San đặt tập tài liệu lên ngực, gối gáy trên hai bàn tay chồng vào nhau nhìn lên đỉnh rừng, bỗng dưng trong đầu anh vang như từ đâu vọng lại “... đường mòn đi sát hàng cột dây thép... Pháp làm 1928 từ Mường Xén... Sa Nọi... Xiêng Khoảng... hiện vẫn đi ngựa được... Nếu dùng cho quân sự thì các trung đoàn bộ binh có thể hành quân trên con đường này... Nếu... nếu... đường 7 chưa dẹp được xong lũ phỉ trong mấy ngày tới..”.
Trên đỉnh rừng nắng chợt dịu và gió tây mỗi lúc một thổi mạnh, nhưng càng lúc gió càng dịu và trong gió là hơi sương lẫn những hạt mưa to như hòn sỏi, rồi bỗng chốc có cả những rẻ sương lớn bằng vài ba chiếc chiếu bị gió thổi thốc tới làm cho những tán lá trên cao thoắt mờ đi, rồi sương tướp ra trong gió, và đỉnh rừng lại quang tỏ.
Chợt tiếng súng lớn vọng từ phía tây về. San lắng nghe, anh nhận ra đó là của đạn cối 80, nhưng vì quả cối nổ trên đá nên tiếng rất đanh, vang rất xa; và cỡ cái tiếng nổ ấy thì với anh đây không mấy xa. Chẳng nhẽ cối của bọn phỉ ở mỏm Bôm Lộng bắn xuống đường 7...
Anh lính cơ yếu đột ngột đến sát võng San. San ngồi bật dậy.
- Báo cáo Đoàn trưởng có điện của Đoàn bộ và của Ban chỉ huy Quân khu Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum...
- Tốt lắm, đúng với cái điều mình đang ngóng trông - San cầm lấy quyển sổ mỏng hình chữ nhật như xấp biên lai, tờ điện thứ nhất: “Khăm Vân đang trên đường vào. Khăm Sản đợi. Tranh thủ đi sớm. Bạn đang rất trông”. (Khăm Vân là Lê Đình Vân, Chính uỷ đoàn, Khăm Sản là San, một cặp bài trùng đấy). - San gật đầu - Chúng ta sẽ chờ anh ấy. - San đọc tiếp, tờ điện thứ hai: “Gửi đồng chí Khăm Sản, tình hình chiến sự dọc đường 7 rất căng thẳng. Quân khu đang tích cực cho giải toả. Thời gian, trong một tuần. Sẽ có xe đón đồng chí và đoàn. Rất mong đồng chí và đoàn cảm thông. Tư lệnh QKXK - CĐC Khăm Màn đã ký”. San đưa trả lại sổ điện cho anh lính cơ yếu, mắt San thoắt đờ ra nhìn cậu lính cơ yếu không cảm xúc, San nói khô khàn, giọng bực bõ: - Thế mà chúng ta lại “ngồi chơi xơi nước” ở đây, thì có chán không cơ chứ. - Đột nhiên San cầm lấy tay anh lính - Này, máy 15 oát của các cậu, nếu hành quân đường rừng có thay nhau vác được không?
- Báo cáo, thì chúng em vẫn làm thế cơ mà...
- À tốt quá. Vậy, Viễn cho anh em trong tổ điện đài chuẩn bị tư tưởng sẽ hành quân bộ trong vài ngày nhé. Gọi Cư A Hoà cho tớ.
