Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:23:40 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn  (Đọc 315460 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #310 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2012, 08:51:03 pm »









Họp báo sau vụ kho xăng Nhà Bè
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #311 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2012, 09:06:06 pm »

        Đồng chí phiên dịch chuyển tải nội dung câu hỏi đó sang tiếng Việt. Nghe xong, đồng chí Võ Đông Giang hướng về phía người vừa hỏi vẫn còn đang đứng chờ nghe trả lời, anh đưa tay vuốt nhẹ mái tóc thưa mềm và giõng dạc nói:

        - Trước hết, tôi khẳng định với quý vị đang có mặt tại đây rằng CPCMLTCHMNVN trước sau như một luôn tôn trọng triệt để và nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Pa-ri về Việt Nam. Chúng tôi đã hết sức kiềm chế, cố gắng giữ gìn, bảo vệ Hiệp định nhằm đem lại một nền hòa bình thật sự, lâu dài và bền vững cho miền Nam Việt Nam. Vì như quý vị đã biết, bản Hiệp định này thể hiện sự mong muốn cháy bỏng và là thành quả lớn lao của hàng triệu đồng bào chúng tôi đã chiến đấu hy sinh, chịu đựng bao khó khăn gian khổ trong suốt mấy chục năm qua mới dành được. Có thể nói đây là thắng lợi hết sức to lớn của cả dân tộc Việt Nam, của cách mạng Việt Nam. Chính phủ Hoa Kỳ ngay từ đầu đã phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 về Việt Nam, hất cẳng thực dân Pháp, dựng lên chính quyền tay sai phản động hòng bắt nhân dân miền Nam Việt Nam trở lại kiếp sống nô lệ của chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Họ đã đưa hàng triệu quân viễn chinh tới xâm lược đất nước này, trút hàng triệu tấn bom đạn gây ra cuộc chiến tranh tàn khốc nhất cho nhân dân Việt Nam. Nay họ đã phải chấp nhận rút hết quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, ngừng ném bom, bắn phá miền Bắc, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, không can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam. Như vậy, mục đích gây chiến tranh xâm lược của Hoa Kỳ không đạt được, họ cay cú trước thất bại đó nên việc vi phạm và phá hoại Hiệp định, họ không thi hành đầy đủ những điều khoản quy định, dung túng cho chính quyền Sài Gòn ra sức phá hoại Hiệp đính là điều không có gì lạ. Họ rất sợ hòa bình, sợ hòa hợp, hòa giải dân tộc, sợ nước Việt Nam thống nhất.

        Mệnh lệnh của Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam công bố ngày 15.10.1973 về quyền đánh trả vi phạm không chỉ tại địa điểm quân đội Sài Gòn gây ra mà chúng tôi còn giành quyền trừng trị kẻ phá hoại Hiệp định ngay tại những nơi xuất phát của họ.

        Cả hội trường im ắng lắng nghe câu trả lời của anh Giang. Chỉ có tiếng xè xè của máy quay phim, tiếng lẹt xẹt của máy ghi âm những ánh chớp của đèn plasma chụp ảnh. Tiếng người phiên dịch vừa dứt, có tiếng xì xào và những câu trao đổi của nhiều người làm ồn ào cả Hội trường. Mọi người đều cảm nhận được vẻ trịnh trọng, cương quyết của người phát ngôn.

        Có nhiều tiếng xì xào biểu lộ sự đồng tình nhưng rất khéo léo. Bởi xung quanh họ có những "đồng nghiệp" khoác áo nhà báo vào đây theo dõi mọi cử chỉ, thái độ của từng người, khi trở về sẽ có biện pháp xử lý thích đáng đối với ai "dám thân thiện với Việt cộng"!

        Số phóng viên của báo chí Sài Gòn cũng chăm chú lắng nghe, không thấy ai biểu hiện phản ứng gì. Khác với thời kì đầu rất nhiều. Trước kia, mấy sỹ quan tâm lý chiến của báo "Tiền tuyến", báo "Công luận" hoặc như mấy tay bồi bút Phan Nhật Nam, Phạm Huấn.., thường hung hăng dọa giẫm, nêu những câu hỏi xỏ xiên, vu cáo ta...Hôm nay, số người này ngồi im, nghe được đầy đủ nội dung câu trả lời của đồng chí Võ Đông Giang nên chắc chắn họ sẽ hiểu rõ thái độ của cách mạng đối với ai biết dừng tay trước tội ác, biết ăn năn hối lỗi và nếu có điều kiện hãy đứng về phía nhân dân tranh đấu cho hòa bình xứ sở...

