như chúng ta hôm nay; chỉ có một điều kiện là các ông phải rút quân khỏi đất nước tôi"[5]. Đây có thể là lần đầu tiên Người trực tiếp thông báo miệng cho người Mỹ biết về điều kiện tiên quyết để Mỹ có thể "kết thúc cuộc chiến tranh trong danh dự" như ý muốn của họ.

        Trước đó, trong lời kêu gọi nổi tiếng "Không có gì quý hơn độc lập tự do" tháng Bảy 1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định: "Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam, phải rút hết quân đội Mỹ và chư hầu ra khỏi Việt Nam thì hoà bình sẽ trở lại ngay lập tức"[6].

        Như vậy, để có được hoà bình thương lượng cho vấn đề này, trước hết Mỹ phải chấm dứt cuộc chiến tranh phá hoại chống lại Việt Nam Dân chủ Cộng hoà - một vấn đề có tính tiên quyết để đi đến một giải pháp hoà bình. Đây là chỗ yếu nhất của mưu đồ xâm lược thực dân mới, đồng thời là vấn đề nhạy cảm với công luận yêu hoà bình chuộng công lý trên thế giới và trong nước Mỹ.

        Thể hiện những tư duy của Bác Hồ và Trung ương Đảng, ngoại giao nước ta đã chủ động phát động đợt tấn công mới với tuyên bố của Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh ngày 28 tháng Giêng 1967 và tuyên bố tiếp theo của Bộ trưởng ngày 29 tháng Mười hai 1967, khẳng định việc "sẽ nói chuyện" nếu Mỹ chấp nhận điều kiện của ta: Mỹ phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống lại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Cùng với thắng lợi Tết Mậu Thân trên chiến trường, sự gia tăng đáng kể sức ép công luận quốc tế và phong trào phản chiến ở nước Mỹ sau đợt tấn công ngoại giao của ta đã buộc nhà cầm quyền Mỹ từng bước phải chấp nhận xuống thang chiến tranh, từ hạn chế ném bom miền Bắc, ngồi vào bàn đàm phán trong thế bị động, đến chấm dứt hoàn toàn ném bom.

        Về vai trò của Bác Hồ trong quá trình chuyển thế trận đánh- đàm, Giáo sư sử học Hunggari Laszlo Salgo cho rằng "Không một chút nghi ngờ, hơn ai hết, Hồ Chí Minh là người đã sử dụng đến mức tối đa sự mềm mỏng xung quanh tấm thảm xanh để thăm dò những khả năng cho một giải pháp hoà bình có thể được thực hiện bằng thoả hiệp"[7].
-------------------------
[5]. Nguyễn Dy Niên: Tư tưởng ngoại giao HỒ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 252.
[6]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.12, tr.l08,l09.
[7] UNESCO và Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam: Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá lớn, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1990, tr. 76.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Ba, 2012, 08:32:35 pm

Nhân tố thắng lợi của cuộc đàm phán
và dấu ấn Hồ Chí Minh


        Điểm lại quá trình đấu tranh kiên cường trên ba mặt trận chính trị quân sự, ngoại giao trong suốt 20 năm, đi đến cuộc đàm phán Paris Và hệ quả mà nó đem lại, ta có thể thấy dấu ấn trí tuệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh có vai trò quyết định đưa đến thắng lợi của mặt trận ngoại giao trong cuộc đàm phán Paris. Đó là những yếu tố cơ bản sau:

        1. Trên cơ sở đường lối chiến lược của công cuộc chống Mỹ, cứu nước, Đảng và Nhà nước ta, dưới ánh sáng của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, đã kịp thời đề ra đường lối quốc tế và chính sách đối ngoại đúng đắn, thích hợp với tình thế, gắn cuộc kháng chiến của Việt Nam với xu thế chung của thời dại trên cơ sở độc lập tự chủ, tự lực tự cường đi đối với mở rộng quan hệ quốc tế. Điều đó trở thành yếu tố cơ bản tạo tiền đề về thế và lực, về trí tuệ để ta chủ động bước vào cuộc đàm phán Paris.

        Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra cần phải "dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ tích cực của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và của nhân dân yêu chuộng hoà bình và công lý trên toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ" [8]. Tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ ba, ngày 14 tháng Giêng 1964, Người ân cần dạy bảo. "Về chính trị, quân sự, kinh tế, nội chính, ngoại giao của ta là tự lực cánh sinh. Phải hiểu thấu đáo lắm vấn đề này không thì sẽ đi xiên vẹo ngay đấy"[9]. Đặc biệt, những lời căn dặn của Bác đối với Bộ trưởng Xuân Thuỷ trước lúc đi Paris thực sự là "pháp bảo thần kỳ", là kim chỉ nam, giúp hai Đoàn ta vững vàng, kiên định về lập trường, mềm dẻo, khôn khéo về sách lược trong suốt quá trình đàm phán: "Phải nhớ Mỹ là nước lớn đứng đầu thế giới tư bản, buộc phải ngồi vào đàm phán, thương lượng là thất bại rồi, vì thế Bác yêu cầu không được làm Mỹ mất mặt. Phải tế nhị, khôn khéo, lúc cương, lúc nhu thì mới gọi là đàm phán hoà bình, mới đạt kết quả". "Chiến tranh sẽ còn lâu dài, đàm phán phải kiên trì, không được nóng ruột" [10].

       Thấm nhuần tư tưởng của Người, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra và thực thi đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, với những nội dung cơ bản, có thể khái quát như sau: độc lập tự chủ trong đối ngoại trước hết phải xuất phát từ tư tưởng lớn "lấy sức ta mà giải phóng cho ta", coi đó là nguồn động lực lớn để mở rộng quan hệ quốc tế, khẳng định dạo lý công việc của ta phải do ta giải quyết lấy, không có sự can thiệp, áp đặt từ bên ngoài; kiên quyết giữ vững quyền dân tộc tự quyết; kiên định đường lối đối ngoại vì lợi ích trước mắt và lâu dài của dân tộc, quán triệt tư tưởng "Không có gì quý hoá độc lập tự do"; đồng thời chính sách đối ngoại đó phải phù hợp với những chế định của luật pháp quốc tế và hoà nhập với xu thế chủ đạo, tích cực trong quá trình chuyển biến của quan hệ toàn cầu; tránh các khuynh hướng biệt lập, dân tộc hẹp hòi hoặc dân tộc nước lớn.

        Rút kinh nghiệm từ Hội nghị Genève 1954, tại cuộc đàm phán Paris, Đảng ta đã phát huy cao độ tinh thần độc lập tự chủ trong lập trường, chủ trương, phương thức và nghệ thuật đàm phán. Đó chính là yếu tố góp phần quyết định thắng lợi trong cuộc đàm phán trực tiếp hai bên.

         2. Biết kết hợp với chính trị, quân sự để phát động tiến công ngoại giao đúng thời cơ, tạo khuôn khổ đàm phán thích hợp và tổ chức đàm phán linh hoạt, nhiều phương thức, kết hợp nhiều diễn đàn khác nhau trong đàm phán là một trong những nguyên nhân cơ bản để dạt được thành quả ở Hội nghị Paris. Mặc dù đối phương là một nước lớn "rất sành" về thương lượng song phương và đa phương trong quan hệ toàn cầu, có nhiều thủ đoạn ngoại giao xảo quyệt, ta vẫn giữ được thế chủ động, đề ra và tham gia vào các diễn đàn đàm phán: gặp riêng, đàm phán bí mật, công khai, hai bên, bốn bên...

        Điều nổi bật của khuôn khổ cuộc đàm phán này là: khác với cuộc thương lượng về kết thúc chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam tại Hội nghị Genève 1954, đàm phán Paris là cuộc thương lượng trực tiếp giữa hai bên đang giằng co quyết liệt bằng quân sự, chính trị trên chiến trường. Cuộc thương lượng Paris không qua trung gian nào và cũng không nằm trong khuôn khổ của một diễn đàn quốc tế rộng lớn nào, kể cả Liên hợp quốc. Đặc biệt, trong bối cảnh quan hệ quốc tế phức tạp, đấu tranh và hoà hoãn giữa các nước lớn hai phe đang chi phối hoà bình và an ninh thế giới, cuộc đàm phán Việt Nam - Hoa Kỳ ở Paris vẫn tạo được cơ chế thương lượng độc lập nằm ngoài quan hệ giữa các nước lớn. Điều đó tạo thuận lợi để ta phát huy hết tiềm năng đối ngoại của mình, chủ động trong lập trường, các bước đi và phương án đàm phán với Mỹ.

        Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc khẳng định và đề cao vị trí của Mặt trận Dân tộc Giải phóng và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và những kiến nghị của Mặt trận và Chính phủ Cách mạng lâm thời đưa ra trong cuộc đàm phán. Trong thư gửi cho Tổng thống Nixon, ngày 25 tháng Tám 1969, Người nói rõ: "Giải pháp toàn bộ Mười điểm của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam là cơ sở hợp tình hợp lý để giải quyết vấn đề Việt Nam, giải pháp đó đã được nhân dân thế giới đồng tình và ủng hộ [11]. Tuyên bố của Người đã góp phần quan trọng thúc đẩy Mỹ đi vào cuộc đàm phán thực chất để sớm tìm giải pháp kết thúc chiến tranh.
-------------------------
[8]. HỒ Chí Minh: Toàn tập, t.12, ti.308, 309.
[9]. Hồ sơ lưu trữ của Bộ Ngoại giao.
[10]. Nguyễn Minh Vỹ: "Bốn điểm Bác dặn". Tuần báo Quốc tế, số 20, tháng Năm 1995.
[11] Hồ Chí Minh: Toàn tập, t. 12, tr. 488-489.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Ba, 2012, 08:36:45 pm
        3. Trong chuyển biến tình hình bên trong và bên ngoài lúc thuận lợi cũng như khi khó khăn, ưu tiên hàng đầu của chính sách đối ngoại và hoạt động ngoại giao của nước ta vẫn là giương cao ngọn cờ hoà bình và chính nghĩa, kiên trì tranh thủ sự đồng tình ủng hộ quốc tế, trước hết là của các lực lượng đồng minh chiến lược. Mặc dù có lúc quan hệ Xô-Trung trở nên đối địch và hai nước đều muốn có hoà hoãn và cải thiện quan hệ với Mỹ, ta và các bạn còn có những khoảng cách nhất định về thời điểm và sách lược đánh-đàm, bằng biện pháp khôn khéo, ta vẫn duy trì được đoàn kết tay đôi với cả Liên Xô và Trung Quốc, tranh thủ sự đồng tình của hai nước đồng minh lớn đối với đường lối chống Mỹ, cứu nước nói chung và chủ trương, sách lược đàm phán Paris nói riêng.

        Nhận rõ âm mưu của Nhà Trắng lợi dụng hoà hoãn để kiềm chế sự ủng hộ của Liên Xô, Trung Quốc đối với cuộc kháng chiến cũng như chiến lược đánh - đàm của nhân dân ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo "Mọi âm mưu của đế quốc Mỹ hòng chia rẽ Việt Nam với Trung Quốc và chia rẽ các nước xã hội chủ nghĩa sẽ thất bại thảm hại [12].

        Kết quả là, trong suốt 20 năm chiến đấu vì độc lập, tự do của mình, Việt Nam vẫn nhận được sự giúp đỡ, ủng hộ to lớn nhiều mặt của Liên Xô, Trung Quốc và các nước anh em khác. Điều đó trở thành yếu tố góp phần quyết định thắng lợi của nhân dân ta trên chiến trường và bàn đàm phán.

        4. Cuối cùng, cùng với đường lối chiến lược đúng đắn đầy trí tuệ của Đảng và Nhà nước ta, nhân tố có tính bao trùm, nhất quán từ lịch sử cho đến hiện đại tạo thành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước được thể hiện rõ nét trong cuộc đàm phán Paris là chủ nghĩa nhân văn Việt Nam được vận dụng ở mức độ cao dưới ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh trong tất cả lĩnh vực hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.

        Những biểu hiện của chủ nghĩa nhân văn Việt Nam được thể hiện nhất quán, xuyên suốt theo chiều dài lịch sử dân tộc, từ việc "dùng biên sĩ bàn hoà, không tốn máu xương mà bảo tồn tôn miều" của Lý Thường Kiệt đến phương châm chiến lược "lấy đại nghĩa thắng hung tàn, đem chí nhân thay cường bạo" và tổ chức Hội thề Đông Quan để buộc địch lui quân của Nguyễn Trãi và dù đánh Đông dẹp Bắc vẫn nghĩ tới việc "dùng ngọn bút thay giáp binh" của Nguyễn Huệ. Qua đó, chủ nghĩa nhân văn Việt Nam còn được sử dụng như một biện pháp đối ngoại trong thế thượng phong, khoan dung và cao đẹp nhằm bảo vệ độc lập dân tộc và sự bình yên cho con người và đất nước.

        Trong công cuộc chống Mỹ, cứu nước, mục tiêu nhất quán trong đấu tranh trên mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao và tại bàn đàm phán Paris là nhằm làm thất bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, rút quân về nước, sớm kết thúc cuộc chiến phi nghĩa, tàn bạo, huỷ diệt con người và của cải vật chất xã hội. Ý niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về sẵn sàng trải thảm đỏ, cùng uống nước chè thay vì đánh nhau, và sẽ tống tiễn lịch sự nếu Mỹ chịu rút quân theo chủ trương: "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào" là những biểu hiện có tính nhân văn cao cả của Việt Nam.

        Tiến công ngoại giao từ tháng Giêng 1967 buộc địch xuống thang chiến tranh, ngồi vào bàn đàm phán tay đôi khi ta chưa tung ra quả đấm chiến lược về quân sự là điều khôn ngoan, sáng tạo Việt Nam, biết dùng phương tiện đấu tranh hoà bình chống lại biện pháp chiến tranh huỷ diệt cường độ cao, lấy đối thoại hoà bình thay cho đối đầu quân sự. Trong vận động quốc tế, chính sách đối ngoại hướng tới tập hợp lực lượng lương tri nhân loại, tranh thủ tình cảm của loài người tiến bộ. Trong cuộc đối đầu với bom đạn Mỹ, nhân dân Việt Nam luôn ngẩng cao đầu, nhưng đồng thời Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và nhân dân ta không tạo ra hận thù dân tộc với người Mỹ, nước Mỹ, trái lại coi nhân dân Mỹ là bạn. Đánh quân xâm lược Mỹ nhưng vẫn trân trọng truyền thống tự do của nhân dân Mỹ. Phải chăng đó cũng là điều được khơi dậy từ chủ nghĩa nhân văn Việt Nam.

        Nhiều người nước ngoài cho rằng: "Hà Nội là thủ đô của phẩm giá con người", "Việt Nam là trái tim của nhân loại". David Halberstam, một học giả Mỹ khẳng định: Cụ Hồ Chí Minh chẳng những đã giải phóng đất nước mình, đã thay đổi được chiều hướng của chế độ thuộc địa của châu Á lẫn châu Phi mà Cụ còn làm được một việc đáng chú ý hơn: dùng tới văn hoá và tâm hồn kẻ địch để chiến thắng [13].

         Có thể thấy cuộc kháng chiến và ngoại giao trong chống Mỹ, cứu nước và đặc biệt, thông qua cuộc đàm phán Paris đã kế thừa, thấm đượm và phát huy cao độ lòng nhân ái Việt Nam từ mục đích, động lực đến hệ quả của nó. Tiến sĩ Modagat Ai Mệt, Giám đốc UNESCO khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trân trọng nhìn nhận về cuộc đời Hồ Chí Minh và cuộc kháng chiến của dân tộc ta: Trong khi chiến đấu cả đời mình chống lại ách thống trị thực dân, Người.vẫn là một nhà nhân văn chân chính trong tư tưởng và hành động [14]. Nhà sử họe Italia lại đánh giá tài năng tuyệt vời của Chủ tịch Hồ Chí Minh thông qua việc dùng ngoại giao để vượt qua thách thức, khó khăn:.., là một nhà chính trị tầm cỡ, Người có khả năng phân biệt được cái gì có tính chất sống còn bắt buộc phải chiến đấu, và cái gì có thể đàm phán, dù là đau đớn; điều đó tạo thành năng lực đứng vững trên đường lối chiến lược, đồng thời vận động giữa những sự cản trở cực kỳ to lớn [15].

*

        Thành tựu và bài học độc 1ập tự chủ, tự lập tự cường đi đôi với mở  rộng quan hệ quốc tế và nhạy bén chuyển thế trận kịp thời giành thắng lợi quyết định trên mặt trận ngoại giao trong cuộc đàm phán Paris, chắc sẽ phải là điều bổ ích trong việc thực thi đường lối đối ngoại đối với thế hệ hôm nay, khi đất nước đi vào đổi mới, hội nhập quốc tế. Hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh chính là những tiêu chí cơ bản của ngoại giao trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước và cuộc đàm phán Paris lịch sử. Những điều đó cũng là mục tiêu lâu dài và ước vọng thiết tha suốt đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

Bao giờ Nam Bắc một nhà,
Dân giàu nước mạnh thì ta vui, lòng
[16]
-------------------------
[12] Hồ Chí Minh: Toàn tập, t. 12, tr. 549.
[13]. David Halberstam: Hồ, Random House, New York, 1970.
[14], [15]. UNESCO và Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam: Kỷ yếu Hội thảo quốc tê. Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá lớn, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1990.
[16]. HỒ Chí Minh:.Toàn tập, t.11, tr. 280


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Ba, 2012, 09:00:53 am

VỀ CÁC CUỘC ĐÀM PHẢN BÍ MẬT

NGUYỄN ĐÌNH PHƯƠNG                

         Nguyên thành viên kiêm phiên dịch Đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Hội nghị Paris về Việt Nam, nguyên Vụ trưởng Vụ Tây Bắc Âu Bộ Ngoại giao, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Thụy Điển, kiêm nhiệm Nauy, Phần Lan, Đan Mạch và Aixơlen.

        Vừa qua, vào dịp kỷ niệm 30 năm ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam, sau khi báo Tiền Phong (ra ngày 1 tháng Giêng 2003) đăng bài của X.B nhan đề "Câu chuyện của người mà Lê Đức Thọ và Kissinger đều cần... ", nhiều người bạn khuyên tôi nên viết về cuộc đàm phán bí mật Việt Nam - Hoa Kỳ, vì theo họ tôi chính là một nhân chứng sống.

        Thực ra, sách báo đã viết nhiều về cuộc đàm phán giữa ta và Mỹ, nhưng còn ít bài đi sâu phân tích nội dung các cuộc thương lượng bí mật, nhất là còn ít đề cập vai trò của những người trực tiếp đối thoại với Mỹ, là Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Bộ trưởng- Trưởng đoàn Xuân Thuỷ (mà anh em trong đoàn đàm phán quen gọi thân mật là anh Sáu, anh Xuân). Vẫn biết rằng thắng lợi đàm phán là thắng lợi của đường lối kháng chiến độc lập, tự chủ đi đôi với đoàn kết quốc tế, là chiến công tập thể mà công đầu thuộc về sự chỉ đạo chặt chẽ và sắc bén của Bộ Chính trị Trung ương Đảng; rằng "không ai được kể công với Đảng và nhân dân" như cố Tổng Bí thư Lê Duẩn đã phát biểu sau ngày chiến thắng. Nhưng cũng với tinh thần thực sự cầu thị "công của ai, đến đâu, thì phải nói đến đó đúng sự thật", ta không thể không nói đến vai trò của những người đứng mũi chịu.sào trong trận chiến ngoại giao lịch sử ấy. Bởi lẽ trên bàn đàm phán với đối thủ lắm mưu nhiều kế, đại diện cho cường quốc số một trên thế giới thì việc thể hiện lập trường quan điểm của Đảng sao cho phù hợp với so sánh lực lượng hai bên, tình hình chiến trường, tình hình chính trị nước ta, nước Mỹ và thế giới, đồng thời đáp ứng được dư luận quốc tế, là điều không hề đơn giản. Trên thực tế, để có thể biến chiến thắng trên chiến trường thành thắng lợi trên bàn hội nghị, phát huy thế chính nghĩa, thế thắng của ta nhằm góp phần kéo địch xuống thang và chấm dứt chiến tranh, chấp nhận một giải pháp chính trị theo đúng tinh thần chỉ đạo từ trong nước thì vai trò của anh Sáu, anh Xuân, nhất là của anh Sáu, là quyết định.

        Với mong muốn làm sống lại phần nào những năm tháng đấu tranh gay go, căng thẳng trên bàn thương lượng và qua đó góp phần khắc hoạ chân dung những "người anh hùng" của nền ngoại giao Việt Nam thời kỳ chống Mỹ, xin được kể lại đôi điều về cái thời oanh liệt ấy mà bản thân tôi đã trực tiếp "tai nghe, mắt thấy".

        Xin được bắt đầu câu chuyện từ thời điểm tháng Năm 1968, khi tôi được chỉ định là người phiên dịch chính cho Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ (người vừa từ chiến trường ra theo lệnh của Bác Hồ) và cho Bộ trưởng Xuân Thuỷ (lúc đó là Bí thư Trung ương Đảng). Đây là một vinh dự to lớn và cũng là một nhiệm vụ hết sức nặng nề đối với tôi Mặc dù đã được trang bị vốn tiếng Anh tại trường Bưởi - nhưng chủ yếu qua sách vở, ít thực hành mặc dù cũng đã kinh qua mười mấy năm công tác trong ngành ngoại giao trước khi đi Paris, từ lúc còn là thành viên Ban thi hành Hiệp định Genève 1954, nhưng đến nay tôi vẫn chưa thể hình dung nổi làm sao mình lại có thể đảm đương được nhiệm vụ phiên dịch chính trong cuộc đàm phán Việt Nam - Hoa Kỳ lúc đó.

        Giờ đây, tôi thật mãn nguyện khi hồi tưởng lại cái thời bản thân mình đã được là cầu nối ngôn ngữ giữa một bên là đại diện cho Hoa Kỳ, một cường quốc phương Tây với ưu thế vượt trội về sức mạnh kinh tế, quân sự, khoa học, công nghệ và một bên là đại diện cho Việt Nam, một nước phương Đông nhỏ bé, nghèo nàn, lạc hậu nhưng có truyền thống văn hoá, lịch sử rất đáng tự hào. Sự khác biệt giữa hai nền văn hoá phương Đông và phương Tây mà đại diện là Lê Đức Thọ và Kissinger và "cuộc chiến" giữa hai con người độc đáo này trong suốt thời gian diễn ra Hội nghị Paris đã để lại trong tôi những ấn tượng sâu sắc không thể nào quên. Nếu như Kissinger, một giáo sư Đại học Harvard, được thế giới biết đến như một môn đệ của Metternich [1] hay của Machiavel [2] thì tiểu sử của Lê Đức Thọ lại giản dị hơn nhiều, giản dị như một câu chuyện dân gian phương Đông. Anh Sáu không được đào tạo qua bất cứ trường học danh tiếng nào. Trường học của anh là trường học thực tiễn, là kinh nghiệm sống chắt lọc qua những năm tháng đi theo cách mạng từ lúc còn tuổi vị thành niên trở thành nhà hoạt động cách mạng chuyên nghiệp, một nhà lãnh đạo cách mạng xuất sắc của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chính cái thần toát ra từ con người anh đã khiến đồng đội tin tưởng và đối phương phải kính nể.

        Là phiên dịch nên tôi được tham gia trực tiếp vào tất cả các cuộc đàm phán giữa ta và Mỹ, kể cả công khai lẫn bí mật. Được chứng kiến những trận đấu trí, đấu lý căng thẳng, quyết liệt giữa hai bên, tôi càng khâm phục bản lĩnh, trình độ và phẩm chất của anh Sáu, anh Xuân. Các anh đã hội tụ đầy đủ những đức tính nhất thiết phải có của người đại diện Việt Nam trong đàm phán với Mỹ: kiên quyết giữ vững lập trường nguyên tắc, linh hoạt về chi tiết, quyết đoán khi cấp bách, sắc sảo trong nhận định. Đối với đối phương thì kiên trì thuyết phục, nhẫn nại lắng nghe, bình tĩnh giải thích, nhưng lúc cần cũng tỏ công phẫn và to tiếng, nhất là trong tư thế của anh Sáu. Các anh đã luôn giữ được thế chủ động và sáng tạo trong đàm phán.

        Tại Paris bên cạnh quá trình đàm phán công khai, đã diễn ra các cuộc đàm mật. Tại đàm phán công khai, tất cả các thành viên của mỗi đoàn đều có mặt. Anh Xuân thay mặt Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là người phát ngôn. Tại diễn đàn bí mật, trong giai đoạn I, về phía ta chỉ có anh Sáu, anh Xuân và một vài cố vấn cùng chuyên viên; về phía Hoa Kỳ, chỉ có A. Haniman (Trưởng đoàn Mỹ, nhà ngoại giao kỳ cựu, nổi tiếng là người thương lượng sành sỏi, đã từng làm đại diện cho Tổng thống Roosevelt làm việc với Stalin), Vance (Phó trưởng đoàn Mỹ) và vài chuyên viên. Anh Xuân là người phát ngôn trong những cuộc gặp riêng đầu tiên, đến khi anh Sáu sang Pans thì anh Sáu phát ngôn với tư cách Cố vấn đặc biệt của Đoàn Việt Nam. Sang giai đoạn II của đàm phán bí mật, thành phần Đoàn ta như giai đoạn I và anh Sáu là người trực tiếp thương thuyết trong mọi cuộc gặp riêng với Kissinger, trợ lý của Tổng thống Nixon, người được Chính phủ Hoa Kỳ đặc phái đến Paris để thúc đẩy đàm phán.
--------------------
[1] Nhà ngoại giao nổi tiếng người áo, từng chủ trì Hội nghị Viên để chia lại châu âu sau khi Napoléon thua trận.
[2]. Nhà ngoại giao, nhà văn, nhà triết học và chính trị gia nổi tiếng người Italia thế kỷ XVI, được biết đến với tác phẩm nổi tiếng Quân vương (Le Prince).



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Ba, 2012, 09:02:35 am
        Phải thừa nhận rằng các cuộc đàm phán bí mật luôn đóng vai trò quan trọng và có tính quyết định, vì nó thường đi vào thương lượng và giải quyết những vấn đề thực chất. Do các vấn đề được đưa ra tranh luận vô cùng phức tạp, yêu cầu của hai bên đối với từng vấn đề là trái ngược nhau, với lập trường lại hoàn toàn khác nhau, phải mặc cả với nhau trên từng chi tiết nên các cuộc đàm phán đều rất căng thẳng và kéo dài. Việc thu hẹp khoảng cách về lập trường, quan điểm, yêu cầu giữa hai bên trở nên hết sức khó khăn, thậm chí nhiều khi rất gay go và quyết liệt. Ngược lại, cũng có lúc đàm phán là để kéo dài thời gian, "che chắn" cho chiến trường, kẻo địch xuống thang từng bước. Chính vì tầm quan trọng như vậy nên thành phần tham gia các cuộc gặp riêng rất hạn chế, địa điểm cũng thường xuyên thay đổi và được giữ bí mật tuyệt đối.

        Trong các cuộc thương lượng bí mật này, ta phải chú ý từng lời, từng câu, từng chữ của đối phương, dò đoán ý đồ của họ để có cách đối đáp thích hợp. Ngôn ngữ, thái độ phải đàng hoàng, nghiêm túc, kín đáo, không được để lộ ý đồ của ta. Chính các cuộc đàm phán bí mật đã để lại trong tôi ấn tượng lâu dài về anh Sáu, anh Xuân. Dưới sự chỉ đạo sáng suất của Bộ Chính trị và sự hỗ trợ hiệu quả từ trong nước, các anh không những đã hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ được giao mà còn biết vận dụng một cách khéo léo và linh hoạt những chủ trương, kế sách của ta vào từng tình huống cụ thể nhằm giành được thắng lợi ở mức cao nhất có thê được. Các anh đã thể hiện bản lĩnh của chiến sĩ cách mạng, tạo thành một "cặp" vô cùng lợi hại, phối hợp ăn ý, bổ sung cho nhau, lúc anh Xuân "cương" thì anh Sáu "nhu" và có lúc thì ngược lại, nhưng anh Sáu đa phần là "cương', mà "cương" rất đúng lúc và có lý. Chính cái uy của các anh đã khiến đối phương phải vị nể. Kissinger, trong một cuộc họp kín với hai anh, đã phải thú nhận: "Chúng tôi bất ngờ gặp phải các ông là đối phương chứ chúng tôi không lựa chọn.. Nếu chúng tôi lựa chọn thì chúng tôi lựa chọn đối phương dễ tính hơn" [3]

        Các vấn đề cốt yếu được bàn thảo trong các cuộc gặp riêng (ở giai đoạn I) đều tập trung vào việc đòi Mỹ phải chấm dứt ném bom miền Bắc vô điều kiện và định ngày bắt đầu họp chính thức Hội nghị bốn bên. Thực chất, ném bom miền Bắc là con chủ bài của Mỹ nhằm cản trở miền Bắc tiếp tế cho miền Nam, qua đó hạn chế khả năng của nhân dân miền Nam chiến đấu chống quân xâm lược Mỹ và chế độ Sài Gòn. Vì vậy, Mỹ đòi ta phải trả giá cho việc họ chấm dứt ném bom, đặt ra nhiều điều kiện theo nguyên tắc "có đi có lại". Đây là một vấn đề hóc búa. Lúc đầu, nhiều nước bạn bè cho là ta đòi hỏi quá cao. Nhưng ta vẫn cương quyết yêu cầu Mỹ phải ngừng ném bom vô điều kiện trước khi đi vào thương lượng giải pháp và kiên trì theo đuổi mục tiêu này trong suốt giai đoạn I của cuộc đàm phán. Cuối cùng, Mỹ buộc phải rút bỏ dần các điều kiện, chỉ yêu cầu: sau khi Mỹ chấm dứt ném bom sẽ có đàm phán "nghiêm chỉnh" tìm giải pháp.cho vấn đề Việt Nam, với sự tham gia của Hoa Kỳ, chính quyền Sài Gòn, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

        Trong suốt quá trình tham gia đàm phán với Mỹ ở Paris, ấn tượng lớn nhất của tôi là Bộ trưởng Xuân Thuỷ lúc nào cũng xuất hiện với nụ cười rất tươi. Nhưng trong lần đối diện với Harriman tại cuộc gặp bí mật ngày 21 tháng Tám 1968, nụ cười ấy đã tắt khi anh Xuân nghe Harriman đơn phương đòi có đại diện của chính quyền Sài Gòn trong đàm phán (vào thời điểm đó, cục diện chưa thay đổi nên ta chưa tính đến việc sẽ có đại diện bốn bên trong Hội nghị Paris). Anh đã thẳng thừng bác bỏ:

- "Tôi nói thẳng để ông biết, ngụy quyền Sài Gòn không phải là đại diện cho nhân dân miền Nam Việt Nam, chúng tôi không thừa nhận Thiệu-Kỳ".

        Sau khi Harriman có ý dọa là ".., nếu không nói chuyện nghiêm chỉnh thì chiến tranh còn tiếp tục, bom lại rơi trên đầu các ông!", anh Xuân Thuỷ đập tay xuống bàn, to tiếng:

 - "Ông dọa à, dọa ném bom trở lại à? Chúng tôi sẵn sàng chống lại!".

        Lúc ấy, anh Thọ, bình tĩnh hơn, nhẹ nhàng lên tiếng:

 - "Ông dọa bằng chiến tranh không được đâu. Chúng ta đã đánh nhau nhiều năm rồi còn lạ gì nhau".

        Tôi thật sự thán phục trước thái độ cương quyết và sự bình tĩnh ứng phó của hai anh. Tôi tự hỏi không biết lúc đó Harriman nghĩ gì, liệu ông ta và chính quyền Johnson có thật sự muốn ném bom trở lại không hay đó chỉ là con bài cuối cùng họ mang ra "nắn gân" chúng ta. Chỉ thấy ông ta ngồi lặng một lát rồi lẩm bẩm nói:

 - "Tôi rút câu nói về bom rơi trên đầu các ông...".
--------------------
[3] Lưu Văn Lợi - Nguyễn Anh Vũ: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ Kissinger tạo Pans, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, 2002, ti. 362.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Ba, 2012, 09:12:00 am
        Khi bàn về khoảng thời gian từ ngày Mỹ chấm dứt ném bom đến ngày bắt đầu họp phiên đầu tiên của Hội nghị bốn bên, Harriman đòi thêm bớt từng ngày, thậm chí từng giờ. Anh Sáu ca thán với chúng tôi: "Bọn này bủn xỉn quá nhỉ, việc lớn đã định rồi mà còn nèo kéo về chi tiết". Rồi lại đến lượt chính quyền Thiệu chống phá, hết đòi phải có thêm thời gian, lại đòi chỉ nói chuyện với Hà Nội hoặc đòi miền Bắc phải rút quân. Đàm phán vì thế mà kéo dài đến tận ngày 27 tháng Mười 1968. Chỉ đến ngày 31 tháng Mười 1968, khi không thể thuyết phục được Sài Gòn, Tổng thống Johnson mới ra lệnh ngừng ném bom miền Bắc - quyết định đi một mình mà không có sự thống nhất của Sài Gòn. Cuộc họp bốn bên dự trù vào ngày 6 tháng Mười một 1968 đã phải lùi lại tới tận ngày 25 tháng Giêng 1969. Mãi đến sau này, khi bầu cử ở Mỹ kết thúc và đàm phán được nối lại, trong lúc tranh luận về hình thù cái bàn đàm phán, ta mới hiểu ra ý đồ dây dưa, kéo dài của chính quyền Thiệu vĩ tin Nixon sẽ đắc cử và muốn chờ ông ta lên làm Tổng thống Mỹ rồi mới tham gia nói chuyện bốn bên, hy vọng sẽ được Nixon ủng hộ nhiều hơn.

        Bước sang giai đoạn II các cuộc họp bí mật, đàm phán càng thêm căng thẳng, phức tạp vì mở rộng ra nhiều vấn đề hóc búa, khó dung hoà. Vấn đề mấu chốt được bàn đến nhiều nhất là rút quân các bên. Phía Việt Nam đòi rút hết quân Mỹ và quân đồng minh của Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam. Còn phía Mỹ đòi cả quân miền Bắc Việt Nam phải cùng rút với việc rút quân Mỹ và quân đồng minh. Mục tiêu cuối cùng của Mỹ là đưa được quân và tù binh về nước nhưng vẫn giữ được chính quyền Sài Gòn. Còn ta thì đòi thay chính quyền này bằng một chính phủ liên hiệp ba thành phần tán thành hoà bình, trung lập sau khi quân Mỹ và quân đồng minh được rút hết về nước họ.

        Đàm phán bí mật giai đoạn này đụng đến vấn đề dường như không thể nhân nhượng nên bên nào cũng cố giữ lập trường của mình làm cho đàm phán có nguy cơ lâm vào bế tắc. Chính vào những thời điểm khó khăn nhất mới thấy rõ được tài ứng xử của các nhà thương.thuyết Việt Nam.

        Để khai thông vấn đề, Đoàn ta đã áp dụng một chiến thuật hết sức sáng tạo và linh.hoạt: lắng nghe đối phương trình bày nhưng vẫn kiên quyết giữ lập trường của mình; dùng lý lẽ mang tính thuyết phục cao để bẻ gãy lập luận của đối phương; khi họ căng thì ta chuyển sang các vấn đề khác, rồi sau lại quay lại vấn đề ban đầu. Việc luôn biết cách làm giảm bầu không khí căng thẳng trong phòng họp mỗi khi bàn đến những vấn đề gai góc mà hai bên còn nhiều bất đồng cũng góp phần làm cho đàm phán không bị đổ vỡ. Tôi có cảm tưởng rằng trong những con người lãnh đạo của Đoàn ta mà tôi phải chăm chú theo dõi để phiên dịch ấy luôn có cái gì đó làm đối phương phải kính nể. Những luận điểm sắc bén của hai anh đã làm cho Kissinger bị thuyết phục, cuối cùng buộc phải nhân nhượng trong một loạt vấn đề đàm phán, như buộc phải chấp nhận rút quân đơn phương mà không nhắc đến sự có mặt của quân đội miền Bắc và không đòi quân miền Bắc phục viên sau hoà bình và "trở về nguyên quán"; nhất trí thành lập một cơ cấu hành chính ba thành phần là hội đồng quốc gia hoà hợp và hoà giải dân tộc; từ bỏ ý đồ dành cho chính quyền Thiệu ưu thế quyết định ở miền Nám Việt Nam; rút bớt yêu cầu để lại ở miền Nam các nhân viên dân sự phục vụ quân sự trong thời gian từ hai năm xuống 15 tháng, rồi 14 tháng, cuối cùng là 12 tháng và nhiều vấn đề khác... Có thể nói thắng lợi có ý nghĩa to lớn nhất và quan trọng nhất trong cuộc đàm phán Paris là hai bên đi đến thoả thuận quân Mỹ và quân đồng minh rút, trong khi quân miền Bắc vẫn ở lại miền Nam Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi tiến tới "đánh cho ngụy nhào", giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

        Có một câu chuyện trong đàm phán bí mật khiến tôi nhớ mãi: một lần, Kissinger lặng lẽ ngậm bút chì ngồi nghe anh Sáu thuyết trình, còn tôi chăm chú lắng nghe và cố gắng chuyển tải hết ý của anh trong khi dịch. Đột nhiên, Kissinger hỏi: "Ngài Cố vấn qua Bắc Kinh và Mátxcơva chắc có nghe các bạn của Ngài thông báo về ý kiến chúng tôi trong cuộc đàm phán này?" (ám chỉ việc Nixon sang thăm Trung Quốc và Liên Xô). Trước sự khiêu khích đó, không cần suy nghĩ, anh Sáu trả lời ngay: "Chúng tôi chiến đấu chống lại quân đội của các ông trên chiến trường và cũng chính chúng tôi đã đàm phán với các ông trên bàn hội nghị. Các bạn của chúng tôi hết lòng ủng hộ chúng tôi nhưng không làm thay chúng tôi được!". Một lần khác, khi anh Sáu phê phán đề nghị rút quân mà Kissinger đưa ra là một bước lùi so với những thoả thuận mà hai bên đã đạt được từ trước, Kissinger nói: "Lê nin nói: một bước lùi, hai bước tiến. Tôi học tập Lênỉn đấy". Anh Sáu đập lại ngay: "Chủ nghĩa Lê nin phải được vận dụng linh hoạt. Còn ông thì máy móc". Chỉ một vài câu đối đáp ngắn thôi cũng đủ thấy khả năng ứng đối trôi chảy, linh hoạt và sắc sảo của anh, đó cũng chính là một trong những điều mà tôi luôn khâm phục ở anh.

        Dần dần, sau bốn năm thương lượng với nhiều phiên họp kín, mọi vấn đề đã được thoả thuận như trên Dự thảo Hiệp định ngày 20 tháng Mười 1972 giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Hoa Kỳ. Tuy hai bên đã lên kế hoạch cho thời gian ký tắt Hiệp định tại Hà Nội và dự kiến lễ ký chính thức tại Paris, vào ngày 31 tháng Mười năm đó, nhưng sau khi đã nắm chắc khả năng tái cử, Tổng thống Nixon đã lật lọng không thực hiện cam kết, với cớ là Thiệu phản đối Hiệp định và đòi sửa đổi nhiều điều khoản.

        Trong hai đợt đàm phán trở lại vào cuối năm 1972, ta cương quyết bác bỏ những đòi hỏi sửa đổi vô lý văn bản đã thoả thuận, vạch trần ý đồ chia cắt lâu dài Việt Nam của Mỹ và bác bỏ đề nghị của phía Mỹ muốn ghi vào Hiệp định "miền Bắc và miền Nam tôn trọng lãnh thổ của nhau'. Khi Kissinger nêu lại vấn đề đòi rút hết quân miền Bắc, anh Sáu bình tĩnh lập luận: "Tổng thống Nixon nói đến danh dự nước Mỹ, chúng tôi cũng có danh dự của chúng tôi. Các ông đem quân đến xâm lược nước chúng tôi, bây giờ các ông phải rút đi, lại đòi chúng tôi, những người chống xâm lược, cùng rút Nếu có như vậy trong Hiệp định thì nhân dân chúng tôi làm sao mà chịu nổi'. Có lúc, anh Sáu rất cương quyết trước thái độ tráo trở của Kissinger. Anh đã nói thẳng với Kissinger khi ông ta không chịu tuân thủ các nguyên tắc đã được thoả thuận về chính trị nội bộ miền Nam : "Về Chương IV (về quyền tự quyết của nhân dân miền Nam) thì đúng là tối hậu thư”.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Ba, 2012, 09:12:33 am
        Mặc dù luôn cứng rắn trên các vấn đề thuộc về nguyên tắc, nhưng ta cũng rất mềm dẻo, linh hoạt khi xử lý từng vấn đề cụ thể. Ví dụ khi Mỹ không đòi rút quân miền Bắc thì ta không đòi giải tán chính quyền Thiệu. Đặc biệt là khi Mỹ đòi sửa Điều 1 của Dự thảo Hiệp định: "Hoa Kỳ tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam” lúc đầu anh Sáu không chịu. Kissinger nhăn nhó: "Thưa ông Cố vấn, nước Mỹ chưa bao giờ ký một hiệp định nào ràng buộc như vậy!". Thế là anh Sáu gợi ý ghi thêm vào cụm từ "Hoa Kỳ và các nước khác...", Kissinger thấy hợp lý nên đồng ý ngay. Hai bên cũng nhất trí thay chữ "Mỹ" bằng chữ  "nước ngoài" trong câu: Mỹ không được áp đặt bất cứ xu hướng chính trị hoặc cá nhân nào đối với nhân dân miền Nam Việt Nam (Điều 9c). Khi soạn thảo tên của Hiệp định, ta cũng chấp nhận đề nghị của phía Mỹ bỏ hai chữ "xâm lược" sau chữ "chiến tranh" trong dự thảo do ta đưa ra ngày 8 tháng Mười 1972, tên chính thức của Hiệp định là: Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam.

        Như vậy, về thực chất, các cuộc đàm phán bí mật trong tháng Mười một và Mười hai 1972 là thương lượng lại Hiệp định đã được thoả thuận ngày 20 tháng Mười 1972. Do phía Mỹ rắp tâm muốn lật lại các điều khoản đã thoả thuận, còn ta thì kiên quyết giữ vững những nội dung đã đạt được, nên đàm phán kéo dài, dai dẳng hết giờ này sang giờ khác, rất căng thẳng và phức tạp (có những phiên họp kéo dài suốt 22 giờ đồng hồ). Nhờ chuẩn bị sẵn nhiều phương án, nên khi Kissinger đòi sửa một điểm, anh Sáu cũng đòi sửa một điểm khác, Kissinger nhượng bộ một điểm, thì anh Sáu cũng nhượng bộ một điểm khác. Cứ như là trong đầu anh đã có sẵn một loạt vấn đề có thể đổi chác được, khi cần là có thể đưa ra ngay để mặc cả, ứng phó rất nhanh với Kissinger.

Sau khi Mỹ thất bại trong hành động dùng máy bay B-52 ném bom huỷ diệt Hà Nội, Hải Phòng cuối tháng Mười hai. 1972 hòng buộc ta phải chấp nhận giải pháp của Mỹ, đàm phán được nối lại và anh Sáu cũng đã quay trở lại Paris.

Ngày mồng 8 tháng Giêng 1973, trên đường đến chỗ họp tại Gif sur Yvette, anh Sáu dặn: "Hôm nay toàn Đoàn ta không thèm ra cửa đón Đoàn Mỹ như thông lệ. Mình sẽ phê phán Mỹ mạnh đấy, sẽ nói Mỹ ném bom đợt Noel là ngu xuẩn, cậu dịch câu ấy cho đúng tinh thần...". Vào buổi họp, anh Sáu làm thật. Dù đã được dặn trước và đã trực tiếp chứng kiến hàng chục lần Cố vấn "cương", nhưng chưa lần nào tôi thấy anh trút cơn thịnh nộ lên đối phương như buổi sáng hôm ấy! Lừa dối, ngu xuẩn, tráo trở, lật lọng... Thôi thì đủ cả! Kissinger chỉ biết cúi đầu nghe, không dám phản ứng gì. Mãi sau ông ta mới lắp bắp nói: " Tôi có nghe thấy những tính từ...Tôi xin không dùng những tính từ đó ở đây!". Anh Sáu, vẫn trong tư thế của người chiến thắng, đáp ngay: "Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ còn các nhà báo họ còn dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!". Mặc dù quy định nghề nghiệp buộc tôi phải dịch đúng, trung thực, khách quan, tránh bộc lộ tình cảm của mình nhưng không chắc lúc đó, tôi có thể kiềm chế nổi sự sung sướng pha chút tự hào trước thái độ quyết liệt của anh Sáu và sự chống đỡ yếu ớt của Kissinger.

        Sau nhiều năm giằng co trên bàn hội nghị, cuối cùng chúng ta đã đạt được những vấn đề thuộc về nguyên tắc, mà khó khăn, dai dẳng và phức tạp nhất là vấn đề quân miền Bắc vẫn ở lại miền Nam. Cùng với sự chỉ đạo, giúp đỡ từ trong nước, sự hỗ trợ của anh em trong Đoàn, bản thân anh Sáu Thọ cũng phải lao tâm khổ lực trong việc thăm dò ý tứ đối phương để tìm lập luận vừa thể hiện sự mềm mỏng, khéo léo nhưng vừa kiên quyết chứng tỏ quyết tâm của ta trong vấn đề này: "dứt khoát không có chuyện rút quân miền Bắc". Chính bản lĩnh, tài năng và ý chí của anh đã khiến Kissinger phải nhượng bộ từng bước, đến phút chót đành rút bỏ vấn đề rút quân miền Bắc, chịu đi vào thảo luận các nghị định thư và định ra thể thức ký Hiệp định để nhanh chóng kết thúc vòng đàm phán cuối cùng vào ngày 13 tháng Giêng 1973.

        Ngày 27 tháng Giêng 1973, chứng kiến đại diện của các bên ký bản Hiệp định Paris, tôi không thể nào kiềm chế nổi sự xúc động trào dâng trong lòng. Mong ước cháy bỏng của tôi và các anh em khác trong Đoàn cuối cùng cũng đã trở thành hiện thực. Tôi thở phào nhẹ nhõm như vừa trút được gánh nặng đè lên vai mình trong suốt thời gian dài tham gia phục vụ đàm phán.

        Điều cuối cùng tôi muốn nói là người phiên dịch phải giữ vai trò trung gian trong quá trình chuyển tải ngôn ngữ, cố không để lộ tình cảm của mình ra nét mặt hay trong giọng nói. Tuy nhiên, trong khi dịch cho anh Sáu đàm phán với Kissinger, tôi không chắc mình có làm được như vậy không vì dù sao tôi cũng là người của một bên trong cuộc. Chỉ nhớ trong suốt quá trình thương lượng, tôi luôn tự hào được làm người phiên dịch cho những đại diện của Việt Nam đầy bản lĩnh và tài trí, đã khiến đối phương phải vì nể, thán phục sau các cuộc đấu lý, đấu trí tay đôi, căng thẳng, kéo dài tại cuộc đàm phán bí mật ở Paris.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Ba, 2012, 11:29:47 am

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/LuuVanLoi.jpg)

KISSINGER ĐỐI DIỆN VỚI LÊ ĐỨC THỌ

LUU VĂN LỢI                

         Nguyên cố vấn pháp lý của Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ tại Hội nghị Paris về Việt Nam, nguyên Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ.

        Cuộc đàm phán Việt Nam - Hoa Kỳ giữa Bộ trưởng Xuân Thuỷ với Thứ trưởng A. Harnman tại Paris bắt đầu ngày 13 tháng Năm 1968 và kết thúc ngày 1 tháng Mười một 1968 bằng việc Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đồng thời mở ra cuộc hội nghị bốn bên: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa, để tìm một giải pháp cho vấn đề Việt Nam.

        Sau những cuộc tranh cãi về thủ tục, chủ yếu là quy định chỗ ngồi cho mỗi đoàn, ngày 25 tháng Giêng 1969, Hội nghị bốn bên khai mạc tại Trung tâm Hội nghị quốc tế đường Kléber, Paris. Tại diễn đàn này, các bên đã có thể trình bày và thảo luận các khía cạnh thực chất của giải pháp cho vấn đề Việt Nam, tại sao còn cần các cuộc gặp bí mật giữa Việt Nam và Mỹ nữa?

        Sự thật, Hội nghị tại Kléber là một diễn đàn công khai rất quan trọng đối với ta nhằm đấu tranh buộc địch xuống thang chiến tranh, đơn phương rút từng bộ phận quân Mỹ, khoét sâu mâu thuẫn trong nội bộ Mỹ, nội bộ nguy, mâu thuẫn Mỹ - nguy, đề cao vị trí quốc tế của Mặt trận Dân tộc Giải phóng và Chính phủ Cách mạng lâm thời, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ quốc tế, bao gồm của cả nhân dân Mỹ đối với sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân ta. Tuy nhiên, là diễn đàn công khai, Hội nghị bốn bên không phải là nơi bàn bạc cụ thể một giải pháp mà ta và Mỹ có thể chấp nhận được Cả phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ đều thấy như vậy. Cho nên, do sự sắp xếp của Mỹ thông qua Jean Sainteny, nguyên Tổng đại diện của Pháp tại Hà Nội, ngày 4 tháng Tám 1 969, Bộ trưởng Xuân Thủy, Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã nhận gặp riêng Kissinger, Cố vấn an ninh của Nhà Trắng, mở đầu một diễn đàn mới, diễn đàn bí mật giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ. Đây là một điều đặc biệt của cuộc đàm phán Paris.

        Ta đã kết hợp chặt chẽ giữa diễn đàn công khai bốn bên với gặp riêng cấp cao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ. Các cuộc gặp riêng nhằm thăm dò ý đồ và lập trường giải pháp của Mỹ và lúc thời cơ đến thì đưa ra giải pháp ép Mỹ ký Hiệp định chính thức về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam.

        Ngày 21 tháng Hai 1970, lần đầu tiên Kissinger gặp Lê Đức Thọ. Diễn đàn này không có sự tham gia của Mặt trận Dân tộc Giải phóng và chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, lại ở xa giới báo chí đã tạo một môi trường thuận lợi cho hai bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ tự do trao đổi ý kiến. Do diễn biến của tình hình quân sự và chính trị, các cuộc đàm phán bí mật có lúc tiến hành thuận lợi, có lúc khó khăn, thậm chí có lúc bị gián đoạn, và phải kéo dài gần ba năm, từ tháng Hai 1970 đến ngày 13 tháng Giêng 1973.

        Bài này không nhằm nêu toàn bộ cuộc đàm phán đó và mối liên hệ của nó với mặt trận quân sự và mặt trận chính trị, mà chỉ nêu tóm tắt những vấn đề tranh cãi và được giải quyết trong cuộc đối đầu Lê Đức Thọ - Kissinger.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Ba, 2012, 11:31:54 am
        Vấn đề thứ nhất là phạm vi (hoặc khuôn khổ) đàm phán. Ngay khi vào đàm phán, họ đã vấp ngay vấn đề này: bàn cả vấn đề chính trị và vấn đề quân sự hay tách hai vấn đề. Hiệp định Bàn Môn Điểm chỉ giải quyết vấn đề đình chiến ở Triều Tiên mà không có giải pháp chính trị. Hội nghị Genève 1954 về Triều Tiên bàn giải pháp chính trị cho vấn đề Triều Tiên nhưng cũng không giải quyết được vấn đề do đó cho đến nay, năm mươi năm sau vẫn chưa có hiệp định hòa bình, bán đảo Triều Tiên vẫn bị chia làm đôi. Tại Hội nghị Genève 1954 về Đông Dương, Trưởng đoàn đại biểu Pháp Georges Bidault đưa ra giải pháp thuần túy quân sự. Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng đưa ra một giải pháp gồm cả vấn đề chính trị và quân sự, cả vấn đề Việt Nam và vấn đề Lào - Campuchia. Hội nghị không chỉ giải quyết vấn đề đình chỉ chiến sự mà còn quy định việc tái thống nhất nước Việt Nam bằng tổng tuyển cử tự do tháng Bảy 1956. Nước Việt Nam đã không được thống nhất vào thời hạn đó là do sự phá hoại của chính quyền Ngô Đình Diệm theo kế hoạch của Mỹ. Vì vậy, toàn thể nhân dân Việt Nam ở cả hai miền đã tiến hành cuộc kháng chiến chống lại cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ. Trong tình thế đó, một giải pháp hữu hiệu cho hòa bình không thể không bao gồm biện pháp chính trị và biện pháp quân sự.

        Tuy vậy, ngay khi các cuộc đàm phán bí mật bắt đầu, Kissinger đã đề nghị tách các vấn đề quân sự ra khỏi các vấn đề chính trị. Mỹ muốn giữ nguyên chính quyền Sài Gòn. Tất nhiên, Lê Đức Thọ không đồng ý và đòi bàn cả hai vấn đề. Quan điểm của Việt Nam là hai vấn đề phải được giải quyết song song. Ngày 31  tháng Năm 1971, Kissinger lại đưa ra một đề nghị gọi là "cuối cùng" gồm Bảy điểm thuần túy về quân sự, nghĩa là không đề cập các vấn đề chính trị. Ngày 26 tháng Sáu, Xuân Thủy đáp lại bằng một đề nghị Chín điểm bao gồm các vấn đề rút quân Mỹ, thả tù binh và thường dân bị giam giữ, chấm dứt ủng hộ chế độ Thiệu - Kỳ - Hương, lập ở Sài Gòn một chính quyền mới tán thành hòa bình, độc lập, dân chủ, trung lập để cùng Chính phủ Cách mạng lâm thời giải quyết công việc nội bộ miền Nam. Do quan điểm hai bên quá xa nhau, các cuộc đàm phán bí mật đã phải kéo dài. Trong các đợt gặp cuối năm 1971, Lê Đức Thọ kiên trì đòi loại bỏ Thiệu. Kissinger cũng phải nói tới lập một tổ chức độc lập để tổng tuyển cử Cho đến tháng Mười 1972, phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chủ động đưa ra dự thảo Hiệp định toàn bộ bao gồm việc Mỹ tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam, việc ngừng bắn, rút quân Mỹ và đồng minh, trao trả tù binh và thường dân bị bắt, và có điểm điều chỉnh về các vấn đề chính trị ở miền Nam: hai bên miền Nam sẽ hiệp thương giải quyết các vấn đề nội bộ miền Nam, thành lập một cơ cấu chính quyền để đôn đốc thi hành Hiệp định và tổ chức tổng tuyển cử... Đó là một giải pháp hoàn chỉnh, đề cập và giải quyết cả vấn đề quân sự và vấn đề chính trị. Từ đó hai đoàn đàm phán đi vào thảo luận các điều khoản của Hiệp định và cuối cùng thỏa thuận được toàn bộ Hiệp định vào tháng Mười 1972, dù từ đó đến tháng Mười hai có những cản trở do phía Mỹ gây ra.

        Vấn đề thứ hai phải giải quyết là vấn đề rút quân Mỹ. Từ đầu cuộc chiến tranh cho đến lúc đi vào đàm phán, cả bí mật cũng như công khai, phía Mỹ luôn nói sẽ rút quân, nhưng họ nêu nguyên tắc có đi có lại tức là quân Mỹ rút thì quân miền Bắc cũng phải rút. Cho nên, đấu tranh về vấn đề này rất khó khăn, kể cả sau khi Tổng thống Nixon đơn phương tuyên bố rút quân Mỹ và công bố chính sách "Việt Nam hóa chiến tranh". Trước đó, Tổng thống Johnson đã đưa sang Việt Nam 550.000 quân Mỹ với hy vọng sẽ xoay chuyển được tình thế ở miền Nam Việt Nam. Nhưng tất cả các cuộc hành quân "tìm diệt" trong hai mùa khô 1965-1966, 1966- 1967 đều thất bại. Cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968 của Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã làm rung chuyển Nhà Trắng và Lầu Năm góc, số thương vong của quân Mỹ ngày một tăng. Johnson đã phải tính đến chuyện "phi Mỹ hóa chiến tranh" để làm yên lòng nhân dân Mỹ. Melwin Laird, Bộ trưởng Quốc phòng trong chính quyền Nixon, sau khi điều tra cho rằng quân Sài Gòn có thể độc lập tác chiến, nếu quân Mỹ rút. Trên cơ sở kết luận đó, Nixon quyết định "Việt Nam hóa chiến tranh" và tháng Sáu 1969, tuyên bố đợt đầu rút 25.000 quân. Laird tuyên bố rằng Mỹ sẽ rút quân trong 42 tháng và để lại 200.000 quân.

        Trước đây tướng Navarre của Pháp, trước nguy cơ thất bại không thể tránh khỏi của Pháp ở Đông Dương, đã chủ trương dùng quân Bảo Đại để thay thế quân Pháp, biến cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp thành cuộc nội chiến giữa những người Việt Nam với nhau. Còn bây giờ, với chính sách "Việt Nam hóa chiến tranh", Nixon muốn rút quân Mỹ để yên lòng dư luận Mỹ, giảm bớt chi phí chiến tranh nhưng vẫn giữ chính quyền Nguyễn Văn Thiệu để tiếp tục chiến tranh. Âm mưu của Nhà Trắng là rút quân nhỏ giọt và không định rõ ràng ngày rút hết quân Mỹ. Phía Việt Nam nhằm vào chỗ yếu đó của Nixon để vạch trần thực chất của "Việt Nam hóa chiến tranh" và ép Mỹ tiếp tục rút quân. Khi Việt Nam đưa ra tuyên bố việc phóng thích tù binh Mỹ sẽ diễn ra đồng thời với việc rút hết quân Mỹ thì sức ép của dư luận Mỹ và thế giới trở nên ngày càng tăng. Mặc dù Việt Nam đòi Mỹ rút hết quân, nhưng đến giữa  năm 1972, khi đi vào giải pháp, Mỹ vẫn còn lại 75.000 quân để làm - - con bài mặc cả. Chỉ đến tháng Mười 1972 khi thỏa thuận toàn bộ Hiệp định, Mỹ mới nhận rút hết quân Mỹ trong vòng 60 ngày sau ngày ký Hiệp định.

        Vấn đề thứ ba là vấn đề chính quyền ở miền Nam. Đây là một trong các vấn đề có ý nghĩa quan trọng hàng đầu, vì cùng với vấn đề rút quân, nó phản ánh kết cục của so sánh lực lượng. Ai cũng biết chính quyền Sài Gòn từ Ngô Đình Diệm đến Nguyễn Văn Thiệu đều do Mỹ dựng lên để thực hiện chính sách thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Mặt trận Dân tộc Giải phóng và Chính phủ Cách mạng lâm thời đòi xóa bỏ chính quyền đó để thành lập một chính phủ liên hiệp tán thành độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập. Suốt ba năm đàm phán bí mật, Kissinger luôn lẩn tránh bàn vấn đề chính quyền ở miền Nam. Ý đồ của Mỹ là duy trì chế độ Nguyễn Văn Thiệu. Còn phía Việt Nam thì kiên quyết đòi xóa bỏ chính quyền Thiệu - Kỳ - Hương và lập chính phủ hòa hợp dân tộc. Cuộc tranh cãi về vấn đề này luôn căng thẳng. Mãi đến cuối năm 1971, đầu 1972, phía Mỹ mới nhúc nhích chút đỉnh: đề nghị lập một ủy ban hỗn hợp để tổ chức bầu cử - tất nhiên bầu cử theo thể chế Sài Gòn. Đàm phán do vậy tiếp tục bế tắc.

Cho đến tháng Mười 1972, Hà Nội có một quyết sách mạnh bạo, vận dụng sách lược trên vấn đề chính trị, không đòi loại bỏ chính quyền Thiệu mà giữ nguyên trạng hai chính quyền, chỉ thỏa thuận một số nguyên tắc lớn như hai bên miền Nam sẽ hiệp thương để giải quyết các vấn đề nội bộ miền Nam, lập một cơ cấu chính quyền để đôn đốc và giám sát thi hành Hiệp định và tổ chức tổng tuyển cử. Do đề nghị mềm dẻo này, vấn đề chính quyền thoát khỏi bế tắc. Kissinger đề nghị gọi cơ quan này là Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc. ông ta không đồng ý từ "cơ cấu chính quyền" và từ "đôn đốc", và đề nghị thay nó bằng từ thúc đẩy (to promote). Riêng từ "đôn đốc" đã gây ra cuộc tranh cãi kéo dài. Ý của Kissinger là hạ thấp vai trò Hội đồng quốc gia xuống thành một cơ quan bầu cử. Lê Đức Thọ đồng ý bỏ "cơ cấu chính quyền", nhưng để từ "đôn đốc" trong bản tiếng Việt còn bản tiếng Anh dùng từ promote cũng được. Cuối cùng thỏa thuận sau khi ngừng bắn, hai bên miền Nam "thành lập Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc gồm ba thành phần ngang nhau" (Điều 12a) "Hội đồng đôn đốc hai bên miền Nam thi hành Hiệp định này và "sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do dân chủ... " (Điều 1 2b).


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Ba, 2012, 02:52:21 pm
        Vấn đề thứ tư là vấn đề quân miền Bắc.Nguồn gốc vấn đề là thời kỳ "chiến tranh đặc biệt", chính quyền Sài Gòn đàn áp nhân dân, trả thù những người kháng chiến cũ trong các chiến dịch gọi là "tố cộng", "diệt cộng", mở các chiến dịch "bình định", gom dân vào các trại tập trung; nhân dân miền Nam vũ trang tự vệ; lúc đó chưa có quân miền Bắc vào miền Nam, mà chỉ có các binh sĩ tập kết ra Bắc năm 1954 trở về Nam để bảo vệ quê hương. Từ khi Mỹ đẩy mạnh chiến tranh cục bộ, một số quân miền Bắc đã được gửi vào để phối hợp chiến đấu với quân giải phóng. Trong gặp riêng bao giờ Kissinger cũng xoáy mạnh vấn này và ráo riết đeo bám cho đến phút chót. Trên công khai cũng như gặp riêng, phía Việt Nam luôn bác đòi hỏi này của Mỹ vì với quyền tự vệ dân tộc, người Việt Nam có quyền chiến đấu bất kỳ ở đâu trên đất nước Việt Nam. Từ tháng Năm 1969, trong Giải pháp toàn bộ Mười điểm, Việt Nam đã gạt vấn đề này bằng công thức "vấn đề lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam sẽ do các bên Việt Nam giải quyết".

        Có lúc Kissinger dùng thủ đoạn đấu dịu: phía Mỹ "không đặt vấn đề quân Mỹ và quân miền Bắc trên một cơ sở pháp lý như nhau", rằng "hai vấn đề này sẽ giải quyết bằng hai kế hoạch riêng rẽ, không liên quan đến nhau", v.v. ! Đến tháng Mười 1971, Hoa Kỳ gửi cho Việt Nam đề nghị Tám điểm, lần đầu tiên không nêu vấn đề quân miền Bắc. Cho đến khi bàn thảo hiệp định tháng Mười 1972, Kissinger không còn nói thẳng vấn đề quân miền Bắc nhưng vẫn níu kẻo: Mỹ đề nghị "sau khi ngừng bắn, hai bên trao cho nhau bản kế hoạch bố trí lực lượng, trong đó không có các đơn vị đưa vào sau ngày 25 tháng Ba 1972" (phiên họp ngày 9 tháng Mười) hoặc "có một sự di chuyển đơn phương nào đó của quân miền Bắc" (phiên họp ngày 10 tháng Mười). Cuối cùng khi bàn vấn đề giảm quân số, Kissinger lại đề nghị "số quân đã giảm phải trở về nguyên quan", ý nó quân miền Bắc phục viên về miền Bắc. Nhưng Lê Đức Thọ kiên quyết bác bỏ.

        Cuối cùng, sau năm năm đàm phán, Hiệp định Paris ghi nhận "quân Mỹ rút hết khỏi miền Nam trong vòng 60 ngày" (Điều 5), và "vấn đề lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam sẽ do hai bên miền Nam giải quyết" (Điều 13). Như vậy, quân Mỹ rút ra, quân ta (miền Bắc) ở lại, đó là một trong những thắng lợi lớn nhất của Hiệp định Paris.

        Vấn đề thứ năm là vấn đề tù dân sự Việt Nam. Chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến tranh nhân dân. Trong số những người bị bắt không phải chỉ có những quân nhân mà còn có những dân thường Việt Nam nữa. Hiệp định Genève 1954 về vấn đề những người bị bắt và phải trao trả cho đối phương có nói rõ ràng "những thường dân bị bắt". Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam trước sau chủ trương trao trả hết tù binh Mỹ và các nước khác, kể cả thường dân bị bắt. Trong khi phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đòi thả tất cả những người của các bên bị bắt, quân sự cũng như dân sự, cùng với thời hạn hoàn thành việc rút quân Mỹ thì Kissinger lại tách vấn đề tù dân sự ra và nói rằng: "các nhân viên Việt Nam khác sẽ do các bên Nam Việt Nam giải quyết". ông ta nói: "Các ông đòi Sài Gòn thả 30.000 người của các ông, một khi số người đó được thả ra thì họ sẽ tham chiến chống chúng tôi". Sau đó, ông ta lại tính đổi lấy việc ghi vấn đề quân miền Bắc: "Chính quyền Sài Gòn sẽ thả một số đáng kể thường dân bị giam giữ đồng thời với việc triển khai lại một số đáng kể quân đội ở phía bắc Nam Việt Nam. Ba tháng sau đó khi ký Hiệp định, hai bên Nam Việt Nam sẽ thu xếp những hành động đồng thời tiếp theo để có thêm những thường dân bị giam giữ sẽ được thả theo một số tỷ lệ liên quan trực tiếp với số quân đội do hai bên giải ngũ”.

        Việc phóng thích những tù dân sự của Việt Nam là vấn đề có thể nói là thiêng liêng đối với Việt Nam. Lê Đức Thọ kiên quyết bác bỏ mọi công thức của Kissinger nhằm lẩn tránh vấn đề. Cuối cùng, Mỹ phải cam kết bằng một bản Hiểu biết rằng: Hoa Kỳ sẽ dùng ảnh hưởng tối đa của mình để đạt được việc trao trả nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ ở miền Nam Việt Nam. Hoa Kỳ sẽ dùng ảnh hưởng đó để đẩy việc trao trả phần lớn người bị giam giữ nói trên trong vòng 60 ngày sau khi ký Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam và tất cả những người bị giam giữ nới trên được trao trả hết trong vòng 90 ngày theo đúng điều khoản của Hiệp định.

        Vấn đề thứ sáu là vấn đề khu phi quân sự. Khu phi quân sự đã được thành lập từ khi Hiệp định Genève 1954 có hiệu lực. Đó là một giới tuyến tạm thời để tập kết quân đội của hai bên chứ không phải là ranh giới lãnh thổ hay chính trị giữa hai miền Bắc và Nam Việt Nam. Trong đàm phán Paris, hai bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ đều đồng ý duy trì khu phi quân sự như đã quy định trong Hiệp định Genève năm 1954. Nhưng phía Việt Nam muốn duy trì tính tạm thời của giới tuyến quân sự trong khi chờ đợi thống nhất nước Việt Nam, còn Mỹ và chính quyền Sài Gòn lại coi giới tuyến quân sự là ranh giới lãnh thổ giữa hai quốc gia riêng biệt. Do đó, các cuộc trao đổi công thức về khu phi quân sự và giới tuyến quân sự kéo dài, thậm chí trở thành vấn đề tồn tại cuối cùng của cuộc đàm phán. Lê Đức Thọ đề nghị: "Hai miền tôn trọng khu phi quân sự, thỏa thuận về quy chế và định ra thể thức qua lại giới tuyến quân sự tạm thời". Kissinger đề nghị: "Hai bên tôn trọng lãnh thổ của nhau với ý đồ chia cắt lâu dài nước Việt Nam, trong việc lập lại quan hệ bình thường về nhiều mặt có vấn đề cho phép đi lại dân sự qua giới tuyến quân sự tạm thời. Sau Kisinger rút câu 'tôn trọng lãnh thổ của nhau", Lê Đức Thọ sửa lại câu của mình "hai miền sẽ sớm bắt đầu thương lượng lập lại quan hệ bình thường về nhiều mặt". Trong các vấn đề thương lượng có vấn đề thể thức qua lại giới tuyến quân sự tạm thời, chỉ khác Mỹ là không có từ "qua lại dân sự'. Cuối cùng hai bên đồng ý công thức: "Miền Bắc và Nam Việt Nam sẽ sớm bắt đầu thương lượng nhằm lập lại quan hệ bình thường về nhiều mặt. Trong các vấn đề sẽ được thương lượng có vấn đề thể thức đi lại dân sự qua giới tuyến quân sự tạm thời".

        Vấn đề thứ bảy là vấn đề Hoa Kỳ đóng góp hàn gắn vết thương chiến tranh. Trong cuộc gặp riêng tháng Bảy 1971, Kissinger khẳng định Mỹ không chấp nhận bồi thường và thương lượng bồi thường, chỉ có chương trình viện trợ kinh tế sau chiến tranh. Đến phiên ngày 16 tháng Tám 1971, Kissinger nói rõ hơn: Mỹ sẽ có một chương trình viện trợ năm năm cho các nước Đông Dương, sẽ kiến nghị 7,5 tỷ đôla, trong đó dành 2 đến 2,5 tỷ cho Bắc Việt Nam. Thấy chưa phải thời cơ đi vào giải pháp nên Đoàn Việt Nam chưa quan tâm bàn cụ thể. Đầu tháng Mười 1972, Kissinger hứa: "Mỹ sẽ đóng góp cho mục đích hàn gắn vết thương chiến tranh và xây dựng lại miền Bắc Việt Nam ước lượng trị giá 3 tỷ đôla Mỹ". Trong thông điệp gửi Thủ tướng Phạm Văn Đồng ngày 20 tháng Mười 1972, Tổng thống Nixon viết: "Quan hệ kinh tế Hoa Kỳ - Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ được thảo luận khi Tiến sĩ Kissinger vào Hà Nội".


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Ba, 2012, 02:53:48 pm
        Trong các đợt đàm phán lại tháng Mười một và Mười hai 1972, hai bên chưa bàn thêm vấn đề này. Ngày 11 tháng Giêng 1973, Lê Đức Thọ đưa ra một dự thảo nghị định thư về đóng góp của Mỹ trong đó có ghi con số 5 tỷ đôla Mỹ. Kissinger không đồng ý làm nghị định thư về vấn đề này và nói sẽ dùng hình thức công hàm. Lê Đức Thọ hiểu đây là vấn đề tế nhị và đồng ý. Kissinger nói Tổng thống Nixon sẽ gửi công hàm cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng nêu nguyên tắc Hoa Kỳ tham gia vào công cuộc xây dựng lại kinh tế Việt Nam sau chiến tranh phù hợp với Điều 21 của Hiệp định Paris. Kissinger đưa cho Lê Đức Thọ dự thảo công hàm của tổng thống trong đó ghi số tiền 3 tỷ đôla Mỹ trong năm năm, còn Lê Đức Thọ đòi 4,5 tỷ; hai bên mặc cả, thêm bớt, phút chót phiên họp ngày 23 tháng Giêng 1973, trước khi ký tắt mới thoả thuận số tiền mỗi năm 650 triệu, năm năm là 3,25 tỷ đôla Mỹ, viện trợ không hoàn lại Ngày 1 tháng Hai 1973, Nixon gửi công hàm chính thức cho Phạm Văn Đồng như nội dung hai bên đã thoả thuận.

        Vấn đề thứ tám là vấn đề Lào và Campuchia. Ngay từ cuộc đàm phán Việt Nam - Hoa Kỳ (giai đoạn hai bên), các đại diện Mỹ cũng đã nêu vấn đề này. Mặc dù trên thực tế liên minh ba nước Đông Dương là công khai, vả lại vấn đề Việt Nam gắn chặt với vấn đề Lào và Campuchia, nhưng theo lập trường của ta, Việt Nam và Mỹ không thể bàn vấn đề của hai nước này. Trong khi đang thương lượng với ta về Hiệp định chấm dứt chiến tranh Việt Nam thì nhiều lần phải Mỹ yêu cầu quân Việt Nam rút khỏi Lào và Campuchia và đòi ngừng bắn đồng thời trên toàn Đông Dương. Lê Đức Thọ khẳng định không những Việt Nam mà cả Hoa Kỳ cũng phải tôn trọng chủ quyền của hai nước đó. Khi Hiệp định Paris về Việt Nam sắp được hoàn thành thì ba phái chính trị ở Lào vẫn đang đàm phán, nhưng Lon Non và Khiêu Samphon của Campuchia lại chưa muốn đàm phán. Vì vậy, Lê Đức Thọ đã giải thích cho Kissinger rằng: Việt Nam có khó khăn với Campuchia; riêng về Lào, Việt Nam sẽ tham khảo ý kiến của phía Lào. Sau khi ta hỏi ý kiến và được bạn Lào cho biết đồng ý sẽ ký sớm Hiệp định với chính phủ của Phouma, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã chính thức thông báo điều này cho Tổng thống Nixon bằng công hàm ngày 21 tháng Mười 1972. Còn về vấn đề Campuchia, trong công hàm này, ta chỉ viết: "Sau khi chiến tranh ở Việt Nam chấm dứt, phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ tích cực gắn mình vào việc lập lại hoà bình ở Campuchia".

        Sau này, khi đàm phán lại, về vấn đề Lào, ta đồng ý làm bản Hiểu biết theo tinh thần đã thoả thuận. Còn về vấn đề Campuchia, ta kiên quyết không bàn nữa. Trong Điều 20 Hiệp định Paris, hai bên thoả thuận ghi tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân hai nước Lào và Campuchia, trong đó có việc tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của họ. Ngày 21 tháng Hai 1973, vấn đề Lào được các bên Lào giải quyết (Hiệp định ngày 21 tháng Hai 1973).

        Vấn đề thứ chín là vấn đề cách ký Hiệp định. Trong các cuộc đàm phán thông thường, cách ký chỉ là một vấn đề kỹ thuật để ghi nhận những thỏa thuận giữa các bên liên quan. Nhưng trong vấn đề ký của các bên ở đàm phán Paris về Việt Nam thì nó lại trở thành vấn đề chính trị mà cả bốn bên đều quan tâm. Đây là một cuộc hội nghị bốn bên thuộc hai phe mà các bên của phe này với các bên của phe kia không công nhận lẫn nhau. Mỹ tuy không công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về ngoại giao nhưng công nhận là một bên đàm phán có giá trị, một bên đàm phán chủ yếu, tất nhiên sẽ cùng ký; còn chính quyền Nguyễn Văn Thiệu (Chính phủ Việt Nam Cộng hoà) lại không công nhận Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và muốn gạt bỏ tên Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam trong các văn kiện và cách nêu tên người ký kết. Về phần mình, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời sẵn sàng ký với Chính phủ Việt Nam Cộng hòa nhưng kiên quyết không chấp nhận những điều do Hoa Kỳ và Sài Gòn nêu ra. Như vậy, không chỉ có vấn đề cách ký các văn kiện mà còn có vấn đề nêu tên các bên ký kết và tên và chức vụ những người ký kết. Lúc đầu, Kissinger đề nghị: Hoa Kỳ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời mỗi bên ký vào một văn bản giống nhau hoàn toàn, còn Chính phủ Việt Nam Cộng hòa ký riêng một văn bản cùng nội dung nhưng khác về Lời mở đầu "Việt Nam Cộng hòa hành động phối hợp với các bên tham gia Hội nghị Paris". Sau đó, Kissinger lại đề nghị Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký một văn bản với Lời nói đầu giống về nội dung và Điều 23 đầy đủ (Điều 23 quy định Hiệp định do Bộ trưởng ngoại giao ký). Chính phủ Cách mạng lâm thời và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa mỗi bên ký dưới hình thức công hàm gia nhập (adhérence). Lê Đức Thọ không đồng ý cả hai cách và đề nghị ký ba văn bản: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ ký một văn bản; Chính phủ Việt Nam Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời mỗi bên ký một văn bản Hiệp định cùng một nội dung, nhưng sau Lê Đức Thọ lại rút lại. Đến đợt đàm phán tháng Giêng 1973, Lê Đức Thọ đề nghị hai bên ký và bốn bên ký, Kissinger không đồng ý và đề nghị lựa chọn một trong ba cách sau đây:

        - Hai bên Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký.

        - Ký bốn bên nhưng không có tên Chính phủ Cách mạng lâm thời và Việt Nam Cộng hòa trong Lời mở đầu, không có chức vụ người ký.

        - Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký một văn bản với Lời mở đầu và Điều 23 đầy đủ; Chính phủ Việt Nam Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời ký hai văn bản riêng, nội dung Hiệp định đầy đủ nhưng Lời mở đầu không có tên chính phủ, ký tên nhưng không có chức vụ.

        Lê Đức Thọ không đồng ý và đề nghị Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ ký tắt, còn bốn bên ký chính thức với Lời mở đầu đầy đủ có tên bốn chính phủ, người ký có nêu chức vụ Bộ trưởng ngoại giao. Phía Mỹ không chấp nhận. Sau khi Hiệp định đã hoàn thành, Lê Đức Thọ đưa ra công thức: Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký với Lời mở đầu và Điều 23 đầy đủ; bốn bên ký với Lời mở đầu "Các bên tham gia Hội nghị Paris" (không nêu tên bốn chính phủ, Hiệp định do bốn ngoại trưởng ký đồng thời). Dựa vào đề nghị của Lê Đức Thọ, Kissinger đưa ra đề nghị mà cuối cùng đã được thực hiện là: hai bên ký với Lời mở đầu ghi đủ tên bốn chính phủ và văn bản bốn bên ký với Lời mở đầu "Các bên tham gia Hội nghị Paris về Việt Nam" (không ghi tên bốn chính phủ)..., và Điều 23 "Hiệp định này sẽ có hiệu lực khi đại diện toàn quyền của các bên tham gia Hội nghị Paris về Việt Nam ký". Bốn bên ký trên hai trang: một trang Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, một trang Hoa Kỳ và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Sẽ có hai lễ ký cùng tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Kléber; buổi sáng bốn bên ký, buổi chiều Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ ký.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Ba, 2012, 02:55:22 pm
        Vấn đề cuối cùng là giữ hiệp định tháng Mười hay hai bên cùng sửa... Đây có thể coi là đỉnh điểm của cuộc tranh cãi. Sau khi vượt qua cuộc bầu cử và thắng cử với tỷ lệ 60,7 phần trăm số phiếu bầu, Nixon đề nghị với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa một đợt họp mới để hoàn thiện Hiệp định mà chính ông ta khẳng định là đã hoàn thành. Đồng thời, bắt đầu tổ chức cầu hàng không Enhance plus (Tăng cường hơn nhất để hối hả chuyển vũ khí cho Nguyễn Văn Thiệu. Hai bên họp lại ngày 20 tháng Mười một 1972. Khi đó chính quyền Sài Gòn đòi sửa 69 điểm. Mỹ cũng nêu một số điểm của họ. Điểm mới của giai đoạn này là việc Thiệu tham gia cuộc nói chuyện tuy không trực tiếp. Thái độ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là giữ vững những vấn đề về nguyên tắc và nội dung đã đạt được, đòi Mỹ không được sửa đổi các nguyên tắc và nội dung đó và sớm ký hiệp định.

        Bước vào đợt đàm phán này, Kissinger tuyên bố giữ những nguyên tắc đã được thỏa thuận trong tháng Mười. Nhưng trên thực tế Kissinger không những đòi sửa nguyên tắc này nguyên tắc nọ mà còn nêu những yêu cầu mới. Đợt đàm phán tháng Mười một giải quyết được một số vấn đề, nhưng còn lại hàng loạt vấn đề trong đó có những vấn đề quan trọng và nhạy cảm như đòi rút quân miền Bắc, tách vấn đề tù dân sự ra để chính quyền Sài Gòn giải quyết hạ thấp vai trò của Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc, v.v.. Bắt đầu đợt đàm phán tháng Mười hai, Lê Đức Thọ tuyên bố rõ ràng: "Nếu các ông muốn giữ Hiệp định như cũ thì chúng tôi cũng sẵn sàng giữ nguyên như cũ, không thay đổi một chữ. Nếu các ông không sửa một chữ nào thì chúng tôi cũng không sửa một chữ nào". Lê Đức Thọ lại nói thêm: "Đã sửa đổi thì bên này sửa lớn thì bên kia sửa lớn, bên này sửa nhỏ bên kia cũng sửa nhỏ, không thể chỉ một bên sửa một bên không. Cứ như thế, sửa đi sửa lại mãi, không thể hoàn thành được. Phía Mỹ chọn cách nào chúng tôi cũng sẵn sàng, nhưng chúng tôi cho rằng cách tốt nhất là cơ bản giữ hiệp định". Kissinger xin hoãn họp đến mùng 6 để xin chỉ thị tổng thống. Cũng trong dịp này ông nêu vấn đề từ chức. Ngày 6 tháng Mười hai, Nixon điện cho Kissinger: "Tôi nhất quyết cho rằng chúng ta không được tự dồn mình vào góc tường bằng cách nói rằng đây là đề nghị cuối cùng của chúng ta hoặc đây là cuộc họp cuối cùng của chúng ta. Hãy để một chỗ cửa ngỏ cho các cuộc họp tiếp".

        Đề nghị kiên quyết nhưng rất xây dựng của Lê Đức Thọ đã làm cho không khí đàm phán dịu đi và đến ngày 12 tháng Mười hai, chỉ còn hai vấn đề cách ký các văn kiện và vấn đề khu phi quân sự.

        Ngoài các vấn đề nói trên còn có các vấn đề cụ thể trong bốn Nghị định thư và tám Hiểu biết (Understanding). Các văn bản này đề cập một số việc về thực chất, một số việc về kỹ thuật nhưng nhìn chung đều được giải quyết nhanh chóng.

        Tóm lại, trong gần ba năm đàm phán bí mật, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ đã đạt được kết quả đầu tiên là thỏa thuận hoàn toàn Hiệp định tháng Mười 1972 và Tổng thống Nixon đã tuyên bố hai bên sẽ ký Hiệp định ngày 31 tháng Mười 1972. Nhưng Hoa Kỳ lại mưu tính sửa lại Hiệp định theo điều kiện của họ và dành thời gian chở 260.000 tấn vũ khí, chủ yếu là máy bay và trực thăng, trị giá gần 2 tỷ đôla Mỹ cho chính quyền Thiệu theo kế hoạch Enhance Plus để chính quyền Thiệu, chính quyền có lực lượng không quân lớn thứ tư trên thế giới, đủ sức chống lại Chính phủ Cách mạng lâm thời sau khi quân Mỹ rút hết. Nixon còn dùng máy bay B-52 ném bom rải thảm Hà Nội, Hải Phòng theo kế hoạch Linebacker II để tăng thêm sức ép với Hà Nội. Như mọi người đều biết kế hoạch đó đã thất bại và Hiệp định Paris vẫn được ký với nội dung hầu như không thay đổi mấy so với thoả thuận tháng Mười 1972.

        Trước sự thật đó, Kissinger đã viết trong Hồi ký: "Những sửa đổi đó liệu có đủ mức quan trọng để biện minh cho sự lo âu và cay đắng trong những năm tháng cuối cùng của cuộc chiến không? Đối với chúng ta chắc hẳn là không rồi, nhưng đối với Sài Gòn thì gần như chắc chắn là có, vì sự sống còn của chế độ này, nói cho cùng, chính là cái cớ của chiến tranh" [l]. Khi phải rút ra "các bài học Việt Nam" trong Giác thư gửi Tổng thống Ford, ông ta viết: "Đây là cuộc chiến dài nhất trong lịch sử nước Mỹ, cách xa nước Mỹ nhất và ít liên quan nhất tới những mối quan tâm cấp thiết của nước ta", nhưng phải nhận: "Việt Nam là một trường hợp đặc biệt xét về mặt địa lý, sắc tộc, chính trị, quân sự và ngoại giao. Đó là điều chúng ta cần hiểu rõ và thừa nhận thay vì cố áp dụng rộng rãi những "bài học Việt Nam" như chúng ta từng làm với "bài học Munich" 'ông ta cho rằng không thể rút ra được những bài học từ Việt Nam đê áp dụng ở những nơi khác. ông ta còn phàn nàn là trong khi Mỹ dính líu vào Việt Nam, nền ngoại giao Mỹ đã "bị tổn thương" và "thường bị biến thành những nỗ lực hốt hoảng nhằm tìm kiếm công thức đem lại sự ủng hộ nhất thời và lảng tránh những khác biệt rõ ràng giữa chúng ta và Bắc Việt Nam" [1].

        Người ta thường nói Mỹ sành sỏi về ngoại giao, đây chẳng phải là lời thú nhận rõ ràng trong cuộc chiến tranh Việt Nam, Mỹ không chỉ thua về quân sự mà cả về ngoại giao đó sao? [1] H.Kissinger: A ra Mai son Blanche (Những năm tháng Ở Nhà Trắng), 1968-1973, tiếng Pháp, Nhà xuất bản Fayard, Paris, 1979, tr. 1524.
-----------------
[1]. H. Kissinger: Giác thư tối mật gửi Tổng thông Gerald Ford.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2012, 08:00:15 am

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/DoanHuyen-1.jpg)

THĂNG MỸ:  ĐÁNH VÀ ĐÀM

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Doanhuyenb.jpg)               

         Tên khác là Đặng Văn Thu, nguyên thành viên Đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Ban liên hợp quân sự 4 bên Trung ương, nguyên Tư lệnh Binh chủng tên lửa, nguyên Phó tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, qua đời ngày 5/11/2002 .

        Trận "Điện Biên Phủ trên không “ - một dấu son chói lọi trong lịch sử Việt Nam đã qua gần một phần ba thế kỷ. Ôn lại chiến thắng lẫy lừng mang tầm vóc thời đại ấy, bây giờ tôi vẫn như đang rạo rực sống lại tâm trạng lo lắng, mừng vui trong hai vị trí của mình ở thời điểm lịch sử này.

        Hồi ấy, trước ngày Tổng thống Nixon mở cuộc tập kích chiến lược tôi đang vào Quân khu Bốn chỉ đạo các đơn vị của Quân chủng Phòng không - Không quân phối hợp với chiến dịch Quảng Trị lại bất ngờ được gọi gấp về công tác ở CP50. CP50 là tên gọi của một ban trực thuộc Bộ Chính trị do đồng chí Nguyễn Cơ Thạch phụ trách để giúp Bộ Chính trị nghiên cứu, theo dõi chỉ đạo hai Phái đoàn ta đàm phán ở Paris.

        Tôi nói "lại bất ngờ được gọi," bởi vì từ đầu năm 1969, tôi cũng đã bất ngờ được bí mật cử vào miền Nam tham gia Đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ở Hội nghị Paris cho đến năm 1971 mới trở lại Quân chủng. Tới lần bất ngờ được gọi về CP50 này thì tôi đã liên tục là một cán bộ quân sự đi làm ngoại giao để rồi lần nữa lại sang Paris và vào ở trong Trại Đa-vít ngay giữa Sài Gòn trước ngày giải phóng. Bởi thế mà đã thấu hiểu khá sâu sắc chuyện "đánh và đàm." Càng thấy rõ, thấy sâu sắc hơn điều tiên quyết là: Thắng lợi trên chiến trường quyết định thắng lợi trên bàn đàm phán.

        Hệ quả này, ở Việt Nam ta trong những năm cuối cùng của cuộc chống Mỹ, cứu nước dã chứng minh rất rõ. Tổng thống L. Johnson chỉ ngồi vào bàn đàm phán với ta từ sau cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Cuộc tổng tấn công và nổi dậy này đã tạo bước ngoặt chiến lược lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, mở ra cục diện mới "vừa dành vừa đàm. Ngày 31 tháng Ba 1968, Tổng thống Mỹ L. Johnsọn phải tuyên bố: 1) Ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra; 2)Nhận đàm phán với Việt Nam; 3) Không ra tranh cử tổng thống nhiệm kỳ hai.

        Đó là sự thừa nhận dầy đủ nhất về sự phá sản của chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ. Rõ ràng, với chiến thắng Tết Mậu Thân, quân và dân ta đã làm cho ý chí xâm lược của giới cầm quyền Mỹ lung lay nghiêm trọng, khởi đầu một quá trình đi xuống về chiến lược của Mỹ.

        Sau khi bước chân vào Nhà Trắng, Nixon điều chỉnh chiến lược "Phi Mỹ hoá chiến tranh" của Johnson bằng chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" ở miền Nam Việt Nam. Thực chất là chuyển gánh nặng chiến tranh lên vai chính quyền Sài Gòn, thực hiện chính sách "dùng người Việt đánh người Việt."

Cuộc đàm phán Paris, trong giai đoạn đầu, từ tháng Năm đến tháng Mười một 1968, giữa Bộ trưởng Xuân Thuỷ, đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, và Đại sứ A. Harriman, đại diện Tổng thống Mỹ, đi đến kết quả ngày 1 tháng Mười một 1968, Mỹ phải chấm dứt không diều kiện việc ném bom và bắn phá trên toàn bộ miền Bắc nước ta, và ngồi vào bàn đàm phán với đại diện của ta.

        Ngày 25 tháng Giêng 1969, Hội nghị bốn bên, gồm các đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hoà (Sài Gòn) họp phiên chính thức đầu tiên tại Trung tâm Hội nghị quốc tế tại đường Kléber ở Paris. Đoàn đàm phán Mặt trận Dân tộc Giải phóng do đồng chí Trần Bửu Kiếm dẫn đầu; phó trưởng đoàn là các đồng chí Nguyễn Thị Bình và Trần Hoài Nam. Tôi được cử làm một thành viên của Đoàn, đại diện Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, lấy tên là Đặng Văn Thu.

        Buổi đầu tiên đến Paris, tôi được anh Hà Văn Lâu ra đón ở sân bay Orly. Nhận ra tôi, anh Lâu cười rạng rỡ và thốt lên: "Té ra ông Đặng Văn Thu đây à?". Tất cả các đồng chí vốn đã quen biết tôi đang ở đây đều có chung cảm giác như anh Hà Văn Lâu. Và tới khi vào Hội trường Klẻber, tướng Vĩnh Lộc trong đoàn Sài Gòn ngồi ngay trước mặt, trước đây chúng tôi cùng học với nhau ở Quốc học Huế, nhưng anh ta cũng không còn nhận ra tôi. Dưới cái tên mới, qua những năm tháng kháng chiến vẻ người già đi trước tuổi, nên an ninh Sài Gòn cũng không moi ra tung tích của tôi.

        Đầu tháng Sáu 1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam được thành lập và Đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời do Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thị Bình làm trưởng đoàn. Tôi vẫn là một thành viên trong đoàn.

        Trong hai năm 1969 - 1970, tình hình đàm phán tại Paris vẫn giẫm chân tại chỗ. Mỗi tuần hai bên đến họp có tuyên bố, vẫn là "rượu cũ." Nhưng hai Đoàn của ta vẫn tìm cách vạch sâu, tố cáo được âm mưu ngoan cố kéo dài chiến tranh của Mỹ, tranh thủ cho được sự đồng tình ủng hộ của dư luận rộng rãi ở Mỹ và trên thế giới. Trong khi đó, ta và Mỹ đều ra sức giành lợi thế trên chiến trường.

Những thắng lợi lớn của ba nước Đông Dương trong hai năm 1970 - 1971 đã tạo cho cuộc kháng chiến chông Mỹ một tình thế thuận lợi mới: ta có điều kiện tiếp tục kết hợp chặt chế đấu tranh quân sự, Chính trị, ngoại giao; tiếp tục phát huy quyền làm chủ tấn công giành thắng lợi có ý nghĩa chiến lược trong năm 1972.

        Năm 1972 là năm bầu cử Tổng thống và Quốc hội Mỹ. Muốn thắng cử, Nixon phải "chấm dứt chiến tranh Việt Nam trước năm 1972".
 


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2012, 08:02:17 am

        Ta chủ trương kết hợp ba đòn chiến lược: đòn chủ lực tiêu diệt chủ lực nguy trên các chiến trường lựa chọn; đòn tấn công ở nông thôn nhằm giành dân và phá bình định; đòn thành thị, kết hợp ba mặt quân sự, chính trị, ngoại giao, giành thắng lợi quyết định ở miền Nam.

        Tháng Bảy 1972, tôi dang công tác ở vùng "cản xoong" phía Nam Quân khu Bốn thì được lệnh điều về CP50. Về cơ quan này tôi được phân công cùng tổ Quân sự, nghiên cứu các vấn đề quân sự trong giải pháp và Hiệp định: chấm dứt chiến tranh, ngừng bắn; rút quân; huỷ bỏ căn cứ quân sự Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam; khu phi quân sự; trao trả nhân viên quân sự bị bắt và giam giữ; các Ban liên hợp quân sự, Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát.

        Trong lúc này, trên chiến trường Quảng Trị, ở hướng chủ yếu của cuộc tấn công chiến lược của ta năm 1972, cuộc chiến đấu giành giật giữa ta và địch đang diễn ra hết sức gay go ác liệt. Sau khi ta chiếm được Thành Cổ Quảng Trị ngày 2 tháng Năm 1972, Sài Gòn đã ra sức phản công liên tục, dưới sự yểm trợ mãnh liệt chưa từng có của B-52 và pháo hạm Mỹ, nhằm giành lại những vị trí đã mất và tổn thất nặng nề. Tình hình trong Thành Cổ trở nên hết sức nghiêm trọng. Qua 81 ngày đêm kiên cường chiến dấu bảo vệ thị xã và Thành Cổ, quân ta bị thương vong lớn, đã phải rút lui ngày 16 tháng Chín 1972 về bờ Bắc sông Thạch Hãn.

        Sáng ngày 17 tháng Chín 1972, tôi báo cáo tin này với đồng chí Nguyễn Cơ Thạch. Lúc này, Bộ Chính trị đang theo dõi sát tình hình chiến trường cũng như ở Paris để chỉ đạo phối hợp giữa tranh và đàm.

        Cân nhắc thế trận giữa ta và địch lúc này ở Quảng Trị, ta đã phải chuyển sang phòng ngự sau khi mất Thành Cổ; xét các vấn đề gay cấn chủ yếu đang giằng co giữa hai bên trên bàn đàm phán là vấn đề chính trị ở miền Nam Việt Nam và.vấn đề quân miền Bắc ở Nam Việt Nam, cuộc đàm phán đang ở thời điểm cuối cùng của cuộc vận động bầu cử ở Mỹ, chúng tôi đề nghị đồng chí Nguyễn Cơ Thạch xin ý kiến của Bộ Chính trị quyết định phương án đấu tranh. Về hai vấn đề trên và chỉ đạo cho Đoàn ta ở Paris; nên thắt và mở ra sao trên hai vấn đề then chốt này? Buộc chặt cái gì và cái gì cần nới lỏng để tập trung vào giải quyết cho được vấn đề then chốt nhất của ta.

        Chúng tôi cũng đề nghị nên hạ thấp yêu cầu của ta về vấn đề chính trị ở miền Nam Việt Nam ở mức nào. Đây cũng là vấn đề gay cấn giữa ta và Kissinger về hình thức cơ cấu chính quyền ở miền Nam Việt Nam: Chính phủ liên hiệp ba thành phần, Chính phủ hoà hợp dân tộc hay Uỷ ban hoà hợp, hoà giải dân tộc?

        Đồng chí Nguyễn Cơ Thạch đồng ý với cách đặt vấn đề của chúng tôi và các chuyên viên CP50. Đồng chí báo cáo với đồng chí Nguyễn Duy Trinh và đề nghị Bộ Chính trị họp để cho ý kiến.

        Sáng hôm ấy, anh Thạch sang làm việc với Bộ Chính trị và về phổ biến lại ý kiến quyết định của Bộ Chính trị.

        Không phân tích gì thêm tình hình, Anh nói luôn kết luận của anh Ba (đồng chí Lê Duẩn): "Muốn đẩy nhanh cuộc đàm phán Paris, đi đến ký kết được trước tháng Mười một 1972 (tức trước cuộc bầu cử tổng thống ở Mỹ), ta cần tập trung quyết đạt cho được mục tiêu thứ nhất lúc này là "đánh cho Mỹ cút". Đạt được mục tiêu thứ nhất sẽ tạo điều kiện để hoàn thành tiếp mục tiêu thứ hai "đánh cho nguy nhào".

        Vì vậy trong đợt đàm phán tới, cần nắm vững hai yêu cầu phải đạt cho được, nhằm mục tiêu thứ nhất:

        1. Chấm, dứt hoàn toàn và triệt để sự dính líu quân sự của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Chấm dứt chiến tranh của Mỹ Ở miền Nam Việt Nam, rút hết quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam. Chấm dứt chiến tranh bằng không quân và chấm dứt thả mìn xuống miền Bắc.

        2.Lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam ở nguyên tại chỗ. Dứt khoát, quân miền Bắc không rút đi đâu hết, tuyệt đối không có vấn đề tập kết rút quân như Hiệp định Genève 1954.

        Đạt được hai yêu cầu trên sẽ dẫn đến việc công nhận trên thực tế hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát và tạo ra một tương quan lực lượng mới rất có lợi cho ta. Đó là điều kiện thuận lợi để tiếp tục hoàn thành mục tiêu thứ hai. Có thể nói đây là sự chỉ đạo rất nhạy bén, sáng suốt của Bộ Chính trị Đảng ta đứng đầu là đồng chí Lê Duẩn trong tình hình thực tiễn lúc này.

        Đồng chí Nguyễn Cơ Thạch lại nhấn mạnh: Ta phải buộc chặt Mỹ vào hai điểm này. Tập trung mũi nhọn đấu tranh vào hai yêu cầu trên.

        Muốn buộc chặt Mỹ theo hai yêu cầu đó, ta cần chủ động nới lỏng vấn đề chính quyền ở miền Nam Việt Nam. Trong lúc này, không cần đòi xoá chính quyền Sài Gòn, đòi Thiệu phải từ chức. Chỉ cần một hình thức cơ cấu chính quyền hoà hợp, hoà giải dân tộc theo phương án thấp nhất.

        Trong hồi ký về những ngày đàm phán trong tháng Mười 1972, Kissinger nhận xét: "Những nhà đàm phán Việt Nam khi đã thắt thì họ biết thắt rất chặt, và khi muốn mở thì cũng biết mở khéo để đi vào thương lượng thực chất".


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2012, 10:44:58 am
        Sau khi có ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị, vào cuối tháng Chín 1972, đồng chí Lưu Văn Lợi và tôi nhận được chỉ thị mang Dự thảo Hiệp định sang Paris phục vụ cho các cuộc họp riêng của các đồng chí Lê Đức Thọ và Xuân Thuỷ với Kissinger trong thời điểm đàm phán có tính bước ngoặt quyết định này (từ ngày 8 tháng Mười 1972 đến khi Hiệp định được ký kết).

        Vừa bước xuống xe từ sân bay Orly về Choisy le Roi, chưa kịp báo cáo với các đồng chí lãnh đạo đoàn, anh Lưu Văn Lợi tranh thủ phổ biến tinh thần quyết định mới của Bộ Chính trị với một số đồng chí chuyên viên chủ chốt của Đoàn.

        Nghe quyết định mới này, mới đầu có đồng chí phân vân cho rằng ta đã hạ thấp yêu cầu, nhưng rồi tất cả đều thấy đây là nghệ thuật về sách lược ngoại giao rất thực tiễn, hợp thời đối với ta, lùi một bước "nới lỏng vấn đề chính quyền ở miền Nam Việt Nam" để tiến hai, ba bước.

        Từ cuối tháng Chín qua dầu tháng Mười 1972, Bộ Chính trị đã họp phân tích tình hình và đề ra chủ trương mới về đàm phán. Nội dung cơ bản như đồng chí Nguyễn Cơ Thạch đã truyền đạt cho CP50 vào cuối tháng Chín.

        Ngày 4 tháng Mười 1972, Bộ Chính trị điện cho Paris: "Ta cần tranh thủ khả năng chấm dứt chiến tranh trước bầu cử Tổng thống Mỹ (ngày 7 tháng Mười một 1972), đánh bại âm mưu của Mỹ kéo dài đàm phán để vượt qua bầu cử'.

        "Ta cần ép Mỹ ký Hiệp định chính thức, thực hiện ngừng bắn, rút quân Mỹ và đồng minh của Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam. Muốn vậy, cần chủ động về yêu cầu, giải pháp, nội dung hiệp định, thời điểm, cách đàm phán, cách ký, cách đấu tranh trong cuộc gặp gỡ những ngày tới".

        Quyết sách chiến lược của Bộ Chính trị trong đợt tấn công ngoại giao tháng Mười 1972 đã tạo ra bước ngoặt căn bản đi đến giải pháp về vấn đề Việt Nam.

        Ngày 8 tháng Mười 1972, mở đầu các cuộc gặp riêng khẩn trương và liên tục, ta đã chủ động đưa ra Dự thảo Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam, nhằm thúc đẩy cuộc thương lượng giữa đôi bên. Bản dự thảo này là bản thứ mười hai gửi lên xin ý kiến Bộ Chính trị.

        Khi trao Dự thảo cho phía Mỹ, đồng chí Lê Đức Thọ nói rõ: "Chúng ta không thể để vấn đề chính trị miền Nam là vấn đề khó khăn nhất kéo dài cuộc đàm phán, nhằm nhanh chóng chấm dứt chiến tranh".

        Sau khi nghiên cứu văn bản Dự thảo, Kissinger phát biểu: "Đây là văn kiện rất cơ bản, rất quan trọng, mở bước ngoặt trong đàm phán. Các ông đã mở ra một trang sử mới trong thương lượng và có khả năng chúng ta giải quyết sớm".

        Ngày 20 tháng Mười, Tổng thống Mỹ Nixon gửi công hàm cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng trả lời công hàm ngày 19 tháng Mười của ta nói rằng "văn bản Hiệp định xem như đã hoàn thành".

        Tuy nhiên, sau đó Mỹ lại viện ra những lý do không chính dáng để đòi sửa đổi Hiệp định đã thoả thuận, nhằm kéo dài thời gian để vượt qua cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ. Do đó, đợt đàm phán tháng Mười một và tháng Mười hai kéo dài mà không đi đến kết quả Trong đợt đàm phán này, hầu như ngày nào Kissinger cũng dọa dẫm chiến tranh.

        Ý kiến của Bộ Chính trị chỉ đạo cho hai Đoàn: điều quan trọng bậc nhất vẫn là giữ vững văn kiện Hiệp định đã thoả thuận ngày 20 tháng Mười 1972, ta không vội vì ta không bị gò bó về thời gian sau cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ. Ta sẵn sàng đối phó nếu Mỹ đánh phá miền Bắc.

Nguyên nhân duy nhất là do chính quyền Nixon rắp tâm thực hiện "chiến thuật mạo hiểm làm vỡ đàm phán" đi đôi với biện pháp tăng cường sức ép quân sự tối đa bằng con chủ bài cuối cùng mạnh nhất của Mỹ. Nixon hy vọng rằng: "Chơi quân cờ cuối cùng này", họ có thể áp đặt ý muốn của Mỹ trong thế mặc cả của Mỹ ngày càng suy yếu và sự bị động ngày càng tăng của chính quyền Nixon.

        Ngày 13 tháng Mười hai 1972, Kissinger trở về Washington nói là để xin ý kiến tổng thống. Khi rời đi Paris, trước các nhà báo, ông ta dã lớn tiếng tố cáo Việt Nam Dân chủ Cộng hoà phá vỡ thương lượng. Ngày 14 tháng Mười hai, Nixon quyết định tung con chủ bài cuối cùng của Mỹ đối với Bắc Việt Nam, Nixon chính nhức ra lệnh: "ngày 17 tháng Mười hai tiếp tục rải thuỷ lôi phong toả các cảng và cửa sông Bắc Việt. Ngày 18 tháng Mười hai, không quân bắt đầu cuộc tấn công bằng máy bay B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng". Hồi ký của Nixon nói rõ âm mưu thâm độc và tàn bạo này. Ông ta đã rắp tâm từ lâu và tích cực chuẩn bị từ tháng Mười một 1972, với sự tham gia bàn bạc của Kissinger, Haig và Laỉrd cùng Moorer, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu liên quân Mỹ.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2012, 10:48:34 am
        Với tôi ở hai vị trí vừa trong Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân vừa đang có mặt trong Đoàn đàm phán Việt Nam ở Hội nghị Paris, việc Nixon tráo trở, không ký ngay Hiệp định mà sẽ rắp tâm tung con chủ bài cuối cùng là dùng B-52 đánh Hà Nội, Hải Phòng để giành thế áp đảo với ta trên bàn hội nghị càng hoàn toàn không bất ngờ. Hai Phái đoàn ta đã được thông báo: Mỹ sẽ huy động lực lượng lớn chưa từng có cả về máy bay chiến lược B-52 và các loại máy bay chiến thuật, cùng sử dụng chiến tranh điện tử để gây nhiễu đến đỉnh cao nhất vào cuộc tập kích chiến lược mà Mỹ gọi là "sút bóng trước khung thành" (Linebacker II) này. Thực tế việc huy động lực lượng của Mỹ đã đúng như vậy, như báo chí và cả nhiều tướng lĩnh của ta và cả của Mỹ sau đó đã viết. Bởi thế, đêm 18 tháng Mười hai 1972, đêm đầu tiên B-52 bay vào ném bom Hà Nội? tôi đã đứng ngồi không yên, lòng bồn chồn lo lắng. Với trách nhiệm là Tư lệnh Binh chủng tên lửa trước khi biệt phái sang Bộ Ngoại giao, chúng tôi đã cùng các cán bộ chủ chốt trong Binh chủng và Bộ tham mưu Quân chủng dày công nghiên cứu cách đánh B-52, góp sức cùng Quân chủng xây dựng được một phương án mà tôi tin là đã rất hoàn chỉnh. Nhưng nếu như tôi đang có mặt ở Sở chỉ huy Quân chủng cùng gánh vác trọng trách nặng nề của Tổ quốc lúc này, chắc chắn tôi đã dỡ bồn chồn hơn. Tôi biết rõ rằng, đối đầu với cuộc chiến lịch sử này, chủ yếu sẽ là các cán bộ, chiến sĩ tên lửa mà tôi đã từng cùng chiến đấu từ năm 1967, chia sẻ gian nan và hân hoan sau mỗi đợt bắn rơi được nhiều máy bay Mỹ. Tôi rất tin vào trí thông minh, sáng tạo và lòng quả cảm của anh em. Tin vào các chiến sĩ ra da đã từng phát hiện B-52 từ xa sẽ không để Quân chủng và cả Tổ quốc bị bất ngờ. Tin vào các sĩ quan điều khiển và trắc thủ tên lửa phòng không dày dạn kinh nghiệm nhất định sẽ "vạch nhiễu tìm thù" quật ngã B-52 lần này trên bầu trời Hà Nội. Tin vào các chiến sĩ Không quân ta, dù dịch có đánh vào sân bay vẫn cất cánh lên trừng trị lũ "pháo đài bay" Mỹ. Tin vào sức mạnh tổng hợp của Quân chủng cùng biển lửa chiến tranh nhân dân miền Bắc sẽ lần nữa đánh gục, thiêu cháy âm mưu nham hiểm của Nixon trong cuộc đọ sức lịch sử này.

        Tuy vậy, tôi vẫn rất lo lắng nghĩ đến những thủ đoạn gây nhiễu dày đặc và phức tạp nhất định đang tăng cường hòng che mắt rada và tên lửa của ta. Nhưng dù giặc Mỹ xảo quyệt đến thế nào, chắc chắn anh em ta ở nhà cũng không thể nào cho Nixon và Kissinger có thể cười ngạo mạn khi B-52 Mỹ bay vào Hà Nội mà không bị trừng trị thích đáng ngay từ đêm đầu tiên gây tội ác. Không chỉ riêng tôi, mà anh chị em trong hai đoàn đàm phán của ta ở Paris đều trong tâm trạng đó. Và đến sớm ngày 19 tháng Mười hai chúng tôi cùng tạm yên dạ, hả lòng, ôm chầm lấy nhau mừng rơi nước mắt khi biết tin đêm trước quân dân ta đã trừng trị đích đáng hành động láo xược của Nixon: bắn rơi 8 máy bay Mỹ. Nhưng quan trọng hơn là đã bắn rơi máy bay B-52, trong đó có hai chiếc rơi tại chỗ, bắt sống bảy phi công Mỹ. Chiếc B-52 bị bắn rơi tại chỗ dầu tiên lại ở ngay Phủ Lỗ, cách Thủ đô Hà Nội có 12km theo dường chim bay.

        Tâm trạng vừa lo lắng vừa vui mừng này đã diễn ra suốt 12 ngày đêm như thế. Và đến sau đêm thứ mười hai, khi ta đã bắn rơi tới 81 máy bay, trong đó có 34 B-52, bắt sống tới 44 phi công Mỹ trong đó có 34 phi công lái B-52 buộc Tổng thống Mỹ phải ra lệnh ngừng cuộc tiến công thì tất cả chúng tôi đều như vừa trút đi được một gánh cực nặng trên vai mình. Và cũng sung sướng mừng vui, tự hào, hạnh phúc không thể nào tả xiết. Với chiến thắng lần nữa làm chấn động địa cầu này, chắc chắn từ hôm sau tiếng nói của chúng ta trong Hội nghị Paris sẽ rất có trọng lượng. Chúng tôi sẽ ngẩng cao đầu bởi hào khí từ Hà Nội đã dội tới Paris.

        Quả nhiên như thế. Mỹ không thể chịu đựng nổi tổn thất tới mức cao chưa từng có về số máy bay, nhất là máy bay B-52 và phi công Mỹ bị ta bắt sống trong một thời gian ngắn nhiều đến như thế. Hành động leo thang chiến tranh này đã làm cho chính quyền Nixon và bọn hiếu chiến Mỹ phải chuốc lấy một thất bại cay đắng cả về quân sự, chính trị, ngoại giao và cả về đạo đức, trước sự phản đối mạnh mẽ và khinh bỉ của nhân dân thế giới.

        Kissinger lại đề nghị gặp riêng. Trước khi trở lại Paris, Kissinger đã có cuộc gặp với Nixon ở Trại David (Mỹ), Kissinger kể lại: "Nixon nhấn mạnh để tôi phải chấp nhận một giải pháp dù điều kiện do đối phương nêu ra như thế nào đi nữa. Tổng thống còn nói ông ta sẵn sàng chấp nhận những điều khoản của văn bản Hiệp định tháng Mười 1972".

        Rõ ràng là nếu không bị đòn thảm bại trong những ngày lễ Giáng sinh đó, thì cái đầu hiếu chiến của Nixon không dễ nguội nhanh như vậy. Từ ngày 8 tháng Giêng 1973 đến ngày 23 tháng Giêng 1973 đã diễn ra đợt đấu chung cuộc. Mở đầu phiên họp quan trọng trong đợt này, đồng chí Lê Đức Thọ đã lên án mạnh mẽ sự bội ước, lật lọng và tội ác chiến tranh của Mỹ trong 12 ngày đêm tháng Mười hai 1972. Kissinger đã chờ đón cơn thịnh nộ của đối phương, cúi mặt chịu trận, lúng búng trong miệng tìm cách thanh minh.  

        Trong đợt này ta đấu tranh rất tốt, chủ động khai thông được hai vấn đề tồn tại là vấn đề khu phi quân sự và cách ký Hiệp định. Cuối cùng cả hai vấn đề trên đã đạt được yêu cầu Bộ Chính trị nêu ra trước khi đồng chí Lê Đức Thọ trở lại Paris.

        Đối chiếu nội dung Hiệp định Paris với văn bản thoả thuận giữa hai bên vào tháng Mười 1972, các nhà nghiên cứu am hiểu tình hình có những nhận xét rằng "đa số người Mỹ nhận thấy rằng Hiệp định ngày 23 tháng Giêng 1973 (ký tắt) chẳng có gì hơn so với những gì đã được thoả thuận hồi tháng Mười năm ngoái" hay "thất bại trên bầu trời Hà Nội" đã buộc Mỹ phải từ bỏ yêu sách đòi "Hà Nội cùng rút quân"...

        Thú nhận và đánh giá đó của phía Mỹ hoàn toàn chính xác. Rõ ràng với ta từ cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân và cuộc tiến công ngoại giao tháng Tư 1968 dã dẫn đến Hội nghị Paris. Những thắng lợi to lớn của quân và dân ta trên các chiến trường trong những năm 1971, 1972 và đặc biệt là cuộc Tổng tiến công chiến lược năm 1972 và cuộc tổng tiến công ngoại giao tháng Mười 1972, cũng như chiến thắng oanh liệt của trận "Điện Biên Phủ trên không" tháng Mười hai 1972 và tác động quyết định của nó đối với cuộc đàm phán chung cuộc tháng Giêng 1973, giữa ông Lê Đức Thọ và Kissinger, dẫn đến việc ký kết Hiệp định Paris, giữ vững những thoả thuận ta đã đạt được trong tháng Mười 1972 trước khi Mỹ ném bom B-52 vào Hà Nội. Đó là những dẫn chứng điển hình về sự phối hợp chặt chẽ giữa chiến trường và bàn đàm phán.

        (Đại tá nhà văn HÀ BÌNH NHƯỠNG (Viết theo tư liệu trung hồi ký và lời kể của Thiếu tướng Đoàn Huyên trước lúc ông qua đời 15 ngày))


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2012, 02:04:34 pm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/tranvantra-1.jpg)

HIỆP ĐỊNH PARI VỀ VIỆT NAM
MỘT CÁI MỐC LỊCH SỬ
TRÊN CON ĐƯỜNG CHIẾN THẮNG
CUỘC CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC CỦA ĐẾ QUỐC MỸ

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/TRANVANTRAA.jpg)                

         Thượng tướng, Trưởng đoàn đại biểu quân sự CPCMLTCHMNVN trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên Trung ương

         Trong những ngày cuối tháng giêng năm 1973 từ miền Nam Việt NAm đã vang đi những lời này:  

        "Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam long trọng tuyên cáo trước toàn thể đồng bào.

         Ngày 27. 01.1973, các bộ trưởng ngoại giao, đại diện toàn quyền của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa,  chính phú cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam, Chính phủ Hoa Kỳ và chính phủ Việt Nam cộng hòa đã ký "Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.”

        Nội dung chủ yếu của Hiệp định như sau:

        Hoa Kỳ cùng các nước khác cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và      toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam.
            Hoa Kỳ hoàn toàn chấm dứt chiến tranh xâm lược, chấm dứt sự dính líu về quân sự và sự can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam. Nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của mình thông qua tổng tuyến cử thật sự tự do và dân chủ.

        Việc thống nhất nước Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng phương pháp hòa bình.

        Như vậy là sau hơn 18 năm, đế quốc Mỹ nhảy vào Dông Dương, hất chân Pháp, gây ra cuộc chiến tranh xâm  lược to lớn nhất, tàn bạo nhất, lâu dài nhất nhằm "Áp đặt một hệ tư tưởng lên một dân tộc khác" như nhà sử học Mỹ Cusscl F. Weigley khẳng định (AP ngày 8.1.1983). đến nay đã phải cam kết rút hoàn toàn quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam và thừa nhận độc lập, chủ quyền thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam.

        Vì sao Mỹ phải ký vào Hiệp định Paris và cam kết như vậy khi mà từ lâu họ đã xác định:... "Mục tiêu của Mỹ là ngăn chặn không cho cộng sản thống trị Nam Việt Nam" và "dù muốn ra sao thì ra, Mỹ nhất định đánh thắng trận này".

        Vì sao họ phải cam kết và đã thực hiện việc cam kết ấy là rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam, mọi quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự kỹ thuật, nhân viên quân sự liên quan đến chương trình bình định, vũ khí đạn dược và dụng cụ chiến tranh của Hoa Kỳ và của các nước ngoài khác cũng như việc hủy bỏ tất cả các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ và nước ngoài khác (điều 5 và 6 của hiệp đinh) khi mà Mỹ đã đưa vào miền Nam Việt Nam tới trên nửa triệu quân, đã phải huy động tới 75% số đơn vị bộ binh và quân dù của Mỹ, hơn 68% số đơn vị lính thủy đánh bộ hơn 40% số tàu chở máy bay, 52% số tàu tuần dương, hơn 50% số không quân chiến thuật có hiệu lực thực tế, gần 50% số máy bay chiến lược B52. Trong số đó là những đơn vi sừng sỏ nhất, giỏi nhất của Mỹ như Sư đoàn 1 "Anh Cả đỏ" đã từng "lập công lẫy lừng qua hai cuộc Chiến tranh thế giới"; Sư đoàn 25 tia chớp nhiệt đới", nổi tiếng về sử dụng thành thạo chiến thuật bộ binh kết hợp với cơ giới, rất giỏi đánh ở địa hình rừng núi và quen xứ nóng"; Sư đoàn 1 lính thủy đánh bộ và đội dự bị chiến lược Thái Bình Dương"; Sư đoàn 3 lính thủy đánh bộ "đơn vị cơ động có nhiều thành tích nhất ở Viễn.Đông", rất giỏi về đổ bộ, mở rộng nhanh khu vực chiếm đóng và phát triển tấn công, rất dễ phát huy uy lực của nó ở chiến trường có bờ biển dài như Việt Nam, Sư đoàn "Kỵ binh bay" số 1, một thí nghiệm mới nhất của Lầu Năm Góc, trang bị hiện đại và đắt tiền nhất, tiêu biểu cho sức mạnh cơ động tập kích chớp nhoáng bằng đường không. (Theo như Mỹ đã giới thiệu và khoe khoang). Không những thế Mỹ đã sử dụng một cách tập trung cao độ ở chiến trường Việt Nam các loại vũ khí phương tiện, trang bị hiện đại nhất, áp dung những thành tựu khoa  học mới nhất, mà từ trước chưa hề sử dụng: lựu pháo 203 ly và pháo nòng dài 175 ly mệnh danh là "Vua chiến trường",  có thể bắn đạn nguyên tử, các loại xe tăng và xe lội nước; thuyền bay trên đồng nước và pháo đài bay trên không B52, vô số mìn nhỏ mỏng sát thương từng người và bom bi, bom CBU sát thương hàng loạt, bom vô tuyến lade; máy  truyền tin qua vệ tinh và máy phát nhiễu cực mạnh; hàng rào điện tử và mưa nhân tạo, trinh sát điện tử và chất độc hóa học, v.v.., và v.v... Mỹ đã tung vào mảnh đất nhỏ miền Nam nước ta một số lượng lớn, cỡ 4000 máy bay lên thẳng các loại với tính toán "có thế nâng được hiệu lực thực tế của 50 vạn quân lên gấp ba", thế mà khi bắt dầu dưa quân Mỹ vào Việt Nam Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Mac Namara tiên đoán: "Cùng lắm cũng chỉ 175.000 quân là có thể đảo ngược dược hoàn toàn chiều hướng cuộc chiến tranh !" và tướng lĩnh Lầu năm góc thì cho rằng: "Chỉ đến đầu năm 1967 là quân Mỹ có thể hoàn thành nhiệm vụ của nó" (tạp do Đời sống ngày 21.3.1966). Mưu đồ và tính toán của họ đều sụp đố. Không phải chỉ 175.000 quân mà đã lên đến 549.000, lúc cao nhất. đó là chưa kể quân chư hầu tại chiến trường và số quân Mỹ để ở các căn cứ Thái Lan, Philippin, Nhật, Đài Loan, trên hạm đội ngoài biển, thế mà không làm được nhiệm vụ tiêu diệt quân giải phóng, chiếm dược miền Nam Việt Nam vào đầu năm 1967, lại bị sa lầy thảm hại không có lối thoát. Tờ báo Mỹ "Bình luận thứ 7" số ra tháng 12.1972 viết "Kẻ hy sinh thảm hại nhất trong chiến tranh Việt Nam là lục quân Mỹ. Nó đã mất lòng tin và lâm vào tình trạng tan rã. Bại tướng Westmoreland mất chức tham mưu trưởng lục quân đã lâu, cứ chờ mãi mà đến nay vẫn chưa được giao việc". Và nói về sự đọ sức giữ lực lượng phòng không Việt Nam và lực lượng Không quân Mỹ, tờ báo Mỹ "Tuần tin tức" ra ngày 8.1-1973 viết rằng lưới lửa phòng không Việt Nam đã bắt không lực Hoa Kỳ phải trả một cái giá rất đắt, một cái giá mà Oa-sinh-tơn không thể tiếp tục trả thêm được".


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2012, 02:07:15 pm
        Không phải năm 1967 quân Mỹ có thể hoàn thành nhiệm vụ như tướng lĩnh Mỹ ước định mà chính năm 1967 là năm đại bại không phương cứu vãn, không còn che dấu được trong chiến dịch Junctinon City" mà chúng lăm le tiêu diệt chủ lực quân giải phóng và đầu não lãnh đạo chỉ huy "Việt cộng". Chiến dịch "Jumcti City" thất bại nặng nề nhưng vẫn ở mức thất bại về chiến dịch chiến đấu, còn tết Mậu Thân năm 1968 mới là đòn trời giáng vào cái chiến lược "tìm và diệt" của tên bại tướng nhưng là tướng tài của Mỹ Westmoreland. để thay bằng một chiến lược bị động và phòng ngự là "quét và giữ" với người thay thế tổng chỉ huy là Abrams Tổng chỉ huy ở chiến trường bị cách chức còn tổng tư lệnh cả đế quốc Mỹ thì sao? Tổng thống Mỹ Johnson đã viết trong hồi ký của ông ta: "Kết thúc năm 1968 sau nhiều năm điều hành cuộc chiến tranh gay cấn nhất ở Việt Nam, tôi thực sự không tin mình có thể sống sót nếu ở lại Nhà trắng thêm một nhiệm kỳ nữa. Vì tình hình đen tối của chúng ta tức Mỹ) ở Việt Nam đã làm cho tôi phải căng thằng suốt 1886 đêm, ít khi tôi được ngủ trước 2 giờ sáng".

        Sau tết Mậu Thân năm 1968 nước Mỹ đã quá mệt mỏi, các nhà lãnh đạo Mỹ dã quá chán ngán, tiêu tan ý chí xâm lược, buộc phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom và bắn phá trên toàn bộ lãnh thổ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và đành phải ngồi vào bàn hòa đàm ở Paris và tìm cách rút dần quân Mỹ về nước với chiêu bài phi Mỹ hóa cuộc chiến. Tuy vậy phải đợi đến khi nếm thêm những đòn thất bại ê chề ở Campuchia năm 1970 khi Mỹ tưởng dùng tên Lon Non đảo chánh Sihanouk là cắt dứt được đường tiếp tế quá cảnh qua Sihanoukvin của Việt cộng. Không ngờ nhiều tỉnh của Campuchia được giải phóng, quân cách mạng Khmer lớn mạnh và con dường chiến lược 559 lại được nối liền tới miền đông Nam bộ qua đông Campuchia. Thất bại ở dường 9 - Nam Lào mà không cắt được con đường Trường Sơn tuyệt diệu lại còn bị tan nát tuyến phòng thủ Sài Gòn từ xa, tuyến ngoài cùng trên đường 22 và 7 từ Kompongcham đến Snoul ở đông Campuchia: Và đặc biệt những thất bại nặng nề năm 1972 ở Quảng Trị, Tây Nguyên, ở Miền Dông Nam Bộ và 12 ngày đêm ở Hà Nội, Hải Phòng thì Mỹ mới phải ký vào Hiệp định Paris, mong rút được quân Mỹ và tù binh Mỹ về nước một cách danh dự, đáp ứng được yêu cầu của nhân dân Mỹ.

        Chỉ điểm qua hết sức tóm tắt diễn biến chính trên chiến trường như vậy ta cũng hiểu được rằng Mỹ bị đánh đau quá một cách không ngờ tới, buộc phải cay đắng ký vào Hiệp đinh Paris và cam kết không dính líu vào Việt Nam, còng nhận chủ quyền và thống nhất toàn vẹn của nước Việt Nam, cam kết và thực hiện rút hết quân Mỹ và chư hầu về nước. Không có cách khác dế tránh cuộc đại bại của đội quân viên chinh hùng hổ lúc đầu nhưng về sau ngày càng suy sụp.

        Ngày 29-3 là ngày quy định cuối cùng phải rút hết đội quân viễn chinh Mỹ và chư hầu. Ngày ấy đã xảy ra êm thấm, không một trục trặc nhỏ nào:

        - 13giờ 15', tại căn cứ Bộ tư lệnh Mỹ ở sân bay Tân Sơn Nhất mà báo chí gọi là "Lầu Năm góc phương đông" tướng Uây-en và đại sứ Bân-cơ đã làm lễ cuốn cờ Bộ tư lệnh Hoa Kỳ sau 11 năm thành lập ở Việt Nam.

        - “Hôm nay, những lính Mỹ cuối cùng đã rời Nam Việt Nam hồi 17 giờ 30 phút, giờ Sài Gòn ( 16 giờ 30 phút, giờ Hà Nội). Người Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam là đại tá không quân Đê-vít Ô-den. Các đại diện Bắc Việt Nam và chính phủ cách mạng lâm thời đã có mặt tại chỗ để giám sát việc rút số lính Mỹ còn lại". (AFP Pháp).

        "Đây thực tế là một ngày quan trọng trong quá trình hòa bình mà Hiệp định Paris dã quy định. Ngày này cũng quan trọng như ngày 27.1, ngày mà bốn bên ký Hiệp định chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, một văn kiện mà giá trị lịch sử cần phải được nhấn mạnh. Việc rút tất cả quân Mỹ cần phải kèm theo một lời tuyên cáo trịnh trọng chấm dứt sự can thiệp của Mỹ ở Việt Nam, chấm dứt sự can thiệp của Mỹ vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam.

        Không nghi ngờ gì khi tên lính Mỹ cuối cùng rút khỏi Việt Nam, mỗi người dân Việt Nam, mỗi người bạn của dãn tộc anh hùng này, mỗi chiến sĩ trong phong trào giải phóng dân tộc rộng lớn trên thế giới đều cảm thấy nhẹ nhõm và nhất là cảm thấy vui mừng trước thắng lợi lịch sử này". (Báo "Người chiến sĩ", Algérie).

        'Các đơn vị quân Mỹ đã rút khỏi miền Nam Việt Nam. Trên đất nước Việt Nam, giờ dây không còn một tên xâm lược nước ngoài nào nữa. Dây là thắng lợi về tư tưởng của nhà lãnh đạo thiên tài, nhà chính trị lỗi lạc Hồ Chí Minh - người đã suốt đời hoạt động vì mục đích cao cả : giải phóng đất nước, làm cho nước Việt Nam tử một trăm năm qua, nay đã sạch bóng quân thù. Đây là thắng lợi và niềm tự hào của toàn thê dân tộc Việt Nam chiến dấu vì độc lập tự do, của phong trào giải phóng dân tộc và tiến bộ xã hội trên thế giới". (Báo Dân tộc Hung-ga-ri, 30/3).

       “Thắng lợi giành được như thế của người Việt Nam, không còn nghi ngờ gì nữa, sẽ có một tầm vóc lớn lao... ".(Báo Nhân đạo Pháp).

        Đúng là Hiệp định Paris là một thắng lợi của nhân dân Việt Nam, của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, có một tầm vóc lớn lao. Nhưng trước hết đó là thắng, lợi cụ thể lớn lao của một đường lối chiến lược vô cùng sáng suốt trong chỉ đạo cuộc chiến tranh, tạo ra bước ngoặt quyết định và điều kiện chủ yếu để đi đến toàn thắng năm 1975.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2012, 02:08:31 pm
        Ngay từ năm 1965, khi mà đạo quân viễn chinh Mỹ ào ạt đổ bộ vào miền Nam nước ta để cứu quân ngụy sắp bị diệt và rã, chuyển chiến tranh đặc biệt thành chiến tranh cục bộ thì Hồ Chủ Tịch và Trung ương Đảng ta và cả Trung ương Cục miền Nam đều đã nhận định thống nhất rằng, quân Mỹ nhảy vào trong thế thua, để chữa cháy và cứu vãn một tình thế dang suy sụp, một chế độ dang lung lay tận gốc. Việc làm đó đề lộ rõ bộ mặt xâm lược, là phi nghĩa. Thực sự chủ trương đó của Mỹ và cà đường lối chiến lược, chiến thuật đều là bị động, bị động trên chiến trường, bị động trên trường quốc tế. Vì vậy Mỹ nhất định thua, ta thất định thắng. Ta không sợ Mỹ và trước sự phản công dồn dập và ác liệt của quân đội Mỹ-ngụy, ta không trở về thế phòng ngự mà vẫn giữ vững chiến lược tấn công. Tuy vậy đi vào cụ thể tác chiến ta phải thấy là tương quan lực lượng trên chiến trường đã có sự thay đổi đột ngột và lớn lao. Trước đây quân ngụy tuy đông hơn ta nhưng trang bị chiến đấu non kém. Giờ đây cộng vào số quân ngụy ấy có tăng lên về số lượng và trang bị, còn có đội quân sừng sỏ hùng mạnh nhất của phe đế quốc, được trang bị hiện đại nhất, có đầy đủ phương tiện phá hoại, hủy diệt lớn lao nhất với cách sử dụng tập trung cao độ thì phải đánh thế nào đề giành chiến thắng. Ta phải đối đầu giờ đây với một ké địch cụ thể mà số lượng và trang bị ưu thế hơn ta, kề cà các binh quân chủng, hàng mấy chục lần. Có quyết tâm chiến thắng phải di đôi hay phải trên cơ sở của tài năng và mưu trí, lòng dũng cảm và óc sáng tạo, khoa học và thực tế của những cán bộ và chiến sĩ ngay trên chiến trường Phải tìm ra cách đánh phù hợp nhất, vừa diệt được dịch vừa bảo vệ được mình vừa lớn lên như Sơn Tinh vượt đầu thủy tặc trong một tình thế vô cùng gay go phức tạo tưởng chừng như nan giải. Nhưng ở dây chỉ đề cập đến một vấn đề về chỉ đạo chiến lược lớn mà kết thúc của nó là Hiệp định Paris.

        "Biết kẻ thù như biết mình là bí quyết thắng lợi trong mọi cuộc giao chiến" (Binh thư Tôn Tử xưa). Hồ Chủ Tịch và Đảng ta đã đánh giá kỹ sức mình và sức địch, thế mình và thế địch trong nước và ngoài nước, tính toán tất cả mọi lẽ hơn thiệt, cân nhắc tất cả các tình huống sau khi Mỹ đã mở chiến tranh cục bộ ở miền Nam, chiến tranh phá hoại ở miền Bắc đè hạ quyết tâm: "Chiến tranh cỏ thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nứa - Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thề bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ ! Không có gì quý hơn độc lập tự do. Đến ngày thăng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn !" (Lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch ngày 17.7.1966). Nhưng để thắng lợi một đối phương như đế quốc Mỹ với đội quân Mỹ- ngụy cả trên triệu người và trang bị tối tân đến tận chân răng trước hết cần sự chỉ dạo chiến lược đúng. Bác đã nói: "Trong cuộc chiến tranh này ta không phải tiêu diệt hết quân Mỹ để thắng mà là ta phải đuổi hết Mỹ để thắng. Đó là tinh thần, trí tuệ và sức lực Việt Nam. Ta kiên trì, ta nhất định thắng". Rồi trong thơ chúc Tết năm 1969 gửi đồng bào và chiều sĩ miền Nam, Bác nhắc:"... Vì độc lập, vì tự do, đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào...". Trong lời kêu gọi ngày 20.7.1969, Bác lại nhấn mạnh, kiên quyết:

        “Đế quốc Mỹ thất bại đã rõ ràng nhưng chúng chưa chịu từ bỏ dã tâm bám lấy miền Nam nước ta. Quân và dân cả nước ta, triệu người như một, nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, không sợ hy sinh, không sợ gian khổ, quyết kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến, quyết chlến quyết thắng, đánh cho quân Mỹ phải rút hết sạch, đánh cho ngụy quân và ngụy quyền sụp đổ hết, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hòa bình thống nhất nước nhà".

        Sự chỉ đạo chiến lược tài tình của Bác và Đảng ta nhằm quyết tâm giành thắng lợi kỳ được trước một kẻ dịch mạnh hơn ta gấp bội về nhiều mặt trừ tinh thần, ý chí và dũng lược, là phải đập tan ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, phải đánh cho quân Mỹ rút sạch để rồi đánh cho ngụy quân, ngụy quyền sụp đổ hết mới giành được toàn thắng.

        Theo lời Bác và sự chỉ đạo của Đảng, quân và dân cả nước ta đã anh hùng trên chiến trường trong nước, cả trên chính trường ngoài nước để đi đến ký kết dược Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ớ Việt Nam, tạo được bước quyết định đề đi đến toàn thắng.

        Tuy Mỹ, ngụy lật lọng không thi hành tất cả các điều khoán của Hiệp định vì họ tưởng với chiến lược mới "Việt Nam hóa chiến tranh", ngụy sẽ mạnh lên, Mỹ rút quân nhưng vẫn bám giữ được miền Nam với sự đồng loa của bọn phản động quốc tế. Họ không thi hành trọn vẹn Hiệp định nhưng đã thi hành diều 5 và 6 là rút hết quân Mỹ và chư hầu ra khỏi Việt Nam. Mỹ cho như thế là một thắng lợi vì cứu được quân Mỹ đã sa lầy đến tận cổ, rút hết về nước theo đòi hỏi chính đáng của nhân dân Mỹ và dồn tiền của và vũ khí cho quân ngụy lớn mạnh nhanh để thắng Việt Cộng hay ít nhất cũng không phân thắng bại mà Mỹ thì đứng ngoài cổ vũ và tìm mưu mô khác. Còn ta thì ký Hiệp định với thật tâm đem lại hòa bình cho nhân dân sau bao nhiêu năm chiến tranh chết chóc và tàn phá. Nhưng nếu không được như vậy thì diều cơ bản nhất theo sự chỉ đạo chiến lược phải đạt được là quân xâm lược ngoại quốc phải rút hết ra khỏi bờ cõi Việt Nam. Đó là để thay đổi tương quan lực lương cơ bản trên chiến trường để ta đi đến một bước nữa đánh tan quân ngụy tay sai và sụp đổ chế độ ngụy bán nước.

        Thực tế diễn biến tình hình trên ba nước Đông Dương từ 1973 - 1975 chỉ rõ trong hai năm ấy mặc dù Mỹ ngụy ra sức phá Hiệp định, cố giành phần thắng, nhưng sức lực Chúng đã khác trước xa rồi, sức lực ta đã phát huy mạnh mẽ và kết cục số phận chúng đã dược định đoạt và ta giành toàn thắng.

        Sự chỉ đạo chiến lược tài tình và sáng suốt của Hồ Chủ Tịch và Đảng ta: "Đánh cho quân Mỹ phải rút hết sạch, đánh cho ngụy quân, ngụy quyền sụp đổ hết" đã được thực hiện.

        Hiệp định Paris về Việt Nam rõ ràng là một cái mốc lịch sử trên con đường chiến thắng cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. 


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2012, 03:47:07 pm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/ac.jpg)

GÓP PHẦN NHẬN BIẾT VỀ HIỆP ĐỊNH PA-RI
VÀ CUỘC ĐẤU TRANH THI HÀNH HIỆP ĐỊNH

THIẾU TƯỚNG HOÀNG ANH TUẤN                

         Trưởng đoàn đại biểu quân sự CPCMLTMNVN trong Ban liên hợp quân sự 2 bên Trung ương.

   Hơn 36 năm đã qua kể từ ngày Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo của đế quốc Mỹ đối với miền Nam nước ta. Cũng đã hơn 34 năm từ ngày quân và dân ta đánh sụp ngụy quyền Sài Gòn tay sai Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam tiến tới thống nhất đất nước. Thế hệ sinh ra sau ngày đó nay cũng đã trưởng thành và là một lực lượng đông đảo đang cùng cha anh gánh vác sự nghiệp dựng xây nước nhà theo con đường đã chọn.

   Hiểu biết lịch sử là rất cần thiết để nâng cao lòng tự hào dân tộc, và quan trọng hơn nữa là để rút được những bài học cho ngày nay và cho cả mai sau.

   Có thể nhiều người muốn tìm hiểu Hiệp định Pa-ri là thắng lợi đến mức nào, nó đã phát huy tác dụng ra sao, vì sao giữa chừng ta phải trở lại dùng bạo lực cách mạng mới đạt được các mục tiêu dân tộc cơ bản mà Hiệp định Pa-ri đã ghi nhận, và vì sao cuối cùng ta giải phóng miền Nam bằng một loạt trận chiến long trời lở đất mà cả thế giới đều chấp nhận.

   Những tư liệu và dẫn giải sau đây mong góp một phần đáp ứng yêu cầu sự tìm hiểu đó.

-A-
HIỆP ĐỊNH PA-RI

   Hội nghị Pa-ri về Việt Nam được bắt đầu từ tháng 5 năm 1968, lúc đầu gồm hai bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ, sau đó đủ bốn bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ và "Việt Nam Cộng Hòa" tức ngụy quyền Sài Gòn. Đến cuối tháng 1 năm 1973 Hiệp định mới được ký kết.

   Song song với Hội nghị công khai của bốn Đoàn do bốn Bộ trưởng ngoại giao dẫn đầu, còn có các cuộc họp kín giữa đồng chí Lê Đức Thọ, cố vấn Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa với Henry Kissinger (nguyên Bộ trưởng ngoại giao) cố vấn Đoàn Hoa Kỳ. Đây là nơi thực chất thương lượng các chương mục và điều khoản của Hiệp định, cả nội dung và lời văn. Cuối năm 1972 hai bên đã thỏa thuận xong toàn bộ Hiệp định , chỉ còn về báo cáo các Chính phủ rồi ký kết. Nhưng đồng chí Lê Đức Thọ vừa về đến nhà ở Hà Nội thì Hoa Kỳ mở đợt tấn công khốc liệt bằng không quân với con chủ bài B52 đánh Hà Nội, Hải Phòng và vùng phụ cận. Vì nội dung Hiệp định đã được thỏa thuận ở Pa-ri có quá nhiều thua thiệt cho Mỹ nên họ muốn dùng đòn này khuất phục ta, buộc ta phải nhân nhượng sửa lại một số điều khoản.

   Chúng ta đã biết cuộc đánh phá 12 ngày đêm thất bại thảm hại như thế nào. Báo chí thế giới đã đặt cho nó một cái tên thật hình tượng và rất chính xác là "trận Điện Biên Phủ trên không". Bác Hồ trước đó đã nới: "Mỹ sẽ thua , nhưng nó phải thua ở Hà Nội rồi nó mới chịu thua hẳn".

   Ngày 27 tháng 1 năm 1973 Hiệp định Pa-ri đã được ký kết với nguyên văn nội dung đã được thỏa thuận cuối năm 1972.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2012, 03:51:38 pm

I
Mấy nét về nội dung Hiệp định Pa-ri và các văn kiện liên quan

        "Hiệp định Pa-ri" là cách nói tắt, tên gọi chính thức của nó là " Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam". Hiệp định được ký tại Paris thủ đô nước Pháp ngày 27/01/1973, kèm theo có 4 Nghị định thư:

   1. Nghị định thư "về ngừng bắn ở miền Nam Việt Nam và về các Ban liên hợp quân sự"

   2. Nghị định thư "về Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát"

   3. Nghị định thư "về việc trao trả nhân viên quân sự (NVQS) bị bắt, thường dân nước ngoài bị bắt và nhân viên dân sự (NVDS) Việt Nam bị bắt và giam giữ"

   4. Nghị định thư "về tháo gỡ , làm mất hiệu lực vĩnh viễn, phá hủy mìn ở vùng biển, các cảng, sông ngòi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa"

   Hiệp định và 3 Nghị định thư đầu đều làm thành 2 văn bản, nội dung hoàn toàn như nhau, một bản do hai Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Duy Trinh thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và William Price Rogers thay mặt Chính phủ Hoa Kỳ ký (tức là hai bên chủ chốt đàm phán), còn một bản do Bộ trưởng ngoại giao của cả bốn bên tham gia Hội nghị Pari ký: Nguyễn Duy Trinh (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), Nguyễn Thị Bình (Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam), William Price Rogers (Hoa Kỳ) và Trần Văn Lắm ("Việt Nam Cộng hòa" tức ngụy quyền Sài Gòn).

   Riêng Nghị định về tháo gỡ và phá hủy mìn vì chỉ liên quan đến miền Bắc Việt Nam nên chỉ do hai Bộ trưởng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ ký.

   Nội dung chủ yếu của Hiệp định Paris là:

   - Hoa Kỳ và các nước khác cam kết tôn trọng độc lập , chủ quyền , thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam.

   - Hòa Kỳ hoàn toàn chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược, chấm dứt sự dính líu về quân sự và can thiệp vào nội bộ của miền Nam Việt Nam.

   - Các bên tôn trọng quyền tự quyết và bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân miền Nam Việt Nam.

   - Hai bên miền Nam Việt Nam (MNVN) hiệp thương để thành lập Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc để đôn đốc việc thi hành Hiệp định và tổ chức tổng tuyển cử tự do và dân chủ.
Hiệp định gồm 9 chương và 23 điều:

   ChươngI: Về "Các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam" chỉ có một điều nhưng là điều cơ bản nhất: "Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 về Việt Nam đã công nhận"

   Chương II: Từ điều 2 đến điều 7 nói về "Chấm dứt chiến sự - rút quân":

   - Ngừng bắn hoàn toàn trên khắp MNVN kể từ 24 giờ (giờ GMT) ngày 27/01/1973, tức là 7 giờ sáng ngày 28/1/1973 giờ Việt Nam. Hoa Kỳ chấm dứt mọi hoạt động quân sự chống lãnh thổ nước VNDCCH, tháo gỡ và phá hủy tất cả mìn ở vùng biển, các cảng và sông ngòi ở miền Bắc Việt Nam. Việc chấm dứt chiến sự là vững chắc và không thời hạn.
 
   - Các lực lượng vũ trang của các bên ở nguyên vị trí.

   - Trong thời hạn 60 ngày sẽ hoàn thành việc rút hoàn toàn ra khỏi MNVN lực lượng vũ trang của Hoa Kỳ và của các nước ngoài khác, kể cả nhân viên quân sự kỹ thuật, cố vấn cảnh sát.

   - Hủy bỏ tất cả căn cứ quân sự Hoa Kỳ và của nước ngoài tại MNVN.

   - Hoa Kỳ sẽ không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của MNVN.

   Chương III: Về "việc trao trả nhân viên quân sự bị bắt , thường dân nước ngoài bị bắt và nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ" chỉ có điều 8 gồm 3 điểm:

   - 8a: Trao trả NVQS của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài bị bắt, song song và cùng thời hạn với việc rút quân.

   - 8b: Giúp đỡ nhau tìm kiếm tin tức về NVQS của các bên và thường dân nước ngoài của các bên bị mất tích trong chiến đấu, xác định vị trí và bảo quản mồ mả những người chết nhằm tạo điều kiện cất bốc và hồi hương hài cốt.

   - 8c: Trao trả nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ ở MNVN: sẽ do hai bên MNVN giải quyết trong vòng 90 ngày.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2012, 03:58:15 pm
        Chương IV: Từ điều 9 đến điều 14  về " Việc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam"

        - Quyền tự quyết của nhân dân MNVN là thiêng liêng, bất khả xâm phạm.

        - Nhân dân MNVN tự quyết định tương lai chính trị của MNVN thông qua tổng tuyển cử tự do và dân chủ, có giám sát quốc tế.

        - Hai bên MNVN thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân, hiệp thương thành lập Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc gồm 3 thành phần ngang nhau ( tức CPCMLTCHMNVN, ngụy quyền Sài Gòn và lực lượng thứ ba) trong vòng 90 ngày để đôn đốc hai bên MNVN thi hành Hiệp định, tổ chức tổng tuyển cử.

        Chương V: Gồm điều 15 có 4 điểm về " Vấn đề thống nhất nước Việt Nam và vấn đề quan hệ giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam"

        Việc thống nhất nước Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng phương pháp hòa bình. Trong khi chờ đợi:

        - Giới tuyến quân sự tại vĩ tuyến 17 chỉ là tạm thời và không phải là một ranh giới về chính trị hoặc lãnh thổ.

        - Miền Bắc và miền Nam Việt Nam sẽ tôn trọng khu phi quân sự hai bên giới tuyến quân sự tạm thời.

        - Miền Bắc và miền Nam Việt Nam sớm thương lượng nhằm lập lại quan hệ bình thường.

        - Miền Bắc và miền Nam Việt Nam sẽ không tham gia bất cứ liên minh quân sự hoặc khối quân sự nào.

        Chương VI: Về " Các Ban liên hợp quân sự (BLHQS), Ủy ban quốc tế (UBQT) kiểm soát và giám sát, Hội nghị quốc tế" gồm 4 điều 16,17,18,19.

        - Điều 16 về Ban liên hợp quân sự bốn bên với nhiệm vụ bảo đảm phối hợp hành động của các bên về:
   • Ngừng bắn;

   • Rút khỏi miền Nam Việt Nam quân đội của Hoa Kỳ và của các nước ngoài khác;

   • Hủy bỏ các căn cứ quân sự ở MNVN của Hoa Kỳ;

   • Trao trả nhân viên quân sự của các bên bị bắt và thường dâm nước ngoài của các bên bị bắt;

   • Giúp đỡ nhau tìm kiếm những người mất tích trong chiến đấu.

        BLHQS 4 bên làm việc theo nguyên tắc hiệp thương nhất trí và chấm dứt hoạt động trong thời hạn 60 ngày.
        - Điều 17 về BLHQS hai bên bảo đảm phối hợp hành động giữa hai bên MNVN về:

   • Ngừng bắn;

   • Cấm tăng cường quân đội vào MNVN;

   • Trao trả nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ;

   • Giảm quân và phục viên số quân giảm.

        - Điều 18 về Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát các việc:

   • Ngừng bắn;

   • Rút quân của Hoa Kỳ và của các nước ngoài khác;

   • Hủy bỏ căn cứ quân sự của Hoa kỳ;

   • Trao trả nhân viên quân sự và thường dân nước ngoài bị bắt.

   • Cấm đưa quân đội vào MNVN;

   • Giảm quân của hai bên MNVN.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2012, 04:06:20 pm
        UBQT gồm đại diện bốn nước Ba Lan, Canada, Hung ga ri, Indonexia, luân phiên làm chủ tịch, làm việc theo nguyên tắc hiệp thương và nhất trí.[1]

        - Điều 19 về việc triệu tập Hội nghị quốc tế trong vòng 30 ngày để ghi nhận các Hiệp định đã ký kết, bảo đảm chấm dứt chiến tranh, giữ vững hòa bình ở Việt Nam, tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam. VNDCCH và Hoa Kỳ sẽ thay mặt bốn bên mời: CHND Trung Hoa, CH Pháp, Liên bang cộng hòa XHCN Xô Viết, Liên hiệp Vương quốc Anh, 4 nước trong UBQT, Tổng thư ký Liên hiệp quốc, cùng với các bên tham gia Hội nghị Paris về Việt Nam.

        Chương VII: " Đối với Cam-pu-chia và Lào" gồm điều 20 về:

        - Triệt để tôn trọng Hiệp định Genève năm 1954 về Cam pu chia và Hiệp định Genève năm 1962 về Lào đã công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Cam pu chia và nhân dân Lào: độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Tôn trọng nền trung lập của Cam pu chia và Lào.

        - Những vấn đề liên quan giữa các nước Đông Dương sẽ do các bên Đông Dương giải quyết.

        Chương VIII: Về " Quan hệ giữa VNDCCH và Hoa Kỳ" gồm 2 điều 21 và 22:

        - Hoa Kỳ sẽ "đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công cuộc xây dựng sau chiến tranh ở VNDCCH và toàn Đông Dương".

        - Việc thực hiện triệt để Hiệp định sẽ tạo điều kiện thiết lập quan hệ mới, bình đẳng và cùng có lợi giữa VNDCCH và Hoa Kỳ, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.

        Chương IX: Về "Những điều khoản khác" gồm điều 23 nói về việc Hiệp định sẽ có hiệu lực ngay khi được ký kết và về các thành viên ký kết.

        Các Nghị định thư được ký cùng lúc với Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam nhằm cụ thể hóa một số điều khoản quan trọng của Hiệp định cần và có thể cụ thể hóa được, chủ yếu là về các mặt quân sự, Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát, trao trả nhân viên quân sự và nhân viên dân sự bị bắt và giam giữ , tháo gỡ và phá hủy mìn ở miền Bắc.

        Riêng Nghị định thư về ngừng bắn và về các BLHQS có ghi một điểm quan trọng (điều 16b) là "Các BLHQS và nhân viên của các Ban này trong khi thi hành nhiệm vụ được hưởng quyền ưu đãi và miễn trừ tương đương với quyền dành cho các phái đoàn ngoại giao và nhân viên ngoại giao".
-----------------------
[1] Tháng 5/1973 Canada tuyên bố rút khỏi UBQT và đến tháng 7/1973 rút xong hết. Bốn bên ký Hiệp định Pari lại tham khảo nhau và thỏa thuận mới Iran thay thế, Iran đồng ý. Tháng 9/1973 Đoàn Iran nhận nhiệm vụ trong UBQT.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2012, 04:10:42 pm

*

*        *
        Thực hiện điều 19 Hiệp định Paris, Hội nghị quốc tế đã được triệu tập và họp tại Paris từ 27/2 đến 2/3/1973, gồm 13 thành viên:

        - Bốn bên ký kết Hiệp định Paris;

        - Bốn nước trong Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát;

        - Bốn nước thành viên hội đồng bảo an Liên hiệp quốc (cộng với Hoa Kỳ, một bên ký kết Hiệp định, là đủ cả thành phần HĐBALHQ)

        - Tổng thư ký Liên hiệp quốc.

        Dẫn đầu đoàn đại biểu CPCMLTCHMNVN là Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Thị Bình, CPVNDCCH là bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Duy Trinh.

        Hội nghị đã ký bản Định ước 9 điều, ghi nhận và ủng hộ hiệp định Paris ngày 27/1/1973 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt nam cùng các Nghị định thư kèm theo, khẳng định việc Hiệp định và các Nghị định thư đó phải được thực hiện. Hội nghị công nhận và cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt nam, quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam, và kêu gọi tất cả các nước trên thế giới cũng làm như vậy.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2012, 04:13:12 pm

*

*      *

        Song song với BLHQS bốn bên tại miền Nam Việt Nam, sau đó là BLHQS hai bên, Hội nghị hiệp thương giữa hai bên miền Nam Việt Nam để bàn về các vấn đề chính trị cũng được khai mạc ngày 13/3/1973 tại lâu đài La Celle Saint Cloud ở Paris. Đoàn đại biểu CPCMLTCHMNVN do giáo sư Bộ trưởng Nguyễn Văn Hiếu làm trưởng đoàn. Phía Chính quyền Sài Gòn do Nguyễn Lưu Viên, Bộ trưởng, làm trưởng đoàn.

        Cũng như tình hình diễn ra tại cuộc đấu tranh ở BLHQS hai bên trung ương tại miền Nam Việt nam, do thái độ ngoan cố chống phá Hiệp định Paris của phía ngụy quyền, diễn đàn La Celle Saint Cloud không đạt được tiến bộ tích cực, nên đến giữa năm 1974 ta cũng chấm dứt cùng với việc đình chỉ các cuộc họp của BLHQS hai bên Trung ương ở Sài Gòn.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2012, 04:27:28 pm

II
Giá trị và ý nghĩa của Hiệp định Paris

        Hiệp định Paris là một thắng lợi hết sức to lớn của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước lâu dài, ác liệt và gian khổ, tuy chưa phải là thắng lới hoàn toàn. nó là sự thể hiện tổng hợp và coi như sự đúc kết các thắng lợi của quân và dân ta trên chiến trường cả ở tiền tuyến lớn miền Nam và hậu phương lớn miền Bắc, từ chiến tranh đặc biệt với ngụy quyền Sài Gòn đến chiến tranh cục bộ trực tiếp của hơn nửa triệu quân Mỹ và hơn mười vạn quân chư hầu, cùng với cuộc chiến tranh phá hoại khốc liệt bằng không quân đánh phá miền Bắc.

        Chúng ta đã đạt được mục tiêu đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Mỹ xuống thang chiến tranh, và cuối cùng với kết cục của trận Điện Biên Phủ trên không, Hoa Kỳ đã phải chịu kết thúc chiến tranh với các điều khoản ghi trong Hiệp định.

   Hiệp định Paris chủ yếu nêu các vấn đề nguyên tắc, các giải pháp cụ thể về chấm dứt chiến tranh, về ngừng bắn, rút quân Mỹ và chấm dứt sự can thiệp của Mỹ, còn về giải pháp chính trị cụ thể thì chỉ xác định việc hai bên miền Nam Việt Nam hiệp thương thành lập Hội đồng hòa giải và hòa hợp dân tộc để tổ chức tổng tuyển cử.

        Nội dung cốt lõi và cơ bản nhất của Hiệp định Paris đối với ta là:

        - Về mặt pháp lý quốc tế, Hoa Kỳ long trọng cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam; chấm dứt chiến tranh, chấm dứt sự dính líu về quân sự và can thiệp vào nội bộ của miền Nam Việt Nam; tôn trọng quyền tự quyết và các quyền tự do dân chủ của nhân dân miền Nam Việt Nam.

        - Về hành động thực tiễn, trong vòng 60 ngày phải rút hết khỏi miền Nam Việt Nam tất cả lực lượng vũ trang của Hoa Kỳ và của các nước khác, dỡ bỏ tất cả các căn cứ quân sự cảu hoa Kỳ tại miền Nam Việt Nam.

        Hiệp định Paris được một Hội nghị quốc tế quan trọng công nhận và bảo đảm, gồm 13 thành viên trong đó có đủ năm nước ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên  hiệp quốc.

        Quân Mỹ và quân nước ngoài phải rút hết trong lúc các lực lượng vũ trang cách mạng của ta vẫn được giữ nguyên tại chỗ, đây là một bước ngoặt trong so sánh lực lượng giữa ta và địch hết sức có lợi cho ta (một trong các đòi hỏi gay gắt của cả Mỹ-ngụy trong suốt quá trình Hội nghị Paris, và cũng là một trong các mục tiêu của Mỹ trong chiến dịch 12 ngày đêm đánh phá Hà Nội và một số nơi ở miền Bắc là đòi lực lượng vũ trang của ta từ miền Bắc vào mà chúng gọi là quân Bắc Việt, cũng phải rút hết khỏi miền Nam).

        Chúng ta muốn Hiệp định Paris được thi hành nghiêm chỉnh và đầy đủ vì Hiệp định là thắng lợi của ta và nếu được như vậy thì ta vẫn có đầy đủ khả năng và có cách để hoàn thành thắng lợi Cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, thực hiện thống nhất đất nước trong hòa bình. Còn nếu đối phương phản trắc chống phá Hiệp định, đẩy miền Nam trở lại tình trạng chiến tranh (và thực tế lịch sử đã diễn ra theo hướng này) thì với sự thay đổi to lớn trong so sánh lực lượng giữa ta và địch sau khi Mỹ rút quân, với sự đánh giá của thế giới trước thái độ của mỗi bên đối với việc thi hành Hiệp định Paris, ta có đầy đủ ưu thế cả về quân sự, chính trị và ngoại giao để giành thắng lợi cuối cùng, đạt mục tiêu độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ mà Hiệp định Paris đã ghi nhận. Thực tế diễn biến lịch sử đã chứng minh điều đó.

        Tóm lại với Hiệp định Paris, ta đã đạt được yêu cầu "Đánh cho Mỹ cút" và điều này tạo tiền đề chiến lược để hai năm sau, quân và dân ta tiến lên thực hiện yêu cầu "Đánh cho ngụy nhào", đồng thời thực hiện trọn vẹn quyết tâm của Bác Hồ "Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi".



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2012, 04:39:30 pm

-B-
ĐẤU TRANH THI HÀNH
HIỆP ĐỊNH PA-RI VỀ VIỆT NAM
TẠI CÁC BAN LIÊN HỢP QUÂN SỰ
(Bốn bên và hai bên)

I
Triển khai lực lượng và thực hiện nhiệm vụ

        1) Ngay sau khi Hiệp định Pa-ri "về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết (27-1-1973) , ngày 28-1-1973 những bộ phận đầu tiên của hai Đoàn đại biểu quân sự của ta (của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam) đã có mặt tại Tân Sơn Nhất, là khu vực sân bay và là căn cứ quân sự của Mỹ ngụy tại Sài Gòn. Vài ngày sau lực lượng hai Đoàn ta đã đến đông đủ và cùng đối phương (hai Đoàn đại biểu quân sự của Hoa Kỳ và Chính quyền Sài Gòn) thành lập cơ quan Liên hợp quân sự để phối hợp kế hoạch thực hiện các điều khoản Hiệp định thuộc chức năng của BLHQS. Từ đó các thành viên hai Đoàn đại biểu của ta đã trụ lại trong vùng chiếm đóng của đối phương và liên tục thực hiện nhiệm vụ đấu tranh đặc thù của mình cho đến ngày cuối cùng thắng lợi 30-4-1975.

        2) Hiệp định Pa-ri quy định thành lập BLHQS 4 bên, sau đó (sau khi quân Mỹ rút hết cùng với việc hoàn thành trao trả nhân viên quân sự các bên bị bắt) chuyển qua BLHQS 2 bên MNVN.

        Ngoài BLHQS Trung ương, Hiệp định còn quy định thành lập bảy BLHQS khu vực đóng ở Huế, Đà nẵng, Pleiku, Phan Thiết, Biên Hòa, Mỹ Tho, Cần Thơ (đều đặt trong vùng kiểm soát của đối phương) và 26 Tổ LHQS địa phương từ Quảng trị vào đến Quản Long (Cà Mau)

        Từ 02-2-1973 (30 tháng chạp Nhâm Tý) Ban Liên hợp quân sự bốn bên Trung ương bắt đầu làm việc đến 28-3-1973 kết thúc nhiệm vụ và giải thể. Tại các khu vực (7 khu vực đã nêu trên) chỉ có Ban Liên hợp quân sự bốn bên khu vực IV (Phan Thiết) được hình thành, còn 6 khu vực khác và 26 Tổ địa phương thì không, vì các Đoàn đại biểu quân sự của CPCMLT từ các vùng giải phóng và các khu căn cứ ở miền Nam không triển khai được do địch phá.

        Từ 29-3-1973 Ban Liên hợp quân sự hai bên Trung ương bắt đầu họp và cũng chỉ có cấp Trung ương này thôi, còn với các khu vực và địa phương ta chủ trương không triển khai nữa. Phần bốn bên còn lại một Tổ liên hợp quân sự để giải quyết điều 8b Hiệp định Pa-ri về những người mất tích, mồ mả và hài cốt.

        3) Về lực lượng, Hiệp định quy định mỗi bên được cử 275 cán bộ cùng 550 nhân viên giúp việc và cảnh vệ (gồm cả các cấp LHQS Trung ương, khu vực và địa phương).

        Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã bố trí đủ, riêng phía Chính phủ CMLT mới triển khai ở cấp trung ương và khu vực IV (Phan Thiết). Sau đó thấy địch tổ chức cho bọn côn đồ hành hung cán bộ ta ở một số nơi (Huế, Ban Mê Thuột, Bảo Lộc) và nhất là thấy không có tác dụng thiết thực, ta dừng không triển khai nữa.

        Sau khi Ban LHQS bốn bên Trung ương giải thể, các bộ phận đã bố trí ở các khu vực được rút hết về Tân Sơn Nhất rồi cho trở về hậu phương. Ta chỉ giữ lại lực lượng tham gia Ban Liên hợp quân sự hai bên Trung ương và Tổ liên hợp quân sự bốn bên, cùng đóng tại trại Đavít trong khu vực sân bay Tân Sơn Nhất.

        4) Nhiệm vụ các Đòan đại biểu quân sự vủa ta tại tổ chức Liên hợp quân sự ban đầu là bàn bạc và đấu tranh đòi đối phương cùng thực hiện đầy đủ các điều khoản của Hiệp định Pa-ri, kịp thời vạch trần và tố cáo để cố ngăn chặn những hành động vi phạm của họ.

        Sau đó, khi ngụy quyền Sài Gòn được Mỹ dung túng ngày càng đi sâu phá hoại Hiệp định, đẩy mạnh các hành động chiến tranh, các Đoàn ta chuyển sang tập trung đấu tranh "Giành dư luận hỗ trợ chiến trường", tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của dư luận thế giới đối với những hoạt động vũ trang của ta, từ đánh trả vi phạm tiến tới chủ động tấn công, và cuối cùng là Chiến cuộc Xuân-Hè 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2012, 04:49:18 pm

-II-
Đấu tranh thi hành Hiệp định Pa-ri

        Ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu trước sau vẫn chống lại việc đàm phán và thỏa thuận, do bị Mỹ ép mà phải tham gia Hội nghị và cùng ký vào Hiệp định Pa-ri và phải miễn cưỡng thực hiện một số việc, nhưng chủ trương nhất quán của Thiệu là chống phá đến cùng.

        Mỹ buộc phải ký Hiệp định và rút quân để thoát khỏi bị sa lầy và thất bại sâu hơn nữa, nhưng Mỹ vẫn muốn giữ miền Nam Việt Nam trong quỹ đạo thực dân mới của họ, vì vậy Mỹ thi hành và ép Sài Gòn thi hành một số điều khoản để bảo đảm rút quân an toàn và nhận lại hết người bị bắt, sau đó thì Mỹ làm ngơ, dung túng hoặc khuyến khích Thiệu vi phạm, nhưng cũng kiềm chế Thiệu trong giới hạn không xé bỏ bản Hiệp định Pa-ri vì Mỹ vẫn còn lợi ích trong vấn đề tìm kiếm người mất tích, hài cốt và mồ mả, và Mỹ vẫn bị ràng buộc về ngoại giao và pháp lý quốc tế đối với Hiệp định.

        1) Trong thời kỳ Ban Liên hợp quân sự bốn bên. một số điều khoản Hiệp định Pa-ri đã được thi hành:

        - Ngừng bắn;

        - Thành lập Tổ chức LHQS và UBQT kiểm soát và giám sát;

        - Rút quân Mỹ và quân nước ngoài theo Mỹ;

        - Trao trả nhân viên quân sự (tù binh).

        a/ Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu chủ trương phá Hiệp định Pa-ri ngay từ đầu, cố tranh thủ lấn chiếm thu hẹp các vùng giải phóng của ta, nên sau khi Hiệp định có hiệu lực vẫn luôn có tiếng súng nơi này nơi khác.

        Các Đoàn ta kịp thời nắm tin tức và mạnh mẽ tố cáo, lên án các hành động vi phạm trước Ủy ban quốc tế và dư luận. Lúc này chính quyền Sài Gòn còn bị Mỹ kiềm chế nên tuy có những vi phạm nói trên nhưng nhìn chung ngừng bắn đã được thực hiện trên toàn miền Nam.

        b/ Rút hết quân Mỹ và quân chư hầu đúng hạn là yêu cầu bức thiết nhất của ta, Mỹ cũng có yêu cầu rút quân gọn và an toàn, nhưng cũng phải qua đấu tranh gay gắt Mỹ mới thông báo kế hoạch và lịch rút quân từng đợt và ta mới thực hiện được chức năng của thành viên Tổ chức Liên hợp quân sự đi giám sát và kiểm tra việc thực hiện. Có lúc Mỹ dây dưa một cách có tính toán gắn việc rút quân với điều kiện ta phải trao trả tù binh Mỹ bị bắt ở chiến trường Lào, và muốn kéo dài thời gian hoạt động của Ban Liên hợp quân sự bốn bên. Ta kiên quyết bác bỏ, cuối cùng điều khoản rút quân đã được thực hiện. Các toán quân Mỹ cuối cùng đã lên máy bay rời Tân Sơn Nhất và Đà Nẵng trong các ngày 28 và 29-3-1973. Chiều 28-3 Ban Liên hợp quân sự bốn bên Trung ương họp phiên cuối cùng và kết thúc nhiệm vụ.

        c/ Đi đôi với việc rút quân Mỹ, việc trao trả nhân viên quân sự được tiến hành. Về mặt này ngụy quyền Sài Gòn cũng ra sức phá, nhất là việc trao trả nhân viên quân sự của ta, ta phải đấu tranh quyết liệt trong từng vấn đề thảo luận, từng chuyến trao trả, từng trường hợp người được trao trả… Cán bộ hai Đoàn ta đi thực hiện trao trả cũng gặp không ít khó khăn trở ngại do phía Sài Gòn gây ra. Ở đây cũng liên quan đến lợi ích của Mỹ trong việc nhận lại nhân viên quân sự của họ nên họ có kiềm chế đối với phía Sài Gòn, về cơ bản việc trao trả nhân viên quân sự đã được hoàn thành.

        d/ Tóm lại, trong thời kỳ BLHQS 4 bên một số điều khoản Hiệp định đã được thi hành nhưng là những điều khỏan rất quan trọng, đặc biệt là việc rút hết quân Mỹ và quân nước ngoài đúng hạn: quân Mỹ rút hết trong khi lực lượng vũ trang của ta vẫn được giữ nguyên. Đây là một bước ngoặt thay đổi trong so sánh lực lượng, tạo điều kiện để ta chủ động và có ưu thế trong mọi tình huống hòa bình hoặc trở lại chiến tranh.

        2) Thời kỳ BLHQS 2 bên, tình hình đổi khác. Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu ra sức mở rộng hành quân lấn chiếm các vùng giải phóng của ta, tăng cường bình định kìm kẹp trong vùng họ kiểm soát, quyết dùng quân sự giải quyết vấn đề. Chiến sự ngày càng lan rộng, chiến trường ngày càng nóng bỏng, cuối cùng cả miền Nam trở lại tình trạng chiến tranh, có khác trước là không còn quân Mỹ.

        Ban Liên hợp quân sự hai bên Trung ương trong thời gian đầu chỉ thỏa thuận được mấy đợt trao trả nhân viên dân sự (tù chính trị), thực ra là nhờ việc Chính phủ VNDCCH cho Mỹ nhận 23 bộ hài cốt tại Gia Lâm vào đầu năm 1974.

        Phía Sài Gòn trao trả cho ta hơn 5000 nhân viên dân sự, rất ít so với số lượng cán bộ và cơ sở Cách mạng của ta bị họ giam giữ.

        Ngoài việc trao trả đó, BLHQS trung ương chỉ còn là một diễn đàn đầu tranh ngày càng gay gắt quyết liệt về vi phạm Hiệp định.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2012, 05:01:31 pm
         Từ đây phối hợp chặt chẽ với hoạt động của quân và dân ta ngoài chiến trường, cuộc đấu tranh của các Đoàn ta tại Trại Đavít hướng vào mục tiêu chủ yếu tranh thủ dư luận một mặt vạch trần, tố cáo và lên án âm mưu và hành động chiến tranh của Mỹ- Thiệu phá hoại Hiệp định Pa-ri, mặt khác giải thích với dư luận sự nghiệp chính nghĩa của ta, tính chính đáng của các hành động vũ trang của ta từ đánh trả lấn chiếm tại chỗ đến trừng trị ngay tại những nơi xuất phát vi phạm, rồi tiến lên chủ động tấn công và cuối cùng là tổng tấn công giải phóng cả miền Nam. Ta tận dụng cả ba trận địa:

        a/ BLHQS 2 bên trung ương: Đấu tranh tại các phiên họp trưởng đoàn và các phiên họp tiểu ban, đấu tranh bằng công hàm khi không họp. Ta hiểu rõ sự phản đối bằng miệng tại hội nghị và bằng các văn bản không thể buộc đối phương chấm dứt hoặc giảm bớt vi phạm, nhưng mặt đấu tranh này rất quan trọng để làm nổi bật trước dư luận thế giới sự khác nhau về lập trường và thái độ của mỗi bên đối với Hiệp định Pa-ri. Là một tổ chức được quốc tế công nhận, nó được dư luận quan tâm theo dõi.

         Từ tháng 10-1974 chính phủ CMLT tuyên bố đình chỉ việc dự họp LHQS, nhưng các Đoàn ta vẫn ở lại Trại Davis, tiếp tục dùng danh nghĩa LHQS đấu tranh với đối phương bằng công hàm, và tích cực hoạt động trên các trận địa khác.

         b/ UBQT: được thành lập để giám sát và kiểm soát việc thực hiện các điều khoản quân sự của Hiệp định, điều tra và có kết luận về các vụ vi phạm, kiểu như một loại trọng tài nửa vời. UBQT gồm đại diện bốn nước, hai do phía ta đề cử (BaLan và Hung-ga-ry), hai do Mỹ đề cử (Ca-na-da và in-đô-nê-xi-a, sau đó I-Răng thay Ca-na-da UBQT làm việc theo nguyên tắc nhất trí nghĩa là bất cứ vấn đề gì cũng phải được cả bốn thành viên nhất trí mới có giá trị.

         Do thành phần và nguyên tắc làm việc như vậy nên UBQT không thể có tác dụng gì thiết thực trong việc thúc đẩy thi hành Hiệp định hoặc kết luận các vụ vi phạm. Nhưng sự có mặt của họ là một bảo đảm quốc tế về giá trị của Hiệp định Pa-ri là sự công nhận quốc tế về vị trí và vai trò của chính phủ VNDCCH và nhất là chính phủ CMLHCHMNVN

         c/ Đấu tranh dư luận: là trận địa quan trọng nhất để ta tranh thủ dư luận quốc tế trong điều kiện Hiệp định Pa-ri không còn được Chính quyền Sài Gòn tôn trọng. Buộc ta phải dùng bạo lực vũ trang để bảo vệ thành quả cách mạng và đạt mục tiêu Độc lập, Thống nhất, Tự do, Hòa bình mà Hiệp định Pa-ri đã công nhận.

         Ta tiếp xúc với dư luận qua chế độ họp báo hàng tuần tại Trại Đavít và qua liên lạc trực tiếp với các nhà báo (bằng điện thoại hoặc họ vào Trại Davis gặp ta)

         Tại Sài Gòn hồi đó có mặt đại diện của 77 hãng thông tấn - báo chí - phát thanh - truyền hình thuộc 21 nước, trong đó chỉ có hai tờ báo bạn (1 BaLan và 1 HungGaRi) còn lại đều thuộc các nước phương Tây và hệ thống tư bản chủ nghĩa. Số người có thiện cảm với Cách mạng và có thái độ khách quan lúc đầu rất ít. Vì vậy việc chuyển hóa về cách nhìn, cách đánh giá tình hình của một khối đối tượng như thế là cả một quá trình phấn đấu hết sức gian nan, kiên nhẫn, khôn khéo, bền bỉ. Trên chiến trường ta đánh ngày càng mạnh, trên mặt trận dư luận phải làm sao thế giới nhận ra được hành động phá hoại ngừng bắn, phá hoại Hiệp định là do tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu được Mỹ đồng tình và hỗ trợ.

         Từng bước ta cũng đạt yêu cầu báo giới đưa tin và bình luận về tình hình chiến sự ở miền Nam ngày càng có lợi cho ta hơn. Thậm chí một số nhà báo còn trở thành cộng tác viên tự nguyện bằng việc chủ động báo ngay cho ta những diễn biến ở chiến trường mà họ có điều kiện nắm được rất nhanh.

         Càng về sau, khi triển vọng thắng lợi hoàn toàn của cách mạng ngày càng rõ, số người tỏ thiện chí càng nhiều, đưa tin sốt sắng, luôn giữ tiếp xúc với Đoàn ta, tích cực hỗ trợ ta đấu tranh chống lại những khó khăn hạn chế do Chính quyền Sài Gòn gây ra. Ngay cả phía Mỹ và Chính quyền Sài Gòn về cuối cùng phải quan tâm diễn đàn này, tạo thuận lợi cho ta họp báo và cử nhiều người của họ đến dự, cốt để qua kênh tiếp xúc này mà tìm hiểu ý đồ của lãnh đạo ta. Thành công trên trận địa dư luận này là một thắng lợi rất quan trọng trong cuộc đấu tranh pháp lý - chính trị - ngoại giao sau Hiệp định Pa-ri để bảo vệ các hành động quân sự chính nghĩa của ta đi đến đích cuối cùng.
   


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2012, 10:26:25 pm
        3) Điều dễ nhận thấy là: sống và hoạt động trong vùng kiểm soát của đối phương, trong điều kiện cụ thể lúc đó, cán bộ, chiến sĩ và nhân viên các Đoàn của ta đã phải vượt khó khăn trở ngại và cả gian nguy để hoàn thành nhiệm vụ. Ăn ở, đi lại, làm việc, tiếp xúc (với UBQT, với các nhà báo) đều chịu sự phong tỏa của họ tùy thuộc vào thái độ "chủ nhà" của họ. Chiều hướng diễn biến ngoài chiến trường (càng về sau càng bất lợi cho họ) luôn tác động trực tiếp đến việc xử sự của họ với Đoàn ta, tại bàn hội nghị LHQS cũng như trong mọi sinh hoạt và hoạt động của ta ngoài hội nghị. Điều tưởng chừng mâu thuẫn là trong hoàn cảnh bị o ép như vậy, trong lúc ngoài chiến trường quân và dân ta ngày càng đẩy họ vào thế bị động và tổn thất, tại ngay Sài Gòn các đại biểu của ta không một phút xa rời lập trường đấu tranh không khoan nhượng, không bỏ lỡ dịp vạch trần và lên án tội ác của đối phương phản bội cam kết, phá hoại Hiệp định, chống lại hòa bình.

        4) Thời gian cuối trước chiến dịch Hồ Chí Minh, không buông lỏng hoạt động đấu tranh, lực lượng ta tại Trại Đavít tích cực chuẩn bị chiến đấu tự vệ, trong thời gian ngắn bí mật đào công sự, tổ chức hệ thống chiến đấu liên hoàn (địch không hay biết); khi quân ta từ các hướng tấn công vào Sài Gòn thì lực lượng ta ở Trại Đavít  cũng đã triển khai sẵn sàng chiến đấu.

        Sáng 30-4-1975 một tiểu đoàn bộ binh của Quân đoàn 3 đã vào bắt liên lạc, từ đó sứ mạng đấu tranh LHQS mặc nhiên kết thúc với việc thành phố Sài Gòn và toàn miền Nam được giải phóng.

        5) Trong quá trình thi hành nhiệm vụ, lực lượng đấu tranh LHQS đã không tránh khỏi thương vong.

        Ngay trong những ngày đầu triển khai đội hình, một đoàn đi từ Hà Nội vào theo đường Trường Sơn, máy bay địch đánh phá, bắn cháy 7 xe ôtô, có 5 người bị thương. Trong tháng 2-1973 một số cán bộ (của cả CPVNDCCH và CPCMLT) đã bị phía Sài Gòn tổ chức cho bọn côn đồ hành hung ở Huế, Buôn Mê Thuột và Bảo Lộc (Lâm Đồng) làm cho 4 người bị chết, 15 người bị thương. Đầu tháng 4-1973 hai sĩ quan liên lạc của ta đã hy sinh trong vụ một máy bay lên thẳng của Mỹ chở Tổ UBQT từ Quảng Trị đi Lao Bảo vi phạm hành lang bay, lực lượng vũ trang giải phóng buộc phải nổ súng, máy bay bị rơi ở Ly Tôn. Cuối năm 1973, vào lúc căng thẳng ở cả chiến trường và tại BLHQS 2 bên trung ương, một cán bộ tiểu đội vệ binh bị sốt xuất huyết địch cản trở ta đưa người bệnh đi điều trị nên đồng chí đã qua đời tại Trại Davis và cũng không chuyển được về hâu phương Lộc Ninh. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, đêm 28 rạng 29-4-1975 tại Trại Davis có 2 đồng chí hy sinh và 5 người bị thương.
Từ tháng 01-1973 đến ngày 30-4-1975, tổn thất của hai Đoàn ta là: 9 liệt sĩ, 25 thương binh. Sau ngày 30-4-1975 do yêu cầu nhiệm vụ hai Đoàn ta tự kết thúc, chưa có điều kiện tổng hợp, tổng kết nên có thể số liệu về thương binh, liệt sĩ vẫn còn thiếu!



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2012, 10:29:01 pm

-III-
Kết luận

        1) Nhìn lại hơn hai năm ba tháng hoạt động, các Đoàn đại biểu quân sự của CPVNDCCH và CPCMLTCH MN VN trong các BLHQS 4 bên và 2 bên đã làm tròn trọng trách được giao.
   
        a/ Bằng chứng nỗ lực cao nhất, ta đã đấu tranh buộc đối phương phải nghiêm túc thi hành một số điều khoản quan trọng của Hiệp định Pa-ri, đặc biệt là việc rút quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi đất nước ta đúng thời hạn, chấm dứt sự có mặt quân sự và sự dính líu quân sự trực tiếp của Hoa Kỳ vào miền Nam nước ta, tạo tiền đề chiến lược để chúng ta tiến lên thực hiện yêu cầu chiến lược tiếp theo là "Đánh cho ngụy nhào".
   
        b/ Với việc tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu ngày càng phá bỏ Hiệp định Pa-ri, không chấp nhận hòa bình và quyết dùng vũ lực hòng đẩy lùi tiến tới đánh bại ta, dưới sự chỉ đạo sáng suốt của Bộ chính trị và Quân ủy trung ương Đoàn ta trong BLHQS đã kịp thời chuyển hướng đấu tranh chủ yếu sang "Giành dư luận hỗ trợ chiến trường", góp phần có hiệu quả tranh thủ sự đồng tình ủng hộ hoặc ít nhất cũng là sự chấp nhận của dư luận thế giới đối với con đường chúng ta đi. Từ mong muốn thi hành đầy đủ Hiệp định buộc phải chuyển sang dùng lại bạo lực vũ trang cách mạng để đạt mục tiêu đã được ghi trịnh trọng trong Điều 1 Hiệp định Pa-ri: Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam và đã được chính phủ Hoa Kỳ long trọng cam kết.
   
        Trước thắng lợi vũ bão của chiến dịch Hồ Chí Minh, các bản tin và bình luận được phát đi từ Sài Gòn đều xoáy vào Chủ đề Việt Nam đã thắng. Mỹ đã thua hẳn rồi, chế độ Sài Gòn theo Mỹ đã sụp đổ, không còn ý kiến moi móc xung quanh chuyện Hiệp định Pa-ri có được hay không được thi hành như hơn hai năm trước.
   
        Đấu tranh dư luận là một mặt trận rộn g lớn mà Đảng ta triển khai ở nhiều nơi trên thế giới. Sài Gòn (cũng là miền Nam Việt Nam) là trung tâm lò lửa, nơi diễn ra các sự kiện, nơi tập trung tất cả các bên liên quan, nên tin tức các sự kiện phát đi từ Sài Gòn có tầm quan trọng đặc biệt.
   
        Giành thắng lợi trên trận địa này, chúng ta đã tạo cho mình một lợi thế rất lớn về chính trị và ngoại giao sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, làm cho cuộc bao vây cấm vận của Mỹ đối với nước ta không còn hiệu quả, khiến Mỹ ngày càng bị cô lập.
   
        2) Trong lịch sử nước ta cũng như các nước trên thế giới, kể cả với câu chuyện huyền thoại về con ngựa thành Tờ-roa, chưa từng có trường hợp nào mà một bên đối địch lại hợp pháp cắm được một bộ phận lực lượng của mình công khai đứng tại trung tâm đầu não của đối phương, trước đại diện dư luận của cộng đồng quốc tế tập trung tại đây. Dõng dạc phân tích phải trái các ý đồ và hành động của mỗi bên, lên án những việc làm xằng bậy của đối phương, biện hộ một cách thuyết phục cho những bước đi bắt buộc của mình để bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ đạo lý và cuối cùng ca khúc khải hoàn với Đại quân ngày chiến thắng.
   
        Tạo được điều kì diệu độc đáo này là do đường lối đúng đắn, phương cách sáng tạo và dẫn dắt tài tình của Đảng ta. Trong đó còn có bản lĩnh và sự nỗ lực vượt bậc, không ngại hy sinh, gian khổ, một lòng một dạ trung thành với sự nghiệp cách mạng của hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ thành viên hai đoàn đại biểu quân sự trong BLHQS 4 bên và 2 bên trung ương.
 


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2012, 10:48:48 pm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/005-1.jpg)

THI HÀNH HIỆP ĐỊNH PARIS : MẶT TRẬN ĐẤU TRANH
NGOẠI GIAO CHUYỂN TỪ PARIS VỀ SÀI GÒN

Huỳnh Văn Trình                
       
   I - Từ trước đến nay, trong việc nghiên cứu, đánh giá Hiệp định Paris về Việt Nam, thường có xu hướng tập trung phát biểu, viết, tham luận rất sâu sắc về sự lãnh đạo, chỉ đạo, nghệ thuật tiến hành đàm phán, nội dung, ý nghĩa, nguyên nhân thắng lợi, các bài học.., rút ra từ việc ký kết Hiệp định ; nhưng ít ai đề cập đến giai đoạn đấu tranh thi hành Hiệp định. Các cuộc hội thảo lớn tầm cỡ quốc gia vào các thời điểm kỷ niệm 10, 20, 30 và 35 năm Hiệp định Paris đều chưa có điều kiện đi sâu nghiên cứu tổng kết về giai đoạn đấu tranh thi hành Hiệp định kéo dài 823 ngày đêm này, từ 28/111973 đến 30/411975. Việc nghiên cứu tách rời bản thân ký kết Hiệp định Pans với đấu tranh thi hành Hiệp định như vậy làm hạn chế tầm nhìn tổng thể về chiến lược, chính trị, quân sự, pháp lý và thực tiễn của Hiệp định Paris, phục vụ công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

        Thực tế lịch sử cho thấy, từ rất sớm, Hồ Chủ tịch và Trung ương Đảng, khi chủ trương ký Hiệp định sơ bộ 6/3/1946 - Hiệp ước quốc tế đầu tiên của nước Việt Nam độc lập ký kết với nước ngoài - đã tính đến giai đoạn đấu tranh thi hành Hiệp định ấy, trong đó thực hiện việc đẩy 20 vạn quân Tưởng ra khỏi Việt Nam, biến cuộc viễn chinh xâm lược của Pháp thành một cuộc hành quân có sự thoả thuận của một chính phủ có chủ quyền cho phép quân Pháp vào thay quân Tưởng, quy định giới hạn số lượng 15.000 quân, buộc chúng trong vòng 5 năm phải rút hết quân.., tạo ra thời kỳ tương đối hoà bình đặc biệt là ở miền Bắc, để chúng ta có thêm thời gian củng cố chính quyền, xây dựng lực lượng. Đồng thời, do tính chất sơ bộ và tạm thời của Hiệp định và bản chất thực dân của Pháp; trong khi thi hành Hiệp định để hoà hoãn kiềm chế Pháp, chúng ta khẩn trương tăng cường lực lượng mọi mặt, chuẩn bị tiến hành cuộc kháng chiến toàn quốc tất yếu sẽ xảy ra vào cuối năm 1946.

        Ngày 22/7/1954 trong "Lời kêu gọi sau khi Hội nghị Genève thành công", Hồ Chủ tịch đã nhấn mạnh : "Hội nghị Genève đã kết thúc. Ngoại giao ta đã thắng lợi to. Từ nay chúng ta phải ra sức đấu tranh để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc; ngừng bắn, tạm thời điều chỉnh khu vực tập kết quân, tiến đến thống nhất nước nhà bằng tổng tuyển cử là một cuộc đấu anh lâu dài và gian khổ; làm đúng những điều đã ký kết đồng thời đòi chính phủ Pháp làm đúng những điều họ đã ký; tỉnh táo đề phòng âm mưu của những kẻ phá hoại hoà bình, ra sức đấu ranh thực hiện tổng tuyển cử tự do trong toàn quốc đặng thống nhất nước nhà, ra sức khôi phục, xây dựng, củng cố và phát triển lực lượng ta về mọi mặt để thực hiện quyền độc lập hoàn toàn của nước ta. Cuộc đàm phán ngoại giao ký kết Hiệp định Genève chỉ tiến hành trong 75 ngày, nhưng đấu tranh thi hành Hiệp định đã kéo dài suốt 19 năm ròng.

        Qua hai Hiệp định hoà bình Việt Nam đã ký với đối phương nói trên (và kể cả Tạm ước 14/9/1946) trong quá trình kháng chiến cứu nước, mỗi Hiệp định đều có ý nghĩa và giá trị lịch sử to lớn, đánh dấu những thắng lợi nhất định trong từng chặng đường đã qua, khẳng định thắng lợi của Hiệp định sau luôn lớn hơn Hiệp định trước. Nhưng đồng thời cũng làm nổi bật lên tầm quan trọng mang tính quyết định của cuộc đấu tranh gian khổ, quyết liệt ở từng giai đoạn đấu tranh thi hành Hiệp định mà thực chất là một bộ phàn của cuộc đấu tranh trên cả ba mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao, phát huy các nhân tố pháp lý, chiến trường, hậu phương và quốc tế của nhân dân ta, giành thắng lợi từng bước đi đến giành thắng lợi hoàn toàn.

        Bởi vậy, khi đanh giá về Hiệp định Paris 1973, cũng cần gắn chặt việc nghiên cứu về thắng lợi của Mặt trận đấu anh ngoại giao trong cuộc đàm phán Paris về Việt Nam gần 5 năm, với trận địa đấu tranh ngoại giao quân sự kết hợp với các mặt đấu tranh khác trong thời gian 2 năm 3 tháng thi hành Hiệp định, dẫn đến ngày toàn thắng 30/4/1975. Hiệp định Paris là cơ sở chính trị, pháp lý vững chắc cho cuộc đấu anh giải phóng miền Nam, hoà bình thống nhất Tổ quốc. Đấu tranh thi hành Hiệp định là bước kế tiếp đưa Hiệp định đi vào cuộc sống trên chiến trường, quyết định tại chỗ kết quả mà ta đã giành được trong đàm phán, bằng cuộc đấu tranh quyết liệt buộc địch phải tuân thủ và thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định trên thực địa. Thắng lợi của thi hành Hiệp định là sự kiểm nghiệm thành quả của chủ trương đúng đắn ký kết Hiệp định, là bài học kinh nghiệm bổ túc về nhiều mặt cho đàm phán ngoại giao lâu dài sau này. Trong dư luận xã hội và báo chí quốc tế, hai mặt hữu cơ ký kết và thi hành Hiệp định không tách rời nhau.

        Theo nhận thức và tinh thần trên đây, với vinh dự được đứng trong hàng ngũ những nhân chứng lịch sử đã từng trực tiếp tham gia các cuộc đàm phán riêng Lê Đức Thọ - Kissinger ở Paris và sau đó là thành viên Ban lãnh đạo Đoàn đại biểu quân sự chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên Trung ương và Phó Trưởng đoàn Việt Nam DCCH trong Tổ liên hợp quân sự 4 bên ở Sài Gòn, tôi xin nêu một vài suy ngẫm về ngoại giao quân sự tại chiến trường để góp phần vào nghiên cứu tổng kết cuộc đấu tranh thi hành Hiệp định Paris sau này. Đây là một khoảng trống về tổng kết lịch sử cần được lấp đầy vì từ trước đến nay chúng ta chưa đặt đúng tầm việc nghiên cứu thời kỳ đấu tranh thi hành Hiệp định.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2012, 10:51:58 pm
         II - Đấu tranh thi hành Hiệp định Paris : Mặt trận ngoại giao chuyển từ Paris về Sài Gòn.

         + Đàm phán Paris kết thúc với các sự kiện nổi bật :

        - 13/1/1973 : Phiên họp riêng cuối cùng Lê Đức Thọ - Kissinger cơ bản hoàn thành các văn kiện của Hiệp định.

        - 23/1/1973 : Lê Đức Thọ - Kỉssinger ký tắt Hiệp định.

        - 24/1/1973 : Công bố toàn văn hiệp định và các nghị định thư.

        - 27/1/1973 : Lễ ký chính thức tại Trung tâm Kléber - Paris.

        + Giai đoạn thi hành Hiệp định Paris bắt đầu : Mặt trận ngoại giao chuyển từ Paris về Sài Gòn với các diễn biến quan trọng :

        - 27/1/1973 : 24 giờ (giờ GMT), ngừng bắn trên toàn miền Nam. 11 giờ Đại tá Lưu Văn Lợi, thành viên Đoàn đàm phán riêng Lê Đức Thọ - Kissinger và Đại tá Đoàn Huyên, thành viên đoàn đàm phán của Chính phủ cách mạng lâm thời rời Paris về Sài Gòn nhận chức Phó Trưởng đoàn đại biểu quân sự chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng.hoà và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam trong các Ban liên hợp quân sự 4 bên và 2 bên; đảm bảo sự có mặt tại chỗ ngay khi Hiệp định có hiệu lực.

           - 29/1/1973 : Ban Liên hợp quân sự 4 bên họp tại Sài Gòn. Hai bên miền Nam lập Ban Liên hợp quân sự 2 bên, Đoàn đại biểu quân sự chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà do Thiếu tướng Lê Quang Hoà dẫn đầu; đoàn của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam do Trung tướng Trần Văn Trà dẫn đầu; đoàn Mỹ do Thiếu tướng Woodward và đoàn Việt Nam cộng hoà do Trung tướng Ngô Du dẫn đầu.

        Việc thi hành Hiệp định là trách nhiệm của các bên ký kết. Các Ban Liên hợp quân sự có nhiệm vụ bảo đảm sự phối hợp hành động của các bên trong việc thi hành Hiệp định.

         Từ đây, trong khi ở miền Nam Việt Nam còn đầy rẫy quân Mỹ-ngụy, cuộc đấu tranh thi hành Hiệp định diễn ra gay go, quyết liệt liên tục cho đến ngày toàn thắng giải phóng miền Nam 30/4/1975.

         III - Ba bài học từ đấu tranh ngoại giao quân sự thi hành Hiệp định Paris.

        Ký Hiệp định, Mỹ chấp nhận một bước lùi.về chiến lược, nhưng vẫn tiếp tục "Việt Nam hoá" chiến tranh, dùng chính quyền và quân đội Sài Gòn làm công cụ áp đặt chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam, chia cắt lâu dài đất nước ta. Chúng chỉ thi hành một số điều khoản của Hiệp định nhằm rút được quân Mỹ, đưa được tù binh Mỹ về nước, ngoài ra là phá hoại trắng trợn Hiệp định và tiếp tục chiến tranh.

        Ta nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định và đòi đối phương cũng phải làm như vậy coi đó là bước quá độ tiến lên hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ ở miền Nam. Trước tình hình Mỹ-nguy phá hoại Hiệp định, tiến hành chiến  tranh, ta coi việc đấu tranh thi hành Hiệp định là nằm trong ba mặt trận đấu tranh chính trị, quân sự, ngoại giao đánh bại "Việt Nam hoả" chiến tranh, đánh đổ chính quyền tay sai, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

        Từ thực tiễn đấu tranh thi hành Hiệp định Paris trong suốt 2 năm 3 tháng, chúng ta.có thể rút ra nhiều bài học lớn. Xin đề cập sơ bộ về ba bài học liên quan đến đấu tranh ngoại giao quân sự của các Đoàn đại biểu quân sự chính phủ ta ở hai miền Bắc Nam trong các Ban Liên hợp quân sự. Đó là :

        1. Đánh giá đúng âm mưu địch đối với thi hành Hiệp định để vừa phục vụ cho sự chỉ đạo chiến lược của trên, vừa xác định đúng thái độ đấu tranh của ta ngay tại chiến trường :

        Chúng ta không ai quên bài học lịch sử của việc thi hành Hiệp định Genève 1954 là, sau 300 ngày chuyển quân tập kết, Mỹ - Diễm đã phá hoại trắng trợn và toàn diện Hiệp định, củng cố ngụy quyền Sài Gòn tay sai Mỹ, chia cắt đất nước.
a. Vì thế, đối với Hiệp định Paris, vấn đề đặt ra là sau 60 ngày thực hiện được một số điều khoản ban đầu về ngừng bắn (điều 3), Mỹ và chư hầu rút hết quân (điều 5) và trao trả tù binh (điều 8), Mỹ - nguy có thi hành Hiệp định không ?

        Trả lời câu hỏi này, với tư cách là những người trực tiếp quan hệ với Mỹ - ngụy ngay tại sào huyệt đầu não của chúng; căn cứ vào diễn biến trong đàm phán và trên chiến trường ; quan sát tại chỗ và thu thập dư luận địa phương, quốc tế; đặc biệt là từ thực tế Mỹ - ngụy đi sâu phá hoại Hiệp định, làm tê liệt hoạt động của hệ thống Liên hợp quân sự, đẩy mạnh hành động chiến tranh lấn chiếm lãnh thổ, thu hẹp vùng giải phóng, tăng cường kìm kẹp bình định vùng chúng kiểm soát; sau 60 ngày và kết thúc hoạt động Ban Liên hợp quân sự 4 bên Tư, lãnh đạo 2 đoàn A (VNDCCH) và B (CPCMLT) đã đi đến kết luận và khẳng định, báo cáo lên trên là "về cơ bản Mỹ-nguy không thi hành Hiệp định, chứng âm mưu dừng quân sự để giành chiến thắng độc chiếm miền Nam, chia - cắt đất nước".


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2012, 10:53:44 pm
        Từ nhận định đó, đã giải quyết tư tưởng mơ hồ, ảo tưởng về khả năng địch thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định; không mất cảnh giác để địch đơn phương lấn chiếm; mà thấy rõ cuộc đấu tranh để hoàn toàn giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước phải tiếp tục bằng con đường bạo lực cách mạng.

        Do vậy, Quân ủy TW quyết định đình chỉ triển khai tiếp các Tổ Liên hợp quân sự khu vực và địa phương; Trung tướng Trần Văn Trà rời Trại Davis ngày 30/3/1973 trở 1ại vị trí Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn thay làm Trưởng Đoàn Quân Sự Chính phủ CMLTCHMNVN.

        Ta chủ động đánh trả địch lấn chiếm vùng giải phóng không những tại nơi chúng lấn chiếm mà còn trừng trị vi phạm từ nơi xuất phát và ở những nơi khác tại miền Nam Việt Nam, tiến tới giải phóng từng tỉnh, từng vùng và Tổng tấn công nổi dậy xuân 1975. Quân khu 9 đã làm sớm nhiệm vụ đanh trả này có hiệu quả.

        b. Một thời điểm quyết định khác về đánh giá âm mưu địch phục vụ cho chỉ đạo chiến lược của TW là khi ta quyết định giải phóng miền Nam bằng quân sự mở tấn công mùa Xuân 1975, câu hỏi rất lớn là Mỹ có quay trở lại để cứu chế độ Sài Gòn hay không? Nếu trở lại thì bằng bộ binh, hay không quân, hải quân?

        Giải đáp cân hỏi này là rất quan trọng đối với quyết định chiến lược của trên. Đoàn ta ở Tân Sơn Nhất được giao nhiệm vụ điều tra, tình báo chiến lược về việc này. Phát huy lợi thế đứng chân tại chỗ trong lòng địch, bằng nhiều biện pháp thu thập, điều tra, khai thác, tháng 12/1974 ta đã nhận được nguồn tin cao cấp là "Mỹ sẽ không can thiệp trở lại bằng quân sự, kể cả bằng không quân nếu chế độ Sài Gòn bị tấn công và có nguy cơ sụp đổ". Tin này đã góp phần vào mạng lưới tình báo quốc gia, làm cơ sở cho quyết định chiến lược của ta.

        c. Đúng như Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói, rõ ràng "Trại Đa-vít, đại bản doanh của 2 đoàn đại biểu quân sự Chính phủ VNDCCH và Chính phủ CMLT CHMNVN là một hàn thử biểu báo thời tiết chính trị, quân sự đặt ngay trong lòng địch". Đại tướng Văn Tiến Dùng cũng nói: "Các đồng chí ở Tân Sơn Nhất có một thế đứng riêng, công khai, hiên ngang giữa lòng địch, giúp cho Đảng hiểu thấu được lòng dân đối với sự nghiệp giải phóng và hiểu kẻ thù trước những ngày chứng giãy chết". 

        2. Bài học thứ hai là trên mặt trận ngoại giao, ta kiên trì đường lối đúng đắn giương cao ngọn cờ hòa bình. đấu tranh thi hành và bảo vệ Hiệp dịnh Paris trong bất cứ tình huống nào; kết hơn đấu tranh pháp lý với đấu ranh tổng hợp  trên 3 mặt trận chính trị quân sự ngoại giao.

        a. Đương nhiên là nếu cả hai bên đều thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định thì tất yếu Hiệp định được thực hiện như đã ký kết và đem lại thắng lợi cho cách mạng miền Nam vì bản thân Hiệp định đã được đánh giá là thất bại của Mỹ - ngụy, thắng lợi ngoại giao tuyệt vời của ta, là dấu son sáng chói trong lịch sử ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, hoàn thành nhiệm vụ "đánh cho Mỹ cút", tạo điều kiện tiến lên "đánh cho ngụy nhào".

        b. Trong tình huống Mỹ - ngụy phá hoại Hiệp định, việc ta nắm vững ngọn cờ Hiệp đinh Paris có lợi nhiều mặt cho ta: - Bảo đảm cơ sở pháp lý quốc tế giúp ta duy trì các Đoàn đại biểu quân sự trong sào huyệt địch tại Sài Gòn, đặc biệt là nâng cao vị trí Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

        - Biểu thị đường lối đúng đắn và thiện chí của ta, tranh thủ dư luận yêu chuộng hòa bình và tiến bộ trong nước và thể giới.

        - Vạch trần các âm mưu, thủ đoạn của chính quyền Sài Gòn phá hoại Hiệp định, dùng quân sự đánh chiếm vùng giải phóng, tăng cường chiến tranh.

        - Từ đó, ta tranh thủ sự ủng hộ và đồng tình rộng rãi đối với hành động của ta đánh trả, trừng phạt kẻ vi phạm Hiệp định, tạo điều kiện hỗ trợ, phục vụ cho hoạt động quân sự chủ động của ta trên chiến trường. Khi địch quyết dùng quân sự giải quyết vấn đề chiến sự ngày càng lan rộng, chiến anh càng nóng bỏng, ta càng tập trung dựa vào Hiệp định Paris để đấu tranh dự luận hỗ trợ chiến trường, từ đánh trả vi phạm, tiến lên chủ động tấn công và cuối cùng là cuộc chiến mùa Xuân giải phóng toàn miền Nam 1975.

        Thực tế việc ta kiên trì đường lối thi hành Hiệp định Paris đã làm nổi bật trước dư luận quốc tế thái độ ngoan cố của địch phá bỏ Hiệp định, đưa miền Nam trở lại tình trạng chiến tranh, sự khác nhau về lập trường và thái độ của mỗi bên đối với Hiệp định; làm chuyển hóa cách nhìn và đánh giá của đông đảo báo chí ở Sài Gòn (80 hãng Thông tấn báo chí, chủ yếu là phương Tây) ngày càng thuận lợi cho ta về diễn biến chiến trường, thậm chí tỏ thiện chí đối với ta khi triển vọng thắng lợi hoàn toàn càng đến gần.

        Thành công của việc ta nắm ngọn cờ Hiệp định Paris trên trận địa dư luận là một thắng lợi rất quan trọng trong cuộc đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao trên chiến trường trong giai đoạn đấu tranh thi hành Hiệp định, đi đến thắng lợi hoàn toàn.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2012, 10:55:07 pm
        3. Bài học thứ ba: Phát huy cao độ bản chất Bộ đội Cụ Hồ của đội ngũ sĩ quan, chiến sĩ các Đoàn Đại biểu của ta trong Các Ban liên hợp quân sự để bảo đảm "nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, kẻ thù nào cũng đánh thắng" trong tình hình mới "vào hang hùm bắt cọp".

        Để thực hiện nhiệm vụ ngoại giao - quân sự độc đáo này, Đảng và Nhà nước, Bộ Quốc phòng cùng các Bộ, ngành liên quan, nhất là Ngoại giao, Công an, Văn hóa, Thông tin, báo chí... đã cử một lực lượng ưu tú, hùng hậu tướng lĩnh, sỹ quan chiến sỹ, cán bộ tham gia 2 đoàn đại biểu quân sự Chính phủ VNDCCH và Cách mạng lâm thời CHMNVN, hành quân thân tốc đặc biệt chưa từng có trong lịch sử bằng máy bay C130 và trực thăng, do chính kẻ thù Mỹ cung cấp, để tiến thẳng về Sài Gòn; thiết lập khu giải phóng công khai đầu tiên trong lòng địch, chỉ cách Bộ Tổng tham mưu Nguy 1 km theo đường chim bay.

        Đối mặt với một kẻ thù ngoan cố phá hoại, xóa bỏ Hiệp định Paris với thái độ hung hăng, lật lọng, côn đồ, khiêu khích trắng trợn, hèn hạ nhất trong đàm phán cũng như trong xử sự đối với mọi sinh hoạt ăn, ở, làm việc của ta ngoài hội nghị, thậm chí chúng đã uy hiếp, hành hung và dự tính đến tấn công vào trụ sở bắt làm con tin hay tiêu diệt ta bất cứ lúc nào; cán bộ, chiến sỹ các đoàn ta không một phút lơ là cảnh giác, luôn giữ lập trường đấu tranh không khoan nhượng và khôn khéo, giữ thái độ hiên ngang, đàng hoàng, chững chạc, dũng cảm, thông minh, đầy thiện chí hòa bình.

        Cuộc đấu tranh căng thẳng về từng điều khoản Hiệp định ở cấp TW và địa phương đã đem lại một số kết quả quan trọng:

Nhìn chung, trong thời gian đầu 60 ngày, ngừng bắn có được thực hiện trên toàn miền Nam, tuy nhiên có một số vụ vi phạm nổ súng lấn chiếm của quân Ngụy nơi này, nơi khác vẫn là phổ biến và ngày càng trắng trợn.

          - Mỹ và chư hầu buộc phải rút hết quân chiều 29/3/73 toán quân Mỹ cuối cùng đã lên máy bay rời Sài Gòn  Đây là yêu cầu cơ bản và bức thiết nhất của ta, là bước ngoặt thay đổi tương quan lực lượng, tạo điều kiện để ta chủ động và có ưu thế trong mọi tình huống hòa bình hay trở lại chiến tranh.

        - Địch phải trao trả cho ta nhân viên quân sự và dân sự bị bắt cả 2 thời kỳ LHQS 4 bên và 2 bên trên 31.000 người.

        Ta liên tục và quyết liệt đấu tranh.pháp.lý và dư luận chống vi phạm Hiệp định của địch, duy trì họp báo hàng tuần nhằm lên án âm mưu, hành động chiến tranh của Mỹ - ngụy, giải thích sự nghiệp chính nghĩa của ta và tính chính đáng của hành động vũ trang đánh trả của ta chống lấn chiếm cũng như trong Tổng tấn công giải phóng miền Nam. Cho đến ngày toàn thắng dư luận quốc tế càng chuyển biến thuận lợi cho ta.