Thiếu úy Cư A Hoà người dân tộc Mông, quê ở một bản thuộc huyện Xi Ma Cai tỉnh Lào Cai. 27 tuổi, cao 1m61, vóc người rắn chắc, tay dài như tay vượn, năng động hoạt bát; cặp mắt nhỏ dài, sáng; con ngươi đen đầy mắt, hàng lông mày cong cong đen dầy, hai đầu của hai hàng lông mày đấu gần như sát nhau trên vùng ấn đường, trán phẳng, tóc dầy và thật mềm. Năm 26 tuổi Cư A Hoà lấy vợ, một cô gái họ Sùng, Sùng Thị Di người cùng bản, Di băng huyết chết. Cư A Hoà ôm chặt thằng bé cuống rốn lòng thòng bọc trong mớ áo quần, từ cái lán vợ đẻ vừa chạy đi tìm mẹ. Bà mẹ Cư A Hoà vội bế cháu nội vào lòng, quát gọi người nhà đun nước nóng đem pha cho bà lấy lau rửa đứa bé, cắt rốn cho nó, để bố nó còn đem khúc rốn chôn sâu dưới đất chỗ chân giường vợ chồng nằm, theo phong tục người Mông. Tha thẩn vật vờ mấy ngày, cho hết phép Cư A Hoà trở về tỉnh đội, nơi anh đang làm việc. Cư A Hoà buồn không chịu nổi, cứ đến tối, Cư A Hoà lại gào tên vợ; để khỏi ảnh hưởng đến mọi người, anh đóng chặt cửa buồng lại ngồi một mình trong đó mà khóc. Tỉnh đội phó Sùng Chí Lự, một tối thấy vậy đập cửa vào. Ngồi bên Cư A Hòa, Lự hỏi: “Mày có nguyện vọng gì không?”. “Chỗ nào có phỉ, có chiến đấu anh cho em đi thôi, ở đây gần mả vợ, gần đứa con mồ côi, em không chịu nổi đâu, nên em phải khóc phải gọi tên vợ em..”. Đang nói thoắt Cư A Hoà ngửa mặt nấc lên liền mấy cái, gào lớn: “Ô ô ô Di ơi Di ơi, sao mày bỏ tao mà đi một mình hở...”. Sùng Chí Lự ghì chặt Cư A Hoà vào ngực và anh chợt nhớ đến Nguyễn Đình San. Vốn hai người cùng một khoá Học viện Quân sự, lại ở chung một phòng, trong khi học, San rất tích cực học tiếng Mông, và rồi họ ngoéo tay trao chén rượu kết nghĩa anh em, từ đây mọi chuyện giữa hai người họ đều dùng tiếng Mông. Ngay hôm sau Lự gọi điện về Hà Nội cho San, may sao cũng là khi San được lệnh tập hợp một đoàn đi Xiêng Khoảng, và trong đầu anh cũng đã nghĩ đến trong đoàn chuyên gia rất cần một số sĩ quan người dân tộc Mông vì theo thông kê dân số, Xỉêng Khoảng đồng bào dân tộc Mông có tới 75.000 người. Anh lên ngay Lào Cai gặp Lự, và chỉ vừa gặp mặt Cư A Hoà, anh đã thấy ngay rằng đây chính là người anh đang hết sức cần. Lự cho Cư A Hoà về thăm nhà, nhưng Cư A Hoà không, anh đi theo San luôn. Hôm đi Cư A Hoà chỉ nói với Lự, anh có về thì nói với mẹ em nhé. Và, ra thăm mả vợ em (Sùng Chí Lự là anh họ Cư A Hoà mà). Rồi từ đấy Cư A Hoà rất quyến luyến San. Cư A Hoà có một tính cách San rất quý, đó là rất gắn bó với công việc và có trách nhiệm, làm đến nơi đến chôn việc cấp trên giao; và nữa, chẳng những vậy Cư A Hoà còn tự tìm việc mà làm. Cư A Hoà còn có một cái nết này, anh cũng thích, tuy trong quân ngũ, nhưng chỉ khi thực hiện điều lệnh, họp hành hay tác nghiệp quân sự, Cư A Hoà mới mặc đầy đủ quân phục. Còn thì anh lại mặc trên người chiếc áo dân tộc Mông và dưới là quần bộ đội.
Cư A Hoà mặt tươi rói, đứng nghiêm, bàn tay thẳng giơ lên để bên trán:
- Báo cáo Đoàn trưởng, thiếu úy Cư A Hoà có mặt, hí hí...
- Sai điều lệnh rồi... có một nửa là quân phục này, báo cáo có mặt xong lại cười hí hí này...