        Mọi người cùng giơ tay, với những mảnh giấy đã viết sẵn câu hỏi. Một nữ phóng viên nước ngoài khác lập tức đứng lên, hướng về phía bàn chủ tọa, nói luôn:

        - Thưa ngài đại tá Võ Đông Giang, có một thông lệ mà ngài trung tướng Trần Văn Trà, trưởng đoàn đại biểu CPCMLTCHMNVN vẫn xử sự trong các cuộc họp báo là giành ưu tiên cho phụ nữ được nêu câu hỏi trước. Vậy hôm nay, xin đại tá có thể ưu tiên cho tôi được phỏng vấn trước hay không?

        Như để thăm dò phản ứng của chủ tọa và chờ dịch hết câu hỏi trên ra tiếng Việt, cô nói:

        - Thưa ngài đại tá, tôi xin hỏi: Nếu phía quân đội Việt Nam cộng hòa (quân đội ngụy) liên tiếp mở nhiều đợt tấn công vào vùng giải phóng, vậy phía Quân giải phóng của CPCMLTCHMNVN có thể khẳng định là sẽ không trả đũa, không mở những đợt tấn công lớn trên các chiến trường hay không? Ngài khẳng định việc này như thế nào?.

        Ngay từ đầu, anh Võ Đông Giang đã chú ý đến người nữ phóng viên này. Cô chưa đến tuổi ba mươi, người thon thả, tóc hung nâu xõa ngang vai, đôi mắt long lanh như chứa đựng niềm vui. Mặc dù nghe qua câu hỏi mọi người đều biết nội dung đó thật sự nghiêm túc!.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #312 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2012, 09:11:23 pm »

        Anh chờ đồng chí phiên dịch ngừng lời, đứng lên với vẻ trịnh trọng, anh Giang nói:

       “ Cảm ơn bạn nữ phóng viên đã có một câu hỏi thú vị. Như trên tôi đã trả lời, Hiệp định Pa-ri về Việt Nam là thắng lợi hết sức to lớn của nhân dân Việt Nam, của cách mạng. Việt Nam. Không ai dại gì tự mình phá vỡ thành quả đạt được bằng công sức, bằng xương máu của hàng triệu đồng bào, đồng chí của chúng tôi đã hy sinh để có được bản Hiệp định đó. Vì vậy, bảo vệ và thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định chính là bản vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân miền Nam Việt Nam, trong đó có cả quyền lợi của các sĩ quan, binh lính và thân nhân của họ bên phía quân đội Sài Gòn. Nếu muốn kéo dài cuộc chiến tranh, duy trì sự chiếm đóng lâu dài của đạo quân xâm lược trên mảnh đất này thì chỉ có chính phủ Hoa Kỳ và chính quyền Nguyễn Văn Thiệu.

        Theo số liệu chúng tôi tổng hợp từ ngày 28.01.1973 đến nay, trên toàn miền Nam Việt Nam chính quyền Sài Gòn đã vi phạm Hiệp định Pa-ri 301.097 lần; trong đó 34.266 cuộc hành quân lấn chiếm; pháo binh bắn phá 35.532 lần; dùng máy bay ném bom và trinh sát 14.749 lần; hành quân càn quét của cảnh sát và bình định 216.550 cuộc.

        Với dẫn chứng trên ta có thể thấy chính quyền Sài Gòn và những người dung túng họ ngay từ đầu đến giờ không hề muốn thi hành Hiệp định. Chúng tôi không thể khoanh tay ngồi nhìn bom đạn của họ trút xuống các làng mạc, cùng những đơn vị quân đội cấp trung đoàn, sư đoàn hành quân càn quét, giết hại đồng bào của chúng tôi trong các vùng giải phóng. Các lực lượng vũ trang cách mạng đã buộc phải đánh trả để thực hiện quyền tự vệ chính đáng của mình. Hơn thế, Quân giải phóng còn giành quyền trừng trị ngay tại nơi xuất phát của họ như pháo kích sân bay Biên Hòa và đốt cháy kho xăng Nhà Bè vừa qua. Kẻ gây ra tội ác phải bị trừng trị đích đáng. Trên toàn miền Nam Việt Nam không có nơi nào an toàn cho những kẻ phá hoại Hiệp định.

        Việc chúng tôi có trả đũa hoặc mở những đợt tấn công lớn hay không, mức độ và phạm vi như thế nào đều tùy thuộc vào thái độ và hành động của chính quyền Sài Gòn. Quân giải phóng sẽ nghiêm chỉnh thực hiện thắng lợi mệnh lệnh của Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam công bố ngày 15.10.1973 về quyền đánh trả những hành động vi phạm Hiệp định của quân đội Sài Gòn”.

