Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thảo luận Lịch sử bảo vệ Tổ quốc => Từ thuở mang gươm đi mở cõi... => Tác giả chủ đề:: dongadoan trong 11 Tháng Bảy, 2009, 09:14:03 pm



Tiêu đề: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: dongadoan trong 11 Tháng Bảy, 2009, 09:14:03 pm
  Giới thiệu một số lược đồ về cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ. Ảnh và tài liệu lược trích từ cuốn "Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng" của NXB CAND.

  1, Cương vực lãnh thổ Văn Lang - Âu Lạc thời kỳ đầu dựng nước:

  Theo một số sách sử của Việt Nam như: Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi năm 1438, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sỹ Liên năm 1479,... thì: Hùng Vương lên ngôi vua, đặt quốc hiệu là Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu (nay là vùng Bạch Hạc, Phú Thọ). Chia nước làm mười lăm (15) bộ:

  - Văn Lang (Phú Thọ).

  - Châu Diên (Sơn Tây).

  - Phúc Lộc (Sơn Tây).

  - Tân Hưng (Hưng Hóa - Tuyên Quang).

  - Vũ Định (Thái Nguyên - Cao Bằng).

  - Vũ Ninh (Bắc Ninh).

  - Lục Hải (Lạng Sơn).

  - Ninh Hải (Quảng Ninh).

  - Dương Tuyền (Hải Dương).

  - Giao Chỉ (Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình).

  - Cửu Chân (Thanh Hóa).

  - Hoài Hoan (Nghệ An).

  - Cửu Đức (Hà Tĩnh).

  - Việt Thường (Quảng Bình, Quảng Trị).

  - Bình Văn (?).

  Theo các bộ sử Trung Quốc như: Thông Điển của Đỗ Hựu đời Đường, Cựu Đường Thư Địa Lý Chí của Lưu Hú thì nước Văn Lang ở vào huyện Mê Linh đời Hán và ở châu Phong đời Đường. Nhưng các sách này chỉ chép tên mà không chép cương vực.

  Theo bộ ĐVSKTT - bộ chính sử đầu tiên của nước ta thì nước Văn Lang "Đông giáp Nam Hải, Tây giáp Ba Thục, Bắc giáp hồ Động Đình, Nam giáp nước Hồ Tôn". Nam Hải tức Biển Đông; Ba Thục là một quốc gia cổ có lãnh thổ nay là vùng Tứ Xuyên, Trung Quốc; hồ Động Đình ở tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc; Hồ Tôn là một quốc gia cổ của người Chăm có lãnh thổ tương ứng với vùng từ quảng Bình đến Bình Thuận của Việt Nam ngày nay.

(http://i30.photobucket.com/albums/c330/dongadoan/bdvn1.jpg)


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: dongadoan trong 18 Tháng Bảy, 2009, 07:41:47 pm
  2, Cương vực lãnh thổ Văn Lang - Âu Lạc thời kỳ Bắc thuộc:

  Kể từ khi Triệu Đà thôn tính Âu Lạc, chia thành hai quận và sáp nhập vào nước Nam Việt, đất nước ta bước vào thời kỳ bị Bắc thuộc kéo dài hơn 1.000 năm. Các triều đại phong kiến phương Bắc nối tiếp nhau biến lãnh thổ Âu Lạc thành những đơn vị hành chính “thuộc quốc” để cai trị.

  Nhà Triệu thống trị nước Nam Việt từ năm 208 trước Công nguyên đến năm 11 trước Công nguyên (bao gồm cả Âu Lạc từ năm 179 trước Công nguyên).

  Thời cổ đại, ở Trung Quốc có hai triều Hán khác nhau: Nhà Tây Hán, khởi đầu là Lưu Bang (Hán Cao Tổ) tồn tại từ khoảng năm 206 trước Công nguyên đến năm thứ 8 sau Công nguyên; và nhà Đông Hán, khởi đầu là Lưu Tú (Hán Quang Vũ), tồn tại từ năm 25 đến năm 220. Cả Tây Hán và Đông Hán đều coi Âu Lạc là lãnh thổ của Trung Quốc.

  Khoảng năm 111 trước Công nguyên, nhà Tây Hán diệt nhà Triệu, chiếm toàn bộ Nam Việt (bao gồm cả Âu Lạc), đổi tên thành Giao Chỉ bộ chia thành chín quận và sáp nhập vào đất đai của nhà Hán. Riêng phần lãnh thổ nước Âu Lạc cũ được chia làm ba quận là Giao Chỉ (đại thể là vùng Bắc Bộ ngày nay), Cửu Chân (Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh) và Nhật Nam (từ đèo Ngang trở vào phía Nam đến khoảng Quảng Nam – Đà Nẵng).

  Năm 40, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, cầm quân đánh chiếm được các quận Giao Chỉ, Cửu Châu, Nhật Nam và Hợp Phố, thống nhất đất nước. Bà Trưng Trắc lên làm vua, xưng là Trưng Nữ Vương, đóng đô ở Mê Linh.

   Năm 42, nhà Hán sai lão tướng Mã Viện đem quân thuỷ, bộ xâm lược Âu Lạc. Năm 43, cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng thất bại. Đặt lại ách xâm lược, Mã Viện cho đóng cột đồng để phân chia giới hạn giữa đất Hán và đất Giao Chỉ. Việc này chứng tỏ nhà Hán phải nhìn nhận về một sự ngăn cách nào đó giữa lãnh thổ nước ta và Trung Quốc, đồng thời cũng là ý nghĩa lịch sử của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng khởi đầu trong cuộc đấu tranh giải phóng đất nước của dân tộc Việt Nam.

  Năm 137, một thủ lĩnh người Chàm ở huyện Tượng Lâm (quận Nhật Nam) vận động nhân dân trong huyện nổi lên đánh đuổi quan quân nhà Hán, thành lập nước Lâm Ấp. Như vậy, phần đất phía Nam lãnh thổ nước Âu Lạc thời Bắc thuộc đã xuất hiện một quốc gia mới là Lâm Ấp.
 


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: dongadoan trong 18 Tháng Bảy, 2009, 07:49:12 pm
  Cuối thế kỷ II, đầu thế kỉ III, vùng đất Âu Lạc nằm dưới quyền thống trị của cha con, anh em nhà Sỹ Nhiếp (người Hná bản địa hoá). Lợi dụng tình hình rối loạn ở chính quốc, Sỹ Nhiếp nắm toàn bộ quyền hành ở Giao Chỉ. Năm 203, theo đề nghị của Sỹ Nhiếp (bấy giờ là Thái thú của Giao Chỉ), nhà Hán đổi Giao Chỉ thành Giao Châu. Đến năm 213, nhà Hán lại bỏ Giao Châu và nhập ba quận của Âu Lạc cũ vào Kinh Châu.

   Nhà Hán đổ, cục diện Tam quốc chiến tranh loạn lạc dẫn đến Âu Lạc bị nhà Ngô đô hộ. Năm 226, nhà Ngô tách các quận Hợp Phố (thuộc Quảng Châu, Trung Quốc), Giao Chỉ, Cửu Châu, Nhật Nam thành lập Giao Châu.

   Năm 263, Lã Hưng, một tướng của Đông Ngô nổi dậy diệt Thái thú Giao Châu, lấy đất Giao Châu sáp nhập vào Tây Tấn. Năm 264, Ngô Vương Tôn chia Giao Châu (gồm đất Âu Lạc cũ và một phần đất Quảng Đông, Quảng Tây của Trung Quốc) thành Quảng Châu (đất Lưỡng Quảng) và Giao Châu. Giao Châu từ đó thu hẹp trong phạm vi lãnh thổ nước Âu Lạc cũ, thành Long Biên (Từ Sơn, Bắc Ninh) là châu lị. Năm 271, sau khi diệt Lã Hưng, nhà Ngô đặt thêm quận Cửu Đức (được tách từ một bộ phận ở phía nam quận Cửu Châu tương ứng với huyện Hàm Hoan cũ). Quận Cửu Đức gồm sáu huyện thuộc hầu hết đất đai hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay.

   Từ năm 280, Tây Tấn diệt hẳn Đông Ngô, đất Giao Châu lại thuộc về Tây Tấn. Nhà Tây Tấn đặt quan Thứ sử cai trị Giao Châu và quan Thái thú ở bảy quận của Giao Châu là: Hợp Phố, Vũ Bình, Tân Xương, Giao Châu, Cửu Đức, Nhật Nam (lúc này Nhật Nam chỉ còn đất từ Quảng Bình đến Quảng Trị). Nhà Tấn mở rộng thêm địa giới quận Cửu Đức đến Hoành Sơn, đặt thêm huyện Nam Lăng và huyện Đô Giao tương ứng với các huyện Hương Sơn, Nghi Xuân, Hương Khê, Thạch Hà thuộc tỉnh Hà Tĩnh hiện nay.

  Sau khi nhà Tấn suy sụp, ở Trung Quốc diễn ra cục diện Nam - Bắc triều. Nước Âu Lạc bị đặt dưới ách đô hộ của Nam triều gồm các triều Tống, Tề, Lương, Trần: Khoảng đầu thế kỉ V, Giao Châu bị nhà Tống thống trị, năm 470 nhà Tống tách Hợp Phố sáp nhập vào nội địa Trung Quốc, bản đồ Giao Châu còn lại trong phạm vi vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ ngày nay, vùng Nghệ An, HÀ Tĩnh vẫn gọi là Cửu Đức; năm 479, nhà Tề thay thế nhà Tống; năm 505, Giao Châu thuộc nhà Lương, năm 523 nhà Lương đặt Ái Châu ở Thanh Hoá, đổi quận Cửu Đức thành Đức Châu, đặt thêm hai huyện mới là Lợi Châu và Minh Châu, năm 535 đặt thêm một châu mới là Hoàng Châu (Quảng Ninh).