        Thời gian diễn ra chiến dịch Hồ Chí Minh, cán bộ chiến sỹ ta ở trại Davis - Tân Sơn Nhất đã tích cực, sẵn sàng chiến đấu tại chỗ và phối hợp hành động với các mũi tấn công địch bằng hoạt động ngoại giao nghi binh, đánh lạc hướng.

        Đội ngũ cán bộ, chiến sỹ ta qua đấu tranh, đã tỏ ra anh hùng, bất khuất, chịu đựng hy sinh gian khổ, vượt qua mọi khó khăn trở ngại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, xứng đáng là những đại diện của quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Trong quá trình hoạt động 6 đồng chí đã bị hành hung và bị thương, 1 đồng chí qua đời vị bênh sốt xuất huyết mà không đưa về hậu phương điều trị được, 2 đồng chí hy sinh và 4 bị thương trong chiến dịch Hồ Chí Minh tại trại Davis. Đó là những tấm gương cao quý của Bộ đội Cụ Hồ trong đấu tranh thi hành Hiệp định góp phần giải phóng miền Nam.

        Ba bài học rút ra từ thực tiễn trên đây có giá trị lớn trong giai đoạn đấu tranh ngoại giao - quân sự thi hành Hiệp định Paris, thiết thực góp phần vào cuộc đấu tranh chung của Cách mạng miền Nam.

        IV. Đề xuất kiến nghị

        Trong Hội thảo kỷ niệm 30 năm ký Hiệp định Paris vào 1/2003 tôi có đề xuất ý kiến, kiến nghị lên trên công nhận Trại Davis là 1 địa danh di tích lịch sử trong đấu tranh thi hành Hiệp định Paris và giải phóng miền Nam; xây dựng tại đây khu lưu niệm (như thành phố Hà Nội đã tôn tạo khu di tích Trung Giã là nơi họp Ban liên hiệp Việt-pháp sau Hiệp đinh Giơnevơ), như là 1 biểu tượng của chủ nghĩa anh hừng cách mạng Việt Nam đối với các thế hệ mai sau.

        Được biết, theo đề nghị của các Ban liên lạc Cựu chiến binh trong các đoàn đại biểu quân sự Chính phủ VNDCCH và Cách mạng lâm thời CHMNVN trong các Ban liên hợp quân sự 4 bên và 2 bên trong thi hành Hiệp định Paris, các Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hóa Thông tin (cũ) và Thành phố Hồ Chí Minh đã nhất trí về chủ trương xây dựng khu lưu niệm Trại Davis. Tuy nhiên việc xúc tiến còn quá chậm.

        Chứng tôi mong rằng, sau khi Bộ Ngoại giao đã đánh giá cao việc đấu tranh thi hành Hiệp định và đã trao tặng kỷ niệm chương cho cán bộ, chiến sỹ đã hoạt động trong các Ban liên hợp quân sự ở miền Nam Việt Nam từ 1973- 1975, thì dự án khu lưu niệm này sẽ được thúc đẩy khẩn trương hơn để có thể khánh thành vào dịp kỷ niệm 35 năm giải phóng miền Nam vào 2010./.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Ba, 2012, 08:29:06 am

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/092.jpg)

QUÂN MỸ PHẢI RÚT HOÀN TOÀN
RA KHỎI MIỀN NAM VIỆT NAM

Nguyễn Văn Khả(Vũ Nam Bình)                
       
        1. Tham gia đấu tranh thi hành hiện định Pa-ri về Việt Nam.

        Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam đã được các bên tham gia hội nghị Pa-ri về Việt Nam ký ngày 27/01/1973.

        Theo Hiệp định, các bên ký kết thoả thuận cử ngay đại diện để thành lập Ban liên Hợp quân sự 4 bên (BLHQS 4b) có nhiệm vụ bảo đảm sự phối hợp hành động của các bên trong việc thực hiện một số điều khoản về quân sự và cũng là những điều khoản quan trọng đầu tiên của Hiệp định.

        Những điều khoản đó là:

        -  Đoạn đầu của điều 2 về việc thực hiện ngừng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam;

        -  Điều 3 (a) về việc ngừng bắn của lực lượng Hoa Kỳ và của các nước ngoài khác nói trong điều này;

        -  Điều 3 (c) về việc ngừng bắn giữa tất cả các bên ở miền Nam Việt Nam;

        - Điều 5 về việc rút ra khỏi miền Nam Việt Nam quân đội Hoa Kỳ và quân đội các nước ngoài khác đã nói ở điều 3 (a);

        - Điều 6 về việc huỷ bỏ các căn cứ quân sự ở miền Nam Việt Nam của Hoa Kỳ và của các nước ngoài khác đã nói ở điều 3 (a);

        - Điều 8 (a) về việc trao trả những nhân viên quân sự (NVQS) của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài của các bên bị bắt.

        - Điều 8 (b) về việc các bên giúp đỡ nhau tìm kiếm tin tức về những nhân viên quân sự của các bên và thường dân nước ngoài của các bên bị mất tích trong chiến đấu.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Ba, 2012, 08:30:07 am

*

*        *

        Một số cán bộ chiến sỹ chúng tôi đang chiến đấu ở chiến trường miền Nam Việt Nam, được điều động về đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam (CPCMLTCHMNVN) tham gia vào Ban liên hợp quân sự 4 bên Trung ương tại Sài Gòn.

        Tôi được giao hai nhiệm vụ: Nhiệm vụ thứ nhất là về phía nội bộ tôi là Phó phòng bảo vệ Cục chính trị Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trực tiếp phụ trách công tác Bảo vệ an ninh của Đoàn đại biểu quân sự CPCMLTCHMNVN.

        Nhiệm vụ thứ hai về phía công khai là tham gia vào tiểu ban trao trả người bị bắt của các bên với cương vị Phó trưởng tiểu ban trao trả của CPCMLTCHMNVN. Tôi đã làm 2 nhiệm vụ đó suốt trong thời kỳ Ban liên hợp quân sự 4 bên và ở lại thêm một thời gian nữa trong Ban liên hợp quân sự 2 bên Trung ương.

        Khi nhận nhiệm vụ ở Đoàn đại biểu quân sự CPCMLTCHMNVN, chúng tôi đã được Quân uỷ miền phổ biến những nhận định, đánh giá của Trung ương và Trung ương Cục miền Nam về thời kỳ đấu tranh thi hành hiệp định Pa-ri về Việt Nam.

        Ký được hiệp định Pa-ri là một thắng lợi lớn, thắng lợi rất quan trọng của nhân dân cả nước ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đối với Mỹ ngụy thì đây là một thất bại cay đắng của chúng.

        Mỹ phải ký hiệp định Pa-ri chỉ là một bước lùi về chiến lược. Thực chất là Mỹ vẫn tiếp tục "Việt Nam hoá" chiến tranh, vẫn bằng mọi cách để giữ miền Nam Việt Nam trong quỹ đạo của Mỹ. Vì vậy, Mỹ chỉ thi hành những điều khoản nào theo yêu cầu của Mỹ, có lợi cho Mỹ, các vấn đề khác chúng sẽ phá và dung túng, thúc đẩy bọn ngụy Sài Gòn phá hiệp định.

        Còn nguỵ Sài Gòn trước sau vẫn chống lại việc ký kết Hiệp định Pa-ri. Vì lệ thuộc Mỹ buộc phải ký nên chúng sẽ quyết liệt phá Hiệp định Pa-ri.

        Ngay từ phiên họp đầu tiên của BLHQS 4 bên trung ương, phía Mỹ yêu cầu thành lập ngay các Tiểu ban trao trả để hoạt động khẩn trương giải quyết kịp thời vấn đề trao trả người bị bắt của các bên.

        Chúng ta biết rất rõ phía Mỹ rất nóng lòng lấy được tù binh Mỹ càng sớm càng tốt. Ở hội nghị Pa-ri, phía Mỹ còn đưa ra kiến nghị là trao trả được tiến hành xong trước khi rút quân Mỹ 2 tháng nhưng bị ta bác bỏ.

        Hai tiểu ban trao trả của VNDCCH và CPCMLT được lãnh đạo hai đoàn chỉ đạo là phải nắm thật vững điều 8 (a) trong hiệp định Pa-ri:

"Việc trao trả những nhân viên quân sự của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài của các bên bị bắt sẽ tiên hành song song và hoàn thành không chậm hơn ngày hoàn thành việc rút quân nói trong điều 5".

        Chúng tôi hiểu rất rõ rằng quân Mỹ và quân chư hầu nhất định phải rút hết khỏi miền Nam Việt Nam. Chúng không thể cưỡng lại được nhưng phải hết sức cảnh tỉnh trước những mưu đồ của chúng trong vấn đề rút quân Mỹ. Cần theo dõi thật sát, nắm những diễn biến cụ thể trong nấc phát biểu của Mỹ- ngụy trên bàn hội nghị cấp trưởng đoàn và cấp tiểu ban, và những diễn biến tải những nơi tiến hành trao trả nhất là những nơi trao trả các quân nhân Mỹ bị bắt. Ở cấp trưởng đoàn cũng như ở cấp tiểu ban trao trả phải thật tỉnh táo nắm vững con bài tù binh Mỹ trong vấn đề song song trao trả với rút quân Mỹ ngay trong từng đợt và trong cả 60 ngày của thời kỳ LHQS 4 bên. Phía ta phải thực hiện thật đúng những quy định cụ thể của Hiệp định và của Nghị định thư về trao trả, không để có sơ hở đề phòng chúng vu khống tạo cớ để dây dưa kéo dài việc rút quân Mỹ hoặc không rút hết quân.

        Về công tác trao trả, chúng ta đã thi hành nghiêm chỉnh mọi điều khoản, mọi quy định của Hiệp định, đối xử rất nhân đạo, trao trả hết tất cả tù binh Mỹ bị bắt và trao trả vào đúng thời gian mà các bên đã thảo thuận. Chính điều này đã trở thành một sức mạnh, một sức ép lớn chống lại ý đồ của phía Mỹ tạo ra những lý do phi lý tìm cách dây dưa việc rút hết quân đội Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam. Nó cũng là những cơ sở vững chắc để chống lại những mưu đồ của chính quyền Sài gòn gây ra những trục trặc khó khăn để không trao trả hết tù binh của ta.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Ba, 2012, 09:06:29 am

*

*        *

2. Đấu tranh căng thẳng kéo dài ở Hội nghị Pa-ri về vấn đề quân Mỹ phải rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam.

        Một trong những vấn đề đấu tranh gai góc nhất, quan trọng nhất ở cuộc đàm phán Pa-ri về Việt Nam là vấn đề quân đội Mỹ và quân đội các nước ngoài thuộc phe Mỹ phải rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam.

        Đây cũng là mục tiêu số 1 của chúng ta.

        Chúng ta nhớ lại, từ ngày 12 tháng 8 năm 1965, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn của ông Philip Deville phóng viên báo Le Mon de của Pháp về tiến tới một giải pháp cho vấn đề Việt Nam, Bác đã xác định rõ:

" Chính phủ Mỹ phải chấm dứt ngay những cuộc tấn công bằng không quân vào lãnh thổ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, chấm dứt ngay cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam nước chúng tôi, rút quân đội và các loạt vũ khí Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam.

        Đó là "hoà bình trong danh dự, ngoài ra không có con đường nào khác" [1].

        Trong lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch với câu nói nổi tiếng "Không có gì quý hơn độc lập tự do" tháng 7 năm 1966, Bác khẳng định: "Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam, phải rút hết quân đội Mỹ và chư hầu ra khỏi Việt Nam thì hoà bình sẽ trở lại ngay lập tức" [2].

        Đến thư chúc mừng năm mới Xuân 1969 Bác nêu rõ: "Vì độc lập vì tự do, đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào..."

Chấp hành những lời dạy của Bác, ngay từ ngày mồng 06 tháng 5 năm 1969, với tuyên bố 10 điểm của Đoàn đàm phán Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, sau này là Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam tại hội nghị 4 bên ở Pa-ri, trong đó làm nổi bật 2 vấn đề:

        - Rút hết quân Mỹ, nhân viên quân sự, vũ khí và dụng cụ chiến tranh ra khỏi miền Nam Việt Nam.

        - Thành lập chính phủ liên hiệp lâm thời.

        Còn phía Mỹ thì kiên quyết và kiên trì đòi 2 bên phải cùng xuống thang, cùng rút quân. Chính Nixon đã nói khi đưa ra 8 điểm ngày 14/5/1969 là đánh đổi việc rút quân Mỹ và việc rút quân miền Bắc và giữ chính quyền Sài gòn.

        Mỹ coi vấn đề đánh đổi rút quân Mỹ và quân miền Bắc là vấn đề cơ bản, then chết của Mỹ. Suốt cả quá trình đấu tranh ở Hội nghị Pa-ri, phía Mỹ bám rất chặt vấn đề này, đưa ra nhiều phương án cùng rút quân, có bất kỳ 1 cơ hội nào là Kissinger lại đưa ra vấn đề quân miền Bắc cũng phải rút.

        Hariman có lúc vặn vẹo đồng chí Xuân Thuỷ rằng tôi chỉ hỏi Bộ trưởng là có quân miền Bắc ở miền Nam không?

Đây là vấn đề thiêng liêng và rất quan trọng. Tại diễn đàn Quốc hội ngày 08/6/1968, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tuyên bố: "Thực hiện quyền dân tộc tự vệ thiêng liêng, mỗi người dân Việt Nam có quyền chiến đấu chống xâm lược trên bất kỳ mảnh đất nào của Tổ quốc". Tuy có đẩy lùi được một bước về vấn đề quân miền Bắc và cùng với tuyên bố của đoàn Chính phủ cách mạng lâm thời là "Vấn đề lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam sẽ do các bên Việt Nam giải quyết" là đã tước quyền của Mỹ không để Mỹ dính vào vấn đề các lực lượng vũ trang ở miền Nam.

        Tuy nhiên vấn đề còn khá là căng thẳng. Kissinger đưa ra rất nhiều công thức, nào là 2 bên cùng rút quân, rồi rút quân hỗ tương- Kissinger lập luận rằng không đặt vấn đề quân Mỹ với quân miền Bắc trên một cơ sở pháp lý như nhau, và rằng hai bên sẽ được giải quyết vấn đề này bằng 2 kế hoạch riêng rẽ.

        Bị ta bác bỏ hoàn toàn, nhưng Mỹ vấn cố bám. Những ngày cuối năm 1972, Mỹ vấn còn đề nghị là, sau khi ngừng bắn, 2 bên trao cho nhau bản kế hoạch bố trí lực lượng.  Khi ta đòi vấn đề trao trả nhân viên dân sự một cách quyết liệt thì Kissinger nêu rằng: "Chính quyền Sài gòn sẽ thả một số đáng kể thường dân bị giam giữ đồng thời với việc triển khai lại một số đáng kể quân đội ở phía Bắc Nam Việt Nam". Cũng là ý đòi quân miền Bắc phải rút về miền Bắc.

        Nguyễn Văn Thiệu thì than thở rằng nếu quân Mỹ rút hết khỏi miền Nam Việt Nam thì chúng tôi mất chỗ dựa, và nếu quân miền Bắc ở lại Nam Việt Nam thì là vấn đề sống chết với chúng tôi.
----------------
[1] Hồ Chí Minh toàn tập- Nhà xuất bản chính trị quốc gia- Hà Nội 2000, tr.11, tr.469.
[2] Hồ Chí Minh toàn tập- Nhà xuất bản chính trị quốc gia -Hà Nội 2000, tr.108 - 109.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Ba, 2012, 09:10:14 am
        Chúng ta biết khi Mỹ đưa cho Thiệu xem bản dự thảo Hiệp định thì Thiệu đòi sửa 69 điểm mà tập trung là đòi quân miền Bắc phải rút khỏi Nam Việt Nam, không công nhận CPCMLTCHMNVN, đòi sửa những điểm về khu phi quân sự và hàm ý biến miền Nam thành 1 quốc gia riêng biệt. Thiệu nói với Bunker đại sứ Mỹ rằng "đây là vấn đề sống chết với Nam Việt Nam và 17 triệu dân Nam Việt. Vị trí của chúng tôi rất là bất hạnh, chúng tôi đã rất trung thành với Mỹ và bây giờ chúng tôi cảm thấy mình đang bị hy sinh- Nếu chúng tôi chấp nhận văn kiện như hiện có, chúng tôi sẽ tự sát" [3].

        Kissinger cũng đưa ra những điểm mà Thiệu đòi sửa đổi. Chính Mỹ cũng muốn thay đổi những điểm cơ bản trong dự thảo Hiệp định.

        Chúng ta lên án những đòi hỏi phi lý của Mỹ.

        Chúng ta phản kích và ta đưa ra 57 điểm sửa đổi.

        Chúng ta lên án mạnh mẽ thái độ đe doạ của Mỹ.

        Chiến dịch ném bom B52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng chính là nhằm ép ta phải nhân nhượng về vấn đề rút quân miền Bắc. Quân dân ta đánh bại chiến dịch B52 của Mỹ và Mỹ không thể ép được ta nhân nhượng.

        Thế là đợt gặp riêng cuối cùng từ 08/01/1973 đến 18/01/1973 đã nhanh chóng đạt được thoả thuận, những vấn đề cơ bản có lợi cho ta vẫn được giữ vững.

        Ngày 21/01/1973 Thiệu phải đồng ý ký Hiệp định Pa-ri.

        Ngày 23/1/1973 Hiệp định Pa-ri được ký tắt.

        Ngày 27/1/1973 Hiệp định Pa-ri được ký chính thức tại hội trường quốc tế đường Kbéber Pari.

        Điều mà ta và Mỹ đấu tranh căng thẳng nhất đã được ghi rất đậm nét trong Hiệp định Pa-ri.

        Đó là:

       - Mỹ phải chấm dứt chiến tranh, chấm dứt mọi hoạt động quân sự của Hoa Kỳ chống lãnh thổ nước VNDCCH, tháo gỡ làm mất hiệu lực vĩnh viễn, phá huỷ tất cả những mìn ở vùng biển, cảng và sông ngòi ở miền Bắc Việt Nam.

        - Mỹ phải rút hoàn toàn quân đội ra khỏi miền Nam Việt Nam - Mỹ phải huỷ bỏ tất cả các căn cứ quân sự ở miền Nam Việt Nam.

        - Mỹ sẽ không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam.

        Đặc biệt, có một vấn đề được coi là rất quan trọng mà phía Mỹ coi là cơ bản, là then chốt và Mỹ có rất nhiều lý lẽ, nhiều phương án đấu tranh và dùng cả phương pháp rất mạnh là chiến dịch B52 đòi quân miền Bắc phải rút khỏi Nam Việt Nam nhưng lại không được ghi một điều nào trong Hiệp định Pa-ri.

        Chúng ta đã đấu tranh giành thắng lợi tuyệt đối về điểm này- Hiệp định chỉ ghi ở trong điều 3 (b) là "Các lực lượng vũ trang của hai bên miền Nam Việt Nam sẽ ở nguyên vị trí của mình. Ban liên hợp quân sự hai bên nói trong điều 17 sẽ quy định vùng do mỗi bên kiểm soát và những thể thức trú quân".

        Đánh giá về Hiệp định Pa-ri, đồng chí Lê Duẩn- Tổng Bí thư Đảng ta xác định rằng: "... Đối với ta, điều quan trọng của Hiệp đinh Pa-ri không phải là ở chỗ thừa nhận hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát, tiên tới thành lập chính phủ ba thành phần, mà mấu chốt là ở chỗ quân Mỹ phải ra còn quân ta thì ở lại, hành lang Nam Bắc vẫn nối liền, hậu phương gắn liền với tiền phương thành một dải liên hoàn thống nhất; thế trận tiên công của ta vẫn vững. Ý định của ta là giữ nguyên thế và lực của mình ở miền Nam để tiên lên tiếp tục tấn công địch... " [4].

        Đồng chí Thủ tướng Phạm Văn Đồng trả lời một nhà bình luận truyền hình Mỹ nhân dịp kỷ niệm 10 năm giải phóng miền Nam đã nêu rõ : "... Hiệp định Pa-ri là một thắng lợi quan trọng của nhân dân chúng tôi trong cuộc chống Mỹ, cứu nước. Đối với chúng tôi, những điều khoản của nó là thoả đáng, như điểm 1 bảo đảm những quyền dân tộc cơ bản của nhân dân chúng tôi. Điều 5 quy định việc rút hết quân đội viễn chinh Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam...

        Hiệp định Pa-ri mở đường cho thắng lợi vĩ đại mùa xuân 1975, kết thúc hơn một thế kỷ đô hộ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới trên đất nước chúng tôi, đem lại độc lập tự do và thông nhất tổ quốc chúng tôi"
[5].
----------------
[3] Báo New York Times - Chủ nhật ngày 30/4/2000.
[4] Lê Duẩn "Gửi anh Bảy Cường" Thư vào Nam - Nhà xuất bản sự thật - Hà Nội 1986 – tr.372, 373.
[5] Phạm Văn Đồng. Vì sao Mỹ thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Nhà xuất bản sự thật Hà Nội tr.5-10.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Ba, 2012, 11:22:36 am

3. Đấu tranh quyết liệt ở Ban liên hợp quân sự 4 bên về quân Mỹ phải rút hết trong thời gian 60 ngày.

        Trong thời kỳ Ban liên hợp quân sự 4 bên, nhiệm vụ chính của nó là bảo đảm sự phối hợp hành động của các bên để thực hiện một số điều khoản quân sự. Hai đoàn đại biểu quân sự của ta trong BLHQS 4 bên đấu tranh một cách mạnh mẽ để buộc các bên thi hành có hiệu quả tất cả những điều khoản của Hiệp định theo nhiệm vụ đã được quy định trong Hiệp định Pa-ri.

        Trong phần này chúng tôi xin đi sâu phản ảnh rõ rét về diễn biến cuộc đấu tranh trong vấn đề quân Mỹ và quân các nước ngoài thuộc phe Mỹ phải rút ra khỏi Nam Việt Nam.

        Trước khi đi vào bàn bạc của Ban LHQS 4 bên về thực hiện đợt I trao trả và rút quân, chúng tôi nhận được nhiều tin tức về cuộc hành quân lấn chiếm Cửa Việt và hành quân lấn chiếm đóng đồn bốt ở nhiều nơi của bọn nguỵ Sài gòn.

        Mỹ thì hối hả chở vũ khí đạn dược và phương tiện chiến tranh cho ngụy, các chiến dịch tràn ngập lãnh thổ của nguỵ được thực hiện ráo riết v.v...

        Tại Ban LHQS 4 bên, hai đoàn ta đấu tranh quyết liệt về những sự vi phạm ngừng bắn của Mỹ- ngụy. Ngay những ngày đầu tiên này chúng ta đã lên án, vạch rõ là Mỹ và ngụy Sài gòn không thi hành Hiệp định mà là tiếp tục chiến tranh chứ không có chấm dứt chiến tranh.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Ba, 2012, 11:24:08 am

                * Việc rút quân Mỹ là điều chúng ta đặc biệt quan tâm.

        Trong các phiên họp đầu tiên của BLHQSTW, các trưởng đoàn ta luôn yêu cầu phía Hoa Kỳ cho biết kế hoạch rút quân và phá các căn cứ quân sự.

        Có lúc trưởng đoàn ta phải nhắc lại điểm 8b cho hai trưởng đoàn Mỹ và nguỵ như sau: "Trong vòng năm ngày sau khi ngừng bắn bắt đầu có hiệu lực, Hoa Kỳ sẽ báo cho BLHQS 4 bên và Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát biết những chương trình chung về thời gian biểu cho việc rút hoàn toàn quân đội sẽ được tiến hành làm bốn đợt, mỗi đợt 15 ngày... Số quân đại thể rút trong mỗi đợt sẽ được báo cho Ban LHQS 4 bên và UBQT trước một thời gian đủ để cho Ban LHQS 4 bên và UBQT có thể thực hiện một cách thích đáng nhiệm vụ của họ đối với vấn đề này".

        Thiếu tướng Út-Uốt trưởng đoàn Hoa Kỳ nghe rất rõ nhưng ông ta ậm ậm ờ ờ rồi đưa sang vấn đề khác. Hai trưởng đoàn ta không cho qua được và nhắc lại rằng yêu cầu trưởng đoàn Hoa Kỳ báo cáo rõ để Ban LHQS thi hành nhiệm vụ.

        Trong một cuộc họp tiếp theo trưởng đoàn Mỹ làm ra vẻ trịnh trọng thông báo về Hoa Kỳ đã nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định, đã tháo gỡ mìn, thuỷ lôi và đã rút ra khỏi Nam Việt Nam 8.000 binh sĩ, có cả quân đồng minh.

        Hai trưởng đoàn ta lập tức phản đối quyết liệt. Chúng ta không chấp nhận một sự thông báo hời hợt vô trách nhiệm như vậy. Có cái gì làm bằng chứng cho việc quân Mỹ và quân chư hầu đã rút- Phải chăng con số đó là bịa đặt- Ai tin được.

        Bất cứ cuộc rút quân nào cũng phải thông báo trước. Không thông báo trước, không có sự kiểm tra kiểm soát của Ban LHQS, không có sự giám sát của UBQT là không có giá trị. Hai trưởng đoàn ta khẳng định cho đến hôm nay chưa có người lính Mỹ và lính chư hầu nào đã rút ra khỏi Nam Việt Nam từ sau khi ký Hiệp định Pa-ri.

        Út-Uốt mặt xệ xuống, ngồi im chịu trận, không nói thêm được điều gì nữa. Nhưng có một người lên tiếng, đó là Dư Quốc Đống trưởng đoàn nguỵ Sài gòn- Đống nói rằng các ngài (ý nói hai trưởng đoàn ta) có cần kiểm tra kiểm soát đâu. Các ngài chỉ muốn quay phim, chụp ảnh, viết báo rồi tuyên bố với thế giới rằng quân Mỹ đã thua, quân Mỹ phải rút hết về nước.

        Thật là trơ trẽn cho kẻ tay sai của Mỹ. Trước đòn tấn công ấy, ngày 16 tháng 02 năm 1973 phía Mỹ phải nhượng bộ, phải gửi công hàm cho ta chính thức để các tổ LHQS 4 bên đến các địa điểm mà quân Mỹ và quân chư hầu rút để theo dõi, kiểm tra và quay phim chụp ảnh những cuộc rút quân đó.

        Chúng ta ghi nhận đây là điều vi phạm thứ nhất trong vấn đề rút quân Mỹ và chư hầu.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Ba, 2012, 11:25:36 am
        * Còn việc rút hoàn toàn ra khỏi Nam Việt Nam mọi vũ khí đạn dược và dụng cụ chiến tranh của Hoa Kỳ và các nước ngoài phe Mỹ thì sao? Họ có thi hành đúng như quy định của điều sa trong nghị định thư hay không?
Nghị định thư quy định: "Thực hiện điều 5 của Hiệp định, Hoa Kỳ và các nước khác thuộc phe Mỹ sẽ mang đi với họ mọi vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh của họ. Sau khi Hiệp định bắt đầu có hiệu lực, không được chuyển giao những thứ nói trên nhằm để lại những thứ đó ở miền Nam Việt Nam, trừ trường hợp chuyển giao những dụng cụ thông tin, vận tải những dụng cụ khác không phải để chiến đấu cho Ban LHQS 4 bên hoặc UBQT kiểm soát và giám sát”.

Những quy định đó thật là rõ ràng, cụ thể. Thế nhưng khi các sỹ quan của ta đi theo dõi kiểm tra việc rút quân Mỹ và chư hầu thì không thấy chúng mang theo vũ khí, đạn dược, dụng cụ chiến tranh ở đâu cả. Khi vào Việt Nam, đội quân viễn chinh Mỹ được vũ trang đến tận răng thế mà khi phải rút về nước, chỉ thấy họ đeo lỉnh kỉnh và tay xách nách mang những thứ voi sành, voi đá, những bức tranh thuỷ mặc rẻ tiền bày bán trên các đường phố Sài gòn- Đà Năng...

        Sĩ quan ta chất vấn, họ trả lời vũ khí trang bị đã chuyên chở theo đường biển.

        Đây là sự bịp bợm trắng trợn nữa. Vẫn còn chưa hết, chẳng những chúng không mang vũ khí đạn dược và dụng cụ chiến tranh về nước mà với mưu đồ sâu xa của chúng, chúng còn đưa thêm vào Nam Việt Nam một khối lượng khổng lồ về các phương tiện chiến tranh. Ngay trước khi ký Hiệp định Pa-ri Mỹ đã hối hả gấp rút viện trợ cho ngụy Sài gòn 260.000 tấn vũ khí chủ yếu là máy bay và trực thăng, trị giá 2 tỷ đôla- Mỹ coi đây là một đợt tăng cường đặc biệt "Enhance Plus" và có cả thư của Nixon hứa tiếp tục bảo vệ Thiệu sau hiệp định Pari.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Ba, 2012, 11:28:50 am
        * Tiếp theo, ta hãy xem phía Mỹ đã thực hiện điều 6 của Hiệp định Pa-ri như thê nào?

Điều 6 quy định rõ: "Việc huỷ bỏ tất cả các căn cứ quân sự ở miền Nam Việt Nam của Hoa Kỳ và của các nước ngoài thuộc phe Mỹ sẽ hoàn thành trong thời hạn 60 ngày kể từ khi ký Hiệp định này".

        Điều 9 Nghị định thư còn ghi cụ thể là "sẽ tháo dỡ rồi chuyển ra khỏi miền Nam Việt Nam hoặc phá huỷ tất cả những căn cứ quân sự ở miền Nam Việt Nam của Hoa Kỳ và của các nước ngoài khác nói trong điều đó, kể cả những vũ khí mìn và những thiết bị quân sự khác tại những căn cứ này, để không được dùng vào những mục đích quân sự".

        " ... và Hoa Kỳ sẽ cung cấp cho Ban LHQS 4 bên và UBQT những thông báo cần thiết về kế hoạch huỷ bỏ căn cứ để các bên đó có thể thi hành một cách thích đáng nhiệm vụ của họ đối với những việc đó".

        Hai đoàn ta không nhận được bất cứ một thông báo nào từ phía Mỹ về việc huỷ bỏ những căn cứ quân sự. Hai trưởng đoàn ta liên tục chất vấn và đòi hỏi phía Hoa Kỳ phải đáp ứng.

        Út-Uốt phải trả lời. Y lấy trong cặp một tập giấy và đọc nguyên văn như sau: "Chúng tôi được phép trả lời quý vị rằng ở miền Nam Việt Nam hiện nay không còn một căn cứ nào của chúng tôi cả. Tất cả đã chuyển cho Việt Nam cộng hoà từ trước khi ký hiệp định. Hiện nay quân Mỹ ở trong những căn cứ mượn tạm của VNCH. Xin chuyển sang vấn đề khác".

        Nghe ngang tai chưa. Trưởng đoàn của Mỹ phát ngôn như thế đó. Các trưởng đoàn ta đập lại: thật là vô lý, rất mờ ám trong việc này. Quân Mỹ và chư hầu có cả hàng chục vạn quân còn đóng trong các căn cứ của Mỹ và chư hầu mà lại bảo rằng đã chuyển cho VNCH từ trước khi ký Hiệp định ( ! )

Út- Uốt lại ngồi im chịu trận. Không nói thêm được điều gì và cũng không cãi lại, không thanh minh.

        Đến khi thất bại hoàn toàn năm 1975 trong cơn bực bội, tức giận mới nói ra sự thật. Chúng ta hãy nghe A.Brao viết trong chương 10 của cuốn sách: "Chiếc trực thăng cuối cùng": như sau: "Với khối lượng khổng lồ các trang thiết bị và vật liệu để lại khi chúng ta rút về cộng với số lượng tiếp tế thêm về sau, nhẽ ra quân lực VNCH phải có đủ khả năng đương đầu với đối phương mới phải".

        Đúng, sự thật là như thế đó. Đây là sự vi phạm trắng trợn đã được tính toán từ trước


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: altus trong 06 Tháng Ba, 2012, 08:25:04 pm
Nghe ngang tai chưa. Trưởng đoàn của Mỹ phát ngôn như thế đó. Các trưởng đoàn ta đập lại: thật là vô lý, rất mờ ám trong việc này. Quân Mỹ và chư hầu có cả hàng chục vạn quân còn đóng trong các căn cứ của Mỹ và chư hầu mà lại bảo rằng đã chuyển cho VNCH từ trước khi ký Hiệp định ( ! )

Út- Uốt lại ngồi im chịu trận. Không nói thêm được điều gì và cũng không cãi lại, không thanh minh.

Hị hị, các cụ "đấu trí" được với Mỹ là tên lửa SAM ở nam sông Bến Hải là Quân giải phóng "tự có" trước thời điểm ký hiệp định thì cũng phải chấp nhận địch nó chơi "ngang tai" chớ.  ;)


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Ba, 2012, 06:04:16 pm
        * Trở lại vấn đề rút quân Mỹ. Đợt 2 và đợt 3 rút quân Mỹ tuy có vài trục trặc nhưng được tiến hành trót lọt theo đúng thời gian đã định. Nói đến có trục trặc, nhớ lại 1 câu chuyện khá lý thú. Số là, khi bàn trao trả đợt II, Dư Quốc Đống đưa ra con số trao trả cho Chính phủ cách mạng từ 7.000 trao trả đợt I, tụt xuống có 3.000 trao trả trong đợt II. Lý do: "Tôi được lệnh của chính phủ chúng tôi như vậy, ngừng bắn chưa thực hiện hoàn toàn thả nhiều quá để các vị lại tổ chức hàng trung đoàn tấn công chúng tôi sao!".

        Ta báo cho Đống biết rằng, cứ theo Hiệp định và nghị định thư mà tiến hành. Ở Pari, 4 đoàn đã thống nhất trao trả làm 4 đợt cũng như rút quân làm 4 đợt mỗi đợt không được dưới tỷ lệ 25% tổng số đã công bố.

        Thật nực cười cho trưởng đoàn ngụy Sài gòn, Dư Quốc Đống nói tôi không được biết tỷ lệ này hết trọi! Ta chất vấn Út-Uốt trưởng đoàn Mỹ rằng "chính ông có mặt trong các cuộc thương lượng ở Pa-ri, ông hãy trả lời có hay không những điều thoả thuận đó?".

        Út-Uốt không thể cãi vì vấn đề đã rõ ràng ghi trong Hiệp định và Nghị định thư- Út-Uốt nói "có, các bên đã thoả thuận điều đó ở Pa-ri".

        Dư Quốc Đống ngớ người ra- Cuộc họp tiếp theo, vấn đề này vẫn bế tắc Đống lại nói: "Chúng tôi là quân nhân, tôi phải phục tùng thượng cấp. Chúng tôi không ngoan cố".

        Các đoàn ta tuyên bố rõ là: "Nếu phá hoại như thế này thì toàn bộ công việc trao trả bị đình trệ. Đó là trách nhiệm của phía Sài gòn và Hoa kỳ".

        Út-Uất rất lo lắng và đá Đống một phát: "như hôm kia tôi đã tuyên bố, giữa các bên ở Pa-ri đã có thoả thuận mỗi đợt phải trao trả không dưới 25%- Chỉ có những người điếc, không muốn nhận lẽ phải mới cứ cố phủ nhận điều này".

        Đến ngày 12/3/1973, Sài gòn phải theo lệnh Mỹ, phải chính thức báo tin trao trả 6.300 NVQS cho Chính phủ cách mạng.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Ba, 2012, 06:10:58 pm
        4. Những ngày cuối cùng quan Mỹ Phải rút hết ra khỏi miền Nam Việt Nam.

        17 giờ ngày 21/3/1973 ta gửi công hàm cho phía Mỹ báo là ta sẵn sàng trao trả đợt 4 trước thời hạn với điều kiện Mỹ cũng rút hết quân trong cùng thời hạn đó.

        22 giờ cùng ngày, Út-Uốt trưởng đoàn Mỹ gửi công hàm trả lời thoả thuận hoàn toàn. Trao trả và rút quân cùng hoàn thành trong ngày 25/3/1973.

        Sáng ngày 22/3/1973, xảy ra một sự kiện là phó đoàn Mỹ Uých- Khâm gửi bị vong lục đến cho hai đoàn ta. Nội dung bị vong lục là huỷ bỏ công hàm do trưởng đoàn Mỹ Út-Uốt gửi cho ta lúc 22 giờ ngày 21/3/1973, đồng thời nêu ra một yêu sách là đòi ta phải trao trả quân nhân Mỹ bị bắt ở Lào ( ! ).

        Mỹ có tính toán gì đây? Trước hết chúng ta bác bỏ thẳng thừng vấn đề đòi ta phải trao trả quân nhân Mỹ bị bắt ở Lào. Thật là vô lý. Ở bàn đàm phán tại Phu, Mỹ đã đưa ra vấn đề này và đã bị ta bác bỏ. Nay Mỹ lại nêu ra để làm gì? Phải chăng là để trì hoãn việc rút hết quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam.

        Trong cuộc họp ngày 24/3/1973, ta lên án phía Mỹ, bác bỏ đòi hỏi vô lý này và nói rõ rằng không thể gắn việc thả tù binh ở Lào với việc rút quân Mỹ được.

        Uých-khâm mặt đỏ gay, nói rằng chỉ đưa ra yêu sách "Theo lệnh của chính phủ chúng tôi" Thế là rõ, đòi hỏi vô lý này là từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Ta lập tức tố cáo thái độ phá hoại hiệp định của Mỹ và Sài gòn, lên án sự lật lọng của Mỹ trong vấn đề trao trả và rút quân. Cuộc họp bế tắc.

        Theo dõi diễn biến mấy ngày nay, ta thấy có một số báo Sài gòn đưa tin là các bên đã thoả thuận "triển hạn" (tức là kéo dài thời hạn) hoạt động của Ban liên hợp quân sự 4 bên ( ! ). Ở tiểu ban thủ tục Bôn-dơ cũng đưa tin rằng các bên đang cứu xét vấn đề "triển hạn" ở cấp chính phủ ( ! ).

        Ta nhận định rằng không phải ngẫu nhiên mà có những tin đó và những tin đó có liên quan gì đến việc Mỹ đòi gắn việc trao trả tù binh Mỹ ở Lào với rút quân hay không? Phải chăng đây là mưu đồ của Mỹ, và là mưu đồ gì? Mỹ muốn kéo dài thêm sự có mặt công khai của phái đoàn Mỹ? Để nguỵ bám vào Mỹ che chở cho chúng? Hay là giữ phái đoàn của Việt Nam dân chủ cộng hoà ở lại giải quyết thêm một số việc có lợi cho Mỹ? và hay là để hạ thấp vai trò của chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam? Các báo của Sài gòn và của các hãng thông tấn nước ngoài có mặt ở Sài gòn tới tấp gọi điện thoại đến hai đoàn ta để hỏi về vấn đề này.

        Ta đã trả lời với họ là đúng 60 ngày hoạt động của Ban LHQS 4 bên kết thúc. Ban Liên hợp quân sự hai bên sẽ làm nhiệm vụ tiếp theo đúng như hiệp định Pa-ri đã quy định. Chỉ còn lại ở Sài gòn một tổ Liên hợp quân sự 4 bên để giải quyết vấn đề mồ mả và người mất tích của các bên.

        Đánh giá về việc Mỹ đòi hỏi ta phải trả tù binh Mỹ ở Lào, xã luận báo Nhân Dân số 6910 ngày 27/3/1973 đã lên án về việc Mỹ đòi hỏi ta phải trả cả những nhân viên quân sự không do ta bắt và giam giữ.

        Xã luận viết: "Không ai có thể đáp ứng được những đòi hỏi lạ lùng ấy. Họ vin vào cớ ấy tuyên bố không rút đợt quân cuối cùng của họ về nước.

        Nghiêm trọng hơn nữa là chính Tổng thống Mỹ cũng đưa ra những đòi hỏi vô lý đó và coi việc ta phải trả những nhân viên quân sự do nước khác giam giữ thành một điều kiện để Mỹ rút hết số quân còn lại của họ... âm mưu của Mỹ là kiếm cớ để quân Mỹ và quân chư hầu ở lại, không chịu rút đi đúng thời hạn. Mỹ còn nhiều hành động khác nữa để tiếp tục dính líu về quân sự ở miền Nam nước ta.

        Ngày mai 28/3/1973 là hạn cuối cùng quân Mỹ và quân chư hầu của Mỹ phải rút khỏi miền Nam nước ta và phải hoàn thành việc trao trả các nhân viên quân sự bị bắt và giam giữ. Bất kỳ điều gì xẩy ra làm cho các điều khoản về những vấn đề trên đây không được thực hiện đầy đủ và đúng thời hạn, trách nhiệm hoàn toàn thuộc về phía Hoa Kỳ.

        Gia đình các nhân viên quân sự bị bắt và các quân nhân Mỹ chưa được về, cứ điện thẳng về Nhà Trắng và lầu Năm góc mà đòi hỏi.

        Trách nhiệm thuộc về hai nơi ấy". Xã luận nhấn mạnh: "... Tạo ra lý do để duy trì sự dính líu về quân sự, Hoa Kỳ muốn mưu tính gì đây? Họ có thật sự muốn rút ra khỏi cái bãi lầy đã làm cho họ khốn khổ hay chưa? Họ đã thật sự muốn cho lịch sử quan hệ giữa nước Mỹ và nước ta mở sang trang khác hay là vẫn muốn tiếp tục viết những trang cũ. Họ lại tung ra những lời đe doạ xưa nay chưa từng làm ai run sợ- Người Việt Nam đã từng đương đầu biết bao lần với những cái còn tệ hại hơn cả những lời đe dọa hung hăng nhất.

        Ngày nay không phải là những lời đe doạ có thể gây tác dụng và phải là sự thi hành nghiêm chỉnh hiệp định Pa-ri".

        Sáng 26/3/1973 cuộc họp trưởng đoàn trong tuần cuối. Đoàn VNDCCH đến lượt điều khiển cuộc họp. Chúng ta nêu những vấn đề lớn:

        - Mỹ phải rút hết quân.

        - Lập tổ 4 bên về mồ mả và người mất tích.

        - Kế hoạch trở về của Đoàn đại biểu quân sự VNDCCH và Hoa Kỳ sau khi hết hạn 60 ngày.

        - Phiên họp cuối cùng bế mạc của Ban LHQS 4 bên vào ngày 28/3/1973.

        20 giờ ngày 26/3/1973 ta triệu tập những người cầm đầu của đoàn Mỹ đến để nói rõ về trao trả và rút quân. Chỉ sau 20 phút, trưởng đoàn Út-Uốt đã đến, sau đó là phó đoàn Uých-khâm và một số đại tá trong đó có Rớt-xơn phụ trách về trao trả.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Ba, 2012, 06:14:07 pm
        Ta báo tin về tù binh Mỹ ở Lào là do Pa-thét Lào quyết định. Vấn đề này không có quan hệ gì đến Hiệp định Pa-ri và cũng không phải là công việc của Ban LHQS 4 bên ở đây. Vì thiện chí và cũng do Mỹ không có quan hệ ngoại giao với Pa-thét Lào nên ta giúp Mỹ về vấn đề này. Khi nào có tin trả lời thì sẽ báo cho phía Mỹ biết.

        Và đây là kế hoạch mà ta thông báo cho phía Mỹ để các bên cùng thực hiện.

        - Trao trả hết số còn lại trong 3 ngày 27/3/1973, 28/3/1973 và 29/3/1973.

        - Quân Mỹ cũng phải rút hết trong 3 ngày đó.

        Ban LHQS 4 bên và Uỷ ban quốc tế sẽ kiểm tra, giám sát cuộc rút quân đó.

        Út-Uốt xin tiếp nhận.

        Sau đó, Út-Uốt báo cụ thể về thời gian, số lượng quân Mỹ rút trong 3 ngày:

        - 27/3/1973 quân Mỹ rút 816 binh sỹ trong 10 chuyến máy bay.

        - 28/311973 quân Mỹ rút tiếp 1966 binh sỹ.

        Có riêng một công hàm của phía Mỹ gửi cho hai đoàn ta nói rõ về ngày rút quân cuối cùng 29/3/1973: quân Mỹ rút 1924 binh sỹ trên 13 chuyến máy bay tại sân bay Tân Sơn Nhất, tại Đà Nẵng quân Mỹ rút 577 binh sỹ trên 6 chuyến máy bay.

        Tất cả ngày cuối cùng này là 2501 binh sỹ Hoa kỳ. Cuộc rút quân Mỹ những ngày cuối cùng này được diễn ra đúng theo kế hoạch đã định.

        Ở đây xin ghi lại những điều thú vị trong cái ngày cuối cùng mà 2501 binh sỹ Mỹ phải rút ra khỏi miền Nam Việt Nam.

        10 giờ sáng 29/3/1973, đoàn Mỹ báo tin hôm nay hệ thống điện thoại quân sự Mỹ chấm dứt hoạt động. Nó được tháo dỡ ngay chiều nay gồm hơn 7.000 máy Ở khu vực Sài gòn- Biên Hoà. Còn hệ thống vô tuyến truyền hình của quân đội Mỹ ở Việt Nam (băng số 7) chấm dứt từ 24 giờ ngày 28/3/1973.

        Theo tin của hãng Roi tơ từ Sài gòn, ngày 29/3/1973 vai trò quân sự của Mỹ ở Việt Nam chấm dứt bằng một buổi lễ âm thầm cuốn lá cờ của Bộ chỉ huy Mỹ đã từng ngự trị ở Nam Việt Nam trong 10 năm. Tư lệnh Mỹ, tướng Uây-en và Đại sứ Ban-cơ đứng chào cờ trên một cái bục nhỏ trong một cái sân của Bộ chỉ huy tại căn cứ Tân Sơn Nhất, trong khi máy ghi âm quay bài quốc ca Mỹ.

        42 quân nhân đại diện cho 4 quân chủng đã từng đưa tới đây 2 triệu rưỡi quân nhân Mỹ, đứng để duyệt binh tại buổi lễ 15 phút này.

        Một giờ sau đó, 42 quân nhân này đáp một máy bay phản lực chở họ ra khỏi Nam Việt Nam cùng với 2.500 người nữa trong số những lính Mỹ cuối cùng (tin đưa trên báo Nhân Dân số 6913 ngày 30/3/1973).

        Hãng UPI cho biết thêm: "Sau khi làm lễ cuốn cờ, tướng Uây-en đã tới nhập với 2501 quân nhân Mỹ đang rời khỏi Việt Nam hôm nay. Đây là những người cuối cùng trong số hai triệu rưỡi quân nhân Mỹ đã phục vụ ở Việt Nam trong 12 năm qua".

        Tại sân bay Tân Sơn Nhất, đúng 12 giờ tổ kiểm tra kiểm soát của ta ra sân bay.

        Chuyến thứ nhất của buổi chiều 29/3/1973 được bắt đầu, thiếu tá Đoàn Văn Diễn sỹ quan của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam nhận bản danh sách do Trung tá Slớt-ka của Mỹ trao và báo cáo rằng chuyến này thuộc quân số của MACVI gồm đủ hải, lục, không quân. Người cao cấp nhất là trung tướng Rô-dê-bu-ruph.

        Và đây là chuyến cuối cùng, 15 giờ 25 họ đến sân bay, Trung tá Slớt-ka đến nói với sỹ quan của ta là chuyến này vẫn là quân của MACVI, có đại tá Nan- Đoóc là tư lệnh căn cứ không quân Tân Sơn Nhất cùng hai đại tá nữa là Hem-ma và Ô-đen.

        Tên lính Mỹ đi sau cùng là thượng sĩ Mắc-bi-en-ki lên chiếc DC9 thuộc Bộ chỉ huy vận tải quân sự mang số hiệu 40.619.

        Tên đại tá Ô-đen lên máy bay từ trước, nhảy xuống mở chai rượu vang tu từng hớp rồi ôm lấy tên đại tá cảnh sát nguy Sài gòn có cái tên thêu trên ngực áo là "Ngưu" và chia cho hắn cùng uống. Ô-đen loạng choạng bước lên cầu thang đi vào trong máy bay.

        Đúng 16 giờ 25 phút, cánh cửa máy bay sập xuống từ từ lăn ra bãi. Cất cánh đi thẳng hướng đông.

        Đáng ghi lại một điều lý thú nữa là, trong thông báo của đoàn Mỹ gửi cho ta, có 1 đoạn ghi rõ:

        "Phi-đrich Uây-en, đại tướng Tổng chỉ huy MACV 1 cũng rút khỏi Nam Việt Nam ngày cuối cùng, cùng với 5 sỹ quan tham mưu cao cấp tuỳ tùng của ông ta".

        Về toán lính Mỹ cuối cùng cuốn gói, hãng AFP viết: "Trong suốt cả ngày và đêm 28/3, các máy bay vận tải quân sự và máy bay đi thuê (của các hãng tư nhân) bay đi, bay về giữa 2 sân bay Clác và Tân Sơn Nhất để chở các lính Mỹ rút đi... Hôm nay 29/3/1973 những lính Mỹ cuối cùng đã rời Nam Việt Nam hồi 17 giờ 30 phút giờ Sài gòn ( 16 giờ 30 phút giờ Hà Nộ ). Người Mỹ cuối cùng rời khỏi Nam Việt Nam là đại tá không quân Đê-vít Ô-đen. Các đại diện của Bắc Việt Nam và Chính phủ cách mạng lâm thời đã có mặt tại chỗ để giám sát việc rút số lính Mỹ còn lại".

        Như vậy là, tính từ 16giờ 30 giờ Hà Nội ngày 29/3/1973 các đơn vị chiến đấu của quân đội Mỹ, quân đội các nước chư hầu đã rút hết ra khỏi miền Nam Việt Nam.

        Bộ chỉ huy quân đội Mỹ ở Việt Nam mà thực tế là Bộ tư lệnh tối cao của Mỹ chỉ huy toàn bộ quân đội Mỹ, quân đội các nước chư hầu và quân đội ngụy Sài Gòn, có trụ sở ở Tân Sơn Nhất mà báo chí gọi "lầu năm góc phương Đông" cũng đã hạ cờ, cuốn gói.

        Đánh giá về sự kiện ngày 29/3/1973 xã luận báo Nhân dân số 6914 ngày 31/3/1973 nêu rõ: "Thực hiện cái thuyết lấp chỗ trống ở Đông Nam á, sau khi Pháp và Anh phải lần lượt rút khỏi vùng này, đồng thời thực hiện vai trò sen đầm quốc tế ngăn chặn phong trào cách mạng từ khu vực đang bùng nổ, Mỹ vội vã nhảy vào nước ta.

        Chúng lần lượt áp dụng bốn chiến lược khác nhau và đã tiến hành một cuộc chiến tranh thực dân mới to lớn nhất, tàn bạo nhất, lâu dài nhất để hòng đè bẹp cuộc chiến đấu cứu nước của nhân dân ta, bắt chúng ta phải chấp nhận ách thống trị của chúng.

        Kể từ tháng 7/1954 đến ngày 29/3/1973, khi tướng Vây- en "làm lễ từ biệt" và tên lính cuối cùng của Mỹ là đại tá Ô-đen rời khỏi Sài Gòn là 18 năm 8 tháng.

       Ngày 29/3/1973 là một cái mốc lịch sử. "Lịch sử đấu tranh giải phóng của các dân tộc và của loài người tiến bộ chắc rằng hàng nghìn đời sau cũng sẽ ghi mãi những chiến công của người Việt Nam" một dân tộc nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ".



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Ba, 2012, 06:18:13 pm

*

*          *

        Mốc lịch sử đánh dấu từ 115 năm nay tính từ năm 1858 trên đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta đã sạch bóng quân xâm lược của các nước đế quốc.

        Quân Mỹ, quân các nước chư hầu của Mỹ phải rút hết khỏi Việt Nam, quân miền Bắc Việt Nam vẫn ở lại Nam Việt Nam. Và cũng từ đây so sánh lực lượng đã nghiêng hẳn về phía cách mạng.

        Thực tiễn đã chứng minh rằng, sau khi Mỹ cút dù là Mỹ có lén lút để lại và đưa thêm vào trên một chục nghìn cố vấn quân sự để điều khiển cuộc chiến tranh Việt Nam hoá, dù có để lại và còn đưa thêm đủ mọi thứ vũ khí đạn dược và dụng cụ chiến tranh, dù có để lại nguyên vẹn tất cả các loại căn cứ quân sự của Mỹ và chư hầu thì ngụy Sài gòn vẫn không cứu vãn nổi sự suy sụp của chúng. Ngụy Sài gòn đã mất chỗ dựa lại bị quốc hội Mỹ ngày càng cắt giảm viện trợ cả "quân viện" lẫn "kinh viện" thì sức lực của chúng cũng khác xa rồi.

        Mỹ và ngụy ra sức phá hoại hiệp định Pa-ri nên ngày càng bị cô lập, càng bị lên án. Còn chúng ta sau khi giành được thắng lợi cơ bản, chúng ta rất tỉnh táo dự kiến tình hình sắp tới, chủ động chuẩn bị mọi mặt, xốc lại đội hình, tăng cường sức mạnh để bất cứ tình hình nào xẩy ra thì chúng ta vẫn giành thắng lợi hoàn toàn.

        Đúng như dự kiến, kẻ thù không thi hành hiệp định, không chấm dứt chiến tranh mà tiếp tục chiến tranh nên chúng ta phải dùng thế và lực mạnh để phản công, tiến công tiêu diệt chúng.

        Ngụy đã phải nhào, ta giành thắng lợi hoàn toàn.

        Cuối cùng của bài viết này, tôi xin trích những lời than thở của những nhà chóp bu chính quyền Mỹ thời bấy giờ về quân Mỹ phải rút hết khỏi Nam Việt Nam và quân Bắc Việt Nam vẫn ở lại Nam Việt Nam như sau :

        - Kissinger một nhân vật chủ yếu trong hội đàm Pa-ri với đồng chí Lê Đức Thọ, người ký tắt hiệp định Pa-ri ngày 23/01/1973 cùng với đồng chí Lê Đức Thọ trong cuốn sách Diphomacy nói về hiệp định Pa-ri, khi so sánh với các hiệp định đình chiến ở Châu âu và Triều Tiên cho rằng:

        "Hoà bình được lập lại từ lâu, nhưng hai thế hệ quân nhân Mỹ còn đóng tại ở Châu âu; đình chiến ở Triều Tiên đã được quân Mỹ bảo vệ trong hơn 40 năm qua. Chỉ riêng ở Việt Nam, do bất đồng trong nội bộ dồn ép, Mỹ đã ký thoả thuận không để lại số quân còn lại sau cùng, tự mình tước bỏ giới hạn an toàn khi cần phải bảo vệ hiệp đinh...[6]

        "Tất nhiên, năm 1975, nỗ lực của Mỹ ở Đông Dương đã kết thúc bằng một cuộc tháo chạy " [7].

        Kissinger kết luận: "Chúng ta có quyền và đương nhiên có trách nhiệm bảo vệ một hiệp định mà để đeo đuổi nó, 50 nghìn quân Mỹ đã tử trận. Nếu không như thế thì bất cứ hiệp định hoà bình nào với Mỹ cũng giống như hợp pháp hoá sự khuất phục. Những điều khoản không được bảo vệ cũng ngang bằng với sự đầu hàng" [8].

        - Wesmoreland- Nguyên Tổng chỉ huy quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam, trong hồi ký xuất bản năm 1976 đã thừa nhận " Số phận Nam Việt Nam đã được định đoạt khi Kissinger ký hiệp định ngừng bắn tại chỗ, rút quân Mỹ và cho phép hàng nghìn binh lính chính quy Bắc Việt Nam ở tại miền Nam ".

        Hai chục năm sau, có dịp xem lại nội dung hiệp định Pa-ri, Nixon vẫn còn bị ám ảnh khi ông ta thú nhận rằng: "Khi nhìn lại, tôi nghĩ rằng khuyết điểm lớn nhất của Hiệp đinh hoà bình Pa-ri năm 1973 là những điều khoản ngừng bắn cho phép quân đội Bắc Việt được ở lại trong một số lãnh thổ của Nam Việt Nam "[9].

        Nixon nghĩ rằng đó là khuyết điểm lớn nhất. Không phải là như thế. Thật ra, Mỹ đã biết rất rõ, quá rõ về vấn đề này và đã cố hết mức trên chiến trường cũng như trên bàn hội nghị. Cao nhất là đã dùng đến biện pháp rất mạnh B52 ném bom vào Hà Nội, Hải Phòng và một số nơi trên miền Bắc cuối năm 1972. Cuối cùng không thể làm gì được nên phải chấp nhận là quân Mỹ phải rút hoàn toàn ra khỏi Nam Việt Nam, quân miền Bắc vẫn ở lại Nam Việt Nam./.

                             
Hà Nội, Ngày 27 tháng 01 năm 2009           
                           
----------------
[6], [7], [8] H. Kissinger- Diplomacy- Nhà xuất bản JoucheTone, New yock- 1995, trang 691, 695, 696.
[9] Larry Berman. Không hoà bình, chẳng danh dự (bản dịch tiếng Việt 2003) Nhà xuất bản Free Press New york 2001- trang 307, 313.     


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Ba, 2012, 08:25:33 pm

NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG CỦA QUÂN MỸ
Ở NAM VIỆT NAM

NGUYỄN SINH             
       
        NƠI NÀY 8 NĂM SAU

        Tháng 3 năm 1965, Đà Năng nhộn nhạo bởi sự kiện lính thuỷ đánh bộ Mỹ Ồ ạt đổ quân lên bãi biển Sơn Trà. Chui ra từ chiếc tàu hũ mồm, những tên lính cổ da hung hăng lội qua mép nước, đặt những bước chân xâm lược đầu tiên lên bờ cát, tay súng M16 lăm lăm, đầu đội mũ sắt tùm hụp. Chúng giương mắt nghênh ngáo, ngước lên bầu trời xanh ngắt của xứ sở nhiệt đới xa lạ. Những chiếc máy vô tuyến điện thoại cầm tay rồ rồ, lạo xạo của lính Mỹ hoà với tiếng kèn đồng rít lên inh tai, nhức óc mà đám quân nhạc mặc đồng phục nhà binh nguỵ để tạo nên thứ âm thanh hỗn tạp. Trên trời những chiếc phản lực F4 (con ma) gầm gào cắt ngang qua đầu đám tường lính nguy, bọn chính khách bản xứ và lũ gái điếm đang dậm dật chân cẳng, mặt mày hớn hở chào đón đội quân xâm lược.

        Cùng với nửa triệu quân Mỹ đổ vào xâm lược, tiền của Mỹ, lối sống Mỹ cũng đổ vào cuồn cuộn. Một "Nhà trắng Phương Đông" và một "tiểu Ngũ giác đài" mọc lên giữa Sài Gòn. Những căn cứ quân sự mang tên Alpha, Charlie, Evens.., nhan nhản suốt từ mũi Cà Mau đến bờ sông Bến Hải. "Hòn ngọc Viễn Đông" trở thành một trại lính và một nhà chứa khổng lồ, ngày đêm sặc sụa mùi khói bom, mùi rượu uýt-ki, mùi thuốc lá Xa-lem và tiếng nhạc kích động. Những thầy cai, thầy đội khố đỏ, khố xanh nay lên hàng tướng tá trong quân đội Sài Gòn giả vờ quên "méc - xi,,, "ô - voa để quay sang "thanh - kỳ - ư', "gút - bai".., ngậu xị.

        Những tên hung nô hiện đại và lũ Trần Di Ái, Trần ích Tắc thời nay, những tưởng với B52 và "đôla đỏ", "đôla xanh" [1] còn có thể ăn đời ở kiếp với nhau để kéo dài biên giới Hoa Kỳ sang tận vĩ tuyến 17 như một tên bán nước thuộc hàng cha chú của Nguyễn Văn Thiệu từng nói. Nào ngờ Mỹ thua, Mỹ phải cuốn gói chuồn. ôi, cái cảnh chia ly sao mà não vậy!

Đà Nắng tháng 3 - 1973, lịch sử rõ trớ trêu. Một buổi chiều mây thấp nặng nề, sóng biển Sơn Trà gào thét. Lính Mỹ đang xem lần chót một màn vũ "xếch - xy" [2] sản phẩm USA nhập cảng. Trên sân khấu, một người con gái mặt trát bự son phấn, mắt đờ đẫn, chỉ còn đeo lỏng lẻo trên thân mình hai mẩu vải bé tẹo đang ườn ẹo, oằn oại... Tiếng kèn sắc - xô lúc rít lên, lúc rền rĩ, tắc tị đột ngột...

        Lính Mỹ đứng ngồi lộn xộn. Loáng thoáng có những bộ mặt tái xanh, hốc hác, đầu tóc bù xù, mắt trắng dã lờ đờ vì ma tuý. Một người lính ngồi dựa lưng vào tường, ngực áo cởi phanh, cầm trong tày một mảnh bìa cứng có dòng chữ: " HANORABLE PEACE?" (hoà bình trong danh dự). Cái dấu chấm hỏi anh ta vẽ to tướng.

        Màn vũ cuối cùng kết thúc. Không có những tiếng húyt sáo, những tiếng hô "ô-kê", "ve-ri-gút" cuồng loạn như mọi lần khác. Lính Mỹ đứng dậy, xếp hàng lên máy bay. Chiếc máy bay cất cánh, rời khỏi mặt đất, lao vút vào bầu trời mây đen đang vần vũ... Từ trong cửa sổ một ngôi nhà sang trọng có gắn máy lạnh của người Mỹ bỏ lại, mấy sỹ quan Sài Gòn và mấy cô vũ nữ đứng nhìn theo ngán ngẩm, người Mỹ đến, người Mỹ đi rồi...
---------------
[1] "đôla đỏ", "Đôla xanh" - "đô-la đỏ" (đồng đô-la đùng trong quân đội Mỹ) và "đô-la xanh" (đồng đô-la trong thương mại).
[2] Xếch-xy - vũ khoả thân



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Ba, 2012, 08:27:41 pm
     
        "DẸP TIỆM"

Khắp miền Nam đang diễn ra một cảnh "dẹp tiệm" của người Mỹ, vội vàng, tất bật, ngó thật thảm hại. Bộ chỉ huy tập đoàn không quân số 7 hùng mạnh đóng tại căn cứ Tân Sơn Nhất "dẹp tiệm". Tướng Giôn Vốc (John Vogt) đem bộ sậu cùng hàng trăm tấn máy móc điện tử bán xới sang Na-khom bên Thái Lan. Cuộc ra đi cũng lặng lẽ âm thầm. Đến lượt bộ chỉ huy "quân đội Đại Hàn" dẹp tiệm; phái bộ cố vấn "Trung hoa dân quốc ra đi. Đài phát thanh quân đội Mỹ rồi đài vô tuyến truyền hình Mỹ ngậm ngùi gởi lời chào giã biệt...

        Trong khi trên bến cảng Sài Gòn, công binh Mỹ hì hục tháo gỡ các cầu tầu nổi thì tại khách sạn TN ở đường Phạm Ngũ Lão "Pi-ếch"-Sài Gòn, của quân đội Mỹ cũng "dẹp tiệm". P.X này suốt bảy tám năm trời từng là nơi "đưa người cửa trước, rước người cửa sau vào loại náo nhiệt nhất Sài Gòn. Suốt ngày đêm dập dìu những tướng, tá, chính khách, những ông bự, bà bự, các loại vợ Mỹ lấy từng năm, từng mùa, từng tháng. Họ vào đây, chìa chút nhân phẩm cuối cùng đổi lấy những ti vi, máy lạnh, nước uống côcacôla...

        Một đoàn xe vận tải cỡ lớn đỗ dài trước khách sạn. Lính Mỹ cởi trần trùng trục, mồ hôi mồ kê nhễ nhại đang đóng hòm những gì không để lại: máy phát điện, trang bị nhà bếp, những bức tranh thuỷ mạc bày bán trên đường phố, những con voi, con cóc bằng sành, những tượng Chăm cướp được trong các cuộc hành quân... Tiếng búa đóng đinh nện vào thùng nghe như tiếng nện áo quan...

        Cách đó vài phố, có một người đàn bà rách rưới, bẩn thỉu, chỉ còn da bọc xương, ngồi bệt trên vỉa hè lề đường ngửa tay xin khách qua đường bố thí. Người đàn bà đeo trước ngực tấm ảnh một cô gái trẻ trung, rực rỡ trong y phục một gái nhảy. Người ăn mày tàn tạ và cô gái nhảy rực rỡ năm xưa trong tấm ảnh chỉ là một: vũ nữ Cẩm Nhung, từng được phong là "vương hậu về đêm" của Sài Gòn, có thời là vợ chính thức của một ông tướng Sài Gòn đương chức, từng được không biết bao nhiêu nhân vật tai to mặt lớn của chế độ Sài Gòn o bế.

        Người Sài Gòn vốn tính trào lộng, mỗi lần đi qua trước toà nhà lớn được bao kín trong mấy tầng lô cốt và rào kẽm gai gọi là "dinh Độc Lập" lại hỏi nhau:

        - Nề, anh Tư, đến lúc nào thì sở Mỹ này "phéc-mê bu-tích" [3]

        - Cũng sắp rồi. Người ta hoà giải hoà hiệp dân tộc, để cái của nợ đấy ở đây làm chi? 

        - Mà người Mỹ họ thực dụng lắm nghe. Máy lạnh, ti vi họ chở về xài, chó đá họ chở về đặng làm kỷ niệm. Còn như "ông tổng" mà khi không cần nữa là họ liệng cái rụp, họ đâu có xài mãi thứ đó.
---------------
[3] Fermer boutique (tiếng Pháp) - dẹp tiệm.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Ba, 2012, 09:23:18 pm
      
        CUỐN CỜ

 Ngày 15-3, bộ chỉ huy quân đội Mỹ ở Việt nam MACV (Mắc-vi), "Tiểu ngũ giác đài', "cái tiệm" 'to nhất, quan trọng nhất của Mỹ chính thức dẹp bỏ.

        Người Hoa Kỹ là chúa vẽ vời hình thức, càng ê mặt họ càng vẽ vời để che đậy trước bàn dân thiên hạ. Thế nhưng lần này biết chắc là không thể che đậy vào đâu được, thôi thì đơn giản, lặng lẽ cho nó đỡ lố bịch. MACV hoạt động tám năm trời chỉ huy một đội quân đông tới trên 50 vạn người, nay buổi lễ ra đi chỉ kéo dài có... 18 phút rưỡi.

        Theo tập quán cổ truyền của quân đội Hoa Kỳ, những buổi lễ hạ cờ phải tổ chức ngoài trời. Nhưng lần này, cũng lại trái với tập quán, người ta cho làm trong một nhà hát ở căn cứ Tân Sơn Nhứt. Nhà hát này dựng lên từ ngày có MACV, chuyên để nhảy xếch-xy, dành riêng cho sỹ quan Hoa Kỳ. Cung cách buổi lễ giống hệt như một buổi diễn kịch. Trước mặt 300 "khán giả" mặc đồng phục ka-ki vàng, một tên lính cầm lá cờ của lục quân Mỹ tiến ra đứng giữa sân khấu. Lá cờ hình một chiếc mộc nền đỏ, một thanh kiếm màu trắng kẹp giữa hai mảng tường vàng, tượng trưng sứ mệnh "ngăn chặn làn sóng đỏ". Chung quanh sân khấu có binh sỹ "đồng minh tham chiến ở Việt Nam" cầm cờ nước họ. Vì Úc và Tân Tây Lan ngày nay đã ớn cái "vinh dự" ấy cho nên cờ hai nước đó phải dùng lính Mỹ cầm thay. Khi tướng Uây-en tổng tư lệnh quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam và tướng Moc-gan Rô-dê-bu-ruph, tư lệnh lục quân Mỹ, bước lên sân khấu, đội lính kèn chuyên thổi thuê của không quân Sài Gòn thổi tò te một điệu hành khúc Hoa Kỳ. Rô-dê-bu-ruph liếc nhìn thượng cấp rồi bước tới ba bước. Y nói lí nhí một vài câu gì đó và đưa hai bàn tay run run đỡ lá cờ cuốn lại, bỏ vào chiếc bao da mà viên sỹ quan hầu cận đã mở sẵn. Một linh mục tuyên uý mắt sùm sụp, mặc lễ phục đen tuyền, vác cây thánh giá bước lên sân khấu, quỳ xuống lầm rầm cầu Chúa: "Xin hãy tha thứ cho chúng con về những lỗi lầm đã phạm phải trong nỗ lực để đi đến kết thúc hôm nay!" Đội lính kèn lại thổi một bài nữa. Đại tướng Uây- en chẳng nói chẳng rằng lặng lẽ quay đi. "Khán giả" đứng dậy, chấm hết.

        Buổi hạ cờ quân đội Mỹ vào hôm 29-3 lại còn tẻ nhạt hơn. Chỉ có 42 quân nhân gọi là "danh dự" với đại sứ Bân-cơ và tường Uây-en. Đọc xong một bài từ biệt bằng tiếng Việt bập bà, bập bọng dài khoảng ba, bốn phút, tường Uây-en cũng lại cuốn cờ cho vào bọc da để đóng hòm chở về nước. Ông ta cùng 42 người lính hộc tốc đi thẳng ra máy bay, chuồn...

        Sau buổi lễ hạ cờ MAVC vài tiếng đồng hồ, tại một nơi chỉ cách "tiểu ngũ giác đài" có một hàng rào dây thép gai trong trại Đa vít, hai đoàn ta chiếu bộ phim tài liệu "Chiến thắng Điện Biên Phủ" vừa kịp mang từ Hà Nội vào. Bộ phim cũng kết thúc bằng một cảnh cuốn cờ. Một viên tướng của quân đội xâm lược cũng mặt buồn rười rượi, đỡ lá cờ ba sắc vừa hạ trên đỉnh cột cờ thành 'Hà Nội xuống gập lại, bỏ vào hòm để đưa về nước...

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/3l-Cuoncovenuoc2.jpg)
Cuốn cờ về nước

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/3l-Cuoncovenuoc.jpg)


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Ba, 2012, 09:25:37 pm

        KHÔNG NGĂN CHẶN ĐƯỢC BƯỚC CHÂN LỊCH SỬ   

        Mỹ đâu có muốn ra đi. Những tên bán nước nhờ chiến tranh mà giàu sang phè phỡn lại càng không muốn Mỹ ra đi. Theo Mỹ, đi hành quân một trận, lính bỏ xác, nhưng tường tá lại thu về bạc triệu. Cho vợ đi "hữu nghị" với "đồng minh" một tối, sáng hôm sau đúng như gặp bụt trong cổ tích, ti-vi, máy lạnh, bột giặt, bơ sữa theo về. Đem những thứ ấy ra chợ giời bán lấy "đôla đỏ", rồi "đôla đỏ" đem đổi lấy "đôla xanh", gửi vào ngân hàng Brus-xen hay ngân hàng Thuỵ Sĩ...

        Có một điều rất mỉa mai là khi Ban Liên hợp quân sự bốn bên bàn việc giám sát Mỹ rút quân, người phản đối hăng nhất lại là một người, nói tiếng Việt, tóc đen, mũi tẹt. ông tường nhảy dù, trưởng đoàn Sài Gòn ấy nói:

        - Mấy ông đâu có cần giám sát, mấy ông chỉ cần quay phim, chụp ảnh để nói với thế giới là Mỹ thua Mỹ rút thôi.

        Hẳn là ông tướng Sài Gòn ấy đã có kinh nghiệm của một lần ra đi của quan thầy vào những ngày sau chiến thắng Điện Biên Phủ.

        Một ông tường Sài Gòn khác, trước là một thẩy cai khố đỏ, từng là bại tướng bị huyền chức sau trận Quế Sơn, thì gân cổ lên mà bào chữa cho việc Mỹ để lại 159 tên lính thuỷ lính bộ canh gác sứ quán ở Sài Gòn. Ông ta nói như hoá dại:

        - Đó là việc nội bộ của Hoa Kỳ với Việt Nam cộng hoà. Nếu cần, chúng tôi có thể để lại 300, 400...

        Đúng là tâm địa Việt gian!

 Mỹ không thể không đi nhưng Mỹ lần chần, cố kéo dài ra được phút nào hay phút ấy.

        Ngày 21-3, tường Gil-bớc Út-uốc, trưởng phái đoàn Mỹ trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên, thông báo cho phía chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt nam rằng số 5.498 nhân viên quân sự Mỹ cuối cùng sẽ rút khỏi miền 'Nam Việt Nam vào cuối ngày 25-3-1973. Nhưng đến 9 giờ 30 phút ngày hôm sau (22-3) Mỹ đột nhiên lật ngược tất cả những gì đã hứa hẹn hôm trước. Đã không nói dứt khoát ngày nào thì rút hết quân, Mỹ lại lờ tịt số trên 1.000 nhân viên quân sự của họ làm việc trong Ban liên hợp quân sự. Ngày 24-3, trung tường Trần Văn Trà đưa cho Gil-bớc Ut-uốc bức công hàm. Xin trích dưới đây một đoạn trong công hàm lịch sử ấy:

        "Đoàn đại biểu quân sự chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam yêu cầu.phía Hoa Kỳ phải hoàn thành nghiêm chỉnh việc rút quân đúng thời hạn 60 ngày như hiệp định và nghị định thư đã quy định mà không có một ngoại lệ nào. Yêu cầu cụ thể của chúng tôi là:

        a- Việc rút quân của Hoa Kỳ và các đồng minh khác của Hoa Kỳ và Việt Nam cộng hoà đợt cuối cùng phải bắt đầu từ 26-3-1973 và hoàn thành vào ngày 28-3-1973.

        b- Số nhân viên quân sự Hoa Kỳ trong Ban liên hợp quân sự bốn bên phải rút hết trước 08 giờ ngày 29-3-1973. Sau thời hạn 60 ngày, ở miền Nam Việt Nam chỉ còn có một Tổ liên hợp bốn bên làm nhiệm vụ tìm kiếm những người chết và người mất tích. Chúng tôi không thể chấp nhận việc để lại 159 lính thuỷ đánh bộ canh gác sứ quán Hoa Kỳ ở Sài gòn vì điều đó trái với Hiệp định Paris và quy chế ngoại giao quốc tế.

        Không biết Mỹ bàn bạc gì với nhau mà mãi tới hai giờ sáng ngày 25-3 mới tục sục đến gõ cửa để trao công hàm. Vẫn loanh quanh luẩn quẩn trong cái kiểu "hoà bình trong danh dự" của Ních-xơn, nhưng cuối cùng phải nhận... xin rút.

        Ngày 27-3, Mỹ rút tất cả 11 chuyện tại sân bay Tân Sơn Nhất. Họ thông báo cho tổ giám sát của Ban liên hợp quân sự là sẽ kết thúc vào lúc 18 giờ 30. Thế nhưng đến tận 22 giờ mới xong được chuyến thứ mười. Chuyến thứ mười một bắt đầu vào lúc 23 giờ, lính Mỹ đang lên máy bay thì đột nhiên có lệnh từ đâu đó truyền xuống: "dừng lại".

        Một sỹ quan Việt Nam dân chủ cộng hoà hỏi trung tá Permire của Mỹ:

        - Tại sao dừng lại, ai ra lệnh?

        - Dạ... Tôi cũng không biết nữa! Permire trả lời.

        - Đề nghị trung tá xin chỉ thị của cấp trên ngay và có sự giải thích rõ ràng.

        Permire chạy ngược chạy xuôi, một lát y quay lại nói:

        - Dạ.., theo quy định của không quân Mỹ thì trẻ con đi máy bay quân sự phải có những chiếc rọ để treo lên. Chúng tôi đang cho người quay về trại Al-pha để tìm sáu cái rọ cho sáu đứa trẻ đi trong chuyến này.

        Một đại uý Sài Gòn sốt ruột quá cằn nhằn:

        - Gớm không biết lúc nào mới tìm được mấy cái rọ đây!

        Đồng chí Diễn, sỹ quan của chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam vỗ vai anh ta:

        - Chịu khó tý. Nhìn cảnh Mỹ rút quân thế này người Việt Nam mình không ăn cũng no.

        Viên đại uý Sài Gòn nói:

        - Người Hoa Kỳ họ khoa học chứ đâu có thế này. Lình xình quá!

        - Họ còn muốn lình xình hơn nữa cơ - đồng chí sỹ quan cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam vui vẻ nói - Họ đâu có muốn rút. Nhưng lình xình thì lình xình rồi cũng phải chuồn. Không ai ngăn nổi bước chân của lịch sử đâu.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Ba, 2012, 09:28:09 pm

   DÁNG ĐỨNG VIỆT NAM

        Ngày 29-3, tôi đã có vinh dự được cùng với các sỹ quan của hai đoàn đại biểu quân sự Việt Nam dân chủ cộng hoà và Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam đến sân bay Tân Sơn Nhất giám sát toán quân xâm lược Mỹ cuối cùng rút khỏi miền Nam. Đứng giữa sân bay, tự nhiên tôi bỗng nhớ Lê Anh Xuân và bài thơ của anh: Dáng đứng Việt Nam. Không biết người anh hùng vô danh, người anh hùng có dáng đứng Việt Nam, dáng đứng hiên ngang mà Lê Anh Xuân nói đến trong bài thơ đã đứng ở chỗ nào trên sân bay này? Chưa bao giờ tôi thấy niềm tự hào dân tộc trong tâm hồn tôi dấy lên mãnh liệt như lúc này. Kẻ thù xâm lược chưa quỳ gối đầu hàng, bóng đen của chủ nghĩa thực dân mới còn đè nặng một phần Tổ quốc, lá cờ sọc nhơ nhớp, ký hiệu của bọn Việt gian hết ôm chân Pháp đến ôm chân Mỹ vẫn còn đó. Nhưng.., bọn xâm lược hùng mạnh và tàn ác nhất trên thế giới đó phải cuốn gói ra đi trong khi Hiệp định Paris công nhận quyền độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và đội quân giải phóng hùng mạnh đang tồn tại và không ngừng phát triển.

        Toán lính Mỹ thứ nhất rút trong buổi chiều ngày 29-3 bắt đầu đi. Chiếc máy bay vận tải hạng nặng C141 của Bộ chỉ huy không quân Mỹ mang phù hiệu tia chớp đã nổ máy. Ba chiếc xe buýt chở 95 lính và sỹ quan đến chỗ cách máy bay 50 mét. Trung tá Slớt-ka của Mỹ trao cho thiếu tá Đoàn Văn Diễn của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam một tập giấy đánh máy:

        - Thưa thiếu tá, đây là bản danh sách.

        Thiếu tá Diễn cùng các sỹ quan của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà xem xét cẩn thận.

        - Đề nghị trung tá Slớt-ka cho chúng tôi biết số quân rút trong chuyến này thuộc binh chủng nào và đơn vị nào?

        - Thưa, họ thuộc quân số của MACV, gồm đủ hải, lục, không quân.

        - Viên sỹ quan cao cấp nhất trong chuyến này là ai, cấp bậc gì?

        - Thưa là trung tướng, tên ông là Rô-dê-bu-ruph.

        Thiếu tá Diễn trao bản danh sách lại cho trung tá Slớt-ka và bảo ông ta cho lính trên xe xuống xếp hàng để lên máy bay.

        Chúng tôi đứng cạnh cửa máy bay, đếm cẩn thận từng tên lính Mỹ, trong khi các anh Bùi Duy Ly, Lâm Tấn Tài, Nguyễn Khả, từ các góc độ thuận lợi nhất, đưa máy ảnh, máy quay phim lên ghi lấy những hình ảnh cuối cùng của đội quân xâm lược đang rút lui.

        Giám sát chuyến thứ nhất xong, chúng tôi quay lại tìm các sỹ quan Sài Gòn để trao đổi ý kiến với họ thì chẳng thấy đâu cả. Té ra họ đã bỏ ra ngoài trốn nắng dưới cánh một chiếc máy bay Bô-inh 747. Một người ngồi nhai kẹo cao su, còn một người gục mặt trên hai đầu gối. Anh ta ngủ hay đang nghĩ điều gì?

        Nguyễn Ái Quốc! Nguyễn Ái Quốc!

        Tổng thống Mỹ Ních-xơn hễ nhắc đến Việt Nam là không quên nhắc kèm câu "hoà bình trong danh dự". Những lính Mỹ ngồi tù ở Hà Nội trở về đang được thốt lên thành anh hùng cũng không ngoài mục đích củng cố thứ "hoà bình trong danh dự" ấy.

        Khốn nỗi, lính Mỹ vừa thoát chết đang sướng như điên lại chỉ chịu phô ra những sự thật cay đắng, bôi tro trát trấu lên lời văn hoa mỹ của tổng thống họ. Có lần ngồi máy bay lên thẳng liệng thấp trên một căn cứ Mỹ ở vùng phụ cận Sài Gòn, tôi thấy trên.nóc một căn nhà có dòng chữ sơn trắng nét rất to "GOODBYE CRIMES" (giã từ tội ác). Tôi hỏi người lính phụ lái, anh ta bảo:

        - Bọn "bồ câu nó viết đấy!

        - Những người ấy có đông không?

        - Cũng khá đông.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/084.jpg)
Chụp ảnh lưu niệm với phi hành đoàn PANAM Tại Tân Sơn Nhất. Phi hành đoàn có
nhiệm vụ đưa những tên lính Mỹ cuồi cùng ra khỏi Việt Nam


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Ba, 2012, 10:01:33 pm
        Giữa sân bay Tân Sơn. Nhất hôm ấy, tôi gặp anh lính Mỹ da đen O-li-vơ nét mặt hễ hả, tay nâng ngang ngực một chiếc gậy như kiểu đang chào mọi người. Nhìn kỹ tôi thấy đầu chiếc gậy gọt hình một chữ SHORT (có nghĩa là ngắn); trên thân gậy có viết một câu bằng sơn tim "Tây Ninh dưới hoả lực rốc két". O-li-vơ nói với tôi:

        - Đối với hầu hết chúng tôi, sang chiến đấu ở Việt Nam là một điều bất hạnh. Ai cũng muốn sao cho thời gian mình ở Việt Nam ngắn nhất, càng ngắn bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Có một người nào đó đã làm ra chiếc gậy này, người đó đã về Mỹ hay đã chết, không biết. Chiếc gậy được trao tay một người khác, rồi một người khác, cứ thế mãi cho đến tôi là người cuối cùng. Tôi hạnh phúc nhất, tôi chỉ ở Việt Nam có năm tháng rưỡi, tôi không bỏ xác lại đây. Tôi có vợ và hai con hiện ở bang Vớc-gi-ni-a, thưa ông, đáng lẽ người Mỹ không nên đến đây...

        Câu chuyện với anh James Gordan, một nhân viên dân sự Mỹ 44 tuổi, quê Ở bang Pan-xin-va-ni-a, còn ngộ hơn nữa. Gordan cũng về nước trong một chuyến với Ô-li-vơ. Trông thấy chúng tôi đi qua anh ta hỏi:

        - Ông có biết ông Nguyễn Ái Quốc không?

        Sau một thoáng ngạc nhiên, một sỹ quan ta hỏi lại:

        - Sao ông biết ông Nguyễn ái Quốc?

        Gordan trả lời bằng tiếng Việt bập bẹ:

        - Tôi biết mà, tôi đọc nhiều lắm!

        Một sỹ quan gỡ chiếc huy hiệu Bác Hồ gài trên ngực áo đưa tặng Gordan:

        - Tôi tặng anh tấm hình ông Nguyễn Ái Quốc.

        Anh ta đặt chiếc túi xách xuống đất, đưa cả hai bàn tay đỡ lấy tấm huy hiệu:

        - Trời ơi! Nguyễn Ái Quốc! Nguyễn Ái Quốc! Tôi cảm ơn ông quá!

        Gordan sung sướng nước mắt rơm rớm. Im lặng một lúc ngắm hình Bác rồi anh ta ngước lên nói tiếp bằng tiếng Anh:

        - Nguyễn Ái Quốc tượng trưng cho hoà bình toàn thế giới.

        Hình như sợ chúng tôi không hiểu, anh ta chuyển sang nói tiếng Việt:

        - Nguyễn Ái Quốc chiến đấu để cho nước Việt Nam không phải của người Pháp, không phải của người Nhật, không phải của người Mỹ. Việt Nam của người Việt Nam.

            - Khi nghe tin ông Nguyễn ái Quốc mất cảm tưởng của ông thế nào? Một sỹ quan ta hỏi:

        - Tôi khóc dữ lắm, khóc dữ lắm - Gordan nói - Hai ngày liền tôi không đi làm. Người Việt Nam làm việc cho Mỹ Ở Ba Ngòi cũng không đi làm, khóc.

        Từ giã chúng tôi để lên máy bay, Gordan vừa đi vừa ngắm nhìn Bác Hồ, miệng lẩm bẫm hoài: "Nguyễn Ái Quốc! Nguyễn Ái Quốc!"



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Ba, 2012, 10:04:38 pm

        Nói chuyện với Việt Cộng

        Lúc ấy vào khoảng ba giờ chiều. Chúng tôi đang chờ đế giám sát chuyến rút quân Mỹ cuối cùng thì thấy ở đầu bên kia đường băng có cái gì như một cuộc biểu diễn của gánh xiếc rong. Người ta căng dù, bủa dây, dựng lên hai lá cờ, một cờ Mỹ và một cờ sọc Sài Gòn, lại nghe i oe có tiếng kèn đồng. Tôi hỏi một viên đại uý Sài Gòn, anh ta trả lời: -

        - Bữa nay chánh phủ với đồng bào các giới đón tổng thống Việt Nam cộng hoà công du Hoa Kỳ về.

        Tôi biết là Thiệu đến đầu tháng 4 mới đi Mỹ, nhưng vẫn hỏi thêm:

        - Ông ta đi Hoa Kỳ sao mà nhanh vậy?

        Viên sỹ quan Sài Gòn được dịp ba hoa:

        - Tổng thống sang bảo Ních-xơn việc gì đó rồi về ngay lập tức thôi mà. Với lại, phương tiện của tụi tui hiện đại lắm, đi về mấy chút!

        Ngay lúc ấy, tôi thấy một đám người nước ngoài chạy ùa về phía chúng tôi. Họ ăn mặc đủ kiểu, một đôi người râu tóc bờm xờm, người nào cũng lỉnh kỉnh những máy ảnh, máy quay phim, máy ghi âm. Tôi biết họ là đội quân nhà báo.

        Người chạy đến nhanh nhất là một phóng viên của hãng vô tuyến truyền hình Mỹ CBS. Anh ta đã có dịp gặp tôi một vài lần. Tôi bắt tay anh và hỏi:

        - Hôm nay các bạn được đến gặp chúng tôi dễ dàng thế này cơ à?

        - Đâu có - anh phóng viên CBS vừa trả lời, vừa rút khăn lau mồ hôi - Họ cho tụi tôi đến chỗ kia- anh chỉ đám cờ quạt- tướng Uây-oen và tướng Cao Văn Viên đang nốc sâm banh bên đó. Thấy nhạt trò quá, tụi tôi bấm nhau: "Sang gặp Việt cộng nói chuyện đi!" Thế là kéo đến đây hết. Nào các vị nói đi!

        Loáng một cái, chúng tôi đã bị vây chặt vào giữa một đám đông nghịt các nhà báo. Các ống thu máy ghi âm chĩa vào tua tủa. Một sỹ quan ta nói lớn bằng tiếng Pháp:

        - Chào các bạn. Thế là chúng tôi bị bao vây rồi. Nhưng đây là vòng vây hoà bình. Xin cảm ơn các bạn!

        Câu hỏi dồn đến tới tấp, bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Việt.

        Một nữ phóng viên của tờ "Tạp chí kinh tế Viễn Đông" vừa chen vừa hét lên:

        - Hôm nọ tướng Trà ưu tiên cho phụ nữ hỏi trước, hôm nay cũng xin quý vị cho tôi hỏi trước.

        Một phóng viên Nhật chậm chân phải đứng ở vòng ngoài. Anh ta vừa đưa cái cần dài ống thu máy ghi âm vào vừa nói to:

        - Xin quý vị ưu tiên cho phóng viên láng giềng nhé!

        Đồng chí sỹ quan đã lần lượt trả lời từng câu hỏi. Anh nói to để át tiếng máy bay, giọng anh càng sang sảng:

        - Đây là một thắng lợi vô cùng to lớn của dân tộc tôi! Trên một trăm năm nay, lần đầu tiên đất nước Việt Nam sạch bóng quân xâm lược.

        - Ông đang nghĩ gì lúc này? - Một nhà báo Pháp hỏi.

        - Tôi nghĩ đến đất nước tôi, dân tộc tôi và đồng đội của tôi. Khi trên nửa triệu quân Mỹ kẻo vào, họ không hề nghĩ rằng ngày họ ra đi lại có chúng tôi đứng đây để giám sát. Chính cuộc chiến đấu anh hùng của dân tộc Việt Nam được sự ủng hộ của mọi người lương thiện trên trái đất mà có thắng lợi hôm nay. Cả các bạn nữa, chúng tôi cũng xin cảm ơn các bạn đã đến đây để chia vui với chúng tôi.

        Bọn quân cảnh Sài Gòn mà các nhà báo phương Tây thường gọi là "ngáo ộp tí hon" hôm nay đứng im thin thít. Vài ba đứa ác ôn và tên đại uý ngụy chạy lăng xăng một lúc rồi quay ra đứng dưới cánh máy bay nhìn hằn học. Còn mấy anh lính trẻ khoái quá cứ xáp mãi vào để nghe cho rõ hơn.

        Lúc chia tay, một nhà báo Ý quen biết đã nắm chặt tay tôi:

        - Xin chúc mừng anh. Không phải trên trái đất này ai cũng có vinh dự như các anh.

        Một người Phi-lip-pin làm việc cho một hãng truyền hình Mỹ thì chạy đến quàng vai tôi nói khẽ: Tôi ghen với anh đấy.

        - Nhưng anh vui mừng với chúng tôi chứ? - Tôi hỏi.

        - Ô tất nhiên rồi! - Anh bóp mạnh vai tôi - Tôi ở Việt Nam đã sáu năm. Tôi biết Mỹ không thể nào thắng nỗi các anh.

        - Nhưng cuộc chiến đấu của chúng tôi còn...

        Anh bạn Phi-lip-pin không đế cho tôi nói hết, anh chỉ lên ngọn cờ sọc đang quằn quại trên nóc lô cốt trước mặt rồi chỉ xuống đất và đưa chân dẫm mạnh vào chỗ đất vừa chỉ. Sau đó anh chỉ vào quân hiệu tôi và chỉ lên nóc lô cốt. Tôi hiểu. Lá cờ bán nước giơ bẩn ấy nhất định sẽ bị dẫm xuống dưới chân và lá cờ đại nghĩa của chúng ta nhất định sẽ tung bay trên miền Nam hoàn toàn giải phóng. Không chỉ chúng ta, cả thế giới đều chung một niềm tin ấy.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/082.jpg)
Họp báo chớp nhoáng bên cạnh chiếc máy bay C141 chuẩn bị cất cánh đưa những
tên lính mỹ cuối cùng ra khỏi miền Nam Việt Nam


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Ba, 2012, 10:08:05 pm

        16giờ 45 phút, giờ Hà Nội

        - Thưa các vị, chuyến cuối cùng sắp bắt đầu.

        Trung tá Slớt-ka nói với chúng tôi. Lúc ấy là 16giờ. Ba chiếc ô tô chở 95 lính Mỹ cuối cùng đến đỗ cạnh chiếc máy bay C141 năm mươi mét. Chiếc máy bay đồ sộ có phù hiệu sấm sét và chòm sao bạc tượng trưng "sức mạnh vô địch" của không lực Hoa Kỳ rất tiếc lại dùng vào việc chở quân rút ra khỏi một cuộc chiến tranh mà phía có sức mạnh vật chất ghê gớm đã thất bại. Slớt-ka đưa trình danh sách. Không đợi chúng tôi hỏi, ông ta đã nói:

        - Thưa trong chuyến này vẫn là quân của MACV, có ba đại tá. Đại tá Hem-ma, đại tá O-đeo và đại tá Nân-đoóc, Tư lệnh căn cứ Tân Sơn Nhất.

        Đội quân nhà báo lại quây chật chúng tôi và cánh cửa máy bay. Tất cả ống kính chĩa vào đợi ghi lấy hình ảnh về tên lính Mỹ cuối cùng rút khỏi Việt Nam.

        Chúng tôi đứng thành một hàng ngang, các sỹ quan Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đeo quân hiệu sao vàng trên nền nửa đỏ, nửa xanh, đứng liền bên cạnh sỹ quan Việt Nam dân chủ cộng hoà lấp lánh quân hàm và huân chương chiến thắng.

        Lính Mỹ xuống xe là cắm đầu cắm cỗ chạy vội lên máy bay. Chúng muốn thoát cho nhanh ra khỏi tầm nhìn của chúng tôi, những đại biểu của lực lượng vũ trang yêu nước đã chiến thắng.

        Tên lính Mỹ đi sau rốt là tên cai Bi-li-cơ: Một sỹ quan ta bắt tay hắn, trao tặng hắn tấm mành trúc có hình chùa Một Cột, tập ảnh nói về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch. Hắn cầm tặng phẩm, bắt tay, mắt mở to thao láo vì kinh ngạc.

        Một nhà báo phương Tây hỏi tôi:

        - Tôi không hiểu. Theo tôi biết thì họ là kẻ thù của các ông. Họ đã tàn phá đất nước các ông?

        - Vâng - Tôi trả lời - Đúng họ là kẻ thù của chúng tôi. Nhưng thưa ông, khoan dung độ lượng là một mặt khác trong tính cách của dân tộc Việt Nam. Cha ông chúng tôi xưa từng cấp lương thực, xe, ngựa cho bọn xâm lược đã quy hàng để chúng về nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng tôi cũng đã có lần nói: "Nếu bọn xâm lược Mỹ chịu rút, chúng ta sẽ trải thảm đỏ cho chúng đi".

        - Một khám phá mới, một khám phá mới! Dân tộc các ông thật là vĩ đại - Nhà báo hét to.

        Giữa lúc ấy tôi thấy hai người ngật ngưỡng đi tới cửa máy bay, cả hai ôm nhau loạng choạng, mặt đỏ gay. Một tên bán nước đầu trọc lóc, mắt ti hí, có cái tên thêu trên ngực áo là "Ngưu", đại tá cảnh sát Sài Gòn. Tên Mỹ xâm lược là tên đại tá O-deo. Đến chân cầu thang máy bay, hai đứa ôm hôn nhau lần cuối. Nhìn bọn sỹ quan Sài Gòn đứng gần đó, tôi thấy họ đều ngoảnh mặt đi. Ô-deo bỏ lại tên Ngưu, bước lên cầu thang và mất hút vào trong. Cánh cửa máy bay sập xuống. Thế là tên lính Mỹ cuối cùng đã rời khỏi miền Nam. Tôi nhìn đồng hồ, đúng 16 giờ 45 phút, giờ Hà Nội.   .
       


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Ba, 2012, 06:52:02 am

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/080.jpg)
Những tên lính Mỹ cuối cùng rút về nước ngày 29-3-1973

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/3d-TrungtaNguyenKha-nguoidaghilaicanhlinhMyvenuoc.jpg)
Trung tá Nguyễn Kha - người đã ghi lại cảnh những tên lính Mỹ cuối cùng về nước



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Ba, 2012, 06:54:39 am

Quân Nam Hàn rút khỏi miền Nam Việt Nam

Nguyễn Như Kim             
         Nguyên trưởng đoàn TTX VN tại Ban LHQS 4 bên
       
   Theo kế hoạch, 9 giờ sáng ngày 14-3-1973 các tổ sĩ quan liên lạc của bốn bên có mặt tại sân bay Tân Sơn Nhất để đi Nha Trang chứng kiến và kiểm tra việc gần 200 sĩ quan và binh lính Nam Triều Tiên cuối cùng rút khỏi miền Nam Việt Nam như quy định của Hiệp định Paris.

   Tôi cùng anh Nguyễn Kha và một sĩ quan nữa, cả 3 người đều là phóng viên báo chí thuộc Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) , Xưởng phim quân đội và báo Quân đội nhân dân (QĐND). Chúng tôi là tổ sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam (QĐNDVN). Sở dĩ cả ba chúng tôi đi đều là nhà báo vì ngoài nhiệm vụ kiểm tra, giám sát ra chúng tôi còn làm tin, viết bài gửi ra Hà Nội cho các cơ quan báo chí tuyên truyền về việc lính chư hầu Nam Triều Tiên cút về nước (!)

   Tổ sĩ quan QĐNDVN và tổ Mỹ đi cùng một máy bay, tổ sĩ quan Quân Giải phóng và tổ quân đội Sài Gòn đi một máy bay. Đây là loại máy bay UH-1 dùng cho các sỹ quan Mỹ-ngụy đi đốc trận. Máy bay nhỏ, chỉ đủ chỗ cho hai viên phi công Mỹ và 6 người ngồi dọc theo thân máy bay. Rời Tân Sơn Nhất, máy bay tăng độ cao làm mọi người ù hết cả tai! Khi đã lên đến độ cao gần 2 km rồi, máy bay bay thăng bằng với tốc độ trên dưới 300 km/giờ . Khoảng một tiếng sau máy bay hạ độ cao và khi gần đến sân bay Nha Trang nó bay rất thấp. Tôi ngó qua cửa sổ máy bay ngắm nhìn làn nước xanh trong của biển Nha Trang, bãi cát trắng tinh dọc ven biển và những chiếc canô sơn trắng đang chạy rẽ nước. Nhìn mảnh đất này, nhớ lại những bài báo đã đọc của Sài Gòn và phương Tây viết về vùng đất mà ta gọi là "Khu 6 gian lao" tôi nhớ tới các đồng nghiệp của mình suốt 3 tháng ròng hành quân bộ dọc theo dải Trường Sơn vào tới khu 5 rồi tiếp tục đi về phía Nam tới miền tây Phú Yên , Khánh Hòa để hoạt động thông tin , tuyên truyền cho khu 6 trong bão đạn, mưa bom, đói khát, bệnh tật và sốt rét…

   Hai máy bay hạ xuống sân bay Nha Trang trước sau một lát. Đón chúng tôi là Phạm Đình Cẩn , trung tá quân đội Sài Gòn và một sỹ quan Mỹ. Họ mời chúng tôi tới chỗ chiếc máy bay Boeing đang đậu gần đó để kiểm tra và giám sát 185 sĩ quan và binh sĩ Nam Hàn. Chúng tôi cự nự: "Tại sao không cho chúng tôi kiểm tra ở dưới sân bay trước khi lên máy bay?"

        Hai sĩ quan liên lạc phía bên kia giải thích: "Vì quý vị ra muộn quá, chiếc phi cơ này chỉ còn rất ít thời gian là phải rời sân bay nên xin mời các quý vị giám sát số còn lại. Bây giờ mời quý vị lên ngay máy bay kiểm tra rồi đếm tại chỗ luôn thể…"

   Đã thế này thì chúng tôi chỉ còn cách trèo lên máy bay, chia nhau ra mỗi người đếm một bên rồi cộng lại cho đủ 185 tên. Khi chúng tôi đi dọc các hàng ghế phỏng vấn một vài tên về đơn vị và vũ khí. Họ trả lời giống nhau và nói họ không mang vũ khí rời Việt Nam theo quy định của Hiệp định Paris (!) Như vậy  đã rõ họ để lại vũ khí cho quân đội Sài Gòn (?!)

   Kiểm tra xong chúng tôi xuống sân bay và trao đổi với các thành viên của LHQS 4 bên ngaycạnh máy bay và ký biên bản bàn giao.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Ba, 2012, 11:07:32 am
        Trông những binh lính Nam Hàn lúc này không còn hùng hổ như khi xưa họ kéo đến vùng đất miền Trung với những cái tên "Sư đoàn Mãnh Hổ", sư đoàn Rồng Xanh…" và chuyên sử dụng võ Karate cùng đòn phục kích để uy hiếp đối phương. Nhìn đám quân bại trận rút khỏi miền Nam Việt Nam trong tay không còn một thứ vũ khí, thay vào đó là những đồ mỹ nghệ , đồ sứ và hải sản Nha Trang mà thấy buồn cho đội quân chư hầu của Park Chung Hee.

        Những năm qua các đơn vị " Ngựa trắng", "Rồng xanh" , "Mãnh hổ" của chúng đã bị quân dân khu 6 đánh cho tan tác. Võ Karate của chúng không cứu được bọn xâm lược, càng về sau võ Bình Định, Phú Yên đã quật ngã Karate của Nam Hàn.

        Chiếc Boeing nổ máy rời đường băng sân bay Nha Trang lao ra biển Đông lúc 12 giờ trưa ngày 14-3-1973, kết thúc sự có mặt của đội quân chư hầu đánh thuê cuối cùng cho Mỹ ở Miền Nam Việt Nam.

        Trung tá Ngụy Sài Gòn Phạm Đình Cẩn mời cả bốn đoàn vào phòng khách sân bay ăn bữa trưa bằng khẩu phần ăn “C” của quân đội Mỹ. Khẩu phần đó gồm một hộp nước quả, một gói bánh cứng, một thỏi chocolate, một chiếc bánh xốp, một hộp thịt băm, pho mát, một gói thuốc lá 4 điếu, kèm theo một gói cà phê nhỏ, cùi dìa nhựa, chút cream đặt lên mặt tách cà phê và một miếng giấy lau tay. Ngoài khẩu phần “C” ra, trung tá Cẩn còn đích thân mở các lon lave và bia nhẹ rót ra cốc mời mọi người uống giải khát.

        Qua trò chuyện , tôi được biết Phạm Đình Cẩn lúc đó 53 tuổi, người Khánh Hòa, y khoe có họ hàng với vợ Nguyễn Văn Thiệu. Trước Cách mạng tháng 8, Cẩn làm việc tại Sở Công chính Nha Trang nên anh ta có biết các đồng chí Trần Đăng Khoa, Đặng Phúc Thông (Bộ trưởng và Thứ trưởng Giao thông công chính), biết đồng chí Nguyễn Minh Vỹ, và Nguyễn Văn Chi. Sau Cách mạng tháng 8 y tham gia Việt Minh, ít lâu sau bỏ Việt Minh theo quân đội ngụy của Pháp. Qua câu chuyện tôi có cảm giác Cẩn là một viên sỹ quan già , chán thời cuộc, cầu an không hăng hái như đám sĩ quan trẻ của Sài Gòn. Cũng qua trò chuyện với Cẩn tôi được biết trung tướng ngụy Ngô Du chuyên buôn lậu quế từ Quảng Nam về Sài Gòn, trung tướng ngụy Nguyễn Văn Toàn, tư lệnh quân khu 2, phạm tội hiếp dâm nhưng được Thiệu che chở nên thoát tội.

        Ngồi chờ máy bay rời Nha Trang tôi viết vội đôi vần thơ ghi lại cảm xúc khi đến mảnh đất này.

                        Nha Trang ơi, Nha Trang!
                        Ta đến với người một ngày nắng lửa
                        Biển xanh lao xao chạy dài ven thành phố
                        Gió lộng tự khơi xa thổi vào
                        Xua đám bại quân Nam Hàn lố nhố ra đi
                        Chúng tiu ngỉu cuốn cờ về nước!
                        Đáng kiếp lũ đánh thuê chư hầu xâm lược
                        Đây Nha Trang! Đây Nha Trang!
                        Từ nay sạch bóng quân thù…

   
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/081.jpg)
Những tên lính Nam hàn cuối cùng cuốn gói về nước tại sân bay Nha Trang


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Ba, 2012, 09:15:49 pm

NHỮNG KỶ NIỆM VỀ TRAO TRẢ TÙ BINH

Trần Tuấn Anh (Đặng Văn Biểu)             

         Nguyên thành viên Đoàn Đàm phán VNDCCH tại hội nghị Pari Nguyên phó Tiểu ban trao trả Đoàn đại biểu quân sự VNDCCH trong Ban liên hợp quân sự 4 bên Trung ương tại Sài gòn       

        Thời gian công tác tại Ban liên Hợp quân sự 4 bên tuy rất ngắn, nhưng với tôi là kỷ niệm rất đặc biệt.

        Có thể nói, nó là giai đoạn kết thúc của một quá trình khá lâu dài trong cuộc đời hoạt động của tôi có quan hệ mật thiết với "vấn đề tù binh"- một trong những vấn đề đấu tranh gay go, quyết liệt kéo dài giữa nhân dân ta với kẻ thù xâm lược.

        Thật vậy, tháng 6 năm 1954 chân ướt chân ráo về đến Đại đoàn 312 sau chiến dịch Điện Biên Phủ, tôi được Đại Đoàn cho biết vừa nhận được điện hoả tốc của Bộ Tổng Tư lệnh điều động tôi lên ngay để nhận công tác mới. Thế là tôi được điều về hội nghị Trung Giã với nhiệm vụ làm thư ký của Đoàn đại biểu Bộ Tổng Tư lệnh tại hội nghị này và sau đó tại Uỷ ban liên hợp Trung ương. Tại đây vấn đề trao trả tù binh giữa ta và Pháp là một trong những vấn đề đấu tranh khá phức tạp.

        Qua cuộc đấu tranh của ta trong thời kỳ này, tôi nhận thức được rằng việc trao trả tù binh là một cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt giữa người chống xâm lược và kẻ xâm lược cùng bọn tay sai của chúng. Kinh nghiệm của thời kỳ này rất quý báu cho "bộ phận tù binh" của chúng tôi trong cuộc đấu tranh ở hội nghị Pa-ri.

        Khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, tôi lần lượt được giao những nhiệm vụ có liên quan đến cuộc đấu tranh chống Mỹ. Năm 1969- 1970 tôi được cử sang Pháp tham gia đoàn đại biểu VNDCCH tại Hội nghị 4 bên.

        Giữa năm 1970 về nước được giao nhiệm vụ : Vụ phó Vụ Bắc Mỹ đặc trách "vấn đề tù binh"- trong đó có vấn đề giặc lái Mỹ bị bắt. Vào lúc này, cuộc đấu tranh về vấn đề tù binh diễn ra rất gay gắt giữa ta và Mỹ.

        Sau khi đắc cử, với bản chất hiếu chiến, Nixon đưa ra chính sách "Việt Nam hoá chiến tranh" mà trong đó Nixon chủ động khuấy mạnh vấn đề tù binh, cụ thể là vấn đề phi công Mỹ bị bắt giam ở miền Bắc Việt Nam. Trên bàn đàm phán chúng thực hiện chính sách "thương lượng trên thế mạnh", giữ thái độ cứng rắn, đưa ra những yêu sách vô lý- Chúng trắng trợn xuyên tạc vu cáo Việt Nam đối xử độc ác với tù binh Mỹ như tra tấn, đánh đập, không cho ăn uống đầy đủ, không cấp thuốc khi tù binh bị ốm đau, buồng giam chật chội, tối tăm mất vệ sinh v.v... Chúng nêu lên tình cảnh như là các phi công Mỹ phải sống rất đau khổ cả về thể xác và tinh thần.

        Ở trong nước Mỹ, Nixon phát động những phong trào "tưởng nhớ tù binh" hết sức rầm rộ- Tổ chức một phong trào viết và gửi kiến nghị cho chính phủ Việt Nam, tổ chức cho các gia đình tù binh đến gặp đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài để hỏi tin tức tù binh- Chúng xuyên tạc Việt Nam không thi hành công ước quốc tế về tù binh, đòi hỏi để các Hội chữ thập đỏ quốc tế đi kiểm tra các trại tù binh ở Việt Nam v.v...

        Làm những việc trên, chúng cố tạo nên hình ảnh bi thảm của tù binh Mỹ ở Việt Nam. Mưu đồ của Nixon là lợi dụng tình cảm của nhân dân Mỹ nhằm lái dư luận Mỹ vào chống Việt Nam - Nếu dư luận Mỹ hướng mạnh vào chống VN thì nhân dân Mỹ sẽ nương nhẹ, hoặc có thể bỏ qua những hành động tăng cường và mở rộng chiến tranh xâm lược của chúng ở Việt Nam và Đông Dương. Và mặt khác, chúng còn hòng gây sức ép buộc ta phải thả tù binh Mỹ không điều kiện để chúng dễ bề thực hiện "Việt Nam hoá chiến tranh", lấy được tù binh Mỹ về mà không cần có giải pháp chấm dứt chiến tranh.

        Trong một hai tháng đầu, nhờ vào hệ thống truyền thông hiện đại, chiến dịch xuyên tạc nhằm bôi nhọ Việt Nam và đánh lạc hướng dư luận của Nixon có phần nào đạt kết quả. Dư luận thế giới có phần băn khoăn nghi hoặc, phong trào nhân dân Mỹ phản đối chiến tranh có phần lúng túng.

        Nhưng chiến dịch "Vì tù binh Mỹ" của Nixon dựa vào sự xuyên tạc và vu cáo nên khi sự thật được bày tỏ thì thủ đoạn đó mất tác dụng.

        Chính sách nhân đạo với tù binh của Việt Nam đã được thực hiện rất có hiệu quả trong nhiều thời kỳ trước đây chống quân xâm lược đông đúc hùng mạnh. Đến thời đại Hồ Chí Minh đã nâng chính sách nhân đạo này lên một tầm cao mới. Những tù binh Pháp sau khi được thả về nước thực sự trở thành lực lượng có vai trò nổi bật trong phong trào phản đối cuộc chiến tranh bẩn thỉu của thực dân Pháp ở Đông Dương.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Ba, 2012, 09:16:27 pm
        Trong cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam, đế quốc Mỹ đã áp dụng những biện pháp chiến tranh cực kỳ tàn bạo, đầy tội ác. Chính phủ và nhân dân Việt Nam vẫn thực hiện chính sách nhân đạo đối với các phi công Mỹ bị bắt dù họ phạm những tội ác vô cùng dã man với nhân dân Việt Nam. Mặc dù đất nước Việt Nam đang bị tàn phá khốc liệt, những thứ cần thiết phục vụ cho đời sống rất thiếu thốn nhưng Việt Nam vẫn cố gắng bảo đảm sức khỏe và đời sống mọi mặt bình thường nhất là mặt tinh thần, tình cảm cho các phi công Mỹ bị bắt.

        Chúng ta chủ trương mở một đợt đấu tranh, phối hợp với phong trào đấu tranh của nhân dân Mỹ để vừa vạch trần sự xuyên tạc vu cáo của Nixon, vừa gắn vấn đề thả tù binh Mỹ với rút hết quân Mỹ để tăng sức ép buộc Nixon phải sớm chấm dứt chiến tranh, rút hết quân đội Mỹ về nước song song với việc ta thả tù binh.

        Việt Nam sẵn sàng đón tiếp các đoàn và những nhân vật nổi tiếng đến Việt Nam tìm hiểu tình hình tù binh. Những đoàn đã đến, trong đó có đoàn phong trào hoà bình Mỹ, cựu Bộ trưởng tư pháp Mỹ Ram Sey Clard, chủ tịch hội ân xá quốc tế v v Họ vào thăm trại giam, gặp gỡ nói chuyện phỏng vấn tù binh Mỹ.

        Họ đều có nhận xét tốt về chế độ giam giữ và đối xử của ta với tù binh. Họ phát biểu trong các cuộc họp báo và viết đưa tin khá rộng rãi nên những tin đó truyền đi rất nhanh.

        Cũng thời điểm đó, bà Nguyễn Thị Bình trưởng đoàn đàm phán của chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam tại hội nghị Pa-ri liên tiếp đưa ra những tuyên bố, những điểm nói rõ thêm mà trong đó tập trung nêu rõ:

        + Chính phủ Hoa Kỳ phải rút hết quân đội Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, phải định rõ thời hạn cho việc rút hết quân Mỹ và quân các nước ngoài thuộc phe Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam.

        + Nếu chính phủ Hoa Kỳ đưa ra thời hạn rút hết quân thì các bên sẽ thoả thuận cùng một lúc về thể thức của 2 việc:

        a. Việc rút hết quân Mỹ và quân phe Mỹ một cách an toàn

        b. Việc thả hết quân nhân của các bên và dân thường bị bắt trong chiến tranh (bao gồm các phi công Mỹ bị bắt ở miền Bắc) để tất cả số người trên có thể sớm trở về với gia đình.

        Hai việc trên đây sẽ bắt đầu cùng một ngày và hoàn thành cùng một ngày.

        Thế giới và ngay trong nước Mỹ bình luận rất sôi nổi về tuyên bố của bà Nguyễn Thị Bình. Dư luận báo chí nhận xét rằng "đây là cơ hội hiếm có để Nixon có lối thoát", "chưa bao giờ Mỹ lại có vẻ bất lực và trơ trụi như bây giờ", "Nixon đã trở thành tù binh của vấn đề tù binh" v.v...

        Phong trào nhân dân Mỹ phản đối cuộc chiến tranh ở Việt Nam càng phát triển rộng rãi, mạnh mẽ.

        Nhiều cuộc mít tinh, biểu tình, hội thảo diễn ra ở khắp nước Mỹ, có cuộc đông tới nửa triệu người đòi Nixon đáp ứng những đề nghị thiện chí của bà Nguyễn Thị Bình.

        Tại thượng nghị viện Mỹ, liên tiếp trong nhiều ngày, nhiều thượng nghị sỹ đưa ra dự thảo nghị quyết đòi Nixon đưa ra thời hạn rút quân Mỹ về nước để tù binh Mỹ sớm được trở về.

        Ngày 25/1/1972, dưới sức ép của dư luận Mỹ, Nixon xuất hiện trên vô tuyến truyền hình để đối phó và trịnh trọng tuyên bố, trong đó có nội dung chủ yếu là "Trong vòng 6 tháng, sau khi đã đi đến một thoả thuận:

        - Chúng ta sẽ rút hết các lực lượng Mỹ và đồng minh ra khỏi Nam Việt Nam
       
        - Chúng ta sẽ trao đổi toàn bộ tù binh;

        - Sẽ có ngừng bắn trên toàn Đông Dương;
       
        - Sẽ có một cuộc bầu Tổng thống ở Nam Việt Nam".

        Như vậy là tuy chưa thật cụ thể, chưa đưa ra được thời điểm rút hết quân, nhưng đây là lần đầu tiên Nixon phải nói đến rút hết quân và rút trong vòng 6 tháng nhất là coi như phải chấp nhận rút quân và thả tù binh được tiến hành song song.

        Để tăng thêm sức mạnh tiến công tháng 2/1972, bà Nguyễn Thị Bình lại đưa ra một tuyên bố nhan đề: "Hai vấn đề then chốt trong 7 điểm được nói rõ thêm". Trong tuyên bố này nhấn mạnh: "Chính phủ Mỹ phải đưa ra một thời hạn dứt khoát cho việc rút hết toàn bộ quân đội, cố vấn, nhân viên quân sự, vũ khí, dụng cụ chiến tranh của Mỹ và của các nước ngoài thuộc phe Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam mà không kèm theo điều kiện gì. Thời hạn dứt khoát đó cũng là thời hạn trả hết quân nhân của các bên và dân thường bị bắt trong chiến tranh (bao gồm cả những người lái máy bay Mỹ bị bắt ở miền Bắc Việt Nam)".

        Thật là cụ thể, rõ ràng và dứt khoát- nó lại một lần nữa góp phần với nhân dân Mỹ đẩy mạnh phong trào phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam.

        Chính quyền Nixon càng bị lên án, càng bị thúc ép đã buộc phải đi vào thương lượng nghiêm chỉnh. Tuy còn nhiều thủ đoạn xảo quyệt, dùng cả biện pháp quân sự mạnh B52 tập kích chiến lược, nhưng cuối cùng phải chấp nhận ký hiệp định Pa-ri, cam kết chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân và nhận được toàn bộ số tù binh Mỹ bị ta bắt trên cả 2 miền Nam-bắc.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Ba, 2012, 09:18:45 pm

*

*         *

        Trong những tuần và những ngày cuối cùng trước khi diễn ra việc ký kết hiệp định Pa-ri, việc thương lượng về nội dung điều 8 về trao trả còn diễn ra gay go, quyết liệt. Phía Mỹ nêu yêu sách là tuy việc trao trả tù binh và rút quân được bắt đầu cùng một ngày nhưng trao trả tù binh phải kết thúc trước 2 tháng so với việc rút quân Mỹ. Phía Mỹ còn thoái thác trách nhiệm của mình đối với việc trao trả nhân viên quân sự Việt Nam.

        Chúng ta nghiên cứu vấn đề này rất kỹ để có thể khắc phục được những trở ngại cuối cùng, đáp ứng được các yêu cầu cơ bản lớn nhất của ta.

        Đó là Mỹ phải rút hết quân đội Mỹ trong vòng 60 ngày; Mỹ phải tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam.

        Chúng ta muốn có 1 văn kiện ký kết về vấn đề trao trả tù binh về tù dân sự để có cơ sở pháp lý buộc cả Mỹ và chính quyền Sài Gòn phải thực hiện, chống lại mọi hành động gây trở ngại về vấn đề nhạy cảm này.

        Ngày 20/11/1972 Mỹ đưa cho đoàn ta một văn kiện, trong đó chỉ nêu những điểm liên quan đến tù binh Mỹ, đòi Việt Nam phải có trách nhiệm đối với trao trả tù binh Mỹ tại Lào và Campuchia, đề cao vai trò của Uỷ ban quốc tế hạ thấp vai trò của Uỷ ban liên hợp.

        Ngày 14/12/1972 ta chính thức đưa cho đoàn Mỹ dự thảo nghị định thư của ta về việc trao trả tù binh, rất cụ thể, chi tiết gồm 4 chương. Qua nhiều lần bàn bạc đấu tranh, đến ngày 2/1/1973 trong cuộc họp trưởng đoàn các chuyên viên Mỹ từ chỗ không chấp nhận làm nghị định thư đã đi đến chỗ có thể làm. Nghị định thư của ta đưa ra, có những chỗ cột chặt trách nhiệm của Mỹ với vấn đề trao trả nhân viên quân sự Việt Nam, nhân viên dân sự Việt Nam và nhiều chỗ khá hấp dẫn có lợi cho tù binh Mỹ như trao trả hết, đối xử tốt với tù binh, giúp đỡ tìm kiếm tin tức những người Mỹ mất tích, bị chết v.v...

        Ngày 11/1/1973 Mỹ đưa cho ta một dự thảo nghị định thư gồm 5 chương, tuy có lấy nhiều điểm trong dự thảo nghị định thư của ta nhưng có 1 số điểm còn phải bàn bạc thêm. Hai đoàn chuyên viên làm việc liên tục ngày đêm, rất gay go căng thẳng và quyết liệt. Hai bên cũng đã thoả thuận được văn kiện cuối cùng của Nghị định thư về trao trả vào sáng 19/1/1973.

        Đó là Nghị định thư của hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam về việc trao trả nhân viên quân sự bị bắt, thường dân nước ngoài bị bắt và nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ.

        Văn kiện này đã được Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của 4 chính phủ tham gia cuộc hội nghị Pa-ri ký vào ngày 27 tháng 01 năm 1973.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/030.jpg)
Đại diện ta và đại diện Hoa Kỳ trao đổi về thủ tục trao trả nhân viên quân sự Hoa Kỳ


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Ba, 2012, 10:58:42 pm
*

*        *

        Nghị định thư về trao trả tù binh và tù dân sự vừa được 2 đoàn Việt Nam và Mỹ thoả thuận vào buổi sáng ngày 19/01/1973 thì đến trưa Thứ trưởng Nguyễn Cơ Thạch gọi tôi đến và nói: "Bây giờ anh phải trở về ngay Hà Nội, cho in ngay các văn bản Hiệp định và các Nghị định thư kèm theo Hiệp định để kịp phân phối cho Việt Nam thông tấn xã, đài phát thanh, các báo chí để họ có thời gian nghiên cứu trước và viết bình luận khi Hiệp định được ký kết và công bố. Sau đó anh sẽ tham gia Ban liên hợp quân sự 4 bên ở Sài Gòn để thực hiện việc trao đổi tù binh. Anh đã tham gia trực tiếp đấu tranh về vấn đề tù binh với Mỹ nên anh nắm được những chỗ lắt léo và phức tạp của nó".

        Thế là các thủ tục xuất nhập cảnh được làm gấp và sáng 20/1/1973, tôi từ biệt Pa-ri trở về Việt Nam. Lòng tôi rộn ràng vui sướng vì qua những năm tháng đấu tranh quyết liệt, Hiệp định Pa-ri sắp được ký kết, ta và Mỹ đã thoả thuận về nghị định thư trong vấn đề trao trả- một trong những vấn đề trở ngại đã được giải quyết.

        Niềm vui của tôi được nhân lên khi thấy kết quả của công tác nghiên cứu về trao trả của "bộ phận tù binh" đã đóng góp được phần nhất định. Và tôi còn được tham gia vào Ban liên hợp quân sự 4 bên để tiến hành công tác trao trả- Nó sẽ là dịp được kiểm nghiệm trên thực tế những chủ trương biện pháp đấu tranh của ta trong vấn đề trao trả mà ta đã đưa ra tại Hội nghị Pa-ri.

        Đã trên 35 năm trôi qua, điều làm cho tôi ấn tượng sâu sắc là các sỹ quan của 2 tiểu ban trao trả trong 2 đoàn đại biểu quân sự của ta rất tự tin, nắm vững những điều khoản trong hiệp định và nghị định thư nên thái độ đấu tranh rất chững chạc đàng hoàng luôn ở tư thế tấn công một cách sắc sảo. Còn thái độ của sỹ quan của cả Mỹ và nguỵ là rất thụ động, số sỹ quan trao trả của Mỹ thì lúc nào cũng chăm chăm hỏi là bao giờ các ông đưa danh sách của đợt này, số lượng là bao nhiêu và lúc nào bắt đầu trao trả v.v...

        Sỹ quan nguỵ Sài Gòn thì né tránh, nói năng ngỗ ngược, đưa ra những đòi hỏi vô lý để làm chậm tiến độ trao trả hoặc là trắng trợn gây khó khăn ở trên bàn hội nghị, ở những cuộc đi thăm trại giam của Sài Gòn và ở những địa điểm trao trả. Suy nghĩ của tôi là do chính sách tù binh của ta rất nhân đạo, khi tiến hành trao trả thì ta trả hết không giữ lại một tù binh nào và thực hiện những điều trong Nghị định thư trao trả một cách đúng đắn, nghiêm chỉnh- Còn phía Sài gòn thì họ đã thi hành một chính sách man rợ, tra tấn, gông cùm rất vô nhân đạo mà thực tiễn trong những buổi trao trả đã phơi bày rất rõ ràng- Khi trao trả thì Nguỵ Sài gòn không chịu trả hết, tìm mọi cách dây dưa, không phổ biến nghị định thư trao trả theo quy định trong hiệp định Pa-ri.

        Đặc biệt 2 đoàn đại biểu quân sự của ta đã sử dụng một cách có hiệu quả cao nhất vấn đề trao trả tù binh Mỹ. Nắm rất vững điểm chính yếu là quân Mỹ và quân chư hầu phe Mỹ phải rút khỏi miền Nam Việt Nam trong vòng 60 ngày kể từ khi ký hiệp định Pa-ri và việc trao trả những nhân viên quân sự các bên bị bắt sẽ tiến hành song song và hoàn thành không chậm hơn ngày rút quân.

        Có thời điểm Mỹ dây dưa việc rút quân, đòi hỏi Việt Nam phải trao trả những phi công Mỹ bị bắt ở Lào thì mới rút quân đợt cuối cùng. Chính quyền Sài gòn gây nhiều cản trở trao trả những quân nhân của ta bị bắt. Nhưng con bài tù binh Mỹ đã được sử dụng để đấu tranh quyết liệt với Mỹ nên Mỹ không thể không rút quân theo thời hạn mà Hiệp định Pa-ri đã quy định, chính quyền Sài gòn phá hoại cản trở nhưng cũng phải trao trả một số đông nhân viên quân sự của ta trong thời hạn đó.

        Ngày 29/3/1973, khi ta trao trả những tù binh cuối cùng tại sân bay Gia Lâm- Hà Nội thì cũng là lúc mà những binh lính cuối cùng của quân đội Mỹ phải rút khỏi Việt Nam dưới sự kiểm tra kiểm soát của sỹ quan quân đội nhân dân và quân giải phóng miền Nam Việt Nam tại sân bay Tân Sơn Nhất và sân bay Đà Năng- Các sỹ quan của ta chứng kiến cuộc trao trả tù binh Mỹ ở Gia Lâm đã về đến Đa vít. Các sỹ quan trong bộ phận đi kiểm tra kiểm soát những tên lính Mỹ cuối cùng rút khỏi Việt Nam cũng về đến trại Đa vít. Mọi cán bộ chiến sỹ chạy ùa đến hỏi han ríu rít- Tự nhiên biến thành một cuộc họp rất vui, rất đông đúc.

        Cuộc họp tự nhiên hình thành này tại trụ sở của hai đoàn Đại biểu quân sự cách mạng tại trại Đa vít giữa thành phố Sài gòn thật sự là cuộc họp mừng thắng lợi quân Mỹ đã phải cút hết khỏi Việt Nam- Cuộc họp này vui lắm nghe các anh kể lại cuộc trao trả những tên tù binh Mỹ cuối cùng ở sân bay Gia Lâm và đặc biệt là những tên lính cuối cùng của Mỹ rút như thế nào ở sân bay Đà Nẵng và Tân Sơn Nhất. Thế là 2 đoàn đại biểu quân sự cách mạng được chứng kiến sự kiện lịch sử thực hiện trọn vẹn vế thứ nhất trong thơ chúc Tết của Bác Hồ xuân 1969. Một đồng chí ở Ban thông tấn báo chí có sáng kiến mở máy ghi âm nghe lại lời Bác xuân 1969

                                                   "Vì độc lập vì tự do
                                        Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào
                                                    Tiến lên chiến sỹ đồng bào
                                         Bắc Nam sum họp, Xuân nào vui hơn"

        Mọi người xúc động thầm hứa với Bác sẽ phấn đấu thực hiện vế thứ hai trong thơ Bác: "Đánh cho nguỵ nhào".

        Kể từ 115 năm nay, lần đầu tiên tính từ ngày hôm nay 29/3/1973 trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, quân đội xâm lược các đế quốc đã bị quét sạch.

                                
Hà Nội, tháng 10/2008           

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/029.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/032.jpg)
Trao trả trước thời hạn 20 nhân viên quân sự Hoa Kỳ trước sự chứng kiến của 
Ủy ban Quốc tế và đại diện Ban liên hiệp quân sự 4 bên



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Ba, 2012, 07:40:19 am

RA ĐẢO PHÚ QUỐC

Hoàng Vũ             
                
“Linh động”
     
        Ngày 9/3/1973 – Sau khi Hiệp định Paris đã ký kết được 42 ngày – do những cuộc đấu tranh mạnh mẽ trong Ban liên hợp quân sự bốn bên và trước báo tin dư luận, chính quyền Sài Gòn phải để cho Tổ Liên hợp quân sự vào thăm khu giam giữ các chiến sĩ quân giải phóng.

        Đến sân bay Phú Quốc, tổ Liên hợp quân sự được trưởng trại giam báo cáo vài nét về tình hình trại rồi mới đi thăm nơi giam giữ cuối cùng.

        Từ sân bay xe chạy khoảng 10 phút đến khu trại giam số 1. Một khu nhà lợp tôn hoang vắng nằm giữa các lớp kẽm gai chằng chịt. Không bóng cây, không một bóng người.

        Trung tá Vũ Bình, đại diện Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và trung tá Nguyễn Thúc Đại đại diện Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa phản đối điều này. Hai viên thiếu tá En – Phơ – Man và Hai – Ghin đại diện Hoa Kỳ trong Tổ Liên hợp quân sự, xác nhận là ở Lộc Ninh cũng như ở Hà Nội họ đã đi xem những nơi giam giữ cuối cùng có mặt hàng trăm người tù chứ không phải những trại giam trống không – Phía Sài Gòn đã thỏa thuận là thăm nơi giam giữ cuối cùng có người tù hiện diện, tại sao đến đây chỉ đi thăm trại giam trống không?
       
        Trước câu hỏi của trung tá Vũ Bình, viên trưởng trại giam trả lời nhận được lệnh trên chỉ đưa đi xem trại giam không có người (!)

        Đại diện sài Gòn trong Tổ Liên hợp quân sự giải thích: Thủ tục được đặt ra và thỏa thuận nhưng có khi phải “Linh động”

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/3m-DaoPhuQuoc.jpg)
Đảo Phú Quốc (1973) nhìn từ trên máy bay

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/3m-DaoPhuQuocxua.jpg)
Trại giam giữ tù nhân nhìn từ 1 tháp canh

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/3m-NhatuPhuQuoc19732.jpg)
Biểu tượng nhà tù Phú Quốc (1973)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/3m-NhatuPhuQuoc19733.jpg)


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Ba, 2012, 07:51:10 am

Nghị định thư là cái gì?

        Ở Ban liên hợp quân sự trung ương 4 bên, phía Sài Gòn cũng đã thỏa thuận để Tổ liên hợp quân sự đến thăm 30 đại biểu của các chiến sỹ giải phóng bị giam giữ ở Phú Quốc – Nhưng trưởng trại tuyên bố nhận được lệnh cấp trên chỉ cho thăm mà thôi.

        Nhưng “vì tinh thần hòa hợp dân tộc” trưởng trại đồng ý đưa 25 đại biểu đến tiếp xúc với Tổ Liên hợp quân sự 4 bên.

        Khi được hỏi 25 đại biểu này có phải là do anh em cử ra hay không thì trưởng trại trả lời gọn lỏn:

        - Không, các đại biểu đó là do chúng tôi chọn!

        Tình hình này đã được các đại biểu Chính phủ cách mạng lâm thời dự kiến trước, nhưng các đồng chí vững lòng tin ở phẩm chất Cách mạng và tinh thần bất khuất của các chiến sỹ quân giải phóng.

        Tổ Liên hợp quân sự và tổ quốc tế được đưa đến khu hành chính  của trại giam, 25 đồng chí quân giải phóng đã ngồi chờ sẵn ở đây. Mặc quần áo màu gụ in hai chữ TB (tù binh) trên lưng, khăn mặt bịt kín đầu, các đồng chí ngồi thành ba hàng dọc dưới hành lang.

        Quân cảnh Sài Gòn đội mũ sắt, súng kè kè vây kín xung quanh.

        Đồng chí Vũ Bình, mang trên mũ quân hiệu sao vàng trên nền nửa đỏ nửa xanh chào tất cả anh em, chuyển lời hỏi thăm của Chính phủ cách mạng lâm thời, của nhân dân vùng giải phóng và của trung tướng trưởng đoàn Trần Văn Trà đến tất cả anh em chiến sỹ bị giam giữ trên đảo Phú Quốc và hỏi:

        - Xin các đồng chí cho biết, các đồng chí đã được phổ biến Nghị định thư về trao trả nhân viên quân sự bị bắt và giam giữ chưa?

        Một chiến sỹ ngồi ở hàng đầu trả lời:

        - Nghị định thư là cái gì? nội dung của nó ra sao, chúng tôi chưa hề được biết. Chúng tôi chỉ nghe lính quân cảnh xì xào có ký Hiệp định Paris nhưng nhà cầm quyền Sài Gòn ở đây tuyệt nhiên không cho chúng tôi biết điều đó. Cách đây mấy hôm, chúng tôi nghe quân cảnh nói có một bản Nghị định thư gì đó buộc dây treo ngoài cổng trai giam – nhưng khi chúng tôi đi xe củi, xe gạo qua đấy, quân cảnh Sài Gòn cũng không cho dừng chân lại. Sau đó họ đem cất đi. Mãi sáng hôm sau họ mới đem treo ngoài hàng rào.

        Một chiến sĩ khác ở tỉnh đội Đà Lạt nói tiếp:

        - Bảy năm bị đày đọa trên đảo Phú Quốc, hôm nay tôi mới được gặp các đồng chí của tôi từ đất liền tổ quốc ra đây. Hiệp định chấm dứt chiến tranh đã được thỏa thuận nhưng nhà cầm quyền Sài Gòn vẫn cố tình bưng bít mọi tin tức.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/3m-NhatuPhuQuoc1973Noidautranhdoigapgotunhan.jpg)
Sở chỉ huy nhà tù Phú Quốc

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/3m-NhatuPhuQuoc1973.jpg)
Nhà tù Phú Quốc (1973)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/4a-PhuQuoc19731.jpg)
một số thành viên Tổ liên hợp quân sự ra đảo Phú Quốc


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Ba, 2012, 07:57:53 am
        Hôm nay họ đưa chúng tôi lên xe tới đây, chúng tôi cũng không biết là đưa đi đến đâu, làm gì (?)
Một chiến sĩ trẻ nhất ngồi ở cuối hàng xin nói:

        - Tôi bị giam giữ trên đảo này tính ra đến hôm nay tôi mới được trông thấy màu đỏ thân yêu. Trên hòn đảo này anh em chúng tôi bị hành hạ, đầy đọa quá sức tưởng tượng nhưng anh em chúng tôi vẫn giữ vững tinh thần chiến đấu của quân cách mạng một lòng son sắt với nhân dân, với mặt trận dân tộc giải phóng.

        Đồng chí đại diện Chính phủ cách mạng lâm thời hỏi:

        - Theo Hiệp định Paris thì sau khi ký Hiệp định 5 ngày các bên phải phổ biến Nghị định thư đến tận những nhân viên quân sự bị bắt và giam giữ. Như vậy là từ bấy đến nay không phổ biến Nghị định thư.

        - Anh em đồng chí trả lời: “không, hoàn toàn không!”

        Hỏi việc đối xử trong các trại giam, các chiến sĩ đều nói lên nỗi khổ cực, cách đối xử tàn tệ về vật chất cũng như tinh thần và tố cáo cách đây mấy hôm anh em bị nhốt “ca sô” và bị đánh đập.
Chỉ nói hôm qua đó thôi, 12 người được 2 miếng cá khô chưng nước. Anh em nói: “chúng tôi mong tất cả các đại biểu đến tận nơi họ giam giữ chúng tôi để được thấy tận mắt cảnh sống khốn khổ của chúng tôi”.

        Đồng chí đại biểu Chính phủ cách mạng lâm thời lấy bản Nghị định thư đọc to cho anh em nghe và giải thích rõ việc trao trả những nhân viên quân sự bị bắt và giam giữ tiến hành cùng một lúc với việc quân đội Hoa Kỳ và quân đội đồng minh của Hoa Kỳ rút khỏi miền Nam Việt Nam.
Các bên sẽ trả tất cả những nhân viên quân sự bị bắt và giam giữ - các bên giam giữ không được từ chối hoặc trì hoãn việc trao trả họ với bất kỳ lý do gì. Họ phải được ăn, mặc, ở đầy đủ và được chăm sóc y tế…được bảo vệ chống mọi hành động bạo lực xúc phạm đến tính mệnh và thân thể nhất là việc giết hại họ và xúc phạm đến nhân cách phẩm giá con người…

        Trong khi đồng chí Vũ Bình đọc và giải thích Nghị định thư, quân cảnh cũng như binh lính Sài Gòn đều đứng yên chăm chú lắng nghe.

        Cuối cùng đồng chí đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời nói rõ;

        -Từ giữa lòng nhân dân ta đi chiến đấu, các đồng chí sẽ trở về với nhân dân. Nhân dân vùng giải phóng từ Quảng Trị tới Cà Mau sẵn sàng đón những người con thân yêu nhất của mình.

        Thay mặt anh em chiến sĩ ta bị giam giữ ở D7 và C7 những đồng chí có mặt gửi về Tổ quốc lời chào thân yêu nhất.Tất cả 25 anh em phấn khởi vỗ tay nhiều lần chào mừng thắng lợi vĩ đại của dân tộc. Cuộc đấu tranh để thực hiện những điều ta đã ghi trong Nghị định thư về trao trả nhân viên quân sự bị bắt và nhân viên dân sự nước ngoài bị bắt và nhân viên quân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ còn tiếp tục…

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/4a-PhuQuoc19732.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/4a-PhuQuoc1973.jpg)


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Ba, 2012, 07:44:44 pm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/nam.jpg)

ĐI TRỰC THĂNG BỊ BẮN

Trần Văn Nam
            
       
       Vào khoảng tháng ba năm 1973. Khi đang làm công tác đồ bản tại Phòng tác chiến (Gọi là Ô1) thuộc Cục tham mưu Miền, tôi nhận được lệnh đi công tác. Đối với tôi, chuyện đi công tác là thường xuyên bởi đồ bản có hai người, tôi trẻ và mới nên thường hay đi công tác, còn người phụ trách lo tác nghiệp tại đơn vị. Sau đó tôi được ra công tác ở Đoàn 315A là hậu phương của Đoàn 315B. Đoàn 315B là phái đoàn quân sự Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam trong Ban liên hợp quân sự 4 bên sau này chuyển thanh hai bên tại Trại Đa-vít ở sân bay Tân Sơn Nhất.

       Đoàn 315A đóng bản doanh tại thị trấn Lộc Ninh, nhà khách của Đoàn, anh em quen gọi vui là “Nhà cao cẳng”. Ở đây vài ngày tôi được đưa vào Đa-vít cùng với một đoàn khá đông cán bộ chiến sĩ  Quân giải phóng. Tôi cũng không nhớ đây là đợt thứ mấy vào trại Đa-vít.

       Chúng tôi bay vào Tân Sơn Nhất trên một máy bay vận tải quân sự Scaribu cũ kỹ vừa rung, vừa ồn. Khoảng 45 phút thì máy bay đáp xuống sân bay Tân Sơn Nhất. Sau đó  chúng tôi được xe đưa về trại Đa-vít.

       Ban nghiên cứu tổng hợp hầu hết là cán bộ làm công tác tham muu có nhiệm vụ theo dõi chiến sự trên toàn chiến trường miền Nam chủ yếu là các vùng  giải phóng và vùng giáp ranh để giúp cho việc đấu tranh trên bàn hội nghị về việc lấn chiếm, đánh bom, bắn pháo vi phạm hiệp định của quân nguỵ Sài Gòn. Mỗi ngày các anh nhận điện từ các nơi gửi về, tổng hợp, phân tích và báo cáo với lãnh đạo Đoàn. Các thông tin này là cơ sở để Đoàn ta đấu tranh với địch.

       Từ những thông tin này tôi có nhiệm vụ thể hiện trên một tấm bản đồ tỉ lệ 1/500.000. Các tình huống trên bản đồ được sử dụng để họp báo công khai hoặc giao ban nội bộ trong đoàn ta ... v v

       Những ngày công tác tại Ban liên hợp quân sự, có một chuyện tôi không thể quên : vào khoảng tháng 06/1973, tôi được lệnh về Lộc Ninh nhận bộ bản đồ mới UTM của Mỹ để phục vụ tra cứu và tác nghiệp.

       Thường kỳ, Ban liên hợp quân sự có một chuyến bay ra Hà Nội vào ngày thứ sáu bằng máy bay C130 và hai chuyến bay ra Lộc Ninh vào ngày thứ ba và ngày thứ năm hàng tuần bằng trực thăng để chở cán bộ, chiến sĩ của hai đoàn ra Hà Nội và về Lộc Ninh làm việc. Đây là chuyến bay liên lạc ra Lộc Ninh đầu tiên sau một thời gian gián đoạn. Nguyên nhân gián đoạn do ngụy Sài Gòn viện đủ các lý do để gây khó khăn cho phái đoàn ta liên lạc với hậu phương.

       Hôm thứ ba tôi bay về Lộc Ninh, trở vào Đa-vít ngày thứ năm. Bữa bay về Lộc Ninh tôi ngồi ngay ghế bên hông máy bay, cửa hai bên mở toang, có thể nhìn xuống dưới thoải mái. Phi hành đoàn nhắc nhở thắt dây an toàn.

       Máy bay cất cánh, thành phố được gọi là “hòn ngọc viễn đông” trải ra trước mắt, tôi cảm thấy khoan khoái ...


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Ba, 2012, 07:46:36 pm
        Ngày vào xảy ra sự cố. Hai trực thăng chở chúng tôi bay khá thấp không theo qui định, cách đường khá xa, có thể nhìn rõ những con đường đất đỏ ngoằn nghoèo và cây cối xác xơ vì bom đạn ở phía dưới. Đang bay bỗng có những loạt súng liên thanh bắn từ dưới đất lên. Máy bay nhào vội xuống, người tôi như nhấc khỏi ghế may mắn được giữ lại nhờ dây an toàn. Thiếu tá Nhiên đưa chiếc mũ cứng ra vẫy vẫy liền bị gió giật bay vèo mất. Cả hai chiếc trực thăng vội vã hạ cánh xuống mặt lộ 13. Rất may là cả hai máy bay đều không bị hư hỏng lớn. Chỗ hai máy bay đáp xuống gần mấy chốt của Quân giải phóng. Trời về chiều nắng như đổ lửa, tôi cùng thiếu tá Nhiên vào chốt của anh em để xin nước ra máy bay cho mọi người cùng uống.

        Viên sĩ quan nguỵ điện đàm về sân bay và trại Đa-vít thông báo là một chiếc bị rơi và một chiếc bị thương.
 
        Máy bay đậu trên lộ 13. Phía Sài Gòn chỉ vào chỗ máy bay bị bắn, lấy phấn đánh dấu vào chỗ vết đạn và yêu cầu sĩ quan ta ký biên bản. Nhưng sĩ quan ta nhất định không ký vì không có gì chứng mỉnh là máy bay vừa bị bắn và nếu có bị bắn thì ai bắn thì không thể xác định được vì ở đây là vùng ta và địch xen kẽ nhau. Khoảng hai giờ sau máy bay mới tiếp tục bay về sân bay Tân Sơn Nhất. Khi về đến trại Đa-vít, đại tá Nguyễn Văn Sĩ, phó trưởng đoàn chạy ra ôm lấy từng người chúng tôi rơm rớm nước mắt, ông nói :

-   Mình tưởng có chuyện rồi, đang lo chuẩn bị lễ truy điệu đây !

        Đi trên hai trực thăng lần này hầu hết là sĩ quan của Ban nghiên cứu tổng hợp và Ban trao trả. Quả thực, nếu cả hai trực thăng bị rơi thì tổn thất quả không nhỏ vì các anh toàn là cán bộ ưu tú của Đảng và Quân đội đã nhiều năm lăn lộn trên chiến trường.

        Tìm hiểu sâu về vấn đề này, tôi hiểu được rằng bọn ngụy Sài Gòn là kẻ chủ tâm phá hoại hiệp định Pari. Chúng không thi hành ngừng bắn. Được Mỹ dung túng, chúng tìm mọi cách tràn ngập lãnh thổ, lấn chiếm, đánh phá vùng giải phóng, đóng thêm đồn bốt v v.
 
        Các máy bay của ngụy thì lợi dụng mang cờ màu da cam của ban liên hợp quân sự đi trinh sát vùng giải phóng, ném bom bắn phá vùng chúng nghi là quân giải phóng trú quân.

        Biết rõ bọn ngụy vi phạm theo kiểu đó, quân ta kiên quyết trừng trị khi chúng bay ra khỏi hành lang quy định của Ban liên hợp quân sự. Chúng ta cũng lên án, mạnh mẽ, tố cáo chúng trước dư luận trong nước và thế giới.

        Tôi ngồi trên chiếc trực thăng này nên chứng kiến vụ vi phạm rất rõ. Lợi dụng có một số cán bộ ta đi trên máy bay đó, bọn ngụy cố tình đi ra khỏi hành lang để trinh sát những khu vực bố trí chiến đấu của ta. Bọn ngụy lớn tiếng tố cáo ta rằng bắn máy bay của Ban liên hơp quân sự nhưng chúng ta đã chứng minh một cách đầy đủ có chứng cớ rõ ràng rằng đây là máy bay bay trái phép ngoài hành lang quy định. Bọn nguỵ cứng họng hết chỗ nói và cũng rút đơn kiện lên Uỷ ban quốc tế.

        Khi chiến trường miền Nam bắt đầu cuộc tổng tấn công, tấm bản đồ 1/500000 nói trên được đem treo lên tường phía ngoài trước cửa phòng họp. Cứ mỗi khi tỉnh, thành, thị trấn, thị tứ nào được giải phóng là tôi vẽ tại đó một lá cờ đỏ sao vàng. Tôi còn nhớ có những hôm sáng ngủ dậy, một đêm ta đã giải phóng mấy tỉnh liền. Nghe các anh trong ban nói giải phóng mấy tỉnh, thành miền Trung tôi liền vẽ cờ lên mấy địa phương đó. Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn đi qua, ông ngắm nghía bản đồ rồi gọi tôi hỏi: “Mấy nơi này giải phóng khi nào? Điện đâu đưa coi nào”. Tôi ấp úng nói là nghe mấy anh trong ban nói. Ông bắt tôi lên xoá và phê bình :” Không được lạc quan tếu”. Tuy nhiên, cũng trong ngày hôm đó tôi lại được vẽ những lá cờ đỏ ở tại vị trí vừa mới xóa lúc sáng.

        Đã mấy chục năm trôi qua, những sự kiện sôi động trên như vừa mới xảy ra, hiện lên rõ nét trong tâm trí và giục giã tôi viết lại chuyện này.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Ba, 2012, 07:39:28 am

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/TraanfQuangNhaj.jpg)

KỶ NIỆM CHUYẾN ĐI THẠCH HÃN

Trần Quang Nhạ              
       
        Một ngày đầu tháng hai năm 1973, tôi được lệnh đi cùng đại uý Nguyễn Thành Lên, thành viên của Đoàn đại biểu quân sự CPCMLTCHMNVN và trung tá Nguyễn Lân, thành viên Đoàn đại biểu quân sự CPVNDCCH. Cùng đi có các thành viên của Đoàn Mỹ, Đoàn chính quyền Sài Gòn trong BLH QS bốn bên, và đại diện Uỷ ban Quốc tế.

        Sáng sớm, chiếc máy bay U21, loại máy bay phản lực nhỏ của Mỹ, chở ba anh em chúng tôi và thiếu tá Lập, đại diện Đoàn Sài Gòn, cất cánh từ sân bay Tân Sơn Nhất, sau đó đáp xuống sân bay Phú Bài. Ra khỏi máy bay U21, chúng tôi được chuyển sang máy bay trực thăng HU1A và lập tức máy bay bay thẳng hướng Quảng Trị.

        Khoảng 10 giờ, tôi thấy máy bay không bay thco hướng thẳng mà lại quần đảo nhiều vòng trên khu vực phía nam cầu Thạch Hãn. Từ máy bay nhìn ra, tôi thấy trời mù sương và mưa lạnh. Nhìn xuống mặt đất, tôi thấy những mảng trắng, vàng hoặc sám, mờ mờ loang lổ khắp một vùng mênh mông. Hỏi thiếu tá Lập, tôi được hay là: máy bay chưa có bãi đáp an toàn vì tất cả vùng này đều có mìn. Sau một hồi lâu bay lượn, máy bay lần lượt hạ cánh xuống khu vực có các đám khói từ mặt đất bốc lên.

        Từ máy bay bước xuống, từng thành viên lần lượt bước theo đúng bước đi của các sỹ quan hướng dẫn của một đơn vị quân đội Sài Gòn đóng tại đó. Mọi người tập kết quanh khu đất cao sát mố cầu phía nam cầu Thạch Hãn. Lúc đó khoảng 11 giờ. Trời càng mưa to và gió mạnh dần. Ba anh em chúng tôi đều không có áo mưa. Ngoài thành viên của các đoàn, còn có nhiều người lạ mặt khác và phóng viên người châu Á, Âu và Mỹ, Quanh chúng tôi, có nhiều lính quân đội Sài Gòn với vũ khí trong tay. Sau vài phút im lặng vì nhiều lẽ khác nhau, bỗng trung tá Nguyễn Lân nói to:

        -  Ai là người chỉ huy ở đây?
        
        Từ trong lô-cốt chui ra một sỹ quan quân đội Sài Gòn tự xưng danh:

        -  Tôi trung tá Sông Thao,...thuỷ quân lục chiến

        Trung tá Lân giới thiệu ba anh cm chúng tôi và mục đích của chuyến đi. Trung tá Sông Thao lrả lời:

        - Đây không có phận sự!

        Trung tá Lân yêu cầu Sông Thao tạo điều kiện để các Đoàn thi hành nhiệm vụ thco quy định của Hiệp định Pari, cụ thể 1à tìm cách 1iên hệ được với người chỉ huy của đơn vị giải phóng ở đầu cầu phía bắc. Sông Thao không đáp lại mà lặng lẽ quay vào trong lô- cốt.

        Sau một hồi im lặng, Sông Thao lại từ lô-cốt bước ra và nói với trung tá Lân là dùng loa phóng thanh đặt ở lô-cốt để 1iên hệ. Trung tá Lân nói nhiều lần câu:

        -  A lô? Bên bờ bắc nghe rõ không? Tôi là Trung tá Nguyễn Lân, đại diện đoàn đại biểu quân sự CPVNDCCH cùng đại diện của CPCMLTCHMNVN  và đại điện UBQT, ra liên hệ để chuẩn bị cho việc trao trả nhân viên quân sự, theo Hiệp định Pa-ri. Xin liên hệ với người chỉ huy đơn vị bảo vệ cầu phía bắc... .

        Không có tiếng đáp lại, chỉ có tiếng gió và mưa ngày càng dữ dội. Không khí bao trùm khu vực là sự im lặng, nghi kị, cảnh giác. Ba anh em chúng tôi, không ai bảo ai, đã xích lại gần nhau, nhìn nhau với ánh mắt quyết tâm sẵn sàng đối phó với mọi bất trắc.

            Khoảng quá 12 giờ, có tiếng lạo xạo của loa phóng thanh từ mố cầu phía bắc. Ai nấy đều khấp khởi. Rồi một câu cộc lốc, với giọng lạnh lùng được vọng sang: "Bên này không biết gì hết. Bên này chỉ có nhiệm vụ canh phòng cầu thôi!".

        Các trưởng đoàn đều tìm cách xử lý bế tắc này theo kênh liên lạc riêng của mình. Khoảng 13 giờ, bỗng từ một điểm bên bờ bắc, cách cầu Thạch Hãn khoảng nửa cây số về phía đông, có những đám khói trắng bốc lên. Máy bay trực thăng lần lượt đưa các thành viên qua sông Thạch Hãn, nước sông đang trong mùa cạn.

        Ra đón chúng tôi là thiếu tá Gang và thiếu uý phiên dịch Trần Đình Long (sau này anh Long hy sinh trong vụ Li Tôn). Anh em tay bắt mặt mừng. Nhưng anh Gang nhắc mọi người lưu ý đến an toàn khu vực này, hôm trước đã có mấy người của ta hy sinh vì bị vướng phải mìn. Quan sát nhanh, tôi thấy một lá cờ lớn của Mặt trận DTGPMNVN màu xanh, đỏ sao vàng treo trên nóc một chiếc nhà bạt mới tinh. Thấp thoáng có những chiến sỹ và các y tá, bác sỹ đang chuẩn bị tiếp đón ngưói của ta trở về. Khoảng 15 giờ làm việc xong, ba anh em chúng tôi lên máy bay trực thăng để quay về Huế, rồi đáp xuống sân bay Phú Bài và tiếp tục bay thẳng vào Tân Sơn Nhãt bằng máy bay U21. Về đến sân bay Tân Sơn Nhất đêm đã về khuya, tôi đi nằm mà không sao chợp mắt...

        Còn nhiều điều muốn nói về chuyến đi này. Đây là chuyến đầu mở màn cho những lần trao trả tiếp theo. Ký ức khó phai mờ của chuyến đi là hình ảnh cầu Thạch Hãn bi hùng, chồng chất lên nó bao đạn bom của giạc để lại. Hình ảnh về những chiến sỹ Quân giái phóng kiên cường bám trụ thành cổ Quảng Trị hơn hai tháng trời dưới mưa bom, bão đạn mùa hè năm 1972 cứ hiện lên trong tôi cùng với câu thơ của một người lính nào đó viết:

                                  Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ,
                                  Đáy sông còn đó bạn tôi nằm.
                                  Có tuổi hai mươi cùng sóng nước,
                                  Vỗ yên bờ bãi mãi nghìn năm.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Ba, 2012, 08:16:05 am

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/5k-ThuongtaTranDuyHinh-Baochi1.jpg)

KÝ ỨC MỘT THỜI

TRẦN DUY HINH              
           
        Tôi nhập ngũ năm 1967, khi vừa tốt nghiệp khóa quay phim trường Điện ảnh Việt Nam. Về xưởng phim quân đội là vác máy quay phim vào chiến trường Miền Nam (B5 - Trị Thiên) ngay. Từ đó cho đến hết chiến tranh (1975) tôi nếm đủ mùi gian khổ, hiểm nguy nơi chiến trường ác liệt Lạ một điều là không cảm thấy khổ, không hề sợ chết mà ngược lại, mỗi khi đến một chiến trường mới lại thấy hào hứng hơn, y như đi du lịch bây giờ, nhập tua mới thì biết thêm một vùng đất mới. Nhưng cảm xúc ngày ấy mãnh liệt, đa dạng và thú vị hơn du lịch nhiều vì phải kinh qua biết bao nhiêu trải nghiệm, đi cùng với bộ binh vào chiếm lĩnh trận địa để công đồn. Cũng hồi hộp, lo âu, nhớ nhà, sợ không hoàn thành nhiệm vụ, sợ mưa làm hỏng phim, hỏng máy.., rồi đang đi bị B52 chụp trên đầu chỉ kịp đổ người xuống rãnh thoát nước bên ta - tuy dương trên đường ra trận. Rồi vác máy cùng bộ đội xung phong lên một cứ điểm vừa bị quân ta đánh chiếm. Rồi đói, rồi sốt rét, rồi lạc đơn vị, rồi bị lũ quét, rồi chịu mưa rừng dai dẳng cả tháng trời, rồi chạy thục mạng bị máy bay C130 săn đuổi.

        Tầng tầng kỷ niệm, những ký ức như còn khét mùi đạn bom, nồng nặc khói bụi nơi trận mạc, biết bao nhiêu lần cái chết kề bên nhưng không hề run sợ, vẫn vững bước theo các đoàn quân vào trận: sống chết có số lo gì, có hàng nghìn, hàng trăm vạn người chứ đâu chỉ riêng mình. Đời chiến binh đâu có giặc là ta cứ đi.

        Nói ra những điều này có vẻ tếu hoặc giáo điều. Nhưng đúng thế. Bây giờ có tuổi rồi, lại thấy ngạc nhiên sao hồi đó mình khoẻ và vô tư thế. Nói dại, nếu ngộ nhỡ.., thì sao? Thật ra chẳng sao cả. Trai thời loạn gian khổ và sống chết chẳng có nghĩa lý gì. Cả một, hai thế hệ thời ấy đều như thế. Có lẽ phải thế mới làm nên kỳ tích, mới cảm thấy không phí hoài mỗi khi ngoái đầu nhìn lại thời trai trẻ của mình, mất và được đều đã trở thành ký ức. Ký ức một thời máu lửa, làm sao có thể quên, nó bám vào ta, theo ta đến lúc trở về với cát bụi. Bộ đội thời chống Mỹ gian khổ nhưng hào hùng, hào hùng từ trận đánh nho nhỏ, từ cảnh vắt chân lên cổ chạy khỏi nơi giặc càn, từ những trận đói mặt xanh nanh vàng phải nhổ cả sắn non của bà con dân tộc ăn sống lấy sức mà đi... đến hào hùng tột đỉnh khi quân ta đuổi giặc, khi vào thành phố, thị xã được bà con hân hoan vẫy chào, đem cho bánh, kẹo, nước dừa, lave uống cho lại sức mà đi tiếp, giải phóng những nơi còn bóng quân thù... Ôi nhiều lắm, kể không thể hết. Nhưng trong muôn vàn những kỷ niệm ấy thì kỷ niệm hào hùng, khó quên và đáng tự hào nhất của tôi là những ngày tham gia vào BLHQS bốn bên, tại Sài Gòn - sào huyệt đầy đặc Mỹ nguy để kiểm soát và giám sát đối phương thi hành Hiệp định Paris trong 62 ngày từ 29/111973 đến 31/3/1973.

        Với tư cách là một nhà báo, là một phóng viên quay phim của phái đoàn Việt Nam DCCH do thiếu tướng Lê Quang Hoà làm trưởng đoàn, tôi đã ghi lại bằng máy ảnh, bằng máy quay, bằng bút tất cả những gì tự hào nhất của những người chiến thắng ngay trong sào huyệt quân thù khi chúng đang còn rất mạnh. Nhưng thế và thời đã nghiêng hẳn về phía cách mạng. Vai khoác máy ảnh, tay cầm máy quay phim, ngửng cao đầu khi đi tác nghiệp, khí thế của người chiến thắng đã giúp tôi vượt qua mọi khó khăn, vượt lên tất cả sự phá đám, khiêu khích của đối phương. Tôi chụp ảnh, quay phim và ghi chép quần quật suốt ngày không biết mỏi vì tôi ý thức được rằng trong suốt cả đời quân ngũ của mình, chuyến đi công tác Sài gòn này là có một không hai, cả đời không mấy người có được. Do đó dù có khổ cực, nguy hiểm hay khó khăn tôi đều tìm cách vượt qua để hoàn thành nhiệm vụ chung mà Đảng và quân đội đã giao cho.

        Sáu mươi hai ngày đêm thi hành hiệp định Paris ở Sài gòn đầy ắp những kỷ niệm, những sự kiện để đời. Tôi đã hoàn chỉnh những ghi chép riêng của mình trong ký sự chiến trường: "Trại Đa vít Sài Gòn mùa xuân năm 1973" đã xuất bản. Trong đó tôi ghi lại sự việc từng ngày dưới góc độ quan sát của tôi, mỗi ngày có biết bao nhiêu sự kiện đáng nhớ suốt đời. Nhân kỷ niệm 35 năm sự kiện lịch sử dân tộc ta đã đánh cho Mỹ cút, tôi xin trích hai ngày trong số 62 ngày ghi chép của mình về những ngày trao trả tù binh nữ ở sân bay Lộc Ninh và ngày quân Mỹ phải rút khỏi miền Nam Việt Nam tại sân bay Tân Sơn Nhất.

        Đi Lộc Ninh từ 5 giờ sáng ngày 12 tháng 2 năm 1973  . Đến phút chót thì Đạt không đi được vì hết chỗ trên máy bay. Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bảy người, trong đó có bốn phóng viên, đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam sáu người, trong đó có hai phóng viên, lại người của đoàn Mỹ và đoàn Sài Gòn, đông quá, phải điều thêm một máy bay nữa nhưng vẫn chật vì mỗi chiếc HU1A chỉ chở được tám người. Ai cũng tiếc cho Đạt vì những chuyến đi về giữa hai vùng như thế này không phải mỗi lúc mà thực hiện được. Đạt tiu nghỉu tháo giầy, cởi áo nằm nhà.

        Máy bay hôm nay không vòng qua nội thành mà đi tránh ra vùng ven Sài Gòn, sau đó cũng bắt vào trục đường 13 Sài Gòn - Lộc Ninh bay đi. Có lẽ đây là hành lang an toàn đã được quy định cho trực thăng đi về. Năm giờ, Sài Gòn vẫn còn đang ngon giấc, những người đi làm công, bán hàng rong đã lác đác, trên đường đèn phố vẫn nhấp nháy cả một vùng rộng lớn, khí hậu Sài Gòn về sáng dễ chịu vô cùng.

        Máy bay đã ổn định độ cao và giữ ở tốc độ 100km/giờ. Tôi có cảm giác như nó đang treo trên con lộ nơi đây đã từng tràn ngập máu và lửa, nổi tiếng về những trận đánh ác liệt giành đi giật lại giữa hai bên, là nỗi kinh hoàng của quân lực Việt Nam Cộng hoà, không còn là con đường huyết mạch chạy thẳng đi Lộc Ninh mà đã bị chặt thành nhiều khúc, các vị trí chết của hai bên xen kẽ nhau ở thế cài răng lược. Đất phía tây nằm hẳn trong tay binh lực Việt Nam Cộng hoà. Cái ngã ba có một căn cứ tan hoang và nhiều xác xe tăng, xe bọc thép nhắc tôi đã đến gần Lộc Ninh. Những đốm lửa trong rừng cao su thuộc vùng giải phóng gợi cho tôi nhiều suy nghĩ, kỷ niệm về những ngày vác ba lô đi chiến dịch ở chiến trường miền Nam đẫm máu và đầy hào hứng. Cảm giác ở rừng xâm chiếm tâm trí, tôi tưởng tượng mình đang ở dưới kia nhìn lên mấy chiếc trực thăng chuyên săn người và bắn rốc két. Cái cảm giác lành lạnh buổi sáng ở rừng làm tôi nhớ đến chiếc võng căng bên suối, sáng ra lấy ăng-gô đun nước sôi đổ bi đông và nắm cơm ăn. Tôi đang hồi tưởng lại những ngày mưa xối xả của Trường sơn chuyển chỗ ở chạy lũ thì máy bay đã hạ xuống chỗ hôm trước, ở nhánh sân bay phụ lát ghi dã chiến.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Ba, 2012, 08:18:11 am
        Mới cách có một hôm mà sân bay Lộc Ninh đã đổi khác. Các lán gọn gàng hơn, những nhà tạm lớp nilon vải bạt, không còn nữa, được thay bằng lán lớp cỏ gianh, vách cũng bằng gianh để vừa chống bụi, vừa chống nắng nóng. Nhà gianh mát hơn nhà bạt, chất liệu tranh, tre tỏ ra ưu việt hơn tôn tấm, nilon, vải dù. Những thứ ông bà ta để lại dùng hay hơn những thứ ngoại lai.

        Theo đúng dự kiến từ nhà, chúng tôi vào lán chỉ huy sau khu y tế để xin xe và người đưa đón vào thị trấn Lộc Ninh. Hôm nay chúng tôi không đi tuỳ nghi như hôm trước: đầu tiên cả đoàn kéo vào thăm Uỷ ban hành chính huyện Lộc Ninh, ban Quân quản, Hội Công - Nông - Thanh - Phụ, Huyện uỷ, phòng Thông tin.., chỗ nào cũng na ná giống nhau bài trí tạm bợ, sơ sài và rất du kích và ở đâu cũng nói giống nhau về tình hình đặc điểm và một số biện pháp khắc phục ban đầu để đưa xã hội dần dần vào nền nếp. Không thể đòi hỏi sự chỉn chu được vì còn đang có chiến tranh, pháo kích của nguỵ có thể bắn tới đây, do thám biệt kích nguỵ có thể mò vào đây bất cứ lúc nào. Chiến tranh đã chi phối mọi hoạt động xã hội, lôi cuốn tâm tư tình cảm mỗi con người.

        Lần này đông người, chúng tôi không đi bộ mà xin một chiếc xe Jeep sooc đi cho nhanh, những hàng dừa già cong cong soi bóng xuống dòng suối phân đôi thị xã, có đoạn được nối bằng hàng nhãn non tơ mới bói quả, chợ búa vẫn đông người vào ra cộng với cờ, băng, biểu ngữ làm cho thị xã vùng biên giới này có chút không khí ngày hội thanh bình. Có một số bà con nhầm chúng tôi là ủy ban Quốc tế, phần đông các cháu đã nhận ra tôi và anh Hứa Kiểm là bộ đội Hà Nội.

        Tiếng ầm ì của máy bay vận tải hạng nặng C130 đang lượn vòng nhắc chúng tôi trở ra sân bay ngay. Sau khi trình giấy tờ cho cảnh vệ giải phóng ở cổng chào, chúng tôi vội vã đón đầu chiếc C130 đang từ cuối sân bay chạy vòng trở lại. Tiếng phanh rít ầm ám, cánh quạt quay ngược chiều thổi gió bụi mù rừng cao su như gió lốc, nó từ từ bò đến giữa sân băng rồi chui cái mõm đen xuống dừng lại.

        Vẫn từ phía cửa hậu máy bay dễ có đến 30 tên quân cảnh lúc nhúc chui ra đứng rúm lại thành đám. Một nữ giải phóng quân trang phục gọn gàng, long lanh quân hiệu trên mũ tai bèo đeo băng đỏ mời chúng vào một chiếc lều gianh, cô giải phóng giang tay làm hiệu cho chúng, số sĩ quan và binh lính của ngụy Sài Gòn  theo lệnh cô phải chúc tất cả các nòng súng xuống đất, không được chổng ngược lên trời như bọn chúng thường làm, đi hàng đôi, ngồi vào các  hàng ghế kê sẵn trong lều. Chúng cởi mũ sắt, quăng ba lô, tháo súng mệt mỏi ngồi xuống, các đồng chí vệ binh giải phóng đeo băng đỏ đưa nước đến cho họ trong, xung quanh lều vệ binh giải phóng đeo băng đỏ khoác AK, canh gác, phạm vi của đám quân cảnh là trong chiếc lều này, có một hành lang duy nhất ra nhà vệ sinh dựng tạm. Đồng chí nữ giải phóng ân cần nhưng rất nghiêm, không tên nào dám thả lời trêu trọc, một tên nhận xét:

        - Quân giải phóng nữ oai dữ hầy.

        - Nè, Hoa Kỳ viện trợ cho Quân giải phóng nhiều dù hoa để khoác đẹp hung à, làm sẫm luôn cả sân bay để trả tù...đ.mẹ, tức ói máu ông bà?

         Một tên suỵt vẫy tay bảo: "khẽ chứ!". 

        - Bay à, trước tao ở đây hai năm đó, giờ tan nát cả...

        Xung quanh lều chỉ huy, vách lửng bằng những tấm tranh, nên chúng tha hồ nhìn ngắm, người ta không căng dây xích, vẽ sơn trắng giới hạn mà để chúng tự nhận ra giới hạn cho mình. Bốn đồng chí giải phóng không tỏ thái độ gì thù hận, chúng tha hồ thoải mái nghỉ ngơi cho đến khi máy bay cất cánh, độ an toàn ở đây cao hơn rất nhiều khi chúng đóng trong đồn bốt hay nằm trong hầm chết.

        Hôm nay trả tù binh phụ nữ và trẻ em. Tôi quay ít cảnh những tên quân cảnh trong lều rồi quay ra chờ, mãi không thấy chị em ra, nếu là các đồng chí nam giới thì lúc này họ đã hô khẩu hiệu đả đảo, xé tung quần áo, sẵn sàng chống lại những tên quân cảnh nào dám lới xới đến gần. Có một cái gì đây, tôi hồi hộp chờ đợi sự xuất hiện của các chị, các cháu, những "tù binh" của phía nguỵ Sài Gòn.

        Đây rồi, những thân hình còm cõi trong những bộ quần áo tù màu nâu giống như của các đồng chí nam giới. Tôi càng ngạc nhiên hơn thấy chị em di chuyển quá chậm chạp, hình như lê từng bước. Tôi cầm máy sấn đến gần. Trời ơi các chị yếu quá, người nào cũng run rẩy, lại phải dìu dắt xốc đỡ lẫn nhau. Trong luồng gió thốc của máy bay trông chị em rúm ró đến thảm hại, đầu tóc rối bời, có người phải ngồi mới xuống được chiếc bậc sắt có một cấp từ cửa máy bay bắc xuống đường băng. Một cảm giác ớn lạnh chạy khắp cơ thể. Mắt tôi nhoà lệ, nhìn mọi người xung quanh thì tất cả đã khóc thật sự rồi, nhất là các vị trong Uỷ ban Quốc tế. Họ rút mùi xoa lau nước mắt. Các cô phục vụ đã oà lên khóc thành tiếng lao vào ôm đỡ, bế lấy những chị yếu quá ngã lăn trong luồng gió của cánh quạt máy bay. Cáng thương được mang đến đón lấy những tấm thân nát nhừ vì bị hành hạ roi đòn, có chị đi được, có chị cố gượng bò lê, có chị ngất lịm khi vừa ra khỏi máy bay, cảnh tình thật thê thảm, thương tâm, tôi thấy vài chị có vẻ khoẻ hơn chạy ra khỏi cánh chiếc máy bay ngước mắt nhìn bốn phía, tắm mình trong nắng vàng và khi nhìn thấy khu trao trả rực rỡ cờ giải phóng và những lán trại thì ôm mặt khóc oà lên. Với phụ nữ thì tiếng khóc dễ lây, nhưng ở đây nó đã lan sang nam giới từ ngay phía các quan khách, đại biểu bốn bên và cánh phóng viên nhà báo, nhiều người lắc đầu kêu khổ. Bốn cánh quạt của những chiếc C130 được mệnh danh là Héc-quyn trên bầu trời cứ quay vù vù, tàn nhẫn thổi gió về phía sau đẩy những con người tả tơi ngã lăn, té ngửa. Tôi để ý quay một bà má tóc bạc cố gượng đi, nhưng đến vùng gió xoáy thì té nhào chết giấc, chị em xúm lại dìu ra. Bốn chiếc cáng đã đưa đến nhưng không xuể, về sau phải tăng cường một loạt võng hành quân đưa những chị quá ốm yếu về trạm cấp cứu. Xúc động quá mạnh làm một số chị hôn mê. Người nào cũng gáy ốm, da mặt bủng beo. Tôi quay khá nhiều, đưa têlê lấy cảnh từ lúc chị em còn ở cửa máy bay đến cận những cái vỗ tay kêu trời gọi hồn người ngất, cảnh quay đầm đìa nước mắt.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Ba, 2012, 08:34:25 am

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/083.jpg)
Chuẩn bị buổi trao trả tại sân bay Lộc Ninh

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/3j-Vevoinhandan2.jpg)
Trao trả tại sân bay Lộc Ninh


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Ba, 2012, 10:42:34 am
        Theo yêu cầu của đại biểu ta, chị em tạm thời tập trung theo từng lô, kiểm tra thật kỹ cả những người đã được cáng đi cấp cứu, không thiếu ai. Vài tên sỹ quan nguỵ có nhiệm vụ áp tải bàn giao danh sách cũng đứng xúm lại gần. Một chi tóc xổ tung đứng bật dậy: "Đả đảo bọn tay sai bán nước", "Đả đảo quân dã man giết người". Các chị lồng lên xỉa vào một đại biểu nguỵ. Như có phép thần thông, những cái xác tả tơi bỗng chốc vùng tất cả lên, có mấy chị chạy sát đến cạnh đại biểu Hoa Kỳ thét lên: "Đả đảo đế quốc Mỹ xâm lược". Mấy người Mỹ không biết lùi đi đâu, đành đứng trơ ra đấy chịu trận. Lòng căm thù bùng cháy, chị em làm dữ quá, vừa khóc vừa thét vào mặt kẻ thù đến nỗi đại biểu ta phải xin chị em bình tâm lại. Bây giờ thì từ trong thắt lưng, tay áo chị em lôi ra cờ giải phóng, cờ đỏ sao vàng, biểu ngữ.., tuy số lượng ít hơn nam giới, nhưng các chị làm đẹp hơn. Những chiếc túi dết bằng dây nilon khá cầu kỳ, những chiếc túi vải màu thêu hoa, thêu chim, thêu sông núi, những dòng chữ nắn nót được thêu khá công phu nói lên ước vọng của họ: "Hoà bình", "Hạnh phúc", "Kỷ niệm những năm tháng ở...", "Tương lai tươi sáng", "Nhớ thương".., có phải ở cõi chết bao giờ người ta cũng hướng về đất sống? Và vì vậy họ mới trụ vững được như vậy?

   Trên đường vào lán trao trả, chị em quẳng đi tất cả những gì có dính dáng đến nhà tù Mỹ nguỵ từ mũ, áo, guốc dép, gạo sấy, thịt hộp, khăn tay, bàn chải... quăng tất cả đi cho bõ ghét.

        Hôm nay chúng trao trả 904 tù nhân phụ nữ, chưa có trẻ em, chúng đã gắn lại bảy cháu không dám đưa, vì sợ đến đây thấy các cháu bị tù đầy người ta sẽ đổ cơn phẫn nộ lên đầu những tên áp tải. Chuyến máy bay đầu tiên này chúng trả ta 100 chị em và sẽ đưa dần từ giờ cho đến chiều tám chuyến máy bay nữa.

        Có một cái gì đó không ổn. Bỗng dưng chị em ào vào một cô gái phục vụ đeo băng y tá, một chị chỉ mặt day trán thét: Trời đất nề, con phản bội, con chiêu hồi, giết nó đi.

        - Phải xé xác nó ra, này, này, này... Đám người quây lại miệng hét, tay đấm liên hồi.

        - Vì nó mà cả nhà tù Quy Nhơn bị đánh đập tra tấn dã man. Con chỉ điểm này, ai đã giết chị Nhâm? Nói đi.

        Cả trăm con người yếu lả ấy quây thành vòng tròn túm vào cào đánh, lột mũ, xé áo trút cơn thịnh nộ lên người đàn bà ngoài 20 tuổi.

        Sự việc bất ngờ đến nỗi các phóng viên không kịp giở tay, cán bộ trao trả không kịp can thiệp, đến mấy tên phóng viên nguỵ cứ rình rình chụp những sơ hở của ta để về "bêu" lên báo Sài Gòn cũng không kịp chen vào. Cán bộ giải phóng can ngăn mãi chị em mới chịu buông tha kẻ phản bội và giao cho an ninh giải phóng để tra xét xem thực hay lầm, rồi mới chịu đi về lán làm thủ tục trao đổi.

        Hai tên sĩ quan quân cảnh áp tải và tên đại uý Lộc răng vổ, đại diện phía Sài Gòn chuẩn bị điểm danh thì một chị đứng lên bảo chúng:

        - Các người cho tôi nói trước đã, quay sang phía cán bộ giải phóng chị thân tình: tôi xin phép các đồng chí và các vị đại biểu cho tôi nói đôi lời trước khi gọi tên.

        Nhưng tên quân cảnh cứ lờ đi như người điếc, làm tới, cất cái giọng lè nhè xướng tên người thứ nhất, không thèm đếm xỉa đến đề nghị của chị tù binh nọ. Như lửa cháy đổ thêm dầu, chị em lập tức vùng lên, thét vào mặt nó. Làn sóng phẫn nộ lan sang cả người phục vụ, chúng buộc phải đứng lại chờ nghe chị em nói, chị tù nhân nghiến răng nhìn vào ba tên nguỵ như thiêu, như đốt chúng, chúng cúi mặt chịu trận. Chị sửa lại tóc, xốc lại bộ quần áo tù nhân màu nâu cho thật ngay ngắn, rồi cất giọng đĩnh đạc:

        - Tôi xin thay mặt cho tất cả các chị em nữ tù ở đây xin phát biểu ý kiến để nói rõ vụ rắc rối vừa xẩy ra, để mọi người. đừng hiểu lầm. Chúng tôi đánh con phản bội vừa rồi là đánh kẻ thù chứ không phải chị em chúng tôi đánh lộn nhau đâu. Con ấy là con chiêu hồi, đầu hàng quân nguỵ, nó đã phản bội chị em ở nhà tù Quy Nhơn, chỉ điểm để đến nỗi có chị đã bị bọn nguỵ giết hại, còn hầu hết chị em do nó chỉ điểm mà bị đánh đập tra tấn tàn nhẫn. Quân thù dã man vô cùng, hầu hết chúng tôi đều mang tật suốt đời. Đòn thù phải trả bằng thù ? Chúng tôi muốn phanh thây, xé xác nó - chị nhìn chằm chằm vào ba tên nguỵ: tôi phải nói rõ vấn đề này cho mấy người biết, về Sài gòn đừng có mà xuyên tạc. Tôi nhắc lại, chúng tôi đánh kẻ thù chứ không đánh lẫn nhau, các người nhớ lấy.  Chúng tôi không nhầm thù với bạn. Các người nghe rõ chưa? Tôi nói hết rồi đấy !

        Chị hất hàm như ra lệnh cho tên quân cảnh cầm danh sách: "Bây giờ đến lượt chúng mày, chúng mày làm nốt thủ tục cuối cùng đi để chi em vào thay quần áo".

        Đến bây giờ thì cái giọng lè nhè của tên nguỵ được phép cất lên. Nó đọc họ tên, số tù, lô tù, chả ai thèm nói với nó là "có" hay "không", cứ tự nhiên phẩy đít quần đứng lên đi về phía cửa nơi có các đồng chí giải phóng cám bản danh sách tương tự đánh dấu từng người, gật đầu chào rồi sà vào vòng tay đỡ của các cô phục vụ sang lán nhận quần áo mới, bộ quần áo mới biến những tấm thân tù tội của chị em thành quân giải phóng hiên ngang và kiêu hãnh.

        Còn những tám chuyến nữa, một số lượng tù binh phụ nữ khổng lồ hiếm nơi nào trên thế giới này có. Nguỵ Sài Gòn đã lập kỷ lục thế giới của thế kỷ 20 về tội ác man rợ này.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Ba, 2012, 10:44:13 am
        Nhưng con số mà phía Sài Gòn thông báo chưa phải là con số cuối cùng, vẫn còn nhiều, rất nhiều nữa những người quan trọng mà chúng cố tình bưng bít. Con số hơn 900 người này mới là trao trả ở một địa điểm, còn nhiều điểm trao trả khác chưa thống kê hết được. Một đồng chí cho chúng tôi xem sơ đồ trại giam Phú Quốc, nó có bốn dãy A, B, C, D chiếm cả một vùng đồi, mỗi dẫy có 11 nhà vị chi là 44 nhà giam lớn, trong đó có 14 nhà giành cho bọn chiêu hồi nhân viên và quân cảnh gác trại, còn lại mỗi nhà giam hơn 1.000 tù binh nam giới, hai hôm trước họ trả ta như vậy mới hết có một nhà, còn gần 30 nhà nữa giam khoảng 28-30 ngàn tù binh, một con số khổng lồ trong một trại gam khổng lồ ấy là chưa kể các nhà giam khổng lồ khác như Côn Đảo, Phú Bài, Biên Hoà, Quy Nhơn, Khám Lớn và hàng chục nơi khác. Không cần óc tưởng tượng nhiều lắm cũng đủ thấy miền Nam trong tay Mỹ ngụy quả là một địa ngục trần gian, nhiều người chống lại chúng đến như vậy.

        Chuyến máy bay thứ hai chở chị em tù binh đến đã hạ cánh, chuyến này từ Cần Thơ đến. Cũng như chuyến trước, bọn quân cảnh lốc nhốc chui ra trước, rồi mãi sau chị em tù mới dìu dắt nhau ra. Chị em rất yếu, nắng gay gắt, tiếng máy bay gầm rú to quá, do xúc động mạnh, chị em choáng váng ngã đè lên nhau, thảm thương vô cùng? Các đồng chí phục vụ y tế đem cáng thương chạy lại định xốc chị em lên cáng bình thường như chuyến trước. Nhưng không xong rồi, chị em trong máy bay ào ra, người ra trước quay lại níu lấy người ra sau, các bạn tù giữ chặt lấy người ngã ngất, quyết không cho đem lên cáng, vừa xô đẩy giành giật vừa hò hét nháo nhào, các cô y tá ngớ người ra trước những cử chỉ không bình thường và những tiếng thét phẫn nộ.

        - Không cho chúng nó cướp người chị em ơi ?

        - Không được đem chị em đi thủ tiêu, đả đảo quân giết người.

        - Cứu lấy người của ta chị em ơi ! Đừng cho chúng nó tiêm, chúng tiêm thuốc hoại thể đấy, chặn tay chúng nó lại...

        Mọi người sững sờ, ứa nước mắt về hành động hiểu lầm tai hại nhưng đáng trân trọng biết bao. Tinh thần đoàn kết bảo vệ mạng sống cho đồng đội, đấu tranh chống địch từng chi tiết nhỏ đáng khâm phục biết nhường nào.

        Một đồng chí quân y sĩ rưng rưng nước mắt, nói to lên:

        - Các chị ơi, đây là vùng giải phóng Lộc Ninh, nhà ta rồi, không phải địch đâu? Đây là các anh, các chị, các đồng chí của Mặt trận giải phóng đấy, người của cách mạng thiệt đấy! Các chị ơi, phải để các đồng chí y tá cấp cứu cho người bị ngất, các chị ơi... 

        Đồng chí quân y sĩ giải phóng cố giải thích, nhưng chị em vẫn ngờ vực, thì ra kẻ địch đã lừa gạt các chị nhiều lần quá, thành thử chị em phải cảnh giác để bảo toàn mạng sống cho đồng chí mình. Hôm trước địch trao trả các đồng chí nam cũng vậy, nghi ngờ mọi hành động của địch là điều cần thiết. Nhưng khi biết đích thị là địch trao trả thì lòng căm thù tột cùng chuyển sang trạng thái xúc động mãnh liệt, bộc lộ toàn bộ tình cảm thật của mỗi người. Còn chị em thiết thực hơn, nếu để chúng vô cớ đem đi mất một người, biết chúng sẽ làm gì với chị em đó, khác với các tù binh nam nhiều lắm.

        Trong lúc bối rối này, mọi người có mặt ở đây đều tự thấy mình có nhiệm vụ làm cho chị em hiểu rõ hoàn cảnh thực của họ. Họ đang ở đâu? Những người đang có mặt ở đây là ai? Tại sao lại có cả quân nguỵ, quân Mỹ, quân giải phóng và bộ đội Hà Nội?

        Chiếc máy bay C130 này là ta buộc phía Mỹ phải dùng nó làm phương tiện đưa chị em ở các trại giam ra vùng giải phóng, chị em nhìn ra xung quanh sân bay thì biết, đây là sân bay giải phóng cạnh thị xã Lộc Ninh.., khi chị em bình tâm lại, nhận ra sự thực, hạnh phúc quá, chị em ôm nhau khóc như ri, rất có trật tự họ đi về lán trao trả.

        Có mấy chị em bị té xỉu, sau khi tỉnh lại ở trạm cấp cứu đều kiên quyết đòi về với đồng đội. Các cô y tá giải thích thế nào cũng không nghe, đưa nước cũng không uống, các cô bị xỉ vả oan, đến khi gặp lại những người đã được gọi tên vào thay quần áo thì mới ngỡ ngàng đến bàng hoàng ôm lấy các cô y tá xin lỗi.

        Hạnh phúc này đến với chị em quá bất ngờ, sung sướng hơn cả những giấc mơ. Còn gì sung sướng hạnh phúc hơn được thoát khỏi địa ngục trở về nơi đất sống.

        Suốt từ sáng đến chiều đều xảy ra những sự việc na ná như vậy ở mỗi chuyến máy bay. Đó là cảnh tượng nơi trao trả, còn nơi đón tiếp chính thức trong phố Lộc Ninh thì sao, tôi theo xe chở chị em vào thị trấn.

        Trước cửa hội trường lớn (nguyên là nhà hội quán cũ của quân nguỵ) một tấm biểu ngữ dài, rực rỡ căng suốt đầu hồi "Nhiệt liệt hoan nghênh những người con ưu tú đã đấu tranh thắng lợi từ phía trước trở về". Giữa nhà hai lá cờ Tổ quốc căng chéo tường, ôm lấy bức chân dung Bác Hồ. Trên mặt bàn là một lọ hoa to, sàn nhà trải chiếu nilon la hệt, ở mỗi chiếu bầy một mâm bánh, quả, thuốc lá thơm và một bộ ấm chén đã pha chè hương sen thơm ngát, bơn chiếc loa nén cỡ lớn được máy tăng âm khuếch đại từ một chiếc đài cát sét hiện đại phát những bài hát hay nhất của các nhạc sỹ miền Bắc và quân giải phóng miền Nam. Tiếng hát vang vang làm cho bầu không khí vốn trầm lặng của thị trấn trở nên huyên náo. Bà con kẻo hết ra đứng chật bên đường đón những chị em chiến thắng trở về. Xe mới vào chớm đầu cầu bà con đã vỗ tay đón chào nồng nhiệt, có nhiều người chạy theo xe tay bắt, mặt mừng, đem thang, đem ghế đón từng người trên xe xuống đưa vào hội trường nghỉ ngơi lại sức. Nét bàng hoàng vì hạnh phúc to lớn quá, bất ngờ quá vẫn còn in trên nét mặt mỗi người. Nước mắt lại chan hoà, lòng xốn xang cảm động trong vòng tay đùm bọc của bà con cô bác. Nước mắt sum họp thấm đẫm, những lời nói yêu thương đã làm những gương mặt võ vàng trở nên tươi tắn. Hội trường đầy ắp người, tràn ngập tình nghĩa yêu thương. Chị em không thể ăn được gì mặc dầu đấy là những sản vật quý của địa phương, những trái ngon quả ngọt. Miệng thì cười, nhưng nước mắt tràn mi, các nữ tù binh chỉ ôm chặt lấy các mẹ, các cô, các cháu nức nở khóc, kể sơ sơ về những ngày bị tra tấn, tù đầy của mình.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: TANVINHprc25 trong 11 Tháng Ba, 2012, 02:24:58 pm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/TraanfQuangNhaj.jpg)

KỶ NIỆM CHUYẾN ĐI THẠCH HÃN

Trần Quang Nhạ              
       
        Một ngày đầu tháng hai năm 1973, tôi được lệnh đi cùng đại uý Nguyễn Thành Lên, thành viên của Đoàn đại biểu quân sự CPCMLTCHMNVN và trung tá Nguyễn Lân, thành viên Đoàn đại biểu quân sự CPVNDCCH. Cùng đi có các thành viên của Đoàn Mỹ, Đoàn chính quyền Sài Gòn trong BLH QS bốn bên, và đại diện Uỷ ban Quốc tế.
..........
        
        Còn nhiều điều muốn nói về chuyến đi này. Đây là chuyến đầu mở màn cho những lần trao trả tiếp theo. Ký ức khó phai mờ của chuyến đi là hình ảnh cầu Thạch Hãn bi hùng, chồng chất lên nó bao đạn bom của giạc để lại. Hình ảnh về những chiến sỹ Quân giái phóng kiên cường bám trụ thành cổ Quảng Trị hơn hai tháng trời dưới mưa bom, bão đạn mùa hè năm 1972 cứ hiện lên trong tôi cùng với câu thơ của một người lính nào đó viết:

                                  Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ,
                                  Đáy sông còn đó bạn tôi nằm.
                                  Có tuổi hai mươi cùng sóng nước,
                                  Vỗ yên bờ bãi mãi nghìn năm.



Chào bác Giangtvx,

Tôi đọc topic về Trại Đa-vít - một mặt trận đặc biệt của ta ngay trong trung tâm SG ngày ấy, cứ nghĩ tới bác Nhạ đồng nghiệp của tôi nhiều năm ở Trường ĐH Ngoại thương hồi ấy bác công tác trong phái đoàn ta tại Đa-vit, thì nay được đọc bài viết của bác Nhạ.
Nhìn ảnh bác Nhạ trẻ quá, chắc ảnh chụp nhiều năm trước. Bác Nhạ có vào đọc DN-GN không hở bác Giang ?
Chúc bác khỏe.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Ba, 2012, 03:13:56 pm
Chào bác TANVINHprc25. Ảnh này tôi chụp ngày 19/9/2009 tại Hà Nội (http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,7565.30.html). Nếu bác muốn liên hệ thì có thể gửi địa chỉ, số điện thoại qua tin nhắn, tôi sẽ chuyển lại cho bác Nhạ. Tôi cũng không rõ là bác ấy có hay vào đây không nhưng các thành viên của trại Đa-vít đều biết trang này. "Đơn vị" đang chuẩn bị đón danh hiệu anh hùng và tổ chức lễ mừng công, chắc bác Nhạ cũng sẽ tới.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Ba, 2012, 03:25:36 pm
KÝ ỨC MỘT THỜI (tiếp theo và hết)

        Một bà má đứng lên, tiếng loa im bặt, giọng mẹ run run:

        - Thưa cấp uỷ, thưa chị em và các đồng chí, tôi sung sướng được thấy chị em ta trở về với mặt trận, với cô bác. Tôi đã ngót 70 tuổi rồi, hôm nay vui, tôi như trẻ lại, tôi chỉ tiếc ông nhà tôi mất rồi không được thấy hôm nay. Trước đây ông cứ ước ao thấy con cháu như ngày hôm nay được trở về với cha mẹ, với đồng đội. Đây con gái tôi đây - Bà cứ ôm một chị tù binh, nước mắt đầm đìa: con tôi đã được về với má, út ơi ?... Thưa cấp uỷ, thưa chị em và các đồng chí, má già rồi không còn làm gì được nữa, cám ơn cách mạng, cám ơn các con đã đấu tranh quên mình để có ngày hôm nay. Má đã sống ở đây nhiều năm, má đã nếm đủ mùi cay cực từ Tây đến Mỹ, má thương các: con quá, các con chịu nhiều cay cực để hôm nay trở về với má, má chỉ mong các con mạnh giỏi, chóng lại sức để về với gia đình, với chồng con...

        Khi má ngồi xuống, chị em xúm lại ôm chầm lấy má, nước mắt đầm đìa:

        - Má ơi! Má cũng là má của con, má ruột con cũng tuổi má đó à, má con ở Châu Đốc không biết bây giờ sống chết ra sao?...

        Những giơ phút thiêng liêng này là lúc bận rộn nhất của cánh phóng viên chúng tôi. Sau đó đại diện chính quyền, đại diện Mặt trận uý lạo chị em trở về và bà con đến dự. Tôi muốn biết tường tận về vụ ẩu đả ban sáng, tôi hỏi một chị cán bộ địa phương, có cả mấy chị biết rõ sự việc cũng góp chuyện:

        - Cái cô ban sáng bị chị em phát hiện đánh cho một trận ấy, không phải người ở đây mà trôi dạt từ đâu đến chưa rõ, hiện nay đang bán hàng nước ở góc phố đằng kia, có người gọi nó là Thành, có người gọi nó là Hằng, cũng chẳng ai để ý xem tên thật của nó là gì, bây giờ được chị em phát hiện, các đồng chí an ninh giải phóng sẽ làm rõ mọi chuyện.

        Một chị tù binh kể:

        - Nói để anh rõ thêm về cô ấy, tôi cũng vừa ở nhà lao Quy Nhơn bị chuyển về Cần Thơ. Tôi biết nó tên là Bùi, chính quê ở Bình Định, bị bắt cùng với một số chị em. Nó đã chiêu hồi phản bội lại đồng chí mình, chỉ điểm từng người để tâng công, do đó địch biết rõ hoạt động của một số chị, rồi đánh đập, tra tấn, hãm hiếp tàn nhẫn lắm, có chị đã chết vì bàn tay phản bội của nó. Chính nó cũng khai ra chị Nhâm để địch giết mất chị ấy, sau đó nó được bọn nguỵ thả ra chắc là muốn cài cắm vào vùng giải phóng để phá hoại đây. Tôi cho là bọn địch đã đem nó từ Bình Định trà trộn vào đây để phá hoại vùng giải phóng.

        - Thế tại sao nó lại có mặt trong đội phục vụ ở sân bay?

        - Nó đóng giả đấy, chị cán bộ địa phương trả lời, lợi dụng mấy đồng chí lái xe ra vào sân bay hay lui tới hàng nước của nó, nó đã lọt được vào chỗ trao trả, định liên lạc gì đó với bọn quân cảnh nguỵ thì bị chị em ta phát hiện, con này ghê lắm, lúc đầu nó còn chối bảo lầm. Hàng trăm con mắt nhầm sao được, nó lăn ra ăn vạ, còn doạ "nếu không giải quyết đền thương thì nó sẽ tự vẫn ngay".

        Nhưng nào nó có dám làm gì, đưa một số nhân chứng đến vạch rõ từ quê hương bản quán, đến hành vi phản bội, nó không còn chối vào đâu được. Con này có lẽ được bọn Thiên Nga sai lợi dụng lúc giao thời lọt sâu vào vùng giải phóng hoạt động gián điệp, không may cho nó, chị em nhà tù Quy Nhơn lại được trao trả ở đây nên mới nhận ra nó, các đồng chí an ninh đã quản chặt nó rồi. Thành là tên giả đấy ?

        Lại một chuyến C130 nữa đến, chị em cũng được đón tiếp ân cần như chuyến trước, nước mắt căm hờn hoà với niềm vui sướng. Hàng chục chiếc xe Hồng Hà đồ sộ cắm cờ giải phóng chạy ra, chạy vào đón rước chị em. Thị trấn Lộc Ninh đã thực sự là thủ đô của vùng giải phóng, mở hội đón anh chị em tù binh chiến thắng trở về.  .
                        
                     
Hà Nội ngày 28/9/2007              


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: TANVINHprc25 trong 11 Tháng Ba, 2012, 03:32:41 pm
Chào bác TANVINHprc25. Ảnh này tôi chụp ngày 19/9/2009 tại Hà Nội (http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,7565.30.html). Nếu bác muốn liên hệ thì có thể gửi địa chỉ, số điện thoại qua tin nhắn, tôi sẽ chuyển lại cho bác Nhạ. Tôi cũng không rõ là bác ấy có hay vào đây không nhưng các thành viên của trại Đa-vít đều biết trang này. "Đơn vị" đang chuẩn bị đón danh hiệu anh hùng và tổ chức lễ mừng công, chắc bác Nhạ cũng sẽ tới.

Cảm ơn bác Giangtvx, chúc mừng các bác. Tiện thì bác cho nhắn bác Nhạ là có đồng nghiệp lính Quảng Trị 72 cùng khoa NN hỏi thăm là bác ấy nhớ ra tôi ngay.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Ba, 2012, 05:42:01 pm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/3ba-Chungminhthu2.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/5d-DaitaHoangDuyHa-Tieubantraotra.jpg)

THẮNG LỢI TRONG MỘT TÌNH HUỐNG TRAO TRẢ

Đại tá Hoàng Duy Hoà              
        Sỹ quan trao trả Đoàn B

        Tiểu ban trao trả của ta trong đoàn đại biểu quân sự chính phủ CMLTCHMNVN đã đưa ra nhiều bằng chứng, nhiều lý lẽ đấu tranh quyết liệt đòi phía Sài Gòn phải trao danh sách trả tù chính trị cho ta, trong đó có tên chị Võ Thị Thắng. Chúng tôi mang theo cuốn hoạ báo, ngoài bìa có ảnh rất lớn, chị Thắng cười trước toà án Sài Gòn khi bị chúng tuyên án, để đối chiếu xem địch trả có đúng người hay tráo trở.

        Tại sân bay Lộc Ninh, sỹ quan Liên Hợp Quân Sự (LHQS) Sài Gòn đọc tên từng người để bàn giao, mới gọi tên người thứ ba là chị Võ Thị Thắng thì trung tá Nguyễn Thế Thứ của Sài Gòn ở chỗ máy thông tin của họ chạy vào ra lệnh:

        -  Ngừng gọi tên và đưa tù binh trở lại Biên Hoà!

        Vẻ mặt tức giận anh ta thông báo cho ta biết:

        -  Máy bay trực thăng Si-núc chở tù nhân lên đây, quay về Biên Hoà, trên đường bay trung sỹ kỹ thuật viên đang đứng cửa nhìn xuống bị quân đội các vị bắn chết. Chúng tôi được lệnh ngừng trao trả, các vị gây nên việc này phải chịu trách nhiệm ?

        Bọn quân cảnh áp giải tù nhân đã vây quanh họ không cho ai đứng dậy, không cho ai nói năng gì, chúng ấn đầu từng người xuống và quát to:

        -  Chưa gọi tên bàn giao, chưa được phép sang chính quyền bên kia...

        Tổ trưởng LHQS của ta nói:

        -  Nghị định thư trao trả của Hiệp định Pari, theo điều 8 không bên nào được đàn áp tù nhân, họ phải được bảo vệ, không được dùng bạo lực, xúc phạm đến tính mạng thân thể. Các vị làm như vậy là vi phạm Hiệp định. Đây không phải là nhà tù Côn Đảo, khám Chí Hoà của Sài Gòn mà quân cảnh hành hung thế nào cũng được. Nếu xảy ra điều gì đáng tiếc các vị phải chịu trách nhiệm, chúng tôi yêu cầu Uỷ ban giám sát quốc tế chứng kiến việc này.

        Trong lúc đó có chiến sỹ ta nói to:

        -  Đã đưa tù nhân lên đây có danh sách rồi phải trả, nếu quân cảnh đánh tù nhân ở đây, sẽ cho nó bài học.

        Tổ trưởng LHQS ta nói:

        -  Đề nghị mọi người bình tĩnh!
       
        Và mời tổ LHQS Sài Gòn cùng tổ giám sát quốc tế vào bàn nước ôn tồn nói:

        -  Sự việc này xảy ra ở đâu không ai biết được và đấy có thực cũng không phải nhiệm vụ của các tổ LHQS ở đây. Nhân viên dân sự đã đưa lên Lộc Ninh phải được gọi tên trao trả, nhiều lần trao trả phía các vị cũng tạo cớ gây khó khăn vô lý.

        Trong khi đó anh chị em tù nhân có người đứng dậy nói:

        -  Phải nêu rõ lý lẽ đấu tranh. Không đưa tù nhân đi đâu mà phải trả hết, nhưng không nên gây căng thẳng giữa ta với họ!

        Trung tá Nguyễn Thế Thứ yêu cầu ra ngoài, cầm máy thoại báo cáo về Sài Gòn nói lên sự căng thẳng, không gọi tên bàn giao cũng không được, anh ta trở vào nét mặt buồn bực nói:

        Các vị cậy quyền sân bay của các vị, có đông cán binh của các vị và tù nhân các vị làm náo loạn, o ép buộc chúng tôi phải trao trả tiếp.

        Buổi trao trả lại tiến hành. Kết thúc buổi trao trả, chúng tôi cùng họ lên trực thăng về Sài Gòn, trực thăng Uỷ ban quốc tế đã bay về trước, trên đường bay ta quan sát thấy lạ, hỏi phi hành đoàn bay:

        -  Các anh bay đi đâu thế!

        Nó nói:

        -  Về đổ xăng ở Biên Hoà.

        Ta nói:

        -  Nhiều lần trực thăng (LHQS) bay Sài Gòn -  Lộc Ninh và ngược lại có bao giờ phải xuống Biên Hòa đổ xăng đâu mà lần này lại lấy xăng ở đó ?

        Tên trưởng phi hành đoàn nói:

        -  Có lệnh xuống Biên Hòa đó là việc của chúng tôi, rồi các ông sẽ biết.

        Ta nói với trung tá Thứ cùng ngồi hàng ghế trên:

        -  Các vị lại dở trò gì đây đường bay đi, về đã được trưởng phái đoàn 4 bên quy định, không phải các vị muốn đỗ xuống chỗ nào cũng được. Các vị đến vùng kiểm soát của chính phủ cách mạng được đảm bảo an toàn, chúng tôi đến vùng kiểm soát của các vị cũng phải được như vậy.
    


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Ba, 2012, 05:46:27 pm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/5j-Nucuoichienthang2.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/5j-Nucuoichienthang3.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/5j-Nucuoichienthang.jpg)

Nụ cười chiến thắng


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Ba, 2012, 05:54:06 pm
        Biết là có chuyện lôi thôi, máy bay vừa đỗ xuống nơi để xác viên trung sỹ chết cách đó 50m, có đông người mặc quân phục và thường phục, sát khí đằng đằng chạy đến nói oang oang:

        - Bắn chết người phải đền tội, đưa họ đến chứng kiến người bị bắn chết, yêu cầu họ ở lại đây làm lễ truy điệu!

        Sỹ quan LHQS Sài Gòn nói:

        -  Cùng làm nhiệm vụ đi trao trả tù nhân, các vị cùng chúng tôi ở lại thắp hương viếng người bất hạnh.

        Chúng tôi vẫn ngồi trong máy bay không xuống, bọn phi công nói như ra lệnh:

        -  Để nạp xang vào máy bayđể dảm bảo an toàn phải xuống hết kể cả phi hành đoàn. Nếu các vị klhông xuống thì ở đây đến mai giải quyết xong việc mới về Sài Gòn.

        Chúng tôi nhắc nhau cứ xuống xem họ làm gì được ta, trong khi đó có 2 xe jeép chở sĩ quan Sài Gòn đến gần trực thăng, một người đeo lon trung tá nói to:

        -  Mời LHQS cả hai bên và các chiến hữu vào nhà ga sân bay.

        Chúng tôi không đi thì có một người mạc thường phục đeo kính đen cùng mấy binh sĩ Sài Gòn chạy đến sấn sổtrước mặt chúng tôi:

        - Xin hỏi các ông, máy bay trực thăng sơn 4 vạch màu da cam các ông có biết đó là ký hiệu LHQS không ?

        - Chúng tôi biết rõ nên mới cùng. LHQS các vị đi giám sát trao trả.

        - Đã biết sao lại bắn chết người trên máy bay, các ông đến mà xem những vết đạn trên người chết.

        Ta nói:

        -  Chắc máy bay của các ông bay không đúng đường bay quy định. Đã mấy lần máy bay sơn ký hiệu LHQS oanh tạc vùng giải phóng và đã bị quân giải phóng trừng trị đích đáng.

        Chúng tôi nói thẳng với trung tá Thứ:

        -  Các vị không giải thích rõ việc này để họ nói những lời nói thô bạo với chúng tôi là không được, phải chăng đó là phong cách ngoại giao của các vị. Yêu cầu các vị cùng chúng tôi lên máy bay về Sài Gòn ngay, không chần chừ ở đây được nữa.

        Một sỹ quan của họ nói:

        -  Không đến chứng kiến người bị bắn chết, không ở lại thắp hương làm lễ truy điệu thì trực thăng chưa cất cánh được

        Và họ nói rằng:

        -  Không cho trực thăng nổ máy, phi hành đoàn của ta không được cất cánh.

        Biết âm mưu của họ đưa ta vào việc này để những phần tử quá khích có lời nói thô bạo mạt sát và để họ buộc ta ký vào biên bản. Chúng tôi khẳng định với nhau: Cảnh giác không mắc mưu, không thắp hương truy điệu, không đến chỗ người chết, không ký kết bất cứ văn bản nào.

        Tôi yêu cầu trung tá Thứ nối điện thoại để báo cáo trưởng đoàn quân sự ta ở trại Đa vít, họ nói:

        -  Điện thoại quân sự không nói nhờ được

        Họ đông người vây quanh chúng tôi vừa doạ nạt, vừa nói ngọt, chúng'tôi kiên quyết từ chối mọi yêu cầu của họ và nói:

        -  Đây không phải nhiệm vụ của chúng tôi: Chúng tôi sẽ báo cáo việc này về các trưởng đoàn giải quyết. Các vị gây sức ép với chúng tôi là không đúng với nghị định thư của hiệp định, trái với điều 10 về nhiệm vụ các ban LHQS. Chúng tôi sẽ đưa việc này để uỷ ban quốc tế biết và tổ chúc họp báo các vị phải chịu trách nhiệm.