        Anh Giang ngừng lời, chiêu ngụm nước, chậm rãi ngồi xuống ghế. Người sĩ quan phiên dịch khẩn trương và chính xác chuyển toàn bộ nội dung trả lời của anh Giang sang tiếng Anh. Cả hội trường có nhiều tiếng xì xào trao đổi. Nhìn nét mặt mọi người trong hội trường phần lớn có vẻ đồng tình với thái độ cương quyết của đại diện Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đối với những hành động vi phạm Hiệp định của đối phương. Họ không ồn ào, không biểu lộ công khai nhưng nhìn những ánh mắt kia đã nói lên sự đồng cảm và ủng hộ kín đáo của họ.

        Thời kỳ đầu, các phóng viên nước ngoài có nhiều người chưa biết gì về cách mạng Việt Nam, về Quân giải phóng. Những thông tin trái chiều, méo mó nên tạo cho họ một cách nhìn sai lệch, hiểu lẫn lộn giữa kẻ xâm lược với người bị xâm lược giữa lực lượng tay sai phản động với lực lượng cách mạng yêu nước chân chính... Có người ngạc nhiên sau khi bắt tay cán bộ, chiến sĩ ta trong ban BLHQS, còn sờ nắn tay và thốt lên: "Việt cộng đâu có ốm tong, ốm teo. Trông vị nào cũng đẹp cũng sáng láng!" Có người ít thiện cảm với ta đã viết bài đưa tin sai lệch,  đánh giá chủ quan và tự biện bạch "... cả hai bên cùng vi phạm ! " hoặc " Không có lửa thì làm sao có khói ? ... “

         Nhờ sự kiên trì giải thích thuyết phục, thái độ cởi mở, lịch sự, tôn trọng nhân cách của những nhà báo, nhờ có sức mạnh chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng dân tộc và thế mạnh pháp lý quốc tế của văn bản Hiệp định, nên dần dần họ đã hiểu rõ cuộc cách mạng của chúng ta. Nhiều người tỏ ra cảm tình và tự nguyện cung cấp cho ta những thông tin rất giá trị giúp ta hiểu thêm về thái độ ngoan cố chống phá Hiệp định của Mỹ ngụy. Cho ta biết những kẻ khoác áo nhà báo nhưng đang làm việc cho CIA, người của Phủ đặc ủy trung ương tình báo, người của an ninh quân đội hay nhân viên Nha chiến tranh tâm lý ngụy... Sau này ta có điều kiện xác minh số đối tượng này đều rất khớp với nguồn tin đã cung cấp. Có nhà báo không sợ hiểm nguy đến tính mạng, bí mật trao cho ta thông tin về những người của ta hiện đang bi địch giam giữ, cất giấu, thủ tiêu trong các nhà tù, những thủ đoạn đàn áp tra tấn dã man, đánh tráo tù quân sự thành dân sự, tù chính trị ra thường phạm, trộn tù hình sự, lưu manh, côn đồ lẫn với tù binh...

        Anh Giang vui vẻ giải thích thêm một số câu hỏi vừa hợp lý, hợp tình và hóm hỉnh. Anh tuyên bố kết thúc cuộc họp báo.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #313 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2012, 09:40:29 pm »


        Anh rời ghế chủ tọa, đi xuống từng bàn gặp gỡ các nhà báo. Những cái bắt tay thân mật, những nụ cười tươi, vẻ kính trọng của họ trước vị đại diện của quân đội cách mạng, người đã làm cho họ thỏa mãn những thông tin cần thiết, cùng với sự nhạy bén, thông tuệ và điềm tĩnh giải đáp đầy đủ nội dung họ muốn biết. Anh đến gặp và bắt tay người nữ phóng viên nước ngoài vừa có câu phỏng vấn gây ấn tượng trong phiên họp báo. Nhiều nhà báo hai tay cầm tờ danh thiếp cho anh Giang, mong được gặp lại anh để có thể trực tiếp phỏng vấn nhiều hơn !..

        Anh Giang quay lại chào một lần nữa và đi về dãy nhà nghỉ của mình.

        Các phóng viên cũng lần lượt ra khỏi Hội trường. Nhà báo Phạm Xuân Ẩn đi trong số các đồng nghiệp nước ngoài hướng ra phía cổng "trại Đa-vit". Chiếc áo sơ mi trắng cộc tay anh mặc đã hòa vào đám đông bạn bè.