   Năm 542, Lý Bí lãnh đạo nhân dân Giao Châu tấn công quân Lương, chiếm được hầu hết các quận, huyện và thành Long Biên. Năm 543, Lý Bí đánh tan quân Lương ở Hợp Phố. Cũng năm 543, quân Lâm Ấp kéo sang cướp phá quân Nhật Nam, Lý Bí sai lão tướng Phạm Tu đưa quân tiến đánh vào Cửu Đức, quân Lâm Ấp bỏ chạy. Với hai thắng lợi này, cương vực lãnh thổ nước ta bấy giờ được bảo vệ suốt từ Hoành Sơn đến Hợp Phố. Năm 544, Lý Bí xưng Nam Việt Đế (Lý Nam Đế), đặt tên nước là Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên (Thuận Thành, Bắc Ninh ngày nay).

   Năm 545, nhà Lương đem quân đánh Vạn Xuân. Năm 548, trước khi mất ở động Khuất Lão (vùng Tây Vĩnh Phú), Lý Nam Đế trao quyền cho Triệu Quang Phục tiếp tục kháng chiến chống quân Lương, Triệu Quang Phục lên ngôi vua, xưng là Triệu Việt Vương. Năm 550, Triệu Quang Phục khôi phục lại được nền độc lập, nhưng từ đó nội bộ Vạn Xuân bị chia rẽ. Lý Thiên Bảo (anh họ của Lý Bí) và Lý Phật Tử (người cùng họ) không quy phục Triệu Việt Vương. Năm 549, Lý Thiên Bảo xưng là Đào Lang Vương. Năm 555, Đào Lang Vương chết, toang bộ binh quyền được trao cho Lý Phật Tử. Năm 571, Lý Phật Tử bất ngờ diệt Triệu Việt Vương để giành ngôi vua, tự xưng là Hậu Lý Nam Đế, đóng đô ở Phong Châu (Bạch Hạc, Vĩnh Phú).



Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: dongadoan trong 18 Tháng Bảy, 2009, 07:54:17 pm
  Năm 589 nhà Trần ở Trung Quốc bị tiêu diệt, nhà Tuỳ lên thay thế, dẹp yên Nam - Bắc triều. Lúc này, mặc dù chưa xâm lược được Vạn Xuân nhưng nhà Tuỳ đã tìm mọi cách để khẳng định quyền đô hộ đối với Vạn Xuân. Năm 598, nhà Tuỳ đổi Hưng Châu làm Phong Châu, đổi Hoàng Châu làm Ngọc Châu, Đức Châu làm Hoan Châu, Lợi Châu làm Trí Châu. Năm 602, nhà Tuỳ sai mười vạn quân xâm lược Vạn Xuân, Lý Phật Tử đầu hàng, từ đó Vạn Xuân lại bị nhà Tuỳ đô hộ. Khoảng từ năm 603 – 607,óau khi đánh bại nhà nước Vạn Xuân, ổn định được nền đô hộ, nhà Tuỳ bỏ các tên châu, gọi là quận như thuở trước. Giao Châu được chia là bảy quận: Giao Chỉ (các tỉnh Bắc Bộ); Cửu Chân (Thanh Hoá); Nhật Nam (Nghệ An); ba quận Tỵ Ảnh, Hải Âm và Lâm Ấp tương đương Bình - Trị Thiên ngày nay; Ninh Việt gồm Ngọc châu và Khâm châu. Nhà Tuỳ chuyển trị sở châu từ Long Biên về Tống Bình (Hà Nội).

   Năm 618, nhà Tuỳ đổ, nhà Đường thay nhà Tuỳ trị vì Trung Hoa. Thái thú Giao Châu của nhà Tuỳ thần phục nhà Đường, từ đó đến năm 904, Giao Châu bị nhà Đường đô hộ. Nhà Đường đổi các quận thành châu như cũ. Năm 622, đổi Giao Châu thành An Nam Tổng Quản Phủ. Năm 679 lại đổi thành An Nam Đô Hộ Phủ, chia thành 12 châu:

  - Có 3 châu là Giao Châu, Phong Châu, Trường Châu (Bắc Bộ ngày nay);

  - Có 4 châu là Thang Châu, Chi Châu, Vũ Nga Châu, Vũ An Châu (Quảng Đông, Quảng Tây);

  - Có 4 châu là Ái Châu, Phúc Lộc Châu, Diễn Châu, Hoan Châu (Bắc Trung Bộ);

  - Lục Châu (thuộc đất Trung Quốc và vùng Quảng Ninh).

   Năm 757, do tình hình rối loạn ở Trung Quốc, nhiều cuộc nổi dậy của nhân dân đánh phá các châu huyện, nhà Đường đã đổi An Nam Đô Hộ Phủ thành Trấn Nam Đô Hộ Phủ, đến năm 768 lại đổi thành An Nam Đô Hộ Phủ như cũ. Năm 863, nhà Đường bãi bỏ phủ đô hộ. Đến năm 866, sau khi đánh bại được quân Nam Chiếu, chiếm lại thành Tống Bình, phủ đô hộ mới được đặt lại ở đây.

 
(http://i30.photobucket.com/albums/c330/dongadoan/bdvn2.jpg)


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: tuaans trong 18 Tháng Bảy, 2009, 10:34:28 pm
Bác cho em hỏi từ đâu ra cái chú thích này:

  - Văn Lang (Phú Thọ).

  - Châu Diên (Sơn Tây).

  - Phúc Lộc (Sơn Tây).

  - Tân Hưng (Hưng Hóa - Tuyên Quang).

  - Vũ Định (Thái Nguyên - Cao Bằng).

  - Vũ Ninh (Bắc Ninh).

  - Lục Hải (Lạng Sơn).

  - Ninh Hải (Quảng Ninh).

  - Dương Tuyền (Hải Dương).

  - Giao Chỉ (Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình).

  - Cửu Chân (Thanh Hóa).

  - Hoài Hoan (Nghệ An).

  - Cửu Đức (Hà Tĩnh).

  - Việt Thường (Quảng Bình, Quảng Trị).


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: dongadoan trong 19 Tháng Bảy, 2009, 08:47:06 am
Hì, bài đầu tiên em đã nói rõ là em lấy từ sách mà? Chính vì cần thêm các tư liệu xác định nên em mới đưa nó vào CAT Thảo luận chứ không để ở Thư viện. Bác có tài liệu khác à, post lên đi! ;D


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: lonesome trong 20 Tháng Bảy, 2009, 12:18:59 am
Hì, bài đầu tiên em đã nói rõ là em lấy từ sách mà? Chính vì cần thêm các tư liệu xác định nên em mới đưa nó vào CAT Thảo luận chứ không để ở Thư viện. Bác có tài liệu khác à, post lên đi! ;D

Em có thì có đưa được không? Đề tài này em cãi nhau với Trương Thái Du mấy năm nay nên cũng có ít tư liệu ...


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: dongadoan trong 20 Tháng Bảy, 2009, 05:02:31 pm
Hì, đã để ở đây thì ai có tư liệu cứ đưa, việc gì phải hỏi?  ;D

Tư liệu của lonesome có nguồn online không?


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: lonesome trong 20 Tháng Bảy, 2009, 05:24:31 pm
Hì, đã để ở đây thì ai có tư liệu cứ đưa, việc gì phải hỏi?  ;D

Tư liệu của lonesome có nguồn online không?

Có và không có bác ạ. Để em lục thêm mấy topic bên LSVH nhé. 1 số bài trong kỷ yếu hội thảo HV em cũng post lên đây rồi, bản in thì bác Hồ Giáo đang giữ.


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: dongadoan trong 23 Tháng Bảy, 2009, 07:36:37 pm
  3, Cương giới lãnh thổ Đại Việt trong kỷ nguyên độc lập:

   Năm 938, Ngô Quyền lãnh đạo nhân dân Văn Lang – Âu Lạc đánh bại quân Nam Hán xâm lược, chấm dứt hơn 1000 năm đô hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc, đưa đất nước bước vào kỉ nguyên độc lập tự chủ, cương vực lãnh thổ nước Văn Lang – Âu Lạc về cơ bản được khôi phục. Các triều đại phong kiến Việt Nam kế tiếp nhau về sau từ Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Lê Sơ, Trịnh - Nguyễn đã không ngừng bảo vệ cương giới và phát triển mở rộng lãnh thổ của đất nước.

  a, Thời kỳ tự chủ Khúc – Ngô – Đinh - Tiền Lê
   
   Năm 905, nhân lúc nhà Đường suy yếu, Khúc Thừa Dụ khởi binh đánh chiếm thành Tống Bình, quan quân đô hộ nhà Đường rút chạy về nước. Khúc Thừa Dụ tự xưng là Tiết Độ sứ. Nhà Đường buộc phải công nhận Khúc Thừa Dụ là người đứng đầu nước Việt. Họ Khúc cai quản đất nước tự chủ từ năm 905 đến năm 938, “đóng đô” ở Đại La (Tống Bình đổi thành), lãnh thổ thuộc quyền cai quản của chính quyền mới được mở rộng hơn trước, được chia thành năm cấp hành chính là lộ, phủ, châu, giáp và xã. Năm 907, Khúc Thừa Dụ chết, Khúc Hạo lên thay. Năm 917, Khúc Hạo chết, Khúc Thừa Mỹ lên thay.

   Cũng trong năm 905, nhà Đường đổ, nhà Hậu Lương thành lập ở Trung Quốc. Năm 917, Lưu Nham không quy phục nhà Hậu Lương, thành lập tiểu quốc Nam Hán trên vùng đất Quảng Châu. Năm 923, quân Nam Hán đánh chiếm thành Đại La, bắt được Khúc Thừa Mỹ, rồi tiến quân xuống phía nam cướp phá.

   Năm 931, Dương Đình Nghệ kéo quân từ Thanh Hoá ra bao vây công phá, chiếm lại được thành Đại La, quân Nam Hán thua phải rút chạy về nước. Dương Đình Nghệ được suy tôn làm Tiết Độ Sứ, tiếp tục sự nghiệp của họ Khúc.

   Năm 937, Kiều Công Tiễn giết Dương Đình Nghệ, giành quyền Tiết Độ Sứ. Ngô Quyền là con rể của Dương Đình Nghệ (được cha giao cai quản Ái châu) đã tập hợp lực lượng, tiến quân ra Giao Châu trừng trị Kiều Công Tiễn. Kiều Công Tiễn bị giết, nhưng trước đó vì quá khiếp sợ đã sai người sang Nam Hán cầu cứu. Nhân cơ hội này, vua Nam Hán đã sai quân xâm lược nước Việt. Mùa đông năm 938, đại binh Nam Hán tiến vào sông Bạch Đằng, bị Ngô Quyền đánh tan.

   Năm 939, Ngô Quyền lên ngôi vua, đóng đô ở Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội). Ngô Quyền làm vua được 5 năm thì mất (939 - 944), truyền ngôi vua cho con trưởng là Ngô Xương Ngập. Người em vợ Ngô Quyền là Dương Tam Kha cướp ngôi và tự xưng là Dương Bình Vương. Từ đó diễn ra sự tranh chấp giữa các con của Ngô Quyền là Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Văn với Dương Tam Kha. Năm 950, Ngô Xương Văn (em Ngô Xương Ngập) lật đổ Dương Tam Kha, giành lại ngôi vua, xưng là Nam Tấn Vương, Ngô Xương Ngập xưng là Thiên Sách Vương (lúc này nước ta có hai vua), đóng đô ở Cổ Loa.
 
   Năm 954, Ngô Xương Ngập chết. Năm 955, Ngô Xương Văn chết. Đất nước rơi vào tình trạng chia cắt, hỗn loạn. Nổi lên mười hai vùng đất biệt lập do mười hai thủ lĩnh đứng đầu, đem quân đánh chiếm lẫn nhau, sử cũ gọi là “loạn mười hai sứ quân”:

  - Ngô Xương Xí giữ Bình Kiều (Nông Cống, Thanh Hoá);

  - Đỗ Cảnh Thạc giữ Đỗ Động Giang (Thanh Oai, Hà Tây);

  - Trần Lãm giữ Bố Hải Khẩu (thị xã Thái Bình);

  - Kiều Công Hán giữ Phong Châu (Bạch Hạc, Vĩnh Phú);

  - Nguyễn Khoan giữ Tam Đái (Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc);

  - Ngô Nhật Khánh giữ Đường Lâm (Phúc Thọ, Hà Tây);

  - Lý Khuê giữ Siêu Loại (Thuận Thành, Bắc Ninh);

  - Nguyễn Thủ Tiệp giữ Tiên Sơn (Bắc Ninh);

  - Lữ Đường giữ Tế Giang (Văn Giang, Hưng Yên);

  - Nguyễn Siêu giữ Tây Phù Liệt (Thanh Trì, Hà Nội);

  - Kiều Thuận giữ Hởi Hồ (Cẩm Khê, Phú Thọ);

  - Phạm Bạch Hổ giữ Đằng Châu (Hưng Yên).

   Loạn 12 sứ quân không chỉ dẫn đến đất nước bị chia cắt mà còn gây ra rất nhiều khó khăn cho cuộc sống của nhân dân. Vì vậy, cuộc đấu tranh để thống nhất đất nước lại trở thành một nhu cầu sống còn của dân tộc. Sứ mệnh lịch sử đó được trao cho Đinh Bộ Lĩnh.

   Nổi lên ở đất Hoa Lư từ đầu những năm 50 của thế kỉ X, lực lượng của Đinh Bộ Lĩnh nhanh chóng mạnh lên nhờ sự hưởng ứng của nhân dân. Đến cuối năm 967, Đinh Bộ Lĩnh dẹp xong loạn 12 sứ quân. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên làm vua, hiệu là Đinh Tiên Hoàng, đổi tên nước thành Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư (Ninh Bình), chia nước thành mười “Đạo”. Đất đai lãnh thổ không có gì thay đổi lớn so với thời Ngô Vương. Từ năm 970, vua Đinh đã cử sứ thần sang giao hảo với nhà Tống. Năm 973, vua Tống phong Đinh Bộ Lĩnh là Giao Chỉ Quận Vương. Trong nhiều năm, quan hệ giữa Đại Cồ Việt và nhà Tống hoà hiếu tốt đẹp.

(http://i30.photobucket.com/albums/c330/dongadoan/bdvn3.jpg)


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: dongadoan trong 23 Tháng Bảy, 2009, 07:41:08 pm
  Cuối năm 979, Đinh Bộ Lĩnh và con trai là Đinh Liễn bị ám hại. Đinh Toàn mới sáu tuổi lên ngôi vua. Nhân cơ hội này, nhà Tống đã sai Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng, Lưu Trừng đem hơn ba vạn quân thuỷ, bộ sang đánh Đại Cồ Việt. Để tổ chức cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, triều đình nhà Đinh quyết định đưa Thập đạo tướng quân Lê Hoàn lên ngôi vua thay cho Đinh Toàn. Lê Hoàn đã lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Tống thắng lợi, tiếp tục củng cố nền độc lập của đất nước.

   Từ những năm 70, nước Chăm Pa ở phía Nam nước Đại Cồ Việt đã cố ý lấn chiếm. Năm 980, sau khi lên ngôi vua, Lê Hoàn sai sứ sang giao hảo với Chăm Pa để vỗ yên cương vực phía Nam, tập trung lực lượng chống giặc ngoại xâm ở cương vực phía Bắc. Vua Chăm Pa đã bắt giữ các sứ thần của Đại Cồ Việt. Năm 982, sau khi đánh tan quân xâm lược của nhà Tống, Lê Hoàn quyết định cầm quân đi đánh Chăm Pa. Quân Chăm Pa thua to. Vua Chăm Pa bị tử trận. Lê Hoàn sai quân phá hết thành trì của Chăm Pa rồi rút quân về nước. Quan hệ Đại Cồ Việt – Chăm Pa tạm hoà hoãn trong một thời gian.

   Lên ngôi vua, Lê Hoàn xưng là Lê Đại Hành (sử gọi là nhà Tiền Lê), vẫn giữ tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư, đổi mười “Đạo” thời Đinh thành mười “Lộ”, phủ, châu (tương đương đơn vị hành chính cấp tỉnh ngày nay). Căn cứ vào địa danh chép trong hai đời nhà Đinh và nhà Tiến Lê và theo chú thích của Viện Sử học khi xuất bản bản dịch Đại Việt Sử Kí Toàn Thư năm 1972, người ta tìm được các địa danh thời Tiền Lê ngày nay là:

  - Thuộc Ninh Bình (Hoa Lư, Cổ Lãm, Đàm Gia Loan);

  - Thuộc Thanh Hoá (Vũ Lũng, Hà Đông, Cử Long, Châu Ái, Chi Long, Đinh Sơn);

  - Thuộc Nghệ An (kênh Đa Cái);

  - Thuộc Hà Tĩnh (Hạch Hà, Hoàn Đường, Kỳ La, cửa biển Nam Giới);

  - Thuộc Quảng Bình (Đại Lý);

  - Thuộc Nam Định (cửa Đại Ác, sông Đại Hoàng);

  - Thuộc Thái Bình (Bố Hải Khẩu);

  - Thuộc Hưng Yên (Châu Đằng, trại Phù Lan, Mại Liên);

  - Thuộc Hải Dương (Nam Sách Giang, phủ Đái);

  - Thuộc Quảng Ninh (Trấn Triều Dương, châu Tô Mậu, Bạch Đằng);

  - Thuộc Bắc Ninh (Tiên Du, Siêu Loại);

  - Thuộc Bắc Giang (Bắc Giang, An Châu);

  - Thuộc Lạng Sơn (Lạng Châu, Chi Lăng);

  - Thuộc Hà Nội (Tây Phù Liệt);

  - Thuộc Hà Tây (Đường Lâm, Đỗ Động Giang);

  - Thuộc Phú Thọ (Châu Phong, Tam Đái);

  - Thuộc Tuyên Quang (Vị Long, Đô Lương);

  - Thuộc Hà Giang (Vị Long).

   Như vậy, cương vực, lãnh thổ nước Đại Cồ Việt thời nhà Đinh - Tiền Lê đã bao trùm lên hầu hết các tỉnh miền Bắc Việt Nam ngày nay, từ Quảng Bình trở ra cho đến Quảng Ninh, Lạng Sơn, Hà Giang. Tuy nhiên, ở thời Tiến Lê, biên giới phía Tây vẫn chưa được định hình. Cương vực phía Nam giáp Chăm Pa ở khu vực Đèo Ngang. Phía Bắc và Đông Bắc giáp đất Tống, phía Tây Bắc gần với Đại Lý (tức Nam Chiếu ở vùng Vân Nam) đều chưa ổn định. Đất đai lãnh thổ không có thay đổi gì so với thời Đinh.

   Năm 1005, Lê Đại Hành chết, con là Long Việt nối ngôi cha, xưng là Lê Trung Tông, nhưng chỉ được ba ngày thì bị em là Long Đĩnh giết cướp ngôi vua. Long Đĩnh bị bệnh trĩ, không ngồi được, phải nằm để hội chầu nên sử gọi là vua “Ngoạ triều”. Năm 1009, Lê Long Đĩnh chết, triều đình suy tôn Lý Công Uẩn lên ngôi vua. Triều đại nhà Tiền Lê chấm dứt, mở ra một trều đại mới - triều đại nhà Lý.


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: lonesome trong 26 Tháng Bảy, 2009, 10:55:20 pm
Hì, đã để ở đây thì ai có tư liệu cứ đưa, việc gì phải hỏi?  ;D

Tư liệu của lonesome có nguồn online không?

Đây có 1 bài này bác: http://www.quansuvn.net/index.php?topic=6831.0


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: lonesome trong 10 Tháng Tám, 2009, 01:37:25 am
  Giới thiệu một số lược đồ về cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ. Ảnh và tài liệu lược trích từ cuốn "Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng" của NXB CAND.

....
  Theo bộ ĐVSKTT - bộ chính sử đầu tiên của nước ta thì nước Văn Lang "Đông giáp Nam Hải, Tây giáp Ba Thục, Bắc giáp hồ Động Đình, Nam giáp nước Hồ Tôn". Nam Hải tức Biển Đông; Ba Thục là một quốc gia cổ có lãnh thổ nay là vùng Tứ Xuyên, Trung Quốc; hồ Động Đình ở tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc; Hồ Tôn là một quốc gia cổ của người Chăm có lãnh thổ tương ứng với vùng từ quảng Bình đến Bình Thuận của Việt Nam ngày nay.

(http://i30.photobucket.com/albums/c330/dongadoan/bdvn1.jpg)

Bác có bao giờ nghi ngờ chuyện tại sao lãnh thổ 15 bộ của nước Văn Lang dù ghi theo tài liệu nào cũng chỉ gói gọn trong vùng đồng bằng BB và (có thể là) 1 phần Nam của Lưỡng Quảng - so ra quá nhỏ hẹp so với câu  "Đông giáp Nam Hải, Tây giáp Ba Thục, Bắc giáp hồ Động Đình, Nam giáp nước Hồ Tôn" không?


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: dongadoan trong 10 Tháng Tám, 2009, 05:26:15 am
Không, lý do: Anh rất dốt cổ sử, đặc biệt là tối cổ như thời Văn Lang, Âu Lạc :-[


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: lonesome trong 10 Tháng Tám, 2009, 12:04:38 pm
Không, lý do: Anh rất dốt cổ sử, đặc biệt là tối cổ như thời Văn Lang, Âu Lạc :-[

Bác ngó coi cái thời viết ra những câu ấy là thời nào, cương vực lúc đó đến đâu  ;D


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: tiencong trong 16 Tháng Tám, 2009, 08:33:07 pm
Cái bản đồ bác lấy ở đâu ra vậy. Tôi đã xem sách của Đào Duy Anh và nhiều nhà lịch sử chuyên về cổ sử, không ai đề cập hay có bất cứ bản đồ nào vẽ ranh giới Âu Lạc ra tận Quảng Châu cả, nhìn bàn đồ của bác hóa ra Hongkong thuộc âu lạc à. Theo tôi biết đaih giới Âu Lạc chỉ quanh vùng đồng bằng sông Hồng và trung du Bắc Bộ, có thể đến Cao bằng.
Cái lý thuyết về một nước Văn Lang của Hùng vương đến tận hồ Động Dình (tỉnh Hồ Nam, TQ, là quê của Mao Trạch Đông) chỉ có giá trị truyền thuyết, không có giá trị lịch sử đâu. Các bác nên xem sách của Đào Duy Anh:
Đất nước Việt nam qua các đời  online ở http://www.songhuong.com.vn/main.php?cid=40,44&id=15&case=2&left=40,18
Theo tôi tham khảo các bản đồ lịch sử Việt Nam, ranh giới xa nhất về phía bắc của Việt Nam là tới các sông Tây Giang, Quảng Tây vào thời họ Khúc. Hợp Phố, Quảng Châu vẫn thuộc Giao Chỉ hay Giao Châu cho đến đời Tam Quốc. Có thể nước Văn Lang bao gồm cả Hợp Phố.
Thêm nữa không có chuyện Thục phán đánh quân Tần đâu, huyền thoại như chuyện Hùng vương đánh giặc Ân-Thương vậy.


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: dongadoan trong 16 Tháng Tám, 2009, 08:36:11 pm
Cái bản đồ bác lấy ở đâu ra vậy.
------------------------------
 Bạn đã đọc bài đầu của tôi chưa mà hỏi vậy? ;D


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: dongadoan trong 21 Tháng Tám, 2009, 02:41:06 pm
b, Nước Đại Việt thời Lý (1010 - 1225):

   Lý Công Uẩn lên ngôi vua, xưng là Lý Thái Tổ, vẫn lấy tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư, chia đặt mười “Lộ”, phủ, châu thời Tiền Lê thành hai mươi bốn “Lộ”. Năm 1010, Lý Thái Tổ dời đô về thành đại La, đặt tên kinh đô là Thăng Long. Năm 1054, đặt quốc hiệu mới là Đại Việt. Căn cứ Đại Việt Sử Kí Toàn Thư, người ta biết được một số địa danh thời Lý ngày nay như sau:

 - Thuộc Nam Định (lộ Thiên Trường, lộ Hoàng Giang);

 - Thuộc Hà Tây (lộ Quốc Oai, châu Cổ Lãm, châu Thượng Oai);

 - Thuộc Quảng Ninh (lộ Hải Đông);

 - Thuộc Thái Bình (lộ Kiến Xương, lộ Long Hưng);

 - Thuộc Hải Dương (lộ Hồng);

 - Thuộc Bắc Ninh (lộ Bắc Giang, phủ Thiên Đức);

 - Thuộc Ninh Bình (lộ Trường Yên, phủ Thiên Trường);

 - Thuộc Thanh Hoá (lộ Thanh Hoá);

 - Thuộc Nghệ An (lộ Diễn Châu, phủ Nghệ An);

 - Thuộc Hà Tĩnh (châu Hoàn Đường);

 - Thuộc Quảng Bình (châu Bố Chính, Đại Lý);

 - Thuộc Quảng Trị (châu Ma Linh);

 - Thuộc Hà Nội (phủ Ứng Thiên);

 - Thuộc Thái Nguyên (phủ Phú Lương, châu Tư Nông, châu Tuyên Hoá);

 - Thuộc Cao Bằng (châu Quảng Nguyên, Thông Nông, Tư Lang, Thảng Po, Định Biên);

 - Thuộc Lạng Sơn (châu Lang, Vạn Nhai, Thất Nguyên);

 - Thuộc Bắc Cạn (châu Tượng Nguyên, Hạ Nông, Cảm Hoá);

 - Thuộc Yên Bái (châu Định Nguyên, Trệ Nguyên);

 - Thuộc Phú Thọ (châu Chân Đăng);

 - Thuộc các tỉnh Tây Bắc (trấn Đà Giang).

   Nhà Lý đã có những cố gắng bước đầu để quản lý cương vực đất nước, nhưng biên giới Đại Việt lúc bấy giờ vẫn chưa rõ ràng và ổn định. Đầu thời Lý, vùng biển tiếp giáp Chiêm Thành (Chăm Pa) được tổ chức thành trại Định Phiên; dọc sông Mê Công là vùng đất thuộc quốc của Chân Lạp , vùng rừng núi phía Đông sông Mê Công vẫn còn là lãnh địa tự do của nhiều bộ tộc ít người; ở phía Tây và Tây Bắc không xác định được ranh giới với Nam Chiếu. Phải đến cuối thời Lý, biên giới Đại Việt giáp đất Tống ở phía Bắc và Đông Bắc mới tương đối ổn định. Thêm vào đó, nhà Lý luôn phải tiến hành cuộc đấu tranh để chống lại các hành động xâm lấn, quấy rối của các láng giềng. Năm 1164, nhà Tống đã buộc phải thừa nhận Đại Việt là một quốc gia riêng và kể từ đây người Trung Quốc gọi nước ta là An Nam quốc.



Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: dongadoan trong 21 Tháng Tám, 2009, 02:41:47 pm
   Đầu thời Lý, có nước Nam Chiếu ở tiếp giáp đất Tây Bắc của Đại Việt. Lợi dụng địa thế xa xôi hiểm trở, người Nam Chiếu kích động thủ lĩnh châu Vị Long là Hà Trắc Tuấn nổi loạn chống lại triều Lý. Nam Chiếu còn đem hai mươi vạn quân chiếm đất để tiếp ứng cho Hà Trắc Tuấn. Châu mục Quảng Nguyên là Hoàng An Vinh không chống nổi giặc, sai quân cấp báo triều đình. Năm 1014, Dực Thánh Vương được lệnh đem quân lên biên giới, cùng thổ binh đánh tan quân Nam Chiếu, thu phục lại đất Ngũ Hoa. Năm 1015, quân triều đình dẹp được loạn, bắt Hà Trắc Tuấn đem về kinh chém đầu.
 
   Tại cương giới giáp đất Tống, nhà Lý luôn phải đối phó với những âm mưu thủ đoạn xâm lấn của người Tống. Nhà Tống thường mua chuộc các thổ tù của Đại Việt để chiếm đất đai, xúi giục dân Tống ven biên tràn sang quấy phá Đại Việt: Năm 1022, quan nhà Tống ở biên hạt Khâm Châu (Quảng Đông) liên tục xúi giục dân tràn qua biên giới lấn đất và cướp bóc của dân Đại Việt, nhà Lý phải điều động một lực lượng lớn quân đội, cùng thổ binh ở biên giới truy đuổi người Tống tới tận Khâm Châu lỵ, tình hình mới yên; trên đoạn biên giới giữa Ung Châu của nhà Tống giáp đất Lạng Châu, Thái Nguyên, năm 1023, thủ lĩnh châu Thất Khê là Lý Tự bị nhà Tống mua chuộc, định đem đất ấy sáp nhập vào đất Tống, phò mã Thân Thừa Quý đem quân biên hạt Lạng Châu tiến vào đất Tống bắt được Lý Tự mặc dù bọn quan lại Ung Châu cố tình che chở v.v…

   Khi vương triều Lý bắt đầu thành lập, Chiêm Thành có sai sứ sang cống (năm 1011), nhưng đến năm 1020, Lý Thái Tổ đã sai con là Khai Thiên Vương và tướng Đào Thục Phụ vào đánh Bố Chánh. Năm 1044, Lý Thái Tông đem quân tiến vào kinh đô của Chiêm Thành là Chà Bàn (Bình Định ngày nay) giết vua Chiêm là Xạ Đẩu. Bị thất bại nặng nề, Chiêm Thành bề ngoài phải thần phục, cống nạp nhà Lý, nhưng bên trong luôn tìm cơ hội đánh lại nhà Lý để báo thù. Từ những năm 1050, vua Chiêm Thành là Chế Củ thường khiêu khích Đại Việt, ra sức chuẩn bị về quân sự để chờ thời cơ đánh Đại Việt. Từ năm 1065, được nhà Tống ủng hộ, Chế Củ cắt đứt hẳn quan hệ với Đại Việt. Năm 1068, Chiêm Thành đưa quân xâm lấn biên giới, vượt biển vào cướp phá Nghệ An. Để dẹp nguy phương Nam, phòng hoạ phương Bắc, vua Lý Thánh Tông quyết định đánh Chiêm Thành. Năm 1069, vua Thánh Tông hạ chiếu thân chinh cầm quân đánh Chiêm Thành, bắt sống vua Chế Củ. Chế Củ phải cắt cho nhà Lý ba châu Bố Chính, Đại Lý, Ma Linh (Quảng Bình và bắc Quảng Trị) để được tha về.

   Đến cuối thế kỉ XII, biên thuỳ và bờ biển của Đại Việt phía nam  giáp Chiêm Thành , phía Tây Nam (đoạn tây Nghệ An, Quảng Bình ngày nay) giáp Chân Lạp. Thời kỳ này, Chiêm Thành và Chân Lạp thường cấu kết với nhau liên tục xâm lấn và cướp phá vùng biên Đại Việt, nhất là trong các năm 1126, 1132, 1137, 1150, 1203, 1216. Có năm, quân Chiêm Thành và Chân Lạp tấn công Đại Việt tới hai, ba lần. Tất cả các cuộc xâm chiếm cướp phá của Chiêm Thành và Chân Lạp đều bị quân của triều đình, thổ biên và nhân dân địa phương vùng biên Đại Việt đẩy lùi. Song các cuộc chiến đó cũng gây không ít thiệt hại cho nhân dân Đại Việt. Điển hình là tháng 3 năm 1203, một viên tướng Chiêm Thành là Bố Trì đem một số quân đến xin cư trú ở cửa biển Cơ La (cửa Nhượng, Hà Tĩnh) với lý do bị chủ đánh đuổi. Do cả tin, mất cảnh giác, tri châu Nghệ An là Đỗ Thanh và châu mục Phạm Diên đã bị Bố Trì đánh úp rồi giết chết, sau đó Bố Trì tàn phá, cướp bóc nhân dân ven biển và rút về Chiêm Thành an toàn.


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: dongadoan trong 21 Tháng Tám, 2009, 02:45:10 pm
   Nhà Lý giữ đất không chỉ bằng sức mạnh quân sự, mà còn bằng chính sách ngoại giao. Nổi bật nhất trong lịch sử bang giao thời Lý là cuộc đấu tranh đòi vùng đất Quảng Nguyên (thuộc Cao Bằng ngày nay) ở ven biên giới bị nhà Tống bao chiếm từ sau khi Tống bị bại trận ở sông Như Nguyệt. Năm 1078, một năm sau khi đánh bại cuộc xâm lược của nhà Tống, nhà Lý đã cử một sứ bộ do Đào Nguyễn Tông dẫn đầu sang biếu vua Tống ba thớt voi với chủ trương đòi lại đất Quảng Nguyên, Bảo Lạc bị nhà Tống chiếm. Với chủ trương hoà hiếu và kiên trì, cuộc đàm phán đã đạt được thoả thuận: Nhà Lý trao trả tù binh cho Tống và Tống trả lại đất Quảng Nguyên cho Đại Việt vào năm 1079; năm 1084, Thị lang binh bộ Lê Văn Thịnh dẫn đầu một sứ bộ sang trại Vĩnh Bình (Ung Châu) để cùng nhà Tống tranh biện về vùng đất phía Tây Bắc Quảng Nguyên. Lê Văn Thịnh đã buộc nhà Tống trả lại cho Đại Việt vùng đất sáu huyện, ba động phía Tây Bắc Quảng Nguyên và định 8 cửa ải làm giới hạn phân chia lãnh thổ hai nước. Về các cuộc bang giao đòi đất giành được thắng lợi của Đại Việt, nhà sử học Phan Huy Chú bình luận: “Việc biên giới ở đời Lý được nhà Tống trả lại đất rất nhiều. Bởi vì trước có oai thắng trận, đủ làm cho nhà Tống phải phục. Sau khi sứ thần bàn bạc, lời lẽ thung dung càng thêm khéo léo, cho nên cần gì được nấy, làm cho lời tranh biện của người Trung Quốc phải khuất và thế lực của Nam giao được mạnh. Xem đó cũng có thể biết qua thế cường thịnh của thời bấy giờ.”

   Các sử liệu trên đây cho thấy cương vực lãnh thổ Đại Việt thời Lý đã bao trùm lên toàn bộ miền Bắc Việt Nam ngày nay, từ các tỉnh biên giới Việt Nam – Trung Quốc đến tỉnh Quảng Trị. Ngoài ra trên biển, tất cả các hải đảo ven bờ bao gồm hàng nghìn hòn đảo trên vịnh Hạ Long đã đặt dưới sự kiểm soát của vương triều nhà Lý. Năm 1172, vua Lý Anh Tông đã đi kinh lược, kiểm tra các hải đảo ven biển từ Quảng Ninh đến Quảng Trị ngày nay và cho vẽ bản đồ, ghi chép phong vật. Và như vậy, triều Lý đã giữ vững cương giới phía Bắc, mở rộng cương vực về phía Nam đến tỉnh Quảng Trị và kiểm soát toàn bộ hải đảo ngoài khơi vịnh Bắc Bộ ngày nay.

   Năm 1028, Lý Thái Tổ mất, thái tử Lý Phật Mã lên ngôi vua, xưng là Lý Thái Tông. Năm 1054, Lý Thái Tông mất, Lý Nhật Tôn lên ngôi vua, xưng là Lý Thánh Tông, đổi tên nước là Đại Việt. Năm 1072, Lý Thánh Tông mất, Lý Càn Đức lên ngôi vua, xưng là Lý Nhân Tông. Năm 1127, Lý Nhân Tông mất, Lý Dương Hoán lên ngôi vua, xưng là Lý Thần Tông. Năm 1138, Lý Thần Tông mất, Lý Thiên Tộ lên ngôi vua, xưng là Lý Anh Tông. Năm 1175, Lý Anh Tông mất, Lý Long Cán (tên khác là Lý Long Trát) lên ngôi vua, xưng là Lý Cao Tông. Năm 1210, Lý Cao Tông mất, Lý Hạo Sảm lên ngôi vua, xưng là Lý Huệ Tông. Năm 1224, Lý Huệ Tông truyền ngôi vua cho công chúa Chiêu Thánh, hiệu là Lý Chiêu Hoàng, rồi đi tu. Năm 1225, Lý Chiêu Hoàng trao ngôi vua cho chồng là Trần Cảnh. Vương triều Lý đến đây chấm dứt sau 216 năm cầm quyền, mở ra một trang lịch sử mới của dân tộc Việt Nam - triều đại nhà Trần.

(http://i30.photobucket.com/albums/c330/dongadoan/bdvn5.jpg)


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: menthuong trong 10 Tháng Mười, 2009, 09:58:13 pm
  3, Cương giới lãnh thổ Đại Việt trong kỷ nguyên độc lập:

   Năm 938, Ngô Quyền lãnh đạo nhân dân Văn Lang – Âu Lạc đánh bại quân Nam Hán xâm lược, chấm dứt hơn 1000 năm đô hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc, đưa đất nước bước vào kỉ nguyên độc lập tự chủ, cương vực lãnh thổ nước Văn Lang – Âu Lạc về cơ bản được khôi phục. Các triều đại phong kiến Việt Nam kế tiếp nhau về sau từ Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Lê Sơ, Trịnh - Nguyễn đã không ngừng bảo vệ cương giới và phát triển mở rộng lãnh thổ của đất nước.

  a, Thời kỳ tự chủ Khúc – Ngô – Đinh - Tiền Lê
   
   Năm 905, nhân lúc nhà Đường suy yếu, Khúc Thừa Dụ khởi binh đánh chiếm thành Tống Bình, quan quân đô hộ nhà Đường rút chạy về nước. Khúc Thừa Dụ tự xưng là Tiết Độ sứ. Nhà Đường buộc phải công nhận Khúc Thừa Dụ là người đứng đầu nước Việt. Họ Khúc cai quản đất nước tự chủ từ năm 905 đến năm 938, “đóng đô” ở Đại La (Tống Bình đổi thành), lãnh thổ thuộc quyền cai quản của chính quyền mới được mở rộng hơn trước, được chia thành năm cấp hành chính là lộ, phủ, châu, giáp và xã. Năm 907, Khúc Thừa Dụ chết, Khúc Hạo lên thay. Năm 917, Khúc Hạo chết, Khúc Thừa Mỹ lên thay.

   Cũng trong năm 905, nhà Đường đổ, nhà Hậu Lương thành lập ở Trung Quốc. Năm 917, Lưu Nham không quy phục nhà Hậu Lương, thành lập tiểu quốc Nam Hán trên vùng đất Quảng Châu. Năm 923, quân Nam Hán đánh chiếm thành Đại La, bắt được Khúc Thừa Mỹ, rồi tiến quân xuống phía nam cướp phá.

   Năm 931, Dương Đình Nghệ kéo quân từ Thanh Hoá ra bao vây công phá, chiếm lại được thành Đại La, quân Nam Hán thua phải rút chạy về nước. Dương Đình Nghệ được suy tôn làm Tiết Độ Sứ, tiếp tục sự nghiệp của họ Khúc.

   Năm 937, Kiều Công Tiễn giết Dương Đình Nghệ, giành quyền Tiết Độ Sứ. Ngô Quyền là con rể của Dương Đình Nghệ (được cha giao cai quản Ái châu) đã tập hợp lực lượng, tiến quân ra Giao Châu trừng trị Kiều Công Tiễn. Kiều Công Tiễn bị giết, nhưng trước đó vì quá khiếp sợ đã sai người sang Nam Hán cầu cứu. Nhân cơ hội này, vua Nam Hán đã sai quân xâm lược nước Việt. Mùa đông năm 938, đại binh Nam Hán tiến vào sông Bạch Đằng, bị Ngô Quyền đánh tan.

   Năm 939, Ngô Quyền lên ngôi vua, đóng đô ở Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội). Ngô Quyền làm vua được 5 năm thì mất (939 - 944), truyền ngôi vua cho con trưởng là Ngô Xương Ngập. Người em vợ Ngô Quyền là Dương Tam Kha cướp ngôi và tự xưng là Dương Bình Vương. Từ đó diễn ra sự tranh chấp giữa các con của Ngô Quyền là Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Văn với Dương Tam Kha. Năm 950, Ngô Xương Văn (em Ngô Xương Ngập) lật đổ Dương Tam Kha, giành lại ngôi vua, xưng là Nam Tấn Vương, Ngô Xương Ngập xưng là Thiên Sách Vương (lúc này nước ta có hai vua), đóng đô ở Cổ Loa.
 
   Năm 954, Ngô Xương Ngập chết. Năm 955, Ngô Xương Văn chết. Đất nước rơi vào tình trạng chia cắt, hỗn loạn. Nổi lên mười hai vùng đất biệt lập do mười hai thủ lĩnh đứng đầu, đem quân đánh chiếm lẫn nhau, sử cũ gọi là “loạn mười hai sứ quân”:

  - Ngô Xương Xí giữ Bình Kiều (Nông Cống, Thanh Hoá);

  - Đỗ Cảnh Thạc giữ Đỗ Động Giang (Thanh Oai, Hà Tây);

  - Trần Lãm giữ Bố Hải Khẩu (thị xã Thái Bình);

  - Kiều Công Hán giữ Phong Châu (Bạch Hạc, Vĩnh Phú);

  - Nguyễn Khoan giữ Tam Đái (Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc);

  - Ngô Nhật Khánh giữ Đường Lâm (Phúc Thọ, Hà Tây);

  - Lý Khuê giữ Siêu Loại (Thuận Thành, Bắc Ninh);

  - Nguyễn Thủ Tiệp giữ Tiên Sơn (Bắc Ninh);

  - Lữ Đường giữ Tế Giang (Văn Giang, Hưng Yên);

  - Nguyễn Siêu giữ Tây Phù Liệt (Thanh Trì, Hà Nội);

  - Kiều Thuận giữ Hởi Hồ (Cẩm Khê, Phú Thọ);

  - Phạm Bạch Hổ giữ Đằng Châu (Hưng Yên).

   Loạn 12 sứ quân không chỉ dẫn đến đất nước bị chia cắt mà còn gây ra rất nhiều khó khăn cho cuộc sống của nhân dân. Vì vậy, cuộc đấu tranh để thống nhất đất nước lại trở thành một nhu cầu sống còn của dân tộc. Sứ mệnh lịch sử đó được trao cho Đinh Bộ Lĩnh.

   Nổi lên ở đất Hoa Lư từ đầu những năm 50 của thế kỉ X, lực lượng của Đinh Bộ Lĩnh nhanh chóng mạnh lên nhờ sự hưởng ứng của nhân dân. Đến cuối năm 967, Đinh Bộ Lĩnh dẹp xong loạn 12 sứ quân. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên làm vua, hiệu là Đinh Tiên Hoàng, đổi tên nước thành Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư (Ninh Bình), chia nước thành mười “Đạo”. Đất đai lãnh thổ không có gì thay đổi lớn so với thời Ngô Vương. Từ năm 970, vua Đinh đã cử sứ thần sang giao hảo với nhà Tống. Năm 973, vua Tống phong Đinh Bộ Lĩnh là Giao Chỉ Quận Vương. Trong nhiều năm, quan hệ giữa Đại Cồ Việt và nhà Tống hoà hiếu tốt đẹp.

(http://i30.photobucket.com/albums/c330/dongadoan/bdvn3.jpg)
Như bản đồ vẽ thì vùng Lào Cai tôi ở hiện nay thộc vương quốc nào (mặc dù Tân Hưng, tức Hưng Hóa và Tuyên Quang vẫn còn).


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: lonesome trong 16 Tháng Mười, 2009, 11:19:35 am
Thời đại Đá cũ và dấu vết Người Vượn ở Việt Nam
(http://i46.servimg.com/u/f46/12/56/87/84/phungn10.jpg)

Trong buổi bình minh của lịch sử, Việt Nam là một trong những quê hương của loài người. Người ta đã phát hiện thấy người vượn ở Bình-Gia (Lạng Sơn), nhiều công cụ thuộc buổi đầu thời kỳ đồ đá cũ ở núi Đọ, núi Quan Yên (Thanh Hoá). Đó là dấu vết xưa nhất hiện nay ta biết về giai đoạn bầy người nguyên thủy trên đất nước ta.Thời ấy cách ngày nay hàng mấy chục vạn năm.

Bấy giờ, mực nước biển Đông thấp gần trăm mét so với ngày nay. Vì vậy, đất nước ta khi ấy qua bán đảo Ma-lai-xi-a còn nối liền với các đảo Gia-va, Xu-ma-tơ-ra, Ca-li-man-tan của In-đô-nê-xi-a. Các kết quả nghiên cứu địa chất và khí hậu học còn cho biết trong thời kỳ này xen kẽ những kỳ khô hạn là những kỳ mưa nhiều khiến khí hậu Việt Nam ẩm và mát hơn bây giờ một chút. Trong rừng rậm, trên thảo nguyên, có nhiều đàn voi răng kiếm, gấu mèo, tê ngưu, lợn lòi, hổ, báo, hươu, nai, đười ươi, vượn, khỉ, cầy, chồn...sinh sống. Những bầy người nguyên thuỷ sống dựa vào hang đá, lùm cây, đi dọc bờ suối, bờ sông tìm kiếm thức ăn bằng hái lượm và săn bắt.

Người ta đã phát hiện được ở núi Đọ hàng vạn công cụ đồ đá cũ; người Việt cổ khai thác đá gốc (ba-dan) ở sườn núi, ghè đẽo thô sơ, tạo nên những công cụ chặt, rìu tay, nạo...bỏ lại nơi chế tác những mảnh đá vỡ, thuật ngữ khảo cổ gọi là mảnh tước. Với những đồ đá đó, người nguyên thủy có thể chặt cây, vót gậy tre, lao gỗ, xẻ thịt, đập vỡ xương thú săn bắt được... Loại hình công cụ nghèo nàn, kỹ thuật ghè đẽo thô sơ là đặc điểm của thời kỳ đồ đá cũ. Di tích núi Đọ là bằng chứng về sự có mặt của những chủ nhân sớm nhất trên lãnh thổ Việt Nam vào thời kỳ tổ chức xã hội loài người đang hình thành.

Cách ngày nay khoảng ba, bốn vạn năm, vào thời kỳ bộ tộc nguyên thuỷ, cư dân bản địa đã đông đúc hơn. Người ta đã phát hiện được dấu tích con người cùng với những hóa thạch động vật cổ ở hang Hùm (Yên Bái), hàng Thung Lân (Ninh Bình). Đó là những thị tộc, bộ lạc sống trong hang động miền núi đá vôi. Tuy nhiên, cũng đã có những thị tộc, bộ lạc tiến ra sinh sống ở miền đồi trung du vốn là miền phù sa cổ của sông Hồng với rừng rậm phủ dày. Những hiện vật đá cuội ghè đẽo thô sơ thuộc cuối thời đại đồ đá cũ hoặc đầu thời đại đồ đá giữa tìm thấy ở di chỉ Sơn Vi (Phú Thọ) là những minh chứng chắc chắn cho giả thuyết này.

Văn hóa đá cuội ghè được tiếp nối với hai nền văn hóa Hòa Bình (thuộc thời đại đồ đá giữa) và văn hóa Bắc Sơn (thuộc buổi đầu thời đại đồ đá mới) cách ngày nay khoảng một vạn năm. Ở các nền văn hoá này, bên cạnh kỹ thuật chẻ đẽo, người nguyên thủy đã phát minh kỹ thuật mài, tạo nên những chiếc rìu Bắc Sơn (rìu tứ giác mài lưỡi) nổi tiếng. Văn hóa Bắc Sơn là một trong những di chỉ văn hóa có rìu mài sớm trên thế giới. Cũng trong thời kỳ này người ta còn phát hiện được những đồ gốm đầu tiên được nặn bằng tay.

Việt Nam là đất nước của hàng trăm loại tre, nứa. Tre, nứa đóng vai trò rất quan trọng trong nền văn hóa nguyên thủy cũng như trong đời sống người Việt Nam sau này. Chúng được dùng làm gậy, lao, cung tên, đồ đan lát, thừng bện... Do bị thời gian huỷ hoại nên đến nay không còn chứng tích công cụ tre, nứa của người Việt cổ; tuy nhiên ta vẫn có thể tìm thấy dấu vết của tre, nứa trên các hoa văn đồ gốm sơ kỳ.

Cùng những thị tộc, bộ lạc ở miền núi, trung du trên đất nước Việt Nam khi ấy, còn có những tập đoàn người nguyên thủy sinh sống ở miền ven biển Đông. Họ là chủ nhân của các nền văn hóa Quỳnh Văn (Nghệ An), Sa Huỳnh (Quảng Ngãi). Trải qua mấy nghìn năm, đống vỏ sò điệp do họ vứt ra sau những bữa ăn đã chất cao thành gò, rộng hàng trăm mét vuông. Người nguyên thủy sinh sống ở ven bờ biển còn khai thác đá gốc (thạch anh) làm công cụ. Họ chôn người chết trong những mộ huyệt tròn đào giữa đống sò điệp và chôn theo người chết một vài công cụ đá, đồ trang sức bằng vỏ ốc xuyên lỗ...

Với đồ đá, đồ tre gỗ, đồ đựng bằng đất nung, các thị tộc nguyên thủy đi săn và hái lượm có hiệu quả hơn. Ngoài việc mò cua, bắt ốc, chủ nhân các nền văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn còn săn được nhiều thú như lợn rừng, hươu nai, trâu bò rừng, tê ngưu, voi... Chủ nhân các nền văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn, Quỳnh Văn đã biết nuôi chó, trồng một số cây ăn quả, cây cỏ củ, rau đậu, dưa... . Từ cuộc sống hái lượm những sản vật sẵn có của tự nhiên, người nguyên thủy Việt Nam sớm bước vào cuộc sống sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh nghề săn, nghề đánh cá phát đạt, nghề nông đã ra đời cùng với việc chăn nuôi gia súc nhất là trên các vùng châu thổ của các con sông lớn.

Nhiều nhà nông học khẳng định bán đảo Đông Dương là quê hương của cây lúa. Ở đây có nhiều loại lúa hoang hiện còn tồn tại ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, bà con trong vùng thường gọi là lúa ma hoặc lúa trời. Dấu vết con người thời kỳ nguyên thủy có thể tìm thấy ở mọi miền trên đất nước Việt Nam từ vùng cực Bắc đến cực Nam. Họ để lại những di tích hang động và di tích ngoài trời ở miền núi, đồng bằng kể cả ở những vùng đất thấp sình lầy Nam Bộ trước khi hình thành nhà nước Việt Nam đầu tiên. Như vậy là vào thời đại đồ đá, trên nhiều vùng ở nước ta đã xuất hiện những nền văn hóa nguyên thủy đặc sắc, trong đó bên cạnh nền kinh tế hái lượm đã bắt đầu phát triển nền kinh tế sản xuất nông nghiệp lúa nước.

Con người đã xuất hiện khá sớm trên đất Việt Nam. Cho đến nay, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy dấu vết của người vượn Homo erectus trong một số hang động ở Lạng Sơn và Nghệ An. Ðặc biệt là ở hậu kỳ thời đá cũ (văn hoá Sơn Vi cách ngày nay 10.000 - 23.000 năm), con người đã phân bố khá rộng và khá đông trên đất Việt Nam.

Văn hoá Sơn Vi

Văn hoá Sơn Vi mang tên xã Sơn Vi, huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ, do các nhà khảo cổ Việt Nam phát hiện và xác lập danh pháp vào năm 1968. Đến nay, hơn 140 địa điểm VHSV được phát hiện, phân bố chủ yếu trên các đồi gò trung du, một số di tích hang động Bắc Việt Nam. Công cụ đều làm từ đá cuội sông suối, ghè đẽo một mặt là chính, vết ghè trên một rìa cạnh tạo ra công cụ mũi nhọn, rìa lưỡi dọc, rìa lưỡi ngang, phần tư viên cuội, hai hoặc ba rìa; cùng với một số công cụ mảnh tước kém định hình. Cư dân VHSV chưa biết đến kĩ thuật mài công cụ đá và làm gốm, hoạt động kinh tế chủ yếu là săn bắn và hái lượm, chưa biết trồng trọt và chăn nuôi. VHSV có niên đại cuối Cánh Tân (Late Pleistocene), tồn tại trong khoảng từ 23.000 đến 11.000 năm cách ngày nay. VHSV khác văn hoá Hoà Bình, có trước văn hoá Hoà Bình và phát triển sang văn hoá Hoà Bình, thuộc hậu kì thời đại đá cũ.

(http://files.myopera.com/giaoviendialy/blog/VanHoaSonVi.bmp)
(Sưu tầm trên Wattpad, hình ảnh lấy tại đây) (http://my.opera.com/giaoviendialy/blog/2008/07/05/1004)


Tiêu đề: Cần có chủ đề: Địa danh, địa giới các địa phương qua các thời kì
Gửi bởi: menthuong trong 18 Tháng Mười, 2009, 09:35:54 pm
Chuyên đề "Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ" rất bổ ích cho những người cần tìm hiểu và ham hiểu biết về lịch sử nước nhà.

Cần chú ý rằng: mấy nghìn năm qua, cùng với sự thay đổi về chính trị, quân sự, kinh tế thì hệ thống tổ chức phân chia, cách thức đặt tên các đơn vị hành chính Việt Nam thay đổi nhiều lần.

 Do vậy địa giới, địa danh các đơn vị hành chính có liên quan đến việc tìm hiểu lịch sử cũng lắm đổi thay và rất phức tạp. Từ Lộ 路, Trấn 鎭, Xứ 処, Tỉnh 省, Phủ 府, Châu 州,Mường 𤞽, Huyện 縣, Tổng 总, Xã 社 đến Động 峒,Làng 廊, Thôn 村, Sách 柵,Bản 本, Xóm 𥯎, Trại 赛 nhiều lần tách nhập, thêm, bớt, thay đổi tên gọi và lại diễn ra trong những khoảng thời gian khác nhau theo từng triều đại, thậm chí theo từng năm.

Trên thực tế nhiều địa danh đã đi vào quá khứ, nhiều địa danh bị biến âm, bị kết hợp...hoặc có địa danh tuy "tái xuất" nhưng lại mang ý nghĩa khác hẳn.

Nên chăng bậc cao minh nào có kiến thức cần nêu đề cương chi tiết vấn đề này ra để cùng tìm hiểu, trao đổi.

Mong thay!


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: asmodis trong 09 Tháng Giêng, 2010, 01:59:05 am
Tự nhiên em google nó ra cái topic này. Tiếc là bác dongadoan không tiếp tục nốt nữa. Mấy vấn đề này, theo em thì cũng chỉ cho biết thôi. Quan trọng là bảo vệ những gì chúng ta đang có hiện nay, chứ bây giờ mà đi đòi lại đất đã mất từ mấy trăm đến cả nghìn năm trước thì...
Cái bản đồ bác lấy ở đâu ra vậy. Tôi đã xem sách của Đào Duy Anh và nhiều nhà lịch sử chuyên về cổ sử, không ai đề cập hay có bất cứ bản đồ nào vẽ ranh giới Âu Lạc ra tận Quảng Châu cả, nhìn bàn đồ của bác hóa ra Hongkong thuộc âu lạc à. Theo tôi biết đaih giới Âu Lạc chỉ quanh vùng đồng bằng sông Hồng và trung du Bắc Bộ, có thể đến Cao bằng.
Cái lý thuyết về một nước Văn Lang của Hùng vương đến tận hồ Động Dình (tỉnh Hồ Nam, TQ, là quê của Mao Trạch Đông) chỉ có giá trị truyền thuyết, không có giá trị lịch sử đâu. Các bác nên xem sách của Đào Duy Anh:
Đất nước Việt nam qua các đời  online ở http://www.songhuong.com.vn/main.php?cid=40,44&id=15&case=2&left=40,18
Theo tôi tham khảo các bản đồ lịch sử Việt Nam, ranh giới xa nhất về phía bắc của Việt Nam là tới các sông Tây Giang, Quảng Tây vào thời họ Khúc. Hợp Phố, Quảng Châu vẫn thuộc Giao Chỉ hay Giao Châu cho đến đời Tam Quốc. Có thể nước Văn Lang bao gồm cả Hợp Phố.
Thêm nữa không có chuyện Thục phán đánh quân Tần đâu, huyền thoại như chuyện Hùng vương đánh giặc Ân-Thương vậy.

Tặng bác này cái bản đồ để bác thấy sông Tây Giang nó nằm ở chỗ nào của Trung Quốc ngày nay (Bác xem lại xem cái vùng đất gọi là "đến sông Tây Giang" nó nằm trong tỉnh nào của TQ bây giờ nhé!)
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/3/3b/Zhujiangrivermap.png)
Bản đồ hệ thống sông Châu Giang. Tây giang ở đây viết là Xi, được coi như là hợp lưu của các sông Tầm giang (Xun trên bản đồ), Quế giang (Gui trên bản đồ) và Hạ giang (He trên bản đồ).
-- Nguồn: wikipedia.org --


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: 1thoang trong 12 Tháng Giêng, 2010, 12:58:25 am
Nếu nói " đến sông Tây Giang" có khi chỉ là muốn đề cập đến châu thổ sông Tây Giang thôi thì sao hả bác?


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: quy_deptrai trong 03 Tháng Bảy, 2010, 06:53:01 pm
Bài viết của bác hay quá. Phát huy nữa nha bác.

thanks nhiều.


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: menthuong trong 04 Tháng Bảy, 2010, 07:24:39 am
Tự dưng Đồng Tư lệnh lại chưa tiếp tục chủ đề này và mới dừng đến công lao đấu tranh giành giữ chủ quyền lãnh thổ của nhà Lý. Trong khi chờ đợi, đưa vào cuốn "đất nước Việt Nam qua các đời" và "Lịch sử bang giao Đại Việt" tôi đưa những hiểu biết của mình về công lao mở mang lãnh thổ của triều đại mà sắp tới chúng ta kỷ niệm 1000 năm Thăng long sẽ được nhắc đến nhiều!

Năm 1069, vua Lý Thánh Tông Nhật Tôn (李聖宗日尊, 1054-1072) thân chinh mang 10 vạn quân vào đánh Chiêm Thành, bắt được vua Chiêm Thành bấy giờ là Chế Củ 制矩 và nhiều quan quân, dân chúng Chiêm. Chế Củ buộc phải dâng đất của ba châu Bố Chính 布政, Địa Lý 地理 và Ma Linh 痲令 cầu hòa. Vua Lý Thánh Tông đặt tên cho vùng đất mới này là trại Tân Bình, lãnh thổ Đại Việt thêm vùng đất nay là Quảng Bình và bắc Quảng Trị. Những dân Chiêm bị bắt được đưa đi khai khẩn những vùng đất hoang ở xa, trong đó có châu Đăng nay là Lào Cai . Chính dịp Nam tiến này, Lý Thánh Tông đã giải phóng khỏi kiếp nô lệ đối với Thảo Đường, người Trung Quốc đang bị bắt và giam tại Chiêm Thành đưa về Đại Việt. Vị sư này đã được vua cho mở đạo tại chùa Khai Quốc vào năm 1069, lập ra dòng Thiền tông thứ ba của Phật giáo Việt nam. Sau đó, vào năm 1075, trước khi “tiên phát chế nhân” đánh Tống, Thái úy Lý Thường Kiệt (太尉李常傑, tên thật là Ngô Tuấn; 1019–1105) đã kéo quân vào đánh Chiêm, vẽ địa đồ 3 châu mà Chế Củ đã dâng và 3 châu ấy chính thức nội thuộc Đại Việt từ đây. Ông còn Nam chinh đánh Chiêm lần nữa vào năm 1104 lấy lại 3 Châu trên mà vua Chiêm được phản tướng Lý Giác dâng nộp cho vua Chiêm Thành là Chế Ma Na (Jaya Indravarman 2, 1086-1113). Như vậy Danh tướng Lý Thường Kiệt mặt Bắc kéo quân sang đất Tống đánh Khâm Châu, Liêm Châu (thuộc tỉnh Quảng Đông, 1075), trong nước phá Tống trên phòng tuyến  Như Nguyệt (1076) mặt Nam thì 2 bận bình Chiêm (1075 và 1104). Đây là bước Nam tiến đầu tiên, đất đai nhà Lý đã kéo xuống đến sông Thạch Hãn.

Từ sau trận đánh của Lý Thường Kiệt vào năm 1104, các vua Chiêm trở nên thần phục Đại Việt hơn, đây là giai đoạn Chiêm Thành và Đại Việt có mối giao hảo tốt đẹp.


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: menthuong trong 04 Tháng Bảy, 2010, 10:53:18 pm
Bản đồ nước ta thời Lê Thánh Tông trong cuốn "Chế độ phong kiến Việt Nam":

(http://i785.photobucket.com/albums/yy131/menthuong/VietNamThoiLe-1.jpg)


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: linhtapsu trong 05 Tháng Bảy, 2010, 04:52:02 pm
Thời vua Lê Thánh Tông thì Đại Việt đã chinh phạt tới tận Miến Điện ! Nhìn bản đồ của bác menthuong thì nước ta thời đó phần phía bắc rộng thật ,  em vẫn có 1 chút thắc mắc chút xíu , theo em được biết thì tới tận năm 1895 theo " Công ước Pháp _Thanh 1895 " thì 1 phần lớn tỉnh Lai Châu và Điện Biên mới thuộc về nước ta còn trước đó thuộc quyền quản lý của tỉnh Vân Nam !


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: menthuong trong 07 Tháng Bảy, 2010, 05:58:00 am
1. Cái bản đồ này tôi đưa lên thôi, nó ở cuốn "Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam" do Phan Huy Lê biên soạn và Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội xuất bản 03/1960

2, Đúng là: Tại vùng Tây Bắc, năm 1841, trước sự đe dọa của người Xiêm, triều đình nhà Nguyễn kết hợp ba châu Ninh Biên, Tuần Giáo và Lai Châu bên bờ tả ngạn sông Mekong thành phủ Điện Biên. Năm 1880, phó lãnh sự Auguste Pavie nhân danh triều đình Việt Nam phong cho Đèo Văn Trí chức tri phủ cha truyền con nối tại Điện Biên; sau khi giúp người Pháp xác định khu vực biên giới giữa Việt Nam với Trung Quốc và Lào, Đèo Văn Trí được cử làm quan đạo Lai Châu, cai quản một lãnh thổ rộng lớn từ Điện Biên Phủ đến Phong Thổ, còn gọi là xứ Thái.

Năm 1885, Pháp (khi đó đang bảo hộ Việt Nam) đã gây ra với Trung Hoa cuộc chiến tranh Pháp-Thanh nhằm tranh giành ảnh hưởng ở Bắc Kỳ. Kết thúc, Pháp thắng và theo công ước Pháp-Thanh 1885, khu vực ở Tây Bắc gồm Lai Châu, Điện Biên và một phần Lào Cai thuộc về xứ Bắc Kỳ (trước đó khu vực này cũng là vùng đệm giữa các triều đại Trung Hoa và Việt Nam, có thời thuộc về Nam Chiếu 南詔,738-902).

Nhưng TL chưa dẫn dắt đến thời điểm này nên cứ theo bản đồ đã in menthuong đưa lên thôi!


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: Hungnt_E1F2 trong 07 Tháng Bảy, 2010, 10:22:37 am
Các bác coi tấm bản đồ đế chế Môn Khmer (trung đại?, thời gian mà Đại Việt mình chưa diệt Chiêm thành và Chân lạp, chưa trấn áp Triệu voi), chụp ở viện bảo tàng trong hoàng cung PNP, 8.2009.


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: yêu_lính trong 04 Tháng Tám, 2010, 01:11:28 pm
Bác dongadoan ơi bác post tiếp bài đi a.cháu thấy rất hay và bổ ích.


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: linhtapsu trong 07 Tháng Tám, 2010, 12:53:22 pm
Sưu tầm bên lichsuvn mấy tấm bản đồ này mời mọi người tham khảo nhé !

(http://ca5.upanh.com/10.451.14589675.XPH0/1.jpg)

(http://ca2.upanh.com/10.451.14589676.DOM0/2.gif)

(http://ca5.upanh.com/10.451.14589679.BXX0/5.jpg)
thời Tần

(http://ca4.upanh.com/10.451.14589678.SBK0/4.jpg)

(http://ca2.upanh.com/10.451.14589680.OSK0/6.jpg)
thời Triệu Đà

(http://ca3.upanh.com/10.451.14589689.MPM0/8.jpg)

(http://ca5.upanh.com/10.451.14589695.XHU0/12.jpg)

(http://ca5.upanh.com/10.451.14589699.HKA0/14.jpg)

(http://ca2.upanh.com/10.451.14589704.GRK0/18.jpg)

(http://ca2.upanh.com/10.451.14589712.SHO0/23.jpg)

(http://ca4.upanh.com/10.451.14589706.VDD0/19.jpg)


Theo em nghĩ mấy cái bản đồ trước thời Triệu Đà có lẽ chỉ để tham khảo cho vui , chứ độ chính xác quá thấp vì theo em được biết thì :
Nước Sở thời Xuân Thu biên giới của họ cũng đến hồ Động Đình , mà gần như tất cả các tài liệu chưa thấy nói họ Nam chinh  hoặc đụng độ với Văn Lang bao giờ cả  ?
Hơn nữa nếu nước ta thời An Dương Vương rộng vậy mà đóng đô tận Phong Châu thì thấy vô lý quá !!


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: menthuong trong 02 Tháng Chín, 2010, 04:52:25 pm
Các nhà nghiên cứu "Địa-Lịch sử" nước Đại Việt đâu mà không khai thác mảnh đất này nhẩy. Tôi rất muốn nhưng "Lực bất tòng tâm". Chờ đợi và đợi chờ!