        Nguyễn Thế Thứ liên tục gọi điện báo về Sài Gòn, cùng số sỹ quan gọi mọi người của họ đi về phía người chết trao đổi với nhau. Anh ta trở lại mời chúng tôi lên máy bay và ra lệnh cho phi hành đoàn phát động máy bay về Sài Gòn, trung tá Thứ nói:

        -  Ở Lộc Ninh các vị đấu tranh bằng được phải trao trả hết tù chính trị, về Biên Hoà các vị từ chối bằng được việc dự lễ truy điệu người bị các vị bắn chết, việc đúng, sai các vị nêu lý lẽ và bao giờ các vị cũng giành phần thắng.

        Sỹ quan ta nói rõ là chính nghĩa và lẽ phải mới giành phần thắng, chúng tôi biết rất rõ là quân đội Sài Gòn đã nhiều lần dùng trực thăng sơn 4 vạch màu da cam (ký hiệu máy bay LHQS) để thực hiện những ý đồ đen tối của mình.

        Chúng tôi về báo cáo với trưởng tiểu ban và thủ trưởng đoàn, đồng chí Hoàng Anh Tuấn nói:

        -  Trường hợp này mới xảy ra lần đầu, diễn biến rất phức tạp, các đồng chí đã độc lập xử trí ở Lộc Ninh và ở Biên Hoà không gây căng thẳng, cũng không nhân nhượng, vừa nhận hết tù chính trị của ta, vừa đối thoại lý lẽ sắc bén đã giàng được thắng lợi. Việc này cần rút kinh nghiệm về cách xử lý tình huống. Các đồng chí đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ!

        Chúng tôi rất phấn khởi vì đã giành thêm một thắng lợi trong trường hợp trao trả tình hưống khá bất ngờ, hiểm hóc và phức tạp.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Ba, 2012, 02:54:18 am

CHUYỆN TRAO TRẢ Ở ĐỨC NGHIỆP

Nguyễn Hùng Đào              
       
        Hôm ấy tổ Liên hợp quân sự hai bên Trung ương, trong đó có đại úy Hoàng Duy Hòa, đại úy Trần Văn Hoằng và thượng úy Nguyễn Hùng Đào, đại diện cho Đoàn Đại biểu quân sự  CPCMLTCHMNVN và 3 sĩ quan ngụy, đại diện cho Đoàn đại biểu Quân sự VNCH cùng Ủy ban Quốc tế đi giám sát đợt trao trả 100 tù binh ngụy tại Đức Nghiệp. Chúng tôi đi máy bay trực thăng từ Sài Gòn đến Plei.ku. Một máy bay trực thăng khác đã chờ sẵn ở đó. Trước khi lên máy bay, chúng tôi phát hiện thấy trên chiếc trực thăng này có một trụ gắn súng đại liên và 8 băng đạn. Chúng tôi liền chụp ảnh và gọi sĩ quan phía Sài Gòn đến phản đối việc họ lợi dụng máy bay sơn ký hiệu Liên hợp quân sự để đi oanh tạc vùng giải phóng là vi phạm Hiệp định. Họ lúng túng, không có cách nào biện minh cho hành động sai trái đó nên đành đổ lỗi cho cấp dưới làm ăn tùy tiện. Thế là ta đã thắng!.

        Chúng tôi đi cùng máy bay lên thẳng với 3 sĩ quan ngụy. Máy bay khởi hành chậm khoảng 30 phút so với thỏa thuận. Địa điểm trao trả được tổ chức tại một vùng đồi núi trong rừng sâu, máy bay bay cao hơn so với độ cao bình thường nên rất khó phát hiện. Máy bay phải lượn đến vòng thứ 5 mà vẫn chưa tìm ra được địa điểm trao trả. Chúng tôi hơi lo, vì sợ bộ đội ta tưởng quân đội Sài Gòn cho máy bay lên thẳng đi bắn phá vùng giải phóng sẽ nổ súng thì rất nguy hiểm. Thoáng nghĩ vậy, nhưng chúng tôi vẫn bình tĩnh vì xác định, nếu có bị bắn rơi, có hy sinh cũng là hy sinh cho sự nghiệp giải phóng mà cả đoàn chúng tôi, từ sĩ quan cao cấp đến chiến sĩ đã xác định tư tưởng ngay từ khi đặt chân đến trại  Đa - Vít hoạt động công khai giữa sào huyệt địch. Cả 3 sĩ quan ngụy và viên phi công đều mặt tái mét lộ vẻ hoảng sợ. Bay lượn đến vòng thứ sáu mới tìm thấy địa điểm trao trả, rõ nhất là lá cờ nửa đỏ, nửa xanh đang tung bay trong gió. Mọi người thở phào nhẹ nhõm. Mấy sĩ quan ngụy mừng ra mặt….

        Địa điểm trao trả được làm đơn giản với những dãy nhà bằng tre lợp tranh, rất sạch sẽ, thoáng mát. Cuộc trao trả bắt đầu. Chúng tôi mời sĩ quan ngụy và Ủy ban Quốc tế, vào nhà để bàn chương trình trao trả. Họ không vào. Một trong 3 tên hung hăng, nói: "Chúng tôi phản đối phía các ông. Đây là nơi trao trả, là nơi làm việc của các sĩ quan trong Ban Liên hợp và Ủy ban Quốc tế, các ông không được treo cờ Mặt trận, không được treo khẩu hiệu!" đại diện phía ta bình tĩnh nói: "Đại diện phía các ông có thái độ không đúng. Các ông nên nhớ rằng đây là vùng giải phóng, thuộc quyền kiểm soát của chúng tôi, làm gì là quyền của chúng tôi, các ông không nên và cũng không được phép can thiệp. Chúng tôi tuyên bố: "Nếu các ông không muốn nhận người của các ông, muốn phá cuộc trao trả này thì xin mời các ông ký vào biên bản, mời Ủy ban Quốc tế xác nhận rồi các ông về cho kịp thời gian. Nếu muộn, phía chúng tôi không chịu trách nhiệm về sự an toàn trên đường bay trong vùng giải phóng rộng lớn của chúng tôi đâu!".

        Lời tuyên bố kiên quyết và cứng rắn như gang thép đã làm cho 3 sĩ quan Sài Gòn xuống thang. Đuối lý, một tên dịu giọng, tỏ vẻ biết điều, nói: "Chúng tôi đồng ý, xin được cùng các ông vào nhà bàn chương trình trao trả". Cuộc đấu trí lần này tại địa điểm trao trả Đức Nghiệp ta lại thắng, đối phương lại thua.
Cuộc trao trả chính thức bắt đầu muộn hơn khoảng 30 phút so với dự định ban đầu. Đại diện phía ta trao cho đối phương bản danh sách gồm 100 tù binh ngụy bị ta bắt và giam giữ, trong đó có một tên do bị thương nặng rồi ốm chết, còn lại 99 tên. Đại diện phía Sài Gòn tiếp nhận từng tên, tất cả 99 tên này, tên nào cũng rất khỏe mạnh. Có lẽ do tâm lý được thoát chết, được ta đối xử nhân đạo và trao trả về đoàn tụ với gia đình nên tên nào cũng đi rất nhanh, có tên đi như chạy nhưng muốn giở trò khiêu khích địch đã diễn màn kịch vụng về và trơ trẽn đến mức "diễn viên" đóng vai chính cũng thấy ngượng.

        Vậy màn diễn ấy thế nào? Xin cung cấp cho mọi người hiểu màn diễn vụng về ấy bắt nguồn từ một âm mưu với mục đích sâu sa có chuẩn bị trước. Mỗi chiếc máy bay chở tù binh đều đưa theo một số khá đông nhân viên y tế và nhiều cáng. Số nhân viên y tế này không được phép tiếp cận với tù binh mà chỉ được phép đón họ ở bên ngoài cách nhà tạm nghỉ của tù binh vài chục mét. Mọi người đều thấy rõ tù binh từ nhà nghỉ ra tên nào cũng vui vẻ, phấn khởi, đi rất nhanh nhưng khi đến vị trí họ được phép tiếp nhận lại thấy 2 nhân viên y tế xốc nách dìu một người để chứng tỏ với mọi người xung quanh là tù binh này không thể tự đi được cần người dìu. Nực cười và lố bịch hơn có một số tù binh đang đi thì nhân viên y tế làm động tác giả vờ đỡ, nhưng thực chất là vật xuống bắt họ nằm trên cáng khiêng đi, có tên tự thấy ngượng nên đang nằm lại lồm cồm ngồi dậy nhẩy xuống đất tự đi. Số được dìu và được khiêng mới ra khỏi khu vực dãy nhà trao trả đã vội vàng chạy nhanh đến chỗ máy bay đậu tranh thủ lên máy bay để về với gia đình. Mấy ông "phó nháy" phía họ chụp lia lịa những hình ảnh này. Chúng tôi không can thiệp vì trò hề không vi phạm Hiệp định và Nghị định thư, cũng không ghi lại những hình ảnh nực cười này, vì thấy không cần phải tốn phim vô ích. Phía ta đã chuẩn bị lý lẽ để vạch trần trò hề lố bịch và trơ trẽn đó của họ, nếu phía Sài Gòn đưa hình ảnh này ra bàn hội nghị cấp trưởng đoàn và cho đăng trên báo để xuyên tạc chính sách nhân đạo của ta đối với tù binh họ. Nhưng điều đó không xảy ra. Họ không dám làm vì sợ "Gậy ông đập lưng ông", sợ trò hề lố bịch đó chỉ làm trò cười cho thiên hạ, sợ dư luận trong nước nhất là dư luận ở Sài Gòn và thế giới phê phán...

        Một vị trong Ủy ban Quốc tế nói vừa đủ để những người đứng gần đó nghe rằng : "Đây là một trò hề lố bịch".

        Cuộc trao trả kết thúc trước sự giám sát và chứng kiến của Tổ Liên hợp quân sự và Ủy ban Quốc tế. Chúng tôi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà lãnh đạo Đoàn ta giao phó trước khi đi giám sát đợt trao trả và trở lại trại Đa - Vít để cùng đơn vị tiếp tục cuộc đấu tranh công khai còn đầy khó khăn, phức tạp và có thể hy sinh giữa sào huyệt địch…
-------------                                 
 Đức Nghiệp thuộc tỉnh Gia Lai
        


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Ba, 2012, 10:13:32 am

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/DSC00177.jpg)

BỂ CÁ CẢNH TRONG TRẠI ĐA-VÍT

HOÀNG KHÁNH              
       
        Trong Đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam có một bộ phận làm công tác bảo vệ. Đó là Ban Bảo vệ, bao gồm những cán bộ được lựa chọn từ các sĩ quan của Phòng Bảo vệ Miền và sĩ quan an ninh của các đơn vị chiến đấu đưa vào.

        Họ là những cán bộ đã được thử thách nhiều năm trong công tác bảo vệ an ninh và trong chiến đấu tại chiến trường, một số đồng chí là Dũng sĩ diệt Mỹ, diệt ngụy, diệt máy bay, xe tăng... Ngoài ra có những đồng chí của Bộ Công an đã làm công tác bảo vệ ở Hội nghị Pa-ri được bổ sung vào Ban Bảo vệ chuyên đi sâu đảm bảo giừ gìn cơ mật và một số khâu an toàn. Cán bộ bảo vệ được bố trí làm nhiều công việc khác nhau như sĩ quan liên lạc, sĩ quan chỉ huy cảnh vệ, sĩ quan cận vệ, sĩ quan trao trả, sĩ quan hậu cần, sĩ quan đảm bảo kỹ thuật.., có bộ phận được bố trí ở những khu vực cần thiết để thuận tiện cho việc bảo vệ các đồng chí lãnh đạo đề phòng và đối phó kịp thời với những tình huống xấu mà kẻ địch có thể gây ra.

        Trưởng ban của chúng tôi là đồng chí Vũ Nam Bình, anh quê ở Hà Tây, vào chiến trường từ năm 1964, liên tục công tác và chiến đấu tại nhừng vùng trọng điểm khó khăn và ác liệt. Khi cần, Bộ chỉ huy Miền còn điều động anh xuống làm chính ủy một trung đoàn bộ binh. Anh được mọi người kính trọng, tin yêu. Chúng tôi coi anh như người anh cả trong gia đình. Theo phong tục Nam Bộ, mọi người gọi anh là: Anh Năm Bình! Ban Bảo vệ dù mỗi người ở một vùng quê khác nhau về đây nhưng gắn bó yêu thương nhau như ruột thịt. Chúng tôi tự hào được sống và làm việc trong một tập thể như thế trong suốt thời gian ở trại Đa-vít.

        Ban Bảo vệ có nhiệm vụ tổ chức bảo vệ chặt chẽ về mặt chính trị, tư tưởng, bảo đảm tuyệt đối bí mật và an toàn cho mọi thành viên trong đoàn, không để kẻ địch dụ dỗ mua chuộc, lôi kéo, đầu độc, ám hại, bắt cóc hoặc đánh cắp bí mật. Bằng các biện pháp nghiệp vụ ngay trong những ngày đầu tiếp nhận trại Đa-vít ta đã kịp thời phát hiện, vô hiệu hoá các thiết bị thu phát thông tin của địch, tiến hành xây dựng phòng cách âm và phổ biến quy chế an toàn các loại giấy tờ tài liệu, bảo đảm bí mật tuyệt đối không để thất lạc mất mát, có phòng họp và làm việc không để địch thu thập những thông tin về đoàn ta. Hơn nữa, ta đã tận dụng mọi nguồn tài liệu để phát hiện và ngăn chặn kỉp thời nhừng mưu toan của địch để chủ động đối phó, hạn chế tác hại. Trong số những tên thường xuyên tiếp xúc quan hệ với ta, bằng những thông tin chính xác ta đã vạch mặt chỉ tên từng đứa là nhân viên CIA, DIA, người của Phủ đặc ủy trung ương tình báo ngụy, sĩ quan an mnh quân đội ngụy hay tên nào làm Ở Tổng cục Chiến tranh chính trị ngụy, chiến tranh tâm lý, Thiên nga, Phượng hoàng... Có tên hết sức ngạc nhiên, sửng sốt đến tột độ hỏi: "Bằng cách gì mấy ông biết quá rành về tụi tui vậy?" Ngay cả thủ đoạn bỉ ổi như lôi kéo, mua chuộc không được, chúng định tổ chức bắt cóc cán bộ, chiến sĩ ta sau đó tung tin họ :hồi chánh" nhằm hạ uy thế của phái đoàn, cũng bị ta sớm phát hiện và chúng không thực hiện được.

        Chỉ riêng việc đảm bảo an toàn trong ăn uống, cơ quan an ninh cũng phải tiến hành các hoạt động nghiệp vụ của mình. Lương thực, thực phẩm ta phải mua qua nhà thầu. Họ là người của cơ quan an ninh quân đội ngụy, của Phủ đặc ủy trung ương tình báo, của cơ quan tâm lý chiến. Những đối tượng phục vụ như vậy làm sao có thể tin cậy? Hơn nữa các loại hàng hoá đó đều phải qua bộ phận kiểm tra, kiểm soát của địch rồi mới đến tay bộ phận hậu cần của ta, tất cả những thứ ấy Mỹ - ngụy có ngâm tẩm, pha trộn gì không? Ai mà biết được kẻ thù sẽ làm gì khi chúng đã điên cuồng chống phá? Chỉ có tự đề phòng, tự mình kiểm tra, bao giờ đạt độ an toàn nhất thì mới cho sử dụng. Đây còn là nguyên tắc không được phép bỏ qua, không được lãng quên dù chỉ một lần nếu không sẽ phải trả giá đắt Ban Bảo vệ coi nhiệm vụ chống bị địch đầu độc cũng quan trọng như các nhiệm vụ phản gián, phản tình báo, chống chiến tranh tâm lý, ngăn chặn đầu hàng, phản bội... Bởi lẽ, nếu để xảy ra trường hợp bị đầu độc thì hàng trăm cán bộ, chiến sĩ trong phái đoàn ta lập tức mất sức chiến đấu lúc đó hậu quả sẽ không thể lường trước! Có lẽ trong những năm tháng sống và chiến đấu giữa sào huyệt của Mỹ - ngụy, bộ phận an ninh của chúng tôi ở đây không một phút lơ là, mất cảnh giác trước nhừng mưu ma chước quỷ mà kẻ thù lúc nào cũng rình rập đánh phá... Sau ngày Đại thắng mùa Xuân, ngồi nghĩ lại chặng đường đã qua mới thấy hết những đóng góp của Ban Bảo vệ đốí với nhiệm vụ được giao quả là không nhỏ. Chúng tôi càng tự hào hơn bởi trên trận tuyến thầm lặng ấy đã không để xảy ra một sơ suất nào mà kẻ thù có thể lợi dụng tấn công gây cho ta tổn thất.

        Trong những biện pháp mà cơ quan an ninh sử dụng nhằm phát hiện độc chất trong nước uống, trong lương thực, thực phẩm, chúng ta dùng các loại hoá chất, dùng máy móc phương tiện được trang bị để xem xét, so sánh, phân tích các phản ứng; chúng tôi còn tự nguyện dùng thử những thức ăn, nước uống đó trước khi các đồng chí cấp dưỡng đem ra chia tại nhà ăn. Vẫn biết là có thể nguy hiểm đến tính mạng nhưng nếu có tình huống xấu nhất xảy ra thì chỉ một người bị nguy hiểm, ta còn kịp thời đối phó, hạn chế hậu quả ở mức thấp nhất, không để nhiều người cùng bị ngộ độc sẽ khó khăn hơn... Hàng ngày, các anh, chị nuôi vẫn thấy có người xuống bếp, múc trong các nồi, các chảo thức ăn, bình nước uống đem cơm, canh và thức ăn về nhà. Có người không hiểu, tưởng là mấv ông này đêm qua trực hoặc bữa trước ăn ít, đói sớm nên xuống quấy quả nhà bếp đây. Thôi, ai hiểu thế nào tuỳ họ, nhiệm vụ đã giao cứ thế mà làm, không giải thích. Lâu dần cũng trở thành quen, hễ chưa thấy anh em xuống bếp là mấy chị nuôi cứ thấy nhơ nhớ và cuối cùng phải lên tìm gọi chúng tôi xuống...
 


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Ba, 2012, 10:14:41 am
        Đầu hồi nhà Ban Bảo vệ còn có một bể cá cảnh, một chuồng nuôi con khỉ nhỏ. Con khỉ nghịch ra trò, nó leo trèo trên các cành khô trong chuồng rất thành thục, nhanh nhẹn. Bể cá cảnh rộng chừng bảy, tám mét vuông. Nước trong vắt, có thể nhìn thấy đáy bể. Mấy khóm bèo tây (lục bình) vươn cao lên khỏi mặt nước khoảng một gang tay, rễ bèo buông dài xuống gần chạm đáy. Đây là nơi trú ngụ lý tưởng của bầy cá. Bèo hoa dâu, bèo tấm dàn đều trên mặt nước. Tuy thế, trên mặt nước những khoảng trống không có bèo vẫn còn khá rộng rãi để bầy cá tung tăng bơi lội mà các khóm bèo tây, mảng bèo hoa dâu, bèo tấm không hạn chế việc di chuyển của chúng. Các loại bèo có trong bể còn làm giảm nhiệt độ trong nước bởi sức nóng của mặt trời. Những lúc nắng nóng gay gắt, bầy cá lủi xuống mấy khóm bèo để tránh nắng, khi thấy có người đến chúng lại bơi ra ngoe nguẩy bên thành bể, trông rất vui. Nhiều người còn nghĩ đây là một thú chơi tao nhã của nhừng người lính cách mạng. Thật vậy, sau một ngày nắng nóng gay gắt, sau mỗi buổi làm việc căng thẳng, vất vả mấy anh em thường ra đứng ngắm bầy cá bơi trong bể này. Anh Võ Đông Giang - Phó trưởng đoàn, anh Nguyễn Văn Hoàn -  Trưởng tiểu ban Thủ tục và sau là Trưởng tiểu ban Trao trả thường hay đứng xem hoặc cho cá ăn, có lúc các anh đứng rất lâu... Nhìn bầy cá cảnh phần lớn là cá vàng, chỉ một vài con có màu sắc khác bơi lội tung tăng trong bể thật vui mắt, bao nỗi mệt nhọc, căng thẳng, phiền muộn sau ít phút như đã vợi hẳn, lòng người lâng lâng, nhẹ nhõm và thư thái... Anh Võ Đông Giang thường ra ngồi cắt tóc bên bể cá cảnh. Mái tóc anh thưa và mềm, rất ít sợi bạc. Tôi cắt tóc cho anh xong đã lâu, nhừng đoạn tóc còn vương trên bờ vai được phủi sạch mà anh vẫn còn ngồi đó. Anh đang nhìn cá hay ôang suy nghĩ một điều gì căng thẳng lắm. Chỉ đến khi đàn cá trong bể thấy đồng chí Lê Văn Trị đến cho ăn, chúng dồn hẳn về phía đó thì anh Giang mới đứng dậy ra về...

        Anh Nguyễn Văn Hoàn cũng thường hay đến cho cá ăn. Có lần anh đứng rất lâu bên bể cá cảnh, đó là sau một cuộc họp rất căng thẳng. Chiều hôm ấy, Mỹ - ngụy hẹn đại diện của đoàn B đến họp kín tại phòng họp "bốn bên" cách trại Đa-vít hơn một cây số. Hai xe quân cảnh đến đón. Xe của đoàn ta có một nhân viên an ninh quân đội ngụy đi cùng, lái xe cũng là người của họ. Trên xe chỉ có anh Hoàn và tôi Trước khi đi anh Hoàn chỉ dặn: "Không được để chúng bắt cóc!". Tôi đã xác định từ trước, kể cả trường hợp xấu nhất, nếu cần dù có phải hy sinh, trong người tôi lúc đó có khẩu súng K59 và hai băng đạn... Chiếc xe Pho của chúng tôi đi giữa, phía trước và phía sau là xe quân cảnh. Đến phòng họp "bốn bên" (nay là phòng giao ban của C59B thuộc Bộ Tổng tham mưu trong sân bay Tân Sơn Nhất) chúng tôi xuống xe. Một đại úy ngụy đón anh Hoàn vào phòng họp. Còn lại, tôi đứng ngay ngoài cạnh cửa. Hơn một tiếng sau, cánh cửa mở, anh Hoàn ra và nói: "Ta về thôi ! ".

        Ra xe, chúng tôỉ trở về vẫn "được" xe quân cảnh đưa đón như lúc đi. Tôi thấy vẻ mặt anh đăm chiêu, vầng trán vốn đã nhiều nếp nhăn tuổi tác dường như hằn sâu hơn, tôi nghĩ chắc chắn cuộc họp kín ấy không đem lại kết quả gì, rất căng thẳng (!) Thời kỳ này Mỹ - ngụy không chịu trao trả người của ta đang bị chúng giam cầm đày đoạ. Trong số họ, có cô nữ sinh Võ Thị Thắng. Chúng trắng trợn tuyên bố. "Trả những người đó cho các ông là thả hổ về rừng à?...". Chúng ngoan cố dây dưa, tìm mọi cách đánh tráo người và thay đổi địa điểm giam giữ. Chúng tra tấn, giết hại và thủ tiêu bí mật những người đồng chí, đồng đội và đồng bào yêu nước trung kiên của ta. Chúng trộn những tù hình sự, phạm binh của chúng vào lẫn với danh sách người của ta khi trao trả, chúng ném bom, bắn phá, phục kích, tập kích vào địa điểm trao trả...

        Về tới trại Đa-vít, xuống xe, anh Hoàn đi thẳng về phòng nghỉ, cất chiếc cặp tài liệu, gọi là cặp tài liệu nhưng mọi thứ giấy tờ ấy đều có thể công khai nếu địch có chiếm đoạt được! Anh mặc bộ đồ pi-gia-ma màu ghi thay cho bộ quân phục và ra đứng bên bể cá. Bầy cá thấy có bóng người liền kéo nhau ra khỏi nhủng đám bèo bơi về phía anh. Những mẩu bánh quy ngon ngọt được thả xuống, bầy cá tranh nhau đớp. Mặt nước xao động, tung bọt, mấy giọt nước bắn lên thành bể... Anh nhìn đàn cá ăn một lúc, tôi thấy anh đã khác hẳn, bao ưu phiền căng thẳng biến khỏi trên khuôn mặt gầy guộc, xanh xao bởi nhiều năm sốt rét rừng hành hạ. Anh ít khi cười, nhất là sau những lần họp căng thẳng, trong cuộc đấu trí hết sức gay go với kẻ thù về việc trao trả người của ta đang bị chúng giam giữ, đoạ đày. Anh lại đến với bầy cá cảnh, cho cá ăn, vài phút sau anh đã có thể chia sẻ niềm vui đó với mọi người xung quanh...

        Thế mới biết bể cá cảnh của chúng tôi đem lại nhiều giá trị bất ngờ, những phút giây thư giãn quý báu ấy giúp cho mọi người quên đi nhọc mệt, quên đi căng thẳng, hiểm nguy đang rình rập xung quanh. Bể cá cảnh còn có một ý nghĩa lớn lao mang tính nghiệp vụ của chúng tôi nữa, đó là vật thử các độc chất trong thức ăn, trong lương thực và nguồn nước rất hiệu quả. Đường nước ăn được đưa qua từ bể cá đến nhà bếp. Khi cơm và thức ăn đã chín, chuẩn bị chia trên các bàn ăn thì người "háu đói" nhất của chúng tôi xuống "xin" chị nuôi mỗi nồi, mỗi chảo một ít đem về. Lập tức người tình nguyện ăn thử, uống thử. Một chỗ dùng hoá chất thử phản ứng sinh hóa xem xét, phân tích trên phương tiện được trang bị. Còn một việc không thể quên là cho cá cảnh ăn. Hoa quả thì chú khỉ được thưởng thức. Sở dĩ sử dụng cá cảnh vì những con vật này dễ cảm nhận với các độc chất gây nguy hại đến sức khoẻ con người.

        Anh Lê Văn Trị là người được giao nhiệm vụ chăm sóc bầy cá cảnh đó. Đã nhiều năm, đến nay bể cá không còn, người nuôi dưỡng cá cũng không còn, nhưng cuộc chiến đấu cam go trên trận tuyến thầm lặng ấy của những sĩ quan an ninh Quân giải phóng B2 vẫn nguyên vẹn trong tôi. Trong cuộc chiến đấu ấy có đồng đội của chúng tôi đã ngã xuống trước ngày Đại thắng mùa Xuân. Tôi viết lại những dòng này để mọi người có thể hiểu thêm về những công việc thầm lặng đó, không phải ai cũng biết, cũng hiểu và sẽ thông cảm hơn vì yêu cầu của nhiệm vụ lúc đó không tiện nói ra.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Ba, 2012, 01:24:25 pm

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
VỚI CUỘC ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO QUÂN SỰ GIỮA SÀO HUYỆT ĐỊCH.

Nguyễn Như Kim              
Nguyễn Hùng Đào              
       
        Có thể nói ít có một cuộc chiến tranh nào lại có sự thu hút đặc biệt dư luận nói chung và giới báo chí nói riêng như cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam, nhất là trong thời gian thực thi Hiệp định Pa-ri về Việt Nam (1973 – 1975)

        Cả ta và đối phương đều có sự quan tâm đặc biệt đến mặt trận dư luận nhằm tranh thủ dư luận trong nước và quốc tế đối với cuộc chiến tranh cũng có thể nói là có một không hai này của thế giới. Cả ta và đối phương đều nhận rõ vai trò to lớn, tác dụng tích cực của dư luận mà một trong những kênh tạo dựng và hướng dẫn dư luận là các cơ quan thông tin đại chúng, các nhà báo đối với cuộc chiến tranh đang diễn ra rất quyết liệt ở Việt Nam.
Lúc này Sài Gòn là trung tâm hội tụ đông đảo các báo hình, báo nói, báo viết…Vì lẽ đó vào thời điểm này miền Nam Việt Nam là một tiêu điểm của tình hình nóng bỏng trên thế giới, lại là nơi Mỹ buộc phải chấp nhận rút quân, công nhận quyền độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam.

        Rất nhiều hãng thông tấn, vô tuyến truyền hình, đài phát thanh và các tờ báo lớn của 21 nước (như: Mỹ, Anh, Pháp, Cộng hòa liên bang Đức, Úc, Canada, Thụy Sĩ, Đan Mạch, Na Uy,…) với hơn một trăm phóng viên tới Sài Gòn để thông tin về sự kiện này của thế giới. Riêng Mỹ, nước gây ra cuộc chiến tranh xâm lược này có tới hai hãng thông tấn, 3 hãng truyền hình, 1 đài phát thanh và 15 tờ báo lớn (như: Washington Post, Los Angeles, Time,…) so với 33 tờ báo của 20 nước khác. Họ những tưởng rằng với cái gọi là “ưu thế” chủ nhà lại được tạo mọi thuận lợi về sinh họat, về nghiệp vụ…họ có thể tranh thủ được giới báo chí nước ngoài thông tin cá nhân cho họ. Họ đã nhầm. Đúng hơn là họ đã sai lầm và phải trả giá đắt cho sự sai lầm đó.

        Riêng thông tấn xã Việt Nam, cơ quan thông tin duy nhất lúc bấy giờ đảm nhận trách nhiệm nặng nề, quan trọng và cấp bách như tiếp tục chi viện sức người, sức của cho TTXGP, cử người phục vụ hội nghị Paris về Việt Nam, đặc biệt là chủ động chuẩn bị sớm đội ngũ phóng viên, kỹ thuật viên (cả phương tiện truyền tin) mà Ban lãnh đạo TTXVN dự kiến là sẽ có thời điểm tham gia vào đội quân đấu tranh ngoại giao quân sự giữa sào huyệt địch sau khi Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết.

        Nhiệm vụ của TTXVN trong cuộc hội đàm tại Paris về Việt Nam, có ba nhóm phóng viên, biên tập hàng ngày cung cấp tin tức trong nước cho lãnh đạo phái đoàn, đồng thời gửi tin về Tổng xã TTXVN mọi họat động của hai phái Đoàn ta tại các phiên họp chính thức và sau này ở các cuộc gặp riêng đều được phóng viên TTXVN gửi từ Paris về Tổng xã để đăng vào các lọai bản tin khác nhau cung cấp cho lãnh đạo và các cơ quan nghiên cứu ở Hà Nội cũng như của các cơ quan thông tin đại chúng ở Trung ương và địa phương tham khảo, nghiên cứu, sử dụng rộng rãi.
Trong suốt 5 năm liền (1968 – 1973) nhóm phóng viên, biên tập viên của TTXVN thay nhau sang Paris làm việc để phục vụ cho 2 phái đoàn ta, thông tin kịp thời tiến trình hội nghị, đặc biệt là thắng lợi ngoại giao tuyệt vời mà 2 đoàn ta đã kiên trì đấu tranh giành được trong suốt 5 năm tại bàn hội nghị qua toàn văn Hiệp định Paris về Việt Nam mà cả 4 bên đã ký kết.

        Hiệp định Paris về Việt Nam đã được ký kết ngày 27/1/1973. TTXVN lại một lần nữa “sẻ người, sẻ của” phục vụ nhiệm vụ mới này. Lãnh đạo TTXVN đã chọn một đội ngũ nhà báo, cán bộ lỹ thuật có trình độ nghiệp vụ, có  bản lĩnh chính trị vững vàng, biệt phái sang Bộ Quốc phòng, biên chế thành sĩ quan báo chí để cùng với một số cơ quan thông tin đại chúng khác vào trại Đavít tổ chức thành Ban Thông tấn báo chí của Đoàn đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh đạo 2 đoàn đại biểu quân sự CPVNDCCH và CPCMLTCHMNVN.

        Ban Thông tấn báo chí của ta gồm 32 người thì gần một nửa là cán bộ TTXVN hình thành 3 bộ phận chính là phóng viên tin, ảnh, kỹ thuật. Trong đó có nhà báo Nguyễn Như Kim, Nguyễn Châu Quỳ, Nguyễn Hùng Đào, Lương Mạnh, 2 phóng viên ảnh: Lâm Tấn Tài (TTXVN), Nguyễn Thanh Hùng; bộ phận kỹ thuật gồm: Kĩ sư vô tuyến Phan Đức Tam, Tiêu Văn Thành, Trương Việt Cường các kỹ thuật viên Nguyễn Đình Soan, Nguyễn Ngọc Sơn, Phạm Văn Khang và điểm báo viên Ngô Duy Phùng.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Ba, 2012, 01:25:51 pm
        Đội ngũ cán bộ, phóng viên, kỹ thuật này của TTXVN còn đảm nhận nhiệm vụ là chuyển hàng tấn máy móc, thiết bị kĩ thuật từ Tổng xã ở Hà Nội vào trại Đavít (Sài Gòn). Đây là máy phát tin mạnh – 500KW cùng với các thiết bị phát ảnh vô tuyến, các cột và dây ăng – ten phục vụ cho máy phát. Ngoài ra, còn một máy phát điện quay tay. Tất cả đều đóng trong các thùng gỗ với trọng tải khoảng 1,5 tấn.

        Nhóm tiền trạm của TTXVN đến Sài Gòn vào chiều 28/1/1973, đối phương cản trở không để ta vào trụ sở. Đến chiều ngày 29/1/1973 ta mới vào được trại Đavít. Công việc đầu tiên và quan trọng nhất mà nhóm tiền trạm này làm ngay là lắp đặt hệ thống té-lé-típ tại trụ sở của 2 đoàn ta giữa sự phong tỏa bao vây của mạng lưới thông tin dày đặc của phía Sài Gòn. Sau thời gian lao động khẩn trương khắc phục nhiều khó khăn về kĩ thuật, nhóm chúng tôi đã lắp đặt xong hệ thống truyền thông duy nhất và khá hiện đại này. Đến tối ngày 29/1/1973 chúng tôi đã liên lạc được Tổng xã tại Hà Nội và bắt đầu phát những tin tức đầu tiên về Hà Nội. Từ đây, hệ thống truyền tin này trở thành phương tiện thông tin hiện đại của 2 đoàn ta giữa “ốc đảo” Cách mạng. Có thể nói chính quyền Sài Gòn dã tâm đưa 2 phái đoàn đóng quân tại trại Đavít nhằm âm mưu thâm độc cô lập, bao vây, bưng bít dư luận trong nước và quốc tế. Phía Sài Gòn tìm mọi thủ đoạn chèn sóng, phá sóng, gây nhiễu. Cán bộ kĩ thuật của ta đã phát huy sáng kiến, cải tiến kĩ thuật chống lại thủ đoạn trên của đối phương, bảo đảm thông tin thông suốt. Đoàn ta tìm mọi cách bảo vệ an toàn cho phương tiện thông tin này. Quá trình bảo vệ hệ thống máy móc phải luôn đề phòng khả năng đối phương tấn công trại cướp, phá máy móc, cướp tài liệu. Đã có lần chính quyền Sài Gòn cho bọn côn đồ tập trung rất đông ở cổng trụ sở của ta hò hét, hô đả đảo nhằm mục đích thăm dò thái độ đối phó của ta, để lấy cớ xông vào cướp, phá. Lãnh đạo đoàn ta sáng suốt chuẩn bị phương án đối phó rất chu đáo, rất bình tĩnh khiến bọn chúng không dám hành động gì.

        Ngoài phương án, kế hoạch bảo vệ chung của đoàn, riêng chúng tôi là: Nguyễn Hùng Đào, Nguyễn Ngọc Sơn và Nguyễn Đình Soan lúc đó, chẳng ai lo sợ nếu chúng xông vào hành hung, chúng tôi sẽ bảo vệ hệ thống te-lé-típ của đoàn và lập tức hình thành 2 “tuyến phòng thủ” bảo vệ máy móc. Chúng tôi dùng dây điện, dây thép và gậy gộc chằng, buộc cả 2 tuyến cửa. Cả ba chúng tôi tập trung giữ tuyến cửa số 1. Nếu chúng phá vỡ cửa xông vào thì Sơn người to, béo, khỏe mạnh nhất chống trả và sẽ rút sau cùng vào tuyến cửa thứ hai bảo vệ. Hò hét mãi rát cổ, bỏng họng để hù dọa và rồi thấy trơ trẽn quá nên chúng tự giải tán, rút lui. Trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến đấu ta tổ chức đào hầm to, rộng đủ bảo vệ người và máy móc, đề phòng khi địch liều lĩnh tấn công vào trại Đavít.

        Không phải chỉ có những cán bộ kĩ thuật của TTXVN mà cả lãnh đạo đoàn ta ở trại Đavít hiểu rõ hơn ai hết, rằng trong điều kiện bị bao vây, phong tỏa, hệ thống thu, phát tin, ảnh này của đoàn ta lại càng quan trọng nhờ nó ta đã phá được âm mưu cô lập, phong tỏa của đối phương, liên hệ thường xuyên với bên ngoài, chủ yếu là với Trung ương và Trung ương Cục miền Nam.

        Với cương vị là sĩ quan báo chí của đoàn, các phóng viên, biên tập viên TTXVN tại đây họat động trên nhiều lĩnh vực khác nhau như tham gia đi giám sát Mỹ rút quân, các cuộc trao trả nhân viên quân sự, dân sự, các cuộc họp báo thường kỳ của đoàn ta tại trại Đavít, dự thính nhiều cuộc họp cấp trưởng đoàn, điểm báo Sài Gòn, theo dõi đài phát thanh Sài Gòn, chương trình phát thanh bằng  tiếng Việt của đài tiếng nói Hoa Kỳ (Mỹ), đài BBC (Anh)…
Một trong những công việc mà chúng tôi làm hàng giờ, hàng ngày là điểm phần lớn các báo ở Sài Gòn, theo dõi đài phát thanh Sài Gòn… nắm bắt nhanh, kịp thời nhất dư luận Sài Gòn, phát hiện những âm mưu, thủ đoạn…của chính quyền Sài Gòn để báo cáo ngay cho lãnh đạo đoàn tại các buổi giao ban vào buổi sáng hàng ngày hoặc bất cứ lúc nào nếu thấy cần thiết.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Ba, 2012, 06:35:07 pm
        Đó có lần, một số báo chính của Sài Gũn đưa tin rằng “Việt cộng” trong trại Đavít đào hầm, hào giao thông từ trong trại ra ngoài. Chúng tôi báo cáo ngay tin đó với lãnh đạo Đoàn. Vài ngày sau, chuẩn tướng trưởng đoàn Sài Gòn Phan Hòa Hiệp ngỏ ý muốn vào thăm trại Đavít, lãnh đạo Đoàn ta đồng ý. Hôm hắn vào, ta cho cán bộ hướng dẫn đi nhiều nơi để cho y biết việc phao tin ta đào hầm là bịa đặt. Hôm sau, khi điểm báo Sài Gòn, chúng tôi thấy hầu hết các báo đều đưa tin tướng Phan Hòa Hiệp thăm “Việt cộng” ở trại Đavít nhưng lại không nói  gì đến việc “Việt cộng” đào hầm nữa. Thế là “Gậy lưng, đập lưng ông”. Thực tế đó đó xóa đi sự nghi ngờ, vu cáo vô căn cứ của chính quyến Sài Gũn trong việc thực thi Hiệp định.
 
        Giám sát đấu tranh buộc Mỹ rút quân đúng thời hạn, trao trả, họp cấp trưởng đoàn, họp báo thường kỳ, quan hệ với UBQT… là những hoạt động chính quan trọng, sôi động phong phú của lãnh đạo Đoàn và cũng là chủ yếu của báo chí ta ở trại Đa-vít. Các hoạt động này đã góp phần rất quan trọng vào cuộc đấu tranh trên mặt trận dư luận, làm cho dự luận trong nước và thế giới càng hiểu rõ hơn thiện chí của ta, thái độ ngoan cố, hành động trắng trợn vi phạm nghiêm trọng tất cả các điều khoản của Hiệp định của chính quyền Sài Gòn. Do đó, dư luận rộng rãi trên thế giới ngày càng đồng tình ủng hộ ta, cô lập đối phương.

        Các phóng viên ảnh cũng đã hoạt động liên tục, góp phần không nhỏ vào cuộc đấu tranh chung này. Các phóng viên ảnh ( Lâm Tấn Tài, Nguyễn Thanh Hùng…) đã ghi lại và phát đi cho báo chí trong nước và nước ngoài những bức ảnh minh họa rất cụ thể sống động về hoạt động của Đoàn. Trong đó chúng tôi rất chú ý phát đi những bức ảnh về việc giám sát quân Mỹ và chư hầu rút về nước, về các cuộc trao trả và đặc biệt là những hình ảnh về tù chính trị, tù binh của ta phẫn nộ, đả đảo chế độ nhà tù hà khắc dã man của Mỹ ngụy, hình ảnh về sự vui mừng khi anh chị em ta được trở về với cách mạng đoàn tụ với gia đình…

        Chính quyền Sài Gòn một mặt điên cuồng, trắng trợn vi phạm Hiệp định nhưng lại lấp liếm tội ác lớn tiếng vu cáo phía ta vi phạm Hiệp định. Các nhà báo ở Sài Gòn, nhất là những nhà báo nước ngoài một số tuy biết phía Sài Gòn vi phạm Hiệp định nhưng vì nhiều lý do nên họ khó nói ra sự thật; một số chưa tin rằng phía ta thực sự tôn trọng ngừng bắn, số khác cho rằng cả hai phía đều vi phạm Hiệp định.
   
        Lãnh đạo Đoàn ta chủ trương đấu tranh không khoan nhượng với hành động và luận điệu xuyên tạc của đối phương nhưng bằng mọi cách tranh thủ lực lượng báo chí, nhất là giới báo chí nước ngoài, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho Ban thông tấn báo chí của Đoàn hoạt động có hiệu quả.
   
        Ta hiểu rõ mọi động thái của Đoàn ta đối với phía Sài Gòn, với UBQT, nhất là cách giải quyết có tình, có lý những sự việc diễn ra trên khắp miền Nam Việt Nam đều được giới bảo chí theo dõi sát sao, thông tin kịp thời nên lãnh đạo Đoàn và sĩ quan báo chí của ta luôn có thái độ cư xử, tranh thủ họ một cách đúng mức. Còn chính quyền Sài Gòn thì xử sự cửa quyền, hách dịch, thô bạo và thấy dư luận không có lợi cho họ thì lập tức thực hiện biện pháp hạn chế trắng trợn như: cản trở không cho nhà báo đi dự họp báo thường kì của Đoàn ta, cắt điện thoại liên lạc của họ với Đoàn ta. Trong 8 tuần lễ liền từ 13/4 đến 1/6/1974 họ tìm cách phá không để Đoàn ta tổ chức họp báo. Họ còn có hành động trắng trợn , thô bạo xúc phạm giới báo chí nước ngoài như ngày 6/7/1973 trục xuất đại diện báo Asahi Shimbun của Nhật Bản vì đã dám nói lên sự thật: "Việt Nam Cộng Hòa còn giam giữ hàng trăm ngàn tù chính trị". Nghiêm trọng và bỉ ổi hơn là đầu năm 1975 cảnh sát Sài Gòn đã bắn chết nhà báo Pháp Paul Léandry ngay tại trước cửa văn phòng cảnh sát vì đã đưa tin không lợi cho chế độ Sài Gòn và cãi lại cảnh sát khi bị chất vấn(?).

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Trandiagiualongdich.jpg)
Phan Hòa Hiệp "xem" giếng nước trong trại Đa-vít


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Ba, 2012, 06:36:53 pm
        Từ thực tế đó các nhà báo nước ngoài và dư luận thế giới ngày càng thấy bộ mặt thật, ý đồ phá hoại có hệ thống và trắng trợn Hiệp định của tập đoàn bán nước Nguyễn Văn Thiệu; họ ngày càng hiểu ta hơn, đồng tình với thái độ và hành động của ta, nếu không cũng tỏ ra thông cảm. Thông tin của họ ngày càng có lợi cho ta hơn, góp phần đáng kể vào cuộc đấu tranh trên mặt trận dư luận của ta. Một cử chỉ đẹp đáng được ghi nhận lúc bây giờ là Ban chấp hành Hội nhà báo nước ngoài ở Sài Gòn đã xin vào trại Đa-vít chào và bày tỏ cảm tình với lãnh đạo Đoàn và gặp gỡ sĩ quan báo chí của Đoàn ta. Có trường hợp khiến Đoàn ta cảm động nhất là một nhà báo Mỹ, tranh thủ lúc giải lao tại cuộc họp báo đã đến gặp thượng tá Dương Đình Thảo (ủy viên Đoàn đại biểu CPCMLTCHMNVN) chủ trì cuộc họp báo, trao một hộp bánh và nói rất chân tình rằng: " Tôi biết các ông và nhân dân Việt Nam đang kỉ niệm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi không mang hoa đến được vì sẽ bị chính quyền Sài Gòn ngăn cản và gây khó khăn cho hoạt động nghề nghiệp của tôi…" Nhiều phóng viên nước ngoài xin đi thăm vùng giải phóng đã được Đoàn ta tổ chức cho đi và khi về họ thông tin khá tốt, có lợi cho ta. Một số nhà báo hết hạn trước khi về nước tìm cách xin gặp lãnh đạo đoàn ta chào từ biệt và nói những lời tốt đẹp và sau này khi về nước chính họ là những người đưa tin, viết bình luận hướng dư luận có lợi cho ta…

        Quân ta pháo kích vào sân bay Biên Hòa, đốt cháy kho xăng Nhà Bè thì các nhà báo, nhất là các nhà báo nước ngòai tới tấp gọi điện thoại hỏi sĩ quan báo chí của Đoàn ta. Vậy phải trả lời thế nào đây? Thừa nhận hay phủ nhận? Lãnh đạo Đoàn ta bàn bạc kĩ chủ trương và đã có trả lời tại cuộc họp báo rằng: Quân giải phóng đã trừng trị quân đội Sài Gòn theo lệnh của Bộ chỉ huy các lực lượng giải phóng miền Nam Việt Nam và không chỉ đánh trả tại chỗ mà còn giành quyền trừng trị tại các điểm xuất phát vi phạm. Thái độ của Đoàn ta về sự kiện này rất rõ ràng nên các nhà báo cũng như dư luận càng hiểu rõ ta hơn.
   
        Bị ta đánh ngày càng đau, thiệt hại ngày càng nặng Nguyễn Văn Thiệu càng lồng lộn, điên cuồng, huy động cả hải, lục, không quân ném bom, hành quân lấn chiếm đánh phá vùng giải phóng, giết hại đồng bào ta, trả đũa hai phái Đoàn ta ở trại Đa-vít, phá các cuộc họp trưởng Đoàn, cắt điện thoại, cấm không cung cấp báo chí Sài Gòn cho ta, ngăn cản các cuộc họp báo, đồng thời gào thét kêu gọi thế giới lên án ta, nhưng dư luận quốc tế không ủng hộ, ngược lại dự luận ủng hộ ta ngày càng tăng. Cuộc đấu tranh trên mặt trận dư luận lúc này đối phương luôn bị động đối phó, chống đỡ, ta luôn ở thế chủ động tiến công. Nếu trước đây chỉ một vài hành động quân sự nhỏ với tính chất tự vệ chính đáng của ta cũng bị báo chí của họ phê phán thì lúc này thông tin về những trận đánh của ta họ đưa tin, bình luận khá khách quan có tác dụng tuyên truyền có lợi cho ta nhiều hơn.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Ba, 2012, 06:38:21 pm
        Tình hình trên cho ta và dư luận thế giới thấy rõ là không còn khả năng đạt được kết quả gì tích cực tại bàn hội nghị nữa, ngày 22/6/1974, Bộ ngoại giao Chính phủ CMLTCHMNVN ra tuyên bố đình chỉ họp Ban liên hợp quân sự và sau đó, ngày 8/10/1974 Chính phủ CMLTCHMNVN ra tuyên bố về tình hình miền Nam Việt Nam trong đó có việc chính thức đình chỉ mọi cuộc họp của Ban Liên hợp quân sự hai bên Trung ương và Tổ liên hợp quân sự bốn bên, rút khỏi diễn đàn La Celle Saint Cloud ở Pháp…
   
        Thế là từ tháng 10/1974 trở đi không còn hoạt động chung của Ban Liên hợp quân sự hai bên Trung ương và Tổ liên hợp quân sự bốn bên và cũng không có sự tiếp xúc trực tiếp giữa Đoàn ta và Đoàn Sài Gòn nữa, nhưng báo chí thì vẫn tiếp tục hoạt động.
   
        Đối phương vẫn bao vây trại Đa-vít, nhưng chúng ta không nằm yên mà vẵn tiếp tục hoạt động sôi nổi, vẫn tiếp tục quan hệ và làm việc bình thường với UBQT (hai đoàn bạn BaLan và Hung-ga-ri), với các nhà báo nước ngoài vì lúc này chính họ cũng muốn tăng cường quan hệ với Đoàn ta và với sĩ quan báo chí của ta. Chính quyền Sài Gòn bực tức, lồng lộn muốn nhổ cái gai trong mắt họ, muốn tống Đoàn ta ra khỏi Sài Gòn, nhưng không còn khả năng để làm việc đó. Họ muốn thông qua UBQT và các nhà báo nước ngoài để thăm dò thái độ, chủ trương của ta. Cuộc đấu tranh trên mặt trận dư luận lúc này ta vẫn ở thế chủ động. Các sĩ quan báo chí của Đoàn ta thường xuyên quan hệ với các nhà báo nước ngoài đưa tin cho họ, tranh thủ họ thông tin có lợi cho ta. Các Đoàn trong UBQT lại rất cần liên lạc với Đoàn ta để theo dõi diễn biến phức tạp của tình hình. Đặc biệt là báo chí nước ngoài coi đây là thời kì họ có cơ hội thông tin phong phú nhất, mới nhất, nóng hổi, hấp dẫn nhất về tình hình đang diễn biến hàng giờ, hàng ngày trên toàn miền Nam Việt Nam gửi về tòa soạn của họ, nên họ càng sốt sắng giữ mối quan hệ với lãnh đạo Đoàn ta và sĩ quan báo chí của Đoàn.
   
        Một nghịch lý là trước đây phía Sài Gòn luôn tìm cách ngăn cản sự tiếp xúc của Đoàn ta với báo chí, nhất là các nhà báo nước ngoài và phá các cuộc họp báo của ta, nhưng trong tháng 3 và tháng 4 năm 1975 họ lại để thông suốt điện thoại và cho các nhà báo dễ dàng vào trại Đa-vít hàng tuần, trong đó có khá nhiều "nhà báo" Sài Gòn. Các sĩ quan báo chí của ta cũng nhân cơ hội này tiếp xúc với họ, tranh thủ họ bằng nhiều cách…
   
        Chính quyền Sài Gòn cũng tận dụng mọi cơ hội, trong đó có mối quan hệ của Đoàn ta với giới báo chí để tìm hiểu ý đồ của ta, xem ta đánh đến đâu, có nối lại thương lượng nữa không; đặc biệt là có nhà báo nước ngoài hỏi thăm dò Đại tá Võ Đông Giang rằng các ông có tấn công Sài Gòn không? Đại tá Võ Đông Giang trả lời hóm hỉnh rằng: "Rất tiếc là Bộ chỉ huy của chúng tôi không có thói quen nói trước ý đồ của mình…" Với cách trả lời khéo léo này, ta vẫn tranh thủ được dự luận của giới báo chí và vẫn giữ được bí mật quân sự.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Ba, 2012, 06:40:06 pm
        Đặc biệt là trong những  cuộc họp báo cuối cùng của Đoàn ta, phòng họp báo tuy khá rộng nhưng cuộc họp nào các nhà báo cũng đến dự rất đông với hơn 100 người trong đó mọi người nhớ mãi là cuộc họp báo cuối cùng vào ngày 26/4/1975 trùng hợp ngẫu nhiên với ngày mở màn chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đại tá  Võ Đông Giang , phó trưởng đoàn CPCMLTCHMNVN, người trực tiếp phụ trách và chỉ đạo Ban Thông tấn báo chí của Đoàn (B), chủ trì cuộc họp cách 4 ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam thống nhất đất nước (30/4/1975).
   
        Vào hồi 11giờ 30 ngày 30/4/1975, ngụy đã nhào, chính quyền Sài Gòn đã sụp đổ, các cơ quan thông tin và bưu điện địch tan rã… Tin tức, bài vở của phóng viên nước ngoài không phát đi được. Họ nhờ hệ thống Té-lé-típ của Đoàn ta truyền tin cho họ. Sáng 01/5/1975, một phóng viên báo nước ngoài đã có sáng kiến trương trên xe một lá cờ lớn xanh đỏ có ngôi sao vàng (cờ của chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam) cùng với một tấm biến lớn có chữ "nhà báo" xin vào trại Đa-vít cho kì được, vừa chúc mừng ta thắng lợi, vừa nhờ Đoàn ta giúp phát tin, bài đi bằng Téles và vô tuyến điện. Một số nhà báo nước ngoài khác cũng bắt chước tiếp tục vào theo nhờ đoàn ta giúp họ chuyển tin về nước. Hoạt động báo chí lúc này thật sôi nổi, nhộn nhịp hơn bao giờ hết. Tin tức, bình luận của họ phát ra nước ngoài đã góp phần đáng kể vảo việc tuyên truyền, tranh thủ dư luận thế giới đồng tình, ca ngợi chiến thắng của quân và dân ta trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử này.
   
        Trên mặt trân đấu tranh dư luận, nhiều cán bộ, phóng viên, biên tập viên, kĩ thuật viên có năng lực, có kinh nghiệm của TTXVN, TTXGP, Đài tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh giải phóng, các báo lớn như: Nhân Dân, Quân đội nhân dân, Tiền Phong… được lựa chọn vào trại Đa-vít hình thành Ban thông tấn báo chí đã giúp đắc lực cho lãnh đạo hai đoàn ta trên trận địa quan trọng này. Ban thông tấn, báo chí với 32 cán bộ, nhân viên và phương tiện truyền tin của TTXVN đưa từ Hà Nội vào thường xuyên bị phía Sài Gòn bao vây, phá sóng, gây nhiễu và phải đấu tranh trên mặt trận dư luận với cả bộ máy chiến tranh tâm lý của đối phương với hàng trăm nhà báo Sài Gòn và nước ngoài có mặt tại Sài Gòn. Nhưng trên mặt trận này chúng ta đã giành được thắng lợi ròn rã.
   
        Những tên lính Mỹ cuối cùng phải rời khỏi miền Nam Việt Nam vào ngày29/3/1973, ngụy cũng đã nhào vào lúc 11giờ 30 ngày 30/4/1975. Miền Nam Việt Nam đã hoàn toàn giải phóng. Vai trò của TTXVN tại trại Đa-vít đã kết thúc  ngay sau chiến thắng lịch sử vang dội này. Mấy ngày sau phân xã TTXVN tại Sài Gòn chính thức được thành lập, trụ sở tại 120 Nguyễn Thị Minh Khai với đội ngũ phóng viên, biên tập viên hùng hậu từ Hà Nội vào, từ căn cứ (R) về. Đồng chí Đào Tùng từ căn cứ Tây Ninh về Sài Gòn cùng anh em phóng viên các mũi tiến quân vào Sài Gòn và từ trại Đa-vít ra, gặp nhau tại trụ sở phân xã trong niềm vui khôn tả. Các anh chỉ huy Quân đoàn 2 và sư đoàn 304 kết nghĩa cũng ghé qua Phân xã để cùng chia vui chiến thắng.
   
        Chúng tôi những thành viên của TTXVN (trong Ban Thông tấn - báo chí của Đoàn) được thành lập theo yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng đã vượt qua mọi khó khăn, thử thách hoạt động sội nổi, quên mình suốt 823 ngày đêm (từ 28/1/1973 - 30/4/1975) giữa sào huyệt quân thù và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ vẻ vang mà lịch sử đã giao phó.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Ba, 2012, 08:23:33 pm
HỌP BÁO Ở TÂN SƠN NHẤT

HOÀNG KỲ              
       
        Trên tay tôi là quyển sách "Điệp viên hoàn hảo" của tác giả Loay Berman còn nồng hăng mùi mực in sách của Nhà xuất bản thông tấn xã Việt Nam ấn hành.

        Nhìn tấm ảnh chân dung nhà tình báo Phạm Xuân Ẩn - Thiếu tướng, Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân, in trên trang bìa cuốn sách, tôi như thấy lại anh ngày nào phải sống hai mặt trong vai người phóng viên tài ba đầy uy tín của tạp chí Times cách nay đã mấy chục năm.

        Ngày đó, tôi là sỹ quan liên lạc của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (CPCMLTCHMNVN-ĐOÀN B) trong Ban liên hợp quân sự hai bên TW (BLHQS hai bên TW) có trụ sở tại "Trại Đa-vít" nằm gần cuối đường băng sân bay Tân Sơn Nhất (Sài Gòn).

        Cuối năm 1973 sau gần 11 tháng ký kết Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam (Hiệp định Pa-ri) Mỹ ngụy trắng trợn phá hoại Hiệp định với hàng trăm nghìn trường hợp vi phạm. Ngay từ khi chữ ký chưa kịp ráo mực họ đã liên tiếp gây ra, càng ngày càng nghiêm trọng. Hàng ngày bộ máy tuyên truyền khổng lồ của họ ra sức gào thét: "Không nhượng đất, không liên hợp, không nói chuyện với cộng sản, không ngừng bắn và không trung lập..." chúng liên tiếp mở các cuộc tiến công, càn quét, lấn chiếm hòng: "Cắm cờ giành đất", "Tràn ngập lãnh thổ", "Bình định"...

        Trước thói hung hăng điên cuồng của đối phương, lực lượng vũ trang cách mạng đã kiên quyết giáng trả và gây cho chúng thiệt hại nặng nề. Rạng sáng ngày 03/12/1973 kho xăng Nhà Bè của địch bị đất cháy, hàng triệu lít xăng dầu dự trữ chiến lược đã dựng lên cột lửa khổng lồ làm sáng rực một góc trời ngoại vi Sài Gòn. Đám cháy kéo dài mấy ngày đêm sau mới dập tắt được.

        Từ "Trại Đa-vít", chúng tôi nhìn rất rõ quầng lửa, khói phủ ngang trời. Có người vui quá nhảy lên reo to: "Trúng rồi! trúng rồi! Anh em ta đánh giỏi lắm!" mọi người đổ ra sân hướng về phía cột lửa khổng lồ ấy. Trên những chòi gác cao của địch bao quanh "Trại Đa-vít" những họng súng trọng liên đang chĩa nòng, sẵn sàng nhả đạn xuống khu vực chúng tôi ở. Những tên lính ngụy đứng trên đó, bên cạnh khẩu trọng liên, đang hằn học nhìn về phía quầng lửa Nhà Bè. Chắc chắn chúng cũng hoảng sợ như quan thấy, lo lắng cho thân phận một khi bị Quân giải phóng trừng trị!.

        Còn chúng tôi vẫn thản nhiên trước bao mối đe dọa đang rình rập quanh mình.

        Phía chân mây rạng đông đã ửng hổng. Một ngày mới của chúng tôi giữa hang ổ kẻ thù lại bắt đầu với bao công việc phải đương đầu trực diện với chúng.

        Mấy ngày sau, đoàn đại biểu quân sự ta tổ chức họp báo tại "Trại Đa-vít". Đến dự họp báo có các phóng viên của các hãng Thông tấn lớn trên Thế giới như: AFP, ÁP, UPI, REUTER KYODO NEW..., các báo và tạp chí khổng lồ như: WASHINGTON POST, LOS ANGELES TIMES, TIMES LONDON..., các hãng vô tuyến truyền hình: NBC, ABC, CBS, ZDF, SUSSE nvl, SUEDE nvl, NORVEGIAN RIDIO/nvI..., cùng phóng viên các tờ báo ở Sài Gòn... Trong số hàng trăm phóng viên có mặt tại buổi họp báo này, chắc chắn có người là nhân viên các cơ quan tình báo sừng sỏ trên thế giới, các cơ quan an ninh, tình báo, cảnh sát, mật vụ của Mỹ ngụy.

        Ngoài cổng trụ sở "Trại Đa-vít", đám "quân cảnh" ngụy hôm nay được tăng cường khá đông. Tiếng giầy da nện thình thịch trên đường Lê Văn Lộc chạy dọc bên ngoài khu vực đóng quân của ta. Có lẽ chúng muốn gây áp lực với phái đoàn ta sau đòn đánh hiểm Nhà Bè của Quân giải phóng (?).

        Các phóng viên đã ùa đến cổng trụ sở, mang vác lỉnh kỉnh các phương tiện hành nghề. Họ chỉ chờ cánh cổng mở ra là tràn ngay vào với vẻ háo hức thật sự.

        Có một phóng viên của hãng UPI bước nhanh tới trước cửa nhà hội trường nơi sẽ tổ chức họp báo, hồ hởi nắm chặt tay đồng chí Phùng Ngọc Bảo - Trung tá của đoàn B và nói:

        - Cú tập kích kho xăng Nhà Bè của các ông thật "xuya". Đòn đánh quá hiểm !

        Anh trầm trồ khen ngợi, như thán phục sự dũng mãnh, tài trí vô song của lực lượng vũ trang cách mạng ta.

        Thật vậy kho xăng Nhà Bè có sức chứa hàng chục nghìn tấn xăng dầu cung cấp cho cả vùng Nam Trung bộ và Nam Bộ, chủ yếu phục vụ mục đích quân sự của Mỹ ngụy ở miền Nam Việt Nam. Nơi đây được canh phòng cẩn mật với tầng tầng lớp lớp các căn cứ quân sự địch bao bọc xung quanh nên việc Quân giải phóng tập kích thắng lợi vị trí này càng làm cho chúng vô cùng hoảng sợ, càng chứng tỏ rằng trên khắp miền Nam sẽ không có nơi nào là chỗ ẩn náu an toàn đối với bọn cướp nước và bè lũ tay sai.

        Chúng ta nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Pa-ri, kiên trì bảo vệ thành quả cách mạng nhưng kẻ thù không muốn chấp nhận, chúng đã điên cuồng phá hoại Hiệp định và buộc ta phải ra tay trừng trị.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Ba, 2012, 08:40:30 pm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/042.jpg)
Kho xăng nhà bè cháy nhìn từ trại Đa-vít 6-11-1973

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/018.jpg)
Trung Tướng Trần Văn Trà trong cuộc họp báo tại Đa-vít 1973

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/5c-HopbaosauvukhoxangnhaBe.jpg)
Họp báo sau vụ kho xăng Nhà Bè


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Ba, 2012, 08:43:54 pm
        Những phóng viên đến dự họp báo hôm nay có sáu, bảy nhà báo nữ người nước ngoài. Chị Chagnon người Mỹ, có mái tóc đen dài búi phía sau, trên khuôn mặt đẹp thường trực đôi mắt kính râm với cặp gọng to và đen. Chị Lau ra Palmer nữ phóng viên hãng truyền hình ABC rất thích làm quen, truyện trò với các nữ chiến sỹ Quân giải phóng làm nhiệm vụ trong "trại Đa-vít". Chị đội mũ cối gắn ngôi sao vàng trên nền xanh, đỏ và chụp ảnh lưu niệm cùng với các cô Chiến, Thuận, Hồng. Nhiều lần chị vào dự họp báo và bài viết của chị về thi hành Hiệp định của ta không hề tỏ ra ác ý, gay gắt, xoi mói... Câu hỏi của chị nêu ra thường chân thành, đúng đắn. Còn có một nhà báo nữ khác vào dự họp báo đã bí mật trao cho phái đoàn ta bản danh sách tù chính trị của ta hiện bị Mỹ ngụy giam giữ.

        Tôi chú ý đến một nhà báo người châu á, vẻ thư sinh, mảnh mai, trên tay anh luôn có điếu thuốc lá cháy dở... Anh chuyện trò với các đồng nghiệp người nước ngoài là phóng viên của các tờ báo danh tiếng hoặc những hãng thông tấn lớn trên thế giới như BBC, UPI, NHK, AFP... Có lẽ anh rất giỏi tiếng Anh nên khi nói chuyện với các bạn đồng nghiệp tỏ ra lưu loát, tự tin, dễ hiểu. Anh ít trao đổi với những phóng viên người Việt Nam ( ! ?) Mới nhìn, ai cũng sẽ nghĩ anh làm việc cho tạp chí hoặc hãng thông tấn quốc tế nào đó nên không mấy người chú ý đến anh. Suốt buổi họp báo, anh cặm cụi ghi ghi, chép chép tưởng chừng như không bỏ sót một chi tiết nào. Anh ngồi gần cuối hội trường, xung quanh anh đều là những phóng viên nước ngoài.

        Mọi người hướng lên phía bàn chủ tọa, trên bức tường có một lá cờ to nền xanh, đỏ với ngôi sao vàng chiếm một phần ba diện tích của cả bức tường. Dưới ngôi sao vàng năm cánh có chân dung của Bác Hồ kính yêu. Hai bên là chân dung chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ và kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát. Các máy ảnh, máy quay phim đều hướng về phía bàn chủ tọa nơi có sự bài trí rất trang trọng đó để ghi lại bằng hình ảnh cuộc họp báo đáng nhớ này...

        Hôm nay, đồng chí Võ Đông Giang - Đại tá, Phó trưởng đoàn B là chủ tọa buổi họp báo. Trông anh có dáng dấp của một thấy giáo, vầng trán cao, da trắng, mình gầy, đôi mắt sáng long lanh. Anh đứng nhìn khắp lượt hội trường, ước lượng số người đến dự và tìm xem có nhà báo nào mới tới lần đầu (?). Anh mỉm cười thân mật, chào mọi người và ngồi xuống chiếc ghế giành cho chủ tọa. Hai bên anh là những trợ lý giúp việc lanh lợi, tận tụy.

Cuộc họp báo hôm nay đông hơn hẳn có lẽ vì sau khi ai sự kiến lớn: Ngày 5.11.1973, Quân giải phóng pháo kích sân bay Biên Hòa và ngày 3.12.1973 đốt cháy kho xăng Nhà Bè. Đây là cơ hội làm ăn của báo giới. Họ muốn trực tiếp gặp và nghe rõ từng nội dung trả lời phỏng vấn của người phát ngôn đoàn đại biểu quân sự của CPCMLTCHMNVN, biết được quan điểm lập trường, thái độ của cách mạng trước những hành động phá hoại Hiệp định của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu Họ đến đông và rất sốt sắng với những thông tin nóng hổi nhất, giúp họ có những dự báo chính xác, phong phú với các bài bình luận sôi nổi, sắc sảo trước diễn biến đang xẩy ra từng ngày trên mảnh đất Miền Nam Việt Nam nơi được coi là trung tâm chú ý, điểm nóng của thế giới.

Các phóng viên trong nước và nước ngoài thay nhau trực tiếp nêu câu hỏi. Nhiều người viết lời phỏng vấn vào giấy gửi lên bàn chủ tọa. Các sĩ quan trợ lý sắp xếp thứ tự người đưa và tập hợp nội dung câu hỏi để khẩn trương dịch sang tiếng Việt sau đó chuyển tới đồng chí Võ Đông Giang. Anh cầm những tờ giấy đó, xem nội dung câu hỏi và lần lượt trả lời. Anh giải đáp tường tận, dõng dạc về lập trường; quan điểm trước sau như một của MTDTGPMNVN, của CPCM LTCHMNVN, của lực lượng vũ trang cách mạng luôn nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định nhưng kiên quyết đánh trả những kẻ đã vi phạm.

        Người phóng viên của tạp chí Times từ cuối Hội trường đang hý hoáy viết câu hỏi vào một tờ giấy, và nhờ mấy nhà báo nước ngoài ngồi gần đó chuyển giúp nội dung phỏng vấn lên bàn chủ tọa. Có lẽ ý kiến của anh trùng ý với ai đó nên chủ tọa xem qua, để sang bên cạnh và không phải trả lời cho riêng anh. Tôi thấy anh vẫn cặm cụi ghi chép...

        Một nhà báo Mỹ ngồi giữa hội trường mạnh dạn đứng lên nêu câu hỏi:

        - Thưa ngài đại tá, phó trưởng đoàn quân sự của CPCMLTCHMNVN, xin đại tá cho biết vụ tập kích kho xăng Nhà Bè rạng sáng ngày 03.12.1973 của Quân giải phóng, có thể gọi đó là hành động vi phạm lệnh ngừng bắn được ghi tại Điều 2, Điều 3 chương II của Hiệp định Pa-ri hay không?


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Ba, 2012, 08:51:03 pm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/5c-HopbaosauvukhoxangnhaBe4.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/5c-HopbaosauvukhoxangnhaBe3.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/5c-HopbaosauvukhoxangnhaBe2.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/5c-HopbaosauvukhoxangnhaBe1.jpg)
Họp báo sau vụ kho xăng Nhà Bè


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Ba, 2012, 09:06:06 pm
        Đồng chí phiên dịch chuyển tải nội dung câu hỏi đó sang tiếng Việt. Nghe xong, đồng chí Võ Đông Giang hướng về phía người vừa hỏi vẫn còn đang đứng chờ nghe trả lời, anh đưa tay vuốt nhẹ mái tóc thưa mềm và giõng dạc nói:

        - Trước hết, tôi khẳng định với quý vị đang có mặt tại đây rằng CPCMLTCHMNVN trước sau như một luôn tôn trọng triệt để và nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Pa-ri về Việt Nam. Chúng tôi đã hết sức kiềm chế, cố gắng giữ gìn, bảo vệ Hiệp định nhằm đem lại một nền hòa bình thật sự, lâu dài và bền vững cho miền Nam Việt Nam. Vì như quý vị đã biết, bản Hiệp định này thể hiện sự mong muốn cháy bỏng và là thành quả lớn lao của hàng triệu đồng bào chúng tôi đã chiến đấu hy sinh, chịu đựng bao khó khăn gian khổ trong suốt mấy chục năm qua mới dành được. Có thể nói đây là thắng lợi hết sức to lớn của cả dân tộc Việt Nam, của cách mạng Việt Nam. Chính phủ Hoa Kỳ ngay từ đầu đã phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 về Việt Nam, hất cẳng thực dân Pháp, dựng lên chính quyền tay sai phản động hòng bắt nhân dân miền Nam Việt Nam trở lại kiếp sống nô lệ của chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Họ đã đưa hàng triệu quân viễn chinh tới xâm lược đất nước này, trút hàng triệu tấn bom đạn gây ra cuộc chiến tranh tàn khốc nhất cho nhân dân Việt Nam. Nay họ đã phải chấp nhận rút hết quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, ngừng ném bom, bắn phá miền Bắc, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, không can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam. Như vậy, mục đích gây chiến tranh xâm lược của Hoa Kỳ không đạt được, họ cay cú trước thất bại đó nên việc vi phạm và phá hoại Hiệp định, họ không thi hành đầy đủ những điều khoản quy định, dung túng cho chính quyền Sài Gòn ra sức phá hoại Hiệp đính là điều không có gì lạ. Họ rất sợ hòa bình, sợ hòa hợp, hòa giải dân tộc, sợ nước Việt Nam thống nhất.

        Mệnh lệnh của Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam công bố ngày 15.10.1973 về quyền đánh trả vi phạm không chỉ tại địa điểm quân đội Sài Gòn gây ra mà chúng tôi còn giành quyền trừng trị kẻ phá hoại Hiệp định ngay tại những nơi xuất phát của họ.

        Cả hội trường im ắng lắng nghe câu trả lời của anh Giang. Chỉ có tiếng xè xè của máy quay phim, tiếng lẹt xẹt của máy ghi âm những ánh chớp của đèn plasma chụp ảnh. Tiếng người phiên dịch vừa dứt, có tiếng xì xào và những câu trao đổi của nhiều người làm ồn ào cả Hội trường. Mọi người đều cảm nhận được vẻ trịnh trọng, cương quyết của người phát ngôn.

        Có nhiều tiếng xì xào biểu lộ sự đồng tình nhưng rất khéo léo. Bởi xung quanh họ có những "đồng nghiệp" khoác áo nhà báo vào đây theo dõi mọi cử chỉ, thái độ của từng người, khi trở về sẽ có biện pháp xử lý thích đáng đối với ai "dám thân thiện với Việt cộng"!

        Số phóng viên của báo chí Sài Gòn cũng chăm chú lắng nghe, không thấy ai biểu hiện phản ứng gì. Khác với thời kì đầu rất nhiều. Trước kia, mấy sỹ quan tâm lý chiến của báo "Tiền tuyến", báo "Công luận" hoặc như mấy tay bồi bút Phan Nhật Nam, Phạm Huấn.., thường hung hăng dọa giẫm, nêu những câu hỏi xỏ xiên, vu cáo ta...Hôm nay, số người này ngồi im, nghe được đầy đủ nội dung câu trả lời của đồng chí Võ Đông Giang nên chắc chắn họ sẽ hiểu rõ thái độ của cách mạng đối với ai biết dừng tay trước tội ác, biết ăn năn hối lỗi và nếu có điều kiện hãy đứng về phía nhân dân tranh đấu cho hòa bình xứ sở...

        Mọi người cùng giơ tay, với những mảnh giấy đã viết sẵn câu hỏi. Một nữ phóng viên nước ngoài khác lập tức đứng lên, hướng về phía bàn chủ tọa, nói luôn:

        - Thưa ngài đại tá Võ Đông Giang, có một thông lệ mà ngài trung tướng Trần Văn Trà, trưởng đoàn đại biểu CPCMLTCHMNVN vẫn xử sự trong các cuộc họp báo là giành ưu tiên cho phụ nữ được nêu câu hỏi trước. Vậy hôm nay, xin đại tá có thể ưu tiên cho tôi được phỏng vấn trước hay không?

        Như để thăm dò phản ứng của chủ tọa và chờ dịch hết câu hỏi trên ra tiếng Việt, cô nói:

        - Thưa ngài đại tá, tôi xin hỏi: Nếu phía quân đội Việt Nam cộng hòa (quân đội ngụy) liên tiếp mở nhiều đợt tấn công vào vùng giải phóng, vậy phía Quân giải phóng của CPCMLTCHMNVN có thể khẳng định là sẽ không trả đũa, không mở những đợt tấn công lớn trên các chiến trường hay không? Ngài khẳng định việc này như thế nào?.

        Ngay từ đầu, anh Võ Đông Giang đã chú ý đến người nữ phóng viên này. Cô chưa đến tuổi ba mươi, người thon thả, tóc hung nâu xõa ngang vai, đôi mắt long lanh như chứa đựng niềm vui. Mặc dù nghe qua câu hỏi mọi người đều biết nội dung đó thật sự nghiêm túc!.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Ba, 2012, 09:11:23 pm
        Anh chờ đồng chí phiên dịch ngừng lời, đứng lên với vẻ trịnh trọng, anh Giang nói:

       “ Cảm ơn bạn nữ phóng viên đã có một câu hỏi thú vị. Như trên tôi đã trả lời, Hiệp định Pa-ri về Việt Nam là thắng lợi hết sức to lớn của nhân dân Việt Nam, của cách mạng. Việt Nam. Không ai dại gì tự mình phá vỡ thành quả đạt được bằng công sức, bằng xương máu của hàng triệu đồng bào, đồng chí của chúng tôi đã hy sinh để có được bản Hiệp định đó. Vì vậy, bảo vệ và thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định chính là bản vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân miền Nam Việt Nam, trong đó có cả quyền lợi của các sĩ quan, binh lính và thân nhân của họ bên phía quân đội Sài Gòn. Nếu muốn kéo dài cuộc chiến tranh, duy trì sự chiếm đóng lâu dài của đạo quân xâm lược trên mảnh đất này thì chỉ có chính phủ Hoa Kỳ và chính quyền Nguyễn Văn Thiệu.

        Theo số liệu chúng tôi tổng hợp từ ngày 28.01.1973 đến nay, trên toàn miền Nam Việt Nam chính quyền Sài Gòn đã vi phạm Hiệp định Pa-ri 301.097 lần; trong đó 34.266 cuộc hành quân lấn chiếm; pháo binh bắn phá 35.532 lần; dùng máy bay ném bom và trinh sát 14.749 lần; hành quân càn quét của cảnh sát và bình định 216.550 cuộc.

        Với dẫn chứng trên ta có thể thấy chính quyền Sài Gòn và những người dung túng họ ngay từ đầu đến giờ không hề muốn thi hành Hiệp định. Chúng tôi không thể khoanh tay ngồi nhìn bom đạn của họ trút xuống các làng mạc, cùng những đơn vị quân đội cấp trung đoàn, sư đoàn hành quân càn quét, giết hại đồng bào của chúng tôi trong các vùng giải phóng. Các lực lượng vũ trang cách mạng đã buộc phải đánh trả để thực hiện quyền tự vệ chính đáng của mình. Hơn thế, Quân giải phóng còn giành quyền trừng trị ngay tại nơi xuất phát của họ như pháo kích sân bay Biên Hòa và đốt cháy kho xăng Nhà Bè vừa qua. Kẻ gây ra tội ác phải bị trừng trị đích đáng. Trên toàn miền Nam Việt Nam không có nơi nào an toàn cho những kẻ phá hoại Hiệp định.

        Việc chúng tôi có trả đũa hoặc mở những đợt tấn công lớn hay không, mức độ và phạm vi như thế nào đều tùy thuộc vào thái độ và hành động của chính quyền Sài Gòn. Quân giải phóng sẽ nghiêm chỉnh thực hiện thắng lợi mệnh lệnh của Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam công bố ngày 15.10.1973 về quyền đánh trả những hành động vi phạm Hiệp định của quân đội Sài Gòn”.

        Anh Giang ngừng lời, chiêu ngụm nước, chậm rãi ngồi xuống ghế. Người sĩ quan phiên dịch khẩn trương và chính xác chuyển toàn bộ nội dung trả lời của anh Giang sang tiếng Anh. Cả hội trường có nhiều tiếng xì xào trao đổi. Nhìn nét mặt mọi người trong hội trường phần lớn có vẻ đồng tình với thái độ cương quyết của đại diện Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đối với những hành động vi phạm Hiệp định của đối phương. Họ không ồn ào, không biểu lộ công khai nhưng nhìn những ánh mắt kia đã nói lên sự đồng cảm và ủng hộ kín đáo của họ.

        Thời kỳ đầu, các phóng viên nước ngoài có nhiều người chưa biết gì về cách mạng Việt Nam, về Quân giải phóng. Những thông tin trái chiều, méo mó nên tạo cho họ một cách nhìn sai lệch, hiểu lẫn lộn giữa kẻ xâm lược với người bị xâm lược giữa lực lượng tay sai phản động với lực lượng cách mạng yêu nước chân chính... Có người ngạc nhiên sau khi bắt tay cán bộ, chiến sĩ ta trong ban BLHQS, còn sờ nắn tay và thốt lên: "Việt cộng đâu có ốm tong, ốm teo. Trông vị nào cũng đẹp cũng sáng láng!" Có người ít thiện cảm với ta đã viết bài đưa tin sai lệch,  đánh giá chủ quan và tự biện bạch "... cả hai bên cùng vi phạm ! " hoặc " Không có lửa thì làm sao có khói ? ... “

         Nhờ sự kiên trì giải thích thuyết phục, thái độ cởi mở, lịch sự, tôn trọng nhân cách của những nhà báo, nhờ có sức mạnh chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng dân tộc và thế mạnh pháp lý quốc tế của văn bản Hiệp định, nên dần dần họ đã hiểu rõ cuộc cách mạng của chúng ta. Nhiều người tỏ ra cảm tình và tự nguyện cung cấp cho ta những thông tin rất giá trị giúp ta hiểu thêm về thái độ ngoan cố chống phá Hiệp định của Mỹ ngụy. Cho ta biết những kẻ khoác áo nhà báo nhưng đang làm việc cho CIA, người của Phủ đặc ủy trung ương tình báo, người của an ninh quân đội hay nhân viên Nha chiến tranh tâm lý ngụy... Sau này ta có điều kiện xác minh số đối tượng này đều rất khớp với nguồn tin đã cung cấp. Có nhà báo không sợ hiểm nguy đến tính mạng, bí mật trao cho ta thông tin về những người của ta hiện đang bi địch giam giữ, cất giấu, thủ tiêu trong các nhà tù, những thủ đoạn đàn áp tra tấn dã man, đánh tráo tù quân sự thành dân sự, tù chính trị ra thường phạm, trộn tù hình sự, lưu manh, côn đồ lẫn với tù binh...

        Anh Giang vui vẻ giải thích thêm một số câu hỏi vừa hợp lý, hợp tình và hóm hỉnh. Anh tuyên bố kết thúc cuộc họp báo.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Ba, 2012, 09:40:29 pm

        Anh rời ghế chủ tọa, đi xuống từng bàn gặp gỡ các nhà báo. Những cái bắt tay thân mật, những nụ cười tươi, vẻ kính trọng của họ trước vị đại diện của quân đội cách mạng, người đã làm cho họ thỏa mãn những thông tin cần thiết, cùng với sự nhạy bén, thông tuệ và điềm tĩnh giải đáp đầy đủ nội dung họ muốn biết. Anh đến gặp và bắt tay người nữ phóng viên nước ngoài vừa có câu phỏng vấn gây ấn tượng trong phiên họp báo. Nhiều nhà báo hai tay cầm tờ danh thiếp cho anh Giang, mong được gặp lại anh để có thể trực tiếp phỏng vấn nhiều hơn !..

        Anh Giang quay lại chào một lần nữa và đi về dãy nhà nghỉ của mình.

        Các phóng viên cũng lần lượt ra khỏi Hội trường. Nhà báo Phạm Xuân Ẩn đi trong số các đồng nghiệp nước ngoài hướng ra phía cổng "trại Đa-vit". Chiếc áo sơ mi trắng cộc tay anh mặc đã hòa vào đám đông bạn bè.

        Mấy lính "quân cảnh" ngụy đi qua, đi lại nhốn nháo kiểm đếm người theo danh sách trước khi xe chuyển bánh về nội thành Sài Gòn. Từ phía bên kia đường Lê Văn Lộc, thấp thoáng những khuôn mặt ẩn giấu trong bóng tối và thập thò các họng súng chĩa ra ngoài đen ngòm hướng sang "trại Đa-vít". Xe chở các nhà báo vừa lăn bánh, đám lính "quân cảnh" liền nhảy lên mấy chiếc xe Jeep lùn mui trần chạy theo sau, những khẩu súng tiểu liên cực nhanh ARI5 chĩa nòng lên tua tủa. Họ đi "hộ tống" các nhà báo!?...

        Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, anh em của đoàn đại biểu quân sự cách mạng trong BLHQS có dịp gặp lại nhà báo Phạm Xuân Ẩn. 'Biết anh được Nhà nước phong hàm thiếu tướng QĐNDVN và tuyên dương danh hiệu AHLLVTND mọi người vui vẻ chúc mừng anh. Có người thân mật hỏi:

        - Sao mấy lần đến "trại Đa- vít" trong Tân Sơn Nhất dự họp báo của ta, anh cứ ngồi ở cuối hội trường và quay mặt nhìn vào tường vậy?

        Anh tủm tỉm cười, nét hóm hỉnh hiện trên khuôn mặt gày guộc, xanh xao,anh liền nói:

        - Mình sợ lỡ có cha "Việt cộng" nào tự dưng ôm lấy mình mà kêu toáng lên: Đồng chí! Thì lúc đó mình hết đường sống!

        Nói xong, anh rít một hơi thuốc lá, nhả khói ra mù mịt. Hai mắt như đang nhìn về một nơi xa, khóe miệng vẫn còn đọng lại nụ cười trông thật hiền. Anh đang nhớ lại những tháng ngày dầy đặc hiểm nguy giữa Sài Gòn lúc nhúc ma tà, mật vụ cái chết có thể ập đến bất cứ lúc nào( ! ).

        Ngày 20.09.2006, bạo bệnh đã cướp anh đi. Tin sét đánh ấy làm cho bao người thương Xót. Anh về cõi vĩnh hằng sau khi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Quân đội và nhân dân tin cậy giao phó. Hình ảnh về anh một nhà báo tài ba, một chiến sĩ tình báo quân sự kiệt xuất sẽ mãi in đậm trong tâm trí tôi và bao người đồng đội của anh.

        Hai đoàn đại biểu quân sự cách mạng ta đã sống và chiến đấu suốt 823 ngày đêm giữa hang ổ kẻ thù trên một trận tuyến đặc biệt- Mặt trận ngoại giao quân sự!

        Mỗi buổi họp báo, chúng tôi coi đó là một trận chiến đấu thật sự của những nhà ngoại giao mặc áo lính. Trên trận tuyến đó mỗi cán bộ, chiến sỹ đều cố gắng hoàn thành nhiệm vụ được giao và đã góp phần cùng với toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta làm lên ngày Đại thắng mùa Xuân 30/4/1975./.

         


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Ba, 2012, 05:07:15 am

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/005-1.jpg)

UỶ BAN ỌUỐC TẾ KIỂM SOÁT VÀ GIÁM SÁT
TRONG HIỆP ĐỊNH PARIS VỀ VIỆT NAM 1973

Huỳnh Văn Trình                

         Nguyên Trung tá Quân đội nhân dân Việt Nam chuyển ngành; Nguyên Phó Trưởng Phái đoàn  liên lạc Bộ Tống tư lệnh (1970-1972) bên cạnh UBQT sau Hiệp định Geneve; Nguyên thành viên  Đoàn đàm phán Paris, Uỷ viên Ban lãnh đạo Đoàn đại biếu Quân sự Chính phủ Việt Nam DCCH trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên TƯ ở Sài Gòn; Nguyên Vụ trưởng-cố vấn Bộ Ngoại giao
   
        Trong giải pháp chính trị-ngoại giao toàn bộ kết thúc chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp bằng Hiệp định Geneve 7/1954 và trong kháng chiến chống Mỹ bằng Hiệp định Paris 1/1973, vấn đề Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát luôn có vị trí, vai trò rất quan trọng : thể hiện sự công nhận quốc tế đối với giá trị của Hiệp định và bảo đảm sự đánh giá khách quan, trung lập đối với việc thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định của các bên. Tuy nhiên, do ý đồ-chủ trương-quan điểm của mỗi bên về vấn đề này có khác nhau, thậm chí đối lập nhau nên việc đàm phán về điều khoản Uỷ ban quốc tế cũng như vận dụng vai trò hoạt động của tổ chức này trong thực tiễn thi hành Hiệp định diễn ra khá căng thẳng và phức tạp.

        Từ kinh nghiệm về Uỷ ban quốc tế (UBQT) trong Hiệp định Geneve, đối với hiệp định Paris, nổi lên sự khác biệt cơ bản về lập trường giữa Mỹ và ta về Uỷ ban quốc tế là :

        - Mỹ rất đề cao vai trò UBQT, coi đó là tổ chức có quyền lực cao nhất trong bộ máy thi hành Hiệp định, đứng trên Ban Liên hợp quân sự (LHQS). Ý đồ nhằm dùng tổ chức quốc tế này duy trì nguyên trạng chính trị ở miền Nam, củng cố thế lực cho nguỵ Sài Gòn, kiềm chế thắng lợi của lực lượng cách mạng, bảo vệ chế độ thực dân kiểu mới trong điều kiện Mỹ buộc phải chấm dứt hoàn toàn dính líu quân sự ở miền Nam Việt Nam.

        - Ngược lại, ta chủ trương đề cao vai trò của Ban LHQS, coi việc thi hành Hiệp định là trách nhiệm của các bên ký kết. Các Ban LHQS gồm đại diện của các bên liên quan có vai trò quyết định nhất trong thi hành Hiệp định, có chức năng định ra thể thức thi hành Hiệp định và trực tiếp thực thi các thể thức đó. UBQT có vai trò quan trọng kiểm soát và giám sát việc thực hiện các điều khoản do Hiệp định quy định trong mối quan hệ phối hợp chặt chẽ và dựa trên cơ sở hoạt động của các Ban LHQS, không đứng trên Ban LHQS. Ta coi UBQT là một sách lược quan trọng trong giải pháp chính trị, tranh thủ dư luận quốc tế, phục vụ cho đấu tranh của ta trên ba mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao.

        I - Cuộc mặc cả trong đàm phán ở Paris.

        Xuất phát từ lập trường nói trên, khi đàm phán.Hiệp định Paris đi vào thực chất, hai bên đã đưa ra những đề nghị rất khác nhau đối với các vấn đề chủ chốt về UBQT. Qua đấu tranh, đã đi đến sự thoả thuận như được ghi trong Hiệp định và Nghị định thư về UBQT.

        1. Về thành viên quốc gia tham gia UBQT :

        Được đề cập lần đầu tiên trong cuộc gặp riêng Lê Đức Thọ - Kissinger ngày 15/9/1972. Ta đưa ra thành phần UBQT gồm 5 thành viên; ngoài ba nước hiện có ấn Độ-Balan-Canada (của UBQT theo Hiệp định Geneve), mỗi bên giới thiệu thêm một nước và được bên kia chấp thuận. Về phía mình, ta đề nghị Cuba. Kissinger không chấp nhận ấn Độ vào UBQT, cho không phải là nước trung lập (đầu 1972 ấn Độ nâng quan hệ ngoại giao với Việt Nam DCCH lên hàng Đại sứ nhưng vẫn duy trì quan hệ Tổng lãnh sự với chính quyền Sài Gòn) và cũng bác bỏ Cuba vào UBQT.

        - Ngày 26/9/1972, ta đề nghị UBQT gồm 4 nước.

        - Ngày 27/9/1972, Mỹ vẫn đưa đề nghị UBQT gồm 5 nước và ngày 9/10/72 nói rõ thêm : 4 nước do 2 bên thoả thuận, còn nước thứ 5 do Tổng thư ký LHQ chỉ định. Mỹ giới thiệu Nhật và Indonesia làm thành viên UBQT.
 
        - Ngày 17/10/1972, ta trao cho Mỹ dự thảo Hiệp định Paris với hướng thoả thuận UBQT gồm 4 nước thành viên. Mỹ đưa vấn đề mới, đòi Cộng hoà Triều Tiên (một nước đang trực tiếp tham chiến ở miền Nam Việt Nam) tham gia UBQT.

        - Ngày 18/11/1972, Nguyễn Văn Thiệu, trong Giác thư gửi cho Ni xon, đòi UBQT gồm toàn "nước trung lập".

        - Ngày 9/12/1972, ta đồng ý Indonesia vào UBQT theo giới thiệu của Mỹ.

        - Ngày 13/1/1973,.cuộc gặp riêng cuối cùng Lê Đức Thọ - Kissinger thoả thuận nội dung Điều 18 về UBQT trong Hiệp định.

        - Ngày 19/1/1973, hai bên thoả thuận xong Nghị định thư về UBQT.

        - Ngày 27/1/1973, ký Hiệp định Paris, tất cả các bên chấp nhận UBQT gồm đại biểu 4 nước Balan, Canada, Hungari, Indonesia.

        Như vậy, cuối cùng ta đạt yêu cầu : UBQT 4 thành viên quốc gia, có sự cân bằng lực lượng của đại diện mới bên trong UBQT.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Ba, 2012, 05:10:46 am

        2. Về nhiệm vu, quyền hạn UBQT :

        Mỹ đòi UBQT có nhiệm vụ rất rộng : ngăn ngừa, phát hiện vi phạm và đe doạ vi phạm, giải quyết vi phạm, trong khi thực chất đây là thuộc chức năng của các Ban LHQS; đòi UBQT có quyền hạn lớn và không hạn chế : hoạt động độc lập, tự do đi lại khắp miền Nam, thậm chí khắp Việt Nam, tự ý điều tra vi phạm, có quan hệ với UBQT Ở Lào, Campuchia, chỉ trực thuộc Hội nghị quốc tế, có đặc quyền bất khả xâm phạm cao hơn đoàn ngoại giao, đứng trên Ban LHQS.

        Ta chủ trương UBQT chỉ có chức năng kiểm soát và giám sát việc thi hành các điều khoản được quy định trong Hiệp định, không lấn sang nhiệm vụ chủ yếu của các Ban LHQS, đặc biệt trong việc phát hiện, ngăn ngừa và giải quyết có hiệu quả đối với mọi hành vi vi phạm Hiệp định. Do Ban LHQS.là cơ quan đại diện cho các bên và chủ quyền của hai bên miền Nam Việt Nam, gồm các đối tác trực tiếp liên quan đến hậu quả thi hành Hiệp định, được triển khai rộng khắp các địa phương, nên có điều kiện, ý chí, khả năng và phạm vi rộng rãi hơn UBQT trong phát hiện và xử lý vi phạm. Việc phân biệt nhiệm vụ như vậy giữa Ban LHQS và UBQT mới bảo đảm cho việc thi hành Hiệp định được nghiêm chỉnh và hiệu quả. Hoạt động của UBQT phải trên cơ sở các bên đồng ý, điều tra vi phạm theo yêu cầu của các bên và được các bên giúp đỡ hợp tác, bảo đảm quyền miễn trừ ngoại giao. Không có mối quan hệ giữa UBQT Ở Việt Nam và Lào, Campuchia vì thuộc thẩm quyền các nước khác. UBQT trực thuộc 4 bên ký kết Hiệp định Paris. Thực tế lịch sử chứng minh một cuộc chiến tranh lớn mà các bên còn giải quyết được bằng cùng nhau ký kết Hiệp định, thì đối với các vi phạm Hiệp định cụ thể làm sao các bên không tự giải quyết được ? Với Hiệp định Geneve 1954, sự có mặt của UBQT chẳng đã không có hiệu lực phát hiện, ngăn chặn nguy cơ Mỹ - nguỵ vi phạm trắng trợn Hiệp định, tăng cường chiến tranh xâm lược và phá hoại Tổng tuyển cử đó sao ? Trên những cơ sở đó UBQT không thể đứng trên các Ban LHQS được.

        Qua đấu tranh kiên quyết và lập luận vững chắc của ta, Mỹ buộc chấp nhận về cơ bản quan điểm của ta như đã ghi trong Hiệp định và Nghị định thư là :

        "Việc thi hành Hiệp định là trách nhiệm của các bên ký kết. Nhiệm vụ UBQT là kiểm soát và giám sát các điều khoản nói trong điều 18 của Hiệp định. Trong khi thực hiện nhiệm vụ này, UBQT sẽ :

        a) Theo dõi việc thực hiện các điều khoản của Hiệp định trên đây qua liên lạc với các bên và quan sát tại chỗ ở những nơi cần thiết.

        b) Điều tra các vi phạm những điều khoản thuộc thẩm quyền kiểm soát và giám sát của Uỷ ban.

        c) Khi cần thiết, hợp tác với các Ban LHQS trong việc ngăn ngừa và phát hiện vi phạm.

        UBQT điều tra các vi phạm theo yêu cầu của các Ban LHQS và khi tiến hành nhiệm vụ này, UBQT sẽ hành động với sự giúp đỡ và hợp tác của các bên liên quan".

        3. Về bộ máy tổ chức của UBQT :

        Mỹ đòi lập bộ máy UBQT rất lớn từ Trung ương xuống địa phương, rải khắp miền Nam, tổng số.từ 7.000 đến 12.000 người với 334 tổ công tác, có vũ trang, bố trí dày đặc nhiều tổ dọc khu phi quân sự và biên giới Việt Nam-Lào-Campuchia. Ngược lại, Mỹ rất coi nhẹ Ban LHQS, chỉ cần có ở cấp Trung ương, khu vực và các tổ với khoảng 500 người. Ý đồ là dưới danh nghĩa UBQT, đưa vào miền Nam một đội quân chiếm đóng nước ngoài làm nhiệm vụ cảnh bị quốc tế, thay thế quân Mỹ buộc phải rút đi, nhằm ngăn chặn tấn công và nổi dậy của quân dân miền Nam, bịt chặt các cửa khẩu ra vào dọc khu phi quân sự và biên giới để triệt để cô lập cách mạng miền Nam Việt Nam, phục vụ cho việc tăng cường chiến tranh, vi phạm Hiệp định của Mỹ - nguỵ.

        Đài BBC ngày 25/9/1974 đã nói về âm mưu sử dụng UBQT của Mỹ nguỵ là "Thiệu muốn duy trì được sức hậu thuẫn của Quốc hội Mỹ và nếu ông có thể dùng được UBQT để vạch ra những kiểu vi phạm của phía cộng sản đương phạm vào lúc này thì rất có thể Quốc hội Mỹ tỏ ra sẵn sàng trong vấn đề viện trợ cho Nam Việt Nam".

        Ta chủ trương tổ chức bộ máy Ban LHQS phải cao hơn UBQT, UBQT có bộ máy tổ chức hợp lý, số lượng nhân viên vừa phải, không vũ trang, phù hợp với nhiệm vụ, tối đa là 55 tổ với tổng số 600 người. Con số này sẽ giảm dần trong quá trình hoàn thành nhiệm vụ từng bước.

        Kết quả đàm phán cuối cùng, ta đạt được thoả thuận theo Hiệp định và Nghị định thư là UBQT có 1.160 nhân viên với 59 tổ công tác các loại, trong khi đó Ban LHQS có 3.300 nhân viên với 7 tổ khu vực và 26 tổ địa phương. Tỷ lệ thành viên UBQT và Ban LHQS là 1/3.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: altus trong 13 Tháng Ba, 2012, 06:18:50 am
Kết quả đàm phán cuối cùng, ta đạt được thoả thuận theo Hiệp định và Nghị định thư là UBQT có 1.160 nhân viên với 59 tổ công tác các loại, trong khi đó Ban LHQS có 3.300 nhân viên với 7 tổ khu vực và 26 tổ địa phương. Tỷ lệ thành viên UBQT và Ban LHQS là 1/3.

Bác Giangtvx có thông tin nào về chuyện tiền chi phí cho hoạt động của bộ máy này, ăn ở đi lại vân vân, được quy định thế nào trong Hiệp Định, và cuối cùng thì do ai bỏ ra không?


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Ba, 2012, 07:26:06 am
Bác Giangtvx có thông tin nào về chuyện tiền chi phí cho hoạt động của bộ máy này, ăn ở đi lại vân vân, được quy định thế nào trong Hiệp Định, và cuối cùng thì do ai bỏ ra không?

Mời bác xem phần tiếp


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Ba, 2012, 07:27:49 am
(Tiếp: UỶ BAN ỌUỐC TẾ KIỂM SOÁT VÀ GIÁM SÁT TRONG HIỆP ĐỊNH PARIS VỀ VIỆT NAM 1973)

        4. Về nguvên tắc tôn trọng chủ quyền và nguvên tắc nhất trí trong hoạt động của UBQT :

        Mỹ không muốn thực hiện các nguyên tắc này. Đòi UBQT hoạt động độc lập, được tự do đi lại khắp miền Nam Việt Nam và cả Việt Nam, tự do điều tra vi phạm mà không có các bên tham gia, có quyền báo cáo lên Hội nghị quốc tế và muốn Hội nghị quốc tế có thẩm quyền kết thúc UBQT. Nhấn mạnh UBQT có quyền làm báo cáo không nhất trí, quyền hoạt động khi không có đủ mặt 4 thành viên tham gia...

        Ta kiên quyết bảo vệ hai nguyên tắc rất cơ bản nói trên được thể hiện trong các mối quan hệ : UBQT do các bên ký kết quyết định thành lập và kết thúc nhiệm vụ; UBQT báo cáo cho các bên; UBQT hoạt động song song với Ban LHQS và trên cơ sở hợp tác, phối hợp với các Ban LHQS, gắn và phụ thuộc các Ban LHQS.

        UBQT hành động như một cơ quan thống nhất, bao gồm tất cả 4 thành viên; các báo cáo của UBQT phải được sự nhất trí thoả thuận của đại diện tất cả 4 thành viên.

        Cuối cùng, hai bên đã thoả thuận các điều khoản về tổ chức và thủ tục làm việc của UBQT phù hợp với nguyên tắc tôn trọng chủ quyền Việt Nam, chủ quyền hai bên miền Nam Việt Nam và nguyên tắc nhất trí trong lề lối làm việc của UBQT như được ghi nhận trong Nghị định thư.

        5. Về tài chính của UBQT :

        Mỹ muốn UBQT có một ngân sách lớn, do Uỷ ban tự quyết định nhằm bảo đảm cho UBQT không bị hạn chế về tài chính trong xây dựng bộ máy và trong hoạt động phục vụ cho ý đồ của họ. Mỹ đề ra cách đóng góp không bình đẳng, theo tỉ lệ Mỹ-nguỵ mỗi bên đóng 28%, Việt Nam DCCH và Chính phủ cách mạng lâm thời mỗi bên đóng 18% nhằm dễ đàng dùng vấn đề tài chính lũng đoạn UBQT, đồng thời đề cao thiện chí của chúng, hạ uy tín Việt Nam DCCH và Chính phủ CMLT.

        Ta chủ trương khống chế ngân sách UBQT một cách hợp lý theo tổ chức và chức năng của Uỷ ban; ngân sách dự trù của UBQT phải được 4 bên ký kết Hiệp định duyệt trên cơ sở hằng năm và giảm dần theo quá trình hoàn thành nhiệm vụ từng bước; việc đóng góp phải theo tỉ lệ bình đẳng giữa 4 bên ký kết nhằm thể hiện thiện chí của ta, đề cao uy tín Việt nam DCCH và Chính phủ CMLT, chống Mỹ- nguỵ dùng tài chính thao túng UBQT.

        Do đấu tranh của ta có cơ sở pháp lý và thực tế vững chắc nên buộc Mỹ phải đồng ý 4 bên đóng góp bình đẳng 23% và 4 bên ký kết Hiệp định thông qua ngân sách UBQT hàng năm. Mỗi nước thành viên UBQT đóng góp 2%

        Chung lại, vấn đề UBQT được đàm phán và quyết định trực tiếp tại diễn đàn gặp gỡ riêng Lê Đức Thọ - Kissinger (ở cấp cao nhất và cấp chuyên viên) trong thời gian 4 tháng từ 15/9/1972 đến 19/1/1973.

        Thoả thuận ký kết được ghi trong Điều 18 của Hiệp định và Nghị định thư về UBQT là kết quả tốt nhất về chính trị, pháp lý mà chúng ta đạt được theo yêu cầu đề ra và có tầm vóc khác biệt rõ rệt so với UBQT được thành lập theo Hiệp định Geneve 1954. Nội dung được nâng cao so với trước là về các điều khoản cơ bản nhất : thành phần quốc gia thành viên UBQT và việc luân phiên làm chủ tịch, tổ chức bộ máy, vị trí-vai trò-nhiệm vụ UBQT, UBQT chịu trách nhiệm trước 4 bên ký kết Hiệp định và quan hệ phụ thuộc với Ban LHQS, các nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của miền Nam Việt Nam, đặc biệt là Chính phủ CMLT và hiệp thương nhất trí.

        Chúng ta đã giành được thắng lợi trong thực hiện chủ trương đàm phán của mình về UBQT


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Ba, 2012, 07:34:20 am
" ... Do đấu tranh của ta có cơ sở pháp lý và thực tế vững chắc nên buộc Mỹ phải đồng ý 4 bên đóng góp bình đẳng 23% và 4 bên ký kết Hiệp định thông qua ngân sách UBQT hàng năm. Mỗi nước thành viên UBQT đóng góp 2%"

Quy định là vậy nhưng chẳng bên nào chịu chi cả. Các trang thiết bị và phương tiện đều do Mỹ "đài thọ" và cuối cùng thì Mỹ chi tất. Họ cũng chẳng tốt dẹp gì đâu. Chẳng qua là họ nôn nóng chuyện tù binh (Mỹ) và hài cốt lính Mỹ thôi. Nhưng cũng phải nói ta ép họ rất giỏi  ;D  


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: altus trong 13 Tháng Ba, 2012, 08:43:46 am
Trích dẫn
việc đóng góp phải theo tỉ lệ bình đẳng giữa 4 bên ký kết nhằm thể hiện thiện chí của ta, đề cao uy tín Việt nam DCCH và Chính phủ CMLT, chống Mỹ- nguỵ dùng tài chính thao túng UBQT.

Cái này thì tụi Mỹ sau này chúng có bình luận là công sản hay không cộng sản, mấy ông Châu Á chỉ được cái kẹt xỉ thì nhất nhưng tìm mọi cách để ra oai.  ;)


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Ba, 2012, 01:11:29 pm
(Tiếp: UỶ BAN ỌUỐC TẾ KIỂM SOÁT VÀ GIÁM SÁT TRONG HIỆP ĐỊNH PARIS VỀ VIỆT NAM 1973)

II - UBQT trong thi hành Hiệp định Paris (28/1/1973 - 30/4/1975)

        Ngày 24/1/1973, Việt Nam DCCH và Mỹ - thay mặt các bên tham gia Hội nghị Paris - mời 4 nước tham gia thành viên UBQT.

         UBQT bắt đầu hoạt động khi ngừng bắn có hiệu lực vào 0 giờ (GMT) ngày 28/1/1973, tức 8 giờ sáng 28/1/1973 (giờ Hà Nội), song song với cơ quan Liên hợp quân sự (Ban LHQS).

        Các đoàn thành viên quốc gia Balan, Canada, Hungari, Indonesia đều có Trưởng đoàn cấp Đại sứ và Phó trưởng đoàn cấp Tướng. Mỗi đoàn có số lượng sĩ quan, cán bộ, nhân viên cao nhất là 290 người.

        * Bước vào thi hành Hiệp định :

        - Mỹ chỉ thi hành rất ngắn hạn một số điều khoản nhất định để bảo đảm được việc rút quân Mỹ, đưa tù binh Mỹ về nước; còn lại Mỹ chủ mưu, khuyến khích nguỵ Sài Gòn phá hoại toàn bộ Hiệp định, tiếp tục Việt Nam hoá chiến tranh, làm suy yếu, cô lập lực lượng cách mạng miền Nam, xoá bỏ chính phủ cách mạng lâm thời (CPKMLT), độc chiếm miền Nam, áp đặt chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ. Nhằm mục đích đó, Mỹ-nguỵ ra sức phá hoại việc triển khai và hoạt động của các Ban LHQS là tổ chức đại diện cho các bên; ngược lại triệt để lợi dụng việc triển khai và hoạt động của UBQT rộng.khắp để bao che vi phạm, tội ác của họ, vu cáo ta, tranh thủ dư luận phục vụ mưu đồ đen tối.

        - Phía Việt Nam DCCH và Chính phủ CMLT sẵn sàng chấp nhận cuộc đọ sức chính trị, nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định để hoà bình thực sự được lập lại, hoàn thành sự nghiệp cách mạng trong hoà hợp và hoà giải dân tộc, đưa đất nước đi lên. Nhằm mục đích đó ta kiên quyết thực hiện việc triển khai và hoạt động có hiệu quả của các Ban LHQS song song và phối hợp chặt chẽ với hệ thống tổ chức của UBQT. Tuy nhiên, nếu Mỹ-nguy ngoan cố, cố tình phá hoại Hiệp định, làm cho xung đột quân sự ngày càng tăng cường độ và chiến tranh trở lại, thì ta phải tiến hành một cuộc chiến tranh cách mạng gay go, quyết liệt để thắng lợi hoàn toàn.

        - Các nước thành viên UBQT, do mỗi bên giới thiệu khác nhau, cũng có thái độ quan điểm khác nhau : Canada, Indonesia (thời chống cộng của Suharto), Iran (thời Quốc vương) là đồng minh của Mỹ, thân phương Tây, chống cộng, ra sức làm chỗ dựa cho Mỹ-nguy thực hiện ý đồ trong UBQT. Balan và Hungari (thành viên XHCN) luôn luôn xác định đúng đắn nghĩa vụ quốc tế bảo vệ quyên lợi của Cách mạng Việt Nam, coi đó là nguyên tắc cho hành động của mình, do đó đồng tình, ủng  hộ chủ trương của ta đối với UBQT.

        - Trong bối cảnh trên, quá trình đấu tranh triển khai và hoạt động của UBQT diễn ra khó khăn, căng thẳng. Tuỳ thuộc vào các yếu tố cơ bản là diễn biến chiến trường và tình hình hoạt động của Ban LHQS, có thể tổng kết về UBQT theo 3 thời kỳ sau đây :

                + Thời kỳ Ban LHQS 4 bên (28/1 - 29/3/1973)
 
                + Thời kỳ Ban LHQS 2 bên (4/1973 - 6/1974)

                + Thời kỳ chấm dứt Ban LHQS 2 bên đến tổng tấn công xuân 1975 (6/1974 - 30/4/1975).

        * Thời kỳ Ban LHOS 4 bên (28/1 - 29/3/1973 : Mỹ cút - UBQT hoạt động thuận chiều.

        Điểm nổi bật trong thời gian 60 ngày này là : Mỹ thi hành các điều khoản ngừng ném bom, tháo gỡ mìn ở miền Bắc, ngừng bắn ở miền Nam, trao đổi tù binh để đổi lấy việc rút được quân Mỹ, lấy tù binh Mỹ về nước. Điều cốt lõi là "Mỹ cút" đã được thực hiện. Tuy nhiên, ngay từ đầu, Mỹ cấp tốc chuyển vũ khí cho nguỵ bằng cầu hàng không "Enhance plus", lập tổ chức mới DAO (Văn phòng Tuỳ viên Quốc phòng) đưa nhân viên quân sự vào duy trì sự có mặt quân sự ở miền Nam Việt Nam.

        Nguỵ Sài Gòn nỗ lực tối đa lấn chiếm đất, dành dân, đánh phá cơ sở cách mạng theo kế hoạch "tràn ngập lãnh thổ" từ tấn công Cửa Việt (28/1/1973), đánh chiếm Sa Huỳnh (Đức phổ - Quảng Ngãi), một số nơi khác ở miền Trung, vùng chung quanh Sài Gòn đến đồng bằng sông Cửu Long.

        Ban LHQS 4 bên đi vào hoạt động ở cấp Trung ương và ở khu vực 4 (Phan Thiết) nhưng không triển khai xuống 6 khu vực khác và 26 địa phương được do địch đánh phá địa điểm hẹn đón đoàn CPCMLT, hành hung cán bộ hai đoàn ta đến nơi triển khai hoạt động, lấn chiếm vùng giải phóng. Trong khi đó, Mỹ-nguy thúc đẩy nhanh triển khai UBQT xuống các khu vực và địa phương để lợi dụng theo ý đồ của chúng, bất chấp không có mặt và sự hợp tác của Ban LHQS ở cấp tương đương.

        Dù sao, trong thời gian khẩn trương của buổi ban đầu thi hành Hiệp định, nhờ có sự phối hợp-hợp tác giữa Ban LHQS và UBQT ở cấp Trung ương, nên UBQT đã  cử được các Tổ kiểm soát và giám sát thông suốt một sô chuyến trao trả tù binh, một  số đợt rút quân Mỹ - đặc biệt là toán quân cuối cùng rút khỏi miền Nam Việt Nam ngày 29/3/1973 đã xem xét và công nhận vụ vi phạm ngừng bắn của nguỵ Sài Gòn ở Cửa Việt. Đây là mốc son đầu tiên UBQT đạt được trong thực hiện nhiệm vụ; nhưng cũng bộc lộ sự hạn chế trong khả năng vạch ra tính chất nghiêm trọng và quy mô vi phạm Hiệp định của Mỹ nguy ngay từ đầu.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Ba, 2012, 01:16:14 pm
        
        * Thời kỳ Ban LHOS hai bên (4/1973 - 6/1974) :

        Nguy phá toàn diện Hiệp định - sóng gió trong hoạt động UBQT.  Trên chiến trường, nguỵ Sài Gòn ra sức phá hoại Hiệp định toàn diện, có hệ thống, rất nghiêm trọng. Chúng mở rộng tấn công quân sự, lấn chiếm vùng giải phóng, gây lại chiến tranh. Đến 10/1973, chúng đã chiếm thêm 900 ấp, đóng thêm 523 đồn bốt, dồn hơn triệu dân vào vùng chúng kiểm soát (Sách Trại Davis 823 ngày đêm - trang 99).

        Ta kiên quyết đánh trả tại nơi lấn chiếm,.trừng trị nơi xuất phát và các nơi khác Từ Quảng Trị đến Tây.Nam bộ ta đã chống trả quyết liệt, chặn được hành quân bình định của địch, thu hồi và mở rộng vùng giải phóng.

        Ban LHQS hai bên chỉ còn ở cấp Trung ương. Do ngụy Sài Gòn phá hoại việc triển khai các đoàn Việt Nam DCCH và Chính phủ CMLT xuống địa phương trong thời kỳ Ban LHQS Trung ương 4 bên, nên ta không triển khai các đoàn Chính phủ CMLT xuống các Ban LHQS 2 bên ở khu vực và địa phương nữa. Ban LHQS TƯ 2 bên trở thành diễn đàn đấu tranh gay gắt và quyết liệt tố cáo nhau vi phạm Hiệp định.

        Về UBQT, nguỵ Sài Gòn mạo danh Ban LHQS 2 bên Ờ khu vực, địa phương (không có phía Chính phủ CMLT) đã lợi dụng các tổ UBQT - mà đại bộ phận đóng trong vùng chúng kiểm soát, do chúng nắm và khống chế phương tiện thông tin, vận chuyển - tăng cường gửi thư khiếu nại, ra sức thúc đẩy UBQT đi điều tra ở mức cao nhất về nhịp độ và số lượng theo yêu cầu của chúng; đồng thời viện mọi lý do về an toàn, phương tiện và sĩ quan liên lạc để ngăn cản UBQT điều tra các vi phạm do ta tố cáo. Chúng còn đặt trận địa pháo cạnh trụ sở tổ UBQT bắn vào vùng giải phóng, lợi dụng hành lang bay dùng cho UBQT vào mục đích do thám và ném bom.

        Phía ta tố cáo mạnh mẽ với UBQT hành động của Mỹ tiếp tục can thiệp, dính líu quân sự ở miền Nam Việt Nam, ngụy Sài Gòn vi phạm ngừng bắn, tiếp tục chiến tranh, phá hoại trao trả tù dân sự, vi phạm các quyền tự do dân chủ của nhân dân. Ta đòi các cuộc điều tra của UBQT phải trên cơ sở hoạt động và hợp tác với Ban LHQS 2 bên, có sự tham gia của đại diện 2 bên, tôn trọng nguyên, tắc chủ quyền, hiệp thương nhất trí; kiên quyết chống một số thành viên UBQT điều tra đơn phương và nguỵ Sài Gòn cản trở điều tra theo yêu cầu của ta.

        Thời kỳ này, UBQT chỉ làm được một việc tích cực là kiểm soát và giám.sát đợt trao trả nhân viên dân sự tháng 2,3/1974. Còn lại thì bị sa lầy về điều tra vi phạm đơn phương của Canada và Indonesia, bị Balan, Hungari và Chính phủ CMLT kiên quyết phản đối.

        Canada "không coi Chính phủ CMLT là một bên có chủ quyền; cho điều tra vi phạm là nhiệm vụ chủ yếu, bao trùm của UBQT; nguyên tắc nhất trí không phải là quyền phủ quyết để bác bỏ hoạt động của các đoàn khác"; chủ động đưa ra dự thảo "Thủ tục hoạt động của UBQT" cho phép UB có quyền rộng rãi tự do đi lại, quyết định điều tra mà không tham khảo ý.kiến và sự tham gia của bên Chính phủ CMLT. Indonesia cũng coi "nguyên tắc nhất trí không thể được sử dựng để một số đoàn buộc các đoàn khác làm theo ý mình, điều tra đơn phương không trái với điều khoản Hiệp định". Với lập trường, quan điểm đó, họ tiến hành điều tra vi phạm tràn lan, đơn phương theo yêu cầu của Mỹ-ngụy, tự mình kết luận xuyên tạc, đơn phương tiết lộ thông tin, công bố kết luận cho dư luận báo chí, gây lẫn lộn giữa kẻ vi phạm và người bảo vệ Hiệp định, vu cáo ta và đổ trách nhiệm cho Balan-Hungari cản trở hoạt động của UBQI.
 
        Nghiêm trọng hơn, ngày 28/6/1973, hai sĩ quan Canada ở Tổ Xuân Lộc tự ý đi vào vùng Cam Tiêu do Chính phủ CMLT kiểm soát và bị bắt giữ, đến ngày 15/7/1973 được ta trao trả tại Xuân Lộc.

        Balan-Hungan chống lại những hành động sai trái của Canada-Indonesia vì đi ngược lời văn và tinh thần Hiệp đinh Paris về UBQT.

        Đoàn Chính phủ CMLT trong Ban LHQS 2 bên Trung ương không thừa nhận tính hợp pháp và giá trị của các cuộc điều tra đơn phương của Canada-Indonesia vì trái quy định nguyên tắc hoạt động UBQT và không phản ảnh khách quan nguyên nhân (kẻ gây chiến tranh) và hậu quả đánh trả, trừng trị kẻ vi phạm).

        Bất lực và thất bại trong áp đặt và thực hiện mưu đồ lợi dụng UBQT bao che cho Mỹ-nguỵ, làm suy yếu lực lượng cách mạng miền Nam, tháng 6/1973, Canada quyết định rút khỏi UBQT, đến 19/7/1 973 rút hết đoàn Canada về nước.

        Từ đây hoạt động UBQT bị đình trệ cho đến đầu 10/1 973, khi đoàn Iran đến thay thế Canada theo lời mời của các bên ký kết Hiệp định. Trong thời gian này, Chính phủ CMLT mời 3 đoàn Balan-Hungari-Indonesia đi thăm vùng căn cứ Lộc Ninh, thủ phủ vùng giải phóng miền Nam vào ngày 12/9/1973, để lại ấn tượng hữu nghị tốt đẹp.

        Ngày 29/8/1973, đoàn tiền trạm Iran đến Sài Gòn, cuối tháng 9/1973 Đại sứ, Trưởng đoàn cùng toàn đoàn đến đầy đủ. UBQT trở lại hoạt động bình thường từ 10/1973, trọng tâm tập trung vào điều tra vi phạm do 2 bên miền Nam VN đều tăng cường gửi công hàm tố cáo đến UBQT. Ta phát huy thế chủ động tấn công với số lượng công hàm vượt xa khiếu nại của nguy Sài Gòn (924 công hàm với 18.791 vụ, so với 672 khiếu nại với 12.435 vụ của nguy).

        Từ kinh nghiệm đổ vỡ trong thời kỳ Canada, hai bạn Balan-Hungari cùng 2 đoàn ta đã tiếp xúc tác động mạnh đến 2 đoàn Indonesia-Iran, đòi chấn chỉnh thủ tục hoạt động của UBQT, đòi xét khiếu nại vi phạm theo trình tự thời gian, cân bằng số lượng của hai bên, cử sĩ quan hai bên tham gia và bảo vệ an toàn, không điều tra độc lập tách khỏi Ban LHQS. Từng bước ta đã hướng UBQT hoạt động theo chiều hướng trên, nhưng trong điều kiện so sánh lực lượng trong UBQT ngang nhau, thực tế khó mà đi đến kết luận nhất trí về vi phạm của một bên nào như điển hình là vụ Lộc Tấn (nguy oanh tạc vùng giải phóng), vụ Cai Lậy (nguy vu cáo ta bắn pháo vào trường học). Tờ Times 1/1975 đã viết "Thực ra cơ cấu tổ chức UBQT chính là điều đã làm cho UBQT khó mà hoạt động thích đáng được. Tuy thế, nếu UBQT tan vỡ thì khả dĩ việc ấy sẽ là cái tát cuối cùng vào mặt Kissinger và vào Hiệp định Paris". Indonesia-Iran giảm bớt điều tra đơn phương. Iran coi việc đó "chỉ là đi tìm sự kiện", không phải là tài liệu của UBQT và không công bố ra dư luận.

        Ta cũng yêu cầu UBQT giảm tổ chức và nhân viên theo điều 18c của Hiệp định; chính thức thông báo không có khả năng đóng góp tài chính cho UBQT từ 1974 vì Mỹ phá hoại Hiệp định, không thi hành điều 21 về "Hoa Kỳ đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công cuộc xây dựng sau chiến tranh".

        Đi đôi với đấu tranh, ta tăng cường tranh thủ, tiếp xúc ngoại giao, hữu nghị và giao lưu văn nghệ-thể thao với UBQT. Chính phủ CMLT mời UBQT thăm bản doanh chính phủ ở Cam Lộ-Đông Hà-Quảng Trị từ 12 đến 14/11/1973. Chính phủ Việt Nam DCCH mời UBQT ra thăm Hà Nội và miền Bắc từ 29/1 đến 1/2/1974.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Ba, 2012, 01:28:38 pm

        * Thời kỳ chấm dứt hoạt động Ban LHOS 2 bên Trung ương đến Tổng tấn công giải phóng Sài Gòn : ngụy nhào - UBQT tự giải thể (6/1974-30/4/1975).

        Nguy Sài Gòn xoá bỏ Hiệp định, quyết đánh bật cộng sản, giải quyết vấn đề miền Nam bằng quân sự. Chiến trường sôi động, nóng bỏng, chiến sự lan rộng và quyết liệt tình trạng chiến tranh diễn ra khắp miền Nam.

        Không thể thực hiện sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước bằng biện pháp hoà bình theo Hiệp định Paris, ta không có con đường nào khác là buộc phải dùng bạo lực cách mạng để hoàn thành mục tiêu đó. Với đà đánh trả trừng trị vi phạm và chủ động tấn công, không những ta đã giành lại các vùng bị lấn chiếm, khôi phục thế đứng trước ngày ký Hiệp định (Trị Thiên - khu 5) mà còn mở thêm nhiều khu vực ở Tây Nguyên (Pleiku - Kon Tum), đánh mạnh ở Đông Nam bộ, giải phóng hành lang Nam bộ - Tây Nguyên, làm chủ một số vùng ở khu 8 (Nam Bắc đường 4), giải phóng nhiều địa bàn quan trọng ở khu 9, tiến lên giải phóng toàn tỉnh Phước Long ngày 6/1/1975. Hình thái đó tạo ra thế chiến lược to lớn để ta mở đòn chiến lược Xuân-hè 1975 : tấn công giải phóng Ban Mê Thuột (10/3/1975) và Tây Nguyên, chiến dịch giải phóng Huế-Đà Năng, và cuối cùng là trận quyết chiến chiến lược "chiến dịch HỒ Chí Minh" lịch sử (26/4-30/4/1975) hoàn toàn giải phóng miền Nam. "Nguỵ nhào.

        Bối cảnh đã rõ rệt là từ 6/1974 hoạt động Ban LHQS 2 bên Trung ương đi vào bế tắc và tê liệt, không còn khả năng đạt được bất cứ kết quả tích cực nào trong đàm phán nữa.

        Ngày 22/6/1974 Bộ Ngoại giao Chính phủ CMLT tuyên bố đình chỉ vô thời hạn họp Ban LHQS 2 bên Trung ương. Ngày 8/10/1974 Chính phủ CMLT ra Tuyên bố đòi Mỹ chấm dứt dính líu quân sự và can thiệp vào công việc của miền Nam Việt Nam; đòi lật đổ Nguyễn Văn Thiệu, lập ra ở Sài Gòn một chính quyền tán thành hoà bình, hoà hợp dân tộc, thi hành Hiệp định Paris; tuyên bố chính thức đình chỉ mọi cuộc họp Ban LHQS 2 bên Trung ương và Tổ LHQS 4 bên về người mất tích. Ngày 11/10/1974, chính phủ Việt Nam DCCH cũng ra Tuyên bố tương tự.

        Ta chuyển mạnh từ trực diện đấu tranh với đối phương đòi thi hành Hiệp định sang đấu tranh dư luận hỗ trợ chiến trường. Với thế pháp lý, chính trị, ngoại giao mạnh, ta vẫn duy trì hai đoàn đại biểu Việt Nam DCCH và Chính phủ CMLT ở Trại Davis - Sài Gòn, giữ quan hệ bình thường với UBQT, tăng cường hoạt động với giới báo chí truyền thông, dương cao ngọn cờ chính nghĩa cách mạng, tố cáo hành động chiến tranh-phá hoại Hiệp định của Mỹ-nguỵ, tranh thủ sự thông cảm, đồng tình ủng hộ của dư luận đối với việc ta buộc phải dừng tấn công quân sự đánh trả để bảo vệ Hiệp định. Các cuộc họp báo tại Trại Davis hàng tuần với đông đảo báo chí quốc tế tham dự, việc tổ chức cho nhà báo đi thăm vùng giải phóng và thường xuyên liên lạc trực tiếp với các nhà báo... đã đem lại kết quả tích cực, tạo dư luận thuận lợi cho ta về diễn biến chiến sự ở chiến trường, kể cả khi ta tổng tấn công giải phóng hoàn toàn miền Nam.

        Đối với UBQT, Mỹ-nguỵ vẫn cố duy trì nguyên trạng triển khai các tổ khu vực và địa phương mặc dù bị uy hiếp về an toàn do chiến sự lan rộng và nhiều nơi không có đại biểu Balan-Hungari (đã rút do hoàn thành nhiệm vụ theo điều 18c, do bị hành hung, do Air America doạ cắt chuyến bay liên lạc, do nguỵ đặt pháo cạnh trụ sở UBQT...). âm mưu của chúng là dùng UBQT làm lá chắn ngăn chặn tấn công quân sự của ta, nhất là tấn công lớn vào Sài Gòn; vu cáo ta; khi thất thế dùng UBQT làm trung gian thương lượng cứu nguỵ khỏi sụp đổ.

        Tuy nguỵ ở bước đường cùng nhưng lndonesia-Iran vẫn cố bám trụ lại các tổ UBQT khu vực và địa phương, tiếp tục đòi xét và điều tra khiếu nại để vu cáo ta, bao che cho nguỵ. Lúc này, trong số 26 tổ địa phương, có 10 tổ chỉ có Indonesia và Iran; trong 6 tổ ở biên giới, có 3 tổ chỉ có Indonesia-Iran. Mãi đến khi 2 đại uý Indonesia và Iran bị mắc kẹt ở Ban Mê Thuột sau tấn công của ta thì hai đoàn này mới lo ngại về an toàn cho nhân viên của họ, buộc phải rút dần các tổ về Sài Gòn. Hai sĩ quan nói trên được ta trao trả ở Lộc Ninh ngày 17/5/1975.

        Đánh giá tình hình chung đã vượt xa khỏi tầm nhiệm vụ của UBQT, ta kiến  nghị với lãnh đạo các đoàn quốc gia thành viên UBQT thực hiện phượng châm : "Nếu UBQT không làm được điều gì tốt (tức là lên án xâm lược và chiến tranh của"  Mỹ-nguy) thì không nên làm điều gì xấu" (tức là kết luận vi phạm đối với hành động quân sự đánh trả của ta).

         Trên tinh thần đó, ta đẩy mạnh gửi công hàm cho UBQT tố cáo hành động chiến tranh của nguỵ Sài Gòn mà không yêu cầu UBQT điều tra, chỉ nhằm tấn công về mặt dư luận.

        Ta tăng cường đoàn kết phối hợp với hai bạn Balan-Hungari bằng giao ban hàng ngày, thông báo hàng tuần, tháng tại Trại Davis hay tại trụ sở đoàn bạn tại trung tâm Sài Gòn. Đặc biệt, đã tiến hành hai cuộc hội nghị cấp thứ trưởng ngoại giao 4 chính phủ Việt Nam DCCH, Chính phủ CMLT, Chính phủ Balan, Chính phủ Hungari tại Budapest 5/1974 và Hà Nội 2/1975, thống nhất đánh giá tình hình và chủ trương trong hai bước ngoặt, khi Ban LHQS 2 bên bị tê liệt và khi chiến trường chuyển từ tấn công chiến lược sang tổng tiến công kết thúc chiến tranh.

        Việc ta giành toàn thắng trong chiến dịch Hồ Chí Minh - giải phóng Sài Gòn và toàn miền Nam đánh dấu sự kết thúc của UBQT. Các đoàn Indonesia, Iran đã rút hết cùng với đợt di tản hoảng loạn của Mỹ-nguỵ khỏi miền Nam. Các đoàn Balan, Hưngari còn ở lại Sài Gòn chứng kiến và chung vui mùa Xuân đại thắng của dân tộc Việt Nam mà trong đó bạn đã có sự đóng góp to lớn, kể cả xương máu của mình (2 sĩ quan Hungari đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ, Phó đoàn Hungari Uranowich đã dũng cảm cởi áo chỉ cho quân cảnh nguỵ bắn vào tim mình khi tên này doạ bắn để ngăn cản ông vào trụ sở Ban LHQS ở Trại Davis). Đến ngày 7/5/1975 các bạn rời Sài Gòn về nước như những người chiến thắng, mang theo niềm thương nhớ, ngưỡng mộ và biết ơn của nhân dân Việt Nam đối với tình quốc tế cao cả của họ.

        UBQT đã hoạt động hơn 2 năm và tự giải thể như thế đó.

        Hiệp định Paris đã kết thúc như thế đó.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Ba, 2012, 01:31:12 pm

        III - Một vài kết luân.

        1. UBQT kiểm soát và giám sát có vị trí, vai trò quan trọng trong giải pháp về mặt quốc tế của Hiệp định Paris. Đó là sự bảo đảm quốc tế về giá trị pháp lý của Hiệp định, sự công nhận quốc tế đối với các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, đặc biệt là vị thế của Chính phủ CMLT Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Đài BBC ngày 25/9/1974 đã nói : "Chừng nào UBQT còn tồn tại thì Hiệp định Paris vẫn còn có được cơ hội thực hiện. Một khi không còn UBQT thì chẳng khác gì đóng cá vào chiếc quan tài, đem chôn vùi Hiệp định Paris".

        Tuy nhiên, đây là con dao hai lưỡi trong việc phán xét trước công luận thế giới thái độ thi hành Hiệp định của hai bên và điều đó phụ thuộc vào diễn biến thi hành Hiệp định và tác động của mỗi bên ký kết đối với UBQT.

        .2. Trong đàm phán Hiệp định Paris, ta đã đạt nội dung ký kết về UBQT rất tốt, tiến bộ và chặt chẽ hơn so với UBQT trong Hiệp định Geneve, đặc biệt về thành phần quốc gia thành viên, bộ máy tổ chức, nhiệm vụ, các nguyên tắc tôn trọng chủ quyền miền Nam Việt Nam - hiệp thương nhất trí, quan hệ phụ thuộc và phối hợp giữa UBQT với Ban LHQS đại diện cho các bên ký kết Hiệp định.

        Trong thi hành Hiệp định, ta nắm vững, kiên quyết đấu tranh để bảo vệ và thực hiện triệt để thành quả pháp lý nói trên, giữ cho UBQT hoạt động theo đúng tinh thần và lời văn của Hiệp định trong thực thi nhiệm vụ của mình, bảo đảm tính vô tư khách quan.

        Đài BBC ngày 25/9/1974 đã phản ảnh thực tế trên như sau : "Từ khi có thương thuyết dẫn đến Hiệp định Paris, rõ ràng là phía cộng sản muốn cho UBQT rất.nhỏ, có phạm vi hoạt động có hạn định, không được dính dấp vào các vấn đề ở miền Nam Việt Nam. Nay có được cơ hội giới hạn tầm hoạt động của UBQT vào cái vai trò mà phía cộng sản đã định lúc ban đầu, thành thử giới hạn thu hẹp vai trò UBQT rõ ràng là có lợi cho phía cộng sản, nhất là vào lúc phía cộng sản đang có những cuộc tấn công".

        3. Mặc dù âm mưu Mỹ-nguỵ rất thâm độc, thái độ của các thành viên đối lập trong UBQT rất xấu, nhưng ta và các thành viên XHCN đã phối hợp đấu tranh tốt, đem lại một số kết quả tích cực. Nổi bật là :

- UBQT đã thực hiện được nhiệm vụ kiểm soát và giám sát Mỹ và chư hầu rút hết quân ra khỏi miền Nam Việt Nam và một số đợt trao trả tù binh, tù dân sự.

        - Trong tổng số 390 cuộc điều tra UBQT đã tiến hành, UBQT đã kết luận được 5 vụ nguỵ Sài Gòn vi phạm Hiệp định : lấn chiếm Cửa Việt (28/1/1973), hành hung đoàn ta ở Huế (10/2/1973), ném bom Đức Cơ (19/2/1973), bắn pháo vào trụ sở UBQT ở Bảo Lộc (2/4/1973), bắn phá vào Núi Giai ở Tri Tôn (3/4/1973).

        Trong khi đó, UBQT đã không có bất cứ một kết luận vi phạm nào đối với phía ta, kể cả những vụ nguy Sài Gòn làm rùm beng vu cáo ta về việc máy bay UBQT bị rơi ở Ly Tôn, quân nguỵ rút chạy Ở Tống Lê Chân, cái gọi là "tù binh Bắc Việt”, bắn pháo vào trường học ở Cai Lậy....

        - Ta đã gửi đến UBQT một số lượng công hàm áp đảo để tố cáo, vạch mặt địch phá hoại Hiệp định, đẩy mạnh chiến tranh; qua đó góp phần vào cuộc đấu tranh dư luận chung, tạo thuận lợi cho hỗ trợ và phục vụ chiến trường.

        4. Việc hoàn thành tốt nhiệm vụ về công tác UBQT là do các nguyên nhân thắng lợi sau đây :

- Ta có sức mạnh chính nghĩa : đấu tranh giải phóng dân tộc, chống chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mỹ.

            - Ta có thế mạnh về pháp lý, ngoại giao trên cơ sở Hiệp định Paris. Nắm vững các điều khoản của Hiệp định liên quan đến UBQT, đặc biệt các nguyên tắc về hoạt động của UBQT : tôn trọng chủ quyền, hiệp thương nhất trí, quan hệ phối hợp và phụ thuộc giữa UBQT với Ban LHQS là rất quan trọng để chống lại âm mưu của Mỹ-nguỵ Sài Gòn lợi dụng UBQT và hành động "độc lập", "đơn phương" sai trái của các thành viên đối lập trong UBQT.

            - Kịp thời chuyển biến sự chỉ đạo công tác về UBQT theo chuyển biến chiến lược chung trên chiến trường khi tình hình đã thay đổi cơ bản : từ giai đoạn đàm phán trực tiếp đấu tranh thi hành Hiệp định sang giai đoạn đấu tranh pháp lý, ngoại giao, dư luận phối hợp và phục vụ cho tấn công vũ trang để giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước.

           - Tăng cường đoàn kết, phối hợp chặt chẽ với hai thành viên XHCN Balan và Hưngari là một vấn đề nguyên tắc, là chỗ dựa cơ bản của ta để củng cố vững chắc thế cân bằng lực lượng trong UBQT, tạo thế mạnh cho cả ta và bạn đẩy lùi mọi mưu đồ lợi dụng UBQT gây hại cho ta. Đồng thời thực hiện tốt sách lược đấu tranh và tranh thủ đối với các thành viên khác trong UBQT (Canada, Indonesia và Iran thay cho Canada). Ta cần và có khả năng vận dụng sách lược này để hạn chế mặt tiêu cực, phân hoá, cô lập tuỳ theo thái độ của từng đối tượng, trong từng thời gian. Thực tế họ tham gia UBQT là do lựa chọn của Mỹ-nguy và họ đương nhiên ủng hộ cho Mỹ-nguỵ chống lại ta. Tuy nhiên do vị trí, hoàn cảnh khác nhau của mỗi nước và do thế mạnh của ta nên thái độ của họ đối với ta cũng khác nhau. Ta kiên quyết đấu tranh chống hành động xấu của họ có trọng tâm, trọng điểm; đồng thời không phân biệt đối xử, duy trì quan hệ bình thường về xã giao và ngoại giao, tranh thủ hữu nghị để làm chuyền biến từng bước, tức là vừa đấu tranh, vừa tranh thủ, hai mặt này tác động đến nhau và đem lại kết quả tích cực.

Ngày 26 tháng 10 năm 2008             


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Ba, 2012, 05:44:33 pm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/3f-DaitaVuNamBinhnguyenphobantraotra.jpg)
Ông Vũ Nam Bình

TÀI TRÍ NGOẠI GIAO Ở TRẠI ĐAVIT

Nguyễn Hải Hiền                

         Kỷ niệm 31 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, phóng viên báo Quốc tế đã có cuộc gặp với ông Vũ Nam Bình, thành viên đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời CHMNVN tại trại Davis, hiện là trưởng Ban liên lạc Câu lạc bộ bạn chiến đấu Ban liên hiệp quân sự trại Davis (khu vực phía Bắc)
   
        Ngay sau Hiệp định Paris được ký kết (27/1/1973), quân và dân ta bước vào một trận tuyến mới theo phương thức đấu tranh mới: Đó là đấu tranh thi hành Hiệp định Paris. Theo thỏa thuận bốn bên, ngày 28/1/1973, hai đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam sẽ có mặt ở Sài Gòn. Sau khi đi bằng máy bay C130 và trực thăng từ Hà Nội và Lộc Ninh vào trại Đavít nằm trong sân bay Tân Sơn Nhất, các cán bộ chiến sĩ - những nhà ngoại giao của ta bắt đầu 823 ngày đêm giữa sào huyệt của kẻ thù. Đây là quãng thời gian sẽ còn được nhắc đến nhiều, bởi chính tại đây, những nhà ngoại giao mặc áo lính, với tinh thần yêu nước sâu sắc, trí thông minh, lòng dũng cảm, nhạy bén và mềm dẻo theo phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” đã góp phần làm nên chiến thắng của dân tộc ta.

        Nhớ lại những ngày gian khổ và thiếu thốn trong trại Đavít để đối phó với địch, ông Bình hé lộ “có rất nhiều chuyện lý thú đấy” Ông đã kể cho tôi nghe một chuyện “đặc biệt hay” mà ông nhớ mãi với lòng khâm phục đối với nhà ngoại giao - Đại tá Võ Đông Giang.

        Tại cuộc họp cấp trưởng đoàn với chính quyền Sài Gòn, đại tá Võ Đông Giang là phó trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời CHMNVN đi họp thay trưởng đoàn bàn về vấn đề gai góc là trao trả và chúng ta đã vạch rõ những hành vi vi phạm Hiệp định Paris của chính quyền Sài Gòn. Ông Bình lúc đó là phó trưởng tiểu ban trao trả của Chính phủ Cách mạng lâm thời CHMNVN, nên cũng được tham gia đoàn.

        Khi đoàn ta vừa đến nơi, trưởng đoàn chính quyền Sài Gòn là chuẩn tướng Phan Hòa Hiệp đã nêu ra một vấn đề không ăn nhập gì với những nội dung mà Hội nghị cấp trưởng đoàn đang bàn dở trong mấy phiên trước, hoàn toàn có tính khiêu khích:

        -  Ông phó trưởng đoàn của Chính phủ Cách mạng lâm thời mang cái tên là Võ Đông Giang, nhưng ông không phải là Võ Đông Giang, mà tên ông là Phan Bá. Ông đã từng là Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai Kon Tum thời kỳ chống Pháp, sau đó ông làm vụ trưởng của Bộ Ngoại giao Bắc Việt, rồi ông đi sang làm đại sứ của Chính phủ Cách mạng lâm thời ở Cuba, chứ ông chưa hề ở trong quân đội ngày nào.

        Phan Hòa Hiệp hí hửng nói vậy tưởng là có thể áp đảo được đại tá Võ Đông Giang và sẽ làm ông lúng túng. Thế nhưng đại tá Võ Đông Giang vẫn tỏ thái độ rất bình thản. Bằng giọng nói rõ ràng, ông thủng thẳng nói với Phan Hòa Hiệp:
        
        -  Chuẩn tướng đưa ra câu chuyện cũng lý thú đấy chứ. Chuẩn tướng có cần nói thêm gì không, chúng tôi sẵn sàng nghe tiếp?.

        Thấy đối phương im lặng, đại tá Võ Đông Giang “bồi” luôn:

        -  Có phải ông Hiệp đưa nội dung này ra để bàn trong hội nghị hay chỉ là câu chuyện tầm phào?

        Câu hỏi khó này đã khiến Phan Hòa Hiệp lúng túng:

        -  Không, không, tôi chỉ nêu vậy thôi, để ông biết chúng tôi biết rõ các ông như thế nào!

        Trong lúc này, một số cán bộ của đoàn ta ngồi bên đã viết mấy chữ chuyển lên cho đại tá Võ Đông Giang, đại ý đây chỉ là đòn gió. Riêng ông Vũ Nam Bình, vì nắm được rõ lai lịch của Phan Hòa Hiệp nên đã ghi vài dòng chuyển cho đồng chí Võ Đông Giang, rằng Hiệp là người Pháp, mẹ là người Việt. Cái tên Phan Hòa Hiệp là phiên âm từ Francois Hiệp. Sau cách mạng tháng 8/1945, Hiệp là lính Đệ tam sư đoàn vốn là thanh niên “phòng vệ đoàn” đây là một tổ chức thanh niên vũ trang tay sai cho phát xít Nhật. Khi Pháp đánh trở lại, sư đoàn này tan rã và đầu hàng Pháp. Hiệp cũng nằm trong số đó…

        Đọc xong mẩu giấy này, đại tá Võ Đông Giang hỏi lại Phan Hòa Hiệp xem có hỏi gì nữa không, nhưng Hiệp không nói gì nữa. Rất chậm rãi, ông bảo:

        -  Đến lượt tôi phát biểu.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Ba, 2012, 06:01:51 pm
        Đại tá Võ Đông Giang nêu ra 3 vấn đề cho Phan Hòa Hiệp:

        -  Một là, ngay sau cuộc họp này đề nghị Chuẩn tướng quân đội Việt Nam Cộng hòa cách chức tất cả những tay tình báo đưa ra cái tin về lai lịch của tôi như ông vừa nói. Thứ hai, nếu ông Chuẩn tướng muốn lấy tin tức này để làm nội dung thảo luận trên diễn đàn cấp trưởng đoàn hôm nay thì tôi cũng đồng ý. Chúng ta sẽ cùng lật ngửa con bài. Chuẩn tướng biết gì về tôi cứ nói ra hết, còn tôi sẽ nói về lai lịch của Chuẩn tướng, một lai lịch không lấy gì làm đẹp đẽ. Và tôi tin rằng những người của phía các vị ngồi đây cũng không hiểu lai lịch của chính vị Chuẩn tướng của mình đâu. Thứ ba, nếu đưa tin tức làm câu chuyên tầm phào, đi đến cãi cọ nhau một cách vô bổ để lảng tránh hoặc làm mất thời gian bàn bạc việc chính yếu, thì đó chỉ là trò lố bịch. Không thể lảng tránh vấn đề mà ta cần bàn bạc, đó là vấn đề trao trả nhân viên dân sự. Đó không phải là tư cách của những nhà ngoại giao quân sự để bàn việc thực thi Hiệp định Paris mà các bên đã ký kết. Ở diễn đàn cấp trưởng đoàn này không có chỗ nào cho việc đưa ra tin tức theo kiểu đó…

        Vô cùng bối rối, Phan Hòa Hiệp và các cộng sự ngồi im, đề nghị giải lao 15 phút. Trong giờ giải lao, Phan Hòa Hiệp nói với ông Võ Đông Giang:

        -  Đại tá phê phán tôi dữ quá. Tôi chỉ là lính đánh nhau, chỉ là võ biền thôi chứ đâu có được làm ngoại giao như đại tá.

        Ông ta như nói với chính mình rằng đấu khẩu với nhà ngọai giao này là một điều dại dột! Ông Võ Đông Giang là một người có kinh nghiệm về ngoại giao, nên những ý kiến ông nêu ra trong cuộc bàn luận thường là hợp tình, hợp lý và dễ được chấp nhận. Ông Bình cho biết, chính vì ông Võ Đông Giang có kinh nghiệm nên ông hướng dẫn tỉ mỉ cho cán bộ trong đoàn cách đấu tranh, cách suy nghĩ, cách giải quyết vấn đề. Trong vấn đề đấu tranh đòi trao trả nhân viên dân sự, ta gặp nhiều khó khăn. Mỹ và ngụy Sài Gòn đều rất sợ nếu những nhân viên dân sự được thả ra, họ sẽ lại tiếp tục tham gia cách mạng, họ cho rằng thả tù chính trị là “thả hổ về rừng”. Vì vậy, ông Võ Đông Giang đã bàn bạc rất kỹ với trưởng đoàn Hoàng Anh Tuấn và phó trưởng đoàn Đặng Văn Thu về cách thức đấu tranh thế nào để có thể buộc đối phương thả tù chính trị. Ông Võ Đông Giang và lãnh đạo Đoàn B đưa ra ý kiến là bàn với Tổ Liên hợp quân sự về mồ mả và mất tích của đoàn VNDCCH để phía ta trao trả cho họ một số hài cốt, làm chất xúc tác để đòi Mỹ ép chính quyền Sài Gòn. Ông đề xuất ý kiến là ta hãy nêu công khai những người đã công khai rõ ràng rồi, như Võ Thị Thắng, Huỳnh Tấn Mẫm để đấu tranh xem đối phương mưu đồ như thế nào…những người chưa công khai thì ta chưa nêu ra đề phòng kẻ thù thủ tiêu.

        Trong những lúc đấu tranh gay gắt nhất cũng chính là lúc ông Võ Đông Giang bình tĩnh nhất. Trước những thái độ khiêu khích của địch, các đồng chí xung quanh thấy ông không bao giờ mắc mưu. Chủ đề chính của cuộc họp là bàn về vấn đề trao trả nhân viên dân sự, nhưng đối phương thường nêu ra hết việc này đến việc khác để lái ông theo, nhưng ông luôn tập trung cao độ, chú ý không để đối phương lảng tránh vấn đề cần bàn. Đã có lúc, ngay trong bàn đàm phán, đối phương khiêu khích bằng cách nói những điều xấc xược về cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta hoặc xưng hô bậy bạ với ông nhưng ông không nhụt chí mà trái lại, ông luôn bình tĩnh, vững vàng, phân tích một cách sâu sắc vạch trần mưu đồ xấu xa của Mỹ - ngụy và lên án chúng một cách mạnh mẽ. Chính vì thế, trong những cuộc đấu trí, khi cần phân tích về lý lẽ chặt chẽ, Đoàn rất tín nhiệm cử ông tham gia.

        Dù thời gian dành cho buổi trò chuyện với phóng viên báo Quốc tế không nhiều vì đại tá Vũ Nam Bình đang bận “theo dõi phiên bế mạc Đại hội X”. nhưng ông không quên kể cho tôi nghe câu chuyện tại thời điểm trước khi quân ta tiến vào Sài Gòn. Đó là thời điểm mà các cán bộ trong trại Đavít đang tính toán về trụ bám và chiến đấu như thế nào. Đúng lúc đó, Bộ tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh cho điện báo sẽ có một lực lượng đặc công vào để đưa các đồng chí ra. Đảng ủy đoàn họp chớp nhoáng và nhận dịnh làm như vậy nếu bị lộ sẽ nguy hiểm nên xin phép được ở lại trại. “Vì không có cuốc xẻng nên chúng tôi đã lấy cọc màn đào hầm và xin được một số thủ pháo của Bộ chỉ huy Miền để sẵn sàng chống trả” – ông Bình cười tươi khi ôn lại thời điểm đáng nhớ ấy – “Sau giờ phút chiến thắng, Đoàn ta mới nhận được thông tin cho biết trên bàn làm việc của tên Cao Văn Viên - Tổng tham mưu trưởng quân đội ngụy một tờ lệnh. Trước lúc bỏ chạy, hắn đã kịp ra lệnh nếu như có một tiếng súng nào ở trại Đavít bắn ra thì lập tức phải tiêu diệt. Trước đây chúng cũng có ý định bắt sống 300 người chúng tôi làm con tin rồi đấy, nhưng chúng đã không làm được gì cả…” Khi đề tặng cuốn sách trại Davis 823 ngày đêm, do ông và một số người khác tổ chức biên soạn, ông bật mí “đọc cuốn sách này sẽ biết nhiều điều lý thú”.
Cảm ơn ông, tôi sẽ đọc và hy vọng có một dịp khác được “chia sẻ” với nhiều bạn đọc về cuộc sống của những con người đã không quản hy sinh, gian khổ, bền bỉ đấu tranh ngay trong vòng vây của kẻ thù ở trại Davis năm xưa.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Ba, 2012, 09:45:09 pm

CÓ MỘT TRẬN TUYẾN THẦM LẶNG

Nguyễn Văn Khả và Đình Quốc Kỳ                
       
        Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam được đại diện bốn chính phủ ký kết tại Paris.

        Các thành viên của hai đoàn đại biểu quân sự chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà (CPVNDCCH - Đoàn A) và chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam (CPCMLTCHMNVN - Đoàn B) trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên (BLHQS 4 bên) đều đã sẵn sàng lên đường làm nhiệm vụ.

        Cũng như các cơ quan nghiệp vụ khác, Quân uỷ Trung ương và Quân uỷ miền Nam (B2) đã giao nhiệm vụ cho cơ quan bảo vệ quân đội khẩn trương tổ chức lực lượng cán bộ nghiệp vụ vào tham gia trong hai phái đoàn quân sự của ta tại BLHQS.

        Cục bảo vệ an ninh quân đội (Cục BVANQĐ) thuộc Tổng cục chính trị – QĐNDVN, cơ quan chỉ đạo trực tiếp về nghiệp vụ, ngay từ đầu đã giành cho trận địa mới này một sự quan tâm đặc biệt. Tăng cường những cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có kinh nghiệm thực tiễn như các anh Trần Văn Tấn, Nguyễn Ngọc Tiên, Nguyễn Văn Bổ, … và nhiều đồng chí có nghiệp vụ chuyên sâu.

        Phòng bảo vệ Quân giải phóng miền Nam (B2) cử các đồng chí Vũ Nam Bình, Vương Sinh, Nguyễn Văn Ve,… trong đoàn đại biểu quân sự CPCMLTCHMNVN. Nhiều sĩ quan an ninh từ các chiến trường khẩn trương được điều động về làm nhiệm vụ. Họ từ khu V trung dũng, kiên cường đi đầu diệt Mỹ, từ Tây Nguyên bất khuất, vùng ven địa đạo Củ Chi hay đồng bằng sông nước Cửu Long… Số lượng các sĩ quan của ngành bảo vệ quân đội tham gia BLHQS khoảng hơn một trăm đồng chí.

        Bộ nội vụ (nay là Bộ công an) đã đặc biệt chi viện cho trận tuyến mới này một trăm bốn mươi cán bộ an ninh được tôi luyện trong cuộc đấu tranh với kẻ thù giấu mặt. Trong số đó có nhiều đồng chí là cán bộ lãnh đạo như các anh: Võ Văn Măng, Nguyễn Thanh Đức, Đỗ Hoàng Trừ, Thân Hồng Tâm, Nguyễn Hoàng (Hai An) và Nguyễn Đức Minh (tự Quyết)… Có những cán bộ an ninh vừa kết thúc nhiệm vụ ở Hội nghị Paris về thẳng hai đoàn ta ở trại Davis.

        Các đồng chí lãnh đạo Đảng, nhà nước và quân đội từ cấp cao nhất đã gặp gỡ trực tiếp, ân cần động viên những thành viên của hai đoàn trong đó có cán bộ an ninh trước lúc lên đường. Ngoài Bắc là các đồng chí: Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp. Ở miền Nam là các đồng chí Phạm Hùng, Hoàng Văn Thái, Trần Văn Trà,… Những lời dặn dò thật chân tình, mưu lược sâu sắc. Các anh đã chỉ rõ việc Mỹ ngụy phải ký kết Hiệp định Paris, đối với chúng đó là một thất bại thảm hại nhưng cũng chỉ một bước lùi chiến lược, mưu đồ của Mỹ là quyết giữ miền Nam trong quỹ đạo. Vì vậy, chúng sẽ ra sức phá hoại và không thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định, chúng phá cả trước mắt và lâu dài; Đối với hai đoàn đại biểu quân sự ta trong BLHQS sẽ là đối tượng tập trung đánh phá của chúng. Bởi lẽ, muốn phá hoại Hiệp định thì phải đánh ngay vào những thành viên thực hiện nhiệm vụ thi hành Hiệp định. Các anh căn dặn phải hết sức tỉnh táo, cảnh giác trước những mưu ma, chước quỷ của kẻ địch.

        Thủ tướng Phạm Văn Đồng căn dặn Đoàn A trước lúc lên đường:

        -  Các đồng chí ạ, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu là những kẻ xấu xa, tệ hại nhất trong những bọn bán nước từ trước đến nay. Họ không từ một thủ đoạn nào để phá hoại và cản trở công việc thi hành Hiệp định. Họ có thể giở những thủ đoạn hèn hạ vô cùng mà chúng ta không tưởng tượng nổi nữa kia. Nhưng chúng ta có chính nghĩa, có nhân dân, có chỗ dựa pháp lý, có dư luận tiến bộ trên thế giới, nhất định họ sẽ thất bại!

        Trung tướng Trần Văn Trà - Trưởng Đoàn B, nói chuyện với Đoàn trước lúc vào Sài Gòn:

        -  Hôm nay là 28.01.1973, đối phương hẹn đón Đoàn ta tại sân bay Thiện Ngôn – Bắc Tây Ninh. Riêng việc này ta cũng phải cảnh giác. Chúng ta chưa tập trung ra địa điểm ấy, ta cử một tổ trinh sát ra đó theo dõi. Khi máy bay của họ đến đón, có sĩ quan của ta ra làm việc với họ. Nếu thấy thật đảm bảo thì chúng ta mới ra để đi vào Sài Gòn. Chúng ta trực tiếp chiến đấu với kẻ thù Mỹ ngụy hàng chục năm nay rồi, ta hiểu mọi mưu mô đen tối của chúng. Lần này, chúng ta vào giữa sào huyệt của chúng, chiến đấu trên một mặt trận mới. Chúng ta càng phải rất tỉnh táo, nhạy bén và bằng bản lĩnh chính trị, ý chí chiến đấu kiên cường, nhất định chúng ta sẽ đánh bại mọi mưu đồ đen tối, mọi thủ đoạn phá hoại hết sức xảo quyệt, trắng trợn, xấu xa, bỉ ổi, ti tiện của chúng!


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Ba, 2012, 09:53:34 pm
        Đúng như phán đoán ở trên, địch đã hèn hạ cho máy bay đến ném bom tại điểm Thiện Ngôn chỉ sau đó hơn 1 giờ…

        Thật vậy, đúng với những dự báo của cơ quan nghiệp vụ, đối phương đã chuẩn bị một kế hoạch tình báo hỗn hợp toàn diện nhằm đánh vào hai phái đoàn ta trước khi ký Hiệp định Paris. Kế hoạch này được các cơ quan: Tình báo Mỹ CIA ở Sài Gòn, Tổng nha cảnh sát ngụy, Phủ đặc uỷ Trung ương tình báo, Cục an ninh quân đội ngụy và Phòng 2 Bộ tổng tham mưu quân đội ngụy cùng nhau thống nhất thực hiện.

        Trước hết họ đánh giá cán bộ, chiến sĩ ta đã trải qua nhiều năm chiến đấu trên các chiến trường vô cùng ác liệt, thiếu thốn đủ bề, nay vào vùng kiểm soát của họ tiếp xúc với cơ sở vật chất và điều kiện ăn ở đỡ vất vả hơn những ngày ở vùng căn cứ, ngoài trận địa… Đây là dịp họ có thể dùng nhiều loại thủ đoạn để tác động đến anh em ta. Chúng chú trọng tìm hiểu quê quán, thân nhân, bạn bè đang ở trong vùng chúng kiểm soát để sử dụng vào kế hoạch tình báo được chuẩn bị rất kỹ từ trước. Nhưng kẻ địch cũng hiểu rằng cán bộ, chiến sĩ của ta đều đã được rèn luyện, thử thách trong lửa đạn chiến tranh, dạn dày trong gian khổ, ác liệt, một lòng một dạ trung thành với sự nghiệp cách mạng… Tuy vậy, chúng vẫn tìm mọi cách tiếp cận, tấn công nhằm khai thác những sơ hở dù là rất ít hi vọng vào một cá nhân nào đó (!). Chúng còn dự kiến có thể “phải mạnh tay hơn” dùng thủ đoạn bắt cóc, thủ tiêu khi cần thiết. Trường hợp đặc biệt chúng sẽ tiến hành đầu độc, đối với các đồng chí lãnh đạo nếu có điều kiện thì khống chế, bắt cóc, vu khống,… Trong tay đối phương có những tên đầu hàng, phản bội. Những tên này cúc cung tận tụy với chủ hòng kiếm chác được lòng tin của quan thầy Mỹ ngụy nên chúng ra sức khai báo tâng công. Một số tên khi còn là cán bộ quân đội ta, chúng biết khá rõ về một số đồng chí lãnh đạo của hai phái đoàn ta trong BLHQS. Với hàng nghìn tấm ảnh chúng đã chụp cán bộ, chiến sĩ ta khi vừa đặt chân xuống vùng chúng kiểm soát, chụp nhiều hướng và ở các cự ly, do nhiều tay chụp để cho bọn đầu hàng phản bội nhận mặt từng người… Chúng là những tên Lê Xuân Chuyên, Hà Văn Ý, Tám Hà, Đoàn Văn Hạ, Lê Duy Quyền, Mai Hoa Yến…

        Đối tượng đấu tranh của ta trên trận tuyến này là những tên đối diện trực tiếp trên bàn hội nghị, trong tiếp xúc hàng ngày, bọn chúng đều có bề dày kinh nghiệm chống phá cách mạng, đàn áp nhân dân. Trong số đó có những tên tình báo, gián điệp, mật vụ tham gia BLHQS, đây là loại lính xung kích, phản động nhất, hận thù sâu sắc nhất, chúng chống phá cách mạng quyết liệt nhất và đàn áp đồng bào yêu nước không hề run tay. Điển hình như tên Dương Hiếu Nghĩa trâng tráo nói: “Trong người tôi chỉ có dòng máu chống cộng!” Tên Phan Văn Tiến – Cục trưởng cục truyền tin ngụy, không hề giấu giếm thân phận tay sai bán nước của mình, hắn lải nhải: “Hậu phương của chúng tôi là Oa-sinh tơn, chính sách của chúng tôi là chiến tranh, chia cắt đất nước là không thể tránh khỏi!…”

        Đó là những tên láo xược, trắng trợn, luôn mồm hò hét chống cộng, chống lại hoà bình, hoà hợp dân tộc, ra sức phá hoại Hiệp định Paris, đi ngược lại mong muốn chính đáng của cả dân tộc. Còn có những kẻ xảo quyệt hơn, không công khai bộc lộ thái độ chống đối cách mạng, chống lại nhân dân, nhưng loại này không hề thua kém những đối tượng trên. Họ đã gần trọn đời làm tay sai, bán nước cho hết quan thầy Pháp đến Mỹ, táng tận lương tâm và gây tổn thất đáng kể cho cách mạng. Họ là ai? Nhân thân như thế nào? Có vai trò gì trong các phái đoàn của Mỹ và ngụy?… Không khó! Cơ quan an ninh của chúng ta đều nắm và biết rõ về họ! Như những tên đại tá Dương Hiếu Nghĩa, đại tá Trần Vĩnh Đắt làm việc tại Phủ đặc uỷ trung ương tình báo ngụy; tên đại tá Dương Đình Thụ là người của Cục tình báo trung ương Mỹ (CIA); tên thiếu tá Đinh Công Chất là sỹ quan của Cục an ninh quân đội ngụy… Bọn này khá ranh mãnh, tự khoác lên mình những tấm áo dễ lừa mị: “…là người của lực lượng thứ ba, người của bà Ngô Bá Thành; không đồng tình với thái độ chống đối của ông Thiệu; đã từng tham gia đảo chính và giết anh em Ngô Đình Diệm…”

        Mỹ ngụy hy vọng với công thức “Quân lực Việt Nam Cộng hoà, đôla và vũ khí Mỹ sẽ giành thắng lợi!”. Từ âm mưu thâm độc đó những thành viên của họ tham gia BLHQS trở thành những tên lính xung kích điên cuồng chống phá việc thi hành Hiệp định. Chúng tấn công chúng ta bằng dùng phi pháo bắn phá, dùng lính phục kích các điểm hẹn đón phái đoàn của ta đến làm việc như ở Thiện Ngôn, Bảo Lộc,… Tại Bảo Lộc, địch phục kích gây thương vong cho ta: 4 hy sinh, 2 bị thương. Xung quanh trụ sở Đoàn ta, địch bố trí hàng chục vọng gác ngăn cản sự tiếp xúc của nhân dân với chúng ta. Từ những vọng gác ấy các họng súng đen ngòm chĩa thẳng vào các căn nhà nơi ta đang ở, sinh hoạt và làm việc. Cứ mỗi lần có tình huống bất lợi với họ, lập tức chúng cắt điện, cắt nước, bao vây, uy hiếp, cắt các chuyến bay liên lạc hàng tuần giữa hậu phương với phái đoàn ta,… Hạn chế hoặc ngăn cản các nhà báo quốc tế đến dự họp báo, tiếp xúc với ta! Người phục vụ lái xe, sửa chữa điện nước, nhà thầu cung cấp lương thực thực phẩm,… Số người này hầu hết là nhân viên của các cơ quan an ninh, mật vụ, tình báo, cảnh sát đặc biệt ngụy…


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Ba, 2012, 09:06:55 pm
        Đúng như dự đoán của ta về mưu đồ phá hoại của Mỹ ngụy đối với hai đoàn đại biểu quân sự cách mạng và thực tiễn đấu tranh đã chứng minh rất chính xác là:

        Đối phương đã khiêu khích vu khống, uy hiếp, đe doạ hòng tác động tư tưởng cán bộ, chiến sĩ ta, cản trở việc triển khai các mặt hoạt động của ta. Chúng gây khó khăn trong toàn bộ hoạt động của việc kiểm tra rút quân, trao trả, kiểm tra các trại giam của Mỹ ngụy, điều tra những vi phạm ngừng bắn, các cuộc họp báo của ta, các chuyến bay liên lạc giữa Sài Gòn với Hà Nội, với Lộc Ninh…
Tham vọng của Mỹ ngụy khi đề ra mục tiêu đánh phá vào nội bộ hai đoàn ta, chúng tập trung vào việc cài cắm cơ sở, lôi kéo, câu nhử người chạy sang hàng ngũ của chúng hoặc tạo điều kiện cho đến một nước thứ ba. Chúng đã tính đến khả năng lợi dụng ta sơ hở tổ chức bắt cóc, đặt bẫy rồi tuyên bố công khai là “hồi chính” chạy về với “chính nghĩa quốc gia”…

        Ngay từ đầu chúng đã tìm hiểu phát hiện các mối quan hệ ruột thịt, bạn bè, quê hương,… khi có điều kiện, qua thăm dò, khai thác nếu thuận lợi sẽ sử dụng mối quan hệ đó nhằm thực hiện các nhiệm vụ của cơ quan tình báo giao cho, kể cả trường hợp phải khống chế buộc làm việc theo yêu cầu của chúng.

        Địch sử dụng nhân viên nữ đưa vào trại Davis làm lái xe, nhà thầu tiếp phẩm cho ta. Các nhân viên này được huấn luyện kỹ, thành thạo trong giao tiếp với người khác giới, họ tiếp cận thăm hỏi thân mật, rủ rê chiến sĩ, cán bộ ta “đi chơi”. Lê Thị Na và Nguyễn Thị Tâm đều là nhân viên của cơ quan an ninh, tình báo ngụy khi tiếp cận anh em ta thường hỏi nhiều về quê quán, gia cảnh, sở thích cá nhân và cuối cùng rủ rê: “Anh lên xe chở hàng, lát nữa em đưa ra thăm chợ Bến Thành ngoài đó có nhiều hàng hoá đẹp…”

        Francoies Hiệp (Phan Hoà Hiệp) chuẩn tướng, trưởng đoàn ngụy, giờ giải lao của một phiên họp cấp trưởng đoàn đã chủ động gặp một đồng chí lãnh đạo Đoàn B và nói rằng mẹ của đồng chí lãnh đạo muốn đến trại Davis thăm có được không? Địch còn cho một số tên mò về Cao Lãnh quê hương anh Bùi Thanh Khiết - Đại tá, phó Đoàn B, chúng lân la dụ dỗ cụ lên Sài Gòn thăm con. Cụ bình thản nói: “Con tôi đi theo cách mạng đánh đuổi quân xâm lược để giải phóng quê hương, các ông định mượn tay tôi lôi kéo nó rời bỏ hàng ngũ cách mạng chứ gì? Không được đâu! Nó có lý tưởng của nó, tôi làm sao biểu nó được!”

        Chúng tìm thân nhân một số đồng chí ta làm nhiệm vụ trong hai phái đoàn, bố trí họ vào làm trong trại Davis nhằm tiếp cận để lôi kéo, mua chuộc.

        Một số tên là bạn học cũ từ thời trước cách mạng nay gặp một đồng chí lãnh đạo đoàn B của ta đã vồn vã mời về nhà riêng, kể chuyện bạn bè, khoe khoang cuộc sống giầu sang,… cho điện thoại, địa chỉ gia đình, hẹn đưa xe đến đón, hứa chuyển thư, quà giúp đến tay người nhận…

        Với những thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt trên địch đều sử dụng đánh phá vào nội bộ hai đoàn ta nhưng chúng đã vấp phải sự chống trả quyết liệt và bị thất bại cay đắng. Mỹ ngụy đưa những đối tượng sừng sỏ có nhiều kinh nghiệm hoạt động tình báo, gián điệp vào trận tuyến này nhưng đều không đạt được kết quả. Sau ngày giải phóng tên đại tá Nguyễn Văn Học, nguyên trưởng phòng phản tình báo của Cục an ninh quân đội ngụy là một trong những kẻ cầm đầu các hoạt động phá hoại trong kế hoạch tình báo hỗn hợp với hai đoàn quân sự ta đã thốt lên:

        -  Chúng tôi đã gặp phải những đối thủ quá rắn, bằng nhiều cách tiếp xúc, câu nhử, lôi kéo, đặt bẫy, gây nghi ngờ… nhưng đều vô hiệu! Các sĩ quan có hạng của chúng tôi về chuyên môn này còn phải lè lưỡi lắc đầu. Hễ thò ra bài gì là bị các vị đập lại ngay, muốn tranh luận với các vị lại càng khó, không thể đấu nổi. Hiệp định Paris được ký kết và sau khi Mỹ rút hết quân là chúng tôi đã bi quan lắm rồi, nhiều người phải lo cho chính mình một hướng đi khác…

        Bùi Thiện Khiêm là thiếu tá công binh ngụy nhưng khi biết trong đoàn ta có người nhà, địch đã bố trí Khiêm lo việc điện nước cho ta để được đi lại các khu vực trong trại Davis khi cần thiết và dễ dàng tiếp cận người thân. Ta cũng triển khai ngay đối sách với thủ đoạn này và chặn đứng tham vọng của đối phương, bảo vệ an toàn được nội bộ và cán bộ ta.

        Một tên thiếu tá an ninh quân đội ngụy thường lân la tiếp xúc với các sĩ quan trẻ của ta, đây là đối tượng được kế hoạch tình báo Mỹ ngụy hết sức quan tâm vì chúng đánh giá lớp cán bộ này dễ tác động hơn! Có lần hắn gạ gẫm một đồng chí trung uý của ta, hắn nói:

        -  Bạn thấy không, bên tôi đi đâu cũng có xe cộ, máy bay rất thoải mái. Đâu có lội bộ, chui rúc trong rừng như bên ấy! Có chiêu hồi không? Sao tới giờ vẫn chưa sang với bọn này, bên tôi ăn ở sung sướng, đầy đủ, cuộc sống đủ mùi!


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Ba, 2012, 09:12:02 pm
        Hắn vừa dứt lời, đồng chí trung uý của ta nghiêm nét mặt, chậm rãi nói:

        -  Có chiêu hồn các người chứ chiêu hồi cái gì. Đủ mùi dơ dáy, bẩn thỉu của những kẻ bán nước, làm tay sai cho bọn đế quốc xâm lược. Tôi nói để thiếu tá biết là phải bỏ ngay trò chiến tranh tâm lý rẻ tiền, bẩn thỉu ấy đi, Mỹ đã cút rồi, ngụy nhào không còn xa nữa đâu!

        Tên thiếu tá an ninh của ngụy cứ ngây người ra, không kịp phản ứng gì, khuôn mặt tái nhợt, lủi thủi bỏ đi…

        Trên một chuyến bay liên lạc thường kỳ Sài Gòn – Hà Nội, có một đại uý ngụy cất giọng khiêu khích:

        -  Các ông lên máy bay C130 mà không biết gài nịt (dây an toàn) làm sao đánh Mỹ nổi?

        Một chiến sĩ của ta ngồi cạnh đó không đắn đo, đáp lại ngay:

        -  Mấy người quen ngồi máy bay Mỹ nên quen gài nịt Mỹ. Chúng tôi không quen gài nịt Mỹ nhưng chúng tôi biết quật cổ “pháo đài bay B52” của Mỹ. Chúng tôi biết làm chủ khoa học kỹ thuật bắn tan xác máy bay hiện đại nhất của Mỹ, ở chiến trường chúng tôi đánh cho Mỹ thua liểng xiểng nên mới phải ký kết Hiệp định Paris. Những điều đó liệu các người có hiểu không?

        Tên đại uý ngụy cụt hứng, hắn không ngờ chỉ một người lính cách mạng bình thường mà có lời đối thoại sắc sảo đến vậy. Suốt chuyến bay hơn ba tiếng đồng hồ, y không hé thêm nửa lời, có lẽ vì câu nói của đồng chí cảnh vệ đi cùng trên chuyến máy bay này đã làm cho hắn mở mắt thật sự!

        Cơ quan an ninh xác định việc bảo vệ an toàn tính mạng, sức khoẻ của cán bộ, chiến sĩ ta tham gia BLHQS là một nhiệm vụ hết sức quan trọng, không cho phép lơ là mất cảnh giác để xảy ra mất an toàn dù chỉ một lần. Vì nếu có chuyện đó sẽ không thể sống lại một lần nữa mà rút kinh nghiệm, khắc phục hậu quả. Chúng tôi đã quá hiểu kẻ thù, thực tiễn chiến đấu trên chiến trường cho chúng tôi nhiều bài học quý giá. Đã có lần trong một trận đánh Xuân – Hè 1969 hướng tấn công của đơn vị Z không hoàn thành nhiệm vụ. Sự mất tích “bí ẩn” của phân đội bộ binh tham gia mũi đột kích đánh vào căn cứ địch đã làm cho cơ quan an ninh Quân giải phóng B2 tốn rất nhiều công sức tìm hiểu.  Cuối cùng ta đã giải mã được trường hợp “mất tích” này. Khi có lệnh nổ súng, bộc phá của quân ta đã nổ hướng mở, địch tập trung hoả lực chế áp mãnh liệt không để xung kích ta đột nhập vào căn cứ, cùng lúc, chúng bắn đạn chứa chất gây tê liệt thần kinh vào khu vực cửa mở. Bộ đội ta bị ngấm thuốc, mất sức chiến đấu, địch đã xông ra bắt sống số anh em của phân đội đột kích trong đó có đồng chí cán bộ chỉ huy tiểu đoàn…

        Trường hợp đi công tác lẻ, xa đơn vị của cán bộ ta vào vùng kiểm soát của đối phương cũng khá phức tạp. Đầu năm 1974, ta cử một tổ sĩ quan ra Thạch Hãn (Quảng Trị) làm việc, đến sân bay Đà Nẵng để chuyển lên máy bay lên thẳng bay ra Huế và Quảng Trị, nhưng ngoài đó mưa lớn, thời tiết rất xấu nên phải chờ. Trời tối, không thể đi tiếp, tổ cán bộ ta gọi điện thoại báo cáo về Tân Sơn Nhất. Đồng chí Hoàng Anh Tuấn đồng ý cho tổ nghỉ ở lại Đà Nẵng, dặn dò anh em hết sức cảnh giác. Tối đó, trong bữa ăn, phía đối phương thay nhau trổ tài “thuyết giáo tâm lý chiến” có lúc doạ dẫm, có lúc rủ rê tán tỉnh, phía họ đông hơn cả chục người, bên ta chỉ có ba đồng chí nhưng lý lẽ của các anh vừa có tình lại có lý nên đã làm cho đối phương bất lực. Đêm đó, các anh không ngủ, chong đèn đến sáng đề phòng “chủ nhà” giở trò bỉ ổi!

        Việc địch bố trí nơi đặt trụ sở của phái đoàn ta, chúng đã có sự toan tính rất kỹ, không để ta tự do ra vào doanh trại mua bán lương thực, thực phẩm… Họ buộc ta phải ăn, ở theo sự sắp xếp sẵn và phụ thuộc vào nguồn cung ứng hàng hoá. Chúng giải thích ngụy biện:

        -  Quí bị ra ngoài chúng tôi không đảm bảo an toàn vì dân chúng rất oán ghét Việt cộng!

        Nguồn nước uống, các loại lương thực, thực phẩm do đối phương dưới danh nghĩa “nhà thầu” đem vào bán, cơ quan an ninh của ta đều phải xem xét, nghiên cứu tỉ mỉ, thận trọng. Mỗi miếng cơm ăn, từng ngụm nước uống hoặc hàng nhu yếu phẩm đưa vào hàng ngày, bao giờ cũng được kiểm tra nghiêm ngặt bằng các phương tiện tương đối hiện đại do cấp trên ưu tiên trang bị để phân tích, so sánh, thử nghiệm các phản ứng sinh hoá… Kết hợp cả hiện đại với những biện pháp thô sơ truyền thống nhưng rất hiệu quả như sử dụng các loại sinh vật chim, khỉ, cá cảnh để xác định độc chất trong ăn uống… Ngoài ra, cán bộ an ninh còn tình nguyện nếm thử các loại thức ăn uống trước khi đưa ra phục vụ mọi người. Ai cũng chỉ nghĩ đơn giản nếu có lỡ xảy ra chuyện gì không may với mình thì hậu quả được hạn chế ở mức thấp nhất, đơn vị còn có cơ hội khắc phục kịp thời! An toàn cho hàng trăm cán bộ, chiến sĩ là trên hết.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Ba, 2012, 09:37:26 pm
        Đối với các đồng chí lãnh đạo đây là nơi tập trung những nội dung cần bảo mật hơn cả, cơ quan an ninh đã bố trí nhiều phương án bảo vệ an toàn ở mức cao nhất về tính mạng và tài liệu của các anh, kể cả khi có tình huống xấu nhất!

        Công tác bảo mật trong hoạt động của ta tại BLHQS là một nội dung được quan tâm đặc biệt. Ngày đầu tiên vừa đặt chân tới trụ sở “trại Davis” cơ quan an ninh đã kịp thời vô hiệu hoá “lũ rệp” do đối phương có “nhã ý” cài đặt từ trước. Đúng là khoa học hiện đại nhất thời kỳ này được ứng dụng triệt để. Tại các căn nhà đối phương giới thiệu “giành cho ông lớn” Mỹ ngụy đã ưu tiên bố trí những chiếc máy thu phát rất tinh vi, đặt vào những vị trí bất ngờ và có thể tạo được hiệu quả cao nếu không bị phát hiện. Một số căn nhà khác, địch phán đoán ta sẽ sử dụng làm nơi họp bàn nên cũng được chúng cài đặt “rệp”…

        Sau khi ta bóc gỡ “lũ rệp”, cơ quan an ninh lập tức thay đổi cấu trúc các căn hộ và dùng loại trang thiết bị đưa từ Hà Nội vào, tận dụng những nguyên vật liệu tại chỗ nhưng được xử lý kỹ không còn nghi ngại gì để xây dựng “căn buồng hạnh phúc” (phòng họp an toàn) đã “bịt tai, che mắt” những phương tiện thu phát tại chỗ, những thiết bị từ xa chúng đặt bên ngoài hàng rào chõ vào trụ sở của ta.

        Những chiếc máy thu phát của địch sau khi bóc gỡ, làm vô hiệu chúng, cơ quan an ninh kịp thời phổ biến rộng rãi cho mọi người biết được thủ đoạn này để cùng nâng cao ý thức cảnh giác. Nếu có trao đổi công việc hoặc sinh hoạt nên cố gắng hạn chế thấp nhất những từ ngữ mà kẻ địch vẫn có khả năng thu thập nhằm phán đoán được ý đồ, công việc thật của ta… Sau khi xem hiện vật, nghe phổ biến các quy định bảo mật, có anh còn mỉa mai: “Không ai giỏi hơn Mỹ về công nghệ nghe trộm! Đến cả Nic-Xơn còn say mê trò gian trá này kia mà!”

        Chúng ta đã đánh giá đúng đối phương và đề ra các biện pháp ngăn chặn kịp thời có hiệu quả trước những việc làm bẩn thỉu của họ.

        Đối với các loại giấy tờ, tài liệu nếu buộc phải đem đi làm việc với đối phương hoặc những văn bản báo cáo tình hình nhiệm vụ, kế hoạch thực hiện, biện pháp đấu tranh hoặc chỉ thị, thông báo, hướng dẫn của cấp trên gửi xuống nếu không qua đường điện tín thì cơ quan an ninh phải tính toán kỹ cách đảm bảo an toàn khi đi trên đường, đề phòng không để địch đánh cắp, cướp đoạt. Trường hợp xấu nhất, lỡ lọt vào tay chúng cũng không thể dễ dàng khai thác.

        Các đồng chí văn thư, bảo mật đều tự giác chấp hành nghiêm qui định về công tác bảo vệ bí mật. Toàn bộ giấy than, giấy nháp, giấy đánh máy bị hỏng đều được huỷ vì những “nhân viên phục vụ” của họ rất quan tâm đến những sọt rác loại này.

        Khi đi công tác lẻ, phải nghỉ lại vùng do Mỹ ngụy bố trí nơi ăn nghỉ, ta cũng có phương án đối phó với các thủ đoạn của chúng nhằm đảm bảo an toàn cho người, tài liệu và phương tiện được trang bị. Nhiều lần chúng tổ chức bọn lưu manh côn đồ hung hãn tấn công vào trụ sở của ta ở các khu vực, các nơi ta đến làm việc, cướp tài liệu của cán bộ đem theo. Anh em ta không một tấc sắt trong tay, không được lệnh đánh trả nhưng đã rất mưu trí, dũng cảm tránh né, che đỡ quyết bảo vệ an toàn tài liệu không để lọt vào tay địch. Có nhiều đồng chí bị thương phải đưa đi cấp cứu. Máu các anh đổ xuống vì sự an toàn tuyệt đối của những trang tài liệu quý báu đó.

        Thông tin liên lạc là hoạt động đặc biệt quan trọng đối với chúng ta. Sống giữa hang ổ của kẻ thù, hàng tuần có những chuyến bay liên lạc từ Tân Sơn Nhất đi Lộc Ninh và Tân Sơn Nhất đi Gia Lâm (Hà Nội). Mỗi khi có xung đột ngoài chiến trường, địch bị ta giáng trả đích đáng, hoặc muốn thể hiện “sức mạnh” của họ trước đối thủ, lập tức chiêu bài cắt chuyến bay, cắt điện, cắt nước và đưa quân lính cùng xe bọc thép bao vây, uy hiếp trụ sở hai đoàn ta… Mọi liên hệ với hậu phương chỉ còn dựa chủ yếu vào phương tiện thông tin vô tuyến, máy phát tin và ảnh của TTXVN.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Ba, 2012, 09:40:07 pm
        Ngày đầu tiên vào trụ sở tại “trại Davis” chúng ta đã phải chống trả với những trò phá sóng, chèn sóng, gây nhiễu,… của địch. Chúng có ưu thế về khoa học kỹ thuật hiện đại trong lĩnh vực này nên sử dụng triệt để với gần 90 tần số vây quanh, đặt trạm thu tín hiệu thông tin và theo dõi ta rất chặt chẽ. Chúng sử dụng máy phát “toàn tần” với dải tần số từ 3 đến 16 mêgahéc, do đó chỗ nào ta cũng phát hiện đài địch. Chúng gây nhiễu toàn bộ dải sóng ngắn và cực ngắn, cứ ba giây phát một tín hiệu công suất rất mạnh… Có lúc, địch còn phát giả danh đài của ta và yêu cầu làm việc. Ta lập tức hỏi đối chứng, do không phải “người nhà” nên ấp úng không trả lời được, đành bỏ cuộc!

        Có trường hợp ta đang chuyển điện, thấy tiếng “ma níp” lạ đòi ta phải liên lạc với đài này. Nghi ngờ, ta hỏi mật khẩu, tiếng gõ lạ kia im bặt!

        Để đối phó với những hoạt động phá hoại của địch, ta thường xuyên thay đổi quy ước liên lạc, bố trí lại những quy ước chuẩn bị từ trước, giữa phiên liên lạc ta đổi sóng, đài cấp trên tăng công suất máy, số lần phát không theo quy ước cũ, ta phát hai lần: một lần hai chiều, một lần một chiều… Cơ quan an ninh cấp trên tăng cường cán bộ phản tình báo kỹ thuật vào trại Davis giúp giải quyết những trở ngại về kỹ thuật do địch gây nên. Chính vì vậy, mọi thủ đoạn xảo quyệt có sự trợ giúp đắc lực của khoa học hiện đại nhưng Mỹ ngụy cũng không thể khuất phục được hoạt động thông tin liên lạc của chúng ta.

        Quan hệ với hai đoàn bạn trong Uỷ ban quốc tế là Hung Ga Ri và Ba Lan, cơ quan an ninh của ta và bạn có sự phối hợp chặt chẽ hỗ trợ kịp thời phát hiện những âm mưu, thủ đoạn, hoạt động đánh phá của các cơ quan tình báo, đặc vụ Mỹ ngụy vào nội bộ ta và bạn. Hai bên đã thông báo, tạo điều kiện thuận lợi và bảo vệ an toàn cho nhau khi đi công tác xa đơn vị. Trong trường hợp địch câu móc, lôi kéo người của bạn chạy sang phía họ, chúng ta đã cùng bạn rút kinh nghiệm tìm ra những sơ hở chủ động phòng ngừa, khắc phục. Ta còn giúp bạn thu thập chứng cứ của cơ quan tình báo địch giúp bạn sớm tìm ra kẻ nội gián…

        Mặt trận ngoại giao quân sự là một hình thức đấu tranh hết sức sáng tạo, độc đáo của cách mạng Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhà nước và quân đội ta, trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Quân uỷ miền Nam (B2) đã chỉ đạo mọi hoạt động của hai đoàn đại biểu quân sự ta trong BLHQS 4 bên và 2 bên Trung ương thu được những thắng lợi rất quan trọng trong quá trình thi hành Hiệp định Paris. Chúng ta đã buộc đế quốc Mỹ và các nước chư hầu phải rút hết quân chiến đấu trên toàn miền Nam Việt Nam dưới sự kiểm soát, giám sát của chúng ta. Tiến hành việc trao trả người của hai bên bị bắt và giam giữ, địch đã phải trả cho ta hàng chục nghìn cán bộ, chiến sĩ và quần chúng ưu tú của phong trào cách mạng, những đồng chí đó trở về nhiều người là những cán bộ lãnh đạo xuất sắc, đây là một lực lượng đáng kể bổ sung kịp thời cho cuộc chiến đấu mới. Với điều kiện thuận lợi của ta, có lập luận sắc bén chính nghĩa, có sức thuyết phục tại văn bản pháp lý của Hiệp định nên ta đã biến nơi đây thành một mặt trận đấu tranh dư luận. Trên trận địa này ta đã làm cho kẻ thù rất lúng túng, bị động, mọi âm mưu thủ đoạn phá hoại đều bị vạch trần nên thắng lợi của cách mạng càng nổi bật. Quần chúng nhân dân đang sống trong vùng địch kiểm soát và nhân dân cả nước càng vững tin, ra sức ủng hộ sự nghiệp đấu tranh cách mạng, bạn bè trên thế giới càng hiểu rõ cuộc kháng chiến của chúng ta là chính nghĩa và tăng cường ủng hộ giúp đỡ, trong đó có cả nhân dân tiến bộ Mỹ…

        Trên mặt trận này có một trận tuyến thầm lặng của toàn thể cán bộ, chiến sĩ là thành viên của hai đoàn đại biểu quân sự cách mạng trong BLHQS đấu tranh thắng lợi trước loại kẻ thù giấu mặt mà Mỹ ngụy đã dày công chuẩn bị một kế hoạch toàn diện để đánh phá chúng ta. Ngọn cờ chính nghĩa của cách mạng vẫn giương cao, ưu thế của đội quân chiến thắng luôn thể hiện trong cuộc sống hàng ngày giữa trùng vây quân địch, xứng đáng là những người lính cách mạng, luôn mưu trí, sáng tạo, chủ động đấu tranh không khoan nhượng với kẻ thù… Đúng là một đội quân chiến đấu, một đội quân công tác, một đội quân có văn hoá của Quân đội nhân dân Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Ba, 2012, 09:44:18 pm
        Sống và chiến đấu trong hoàn cảnh đặc biệt đó, hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ ta đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, không để xảy ra một trường hợp đáng tiếc nào, đã trở về vẹn nguyên cùng với đại quân làm chủ và tiếp quản thành phố Sài Gòn sau ngày giải phóng.

        Đạt được thắng lợi trên là nhờ có sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng uỷ hai đoàn. Ngay từ đầu, lãnh đạo hai đoàn ta đều xác định cuộc đấu tranh chống địch phá hoại nội bộ là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ đầu tranh thi hành Hiệp định Paris phải giữ gìn sao cho lực lượng ta an toàn về tổ chức, con người, đảm bảo tuyệt đối bí mật công tác… Đối với Mỹ ngụy, chúng sẽ phá hoại Hiệp định, phá quyết liệt và muốn phá Hiệp định thì phải phá mọi hoạt động của hại đoàn ta, phá vào nội bộ tổ chức của ta… chúng sẽ sử dụng những thủ đoạn hèn hạ nhất, tàn bạo nhất nhằm vô hiệu hoá hoạt động của ta!

        Địch đã thất bại thảm hại trước sự chủ động phòng chống của ta đối với mưu đồ phá hoại của chúng. Đội ngũ cán bộ, chiến sĩ từ đồng chí chỉ huy cao nhất đến người lính bình thường của hai đoàn ta đều là những chiến sĩ cách mạng có bản lĩnh chính trị vững vàng, có ý thức cảnh giác cách mạng cao, ý chí chiến đấu kiên cường, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng, có niềm tin mãnh liệt vào thắng lợi, được tôi luyện trong cuộc chiến đấu trường kỳ, gian khổ ác liệt với muôn vàn hiểm nguy, luôn với tư thế của đoàn quân chiến thắng. Chính những con người gang thép ấy đã làm nên thắng lợi trên trận tuyến thầm lặng này. Mỗi người trong từng lĩnh vực công tác, trên cương vị của mình đã phát huy cao nhất sức mạnh chính trị của đội quân chiến thắng, đội quân chính nghĩa, chủ động tiến công, liên tục tiến công, chủ động phòng ngừa trước mọi hoạt động phá hoại của địch, chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về bảo vệ an ninh, kịp thời phát hiện và khắc phục sơ hở không để kẻ địch lợi dụng gây tổn thất cho ta.

        Trên trận tuyến thầm lặng này chúng tôi luôn nhận được sự chỉ đạo và chi viện kịp thời, hiệu quả của hậu phương, những hướng dẫn cụ thể về nghiệp vụ an ninh vô cùng quý báu của cơ quan bảo vệ quân đội và cơ quan an ninh cấp trên, trong đó có những ý kiến sát thực của đồng chí Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn, các đồng chí thứ trưởng và chỉ huy Cục bảo vệ quân đội.

        Những năm tháng chiến đấu trên mặt trận ngoại giao quân sự, chúng ta chỉ với một lực lượng nhỏ, đã đứng chân tại trung tâm đầu não của kẻ địch cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đấu tranh thắng lợi buộc Mỹ ngụy phải thực hiện những điều khoản hết sức quan trọng của Hiệp định Paris, sử dụng hiệu quả diễn đàn công khai ngay trong sào huyệt của chúng. Trên trận tuyến thầm lặng, nội bộ của chúng ta được bảo vệ an toàn, giữ gìn được sự trong sạch vững mạnh, mọi chủ trương, đường lối, kế hoạch đấu tranh đều giữ được bí mật tuyệt đối, tính mạng và sức khoẻ của cán bộ, chiến sĩ được đảm bảo an toàn mức cao nhất… Trong đó có những đóng góp của cán bộ bảo vệ an ninh quân đội của các sĩ quan an ninh vào thắng lợi chung của hai đoàn đại biểu ta trong BLHQS đấu tranh thi hành Hiệp định Paris về Việt Nam.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Ba, 2012, 09:54:20 pm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/NguyeenxDDuwcsMinh-TuwQuyeets.jpg)


CHUYẾN ĐƯA CÁC ĐẠI SỨ UỶ BAN QUÓC TẾ LẦN ĐẦU TIÊN RA THĂM VÙNG GIẢI PHÓNG QUẢNG TRỊ

Thiếu tướng Nguyễn Đức Minh (Tư Quyết).                
       
        Hiệp định Pari được ký kết và có hiệu lực từ 0 giờ ngày 28/1/1973. Một trong các điều khoản của Hiệp định là thành lập Ban Liên hiệp quân sự 4 bên gồm đoàn Đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà (Chính Phủ VNDCCH), đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam (CP CMLTCHMNVN), đoàn của Mỹ và đoàn của Nguỵ quyền Sài Gòn để thi hành các điều khoản Hiệp định. Dưới ban Liên Hiệp quân sự 4 bên ở Trung ương có Ban Liên hiệp quân sự 4 bên ở các khu vực. Tôi đang công tác ở Ban An Ninh khu VI thì được Thường vụ Khu uỷ phân công đi làm nhiệm vụ trong Ban Liên hiệp quân sự khu vực IV (đoàn đại biểu quân sự CP CMLTCHMNVN) đóng tại Camp Êsêpic - Phan Thiết (Bình Thuận) do đồng chí thượng tá Nguyễn Trọng Xuyên làm trưởng đoàn (sau này là thượng tướng, thứ trưởng BỘ Quốc Phòng).

        Sau 60 ngày thực hiện Hiệp định, Mỹ rút hết quân dưới sự chứng kiến của đoàn Đại biểu quân sự Chính phủ VNDCCH và của đoàn đại biểu quân sự CP CMLTCHMNVN (trong Ban Liên hiệp quân sự 4 bên); cuối tháng 3/1973, chúng tôi được lệnh trên rút đoàn ở khu vực IV về đoàn Trung ương đóng ở Trại Đa-vít trong khu vực sân bay Tân Sơn Nhất - Sài Gòn.

        Đoàn đại biểu quân sự CP CMLTCHMNVN (trong Ban Liên hiệp quân sự 4 bên gọi tắt là Đoàn B vì đoàn đại biểu quân sự chính phủ VNDCCH gọi là đoàn A) lúc này do đồng chí Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn làm trưởng đoàn. Được biết đồng chí Hai An, Uỷ viên Ban An ninh Trung ương Cục tham gia Ban Cán sự Đoàn nên tôi đến gặp, báo cáo tình hình. Rất mừng là đồng chí đã biết tôi là Uỷ viên Ban An ninh khu VI nên hỏi tình hình khu VI, nói nhiệm vụ của Đoàn hiện nay và do thấy tôi biết tiếng Anh, tiếng Pháp nên phân công tôi tham gia Tiểu ban Quan hệ Quốc tế ở Đoàn B.

        Uỷ ban Quốc tế giám sát việc thi hành Hiệp định Pari lúc đầu có đoàn Ba Lan, đoàn Hungari, đoàn Inđônêxia và đoàn Canada. Đến tháng 7/1973, đoàn Canada rút, thay thế bằng đoàn Iran.

        Tuy buộc phải ký Hiệp định Pari, rút hết quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, thừa nhận ở miền Nam Việt Nam có 2 chính quyền, 2 lực lượng quân sự, 2 vùng kiểm soát và 3 lực lượng chính trị nhưng Mỹ vẫn tiếp tục thực hiện chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh", tiếp tục viện trợ kinh tế (2,67 tỷ USD năm 1973) và quân sự cho Nguỵ quyền Sài Gòn (đưa dự trữ chiến tranh của quân nguỵ lên trên 2 triệu tấn). Thiệu công khai tuyên bố 4 không (không có hoà bình, không ngừng bắn, không có giải pháp chính trị, không tổng tuyển cử), chủ trương "trên hoà bình, dưới chiến tranh, ngoài hoà hợp, trong bình định", ráo riết triển khai kế hoạch "tràn ngập lãnh thổ". Trong vòng 1 1 tháng đầu năm 1973, nguỵ quyền Sài Gòn sử dụng 60% quân chủ lực và toàn bộ quân. địa phương mở trên 360.000 cuộc hành quân lấn chiếm, tập trung lực lượng lớn, tấn công có trọng điểm vào các khu vực giải phóng của ta như Sa Huỳnh, Bắc Kontum, Quảng Đức (tỉnh Đăknông hiện nay), vùng ven Đà Lạt, tam giác Hàm Thuận - Bình Thuận, nam bắc lộ 4 Ở Mỹ Tho, Chuông Thiện, Núi Dài, Trì Tôn - An Giang lấn chiếm lại hầu hết các vùng ta mới giải phóng tháng 1/1973, chiếm thêm 1 số "lõm" giải phóng của ta hòng xoá thế "da báo".

        Hàng tuần, Đoàn B do đồng chí Trưởng đoàn Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn chủ trì đều có buổi làm việc với các đồng chí đoàn Ba Lan và đoàn Hungari để thông báo tình hình với bạn. Các buổi thông báo ngày càng nhiều về những hoạt động lấn chiếm của nguỵ quyền Sài Gòn ở khắp 4 vùng chiến thuật. Và nội dung thông báo cũng thêm phần đánh trả, phản công và tiến công của ta, nhất là từ quý III năm 1973 trở đi.

        Hội nghị lần thứ 21 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta họp tháng 10/1973 xác định: "Con đường Cách mạng miền Nam là con đường cách mạng bạo lực. Bất kể trong tình hình nào ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công... " và đề ra phương châm kết họp đấu tranh chính trị, quân sự với ngoại giao.

        Vận dụng phương châm trên, Đoàn B đề xuất và được trên chấp thuận mời các đại sứ trưởng đoàn trong Uỷ ban Quốc tế đang ở Sài Gòn ra thăm vùng giải phóng Quảng Trị, gặp và làm việc với Bộ trưởng Ngoại giao CP CMLTCHMNVN Nguyễn Thị Bình. Theo hiểu biết hạn hẹp của tôi, đây là một hoạt động chủ động tiến công trên mặt trận ngoại giao của ta, tỏ thái độ thiện chí mong muốn giữ vững hoà bình, thực hiện đúng các điều khoản Hiệp định Pari đồng thời gián tiếp giới thiệu với Uỷ ban Quốc tế, với thế giới vai trò, vị trí, uy tín, ảnh hưởng của CP CMLTCHMNVN và đất đai, dân tình ở vùng giải phóng của ta.

        Uy tín của Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thị Bình lúc đó rất lớn nên khi Đoàn ta gợi ý, Chủ tịch Uỷ ban Quốc tế (luân phiên) là Inđônêxia đưa ra trao đổi thì tất cả các đại sứ trưởng đoàn trong Uỷ ban Quốc tế đều hân hoan, nhất trí. Đối với hai đoàn Bạn, đoàn Ba Lan và đoàn Hungari được tiếp xúc với Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình là một niềm vinh dự lớn đồng thời Bạn cũng muốn được hiểu biết thêm về vùng giải phóng của ta, tiềm lực của ta và chủ trương đối sách của ta trước tình hình nhùng nhằng hiện nay. Đối với đoàn Inđônêxia và đoàn Iran, việc ra thăm vùng giải phóng Quảng Trị và gặp Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình phục vụ ý đồ riêng của mỗi đoàn nhưng đều thống nhất ở chỗ được đặt chân tới vùng giải phóng của CP CMLTCHMNVN, được trực tiếp tìm hiểu, đánh giá tiềm lực của ta và nhất là có dịp để khai thác, tìm hiểu về chủ trương đối sách của ta đối với âm mưu, hoạt động của Mỹ - Nguỵ.
      


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Ba, 2012, 09:58:49 pm
        Điện của Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình mời các đại sứ trưởng đoàn và các tuỳ viên trong Uỷ ban Quốc tế ra thăm Đông Hà - Quảng Trị chính thức là ngày 12/11/1973. Đoàn B cử đồng chí đại uý Mỹ Thành và tôi (thiếu tá Quyết) tâm sỹ quan liên lạc đưa dẫn Uỷ ban Quốc tế.

        Mọi việc tưởng có Uỷ ban Quốc tế thì sẽ "xuôi chèo mát mái". Sáng sớm ngày 12/11/1973, đồng chí Mỹ Thành và tôi đã chuẩn bị xong xuôi chờ Quân cảnh và Cảnh sát Nguỵ vào đưa dẫn chúng tôi ra sân bay để đi với Uỷ ban Quốc tế như thông lệ. Đã quá hẹn với Uỷ ban Quốc tế hơn nửa tiếng đồng hồ mà không thấy bóng dáng một Quân cảnh hay Cảnh sát Nguỵ nào. Rõ ràng là mọi việc đến phút cuối Mỹ - Nguỵ vẫn giở trò phá đám. Nếu sỹ quan liên lạc của đoàn đại biểu quân sự CP CMLTCHMNVN không ra sân bay đi cùng thì Uỷ ban Quốc tế cũng không ra Đông Hà - Quảng Trị được và chuyến đi gặp Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình tất nhiên bị huỷ bỏ.

        Chúng tôi vẫn nén đợi. Mười lăm phút sau, một chiếc xe jeep treo cờ Uỷ ban Quốc tế xộc vào cổng trại Đa vít, trên có 2 sỹ quan cấp tá Inđônêxia xin gặp đoàn ta, trình bày được lệnh Chủ tịch Uỷ ban Quốc tế đến hỏi vì sao 2 sỹ quan liên lạc của ta không ra sân bay đưa Uỷ ban Quốc tế ra Quảng Trị? Chúng tôi kịp thời vạch mặt Quân cảnh và Cảnh sát Nguỵ gây trở ngại, không đến dẫn đường, còn chúng tôi đã sẵn sàng.

        Sỹ quan liên lạc đoàn Inđônêxia mời chúng tôi lên xe ieep cùng ra sân bay cho.kịp giờ. Tới sân bay, chúng tôi đã thấy đầy đủ các đại sứ trưởng đoàn Uỷ ban Quốc tế, một hoặc hai sỹ quan cấp tá đi theo tuỳ tùng. Riêng đoàn Inđônêxia, với cương vị Chủ tịch Uỷ ban Quốc tế có thêm Thiếu tướng, phụ trách quân sự và đoàn Hungari có Thiếu tướng Schuz, Phó tổng tham mưu trưởng phụ trách quân sự của đoàn đi cùng.

        Chúng tôi lên chiếc máy bay dân sự do Uỷ ban Quốc tế thuê của hãng Hàng không Air American khoảng 30 chỗ ngồi để đi ra Huế. Bất ngờ hôm đó miền Trung có bão. Máy bay lên bổng xuống trầm nhiều lần rồi phải hạ cánh ở Đà Nẵng ăn trưa.

        Ăn cùng với các đại sứ trong Uỷ ban Quốc tế mà tôi nuốt không trôi, lo làm sao.hoàn thành được nhiệm vụ, đưa được các đại sứ trưởng đoàn trong Uỷ ban Quốc tế ra đến Đông Hà - Quảng Trị an toàn. Mình có làm sao cũng chẳng hề gì nhưng xảy ra chuyện gì với Uỷ ban Quốc tế thì hết sức phức tạp, bất lợi. Phải chờ bão ngớt mới đi được, mà ra Đông Hà muộn, chệch giờ thì không biết anh em mình bố trí đón tiếp ra sao.

        Đến chiều mưa đã ngớt, cả đoàn chuyển sang đi trên 6 chiếc máy bay trực thăng đo phi công của hãng Air American lái từ Đà Năng qua Huế tới bờ nam sông Thạch Hãn thì hạ cánh. Lúc này đã vào khoảng 17h00.

        Theo quy định của ta, máy bay của Uỷ ban Quốc tế ra vùng giải phóng của CP CMLTCHMNVN phải bay trong phạm vi 2km theo hành lang ta quy định (để phòng ngừa việc Mỹ lợi dụng việc ra vùng ta giả vờ lạc đường, bay chệch hành lang quy định để điều tra sự bố phòng của quân đội ta). Số phi công Mỹ ra dấu hiệu: trời đã về chiều, bay dễ lạc đường nên vào thời điểm này có cắt cổ chúng cũng không bay ra phía Bắc sông Thạch Hãn.

        Trời chỉ còn mưa nhỏ nhưng gió lớn. Biết đây là thủ đoạn của Mỹ - Nguỵ nắm phương tiện giao thông vận tải, tìm cách trì hoãn, kéo dài, phá hoại chuyến đi của các đại sứ Uỷ ban Quốc tế ra làm việc với Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thị Bình và thăm vùng giải phóng của CP CMLTCHMNVN, tôi xuống trực thăng đứng ra mép sông Thạch Hãn trân trân nhìn về phía Bắc sông Thạch Hãn lòng như lửa đốt. Sau 20 phút không thấy bờ Bắc có động tĩnh gì nên chúng tôi buộc phải cùng.đoàn Uỷ ban Quốc tế bay về Huế đỗ cả 6 trực thăng ở bờ nam sông Hương. Đã gần 6 giờ tối, thành phố đã lên đèn. Công chức, học sinh, nhân dân thành phố Huế vừa tan trường, tan công sở ra về, gặp chúng tôi đi cùng Uỷ ban Quốc tế tỏ rõ thiện cảm và thăm dò xem đang diễn tiến sự kiện gì?

        Về đến khách sạn đón Uỷ ban Quốc tế ăn, ngủ qua đêm; ngay khi chuẩn bị ăn, đồng chí đại sứ Hungari đến gợi ý chúng tôi báo cáo tình hình về đoàn TƯ xin chỉ thị. Đồng chí đại uý Mỹ Thành bỏ ăn,, xin liên lạc điện thoại gấp với đồng chí Trưởng đoàn Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn. Các đại sứ trưởng đoàn trong Uỷ ban Quốc tế vừa ăn tối xong, đang ngồi uống cà fê thì đồng chí Mỹ Thành đến thông báo với Uỷ ban Quốc tế: Do tình hình mưa bão nên xin chuyên lời mời Uỷ ban Quốc tế ra thăm Đông Hà và gặp Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình ngày 12/11/1973 sang ngày 13/11/1973. Do tầm quan trọng đặc biệt của chuyến đi nên bỏ quy định hành lang bay 2km.

        Các đại sứ trưởng đoàn trong Uỷ ban Quốc tế đều hân hoan, vui vẻ trước thong báo mới và nhất trí 7h30 sáng 13/11/1973 ra máy bay. Riêng số phi công lái trực thăng nghe tin chuyến bay ngày mai được bỏ quy định hành lang bay 2km thì hồ hởi ra mặt, chúc rượu nhau, cười nói oang oang.