        Mấy lính "quân cảnh" ngụy đi qua, đi lại nhốn nháo kiểm đếm người theo danh sách trước khi xe chuyển bánh về nội thành Sài Gòn. Từ phía bên kia đường Lê Văn Lộc, thấp thoáng những khuôn mặt ẩn giấu trong bóng tối và thập thò các họng súng chĩa ra ngoài đen ngòm hướng sang "trại Đa-vít". Xe chở các nhà báo vừa lăn bánh, đám lính "quân cảnh" liền nhảy lên mấy chiếc xe Jeep lùn mui trần chạy theo sau, những khẩu súng tiểu liên cực nhanh ARI5 chĩa nòng lên tua tủa. Họ đi "hộ tống" các nhà báo!?...

        Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, anh em của đoàn đại biểu quân sự cách mạng trong BLHQS có dịp gặp lại nhà báo Phạm Xuân Ẩn. 'Biết anh được Nhà nước phong hàm thiếu tướng QĐNDVN và tuyên dương danh hiệu AHLLVTND mọi người vui vẻ chúc mừng anh. Có người thân mật hỏi:

        - Sao mấy lần đến "trại Đa- vít" trong Tân Sơn Nhất dự họp báo của ta, anh cứ ngồi ở cuối hội trường và quay mặt nhìn vào tường vậy?

        Anh tủm tỉm cười, nét hóm hỉnh hiện trên khuôn mặt gày guộc, xanh xao,anh liền nói:

        - Mình sợ lỡ có cha "Việt cộng" nào tự dưng ôm lấy mình mà kêu toáng lên: Đồng chí! Thì lúc đó mình hết đường sống!

        Nói xong, anh rít một hơi thuốc lá, nhả khói ra mù mịt. Hai mắt như đang nhìn về một nơi xa, khóe miệng vẫn còn đọng lại nụ cười trông thật hiền. Anh đang nhớ lại những tháng ngày dầy đặc hiểm nguy giữa Sài Gòn lúc nhúc ma tà, mật vụ cái chết có thể ập đến bất cứ lúc nào( ! ).

        Ngày 20.09.2006, bạo bệnh đã cướp anh đi. Tin sét đánh ấy làm cho bao người thương Xót. Anh về cõi vĩnh hằng sau khi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Quân đội và nhân dân tin cậy giao phó. Hình ảnh về anh một nhà báo tài ba, một chiến sĩ tình báo quân sự kiệt xuất sẽ mãi in đậm trong tâm trí tôi và bao người đồng đội của anh.

        Hai đoàn đại biểu quân sự cách mạng ta đã sống và chiến đấu suốt 823 ngày đêm giữa hang ổ kẻ thù trên một trận tuyến đặc biệt- Mặt trận ngoại giao quân sự!

        Mỗi buổi họp báo, chúng tôi coi đó là một trận chiến đấu thật sự của những nhà ngoại giao mặc áo lính. Trên trận tuyến đó mỗi cán bộ, chiến sỹ đều cố gắng hoàn thành nhiệm vụ được giao và đã góp phần cùng với toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta làm lên ngày Đại thắng mùa Xuân 30/4/1975./.

         
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #314 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2012, 05:07:15 am »



UỶ BAN ỌUỐC TẾ KIỂM SOÁT VÀ GIÁM SÁT
TRONG HIỆP ĐỊNH PARIS VỀ VIỆT NAM 1973

Huỳnh Văn Trình                

         Nguyên Trung tá Quân đội nhân dân Việt Nam chuyển ngành; Nguyên Phó Trưởng Phái đoàn  liên lạc Bộ Tống tư lệnh (1970-1972) bên cạnh UBQT sau Hiệp định Geneve; Nguyên thành viên  Đoàn đàm phán Paris, Uỷ viên Ban lãnh đạo Đoàn đại biếu Quân sự Chính phủ Việt Nam DCCH trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên TƯ ở Sài Gòn; Nguyên Vụ trưởng-cố vấn Bộ Ngoại giao
   
        Trong giải pháp chính trị-ngoại giao toàn bộ kết thúc chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp bằng Hiệp định Geneve 7/1954 và trong kháng chiến chống Mỹ bằng Hiệp định Paris 1/1973, vấn đề Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát luôn có vị trí, vai trò rất quan trọng : thể hiện sự công nhận quốc tế đối với giá trị của Hiệp định và bảo đảm sự đánh giá khách quan, trung lập đối với việc thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định của các bên. Tuy nhiên, do ý đồ-chủ trương-quan điểm của mỗi bên về vấn đề này có khác nhau, thậm chí đối lập nhau nên việc đàm phán về điều khoản Uỷ ban quốc tế cũng như vận dụng vai trò hoạt động của tổ chức này trong thực tiễn thi hành Hiệp định diễn ra khá căng thẳng và phức tạp.

