Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thảo luận Lịch sử bảo vệ Tổ quốc => Từ thuở mang gươm đi mở cõi... => Tác giả chủ đề:: donghai trong 12 Tháng Bảy, 2009, 06:09:38 pm



Tiêu đề: Lịch sử các loại chữ viết Việt Nam
Gửi bởi: donghai trong 12 Tháng Bảy, 2009, 06:09:38 pm
Lịch sử các loại chữ viết Việt Nam
[/b]


Chữ Hán:

Chữ Hán vào Việt Nam theo con đường giao lưu văn hóa bắt đầu từ thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên. Hiện nay, ở Việt Nam còn lưu giữ được số hiện vật như đỉnh cổ có khắc chữ tượng hình (chữ Hán cổ). Điều này là một phần chứng minh được rằng chữ Hán cổ xuất hiện ở Việt Nam khá sớm và thực sự trở thành phương tiện ghi chép và truyền thông trong người Việt kể từ những thế kỷ đầu Công nguyên trở đi. Đến thế ký VII - XI chữ Hán và tiếng Hán được sử dụng ngày càng rộng rãi ở Việt Nam. Thời kỳ này tiếng Hán được sử dụng như một phương tiện giao tiếp, giao lưu kinh tế thương mại với Trung Quốc. Do Việt Nam bị ách đô hộ của phong kiến phương Bắc trong khoảng thời gian hơn một ngàn năm, vì vậy hầu hết các bài văn khắc trên tấm bia đều bằng chữ Hán. Qua đó, chúng ta có thể thấy rằng chữ Hán có ảnh hưởng to lớn như thế nào đối với nền văn hóa của nước Việt Nam xưa. Từ sau thế kỷ thứ X, tuy Việt Nam giành được độc lập tự chủ, thoát khỏi ách thống trị của phong kiến phương Bắc, nhưng chữ Hán và tiếng Hán vẫn tiếp tục là một phương tiện quan trọng để phát triển văn hóa dân tộc.

Chữ Nôm:

Dù chữ Hán có sức sống mạnh mẽ đến đâu chăng nữa, một văn tự ngoại lai không thể nào đáp ứng, thậm chí bất lực trước đòi hỏi, yêu cầu của việc trực tiếp ghi chép hoặc diễn đạt lời ăn tiếng nói cùng tâm tư, suy nghĩ và tình cảm của bản thân người Việt. Chính vì vậy chữ Nôm đã ra đời để bù đắp vào chỗ mà chữ Hán không đáp ứng nổi.

Chữ Nôm là một loại văn tự xây dựng trên cơ sở đường nét, thành tố và phương thức cấu tạo của chữ Hán để ghi chép từ Việt và tiếng Việt. Quá trình hình thành chữ Nôm có thể chia thành hai giai đoạn:

Giai đoạn đầu, tạm gọi là giai đoạn "đồng hóa chữ Hán", tức là dùng chữ Hán để phiên âm các từ Việt thường là tên người, tên vật, tên đất, cây cỏ chim muông, đồ vật... xuất hiện lẻ tẻ trong văn bản Hán. Những từ chữ Nôm này xuất hiện vào thế kỷ đầu sau Công nguyên (đặc biệt rõ nét nhất vào thế kỷ thứ VI).

Giai đoạn sau: Ở giai đoạn này, bên cạnh việc tiếp tục dùng chữ Hán để phiên âm từ tiếng Việt, đã xuất hiện những chữ Nôm tự tạo theo một số nguyên tắc nhất định. Loại chữ Nôm tự tạo này, sau phát triển theo hướng ghi âm, nhằm ghi chép ngày một sát hơn, đúng hơn với tiếng Việt. Từ thời Lý thế kỷ thứ XI đến đời Trần thế kỷ XIV thì hệ thống chữ Nôm mới thực sự hoàn chỉnh. Theo sử sách đến nay còn ghi lại được một số tác phẩm đã được viết bằng chữ Nôm như đời Trần có cuốn "Thiền Tông Bản Hạnh". Đến thế kỷ XVIII - XIX chữ Nôm đã phát triển tới mức cao, át cả địa vị chữ Hán. Các tác phẩm như hịch Tây Sơn, Khoa thi hương dưới thời Quang Trung (1789) đã có bài thi làm bằng chữ Nôm. Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng được viết bằng chữ Nôm là những ví dụ.

Như vậy, có thể thấy chữ Hán và chữ Nôm có những khác nhau cơ bản về lịch sử ra đời, mục đích sử dụng và mỗi chữ có bản sắc riêng về văn hóa.

Chữ Quốc Ngữ hiện nay:

Việc chế tác chữ Quốc Ngữ là một công việc tập thể của nhiều linh mục dòng tên người châu Âu, trong đó nổi bật lên vai trò của Francesco de Pina, Gaspar d'Amaral, Antonio Barbosa và Alexandre De Rhodes. Trong công việc này có sự hợp tác tích cực và hiệu quả của nhiều người Việt Nam, trước hết là các thầy giảng Việt Nam (giúp việc cho các linh mục người Âu). Alexandre De Rhodes đã có công lớn trong việc góp phần sửa sang và hoàn chỉnh bộ chữ Quốc Ngữ. Đặc biệt là ông đã dùng bộ chữ ấy để biên soạn và tổ chức in ấn lần đầu tiên cuốn từ điển Việt - Bồ - La (trong đó có phần về ngữ pháp tiếng Việt) và cuốn Phép giảng tám ngày. Xét về góc độ ngôn ngữ thì cuốn diễn giảng vắn tắt về tiếng An Nam hay tiếng đàng ngoài (in chung trong từ điển) có thể được xem như công trình đầu tiên khảo cứu về ngữ pháp. Còn cuốn Phép giảng tám ngày có thể được coi như tác phẩm văn xuôi đầu tiên viết bằng chữ Quốc Ngữ, sử dụng lời văn tiếng nói bình dân hàng ngày của người Việt Nam thế kỷ XVII.

Tuy chữ Quốc ngữ của Alexandre De Rhodes năm 1651 trong cuốn từ điển Việt - Bồ - La đã khá hoàn chỉnh nhưng cũng phải chờ đến từ điển Việt - Bồ - La (1772), tức là 121 năm sau, với những cải cách quan trọng của Pigneau de Behaine thì chữ Quốc ngữ mới có diện mạo giống như hệ thống chữ Việt mà chúng ta đang dùng hiện nay.

                                                                              Đ.Hải
                                                                 sưu tầm từ Internet


Tiêu đề: Re: Lịch sử các loại chữ viết Việt Nam
Gửi bởi: lonesome trong 16 Tháng Bảy, 2009, 10:50:35 am
Lịch sử các loại chữ viết Việt Nam (http://5nam.ttvnol.com/tiengviet/106695.ttvn)

Mời bạn vào link trên copy bài về cho nó nhanh.


Tiêu đề: Re: Lịch sử các loại chữ viết Việt Nam
Gửi bởi: copbien51 trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 02:18:55 pm
Ngoài 3 loại chữ nói trên nước ta còn dùng loại chữ nào khác nữa không?


Tiêu đề: Nguồn gốc của tiếng Việt Nam
Gửi bởi: TiểuViệt trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 07:03:19 pm
Nguồn gốc của tiếng Việt Nam
 
I.       SỰ XUẤT HIỆN CỦA CHỮ HÁN:

Những người đã học qua tiếng Việt đều biết, trong tiếng Việt có rất nhiều từ Hán. Rút cuộc tỉ lệ từ Hán trong tiếng Việt chiếm bao nhiêu? Rất nhiều nhà ngôn ngữ học trong ngoài Trung Quốc đều đang quan tâm đến vấn đề này, đồng thời đã làm ra những thống kê tương đối chính xác. Có người nhận thấy có hơn 75% từ Hán được mượn dùng trong tiếng Việt, có người thì cho rằng tỉ lệ từ Hán trong tiếng Việt chiếm đến 80%. Bất kể thế nào, việc số lượng lớn từ Hán được dùng trong tiếng Việt đã là một sự thực không thể tranh cãi. Hơn nữa, mỗi từ trong tiếng Việt đều có một từ âm Hán tương ứng. Đã sử dụng từ âm Hán nói ra hoặc giả viết ra thành một câu nói, thì bất cứ người Việt Nam có chút văn hóa nào cũng sẽ hiểu rõ ý nghĩa bên trong từ đó. Thế thì tiếng Việt và tiếng Hán suy cho cùng là loại quan hệ như thế nào? Đây là vấn đề mà mọi người quan tâm chú ý, cũng là vấn đề mà các nhà sử học và ngôn ngữ học trong ngoài Trung Quốc nghiên cứu lâu nay.

Vào cuối những năm đời nhà Tần, năm 207 trước công nguyên, Thái thú Quảng Châu là Triệu Đà thoát ly khỏi chính quyền nhà Tần, thành lập “nước Nam Việt”, cai quản ba quận: quận Quế Lâm, quận Tượng và quận Giao Chỉ, khu vực cai quản của ông ước tính là khu vực Lĩnh Nam cho đến châu tam giác của khu vực châu thổ sông Hồng Hà Nội ngày nay. Mà khu vực đất đai cai quản thuộc quận Giao Chỉ lại nằm ngày trên dải đất châu thổ sông Hồng. Sau khi “nước Nam Việt” thành lập, triều đình phái các quan lại đến từng nơi để nhậm chức, xây dựng chính quyền địa phương. Đồng thời, cũng đem văn hóa và phương thức sản xuất tiên tiến của trung nguyên đến quận Tượng và quận Giao Chỉ. Quận Giao Chỉ lúc đó (nay là Việt Nam) đang ở vào thời kỳ cuối của xã hội nguyên thủy và thời kỳ đầu của xã hội nô lệ, sử học Việt Nam gọi thời kỳ này là thời đại “Hùng Vương”. Lúc đó, thời đại “Hùng Vương” của khu vực châu thổ sông Hồng còn chưa hình thành văn tự--tức là ngôn ngữ văn tự ngày nay. Do đó, những quan lại được triều đình cử đến và người dân địa phương trên phương diện tiếp xúc ngôn ngữ vô cùng khó khăn, trong sách sử gọi hiện tượng này là “chín lần dịch mới thông”. Có thể thấy rằng, ngôn ngữ của hai bên lúc đó đích thị là có sự khác nhau rất lớn. Về sau, do bởi sự qua lại giữa hai bên ngày càng phồn thịnh, chế độ chính trị, kinh tế và văn hóa từ phương Bắc nảy sinh ảnh hưởng lớn lao đối với người địa phương, dần dần, khu vực châu thổ sông Hồng tiếp nhận văn hóa đến từ phương Bắc—tức văn hóa Hán. Văn hóa của hai bên (bao gồm ngôn ngữ) dần dần dung hợp thành một thể. Từ đó trở đi, văn tự mà các quan lại ở khu vực quận Giao Chỉ sử dụng là chữ Hán, còn ngôn ngữ nói dùng hằng ngày là: người Hán nói tiếng Hán, người Việt nói tiếng Việt, việc tiếp xúc qua lại giữa người Hán và người Việt thì chủ yếu dùng tiếng Hoa, sử dụng trong trường hợp chính quy là Hán ngữ. Ngay cả tên của người Việt cũng nhất loạt dùng chữ Hán, đồng thời xem việc nói tiếng Hoa và dùng chữ Hán là thời thượng. Trước thế kỷ thứ 19, nhiều cuốn sách sử của Việt Nam đều xem Triệu Đà như vị vua mở nước của Việt Nam.

Nghiên cứu của các nhà sử học và ngôn ngữ học chứng thực rằng: trước thế kỷ thứ 13, văn tự mà sách sử Việt Nam dùng toàn là chữ Hán, văn tự được dùng trong những di chỉ lịch sử cũng là chữ Hán. Chỉ có đến thế kỷ thứ 13, Việt Nam mới sáng tạo ra một thứ văn tự là chữ Nôm. Các sử gia Việt Nam lấy đó để đánh dấu  sự bắt đầu của ý nghĩa thời đại—Việt Nam cuối cùng đã có ngôn ngữ văn tự của dân tộc mình.

II.    SỰ RA ĐỜI CỦA CHỮ NÔM:

Thế kỷ thứ 13, chữ Nôm xuất hiện ở Việt Nam, mà sự xuất hiện của chữ Nôm là ra đời trong hoàn cảnh lịch sử như sau:

Theo sử liệu chép: tháng 8, niên hiệu Thiệu Bảo (năm 1282) đời vua Trần Nhân Tông, “thời có con cá sấu đến sông Lô. Vua ra lệnh cho Nguyễn Thuyên là Hình bộ thượng thư, làm văn rồi ném xuống sông, cá sấu tự bỏ đi. Qua việc này vua xem ông như Hàn Dũ, ban cho họ Hàn. Thuyên giỏi thơ phú quốc ngữ. Thơ phú nước ta, phần nhiều dùng quốc ngữ, thực là bắt đầu từ đây.” Sông Lô tức sông Hồng. Người ta lấy đoạn ghi chép này cho rằng Nguyễn Thuyên là người sáng lập ra chữ Nôm, chữ Nôm cũng bắt đầu xuất hiện từ năm đó. Sau này tại thôn Tháp Miêu, huyện An Lãng, tỉnh Vĩnh Phúc tại Việt Nam, phát hiện có một bia báo ân niên hiệu Trị Bình Long Ứng năm thứ 5 (năm 1209), bia văn khắc bằng chữ Hán, trong đó có kèm thêm 24 chữ Nôm. Di vật này đã xác thực thời gian xuất hiện của chữ Nôm còn sớm hơn trong sách sử chép là 73 năm. Trước khi bia Báo Ân xuất hiện, chắc chắn còn phải có một quá trình thai nghén nữa. Nguyễn Thuyên chẳng qua chỉ là người đầu tiên dùng chữ Nôm để sáng tác thơ phú mà thôi, công lao là chỗ này vậy.

Thành phần cấu tạo của chữ Nôm có mấy loại như sau:

(1). Chữ hội ý: dùng hai chữ Hán tạo thành, biểu đạt một khái niệm chung, như: người trên: ý là người đứng đầu, người ở trên người khác; kẻ dưới: ý là kẻ nô bộc, kẻ ở dưới người khác.

(2). Chữ giả cung (giả tá): mượn dùng một chữ Hán đọc âm cổ hoặc âm Hán Việt, ý nghĩa tương đồng với chữ Hán, như chữ Tuế, Tốt, v..v…

(3). Chữ hình thanh: dùng hai chữ Hán cấu thành, một chữ biểu âm, một chữ biểu ý. Như chữ “năm”, chữ “nam” biểu âm, chữ “niên” biểu ý.

Chữ Nôm trong lịch sử Việt Nam còn được gọi là quốc ngữ hay chữ quốc ngữ. Có khi lại gọi là quốc văn. Sau khi chữ Nôm xuất hiện ở Việt Nam, được sử dụng cùng lúc với chữ Hán.

Vào đời nhà Trần ở Việt Nam (1225-1399), chiếu thư của triều đình đã bắt đầu dùng chữ Nôm, có Nguyễn Sĩ Cố--nhà thơ nổi tiếng dùng chữ Nôm sáng tác thơ phú. Thời nhà Hồ (1400-1406) cũng dùng chữ Nôm để hạ chiếu,  đồng thời cũng đem tác phẩm Vô dật và Kinh Thi của Trung Quốc dịch thành chữ Nôm để làm giáo trình dạy học. Thời nhà Lê (1418-1526) vẫn còn dùng chữ Nôm, nhất là trong niên hiệu Hồng Đức (1470-1497), thơ phú được sáng tác bằng chữ Nôm rất nhiều. Trong 100 quyển Thiên Nam dư hà tập đã có thơ phú chữ Nôm. Đến đời nhà Mạc (1527-1599) và thời kỳ tiền Hậu Lê (1522-1789), việc sáng tác thơ văn bằng chữ Nôm vẫn còn rất thịnh hành. Nguyễn Du (1765-1820) dùng chữ Nôm sáng tác Kim Vân Kiều truyện, là tác phẩm hay mà bất cứ người Việt Nam nào cũng biết đến và yêu thích, khen ngợi. Thế nhưng chữ Nôm không phải là văn tự được dùng trong khoa cử và khảo thí, văn tự được dùng trong việc này vẫn là chữ Hán. Các tác phẩm chữ Nôm đại đa số đều mang nội dung lo cho nước cho dân, có khuynh hướng tư tưởng xúc phạm đến long nhan của vua. Vào năm 1662, vua Huyền Tông triều Hậu Lê hạ chiếu cấm sử dụng chữ Nôm, đồng thời đốt phá rất nhiều sách vở chữ Nôm, tạo nên sự tổn thất nặng nề cho văn hóa Việt Nam. Đến triều nhà Tây Sơn (1778-1802) và trước triều nhà Nguyễn (1802-1945) khôi phục lại việc dùng chữ Nôm. Trước mắt, Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia Việt Nam có Sở nghiên cứu chữ Nôm, còn lưu giữ 1186 bộ tác phẩm chữ Nôm.

Khuyết điểm lớn nhất của chữ Nôm là: nét chữ nhiều hơn cả chữ Hán, số chữ có hơn 20 nét rất nhiều, khó viết, lại tốn nhiều thời gian. Kế đến là phải học được Hán văn trước mới có thể nắm được chữ Nôm, mà người biết Hán văn rút cuộc lại là thiểu số, điều này hạn chế sự phổ biến và mở rộng của chữ Nôm, đó là lý do thứ văn tự phiên âm Latin hóa đơn giản dễ học, xuất hiện từ cuối thế kỷ 19, được thay thế trong Việt văn.

III. SỰ HÌNH THÀNH VÀ SỬ DỤNG VĂN TỰ PHIÊN ÂM LATIN HÓA:

Bắt đầu từ giữa thế kỷ thứ 16, những giáo sĩ truyền giáo của châu Âu đến Viễn Đông truyền giáo, từ đây về sau số giáo sĩ ngày càng đông. Trong số những giáo sĩ này đa phần là người Bồ Đào Nha, Ý Đại Lợi và người Pháp. Muốn truyền giáo đương nhiên phải dùng ngôn ngữ của bản địa, đây chính là nhu cầu để họ học tiếng Việt trước.

Những giáo sĩ truyền giáo đến từ nhiều nước trên thế giới, họ học tiếng Việt phải nhớ âm đọc, muốn phát tán những tài liệu sách vở của Thiên Chúa giáo, thế là họ dùng ngữ âm của chính nước họ để ghi nhớ âm đọc, thảo ra những tài liệu về tôn giáo, rất không thống nhất. Sau đó, nhà truyền giáo người Pháp Alexandre de Rhodes đem tất cả những cách ghi âm khác nhau thống nhất lại, năm 1651 xuất bản cuốn Tự điển Việt-Bồ Đào Nha-Latin và một cuốn sách truyền giáo ở La Mã, Ý Đại Lợi. Hai cuốn sách này được xem như sách tiếng Việt sớm nhất (bộ tự điển này hiện còn được bảo tồn). Từ đó về sau, giáo sĩ truyền giáo người Bồ Đào Nha Mã Tang Phi Lôi La viết một bộ Tự điển Bồ Đào Nha-chữ tiếng Việt, đáng tiếc là sách này nay đã thất truyền. Nhà truyền giáo người Ý  Francesco de Pina vào năm 1783 viết cuốn Tự điển Latin-chữ tiếng Việt là bản viết tay, hiện còn được lưu giữ trong thư viện của Bộ truyền giáo La Mã. Ngoài ra, trong viện bảo tàng của Hội truyền giáo nước ngoài của Paris còn lưu giữ một số từ điển, như: Từ điển Việt-Tây Ban Nha, Từ điển Việt-Latin. Xét từ tình hình kể trên, từ thế kỷ thứ 17, 18 đến đầu thế kỷ thứ 19, phương pháp phiên âm và viết tiếng Việt trong cuốn Từ điển Việt ngữ-Bồ Đào Nha-Latin của Alexandre de Rhodes vẫn là cơ sở chính để các giáo sĩ truyền giáo của Thiên Chúa giáo học tập, nghiên cứu và sử dụng tiếng Việt. Loại văn tự trong đó rất gần gũi với Việt văn hiện nay. Từ đó xét thấy, Việt văn dùng chữ phiên âm Latin là do những giáo sĩ truyền giáo người Bồ Đào Nha, Pháp và Ý Đại Lợi cùng sáng chế ra, còn Alexandre de Rhodes là người tập đại thành, làm cơ sở xác định cho kiểu văn tự này.

Năm 1820-1833, mục sư Taberd người Pháp (Jean Louis Taberd (1794-1840)) đã viết bộ Tự điển Việt ngữ-Latin, Latin-Việt ngữ, đồng thời có cả chữ Nôm, xuất bản tại Scotland năm 1838. Chữ quốc ngữ và Việt văn hiện nay về cơ bản giống nhau, từ đây về sau không có thay đổi nào đáng kể. Từ giữa thế kỷ thứ 19 về sau, sách vở truyền giáo của Thiên Chúa giáo đều thống nhất cách viết của sách Taberd.

Thế nhưng, sự mở rộng văn tự Latin Việt Nam lại trải qua một quá trình tương đối gian nan và lâu dài. Những năm 60 của thế kỷ 19, chữ quốc ngữ Việt Nam (tức Latin, giống bên dưới) chỉ còn hạn chế dùng trong nội bộ của Thiên Chúa giáo và sách vở in ấn truyền giáo. Sau khi người Pháp xâm lược Việt Nam, họ thấy rằng chữ quốc ngữ chính là một công cụ vô cùng lợi hại của thực dân thống trị, năm 1878, tổng đốc Việt Nam quyết định sử dụng chữ quốc ngữ. Ông cho rằng “Chữ quốc ngữ dễ học hơn chữ Hán nhiều. Nó khiến cho quan hệ giữa quan lại thống trị và người dân bản địa càng thêm trực tiếp”. Thế là, thực dân Pháp tích cực cổ vũ người Việt Nam học chữ quốc ngữ. Năm 1865, tờ báo chữ quốc ngữ đầu tiên là Gia Định báo ra đời. Đây là tờ báo của chính phủ Pháp tại Nam Kỳ, năm 1897 thì ngưng phát hành. Tổng đốc Việt Nam ký kết một quyết định, chuẩn bị cùng điều kiện sáng tạo, xem chữ quốc ngữ là văn tự chính thức của Việt Nam. Ông đặc biệt động viện các quan lại ở phủ, huyện, hương, lý học chữ quốc ngữ, nếu người nào không biết chữ quốc ngữ thì không được thăng cấp, rồi ra lệnh cho sử dụng chữ quốc ngữ trong rất nhiều loại công văn giấy tờ. Chữ quốc ngữ được sử dụng tại Nam Kỳ trước tiên. Sau khi thực dân Pháp chiếm lĩnh Trung Kỳ và Bắc Kỳ, họ cũng dùng cách tương tự, ban hành chính sách mở rộng dùng chữ quốc ngữ. Có điều khác biệt là ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, chữ quốc ngữ có thể được dùng song song với chữ Hán. Năm 1910, Tổng đốc Bắc Kỳ nói: “Sự đẩy mạnh chữ quốc ngữ càng làm cho việc mở rộng quan hệ giữa chúng tôi và dân bản địa dễ dàng hơn.” Cùng năm đó, ông lại cho ra một thông báo: “Trong tất cả các công văn, giấy tờ hành chính, thẻ chứng minh nhân dân, chữ quốc ngữ và chữ Hán được sử dụng song song. Không thể phế bỏ chữ Hán để chỉ dùng chữ quốc ngữ thay thế. Bởi vì chữ Hán trong bất kỳ thời kỳ nào cũng đều cần thiết, dùng nó để giữ gìn tiếng Việt trong gia đình xã hội, tổ chức hành chính, nhất là phong tục tập quán và các loại tư tưởng tín ngưỡng, duy trì cuộc sống tinh thần và đạo đức của dân chúng.”

Sau khi chữ quốc ngữ được đẩy mạnh, thực dân Pháp lại lo lắng nó sẽ trở thành công cụ để truyền bá tư tưởng yêu nước và tư tưởng cách mạng, do vậy, lại tìm nhiều cách để hạn chế. Tuy nhiên do chữ quốc ngữ dễ học, chỉ cần trong vòng khoảng 10 ngày là có thể học được, thế nhưng, trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, có hơn 90% người Việt Nam là mù chữ.

Sau Cách mạng tháng Tám, nhất là sau giải phóng miền Bắc Việt Nam năm 1954, chữ quốc ngữ đạt được sự đẩy mạnh mà trước đây chưa từng có. Vì chữ quốc ngữ dễ học, chỉ cần biết nói sẽ có thể viết được, cho nên người xóa mù chữ của Việt Nam chỉ cần 10 ngày hay nửa tháng thì có thể học xong.

Văn tự hiện hành của Việt Nam là văn tự phiên âm Latin, tổng cộng có 29 chữ cái, có 149 âm tố, có 6 thanh điệu.




Tiêu đề: Re: Lịch sử các loại chữ viết Việt Nam
Gửi bởi: dongadoan trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 07:15:43 pm
Nguồn copy, bạn TiểuViệt! >:(


Tiêu đề: Re: Lịch sử các loại chữ viết Việt Nam
Gửi bởi: lonesome trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 09:16:30 pm
Nguồn copy, bạn TiểuViệt! >:(

Nguồn gốc của tiếng Việt Nam (http://www.khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/index.php/nckh/han-nom/361-ngun-gc-ca-ting-vit-nam.html)
Thời gian phát biểu: 20/3/2008
Tác giả:Tống Phúc Toàn
Chủ nhiệm Trung tâm huấn luyện bồi dưỡng phiên dịch ngoại ngữ hiệp hội Quảng Tây, chuyên gia Việt ngữ
Vũ Xuân Bạch Dương dịch


Tiêu đề: Re: Lịch sử các loại chữ viết Việt Nam
Gửi bởi: VanKiep82 trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 10:09:20 am
Nguồn copy, bạn TiểuViệt! >:(

Nguồn gốc của tiếng Việt Nam (http://www.khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/index.php/nckh/han-nom/361-ngun-gc-ca-ting-vit-nam.html)
Thời gian phát biểu: 20/3/2008
Tác giả:Tống Phúc Toàn
Chủ nhiệm Trung tâm huấn luyện bồi dưỡng phiên dịch ngoại ngữ hiệp hội Quảng Tây, chuyên gia Việt ngữ
Vũ Xuân Bạch Dương dịch

    Thảo nào sặc mùi chủ nghĩa Đại Hán. Hô hố..   "..đem văn hóa và phương thức sản xuất tiên tiến của trung nguyên đến quận Tượng và quận Giao Chỉ. Quận Giao Chỉ lúc đó (nay là Việt Nam)" cái câu này chắc là ý muốn nhắc rằng người Hán dạy người Việt trồng lúa nước mới có cái cho vào mồm, trồng dâu nuôi tằm dệt vải mới có cái để mặc  ???. Hô hố, nghe mắc.... quá ông Tống Phúc Toàn ơi !


Tiêu đề: Re: Lịch sử các loại chữ viết Việt Nam
Gửi bởi: menthuong trong 01 Tháng Giêng, 2010, 10:35:36 am
Việt Nam là một nước có nhiều dân tộc (hiểu dân tộc theo nghĩa là cộng đồng sắc tộc chung ngôn ngữ, tập tục...) mà trong đó các dân tộc có tiếng nói riêng và có dân tộc có chữ viết. Ví dụ chữ HMông, chữ Thái, chữ Khơ Me...Ngay chữ Nôm cũng có Nôm Dao, Nôm Tày. Do vậy nếu chủ đề là chữ viết Việt Nam thì phải bao hàm cả các loại chữ này. Như vậy có quá rộng với một diễn đàn như thế này không? Nếu vừa thì phải chú ý tới đặc điểm này.

Theo tôi nguồn gốc và quá trình xuất hiện chữ Nôm không đơn giản như các bạn đã viết. Còn nói tiếng Việt có nhiều từ nguồn gốc Hán (thực ra là Hán Việt) là đúng và sau này nó còn nhiều từ có nguồn gốc từ tiếng Bồ, tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga...Điều đó là lẽ tự nhiên. Có điều cách trình bày sao cho khoa học, hợp lý và đừng quá thiên về "chính trị"!


Tiêu đề: Re: Lịch sử các loại chữ viết Việt Nam
Gửi bởi: TiểuViệt trong 04 Tháng Giêng, 2010, 10:25:00 am

---------------------------------------
 Xóa bài sau 12h, lý do: vi phạm Nội quy diễn đàn viết bài thảo luận bằng tiếng nước ngoài. Nhắc nhở thành viên vi phạm lần thứ nhất!


Tiêu đề: Re: Lịch sử các loại chữ viết Việt Nam
Gửi bởi: Bodoibucket trong 04 Tháng Giêng, 2010, 11:21:07 am
Theo thời gian và sự phát triển của xã hội Việt Nam, càng ngày ảnh hưởng của chữ Hán sẽ càng lu mờ, đó là điều chắc chắn!

Việc này có cái hay và dở đi đôi với nhau.
1 - Càng ngày lớp trẻ càng biết ít chữ Hán, câu chữ nho nhiếc của các cụ xưa. Họ (lớp trẻ) sẽ phải thông qua các chuyên gia văn tự, văn hóa, lịch sử ... mới hiểu được cái chữ râu ria ngay cổng làng, cổng chùa mình là nói cái gì! :)

2 - Tuy nhiên ảnh hưởng của văn hóa Hán học (Nho học) đến đời sống người Việt sẽ theo thời gian mà giảm dần đi, đồng thời với trình độ xã hội tiến lên thì lại ngày càng có nhiều các chuyên gia làm cái công việc tìm hiểu văn tự, lịch sử, nhân chủng ... với các phương pháp mới, khoa học mà bớt dựa vào sử Tàu (sử cũ của TQ) để suy luận.


Tiêu đề: Re: Lịch sử các loại chữ viết Việt Nam
Gửi bởi: lonesome trong 04 Tháng Giêng, 2010, 11:34:36 am
Theo thời gian và sự phát triển của xã hội Việt Nam, càng ngày ảnh hưởng của chữ Hán sẽ càng lu mờ, đó là điều chắc chắn!

Việc này có cái hay và dở đi đôi với nhau.
1 - Càng ngày lớp trẻ càng biết ít chữ Hán, câu chữ nho nhiếc của các cụ xưa. Họ (lớp trẻ) sẽ phải thông qua các chuyên gia văn tự, văn hóa, lịch sử ... mới hiểu được cái chữ râu ria ngay cổng làng, cổng chùa mình là nói cái gì! :)

2 - Tuy nhiên ảnh hưởng của văn hóa Hán học (Nho học) đến đời sống người Việt sẽ theo thời gian mà giảm dần đi, đồng thời với trình độ xã hội tiến lên thì lại ngày càng có nhiều các chuyên gia làm cái công việc tìm hiểu văn tự, lịch sử, nhân chủng ... với các phương pháp mới, khoa học mà bớt dựa vào sử Tàu (sử cũ của TQ) để suy luận.

Trong vòng hơn 100 năm không phải dùng chữ tượng hình của TQ, ngày nay đa số dân Việt Nam đã trở nên xa lạ với loại chữ đó dù trước đó đã dùng cả ngàn năm. Thay vào đó, chúng ta đã và đang sử dụng chữ tượng thanh do các Giáo sĩ phương Tây sáng chế ra - điều đó cho thấy mức độ dễ sử dụng nó ảnh hưởng tới phạm vi sử dụng thế nào.


Tiêu đề: Re: Lịch sử các loại chữ viết Việt Nam
Gửi bởi: Trần Anh trong 03 Tháng Tám, 2012, 02:40:30 pm
Một số tài liệu về lịch sử tiếng Việt

Vương Lộc (1995). An nam dịch ngữ  (Vương Lộc giới thiệu và chú giải). Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng, 1995.

Andreev, N.D. (1958). K voprosu proisxozdenii Vjietnamskogo jazyka. Sovetskoe vostokovedenie, 2, 1958, p.101–111.

Bình Nguyên Lộc (1971). Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam. Bách Bộc xuất bản, Sài Gòn 1971, 896 trang.

Bùi Khánh Thế (1974). Hai từ "giết" – "chết" và suy nghĩ về một hiện tượng biến đổi ngôn ngữ (ghi chép điền dã), Ngôn ngữ, số 4 (1974), trang 39–49.

Bùi Khánh Thế (2002). Trương Vĩnh Kí & chữ quốc ngữ. Tập san Khoa học Xã hội & nhân văn, Trường ĐH Khoa học Xã hội & Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, số 20 (2002), trang 11–18.

Cao Thị Hoà (2003). Tìm hiểu thanh hỏi và thanh ngã trong tiếng Việt qua so sánh với các từ tương ứng có trong phương ngữ Thái-Mường Thanh Hoá. Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội.

Cao Xuân Hạo (1986). Nhận xét về các nguyên âm của một phương ngữ tỉnh Quảng Nam. Ngôn ngữ, số 2 (1986), trang 22–29.

Cao Xuân Hạo (1988). Hai vấn đề âm vị học trong phương ngữ Nam Bộ. Ngôn ngữ, số 1 (1988), trang 48–53.

Diffloth, G. (1984). The Dvaravati Old Mon Language and Nyah Kur. Chulalongkorn University Printing House, Bangkok, 402p.

Diffloth, G. (1990). Vietnamese tono-genesis and new data on the registers of Thavung. 23rd ICSTLL, 4th Oct., 4p.

Dương Quảng Hàm (1943). Việt Nam văn học sử yếu. Nxb Hội Nhà văn, 1996, 494 trang.

Đào Duy Anh (1975). Chữ Nôm: Nguồn gốc – Cấu tạo – Diễn biến. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

Đặng Thai Mai (1978). Tiếng Việt Nam, một chứng cớ hùng hồn của sức sống dân tộc. Ngôn ngữ, số 4 (1978), trang 14–26.

Đoàn Thiện Thuật (1977). Ngữ âm tiếng Việt. Nxb Đại học và Trung học Chuyên Nghiệp, Hà Nội, 354 trang.

Efimov, A.Ju. (1983). Về nguồn gốc các thanh điệu tiếng Việt. Ngôn ngữ, số 1 (1991), trang 76–85.

Ferlus, M. (1974). Problèmes de mutations consonantiques en thavung. BSLP, Tome LXIX, p.311–323.

Ferlus, M. (1975). Vietnamien et proto Viet-Muong. ASEMI, VI, 4, 1975, p.21–54.

Ferlus, M. (1977). L'ìnixe instrumental rn en Khamou et sa trace en Vietnamien. Cah. de Ling. Asie Oriental no.2, Septembre, 1977, p.51–55.

Ferlus, M. (1979). Lexique Thavung–Francais. Cah. de Ling. Asie Oriental no.2, 1979, p.71–94.

Ferlus, M. (1981). Sự biến hoá của các âm tắc giữa (obstruentes mediales) trong tiếng Việt. Ngôn ngữ, số 2 (1981), trang 1–22.

Ferlus, M. (1983). Essai de phonétique historique du Mon. Mon-Khmer Studies, no.12, p.1–90.

Ferlus, M. (1987). Histoire abrégée de l'évolution des consonnes initiales du Vietnamien et du Sino-Vietnamien. Mon-Khmer Studies, no.20, p.111–125.

Ferlus, M. (1988). Essai de phonétique historique du Khmer (Du milieu du premier millénaire de notre ère à l'époque actuelle). 21st ICSTLL, Oct. Univ. de Lund, Suède; Mon-Khmer Studies, no.21, p.57–89.

Ferlus, M. (1991). Vocalisme du Proto Viet-Muong. 24th ICSTLL, Ramkhamheang U. and Chiang Mai U. 7–11 Oct. 19p.

Ferlus, M. (1994). Formation du système vocalique du Vietnam. 27th ICSTLL, Paris 12–16 Oct. 8p.

Ferlus, M. (1994). L'évolution des fricatives vélaires et dans les langues Thai. Cah. de CRLAO 23, Paris 1994, p.129–139.

Ferlus, M. (1994). Quelques particularités du Cuôi Chăm, une langue Viet-Muong du Nghệ An (Viêtnam). Neuviemes journées de linguistique de l'Asie Orientale CRLAO (CNRS – EHESS), 5–6 mai 1994, Paris, 4p.

Ferlus, M. (1995). Particularités du dialecte Vietnamien de Cao Lao Hạ (Quảng Bình – Việt Nam). Dexiemes journées de linguistique de l'Asie Orientale CRLAO (CNRS – EHESS), 16–17 mai 1995, Paris, 6p.

Ferlus, M. (1996). Du taro au riz en asie du Sud-est, petite histoire d'un glissement semantique. Mon-Khmer Studies, no.25, p.39–49.

Ferlus, M. (1996). Les systèmes de tons dans les langues Việt-Mường. 29th ICSTLL, Univ. of Leiden, Netherlands 12–16 Oct. 15p.

Ferlus, M. (1996). Un cas de vietnamisation d'un dialecte Vietnamien hétérodoxe du Quảng Bình (Việt Nam). Onziemes journées de
linguistique de l'Asie Orientale CRLAO (CNRS – EHESS), 11–12 Juin 1996, Paris, 4p.

Ferlus, M. (1997). Những sự không hài hoà thanh điệu trong tiéng Việt mường và những mối liên quan lịch sử của chúng. Ngôn ngữ, số 3 (1997), trang 14–23.

Ferlus, M. (1998). Le maleng brô et le Vietnamien. Mon-Khmer Studies, no.27, p.55–66.

Gregerson K.J. (1969). A Study of middle Vietnamese phonology. BSEI, 44 (2), p.131–193


Nguồn:ngonngu.net/index.php?p=307 (http://ngonngu.net/index.php?p=307)            


Tiêu đề: Re: Lịch sử các loại chữ viết Việt Nam
Gửi bởi: Trần Anh trong 03 Tháng Tám, 2012, 02:42:17 pm
Một số tài liệu về lịch sử tiếng Việt

Hà Huy Giáp (1973). Giới thiệu về Nguyễn Du và truyện Kiều. In trong Truyện Kiều, Nxb Đại học và Trung học Chuyên nghiệp, Hà Nội, 1973.

Hà Văn Tấn (1981). Giao lưu văn hoá ở người Việt cổ. In trong Văn hoá học đại cương và cơ sở văn hoá Việt Nam. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1996, trang 163–191.

Hagège, C. & Haudricourt, A.G. (1978). La phonologie panchronique. Puf Paris, 224p.

Haudricourt, A.G. (1953). Vị trí của tiếng Việt trong các ngôn ngữ Nam Á. Ngôn ngữ, số 1 (1991), trang 19–22.

Haudricourt, A. G. (1954). Về nguồn gốc các thanh của tiếng Việt. Ngôn ngữ, số 1 (1991), trang 23–31.

Haudricourt, A.G. (1966). Giới hạn và nối kết của ngôn ngữ Nam Á ở Đông Bắc. Ngôn ngữ, số 1 (1991), trang 32–40.

Haudricourt, A.G. (1972). Problèmes de phonologie diachronique. CNRS Paris, 392p.

Haudricourt, A.G. (1974). Hai chữ B trong cuốn từ điển của A. de Rhodes. Ngôn ngữ số 4 (1974), trang 37–38.

Hoàng Cao Cương (1989). Thanh điệu Việt qua giọng địa phương trên cứ liệu F0. Ngôn ngữ, số 4 (1989), trang 1–17.

Hoàng Cao Cương (2004). Về chữ quốc ngữ hiện nay. Ngôn ngữ, số 1 (2004), trang 36–43.

Hoàng Dũng (1991). Từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre De Rhodes: Nguồn cứ liệu soi sáng quan hệ giữa các tổ hợp phụ âm kl, pl, bl, tl và ml trong tiếng Việt. Ngôn ngữ, số 4 (1991), trang 5–7.

Hoàng Thị Châu (1964). Mối liên hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông. Thông báo khoa học ĐH Tổng hợp Hà Nội, tập 3, trang 94–106.

Hoàng Thị Châu (1989). Tiếng Việt trên các miền đất nước (Phương ngữ học). Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 284 trang.

Hoàng Thị Châu (2000). Sự hình thành một phương ngữ Việt ngoài lãnh thổ quốc gia. Ngôn ngữ, số 4 (2000), trang 23–25.

Hoàng Thị Ngọ (1999). Chữ Nôm và tiếng Việt qua bản "Giải âm phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kính". Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 231 trang.

Hoàng Thị Ngọ (1999). Sự hiện diện của loại chữ Nôm dùng hai mã chữ riêng biệt để ghi một từ Việt. Tạp chí Hán Nôm, số 39, trang 13–18.

Hoàng Tiến (1994). Chữ quốc ngữ và cuộc cách mạng chữ viết đầu thế kỉ 20 (quyển 1). Nxb Lao động, 267 trang.

Hoàng Tuệ (1994). Về sự sáng chế chữ Quốc ngữ. Ngôn ngữ, số 4 (1994), trang 20–24.

Hoàng Tuệ (1997). Nhìn lại thời tiếng Việt tiếp xúc với tiếng Pháp, Ngôn ngữ, số 3 (1997), trang 1–5.

Hoàng Văn Ma & Tạ Văn Thông (1998). Tiếng Bru-Vân Kiều. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 337 trang.

Hoàng Văn Vân (2002). Ngữ pháp kinh nghiệm của cú tiếng Việt mô tả theo quan điểm chức năng hệ thống. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 515 trang.

Hồ Lê (1992). Từ Nam Á trong tiếng Việt: Tiếng Việt và các ngôn ngữ dân tộc ở phía Nam. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1992, trang 65–110.

Huỳnh Công Tín (1999). Hệ thống ngữ âm của tiếng Sài Gòn (so với phương ngữ Hà Nội và một số phương ngữ khác ở Việt Nam). Tóm tắt luận án Tiến sĩ Ngôn ngữ học, thành phố Hồ Chí Minh.

Jakhontov, S.E. (1973). Về sự phân loại các ngôn ngữ ở Đông Nam châu Á. Ngôn ngữ, số 1 (1991), trang 73–77.

Lê Quang Thiêm (2003). Lịch sử từ vựng tiếng Việt thời kì 1858–1845. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 295 trang.

Lê Văn Quán (1981). Nghiên cứu về chữ Nôm. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 231 trang.

Li, F.K. (1977). A Handbook of Comparative Tai. The University Press of Hawaii, 389p.

Lí Toàn Thắng (1996). Vai trò của A. de Rhodes đối với sự chế tác và hoàn thiện chữ quốc ngữ. Ngôn ngữ, số 1 (1996), trang 1–7.
Logan, J.R. (1856). Ethnology of the Indo-Pacific Islands. JIA, no.6.

Martinet, A. (1960). Éléments de linguistique générale. Armand Colin, Paris, 2003, 222p.

Maspéro, H. (1912). Etude sur la phonétique historique de la langue annamite: Le s initiales. BEFEO, XII, no.1, p.1–127.

Ngô Đức Thịnh (1996). Các sắc thái văn hoá tộc người. In trong Văn hoá học đại cương và cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1996, trang 91–115.

Nguyễn Hữu Hoành (1999). Về sự phân định các ngôn ngữ của nhóm Việt-Mường, Ngôn ngữ, số 5 (1999), trang 35–42.

Nguyễn Khánh Toàn (1978). Về lịch sử tiếng Việt. Ngôn ngữ, số 4 (1978), trang 1–13.

Nguyễn Khắc Hùng & Lê Văn Trường (1988). Uý Lô và hiện tượng -r cuối trong tiếng Tiền Việt-Mường. Ngôn ngữ, số 1 (1988), trang 68–70.

Nguyễn Ngọc San (1995). An nam dịch ngữ – Cứ liệu quan trọng để nghiên cứu tiếng Việt thế kỉ XV-XVI, Ngôn ngữ số 4 (1995), trang 68–73.

Nguyễn Phan Cảnh (1962). Khảo sát về thanh điệu tiếng Mường (phương ngữ Mường Bi) trong các từ tách rời. In trong Thông báo Khoa học. Khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội.

Nguyễn Phú Phong (2003). Đại từ chỉ ngôi trong tiếng Việt và tiếng Mường. Ngôn ngữ, số 10 (2003), trang 1–5.

Nguyễn Phú Phong; Trần Trí Dõi & Ferlus, M. (1988). Lexique Việtnamien–Rục–Francais. Université de Paris, 100p.

Nguyễn Tài Cẩn (1979). Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt. Nxb Đại học và Trung học Chuyên nghiệp, Hà Nội; Tái bản Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2000, 354 trang.

Nguyễn Tài Cẩn (1985). Một số vấn đề về chữ Nôm. Nxb Đại học và Trung học Chuyên nghiệp, Hà Nội.

Nguyễn Tài Cẩn (1991). Một vài nhận xét thêm rút ra từ cách đọc Cổ Hán Việt. Ngôn ngữ, số 4 (1991), trang 1–4.

Nguyễn Tài Cẩn (1995). Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt (sơ thảo). Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1995, 348 trang.

Nguyễn Tài Cẩn (1998). Ảnh hưởng Hán văn Lí Trần qua thơ và ngôn ngữ thơ Nguyễn Trung Ngạn. Nxb Giáo dục, Hà Nội, 296 trang.

Nguyễn Tài Cẩn (1998). Thử phân kì lịch sử 12 thế kỉ của tiếng Việt. Ngôn ngữ, số 6 (1998), trang 7–12.

Nguyễn Tài Cẩn (2001). Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hoá. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

Nguyễn Thị Bạch Nhạn (1994). Tìm hiểu sự biến đổi hình thức chữ quốc ngữ từ "Từ điển Việt–Bồ–La" của Alexandre de Rhodes đến "Từ điển Việt–La" của Pigneau de Béhaine. Ngôn ngữ, số 1 (1994), trang 34–41.

Nguyễn Văn Khang (2002). Một vài nhận xét về từ ngữ tiếng Mường Bi trong sự liên hệ với từ ngữ tiếng Việt. Ngôn ngữ, số 6 (2002), trang 23–27.

Nguyễn Văn Khang... (2002). Từ điển Mường–Việt. Nxb Văn hoá Dân tộc, Hà Nội 2002.

Nguyễn Văn Lợi (1988). Sự hình thành đối lập đường nét thanh điệu bằng/không bằng một hướng trong ngôn ngữ Việt Mường (trên cứ liệu tiếng Arem và Rục). Ngôn ngữ, số 2 (1988), trang 3–9.

Nguyễn Văn Lợi (1991). Về quá trình hình thành sự đối lập âm vực thanh điệu trong các ngôn ngữ Việt Mường. Ngôn ngữ, số 1 (1991), trang 49–59.

Nguyễn Văn Lợi; Jerold A. Edmondson (1997). Thanh điệu và chất giọng (voice quality) trong tiếng Việt hiện đại (phương ngữ Bắc Bộ): khảo sát thực nghiệm. Ngôn ngữ, số 1 (1997), trang 1–18.

Nguyễn Văn Tài (1975). Tiếng Nguồn: Một phương ngữ của tiếng Việt hay một phương ngữ của tiếng Mường?. Ngôn ngữ, số 4 (1975), trang 8–16.

Nguyễn Văn Tài (1980). Tìm hiểu thêm về sự hình thành thanh điệu trong tiếng Việt. Ngôn ngữ, số 4 (1980), trang 34–42.

Nguyễn Văn Tài (1983). Ngữ âm tiếng Mường qua các phương ngôn. Luận án PTS, Viện Ngôn ngữ học, Hà Nội.

Parkin, R. (1991). A Guide to Austroasiatic Speake rs and Their Languages. University of Hawaii Press, Honululu, 198p.

Phạm Đức Dương (1979). Về mối quan hệ nguồn gốc của các ngôn ngữ nhóm Việt Mường. Ngôn ngữ, số 1 (1979), trang 46–58.

Phạm Văn Đồng (1999). Trở lại vấn đề về sự trong sáng và phát triển của tiếng Việt. Báo Giáo dục và Thời đại, thứ 3, số 72, ngày 07/9/1999.

Phan Ngọc & Phạm Đức Dương (1983). Tiếp xúc ngôn ngữ ở Đông Nam Á. Viện Đông Nam Á xuất bản, Hà Nội, 1983, 351 trang.

Béhaine, P. de (1773). Từ vị Annam Latinh. Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên dịch và giới thiệu, thành phố Hồ Chí Minh, 1999, 576 trang.

Raimo, A. (1989). Historical and Comparative Linguistics. John Benjamins Publishing Company, Amsterdam/Philadelphia, 465p.

Rhodes, A. de (1651). Phép giảng tám ngày. Tủ sách Đoàn kết, thành phố Hồ Chí Minh, 1993, 319 trang.

Rhodes, A. de (1651). Từ điển Annam–Lusitan–Latin. Nxb Khoa học Xã hội, 1991.

Jacques, R. (1996). Để hiểu nguồn gốc chữ quốc ngữ: Một bức thư chưa được công bố của Francisco de Pina. Ngôn ngữ, số 3 (1996), trang 46–57.

Sapir, E. (1949). Ngôn ngữ dẫn luận vào việc nghiên cứu tiếng nói. Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, 2000, 284 trang.

Saussure, F. de (1916). Giáo trình ngôn ngữ học đại cương. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1973, 398 trang.

Schneider, P. (1992). Dictionaire historique des ideogrames Vietnamiens. Université de Nice-Sophia Antipolis, 914p.

Shorto, H.L. (1971). A dictionary of the Mon inscriptions from the sixth to the sixteenth centuries. Oxford University Press, London.

Stankevich, N.V. (1978). Một vài suy nghĩ bước đầu về việc nghiên cứu ngữ pháp lịch sử tiếng Việt. Ngôn ngữ, số 38, trang 27–34.

Stankevich, N.V. (1991). Một chứng tích thú vị về sự tiếp xúc Việt Hán: Bài khải "Binh dân luận" của Ngô Thời Sĩ. Ngôn ngữ, số 4 (1991), trang 8–12.

Taddei, É. (2000). La Phonétique historique. Armand Colin, Paris, 2000, 191p.

Tỉnh Lâm Đồng (1983). Từ điển Việt-Kơ Ho. Sở Văn hoá-Thông tin xuất bản, 185 trang.

Trần Đại Nghĩa (2001). Tổ hợp con lều trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi – Một manh mối về lịch sử loại từ tiếng Việt. Ngôn ngữ, số 10 (2001), trang 20–25.

Trần Quốc Vượng chủ biên (1997). Cơ sở văn hoá Việt Nam. Nxb Giáo dục, Hà Nội, 240 trang.

Trần Trí Dõi (1987). Những vấn đề từ vựng và ngữ âm tiếng Chứt góp phần nghiên cứu ngữ âm lịch sử tiếng Việt. Luận án PTS Khoa học Ngữ văn, ĐH Tổng hợp Hà Nội.

Trần Trí Dõi (1988). Tìm hiểu thêm về nguồn gốc thanh điệu tiếng Việt ở những từ có âm cuối vang (trên cứ liệu các ngôn ngữ Việt-Mường). In trong Tiếng Việt và các ngôn ngữ Đông Nam Á, trang 40–45. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

Trần Trí Dõi (1990). Nhận xét về thanh điệu thổ ngữ Arem. Tạp chí Khoa học ĐH Tổng hợp Hà Nội, số 2 (1990), trang 37–40.

Trần Trí Dõi (1991). Về các âm đầu tiền thanh hầu hoá (préglottalisée) trong proto Việt-Mường. Ngôn ngữ, số 2 (1991), trang 29–32.

Trần Trí Dõi (1991). Về quá trình hình thành thanh của một vài thổ ngữ/ngôn ngữ Việt-Mường. Ngôn ngữ, số 1 (1991), trang 67–72.

Trần Trí Dõi (1992). On some lexigological Equivalents between the Nyak Kur (in Thailand) and the Viet-Muong languages (in Vietnam). Proceedings of Third ISLL PAN-ASIATIC LINGUISTICS, Bangkok, 8–1/1992, Volume II, p.665–672.

Trần Trí Dõi (1996). Các ngôn ngữ thành phần của nhóm Việt-Mường. Ngôn ngữ, số 3 (1996), trang 28–34.

Trần Trí Dõi (1996). Les initiales */s,z/ et /h/ du Proto Viêt-Mương (PVM) et leurs changements dans le Vietnamien. Khmer Studies, no.25, p.263–268.

Trần Trí Dõi (1998). Khái quát về lịch sử (...) tiếng Việt. In trong Cơ sở tiếng Việt. Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998, trang 5–21.

Trần Trí Dõi (1999). Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 301 trang.

Trần Trí Dõi (2000). Vietnamese Tone in Cua Lo (Nghe An). Papers 33rd ICSTLL, Ramkhamheang University, Bangkok 2–6 Oct., p.28–32; Thanh điệu tiếng Việt ở Cửa Lò (Nghệ An). Ngôn ngữ, số 5 (2002), trang 36–40.

Trần Trí Dõi (2001). Ngôn ngữ và sự phát triển văn hoá xã hội. Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2001.

Trần Trí Dõi (2002). Một vài nhận xét về lịch sử nghiên cứu phương ngữ tiếng Việt. Tập san Khoa học Xã hội & Nhân văn, Trường ĐH Khoa học Xã hội & Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, số 20 (2002), trang 19–25.

Trần Trí Dõi (2005). Giáo trình lịch sử tiếng Việt (sơ thảo). Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005, 268 trang.

Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam (1983). Ngữ pháp tiếng Việt. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 282 trang.

Viện Ngôn ngữ (1971). Tìm hiểu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Hà Nội.

Võ Xuân Quế (1998). Một số nhận xét về chữ quốc ngữ trong sách "Nhật trình kim thư khất chính giáo" của Philipphê Bỉnh. In trong Tiếng Việt và ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Viện Ngôn ngữ học xuất bản, Hà Nội, trang 216–225.

Võ Xuân Trang (1997). Phương ngữ Bình Trị Thiên. Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội, 302 trang.

Vũ Bá Hùng (1991). Nguồn gốc các thanh điệu của tiếng Việt và cách nhìn đồng đại của sự khảo sát thực nghiệm. Ngôn ngữ, số 1 (1991), trang 60–66.

Vương Lộc (1978). Về quá trình biến đổi u, b > v. Ngôn ngữ, số 4 (1978), trang 42–44.

Vương Lộc (1989). Hệ thống âm đầu tiếng Việt thế kỉ XV-XVI qua cứ liệu cuốn An Nam dịch ngữ. Ngôn ngữ, số 1+2 (1989), trang 1–12.

Vương Lộc (1989). "Phương ngôn" của Dương Hùng thời Tây Hán và một số từ có quan hệ với tiếng Việt và các ngôn ngữ phương Nam. Ngôn ngữ, số 1 (1994), trang 1–5.

Xokolovxkaya, N.K. (1976). Opyt rekonstrukcija phonologichskoj sistemy Vietmuongskovo jazyka. Moskva, 1976.

Xokolovxkaya, N.K. (1978). Về sự phân loại nội bộ các ngôn ngữ của nhóm Việt-Mường. Ngôn ngữ, số 2 (1978), trang 49–55.

Yan Qixiang & Zhou Zhizhi (1995). The Mon-Khmer languages in China and Austro-Asiatic languages. The Central University for Nationalities Press, 889p.  

Nguồn:ngonngu.net/index.php?p=307 (http://ngonngu.net/index.php?p=307)


Tiêu đề: Re: Lịch sử các loại chữ viết Việt Nam
Gửi bởi: Trần Anh trong 04 Tháng Tám, 2012, 12:02:34 am
Theo thời gian và sự phát triển của xã hội Việt Nam, càng ngày ảnh hưởng của chữ Hán sẽ càng lu mờ, đó là điều chắc chắn!

Việc này có cái hay và dở đi đôi với nhau.
1 - Càng ngày lớp trẻ càng biết ít chữ Hán, câu chữ nho nhiếc của các cụ xưa. Họ (lớp trẻ) sẽ phải thông qua các chuyên gia văn tự, văn hóa, lịch sử ... mới hiểu được cái chữ râu ria ngay cổng làng, cổng chùa mình là nói cái gì! :)

2 - Tuy nhiên ảnh hưởng của văn hóa Hán học (Nho học) đến đời sống người Việt sẽ theo thời gian mà giảm dần đi, đồng thời với trình độ xã hội tiến lên thì lại ngày càng có nhiều các chuyên gia làm cái công việc tìm hiểu văn tự, lịch sử, nhân chủng ... với các phương pháp mới, khoa học mà bớt dựa vào sử Tàu (sử cũ của TQ) để suy luận.

Chữ Hán là loại chữ kém khoa học, lạc hậu, đã quá lỗi thời, cái gì không còn phù hợp sẽ bị loại thải. Chỉ nên duy trì nó trong 1 không gian bảo tồn nhất định để phục vụ cho các mục đích khác nhau như nghiên cứu, ngoại giao văn hóa, khinh tế...VV.

Chữ Hán vào Việt Nam như một công cụ để thực hiện chính sách đồng hóa thâm độc của người Trung Quốc, nhưng do trải qua quá nhiều năm tồn tại ở Việt Nam nó đã để lại ảnh hưởng không nhỏ vào Tiếng Việt, nhưng những ảnh hưởng này đã được Viêt hóa rồi.