        Chúng tôi được đoàn Hungari trong Tổ Uỷ ban Quốc tế ở Huế mời về trụ sở các đồng chí ngủ. Đồng chí thiếu tá tổ trưởng thông báo sẽ tổ chức luân phiên canh gác suốt đêm để bảo vệ chúng tôi, phòng ngừa bất trắc.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Ba, 2012, 10:01:13 pm
        Sáng 13/11/1973, sáu chiếc trực thăng của An American từ Huế đưa đoàn thẳng tiến tới sân bay Đông Hà. Ban tổ chức và nhân dân Đông Hà đã tổ chức đón đoàn và dẫn đi tham quan theo chương trình. Tôi nhìn thấy đồng chí Chính (công an Vinh Linh cũ) trong Ban đón tiếp nên rất yên tâm, phấn khởi biết là trên đã sắp xếp bố trí mọi việc rồi. Đồng chí Mỹ Thành và tôi đi xe com-măng-ca về ngay Cam Lộ, nơi đóng trụ sở của CP CMLTCHMNVN, gặp Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thị Bình báo cáo tình hình đi đường và qua thư của đồng chí trưởng đoàn Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn.

        Buổi chiều, Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình dành trọn cả buổi để tiếp các đại sứ trưởng đoàn trong Uỷ ban Quốc tế. Chiến đấu và công tác ở chiến trường khu VI chủ yếu là vùng dân tộc, miền núi, lần đầu tiên được dự buổi Bộ trưởng Ngoại giao tiếp thân mật các đại sứ, "mở mắt" ra được nhiều điều. Từ cách ăn mặc đến cách bố trí chỗ ngồi, cách ăn nói, đề cập vấn đề... đều khác hẳn mọi điều ở chiến trường khu VI; nghĩ lại đúng như người ở rừng ra thành phố.

        Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thị Bình duyên dáng trong bộ áo dài truyền thống màu xanh nhạt, bên cạnh có hai chị mặc quân phục quân giải phóng đội mũ tai bèo, quấn khăn rằn Nam bộ, lùi chếch phía sau một chút là đồng chí phiên dịch mặc complet, cra-vat chỉnh tề, giầy da đen bóng lộn.

        Mở đầu, Bộ trưởng kể chuyện đã được đến thăm đất nước Inđônêxia tươi đẹp, đất nước của hàng nghìn hòn đảo, nói đến vai trò của Inđônêxia đang là Chủ tịch Uỷ ban Quốc tế rồi đề cập đến mối quan hệ giữa Việt Nam với Inđônêxia, chân thành cảm ơn sự đóng góp to.lớn.của Inđônêxia đối với việc giám sát thi hành Hiệp định Pari; Tiếp đó, nói đến đất nước Ba Lan, vai trò của Ba Lan trong Uỷ ban Quốc tế từ Hiệp định Giơnevơ 54 đến Hiệp định Pari 1973; Tiếp đó nói đến Hungari, đến Iran, chân thành cảm ơn chính phủ và nhân dân các nước trong Uỷ ban Quốc tế đã giúp đỡ nhân dân Việt Nam. Khi Bộ trưởng nói đến nước nào thì đại sứ trưởng đoàn nước đó đều nghiêng mình đáp lễ, tỏ ý cảm phục và trân trọng những ý kiến, của Bộ trưởng. Cuối cùng, Bộ trưởng đề cập đến tình hình chiến.sự hiện nay, tố cáo nguỵ quyền Sài Gòn vi phạm Hiệp định Pari một cách có hệ thống trên tất cả 4 vùng chiến thuật và nói đến vai trò, sứ mệnh cao cả của Uỷ ban Quốc tế, hy vọng Uỷ ban Quốc tế làm hết sức mình để Hiệp định Pari thu được kết quả. Thay mặt CP CMLTCHMNVN, Bộ trưởng khẳng định sẽ tiếp tục thực hiện Hiệp định Pari mà 4 bên đã ký kết. Nội dung xác đáng, có lý có tình, cách đề cập vân đề, cách ăn nói mềm mại, có duyên đã thu hút được sự quan tâm của các đại sứ trưởng đoàn trong Uỷ ban Quốc tế đối với CP CMLTCHMNVN.

        Suốt buổi gặp có 1 sự kiện khiến tôi ghi nhớ mãi: Cuối buổi gặp, đại sứ trưởng đoàn Iran nêu ý kiến: "Chúng tôi làm việc trong Uỷ ban Quốc tế rất khó xử, phía CP CMLTCHMNVN thì tố cáo với Uỷ ban Quốc tế là Chính phủ Cộng hoà VN (Nguỵ quyền Sài Gòn) vi phạm hiệp định Pari, phía Cộng hoà VN khi làm việc với Uỷ ban Quốc tế thì tố cáo CP CMLTCHMNVN vi phạm Hiệp định. Xin hỏi Bộ trưởng, nếu Bộ trưởng đứng vào cương vị Uỷ ban Quốc tế chúng tôi thì Bộ trưởng giải quyết thế nào"?

        Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình trước câu hỏi hóc búa đó đã tươi cười, vui vẻ - nụ cười tự tin của người đầy đủ bản lĩnh và dầy dạn trận mạc ngoại giao - trả lời ngay, không phả suy nghĩ lâu la gì: "Ồ, nếu tôi được là thành viên của Uỷ ban Quốc tế thì tôi dễ dàng giải quyết việc này. Tôi sẽ xem xét, sẽ căn cứ vào thái độ của bên nào tìm mọi cách phá hoại Hiệp định ngay từ lúc sắp ký kết và khi buộc phải ký kết thì đã tính toán phá hoại việc thực hiện Hiệp định một cách có hệ thống. Uỷ ban Quốc tế nên xem xét bản chất bên nào muốn tiếp tục chiến tranh, bên nào tán thành hoà bình thì sẽ đánh giá được các hoạt động của bên nào vi phạm Hiệp định có hệ thống và bên nào nghiêm túc thực hiện Hiệp định". Thái độ của các đại sứ trưởng đoàn thì hân hoan, vui vẻ, riêng đại sứ.Iran thì nín lặng không hỏi thêm câu nào. (Được biết ngay sau khi từ Đông Hà về lại Sài Gòn, đại sứ trưởng đoàn Iran rời máy bay đã đi ôtô về thẳng Dinh Độc Lập gặp Nguyễn Văn Thiệu nói lại tình hình).

*

*           *

        Đây là cuộc gặp của Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thị Bình với 4 đại sứ, trưởng đoàn trong Uỷ ban Quốc tế ở Đông Hà - Quảng Trị, cuộc gặp lần đầu tiên và là cuộc gặp duy nhất đầy đủ các đại sứ trưởng đoàn trong Uỷ ban Quốc tế ở vùng giải phóng của CP CMLTCHMNVN. Gọi là cuộc gặp lần đầu tiên và duy nhất vì sang.năm 1974, thực hiện Nghị quyết 21, quân ta tiến công và phản công trên toàn miền Nam, ta giải phóng Thượng Đức - Quảng Nam tháng 8/1974, giải phóng Phước Long tháng 1/1975, tiếp đến là đại thắng mùa xuân 1975.

        Cuộc gặp có tiếng vang trong và ngoài nước, thể hiện sự vận dụng linh hoạt, chủ động phương châm "kết hợp chính trị, quân sự với ngoại giao" mà đòn ngoại giao lại đi đầu trong việc thực hiện Nghị quyết 21.

        Đối với tôi cuộc sống, công tác và chiến đấu ở Đoàn đại biểu quân sự CP CMLTCHMNVN (trong Ban liên hiệp quân sự 4 bên, 2 bên, ở Camp Êsêpic - Phan Thiết và trại Đa vít - Sài Gòn đầy ắp những kỷ niệm khó quên và chuyến đi làm nhiệm vụ sỹ quan liên lạc đưa các đại sứ trong Uỷ ban Quốc tế ra thăm vùng giải phóng Quảng Trị và làm việc với Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thị Bình là một vinh dự, một dấu ấn trong cuộc đời công tác của tôi - một chiến sỹ Công An chi viện chiến trường miền Nam.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Ba, 2012, 02:13:40 pm

TỔ LIÊN HIỆP QUÂN SỰ BỐN BÊN
               
        Trích trong cuốn “Ban liên hợp quân sự” và “Trại Davis” những tháng ngày…" Nhà Xuất Bản QĐND – 1997.
        
        Hiệp định Paris (Điều 16c) quy định BLHQS bốn bên sẽ chấm dứt họat động trong thời hạn sáu mươi ngày kể từ ngày ký kết, “sau khi việc rút quân của  Hoa Kỳ và quân của các nước ngoài khác… và việc trao trả NVQS  của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài của các bên bị bắt đó hoàn thành”. Ngày 28-3-1973, BLHQS bốn bên trung ương họp phiên cuối cùng và kết thúc nhiệm vụ. Do còn có vấn đề phải tiếp tục giải quyết liên quan đến các bên , trong phiên họp đó bốn Trưởng đoàn đó thỏa thuận thành lập một Tổ LHQS bốn bên để phối hợp hành động của các bên thi hành Điều 8b của Hiệp định:

        “Các bên sẽ giúp đỡ nhau tìm kiếm tin tức về những NVQS của các bên và thường dân nước ngoài của các bên bị mất tích trong chiến đấu, xác định vị trí và bảo quản mồ mả của những người bị chết, có những biện pháp khác cần thiết để tìm kiếm tin tức những người cũn coi là mất tích trong chiến đấu”.

        Tổ LHQS họp phiên đầu tiên ngày 13-4-1973, thỏa thuận lấy tên là “Tổ LHQS bốn bên về tìm kiếm người chết và mất tích”. Các Trưởng đoàn là:

        - VNDCCH: thượng tá Trần Nguyên Độ (sau này là thiếu tướng), cuối năm 1973 được thay bằng thượng tá Nguyễn Đôn Tự (sau này là thiếu tướng).

        - CPCMLT: Trung tá Võ Thọ Son (sau này là đại tá).

        - Mỹ: Đại tá William Tombaugh, sau thay bằng đại tá Madison;

        - Chính quyền Sài Gòn: đại tá Nguyễn Văn Sáu;

        Phiên họp ngày 27-4-1973 thỏa thuận: Về biên chế tổ chức, mỗi bên có 35 người gồm 14 sĩ quan và 21 nhân viên: Trụ sở đóng tại Sài Gòn, thực tế vẫn là tại Tân Sơn Nhất trong trụ sở cũ của BLHQS bốn bên trung ương trước đây; tiếp tục áp dụng 11 điều ưu đãi và miễn trừ ngoại giao đó được BLHQS 4 bên Trung Ương thỏa thuận. Trong khi thi hành nhiệm vụ nếu có vấn đề mới thì Tổ liên hợp sẽ thảo luận và quyết định theo nguyên tắc nhất trí.

        Phần CPCMLT  cũng có một Đoàn như ba bên khác, cùng tham gia đồng đều trong mọi họat động, còn về nội bộ thì là một bộ phận của Đoàn 315B, dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng ủy và sự chỉ đạo của Trưởng đoàn 315B.

        Nói là Tổ vì từ nay việc phối hợp hành động thi hành Hiệp định Paris thuộc về BLHQS hai bên, còn Tổ bốn bên chỉ phụ trách một điểm 8b trong điều 8  của Hiệp định, mà trên thực tế cũng chỉ chủ yếu liên quan đến người chết và người mất tích của Mỹ.

        Nhưng tổ chức này sớm tỏ ra có vai trò rất quan trọng, vì ở đây có Đoàn Mỹ. Đoàn này có khả năng tác động đến thái độ và hành động của Đoàn Sài Gòn trong BLHQS hai bên trung ương và cả đối với phía chính quyền Sài Gòn nói chung trong những vấn đề liên quan đến Hiệp định  và BLHQS.

        Lúc đầu ta chưa nhận thức rõ dặc điểm này và cũng chưa đánh giá đúng mức tầm quan trọng mà người Mỹ dành cho vấn đề người chết và người mất tích. Về sau ta nhận ra và càng chú ý phối hợp hành động và đấu tranh giữa Đoàn đại biểu của ta tại BLHQS  hai bên trung ương với các đồng chí trong Tổ bốn bên (cả hai bộ phận VNDCCH và CPCMLT), đưa đến kết quả khá rõ trong một số vấn đề: bảo vệ 11 quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao, bảo đảm an toàn cho các Đoàn ta tại Tân Sơn Nhất trong những thời kỳ tình hình chiến trường căng thẳng, duy trì việc bảo đảm liên lạc hàng tuần bằng máy bay cho các Đoàn ta với hậu phương, và nhất là thúc đẩy việc trao trả NVQS…

        Trong nội bộ, phía ta đã xây dựng một phương án tương đối hoàn chỉnh và đã được cấp trên phê duyệt nhằm đấu tranh thực hiện Điều 8b một cách toàn diện đối với tất cả các bên (chứ không phải chỉ riêng cho Mỹ), liên kết Điều 8b với các điều khỏan khác của Hiệp định, buộc trách nhiệm của Mỹ vào việc bảo đảm thi hành các điều khỏan, hỗ trợ và phối hợp với các cuộc đấu tranh của ta tại BLHQS hai bên trung ương. Một số nội dung và yêu cầu chủ yếu của phương án là:


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Ba, 2012, 02:17:46 pm
        1. Về bản thân Điều 8b

        Đối tượng của điều này là nhân viên quân sự của các bên và thường dân nước ngoài của các bên mất tích trong chiến đấu hoặc bị chết, yêu cầu của điều này là các bên giúp đỡ nhau tìm kiếm những người bị mất tích, xác định và bảo quản mồ mả của những người chết , nhằm tạo điều kiện dễ dàng cho việc cất bốc và hồi hương hài cốt. Như vậy là gồm cả cán bộ chiến sĩ lực lượng vũ trang và bán vũ trang của phía ta bị mất tích hoặc hy sinh ở Miền Nam và phía Mỹ – Thiệu phải có trách nhiệm “giúp đỡ tìm kiếm”, xác định và bảo quản mồ mả.

        2. Về trách nhiệm thi hành

        Thuộc về tất cả bốn bên ký kết. Tại Miền Nam Việt Nam cả Mỹ và phía Sài Gòn cùng chịu trách nhiệm trong việc tìm kiếm người mất tích và bảo quản mồ mả người chết của phía ta.

        Tất nhiên về phía ta, Chính phủ VNDCCH và CPCMLT sẵn sàng làm tròn trách nhiệm giúp đỡ của mình đối với người của phía đối phương như điều 8b đã quy định.

        3. Về sự liên quan giữa Điều 8b với các điều khoản khác của Hiệp định và  trách nhiệm chung của Mỹ.

        Điều 8b không thể tách riêng và đơn độc thực hiện mà nó liên quan chặt chẽ với các điều khoản khác của Hiệp định và các Nghị định thư.Ví dụ:

        - Phải bảo đảm việc ngừng bắn hoàn toàn và vững chắc (các Điều 2,3,4,5,6,7 của Hiệp định):

        - Phải bảo đảm thực hiện đầy đủ các quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao. (Điều 16 Nghị định thư về các BLHQS);

        - Phải bảo đảm cung cấp các phương tiện họat động (Điều 17 Nghị định thư)

        -  Phải đảm bảo tuân thủ nguyên tắc làm việc của cơ quan LHQS (Điều 16b Hiệp định), trước hết là nguyên tắc nhất trí;

        - Các điểm a, b, c trong Điều 8 Hiệp định liên quan mật thiết với nhau: Điều 8a về trao trả nhân viên quân sự, thường dân nước ngoài của các bên bị bắt; Điều 8b về tìm kiếm người mất tích và bảo quản mồ mả người chết Điều 8c về trao trả nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ. Không thể chỉ lo về người mất tích và người chết mà không quan tâm đầy đủ đến những người còn sống bị giam giữ,…v..v…

        Bởi vậy, mặc dù nhiệm vụ bảo đảm thi hành Hiệp định đã chuyển sang BLHQS hai bên, nhưng Mỹ là một bên tham chiến chủ yếu, không thể không có trách nhiệm đối với việc thi hành nghiêm chỉnh các điều khoản của Hiệp định thuộc phạm vi trách nhiệm của Mỹ và phía Sài Gòn.

        Tóm lại ta dựa vào việc Mỹ là kẻ quyết định bên phía đối phương để cột trách nhiệm của Mỹ vào việc bảo đảm thi hành Hiệp định, kiềm chế việc phá hoại của Thiệu.

        Từ những phiên họp đầu, Đoàn Mỹ đã muốn thảo luận ngay vấn đề mồ mả và hài cốt người chết và tìm kiến người mất tích và chỉ muốn bàn về vấn đề đó thôi. Họ chuyển cho hai Đoàn ta một bảng thống kê các máy bay Mỹ bị bắn rơi ở Miền Bắc và Miền Nam, ghi rõ loại máy bay, ngày tháng, địa điểm, số người lái, yêu cầu ta điều tra, tìm kiếm xác cùng các di vật còn lại. Các Đoàn ta nhận, chuyển về Bộ Tổng tham mưu  và Bộ tham mưu Miền, đề nghị thông báo cho các địa phương liên quan để xác minh. Còn phía ta (Đoàn CPCMLT và Đoàn VNDCCH) đòi trước hết phải bàn bạc giải quyết các vấn đề tổ chức, thể thức thủ tục, các điều kiện bảo đảm hoạt động của tổ cũng như của các Đoàn, là những tiền đề làm cho Tổ liên hợp có thể họat động bình thường. Về nội dung Điều 8b về phía ta, Đoàn CPCMLT được đoàn VNDCCH ủng hộ nhấn mạnh Mỹ-Sài Gòn phải có trách nhiệm đối với người mất tích và người chết của ta, yêu cầu để ta xây dựng nghĩa trang và đài tưởng niệm ở các địa phương có người của ta chết, để cho thân nhân người chết đi thăm viếng mồ mả theo đúng tinh thần Điều 8b Hiệp định. Đoàn Sài Gòn cự tuyệt, Đoàn Mỹ thì cho rằng việc này không được ghi trong các điều khoản của Hiệp định và Nghị định thư. Tổ bốn bên không nên can thiệp vào công việc nội bộ của hai bên Miền Nam.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Ba, 2012, 02:21:22 pm
        Các cuộc tranh cãi cứ thế kéo dài không thể đi đến kết quả gi được. Mỹ nóng lòng muốn giải quyết ngay vấn đề thuộc lợi ích riêng của Mỹ là người mất tích và hài cốt người chết mà không quan tâm đến các vấn đề khác mặc dù đều là những vấn đề rất quan trọng trong nội dung Hiệp định Paris mà Mỹ đều có liên quan trách nhiệm. Ta phải đòi những điều đảm bảo cho họat động bình thường của các Đoàn đại biểu của ta, đòi thi hành nghiêm chỉnh  tất cả các điều khoản của Hiệp định chứ không riêng một vấn đề nào theo yêu cầu của Mỹ. Còn về phía Sài Gòn  thì chẳng thiết tha gì với Điều 8b. Họ tham gia Tổ LHQS bốn bên và phải đi dự các phiên họp chỉ vì phải làm theo Mỹ.

        Tình hình Miền Nam chưa yên, tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu vi phạm Hiệp định ngày càng nghiêm trọng, những vấn đề lớn của Hiệp định như ngừng bắn, xác định vùng kiểm soát của các bên, trao trả người bị giam giữ …. đều không được giải quyết, trong khi đó Mỹ tiếp tục dính líu quân sự vào Miền Nam, ngược với lời cam kết của họ, dung túng Thiệu phá họai Hiệp định và đẩy mạnh vũ trang, tiếp sức cho nó chống lại hòa hợp dân tộc, cố làm cho ta suy yếu để đánh bại ta, trong bối cảnh đó làm sao có thể để cho Mỹ phủi trách nhiệm và đòi đơn phương được đáp ứng ngay chỉ riêng các yêu cầu về người chết và người mất tích của họ??

        Mặc dù công việc không tiến triển , vì lợi ích của họ, Mỹ vẫn phải duy trì các phiên họp của Tổ LHQS bốn bên, duy trì các chuyến liên lạc hàng tuần của Đoàn VNDCCH bằng máy bay C130 ra Hà Nội buộc phía Sài Gòn duy trì các chuyến máy bay lên thẳng hàng tuần bảo đảm việc liên lạc của Đoàn CPMTLT đi Lộc Ninh tuy phía này thường gây không ít trục trặc.

        Đôi lúc Mỹ cũng tỏ ra làm căng, bỏ phiên họp, đình chỉ một vài chuyến bay đi Hà Nội để gây sức ép, nhưng rồi họ cũng phải khôi phục. Ngày 8-6-1973 trên đường từ Hà Nội trở về Tân Sơn Nhất, một đồng chí ta để cháy tài liệu trên máy bay. Đám cháy được dập tắt nhanh chóng, không gây thiệt hại gì, nhưng khi đến sân bay phía Mỹ làm khó dễ, đòi khám xét hành lý, phía VNDCCH kiên quyết phản đôi nên toàn bộ người và hành lý của ta bị họ giữ lại trên máy bay đến ngày 11/6 mới chịu để cho trở về Trại Davis. Sau đó họ đình các chuyến bay, đòi phía VNDCCH phải ký cam kết đảm bảo an toàn từng chuyến bay, không mang chất nổ, thừa nhận quyền của trưởng đoàn lái không cho đưa lên máy bay những hàng mà họ cho là không đảm bảo an toàn. Đoàn VNDCCH bác bỏ. Trong lúc nghỉ giải lao giữa một phiên họp và nói chuyện riêng, các đồng chí ta bảo với người Mỹ cần có cách giải quyết thiết thực, đừng vì việc nhỏ này mà làm cho các quan hệ xấu đi, gây trở ngại cho Tổ LHQS bốn bên. Cuối cùng họ gửi làm phép cho Đoàn đại biểu VNDCCH một công văn với nội dung hướng dẫn an toàn cho khách đi trên máy bay, yêu cầu ta phổ biến cho những người đi và thông báo bằng văn bản cho họ là ta đã nhận bảng hướng dẫn. Phía VNDCCH đồng ý và chuyến bay liên lạc hàng tuần ra Hà Nội (Bị cắt từ 15/6/1973) ngày 3/8/1973 đã được khôi phục.

        Để tìm lối gỡ ra khỏi bế tắc, trong phiên họp ngày 16/10/1973 phía Mỹ đề nghị phân công thảo luận: Các trưởng đoàn trao đổi về danh sách người chết và  mất tích, phó trưởng đoàn bàn về thủ tục. Đề nghị này cũng bị ta bác bỏ. Trong khi nói chuyện riêng trong giờ nghỉ, phía Mỹ thăm dò thái độ của ta, họ hỏi nếu phía Sài Gòn tiếp tục thực hiện kế hoạch trao trả bị bỏ dở thì Mỹ sẽ được gì (ý nói kế hoạch trao trả đã được thỏa thuận tại BLHQS) 2 bên trung ương ngày 17/7/1973, nhưng chỉ mới thực hiện được hai ngày 23 và 24/7 thì phía Sài Gòn đơn phương đình chỉ). Các đồng chí VNDCCH nói thẳng là Mỹ phải có trách nhiệm với việc thi hành mọi điều khoản của Hiệp định, phải thấy mối liên quan giữa Điều 8b (Người chết và người mất tích) và Điều 8c (trao trả NVDS). Mỹ phải làm áp lực buộc phía Sài Gòn trao trả cho phía CPCMLT hết số người họ đã thông báo (5081 người). VNDCCH đang cho tập hợp để có thể cho phía Mỹ nhận 23 bộ hài cốt phi công Mỹ chết ở Miền Bắc. Sau đó đến đầu tháng 2/1974. BLHQS 2 bên trung ương thỏa thuận và thực hiện được đợt trao trả từ 8/2 đến 7/3/1974. Trong 2 ngày 6 và 13/3/1974 Mỹ nhận 23 bộ hài cốt tại sân bay Gia Lâm.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Ba, 2012, 02:25:44 pm
        Dưới sự chỉ đạo thống nhất của Quân ủy trung ương và Tổng cục chính trị, sự phối hợp giữa Đoàn đại biểu CPCMLT và VNDCCH với nhau trong đó Tổ LHQS bốn bên cũng như với Đoàn đại biểu CPCMLT tại BLHQS hai bên trung ương luôn luôn chặt chẽ trong mọi mặt họat động tại các cơ quan LHQS cũng như với UBQT và giới báo chí. Ngày 10-5-1974, Đoàn đại biểu CPCMLT tại BLHQS hai bên trung ương tuyên bố đình chỉ họp cho đến khi đối phương chấm dứt các hành động phá hoại đối với cơ quan LHQS. Ngày 30-5-1974, hai Đoàn ta tại Tổ LHQS bốn bên cũng tuyên bố đình chỉ họp không thời hạn, sau đó cả hai cơ quan LHQS đã nối lại các cuộc họp vào 11-6 và 13-6-1974.

        Ngày 8-10-1974, CPCMLT ra tuyên bố về tình hình Miền Nam Việt Nam , đình chỉ hẳn mọi cuộc họp của BLHQS hai bên và rút khỏi diễn đàn La Celle Saint Cloud ở Pháp. Ngày 11-10-1974, Chính phủ VNDCCH cũng ra tuyên bố tương tự và Tổ LHQS bốn bên cũng chấm dứt các cuộc họp.

        Tuy vậy, Đoàn Mỹ vẫn giữ liên lạc điện thoại thường xuyên với hai Đoàn ta, nhất là với đoàn VNDCCH để tìm hiểu ý đồ của ta, và vẫn duy trì cho ta chuyến bay liên lạc hàng tuần ra Hà Nội. Chỉ từ tháng 4-1975 trở đi, sau khi ta giải phóng đến Nha Trang, Đà Lạt, tình hình đối phương ở Miền Nam trở nên nguy cấp, Mỹ mới không cung cấp chuyến bay liên lạc nữa, nhưng cũng chỉ viện lý do kỹ thuật. Ta cũng tận dụng đường liên lạc điện thoại để duy trì sự tiếp xúc với Mỹ, theo dõi thái độ của họ trước diễn biến tình hình chiến sự.

        Trong sứ quán Mỹ có một cán bộ cấp cao có quyền lực gốc Hung-ga-ri, Y thường tranh thủ quan hệ với Đoàn Hung-ga-ri trong UBQT và qua những lần tiếp xúc đó tìm cách tìm hiểu thăm dò ta cũng như khi cần thì bắn tin cho ta.

        Vào đầu năm 1975, Y ngỏ ý là Mỹ chỉ can thiệp bằng không quân nếu chế độ Thiệu có nguy cơ sụp đổ, ví dụ nếu ta chiếm Biên Hòa xong tiếp tục tấn công Sài Gòn thì Mỹ sẽ can thiệp. Nhưng sau đó phương án này cũng không được cấp cao Mỹ chấp nhận.

        Ngày 19/4 Y lại ngỏ ý: Mặc dù lực lượng Cộng sản đến gần Sài Gòn, sự can thiệp bằng quân sự của Mỹ bị loại trừ. Nếu các điều kiện của CPCMLT không được thỏa mãn, rất có thể họ sẽ tấn công vào Sài Gòn. Tình hình xấu đi từng giờ một. Có mấy biện pháp:

        a.Thiệu ra đi gấp, lập một chính phủ mới.

        b.Giảm sự có mặt của Mỹ xuống còn một đại sứ quán (Mỹ muốn thăm dò xem nếu họ rút toàn bộ cơ quan tùy viên quân sự DAO thì ta có chấp nhận để sứ quán Mỹ tồn tại không?)

        Cũng trong ngày 19/4/1975 sứ quán Mỹ ở Sài Gòn thông qua Đoàn Hung-ga-ri trong UBQT bắn tin với Đoàn đại biểu CPCMLT ở Tân Sơn Nhất muốn bắt liên lạc để tìm giải pháp qua thương lượng. Ta không trả lời.

        Ngày 23/4 đồng chí Nguyễn Đôn Tự, trưởng đoàn Đại biểu VNDCCH báo cho Mỹ là cần ra Hà Nội và trở lại trong ngày 25.4.1975 (Lúc này Mỹ đã đình chỉ các chuyên bay liên lạc thường kỳ). Mỹ chấp nhận ngay. Kế hoạch máy bay cất cánh là 7giờ30 phút, thì lúc 7giờ Phan Hòa Hiệp (Chuẩn tướng nguyên trưởng Đoàn Sài Gòn trong BLHSQ hai bên trung ương, lúc đó là bộ trưởng thông tin của Trần Văn Hương vừa thay Thiệu) gọi điện thoại đề nghị được đi cùng trưởng đoàn VNDCCH ra Hà Nội theo chỉ thị của Trần Văn Hương để tìm hiểu ý định của Chính phủ Hà Nội và gợi ý nếu được đi thì mời thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn cùng đi. Ta không chấp nhận. Chuyến bay bị chậm lại đến 10h mới cất cánh.

        Hiệp lại đề nghị đồng chí Trưởng đoàn A của ta xin cho ông ta ra Hà Nội ngày 26/4/1975 và nếu được sự đồng ý thì sẽ tổ chức một chuyến bay đặc biệt khác.

        Chiếc máy bay C130 ngày 25/4 lượn trôn ốc mấy vòng trên bầu trời Tân Sơn Nhất chứ không bay thẳng ngay ra hướng Vũng Tàu như mọi lần. Mỹ giải thích là lực lượng của ta đã đến gần Sài Gòn, có cả tên lửa phòng không SAM-3, nếu bay dưới 4500m có thể bị bắn nên phải lấy độ cao ngay ở khu vực Sài Gòn rồi mới bay ra hướng Vũng Tàu để ra Miền Bắc.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Ba, 2012, 02:30:37 pm
        Trên máy bay, viên trung tá sĩ quan liên lạc Mỹ (Nguyên giáo viên chiến lược  tại học viện quân sự Mỹ) đến gặp đồng chí Nguyễn Đôn Tự nói đại ý: “Mỹ chịu thua các ông rồi. Mong các ông đừng làm nhục Mỹ. Được thế chuyến bay này coi như thành công”. Một lúc sau Y lại nói: “Mỹ đưa lính thủy đánh bộ đến Vũng Tàu để bảo vệ việc di tản, không phải để tấn công các ông, mong các ông đừng đánh”.

        Đến Gia Lâm, ngoài công việc làm theo kế hoạch, đồng chí Nguyễn Đôn Tự được Đại tướng Võ Nguyên Giáp và trung tướng Lê Quang Đạo (Phó chủ nhiệm Tổng cục chiónh trị, người trực tiếp chỉ đạo hai Đoàn tại Tân Sơn Nhất) dặn dò qua điện thoại và nhắn lời động viên chung hai đoàn.

        Đáng lẽ máy bay cất cánh trở về lúc 17h, nhưng đoàn lái Mỹ đề nghị được ở lại thêm một tiếng để mua vật kỷ niệm vì “ Có lẽ đây là chuyến bay liên lạc cuối cùng”

        Máy bay trở lại Tân Sơn Nhất vào khoảng 21h30phút, đỗ ở rìa đường băng vì chỗ đỗ trước kia nay dành cho lọai máy bay chiến đấu F5E. Một lúc sau một sĩ quan quân cảnh ra xin lỗi vì đến đón chậm do trục trặc thông tin. Đây là lần đầu tiên họ xin lỗi ta.

        Tối hôm đó 25/4 có buổi chiêu đãi của đại sứ quán Ba Lan trong UBQT tại nhà riêng ở phố Lý Thái Tổ. Đại sứ Mỹ Martin được chỉ thị của Kissinger phải gặp đại diện của CPCMLT ở Sài Gòn nên Martin trù tính sẽ gặp thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn tại buổi chiêu đãi này và chỉ thị cho Sài Gòn dễ dàng để cho Đoàn ta đi dự tiệc. Nhưng từ sau khi ta giải phóng Tây Nguyên, đối phương thường ngăn cản Đoàn ta đi vào thành phố Sài Gòn, mặt khác thấy không được đảm bảo an toàn nên ta báo bạn Balan là ta không đến dự được. Martin không thực hiện được ý định.

        Sáng 26/4, Phan Hòa Hiệp gọi điện thọai hỏi về quyết định của Hà Nội đối với đề nghị của ông ta. Ta trả lời theo đúng chỉ thị của trên:

        -  Quan điểm của chính phủ VNDCCH đã được tuyên bố rõ ràng.

        -  Không có vấn đề gì cần bàn giữa Chính phủ VNDCCH và chính quyền Sài Gòn!

        Hiệp lấy làm tiếc vì sự từ chối của ta và hẹn thứ sáu ngày 2/5 tới lại xin ra Hà Nội bằng máy bay liên lạc thường lệ và đề nghị trưởng đoàn VNDCCH cùng đi.
 
        Chiều 28/4/1975 sau khi một tốp máy bay A 37 của ta (Vừa lấy được của địch tại Phan Rang) ném bom Tân Sơn Nhất, trưởng đoàn Mỹ gọi điện hỏi xem ta có an toàn không và có cần gì thì Mỹ sẵn sàng giúp đỡ. Nói vậy thôi chứ từ lúc này trở đi, từ sân bay Tân Sơn Nhất đến sứ quán Mỹ đều rối tung cả lên rồi.

        Khoảng hơn 4h sáng ngày 29/4/1975, sau khi pháo và tên lửa của ta bắt đầu bắn dồn dập vào Tân Sơn Nhất, trưởng đoàn Mỹ còn gọi điện thoại lần cuối cùng cho trưởng đoàn A của ta nhân danh trưởng đoàn đại biểu quân sự Hoa Kỳ phản đối Đoàn đại biểu quân sự VNDCCH không bảo đảm an toàn cho Đoàn Mỹ(!). sau đó đứt liên lạc luôn.

        Tổ LHQS bốn bên đối với nhiệm vụ của bản thân nó (Thực ra thì nhiệm vụ này cũng chẳng có gì nhiều) không làm được gì mấy ngoài việc phía ta giải quyết cho Mỹ được nhận một đợt hài cốt ở Gia Lâm trong tháng 3/1974, nhưng nó có vai trò rất quan trọng, có thể nói không thể thiếu trong cuộc đấu tranh giữa các bên tại Tân Sơn Nhất sau khi BLHQS bốn bên chấm dứt họat động. Trong hơn một năm rưỡi từ khi thành lập, hầu hết các cuộc họp của nó đều là những cuộc tranh cãi vô bổ (Thực ra cũng chẳng có gì mấy để mà bàn), nhưng Mỹ vẫn kiên trì duy trì nó cho đến phút cuối cùng đến cả sau khi quân ta bắt đầu nổ súng tấn công Tân Sơn Nhất, mặc dù trong 5 tháng về sau không còn họp hành liên hợp nữa, vì Mỹ rất cần giữ cầu liên lạc trực tiếp với phía ta, nhất là với phía VNDCCH, không phải riêng vì vấn đề người chết và mất tích mà còn vì các mặt khác nữa liên quan đến diễn biến tình hình ở Miền Nam.

        Còn đối với ta, một mặt nó bảo đảm sự tiếp tục có mặt của đại diện Chính phủ VNDCCH tại Tân Sơn Nhất, tạo điều kiện cho ta giữ mối liên lạc trực tiếp giữa đoàn đại biểu CPCMLT với Hà Nội, mặt khác và là điều hết sức quan trọng, nó là cái bàn đế vững vàng giữ cho sự tồn tại và họat động của BLHQS 2 bên Trung Ương và sau khi ta quyết định đình chỉ các cuộc họp và họat động liên hợp nó vẫn đảm bảo cho các đoàn đại biểu của ta đứng vững ở vị trí của mình và tiếp tục đấu tranh cho đến ngày cuối cùng thắng lợi.

        Ý nghĩa lớn về vai trò và tác dụng của Tổ LHQS bốn bên chính là ở chỗ đó.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Ba, 2012, 03:31:53 pm

LIÊN HỢP QUÂN SỰ
VÀ VIỆC THÁO GỠ MÌN Ở MIỀN BẮC

Huỳnh Văn Trình - Nguyễn Văn Cẩn                
       
        Sẽ là không đầy đủ khi nói về Liên hợp quân sự 4 bên vật 2 bên trong thi hành Hiệp định Paris mà không đề cập đến một mặt công tác liên hợp quan trọng: "tháo gỡ, làm mất hiệu lực vĩnh viễn, phá hủy mìn ở vùng biển, các cảng, sông ngòi VNDCCH", theo Nghị định thư của Hiệp định. Thi hành Hiệp định là một tổng thể liên quan mật thiết và ràng buộc lẫn nhau.

        Nghị định thư đã quy định: Hoa kỳ sẽ quét sạch tất cả mìn mà Hoa Kỳ đã thả xuống vùng biển, các cảng, sông ngòi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ tham gia tích cực với hết khả năng của mình vào việc quét sạch mìn cùng với sự cung cấp của Hoa Kỳ về phương tiện để xác định vị trí, phương tiện cứu vớt, phá hủy mìn và sự hướng dẫn kỹ thuật. Thời gian bắt đầu vào 24 giờ (GMT) ngày 27/1/1973. Đại diện 2 bên gặp nhau ngay để thỏa thuận chương trình, kế hoạch thực hiện, thời gian phấn đấu hoàn thành sớm nhất việc quét sạch mìn.

        Ngày 29/1/1973, đoàn đại biểu quân sự chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (đoàn A) do Thiếu tướng Lê Quang Hòa làm trưởng đoàn rời Hà Nội vào Sài Gòn bằng 2 máy bay C130 của Mỹ. Ngày 02/02/1973, Đoàn đại biểu quân sự chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, do Trung tướng Trần Văn Trà làm trưởng đoàn (Đoàn B) rời Lộc Ninh ra Sài Gòn bằng máy bay trực thăng của Mỹ. Ngay chiều 02/02/1973 chính thức khai mạc phiên họp đầu tiên các trưởng đoàn Liên hợp quân sự 4 bên Trung ương gồm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ và Việt nam Cộng hòa.

        Sau mấy ngày các đoàn A, B ổn định vị trí ăn ở tại trại Đavis, triển khai hoạt động hết sức khẩn trương; ngày 05/02/1973, Mỹ thực hiện chuyến bay liên lạc đầu tiên hàng tuần của Đoàn A ra Hà Nội bằng máy bay C130. Tôi, Trung tá Huỳnh Văn Trình, ủy viên đoàn A được cử mở đầu chuyến bay này với 2 nhiệm vụ. Một là ra báo cáo với lãnh đạo Quân ủy Trung ương và Bộ Ngoại giao tình hình về các mặt từ khi 2 đoàn A, B tiến hành cuộc hành quân thần tốc đặc biệt tiến về Sài Gòn. Hai là đưa đô đốc Canley ra Hà Nội thực hiện trách nhiệm việc tháo gỡ, phá hủy mìn ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cùng đi với tôi, có Thiếu tá Nguyễn Ngọc Tiên, phụ trách bộ phận bảo vệ đoàn A.

        Trên sân bay Tân Sơn Nhất, sáng 05/02/1973, lần đầu tiên tôi và đô đốc Canley gặp nhau, làm quen và cùng lên máy bay trước con mắt nể trọng, bàng hoàng của nhiều sỹ quan Mỹ - ngụy có mặt. Trong chuyến bay dài 3 giờ, 2 bên trao đổi về thi hành Hiệp định, đặc biệt ta tranh thủ giới thiệu về miền Bắc và Hà Nội. Để biểu thị sự tôn trọng và thiện trí đối với khách - từng là kẻ thù trong chiến tranh đô đốc Can ley mời chúng tôi vào ca-bin buồng lái của phi công để quan sát và theo dõi suốt cuộc hành trình. Mười một giờ ngày 05/02/1973, máy bay hạ cánh xuống sân bay Gia Lâm trong một buổi sáng đầu xuân tươi đẹp. Do chỉ ở lại Hà nội trong 3 tiếng đồng hồ nên không ai được vào nội thành; các đồng chí Lê Quang Đạo, Hà Văn Lâu, Kinh Chi, Trần Thông sang tận sân bay.để đón chúng tôi, trực tiếp nghe và nhận các báo cáo đầu tiên, kể cả bản đồ, sơ đồ về tình hình chung ở Sài Gòn và hoạt động liên hợp quân sự 4 bên Trung ương. Tại sân bay, tôi đã giới thiệu lại đô đốc Canley cho đại diện đoàn đại biểu Hải quân Việt Nam là Trung tá Phạm Lâm để đón tiếp, mở màn cho hoạt động liên hợp tháo gỡ mìn.

        Thật là điều vinh dự đối với tôi được sống trong một ngày đáng ghi nhớ với hai sự kiện về hoạt động liên hợp quân sự, người đầu tiên trở ra Hà Nội, khai trương chuyến bay liên lạc hàng tuần, rút ngắn khoảng cách không gian, thời gian liên lạc giữa hai miền Nam - Bắc; đưa đô đốc Mỹ ra miền Bắc thực hiện nhiệm vụ tháo gỡ mìn - đánh dấu một thất bại nhục nhã của Mỹ, đền tội cho tội ác mà chúng đã gây ra.

        Đàm phán giữa hai Đoàn đai biểu Hải Quân Viết Nam và Mỹ. Các cuộc trình diễn, thực hành thực địa của Mỹ đều thất bại:

        Đàm phán hai bên được tiến hành với phía Việt Nam do Phó Tư lệnh Hải quân Hoàng Hữu Thái làm trưởng đoàn; phía Mỹ do đô đốc Canley. Địa điểm họp Ở khách sạn Duyên Hải, Hải Phòng và trên tàu Hải quân Mỹ neo đậu ngoài Vịnh Bắc Bộ.

        Phía Mỹ giới thiệu một số phương tiện và phương pháp rà phá thủy lôi, tiến hành cuộc trình diễn thực tế đầu tiên tại một điểm ngã ba sông Tam Bạc với các phương tiện mẫu gồm: một ca nô điều khiển từ xa, 3 ống thép mà Mỹ cho biết là thanh nam châm dài 6m, đường kính 0,30m, sơn màu da cam. Trình diễn đội hình triển khai: ca nô đi trước khoảng 20m, kéo theo các ống thép nối thành hàng dọc, mỗi ống cách nhau 5m đến 10m. Khi ca nô di chuyển độ 20 m kéo theo các ống thép đi được một đoạn ngắn, thì ca nô đứng yên, không tài nào chuyển động được nữa. Các vị sĩ quan Hải quân Mỹ cố gắng sửa chữa rất lâu, quát tháo ầm ĩ, mãi gần 12 giờ trưa vẫn không xoay chuyển được, đành kết thúc buổi trình diễn! Ra về, cán bộ, chiến sỹ hải quân ta nói vui: Bọn Mỹ làm một việc kẻo cày trả nợ mà cũng không xong; đây chỉ mới làm thử trên sông, môi trường yên tĩnh mà không kết quả thì ra thực tế ngoài biển còn rất nhiều phức tạp, khó khăn, làm sao mà rà phá được bom mìn !

        Về sau, Mỹ thực hành, thực tế tại hiện trường ở cửa Nam Triệu và một điểm ở Quân khu 4, bằng cách dùng máy bay trực thăng kẻo một cuộn dây điện có từ trường chạy trên mặt nước để rà phá thủy lôi. Việc này có làm nổ được vài quả thủy lôi nhưng lại làm hỏng một chiếc trực thăng!

        Sau đó, dừng lại toàn bộ công việc và những dụng cụ cũ thu hồi luôn. Tóm lại, phía Hoa Kỳ chẳng làm được gì nhiều trong thực hiện trách nhiệm của mình theo quy định của nghị định thư. Thật tức cười, một đất nước có trình độ khoa học tiên tiến, sản xuất ra vũ khí hiện đại hàng đầu thế giới như vậy, nhưng khi đưa trang bị đi rà phá chính những bom từ trường, thủy lôi hẹn giờ do mình sản xuất thì không kích nổ được và trở thành vô hiệu quả. Phải chăng đây là vấn đề kỹ thuật hay âm mưu?

        Hải quân ta hơn Mỹ trong rà phá bom mìn

        Ai cũng biết, trong chiến tranh phá hoại của Mỹ, Hải quân nhân dân Việt Nam đã làm nòng cốt đánh bại chiến dịch phong tỏa bằng bom từ trường, thủy lôi trên sông, biển miền Bắc.

        Sau Hiệp định Paris, phát huy truyền thống đó, quân dân ta chủ động, sáng tạo với các trang bị kỹ thuật thô sơ, đã biết vô hiệu hóa, tháo gỡ, rà phá hàng ngàn thủy lôi, bom mìn của Mỹ thả xuống các cửa sông, cửa biển. Riêng lực lượng Hải quân ở các vùng, căn cứ, trong đó nòng cốt là Đội 8 công binh, Đoàn 171 Hải quân anh hùng, đã tháo gỡ, phá nổ hơn 2000 quả các loại, đảm bảo giao thông đường biển thông suốt, an toàn từ cuối tháng 6-1973.

        Cuộc đấu tranh giữa ta và Mỹ trong thực hiện Nghị định thư tháo gỡ, rà phá bom mìn của địch thả trên các vùng biển, cửa sông miền Bắc một lần nữa cho thấy Hải quân ta đã có tiến bộ quan trọng với trình độ khoa học kỹ thuật, có ý nghĩa to lớn về chính trị, quân sự, kỹ thuật, góp phần cùng quân dân miền Bắc đánh bại chiến tranh phong tỏa và phá hoại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của Mỹ.
        
        


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Ba, 2012, 04:11:20 pm
GIỜ PHÚT ĐÁNG GHI NHỚ
TRÊN SÂN BAY TÂN SƠN NHẤT

Phạm Hồng                
       
        Vào những ngày giáp Tết, Sài Gòn vẫn rất nóng - 34,35 độ vào lúc giữa trưa. Song còn nóng hổi hơn nhiều, làm sôi sục cả thành phố này, là tin Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã đáp máy bay đến sân bay Tân Sơn Nhất.

        Trên nhiều tờ báo Sài Gòn, chạy dài tít lớn: "Sau phần tư thế kỷ chờ mong, đây những phút nôn nao bước vô ngừng bắn"...

        "Tiếng súng không dập tắt được niềm hân hoan".

        Dọc đường từ sân bay về chỗ ở của hai đoàn (nguyên là một khu nhà của không quân Mỹ mang tên trại Đa-vít, cách sân bay 1 ki-lô-mét, trông ra đường Lê Văn Lộc), quân cảnh Sài Gòn đứng dày đặc hai bên, vẫn không che được những bàn tay kín đáo vẫy chào và những ánh mắt vui mừng của người dân Sài Gòn hướng về hai đoàn đại biểu. Bà con Sài Gòn trước đây đã nhìn thấy hình dáng anh chiến sĩ cách mạng trong cuộc tập kích chiến lược thần kỳ Mậu - Thân, giờ đây những chiến sĩ yêu quý đó lại hiện ra với tư cách Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, gọn ghẽ trong những bộ quân phục màu xanh; quân hiệu sao vàng trên nền nửa xanh, nửa đỏ lấp lánh. Các đồng chí trong Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa nghiêm trang trong bộ quân phục mùa đông.

        Đúng 17 giờ ngày 1-2- 1973, một đoàn 7 chiếc máy bay lên thẳng của Mỹ lượn vòng trên sân bay Tân Sơn Nhất. Đây là đoàn máy bay lên thẳng đã bay lên vùng giải phóng Lộc Ninh (Bình Long) đón Trung tướng Trần Văn Trà, Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cùng một số đoàn viên, về Sài Gòn dự cuộc họp 4 bên.

        Một đoàn xe ra sân bay Tân Sơn Nhất đưa đoàn về nơi ở gần Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ việt Nam dân chủ cộng hòa.

        Tất cả các sĩ quan Quân đội nhân dân, quân phục chỉnh tề, xếp thành hai hàng đứng đón. Khi xe vừa vào tới cổng, Thiếu tướng Lê Quang Hòa, Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, đã tiến ra sát cổng chào đón.

        Hai vị tướng ôm nhau thắm thiết. Xúc động, phấn khởi, tự hào. Tiếng vỗ tay ran lên. Sự xúc động lớn đã phá vỡ cả hàng ngũ của những người chờ đợi. Đoàn đại biểu Quân giải phóng trên các xe tràn xuống; các đồng chí Quân đội nhân dân bước vội lên, ôm chặt lấy nhau, quấn quýt bên nhau, tay bắt mặt mừng. Các máy quay phim, máy chụp ảnh reo lên tí tách ghi lại hình ảnh hai vị tướng đứng bên nhau thắm thiết dưới lá cờ sao vàng trên nền nửa đỏ, nửa xanh và chân dung Hồ Chủ tịch. Một sĩ quan Mỹ đứng nhìn, để rơi cả điếu thuốc đang cầm tay. Một chị lái xe cho đoàn, người Sài Gòn, nhô người ra ngoài cửa xe ngoái đầu lại nhìn, xúc động. Viên sĩ quan Mỹ tới nhắc, chị mới khẽ ấn chân ga cho xe từ từ lăn bánh ra cổng. Một anh lái xe nói:

        -  Hôm rày, biết tôi đi lái xe cho đoàn, bà con lối xóm cứ bám hỏi: bà con nhờ tôi hỏi thăm mấy anh, chúc mạnh giỏi.

        Bên kia đường cái, mấy em bé Sài Gòn thả mấy con diều giấy mầu xanh đỏ ngày Tết, cho bay qua trên khu vực hai đoàn gặp nhau. Ngoài cổng, khách qua đường dồn lại ngày một đông. Các đội quân cảnh luôn miệng thổi còi inh ỏi, nhưng bà con vẫn cứ nán lại nhìn vào....



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Ba, 2012, 04:17:30 pm

NGÀY ĐẦU TIÊN SAU HIỆP ĐỊNH PARI CÓ HIỆU LỰC

Nguyễn Văn Thuật (Nguyên TMT tiểu đoàn 81 đặc công – biệt động Sài Gòn- Gia định năm 1975)Thanh Tùng ghi                
       
        Đầu năm 1973, khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, tôi mới 25 tuổi, là trung đội trưởng thuộc đoàn K16 Đặc công Biệt động Sài Gòn chiến đấu tại vùng bưng 6 xã Thủ Đức (nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh). Trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đây là vùng sát nách Sài Gòn nên địch thường xuyên duy trì một lực lượng lớn quân với đủ các sắc lính, thường xuyên tổ chức càn quét chống phá cách mạng.

        Trước khi ký Hiệp định Pa-ri , mỗi cán bộ chiến sỹ đặc công biệt động chúng tôi đều đã được phát cho một cuốn sổ nhỏ cỡ 10x12 cm đăng toàn bộ nội dung Hiệp định và tổ chức học thuộc lòng. Vì vậy khi Hiệp định được ký và có hiệu lực, chúng tôi đã nắm rất chắc nội dung. Tuy nhiên, với bản chất ngoan cố, xảo quyệt, ngụy quyền Sài Gòn âm mưu lợi  dụng thiện chí của ta để lấn đất giành dân, xóa thế “da báo”. Vì thế , ngay ngày đầu tiên Hiệp định có hiệu lực, địch đã vi phạm.

        Mờ sáng hôm ấy, trung đội do tôi làm trung đội trưởng và đồng chí Nguyễn Tất Thắng, chính trị viên trung đội, được lệnh chốt giữ đoạn đường qua ấp Tam An xã Long  Trường. Tiếng là một trung đội nhưng chỉ có 7 người, trang bị chỉ có súng AK, 2 khẩu B41. Chúng tôi cắm hai đầu đường hai lá cờ giải phóng, đồng thời đặt 2 quả mìn ĐH hướng ra hai phía ngoài. Toàn bộ trung đội triển khai phục kích địch ở bên phía phải đường từ đồn Ông Nhiêu sang Long Trường. Nhà chị Tám Cờ, một cơ sở cách mạng của chúng tôi. nằm khá gần đường trở thành “hậu cứ” của trung đội. Trung đội làm xong công tác chuẩn bị thì trời mờ sáng. Khỏang 4 giờ, có một chiếc xe Jeep từ hướng đồn Ông Nhiêu tiến tới, trên xe có khoảng 5,6 tên, phía sau còn có một tốp lính khoảng 10 tên chạy bộ theo. Khi đến cách lá cờ của ta khoảng 30m  chúng bắn 1 băng AR15 và lớn tiếng hỏi:

        -  Cờ có chủ hay không?

        Từ vị trí phục kích, đồng chí Thắng bắn một loạt AK và trả lời:

        -  Cờ có chủ

        Tôi tiếp lời:

        -  Hiệp định Pa-ri đã có hiệu lực, quân đội hai bên ở đâu, ở nguyên vị trí của mình, cấm hành quân lấn chiếm. Yêu cầu sỹ quan, binh lính quân đội Sài Gòn trở về vị trí của mình.

        Bọn địch lừng khừng rồi đành quay xe trở về cầu Ông Nhiêu. Sau này, tôi mới biết, từ đêm qua, một bộ phận quân địch ở đồn Ông Nhiêu đã triển khai quân chiếm giữ ấp Long Trường và khi chúng tôi căm cờ ấp Tam An, chúng bị kẹt lại ở đó không chi viện cho nhau được và cũng không rút về đồn được. Tốp lính này có ý định thăm dò phía ta và chi viện cho đồng bọn ở Long Trường.

        Khoảng 1 giờ sau, bọn địch ở hướng Long Trường (có lẽ khoảng trên 50 tên) được sự chi viện của ba chiếc trực thăng hùng hổ định kéo về khu vực của ta chiếm giữ. Khi chúng vào gần lá cờ của ta tôi hô to:

        -  Hỡi binh lính quân đội Sài Gòn, Hiệp định Pa-ri đã có hiệu lực yêu cầu các ông về vị trí của mình”

        Đồng thời tôi dõng dạc ra lệnh:

        -  Các đơn vị vào vị trí sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vùng giải phóng!

        Tôi vừa dứt lời đồng chí Thắng bắn chỉ thiên 1 tràmg AK. Do không phán đoán được lực lượng của ta có bao nhiêu “đơn vị” nên địch cũng ngán. Bọn địch bắn mấy quả M79 cùng mấy tràng AR15 vào hướng chúng tôi rồi rút quân.
      


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Ba, 2012, 04:22:29 pm
        Biết còn phải giằng co với địch lâu chúng tôi thay nhau vừa trực sẵn sàng chiến đấu, vừa vào nhà chị Tám Cờ tranh thủ ăn cơm trước do chị phục vụ.

        Đến gần trưa cỡ khoảng 9 giờ có một tên thượng sỹ vác 1 khẩu AR15 đi từ hướng Long Trường vào, đồng chí Thắng ra lệnh cho anh em tiếp tục theo dõi không được bắn. Đợi cho hắn lọt vào giữa đoạn đường tôi bước ra chặn hắn:

        -  Đi đâu? Đứng lại!.

        Hắn vừa cố trấn tĩnh vừa lúng túng trả lời:

        -  Thưa ông, chỉ huy chúng tôi muốn mời chỉ huy các ông sang bên đó để nói chuyện.

        Sau một hồi đắn đo cân nhắc chúng tôi quyết định cử người ra gặp và tôi xung phong đi, đồng chí Thắng sẽ thay tôi chỉ huy anh em chiến đấu đến cùng, nếu địch giở trò. Sau đó tôi xuống con rạch sau nhà chị Tám gột rửa quần áo cho sạch sẽ, chải tóc gọn gàng vì tôi nghĩ đi vào chỗ địch là đi vào “miệng hùm hang sói” để đấu tranh với chúng phải đàng hoàng chững trạc, nếu có chết thì phải chết thật hiên ngang trước quân thù. Căn dặn anh em cách xử trí mọi tình huống xong, giắt khẩu K54 vào thắt lưng , tôi bước lên đường.
   
        Khi tôi đến điểm hẹn bọn địch chĩa súng vào, tôi bước xuống bảo chúng:

        - Tôi đã vào tận đây tức là không hề sợ chết, các anh có cần chĩa súng vào người tôi như vậy nữa sao?

        Chừng như thấy tôi không có gì nguy hiểm, chúng hạ súng xuống. Tôi tranh thủ làm công tác địch vận và tới gặp tên chỉ huy.
   
        Tôi nhận ra ngay chính là đại úy Tư Am, đồn trưởng đồn Ông Nhiêu. Năm đó hắn cỡ khoảng 35 tuổi. Đối với cánh lính đặc công K16 chúng tôi đã nhiều lần chạm mặt hắn nhưng bây giờ mới nói chuyện với hắn. Tôi hỏi:
   
        - Ông mời tôi sang đây có việc gì?
   
        - Tôi yêu cầu ông rút quân lên rừng, nếu không tụi tôi sẽ tiêu diệt.

        Cũng có thể lúc đó hắn cho rằng chúng tôi chỉ biết đánh đấm chứ không biết gì nhiều về tình hình chính trị, nhất là về Hiệp định Pa-ri, nên nói vậy để thăm dò vừa hù dọa chúng tôi.
   
        - Ông nhầm rôi – Tôi đáp – Hiệp định Pa-ri đã ghi rõ: Quân đội hai bên giữ nguyên vị trí của mình không được hành quân lấn chiếm lẫn nhau. ấp Tam An là vùng giải phóng thuộc quyền kiểm soát của chính quyền cách mạng. Chúng tôi yêu cầucác ông nghiêm túc chấp hành Hiệp định. Chúng tôi luôn tỏ rõ sự thiện chí thi hành Hiệp định nhưng nếu các ông vi phạm thì các ông phải chịu mọi hậu quả do các ông gây ra.

        Cứ thế tôi và hắn vừa đi đi, lại lại quanh chiếc bàn gỗ đặt giữa nhà, vừa đấu lý lẫn nhau. Đấu lại với những lý luận sặc mùi tâm lý chiến và thái độ ngỗ ngược của hắn là những hiểu biết chính trị, quan điểm lập trường của Đảng ta và nội dung cụ thể của Hiệp định Pa-ri. Tôi tranh thủ tuyên truyền đến tụi lính đứng nghe xung quanh. Sau gần hai tiếng đồng hồ căng thẳng như vậy, biết chẳng thể lay chuyển được tôi, trong khi bọn lính than thở với nhau : đói , mệt, cuối cùng hắn xuống nước, lật bài ngửa: đề nghị tôi cho phép dẫn quân qua ấp Tam An.
   
        - Tôi sẵn sàng cho phép quân của ông đi qua ấp Tam An với điều kiện ông phải tập hợp thành hai hàng dọc vác súng lên vai, đi dưới sự kiểm soát của tôi – Tôi đáp và không quên dặn hắn: Quân của ông chỉ được phép nhìn thẳng, cấm ngó nghiêng.
   
        Ngay sau đó, tên Am tập hợp toàn bộ quân của hắn lên mặt đường, tôi đếm tất cả có 83 tên.
   
        Sau đó chúng tôi tiếp quản luôn đoạn đường chạy qua ấp Long Trường và bám trụ đến tối thì được lệnh rút quân. Ngày đầu tiên sau Hiệp định Pa-ri ở cụm chiến đấu chúng tôi không diễn ra những trận đánh ác liệt như các nơi khác nhưng với lực lượng rất nhỏ so với địch, chúng tôi vẫn giữ vững trận địa. Chẳng những thế còn mở rộng được vùng giải phóng, thể hiện lập trường ý chí trước kẻ địch. Với tôi , đó là một ngày đầy căng thẳng. Lần đầu tiên, tôi – một cán bộ quân giải phóng, vào giữa trận địa địch đấu tranh chính trị với chúng trong bao nguy hiểm bất trắc có thể xảy ra và tôi đã hoàn thành nhiệm vụ.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Ba, 2012, 04:38:19 pm

NGÀY TRỞ VỀ

Đại tá Hà Cân                
             
        Khi Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký tắt ngày 23 - 01 - 1973, nhóm cán bộ quân sự chúng tôi được phổ biến là cuộc họp trù bị của Ban liên hợp quân sự (BLHQS) để bàn việc triển khai Hiệp định không họp ở Pari mà sẽ họp tại Sài Gòn. Chúng tôi thu xếp để trưa ngày 27/01/1973 trở về Sài Gòn.

        Mỗi người chúng tôi có hai va ly nên còn rộng chỗ, đoàn ta ở Pari tranh thủ gởi thuốc tây về nước. Đây là các loại thuốc do Việt kiều và các bạn quốc tế quyên góp tặng đoàn. Va ly của tôi đựng một nửa là thuốc.

        Trong lúc hai đoàn ta gồm đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (VNDCCH) và đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam (CPCMLTCHMNVN) chuẩn bị ra phòng họp ở phố Kléber dự lễ ký kết Hiệp định Pari thì chúng tôi chuẩn bị ra sân bay Orly để đáp máy bay về Sài Gòn.

        Ra đến sân bay, gặp đoàn VNDCCH do đồng chí Lưu Văn Lợi dẫn đầu. Đoàn CPCMLTCHMNVN do đồng chí Đặng Văn Thu (Đoàn Huyên) làm trưởng đoàn.

        Cả hai đoàn ta vào một phòng đợi nhỏ, thấy có đồng chí phó đoàn Ba Lan trong Uỷ ban Quốc tế và một trung tá Mỹ (trung tá Adams) là những người sẽ cùng đi với chúng tôi. Trung tá Adams mặc thường phục, demi-saison, áo màu xanh sẫm, quần màu "bê". Chúng tôi đã quen với ga hàng không Gia Lâm của ta luôn vắng teo, giờ đây trước cảnh hoạt động nhộn nhịp của Orly làm chúng tôi rất lạ mắt.

        Đến giờ ra máy bay, mọi người lên tầng trên, đi quanh quéo theo một hành lang có chấn song như kiểu xếp hàng mua bia ở Hà Nội, rồi đến chỗ bàn cảnh sát cửa khẩu trình hộ chiếu. Cảnh sát cửa khẩu là một ông da đen. Cuối cùng lại xuống thang gác, ra sân lên mô tới tàu bay. Cái quy trình này còn thô sơ so với bây giờ, nhưng đối với những anh em chưa quen đi nước ngoài bằng máy bay thì rất lạ lẫm.

        Lên máy bay B.707 của hãng An France, một cô chiêu đãi viên người Nhật mặc ki-mô-nô đứng cúi đầu chào khách bằng tiếng Pháp và tiếng Nhật. Mỗi hàng có sáu ghế nhưng vé không ghi số, tôi chọn ghế ngồi gần cửa sổ để nhìn ra bên ngoài, khách đi chuyến này có nhiều quốc tịch.

        Lúc máy bay sắp cất cánh, cô chiêu đãi viên đã thay đồng phục gọn gàng bằng dạ xanh, đi hướng dẫn khách cài đai an toàn. 11giờ30 cất cánh. Trời hơi nhiều mây nên chỉ nhìn Pari một lát, đến độ cao khoảng 300 mét máy bay đã chui vào mây, loa phát thanh thông báo chặng hạ cánh sắp đến là Nice. Càng bay về phía Nam, trời càng tết dần lên. Miền Nam nước Pháp trời nắng đẹp. Núi non nhiều. Những hồ chứa nước, mương máng dẫn nước trông rất rõ. Chẳng mấy chốc đã thấy Địa Trung Hải xanh rờn. Máy bay lượn ra phía biển rồi hạ cánh xuống đường băng sát mép nước. Cannes, Nice, Monaco ba thành phố liền nhau sát biển. Phía sau lưng là núi. Cảnh thật đẹp. Nước biển trong xanh như nước hồ bơi, tên vùng này là "Côte d'Azur" (bờ biển xanh da trời) thật đúng. Biển xanh, trời cũng trong xanh. Thảo nào lúc chuồn sang Pháp, nhà vua sành ăn chơi Bảo Đại đã tậu nhà ở Cannes.

        Bắt đầu từ đây, bay trên Địa Trung Hải. Đến chiều, hạ cánh xuống Athenes (Hi Lạp). Thành phố trên bờ biển, có nhiều biệt thự. Sân bay không lớn lắm. Từ đây, khách được yêu cầu không rời máy bay vì khu vực này "không tặc" thường hoạt động. Rời Athenes một lúc thì trời bắt đầu tối. Hạ cánh Ở Beyrouth (Li Băng) lúc trời tối lắm rồi, không biết mấy giờ.

        Ban đêm, chẳng có cảm giác gì ngoài cái bụng vẫn bị đáy hơi và buồn ngủ, cho đến khi nghe giọng cô phát thanh báo sắp đến Karasi.

        Chữ "KARASI" bằng đèn nê-ông đỏ trên nóc nhà ga hiện ra. Thế là chúng tôi đã đến Pakistan. Trời bắt đầu nóng.

        Chặng tiếp sau sẽ là Bangkok. Lúc trời sáng, nhìn rõ các cửa sông ở phía Tây của Thái Lan. Sỹ quan liên lạc Mỹ báo là chúng tôi sẽ xuống Bangkok rồi đi máy bay khác về Sài gòn vì chuyến bay này không ghé lại Sài Gòn. Sau này, tôi không kiểm tra được xem có đúng lịch bay của chuyến này không hạ cánh Sài Gòn, nhưng những diễn biến tiếp theo đủ cho thấy đây là sự sắp đặt từ trước. Họ tránh không để mấy ông Việt Cộng xuất hiện ở sân bay dân sự Tân Sơn Nhất ?...

        10 giờ 30 ngày 28/1/1973, đến sân bay Dân Mương (Bangkok). Sân bay trông vừa phải, không to lắm, địa hình bằng phẳng, không có núi xung quanh. Nắng ấm, khô ráo. Nhìn thấy một số máy bay F5 đậu ở sân, trông nhỏ xíu.

        Chúng tôi xuống máy bay, đi vào ga. Hai hàng quân cảnh Thái Lan mặc theo kiểu Mỹ, áo quần màu xanh đen, mũ nhựa Mỹ sơn chữ trắng, chữ Thái nhưng rập khuôn theo kiểu chữ "MP" trắng của quân cảnh Mỹ. Một thiếu tá Mỹ tên là Cobbs và một phiên dịch, hạ sỹ Rousseau ra đón. Một số quan chức Thái Lan và một số phóng viên hãng AP (Mỹ) cũng ra đón.

        Họ mời chúng tôi vào phòng khách nghỉ, uống nước. Quan chức Thái Lan tiếp chuyện hai trưởng đoàn ta, có mấy phóng viên đến phỏng vấn. Cảnh sát Thái Lan đến tận nơi làm thủ tục quá cảnh. Thái độ tử tế. Quân cảnh đứng bên ngoài nhìn chúng tôi và mỉm cười. Đội quân thân Mỹ này tỏ ra không ác cảm với chúng tôi.

        Sỹ quan liên lạc Mỹ báo là có hai chiếc máy bay C47 của không quân Sài Gòn lên đón chúng tôi.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Ba, 2012, 04:52:07 pm
        Mấy sỹ quan không quân nguỵ miền Nam mặt lạnh như tiền, chúng tôi chào hỏi, họ im thin thít. Có lẽ lần đầu xáp mặt với "V.C", họ chưa biết thế nào(?) Người lái chính mạng quân hàm thiếu tá. áo quần bay kiểu Mỹ: áo liền quần màu xanh sẫm xám, đội calô xanh, đeo phù hiệu sư đoàn 5 không quân nguỵ. Chất xong va ly lên hai chiếc C47, máy bay cất cánh lúc 12 giờ. Vừa ngồi máy bay phản lực 850km/giờ, cách âm, cách nhiệt, ghế nệm giờ chuyển sang ngồi C47 trên dãy bục bằng duya-ra dọc theo thân máy bay cà là khổ, động cơ rung ầm ầm. Trời lại nhiều mây tích (Cu) nên máy bay xóc mạnh, thỉnh thoảng sỹ quan liên lạc Mỹ từ trong buồng lái ra thông báo: đã vào biên giới Campuchia, gần đến Phnôm Pênh, đến biên giới Việt Nam. Nhìn xuống đất, hai biên giới Việt Nam - Camphuchia chẳng có gì để phân biệt rõ ràng. Đang mùa khô, ruộng đồng màu vàng, nhiều nơi đang đốt rơm rạ trên cánh đồng.

        Khi được báo đến Tân Sơn Nhất, tôi nhìn ra ngoài thấy sân bay bên tay phải, có hai đường băng. Máy bay tiến vào hạ cánh từ đầu phía Đông. Căn cứ không quân này khá lớn. Bên ngoài hàng rào sân bay, xe môtô chạy nhiều. Đài kiểm soát không lưu là vật thể nổi nhất rồi đến hàng dãy nhà vòm để các loại máy bay nhỏ, F5 và trực thăng. Máy bay chở chúng tôi lăn vào đậu trước nhà ga quân sự, ngăn cách với ga dân sự bằng một bức tường chắn bằng sắt ưốn hình chữ U.

        Chúng tôi chỉnh đốn lại áo quần cho chỉnh tề, chuẩn bị xuống máy bay. Cảnh sát mật vụ, nhân viên an ninh đeo máy ảnh bâu quanh máy bay. Một thượng sỹ cảnh sát nguỵ, đeo biển tên "Ê" trên ngực, cầm một xấp giấy nhập cảnh leo lên máy bay:

        -  Thưa quý vị, theo luật lệ của Việt Nam Cộng hoà, xin mời quý vị kê khai làm thủ tục nhập cảnh.

        Hai trưởng đoàn ta từ chối việc làm thủ tục nhập cảnh. Thế là bắt đầu giằng co. Một đại uý cảnh sát tên là Đức lại leo lên:

        -  Theo thể lệ của Việt Nam Cộng hoà, quý vị phải làm thủ tục nhập cảnh, nếu không, quý vị không được rời máy bay...

        Bên ta vẫn từ chối:

        -  Chúng tôi đến đây là theo các điều khoản của Hiệp định Paris cho nên không có việc làm thủ tục nhập cảnh.

        Ê và Đức thay nhau lên đứng ở cửa máy bay. Trang phục cảnh sát ngụy: quần xanh thẫm, áo sơ mi trắng, lon cấp bậc đeo ở vai áo.

        Các tay săn ảnh chờ cái phút mấy ông Việt cộng bước xuống máy bay để bấm máy ảnh, nhưng chờ quá lâu, họ bắt đầu tản đi, một số vẫn ngồi chờ. Chắc chắn trong số này, những tên bám chặt nhất đều là tụi an ninh, mật vụ...

        Đến nửa chiều, một đồng chí Ba Lan trong Uỷ ban quốc tế ở Sài Gòn ra gặp đoàn trao đổi tình hình. Hai đồng chí trưởng đoàn (miền Bắc và miền Nam) viết điện báo cáo tình hình về Trung ương, nhờ đồng chí Ba Lan chuyển. Đồng chí phó đoàn Ba Lan cùng đi với chúng tôi từ Paris vẫn ở lại trên máy bay mặc dù đồng chí ấy có thể rời máy bay bất cứ lúc nào, đồng chí muốn ở lại cùng chúng tôi trong những giờ phút rắc rối khi mới đặt chân đến Sài Gòn.

        Đang ở Paris trời lạnh, nay ngồi trên máy bay một buổi chiều dưới cái nắng gay gắt của mùa khô miền Nam ai cũng toát mồ hôi. Đã đóng bộ comple vào để chuẩn bị xuống máy bay, bây giờ phải cởi áo veston, tháo cà vạt... Khoảng 3 giờ chiều, có mấy anh ở hai đoàn Bắc, Nam đến Tân Sơn Nhất trước chúng tôi (đi cùng các thành viên Hungari và Ba Lan trong Uỷ ban quốc tế) lên máy bay gặp chúng tôi. Một người mặt xương xương, đội mũ cối, đeo quân hiệu Quân giải phóng được giới thiệu là đồng chí Võ Đông Giang. Hai người mặc quân phục quân đội nhân dân Việt Nam là trung tá Nguyễn Đôn Tự và thiếu tá Phạm Hồng.

        Trời gần tối, tình thế vẫn không thay đổi. Bọn nguỵ quyền cho cảnh sát dã chiến canh gác xung quanh chiếc máy bay có chúng tôi trên đó. Chúng đưa tới bốn cái đèn chiếu rọi vào máy bay. Mỹ cho mang đồ ăn đến, loại khẩu phần dã chiến đựng trong loại hộp các tông. Chúng tôi vẫn kiên quyết không làm thủ tục nhập cảnh. Hai tên cảnh sát đứng mãi cũng chán đã chuồn mất. Đám phóng viên giả, mật vụ vẫn đứng lố nhố dưới sân ga. Tên sỹ quan liên lạc Mỹ cũng đã chuồn, chỉ còn hai đoàn chúng tôi với đồng chí đại sứ Ba Lan từ Paris về.

        Ngày 28/01/1973, ngày Hiệp định Pari có hiệu lực là như vậy đó. Ngay giờ đầu, ngày đầu đã thấy bộ mặt lật lọng cửa Mỹ nguỵ.

        Đêm, chúng tôi ở lại trên máy bay, chia nhau kẻ thức, người ngủ. Nhìn ra bên ngoài, đám gọi là "phóng viên" cũng lăn ra vỉa hè nhà ga quân sự nằm ngủ hoặc ngồi tán dóc. Việc vệ sinh cá nhân, mọi người sử dụng cái toi-lét ở đằng đuôi máy bay C47.

        Chúng tôi sẵn sàng kéo dài cảnh bị bao vây trên máy bay chứ không nhượng bộ. Đêm Tân Sơn Nhất đầu tiên khá dài. Ai nấy đều nóng ruột chờ đến ngày mai xem chúng nó còn giở thủ đoạn gì nữa.

        Sáng ngày 29/01/1973, hai đồng chí trưởng đoàn ta đề nghị đồng chí đại sứ phó đoàn Ba Lan cứ rời máy bay về thành phố, thay mặt anh em hai đoàn ta, đồng chí Lợi và đồng chí Thu cám ơn đồng chí đại sứ đã ở lại với chúng tôi cả ngày và đêm qua.

        Khoảng 9 giờ sáng, sỹ quan liên lạc Mỹ đến, mang theo công hàm của Mỹ và nguỵ trong Ban liên hợp quân sự phản đối hai đoàn ta đã không đến họp đúng giờ! Đúng là một trò hề bẩn thỉu. Đã không cho người ta xuống máy bay lại còn phản đối không đi họp đúng giờ...

        Lập tức, hai đồng chí trưởng đoàn ta gọi sỹ quan liên lạc Mỹ ghi công hàm của ta phản đối mang về cho "sếp" của họ.

        Lính Mỹ đi lại tấp nập, da đen, da trắng, lính Nam Hàn.., mang lỉnh kỉnh đồ đạc để chuyển quân.

        Đến trưa, một đoàn xe Ford đen có cắm cờ trắng(!) chạy ra đậu trước sân ga quân sự Tân Sơn Nhất. Sỹ quan liên lạc Mỹ đến báo là mọi thủ tục đã dàn xếp xong, mời các ông về trại Davis. Anh Thu nhìn thấy xe có cắm cờ trắng, gọi tên sỹ quan Mỹ lại bảo phải nhổ ngay. Tên sỹ quan Mỹ chống chế gượng gạo: "Tôi nghĩ rằng màu trắng là màu tổng hợp cửa các màu nên thích hợp hơn cả?"

        Thế là một trò đểu cáng nữa của Mỹ bị lật tẩy, các xe đều được vứt bỏ cờ trắng. Nếu không cảnh giác thì bị họ ghi bàn thắng rồi.(!)

        "Chơi" với Mỹ là như vậy đó ! Trò hề lố bịch hết chỗ nói !...



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Ba, 2012, 08:05:40 pm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/NguyeenxTraanfThieets.jpg)

ĐỒNG CHÍ !

Nguyễn Trần Thiết                
       
        Một ngày đầu năm 1973, hơn trăm đồng chí trong đoàn tôi đều diện quân phục mới, đi giầy da mới, đội mũ kê-pi mới, xách va ly mới lân lượt lên xe buýt, mỗi người ngồi một chỗ trong trật tự, yên lặng. Chúng tôi nghe đả thông, được học tập nên đã tường hết tầm quan trọng và trách nhiệm lịch sử trong chuyến đi của mình. Chúng tôi là những sứ giả đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam có mặt công khai tại thành phố Sài Gòn và nhiều tỉnh thành khác ở miền Nam, nơi đang tôn tại ngót một triệu quân Mỹ, ngụy được trang bị vũ khí đến tận răng. Trừ mấy đồng chí cảnh vệ, còn chúng tôi đều không ai mang theo súng lục, dao găm song chúng tôi cần hoạt động trong vùng địch với tư thế của người chiến thắng!

        Đoàn xe đưa chứng tôi đến sân bay quân sự Gia Lâm. Vốn quen nhận dạng máy bay Mỹ ở các chiến trường, chúng tôi đều thốt lên "C130". Ai từng là lính trong những năm đánh Mỹ đều ghét cay, ghét đắng loại máy bay ở tầm cao, có cặp mắt trinh sát điện tử, bám mục tiêu đai hơn đỉa đói và chính những tên giặc lái loại "C130" đã thả bom, bắn phá các mục tiêu của Việt Cộng.. Bây giờ, chúng nằm chềnh ềnh tại đây Chỉ lát nữa thôi, những tên Mỹ to cao, da đỏ au, mũi lõ, mắt xanh lè sẽ phải phục vụ chúng tôi. Tôi ở cấp thiếu tá, được Đảng ủy quân sự Trung ương cũ định tham gia Đảng ủy khu vực. Cần Thơ với chức Tổ trưởng Sỹ quan liên lạc gắn trách nhiệm trực ban. Tôi đọc đến họ tên ai, đồng chí đó lên máy bay ngồi vào ghế xếp hàng dọc theo thân máy bay. Cũng như anh em, lần đầu tiên trong đời tôi được đi máy bay nên chẳng có kinh nghiệm gì. Tôi phổ biến cho anh em theo kiểu phòng xa: Nếu có ai say máy bay, bị nôn ọe, ta cố mửa vào hăng-gô, vào bi đông đừng làm bẩn máy bay đối phương.

        Chưa đến hai giờ sau, chúng tôi đã có mặt ở sân bay Tân Sơn Nhất. Tất cả hành khách đều an toàn, khỏe mạnh nhưng chúng tôi gặp trục trặc đầu tiên. Những tên cảnh sát ngụy, mặt đằng đằng sát khí ra lệnh buộc chúng tôi phải ở nguyên vị trí trong máy bay. Là sĩ quan liên lạc, tôi phải giao dịch với đối phương. Trông thấy một đại úy mặc quân phục giống các sỹ quan Hung-ga-ri cùng học với tôi ở học viện Quân chính Lê-nin tại Mát-scơ-va, tôi hỏi bâng quơ bằng tiếng Nga:

        -  Đồng chí! Có nói được tiếng Nga không?

        Người bạn chưa quen biết không hướng về phía tôi và giả bộ đang nói chuyện với bạn nội dung:

        - Chúng tôi đã báo cáo với ủy ban Quốc tế. Trưởng đoàn Việt nam đang can thiệp với phía Mỹ.

        Chừng nửa giờ sau, bọn cảnh sát ngụy phải cúp vòi, xuống thang. Đoàn của tôi được lệnh bay luôn đi Cần Thơ. Tại đây, địch tìm mọi cách gây khó dễ cho đoàn ta, ngăn cản không cho thợ điện, thợ nước, nhân viên nhà thầu tiếp tế lương thực, thực phẩm.., tiếp xúc với đoàn ta. Vì giữ nhiệm vụ tổ trưởng sĩ quan liên lạc nên tất cả các đoàn Mỹ, ngụy, các nhà báo nước ngoài và ủy ban quốc tế về đình chiến tại Việt Nam đến giao dịch hàng ngày, hàng giờ với tôi. Các đồng chí Ba Lan và Hung ga ri nói với tôi làl đã sang Liên Xô học ở Học viện Quân sự mang tên Phờ-run-de, trao cho tôi máy bộ đàm, dặn:

        - Đồng chí! Rất có khả.năng địch giở quẻ. Nếu gặp bất trắc, đồng chí gọi cho chúng tôi. Nếu đồng chí bị bắt hoặc không có điều kiện liên lạc, các bạn Việt Nam cần phát tín hiệu SOS ngay cho chúng tôi.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Ba, 2012, 08:05:52 pm
        Tiếng đồng chí thốt lên trong hoàn cảnh này sao mà quá ư thiêng liêng. Bộ trưởng Quốc phòng của ba nước Việt Nam - Ba Lan - Hung-ga-ri không viết giấy giới thiệu, không gửi lời ủy nhiệm qua điện thoại mà chúng tôi tự chủ động gặp nhau, tự nghĩ cách cưu mang, đùm bọc, che chở lẫn cho nhau. Tình cảm đó, chúng tôi đã có trong thời gian tôi học ở Học viện Quân chính Lê-nin tại Mat-scơ-va từ 1961 đến 1964. Năm đó, sỹ quan các nước.Xã hội Chủ nghĩa cùng sống ở ký túc xá ở phố Ban- sai-a Pia-ra-gôp-skai-a. Cứ mỗi lần về phép chúng tôi lại mang quà dân tộc đãi nhau. Ta có món tủ là chả cuốn bánh đa. Từ chỗ chê, các bạn dần dần rất thích món nước chấm của Việt Nam được pha chế từ nước mắm Cát Hải. Tuy vậy không ai sài được món mắm tôm của ta. Còn nhớ, các ban.Mông Cổ đem sang bánh sữa ngựa. Trời ơi, bánh oi, ngậy tới mức không sao nuốt nổi. Trưởng đoàn Việt Nam nói tiếng Nga với bạn:

        -  Bánh ngon tuyệt!

        Nhưng đã vừa cười vừa nói tiếng Việt:

        -  Cố nuốt đi. Tao sẽ chửi tiên sư thằng nào nhăn mặt, nhổ bánh ra.

        Anh Ngọc Tú gỡ thế kẹt bằng cách lấy tờ báo gói toàn bộ bánh trên bàn. Bạn hỏi:

        - Mày làm gì thế?

        - Bánh này phải nhấm nháp với chè Tân Cương của Việt Nam mới thích hợp.

        - Chúng mày cứ ăn hết đi, chúng tao sẽ cho bánh khác. Hay là mày đem chè sang đây ta cùng uống.

        Chúng tôi nghĩ ra mỗi người một cớ để được rút lui trong trật tự. Thời đó, sỹ quan các nước Đông Âu lương cao, con nhà giàu nên không ai biết nấu ăn. Các bạn rủ ta đi nhảy đầm, giới thiệu gái cho ta nhưng ta chỉ cười, trả lời là: phong tục Việt Nam buộc người đã có vợ, có chồng luôn luôn chung thủy với nhau. Các bạn cười vang, kể cho chứng tôi nghe một dạng ngụ ngôn khá phổ biến ở Đông Âu: "Anh đàn ông nào đi an dưỡng là con cừu; để vợ đi nghỉ mát một mình là con lừa, còn trường hợp anh ta đi du lịch có một mình, anh ta sẽ là con sư tử. Sỹ quan Việt Nam sang Liên Xô học nên biến thành sư tử chứ không nên là những con cừu hiền lành, nhút nhát. Chúng tôi cười tìm cớ phản bác bạn.

        Hết 60 ngày, phái đoàn quân sự của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và của Mỹ buộc phải rút vê Hà Nội và Hoa Thịnh Đốn. Các bạn Ba Lan - Hung-ga-ri nắm rất chặt tay chúng tôi, chúc:

        - Đồng chí! Hy vọng một vài năm nữa, đồng chí sẽ được quay lại tiếp quản Sài Gòn.

        Tôi đọc cho các bạn biết bài thơ chúc Tết của Bác Hồ nhưng không sao dịch nổi câu:
               
                                                        “Đánh cho Mỹ cút,
                                                       Đánh cho ngụy nhào”


        Tôi chỉ dịch đại ý câu thơ đó thôi vì tôi đã quên nhiều từ tiếng Nga và các bạn cũng không phải Nga chính cống. Dù sao, các bạn cũng hiểu hết ý nghĩa lời tiên đoán của Bác Hồ.

        Ngày 30 tháng 4 năm 1975, tôi có mặt tại Sài Gòn. Trung tướng Nam Long, thiếu tướng Công Trang bảo tôi:

        -  Toàn bộ các thành viên trong nội các Dương Văn Minh có mặt ở tầng 2. Cậu lên phỏng vấn, viết bài cho độc giả báo QĐNĐ cùng đọc.

        Tôi như chuột sa chĩnh gạo, được tự do, thỏa mái hỏi cung hơn bốn chục vị từ thứ trưởng, bộ trưởng, chuẩn tướng đến phó thủ tướng, thủ tướng, phó tổng thống, tổng thống ngụy.

        Viết xong bài, tôi chợt nhớ đến các bạn ở Ban liên hợp quân sự 4 bên ở sân bay Tân Sơn Nhất. Thiếu tướng trưởng đoàn Hoàng Anh Tuấn cho đánh điện bài báo gửi ra Hà Nội. Chiều mồng 1 tháng 5 năm 1975, tôi thả bộ trên sân bay Tân Sơn Nhất. Tôi nhận ra nơi gặp gỡ lần đầu với đồng chí đại úy Hung-ga- ri. Tuy đi một mình, tôi vẫn thốt lên:

        - Đồng chí! Tôi đã trở lại tiếp quản Sài Gòn. Di chúc Bác Hồ đã được thực hiện trọn vẹn.
     


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Ba, 2012, 08:18:07 pm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/TraanfQuangNhaj.jpg)

LÍNH PHIÊN DỊCH

Trần Quang Nhạ
                
       
      
                                         Chúng tôi là ai?
                                         Sĩ quan phiên dịch
                                         Ở trại "Đa vít"
                                         Làm nghề "thông ngôn"

                                         Phải nói luôn mồm
                                         Phải nghe bằng hết
                                         Phải bước cho kịp
                                         Theo chân các anh.

                                         Lúc đi vòng quanh
                                         Lúc ngồi, lúc chạy
                                         Xung quanh cạm bẫy
                                         Ùng oàng tiếng bom....

                                         Có lúc tối om
                                         Kẻ thù "cúp " điện
                                         Nhiều khi khô miệng
                                         Địch cắt nước rồi ?

                                         Ai nhớ chúng tôi
                                         Những chàng phiên dịch (!)
                                         Chiến tranh khốc liệt
                                         Giờ đã lùi xa (!)

                                         Nam Bắc một nhà,
                                         Dựng xây đất nước
                                         Kề vai sánh bước
                                         Bạn cùng năm châu.

                                         Nay nhớ đến nhau
                                         Ai còn, ai mất (?)
                                         Một thời chớp giật
                                         Bão đạn, mưa bom...

                                         Chúng tôi lên đường
                                         Vì ngày thống nhất,
                                         Vì ngày độc lập,
                                         Vì ngày tự do...


Hà Nội, ngày 02.09.2009            




Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Ba, 2012, 08:27:59 pm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/063.jpg)

CHIA TAY

LG (Linh Giang)                
                                                 
                                                  Em ở lại Lộc Ninh,
                                                  Anh vào Tân Sơn Nhất
                                                  Ngày mai sẽ đối mặt
                                                  Trước kẻ thù hiểm nguy
                                                  Anh đâu có xá chi
                                                  Giữa một bày quỷ dữ…

                                                  Đã ngàn ngày bão lửa
                                                  Sống, chết không sờn lòng.
                                                  Mong kháng chiến thành công.
                                                  Sớm trở về quê mẹ!

                                                  Tạm chia tay em nhé
                                                  Ngày Mỹ cút, ngụy nhào.
                                                  Cùng đi dưới cờ sao
                                                  Giữa Sài Gòn giải phóng


            
Lộc Ninh, xuân Quý sửu 1973              


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Ba, 2012, 08:35:55 pm

THÁNG TƯ

Linh Giang               

                                                  Rực lên màu phượng đỏ,
                                                  Lửa cháy giữa rừng xanh,
                                                  Đường vui ra phía trước,
                                                  Âm vang nhịp quân hành.

                                                  Tháng tư vào chiến dịch,
                                                  Thần tốc năm cánh quân,
                                                  Xé toang phòng tuyến địch,
                                                  Ta đi giữa mùa xuân!

                                                  Anh về từ phương Bắc,
                                                  Em lên theo hướng Nam,
                                                  Cùng Đông – Tây xung trận,
                                                  Quân reo như thác tràn…

                                                  Bùng lên quầng lửa cháy,
                                                  Xung phong dưới đạn bom,
                                                  Hờn căm đầu ngọn súng,
                                                  Lũ giặc đang kinh hoàng!

                                                  Sài Gòn đêm thao thức,
                                                  Mong đàn con trở về,
                                                  Mẹ ngồi bên khung cửa,
                                                  Vẫn ngóng cùng sao khuya!

                                                  Đây rồi Tân Sơn Nhất,
                                                  Cờ cách mạng tung bay,
                                                  Ôm nhau nhoè nước mắt,
                                                  Đồng đội vẫn còn đây.

                                                  Vang vang kèn chiến thắng,
                                                  Rợp đỏ cả rừng cờ,
                                                  Đi dưới hàng phượng vĩ,
                                                  Ta lại về chốn xưa…

Tân Sơn Nhất, 5.1975             


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Ba, 2012, 08:38:34 pm

NHỚ RỪNG

Linh Giang               

                                    Sống cạnh đường băng Tân Sơn Nhất,
                                    Vài cây trứng cá, lá lưa thưa,
                                    Nắng cháy cho làn da đen bóng,
                                    Bỗng nhớ ngàn xanh trên chiến khu,
                                    Nhớ tiếng cu cườm ven nương sắn,
                                    Suối nước trong veo lượn quanh co,
                                    Có tiếng ai cười bên lán nhỏ,
                                    Ngỡ đón em về chốn thành đô…

Tân Sơn Nhất, 12.1973           

                                                 


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Ba, 2012, 08:40:34 pm

ĐÀO GIẾNG

Linh Giang                

                                    Mỹ nguỵ giở trò cắt điện nước
                                    Nóng nung, bìa giấy quạt liền tay,
                                    Không nước, tắm khan thêm nhớp nháp,
                                    Đất trộn mồ hôi dính suốt ngày.
                                    Ta biết lũ gian nhiều kế độc
                                    Hề chi, đáy giếng đọng vũng lầy.
                                    Ngày mai nước sẽ trong và mát,
                                    Trận địa thắng thù chính tại đây!

Tân Sơn Nhất, 12.1973            


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Ba, 2012, 08:51:30 pm

ĐƯỜNG VÀO PHAN THIẾT

Trần Duy Ninh                

                                Vui sao buổi sáng xuân nay
                          Ta vào Phan Thiết cờ bay đỏ đường
                                Chào sông núi , chào quê hương
                          Đôi dòng nước bạc Sông Mường , Sông Nông [1]
                                Đất trời ta đó mênh mông
                          Bình Lâm, Mường Mán, Tân Nông , Tân Điền… [2]
                                Đồng bằng một giải nối liền
                          Kìa ai đứng đó dáng nghiêng nón chào
                                Chia tay đồng chí, đồng bào
                          Rời chiến khu , ta đi vào đấu tranh
                                Rì rào sóng vỗ biển xanh
                          Chiều vàng nắng đã toả quanh lưng đồi
                                Căng - ê   Xê - pic đây rồi [3]
                          Vịnh xanh biêng biếc sóng dồi xa khơi
                                Bình Thuận ơi, Phan Thiết ơi!
                          Hôm nay mới thấy mặt người sáng trong
                                Bao tháng ngày, bao chờ mong
                          Cho ta đến với một vùng cỏ hoa!
                                Để ta lại được gặp ta
                          “Việt Nam Dân chủ Cộng hoà” – chào anh!
                                Thật nghiêm trang, rất hiền lành
                          Mừng vui tình nghĩa em, anh thắm nồng.
                                Từ chiến khu về phố phường
                          Đất trời này vẫn quê hương của mình
                                Xa xa ánh điện lung linh
                          Đêm nay đã loé bình minh rạng ngời.


Phan Thiết tháng 2.1973           
                     
----------------
[1], [2] các địa danh ở Bình Thuận
[3] sân bay của Mỹ ngụy, trụ sở của hai đoàn ta.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Ba, 2012, 10:33:36 am

SÀI GÒN 1973 CHUYẾN QUAY PHIM ĐẶC BIỆT

Nguyễn Kha                

        Thế là tôi đã cùng phái đoàn quân sự của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa do thiếu tướng Lê Quang Hòa làm trưởng đoàn đang bay trên chiếc Cl30 của Mỹ xuất phát từ sân bay Gia Lâm - Hà Nội vào Sài Gòn tham gia Ban Liên hợp Quân sự bốn bên thi hành hiệp định Paris vừa ký kết ngày 27 tháng 1-1973.

         Đã bay được 1 giờ đồng hồ người Mỹ giải thích rằng: "máy bay phải bay phía ngoài biển để đảm bảo an toàn, hiện máy bay đang bay ngang không phận Đà Nẵng". Tôi nhìn sang phía tay phải là dãy Trường Sơn mây phủ, nơi ấy tôi mới dẫn đoàn làm phim đi bộ dọc Trường Sơn xuống Cămpuchia làm một phim rồi lại đi bộ ngược ra Bắc.

        Bộ phận chúng tôi gồm: Nguyễn Kha và Trần Duy Hình quay phim; Bùi Duy Ly và Hứa Kiểm nhiếp ảnh.

        Tôi (Nguyễn Kha) đã làm đạo diễn 7 năm nay mà bây giờ Điện ảnh quân đội theo chỉ thị của Tổng cục Chính trị lại cử tôi đi quay phim chắc là nhiều sự kiện quan trọng. Đang suy nghĩ miên man thì đã thấy máy bay lăn bánh trên đường băng phi trường Tân Sơn Nhất. Chuyến bay kéo dài 2 tiếng đồng hồ. Một sự so sánh trong đầu tôi: "khi đi bộ từ Quảng Bình theo dãy Trường Sơn xuống Cămpuchia mất 2 tháng ròng, bây giờ từ Hà Nội vào Sài Gòn chỉ mất 2 giờ đồng hồ, thật thú vị".

        NHỮNG THƯỚC PHIM ĐẦU TIÊN BỊ CẮT BỎ

       12 giờ trưa máy bay dừng hẳn, chờ mãi không thấy tiền trạm của ta ra đón. Cuộc chờ đợi này kéo dài 23 giờ liền (qua đêm); ba lần người của phía chính quyền Sài Gòn lên thương thuyết và yêu cầu kê khai nhập cảnh, ta giải thích và đấu tranh theo đúng quy định đã ghi trong Hiệp định Paris; một cuộc đấu tranh dai dẳng, khôn khéo.

        Tôi ân hận và rất tiếc vì máy quay lại để trong khu vực hành lý không thể tự động gỡ ra được, bỏ phí những tình huống đấu tranh với đối phương ngay trong chiếc máy bay này.

        Máy bay đã đỗ ở sân bay từ 12 giờ ngày hôm qua tới 11 giờ ngày hôm nay, tôi thấy rùng rùng một đoàn mấy chục xe ôm đi về phía đoàn ta; người Mỹ lên máy bay nói: "mời các ngài xuống".

        Lúc này trong tay tôi đã có máy quay, tôi ghi những cảnh xe cộ và đoàn sĩ quan của ta chỉnh tề và tư thế đĩnh đặc. Bỗng một giọng nói ồm ồm lơ lớ ở sau lưng:

        - Ông Đại úy !

        Tôi quay lại, hóa ra một người Mỹ mặc thường phục, hắn ta nói tiếp:

        - Ông phải trả lại những mét phim vừa quay! Nếu không, ông không được xuống.

        Tôi chỉ tay về phía đồng chí Trung tá (tôi không biết tên) trưởng bộ phận đứng ở hàng đầu và nói với người Mỹ:

        - Hãy theo quyết định của ông này.

        Người Mỹ lại tới nói với đồng chí Trung tá của đoàn ta; đoạn anh cùng người Mỹ đến bên tôi và nói:

        - Thôi đồng chí ạ, vì việc lớn, ta hãy bỏ những cảnh vừa quay đi.

        Tôi mở nắp máy cắt đoạn phim dài vừa quay vứt xuống đất - xin nhớ là thời điểm ấy chúng tôi quay phim nhựa chứ không có băng Vi deo như bây giờ.

        Sau sự việc ấy, tôi lại nghĩ: "nếu quay được những cảnh đoàn ta ngồi chờ đợi trong máy bay và cảnh ta đấu tranh với đối phương thì bây giờ cũng đành phải vút bỏ mà thôi". Thế là nỗi ân hận được giải tỏa.
        
                              


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Ba, 2012, 10:41:10 am
       
        CHỈ CÓ 10 PHÚT

        Hôm nay ngày họp đầu tiên của Ban Liên hợp Quân sự 4 bên, đây là bắt đầu thời điểm cho những mét phim lịch sử. Tôi được thông báo: chỉ được phép hoạt động ghi hình, chụp ảnh trong vòng 10 phút.

        Tôi vào phòng họp trước để xem vị trí cụ thể; một chiếc bàn vuông bốn cạnh đều nhau phủ khăn màu xanh, mỗi cạnh có 2 hàng ghế cho 8 hoặc 10 người, Phòng rất chật, khi mọi người đã vào vị trí thì tôi không thể đi lại được.

        Tôi nói với các anh trong đoàn của ta. Khi tôi muốn đi qua thì các anh ngồi ở hàng ghế sau dịch lên một chút và sau khi tôi đi qua thì vít lại.

        Còn độ 2 phút nữa bắt đầu, tôi vào phòng đã thấy đoàn Hoa Kỳ và đoàn Sài Gòn ngồi sẵn, tôi chọn một góc bàn, phía tay trái tôi là đoàn quân đội Hoa Kỳ do Thiếu tướng Woodward trưởng đoàn, phía tay phải tôi là đoàn quân sự Việt Nam Cộng hòa do Trung tướng Ngô Du trưởng đoàn. Những người trong đoàn Hoa Kỳ nhìn tôi chằm chằm, có lẽ họ thấy một Việt cộng nhỏ thó cầm máy quay bình thản chỉ chăm chăm nhìn ra cửa. Đồng hồ chỉ đúng 16 giờ, máy tôi chĩa ra cửa, tiếng máy quay kêu xè xè, trong phòng im phắc. Thiếu tướng Lê Quang Hòa dẫn đầu đoàn quân sự Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xuất hiện, vào chỗ ngồi đối diện với đoàn Hoa kỳ, rồi tới Trung tướng Trần Văn Trà dẫn đầu đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam vào ngồi đối diện với đoàn Việt Nam Cộng hòa Sài Gòn.

        Ghi xong cảnh lịch sử đó, tôi băng tới phía sau đoàn ta, như đã quy ước các anh hàng ghế sau nhích lên cho tôi qua và sau đó vít chặt lại. Tôi ghi tiếp những nét mặt đoàn Hoa Kỳ, đoàn Sài Gòn, trong ống kính, tôi thấy nét mặt Trung tướng Ngô Du hơi cúi xuống.

        Bốn đoàn trao cho nhau những tờ giấy, tôi nghĩ đó là những thư ủy nhiệm.

        Tôi ghi đã đủ cảnh và cũng gần hết 10 phút. Tôi nhìn sang phía Sài Gòn thấy một anh Thượng sĩ cầm máy quay mà trong lúc tôi hối hả ghi hình không nhận ra anh ta. Anh Thượng sĩ vẻ mặt đau khổ, muốn sang phía tôi để quay cảnh phái đoàn Sài Gòn nhưng không thể sang được, cũng không dám hé răng nửa lời. Có lẽ anh ta ngợp trước sự uy nghiêm của các tướng lĩnh hoặc anh ta không có kinh nghiệm sành sỏi trong thao tác nghiệp vụ. Tôi thoáng nghe thấy Chuẩn tướng Phan Hòa Hiệp (vì anh ta đứng cạnh đó) nghiến răng nói rít lên: "Đồ ngu! đứng đây thì quay cái gì?". Thật tội nghiệp cho anh Thượng sĩ!

        VÒNG TRONG VÒNG NGOÀI XEM VIỆT CỘNG

        Hôm ấy, đại biểu của cả 4 phái đoàn và Uỷ ban giám sát quốc tế có việc đến khách sạn Palace trên đường Nguyễn Huệ, Sài Gòn. Khi chúng tôi xuống xe thì trước mắt diễn ra một cảnh hấp dẫn: một vòng cung đông nghiệt người cách chúng tôi độ 50 mét. Họ đứng im nhìn từng người trong đoàn ta chằm chằm. Chúng ta vẫy tay chào xong không thấy ai nhúc nhích, có lẽ có một lực lượng nào đó khống chế họ.

        Mãi tới ngày 1-5-1975 Sài Gòn được giải phóng, tôi có dịp nói chuyện với những người hàng xóm nhà chị ruột tôi, mới biết rằng bữa ở khách sạn Palace ấy họ đã phải mang theo từng Ổ bánh mì chờ cho bằng được xem mặt mũi Việt cộng ra sao mà báo chí thường rêu rao là: "Việt cộng ở rừng, 7 người vít 1 cọng đu đủ không gãy", "Hóa ra những người Việt cộng cũng to cao khỏe mạnh mà lại còn đẹp trai nữa?" - họ nói với tôi như vậy.

        Trong giờ nghỉ của một ngày họp, phái đoàn ta và phái đoàn Sài Gòn nói với nhau nhiều chuyện về sinh hoạt, nhân đó 1 sĩ quan trong đoàn ta nói với đối phương: "Chúng tôi đâu có khỏe mạnh gì, 7 người vít 1 cành đu đủ không gãy mà!". Sĩ quan bên Việt Nam Cộng hòa hơi ngượng xí xóa "Bọn báo chí nó nói tùm lum".

        ĐỂ ÔNG ẤY LÀM VIỆC

        Một ngày, tôi cùng 3 sĩ quan nữa trong phái đoàn miền Bắc và 4 sĩ quan trong phái đoàn Cách mạng miền Nam, đi máy bay ra một tỉnh ven biển miền Trung.

        Từ trên cao nhín xuống Nha Trang và biển đẹp quá như một cô gái ở tuổi thanh xuân, biển màu xanh ôm lấy thành phố màu trắng.

        Chúng tôi hạ cánh xuống sân bay Nha Trang để chứng kiến 1 đơn vị Mỹ ở đây rút quân.

        Tôi đi loanh quanh vì chưa tới giờ lĩnh Mỹ lên máy bay. Ngóc ngách nào cũng thấy 1 lính cộng hòa cầm súng AR15 trấn giữ. Khi thấy chiếc máy bay hạ cánh để chuẩn bị đón linh Mỹ rút lui, tôi giơ máy quay ra ghi hình.

        Người lính Sài Gòn không làm sao được bèn hô to:

        - Báo cáo Trung tá, ông này ghi hình sân bay.

        Giám đốc sân bay Nha Trang lúc ấy hình như là Trung tá Cẩn (có thể tên tôi nhớ không được chính xác). Tôi chờ đợi một sự can thiệp hoặc can ngăn hoặc cấm đoán. Song một mệnh lệnh vang lên phía sau lưng tôi:

        - Để ông ấy làm việc.

        Thật là bất ngờ, ngày nào tôi cũng bị cản trở bằng cách này cách khác, nhưng hôm nay trái lại. Thế là tôi lẳng lặng xách máy quay đi khắp nơi, tôi đi tới đâu thì những người lính cộng hòa lùi tới đó để cho tôi ghi hình.

        Trong lòng tôi thầm cảm ơn vị Trung tá giám đốc sân bay Nha Trang, ông ta là một người hiểu biết.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Ba, 2012, 10:44:00 am

        ĐẠI ÚY LÊ VÀ TRUNG TÁ KHANH

        Một buổi sáng, như thường lệ tôi đang làm việc ghi hình thì thấy một bàn tay bịt ống kính máy quay lại và một giọng nói hách dịch như ra lệnh:

        - Ông chỉ được quay liên hợp quân sự 4 bên làm việc, ông không được quay sân bay của chúng tôi.

        Tôi nhận ra người vừa nói với mình đeo quân hàm Đại úy, phía trên túi áo bên phải có in tên Lễ. Có lẽ hắn lo trật tự trong khu vực này. Tôi bèn bảo hắn:

        - Tôi chỉ cần quay những cảnh hoạt động của Ban Liên hợp Quân sự 4 bên, còn sân bay của các ông tôi cần gì. Khi cần, chúng tôi có thể sờ tận đinh ốc của từng máy bay của các ông, vậy việc gì tôi phải quay phim cho phí sức.

        Hắn không có gì để nói lại.

        Lính Mỹ đã lục tục hàng một lên máy bay. Tôi đang lựa chỗ đứng để quay có cả hàng sĩ quan 4 bên đứng giám sát lẫn lính Mỹ thì thấy 1 sĩ quan cộng hòa quay mặt về phía sau để tránh, tôi đi về phía sau, ông ta lại quay mặt về phía trước. À thì ra ông ta muốn tránh mặt trong những thước phim này. Đến gần ông ta tôi thấy cấp hàm Trung tá và tên là Khanh (sau nãy tôi mới biết ông ta 52 tuổi, người Hà Đông), tôi bèn ghé tai ông nói nhỏ:

        - Thưa Trung tá, tôi biết ngài không muốn có mặt mình trong những mét phim của tôi trong lúc này. Tôi nghĩ rằng Mỹ rút quân là thắng lợi chung của dân tộc ta, tôi sẽ không ghi hình ngài nếu ngài ra lệnh cho những người dưới quyền ngài không được cản trở tôi trong lúc tôi làm việc.

        Ông Trung tá im lặng, một lúc sau tôi thấy anh Bùi Duy Ly và anh Hứa Kiểm phóng viên nhiếp ảnh vừa cười vừa chỉ tay ra phía ngoài, kìa Đại úy Lễ - người đã bịt ống kính máy quay của tôi đang ngồi trên chiếc xe Jeep nhìn vào mặt buồn thiu.

        Thế là bữa ấy không có ai gây khó cho tôi cả.

        VIÊN THIẾU TÁ MỸ CƯỜI

        Những sĩ quan của 4 bên đang kiểm tra đối chiếu danh sách những quân nhân Mỹ rút lui trong chuyến bay sáng nay. Tôi thấy bên cửa lên máy bay xếp đầy một số đồ đạc, có một viên Thiếu tá Mỹ đang đứng tần ngần ở đó.  Khi viên Thiếu tá chạm tay vào định nhấc 4 con voi (đồ gốm Biên Hòa), tôi chĩa máy quay về phía ấy thì viên Thiếu tá vội bỏ tay ra và đứng im. Tôi hạ - máy xuống, người Mỹ lại sờ con voi, tôi giơ máy lên hắn lại rời tay ra, à thì ra hắn sợ bị ghi hình cảnh này. Tôi thấy cảnh ấy cũng chả quan trọng gì, thấy thế thì định ghi hình chơi thôi. Trong lúc chờ đợi, tôi dừng lại tỏ thái độ không ghi hình nữa và đưa tay chỉ, có ý để viên Thiếu tá Mỹ cứ tự nhiên; Hắn nhe răng cười rất tươi. Sau khi đã chuyển được 4 con voi đổ gốm lên khoang hành lý hắn nói: Tôi đưa 4 con voi bằng đất này về Mỹ để làm chân bàn, trên đó tôi đặt một tấm kính, như vâyh tôi sẽ có một cái bàn tuyệ vờiđể lhoe với bạn bè kỷ niệm những ngày ở Việt Nam!”

        CHIẾC MÁY BAY PAN AM CỦA MỸ

        PAN AM là loại máy bay to nhất thời ấy của Hoa Kỳ, nó chở dược nhiều người và hành lý. Không hiểu sao hôm nay phái đoàn Mỹ lại mời phái đoàn ta lên xem.

        Tôi mang theo máy quay phim, bước qua cửa máy bay thấy khoang hành khách quá rộng và dài. Tôi đi qua mấy người nữ tiếp viên gật đầu chào họ, đôi mắt những người này tỏ vẻ ngạc nhiên, họ cùng ồ lên thích thú. Có lẽ chưa bao giờ họ lại gặp 1 "Việt cộng" cầm máy quay phim bên cạnh họ như vậy.

        Nhưng kìa sao trong khoang máy bay lại thấy lác đác mấy phụ nữ Việt Nam? Họ còn bế theo những đứa trẻ chừng 1 năm tuổi. Tôi hiểu ra rồi, họ là những người đã kết hôn với lính Mỹ, tôi ghi lại hình ảnh này, những đứa trẻ không hề biết rằng chỉ ít phút nữa nó sẽ bay về phía trời Tây, còn mẹ nó đang ngồi đây đơn độc lạc lõng, nét mặt buồn bã. Không một lần ngước nhìn tôi, dưới chân những người đàn bà ấy có người đi đôi giấy cao hơn 10 phân, chắc chị ta có chiều cao quá khiêm tốn so với người chổng Mỹ. Trong lòng tôi dậy lên lòng thương cảm, những người đàn bà ngồi trong khoang này chưa biết tương lai số phận mình sẽ diễn biến ra sao, nhưng dù sao họ vẫn còn may mắn là được theo chồng, còn bao nhiêu người phụ nữ khác với những đứa con thơ dại phải ở lại Việt Nam sẽ xoay sở ra sao khi nguồn tiếp tế bị cắt đứt?



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Ba, 2012, 10:45:43 am

        SÂN BAY LỘC NINH

        Mọi ngày tôi ghi hình là từng đơn vị quân đội Hoa Kỳ rút về nước. Còn lần này lại là đối phương trao trả cho ta những tù binh.

        Những lần trước, khi Mỹ nhận được thông tin: ở sân bay Gia Lâm những tù binh phi công Mỹ được ta trao trả bắt đầu lên máy bay thì ở phi trường Tân Sơn Nhất đơn vị lĩnh Mỹ cũng lục tục lên máy bay và khi nào máy bay của họ rời đường băng sân bay Gia Lâm thì ở Tân Sơn Nhất máy bay cũng mới bắt đầu cất cánh.

        Lần này, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa trao trả những người của ta mà bấy lâu họ giam giữ.

        Trên bầu trời có tiếng động cơ nặng nề, 2 chiến sĩ quân Giải phóng mở 2 quả tựu đạn khói màu tàn và vàng làm tín hiệu theo quy ước cho máy bay đáp xuống. Đây là sân bay Lộc Ninh giữa rừng nằm trong vùng giải phóng của ta.

        Chiếc C130 như một con cá khổng lồ đầu chày, mình sơn rằn ri loang lổ đã dừng bánh ở cuối đường băng. Các sĩ quan trong đoàn ta đang chuẩn bị cho thủ tục tiếp nhận. Tôi với nhiệm vụ quay phim nên chạy ra chỗ máy bay để hòng quay được những cảnh quân ta được trao trả.

        Đuôi máy bay vừa mở ra, tôi sững sờ, ngực tôi ép lại, lòng tôi chùng xuống: Trong khoang máy bay không có ghế ngồi, tất cả ngồi ở sàn mà đầy ắp toàn là phụ nữ, ai cũng mặc 1 cái áo màu gụ, sau lưng có 2 chữ TB viết bằng sơn trắng, TB là 2 chữ "tù binh" viết tắt. Những bà má tóc bạc phơ, những cô bác nét mặt khắc khổ và một số cô gái còn trẻ đang lục tục dìu nhau ra khỏi máy bay đi về phía bãi tập trung dưới sự áp giải của những người lính Cộng hòa. Tôi vừa bấm máy nhưng đầu tôi lại nghĩ "Những bà má và những người phụ nữ kia mà Việt Nam Cộng hòa liệt vào hàng tù binh ư? lạ thật!". Đoàn người đi sát vào nhau, người khỏe dìu người yếu, có bà má phải nằm trên cáng, tất cả đều có thái độ đề phòng, nghi ngờ. Sau khi được trao trả, các sĩ quan đoàn ta giải thích về hiệp định Paris, về việc trao đổi tù binh và quân đội Hoa Kỳ rút về nước thì niềm vui vỡ òa trên những gương mặt phụ nữ. Lúc ấy các má, các bác mới cho biết: "Chúng tôi có được biết gì về Hiệp định Paris đâu bọn họ nào cho biết, thấy chúng chở về vùng rừng núi tưởng chúng đưa đi thủ tiêu, mọi người ngồi xít lại với nhau chuẩn bị đấu tranh vì thấy toàn Mỹ và quân Cộng hòa, còn bộ đội miền Bắc nhỡ chúng đóng giả thì sao? Bây giờ nghe giải thích mới rõ ngọn ngành... "

        Xe chở những người mà địch gọi là "tù binh" được trao trả, về khu căn cứ.

        Chúng tôi lên trực thăng quay về Sài Gòn. Trên đường bay trời đã gần tối nhìn xuống phía dưới thấy chi chít tia lửa đạn đan chéo, có lẽ ta và địch đang giành giật vùng giáp ranh.

        Lòng tôi vẫn còn giữ ấn tượng xúc động mạnh mẽ về buổi trao trả những "Phụ nữ tù binh" vừa qua. Trong đời làm phim của tôi có lẽ không bao giờ gặp lại những cảnh như thế nữa. Đang nghĩ miên man thì ánh sáng đô thành Sài Gòn đã ở dưới cánh bay.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Ba, 2012, 10:50:12 am

        ĐẢO PHÚ QUỐC

        Chiếc máy bay "chuồn chuồn" của Mỹ đang đưa đoàn ta ra đảo Phú Quốc. Tôi gọi chiếc máy bay đó là "chuồn chuồn" vì tôi thấy nó rất nhỏ, chỉ có 6 chỗ ngồi, cánh quạt quay tít và bay rất nhanh. Đoàn miền Bắc ngồi ở một chiếc, còn chiếc "chuồn chuồn" kia là phái đoàn Cách mạng miền Nam Việt Nam. Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa đi một chiếc khác.

        Trên cao nhìn xuống, đảo Phú Quốc giống một bàn chân khổng lồ, có chiều dài 49 km. Phía Bắc đảo là rừng rậm, nghe đâu là căn cứ Cách mạng mà trong từng ấy năm địch không thôn tính được, phía Nam là cầu tàu và hàng chục trại giam. Lúc này là đầu năm 1973 và chỉ 4 năm sau (1977) tôi lại bay ra đảo để làm một phim về hòn đảo này. Việc trở lại đảo lần thứ 2 có nhiều kỷ niệm thú vị, tôi sẽ nói sau.

        Hai máy bay lăn trên đường băng và dừng hẳn. Phía Sài Gòn cho các xe Jeep ra đón nhưng vì các xe đều sơn cờ vàng 3 sọc đỏ, phái đoàn ta nhất định không chịu lên xe. Mục đích chuyến ra Phú Quốc lần này là để phái đoàn ta vào thăm các trại giam đang giam giữ các chiến sĩ ta.

        Một sĩ quan Cộng hòa nêu ra 1 ý kiến:

        - Có xe mà các quý ngài không chịu đi, từ đây đến khu trại giam khoảng 4 km, xa đấy! có lẽ chúng ta phải lội bộ thôi.

        Họ ngây thơ quả! Họ tưởng nêu ra việc đi bộ thì phái đoàn ta sẽ ngại và chấp nhận đi xe có cờ 3 sọc. Song họ lại không hiểu rằng các sĩ quan quân đội trong 2 phái đoàn miền Bắc và miền Nam nhiều người đã từng kinh qua 2 cuộc chiến tranh đánh Pháp và đánh Mỹ, đã từng đi bộ suốt dọc giải Trường Sơn, thì bây giờ đi bộ 4 km có khó khăn gì...

        Đồng chí Trung tá Tuấn Anh phụ trách đoàn miền Bắc phát biểu ngay:

        - Nào xin mời, chúng ta cùng đi bộ về trại giam.

        Tôi nhấc máy quay ra và nghĩ chắc được 1 cảnh hay đây. Tôi hình dung phái đoàn Sài Gòn và Hoa Kỳ sẽ nhễ nhại mồ hôi, thở phì phò, bên cạnh 2 phái đoàn của ta đi phăm phăm.

        Các sĩ quan đoàn Sài Gòn đứng im không nhúc nhích, cũng không thấy nói gì, chính họ mới là người sợ đi bộ. Có lẽ phái đoàn Hoa Kỳ cũng sợ đi bộ thì phải nên họ nêu ngay ra 1 ý kiến:

        - Xin các ngài đi xe của chúng tôi, chả sơn cờ nào cả, ta chịu ngồi chật 1 chút.

        Một giải pháp tình thế tốt nhất lúc này; nhưng tại sao khi ta phản đối không chịu lên xe có sơn cờ 3 sọc họ lại không nêu ra giải pháp này ngay? Có lẽ họ muốn xem thái độ ứng xử của phái đoàn ta với Sài Gòn ra sao.

        Trại giam đây rồi, đứng ở ngoài ngút tầm nhìn là hàng rào dây thép gai tầng tầng lớp lớp, chỉ có một lối đì hẹp và dích đắc chỉ đi được hàng một. Lớp hàng rào kẽm gai đó dày tới 50 mét.

        Đến cổng, viên Trung tá phụ trách trại giam nói với đoàn ta:

        - Xin mời các quý ngài vào, tôi xin lỗi vì ở trên thế giới đã có rất nhiều trường hợp người quản lý trại giam bị bắt cóc. Các ngài hiểu cho tôi còn vợ con và gia đình.

        Viên Trung tá phụ trách trại giam ra hiệu cho một người lính dẫn đoàn ta vào sân trại giam.

        Ống kính tôi bắt gặp 1 cảnh: trong một khu nhà mái tôn nền đất, các chiến sĩ ta đứng thành hàng nghiêm chỉnh, thấp thoáng có những chiếc mũ tai bèo, cũng có người vẫn mặc quần đùi.

        Một tiếng hô "nghiêm!", không khí im lặng, song không thấy người hô nghiêm tiến ra báo cáo như điều lệnh quân đội đã quy định khi gặp cấp trên, tôi vội gạt ý nghĩ này đi vì đây là trại giam mà đối phương đang giam giữ các cán bộ chiến sĩ của ta chứ đâu phải là đơn vị quân đội.

        - Các đồng chí và các bạn...

        Trung tá Tuấn Anh bắt đầu giới thiệu về Hiệp định Paris, về nhiệm vụ của các đoàn quân sự 4 bên, về mục đích tới thăm trại giam lấn này và về vấn đề trao trả tù binh.

        Tiếng xì xào nổi lên và hàng ngũ bắt đầu chuyển động.

        Những hình ảnh trong cuộc tới thăm trại tù binh ở Phú Quốc đã tạm đủ tôi vội đi các ngóc ngách trong trại. Vốn là phóng viên hay sục sạo mọi xó xỉnh, tôi liền tới nơi ngủ của các chiến sĩ ta bị giam giữ ở đây. Cả nhà là một dãy sạp gỗ liền nhau, đây đó vãn mắc những chiếc võng bằng vải trương và những mũ tai bèo mà những ai đi B trong chiến tranh đều có, những chiếc balô cóc xẹp lép vút trên giàn giá. Tất cả những đồ đạc này đã nói lên quá trình chiến đấu của các chiến sĩ ta, những người đang đứng trong hàng kia và đang uống từng lời trong lúc Trung tá Tuấn Anh của đoàn miền Bắc nói chuyện.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Ba, 2012, 10:51:56 am

*

*         *

        Năm 1977 tức là 4 năm sau cuộc viếng thăm trại tù binh Phú Quốc, tôi lại bay ra đây làm phim về hòn đảo phía Tây này. Lúc ấy tôi có dịp đi từ thị trấn Dương Tơ lên Dương Đông. Ở Dương Tơ có cầu cảng, nhìn khu cầu cảng tôi chợt nhớ lại có lẽ hàng ngàn cán bộ chiến sĩ ta đã đi trên cầu cảng này để vào trại tù binh của địch. Còn ở thị trấn Dương Đông sầm uất có sân bay, nơi đó (1973) phái đoàn ta đã hạ cánh để đi vào thăm một trại tù binh.

        Thị trấn Dương Đông nằm sát ngay khu rừng rậm mà vào đó tôi có cảm giác đi trong rừng Trường Sơn, những cây gỗ to ba, bốn người ôm, trong rừng còn rất nhiều mìn ta gài lại, chưa kịp gỡ hết, điều đó giải thích rõ: phía Bắc đảo là căn cứ du kích kháng chiến của ta.

        Tôi vào một khu trại giam tù binh cũ. Bây giờ nó hoang phế vắng lặng, tôi như còn nghe rõ tiếng hô "nghiêm" của một đồng chí khi 2 phái đoàn miền Bắc miền Nam tới nói chuyện cách đây 4 năm. Trong mỗi trại giam ở đây bên phía hàng rào kẽm gai còn có những chỗ giam đặc biệt: nơi giam đứng thì không thể ngồi bởi vì khi khóa cửa lại, bức tường dây thép gai ép sát người như kẹp chả. Còn nơi giam ngồi thì lại không thể đứng vì bức tường dây thép gai đã đè sát đầu. Cả hai nơi giam này người bị giam đều phải chịu phơi năng, mưa.

        Lần làm phim này tôi dẫn theo đồng chí Phan Văn Cát người Nghệ An, nguyên tiểu đội trưởng, tù binh của địch năm xưa bị giam trong chính trại giam này. Anh đã cùng đồng đội dùng cái thìa bằng thép không gỉ để đào một đường hầm qua hệ thống hàng rào, tổ chức cho một số đồng chí trốn thoát về phía Bắc đảo. Mỗi tù binh được phát 1 hang gô có quai dùng để đựng nước, làm bát ăn và 1 chiếc thìa; hai thứ này đều là thép không gỉ rất cứng. Chính đối phương đã cung cấp thìa để các chiến sĩ ta biến thành xẻng đào hầm. Cuộc tào tẩu của các chiến sĩ ta đêm đó chỉ mới thoát được 14 người, đến người thứ 15 thì địch phát hiện được và bắt lại.

        Sáng hôm sau, địch cho bật tung đường hầm lên và trước mặt các tù binh, viên Trung úy Hoa Kỳ sau khi đe nẹt đã phải nói: "Dù sao tôi cũng phải cúi đầu kính phục tinh thần các ông!" (Đó là lời đồng chí Phan Văn Cát kể lại cho các chiến sĩ hải quân trên đảo nghe khi tôi tổ chức quay phim)

        Chỗ vết lõm của cửa đường hầm đào năm xưa còn đó, Phan Văn Cát còn kể rằng: Khi anh bị bắt làm tù binh thì ở quê nhà tổ chức làm lễ truy điệu cho anh vì anh đã trở thành "liệt sĩ" như giấy báo tử. Anh còn cho tôi xem 1 tấm ảnh trong lễ truy điệu ấy có 1 nữ du kích bồng súng đứng trước bàn thờ.

        Khi anh trở về địa phương, người nữ du kích ấy đã cùng anh nên nghĩa vợ chồng.

        Chuyện thật vui và cảm động đầy chất nhân văn. Chuyện về Phú Quốc còn nhiều, nhưng thôi sẽ làm mất thì giờ và mệt cho các anh khi đọc những dòng này.

        VỤ LỘN XỘN Ở CỔNG TRẠI ĐA-VÍT

        Một buổi chiều tôi thấy ở cổng trại Đa-vít nơi ở của cả 2 phái đoàn miền Bác và miền Nam, người đông lộn xộn cùng những tiếng cãi cọ, có cả người nước ngoài.

        Tôi xách máy quay chạy ra, tình huống lúc này là ở ngoài cổng các phóng viên của các báo và các hãng thông tấn muốn vào thăm phái đoàn ta, nhưng quân cảnh của Việt Nam Cộng hòa ngăn cản không cho vào. Tôi đứng phía trong hàng rào mắt cáo chĩa máy ra quay, tôi không thể ra ngoài để ghi  hình bởi một nguyên tắc ngoại giao theo tôi biết: phía trong cổng là luật của ta, còn phía ngoài cổng là luật của đối phương.

        Máy tôi đang quay xè xè thì một tiếng quát:

        - Quay gì? quay gì?

        Tiếp sau là một tiếng xoạch lên đạn. Tôi ngó qua hàng rào, một tên quân cảnh mặt hầm hầm đầy đe dọa. Tôi vẫn tiếp tục quay những rất hạn chế tầm nhìn vì có cổng che khuất, trong đầu tôi nghĩ: thách bố mày cũng không dám nổ súng. Nổ súng không phải là cá nhân mày nữa mà là quan hệ động trời của cả 2 phía: phái đoàn quân sự cách mạng và chính quyền Sài Gòn.

         Vụ lộn xộn này rồi đối phương cũng giải tán được.

        Tiếc quá, giá tôi được ra bên ngoài cổng thì sẽ quay được những cảnh sinh động hơn.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Ba, 2012, 10:55:48 am

        CHÚNG TÔI GIỮ PHIM VÀ NGƯỜI MỸ CHUYỂN HỘ PHIM

         Ở trong trại Đa-vít tôi và anh Trán Duy Hinh đã gỡ ra một tấm ván trần nhà, nếu có tình huống đối phương hành hung thì 1 người đẩy thùng phim lên đó và đậy ván lại, còn 1 người phải dùng máy quay ghi lại những cảnh lộn xộn hành hung. Mặc dù chúng có thể đánh chúng tôi bị thương, nhưng những thước phim tố cáo đó là bằng chứng không thể chối cãi.

        Sau đó khi ở ngoài sân bay, nhất là về đêm, khi tôi quay xong cuộn phim nào tôi đều đưa cho 1 anh trong đoàn, rồi các anh chuyển cho nhau, ai giữ thì chính tôi cũng không biết, khi về tới nơi ở, cuốn phim đỏ được trả lại cho tôi và anh Hinh. Chúng tôi đề phòng nếu có bị chúng hành hung thì cũng chỉ có máy quay với một ít hình ghi dở thôi.

        Một việc mà chính hai người quay phim chúng tôi không ngờ lại trở thành sự thật:

         Khi quay phim quân đội Hoa Kỳ và chư hầu rút đi, đoàn miền Bắc có tôi (Nguyễn Khai và anh Trần Duy Hinh, đoàn miền Nam có anh Lâm Tấn Tài và anh Nguyễn Quế, nghĩa là những thước phim Mỹ rút quân chỉ có 4 người chúng tôi quay và những tấm ảnh của 2 anh Bùi Duy Ly, Hứa Kiểm ghi lại. Tuyệt nhiên không có bất cứ 1 phóng viên nào ngoài Ban Liên hợp quân sự 4 bên được phép có mặt. Những thước phim chúng ta độc quyền.

        Khi phim quay đã được ít ngày, chất liệu tốt, tôi bèn trao đổi với anh Ngô Thế Kỷ cán bộ thông tấn báo chí trong phái đoàn Cách mạng miền Nam: "Những mét phim mà cả 2 đoàn đã quay tập trung lại một mối, tôi sẽ gửi ra Hà Nội in tráng, nếu phim của đoàn miền Nam gửi về căn cứ miền thì phương tiện in tráng sẽ không được tốt bằng". Anh Ngô Thế Kỷ thấy hợp lý và tán thành.

        Thế là hàng tuần tôi đóng gói những cuộn phim đã ghi hình gìn phi công Mỹ ra sân bay Gia Lâm, ở đây đã có một thượng úy bảo vệ của Điện ảnh Quân đội nhân dân chờ sẵn, nhận về và tráng ngay. Những thước phim Ở Sài Gòn gửi ra, các anh điện vào là rất tốt và đã lệnh không được cắt đi 1 mẩu nào.

        Chả là hàng tuần có 1 chuyến máy bay ra Hà Nội để chở các đồ dùng tiếp tế cho phái đoàn ta. Người phi công Mỹ có lẽ cũng không nghĩ và không biết chính anh ta đã giúp chúng tôi đưa những hình ảnh quay quân đội Hoa Kỳ rút lui khỏi Việt Nam một cách nhanh chóng và trọn vẹn đến Điện ảnh Quân đội nhân dân. Riêng việc này xin cảm ơn người phi công Hoa Kỳ ấy.

        TÔI LÀ NGƯỜI MỸ CUỐI CÙNG

         Hôm nay là ngày cuối cùng quân Mỹ rút khỏi Việt Nam. Có lẽ là ngày "tháo khoán" họ mở cửa cho các loại phóng viên vào. Đông quá mức, có tới cả trăm người quay phim chụp ảnh, ghi chép. Họ quay tất cả những gì có thể quay được, thậm chí khi tôi rúc vào ôtô để thay cuộn phim mới họ vẫn ghé ống kính qua cửa để quay vì mấy khi gặp được "Việt cộng" vả lại bị cấm cửa mãi, hôm nay là ngày cuối cùng còn dịp nào nữa.

         Nhưng còn một cảnh quan trọng mà tôi cũng giống họ là ghi hình người Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam ở sân bay Tân Sơn Nhất.

        Vòng trong vòng ngoài vây lấy cửa máy bay. Tôi người thấp bé nhưng mắc quân phục, tay đeo băng mầu da cam có số 4 màu đen đứng dạng chân, tay cầm máy quay; ý của tôi là không cho bất cứ thằng nào tiến lên phía trước che ống kính của mình. Cái thế của mình là người của Uỷ ban Liên hợp quân sự 4 bên nên các phóng viên có ý nể, tất cả họ đều ở phía sau tôi.

        Đây rồi, phút chờ đợi đã tới. Một xe con đỗ xích ngay cạnh cửa máy bay, 1 người Mỹ bước xuống giơ cao tay: - Tôi là người Mỹ cuối cùng.

        Một rừng máy quay và máy ảnh chớp liên hồi tưởng chừng người Mỹ đó như báu vật, không phóng viên nào còn chú ý đến việc khác nữa. Người Mỹ bước vào trong khoang máy bay, bây giờ chờ cánh cửa máy bay đóng sập lại thế là đạt yêu cầu một cảnh đẹp đẽ.

        Chờ mãi cửa máy bay không thấy đóng, anh lính Mỹ da đen ngồi đó nhe răng cười trắng ởn. Thôi rồi, họ lại lừa! Cả rừng phóng viên cũng cười và lại chờ đợi.

        Một xe con nữa lại lao tới. Vẫn 1 người Mỹ mặc thường phục:

         - Tôi mới là người Mỹ cuối cùng.

        Ông ta cũng bước nhanh vào khoang máy bay, và kìa vẫn thấy anh lính da đen cười tươi không nhúc nhích, nghĩa là cửa máy bay vẫn chưa đóng.

        Không biết còn vị nào tới và xưng "Tôi mới là người Mỹ cuối cùng" nữa đây? Thật là khôi hài theo kiểu Mỹ.

       Vậy ai là người Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam ?

       Theo danh sách mà hai vị trung tá Mỹ Xlat-ca và Pơc-maitrao cho thiếu tá Đoàn Văn Diễn của Chính phủ CMLTCHMNVN có tên 3 đại tá Mỹ: đại tá Hem-ma, đại tá Ô-den của không quân và đại tá Nơn-đoóc tư lệnh căn cứ Tân Sơn Nhất.

        Còn người Mỹ cuối cùng là ai ? Đó là đại tá không quân Ô-đen, hắn đã lên máy bay từ trước nhưng lại nhảy xuống mở chai rượu vang tu từng hớp rồi lhoacs vai viên đại tá cảnh sát ngụy. Sau đó ZÔ-đen bước lên máy baycho nên hắn trở thành tên sĩ quan Mỹ cuối cùng rời khỏi Nam Việt Nam. Máy bay đóng cửa, thẳng hướng đông đi về Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.

         Viết lại những chuyện vụn vặt cỏn con này, trong đầu tôi những hình ảnh về trại Đa-vít, về những hoạt động của Ban Liên hợp Quân sự 4 bên Trung ương lướt qua như một cuốn phim đây hình ảnh sống động. Song vì thời gian đã lùi xa, mà thời gian có một đặc tính khắc nghiệt là nó dần xóa nhòa đi những chi tiết, những ký ức. Vì vậy những mẩu chuyện nhỏ có thể sai lệch về địa điểm và thời gian hoặc tên các anh chưa đúng. Mong các anh thứ lỗi cho người viết.

        Hy vọng những mẩu chuyện nhỏ này làm các anh nhớ lại 1 quãng thời gian hào hùng trong Ban Liên hợp Quân sự 4 bên Trung ương.

       
9-2008         


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Ba, 2012, 11:15:12 am

NHỚ LẠI SỰ KIỆN LY TÔN
ĐẠI TÁ HÀ CÂN                

        Ban Liên hợp quân sự bốn bên vừa kết thúc nhiệm vụ sau 2 tháng hoạt động, công việc được chuyển cho Ban Liên hợp quân sự hai bên (ta và nguỵ Sài Gòn) thì đoàn ta phải giải quyết ngay một vụ khá "đau đầư".

        Trưởng đoàn ta được mời đến họp với các trưởng đoàn quân sự trong Uỷ ban quốc tế để giải quyết một việc khẩn cấp: Một máy bay trực thăng UH1 của Uỷ ban quốc tế (U.B.Q.T) bị tai nạn rơi trong vùng giải phóng tỉnh Quảng Trị.

        Uỷ ban quốc tế yêu cầu ta tổ chức và bảo đảm an toàn cho đoàn U.B.Q.T gổm 4 nước đến chỗ xảy ra tai nạn để xác minh nguyên nhân và giải quyết hậu quả.

        Đoàn U.B.Q.T đến vùng Ly Tôn (phía Tây thị xã Quảng Trị), làm việc với chính quyền địa phương và sau cuộc họp đã ra thông cáo báo  chí được đưa ra:

         " Nguyên nhân trực tiếp gây ra tai nạn là máy bay trực thăng của U B.Q.T đã đi lệch hành lang quy định 50km... ". Số người thiệt mạng gồm có: 1 đại uý Hunggari, 2 sỹ quan Inđonêxia, 2 sỹ quan của Chính Phủ Cách mạng Lâm thời CHMNVN và tổ lái 3 người: 2 Mỹ, 1 Philippin. " (trích thông cáo báo chí... ).

        Báo chí Sài Gòn nhân dịp này đã công kích ta vi phạm Hiệp định mặc dù bản tụyên bố có chữ ký của 4 trưởng đoàn trong tổ U.B.Q.T khu vực 1 (Quảng Trị - Thừa Thiên) đã nêu rõ: "nguyên nhân tai nạn là do tổ  lái sai sót và không chấp hành những quy định đã được các bên thống nhất".

        Vài hôm sau, đại biểu Canada và Inđônêxia đề nghị đi điều tra lại vì theo họ, vị trí dỗ của chiếc trực thăng còn lại (hôm xảy ra tai nạn có 2 máy bay UH1 cùng bay) đã được di dời khỏi vị trí cũ, sâu vào phía vùng giải phóng(!).

        Tuy biết họ có ý định muốn lật lại vấn đề, lấp liếm sai sót của tồ lái nhưng đoàn ta, với thiện chí cộng tác tốt với U.B.Q.T đã đồng ý để các đại diện của U.B.Q.T trở lại chỗ xảy ra tai nạn để xác minh lần nữa và tổ chức đưa chiếc trực thăng còn lại, mang số hiệu 115, về Quảng Trị.

        Tôi được cử làm sỹ quan liên lạc của đoàn ta trong Ban liên hợp hai  bên Trung ương ở Tân Sơn Nhất cùng với một sỹ quan phiên dịch, có nhiệm vụ phối hơp với U.B.Q.T.

        Chiều 25/4/1973 chúng tôi ra đến sân bay Phú Bài rồi đi luôn ra Quảng Trị bằng xe ôtô. Sau gần 30 năm tôi mới trở lại Huế. Xung quanh sân bay là một vùng cát như sa mạc. Trời mưa lâm râm. Nhìn núi Ngự Bình mới thảm thương làm sao! Hòn núi làm nên vẻ đẹp thơ mộng của chốn sông Hương núi Ngư với rừmg thông vi vu đã trở thành một đồi trọc. Núi Ngự không có thông giống như cô gái Huế bị cạo trọc đầu!

        Xa Huế đã lâu, từ 1945, nay trở lại, cái nhận xét đầu tiên của tôi là Huế không còn đẹp như ngày xưn. Ngoài cầu Tràng Tiền, có thêm cầu Phú Xuân bằng bêtông. Dọc bờ sông từ Phú Vân Lâu trở lên cầu Bạch Hổ, các lều tạm bợ bằng tôn, vải bạt choán hết các bãi cỏ đẹp ven sông.

        Dọc hai bên đường có những khẩu hiệu chống cộng mà đoạn Triều Sơn là nhiều nhất.

        Ra khỏi Văn Xá là cảnh vắng lặng của vùng bị tác động của chiến tranh. Hai bên đường không còn nhà cửa, ruộng đổng bị bỏ hoang. Cầu Mỹ Chánh bị đánh sập để "cản đường tiến quân của quân giải phóng" đã được sửa tạm, có lính nguỵ đứng gác ở hai đầu cấu. Chẳng mấy chốc đã đến Quảng Trị. Thành cổ Quảng Trị chỉ còn là đống gạch vụn đúng với nghĩa đen của nó: Cả thị xã Quảng Trị không còn cái nhà nào đứng vững chỉ còn trơ lại vài bức tường chi chít vết đạn, còn thì dổ sụp hết. Đường xá mất dạng chỉ còn lổn nhổn gạch đá. Xe phải chạy qua đống gạch đá để ra bờ sông. Sông Thạch Hãn nước trong xanh, phía Quảng Trị bờ đứng, còn phía bên kia thoai thoải bãi cát. Chúng tôi xuống chiếc "ho-bo" (một loại xuồng máy quân sự của Mỹ) nhỏ sang sông. Mùa này nước sông chỉ hẹp vài chục mét. Lên bờ là đến "đất mình" rổi. Một đồng chí cán bộ quân giải phóng ra đón chúng tôi. Chỗ này đã là chỗ đón tiếp anh em bị dịch bắt được trao trả cho ta.

        Các thành viên tổ quốc tế ở Huế cũng ra đến nơi: đại tá Barcopski (Ba Lan), 1 đại tá và 1 thiếu tá Canada, 1 đại tá Inđônêxia, 1 trung uý Hunggari tên là Berentes.  Điều bất ngờ trung uý Berentes (bê-ren-tét) lại là chủ tịch của tổ quốc tế, điều khiển cả tổ có 3 ông đại tá! Lý do rất đơn giản là tuần này đến phiên Hunggany làm chủ tịch. Nhưng ông đại tá trưởng đoàn Hunggari  phải đi Sài Gòn chữa răng, ủy nhiệm trung uý Berentes thay thế!

        Cuộc họp bắt đầu bàn phương thức đi lên Ly Tôn, đến hiện trường. Đầu tiên, đại tá Canada đòi đi bằng máy bay lên thẳng theo đường ngắn nhất.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Ba, 2012, 11:22:15 am
        Phương án này không thể chấp nhận được vì ai biết được bên dưới cánh rừng là gì. Tôi từ chối: không thể thông báo cho bộ đội chúng tôi, không an toàn, không được bay cắt ngang mà phải theo hành lang đã nhất trí. Không được chấp nhận, đại tá Canada đòi bay theo đường 9 đến Hương Hoá rồi bay rẽ theo đường ôtô vào Ly Tôn. Cũng không dược chấp nhận. Chính vì bay trinh sát con đường mới mở trong hệ thống đường Trường Sơn này mà một chiếc UH1 đã bị tai nạn. Không thể chấp nhận cho họ bay công khai xem con đường này một lần nữa. Kết luận là chỉ có đi lên Ly Tôn bằng ôtô mà thôi. Họ yêu cầu phải tổ chức chu đáo, bảo đảm an toàn. Bàn đến việc đưa chiếc máy bay còn lại về Quảng Trị, họ lại đề nghị dùng trực thăng loại lớn để cẩu về. Mình đã không chãp nhận việc đi lên đó bằng máy bay thì làm sao có thể chấp nhận việc đưa về bằng máy bay? Họ đành chịu chấp nhận đi và về bằng đường bộ, nhưng yêu cầu ta cung cấp xe tải lớn. Việc này không khó lắm, đây là "hậu phương" của ta.

        Nhất trí với nhau là để 1 ngày chuẩn bị và sẽ lên đường sáng ngày hôm sau.

        Chúng tôi về nghỉ ở trụ sở ta ở Gio Linh, tồ U.B.Q.T trở về Huế.

        Sáng hôm sau chúng tôi vào bờ Bắc sông Thạch Hãn đón tổ U B.Q.T. Đoàn dùng toàn xe Bắc Kinh mới, có 1 tổ hậu cần đi theo để lo việc ăn uống cho tổ quốc tế.

        Vẫn các thành phần tổ quốc tế đã họp ngày hôm trước, có thêm 1 tổ thợ máy UH1 gồm 1 người Mỹ và 2 người Philippin.

        Đoàn đi theo đường số 9 đến Đarkrong thì ngoặt hướng Đông Nam theo đường mới mở. Con đường mới mở, đất đỏ lòm, bụi mù, khác hẳn với đường số 9 xanh xám màu nhựa đường. Hướng đường cũng khác hẳn, cho nên sự chống chế "bay vô tình lạc đường" đã bị lòi đuôi. Đường mới mở dọc theo trién núi, lên đồi xuống khe, có lúc lội theo khe. Mới đi một đoạn mà đã thấm mệt, không biết các đồng chí lái xe đường Trường Sơn, ngày này qua tháng nọ dưới bom đạn, sức chịu đựng của các dồng chí như thế nào?

        Đến khoảng trưa mới đến nơi, vào nghỉ ở 1 lán của thanh niên xung phong (TNXP) Ở bên đường. Các vị ở tổ quốc tế đều mang theo đệm nằm hoặc túi ngủ để lót lưng vì không quen nằm trên sàn nứa. Thảo nào, các tù binh Mỹ được cho nằm trên ván thì coi đó là 1 hình phạt tra tấn!

         Tôi hỏi chuyện các đồng chí công binh. Một đồng chí nói: "Sáng hôm đó, khoảng 9 giờ, đang ngủ trong cabin xe, nghe có tiếng trực thăng sát sạt lại nghe tiếng hô "biệt kích, biệt kích" choàng dậy thấy 1 chiếc trực thăng sà xuống con đường trước mặt, bèn lia 1 băng AK, nhưng đang ngái ngủ, chẳng trúng vào đâu cả. Tổ lái và khách đi trên chiếc máy bay vừa sà xuống đường, hết hồn vía, được đưa vào lán nghỉ. Cán bộ quân giải phóng đến giải quyết và đưa về Gio Linh".

        Khi đoàn chúng tôi đến nơi, chiếc UH1 - 115 vẫn nguyên chỗ cũ. Một đơn vị gần đó đã được lệnh đưa hai chiếc xe tải lớn sẵn sàng để cõng chiếc UH1 về Thạch Hãn.

        Chúng tôi yêu cầu tổ quốc tế ký biên bản xác nhận là chiếc UH1 vẫn ở nguyên vị trí hôm nó hạ cánh và được canh gác giữ gìn tốt.

        Đạl tá Canada từ chối không chịu ký. Đấu lý mãi, ông ta vẫn không chịu ký, tuyên bố: "Tôi đã được lệnh là không được ký một văn bản nào ở vùng của Chính phủ cách mạng lâm thời ! "

        Đã vậy thì xin mới quý vị ở lại đây đêm nay để chứng tôi đi báo cáo với nhà chức trách địa phương.

        Ở lại đêm trong rừng đối với quân ta là chuyện thường tình nhưng với các sỹ quan công tử này là một thử thách lớn. Chỉ cái việc đi cầu tiêu cũng đã rắc rối. Bộ đội đã chuẩn bị các hố xí có che chắn xung quanh, nhưng các, cậu sỹ quan Tây không quen ngổi xổm nên rất khó khăn. Tiếng rừng ban đêm nghe cũng rờn rợn. Trung uý Berentes bàn với tôi: "đại biểu Canada không chịu ký, còn 3 đại biểu Ba Lan, Innđônêxĩa, Hunggan sẽ ký xác nhận, đề nghị đồng chí đi gặp các đồng chí ở địa phương cho chúng tôi ngày mai nhận máy bay về!"

        Tôi đi gặp một đồng chí có trách nhiệm ở đia phương, báo cáo tình hình. Đồng chí ấy nhất trí giải quyết theo đề nghị của đại biểu Hunggari.

           Sáng ra, họp lại, Berentes thay mặt tổ quốc tế nêu đề nghị mà đồng chí ấy đã trao đổi với tôi. Để tỏ thiện chí, không gây khó khăn cho U B.Q.T, bên ta đồng ý.

           Các thợ máy bắt tay thấo cánh quạt, cần cẩu đưa thân máy bay lên xe cần cẩu một cách gọn gàng, nhanh chóng. Xong xuôi, các vị sỹ quan quốc tế mừng ra mặt vì đã "làm tròn nhiệm vụ" và sắp được rời khỏi nơi núi rừng đầy bí hiểm này.

           Đường về trơn tru, không có gì xảy ra. Việc trao trả chiếc UH1 số 115 được ấn định vào sáng hôm sau. Tại bờ Bắc sông Thạch Hãn, tồ thợ máy ký vào biên nhận: "Hãng Air Amerca phục vụ U.B.Q.T xác nhận là phía Chính Phủ Cách mạng lâm thời đã bảo quản tốt và giúp đỡ đưa chiếc UH1 số 115 về đến Quảng Tn không sây sứt gì."

        Đến đây thì hỉ hả rồi. Đại tá Canada "xung phong" ký xác nhận đầu tiên!

        Hoàn tất thủ tục bàn giao, một chiếc UH1 từ phía Quảng Trị bay sang cẩu đoạn đuôi và cánh quay xong trở qua cẩu nốt cái thân. Khi thân chiếc máy bay UH 1 được nhấc bổng lên, mọi người vỗ tay hoan hô sự thành công của chuyến đi.

        Bầu trời Bắc sông Thạch Hãn xanh thẫm, yên bình. Đó là vùng đất  tự do, một vùng giải phóng thiêng liêng của chúng ta.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Ba, 2012, 03:11:52 pm

Mùa xuân 1973
từ Trại Đa-vit Tân Sơn Nhất

Phú Bình                 

        Trong bước ngoặt xuân 1973, ở miền Nam có một trại lính, vốn là của Mỹ, bỗng nổi tiếng ở Việt Nam cũng như ở nước ngoài, trại Đa-vit (Davis Camp).

        Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, trại Đa-vit, nằm giữa căn cứ không quân Tân Sơn Nhất, nhô vụt lên, trong lúc ánh đèn của Bộ chỉ huy Mỹ Mắc-vi - "Láu năm góc Phương Đông" - đã tắt ngấm bên kia đường băng sân bay lúc nửa đêm 15/3/1973. Đa-vit của Mỹ đã phải mở cửa đón hai đoàn đại biểu quân sự từ Hà Nội và từ rừng căn cứ địa Tây Ninh vào đặt trụ sở trong trại.

        Vào những ngày giáp Tết 1973 đó, người dân Sài Gòn đã dừng lại nhìn những đoàn xe Hoa Kỳ, sơn màu đen thẫm, chở những sĩ quan "lạ" rộn rịp kẻo vào trại Đa-vit. Xe Jip của quân cảnh Sài Gòn đi hộ tống. Một số người dân đã nhìn thấy quân hiệu của những sĩ quan này. Những ngôi sao vàng nền đỏ hoặc nền nửa đỏ, nửa xanh.

        Từ năm 1965, khi quân Mỹ ồ ạt kẻo vào Việt Nam, Đa-vit là vị trí của một đơn vị Em-pi (quân cảnh Mỹ) và sau đó nhường cho một đơn vị thuộc tập đoàn không quân số 7 của Mỹ.

        Trại Đa-vit nằm ép giữa đường phố Lê Văn Lộc và đường băng sân bay Tân Sơn Nhất. Đa-vit dài chừng 500 mét, rộng 200 mét, với hơn bốn chục dãy nhà gỗ một tầng lớp phi-bờ-rô-xi-măng. Xung quanh trại có ba lớp rào: một hàng rào bùng nhùng, có hàn những mảnh thép mỏng rất sắc, một lưới thép dựng đứng cao gần 3 mét, và một lớp tường bằng tôn cứng che hướng nhìn ra đường sân bay.

        Từ ngày có phái đoàn nam bắc Việt Nam đến đóng quân, Đa-vit trở thành một trung tâm đấu tranh sôi nổi. Từ đây, các sĩ quan Việt Nam dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền nam Việt Nam lên xe ôm, lên trực thăng, lên máy bay cánh quạt đi khắp mọi nơi ở miền Nam. Như trong một ngày 12/3/1973, từ căn cứ Đa- vít hai đoàn quân đội sao vàng đã cử người bay ra đảo Phú Quốc quan sát nhà tù An Thới. Một số khác thì bay lên Minh Hòa (Thủ Dầu Một), bay lên Lộc Ninh (tỉnh Bình Long) tổ chức trao trả tù binh cho phía Sài Gòn. Một tổ bay ra bãi biển Nha Trang theo dõi việc quân Nam Hàn rút khỏi nước ta. Một tổ khác ra sân bay Tân Sơn Nhất theo dõi việc triệt thoái quân Mỹ và đồng minh. Và trong khi đó, suốt ngày từ trại Đa-vit, hàng đoàn xe ôm đi đi về về, đưa các vị tướng cùng các sĩ quan ra hội trường Phi Long họp với đối phương ở cấp trưởng đoàn, họp các tiểu ban trao trả, tiểu ban điều hành v.v...

        Cờ liên hợp nhuộm màu da cam trước mũi xe của phái đoàn, cờ và đèn hiệu của xe quân cảnh Sài Gòn bốc lên, các sĩ quan quân đội nhân dân và quân Giải phóng xuất hiện giữa đô thành trong khi nhà cầm quyền Sài Gòn hậm hực, và người Mỹ thì lại giữ im lặng, "coi như không có gì xảy ra".

        Một công nhân người Việt, làm trong trại Đa-vit nói với các sĩ quan Giải phóng: Trước đây trại Đa-vit này hống hách vô chừng, tụi Em-pi rượt đuổi mọi xe người Việt đậu gần cổng, kể cả xe bộ trưởng Sài Gòn.

   Một nhà báo Sài Gòn bắt tay đồng chí thiếu tá QĐNHVN trong BLHQS 4 bên , giọng xúc động:

        -  Các anh đã biến trại Đa-vít thành một đóa hoa hồng. Hoa hông đẹp và có gai. Người Sài Gòn biết đóa hoa hông đó thơm cho ai và nhức nhối cho ai.

        


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Ba, 2012, 03:14:56 pm

     Đường Lê Văn Lộc và căn nhà màu xanh

        Đường Lê Văn Lộc chạy ngang cổng trại Đa-vit. Đó vốn là một con đường của những gia đình lính Sài Gòn "phục vụ" lính Mỹ.

        Từ cổng trại Đa-vit đi về hướng đông, trên một cây số chiều dài, ra tận ngã ba quân y, là các dãy nhà một tầng nối tiếp nhau, nơi ở của gia đình binh lính và sĩ quan Sài Gòn, gọi là "khu gia binh". Khi quân Mỹ còn đóng trong trại Đa-vit thì trong khu gia đình này, vợ con binh lính, kể cả binh lính nữa, suốt ngày giặt giũ áo quần cho lính Mỹ, chạy xe, bán hàng giải khát, tiêu thụ hàng lậu cho lính Mỹ, số đàn bà con gái có chút nhan sắc thì dễ "dính" với linh Mỹ.

        Bây giờ quân Mỹ phải rút hết, khu gia binh này khốn khổ. Chếch bên trái cổng trại Đa-vit là một căn nhà tốc mái, bỏ hoang, không biết người lính chủ căn nhà đó đã bị vùi dập nơi nao. Tiếp theo căn nhà hoang đó là một dãy nhà ọp ẹp, nhô ra, thụt vào như hàm răng sún. Qua một căn nhà có cây trứng cá, trước nhà có một chiếc ôtô du lịch bẹp nát, trẻ con chui ra chui vào chơi trốn bắt, là đến dãy nhà lụp xụp làm bằng gỗ phế thải của trại Đa-vit. Đối diện với dãy nhà gỗ là những dãy nhà bằng sắt đen xỉn, mái bằng sắt, vách bằng sắt, cửa lớn, cửa sổ đều bằng sắt, một thứ sắt han gỉ, có lẽ là những tấm sắt ở các thùng phuy cắt ra và dập phẳng, trẻ con nghịch nhau ném đá vào nhà nghe choang choang. Những gia đình binh sĩ Sài Gòn sống như thế nào trong những cái lò rang bằng sắt đó dưới ánh nắng gay gắt này.

        Bây giờ dải rác dọc khu gia binh vẫn còn những căn nhà ghi biển "ở đây nhận giặt ủi", "ở đây bán hủ tiếu Mỹ Tho", v.v.., và một vài cái "ổ nhện", nay đã thay đổi màu da khách hàng ("ổ nhện" là ổ gái làng chơi). Lính dù (đơn vị đóng ngay trước cổng trại Đa-vit) và lính không quân Sài Gòn đang thừa hưởng những thứ mà lính Mỹ thải ra.

        Trước đây, khi còn lính Mỹ trong trại Đa-vit thì lính Sài Gòn không bén mảng đến những chỗ ăn chơi đó. ưu tiên dành cho bạn đồng minh lắm đô-la.

        Bây giờ ở góc cuối trại Đa-vit, vẫn còn nhiều dấu vết rào thép gai bị cắt đứt, nống ra rộng bằng cái rổ. Dân bảo đấy là "lỗ Mỹ chui", chui ra tìm rượu, gái và tự do. Nhưng lối thoát thực sự của số lính này phải chờ đến Hiệp định Pa-ri, họ được sân bay Tân Sơn Nhất, sát nách trại Đa-vit, leo lên những chiếc máy bay to tướng có đề chữ "Home coming Operation" ("Chiến dịch rút về nhà").

        Từ trại Đa-vit nhìn qua rào ra đường Lê Văn Lộc, ta thấy có một căn nhà màu xanh, đèn nê-ông sáng xanh, khác hẳn các nhà bên cạnh chỉ có ánh điện yếu ớt chiếu lên vách gỗ đỏ quạch. Đó là một "ổ nhện" loại khá còn sống thoi thóp với lính dù Sài Gòn. Quân Mỹ đi rồi, gái điếm ở đây đã hạ giá.

        Người ta cho biết sau ngày Tết 1973, căn nhà rèm xanh lại đang rục rịch làm ăn táo tợn hơn. Chính quyền Sài Gòn đã cho phép thành lập các trung tâm giải trí - tức là những "nhà vui chơi" - và như tổng trưởng xã hội Trần Nguồn Phiêu nói, mục đích của đạo luật này là "tìm thêm lợi tức sung vào ngân sách quốc gia".

        Khách sộp Hoa Kỳ rút về nước, chẳng những Nguyễn Văn Thiệu cảm thấy cô đơn mà các tiệm tắm hơi, các "nhà làm tình" loại "luych" cũng thi nhau đóng cửa, hạ bảng. Nào đâu nữa những sờ-nach-ba với những tên Mỹ: Hawaii Evening, Hollywood star...

        Bây giờ, với luật mới của Thiệu, mấy mụ Tú Bà lại bắt đầu tập họp, lại dựng lên các biển mới, đón khách hàng mới. Những tổ nhện "Đêm quên đời", "Montreal Bar", "Java Beauty" lấp loáng ánh đèn tím, đỏ.

        Căn nhà màu xanh trên đường Lê Văn Lộc cũng đang rậm rịch để vùi dập tuổi trẻ của chị em ta.

        Tên lính cuối cùng trong đạo quân Mỹ xâm lược đã rút về nước. Nhưng còn đó bộ máy Sài Gòn, do Hoa Thịnh Đốn tạo ra, còn có những nỗi đau thấm vào cơ thể dân tộc này.

        May thay một cơn gió lớn đang thổi tràn qua đất nước.

        Sân bay Tân Sơn Nhất sôi động: các đại diện của mặt trận phía bên kia quân phục đàng hoàng bước xuống đường băng, "mở cổng Sài Gòn", vào đứng chân ở trại Đa-vit, mở một chương đấu tranh mới cho hòa bình.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Ba, 2012, 03:36:21 pm

        Nụ cười

        Tất cả những người Sài Gòn khi đến Đa-vit vì một công việc gì đó, lái xe, thợ điện, thợ nước, rửa bát, nấu cơm... đều phải đeo trước ngực mình một mảnh giấy bọc nhựa, to hơn bàn tay trong đó có dán ảnh, có tên họ, quê quán, nghề nghiệp và đóng chặn lên mảnh giấy đó là 3, 4 con dấu của cảnh sát Sài Gòn, của chủ sở Mỹ. Trên mỗi tấm thẻ còn đủ các thứ ký hiệu, một sọc đỏ là được vào khu quân sự, hai sọc đỏ là vào "khu cộng sản" v.v.., không kể các thứ mật hiệu khác đóng trên giấy, một chấm tròn, một Ô vuông, một vạch đen...

        Tất cả một mớ kỹ thuật mật thám Mỹ đó nhằm ràng buộc mọi người khu vực phái đoàn ta ở. Hàng ngày mở mắt ra là chúng tôi đã gặp những "con người đánh số", "con người bị kiểm tra bất cứ lúc nào", "con người trơ trọi" mất hết tự do. Họ không bao giờ cười.

        Và điều mà họ ngạc nhiên lại là những nét mặt vui tươi của các "ông trong hai phái đoàn".

        - Các ông ăn bận đồ nhà binh vừa đẹp vừa lạ mắt. Và lúc nào cũng thấy các ông tươi cười.

        Và những người đó cũng bắt đầu tủm tỉm khi được bắt tay.

        Tiếng cười từ trong trại Đa-vit, lan ra phòng họp Phi Long, các nhà báo Âu Mỹ, cố săn lùng vào khuôn ảnh của mình nụ cười của các tướng tá và binh lính đối phương.

        Các nụ cười đó đã lên báo, lên màn hình của các máy tivi.

        Giật mình trước cuộc "tấn công tình cảm" đó, "tiền tuyến", báo của quân đội Sài Gòn, đã phải la lối lên rằng "nguy hiểm hơn cả là người bôn-sê-vich lúc này đem nụ cười ra tấn công thay cho khẩu súng" "không cứ ở những nơi đóng quân hiểm yếu, ngay tại đô thị hoặc thôn quê, nơi mà mai đây, một số đại diện cộng sản được đặt chân tới, họ sẽ dùng nụ cười để tấn công quân ta", "quân ta cần được trang bị đáy đủ trước vụ tấn công tình cảm của đối phương. Đó là công việc cấp thiết trong giai đoạn hiện nay". (Tiền tuyến 10-2-1973).

        Miệng chúng ta tươi cười. Chỉ mong nhen lên những niềm hy vọng.

        "Tiền tuyến" nên nhớ rằng, những ngày có quân Mỹ yểm trợ rầm rộ mà họ không dập nổi nụ cười trên môi Võ Thị Thắng tại tòa án quân sự Sài Gòn thì bây giờ ồn lên như vậy phỏng được ích gì?

        Ở trại Đa-vit, buổi chiều và buổi tối, sau khi những chuyến máy bay và ôtô Hoa Kỳ đã đón về trại những tổ liên hợp đi công tác ở khắp miền Nam là toàn trại lại rộn lên một không khí trẻ trung. Sân bóng rổ chiều nào cũng có tiếng đập bóng của các "cầu thử". Hai đội bóng Quân đội nhân dân và Quân giải phóng đã thi đấu hữu nghị. Những hôm đó, bên kia rào sân bóng, các thợ sửa chữa máy bay Tân Sơn Nhất lấp ló nhìn sang theo dõi cuộc đấu.

        Nhớ lại hôm đầu tiên, khi một đồng chí Quân giải phóng vô ý tung quả bóng lọt qua bên kia rào, rơi sát vách nhà sửa chữa máy bay thì các lính không quân Sài Gòn bỏ dạt đi cả. Ta nhờ nhặt hộ nhưng không người lính nào dám quay lại Một sĩ quan Sài Gòn ghé nhìn quả bóng một cách "cảnh giác" rồi cũng đi luôn. Năm giờ sáng hôm sau, đồng chí tuần tra của ta thấy một vật trăng trắng bên bờ cỏ sân bóng, nhìn kỹ thì ra là quả bóng bị lạc chiều qua. "Một chút thiện chí hòa hợp", đồng chí tuần tra báo cáo cho đội trưởng - chắc là nhân lúc bên kia vắng bóng sĩ quan. Buổi tối, thỉnh thoảng trong trại Đa-vit lại tổ chức chiếu phim. Các sĩ quan Mỹ đến liên hệ công việc cũng nhập vào xem. Chỉ có lính Sài Gòn gác đường Lê Văn Lộc là đứng ngoài rào lấp ló. Lệnh từ Sài Gòn không cho họ bước chân vào "mảnh đất cấm", nhưng tiếng nhạc khỏe khoắn trong máy phóng thanh vẫn văng vẳng đến tai.

        Đa-vit sôi động theo bước đi của mùa xuân. Trong trại Đa-vit, ở nhà ăn, nhà khách, hội trường, khi ngày đầu tiên đội tiền trạm ta đến tiếp nhận từ tay quân đội Mỹ thì thấy họ vốn đã bày biện khá nhiều chậu hoa. Bước chân đến gần thì toàn hoa giả, hoa hồng giả, hoa cúc giả, hoa vi-ô-lét giả. Từ cái lẵng hoa nho nhỏ, cho đến cả một chậu sứ Trung Quốc cũng cắm lên cành hoa giả.

        Niềm động viên lớn đối với phái đoàn ta là đúng vào ngày Tết, Hà Nội đã gửi vào Đa-vit cả một cây đào Nhật Tân, mầu hoa hồng, cây đào này cao bằng đầu người và cành hoa rộng hai vòng tay.

        Lúc các sĩ quan ta từ trên chiếc máy bay vận tải C130 của không quân Mỹ khiêng cây đào rực rỡ ấy xuống đường băng, thì các máy ảnh Sài Gòn và quốc tế đã châu đến thu vào ống kính.

        - Đào Nhật Tân của Hà Nội đấy, các bạn ạ. Bom B52 Mỹ đã ném xuống Nhật Tân tháng trước. Nhưng các bạn hãy xem màu hồng của cánh đào này!

        - Đào thật!

         Đại tá B, sĩ quan Sài Gòn ra tiếp xúc với tổ liên hợp thốt lên như vậy.

        Đại tá B sinh ra và sống ở Hà Nội thời còn Tây. Hẳn đại tá cùng những người đồng hương của đại tá di cư vào Nam cũng có lúc vấn vương mỗi khi Tết đến. Chính luận tờ báo Sài Gòn số 7-3-1973 đã viết một câu về cảnh Xuân ở đất này: "Hằng năm nếu không thấy xuất hiện cây đào giả thì anh đâu có biết xuân về". Đi xe qua đường Lê Văn Lộc, Võ Tánh, vào nội thành Sài Gòn, thảo luận việc thi hành hiệp định Paris, chúng tôi đã thấy những cành đào giả đó, hoa lá bằng nhựa, nhuộm phẩm mầu, và cứ trơ trơ ra trước gió bụi.

        Sau 60 ngày, khi đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa hoàn thành nhiệm vụ của mình, thì cành đào Hà Nội vẫn còn tươi trong gian phòng khách trại Đa-vit. Anh em ta đã tưới bón cho đào, lá đào đã ra xanh, và trên cành đã nhú lên những quả đào tơ.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Ba, 2012, 03:55:13 pm

        Chúng tôi không cần hỏa châu.

        Phái đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa đến Đa-vit được ba hôm rồi mà đêm nào cũng thao thức. Lệnh ngừng chiến có hiệu lực từ 28-1, thế mà bây giờ 30-1, Sài Gòn chưa có gì là êm ả. Cái không khí chiến tranh vẫn trườn lên sân bay Tân Sơn Nhất, tràn qua rào trại Đa-vit, tiếng bom tiếng pháo ì ầm mạn Củ Chi, Bến Cát mạn Long An, mạn Biên Hòa, đêm khuya nằm trong trại nghe rõ mồn một. Các loại máy bay phản lực và cánh quạt đi ném bom, đi trinh sát cất cánh ngoài đường băng Tân Sơn Nhất bay lướt qua mái trại Đa-vit, kéo sau đuôi một vệt đèn nhấp nháy và tiếng động cơ rung chuyển các tấm phi-bờ-rô-xi-măng. Tiếng loa tiếp âm đài Sài Gòn bên các dãy nhà của Sư đoàn 5 không quân vẫn ong ỏng sang trại Đa-vit: "Phải nổ súng.., phải quật lại... " toàn là lời lẽ "ông Thiệu.

        Chiều đến, mặt trời mờ lặn hướng bãi tập của lính dù, là anh em trong phái đoàn đã nghe các trận địa pháo ở ngoại thành Sài Gòn bắn ra vùng ven. Và trên bầu trời Tân Sơn Nhất bật sáng lên những ngọn hỏa châu, bay lơ lửng xoay tròn dội các vệt sáng xuống các mái nhà, xuống con đường nhựa trong trại Đa-vit.

        Mấy chị người Việt, do Mỹ thuê vào nấu ăn cho đoàn ta trong mấy ngày đầu thỉnh thoảng lại liếc nhìn ra cửa nhà ăn, chép miệng.

        - Sáng rực một trời đó, có khác gì thời chiến!

         Chỉ có Thiệu là ưa các thứ đèn ma quái đó, rọi cho hắn con đường gập ghềnh. Cho nên, có hiệp định hòa bình rồi mà Sài Gòn vẫn thắc thỏm.

        Sáng ngày 28-1-1973, buổi sáng lịch sử đó đã được một vài tờ báo Sài Gòn miêu tả trong tâm trong hoài nghi, thất vọng.

        Đường Tự Do vắng hoe. Dăm ba ông công chức bộ nội vụ ra đứng hè phố ngó bâng quơ. 8 giờ sáng Chủ nhật 28/1, còi hụ. Tất cả các ngã tư đều đèn đỏ. Chuông nhà thờ, nhà chùa đổ hồi.

        "Bản hiệu triệu quốc dân của Tổng thống Thiệu được phát oang oang giữa chợ Bến Thành qua một ống loa phát thanh trước đây dùng để quảng cáo nước hoa tại gian hàng Tết (Bản hiệu triệu kêu gọi "phải sẵn sàng", "phải trả giá"...)".

        Có lẽ cái thay đổi duy nhất của buổi sáng đẹp trời này là những "nút chặn an ninh" dầy đặc khắp thành phố. Bất cứ xe gắn máy nào sáng nay cũng bị chặn lại ít nhất một lần... "Và mấy tờ báo Sài Gòn cùng nhao lên với câu hỏi:

        - Hòa bình có thực sự chưa?

        - Hòa bình rồi có khá hơn trước không?

        -  Hòa bình rồi, nhưng sẽ đi đến đâu?

        Trong buổi sáng mà lòng người dân Sài Gòn lóe lên một chút hy vọng đó, nhiều người chưa kịp nghĩ rằng Tổng thống Thiệu sớm đã ký lệnh tống các "chim bồ câu" vào chuồng cọp, và thả tất cả diều hâu ra. Máy bay quân sự không ngớt cất cánh trên đường băng Tân Sơn Nhất. Tiếng súng lấn chiếm rộ lên Ở Cai Lậy (Mỹ Tho), ở Tống Lê Chân (Bình Long), ở Sa Huỳnh (Quảng Ngài), ở Cửa Việt (Quảng Trị).

        Niềm hy vọng đã tan vỡ. Báo Điện Tín mấy ngày trước đó những tưởng đã làm bảng cáo phó cuối cùng cho cuộc chiến khi đưa tin "Rạng sáng 28-1, đại úy Tùng, đại đội trưởng đại đội 381 địa phương quân Long An trong khi kẻo quân đi ruồng đã bị đạn. Tùng là sĩ quan duy nhất của Long An nằm xuống vĩnh viễn trước giờ ngừng bắn". Bây giờ đây, hàng loạt sĩ quan và binh lính Sài Gòn đã phải tiếp tục chết cho mưu đồ của Thiệu sau ngày ngừng bắn.

        Người dân Sài Gòn mấy ngày rày, khi gặp nhau trong các tiệm nước dọc phố thì câu chuyện đầu môi là hoà bình hay chiến tranh, phản đối hay chấp nhận. Nhiều người kể lại câu chuyện một ông chủ bán hòm (quan tài), ông chủ này mấy năm qua làm ăn phát đạt, nên trong nhà có đủ ti vi, tủ lạnh. Có ngày, nhà ông bán ra đến hai trăm cái hòm chôn cất lính đi trận. Hiệp định vừa ký, con số đó sụt xuống mười lăm lần. Người ta để ý coi thái độ ông ta ra sao, thì thấy ông chủ im lặng. Mấy tuần sau, nghe tin súng nổ ở Sa Huỳnh, Ở Cai Lậy đưa về nhiều, có người hỏi thẳng ông:

        -  Chánh phủ coi bộ muốn làm chiến tranh tới bến, ông có mừng không?

        Ông ta đáp:

        - Tôi khác con điểm! Tôi khác ông Thiệu! Tôi bán hòm để chôn cất người chết, chớ tôi không ngồi mong dân mình chết để bán được nhiều hòm.

        Bây giờ xem lại phần đánh giá các cô gái bán hoa, ông chủ trại hòm nói có hơi quá. Thực ra, chỉ có một số ít gái "ăn đêm" mong có chiến tranh dài dài cho lính Mỹ trở lại. Nhưng phần nhận xét của ông về ông Thiệu thì xác đáng. Còn lòng dân miền Nam thì như nhiều báo Sài Gòn đã phát biểu: "Chúng ta ai cũng hy vọng, ai cũng nguyện cầu cho hoà bình, cho chim bồ câu bay rợp trời sau mấy chục năm chinh chiến khổ đau" (giai phẩm Quý Sửu, "Em Xuân 73").

        "Tết lại đến, tình dân tộc sống dậy.., khát vọng hoà bình của nghệ sĩ và đồng bào ta là một điều thiêng liêng vô tả" (Xuân Quý Sửu, Sân khấu mới).

        Người dân miền Nam, ngay cả người đang làm cho Sở Mỹ kiếm tiền nuôi miệng, cũng đã thấy đâu là con đường sáng sủa trong hoà hợp. Anh T., một sinh viên Sài Gòn làm phiên dịch tiếng Mỹ trong Ban liên hợp bốn bên đã nói lên mấy ước mong của mình.

        - Hoà bình cho đất nước.

        - Về quê làm ăn sinh sống...

        Anh ngừng lại, nhìn người sĩ quan quân đội nhân dân.

        - Thế nào, điều mong ước thứ ba của anh là gì, sao anh chưa nói?

        Anh đáp khẽ:

        - Tôi muốn đi thăm Hà Nội.

        Anh phiên dịch đó gia đình ở trên bờ sông Cửu Long. Anh đã mạnh dạn thầm nói với chúng tôi ước mong hoà bình và thống nhất của bảy triệu đồng bào hai bên bờ sông mênh mông.

        Khác hẳn là thái độ của một vị tướng Sài Gòn nọ. Khi có người hỏi ông ta có muốn ra Hà Nội một chuyến nhân dịp trao trả phi công Mỹ không, tướng nọ lắc đầu:

        -  Không đời nào, không đời nào !

        Anh T, lắc đầu:

        -  Người ta sợ hoà bình ! Người ta sợ hoà hợp !



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Ba, 2012, 04:21:43 pm

        Đa-vit "Tiền sử"

        Giữa trại Đa-vit có một bãi cỏ, bao bọc xung quanh là một hàng rào gỗ sơn trắng. Giữa bãi cỏ là một cái miếu Mỹ nằm dưới bóng hai bụi trúc. Cái "miếu' này nóc tròn khum khum và chỉ cao ngang tầm người đứng. Đó là miếu "Tưởng niệm lính Mỹ chết trận". Trên nóc miếu có đọc rõ mấy chữ "Davis Station Memoriam". Một con đường lát gạch dẫn vào miếu. Trước miếu có hai trụ xây. Một cái xích sắt to tướng choàng qua hai trụ. Đó là chỗ cha tuyên uý thường cúi đầu xuống cầu cho phần hồn những người lính đã chết cho cuộc chiến tranh của Giôn-xơn và Nich-xơn.

        Trại Đa-vit có một tiền sử ám muội. Trước đây nhiều sĩ quan cao cấp của Sài Gòn cũng chưa hề được đặt chân vào đây. Tướng Dư Quốc Đống của quân đội Sài Gòn hôm đến chào Thiếu tướng Lê Quang Hoà cũng ngơ ngác hỏi:

        -  Cái chữ Đa-vit này Mỹ viết ra làm sao: David hay Davis?

        Một thời kỳ Đa-vit là trại của Em-pi (M.P), tụi quân cảnh Mỹ hống hách và nhiều quyền hành, sau đó nó là chỗ đóng quân của một đơn vị thuộc tập đoàn không quân số 7 Hoa Kỳ (US 7th An Force). Đây là tập đoàn không quân đặc biệt, mà các báo phương Tây đã mô tả là "tập đoàn không quân bận rộn nhất và hùng mạnh nhất trong lịch sử", với một biệt hiệu là "tập đoàn không quân vô danh".

        Để che giấu âm mưu và hành động của nó, hàng loạt tướng ba sao, bốn sao chỉ huy tập đoàn này là Le-ven, Vớt... đã sống ở Sài Gòn nhưng không bao giờ ra mắt các nhà báo hoặc bất kỳ người nào khác không liên quan đến nó. Cho nên cái bộ phận của tập đoàn không quân số 7 đóng ở trại Đa-vit cũng thuộc loại im hơi, kín tiếng. Nó không cho người Việt vào đó trừ gái điếm, hoặc gái nửa điểm, nửa hầu hạ. Tất nhiên, cũng có trường hợp ngoại lệ.

        Bây giờ bên ngoài căn nhà vốn là nhà ăn của sĩ quan Mỹ và ở cái "bar" bán rượu gần sân bóng rổ của trại Đa-vit anh em ta còn thấy hai cái lò nướng thịt. Cái lò nướng ở nhà ăn trông như một cái thuyền bằng sắt, trên có vỉ sắt, khi dùng thì rải than đỏ dưới lòng thuyền và đặt thịt lên vỉ.

        Trường hợp ngoại lệ là đây. Có một vài tốp biệt kích Sài Gòn trước khi ra miền Bắc phá hoại đã được các sĩ quan Mỹ cho vào chiêu đãi và tuyên thệ trong trại Đa-vit này. Nếu gái điếm đã bán một góc thân thể cho lính Mỹ thì bọn biệt kích này đã bán cả tính mạng cho bộ chỉ huy Mỹ, hay nói đúng hơn là cho đồng đô la.

        Sau khi đến trước cái miếu Mỹ, cúi người trước cái xích sắt buông lửng, đọc lẩm bẩm vài câu gì đó, tư thế quỳ và câu tuyên thệ cũng không cần gắt gao như đối với các sĩ quan tốt nghiệp trên trường võ bị Đà Lạt - tên biệt kích được các sĩ quan Mỹ dắt ra quầy rượu. Ở đây, các cô gái mặc thứ hàng mỏng nhất, khom mình quạt than trên lò nướng. Những cục thịt còn tươi máu xếp dọc vỉ sắt và bắt đầu xèo xèo.

        Các tên biệt kích được ưu tiên chọn miếng thịt nướng, xiên ra khỏi lò và nhắm rượn. Chúng nó say mèm trong khi người Mỹ vẫn tỉnh.

        Chỉ vài tiếng nữa, trong đêm tối, một chiếc máy bay Mỹ không cờ, không số hiệu sẽ đưa chúng ra miền Bắc Việt Nam, ném chúng xuống một dãy rừng âm u nào đó. Lúc đó, chúng nó đã nhả hết rượn và bắt đầu hiểu một cái gì đó. Sau này nằm trong trại giam miền Bắc, một số tên biệt kích mới thấm thía với bữa tiệc thịt nướng mà người Mỹ thí cho. "Người Mỹ nướng thịt cho chúng tôi ăn trước khi ném chúng tôi vào cái lò lửa khủng khiếp nhất... ".

        Nhưng lịch sử có sự ràng buộc khắc nghiệt của nó. Ngọn lửa chiến tranh mà các con diều hâu trong chính quyền Mỹ đã nhen lên không chỉ thiêu chết những người da vàng mà còn thiêu chết hàng chục nghìn lính viễn chinh da trắng đến từ Ca-li-phoóc-ni-a, từ Nữu-ước...

        Trong trại Đa-vit, trên ngưỡng cửa từng gian nhà một đều có đón một tấm biển trắng, in những lời dặn dò của người chỉ huy trại, bằng sơn đỏ. Trước khi rút khỏi trại Đa-vit nhường cho phái đoàn ta đến ở, người Mỹ đã tháo vứt những tấm biển đó đi, nhưng hiện nay, Ở căn nhà T.532 còn sót lại một tấm với các dòng chữ:

 "Khi bị tấn công, đừng chạy, đừng ngồi, đừng đứng, đừng khiếp hãi, hãy lăn ra khỏi giường, hãy lấy đệm trùm lên người, bò ra hầm và lắng nghe mệnh lệnh của đội trưởng".

        (In ca se of attack, do noi run, sít, stand, panic, do run oặt of bánh, cover with mattress, dương lưu crawl to bunker listen for orders from Pa SGT).

        Trong những trận tấn công vào căn cứ Tân Sơn Nhất, suốt từ 1965 đến 1972, đạn hỏa tiễn, đạn cối, bộc phá và đạn bắn thẳng của Quân giải phóng đã thiêu hủy hàng trăm máy bay Mỹ.

        Trại Đa-vit nằm giữa căn cứ Tân Sơn Nhất đã nếm đủ mùi thép và lửa đó. Ở đây lính Mỹ kinh hoàng đã phải nhiều phen chui rúc trong những gian hầm xi măng chạy dài quanh trại.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Ba, 2012, 04:29:59 pm
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/004.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/002.jpg)

Chút chứng tích còn lại của Đa-vít (năm 2008, bây giờ thì ...)


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Ba, 2012, 04:53:32 pm

        Chợ trời Phi Long

        Năm 1965, quân Mỹ ồ ạt tràn vào miền Nam. Theo chân đạo quân viễn chinh có một ngành hoạt động phát triển đại quy mô - ngành ăn cắp hàng hóa Mỹ.

        Trong cái "quốc gia"này, vốn đã sẵn có một phương thức "tái phân phối" rộng khắp. Các binh linh đi càn quét, các viên chức làm phận sự, kể cả nhiều vị tai to mặt lớn ở Sài Gòn đã nghĩ ra đủ kiểu giành giật của cải.

        Nhưng đối với hàng núi tài sản của các đơn vị đồng minh Hoa Kỳ thì dùng bạo lực để sờ mó đến là đâu có ổn. Cho nên ăn cắp là thượng sách, ăn cắp đủ kiểu và tất nhiên là thông đồng với cả quân nhân Mỹ mà xoáy các thứ hàng hóa thượng vàng hạ cám. Ngành ăn cắp này đã đẻ ra các chợ trời Mỹ. Ở Sài Gòn, ngôi chợ trời Mỹ đầu tiên mọc ở gần trại Phi Long (Tân Sơn Nhất), cách trại Đa-vit chừng hai cây số. Đây là cửa ngõ ra vào của những binh lính sĩ quan thuộc các đơn vị chiến đấu của Mỹ kéo vào Việt Nam đợt đầu tiên. Sau đó, chợ trời mọc ra như nấm ở khắp Sài Gòn như trên đường Hàm Nghi, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Huệ, Võ Tánh, Lăng Cha Cả, Phú Lâm, Tân Cảng... Cảnh giành giật quyết liệt, tranh mua tranh bán thường xảy ra lúc 6 giờ chiều, lúc mà lính Mỹ và nhân viên làm việc sở Mỹ tan sở ra về mang theo lỉnh kỉnh trên xe ôm, môtô các thứ hàng vừa trộm cắp.

        Hàng hóa ở chợ trời đủ mọi thứ "tả pí lù". Rất nhiều quân trang, quân dụng Mỹ, các thứ máy móc nguyên và rời, áo quần giầy tất, đồ dùng bàn giấy, nước hoa, phấn sáp, bánh trái đồ hộp. Và ở các chợ trời này có nhiều thứ hàng thật lạ, không ai biết cái gì, ngay cả đứa ăn trộm vật đó cũng chịu. Đó là một bộ phận của máy điện ư? một bộ phận của máy bay ư? Hay là một thứ vũ khi nổ chết người?

        Một nhân viên kỹ thuật người Mỹ thường la cà các chợ trời đã nói rằng, ở đây người ta có thể mua đủ các bộ phận để lắp cả một chiếc máy bay. Nhận xét này hẳn đã làm cho các cố vấn không quân Mỹ chẳng chút yên tâm. Hồi còn nửa triệu quân Mỹ, hàng hòa lấy trộm ê hề, chợ trời Phi Long cùng các nơi khác ở Sài Gòn nhộn nhịp tận trời.

        Bây giờ những cuộc buôn bán đó đã xuống nước. Bọn ăn trộm da trắng đã cuốn đồ nghề về Mỹ. Chỉ còn những sĩ quan và binh lính Sài Gòn ăn trộm hàng trong kho quân đội cộng hòa và ăn cắp của nhau, mang ra chợ trời.

        Các căn cứ doanh trại mà quân đội Mỹ trao một cách phi pháp cho quân đội Sài Gòn - cũng nằm trong tình trạng bị phá phách đó. Các báo Sài Gòn đã miêu tả các "căn cứ bỏ túi" - loại căn cứ dã chiến - của quân đội Mỹ đã bị các sĩ quan và binh lính Sài Gòn tháo gỡ, bán sạch, nom rất tiêu điều. Một nhân viên Sài Gòn phục vụ các phái đoàn ta trong trại Đa-vit đã cười tủm tỉm.

        - Nói thật với ông, nếu trại Đa-vit được trao cho quân đội Cộng hòa thì chỉ ba hôm là quét sạch. Các ông lớn sẽ cho xe nhà binh đến chở các tiện nghi như tủ lạnh, tivi, máy điều hòa không khí và các thứ đồ điện khác về tư dinh trước. Các vị úy bòn cái còn lại. Sau đó lính mà đến đóng quân ở đây thì sẽ hưởng đủ mọi thứ mưa dột, nắng nung, gió lùa tứ phía cho mà xem.

        Trong trại Đa-vit, một số anh chị em được Sài Gòn cấp giấy cho ra vào phục vụ phái đoàn ta thường kể lại cho ta nghe chuyện ăn cắp hàng Mỹ. Một chị nói với đồng chí sĩ quan liên lạc: Làm với Mỹ, ai cũng ăn cắp, trăm người cả trăm, tướng tá thì ăn cắp kiểu tướng tá. Tụi tôi ăn cắp kiểu tụi tôi. Giặt cho Mỹ thì tôi ăn cắp xà bông. Nấu ăn cho Mỹ thì ăn cắp muỗng, nía bằng bạc. Vào được kho Mỹ thì quơ bốc mọi thứ.

        Một anh lái xe nói:

        - Chúng tôi gỡ bán hết bất kể thứ gì. Ngay chiếc xe Rebel Hoa Kỳ mà tôi đang lái cho các ông đi họp hàng ngày đây, nếu phải là xe chở tụi Mỹ như dạo trước thì tôi cũng lấy bớt xăng nhớt và gỡ bán bộn thứ rồi.

        - Ấy một cái xe nguyên vẹn thế này, ông gỡ làm sao được?

        - Có thứ ở chỗ kín đáo trong xe tôi gỡ đi mà tụi nó khó phát hiện. Có thứ tôi gỡ lấy đồ tốt đem bán rồi kiếm thứ bỏ đi lắp trả lại chỗ cũ. Tụi phi công và thợ máy Tân Sơn Nhất nhiều đứa cũng làm vậy đó.

        Câu chuyện anh lái xe tiết lộ đó làm cho anh em ta chú ý quan sát khi leo lên máy bay thường dùng của không quân Sài Gòn. Thiếu bảo quản, bị tháo gỡ lấy cắp thay thế bừa bãi. Chiếc máy bay vận tải C.123 Caribou hai động cơ, chở một tổ sĩ quan liên lạc của các bên từ Sài Gòn đi Pleiku ngày 20/3/1973, anh em ta nhìn ra thì nước sơn máy bay đã tróc. Thiếu tá Trành (VNDCCH) lúc leo thang lên máy bay này có cảm giác leo lên chiếc nhà sàn ở một xó núi nào đó, trong máy bay này có mùi nước mắm, rác bụi cáu bẩn giữa các nẹp sàn bằng đuya-ra. Lúc thiếu tá ngồi xuống ghế vải, anh bỗng thấy người co dúm lại. Các móc ở lưng ghế cái thì đứt, cái thì dồn cục lại, toàn đồ phế thải ở đâu lắp vào. Các sĩ quan ta có đồng chí đã đi nhiều loại máy bay Âu - Á chưa thấy đâu có máy bay dễ sợ vậy. Đồng chí Trành đã tự kết luận: không cần ai bắn, chiếc C.123 bảo quản cẩu thả này sẽ có ngày tự rơi thôi.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Ba, 2012, 04:57:15 pm

        "Bệnh Sài Gòn"

        Những người được chính quyền Sài Gòn chọn vào làm công trong trụ sở phái đoàn ta, trong cách sống của họ có nhiều nét tàn tạ. Hết giờ làm, họ túm tụm lại xem chuyện tục tĩu, hoặc chui vào một góc nhà sát phạt nhau bằng bài tây, bằng con xúc xắc. Có hôm quên mang bài theo, họ cũng cứ đặt tiền ra đấy, ruồi đậu vào đống tiền ai trước người đó được. Anh em ta có lúc khuyên họ nên bỏ lối cờ bạc bê tha, có người nói:

        - Tụi tôi ngồi đánh bạc thế này ít nhất cũng được cái công bằng trong sự may rủi. Ra ngoài đời kia như tụi tôi thì chỉ có bị các ông lớn chà đạp, sức mấy mà ngoi đầu lên nổi...

        Họ có một khát vọng mơ hồ nào đó, nhưng trong cuộc sống hàng ngày, họ là kẻ cam chịu theo số phận.

        Mỗi lần ngồi xe ôm qua cầu Công Lý - từ Tân Sơn Nhất vào Sài Gòn tôi đều chú ý nhìn quang cảnh ven cầu. Cáu dài chừng 50 mét, hai bên có lan can xi măng. Nhìn qua lan can thì bên dưới là một dòng nước đục, bùn đã đóng váng xanh nhớt. Chắc không một con cá nào sống nổi dưới đó. Nhìn dòng nước đó, tôi lại nghĩ đến cái xã hội này. Lúc anh Nguyễn Văn Trỗi ra đặt quả mìn ở đây, 9 năm về trước, hẳn anh cũng đã ngắm nhìn, suy nghĩ, hẳn anh đã mong muốn "phá vỡ" đi để "xây dựng" lại.

        Ở Sài Gòn này, trong số những người cam chịu số phận thì khổ nhất, bị xúc phạm đến nhân phẩm nhiều nhất là tầng lớp chị em ta. Như một tờ báo Sài Gòn đã nói một cách căm phẫn: "ở đây tất cả mọi người con gái đều có thể mua được. Mỗi người con gái đẹp đều đã được định rõ giá tiền"...

        Bên ngoài trại Đa-vit, trong khu vực quanh phòng họp của Ban liên hợp quân sự bốn bên trung ương, cạnh bộ chỉ huy tập đoàn không quân số 7 Hoa Kỳ, có một số nữ nhân viên phục vụ, người Bắc di cư có, người Sài Gòn có. Nhất là trong phòng giải lao thì đủ loại con gái ra vào. Tất cả những cô gái này đều làm thuê cho sở Mỹ. Cô thư ký nói cô ta làm thuê cho Mỹ để kiếm tiền học cho hết chương trình đại học hàm thụ. Một cô khác nói làm thuê để nuôi mẹ già. Một cô cười: Tôi làm thuê để kiếm đô la, đồng đô la là hoàng tử trên đời (!)

        Trong khu vực này có nhiều sĩ quan Mỹ và Sài Gòn ra ra vào vào trong khi có cuộc họp bốn bên, họ làm gì không rõ. Một lần, một đồng chí ta, giữa chừng phiên họp, có việc ra ngoài phòng giải lao. Anh ta giật mình. Một sĩ quan Mỹ đang sờ ngực một cô gái đứng dồn trong góc tường.

        Ông công nhân già, nhổ cỏ quanh khu vực, lắc đầu:

        - Đó là họ còn kiêng dè có mặt các ông ở đây. Trong này, con gái đi làm sở Mỹ thì lính Mỹ "kiểm tra" khi ra vào cổng là như vậy.

        Trong những ngày sống Ở Sài Gòn, tôi đã để ý đến cách nói của những người mà nhà cầm quyền đã chọn lọc cho vào tiếp xúc chúng tôi. Họ vào trong trại Đa-vit sửa chữa điện nước, tiếp tế, lái xe, chở rác, liên hệ công việc.., nghề chính thức ngoài đời của họ thế nào, chúng tôi không rõ. Khi trao đổi về cách sống ở Sài Gòn, một số người trong bọ họ tỏ ra sành sỏi.

        - Sống ấy à? Miễn là có tiền, bất chấp người chủ thuê mình là ai.

        - Người ta sinh ra trên giường, sướng trên giường, chết trên giường. Nếu chưa chết thì cứ nằm trên giường mà hưởng các thú vui. Tội gì bàn chuyện xa xôi.

        - Đời chẳng có gì đáng giá, kể cả bản thân tôi.

        Đứng trước dòng nước đục đó thì Sài Gòn của dân tộc Việt Nam, Sài Gòn tự nó đã toát ra chất kháng sinh để giữ lấy phẩm chất của mình. Sài Gòn đã sinh ra nhiều người con dân tộc, vươn lên trên mọi sự cám dỗ tầm thường. Rời bỏ Hoa Thịnh Đốn, anh thanh niên Nguyễn Thái Bình đã trở về quê hương hiến dâng cả trái tim tươi đỏ để rửa nhục cho Sài Gòn. Chúng tôi thường ngồi trong trại Đa-vit nhìn ra phía đường băng Tân Sơn Nhất, nơi anh Nguyễn Thái Bình hy sinh. Chúng tôi còn như thấy những giọt máu của anh thấm qua chiếc máy bay tội ác, rỏ xuống thành những ngôi sao, gắn đỏ trên mặt đất quê hương.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Ba, 2012, 08:05:12 pm

        Tỷ lệ 3/300.

        Trải qua những tháng ngày hoạt động, chúng tôi cảm thấy rõ nỗi khao khát hai chiều: Chúng tôi mong gặp bà con đồng bào Sài Gòn bao nhiêu thì bà con Sài Gòn cũng mong gặp chúng tôi bấy nhiêu.

        Những ngày Hiệp định Pa-ri vừa ký kết, "Tổng thống" Thiệu đã lên đài vô tuyến truyền hình dội nước lạnh xuống mối tình cảm tết đẹp của đồng bào. Thiệu đòi nổ súng, cả súng nhỏ lẫn súng lớn, quyết không cho cộng sản "vào tiệm ăn phở" "về ấp thăm vợ con", nói thẳng ra là không để cho những người cách mạng gặp gỡ đồng bào.

        Trong 60 ngày hoạt động trên nhiều địa điểm ở miền Nam, chúng tôi chỉ được gặp hai loại đồng bào, "theo quy định của Tổng thống Thiệu". Một là những đồng bào đến phục vụ trong các trụ sở của phái đoàn. Hai là những đồng bào đến gần phái đoàn để mit-tinh phản đối, hò hét vài câu khẩu hiệu do nhà cầm quyền vạch sẵn. Phải nói, cả hai loại người này phần lớn là những người đã được cơ quan an ninh của Thiệu xét duyệt lai lịch.

        Nhưng đối với cả hai lớp người đó, chúng tôi vẫn thành thực dùng hai chữ đồng bào. Hàng núi đô-la Mỹ trút xuống đây đã không che tối tinh thần dân tộc.

        Thiếu tá Nguyễn Đình Bảng (Việt Nam dân chủ cộng hòa) khi về trại Đa- vịt đã kể lại mẩu chuyện ở Tam Kỳ (Quảng Nam). Tổ liên hợp của thiếu tá đã có nhiều ấn tượng sâu sắc về những người dân Tam Kỳ được huy động đến "đả đảo" phải đoàn ta. Tam Kỳ là nơi chính quyền Thiệu liên tục tổ chức mit-tinh biểu tình trước cổng trụ sở ta. Trong 16 ngày (từ 9-2 đến 25-2-1973), chỉ có mỗi một ngày là không có chuyện tụ tập, la ó đó. Thiếu tá Bảng cùng anh em ta quan sát thì thấy mỗi lần biểu tình, có một tên vác loa điện đi đầu, thỉnh thoảng lại hô một khẩu hiệu, nhưng số người hưởng ứng không nhiều. Một hôm, thiếu tá Bảng muốn tự mình ra kiểm tra "chất lượng" của cuộc biểu tình ở Tam Kỳ đó. Thiếu tá mặc quân phục quân đội nhân dân, đội mũ kê-pi, đeo băng đỏ, từ nhà ở đi thẳng ra cổng trụ sở, nơi áng chừng có ba trăm người đang tụ tập dưới mấy biểu ngữ chống cộng. Thiếu tá Bảng nói lớn:

        -  Hỡi đồng bào, ai bị công an cảnh sát ép buộc đến đây quấy rối thì xin lùi ra một khối. Còn ai đến đây để chống lại thiện chí của đoàn đại biểu quân sự cách mạng chúng tôi thì hãy đứng lại trước mặt tôi!

        Thiếu tá Bảng dứt lời thì đoàn người nhao lên và kéo sang bên kia lề đường, cuốn dẹp luôn cả mấy tấm biểu ngữ. Bấy giờ, đứng trơ trước mặt thiếu tá chỉ còn ba tên trong số ba trăm người biểu tình, tên cầm loa điện và hai tên mặt đỏ phừng phừng. Được một chút, thấy cô độc quá, ba tên này cũng quay lưng chuồn luôn. Thế là cuộc biểu tình tan vỡ. Thiếu tá Bảng kết luận:

        -  Tôi mừng với cái tỉ lệ 3/300 hôm đó. Trong số đồng bào Tam Kỳ đi mít- tinh chống cách mạng có người xấu không? Có, nhưng số đó rất ít, thực không đáng kể.

        Về sau, một hôm vui chuyện, chính mồm ông B, người làm công trong trại Đa-vit nói rằng:

        - Dân Sài Gòn đang mong có mit-tinh, đả đảo các ông. Nếu có, họ kẻo ngay đến trại này hàng vạn.

        Chúng tôi im lặng vì chưa hiểu hết ý ông B., thì ông tiếp lời:

        - Họ muốn có dịp đó để được đến gần các ông, nhìn các ông, thăm các ông.

        Nếu là buổi tối thì những người "chống cộng" đó dám ném cả bánh kẹo vào cho các ông nữa đó. Chớ còn bây giờ, cảnh sát giăng năm bảy tầng, họ làm sao đến "mật khu" Đa-vit này được...

        Chúng tôi nghĩ lời ông B nói đúng với sự thật Sài Gòn.

        Vì chúng tôi được nhà cầm quyền "bảo vệ" quá ư chu đáo, nên đông đảo bà con Sài Gòn ở ngoài tầm tiếp xúc của chúng tôi. Cho nên những khi bon xe trên đường Võ Tánh, khi lướt qua bến Bạch Đằng, khi xe chạy chậm trước nhà quốc hội.., chúng tôi đã dành những đôi mắt biết ơn và thân thiết cho bà con và chúng tôi cũng đã tiếp nhận được nhiều tín hiệu cổ vũ. Một lần chiếc xe "pho" cắm cờ liên hiệp chở chúng tôi đi gần tòa đô chánh thì bị nghẽn đường. Bên kia đường, cách chúng tôi năm thước một chị phụ nữ một tay bế đưa con trai, một tay xách làn rau và chuối, chờ vượt ngã tư. Chúng tôi vẫy tay chào chị. Chị đáp lại chúng tôi bằng một nụ cười tươi và dài đến nỗi một sĩ quan cảnh sát gần đấy phải nhăn mặt quát lên, ngồi trong xe chúng tôi nghe rõ: "Mày làm cái gì mà cười vui với cộng sản như vậy".

        Một lần khác, thiếu tá Trần (Việt Nam dân chủ cộng hòa) có công việc vào một trong một building nọ ở trung tâm Sài Gòn. Lúc bước ra cầu thang, thiếu tá Trần ngạc nhiên thấy một người mặc comple đi thẳng đến sát bên mình và nói trong hơi thở: "Các ông là đệ nhất anh hùng". Và hình như hơi xấu hổ với cách nói chữ Hán đó, anh ta tiếp theo:

        - Anh hùng số 1 ! Trong khi thiếu tá Trần chưa kịp hỏi lại một câu nào thì anh ta đã đi thẳng vì phía cầu thang đang có người nào đó bước lên.

        Đấy là những người Sài Gòn bình thường mà chúng tôi ngẫu nhiên được gặp trong giây phút thoát khỏi sự "bảo vệ" của cảnh sát, công an. Chúng tôi biết bên trong cái đa số im lặng của Sài Gòn đó còn ẩn náu biết bao chất thép đã từng dẫn đầu bà con trong những cuộc xuống đường vĩ đại và những cuộc tấn công thần kỳ. Những con người Sài Gòn đó dù cách biệt chúng tôi bởi năm bảy lần cổng Tân Sơn Nhất, thực ra vẫn rất gần gũi.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Ba, 2012, 08:08:16 pm

        Sài Gòn "bai bai"

        Đúng 4 giờ chiều (giờ địa phương) ngày 14/3/1973. Một chiếc máy bay vận tải phản lực Boing 727C của hãng hàng không thế giới (World Airway) mang số hiệu B 694WA nằm ườn trên đường băng Tân Sơn Nhất. Một chiếc thang duya-ra tám bậc đã lắp vào cửa máy bay. Nó là chiếc máy bay Mỹ đầu tiên chở lính Mỹ về nước dưới sự giám sát của các sĩ quan quân giải phóng và quân đội nhân dân trong tổ liên hợp bốn bên.

        90 quân nhân Mỹ gồm các sĩ quan và hạ sĩ quan thuộc Bộ Chỉ huy Mỹ "Mắc-vi" ở Sài Gòn lần lượt bước lên chiếc thang duya-ra. Lặng lẽ, không một tiếng nói. Không quân nhân Mỹ nào cười. Không ai tiễn đưa họ. Chỉ có những sĩ quan đối phương (nhìn các quân hiệu là biết ngay) đang đứng đó, nghiêm túc xem danh sách và đếm từng người trong bọn họ.

        Bỗng có một quân nhân Mỹ bước lên đến bậc thang thứ sáu thì quay người lại Anh ta ngẩng nhìn những mái nhà nhấp nhô phía Sài Gòn. Anh giơ tay vẫy Sài Gòn, miệng lẩm nhẩm "Bai bai" (xin từ biệt). Đó là thượng sĩ Rôt-xi.

        "Sài Gòn ! Bai bài ! " Người lính Mỹ đó đã quay đầu lại từ biệt Sài Gòn, từ biệt những kỷ niệm đắng cay của một cuộc chiến tranh ê chề. Kể từ buổi chiều hôm ấy cho đến hết tháng 3, các sĩ quan quân giải phóng và quân đội nhân dân liên tiếp bay ra Nha Trang, bay ra Đà Nẵng cũng như có mặt tại Sài Gòn để kiểm soát việc triệt thoái quân đội Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam.

        "Sài Gòn! Bai bai!" trong cái buổi chiều 14 tháng 3 năm 1973 ấy, khi người lính Mỹ thốt lên lời từ biệt Sài Gòn, trông nét mặt anh ta mà cảm thấy cả một tâm trạng sóng gió.

        Và bốn sĩ quan đại diện bốn bên đi theo dõi việc rút quân hôm ấy cũng có những nét suy nghĩ riêng.

        Thiếu tá Quân giải phóng Đỗ Tấn Phong đứng ở đầu cầu thang, mắt lấp lánh. Trong cuộc đời sôi động của mình, Thiếu tá thấy những đơn vị lính Mỹ đầu tiên tràn vào Sài Gòn, ầm ĩ. Thiếu tá đã thấy lính Mỹ chết trong khi đi càn quét.

        Và bây giờ thiếu tá đang nhìn những tên sống sót lặng lẽ leo thang về nước. Thiếu tá nhớ đến những đồng đội của mình đã chiến đấu cho giờ phút hôm nay. Thiếu tá Phú Bình tay cầm bản danh sách quân nhân Mỹ, nhìn từng tên, từng cấp bậc, đếm nhẩm từng người.

        Trưng tá Hoa Kỳ Pớc-mai-ơ (Pugmire) giữ thái độ của một người chấp nhận thực tế lịch sử. Quân đội Mỹ đã không giành được chiến thắng: Việt Nam không phải là một bang của nước Mỹ. Thỉnh thoảng Pớc-mai-ơ lại nghiêng đầu hỏi các sĩ quan quân giải phóng và quân đội nhân dân: "Kiểm tra thế này được chưa? Quý vị có ý kiến gì không?".

        Trung tá Khanh, quân đội Sài Gòn, trông như một cái bóng. Khanh có mặt ở đây để làm gì? Khanh kiểm tra cái gì? Hình như Khanh đang tự đặt cho mình những câu hỏi đó. Và trông cái dáng của Khanh, người ta biết chẳng có câu trả lời an ủi nào. Và Khanh đã tìm cách lẩn tránh lịch sử. Không một ống kính nào chộp được nét mặt của Khanh khi quân Mỹ rút đi, chiều hôm ấy.

        Kể từ ngày ký kết Hiệp định Pa-ri, ngày nào cũng có binh lính Mỹ rời Sài Gòn về nước. Máy bay Mỹ ầm ĩ mà kín đáo bay như con thoi giữa Sài Gòn - Phi Luật Tân hoặc Sài Gòn - Thái Lan. Đài Tiếng nói Hoa Kỳ cho biết: "Hằng ngày có tới 400 binh lính Mỹ ra căn cứ An-pha lấy vé máy bay. Trên cổng ra vào căn cứ An-pha có câu:

        "Những chiến sĩ ưu tú nhất thế giới đã đi qua cổng này".

        "Trong phòng hành lý của sân bay có "hộp khoan hồng" để cho binh sĩ Mỹ ném vào đó các thứ ma túy mà họ đang lén lút dùng. Binh sĩ khuân về Mỹ đủ loại vật kỷ niệm từ cái áo dài phụ nữ Việt Nam, đến đồ gốm, sơn mài.., và đặc biệt là những con voi bằng sành - có tới 2.000 con voi sành đã lên máy bay. Trước khi về nước, các binh, sĩ ngoái nhìn một lần cuối các hàng chuối và những cây bông giấy trên đất Việt Nam. Những cuộc ra đi đó thật là buồn".

        Đài Tiếng nói Hoa Kỳ quả đã nói một phần sự thật của cái cảnh "Sài Gòn! Bai bai ! " đó, nhưng vô tình hay cố ý đài đã quên không bình luận cái câu : "Những chiến sĩ ưu tú nhất thế giới đã đi qua cổng này".

        Đúng là khi về nước, quân Mỹ đã mang theo nhiều thứ lỉnh kỉnh, duy chỉ không sao mang được một cánh hoa "chiến thắng", càng không có được sự thanh thản trong tâm hồn.