        Từ kinh nghiệm về Uỷ ban quốc tế (UBQT) trong Hiệp định Geneve, đối với hiệp định Paris, nổi lên sự khác biệt cơ bản về lập trường giữa Mỹ và ta về Uỷ ban quốc tế là :

        - Mỹ rất đề cao vai trò UBQT, coi đó là tổ chức có quyền lực cao nhất trong bộ máy thi hành Hiệp định, đứng trên Ban Liên hợp quân sự (LHQS). Ý đồ nhằm dùng tổ chức quốc tế này duy trì nguyên trạng chính trị ở miền Nam, củng cố thế lực cho nguỵ Sài Gòn, kiềm chế thắng lợi của lực lượng cách mạng, bảo vệ chế độ thực dân kiểu mới trong điều kiện Mỹ buộc phải chấm dứt hoàn toàn dính líu quân sự ở miền Nam Việt Nam.

        - Ngược lại, ta chủ trương đề cao vai trò của Ban LHQS, coi việc thi hành Hiệp định là trách nhiệm của các bên ký kết. Các Ban LHQS gồm đại diện của các bên liên quan có vai trò quyết định nhất trong thi hành Hiệp định, có chức năng định ra thể thức thi hành Hiệp định và trực tiếp thực thi các thể thức đó. UBQT có vai trò quan trọng kiểm soát và giám sát việc thực hiện các điều khoản do Hiệp định quy định trong mối quan hệ phối hợp chặt chẽ và dựa trên cơ sở hoạt động của các Ban LHQS, không đứng trên Ban LHQS. Ta coi UBQT là một sách lược quan trọng trong giải pháp chính trị, tranh thủ dư luận quốc tế, phục vụ cho đấu tranh của ta trên ba mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao.

        I - Cuộc mặc cả trong đàm phán ở Paris.

        Xuất phát từ lập trường nói trên, khi đàm phán.Hiệp định Paris đi vào thực chất, hai bên đã đưa ra những đề nghị rất khác nhau đối với các vấn đề chủ chốt về UBQT. Qua đấu tranh, đã đi đến sự thoả thuận như được ghi trong Hiệp định và Nghị định thư về UBQT.

        1. Về thành viên quốc gia tham gia UBQT :

        Được đề cập lần đầu tiên trong cuộc gặp riêng Lê Đức Thọ - Kissinger ngày 15/9/1972. Ta đưa ra thành phần UBQT gồm 5 thành viên; ngoài ba nước hiện có ấn Độ-Balan-Canada (của UBQT theo Hiệp định Geneve), mỗi bên giới thiệu thêm một nước và được bên kia chấp thuận. Về phía mình, ta đề nghị Cuba. Kissinger không chấp nhận ấn Độ vào UBQT, cho không phải là nước trung lập (đầu 1972 ấn Độ nâng quan hệ ngoại giao với Việt Nam DCCH lên hàng Đại sứ nhưng vẫn duy trì quan hệ Tổng lãnh sự với chính quyền Sài Gòn) và cũng bác bỏ Cuba vào UBQT.

        - Ngày 26/9/1972, ta đề nghị UBQT gồm 4 nước.

        - Ngày 27/9/1972, Mỹ vẫn đưa đề nghị UBQT gồm 5 nước và ngày 9/10/72 nói rõ thêm : 4 nước do 2 bên thoả thuận, còn nước thứ 5 do Tổng thư ký LHQ chỉ định. Mỹ giới thiệu Nhật và Indonesia làm thành viên UBQT.
 
        - Ngày 17/10/1972, ta trao cho Mỹ dự thảo Hiệp định Paris với hướng thoả thuận UBQT gồm 4 nước thành viên. Mỹ đưa vấn đề mới, đòi Cộng hoà Triều Tiên (một nước đang trực tiếp tham chiến ở miền Nam Việt Nam) tham gia UBQT.

        - Ngày 18/11/1972, Nguyễn Văn Thiệu, trong Giác thư gửi cho Ni xon, đòi UBQT gồm toàn "nước trung lập".

        - Ngày 9/12/1972, ta đồng ý Indonesia vào UBQT theo giới thiệu của Mỹ.

        - Ngày 13/1/1973,.cuộc gặp riêng cuối cùng Lê Đức Thọ - Kissinger thoả thuận nội dung Điều 18 về UBQT trong Hiệp định.

        - Ngày 19/1/1973, hai bên thoả thuận xong Nghị định thư về UBQT.