- Đoàn trưởng chỉ thị tiếp đi ạ. - Cư A Hoà ngồi xuống đòn cây dùng làm ghế băng bên võng San.
San ngắm nhìn chiếc áo dân tộc Mông xẻ vạt, hai vạt hai mảng hoa văn đỏ rực được phối mầu cực đẹp. San khen:
- Áo đẹp lắm, em mua hay ai cho?
- Bạn cho đấy. Lính trong đồn này có tới một trung đội là người vùng Mường Xén mà. Chao ôi người Mông ở vùng này phần nhiều là họ Giàng, còn có cả họ vợ em... Mà Đoàn trưởng ơi, vẫn còn nhớ vợ nhiều lắm... thế mới khổ...
- Kiếm cho Đoàn trưởng một chiếc như của em đi. Đi mua, tiền đây...
- Không, em xin chúng nó, đứa nào cũng có hai ba chiếc đấy...
- Bây giờ em có thể đi mời các bạn lại đây gặp Đoàn trưởng, nói có việc Đoàn trưởng muốn hỏi và nhờ nhé...
Cư A Hoà biến đi ngay sau một tiếng vâng rất gọn. San vừa có một quyết định. Lê Đình Vân đến là bàn nhau đi theo con đường Mường Xén - Sa Nọi - Xiêng Khoảng. Anh mở túi moi ra tấm bản đồ Xiêng Khoảng. Vừa tìm được phương định tìm, anh đã thấy ngay tên Sa Nọi, rê ngón tay trở anh nối Sa Nọi với một địa danh khác có tên là Thẳm Mật là nơi có Bộ Tư lệnh Quân khu chỗ anh Khăm Mằn. “Đây rồi!” - Anh reo lên, nơi đó cách thị xã Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum khồng xa. Và điều vui hơn, anh theo một vết nhỏ rất mờ vòng vèo giữa vùng chỉ thị có núi cao vực sâu. Rồi ngược đầu ngón tay trở về phía đông, anh thấy ngay Mường Xén, và một cái chấm đen nhỏ trên một vệt xanh xanh ngoằn ngoèo như giun bò đó là Nậm Ca, chỗ anh đang ngồi đây. Căn cứ vào tỷ lệ của bản đồ, anh tính được quãng đường mòn đi bên hàng cột dây thép này. San tự nhủ: “Cho là đi 4 ngày, còn hơn 4 ngày đó phải chết dí ở đây... trong khi Bạn đang nước sôi lửa bỏng...”.
Cư A Hoà đến rủ được năm anh lính biên phòng đồn Nậm Ca là người Mông, họ đều măng tơ vui nhộn. Họ ngồi quây lại bên anh. San dùng tiếng Mông với họ:
- Chào tất cả các em! - Anh bắt tay từng người - Việc có thế này thôi - San chìa tấm bản đồ ra lấy bút trên túi ngực, chỉ đầu ngòi bút xuống vệt ngoằn ngoèo con đường đó - Các em xem kỹ nhé. Mường Xén đây, còn đây là đường dây thép Pháp làm năm 1928. Dây thép là đường dây điện thoại, hoặc dùng để đánh điện tín...
- Báo cáo! - Một anh lính ngồi cạnh Cư A Hoà, giơ tay - Em tên là Giàng Chẩn Mìn, chuẩn úy, các em đây là cùng trung đội em. Thưa Đoàn trưởng San, con đường đó có địa phương gọi tên là đường “Mả Ngựa” đi đến cách Cánh Đồng Chum chừng hơn một ngày đường thì gặp con đường vào Sẩm Thông - Long Chẹng đấy. Tất cả bọn em ở đây đều thuộc. Nhắm mắt đi còn không sợ lạc, đi tới thị xã Xiêng Khoảng đấy, đi tốt đấy. Vì sao thế? Là vì đây là con đường gặp lối đi vào Sẩm Thông - Long Chẹng, rồi lối ra Cánh Đồng Chum nữa, Đường Mả Ngựa cũng là đường thường xuyên chúng em đi tuần nữa.
- Trời ơi! - San kêu lên sung sướng đến tột độ. Trên đỉnh đầu anh ran ran một cảm giác như ở khắp chỗ ấy dưới chân tóc da đầu đang mọc làm anh rạo rực toàn thân - Tuyệt lắm các em ạ. Còn chờ một đồng chí nữa. Nếu mai đồng chí ấy đến thì anh sẽ cho đoàn hành quân vào sáng sớm ngày kia, đi thật sớm. Tình hình địch thế nào, phỉ ra sao? Quân Viên Chăn có tới đó không, tới khúc nào quãng nào? Các em có nắm vững không?
Giàng Chẩn Mìn lúc nãy vẫn cắp nách một gói giấy nhỏ dài độ gang tay, anh bảo đưa cho San:
- Em tặng Đoàn trưởng mặc làm kỷ niệm. Mà Đoàn trường nói tiếng Mông giỏi thế. Mặc cái áo này vào và nói tiếng Mông thì không ai là không tin Đoàn trưởng là dân Mông thật đấy mà.
San cầm chiếc áo, rũ ra và đứng lên mặc luôn ra ngoài áo quân phục. Bỗng bốn năm anh lính Mông vỗ tay ran; và tất cả đều thò ngón trở giơ về phía San cùng reo khẽ: “Đề nghị Đoàn trưởng với tụi em kết nghĩa anh em họ tộc nhé”.
- Tốt lắm, Đoàn trưởng hoan hô các em. Mình cũng đã có tên Mông ngay từ ngày kết nghĩa anh em với Sùng Chí Lự - anh họ vợ của Cư A Hoà đây. Tên Mông của mình là Sùng Chí Sản mà.
Tất cả các bàn tay, các ngón trở cùng quắp chặt lấy nhau. San nhìn kỹ từng chiến sĩ. Chuẩn úy Giàng Chẩn Mìn bỗng vụt biến đi, một lát anh đem lại chiếc bi đông và một lô chén con, chiếc nào cũng sứt sẹo, và anh thoăn thoắt đưa chén cho từng người, trước nhất là San, sau đó là nhóm lính, cuối cùng là Mìn, họ cụng chén và tất cả liền tợp làm một ngụm.
Giàng Chẩn Mìn khà ra hơi rượu trong miệng, còn nói nhỏ giọng thật ân cần:
- Báo cáo, Đoàn trưởng cứ làm việc với anh Tuấn đồn trưởng của chúng em. Rồi chúng em đưa đoàn đi, an toàn; nếu có gặp phỉ cũng không là gì. Em xin báo cáo với Đoàn trưởng thêm: Đây là con đường do chúng em làm chủ. Độ dài, đi chậm thì ba ngày, mỗi ngày đi tám tiếng, còn đi như bộ đội ta thì chỉ hai ngày thôi. Vì nó là đường còn ngắn hơn đường số 7 mà. Dọc đường có tất cả hai mươi hai bản, các Tà Xẻng là người mình, rất căm thù bọn phỉ Vàng Pao, máy bay T28 của Vàng Pao và ngụy Viên Chăn, Mỹ. Nói thế cũng không thể chủ quan là không gặp phỉ, nhưng đề nghị các anh và Đoàn trưởng cứ tin tưởng ở chúng em. Vùng này cũng là vùng do đồn Nậm Ca nắm vững và quản lý hộ cho Bạn mà. Chúng em sẽ đưa Đoàn trưởng với các đồng chí đến tận nơi. Bộ Tư lệnh Quân khu Xiêng Khoảng ở tại bản Thẳm Mật mà. Mỗi lần qua Việt Nam về Hà Nội các đồng chí ở Bộ Tư lệnh thường nghỉ ngơi tại đây. Đoàn trưởng có cần ngựa nữa không? Ngựa của đồn có, ngựa của bà con mình ở mấy bản Lào Sủng trong vùng cũng có nhiều, Đoàn trưởng mượn độ chục con là bọn em có ngay.