        Bộ quốc phòng Mỹ đã cho biết một con số kỷ lục của cuộc chiến tranh này: đã có hơn hai triệu huân chương, huy chương của quân lực Hoa Kỳ được trao cho các quân nhân Mỹ từng chiến đấu tại Việt Nam. Chỉ tính riêng số anh dũng bội tinh thì đã nhiều gấp mười lần số huân chương đó cấp cho các chiến binh Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh Triều Tiên. Và bản thống kê cho biết, sĩ quan Mỹ, cấp càng cao thì Huân chương càng nhiều. ấy vậy mà Ở Sân bay Tân Sơn Nhất chiều 27-3, các sĩ quan ta đã nhìn thấy những tướng Mỹ, một sao, hai sao, trên ngực trống không, chẳng có chiếc huân chương nào. Hai vị tướng đó đã phóng xe "pho" đến sát đầu chiếc máy bay C.141 số hiệu 40617 và leo tót lên ngay, không cho ta kịp quay phim.

        Về việc các tướng tá Mỹ ăn mặc xoàng xĩnh, không đeo huân chương ra đi cái vụt, các sĩ quan Sài Gòn có mặt tại chỗ xì xào:

        "Vui gì đâu mà đeo huân chương!". Một tờ báo Sài Gòn đã mô tả "Cuộc biệt ly xem ra lạnh nhạt lắm vì cuộc giao duyên Mỹ - Việt nó rủng rẻng kim tiền bản vị, cái chỗ dành cho tình cảm chẳng là bao so với cái chỗ to lớn dành cho đô- la xanh, đô-la đỏ

        " Với người Mỹ, mới hôm nào là " Sài Gòn ! Ôkê ! ", mà nay đã " Sài Gòn ! Bai bai ! ".

        Các sĩ quan ta trong trại Đa-vit đi theo dõi việc triệt thoái quân Mỹ cũng như theo dõi thái độ của phía Mỹ trong việc thi hành các điều khoản của Hiệp định Pa-ri đều có ý nghĩ rằng thượng sĩ Rết-xi hô "Sài Gòn! Bai bai ! " chưa đủ. Đã đến lúc nhà cầm quyền Mỹ, Lầu năm góc và Nhà trắng phải hô "Việt Nam hóa! Bai bai ! ".

        Đó là hành động thực tế duy nhất để cứu vớt danh dự nước Mỹ, từ nay về sau.

        


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Ba, 2012, 09:26:17 pm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/NguyeenxTraanfThieets.jpg)

TRONG SÀO HUYỆT ĐỊCH

Đại tá Nguyễn Trần Thiết                

        Lời nói đầu: Là phóng viên Báo QĐND, nhà văn Nguyễn Trần Thiết có mặt ở trại Đa-Vít hai lần: Năm 1973 và 1975 với nhiều kỷ niệm đẹp, hồi hộp, sâu sắc….

VÀO TRẬN KHÔNG MANG VŨ KHÍ

        Cả buổi chiều 30 tháng 4 năm 1975, tôi giành cho cuộc hỏi cung toàn bộ các thành viên trong nội các Dương Văn Minh và đêm đó, do cảnh giác, do muốn có bài tường thuật gửi đến độc giả, tôi đã mượn chủ nhà ở Củ Chi ngọn đèn măng – xông. Viết bài để kịp gửi về báo Quân đội nhân dân. Tôi nghĩ đến phái đoàn ta ở Liên hợp quân sự mà tôi đã tham gia năm 1973. 15 giờ 30 phút ngày 01 tháng 05 năm 1975, tôi đến trại Đa-Vít. Xe của chúng tôi vừa dừng lại đã thấy trưởng đoàn và nhiều anh em ra đón. Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn đưa tôi vào phòng riêng, Anh vào đề:

        - Anh là khách quý của chúng tôi đồng thời cũng là người nhà vì anh đã là tổ trưởng Tổ sĩ quan liên lạc khu vực 7 được máy bay trực thăng do Mỹ ngụy lái đưa lên trại Đa-Vít để báo cáo tình hình.

        - Tôi vui vì Mỹ ngụy không giở trò quấy phá khu vực 7 sau 60 ngày, đoàn của tôi rời Cần Thơ trở về Hà Nội nên tôi được tham gia chiến dịch giải phóng Sài Gòn.

        Sau 10 phút nghe báo cáo, anh Tuấn nói:

        - Tôi không giữ anh lâu nữa vì anh còn phải đi gặp các bạn bè.

        - Tôi xin phép anh cho tôi ăn và ngủ vì 2 ngày qua tôi đói ăn, đói ngủ.

        - Chà chà tôi không để ý đến điều này. Tôi kể chuyện lại để anh Tuấn nghe:

        - Từ 4 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975 tới lúc này tôi chưa được đặt mình xuống giường, không chợp mắt. chúng tôi không có súng lục, dao găm. Trông thấy chúng tôi, bất kỳ kẻ nào làm sĩ quan hay lính ngụy đều có thể cho chúng tôi một phát trúng tim là đi đứt.

        Nhìn thấy những người mặc quần áo bộ đội ta, tôi liền xà đến:

        - Các cậu ơi! Có còn lương khô cho tớ xin một phong.

        - Hết Nhẵn rồi!

        - Các cậu thương tớ vì từ sáng tới giờ tớ chưa có gì vào bụng.

        Vì mất điện anh em không nhìn thấy tôi đã là một ông già 46 tuổi nên chả có ai ra đón khách. Tôi hỏi thêm:

        - Chiều nay các cậu ăn gì?

        - Ăn cơm.

        - Tốt quá! Các cậu làm ơn làm phúc cho tớ bát cơm nguội.

        - Làm gì còn cơm nguội. Chỉ có cháy đen dính nồi bọn tớ không nuốt nổi nên mới còn.

        - Các cậu cho tớ gặm cháy đen cũng được.

        - Ông tướng ơi! Cháy đen vừa đắng, vừa khét, không tài nào gặm nổi đâu.

        Tôi hồ hởi.

        Dù sao cũng có chất gì đó để đánh lừa dạ dày. Tớ lấy cháy ở đâu?

        - Nồi ở bên gốc cây. Ruốc B (Lọai ruốc mặn chát pha 9 phần muối 1 phần thịt) cạnh đó.

        Theo lời chỉ dẫn, tôi mở vung. Quả là cháy đen nhưng không còn cách nào khác? Không có thìa hay đũa tôi ngồi bệt xuống đất sai năm quân bốc. Khi bụng đã lưng lửng, tôi tự giới thiệu:

        - Các cậu ơi! Đây là kỷ niệm rất đẹp trong ngày giải phóng của dân tộc. Tớ muốn khai lý lịch để các cậu nhớ là đã đón ai nhé! Tớ là phóng viên Báo Quân đội nhân dân, cấp thiếu tá, tên là Nguyễn Trần Thiết mới hỏi cung toàn bộ các thành viên trong nội các Dương Văn Minh.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Ba, 2012, 09:33:43 pm
        Các chiến sỹ òa lên cùng chạy đến quanh tôi, cùng tranh nhau nói.

        - Em xin lỗi thủ trưởng. em tưởng có thằng lính nào lạc đơn vị đến xin ăn.Thủ trưởng chắc rất rõ là trung đoàn em chỉ có 1 thiếu tá 2 đại úy chỉ huy.

        - Thưa bác, cháu là độc giả trung thành nhất của bác, ai ngờ cháu gặp được tác giả. Cháu rất khâm phục bác.

        - Thưa bác, cháu là anh nuôi. Nếu bác cần ăn cơm hay ăn cháo, cháu xin 15 phút để phục vụ chu đáo.

        Một thanh niên trạc 25 tuổi mà tôi đoán là cán bộ Đại đội nói:

        -  Đứng gần thủ trưởng em đoán thủ trưởng đã ngũ tuần. Thủ trưởng cần gì chúng em xin phục vụ chu đáo.

        - Mình có yêu cầu muốn về Quân đoàn 3 (Củ Chi)

        - Chúng cháu có xe, có lái xe nhưng không biết đường.

        - Ta hỏi tự vệ Sài Gòn là sẽ biết đường.

        Một thanh niên lái honda, đeo băng đỏ đẽ đi trước dẫn đường. Quân đoàn 3 không có ở Củ Chi. Trời vừa sáng, tôi bảo lái xe đưa vào Ban Liên hợp quân sự trong trại Đa-Vít. Vì người đổ ra đường quá đông nên xe chỉ bò được 2km/giờ. Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn gọi anh Phương Nam:

        - Cậu là phóng viên báo Tiền phong chơi thân với anh Thiết. Cậu dẫn anh Thiết đi ăn và tìm phòng tĩnh mịch để anh Thiết nghỉ.

        Tôi đả một lúc ba tô phở đầy thịt gà, thịt bò tươi rồi ngủ một giấc đến 9 giờ sáng hôm sau mới tỉnh. Tôi ngồi nhớ đến vợ con.

        Nhận được quyết định vào tham gia Ban Liên hợp Quân sự bốn bên, tôi khoe với vợ. Bà vợ tôi tỏ thái độ:

        - Sao anh không từ chối vì anh đã bám sát chiến trường, chịu bom đạn Mỹ thuộc cỡ có hạng. Tại sao anh không nhường cho các thanh niên khác?

        - Đây là dịp may hiếm có. Anh được đặt chân vào Sài Gòn như cán bộ ngoại giao. Không phải ai cũng được đi đâu.

        - Anh không biết hay giả vờ không biết: Sài Gòn nhan nhản lính, quan, quan to của Mỹ ngụy. Chúng nó có thể bắn chết anh hoặc cho anh vào tù.

        - Không đáng lo như vậy đâu. Trung tướng Trần Văn Trà, Thiếu tướng Lê Quang hòa và hàng trăm sĩ quan cấp tá đều vinh dự tham gia. Em phải vui để anh lên đường có thêm sức mạnh chứ?

        Đến hẹn, máy bay Mỹ do phi công Mỹ lái đưa chúng tôi vào sân bay Tân Sơn nhất. Có gần hai chục cảnh sát, “diện” quân phục trắng ra lệnh: Không cho bất cứ ai được rời máy bay, không được đặt chân xuống sân bay vì đây là lãnh thổ, là thủ đô của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa(!?)
Tôi chủ động rời máy bay đi thẳng tới chỗ viên trung tá, giơ tay chào; Nó cũng chào đáp lễ. Tôi trình bày:

        - Chắc chắn các ông có danh sách từng người, giữ chức vụ gì của đoàn chúng tôi. Tôi là thiếu tá Nguyễn Trần Thiết, trưởng ban liên lạc. Trung tá cho tôi gặp Đoàn trưởng của chúng tôi ở máy bay bên kia.

        Viên trung tá lộ vẻ có uy quyền vì thiếu tá Việt cộng đã chào và xin phép. Nó gọi một trung úy đi cùng với tôi. Gặp trưởng đoàn, về “nhà” tôi không nói to mà thì thầm cho đồng chí ngồi gần nhất theo kiểu truyền tin:

        -  Chính phủ ta vừa tuyên bố sẽ ngừng ngay việc trao trả tù binh cho Mỹ tức khắc nếu Mỹ để quân ngụy gây khó khăn cho đoàn ta. Ta không khiêu khích bọn ngụy nên cứ tạm thời ngồi trên máy bay.

        Viên trung tá đứng gần tôi hỏi:

        - Ông nhận được lệnh gì vậy?

        - Lệnh là chúng tôi không ai dời máy bay chờ cấp trên giải quyết.

        - Đúng! Tôi và thiếu tá chỉ là người thừa hành thôi.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Ba, 2012, 09:38:52 pm
        Khoảng nửa giờ sau, những tên cảnh sát ngụy đã rời khỏi địa bàn. Chắc chắn là đã có lệnh của Mỹ không cho phép cảnh sát ngụy phong tỏa gây rắc rối cho các thành viên trong đoàn của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam.

        Khoảng 10 phút sau, chúng tôi nhận được lệnh bay ngay đi Cần Thơ. Đến Cần Thơ, thiếu tá có tên là Tuấn nhã nhặn:

        - Mời các vị lên ôtô về doanh trại dành riêng cho các vị.

        Trông thấy ngôi nhà gỗ đẹp, tôi hỏi thiếu tá Tuấn:

        - Hình như chưa có ai ở trong nhà này?

        - Sáu ngày trước, chúng tôi chọn khu đất này, đã “thuê” người lính Mỹ làm xong hôm qua.

        Tôi tính nhầm:

        -  Như vậy chỉ cần 4 ngày, công trình đã hoàn thành.

        - Đâu cần lâu như vậy. Người Mỹ có sẵn gỗ, tôn nên chỉ cần chưa đến 1 ngày đã thanh toán xong hợp đồng.

        - Bao giờ các ông đưa chúng tôi đi thăm nơi bốn bên cùng họp?

        - Ngay ngày mai. nếu có trục trặc, ông gọi cho chúng tôi số máy này.
       
        - Chúng tôi cần liên lạc nhiều nơi. Chúng tôi đề nghị thiếu tá cho số điện thoại của Ủy ban Quốc tế và Đoàn chính phủ cách mạng lâm thời…

        - Chúng tôi sẽ cung cấp đầy đủ. Thiếu tá cần nói rõ cho các thành viên trong đoàn là không ai được ra khỏi doanh trại. Đoàn của thiếu tá được cử 1 sĩ quan làm việc với nhà thầu để hai bên thống nhất đặt mua gạo, rau, thịt, cá …cho các bữa ăn và nhu cầu khác.

        Nghe tôi báo cáo, thượng tá Mai Trọng Thường là trưởng đoàn đã nhân danh bí thư triệu tập các Đảng ủy viên cùng họp. Anh mở đài, phân tích:

        - Chắc chắn là địch đã gài máy ghi âm để thu mọi tiếng nói của ta. Các trinh sát chưa kịp dò tìm nên chúng ta phải dùng tiếng hát của đài để địch không thu được nội dung chúng ta bàn. Báo cáo trưởng đoàn là ta bị o ép đằng trước, đằng sau, bên phải , bên trái đều là doanh trại của ngụy. Cái đài quan sát trên cao nên thừa sức dùng ống nhòm soi rõ nhất cử nhất động của đoàn ta.
Trưởng đoàn tuyên bố:

        - Địch có thể dùng bộ binh, pháo binh, máy bay tấn công ta bất cứ lúc nào nên chúng ta phải cảnh giác cao độ. Vì tiêu chuẩn của chúng ta cao gấp 6 lần Hà Nội, do người Mỹ muốn nhận bọn giặc lái nên đã tài trợ tiền ăn cho chúng ta. Ta đề phòng địch phủ lời hứa, sẽ cắt điện, cắt nước không cấp gạo, thực phẩm buộc chúng ta phải xuống thang. Vì vậy, đồng chí phó đoàn, đồng chí quản lý ghi thực đơn cho nhà thầu nhỉnh hơn. Cái tủ lạnh kia sẽ dùng để thức ăn dự trữ, đồng thời lấy bao bì để đựng gạo, đề phòng địch giở quẻ.

        Tôi chợt nhớ đến ý kiến của vợ tôi hôm chia tay. Đúng là chúng ta đang ở sào huyệt của địch như cá nằm trên thớt, tôi hỏi:

        - Thiếu tá Tuấn thông báo cho tôi là ngày mai chưa gặp các trưởng đoàn mà chỉ gặp các sĩ quan liên lạc. Ta nhận lời hay đòi phải gặp trưởng đoàn?

        - Không cần phản đối họ. Ta cần đi 3 người anh Thiết là trưởng đoàn, cậu Lân là phiên dịch và đại úy Thi.

        Ngừng một lát anh nói thêm:

        - Nên nhớ là chúng ta làm ngoại giao, anh Thi sắm vai bí thư riêng của anh Thiết. Anh Thi xách cặp cho trưởng đoàn. Vào họp, anh Thiết chưa ngồi, anh Thi không được phép ngồi. Nhớ là khi tan họp anh Thiết chưa đứng dậy, anh Thi không được đứng dậy trước. Anh Thiết không phải mở cửa xe ôtô để việc này cho anh Thi làm.

        - Thế thì phiền phức quá.

        - Nếu họp toàn đoàn, anh Thiết sẽ gánh trách nhiệm làm bí thư cho tôi.

        - Vì sao vậy?

        - Anh có thấy đủ lọai ôtô chạy trên đường không? Anh có dám khẳng định là biết mở cửa mọi lọai xe không? Người sắm vai bí thư riêng sẽ hỏi tài xế. Nhớ là trưởng đoàn không ngồi ghế đầu cùng lái xe mà ngồi ghế sau bên phải lái xe. Bí thư bắt buộc soi gầm bàn xem có đánh rơi giấy tờ nào không?

        -  Phức tạp nhỉ?

        - Chúng ta mới vào cuộc nên chưa quen cái việc tạm gọi là hầu hạ trưởng đoàn. Sáng mai các anh đi quan sát phòng họp về rồi bàn tiếp.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Ba, 2012, 09:40:46 am
        Phòng họp cách doanh trại chúng tôi đóng quân khoảng 2km. Đại úy Phương đưa xe đến đón chúng tôi, khoe:

        - Đây là xe riêng của tôi, tôi còn một xe du lịch, một xe vận tải. Hôm nào, tôi mời thiếu tá đến thăm biệt thự của tôi. Năm 1954, tôi còn nhỏ, theo bố mẹ vào Sài Gòn chỉ có đôi bàn tay trắng.

        Tôi thầm nghĩ: Đây là đòn tâm lý thứ nhất. Chúng nó khoe miền Nam sống dễ thở, giỏi làm giàu.Tôi trả đũa lại:

        - Tôi có chiếc xe đạp thống nhất đi làm hàng ngày. Đại úy có biết bài thơ Chúc Tết của Bác Hồ không? Tôi đọc cho đại úy nghe nhé:

                                                   "Năm qua thắng lợi vẻ vang
                                             Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to
                                                   Vì độc lập, vì tự do
                                             Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào
                                                   Tiến lên chiến sĩ đồng bào
                                             Bắc Nam xum họp xuân nào vui hơn!"


        - Đoàn của chúng tôi với mơ ước “Bắc Nam xum họp xuân nào vui hơn”. Nhân dân, bộ đội chúng tôi còn nghèo do phải chịu hàng triệu tấn bom đạn của Mỹ. Nếu Mỹ dùng bom rải thảm từ B52 san phẳng được Hà Nội thì hôm nay chúng tôi đã không có mặt ở đây. Mỹ thua trận, thua đau nên buộc phải xuống thang.

        - Ta không bàn về chính trị. Xin hỏi:

        - Nay thiếu tá bao nhiêu tuổi rồi?

        - 46 tuổi.

        - Thiếu tá gần bằng tuổi ông thân sinh ra tôi. Tôi hy vọng sẽ đeo lon đại tá khi bằng tuổi thiếu tá.

        Tôi nói với tên Phương:

        - Đại úy có biết tôi đánh Mỹ hàng trăm trận tôi bị thương nhiều lần, có vết sẹo là viên bi trong người. Tôi tự hào, hãnh diện. Thành Cát Tư Hãn đã thắng như trẻ tre khắp thế giới khi sang Việt Nam thua Trần Hưng Đạo tới 3 lần. Bác Hồ của chúng tôi đã viết trong di chúc: “Thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”. Tất cả chúng tôi, ai xứng đáng cấp nào sẽ được đề bạt cấp đó.

        Đại úy Phương không trả lời tôi vì xe đã đến nơi họp. Thiếu tá Tuấn đã đến từ trước, ra đón chúng tôi và nói:

        - Paris phải mất tới hàng chục phiên họp để cãi nhau về cái bàn. Nên chọn bàn vuông, hình chữ nhật, hình thoi và cuối cùng không đạt được quyết định hạ thấp vị trí đoàn của chính phủ cách mạng lâm thời nên đành dùng bàn tròn.

        Thiếu tá Tuấn giới thiệu:

        - Chúng tôi làm bàn vuông. Các ông cần ngồi đối mặt hay ngồi cạnh nhau, ông cứ chọn trước.

        - Tôi sẽ báo cáo trưởng đoàn và sẽ gọi điện cho ông.

        Tuấn bị cận nên đeo kính gọng vàng tôn cái vẻ trí thức của hắn. Tuấn đưa chúng tôi vào nơi bán căng tin, tuyên bố:

        - Tất cả các mặt hàng ở đây đều miễn phí vì các ông không có tiền miền Nam và chúng tôi cũng không xài tiền miền Bắc. Giữa giờ họp có giải lao, các ông thích gì cứ gọi, không được đem về nhà.

        Tuấn vỗ tay gọi: Tám cô gái khá xinh đẹp mà ta gọi là mắt xanh, mỏ đỏ ào đến. Tôi im lặng. Tôi sinh ra ở nông thôn. Từ 1954 vào tiếp quản Hà Nội tôi không thấy bất cứ cô gái nào trát mặt này. Vài phút sau, các cô thấy trơ trẽn nên rút về phía sau hết.

        Tối hôm đó họp,  ngoài các Đảng ủy viên có mời thêm 6 thiếu tá, 2đại úy. Tôi báo cáo những gì tai nghe mắt thấy:

        - Ngoài cổng có hai thằng Mỹ, ngụy to cao mang súng, lưỡi lê tuốt trần đứng nghiêm khi Đoàn ta đi qua. Tôi dơ tay đặt lên mũ chào lại để đáp lễ. Thiếu tá Tuấn chỉ gật đầu.

        Trưởng đoàn quyết định:

        - Nếu những tên lính gác ở tư thế nghiêm, ta chào đáp lễ. Nếu chúng ta đứng nghỉ, ta chỉ vẫy tay. Để sỹ quan liên lạc họp trước cũng được vì sẽ thảo chương trình làm việc cho bốn bên.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Ba, 2012, 09:49:28 am
        Tôi báo cáo:

        - Thưa anh! Tôi vui vì bà con đứng hai bên đường bày tỏ tình cảm chúng ta. Phải thừa nhận quân phục của ta đẹp và người của ta cao, to, khỏe mạnh, rất ưa nhìn. Ta có nên ăn ở căng tin không? Nhỡ có thuốc mê thì sao? Tôi rất lo mấy con gái điếm. Nếu chúng nó chủ động ôm hôn ta, chụp ảnh đưa lên báo, để hạ nhục chúng ta, ta tránh bằng cách nào?

        Trung tá Đang là phó đoàn trình bày:

        - Hôm qua, nhà thầu kiểm tra tủ lạnh. Thấy chúng ta còn thịt bò dự trữ, nó khuyên ta ngày nào dùng hết thực phẩm ngày ấy vì họ là nhà thầu nổi tiếng phục vụ quân đội. Tôi trả lời là thịt bò còn lại nấu cháo bồi dưỡng cho những ai làm ca đêm.

        Trưởng đoàn Mai Trọng Thường để anh em thảo luận kỹ mới kết luận:

        - Quân phục của ta đẹp, chững chạc nên bà con chiêm ngưỡng là rất tốt. Hai ngày nữa sẽ có cuộc gặp mặt các trưởng đoàn. Ta đã chọn phương án ngồi đối diện với Mỹ; ngụy ngồi đối diện với Chính phủ Cách mạng lâm thời. Ta luôn nghiêm nghị khiến bọn gái điếm không dám sống sượng làm trò gì. Trường hợp tụi nó cứ lăn xả vào ôm ai đó, ta sẽ né tránh và nói to để anh em trong đoàn can thiệp. Từ hôm nay, các đồng chí bảo vệ không được cho Mỹ, ngụy vào doanh trại. Đây là đất của đoàn ta, ta không cho bất cứ ai bén mảng tới kể cả nhà thầu hoặc trưởng đoàn Mỹ ngụy. Trong giờ giải lao, ta cứ ăn uống bình thường. Theo thông tin, ta đã biết là nhiều đoàn bị Mỹ ngụy dở trò như: Ném bom, huy động dân vác gậy đánh người của ta. Theo cảm giác của tôi Đoàn ta sẽ an toàn. Nhưng vẫn phải đề cao cảnh giác.

        Trong những lần họp toàn đoàn, đại úy Phương luôn tranh thủ trò chuyện với tôi. Nó gợi ý:

        - Tôi mời thiếu tá đến khách sạn sang nhất Cần Thơ.

        - Tôi không thích đi riêng lẻ.

        - Thiếu tá ngại gặp trưởng đoàn không cho phép à? Tôi sẽ báo cáo với trưởng đoàn của thiếu tá.

        Thấy tôi lắc đầu tỏ ý không hài lòng, tên Phương tiết lộ bí mật:

        - Thiếu tá nên nhớ là đi ăn ở khách sạn chỉ là phụ. Tôi đã xoay được hai vé đây. Tôi muốn thiếu tá cùng đi thưởng thức sex và trơ tráo nói về 4 công đoạn thưởng thức sex.

        - Đại úy chắc chưa biết câu: “Đẹp tốt phô ra, xấu xa đậy lại”. Đại úy phô ra cái điều tôi cho là bỉ ổi nhất mà đại úy không thấy ngượng à?

        - Đời người, ai cũng cần hưởng thụ. Tôi biết ở miền Bắc không có sex nên mới mời. Tôi có tình cảm và kính trọng thiếu tá mới đưa thiếu tá vào động tiên. Nếu không đi thì thôi!

        Ngày hôm sau, theo đề nghị của ta, trung tá Độ là trưởng đoàn của ngụy đồng ý đưa 7 người của Đoàn ta đi thăm thành phố Cần Thơ. Trưởng đoàn nhận định:

        - Đây là thắng lợi của ta. Anh Thiết đồng ý để họ dùng Zeep đón ta. Nếu họ nhốt trong xe du lịch, người dân Cần Thơ sẽ không có dịp nhìn rõ Việt cộng.

        Tôi hỏi thiếu tá Tuấn về chuyến đi và được trả lời:

        - Vì chuyến đi không phải cuộc họp chính thức nên tôi chịu trách nhiệm xe số 1 chở 3 người. Thiếu tá Tùng chỉ huy xe thứ 2. Chúng ta không được phép dừng lại ở bất cứ điểm nào. Tôi đã điều động hai xe Zeep rồi. Chúng tôi sẽ đến tận nơi để đón đoàn của thiếu tá.

        Thiếu tá Tùng đậm người, có khuôn mặt chữ điền, khá đẹp trai, mời 4 người của đoàn ta ngồi ghế sau.Thấy thượng tá Mai Trọng Thường, Tuấn gợi ý:

        -  Tôi sẽ ngồi cạnh anh Thiết, mời thượng tá lên ghế đầu!

        Tuấn ra lệnh xuất phát, trông thấy đoàn ta, nhân dân Cần Thơ gọi nhau ra xem Việt cộng. Vì đang sống trong vùng địch nên bà con không dám nở nụ cười hoặc giơ tay vẫy chào nhưng gương mặt của ai cũng tươi.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Ba, 2012, 10:48:23 am
        Theo quy ước, chúng ta đi thăm các phố chính rồi thăm Cảng Cần Thơ. Tôi chụp khá nhiều ảnh. Thiếu tá Tuấn nói:

        - Sao thiếu tá cứ nhằm những ngôi nhà lụp xụp để chụp. Có biết bao nhiêu nhà cao tầng, các cửa hiệu lớn sao bỏ qua? Ông định gửi ảnh về Hà Nội đăng báo nói là dân Cần Thơ cực khổ, có đúng không?

        - Thiếu tá cần xem phim tôi chụp không?

        - Chúng tôi không muốn dư luận phê phán là kiểm duyệt phim.

        - Chắc chắn là thiếu tá biết Mỹ đã dùng hàng chục ngàn tấn bom và dùng B52 rải thảm để xóa sổ Hà Nội. Dân Hà Nội phải sơ tán về nông thôn. Với khẩu hiệu: “Tất cả cho tiền tuyến”, “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, Hà Nội phải sơ tán nên nghèo hơn Cần Thơ. Bác Hồ chúng tôi có câu nói: “Thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”. Chúng tôi sẽ làm như thế.

        - Vậy thiếu tá chụp những túp lều để làm gì?

        - Theo nhận xét của tôi, Cần Thơ không có kế hoạch xây dựng. Thiếu tá xem hai ngôi nhà kia. Chủ nhà giàu, có nhiều tiền nhưng không có đất nên xây nhà 5 tầng chỉ với 2m mặt đường. Người bên cạnh có mặt tiền rộng hơn 10m, không có tiền đành xây nhà 1 tầng lợp mái tôn. Tôi có cảm giác như một người răng vổ có cái răng chuột nên rất khó coi.

        Sau chuyến đi, Đoàn ta rất vui. Các cơ sở mật ở Cần Thơ thông báo bà con ở Cần Thơ nhắc lại luận điệu: “Bảy tên Việt cộng bám không gãy nổi cành đu đủ” vì chính họ đã trông thấy Việt cộng to, cao, đẹp trai, chững chạc, mặt rất tươi đưa tay vẫy chào đồng bào.

         Có một lần, trung tá Độ rủ tôi đứng gần cửa sổ hỏi:

        - Có phải hôm qua thiếu tá đã dùng ống nhòm quan sát chúng tôi?

        - Đúng! Tôi nghe tiếng kêu la và trông thấy một đại úy tát, đá đít lính.

        - Thiếu tá không ngạc nhiên vì chúng tôi cho phép đánh lính. Có dậy dỗ lính bằng roi vọt mới có kết quả. Thôi chúng ta nói sang chuyện khác. Thiếu tá mới chỉ biết mùi con gái miền Bắc, chưa thưởng thức gái Nam Bộ?

        Độ chuyển cách nói:

        - Đằng ấy đi với tớ, tớ khao.

        - Trung tá không sợ đồng đội và vợ con chê trách à?

        - Đằng ấy yên tâm đi. Việc này chỉ có tớ và đằng ấy biết thôi. Vợ con đằng ấy ở xa, làm sao biết được chuyện ma ăn cỗ?

        - Thưa trung tá! Mỗi khi dự định làm việc gì xấu, tôi thấy lương tâm cắn rứt.

        - Lương tâm là cái đếch gì. Nơi nào vui, tạo khoái cảm cho ta, ta cứ làm.

        - Lương tâm là quan tòa kiên quyết soi đường hiện tại và tương lai của chúng ta. Xin trung tá phải có lương tâm và không bao giờ bàn về chủ đề này với tôi.

        Trung tá Độ có vẻ ngượng nên chuyển đề tài:

        - Đoàn của thiếu tá đồng ý tiếp các nhà báo Mỹ, Anh, Pháp và Tây Đức nếu mời họ đến doanh trại của thiếu tá được không?

        - Tôi nghĩ là nên họp ở đây tốt hơn. Trung tá hẹn giờ đưa xe đến đón tôi và phiên dịch.

        - Tại sao trưởng đoàn các ông không gặp họ?

        - Trưởng đoàn đã ủy quyền cho tôi.

        Vào họp, các nhà báo thay nhau đặt câu hỏi. Bỗng phóng viên Mỹ tấn công chúng ta:

        -  Thưa ông! Tôi đã dự nhiều trận đánh, chính mắt tôi đã thấy xác Việt cộng chết.

        - Họ mặc quân phục như tôi đang mặc?

        - Không mặc giống ông nhưng tôi tin họ là người miền Bắc. Tại sao các ông lại xâm lược miền Nam?

        - Các ông đã nghiên cứu Hiệp định Paris chưa? Chính Bộ trưởng Bộ ngoại giao Mỹ đã công nhận Việt Nam là một nước duy nhất, tại sao ông nói là miền Bắc xâm lược miền Nam. Ông là người da trắng, mắt xanh, mũi lõ. Các thành viên trong đoàn chúng tôi và đoàn của trung tá Độ đều là người Việt nên không cần phiên dịch. Chúng tôi có mặt ở Cần Thơ là để bàn những việc thống nhất đất nước, hòa hợp, hòa giải dân tộc. Chỉ có Mỹ mới xâm lược miền Nam thôi.

        Buổi họp báo kết thúc. Nghe lại băng ghi âm, trưởng đoàn phán:

        -  Cậu là nhà báo nên kiến thức rộng mới trả lời hết câu hỏi của họ…

        Sau 2 tháng, Đoàn tôi rời Cần Thơ về Hà Nội. Nghe báo cáo, trưởng đoàn là thiếu tướng Lê Quang Hòa biểu dương đoàn chúng tôi đã thành công ở khu vực 7.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Ba, 2012, 11:03:06 am

CẢM TỬ CHO TỔ QUỐC QUYẾT SINH

        Năm 1975, tôi được tham dự Chiến dịch Hồ Chí Minh, chiều ngày 1 – 5, tôi quay lại trại Đa-Vít và được nghe thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn kể chuyện:

        Bộ chính trị và Quân ủy Trung ương quan tâm đặt biệt tới chúng tôi. Chúng tôi nhận được hai kế hoạch.
Theo lời anh Tuấn thì kế hoạch thứ nhất được giao cho đơn vị xe tăng. Nếu thấy xe tăng ta, hơn 200 chiến sĩ của phái đoàn quân sự sẽ bắt liên lạc và sẽ tùy tình thế lúc đó mà có cách xử lý thích hợp. Đến chiều 29 tháng 4 đường dây liên lạc giữa đôi bên vẫn giữ vững nhờ đã được thông báo trước tần số bí mật của điện đài. Tối hôm đó, đúng giờ quy định, đồng chí cán bộ thông tin mở máy thu được vẻn vẹn một câu:

        - Chúng tôi có nhiệm vụ mới. Rất tiếc là phải gửi lời chào các đồng chí.

        Đây không phải là tin vui và cũng chẳng thể gọi là tin buồn đối với các thành viên trong phái đoàn quân sự. Anh em náo nức chờ đợi xe tăng đến đón. Là những cán bộ có kinh nghiệm chiến đấu, ai cũng hiểu tường tận giá trị của đoàn chiến xa ở mặt trận, nên ít ai lộ vẻ thất vọng thay đổi bất ngờ vào phút chót như vậy.

        Kế hoạch thứ hai là có bộ binh của đơn vị đặc biệt tinh nhuệ đánh thọc sâu, để phối hợp với lực lượng tại chỗ tổ chức phòng ngự hoặc tấn công địch nếu điều kiện cho phép.

        Tôi đưa ra câu hỏi với thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn:

        - Được biết là các anh cùng thề “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” có phải không?

        Trưởng đoàn đại biểu quân sự cười, trả lời:

        - Nguồn tin đó là sự thật. Đề nghị các anh nhà báo cải chính cho. Khẩu hiệu của chúng tôi là “Cảm tử cho tổ quốc quyết sinh!”

        Tôi chăm chú, lắng nghe đồng chí trưởng đoàn giải thích:

        Cuối tháng 3 năm 1975, tuy chưa được phổ biến, nhưng anh em cán bộ lãnh đạo phán đoán thời cơ giải phóng Sài Gòn đã tới gần. Trong một chuyến bay thường kỳ vào thứ sáu hàng tuần từ Tân Sơn Nhất ra Hà Nội, chúng tôi đề nghị với Bộ Tổng tư lệnh xin trang bị cuốc, xẻng để đào hầm và vũ khí để chiến đấu khi cần thiết. Thứ sáu tuần sau, chúng tôi không nhận được loại “hàng” đang mong đợi mà chỉ thu về một câu trả lời là “phải tổ chức chiến đấu bảo vệ lực lượng, không để xảy ra sơ suất gì ảnh hưởng tới đại cuộc!”

        Là người trong cuộc, các anh có cách nhìn tinh tế và sáng suốt. Các anh phải không lên gân khi tình thế chưa đòi hỏi phải làm như vậy. Cán bộ, chiến sĩ Ban liên hợp quân sự đã chọn phương án tác chiến đúng theo tinh thần nghị quyết của Đảng ủy  là không để một chiến sĩ nào hy sinh vô ích. Ta không chủ động tiến công địch nhưng ta không bị động khoanh tay chờ chết khi địch tiến công. Với số súng và lựu đạn mà các đồng chí cảnh vệ được trang bị theo Hiệp định, ta sẽ chiến đấu đạt hiệu suất cao khi cần thiết.

        Vấn đề đào hầm được đặt ra nhưng đào ở đâu, đào như thế nào, đào vào lúc nào…được bàn cãi đến từng chi tiết nhỏ nhất. Làm cách nào giữ được bí mật với địch. Địch đóng quân ở bên kia hàng rào nên bất cứ việc gì xảy ra ở ngoài sân và trong doanh trại (nếu ta mở cửa), chúng đều quan sát được. Ngoài ra còn có những tên lính gác thay nhau gác liên tục 24/24 giờ ở tháp canh trên cao thường xuyên dùng ống nhòm theo dõi nhất cử nhất động diễn ra trong chỗ ở của đoàn ta. Ta phải đào hầm như thế nào? Ta không chủ trương mỗi người đào một hầm cá nhân cho riêng mình mà đào cả hệ thống giao thông hào đủ sâu, đủ rộng để ta có thể đi từ nhà này sang nhà khác rồi tỏa ra các vọng gác. Dứt khoát ta không thể đào giao thông hào vào ban ngày mà phải chọn giờ hành động từ nửa đêm về sáng. Tuy nhiên ngay đêm đầu khởi sự đã nảy sinh nhiều rắc rối vì thiếu cuốc, xẻng và biết đổ đất vào đâu để khỏi bị lộ. Ngay tức khắc, mọi dụng cụ bằng sắt như cọc màn, chân giường, tuốc –nơ – vít…đều được dùng để đào đất. Đất đổ vào gầm giường, đất nâng cao thêm sàn nhà. Một ngày, hai ngày rồi năm ngày trôi qua. Cán bộ chiến sĩ đã mệt rã rời vì đêm thức, ngày không ngủ được vì phải giữ mức sinh họat bình thường. Oái oăm nhất là những cầu thủ bóng chuyền, bóng rổ. Đúng giờ quy định, những vận động viên nghiệp dư buộc lòng và những ai buộc sắm vai khán giả vẫn hò reo, cổ vũ nhiệt tình. Mệt bở hơi tai, mệt tưởng muốn đứt hơi nhưng ta buộc lòng phải đóng trọn mọi vai để kẻ địch không nghi ngờ gì mình.

         Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn giải thích:

        - Chúng tôi không lo anh em mệt hoặc mất ngủ vì hoàn cảnh chúng tôi sướng hơn nhiều so với các chiến sĩ ở chiến trường. Điều mà Đảng ủy lo nhất là anh em liều mình manh động. Chúng tôi không tranh cãi xem khi rời Thủ đô ngày toàn quốc kháng chiến 19 tháng 12 năm 1946, các chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô dùng khẩu hiệu “Cảm tử hay quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” nhưng rõ ràng hoàn cảnh của chúng tôi khác hẳn với thời điểm 19 tháng 12 năm 1946. Ngày đó, địch mạnh, ta yếu và thiếu vũ khí, ta chưa có kinh nghiệm chiến đấu. Còn bây giờ, địch rất yếu, đang thua trận và ngày ngụy nhào chắc không còn xa nữa. Vì vậy, chúng tôi phải biết hy sinh đúng lúc, phải “Cảm tử”, chứ không “Quyết chết”

        Tôi đã đi dưới giao thông hào có nhiều đoạn sâu tới 1.50mét. Có biết bao bài hát: “Mẹ đào hầm, mẹ đào hầm” rồi ví von “Nơi hầm tối là nơi sáng nhất” và huyền thoại về “Địa đạo Củ Chi” khiến kẻ thù khiếp sợ, thế giới ca ngợi nhưng chưa ai nói tớ hàng ngàn mét giao thông hào kỳ lạ ở Ban Liên Hợp quân sự hai bên. Khoảng 6 giờ chiều ngày 28 tháng 4, cán bộ, chiến sỹ reo vui phấn khởi, một tốp A37 (mà sau này các anh biết là do Nguyễn Thành Trung dẫn đầu) ném bom xuống sân bay Tân Sơn Nhất. Phải chăng đây là hành động phản chiến? Bằng những tin thu được qua điện đài và hỏi những nhân viên phục vụ, ta hết sức vui mừng vì những thiệt hại do trận ném bom gây ra, đặc biệt là ta đã thu được báo cáo chính xác của ngụy: “Ngày 28 tháng 4 năm 1975, 18 giờ tối, máy bay A37 (Máy bay phản lực mà cộng sản đã chiếm được) trang bị ĐK81 đã bắn phá sân bay Tân Sơn Nhất. Bom rơi trúng nhà để máy bay của không quân, phá hủy nhiều máy bay C47 và ít nhất có 3 máy bay AC119. Hai trái bom trúng giữa trung tâm điều khiển và vọng kiểm soát.”


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Ba, 2012, 11:11:31 am
        Anh em càng phấn khởi lại càng nuối tiếc vì mình không được trực tiếp tham gia chiến đấu. Còn có gì khổ tâm hơn là cứ ngồi một chỗ nghe tin chiến thắng của các đơn vị và chính mắt mình nhìn thấy nhưng ngọn lửa bốc lên cao, chính tai mình nghe rõ tiếng bom nổ rền ở cách mình chưa tới trăm mét? Anh em ao ước có gì “mở cửa thành” trong đánh ra, ngoài đánh vào, phối hợp cùng nhau diệt địch. Rất nhiều đồng chí đã từng là dũng sỹ diệt Mỹ, diệt ngụy và những sỹ quan đã lăn lộn ở khắp các chiến trường suốt  30 năm qua đều rất muốn lập công: Đây là cái tình giữa chọn hướng hành động “Cảm tử” hay “Quyết tử”. Những câu hỏi dặt ra:

        -  Địch hoang mang, tan rã, không còn tinh thần chiến đấu. Cứ cho tôi 5 quả lựu đạn, tôi dùng kỹ thuật đặc công đột nhập vào sở chỉ huy của chúng, tôi đảm bảo hạ dăm bảy thằng cỡ trung tá, đại tá ngụy.

        -  Ta chỉ cần một tiểu đội trang bị tiêu liên, súng trường, thủ pháo cũng đủ sức đánh bay cả tiểu đoàn địch. Chúng tôi không ngại hy sinh.

        Anh em nôn nóng ra trận từng phút, từng giây. Liệu có khả năng xảy ra chuyện một chiến sỹ nào đó “Vô kỷ luật” lẻn sang tấn công “Hàng xóm” không? chả nhẽ ngồi yên chờ chúng đến giết mình à? Số vọng gác, người gác và đốc gác tăng lên gấp ba ngày thường. Ta phải cảnh giác cao độ, không để bất ngờ đáng tiếc xảy ra và cũng tránh mọi hành động, lời nói  khiêu khích kẻ thù cùng đường. Một không khí căng thẳng như trước giờ nổ súng của trận đánh lớn bao trùm lên mọi cán bộ chiến sỹ. Đêm 28 rạng 29/4/1975, những lọat đạn pháo hạng nặng của pháo binh ta nã vào sân bay Tân Sơn Nhất. Tiếng nổ lớn tưởng như không dứt, sân bay chìm trong lửa khói. Do đạn pháo tản mác, đêm đó trong khi làm nhiệm vụ có hai đồng chí hy sinh và một số đồng chí khác bị thương. Làm thế nào để chôn cất Liệt sỹ? Ta không có điều kiện tổ chức tăng lễ, phủ quốc kỳ lên quan tài với hàng rào danh dự mang súng có lưỡi lê tuốt trần, bắn lọat đạn chỉ thiên vĩnh biệt liệt sỹ, xung quanh là kẻ thù, chúng ta buộc phải giữ im lặng. Vì sự nghiệp giải phóng Sài Gòn, chúng ta chưa đặt vòng hoa lên ngôi mộ hôm nay nhưng sẽ có một ngày nào đó, chúng tôi sẽ công khai khóc thương những đồng đội đã hy sinh cho độc lập, tự do của đất nước.

        Đảng ủy Ban liên hợp quân sự  còn chủ trương giữ bí mật với phía ta. Vượt qua nguyên tắc cấp dưới phải báo cáo với cấp trên mọi việc xảy ra không đòi hỏi sự dũng cảm. Đồng chí trưởng đoàn chỉ thị:

        - Đồng chí của ta đã hi sinh không thể cứu sống nổi. Ta báo cáo chậm để các pháo thủ không bị ảnh hưởng  tâm lý khi bắn. Từ giờ phút này, mọi người phải ở trong công sự khi nghe pháo ta hay pháo địch bắn.

        Sáng 30 tháng 4, cảnh hỗn loạn của quân ngụy ở sân bay Tân Sơn Nhất ngày một tăng. Chính mắt tôi đã trông thấy đống quân phục của đủ mọi sắc lính ngụy, với đủ lọai lon khác nhau chất thành những đống to. Các lọai súng trường tự động, súng ngắn, tiểu liên cực mạnh và cả trung liên cũng xếp thành đống bên cạnh. Anh em kể:
 
        - Tụi nó chạy bán sống bán chết để thoát thân. Thằng ngồi xe Zeep, thằng ngồi xe gắn máy, xe đạp hay chạy bộ đều nhất lọat cới bỏ quân phục quăng ngổn ngang ngập đường, vứt mọi thứ vũ khí mang theo, chúng tôi mới gom lại thành nhiều đống tương tự như thế này.

        Chiều 01 tháng 5 năm 1975, các bạn đồng ngũ mở tiệc liên hoan mừng chiến thắng và chiêu đãi khách. Anh Phương Nam đã rỉ tai tôi:

        - Tối nay sẽ phát bài tường thuật hỏi cung Dương Văn Minh của cậu. Bài viết tốt, sinh động. Chắc sáng mai độc giả báo quân đội nhân dân sẽ có nhiều niềm vui mới.

        Các đồng chí ở Ban Liên hợp quân sự hai bên là tổ Liên hợp quân sự bốn bên đã hoàn thành sứ mạng thiêng liêng của Tổ quốc giao phó, thực hiện đầy đủ khẩu hiệu hành động “Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Ba, 2012, 11:24:15 am

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/038AnhKy1973.jpg)

TẤM ẢNH ĐẶC BIỆT

HOÀNG KHÁNH                

        11h30 ngày 30 tháng 04 năm 1975 1á cờ cách mạng ngạo nghễ tung bay tại Dinh Độc lập, sau đó cả nước được nghe lời tuyên bố đầu hàng không điều kiện của Dương Văn Minh - Tổng thống nguỵ quyền Sài Gòn.

        Phòng bảo vệ Cục chính trị Quân giải phóng miền Nam (Cục chính trị B2) cùng với đại quân tiến về Sài Gòn và được lệnh tiếp quản khu vực số 8 Nguyễn Bỉnh Khiêm thuộc Quận I thành phố Sài Gòn (nay là thành phố Hồ Chí Minh). Đây là trụ sở của Cục an ninh quân đội nguỵ.

        Người dân miền Nam, đặc biệt là những ai đang ở Sài Gòn lúc bấy giờ đều biết địa danh nổi tiếng này. Ai bị bắt vào đây, ra khỏi cái địa ngục trần gian này là rất khó( ! ). Người nào, nếu không đủ chứng cứ là họ có tham gia hoạt động cho cách mạng, khi địch thả ra cũng mẻ trán, bươn đầu, mang thương tật suốt đời. Mỹ nguỵ bắt bớ những người yêu nước đưa vào đây giam cầm, tra tấn, đầy đoạ họ nhằm khai thác để đánh phá các cơ sở cách mạng của ta. Những đòn tra tấn từ cổ điển đến hiện đại nhất đều được Mỹ nguỵ đem ra ứng dụng. Công cụ để tiếp tay cho tội ác man rợ còn treo lơ lửng trong các phòng thẩm vấn. Mùi tanh lợm của máu các chiến sỹ cách mạng đổ ra ở đây càng làm tăng thêm vẻ lạnh lẽo đến gai người...

        Cổng sắt khu số 8 Nguyễn Bỉnh Khiêm trước kia thường đóng kín. Một bốt gác bê tông nhô hẳn ra ngoài, tên lính nguỵ đứng gác lăm lăm khẩu tiểu liên cực nhanh AR 15 trên tay, hắn sẵn sàng nhả đạn vào bất cứ ai liều lĩnh vượt qua barie chắn trước cổng. Ai có việc phải đi qua đoạn đường này đều e ngại, cố vượt cho nhanh để tránh những phiền phức có thể xảy ra...

        Cơ quan an ninh Quân giải phóng tiếp quản một trong những công cụ chủ yếu của Mỹ nguỵ kìm kẹp, đàn áp cách mạng khốc liệt nhất, vì vậy chúng tôi càng phải tập trung thu thập toàn bộ số tài liệu của địch bỏ lại để phục vụ cho công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ cách mạng và các lực lượng vũ trang ta sau này.

        Những ngày đầu tiếp xúc với các loại đồ vật, dụng cụ, sách báo, tranh ảnh trong công sở của Mỹ nguỵ thật khó chịu và kinh tởm. Đú loại tranh ảnh, sách báo đồi truỵ nhan nhản trên bàn làm việc, trên tường, trong ngăn bàn, các hộc tủ... Hình như các loại văn hoá phẩm đồi truỵ bẩn thỉu ấy của bọn xâm lược là thứ năng lượng tạo ra ma lực phản dộng nhất để chúng liều lĩnh chống phá cách mạng, chống lại nhân dân ta.

        Tôi đi nhanh một lượt qua các phòng, tới đâu cũng vậy, sách báo, tranh ảnh, giầy và quần áo lính nguỵ vứt ngổn ngang... Có mặt tại khu vực này trước chúng tôi là những chiến sỹ Quân giải phóng của cánh quân tiến trên đường Hồng thập tự (sau này đổi thành đường Xô viết Nghệ Tĩnh) họ băng qua cầu Thị Nghè, đến ngã tư Nguyễn Bỉnh Khiêm rẽ trái, gặp đường Thống Nhất (sau đổi thành đường 30 tháng 04) tiến thẳng vào Dinh Độc Lập buộc Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng không điều kiện...

        Mọi thứ ở đây bị lục tung, vút bừa bãi ra sân, vườn và trên thềm nhà... Có nhiều dấu vết của bọn lưu manh hôi của. Chúng cạy phá, lục lọi tất cả các ngăn bàn, các hộc tủ, những cánh cửa tủ bật tung ra khỏi bản lề...

        Những ngày đầu giải phóng, cơ quan an ninh là đơn vị phải làm việc nhíều nhất. Vừa thu thập tài liệu, khẩn trương khai thác tài liệu, triển khai truy tìm ngay những kẻ không chịu ra trình diện chính quyền cách mạng còn lẩn trốn, lôi kéo, tụ tập nhau lại tiếp tục chống phá cách mạng, trong số này có Trần Hữu Độ - Đại tá, Cục phó Cục an ninh quân đội nguỵ. Chiều ngày 01 tháng 05 năm 1975, có người còn gặp Độ vậy mà không thấy có tên của y đăng ký trình diện( ! ) Hoặc những tên đầu hàng phản bội đã gây nhiều nợ máu với cách mạng, với nhân dân mà không hề ân hận để cải tà quy chính như Đoàn Văn Hà, Lê Duy Quyền... Chúng tôi lao vào công việc với mong muốn sớm vạch mặt bọn phản dân, hại nước để ngăn chặn những hậu quả mà chúng có thể gây ra. Chúng tôi khẩn trương nghiên cứu ngay những tài liệu mới thu thập được, khai thác ngay những thông tin đó, cả thông tin của quần chúng cung cấp, lời khai của những đối tượng là nhân viên cơ quan an ninh, tâm lý chiến, Thiên Nga, Phượng Hoàng, Phủ đặc uỷ trung ương tình báo nguỵ. Cơ quan tình báo Mỹ CIA và các cơ quan tình báo khác. Riêng công tác thu thập tài liệu, ngành bảo vệ quân đội đã hết sức quan tâm, thành lập hẳn một bộ phận chuyên trách. Tôi cũng được phân công làm nhiệm vụ trong bộ phận này.

        Tại số 8 Nguyễn Bỉnh Khiêm, địch bỏ lại rất nhiều tài liệu. Những người đến trước, do ý thức nghiệp vụ hạn chế nên không quan tâm! Bọn hôi của chỉ chăm chăm lục tìm tiền, vàng bạc, đá quý hoặc những thứ có giá trị kinh tế khác nên chúng không đoái hoài gì đến các loại tài liệu này. Chúng vứt thành đống ngổn ngang, trên sàn nhà, trong xó xỉnh, ngoài vỉa hè, sân vườn... Có ai đó còn dùng vào việc cá nhân rất bẩn thỉu. Đối với chúng tôi, khi xem lướt qua thấy có dấu hiệu mang ý nghĩa nghiệp vụ thì dù có rách nát, bẩn thỉu thì cũng vẫn đem về, khẩn trương khai thác ngay những "báu vật" đó. Qua nghiên cứu bước đầu, chúng tôi đã có tài liệu sử dụng kịp thời cho công tác đánh địch trước mắt, một số khác dùng để đánh địch lâu dài...

        Tôi sục vào phòng làm việc của Vũ Đức Nhuận - Chuẩn tướng, Cục trưởng Cục an ninh quân đội nguỵ. Căn phòng khá rộng, đồ đạc ngổn ngang sau nhiều đợt lục lọi. Chiếc tủ gỗ to, choán khá nhiều diện tích căn phòng. Cánh cửa tủ ai đó đã mở, bên trong còn treo trên mắc áo bộ quân phục màu cà phê sữa, có bảng ghi tên "nhuận" khâu liền trên nắp túi áo bên phải, hai bên vai áo còn lon cấp tướng một sao (chuẩn tướng) của Nhuận. Bộ quân phục vẫn nguyên nếp là thẳng tắp, có lẽ vì vội trốn chạy nên y không kịp mang theo, không kịp cất giấu hoặc xoá bỏ dấu vết của một tên tay sai gần trọn cuộc đời cúc cung tận tuỵ với hết quan thầy thực dân Pháp lại đến đế quốc Mỹ!


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Ba, 2012, 06:34:29 pm
        Trên mặt bàn làm việc, quyển sổ công tác ở những trang cuối trước lúc trốn chạy y còn trao đổi công việc với Trần Hữu Độ - Đại tá, Cục phó Cục an ninh quân đội nguỵ; với Nguyễn Văn Học - Đại tá, trưởng phòng phản tình báo... Tại góc phòng, gần bàn làm việc của Nhuận có kê một két sắt to gần bằng chiếc tủ gỗ đựng quần áo. Đây là chiếc tủ két rất kiên cố, nặng hàng tạ, vỏ sắt ổ khoá số và có thể chống cháy, chống trộm... Tôi đoán, trong đó chắc chắn có nhiều tài liệu quan trọng. Những người đến trưỏc và bọn hôi của đều bó tay trước sự kiên cố của chiếc tủ két. Cũng đã có rất nhiều vết cậy phá còn để lại trên cánh cửa tủ và ổ khoá số. Như vậy những thứ ở bên trong vẫn còn nguyên vẹn.

        Tôi gọi đồng chí Thanh, quê Nghệ An, chuyên gia phá khoá của bộ phận thu gom tài liệu đến giải quyết ổ khoá số hiểm hóc này. Thanh cởi áo ngoài, mặc áo lót Đông Xuân, anh có thân hình chắc lẳn, mập mạp. Anh loay hoay cả tiếng đồng hồ, các bài mở khoá công khai, bí mật đã được học đều được ứng dụng hết cả nhưng không kết quả, mồ hôi nhễ nhại ướt đẫm chiếc áo lót cộc tay. Chiếc két vẫn trơ trơ, ngạo nghễ thách thức mọi người. Có ý kiến : "Ta dùng khoan và cưa kim loại để phá vậy!" Mọi người không tán thành! Chiếc két càng khó mở thì độ tin cậy càng cao, giá trị sử dụng càng lớn. Để cất giữ các tài liệu quan trọng của ngành bảo vệ quân đội sẽ rất tốt... Quá trưa chúng tôi đành bỏ dở để về ăn cơm !

        Chiều, bộ phận thu gom tài liệu được "tăng cường" một thợ phá khóa chuyên nghiệp. ông này là người Hoa trong Chợ Lớn, thợ khoá lâu năm, tuổi gần 40, gày nhom nhom, đeo kính, nước da xam xám, chân đi dép lê. Cơ quan an ninh tốn khá nhiều công sức đi tìm vì ông ta không ở cố định tại địa chỉ nào. Ngày mới giải phóng như bao người lao động trong thành phố này, ông cũng phải kiếm kế sinh nhai, lo chạy từng bữa ăn để nuôi sống bản thân và gia đình. Tôi gặp ông, nói sơ qua về công việc, ông lắp bắp "dạ..dạ..." rối rít với dáng vẻ sợ sệt, khúm núm. Tôi động viên ông, nói về những đường phố mà tôi đã đi qua trong thời gian công tác tại Đoàn đại biểu quân sự chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam tại BLHQS hai bên trong "trại Davis" ở Tân Sơn Nhất và hỏi thăm gia cảnh, tạo không khí vui vẻ, thông cảm để ông yên tâm làm việc. ông đã bình tĩnh và đến bên tủ két, đi vòng quanh, lùi ra xa khoảng hai mét ngắm nghía, sau đó lại đi thêm một vòng quanh tủ. Ông dừng lại, tiến đến bên két, tay trái tỳ lên cạnh tủ, tay phải đặt vào ổ khoá số, nhẹ nhàng xoay theo chiều kim đồng hồ mấy vòng, rồi quay ngược lại. Ông ghé tai vào gần tủ lắng nghe tiếng động bên trong... Cứ thế, xoay đi, xoay lại nhiều vòng ổ khoá, không rõ mấy mươi lượt như vậy? Phải mất khoảng gần chục phút, bỗng trong két có một tiếng bật "tách" và ông ta kéo tấm cửa sắt nặng nề ra rất dễ dàng. Mọi người đứng xung quanh đều trầm trồ thán phục. Tôi cũng mừng, nói với ông lời cảm ơn và hẹn sẽ còn phải nhờ ông giúp những trường hợp tương tự. ông tỏ ra rất phấn khởi vì "đã được Giải phóng tin cậy ! "

        Đúng như dự đoán, trong tủ sắt còn nguyên các tập tài liệu được xếp gọn tại ngăn trên cùng, đều là những tài liệu quan trọng thuộc loại "tối mật" của an ninh quân đội nguỵ. Nhuận còn để tiền và một số kim loại quý. Có hai khẩu súng ngắn, một khẩu Valte xinh xắn và một khẩu Rulos cối quay. Bên cạnh có mấy hộp đạn, ngoài hộp có nhiều viên đạn rời màu vàng ươm. Không hiểu những viên đạn rời để ngoài hộp có ý gì?  Có lẽ trước khi tháo chạy y đã tính đến chuyện tự kết liễu đời mình?  Nỗi ám ảnh về "một cuộc tắm máu sẽ xảy ra khi Sài Gòn thất thủ đã dồn kẻ bại trận vào một tình thế bất lợi như vậy!  Phải công nhận "thành tích" của bộ máy chiến tranh tâm lý khổng lồ Mỹ nguỵ đã lừa bịp được cả những tên tay sai trung thành như Vũ Đức Nhuận...

        Tôi xếp riêng các tập tài liệu để về nghiên cứu. Súng đạn, tiền và những đồ trang sức Ở trong tủ két được kê vào một biên bản để bàn giao cho bộ phận khác. Bỗng tôi chú ý đến một góc phòng gần chỗ ghế của Nhuận ngồi, ở đó có nhiều loại giấy tờ, có thứ đã viết, đã đánh máy và cả giấy trắng. Ai đó đã thu gom ở đâu đem đến đây, ném chồng chất lên nhau, rất lộn xộn... Tôi nhặt từng tờ có chữ viết và đánh máy để riêng ra, lần lượt xếp thành một tập dầy ngay ngắn. Phía dưới cùng của đơng giấy bỗng lộ ra nhiều tấm ảnh, tôi cầm lên xem và nhận ra ngay những đồng đội của tôi, họ đã cùng tôi chiến đấu trên trận tuyến "ngoại giao quân sự" trong Ban liên hợp quân sự bốn bên và hai bên trung ương. Các anh chị là thành viên của hai đoàn đại biểu quân sự cách mạng: Đoàn của chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà (Đoàn A) và Đoàn của chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam (Đoàn B). Đây là một trận tuyến đặc biệt, không phải sử dụng súng đạn, không phải tiềm nhập bí mật vào căn cứ địch, không phải xông xáo giữa trận tiền khét lẹt mùi thuốc súng. Tại đây, mỗi cán bộ chiến sỹ ta phải chiến đấu với kẻ thù bằn., sự thông tuệ, khôn khéo, nhạy bén, dũng cảm, với những lý lẽ chính nghĩa được ghi nhận trong văn bản Hiệp định về chấm dút chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam, vừa phải đối phó với đủ loại hình của chiến tranh thông thường, huỷ diệt, tâm lý... Hơn thế chúng tôi còn phải sống, làm việc, sinh hoạt như thế nào để nhân dân cả nước tin yêu, đồng bào đang phải sống trong vùng địch kiểm soát tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng, bạn bè quốc tế mến phục, thông cảm và ủng hộ, còn kẻ thù phải kiêng nể. Đây cũng là một trận địa gay go, quyết liệt không kém gì ngoài tiền tuyến, phải trực diện với kẻ thù lắm mưu sâu, kế độc. Chúng liên tục đánh phá ta mọi lúc, mọi nơi kể cả những thủ đoạn đê hèn nhất! Song chúng đã thất bại hoàn toàn, hàng nghìn cán bộ chiến sỹ ta dù trong hoàn cảnh công tảc đấu tranh xa hậu phương, có lúc chỉ một vài người ở giữa hang ổ địch, vẫn giữ vững khí tiết, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng, không để xảy ra một trường hợp đáng tiếc nào.

        Trong số những tấm ảnh thu được, tôi thấy có tấm chụp anh Lê Quang Hoà - Thiếu tướng, trưởng đoàn A đang ôm hôn anh Trần Văn Trà - Trung tướng, trưởng đoàn B. Phải công nhận đó là một tấm ảnh đẹp, chụp có kỹ thuật, độ nét cao, bố cục hợp lý, rất sống động và chứa chan tình cảm ruột thịt, tình đồng chí, tình bạn chiến đấu thuỷ chung, son sắt của hai lực lượng vũ trang cách mạng. Lúc đó, theo văn bản Hiệp định Paris nên tạm gọi là hai lực lượng gồm Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Đối với chúng tôi thì không hề có sự tách biệt nào cả.  Chúng tôi cùng một mẹ Việt nam sinh ra, là quân đội của nhân dân, cùng mục tiêu, lý tưởng chiến đấu đánh đuổi giặc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai bán nước, quyết thực hiện lời Bác Hồ đã kêu gọi: "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào"và cùng dưới sự lãnh đạo của Đảng lao động Việt Nam quang vinh. Vì vậy, về bản chất chúng tôi chỉ là một!



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Ba, 2012, 07:24:52 pm
        Một số tấm ảnh chụp các đồng chí thành viên của Đoàn A, quân phục Thu Đông gọn gàng, mũ kêpi đính quân hiệu, trên vai mang quân hàm trông vừa đẹp, vừa trang nghiêm. Có hàng trăm tấm chụp cán bộ, chiến sỹ Quân giải phóng của Đoàn B với dáng vẻ hiên ngang, đầu đội mũ cát cứng (mũ cối) và mũ tai bèo, quân phục đồng màu trông cũng rất đẹp, trên mũ đính ngôi sao vàng, giữa nền cờ nửa đỏ, nửa xanh của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Nét mặt mọi người trong ảnh rạng rỡ, tự hào mặc cho xung quanh có hàng trăm tên cảnh sát dã chiến, quân cảnh Mỹ nguỵ, an ninh và mật vụ mặc thường phục... Bọn quân cảnh và cảnh sát dã chiến trong tay lăm lăm súng đạn. Nhìn vào ảnh đã thấy rô sự tương phản giữa một bên những người chiến sỹ cách mạng đàng hoàng, chững chạc, bình thản trước kẻ thù còn bên kia loang lổ những bộ rằn ri dữ tợn, mặt mũi láo liêng, hoảng loạn, súng đạn đầy mình...
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/072.jpg)
Nữ chiến sĩ quân giải phóng tại Tân Sơn Nhất 2-2-1973. Ảnh do nhân viên an ninh
chính quyền Sài Gòn chụp


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Nuchiensi.jpg)
2/2/1973 Tân Sơn Nhất. Nhân viên an ninh ngụy chụp

        Có nhiều tấm ảnh chụp các nữ chiến sỹ Quân giải phóng trông mới đẹp làm sao. Với bộ quân phục nữ, mũ tai bèo đính ngôi sao vàng trên nền cờ cách mạng và những bó hoa tươi thắm càng tôn thêm vẻ đẹp, niềm tự hào, kiêu hãnh của đoàn quân chiến thắng. Nhìn các cô, trong lòng tôi xốn xang dường như niềm kiêu hãnh, tự hào và vẻ đẹp ấy lan toả sang cả người xem ảnh. Cô Thuận, cô Chiến, cô Hồng, cô Loan, cô Nguyệt, cô Vân, cô Dung, cô Hạnh.., trông những cô gái thật rắn rỏi từ nét mặt, dáng đi rất tự tin, trên tay mỗi người có một bó hoa. Hoa từ Lộc Ninh do bà con trong vùng giải phóng tặng trước khi các cô lên máy bay trực thăng do phi công Mỹ lái để vào Sài Gòn. Bà con đã gửi trọn tấm lòng tin tưởng ngày thắng lợi hoàn toàn ước vọng đất nước sớm được hoà bình, thống nhất. Nụ cười nở bên những bó hoa tươi thắm càng tôn vẻ đẹp của những nữ chiến sỹ Quân giải phóng gấp bội phần.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Ba, 2012, 07:56:45 pm
        Ảnh chụp chị Nguyễn Thị Ngọc Dung đang tươi cười bắt tay, phía sau là một sỹ quan Hungari thành viên của Uỷ ban Quốc tế. Không biết chị Dung bắt tay ai nhưng tôi đoán được người đối diện với chị phải là người rất quen thân trong phái đoàn của ta tại sân bay Tân Sơn Nhất.

        Có một số tấm chụp các anh từ Paris về. Anh Lê Trực có vầng trán cao, ngồi bên anh là Vũ Dũng (phiên dịch). Nhiều anh vẫn còn ngồi trong khoang máy bay. Có lẽ máy bay vừa ngừng trên sân đỗ, các "nhiếp ảnh gia" của cơ quan an ninh quân đôi ngụy đã kịp có mặt để ghi lại những hình ảnh này.

        Tôi lật phía sau một số tấm ảnh thấy có mấy dòng chữ ghi "29/1/73- 15h45" và "05 tên MTGP + BV trên phi cơ UTQ". Như vậy tấm ảnh được chụp vào hồi 15 giờ 45 phút ngày 29 tháng 01 năm 1 973 và có 5 người của ta trên máy bay của Uỷ Ban quốc tế. Lại có một số tấm ảnh chụp ngày 28 tháng 01 năm 1973 và những ngày tiếp theo.

        Có tấm ảnh chụp anh Vũ Nam Bình và anh Ngô Thế Kỷ đang rảo bước trên sân bay. Chiếc ba lô con cóc nặng trĩu trên đôi vai gầy của các anh vẫn không làm giảm vẻ rắn rỏi nhanh nhẹn trong mỗi bước chân. Một tấm khác chụp anh Phú Bình (Phạm Phú Bằng) với thân hình gày gò được giấu trong bộ quân phục rộng thùng thình...

        Từ trong đống ảnh, tôi bỗng nhận ra một tấm có hình mình, buột miệng tự nhiên kêu: "A!" lên một tiếng. Đó là tấm ảnh đen trắng cỡ 6cm x 8cm, loại này nhỏ hơn hàng trăm tấm ảnh vừa xem trước. Có thể ảnh chân dung nên không cần phải làm lớn hơn(?!) Tôi cố nhớ lại, khi vừa bước chân xuống sân bay, hàng chục tên mặc quần áo dân sự nhâu nhâu chõ máy ảnh vào mình. Tôi cố tình quay phải, quay trái làm như đang tìm ai để không lọt hẳn khuôn mặt mình vào gọn trong ống kính, tên nhân viên an ninh quân đội này đã kịp chộp được một kiểu ảnh rất chính diện! Chiếc mũ tai bèo mới lĩnh từ quân nhu Đoàn 315A Ở Lộc Ninh nếp gấp vẫn còn hằn lên vành mũ vải. Nhìn kỹ mình trong ảnh cứ ngồ ngộ, tôi bỗng bật cười(!) Chưa bao giờ tôi nghĩ sẽ có lúc đứng ngắm ảnh chân dung của mình tại chính căn phòng làm việc của đối thủ sau cuộc trường chinh đầy máu lửa! Tấm ảnh này chác chắn bọn an ninh, bọn tình báo Mỹ nguỵ đã nhân bản nhiều lần cùng với ảnh của hàng nghìn cán bộ, chiến sỹ hai đoàn đaị biểu quân sự cách mạng trong Ban Liên hơp quân sự bốn bên và hai bên để chúng nghiên cứu, theo dõi...

        Hứng chí, tôi gom cả đống ảnh ai đó đã trút xuống góc phòng làm việc của Vũ Đức Nhuận gồm hàng trăm chiếc, cho vào túi nilon và quyết định giữ lại toàn bộ số ảnh đó, tôi tự xét thấy đây không phải là tài liệu, tiền bạc hoặc thứ được xếp vào hàng chiến lợi phẩm nên không phải lập biên bản bàn giao cho ai cả.

        Về tới phòng nghỉ, tôi giở tập ảnh ra xem. Lúc này có nhiều thời gian nên nhìn kỹ hơn, tôi thấy có mấy tấm ảnh chụp cảnh Hà Nội, cửa trại gíam Hoả Lò nơi này ai cũng biết là "khách sạn Hin - tơn Hà Nội" đón các vị khách không mời mà đến (!). Có tấm chụp công viên Thống Nhất. Có tấm chụp một đám đông người đứng bên đường, nổi lên trong đó có hai cánh tay giơ nắm đấm về phía trước... Có lẽ đây là lúc đoàn Mỹ và nguỵ ra Hà Nội nhận tù binh Mỹ do ta trao trả, ngoài đó đã tổ chức cho họ đi thăm quan(!) Nghĩ đến cách đối xử của phía Mỹ nguỵ với hai đoàn ta trong Ban liên hơp quân sự bốn bên và hai bên Trung ương ở Sài Gòn và các địa phương mà lòng tôi dâng trào phẫn nộ. Kẻ thù thật đê hèn, chúng rất hoảng sợ vì sự có mặt của những người lính cách mạng trong vùng chúng tạm thời kiểm soát!

        Bỗng tôi thấy có một tấm ảnh rất khác lạ, không như những tấm vừa xem trước đó. Tấm ảnh không có khuôn mặt của người nào. Tác giả cố ý chĩa máy ảnh xuống đất, trong khuôn hình chỉ có đôi chân người chiến sỹ Quân giải phóng, bên cạnh dựng khẩu tiểu liên báng gập AK47 và dưới hai bàn chân anh là đôi dép cao su. Tôi đã xem hàng trăm tấm ảnh, chiếc nào cũng có những khuôn mặt thân quen của đồng đội tôi trong đó. Kẻ địch chụp tất cả thành viên của hai phái đoàn ta, chúng chụp nhiều lần, nhiều máy ảnh cùng chụp, nhiều góc độ.., bọn chúng là nhân viên của các cơ quan an ninh, mật vụ, tình báo, cảnh sát.., nên "tay nghề" rất khá( ! ) ảnh của chúng tôi, địch đưa ra cho bọn đầu hàng, phản bội nhận mặt. Những thông tin cá nhân, lai lịch, quê quán, sở thích, cá tính, ưu điểm, nhược điểm của từng người trong hai đoàn ta sẽ bị địch dùng thủ đoạn câu nhử, lôi kéo, mua chuộc hoặc nếu cần thì khống chế, bắt cóc...

        Nhìn tấm ảnh, tôi cứ phân vân suy nghĩ: Tại sao người chụp tấm ảnh này chỉ chú ý đến hai loại đồ vật cần thiết nhất của người chíên sỹ Quân giải phóng? Những câu hỏi cứ lởn vởn xoay xung quanh chủ đề rất độc đáo mà tác giả buộc người xem phải đặt ra! Hồi lâu, tôi chợt nghĩ, kẻ chụp tấm ảnh này là nhân viên của Cục an ninh quân đôi nguỵ, chắc chắn y đã trải qua những ngày tháng kinh hoàng nhất trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân năm 1968. Số 8 Nguyễn Bỉnh Khiêm nằm án ngữ góc ngã tư đối diện với góc đường bên kia là Đài phát thanh, truyền hình Sài Gòn của nguỵ. Trong những ngày đó, Quân giải phóng đã tiến đánh vào vị trí đặc biệt quan trọng này. Đại sứ quán Mỹ ở gần đấy cũng bị đòn rất nặng nề. Cách không xa là Dinh Độc lập của nguỵ quyền, bọn tay sai đầu sỏ ẩn nấp trong tận cùng hang ổ không tránh khỏi những giây phút hoảng loạn... Cả Nhà trắng và Lầu Năm góc còn bạt vía, kinh hồn! Vậy thì người chụp ảnh cùng chung tâm trạng sợ hãi ghê gớm như quan thầy và đồng bọn của hắn. Sở thú Sài Gòn, đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, cầu Thị Nghè và các đường phố trong nội thành Sài Gòn cùng các đô thị trên toàn miền Nam những ngày xuân Mậu Thân đều có bóng dáng của người chiến sỹ giải phóng quân. Chiếc mũ tai bèo, đôi dép cao su và khẩu súng AK 47 trở thành biểu tượng oai hùng của họ. Những hiện vật đó là niềm vui, niềm tự hào và tin yêu của đồng bào ta đang phải sống trong vùng địch kiểm soát. Trái lại, chính những đồ vật ấy đã gieo nỗi khiếp sợ cho cả bọn xâm lược và bè lũ tay sai. Hình ảnh những người lính chân đồng, vai sắt và anh dũng tuyệt vời đó luôn ám ảnh tâm trí của tác giả bởi hình tượng của họ trong cuộc chiến đấu vô cùng quyết liệt giữa hang ổ kẻ thù. Chỉ có chứng kiến tận mắt những hiện vật đó người chụp ảnh mới bị sốc đến thế! Sự nếm trải của y trong mùa xuân Mậu Thân năm ấy chắc không dễ xoá nhoà trong ký ức khi gặp lại nhửng hiện vật đã làm cho hắn mất ăn, mất ngủ nên vội thu vào trong ống kính nghiệp vụ của một nhân viên an ninh quân đội nguỵ như vậy!


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Ba, 2012, 08:35:12 pm
        Càng nhìn tấm ảnh, tôi như thấy những bước chân thần tốc của các cánh quân ta đang rầm rập tiến vào giải phóng Sài Gòn, thấy dáng đứng của người dũng sỹ trên đường băng Tân Sơn Nhất ngày nào... Ký ức những năm tháng chinh chiến trên khắp các nẻo đường đánh Mỹ ùa về quanh tôi. Cùng đôi dép thần kỳ đã đưa tôi đến với Tây Nguyên bất khuất, nơi có chiến dịch PleiMe hào hùng, ngay từ trận đánh đầu tiên với Sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ (Sư đoàn kỵ binh bay Mỹ). Thú vị biết bao khi lực lượng chúng tôi chỉ được trang bị vũ khí bộ binh nhẹ với hoả lực vác vai đã tả xung, hữu đột "bám thắt lực địch mà đánh" trước một đối thủ có ưu thế tuyệt đối về các loại hoả lực phi pháo... Hơn nữa, đơn vị này còn được Nhà trắng và Lầu Năm góc ưu tiên trang bị những vũ khí hiện đại nhất, sức công phá lớn nhất của hoả lực, khả năng cơ động cao nhất với gần năm trăm máy bay lên thẳng để có thể tạo nên những yếu tố bất ngờ trên các chiến trường...

        Oái oăm thay cho đạo quân thiện chiến hung hăng đó khi chúng dương dương tự đắc nhảy cóc, đổ bộ xuống thung lũng IaĐrăng dưới chân dãy ChưPrông hùng vĩ. Chỉ trong vài ngày đã phải chịu thất bại nặng nề, ta diệt gọn một tiểu đoàn Mỹ, một tiểu đoàn Mỹ khác bị đánh tơi tả. Chúng đã phải ôm đầu máu bỏ chạy và mất hàng mấy chục năm sau mới lý giải được nguyên nhân bại trận này !... Ngay từ đó, bóng dáng chiếc mũ tai bèo, đôi dép cao su và tiếng đạn liên thanh chát chúa của AK47 đã là nỗi ám ảnh kinh hoàng cho những tên xâm lược rồi!

        Đôi dép đơn sơ gắn bó với cuộc đời người lính trong những năm tháng chiến tranh. Đã bao lần đôi dép ấy đưa tôi đến các vùng đất xa xôi, nơi quân thù đang ngày đêm dày xéo quê hương. Nhiều đêm hành quân ra trận, đôi vai trĩu nặng súng đạn, tư trang, rồi mưa dầm, bão giật, bom pháo quân thù xé đứt đội hình, cơn sốt rét quái ác bỗng ập đến, tôi vẫn nghiến răng theo sát đoàn quân. Đã có lần bùn ngập ngang đùi, phải nhờ tới chiếc gậy phụ giúp mới rút được chân lên thì chiếc dép thân thiết ấy bỏ tôi mà nằm lại chỗ cũ. Do mang vác nặng nề nên người cứ đổ nghiêng, đổ ngả. Những vật trên vai, trên lưng được thể đè nghiến lên người tôi. Phải khéo lựa mãi mới gượng đứng lên được. Khi đó sục tay xương bùn tìm thì không sao thấy dép(!) ánh chớp, đêm giông không đủ sáng để định hướng vị trí chiếc dép nằm ở chỗ nào. Pháo sáng cầm canh từ đồn thù lúc mờ lúc tỏ, chẳng giúp gì cho việc tìm kiếm. Đơn vị vẫn hành tiến, tôi đành bỏ chiếc dép lại, nghiến răng cứ chân dép, chân không để bước theo đoàn quân... Còn một chiếc dép nhưng tôi không dám vứt vì hy vọng mỏng manh là sẽ nhặt được đâu đó một chiếc khác. Hơn nữa, bên chân có dép phải chịu trọng lượng nhiều hơn cho bên không dép.

        Ai rơi vào hoàn cảnh này mới thấy được hết sự cần thiết gắn bó giữa một đồ vật đơn sơ với bản thân mình là không thể thiẻú được. Thật khốn khổ cho những ngày mất dép! Những lúc dẫm phải vật cứng, chưa nói đến mảnh bom đạn hay đá, cũng đã đau đớn lắm rồi! Vì vậy chỉ mong sao sớm được về hậu cứ, quân nhu bổ sung cho đôi dép khác. Phải nói mong hơn ngày thơ ấu đợi mẹ đi chợ về... Những ngày ấy mới dài lê thê làm sao!

        Chính nhờ lần mất dép ấy đã cho tôi một kinh nghiệm quý báu để đến khi tôi được giao nhiệm vụ dẫn giải bọn tù binh Mỹ từ trận điạ về hậu cứ. Lần đó chúng tôi nhận bàn giao xong tôi nói với đồng chí phiên dịch phải bắt bọn chúng cởi giầy. Sau đó buộc hai chiếc lại với nhau, thắt nhiều nút thật chặt để khi tháo sẽ khó khăn, đề phòng nếu chúng bỏ trốn thì không kịp xỏ chân vào giầy. Mỗi tên đeo hai chiếc giầy đã buộc chặt vào nhau lên cổ. Nhờ vậy, bốn những tên Mỹ cao lớn rón rén bước chân trên mặt đất, tôi lại nhớ mấy lần mất dép khốn khổ của mình. Lần nào cũng phải mang vác nặng, đi trong đêm tối, đau yếu bệnh tật và dưới trời mưa giông bão, đường trơn lầy lội. Còn bọn Mỹ tuy phải đi bằng chân đất nhưng chúng không mang vác thứ gì, đi giữa ban ngày, đường giao liên rộng rãi, khô ráo. Bọn chúng mới từ Mỹ sang chưa bị sốt rét, ăn uống đầy đủ dinh dưỡng nên khoẻ như trâu. Bước sải chân của chúng dài gần gấp rưỡi nên dù chậm rãi bước đi thì anh em ta cũng phải chạy gằn, ráng sức. Bọn này trọng lượng trung bình nặng hàng tạ. Cùng đợt dẫn giải này có mấy tên Mỹ bị thương, anh em đơn vị vận tải phải khiêng cáng. Cứ mỗi tên, ta phải có bốn người, hai người một đầu mới khiêng nổi. Từ trận địa ra tới đường giao liên băng qua rừng rậm núi cao, vực sâu nên các đồng chí vận tải cực hơn chúng tôi rất nhiều( ! ) Đã vất vả ghê gớm, thiếu thốn đủ thứ, sức khoẻ rất kém nhưng không ai kêu ca, không chối bỏ nhiệm vụ và đã khiêng cáng những tên xâm lược đó về đến bệnh viện để điều trị, khai thác tin tức phục vụ cho đơn vị chiến đấu.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Ba, 2012, 08:51:11 pm
        Đối với chúng tôi, dẫn giải những tên tù binh tuổi đời rất trẻ, khoẻ là một việc hết sức khó khăn. Ngày đi, đêm nghỉ. Mọi việc ăn uống trên đường cho bọn chúng do bộ phận dẫn giải tự lo toan. Trên đường cho chúng ăn uơng và cảnh giới đề phòng chúng chạy trốn. Tối đến sau khi ăn uống xong, căng võng, căng tăng (mái bằng nilon) và kiểm tra lại dây trói (phải trói để chúng không chạy nhanh vì đêm tối sẽ rất khó phát hiện). Tuy trói nhưng không được làm cho chân tay chúng bị tụ máu, thế mới khó!

        Mỗi khi đến trạm giao liên, chúng tôi lại cử người xuống suối kiếm cá. Giỏi lắm cũng chỉ được vài con bằng ngón tay. Đem cá ra nướng, đến bữa ăn chia cho mỗi tên Mỹ một nửa con cá chấm muối để ăn với cơm. Bọn này ăn cơm rất ít. Gọi là cơm cho sang vì gạo được cấp lấy từ kho để cũng vài năm rồi. Mùi hôi của mốc, của bao tải bốc lên rất khó ngời. Tuy thế chúng còn được ăn cơm. Anh em chúng tôi ăn ngô và sắn do trạm giao liên cung cấp. Anh nuôi lấy sắn nấu canh, nêm muối và một thìa bột ngọt vào nồi canh to mà mấy tên tù binh ăn rất ngon lành. Chúng luôn mồm "Thank you!" Thì ra bọn này quen ăn súp nên canh sắn giống với món ăn quen thuộc hàng ngày của chúng. Riêng số tù binh bị thương còn được quân y cho chúng uống sữa. Đây là loại thực phẩm cao cấp đối với chúng tôi ở chiến trường B3.

        Chiều. Đến trạm giao liên. Trong lúc ngồi nghỉ, đồng chí giao liên tháo dây thắt lưng lấy chiếc điếu cày ra để hút thuốc lào. Anh nhồi thuốc đầy nõ điếu, châm lửa và rít một hơi dài. Anh ngửa cổ nhả khói lên cao, mắt lơ đãng nhìn trời qua đám lá rừng, vẻ mặt mãn nguyện. Tiếng kêu của điếu làm mấy tên tù binh chú ý, chúng ngạc nhiên và rất thích thú. Tên tù binh da đen mạnh dạn chìa tay xin được hút thử. Mọi thao tác đồng chí giao liên làm giúp đưa điếu cho hắn và ghé mồm vào ống điếu hướng dẫn cách hút. Anh châm lửa. Tên Mỹ cũng rít thật mạnh một hơi dài, nuốt ực khói. Mọi người chăm chú nhìn tán thưởng. Hắn lờ đờ, từ từ ngả người, hai mắt chớp chớp, giật giật, hai ngón tay cái vê vê những ngón tay còn lại và lăn ra đất. Hắn say thuốc!

        Những tên khác thấy thế sợ hãi cuống quýt hỏi người phiên dịch. Nghe giải thích đó là "say thuốc" chúng mới bớt sợ hãi. Phải mất vài phút sau, tên Mỹ tỉnh lại, ngồi dậy và hỏi "Thuốc gì mà khủng khiếp vậy?" Đồng chí phiên dịch giải thích tỷ mỉ về loại thuốc, tên gọi, nơi trồng ra thứ thuốc "khủng khiếp" này, tập quán hút thuốc ìào của người Việt Nam... Nghe xong cả bọn lè lưỡi, lác đầu nhưng rất thích thú vì đã phát hiện ra một loại hình sinh hoạt mới lạ của vùng đất chúng đến xâm lược. Tên Mỹ da đen lại mạnh dạn xin thêm mấy điếu thuốc nữa để dành sẽ hút dần. Anh giao liên ngắt một chiếc lá to, dốc cả túi thuốc vào lá rồi gói lại, anh đưa cho hắn, tay véo một mảng thuốc lào nhỏ, vê tròn và hướng dẫn cách nhồi thuốc vào no điếu. Hắn khoái chí nhe hàm răng rất trắng tương phản với nước da đen kịt và cưởi. Cả bọn thấy vậy cùng cười và quên cả sợ hãi...

        Đôi dép cao su còn gắn bó với tôi trên nhiều nẻo đường chiến dịch, trên các chiến trường để đến với "Miền Đông gian lao mà anh dũng!" Cũng từ đây đôi dép cao su lại đưa tôi vào tận hang ổ quân thù, nện gót trên đường băng Tân Sơn Nhất, đứng trên đường phố Sài Gòn hiên ngang tư thế của người chiến thắng làm nhiệm vụ thi hành Hiệp định Paris. Cuối cùng đôi dép đơn sơ ấy lại cùng tôi đến tận sào huyệt của chúng để truy lùng bọn phản dân, hại nước không chịu ra trình diện cách mạng, thu hồi những tài liệu chúng bỏ lại để phục vụ cho việc đánh địch sau này.

        Đôi dép đã là một phần không thể thiếu của cuộc đời người lính chiến, gắn bó thân thiết với tôi trong suốt chặng đường đầy chông gai khốc liệt nhất của cuộc trường chinh chống Mỹ cứu nước và chứng kiến tất cả những buồn vui mà tôi ttải qua. Nhiều lúc tôi nghĩ nếu thiếu đôi dép ấy ở chiến trường không hiểu sẽ phải vượt qua khó khăn đó ra sao(?) Và tôi thầm cảm ơn người sáng tạo ra "đôi hài ngàn dặm" thần kỳ để dùng trong mọi loại địa hình, mọi thời tiết, giúp người lính cách mạng lập nên chiến công hiển hách đánh thắng quâỉl xâm lược.

        Những vẫn thơ của Tố Hữu đã nói lên tư thế của người chiến sỹ Giải phóng quân mà tôi rất yêu thích:

                                      ”...Vẫn đôi dép lội chiến trường
                                        Vẫn vành mũ lá coi thường hiểm nguy
                                        Tuốt gươm không chịu sống quỳ
                                        Tuổi xanh chẳng tiếc, tiếc chi bạc đầu... "


        Vào những dịp lễ kỷ niệm của đất nước, của quân đội, tôi thường đem "tấm ảnh đặc biệt" này ra xem. Dù trong đó không có hình dáng thân quen nào của đồng đội tôi, chỉ có khẩu súng AK47 và đôi dép cao su huyền thoại đã làm cho kẻ thù khiếp sợ. Tôi quyết định sẽ giữ mãi tấm ảnh này để minh chững cho con cháu tôi và các thế hệ mai sau biết về một loại hiện vật lịch sử có một thời tiếp sức cho các lớp ông cha viết nên trang sử hào hùng, lập nên chiến công vĩ đại nhất của dân tộc.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Ba, 2012, 09:10:48 pm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/NguyeenxDDuwcsMinh-TuwQuyeets.jpg)

MỘT SỐ MẨU CHUYỆN VỀ LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN
 TRONG BAN LIÊN HỢP QUÂN SỰ

Thiếu tướng Nguyễn Đức Minh (Tự Quyết)              

        Ngày 27 – 01 – 1973, Hiệp đinh Paris về chấn dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết. Đây là một thắng lợi to lớn mang tính lịch sử của quân và dân ta sau gần 5 năm vừa đánh, vừa đàm, buộc đế quốc Mỹ phải công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ nước ta; buộc chúng phải chấm dứt chiến tranh chống Việt Nam; Phải rút quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam…

        Lực lượng Công An Nhân Dân dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đoàn và lãnh đạo Bộ Công An mà người đứng đầu là đồng chí Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn, ủy viên Bộ Chính Trị đã chủ động chuẩn bị lực lượng mọi mặt và 9 phương án như phương án công tác Công An trong việc tổ chức trao trả giặc lái, tù binh, phương án tiếp nhận số cán bộ, chiến sỹ của ta bị địch bắt; Phương án công tác an ninh trong Ban Liên hiệp quân sự…(Nghị quyết Hội Nghị Công An toàn quốc lần thứ 27 từ ngày mùng 5 đến ngày 12/1/1973) để tham gia thực hiện nhiệm vụ chức năng của ngành Công An khi có giải pháp chính trị.

        Nghị định thư Hiệp định Paris từ diều 10 đến diều 18, nói về nhiệm vụ chức năng, tổ chức phương thức họat động, nơi đóng quân, phương tiện kỹ thuật, kinh phí của Ban Liên hợp quân sự 4 bên, 2 bên từ Trung Ương xuống các khu vực, các tổ liên hợp quân sự ở địa phương (tỉnh).
Đảng đoàn và lãnh đạo Bộ Công An đã có phương án công tác, chỉ đạo triển khai chặt chẽ, huy động toàn bộ các đơn vị nghiệp vụ chức năng, với Ban An Ninh Trung Ương Cục và các dịa phương có liên quan, gắn bó chặt chẽ với Quốc Phòng. Việc triển khai thực hiện Hiệp định Paris thu được nhiều kết quả sau 60 ngày kết thúc nhiệm vụ Ban liên hợp quân sự 4 bên, chuyển sang thực hiện nhiệm vụ Ban liên hợp quân sự 2 bên, khi họp với anh em, đồng chí Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn phát biểu có một câu làm mọi người nhớ mãi: “60 ngày bằng 20 năm”. Nhưng do thiếu tổng kết, các đồng chí chủ trì, người mất, người còn, anh em Công An trong Ban liên hợp quân sự cũng chưa có dịp gặp nhau trao đổi nên người viết bài này chỉ ghi lại một số mẩu chuyện anh em kể lại.
 


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Ba, 2012, 09:24:18 pm

GIỮ BÍ MẬT LÝ LỊCH

        Ngay từ đầu tháng 10 – 1972, khi cuộc đàm phán ở Paris có biến chuyển, đi vào thực chất, lãnh đạo Bộ Công An tập trung trên 50 cán bộ Công An đã tốt nghiệp Đại học Anh văn về một nơi gần Mai Dịch, huyện Từ Liêm – Hà Nội để học bổ túc tiếng Anh, các từ ngữ chuyên môn liên quan tới Hiệp định Paris.

        Khi thực hiện Hiệp định Paris, Bộ đã huy động tất cả số cán bộ ngoại ngữ kể trên và cán bộ nghiệp vụ Bảo vệ chính trị, tình báo, kỹ thuật của Công An toàn miền Bắc (trên 130 đồng chí) tham gia Đoàn đại biểu quân sự chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa (gọi tắt là đoàn A) trong Ban liên hợp quân sự 4 bên. Các đồng chí cấp cục của Bộ, phó giám đốc Sở Công An mang quân hàm trung tá, các đồng chí trưởng phòng bảo vệ chính trị Công An các tỉnh mang quân hàm trung tá, các đồng chí phó trưởng phòng Bảo vệ chính trị Công An tỉnh mang quân hàm đại úy. Quân phục trang bị mọi mặt do bên Quốc phòng đảm nhiệm. Do đã trải qua kháng chiến chống Pháp, họat động lâu năm trong lực lượng Công An đã trải qua nhiều buổi huấn luyện quân sự nên anh em ta mặc quân phục, đeo băng Liêp hợp quân sự 4 bên đi lại, ăn nói, tiếp xúc với Mỹ - ngụy cũng có dáng dấp đầy đủ “Con nhà lính” quân nhân thực thụ.

        Tôi đang là Ủy viên Ban An Ninh khu VI (Cực Nam Trung Bộ - Nam Tây Nguyên) cùng 4 cán bộ An Ninh được khu ủy chỉ định tham gia Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam (gọi tắt là đoàn B) trong Ban liêp hợp quân sự 4 bên khu vực IV đóng ở Phan Thiết do đồng chí thượng tá Nguyễn Trọng Xuyên, Tư lệnh quân khu VI (sau này là thượng tướng, thứ trưởng Bộ Quốc Phòng) làm trưởng đoàn. Sau 60 ngày về trại Đavit tôi họat động dưới sự chỉ đạo của đồng chí Hai An (Ủy viên Ban An Ninh Trung Ương Cục) mang quân hàm thượng tá thì gặp anh Hoàng Trừ bạn cũ ở Công An Hải Phòng mang quân hàm trung tá tổ trưởng Tổ tìm kiếm tin tức nhân viên quân sự bị mất tích và bảo quản mồ mả, anh em gọi tắt là Tổ mồ mả của đoàn A.
Trong 1 buổi làm việc với Mỹ-ngụy, khi nghỉ giải lao, tên San đại tá ngụy bô bô nói với anh Trừ: “Ông gốc dân Ninh Bình có tới 3 cờ”. Anh Trừ nhanh trí nói ngay: “Ông nói còn thiếu, tôi 4 cờ cơ”. Tên San đang huyênh hoang tưởng nắm chắc lý lịch anh Trừ, bị hụt hẫng, thái độ chùng hẳn xuống, đăm chiêu, chắc y đang nghĩ không biết cờ thứ 4 là gì?

        Về nhà, anh Trừ nói với tôi:

        -  Phải cẩn thận, nó điều tra về bọn mình kỹ đấy. Ngay dân Hải Phòng cũng ít người biết quê gốc của mình ở Ninh Bình. Ý nói 3 cờ ám chỉ mình là phó giám đốc Công An Hải Phòng (cò thứ nhất), tổ trưởng Tổ mồ mả (cờ thứ 2), trung tá Quân Đội Nhân Dân (cờ thứ 3) còn cờ thứ 4 mà địch chưa biết tôi là Đảng ủy viên Sở Công An Hải Phòng.

        Khi trao đổi với một số đồng chí làm công tác bảo vệ an ninh quân giải phóng thì các đồng chí đã khẳng định điều này.

        Kẻ thù sử dụng bọn đầu hàng phản bội để nhận mặt các đồng chí của ta hoặc qua danh sách hai đoàn ta để nhận ra những người mà chúng biết. Kẻ thù còn tìm hiểu để xem có những ai có thể có thân nhân trong vùng của chúng. Từ đó mà chúng tìm ra những chỗ cần thiết để thực hiện các mặt phá hoại trong kế hoạch tình báo phản gián của chúng đối với hai đoàn đại biểu quân sự của ta.
Tỉnh táo trước vấn đề này Bộ Công An đã nhắc nhở anh em Công An trong đoàn A, đoàn B phải có bí danh và giữ bí mật để tránh bị địch phát hiện, đối phó.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Ba, 2012, 09:53:51 pm

ĐÃ CÓ BUỒNG HẠNH PHÚC

        Khi buộc phải nhận Đoàn A và Đoàn B trong Ban liêp hợp quân sự 4 bên vào Sài Gòn, Mỹ - ngụy bố trí 2 đoàn ở chung trong trại Đavit. Xung quanh trại chúng dựng lên hệ thống tháp canh, thường trực 24/24 giờ nhòm ngó sang trại Đavit một cách thô thiển, trắng trợn ghi mọi động thái, đi lại, họat động của Đoàn ta.

        Trong trại Đavit có khoảng 5-6 dãy nhà ở bằng gỗ, sàn nhà gỗ rộng chừng 3m, dài 15m, tường cũng bằng gỗ cao độ 2m50 đặt trên 6-8 trụ ximăng cao độ 0.6m. Mỹ - ngụy bố trí các căn nhà anh em ta ở rất tồi tàn, trời nắng nóng, quạt quay lờ đờ nên anh em tôi thường trải chiếu hoặc võng dù nằm xuống gầm giường cho đỡ nóng. Riêng hai nhà của Trưởng Đoàn A và Trưởng Đoàn B chúng bố trí tương đối sạch sẽ, quạt chạy tốt, có bàn làm việc, ghế ngồi tiếp khách, có điện thọai.

        Đồng chí Năm Bình, trung tá, trưởng ban bảo vệ Đoàn B, vốn là cán bộ của Cục Bảo vệ quân đội, đã gần chục năm ở chiến trường miền Nam nên không lạ gì “lòng tốt” của Mỹ - ngụy. Ngoài việc chỉ đạo đồng chí Lê Văn Trị cán bộ Cục cảnh vệ, kỹ sư hóa thực phẩm họat động phòng chống độc (xem bài “Bể cá cảnh trong trại Đavit” của Hoàng Khánh) đống chí Bình huy động anh em bảo vệ của cả Đoàn A lẫn Đoàn B “làm sạch” hai căn nhà gỗ ở cạnh đó bố trí làm chỗ ở của hai đồng chí trưởng đoàn.

        Đội ngũ cán bộ kỹ thuật được huy động kiểm tra hai căn nhà địch bố trí cho hai đồng chí trưởng đoàn ta, xem xét từng thanh gỗ, từng đoạn dây điện, từng chiếc máy điện thọai, vô hiệu hóa “tai nghe” địch bố trí trong điện thọai, trong vách tường, trần nhà. Đặc biệt có một bàn khảm xà xừ rất đẹp dành cho trưởng đoàn. Anh em nghi lắm, gõ mãi chưa phát hiện được gì phải chuyển ra Hà Nội mới phát hiện được “tai nghe loại hiện đại”.

        Từ thực tế trên, một nguyên tắc được đoàn đặt ra: “Ở trong nhà chỉ nghe thời sự, còn bàn chuyện tính toán công việc thì giả tảng đi chơi thang lang trong trại Đavit”.

        Nhưng có nhiều việc Ban Cán Sự Đoàn phải họp, bàn tập thể, hơn nữa còn phải làm việc, trao đổi định kỳ hàng tuần với Đoàn bạn (Ba Lan, Hungary) trong Ủy Ban Quốc Tế để bạn hỗ trợ ta nên nhất thiết phải có một nơi đảm bảo được yêu cầu bảo mật, trao đổi bàn bạc công việc mà không sợ địch nghe trộm.

        Sau khi chọn được một căn nhà, dùng kỹ thuật kiểm tra đi, kiểm tra lại, “dọn sạch” các vật dụng nghi vấn, Đoàn cán bộ kỹ thuật nghiệp vụ của Bộ Công An có các anh Liêm, Duyến, Ảnh,…do anh Mãng phó cục trưởng KG3 mang quân hàm trung tá phụ trách đã dốc sức làm ngày, làm đêm bằng cưa tay, búa sắt, kìm cộng lực, đinh thép, chăn dạ,..mang từ Hà Nội vào cùng với các đệm mút tại chỗ đã được “làm sạch” đổ mồ hôi nước mắt liên tục trong vòng một tuần mới hoàn thành một căn buồng họp an toàn (Có mật danh là buồng hạnh phúc) chứa được khoảng trên 20 người có điều hòa nhiệt độ hẳn hoi.

        Đây là “căn buồng hạnh phúc” đầu tiên và duy nhất trong trại Đavit. Căn buồng này bảo mật, tuyệt đối an toàn, là chứng tích lịch sử, chứng kiến nhiều cuộc họp quan trọng của Ban Cán Sự và lãnh đạo Đoàn A, Đoàn B; Các buổi trưởng, phó Đoàn ta thông báo tin tức và trao đổi yêu cầu đấu tranh với Đoàn bạn trong Ủy Ban Quốc Tế cho đến ngày 30-4-1975.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Ba, 2012, 09:57:57 pm

ĐỌ SỨC TRÊN TẦN SỐ

        Đối với bất kỳ tổ chức nào, thông tin liên lạc như mạch máu trong cơ thể con người, không một phút giây ngưng nghỉ. Đối với Đoàn ta trong Ban liên hợp quân sự, nằm ở giữa Sài Gòn, trong vùng địch kiểm soát, thông tin liên lạc càng đặc biệt quan trọng để duy trì liên lạc với Trung Ương, Trung Ương Cục và chỉ đạo các Tổ, khu vực họat động.

        Địch hiểu rất rõ điều này nên rất “thiện chí” bố trí máy điện thọai (hữu tuyến) ở buồng trưởng đoàn ta và 1 số bộ phận cần thiết vì bất kì trao đổi việc gì bằng hữu tuyến đều phải qua tổng đài Sài Gòn, nơi chúng đã bố trí người trực nghe, ghi âm toàn bộ nội dung câu chuyện (24h/24h) thậm chí có thể giả tạo sự cố kỹ thuật cắt đứt cuộc nói chuyện giữa chừng. Ta cũng biết rõ thủ đoạn của địch nên chỉ dùng điện thọai vào các việc công khai như báo ngày giờ, nơi họp, gặp gỡ báo chí….

        Cuộc đấu trí, kỹ thuật chủ yếu diễn ra trên không trung. Thông tin liên lạc của Đoàn ta khi vào trại Đavit họat động được mươi hôm xuôi chèo mát mái, thông suốt thì bắt đầu có tín hiệu trục trặc. Địch đã dựa vào thế mạnh kỹ thuật dùng máy phát “toàn tần” nên dải tần số từ 3 đến 6 megahec chỗ nào cũng nghe được đài địch, cứ 3 giây địch phát một tín hiệu, phát liên tục từ 15 đến 20 phút phá họai làn sóng ngắn, cực ngắn, gây nhiễu điện đài của Đoàn ta với Trung Ương (Hà Nội) và Trung Ương Cục (Tây Ninh). Đồng chí Nguyễn Ngọc Tiên, thiếu tá, trưởng ban bảo vệ Đoàn A đã phải báo cáo về đồng chí Kinh Chi (Cục trưởng Bảo Vệ Quân Đội) và Bộ Công An.

        Có ngày địch còn giả danh đài ta ở các khu vực (Lấy đúng tên gọi Đài khu vực và tên gọi Đài canh ở trại Đavit) để bắt liên lạc với Đoàn ta. “Vỏ quýt dày có móng tay nhọn”, báo vụ của ta thành thạo nghiệp vụ, nghe tiếng “ma-nip” đài gõ theo tín hiệu “mooc-xơ” đã nhận ra đồng đội nên khi nhận được tín hiệu địch giả danh đài ta để liên lạc;ta hỏi lại đối chứng, qui ước liên lạc, địch tắc không trả lời được. Nhưng chúng không từ bỏ ý đồ, chỉ trong một ngày giữa tháng 2-1973, chúng đã 3 lần giả danh Đài khu vực xin liên lạc với Đài canh ở trại Đavit và đều thất bại trơ trẽn.

        Bộ Công An còn tăng thêm công suất đài phát, tiến hành phát 2 lần, một lần qua đài hai chiều, một lần qua đài một chiều, mà đài một chiều thì địch bó tay, nghe ta nói tức tối mà không làm gì được. Từ đó thông tin liên lạc giữa Đoàn ta tại trại Đavit với Trung Ương, với Trung Ương Cục được thông suốt, nhanh chóng kể cả những tình huống phức tạp, hiểm nghèo.

        Ta cũng không chịu ở thế thủ. Ngay trong tháng 2/1973 Bộ Công An đã tăng thêm cán bộ tình báo phản gián điện đài và phương tiện kỹ thuật từ Hà Nội vào nằm ngay trong trại Đavit. Chỉ một thời gian ngắn ta đã phát hiện được 87 tần số của My-ngụy ở xung quanh trại Đavit, trong đó có hai sóng của quân cảnh ngụy theo dõi Đoàn ta, có hai sóng liên lạc với Paris, có sóng liên lạc với 60 đài đối ở Sài Gòn…nhờ đó ta biết được một phần về chúng hiểu ta đến đâu để có đối sách.

        Có một chuyện lý thú mà ít anh em được biết. Việc ta chuyển cưa, kìm, búa, đinh sắt, phương tiện kỹ thuật phản gián điện đài từ Hà Nội vào Sài Gòn về trại Đavit là do máy bay Mỹ chuyên chở và do một trung tá Mỹ được ta đối xử tốt nên đã nhiệt tình giúp đỡ bốc lên, chuyển xuống hơn một tấn hàng hậu cần (trong đó có mấy thùng hàng đặc biệt kể trên) và khi đến Tân Sơn Nhất còn nhiệt tình chở vào tận trại Đavit trước mắt bọn cảnh sát ngụy ấm ức đứng nhìn.
 


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Ba, 2012, 07:07:06 am

NGƯỜI ĐƯA THƯ TỐT BỤNG

        Có lẽ hiếm có cuộc chiến tranh nào trên thế giới giống cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam tác động tới từng gia đình biến thành hai bên đối địch như ở nước ta. Anh nhớn theo cách mạng, ra chiến khu đi theo kháng chiến, em nhỏ ở nhà với bố mẹ trong vùng địch kiểm soát, đi học, đến tuổi trưởng thành bị địch bắt động viên, đi quân dịch, trở thành binh lính, sỹ quan trong quân đội ngụy cầm súng chống lại cách mạng, đánh lại anh mình. Nhất là sau khi Mỹ nhảy vào miền Nam, thực hiện chế độ thực dân kiểu mới xây dựng quân ngụy lên trên 1 triệu, số sỹ quan cấp úy, cấp tá, cấp tướng tăng vọt thì tình trạng hai bên đối địch đan xen vào mỗi gia đình cũng tăng theo cấp số nhân.

        Khi Hiệp định Paris được kí, ngụy quyền Sài Gòn chọn số sỹ quan miền Bắc đưa vào tham gia Ban liêp hợp quân sự 4 bên (Đoàn Việt Nam Cộng Hòa) vì cho rằng số này có điều kiện hiểu miền Bắc, đối phó với Đoàn A, Đoàn B dễ dàng và có hiệu quả hơn.

        Do âm mưu ý đồ phá họai và thái độ lật lọng trắng trợn thô bạo, thường xuyên của phía ngụy Sài Gòn làm cho cuộc đấu tranh ở Ban liên hợp quân sự 4 bên, 2 bên luôn căng thẳng, không chỉ diễn ra trong các cuộc họp trưởng đoàn, trong hội trường, mà còn diễn ra mọi lúc, mọi nơi trong các cuộc tiếp xúc với Mỹ ngụy. Đồng chí Đức phó Đoàn A ở Huế nói:

        Chỉ trừ lúc ngủ, còn lúc ăn, lúc chới tiếp xúc xã giao với Mỹ ngụy đều phải tính toán đối phó  “ăn miếng trả miếng” với họ

        Như khi mời ta thuốc lá chúng thường dùng 555 hoặc Craven A… Tên phó đoàn ngụy hỏi kháy đồng chí Đức:

        -  Ngài dùng thuốc lá ngọai có thơm không? 

        Phía ta thường dùng thuốc lá Điện Biên bao bạc (lúc đó đã là lọai nhất) đồng chí Đức thản nhiên trả lời:

        -  Thơm thì có thơm nhưng là thuốc lá ngọai, ngài dùng Điện Biên bao bạc sẽ thấy đậm đà bản sắc dân tộc hơn.

        Y sạm mặt không nói gì. Hoặc như vụ ném gạch vào Đoàn ta ở Huế làm một số anh em ta bị thương, tên thiếu tá Mỹ hỏi đồng chí Đức:

        -  Thế ông trung tá Chung không việc gì à?

        Đồng chí Đức trả lời:

        -  B52 của các ông đem bom rải thảm xuống thủ đô Hà Nội của chúng tôi liên tục 12 ngày đêm còn không làm gì được thì mấy hòn gạch này chỉ là nhãi nhép.

        Không chỉ ở Huế mà còn ở các Ban liên hợp quân sự khu vực, ở các tổ khu vực địa phương, đặc biệt là ở các tiểu ban, trong Ban liên hợp quân sự Trung ương đều diễn ra kiểu đấu khẩu nhau hằng ngày, như cơm bữa.

        Qua nhiều lần tiếp xúc với một số sỹ quan ngụy người miền Bắc anh em ta dần dần hiểu họ rõ hơn. Có một số ít tướng, tá ngụy, quyền lợi gắn chặt với Mỹ ngụy có hận thù với cách mạng và cũng ít hoặc chưa nếm lửa đạn trên chiến trường nên làm theo lệnh một cách tích cực, thái độ hung hăng, thô thiển. Số đông làm theo mệnh lệnh vì miếng cơm, manh áo, đã có những biểu hiện dao động. Hàng chục vạn quân Mỹ và chư hầu, hàng trăm tỷ đô la Mỹ rót vào còn không thắng nổi Quân giải phóng, bây giờ chỉ đơn độc một mình….Có người đã thấy tiền đồ đen tối, cũng có người mong muốn biết tin tức thân nhân, gia đình, quê hương ở miền Bắc.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Ba, 2012, 07:18:38 am
        Đây là điểm yếu cơ bản của số sỹ quan ngụy quê quán ở miền Bắc nên Bộ Công An có một kế hoạch rộng lớn, tìm hiểu quê quán, thân nhân của số này, tạo điều kiện cho anh em ta trong Ban liên hợp quân sự chủ động tiếp xúc, tấn công chính trị, mở đường cho họ hướng tới tương lai. Có trường hợp gia đình cán bộ ta biết tin thân nhân là sỹ quan Việt Nam Cộng Hòa trong Ban liên hợp quân sự 4 bên đã chủ động tìm đến Công an nhờ giúp đỡ lôi kéo người thân.

   Đã có hàng chục trường hợp cán bộ Công An trong vai sỹ quan Ban liên hợp quân sự tiếp xúc, làm người đưa thư gia đình cho sỹ quan ngụy. xin kể lại một trường hợp: Anh Hoàng Trừ, trung tá, phó trưởng tiểu ban mồ mả (Đoàn A) do công việc cứ một tuần đi máy bay Mỹ ra Hà Nội ở lại 1-2 tuần lại theo máy bay Mỹ vào Tân Sơn Nhất vào trại Đavit. Trong một cuộc họp anh Trừ gặp trung tá Vỵ (Đoàn Việt Nam Cộng Hòa) nói giọng miền Bắc; Lúc nghỉ giải lao anh chủ động đến hỏi thăm sức khỏe, gia đình….Vỵ không thuộc lọai hung hăng, lắng nghe các bên nhưng trầm ngâm ít nói. Qua tiếp xúc, biết Vỵ là người Hà Nội, trước khi vào Nam, nhà ở phố Hàng Đào. Ta chủ động đi tìm được biết anh Vỵ tên là Bài, cán bộ kháng chiến, hiện đang công tác ở một cơ quan, ông bố Vỵ vẫn còn sống.
Một buổi nghỉ giải lao, làm như vô tình, anh Trừ nói với Vỵ là tuần vừa qua ở Hà Nội có gặp bạn cũ là Bài học sinh trường Bưởi cũ, nhà ở phố Hàng Đào ông cụ vừa tròn 70 tuổi. Vỵ nhận ngay ra gia đình mình, không có ai đứng gần nên nói thật với anh Trừ:

        -  Bài là anh ruột, không rõ mẹ còn sống hay chết, nhờ trung tá hỏi giùm.

   Nửa tháng sau, khi nghỉ giải lao, anh Trừ gặp Vỵ nói khẽ:

        -  Có thư rồi đi vào nhà vệ sinh. Vỵ hiểu ý, chờ một lúc rồi đi theo. Thấy không có ai, y vội nhận thư và nói:

        -  Cảm ơn trung tá. Đồng chí Trừ đóng vai trò "người đưa thư tốt bung” mấy lần nữa cho đến lúc Vỵ nhận được thư gia đình ở “Hộp thư chết” và bắt đầu vừa gửi thư về cho gia đình ở miền Bắc, vừa báo cáo tình hình.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Ba, 2012, 09:06:09 am

PHÁ “KẾ HOẠCH THIÊN THANH”

        Đoàn bạn trong Ủy ban Quốc tế rất nhiệt tình ủng hộ, giúp đỡ Đoàn ta ở Trung Ương cũng như khu vực, địa phương để thực hiện các điều khoản của Hiệp định Paris; ngăn ngừa, chống âm mưu họat động phá họai của Mỹ ngụy. Nhiều trường hợp, sỹ quan Đoàn ta xuống công tác ở khu vực, địa phương được đoàn bạn trong Ủy Ban Quốc Tế bố trí ăn ở, bảo vệ một cách chu đáo, củng cố thêm tình hữu nghị giữa những người bạn trên một chiến hào, ta cũng đáp lại tấm thịnh tình của Bạn như câu chuyện dưới đây:
   
        Đoàn bạn trong Ủy Ban Quốc Tế thường thay quân 3 tháng, 6 tháng một lần. Dạo đó Đoàn bạn ở Khu vực đang nhộn nhịp chuẩn bị hành lý 5 – 7 hôm nữa tập trung ở Sài Gòn để về nước thay quân. Một buổi chiều có một cô gái độ 16-17 tuổi, xinh xắn trong bộ áo dài kiểu Huế, nón lá, cứ đi đi lại lại trước cổng trụ sở Ủy Ban Quốc Tế khu vực như ngóng chờ ai. Bọn quân cảnh ngụy để ý, chờ đến lúc nhá nhem tối bất thình lình chúng dùng xe jeep bắt cô gái đưa về trụ sở Cảnh sát đặc biệt. Tại đây, cô gái phải khai thật: Chờ đưa thư của chị gái tên là Lan cho sỹ quan Pi-tơ Đoàn bạn trong Ủy Ban Quốc Tế, tin này được báo về trên và CIA khu vực. Ngay lập tức, bọn cảnh sát đặc biệt đến bắt cô Lan đưa về trụ sở khai thác mối quan hệ tình ái với Pi-tơ. Tên Joon trưởng chi nhánh CIA khu vực biết tin này liền gạt bon cảnh sát đặc biệt ra, trực tiếp nắm cô Lan và buộc cô phải thực hiện theo kế hoạch của chúng. Tên Joon cho cô Lan gặp sỹ quan Pi-tơ tại một địa điểm chúng đã bố trí sẵn. Khi sỹ quan Pi-tơ đang tình tự với Lan thì tên Joon xuất hiện, công khai tự nhận là sỹ quan CIA và khống chế, buộc Pi-tơ phải bí mật làm việc cho chúng. Trước sự khóc lóc của người yêu, sự đe dọa và hứa hẹn lợi ích vật chất của CIA nên Pi-tơ đã nhận lời.
   
        Ngày sỹ quan Pi-tơ về Sài Gòn để chuẩn bị về nước; Tên Joon đã đưa cô Lan vào Sài Gòn bố trí cho cô Lan gặp sỹ quan Pi-tơ và tiếp tục khống chế sỹ quan này, qui định, tín hiệu, thời gian liên lạc với Pi-tơ trong nước. Ba tháng sau, đại sứ quán Mỹ ở thủ đô nước đó thay đổi Bí thư thư nhất như thông lệ. Người mới đến chính là Joon đã có thời gian làm trưởng chi nhánh CIA khu vực ở Việt Nam.
   
        Mùa xuân năm 1975, đại quân ta thần tốc giải phóng Huế, Đà Nẵng, Nha Trang,…tiến về giải phóng Sài Gòn. Bọn Mỹ- ngụy ở miền Trung tháo chạy, không kịp hủy hồ sơ, tài liệu, kể cả hồ sơ “tối mật”. Theo sự phân công, lực lượng Công An đi cùng đại quân, nhanh chóng chiếm lĩnh trụ sở CIA, cảnh sát đặc biệt thu gom các hồ sơ, tài liệu, phương tiện kỹ thuật của Mỹ ngụy, phát hiện được hồ sơ “Kế hoạch Thiên Thanh”. Kinh nghiệm và kiến thức địch tính cho ta biết hồ sơ “Kế hoạch” là từ nghiệp vụ của Cảnh sát đặc biệt dùng cho hồ sơ lưu các tài liệu của cơ sở địch đã xâm nhập được vào nội bộ ta, có bí số, bí danh, chi phí họat động và tên người điều khiển bọn nội gián, nên khẩn trương khai thác và báo cáo về Bộ Công An. Ta đã trao đổi với Bộ nội vụ  bạn về trường hợp của sỹ quan Pi-tơ. Chỉ một thời gian ngắn, lãnh đạo Bộ của bạn đã có thư cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của ta và cho biết: Pi-tơ đã nhận tội cung cấp tài liệu cho Joon; Bạn đã có biện pháp xử lý Joon qua đường ngọai giao…
   
        Một số mẩu chuyện kể trên chưa phản ánh được một phần những họat động và chiến công của trên một trăm ba mươi chiến sỹ Công An Nhân Dân trong Ban liên hợp quân sự, cũng chưa có bài viết nào tả hết được những gian khổ khó khăn, phức tạp, căng thẳng mà mỗi chiến sỹ Công An Nhân Dân cũng như các anh em trong Ban liên hợp quân sự đã trải qua và gánh chịu những hi sinh mất mát.
   
        Trong vòng vây hãm của quân thù; dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban cán sự Đẳng và lãnh đạo Đoàn A, Đoàn B, của Đảng Đoàn và lãnh đạo Bộ Công An, các anh đã giữ vững tư thế người chiến thắng, đã mưu trí sáng tạo đấu tranh trực diện với quân thù hoặc âm thầm, bền bỉ, liên tục đấu tranh bảo vệ mình tấn công địch, góp trí tuệ, mồ hôi, công sức và xương máu góp phần vào sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
   
        Thời gian vùn vụt trôi. Đã trên 35 năm kể từ ngày đặt chân lên trại Đavit (Sài Gòn); Các chiến sỹ Công An Nhân Dân ở Ban liên hợp quân sự Trung Ương hay Khu vực, địa phương, mặc quân phục, cánh tay trái đeo băng màu da cam có con số 4, đều cùng chung một cảm nhận: “Những ngày công tác, chiến đấu ở Ban liên hợp quân sự dù ngắn hay dài, dù lâu hay mau đã để lại những ấn tượng khó phai mờ, những kỉ niệm khắc sâu trong tâm khảm, gắn bó suốt cuộc đời mỗi người chiến sỹ Công An Nhân Dân”.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Ba, 2012, 11:20:51 am

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/DSC01830.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/DSC01834.jpg)

Băng màu da cam có con số 4 được sử dụng cho 4 đoàn trong Ban Liên hợp quân sự (bao gồm cả đoàn Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa). Băng này do đại tá Hoàng Duy Hòa sử dụng và cất giữ. Ảnh chụp năm 2009.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Ba, 2012, 01:48:10 pm

CUỘC ĐẤU TRANH KHÔNG KHOAN NHƯỌNG Ở HUẾ

NGUYỄN THANH ĐỨC              

       Nguyên Phó giám đóc công an Hà Nội, Phó đoàn A – Khu vực 1 Huế

        Tham gia ban liên hợp quân sự 4 bên

        Ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris được ký kết buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình tại Việt Nam, ngừng ném bom phá hoại ở miền Bắc và rút quân về nước. Hoà chung với không khí phấn khởi của nhân dân trước thắng lợi có ý nghĩa to lớn về chính trị của cách mạng nước ta, cán bộ chiến sĩ công an Hà Nội lúc đó rất vui mừng vì cuộc kháng chiến chống Mỹ đã chuyển sang bước ngoặt mới và tin tưởng rằng khi "đã đánh Mỹ cút" thì sẽ "đánh cho nguỵ nhào" như lời di chúc của Bác Hồ trước lúc đi xa... Cũng trong thời gian này, tôi nhận nhiệm vụ tham gia vào phái đoàn quân sự của Chính phủ VNDCCH trong Ban Liên hiệp quân sự (LHQS) 4 bên khu vực Huế - Đà Nẵng, với cương vị phó Đoàn, có nhiệm vụ giám sát việc quân đội Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam và trao trả tù binh theo đúng Hiệp định Paris (Lúc đó tôi đang làm Phó Giám đốc Công an Hà Nội). Sau một tuần học tập, nghiên cứu kỹ về Hiệp định Paris, sáng ngày 5/2/1973 (tức mùng 3 tết), Đoàn công tác của chúng tôi lên chiếc máy bay C130 do phía Mỹ đón tại sân bay Gia Lâm.

        Trong danh sách của Đoàn để đảm bảo bí mật nghiệp vụ, tôi lấy tên là Nguyễn Khánh Chung (tên con trai cả và con trai út của tôi ghép lại). Vào đến Sài Gòn tầm trưa trời rất nóng. Trong khi đó tất cả anh em sĩ quan Liên hợp trong Đoàn đều mặc  quân phục Thu Đông bằng vải dạ do lúc đi thời tiết ở ngoài Bắc đang rất rét. Tuy nóng "chẩy mồ hôi" nhưng chúng tôi nhắc nhau không được cởi áo ngoài, phải giữ tác phong nghiêm túc của đoàn quân chiến thắng. Các đoàn quân sự của ta đi vào khu vực đều qua trụ sở Ban LHQS 4 bên ở sân bay Tân Sơn Nhất. Riêng Đoàn chúng tôi được phân công làm nhiệm vụ tại Huế - Đà Nẵng, nên ở lại trên máy bay, ăn, nghỉ; đến 17 giờ chiều cùng ngày thì máy bay chở chúng tôi ra Huế. Trước đó mỗi thành viên trong đoàn chúng tôi được phát thẻ Sĩ quan Liên hợp quân sự 4 bên, có dán ảnh như hộ chiếu, nêu rõ nội dung: Người đeo thẻ được các nhà chức trách địa phương tạo mọi điều kiện hoạt động. Trên máy bay của đối phương, lãnh đạo Đoàn giao cho tôi nhiệm vụ ứng phó với địch bước đầu.

        Khi máy bay hạ cánh xuống sân bay Phú Bài, lúc đó đã là 21 giờ. Dưới ánh sáng lờ mờ của đèn sân bay, tôi thấy rất đông cảnh sát nguỵ, nhà báo v.v... họ đứng, đi lại ở phía dưới cầu thang máy. Cánh quạt của máy bay vẫn quay tít. Đứng ở cầu thang máy tôi chờ người của Uỷ ban quốc tế khu vực Huế - Đà Nẵng xuất hiện đầy đủ, tôi nhắc các đồng chí trong Đoàn cứ ngồi trên máy bay, khi nào tôi báo hiệu hãy xuống và tôi bước xuống đất khỏi cầu thang máy bay.

        Tôi vừa bước xuống đất thì một thành viên UBQT người Inđônêxia tiến đến chào mừng. Tôi cảm ơn vừa xong thì một viên thiếu tá cảnh sát nguỵ tiến đến bên tôi và hỏi:

        - Trung tá có giấy nhập cảnh nước chúng tôi chưa?

        Tôi chỉ tay vào tấm thẻ Sĩ quan LHQS 4 bên đeo trên ngực, đáp lại:

        -  Chúng tôi vào đây để thực hiện Hiệp định Paris. Các ông có nhiệm vụ tạo điều kiện cho chúng tôi làm việc như tấm thẻ này đã quy định!.

        Một viên cảnh sát khác nói tiếp:

        - Trung tá phải khai cho chúng tôi một bản lý lịch.

        Tôi nói luôn:

        - Tôi không phải khai gì với các ông cả. Tấm thẻ tôi đeo đã có 4 chữ ký, đại diện của 4 bên đã nói rõ quyền hạn của chúng tôi và trách nhiệm của các ông rồi.

        Thấy tôi khẳng định như vậy, một người lính nguỵ trong đám đông lúc đó nói to.

        - Như vậy, trung tá đã đủ thủ tục.

       


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Ba, 2012, 01:50:17 pm
        Cánh quạt của máy bay đã ngừng quay. Tôi báo hiệu cho Đoàn xuống sân bay. Sau khi các đồng chí lãnh đạo Đoàn đi chào hỏi xã giao các thành viên trong Uỷ ban quốc tế (gồm 4 nước: Ba Lan, Hung ga ri, Canada, Inđonêxia) chúng tôi lên xe ô tô về địa điểm làm việc. Phía Mỹ bố trí xe: Đồng chí Trưởng đoàn của ta ngồi cùng với viên Trung tá phó đoàn Mỹ - Jubrigôn - một xe  Mỗi phó đoàn chúng tôi ngồi một xe. Phía Mỹ định để xe lãnh đạo Đoàn của ta đi trước rồi mới đến xe của các chiến sĩ và hậu cần của Đoàn. Tôi đề nghị với viên trung tá Mỹ Jubrigôn nên để xe của hậu cần đi trước, rồi đến xe các chiến sĩ, cuối cùng là xe của lãnh đạo Đoàn chúng tôi, trước đoàn xe hộ tống của Mỹ.

         Địa điểm chúng tôi đến trụ sở làm việc của Phái đoàn là một doanh trại quân đội nguỵ ở gần đồn Mang Cá, gọi là Bãi Dâu. Phòng làm việc của ta và địch được bố trí xen kẽ nhau thành một hàng ngang, một là trụ sở của phái đoàn Mỹ, thứ hai là trụ sở của Đoàn Việt Nam dân chủ cộng hoà, thứ ba là trụ sở của phái đoàn nguỵ, thứ tư là của Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam - Có bàn ghế làm việc và điện thoại đầy đủ.

        Để tránh việc định lấy cắp tin tức của ta, chúng tôi không làm việc ở trụ sở địch bố trí, mà lấy khu nhà ăn của Đoàn, xa nơi làm việc của Mỹ, nguỵ để làm việc.

        Biết ý định của Mỹ, nguỵ sắp xếp nơi làm việc cuả đoàn ta trong một doanh trại quân đội nguỵ xa khu dân cư để tránh sự tiếp xúc của đoàn ta với nhân dân, chúng tôi bàn với nhau làm thế nào cho người dân Huế nhận biết sự có mặt của phái đoàn miền Bắc vào đây chứng kiến việc Mỹ rút quân, khẳng định tư thế chiến thắng của mình.

        Chúng tôi đã nghĩ ra cách thực hiện: lấy lý do liên lạc với UBQT đóng trụ sở ở khách sạn Hương Giang, thỉnh thoảng chúng tôi lại cắm cờ 4 bên lên mui xe Ô tô của Đoàn, đi ra đường trong thành phố Huế. Xe của Mỹ, nguỵ khi đi đường không cắm cờ. Đoàn của ta luôn cắm cờ "bốn bên" khi đi ra đường đã thu hút sự chú ý của người dân Huế. Những lúc xe chúng tôi dừng lại ở những nơi có đèn đỏ nhiều người dân Huế đã nhìn chúng tôi với ánh mắt thiện cảm, hoặc với nụ cười kín đáo, thân tình.., làm cho chúng tôi xúc động, càng mong sao ngày thống nhất đất nước đến gần để không còn sự ngăn cách Bắc Nam. Tuy vậy lãnh đạo Đoàn chúng tôi luôn nhắc nhở anh em trong đoàn là phải đề phòng bọn phản động có thể lợi dụng cơ hội để chống phá Đoàn ta.

        Đã có lần xe của một sĩ quan chúng tôi đỗ ở lề đường vì sơ hở không đóng cửa kính đã bị bọn phản động ném dầu bẩn, cà chua, trứng thối vào trong xe.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Ba, 2012, 02:02:26 pm
        Bình tĩnh dối phó với âm mưu của dịch

        Trong thời gian làm việc ở Huế, phái đoàn của ta nhận được "thiệp mời" dự lễ cầu siêu cho những người bị chết trong tết Mậu Thân 1968 của phía Việt Nam cộng hoà với lời lẽ rất ngoại giao. Lãnh đạo Đoàn chúng tôi bàn thống nhất là không đi vì nhiệm vụ của Phái đoàn Việt Nam dân chủ cộng hoà là thực hiện Hiệp định Paris, không có chức năng đi dự lễ cầu siêu do phía nguỵ tổ chức. Hơn nữa, Hiệp định Paris đã nêu rõ sau này 2 bên sẽ đi đến hoà hợp dân tộc. Tôi được lãnh đạo Đoàn cử đi gặp đoàn Mỹ và nguỵ, nói rõ lý do không tham dự lễ cầu siêu, phái đoàn Việt Nam dân chủ cộng hoà. Viên trung tá phó đoàn Mỹ khuyên:

        -  Đây là việc hàng năm, người ta (chỉ phía nguỵ) vẫn làm. Chúng tôi vẫn đến dự và bên các ông nên cử người đến.

        Tôi khẳng định lại:

        -  Không phải nhiệm vụ của chúng tôi nên chúng tôi không tham dự.

        Tiếp đó tôi sang phái đoàn nguỵ để từ chối lời mời, viên trung tá Trần Hùng nói có ý đe doạ:

        -  Nếu các ông không đi thì người ta sẽ đến đây.

        Tôi báo ngay cho phía Mỹ:

        -  Vì ông Hùng đã nói như vậy nếu có sự việc không hay xảy ra với chúng tôi, các ông phải có trách nhiệm đảm bảo an ninh cho Đoàn chúng tôi theo đúng tinh thần của Hiệp định Paris.

        Viên trung tá phó đoàn Mỹ hứa:

        -  Trung tá cứ yên tâm, giờ đó tôi đã có mặt ở phòng làm việc.

        Biết đó chỉ là lời hứa xã giao, tôi về bàn với lãnh đạo Đoàn kế hoạch đối phó, không bị động với địch.

        Trước hết phân tán lãnh đạo Đoàn ở cùng với cán bộ, chiến sĩ và tất cả không ra ngoài nơi ở của mình, bảo vệ vũ khí, trang bị, tài liệu không để bị địch cướp, lấy đi ta kiên quyết không nổ súng...

        Phòng làm việc chỉ để 8 người trong đó có tôi. Các tài liệu được đóng gói cẩn thận. Các cửa ra vào, cửa sổ của phòng làm việc đều được đóng và buộc chặt. Tôi bàn với anh em phương án đối phó nếu xảy ra sự cố: Cử hai người đứng ở một góc nhà, đội mũ cứng lên đầu, dùng ghế ngồi làm việc để che mặt, không được dùng súng bắn, nếu tên địch nào liều lĩnh nhảy vào nhà qua cửa sổ hay cửa ra vào thì bắt trói lại, bảo vệ tài liệu, bảo vệ nơi làm việc.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Ba, 2012, 02:03:35 pm
        Đúng như dự đoán, khoảng 12 giờ trưa hôm lễ cầu siêu, từ nhiều ngả đường cả đường sông lẫn đường bộ, những đoàn người ùn ùn kéo đến phía ngoài trụ sở làm việc của Đoàn chúng tôi. Lẽ ra lực lượng quân cảnh của nguỵ, bảo vệ vòng ngoài trụ sở của chúng tôi phải ngăn lại, nhưng chúng đã làm ngơ cho đám đông tràn qua hàng rào dây thép gai tiến đến sát trụ sở của chúng tôi. Bọn phản động bên ngoài hò hét, yêu cầu đại diện phái đoàn miền Bắc ra ngoài cho nhân dân gặp. Tôi và anh em đứng bên trong trụ sở vẫn im lặng. Bon phản động gọi đúng tên tôi:

        -  Yêu cầu trung tá Nguyễn Khánh Chung ra cho nhân dân gặp

        Chúng tôi vẫn im lặng. Chúng đe doạ tiếp:

        -  Nếu Đoàn Bắc Việt không có ai ra, 5 phút sau là quyền của nhân dân

        Và chúng đếm từ 1 đến 5 thì đám đông ùa vào đến chân tường trụ sở của chúng tôi, dùng sà beng đập phá cửa sổ và cửa ra vào. Chúng bật được một cánh cửa sổ và từ đây ném gạch, đá rào rào vào những chỗ chúng tôi đứng. Anh em chúng tôi lấy ghế ngồi làm việc có sẵn trong phòng làm vật che chắn trước mặt, đầu đội mũ cứng, chọn góc nhà làm thế bảo vệ hai bên sườn và đằng sau. Tám anh em chúng tôi (mỗi góc nhà 2 người) múa ghế chống đỡ địch tấn công phía trước. Cần nhất là giữ đầu và mặt, tôi động viên anh em bình tĩnh chống trả. Một đồng chí nói nhỏ với tôi:

        -  Anh Chung ơi, tôi bị thương rổi!.

        Tôi chỉ trả lời:

        -  Bình tĩnh, không bộc lộ sợ hãi!.

        Lúc xảy ra việc ném gạch đá vào trụ sở chúng tôi mới thấy rõ dụng ý của địch đã chuẩn bị từ trước. Chúng để sẵn một đống gạch, đá, chửi bới ở phía ngoài nhưng không đứa nào dám xông vào bên trong trụ sở chúng tôi. Hầu hết 8 anh em chúng tôi đều bị thương ở chân, tay do gạch đá ném vào. Để sự việc xảy ra gần một tiếng đồng hồ, bọn quân cảnh mới đến giải tán đám đông. Chúng tôi yêu cầu phái đoàn Mỹ và nguỵ phải lập biên bản, đồng thời mời Uỷ ban quốc tế xuống chứng kiến cảnh đập phá này và đề nghị cử bác sĩ xuống khám thương tích cho các anh em và kiên quyết đấu tranh để đưa số người trong Đoàn bị thương ra Bắc chữa trị. Trước lập trường cứng rắn và kiên quyết của phái đoàn ta, địch đã phải nhượng bộ. Chúng tôi tổ chức tiễn số anh em bị thương ra Hà Nội rất đàng hoàng, hàng ngũ chỉnh tề, để người dân đứng từ xa có thể thấy rõ tư thế chiến thắng của Phái đoàn ta. Một viên thiếu tá Mỹ hỏi tôi:

        -  Thế ông trung tá Chung không việc gì à?

        Tôi nói luôn

        -  B52 của các ông rải thảm hàng nghìn tấn bom xuống thủ đô Hà Nội của chúng tôi 12 ngày đêm còn không làm gì được chúng tôi, mấy hòn gạch này có thấm gì Đây chỉ là hành động côn đồ, chẳng làm gì được tôi đâu!.

        Sau khi đưa số anh em bị thương ra Bắc, chúng tôi nhắc nhau giữ vững tinh thần, không khoan nhượng với địch, đồng thời tiếp tục kiến nghị với Uỷ ban quốc tế Ở khu vực, là phái đoàn miền Bắc không thể làm việc tại Huế vì không được đảm bảo an toàn. Trước sự đấu tranh kiên quyết của ta, anh em Đoàn A được rút về trại Đa - vít ở Sài Gòn, chỉ khi nào có đợt trao trả tù binh ngoài Huế thì mới ra làm nhiệm vụ giám sát.

        Hết thời gian 60 ngày theo quy định của Hiệp định Paris về  BQLHS 4 bên. Chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ ở khu vực Huế và trở về Hà Nội an toàn. Lãnh đạo Bộ Công an rất khen ngợi số cán bộ chiến sĩ công an của Hà Nội tham gia vào Ban LHQS 4 bên đã cùng với cán bộ chiến sĩ của đoàn ta trong BLHQS 4 bên khu vực 1 – Huế vận dụng sáng tạo các biện pháp đấu tranh thắng lợi với địch trên mặt trận chính trị, ngoại giao, đã mưu trí dũng cảm, nêu cao tinh thần cảnh giác trước mọi thủ đoạn phá hoại trắng trợn của kẻ thù, hạn chế thấp hiệu quả thiệt hại do chúng gây nên, giương cao ngọn cờ quyết chiến quyết thắng của các lực lượng vũ trang ta trong cuộc chiến đấu trực diện tại giữa hang ổ của chúng, góp phần vào sự nghiệp đấu tranh "đánh cho Mỹ cúi đánh cho ngụy nhào" Tiến tới thống nhất đất nước.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Ba, 2012, 02:41:24 pm

MỘT ĐÊM TRONG DOANH TRẠI QUÂN ĐỘI SÀI GÒN

Hoàng Duy Hòa                

        Tháng giêng năm 1974, Ban Liên hiệp quân sự hai bên có nhiệm vụ đi Huế rồi ra Thạch Hãn (Quảng Trị). Máy bay Skarybu (C130) chở sỹ quan hai bên từ Tân Sơn Nhất đi Đà Nẵng, rồi đổi máy bay trực thăng bay ra Huế. Đến sân bay Đà Nẵng vào phòng khách chờ, nhân dân thấy cán bộ quân giải phóng đội mũ cối gắn quân hiệu xanh đỏ sao vàng và đeo băng Liên Hiệp Quân Sự màu da cam, họ chào hỏi chúng tôi với thái độ vui vẻ muốn ngồi gần nói chuyện. Sỹ quan Sài Gòn ngăn cấm không cho dân tiếp xúc, họ mời chúng tôi sang phòng khách quân sự và thông báo, ngoài Huế nưa rất to nên trực thăng chưa thể bay ra được. Đến hơn 18 giờ mưa vẫn không ngớt, phía Sài Gòn đề nghị cán bộ ta nghỉ lại Đà Nẵng, sáng mai đi Huế, nếu về Sài Gòn mai lại bay ra vừa mệt, vừa tốn xăng dầu. Tôi yêu cầu họ cho nói nhờ điện thọai về Ban Liên Hiệp Quân Sự của ta ở Sài Gòn xin chỉ thị thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn - Trưởng phái đoàn. Đồng chí Tuấn đồng ý cho ở lại và nhắc chúng tôi hết sức cảnh giác, đồng thời văn phòng của báo cho Liên Hiệp Quân Sự Sài Gòn biết và phải đảm bảo an toàn cho tổ liên hiệp quân sự ta ở Đà Nẵng.

        Ban liên hiệp quân sự bốn bên, rồi hai bên cùng làm việc với nhau qua 1 năm cùng đi đến nhiều vùng kiểm soát của nhau nhưng chưa bao giờ ngủ đêm trong doanh trại đối phương. Chúng tôi có 3 người là đồng chí Hoàng Dụy Hòa, Phạm Quang Khôn và Nguyễn Đông Dương trao đổi nhanh: Đã vào hang cọp không sợ cọp, phải hết sức cảnh giác luận điệu chiêu hồi, cảnh giác khi đi đường, khi ăn nghỉ, khi đối thọai. Chúng tôi yêu cầu họ đưa ra ăn nghỉ ở khách sạn phố Đà Nẵng. Họ nói:

        -  Canh gác không được an toàn vì phần tử quá khích sẽ manh động!

        Họ mời chúng tôi đi một xe “díp” mui trần, tôi yêu cầu phải có 3 xe mỗi người đi trên 1 xe, dọc đường từ sân bay vào trại, đi qua phố, binh sỹ Sài Gòn và nhân dân thấy xe nào cũng có một “Việt cộng” nhiều người giơ tay vẫy chào, chúng tôi vui vẻ chào lại. Họ đi xe máy bám theo ô tô của chúng tôi và nói rất to: “Vi si, vi si”. Có người nói: “Chào quân giải phóng!”. Xe cảnh sát dẫn đường cản dân, xe tuần cảng hộ tống không cho xe máy dân bám theo xe Liên hợp quân sự. Đến nhà khách trong doanh trại quân độí Sài Gòn, binh sĩ nháo nhác nghiêng ngó nhìn có vẻ ngạc nhiên, một thiếu tả Sải Gòn đưa một thượng sĩ dến giới thiệu giúp việc khi cần thiết, anh chỉ chúng tôi ở mỗi người một phòng, nhưng chúng tôi cùng ở một phòng rộng để tiện bàn xử trí các tình huống bất trắc trong đêm.

        Đến 19 giờ họ dọn tiệc mời, họ có hơn chục người từ đại uý đến đại tá ngồi xen kẽ với chúng tôi, họ không xưng hô từ "quý vị" hoặc cấp chức như hội họp mà gọi chúng tôi là "các anh". Đại tá Liên hợp quân sự địa phưong tỏ thái độ thân mật hoà nhã vui vẻ nói :

        -  Chúng ta đã hoà hợp nhưng sự tiếp đón của Liên hợp quân sự cúng có mức độ, nếu các anh sang hàng ngũ của chúng tôỉ được trọng dụng tối đa, đóu tiếp trọng thể hơn nhiều?

        Họ hỏi quê quán, tuổi tác, nghề nghiệp, vào Nam khi nào?... Thiếu tá Võ nói:

        -  Việt Nam cộng hoà đương nhiên là một Quốc gia hợp hiến, hợp pháp có nhà nước, có quân đội, không có chuyện chia cắt lãnh thổ thành lập chính phủ ba thành phần có "Cộng sản" vào đó. Vì chính nghĩa quốc gia nên có các cán bộ phía các anh sang với chúng tôi!

        Rồi họ khoe quân lực Việt Nam cộng hoà mạnh thứ tư thế giới (họ nói nhất Mỹ, nhì Nga, thứ ba Trung Cộng) đâu phải chuyện thực thi Hiệp dịnh dễ dàng được...

        Tôi thản nhiên cười nói:

        -  Các vị nhiều người nói theo bài vở "Chiêu hồi", với chúng tôi không nên nói như Cục tâm lý chiến quân đội Sài Gòn nói với binh sĩ của họ, còn lý lịch chúng tôi CIA họ đã biết, điều mà chúng ta cần suy ngẫm là sức mạnh tổng hợp hiện nay thuộc về bên nào? Thế và lực quân đội các vị khi Mỹ và đồng minh rút hết, tổng thống Thiệu đã nói "Quân lực Việt Nam cộng hoà nay phải chiến đấu thco kiểu quân đội nhà nghèo", chắc các anh ngầm hiểu Hiệp định Pa-ri như cái cầu bằng vàng bắc từ Sài Gòn về Hoa lhịnh Đốn để quân Mỹ rút trong danh dự, thực sự họ đã thua.

        Một người mặc thường phục nói:

        -  Quân lực Việt Nam cộng hoà có một triệu hai trăm ngàn quân tinh nhuệ với vũ khí tối tân Hoa Kỳ để lại, cần thiết họ sẽ cứu viện nhanh chóng, các anh không làm gì được đâu!"


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Ba, 2012, 05:43:42 pm
        Viên trung tá nói lảng sang chuyện khác:

        -  Các anh vào đây lâu đã được về phép chưa? Tôi cũng muốn về thăm quê cũ ở Hà Nội, nhưng để chúng tôi giải phóng miền Bắc chúng ta về phép cũng chưa muộn.

        Đồng chí Phạm Quang Khôn nói luôn:

        -  Trung tá vẫn chưa thức thời, chưa thấy cán cân quân sự nghiêng về phía cách mạng chỉ có quân giải phóng, giải phóng miền Nam, trung tá sẽ về thăm quê cũ.

        Nhà văn, đại úy mũ nồi đỏ ngụy Phan Nhật Nam đưa tặng tôi cuốn “mùa hè đỏ lửa”. Tôi cảm ơn và trao lại nói:

        -  Tôi đã đọc cuốn này rồi, tác giả viết nhiều về chiến trường Quảng Trị theo quan điểm của mình, cúng như viết về cuộc hành quân Lam Sơn 719 nhưng quên viết lữ đoàn dù số 2 bị tiêu diệt và đại tá Nguyễn Văn Thọ bị bắt làm tù binh và viết Lộc Ninh kiên cường tử thủ nhưng quên viết chiến đoàn 8 đã thất thủ đại tá Nguyễn Công Vĩnh đã đầu hàng!

        Một anh có lẽ là nhà báo chụp ảnh và mang máy ghi âm, giơ micrô hỏi chúng tôi:

        -  Các anh vào Sài Gòn đã một năm, cùng chúng tôi mấy lần ra Hà Nội trao trả tù binh Hoa Kỳ, xin các anh cho biết cảm tưởng đến hai thủ đô Hà Nội và Sài Gòn?" Phan Nhật Nam nói thêm vào "Hà Nội chỉ thấy nhiều người dân đi xe đạp, xe bò kéo cát vào thành phố, học sinh đi bộ đến trường, kinh tế làm sao bằng Sài Gòn được.

         Tôi nói:

        -  Đến Hà Nội được vào thăm công viên ta thấy khẩu hiệu rất lớn trên nóc trưòng Đại học Bách Khoa "Không có gì quý hơn độc lập tự do". Hà Nội đã dồn nỗ lực kinh tế vào chống chíến tranh xâm lược của Mỹ, cuối tháng 12 vừa qua, Hà Nội đã băn rơi mấy chục B52 và hàng trăm phản lực, không khí sục sôi đánh Mỹ, đâu có như Sài Gòn nhan nhản lính Mỹ vung tiền tiêu để mê hoặc lòng người.

        Họ hỏi lại:

        -  Nhưng quý vị thấy kinh tế văn hoá Sài Gòn thế nào?

        Tôi rút tờ báo Sài Gòn trong cặp ra chỉ vào hàng tít chữ to đậm nét nói:

        -   Đây! Nội tâm của Sài Gòn trong mục 8 chữ: "Tin, Tiền, Tình, Tù, Tu, Tội, Tự tử", hàng ngày diễn ra như thế đó, và bây giờ trên đường phố Sài Gòn nhiều trẻ con lai Mỹ, nhiều trẻ bụi đời, nhiều băng đảng cướp phá đâu còn là thuần phong mỹ tục Việt Nam nữa.

        Sỹ quan liên hiệp quân sự khu vực II Đà Nẵng ngụy nói:

        -  Tôi đưa mấy bộ thường phục mời các anh thay quân phục, ta đi chơi phố và đưa các anh đến chỗ mà người đời thích thú nhất để chiêm ngưỡng cái đẹp, rồi vào một cuar hàng lớn ngoài phố Đà Nẵng mua tặng các anh vài thứ làm quà. Ngày mai xong việc chúng ta hãy xem trận bóng đá giữa đội chúng tôi với quân đội Đại hàn, rồi về Sài Gòn chưa muộn.

        Tổ trưởng nói với chúng tôi:

        -  Cám ơn, chúng ta đi làm nhiệm vụ thi hành Hiệp định Paris, đâu phải đi chơi, vào doanh trại các anh đón tiếp thế này là hiểu nhau rồi!

        Tôi chỉ ra sân hỏi:

        -  Binh sỹ quí vị làm gì ngoài kia đông thế?

        Họ nói:

        -  Hòa hợp dân tộc rồi, các anh không nên từ chối thiện chí hào hiệp của chúng tôi. Còn binh sỹ họ rất ngạc nhiên sao lại có chuyện đón tiếp sỹ quan Việt cộng vào doanh trại, mà chính họ đêm nay làm nhiệm vụ bảo vệ đoàn các anh ấy!

        Tôi nói:

        -  Chuyện trò thế là đủ rồi, ta cần đi nghỉ để mai làm việc!

        Buổi tối nói chuyện không có tranh luận quyết liệt, nói năng nhẹ nhàng cũng không có kết luận, đến 23 giờ vị đại tá Sài Gòn nói:

        -  Thôi khuya rồi mời các chiến hữu ta về và chúc các vị khách ngủ ngon, sáng mai chúng ta cùng ra Huế.

        Đêm ấy chúng tôi vẫn để đèn ngồi chơi, họ đã cho 6 đèn pha chiếu vào phòng ngủ, nhìn ra ngoài thấy thấp thoáng bóng binh sỹ Sài Gòn mang súng đi đi, lại lại canh gác. Từ đó, sau những chuyến đi công tác của Ban LHQS, họ bớt khoe khoang kiêu ngạo về “Quân lực Việt Nam cộng hòa” về “chính nghĩa Quốc Gia” thực tế họ thấy ngoài chiến trường sự yếu kém của quân đội Sài Gòn, thế và lực chế độ Nguyễn Văn Thiệu đã suy tàn, chỉ còn hy vọng thương thuyết ngừng chiến, đến 29 tháng 4 hy vọng thành tuyệt vọng.

        Sau ngày giải phóng 30/4/1975 chuẩn tướng Nguyễn Trung Trực, trung tâm phó thi hành Hiệp định Paris phía Sài Gòn đi trình diện học tập cải tạo nói:

        -  Khi làm việc trong Ban Liên hiệp quân sự chúng tôi nói rất mạnh miệng, khi quân giải phóng mở chiến dịch Hồ Chí Minh, sỹ quan Liên hiệp quân sự thấy trước được tình hình đã bỏ nhiệm sở đào tẩu gần hết. Khi đi trình diện, số sỹ quan này gặp chúng tôi, họ hào hứng nói vinh dự được tiếp xúc với cán bộ quân giải phóng hơn 2 năm trong Ban LHQS cũng nhận thức được nhiều vấn đề, đến nay mọi việc đã rõ rồi…



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Ba, 2012, 05:54:23 pm

NGƯỜI LIỆT SĨ CÔNG AN HY SINH TẠI TRẠI DAVIS

TRẦN DUY HIỂN                

        Sau khi hiệp định Paris về kết thúc chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết, Ban Liên hợp quân sự Trung ương 4 bên được thành lập, có nhiệm vụ phối hợp hành động bảo đảm thi hành những điều khoản về quân sự của Hiệp định Paris Hai phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Cộng hoà miền Nam Việt Nam đóng trụ sở “Trại Davis” trong sân bay Tân Sơn Nhất. Ban bảo vệ an ninh của hai phái đoàn gồm chủ yếu các sĩ quan Quân đội, Công an dày dặn nghiệp vụ và bản lĩnh; đã ngăn chặn mọi âm mưu thâm độc của các cơ quan tình báo gián điệp Mỹ - nguỵ. Nhưng chỉ một ngày trước khi Sài Gòn hoàn toàn được giải phóng, hai cán bộ của trại Davis đã hi sinh, trong đó có một sĩ quan an ninh, là đồng chí Nông Văn Hưởng…

        -  Tôi và nhà tôi cùng là người dân tộc Tày, được giác ngộ cách mạng rồi vào Công an. Lấy nhau được hai mặt con, đúng ngày đất nước hoàn toàn giải phóng thì nhà tôi hi sinh

        Bà Lê Thị Vân (tên thường gọi là Lọn) mở đầu câu chuyện của chúng tôi. Trưa tháng bảy nắng gay gắt. Căn hộ tầng 1 ở khu Trung Tự (Hà Nội) của gia đình bà Vân càng thêm nóng bức vì mất điện. Nhưng hồi ức về người chồng thân yêu chợt hiện về khiến bà bức xúc và tự hào về ông. Bà vui vẻ kể:

        -  Bây giờ tôi mới nói nhiều đấy, chứ hồi trước tôi ít nói lắm. Ông ấy cũng hiền lành, ít nói như tôi. Lấy nhau rồi, hiếm khi hai vợ chồng to tiếng với nhau. Chúng tôi nên vợ nên chồng là nhờ sự giới thiệu của anh Hoàng Mai (Thiếu tướng Hoàng Mai, nguyên hiệu trưởng trường C500, nay là Học viện ANND – PV)…Giờ thì, nhà tôi đang nằm tại nghĩa trang liệt sĩ của quê nhà. Hôm nay, nhân ngày 27-7, con gái tôi cúng từ Sài Gòn ra thăm rồi về quê thắp hương cho cha.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Ba, 2012, 05:54:38 pm
        Liệt sĩ Nông Văn Hưởng (còn gọi là Nông Văn Kiên) sinh năm 1932, quê tại chợ Đồn (Bắc Cạn). Sau khi thoát ly gia đình, ông được đào tạo trở thành một sỹ quan an ninh, thuộc lực lượng trinh sát kỹ thuật. Ông được vinh dự tham gia bảo vệ, phục vụ Hội nghị Paris. Sau khi Hiệp định Paris được kí kết. Thượng uý Nông Văn Hường được đưa vào trại Davis tham gia Ban bảo vệ an ninh do đồng chí Vũ Nam Bình làm trưởng ban. Trong thời gian làm nhiệm vụ trinh sát kỹ thuật trong Ban bảo vệ an ninh, thượng uý Nông Văn Hưởng và các đồng sự của mình đã phát hiện, ngăn chặn nhiều hoạt động gián điệp của Mỹ - nguỵ. Ngoài âm mưu móc nối; lôi kéo người của ta; đặt máy nghe trộm; ly gián gây mất đoàn kết nội bộ của ta; địch còn tính tới những thủ đoạn hèn hạ như đầu độc nguồn nước, thực phẩm, bắt cóc lãnh đạo phái đoàn; thậm chí cho bọn lưu manh, côn đồ khiêu khích và kiếm cớ tấn công vào trại hành hung anh em ta. Trải qua 823 ngày đêm hoạt động công khai, kiên cường giữa trung tâm đầu não của kẻ địch, phái đoàn ta đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm thi hành Hiệp định Paris; trong đó có sự đóng góp cực kỳ quan trọng của công tác an ninh.

        Khi chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu, lãnh đạo đoàn ta tại trại Davis đã tính tới những phương án, tình huống xấu nhất như: Địch sẽ điên cuồng tấn công vào trại sát hại cán bộ, nhân viên của ta. Vì vậy, công tác sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ người, phương tiện, tài liệu được tính toàn chi tiết. Ông Phạm Văn Lãi, một  cán bộ chính trị của trại Davis (người đã cắm lá cờ của cách mạng trên tháp nước tại trại Davis lúc 9h30’ ngày 30/4/1975, hiện đang công tác tại văn phòng chính phủ) nhớ lại:

        -  Anh Hưởng rất đẹp trai, thư sinh, tính điềm đạm và chín chắn. Chúng tôi kém anh Hưởng nhiều tuổi nhưng anh em sống hoà thuận, rất thân thiết, gắn bó với nhau…Để chuẩn bị cho chiến dịch Hồ Chí Minh, chúng tôi đã xây dựng kế hoạch sẵn sàng chiến đấu tỉ mỉ. Trong một cuộc tập dượt sơ cứu thương binh, tôi nêu một câu hỏi: Nếu chẳng may có người bị trúng mảnh pháo đứt động mạch cảnh thì cấp cứu thế nào? Một bác sĩ trả lời: Đây là trường hợp đặc biệt nguy hiểm, hầu như không thể cứu chữa được, trừ trường hợp gần cơ sở y tế Trung tâm có thể tiến hành đại phẫu…Có ngờ đâu, sau này chính anh Hưởng đã hi sinh trong tình huống này, chỉ trước 1 ngày Sài Gòn được giải phóng!

        Nhớ lại những ngày tháng tư lịch sử ấy, ông Lãi kể:

        -  Từ rạng sáng ngày 29-4-1975, trọng pháo của ta dồn dập giội xuống sân bay Tân Sơn Nhất. Các thành viên phái đoàn vẫn người nào việc nấy. Đồng chí Hưởng được giao nhiệm vụ chụp ảnh các đơn vị chiến đấu của quân nguỵ đang vội vã tháo chạy…Những anh em cảnh vệ vẫn kiên quyết bám sát mục tiêu bảo vệ. Bất ngờ, có một quả đạn pháo 130ly nổ rất gần. Hai cán bộ ta đang làm nhiệm vụ bị trúng mảnh pháo là đồng chí Hưởng và đồng chí Hoà, bị thương nặng. Đồng chí Hưởng bị mảnh pháo găm vào cổ, máu trào ra rất nhanh. Các đồng chí đã hi sinh vào khoảng cuối giờ chiều 29-4.

        Giữa cảnh bom rơi, đạn nổ, tôi và anh Phạm Văn Hồng (cán bộ hậu cần) và một số anh em cảnh vệ đã tiến hành khâm liệm cho hai liệt sĩ. Hai anh được mặc quần áo mới, đi tất, giày. Lúc đó cũng chưa biết chính xác bao lâu nữa thì Sài Gòn được hoàn toàn giải phóng, nên chúng tôi kiếm được hai túi ni – lon loại lớn và đào hố dưới một căn hầm dã chiến để các anh nằm tạm. Chiều hôm sau, khi quân giải phóng đã làm chủ Sài Gòn, chúng tôi tìm gỗ và đóng hai áo quan, rồi đưa các anh ra an nghỉ tại phía sân bóng rổ của trại Davis…Sau giải phóng vài năm, thì cơ quan và gia đình anh Hưởng đưa hài cốt về quê.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Ba, 2012, 08:03:34 am

TRẠI ĐAVÍT
TRẬN ĐỊA CÁCH MẠNG GIỮA TRUNG TÂM SÀO HUYỆT ĐỊCH

Đại tá Nguyễn Văn Bổ              
     
        Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được các bên tham gia hội nghị ký ngày 27/1/1973. Theo Hiệp định các bên cử ra Ban liên hợp quân sự có nhiệm vụ phối hợp hành động trong việc thi hành những điều khoản về quân sự của hiệp định. Ban liên hợp quân sự Trung ương đóng tại Sài Gòn và 7 Ban liên hợp quân sự khu vực đóng tại Huế, Đà Nẵng, Plâycu, Phan Thiết, Biên Hòa , Mỹ Tho và Cần Thơ.
   
        Mỹ – ngụy bố trí để hai đoàn đại biểu quân sự ta trong Ban liên hợp quân sự Trung ương ở Trại Đavít bên trong sân bay Tân Sơn Nhất giữa căn cứ quân sự khổng lồ của kẻ thù. Gần 300 cán bộ , chiến sỹ ta đã hiện diện giữa lòng địch; vượt qua mọi khó khăn , gian khổ và vây hãm của kẻ thù, hiên ngang, kiên định thực hiện nhiệm vụ đấu tranh ngoại giao quân sự để buộc đối phương phải nghiêm chỉnh thi hành hiệp định Pari về Việt Nam.
   
        Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Dy Niên nói: “nếu như hội nghị Pari về Việt Nam là thắng lợi của cuộc đấu tranh ngoại giao kéo dài, đầy khó khăn và phức tạp thì cuộc đấu tranh buộc đối phương phải thi hành các điều khoản của hiệp định Pari cũng là cuộc đấu trí, đấu lý hết sức cam go và quyết liệt” (trích lời phát biểu của đ/c Nguyễn Dy Niên trong buổi lễ trao tặng kỷ niệm chương “ về thành tích đóng góp vào việc thi hành hiệp định Pari về Việt Nam” ngày 16/12/2005).


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Ba, 2012, 08:07:32 am

Mưu đồ đen tối của kẻ thù
   
        Sau ngày giải phóng Sài Gòn, 2/5/1975 đồng chí Lê Đức Thọ – ủy viên Bộ Chính trị, cố vấn đặc biệt của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại hội nghị Pari, vào dự họp với tư lệnh các chiến trường tại Trại Đavít. Đồng chí thăm nơi ở và  làm việc của cán bộ, chiến sĩ hai đoàn đại biểu quân sự ta, đồng chí ngạc nhiên nói:

        -  Ở Pari phái đoàn Mỹ và chính quyền Sài Gòn đưa cho xem tấm ảnh khu nhà 3 tầng to đẹp, rộng rãi. Họ nói là sẽ bố trí cho hai đoàn đại biểu quân sự Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ở đây. Thế mà để anh em ta sống mấy năm trời trong khu nhà lụp sụp như thế này . Họ lừa dối quá đáng.
   
        Trại Đavít vốn là doanh trại dã chiến của một đơn vị chuyên môn thuộc không quân Mỹ, từ năm 1960 trở đi được chuyển thành trung tâm huấn luyện bọn biệt kích (mũ nồi xanh).
   
        Mỹ đặt tên Đavít để tưởng niệm tên người lính Mỹ đầu tiên chết trận tại miền Nam Việt Nam.
   
        Mấy chục căn nhà trong Trại Đavít đều làm bằng gỗ thông, sàn gỗ cách mặt đất 50-60 cm, mái lợp Fibrô-xi-măng , ở và làm việc tại đây rất nóng bức, cộng với tiếng gầm rú của máy bay lên xuống cứ 4,5 phút một chuyến cất và hạ cánh, khiến môi trường sống rất căng thẳng.
   
        Với ý đồ cô lập ta, không để ta tiếp xúc với nhân dân Sài Gòn và còn sợ ta liên lạc với lực lượng biệt động Sài Gòn nên quanh Trại Đavít từ trước đã có hàng rào dây thép gai, địch lại bổ xung thêm lượt rào kẽm gai nữa, xung quanh hàng rào có hào sâu và rộng tới 2m, với nhiều vọng gác dầy đặc, có trên một chục điểm đặt máy nghe nhìn từ mặt đất đến các cao điểm, ngay cả trong trụ sở chúng cũng cài sẵn máy nghe trộm ở một số nhà, trước cổng trụ sở là đơn vị lính dù của ngụy, bên cạnh trụ sở là mấy dãy nhà (khu gia binh). Từ đó đối phương hy vọng sẽ vây hãm và theo dõi hoạt động của 2 phái đoàn ta.
   
        Địch cài những tên an ninh, mật vụ núp dưới danh nghĩa sỹ quan liên lạc, lái xe, nhà thầu, thợ sửa chữa điện, nước, nhân viên vệ sinh và cả trong số các nhà báo thường tiếp xúc với ta để thu thập tình báo và tác động chiến tranh tâm lý đối với cán bộ chiến sỹ ta. Mỗi lần đấu tranh căng thẳng trên bàn hội nghị bất lợi cho chúng hoặc ngoài chiến trường quân ta đánh mạnh ở một nơi nào đó, địch lại giở trò cắt điện, cắt nước, cắt chuyến bay, không cho nhà thầu vào đưa hàng v.v… gây khó khăn cho ta về đời sống sinh họat. Chúng còn trắng trợn, thô bạo cho xe tăng và lính ngụy bao vây trụ sở ta để uy hiếp, đe dọa lúc hai đoàn ta mới vào treo cờ Tổ quốc trong trụ sở hoặc có lần do sơ xuất, trên máy bay từ Hà Nội vào Sài Gòn bị cháy nhẹ, địch đã lợi dụng cho báo chí, đài phát thanh làm rùm beng “Bắc Việt đưa chất nổ cực mạnh vào” rồi cắt chuyến bay dài ngày và hạn chế số lượng hàng hóa đưa vào của các chuyến bay liên lạc. Ta đã lên án và phản đối kịch liệt.
   
        Qua công tác nắm tình hình, ta biết địch đã có kế hoạch rất chi tiết về theo dõi kiểm soát hoạt động của hai phái đoàn ta, chúng triệt để khai thác sơ hở của ta, dùng tâm lý chiến móc nối, lôi kéo, thậm chí bắt cóc người của ta rồi khống chế, vu khống là “chiêu hồi về với chánh nghĩa Quốc gia”. Địch có kế hoạch tình báo hỗn hợp để đánh vào hai phái đoàn ta, chúng cho rằng những thành viên của hai phái đoàn ta chắc chắn đã được lựa chọn rất kỹ, hầu hết là những “phần tử trung kiên” nên không dễ dàng bị lôi kéo. Song có thể một số thành viên của phái đoàn có người thân thích, ruột thịt đang làm việc cho địch hoặc sống tại vùng địch kiểm soát, sau bao năm kháng chiến gian khổ, giờ được sống giữa thành phố Sài Gòn hoa lệ, nhất là đối với số thành viên trẻ, biết đâu sẽ có người giao động trước những cám dỗ. Sau ngày 30/4/1975 tên đại tá Nguyễn Văn Học, nguyên Trưởng phòng phản tình báo Cục An ninh quân đội ngụy đã khai nhận đúng như vậy. Nguyễn Văn Học còn khai thêm những âm mưu, thủ đoạn hết sức manh động và hèn hạ của các cơ quan an ninh, tình báo ngụy. Trong trường hợp chiến trường có những đột biến bất lợi, chúng sẽ đầu độc nguồn nước, thực phẩm, bắt cóc cán bộ lãnh đạo của phái đoàn ta hoặc cho bọn lưu manh côn đồ khiêu khích, kiếm cớ hành hung cán bộ chiến sỹ ta, thậm chí giai đoạn cuối địch đã có ý định hủy diệt hai phái đoàn ta,  nhưng vì ta giải phóng Sài Gòn quá nhanh, bọn chúng lo chạy thoát thân nên không kịp hành động



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Ba, 2012, 06:28:29 pm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/6gThapcanhbenngoaitraiDa-vit.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/6f.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/6gThapcanhbenngoaitraiDa-vit2.jpg)

Hàng rào, tháp canh xung quanh trại Đa-vít


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Ba, 2012, 06:44:22 pm

Tư thế của người chiến thắng, của đội quân có văn hóa

        Hai đoàn đại biểu quân sự Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam có mặt ngay từ ngày đầu theo quy định của Hiệp định (28/1/1973) và trụ lại đến ngày cuối cùng giải phóng Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam (30/4/1975)
   
        Những cán bộ, chiến sỹ quân đội của nhiều quân binh chủng và một số cán bộ nhân viên ngoài quân đội trưởng thành từ nhiều chiến trường, quê quán ở mọi miền đất nước đã được lựa chọn để hình thành hai đoàn đại biểu quân sự ta trong Ban liên hợp quân sự bốn bên, sau đó là Ban liên hợp quân sự hai bên và Tổ Liên hợp quân sự bốn bên về mồ mả và người mất tích.
   
        Bất chấp những khó khăn, vất vả về đời sống vật chất, tinh thần và những mưu ma chước quỷ của kẻ thù, cán bộ , chiến sỹ ta luôn giữ vững bản lĩnh chính trị của người lính “Cụ Hồ” sống hiên ngang, công khai, chững chạc với tư thế của người chiến thắng ngay trong lòng địch.
   
        Kẻ thù tìm mọi cách vât hãm, gây nhiều khó khăn cho ta, dù bị đối xử bằng những lời lẽ và hành vi thô bạo nhưng những người lính “Cụ Hồ” vẫn cư xử lịch sự, nói năng đúng mực với mọi người xung quanh từ những người phục vụ như lái xe, làm vệ sinh, người đưa hàng, vợ con lính ngụy bên “khu  gia binh” sát hàng rào… đến  những nhà báo nước ngoài, các sỹ quan trong Uỷ ban Quốc tế đều thể hiện rõ phong thái của người lính có văn hóa. Chúng ta đã tạo cho mình một cuộc sống ung dung, đàng hoàng, tự đào giếng lấy nước ăn phòng khi địch cắt điện, cắt nước, mang máy phát điện từ Hà Nội vào dùng khi cần thiết, địch rất ngạc nhiên khi chúng cắt điện , cắt nước mà vẫn thấy ta sinh hoạt và làm việc bình thường như không có gì xảy ra. Chúng ta trồng các loại rau xanh, trồng nhiều hoa như layơn, đồng tiền, hồng , cúc v.v… mang giống từ làng Ngọc Hà , Hà Nội đưa vào, một phần để cải thiện đời sống, phần khác để tạo môi trường xanh, sạch , đẹp. Các buổi họp báo vào dịp ngày lễ, ngày Tết, đoàn ta thường tặng hoa cho các nhà báo nữ, họ rất ngạc nhiên khi biết đó là hoa do chính người lính Cộng sản trồng trong trại Đavít chứ không phải đưa từ Đà Lạt về.
   
        Chúng ta duy trì nếp sống sinh hoạt bình thường hàng ngày có kỷ luật, trật tự, sạch sẽ. Sáng nào cũng tập thể dục đều, hô to chẳng khác nào như ở doanh trại ngoài Hà Nội; chiều thể thao bóng chuyền, bóng rổ, bóng bàn, ténnít v.v…; hàng tuần chiếu phim đều đặn và tổ chức ca nhạc, có buổi cho cả các nhà báo, sỹ quan của Uỷ ban Quốc tế và nhân viên phục vụ người của phía bên kia cùng xem trong không khí lạc quan yêu đời của những người lính cách mạng sống trong lòng địch. Khi tiếp xúc với ta, nhiều nhà báo và các sỹ quan của đoàn Hunggari, Balan trong Uỷ ban Quốc tế đã phải thốt lên “chỉ có mỗi đội quân này phải chịu đựng như thế mà vẫn có cuộc sống tươi vui”. Ngày lễ, ngày chủ nhật nhiều đồng chí của hai đoàn bạn Hunggari, Balan thường vào trụ sở đoàn ta vui chơi, giao lưu văn hóa…
   
        Với ý thức cảnh giác cao và nhạy bén về chính trị, cán bộ chiến sỹ ta đã tiến hành nhiều biện pháp che mắt địch, bịt tai địch, vô hiệu hóa các phương tiện kỹ thuật hiện đại của chúng: Tháo gỡ máy địch cài lại, xây dựng một số phòng họp kín không phát tiếng động ra ngoài, ngụy trang lúc cần thiết, thực hiện nghiêm kỷ luật giữ bí mật, từ mảnh giấy nháp đến tờ giấy than đánh máy đều được hủy ngay sau khi sử dụng, không bàn công việc nhất là nội dung đấu tranh ở ngoài phòng họp kín. Có bác sỹ sinh hóa chuyên kiểm tra nước ăn, thực phẩm v.v… Một dẫn chứng cho lĩnh vực này là trước khi quân ta tổng công kích vào Sài Gòn, cán bộ chiến sỹ ta liên tục đào hầm hàng chục ngày đêm để chuẩn bị chiến đấu, đã đào được trên 40 cái hầm có nắp tránh được pháo hạng nặng và hệ thống giao thông hào từ nhà nọ sang nhà kia, có nhiều đọan phải qua chỗ trống trải mà bọn lính ngụy gác sát bờ rao vẫn không hề hay biết, sau ngày giải phóng Sài Gòn, một số tên ngụy làm việc trong Ban liên hợp quân sự không kịp di  tản đã khai nhận có làm tình báo và chiến tranh tâm lý nhưng vấp phải đối thủ rắn quá nên hầu như không có hiệu quả; ngược lại ta đã khai thác được một số tin tức quan trọng qua số người đối  phương phái vào làm việc.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Ba, 2012, 06:56:56 pm
   
        Cán bộ chiến sỹ ta có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định trong đấu tranh nên địch rất gờm. Song chúng thường nhằm đến các sỹ quan trẻ của ta để tác động, lôi kéo vì chúng cho rằng họ còn ít kinh nghiệm và chưa được tôi luyện , thử thách nhiều qua chiến đấu. Một hôm , nhân giải lao cuộc họp bàn về trao trả tù binh, viên thiếu tá ngụy Đinh Công Chất (tiểu ban trao trả) lại gần một thiếu úy trẻ của ta làm quen, khi câu chuyện đã bớt khách khí, viên sỹ quan ngụy tặc lưỡi và nheo mắt nửa đùa, nửa thật

        -  Sang với tụi mình đi, sung sướng lắm, đủ các mùi, các vị…

        Đồng chí thiếu úy trẻ của ta quắc mắt, đập trả

        -  Này, chiến tranh tâm lý kiểu gì đấy! Có mà vứt vào sọt rác thôi.

        Tên Chất thẹn quá, vội chuồn thẳng. Còn viên đại tá ngụy Dương Đình Thụ thì hỏi với giọng điệu rất ngạo mạn và khiêu khích một đại úy của ta

        -  Này đại úy! Các trưởng tiểu ban bên tôi đều là đại tá, cấp trưởng các tiểu ban bên anh thì toàn là trung tá, chênh lệch cấp và trình độ như thế, tôi thấy khi ngồi họp rất bất tiện. Đồng chí đại úy của chúng ta dõng dạc đối lại:

        -  Tôi xin trao đổi với ông hai vấn đề: Thứ nhất, ngay cả tổng thống của các ông cũng không so sánh được với chiến sỹ của chúng tôi đâu, tổng thống của các ông là kẻ bán nước, còn chiến sỹ của chúng tôi là người bảo vệ Tổ quốc. Thứ hai, hiện giờ chỉ huy cấp sư đoàn của chúng tôi hầu hết là trung tá, thượng tá. Nhưng thưa ông đại tá! Qua thực tế trên chiến trường, nhiều sư đoàn tinh nhuệ do những sỹ quan chỉ huy cấp tướng của các ông cầm quân, lại có sự giúp sức của cố vấn Mỹ, song đều bị chúng tôi đánh cho tơi tả. Vì vậy đại tá của các ông cũng không thể so sánh với trung tá của chúng tôi được

        Khẩu khí của một đại úy “Việt cộng” khiến đại tá Dương Đình Thụ tái mặt và phải lánh đi nơi khác.

        Sau ngày 30/4/1975 viên đại tá trưởng phòng phản tình báo ngụy Nguyễn Văn Học khai:

        -  Chúng tôi đã gặp một đối thủ quá cứng rắn. Tất cả những lần tiếp xúc thông thường thì không sao, nhưng khi đụng vào những nội dung cần thiết thì đều bị đánh bật ra, khiến những sỹ quan có hạng của chúng tôi cũng phải lắc đầu.

        Song song với công tác đấu tranh với địch, lãnh đạo của hai đoàn ta cũng luôn quan tâm đến công tác quản lý chính trị nội bộ, giữa lúc đoàn Hunggari và Balan trong Uỷ ban Quốc tế đã có người bị chiến tranh tâm lý tác động , lôi kéo. Còn cán bộ, chiến sỹ ta thì rất kiên cường và tỉnh táo, không xảy ra vụ việc gì đáng tiếc.
   
        Khi quân ta chuẩn bị tổng công kích vào Sài Gòn, sào huyệt cuối cùng của địch, Bộ tổng tư lệnh và Tư lệnh miền đều quan tâm đến việc bảo đảm an toàn cho cán bộ chiến sỹ ta ở trại Đavít, đã có kế hoạch cử một sư đoàn kết hợp với đặc công đưa hai phái đoàn ta rút ra ngoài, nhưng lãnh đạo hai đoàn ta đã hạ quyết tâm vẫn ở tại chỗ tham gia cùng đại quân chiến đấu  giải phóng Sài Gòn. Lãnh đạo hai đoàn đã có phương án tác chiến cụ thể: Phòng địch pháo kích từ xung quanh vào trụ sở, đánh xe tăng và bộ binh địch nếu chúng tấn công vào trụ sở, phòng tránh bom của địch, thậm chí địch có thể thả cả chất độc hóa học. Chiều ngày 28/4/1975 hai biên đội máy bay ta ném hai loạt bom trúng đội hình máy bay chiến đấu của địch ngay sát hàng rào trụ sở của đoàn , mảnh bom và đất đá bay tứ tung sang các nhà của đoàn ở nhưng do có chuẩn bị hầm hào trước nên không có ai bị thương vong. Sáng ngày 29/4/1975 pháo ta bắn dồn dập vào các mục tiêu của địch trong thành phố và khu vực sân bay Tân Sơn Nhất, trong khi đó pháo của địch ở Bộ tổng tham mưu của chúng (lăng Cha Cả) cũng bắn ra, giữa lúc trại Đavít chỉ là một chấm nhỏ trên bản đồ của khu vực sân bay Tân Sơn Nhất nên không tránh khỏi sự tản mát của đạn pháo. Trong khi đang làm nhiệm vụ quan sát trên hầm nổi bằng bêtông của Mỹ trước đây, đồng chí đại úy Nông Văn Hưởng (tức Kiên) và đồng chí trung sỹ Nguyễn Văn Hòa đã trúng đạn pháo, anh em kịp thời đưa xuống giao thông hào rồi chuyển về hầm cấp cứu của quân y, do vết thương quá nặng nên hai đồng chí đã hy sinh sau đó 1 giờ. Anh em chôn cất hai đồng chí ngay bên cạnh hào giao thông vì đang chiến đấu không lên được mặt đất. Sáng hôm sau 30/4/1975 ta giải phóng Sài Gòn, có điều kiện chiều 30/4/1975 anh em đã xẻ gỗ đóng quan tài , làm lễ truy điệu xong chôn cất hai đồng ý ở sân bóng rổ trong trụ sở, ngoài hai đồng chí hy sinh còn năm đồng chí khác bị thương, trong đó có đồng chí Nguyễn Tiến Bộ bị nặng hơn, chuyển bằng máy bay ra Hà Nội, sau đó phải cưa mất một chân.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Ba, 2012, 06:59:25 pm
        Trong đấu tranh ngoại giao đã phải vượt qua biết bao khó khăn, gian khổ, tình đồng chí, đồng đội luôn sát cánh bên nhau, khi chiến đấu vũ trang, sống chết có nhau, tình đồng chí đồng đội lại càng gắn bó hơn.
   
        Trụ sở của hai đoàn đại biểu quân sự ta ở trại Đavít đã trở thành một ốc đảo cách mạng, như một căn cứ lõm giữa sào huyệt kẻ thù, được pháp lý của hội nghị Pari thừa nhận, một trận địa cách mạng công khai ngay trong lòng địch.

        Dựa vàp ưu thế chính nghĩa, dựa vào lợi thế pháp lý và ngoại giao của Hiệp định Pari mang lại, dựa vào sức mạnh của ta ngày càng thắng lợi trên chiến trường. Từ nơi đây, hai đoàn đại biểu quân sự ta đã dõng dạc tố cáo, vạch trần những âm mưu thủ đoạn và mọi hành động phá hoại Hiệp định Pari một cách có hệ thống của Mỹ, ngụy, lý giải một cách thuyết phục sự cần thiết và chính đáng các hành động vũ trang bắt buộc của ta giáng trả sự phản bội của đối phương trước dư luận trong nước và thế giới.
   
        Trại Đavít, địch hy vọng sẽ vây hãm và cô lập ta, nhưng chính từ nơi đây, các sỹ quan liên hợp của hai đoàn đại biểu quân sự ta có vài chục lần được cử đi cùng Uỷ ban Quốc tế giám sát quân Mỹ và quân các nước chư hầu rút khỏi miền Nam Việt Nam, giám sát các đợt trao trả của các bên, giám sát, kiểm tra các trại giam của địch giam giữ người của ta và điều tra các vụ việc vi phạm hiệp định của đối phương. Ngoài ra, tháng nào hai đoàn ta cũng có vài lần vào Sài Gòn làm việc với Đoàn Hunggari và Balan trong Ủy ban Quốc tế, mỗi lần vào thành phố đều thấy nhân dân vui mừng và vẫy chào (thời gian ta mới vào), về sau chỉ thấy dân nở nụ cười thông cảm, có lẽ bị cảnh sát đàn áp…
   
        Nơi đây, ta đã có quan hệ tiếp xúc với đại diện của gần 80 hãng thông tấn báo chí, phát thanh truyền hình trên thế giới. Trong hơn hai năm ta đã tổ chức hàng trăm cuộc họp báo, tiếp hàng ngàn lượt nhà báo quốc tế, phần lớn lúc đầu họ chưa mấy cảm tình với cách mạng nhưng càng về sau càng hiểu rõ sự nghiệp chính nghĩa của ta cho đến khi Sài Gòn và miền Nam được hoàn toàn giải phóng, các tin tức bình luận được phát đi từ Sài Gòn đều nhấn mạnh tương đối khách quan thắng lợi trọn vẹn của ta, không có hiện tượng phê phán, bài xích…
   
        Cũng từ nơi đây, hai đoàn đại biểu quân sự ta đã phối hợp, hợp tác với Ủy ban Quốc tế ngay từ đầu. Mặc dù âm mưu của Mỹ-ngụy rất thâm độc, thái độ của các thành viên đối lập (Inđônêxia, Canada) trong Ủy ban Quốc tế rất xấu, nhưng ta và các thành viên XHCN (Hunggari, Balan) đã phối hợp đấu tranh tốt, đem lại một số kết quả tích cực. Nổi bật là:
   
        - Trong thi hành hiệp định, ta nắm vững và kiên quyết đấu tranh để bảo vệ và thực hiện triệt để thành quả pháp lý nói trên, giữ cho Ủy ban Quốc tế hoạt động theo đúng tinh thần và lời văn của hiệp định trong thực thi nhiệm vụ của mình, bảo đảm tính vô tư, khách quan.
   
        - Uỷ ban Quốc tế đã thực hiện được nhiệm vụ kiểm soát và giám sát quân Mỹ, quân các nước chư hầu rút hết ra khỏi miền Nam Việt Nam và một số đợt trao trả tù binh, tù dân sự.
   
        - Trong tổng số 390 cuộc điều tra Uỷ ban Quốc tế đã tiến hành, đã kết luận 5 vụ ngụy Sài Gòn vi phạm hiệp định, trong khi đó Uỷ ban Quốc tế  đã không có một kết luận vi phạm nào đối với phía ta.
   
        - Ta đã gửi đến Uỷ ban Quốc tế  một số lượng Công hàm áp đảo để tố cáo, vạch mặt địch phá hoại hiệp định, đẩy mạnh chiến tranh; Qua đó góp phần vào cuộc đấu tranh dư luận chung, tạo thuận lợi cho hỗ trợ và phục vụ chiến trường.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Ba, 2012, 07:02:03 pm
        Trại Đavít, trụ sở của hai đoàn đại biểu quân sự ta mà Mỹ-ngụy có ý đồ bằng mọi cách cô lập thì trong những ngày cuối cùng của chiến tranh lại là nơi chúng đến cầu cạnh nhiều nhất, từ tên Mắc Tin đại sứ Mỹ bắn tin qua đoàn Hunggari để được gặp đoàn ta nhưng ta không trả lời. Ba đoàn khác gồm Bộ trưởng, linh mục, luật sư do những tên đầu sỏ ngụy Sài Gòn cử đến với danh nghĩa lực lượng thứ ba, để thăm dò, tìm hiểu ý đồ và mục tiêu cuối cùng của ta, số thì xin gặp trưởng đoàn ta, số thì xin ra gặp Hà Nội v.v… đều bị ta bác bỏ.
   
        Và chính nơi đây "Là một hàn thử biểu báo thời tiết chính trị, quân sự đặt ngay trong lòng địch" như lời của đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng tư lệnh quân đôi nhân dân Việt Nam đánh giá.
   
        Đại tướng Văn Tiến Dũng - Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh thì nhận xét rằng:

        -  Các đồng chí của ta ở Tân Sơn Nhất có một thế đứng riêng, thế đứng công khai, hiên ngang giữa lòng địch, thế đứng đó không những tiêu biểu cho cách mạng, cho chính nghĩa về mặt chính trị mà nó còn giúp cho Đảng hiểu thêm lòng dân với sự nghiệp giải phóng và hiểu kẻ thù trước những ngày chúng giẫy chết.
   
        Thượng tướng Trần Văn Trà - Tư lệnh quân giải phong miền Nam, phó tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, ngày 3/5/1975 vào thăm và tuyên bố:

        -  Quân ủy miền công nhận đơn vị Trại Đavít là một tiền tiêu của chiến dịch Hồ Chí Minh.
   
        Trong suốt 823 ngày đêm đấu tranh ngoại giao quân sự giữa sào huyệt của kẻ thù, với lòng quả cảm, kiên cường, các chiến sỹ cách mạng đã giương cao ngọn cờ chính nghĩa của Tổ quốc Việt Nam, phát huy cao độ tinh thần yêu nước, dũng cảm, mưu trí, chủ động tấn công địch, đồng thời hai đoàn đại biểu quân sự ta đã thể hiện sự khôn khéo, nhạy bén, mềm dẻo theo phương châm "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh.
   
        Dựa vào chính nghĩa của cuộc đấu tranh cách mạng, dựa vào pháp lý của Hội nghị Pari, được sự chỉ đạo chặt chẽ của trên và có thắng lợi giòn giã của quân dân ta trên chiến trường cổ vũ, những chiến sỹ trên mặt trận ngoại giao quân sự mà tiêu biểu là các chiến sỹ tại trại Đavít đã đấu tranh sắc sảo, chiến thắng kẻ thù và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần đắc lực vào việc thực hiện Hiệp định Pari, buộc quân xâm lược Mỹ và quân các nước chư hầu phải rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam ngày 29/3/1973, buộc địch phải trao trả những cán bộ, chiến sỹ của ta bị địch bắt và nhân viên dân sự, những cán bộ chính trị, cơ sở cách mạng của ta. Đó là sự đấu tranh kiên định cho một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Chấm dứt hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ.
   
        Trại Đavít trở thành một biểu tượng sáng ngời tư tưởng cách mạng tiến công và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, một sự kiện chưa từng thấy trong lịch sử chiến tranh trên thế giới.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Ba, 2012, 07:07:02 pm

TRÍCH BÀI PHÁT BIẾU
CỦA BỘ TRƯỞNG NGOẠI GIAO NGUYỄN DY NIÊN
TẠI LỄ TRAO TẶNG KỶ NIỆM CHƯƠNG
VỀ THÀNH TÍCH ĐÓNG GÓP VÀO VIỆC
THI HÀNH HIỆP ĐỊNH PARIS VỀ VIỆT NAM.
             
     
        Tại Hà Nội ngày 16 tháng 12 năm 2005 Sau khi thay mặt Bộ Ngoại giao hoan nghênh và chào mừng các đồng chí có mặt trong buổi lễ và bầy tỏ lòng trân trọng đối với công lao đóng góp to lớn của tất cả cán bộ chiến sỹ đã tham gia "Ban liên hiệp quân sự 4 bên và 2 bên từ ngày 28 tháng 1 năm 1973 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 đồng chí Bộ trưởng nói.

        " Nếu như hội nghị Paris về Việt Nam là thắng lợi của cuộc đấu tranh ngoại giao kéo dài, đầy khó khăn và phức tạp thì cuộc đấu tranh buộc đối phương phải tuân thủ các điều khoản của Hiệp định Paris cũng là cuộc đấu trí, đấu lý hết sức găy go và quyết liệt ".

        Từ sau khi hiệp định Pans được ký kêt ngày 27 tháng 01 năm 1973, tại trại Đa -Vít bên trong sân bay Tân Sơn Nhất giữa một căn cứ quân sự khổng lồ của kẻ thù và trên 7 khu vực ở miền Nam Việt Nam cũng như một số địa phương có trên một nghìn cán bộ chiến sỹ cách mạng vào sống trong vùng của đối phương kiểm soát làm nhiệm vụ đấu tranh ngoại giao quân sự để thi hành hiệp định Paris về Việt Nam.

        Từ chiến trường khốc liệt với tiếng súng, tiếng bom các đồng chí đã bước vào cuộc chiên đấu mới, cuộc chiến đấu về ngoại giao quân sự xung quanh những vấn đề quan trọng đầu tiên của Hiệp định Pans.

        - Đó là vấn đề ngừng bắn và vấn đề quân Mỹ, quân chư hầu của Mỹ phải rút hết khỏi miền nam Việt Nam.

        - Đó là vấn để trao trả nhân viên quân sư bị bắt,thường dân nước ngoài bị bắt và nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ "

        "Trong suốt thời gian làm nhiệm vụ đấu tranh ngoại giao quân sự giữa sào huyệt của địch, với lòng quả cảm các đồng chí đã dương cao ngọc cờ quang vinh của Tổ quốc Việt Nam, ngọn cờ bách chiến bách thắng của lực lượng vũ trang cách mạng, phát huy cao độ tinh thần yêu nước, dũng cảm mưu trí, chủ động tấn công địch đồng thời thể hiện sự, khôn khéo, nhạy bén, mềm dẻo theo phương châm " Dĩ bất biến ứng vạn biến " của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh.

        "... Dựa vào chính nghĩa của cuộc đấu tranh cách mạng, dựa vào pháp lý của Hiệp định Paris, được thắng lợi ròn rã của quân dân ta trên chiến trường cổ vũ những chiến binh trên mặt trận ngoại giao quân sự mà tiêu biểu là các chiến binh tại trại Đa -Vít trong suốt 823 ngày đêm đã đấu tranh hết sức sắc sảo trước kẻ thù. Đồng thời hơp tác và tranh thủ một cách có hiệu quả với Uỷ ban Quốc tế mà đặc biệt là với đoàn Hungari và Ba lan.

        Các đồng chí đã hoàn thành xuất săc nhiệm vụ.

        Đã góp phần tích cực đấu tranh thúc đẩy quân viễn chinh Mỹ và quân chư hầu phải rút hoàn toàn ra khỏi miền nam Việt Nam ngày 29 tháng 3 năm 1973.

        Đã đấu tranh góp phần buộc địch phaỉ trao trả phần lớn những cán bộ chiến sỹ của ta bị địch bắt và một số nhân viên dân sự - những cán bộ chính trị, cơ sở cách mạng cuả ta.

        Góp phần đấu tranh một cách mạnh mẽ, kịp thời, với tư thế của đội quân chiến thắng có mặt tại sào huyệt của địch,vạch trần những âm mưu thủ đoạn và mọi hành động phá hoại Hiệp định Paris một cách có hệ thống của Mỹ- Nguỵ trước dư luận trong nước và thế giới... "

" Đảng và nhà nước ta mãi mãi ghi công những người con ưu tú của Tổ Quốc những đồng chí công tác tại hai đoàn Đại biểu Quân sự Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà và Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam trong ban liên hợp quân sự 4 bên và 2 bên.

        Các đồng chí đã sống, chiến đấu và cống hiến hết mình cho ngày toàn thắng của dân tộc, xứng đáng được mọi thế hệ hôm nay và mai sau ghi nhớ và biết.

        Các đồng chí là tấm gương sáng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, lòng quả cảm và tính kiên định về đấu tranh cách mạng và là sự kết hơp rất đẹp giữa Nhân - Trí - Dũng "

        Đến hôm nay, một số các đồng chí đã Vĩnh biệt chúng ta, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho đồng bào, đồng chí.

        Chúng ta mãi mãi ghi nhớ công lao to lớn của các đổng chí đã đi xa và xin phép được chia sẻ nỗi nhớ thương với những người thân của các đồng chí đó.

        Để biểu dương những thành tích và đóng góp to lớn của các đồng chí trên mặt trận đặc biêt này thay mặt lãnh đạo Bộ Ngoại giao. Tôi trân trọng trao tặng các đồng chí kỷ niệm chương về thành tích đóng góp vào việc thi hành Hiệp Định Paris về Việt Nam. "

        Và cuối cùng Bộ trưởng Nguyễn Dy Niên đã chúc tất cả các đồng chí Cán bộ, chiến sỹ đã tham gia đấu tranh ngoại giao quân sự luôn mạnh khoẻ, tiếp tục phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng của những chiến sỹ "Trại Đa-vít" năm xưa trong công tác và cuộc sống hôm nay.

       
NGƯỜI GHI LẠI           
Vũ Nam Bình             


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Ba, 2012, 07:11:53 pm

NIỀM VUI VÀ TỰ HÀO CỦA NHỮNG NHÀ NGOẠI GIAO MẶC ÁO LÍNH
             
     
        Nhân kỷ niệm 30 năm Đại thắng mùa Xuân, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30.4. 1975 - 30.4.2005) Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Dy Niên đã ký Quyết định số 970/QĐKT ngày 28.04.2005 về việc tặng thưởng Kỷ niệm chương cho cán bộ, chiến sỹ quân đội "đã có những đóng góp to lớn vào việc thi hành Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam tại Ban liên hợp quân sự 4 bên và 2 bên ở trại Đa-vít Tân Sơn Nhất - Sài Gòn - Gia Định từ ngày 27.01. 1 973 đến 30.04. 1975" (Trích Điều 1 - Quyết định số 970/QĐKT ngày 28.04.2005).

        Nhận được tin vui, nhiều anh chị em rất xúc động, vội thông báo ngay cho nhau suốt từ Bắc đến Nam, từ các tỉnh thành gần Trung ương đến những vùng xa xôi, hẻo lánh biết được sự kiện này. Bằng điện thoại, bằng thư từ và bằng các phương tiện có thể đến với nhau gặp trực tiếp trao đổi cho cụ thể, chi tiết hơn. Giờ đây có nhiều đồng chí đã bước vào lứa tuổi "xưa nay hiếm". Một số đồng chí không còn nữa: Anh Trần Văn Trà, anh Lê Quang Hoà, anh Hồ Quang Hoá, anh Trần Văn Danh, anh Bùi Thanh Khiết, anh Nguyễn Văn Sỹ, anh Võ Đông Giang, anh Đoàn Huyên... Nhiều người hiện nay tuổi cao, sức yếu, bệnh tật, đi lại rất khó khăn do di chứng của hai cuộc chiến tranh giải phóng Tổ quốc. Tuy vậy, nhiều anh chị em vẫn cố gắng tìm gặp nhau, ôn lại những tháng năm gian khổ, ác liệt, nằm gai, nếm mật trên các chiến trường. Họ nhớ về một thời đạn bom, một thời khói lửa, khoảng cách của sự sống với cái chết chỉ trong gang tấc nhưng mọi người vẫn lạc quan, tin tưởng tuyệt đối vào ngày thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp cách mạng... Trong suốt cuộc đời binh nghiệp, với khoảng thời gian từ ngày đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai phải cam kết ký vào bản Hiệp định Pa-ri cho đến ngày toàn thắng 30.04.1975, những ai đã từng công tác tại BLHQS 4 bên và 2 bên đều coi đó là một trong những dấu ấn sâu đậm nhất của đời mình.

        Tại mặt trận mới này, không như ngoài chiến trường chúng tôi đối mặt với kẻ thù bằng súng đạn, phải hết sức mưu trí, linh hoạt dũng cảm nhằm bảo toàn tính mạng mình, kiên quyết tiêu diệt kẻ địch. Còn ở đây, đối mặt với kẻ thù trực diện với mình cần có lập trường cách mạng kiên định, hiểu sâu, biết rộng, nắm vững đường lối quan điểm của Đảng, nắm vững nội dung cơ bản của Hiệp định Pa-ri, dùng lý lẽ đấu tranh, bảo vệ công lý...

        Chúng tôi nhớ lại những phút giây có mặt giữa Sài Gòn xung quanh mật thám, mã tà, cảnh sát, an ninh với nhiều mưu ma, chước quỷ, kể cả súng đạn lăm lăm chĩa vào người hòng đe doạ áp đảo. Nhưng chúng tôi chẳng ai nao núng, vẫn ung dung nói cười, trìu mến nhìn nhân dân đang đứng gần đó biểu lộ vẻ thân thiết, ruột thịt. Ngày mới vào Sài Gòn, nhiều đồng chí vẫn còn sốt rét, nước da xạm đen, xanh xao, gày guộc, trên mình còn khét lẹt mùi thuốc súng đạn bom, ngai ngái cay nồng của chất độc hoá học. Mọi người đã ung dung tiến vào trận địa mới - Trận địa ngoại giao quân sự. Ai nấy khẩn trương lao ngay vào công việc, làm quen với văn bản Hiệp định Pa-ri, phải học, phải nghiên cứu kỹ từng câu chữ, từng điều văn ghi trong đó. Vì từ đây sự hiểu biết, nắm chắc nội dung của Hiệp định sẽ là vũ khí chủ yếu để đấu tranh trên trận tuyến mới...

        Ngày 16.12.2005, theo giấy mời của Bộ Ngoại giao, hơn năm mươi cán bộ, chiến sĩ đại diện cho các thành viên Câu lạc bộ truyền thống BLHQS - Trại Đa-vít (Khu vực phía Bắc) về dự buổi lễ trao tặng Kỷ niệm chương tại Nhà khách Chính phủ số 18 Ngô Quyền - Hoàn Kiếm - Hà Nội.

        Buổi sáng mùa Đông đẹp trời, Hà Nội vàng ươm sắc nắng, đường phố nhộn nhịp người xe. Chúng tôi tề tựu tại Nhà khách trước giờ hẹn để được gặp gỡ nhau, chuyện trò sau nhiều ngày xa cách... Nhìn những khuôn mặt thân quen, nếp nhăn của thời gian như hằn sâu hơn, mái tóc nhiều người cũng bạc hơn nhưng nụ cười rạng rỡ, trẻ trung vẫn không hề thay đổi. Người cao tuổi nhất hôm nay là đồng chí Lưu Văn Lợi - Đại tá, Phó trưởng đoàn CPVNDCCH - ngoài chín mươi tuổi mà vẫn minh mẫn, tinh tường. ông vui cười, hóm hỉnh trả lời phỏng vấn của các nhà báo. Anh Năm Bình, anh Tư Kỷ, anh Phú Bằng gày gò nhưng khoẻ khoắn, vui cười cùng các đồng đội có mặt hôm nay. Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên, nguyên tư lệnh Quân khu 6, trưởng đoàn đại biểu quân sự CPCMLTCHMNVN - Khu vực IV - Phan Thiết. Thiếu tướng Nguyễn Đôn Tự - nguyên trưởng đoàn CPVNDCCH trong Tổ LHQS 4 bên. Đại tá Hoàng Duy Hoà, sĩ quan trao trả Đoàn B và nghệ sỹ đàn bầu Phạm Kim Hạng từ quê hương năm tấn Thái Bình dù đường xa hàng trăm cây số cũng đã có mặt. Thiếu tướng Nguyễn Đức Minh và một số đồng chí thay mặt cho một trăm bốn mươi sĩ quan an ninh của Bộ công an hiện ở rải rác nhiều địa chỉ đã về đây, cùng các đồng đội đang chuyện trò rất sôi nổi trong góc hội trường. Đặc biệt, có hai cô gái mà ai cũng quen biết đó là trung tá Vũ Mộng Tước và cô giáo dạy nhạc Nguyễn Thị Tuyết Mai. Mọi người nhớ lại buổi biểu diễn của họ tại giữa sào huyệt kẻ thù, những họng súng đen ngòm từ các lỗ châu mai, từ các vọng gác trên cao của địch đang hướng vào họ như sắp sửa điểm xạ... Mặc, tiếng đàn, tiếng hát của cách mạng vẫn cất cao, vang xa, vượt qua tường rào, hào sâu đến với người dân Sài Gòn đang phải tạm sống trong vùng địch kiểm soát, bà con càng thêm tin tưởng vào ngày mai toàn thắng...

        Buổi lễ trọng thể bắt đầu. Sau những nghi thức, đồng chí chánh văn phòng Bộ Ngoại giao đọc bản Quyết định số 970/QĐKT ngày 28.04.2005 tặng thưởng Kỷ niệm chương về công lao đóng góp trong việc thi hành Hiệp định Pa-ri về Việt Nam cho những cán bộ, chiến sĩ hai đoàn đại biểu quân sự cách mạng trong BLHQS 4 bên và 2 bên. Sau đó, đồng chí Bộ trưởng Nguyễn Dy Niên đã phát biểu: "Nếu như Hội nghị Pa-ri về Việt Nam là thắng lợi của cuộc đấu tranh ngoại giao kéo dài, đầy khó khăn, phức tạp thì cuộc đấu tranh buộc đối phương phải tuân thủ các điều khoản của Hiệp định Pa-ri cũng là cuộc đấu trí, đấu lý hết sức gay go và quyết liệt với lòng quả cảm các đồng chí đã phát huy cao độ tinh thần yêu nước dũng cảm, mưu trí, chủ động tấn công địch, đồng thời thể hiện sự khôn khéo, nhạy bén, mềm dẻo theo phương châm "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh. Các đồng chí đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đảng và Nhà nước ghi công các đồng chí bằng việc quyết định trao tặng Kỷ niệm chương về thành tích này... ".


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Ba, 2012, 07:13:16 pm
        Thật xúc động, chúng tôi được nghe những đánh giá quý báu của Đảng và Nhà nước ta về Mặt trận ngoại giao quân sự. Đây là hình thức đấu tranh hết sức độc đáo của cách mạng Việt Nam. Tại đó, đoàn quân gồm hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ quân đội và các ngành khác đã sống và chiến đấu ngay giữa sào huyệt địch. Đoàn quân này đã đóng góp một phần công sức, trí lực, xương máu cho ngày toàn thắng của dân tộc. Mọi người vô cùng cảm động trước những lời động viên của đồng chí Bộ trưởng.

        Cả hội trường rộn rã vui mừng, tiếng vỗ tay không ngớt, tiếng cười, tiếng nói râm ran...

        Đồng chí Trưởng ban liên lạc Câu lạc bộ truyền thống BLHQS “Trại Đa-vít” khu vực phía Bác lên đáp từ.Anh nói:

         ” Nhận được Quyết định số 970/QĐKT ngày 28-4-2005 của Bộ trưởng ngoại giao ký tặng thưởng “Kỷ niệm chương” chúng tôi vô cùng phấn khởi trước sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, của Bộ ngoại giao về đánh giá sự cống hiến của đội ngũ cán bộ chiến sĩ trực tiếp tham gia đấu tranh thi hành Hiệp định Pari về Việt Nam.

        Dù đã trên 30 năm trôi qua, nhiều đồng chí tham gia lúc đó nay không còn nữa nhưng các đồng chí nhận Kỷ niệm chương hôm nay đều rất xúc động và gợi lại cho chúng tôi những kỷ niệm hết sức sâu sắc, rất đáng tự hào của 923 ngày đêm chiến đấu giữa sào huyệt kẻ thù.”

        Đồng chí điểm lại những nét lớn về hoại động của hai đoàn ta trong điều kiện kẻ thù không từ một thủ đoạn nào để phá hoại Hiệp định với những hành động hết sức thô bạo, ti tiện hòng đánh phá nội bộ ta, kể cả kế hoạch tiêu diệt hoặc “bắt cóc hơn 300 Việt Cộng làm con tin”. Nhưng chúng ta đã vững vàng, kiên cường đấu tranhgiành thắng lợi.

        Cuối cùng đồng chí trân trọng cám ơn đồng chí Bộ trưởng Nguyễn Dy Niên, chúc sức khỏe đồng chí Bộ trưởng nhân dịp năm mới 2006 và hứa với Bộ trưởng sẽ tiếp tục phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạngcủa những chiến sĩ “Trại Đa-vít”năm xưa vào công tác và cuộc sống hôm nay.

        Buổi lễ trao tặng Kỷ niệm chương đã diễn ra trọng thể, đầy cảm xúc. Mọi người ra trước cửa nhà khách chụp ảnh lưu niệm với đồng chí Bộ trưởng Nguyễn Dy Niên.

        Nắng vàng làm cho cảnh sắc xung quanh tươi đẹp hơn, ngời sáng hơn. Ai nấy đều có cảm giác như trẻ lại, căng đầy sức sống, thoả mãn với một ngày cuối năm tuyệt đẹp của Hà Nội mùa Đông. Chúng tôi ra về đem theo niềm vui và tự hào của những nhà ngoại giao mặc áo lính.

        Ngày 18.12.2005, tại thành phố Hồ Chí Minh cũng tổ chức buổi lễ trọng thể trao tặng Kỷ niệm chương cho hơn tám mươi anh, chị, em đại biểu từ các địa phương phía Nam. Mọi người về họp mặt và đón nhận phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước trao tặng với niềm hân hoan, vui sướng. Đồng chí Bộ trưởng Nguyễn Dy Niên đã từ Hà Nội vào thành phố Hồ Chí Minh trực tiếp trao tặng Kỷ niệm chương cho các thành viên Câu lạc bộ truyền thống BLHQS - Trại Đa-vít (Khu vực phía Nam).

        Sau hai buổi lễ trao tặng trên, Bộ Ngoại giao đã gửi công văn đến các Bộ, ban ngành và địa phương trong cả nước thông báo, yêu cầu phát hiện và gỉn danh sách những đồng chí đã từng trực tiếp làm nhiệm vụ thuộc hai đoàn đại biểu quân sự cách mạng trong BLHQS 4 bên và 2 bên Trung ương tại miền Nam. Tính đến nay đã có 627 đồng chí được trao tặng Kỷ niệm chương. Như vậy vẫn còn khoảng hơn số người đó chưa được nhận phần thưởng cao quý này.

        Trong số những anh chị em được trao tặng Kỷ niệm chương có nhiều trường hơp hết sức cảm động:

        Đại tá Thái Văn Công, sinh năm 1922 tại Hải Lăng, Quảng Trị, phóng viên báo Quân đội nhân dân, về nghỉ hưu tại Quảng Trị. Anh là thương binh của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Ngày 25.2.1973, tại Tổ LHQS của ta ở Buôn Mê Thuột, anh và các đồng chí trong Đoàn VNDCCH bị bọn côn đồ do Mỹ ngụy tổ chức đã hành hung gây thương tích nặng cho các anh. Ban liên lạc câu lạc bộ đã chuyển Kỷ niệm chương của anh qua đường bưu điện. Khi anh nhận được, lập tức gọi điện ngay ra Hà Nội cho đồng chí Trưởng ban, giọng xúc động, anh nói: "Thật không ngờ! Bộ Ngoại giao và các anh vẫn nhớ đến tôi. Sung sướng quá, bất ngờ quá, đẹp quá, anh ơi !"


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Ba, 2012, 07:14:52 pm
        Đại tá Lê Văn Cán và đại tá Hoàng Hiệp đều đang nghỉ hưu tại Khánh Hoà. Hai anh đọc báo, biết tin Bộ ngoại giao gởi thông báo về các địa phương, liền gửi thư tới nơi có công văn xem điều kiện làm nhiệm vụ như thế có được khen thưởng không (?). Ngày 30.4.2006, Ban liên lạc tổ chức trao Kỷ niệm chương tại Hà Nội và gửi giấy mời cho hai anh. Họ đã gởi thư và gọi điện ra cảm ơn Bộ ngoại giao và Ban liên lạc, nhờ chuyển hộ vào gia đình vì sức khoẻ rất kém. Khi nhận được Kỷ niệm chương các anh đều rất xúc động, gỉn những lời cảm ơn, lời chúc tết đẹp đến Bộ ngoại giao và Ban liên lạc.

        Đồng chí Nguyễn Văn Hoa, sinh năm 1950, hiện Ở tại quê Thọ Diên, Thọ Xuân, Thanh Hoá. Anh tìm hiểu qua bạn bè được biết có trao tặng Kỷ niệm chương về thi hành Hiệp định Pa-ri. Anh viết thư hỏi bà Nguyễn Thị Bình - Nguyên Bộ trưởng Bộ ngoại giao CPCMLTCHMNVN xem mình có đủ tiêu chuẩn được tặng thưởng Kỷ niệm chương không? Bà Bình đã chuyển bức thư đó cho Bộ ngoại giao, bên đó các đồng chí chuyển thư cho Ban liên lạc và được chấp nhận ngay. Khi có giấy mời lên họp mặt và nhận Kỷ niệm chương, anh liên tục gọi điện thăm hỏi các đồng đội... Anh từ Thanh Hoá ra trước một ngày để đến với những anh em cùng ở trại Đa-vít ngày nào. Bao tâm sự được dịp bày tỏ sau mấy chục năm xa cách. Anh vui và như trẻ lại thật sự.

        Cháu Lê Bá Đông con trai của đại tá Lê Bá Chanh nhận được giấy mời đã từ thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội nhận Kỷ niệm chương thay cha vì anh Chanh đã qua đời cách đây hơn chục năm. Cháu rất vui và nói giọng nghẹn lại: "Cháu cảm ơn các bác, các chú đã không quên cha cháu. Về trong thành phố Hồ Chí Minh, cháu sẽ nói để mẹ cháu có lời cảm ơn các bác, các chú!".

        Cháu Phan Hà, con trai của đại tá Phan Cẩn khi nhận được Kỷ niệm chương đã đặt ngay lên bàn thờ anh Cẩn, thắp hương và thành kính báo cáo trước vong linh của cha mình về việc nhà nước khen thưởng này.

        Các chị Lê Thị Lọn, vợ của liệt sĩ Nông Văn Hưởng (Kiên), chị Phương Kim Dung, vợ của thương binh, đại tá Nguyễn Tiến Bộ (anh mất đã gần chục năm), chị Mai Thị Hải, vợ của thương binh Trần Hán Ngọ (đã mất 2006), chị Ngô Thị Phương vợ của đại tá Trần Ngọc Sỹ (mất 1999), chị Lê Thị Thu vợ của đại tá Nguyễn Khắc Toan (mất 2004). Sự xúc động của các chị lan toả sang chúng tôi làm cho mọi người hồi tưởng về một thời hiểm nguy cùng các anh giữa chốn hang hùm, miệng sói. Các chị vui và bày tỏ sự biết ơn chân thành khi nhận Kỷ niệm chương thay các anh.

        Đặc biệt có trường hợp liệt sĩ Nguyễn Văn Hoà mất ngày 28.4. 1975 tại trại Đa- vít. Sau hơn ba mươi năm tìm thân nhân liệt sĩ đến nay mới biết quê quán của anh. Ban liên lạc đã gửi giấy mời về địa phương nhờ chuyển đến thân nhân của liệt sĩ. Đồng chí Hoà chỉ còn một người chị gái, tuổi đã cao, sức yếu không thể ra Hà Nội được. Chị giao giấy mời cho người cháu thay mặt gia đình đến dự buổi họp mặt và nhận Kỷ niệm chương. Sau khi nhận được món quà này chắc chắn gia đình chị sẽ rất vui!
       
        Còn rất nhiều trường hơp cảm động khác nữa, ai cũng vui mừng và tự hào về những đóng góp của mình đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận qua việc trao tặng phần thưởng cao quý này.

        Nhân sự kiện trên, các thành viên Câu lạc bộ lại có chung nguyện vọng các cơ quan hữu trách sớm xây dựng khu di tích lịch sử quân sự tại trại Đa-vít.

        "Theo thông tư số: l083/TTVH-BQP ngày 26.12.1986 của liên BỘ VH-TT và BỘ quốc phòng đã xác định đây là "khu di tích" chiến dịch HỒ Chí Minh là một trong bốn di tích lịch sử quân sự đặc biệt quan trọng. "Trại Đa-vít" - trụ sở của hai phái đoàn quân sự VNDCCH và CPCMLTCHMNVN, nằm trong sân bay Tân Sơn Nhất (Vị trí "Trại Đa-vít" cũ nằm trong khu vực đất do quốc phòng quản lý) là một trong những điểm tiêu biểu của khu di tích Chiến dịch Hồ Chí Minh" (Trích công văn số 685/BQP ngày 05.3.2003 của Bộ quốc phòng).

        Từ năm 1990, Bảo tàng chiến dịch Hồ Chí Minh (Bảo tàng Quân khu 7) cùng với Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam đã tiến hành biên tập nội dung hồ sơ di tích "trại Đa-vít" và bàn giao cho Sở VH-TT thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2004, Sở VH- TT thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức hội thảo về khu di tích lịch sử này. Không hiểu vì lý do gì, đến nay vẫn chưa được triển khai xây dựng(?)

        Mong muốn chính đáng của hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ đã trực tiếp đấu tranh trên trận tuyến ngoại giao quân sự sớm được thăm lại khu di tích lịch sử "Trại Đa- vít". Nhân dân ta, đặc biệt là thế hệ trẻ cũng khao khát được đến chiêm ngưỡng, tìm hiểu nơi đã diễn ra cuộc chiến đấu 823 ngày đêm giữa sào huyệt kẻ thù của những chiến sĩ cách mạng. Ý nghĩa lớn lao trong việc giáo dục truyền thống đấu tranh cách mạng đầy sáng tạo của Đảng ta, của quân đội ta cho các thế hệ mai sau càng cần thiết hơn.

        Chúng tôi tin tưởng một ngày không xa sẽ được thăm lại khu di tích lịch sử "Trại Đa-vít". Niềm vui và tự hào của những nhà ngoại giao mặc áo lính lúc đó mới thực sự trọn vẹn.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Ba, 2012, 07:19:49 pm

GẶP MỘT CỰU THÀNH VIÊN LIÊN HỢP QUÂN SỰ

NGUYỄN PHẤN ĐẤU              
     
        Ông là một trong mấy người còn lại đã từng ở trong trại Đa-vít ông chọn  nơi vắng vẻ, yên tĩnh nhất để sống tuổi già - ven cánh rừng tràm, ở giữa Đồng  Tháp Mưởi. Dù vậy, ông vẫn không thể "thoát tục". Trước nỗi oan khuất  của người dân, một lần nữa bản lĩnh của người lính từng sống trong sào huyệt đối phương lại được khơi dậy.

        Tình cờ tôi biết ở giữa Đồng Tháp Mười có cụ già gần 80 tuổi từng sống 823 ngày đêm trong trại Đa-vít. Lần ấy, giữa năm 2006, cánh nhà báo chúng tôi nhận được "tin nóng": Người dân ấp Cây Sao - xã Tân Lập huyện Tân Thạnh (thuộc vùng Đồng Tháp Mười tỉnh Long An) chuẩn bị mở quan tài 1 cựu chiến binh (CCB) ra huyện đòi hỏi làm rõ nguyên nhân cái chết. Chuyện phiền toái ấy đã không xảy ra, nhờ ông phát hiện và góp ý kiến kịp thời.

          Chuyện ở một đám tang

        Ngày 30.5.2006, Ở ấp Cây Sao có đám tang không bình thường. Người chết là CCB Đinh Văn Chào, uống thuốc sâu tự tử. Trước đó, anh bị nhóm côn đồ có tiền án tiền sự xông vào nhà hành hung kiểu xã hội đen. Anh Chào được công an huyện mời làm việc. Dư luận cho rằng vì bao che cho côn đồ mà cán bộ điều tra bức cung, nhục hình buộc anh Chào nhận "tội", nên anh uất ức tự tử. Một số người quá khích định đưa quan tài ra huyện đòi làm rõ cái chết. Đầu máy kéo rơmoóc được điều tới, bàn ghế được dọn qua để chuẩn bị khiêng quan tài ra xe. Trong thời khắc nhạy cảm ấy, có một ông lão chống gậy tới đám tang. Cụ ân cần thăm hỏi gia đình người quá cố. Một vài người nhắc nhở việc đưa quan tài ra xe. Cụ già xin phép chủ nhà cho ông có mấy lời nói với bà con. Đám tang ồn ào bỗng trở nên trật tự khi ông đứng dậy, cất tiếng chậm rãi, đại ý: Dư luận về nguyên nhân cái chết của anh Chào có thể đúng mà cũng có thể sai, còn việc bà con tính chở quan tài ra huyện chắc chắn là sai. Ông khuyên bà con bình tĩnh mà cư xử cno phải lẽ, cho đúng luật pháp. Nhận thấy cây nhang từ người thân anh Trào, ông cất tiếng nhỏ nhẹ nhưng rõ ràng: "Mong anh an nghỉ nơi chín suối ? Nếu thực sự cái chết của anh có điều gì khuất tất, với danh dự của người lính, tôi hứa sẽ làm cho sáng tỏ". Khi ông bước ra khỏi đám, chiếc xe rơmoóc đã không còn đậu ở phía trước, những người qúa khích số thì ra về, số im lìm phụ gia chủ xếp lại bàn ghế.

        Ông tên Nguyễn Văn Sáu, nguyên đại úy - bác sỹ quân y. Ông kể: Hôm ấy vợ ông đi đám tang, thấy lạ nên về kể lại. Ông vội vã đến ngay. Ông trầm ngâm: Người dân đang bức xúc, bị kích động, mà chính quyền dùng biện pháp hành chính để đối phó, chẳng khác nào châm thêm dầu vào lửa. Tôi thấy, chỉ có dùng lời lẽ giải thích, thuyết phục, cộng với việc dám nhận trách nhiệm lo cho nhân dân, thì người dân thông cảm".

        Người về thành phố

        Ngày 27. 1. 1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết giữa bốn bên: Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam (CPCMLTCHMNVN), Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa (CPVNDCCH), Chính phủ Hoa Kỳ (CPHK) và Chính phủ Việt Nam cộng hòa (CPVNCH). Theo tinh thần hiệp định, một ban liên hợp quân sự (BLHQS) 4 bên được thành lập để thực hiện hiệp định. Phái đoàn CPCMLTCHMNVN hơn 100 nguời do tướng Trần Văn Trà làm trưởng đoàn. Đại úy bác sỹ Nguyễn Văn Sáu làm nhiệm vụ Trưởng Tiểu ban quân y. Phái đoàn CPVNDCCH (Đoàn A) và phái đoàn CPCMLTCHMNVN (đoàn B) được xếp chung ở trong trại Đavít - trại quân sự mang tên người lính Mỹ đầu tiên chết ở chiến trường VN. Các ông vào trại khi không khí Tết vẫn còn rôm rả ở Sài Gòn. Một cành đào thật đẹp được máy bay chở từ Hà Nội vào cùng một cành mai được nhân dân Sài Gòn gửi tặng đặt trong phòng khách của trại như thầm khẳng định quyết tâm thống nhất đất nước.

        Theo tinh thần hiệp định, trong thời hạn 60 ngày sẽ thực hiện xong việc trao trả tù binh, cũng là thời hạn lính Mỹ phải rút toàn bộ khỏi lãnh thổ VN. Đối với ông và đồng đội, đó là 60 ngày rất thú vị trong đời lính. Một mặt, các ông được tận mắt chứng kiến (và giám sát) những đội quân xâm lược cuối cùng lên máy bay rời khỏi nước ta, một mặt chào đón những đồng chí, đồng đội từ các nhà lao của chính quyền Sài Gòn về với cách mạng. Có lúc ngày hôm trước các ông đến nhà lao Phú Quốc kiểm tra tình trạng tù binh của ta, thì ngày hôm sau bay ra Hà Nội giám sát các phi công - tù binh Mỹ rời khách sạn Hilton ra sân bay Gia Lâm... Ông kể: "Hàng ngày anh em tụi tôi đều chơi bóng chuyền, bóng rổ, bóng bàn, cầu lông...trong sân trại. Tụi tôi còn tổ chức giải mời các đoàn trong ủy ban Giám sát quốc tế (gồm Ba Lan, Hungay, Canada và Indonesia) đến thi đấư". Hình ảnh các chiên sỹ giải phóng tự tin và lạc quan giữa sào huyệt Sài Gòn càng làm tăng thiện cảm đối với nhân dân. Đi đến đâu các ông cũng tranh thủ tiếp xúc với dân chúng, mặc cho chính quyền Sài Gòn ra sức cản trở.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Ba, 2012, 07:22:22 pm

        Hiên ngang giữa chốn hang hùm

        Sau 60 ngày, khi việc trao trả tù binh giữa các bên đã xong, phái đoàn VNDCCH và phái đoàn HK hết nhiệm vụ, rời khỏi Sài Gòn. Chỉ còn lại phái đoàn CPCMLTCHMNVN và phái đoàn CPVNCH trong BLHQS 2 bên và  một tổ liên hợp quân sự 4 bên. Kể từ lúc này, công việc càng lúc càng đi vào bế tắc, vì chính quyền Sài Gòn rắp tâm phá hoại hiệp định. Trại Đa-vít như cây gai nhọn nằm trong mắt họ. Các ông đã phải căng mình chịu đựng những áp lực, sự hằn học, đe dọa, thậm chí hành hung từ phía bên kia. Họ làm như vô tình đùa giỡn cho nổ lựu đạn cay bên ngoài hàng rào trại, nhưmg ở đầu hướng gió, nên khói cay tràn ngập trại... Họ đưa tới xưởng sửa chữa máy bay (nằm cạnh trại) chiếc C130 cổ lỗ cứ đến 9-10 giờ tối là mở máy chạy đinh tai nhức óc... Điều kiện đi lại sinh hoạt của các ông ngày càng bị hạn chế.

         Dù hiệp định đi vào bế tắc, nguy hiểm lại luôn rình rập, các ông vẫn kiến nghị cấp trên lợi dụng thế hợp pháp pháp đấu tranh quyết liệt vạch mặt vi  phạm hiệp định Paris của Mỹ ngụy Sài Gòn để tăng uy thế cho cách mạng. Bước vào tháng 4.1975, sinh mạng của cả phái đoàn càng trở lên mong manh. Đối phương cách ly trại Đa-vít với bên ngoài, họ cho xe thiết giáp đậu quanh chĩa nòng pháo vào trại Một kế hoạch giải cứu phái đoàn được chuẩn bị, bằng cách cho đặc công đột nhập vào trại đưa phái đoàn ra, chỉ để lại đội quân cảm tử ở lại, trong đó có bác sĩ Nguyễn Văn Sáu. Ông đã viết thư, gửi kỷ vật và địa chỉ gia đình cho những người thoát ra. Nhưng kế hoạch giải thoát không được thực thi.  Không ngồi yên chờ đợi, các ông bí mật đào hầm chiến đấu. Bằng những dụng cụ thô sơ tự chế (vì không có cuốc xẻng), chỉ trong mười mấy ngày, các ông đã đào được cả hầm chứa thương binh và hệ thống hầm thông nhau dài cả cây số. Sau này các ông được biết, Tổng Tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn, tướng Cao Văn Viên khi bỏ chạy còn để trên bàn làm việc kế hoạch hủy diệt trại Đa-vít bằng pháo cối, ném bom, chất độc hóa học, xe tăng.., nhưng chúng không thực hiện được .Để rồi ông cùng đồng đội là những người vinh dự kéo lá cờ cách mạng sớm nhất ở nội ô Sài Gòn lên đỉnh tháp nước trong trại Đa-vít, vào lúc 9 giờ 30 sáng 30.4.1975.

         Hành xử người lính. 

        Ngay sau khi CCB Đinh Văn Chào được chôn cất xong, Chi bộ ấp Cây Sao đã họp và ra nghị quyết yêu cầu công an huyện phải điều tra làm rõ nguyên nhân. Các ông đã cung cấp những chứng cứ cho thấy dấu hiệu sai phạm của công an huyện trong quá trình điều tra, gián tiếp đưa đến vụ tự tử nói trên. Cơ quan điều tra cấp trên đã về làm việc. Kết quả là nhiều cán bộ công an huyện đã phải chịu kỷ luật về vi phạm các nguyên tắc điều tra trong vụ việc Đinh Văn Chào. Nhưng cũng vì thế mà ông Sáu và các đồng chí trong chi bộ bị phê bình, kiểm điểm, bị dọa "khai trừ khỏi Đảng", vì các ông đã cung cấp thông tin cho các báo chí.. ông không vì thế mà phật lòng, trái lại cảm thấy thanh thản khi đã trả lại sự công bằng cho người đã khuất. Những người làm sai đã bị kỷ luật, nhưng không ai bồi thường cho cái chết của anh Chào, vợ con anh phải bán ruộng trả nợ chi phí đám tang. ông Sáu phải trích lương hưu hàng tháng cho các con anh Chào mua đồ dùng học tập. Ngày 26. 1 này, các ông lại họp mặt ở nhà khách QK7 (TPHCM) nhân ngày ký hiệp định. Trước khi đi xa, ông không quên ghé thăm coi vợ con anh Chào chuẩn bị ăn Tết ra sao.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Ba, 2012, 07:51:53 pm

KÝ ỨC TRẠI ĐA-VÍT

YÊN TRANG              
     
        Trên mặt trận đâú tranh ngoại giao sau Hiệp định Pa-ri năm 1973, có một cái tên, một địa danh đã ghi một dâú ấn khó quên. Đó là "DAVIS CAMP " (trại Đa-vít) trụ sở của Ban liên hợp quân sự bốn bên và 2 bên sau Hiệp định Pa-ri về Việt Nam. Nhiều năm nay, cứ đến "mùa hoa đỏ" là các cựu sỹ quan Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân đội giải phóng miền Nam Việt nam trong "trại Đa-vít " năm xưa, lại hội tụ để cùng nhau nhớ về những ngày lịch sử...

        Cuộc gặp mặt truyền thống năm nay của họ được tổ chức nơi xưa kia là trận địa pháo cao xạ, bên bờ hồ Trúc Bạch, Hà Nội. Tôi may mắn được tham dự cuộc gặp mặt ấy và điều bất ngờ đầu tiên là được gặp lại người thầy giáo dạy môn sân khấu điện ảnh Trần Duy Hinh. Thầy Hinh đang say sưa quay hình những cán bộ, chiến sỹ trong cuộc gặp mặt lần nay. Trước đây, tôi chỉ biết thầy là trưởng khoa sau đại học Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội. Hóa ra, thầy còn là một nhân chứng của lịch sử, là sỹ quan của Đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Việt Nam dân chủ Cộng hòa trong trại Đa-vít. Hơn ba mươi năm đã trôi qua, chàng sỹ quan trẻ ngày ấy lại đứng đây để ghi lại những hình ảnh đầy xúc động của bạn bè mình trong ngày hội ngộ. Thầy kể: "Mình đến Sài Gòn vào một ngày giáp Tết Quý Sửu năm 1973. Ở miền Bắc đã là cuối đông, vậy mà ở đây còn nắng như giữa hạ. Cát bụi bay mù mịt, trời đổ lửa, tiếng gầm rú của máy bay Mỹ suốt 24/24 giờ. Và trong cái đêm 30 tết giữa lúc Trung tướng Trần Văn Trà, Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, đang chúc tết anh em cả hai đoàn quân sự ta trong trại Đa-vít, thì mái tôn bỗng rung lên ầm ầm vì những chiếc trực thăng Mỹ bay lượn trên đầu. Mặc họ, cuộc họp mặt dào dạt tình nghĩa Bắc - Nam giữa hai đoàn không hề bị ảnh hưởng. Anh em chúng tôi ngồi quây quanh chiếc máy thu thanh, nhấp trà, ăn mứt gừng và chờ nghe bác Tôn chúc tết."

        Hơn ba chục năm đã qua, những chiến sỹ ngày ấy bây giờ mỗi người có một số phận khác nhau. Đại tá Hoàng Duy Hòa kể: "Mình đang ở trong rừng Tây Ninh thì được lệnh tới Lộc Ninh để vào Sài Gòn làm sỹ quan liên lạc. Lần đầu được đi máy bay Mỹ dọc theo đường 13 vào Sài Gòn cũng thấy lạ lẫm. Sau này mình còn đi hàng chục lần máy bay Mỹ tới các nơi ở miền Nam để giám sát việc thi hành Hiệp định Pa-ri. Giải phóng Sài Gòn xong mình được cấp trên giao cho làm quản giáo cai quản 33 viên tướng ngụy đang học tập cải tạo."

        Thiếu tá Nguyễn Ngọc Dung (nguyên là thành viên Đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam) "Tôi được tham gia Ban Liên hơp quân sự bốn bên chỉ 24 giờ trước khi Hiệp định Pa-ri về Việt Nam được ký kết. Hai niềm phấn khởi quá lớn đến cùng một lúc. Cuộc đấu tranh ngoại giao của ta giành thắng lợi và bản thân tôi được về thẳng Sài Gòn, tham gia bộ máy thực thi Hiệp định ngay tại sào huyệt Mỹ - ngụy, nơi mẹ và hai con tôi đang sống mà hơn hai mươi năm chưa hề được gặp lại".

        Còn ông Nguyễn Ngọc Thìn, khi ở trại Đa-vít có nhiệm vụ chính là cung cấp tư liệu để phái đoàn ta đấu tranh trực diện với quân thù. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, ông xin giải ngũ, về quê ở Bắc Giang sinh sống. Cũng có người tiếp tục đi học, làm ở một lĩnh vực khác như ông Nguyễn Ngọc Sơn, là thanh niên Hà Nội. Sau giải phóng, ông Sơn đi học trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, khoa dầu khí, nay là kỹ sư của nhà máy lọc dầu Dung Quất. ông Sơn kể:

        -  Ngày vào trại Đa-vít chúng tôi đều còn rất trẻ, chỉ mới ngoài hai mươi, đem theo nhiều cảm xúc, tâm trạng, nhưng cảm xúc chính là niềm sung sướng và hãnh diện vô cùng. Năm nào có kỷ niệm ngày gặp mặt truyền thống, chẳng kể ở miền Nam hay miền Bắc, mình đều đi để được gặp lại những người bạn, những đồng chí từng vào sinh ra tử với mình... "

        Tôi là thế hệ cháu con sinh ra và lớn lên sau ngày đất nước thống nhất, được nghe những câu chuyện trên đây, trong lòng cũng trào dâng một tình cảm khó tả. Cha ông ta, những con người đã không tiếc máu xương cho chúng ta được hưởng bầu trời hòa bình hạnh phúc hôm nay. Cuộc sống muôn màu cứ trôi đi, nhiều chiến sỹ ngày ấy nay không còn nữa. Những người còn sống đến hôm nay, hằng năm họ gặp mặt truyền thống không chỉ để thỏa mãn nhu cầu hoài niệm về những ngày trong trại Đa-vít mà còn để giáo dục truyền thống cách mạng cho lớp trẻ chúng tôi.

        
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/3f-ThieutaNguyenNgocDung2005.jpg)
Thiếu tá Nguyễn Thị Ngọc Dung (2009)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/5k-ThuongtaTranDuyHinh-Baochi.jpg)
Trần Duy Hinh

        


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Ba, 2012, 04:48:22 am

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/ac.jpg)

THƠM LÂY

Hoàng Anh Tuấn              
               
        “Chính nhờ quý vị mà chúng tôi được thơm lây…” Đó là lời một viên đại tá trong Đoàn đại biểu quân sự của Chính quyền Sài Gòn nói với chúng tôi trong cuộc chiêu đãi của một vị Đại sứ trong Ủy ban quốc tế tại Sài Gòn.
   
        Hồi đó , gần giữa năm 1974. Tình hình chiến trường ngày càng căng thẳng. Cuộc ngừng bắn mỏng manh sau Hiệp định Pa-ri (ký ngày 27.01.1973) chỉ được thực hiện không trọn vẹn một thời gian ngắn, sau khi Mỹ rút hết quân và nhận hết tù binh thì Nguyễn Văn Thiệu  càng đẩy mạnh hành quân  lấn chiếm hòng thu hẹp vùng kiểm soát của Chính phủ cách mạng lâm thời. Quân ta phải kiên quyết đánh trả để giữ vững thành quả đạt được.
   
        Sự căng thẳng trên chiến trường được phản ánh vào hội nghị Ban Liên hợp quân sự hai bên. Trong các phiên họp không ngừng diễn ra đấu tranh gay gắt  tố cáo nhau vi phạm Hiệp định. Không những căng thẳng trong cuộc họp chính thức mà cả trong  những lúc giải lao (theo lệ được hình thành từ đầu, giữa chừng mỗi phiên họp có nghỉ một thời gian để thư giãn, các bên đều vào phòng nghỉ chung uống nước , nói chuyện, thường là tương đối thoải mái) ngay cả trong lúc giải lao không khí cũng lạnh nhạt, phía đối phương không tỏ vẻ lịch thiệp như thường lệ.
   
        Chính vì vậy mà chúng tôi khá bất ngờ trước thái độ đột nhiên cởi mở của viên  đại tá. Hôm đó chúng tôi vừa đến thì lần lượt Đoàn họ đến bắt tay chào hỏi, nét mặt vui vẻ. Sau khi cởi mở đầu bằng câu “thơm lây”, viên đại tá nói tiếp: “ Chúng tôi vừa đi thăm một số nước Tây-Bắc Âu và Úc. Đến đâu, nhất là trong các cuộc gặp gỡ đông người, khi biết chúng tôi là Việt Nam thì người ta đổ dồn đến bắt tay , bày tỏ cảm tình, nói lời cảm phục “Việt Nam anh hùng”. Họ tưởng chúng tôi là người bên quý vị. Đúng là chúng tôi được thơm lây, và cũng không muốn cải chính”.
   
        Ra thế. Sự bộc bạch của viên đại tá thực sự là một điều húy kỵ với phía ngụy, vì đó là một lời khen không dè dặt đối với “kẻ thù”. Nhưng tôi nhìn qua các viên sĩ quan khác đều thấy gật gù tán thưởng, kể cả viên tướng trưởng đoàn, không ai tỏ thái độ khó chịu.
   
        Tôi lại nhớ lại một chuyện gần hai mươi năm trước, nội dung có khác nhưng tính chất cũng giống nhau.
   
        Lúc đó vào quá đầu năm 1955, gần đến thời hạn 300 ngày sau Hiệp nghị Genève, thời hạn mà các lực lượng vũ trang của ta còn ở miền Nam (Liên khu 5) phải tập kết ra Bắc. Đất nước sẽ chia thành hai miền cách biệt nhau hai bên vĩ tuyến 17. Trong đoàn đại biểu “Quân đội Liên hiệp Pháp” tại Ủy ban Liên hiệp trung ương có hai trung tá người Việt, một ông trên 40 tuổi, một ông quá 50, sắp về hưu. Trong quân đội Pháp người đạt đến cấp đó là khá cao. Ông trung tá già vừa được đi một chuyến Sài Gòn. Trong giờ giải lao giữa một phiên họp, ông đến bắt chuyện với chúng tôi và than thở: “mẹ cha bọn sĩ quan trẻ trong đó, chúng cũng đi lính cho Pháp mà ngoi lên, thế mà chúng tôi là đồ đi liếm giầy Tây (1)! Tức muốn chết mà không làm gì được vì chúng ở thế mạnh . Thà các ông nói thì có thể hiểu được , còn chúng nó bây giờ cũng liếm gót giầy Mỹ chứ hơn gì tôi?” Chúng tôi thật ngạc nhiện trước một sự thổ lộ tâm tình như vậy.
   
        Cách nhau 20 năm, kẻ địch xâm lược đã thay đổi, các sĩ quan người Việt theo địch cũng đã thêm mấy thế hệ, còn sự đối lập trận tuyến với cách mạng không hề thay đổi, về sau này còn càng quyết liệt hơn. Vì vậy tôi cứ suy nghĩ mãi: Cái gì đã khiến những con người đã chọn cho mình con đường đi ngược lại với nhân dân, trong đó có người đã thề trọn đời không đội trời chung với “Cộng sản” (sự thật là với toàn bộ sự nghiệp kháng chiến của Dân tộc), cái gì đã khiến cho những người đó trong một lúc bột phát không kịp tự kiềm chế đã thốt ra thành lời trước mặt chúng tôi cảm nghĩ sâu xa trong tâm hồn họ và sự mặc cảm thầm kín về thân phận của họ – dù chỉ là cảm xúc hiếm hoi, xuất hiện và biến đi tức thời?
   
        Càng nghĩ, càng nghiệm , càng tự hào về truyền thống bất khuất của Dân tộc Việt Nam ta, càng thấy kỳ diệu thay cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, mà hào quang tỏa sáng ra tận những nước xa xôi trên thế giới như Bắc Âu, cuối cùng đã quét sạch bóng mọi kẻ  thù xâm lược , thực hiện trọn vẹn ước mơ cháy bỏng được sống hòa bình trong độc lập thống nhất , xây dựng một chế độ dân giàu nước mạnh , xã hội công bằng dân chủ văn minh, tiến tới sẽ không còn cảnh người bóc lột người nữa.
   
        Giờ đây ta đã bước vào một kỷ nguyên chưa từng có trong lịch sử Đất nước. Thế mà nghe nói vẫn còn những kẻ than phiền oán trách chúng ta đã chọn con đường kháng chiến để tự giải phóng cho mình, khiến đời sống của ta chưa tiến kịp nước người (!). Giải đáp cái gì đây và có cần phải giải đáp cho loại tư tưởng lạc lõng này không nhỉ? Tôi nhớ lại chuyện ông trung tá già ấm ức vì bị mắng là “liếm gót giầy Tây” của những kẻ “liếm gót giầy Mỹ”. Tôi cũng nhớ lại thái độ của những viên sỹ quan Sài Gòn năm nào tỏ ra phấn khởi được thơm lây vì được nhầm là người Việt Nam kháng chiến. Có thể đây cũng là một sự giải đáp!



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Ba, 2012, 05:10:07 am

NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG Ở TRẠI ĐA-VÍT

Thiếu tướng  Nguyễn Đôn Tự              
               
        Sáng 01/05/1975, Đại uý Nguyễn Văn Bổ cán bộ bảo vệ - đoàn Việt  Nam  dân  chủ cộng  hoà đi thu thập tài liệu ở Bộ tổng tham mưu quân đội Sài Gòn. Vào phòng làm việc của Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn, thấy quyển lịch công tác để ở trên bàn có ghi:

        “Chỉ thị cho cấp dưới: được quyền sử dụng các biện pháp sau đây đối với trại Davis, không cần phải xin chỉ thị của Bộ tổng tham mưu, chỉ cần phát hiện thấy có tiếng súng từ trại Davis bắn sang sân bay:

        1. Bắn pháo và cối vào trại Davít;
        2. Cho xe tăng và bộ binh tràn ngập;
        3. Ném bom;
        4. Rải chất độc hoá học với điều kiện gió không thổi về phía thành phố”.

        Cao Văn Viên bỏ đi di tản vào chiều 28/04/1975 nên lệnh này có thể phát ra vào ngày 27/04/1975 hoặc sáng ngày 28/04/1975. Các người được cử thay thế Viên cũng lần lượt bỏ nhiệm  sở đi di tản;

        Đổng Văn Khuyên ngày 28/04/1975 tháo chạy;

        Vĩnh Lộc cử chuẩn tướng Nguyễn Văn Hạnh làm phụ tá, rồi cũng chuồn sáng ngày 30/04/1975

        Viên đưa ra lý do để các đơn vị hành động rất mơ hồ, có thể bịa hoặc tạo ra chứng cứ không thể kiểm tra được, thực chất của lệnh này là cho phép các đơn vị quyền tự ý huỷ diệt trại Davis.

        Ban lãnh đạo của Đoàn ta cũng dự kiến 4 khả năng hành động của ngụy nhưng không dự kiến việc địch dùng chất độc hoá học, mà dự kiến khả năng thứ tư là bắt người làm con tin, bắt cả Đoàn hoặc Ban lãnh đạo của đoàn để mặc cả khi liên hợp quân sự họp trở lại.

        Từ ngày 28/04/1975, Bộ tổng tham mưu ngụy Sài Gòn như rắn không đầu, điều hành là chuẩn tướng Nguyễn Văn Hạnh (người có cảm tình với Mặt trận Giải phóng). Pháo lớn của ta bắn dồn dập vào Tân Sơn Nhất, các đơn vị quân Sài Gòn kể cả các trạm gác quanh trại Davis vứt súng bỏ chạy về nhà lo cho vợ con di tản. Sài Gòn đã bị quân giải phóng bao vây. Phan Rang tuyến tử thủ của Nguyễn Văn Thiệu được giải phóng. Sư đoàn 18 bảo vệ cửa ngõ Sài Gòn bị tiêu diệt, những tên đầu sỏ chống cộng điên cuồng tranh nhau cùng vợ con di tản theo Mỹ nên không còn ai thi hành lệnh của Viên.
Cả Mỹ và Sài Gòn vẫn duy trì liên lạc với đoàn ta nhằm mục đích thăm dò và tìm cách ngăn cản cuộc tấn công quân sự của ta vào Sài Gòn.

        Ngày 25/04/1975 theo yêu cầu của ta, Mỹ tổ chức chuyến bay liên lạc C130 ra Hà Nội. Trung tá Summer của Mỹ đi chuyến bay này đã nói với tôi:

        -  Ông báo cáo với Đại tướng Võ Nguyên Giáp là Mỹ chịu thua Việt Nam rồi … Việt Nam nêu các điều kiện gì, Mỹ sẽ thực hiện đầy đủ!

        Phía Sài Gòn định phái bộ trưởng thông tin Phan Hoà Hiệp yêu cầu ta bố trí người ra Hà Nội để thương lượng với Hà Nội nhưng ta không chấp nhận nên Hiệp ở lại không đi theo chuyến bay.

        Có một đoàn 3 người là giáo sư Châu Tam Luân, Trần Ngọc Liễng, linh mục Chân Tín xin vào trại Davis nói là do tổng thống Dương Văn Minh phái vào Tân Sơn Nhất để gặp đại diện của mặt trận. Ta không đồng ý tiếp họ với danh nghĩa phái viên của Dương Văn Minh, mà chỉ tiếp họ với danh nghĩa cá nhân. Họ đồng ý, khi gặp họ cũng đề nghị không nên tấn công Sài Gòn bằng quân sự, nếu cần gì cứ đọc cho họ ghi họ sẽ chuyển cho Dương Văn Minh. Anh Võ Đông Giang đọc lời Minh tuyên bố đầu hàng, nhưng họ không kịp trở về để chuyển cho Minh vì ta pháo kích liên tục.

        Chiều 25/04 đại sứ Mỹ Martin được chỉ thị tìm cách gặp thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn, kể cả vận động Hunggari nhưng anh Tuấn từ chối gặp.

        Điều rõ ràng là cả Mỹ và Sài Gòn rất sợ có cuộc tấn công quân sự vào Sài Gòn.

        Từ tháng 04/1975 tại trại Davis, Đoàn đại biểu quân sự của ta trong cơ quan liên hợp Quân sự 2 bên và 4 bên còn hơn 300 cán bộ chiến sỹ, chủ yếu từ đại uý trở lên, có 30 cảnh vệ được trang bị AK, mỗi cán bộ có một khẩu súng ngắn.

        Từ giữa năm 1974 do Liên hợp quân sự hoạt động không hiệu quả nên Chính phủ ta quyết định đình chỉ mọi hoạt động của cơ quan này, rút bớt cán bộ ra vùng giải phóng, đồng thời rút khỏi cuộc đàm phán về chính trị ở La Celle Saint Cloud (Paris – Pháp) nhưng việc ta vẫn duy trì sự có mặt Đoàn đại biểu quân sự ở trại Davis Tân Sơn Nhất chứng tỏ ta vẫn duy trì đấu tranh trên mặt trận ngoại giao đòi nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Paris, cơ quan liên hợp quân sự sẵn sàng họp trở lại.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Ba, 2012, 05:21:47 am
        Bộ tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh thông báo cho Đoàn là đêm đầu tiên của cuộc tấn công sẽ có đơn vị đặc công vào đưa đoàn ra khu an toàn cách Sài Gòn 10 km.

        Ban lãnh đạo của đoàn họp bàn nhận định “trong lúc này nhất là trước tình hình kẻ thù đang tan rã, ta vẫn có đủ yếu tố chiến đấu bám trụ tại chỗ và đề nghị Bộ Tư lệnh chiến dịch và Quân uý miền cho phép ở lại để chiến đấu và đủ sức bảo đảm an toàn lực lượng chờ đợi quân ta tới. Đề nghị này được cấp trên chấp thuận.

        Theo dõi tin chiến sự, chúng tôi được biết quân đoàn 2 rồi quân đoàn 1 ngụy bị tiêu diệt và tan rã, quân đoàn 3 bị đánh tơi tả, cửa ngõ Sài Gòn đã được mở, cán bộ chiến sỹ trong đoàn rất phấn khởi.

        Đồng chí Lê Đức Thọ gửi điện động viên cán bộ chiến sỹ “giữ vững bản chất anh bộ đội cụ Hồ” Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng gửi điện thông báo chiến thắng đang đến gần, phải đề phòng kẻ địch có hành động tàn bạo với đoàn.

        Từ giữa tháng 04/1975, Đại tướng ra lệnh lãnh đạo đoàn cần tổ chức bộ đội sẵn sàng đối phó với mọi tình huống xấu nhất, điểm quan trọng là phải bảo toàn được lực lượng, đồng thời phải tổ chức chiến đấu giữ được từ 3 đến 5 ngày chờ quân giải phóng tới. Như vậy phải đào các hố chiến đấu và các hầm có nắp tránh được các loại pháo của ta và của địch. Phải có giao thông hào có nắp nối liền 7 khu vực chiến đấu; hai hầm ngầm chỉ huy, hầm quân y, hầm làm kho dự trữ nước, lương thực các loại. Tất cả được xây dựng tuyệt đối bí mật bên trong  trại, dưới các sàn nhà; Mắc hệ thống điện thoại từ các đài quan sát đến các khu vực chiến đấu và chỉ huy sở. Dự trữ nước và lương thực đủ dùng trong 10 ngày. Quân y có thể làm trung phẫu thuật. Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn chỉ huy chung.

        Quyết tâm của cán bộ chiến sỹ rất cao nên chỉ trong khoảng mười ngày mặc dù không có cuốc xẻng, chỉ dùng cọc màn bằng sắt do Mỹ để lại, đã đào các hố chiến đấu và một phần giao thông hào. Vào những ngày cuối, Đoàn được tăng cường 2 va-li lựu đạn chống tăng qua việc trao trả ở Lộc Ninh các nhân viên của Đoàn Indonesia trong Uỷ ban quốc tế bị bắt ở Buôn Mê Thuật. Như vậy, nếu bộ binh và xe tăng địch tiến vào sẽ bị ta đánh trả quyết liệt. Đa số cán bộ chiến sỹ Liên hợp quân sự dày dạn trong chiến đấu và nhiều đồng chí ở cương vị trực tiếp chỉ huy.

        Từ ngày 28/04 pháo và hoả tiến của ta bắn dồn dập vào Tân Sơn Nhất, gây cháy trụ sở của Ban liên hợp quân sự phía Sài Gòn, câu lạc bộ sỹ quan ngụy. Tất cả cán bộ chiến sỹ ta đều ở trong hầm. Về phía ta, điều không may là một mảnh đạn chui qua cửa thông hơi của căn hầm có nắp làm một đại uý hy sinh, có năm người bị thương trong đó có một đồng chí trung tá, một mảnh khác trúng một đồng chí cảnh vệ đang đổi gác ở ngoài công sự, đồng chí này cũng hy sinh.

        Chiều ngày 28/04 một tốp A37 của ta ném bom khu đỗ máy bay trực chiến của ngụy cách đoàn ta độ 200 m. Sự kiện này được báo cáo ngay ra Bộ tổng tham mưu, Đại tướng Võ Nguyên Giáp điện động viên và hỏi đoàn ta có an toàn không. Cũng từ ngày 28/04, ta nghe được các đài chỉ huy các đơn vị tiến về Sài Gòn. Không thể tả nổi vui mừng của mọi người khi một đơn vị báo là đã đến ngã tư Bẩy Hiền, một đơn vị xe tăng đã đến hàng rào phía Bắc sân bay Tân Sơn Nhất, được lệnh dừng lại và đào công sự tại chỗ. Tuy Ban liên hợp quân sự không họp nhưng ta vẫn duy trì các cuộc họp báo vào các sáng thứ 7 hàng tuần, đông đảo nhà báo các nước đến dự, nghe tin chiến sự, thăm dò xem ta có tấn công Sài Gòn bằng quân sự không. Trong khi ta vẫn phải giữ bí mật ý đồ quân sự của ta, ta tố cáo mạnh mẽ việc Sài Gòn lấn chiếm và đánh phá vùng giải phóng, nêu rõ là ta có quyền đánh trả nơi kẻ thù lấn chiếm và cả tại sào huyệt của địch.

        Ngụy Sài Gòn ngăn cản ta họp báo nhưng các nhà báo vẫn đến hoặc phỏng vấn qua điện thoại, nên sự có mặt của đoàn ta ở Tân Sơn Nhất vẫn phát huy được lợi thế trong đấu tranh dư luận. Dù ở trong hang cọp, ta vẫn phát huy được tính chủ động tấn công.

        10 giờ sáng 30/04/1975 sư đoàn 10 quân đoàn 3 tấn công vào sân bay Tân Sơn Nhất và đã đến trại Davis, cán bộ chiến sỹ ta vui mừng ra đón tiếp những người vào giải phóng Sài Gòn.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Ba, 2012, 08:20:32 am

Trại Đa-vit
Ngày thắng lợi

Phan Xuyến Thanh Đồng              
      Theo lời kể của đại tá Năm Thành và một số thành viên Phái đoàn quân sự bốn bên          
   
        Trong chiến dịch giải phóng Sài Gòn khi vạch kế họach đánh vào Tân Sơn Nhất, cấp trên rất quan tâm đến vấn đề an toàn của các thành viên trong hai đoàn đại biểu quân sự của ta ở trại Đa-vít nằm ở góc tây nam sân bay Tân Sơn Nhất. Chính quyền Sài Gòn rất sợ ảnh hưởng của cách mạng, sợ cán bộ ta và nhân dân có điều kiện tiếp xúc, nên bố trí hai đoàn ta ở lọt thỏm giữa sào huyệt của chúng, cách ly hẳn với bên ngoài.
   
        Cán bộ, nhân viên hai đoàn ta họp bàn rất kỹ, hạ quyết tâm chuẩn bị mọi mặt: dự trữ lương thực, thực phẩm, thuốc men, lập kế họach chiến đấu, vẽ sơ đồ hệ thống công sự phòng thủ, tổ chức phân công  lực lượng sẵn sàng chiến đấu trên từng vị trí… Nếu xảy ra tình huống chiến đấu với xe tăng địch thì chỉ mấy chục khẩu tiểu liên , súng trường trong tay, khó đạt kết quả. Bộ chỉ huy Miền cử cán bộ vào truyền đạt ý định khi cuộc tấn công vào Sài Gòn nổ ra, sẽ có một cánh đặc công vào ngay trại Đa-vít đón đoàn ra nơi an toàn. Đoàn phải chuẩn bị sẵn sàng, khi đặc công đến là xuất phát được ngay.
   
        Toàn đoàn họp phân tích tình hình và nhận thấy , nếu rút , sẽ không lợi nhiều mặt, trong lúc ta có đủ yếu tố cần thiết để bám trụ chiến đấu tại chỗ. Đảng ủy đoàn nhất trí đề nghị lên Quân ủy và Bộ chỉ huy Miền cho đoàn được phép tự tổ chức chiến đấu tại chỗ, hứa bảo đảm đủ sức bảo toàn lực lượng.
   
        Được cấp trên đồng ý và có được hai va ly thủ pháo tăng cường, từ 18-4-1975, cán bộ và nhân viên hai đoàn đại biểu quân sự của ta trong tại Đa-vít bắt đầu một cuộc chuẩn bị chiến đấu khẩn trương, âm thầm mà căng thẳng. Đêm đêm, mọi người chui vào lòng đất đào chiến hào, công sự. Xẻng, cuốc không đủ, mọi người huy động hết tất cả các thứ có thể đào được, từ lưỡi lê, dao găm cho đến những thanh sắt rải rác trong trại đập dẹt thành thuổng, vên… Cả khu đất 200 mét x 200 mét được chia thành 7 khu vực chiến đấu nối nhau bằng hệ thống hào giao thông có nắp dày gần như địa đạo. Mỗi khu vực có hệ thống công sự chiến đấu phòng thủ. Mặc dù các khâu cung cấp lương thực, thực phẩm đều do các nhà thầu của chính quyền đối phương cung ứng , trong đó có mạng lưới "Thiên Nga" cài vào, nhưng nhờ sớm có ý thức chủ động phòng ngừa, hai đoàn ta đã mua dự trữ sẵn , để khi địch phong tỏa sẽ có đủ lương thực dự trữ bảo đảm thời gian cần thiết để thực hiện "sứ mạng bám trụ" của đoàn. Ai nấy sẵn sàng "chiến đấu và chiến thắng" trong những tình huống gay cấn nhất.
   
        Vào sáng thứ bảy 26-4-1975, phiên họp báo do đồng chí Võ Đông Giang chủ trì chật cứng hơn trăm phóng viên. Người trung thực, có tình cảm với ta cũng như kẻ làm "ăng ten thu tin" cho Mỹ-ngụy đều cố tìm hiểu xem ta sẽ đánh đến đâu? Tiến công vào Sài Gòn ra sao? Có thương lượng nữa không? Không phải ngẫu nhiên mà phía bên kia để cho các nhà báo vào "Trại Đa-vít" dễ dàng như vậy. Chẳng bù cho những ngày đầu, họ tức tối, hậm hực, tìm đủ mọi cách cản ngăn, phá quấy, bày bao trò phá đám…
   
        Trưa 29-4, một đoàn khách khá đặc biệt tự giới thiệu là "phái viên của phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền" đến xin gặp trưởng đoàn ta để bàn việc "bàn giao chính quyền". Khoảng 14 giờ 30 , một đoàn thứ hai, rồi khoảng 17 giờ 30 lại chính đoàn thứ hai có thêm một luật sư lại tới thiết tha xin gặp để bàn làm sao việc ta đánh chiếm Sài Gòn "đỡ tổn hại" . Suốt từ 3 giờ sáng đến đêm 29-4, đạn pháo 130 ly và hỏa tiễn của ta vẫn lúc dày , lúc thưa, tiếp tục giã vào Tân Sơn Nhất. Có thể bàn gì thêm nữa, khi mọi điều cần thiết đã được Chính phủ cách mạng lâm thời nêu rõ trong Tuyên bố ngày 26-4-1975. Dẫu vậy, xét thấy những vị trong đoàn là người thuộc "lực lượng thứ ba", lâu nay đã đối lập với chế độ độc tài Nguyễn Văn Thiệu, giữa đạn bom nguy hiểm lại tìm đến với cách mạng, ta nể tình thông báo cho ba vị là đoàn có thể tiếp họ nhưng với tư cách cá nhân, chứ không phải với tư cách đại diện bất cứ tổ chức nào. Đại tá Võ Đông Giang được phân công tiếp các vị tại hầm chỉ huy dự bị. Ngoài kia những đợt pháo cấp tập vào Tân Sơn Nhất báo hiệu trận tiến công của bộ binh vào đây sắp bắt đầu. Thế là , cả ba vị đều xin ở lại để bảo đảm an toàn, bom rơi, đạn nổ, biết đâu mà lường.
   
        Suốt đêm hôm đó , ba vị có ngờ đâu lại là một đêm đầy kỷ niệm lịch sử. Họ cùng thức trắng với chỉ huy "Việt Cộng", cùng chuyện trò thân mật, cởi mở. Và, chính qua đó , họ có điều kiện hiểu sâu thêm cách mạng, trút bỏ, giải tỏa được nhiều vấn đề về cách mạng mà lâu nay họ còn nghi ngại, trăn trở băn khoăn. Họ cũng đâu có ngờ chính sau cái đêm lịch sử đó là một bước ngoặt mới của cách mạng đã mở ra. Họ đâu có hiểu hết những tình tiết đã diễn ra trong đêm. Theo kế họach thì một cánh đặc công và một cánh xe tăng của ta sẽ tìm cách đến trại Đa-vít sớm nhất để tăng cường bảo vệ cho hai đoàn quân sự, hoặc tùy tình hình, có thể đưa bớt ra khu an toàn. Nhưng vì trận đánh vào Sài Gòn diễn ra nhanh chóng, thuận lợi trong thế nước vỡ bờ , nên cả hai cánh quân lãnh "nhiệm vụ đặc biệt" này , không tới trại Đa-vít nữa, được lệnh chuyển mục tiêu. Ba vị giáo sư, luật sư và linh mục ở lại trong đêm , đâu có biết , suốt đêm các quân nhân bảo vệ vẫn thay nhau có mặt ở vị trí canh gác , cảnh giới và hai đồng chí đã ngã xuống trong tư thế những người dũng sĩ…
   
        Sau bữa liên hoan đưa chân vào sáng 30-4-1975, cầm tặng vật trong tay mỗi người hai chai "Lúa mới", một gói lương khô, mà chính ba vị giáo sư, luật sư, linh mục cảm thấy rất thích thú. Ba vị nói chân thành:"Chỉ có Quân giải phóng mới có". Cả ba hòa vào niềm vui đại thắng đến ngỡ ngàng. Không có "cuộc tắm máu" nào xảy ra như đối phương hù dọa, như trí tưởng tượng của một số người.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Ba, 2012, 08:47:47 am

TẢN MẠN - NHỮNG MẨU CHUYỆN

Đại tá Nguyễn Trọng Tô              
       
Nhận nhiệm vụ mới

        Sau khi ta thắng lớn trận Điện Biên Phủ trên không ở Hà Nội, đế quốc Mỹ buộc phải ký Hiệp định Paris về Việt Nam.

        Một buổi chiều, Trung tướng Phan Bình, Cục trưởng cục 2 gọi tôi lên và giao nhiệm vụ:

        -  Cậu phải đi làm nhiệm vụ mới, khác trước đây, nghĩa là làm ngọai giao quân sự. Mình chỉ dặn cậu một câu: Luôn luôn nghĩ mình là người chiến thắng, công việc cụ thể vào đây gặp anh Đôn Tự sẽ rõ.

        Lần này nhận nhiệm vụ tôi lo nhiều hơn phải nghĩ đến gian khổ, đây là một lĩnh vực mới. Tôi đọc lại bản Hiệp định Paris bằng tiếng Anh, để phòng khi nói chuyện với Tây …

        Một vài tuần sau tôi ra sân bay Gia Lâm cùng một số cán bộ ta trong Ban liên hợp quân sự để vào Sài Gòn.

        Tôi được giao nhiệm vụ làm sĩ quan báo chí của đoàn CPVNDCCH (đoàn A) kiêm sĩ quan liên lạc Tổ LHQS 4 bên do anh Đôn Tự làm trưởng đoàn, đoàn Chính phủ CMLTCHMNVN (đoàn B) do anh Võ Thọ Son – Trưởng đoàn; đại tá Dương Hiếu Nghĩa - Trưởng đoàn ngụy Sài Gòn, Tombeau trưởng đoàn Mỹ.

        Hàng tuần có hai phiên họp đủ bốn đoàn, xung quanh một cái bàn vuông phủ vải xanh ngồi trong phòng lạnh, nhưng không khí cuộc họp bao giờ cũng nóng. Tố cáo lẫn nhau về vi phạm Hiệp định, có lần Tombeau rút trong ngăn bàn ra một cái áo phi công bê bết máu khô lên án Việt cộng bắn rơi trực thăng, giết phi công Mỹ. Đến giờ giải lao, các đoàn bốn bên lại thành đoàn hai bên. Đoàn Hà Nội và đoàn Lộc Ninh vào phòng có cafe, bánh kẹo đủ thứ … nhưng ta chẳng bao giờ sờ đến, có lẽ vì cảnh giác cao độ, thậm chí chẳng nói gì ngoài vài ba câu vô thưởng vô phạt.

        Đoàn Mỹ và đoàn ngụy vào một phòng bên cạnh. Cứ thế một vài tháng sau đó, có lẽ họ phát hiện ra “Việt Cộng” quá ư cảnh giác, nên họ bố trí cả bốn đoàn giờ giải lao vào chung một phòng, không khí có phần đỡ căng thẳng hơn.

        Tôi còn nhớ một lần giải lao giữa cuộc họp, tôi nói với Dương Hiếu Nghĩa:

        -  Chúng ta là người Việt Nam cả, sao ông ăn nói thô bạo như vậy"

        (Xin miễn trích lời hắn nói). Ông ta nói lại với tôi:

        -  Anh biết không, ta họp ở đây, tướng tá ngồi sau phòng nghe, xem cả đấy. Tôi phải nói mạnh chứ!

        Tôi nói:

        -  Thế sao ông không được lên tướng?

        -  Tôi thuộc nhóm giết Ngô Đình Diệm sao mà lên tướng được, họ sợ tôi lại giết họ như giết Diệm!

        Ông ta trả lời.

        Qua hành động và lời nói, tuy có tên là Hiếu Nghĩa, nhưng đây chính xác là tình báo viên của Phủ Đặc uỷ trung ương tình báo Sài Gòn. Sau khi ta giải phóng Sài Gòn, tay này là một trong những người cải tạo về muộn nhất.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Ba, 2012, 08:55:45 am

Gặp nhà tình báo Phạm Xuân Ẩn

        Một lần Đoàn B tổ chức họp báo, Chính quyền Sài Gòn sắp xếp cho hai bên họp báo vào chiều thứ bẩy, là thời điểm mà mọi người dân cũng như quan chức nhà báo đi nghỉ cuối tuần. Mục đích của họ làm giảm ý nghĩa cuộc họp báo. Chúng cho rằng có ít người theo dõi tin tức, ít người đến dự. Nhưng trái lại, cuộc họp báo nào cũng rất đông, đại diện hàng chục hãng thông tấn có phân xã ở Sài Gòn đều đến dự. Cuộc họp báo nào cũng vui vẻ, rôm rả, có rượu ngon, các lọai kẹo bánh…từ Hà Nội gửi vào, có nem rán, thịt nướng nóng hổi, tự tay đầu bếp của ta phục vụ. Đặc biệt là báo chí hàng ngày, tạp chí các loại hàng tháng mà anh em cán bộ ở phía sau chuẩn bị cho đoàn nhưng có lẽ điều thích nhất của họ là được nghe những lời nói đúng sự thật mà trưởng đoàn ta nêu lên, cũng như các câu trả lời những thắc mắc của họ. Tôi thấy giới báo chí Quốc tế và phần lớn các phóng viên báo chí Sài Gòn đều có thiện cảm với họat động của đoàn ta nói riêng và cuộc đấu tranh của quân dân ta nói chung.

        Một lần thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn trưởng Đoàn B chủ trì họp báo, tôi thấy có một nhà báo người Việt Nam làm cho Phương Tây tên là Phạm Xuân Ẩn cũng đến dự.

        Anh ta ngoảnh mặt vào góc tường lầm lì, ít nói, tôi cũng chẳng ưa gì…

        Bất ngờ thay, cuối năm 1979, tôi đang chuẩn bị công tác dài ngày ở nước ngoài, Phạm Xuân Ẩn, tức thiếu tướng Hai Trung anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam ra họp đại hội anh hùng.

        Lãnh đạo cục II lại cử anh Hai Trung bồi dưỡng kiến thức kinh nghiệm cho tôi và anh Vặn trước khi lên đường làm nhiệm vụ. Phạm Xuân Ẩn là nhà tình báo chiến lược hoạt động có hiệu quả nhất, có tầm cỡ quốc tế. Anh đã làm việc cho Mỹ, cho Anh hơn hai chục năm trời, đã từng học khoa báo chí trường đại dọc Orange Coast California; Gần chục năm trời làm phóng viên cho tạp chí Times; Tạp chí uy tín nhất của Mỹ, gần chục năm cho hãng Reuters; Hãng uy tín nhất của Anh. Tôi hỏi anh:

        -  Sao hồi đó vào họp báo ở Tân Sơn Nhất anh cứ nhìn thẳng vào góc tường?

        - Mình sợ “tay Việt Cộng” nào đó biết mình rồi ôm chầm lấy mình thì nguy to!

        Hàng chục năm làm tình báo khéo ngụy trang, chui sâu, anh Hai Trung đã cung cấp cho lãnh đạo không biết bao nhiêu tài liệu tin tức, đặc biệt tin tức chiến lược. Tôi xin nêu một tin mà tôi cảm thấy rất thú vị: Đó là sau 3 đợt tổng tấn công và nổi dậy ở toàn miền Nam Việt Nam. Ta chẳng những không dứt điểm được mà còn bị tổn thất nghiêm trọng, đặt biệt là lực lượng biệt động, lực lượng bí mật, các mạng lưới tình báo….

        Rất may, Hai Trung và một số đồng chí khác được lệnh không tham gia trực tiếp vào những chiến dịch đó.

        Sau tổng tấn công nổi dậy năm 1968 chúng ta gặp nhiều khó khăn, một số không ít cán bộ, kể cả cấp cao có người giao động hoang mang. Bọn địch tưởng chúng sắp thắng đến nơi rồi. Bằng chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” với những chiến dịch Lam Sơn 719 Quảng Trị, chặt đứt đường tiếp tế của ta….

        Trong lúc tình thế ngặt nghèo như vậy. đồng chí Hai Trung gửi ra Trung Ương Cục bản báo cáo mật của của Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn cho Wasshington về những tổn thất cực kỳ to lớn của Mỹ ngụy sau tết Mậu Thân và đặc biệt có kết luận báo cáo rằng “Mỹ không thể thắng bằng quân sự ở Việt Nam, cần phải có một giải pháp chính trị và ngoại giao!”.

        Đồng chí Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh) gọi điện ngay cho đồng chí Như Văn phụ trách tình báo Miền và nói: “Thưởng cho các cậu một con bò!” rồi cười xòa.

        Anh Như Văn nói vui: “Ít quá, tin to thế mà thưởng một con bò thì bõ bèn gì anh Mười ơi!”

        Anh Như Văn có lần kể chuyện vui với tôi như vậy đấy. Một cái tin xoay chuyền cả nhận định đánh giá tình hình. Trong họat động tình báo chiến lược chỉ cần một hai tin như thế đã là anh hùng nhưng với anh Hai Trung có hàng chục tin như vậy.

        Mấy năm sau ngày giải phóng, bạn bè cũ, người Mỹ sang lại Sài Gòn vẫn tưởng Hai Trung vừa đi cải tạo về. Họ không thể tin được rằng con người như Hai Trung mà là Cộng Sản!


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Ba, 2012, 09:01:34 am

Thiếu nước nấu bánh chưng Tết

        Ngày 30 tết năm Ất Mão (1975) khoảng gần 300 cán bộ chiến sỹ của cả hai đoàn Bắc Nam náo nức chuẩn bị tết trong lòng Sài Gòn.

        Bánh chưng đã gói, lợn đã mổ, ta chuẩn bị đủ thứ, cho cả vợ con lính ngụy bên “Khu gia binh” nữa. Tôi nói với anh em cứ gói nửa cân kẹo một túm và khi nấu xong bánh chưng thì quẳng một số qua hàng rào cho gia đình lính ngụy. Đột nhiên nước tắc, không có lấy một thùng để nấu bánh chưng. Anh Hoàng Anh Tuấn trưởng đoàn, bảo tôi:

        -  Cậu là sỹ quan liên lạc, cậu gặp tụi sỹ quan liên lạc ngụy bảo chúng sửa chữa cấp nước ngay!

        Tôi nói:

        -  Gặp ngụy không giải quyết được gì đâu anh ạ, gặp tụi Mỹ thì mới xong!

        -  Ừ, thì tùy cậu!

        Anh nói. Tôi lập tức gọi điện cho Johnson - sỹ quan liên lạc của Đoàn Mỹ đến trại Đavit, nơi phái đoàn ta ở - khi Johnson vừa bước chân vào phòng, tôi phủ đầu tới tấp:

        - Người Mỹ các anh tự nhận mình là người văn minh có học thức, các anh đã ở Việt Nam hàng chục năm mà chẳng hiểu phong tục tập quán người Việt Nam chúng tôi.

        - Phong tục là gì ạ?

        Hắn hỏi lại.

        -  Là cuối năm âm lịch, người Việt Nam phải tắm tất niên, ai phá hoại cuộc tắm thần thánh đó, thì họ thù đến đời con, đời cháu, tại sao các ông cắt nước?

        - Tôi không biết phong tục đó, mà có biết thì người Mỹ cũng không làm như vậy. Vấn đề điện nước là do chính quyền Sài Gòn chịu trách nhiệm các ông gặp phía Sài Gòn để giải quyết!

        Hắn nói.

        -  Người Mỹ là thầy của họ, chắc các ông nói họ phải nghe, thôi ông về bảo họ mở ngay đi.

        Quả thực độ khoảng hơn nửa giờ sau thì có nước. Tôi bịa ra cái phong tục đó để dọa nó.

        Đêm 30 tết chúng tôi làm một cuộc tặng quà “ném qua hàng rào, qua hào” mà bọn ngụy đã đào xung quanh doanh trại ta để đề phòng ta từ cơ quan trụ sở của đoàn đột nhập tiến công vào sân bay. Chúng tôi ném kẹo và bánh chưng cho gia đình lính ngụy. Trẻ con, đàn bà và cả lính nữa ra nhận họ hỷ hả phấn khởi lắm, trẻ con chia nhau ăn, người lớn mang bánh vào nhà.

        Cảnh sát ngụy biết được, chúng cấm những người ở khu gia binh ra khỏi nhà. Sáng mùng 1 hội múa lân do anh em trong đoàn diễn, đồng bào đi vui tết cả lính ngụy nữa vây quanh doanh trại để xem. Bọn cảnh sát đưa xe vòi rồng ra xịt xua đuổi, họ mới tản đi.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Ba, 2012, 09:13:54 am

Kiên quyết bảo vệ hàng hoá của ta

        Sau Tết có chuyến bay C130 chở một số sỹ quan của bốn phái đoàn ra Hà Nội. Tôi là trưởng bộ phận của đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đến 14 giờ 30 phút cùng ngày máy bay này lại trở về Tân Sơn Nhất.

        Lần này ta chở vào Sài Gòn nhiều thứ. Tay trưởng đoàn Mỹ hỏi tổ lái:

        “Ready go?” (Sẵn sàng cất cánh chưa?) nói xong hắn gọi tôi và nói:

        - Các ông chở nhiều quá, bỏ bớt xuống đi!

        Tôi nói:

        -  Hàng cồng kềnh nhưng trọng lượng vẫn thế mà!

        -  Ông Tô theo tôi lên buồng lái. Hắn nói như ra lệnh.

        Hắn chỉ vào đồng hồ, tôi liền thấy kim chỉ hơn hai tấn, thầm nghĩ mình không thể lừa được máy đo.

        Tôi chống chế:

        - Anh em họ chỉ ước chừng bốc lên máy bay, không cân ông thông cảm.

        Hắn nói:

        -  Hiệp định nói chỉ chở tối đa 1 tấn không hơn, lần sau không được đâu nhé!

        Miệng hắn nói nhẹ nhàng, không cáu gắt gì cả. Tôi sinh nghi. Máy bay vẫn cất cánh như mọi lần. Quả vậy, khi máy bay vừa hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất tôi thấy quang cảnh khác hẳn. Đèn điện tắt gần hết, chỉ để đèn hướng dẫn máy bay hạ cánh xuống mà thôi. Tôi nói với anh em:

        -  Có chuyện rồi!

        Những lần trước xe đoàn ta ra đón ngay. Lần này đợi 10 phút, 20 phút, nửa giờ chẳng ai ra đón. Lúc này đoàn Mỹ, đoàn ngụy đã về nhà hết. Trên máy bay chỉ còn lại tổ công tác của hai đoàn ta. Tôi bảo tất cả anh em cứ ngồi lại trên máy bay dù bọn Mỹ có chở ta đi đâu cũng mặc. Tôi và đồng chí thượng sỹ bảo vệ rời máy bay đi xuống gặp bọn chỉ huy ở sân bay. Tất cả bọn chúng đều mặc thường phục, khác với mọi ngày chúng hay mặc quân phục, có quân hàm, quân hiệu. Hỏi thằng nào nó cũng trả lời cộc lốc:

        -  Không biết, đi gặp người có trách nhiệm mà hỏi!

        Biết ai có trách nhiệm ở đây, lúc này tôi quay lại máy bay. Tên trưởng phi hành đoàn nói với tôi

        -  Các ông phải xuống hết, theo Hiệp định chúng tôi chỉ được ở sân bay Tân Sơn Nhất một tiếng đồng hồ mà thôi C130 bay về Utapao (Thái Lan).

        - Tất cả anh em cứ ngồi đấy, để tôi xuống xem sao.

        Tôi bình tĩnh nói vậy với mọi người. Bỗng chốc lù lù một chiếc xe nâng tải, hai cái càng thò ra như hai cái đòn xóc chạy thẳng vào đít máy bay đã mở sẵn. Chúng định nhấc khối hàng xuống đất. Khi xe chỉ còn cách máy bay chừng hai mét tôi và đồng chí thượng sỹ liều mạng nhảy vào giữ hai càng xe nâng.

        Thằng Mỹ ngồi trên máy bay hét lên:

        -  Wounded! Wounded! (Bị thương, bị thương) Get away, Get away (Cút đi, cút đi)

        Không rõ chúng bảo chúng tôi tránh ra hay cút đi chỉ thấy cái xe nâng tải lùi ra xa và quay đầu chạy biến vào trong đêm tối.

        Té ra bọn chúng khi ở sân bay Gia Lâm đã báo cho bọn ngụy Sài Gòn có món hàng quan trọng, hãy chộp lấy xem sao, có vũ khí, có chất nổ không và gì gì nữa…chộp được hàng cấm chúng sẽ đấu ta trong phiên họp sắp tới với dư luận trong nước và quốc tế.

        Quả thật đây là chuyến hàng quan trọng gồm có 100 triệu đồng Sài Gòn, BLOC loạn số mật mã, máy điện tâm đồ, lương khô và gì nữa đựng trong hòm thiếc gắn kín mà tôi cũng không biết nữa. Tôi biết rằng khi ta còn ở trên máy bay thì Mỹ chịu hoàn toàn trách nhiệm, nhưng khi hàng đã xuống đất thì Mỹ không chịu trách nhiệm nữa mà bọn ngụy tha hồ lục soát và cướp đi nữa chứ. Về sau này nghĩ lại, tại sao lúc ấy mình lại nhảy vào càng xe bằng tay không chẳng ngại gì cả! Có lẽ chỉ sợ mất hàng thôi! Chúng tôi cứ sấn sổ chặn chúng lại. Quả nhiên chúng đã phải chùn bước, hàng hoá của ta được giữ nguyên vẹn và được đưa đầy đủ vào trại Davis.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Ba, 2012, 09:28:08 am

CHUYẾN BAY LIÊN LẠC SÀI GÒN - LỘC NINH CUỐI CÙNG

Nguyễn Quang Biểu              

       Nguyên sỹ quan phiên dịch Đoàn đại biểu quân sự chính phủ Cách mạng thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam
  
        Theo sự thoả thuận của các bên trong Ban liên hợp quân sự 4 bên và 2 bên Trung ương, hàng tuần có 2 chuyến máy bay liên lạc giữa Sài Gòn và Lộc Ninh.
   
        Phương tiện là máy bay trực thăng HU1A, chuyên chở người và hàng hoá phục vụ cho Đoàn đại biểu quân sự của CPCMLTCHMNVN trong trại Davis.
   
        Các chuyến bay này được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao. Phía Việt Nam Cộng Hoà không được phép khám xét người và hàng hoá.
   
        Từ tháng 2 năm 1973, nhìn chung các chuyến bay vẫn được thực hiện nhưng không đều. Nhiều trường hợp ngụy Sài Gòn viện những lý do hết sức vu vơ nhưng thực chất là ở chiến trường quân ta đánh cho những đòn đau nên Nguyễn Văn Thiệu lồng lộn ra lệnh đánh phá vào các khu giải phóng. Đồng thời trả đũa vào 2 đoàn của ta ở trại Davis. Chúng phá các phiên họp, cắt điện thoại, cấm cả việc cung cấp báo chí cho ta, ngăn cản họp báo và cắt các chuyến bay liên lạc Sài Gòn - Lộc Ninh.
   
        Hai đoàn đại biểu quân sự ta vẫn vững vàng và tiếp tục đấu tranh, vẫn giữ liên lạc được với Hà Nội và Lộc Ninh bằng nhiều phương tiện khác.
   
        Ngày 6 tháng 1 năm 1975, quân ta tiến công thị xã Phước Long và liên tiếp sau đó là tiến công Ban Mê Thuột (10-03-1975). Chiến thắng dồn dập giải phóng Thành phố Huế (25-03-1975), giải phóng Thành phố Đà Nẵng (29-03-1975)…
   
        Cán bộ, chiến sỹ hai đoàn đại biểu quân sự ta trong trại Davis hết sức phấn khởi và theo dõi rất kỹ cuộc tiến công như vũ bão của quân ta trên chiến trường.
   
        Đồng chí thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn, trưởng đoàn B mang cả tấm bản đồ có đánh dấu đỏ các mũi tên tiến công của quân ta trên các hướng sang đố vui chúng tôi xem ai đoán trúng mũi tên tiến công nào sẽ tiến vào Sài Gòn trước tiên? Tuy không phải các nhà quân sự chuyên nghiệp, chúng tôi cũng hiểu được rằng trong sâu thẳm của vị tướng trưởng đoàn của mình đang nung nấu một nguyện vọng giá như được trở lại chiến trường, tung hoành trận mạc, dẫn một đoàn quân ta vào giải phóng Sài Gòn, nơi đó còn có mẹ và em gái mình đang ngày đêm chờ mong ngày đoàn tụ sau bao năm xa cách, còn hơn là nằm chờ tại đây...

        Lúc này mọi người đều kháo nhau và dự kiến các tình huống có thể xảy ra đối với 2 phái đoàn ta:

        1.Bị bắt làm con tin để mặc cả sau này, nếu như ta không dứt điểm được việc giải phóng Sài Gòn.
        2.Bị tiêu diệt bởi xe tăng và bộ binh của địch.
        3.Một số đồng chí của đoàn có thể được xe tăng và đặc công của ta vào cứu đưa đến một nơi an toàn.
        4. Quân ta thắng lợi như chẻ tre, địch hoang mang tan rã chỉ lo mà tháo chạy, không đứa nào dám bén mảng đến chỗ ta. Nếu có đến, với tinh thần của 2 đoàn ta đã được chuẩn bị, chúng ta đủ sức chiến đấu với chúng, chờ đại quân tới.

        Lãnh đạo hai đoàn đều hạ quyết tâm chuẩn bị sẵn sàng đối phó với tình huống xấu nhất có thể xảy ra. Một số bức điện mật của lãnh đạo Đảng và Quân đội liên quan đến chủ trương của ta trong chiến dịch Hồ Chí Minh đã được lãnh đạo hai đoàn phổ biến cho cán bộ đảng viên của 2 đoàn để xác định tư tưởng kiên định bám trụ, chiến đấu đến cùng, sẵn sàng chiến đấu để góp phần vào thắng lợi cuối cùng. Cán bộ chiến sĩ hai phái đoàn ngày đêm thay nhau đào hầm, xây dựng giao thông hào liên hoàn như địa đạo nối liền 7 khu vực chiến đấu, hai hầm ngầm chỉ huy, một hầm quân y, kho dự trữ lương thực...Tất cả đều được xây dựng tuyệt đối bí mật bên trong doanh trại bằng các dụng cụ tự chế tạo; chủ yếu bằng cọc màn, giường sắt được gò thành thuổng và mài sắc để đào đất cho bén.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Ba, 2012, 09:32:48 am
        Vũ khí ta có trong hai phái đoàn chủ yếu là súng ngắn, một số tiểu liên AK - 47 theo quy định của Hiệp định Paris. Cái thiếu của 2 đoàn ta là vũ khí, đạn dược, lựu đạn, nhất là vũ khí chống tăng. Để có thể chiến đấu với xe tăng, bộ binh địch trong trường hợp chúng liều lĩnh xông vào, ta phải có những vũ khí cần thiêt trên. Đoàn đã điện, phản ánh một vài khó khăn và đề nghị cấp cho vũ khí chống tăng. Cấp trên đồng ý, song lại nảy sinh khó khăn mới, đó là vận chuyển những thứ đó từ Lộc Ninh vào phái đoàn như thế nào cho suôn sẻ, che mắt được địch. Nếu bị phát hiện, kẻ địch có thể suy ra ý định của ta và như vậy sẽ ảnh hưởng đến toàn cuộc. Ở đây cần phải nói thêm một điểm là từ khi ta đánh và giải phóng tỉnh lỵ và toàn bộ tỉnh Phước Long, phía Sài Gòn đơn phương cắt vô thời hạn các chuyến bay liên lạc hàng tuần Sài Gòn - Lộc Ninh. Đây là việc làm thường xuyên của phía họ nhằm gây sức ép đối với các phái đoàn ta.

        Nhưng như ông cha ta thường nói: "Trong cái khó, ló cái khôn". Cái "khôn" hay nói đúng hơn là biết lợi dụng một tình huống bất ngờ nảy sinh là trong trận đánh và giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột ngày 10 tháng 3 năm 1975, quân ta có bắt giữ một đại uý In-đô-nê-xi-a và một đại uý người I-ran trong Tổ Uỷ ban Quốc tế ở đó. Đại sứ In-đô-nê-xi-a và Đại sứ I-ran đến nhờ trưởng đoàn ta tại trại Davis can thiệp để trao trả cho họ. Ta nhận thấy đây là dịp may hiếm có để chẳng những có thể khai thác vào việc vận chuyển một số vũ khí chống tăng, đáp ứng yêu cầu của phái đoàn ta mà còn đưa được một số cán bộ lãnh đạo đoàn không cần thiết nữa ra vùng giải phóng để nhận nhiệm vụ khác, như vậy là nhất cử lưỡng tiện, vừa đưa được người của ta ra vùng giải phóng vừa vận chuyển được "hàng" về. Phía ta đã chăm sóc hai sĩ quan trên chu đáo và cho đưa về Lộc Ninh, chờ ngày trao trả và lãnh đạo đoàn ta cũng nói cho hai phái đoàn In-đô-nê-xi-a và I-ran trong Uỷ ban Quốc tế cần gây sức ép với phía Sài Gòn bảo đảm an ninh cho máy bay của Uỷ ban Quốc tế bay vào Lộc Ninh, ta cần có sĩ quan liên lạc đi cùng phái đoàn Uỷ ban Quốc tế.

        Về phía đoàn, ta cử đồng chí đại tá Nguyễn Văn Sĩ (thường gọi là anh Bẩy Sĩ, sau này là thiếu tướng, phó Tư lệnh Quân khu 9), phó trưởng đoàn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hợp quân sự 2 bên Trung ương, tôi đi làm nhiệm vụ phiên dịch cho đồng chí Bẩy Sĩ và áp tải "hàng". Chúng tôi đều được các đồng chí lãnh đạo đoàn quán triệt rất kỹ nhiệm vụ được giao cần phải hoàn thành một cách tốt nhất, không để cho đối phương phát hiện được ý định thực của ta.

        Theo kế hoạch, Uỷ ban Quốc tế sẽ thực hiện hai chuyến bay Sài Gòn- Lộc Ninh: Chuyến thứ nhất vào ngày 15 tháng 4 năm 1975 để làm công tác chuẩn bị, còn chuyến thứ 2 bay vào ngày 17 tháng 4 năm 1975 để thực hiện việc trao trả và đón hai sĩ quan đó về Sài Gòn. Theo phân công đồng chí Bẩy Sĩ sẽ tháp tùng đại sứ In – đô – nê – xi –a và đại sứ I-ran trong chuyến bay  thứ hai ra Lộc Ninh, sau đó ở lại và không quay lại trại Davis nữa. Nhưng việc không quay lại Sài Gòn chỉ một mình đồng chí Bẩy Sĩ biết mà thôi và phải tuyệt đối giữ bí mật không để đối phương biết. Còn tôi có nhiệm vụ đi phiên dịch, nhận “hàng” và áp tải “hàng” về cho phái đoàn ta. Để đảm bảo chắc ăn, bộ phận sỹ quan liên lạc và an ninh của phái đoàn ta đã phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với Lộc Ninh để ngay sau khi máy bay của Uỷ ban Quốc tế hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất là đã có đủ người bốc dỡ va-li ngay lên xe của ta và trở về phái đoàn. Khi các chiến sĩ ta khiêng “2 va-li ngoại giao” lên xe, tôi nghe thấy mấy sĩ quan nguỵ kháo nhau:

        -  Hàng ngoại giao gì đâu, lại mì (sắn) Lộc Ninh đó thôi, mấy ổng này quen ăn mì rồi.

        Với chuyến thứ nhất ta đã mang trót lọt “2 va-li ngoại giao” đầy vũ khí chống tăng, không bị ai khám xét…

        Với chuyến thứ hai, tôi còn nhớ khi lên máy bay đi Lộc Ninh, ngồi cạnh nhau, vị đại sứ In-đô-nê-xi-a hỏi đồng chí Bẩy Sĩ:

        -  Xong việc trao trả tại Lộc Ninh, ngài đại tá có cùng chúng tôi về Sài Gòn hay không?

        Đồng chí Bẩy Sĩ đành trả lời một cách lấp lửng:

        -  Chắc là có, vì nhiệm vụ chính của tôi hôm nay là đi tháp tùng các ngài và chứng kiến cuộc trao trả hai sĩ quan Uỷ ban Quốc tế.

        Nói xong không ai nói thêm gì nữa, mỗi người theo đuổi ý nghĩ của riêng mình. Linh cảm mách bảo tôi đây là chuyến đi cuối cùng tiễn đồng chí Bẩy Sĩ ra vùng giải phóng nhận nhiệm vụ mới. Bỗng dưng trong tôi trào lên một tình cảm rõ rệt. Phía trước là khu giải phóng, là hậu phương vững chắc cho những cuộc tiến công vũ bão sắp tới, đánh vào sào huyệt cuối cùng của địch. Phía sau tôi là tiền phương, nơi còn có 300 đồng đội của mình, đang ngày đêm mong chờ có đủ vũ khí đạn dược để “Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Tôi tự nhủ phải áp tải thắng lợi 2 va-li ngoại giao này về cho đoàn.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Ba, 2012, 09:35:22 am
        Việc trao trả hai sỹ quan In-đô-nê-xi-a và I-ran diễn ra một cách suôn sẻ, nhanh chóng. Họ đều khoẻ mạnh và phấn khởi, hết lời ca ngợi sự đối xử tốt đẹp của bên ta dành cho họ. Tôi đoán, chắc hơn 1 tháng sống trong vùng giải phóng với các chiến sĩ ta, kể từ ngày bị bắt giữ tại thị xã Buôn Ma Thuột, giờ đây hai viên đại uý này đầy ắp những kỉ niệm và muốn nhanh chóng trở về Sài Gòn. Lúc chuẩn bị lên máy bay để trở về Tân Sơn Nhất, đồng chí Bẩy Sĩ kéo tôi ra chỗ vắng nói nhỏ:
        -  Lát nữa phía họ có hỏi sao tôi không về thì em cứ nói tôi bị bệnh phải ở lại Lộc Ninh chữa bệnh nhé.

        Nói xong đồng chí ôm chặt lấy tôi và nói:

        -  Em trở về trong đó mạnh giỏi, nhớ gửi lời chào tới tất cả các anh em phiên dịch trong Tiểu ban Quốc tế nhé

        (Đồng chí Bẩy Sĩ là phó đoàn phụ trách Tiểu ban Quốc tế và hay có thói quen gọi phiên dịch chúng tôi là em). Lúc đó tôi không biết nói gì, chỉ thấy mặt mình nóng ran. Nhưng tôi rất hiểu tình cảm và những lời nói chân thành của đồng chí Bẩy Sĩ dành cho tôi lúc này mang đầy ý nghĩa.

        Thế là bằng hai chuyến bay của Uỷ ban Quốc tế ra Lộc Ninh đón hai thành viên của phái đoàn In-đô-nê-xi-a và I-ran bị quân ta giữ lại từ trận đánh giải phóng Buôn Ma Thuột về Tân Sơn Nhất vào các ngày 15 và 17 tháng 4 năm 1975, đoàn ta đã hoàn thành một cách xuất sắc kế hoạch đã đề ra: vừa chuyển được người ra vùng an toàn vừa mang được vũ khí chống tăng về để chuẩn bị cho giai đoạn chiến đấu cuối cùng.

        Chiến dịch Hồ Chí Minh mở màn vào ngày 26 tháng 4 năm 1975 và đến sáng 30 tháng 4 năm 1975, Sài Gòn hoàn toàn giải phóng. Do các mũi tiến quân của ta tiến về Sài Gòn nhanh, mạnh như vũ bão dẫn đến quân đội Sài Gòn tan rã nhanh chóng, trở tay không kịp mà các chiến sĩ ta trong trại Davis không có dịp sử dụng đến số vũ khí chống tăng kia. Nhưng như người ta thường nói “nuôi quân ba năm, dùng quân một giờ”, ở đây không phải dùng đến quân mà vẫn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thì càng tốt chứ sao!

        Xin nói thêm một chi tiết để thấy các tình huống dự kiến trên của anh em ta trong phái đoàn là có cơ sở, khi tiếp quản Bộ Tổng tham mưu nguỵ, sĩ quan an ninh của ta đã tìm thấy sổ công tác trên bàn làm việc của tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn, có ghi: “Chỉ thị cho cấp dưới được quyền sử dụng một trong các biện pháp sau đây đối với phái đoàn trong trại Davis không cần xin chỉ thị của Bộ Tổng tham mưu, chỉ cần phát hiện thấy có tiếng súng từ trại Davis bắn sang sân bay: (1) Bắn pháo, cối vào trại Davis; (2) Cho xe tăng và bộ binh tấn công; (3) Ném bom; (4) Rải chất độc hoá học. Cao Văn Viên di tản chiều 28 tháng 4 năm 1975 và lệnh này không được thi hành cũng do việc nguỵ “nhào” quá nhanh mà thôi.

        Thấm thoắt hơn ba mươi năm đã trôi qua và chúng ta đang chuẩn bị kỷ niệm ngày chiến thắng 30 tháng 4, mốc đánh dấu miền Nam hoàn toàn giải phóng, non sông trở về một mối và cũng là dịp để các thành viên trại Davis gặp mặt ôn lại những kỷ niệm xưa. Được biết đồng chí Bẩy Sĩ đã qua đời. Ngày đồng chí mất vì đường xá xa xôi không vào viếng, tiễn đưa đồng chí đến nới an nghỉ cuối cùng được, nhưng tôi cầu xin vong linh của đồng chí hãy coi bài viết này của người phiên dịch đã từng tiễn đưa đồng chí ra vùng giải phóng Lộc Ninh an toàn trên chuyến bay liên lạc cuối cùng của Uỷ ban Quốc tế như một nén hương thắp lên mộ để tưởng nhớ đến người Thủ trưởng năm xưa rất đỗi kính yêu của mình.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Ba, 2012, 09:41:40 am

SUỐT ĐỜI ANH LÀ NGƯỜI LÍNH

LÝ THỊ TRANG              
     
        Đọc "Những lá thư thời chiến Việt Nam" (NXB Hội nhà văn 2005), tôi xúc động trước tình yêu cao đẹp của những chiến sỹ đang sống, chiến đấu trong hoàn cảnh gian khổ, hiểm nguy, luôn đối mặt với kẻ thù, cái chết luôn rình rập, vậy mà vẫn tranh thủ từng giây phút viết thư về gia đình với bao thương nhớ, lo lắng cho những người thân yêu và tin tưởng ngày đoàn tụ...

        Nhiều bức thư đã làm tôi nghẹn ngào ứa nước mắt. Và thật bất ngờ, trong đó có "Bức thư viết ở Trại Đa-vít - Tân Sơn Nhất những ngày cuối tháng tư 1975" của anh Nguyễn Tiến Bộ, chồng chị Phương Kim Dung, nguyên chủ tịch Hội LHPN Hà Nội, nguyên Tổng biên tập báo PNTĐ, là Thủ trưởng cũ của tôi. Mấy chục năm cùng công tác cho đến khi nghỉ hưu chúng tôi vẫn thường xuyên có mối quan hệ thân thiết.

        Hồi đó, anh Bộ là trung tá được chỉ định làm phó Trưởng đoàn Quân sự của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa trong Tổ liên hợp 4 bên (VNDCCH, Mặt trận giải phóng MNVN, Mỹ, Việt Nam Cộng hòa) giám sát việc thi hành Hiệp định Pari 1973, đóng tại trại Đa-vít (trong sân bay Tân Sơn Nhất). Hơn hai năm làm nhiệm vụ ngay trong lòng địch với tình thế quân ta liên tiếp chiến thắng vang dội trên khắp chiến trường miền Nam, anh Bộ đã viết nhiều thư cho chị Dung. Có thư anh kể khi có việc vào nội thành Sài Gòn, đoàn ta đi bằng xe du lịch loại sang của Mỹ có cắm cờ hiệu nên bao giờ cũng có một xe quan cảnh dẫn đầu trang bị điện đài và còi cứu hỏa. Đến các ngã tư, họ bấm còi kêu inh ỏi chặn xe các ngả cho đoàn ta đi qua, họ rất sợ xe mình dừng lại thì dân xúm đến xem, tỏ cảm tình với đoàn. Xung quanh nơi đoàn ta ở có hàng chục bốt gác phía ngoài, làm các chòi rất cao từ xa để quan sát bên trong, cửa nào cũng có quân cảnh. Làm thế cốt để ngăn dân tiếp xúc với đoàn và cũng để "dọa" ta. Có lần anh Bộ đã nói với tên sỹ quan ngụy: 50 vạn quân Mỹ súng ống đầy người còn không làm chúng tôi sợ nữa là mấy tên quân cảnh. Những thư sau anh viết vội nhưng đầy phấn khởi: dù Mỹ liên tục phá hoại, khiến ta gặp không ít khó khăn nhưng việc giải phóng miền Nam chỉ còn là ngày giờ mà thôi... Một trong những lá thư đó chính là bức thư đăng trong "Những lá thư thời chiến VN", được anh Bộ viết trước khi ta giải phóng Sài Gòn 5 ngày.

        "Ngày 24/4/1975

        Em yêu quý!

        Do Mỹ phá chuyến bay, nên thư viêt không chuyển được. Rồi đây với đà thắng lợi ngày càng lớn, Mỹ sẽ phá hoại liên tục để ép ta, do vậy việc liên lạc sẽ rât thât thường. Điều này mình cũng đã dự kiên rồi. Có những việc anh viêt trong thư tuần lễ trước, đên nay có thể không còn tính thời gian nữa.

        Tình hình hiện nay vô cùng phấn khởi. Việc giải phóng miền Nam đã trông thâý trước mắt. Triển vọng rât là sáng sủa. Cuộc sống chỉ trong một thời kỳ vài kế hoạch 5 năm là thay đổi căn bản, vì miền Nam vô cùng phong phú về tài nguyên, nguyên liệu, cả về nông nghiệp và công nghiệp; chỉ lo không đủ sức mà làm cho nhanh, cho tốt. Tương lai của chúng mình sẽ rất sung sướng. Anh rât vui vì trong giờ phút quyêt đinh này, mình lại có điều kiện có mặt giữa Sài Gòn, ngay trong lòng địch. Anh sẽ được chứng kiến những diễn biên trọng đại của lịch sử, ngàn năm có một.

        Trước tình hình thắng lợi như vậy, cần phải đề phòng những khó khăn do phía địch gây ra, khi chúng giãy chêt, đó là điều tât yêú. Trong này, tuy hai đoàn ta đâú tranh chính trị ngoại giao, nhưng trong thời gian gần đây đã tập trung thời gian sức lực để làm công tác chuẩn bị đôí phó mọi mặt và mọi tình huống xảy ra. Gay go, vât vả nhưng cũng rất kỳ lạ và vĩ đại. Nếu cần thì cuộc sống sẽ chuyển xuống dưới lòng đât.

        Hiện nay dư luận thế giới, dư luận miền Nam, người nào cũng thâý là việc giải phóng Sài Gòn chỉ còn là vấn đề ngày giờ. Mọi người đều mong như vậy diễn biến ra sao do chỉ đạo của TW, nhưng có điều là mâý ngày qua, quân ngụy vô cùng lúng túng, như gà mắc tóc. Thiệu từ chức, chính phủ bât lực Cả Sài Gòn xôn xao. Các nhà báo ngoại quốc đên xin chụp ảnh với anh em ta, để đề phòng khi cần thì chứng minh là có liên hệ vớí cách mạng. Những người Việt Nam làm cho chính quyển ngụy tìm cách chứng minh là họ có cảm tình với Cách mạng. Bọn lính dù vốn ngông nghênh, ác ôn, nhưng gần đây qua trụ sở của đoàn ta đều có cử chỉ chào, vẫy tay tỏ thái độ lễ độ với hai đoàn của ta...

        Nếu Sài Gòn được giải phóng, lúc đó chắc anh sẽ phải nhận một công việc gì đó của thành phố. Điều đó là chắc chắn. Do vậy, thê'nào cũng phải một thời gian nào đó dự đinh thì mới lại có dịp ra Hà Nội.

        Mấy dòng ngắn để ba mẹ con yên trí, và dù trong hoàn cảnh nào cũng phấn khởi, cố gắng công tác.

        Chúc ba mẹ con luôn khỏe.

        Hôn tất cả ".


        Vậy mà 4 ngày sau khi gửi bức thư này cho chị Dung, trước khi Sài Gòn giải phóng một ngày, anh Bộ đã bị thương rất nặng. Anh bị mảnh pháo cắt mất một chân, chân còn lại đạn xuyên qua bàn chân làm mất gót chân. Sau này, chị Dung và 2 con mới biết lần bị thương đó anh Bộ suýt hy sinh bởi một mảnh đạn găm vào ngực trái, rất may trong túi áo của anh có chiếc ví nhựa đựng giấy tờ và danh thiếp nên mảnh đạn không xuyên vào tim, vì vậy anh đã thoát khỏi cái chết trong gang tấc. Sau này, anh Bộ phải lắp chân giả, đi phải chống nạng rất khó khăn nhưng anh vẫn đi làm. Bộ Thương binh đã tặng anh chiếc xe ba bánh, khi nào các vết thương không làm anh đau đớn, anh đến lái xe đón chị Dung tại cơ quan hoặc chở chị và cháu ngoại đi chơi ở đâu đó.

        Tôi biết mối tình của anh chị bắt đầu từ những năm đầu kháng chiến chống Pháp, anh và chị cùng công tác trong Cục dân quân. Anh thầm yêu chị, cô gái Hà Nội trắng trẻo, xinh nền nã, nhưng đến khi chị chuyển sang Cục quân y (chị học Dược) thì anh mới dám ngỏ lời. Cuộc đời "vợ lính" nuôi con một mình, nhưng chị Phương Kim Dung đã phấn đấu nỗ lực trở thành Đại biểu Quốc Hội. ƯV Đoàn Chủ tịch TƯ Hội LHPNVN, Thành ủy viên, ĐB HĐNDTP, Chủ tịch Hội LHPN TP Hà Nội. Trọng trách nào chị cũng hoàn thành và nuôi dạy hai con trưởng thành. Gia đình anh chị sống êm ấm trong ngôi nhà cấp 4 tập thể ở phố Hoàng Văn Thụ, quận Ba Đình (nay gia đình ở tại khu tập thể 34B Trần Phú). Tháng 3/1989 anh Bộ đã vĩnh biệt chị Dung và các con cháu.

        Nghe tôi nhắc lại chuyện những lá thư thời chiến, cảm xúc và những kỷ niệm về người chồng thân yêu dâng trào, chị Dung xúc động: "Suốt cuộc đời anh Bộ là người lính, chưa được nghỉ ngơi."


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Ba, 2012, 05:34:55 am

HOA PHƯỢNG

LINH GIANG              
     
                             Cây phượng già cuối phố,
                             Nhuộm đỏ một khoảng trời,
                             Ra đi mang nỗi nhớ
                             Đến mọi miền xa xôi…

                             Một buổi mai nhạt nắng
                             Em tiễn anh lên đường,
                             Lá vàng buông lối vắng
                             Gửi bao lời yêu thương!

                             Em đứng bên hàng liễu,
                             Hồ Gươm in bóng cây,
                             Nhìn anh không kịp nói,
                             Trao vội chiếc khăn tay.

                             Không một lời tiễn biệt,
                             Chiếc khăn gói bông hoa
                             Rực rỡ màu thắm đỏ,
                             Hẹn ngày về không xa!

                             Đêm Trường Sơn lộng gió,
                             Mưa lạnh thấm qua chăn,
                             Rùng mình giữa cơn sốt,
                             Chỉ có hoa và khăn.

                             Sự sống kề cái chết
                             Coi nhẹ như cánh hồng,
                             Dù tắm bom, gội đạn
                             Pơ-lây Me, Chư Prông…

                             Rồi Đak Tô, Tân Cảnh
                             Chục lần vượt Pô Kô
                             Đêm đen dày mưa gió
                             Thác réo vọng đôi bờ..!..

                             Gần tháng trời không gạo,
                             Lót dạ nắm rau rừng,
                             Súng còn vài viên đạn,
                             Cõng đồng đội trên lưng.

                             Vào miền Đông ngợp nắng,
                             Ém mình ven bờ sông
                             Ghìm súng chờ tàu giặc,
                             Sóng gầm Vàm Cỏ Đông!

                             Vùng ven mờ ánh điện,
                             Pháo sáng vọt ngang trời,
                             Nơi hầm sâu ngập nước,
                             Có phượng hồng bên tôi.

                             Những đêm thương, ngày nhớ
                             Thân liễu rủ mặt hồ,
                             Em hoá người chinh phụ,
                             ặp nhau trong giấc mơ (!)


                             Anh ngóng về phương Bắc,
                             Lửa đạn cũng đỏ trời,
                             Giặc Mỹ gieo tội ác,
                             Máu trào, Hà Nội ơi!

                             Em xin vào tự vệ,
                             Trực chiến suốt đêm ngày,
                             Nòng súng vươn nóc phố,
                             Chờ quân giặc tới đây!

                             Đêm cuối đông rực lửa,
                             Lũ cướp xé bầu trời,
                             Mặt hồ dâng sóng cuộn
                             Dìm đầu quỷ tanh hôi…

                             Đạn vít đầu bầy quạ
                             “Thần sấm” với “con ma”
                             Chúng bay phải đền tội
                             Xuống bùn đen Ngọc Hà!

                             Loạt bom thù trút vội
                             Khẩu đội em không còn,
                             Mịt mù giữa biển lửa,
                             Tuổi xuân dâng nước non.

                             Nơi chiến trường đạn réo,
                             Tin em, đau xé lòng,
                             Hận thù quân cướp Mỹ,
                             Quyết không đội trời chung!

                             Ngày mai ngoài chiến địa
                             Anh đem lửa căm hờn
                             Trút lên đầu lũ giặc,
                             Rửa thù cho quê hương…

                             Anh vào Tân Sơn Nhất,
                             Giữa trùng vây kẻ thù,
                             Một đoàn quân chiến thắng,
                             Đã về nơi thành đô.

                             Mỹ nguỵ vẫn ngoan cố,
                             Phá Hiệp định Pa – ri,
                             Chúng bao vây, uy hiếp…
                             Ta đâu có xá gì (!)

                             Đứng nhìn  quân Mỹ rút,
                             Nhớ lời thơ Bác Hồ,
                             Nay “đánh cho Mỹ cút”
                             Mai “…nguỵ nhào” không xa!

                             Tháng tư tràn ánh nắng,
                             Đại quân đang tiến về,
                             Như triều dâng, thác cuốn
                             Khắp thị thành, làng quê!

                             Sài Gòn ơi! Giải phóng!
                             Vầng đông rực chân mây
                             Non sông liền một dải
                             Thoả ước mong tháng ngày.

                             Trong những ngày bom lửa
                             Em luôn kề bên anh,
                             Ơi bông hoa phượng vĩ,
                             Hát mãi khúc tâm tình…


Tháng 5.1975          



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Tư, 2012, 03:14:41 pm
Lễ đón nhận danh hiệu Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân được tổ chức tại Hội trường Bộ Quốc phòng từ 7h30 tới 10h30 ngày 20/4/2012.

Nếu "còn" quân phục thì các bác mặc quân phục, nếu không còn thì các bác mặc comple (có thể sẽ rất nóng) hoặc áo dài. Tập kết tại 14 Lý Nam Đế (có chỗ để ô tô, xe máy) trước 7h để kịp lên ô tô vào hội trường. Điều quan trọng là các bác nhớ mang theo chứng minh thư.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: codon65 trong 17 Tháng Tư, 2012, 04:32:00 pm
            Sáng thứ năm 29 tháng 3 năm 1973, ban liên hợp quân sự hai bên trung ương họp phiên đầu tiên, đoàn ta vẫn do trung tướng Trần Văn Trà làm trưởng đoàn, các phó trưởng đoàn là tôi thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn, đại tá Võ Đông Giang ( cũ ), đại tá Bùi Thanh Khiết ( mới ) đại tá Nhuyễn Văn Sĩ ( mới ) [8] . Phiên họp này quyết định thành lập các tiểu ban để giúp hai trưởng đoàn trong từng lĩnh vực cần giải quyết theo quy định của hiệp định. Khởi động bộ máy mới xong, anh Trà coi như hoàn thành nhiệm vụ ở đây, giao công việc lại cho tôi và chuẩn bị ra đi. Anh cũng chẳng giao dặn gì nhiều và cụ thể, triệu tập các đồng chí trong ban lãnh đạo đoàn lại, bảo “ công việc mới mẻ và phức tạp lắm, kẻ địch thì tráo trở và ngoan cố, luôn tìm cách vi phạm, tuy nhiên những kẻ yêu cầu bức thiết của ta đã đạt được: Tống hết quân Mỹ ra khỏi miền Nam rồi, nhận lại một số lớn cán bộ chiến sĩ ta bị bắt. Bây giờ anh em hãy đoàn kết bàn bạc tập thể với nhau và làm, phối hợp chặt chẽ với các đồng chí đoàn A ( tức đoàn đại biểu quân sự chính phủ cộng hòa trong tổ liên hợp quân sự bốn bên ), cố đấu tranh đòi thực hiện tiếp một số điều khoản quan trọng nữa, đặc biệt chú ý: Duy trì ngừng bắn, trao trả nhân viên, dân sự ( tù chính trị ), phân định vùng kiểm soát, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh dư luận, tranh thủ ủy ban quốc tế, tố cáo mạnh mẽ địch vi phạm hiệp định, phối hợp tốt đấu tranh dư luận với hoạt động của chiến trường. Giữ đếu liên lạc với hậu phương ( cả Hà Nội và Miền ) để báo cáo, nhận thông báo tình hình và chỉ thị “.
---------------
Theo em được biết phó đoàn quân sự 4 bên tại trại Davit còn một người là Đại tá Trần Quốc Minh,vậy người ấy là ai vậy các bác?


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Tư, 2012, 09:03:28 pm
Tin vui: Nhân dịp các phái đoàn trại Đa vít được tuyên dương danh hiệu đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, 500 bộ (T1+T2) cuốn  

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/scan-1.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/scan-4.jpg)

đã được tái bản xong trong ngày hôm nay!


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Tư, 2012, 11:33:55 pm
Đại tá Vũ Nam Bình, chủ biên cả 2 tập "Trại Đa vít 823 ngày đêm" khái quát về sách như sau:  

http://www.youtube.com/watch?v=9c_w4AV2POw


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: panphilov trong 21 Tháng Tư, 2012, 12:09:56 am
            Sáng thứ năm 29 tháng 3 năm 1973, ban liên hợp quân sự hai bên trung ương họp phiên đầu tiên, đoàn ta vẫn do trung tướng Trần Văn Trà làm trưởng đoàn, các phó trưởng đoàn là tôi thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn, đại tá Võ Đông Giang ( cũ ), đại tá Bùi Thanh Khiết ( mới ) đại tá Nhuyễn Văn Sĩ ( mới ) [8] . Phiên họp này quyết định thành lập các tiểu ban để giúp hai trưởng đoàn trong từng lĩnh vực cần giải quyết theo quy định của hiệp định. Khởi động bộ máy mới xong, anh Trà coi như hoàn thành nhiệm vụ ở đây, giao công việc lại cho tôi và chuẩn bị ra đi. Anh cũng chẳng giao dặn gì nhiều và cụ thể, triệu tập các đồng chí trong ban lãnh đạo đoàn lại, bảo “ công việc mới mẻ và phức tạp lắm, kẻ địch thì tráo trở và ngoan cố, luôn tìm cách vi phạm, tuy nhiên những kẻ yêu cầu bức thiết của ta đã đạt được: Tống hết quân Mỹ ra khỏi miền Nam rồi, nhận lại một số lớn cán bộ chiến sĩ ta bị bắt. Bây giờ anh em hãy đoàn kết bàn bạc tập thể với nhau và làm, phối hợp chặt chẽ với các đồng chí đoàn A ( tức đoàn đại biểu quân sự chính phủ cộng hòa trong tổ liên hợp quân sự bốn bên ), cố đấu tranh đòi thực hiện tiếp một số điều khoản quan trọng nữa, đặc biệt chú ý: Duy trì ngừng bắn, trao trả nhân viên, dân sự ( tù chính trị ), phân định vùng kiểm soát, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh dư luận, tranh thủ ủy ban quốc tế, tố cáo mạnh mẽ địch vi phạm hiệp định, phối hợp tốt đấu tranh dư luận với hoạt động của chiến trường. Giữ đếu liên lạc với hậu phương ( cả Hà Nội và Miền ) để báo cáo, nhận thông báo tình hình và chỉ thị “.
---------------
Theo em được biết phó đoàn quân sự 4 bên tại trại Davit còn một người là Đại tá Trần Quốc Minh,vậy người ấy là ai vậy các bác?

Người đó đây thưa bác: http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,1667.msg22868.html#msg22868

(http://img714.imageshack.us/img714/8356/tranvandanhfn7.jpg)

Trích dẫn
Thiếu tướng Trần Văn Danh tên thật là Trần Văn Bá, ông có bí danh là Ba Trần, Trần Quốc Minh quê tại Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh. Mẹ ông (bà Trần Thị Thảnh) là người Bến Tre lên Sài Gòn làm cô mụ và gặp cha ông là con trai một ông Hương cả trong làng ở Hốc Môn. Ông nội ông là người sống rất nghiêm khắc, nên mẹ con ông phải đến sống ở một nơi khác.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tư, 2012, 08:50:07 am
Ồ, cám ơn bác panphilov. Hôm vừa rồi, tôi có hỏi các bác đại biểu đi dự lễ đón nhận danh hiệu anh hùng (cả đoàn miền bắc, cả đoàn miền nam) về trường hợp này nhưng hầu như không ai biết cả. Cũng có vài ý kiến về bác Minh nhưng không rõ ràng, chỉ là nhớ mang máng thôi.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tư, 2012, 11:01:43 am

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-1.jpg)
Chị Mộng Tước xưa ... (1973)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled.jpg)
... và bà Mộng Tước nay (4/2012)

Tiếc là chưa sưu tầm được băng video mà chị biểu diễn ngày ấy. Bây giờ xin trân trọng mời mọi người xem bà Mộng Tước (68 tuổi) biểu diễn cùng tốp nữ:

http://www.youtube.com/watch?v=VtGreeyjZzc

Kịch bản và đạo diễn: Nguyễn Khắc Tuế (Nguyên trưởng đoàn văn công biểu diễn trong trại Đa vít 1973)
Quay phim biên tập và dàn dựng: Quách Mạnh Hùng


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tư, 2012, 12:17:44 pm
Ở:


NGHE TIẾNG ĐÀN BẦU
TRONG TRẠI ĐA-VÍT
ĐlNH QUỐC KỲ      
           
        Hồi đó, vào những ngày cuối tháng 12 năm 1973, để chuẩn bị kỷ niệm 29 năm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944 - 22-12-1973), Tổng cục Chính trị và Cục Chính trị Quân giải phóng miền Nam quyết định cử hai tổ văn nghệ xung kích vào phục vụ trong "trại Đa- vít', Đây là trụ sở làm việc, sinh hoạt của hai phái đoàn đại biểu quân sự cách mạng trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên và hai bên Trung ương tại khu vực cạnh đường băng sân bay Tân Sơn Nhất - Sài Gòn (nay là thành phố Hồ Chí Minh)...

Chúng ta đã được nghe đại tá Đinh Quốc Kỳ kể về tiếng đàn bầu trong trại Đa vít. Bây giờ, sau gần 40 năm, xin mời mọi người gặp lại người nghệ sĩ chơi đàn ngày ấy:

http://www.youtube.com/watch?v=O2omtSFHxC4

Kịch bản và đạo diễn: Nguyễn Khắc Tuế (Nguyên trưởng đoàn văn công biểu diễn trobf trại Đa vít 1973)
Quay phim biên tập và dàn dựng: Quách Mạnh Hùng


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tư, 2012, 01:18:15 pm
Đại tá Vũ Nam Bình :"... Những con người tham gia đấu tranh có vui,có buồn, có những sinh hoạt thông thường: chiếu phim, trồng rau, đánh bóng chuyền, đánh bóng bàn. Cuộc sống ở trong một nơi tưởng như o ép, làm cho mình nhụt ý chí nhưng hóa ra là những người rất lạc quan cách mạng. Cả các cô văn công cũng vào, các anh văn công cũng vào để đàn, tiếng đàn tiếng hát vui vẻ lắm, để chứng minh cho họ thấy rằng mình rất lạc quan cách mạng! Mà lạc quan thật chứ không phải lạc quan đùa, không phải là mình tạo ra điều đó đâu! Thực sự là như thế! ..."

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-4.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-10.png)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-3.jpg)
Giao hữu bóng chuyền với Ủy ban Quốc tế

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-2.jpg)
Nhân dân đứng xem và cổ vũ thi đấu từ ngoài hàng rào


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tư, 2012, 02:03:57 pm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-11.jpg)
Thi đấu giao hữu bóng rổ với đoàn Ba Lan

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-12.jpg)
Chụp ảnh lưu niệm sau trận đấu



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tư, 2012, 06:23:20 pm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-8.jpg)
Ca hát ...

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-9.jpg)
... và khán giả


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tư, 2012, 06:49:56 pm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-5.jpg)
Chăm sóc rau

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-6.jpg)
Thành quả

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-7.jpg)
Thu hoạch



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tư, 2012, 09:45:10 pm
        Trong lễ đón nhận Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân có 10 đại biểu từ phía nam ra thủ đô Hà Nội dự lễ. Ban liên lạc đã cử anh Công và anh Thắng ra tận sân bay Nội Bài đón. Sau đây là một vài hình ảnh gặp gỡ giữa những người đi đón với các đại biểu đoàn từ phía nam ra.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-13.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-14.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-15.jpg)


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tư, 2012, 10:14:37 pm
Khách Sạn Lý Nam Đế

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-20.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-17.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-18.jpg)


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tư, 2012, 09:21:12 am
Một số hình ảnh trong ngày đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân 20/4/2012:

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/SanhkhachsanLyNamDe.jpg)
Khác sạn 14A10 Lý Nam Đế trước giờ xuất phát: ríu rít tìm và gặp gỡ !

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/SanhkhachsanLyNamDe1.jpg)
Tranh thủ chụp ảnh lưu niệm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/SanhkhachsanLyNamDe2.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/SanhkhachsanLyNamDe3.jpg)






Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tư, 2012, 09:49:24 am
Một số hình ảnh bên trong hội trường Bộ Quốc phòng, nơi diễn ra lễ trao tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho 2 đoàn đại biểu quân sự trại Đa vít:

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-19.jpg)
Hai đoàn đại biểu trong hội trường trước giờ khai mạc

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Tronghoitruong.jpg)
Lãnh đạo Tổng cục cính trị thăm hỏi các thành viên hai đoàn

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Tronghoitruong4.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Tronghoitruong3.jpg)

 


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tư, 2012, 09:52:19 am

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Tronghoitruong2.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Tronghoitruong1.jpg)
Lãnh đạo Tổng cục cính trị thăm hỏi các thành viên hai đoàn

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Tronghoitruong5.jpg)
Đại tá Nguyễn Trần Thiết và đại tá Đinh Quốc Kỳ chụp ảnh lưu niệm trong hội trường

 


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tư, 2012, 10:08:47 am
Buổi lễ mở màn bằng các tiết mục văn nghệ:

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/vn1.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/vn2.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/vn3.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/vn4.jpg)

 


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tư, 2012, 11:12:00 am

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-16.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-21.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-22.jpg)
Tuyên bố khai mạc và giới thiệu đại biểu
 


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tư, 2012, 11:16:34 am

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-23.jpg)
Chủ tịch nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam: Trương Tấn Sang

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-24.jpg)
Đại tướng Nguyễn Quyết

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-25.jpg)
Nguyên phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình

[(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-27.jpg)
Thượng tướng Phạm Thanh Ngân

  


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tư, 2012, 11:24:16 am

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-29.jpg)
Thượng Tướng Ngô Xuân Lộc

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-28.jpg)
Nguyên bộ trưởng Bộ ngoại giao Nguyễn Dy Niên

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-27.jpg)
Trung tướng Trần Hanh

 


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tư, 2012, 11:26:06 am
Đọc diễn văn: Trung tướng Lương Cường

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-31.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-30.jpg)
[/center]



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tư, 2012, 11:32:46 am
Trao tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân:

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-32.jpg)
Đại tá Nguyễn Quang Biều, đại tá Đào Chí Công (đại diện cho 2 đoàn) và tổ Quân kỳ

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-33.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-34.jpg)



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tư, 2012, 11:35:22 am

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-35.jpg)

[(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-36.jpg)
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đọc lời chào mừng

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-37.jpg)

 


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tư, 2012, 11:38:55 am
 
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-38.jpg)
Trung tá Huỳnh Văn Trình đại diện cho các thành viên của cả hai đoàn phát biểu


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tư, 2012, 02:00:05 pm
Đại tá Huỳnh Văn Trình gặp gỡ các vị lãnh đạo sau phát biểu:

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-39.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-40.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-41.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Untitled-42.jpg)

[/center]


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tư, 2012, 02:11:53 pm
Buổi lễ kết thúc trong không khi hân hoan rộn ràng phấn khởi. Mọi người ùa lên sân khấu chen nhau chụp ảnh lưu niệm đánh dấu 1 buổi gặp mặt đầy ý nghĩa và hẹn gặp lại trong buổi lễ mừng công sắp tới tổ chức vào 8h ngày 28/4/2012 tai số 8 Hùng Vương Hà Nội

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Chupanhkyniem1.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Chupanhkyniem2.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Chupanhkyniem3.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Chupanhkyniem4.jpg)



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tư, 2012, 02:17:44 pm
Chụp 1 lúc rồi mới chợt nhớ ra là còn quên 2 thứ quan trọng nhất của buổi lế:  ;D

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Chupanhkyniem5.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Chupanhkyniem6.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Chupanhkyniem7.jpg)



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tư, 2012, 02:28:45 pm
Nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình cũng tham gia chụp ảnh lưu niệm với mọi người

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Chupanhkyniem8.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Chupanhkyniem11.jpg)



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tư, 2012, 02:31:30 pm
Màn cuối cùng không thể thiếu:

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Lienhoan.jpg)



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tư, 2012, 02:35:07 pm
Tường thuật lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân của 2 đoàn đại biểu trại Đa vít (phần 1):

http://www.youtube.com/watch?v=k2XDn1VS3rw

 


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tư, 2012, 04:48:47 pm

Tường thuật lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân của 2 đoàn đại biểu trại Đa vít (phần 2):

http://www.youtube.com/watch?v=zzcqh5KDffc

 


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tư, 2012, 05:20:18 pm
Tường thuật lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân của 2 đoàn đại biểu trại Đa vít (phần 3):

http://www.youtube.com/watch?v=gMu2TSwCaYU

 



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tư, 2012, 05:29:05 pm
Tường thuật lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân của 2 đoàn đại biểu trại Đa vít (phần 4):

http://www.youtube.com/watch?v=sNw3NMQwH0c

 


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tư, 2012, 05:35:39 pm

Tường thuật lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân của 2 đoàn đại biểu trại Đa vít (phần 5 - hết):

http://www.youtube.com/watch?v=sDQZbSv0IuU

 


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: codon65 trong 23 Tháng Tư, 2012, 06:21:03 pm
Ồ, cám ơn bác panphilov. Hôm vừa rồi, tôi có hỏi các bác đại biểu đi dự lễ đón nhận danh hiệu anh hùng (cả đoàn miền bắc, cả đoàn miền nam) về trường hợp này nhưng hầu như không ai biết cả. Cũng có vài ý kiến về bác Minh nhưng không rõ ràng, chỉ là nhớ mang máng thôi.
Em đã tìm ra được mấy tấm hình của trại Davit có hình của bác Minh :
(http://img853.imageshack.us/img853/8483/60038447.jpg)
(http://img196.imageshack.us/img196/7717/80721396.jpg)
(http://imageshack.us/content_round.php?page=done&l=img163/8086/65434227.jpg)
(http://img163.imageshack.us/img163/7447/28707161.jpg)
(http://img191.imageshack.us/img191/2146/63188367.jpg)
(http://img441.imageshack.us/img441/5710/52537643.jpg)
(http://img694.imageshack.us/img694/5931/31980649.jpg)
(http://img221.imageshack.us/img221/1409/70013123.jpg)
(http://img818.imageshack.us/img818/490/89992915.jpg)
(http://img607.imageshack.us/img607/5954/63463779.jpg)
(http://img593.imageshack.us/img593/1205/71896335.jpg)
(http://img515.imageshack.us/img515/5548/24825573.jpg)


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: codon65 trong 25 Tháng Tư, 2012, 10:45:29 am
Nhân tiện em tìm được một số ảnh liên quan thời đó xin post lên đây luôn:
(http://img88.imageshack.us/img88/1254/0008pj.jpg)
(http://img209.imageshack.us/img209/3070/0009du.jpg)
(http://img14.imageshack.us/img14/7825/0010nb.jpg)
(http://img715.imageshack.us/img715/4291/0011ss.jpg)
(http://img850.imageshack.us/img850/7515/0012we.jpg)
(http://img403.imageshack.us/img403/251/0013gc.jpg)
(http://img13.imageshack.us/img13/1221/0014ee.jpg)
[imghttp://img337.imageshack.us/img337/7062/0015tp.jpg]http://[/img]
(http://img821.imageshack.us/img821/7267/0017cf.jpg)
(http://img840.imageshack.us/img840/3186/0019it.jpg)
Còn tiếp


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: panphilov trong 27 Tháng Tư, 2012, 06:16:21 am
Cám ơn bác codon65 về những tấm hình quý giá này. Chỉ có một yêu cầu nho nhỏ là bác cố scan, hoặc chụp ảnh sao cho chất lượng tốt để mọi người sưu tầm được không ạ? Ví dụ tấm hình này:

Trích dẫn
(http://img515.imageshack.us/img515/5548/24825573.jpg)

Một lần nữa xin cảm ơn bác.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2012, 02:04:26 pm
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/D0.jpg)

Trò chuyện với người cắm cờ trên tháp nước:

http://www.youtube.com/watch?v=u8y5o28i7DI


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: codon65 trong 28 Tháng Tư, 2012, 12:24:30 am
Cám ơn bác codon65 về những tấm hình quý giá này. Chỉ có một yêu cầu nho nhỏ là bác cố scan, hoặc chụp ảnh sao cho chất lượng tốt để mọi người sưu tầm được không ạ? Ví dụ tấm hình này:

Trích dẫn
(http://img515.imageshack.us/img515/5548/24825573.jpg)

Một lần nữa xin cảm ơn bác.
Em sẽ cố gắng chụp lại cho rõ hơn 1 chút, nay em xin tiếp tục post tiếp nè(Trong này có những tấm ảnh không liên quan gì tới tại Davis, nhưng dù sao cũng là tấm ảnh lịch sử, nên em đăng lun)
(http://img259.imageshack.us/img259/8829/0007v.jpg)
(http://img440.imageshack.us/img440/649/bochihuychiendichcm.jpg)
(http://img12.imageshack.us/img12/3288/70907168.jpg)
(http://img571.imageshack.us/img571/1736/0012mzy.jpg)
(http://img696.imageshack.us/img696/5773/0013kib.jpg)
khuya quá, bùn ngũ rùi, để mai em post tiếp


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: panphilov trong 28 Tháng Tư, 2012, 07:59:06 am
...
Em sẽ cố gắng chụp lại cho rõ hơn 1 chút, nay em xin tiếp tục post tiếp nè(Trong này có những tấm ảnh không liên quan gì tới tại Davis, nhưng dù sao cũng là tấm ảnh lịch sử, nên em đăng lun)
...
khuya quá, bùn ngũ rùi, để mai em post tiếp

Cám ơn bác.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Năm, 2012, 08:41:19 pm
Đã có "Trại Đa vít 823 ngày đêm"  giá 150.000 VNĐ /1bộ 2 tập


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Tư, 2013, 06:02:46 pm
Thành viên quehuongvietnam có chuyển tới tôi tin nhắn:

"Cháu Khuất Tưởng xin hỏi Bác
Xin phép được hỏi và nhờ Bác giúp cháu tìm một người có tên sau:

Nguyễn Văn Bảo ( Bảo, không nhớ rõ họ tên).
Cấp bậc: Trung tá ( năm 1973)
Chức vụ: Tùy viên Ủy ban liên hiệp Quân sự 4 bên.
Nếu bác biết thông tin về người này, cố gắng giúp cháu, hiện nay ông còn sống hay đã mất, đang ở đâu, số điện thoại.
Địa chỉ của cháu: khuattuong@gmail.com
Số điện thoại: 0973.938.779
"

Có bác nào biết xin cung cấp thông tin. Xin cám ơn!


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tư, 2013, 07:40:09 pm
Xin thông báo: Đã có "Trại Đa-vít 823 ngày đêm" Tập III


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tám, 2013, 12:08:27 am
BAN LIÊN LẠC CỰU CHIẾN BINH BAN LIÊN HỢP QUÂN SỰ - "TRẠI ĐA-VÍT"

... sau khi Đảng và Nhà nước quyết định phong tặng danh hiệu ''Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân" cho hai Đoàn đại biểu quân sự ta vì những thành tích đặc biệt xuất sắc trong thi hành Hiệp định Pa-ri, việc viết đầy đủ và sâu sắc hơn về cuộc đấu tranh này càng trở nên cần thiết. Viết là để tôn vinh và khắng định trận tuyến đấu tranh ngoại giao quân sự sau Hiệp định Pa-ri là một sự sáng tạo độc đáo về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Viết là để vinh danh lòng trung thành vô hạn, ý chí đấu tranh kiên cường, dũng cảm và sáng tạo của các cán bộ, chiến sĩ ta. Viết là để bạn đọc nói chung và bạn đọc trẻ tuổi nói riêng, hiểu toàn diện hơn về quá trình đấu tranh không khoan nhượng trước kẻ thù ngoan cố, xảo quyệt, tàn bạo. Viết cũng là để rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu từ quá khứ nhằm phục vụ kịp thời hoạt động ngoại giao quân sự - quốc phòng trước mắt và lâu dài của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và khu vực. Cũng cần nói thêm rằng, hai Đoàn đại biểu quân sự ta là đơn vị đầu tiên thuộc binh chủng đặc biệt này được tuyên dương "Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân" thời kỳ chống Mỹ, cứu nước.

        Ban liên lạc Cựu chiến binh Ban Liên hợp quân sự - Trại Đa-vít đã cô gắng Sưu tầm những tài liệu, văn bản và bài viết mới, chọn lọc và cân nhắc kỹ càng để biên soạn.

        Là nhân chứng lịch sử của mặt trận đấu tranh ngoại giao quân sự thi hành Hiệp định Pa-ri, chúng tôi rât quan tâm đến việc bảo đảm tính chính xác và khách quan trong các tình tiết của sự kiện lịch sử, của những câu chuyện "người thật, việc thật". Mong muốn của chúng tôi là giúp bạn đọc, các đồng chí và đồng đội, các nhà nghiên cứu cùng những người quan tâm có được cái nhìn khách quan hơn, hiểu biết cụ thể hơn, đầy đủ hơn về một sự kiện lịch sử hết sức độc đáo trong hoạt động ngoại giao quân sự của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta...




Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Tám, 2013, 03:13:56 am


(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/AnhhungLLVTND_zpsf9e474d2.jpg)



(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/CoanhhungLLVTND_zpsb9755abb.jpg)




Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tám, 2013, 07:23:18 am
Một số cụm từ viết tắt:
LLVTND: Lực lượng vũ trang nhân dân
ĐBQS: Đại biểu quân sự
LHQS: Liên hợp quân sự

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/03TruongTanSangdocdienvan_zpse4a81c2d.jpg)

Đồng chí Trương Tấn Sang - Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước phát biểu tại Lễ đón nhận Anh hùng LLVTND của hai Đoàn ĐBQS ta trong Ban LHQS 4 bên và 2 bên

TƯ TƯỎNG HỒ CHÍ MINH TỎA SÁNG TRÊN MẶT TRẬN NGOẠI GIAO QUÂN SỰ

        Thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước !

        Thưa các đồng chí lão thành cách mạng và quý vị đại biểu!


        Hôm nay, trong không khí tràn đầy phấn khởi của quân và dân cả nước, hướng tới kỷ niệm 37 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam. thông nhất đất nước và ngàv Quốc tế Lao động 1-5, Đảng và Nhà nước quyết định phong tặng danh hiệu cao quý "Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân" cho Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà và Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Vinh dự này thuộc về các tướng lĩnh, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ Quân đội nhân dân và Quân giải phóng miền Nam Việt Nam; cán bộ Công an nhân dân và an ninh Trung ương Cục miền Nam; cán bộ ngành Ngoại giao. Thông tấn báo chí... của cả hai miền Nam - Bắc: được lựa chọn tham gia mặt trận đấu tranh ngoại giaơ quân sự bảo đảm thi hành Hiệp định Pa-ri về Việt Nam. Thay mặt Đảng và Nhà nước. tôi chúc các đồng chí mãi mãi xứng đáng với truyền thống anh hùng và phẩm chất "Anh bộ đội Cụ Hồ", tiếp tục có những cống hiến to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thân yêu của chúng ta.

        Thưa các đồng chí!

        Với thắng lợi có tính chất quyết định của nhân dân ta trên các mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao, đặc biệt là thắng lợi của chúng ta trong 12 ngàv đêm trên bầu trời Thủ đô Hà Nội, chính phủ Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn đã buộc phải ký Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam. Đây là một thắng lợi chiến lược, tạo bước ngoặt quyết định trên con đường đi đến thắng lợi hoàn toàn của nhân dân ta. Nhưng Hiệp định Pa-ri ký chưa ráo mực. thì quán Mỹ - ngụy đã tiến hành nhiều thủ đoạn trắng trợn để phá hoại Hiệp định. Dưới sự lãnh đạơ của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng mà trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Quân ủy Miền. Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Đoàn đại biếu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập.

        Quán triệt tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh "Dĩ bất biến, ứng vạn biến", trong suôt 823 ngày đêm hoạt động, hai Đoàn đại biểu quân sự của ta đã dũng cảm, kiên cường, mưu trí. sáng tạo: tranh thủ dư luận và dựa vào pháp lý của Hiệp định Pa-ri để đấu tranh vạch trần âm mưu và lên án các hành động phá hoại Hiệp định Pa-ri của Mỹ - ngụy trước cộng đồng quốc tế; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh buộc những tên lính Mỹ cuối cùng rút khỏi miền Nam Việt Nam vào hồi 16 giò 30 phút (giờ Hà Nội) ngày 29 tháng 3 năm 1973. Sự kiện này đánh dấu mốc lịch sử: sau 115 năm (từ 1858) trên đất nước thân yêu của chúng ta sạch bóng quân xâm lược. Đây là yêu tố quan trọng nhất làm chuyển biến so sánh lực lượng trên chiến trường có lợi cho ta để tiến đến giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.

        Tuy thòi gian hoạt động của hai Đoàn đại biểu quân sự không dài, nhưng đã khẳng định việc thành lập Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là một sự kiện có ý nghĩa chiến lược, là sách lược sáng suốt của cách mạng Việt Nam, đánh dấu bước thắng lợi có ý nghĩa lịch sử trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta trên mặt trận ngoại giao quân sự. Đồng thời, đây cũng là bài học vô cùng quý báu trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh và nghệ thuật đấu tranh ngoại giao quân sự của Đảng ta, đó là: vừa đánh vừa đàm; mưu trí, dũng cảm; khôn khéo, mềm dẻo; nhạy bén, linh hoạt; tích cực chủ động tiến công và kết hợp chặt chẽ các hình thức đấu tranh chính trị, quân sự và ngoại giao.

        Thay mặt Đảng và Nhà nước, tôi nhiệt liệt chúc mừng và biểu dương tinh thẩn đấu tranh kiên quyết, tỉnh táo, khôn khéo, sáng tạo cùng với thành tích xuất sắc, thể hiện bản lĩnh và trí tuệ con người Việt Nam của Đoàn đại biểu quán sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Đoàn đại hiểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

        Thưa các đồng chí!

        Trong tình hình hiện nay, hoạt động ngoại giao quân sự - quốc phòng lại càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nó là một phần không thể thiếu trong các hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước vả nhân dân ta, góp phẩn tạo nên sức mạnh tổng hợp nhằm giữ vững hòa bình, xây dựng và phát triển đất nước, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa của chúng ta.

        Từ những kinh nghiệm của công tác ngoại giao quân sự - quốc phòng đã qua, tôi rất mong các đồng chí trong hai Đoàn đại biểu quân sự tích cực truyền đạt kinh nghiệm về nghệ thuật đấu tranh ngoại giao quân sự - quốc phòng cho thế hệ hôm nay. Đây cũng chính là thực hiện nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

        Một lần nữa, xin chúc các đồng chí mạnh khỏe và thành đạt.

        Xin trân trọng cảm ơn!



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: panphilov trong 23 Tháng Tám, 2013, 08:39:31 am
Thành viên quehuongvietnam có chuyển tới tôi tin nhắn:

"Cháu Khuất Tưởng xin hỏi Bác
Xin phép được hỏi và nhờ Bác giúp cháu tìm một người có tên sau:

Nguyễn Văn Bảo ( Bảo, không nhớ rõ họ tên).
Cấp bậc: Trung tá ( năm 1973)
Chức vụ: Tùy viên Ủy ban liên hiệp Quân sự 4 bên.
Nếu bác biết thông tin về người này, cố gắng giúp cháu, hiện nay ông còn sống hay đã mất, đang ở đâu, số điện thoại.
Địa chỉ của cháu: khuattuong@gmail.com
Số điện thoại: 0973.938.779
"

Có bác nào biết xin cung cấp thông tin. Xin cám ơn!

Kính gửi a. Khuất Tưởng. Đọc câu hỏi của anh đã lâu, nhưng hôm nay mới sực nhớ ra là có thể anh đã nhớ sai tên của nhân vật mà anh muốn biết, kể cả tên trong dâu (). Tôi có tra trên mạng thì thấy một bài viết của anh với tựa đề "Húc đổ xe tăng địch trong trận tuyến Phan Thiết" đăng ngày 29/04/2013 thì có thông tin như sau "Trên xe có Phó chính ủy Quân đoàn Nguyễn Công Trang; Trung tá Nguyễn Văn Bảo-Tùy viên quân sự bốn bên, Trưởng phòng Quân báo". Tổng hợp các thông tin lại, tôi khẳng định nhân vật bạn muốn biết là Trung tá Nguyễn Văn Bốn thường gọi là Nguyễn Hữu Trí. Vào thời điểm 1973, ông đang là quyền trưởng Phòng Tình báo Chiến lược Miền (J22) - Ủy viên Ủy ban liên hiệp đình chiến 4 bên, năm 1975 là trưởng phòng. Ông đã mất cách đây 20 năm.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Tám, 2013, 01:30:53 am

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/04LuongCuong_zps217a50f7.jpg)

Đồng chí Trung tướng Lương Cường, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chinh trị đọc diễn văn của Tổng cục Chính trị tại buổi lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng LLVT của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà và Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam

DIỄN VĂN
của Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam

        Kính thưa đồng chí Trương Tấn Sang, Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam!

        Kính thưa các đồng chí lãnh đạo và nguyên là lảnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội!

        Kính thưa các đồng chí đại biểu khách quý!

        Thưa toàn thể các đồng chí!

        Hôm nay, trong không khí sôi động của những ngày tháng tư lịch sử, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang tổ chức nhiều hoạt động thiết thực chào mừng kỷ niệm 37 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước; 58 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ và 122 năm ngày sinh của Bác Hồ kính yêu. Được sự đồng ý của Thường vụ Quân ủy Trung và Thủ trưởng Bộ Quốc phòng. Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam long trọng tổ chức Lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, phần thưởng cao quý của Đảng. Nhà nước trao tặng cho Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà và Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam.

        Thay mặt lãnh đạo Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dán Việt Nam, tôi xin trân trọng cảm ơn và kính chúc đồng chí Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, các đồng chí lãnh đạo và nguyên là lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội; các đồng chí đại biểu khách quý; các đồng chí nguyên là cán bộ, chiến sĩ, nhân viên và thân nhân cán bộ Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, cùng toàn thể các đồng chí luôn mạnh khỏe và hạnh phúc.

        Trong giờ phút trang trọng này, với lòng thành kính và biết ơn vô hạn, chúng ta tưởng nhớ tới Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu, lãnh tụ vĩ đại của Đảng và của dân tộc ta, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hoá thế giới, người Cha thân yêu của lực lượng vũ trang nhân dân, người tiên phong, mẫu mực về sự kiên định mục tiêu chiến lược và vận dụng sáng tạo sách lược đấu tranh ngoại giao trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà.

        Chúng ta kính cẩn nghiêng mình trước anh linh các liệt sĩ, đồng chí, đồng bào đã anh dũng hy sinh cống hiến trọn đời mình cho độc lập. tự do của dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

        Kính thưa các đồng chí!

        Sau thắng lợi to lớn của cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược, mà đỉnh cao là chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, báo hiệu sự cáo chung của chủ nghĩa thực dân cũ trên thế giới, với bản chất của tên sen đầm quốc tế, đế quốc Mỹ đã ngang nhiên phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ đưa quân xâm lược vào miền Nam Việt Nam, thực hiện dã tâm chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, làm căn cứ quân sự, bàn đạp để tấn công chủ nghĩa xã hội. Với khát vọng hoà bình, độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, với ý chí "Không có gì quý hơn độc lập, tự do", nhân dân ta đã chấp nhận cuộc đụng đầu lịch sử. bước vào cuộc kháng chiến cứu nước trường kỳ vô cùng gian khổ, gay go, quyết liệt. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, quân và dân ta đã lần lượt đánh thắng các chiến lược chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ, chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân ra miền Bắc xã hội chủ nghĩa, giáng những đòn chí mạng vào sào huyệt của Mỹ - ngụy; buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Pa-ri.

        Với những chiến thắng vang dội. to lớn trên chiến trường và sự đấu tranh khôn khéo, kiên trì, đầy cam go, quyết liệt trên mặt trận ngoại giao; sau gần 5 năm đàm phán, ngày 27 tháng 1 năm 1973. chúng ta đã buộc Mỹ phái ký Hiệp định Pa-ri, cam kết rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam. Sự kiện lịch sử đó là thắng lợi to lớn. có ý nghĩa chiến lược đối với cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân ta. là bước ngoặt của cách mạng Việt Nam nhằm đi đến tháng lợi cuối cùng: giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

        Với bản chất xâm lược, hiếu chiến, dù đã phải chấp nhận ký Hiệp định đình chiến, từ bỏ xâm lược, không dính líu quân sự ỏ Việt Nam.... giới cầm quyền Mỹ vẫn tìm mọi cách phá hoại, vi phạm trắng trợn Hiệp định Pa-ri, thúc đẩy chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh", "dùng người Việt trị người Việt", chỉ đạo, tiếp sức cho chính quyển và quân đội ngụy Sài Gòn tiến hành chiến tranh, hòng tiếp tục chia cắt lâu dài đất nước ta.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Tám, 2013, 04:39:21 am
        Theo Hiệp định Pa-ri. các bên tham gia Hội nghị Pa-ri về Việt Nam sẽ cử ngay đại diện để thành lập Ban Liên hợp quân sự 4 bên và 2 bên miền Nam Việt Nam sẽ cử ngay đại diện để thành lập Ban Liên hợp quân sự 2 bên, có nhiệm vụ báo đảm phối hợp hành động của các bên thực hiện các điều khoản về quân sự mà Hiệp định đã quy định. Trung ương Đảng, Bộ Chính trị. mà trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Quân ủy Miền, đã chỉ đạo. tổ chức thành lập hai Đoàn đại biểu quân sự: Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, để bảo đảm phối hợp hành động của các bên trong việc thi hành Hiệp định. Đây là hai đơn vị làm nhiệm vụ đặc biệt, được thành lập trong bối cánh đặc biệt, không có đơn vị tiền thân, từ khi thành lập (ngày 28-1-1973) đến khi kết thúc nhiệm vụ, giải thể (ngày 30-4-1975), không có đơn vị kế thừa. Thành phần của hai Đoàn gồm các tướng lĩnh, sĩ quan, cán bộ, chiến sĩ của Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân giải phóng miền Nam Việt Nam: cán bộ ngành Ngoại giao, Công an nhân dân và an ninh Trung ương Cục miền Nam, thông tấn báo chí và một số ban ngành khác của cả hai miền Nam - Bắc.

        Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hỏa do đồng chí Thiếu tướng Lê Quang Hoà, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam làm Trưởng đoàn. Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do đồng chí Trung tướng Trần Văn Trà, Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam làm Trưởng đoàn. Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam được Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương - Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ quản lý; đồng chí Lê Quang Đạo, Uỷ viên thường trực Quân ủy Trung ương, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam trực tiếp phụ trách công tác chỉ đạo đấu tranh ngoại giao của hai Đoàn đại biểu quân sự.

        Kính thưa các đồng chí

        Nhiệm vụ của hai Đoàn đại biểu quân sự được xác định trong Hiệp định Pa-ri là bảo đảm phối hợp hành động của các bên trong việc thi hành các điều khoản về quân sự đã được ký kết giữa 4 bốn. trong đó có các nhiệm vụ đặc biệt phải thực hiện là: đấu tranh buộc Mỹ rút quân hoàn toàn khỏi miền Nam Việt Nam trong vòng 60 ngày; đấu tranh buộc Mỹ - ngụy phái thực hiện đúng tinh thần của Hiệp định về việc trao trả tù binh; đấu tranh, tố cáo và vạch trần ảm mưu. thủ đoạn của Mỹ tiếp tục thực hiện "Việt Nam hoá chiên tranh", dùng cố vấn, đô-la. vũ khí hiện đại và các căn cứ quân sự của Mỹ để tiếp tav cho ngụy quyền Sài Gòn, tiếp tục thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài Việt Nam; tổ chức tốt các hoạt động thông tấn. báo chí, dư luận lên án mạnh mẽ âm mưu, thủ đoạn của Mỹ - ngụy, buộc chúng phải chấm dứt việc vi phạm Hiệp định Pa-ri.

        Đối với việc buộc đế quốc Mỹ phải rút quân hoàn toàn khỏi miền Nam Việt Nam. Trong đánh giá việc ký Hiệp định Pa-ri, đồng chí cố Tông Bí thư Lê Duẩn đã kết luận: "Đôi với ta, điều quan trọng của Hiệp định Pa-ri không phải là ở chỗ thừa nhận hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát, tiến tới thành lập chính phủ ba thành phần, mà mấu chốt là ở chồ quân Mỹ phải ra còn quân ta thì ở lại”.

        Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, sự chỉ đạo của Quân ủy Trung ương trên mặt trận ngoại giao quân sự, các cán bộ, chiến sĩ, nhân viên hai Đoàn đại biểu quân sự của ta đã chủ động phát hiện, nắm chắc âm mưu, thủ đoạn, hành động của kẻ thù; kiên cường, mưu trí. khôn khéo, sáng tạo và linh hoạt trong đấu tranh, vạch trần thủ đoạn dây dưa kéo dài việc rút quân, kiếm cớ chây ỳ, tìm mọi cách để lại một bộ phận quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam, góp phần quan trọng buộc Mỹ và các nước chư hầu của Mỹ phải thi hành Hiệp định Pa-ri. rút quân hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam. Với sự đấu tranh kiên quyết của ta, đến ngày 29 tháng 3 năm 1973. đúng 60 ngày sau khi Hiệp định Pa-ri có hiệu lực, những tên lính cuối cùng của đội quân xâm lược Mỹ và chư hầu đã phải rút khỏi miền Nam Việt Nam. Đây là một thắng lợi to lớn, là yếu tố quan trọng làm chuyển biến so sánh lực lượng trên chiến trường có lợi cho ta, để tiến đến giành thắng lợi hoàn toàn.

        Đối với cuộc đấu tranh trên mặt trận trao trả tù quân sự và tù chính trị. về phía Mỹ, chúng lảng tránh trách nhiệm. Ngụy quyền Sài Gòn thì tỏ thái độ không thiết tha nhận tù binh của chúng mà phía ta trao trả và tìm mọi cách cản trỏ, phá hoại việc trao trả cán bộ, chiến sĩ của ta bị chúng bắt. Với chính sách nhân đạo, ta đã tiến hành trao trả 554 tù binh Mỹ và hơn 6.000 tù binh ngụy theo đúng số lượng, thời gian, đĩa điểm. Những tù binh được phía ta trao trả đều khoẻ mạnh, tinh thần thoải mái, số bị thương được chữa trị tốt. Việc làm của ta được dư luận tiến bộ trên thế giới và nhân dân Mỹ đồng tình ủng hộ, là sức ép và áp lực buộc Mỹ - ngụy phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiệp định. Bằng tư tưởng tiến công kiên quyết, liên tục, kiên trì, bền bỉ và sáng tạo, hai Đoàn đại biểu quân sự ta đã buộc Mỹ - ngụy phải trao trả cho ta trên 31.000 cán bộ, chiến sĩ, nhân viên dân sự bị địch bắt theo đúng tinh thần của Hiệp định.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Tám, 2013, 03:07:28 am
        Về việc đấu tranh lên án Mỹ không thực thi hoà bình, vi phạm cam kết ngừng bắn, tiếp tục chiến lược '"Việt Nam hoá chiến tranh", mở rộng cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam. Hai Đoàn đại biểu quân sự của ta đã tỉnh táo, khôn khéo, kiên quyết và không khoan nhượng với kẻ thù. Ta đã chủ động phát hiện, kịp thòi lên án. tố cáo và vạch trần những mưu đồ đen tối. vi phạm cam kết của Mỹ - ngụy. Cuộc đấu tranh diễn ra căng thẳng, không ngày nào ta không có công hàm tố cáo, lên án những vi phạm của kẻ thù. Đồng thời, hai Đoàn của ta đã tăng cường đoàn kết, phối hợp chặt chẽ với các đồng chí bạn bè trong Uỷ ban Quốc tế kiểm soát và giám sát việc thi hành Hiệp định Pa-ri, cùng tham gia đấu tranh, tạo nên sức mạnh tổng hợp buộc kẻ địch phải thực thi Hiệp định. Trong 823 ngày đêm, ta đã gửi đến Uỷ ban Quốc tế 924 công hàm, tố cáo 18.971 vụ việc vi phạm ngừng bắn và yêu cầu Uỷ ban Quốc tế điều tra; buộc Mỹ - ngụy phải thi hành Hiệp định.

        Trên lĩnh vực đấu tranh thông qua các hoạt động thông tấn, báo chí. Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương đã chỉ đạo: Phải coi đây là hoạt động đấu tranh mũi nhọn quan trọng để tranh thủ sự ủng hộ của dư luận tiến bộ, yêu chuộng hoà bình trên thế giới và trong hàng ngũ của kẻ thù. Sài Gòn lúc bấy giò là tiêu điểm nóng bỏng nhất của thế giới, tập trung 77 hăng thông tấn, vô tuyến truyền hình, phát thanh, báo chí nước ngoài, chủ yếu là của phương Tây, trong đó có 21 hãng của Mỹ. Trong tổ chức lực lượng, ta có một ban thông tấn báo chí mạnh, được chuẩn bị rất chu đáo. Thái độ của ta là thực sự tôn trọng dư luận và tôn trọng báo giới, tập trung nói rõ, chính xác, cụ thể và có sức thuyết phục những hành vi vi phạm Hiệp định của kẻ thù; làm cho nhân dân. các lực lượng tiến bộ trên thế giới và nhân dân Mỹ hiểu rõ bản chất xảo trá của Mỹ - ngụy; thông qua đó, đã tạo được dư luậnđồng tình, ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân thế giới, của nhân dân Mỹ phản đốĩ chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở Việt Nam, phản đối Mỹ - ngụy vi phạm trắng trợn Hiệp định Pa-ri, buộc Mỹ phải rút quân và thực thi các điều khoản của Hiệp định.

        Đế hoàn thành tốt trọng trách mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, hai Đoàn đại biểu quân sự của ta đã tập trung xây dựng lực lượng, xây dựng "Trại Đa-vít" trở thành trận địa cách mạng kiên cường giữa sào huyệt địch. Kẻ thù có ý đồ rất thâm độc khi bố trí hai Đoàn đại biểu của ta vào "Trại Đa-vít" - một nơi nằm sâu trong căn cứ quân sự của chúng, nhằm cô lập, giam lỏng, cán trở hoạt động và sẵn sàng có thể bắt làm con tin hoặc hủy diệt hai Đoàn đại biểu quân sự của ta bất cứ lúc nào. Các cán bộ, chiến sĩ của ta đã nêu cao tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, luôn luôn vững vàng về chính trị, phát huv tư tưởng tiên công, mưu trí, sáng tạo để biến "Trại Đa-vít" thành trung tâm đấu tranh ngoại giao quân sự rất mạnh mẽ và có hiệu quá; đã bí mật đào hầm, xâv dựng công sự, chuẩn bị vũ khí, xâv dựng phương án tác chiến, sẵn sàng chiến đấu và hy sinh nếu kẻ thù thực hiện âm mưu đen tối, san bằng Trại Đa-vít.

        Trải qua 823 ngày đêm thực hiện nhiệm vụ đấu tranh ngoại giao quân sự giữa sào huyệt của địch, với lòng trung thành vô hạn với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, bằng bán lĩnh kiên cường, lòng quả cảm, mưu trí, sáng tạo, khôn khéo, không ngại gian khổ và sẵn sàng hy sinh..., Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần làm nên Đại tháng mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam. thống nhất đất nước. Nếu như Hiệp định Pa-ri về Việt Nam được ký kết là thắng lợi của cuộc đấu tranh ngoại giao kéo dài, đầy khó khăn và phức tạp, thì cuộc đấu tranh buộc đốĩ phương phải tuân thủ và thực thi các điều khoản của Hiệp định là cuộc đấu trí, đấu lý hết sức cam go, quyết liệt, gian khổ, hy sinh trên mặt trận ngoại giao quân sự.

        Chiến công đó, thành tích đó trước hết thuộc về sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương - Bộ Quốc phòng; sự hy sinh chiến đấu của các đồng chí, đồng bào cả nước; của cán bộ. chiến sĩ, nhân viên Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam... Các đồng chí là những người con kiên trung của cách mạng, của Tổ quốc, đã sống, chiến đấu và công hiến hết mình cho ngày toàn thắng của dân tộc; là tấm gương sáng về tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, về sự mưu trí, sáng tạo, lòng quả cảm và ý chí sắt đá, sẵn sàng hy sinh, quyết tâm giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước.

        Danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân mà Đảng, Nhà nước phong tặng cho Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là phần thưởng cao quý, ghi nhận những thành tích và đóng góp đặc biệt xuất sắc của các đồng chí cán bộ, chiến sĩ. nhân viên hai Đoàn trong đấu tranh ngoại giao quân sự kiên cường, bất khuất, mưu trí, sáng tạo ngay giữa sào huyệt của kẻ thù.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tám, 2013, 05:18:06 am

        Kính thưa các đồng chí!

        Trong những năm tới, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp và khó lường, tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định. Bên cạnh xu hướng chủ đạo là hoà bình, hợp tác và phát triển, vẫn luôn tồn tại nguy cơ xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, sắc tộc. Bên cạnh những thuận lợi rất cơ bản, đất nước ta cũng đang đứng trước không ít khó khăn và thách thức trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế. Các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động chống phá ta bằng chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ, triệt để lợi dụng những hạn chế, yếu kém trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, để xuyên tạc, vu khống, tìm mọi cách can thiệp, chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta. Tình hình đó đòi hỏi chúng ta phái tiến hành cuộc đấu tranh trên tất cả các mặt trận, trong đó ngoại giao giữ vị trí hết sức quan trọng. Những kinh nghiệm và bài học quý trong đấu tranh ngoại giao quân sự của hai Đoàn đại biểu quân sự ta trong thi hành Hiệp định Pa-ri vẫn còn nguyên giá trị và cần tiếp tục được phát huy trong thòi kỳ mới để góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp, nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh.

        Lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. cứu nước hôm nay là dịp để chúng ta ôn lại truyền thống, tri ân và ghi nhớ những đóng góp đặc biệt xuất- sắc của cán bộ, chiến sĩ Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Đồng thòi, nó cũng đặt ra những yêu cầu mới cho mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung, Tổng cục Chính trị nói riêng hôm nay và mai sau phải luôn đề cao trách nhiệm và tinh thần cảnh giác cách mạng, tiếp tục phát huy truyền thống, phấn đấu hoàn thành và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao; góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tô quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

        Một lần nữa, thay mặt lãnh đạo Tống cục Chính trị. tôi xin kính chúc các đồng chí lãnh đạo và nguyên là lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội, các đồng chí đại biểu khách quý, cùng toàn thể các đồng chí luôn dồi dào sức khoẻ, hạnh phúc và thành công.

        Kính chúc các đồng chí tướng lĩnh, cán bộ. chiến sĩ và thân nhân cán bộ Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Đoàn đại biêu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam luôn mạnh khơẻ, tiếp tục phát huy phẩm chất tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, của tập thể Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, mãi mãi là tấm gương sáng cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội noi theo.

        Xin trân trọng cảm ơn!


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2013, 12:39:44 am

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/05HuynhVanTrinh_zps6b35ae72.jpg)

Đồng chí Huỳnh Văn Trình nhân chứng lịch sử phát biểu cảm tưởng tại Lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng LLVTND của hai đoàn ĐBQS ta trong Ban LHQS 4 bên và 2 bên

PHÁT BIỂU
của đồng chí Huỳnh Văn Trình đại diện cho các nhân chứng lịch sử

        -   Kính thưa đồng chí Trương Tấn Sang - Uỷ viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam!

        -   Kính thưa các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội!

        -   Kính thưa các quý vị đại biểu và khách quý!


        Hôm nav. tôi rất vui mừng và xúc động được dự buổi lễ trọng thể đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân mà Đảng và Nhà nước dành tặng cho hai Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thòi Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hợp quân sự thi hành Hiệp định Pa-ri 1973.

        Xin trân trọng chào mừng và chúc sức khoẻ các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội, các vị khách quý và toàn thể các đồng chí.

        Thay mặt cho các thành viên hai Đoàn đại biểu quân sự. tôi xin phát biểu tại buổi lễ này với tư cách là một nhân chứng của thời kỳ lịch sử đàm phán, ký kết Hiệp định Pa-ri đến thi hành Hiệp định tại chiến trường.

        Thưa các đồng chí. tôi nguyên là Trung tá, Phó Trưởng phái đoàn liên lạc Bộ Tổng tư lệnh bên cạnh Uỷ ban Quốc tế giám sát việc thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, được biệt phái làm Phó vụ trưởng Vụ I (Bắc Mỹ) thuộc Bộ Ngoại giao. Rồi tôi được chỉ định là thảnh viên đoàn đàm phán bí mật Lê Đức Thọ - Kít-xinh-giơ về Hiệp định Pa-ri. rồi được cử làm Uỷ viên Ban lãnh đạo Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên Trung ương. Tôi được Quân ủy Trung ương cử vào lại Sài Gòn với hai nhiệm vụ: Phó Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa trong Tổ Liên hợp quân sự 4 bên về người mất tích và phụ trách Tiểu ban quốc tế, giúp Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hợp quân sự 2 bên Trung ương về công tác đối ngoại.

        Trong buổi lễ long trọng này, tôi xin được phát biểu cảm nghĩ và nguyện vọng của mình như sau:

        Thứ nhất, tôi nhận thức rằng đây là lần đầu tiên một đơn vị làm công tác ngoại giao quân sự được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Đó là một vinh dự to lớn không những đốì với tập thể đơn vị được phong tặng, mà còn đối voi các Bộ, ngành ỏ Trung ương và Trung ương Cục miền Nam đã cử người tham gia và góp sức vào thắng lợi của hai Đoàn đại biểu quân sự. nhất là Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao và Quân ủy Miền. Nói rộng ra. đỏ là niềm tự hào chung của cả dân tộc, vì đây là sự vinh danh một tấm gương tiêu biểu của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.

        Thứ hai, sự phong tặng danh hiệu cao quý này thuộc về công lao của nhân dân anh hùng, Đảng quang vinh vả Quân đội bách chiến bách thắng của chúng ta; là biểu tượng đỉnh cao của nghệ thuật chỉ đạo "vừa đánh, vừa đàm" của Đảng ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Chúng tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Đảng, Nhà nước và Quân ủy Trung ương đã sáng suốt lãnh đạo đường lối chiến lược, sách lược đấu tranh thi hành Hiệp định Pa-ri nói chung và chỉ đạo sát sao hoạt động của hai Đoàn đại biếu quân sự ta nói riêng, tạo điều kiện cho chúng tôi hoàn thành trọng trách được giao phó trong suốt hơn 2 năm 3 tháng 3 ngày trực tiếp đấu tranh với kẻ thù ngay tại sào huyệt của chúng.

        Kính thưa các đồng chí!

        Năm tháng trôi qua, mặc dù là một đơn vị binh chủng đặc thù, đặc nhiệm, không có đơn vị tiền thân cùng không có đơn vị kế thừa, không còn môi trường tồn tại cụ thể, nhưng Đảng và Nhà nước vẫn dành một tình cảm đặc biệt cho những người con đi chiến đấu vì miền Nam ruột thịt, quan tâm đến công lao, cống hiến và có quyết định khen thưởng xứng đáng. Đó là một phần thưởng vô cùng cao quý đối với chúng tôi.

        Ôn lại lịch sử 39 năm trước, chúng tôi cảm thấy vinh dự, tự hào được lưu danh trong đại gia đình hai Đoàn đại biểu quân sự tại Trại Đa-vít - Tân Sơn Nhất và được góp phần tích cực làm nên một huyền thoại độc đáo. sáng tạo về ngoại giao quân sự Việt Nam.

        -   Huyền thoại vì trong một thời gian rất ngắn, từ khi đạt được thoả thuận về Hiệp định (13-1-1973) đến khi Hiệp định có hiệu lực (28-1-1973), chúng ta đã thành lập xong hai Đoàn đại biểu quân sự với hàng ngàn người gồm tướng lĩnh, sĩ quan, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân giải phóng miền Nam được chọn lọc từ khắp các chiến trường về, cùng với các cán bộ ưu tú của Bộ Ngoại giao và các ngành khác, hội tụ thành một lực lượng thống nhất (tuy hai mà một, tuy một mà hai) đi vào trận chiến đấu với kẻ thù, không phải bằng súng đạn mà bằng bản lĩnh chính trị, trí tuệ, ngôn ngữ ngoại giao - pháp lý và nhân cách văn hoá, văn minh, lấy đại nghĩa thắng hung tàn.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Tám, 2013, 06:37:41 am
        -   Huyền thoại vì chúng ta đã tiến hành một cuộc hành quân thần tốc đặc biệt từ Hà Nội và vùng căn cứ Lộc Ninh của chiến trường B2 với khí thế chiến thắng, đúng dịp Tết Quý Sửu 1973, bằng phương tiện hiện đại nhất do không quân Mỹ cung cấp, với thời gian ngắn nhất; đổ bộ xuống căn cứ quân sự lớn nhất của Mỹ ở Đông Nam Á - sân bay Tân Sơn Nhất, chỉ cách bộ tổng tham mưu ngụy 1 km đường chim bay; lập Tổng hành dinh lực lượng cách mạng tại Trại Đa-vít, mảnh đất được giải phóng công khai đầu tiên ở Sài Gòn. Điều kỳ diệu này thật khó tương tượng khi chỉ mới trước đó chưa đầy một tháng, không quân Mỹ còn ném bom ồ ạt hủy diệt bằng B52 vào Hà Nội - Hải Phòng; khi ở miền Nam vẫn còn 70.000 quân Mỹ: khi trong chiến tranh các chuyến đi B phải mất nhiều tháng qua đường Trường Sơn dưới mưa bom bão đạn của kẻ thù.

        -   Huyền thoại vì trong điều kiện kẻ thù rắp tâm xé bỏ Hiệp định Pa-ri, quyết đánh bật Cộng sản, giải quyết bằng quân sự; phá vỡ hoạt động của Ban Liên hợp quân sự, bao vây, uy hiếp và đe dọa tính mạng của hai Đoàn đại biểu quân sự ta, mà ta vẫn điềm tĩnh hiên ngang bám trụ, bảo vệ địa vị pháp lý, phát huy hoạt động trên tất cả các trận địa đấu tranh, và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đấu tranh thi hành Hiệp định Pa-ri với 3 thành tích nối bật:

        Một là, buộc Mỹ và chư hầu phải rút hết quân đúng thời hạn 60 ngày. Tên lính Mỹ cuối cùng rút khỏi miền Nam Việt Nam là đại tá không quân Đa-vít Ô-đen (David Odell) vào giờ G lịch sử 16 giờ 30 phút ngày 29 tháng 3 năm 1973. Đây là một ngày vô cùng quan trọng về mặt lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta. Chúng ta đã thực hiện trọn vẹn lời dạy của Bác Hồ "Trong cuộc kháng chiến này, ta không phải tiêu diệt hết quân Mỹ để thắng mà ta phải đuổi hết Mỹ để thắng".
       
        Hai là, buộc Mỹ - ngụy phải trao trả 31.500 nhân viên quân sự và dân sự của ta bị địch bắt, trong đó có những cán bộ cách mạng cốt cán, kiên cường, sau này vinh dự trở thành lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và nhiều đồng chí khác.

        Ba là, tranh thủ được lòng người và dư luận quốc tế thuận lợi, nhất là khi cục diện chiến trường chuyển sang thế trận mới. buộc ta phải dùng bạo lực cách mạng để hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

        Ở đây, tôi nhớ lại lòi dạy của Bác Hồ về công tác ngoại giao: Mang chuông đi đánh đất người, phải tìm cách đánh một hồi thật kêu. Có thể nói, những chiến công mà hai Đoàn đại biểu quân sự ta lập được trong vùng đất miền Nam còn bị Mỹ xâm lược và chiếm đóng đã âm vang trong không gian và thời gian, đáp ứng đúng mong muốn của Người.

        Thứ ba, chúng tôi rất vinh dự, tự hào đã sống và chiến đấu xứng đáng với lẽ sống, bản chất và danh hiệu "Bộ đội Cụ Hồ", trở thành một tập thể có bản lĩnh chính trị vững vàng, đấu tranh kiên cường, sáng tạo, khôn khéo, do đó "khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng". Được tôi rèn trong lò luyện gang thép "Trại Đa-vít", sau hoà bình lập lại, nhiều đồng chí đã trở thành cán bộ cấp cao trên nhiều lĩnh vực.

        Vào giờ phút thiêng liêng này, nhiều đồng; chí lãnh đạo chủ chốt của hai Đoàn đại biểu quân sự đã ra đi, trong đó có nguyên Trưởng đoàn A là Thiếu tướng Lê Quang Hoà và Trưởng đoàn B là Trung tướng Trần Văn Trà, một số đồng chí đã hy sinh xương máu trong khi làm nhiệm vụ, một số đồng chí đã qua đời vì tuổi tác và bệnh tật. Chúng ta vô cùng thương tiếc và biết ơn các đồng chí đã mất mà thân nhân của một số đồng chí đó hôm nay cũng có mặt tại đây. Rất tiếc, đồng chí Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn, nguyên Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hợp quân sự 2 bên Trung ương, vì lý do sức khoẻ không ra dự lễ được. Chúng ta chúc đồng chí và các đồng chí cao tuổi khác mạnh khoẻ, sông lâu; chúc các đồng chí đương chức phát huy tinh thần "Trại Đa-vít", cống hiến nhiều hơn nữa.

        Chúng ta hết lòng tri ân các đồng chí Ba Lan và Hung-ga-ri trong Uỷ ban Quốc tê kiểm soát và giám sát việc thi hành Hiệp định Pa-ri đã hoàn thành tốt nghĩa vụ quốc tế của mình, kể cả hy sinh xương máu vì lợi ích của cách mạng Việt Nam. Trong phần thưởng cao quý hôm nay có sự đóng góp tuyệt vòi của hai Đoàn Ba Lan và Hung-ga-ri.
Kính thưa các quý vị và các đồng chí!

        Nhân dịp này, tôi xin đề đạt một nguyện vọng thiết tha là mong Đảng, Nhà nước có quyết định xây dựng khu di tích cách mạng "Trại Đa-vít" - nơi đặt sở chỉ huy đấu tranh ngoại giao quân sự toàn miền Nam, từng được công nhận là một trong những di tích lịch sử của chiến dịch Hồ Chí Minh và của cách mạng miền Nam, để gắn con người, tập thể anh hùng với địa danh, địa bàn lịch sử đã sinh ra nó và ngược lại, có như vậy mới phát huy được truyền thống anh hùng cho các thế hệ mai sau.

        Cuối cùng, chúng tôi xin kính chúc các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội, các vị khách quý và tất cả các đồng chí mạnh khoẻ, hạnh phúc và thành công.

        Xin trân trọng cảm ơn.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tám, 2013, 01:00:23 am
(http://)

BÁO CÁO ĐỂ NGHỊ
VỂ VIỆC PHONG TẶNG DANH HIỆU ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN TRONG CUỘC KHÁNG CHIÊN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC CHO HAI ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUÂN SỰ
CHÍNH PHỦ VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ VÀ CHÍNH PHỦ CÁCH MẠNG LÂM THỜI CỘNG HOÀ MIỀN NAM VỆT NAM

        Kính gửi:

                -   Thường vụ Quân ủy Trung ương - Bộ Quốc phòng
                -   Thường vụ Đảng ủy cơ quan Tổng cục Chính trị
                -   Đảng ủy Văn phòng Tổng cục Chính trị

        -   Căn cứ Luật Thi đua, Khen thưởng ngày 26 tháng 11 năm 2003 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng ngày 14 tháng 6 năm 2005;

        -   Căn cứ Nghị định số 42/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng và Luật sửa đổi bổ sung một số điểu Luật Thi đua, Khen thưởng.


        Chúng tôi là những nhân chứng lịch sử, bao gồm những sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ Quân đội nhân dân và Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, những cán bộ của ngành Ngoại giao, Công an nhân dân và an ninh Trung ương Cục miền Nam, ngành Thông tin báo chí... ở cả hai miền Nam - Bắc được tham gia làm nhiệm vụ đấu tranh ngoại giao quân sự thi hành Hiệp định Pa-ri về Việt Nam.

        Chúng tôi xin đề đạt nguyện vọng lên Thường vụ Quân ủy Trung ương - Bộ Quốc phòng và Đảng ủy cơ quan Tổng cục Chính trị, Đảng ủy Văn phòng Tổng cục Chính trị xem xét theo thẩm quyền và đệ trình lên Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam xét tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho hai Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam.

        Chúng tôi xin gửi toàn bộ tập hồ sơ đề nghị khen thưởng mà chúng tôi đã chuẩn bị, bao gồm:

        Phần I gồm Bản báo cáo đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho hai Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Bản báo cáo thành tích thực hiện nhiệm vụ đấu tranh ngoại giao quân sự thi hành Hiệp định Pa-ri về Việt Nam của hai Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

        Phần II gồm một số bản phụ lục để bổ trợ cho hai bản báo cáo trên.

        Phần III là ý kiến của một số đồng chí lãnh đạo, các nhân chứng lịch sử và cơ quan cử người tham gia đấu tranh ngoại giao quân sự về đề nghị Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho hai Đoàn đại biểu quân sự của ta.

        Xin phép được trình bày nguyện vọng của chúng tôi như sau:

       Một là: Thời gian chúng tôi tham gia đấu tranh ngoại giao quân sự được tính từ ngày 28 tháng 1 năm 1973 cho đến ngày toàn thắng 30 tháng 4 năm 1975. Lực lượng đấu tranh ngoại giao quân sự thi hành Hiệp định Pa-ri có hoàn cảnh rất đặc biệt.

        Đó là từng bộ phận nhỏ hay từng cá nhân được điều từ nhiều đơn vị, nhiều chiến trường, nhiều ngành trong và ngoài quân đội ở cả hai miền Nam - Bắc tập trung lại thành đơn vị hoàn chỉnh đảm nhận một nhiệm vụ mới có tính đặc thù và thòi gian không thể dự kiến khi nào kết thúc nhiệm vụ. Tuy nhiên, khi chiến trường toàn thắng thì đơn vị này mặc nhiên kết thúc nhiệm vụ lịch sử đó.

        Như vậy, có thê coi đây là một đơn vị đặc biệt, làm một nhiệm vụ đặc biệt đấu tranh thi hành Hiệp định Pa-ri ở giữa vùng địch kiểm soát. Nó được thành lập rất khẩn trương, đột nhiên kết thúc nhiệm vụ lịch sử, đột nhiên giải thể, không có tiền thân, không có hậu duệ, không có truyền thống từ trước và cũng không có đơn vị kế thừa về sau.

        Trên 800 tướng lĩnh, sĩ quan, cán bộ. chiến sĩ của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và kết thúc nhiệm vụ từ sau 60 ngày, tức là từ khi kết thúc nhiệm vụ của Ban Liên hợp quân sự 4 bên theo quy định của Hiệp định Pa-ri. Chỉ còn lại 40 đồng chí trong Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa làm nhiệm vụ trong Tổ Liên hợp quân sự 4 bên để giải quyết Điều 8(b) về người mất tích, mồ mả, hài cốt.

        Số tướng lĩnh, sĩ quan, chiến sĩ của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ở Cơ quan Liên hợp quân sự Trung ương tại Trại Đa-vít - Tân Sơn Nhất làm nhiệm vụ cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975. Đến khi chiến tranh kết thúc, do yêu cầu rất cấp thiết, toàn bộ sĩ quan, chiến sĩ của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được điều cấp tốc ra làm nhiệm vụ quân quản thành phố Sài Gòn. Các cán bộ chủ chốt được điều về Hà Nội nhận nhiệm vụ mới.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2013, 07:08:24 am
        Do công việc bề bộn thời kỳ sau chiến tranh và sự điều động rất khẩn trương nên bản thân đơn vị không kịp làm tổng kết công tác, không làm được những việc rất cần thiết về mặt tố chức, cán bộ, chính sách, v.v...

        Cấp trên trực tiếp là Quân ủv Miền (B2) cũng trong tình trạng nhiều việc gấp phải giải quyết và cũng sớm giải thể. Tổng cục Chính trị là cơ quan giúp Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương theo dõi chỉ đạo thì Văn phòng giúp sự chỉ đạo cũng khẩn trương phải tập trung vào những công việc lớn khác sau ngày thắng lợi. Do hoàn cảnh khách quan của các cơ quan chỉ đạo và công việc cấp bách bộn bề nên lãnh đạo và tổ chức chưa có điều kiện quan tâm đến hàng nghìn tướng lĩnh, sĩ quan, cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ đấu tranh ngoại giao quân sự suốt 823 ngày đêm giữa sào huyệt của địch một cách kiên cường cho đến ngày toàn thắng.

        Hai là: Một thực tế nữa, sau ngày thắng lợi hoàn toàn, đất nước có biết bao việc lớn và chúng tôi cũng lao vào công việc của mình một cách say sưa, không mấy ai còn suy nghĩ về thời kỳ đấu tranh ngoại giao quân sự nữa.

        Những năm sau này, khi đã lớn tuổi, về hưu và có điều kiện đề những đồng chí tham gia đấu tranh ngoại giao quân sự được gặp nhau, ôn lại những kỷ niệm sâu sắc trong quãng đời chiến đấu của mình về đấu tranh thi hành Hiệp định Pa-ri.

        Quãng thời gian chiến đấu này tuy không dài, chỉ có 823 ngày đêm, nhưng đã đê lại ở mỗi người nhiều kỷ niệm rất sâu sắc và nó là một dấu ấn đặc biệt không thế nào quên.

        Năm 2005, nhân kỷ niệm 30 năm Đại thắng 30-4-1975 - 30-4-2005, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên đã ký Quyết định số 970/QĐKT ngày 28 tháng 4 năm 2005 về việc tặng thưởng "Kỷ niệm chương" cho các cán bộ, chiến sĩ đã có những đóng góp to lớn vào việc thi hành Hiệp định Pa-ri về Việt Nam của hai Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

        Trong buổi lễ trao tặng Kỷ niệm chương, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên đánh giá hai Đoàn đại biểu quân sự của ta đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao cho. Đồng chí Nguvễn Dy Niên nói: "Trong suốt thời gian làm nhiệm vụ đấu tranh ngoại giao quân sự giữa sào huyệt địch, với lòng quả cảm, các đồng chí đã giương cao ngọn cờ quang vinh của Tổ quốc Việt Nam, ngọn cờ bách chiến bách thắng của lực lượng vũ trang cách mạng, phát huy cao độ tinh thần yêu nước, dũng cảm mưu trí, chủ động tấn công địch, đồng thời thể hiện sự khôn khéo, nhạy bén, mềm dẻo theo phương châm "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh"... "Các đồng chí là tâm gương sáng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, lòng quả cảm và tính kiên định về đấu tranh cách mạng và là sự kết hợp rất đẹp giữa Nhân - Trí - Dũng".

        Những đồng chí tham gia mật trận đấu tranh ngoại giao quân sự đến nay hầu hết đã già. Số các đồng chí lãnh đạo của hai Đoàn đã ra đi gần hết - đồng chí Thượng tướng Trần Văn Trà, đồng chí Thượng tướng Lê Quang Hoà là hai Trưởng đoàn thời kỳ Liên hợp quân sự 4 bên không còn nữa. Hiện chỉ còn anh Lưu Văn Lợi, là Đại tá, nguyên cố vấn pháp lý của Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ tại Hội nghị Pa-ri, nguyên Phó đoàn A thời kỳ Liên hợp quân sự 4 bên nay đã 98 tuổi; anh Hoàng Anh Tuấn là Thiếu tướng, nguyên Trưởng đoàn B thời kỳ Liên hợp quân sự 2 bên đã 88 tuổi; anh Nguyễn Trọng Xuyên là Thượng tướng, nguyên là Thượng tá, Trưởng đoàn B tại khu vực IV - Phan Thiết đã 87 tuổi: anh Dương Đình Thảo, nguyên thành viên Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Pa-ri, Uỷ viên Ban lãnh đạo Đoàn B đã 87 tuổi; anh Huỳnh Văn Trình, nguyên thành viên Đoàn đàm phán bí mật Lê Đức Thọ - Kít-xinh-giơ ở Pa-ri, ủy viên Ban lãnh đạo Đoàn A củng đã 85 tuổi...

        Nguyện vọng của những nhân chứng lịch sử còn lại là mong muốn Đảng và Nhà nước ta có một sự tôn vinh đúng mức và khẳng định trận tuyến đấu tranh ngoại giao quân sự sau Hiệp định Pa-ri là một sáng tạo độc đáo về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đồng thời cũng là sự biểu dương thích đáng về những hoạt động đấu tranh hết sức kiên cường, sáng tạo, khôn khéo của đội ngũ tướng lĩnh, sĩ quan, cán bộ, chiến sĩ trong đấu tranh ngoại giao quân sự. Nó thể hiện rõ ý chí Việt Nam, biểu hiện sáng ngời của tư tưởng cách mạng tiến công và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.

        Nguyện vọng đó là chính đáng và phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước ta tiếp tục xét khen thưởng những trường hợp xứng đáng cho các tổ chức và cá nhân có thành tích đặc biệt xuất sắc được các cơ quan, đơn vị và dư luận xã hội đồng tình, kể cả những đơn vị đã giải thể. Trước tình hình đó, Ban liên lạc Cựu chiến binh Ban Liên hợp quân sự - Trại Đa-vít ở cả phía Nam và phía Bắc đã bàn bạc thống nhất với nhau là đảm nhận trách nhiệm thay mặt cho gần 700 đồng chí thành viên của hai Đoàn đại biểu quân sự ta mà hàng năm vẫn tổ chức sinh hoạt truyền thống ở cả hai khu vực Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đứng ra báo cáo việc này với Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thường vụ Đảng ủy Tổng cục Chính trị và Đảng ủy Văn phòng

        Tổng cục Chính trị và mong muốn được các Đảng ủy xem xét báo cáo lên cấp trên có thẩm quyền quyết định.

        Là những nhân chứng lịch sử mà sự kiện đấu tranh ngoại giao quân sự thi hành Hiệp định Pa-ri về Việt Nam đã gần 40 năm, các đồng chí chủ chốt đã ra đi, các đồng chí còn lại đã già yếu, nên Ban liên lạc chúng tôi đã hêt sức cố gắng chuẩn bị tập hồ sơ báo cáo đề nghị khen thưởng nhưng chắc chắn còn chưa đầy đủ.

        Khi các cơ quan nghiên cứu xem xét, nếu thấy có gì cần bổ sung, xin liên hệ với Ban liên lạc Cựu chiến binh Ban Liên hợp quân sự - Trại Đa-vít ở khu vực Hà Nội, chúng tôi và các nhân chứng lịch sử còn lại sẽ báo cáo bổ sung hoàn chỉnh.

        Ban liên lạc Cựu chiến binh Ban Liên hợp quân sự - Trại Đa-vít xin kính trình Đảng ủy các cấp và đề nghị được xem xét theo thẩm quyền về đề nghị phong tặng danh hiệu "Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân" cho hai Đoàn đại biểu quân sự của chúng ta trong đấu tranh ngoại giao quân sự thi hành Hiệp định Pa-ri về Việt Nam.

BAN LIÊN LẠC CỰU CHIẾN BINH BAN LIÊN HỢP QUÂN SỰ- TRẠI ĐA-VÍT         
                                       TRƯỞNG BAN                                                     
                      Đại tá Nguyễn Văn Khả (Vũ Nam Bình)                                 


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Chín, 2013, 04:07:54 am

BÁO CÁO THÀNH TÍCH
THỰC HIỆN NHIỆM VỤ ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO QUÂN SỰ THI HÀNH HIỆP ĐỊNH PA-RI VỂ VIỆT NAM CỦA ĐOÀN ĐẠI BlỂU QUÂN SỰ CHÍNH PHỦ VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ VÀ ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUÂN SỰ CHÍNH PHỦ CÁCH MẠNG LÂM THỜI CỘNG HOÀ MIỂN NAM VIỆT NAM

        Ban liên lạc Cựu chiến binh Ban Liên hợp quân sự - Trại Đa-vít xin báo cáo thành tích thực hiện nhiệm vụ đấu tranh ngoại giao quân sự thi hành Hiệp định Pa-ri về Việt Nam của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà và Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam.

        Với thắng lợi có tính chất quyết định của quân dân ta trên các mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao, ngày 27 tháng 1 năm 1973 Mỹ và chính quyền Sài Gòn buộc phải ký Hiệp định Pa-ri về Việt Nam.

        Hiệp định Pa-ri đánh dấu bước ngoặt quan trọng trên con đường đi đến thắng lợi hoàn toàn của nhân dân ta.

        Điều cốt lõi nhất là: Mỹ cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thồ của nước Việt Nam; trong 60 ngày phải rút hoàn toàn quân Mỹ và quân chư hầu của Mỹ cùng vũ khí ra khỏi miền Nam Việt Nam; hủy bỏ tất cả các căn cứ quân sự của Mỹ và chư hầu ở miền Nam Việt Nam; Mỹ sẽ không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam...

        Theo Hiệp định Pa-ri, các bên tham gia Hội nghị Pa-ri về Việt Nam sẽ cử ngay đại diện để thành lập Ban Liên hợp quân sự 4 bên (Điều 16) và hai bên miền Nam Việt Nam sẽ cử ngay đại diện đê thành lập Ban Liên hợp quân sự 2 bên (Điều 17) có nhiệm vụ bảo đảm sự phối hợp hành động của các bên trong việc thực hiện các điều khoản về quân sự mà Hiệp định đã quy định (về ngừng bắn, rút quân Mỹ và chư hầu, hủy bỏ căn cứ quân sự của Mỹ và chư hầu, về trao trả nhân viên quân sự, nhân viên dân sự và tìm kiếm người mất tích...).

        I. TỔ CHỨC TRIỂN KHAI HOẠT ĐỘNG

        1.   Chấp hành chỉ thị của Bộ Chính trị Trung ương Đảng và trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Quân ủy Miền (B2), hai Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập. Thành phẩn của hai Đoàn gồm các tướng lĩnh, sĩ quan, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân và Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, cán bộ ngành Ngoại giao, Công an nhân dân và an ninh Trung ương Cục miền Nam, Thông tấn báo chí và một số ban ngành khác của cả hai miền Nam - Bắc được lựa chọn tham gia mặt trận đấu tranh ngoại giao quân sự thi hành Hiệp định Pa-ri về Việt Nam.

        Theo quy định của Hiệp định Pa-ri, mỗi Đoàn được tổ chức đủ lực lượng với quân số của mỗi Đoàn là 825 người gồm 275 sĩ quan và 550 nhân viên giúp việc và cảnh vệ để triển khai ở Ban Liên hợp quân sự Trung ương đóng tại Sài Gòn, 7 Ban Liên hợp quân sự các khu vực Huế, Đà Nằng, Plây Cu, Phan Thiết, Biên Hoà, Mỹ Tho, Cần Thơ và 26 Tổ Liên hợp quân sự ở các địa phương trên toàn miền Nam Việt Nam.

        Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa do Thiếu tướng Lê Quang Hoà, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam làm Trưởng đoàn.

        Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do Trung tướng Trần Văn Trà, Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam làm Trưởng đoàn.

        Ngay những ngày đầu tiên, phía Sài Gòn đã bộc lộ ý đồ chống phá Cơ quan Liên hợp quân sự. Chúng đòi phải làm giấy tờ xin nhập cảnh mới cho Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa vào Sài Gòn và ném bom vào đúng giờ và địa điểm hẹn đón Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Chúng tổ chức phục kích đánh phá, dùng bọn côn đồ hành hung vây đánh các Đoàn ta triển khai đến các khu vực, các địa phương.





Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Chín, 2013, 06:59:23 am
        2.   Thời kỳ Liên hợp quân sự 4 bên chỉ có Ban Liên hợp quân sự Trung ương được hình thành gồm đủ 4 đoàn của 4 bên tham gia Hội nghị Pa-ri.

        -   Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do Trung tướng Trần Văn Trà làm Trưởng đoàn.

        -   Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa do Thiếu tướng Lê Quang Hoà làm Trưởng đoàn.

        -   Đoàn đại biểu quân sự chính phủ Hoa Kỳ do thiếu tướng Gin-bớt út-uốt (Gilbert Woodward) làm Trưởng đoàn.

        -   Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam cộng hoà do trung tướng Ngô Du làm Trưởng đoàn (sau được thay bằng trung tướng Dư Quốc Đống).

        Sự phối hợp hoạt động của Ban Liên hợp quân sự Trung ương tuy gặp nhiều trục trặc, khó khăn do sự phá hoại của Mỹ - ngụy, nhưng 2 Đoàn ta đã đấu tranh quyết liệt nên cũng bảo đảm thực hiện được một phần quan trọng của các điều khoản về rút quân Mỹ và quân chư hầu, về trao trả nhân viên quân sự của các bên bị bắt.

        Cơ quan Liên hợp quân sự ở 7 khu vực và 26 tổ địa phương không hình thành được đủ 4 bên để hoạt động vì kẻ địch phá hoại nên lực lượng Liên hợp quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam không triển khai vào được. Chỉ duy nhất có khu vực Phan Thiết hình thành được Ban Liên hợp quân sự đủ 4 bên nhưng kẻ địch tìm mọi cách phá nên cũng rất khó khăn trong hoạt động.

        3.   Đến thời kỳ Liên hợp quân sự 2 bên, lãnh đạo ta đã kịp thời rút kinh nghiệm nên chủ trương không xúc tiến việc hoàn chỉnh các tổ chức Liên hợp quân sự ở khu vực và địa phương nữa.

        Ở Trung ương, Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn làm Trưởng đoàn và bắt đầu làm việc sau khi Ban Liên hợp quân sự 4 bên chấm dứt hoạt động theo quy định của Hiệp định Pa-ri.

        Ban Liên hợp quân sự 4 bên chỉ còn lại 1 Tổ Liên hợp quân sự 4 bên với nhiệm vụ bảo đảm sự phối hợp hành động của các bên trong việc thực hiện Điều 8(b) về những ngưòi mất tích, mồ mả và hài cốt.

        Tại Ban Liên hợp quân sự 2 bên, Đoàn ta tập trung đấu tranh quyết liệt, liên tục và rất căng thẳng nhằm vạch trần kẻ thù vi phạm ngừng bắn một cách trắng trợn và có hệ thống trên toàn lãnh thổ miền Nam Việt Nam. Đồng thòi ta rất kiên trì đòi kẻ thù phải trao trả nhân viên dân sự của ta. Kết quả cũng thực hiện được những đợt trao trả nhân viên quân sự còn lại của thời kỳ 4 bên và một số rất ít nhân viên dân sự.

        Tổ Liên hợp quân sự 4 bên cũng chỉ giải quyết cho Mỹ nhận được 23 bộ hài cốt ở sân bay Gia Lâm trong tháng 3 năm 1974 gắn với việc Mỹ phải thúc đẩy phía Sài Gòn trao trả đươc một số nhân viên dân sự của ta.

        Kẻ thù càng ra sức phá Hiệp định Pa-ri và phá Cơ quan Liên hợp quân sự, làm cho nó bị tê liệt.

        Để tỏ thái độ kiên quyết trước sự phá hoại của kẻ thù, Chính phủ ta tuyên bố đình chỉ các cuộc họp của Ban Liên hợp quân sự 2 bên và Tổ Liên hợp quân sự 4 bên.

        Thế là, từ tháng 10 năm 1974, không có hoạt động Liên hợp quân sự chung nữa. Nhưng hai Đoàn đại biểu quân sự ta vẫn ở lại Trại Đa-vít - Sài Gòn. Ta vẫn giữ quan hệ với Uỷ ban Quốc tế kiểm soát và giám sát việc thi hành Hiệp định Pa-ri, nhất là với 2 Đoàn bạn Ba Lan và Hung-ga-ri, vẫn liên hệ với các nhà báo, vẫn tiếp tục đấu tranh mạnh mẽ trên mặt trận dư luận vả quyết liệt lên án kẻ thù phá hoại Hiệp định Pa-ri cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Chín, 2013, 01:38:39 am

        II.   NHỮNG THÀNH TÍCH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ LIÊN HỢP QUÂN SỰ TRONG ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO QUÂN SỰ THI HÀNH HIỆP ĐỊNH PA-RI VỀ VIỆT NAM

        1. Buộc quân đội Mỹ và quân đội các nước chư hầu của Mỹ phải rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam trong thời hạn 60 ngày

        Nguyên Tổng Bí thư Lê Duẩn đánh giá rằng: "Đối với ta, điều quan trọng của Hiệp định Pa-ri không phải là ở chỗ thừa nhận hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát, tiến tới thành lập chính phủ ba thành phần mà mấu chốt là ở chỗ quân Mỹ phải ra còn quân ta thì ở lại" .

        Trong đấu tranh ngoại giao quân sự thi hành Hiệp định Pa-ri về Việt Nam thì nhiệm vụ quan trọng nhất mà Đảng và Nhà nước giao cho 2 Đoàn ta là phải đấu tranh một cách kiên quyết, tỉnh táo, khôn khéo và sáng tạo để buộc cho được quân Mỹ phải rút ra khỏi miền Nam Việt Nam trong thời hạn 60 ngày như Hiệp định Pa-ri quy định.

        Việc Hoa Kỳ phải chấp nhận rút hoàn toàn quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam là vấn đề đấu tranh rất quyết liệt, căng thắng, kéo dài ở Hội nghị Pa-ri. Với Mỹ thì đây là một thất bại rất cay đắng mà họ đã dùng mọi biện pháp, kể cả biện pháp mạnh là ném bom B52 vào Hà Nội tháng 12 năm 1972 mà không cứu vãn được. Với chính quyền Sài Gòn thì quân Mỹ rút hoàn toàn là mất chỗ dựa và Hiệp định là một bản án tử hình đối với chúng.

        Chúng ta phải hết sức cảnh giác, tỉnh táo phát hiện kịp thời những ý đồ đen tối trong vấn đề rút quân, phải đề phòng cả trường hợp chúng dây dưa kéo dài hoặc tìm mọi cớ rồi chây ỳ để lại một bộ phận quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam.

        -   Hai Đoàn ta bằng mọi cách thúc đấy quân Mỹ phải rút đúng số lượng 25% theo từng đợt. Sĩ quan ta kiểm tra, giám sát thật nghiêm túc. chặt chẽ việc rút trong từng chuyến ở tất cả các địa điểm rút quân Mỹ ở Nha Trang, Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng. Ta đảm bảo cho quân Mỹ rút được an toàn, không gây bất cứ một trở ngại nào. Chúng ta đã tống tiễn chúng với thái độ đàng hoàng và trên tư thế chững chạc của đội quân chiến thắng, của người lính cách mạng có tầm văn hoá cao.

        -   Ngay đợt trao trả và rút quân đầu tiên, hai Trưởng đoàn ta hỏi Trưởng đoàn Mỹ, Thiếu tướng Gin-bớt út-uốt, là tại sao trao trả đã bắt đầu mà không thấy Đoàn Hoa Kỳ thông báo lịch rút quân và đợt rút quân đầu tiên để Ban Liên hợp quân sự và Uỷ ban Quốc tế làm nhiệm vụ của mình. Trưởng đoàn Mỹ lúng túng và né tránh. Ta yêu cầu phải báo cáo không thể cho qua được, út-uốt nói đợt 1 chúng tôi đã rút 8.000 quân, có cả quân đồng minh.
Lập tức hai Trưởng đoàn ta phản đối. Không thể chấp nhận sự thông báo hời hợt như thế được. Ai tin được. Phải chăng là con số bịa đặt? Không có sự kiểm tra, kiểm soát, giám sát của Ban Liên hợp quân sự và Uỷ ban Quốc tế thì việc rút quân đó là không có giá trị.

        Út-uốt ngồi im chịu trận. Mấy ngày sau, y phải gửi công hàm chịu để Ban Liên hợp quân sự và Uỷ ban Quốc tế kiểm tra, kiểm soát, giám sát tất cả các đợt, các chuyến rút quân.

        -   Sĩ quan quân đội ta đi kiểm tra, kiểm soát Mỹ rút quân phát hiện thấy không có tên nào mang theo vũ khí. Sĩ quan ta chất vấn, chúng nói rằng vũ khí đã mang về bằng đường biển. Thật là một sự lừa bịp trắng trợn.

        Trưởng đoàn ta truy hỏi út-uốt rằng, theo Điều 6 của Hiệp định Pa-ri, quân đội Hoa Kỳ và chư hầu phải hủy bỏ căn cứ quân sự mà không thấy Đoàn Mỹ báo cáo việc này. Út-uốt nói rằng Hoa Kỳ đã bàn giao các càn cứ quân sự cho quân Sài Gòn trước khi ký Hiệp định Pa-ri. Lại là một sự trả lời bừa của kẻ xâm lược.

        Chúng ta lên án rất quyết liệt thái độ của phía Mỹ về hai vấn đề trên và vạch rõ Mỹ đã vi phạm Điều 5 là rút quân phải rút cả vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh của Hoa Kỳ và đồng minh của Hoa Kỳ. Không hủy bỏ tất cả các căn cứ quân sự là vi phạm Điều 6 của Hiệp định Pa-ri và Điều 9 của Nghị định thư là không tháo dỡ và chuyển ra khỏi miền Nam Việt Nam hoặc phá hủy những vũ khí, mìn... để không được dùng vào mục đích quân sự.

        -   Điều 5 còn quy định phải rút cố vấn quân sự và nhân viên quân sự, kể cả nhân viên quân sự kỹ thuật, nhân viên quân sự liên quan đến chương trình bình định.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Chín, 2013, 01:54:18 am
        Ta lên án Mỹ vi phạm nghiêm trọng điều này là để lại và đưa thêm vào trên một vạn cố vấn quân sự đội lốt dân sự.

        Đến đợt 4 là đợt cuối cùng thì Mỹ giở quẻ dây dưa việc rút quân.

        -   17 giò ngày 21 tháng 3 năm 1973 ta gửi công hàm cho Mỹ là ta sẽ trao trả tù binh Mỹ đợt 4 trước thời hạn với điều kiện Mỹ cũng rút hết quân.

        -   22 giờ cùng ngày 21 tháng 3 năm 1973, Trưởng đoàn Mỹ út-uốt trả lời thoả thuận hoàn toàn, trao trả và rút quân hoàn thành ngày 25 tháng 3 năm 1973.

        -   Sáng sớm ngày 22 tháng 3 năm 1973, Phó đoàn Mỹ Uých-khâm gửi bị vong lục đến hủy bỏ công hàm của út-uốt gửi cho ta lúc 22 giờ ngày 21 tháng 3 năm 1973 và nêu ra yêu sách là ta phải trả quân nhân Mỹ bị bắt ở Lào (!)

        Ta phản đối quyết liệt. Cuộc họp hôm sau Uých-khâm nói rằng chúng tôi đưa ra yêu sách "theo lệnh của chính phủ chúng tôi". Thế là rõ, đòi hỏi vô lý này là từ phía chính phủ Hoa Kỳ, từ tổng thống Hoa Kỳ.

        Ta lập tức tố cáo Mỹ phá hoại Hiệp định Pa-ri. Ta lên án Mỹ lật lọng về vấn đề trao trả và rút quân. Ta vạch rõ Mỹ đưa ra một đòi hỏi vô lý là phía ta phải trả những người do nước khác bắt và giam giữ.

        Ta đặt vấn đề là, có phải Mỹ kiếm cớ để một bộ phận quân Mỹ ở lại miền Nam Việt Nam không chịu rút đúng thời hạn hay không. Và đây là vấn đề Mỹ tiếp tục dính líu về quân sự ở miền Nam Việt Nam.

        Ta kêu gọi nhân dân Mỹ hãy đấu tranh buộc chính quyền Mỹ phải nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Pa-ri và ta cũng nói rõ rằng gia đình những nhản viên quân sự Mỹ bị bắt và các quán nhân Mỹ chưa được về cứ điện thắng về Lầu Năm góc và Nhà trắng mà đòi hỏi. Trách nhiệm thuộc về hai nơi ấy.

        -   Ngày 24 tháng 3 năm 1973, ta gửi cho phía Mỹ công hàm kiên quyết yêu cầu phải rút quân đúng thời hạn 60 ngày theo đúng quy định của Hiệp định Pa-ri.

        -   2 giờ sáng ngày 25 tháng 3 năm 1973. Mỹ gửi công hàm cho ta và phải nhận rút quân.

        -   Ngày 26 tháng 3 năm 1973. ta triệu tập Đoàn Mỹ tới trụ sở của ta để nói rõ việc trao trả và rút quân. Ta nói rằng tù binh Mỹ ở Lào do Pa-thét Lào quyết định. Nó không phải là công việc của Liên hợp quân sự 4 bên ở đây. Vì thiện chí và do Mỹ chưa có quan hệ ngoại giao với Lào nên ta sê giúp Mỹ vấn đề này. Khi nào có tin sẽ báo cho Mỹ biết.

        Còn kế hoạch trao trả hết số tù binh Mỹ phải được thực hiện trong ba ngày 27, 28 và 29 tháng 3 năm 1973. Quân Mỹ phải rút hết trong ba ngày đó.

        Số nhân viên quân sự Hoa Kỳ trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên và 159 lính thủy đánh bộ canh gác đại sứ quán Hoa Kỳ ở Sài Gòn cũng phải rút hết trong thời hạn đó.

        Trưởng đoàn Mỹ út-uôt, Phó đoàn Mỹ Uých-khâm xin tiếp nhận và làm theo kế hoạch của ta.

        Ngày 29 tháng 3 năm 1973, đúng 16 giờ 30 phút giờ Hà Nội, những tên lính Mỹ cuối cùng rút khỏi miền Nam Việt Nam.

        Ngày 29 tháng 3 năm 1973 đánh dấu mốc lích sử từ 115 năm nay, tính từ năm 1858, trên đất nước thân yêu của chúng ta đã sạch bóng quân xâm lược.

        Ngày 29 tháng 3 năm 1973, tính từ tháng 7 năm 1954 khi cố vấn quân sự Mỹ đầu tiên đến Sài Gòn để hỗ trợ cho chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm đến khi tên ỉính Mỹ cuối cùng rời khỏi miền Nam Việt Nam, là 18 nảm 8 tháng.

        Quân Mỹ phải rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam là yếu tố quan trọng nhất làm chuyến biến so sánh lực lượng trên chiến trường có lợi cho ta, để chúng ta tiến đến giành thắng lợi hoàn toàn.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Chín, 2013, 03:29:52 am
        2.   Đấu tranh quyết liệt buộc đối phương phải thực hiện việc trao trả những nhân viên quân sự (tù binh) và nhân viên dân sự (tù chính tri) của các bên bi bắt

        Trao trả người của các bên bị bắt là vấn đề quan trọng đối với Mỹ và ta. Còn ngụy quyền Sài Gòn thì không thiết tha với người của họ bị ta bắt, trong khi họ giam giữ nhiều cán bộ, chiến sĩ và cơ sở cách mạng của ta. Chúng ta đã tính toán kỹ vấn đề này.

        -   Nắm vững điểm quan trọng của Hiệp định Pa-ri là "việc trao trả những nhân viên quân sự của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài của các bên bị bắt sẽ tiến hành song song và hoàn thành không chậm hơn ngày hoàn thành việc rút quân nói tại Điều 5" (tức quân Mỹ và quân các nước đồng minh của Mỹ).

        Chúng ta tiến hành trao trả tù binh Mỹ - ngụy đúng theo số lượng của từng đợt, đúng thòi gian, đúng địa điểm đã thoả thuận. Trong tất cả 4 đợt, ta đã trao trả tất cả số tù binh Mỹ - ngụy bị ta bắt, kể cả 1 tù binh Mỹ mà ta bắt sau này chưa có tên trong danh sách đã trao cho phía Mỹ ở Pa-ri cũng đã trao trả kịp thời.

        Tất cả tù binh Mỹ - ngụy mà ta trao trả đều khoẻ mạnh, những người bị thương đều được chữa chạy khá tốt. Họ hết sức cảm kích, bày tỏ lòng biết ơn với những người phụ trách giam giữ họ, biết ơn chính sách nhân đạo của Nhà nước ta.

        Việc ta trao trả tù binh Mỹ - ngụy một cách chu đáo, chặt chẽ, đàng hoàng thế hiện chính sách nhân đạo của dân tộc Việt Nam. Điều đó cũng chứng tỏ chúng ta chấp hành nghiêm túc những quy định của Hiệp định Pa-ri về vấn đề này.

        Việc làm tốt này có tác dụng thúc đẩy Mỹ phải rút quân theo đúng quy định của Hiệp định Pa-ri. Mỹ không có cớ gì xung quanh vấn đề nhạy cảm này để chần chừ, dây dưa việc rút quân.

        Nó là một sức mạnh biến thành một sức ép buộc ngụy quyền Sài Gòn cũng phải trả người đúng tỷ lệ theo các đợt, phải trả phần lớn tù binh của ta và hạn chế bớt những hành vi phá hoại, gây cản trở trong vấn đề trao trả.

        Chúng ta trao trả hết tù binh Mỹ bị bắt và qua trao trả thể hiện tính nhân đạo của ta với tù binh Mỹ, dù chúng đã gây rất nhiều tội ác với nhân dân ta. Cái đó là một minh chứng làm cho nhân dân Mỹ, chính quyền Mỹ và những người có thiện chí hiểu rõ sự thật. Nó cũng có tác dụng đập tan những luận điệu của các thế lực hiếu chiến ở Mỹ, thường rêu rao về khả năng còn tù binh Mỹ ở Việt Nam hòng gây kích động về vấn đề nhạy cảm này.

        -   Cuộc đấu tranh buộc ngụy quyền Sài Gòn phải trả tù binh và tù chính trị cho ta là một cuộc đấu tranh hết sức gay go, phức tạp.

        Phía Sài Gòn trả cho ta 26.492 tù binh nhưng chúng còn giữ lại 242 người (đã trao danh sách tại Pa-ri) với lý do là họ xin hồi chánh (!). Trong số trao trả, ta phát hiện có 71 quân phạm của ngụy. So với danh sách trao tại Pa-ri hôm 27 tháng 1 năm 1973, có 2.478 người không đúng tên và hàng trăm dân thường bị bắt trong các cuộc càn quét của chúng.

        Có thế nói là không có đợt trao trả, không có chuyến trao trả nào mà bọn ngụv Sài Gòn không phá đám.

        Ngay từ khi bắt đầu đợt trao trả thứ nhất, bọn ngụy thông báo rằng trên 900 tù binh của ta không chịu về với cách mạng và yêu cầu được gặp phái đoản ta. Hai Trưởng đoàn ta cử ngay một số sĩ quan đến xem xét và giải quyết. Qua nắm tình hình trực tiếp, ta thấy rõ chính là do ngụy Sài Gòn không phổ biến Nghị định thư về trao trả cho anh em ta. Nghi ngờ bọn ngụy đưa anh em đi thủ tiêu nên anh em đòi được gặp phái đoàn ta. Gặp được đại diện của phái đoàn ta, được nghe phổ biến nội dung Nghị định thư, tất cả anh em phấn khởi được trở về với cách mạng để tiếp tục chiến đấu.

        Đợt 2 trao trả, gặp một trở ngại lớn là Trưởng đoàn ngụy Dư Quốc Đống đưa ra con số trao trả cho ta từ 7.000 người trong đợt 1, tụt xuống còn 3.000 người trong đợt 2. Dư Quốc Đông nói rằng "đây là lệnh của chính phủ chúng tôi, ngừng bắn chưa thực hiện hoàn toàn, thả nhiều quá để các vị lại tổ chức hàng trung đoàn tấn công chúng tôi sao". Trưởng đoàn ta không tranh cãi với Dư Quôc Đống, chỉ nói cho Trưởng đoàn Mỹ út-uôt có ý kiến. Ta chỉ tuyên bố là "nếu phía Việt Nam cộng hòa phá hoại như thế này thì toàn bộ công việc trao trả sẽ bị đình trệ, trao trả quân nhân Mỹ bị bắt cũng bị ảnh hưởng".

        Mấy ngày sau, phía Sài Gòn phải ngoan ngoãn theo lệnh Mỹ trao trả đợt 2 cho ta là 6.300 nhân viên quân sự.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Chín, 2013, 12:12:19 am
        -   Riêng vấn đề tù chính trị là đấu tranh quyết liệt nhất. Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố không trao trả tù chính trị, thả tù chính trị là thả hổ về rừng. Tại Hội nghị Pa-ri, Kít-xinh-giơ cũng nói là thả họ về, họ lại đánh chúng tôi à. Khi ta đòi gắt gao phải trao trả tù chính trị thì Kít-xinh-giơ lại tính đổi lấy việc ghi vấn đề quân miền Bắc vào văn bản Hiệp định: "Sài Gòn sẽ thả một số đáng kể thường dân bị giam giữ đồng thời với việc triển khai lại một số đáng kể quân đội ở phía bắc Nam Việt Nam".

        Rõ ràng là cả Mỹ và ngụy đều rất sợ phải trao trả những cán bộ hoạt động cách mạng của chúng ta.

        Ta tính toán, bàn bạc rất kỹ về cuộc đấu tranh đòi Mỹ - ngụy trả tù chính trị của ta. Ngụy quyền Sài Gòn cố tình dây dưa và bày ra đủ trò để tranh cãi vô bổ như bàn lại thể thức trao trả, địa điểm trao trả... Tạ thông báo số nhân viên dân sự của chúng mà ta giam giữ là 637 người, và ngụy phải trao trả cho ta tất cả nhân viên dân sự mà ngụy quyền Sài Gòn đang giam giữ.

        Ngụy đòi ta một con sô rất lớn mà chúng cố tình bày đặt ra là ta phải trả cho chúng 67.000 người, không trả số đó thì chúng không trao trả người của ta.

        Chúng ta lên án rất mạnh mẽ những hành động vô nhân đạo của kẻ thù đối với tù chính trị của ta. Dư luận rộng rãi trên thế giới cũng lên án chế độ giam giữ tù chính trị của chính quyền Sài Gòn. Mục sư Tin lành hgưòi I-ta-li-a Tu-lô Vi-nai (Tullo Vinay) đã tuyên bố là chế độ Sài Gòn còn giam giữ 200.000 tù chính trị. Hội Ân xá quốc tế đưa con số tù chính trị mà Việt Nam cộng hoà còn giam giữ là 100.000 người. Ngay tờ báo Đối diện của Sài Gòn cũng nêu 200.000 tù chính trị đang trong các trại giam của Việt Nam cộng hoà.

        Nhưng, dù chúng ta đã cố gắng rất lớn và đấu tranh quyết liệt nhưng kết quả trao trả tù chính trị vẫn rất ít, ta chỉ đòi được 5.075 người. Ta đã làm tất cả những gì có thể làm được để giành giật với địch từng người trong từng chuyến trao trả và tố cáo với Uỷ ban Quốc tế, với dư luận về sự phản trắc của chính quyền Sài Gòn và tội ác của chúng với tù chính trị của ta.

        Kết quả của cuộc đấu tranh kiên trì, quyết liệt về vấn đề trao trả như sau:

        Ta trả:
                  -  Mỹ: 554 nhân viên quân sự và dân sự.
                  -  Ngụy: 5.426 nhân viên quân sự và 637 nhân viên dân sự.

        Ta nhận:
                 -  26.492 nhân viên quân sự.
                 -  5.075 nhân viên dân sự.

        2.   Vấn đề chấm dứt chiến sự - ngừng bắn

        Hiệp định Pa-ri về Việt Nam có tên gọi là "Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam".
Mỹ - ngụy phá hoại Hiệp định nên thực tế là chiến tranh không được chấm dứt, hoà bình không được lập lại. Vấn đề ngừng bắn là điều đầu tiên và nêu ra rất cụ thể nhưng Mỹ - ngụy không thực hiện. Hiểu rõ ý đồ sâu xa của kẻ thù nên ta chủ động đối phó có hiệu quả.

        Ký Hiệp định Pa-ri, Mỹ chấp nhận một bước lùi về chiến lược, nhưng vẫn tiếp tục "Việt Nam hoá chiến tranh", dùng chính quyền và quân đội Sài Gòn làm công cụ, áp đặt chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, chia cắt lâu dài nước ta.

        Mỹ - ngụy chỉ thi hành điều khoản nào có lợi cho Mỹ và theo yêu cầu của Mỹ. Ngoài ra, họ đã vi phạm trắng trợn, có hệ thống Hiệp định Pa-ri, tiếp tục tiến hành chiến tranh.

        Tiếng súng không hề được chấm dứt ngay từ khi Hiệp định Pa-ri được ký kết chưa ráo mực. Kẻ thù đã chuẩn bị từ trước để tiếp tục chiến tranh.

        Phía ta chủ trương đấu tranh bằng phương pháp hoà bình và coi đó là một bước quá độ tiến lên hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ ở miền Nam. Chính vì vậy mà ta nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Pa-ri và đòi đốỉ phương cũng phải làm như vậy.

        Nhưng từ kinh nghiệm thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, lần này ta coi đấu tranh thi hành Hiệp định Pa-ri thực chất là một bộ phận của cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta nhằm đánh bại cuộc chiến tranh "Việt Nam hoá", đánh đổ chính quyền tay sai, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thông nhất đất nước. Ta đã đánh giá đúng và thực tế Mỹ - ngụy đã phá bỏ Hiệp định Pa-ri, tiếp tục chiến tranh.

        Làm nhiệm vụ đấu tranh ngoại giao quân sự trực diện với kẻ thù ngay giữa sào huyệt của chúng, hai Đoàn ta phải đấu tranh thực hiện cho kỳ được việc quân Mỹ rút hoản toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam, việc trao trả người bị bắt của các bên. Một vấn đề quan trọng mà hai Đoàn ta phải rất tập trung và tỉnh táo theo dõi chặt chẽ là những hành động tiếp tục chiến tranh của kẻ thù. Từ đó mà ta đã kịp thòi phát hiện, tố cáo, lên án và vạch trần những mưu đồ đen tối của chúng


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Chín, 2013, 03:57:39 am
        Tại cơ quan Liên hợp quân sự Trung ương, diễn đàn cấp Trưởng đoàn được dư luận hết sức quan tâm theo dõi.
Hai Đoàn ta đã đấu tranh một cách mạnh mẽ về việc kẻ thù vi phạm ngừng bắn ngay từ ngày đầu tiên Hiệp định Pa-ri có hiệu lực.

        Vụ Cửa Việt mà ngụy Sài Gòn tố cáo và gửi công hàm đến Uỷ ban Quốc tế vu cáo ta vi phạm ngừng bắn đã bị Đoàn ta vạch mặt. Ta nói rõ là quân Sài Gòn dùng toàn bộ pháo từ hạm đội bắn vào trận địa quân ta ở Cửa Việt mà chúng ta đã giải phóng từ tháng 5 năm 1972. Chúng sử dụng 200 xe tăng, xe bọc thép và lữ đoàn 147 tiến đánh Cửa Việt. Ngay sau đó quân ta giáng một đòn trừng trị đích đáng. Chúng tháo chạy bỏ lại nhiều xác chết và trên 100 xe tăng, xe bọc thép.

        Bốn ngày sau, Uỷ ban Quốc tế điều tra và kết luận là quân ngụy Sài Gòn vi phạm ngừng bắn, chúng hết đường chối cãi.
      
        Tiếp theo, ta tố cáo nhiều vụ quân ngụy Sài Gòn lấn chiếm với lực lượng cấp trung đoàn, sư đoàn vào Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), Bắc Kon Tum, Cai Lậy, Tây Ninh, Chương Thiện, Tân Châu (Hồng Ngự),...

        Ta tố cáo rất cụ thể, rõ ràng về thời gian, địa điểm, lực lượng sử dụng lấn chiếm. Trưởng đoàn ngụy rất lúng túng, trả lời một cách công thức: "Lấy làm tiếc, đã nhận bản phản kháng của quý vị, sẽ đệ trình lên chính phủ chúng tôi".

        Còn Trưởng đoàn Mỹ út-uốt tảng lờ mãi không được, phải làm ra vẻ khách quan giấu mặt đồng loã: "Nhiều vi phạm quá rồi, chúng ta phải hợp tác để chấm dứt các vụ vị phạm! Phải tiến hành những cuộc điều tra có kết quả, có hiệu lực" (!)

        Khi bị dồn vào thế bí, Trưởng đoàn ngụy Dư Quốc Đống nói toạc chân tướng: "Tôi không tán thành Hiệp định Pa-ri vì nó có lợi cho các ngài". Trưởng đoàn Trần Vàn Trà nghiêm khắc phê phán: "Thế là đã rõ, trung tướng Dư Quốc Đống - người đại diện của phía Việt Nam cộng hoà để thi hành Hiệp định Pa-ri mà không tán thành, chống lại Hiệp định thì các ngài vi phạm, phá bỏ Hiệp định là tất nhiên, là rõ ràng...". Dư Quốc Đống hốt hoảng vội lúng túng bào chữa "cá nhân tôi không tán thành... nhưng... vì... đã có Hiệp định thì chúng tôi phải thi hành, không có phá...".

        Không dừng lại ở đó, chúng ta còn tố cáo là Mỹ - ngụy đã chuẩn bị sẵn kế hoạch phá Hiệp định Pa-ri từ khi sắp được các bên ký kết. Cuối năm 1972, ngụy đã có kế hoạch "Hùng vương 2 và 18" triển khai mọi hoạt động quân sự, chính trị cả trước và sau khi ký Hiệp định Pa-ri để giành lợi thế trên chiến trường ngay từ đầu. Rồi kế hoạch "Lý Thường Kiệt" năm 1973 đề ra 5 biện pháp chiến lược lấy lấn chiếm, bình định làm biện pháp trung tâm và phá những điểm nào mà Hiệp định Pa-ri không có lợi cho phía ngụy.

        Ta tố cáo cái chiến dịch "Tràn ngập lãnh thổ", chiến dịch cắm cờ, chuẩn bị 1,6 triệu lá cờ ba que và dùng bộ binh, trực thăng để cắm cờ.

        Đối với vấn đề vi phạm ngừng bắn, chúng ta đã tiến công liên tục, tiến công quyết liệt. Thời gian thi hành Hiệp định Pa-ri đã được 1 tháng, ngày 26 tháng 2 năm 1973, trong cuộc họp các Trưởng đoàn, hai Trưởng đoàn ta đọc bản tổng hợp tình hình, vạch trần có hệ thông âm mưu và hành động phá hoại Hiệp định Pa-ri của Mỹ - ngụy.

        Trưởng đoàn Mỹ út-uốt không chịu nổi, bộc lộ bản chất kẻ xâm lược, kẻ vi phạm Hiệp định Pa-ri. Hắn lắc đầu, cười láo xược, phát biểu là đã ngán những diễn văn dài như vậy, chỉ uống công vô ích (!), rồi bĩu môi, nhún vai.

        Trung tướng Trần Văn Trà đập lại ngay, đại thể: "Vừa đúng một tháng thi hành Hiệp định, cần làm rõ tình hình, cần truy ra trách nhiệm. Phản ứng vừa rồi của Trưởng đoàn Hoa Kỳ là phản ứng của kẻ bị cáo. Chúng tôi cần làm cho dư luận hiểu đúng tình hình, hiểu rõ nguyên nhân. Sự phản ứng thiếu lịch sự vừa rồi thật không xứng đáng với chức vụ Trưởng đoàn đại biểu quân sự của một chính phủ, thật đáng hổ thẹn", út-uôt đỏ mặt, im thin thít.

        Thiếu tướng Lê Quang Hoà nói tiếp: "Đây là chúng tôi nói lên sự thật. Chúng tôi vạch trần một cách có hệ thống những âm mưu và hành động thiếu thiện chí của phía các vị. Tại sao các vị lại phản ứng không bình thường như thế? Chỉ có thể tìm thấy nguyên nhân ở chỗ những lời lên án của chúng tôi đã chỉ đúng những kẻ chịu trách nhiệm về tình hình rất nghiêm trọng hiện nay, về tình hình gần như là bế tắc trong công việc của Ban Liên hợp quân sự...".

        Dư Quốc Đống càng lúng túng đề nghị chúng ta không nói chuyện chính trị ở đây. Thật là một bài học đích đáng cho họ.

        Đấu tranh tố cáo, lên án kẻ thù vi phạm ngừng bắn là cuộc đấu tranh liên tục, quyết liệt, căng thắng sụôt cả quá trình từ thời kỳ Ban Liên hợp quân sự 4 bên sang thời kỳ Ban Liên hợp quân sự 2 bên. Khi kẻ thù đã vi phạm ngừng bắn trên cả 4 vùng chiến thuật, chiến tranh đã trở lại trên toàn miền Nam Việt Nam, Bộ chỉ huy Quân giải phóng miền Nam Việt Nam công bố lệnh kiên quyết đánh trả vi phạm tại nơi lấn chiếm. Sau đó quyết định thêm là Quân giải phóng không chỉ đánh trả tại chỗ vi phạm lấn chiếm mà giữ quyền trừng trị tại nơi xuất phát vi phạm.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Chín, 2013, 03:05:37 am

        3.    Tại diễn đàn Uỷ ban Quốc tế

        Nhiệm vụ của Uỷ ban Quốc tế là kiểm soát và giám sát việc thi hành những điều khoản được quy định trong Hiệp định Pa-ri. Đó là sự bảo đảm quốc tế về giá trị pháp lý của Hiệp định, sự công nhận quốc tế đối với các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, đặc biệt là vị thế của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

        Nắm vững những nguyên tắc trong hoạt động của Uỷ ban Quốc tế mà các bên đã thoả thuận tại Hội nghị Pa-ri, ta tăng cường đoàn kết, phối hợp chặt chẽ với hai Đoàn Ba Lan và Hung-ga-ri là điểm quan trọng để củng cố thế cân bàng vững chắc trong Uỷ ban Quốc tế. Vừa đấu tranh với những hành động xấu của các thành viên đối lập trong Uỷ ban, vừa có thái độ hợp tác tranh thủ từng thành viên cụ thể để họ đảm bảo làm việc đúng với tinh thần và lời văn của Hiệp định Pa-ri.

        Uỷ ban Quốc tế đã thực hiện được nhiệm vụ kiểm soát và giám sát Mỹ và chư hầu rút hết quân và một số đợt trao trả tù binh, tù dân sự của ta bị phía ngụy quyền Sài Gòn giam giữ.

        Ta sử dụng diễn đàn nàv nhằm tố cáo Mỹ - ngụy vi phạm Hiệp định Pa-ri, trọng tâm là vi phạm ngừng bắn. Ta gửi đến Uỷ ban Quốc tế 924 công hàm, tố cáo 18.971 vụ vi phạm ngừng bắn trên cả 4 vùng chiến thuật. Ta đòi Uỷ ban Quốc tế phải điều tra các vụ vi phạm, đặc biệt là những vụ vi phạm nghiêm trọng.

        Trong tổng số 390 cuộc điều tra mà Uỷ ban Quốc tế đã tiến hành. Uỷ ban kết luận được 5 vụ mà phía Sài Gòn đã vi phạm Hiệp định Pa-ri. Đó là:

        -   Vụ lấn chiếm Cửa Việt ngày 28 tháng 1 năm 1973.
        -   Vụ hành hung Đoàn ta tại Huế ngày 10 tháng 2 năm 1973.
        -   Vụ ném bom vào cửa khẩu Đức Cơ ngày 19 tháng 2 năm 1973.
        -   Vụ bắn pháo vào trụ sở Uỷ ban Quốc tế tại Bảo Lộc ngày 2 tháng 4 năm 1973.
        -   Vụ bán phá vào Núi Giai ở Tri Tôn ngày 3 tháng 4 năm 1973.

        Trong khi đó, Uỷ ban Quốc tế đã không có bất cứ một kết luận vi phạm nào đối với phía ta, kể cả những vụ mà ngụy quyền Sài Gòn vu cáo ta hết sức rùm beng.

        4.   Hoạt động báo chí và đấu tranh dư luận hỗ trợ chiến trường

        Giữa trung tâm hang ổ của kẻ thù, hai Đoàn đại biểu quân sự ta đã đưa hoạt động báo chí và đấu tranh dư luận thành một mũi nhọn quan trọng. Sài Gòn lúc bấy giò là tiêu điểm nóng bỏng nhất của thế giới. Nó là nơi Mỹ buộc phái rút hoàn toàn quân đội khỏi miền Nam Việt Nam trong 60 ngày kể từ ngày ký Hiệp định Pa-ri. Nó cũng là nơi một lực lượng của quân đội cách mạng có mặt công khai giữa trung tâm đầu não của địch để đấu tranh buộc Mỹ - ngụy phải thi hành Hiệp định Pa-ri. Nó còn là nơi tập trung đại diện của 77 hãng thông tấn, vô tuyến truyền hình, đài phát thanh, báo chí nước ngoài mà chủ yếu là của các nước phương Tây, trong đó có 21 hãng của Mỹ.

        Hai Đoàn ta xác định đây là mặt trận đấu tranh có tác dụng quan trọng, góp phần vào mặt trận đấu tranh dư luận rộng lớn mà Đảng và Nhà nước ta triển khai trong nước và trên thế giới. Tiếng nói chính nghĩa, rất thực tế, cụ thể và chính xác được phát lên từ trung tâm lò lửa Sài Gòn có một tầm quan trọng đặc biệt.

        Yêu cầu của ta đối với mặt trận đấu tranh dư luận là phải làm cho nhân dân trong nước và bạn bè trên thế giới, trong đó có nhân dân Mỹ, hiểu rõ ràng về tình hình thi hành Hiệp định Pa-ri của các bên. Tập trung vào thông tin về việc quân Mỹ và quân chư hầu rút như thế nào, về việc trao trả người bị bắt của các bên và về việc chấm dứt chiến sự, ngừng bắn được thực hiện ra sao?

        Ta hiểu rằng, đấu tranh bằng công hàm, đấu tranh qua báo chí dư luận không thể buộc đổi phương chấm dứt hoặc giảm các hành vi vi phạm. Nhưng mặt trận đấu tranh này rất quan trọng ở chỗ nó làm nổi bật trước dư luận thế giới sự khác nhau về lập trường, thái độ của các bên đối với Hiệp định Pa-ri. Nó thể hiện rõ ai là người thi hành nghiêm chỉnh, ai là kẻ phá hoại Hiệp định Pa-ri.

        Ở Trại Đa-vít hình thành một ban thông tấn báo chí mạnh, gồm những cán bộ có năng lực, có bản lĩnh chính trị vững vàng được chọn lựa từ các cơ quan thông tấn báo chí hai miền Nam - Bắc để thực hiện nhiệm vụ trên trận địa quan trọng nảy.

        Quá trình đấu tranh được chuẩn bị chu đáo. Các đồng chí lãnh đạo chủ chốt thường chủ trì các cuộc họp báo. Buổi họp báo đầu tiên giữa Sài Gòn do Trưởng đoàn Trần Văn Trà chủ trì. Có gần 100 nhà báo đến dự và đây là cuộc tiếp xúc đầu tiên của đại diện cách mạng với giới báo chí ngay tại Sài Gòn. Sau đó, đồng chí Hoàng Anh Tuấn, Võ Đông Giang chủ trì những cuộc họp báo tiếp theo.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Chín, 2013, 01:32:18 am
        Trong hoạt động báo chí và đấu tranh dư luận, chúng ta tập trung nói rõ những hành động vi phạm Hiệp định Pa-ri của Mỹ - ngụy, vạch trần và lên án những mưu đồ đen tối, xấu xa của chúng. Chúng ta làm cho dư luận thế giới hiểu rõ chính Mỹ là kẻ tiếp tục dính líu quân sự và can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam, vi phạm Điều 4[1] của Hiệp định Pa-ri. Chính Mỹ là kẻ chủ mưu thúc đẩy và tiếp tay cho ngụy Sài Gòn phá Hiệp định Pa-ri.

        Đồng thời, điều quan trọng làm cho thế giới hiểu rõ về sự thực tâm và hành động nghiêm chỉnh của ta thi hành Hiệp định Pa-ri để đem lại hoà bình cho nhân dân ta sau bao nhiêu năm chiến tranh. Chúng ta nói rõ và chứng minh một cách thuyết phục về cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam. Chúng ta khẳng định rằng, chính Mỹ - ngụy rắp tâm phá bỏ Hiệp định Pa-ri. tiếp tục đưa chiến tranh trở lại trên toàn bộ lãnh thổ miền Nam Việt Nam. nơi buộc lòng chúng ta phái đánh trả.

        Đó là quyền tự vệ thiêng liêng, chính đáng của chúng ta.

        Bằng cách trình bày những nội dung cơ bản trên, trong mỗi cuộc họp báo hoặc gặp riêng với các phóng viên ở Sài Gòn, chúng ta đều đi sâu vào từng vấn đề một cách rõ ràng, làm cho sức thuyết phục với giới báo chí ngày càng tăng thêm.

Đối với giới háo chí Sài Gòn, phần lớn họ có cách nhìn và quan điểm khác ta trên nhiều vấn đề. Có người thật sự ghét Cộng sản. nhiều người chưa biết gì, chưa hiểu rõ về ta. Nhưng cũng có một số bày tỏ cảm tình với ta, nên khi tiếp xúc ban đầu họ nêu những câu hỏi chân thành mà họ muốn biết.

        Với thái độ thật sự tôn trọng dư luận và tôn trọng giới báo chí, ta trả lòi họ một cách rõ ràng, chính xác, cụ thể và có sức thuyết phục. Dần dần họ hiểu ta hơn. có thiện cảm với ta hơn và có những vấn đề tỏ ra đồng tình với ta.
Có thể nói rằng, giới báo chí Sài Gòn theo dõi khá sát mọi động thái của hai Đoàn ta. của Uỷ ban Quốc tế, của phía Hoa Kỳ, của chính quvền Sài Gòn đối với việc thi hành Hiệp định Pa-ri. Họ đưa tin khá nhanh nhạy và bình luận khá sôi nổi.

        Lúc đầu giới báo chí Sài Gòn đưa tin có lợi cho ta không nhiều. Có những tin họ nói cả hai bên đều vi phạm Hiệp định Pa-ri. Càng về sau tỷ lệ đưa tin và bình luận có lợi cho ta càng nhiều hơn.

        Có những phóng viên cung cấp cho ta những tin về số tù chính trị còn bị ngụy quyền Sài Gòn giam giữ, chia sẻ với chúng ta suy nghĩ của họ nhân kỷ niệm ngày sinh nhật Bác Hồ, ngày thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng, v.v...

        Trên trận tuyến hoạt động báo chí và đấu tranh dư luận, hai Đoàn đại biểu quân sự ta trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên và 2 bên đã góp phần có hiệu quả vào việc làm cho thế giới hiểu rõ chúng ta hơn về những vấn đề thi hành Hiệp định Pa-ri. Tranh thủ được sự đồng tình của dư luận trên thế giới đối với cuộc đấu tranh của chúng ta hoặc ít nhất là sự chấp nhận của dư luận thế giới với con đường chúng ta đi. Nó là một thắng lợi rất quan trọng trong cuộc đấu tranh pháp lý, chính trị, ngoại giao sau Hiệp định Pa-ri để bảo vệ những hành động quân sự chính nghĩa của ta đi đến đích cuối cùng.

---------------------
[1]  Điều 4: Hoa Ký sẽ không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam. (Mặt trận ngoại giao với cuộc đàm phán Pa-rỉ về Việt Nam, Bộ Ngoại giao, Nxb Chính trị quốc gia. tr. 483)


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Chín, 2013, 04:54:29 am

        5.     Trại Đa-vít - Một trận địa cách mạng kiên cường giữa sào huyệt địch

        Mỹ - ngụy có một kế hoạch tổng hợp, hoàn chỉnh để phá hoại Hiệp định Pa-ri, trong đó chúng coi việc đánh phá trực tiếp vào hai Đoàn đại biểu quân sự ta trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên và 2 bên là đặc biệt quan trọng.

        Kẻ thù bố trí hai Đoàn đại biểu quân sự ta vào Trại Đa-vít là để cô lập ta, giam lỏng ta, gây cản trở và làm tê liệt mọi hoạt động Liên hợp quân sự cua ta. Cao hơn nữa, để hai Đoàn ta vào đấy thì lúc nào chúng cũng có thể khống chế, ngăn chặn và cùng có thể sẵn sàng bắt làm con tin hoặc hủy diệt hai phái đoàn quân sự này.

        Chúng dùng mọi thủ đoạn như Thủ tưởng Phạm Văn Đồng đã nói hôm gặp lãnh đạo Đoàn A là: "Họ sẽ không từ một thủ đoạn bẩn thỉu nào để phá hoại và cản trở công việc thi hành Hiệp định. Họ có thể giở những thủ đoạn hèn hạ vô cùng mà chúng ta không thế tương tượng nổi nữa kia...".

        Nhưng tất cả những mưu đồ xấu xa. thủ đoạn bẩn thỉu của chúng đã bị ta đánh bại.

        Chúng ta hiên ngang biến Trại Đa-vít thành trung tâm đấu tranh ngoại giao quân sự giữa sào huyệt địch.

        Chúng ta phát huy ưu thế tuyệt đối về chính trị là chính nghĩa dân tộc, tư tưởng cách mạng tiến công. Chúng ta nắm vững đường lối, quan điểm của Đảng, nắm vững pháp lý của Hiệp định Pa-ri để đấu tranh với kẻ thù buộc chúng phải thi hành Hiệp định.

        Vừa đấu tranh kiên quyết, liên tục và không khoan nhượng với kẻ thù, chúng ta vừa rất tỉnh táo và khôn khéo phát hiện những ý đồ đen tồi, mánh lới xáo trá của kẻ thù để kịp thời vạch trần, lên án chúng trước dư luận rộng rãi.

        Ở tại vị trí trung tâm đầu não của địch, dù kẻ thù tìm mọi cách ngăn cản. chúng ta vẫn tiếp xúc với nhiều loại người, qua các kênh có thể nắm tình hình và đặc biệt là qua kênh trực diện đấu tranh với kẻ địch. Chúng ta đã có những phân tích, đánh giá tình hình chiến trường và báo cáo với cấp trên, góp phần thêm vào việc đánh giá những âm mưu, ý đồ của Mỹ - ngụy.

        Đội ngũ cán bộ, chiến sĩ ta là những chiến binh vững vàng, bản lĩnh chính trị được tôi luyện, có ý chí chiến đấu và tính cảnh giác cách mạng cao. Nhờ đó, chúng ta đã triển khai một thế trận tiến công chủ động, sắc bén và phòng ngừa chặt chẽ, đánh bại mọi âm mưu thủ đoạn của kẻ thù.

        Các loại âm mưu thủ đoạn của địch đã gây nên những khó khăn và cản trở nhất định cho hoạt động của ta, nhưng không thể làm nao núng và càng không thể tác động đến tâm lý của cán bộ, chiến sĩ ta.

        Những thủ đoạn xảo quyệt của địch được chuẩn bị công phu nhằm đánh sâu vào nội bộ ta cũng đều bị vô hiệu hoá hoàn toàn.

        Những ngày cuối cùng của chiến tranh, các chiến binh trong Trại Đa-vít càng biểu hiện rõ phẩm chất và hành động của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Hai Đoàn ta ỏ một vị trí bốn bề bị vây hãm, lại là thời điểm kẻ thù đang trong cơn giãv chết thì chắc chắn là chúng không từ một thủ đoạn tàn ác nào để tiêu diệt chúng ta.

        Cấp trên rất quan tâm đến vấn đề an toàn của 300 cán bộ, chiến sĩ ở Trại Đa-vít. Các đồng chí đã điện nhắc nhở phải giữ vững bản chất Bộ đội Cụ Hồ, phải để phòng hành động tàn bạo của kẻ thù. Bộ chỉ huy Miền và Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh thông báo là khi quân ta tiến công vào Sài Gòn sẽ có một cánh bộ đội đặc công vào để đưa đại bộ phận của hai Đoàn ta ra nơi an toàn.

        Hai Đoàn ta là những người ở tại chỗ. đã đánh giá phân tích tình hình và đề đạt nguyện vọng lên cấp trên cho ở lại bám trụ, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu tại chỗ.

        Được cấp trên đồng ý, 300 cán bộ. chiến sĩ ta đã bắt tay vào việc tổ chức chiến đấu. Rất khấn trương, toàn bộ Trại Đa-vít trở thành một công trường ngầm lặng lẽ. bí mật triển khai xây dựng toàn bộ hệ thống hầm hào, quyết tâm bám trụ chiến đấu đến cùng.

        Chỉ trong vòng 10 ngày và trong điều kiện phải dùng cọc màn, chân giường và tất cả những gì có thể dùng được để xây dựng trận địa chiến đấu. Công tác tư tưởng lúc này là thuận lợi nhất, một không khí đoàn kết thông nhất, kỷ luật rất tốt và tinh thần chiến đấu cao.

        Thấy máy bay địch dồn về Tân Sơn Nhất rất nhiều, hai Đoàn ta đề nghị với Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh cứ bắn pháo mãnh liệt tiêu diệt máy bay địch. Đừng thấy máy bay địch ở gần phái đoàn ta mà không bắn thì lỡ cơ hội. Chúng tôi sẵn sàng nhận sự hy sinh để chiến dịch toàn thắng, cách mạng toàn thắng.

        Thật là một đội quân anh hùng, luôn nghĩ đến chiến thắng của cách mạng, bản thân hoặc đơn vị mình gặp hiếm nguy củng lấy làm vinh dự. không hề tính toán.

        Trong quá trình thi hành nhiệm vụ ngoại giao quân sự, lực lượng Liên hợp quân sự của ta đã có 9 đồng chí hy sinh, 25 đồng chí bị thương.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Chín, 2013, 01:33:51 am

        III. KẾT LUẬN

        1.   Hơn 2 năm 3 tháng kể từ 28 tháng 1 năm 1973, ngày bộ phận đầu tiên vào sân bay Tân Sơn Nhất, đến 30 tháng 4 năm 1975. ngày giành thắng lợi hoàn toàn, hai Đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hỏa miền Nam Việt Nam đã hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đấu tranh ngoại giao quân sự thi hành Hiệp định Pa-ri về Việt Nam.

        -   Điểm nổi bật nhất là cùng với cuộc đấu tranh của toàn dân và toàn quân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, hai Đoàn đại biểu quân sự ta tại trận địa đấu tranh trực diện với kẻ thù đã bằng mọi cách quyêt liệt, liên tục tiến công địch, luôn tỉnh táo. khôn khéo, sáng tạo buộc đối phương phải rút hoàn toàn quân Mỹ và quân chư hầu của Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam đúng 60 ngày sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết.

        -   Công tác trao trả người của các bên bị bắt cũng là cuộc đấu tranh quyết liệt và phức tạp. Việc ta trao trả tù binh Mỹ một cách chặt chẽ, đàng hoàng có tác dụng rất lớn thúc đẩy quân Mỹ phải rút hoàn toàn khỏi miền Nam Việt Nam. Nó còn có tác dụng lớn đối với nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới, làm cho họ hiểu rõ chính sách nhân đạo của Việt Nam với tù binh Mỹ. Đồng thòi, nó còn là một sức ép buộc ngụy quyền Sài Gòn phải trao trá phần lớn nhân viên quân sự của ta bị họ giam giữ.

        -   Ở tại nơi nóng bỏng nhất của chiên tranh, hai Đoàn đại biếu quân sự ta tập trung vào việc đấu tranh mạnh mẽ, kịp thòi tố cáo. lên án và vạch trần những mưu đồ đen tối của Mỹ - ngụy là không chấm dứt chiến tranh mà là tiếp tục "Việt Nam hoá chiến tranh". Mỹ vẫn tiếp tục dính líu về quân sự và can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam. Ta vạch rõ Mỹ - ngụy ngày càng đẩy mạnh chiến tranh một cách toàn diện, có hệ thống và đã đưa chiến tranh trở lại trên toàn lãnh thổ miền Nam Việt Nam.

        Đồng thời, chúng ta nêu cao chính nghĩa, chúng ta mong muốn hoà bình, nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Pa-ri. Ta làm cho dư luận rộng rãi đồng tình và ủng hộ, hoặc ít nhất là chấp nhận con đường chúng ta đi. Kẻ thù rắp tâm phá bỏ Hiệp định nên buộc ta phải dùng bạo lực vũ trang cách mạng đê đạt mục tiêu đã được ghi tại Điều 1, Chương I: "Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thố của nước Việt Nam...".

        2.   Hai Đoàn đại biểu quân sự ta đã khẳng định trận tuyến đấu tranh ngoại giao quân sự thời kỳ sau Hiệp định Pa-ri là sự sáng tạo và độc đáo của cách mạng Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. cứu nước thần thánh của dân tộc ta.

        Trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta cũng như các nước trên thế giới, chưa từng có trường hợp nào mà một bên đối địch lại hợp pháp cắm được một bộ phận lực lượng của mình công khai hiên ngang đứng tại trung tâm đầu não cua đối phương, được thế giới công nhận và trước đại diện dư luận cộng đồng quốc tế tập trung tại đây.

        Bộ phận lực lượng ấy dõng dạc phân tích sâu sắc các ý đồ và hành động của mỗi bên, lên án những việc làm xằng bậy của đối phương, lý giải và chứng minh một cách thuyết phục cho những bước đi bắt buộc của mình để bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ đạo lý và cuối cùng ca khúc khải hoàn với đại quân ngày chiến thắng.

        Tạo được điều kỳ diệu độc đáo này là do đường lối đúng đắn, phương cách sáng tạo của Đảng ta, sự chỉ đạo sâu sắc của các cấp trên trực tiếp.

        Thành công đó còn có phần đóng góp từ bản lĩnh và sự nỗ lực vượt bậc, không ngại hy sinh, gian khổ, một lòng một dạ trung thành với sự nghiệp cách mạng của hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ thành viên của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

BAN LIÊN LẠC CỰU CHIẾN BINH BAN LIÊN HỢP QUÂN SỰ - TRẠI ĐA-VÍT        
                                        TRƯỞNG BAN                                                  
                        Đại tá Nguyễn Văn Khả (Vũ Nam Bình)                          


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Chín, 2013, 01:51:44 am

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/2396273234_5d551479e8_o_zpsb5b4b5c8.jpg)

"CÁC ĐỔNG CHÍ ĐÃ SỐNG, CHIẾN ĐẤU VÀ CỐNG HIẾN HẾT MÌNH CHO NGÀY TOÀN THẮNG CỦA DÂN TỘC TA..."

NGUYỄN DY NIÊN        
     Trích phát biểu cúa Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên tại Lễ trao tặng "Kỷ niệm chương" về thành tích đóng góp vào việc thi hành Hiệp định Pa-ri về Việt Nam theo phương châm "Dì bất biến, ứng vạn biến" của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh...

        "Nếu như Hội nghị Pa-ri về Việt Nam là thắng lợi của cuộc đấu tranh ngoại giao kéo dài, đầy khó khăn và phức tạp, thì cuộc đấu tranh buộc đối phương phải tuân thủ các điều khoản của Hiệp định Pa-ri cũng là cuộc đấu trí, đấu lý hết sức gay go và quyết liệt...

        Trong suốt thòi gian làm nhiệm vụ đấu tranh ngoại giao quân sự giữa sào huyệt của địch, với lòng quả cảm các đồng chí đã giương cao ngọn cờ quang vinh của Tổ quốc Việt Nam, ngọn cờ bách chiến bách thắng của lực lượng vũ trang cách mạng, phát huy cao độ tinh thần yêu nước, dũng cảm mưu trí, chủ động tiến công địch, đồng thòi thê hiện sự khôn khéo, nhạy bén, mềm dẻo

        Dựa vào chính nghĩa của cuộc đấu tranh cách mạng, dựa vào pháp lý của Hiệp định Pa-ri. được thắng lợi giòn giã của quân dân ta trên chiến trường cổ vũ, những chiến sĩ trên mặt trận ngoại giao quân sự mà tiêu biểu là các chiến binh tại Trại Đa-vít trong suốt 823 ngày đêm đã đấu tranh hết sức sắc sảo trước kẻ thù. Đồng thời, các đồng chí đã hợp tác và tranh thủ Uỷ ban Quốc tế, mà đặc biệt là các đoàn Hung-ga-ri và Ba Lan...

        Các đồng chí đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao phó.

        Đã góp phần tích cực đấu tranh thúc đẩy quân viễn chinh Mỹ và quân chư hầu của Mỹ phải rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam ngày 29 tháng 3 năm 1973.

        Đã đấu tranh góp phần buộc địch phải trao trả phần lớn những cán bộ, chiến sĩ của ta bị địch bắt và một số nhân viên dân sự - những cán bộ chính trị, cơ sở cách mạng của ta.

        Đã đấu tranh một cách mạnh mẽ, kịp thời, với tư thê của đội quân chiến thắng có mặt tại sào huyệt của địch, vạch trần những âm mưu, thủ đoạn và mọi hành động phá hoại Hiệp định Pa-ri một cách có hệ thống của Mỹ - ngụy trước dư luận trong nước và trên thế giới...

        Đảng và Nhà nước ta mãi mãi ghi công những người con ưu tú của Tổ quốc những đồng chí công tác tại hai Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên và 2 bên.

        Các đồng chí đã sống, chiến đấu và cống hiến hết mình cho ngày toàn thắng của dân tộc, xứng đáng được mọi thế hệ hôm nay và mai sau ghi nhớ và biết ơn.

        Các đồng chí là tấm gương sáng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, lòng quả cảm và tính kiên định về đấu tranh cách mạng và là sự kết hợp rất đẹp giữa Nhân - Trí - Dũng...".



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Chín, 2013, 02:48:45 am

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/leducanh_zps9b1a5aeb.jpg)

THƯ CỦA ĐẠI TƯỚNG  LÊ ĐỨC ANH

        Về Đề nghị Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho hai đoàn Đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời  Cộng hòa miền Nam Việt Nam    

        Kính gửi: - Bộ Quốc phòng
                      - Ban Thi đua Khen thưởng Trung ương

        Tôi đã đọc bộ Hồ sơ báo cáo đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng võ trang nhân dân trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cho Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do Ban liên lạc Cựu chiến binh Ban Liên hợp quân sự "Trại Đa-vít" soạn thảo đề nghị.

        Là nhân chứng trong giai đoạn lịch sử này, trên cương vị là Ủy viên Đảng ủy - Phó Tư lệnh Bộ chỉ huy Miền (B2), tôi hoàn toàn nhất trí những nội dung bản báo cáo đã nêu và đánh giá các Đoàn đại biểu quân sự của ta tham gia mặt trận đấu tranh ngoại giao quân sự này xứng đáng được Đảng và Nhà nước ta khen thưởng.

        Để tôn vinh những hoạt động sáng tạo, độc đáo trên mặt trận đấu tranh ngoại giao quân sự; để biểu dương những thành tích đấu tranh khôn khéo, kiên cường ngay trong lòng địch của cán bộ, chiến sĩ tham gia đấu tranh trên mặt trận ngoại giao quân sự này, tôi đề nghị các đồng chí thông qua và cho quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng võ trang nhân dân cho hai Đoàn đại biểu quân sự của ta tham gia Ban Liên hợp quân sự 4 bên và 2 bên đấu tranh thi hành Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam như đề nghị.

        Chúc các đồng chí mạnh khỏe và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ.

Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2011          

         Đại tướng Lê Đức Anh                  

        Nguyên Phó Tư lệnh Bộ chỉ huy Miền (B2) Nguyên Uy viên Bộ Chính trị, Nguvên Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Chín, 2013, 12:38:39 am

(http://cdn.dangvanhieu.net/files/2011/08/tieu-su-dang-van-hieu.jpg)

THƯ CỦA  THỨ TRƯỞNG BỘ CÔNG AN
Trung tướng Đặng Văn Hiếu
     
Về thành tích của lực lượng công an tham gia hai Đoàn quân sự Trại Đa-vít
   
(Năm 2013: Ủy viên Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam, Đại biểu Quốc hội khóa XIII, Thượng tướng, Thứ trưởng Thường trực Bộ Công an, Phó bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Chủ nhiệm ủy ban kiểm tra Đảng ủy Công an Trung ương.)

Hà Nội. ngày 11 tháng 5 năm 2011        

        Kính gửi: Ban liên lạc Cựu chiến binh Ban Liên hợp quân sự Trại Đa-vít thuộc Hội Cựu chiến binh Việt Nam

        Ngày 28 tháng 02 năm 2011, Ban liên lạc Cựu chiến binh Ban Liên hợp quân sự Trại Đa-vít thuộc Hội Cựu chiến binh Việt Nam có văn bản gửi Bộ Công an về việc đề nghị cho ý kiến đánh giá về thành tích của lực lượng công an trong quá trình tham gia đấu tranh ngoại giao, quân sự thi hành Hiệp định Pa-ri về Việt Nam để phục vụ cho việc xét phong tặng danh hiệu "Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân" thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cho hai tập thể:

        -   Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

        -   Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

        Qua nghiên cứu hồ sơ và báo cáo thành tích của các tập thể đề nghị khen thưởng, Bộ Công an có ý kiến như sau:

        1.   Việc đề nghị phong tặng danh hiệu "Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân" thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cho hai tập thể trên, chúng tôi thấy rất cần thiết và rất xứng đáng vì thành tích lập được đặc biệt xuất sắc, có ý nghĩa giáo dục truyền thống, để lại dấu ấn lịch sử đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc.

        2.   Vê sự kiện Đa-vít. Bộ Công an và Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam lúc đó đã cử một lực lượng đông đảơ (gần 140 đồng chí) có bản lĩnh chính trị vững vàng, có kinh nghiệm chuyên sâu trong đấu tranh với kẻ thù, tham gia vào mặt trận đấu tranh ngoại giao quân sự trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên, 2 bên; các đồng chí lãnh đạo Bộ Công an và An ninh miền Nam có nhiều chỉ đạo sâu sắc, sát thực tế công tác an ninh, bảo vệ trong đấu tranh ngoại giao quân sự trong sào huyệt của địch.

        Đồng chí Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị đã chủ động chuẩn bị lực lượng và 9 phương án công tác công an trong việc tổ chức trao trả giặc lái, tù binh, phương án tiếp nhận số cán bộ, chiến sĩ của ta bị địch bắt... Đặc biệt là phương án công tác an ninh trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên, 2 bên thực hiện Hiệp định Pa-ri về Việt Nam. Bộ đã tuyển chọn, cử trên 100 cán bộ gồm Phó Giám đốc sở, Phó Trưởng ty Công an và lãnh đạo Phòng Bảo vệ chính trị của sở, Ty Công an toàn miền Bắc; số cán bộ bảo vệ, cán bộ kỹ thuật nghiệp vụ và cán bộ phiên dịch tiếng Anh được Bộ trưởng cho đi đào tạo từ trước. Đồng thời chọn cử hơn 10 đồng chí từ An ninh Trung ương Cục và An ninh các khu tham gia Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên, 2 bên.

        Quá trình đấu tranh công tác tại Ban Liên hợp quân sự. cán bộ. chiến sĩ công an nhân dân. an ninh đã đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn hoạt động của kẻ thù như: tìm mọi cách mua chuộc, khống chế. lôi kéo, bắt cóc cán bộ, chiến sĩ ta, cài cắm cơ sở vào nội bộ ta; đã đấu tranh có hiệu quả chống lại bọn ngụy quân, ngụy quyền giả danh lưu manh, côn đồ hung hãn tấn công vào các trụ sở, nơi cán bộ ta đến làm việc, định cướp tài liệu của cán bộ ta mang theo, anh em ta cương quyết không để lọt tài liệu vào tay địch, nhiều đồng chí bị thương trong khi lảm nhiệm vụ. có đồng chí bị hy sinh trong ngày 29 tháng 4 năm 1975.

        Thông tin liên lạc là hoạt động đặc biệt quan trọng trong điều kiện sống trong vòng vây của kẻ thù. cán bộ an ninh đã kịp thời giải quyết các trở ngại về kỹ thuật do địch gây ra như phá sóng, chèn sóng, gây nhiễu, giữ được bí mật của hai Đoàn ta và bảo vệ an toàn hai Đoàn bạn (Hung-ga-ri và Ba Lan) trong Ủy ban Quổc tế.

        Lực lượng công an, tham gia Ban Liên hợp quân sự trong Trại Đa-vít đã khôn khéo triển khai nhiều biện pháp nghiệp vụ, kỹ thuật nhất là công tác tình báo, phản gián có hiệu quả đảm bảo được an ninh chính trị nội bộ, bảo vệ an toàn tổ chức, con người và bí mật công tác.

        Trong 823 ngày đêm liên tục, kiên cường đấu tranh với kẻ thù ngay trong lòng địch 2 Đoàn đại biểu quân sự của ta đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần vào Đại thắng mùa Xuân năm 1975; trong đó lực lượng công an trong Trại Đa-vít đã có những đóng góp xuất sắc.

        Bộ Công an hoàn toàn nhất trí với đề xuất của Ban liên lạc Cựu chiên binh Ban Liên hợp quân sự Trại Đa-vít về việc đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho 2 Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dãn chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thòi Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Đề nghị các đồng chí xem xét, làm thủ tục theo quy định.
          
KT. BỘ RƯỞNG            
           THỨ TRƯỞNG              
Trung tướng Đặng Văn Hiếu    


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Chín, 2013, 05:32:11 am

(http://media.baotintuc.vn/2013/05/23/14/47/Bac-Tran-Mai-Huong-1.jpg)

THƯ CỦA  TỔNG GIÁM ĐỐC THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
Trần Mai Hưởng
     
Về thành tích của lực lượng Thông tấn xã Việt Nam tham gia hai Đoàn quân sự Trại Đa-vít

Hà Nội. ngày 4 tháng 4 năm 2011        

        Kính gửi: Ban liên lạc Cựu chiến binh Ban Liên hợp quân sự "Trại Đa-vít"

        Ngày 8 tháng 3 nàm 2011, Thông tấn xã Việt Nam nhận được công văn của Ban liên lạc Cựu chiến binh Ban Liên hợp quân sự "Trại Đa-vít" thuộc Hội Cựu chiến binh Việt Nam về việc đề nghị tham gia ý kiến vào việc phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam có ý kiến như sau:

        Trong cuộc đấu tranh kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trận tuyến đấu tranh ngoại giao quân sự sau Hiệp định Pa-ri là một sáng tạo độc đáo về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đem lại hòa bình cho đất nước Việt Nam. Hoạt động báo chí và đấu tranh dư luận là một mũi nhọn quan trọng tại "Trại Đa-vít", là tiếng nói chính nghĩa và cụ thể chính xác, có tầm quan trọng đặc biệt.

        Riêng Thông tấn xã Việt Nam, cơ quan thông tin duy nhất lúc bấy giờ đảm nhiệm trách nhiệm nặng nề vừa đảm bảo công tác thông tin, vừa chi viện sức người, sức của cho Thông tấn xã Giải phóng, cử cán bộ phục vụ Hội nghị Pa-ri về Việt Nam và sau đó Thông tấn xã Việt Nam đã chọn cử một đội ngũ nhà báo, cán bộ kỹ thuật có trình độ nghiệp vụ cao, có lập trường quan điếm đúng, rõ ràng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đức tính hy sinh cao đẹp để biệt phái sang Bộ Quốc phòng, biên chế thành sĩ quan báo chí để cùng với một số cơ quan thông tin đại chúng khác vào "Trại Đa-vít" tổ chức thành Ban thông tấn báo chí của đoàn đặt dưới sự lãnh đạo chỉ đạo trực tiếp của đoàn, do Phó Trưởng đoàn - Đại tá Võ Đông Giang trực tiếp phụ trách.

        Thông tin của Thông tấn xã Việt Nam từ "Trại Đa-vít" đã trở thành thông tin chủ yếu của hai Đoàn ta lúc đó, phát đi những dòng tin, bức ảnh cụ thể về hoạt động của hai Đoản ta tại "Trại Đa-vít", thông tin với dư luận thế giới thấy rõ ý đồ phá hoại Hiệp định Pa-ri của ngụy quyền. Những cán bộ, phóng viên, kỹ thuật viên của Thông tấn xã Việt Nam được giao nhiệm vụ hoạt động tại "Trại Đa-vít” đã không quản ngại gian khổ, hy sinh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước, nhân dân và cơ quan Thông tấn xă Việt Nam giao cho.
Trong thòi gian tham gia hoạt động của Ban Liên hợp quân sự "Trại Đa-vít", cán bộ, phóng viên, kỹ thuật viên của Thông tấn xã Việt Nam đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao và góp phần vào thành tích của quân đội ta trong mặt trận đấu tranh ngoại giao quân sự, đóng góp vào thắng lợi của cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam. thống nhất đất nước.

        Trên cơ sở đó, Thông tấn xã Việt Nam nhất trí với Ban liên lạc Cựu chiến binh Ban Liên hợp quân sự "Trại Đa-vít" thuộc Hội Cựu chiến binh Việt Nam đề nghị Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
  
          
TỔNG GIÁM ĐỐC            
Trần Mai Hưởng              


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Chín, 2013, 05:25:57 am

(http://baodientu.chinhphu.vn/Uploaded_VGP/thukybientap/20120625/Anh-chan-dung-Thuong-tuong.jpg)
(1926-2012)

THƯ CỦA  THỨ TRƯỞNG BỘ QUỐC PHÒNG
Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên
     
Giới thiệu thành tích của  hai Đoàn quân sự Trại Đa-vít

Hà Nội. ngày 2 tháng 4 năm 2011        

        Kính gửi: Đồng chí Đại tướng Phùng Quang Thanh - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng

        Trước hết, tôi chúc mừng đồng chí tái trúng cử ủy viên Bộ Chính trị khóa XI vừa qua. Nhân dịp đầu xuân Tân Mão, tôi kính chúc đồng chí Bộ trưởng và toàn thể gia đình sức khỏe luôn dồi dào, hạnh phúc, an khang... Sau đây tôi xin trình bày với đồng chí Bộ trưởng một việc để đồng chí xem xét:

        Vừa qua, tôi có nhận được tập hồ sơ đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho hai Đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam mà tôi có tham gia làm nhiệm vụ trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên và 2 bên Trung ương. Tài liệu này do Ban liên lạc Cựu chiến binh Ban Liên hợp quân sự "Trại Đa-vít" soạn thảo.

        Sau khi xem tập hồ sơ, tôi rất hoan nghênh các đồng chí đó đã đại diện cho toàn thể các tướng lĩnh, sĩ quan, cán bộ, chiến sĩ thành viên của hai Đoàn đại biểu quân sự cách mạng hàng năm sinh hoạt truyền thông ở hai miền Nam - Bắc. dồn hết tâm sức chuẩn bị cho bản báo cáo thành tích và các tài liệu kèm theo, đứng ra trình bày, đề nghị lên Bộ Quốc phòng xem xét.Đây là hai đơn vị được Quân uỷ Trung ương chỉ đạo thành lập thực hiện nhiệm vụ thi hành Hiệp định Pa-ri ngay từ khi Hiệp định được ký kết và bám trụ tại Tân Sơn Nhất (Sài Gòn) đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Trong quá trình tiến hành nhiệm vụ, do phía Mỹ - ngụy phá hoại điên cuồng Hiệp định đã gây thương vong tổn thất cho hai Đoàn ta: 9 liệt sĩ, 25 thương binh, thường xuyên gây sức ép và phá hoại mọi hoạt động của hai Đoàn ta...

        Tôi thấy, hai Đoàn đại biểu quân sự ta hoàn toàn xứng đáng được Đảng, Nhà nước tuyên dương công trạng. Đây là dịp tôn vinh sự lãnh đạo sáng suốt, mưu lược tài tình của Đảng ta, ngợi ca tinh thần đấu tranh dũng cảm, kiên cường, mưu trí, bền bỉ và sáng tạo của lực lượng vũ trang cách mạng trên trận tuyến ngoại giao quân sự. Vinh quang này thuộc về Đảng ta, Nhà nước và quân đội anh hùng.

        Các tài liệu do Ban liên lạc Cựu chiến binh Ban Liên hợp quân sự "Trại Đa-vít" đã chuẩn bị và được gửi đến đồng chí Bộ trưởng. Có vấn đề gì cần hỏi thì cho phép anh em gặp trình bày hoặc cho cơ quan chức năng trực tiếp nghe báo cáo và sau đó Bộ trưởng xem xét.

        Kính mong đồng chí Bộ trưởng xem xét trường hợp đề nghị trên. Ban liên lạc và tôi chân thành cảm ơn.

        Kính!
          
THƯỢNG TƯỚNG                
Nguyễn Trọng Xuyên            
       Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng thường trực Bộ Quốc phòng


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Chín, 2013, 05:53:11 am

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/HuynhVanTrinh_zps8cabeea0.jpg)

THƯ CỦA  NHÂN CHỨNG LỊCH SỬ
Đồng chí Huỳnh Văn Trình
     
Hà Nội. ngày 10 tháng 3 năm 2011        

        Kính gửi: Đại tá Nguyên Văn Khả (Vũ Nam Bình)
                      Trưởng ban liên lạc Cựu chiến binh Ban Liên hợp quân sự "Trại Đa-vít"

        I - Tôi đã nhận được và nghiên cứu kỹ bộ "Hồ sơ Báo cáo đề nghị tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam".

        Tôi rất hoan nghênh, hoàn toàn nhất trí vì bộ Hồ sơ đó đã tổng hợp phản ảnh đầy đủ các mặt: bối cảnh tình hình, tố chức - hoạt động đấu tranh và thành tích xuất sắc của hai Đoàn đại biểu; trích dẫn ý kiến đánh giá quan trọng của nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quốc phòng, ngoại giao... về vấn đề này; đồng thời nêu lên nguyện vọng chính đáng của các nhân chứng lịch sử là thành viên của hai Đoàn đại biểu quân sự ta.

        Đây là cơ sở thực tiễn rất tốt, có giá trị đích thực để lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hóa - Thông tin. các Bộ, ngành hữu quan khác và lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh làm căn cứ xem xét, trình lên lãnh đạo Đảng và Nhà nước quyết định việc phong tặng danh hiệu thi đua cao quý mà chúng ta đề nghị.

        II - Đế góp thêm một tiếng nói của một người trong cuộc, với tư cách nguyên là thành viên Ban lãnh đạo Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên Trung ương - nguyên là Phó Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa trong Tổ Liên hợp quân sự 4 bên về người mất tích (MIA) tại Sài Gòn, tôi xin nêu rõ một số yếu tố sau đây để nhấn mạnh tầm quan trọng và tính chính đáng của việc tuyên dương hai Đoàn đại biểu quân sự ta danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.

        1/ Chúng ta đề xuất việc phong tặng này không xuất phát từ động cơ "bệnh thành tích", "kể công vì lợi ích cá nhân"; cũng không phải trên cơ sở "cơ chế xin cho"; mà là làm vì lịch sử dân tộc: tôn vinh sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, nêu cao truyền thống quốc phòng, an ninh, ngoại giao Việt Nam, đáp lại sự hy sinh xương máu của đồng chí, đồng đội, để lại bài học về tinh thần yêu nước cho thế hệ mai sau. Cũng trên tinh thần như vậy mà thời gian qua Đảng và Nhà nước ta đã từng phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho Đại đội pháo binh nữ Ngư Thủy - Quảng Bình và tập thể 10 cô gái thanh niên xung phong ngã ba Đồng Lộc - Hà Tĩnh...

        2/ Cuộc đấu tranh thi hành Hiệp định Pa-ri của hai Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trên chiến trường miền Nam thực sự là một trong những huyền thoại độc đáo, sáng tạo về ngoại giao quân sự Việt Nam, chưa từng có trong lịch sử nước ta và trên thế giới.

        -  Trong thời gian rất ngắn - từ 13 tháng 1 năm 1973 (thỏa thuận cơ bản Hiệp định Pa-ri tại cuộc gặp riêng Lê Đức Thọ - Kít-xinh-giơ) đến ngày 28 tháng 1 năm 1973 (Hiệp định bắt đầu có hiệu lực), đã cấp tốc thành lập 2 Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam với đội ngũ hùng hậu gần 1.000 người gồm tướng lĩnh, sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân và công an nhân dân được chọn lọc từ các chiến trường về, cán bộ ưu tú của Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hóa - Thông tin, Thông tấn xã Việt Nam và một số ngành dân sự khác, hội tụ thành một lực lượng thống nhất của cả hai miền đi vào trận chiến đấu mới ngay trong sào huyệt kẻ thù, như những dũng sĩ "vào hang hùm bắt cọp".
      


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Chín, 2013, 12:45:34 am
        -   Tiến hành một cuộc "hành quân thần tốc" vào chiến trường B trong khí thế chiến thắng, bằng phương tiện hiện đại nhất do kẻ thù cung cấp (máy bay C130 và trực thăng của Mỹ), với thời gian ngắn nhất tiến thẳng về Sài Gòn (3 giờ từ Hà Nội và 1 giờ từ Lộc Ninh) trung tâm đầu não của địch, lập tổng hành dinh tại Trại Đa-vít - mảnh đất giải phóng công khai đầu tiên tại Sài Gòn - chỉ cách bộ tổng tham mưu ngụy l km theo đường chim bay.

        -   Đối mặt với một kẻ thù vô cùng ngoan cố, quyết tâm phá hoại và xóa bỏ Hiệp định Pa-ri, thực hiện âm mưu "Việt Nam hóa chiến tranh" bằng thái độ, hành động hung hăng, lật lọng, khiêu khích côn đồ hèn hạ nhất, cả trong đàm phán và xử sự hàng ngày đổi với sinh hoạt ăn, ở, đi lại của hai Đoàn đại biểu ta; chúng ta đã giữ vững sự điềm tĩnh, đàng hoàng, chững chạc, hiên ngang, dũng cảm. thông minh, đầy thiện chí hòa hình trong đấu tranh khôn khéo và không khoan nhượng.

        -   Kiên quvết bám trụ. tiến hành cuộc đấu tranh thi hành Hiệp định Pa-ri rất quyết liệt và căng thẳng trong suốt hơn 2 năm 3 tháng trong vòng vây của kẻ thù trên tất cả các mặt pháp lý, chính trị, ngoại giao và dư luận, với cường độ ác liệt ngày càng tăng theo chuyển biến chiến lược trên chiến trường - từ giai đoạn đàm phán trực tiếp tại các diễn đàn liên hợp quân sự đến giai đoạn đấu tranh ngoại giao, dư luận phục vụ chiến trường cho đến ngày toàn thắng 30 tháng 4 năm 1975.

        3/ Hai Đoàn đại biểu quân sự đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đấu tranh ngoại giao quân sự thi hành Hiệp định Pa-ri mà Đảng và Chính phủ đã giao, tập trung vào đấu tranh thực hiện những điều khoản cốt lõi nhất của Hiệp định và góp phần vào mặt trận đấu tranh dư luận nêu cao thiện chí thi hành Hiệp định của ta, vạch mặt bản chất phá hoại Hiệp định của địch, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ quốc tê đốĩ với ta.

        Nổi bật là:

        -   Ta đã thúc đẩy và giám sát việc rút hoàn toàn quân đội Mỹ và quân đội các nước chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam trong thời hạn 60 ngày. Ngày 29 tháng 3 năm 1973, toán quân Mỹ cuối cùng lên máy bay rời Sài Gòn, đánh dấu mốc lịch sử, sau 115 năm kể từ năm 1858, đất nước ta sạch bóng quân thù xâm lược. Đây là thắng lợi cơ bản nhất của ta, là bước ngoặt thay đổi tương quan lực lượng trên chiến trường để tiến tới đánh cho ngụy nhào.

        -   Ta đã đấu tranh quyết liệt vào nhà tù Mỹ - ngụy buộc chúng phải trao trả cho ta nhân viên quân sự và dân sự bị bắt. tổng số gần 31.500 người, trong đó có một số nhân vật nổi tiếng như bà Võ Thị Thắng, Trương Tấn Sang, anh Huỳnh Tấn Mẫm và nhiều người khác sau này trở thành cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước.

        -   Trên mặt trận dư luận và ngoại giao, ta đã liên tục và quyết liệt đẩy mạnh mũi tiến công này đối với các đối tượng Ủy ban Quốc tế, đoàn ngoại giao và các hãng thông tấn báo chí, nêu cao chính nghĩa và thiện chí thi hành Hiệp định thuộc về ta, tố cáo mạnh mẽ việc phá hoại Hiệp định và âm mưu, hành động chiến tranh của Mỹ - ngụy. Chính nhờ có sức mạnh chính nghĩa và sức mạnh chiến trường mà ta đã tạo nên sự ủng hộ và đồng tình của dư luận quốc tế đối với việc đánh trả và hành động quân sự chủ động của ta tiến công địch cho đến cuộc Tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân 1975.

        4.   Đội ngũ cán bộ, chiến sĩ hai Đoàn đại biểu quân sự ta đã tỏ ra anh hùng, bất khuất, kiên trì chịu đựng gian khổ, vượt mọi khó khăn, hy sinh quên mình, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đấu tranh ngoại giao quân sự đặc biệt này, xứng đáng là những đại diện của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng "nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, kẻ thù nào cũng đánh thắng". Đã có 9 đồng chí hy sinh và 25 đồng chí bị thương trong khi làm nhiệm vụ. Từ tôi luyện trong lò lửa đấu tranh này, sau giải phóng, nhiều cán bộ, sĩ quan đã trở thành tướng lĩnh, cán bộ cao cấp các ngành.

        III - Tôi mong rằng, sau khi Bộ Ngoại giao đã đi đầu đánh giá cao thành tích đấu tranh thi hành Hiệp định và đã trao tặng Kỷ niệm chương cho các thành viên hai Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam thì các Bộ, ngành hữu quan, nhất là Bộ Quốc phòng (nơi đã lập ra và chỉ đạo đấu tranh của hai Đoàn đại biểu quân sự) sẽ cùng có tiếng nói ủng hộ và đề đạt lên Đảng và Nhà nước xem xét quyết định về "Hồ sơ Báo cáo đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang cho hai Đoàn đại biểu" trên theo đúng quy định của Luật và Nghị định của Nhà nước và Chính phủ về thi đua khen thưởng.

Huỳnh Văn Trình      
       Nguyên thành viên Đoàn đàm phán riêng Lê Đức Thọ - Kít-xinh-giơ về Hiệp định Pa-ri. Nguyên Trung tá, thành viên Ban lãnh đạo Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên Trung ương. Nguyên Phó Trựởng đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa trong Tổ Liên hợp quân sự 4 bên về người mất tích ở Sài Gòn. Nguyên Vụ trưởng - Cố vấn Bộ Ngoại giao.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Chín, 2013, 05:15:08 am

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/Tran_Van_Tra_zps03960755.jpeg)
(1919 - 1996)

MẶT TRẬN MỚI
Thượng tướng TRẦN VĂN TRÀ1        
(Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam)        

        Một ngày đầu tuần tháng Giêng năm 1973, trong sở chỉ huy Miền, tại gian nhà hầm giữa khu rừng căn cứ, không khí nhộn nhịp sôi nổi. Chúng tôi đang theo dõi tình hình chiến trường, nhưng trọng tâm là khẩn trương bàn kế hoạch và biện pháp thi hành Hiệp định Pa-ri một cách nghiêm túc, có hiệu quả... Bỗng một cán bộ tham mưu vào trao cho đồng chí Năm Ngà2  - Tham mưu trưởng Miền lúc ấy, một bức điện hoả tốc. Anh Năm Ngà nhẩm đọc nhanh qua bức điện rồi, với vẻ mặt nghiêm nghị không phân tích được là vui mừng hay lo lắng, trao cho tôi. Nội dung bức điện: Trung ương chỉ định tôi làm Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thòi Cộng hoà miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên tại Sài Gòn. Ôi, thật là đột ngột! Trung ương Cục. Quân ủy Miền đã xếp đặt từ trước thành phần Đoàn và đã được Trung ương đồng ý, nay bỗng cỏ sự thay đổi Trưởng đoàn vào giờ chót. Và chi còn vài ba hôm nữa là tôi phải có mặt ở Sài Gòn!

        Trong đời chiến sĩ mấy chục năm. tôi đã gặp bao nhiêu sự việc bất ngờ.... nhưng lần này bất ngờ đến với tôi đầy thú vị và cũng đầy lo lắng. Lo lắng vì công việc quá mới mẻ đối với tôi và quá gấp gáp, phải khăn gói lên đường ngay trong lúc tôi chưa kịp có thời giờ để hình dung công việc, nói gì đến chuẩn bị mọi thứ cho mặt trận đấu tranh mới, hoàn toàn không giống như trên chiến trường. Tuy vậy, trường hợp đột ngột trong công tác mà cấp trên giao cho tôi như vậy không phải là lần đầu. Tôi đã quen rồi. Tin ở lãnh đạo cấp trên, tin ở các đồng chí cộng sự, tin ở chính mình, tôi vẫn bình tĩnh nhận trách nhiệm. Thực ra, trong trường hợp này, phần thú vị dành cho tôi nhiều hơn. Sài Gòn thân yêu của tôi! Đã lâu lắm rồi, từ thời còn mồ ma thực dân Pháp, tôi đã sống và hoạt động cách mạng sôi nổi, đã giành thắng lợi và cũng đã nếm mùi thất bại ở đây, đã chiến đấu và đã phải xa thành phố này mấy chục năm, bây giờ trở về trong sự theo dõi của đồng bào, đồng chí và trong vòng vây dày đặc của kẻ địch... Trong một phút, bao nhiêu hình ảnh về Sài Gòn, xưa có, nay có, diễn qua đầu tôi như một cuộn phim. Thấy tôi ngồi im, đồng chí Mười Khang3 nhắc:

        -   Thế nào? Nhận nhiệm vụ đấy chứ. Chúc mừng nhé!

        Thế là đồng chí đến bắt tay và ôm hôn tôi. Căn phòng tức thì vang lên, mỗi người một câu chúc mừng, gửi gắm. rộn rã tiếng cười vui. không còn là không khí của buổi họp công tác nữa.

        Tôi trao đổi vài câu với anh Mười Khang rồi xin phép đi chuẩn bị cho cuộc hành trình vào Sài Gòn. Mọi việc ở nhà có anh Mười Khang đảm trách,

        Về đến nhà riêng của mình, nhìn xung quanh cảnh vật quen thuộc từ bao năm, tôi bỗng chốc xúc động với sự tạm biệt... Mọi cảnh vật hôm nay dường như cũng đang có một tâm hồn dào dạt, tươi vui, quyến luyến. Không biết tôi còn ngồi trầm ngâm như vậy mấy phút nữa nếu như không có các anh Chín Vinh4  và Hai Lê5 , Phó Chính ủy và Chủ nhiệm chính trị Bộ Tư lệnh Miền, bước vào, kéo tôi về với thực tại.

        -   ... Anh cần gì nữa? Anh đã bằng lòng với tổ chức và thành phần Ban Liên hợp của anh chưa? - Anh Chín Vinh hỏi.

        Tôi đồng ý giữ nguyên tất cả những gì đã được sắp xếp, chỉ yêu cầu thêm cho tôi đồng chí Tư Bốn6 . Anh Tư Bốn là một cán bộ tình báo, Anh hùng quân đội, đã ở trong Sài Gòn hơn ba năm và mới ra căn cứ mấy tháng nay sau khi đã có triệu chứng bị lộ. Anh ấy rất thạo Sài Gòn, rành từng đường phố, biết nhiều nhân vật thuộc giới đô thành. Ngoài việc giúp tôi một số việc, đồng chí sẽ là người lái xe của tôi nếu địch đồng ý để ta tự lo người lái...

        Chỉ còn một ít thòi gian, tôi vội phác qua kế hoạch chuẩn bị mọi mặt cho công tác mới. kiểm tra lại tổ chức của Đoàn, bàn kỹ với anh Ba Trần7  về nhiệm vụ, về người, tài liệu, phương tiện, đặc biệt là về thông tin liên lạc, dự kiến các tình huống, quyết định các biện pháp và giao anh Ba Trần, Phó đoàn, thay tôi điều khiển mọi công việc thực hiện.

        Còn tôi thì họp với Bộ Tư lệnh Miền, có các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần... cùng dự, bàn sâu cụ thể về mọi biện pháp phối hợp đấu tranh giữa bàn hội nghị và trên chiến trường. Tôi nhấn mạnh nếu trên bàn hội nghị 4 bên ở Sài Gòn, kẻ địch phải kiêng nể chúng tôi, chúng tôi có giành được thắng lợi nào trong việc triển khai thi hành Hiệp định Pa-ri, thì đó chủ yếu là do sức mạnh của bộ đội ta trên chiến trường, do uy thế của các anh bên ngoài này là chính. Chúng tôi hứa sẽ xứng đáng là những người đại diện của các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam anh hùng ngay giữa thủ đô của địch và cũng là giữa lòng đồng bào thân yêu của ta.

---------------------
1.  Trích từ Tác phẩm chọn lọc của Thượng tướng Trần Văn Trà, Nxb Quân đội nhân dân. Hà Nội, 2005.
2.  Tức Thượng tướng Nguyễn Minh Châu, lúc đó là Thiếu tướng.
3.  Tức Đại tướng Hoàng Văn Thái, lúc đó là Trung tướng.
4.  Tức Thiếu tướng Trần Độ.
5.  Tức Thiếu tướng Lê Văn Tưởng.
6.  Tức Thượng tá Nguyễn Hữu Trí.
7.  Tức Thiếu tướng Trần Văn Danh.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Chín, 2013, 06:49:40 am
        Ngày 28 tháng 1 năm 1973 là ngày chúng tôi phải có mặt tại Sài Gòn. Đã hẹn giờ cho Mỹ đưa trực thăng đến đón chúng tôi ở Thiện Ngôn, một địa điểm nằm về phía bắc tỉnh Tây Ninh, ngay trên quốc lộ 22... Đầu năm 1972 - lúc này quân ngụy đã thay thế quân Mỹ, Thiện Ngôn là hướng thứ yếu của chiến dịch "Nguyễn Huệ"1 . Trong chiến dịch, ta đã tiêu diệt hoàn toàn cứ điếm này. Cho nên Thiện Ngôn lúc ấy chỉ là một bãi chiến trường cũ. hoang vắng, cây cối cháy trụi, mặt đất loang lổ hố bom đạn, xác xe tăng, xe thiết giáp, pháo, xe vận tải Mỹ nằm ngổn ngang. Chỉ còn lại đường băng sân bay là dùng được cho máy bay trực thăng.

        Sau khi báo cho phía Mỹ ngày giờ đến đón, chúng tôi phái một tổ trinh sát đến Thiện Ngôn, dựa vào hầm hố cũ sửa sang lại thành công sự vững chắc, ở đấy chờ địch trước, trong và sau giờ hẹn. Anh em tổ này cứ 15 phút lại điện cho chúng tôi biết mọi diễn biến tình hình tại đây. Trong khi đó, một đoàn cán bộ với đủ phương tiện, thực sự chuẩn bị điểm xuất phát của Đoàn ỏ sân bay Lộc Ninh. Và toàn Đoàn chúng tôi ung dung tổ chức ăn Tết Quý Sửu trước. Chúng tôi biết rằng đến Sài Gòn là phải khẩn trương bắt tay vào công việc nên mặc dầu còn 4, 5 ngày nữa mới tới Tết âm lịch, chúng tôi tranh thủ lúc còn "ở nhà", cùng nhau hưởng một cái Tết dân tộc đậm đà tình nghĩa người đi kẻ ở. Ản Tết trước! Ảu cũng chỉ là lặp lại một sự việc đã diễn ra đôi lần trong lịch sử chiến đấu của dân tộc ta. Quang Trung - Nguyễn Huệ đã từng khao quân ăn Tết trước, Tết Kỷ Dậu 1789, tại địa điểm tập kết quân ở Tam Điệp để rồi tiến về Thăng Long đại phá quân Mãn Thanh làm nén chiến công hiển hách Đông Đa va chấm dứt vĩnh viễn sụ đô hộ của phương Bắc trên đất nước ta. Mùa Xuân năm 1968. toàn miền Nam cũng đã ăn Tết trước:, Tết Mậu Thân, để rồi xông lên tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, đập tan ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, làm kinh hoàng Nhà trắng, làm mất vía Lầu Năm góc và buộc Mỹ phải xuổng thang chiến tranh, ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Pa-ri. Mùa Xuân này. Xuân Quý Sửu. chúng tôi lại ăn Têt trước để vàơ giữa sào huyệt của quân thù đòi chúng thi hành đúng đắn Hiệp định Pa-ri và xem chúng còn giở trò gì. chúng thực sự muốn gì.

        Giữa căn nhà hẩm của Bộ Tư lệnh Miền, bữa cơm Tết đậm đà hương vị. Không có gì thịnh soạn lắm nhưng cùng có bánh tét và cả bánh chưng, có thịt heo tự túc, lại có thịt heo rừng, dưa hấu, rượu mùi, có sán phẩm tại địa phương, lại có cả quà từ Hà Nội. Các anh bên Trung ương Cục, Mặt trận, Chính phủ, các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Miền, đại diện các cơ quan, đoàn thể và cả phóng viên báo Quân giải phóng... đã đến dự cùng các thành viên trong Đoàn chúng tôi. Thật là chân thành và ấm cúng. Niềm vui toả trên nét mặt mọi người. Niềm vui tràn trên từng ly rượu. Chúng tôi chúc nhau thắng lợi. hẹn ngày gặp lại rực rỡ hơn hôm nay, chúc thành công cả trên bàn hội nghị, cả trên chiến trường.

        Vào giữa bữa cơm Têt. câu chuyện đang râm ran thì chúng tôi nhận được bức điện từ Thiện Ngôn: "Đúng giờ hẹn, không có trực thăng Mỹ đến đón Đoàn mà có 2 phi cơ dịch bay lượn vài vòng, rồi tha mấy loạt bom quanh sân bay. Mảnh bom cùng mảnh xác xe tăng, xe thiết giáp bay tung toé quanh hầm chúng tôi. Sau đó yên tĩnh". Mọi người lại rót rượu và cùng nâng cốc chúc sức khỏe của chúng tôi trong Đoàn, chúc sự khôn ngoan và cảnh giác của chúng ta, chúc mừng sốt dẻo trận thắng đầu tiên của Đoàn trước sự phản trắc, đê hèn của Mỹ - ngụy. Câu chuyện trong bữa cơm càng thêm giòn giã, qua bàn luận về sự kiện Thiện Ngôn vừa rồi, về khả năng lật lọng của Mỹ - ngụy đối với Hiệp định Pa-ri, sự phức tạp trong nhiệm vụ của chúng tôi, cũng như trong công tác ở chiến trường. Mặc dù vậy, ở mỗi người hôm ấy đều nung nấu một niềm tin mãnh liệt, niềm tin tất thắng, bất cứ trong tình huống nào. Ở mỗi cặp mắt đều ánh lên sức sống rực rỡ của mùa Xuân...

        Lộc Ninh, một thị trấn đông dân và sung túc trong vùng giải phóng miền Đông Nam Bộ, nằm cách Sài Gòn 100 km ngay trên trục quốc lộ 13, chạy lên Cam-pu-chia rồi Lào. Quá về mạn Bắc là quốc lộ 14 đi Buôn Mê Thuột - Tây Nguyên và về mạn Nam là đường 17 nối với vùng căn cứ Bắc Tây Ninh của ta. Từ khi được giải phóng tháng 4 năm 1972, Lộc Ninh trở thành một vị trí quân sự quan trọng của ta, gây lo lắng cho vành đai phòng thủ của địch ỏ phía bắc Sài Gòn và là một trung tâm chính trị của vùng giải phóng B2. Đất Lộc Ninh là đất đỏ phì nhiêu thích hợp với cỏ cây miền nhiệt đới, với những rừng cao su bạt ngàn, những vườn cây ăn trái chôm chôm, sầu riêng, xoài, vú sữa... sum suê, những vườn hồ tiêu, cà phê có giá trị. Lộc Ninh trước đây là một cứ điểm kiên cố nằm trong hệ thống phòng thủ ngoài cùng của Sài Gòn do sư đoàn 3 ngụy phụ trách. Trong chiến dịch "Nguyễn Huệ" của ta, đây là hướng chính, là điểm then chốt nhất cần phái thanh toán. Nơi đây, ta không những đã tiêu diệt nhiều trung đoàn xe tăng, thiết giáp, nhiều chiến đoàn sừng sỏ của Sư đoàn 3 ngụy năm 1972 mà còn bắt sống nhiều tù binh ngụy, trong đó có đại tá Vĩnh... Chính vì vậy mà Lộc Ninh trở thành biểu tượng chiến thắng của ta, là nỗi nhục thất bại của địch. Ta muốn đối phương đưa trực thăng ra tận đây đón Đoàn ta để chúng luôn nhớ đến đòn khủng khiếp ấy và từ địa điểm vinh quang này, Đoàn ta hiên ngang tiến vào thủ đô của địch.

-----------------
1.  Chiến dịch tiến công của Quân giải phóng miền Nam mùa khô năm 1972 ở miền Đông Nam Bộ.  
 


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Chín, 2013, 12:54:06 am
        Ngay sau khi chúng đã phản trắc bằng cách ném bom điểm hẹn Thiện Ngôn, ta liền kịch liệt phản đối chúng và hẹn lại ngày đón Đoàn ta ở Lộc Ninh này. Ta mong chúng không còn dám giở trò dơ bẩn nào nữa, tuy ta vẫn có đủ biện pháp đề phòng, bởi ta đã rõ bản chất kẻ địch không bao giờ thay đối. Sau khi ném bom Thiện Ngôn nhằm tiêu diệt Đoàn đại biểu quân sự ta trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên Trung ương, đã bị ta phản đối, chúng lại cho quân càn quét, đánh phá, ném bom các điểm hẹn đón các Đoàn đại biểu ta ở các Ban Liên hợp quân sự khu vực Plây Cu, Mỹ Tho, ở các Tổ Liên hợp quân sự địa phương Phú Bài, Đà Lạt, Kon Tum, Tân An. Chúng luôn luôn lợi dụng từng trường hợp nhỏ, bất chấp lẽ phải, bất chấp các điểu khoản của Hiệp định, giở mọi thủ đoạn hòng tiêu diệt chúng ta. Mỗi lần như vậy, chúng tôi lại kịch liệt phản đối chúng ngay trong các phiên họp 4 bên ỏ Sài Gòn và chúng lại xin lỗi, đó tội cho bọn bảo an địa phương, hứa sẽ sửa trị. Chúng tỏi thừa biết là chúng chỉ hứa suông cho qua chuyện. Những sự việc ban đầu đó buộc chúng tôi phải suy nghĩ rằng Mỹ - ngụy đã có kế hoạch phá hoại Hiệp định Pa-ri từ việc nhỏ đến việc lớn.

        Phải chăng lịch sử lại diễn lại: Pháp đã bị thua nặng, phái ký Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 để rồi cùng Mỹ ra sức phá bỏ Hiệp định này; ngày nay Mỹ - ngụy bị đòn nặng phải ký Hiệp định Pa-ri rồi lại giở trò phá bỏ Hiệp định lần này nữa? Dẫu sao chúng ta là những người đã có kinh nghiệm. Chúng ta đánh và thương lượng, để có được một Hiệp định có lợi cho cách mạng. Chúng ta sẽ ra sức đấu tranh để thi hành mọi điều khoản của Hiệp định. Vì độc lập, tự do của dân tộc, chúng ta sẵn sàng hy sinh chiến đấu đến cùng, đồng thời chúng ta cũng đưa ra bàn tay hoà giải và hoà hợp dân tộc để cứu vớt những người lầm đường lạc lối. Nhưng, với kinh nghiệm xương máu đã trải qua, chúng ta không khờ khạo đến mức tin rằng kẻ địch của ta sẽ thành thật thi hành Hiệp định, do đó chúng ta không hề ngạc nhiên về những lật lọng này. Và chúng ta đã có sẵn hai kế hoạch cho hai tình huống có thể xảy ra: một là, do ta đấu tranh có kết quả, do áp lực của nhân dân ta và nhân dân thế giới, kẻ địch buộc phải thi hành đúng Hiệp định Pa-ri; hai là, chúng lại phá bỏ Hiệp định. Tuỳ ở kẻ địch. Ta nỗ lực cho tình huống một, nhưng ta cũng sẵn sàng đối phó với tình huống hai.

        Ngày 1 thang 2 năm 1973, đúng giờ hẹn, một đoàn trực thăng Mỹ do một trung tá Mỹ chỉ huy có sĩ quan ngụy đi theo, bay đúng theo đường bay và tầm cao do ta quy định, lượn một vòng trên vùng trời Lộc Ninh rồi lần lượt hạ cánh theơ đội hình hàng dọc thứ tự từ đầu Bắc sân hay. Trong khi bay trên trời hẳn chúng đã nhìn rõ sân bay, phố xá. nhưng quan trọng hơn. chúng còn nhìn thấy hàng loạt trận địa phòng không và xe tăng, bố trí nhiều vòng xa xa quanh thị trấn, sẵn sàng tư thế đối phó với những trò phản trắc. nếu có. Hôm ấy. thị trấn Lộc Ninh như một ngày hội lớn. Cờ cách mạng tung bay khắp nơi. Đặc biệt, tại sân bay tỏa ra một không khí trang nghiêm và trật tự. Đông đảo đồng bào các giới, cán bộ, bộ đội ăn mặc chỉnh tề, vẻ mặt hân hoan từ mọi nẻo trảy về, sắp thành đội ngũ. Một rừng biểu ngữ, khấu hiệu hoan nghênh thắng lợi của Hiệp định Pa-ri về Việt Nam... Một cuộc mit tinh chớp nhoáng diễn ra, sôi nổi, khí thế, ngay bên cạnh đoàn trực thăng Mỹ im lìm nằm đợi. Nhiều đại biểu thay mặt các giới, các đoàn thể đứng lên phát biểu ngắn gọn nhưng đều có nội dung hoan nghênh Hiệp định, đòi nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định, đòi hoà bình và hoà hợp dân tộc, chúc mừng Đoàn ta và gỏi gắm lòng tin tất thắng vào sự đấu tranh của Đoàn. Tôi đã thay mặt Đoàn tỏ lời cám ơn cán bộ. chiến sĩ, đồng bào đã tiễn đưa Đoàn thân tình và trọng thế. ghi nhớ những điều dặn dò. gởi gắm vào Đoàn, và hứa xứng đáng với niềm tin ấy. Các sĩ quan và tổ lái người Mỹ. tỏ ra văn minh, đứng lặng lẽ nhìn, nhưng các sĩ quan ngụy thì bối rối, bực tức ngồi lỳ trong trực thăng mà không dám ra ngoài.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/6ee0e631-81cf-4800-a5b6-1b00a0513d26_zps8bc6e118.jpg)
Trung tướng Trần Văn Trà phát biểu trong buổi mít tinh tiễn đoàn tại Lộc Ninh

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/35TranVanTra_zpse01d027d.jpg)
Trung tướng Trần Văn Trà tạm biệt đồng bào, chiến sĩ Lộc Ninh để vào Sài Gòn nhận nhiệm vụ Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hơp quân sự 4 bên Trung ương (ảnh: Tư liệu lưu trữ)


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Chín, 2013, 01:58:19 am
        Cuộc mít tinh kết thúc, theo lệnh của tư lệnh sân bay Lộc Ninh, đoàn trực thăng Mỹ nổ máy khởi động. Tôi quay nhìn khắp lượt đồng chí, đồng bào, rồi lần lượt bắt tay mọi người... Đoàn chúng tôi vẫy chào đồng bào, đồng chí rồi hàng hai nghiêm trang lần lượt lên trực thăng trước sự quyến luyến của mọi người. Viên thiếu tá Mỹ chỉ huy chiếc trực thăng của tôi tỏ ra rất lễ phép, cẩn thận kiểm tra chiếc ghế ngồi của tôi rồi bước xuống đứng nghiêm chào, mời tôi lên, đỡ tôi ngồi vào chỗ thoải mái, gài nịt an toàn cho tôi, xong lui về ngồi vào vị trí của y. Đoàn trực thảng bốc lên theo thứ tự đội hình, lượn một vòng trên bầu trời sân bay, nghiêng nghiêng chào rồi bay thẳng về Sài Gòn theo quốc lộ 13. Không phải chỉ đoàn người đông đảo ở sân bay vẫy chào đoàn trực thăng chúng tôi mà hầu như tất cả mọi người, những người đang đi trên đường, đứng ở sân nhà, đang làm ở ruộng lúa, rẫy khoai... quanh Lộc Ninh đều ngừng việc đứng lên vẫy chào vui vẻ. Một cảnh tượng hết sức cảm động, hết sức hoà bình ngay ở một khu vực còn đầy rẫy vết tích chiến tranh tàn phá... Bất giác, viên thiếu tá Mỹ quay lại phía tôi, vừa tươi cười vừa kính cẩn nói: "Các ông đã thắng cuộc!".

        Đoàn trực thăng bay dọc theo đường 13 qua Bình Long, Tàu Ô, Chơn Thành, Bầu Bàng, Lai Khê, Bến Cát... tất cả những nơi này đều từng là chiến trường của rất nhiều trận đánh ác liệt giữa ta và quân Mỹ, quân ngụy, trong nhiều năm tròi, là nơi còn ghi dấu của bao nhiêu chiến công oanh liệt của những chiến sĩ miền Đông gian lao mà anh dũng. Nhìn xuống cánh rừng - trước kia um tùm cây to, cây nhỏ chằng chịt chen nhau - mà nay xơ xác hoang tàn. Mặt đất chi chít những hố bom. Nhiều vệt dài tàn phá của bom B52 rải thảm, nằm liền nhau, vắt chéo lên nhau, rừng tan nát. Hèn chi mà từ trên nhìn xuống bọn Mỹ tưởng chừng như nơi nào B52 của chúng đi qua là trên mặt đất ở đó không còn sinh vật nào sống sót, rồi huênh hoang rằng B52 là thần chiến tranh khủng khiếp. Đây rồi, ta đang bay qua sông Sài Gòn. kia cầu Bình Lợi nằm giữa hai hàng lưới thép dày. sâu tận đáy sông. Và, An Phú Đông, rồi Tân Sơn Nhất. Đoàn trực thăng hạ cánh xuống phần sân bay quân sự. Chúng tôi nói lời cảm ơn đến tổ lái và bắt tay tạm biệt. Mọi người gọn gàng trong bộ quân phục chỉnh tề của Quân giải phóng, đứng thành hàng một trật tự trên sân bay.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/9-1.jpg)
Xuống Tân Sơn Nhất

        Các sĩ quan xách cặp, đeo súng ngắn. Các chiến sĩ đầu đội mũ tai bèo, vai đeo ba lô và khoác súng AK. Nhưng mọi người đều thống nhất mang dưới chân mình đôi dép cao su nổi tiếng. Không biết Mỹ - ngụy có hiểu được cái dụng ý này của chúng tôi không, nhưng các nhà báo trong nước và ngoài nước có mặt đông đảo ở sân bay hôm ấy đều rất tinh ý. Họ quay phim, chụp ảnh lia lịa. Tôi mỉm cười thú vị khi thấy họ chú ý quay nhiều, chụp nhiều những đôi dép cao su. Họ đã nói: "... và, với những đôi dép cao su giản dị, hiên ngang, họ đặt chân xuống sân bay Tân Sơn Nhất. Họ đi vào thủ đô Sài Gòn của Việt Nam cộng hoà lần này cũng vẫn bằng những đôi dép cao su từ Mậu Thân 1968..." (UPI, 1-2- 1973).

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/b92ecafd-36f9-4120-8b0d-f0ee66b6f82b_zps28058e55.jpg)
Những đôi dép cao su...

        Đúng, các nhà báo đã nói đúng sự thật. Những đôi dép cao su đã từng in dấu vết hiên ngang trên đường phố Sài Gòn, ở nhiều mục tiêu quan trọng và cả ở sân bay Tân Sơn Nhất này nữa, cũng như trên khắp các thị trấn, thị xã, thành phố toàn miền Nam hồi Tết Mậu Thân để có được khung cảnh ngày nay - những đôi dép cao su vào Sài Gòn lần này bằng những bước đi đàng hoàng và đầy thiện chí - để rồi một ngay nào đó chắc chắn cùng những đôi dép cao su nay sè trở về Sài Gòn một lần nữa... trong ngày giải phóng Sài Gòn.





Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Chín, 2013, 06:50:53 am

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/10cda822-9674-4d58-832e-6be94991e4e2_zps158bf6da.jpg)
Một phần trại Đa-vít năm 1973

        Trại Đa-vít. một trại của lính Mỹ trước đây. nay đã được sửa sang lại, bao gồm nhiều nhà trệt tạm thòi bằng gỗ và lợp mái tôn. xây dựng thành từng hàng thẳng, giữa có đường đi rộng, thỉnh thoảng mới được một vài cây có bóng mát. Nắng chói chang, nóng dữ dội, đặc biệt là vào buổi trưa. Ban ngày oi bức như vậy, lại thêm tiếng gầm rú của đủ loại máy bay và trực thăng, tiếng ồn ào tạp nham từ mọi hướng làm cho ai nấy đâm ra bực bội, khó chịu, còn đâu trí óc thảnh thơi để suy nghĩ, làm việc và nghỉ ngơi. May mà khí hậu tự nhiên ở đây từ lúc mặt trời lặn về đêm mát dịu trở lại, nhưng vẫn không dứt được tiếng ồn chát chúa liên tục. Thật rõ là một trại lính, phù hợp với người lính đang trong cuộc chiến tranh, nhưng còn xa với các tiêu chuẩn tối thiểu cho những phái đoàn ngoại giao. Đúng là bọn chúng chơi khăm chúng ta đây. Có lẽ chúng cũng mất nhiều công phu để tìm ra một trụ sở khá "thích hợp" cho cả hai Đoàn ta ở chung: Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam của chúng tôi.

        Xe vừa vào khỏi cổng trại thì anh Lê Quang Hoà, anh Lưu Văn Lợi, anh Hồ Quang Hoá và đông quá toàn là người quen biết, hầu như tất cả Đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa ùa ra vây chặt đoàn xe. Chúng tôi vừa xuống xe, anh Hoà tặng tôi một bó hoa lay ơn còn tươi nguyên của thủ đô Hà Nội, rồi mọi ngưòi chạy đến ôm hôn nhau, tiếng cười giòn giã, tiếng vỗ vai đôm đốp. Thật là cảm động, thật là chân tình ruột thịt của những đứa con cùng một mẹ - bà mẹ Tổ quốc đã quằn quại đau thường trong bao năm khói lửa chiến tranh. Thật là gần gũi. thật là vui mừng khi những người bạn chiến đấu cùng sống chết với nhau ở chiến trường trước một kẻ thù tàn ác nay lại gặp nhau ngay trong lòng địch, vì một mục đích cao cả: đấu tranh cho hoà bình, hoà giải, hoà hợp dân tộc.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/1a-1.jpg)
Hai đoàn đại biểu gặp nhau tại trại Đa-vít

        Tôi quay qua ôm hôn anh Đoàn Huyên, Phó Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, đã vào Sài Gòn trước để dự các phiên họp cấp Phó Trưởng đoàn, bàn các thủ tục làm việc. Anh Dương Đình Thảo, thành viên của Đoàn chúng tôi, cũng vào kịp Sài Gòn qua đường Pa-ri, đã sốt dẻo chuyển cho tôi lá thơ và những lời thăm hỏi, chúc mừng nồng nhiệt của chị Nguyễn Thị Bình và phái đoàn ta ở Pa-ri.

        Trại Đa-vít chia làm hai: một bên dành cho Đoàn của anh Lê Quang Hoà, một bên dành cho Đoàn của chúng tôi. Nhưng Mỹ - ngụy đã có nhã ý chuẩn bị cho hai Trưởng đoàn một cái nhà tương đối tươm tất, làm theo kiểu nhà sinh đôi, mỗi bên một người ở, có đủ phòng khách, phòng làm việc, phòng ăn, phòng ngủ, có đủ máy điều hoà không khí, đèn sáng, máy điện thoại và các tiện nghi khá tốt. Chúng tôi hiểu rõ "lòng tốt" của họ. Vì vậy, mỗi người chúng tôi đã dọn một căn phòng khác để ở và làm việc trong dãy nhà chung với anh em. Còn ngôi nhà ấy đóng cửa lại và giao cho các chuyên viên kiểm tra. Sau một thời gian lục lọi. tôi không biết mất bao nhiêu ngày, anh em cho chúng tôi xem một số máy nhỏ tìm được, một số micro rất bé gắn giấu trong nẹp bàn của phòng làm việc và phòng khách. Chúng tôi cười với nhau, không hiểu đây là công trình của Mỹ - ngụy hay là trò chơi tinh nghịch của những tay thợ mộc kiêm chuyên viên điện tử.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/1c4e2778-977c-4f47-85fb-b5c58c5522cb_zpsf9e51424.jpg)
Trung tướng Trần Văn Trà đứng trước căn phòng nhiều "tiện nghi" mà Mỹ, ngụy dành cho ông


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Chín, 2013, 12:26:35 am
        Còn nhiều chuvện như thế nàv nữa, nào phá rối các làn sóng điện, thông tin của ta liên lạc với vùng căn cứ và Hà Nội, nào ghi trộm các điện của ta đánh đi... Nhưng thôi, nói làm gì, âu cũng là chuyện thông thường của Mỹ ở thời điện tử này, những chuyện ấy thấm gì với chuyện Oa-tơ-ghết sau này ở Oa-sinh-tơn. Quan trọng là ta đã biết, đã đề phòng từ những chuyện nhỏ nhặt nhất. Đó chẳng qua là sự tiếp nối của một cuộc chiến tranh chưa chấm dứt mà kẻ địch đã dùng mọi thứ có thể dùng, từ những vũ khí hiện đại giết người hàng loạt đến những máy móc điện tử tinh vi nhất, những ra-đa, tia la-de trong các máy nhìn trộm, nghe trộm, từ hàng rào điện tử Mác Na-ma-ra đến Trại Đa-vít này. Báo "Sao và vạch" của quân đội Mỹ ở Thái Bình Dương ra ngày 15 tháng 3 năm 1973 đã công nhận "Mỹ vừa kết thúc ba cuộc chiến tranh lớn nhất trong thế kỷ này. Đây (chỉ chiến tranh xâm lược Việt Nam) là cuộc chiến tranh lớn nhất về tống số bom đạn sử dụng, lớn nhất về sự tàn phá và cũng lớn nhất về sử dụng khoa học - kỹ thuật trong chiến tranh!".

        Đó là việc lạm dụng kỹ thuật hiện đại của Mỹ vào mục đích xâm lược, giết người, lừa đảo. Còn bọn ngụy thi kỹ thuật không có mà trí thông minh cũng không, nên đã được chủ Mỹ phân công, và chúng cố sáng tạo thêm, chuyên giở những trò hèn mọn nhỏ nhặt hàng ngày, gây khó dễ cho các Đoàn ta, như hạn chế việc cung cấp thức ăn, đồ dùng của chủ thầu vào Trại Đa-vít, cấm các nhà báo, đặc biệt là cấm nhân dân tiếp xúc, chuyện trò với các Đoàn ta, tìm cách cản trở việc đi lại của ta nhất là ngang qua phố xá Sài Gòn, gây chậm trễ, làm hư xe. quân cảnh hộ tống đến chậm..., rồi dùng trực thăng, xe tăng uy hiếp, âm mưu dùng tiền, gái mua chuộc. Đối với các Đoàn đại biểu ta ở các khu vực, các tổ địa phương thì chúng đối xử càng tệ hại hơn nhiều. Chúng bố trí chỗ ở tồi tệ, kém vệ sinh, chật chội, nóng nực, thiếu mọi phương tiện... Ví dụ như Đoàn khu vực Mỹ Tho, chúng bố trí vào một chuồng nhốt gà vừa mới chuyển trong căn cứ Đồng Tâm, mùi hôi thối còn nồng nặc. Chúng cung cấp thực phẩm kém phẩm chất, có trường hợp như ở Huế, những đồ hộp quá hạn lâu đã có dòi. Trên bàn hội nghị 4 bên ở Sài Gòn, chúng tôi luôn kịch liệt phản đối cách đối xử vô lương tâm của chúng, đòi cử tổ điều tra và giải quyết thì phía Mỹ đổ thừa cho phía ngụv. Thiếu tướng út-uôt, Trưởng đoàn Hoa Kỳ, giả bộ: "Thật đáng tiếc, phía Hoa Kỳ không hay biết gì về những sơ suất này. Phía Việt Nam cộng hoà đảm nhận những công việc ấy, họ báo cho chúng tôi rằng mọi việc đã hoàn tất". Những lần như vậy, phía ngụy cúi gằm mặt im thít hoặc đổ cho cấp dưới, cho địa phương, cho bọn thừa hành làm việc không tốt, rồ cũng đồng ý cử tổ đi kiểm tra, họ hứa sẽ sửa sang lại nhà cửa, cấp thêm thiết bị, nhưng rồi đâu vẫn hoàn đó.

        Không những thế, chúng còn tổ chức bọn lưu manh, côn đồ phối hợp với quân cảnh và cảnh sát của chúng, hành hung các sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam ta trong các Ban, Tổ Liên hợp quân sự đi làm nhiệm vụ, như ném đá, ném đồ bẩn, thậm chí còn dùng gậy sắt, dao, búa đánh anh em ta bị thương như đồng chí Thiếu tá Lê Thành Nhơn và 2 đồng chí Đại uý khác ở Tổ Buôn Ma Thuột, 8 đồng chí ta ở Tổ Huế. Đồng chí Trần Hán Ngọ bị đánh vào đầu bất tỉnh ở Đức Phổ, Quảng Ngãi, khi đang làm nhiệm vụ cùng tổ điều tra của Ban Liên hợp quân sự. Tất cả các cán bộ, chiến sĩ ta trong các Ban, Tổ Liên hợp quân sự đều là những người đã lập nhiều thành tích trong chiến tranh, trên nhiều chiến trường vừa qua, đã chiến đấu dũng cảm như những mãnh hổ trong các trận đánh, giờ đây trên mặt trận đấu tranh mới này trong vùng địch kiểm soát, luôn tin tưỏng ở chính nghĩa, ở sự tất thắng của cách mạng, đã rất bình tĩnh, kiên nhẫn, vững vàng, không nao núng trước mọi hành vi xấu xa, uy hiếp hay mua chuộc nào. Chúng ta tự hào biết bao về họ, biết ơn biết bao những anh Bộ đội Cụ Hồ rất bình thường nhưng uy vũ không khuất phục, tiền tài không loá mắt.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/1cbd00fb-c56e-4cd4-88ee-6d556d7204d6_zps1fd19b99.jpg)
Một chiến sĩ ta bị chúng đánh trọng thương đang được dìu tới bộ phận quân y trong trại Đa-vít cấp cứu

        Mỹ - ngụy giở những trò đê tiện ấy với mục đích gì? Hẳn không phải để tạo ra một bầu không khí tốt lành để cùng cộng tác thi hành đúng đắn Hiệp định Pa-ri, hẳn không phải để tạo ra một bầu không khí hoà hợp và hòa giải dân tộc sau bao năm hận thù vì chiến tranh tan cửa nát nhà. Làm sao mà con người có lý trí đứng trước những hành vi ấy của Mỹ - ngụy mà vẫn tin rằng chúng thực tình muốn chấm dứt chiến tranh, đem lại hoà hình? Rõ ràng, chúng trắng trợn không che giấu bộ mặt nham hiểm, rắp tâm phá bỏ Hiệp định.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Chín, 2013, 08:28:43 am
        Vấn đề quan trọng nhất của Hiệp định Pa-ri và cũng là vấn đề đầu tiên phải thi hành là ngừng bắn. Điều 2 và Điều 3 của Hiệp định và Nghị định thư về ngừng bắn quy định rất rõ ràng, cụ thể về chấm dứt hoàn toàn chiến sự. các lực lượng ở nguyên vị trí, v.v... Nhưng từ 28 tháng 1 năm 1973 là ngày ngừng bắn có hiệu lực cho đến nay (và mãi đến ngày 30-4-1975), mỉa mai thay, không hề có ngày nào ngừng tiếng súng trên bất cứ chiến trường nào ở toàn miền Nam Việt Nam.

        Ngay đúng giờ ngừng bắn có hiệu lực, ngụy quyền Thiệu đã cho cả chiến đoàn có xe tăng dẫn đầu, hành quân lấn chiếm cửa Việt của ta. Ở đây, ta đã kiên quyết đánh trả, tiêu diệt quân địch lấn chiếm, giữ vững vùng giải phóng. Và, như vậy là ở bàn hội nghị 4 bên ta có thế mạnh tố cáo chúng vi phạm Hiệp định. Trung tướng Ngô Du, Trưởng đoàn ngụy, cãi liều: Chúng tôi hoàn toàn chiếm Cửa Việt hồi 07 giò 58 phút sáng 28 tháng 1 năm 1973 (chẳng là, đúng 8 giò sáng ngày 28 tháng 1 năm 1973 là lệnh ngừng bắn có hiệu lực). Tôi đập lại: "Cửa Việt đã được chúng tôi giải phóng từ tháng 5 năm 1972 cơ mà. Chúng tôi có mọi chứng cớ hiển nhiên về vụ lấn chiếm trái phép của quân đội các ngài sau giờ ngừng bắn. Nhưng tôi xin thông báo với trung tướng tin sốt dẻo rằng, nhờ cánh giác cao độ. Quân giải phóng chúng tôi đã tiêu diệt quân lấn chiếm và làm thất bại cuộc phiêu lưu này, sau khi cố dùng loa kêu gọi họ hãy lùi lại, chớ có vi phạm Hiệp định, nhưng không có kết quả. Đây là bài học cho những ai không tôn trọng Hiệp định, không tôn trọng chữ ký của chính mình". Chúng sạm mặt lại, cay đắng.

        Để chặn đứng việc máy bay địch bay ngang qua vùng ta kiểm soát, chúng ta đòi bàn ngay Điều 3 Nghị định thư về ngừng bắn: "Các Ban Liên hợp quân sự sẽ thoả thuận về các hành lang, các tuyến đường và các quy định khác cho việc di chuyển của các máy bay vận tải quân sự, các loại xe vận tải quân sự do các bên kiểm soát". Cả phía Mỹ và phía ngụy đều lờ đi như không cần thiết. Nhưng rồi, trong phiên họp ngày 16 tháng 2 năm 1973, Mỹ giở trò báo tin khẩn cấp: một máy bay C47 bị bắn rơi ở phía nam An Lộc, 2 nhân viên phi hành Mỹ bị thương nặng. Trong các phiên họp sau đó, Mỹ đều phản đối ta và đòi cử tổ điều tra. Ta đồng ý điều tra nhưng nhấn mạnh rằng trong khi Ban Liên hợp quân sự 4 bên chưa có thoả thuận về hành lang, cao độ, v.v... của các máy bay khi bay qua vùng giải phóng của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam thì không ai chịu trách nhiệm về sự an toàn của chúng cả. Rốt cuộc, Mỹ củng phải im đi cho xong chuyện. Rõ ràng, vừa dựa vào tính pháp lý của Hiệp định vừa kiên quyết đối phó với các vụ vi phạm, ta buộc Mỹ - ngụy phải kiêng nể. Nhưng nơi nào ta yếu và sơ suất trên chiến trường thì địch vi phạm mười mươi đấy nhưng chúng vẫn cãi cù nhầv và bất cần sự phản đối của ta. Ví dụ như vụ ngụy Sài Gòn lấn chiếm Sa Huỳnh ở Quảng Ngãi. Vùng Sa Huỳnh ta đã giải phóng năm 1972 trong đó có một đoạn quốc lộ 1 tương đối dài. Sau khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực, ngụy mở cuộc hành quân hàng sư đoàn lấn chiếm, nối lại giao thông của chúng trên quốc lộ 1. Ta kịch liệt vạch trần sự vi phạm, đòi cử tổ đi điều tra nhưng rồi Mỹ - ngụy ì ra, xem như việc đã rồi. Cả những làng ấp dọc đường số 4 Mỹ Tho trước ngày 28 tháng 1 năm 1973 do ta kiểm soát, nhưng sau ngày 28 tháng 1 địch liên tiếp hành quân và đóng đồn bót sâu vào vùng ta. Ở đây, vì lực lượng ta còn sơ hở ngỡ ngàng, sợ nổ súng đánh trả thì vi phạm Hiệp định, nên địch mới lấn chiếm được và nói ngược nói ngạo trên bàn hội nghị là vùng của chúng. Vấn đề ngừng bắn là vấn đề cốt tử của Hiệp định, thế mà ngụy quyền Thiệu không cần đếm xỉa đến, ngang nhiên phá hoại Hiệp định từ gốc. "Kê hoạch Lý Thường Kiệt" năm 1973 của chúng đề ra 5 biện pháp chiến lược lớn là:

        -   Lấy lấn chiếm và bình định làm biện pháp trung tâm.

        -   Xây dựng quân đội mạnh, chính quyền mạnh làm trụ cột. 5 năm trẻ trung hoá, hữu hiệu hoá và hiện đại hoá quân lực Việt Nam cộng hoà.

        -   Phá Hiệp định Pa-ri về Việt Nam ở những điểm nào không có lợi cho Việt Nam cộng hoà (ngụy).

        -   Phục hồi kinh tế 1973-1974 trong kế hoạch dài hạn 1973-1978, nhất là công nghiệp, đi đôi với bao vây phong toả kinh tế đối phương.

        -   Duy trì lực lượng răn đe bằng không quân và hải quân Mỹ ở Đông Nam Á.

        Chúng còn ra sức thực hiện cái gọi là "chiến dịch tràn ngập lãnh thổ, "chiến dịch cắm cờ", dùng cả bộ binh, cả trực thăng để cắm cờ. Chúng đã chuẩn bị 1,6 triệu lá cờ ba que ngụy cho chiến dịch cắm cờ...

        Theo tài liệu địch thì cho đến tháng 10 năm 1973, chúng đã đóng thêm được 1.800 đồn bót trên toàn miền Nam, kiểm soát thêm được 7.253 ấp so với trước ngày 28 tháng 1 năm 19731.

--------------------
1.  Tài liệu này ta thu được của địch sau ngày giải phóng, hiện lưu giữ tại Ban Tổng kết chiến tranh B2 thuộc Bộ Quốc phòng.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Chín, 2013, 01:24:44 am
        Rõ ràng, mặc dù đã ký kết Hiệp định, Mỹ - ngụy vẫn thản nhiên hành động theo kế hoạch từ trước của chúng, ra sức bình định lấn chiếm, xâv dựng quân đội mạnh lên để thay đổi tương quan lực lượng có lợi cho chúng, hòng độc chiếm miền Nam Việt Nam. Trong một phiên họp 2 Trưởng đoàn miền Nam tháng 3 năm 1973, trung tướng Dư Quốc Đống, Trưởng đoàn ngụy thay thế Ngô Du, khi bị dồn vào thế bí, đã nói toạc chân tướng: "Tôi không tán thành Hiệp định Pa-ri, vì nó chỉ có lợi cho các ngài". Tôi đã nghiêm khắc phê phán: "Như vậy là đã rõ. Trung tướng Dư Quốc Đống, người đại diện của phía Việt Nam cộng hoà để thi hành Hiệp định mà không tán thành, chống lại Hiệp định, thì các ngài vi phạm, phá bỏ Hiệp định là tất nhiên, lả rõ ràng". Hắn hoảng hốt, vội lúng túng bào chữa: "Cá nhân tôi không tán thành... nhưng... vì... đã có Hiệp định nên chúng tôi phải thi hành, không có phá...".

        Ai cũng biết, trước khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, Hoa Kỳ đã gấp rút chở vũ khí, phương tiện chiến tranh qua miền Nam Việt Nam để củng cố lại quân ngụy, bù đắp số quân ngụy đã bị tổn thất nặng trong năm 1972 và ra sức lập kho dự trữ đầy đủ để quân ngụy vẫn mạnh khi Mỹ rút đi. Kít-xinh-giơ đã từng tuyên bố trong các cuộc họp báo ở Mỹ rằng: "Mỹ rút, nhưng Việt Nam cộng hoà vẫn phải mạnh". Công việc này vẫn tiếp tục với nhịp độ cao sau khi Hiệp định có hiệu lực. Tất cả những số liệu nàv nhiều tài liệu đã ghi rõ, báo chí thế giới cũng đã nói đến nhiều, thông kê đầy đủ, thiết tưởng tôi không cần phải ghi lại ở đây.

        Không những thế, quân Mỹ và quân chư hầu của Mỹ buộc phải rút hoàn toàn khỏi miền Nam Việt Nam theo Hiệp định, thì chúng lại chuyển cho quân đội Thiệu các trang bị tối tân, các kho dự trữ hậu cần, các căn cứ của chúng.

        Điều 5 và Điều 6 của Hiệp định quy định, trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày Hiệp định được ký kết, sẽ hoàn thành việc rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam mọi quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự, kể cả nhân viên quân sự kỹ thuật, nhân viên quân sự liên quan đến chương trình bình định, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh của Hoa Kỳ và các nước ngoài khác, cũng như việc hủy bỏ tất cả các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ và nước ngoài khác. Nghị định thư ngừng bắn cũng nói ở Điều 8 là "Hoa Kỳ và các nước ngoài khác nói trong Điều 5 của Hiệp định sẽ mang đi với họ mọi vũ khí. đạn dược và dụng cụ chiến tranh của họ...".

        Để bảo đảm việc thi hành đúng đắn các điều khoản nói trên, Điều 3 đã nêu rõ là bắt đầu từ khi ngừng bắn, các lực lượng của Hoa Kỳ sẽ ở nguyên vị trí của mình trong lúc chờ đợi kế hoạch rút quân và Ban Liên hợp quân sự 4 bên sẽ quy định thể thức.

        Ban Liên hợp quân sự 4 bên có nhiệm vụ phối hợp, theo dõi và kiểm tra việc thực hiện các Điều 3, 5, 6... ấy. Đặc biệt là Uỷ ban Quốc tế phải kiểm soát và giám sát việc thi hành các điều nêu trên.

        Trong các phiên họp Trưởng đoàn 4 bên ở Tân Sơn Nhất, chúng tôi luôn yêu cầu phía Hoa Kỳ cho biết kế hoạch rút quân và phá bỏ các căn cứ quân sự để các Tô Liên hợp quân sự đi theo dõi và kiểm tra. Hôm nào cũng vậy, Trưởng đoàn Hoa Kỳ Út-uốt cũng ầm ừ rồi đưa ra vấn đề khác. Nhưng một hôm ông ta làm ra vẻ trịnh trọng thông báo: "Kết quả việc nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định, về phía Hoa Kỳ... đã tháo gỡ thủy lôi. mìn...".

        Y nói vanh vách về số liệu, thòi gian, không gian.... rồi tới việc rút quân, Hoa Kỳ "đã rút khỏi miền Nam Việt Nam 8.000 người, có cả quân đồng minh". Tôi lập tức phản đối: "Chúng tôi không thể chấp nhận sự thông báo hời hợt như vậy của phía Hoa Kỳ. Không ai có thể tin con số 8.000 hay bất kỳ một con số nào khác thiếu tướng Út-uốt đưa ra, mà lại không nghĩ ràng đó có thể là bịa đặt. Tôi cho rằng, bất cứ một cuộc rút quân nào của Hoa Kỳ hay quan mọt nước ngoài khác đều cần phải thông bao trước để có sự theo dõi và kiếm tra tại chỗ của Ban Liên hợp quân sự 4 bên cùng như sự kiểm soát và giám sát cua Ủy ban Quốc tế như đã quy định. Không như vậy thì không con số nào có giá trị. Tôi phải ghi nhận rằng, cho đến ngày hôm nay, chưa có một người lính Hoa Kỳ hay quân một nước nào khác đã rút khỏi miền Nam Việt Nam".

        Sau đó, ngày 16 tháng 2 năm 1973, phía Mỹ gửi công hàm cho ta chính thức chịu để cho Ban Liên hợp quân sự 4 bên đến các địa điểm quan sát việc rút quân Mỹ và Nam Triều Tiên và được chụp ảnh. Thế là họ phải nhượng bộ. Qua các cuộc giám sát đó, rõ ràng quân Mỹ cũng như quân Nam Triều Tiên, khi bước chân vào Việt Nam đã được vũ trang đến tận răng nhưng khi rút ra thì họ không mang theo súng ống gì cả mà toàn những chăn màn, đồ dùng và những vật kỷ niệm như voi sành; voi sứ, đồ đá Ngũ Hành Sơn... Anh em ta chất vấn thì họ trả lời: "Vũ khí, trang bị đã chở bằng tàu thuỷ". Đấy, lý lẽ bịp bợm như vậy đó!

        Việc này đến khi thất bại hoàn toàn năm 1975, Mỹ mới bàng hoàng bực bội là sao đã tìm mọi cách gian lận đế lại nhiều trang bị cho quân ngụy mà thua vẫn hoàn thua, nên trong cơn tức giận mới nói toạc ra sự thật: "Với khối lượng khổng lồ trang thiết bị và vật liệu để lại khi các lực lượng chúng ta rút về nước, cộng với số lượng tiếp tế thêm về sau. nhẽ ra quân lực Việt Nam cộng hoà phải có đủ khả năng đương đầu với đối phương mới phải”1.

        Còn việc phá hủy các căn cứ quân sự thì sao?

        Thiếu tướng út-uổt nghiêm trang bảo: "Chúng tôi được phép trả lời quý vị rằng, ở miền Nam Việt Nam hiện nay không còn một căn cứ quân sự nào của chúng tôi cả. Tất cả đã được chuyển giao cho phía Việt Nam cộng hoà trước khi ký Hiệp định. Hiện nay, quân Mỹ ở trong những căn cứ mượn tạm của Việt Nam cộng hoà".

        Thật là một sự lừa bịp trắng trợn hết chỗ nói!

        Một khi đế quốc Mỹ đã có kế hoạch rồi, có mục đích rồi, thì chúng hành động theo cách của kẻ xâm lược, nói láo trơ trẽn bất kể người nghe là ai.

-----------------------
1.   Weldon A. Brown. Chương 10. "Chiếc trực thăng cuối cùng”


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Chín, 2013, 02:42:25 am

  *   

*        *

        60 ngày ở Sài Gòn trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên là những ngày nặng nề và căng thẳng. Hai Đoàn đại biểu quân sự chúng ta đã làm hết sức mình để đấu tranh thi hành Hiệp định Pa-ri, nhưng kết quả có mức độ. Các đồng chí trong Đoàn Hung-ga-ri và Ba Lan trong Uỷ ban Quốc tế, với tinh thần quốc tế và lòng nhiệt tình anh em, đã hợp đồng chặt chẽ với chúng tôi để cùng đấu tranh, bảo vệ nhau, giúp đỡ nhau.

        Đồng chí thiếu tướng Xuýt, Phó Trưởng đoàn Hung-ga-ri trong Uỷ ban Quốc tế, người to lớn, chắc nịch trong bộ quân phục gọn và đẹp, ngay trong ngày đầu gặp gỡ làm việc đã nói với tôi giọng chân thành: "Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân Hung-ga-ri cử chúng tôi đến Việt Nam vì hoà bình và hạnh phúc của nhân dân các bạn, vì hoà bình thế giới. Chúng tôi xem thành công của cách mạng Việt Nam là của chính bản thân mình và vì vậy sẵn sàng hy sinh vì nó. Đó là nguyên tác chỉ dẫn mọi hành động của chúng tôi. Chúng tôi không sợ chết và tất nhiên không sợ cực nhọc".

        Cảm ơn biết mấy những lòi nói chí tình của một sứ giả của giai cấp công nhân từ một đất nước xa xôi đến với chúng ta trong những ngày còn gian khổ, trên tinh thần quốc tế vô sản cao cả!

        Qua thời gian 60 ngày ấy, thử kiểm lại những gì đã thực hiện được và không thực hiện được. Do Mỹ - ngụy đã có mục tiêu, có kế hoạch sẵn nên vấn đề chủ chốt nhất là việc ngừng bắn không thực hiện được. Chiến tranh vẫn tiếp diễn. Hãy nghe Thiệu nói chuyện với sĩ quan ngụy ở Thủ Đức: "Việt Nam cộng hoà sẽ thi hành điều khoản ngừng bắn khi: (1) Quân đội Việt Nam cộng hoà không còn ủng hộ tôi; (2) Khi quân viện Hoa Kỳ chỉ đủ đế lo việc phòng thủ; (3) Khi quân lực Việt Nam cộng hoà không còn đủ sức bảo vệ các khu vực quan trọng tại miền Nam Việt Nam".

        Rõ ràng, tên tay sai trung thành của Mỹ tưởng nó chiến thắng, ngoan cố phá hoại ngừng bắn, tiếp tục chiến tranh, dù có hay không có Hiệp định (!)

        Mỹ và chư hầu đã rút quân. Các quân đội tay sai của Mỹ, bán mình cho đê quốc tham gia giết hại nhân dân ta như quân đội úc, Niu Di-lân, Thái Lan và Nam Triều Tiên, đã cút sạch khỏi đất nước ta. Sáng 15 tháng 3 năm 1973, bộ chỉ huy quân đội Mỹ ở Việt Nam (USARV) đã tổ chức lễ cuốn cờ. chuồn. Buổi chiều, bộ chi huy yểm trợ quân sự Mỹ ở Việt Nam (MACV), thực tế là bộ chỉ huy tối cao của Mỹ chỉ huy toàn bộ quân Mỹ. quân các nước chư hầu và quân đội Thiệu, bộ máy chiến tranh xâm lược đồ sộ của Mỹ ở Việt Nam, có trụ sở ở Tân Sơn Nhất mà báo chí gọi là "Lầu Năm góc phương Đông", cũng hạ cờ, cuốn gói.

        Tình cờ hay có sự gợi ý khéo nào đó mà ngày hôm sau, hai Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam chúng ta đã phóng xe thọc thẳng vào sân của "Lầu Năm góc phương Đông" này. Hai Đoàn ta xuống xe tiến thẳng vào phòng khách giữa hai hàng quân cảnh Mỹ đứng nghiêm chào, để dự bữa tiệc của thiếu tướng, Trưởng đoàn đại biểu quân sự Hoa Kỳ chiêu đãi. Chúng tôi đã cười vui, uống rượu Mỹ, nói chuyện thời tiết thanh bình của Việt Nam ngay ở "Lầu Năm góc phương Đông".

        Thế là quân Mỹ đã cút. Nhưng chúng đã để lại, như nói ở phần trên, đủ thứ vũ khí, căn cứ quân sự và cả sĩ quan đội lốt dân sự, để chống đỡ cho chế độ tay sai Thiệu.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Chín, 2013, 05:18:24 am
        Về phần trao trả theo Hiệp định Pa-ri, chúng ta đã đòi lại được những người của ta bị địch bắt giữ trong chiến tranh. Đồng chí Thiếu tá Nguyễn Thị Dung, thành viên Đoàn đại biểu quân sự của ta, đặc biệt phụ trách vấn đề trao trả tù binh. Đồng chí rất tích cực xông xáo, đi khắp các nhà tù của ngụy từ Biên Hoà, Côn Đảo đến Phú Quốc. Là thành viên nữ duy nhất trong cả 4 đoàn đại biểu quân sự, nói thạo cả tiếng Pháp và tiếng Anh lại xinh đẹp và lịch thiệp, đã đấu tranh kiên quyết và làm cho Mỹ - ngụy phải kính nể và chúng tôi cũng hãnh diện. Đồng chí đã tranh thủ phố’ biến các điều khoản của Hiệp định nói về trao trả tù binh cho anh em ta còn bị giam giữ, đấu tranh đòi cải thiện chế độ nhà tù, đòi trả toàn bộ những người còn bị giam giữ... Chúng không trả đủ, không thành thật nhưng ta cũng đã giải thoát được một số không ít những cán bộ, chiến sĩ ta, những người đã chiến đấu anh dũng và sa vào tay chúng, chịu đựng sự hành ha, tra tấn dã man của chúng.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/3f-ThieutaNguyenNgocDung2005.jpg)
Bà Nguyễn Thị Dung năm 2005

        Chúng ta cũng đã trả cho đối phương tất cả tù binh Mỹ - ngụy mà ta bắt giữ.

        Nhưng điều quan trọng nữa là, qua 60 ngày mặt đối mật với kẻ địch, ta đã hiếu chúng thêm. Mỹ chỉ cốt lấy lại được tù binh để làm quà cho nhân dân Mỹ, đưa quân Mỹ về nước vì nhân dân Mỹ đòi, còn thì vẫn thi hành chính sách "Việt Nam hoá chiến tranh" để Mỹ tiếp tục ở lại miền Nam Việt Nam. Ngụy thì giữ đúng phương châm "4 không" của Thiệu: Không nhượng đất cho Cộng sản, không trung lập, không liên hiệp với Cộng sản, và không nói chuyện với Cộng sản. Tuy ngụy buộc lòng phải ngồi vào bàn với ta trong hội nghị 2 bên ở Pa-ri, trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên rồi 2 bên ở Tân Sơn Nhất, nhưng thực sự chúng vẫn giữ phương châm "4 không" của chúng, không nói chuyện nghiêm túc mà cãi chày cãi cối, nói bừa nói ẩu, đồng ý hôm nay đế xoá sạch ngày mai. Ngay vấn đề nhỏ nhất và đầu tiên là màu cờ và dấu hiệu của Ban Liên hợp quân sự 4 bên mà chúng cũng lật lọng, không thi hành điều đã thỏa thuận trong phiên họp cấp Phó đoàn ngày 31 tháng 1 năm 1973. Đó là quv định về cờ, bảng tay, dâu hiệu trên xe, tàu, máy bay của Ban Liên hợp quân sự đều là màu da cam. Trong một phiên họp cấp Trưởng đoàn, chúng đề nghị bàn lại, lấy màu khác. Ta gạt đi. vì việc gì đã thoả thuận rồi thì làm, không cù nhầy. Giữa chừng phiên họp, vào giờ giải lao, chuẩn tướng Phan Hoà Hiệp, Phó đoàn ngụy, đến ngồi bên tôi tỉ tê: "Trung tướng không biết tôi chứ tôi biết Trung tướng nhiều". Tôi hỏi lại: "Biết lúc nào?" - Hiệp nói: "Tôi là lính của Đệ tam sư đoàn đây1 . Chỉ tiếc là các anh lớn hồi ấy xích mích với nhau, nếu không thì có lẽ bây giò tôi cũng vẫn còn đi kháng chiến, dưới quvền của Trung tướng...". Y cười hề hề để chấm dứt cho câu nói của mình. Thì ra thế! Các "Anh lớn" mà Hiệp nói đây tức gồm có tôi, lúc đầu kháng chiến chống Pháp tôi là chỉ huy đơn vị gọi tên là Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hoà hoạt động quanh Sài Gòn. Phan Hoà Hiệp là lính của Đệ tam sư đoàn, Lý Huê Vinh là Tư lệnh Đệ tứ sư đoàn... Đệ tam và Đệ tứ sư đoàn tan rã và đầu hàng Pháp sau một thời gian. Tôi đã tiến hành tước vũ khí của một số đơn vị cướp bóc phá hoại nhân dân của 2 sư đoàn này tại Nhuận Đức, An Nhơn, Tây Hóc Môn, Gia Định và tại Mỹ Tho, Đức Hoà (Long An). Chúng tôi được biết, Phan Hoà Hiệp thực tế không phải là họ Phan và là phiên âm "Francois" thành "Phan Hoà" vì y tên là Francoís Hiệp, lai Pháp, cha người Pháp, mẹ người Việt. Nói lại câu chuyện này y cốt xuống nước với tôi. tự coi là em út và nhân đó năn nỉ "Anh lớn" đồng ý sửa lại màu cờ:

        -   "Thưa Trung tướng, màu da cam gần với màu đỏ, trông nó dữ quá" - Y đã xuống nước làm em út thì tôi cũng lên giọng "Anh lớn”.

        -   "Sao lại dữ? Màu đỏ là màu huy hoàng, xán lạn của tương lai, có gì phải sợ? Chuẩn tướng nên biết rằng, màu da cam thông dụng trên quốc tế rồi, rất dễ nhìn thấy, dù rất xa. Màu đó thích hợp nhất, mà còn đẹp nữa. Vả lại, cái gì đã nhất trí rồi thì thi hành, đừng trở tới trở lui, mất thì giờ. Ta còn nhiều việc quan trọng phải làm" - Y còn lẽo đẽo theo năn nỉ nhiều lần nhưng tôi kiên quyết gạt đi. Tuy vậy, ngụy vẫn không thi hành. Đấy, còn khối chuyện như chuyện màu da cam vậy.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/0ae0b02c-cfab-4986-b9a6-d2f81efacee5_zps9813c9ab.jpg)
Màu da cam được sử dụng làm màu cờ và dấu hiệu của Ban Liên hợp quân sự 4 bên. Trong ảnh là 1 chiếc băng tay dùng cho các thành viên trong Ban liên hợp quân sự 4 bên sử dụng khi làm nhiệm vụ (số 4 để chỉ Ban liên hợp quân sự 4 bên).

--------------------
1.  Hồi Cách mạng tháng Tám năm 1945.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Chín, 2013, 01:54:22 am

*

*     *

        Căn cứ vào Hiệp định Pa-ri, Ban Liên hợp quân sự 4 bên sẽ chấm dứt hoạt động trong thời hạn 60 ngày. Nhưng gần đến những ngày kết thúc thì có dư luận của Mỹ, của báo chí Sài Gòn lúc ấy rằng Ban Liên hợp quân sự 4 bên sẽ kéo dài thêm thời hạn hoạt động. Chưa hiểu đây là âm mưu gì. Phải chăng để kéo dài thêm sự có mặt công khai của phái đoàn Mỹ? Để ngụy cố bám vào chủ Mỹ nhờ sự che chở của Mỹ? Để giữ phái đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa lại hòng giải quyết thêm một số việc có lợi cho Mỹ như vấn đề tìm kiếm quân nhân Mỹ mất tích? Hay để hạ thấp vai trò của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam? Dù sao chúng ta củng kiên quyết chuẩn bị cho Đoàn đại biểu quân sự Mỹ trở về Hoa Kỳ, Đoàn anh Hoà trở về Hà Nội. Còn Đoàn của tôi, trong khi chuyển thành Ban Liên hợp quân sự 2 bên làm việc thì Trung ương đã quyết định là anh Hoàng Anh Tuấn, Thiếu tướng, sẽ là Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Tất nhiên, tôi sẽ rút, nhưng chuyện rút đi của tôi trở thành vấn đề khó. Tôi đi Hà Nội? Không có lý do gì. Tôi đi Lộc Ninh? Mỹ - ngụy sê làm khó dễ, không cung cấp phương tiện hoặc có âm mưu đen tôi nào đó... Ý đồ của Mỹ - ngụy lúc ấy chúng tôi biết rõ là ít nhất chúng cũng giữ tôi lại Tân Sơn Nhất. Để cho một cán bộ có cỡ - theo ý chúng - của Mặt trận Dân tộc giải phóng như tôi trở về chiến trường là "thả hổ về rừng". Giữ một người như thế này trong tay chúng làm con tin ắt sẽ ích đấy.

        Từ lâu chúng ta thừa biết là mọi việc do chủ Mỹ định đoạt, ngụy chỉ là những tên tôi tớ thừa hành. 60 ngày qua càng cho phép tôi khẳng định như vậy. Trong việc này cũng như bao nhiêu việc đã qua, nếu Mỹ ưng thuận thì mọi việc sẽ êm xuôi. Phải làm cho Mỹ ưng thuận đưa tôi đi Hà Nội.

        Tối 29 tháng 3 năm 1973, tôi mời thiếu tướng út-uôt, Trưởng đoàn Hoa Kỳ, đến gặp tôi tại trụ sở phái đoàn ta trong Trại Đa-vít. Đúng giờ, út-uốt và chuẩn tướng, Phó đoàn Uých-khâm cùng đến. Ngoài ra còn có tên thiếu tá mũ nồi xanh phiên dịch Xô-va-dô đã từng là cố vấn cho trường đào tạo cán bộ bình định của ngụy quyền Vùng Tàu.

        Tôi báo cho út-uốt biết rằng do liên lạc của chúng tôi có khó khăn nên tôi vừa nhận được tin chậm là còn một tù binh Mỹ mà lực lượng chúng tôi còn đang giữ ở tỉnh Trà Vinh. Để thế hiện thiện chí của chúng tôi thi hành đúng đắn Hiệp định Pa-ri, chúng tôi xin giao và nhận ngay ngưòi tù binh cuối cùng này. Về phía cá nhân, tôi nghĩ rằng đây sẽ là món quà thân thiện của tôi đối với thiếu tướng để ghi nhớ 60 ngày cùng làm việc với nhau trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên. (Ý tôi muốn nói nhân việc này ứt-uốt thể nào cùng được khen thưởng, thăng cấp).

        Út-uôt mừng rỡ ra mặt, cảm ơn tôi rối rít và để tỏ lòng biết ơn, y tỏ vẻ thân mật hỏi thăm tôi về sức khoẻ, hỏi tôi có dự kiến riêng gì sắp tới hay không? ;

        Thật là một câu hỏi đúng chỗ và đúng lúc, tôi chỉ mong có thế. Tôi liền nói dự kiến riêng của tôi là sẽ đi Hà Nội một chuyến và nhân tiện thăm luôn Lào.

        Hẳn út-uốt và Uých-khâm tưởng tôi có ý định giúp giải quyết vấn đề tù binh của Mỹ và Thiệu ở Lào, nhựng không tiện và không dám hỏi. Út-uốt tỏ vẻ rất sốt sắng hỏi luôn: "Trung tướng định bao giờ thì đi?".

        -   Tôi định sáng mai đi nếu thiếu tướng sẵn lòng lo giúp phương tiện.

        -   Trung tướng sẽ có ngay phương tiện. Tôi sẽ sắp xếp một chuyến C130 đi Hà Nội sáng mai vì Trung tướng.

        Tôi nói lời cảm ơn út-uốt và nhác lại là sáng mai một sĩ quan liên lạc ta sẽ gặp sĩ quan liên lạc Hoa Kỳ đê sắp xếp việc trả và nhận tù binh Mỹ ở Trà Vinh.

        Y lại cảm ơn và hỏi tôi C130 ngàv mai đi có phải chở tôi trở về không? Nếu không thì tôi sẽ trở về thế nào? (Vì phái đoàn Hoa Kỳ chấm dứt hoạt động và trở về Mỹ ngày 31 tháng 3 năm 1973. Nếu sau ngày đó thì phải nhờ phương tiện của ngụy).

        Tôi mỉm cười lấp lửng: "Có thể tôi vòng qua Pa-ri để trở về Sài Gòn, luôn tiện được biết thêm một số thủ đô nổi tiếng của châu Âu". (Út-uôt lại tưởng tôi cần gặp phái đoàn ta ở Pa-ri đây).

        Út-uôt rất vui, khen là một dự kiến hay của tôi và từ giã ra về. Y không quên khắng định lại là sáng mai sẽ có máy bay để đưa tôi ra Hà Nội.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Chín, 2013, 02:52:37 am
        Buổi sáng ngày 30 tháng 3 năm 1973, sĩ quan ngụy đã đưa đoàn xe du lịch màu đen sạch bóng đến đón tôi tận nhà và đưa tôi ra tận cầu thang máy bay một cách hết sức cung kính. Đưa tôi ra sân bay đi Hà Nội có Thiếu tướng Lê Quang Hoà, Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn cùng một số anh em trong hai phái đoàn ta. Ngoài ra còn có các đồng chí của hai phái đoàn Hung-ga-ri và Ba Lan trong uỷ ban Quốc tế kiểm soát và giám sát đình chiến. Tôi bắt tay từ giã mọi người một cách thân mật, những cái xiết tay rung cảm và quyến luyến, hết sức cảm động ngầm biếu dương một thắng lợi và những cái xiết tay thông cảm ngầm biết ơn lẫn nhau. Út-uôt chúc tôi đi bình yên, gặp nhiều may mắn và nói rằng sẽ cho máy bay ra Hà Nội đón tôi trở về, điều mà tôi không yêu cầu. Tôi chúc vợ chồng út-uốt sống hạnh phúc và bước lên máy bay vẫy chào mọi người. Thế là trên chiếc C130 mà Mỹ có nhã ý dành cho tôi ngồi ở buồng lái, tôi cùng đồng chí Trung tá Nguyễn Quang Minh, cán bộ nghiên cứu tổng hợp tình hình của Ban Liên hợp quân sự. bác sĩ Lê Hoài Liễm, Dũng - phiên dịch, Hoà - cán bộ bảo vệ và một số đồng chí khác từ Sài Gòn ra Hà Nội, chấm dứt 60 ngày hoạt động sôi nổi và căng thẳng trong lòng quân thù.

        Ngồi trên máy bay, lần đầu tiên bay dọc theo chiều dài đất nước, nối liền Sài Gòn và Hà Nội, lòng tôi bồi hồi xúc động. Đây rồi, non sông một dải 4.000 năm, được tạo lập bằng xương máu, mồ hôi của bao thế hệ, xưa, nay. Làng mạc xanh tươi, núi rừng trùng điệp, bờ biển dài đẹp với những bãi cát trắng phau, thềm lục địa bao la xanh biếc, thật là muôn hình muôn vẻ... Tôi thầm cảm ơn vô hạn đốì với Tổ tiên Hồng Lạc và bất giác tôi nhớ tới Bác Hồ, nhớ lời Bác nói với bộ đội ta năm nào dưới mái đền Hùng trên sườn núi Nghĩa Lĩnh: "Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước".

        Lời nói của Bác đã khắc sâu vào tâm khảm của người dân Việt. Bất cứ kẻ thù nào cũng sẽ bị đánh tan tành, sẽ bị đuối sạch ra khỏi bờ cõi nước ta. Tố quốc ta nhất định sẽ độc lập, tự do và thống nhất bất cứ bằng phương pháp nào.

        Máy bay đã bay vào đồng bằng sông Hồng. Kia rồi! Hà Nội, Thủ đô yêu dấu, trái tim của Tổ quốc. Tôi đã sống nhiều ngày ở Hà Nội, đã làm việc ổ đây, đã đôi ba lần đi xa rồi lại trở về. Nhưng lần trỏ vê này sao khác xa những lần trước, nó hồi hộp, xúc động lạ thường, giống như đứa con lâu ngày đi xa vật lộn với bao khó khăn nguy hiểm của đời, nay bỗng được trở vê gian nhà ấm cúng gặp người mẹ hiền da diết yêu thương. Con đây rồi, con đã về đây với mẹ dịu hiền, để rồi lại chuẩn bị lên đường cho một chuyến đi xa khác, chắc là khác nhiều với chuyến đi vừa qua.

        Sau ba ngày, một máy bay C130 từ Sài Gòn ra hạ cánh ở sân bay Gia Lâm để đón tôi - như út-uôt đã hứa hôm nọ. Tôi phái đồng chí Trung tá Nguyễn Quang Minh ra báo cho viên sĩ quan chỉ huy máy bay biết rằng tôi chưa về được và cho phép máy bay trở lại Tân Sơn Nhất mà cũng không cần trở ra đón. Và, đồng chí Minh cũng không quên thay tôi tỏ lời cảm ơn phía Mỹ.

        Trong niềm vui dạt dào được trở về Thủ đô yêu mến, với không khi tự do thoải mái giữa bạn bè, đồng chí, đồng bào ruột thịt, tôi càng nhớ thương các cán bộ, chiến sĩ của tôi còn ở lại Tân Sơn Nhất. Vì nhiệm vụ không thể thiếu trong giai đoạn đấu tranh hiện nay, các đồng chí buộc phải sống, làm việc căng thẳng giữa vòng vây kẻ thù mà thời gian chưa biết đến bao giờ. Rồi đây, những gì sẽ đến với các đồng chí trong lúc kẻ thù của ta vô cùng ngoan cố và thâm độc? Tôi tự nhủ lòng, anh em vùng giải phóng phải làm hết sức mình, phải phối hợp chặt chẽ với các đồng chí trong ấy để giành thắng lợi cho cách mạng. Nhất định các đồng chí không bị cô lập. đã có chúng tôi. đã có nhân dân ta, ngay tại Sài Gòn. Một ngày nào đó. chúng ta sẽ lại gặp nhau đón mừng chiến tháng.

*

*          *

        Ngay sau khi ra tới Hà Nội, tôi đã được gặp các đồng chí lãnh đạo Đảng, Chính phủ, Bộ Quốc phòng và Bộ Ngoại giao để báo cáo về công việc của Ban Liên hợp quân sự 4 bên, những vấn đề đạt được và những vấn đề chưa đạt được, những gì tôi đã rút ra kết luận sau 60 ngày mặt giáp mặt với Mỹ - ngụy, những nhận định của tôi về tình hình miền Nam, v.v... Tôi đã được nghe các đồng chí nhận xét, đánh giá tốt về công tác của Ban Liên hợp quân sự 4 bên, về âm mưu của địch và những gì ta sẽ làm tiếp. Sau đó tôi tiến hành chuẩn bị và tham gia Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng bàn về tình hình cách mạng miền Nam và nhiệm vụ trong hai năm 1974 - 1975, trước khi trở lại chiến trường B2 theo đường mòn Hồ Chí Minh.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười, 2013, 02:17:36 am

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/HuynhVanTrinh_zps351443ef.jpg)

HIỆP ĐỊNH PA-RI, THIÊN SỬ VÀNG CỦA NGOẠI GIAO VIỆT NAM ĐI VÀO LỊCH SỬ DÂN TỘC VÀ THẾ GIỚI
     
HUỲNH VĂN TRÌNH        

        Nguyên Phó vụ trưởng Vụ I (Bắc Mỹ) Bộ Ngoại giao, thành viên Đoàn đàm phán bí mật Lê Đức Thọ - Kít-xinh-giơ về Hiệp định Pa-ri. Uỷ viên Ban lãnh đạo Đoàn đại biểu quản sự Chính phủ Việt Nam Dán chủ cộng hòa trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên ở Trại Đa-vít. Vụ trướng - Cố vấn Bộ Ngoại giao.

        Cách đây đúng 40 năm, Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết (27-1-1973 - 27-1-2013).

        Ngày nay, điều ngày càng sáng tỏ là nói đến Hiệp định Pa-ri bao gồm: Hội nghị Pa-ri với hai diễn đàn công khai và bí mật tiến hành trong gần 5 năm (13-5-1968 - 27-1-1973) dẫn đến việc ký kết Hiệp định; các văn kiện chính thức đã được ký kết; và cuộc đấu tranh thi hành Hiệp định tại chiến trường với diễn đàn Liên hợp quân sự 4 bên và 2 bên trong hơn 2 năm 3 tháng (28-1-1973 - 30-4-1975).

        Với cách nhìn tổng thể và hoàn chỉnh đó, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta coi Hiệp định là một thắng lợi lịch sử. một bước ngoặt rất quan trọng đối với hai vấn đề trọng đại là chiến tranh - hoà bình và đấu tranh giải phóng dân tộc: buộc Mỹ rút hết quân xâm lược ra khỏi miền Nam, chấm dứt chiến tranh; hoàn thành nhiệm vụ "đánh cho Mỹ cút", mở ra cục diện chính trị và chiến trường thuận lợi để tiến lên "đánh cho ngụy nhào" trong Đại thắng mùa Xuân 1975; kết thúc hơn một thế kỷ đô hộ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới trên đất nước ta, đem lại độc lập, thống nhất cho Tố quốc. Đồng thời, chúng ta cũng coi cuộc đấu tranh ngoại giao đầy khó khăn, phức tạp, quyết liệt nhưng rất hào hùng kéo dài hơn 7 năm (từ khi bắt đầu Hội nghị Pa-ri đến khi kết thúc cuộc đấu tranh ngoại giao quân sự ở Sài Gòn) là thắng lợi vẻ vang nhất trong lịch sử ngoại giao của dân tộc ta, mốc son sáng chói của nền ngoại giao hiện đại Việt Nam, biểu hiện rõ nét và thuyết phục nhất về vai trò và tầm quan trọng chiến lược của mặt trận ngoại giao trong việc phối hợp với mặt trận quân sự. chính trị để hoàn thành sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

        Nhìn từ nước ngoài, dư luận thế giới rộng rãi từ bất cứ nguồn nào cũng đều nhất trí đánh giá rằng, Hiệp định Pa-ri không những là thắng lợi to lớn của cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, mà còn là thắng lợi chung của tất cả các dân tộc, của lương tri loài người. khẳng định mạnh mẽ chân lý vĩ đại của thời đại là chính sách chiến tranh, áp bức bóc lột các dân tộc đã qua rồi. tương lai thuộc về các dân tộc. Di sản đó có sức sống bất tử trong trái tim nhân dân thế giới.

        Với vị trí quyết định như vậy trong quá trinh đấu tranh ngoại giao chống ngoại xâm giành độc lập. thống nhất Tổ quốc, với tầm tác động lớn lao đến các dân tộc đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tiến bộ xã hội trên quốc tế. Hiệp định Pa-ri thực tế đã đi vào lịch sử nước ta và thế giới như một thiên sử vàng của nền ngoại giao Việt Nam thế kỷ XX.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười, 2013, 05:34:32 am

*

*         *

        Vì sao Hiệp định Pa-ri có vai trò và hiệu quá lớn như vậy? Đó là vì:

        Thứ nhất, trên cơ sở thắng lợi ở chiến trường. Hiệp định Pa-ri là văn bản pháp lý quốc tế lịch sử quyết định sự kết thúc của cuộc chiến tranh không tuyên bố lớn nhất thế giới kể từ sau Đại chiến thế giới thứ II, do một đế quốc hùng mạnh nhất về quân sự và kinh tế tiến hành chống nhân dân Việt Nam.

        Cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ kéo dài 20 năm; trải qua 5 đời tổng thống, Ai-xen-hao mở đầu. Ken-nơ-đi, Giôn-xơn và Ních-xơn không ngừng leo thang các hình thái chiến tranh, và Pho kết thúc trong thất bại. Chúng đã đổ vào miền Nam hơn nửa triệu quân Mỹ với 3 triệu quân luân phiên tham chiến, và trả giá bằng 123 tỷ đô-la từ năm 1965 đến năm 1973. bằng máu của hơn 58.000 lính Mỹ chết, mất tích và hàng trăm nghìn binh sĩ khác bị thương tật. Chiến tranh với quy mô lớn và khốc liệt như vậy, tưởng chừng không có hồi kết, càng khó tưởng tượng được khả năng kết thúc bằng giải pháp thương lượng hoà bình bảo đảm thắng lợi thuộc về ta.
Vậy mà, Việt Nam đã tìm ra lòi giải đáp tối ưu cho bài toán hóc búa đó, biết đánh, biết đàm và biết thắng cả trong đánh và đàm bằng Hiệp định Pa-ri là điều kỳ diệu!

        Thứ hai, với Hiệp định Pa-ri, ta đã đạt được một giải pháp toàn bộ, hoàn hảo nhất từ trước đến nay về chính trị. quân sự và pháp lý, ghi nhận và bảo đảm thực hiện trọn vẹn các mục tiêu cao nhất của cách mạng giải phóng dân tộc: Mỹ phải cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thố của Việt Nam; trong thòi hạn 60 ngày kể từ ngày Hiệp định được ký kết, phải rút hết quân Mỹ và quân đồng minh của Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam; phải chấm dứt dính líu quân sự và can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam, trong khi lực lượng cách mạng Việt Nam ở nguyên trạng. Trên thực tế là Mỹ phải thừa nhận sự tồn tại của hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát và công nhận quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam và hai miền Nam - Bắc thoả thuận về việc thống nhất Việt Nam.

        Nếu địch chịu thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Pa-ri thì điều đó sẽ mở ra khả năng đất nước được hoà bình, độc lập, thống nhất trong hoà hợp và hoà giải dân tộc. Nếu địch phá bỏ Hiệp định thì ta có đầy đủ cơ sở chínhtrị, pháp lý và lợi thế so sánh lực lượng để đánh thắng địch trên chiến trường, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

        Điều này hoàn toàn khác với kết thúc chiến tranh Triều Tiên: chỉ đạt được đình chỉ chiến sự, hai bên trở về vĩ tuyến 38 mà không có giải pháp chính trị, mặc dù có sự giúp đỡ to lớn của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc kháng Mỹ, viện Triều.

        Thứ ba, Hiệp định Pa-ri có tầm ý nghĩa quốc tế lớn lao. Lần đầu tiên trong lịch sử hơn 200 năm, nước Mỹ chịu thất bại trong một cuộc chiến tranh. Thất bại đó thấm sâu vào chính sách đối nội, đối ngoại của Mỹ. Hệ thông liên minh quân sự của Mỹ ở Đông Nam Á (SEATO) tan rã hoàn toàn. Khả năng sen đầm quốc tế của chính nước Mỹ bị hạn chế rất nhiều, nên Mỹ trở nên rất sợ sa lầy vào một cuộc xung đột như ở Việt Nam khi can thiệp vào các cuộc khủng hoảng ở Trung Mỹ, không thể ngăn chặn phong trào cánh tả ở Ê-ti-ô-pi, Ăng-gô-la và sự sụp đổ của vương triều I-ran... Giấc mơ về "một thế kỷ Mỹ" tan thành mây khói.

        Âm mưu của Mỹ đòi giải pháp chung cho toàn Đông Dương thất bại, phải công nhận các quyền dân tộc cơ bản của Lào và Căm-pu-chia, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc kháng chiến của hai nước giành thắng lợi.

        Hiệp định Pa-ri đã khích lệ các dân tộc đấu tranh chơ độc lập và tự do, cố vũ các phong trào yêu chuộng hoà bình trên toàn thế giới.

        Thứ tư, Hiệp định Pa-ri là đỉnh cao của nghệ thuật vận dụng sáng tạo tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong chiến lược đàm phán, hiếm thấy trong lịch sử ngoại giao thế giới, thể hiện trên các mặt sau đây:

        *   Một là, Đánh - đàm và thời cơ: Thắng lợi trên chiến trường quyết định thắng lợi trên bàn đàm phán. Thắng lợi trên bàn đàm phán hỗ trợ, cổ vũ, phát huy thắng lợi trên chiến trường. Thời cơ góp phần tăng khả năng thắng lợi của đánh - đàm lên gấp bội. Chúng ta đã triệt để tận dụng hai thời cơ lớn là bầu cử tổng thông Mỹ năm 1968 và 1972 để chủ động tấn công cả đánh và đàm nhằm liên kết chiến trường với hậu phương của Mỹ, gây sức ép tối đa với đối phương.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười, 2013, 03:35:16 am
        Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân tháng 1 năm 1968 làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ. Kít-xinh-giơ kết luận "sự nỗ lực chiến tranh của Mỹ đã đến mức giới hạn". Từ đó mở ra cục diện "vừa đánh, vừa đàm", buộc địch xuống thang chiến tranh. Đàm phán giữa Việt Nam Dân chủ cộng hoà và Mỹ bắt đầu ngày 13 tháng 5 năm 1968, ta tập trung đòi Mỹ chấm dứt hoàn toàn, không điều kiện ném bom miền Bắc và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam tham gia đàm phán về giải pháp toàn bộ cho cuộc chiến tranh. Ngày 31 tháng 10 năm 1968, Giôn-xơn buộc phải tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc, chấp nhận Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam tham gia đàm phán 4 bên. Ngày 25 tháng 1 năm 1969, khai mạc Hội nghị Pa-ri 4 bên tại Kleber, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam đưa ra lập trường 5 điểm, là tuyên bố chính trị đầu tiên mở đường cho một giải pháp đúng đắn.

        Cuộc tiến công chiến lược Xuân - Hè 1972 với quy mô rộng lớn, cường độ ác liệt, khiến Mỹ - ngụy một lần nữa bị bất ngờ, sụp đố từng mảng, lần đầu tiên ta giải phóng một tỉnh - Quảng Trị, đập tan ảo tưởng "Việt Nam hoá chiến tranh", tạo ra khả năng tiến tới một giải pháp thương lượng vào cuối năm 1972 để kết thúc chiến tranh. Ngày 8 tháng 10 năm 1972, ta đưa ra "Dự thảo Hiệp định vê chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam". Mỹ thừa nhận đây là văn kiện rất cơ bẳn, một sự đột phá khai thông bế tắc, mở bước ngoặt trong đàm phán. Trên cơ sở đó, hai bên bắt đầu thương lượng những nội dung thực chất, đến ngày 20 tháng 10 năm 1972 thì Hiệp định hoàn thành, dự định ký kết ngày 31 tháng 10 năm 1972. Ních-Xơn gửi công hàm cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng cho rằng "văn bản Hiệp định coi như đã hoàn thành".

        Vượt qua cuộc bầu cử tổng thống, Ních-Xơn giở trò lật lọng, Mỹ không ký Hiệp định. Ta công bố văn bản Hiệp định, lên án sự tráo trở của Mỹ. Mỹ tung chủ bài cuối cùng với cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 vào Hà Nội và Hải Phòng trong suốt 12 ngày đêm (18 - 29-12-1972). Quân dân ta đã chiến thắng oai hùng với trận "Điện Biên Phủ trên không", bắn rơi 81 máy bay các loại (trong đó có 34 chiếc B52), bắt sông gần 100 giặc lái, buộc Ních-xơn phải ra lệnh ngừng tấn công, Kít-xinh-giơ đề nghị nối lại đàm phán bí mật. Ngày 8 tháng 1 năm 1973, hai bên họp lại và ngày 13 tháng 1 năm 1973. Mỹ phải giữ nguyên văn bản đã thoả thuận ngày 20 tháng 10 năm 1972. Đến đây thì Hiệp định Pa-ri coi như thực sự hoàn thành, được ký tắt ngày 23 tháng 1 năm 1973 và ký chính thức ngày 27 tháng 1 năm 1973.

        Cục diện chiến trường đã quyết định cục diện đàm phán. Cục diện đàm phán đưa đến việc ký Hiệp định Pa-ri, tạo ra bước ngoặt rất quan trọng để tiếp tục tiến lên giành toàn thắng ngày 30 tháng 4 năm 1975.

        *   Hai là, Độc lập - Tự chủ trong đàm phán.

        Trước đây, Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương là diễn đàn đa phương. Các nước lớn vì lợi ích chiến lược của mình đã thoả hiệp về một giải pháp bất lợi cho nước nhỏ. Hiệp định Giơ-ne-vơ không phản ánh đúng thắng lợi của ta trên chiến trường.

        Trong quá trình đàm phán Hiệp định Pa-ri, ta mở ra đốĩ thoại tay đôi với Mỹ, đó là một quyết sách chiến lược đúng đắn, thực hiện phương châm độc lập và tự chủ định đoạt mọi vấn đề về: khuôn khổ đàm phán chính trị và quân sự cũng như chủ trương, mục tiêu, nội dung, nguyên tắc, sách lược, bước đi, phương thức tiến hành, v.v... vì lợi ích của chính dân tộc mình, đất nước mình. Trên cơ sở đó, ta tranh thủ sự đồng tình của đồng minh, bạn bè. Ta không để cho nước thứ ba chi phối, can thiệp vào, bác bỏ trung gian, gạt các yếu tố tiêu cực áp đặt từ bên ngoài. Ta đứng vững ngay cả khi tình hình quốc tế xuất hiện diễn biến bất lợi.

        Năm 1972, Ních-Xơn đã cho Kít-xinh-giơ làm "ngoại giao con thoi" giữa Liên Xô và Trung Quốc để ép ta đi đến một giải pháp theo kiểu Mỹ nhưng thất bại. Khi Mỹ lật lọng không ký Hiệp định vào ngày 20 tháng 10 năm 1972, ta quyết định công bố văn bản Hiệp định Pa-ri vào ngày 26 tháng 10 năm 1972 thì ngày 27 tháng 10 năm 1972 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Cô-sư-ghin phát biểu: "Đêm 26 tháng 10 năm 1972, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô đã họp, nghiên cứu tuyên bố của Chính phủ Việt Nam và ủng hộ một trăm phần trăm". Thủ tướng Chu Ân Lai của Trung Quốc phát biểu: "Việt Nam công bố văn bản Hiệp định Pa-ri là cần thiết, đòi Ních-xơn ký Hiệp định vào ngày 31 tháng 10 năm 1972 là đúng. Mỹ không thể trốn tránh trách nhiệm của mình".


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười, 2013, 02:33:52 am

        * Ba là, "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" và giành thắng lợi từng bước, đánh đổ từng bộ phận.

        Ta kiên định về nguyên tắc, linh hoạt vê sách lược và đi từng bước vững chắc. Trong các nguyên tắc lớn về chính trị và quân sự, ta tập trung vào các vấn đề cốt lõi, then chốt, nhất là "Mỹ phải đơn phương rút hết quân khỏi miền Nam", "quân miền Bắc phải ở lại". Bác Hồ từng dạy: "Trong cuộc chiến tranh này, ta không phải tiêu diệt hết quân Mỹ để thắng mà phải đuổi hết quân Mỹ để thắng", "đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào". Tống Bí thư Lê Duẩn chỉ đạo: "Điểm mấu chốt là quân Mỹ phải rút ra, còn quân ta ở lại". Trên nguyên tắc nền tảng đó, ta kiên quyết bác bỏ đòi hỏi của Mỹ về "rút quân tương hỗ", "hai bên cùng rút quân", "quân miền Bắc rút", "không ghi chính thức quân miền Bắc rút trong Hiệp định mà thoả thuận riêng", "thực tế đại bộ phận quân miền Bắc ở lại, một bộ phận rút"... Ta nhất quvết đạt cho bằng được mục tiêu "quân Mỹ rút hết, quân ta ở lại", một tấc không đi, một ly không rời, coi đâv là yếu tố sống còn quyết định chiến tranh hay hoà bình, ký hay không ký Hiệp định. Ta đã đạt được trọn vẹn mục tiêu này.

        Tuy nhiên, ta đã linh hoạt về sách lược, mềm dẻo xử lý những vấn đề cụ thế bằng nhiều phương án. Để mở rộng đường, ta tỏ thiện chí "không đánh vào quân Mỹ rút", "Mỹ bắt đầu và kết thúc rút quân cùng lúc với việc ta bắt đầu và kết thúc trả tù binh Mỹ"; từng bước nới lỏng vấn đề chính quyền ở miền Nam: từ bỏ chính quyền Sài Gòn - "lập chính phủ liên hợp ba thành phần", giảm dần thành "chính quyền Sài Gòn không có Thiệu - Kỳ - Khiêm", "Thiệu phải từ chức", rồi "lập cơ cấu chính quyền hội đồng quốc gia hoà hợp, hoà giải dân tộc", cuối cùng hạ xuống phương án thấp nhất có thể chấp nhận được là "cơ cấu hành chính hội đồng hoà hợp, hoà giải ba thành phần", với chức năng hạn chế là đôn đổc việc thi hành Hiệp định Pa-ri và tổ chức tổng tuyển cử.

        Về sự khôn khéo vận dụng sách lược này, đồng chí Lê Đức Thọ đã nói với Kít-xinh-giơ ngày 8 tháng 10 năm 1972: "Không thể để cho vấn đề chính trị miền Nam trở thành vấn đề khó khăn nhất kéo dài đàm phán, mà muốn nhanh chóng chấm dứt chiến tranh". Kít-xinh-giơ đã nói: "Các nhà đàm phán Việt Nam, khi họ đã úp thì úp rất chặt, khi họ muốn mở thì cũng mở rất khéo để giải quyết sớm".

        Đây là thắng lợi nổi bật nhất trong nội dung của Hiệp định Pa-ri, thực hiện lời dạy của Bác Hồ ngày 26 tháng 4 năm 1969: "Ta sẵn sàng cho Mỹ rút quân có thể diện, sẵn sàng rải thảm đỏ cho quân Mỹ rút về nước, hoan tống chúng một cách lịch sự".

        *   Bốn là, vận động đoàn kết quốc tế.

        Cuộc đàm phán Pa-ri đã gắn rất chặt sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế và thời đại. Chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến tranh làm mất lòng dân nhất trong lịch sử nước Mỹ. Tính chất chính nghĩa sáng ngời của cuộc kháng chiến của Việt Nam chống xâm lược Mỹ là nguồn gốc lay động tình cảm, lương tri loài người. Đi đôi với việc trực diện đấu tranh với Mỹ, các đoàn đàm phán ta tích cực hoạt động tuyên truyền báo chí và ngoại giao nhân dân, tranh thủ dư luận và quần chúng các nước, nhất là nhân dân Mỹ, góp phần hình thành một Mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết với Việt Nam chống Mỹ rộng lớn chưa từng có trong lịch sử chiến tranh giải phóng dân tộc trên toàn cầu. Đã xuất hiện một "thế hệ Việt Nam" trên thế giới ủng hộ Việt Nam thời kỳ đó mà ngày nay nhiều người đang giữ cương vị lãnh đạo quốc gia, họ vẫn tự hào về điều ấy. Ngay trên đất Mỹ cũng có hàng ngàn cuộc biểu tình thu hút hàng vạn đến hàng triệu người dân Mỹ tham gia, đặc biệt là sinh viên và cựu chiến binh, tham gia chống chiến tranh, thậm chí có người đã tự thiêu. Trong cuộc tuần hành hơn 200.000 người cuối tháng 4 năm 1971 hướng về thủ đô Oa-sinh-tơn, diễn giả hùng hồn nhất là Giôn Ke-ri tuyên bố rằng: "Các cựu chiến binh Mỹ quyết tâm phá hủy vết tích cuối cùng của cuộc chiến tranh dã man này". Tháng 6 năm 1971, lãnh đạo Đảng Dân chủ lập nhóm ở Thượng viện và Hạ viện Mỹ đòi thông qua Nghị quyết rút hết quân trước CUỐI năm 1971; đầu năm 1973, họ lại biểu quyết cắt toàn bộ chi phí quân sự cho chiến tranh ở Việt Nam.

        Rõ ràng, Hiệp định Pa-ri đã một thời là trung tâm chú ý của bạn bè, dư luận. Sự lan toả tiếng nói từ đây đã làm sống động bản anh hùng ca về đạo lý, thế đứng và thắng lợi của đất nước Việt Nam chúng ta.

        *   Ngoài ra, còn những mặt khác của nghệ thuật ngoại giao chưa thể nói hết ở một bài viết ngắn, như: quan hệ giữa đàm phán công khai và đàm phán bí mật, giữa hai Đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (một mà hai, hai mà một), việc đề cao vai trò của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, việc đàm và đánh thời kỳ thi hành Hiệp định.

        Thứ năm, đấu tranh thực hiện Hiệp định Pa-ri đạt hiệu quả cao nhất từ trước đến nay. So với các Hiệp định trước, Hiệp định Pa-ri quy định những điều khoản chính trị, pháp lý hoàn thiện hơn cả về mặt tổ chức thi hành Hiệp định. Trên cơ sở đó, ta đã đấu tranh giành được kết quả thực tiễn tốt nhất, đưa Hiệp định đi vào cuộc sống hiện thực trên chiến trường, có lợi cho sự đi lên của cách mạng miền Nam.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười, 2013, 01:57:21 am
        Ngay từ khi Hiệp định Pa-ri có hiệu lực ngày 28 tháng 1 năm 1973, mặt trận ngoại giao chuyển từ Pa-ri về Sài Gòn với thành phần đàm phán mới là 4 đoàn: Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ và Việt Nam cộng hoà; diễn đàn mới là các Ban Liên hợp quân sự 4 bên và 2 bên; nhiệm vụ mới là "bảo đảm phối hợp hành động của các bên trong việc thực hiện các điều khoản của Hiệp định"; và địa bàn hoạt động mới là trên toàn miền Nam Việt Nam.

        Cuộc chiến đấu mới, đấu tranh chính trị và pháp lý công khai giữa sào huyệt kẻ thù, trong khi Mỹ vẫn còn 7 vạn quân chiếm đóng, ngụy vẫn còn hơn 1 triệu quân với lực lượng không quân đứng hàng thứ tư trên thê giới và có ý đồ chiến lược xé bỏ Hiệp định Pa-ri, quyết đánh bại Cộng sản bằng quân sự, là cả một câu chuyện dài "vào hang bắt cọp" ly kỳ, độc đáo, huyền thoạị về ngoại giao quân sự Việt Nam.
Điểm nổi bật là, đứng vững tại Trại Đa-vít - Tân Sơn Nhất, nơi là Tổng hành dinh của hai Đoàn đại biểu quân sự ta, trong tình thế "bốn mặt bao vây, trên không bịt kín" theo kiểu chiến thuật "bủa lưới phóng lao", án ngữ chặt các hướng, triệt để cô lập. Nhưng các sĩ quan, chiến sĩ ta vẫn kiên cường bám trụ suốt hơn 2 năm 3 tháng, tích cực tiến công địch trên tất cả các trận địa và đã giành thắng lợi to lớn trên 3 nhiệm vụ cơ bản nhất là:

        -   Kiên quyết đấu tranh thực hiện bằng được điều khoản cốt lõi của Hiệp định Pa-ri về chấm dứt sự dính líu quân sự của Mỹ; rút hết quân Mỹ và quân đồng minh của Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam trong thời hạn 60 ngày. Lúc 10 giò sáng ngày 29 tháng 3 năm 1973, tại trụ sở bộ chỉ huy yểm trợ quân sự Mỹ (MACV) - thường được gọi là Lầu Năm góc phương Đông mà thực chất là bộ chỉ huy tối cao của Mỹ ỗ miền Nam - Mỹ làm lễ cuốn cờ dưới sự chủ tọa của đại sứ Mỹ Mác-tin và tổng tư lệnh cuối cùng của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, đại tướng Phơ-rê-đơ-rích Uây-en. Quốc kỳ Mỹ kéo lên tại đây từ tháng 2 năm 1962, sau 11 năm phải hạ xuống. Lúc 16 giờ 30 phút ngày 29 tháng 3 năm 1973, toán quân Mỹ cuôl cùng gồm toàn sĩ quan cao cấp, khoá đuôi là đại tá không quân Đa-vít Ô-đen, lên máy bay rời Tân Sơn Nhất trước sự kiểm soát của đại biểu hai Đoàn ta và Uỷ ban Quốc tế, đánh dấu ngày lịch sử trọng đại đất nước ta từ nay sạch bóng quân xâm lược. Hình ảnh anh Bộ đội Cụ Hồ lúc này trên đường băng sân bay Tân Sơn Nhất hiện lên "dáng đứng tự hào, dáng đứng Việt Nam".

        -   Buộc địch phải trao trả hơn 31.500 nhân viên quân sự và dân sự của ta bị địch bắt, trong đó có nhiều chiến sĩ cách mạng cốt cán kiên cường sau này trở thành cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước ta, mà đặc biệt nhất là Chủ tịch nước Trương Tấn Sang. Biết bao nhiêu cảnh cảm động khi đón các cán bộ, chiến sĩ ta bị tù đày trở về với hàng ngũ cách mạng!

        -   Đã góp phần đấu tranh trên mặt trận dư luận, vạch mặt Mỹ - ngụy phá hoại Hiệp định Pa-ri, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ ta, đặc biệt là khi ta phải sử dụng biện pháp quân sự để đánh trả, trừng trị những hành động vi phạm của địch và nổi dậy mùa Xuân 1975. Kết hợp với sức mạnh trên chiến trường, sức mạnh dư luận đã có sức thuyết phục to lớn. Sáng mùng 1 tháng 5 năm 1975. một phóng viên nước ngoài đã có sáng kiến trương lên xe một lá cờ lớn của Chính phủ Cách mạng lâm thòi Cộng hòa miền Nam Việt Nam cùng với một tấm biển "Nhà báo" để xin vào Trại Đa-vít cho kỳ được, vừa để chúc mừng chúng ta thắng lợi, vừa đế nhờ ta phát đi bằng tê-lếch và vô tuyến điện tin sốt dẻo giải phóng Sài Gòn - một số nhà báo khác đã làm theo. Cảnh tượng nhộn nhịp tưng bừng thật khó quên!

        -   Điều huyền thoại là, khi địch gây lại chiến tranh, từ ngày 8 tháng 10 năm 1974, ta tuyên bố ngừng vô thời hạn các cuộc họp Liên hợp quân sự, nhưng vẫn tận dụng được lợi thế về chính trị, pháp lý, ngoại giao do Hiệp định Pa-ri đem lại để trụ lại vững vàng và hợp pháp tại Tân Sơn Nhất, tiếp tục đấu tranh pháp lý, chính trị, dư luận phối hợp chặt chẽ với chiến trường cho đến ngày toàn thắng. Một trong những lá cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng được treo lên đầu tiên ở Sài Gòn trên đỉnh cao tháp nước của Trại Đa-vít lúc 9 giờ 30 phút sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975. Thậm chí, vào bước đường cùng và vực thẳm thất bại, ngày 19 tháng 4 năm 1975, Mỹ - ngụy còn tìm cách bấu víu lãnh đạo hai Đoàn ta để "xin ra Hà Nội tìm giải pháp qua thương lượng", ngày 29 tháng 4 năm 1975, phái đoàn của phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền xin gặp phía ta để "bàn việc bàn giao chính quyền", chiều ngày 29 tháng 4 năm 1975 đoàn đại diện của tổng thống Dương Văn Minh xin gặp Trưởng đoàn ta để "hạn chế đổ máu, tổn hại vật chất khi ta đánh chiếm Sài Gòn!". Những hành động vô vọng này chỉ chứng tỏ một điều là hai Đoàn đại biểu quân sự ta vẫn giữ thế thắng cho đến phút cuối cùng thi hành Hiệp định Pa-ri.

        -   Với thành tích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, ngày 20 tháng 4 năm 2012, hai Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã được Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thay mặt Đảng, Nhà nước công bố Quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Trước đó, Bộ Ngoại giao đã tặng Kỷ niệm chương vì những đóng góp xuất sắc cho việc thi hành Hiệp định Pa-ri cho tất cả các thành viên của hai Đoàn. Đó thật là những phần thưởng cao quý và xứng đáng.

        Trên đây chỉ là tổng hợp một số yếu tố dẫn chứng cho sự kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại tạo ra thế "một cân nâng một tạ", làm cơ sở đưa nền ngoại giao Việt Nam trưởng thành vượt bậc, làm nên Hiệp định Pa-ri 1973 có ý nghĩa chính trị và ngoại giao to lớn mà lịch sử ngàn năm còn ghi nhớ.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười, 2013, 04:55:37 am

*

*        *

        40 năm đã trôi qua, Hiệp định Pa-ri đã lùi sâu vào quá khứ, nhưng vẫn còn để lại những giá trị lịch sử và bài học vô giá cho các thế hệ hiện tại và tương lai, đặc biệt rất cần cho đấu tranh ngoại giao bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền biển đảo của ta hiện nay.

        Kỷ niệm sự kiện lịch sử vẻ vang này, chúng ta bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng và Bác Hồ; đốì với công lao vĩ đại của đồng bào miền Nam, quân dân cả nước, kể cả kiều bào ta ở nước ngoài, nhất là kiều bào ta ở Pháp; đối với sự giúp đỡ, ủng hộ của bạn bè và dư luận quốc tế rộng rãi, nhất là với Đảng Cộng sản Pháp và hai Đoàn Ba Lan và Hung-ga-ri trong Uỷ ban Quốc tế. Chúng ta tri ân và tôn vinh sự đóng góp của tất cả các đồng chí lãnh đạo, cán bộ, thành viên hai Đoàn miền Bắc và miền Nam đã trực tiếp hay gián tiếp tham gia cuộc chiến đấu đặc biệt này, quyết liệt đấu trí, đấu lý, đấu pháp ngày đêm trong suốt gần 5 năm ở Pa-ri và hơn 2 năm 3 tháng ở Sài Gòn, mà tiêu biểu nhất là các đồng chí Lê Đức Thọ, Nguyễn Duy Trinh, Xuân Thuỷ, Nguyễn Cơ Thạch, Thượng tướng Trần Văn Trà, Thượng tướng Lê Quang Hoà, Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn. Chúng ta đặc biệt thương tiếc 9 liệt sĩ và vinh danh 25 đồng chí ta bị thương trong khi làm nhiệm vụ tại Ban Liên hợp quân sự.

        Với tư cách là một nhân chứng nhỏ của một sự kiện lớn, tôi rất vinh dự và tự hào được ghi danh trong đại gia đình thành viên Hiệp định Pa-ri, hoan nghênh việc tổ chức Lễ kỷ niệm 40 năm ngày ký kết Hiệp định để phát huy truyền thông tốt đẹp của ngoại giao Việt Nam, đem bản lĩnh chính trị, ý chí kiên cưòng, trí tuệ Việt Nam và tinh thần cách mạng tiến công vào thực hiện sự nghiệp ngoại giao ngày nay.
Tuy nhiên, trong lòng tôi vẫn còn một nỗi băn khoăn, day dứt là đối với một sự kiện trọng đại như vậy mà 4 thập kỷ qua ở ngay trên đất nước ta, không có dấu ấn vật thể nào lưu lại cho hậu thế. Trong khi đó ở Pa-ri, nhờ sự giúp đỡ của nước sở tại, đã có những tấm biển lưu niệm ở một số nơi mà hai Đoàn ta đã hoạt động như Kleber, Choisy-le-Roi, Gif sur Yvette, Verrierre de Buisson... Do vậy, tôi xin đề xuất sáng kiến là hãy lấy Trại Đa-vít - Tân Sơn Nhất - Sài Gòn làm nơi lưu niệm về Hiệp định Pa-ri ỏ Việt Nam. Lý do không chỉ là vì nơi đó là Tổng hành dinh của hai Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam chỉ đạo hoạt động ngoại giao quân sự thi hành Hiệp định Pa-ri trên toàn miền Nam, mà chính nơi đây là sản phẩm thiêng liêng của Hiệp định Pa-ri - mảnh đất được giải phóng đầu tiên ở Sài Gòn do có Hiệp định, cũng là nơi kết thúc Hiệp định Pa-ri trong ngày toàn thắng, nơi duy nhất ở Việt Nam mang đậm di tích vật thể gắn kết Hiệp định Pa-ri với cách mạng Việt Nam.

        Nếu có một khu di tích như vậy thì mọi tư liệu, hiện vật, kỷ vật quý báu về Hiệp định Pa-ri sẽ được tập trung trưng bày tại đây, thu hút các nhà nghiên cứu, khách du lịch và mọi thế hệ người dân trong nước, quốc tê đến thăm, suy ngẫm về một thời chiến tranh và hoà bình đã đi vào lịch sử nước ta và nhân loại.

        Mong rằng, ước vọng này sẽ được Đảng, Nhà nước xem xét, quyết định và Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, và Viện Sử học sẽ đi đầu trong việc đề xuất, biến ý tưởng này thành hiện thực để chúng ta có thêm một địa chỉ đỏ cho thế hệ trẻ học tập, noi theo như: Tượng đài Mẹ Suốt, Anh hùng Nguyễn Viết Xuân, Mười cô gái Ngã ba Đồng Lộc, Đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy và nữ Bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm...


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2013, 08:04:53 am

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/092.jpg)

NHỚ LẠI VÀ SUY NGẪM VỀ ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO QUÂN SỰ THI HÀNH HIỆP ĐỊNH PA-RI VỀ VIỆT NAM
     
NGUYỄN VĂN KHẢ        

        Tại buổi lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà (Đoàn A) và Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam (Đoàn B) ngày 20 tháng 4 năm 2012, đồng chí Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trong bài phát biểu của mình đánh giá rằng: "Tuy thời gian hoạt động của hai Đoàn đại biểu quân sự không dài, nhưng đã khẳng định là một sự kiện có ý nghĩa chiến lược, là sách lược sáng suốt của cách mạng Việt Nam, đánh dấu bước thắng lợi có ý nghĩa lịch sử trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta trên mặt trận ngoại giao quân sự".

        Là một nhân chứng lịch sử, tôi thấy rất vinh dự, tự hào và thật sự xúc động, như một cuốn phim được quay lại trong đầu óc làm cho tôi nhớ lại những gì đã diễn ra trong suốt 823 ngày đêm đấu tranh ngoại giao quân sự giữa sào huyệt địch.

        Tôi suy nghĩ rất nhiều về thắng lợi trên mặt trận đấu tranh ngoại giao quân sự trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

        Xin được chia sẻ những suy ngẫm của một người trong cuộc về những điều gây ấn tượng sâu sắc rút ra từ 823 ngày đêm của cuộc đấu tranh trực tiếp, công khai, hợp pháp giữa trung tâm đầu não của đối phương để buộc chúng phải thi hành Hiệp định Pa-ri về Việt Nam.

        1. Suy ngẫm về quyết định chỉ đạo chiến lược sáng suốt của Đảng, mở ra mặt trận tiến công ngoại giao, kết hợp với đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị, dẫn đến cục diện "vừa đánh, vừa đàm"; từ Hiệp định Pa-ri được ký kết mở ra mặt trận đấu tranh ngoại giao quân sự để thi hành những điều khoản về quân sự của Hiệp định.

        Khi chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ bị phá sản, Mỹ phải đưa quân đội viễn chinh Mỹ đông tới 50 vạn tên để tiến hành chiến lược "chiến tranh cục bộ". Tập trung một lực lượng lớn quân Mỹ cùng quân chư hầu và quân ngụy Sài Gòn tiến hành hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và 1966-1967. Chúng kỳ vọng rất lớn và rất huênh hoang về hai cuộc phản công chiến lược này. Nhưng cả hai cuộc phản công chiến lược đó đã bị quân dân miền Nam làm cho phá sản thảm hại. Chiến tranh phá hoại ở miền Bắc cũng bị quân dân ta đánh bại một bước nghiêm trọng.

        Như vậy. giai đoạn đầu của chiến lược "chiến tranh cục bộ" đã bị thất bại rất nghiêm trọng.

        Trong giới cầm quyền Mỹ đã xuất hiện sự dao động. Đã có dấu hiệu của sự "tiến thoái lưỡng nan", cũng đã có biểu hiện của sự suy tính lại về chiến lược của cuộc chiến tranh Việt Nam. Và, cũng thời gian này, phong trào của nhân dân tiến bộ Mỹ chống chiến tranh xâm lược ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ trong toàn nước Mỹ. Xu hướng ôn hoà, mà ngưòi Mỹ gọi là "phái bồ câu", đang mở rộng hàng ngũ.

        Giữa lúc đó, tháng 1 năm 1967, Hội nghị Trung ương 3, khoá III, ra Nghị quyết mở mặt trận tấn công ngoại giao. Nghị quyết nêu rõ: "Đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam là nhân tổ quyết định thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt trận ngoại giao. Chúng ta chỉ có thể giành được thắng lợi trên bàn hội nghị những cái mà chúng ta đã giành được trên chiến trường. Tuy nhiên, đấu tranh ngoại giao không chỉ đơn thuần phản ánh cuộc đấu tranh trên chiến trường, mà trong tình hình quốc tế hiện nay đối với tính chất cuộc đấu tranh giữa ta và địch, cuộc đấu tranh ngoại giao giữ vai trò quan trọng, tích cực và chủ động của nó".

        Cũng cần phải nói rõ rằng, chúng ta đã có một thời gian khá dài trực tiếp đọ sức với Mỹ. Chúng ta hiểu rằng, đế quốc Mỹ - tên đế quốc đầu sỏ, luôn ỷ vào sức mạnh quân sự, rất tinh ranh và xảo quyệt trong đấu tranh ngoại giao, thì việc kéo Mỹ vào đàm phán với ta là điều không dễ dàng.

        Ta phải tính toán kỹ lưỡng, chọn đúng thời cơ mở đòn tấn công ngoại giao để kéo Mỹ, buộc Mỹ phải vào đàm phán với ta.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười, 2013, 05:46:28 am
        Sau khi có Nghị quyết của Trung ương, ngày 28 tháng 1 năm 1967, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh tuyên bố: "Chỉ sau khi Hoa Kỳ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà thì Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Hoa Kỳ mới có thể nói chuyện".

        Tuyên bố này có tác động rộng rãi, anh em bạn bè ủng hộ ta, dư luận đồng tình, đặc biệt là dư luận Mỹ đòi chính phủ Mỹ chấm dứt đánh phá miền Bắc để đi vào đàm phán.

        Tiếp theo đòn tấn công ngoại giao, ta mở cuộc Tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Đây thực sự là một đòn sét đánh đốì với giới cầm quyền Mỹ. Cả nước Mỹ rung chuyển, choáng váng và dư luận thế giới chấn động. Nó làm cho toàn bộ tính toán chiến lược của giới cầm quyên Mỹ bị đảo lộn, ý chí xâm lược của chúng bị lung lay nghiêm trọng.

        Kết cục là, tổng thống Mỹ L.Giôn-xơn phải tuyên bố ": Đơn phương ngừng đánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra; nhận đàm phán với Việt Nam Dân chủ cộng hòa; và không ra tranh cử tổng thống nhiệm kỳ 2.

        Từ đây mở ra cục diện "vừa đánh, vừa đàm".

        Cuộc đàm phán Pa-ri kéo dài 4 năm, 8 tháng và 16 ngày, một cuộc đàm phán kéo dài nhất trong lịch sử các cuộc đàm phán ở nước ta cũng như trên thế giới.

        Mỹ buộc phải xuống thang chiến tranh, đến đàm phán với ta để tìm một lối thoát trong danh dự. Nhưng do bản chất ngoan cố của nó, nên tuy đến bàn đàm phán nhưng Mỹ vẫn đẩy chiến tranh lên cường độ rất cao ở cả hai miền Nam - Bắc và mở rộng chiến tranh sang Cam-pu-chia. Mỹ vẫn mưu toan thương lượng trên thế mạnh. Mỹ muốn cứu vãn thất bại nhưng lại ép ta phải chấp nhận những điều kiện của Mỹ. Chúng đòi miền Bắc phải "giảm hoạt động quân sự ở miền Nam", "giảm thâm nhập vào miền Nam", tức là đòi ta không được chi viện cho quân dân miền Nam chống Mỹ - ngụy.

        Chúng ta rất vững vàng, rất mưu trí trong đấu tranh đàm phán với Mỹ. Chính đây là cuộc đọ sức ở đỉnh cao giữa trí tuệ Việt Nam và bộ óc của chủ nghĩa đế quốc Hoa Kỳ.
Ta vừa chủ động tấn công giữ vững nguyên tắc bất di bất dịch là quân Mỹ đến xâm lược Việt Nam thì quân Mỹ phải rút khỏi Việt Nam. Nhưng ta vừa có sách lược mềm dẻo, biết giành thắng lợi từng bước vững chắc.

        Đến thời điểm mà Mỹ không thể không ký Hiệp định Pa-ri được nữa.

        Đúng với bản chất sen đầm quốc tế, chính quyền Mỹ vẫn còn đặt ra điều kiện là ta phải nhượng bộ theo yêu cầu của Mỹ, đồng thời vẫn đe dọa rằng nếu ta không chấp nhận điều kiện của Mỹ thì phải đương đầu với một chiến dịch ném bom ác liệt.

        Con bài B52 được đưa ra đánh Hà Nội và Hải Phòng cuối năm 1972. Mỹ hy vọng sẽ khuất phục được ta bằng cuộc tập kích chiến lược B52 này đây.

        Nhưng con bài B52 bị quân và dân ta làm cho thất bại thảm hại. Thê là đàm phán trên thê mạnh bị phá sản. Ý chí xâm lược bị sụp đổ.

        Mỹ không còn con bài nào nữa nhưng không thể không chấp nhận những yêu cầu hợp lý, mềm dẻo của ta. Đế quốc Mỹ buộc phải ký Hiệp định Pa-ri về Việt Nam.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười, 2013, 02:26:55 am
        Với Hiệp định Pa-ri, Mỹ phải cam kết chấm dứt chiến tranh xâm lược, Mỹ phải rút hoàn toàn quân đội ra khỏi miền Nam Việt Nam, Mỹ phải cam kết không dính líu về quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam.

        Hiệp định Pa-ri có 9 chương, 23 điều khoản. Nội dung của Hiệp định nêu lên các loại điều khoản, như các điều khoản chung về chính trị, các điều khoản về công việc nội bộ miền Nam, các điều khoản về Cam-pu-chia và Lào, về quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ...

        Nhưng nội dung tập trung nhất là ở các điều khoản về quân sự: ngừng bắn, rút quân, tháo gỡ bom mìn, trao trả người bị bắt của các bên. Nội dung này được sắp đặt hoàn toàn phù hợp với mục tiêu và yêu cầu của ta, nó được nêu ra rất cụ thể, lại có 4 Nghị định thư với những quy định chi tiết để thi hành những điều khoản đó.

        Những nội dung về quân sự này là tập trung vào việc "đánh cho Mỹ cút" như Bác Hồ đã dạy.

        Còn vấn đề "đánh cho ngụy nhào" là bước sau nên trong Hiệp định này chỉ ghi khái quát nguyên tắc bảo đảm tự do, dân chủ, hoà hợp dân tộc, tố chức tống tuyển cử tự do. thành lập hội đồng hoà giải dân tộc gồm 3 thành phần. v.v...

        Vì vậy. các bên ký kết Hiệp định Pa-ri thống nhất cử đại diện của mình thành lập Ban Liên hợp quân sự 4 bên. Ban Liên hợp quân sự 2 bên để đảm bảo sự phối hợp hành động của các bên trong việc thực hiện những điều khoản về quân sự của Hiệp định.

        Đến đây, mặt trận dấu tranh ngỏại giao quân sự được hình thành để thực hiện các điều khoản quân sự, cũng là những điều khoản đầu tiên và quan trọng nhất của Hiệp định Pa-ri về Việt Nam.

        Hai Đoàn đại biểu quân sự của ta được khẩn trương thành lập và được giao nhiệm vụ đi vào cuộc đấu tranh ngoại giao quân sự và được xác định đây là một lực lượng, một mũi nhọn đấu tranh trực tiếp, công khai và hợp pháp, góp phần quan trọng buộc đối phương phải thi hành những điều khoản quân sự của Hiệp định Pa-ri.

        2. Suy ngẫm về hai Đoàn đại biểu quân sự cách mạng đứng vững trên tư thế đội quăn chiến thắng, nắm vững pháp lý của Hiệp định Pa-ri, luôn giữ vững quyền chủ động tiến công, liên tục tiến công, đấu tranh thực hiện nhiệm vụ quan trọng nhất là thúc đẩy quân Mỹ và quân chư hầu phải rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam đúng thời hạn 60 ngày.

        Nguyên Tổng Bí thư Lê Duẩn, trong Thư gửi vào Nam cho đồng chí Phạm Hùng, Bí thư Trung ương Cục miền Nam. đã khẳng định: "Đối với ta, điều quan trọng của Hiệp định Pa-ri không phải ở chỗ thừa nhận hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát tiến tới thành lập chính phủ ba thành phần mà mấu chốt là ở chỗ quân Mỹ phải ra, còn quân ta thì ỏ lại...''.

        Điều này đã được ghi rõ ở những điều khoản quân sự là "trong thời hạn 60 ngày kể từ khi ký Hiệp định này, sẽ hoàn thành việc rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam mọi quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự... vũ khí, đạn được, công cụ chiến tranh của Hoa Kỳ và của các nước ngoài khác nói ở Điều 3(a). "Việc hủy bỏ các căn cứ quân sự ở miền Nam Việt Nam của Hoa Kỳ và các nước ngoài khác sẽ hoàn thành trong thời hạn 60 ngày kể từ khi ký Hiệp định này".

        Vậy, Mỹ có thi hành đúng Hiệp định Pa-ri về vấn đề rút quân này hay không? Đây là vấn đề lớn nhất, quan trọng nhất đặt ra cho hai Đoàn đại biểu quân sự ta.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2013, 02:12:20 am
        Tại Hội nghị Pa-ri, đấu tranh buộc Mỹ phải chấp nhận rút hoàn toàn quân đội ra khỏi miền Nam Việt Nam là vấn đề rất gay go, quyết liệt và rất phức tạp. Mỹ đòi quân miền Bắc ở miền Nam cũng phải rút thì quân Mỹ mới rút. Phải có đi có lại.

        Kít-xinh-giơ đưa ra nhiều loại phương án về việc rút quân miền Bắc. Giới cầm quyền Mỹ đưa ra các thủ đoạn để buộc quân miền Bắc phải rút. Nhưng tất cả những thủ đoạn đó, tất cả các loại phương án đó đều bị thất bại.

        Cuối cùng, Mỹ mới chịu phải rút hoàn toàn quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam trong thời hạn 60 ngày. Nguyễn Văn Thiệu thì hoàn toàn thất vọng về việc Mỹ phải rút quân còn quân miền Bắc vẫn ở lại miền Nam Việt Nam. Thiệu coi đây là bản án tử hình đối với chế độ Sài Gòn.

        Đảng ta đã chỉ rất rõ cho chúng tôi là hai Đoàn ta phải rất cảnh giác, phải rất tinh tường phát hiện những dấu hiệu dây dưa rút quân. Phải đấu tranh thật quyết liệt, thật mạnh mẽ khi phát hiện Mỹ có những hiện tượng vi phạm trong điều khoản rút quân. Đề phòng Mỹ có thế kiếm cớ hoặc tạo cớ để kéo dài việc rút quân hoặc để lại một bộ phận quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam.

        Về mặt pháp lý, còn phải nắm một điểm rất quan trọng khác là Điều 8(a): "Việc trao trả những nhân viên quân sự của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài bị bắt sẽ tiến hành song song và hoàn thành không chậm hơn ngày hoàn thành việc rút quân nói trong Điều 5". Đây là cái khoá khiến Mỹ khó có thể phá việc rút quân được.

        Nắm con bài tù binh Mỹ vừa là cái đòn xeo bụộc quân Mỹ phải rút, vừa là điều buộc Mỹ - ngụy phải trao trả cán bộ, chiến sĩ ta bị địch bắt trong chiến tranh.

        Là một nhiệm vụ quan trọng nhất nên hai Đoàn ta còn xác định đây là cuộc đấu trí, đấu lý, đấu pháp đòi hỏi phải rất chủ động đấu tranh, mưu trí và sáng tạo để buộc Mỹ phải thực hiện đúng quy định của Hiệp định Pa-ri.

        Ngay trong từng đợt trao trả, ta thông báo rõ số lượng, có danh sách đầy đủ, thời gian và địa điểm rõ ràng và yêu cầu đổi phương cũng phải thông báo rõ ràng rút bao nhiêu quân, trao trả bao nhiêu ngưòi, địa điểm và thòi gian cụ thế.

        Đợt trao trả và rút quân đầu tiên. Mỹ không thông báo về số lượng quân sẽ rút, ngày giờ và địa điểm rút quân. Bị các Trưởng đoàn ta lên án quyết liệt là Mỹ vi phạm Hiệp định Pa-ri về điểm không thông báo rút quân. Ta tuyên bố không công nhận việc rút quân mà không có sự theo dõi, kiểm tra của Ban Liên hợp quân sự và không có sự kiểm soát, giám sát của Uỷ ban Quốc tế.

        Hai ngày sau đó, Mỹ phải báo cáo rõ việc rút quân và chịu sự kiểm tra, kiểm soát của sĩ quan hai Đoàn ta và Uỷ ban Quốc tế.

        Hai Đoàn ta rất tỉnh táo phát hiện những vi phạm xung quanh việc rút quân. Chúng ta truy hỏi Trưởng đoàn Mỹ về việc tại sao rút quân mà không mang theo vũ khí và đạn dược, truy hỏi vê việc Mỹ không phá hủy các căn cứ quân sự và về việc rút cố vấn quân sự, v.v...

        Trưỏng đoàn Mỹ thực sự lúng túng. Chúng ta yêu cầu phải trả lời rõ thì Trưởng đoàn Mỹ trả lời ngụy biện và tìm cách né tránh nên càng phơi bày sự cố ý vi phạm Hiệp định của phía Mỹ.

        Về phía ta, chúng ta đảm bảo cho quân Mỹ rút an toàn, trao trả tù binh Mỹ theo đúng kế hoạch đã định. Đặc biệt chúng ta thể hiện rõ chính sách nhân đạo, khoan hồng của dân tộc Việt Nam đối với tù binh Mỹ.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười, 2013, 03:55:49 am
        Trong vấn đề trao trả người của ta bị bắt, phía ngụy Sài Gòn giở nhiều thủ đoạn phá hoại rất thô bỉ, lố hịch. Ta đấu tranh buộc phía Mỹ phải can thiệp nên cuối cùng đối phương phải trao trả cho ta số đông cán bộ. chiến sĩ ta bị địch bắt và một số nhân viên dân sự là cán bộ chính trị và cơ sở cách mạng của ta.

        Ta sớm phát hiện Mỹ cỏ dấu hiệu cố ý dây dưa việc rút quân và có mưu đồ để lại một bộ phận quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Chúng ta tính toán kỹ càng, đưa công hàm nói rõ sẽ trao trả những tù binh Mỹ đợt cuối cùng sớm hơn dự định.

        Đúng như dự kiến của ta, Mỹ thể hiện rõ ý đồ trì hoãn đợt rút quân cuối cùng với cái cớ là ta phải trao trả tù binh Mỹ bị bắt ở Lào. Phó Trưởng đoàn Mỹ Uých-khâm còn nói đây là chủ trương phát ra từ tổng thống Hoa Kỳ.

        Thấy đây là vấn đề nghiêm trọng, là sự phản trắc, lật lọng của phía Mỹ, chúng ta đã mở đợt tấn công dồn dập, mạnh mẽ và rất kiên quyết.

        Từ Trại Đa-vít, hai Đoàn ta đã vạch rõ đòi hỏi vô lý của Mỹ. Tại sao phía Mỹ lại đòi giải quyết một vấn đề không được quy định trong Hiệp định Pa-ri? Tại sao phía Mỹ lại đòi ta trao trả tù binh Mỹ do nước khác bắt và giam giữ? Và, tại sao phía Mỹ lại nêu một vấn đề không phải là nhiệm vụ của Ban Liên hợp quân sự 4 bên?

        Ta vận dụng tất cả các diễn đàn để đấu tranh với địch. Ta đưa tin ngav cho các nhà báo ở Sài Gòn, đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng của Nhà nước ta để dư luận rộng rãi trên thế giới biết phía Mỹ phản trắc, lật lọng, phá hoại Hiệp định Pa-ri.

        Đặc biệt là ta đã kêu gọi và thông báo cho nhân dân Mỹ, cho những gia đình Mỹ có con em trong quân đội Mỹ sang chiến đấu ở Việt Nam và bị bắt làm tù binh nhưng chưa được trỏ về trong đợt trao trả cuối cùng này rằng, nguyên nhân của sự chậm trễ đó là do chính phủ Mỹ lật lọng trong vấn đề rút quân và trao trả. Các gia đình đó cứ điện thẳng đến Nhà trắng và Lầu Năm góc mà đòi con em họ về. Trách nhiệm hoàn toàn thuộc về hai nơi ấy.

        Đồng thời với việc đấu tranh quyết liệt đó, ta đã khôn khéo, mềm dẻo mở đường cho Mỹ và tạo điều kiện cho Mỹ để nhận được tù binh Mỹ bị bắt ở Lào.

        Không còn lấy cớ gì để dây dưa rút quân Mỹ nữa, phía Mỹ phải chấp nhận thực hiện theo kế hoạch của ta về rút quân Mỹ đợt cuối cùng, song song với đợt trao trả cuổi cùng vào ngày 27, 28 và 29 tháng 3 năm 1973. Trong bài phát biểu tại Lễ đón danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân của hai Đoàn đại biểu quân sự ta, đồng chí Chủ tịch nước Trương Tấn Sang khẳng định:

        "Quán triệt tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh "dĩ bất biến, ứng vạn biến", trong suốt 823 ngày đêm hoạt động, hai Đoàn đại biểu quân sự ta đã dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo, tranh thủ dư luận và dựa vào pháp lý của Hiệp định Pa-ri để đấu tranh vạch trần âm mưu và lên án hành động phá hoại Hiệp định của Mỹ - ngụy trước cộng đồng quốc tế, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh buộc những tên lính Mỹ cuối cùng rút khỏi miền Nam Việt Nam vào hồi 16 giờ 30 phút ngày 29 tháng 3 năm 1973, đánh dấu mốc lịch sử sau 115 năm (từ năm 1858) trên đất nước thân yêu của chúng ta sạch bóng quân xâm lược.

        Đây là yếu tố quan trọng nhất làm chuyến biến so sánh lực lượng trên chiến trường có lợi cho ta, đề tiến đến giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào ngày 30 tháng 4 năm 1975".

        3. Suy ngẫm về hai Đoàn đại biểu quân sự ta nắm vững ưu thế về chính trị là chính nghĩa dân tộc, nắm vững ngọn cờ hoà bình, đề cao thiện chí thi hành Hiệp định Pa-ri về Việt Nam, gắn bó chặt chẽ đấu tranh ngoại giao quân sự với cuộc chiến đấu trên chiến trường, lên án vạch mặt Mỹ - ngụy phá hoại Hiệp định Pa-ri, tiếp tục "Việt Nam hoá chiến tranh".

        Hiệp định Pa-ri xác định việc chấm dứt hoàn toàn chiến sự là vững chắc và không thời hạn. Các bên cam kết giữ vững ngừng bắn, bảo đảm hoà bình lâu dài và vững chắc.
Đảng ta đánh giá rằng, ký Hiệp định Pa-ri là Mỹ phải chịu một bước lùi về chiến lược, còn ý định sâu xa và không thay đổi của Mỹ vẫn là tiếp tục thực hiện chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh".

        Hai Đoàn đại biểu quân sự chúng tôi hiểu rõ rằng, đấu tranh buộc kẻ thù phải ngừng bắn khi mà mưu đồ của chúng vẫn là "Việt Nam hoá chiến tranh" thì chấm dứt chiến tranh và ngừng bắn là điều không thể thực hiện được. Đây sẽ là một cuộc đấu tranh gay go, phức tạp và căng thắng nhất.

        Đúng như vậy!

        Ngay những ngày, những giờ đầu tiên sau khi Hiệp định Pa-ri có hiệu lực thì kẻ thù đã vi phạm ngừng bắn một cách trắng trợn và liên tiếp. Chúng mở nhiều cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng của ta: Cửa Việt (Quảng Trị), Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), Tân Châu. Hồng Ngự, Tây Ninh... với quy mô cấp sư đoàn, trung đoàn. Chúng liên tiếp tổ chức các cuộc hành quân cảnh sát, đánh phá các cơ sở cách mạng của ta, đàn áp quần chúng nhân dân.

        Chúng lại lớn tiếng vu cáo ta đánh chúng ở Cửa Việt. Trưởng đoàn ta đã phản bác lại và nói rõ Cửa Việt là vùng giải phóng của cách mạng từ tháng 5 năm 1972 và chính đây là một vụ lấn chiếm trắng trợn của quân ngụy Sài Gòn. Chúng đã cho trên 200 xe tăng, xe bọc thép cùng cả lữ đoàn thủy quân lục chiến số 147 từ Mỹ Thuỷ, Gia Đẳng đánh phá cảng cửa Việt.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười, 2013, 02:46:03 am
        Trưởng đoàn ta đã làm cho đối phương thực sự choáng váng khi thông báo cho phía Mỹ - ngụy rằng, đội quân lấn chiếm đã bị tiêu diệt, để lại trên trận địa hơn 100 xe các loại và nhiều xác chết.

        Ngô Du, Trưởng đoàn ngụy Sài Gòn, cúi mặt xuống, cay đắng. Sau 4 ngày, Uỷ ban Quốc tế ra điều tra vụ Cửa Việt và kết luận là quân đội Sài Gòn đã vi phạm Hiệp định Pa-ri.

        Đấu tranh về vấn đề vi phạm ngừng bắn của phía đối phương diễn ra rất quyết liệt, căng thẳng trên bàn hội nghị ở cả cấp Trưởng đoàn và cấp Tiểu ban.

        Chúng ta nêu ra hàng loạt vụ vi phạm của đối phương với chứng cứ cụ thể, rõ ràng về địa điểm, ngày giờ, lực lượng lấn chiếm, khiến Mỹ - ngụy phải bị động chống đỡ.

        Ngô Du chỉ trả lời theo một công thức là đã nhận bản phản kháng của quý vị, xin đệ trình lên chính phủ chúng tôi. út-uôt. Trưởng đoàn Mỹ, im lặng mãi không được đành phải chống đỡ, giả vờ làm ra vẻ khách quan "Nhiều vi phạm quá rồi! Chúng ta phải hợp tác để chấm dứt vi phạm! Phải tiên hành điều tra có kết quả, có hiệu lực!".

        Ngô Du có lần chối cãi rằng: các ngài bảo chúng tôi hành quân lấn chiếm, hành quân cảnh sát, thì đó là những cuộc hành quân thông thường, là quyền hợp pháp của quân đội chúng tôi. Đây là sự cãi chày, cãi cối đê lấp liếm hành động vi phạm Hiệp định Pa-ri.

        Đồng chí Phó Trưởng đoàn ta đọc cho Ngô Du nghe về những điều trong chương ngừng bắn quy định: "Bắt đầu từ khi ngừng bắn có hiệu lực, tất cả các lực lượng chiến đấu ở miền Nam Việt Nam ở nguyên vị trí của mình...

        •   Cấm các cuộc tuần tra vũ trang...;
        •   Cấm các cuộc hành quân chiến đấu...;
        •   Cấm tấn công vũ trang...;
        •   Cấm các hành động đối địch, khủng bố, trả thù...".

        Ngô Du nghe xong tỏ ra ngạc nhiên và lẩm bẩm: "Ủa! Tại sao lại có những điều như vậy. Thế thì khoá chân khoá tay và hoạt động thế nào được. Sao chính phủ chúng tôi lại có thể chấp nhận ký vào một bản Hiệp định thiệt thòi cho chúng tôi đến như vậy?".

        Còn Dư Quốc Đông thay Ngô Du làm Trưởng đoàn ngụy Sài Gòn có lần đã bộc lộ là: "Tôi không tán thành Hiệp định Pa-ri vì nó chỉ có lợi cho quý vị". Bị phía ta đập lại thẳng thừng, Đông hoảng hốt nói là: "Cá nhân tôi không tán thành, nhưng đã có Hiệp định rồi thì chúng tôi đâu có phá mà phải chấp hành".

        Dẫn giải những con số ra đây của Uỷ ban Điều tra tội ác chiến tranh của ta thì, từ ngày 28 tháng 1 năm 1973 đến 28 tháng 3 năm 1973, Mỹ - ngụy đã vi phạm trên 7 vạn lần, trong đó có 19.770 cuộc hành quân lấn chiếm, 3.373 vụ ném bom, bắn phá bàng máy bay, 21.075 vụ hành quân cảnh sát bình định.

        Sau 60 ngày thi hành Hiệp định Pa-ri, Đảng và Nhà nước ta nhận định, đánh giá và càng thấy rõ kẻ thù hết sức phản động và ngoan cố. Chúng vi phạm ngừng bắn một cách nghiêm trọng, lấn chiếm một số vùng giải phóng của ta, đàn áp nhân dân ta rất tàn bạo. Quân Mỹ đã rút khỏi miền Nam Việt Nam, nhưng lực lượng quân sự Mỹ vẫn còn có mặt trong khu vực Đông Bắc Thái Lan, đảo Gu-am, Phi-líp-pin và trên Hạm đội 7 gồm 56 tàu chiến, 1.020 máy bay và 15.200 quân Mỹ.

        Mỹ vẫn tiếp tục chi viện cho quân ngụy, xây dựng quân ngụy mạnh lên. Chúng ra sức thực hiện mục tiêu là loại Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra khỏi đời sống chính trị ở miền Nam, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ.

        Đảng ta nhận định rằng, cuộc đấu tranh đề thực hiện Hiệp định Pa-ri là tiếp tục cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta nhằm đánh bại cuộc "chiến tranh Việt Nam hoá", đánh đổ chính quyền tay sai, giải phóng miền Nam, đi đến thống nhất đất nước.

        Khả năng địch thực hiện Hiệp định Pa-ri là rất ít. Mỹ - ngụy ngoan cố phá hoại Hiệp định, xung đột quân sự sẽ tăng cường độ, chiến tranh sẽ diễn ra trên quy mô ngày càng lớn.

        Chúng ta luôn giương cao ngọn cờ hoà bình, chính nghĩa, đấu tranh buộc địch phải thi hành Hiệp định để thắng địch. Nhưng nếu địch ngoan cố tiếp tục chiến tranh thì ta phải tiến hành chiến tranh cách mạng giải phóng miền Nam, thống nhất Tố quốc.

        Đứng trước kẻ địch phá hoại ngừng bắn, ta phải chủ động tiến công tiêu diệt địch ở những vùng chúng lấn chiếm và giành quyền trừng trị chúng tại những nơi xuất phát.
Hiệp định Pa-ri là thắng lợi của ta. Kẻ thù phá hoại Hiệp định thì ta phải trừng trị chúng đế bảo vệ thắng lợi của Hiệp định.

        Trên chiến trường, quân ta đã chủ động phản công, tiến công đánh địch. Các cuộc lấn chiếm của địch bị chặn đứng, các cuộc hành quân bình định của địch bị thất bại. Chúng ta còn mở thêm được những địa bàn quan trọng. Toàn dân, toàn quân ta ở tiền tuyến, ở hậu phương đang rất khẩn trương tạo thế, tạo lực mạnh mẽ để chủ động đánh bại địch trong mọi tình huống.

        Tại cơ quan Liên hợp quân sự, hai Đoàn ta tổ chức nắm kịp thời những hành động phá hoại của địch trên ba vấn đề cấp bách là thực hiện ngừng bẳn, thả hết tù chính tri và thưc hiện tự do dân chủ. Đây là ba điểm mà kẻ thù đang phá hoại nghiêm trụng nhất và cùng là ba điểm yếu của địch mà chúng ta tập trung đấu tranh quyết liệt, vạch trần tội ác của chúng.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười, 2013, 12:29:03 am
        Do thua đau trên chiến trường, bị lên án quyết liệt ở bàn hội nghị và ở diễn đàn đấu tranh dư luận, kế địch lồng lộn, trả đũa vào hai Đoàn đại biểu quân sự ta ở Trại Đa-vít. Chúng không từ một thủ đoạn đê hèn, bẩn thỉu nào để phá hoại hai Đoàn ta.

        Chúng cắt các chuyến bay liên lạc, cấm nhà thầu mua báo cho ta, cắt liên lạc điện thoại của Đoàn ta, ngăn cản các cuộc họp báo của ta. Thậm chí, chúng còn đe dọa hai Đoàn ta, đục thêm lỗ châu mai từ phía đơn vị lính dù chĩa súng sang phía ta, tăng từ 13 lên 20 ụ súng ở xung quanh nơi ta ở, điều thêm đơn vị xe tăng đến gần Trại Đa-vít.

        Rồi chúng dùng mọi cách phá rối hội nghị. Lúc thì chúng đòi hạn chế thời gian phát biểu và cắt lời ta phát biểu, nhưng có lúc thì chúng lại phát biểu hàng giờ liền.

        Thật là trơ trẽn hết chỗ nói. Làm như vậy đề làm gì? Chúng chông đỡ hòng làm cho ta nhụt chí đấu tranh, làm cho ta không nói lên được những lời tố cáo, lên án chúng và cũng để dẫn dụ ta đi vào những cuộc tranh luận vô bổ làm lạc hướng mục tiêu đấu tranh của ta.

        Những hành động phá hoại đó. không mảy may làm ta suy giảm tinh thần và ý chí đấu tranh. Chúng ta vẫn chững chạc, đàng hoàng, ung dung giữ vững vị trí chiến đấu của mình.

        Các bộ phận làm việc của hai Đoàn ta trong thời gian này trở nên hết sức sôi động. Mọi người tăng cường độ làm việc, sử dụng tối đa công suất của mình, với trách nhiệm là những cán bộ, chiến sĩ đang công khai, trực tiếp đấu tranh với địch ở giữa sào huyệt của chúng.

        Ngày 10 tháng 5 năm 1974, được sự chỉ đạo của cấp trên, Đoàn ta tuyên bố đình chỉ họp Ban Liên hợp quân sự 2 bên cho đến khi phía địch chấm dứt phá hoại.

        Ngày 7 tháng 6 năm 1974, Trưởng đoàn ngụy gửi công hàm cho Trưởng đoàn ta hứa khôi phục chuyến bay liên lạc với Lộc Ninh, nối lại điện thoại của Đoàn ta, tạo điều kiện đế ta tổ chức các cuộc họp báo và đề nghị họp lại Ban Liên hợp quân sự. Ban Liên hợp quân sự tuy có họp lại vài ba lần nhưng họ vẫn láo xược và phá rối hội nghị.

        Ngày 22 tháng 6 năm 1974, Bộ Ngoại giao CHính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra tuyên bố đình chỉ vô thời hạn các cuộc họp của Ban Liên hợp quân sự 2 bên.

        Ngày 8 tháng 10 năm 1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra tuyên bố đòi Mỹ chấm dứt dính líu quân sự và can thiệp vào công việc nội bộ miền Nam Việt Nam, đòi lật đổ Nguyễn Văn Thiệu, lập ra ở Sài Gòn một chính quyền tán thành hoà bình, hoà hợp dân tộc, thi hành Hiệp định Pa-ri.

        Chính phủ Cách mạng lâm thòi Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên bố chính thức đình chỉ mọi cuộc họp của Ban Liên hợp quân sự 2 bên và Tố Liên hợp quân sự 4 bên, rút khỏi diễn đàn La Celle Saint Cloud ỏ Pa-ri. Ngày 11 tháng 10 năm 1974, Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa cũng ra tuyên bố với những nội dung tương tự.

        Tuy không còn họp chung của Ban Liên hợp quân sự nữa, nhưng hai Đoàn ta vẫn ở lại Tân Sơn Nhất, vẫn tiếp tục lên án mọi hành động phá hoại Hiệp định Pa-ri của kẻ thù. Điều đó cũng để chứng minh rằng chúng ta vẫn để cao thiện chí thi hành Hiệp định Pa-ri về Việt Nam.

        Dù kẻ thù thực sự muốn đuổi chúng ta ra khỏi Trại Đa-vít, nhưng chúng không dám làm và đến lúc này cũng không thể làm được... Chúng càng đe dọa, o ép, không chế mạnh hơn, cản trở công việc của hai Đoàn ta. Nhưng làm sao mà chúng có thể khống chế, ngăn cản hai Đoàn ta được.

        Gắn bó với chiến trường, kết hợp rất chặt chẽ với cuộc chiến đấu mạnh mẽ trên chiến trường, hai Đoàn ta xác định đây là thời điểm phải đấu tranh quyết liệt hơn lúc nào hết.

        Chúng ta đã sử dụng tất cả các diễn đàn, nâng cao hiệu lực của các diễn đàn báo chí và Uỷ ban Quốc tế để đấu tranh.

        Chúng ta đã giữ liên lạc chặt chẽ với 77 hãng thông tấn, báo chí có mặt ở Sài Gòn. Tình hình đấu tranh thi hành Hiệp định Pa-ri rất sôi động, phóng viên của họ thường xuyên liên hệ chặt chẽ với ta để nhận và đưa tin.

        Chúng ta giữ vững liên lạc với Uỷ ban Quốc tế, đặc biệt làm việc thường xuyên với các đồng chí Ba Lan và Hung-ga-ri, tiếp tục đưa hàng loạt công hàm tố cáo địch và yêu cầu điều tra khẩn cấp những hành vi vi phạm Hiệp định của đối phương.

        Chính phủ ta đã tuyên bố đòi Mỹ chấm dứt dính líu quân sự và can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam. Hai Đoàn ta lúc này tập trung tố cáo chính Mỹ là kẻ chủ mưu phá hoại Hiệp định Pa-ri, có những bằng cứ để chứng minh Mỹ vẫn liên tục dính líu quân sự vào miền Nam Việt Nam. Trên một vạn cố vấn quân sự Mỹ vẫn hàng ngày, hàng giờ chỉ huy quân đội ngụy Sài Gòn đánh phá, lấn chiếm và tàn sát nhân dân ta.

        Ta vạch rõ "Việt Nam hoá chiến tranh" là chiến lược của Mỹ, do Mỹ dựng lên và nuôi dưỡng. Mục đích của "Việt Nam hoá chiến tranh" không khác gì mục đích của chiến lược "chiến tranh đặc biệt", chiến lược "chiến tranh cục bộ" mà nó chỉ thay đổi ở chỗ "dùng xương máu của người Việt Nam thay cho xương máu của người Mỹ" mà thôi.

        Chúng ta càng đưa nhiều tin tức về các hành vi phá hoại Hiệp định Pa-ri của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và cũng để chứng minh rằng chỉ có đánh đổ Thiệu, lập ra một chính quyền tán thành hoà bình, thi hành Hiệp định Pa-ri thì Hiệp định mới có thể được thực hiện.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Mười, 2013, 01:16:35 am

*

*        *

        Kết thúc chiến tranh, ngồi suy ngẫm lại thấy rằng một lực lượng cách mạng nằm giữa sào huyệt địch trong hoàn cảnh kẻ thù tập trung phá hoại ngừng bắn, tiếp tục chiến tranh mà lực lượng cách mạng của ta vẫn phát huy mạnh mẽ chính nghĩa, vẫn giương cao ngọn cờ hoà bình, vẫn đấu tranh không khoan nhượng để vạch rõ hành động phá hoại Hiệp định Pa-ri của kẻ thù là một thắng lợi quan trọng. Trong khi thực hiện nhiệm vụ của mình, lực lượng ấy lại gắn kết chặt chẽ với chiến trường, nắm vững chủ trương của Đảng và Nhà nước trong từng bước đi của cách mạng để phát huy hiệu lực của một lực lượng mũi nhọn đấu tranh trực diện, công khai, hợp pháp tại trung tâm đầu não của đối phương, góp phần vào thắng lợi chung của đấu tranh cách mạng trong giai đoạn kết thúc cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước.

        4. Từ thắng lợi trên mặt trận đấu tranh ngoại giao quân sự, suy ngẫm về đội ngũ nhân chứng lịch sử - một đội ngủ kiên cường, bất khuất, mưu trí, sáng tạo thực hiện một cách xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao cho, với trách nhiệm là mũi nhọn trực tiếp, công khai, hợp pháp đấu tranh thi hành những điều khoản về quân sự của Hiệp định Pa-ri.

        Chúng tôi nhận thức sâu sắc rằng, những thắng lợi trên mặt trận ngoại giao quân sự, trước hết là công lao thuộc về nhân dân Việt Nam anh hùng ở cả hai miền Nam - Bắc, thuộc về Quân đội nhân dân Việt Nam bách chiến bách thắng của chúng ta, và đặc biệt là thuộc về Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh. Chúng tôi rất biết ơn đôi với Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đã lãnh đạo chỉ đạo đường lối chiến lược, sách lược trong nghệ thuật "đánh và đàm" của cuộc kháng chiến chống Mỹ. cứu nước, chỉ đạo đấu tranh thi hành Hiệp định Pa-ri nói chung và chỉ đạo cụ thê cuộc đấu tranh của hai Đoản đại biếu quân sự trong đấu tranh thi hành những điều khoản quân sự của Hiệp định.

        Bản thân đội ngũ của chúng tôi được Đảng lựa chọn, giáo dục và giao nhiệm vụ đi vào mặt trận đấu tranh ngoại giao quân sự, chúng tôi đã một lòng một dạ trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, đã nỗ lực vượt bậc để hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng đã giao phó.

        Các cơ quan lãnh đạo và các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước đã có những đánh giá khẳng định về đội ngũ tướng lĩnh, cán bộ, chiến sĩ, nhân viên tham gia vào mặt trận đấu tranh này.

        •Đồng chí Trương Tấn Sang, uỷ viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đã "nhiệt liệt chúc mừng và biểu dương tinh thần đấu tranh kiên quyết, tỉnh táo, khôn khéo, sáng tạo cùng với những thành tích xuất sắc, thể hiện bản lĩnh và trí tuệ con người Việt Nam của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam" (Trích bài phát biểu tại Lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân của hai Đoàn đại biểu quân sự ta ngày 20 tháng 4 năm 2012).

        • Quân ủy Trung ương - Bộ Quốc phòng đánh giá đối với Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam như sau: "Đây là một đơn vị đặc biệt, làm một nhiệm vụ đặc biệt, trên mặt trận ngoại giao quân sự cúa ta đấu tranh thi hành Hiệp định Pa-ri ở giừa vùng địch kiểm soát.

        Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Quân ủy Miền (B2), hai Đoàn đại biểu quân sự của ta đã quán triệt sâu sắc đường lối, quan điểm đấu tranh ngoại giao quân sự của Đảng, mệnh lệnh, nhiệm vụ được giao. Trải qua 823 ngày đêm làm nhiệm vụ giữa sào huyệt của địch, với bản lĩnh, lòng quả cảm, sự nỗ lực vượt bậc, không ngại hy sinh, gian khổ, dũng cảm, mưu trí, khôn khéo, nhạy bén, mềm dẻo, chủ động tiến công địch, hai Đoàn đại biểu quân sự ta đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần quan trọng buộc quân đội Mỹ và quân đội các nước chư hầu của Mỹ phải chấp hành Hiệp định Pa-ri rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam trong thời hạn 60 ngày; đồng thời tổ chức chặt chẽ việc trao trả tù binh Mỹ - ngụy và đấu tranh buộc Mỹ - ngụy phải trao trả cán bộ, chiến sĩ, tù chính trị của ta; tố cáo lên án, vạch trần Mỹ - ngụy phá hoại Hiệp định Pa-ri, tiếp tục thực hiện chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh
". (Trích Tờ trình số 1597/TTr-BQP báo cáo Thủ tướng Chính phủ về việc Phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, ngày 30 tháng 6 năm 2011).


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười, 2013, 05:31:34 am
        •Đồng chí Nguyễn Dy Niên, uỷ viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao đánh giá: "Trong suốt thời gian làm nhiệm vụ đấu tranh ngoại giao quân sự giữa sào huyệt địch, với lòng quả cảm, các đồng chí đã giương cao ngọn cờ quang vinh của Tổ quốc Việt Nam, ngọn cờ bách chiến bách thắng của lực lượng vũ trang cách mạng, phát huy cao độ tinh thần yêu nước, dũng cảm mưu trí, chủ động tấn công địch, đồng thời thể hiện sự khôn khéo, nhạv bén, mềm dẻo theo phương châm "dĩ bất biến, ứng vạn biến" của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh"... "Các đồng chí là tấm gương sáng về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, lòng quả cảm và tính kiên định trong đấu tranh cách mạng và là sự kết hợp rất đẹp giữa Nhân - Trí - Dũng". (Trích phát biểu của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Dy Niên tại Lễ trao tặng Kỷ niệm chương về thành tích đóng góp vào việc thi hành Hiệp định Pa-ri về Việt Nam, ngày 16 tháng 12 năm 2005).

        Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam đánh giá: "Trải qua 823 ngày đêm thực hiện nhiệm vụ đấu tranh ngoại giao quân sự giữa sào huyệt của địch, với lòng trung thành vô hạn với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, bằng bản lĩnh kiên cường, lòng quả cảm, mưu trí, sáng tạo, khôn khéo, không ngại gian khổ, sẵn sàng hy sinh..., Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước...".

        "Danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân mà Đảng, Nhà nước phong tặng cho Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là phần thưởng cao quý, ghi nhận
những thành tích, những đóng góp đặc biệt xuất sác của các đồng chí cán bộ, chiến sĩ, nhân viên hai Đoàn trong đấu tranh ngoại giao quản sự kiên cường, bất khuất, mưu trí, sáng tạo ngay giữa sào huyệt của kẻ thù
". (Trích diễn văn của Tổng cục Chính trị tại Lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân của hai Đoàn đại biêu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ngày 20 tháng 4 năm 2012).

        Những nhận xét, đánh giá của các cơ quan và các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta đối với đội ngũ những người tham gia làm nhiệm vụ đấu tranh ngoại giao quân sự thật là đầy đủ, chặt chẽ, sâu sắc.

        Suy nghĩ của chúng tôi là, trong cuộc đời chiến đấu của mỗi chiến sĩ cách mạng, cùng nhau đấu tranh trong môi trường gay go ác liệt và gian nguy bao nhiêu mà cùng nhau vượt qua một cách thắng lợi, thì chính nó để lại cho mỗi người và cho cả tập thể đó những kỷ niệm không thể nào quên.

        Cuộc đấu tranh 823 ngày đêm của chúng tôi ở trong hoàn cảnh và điều kiện như thế đó.

        Đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân được Đảng, Nhà nước phong tặng, thì rất tự nhiên, những nhân chứng lịch sử đến dự hôm đó đều rất xúc động và ai cũng nhớ và biết ơn 9 đồng chí đã hy sinh và 25 đồng chí đã bị thương trong khi làm nhiệm vụ đấu tranh ngoại giao quân sự.

        Và, ngay sau đó, chúng tôi nhớ đến nhiều đồng chí (có khoảng 250 đồng chí) đã mất sớm do tuổi tác và bệnh tật.

        Chúng tôi, rất nhiều đồng chí trong chúng tôi, nói đến các anh lãnh đạo của hai Đoàn A và Đoàn B. Các anh là những chiến sĩ cách mạng dày dạn trong đấu tranh, rất vững vàng, tỉnh táo và mưu lược dẫn dắt chúng tôi đấu tranh thắng lợi với kẻ thù.

        Những đồng chí thời đó còn là sĩ quan, hạ sĩ quan trẻ nay cũng đã ở tuổi từ 60 đến 70, rất nhớ cái thuở ban đầu đi làm nhiệm vụ đấu tranh ngoại giao quân sự ấy. Tuy mỗi người một việc như phiên dịch, thông tin cơ yếu, vệ sĩ cảnh vệ, văn thư hành chính hoặc hậu cần nuôi quân, v.v... Nhưng với bầu nhiệt huyết mãnh liệt của tuổi trẻ, sinh ra và lớn lên trong cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, được sự giáo dục trong hoàn cảnh hết sức sôi động cả nước ra trận, "ra ngõ gặp anh hùng", lại được sự dẫn dắt và làm gương của các bậc cha anh nên các đồng chí đã nhanh chóng trưởng thành và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Đức Cường trong 15 Tháng Mười, 2013, 09:56:10 pm
Rất cảm ơn bác đã chiếu cố gé thăm nhà "đời quân ngũ".Bức ảnh thứ 4[từ trên xuống]người ngoài cùng mặc áo trắng đứng bên trái là phancong[re:một thời áo xanh quân tình nguyện]người mặc quân phục xanh tiếp theo là duccuong[re:đời quân ngũ"].Chúng tôi cùng quê huyện nghi lộc NA,cùng nhập ngũ 11/1977 vào F320A QĐ3.
  Đọc trại đa vít SG của bác mới hiểu cuộc đấu trí của 2đoàn QS đại diện cho CP cách mạng lâm thời và CP nước VNDCCH với Qđ mỹ và chính quyền SG.Nhờ có sự chỉ đạo tài tình sát sao,hiệp đồng chặt chẽ của lãnh đạo nhà nước ta mới có được thắng lợi,hiệp định pa ri được ký kết.Xin cảm ơn.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười, 2013, 12:06:22 am
        Có một phóng viên của báo Đại Đoàn kết đến gặp tôi để tìm hiểu về Hiệp định Pa-ri và cuộc đấu tranh thực hiện Hiệp định Pa-ri. Đến khi tôi nói về cuộc đấu tranh ở Trại Đa-vít - Tân Sơn Nhất thì đồng chí đặt ra cho tôi một câu hỏi mà chính đồng chí chưa có điều kiện để lý giải một cách sâu sắc.

        Đó là tại sao hai Đoàn đại biểu quân sự ta gặp bao khó khăn, ác liệt và gian nguy như vậy mà các chiến sĩ cách mạng ở đây vẫn chững chạc, đàng hoàng đấu tranh thắng lợi và vẫn rất lạc quan cách mạng?

        Tôi trả lời: Sự thật là như vậy đấy, đồng chí phóng viên ạ. Kẻ địch không từ một thủ đoạn nào phá hoại Hiệp định Pa-ri và tập trung phá hai Đoàn ta. Chúng âm mưu làm cho mọi hoạt động Liên hợp quân sự của chúng ta bị tê liệt. Nhưng tất cả chúng tôi, từ vị chỉ huy cao nhất đến các chiến sĩ, đều rất vững vàng và kiên cường đấu tranh. Cũng không thấy bất kỳ biểu hiện nào của sự dao động, sợ hy sinh gian khố hay bất kỳ hiện tượng thoái chí nào.

        Sự tỉnh táo, tinh tường, nhạy bén trong cán bộ, chiến sĩ ở Trại Đa-vít là rất cao. Kẻ thù giở ra những thủ đoạn đen tối nào mà đụng vào cán bộ, chiến sĩ ta là đều bị phản công ngay, phản công một cách sắc sảo. Những tên cỡ có hạng của bọn tình báo, tâm lý chiến của địch cũng phải ngán ngẩm lắc đầu. Tuyệt đối không có hiện tượng mất cảnh giác chính trị nào mà luôn trong tư thế tấn công đánh bại những thủ đoạn tâm lý chiến, lợi dụng tình cảm móc nối, lôi kéo hay dụ dỗ mua chuộc.

        Tôi và đồng chí phóng viên hãy tìm lòi giải xem tại sao trong hoàn cảnh đặc biệt ác liệt và gian nguy như vậy mà các cán bộ, chiến sĩ ta vẫn đấu tranh kiên cường, dũng cảm, vẫn lạc quan cách mạng.

        Giải đáp cho vấn đề đồng chí phóng viên đặt ra chỉ có thể tìm sâu trong lịch sử văn hoá của dân tộc Việt Nam ta. Đó là lòng yêu nước.

        Lòng yêu nước là nét đẹp văn hoá cao nhất, có chiều dài lịch sử từ ngày dựng nước và được hun đúc trong quá trình giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam ta. Nét đẹp văn hoá đó mang đầy đủ bản sắc dân tộc, lại được Đảng và Bác Hồ của chúng ta phát triển, đưa nó lên tầm cao mới là chủ nghĩa yêu nước.

        Bác đã dạy:

        "Có lòng yêu nước thì việc gì cũng làm được hết".

        "Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ".

        "Không có gì quý hơn độc lập, tự do".

        "Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi".

        Thật là chí lý. Thật là sâu sắc.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Mười, 2013, 03:17:44 am
        Vì yêu nước, chúng ta không sợ một tên đế quốc nào cả, dù đó là đế quốc Mỹ. Đa số chúng tôi đã kinh qua chiến đấu trực tiếp với kẻ thù trên chiến trường Nam - Bắc và cả một số ở chiến trường ngoại giao nữa. Với tinh thần bất khuất của cả dân tộc, lớp đảng viên, đoàn viên, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ, với tinh thần "Đồng khởi trong tim" và "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước" cũng được tôi luyện trong đấu tranh và trưởng thành vững chắc.

        Đã không sợ, lại còn dám đánh, quyết đánh, biết đánh và quyết thắng. Thực tế ta đã thắng lớn, Mỹ phải rút quân, nên chúng tôi quyết liệt đấu tranh buộc kẻ thù phải thi hành những điều khoản mà chúng đã ký kết.

        Tinh thần ấy đã thấm vào từng đường gân, thớ thịt của chúng tôi rồi. Nó đã trở thành lẽ sống của chúng tôi rồi.

        Lẽ sống đó đã biến thành động cơ cực mạnh trong mỗi con người chúng tôi, không gì có thể lay chuyển nối.

        Chiến tranh là thử thách cao nhất đổi với mỗi con người. Và đây cũng là chiến tranh, một mặt trận của chiên tranh, sôi sục nhất, nóng bỏng nhất của chiến tranh đang diễn ra tại sào huyệt của kẻ thù và cũng là một thử thách hết sức nghiêm khắc.

        Chúng tôi đã vượt qua tất cả và giành thắng lợi cao nhất trong nhiệm vụ đấu tranh ngoại giao quân sự.

        Đến những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh, những giờ phút quyết định nhất của cuộc chiến, tất cả những chiến sĩ cách mạng ở Trại Đa-vít đã trở thành dũng sĩ. Chủ nghĩa anh hùng cách mạng càng được phát triển mạnh mẽ. Cả đơn vị xin được trụ lại ở Trại Đa-vít, xây dựng Trại Đa-vít trở thành một trận địa chiến đấu vững chắc ngay trong lòng địch để chiến đấu bằng ý chí, bằng sự sáng tạo với quân thù. Sức mạnh của ý chí kiên cường, đã làm mọi công việc chuẩn bị cho cuộc chiến đấu môt cách chu đáo nhất. Máy bay địch dồn về Tân Sơn Nhất sát nơi trụ sở của hai Đoàn ta rất dày đặc. Chúng tôi đã đề nghị cấp trên cứ bắn mãnh liệt vào chỗ máy bay đó. Tuy ở rất gần chúng tôi, nhưng pháo binh ta không sợ vì chúng tôi đã có hầm hào bảo đảm, không bắn sẽ lỡ thời cơ. Nếu có hy sinh, chúng tôi cũng lấy làm vinh dự để chiến dịch toàn thắng, cách mạng toàn thắng.

        Và khi pháo ta bắn vào sân bay Tân Sơn Nhất, có một số quả đạn tản mát sang khu vực hai Đoàn ta làm cho 2 đồng chí hy sinh, 5 đồng chí bị thương. Rất bình tĩnh và tỉnh táo, hai Đoàn ta không báo cáo với cấp trên về sự tản mát của đạn pháo gây thương vong để các chiến sĩ pháo binh ta không ảnh hưởng về tâm lý.

        Có những dấu hiệu quân địch ở xung quanh Trại Đa-vít tan rã và tháo chạy. Đúng 9 giờ 30 phút sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, một lá cờ cách mạng được treo lên nơi cao nhất tại Trại Đa-vít, bất chấp sự nguy hiểm khi kẻ thù vẫn ngoan cố chống lại, có thể bắn chết người treo cờ. Lá cờ tại đây lúc này có tác dụng làm quân ta biết hướng mà tiến công và làm cho quân địch càng tan rã buông súng đầu hàng.

        Đây là những hình ảnh rất đẹp, rất anh hùng của những giờ phút kết thúc chiến tranh và cũng là những giờ phút kết thúc nhiệm vụ đấu tranh ngoại giao quân sự của hai Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười, 2013, 02:46:27 am

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/24Cacnhanchungchupanhluuniemvoilanhdao_zps9c9c2d09.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/26Banlienlacphianam_zps52f898e0.jpg)

Một số các đồng chí trong Ban liên lạc CCB Ban liên hợp quân sự trại Đa-vít ở khu vực phía bắc (ảnh trên) và khu vực phía nam (ảnh dưới)

TRẠI ĐA-VÍT: TRẬN ĐỊA CÁCH MẠNG KIÊN CƯỜNG GIỮA SÀO HUYỆT ĐỊCH
     
BAN LIÊN LẠC CỰU CHIẾN BINH            
BAN LIÊN HỢP QUÂN SỰ - TRẠI ĐA-VÍT        

        Trại Đa-vít là trụ sở của hai Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa (Đoàn A) và của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (Đoàn B) trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên và 2 bên Trung ương thời kỳ đấu tranh thi hành Hiệp định Pa-ri về Việt Nam. từ ngày 28 tháng 1 năm 1973 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975.

        Bài viết này xin trình bày rõ tại sao kẻ thù bố trí cho hai Đoàn ta ở Trại Đa-vít và kẻ địch sử dụng những thủ đoạn gì để đánh phá hai Đoàn ta. Chúng ta đã sống, hoạt động và đấu tranh như thế nào đế làm cho Trại Đa-vít trở thành một trận địa cách mạng kiên cường, một biểu tượng sáng ngời của tư tưởng cách mạng tiến công và của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.

        I. TRẠI ĐA-VÍT - TRỤ SỞ CỦA HAI ĐOÀN ĐẠI BlỂU QUÂN SỰ CÁCH MẠNG NẰM SÂU TRONG CĂN CỨ QUÂN SỰ TÂN SƠN NHẤT

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/D19.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/D20.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/T4.jpg)
Trại Đa-vít trước khi quân ta vào



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười, 2013, 09:16:10 pm
        1.   Trại Đa-vít vổn là một trại lính, xây dựng theo kiểu dã chiến cho đơn vị quân đội Mỹ đồn trú trong chiến tranh. Trại mang tên Đa-vít - Hạ sĩ quan quân báo Mỹ Giêm Tô-mát Đa-vít (James Thomas Davis), người đã cùng quân ngụy đi càn quét và bị lực lượng vũ trang cách mạng bắn chết ở Đức Hoà, Hậu Nghĩa.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/T2.jpg)
Giêm Tô-mát Đa-vít (James Thomas Davis) lúc chưa bị đền tội
     

        Các nhà trong trại làm bằng gõ thông, được cưa xẻ từ Mỹ theo quy cách thống nhất. Kiểu nhà sàn, mái lợp phi-brô-xi-măng, nội thất toàn là đồ bằng sắt.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/10cda822-9674-4d58-832e-6be94991e4e2_zps158bf6da.jpg)

        Khi hai Đoàn ta vào thì đây lả một trại lính rất bẩn, ô uế. còn đầy mùi của bọn lính Mỹ thất trận chán ghét chiến tranh. Đây đó trong xó nhà, gầm tủ, thùng rác là những bông băng đầy máu, mủ. Những ống tiêm hê-rô--in đã bóp hết thuốc vào mạch máu, những tập ảnh tục tĩu vứt bừa bãi. Một chỗ khác có những hàng chữ nguệch ngoạc "Đây là địa ngục, thằng Đích đã chết ở đây. Lạy chúa! Tôi sẽ lên thiên đàng vì tôi đã ở địa ngục này".

        2.   Trại lính này nằm sâu trong căn cứ quân sự Tân Sơn Nhất, bao quanh là lớp lớp dây kẽm gai dày đặc. Vọng gác nhiều tầng nhiều lớp của quân Sài Gòn. Sân, đường trong khu trại đều bằng xi măng, cả khu trại hầu như không một bóng cây nào.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/6f.jpg)

        Ở và làm việc tại đây rất nóng bức. Trại lại ở sát đường băng, máy bay lên, xuống liên tục gầm rít rất ồn ào suốt ngày đêm.

        Thật là một môi trường sống rất căng thẳng, ngột ngạt, khó chịu. Ta vào mấy ngày thì các hàng rào xung quanh được ken dày đặc hơn và xung quanh hàng rào là hệ thống hầm mới được đào rộng và sâu 2 đến 3m. Mười ba ụ súng được đắp lên ngay sát hàng rào với 13 khẩu đại liên được gắn trên giá, thường trực chĩa nòng súng vào khu vực trụ sở của hai Đoàn ta 24/24 giờ.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/6gThapcanhbenngoaitraiDa-vit2.jpg)

        Trước cửa chính, bên kia con đường nhựa chạy dọc Trại Đa-vít là doanh trại huấn luyện quân dù. Hàng chục lỗ châu mai mới được đục, có lính gác với nòng súng chĩa sang khu vực hai Đoàn ta.
      


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười, 2013, 12:44:46 am
        3.   Bố trí hai Đoàn đại biểu quân sự Trung ương của ta vào đây, ý đồ xấu xa của Mỹ - ngụy là để cản trở các hoạt động Liên hợp quân sự của ta. Chủ trương của chúng là giam lỏng ta, cô lập ta, ngăn cản tất cả mọi cuộc tiếp xúc của ta, nhất là tiếp xúc với dân. Các sinh hoạt ăn, ở, làm việc đều ở trong khuôn viên của trại. Không ra ngoài tiếp xúc với dân, không ra ngoài mua bán, không ra đưòng phố, chúng sợ "các vị ra ngoài sẽ không bảo đảm an toàn". Lương thực, thực phẩm, các nhu yếu phẩm khác đều phải mua qua nhà thầu mà nhân viên nhà thầu là nhân viên an ninh, tình báo ngụy Sài Gòn. Đi họp Liên hợp quân sự 4 bên và 2 bên, đi làm việc hoặc đi gặp gỡ xã giao với Uỷ ban Quổc tế, các sĩ quan liên lạc ta đi đưa công hàm, v.v... luôn luôn có xe quân cảnh đi dẫn đưòng, xe tuần cảnh đi khoá đuôi để ngăn chặn mọi sự tiếp xúc với dân, với các nhà báo... Thậm chí đến những người làm công ở sân bay, người trong khu gia binh gần đó đi qua mà nhìn vào khu trại ta là chúng theo dõi, đứng lại nhìn anh em ta là chúng chửi bậy và đuổi đi ngay.

        Suốt thòi gian 2 năm 3 tháng 3 ngày, hai Đoàn đại biểu quân sự ta ở trong một cái trụ sở như thế đó.

        Không thể coi đây là một trụ sở ngoại giao mà Hiệp định Pa-ri đã xác định là các Ban Liên hợp quân sự và nhân viên Ban Liên hợp quân sự trong khi thi hành nhiệm vụ được hưởng quyền ưu đãi và miễn trừ tương đương với quyền dành cho các phái đoàn ngoại giao và nhân viên ngoại giao.

        II.   MỸ - NGỤY RẮP TẨM PHÁ HOẠI HIỆP ĐỊNH PA-RI VÀ CÓ HẲN MỘT KẾ HOẠCH TẬP TRUNG ĐÁNH PHÁ HAI ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUÂN SỰ CỦA TA

        Phá bỏ Hiệp định Pa-ri là chủ trương nhất quán ngay từ đầu, là ý đồ sâu xa của Mỹ - ngụy.

        Phá bỏ Hiệp định Pa-ri thì một trong những điều quan trọng nhất là làm cho Cơ quan Liên hợp quân sự bị tê liệt mà tập trung là phá mọi hoạt động Liên hợp quân sự của hai Đoàn "Bắc Việt" và "Việt cộng".

        823 ngày đêm đấu tranh với kẻ thù để thi hành Hiệp định Pa-ri, ta đã thấy rất rõ, rất cụ thể những âm mưu, thủ đoạn đánh phá hai Đoàn ta của chúng.

        Sau giải phóng, khai thác những tên tình báo, gián điệp của địch mà ta bắt được càng chứng minh đầy đủ toàn bộ kế hoạch phá hoại của chúng. Xin khái quát những nét lớn về sự phá hoại của kẻ thù đối với hai Đoàn đại biểu quân sự của ta.

        1.   Kẻ địch sử dụng cái gọi là "sức mạnh" để đe dọa, uy hiếp hòng làm giảm sút ý chí đấu tranh của hai Đoàn ta

        -   Ngay từ ngày đầu tiên Đoàn A và các bộ phận tiền trạm vào Sài Gòn, chúng giở chiêu bài làm giấy "xin nhập cảnh" mới được vào thành phố Sài Gòn. Ngụy quyền muốn thê hiện chủ quyền của Việt Nam cộng hoà. Ta không chấp nhận, ta phản đối vì Hiệp định Pa-ri thừa nhận Việt Nam là một nước, vì cái gọi là "Việt Nam cộng hoà" chỉ là bọn tay sai Mỹ, làm gì có chủ quyền quốc gia. Cuối cùng ngụy quyền Sài Gòn phải bỏ thủ tục nhập cảnh và phải đưa Đoàn ta vào Trại Đa-vít.

        -   Cũng là ngày đầu tiên ngừng bắn có hiệu lực, ngày 28 tháng 1 năm 1973, Mỹ - ngụy hẹn đón Đoàn B do Trung tướng Trần Văn Trà làm Trưởng đoàn vào Sài Gòn. Đúng ngày, đúng giờ hẹn và đúng địa điểm hẹn đón là sân bay Thiện Ngôn (tỉnh Tây Ninh), kẻ thù cho máy bay đến ném bom hòng tiêu diệt Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

        Đây là sự phá hoại rất trắng trợn và đê hèn và cũng là thủ đoạn để uy hiếp ta. Ta cảnh giác nên không bị thiệt hại gì. Ta phản đối quyết liệt trước dư luận trong nước và trên thế giới.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười, 2013, 05:51:42 am
        -   Trại Đa-vít, 3 giờ sáng ngày 2 tháng 2 năm 1973, sau giờ đón giao thừa Tết Quý Sửu, kẻ địch dùng 4 trực thăng quần đảo gầm rít trên đầu, chiếu đèn pha vào trụ sở ta. Sáu xe bọc thép đến chặn trước cổng, nhiều xe tải chở đầv quân lính cầm súng, lưỡi lê tuốt trần hùng hổ nhảy xuống bao vây trụ sở ta.

        Anh em ta vẫn rất bình tĩnh. Sĩ quan liên lạc ta ra xem có cái gì mà chúng làm náo loạn vậy.

        Thì ra đó là lá cờ đỏ sao vàng do một đồng chí thông tin của ta treo trước cửa nhà để mừng Đảng, mừng Xuân, mừng thắng lợi của Hiệp định Pa-ri. Chúng rất sợ có lá cờ như vậy. Nhưng có thể gặp sĩ quan liên lạc hai bên trao đổi thì cũng giải quyết được. Vì các bên đang thảo luận chưa xong về vấn đề dùng cờ và giấy chứng minh đi lại. Nhưng chúng ra oai "sức mạnh" và giở thói côn đồ để làm to chuyện và để uy hiếp ta.

        Ta phản đối quyết liệt. Trưởng đoàn ta nêu rõ các ngài quen dùng vũ lực để đe dọa người yếu bóng vía. Bom đạn Mỹ nhiều thật nhưng đã bất lực rồi. Chúng tôi vào đây là để nói chuyện hoà bình, các ngài đón khách kém văn hoá như vậy, nếu Quân giải phóng chúng tôi ở quanh đây sẽ nghĩ gì, làm gì khi họ biết rõ như vậy. Các Trưởng đoàn Mỹ và ngụy tỏ vẻ ngơ ngác không biết gì việc cấp dưới họ làm. Trưởng đoàn ta khẳng định, chúng tôi yêu cầu những hành động khoa trương sức mạnh súng đạn cần phải chấm dứt ngay lập tức.

        -   Các bộ phận của ta triển khai lực lượng Liên hợp quân sự ở các khu vực, các tổ địa phương cũng bị chúng phá hoại trắng trợn.

        14 giờ 20 phút ngày 9 tháng 2 năm 1973, kẻ địch sử dụng bọn côn đồ ném gạch đá uy hiếp các đồng chí ta triển khai ở Buôn Ma Thuột làm 1 Thiếu tá và 2 Đại uý ta bị thương. Kẻ địch tổ chức phục kích Tổ Liên hợp quân sự của Đoàn B vào triển khai ở Bảo Lộc (Lâm Đồng) làm 4 đồng chí ta hy sinh.

        Ngày 16 tháng 2 năm 1973, một vụ khiêu khích trước khách sạn Hương Giang khu vực Huế, côn đồ ném nước bẩn vào sĩ quan ta trước Uỷ ban Quốc tế. Đến ngày 25 tháng 2 năm 1973 lại xảy ra vụ hành hung tại trụ sở Đoàn ta ở khu vực I - Huế. Lần này gồm bọn côn đồ cùng bọn cảnh sát ngụy trá hình dùng xà beng đập phá cửa và ném đất đá vào nơi làm việc, làm cho 8 đồng chí ta bị thương. Hai Trưởng đoàn ta ở Trung ương đã tố cáo Mỹ - ngụy là phá hoại việc triển khai Tổ Liên hợp quân sự ở các khu vực và địa phương, và rút các Đoàn ta ở khu vực I - Huế, khu vực II - Đà Nẵng về Trại Đa-vít. Những sĩ quan liên lạc của ta đi với Uỷ ban Quốc tế để điều tra Mỹ - ngụy vi phạm ngừng bắn thì chúng tổ chức để phá đám, gây cản trở. Vụ Đức Phổ - Quảng Ngãi chúng đánh đồng chí Trần Hán Ngọ bị thương nặng, vụ ở Phật Đá - Sáu Âu chúng gây cản trở không đi điều tra được, vụ Cai Lậy chúng tổ chức bọn côn đồ đánh cả các đại diện của Uỷ ban Quốc tế và sĩ quan liên lạc ta...

        Trên đây chỉ nêu một số sự việc làm dẫn chứng. Nhìn chung, chúng sử dụng thủ đoạn đe dọa uy hiếp nhiều lần và ở nhiều nơi, tuy có gây cho ta những thương vong và cản trở các hoạt động của ta, nhưng không thể làm nhụt ý chí đấu tranh kiên cường của cán bộ, chiến sĩ ta.
       


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười, 2013, 05:07:03 pm
Lời bàn thêm về lá cờ trong ngày 2/2/1973: Thực ra ta còn có ý định dùng lá cờ đó cho ngày 3/2 nữa. Song lãnh đạo đoàn họp và cho là việc lớn quan trọng hơn (tạm cất) và phải hơn 2 năm sau 1 lá cờ (tương tự) mới được treo ở vị trí cao nhất của Đa-vít! Và lần này thì ...  ;D thế này:

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/D0.jpg)


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười, 2013, 04:05:53 am
        2.   Điểu tra tình báo, chiến tranh tâm lý được kẻ thù sử dụng khá rộng rãi bằng cả con người và kỹ thuật, cả trên diễn đàn hội nghị, trong tiếp xúc và cả ở tại nơi ăn ở, làm việc của hai Đoàn ta

        -   Những căn nhà mà họ chuẩn bị sẵn cho hai Trưởng đoàn của ta trông có vẻ khấm khá hơn các nhà khác. Nhưng các Trưởng đoàn ta không sử dụng. Bộ phận chống nghe trộm đã kiểm tra phát hiện và bóc gỡ một số máy ghi âm tinh xảo tại đây và một vài nơi khác.

        Có ưu thế về kỹ thuật thông tin, chúng phá sóng, gây nhiễu và đánh cắp bí mật qua hệ thống đó. Nhưng ta tỉnh táo ngăn chặn nên đã vô hiệu hoá được thủ đoạn này.

        -   Các loại sĩ quan ngụy bố trí ở các cấp Trưởng đoàn, Tiểu ban, các bộ phận thường liên hệ với ta kể cả những nhân viên phục vụ như lái xe, điện nước... đa số là tình báo, phản gián, tâm lý chiến hoặc được bọn tình báo Mỹ - ngụy giao nhiệm vụ cụ thể.
Dương Hiếu Nghĩa, một tên đại tá tâm lý chiến, là ủy viên phủ đặc ủy trung ương tình báo ngụy. Khi bị ta tiến công vạch mặt phá hoại thì Nghĩa bộc lộ: "Trong người tôi chỉ có dòng máu chống Cộng sản mà thôi".

        Trần Vĩnh Đắt, đại tá, trưởng tiểu ban trao trả của phía ngụy đã từng là giám đốc trại giam Phú Lợi và chính hắn đã tổ chức vụ đầu độc làm chết trên 1.000 người cách mạng bị giam giữ ở Phú Lợi. Trần Vĩnh Đắt cũng là một sĩ quan trong phủ đặc ủy trung ương tình báo ngụy.

        Phan Hoà Hiệp, một chuẩn tướng, phó đoàn ngụy, vốn là thanh niên vũ trang tay sai của Nhật, thanh niên phòng vệ đoàn, tham gia Đệ tam sư đoàn do bọn giả danh cách mạng đứng ra tố chức. Khi Pháp đánh trở lại thì lực lượng này đầu hàng giặc mà Phan Hoà Hiệp cũng nằm trong số đó.

        Các loại đại tá như Nguyễn Tử Đoá, Dương Đình Thụ, Phan Văn Tiến, các trung tá, thiếu tá như Trần Công Hầu, Đinh Công Chất, Phạm Huấn, Phan Nhật Nam... là những sĩ quan của CIA, cục an ninh quân đội ngụy, của bộ máy tâm lý chiến ngụy.

        Chúng là những tên có hận thù với cách mạng, rất ranh mãnh moi móc các tin tức bí mật và có nhiều thủ đoạn để khiêu khích, kích động và tác động tâm lý.

        -   Đáng chú ý là kẻ thù nắm hàng trăm tên đầu hàng phản bội từ hàng ngũ ta chạy sang. Chúng sử dụng số này làm nhiều việc để phá ta, trong đó có việc cung cấp những tin tức mà chúng biết về một số cán bộ, chiến sĩ trong phái đoàn ta. Chúng đặc biệt quan tâm tìm hiểu những thân nhân của các đồng chí ta mà những thân nhân đó đang sinh sống và làm việc trong vùng chúng tạm kiểm soát.

        Chúng ta đã phát hiện kẻ địch tìm hiểu được một số thân nhân của các đồng chí ta, chúng đã có kế hoạch tính toán cách sử dụng. Nhưng chúng ta đã tỉnh táo chặn tất cả các ngả đường. Đặc biệt có một trường hợp ta phát hiện ý định của địch hòng đánh sâu vào nội bộ ta. Chúng biết được Đoàn ta có một sĩ quan là anh ruột của thiếu tá ngụy Bùi Thiện Khiêm đang là sĩ quan ở binh chủng công binh nhưng được tình báo ngụy điều về phụ trách điện nước ở Trại Đa-vít.

        Ta phát hiện Khiêm có vài hiện tượng khác thường, lập tức triển khai một kế hoạch theo dõi chặt chẽ. Đúng như dự kiến, Khiêm gặp được người anh là sĩ quan ta. Và ta đã vô hiệu hoá thủ đoạn của địch sử dụng Khiêm. Đồng chí sĩ quan ta anh ruột của Khiêm chính là một mắt xích quan trọng chặn đứng tham vọng của địch, làm thất bại ý đồ đen tốì của chúng.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười, 2013, 02:22:44 am
        2.   Kế hoạch tình báo hỗn hợp của các cơ quan tình báo, phản gián Mỹ - ngụy đánh phá hai Đoàn đại biểu quân sự "Bắc Việt" và "Việt cộng"

        Sau giải phóng, khai thác những tên an ninh, tình báo ngụy mà ta bắt được và những tài liệu mà ta thu được, ta biết rằng tất cả các hoạt động phá hoại hai Đoàn đại biểu quân sự ta đều nằm trong một kế hoạch tình báo hỗn hợp của địch.

        Kê hoạch này của 5 cơ quan cùng chuẩn bị và thực hiện. Đó là: Phủ đặc ủy trung ương tình báo ngụy, tổng nha cảnh sát ngụy, phòng 2 bộ tổng tham mưu ngụy, cục an ninh quân đội ngụy và CIA Mỹ ở Sài Gòn.

        Theo khai báo của Trần Hữu Độ - đại tá, cục phó cục an ninh quân đội ngụy và Nguyễn Văn Học - đại tá trưởng phòng phản tình báo cục an ninh quân đội ngụy, thì kế hoạch này đã được chuẩn bị trước khi ký Hiệp định Pa-ri. Kế hoạch này tập trung vào việc phá hoàn toàn các hoạt động Liên hợp quân sự của hai phái đoàn "Bắc Việt" và "Việt cộng" ỏ Trung ương đóng tại Sài Gòn.

        Chúng rắp tâm phá hoại, cản trở và làm cho tê liệt các hoạt động của Ban Liên hợp quân sự. Đồng thời, chúng âm mưu đi sâu cài cắm cơ sở trong hai Đoàn ta. có thể cố gắng lôi kéo một vài người chạy sang hàng ngũ chúng hoặc chạy sang nước thứ ba.

        Trần Hữu Độ và Nguyễn Văn Học còn khai báo, trong kế hoạch đó có dự kiến hoạt động phá hoại mạnh khi tình hình chiến trường diễn biến bất lợi cho chúng.

        Kế hoạch phá hoại mạnh đó là tổ chức việc đầu độc gây tổn thất lớn về nhân mạng; đó là tổ chức bắt cóc những nhân vật quan trọng hoặc có thể bắt cả số đông làm con tin. Trong trường hợp đặc biệt, không loại trừ việc xoá sổ cả hai Đoàn ta ở Trại Đa-vít và làm cho Trại Đa-vít trở thành bình địa.

        Kế hoạch này rất trùng hợp với mệnh lệnh ngày 28 tháng 4 năm 1973 của Cao Văn Viên, đại tướng, tổng tham mưu trưởng quân đội ngụy, mà ta thu được tại văn phòng tổng tham mưu ngụy sau giải phóng.

        Đó là: 1. Bắn pháo và cối vào Trại Đa-vít; 2. Cho xe tăng và bộ binh tràn ngập; 3. Ném bom; 4. Rải chất độc hoá học với điều kiện gió không thổi về phía thành phố. Trong mệnh lệnh của Cao Văn Viên ghi rõ là khi phát hiện có tiếng súng từ Trại Đa-vít bắn sang là thực hiện ngay mệnh lệnh này mà không cần phải xin chỉ thị của bộ tống tham mưu.

        Thực chất của mệnh lệnh này là bộ tổng tham mưu ngụy cho phép các đơn vị ngụy quân có quyền tự ý hủy diệt Trại Đa-vít.

       II.   TRẠI ĐA-VÍT - MỘT BlỂU TƯỢNG SÁNG NGỜI CỦA TƯ TƯỞNG TIẾN CÔNG CÁCH MẠNG, CỦA CHỦ NGHĨA ANH HÙNG CÁCH MẠNG

        1.   Bố trí hai Đoàn đại biểu quân sự ta vào Trại Đa-vít, kẻ thù âm mưu làm tê liệt các hoạt động Liên hợp quân sự của ta và khống chế, cô lập ta. Nhưng tất cả mưu đồ đó của chúng đã bị thất bại


        Hai Đoàn đại biểu ta hiên ngang biến Trại Đa-vít thành trung tâm đấu tranh ngoại giao quân sự giữa sào huyệt địch. Chúng ta triển khai mọi hoạt động Liên hợp quân sự một cách đàng hoàng, chững chạc với tư thế của người chiến thắng.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/70TiepdoannghisiMy_zps4a85e083.jpg)
Tiếp đoàn nghị sĩ Mỹ tháng 2/1975

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/69Tiephoinhabaonuocngoai_zps83a1092e.jpg)
Tiếp Đoàn đại biểu hội nhà báo nước ngoài 1973

        -   Hai mươi nhăm cuộc họp cấp Trưởng đoàn thời kỳ Liên hợp quân sự 4 bên, một trăm cuộc họp cấp Trưởng đoàn thời kỳ 2 bên và những cuộc họp của các Tiểu ban quân sự, Tiểu ban trao trả, Tiểu ban thủ tục, Tiểu ban triển khai, Tiểu ban thay thế vũ khí, Tổ Liên hợp quân sự 4 bên... đã được tiến hành.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Cuochop4bendautien_zpsdb9304c9.jpg)
Cuộc họp cấp trưởng đoàn 4 bên đầu tiên

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Buoihopdautienc1EE7aBLHQS2ben_zpsc41177e4.jpg)
Cuộc họp cấp trưởng đoàn 2 bên đầu tiên


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Mười, 2013, 03:29:09 am
        Trong tất cả các cuộc họp đó, hai Đoàn ta đã quán triệt đường lối của Đảng ta, nắm vững pháp lý của Hiệp định Pa-ri đấu tranh một cách quyết liệt, đấu tranh liên tục, đấu tranh không khoan nhượng buộc Mỹ - ngụy phải thi hành Hiệp định Pa-ri. Đồng thời, ta luôn tỉnh táo vả nhạy bén phát hiện những mưu đồ đen tối, những thủ đoạn xảo trá. những hành động vi phạm Hiệp định của địch để kịp thời lên án, vạch trần những sai trái, vi phạm đó.

        Đặc biệt, hai Đoàn ta đã tập trung đấu tranh để thực hiện cho kỳ được việc buộc quân Mỹ và quân chư hầu của Mỹ phải rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam trong thời hạn 60 ngày gắn vói việc ta trao trả hết tù binh Mỹ và kẻ thù cũng phải trao trả hết số tù binh của ta. Việc trao trả nhân viên dân sự (tù chính trị) cũng là cuộc đấu tranh hết sức căng thẳng, liên tục buộc kẻ địch cũng phải trao trả cho ta trên 5.000 cán bộ và cơ sở cách mạng của ta.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/77TratubinhMyoLocNinh_zps976887ac.jpg)
Trao trả tù binh Mỹ ở Lộc Ninh (tên nằm trên võng)

        -   Từ Tống hành dinh Trại Đa-vít này, các sĩ quan của ta đã đi hầu hết các nơi ở miền Nam Việt Nam để kiểm tra, kiểm soát tất cả các chuyến rút quân Mỹ và quân chư hầu, tất cả các chuyến trao trả người của các bên, kiểm tra các trại giam của Mỹ - ngụy, và các sĩ quan ta đã đi cùng Uỷ ban Quốc tế để điều tra các vụ quân ngụy vi phạm ngừng bắn.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/39Landachienphucvuchotraotratubinh_zpsa252f684.jpg)
Một căn lán dã chiến được dựng lên phục vụ cho việc trao trả tù binh

        Tại trụ sở Trại Đa-vít, ta đã tổ chức rất nhiều cuộc họp báo. Các đồng chí Trưởng đoàn, Phó đoàn ta nhiều lần chủ trì họp báo như đồng chí Trần Văn Trà, đồng chí Hoàng Anh Tuấn, đồng chí Võ Đông Giang.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/018_zps70209335.jpg)
Trung tướng Trần Văn Trà chủ trì buổi họp báo tại trại Đa-vít

        Rất đông phóng viên của gần 80 hãng thông tấn báo chí, vô tuyền truyền hình, đài phát thanh, báo nước ngơài có đại diện ở Sài Gòn đến dự họp báo. Cuộc họp báo nào cùng có khá đông người đến dự. Khi tình hình chiến sự sôi động thì các nhà báo càng đến đông hơn, có khi phải tràn ra cả vỉa hè và ngoài sân.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/Hopbao_zps200a8f0d.jpg)
Họp báo (19/11/1974) tại phòng chiếu phim của 2 đoàn trong trại Đa-vít, Đại tá Võ Đông Giang, phó trưởng đoàn B trả lời phỏng vấn của hãng truyền hình BBC về 1 năm thi hành hiệp định Pari về Việt Nam
   Từ phải qua trái:
              + Người ngồi giữa thứ 4 : Đại tá Võ Đông Giang
              + Người ngồi thứ        5 : Nhà báo Richard
              + Người ngồi thứ        6 : Nhà báoTony Summers

        Và có một điều đặc biệt là, kẻ thù tìm mọi cách cô lập ra ờ Trại Đa-vít bằng rất nhiều biện pháp, kể cả những biện pháp thủ đoạn hèn hạ nhất và ty tiện nhất. Nhưng chúng không thể cô lập hoàn toàn được hai Đoàn ta. Ngược lại, trong những ngày cuối cùng của chiến tranh thì đại sứ Mỹ ở Sài Gòn lại bắn tin qua Đoàn Hung-ga-ri trong Uỷ ban Quốc tê xin được gặp đồng chí Trưởng đoàn ta. Những tên chóp bu của chính quyền Sài Gòn trong những ngày hấp hốì đã cử các loại bộ trưởng, các phụ tá đặc biệt xin được đến gặp phái đoàn ta để cầu cạnh, xin xỏ và thăm dò... về ý đồ tấn công cuối cùng của chúng ta vào Sài Gòn.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười, 2013, 09:42:32 am
        2.   Đội ngũ cán bộ, chiến sĩ ta là những chiến binh vững vàng, bản lĩnh chính trị được tôi luyện, có ý chí chiến đấu và ý thức cảnh giác cách mạng cao

        -   Chúng ta đã triển khai một thê trận tiến công và phòng ngừa chặt chẽ để chủ động đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù phá hoại hai Đoàn ta.

        Phát huy ưu thế chính trị tuyệt đối của những người cách mạng, phát huy tư tưởng tiến công nên bất cứ kẻ thù giở ra âm mưu, thủ đoạn gì cũng không hề làm nao núng ý chí của những con người gang thép đó.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/071_zpsafd2d5c2.jpg)
Ảnh do ngụy chụp. Tìm thấy ở Ðặc ủy trung ương tình báo số 3, Bạch Ðằng, Sài Gòn. Các thành viên đoàn B từ Pa ri về tới Tân Sơn Nhất ngày 28-1-1973 đã bị chúng bí mật chụp.

        Cán bộ, chiến sĩ ta nhận thức rõ những sự phô trương sức mạnh cùng những hành động hung hăng côn đồ của kẻ thù chỉ càng chứng tỏ là chúng ở thế yếu, ở sự kém cỏi của kẻ thất bại. Nhiều trường hợp thực tế đã chứng minh những tên sĩ quan ngụy chủ động đến tác động tâm lý, khiêu khích, kích động lại bộc lộ hoàn toàn là sự lố bịch của chúng trước cán bộ, chiến sĩ ta. Khi bị cán bộ, chiến sĩ ta tiến công đập lại, dù ở trên bàn hội nghị cấp Trưởng đoàn, cấp Tiếu ban hay những cuộc tiếp xúc khác, thì chúng đều phải nhận lấy sự thất bại cay đắng. Chúng không dám đối diện tranh luận những vấn đề mà chính chúng đưa ra khiêu khích mà thường lảng tránh, có tên thấy trơ trẽn quá nên lủi thủi rút lui. Cũng có vài tên tỏ ra xửng cồ, mặt đỏ gay nói lại vài câu với lời lẽ của kẻ côn đồ chợ búa. Ngay ở hội nghị cấp Trưởng đoàn mà những tên Trưởng đoàn, Phó đoàn Mỹ như út-uốt và Uých-khâm, các Trưởng đoàn, Phó đoàn ngụy như Dư Quốc Đống và Phan Hoà Hiệp, khi bị chúng ta dồn vào thế bí thì bản chất của kẻ xâm lược, kẻ côn đồ của những tướng Mỹ - ngụy cũng bộc lộ ra ngay. Tên Phan Hoà Hiệp còn biểu hiện bản chất côn đồ đến mức cầm gạt tàn thuốc lá định ném vào đồng chí Võ Đông Giang và buông lời láo xược mày tao.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/009__zps1e3483a1.jpg)
Đoàn từ Lộc Ninh vừa vào tới Tân Sân Nhất chúng cũng bí mật chụp. Ảnh thu được sau giải phóng.

        Những thủ đoạn mà kẻ thù dự định đánh sâu vào nội bộ ta, sự tính toán của chúng cũng khá công phu. Nhưng kết quả là không đạt được gì. Tên Nguyễn Văn Học, trưởng phòng phản tình báo của an ninh quân đội ngụv, cũng phải thú nhận như vậy.

        Một số trường hợp tìm được người thân của cán bộ, chiến sĩ ta nhưng chúng cứ mon men đụng vào là bị đánh bật ra. Một số đồng chí đã báo cáo rõ về trường hợp mà kẻ thù khêu gợi tổ chức cuộc gặp với người thân của đồng chí đó trong vùng chúng kiểm soát.

        Có đồng chí đề xuất với lãnh đạo và cơ quan nghiệp vụ về những ý kiến để ngăn chặn và đánh bại chúng nếu chúng tiếp tục thực hiện. Đây là điểm rất tuyệt vời của các đồng chí ta.

        Từ thực tiễn đấu tranh với các thủ đoạn phá hoại của địch, có thể khẳng định rằng mọi thủ đoạn bẩn thỉu và hèn hạ mà địch thực hiện trong điều kiện chúng ta ở giữa vòng vây của chúng, nhưng tất cả những thủ đoạn đó đều bị đánh bại.

        Cái mạnh nhất của chúng ta là ở chỗ toàn đội ngũ của chúng ta, từ người chỉ huy cao nhất đến từng cán bộ, chiến sĩ, nhân viên, đều rất vững vàng, tuyệt đối trung thành với cách mạng, có niềm tin là nhất định cách mạng sẽ thắng, một tập thể đã được tôi luyện trong đấu tranh cách mạng tạo nên một sức mạnh kỳ diệu đủ sức đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù dù đó là những âm mưu, thủ đoạn tàn bạo, đê hèn và bỉ ổi nhất.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười, 2013, 01:42:10 am
        3.   Những ngày cuối cùng của chiến tranh, các cán bộ, chiến sĩ ở Trại Đa-vít càng biểu hiện rõ phẩm chất và hành động của chủ nghĩa anh hùng cách mạng

        Từ tháng 10 năm 1974, do kẻ địch trắng trợn phá hoại Hiệp định Pa-ri nên hoạt động của Ban Liên hợp quân sự không có hiệu quả, Chính phủ ta tuyên bố đình chỉ vô thời hạn các cuộc họp của Ban Liên hợp quân sự 2 bên và Tổ Liên hợp quân sự 4 bên.

        Nhưng hai Đoàn ta vẫn ở lại Trại Đa-vít. Ta vẫn giữ quan hệ với Uỷ ban Quốc tế. nhất là với hai Đoàn bạn Hung-ga-ri và Ba Lan, vẫn duy trì liên lạc với các nhà báo. vẫn tiếp tục tố cáo và lên án kẻ thù phá Hiệp định Pa-ri.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/NhabaoQT_zpsd0d1ac4d.jpg)
3 phóng viên Mỹ vào họp báo tại trại Đa-vít đề nghị được chụp ảnh lưu niệm với đồng chí Dương Đình Thảo và các phóng viên báo chí của ta : Nguyến Sinh (Nguyễn Ngân) báo Nhân Dân, Dương Đình Thảo người phát ngôn đoàn B, Vũ Dũng phiên dịch

        Ngụy quyền Sài Gòn rất căm tức, muốn tống hai Đoàn đại biểu quân sự ta ra khỏi Trại Đa-vít nhưng không làm gì được. Chúng càng khống chế chặt hơn, bao vây chặt hơn, ngăn cản tất cả các hoạt động của ta, nhưng làm sao mà ngăn chặn hoàn toàn được.

        Từ giữa tháng 3 đến tháng 4 năm 1975, quân ta chiến thắng dồn dập, hai Đoàn ta ở Trại Đa-vít nhìn rõ triển vọng quân ta sẽ tiến về giải phóng Sài Gòn. Việc liên lạc bằng máy bay với "hậu phương" Lộc Ninh bị cắt đứt từ đầu năm, liên lạc bằng máy bay với Hà Nội không đều. Phái đoàn ta ở giữa Sài Gòn, cấp trên không tiện phổ biến sớm về phương hướng tác chiến của ta, nhất là qua điện đài. Mọi người bàn luận sôi nổi, phán đoán tình hình và triển vọng phát triển chiến đấu. Và đặc biệt là có nhiều suy nghĩ về phái đoàn ta ở đây phải làm gì, làm như thế nào nếu quân ta tiến công Sài Gòn.

        Ngày 8 tháng 4 năm 1975, Đảng ủy của hai Đoàn ta họp phân tích tình hình, dự kiến những tình huống có thể xảy ra với Đoàn ta và hạ quyết tâm là dù tình hình có diễn biến thế nào thì chúng ta cũng phải chuẩn bị mọi mặt để bám trụ, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu tại chỗ.

        Hai Đoàn ta ở vào vị trí mà bốn bề kẻ địch đã vây hãm rất chặt chẽ, gắt gao. Trong cơn giãy chết, kẻ địch chắc chắn sẽ không từ một thủ đoạn tàn ác nào để tiêu diệt hai Đoàn quân sự cách mạng ta.

        Các đồng chí lãnh đạo cấp trên cũng rất chú ý đến vấn đề an toàn của 300 cán bộ, chiến sĩ Trại Đa-vít.

        -   Đồng chí Lê Đức Thọ điện động viên và nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ ta giữ vững bản chất Bộ đội Cụ Hồ.

        -   Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ đạo tổ chức sẵn sàng chiến đấu bảo toàn lực lượng và phải đề phòng kẻ địch có những hành động tàn bạo với Đoàn ta.

        -   Bộ chỉ huy Miền và Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh báo cho Đoàn ta là khi quân ta bắt đầu tiến công vảo Sài Gòn sẽ có một cánh đặc công vào Trại Đa-vít đón Đoàn ra nơi an toàn, chỉ để lại lực lượng vệ binh và một ít cán bộ. Do đó, hai Đoàn ta phải chuẩn bị sẵn sàng để thời điểm đến là đi ngay được.

        Lúc này là ngày 15 tháng 4 năm 1975.

        Do tình hình rất gấp, Đảng ủy và Ban chỉ huy hai Đoàn ta đã tổ chức họp ngay. Trong cuộc họp, Đảng ủy và Ban chỉ huy phân tích kỹ tình hình mọi mặt, dự kiến các tình huống có thể xảy ra và có một số nhận định rất thống nhất là xin cấp trên cho ở lại sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu tại chỗ.

        Những nội dung phân tích thống nhất như sau:

        -   Nếu rút đại bộ phận ra là một lực lượng khá đông trên 200 người, quãng đường xa 10km trong điều kiện địch bố phòng khá chặt, chúng lại đang ở tình trạng đề phòng bị ta tiến công. Như vậy rất dễ bị chúng phát hiện, ta dễ bị động và tốn thất sẽ là lớn nếu đụng địch.

        -   Nếu ở lại bám trụ chiến đấu thì ta có đủ những yếu tố cần thiết bảo đảm chiến đấu được. Tuy vũ khí của ta ít nhưng ta chuẩn bị chu đáo, ý chí chiến đấu kiên định, nhiều đồng chí dày dạn trong chiến tranh có thể chiến đấu cầm cự được một số ngày đủ để cho đại quân ta vào tiếp ứng.

        Tình thế hiện nay quân ta thắng như chẻ tre, ngụy Sài Gòn mất quân khu 1, quân khu 2, quân ngụy tan rã tràn về Sài Gòn làm cho quân ngụy tại chỗ càng mất tinh thần. Khi bị quân ta đánh thì chúng chỉ lo tháo chạy. Đơn vị nào vào đánh ta thì đâu còn tinh thần mà chấp hành mệnh lệnh của cấp trên triệt để nữa.

        -   Có một nhận định nữa là hai Đoàn bạn Hung-ga-ri và Ba Lan trong Uỷ ban Quốc tế đã và đang hết lòng tương trợ ta trong những ngày căng thẳng, nay ta lặng lẽ rút đi một mình thì không thể đành lòng.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Mười, 2013, 01:11:33 am
        Đề nghị xin ở lại bám trụ chiến đấu được cấp trên đồng ý.

        300 cán bộ, chiến sĩ hai Đoàn ta đã bắt tay ngay vào tổ chức sẵn sàng chiến đấu rất khẩn trương. Toàn bộ Trại Đa-vít như một công trường ngầm, rất lặng lẽ bí mật triển khai xây dựng một trận địa chiến đấu hoàn chỉnh. Ta chỉ có 30 khẩu AK và CKC cho các chiến sĩ vệ binh, còn các sĩ quan mỗi người một khẩu súng ngắn và vừa được bổ sung 2 va-ly thủ pháo chống tăng nên càng phải làm công sự vững chắc. Toàn Trại Đa-vít chia làm 7 khu vực chiến đấu, có 2 sỏ chỉ huy, có hầm quân y làm được trung phẫu thuật, hai hầm kho dự trữ lương thực, thực phẩm, có hệ thống giao thông hào ngầm từ nhà này sang nhà kia (gần 40 nhà), trong nhà có hầm trú ẩn sâu 2m có nắp đậy tránh pháo, có hệ thống điện thoại từ sở chỉ huy đến các đài quan sát và từng khu vực chiến đấu. Chỉ có 2 xà beng và một số xẻng của chiến sĩ nhưng anh em ta đã khắc phục khó khăn, sử dụng tất cả những gì sẵn có như cọc màn bằng sắt, dao găm, đĩa sắt mà nhà ăn của lính Mỹ để lại để đào và xúc đất.

        Chỉ trong khoảng 10 ngày, hai Đoàn ta đã hoàn thành trận địa chiến đấu. Thật là một kỳ công và chỉ có sức mạnh ý chí tuyệt vòi mới làm nên điều đó.

        Thấy máy bay địch dồn về sân bay Tân Sơn Nhất rất nhiều, chúng tập trung đậu gần khu Đoàn ta ở. Ban chỉ huy đoàn điện cho Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh đề nghị bắn pháo mạnh vào sân bay, không vì thấy máy bay ở sát trụ sở Đoàn ta mà để mất thời cơ.

        Bức điện nói rõ: "Chúng tôi đào hầm và giữ vững vị trí chiến đấu tại đây. Đề nghị pháo binh ta cứ bắn thật mãnh liệt đừng lo cho chúng tôi ở trong này. Chúng tôi rất lấy làm vinh dự sẵn sàng nhận sự hy sinh để chiến dịch toàn thắng, để sự nghiệp cách mạng toàn thắng". (Trích Hồi ký Đại thắng mùa Xuân của Đại tướng Văn Tiến Dũng, trang 214).

        Hệ thống hầm hào vừa xong thì chiều 28 tháng 4 năm 1975, một tốp máy bay A37 (sau này được biết máy bay ta chiếm được của địch do anh em ta lái) ném mấy loạt bom trúng đội hình máy bay địch cách trụ sở Đoàn ta một bức tưòng rào, mảnh bom và đất đá bay rào rào sang khu trụ sở của hai Đoàn ta. Nhưng hai Đoàn ta đã có hầm hào nên tất cả an toàn. Đến khoảng 4 giờ sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975, pháo ta bắn dồn dập vào sân bay Tân Sơn Nhất. Sân bay chìm trong khói lửa. Đoàn ta có 2 đồng chí làm nhiệm vụ hy sinh, 5 đồng chí bị thương. Từ cự ly 18 đến 20km hàng nghìn đạn pháo được bắn vào sân bay, có một số quả rơi sang Trại Đa-vít là điều khó tránh khỏi. Tuy vậy, các đồng chí lãnh đạo hai Đoàn ta chủ trương không báo cáo ngay việc Đoàn ta có người thương vong vì đạn pháo. Ta báo cáo chậm để các pháo thủ không bị ảnh hưởng tâm lý khi bắn.

        Những suy nghĩ và việc làm trên đây của hai Đoàn đại biểu quân sự ta càng chứng tỏ các cán bộ, chiến sĩ ta luôn nghĩ đến việc lớn, tất cả cho chiến thắng dù bản thân mình và đơn vị gặp hiểm nguy hoặc hy sinh cũng lấy làm vinh dự mà không hề tính toán.

        3.   Hai Đoàn đại biểu quân sự ta ở Trại Đa-vít làm nhiệm vụ đấu tranh ngoại giao quân sự tổng thời gian là 2 năm, 3 tháng và 3 ngày (từ 28 tháng 1 năm 1973 đến 30 tháng 4 năm 1975)

        Trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta cũng như các nước trên thế giới, kể cả với câu chuyện huyền thoại con ngựa Thành Tơ-roa, chưa từng có trường hợp nào mà một bên đối địch lại hợp pháp cắm được một bộ phận lực lượng của mình công khai đứng chân tại trung tâm đầu não của đối phương, nơi tập trung đại diện dư luận của cộng đồng quốc tế.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/scan-4.jpg)

        Bộ phận lực lượng ấy dõng dạc phân tích sâu sắc các ý đồ và hành động của mỗi bên, lên án những việc làm xằng bậy của đối phương, lý giải và chứng minh một cách thuyết phục cho những bước đi bắt buộc của mình để bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ đạo lý của dân tộc và thời đại và cuối cùng ca khúc khải hoàn với đại quân ngày chiến thắng.

        Tạo được điều kỳ diệu và độc đáo này là do đường lối đúng đắn, phương cách sáng tạo của Đảng ta, sự chỉ đạo sắc sảo của các cấp trên trực tiếp. Thành công đó còn là do bản lĩnh và sự nỗ lực vượt bậc, không ngại hy sinh gian khổ, một lòng một dạ trung thành với sự nghiệp cách mạng của hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ thành viên hai Đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong suốt quá trình đấu tranh ngoại giao quân sự thi hành Hiệp định Pa-ri về Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười, 2013, 03:09:22 am

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/HuynhVanTrinh_zpse886d1eb.jpg)
Ông Huỳnh Văn Trình

HỌ ĐÃ TÌM CÁCH PHÁ HOẠI HIỆP ĐỊNH PA-RI NGAY TỪ NGÀY ĐẦU
     
VŨ NHƯ            

        Là người từng tham gia Ban Liên hợp quân sự Việt - Pháp 1954 ở Liên khu 5 thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, tham dự các phiên đàm phán bí mật cuối cùng giữa Lê Đức Thọ và Kít-xinh-giơ về Hiệp định Pa-ri 1973 và là Uy viên Ban lãnh đạo Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên Trung ương tại Sài Gòn năm 1973-1975..., ông Huỳnh Văn Trình đã được chứng kiến sự ra đời của Hiệp định Pa-ri cũng như những hành động phá hoại các cam kết của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Dưới đây là những chia sẻ của ông về giai đoạn sau Hiệp định Pa-ri với Tạp chí Thế giới và Việt Nam, số đặc biệt nhân kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Pa-ri (27-1-1973 - 27-1-2013).

        Thưa ông, từ Pa-ri ông đã về tham gia Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên Trung ương như thế nào?

       Ông Huỳnh Văn Trình: Ngày 20 tháng 1 năm 1973, một tuần trước lễ ký kết Hiệp định Pa-ri, một số thành viên trong Đoàn đàm phán như các ông Phan Hiền, Hoàng Hoa, Nguyền Khắc Huỳnh, Trần Anh Tuấn... và tôi rời Pa-ri về Hà Nội. Ngay trước lễ ký kết Hiệp định, ông Lưu Văn Lợi, Cố vấn pháp lý của Đoàn đàm phán được phân công làm Phó đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên với quân hàm Đại tá cũng rời Pa-ri về thẳng Sài Gòn đi "tiền trạm" cho Đoàn chính, có mặt ngay khi Hiệp định có hiệu lực ngày 28 tháng 1 năm 1973.

        Về đến Hà Nội ngày 23 tháng 1 năm 1973, cả nhà tôi vừa mừng đoàn tụ sau nhiều tháng xa cách, nhưng thời gian dành cho gia đình rất ngắn ngủi vì tôi còn phải gấp rút chuẩn bị tư trang, giấy tờ, tài liệu cho chuyến đi vào Sài Gòn với quân hàm Trung tá, Ủy viên Ban lãnh đạo Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên Trung ương.

        Đúng 11 giờ sáng ngày 29 tháng 1 năm 1973, hai chiếc máy bay vận tải C130 của quân đội Mỹ đã rời sân bay Gia Lâm và hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất lúc 14 giò 30 phút. Sự cố đầu tiên đã xảy ra khi người của cơ quan nhập cảnh và hải quan Sài Gòn lên máy bay đề nghị toàn Đoàn phải làm thủ tục đăng ký nhập cảnh. Trưởng đoàn là Thiếu tướng Lê Quang Hoà (lúc đó là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị) phân công anh Hoàng Hoa (Phó đoàn) và tôi thay mặt Đoàn phản đối những đòi hỏi vô lý của phía Sài Gòn vì: Thứ nhất, Nam - Bắc là một nước thống nhất, vĩ tuyến 17 chỉ là giới tuyến quân sự tạm thời chứ không phải là biên giới giữa hai quốc gia, nên ta không ký giấy nhập cảnh. Thứ hai, tại Pa-ri, các bên không thoả thuận gì về việc phải làm thủ tục nhập cảnh. Thứ ba, Mỹ đưa phương tiện ra đón Đoàn ta nên Mỹ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm. Ngoài ra, chúng tôi cũng đề nghị được gặp Đoàn tiền trạm của ta và Uỷ ban Quốc tế để đòi ghi nhận hành động của phía Sài Gòn vi phạm Hiệp định Pa-ri.

        Tất nhiên, phía Sài Gòn không những không cho chúng tôi gặp đại diện của Đoàn tiền trạm ta hay của Uỷ ban Quốc tế mà còn "giam lỏng" cả Đoàn ta trên máy bay. Nhìn ra ngoài cửa sổ, lính dù Sài Gòn súng ống lăm lăm đã được triển khai vây chặt xung quanh. Một hệ thống đèn pha được bố trí chiếu thẳng vào máy bay suốt đêm. C130 là máy bay vận tải không có nhà vệ sinh nên phía Mỹ phải cấp tốc cử lính bê thùng lên lập toa-lét dã chiến để Đoàn ta sử dụng. Để động viên tinh thần anh em, Trưởng đoàn Lê Quang Hoà kể cho mọi người nghe về những ngày trong nhà tù thực dân Pháp ở Sơn La và những hình thức đấu tranh trong nhà tù.

        Đến trưa hôm sau, phía Sài Gòn phải chấp nhận cho Đoàn ta về Trại Đa-vít mà không phải làm thủ tục gì. Như vậy, họ đã tìm cách phá hoại Hiệp định ngay từ ngày đầu tiên.

        Khi gặp được Đoàn tiền trạm trong Trại Đa-vít mới biết Đoàn tiền trạm cũng phải trải qua một ngày đấu tranh như vậy. Tuy chúng tôi không dự kiến trước tình huống này và không liên lạc với nhau, nhưng cả hai Đoàn đều kiên quyết đấu tranh để bảo vệ Hiệp định.

        Vụ "giam lỏng" đó mới chỉ là vi phạm đầu tiên. Tiếp đó, tốì mùng 3 tháng 2 năm 1973 (cũng là đêm giao thừa Tết Nguyên đán1), khi hai Đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đang liên hoan nội bộ thì quân đội Sài Gòn lại huy động xe bọc thép bao vây nơi ở và cho máy bay trực thăng quần đảo trên đầu để uy hiếp hai Đoàn ta.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/064_zpscf85a5ba.jpg)
Bất chấp sự uy hiếp của địch, cán bộ chiến sĩ ta vẫn tưng bừng tổ chức đón giao thừa tại trụ sở trại Đa-vít đêm 2 rạng ngày 3-2-1973
---------------------
1.  Chỗ này ông Huỳnh Văn Trình nhớ nhầm (phải là tối mùng 2 mới đúng). Thực ra đêm giao thừa phải là đêm thứ sáu ngày 2/2/1973 rạng ngày thứ bảy 3/2/1973 - chú thích của Giangtvx


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười, 2013, 08:13:42 am
       Vậy thách thức lớn nhất lúc đó của Đoàn là gi, thưa ông?

        Ông Huỳnh Văn Trình: Thách thức lớn nhất của hai Đoàn ta lúc đó là việc Mỹ dung túng cho phía Sài Gòn tìm mọi cách phá hoại Hiệp định Pa-ri. Quân đội Sài Gòn triển khai chiến dịch "tràn ngập lãnh thổ", lấn chiếm vùng giải phóng, đưa quân tấn công chiếm lại Cửa Việt, Đức Phổ..., tiến hành nhiều hoạt động quân sự ở đồng bằng Nam Bộ. Họ cũng tìm mọi cách ngăn cản, chống phá hoạt động của Ban Liên hợp quân _sự 4 bên kể cả việc tấn công, hành hung các thành viên của hai Đoàn ta. Sau đó, họ cũng không cho Ban Liên hợp quân sự 2 bên hoạt động và không bảo đảm các quyền ưu đãi, miễn trừ cho các đoàn Liên hợp quân sự. Vì thế, đến tháng 6 năm 1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam buộc phải tuyên bố đình chỉ việc triển khai hệ thống Liên hợp quân sự 2 bên xuống địa phương. Tuy nhiên, các Đoàn ta trong Ban Liên hợp quân sự 2 bên và Tổ Liên hợp quân sự 4 bên về mồ mả và người mất tích vẫn được duy trì ở Trại Đa-vít cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975. Để bảo vệ Hiệp định, hai Đoàn ta đã phải chịu mất mát to lớn, 9 thành viên đã hy sinh và 25 người bị thương trong khi làm nhiệm vụ.

        Vậy tại sao Việt Nam không rút Ban Liên hợp quàn sự về đế tránh nguy hiểm?

        Ông Huỳnh Văn Trình: Rút về là không tôn trọng Hiệp định, là từ bỏ cơ sở và địa vị pháp lý của Hiệp định và mắc mưu đối phương. Trong mọi tình huống, chúng ta đều muôn duy trì và bảo vệ Hiệp định. Duy trì Hiệp định là thắng lợi, là thế mạnh của chúng ta. Hiệp định không được thi hành là do chính quyền Sài Gòn phá hoại và được Mỹ dung túng.

        Chúng ta luôn giữ mối quan hệ với Uỷ ban Quốc tế để tố  cáo đối phương vi phạm Hiệp định. Ngoài ra, chúng ta cũng tìm cách thông báo với dư luận tình hình thực hiện Hiệp định và những vi phạm của đối phương qua các cuộc họp báo hàng tuần ở Trại Đa-vít do Đại tá, Phó đoàn Võ Đông Giang chủ trì.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/VoDongGiangtraloibaochivePhuocLong_zps4ac6f975.jpg)
Đại tá, Phó trưởng đoàn Võ Đông Giang (người ngồi giữa, quay lưng lại) đang trả lời phỏng vấn của các nhà báo về việc ta giải phóng tỉnh Phước Long

        Tháng 4 năm 2012, Nhà nước đã trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho hai Đoàn đại biểu quân sự ta. Ông đánh giá như thế nào về toàn bộ hoạt động của hai Đoàn?

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/21TruongTanSang-NguyenThiBinh-HuynhVanTrinh_zps803f407a.jpg)
Ông Huỳnh Văn Trình gặp gỡ và trao đổi với Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình trong buổi lễ phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho hai Đoàn đại biểu quân sự ta

        Ông Huỳnh Văn Trình: Ngay từ khi Hiệp định Pa-ri có hiệu lực, mặt trận ngoại giao về Hiệp định chuyển trọng tâm từ Pa-ri về Sài Gòn với thành phần đàm phán mới là 4 Đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ và Việt Nam cộng hoà. Một diễn đàn mới là Ban Liên hợp quân sự 4 bên và sau đó là 2 bên được mở ra. Nhiệm vụ mới là "bảo đảm phối hợp hành động của các bên trong việc thực hiện các điều khoản về quân sự của Hiệp định" và địa bàn hoạt động là trên toàn miền Nam Việt Nam.

        Cuộc chiến đấu mới, đấu tranh chính trị và pháp lý công khai giữa sào huyệt của đối phương, trong khi Mỹ vẫn còn 7 vạn quân chiếm đóng, phía Sài Gòn có hơn 1 triệu quân với lực lượng không quân đứng thứ tư trên thế giới và có ý đồ chiến lược xé bỏ Hiệp định, quyết đánh bại Cộng sản bằng quân sự, là cả một câu chuyện dài "vào hang bắt cọp" ly kỳ, độc đáo, huyền thoại về ngoại giao quân sự Việt Nam. Điểm nổi bật là chúng ta đã đứng vững tại Trại Đa-vít - Tân Sơn Nhất, nơi là Tổng hành dinh của hai Đoàn ta, trong tình thế bị "bốn mặt bao vây, trên không bịt kín" theo kiểu chiến thuật "bủa lưới phóng lao", án ngữ chặt các hướng, triệt để cô lập... Nhưng các sĩ quan, chiến sĩ hai Đoàn ta đã kiên trì bám trụ suốt hơn 2 năm 3 tháng, tích cực tiến công địch trên tất cả các trận địa và đã hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ được giao.

        Xin ông chia sẻ những cảm nghĩ và kỷ niệm lớn nhất của ông về cuộc đàm phán và thi hành Hiệp định Pa-ri?

        Ông Huỳnh Vần Trinh: Tôi rất nhớ phiên họp ngày 13 tháng 1 năm 1973 giữa Cố vấn Lê Đức Thọ và ông Kít-xinh-giơ để hoàn tất các văn bản Hiệp định Pa-ri, phiên họp riêng cuối cùng trước khi ký kết Hiệp định. Lúc đó, tôi nghĩ đây là bước ngoặt giữa chiến tranh và hoà bình, bước ngoặt của cách mạng giải phóng dân tộc. Tôi sẽ sớm thực hiện được ước mơ trở lại miền Nam.

        Năm 1954, tôi đã tham gia Đoàn đại biểu quân đội ta trong Ban Liên hợp chiến trường Liên khu 5 theo Hiệp định Giơ-ne-vơ tại Phú Yên. Năm 1955, khi ra Bắc, tôi từng hy vọng chỉ 2 năm sau sẽ quay trở lại miền Nam, không ngờ phải chờ đợi đến gần 20 năm. Tôi cũng không bao giờ quên thời khắc được cùng đồng đội chứng kiến những người lính Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam, niềm vui mừng được đón 31.500 đồng chí, đồng đội trở về từ chốn lao tù của địch. Tôi thấy vừa tự hào lại vừa vinh dự. Không bao giò tôi quên những ngày đó.

        Tuy nhiên, trong lòng tôi vẫn còn một nỗi băn khoăn, day dứt là đối với một sự kiện trọng đại như vậy mà 4 thập kỷ qua, ở ngay trên đất nước ta, không có một dấu ấn vật thể nào lưu lại cho hậu thế. Trong khi ở Pa-ri, nhờ sự giúp đỡ của nước sở tại, đã có những tấm biển lưu niệm ở một số nơi mà hai Đoàn ta đã hoạt động như Kleber, Choisy-le-Roi, Gif sur Yvette, Verriere le Buisson... Do vậy, tôi xin đề nghị lấy Trại Đa-vít -Tân Sơn Nhất làm nơi lưu niệm về Hiệp định Pa-ri ở Việt Nam. Lý do không chỉ vì nơi đó là Tổng hành dinh của hai Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam chỉ đạo hoạt động ngoại giao quân sự thi hành Hiệp định Pa-ri, mà đây cũng là mảnh đất giải phóng đầu tiên giữa Sài Gòn do có Hiệp định, cũng là nơi kết thúc Hiệp định trong ngày toàn thắng, nơi duy nhất ở Việt Nam mang đậm di tích vật thể gắn kết Hiệp định Pa-ri với cách mạng miền Nam.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/003a_zpsc669648b.jpg)
Khu nhà hội trường của BLHQS 4 bên và 2 bên từ 29/1/1973 (ảnh chụp 5/2008)

        Nếu có một khu di tích như vậy thì mọi tư liệu, hiện vật, kỷ vật quý báu về Hiệp định Pa-ri sẽ được tập trung trưng bày tại đây, thu hút các nhà nghiên cứu, khách du lịch và mọi thế hệ người dân trong nước, quốc tế đến thăm, suy ngẫm về một thời chiến tranh và hoà bình đã đi vào lịch sử nước ta và nhân loại.

        Xin cảm ơn ông!


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2013, 02:46:26 pm

KÝ ỨC "TRẬN ĐÁNH" LỚN 40 NĂM VỀ TRƯỚC
       
NGUYỄN SINH             

        40 năm về trước, trong một trại lính cũ kỹ, Trại Đa-vít, hai Đoàn đại biểu quân sự của ta đã phải bám trụ, chiến đấu trong 2 năm, 3 tháng và 3 ngày. Kể từ Hiệp định Pa-ri được ký kết ngày 27 tháng 1 năm 1973 cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, nước nhà hoàn toàn thống nhất, đó là một "trận đánh" trường kỳ và thầm lặng.

        MỘT CUỘC ĐẤU TRÍ

        Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam được bốn Bộ trưởng Bộ Ngoại giao ký chính thức tại Pa-ri, Thủ đô nước Cộng hoà Pháp. Cùng ngày hôm đó, trận đánh lớn bắt đầu.

        Vai trò xung kích được giao cho hai Đoàn đại biểu quân sự: Đoàn A, thuộc Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà và Đoàn B, thuộc Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Theo Điều 10 của Hiệp định, hai Đoàn có nhiệm vụ bảo đảm sự phối hợp hành động của các bên trong việc thực hiện các điều khoản về quân sự mà Hiệp định đã quy định. Hai Đoàn hoạt động trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên (từ 28-1-1973 đến 28-3-1973). Tiếp đó, trong Ban Liên hợp quân sự 2 bên (Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Chính phủ Việt Nam cộng hoà, tức chính quyền Sài Gòn). Bên cạnh đó, còn có Tổ Liên hợp quân sự 4 bên, chịu trách nhiệm phối hợp việc tìm kiếm người mất tích, hài cốt và mồ mả.

        Ký Hiệp định Pa-ri, Mỹ chấp nhận một bước lùi chiến lược, nhưng vẫn giữ âm mưu "Việt Nam hoá chiến tranh", dùng chính quyền và quân đội Sài Gòn áp đặt chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam hòng chia cắt lâu dài đất nước ta. Họ phá hoại Hiệp định để tiếp tục chiến tranh. Riêng với hai Đoàn đại biểu quân sự ta, họ có kế hoạch phá ngay từ đầu.

        TRẠI ĐA-VÍT TRỞ THÀNH PHÁO ĐÀI CÁCH MẠNG

        Là một trại lính cũ của Mỹ, nằm lọt giữa bốn bề lô cốt, ụ súng, hào sâu và hàng rào dây thép gai, kề sát đường băng sân bay Tân Sơn Nhất và khu sửa chữa máy bay. Phía bên kia là khu gia binh và trại huấn luyện lính dù. Bố trí hai Đoàn ta vào đó, đốì phương muốn cô lập, giam lỏng hai Đoàn, cản trở mọi hoạt động của ta. Sau ngày giải phóng miền Nam, qua các tài liệu của địch mà ta thu được và lời khai của một số tên đầu sỏ tình báo của quân đội Sài Gòn, ta biết địch có cả một kế hoạch phá hoại nhằm vào hai Đoàn đại biếu quân sự của ta trong Trại Đa-vít. Kế hoạch do 5 cơ quan tình báo, kể cả bộ phận CIA ở Sài Gòn, hoạch định và thực hiện. Phải đi sâu, cài cắm bằng được cơ sở của chúng trong hai Đoàn ta, lôi kéo vài người chạy theo chúng hoặc chạy sang nước thứ ba. Khi cần, chúng có thê đầu độc, bắt cóc các cán bộ quan trọng hoặc bắt cả hai Đoàn ta làm con tin. Trường hợp đặc biệt, có thể san phẳng Trại Đa-vít, xoá sổ hai Đoàn.

        Ta đã bẻ gãy mọi mưu toan ác độc của kẻ thù, biến Trại Đa-vít thành trận địa kiên cường của cách mạng giữa lòng địch. Từ đấy vang lên tiếng nói đanh thép tố cáo kẻ địch phá hoại Hiệp định Pa-ri, tiến hành chiến tranh.

        Ta liên tục giành thắng lợi nhiều mặt. Thắng lợi lớn nhất là dùng sức mạnh chính nghĩa và pháp lý của Hiệp định, buộc đội quân xâm lược Mỹ và chư hầu phải rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam trong thời hạn 60 ngày. Đây là nhiệm vụ hàng đầu mà Đảng, Nhà nước và dân tộc giao phó. Phải đấu tranh với đối phương từng bước, từng việc, buộc chúng không thể phá hoại việc rút quân.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Một, 2013, 10:13:44 am
        CHIẾC HUY HIỆU VÀ NGÀY 29 THÁNG 3 LỊCH SỬ

        Một người Mỹ cao lớn chạy đến trước mặt một sĩ quan thuộc Đoàn A. Ông tự giới thiệu là kỹ sư xây dựng, làm việc cho một hãng thầu Mỹ ở Ba Ngòi (Khánh Hoà). Hôm nay, ông ta cũng về Mỹ.

        -   Ông cho tôi hỏi... (ngưòi kỹ sư Mỹ nói bằng tiếng Việt, thứ tiếng ông vừa mới học, phát âm chậm, vừa nói vừa nghĩ). Ồng biết ông Nguyễn Ái Quốc chứ?

        -   Biết chứ, ông Nguyễn Ái Quổc là lãnh tụ của dân tộc Việt Nam mà.

        Vừa nói, người sĩ quan ta vừa đưa tay lên ngực áo, gỡ tấm Huy hiệu Bác Hồ.

        -   Tôi tặng ông chiếc huy hiệu có chân dung ông Nguyễn Ai Quốc.

        -   Ôi... Tôi cảm ơn ông nhiều lắm - Người kỹ sư Mỹ nói và đưa cả hai bàn tay đỡ chiếc huy hiệu. Chắc không nói nổi cảm xúc, ông ta nói như nói với chính mình - Nguyễn Ái Quốc chiến đấu để cho nước Việt Nam không phải là của người Pháp, không phải của người Nhật, không phải của người Mỹ...

        Thấy ông ta ngừng, chắc vì không tìm nổi từ tiếng Việt, người sĩ quan ta nói:

        -   Để cho nước Việt Nam là của người Việt Nam.

        -   Phải đấy... phải đấy - Người kỹ sư Mỹ vừa nói vừa gật đầu.

        -   Chắc ông biết ông Nguyễn Ái Quổc đã qua đời? Người sĩ quan ta hỏi.

        -   Biết... tôi biết - Người kỹ sư Mỹ nói: Hôm đó, tôi khóc dữ lắm. Những người Việt Nam làm việc cho Mỹ ở Ba Ngòi cũng khóc, cũng không đi làm.

        Các nhà báo quốc tế không để lỡ dịp. Họ bỏ lễ đài, nơi tướng ngụy Cao Văn Viên đang uống rượu sâm banh để chia tay tướng Mỹ Uây-en, chạy sang tìm "Việt cộng". Một sĩ quan cấp trung tá bị quây kín, không kịp gọi sĩ quan phiên dịch tiếng Anh, liền nói to bằng tiếng Pháp.

        "Thế là tôi bị vây. Nhưng không sao, đây là vòng vây hoà bình. Xin cảm ơn các bạn".

        Vẫn bằng tiếng Pháp, ông nói về ngày 29 tháng 3 năm 1973, ngày tên lính xâm lược cuối cùng rời khỏi Việt Nam. Như vậy là đã 115 năm nay, trên đất nước Việt Nam thân yêu sạch bóng quân xâm lược.

        Một nhà báo Pháp chen được vào gần, đặt câu hỏi: "Thưa ông, ở nước tôi, người ta thường so sánh Đại tướng Võ Nguyên Giáp với Hoàng đế Na-pô-lê-ông, ông nghĩ sao ạ?".

        -   Đại tướng của chúng tôi rất khiêm tôn - người sĩ quan ta trả lời. Ông không muốn so sánh như vậy - Theo ý riêng của tôi, Hoàng đế Na-pô-lê-ông là một nhà quân sự lỗi lạc. Nhưng cuối cùng ông bị bại trận, bị bắt và bị đày tới một hòn đảo xa xôi cho tới khi chết tại đó. Còn Đại tướng của chúng tôi, như ông biết đấy, từ lúc ra đời đến nay, chỉ có chiến thắng.

        Đúng 16 giờ, phía Mỹ thông báo, chiếc máy bay C147 chở toán lính Mỹ cuối cùng rút khỏi Việt Nam sắp- cất cánh. Các sĩ quan ta được lệnh tập hợp, xếp hàng hai bên cửa máy bay làm nhiệm vụ theo dõi và kiểm tra việc rút quân. Ngưòi lính Mỹ lên máy bay cuối cùng là viên hạ sĩ Mắc Bi-en-ki. Anh ta được sĩ quan Trưởng đoàn của ta trao quà kỷ niệm: Một tấm mành trúc có hình Chùa Một Cột ở Thủ đô Hà Nội1.

        TRƯỚC THỂM CHIẾN THẮNG

        Từ tháng 3 năm 1975, sau khi quân đội ta giải phóng Tây Nguyên và một dải miền Trung từ Đà Nẵng đến Nha Trang, hai Đoàn đại biểu quân sự ta đã nhìn rõ triển vọng giải phóng Sài Gòn. Cấp trên không phổ biến kỹ vì phải giữ bí mật. Nhưng mọi người đều hiểu, đều tin chắc như vậy.

        Ngày 8 tháng 4 năm 1975, Đảng ủy hai Đoàn họp, bàn kỹ khả năng và diễn biến tình hình, tính đến các tình huống xấu nhất có thể xảy ra. Đảng ủy thấy phải chuẩn bị mọi mặt để sẵn sàng chiến đấu. Cụ thể, chuẩn bị đủ lương thực, thực phẩm, thuốc men, làm kế hoạch chiến đấu, vẽ sơ đồ hệ thống công sự, tổ chức, phân công lực lượng... Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh và Đảng ủy Miền có một kế hoạch bảo vệ hai Đoàn ở Trại Đa-vít. Khi ta bắt đầu Tổng tiến công vào Sài Gòn, sẽ có một cánh đặc công vào, đưa hai Đoàn đến nơi an toàn, chỉ để lại lực lượng vệ binh và một số cán bộ. Cấp trên yêu cầu hai Đoàn phải chuẩn bị sẵn sàng để có thể đi ngay.

        Nhận kế hoạch, Đảng ủy lại phải họp để bàn. Đảng ủy thấy rút như thế không lợi, dễ bị động và tổn thất nếu gặp địch, trong lúc ta hoàn toàn có khả năng để chiến đấu tại chỗ. Đồng thời, cũng phải tính đến hai Đoàn Ba Lan và Hung-ga-ri trong Uỷ ban Quốc tế... Họ đã hết lòng ủng hộ ta, nay ta không thể lặng lẽ rút đi. Cuộc họp của Đảng ủy đề nghị Quân ủy và Bộ chỉ huy Miền cho phép hai Đoàn tự tổ chức chiến đấu tại chỗ.

        Ngày 18 tháng 4 năm 1975, hai Đoàn ta bắt tay vào việc đào công sự và chuẩn bị chiến đấu. Có quá ít cuốc, xẻng. Phải dùng lưỡi lê, dao găm, cọc màn, vài thanh sắt được đập dẹt để đào. Phải dùng cả đĩa của nhà bếp để xúc đất. Phải làm ban đêm, tránh tiếng động để không bị lộ bí mật. Toàn doanh trại được chia thành nhiều khu vực, nối liền nhau bằng mạng hào giao thông ngầm hoặc có nắp dày. Có hai căn hầm chỉ huy chính thức và dự bị. Một mạng điện thoại nối sở chỉ huy với các khu vực, có hầm quân y khá rộng, đủ độ sâu, do hai bác sĩ phụ trách. Lương thực, thực phẩm, thuốc men đã dự phòng từ trước, nay còn đủ. Cả các thứ như đèn dầu hoả, nến, nước đun sôi đều được tính đến. Chỉ trong vòng 10 ngày, việc chuẩn bị đã xong xuôi.

        Sau này có người nói rằng hai Đoàn ta đã gửi điện ra Quân ủy Trung ương, hứa sẽ "hy sinh vì đại cuộc". Điều đó không đúng. Trong cuộc họp Đảng ủy ngày 8 tháng 4 năm 1975, quả thật đã có vài người nói vậy. Đoàn ta đơn độc, quá ít vũ khí, khả năng chiến đấu không nhiều, nhưng vì thắng lợi cuối cùng ta sẵn sàng hy sinh. Nghĩ vậy không sai, thể hiện tinh thần cách mạng, lòng dũng cảm. Nhưng đó là ý nghĩ thụ động, không phù hợp với tình hình thực tế. Ta đang thắng, địch đang hoang mang, tan rã. Nếu cấp trên của chúng có ra lệnh tấn công Trại Đa-vít, chúng cũng không còn đủ can đảm để chấp hành. Đụng lực lượng ta, dù chỉ một đội quân nhỏ, ít vũ khí, chúng vẫn tan rã.

        Mặc dầu đã đồng ý để hai Đoàn tự tổ chức chiến đấu tại chỗ, Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh vẫn chỉ định một cánh đặc công và một đại đội xe tăng, tìm cách đến Trại Đa-vít sớm nhất. Việc này đã được báo cho Đoàn. Nhưng có lẽ vì cuộc tiến công của quân ta vào Sài Gòn diễn ra quá nhanh và quá thuận lợi, cả đặc công và xe tăng đều không phải đến.

        9 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975, Chỉ huy Đoàn ra lệnh đưa lá cờ giải phóng to nhất treo lên đỉnh tháp nước của Trại Đa-vít.

        Tính ra, hai Đoàn đại biểu quân sự của ta đã bám trụ, chiến đấu trong 2 năm, 3 tháng và 3 ngày.

-------------------
1.  Thực ra tác giả (ông Nguyễn Sinh) nhầm và bộ phận tặng quà cũng nhầm! Phía Mỹ cũng biết vai trò của người lính Mỹ cuối cùng rời khỏi VN nên cứ rền dứ mãi làm cho quân ta đôi lần cũng tưởng thật. Xin xem thêm bài tiếp sau: "Những ngày tháng 3 lịch sử" - Giangtvx


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2013, 01:30:29 pm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/DSC00177_zps9a7c010d.jpg)

NHỮNG NGÀY THÁNG BA LỊCH SỬ
     
HOÀNG KHÁNH            

        Đầu Xuân năm Quý Sửu và sôi động hơn cả là từ tháng 3 năm 1973 ở miền Nam Việt Nam, quân Mỹ và quân chư hầu lũ lượt rút về nước. Họ phải thực hiện Điều 5, Chương II Chấm dứt chiến sự và rút quân do Hiệp định Pa-ri quy định: "Trong vòng 60 ngày từ khi ký Hiệp định này, sẽ hoàn thành việc rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự, kể cả nhân viên quân sự kỹ thuật, nhân viên quân sự liên quan đến chương trình bình định, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh của Hoa Kỳ và các nước ngoài khác đã nói ở Điều 3(a). Cố vấn của các nước nói trên cho tất cả các tổ chức bán quân sự và lực lượng cảnh sát củng sẽ rút trong thời hạn đó”.

        Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thần thánh của dân tộc ta bước sang giai đoạn mới, so sánh lực lượng trên chiến trường đã thay đổi cơ bản, thế và lực của cách mạng lớn mạnh rõ rệt bởi vì "quân Mỹ phái rút ra còn quân ta thì ở lại". Đây chính là điểm mấu chốt của Hiệp định Pa-ri. Kẻ thù biết rất rõ sự thật cay đắng và thất bại nhục nhã này, nhưng chúng không còn sự lựa chọn nào khác. Mọi cố gắng hòng gỡ gạc một phần thể diện cho bộ mặt xâm lược đều đã bất lực.

        Trước đó 8 năm, cũng vào tháng 3 năm 1965, những tên lính cổ da (lính thủy đánh bộ) Mỹ hùng hổ chui ra từ tàu há mồm, đổ bộ lên bờ biển Đà Nẵng của chúng ta. Chúng nghênh ngang sải những bước chân dài trên bờ cát trắng, giương cặp mắt lơ láo nhìn bầu trời xanh và mảnh đất xa lạ của xứ nhiệt đới này với lời lẽ huênh hoang "đây là cuộc dạo chơi" của lực lượng viễn chinh thiện chiến Mỹ chưa hề nếm mùi bại trận (!)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/3-1965_zps48dcc3a9.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/3-1965a_zps37bc5a89.jpg)
Tháng 3/1965
Bắt đầu "dạo chơi" từ Đà Nẵng

        Oái oăm thay, Nhà trắng và Lầu Năm góc đã dồn hàng triệu quân, chưa kể quân chư hầu và bè lũ tay sai, hàng chục nghìn máy bay, xe tăng, thiết giáp, pháo lớn, pháo nhỏ, hàng chục triệu tấn bom đạn, chất độc hoá học và các loại phương tiện chiến tranh hiện đại nhất lúc đó hòng đè bẹp dân tộc ta, nhưng mọi mưu toan xảo quyệt, ác hiểm, tàn bạo nhất của chúng đều thất bại thảm hại. Chúng đã phải ký Hiệp định Pa-ri cũng chính là thừa nhận sự thật cay đắng của kẻ bại trận.

        Lại đúng vào tháng 3, sau 8 năm, những bước chân xâm lược kia đang dồn dịch để được chui vào tàu há mồm, những khuôn cửa máy bay vận tải quân sự khổng lồ hoặc máy bay phản lực dân dụng được huy động cho "chiến dịch" rút quân này. Nhìn những bộ mặt uể oải, xám ngoét, những cặp mắt lờ đờ nhợt nhạt, tóc tai bờm xờm... đang nhích dần, nhích dần về những khuôn cửa của phương tiện vận chuyển như đang chui vào đường hầm tăm tôi!... Tuy vậy, lối đi đó lại đưa họ về với sự sống, với quê hương, với gia đình nên không ai từ chối.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/3d-Linhmyvenuoc1_zpsb403a9ae.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/3d-Diemdanhtungtenxamluoc1_zpse43d652c.jpg)
Tháng 3/1973
Đến lủi thủi điểm danh để "gohome"

        Đâu rồi những sắc lính kiêu hùng thủy quân lục chiến, lính dù với những cái tên rất kêu Kỵ binh bay, Anh cả đỏ, Tia chớp nhiệt đới, Ngựa trắng, Rồng đen... chỉ còn lại những khuôn mặt chán chường, ngán ngẩm đối nghịch với hôm nào chúng hùng hùng hổ hổ xông vào mảnh đất này. Họ là những vị khách không mời mà đến, nên khi ra về khăn gói lủi thủi thảm hại cũng không có gì đáng ngạc nhiên cả. Mảnh đất này, dân tộc này đã bao lần chứng kiến cảnh quân xâm lược phải lui binh nên chẳng ai lạ lẫm khi nhìn những đám quân thất trận đang lầm lũi đi những bước cuối cùng trên mảnh đất thân yêu của mình.
Tại các buổi rút quân buồn bã ấy, người ta cũng nhìn thấy vài ba kẻ chóp bu trong đám tay sai ra tận chân cầu thang máy bay hay mép cầu tàu há mồm nói mấy lời tiễn biệt. Tâm trạng người đi và kẻ ở không khác gì nhau, bởi lẽ họ cùng chung số phận của đạo quân thất trận.

        Đối với phần lớn sĩ quan, binh lính của quân đội Sài Gòn, họ có thái độ khác hắn. Chiến tranh liên miên làm cho đất nước kiệt quệ, bao người thân dù ở bên này hay bên kia chiến tuyến, cũng đều đổ xương máu cho cuộc chiến. Họ mong muốn có hoà bình thật sự, được trở về với ruộng vườn quê hương, về với mẹ già, vợ dại, con thơ đang ngày đêm trông ngóng, đợi chờ. Có người đã nói thẳng ra không chút ngại ngùng: "Chỉ có ông Thiệu không muốn đất nước hoà bình, thống nhất, ông còn mong quân Mỹ và quân đồng minh ở lại Việt Nam dài dài để giữ cho chiếc ghế tổng thống của ông ta khỏi bị lật đổ...".


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2013, 01:54:55 am
        Gần lối vào cổng sân bay Tân Sơn Nhất có một vị trí rất đặc biệt, nhiều người gọi đó với cái tên mới nghe đã hiểu ngay công việc của nó là gì: "Lầu Năm góc phương Đông"; cũng có người gọi theo phiên âm Hán - Việt: "Tiểu Ngũ giác đài". Sau hàng chục năm, lá cờ sao và vạch nghễu nghện bay trên cột cờ cao hơn chục mét của bộ chỉ huy quân đội Mỹ (USARV) và bộ tư lệnh yểm trợ quân sự Mỹ (MACV) ở đây. Vậy mà, ngày 29 tháng 3 năm 1973 lá cờ tượng trưng cho bộ máy chiến tranh đồ sộ nhất "thế giới tự do" ấy đã phải kéo xuống. Nắng chiều vẫn còn gay gắt soi rõ những bộ mặt méo mó của các tướng lĩnh Mỹ - ngụy có mặt trong buổi lễ cuốn cờ này. Gió cứ lồng lên như muôn giật tung lá cờ của quân xâm lược. Viên tướng Mỹ vội vã chộp nhanh lấy lá cờ, gấp lại đặt vào chiếc túi da rồi bỏ vào một chiếc thùng.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/76Mycuoncovenuoc_zps50bba792.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/MACV1969_zps0e67ca23.jpg)
Lầu Năm góc phương Đông, nơi Mỹ hạ và cuốn cờ về nước ngày 29/3/1973

        Tướng bốn sao Uây-en không biết đã học tiếng Việt tự bao giờ mà cũng bập bẹ đọc bài diễn văn bằng thứ ngôn ngữ bản xứ dài đến ba, bốn phút. Có tiếng vỗ tay lẹt đẹt của Cao Văn Viên - đại tướng, tổng tham mưu trương ngụy và mấy quan chức Việt Nam cộng hoà. Các tướng, tá Mỹ biết được rằng bài diễn văn ấy đã kết thúc liền vỗ tay theo, âm thanh rời rạc chẳng ăn nhập vào đâu nên càng làm cho buổi lễ thêm phần tẻ nhạt.
Đội kèn của không quân ngụy đến làm thay công việc cho quan thầy, thổi lên một bài nghe thật rầu rĩ.
Viên tuyên uý Mỹ trong chiếc áo choàng đen tiến lên làm lễ, một tay làm dấu, một tay cầm cây thánh giá, miệng lầm rầm: "Xin đức Chúa lòng lành hãy tha thứ cho những sai lầm mà chúng con đã phạm phải trong cuộc chiến đầy cam go và đẫm máu này...".

        Ở các địa điểm rút quân của Mỹ và chư hầu còn có một sự kiện đặc biệt gây chú ý cho các phóng viên trong nước và ngoài nước của gần một trăm hãng thông tấn, truyền hình, báo, tạp chí lớn trên thế giới đang có mặt tại đó. Họ xúm vào phỏng vấn, ghi âm, chụp ảnh, quay phim những sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân giải phóng miền Nam Việt Nam là thành viên của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa (Đoàn A) và Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (Đoàn B) trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên tới các địa điếm này làm nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra việc rút quân Mỹ và quân chư hầu.

        Gặp nhau trong điều kiện rất ngặt nghèo về thời gian, lại phải làm việc khẩn trương tại các địa điểm rút quân của đốì phương, nhưng anh em ta đã luôn sẵn sàng, niềm nở trả lời từng câu hỏi của các phóng viên trong nước và ngoài nước. Mọi người đều vui vẻ, thoả mãn với những yêu cầu mà mình đặt ra. Nhiều hôm, dưới cái nóng gay gắt của ánh nắng mặt tròi nhưng ai nấy vẫn say sưa với công việc được giao. Tay cầm bản danh sách những tên xâm lược, miệng đọc to từng tên, cấp bậc, chức vụ, đơn vị... chờ có tiếng đáp lại và sau khi kiếm tra số người đúng với danh sách thì các sĩ quan của chúng ta mới đồng ý cho chuyến bay đó được rời khỏi sân bay. Thật vui và tự hào bởi chúng ta là những người chiến thắng!

        Mấy ngày đầu, Gin-bớt út-uốt - Thiếu tướng, Trưởng đoàn Mỹ, lẩn tránh không chịu thông báo lịch rút quân.
Đồng chí Thiếu tướng Lê Quang Hoà - Trưởng đoàn A, và đồng chí Trung tướng Trần Văn Trà - Trưởng đoàn B, đã cực lực phản đối hành động thiếu thiện chí của Mỹ và tuyên bố phía Mỹ đã vi phạm Hiệp định Pa-ri. Út-uôt phân bua: "Chúng tôi nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định và đã rút ra khỏi miền Nam Việt Nam 8.000 quân Mỹ và đồng minh!".

        Đồng chí Trần Văn Trà phản bác: "Đến hôm nay, chúng tôi xác định chưa có một quân nhân Mỹ hoặc đồng minh nào rút khỏi miền Nam Việt Nam, vì không có sự theo dõi, kiểm tra của chúng tôi", út-uốt ngồi im, không nói gì.

        Trung tướng Dư Quốc Đống - Trưởng đoàn ngụy, đỡ đòn cho quan thầy: "Các ngài đâu cần kiểm tra, giám sát gì, chẳng qua chỉ muốn quay phim, chụp hình rồi tuyên bố Mỹ thua, Mỹ phải rút quân thôi!". Ut-uốt nghe Dư Quốc Đống nói vậy mà thêm sạm mặt lại.

        Thật ra, út-uốt hay Dư Quốc Đống có biện bạch cách này hay cách khác đều không nằm ngoài âm mưu chống phá Hiệp định Pa-ri mà Nhà trắng và Lầu Năm góc đã hoạch định từ trước. Ních-Xơn và Kít-xinh-giơ cùng bè lũ tay sai đều hy vọng vào chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" qua đó để "thay màu da của xác chết", với mục đích cuối cùng là giành lại những gì chúng không thực hiện được trước lúc ký Hiệp định. Với hàng triệu quân ngụy, hàng tỷ đô-la Mỹ, hàng chục nghìn máy bay, xe tăng, xe bọc thép, pháo binh và các loại vũ khí hiện đại, hàng triệu tấn bom đạn cùng các phương tiện kỹ thuật tôi tân phục vụ chiến tranh vẫn ùn ùn đổ vào miền Nam Việt Nam. Toàn bộ số vũ khí, quân trang, quân dụng sử dụng cho hơn nửa triệu quân Mỹ và chư hầu đều để lại cho quân ngụy vì khi rút quân, chúng ta kiểm tra cả quân Mỹ và chư hầu đều không đem theo vũ khí, quân trang, quân dụng về nước. Chúng đã trí trá trả lời: "Những loại vũ khí và các phương tiện chiến đấu của quân đội quá nặng nên chúng tôi đã chuyến về nước bằng tàu biển trước rồi!". Thực ra, các căn cứ quân sự của Mỹ và chư hầu vẫn để nguyên không phá hủy như Hiệp định Pa-ri đã quy định. Khi chúng ta nêu vấn đề này trong các cuộc họp và yêu cầu họ phá hủy thì được trả lời ngắn gọn: "Quân lực Việt Nam cộng hoà đã tiếp quản từ trước khi ký Hiệp định!". Thật là một trò gian lận trắng trợn!

        Chỉ mấy dẫn chứng trên đã đủ thấy Mỹ - ngụy có dã tâm phá hoại Hiệp định Pa-ri như thế nào và khi phải ký kết rồi thì chúng chống đổi, vi phạm rất nghiêm trọng. Chúng quyết xé bỏ Hiệp định ngay sau khi đạt được mục đích là lấy hết số tù binh và rút quân an toàn.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2013, 02:17:22 am
        Ngày 21 tháng 3 năm 1973, ta gửi công hàm cho Đoàn Mỹ thông báo sẽ trao trả tù binh đợt 4 và là đợt trao trả cuối cùng trong vài ngày tới, trước thời gian quy định với điều kiện phía Mỹ cũng rút hết quân trong cùng đợt này. Nửa đêm 21 tháng 3, Gin-bớt út-uôt gửi công hàm trả lòi hoàn toàn nhất trí sẽ tiến hành cùng một lúc vào cuối ngày 25 tháng 3 năm 1973 và rút hết 5.498 lính Mỹ.

        Trưa ngày 22 tháng 3 năm 1973, chuẩn tướng Uých-khâm - Phó đoàn Mỹ, cử sĩ quan liên lạc đem bản bị vong lục khẩn đến Trại Đa-vít, với tuyên bố hủy bỏ công hàm trả lời ngày 21 tháng 3 do chính Ut-uốt ký. Họ yêu cầu ta trao trả số tù binh Mỹ bị bắt ở Lào. Đây là một đòi hỏi hết sức vô lý, sống sượng (!)

        Lập tức, ta bác bỏ sự lật lọng trắng trợn của phía Mỹ.

        Các nhà báo nước ngoài tới tấp gọi điện đến trụ sở Đoàn ta. Mọi người đều lên án trò bỉ ổi này của Mỹ. Phóng viên hãng Reuter (Anh quốc) nói: "Chúng tôi quá hiểu người Mỹ là như vậy đó!".

        Ngày 24 tháng 3 năm 1973, ta tổ chức họp báo. Do có sự kiện Mỹ giở trò phá hoại Hiệp định, lật lọng không chịu rút hết quân Mỹ, nên các nhà báo nước ngoài đến Trại Đa-vít rất đông đế dự cuộc họp báo.

        Ta tố cáo Mỹ - ngụy đã không thực hiện nghiêm chỉnh các cam kết trong Hiệp định, lên án Mỹ tráo trở trong việc trao trả và rút quân. Các nhà báo nêu rất nhiều câu hỏi về việc Mỹ vớt mìn ở các cảng biển miền Bắc, Mỹ có tham gia tái thiết Việt Nam sau chiến tranh, giải pháp chính trị cho miền Nam Việt Nam, việc trao trả tù binh của các bên, và nhất là sự thay đổi về lịch rút quân Mỹ...

        Đồng chí Trần Văn Trà đã ký một bức công hàm khẩn gửi Ut-uốt, trong đó có viết: "Đoàn đại biêu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam yêu cầu phía Hoa Kỳ phải hoàn thành nghiêm chỉnh việc rút quân đúng thời hạn 60 ngày như Hiệp định và Nghị định thư đã quy định mà không có một ngoại lệ nào. Yêu cầu cụ thê của chúng tôi là:

        a)   Việc rút quân của Hoa Kỳ và các đồng minh khác của Hoa Kỳ đợt cuối cùng phải bắt đầu từ ngày 26 tháng 3 năm 1973 và hoàn thành vào ngày 28 tháng 3 năm 1973.

        b)   Số nhân viên quân sự Hoa Kỳ trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên (gồm có 825 người Mỹ không được út-uốt nói trong công hàm ngày 21 tháng 3 năm 1973) phải rút hết trước 8 giờ ngày 29 tháng 3 năm 1973. Sau thời hạn 60 ngày ở miền Nam Việt Nam chỉ còn một tổ Liên hợp quân sự 4 bên làm nhiệm vụ tim kiếm những người chết và mất tích. Chúng tôi không thể chấp nhận việc ,để lại 159 lính thủy đánh bộ canh gác Sứ quán Hoa Kỳ ở Sài Gòn vì điều đó là trái với Hiệp định Pa-ri và quy chế ngoại giao quốc tế"
. (Trích công hàm ngày 21 tháng 3 năm 1973 của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam).

        Phía Mỹ - ngụy biết rõ không thể lay chuyển được ý chí của chúng ta, lời văn trong công hàm đầy sức mạnh của người chiến thắng đã buộc chúng phải thay đổi thái độ. 2 giò sáng ngày 25 tháng 3 năm 1973, cánh cổng của trụ sở hai Đoàn ta được mở, sĩ quan liên lạc Mỹ đến gõ cửa trao công hàm. Nội dung vẫn lập lờ ngoan cố, giọng điệu quẩn quanh "hoà bình trong danh dự...", nhưng cuối cùng vẫn phải xin rút hết quân (!)

        Ngay trong ngày 27 tháng 3 năm 1973, Tổ kiểm tra của chúng ta đã làm việc liên tục suốt cả ngày với 11 chuyến bay của Mỹ tại sân bay Tân Sơn Nhất. Chuyến thứ 11 còn phải vắt sang 1 giò sáng ngày hôm sau mới xong.
Thiếu tá Đoàn Văn Diên, sĩ quan Đoàn B trong Tổ kiểm tra, vỗ vai một đại uý Sài Gòn rồi nói nhỏ nhẹ: "Quá khuya rồi nhưng chịu khó một chút. Nhìn cảnh người Mỹ rút quân thế này người Việt Nam mình ai cũng thấy vui, không ăn mà vẫn no...".

        Viên đại uý hình như cũng thấy vui lây. Anh ta không nói gì thêm, ngước mắt nhìn lên bầu tròi đêm đầy sao lấp lánh. Tân Sơn Nhất đêm nay yên bình huyền diệu!

        Phiên họp cuối cùng ngày 28 tháng 3 năm 1973 của Ban Liên hợp quân sự 4 bên không có vấn đề gì phải tranh cãi gay gắt. Vào phòng họp, các Đoàn cho phép phóng viên quay phim, chụp hình khoảng mươi phút, sau đó phiên họp mới bắt đầu. Bốn Đoàn thoả thuận về Tổ Liên hợp quân sự 4 bên tiếp tục giải quyết vấn đề mồ mả và người mất tích. Mỗi bên được cử 30 người và có thể làm việc ngay.

        Đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Đoàn Mỹ thoả thuận sẽ rút hết trong các ngày 30 và 31 tháng 3 năm 1973.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2013, 03:10:47 am
        Phiên họp bế mạc, trước khi ra về, Ut-uôt chủ động đến gặp riêng đồng chí Lê Quang Hoà, vẻ trịnh trọng và nói: "Có việc đặc biệt cần phải trình bày với ngài. Tôi và vợ tôi xin ở lại đây thêm một đêm vì cả ngày 31 tháng 3 phải thu xếp cho những người Mỹ cuối cùng trở về nước. Sáng 1 tháng 4 năm 1973 chúng tôi sẽ sang Băng Cốc bằng máy bay U21.

        Anh Hoà nói chậm rãi và rành rọt để mọi người ở gần đó có thể nghe được: "Tối nay, tôi sẽ báo cáo Hà Nội. Tôi nghĩ đây là việc có thể giải quyết được, ông ở lại một đêm, tôi cho rằng như vậy không có gì vi phạm. Nhưng chỉ được ở lại một đêm thôi nhé!".

        Ut-uổt vui ra mặt, luôn mồm nói "Thank you!, Thank you!"...

        Mọi ngưồi đứng gần đó nghe hai Trưởng đoàn trao đổi với nhau đều tỏ ra thích thú và nghĩ chuyện phải xin phép này của Út-uốt đâu có đơn giản, biết bao xương máu đồng chí, đồng bào yêu nước của chúng ta đã đổ xuống mới buộc kẻ xâm lược tỏ ra biết điều như vậy.

        Ngày 29 tháng 3 năm 1973, hai Đoàn ta ở Trại Đa-vít nhận được thông báo rút quân cuối cùng của Mỹ. Thông báo có đoạn ghi: "Đại tướng F. Uây-en, tổng chỉ huy MACV, củng rút khỏi miền Nam Việt Nam ngày cuối cùng, cùng với 5 sĩ quan cao cấp tuỳ tùng của ông ta". Đúng là một văn kiện lịch sử của quân lực Hoa Kỳ sau mấy trăm năm chinh chiến.

        Bỗng nhiên có khoảng năm, sáu chục người ào ào chạy vé hướng Tổ công tác của hai Đoàn ta. Họ mang vác lỉnh kỉnh máy quay phim, máy ảnh, máy ghi âm, trang phục nhiều màu sắc... Họ là những phóng viên mà phần đông là của các hãng thông tấn lớn như AFP, AP, UPI REUTER. SAPISA AGENCY, KYODO NEWS, các hãng vô tuyến truyền hình, các đài phát thanh và báo chí của nhiều nước. Khi họ tới gần, anh em ta mới nhận ra họ là những nhà báo quen biết qua những lần gặp gỡ tại nhiều buổi họp báo do hai Đoàn ta tổ chức hoặc các cuộc chiêu đãi trong trụ sở Trại Đa-vít, chiêu đãi của Uỷ ban Quốc tế ngoài Sài Gòn...

        Một phóng viên người Thụy Điển của vô tuyến truyền hình SWEDE TIVI nói to: "Chào các ông! Chúng tôi tìm mọi cách để vào sân bay, thấy các ông là chúng tôi chạy đến đây ngay!".

        Phê-lích Bô-lô, phóng viên hãng thông tấn AFP, cũng vừa tới. Anh ta thở hổn hển nhưng không giấu nổi niềm vui: "Nhận được tin có buổi lễ tiễn chân này, chúng tôi bàn nhau phải "lập mẹo du kích" là yêu cầu Hiệp hội ký giả nước ngoài xin Bộ Ngoại giao Sài Gòn cho phép vào dự lễ tiễn chân tướng Uây-en. Ngoài cổng kia kìa! Họ đang làm lễ đó. Nhưng nhìn thấy các ông từ phía xa, chẳng ai bảo ai chúng tôi bỏ dự lễ và chạy cả sang đây". Bô-lô chỉ tay về phía cổng, nơi có đám cò quạt loè loẹt và tỏ vẻ thích thú. Một nữ phóng viên còn nói: "Trên thế giới này không phải ai cũng có niềm tự hào như các ông đâu". Mặc cho quân cảnh, mật vụ hằn học, tức tối ở xung quanh...


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười Một, 2013, 02:53:41 am
        Buổi trưa, Tổ kiểm tra của hai Đoàn ta từ trụ sở ra sân bay Tân Sơn Nhất. Trời nắng gắt, gió lộng nên không khí bớt nóng. Trên sân bay, hai chiếc máy bay vận tải C130 nằm phủ phục dưới ánh mặt trời. Toàn thân máy bay sơn loang lố ngụy trang màu cỏ lẫn màu đất. Gần đó có hai chiếc vận tải DC9 của không quân Mỹ. Một chiếc máy bay dân dụng khổng lồ Boeing 747 đậu chắn phía trước mũi những chiếc vận tải quân sự kia. Như thế cũng có thể đoán được chiếc Boeing sẽ được ưu tiên chở số tướng tá Mỹ trong bộ chỉ huy USARV và MACV do Uây-en cầm đầu.
Ngoài cổng sân bay, có một đám đông đang đứng lố nhố, cờ quạt loè loẹt. Họ đang làm lễ tiễn chân Uây-en và đám tuỳ tùng.

        Phía bên ấy chỉ còn đám tướng, tá Mỹ - ngụy, đứng trơ khấc giữa khoảng trông mênh mông của sân bay. Tâm trạng Uây-en và các tướng, tá Mỹ - ngụy chắc chắn không vui. Họ nghĩ gì khi thấy các phóng viên nước ngoài chạy ùa cả về phía Tổ kiểm soát cuộc rút quân cuối cùng này (!?)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/dai-tuong-frederick_carlton_weyand_zps50a754f1.jpg)
Tư lệnh quân đội Mỹ cuối cùng tại Việt Nam đại tướng Frederick Carlton Weyand bay chuyến bay cuối cùng rời khỏi Việt Nam mang theo lá cờ Mỹ đã từng treo ở Lầu năm góc phương đông

        Có tiếng kèn bu-dích tấu lên một đoạn hành khúc Mỹ, đám người tản ra. Kẻ ở lại là Cao Văn Viên và đám tướng tá ngụy, kẻ ra đi có vóc dáng to lớn của người nước ngoài. Uây-en đi trong số này, vội vã bước về phía máy bay, lên cầu thang mà không hề ngoái đầu lại. Hình như gánh nặng thất bại của cuộc chiến chỉ đè nặng lên vai ông ta? Không, cả Nhà trắng và Lầu Năm góc cũng phải hứng chịu gánh nặng thất bại chứ đâu chỉ một mình viên đại tướng cuối cùng này! Đã có hàng chục viên tướng Mỹ bị ngã ngựa trên mảnh đất xa lạ này, giờ ông ta cũng là ngưòi tham gia vào số các bại tướng đó.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/3d-Diemdanhtungtenxamluoccuoicung_zps0edf4e22.jpg)
Rà soát, đối chiếu lại bản danh sách cuối cùng

        Những sĩ quan cách mạng tay cầm bản danh sách quân Mỹ rút chuyến này, đọc tên từng người, trong đó có tên của Uây-en và đám tuỳ tùng đi cùng. Cánh cửa máy bay đã khép lại. Chiếc máy bay từ từ ra đường băng và cất cánh. Bầu tròi bao la nuốt chửng chiếc Boeing 747 đem theo trong đó những tên xâm lược chóp bu với nỗi buồn của kẻ bại trận.

        Chiếc vận tải quân sự DC9 của bộ chỉ huy quân sự Mỹ số hiệu 40619 là chuyến cuối cùng. Một tốp lính Mỹ đi về phía chân cầu thang máy bay. Tổ sĩ quan kiểm soát của ta đã kiểm tra tên từng người và xác định có đại tá Nơ-doóc, trung uý Xơ-mít, hạ sĩ Ê-le-a-no và người cuối cùng là Mắc Bi-en-ki. Có lẽ Bi-en-ki là tên lính xâm lược cuối cùng phải ròi khỏi miền Nam. Cả tốp lính Mỹ đã vào hẳn trong khoang máy bay. Bỗng nhiên từ khoang cửa, đại tá Ô-đen lại xuất hiện. Ông ta lên máy bay từ trước, giò lại nhảy xuống đất, tay cầm chai rượu vang đã mở nút, ngửa cổ tu một hồi, rượu chảy tràn ra mép và xuống cổ áo. Viên đại tá cảnh sát ngụy tên là Ngưu ra tiễn Ô-đen đón lấy chai rượu và cũng uống ừng ực. Với màn chào tạm biệt độc nhất vô nhị này, đại tá ô-đen "tình cờ" trở thành tên lính Mỹ cuổì cùng rút khỏi miền Nam Việt Nam theo các điều khoản của Hiệp định Pa-ri!

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/74nhungbinhsicuoicungrutquan_zps11f2bc25.jpg)
Những tên xâm lược cuối cùng

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/36ODen_zps2d1a57fa.jpg)
Đại tá ô-đen (người đứng giữa, tay cầm chai rượu vang)"tình cờ" trỏ thành người lính Mỹ cuối cùng rút khỏi miền Nam Việt Nam

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/Ch1EE5p1EA3nhv1EDBit1ED5bayc1EE7achuy1EBFnbaycu1ED1icugravengch1EDFquacircnM1EF9ruacutetv1EC1n1B001EDBc_zps612f906e.jpg)
Chụp ảnh lưu niệm với tổ bay cuối cùng

        Cửa máy bay đã đóng. Chiếc DC9 từ từ lăn bánh ra đường băng chính, tiếng động cơ gầm lên lấy đà và cất cánh. Bầu trời phía Đông đã ngả màu xam xám của buổi chiều. Con chim sắt bao phen gây tội ác cho đất nước Việt Nam đang rúc vào màn đêm đen tối khổng lồ. Đồng hồ của những sĩ quan cách mạng lúc này chỉ vào con số 4 giờ 30 phút chiều ngày 29 tháng 3 năm 1973.

        Thế là 115 năm, gót giày của các đạo quân xâm lược đã dẫm đạp lên Tổ quốc thân yêu của chúng ta, giò chính thức cuốn xéo về nơi xuất phát.

        Những ngày tháng 3 lịch sử năm 1973 sẽ còn đọng lại mãi trong ký ức bao người bởi chiến công vĩ đại của dân tộc ta trước một kẻ thù hung bạo nhất thời đại - Đế quốc Mỹ.

        Tổ kiểm tra của hai Đoàn đại biểu quân sự ta trở về Trại Đa-vít sau một ngày làm việc căng thẳng, nhưng hết sức vui sướng và tràn đầy tự hào. Từ nay, đất nước ta sạch bóng quân xâm lược!


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười Một, 2013, 12:57:28 pm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/DaoChiCong_zps455a7ca0.jpg)

NHỮNG NGÀY CUỐI THÁNG TƯ LỊCH SỬ
     
ĐÀO CHÍ CÔNG            

        Trong suốt 823 ngày đêm thực hiện nhiệm vụ đấu tranh ngoại giaơ quân sự. thi hành Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam (Hiệp định Pa-ri). chung tôi có nhiều kỷ niệm không thể nào quên. Nhưng những kỷ niệm sâu sắc nhất là chúng tôi được trực tiếp chứng kiến những tên lính viễn chinh Mỹ cuối cùng rút khỏi miền Nam Việt Nam ngày 29 tháng 3 năm 1973 và sự tan rã hoàn toàn của ngụy quyền Sài Gòn cũng như sự tháo chạy trong hoảng loạn của những người Mỹ cuối cùng ra khỏi miền Nam trong những ngày cuối tháng 4 năm 1975. Đặc biệt, chúng tôi được chứng kiến ngày 30 tháng 4, thắng lợi vĩ đại nhất của quân và dân ta trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Đây là một trong những sự tích vĩ đại của nhân loại tiến bộ trong thế kỷ XX.

        Mười ngàv cuối tháng 4 năm 1975 là những ngày cực kỳ khó khăn, hoảng loạn đối với Mỹ - ngụy. Trong những ngày đó, phía Mỹ - đặc biệt là đại sứ Gra-ham "giải pháp chính trị" cho miền Nam, mà thực chất là để cứu vãn sự tồn tại của chính quyền Sài Gòn trong cơn giãy chết, tạo điều kiện cho những người Mỹ cuối cùng tháo chạy khỏi miền Nam "trong trật tự" và bớt mất mặt trước dư luận. Đồng thời, chúng cũng giúp những tên tay sai thân Mỹ có thêm cơ hội để đi di tản và tránh xảy ra xung đột giữa người Mỹ và bọn tay sai của chúng.

        Kết cục là, chỉ trong mười ngày cuối tháng 4 năm 1975, Mỹ - ngụy đã đưa ra "trình diễn" trên sân khấu chính trị Sài Gòn tới ba chính phủ và ba đời tổng thống ngụy. Nhưng cuối cùng chúng vẫn chịu thất bại hoàn toàn.

        Ngược lại. trong những ngày này, vị thế của hai Đoàn ta đã trở thành một pháo đài vững chắc và kiên cường. Chúng ta đã thể hiện thế đứng hiên ngang của cách mạng giữa sào huyệt địch, khẳng định vị trí và vai trò của mặt trận đấu tranh ngoại giao quân sự - một sáng tạo của Đảng và Nhà nước ta. Điểu quan trọng nhất là, chúng ta luôn ở thế thắng và luôn thể hiện được ý chí chiến đấu kiên định, vững vàng và không sợ hy sinh gian khổ, vì sự nghiệp cách mạng toàn thắng.

        Màn trình diễn trên sân khấu chính trị Sài Gòn bắt đầu từ ngày 21 tháng 4 năm 1975. Trước thất bại đau đớn và toàn diện trên chiến trường, đồng thời dưới sức ép từ phía Mỹ và ngay trong nội bộ ngụy quyền, Nguyễn Văn Thiệu đã buộc phải từ chức, bàn giao chính quyền cho "ông già" Trần Văn Hương.

        Phía Mỹ đã nhận ra rằng, đòi hỏi đầu tiên và cấp bách nhất của giải pháp chính trị là Thiệu phải từ chức! Chúng hy vọng rằng, chỉ có một chính quyền không có Thiệu mới có cơ may thương lượng trực tiếp với phía cách mạng, hòng cứu vãn tình thế trước nguy cơ thất bại hoàn toàn.

        Thông qua con đường ngoại giao cũng như các tướng lĩnh thân cận và báo giới, đại sứ Mỹ Mác-tin đã gây sức ép với Nguyễn Văn Thiệu bằng cách bắn tin: "Nếu ông Thiệu không chịu xuống thì các tướng lĩnh dưới quyền ông ta sẽ buộc ông làm điều này. Có một cách rút lui êm đẹp và trang trọng nhất là ông ta tự nguyện từ chức và nói cho đồng bào biết rằng ông ta phải làm như vậy để bảo vệ Hiến pháp và để chính quyền kế vị có thể dễ dàng điều đình với phía bên kia nhằm cứu vãn nước Việt Nam tự do...".

        Thật là cay đắng cho một tổng thống đồng minh thân cận bậc nhất của Hoa Kỳ trước bước đường cùng!


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Một, 2013, 08:11:49 am
        Chiều tối ngày 21 tháng 4 năm 1975, với vẻ mặt mệt mỏi và ủ rũ, Nguyễn Văn Thiệu xuất hiện trên đài truyền hình Sài Gòn, đúng vào lúc ở Sài Gòn đổ mưa to, bầu trời xám xịt. Nhiều cây cối bị gãy đổ, như sự trùng hợp đắng cay cho số phận của một đời tổng thống. Với thái độ hằn học và uất ức, Thiệu nói: ... "Tôi không đồng ý ký Hiệp định Pa-ri, nhưng phía Hoa Kỳ, ông Kít-xinh-giơ, bằng mọi cách đã ép tôi ký và hứa chính phủ Hoa Kỳ sẽ tiếp tục viện trợ cho chính phủ Việt Nam cộng hòa. Khi quân Mỹ rút đi, viện trợ lại bị cắt giảm, buộc tôi phải rút khỏi Tây Nguyên để bảo vệ các thành phố lớn và các khu vực trọng yếu khác...”.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/Thieudocdienvantuchuc21-4-1975_zps7ed75be4.jpg)
21/4/1975: Diễn văn từ chức

        "... Hoa Kỳ đã yêu cầu chúng tôi thực hiện điều không thể làm được. Vì vậy, tôi đã bảo họ: Các ông đòi hỏi chúng tôi làm điều mà các ông đã thất bại với nửa triệu binh lính tinh nhuệ và sĩ quan có tài, với gần 300 tỷ đô-la chi phí trong 8 năm trời. Nếu tôi không nói rằng các ông đã bị Cộng sản Việt Nam đánh bại thì tôi cũng phải nói một cách khiêm tốn là các ông cũng không thể chiến thắng. Nhưng các ông đã tìm đường rút lui trong danh dự...".

        "Hoa Kỳ đã để các chiến sĩ của chúng tôi chết thảm dưới làn mưa đạn của địch. Đó là một hành động vô nhân đạo của một đồng minh vô nhân đạo...".

        "Hoa Kỳ hãnh diện là một quốc gia bảo vệ đến cùng chính nghĩa và lý tưởng tự do trên thế giới và sẽ ăn mừng lễ độc lập thứ 200 vào năm tới. Tôi tự hỏi rằng lời nói của Hoa Kỳ có còn giá trị gì nữa không!? Những cam kết của Hoa Kỳ có còn hiệu lực nữa không?".


        Thiệu đã trút hết lên đồng minh Hoa Kỳ sự căm giận bị dồn nén bấy nay của một kẻ không còn gì để mất. Tuy nhiên, từ trong tâm địa của một tên Việt gian, chắc hẳn ông ta không thể không lo ngại thảm kịch đã từng diễn ra với anh em Ngô Đình Diệm hồi tháng 11 năm 1963, nếu như phía Mỹ bật đèn xanh.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/Gerald_Ford_zpsea7b5da9.jpg)
23/4/1975: Đốỉ với Hoa Kỳ, chiến tranh Việt Nam coi như đã kết thúc!

        Sau khi Thiệu từ chức, ngày 23 tháng 4 năm 1975 tổng thống G. Pho đã tuyên bố trong buổi diễn thuyết tại Trưòng đại học Tulance: "Đốỉ với Hoa Kỳ, chiến tranh Việt Nam coi như đã kết thúc!". Lời tuyên bố đó đã được giới báo chí loan tin và bình luận rộng rãi như một sự kiện trọng đại và đáng nhớ. Mỹ đã quyết định tháo chạy khỏi miền Nam Việt Nam và chấm dứt sự dính líu của Mỹ với chính quyển tay sai Sài Gòn. Thực chất, đấy là một thất bại to lớn, thảm hại, cay đắng và đau đớn nhất trong lịch sử 200 năm của nước Mỹ.

        Ngày 25 tháng 4 năm 1975, Nguyễn Văn Thiệu buộc phải rời Sài Gòn đi Đài Bắc bằng chuyến bay do chính Mỹ tổ chức, để lại phía sau nỗi buồn, sự nuối tiếc và lòng uất ức của một tên tay sai bán nước. Thiệu cũng thừa hiểu rằng chính Trần Văn Hương và Dương Văn Minh đã gây sức ép để buộc Thiệu phải ra đi, vì ông ta là một cản trở lớn trong lúc này.

        Trần Văn Hương đã gấp rút thành lập chính phủ mới và đã mời tướng Dương Văn Minh làm thủ tướng. Dương Văn Minh đã từ chối "niềm vinh hạnh" này. Ông ta công khai phát biểu trên đài truyền hình Sài Gòn những điều mà chính ông ta đã nói với ông Hương: "Thầy đã có lời mời tôi làm thủ tướng trong chính phủ mới, nhưng trong tình hình hiện nay, mong thầy nhường tôi chức tổng thống để tôi điều hành...".

        Dương Văn Minh hy vọng rằng, với tiếng tăm là người có nhiều ảnh hưởng đến lực lượng thứ ba ở Sài Gòn lại được phía Mỹ bật đèn xanh, ông ta có thể đứng ra thương lượng với phía Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, hòng cứu vãn tình thế hết sức nguy kịch và cấp bách lúc này của ngụy quyền Sài Gòn.

        Đối với Mỹ, sự lựa chọn con bài Dương Văn Minh lúc này là phù hợp hơn cả và ông Hương cũng nhận thấy điều đó, vì chính ông từng là phó tổng thống lên thay Nguyễn Văn Thiệu. Người ta cho rằng, ông Hương điều hành một chính phủ Thiệu mà không có Thiệu. Do đó, ông Hương cũng từng chịu nhiều sức ép. Chính điều đó buộc Mỹ phải thay ông Hương bằng một người khác có thể "dễ tiếp xúc" với Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Vì vậy, ông Hương buộc phải từ chức và bàn giao chính quyền cho Dương Văn Minh, chỉ sau đúng một tuần lễ ngắn ngủi ngồi trên ghế tổng thống.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/tttranvanhuong02_zpsab41217f.jpg)
Tổng thống 1 tuần




Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười Một, 2013, 01:46:46 am
        Dương Văn Minh nhậm chức tổng thống từ chiều 28 tháng 4 năm 1975. Trong 2 ngày còn lại, ông ta không làm được gì ngoài lời tuyên bố trên đài truyền hình và phát thanh Sài Gòn: "Yêu cầu Hà Nội ngừng chiến và thương thuyết chính trị" và "yêu cầu tất cả người Mỹ ra khỏi Việt Nam trong vòng 24 giờ". Đồng thời, ông ta khích lệ binh sĩ Sài Gòn "giữ nguyên vi trí, chính phủ sẽ tìm cách thương lượng...".

        Cần nhắc lại rằng, ngày 26 tháng 4 năm 1975, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ra tuyên bố đòi xoá bỏ hoàn toàn chính quyền và bộ máy chiến tranh kìm kẹp của ngụy quyền Sài Gòn. Đây thực chất là tối hậu thư của cách mạng buộc ngụy quyền Sài Gòn phải đầu hàng.

        Tuyên bố của Dương Văn Minh về "ngưng bắn" và "thương thuyết" lúc này càng chứng tỏ sự ngoan cố của những kẻ cùng đường, Trước cơn giãy chết, chúng còn cố tìm cách gỡ gạc phần nào sự thất bại thảm hại đang diễn ra quá nhanh chóng.

        Tình hình càng trở nên cấp bách, chỉ tính từng giờ, thậm chí từng phút, trong khi con bài Dương Văn Minh được đưa ra quá muộn mằn. Ông ta đã gấp rút tìm kiếm những nhân vật có tên tuổi thuộc lực lượng thứ ba ở Sài Gòn, để thành lập chính phủ và tìm mọi cách để tiếp xúc và thương lượng với ta.

        Lúc này, trụ sở của hai Đoàn đại biểu quân sự ta tại Trại Đa-vít đã trở thành địa chỉ duy nhất mà ông Minh nhắm tới để cầu cạnh, bấu víu. Ông ta hy vọng việc sử dụng những "con bài" thuộc lực lượng thứ ba sẽ được phía ta chấp nhận nói chuyện.

        Dù được Mỹ bật đèn xanh và thông qua mọi con đường để tác động đốỉ với ta, nhưng ông Minh đều thất bại, bởi lúc này ta chẳng còn gì để mà thương lượng với họ. Con đường duy nhất đối với chính quyền Sàỉ Gòn là hạ vũ khí và đầu hàng vô điều kiện.

        Sau khi ông Dương Văn Minh nhậm chức tổng thống, khoảng 17 giò 30 phút, một tốp 5 chiếc máy bay A37 do Mỹ chế tạo bất ngờ ném bom xuống sân bay Tân Sơn Nhất, nơi đậu của các máy bay vận tải quân sự C130 và các máy bay chiến đấu, ngay sát hàng rào của trụ sở hai Đoàn ta. Ngụy quyền Sài Gòn bị đòn đánh bất ngờ ngay tại sào huyệt, nơi mà chúng tập trung một lực lượng lớn máy bay quân sự từ các sân bay khác sơ tán về và được phòng thủ bằng lực lượng phòng không khá dày đặc. Chúng cho rằng, sân bay Tân Sơn Nhất là nơi an toàn nhất lúc này, vì ở đó có trụ sở của hai Đoàn ta.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/A37danhTanSonNhat_zps03bbd86b.jpg)
Biên đội  A37 đánh Tân Sơn Nhất (nhìn từ chiếc thứ 5)


        Cuộc ném bom bất ngờ của không quân ta đạt hiệu quả lớn về mặt phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh và tiêu hao sinh lực địch, với 24 máy bay bị phá hủy tại chỗ và hàng trăm sĩ quan, binh lính địch bị thương vong. Nhưng hiệu quả về tâm lý và chính trị còn lớn hơn rất nhiều. Các hãng thông tấn, báo chí ở Sài Gòn đồng loạt đưa tin và bình luận về trận đánh có một không hai này. Nó đã góp phần đẩy nhanh quá trình tan rã của ngụy quân và ngụy quyền Sài Gòn.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/TacircnS1A10nNh1EA5t11101ED5naacutetsautr1EADnneacutembomc1EE7aphi11101ED9iQuy1EBFtTh1EAFngngagravey28-4-1975_zpsccaf8780.jpg)
Tân Sơn Nhất sau trận bom


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Một, 2013, 05:42:20 am

*

*         *

        Đêm 28 tháng 4 năm 1975, tất cả chúng tôi được lệnh xuống hầm, trừ các đồng chí cảnh vệ và các đồng chí khác có nhiệm vụ đặc biệt thì ở trên công sự nổi. Tất cả chúng tôi đã sẵn sàng tại vị trí chiến đấu của mình.

        Khoảng 4 giờ sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975, pháo binh ta bắt đầu bắn vào sân bay Tân Sơn Nhất và các mục tiêu khác đã định ở Sài Gòn. Lúc đầu pháo ta bắn còn thưa, sau đó bắn cấp tập thành từng đợt. Nằm dưới hầm, chúng tôi nghe tiếng pháo nổ đinh tai ở sân bay, cũng như tiếng rít của các quả đạn pháo bay ngang qua khu vực Trại Đa-vít, có một số quả rơi sát và rơi cả vào trong khu vực của hai Đoàn ta. Điều này thật dễ hiểu, vì Trại Đa-vít nằm ngay trong sân bay Tân Sơn Nhất, một trong 5 mục tiêu quan trọng nhất của chiến dịch Hồ Chí Minh; đó là, dinh tổng thống ngụy quyền, bộ tổng tham mưu ngụy, biệt khu thủ đô, tổng nha cảnh sát và sân bay Tân Sơn Nhất.

        Trước đó, khi xây dựng hệ thống hầm hào chiến đấu trong Trại Đa-vít, chúng tôi đã được cấp trên quán triệt rằng, hầm của chúng tối phải kiên cố để có thể tránh được đạn pháo khoan sâu l,2m.

        Sau đợt pháo kích đầu tiên, Mỹ - ngụy hết sức hoang mang. Chúng biết rằng "giờ G" đã đến và tình hình không thể cứu vãn được nữa. Một số sĩ quan và nhân viên quân sự của Mỹ trong Tổ Liên hợp quân sự 4 bên chưa kịp di tản khỏi Sài Gòn. Chúng hốt hoảng gọi điện đến Văn phòng của Đoàn ta để cầu cạnh, đề phòng khi Quân giải phóng đánh vào Sài Gòn, chúng sẽ nhờ Đoàn ta chứng nhận họ là nhân viên của Tổ Liên hợp quân sự 4 bên để tránh bị liên lụy...

        Sáng 29 tháng 4, đại sứ Mỹ G. Mác-tin mấy lần thông qua Đoàn Hung-ga-ri trong Uỷ ban Quốc tế xin gặp Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, nhưng phía ta không trả lời vì lúc này còn gì nữa để mà gặp (?!).

        Trưa 29 tháng 4, một đoàn bốn người của phía Sài Gòn đến Trại Đa-vít xin gặp Trưởng đoàn ta. Họ tự giới thiệu là "phái viên của phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền đến bàn việc bàn giao chính quyền". Đoàn này gồm các ông:

        -   Nguyễn Văn Điệp, tổng trưởng tiếp thương - Trưởng đoàn.

        -   Nguyễn Đình Đầu, phụ tá phó tổng thống đặc trách hoà đàm.

        -   Tô Văn Cang, Chuyên viên văn phòng phó tổng thống.

        -   Nguyễn Văn Hạnh, Chuyên viên văn phòng phó tổng thống.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/8b-NguyenDDinhfDDaauf-Phutaphotongthongphutrachhoadam1trong4ngouidenDa-vittrua29-4_zps878b0513.jpg)
Ông Nguyễn Đình Đầu (2005) - Cựu Phụ tá phó tổng thống phụ trách hòa đàm, 1 trong 4 người đến Đa-vit trưa 29-4

        Xét thấy tình huống lúc này không nên tiếp bốn "vị khách", lãnh đạo Đoàn ta cử Đại uý Nguyễn Hữu Tài, Chính trị viên đơn vị vệ binh, ra gặp họ và chuyển lời của Thiếu tướng, Trưởng đoàn Hoàng Anh Tuấn rằng, Đoàn ta không được ủy quyền bàn bạc bất kỳ vấn đề nào liên quan đến đề nghị của họ. Mọi vấn đề đã được nói rõ trong tuyên bố ngày 26 tháng 4 năm 1975 của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam

        Khoảng 14 giò 30 phút ngày 29 tháng 4, đoàn thứ hai gồm hai người là Giáp sư Châu Tam Luận và Linh mục Chân Tín đến Trại Đa-vít xin gặp Đoàn ta. Lãnh đạo đơn vị đã cử Trung tá Bùi Thiệp ra gặp hai người và trao cho họ bản tuyên bố ngày 26 tháng 4 năm 1975 của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và cũng trả lời như đã trả lời với đoạn buổi trưa. Hai ông đành nhận bản tuyên bố và ra về.

        Đến khoảng 17 giò 30 phút ngày 29 tháng 4, lại có đoàn thứ ba đến Trại Đa-vít, gồm ba người là Giáo sư Châu Tam Luân và Linh mục Chân Tín cùng Luật sư Trần Ngọc Liễng. Ba "vị khách" này tự giới thiệu họ thuộc thành phần thứ ba, được tổng thống Dương Văn Minh cử đến xin gặp Trưởng đoàn ta. Ba vị khẩn khoản mong được ta tiếp.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/TranNgocLieng_zps664c205b.jpg)
Ông Trần Ngọc Liễng



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Một, 2013, 02:24:10 am

*

*         *

        Sau khi cân nhắc kỹ, lãnh đạo Đoàn ta thấy đây là những người thuộc thành phần thứ ba, trước đây đã từng đối lập vối chế độ độc tài Nguyễn Văn Thiệu. Họ đã không nề nguy hiểm để đến Trại Đa-vít giữa lúc pháo ta vẫn bắn liên tục vào sân bay Tân Sơn Nhất. Mặt khác, hai trong ba người đến đây lần thứ hai nên ta đổng ý tiếp họ, nhưng nói rõ là ta sẽ tiếp họ với danh nghĩa cá nhân chứ không phải với danh nghĩa là đại diện của ai. Ba vị khách tỏ ra mừng rỡ và cảm ơn. Thế là cả ba ông được đưa xuống căn hầm chỉ huy dự bị và được Đại tá, Phó Trưởng đoàn Võ Đông Giang tiếp chuyện. Vừa chui xuống hầm, ba vị khách hết sức ngạc nhiên, vì căn hầm rất kiên cố và khá rộng rãi, lại vừa đào xong và đất vẫn còn mới nguyên.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/8bbTranNgocLieengrdenDa-vit17h30ngay29-42_zpsd28a8985.jpg)
Ông Trần Ngọc Liễng (2005)

        Ba vị khách cho biết, họ được tổng thống Dương Văn Minh cử đến, đề nghị với Đại tá Võ Đông Gỉang trình với thượng cấp cho thương thảo, làm sao để cuộc tấn công vào Sài Gòn tránh gây đổ máu và bớt tổn hại về vật chất. Ba vị cho biết thêm, nếu thành lập chính phủ liên hiệp thì họ sẽ được ông Minh cử giữ chức tổng trưởng.

        Thật là trớ trêu, đến giờ phút này mà chính quyền Sài Gòn vẫn còn ảo tưởng về khả năng thương lượng. Với thái độ thân thiện nhưng dứt khoát, Đại tá Võ Đông Giang đã giải thích rõ ràng chính sách của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cho ba vị khách và nói rõ: "Các ông về nói với ông Dương Văn Minh là đầu hàng đi thôi, vì bây giờ không còn gì để mà thương lượng. Mọi vấn đề đã được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam khẳng định rõ trong tuyên bố ngày 26 tháng 4 năm 1975". Nghe vậy, ba vị khách đứng dậy xin phép ra về ngay để trình với ông Minh.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/TanSonNhat29-4-75_zpsc56069f2.jpg)
Tân Sơn Nhất 29/4/1975

        Lúc này, pháo của ta vẫn bắn cấp tập vào khu vực sân bay Tân Sơn Nhất, nếu để họ về Sài Gòn sẽ rất nguy hiểm. Vì vậy, ta khuyên họ nên ở lại, chờ hết đợt pháo rồi hãy đi. Tuy vậy, để tránh họ hiểu nhầm là ta cố tình giữ họ ở lại, ta nói rõ là nếu họ quyết định ra. về thì ta sẽ không cản. Ba vị khách bàn bạc với nhau rồi quyết định xin ở lại.

        Suốt đêm 29 tháng 4, đồng chí Võ Đông Giang đã trò chuyện với ba vị khách về các chính sách của cách mạng mà họ quan tâm. Đồng chí đã lên án cuộc chiến tranh tàn bạo do Mỹ - ngụy tiến hành ở miền Nam Việt Nam và phê phán họ trắng trợn phá hoại Hiệp định Pa-ri. Đồng chí nói rõ vì sao chúng ta buộc phải tiến hành chiến tranh cách mạng để đánh đổ chính quyền Sài Gòn và khẳng định đó là một hành động hoàn toàn chính đáng.

        Với thái độ cởi mở, chân thành và với bề dày kinh nghiệm đấu tranh ngoại giao và thực tiễn hoạt động cách mạng, đồng chí Võ Đông Giang đã khiến ba vị khách kính phục và bị thu hút vào câu chuyện như chưa từng được nghe nói về cách mạng một cách đầy đủ và thuyết phục đến thế. Thỉnh thoảng các vị khách lại đặt câu hỏi về những điều chưa rõ. Đồng chí Võ Đông Giang vẫn ôn tồn giải thích cặn kẽ từng vấn đề.

        Phía trên, pháo của ta vẫn tiếp tục bắn vào sân bay Tân Sơn Nhất. Lúc này mọi người ngồi dưới chiến hào chỉ cảm thấy phấn chấn, rạo rực đón chờ chiến thắng.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/TanSonNhat_zps39fc5062.jpg)
Tân Sơn Nhất vẫn chìm trong khói lửa

        Ba vị khách đã được đãi món cháo gà nóng sốt và những quả chuối chín vàng (sản phẩm tăng gia tại Trại Đa-vít) cùng với ấm trà Hồng Đào ngát hương và những điếu thuốc lá Thủ đô thơm phức (sản phẩm từ miền Bắc gửi vào). Có lẽ ít ở nơi nào trên thế giới, tình người và tình cảm của những người cách mạng lại lịch sự, sâu đậm, khoan dung và vị tha đến thế!

        Cùng buổi tối 29 tháng 4, một trung tá ngụy thuộc đơn vị dù đóng ỏ phía trước Trại Đa-vít đến xin gặp đại diện của Đoàn ta. Lãnh đạo Đoàn đã cử sĩ quan liên lạc ra gặp. Viên trung tá ngụy hết sức hoang mang và lo sợ, khác hẳn với thái độ ngông nghênh, khiêu khích hàng ngày của y. Sau khi trấn tĩnh, anh ta nói "Pháo củạ các ông bắn khủng khiếp quá... Xin các ông cho biết bây giờ chúng tôi phải làm gi?”. Đồng chí sĩ quan liên lạc ta đã giải thích cho y chính sách khoan hồng, nhân đạo của cách mạng và khuyên y tốt nhất nên trở về đơn vị, hạ vũ khí và ở dưới hầm; khi Quân giải phóng tiến vào thì đầu hàng vô điều kiện.

        Đêm 29 tháng 4, đài phát thanh của chính quyền Sài Gòn chỉ phát đi, phát lại những bản nhạc không lời, những bài hát có nội dung chung chung. Khoảng nửa đêm, Dương Văn Minh lên đài phát thanh "yêu cầu các đơn vị quân đội cứ ở nguyên vị trí, chính phủ đã cho người đi thương lượng với phía bên kia...". Ông Minh cố biết đâu là, ba vị đại diện mà ông cử đến Trại Đa-vít đang bị mắc kẹt ở đây và không thể trở về Sài Gòn, trong lúc bản thân ông hết sức lo lắng và bối rối ngồi chờ dưới tầng hầm tại dinh Độc Lập.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười Một, 2013, 03:04:02 am

*

*        *

        Xung quanh Sài Gòn, năm cánh quân ta ngày càng áp sát và xiết chặt vòng vây. Một số đơn vị đã bắt đầu đột nhập vào nội thành.

        Trên bầu trời Sàỉ Gòn, từng đàn máy bay trực thăng của Mỹ vẫn hoạt động liên tục nhằm gấp rút di tản hàng trăm nhân viên CIA, hàng nghìn cố vấn quân sự cùng các nhân viên đại sứ quán và những tên tay sai thân Mỹ và có nhiều nợ máu với cách mạng còn bị kẹt lại ở toà đại sứ Mỹ. Trên cao, các máy bay chiến đẩu gầm rít hộ tống cho các đợt di tản.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/Ditan_zpsfadcf392.jpg)
Đại sứ quán Mỹ sáng 30/4/1975

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/Ditan2_zps0d69f92f.jpg)
Tháo chạy

        Bên sân bay Tân Sơn Nhất, thỉnh thoảng lại có vài loạt đạn bắn vu vơ lên bầu tròi. Các bồn xăng bị trúng đạn pháo ta bắt lửa, nổ tung và bốc cháy dữ dội.

        Tại toà đại sứ Mỹ, bãi đáp chính cho các máy bay trực thăng đưa người đi di tản, đã diễn ra cảnh tượng hết sức hỗn loạn. Bọn tay sai Mỹ chen lấn và xô đẩy lẫn nhau. Họ phá cổng và leo qua các bức tường, hàng rào bảo vệ để vào khuôn viên. Đại sứ Mác-tin và đám lính thủy đánh bộ canh gác toà đại sứ đều bất lực trước cảnh tượng hãi hùng đò. Ông ta đã phải đi theo ngách sau để về nhà riêng thu dọn đồ đạc. Trong khi đó, các nhân viên của ông vừa cuống cuồng lo giữ trật tự an ninh để khỏi phá hỏng các đợt di tản, vừa phải gấp rút thiêu hủy từng đống tài liệu mật trước khi rút chạy.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/8cDaisuMyMar-Tinngay29-4_zps865acbe2.jpg)
Đại sứ Mỹ G. Mác-tin gấp gáp, vội vã

        Để tránh sự nguy hiểm có thể xảy ra, tổng thống Mỹ G. Pho đã ra tối hậu thư buộc đại sứ G. Mác-tin phải rời ngay khỏi miền Nam Việt Nam. Mặc dù còn nhiều việc chưa kịp làm, nhưng đến nước này thì ông Mác-tin đành phải chấp hành mệnh lệnh của tổng thống. Ông bơ phờ và kiệt sức, ôm lá cờ Mỹ bước lên chiếc trực thăng Lady Ace khoảng 7 giờ 50 phút sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/8dBieutuongtoadaisuduocmangtheo_zps6ad6170d.jpg)
Biểu tượng tòa đại sứ Mỹ, oai hùng, tượng trưng cho sức mạnh tưởng như vô địch thiên hạ ...

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/8dNoctoadaisuMychieu29-4_zps96e0e9b8.jpg)
... nay đã trở nên vô dụng nhưng khi vội vã chạy cũng cố tha theo!

        Sự có mặt của Mỹ tại miền Nam Việt Nam tới đây đã hoàn toàn chấm dứt. Sau đó không lâu, toán thủy quân lục chiến gác toà đại sứ Mỹ rút qua cửa sau để lên chiếc trực thăng cuối cùng, được yểm trợ bởi 6 chiếc Cobra gắn đại liên cất cánh lúc gần 8 giờ sáng ngày 30 tháng 4. Chúng ném những hộp hơi cay xuống xung quanh nóc toà đại sứ, trên đầu hàng nghìn ngưòi Việt còn đang bàng hoàng, ngơ ngác đứng chờ những chiếc trực thăng không bao giờ tới.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/Ditanhut_zps7f28d904.jpg)
... những chiếc trực thăng không bao giờ trở lại



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Một, 2013, 07:01:58 am
        Rạng sáng 30 tháng 4 năm 1975, pháo ta bắn thưa dần. Chúng tôi được Ban chỉ huy đơn vị thông báo xe tăng của ta đã tràn qua sân bay Tân Sơn Nhất tiến về ngã tư Bảy Hiền, tất cả mọi ngưòi ở nguyên vị trí, không ra khỏi hầm. Anh em chúng tôi vui sướng đến trào nước mắt, ai cũng muốn nhảy ra khỏi hầm ngay lập tức để được tận mắt chứng kiến và tiếp đón các cánh quân của ta đang ào ạt tiến vào giải phóng Sài Gòn.

        Một đơn vị bộ đội ta hành quân qua con đường trước cổng Trại Đa-vít. Trên đường không thấy bóng dáng tên lính ngụy nào. Chúng đã kịp tháo chạy trước khi quân ta tiến vào, bỏ lại quần áo, giày da, mũ sắt và cả súng đạn... bừa bãi trên mặt đưòng. Chúng tôi ùa về hướng này, vẫy chào đoàn quân chiến thắng. Trên đỉnh tháp nước Trại Đa-vít, lá cờ giải phóng đang tung bay phấp phới trong nắng vàng rực rỡ của buổi sáng Sài Gòn. Trại Đa-vít có vinh dự được cắm một trong những lá cờ cách mạng sớm nhất ở Sài Gòn vào lúc 9 giò 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975. Sau đó hai giờ, xe tăng của ta đã húc đổ cánh cổng sắt dinh Độc Lập, lá cờ giải phóng của đội quân bách chiến bách thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã được cắm trên nóc dinh tổng thống ngụy - sào huyệt cuối cùng của chúng - vào hồi 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/B1ED911101ED9iS1B001110oagraven10Quacircn1110oagraven31110aacutenhchi1EBFmSacircnbayTacircnS1A10nNh1EA5t1EA2nht1B00li1EC7u_zpsdcb304f6.jpg)
Sư đoàn 10 tiến vào Tân Sơn Nhất

        Khoảng 10 giờ sáng, Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn và Đại tá Võ Đông Giang tiễn ba vị khách ở lại qua đêm ra cổng. Trên đường gặp một đơn vị Quân giải phóng tiến vào Trại Đa-vít. Đồng chí chỉ huy đứng nghiêm chào và báo cáo với Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn: "Tôi là Sơn, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 24, Sư đoàn 10, Quân đoàn 3, xin phép Thiếu tướng cho triển khai bộ đội bảo vệ khu vực Trại Đa-vít". Đồng chí Hoàng Anh Tuấn gật đầu chào và tươi cười đáp: "Xin chúc mừng chiến công của các đồng chí. Các đồng chí cho triển khai nhiệm vụ theo phương án đã định". Ba vị khách lúc đó được tận mắt chứng kiến khí thế hùng dũng của đoàn quân chiến thắng. Linh mục Chân Tín xúc động giang rộng hai tay nói lớn: "Đây là giờ phút sung sướng nhất của dân tộc chúng ta". Sau đó, ba vị khách nhận giấy giới thiệu của Đoàn ta gửi các trạm kiểm soát Quân giải phóng, yêu cầu các trạm tạo điều kiện thuận lợi để ba ông trở về Sài Gòn an toàn. Họ xúc động nói lời cảm ơn, rồi vội vã ra về.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/D1B00ouongVanMinh_zps484d071b.jpg)
Dương Văn Minh trên đường tới đài phát thanh tuyên bố đầu hàng không điều kiện

        13 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975, trên Đài phát thanh Sài Gòn, tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh đã tuyên bố đầu hàng. Ông ta nói: "Tôi là Dương Văn Minh, tổng thống của chính quyền Sài Gòn. Tôi kêu gọi binh sĩ bỏ vũ khí đầu hàng vô điều kiện Quân giải phóng, giải tán cơ cấu chính quyền từ trung ương đến địa phương và giao quyền quản lý cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam". Sau đó là các thông báo về tin chiến thắng của ta và tin tức hoạt động của thành phố Sài Gòn - Gia Định ngày giải phóng. Thông tấn xã Việt Nam và Đài tiếng nói Việt Nam cũng liên tục phát đi tin tức mà muôn vạn trái tim Việt Nam mong đợi: Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Ngày giải phóng thành phố Sài Gòn - Gia Định nói riêng và cả nước nói chung đã thực sự trở thành ngày hội lớn của nhân dân cả nước.

        Tình hình diễn biến nhanh quá sức tưởng tượng! Chẳng ai hình dung được trong suốt 823 ngày đêm đấu tranh gay go, quyết liệt trên mặt trận ngoại giaọ quân sự, chúng tôi lại có vinh dự được chiến đấu trong những ngày cuối cùng của tháng 4 năm 1975 lịch sử và được trực tiếp chứng kiến chiến thắng vĩ đại và trọn vẹn của dân tộc, cũng là sự thất bại thảm hại và hoàn toàn của kẻ thù ngay tại sào huyệt của chúng.

        Kỷ niệm này thật thiêng liêng, thật sâu sắc, sẽ cùng chúng tôi đi suốt cuộc đời!


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Mười Một, 2013, 04:07:03 am
LỜI KỂ CỦA LUẬT SƯ TRẦN NGỌC LIỄNG VỀ CHUYẾN ĐI VÀO TRẠI ĐA-VÍT

        … Chiều 29 tôi đang làm việc ở văn phòng riêng của đại tướng Dương Văn Minh tại nhà. Khoảng hai giờ rưỡi trưa tôi được cha Châu Tín tìm tôi có việc khẩn cấp.

        Cha Chân Tín có báo tin cho tôi hay: cha được báo cáo là ở xung quanh Sài Gòn có 4 dàn đại pháo 130 ly đã được chỉ vào Sài Gòn để nã là ít nhất hai chục ngàn viên đạn đại pháo. Tôi vừa hay tin đó, tôi đến gặp đại tướng Dương Văn Minh để nói rằng bây giờ phải cần làm 1 cái gì cho gấp để chặn đứng cái việc tàn sát dân vô tội ở Sài Gòn hai nữa là để bảo tồn nhà cửa của dân chúng ở thành phố. Tôi để nghị rằng để tôi đi lên Tân Sơn Nhất gặp phái đoàn liên lạc quân sự 2 bên để yêu cầu ngưng cái việc pháo kích vào Sài Gòn. Sau khi đại tướng Dương Văn Minh đồng ý , tôi có yêu cầu linh mục Chân Tín kiếm thêm 1 người nữa để cả 3 cùng đi lên Tân Sơn Nhất. Sở dĩ tôi muốn đi đông người là để có chứng nhân nghe và nhớ những cái việc nói chuyện giữa 2 bên. Cúng tôi chọn giáo sư Châu Tam Luân và khi đi chúng tôi dùng phương tiện riêng, nghĩa là cái xe riêng của tôi để đi lên Tân Sơn Nhất vào cái ngõ cửa quân sự.

        Tôi đến đó lối chừng 4 giờ chiều. Quân đội Sài Gòn vẫn còn đóng ở cửa quân sự nhưng mà tôi đi vô thì không có ai hỏi giấy tờ gì hết. Tôi đi vào trong trại Đa-vít. Khi đến đó gặp người gác trại, tôi có yêu cầu gặp đại tá Võ Đông Giang. Sau khi cái anh gác cổng  vào trong nói chuyện một hồi rồi trở ra mời chúng tôi vào gặp anh trung tá Bùi Thiện. Tôi trình bày cái lý do mà tôi đến đây muốn gặp đại tá Võ Đông Giang để bàn một vài việc quan hệ đến chiến trường. Trung tá Bùi Thiện cho biết rằng trong ngày đã có một vài phái đoàn đến rồi với danh nghĩa là của phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền gửi đến nhưng mà đại tá Võ Đông Giang đã không có tiếp.

        Tôi có nói với anh Thiện yêu cầu gặp đại tá Võ Đông Giang nói có tôi, luật sư Trần Ngọc Liễng, linh mục Chân Tín và giáo sư Châu Tam Luân đến đây muốn gặp. Tùy đại tá Võ Đông giang muốn tiếp tôi với tư cách gì cũng được. Tôi có 3 tư cách: một là tư cách là chủ tịch của lực lượng quốc gia tiến bộ, là một thành phần của lượng thứ 3, hai là người đã được tổng thống Dương Văn Minh đồng ý cho đến đây, ba là tư cách của một người luật sư từ trước đến giờ hoạt động cho hòa bình để đến nòi chuyện với đại tá Võ Đông Giang.

        Sau nửa giờ, chúng tôi được đại tá Võ Đông Giang tiếp. Khi mời chúng tôi đi vào trong nhà thì trời đã sẩm tối rồi. Chúng tôi xuống một cái hầm. Theo tôi thì cái hầm đó đào cũng mới, đất còn ướt nằm ở trong khuôn viên nhà của đại tá Võ Đông Giang. Chúng tôi xuống dưới cái hầm.

        Đại tá Võ Đông Giang nói rằng tiếp tôi là bởi vì tôi là Trần Ngọc Liễng và Chân Tín, Châu Tam Luân nên tiếp. Tôi nói anh tiếp tôi với tư cách nào cũng được. Anh tiếp tôi để tôi đưa đến 1 cái yêu cầu là giờ đây tôi nghe tin có nhiều dàn pháo đương muốn nã pháo vào Sài Gòn trong đêm nay. Tôi khẩn khoản yêu cầu anh làm thế nào chuyển lên trên nhà chức trách quân sự để ngăn chặn cái việc là cho pháo vào Sài Gòn. Theo riêng tôi biết thì chính phủ hiện tại lúc đó là chính phủ Dương Văn Minh sẽ không dùng võ lực để ngăn chặn cái việc tiến quân các anh, Nếu có thể được nên tiếc sinh mạng và tài sản của nhân dân Sài Gòn.

        Anh Võ Đông Giang trả lời với tôi rằng có lẽ bây giờ đã quá trễ và anh không có cái thẩm quyền về quân sự nhưng anh sẽ chuyển lời của tôi lại đến thượng cấp. Chúng tôi nói chuyện với anh qua chuyện hàn huyên hỏi thăm tin tức của Sài Gòn với nhau. Anh ra đi khỏi ước chừng 15 phút anh trở lại thì anh cũng nói rằng, cho biết rằng đã quá trễ, bây giờ chỉ còn chờ. Nếu Sài Gòn không có chống đối bằng quân sự, nói rõ hơn nếu Dương Văn Minh mà tuyên bố đầu hàng thì có thể tránh khỏi các tai họa đó.

        Khi đó tôi thấy rằng đã hết lời nài nỉ với anh Võ Đông Giang và cái mục đích của tôi là muốn làm thế nào cho khỏi thấy những cảnh bom rơi đạn nổ, dân chúng nhà cửa bị tiêu tan. Tôi nói thế thì cái sứ mạng của tôi đến đây chấm dứt. Chúng tôi muốn về thì anh Võ Đông Giang có nói rằng để anh hỏi lại cấp trên. Chừng đó anh báo tin lại rằng cấp trên yêu cầu chúng tôi ở lại đêm nay với anh Giang chứ không muốn chúng tôi đi về vì sợ sẽ biị đạn lạc. Chúng tôi phải ở lại vì lúc đó cũng tối rồi, không có phương tiện để mà liên lạc được với bên ngoài. Trong đêm chúng tôi chia hai ra. Châu Tam Luân và tôi ở trong một cái hầm còn anh Võ Đông Giang và linh mục Chân Tín thì ở một cái hầm kế bên. Nhưng chúng tôi thức suốt sáng đêm để nói chuyện trong lúc đó thì anh Võ Đông Giang có đem những thức ăn khô và nước đến cho chúng tôi uống và ăn.

        Đén mười giờ rưỡi đêm tôi đón được đài Giải phóng nghe thì anh Võ Đông Giang khi nghe đến cái lời tuyên bố của đài nói rằng cái chính quyền Dương Văn Minh là “tập đoàn  Dương Văn Minh” thì anh Võ Đông Giang có nói với tôi rằng nó quá trễ rồi.

        Chúng tôi cũng ráng đợi thì đến chừng 11 hay 12 giờ đêm thì đạn pháo bắt đầu rớt mà rớt đây ấy là rớt chung quanh cái căn Đa-vít nhiều và ở trong phi trường nhiều. Anh em chúng tôi ngồi sợ nhưng mà cũng hơi mừng là vì không nghe tiếng đạn pháo nổ ở Sài Gòn, biết chắc rằng không có đạn pháo kích vào Sài Gòn.

        Đến tới sáng chúng tôi vẫn chờ đợi tin. Chừng mười giờ rưỡi nghe đài báo rằng đại tướng Dương Văn Minh, tổng thống Dương Văn Minh ra lời tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Liền khi đó anh Võ Đông Giang rất mừng. Chúng tôi tất cả đều mừng, thấy rằng cái cuộc chiến tranh đã chấm dứt không sợ cái nạn giết chóc nữa.

        Chúng tôi mới từ hầm lên gặp lại anh thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn và tất cả các anh em ở xung quanh đó mà đêm trước tôi không thấy, Sáng ra thì thấy rất nhiều người bộ đội của Giải phóng ở xung quanh. Anh Võ Đông Giang bảo đi bắt gà nấu cháo để đãi tất trong phái đoàn và tất cả anh em bộ đội tại đó.

        Đến mười một giờ, tôi yêu cầu được về, anh Võ Đông Giang đồng ý. Chúng tôi lên chiếc xe của chúng tôi, tôi lái thì cái xe đêm đó đã bị miểng đạn bể mất một cái kiếng rồi. Chúng tôi ra tới cửa của trại Tân Sơn Nhất thì gặp các anh bộ đội cản lại chĩa súng vào chúng tôi bảo phải quay trở vô. Anh Châu Tam Luân lấy cái khăn trắng quơ lên và bảo rằng đây là lực lượng thứ ba thì các anh bộ đôi nói không biết lực lượng thứ ba gì hết bảo phải vô không thì bắn.

        Chúng tôi quay trở vào. Khi gặp được anh Võ Đông Giang, Võ Đông Giang cười nói rằng tôi bảo các anh đừng về, khoan về thì chúng tôi ở lại chờ nữa. Đến lối 1 giờ trưa thì anh Võ Đông Giang mới làm cho chúng tôi 1 cái giấy chứng nhận có con dấu đàng hoàng, chúng tôi mới ra khỏi được Tân Sơn Nhất và về đến nhà thì trên đường đi chúng tôi nhận thấy ngổn ngang nón, áo, tất cả cái gì của người quân nhân của Sài Gòn mặc trước thì đều nằm ở trên đường đi.

        Về đến các đường xá thì thấy rất nhộn nhịp. Đó là dân chúng họ đến tất cả các nhà lớn họ phá cửa vào để họ khuân đồ đạc. Trật tự trong lúc đó rất là không có gì hết. Mà trật tự vãn hồi trong 2 ngày sau.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: bob trong 14 Tháng Mười Một, 2013, 06:49:55 pm
     
       " Một đơn vị bộ đội ta hành quân qua con đường trước cổng Trại Đa-vít. Trên đường không thấy bóng dáng tên lính ngụy nào. Chúng đã kịp tháo chạy trước khi quân ta tiến vào, bỏ lại quần áo, giày da, mũ sắt và cả súng đạn... bừa bãi trên mặt đưòng. Chúng tôi ùa về hướng này, vẫy chào đoàn quân chiến thắng. "

- Cảm ơn bác GiangTv@ đã đăng hồi ký của cán bộ đoàn ta ở trại đavit... đọc rất hay, hấp dẫn. Tuy nhiên bob tui là người dẫn đầu đơn vị (c11,d6,e 24) trên đường tiến vào đánh chiếm sân bay Tân sơn nhất...Khi đơn vị tiến sát vào hàng rào sân bay rồi thì gặp cái cổng sắt đóng kín (lúc đó tôi cũng không biết đó là cổng trại Đavít) trong đó thấy có người gác. chúng tôi tiến đến ngay trước cổng thấy một người quân phục chỉnh tề tay cầm súng AK bước ra, chưa kịp hỏi han gì thì anh ta reo lên: " A ... người mình đây rồi" rồi anh vội quay gót lại vừa chạy, vừa nói theo: "chờ tôi báo các thủ trưởng..." Tôi và anh em trong đơn vị dồn lại ngay trước cổng khá đông, chỉ lát sau các anh ùa ra ôm hôn chúng tôi, nhiều người ứa nước mắt vui sướng... rồi bia Trúc bạch, nước ngọt Hà nội, thuốc lá Điện biên, Trường sơn... các anh bê ra khao chúng tôi ngay tại cổng... ! - Đó là những gì tôi còn nhớ được trước trại Đavit sáng 30/4/1975 lịch sử.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/B1ED911101ED9iS1B001110oagraven10Quacircn1110oagraven31110aacutenhchi1EBFmSacircnbayTacircnS1A10nNh1EA5t1EA2nht1B00li1EC7u_zpsdcb304f6.jpg)
Sư đoàn 10 tiến vào Tân Sơn Nhất

    



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: bob trong 15 Tháng Mười Một, 2013, 08:50:04 am
      Mặc dầu đã đồng ý để hai Đoàn tự tổ chức chiến đấu tại chỗ, Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh vẫn chỉ định một cánh đặc công và một đại đội xe tăng, tìm cách đến Trại Đa-vít sớm nhất. Việc này đã được báo cho Đoàn. Nhưng có lẽ vì cuộc tiến công của quân ta vào Sài Gòn diễn ra quá nhanh và quá thuận lợi, cả đặc công và xe tăng đều không phải đến.

        9 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975, Chỉ huy Đoàn ra lệnh đưa lá cờ giải phóng to nhất treo lên đỉnh tháp nước của Trại Đa-vít.

        Tính ra, hai Đoàn đại biểu quân sự của ta đã bám trụ, chiến đấu trong 2 năm, 3 tháng và 3 ngày.

-------------------
-bob tui đọc đọan này (đoạn màu đỏ trên) thấy bác Nguyễn Sinh nhận định hơi phiến diện . Nếu bác biết mũi tiến quân của QD3 vào SG năm ấy (1975) "quá thuận lợi" như thế nào chắc bác sẽ có nhận định khác. Nếu bác biết f320, đánh Đồng dù ...xe tăng địch tràn ra lấp cửa mở, chèn cả bộ đội ta... rồi E24, f10 bị chặn lại khu vực Bảy hiền ...xe tăng cháy, bb của d4,e24 hi sinh tại đây biết bao nhiêu. !?
 - Khi chúng tôi (e 24) họp trước khi vào trận... Cấp trên nhấn mạnh: Các đ/c hết sức lưu ý: Trên đường tiến vào SG qua Hóc môn, bà điểm. có cơ sở cách mạng ở Thới tam thôn. gần sân bay TSN có cơ sở phái đoàn QS 4bên của ta ở trại Đavít. nếu đơn vị nào gặp thì phải có trách nhiệm bảo vệ...
 Do đã được quán triệt như thế nên sáng 30/4/1975 khi tiến vào sân bay...đơn vị tôi tình cờ thọc ngay vào trại Davit. (chuyện này tôi đã kể bên trang "ký ứ một thời" )...Rồi đơn vị tôi còn ở lại bảo vệ trại Đa vít cả tháng sau nữa. Nếu bác nào trong đoàn ta trong trại Đa vít ngày ấy chắc sẽ nhớ những chi tiết bob đã kể.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Tomqb3 trong 15 Tháng Mười Một, 2013, 10:31:48 am
(https://lh6.googleusercontent.com/rakwABXzfFV8BDPNY_u8Vdsfzia9Z_TWBqmUHDaT1Utkz3cynKZ31R8XZUMhnxVNeZaXFJkGu_ZsMsRWZwKrfJdkjiqO6Ri7scltdpLBEkqDt02cP4o)
chac khong ai quen tam anh nay o Lang Cha ca tren duong re vao TSN cua su 10 QD3 ,


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Một, 2013, 02:05:36 pm
Hơ! Cái ảnh này VMH đã mổ xẻ kỹ lưỡng tới từng "con ốc" của các chiếc xe này rồi mà! (Ai nhớ đường linh thì đưa lại giùm đi)


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Một, 2013, 02:25:54 pm
      Mặc dầu đã đồng ý để hai Đoàn tự tổ chức chiến đấu tại chỗ, Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh vẫn chỉ định một cánh đặc công và một đại đội xe tăng, tìm cách đến Trại Đa-vít sớm nhất. Việc này đã được báo cho Đoàn. Nhưng có lẽ vì cuộc tiến công của quân ta vào Sài Gòn diễn ra quá nhanh và quá thuận lợi, cả đặc công và xe tăng đều không phải đến.

        9 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975, Chỉ huy Đoàn ra lệnh đưa lá cờ giải phóng to nhất treo lên đỉnh tháp nước của Trại Đa-vít.

        Tính ra, hai Đoàn đại biểu quân sự của ta đã bám trụ, chiến đấu trong 2 năm, 3 tháng và 3 ngày.

-------------------
-bob tui đọc đọan này (đoạn màu đỏ trên) thấy bác Nguyễn Sinh nhận định hơi phiến diện . Nếu bác biết mũi tiến quân của QD3 vào SG năm ấy (1975) "quá thuận lợi" như thế nào chắc bác sẽ có nhận định khác. Nếu bác biết f320, đánh Đồng dù ...xe tăng địch tràn ra lấp cửa mở, chèn cả bộ đội ta... rồi E24, f10 bị chặn lại khu vực Bảy hiền ...xe tăng cháy, bb của d4,e24 hi sinh tại đây biết bao nhiêu. !?
 - Khi chúng tôi (e 24) họp trước khi vào trận... Cấp trên nhấn mạnh: Các đ/c hết sức lưu ý: Trên đường tiến vào SG qua Hóc môn, bà điểm. có cơ sở cách mạng ở Thới tam thôn. gần sân bay TSN có cơ sở phái đoàn QS 4bên của ta ở trại Đavít. nếu đơn vị nào gặp thì phải có trách nhiệm bảo vệ...
 Do đã được quán triệt như thế nên sáng 30/4/1975 khi tiến vào sân bay...đơn vị tôi tình cờ thọc ngay vào trại Davit. (chuyện này tôi đã kể bên trang "ký ứ một thời" )...Rồi đơn vị tôi còn ở lại bảo vệ trại Đa vít cả tháng sau nữa. Nếu bác nào trong đoàn ta trong trại Đa vít ngày ấy chắc sẽ nhớ những chi tiết bob đã kể.

chúng tôi tiến đến ngay trước cổng thấy một người quân phục chỉnh tề tay cầm súng AK bước ra, chưa kịp hỏi han gì thì anh ta reo lên: " A ... người mình đây rồi" rồi anh vội quay gót lại vừa chạy, vừa nói theo: "chờ tôi báo các thủ trưởng..." Tôi và anh em trong đơn vị dồn lại ngay trước cổng khá đông, chỉ lát sau các anh ùa ra ôm hôn chúng tôi, nhiều người ứa nước mắt vui sướng... rồi bia Trúc bạch, nước ngọt Hà nội, thuốc lá Điện biên, Trường sơn... các anh bê ra khao chúng tôi ngay tại cổng... !

Đồng ý với bác! Tuy vậy cũng nên thông cảm cho anh em trong đoàn. Phần lớn vì lệnh nên nằm bẹp trong hầm. Trừ lãnh đạo đoàn, bộ phận cơ yếu và 1 vài anh em bên đồ bản, tham mưu là còn biết được ít nhiều tình hình chứ còn đại đa số đều có tin tức gì đâu. Nói chung là đều có cảm giác như "cá nằm trên thớt"  ;D Các bác vào mới tin chắc là còn sống nên mừng quá đi ấy chứ. Còn tiếc gì mà không chiêu đãi các bác  ;D


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: bob trong 16 Tháng Mười Một, 2013, 07:58:33 am
      Mặc dầu đã đồng ý để hai Đoàn tự tổ chức chiến đấu tại chỗ, Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh vẫn chỉ định một cánh đặc công và một đại đội xe tăng, tìm cách đến Trại Đa-vít sớm nhất. Việc này đã được báo cho Đoàn. Nhưng có lẽ vì cuộc tiến công của quân ta vào Sài Gòn diễn ra quá nhanh và quá thuận lợi, cả đặc công và xe tăng đều không phải đến.

        9 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975, Chỉ huy Đoàn ra lệnh đưa lá cờ giải phóng to nhất treo lên đỉnh tháp nước của Trại Đa-vít.

        Tính ra, hai Đoàn đại biểu quân sự của ta đã bám trụ, chiến đấu trong 2 năm, 3 tháng và 3 ngày.

-------------------
-bob tui đọc đọan này (đoạn màu đỏ trên) thấy bác Nguyễn Sinh nhận định hơi phiến diện . Nếu bác biết mũi tiến quân của QD3 vào SG năm ấy (1975) "quá thuận lợi" như thế nào chắc bác sẽ có nhận định khác. Nếu bác biết f320, đánh Đồng dù ...xe tăng địch tràn ra lấp cửa mở, chèn cả bộ đội ta... rồi E24, f10 bị chặn lại khu vực Bảy hiền ...xe tăng cháy, bb của d4,e24 hi sinh tại đây biết bao nhiêu. !?
 - Khi chúng tôi (e 24) họp trước khi vào trận... Cấp trên nhấn mạnh: Các đ/c hết sức lưu ý: Trên đường tiến vào SG qua Hóc môn, bà điểm. có cơ sở cách mạng ở Thới tam thôn. gần sân bay TSN có cơ sở phái đoàn QS 4bên của ta ở trại Đavít. nếu đơn vị nào gặp thì phải có trách nhiệm bảo vệ...
 Do đã được quán triệt như thế nên sáng 30/4/1975 khi tiến vào sân bay...đơn vị tôi tình cờ thọc ngay vào trại Davit. (chuyện này tôi đã kể bên trang "ký ứ một thời" )...Rồi đơn vị tôi còn ở lại bảo vệ trại Đa vít cả tháng sau nữa. Nếu bác nào trong đoàn ta trong trại Đa vít ngày ấy chắc sẽ nhớ những chi tiết bob đã kể.

chúng tôi tiến đến ngay trước cổng thấy một người quân phục chỉnh tề tay cầm súng AK bước ra, chưa kịp hỏi han gì thì anh ta reo lên: " A ... người mình đây rồi" rồi anh vội quay gót lại vừa chạy, vừa nói theo: "chờ tôi báo các thủ trưởng..." Tôi và anh em trong đơn vị dồn lại ngay trước cổng khá đông, chỉ lát sau các anh ùa ra ôm hôn chúng tôi, nhiều người ứa nước mắt vui sướng... rồi bia Trúc bạch, nước ngọt Hà nội, thuốc lá Điện biên, Trường sơn... các anh bê ra khao chúng tôi ngay tại cổng... !

Đồng ý với bác! Tuy vậy cũng nên thông cảm cho anh em trong đoàn. Phần lớn vì lệnh nên nằm bẹp trong hầm. Trừ lãnh đạo đoàn, bộ phận cơ yếu và 1 vài anh em bên đồ bản, tham mưu là còn biết được ít nhiều tình hình chứ còn đại đa số đều có tin tức gì đâu. Nói chung là đều có cảm giác như "cá nằm trên thớt"  ;D Các bác vào mới tin chắc là còn sống nên mừng quá đi ấy chứ. Còn tiếc gì mà không chiêu đãi các bác  ;D
- chào bác GiangTVx@. bob tui rất kính trọng và cảm phục ý chí của các anh trong đoàn ta thời kỳ đấu tranh trong trại Đavit (ngay trong sào huyệt của kẻ thù). Khi vào mạng là tôi nhảy vào đọc "trại Đavit" của bác và rất vui mừng khi nghe tin đoàn được phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang. Trong trang nhà tôi cũng chúc mừng khi đoàn ta nhận danh hiệu vẻ vang thật xứng đáng. Còn ý kiến của tôi vừa viết về những chi tiết lẻ tẻ ... chỉ có ý "đính chính" cho đúng với diễn biến thực tế của lịch sử thời điểm đó (sáng 30/4/1975). Nếu viết đúng như thực tế đó nó chỉ tôn thêm thành tích cho đoàn ta càng làm cho trang sử của đoàn ta chuẩn xác, thuyết phục. Cảm ơn bác.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: bob trong 16 Tháng Mười Một, 2013, 02:04:30 pm
 
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/B1ED911101ED9iS1B001110oagraven10Quacircn1110oagraven31110aacutenhchi1EBFmSacircnbayTacircnS1A10nNh1EA5t1EA2nht1B00li1EC7u_zpsdcb304f6.jpg)
Sư đoàn 10 tiến vào Tân Sơn Nhất

    


 Tấm hình trên rất "hoành tráng" ! Phải không các bác. Xin thưa: cũng là dàn dựng sau ngày 30/4/1975 để ghi lại cảnh "sư đoàn 10 tiến vào Tân sơn nhất". Cái đám khói ngút trời trong ảnh là có thật, bác nào còn ở trong trại Đavít hôm ấy chắc chắn không quên. Vì kho đèn dù ấy ngay cạnh trại đavit. Chả là mấy anh lính của c tôi 'bí mật" lẻn vào tháo...lây dù... gây cháy! Ban quân quản thành phố lúc ấy phải điều động mười mấy xe cứu hỏa tới chữa cháy mà cũng không dập tắt được. Cháy suốt một ngày đêm hôm sau chỉ còn trơ cái khung nhà bằng sắt đen xì. Mấy hôm sau c tôi nhận nhiệm vụ cơ động di chuyển... khi hành quân được 200m ngay trên đường băng, Tôi ra lệnh hạ ba lô kiểm tra quân tư trang. mấy chàng "khảo cổ" đèn dù không dấu được mấy miếng dù ca rô còn trắng tinh (mới lấy trong kho). Đành lúng túng nhận lỗi...!


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Mười Một, 2013, 03:45:05 pm

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/TienvaoTanSonNhat_zpscaf9173e.jpg)

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/TienvaoTSN_zpsb016518d.jpg)
Tiến vào Tân Sơn Nhất

@bob:Thế 2 ảnh trên bác thấy thế nào?


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Tomqb3 trong 18 Tháng Mười Một, 2013, 03:29:46 pm
Chào bác Giang @ ! chúng ta đêu là những người lính đã có được may mắn đi đến hệt cuộc chiến tranh ! các sự kiện diễn ra ngày 30-4-75 đã cách đây gần 40 mươi năm ,người nhớ người quên ,nhớ chi tiết này lại quên chi tiết khác là chuyện bình thường ,qua trao đổi các tình tiết chỉ bổ sung cho sự nhớ lại của chúng ta đi đến thực hơn ! tôi thấy sau khi tôi đưa bức ảnh ba chiếc xe tăng của quân ta bị bắn cháy ở Lăng cha Cả sáng 30-4 -75 thấy bác trả lời : “ Hơ !....” giá bác bỏ chữ Hơ đi thì chúng ta trao đổi thêm với nhau có lẽ thoải mái hơn ,lính hơn !
 Tuy vậy !  Qua dòng com ngắn ngủi đó tôi hiểu là bác và chắc còn nhiều bác nữa chưa tin đấy là tấm ảnh thực được chụp ở Lăng cha Cả ,chỉ cách trạm gác đầu tiên vào sân bay TSN có mấy chục mét ! hơn nữa các bác tham gia “mổ xẻ từng cái ốc những chiếc xe đó   ” trong bức ảnh  thì hình như chưa thấy có bác nào là người có mặt ở đó tại thời điểm sang 30-4-75 khi trận  chiến ác liệt diễn ra trên một đoạn ngắn từ ngã tư Bẩy hiền đến cổng sân bay TSN tham gia ! nhưng với tôi thì hình ảnh ba chiếc xe tăng của ta bị bắn cháy một chỗ ,ngọn lửa bốc cao ngùn ngụt,hình ảnh mấy anh em chiến sĩ kéo nhau ra vỉa hè băng bó cho nhau thì tôi không bao giờ quên !
 Còn chi tiết : ‘…có một đoàn tăng đánh băng qua sân bay ra ngã tư Bẩy Hiền ” thì người viết hồi kí đã nhầm hướng tấn công của trung đoàn tăng 273 quân đoàn 3 ,mà lúc đó có lẽ là lúc đơn vị xe tăng 273 đã cùng với các chiến sĩ trung đoàn 24 sư 10 QĐ3 đã hoàn  thành nhiệm vụ đánh chiếm sân bay  TSN chạy ra tiếp ứng cho chỉ huy quân đoàn đang tiến về Dinh Độc Lập !
 Xin có mấy dòng tham gia cùng bác ! chào bác !       





Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Một, 2013, 04:49:49 am
... tôi thấy sau khi tôi đưa bức ảnh ba chiếc xe tăng của quân ta bị bắn cháy ở Lăng cha Cả sáng 30-4 -75 thấy bác trả lời : “ Hơ !....” giá bác bỏ chữ Hơ đi thì chúng ta trao đổi thêm với nhau có lẽ thoải mái hơn ,lính hơn !
 Tuy vậy !  Qua dòng com ngắn ngủi đó tôi hiểu là bác và chắc còn nhiều bác nữa chưa tin đấy là tấm ảnh thực được chụp ở Lăng cha Cả ,chỉ cách trạm gác đầu tiên vào sân bay TSN có mấy chục mét ! hơn nữa các bác tham gia “mổ xẻ từng cái ốc những chiếc xe đó   ” trong bức ảnh  thì hình như chưa thấy có bác nào là người có mặt ở đó tại thời điểm sang 30-4-75 khi trận  chiến ác liệt diễn ra trên một đoạn ngắn từ ngã tư Bẩy hiền đến cổng sân bay TSN tham gia ! nhưng với tôi thì hình ảnh ba chiếc xe tăng của ta bị bắn cháy một chỗ ,ngọn lửa bốc cao ngùn ngụt,hình ảnh mấy anh em chiến sĩ kéo nhau ra vỉa hè băng bó cho nhau thì tôi không bao giờ quên !

A thì ra bác có mặt ở đó à. Thế mà bác không lên tiếng sớm để anh em cứ phải suy luận mãi. Thực ra thì tôi nói cũng chẳng có ý gì đâu. Nếu không phải, bác bỏ quá cho. Anh em bình luận về tấm ảnh ấy ở đây:

http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,13527.msg207717.html#msg207717
http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,6345.msg98868.html#msg98868
(và nhiều bài trả lời ở phía sau nữa)

Bác kể chi tiết về tình hình lúc đó cho mọi người nghe nhé.


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Tomqb3 trong 20 Tháng Mười Một, 2013, 09:04:21 am
Chào bác Giang !bác nói vậy tôi cũng thấy nhẹ cả người ! còn bác bảo tôi kể lại tình tiết hôm ấy thì cái gì nhớ được tôi đã kể ké trong trang MVH topic “kí ức một thời ” trang 20 phần 1 của bác Bob rồi ,bác qua đó đọc ,nhớ thêm được gì ta lại cùng trao đổi ! chào bác .       



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Một, 2013, 06:13:41 am

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/LinhmucChanTin_zps7b15a9c2.jpg)

LỜI KỂ CỦA LINH MỤC CHÂN TÍN VỀ CHUYẾN ĐI VÀO TRẠI ĐA-VÍT

        Ngày 29/4, tôi đến, Dương Văn Minh nói: ”Yêu cầu linh mục là thành phần thứ 3 cùng với giáo sư Châu Tam Luân và luật sư Trần Ngọc Liễng đi vào Tân Sơn Nhất để gặp phái đoàn Bắc Việt và Việt cộng một lần cuối cùng” bởi vì ông Dương Văn Minh nói là buổi sáng ấy đã có 1 phái đoàn của Dương Văn Minh gửi vào để thương thuyết thì phái đoàn trong ấy nói rằng 5 giờ chiều phải giải tán tất cả các lực lượng của chính phủ. Chiều đó đã gần 6 giờ, ông Dương Văn Minh nói là bây giờ thôi thì cha với lại 2 người mà gọi là thuộc thành phần thứ 3 ấy đi vào Tân Sơn Nhất xin thương thuyết một lần nữa xem sao cho nên là tôi đi. Rất nguy hiểm.

        Vô đó thì gặp Bùi Tín (theo lời kể của Trần Ngọc Liễng thì người ra tiếp là Bùi Thiện(?) ) . Bây giờ ấy thì ông ấy chống chính quyền cộng sản nhưng hồi đó ông ấy là người đón tiếp chúng tôi trong đó. Chúng tôi đến chỉ yêu cầu đừng bắn pháo vào thành phố Sài Gòn này để thành phố Sài Gòn này khỏi bị tan nát. Trước sau các anh cũng lấy cái thành phố này, bắn pháo vào làm cái gì. Tướng lĩnh của Cộng hòa đã rút, từ 28 đã đi rồi, không ai lãnh đạo, chỉ có quân dân binh. Do đó mà cái chuyên đấu tranh thì chắc là không còn đấu tranh đâu. Chỉ thời gian ngắn là quân binh đầu hàng thôi, Vậy thì thành phố Sài Gòn này chúng ta được bình an. Rồi sau đó thì tương lai sẽ đến. Nhưng mà đừng đạp phá và giết người dân ở thành phố này. Sau đó thì tướng Tuấn này có điện thoại ra cho ông Võ Nguyên Giáp lúc đó là làm bộ trưởng quốc phòng thì ông ấy đồng ý.

        Chúng tôi tính về lúc 7,8,9 giờ, tôi về thì lúc đó pháo dữ lắm. Chúng tôi ở trong hầm. Khi im pháo rồi thì chúng tôi nghĩ là chắc lên được. Chúng tôi định về thì anh Võ Đông Giang bảo là không được. Bây giờ là lúc pháo xong rồi là bộ đội vô và ông ra ngoài đường thì rất dễ chết do đó trở lại cả đêm dưới hầm. Rồi cho đến mãi trưa hôm sau Dương Văn Minh mới tuyên bố đầu hàng. Ăn cơm trưa xong rồi thì đến các cũng làm gà làm vịt nọ kia mời phái đoàn thành phần thứ ba. Sau đó thì chúng tôi xin về. Ra gần cổng Phi Long thì là lính bắn. Chúng tôi có cờ trắng và giấy của phái đoàn nhưng các anh nói bên anh còn bắn nhau. Tuy là đầu hàng đấy nhưng mà ra còn nguy hiểm. Khoảng 5, 6 giờ chúng tôi mới về.



Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: bob trong 22 Tháng Mười Một, 2013, 09:08:11 am

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Album2/LinhmucChanTin_zps7b15a9c2.jpg)

LỜI KỂ CỦA LINH MỤC CHÂN TÍN VỀ CHUYẾN ĐI VÀO TRẠI ĐA-VÍT

        Chúng tôi tính về lúc 7,8,9 giờ, tôi về thì lúc đó pháo dữ lắm. Chúng tôi ở trong hầm. Khi im pháo rồi thì chúng tôi nghĩ là chắc lên được. Chúng tôi định về thì anh Võ Đông Giang bảo là không được. Bây giờ là lúc pháo xong rồi là bộ đội vô và ông ra ngoài đường thì rất dễ chết do đó trở lại cả đêm dưới hầm. Rồi cho đến mãi trưa hôm sau Dương Văn Minh mới tuyên bố đầu hàng. Ăn cơm trưa xong rồi thì đến các cũng làm gà làm vịt nọ kia mời phái đoàn thành phần thứ ba. Sau đó thì chúng tôi xin về. Ra gần cổng Phi Long thì là lính bắn. Chúng tôi có cờ trắng và giấy của phái đoàn nhưng các anh nói bên anh còn bắn nhau. Tuy là đầu hàng đấy nhưng mà ra còn nguy hiểm. Khoảng 5, 6 giờ chúng tôi mới về.



  “Khoảng 10 giờ sáng, Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn và Đại tá Võ Đông Giang tiễn ba vị khách ở lại qua đêm ra cổng. Trên đường gặp một đơn vị Quân giải phóng tiến vào Trại Đa-vít. Đồng chí chỉ huy đứng nghiêm chào và báo cáo với Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn: "Tôi là Sơn, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 24, Sư đoàn 10, Quân đoàn 3, xin phép Thiếu tướng cho triển khai bộ đội bảo vệ khu vực Trại Đa-vít". Đồng chí Hoàng Anh Tuấn gật đầu chào và tươi cười đáp: "Xin chúc mừng chiến công của các đồng chí. Các đồng chí cho triển khai nhiệm vụ theo phương án đã định". Ba vị khách lúc đó được tận mắt chứng kiến khí thế hùng dũng của đoàn quân chiến thắng. Linh mục Chân Tín xúc động giang rộng hai tay nói lớn: "Đây là giờ phút sung sướng nhất của dân tộc chúng ta". Sau đó, ba vị khách nhận giấy giới thiệu của Đoàn ta gửi các trạm kiểm soát Quân giải phóng, yêu cầu các trạm tạo điều kiện thuận lợi để ba ông trở về Sài Gòn an toàn. Họ xúc động nói lời cảm ơn, rồi vội vã ra về.”

 - Xem hai đoạn này bob thấy có gì đó không ổn lắm!?


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Một, 2013, 03:12:24 pm
...
 - Xem hai đoạn này bob thấy có gì đó không ổn lắm!?

        Chào bác bob! Vâng đúng là có gì đó không ổn lắm bác ạ. Bây giờ xin nói thêm với bác bob và các bác khác thế này.

        Nếu đọc kỹ, so sánh 3 bài (anh Đào Chí Công, Luật sư Trần Ngọc Liễng, Linh mục Chân Tín) thì thấy rằng:

        - Những nét lớn cơ bản là trùng khớp như thảnh phần đoàn (Liễng, Luân, Tín), thời gian vào trại (chiều tối 29/4), được Võ Đông Giang tiếp, ở lại đêm dưới hầm, hôm sau về, ... có thể coi đó là những thông tin chính xác, chấp nhận được.

         - Những thông tin không trùng khớp, lệch nhau, thậm chí trái ngược nhau như các mốc thời gian, người tiếp, cách thức đón tiếp, ... Những thông tin này chúng ta dùng để tham khảo. Rất khó (hoặc không thể) xác định ai là người đưa ra các thông tin sát với thực tế hơn.

        Để rõ hơn, chúng ta có thể xét các tác giả:

        - Đại tá Đào Chí Công viết bài giấy trắng mực đen, đăng trong "Trại Đa-vít 823 ngày đêm", Trang 246, T3, NXB QĐND, 2013.

        - Trần Ngọc Liễng phát biểu trên băng ghi hình thực hiện tại TP HCM năm 2005 nên chỉ có thể đăng lại nguyên văn.

        - Linh mục Chân Tín  phát biểu trên băng ghi hình thực hiện ở nước ngoài (chưa rõ nước nào). Mặc dù băng hình có nền tạp âm nhiễu lớn (tiếng còi xe ô tô và những tiếng ồn trong sinh hoạt đời thường) nhưng cơ bản vẫn nghe được. Bài viết chỉ cắt bỏ một vài từ nghe không rõ. Do vậy nội dung bài nói vẫn được đảm bảo.

        Đào Chí Công - sĩ quan QĐNDVN - "cộng sản nòi"; Trần Ngọc Liễng - Thành phần trung dung, thực sự là thành phần thứ ba; Linh mục Chân Tin, tiếng là thành phần thứ ba nhưng thực chất lại là một người chống cộng triệt để "mấy chục năm nay tôi chưa bao giờ ngừng chống cộng" như lời ông ta nói trong chính đoạn băng ghi hình nói trên.

         Như thế, bản thân mỗi người đã có sẵn 1 cái "lăng kinh" chính trị. Chính lăng kính này ảnh hưởng không nhỏ tới nội dung quan điểm các bài nói, bài viết mà họ đưa ra sau này. Thí dụ như anh Đào Chí Công trong bài của mình đã mô tả việc tiếp đoàn và tiễn đoàn trở về rất mực thước và tôn trọng nhưng trong bài nói của cả ông Liễng và ông Tín thì lại không phải như vậy. Hoặc là chi tiết "Linh mục Chân Tín xúc động giang rộng hai tay nói lớn: "Đây là giờ phút sung sướng nhất của dân tộc chúng ta"" - như anh Công mô tả. Với 1 người có tư tưởng chống cộng như ông Chân Tín cái hành động ấy khó mà có thể xảy ra. (Hay lúc đó ông ấy sợ quân ta quá nên đóng kịch vậy, sau này ra hải ngoại lờ tịt đi?).

        Về người đón tiếp các ông Luân, Liễng, Tín: Theo ông Liễng là trung tá Bùi Thiện còn theo ông Chân Tín là trung tá Bùi Tín. Có thể ông Chân Tín nói đúng vì 2 lý do:
1/ Bài nói của ông Liễng thực hiên năm 2005 ở TP HCM. Lúc này Bùi Tín đã đào thoát và mọi người không ai muốn nghe tới ông ta nữa (nên ông Liễng có thể "được" đạo diễn thế). Tôi còn nhớ là có lần khi làm video clip cho đoàn (dài gần 2 tiếng đồng hồ) do sơ suất nên trong một đoạn phim tư liệu, Bùi Tín chỉ xuất hiên khoảng hơn chục giây nhưng các anh lãnh đạo vẫn yêu cầu cắt bỏ bằng được mặc dù lúc đó đã lên thành đĩa rồi!
2/ Lúc đó Trung tá Bùi Tín thực sự có mặt trong trại Đa-vít và trong trại cũng không có ai là trung tá Bùi Thiện (kể cả bí danh).

        Do "lăng kính" + "thời gian" (1/3 thế kỷ) nên bây giờ khó biết đâu là sự thật.

        Ở những bài sau, tôi sẽ đưa những phát biểu hồi tưởng của chính các nhân chứng lịch sử (những người trong trại Đa-vít). Ngay giữa các bài hồi tưởng này, các bác nhà ta trong cùng một việc cũng nhớ ... không giống nhau  ;D

        Vậy chúng ta tham khảo, lượm được thông tin đến đâu thì lượm thôi!

  


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Tomqb3 trong 22 Tháng Mười Một, 2013, 06:45:06 pm
* Chào bác Giang ,bác Bob ! lại thấy cái ông Bùi Tín xuất hiệt ở trại Đavít trong các ngày 29-30-4-75 thì tài thật ! tôi có thể đảm bảo với các bác là :trong hai ngày trên và cả trước đó nữa , ông BT lúc nào cũng ở sở chỉ huy của QĐ3 ,chỉ có từ lúc hơn 9h ngày 30-4 sau khi TTDVM đọc bản nhật lệnh cho binh sĩ VNCH giữ nguyên vị trí ,chờ bàn giao (chưa là lời tuyên bố đầu hàng ) chỉ huy quân đoàn 3 thấy tình hình phát triển thuận lợi mới tổ chức một mũi tiến vào dinh ĐL do đại tá Phí Triệu Hàm phó chính ủy QĐ chỉ huy ,khi đó tất cả các phóng viên báo QĐND cùng lên xe tiến vào dinh ,nhưng mũi của QĐ3 đã đến chậm !         


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: bob trong 22 Tháng Mười Một, 2013, 09:38:09 pm
* Chào bác Giang ,bác Bob ! lại thấy cái ông Bùi Tín  xuất hiệt ở trại Đavít trong các ngày 29-30-4-75 thì tài thật ! tôi có thể đảm bảo với các bác là :trong hai ngày trên và cả trước đó nữa , ông BT lúc nào cũng ở sở chỉ huy của QĐ3 ,chỉ có từ lúc hơn 9h ngày 30-4 sau khi TTDVM đọc bản nhật lệnh cho binh sĩ VNCH giữ nguyên vị trí ,chờ bàn giao (chưa là lời tuyên bố đầu hàng ) chỉ huy quân đoàn 3 thấy tình hình phát triển thuận lợi mới tổ chức một mũi tiến vào dinh ĐL do đại tá Phí Triệu Hàm phó chính ủy QĐ chỉ huy ,khi đó tất cả các phóng viên báo QĐND cùng lên xe tiến vào dinh ,nhưng mũi của QĐ3 đã đến chậm !        

- Chào già tom@. Bác nói đúng rồi. Nhà báo Bùi Tín (khi đến đơn vị tôi giới thiệu là Thành tín) sau ngày 30/4/1975 (khoảng 1 tuần) cùng một đoàn nhà báo, nhà văn (khoảng trên dưới 10 người), từ Hà nội mới vào, tên gì gì đó tôi không nhớ, có đến trại Đa-vit. lúc ấy c tôi đóng quân ngay bên canh trại. Có một đồng chí của đoàn ta ở trại Đa vít dẫn cả đoàn phóng viên sang gặp đơn vị tôi giới thiệu là: để lấy tin, viết bài... Tôi và anh Hoàng Văn Năm C trưởng tiếp đoàn. Chúng tôi báo cáo sơ qua tình hình đơn vị tham gia từ Buôn ma thuật...đến Nha trang...rồi Sài gòn - gia dịnh...gặp phái đoàn ta ở trại đa - vit...Trong các trận đánh ae ta dũng cảm thế nào, hy sinh mất mát..v..v!  Một vài anh nói: - Chỉ vài ngày sẽ có bài về đơn vị "trên báo"! Rồi các anh có hỏi: "- Các đ/c có thu được nhiều chiến lợi phẩm không?". Tôi nhanh nhảu: có! - các anh đề nghị cho xem...Tôi lại nhanh nhảu dẫn các anh vào kho xem " nào máy ảnh, catxet, radio, đồng hồ các loại'...Mỗi anh chọn cho mình một thứ rồi xin "làm kỷ niệm". Tôi và anh Năm bàn nhau thống nhất "kính biếu" luôn. Sau cuộc gặp "lịch sử" ấy! Tôi cứ ngóng xem có báo nào viết về đơn vị mình không?!- Chờ dài cỗ...Mãi đến tận bây giờ cũng chẳng thấy gì...!!! Hì hì.."Cả tin thật"!!! ;D


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Mười Một, 2013, 02:52:34 am
Đúng là rắc rối với cái ông Bùi Tín này thật:

- Có 1 videoclip quay cảnh Bùi Tín trong trại Đa-vít (theo nội dung thì thời điểm quay là trước 30/4 nhưng không biết chính xác thời gian quay) http://www.youtube.com/watch?v=7d0zUlrAElY, lúc 2 phút 25 giây, người hói đầu,  ôm cặp tài liệu, bắt tay tiễn khách.
- Theo Chân Tín thì ông ta gặp Bùi Tín vào chiều tối 29/4 tại trại Đa-vít
- (Tôi) chưa gặp tài liệu nào nói rằng có 1 bộ phận cán bộ trại Đa-vít sáng 30/4 theo chân quân đoàn 3 vào dinh Độc Lập. (Suy ra sáng 30/4 Bùi Tín vẫn ở lại trại Đa-vít)

- Mặc khác lại có cả 1 topic "Chuyện người tiếp nhận đầu hàng ngày 30-4-1975 và vai trò của Bùi Tín ở Dinh Độc Lập" - http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,7272.0.html. Chứng tỏ sáng 30/4 Bùi Tín đang ở dinh Độc Lập!

- Theo bác bob  thì: Nhà báo Bùi Tín (khi đến đơn vị tôi giới thiệu là Thành tín) sau ngày 30/4/1975 (khoảng 1 tuần) cùng một đoàn nhà báo, nhà văn (khoảng trên dưới 10 người), từ Hà nội mới vào Vậy 30/4 Bùi Tín đang ở Hà Nội ?

Kết luận: Bó tay!


Tiêu đề: Re: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Mười Một, 2013, 03:01:51 am

        Theo quy định, mỗi phần chỉ có 60 trang. Mời các bác sang phần 2 viết bài và thảo luận tiếp:
http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,28231.new.html#new