        - Ngày 27/1/1973, ký Hiệp định Paris, tất cả các bên chấp nhận UBQT gồm đại biểu 4 nước Balan, Canada, Hungari, Indonesia.

        Như vậy, cuối cùng ta đạt yêu cầu : UBQT 4 thành viên quốc gia, có sự cân bằng lực lượng của đại diện mới bên trong UBQT.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #315 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2012, 05:10:46 am »


        2. Về nhiệm vu, quyền hạn UBQT :

        Mỹ đòi UBQT có nhiệm vụ rất rộng : ngăn ngừa, phát hiện vi phạm và đe doạ vi phạm, giải quyết vi phạm, trong khi thực chất đây là thuộc chức năng của các Ban LHQS; đòi UBQT có quyền hạn lớn và không hạn chế : hoạt động độc lập, tự do đi lại khắp miền Nam, thậm chí khắp Việt Nam, tự ý điều tra vi phạm, có quan hệ với UBQT Ở Lào, Campuchia, chỉ trực thuộc Hội nghị quốc tế, có đặc quyền bất khả xâm phạm cao hơn đoàn ngoại giao, đứng trên Ban LHQS.

        Ta chủ trương UBQT chỉ có chức năng kiểm soát và giám sát việc thi hành các điều khoản được quy định trong Hiệp định, không lấn sang nhiệm vụ chủ yếu của các Ban LHQS, đặc biệt trong việc phát hiện, ngăn ngừa và giải quyết có hiệu quả đối với mọi hành vi vi phạm Hiệp định. Do Ban LHQS.là cơ quan đại diện cho các bên và chủ quyền của hai bên miền Nam Việt Nam, gồm các đối tác trực tiếp liên quan đến hậu quả thi hành Hiệp định, được triển khai rộng khắp các địa phương, nên có điều kiện, ý chí, khả năng và phạm vi rộng rãi hơn UBQT trong phát hiện và xử lý vi phạm. Việc phân biệt nhiệm vụ như vậy giữa Ban LHQS và UBQT mới bảo đảm cho việc thi hành Hiệp định được nghiêm chỉnh và hiệu quả. Hoạt động của UBQT phải trên cơ sở các bên đồng ý, điều tra vi phạm theo yêu cầu của các bên và được các bên giúp đỡ hợp tác, bảo đảm quyền miễn trừ ngoại giao. Không có mối quan hệ giữa UBQT Ở Việt Nam và Lào, Campuchia vì thuộc thẩm quyền các nước khác. UBQT trực thuộc 4 bên ký kết Hiệp định Paris. Thực tế lịch sử chứng minh một cuộc chiến tranh lớn mà các bên còn giải quyết được bằng cùng nhau ký kết Hiệp định, thì đối với các vi phạm Hiệp định cụ thể làm sao các bên không tự giải quyết được ? Với Hiệp định Geneve 1954, sự có mặt của UBQT chẳng đã không có hiệu lực phát hiện, ngăn chặn nguy cơ Mỹ - nguỵ vi phạm trắng trợn Hiệp định, tăng cường chiến tranh xâm lược và phá hoại Tổng tuyển cử đó sao ? Trên những cơ sở đó UBQT không thể đứng trên các Ban LHQS được.

        Qua đấu tranh kiên quyết và lập luận vững chắc của ta, Mỹ buộc chấp nhận về cơ bản quan điểm của ta như đã ghi trong Hiệp định và Nghị định thư là :

        "Việc thi hành Hiệp định là trách nhiệm của các bên ký kết. Nhiệm vụ UBQT là kiểm soát và giám sát các điều khoản nói trong điều 18 của Hiệp định. Trong khi thực hiện nhiệm vụ này, UBQT sẽ :

        a) Theo dõi việc thực hiện các điều khoản của Hiệp định trên đây qua liên lạc với các bên và quan sát tại chỗ ở những nơi cần thiết.

        b) Điều tra các vi phạm những điều khoản thuộc thẩm quyền kiểm soát và giám sát của Uỷ ban.

        c) Khi cần thiết, hợp tác với các Ban LHQS trong việc ngăn ngừa và phát hiện vi phạm.

        UBQT điều tra các vi phạm theo yêu cầu của các Ban LHQS và khi tiến hành nhiệm vụ này, UBQT sẽ hành động với sự giúp đỡ và hợp tác của các bên liên quan".