- Để nghĩ một tý... Nếu cần thì để tải đồ đạc, nhất là chiếc 15 oát, gạo nước, thực phẩm, mươi hòm lương khô và gạo muối. Có khi phải tăng số lượng muối...
- Muối thì khỏi, bọn em cung cấp cho dân đều đều, các Tà Xẻng trong nhà đểu có giỏ muối của bọn em mà.
- Giàng Chẩn Mìn - Một ít đôi giầy, đổi thực phẩm hoặc tặng...
Giàng Chẩn Mìn reo lên:
- Ôi, Đoàn trưởng khôn quá... đúng rồi. Dân ở bên ấy rất thích giầy của bộ đội mình, chứ không thích giầy Mỹ, ngụy Lào đâu, họ bảo mang nặng chân lắm, ngã liên liên, mà lại khó đi... Bọn em sẽ phục vụ Đoàn trưởng và đoàn thật tốt, chúng ta lại vừa là anh em rồi...
San đặt cánh tay trái lên đôi vai vạm vỡ và cái gáy bò tót của Cư A Hoà:
- Đương nhiên trong việc này không thể cầu toàn, các em nghe không? Cũng đừng chủ quan coi thường địch, chúng trăm phương nghìn kế. Mình biết con đường đó, đi lại trên con đường đó, thì phỉ nó cũng vậy, rồi quân ngụy Viên Chăn nữa. Đường đó được ta, địch và dân cùng dùng. Vậy trước khi hành quân ta sẽ để thì giờ thảo luận các phương án tác chiến...
Các chiến sĩ Mông đồng thanh:
- Đồng ý...
San quay sang Giàng Chẩn Mìn:
- Hai mươi hai bản này có ở gần con đường không? Hay là cách đường và cách đường thì những quãng cách đó là khoảng bao nhiêu, tính trung bình...
Chẩn Mìn nói ngay không lưỡng lự:
- Con đường đi qua ngay cạnh hai mươi hai bản. Em có kế hoạch thế này, báo cáo Đoàn trưởng, cứ đến mỗi bản, chúng em lại nói với Tà Xẻng cử du kích đi cùng đoàn, từ năm, sáu người một bản; tới bản kia họ quay về, rồi bản kia Tà Xẻng lại cử du kích đi nối tiếp với bản kia nữa...
Vậy là một nửa phương án tác chiến đã được thông qua - San chợt nghĩ: “Giá như tất cả các bản huyện của tỉnh Xiêng Khoảng này đều được như hai mươi hai bản thì thế của ta khác hẳn. Theo báo cáo mới đây, tình hình mấy huyện phía tây, phía nam và một phần phía bắc, đều là vùng trắng, không phải bản nào cũng có đội du kích... Đau lòng vậy đấy... Khó khăn, khó khăn... Tối nay hội ý đoàn phân công ai đi với mình, ai ở lại”.
Giàng Chẩn Mìn đưa mắt sang Cư A Hoà, tay cầm bi đông rượu lắc lắc như bảo “Làm một lần nữa nhé”. Cư A Hoà nhìn nhanh qua San:
- Xin Đoàn trưởng cho kết một chén nữa tại đây ạ...
- Đồng ý. - San dứt cơn nghĩ, mỉm cười.
Giàng Chẩn Mìn rót rất sành điệu một lượt bẩy chén. Ngắm nhìn, San thoáng tự nhủ: “Anh cu này rót rượu dẻo tay quá, không rớt một giọt rượu nào”.
Chẩn Mìn mặt tươi như hoa giọng trịnh trọng:
- Thưa Đoàn trưởng, chén này chúc hai ý nghĩa, thứ nhất, chúc cho tình nghĩa Đoàn trưởng với chúng em bền chặt mãi mãi. Thứ hai, chúc cho chuyến đi của Đoàn trưởng với các anh sang Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum thắng lợi giòn giã...
San cụng chén lần lượt từ Chẩn Mìn, Cư A Hoà trở đi. Anh lại chợt nghĩ: “Giàng Chẩn Mìn hứa hẹn một sĩ quan giỏi... Nếu có thêm Mìn cùng với mình và Hoà nữa nhỉ...”.