        3. Về bộ máy tổ chức của UBQT :

        Mỹ đòi lập bộ máy UBQT rất lớn từ Trung ương xuống địa phương, rải khắp miền Nam, tổng số.từ 7.000 đến 12.000 người với 334 tổ công tác, có vũ trang, bố trí dày đặc nhiều tổ dọc khu phi quân sự và biên giới Việt Nam-Lào-Campuchia. Ngược lại, Mỹ rất coi nhẹ Ban LHQS, chỉ cần có ở cấp Trung ương, khu vực và các tổ với khoảng 500 người. Ý đồ là dưới danh nghĩa UBQT, đưa vào miền Nam một đội quân chiếm đóng nước ngoài làm nhiệm vụ cảnh bị quốc tế, thay thế quân Mỹ buộc phải rút đi, nhằm ngăn chặn tấn công và nổi dậy của quân dân miền Nam, bịt chặt các cửa khẩu ra vào dọc khu phi quân sự và biên giới để triệt để cô lập cách mạng miền Nam Việt Nam, phục vụ cho việc tăng cường chiến tranh, vi phạm Hiệp định của Mỹ - nguỵ.

        Đài BBC ngày 25/9/1974 đã nói về âm mưu sử dụng UBQT của Mỹ nguỵ là "Thiệu muốn duy trì được sức hậu thuẫn của Quốc hội Mỹ và nếu ông có thể dùng được UBQT để vạch ra những kiểu vi phạm của phía cộng sản đương phạm vào lúc này thì rất có thể Quốc hội Mỹ tỏ ra sẵn sàng trong vấn đề viện trợ cho Nam Việt Nam".

        Ta chủ trương tổ chức bộ máy Ban LHQS phải cao hơn UBQT, UBQT có bộ máy tổ chức hợp lý, số lượng nhân viên vừa phải, không vũ trang, phù hợp với nhiệm vụ, tối đa là 55 tổ với tổng số 600 người. Con số này sẽ giảm dần trong quá trình hoàn thành nhiệm vụ từng bước.

        Kết quả đàm phán cuối cùng, ta đạt được thoả thuận theo Hiệp định và Nghị định thư là UBQT có 1.160 nhân viên với 59 tổ công tác các loại, trong khi đó Ban LHQS có 3.300 nhân viên với 7 tổ khu vực và 26 tổ địa phương. Tỷ lệ thành viên UBQT và Ban LHQS là 1/3.
Logged

altus
Moderator
*
Bài viết: 1782



« Trả lời #316 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2012, 06:18:50 am »

Kết quả đàm phán cuối cùng, ta đạt được thoả thuận theo Hiệp định và Nghị định thư là UBQT có 1.160 nhân viên với 59 tổ công tác các loại, trong khi đó Ban LHQS có 3.300 nhân viên với 7 tổ khu vực và 26 tổ địa phương. Tỷ lệ thành viên UBQT và Ban LHQS là 1/3.

Bác Giangtvx có thông tin nào về chuyện tiền chi phí cho hoạt động của bộ máy này, ăn ở đi lại vân vân, được quy định thế nào trong Hiệp Định, và cuối cùng thì do ai bỏ ra không?
Logged
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #317 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2012, 07:26:06 am »

Bác Giangtvx có thông tin nào về chuyện tiền chi phí cho hoạt động của bộ máy này, ăn ở đi lại vân vân, được quy định thế nào trong Hiệp Định, và cuối cùng thì do ai bỏ ra không?

Mời bác xem phần tiếp
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #318 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2012, 07:27:49 am »

(Tiếp: UỶ BAN ỌUỐC TẾ KIỂM SOÁT VÀ GIÁM SÁT TRONG HIỆP ĐỊNH PARIS VỀ VIỆT NAM 1973)

        4. Về nguvên tắc tôn trọng chủ quyền và nguvên tắc nhất trí trong hoạt động của UBQT :

        Mỹ không muốn thực hiện các nguyên tắc này. Đòi UBQT hoạt động độc lập, được tự do đi lại khắp miền Nam Việt Nam và cả Việt Nam, tự do điều tra vi phạm mà không có các bên tham gia, có quyền báo cáo lên Hội nghị quốc tế và muốn Hội nghị quốc tế có thẩm quyền kết thúc UBQT. Nhấn mạnh UBQT có quyền làm báo cáo không nhất trí, quyền hoạt động khi không có đủ mặt 4 thành viên tham gia...

        Ta kiên quyết bảo vệ hai nguyên tắc rất cơ bản nói trên được thể hiện trong các mối quan hệ : UBQT do các bên ký kết quyết định thành lập và kết thúc nhiệm vụ; UBQT báo cáo cho các bên; UBQT hoạt động song song với Ban LHQS và trên cơ sở hợp tác, phối hợp với các Ban LHQS, gắn và phụ thuộc các Ban LHQS.

        UBQT hành động như một cơ quan thống nhất, bao gồm tất cả 4 thành viên; các báo cáo của UBQT phải được sự nhất trí thoả thuận của đại diện tất cả 4 thành viên.

        Cuối cùng, hai bên đã thoả thuận các điều khoản về tổ chức và thủ tục làm việc của UBQT phù hợp với nguyên tắc tôn trọng chủ quyền Việt Nam, chủ quyền hai bên miền Nam Việt Nam và nguyên tắc nhất trí trong lề lối làm việc của UBQT như được ghi nhận trong Nghị định thư.

        5. Về tài chính của UBQT :

        Mỹ muốn UBQT có một ngân sách lớn, do Uỷ ban tự quyết định nhằm bảo đảm cho UBQT không bị hạn chế về tài chính trong xây dựng bộ máy và trong hoạt động phục vụ cho ý đồ của họ. Mỹ đề ra cách đóng góp không bình đẳng, theo tỉ lệ Mỹ-nguỵ mỗi bên đóng 28%, Việt Nam DCCH và Chính phủ cách mạng lâm thời mỗi bên đóng 18% nhằm dễ đàng dùng vấn đề tài chính lũng đoạn UBQT, đồng thời đề cao thiện chí của chúng, hạ uy tín Việt Nam DCCH và Chính phủ CMLT.

        Ta chủ trương khống chế ngân sách UBQT một cách hợp lý theo tổ chức và chức năng của Uỷ ban; ngân sách dự trù của UBQT phải được 4 bên ký kết Hiệp định duyệt trên cơ sở hằng năm và giảm dần theo quá trình hoàn thành nhiệm vụ từng bước; việc đóng góp phải theo tỉ lệ bình đẳng giữa 4 bên ký kết nhằm thể hiện thiện chí của ta, đề cao uy tín Việt nam DCCH và Chính phủ CMLT, chống Mỹ- nguỵ dùng tài chính thao túng UBQT.

        Do đấu tranh của ta có cơ sở pháp lý và thực tế vững chắc nên buộc Mỹ phải đồng ý 4 bên đóng góp bình đẳng 23% và 4 bên ký kết Hiệp định thông qua ngân sách UBQT hàng năm. Mỗi nước thành viên UBQT đóng góp 2%

        Chung lại, vấn đề UBQT được đàm phán và quyết định trực tiếp tại diễn đàn gặp gỡ riêng Lê Đức Thọ - Kissinger (ở cấp cao nhất và cấp chuyên viên) trong thời gian 4 tháng từ 15/9/1972 đến 19/1/1973.

        Thoả thuận ký kết được ghi trong Điều 18 của Hiệp định và Nghị định thư về UBQT là kết quả tốt nhất về chính trị, pháp lý mà chúng ta đạt được theo yêu cầu đề ra và có tầm vóc khác biệt rõ rệt so với UBQT được thành lập theo Hiệp định Geneve 1954. Nội dung được nâng cao so với trước là về các điều khoản cơ bản nhất : thành phần quốc gia thành viên UBQT và việc luân phiên làm chủ tịch, tổ chức bộ máy, vị trí-vai trò-nhiệm vụ UBQT, UBQT chịu trách nhiệm trước 4 bên ký kết Hiệp định và quan hệ phụ thuộc với Ban LHQS, các nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của miền Nam Việt Nam, đặc biệt là Chính phủ CMLT và hiệp thương nhất trí.

        Chúng ta đã giành được thắng lợi trong thực hiện chủ trương đàm phán của mình về UBQT
« Sửa lần cuối: 13 Tháng Ba, 2012, 07:41:11 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #319 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2012, 07:34:20 am »

" ... Do đấu tranh của ta có cơ sở pháp lý và thực tế vững chắc nên buộc Mỹ phải đồng ý 4 bên đóng góp bình đẳng 23% và 4 bên ký kết Hiệp định thông qua ngân sách UBQT hàng năm. Mỗi nước thành viên UBQT đóng góp 2%"

Quy định là vậy nhưng chẳng bên nào chịu chi cả. Các trang thiết bị và phương tiện đều do Mỹ "đài thọ" và cuối cùng thì Mỹ chi tất. Họ cũng chẳng tốt dẹp gì đâu. Chẳng qua là họ nôn nóng chuyện tù binh (Mỹ) và hài cốt lính Mỹ thôi. Nhưng cũng phải nói ta ép họ rất giỏi  Grin  
« Sửa lần cuối: 13 Tháng Ba, 2012, 07:43:27 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM