Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 08:09:11 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
 91 
 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2026, 08:43:46 pm 
Tác giả hqnd - Bài mới nhất gửi bởi hqnd
2. Cơ sở thực tiễn

2.1. Nguồn gốc tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa

a) Vai trò chiến lược của biển và đại dương

Trong lịch sử phát triển của thế giới, biển và đại dương luôn giữ vai trò chiến lược đặc biệt quan trọng.

Thứ nhất, về yếu tố tự nhiên, biển và đại dương có vai trò quan trọng sống còn đối với đời sống con người. Chiếm 2/3 diện tích vỏ trái đất, biển và đại dương không những là môi trường sống của hàng vạn loài động, thực vật, cung cấp lượng tài nguyên vô cùng quan trọng cho con người, mà còn là một cỗ máy điều hoà nhiệt độ khổng lồ cho nhân loại, cung cấp nguồn hơi nước vô tận cho khí quyển, sinh ra mây, mưa để duy trì cuộc sống của con người và tất cả các loài sinh vật, đồng thời là nơi dự trữ cuối cùng về tài nguyên thiên nhiên1 (Xem Nguyễn Thị Quế: Địa chính trị thế giới, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2014, tr.302). Trong giai đoạn hiện nay, cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội, khoa học, công nghệ..., nhu cầu về tài nguyên của các nước trên thế giới cũng ngày một gia tăng, trong khi nguồn tài nguyên trên đất liền ngày càng bị khai thác cạn kiệt. Do đó, việc hướng ra đại dương, tìm kiếm các nguồn tài nguyên mới để phát triển là nhu cầu tất yếu khách quan đối với các nước ven biển cũng như tất cả các nước trên thế giới. Bên cạnh đó, sự phát triển của khoa học - công nghệ đã giúp các quốc gia nâng cao khả năng khám phá, khai thác các nguồn tài nguyên ở biển và đại dương, nhất là các nước lớn, các nước có trình độ khoa học - công nghệ phát triển hơn, làm nảy sinh nhiều va chạm, tranh chấp mới liên quan đến chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán đối với các đảo, đá, bãi ngầm lúc chìm lúc nổi, vùng trời, vùng nước, vùng đáy biển và đại dương.


Thứ hai, về kinh tế, thương mại, biển và đại dương có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, thương mại thế giới. Sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú, đa dạng và quý giá với trữ lượng lớn, biển và đại dương không chỉ là nơi cung ứng các vật phẩm có giá trị giúp nuôi sống, tạo công ăn việc làm cho hàng tỷ người trên trái đất, mà còn mang lại lợi ích kinh tế, chính trị to lớn cho các quốc gia ven biển. Bao phủ khoảng 2/3 diện tích bề mặt trái đất1 (Xem Nguyễn Thị Quế: Địa chính trị thế giới, Sđd, tr.298), biển và đại dương là nơi kết nối giao thông đường thủy thuận lợi nhất giữa các châu lục, có ý nghĩa to lớn trong thúc đẩy phát triển thương mại, nhất là khi trình độ khoa học còn chưa thực sự bứt phá. Với lợi thế không bị chia cắt theo địa giới quốc gia, có thể tận dụng sức gió và sự chuyến động của các dòng hải lưu, việc vận chuyển hàng hóa thương mại thông qua các tuyến giao thông hàng hải đã mang lại những lợi ích kinh tế to lớn cho nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là các quốc gia có ngành công nghiệp đóng tàu phát triển.


Thứ ba, về chính trị, quân sự, biển và đại dương đã giúp con người khám phá ra các châu lục trên thế giới, tạo điều kiện cho các quốc gia có lực lượng hải quân phát triển đi xâm chiếm các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới và mở rộng thuộc địa ra ngoài khu vực, thậm chí trên toàn thế giới. Với sự phát triển của khoa học - công nghệ hiện đại, khả năng chinh phục và tác chiến trên mặt biển của các cường quốc biển ngày càng cao, mọi hoạt động tập trung, di chuyển quân, bố trí lực lượng chiến lược,... đều nằm dưới sự giám sát chặt chẽ và chính xác của vệ tinh quân sự do các cường quốc phóng lên. Việc xây dựng các căn cứ quân sự dưới đáy biển, đại dương và sự phát triển các loại vũ khí, phương tiện, trang bị có thể hoạt động, di chuyển dưới mặt nước biển phần nào đã mang lại những lợi thế nhất định cho các nước ven biển và các nước lớn, các nước có tham vọng "lãnh đạo" thế giới. Việc tận dụng những lợi thế của biển và đại dương đã tạo nhiều lợi thế chiến lược cho các quốc gia ven biển, các quốc gia có lực lượng hải quân phát triển trong tác chiến trên biển để bảo vệ chủ quyền, lợi ích và tham vọng của họ ở biển và đại dương.


Thứ tư, về thực tiễn phát triển của nhân loại, phần lớn các quốc gia có những bước phát triển đột phá, trở thành các cường quốc trên thế giới đều gắn liền với biển và đại dương, như các nước cộng hòa hàng hải ở miền Bắc và miền Trung bán đảo Italia ở thế kỷ XIV-XV, Anh thế kỷ XVII-XVIII, Nhật Bản vào nửa cuối thế kỷ XX, hay Mỹ, Xingapo hiện nay1 (Xem Nguyễn Thị Quế: Địa chính trị thế giới, Sđd, tr.306). Các bên có tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa cũng dần nhận thức rõ vị trí, tầm quan trọng của biển và đại dương đối với sự phát triển của đất nước, nên đã đưa ra nhiều tuyên bố khẳng định chủ quyền, lợi ích ở quần đảo Trường Sa, thậm chí đưa lực lượng đến chiếm đóng một số thực thể ở khu vực này, khiến vấn đề tranh chấp chủ quyền ở đây ngày càng diễn biến phức tạp.


Như vậy, có thể thấy rằng, biển và đại dương luôn có vai trò hết sức quan trọng đối với nhân loại và sự phát triển của mỗi quốc gia, nhất là các quốc gia ven biển, trong đó có các bên tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa. Điều này vừa thúc đẩy các quốc gia tìm tòi, sáng tạo cách thức khai thác biển, vừa làm gia tăng căng thẳng ở quần đảo Trường Sa khi các bên coi trọng quá mức chủ quyền và lợi ích của mình mà không quan chiếu đến chủ quyền và lợi ích của các quốc gia khác. Vì thế, các quốc gia có biển, nhất là các bên có tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa cần xem xét, nhận thức một cách toàn diện vị trí, vai trò của biển và đại dương đối với sự phát triển của quốc gia mình, đồng thời quan tâm đến chủ quyền, lợi ích của các quốc gia khác, từ đó điều chỉnh yêu sách của mình cho phù hợp thực tiễn, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực và trên phạm vi toàn cầu.

 92 
 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2026, 08:41:12 pm 
Tác giả hqnd - Bài mới nhất gửi bởi hqnd
b) Chủ nghĩa tự do

Các học giả của chủ nghĩa tự do cho rằng, các quốc gia "lo lắng về quyền lực là cùng thứ hạng so với tính toán về kinh tế và chính trị" và luôn có sự "phụ thuộc lẫn nhau một cách phức hợp"- công cụ để giải quyết các mối quan hệ quốc tế không chỉ có quyền lực kinh tế, sức mạnh quân sự, mà còn nhiều công cụ khác, trong đó "sự phụ thuộc lẫn nhau một cách phức hợp đóng vai trò quan trọng và sự hợp tác được thể chế hóa đang trở thành quy chuẩn"2 (Học viện Ngoại giao, PGS.TS. Nguyễn Vũ Tùng, TS. Nguyễn Hoàng Như Thanh (Đồng chủ biên): Lý luận quan hệ quốc tế, Sđd, tr. 83, 11, 119-140).


Theo đó, đối với tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa, các bên luôn "phụ thuộc lẫn nhau một cách phức hợp" và có thể "hợp tác" với nhau để cùng tìm kiếm các giải pháp nhằm kiềm chế và kiểm soát xung đột, tranh chấp, chiến tranh và không nhất thiết phải sử dụng các biện pháp quân sự, răn đe quân sự, gây sức ép về kinh tế.


Cách tiếp cận dưới góc độ của các học giả tự do về"sự phụ thuộc lẫn nhau một cách phức hợp" trong tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa có ba đặc trưng cơ bản sau:

Một là, các quan hệ xuyên quốc gia có vai trò vô cùng quan trọng, mang đến nhiều kênh kết nối xã hội đa dạng từ các liên hệ chính thức và không chính thức giữa các thành viên chính phủ tới các ràng buộc không chính thức giữa các tầng lớp ưu tú phi chính phủ của các bên có tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa.


Hai là, chương trình nghị sự giữa các bên bao gồm nhiều vấn đề và không được sắp xếp theo một hệ thống thứ bậc rõ ràng hoặc nhất quán, và an ninh không phải là mục đích duy nhất tối thượng trong quan hệ giữa các bên có tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa.


Ba là, sức mạnh quân sự không phải là công cụ hàng đầu để giải quyết tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa, các quyền lực khác mới là trọng tâm.

Luận giải về vấn đề hợp tác trong chính trị quốc tế, các học giả theo chủ nghĩa tự do cho rằng, hòa bình, hợp tác là bản chất, là thuộc tính khách quan thường trực của nền chính trị thế giới. Chiến tranh, xung đột là hiện tượng phi lý, phản tự nhiên, là cái bất bình thường, phản quy luật, không phải là thuộc tính thường trực của nền chính trị thế giới, và cách tốt nhất để chữa trị "căn bệnh" xung đột và chiến tranh trong quan hệ quốc tế là hợp tác. Từ cách luận giải này, có thể thấy rằng vấn đề tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa cũng là hiện tượng phi lý, phản tự nhiên, là cái bất bình thường, phản quy luật và không phải là thuộc tính thường trực của nền chính trị thế giới và cách tốt nhất để giải quyết tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo này là hợp tác. Sử dụng các biện pháp quân sự, răn đe quân sự, gây sức ép về kinh tế không phải là công cụ hàng đầu để giải quyết tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa thay vào đó các quyền lực khác mới là trọng tâm, trong đó hợp tác tìm kiếm các giải pháp nhằm quản lý xung đột, ngăn chặn nguy cơ xảy ra chiến tranh và các quan hệ xuyên quốc gia có vai trò vô cùng quan trọng.


c) Chủ nghĩa kiến tạo

Các học giả theo chủ nghĩa kiến tạo cho rằng, bản sắc các chuẩn tắc, niềm tin và các giá trị cũng mang tính cấu trúc và tạo nên ảnh hưởng mạnh mẽ lên các hoạt động chính trị - xã hội; hành vi của các quốc gia được tạo ra bởi niềm tin của giới tinh hoa, chuẩn mực tập thể, bản sắc xã hội và chỉ có nghĩa trong một bối cảnh xã hội liên chủ quan; bản sắc và lợi ích trong chính trị quốc tế là rất cần thiết, là biến số trung tâm, là sản phẩm của thực tiễn xã hội; sức mạnh của thực tiễn xã hội nằm ở khả năng tái tạo nhận thức liên chủ quan (intersubjective) vốn cấu thành nên cả cấu trúc xã hội lẫn chủ thể1 (Xem Học viện Ngoại giao, PGS.TS. Nguyễn Vũ Tùng, TS. Nguyễn Hoàng Như Thanh (Đồng chủ biên): Lý luận quan hệ quốc tế, Sđd tr.11, 258-262).


Theo đó, hành vi của các bên trong tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa cũng được tạo ra bởi niềm tin của giới tinh hoa, chuẩn mực tập thể và bản sắc xã hội, được cụ thể hóa trong quan điểm, chủ trương, chính sách và cách thức ứng xử của các bên, trong đó vai trò của giới lãnh đạo là quan trọng hàng đầu. Do vậy, khi nghiên cứu, đánh giá các vấn đề liên quan cần gắn với bối cảnh lịch sử cụ thể của các yếu tố liên quan, trong đó có tình hình thế giới, khu vực và các bên có tranh chấp.


Tiếp cận từ góc độ của các học giả theo chủ nghĩa kiến tạo về "bản sắc và lợi ích" trong tranh chấp ở quần đảo Trường Sa, thì "bản sắc" củng "rất cần thiết", nó bao hàm những ưu tiên và hành vi tương ứng" của các bên và "lợi ích là biến số trung tâm". Việc nhận thức về hành vi của các bên trong tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa cũng tùy theo bản sắc mà quốc gia đó gán cho quốc gia khác và nó cũng tái lập bản sắc của chính bên nhận thức thông qua thực tiễn xã hội hằng ngày1 (Xem Học viện Ngoại giao, PGS.TS. Nguyễn Vũ Tùng, TS. Nguyễn Hoàng Như Thanh (Đồng chủ biên): Lý luận quan hệ quốc tế, Sdd, tr. 259-260). Do vậy, việc nghiên cứu, đánh giá về hành vi của mỗi bên trong tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa cần phải gắn với "bản sắc" và lợi ích của họ trong bối cảnh thực tiễn xã hội cụ thể, vì mỗi quốc gia có một bản sắc riêng và bản sắc này sẽ định hình các mục tiêu mà quốc gia đó theo đuổi. Thông qua việc quan sát các hành vi có thể thấy rõ được bản sắc của các bên trong tranh chấpchủ quyềnở quần đảo Trường Sa. Hay nói cách khác, thực tiễn tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa không chỉ tái tạo bản sắc của các bên mà còn tái tạo cả một cấu trúc xã hội dựa trên thực tiễn tranh chấp và hành vi có liên quan của các bên. Điều này được tạo ra bởi niềm tin của giới tinh hoa, chuẩn mực tập thể và bản sắc xã hội, được cụ thể hóa trong quan điểm, chủ trương chính sách và cách ứng xử của các bên đối với tranh chấpchủ quyền ở quần đảo Trường Sa.


Tựu trung lại, có thể thấy rằng, xét đến cùng thì bản chất tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa là sự tranh giành lợi ích giữa các bên. Do đó, nội dung cuốn sách này sẽ tiếp cận chủ yếu dựa vào các luận thuyết của chủ nghĩa hiện thực, thông qua làm rõ quyền lực và lợi ích quốc gia để phân tích, luận giải nguồn gốc, bản chất của các tranh chấp ở quần đảo Trường Sa cũng như tác động của vấn đề này đối với Việt Nam và khu vực, từ đó đánh giá, dự báo tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa đến năm 2028. Bên cạnh đó, các tác giả cũng sẽ sử dụng một số luận thuyết của chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa kiến tạo để làm sâu sắc một số vấn đề nghiên cứu cụ thể, từ đó tìm ra các giải pháp giải quyết tranh chấp, quản lý xung đột ở quần đảo Trường Sa, bảo vệ tối đa chủ quyền, lợi ích trên biển, đảo của Việt Nam, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực.

 93 
 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2026, 08:38:50 pm 
Tác giả hqnd - Bài mới nhất gửi bởi hqnd
1.2. Tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa dưới góc độ tiếp cận của một số trường phái lý thuyết quan hệ quốc tế

a) Chủ nghĩa hiện thực

Chủ nghĩa hiện thực cho rằng, "các quốc gia lo lắng về lợi ích của mình thường xuyên cạnh tranh nhau vì quyền lực hoặc an ninh" và tranh chấp, xung đột, chiến tranh là "tình trạng tự nhiên trong môi trường chính trị quốc tế, cách chắc chắn nhất để loại bỏ chiến tranh là loại bỏ chính trị quốc tế". Khi bàn về nguyên tắc chung của chính quyền, George Washington cho rằng, "lợi ích là nguyên tắc chỉ đạo", còn Max Weber nhận xét, "lợi ích trực tiếp chi phối hành vi của con người"2 (Học viện Ngoại giao, PGS.TS. Nguyễn Vũ Tùng, TS. Nguyễn Hoàng Như Thanh (Đồng chủ biên): Lý luận quan hệ quốc tế, Nxb. Lao động - Xã hội, Hà Nội, 2017, tr. 41). Khi bàn về sức mạnh quốc gia, sĩ quan và nhà sử học hải quân Mỹ Alfred Thayer Mahan (1840-1914) cho rằng, sức mạnh trên biển mới giúp các nước trở thành cường quốc chứ không phải sức mạnh trên đất liền. Việc Trung Quốc theo đuổi mục tiêu phát triển thành cường quốc biển cũng khôngnằm ngoài luận thuyết này1 (Tham khảo http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-vietnam/5965-ban-ve-chien-luoc-cuong-quoc-bien-của-trung-quoc-sau-dai-hoi-18).


Theo đó, xét cho cùng thì nguyên nhân dẫn đến tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa cũng là vì lợi ích, và vì lợi ích mà các bên cạnh tranh nhau về quyền lực và an ninh. Trở lại lịch sử, khi khoa học, kỹ thuật, công nghệ chưa phát triển, các quốc gia, vùng lãnh thổ chưa nhận thức rõ vị trí, tầm quan trọng của quần đảo Trường Sa, lợi ích và các mối đe dọa về lợi ích, an ninh từ khu vực quần đảo Trường Sa đến các nước ven biển còn ít, thì các cuộc xung đột, va chạm ở quần đảo Trường Sa gần như không có. Khi khoa học, kỹ thuật, công nghệ phát triển, nhất là sau Chiến tranh thế giới thứ hai, tư duy của các nước về vai trò của biển và đại dương có sự thay đổi. Các nước trong và ngoài khu vực ngày càng nhận thức rõ vị trí địa - chính trị, địa - chiến lược vô cùng quan trọng của quần đảo Trường Sa đối với sự phát triển và ảnh hưởng của quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Các mối đe dọa về chủ quyền, lợi ích quốc gia đến từ hướng biển cũng được các nước nhận thức rõ ràng hơn. Chủ quyền, lợi ích ở quần đảo Trường Sa ngày càng được các nước quan tâm hơn. Tuy nhiên, cũng chính vì thế mà tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa ngày một gia tăng, phức tạp, khó giải quyết, nhất là từ năm 1988 đến nay.


Tiếp cận từ góc độ của các học giả theo trường phái chủ nghĩa hiện thực, hành vi của quốc gia trong tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa cũng xuất phát từ sự lo sợ về nhau, "nghĩ về nhau với sự nghi ngờ, lo ngại rằng chiến tranh sắp bùng nổ và dự liệu hiểm nguy, có một khoảng rất ít dành cho sự tin cậy giữa các nước"2 (Học viện Ngoại giao, PGS.TS. Nguyễn Vũ Tùng, TS. Nguyễn Hoàng Như Thanh (Đồng chủ biên): Lý luận quan hệ quốc tế, Sđd, tr. 67). Các bên có tranh chấp luôn lo lắng đến chủ quyền và lợi ích của mình ở quần đảo Trường Sa, nghi ngại các bên còn lại có thể có các hành động gây phương hại đến chủ quyền và lợi ích của mình, nên không ngừng gia tăng các hoạt động để bảo vệ chủ quyền, lợi ích trên quần đảo này. Tuy nhiên, chính các hoạt động này lại càng làm gia tăng sự nghi ngờ lẫn nhau, là một trong những nguyên nhân cốt lõi khiên tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa ngày càng diễn biến phức tạp. Trong đó, Trung Quốc lo ngại các bên lôi kéo các nước ngoài khu vực, nhất là Mỹ và đồng minh, vào vấn đề Biển Đông để bao vây, kiềm chế, ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc. Do đó, Trung Quốc về mặt tổng thể ngày một cứng rắn hơn, quyết liệt hơn trong cản phá hoạt động của các bên và ngăn chặn sự can thiệp của Mỹ và đồng minh vào vấn đề Biển Đông, nhất là đối với khu vực quần đảo Trường Sa. Các bên còn lại thì nghi ngại rằng, các tuyên bố và hành động của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa và vùng biển lân cận sẽ ảnh hưởng đến chủ quyền và lợi ích của mình nên cũng tiến hành nhiều biện pháp, cách thức khác nhau nhằm "cân bằng quyền lực", bảo vệ chủ quyền, lợi ích ở khu vực này. Điều này dẫn đến sự chạy đua quyền lực, vũ trang trong tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa, coi sức mạnh quân sự, quốc phòng là một trong những trụ cột của an ninh quốc gia, là cách thức để hỗ trợ tìm kiếm giải pháp hòa bình trong giải quyết tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa. Hệ lụy là, tranh chấp chủ quyền ở đây ngày càng diễn biến phức tạp, khó giải quyết cho dù các bên đã tiến hành nhiều cuộc trao đổi, đàm phán vềvấn đề này.


Tuy nhiên, các học giả theo trường phái chủ nghĩa hiện thực còn cho rằng, trong quan hệ quốc tế, hòa bình, hợp tác chỉ là tạm thời, được duy trì chỉ vì lợi ích ích kỷ của các nước và không có sự hợp tác giữa các nước lớn, vì "suy cho cùng, các nước lớn sống trong một thế giới cạnh tranh là chính, trong đó các nước coi nhau là kẻ thù thực sự hoặc tiềm tàng, và do đó giành giật sức mạnh từ tay người khác". Nguyên nhân là, khi tính toán đến hợp tác, các quốc gia đều phải tính đến lợi ích tương đối hoặc lợi ích tuyệt đối của họ, lo lắng về tối đa hóa lợi ích của họ nhưng không lo nhiều đến lợi ích của bên kia, thậm chí "còn so bì phần lợi của mình lớn/bé thế nào với phần của nước khác"1 (Học viện Ngoại giao, PGS.TS. Nguyễn Vũ Tùng, TS. Nguyễn Hoàng Như Thanh (Đồng chủ biên): Lý luận quan hệ quốc tế, Sđd, tr. 83, 11, 119-140). Biện pháp duy nhất buộc các nước phải hợp tác với nhau là duy trì sự cân bằng quyền lực giữa các quốc gia bằng sức mạnh, ngăn chặn bất cứ quốc gia nào nắm ưu thế quyền lực là cách phòng ngừa xung đột tốt nhất trong quan hệ quốc tế.


Theo đó, trong giải quyết tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa, các bên luôn lo lắng về chủ quyền và lợi ích ở đây sẽ được phân chia như thế nào và làm thế nào để giành được chủ quyền và lợi ích lớn hơn khiến vấn đề hợp tác giữa các bên trong giải quyết tranh chấp ở đây gặp khó khăn và khó có kết quả thực chất.

 94 
 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2026, 08:36:19 pm 
Tác giả hqnd - Bài mới nhất gửi bởi hqnd
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN GIỮA CÁC BÊN Ở QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA
TỪ NĂM 1988 ĐẾN 2020


1.Cơ sở lý luận

1.1. Một số khái niệm về biển, đảo và tranh chấp biển, đảo

"Đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước... Với điều kiện phải tuân thủ khoản 3, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa của một hòn đảo được hoạch định theo đúng các quy định của Công ước áp dụng cho các lãnh thổ đất liền khác... Những đảo đá nào không thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng, thì không có vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa"1 (Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 101).


"Bãi cạn lúc chìm lúc nổi là những vùng đất nhô cao tự nhiên có biển bao quanh, khi thủy triều xuống thấp thì lộ ra, khi thủy triều lên cao thì bị ngập nước, khi toàn bộ hoặc một phần bãi cạn đó ở cách lục địa hoặc một đảo một khoảng cách không vượt quá chiều rộng của lãnh hải, thì ngấn nước triều thấp nhất ở trên bãi cạn này có thể được dùng làm đường cơ sở để tính chiều rộng của lãnh hải... Khi các bãi cạn lúc chìm lúc nổi hoàn toàn ở cách lục địa hoặc một đảo một khoảng cách vượt quá chiều rộng của lãnh hải, thì chúng không có lãnh hải riêng"1 (Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982, Sdd, tr. 29-30, 50).


"Quần đảo là một nhóm các đảo, kể cả các bộ phận của các đảo các vùng nước nối giữa và các thành phần tự nhiên khác có liên quan với nhau chặt chẽ đến mức tạo thành về thực chất một thể thống nhất về địa lý, kinh tế và chính trị, hay được coi như thế về mặt lịch sử". "Một quốc gia quần đảo có thể vạch các đường cơ sở thẳng của quần đảo nối các điểm ngoài cùng của các đảo xa nhất và các bãi đá nổi xa nhất của quần đảo, với điều kiện là tuyến các đường cơ sở này bao lấy các đảo chủ yếu và xác lập một khu vực mà tỷ lệ diện tích nước so với đất, kể cả vành đai san hô phải ở giữa tỷ số 1/1 và 9/1"2 (Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982, Sdd, tr. 29-30, 50). Theo đó, quần đảo chỉ được thiết lập bởi quốc gia quần đảo và có vùng nội thủy, vùng nước quần đảo, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa được hoạch định theo đúng các quy định của UNCLOS 1982. Trong đó, vùng nước quần đảo là vùng biển nằm bên trong của đường cơ sở quần đảo dùng để tính chiều rộng lãnh hải và do quốc gia quần đảo ấn định; các vùng lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của quốc gia quần đảo đều được tính từ đường cơ sở của quần đảo.


Quần đảo Trường Sa là tên gọi riêng của Việt Nam, còn người Pháp gọi là lies Spratly, người Nhật Bản gọi là Nansa shotõ; người Anh, người Mỹ và tên quốc tế là Spratly Islands; Trung Quốc và Đài Loan gọi toàn bộ khu vực phía nam "đường lưỡi bò" là "Quần đảo Nam Sa" bao trùm toàn bộ quần đảo Trường Sa và một số vùng biển lân cận, trong đó có khu vực nhà giàn DK-1; Philippin gọi phần phía Tây, Tây Bắc của quần đảo Trường Sa là "Nhóm đảo Kalayaan". Đó là những dãy đảo, đá, bãi cạn lúc nổi lúc chìm, bãi ngầm nằm trong khu vực 06°30 - 12°00 vĩ Bắc và 111°30’ - 117°20’ kinh Đông, cách Cam Ranh, Việt Nam khoảng 450 km về phía Đông, cách đảo Hải Nam, Trung Quốc khoảng 1.100 km về phía Nam. Quần đảo Trường Sa có trên 100 đảo đá, bãi cạn lúc nổi lúc chìm, được đặt tên và chia thành 8 cụm, gồm Song Tử, Sinh Tồn, Thị Tứ, Trường Sa, Loại Ta, Thám Hiểm, Nam Yết, Bình Nguyên, nằm trải trên một vùng biển rộng lớn khoảng 160.000 - 180.000 km2, với tổng diện tích nổi khoảng 10km2, trong đó đảo lớn nhất là Ba Bình, rộng khoảng 0,6 km; Song Tử Tây là đảo cao nhất (cao 4 - 6 m lúc triều xuống)1 (Xem Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Quá trình khai phá xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Savà Trường Sa, Nxb. Quàn đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 111).


Luật biển Việt Nam năm 2012 "quy định về đường cơ sở, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, các đảo, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và quần đảo khác thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam" (Điều 1). "Nhà nước [Việt Nam] thực hiện chủ quyền trên đảo, quần đảo của Việt Nam", trong đó có quần đảo Trường Sa và chế độ pháp lý của quần đảo Trường Sa "được thực hiện theo quy định tại các điều 10, 12, 14, 16 và 18 của Luật này" (Điều 21), nhưng nếu "khác với quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên thi áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó" (khoản 2, Điều 2). Như vậy, việc xác định chế độ pháp lý của quần đảo Trường Sa và các đảo, đá, bãi cạn lúc nổi lúc chìm thuộc quần đảo này tuân theo Luật biển Việt Nam năm 2012 và các quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, trong đó có UNCLOS 1982.


Theo phán quyết của Tòa Trọng tài thường trực trong vụ Philippin kiện Trung Quốc năm 2016, các đảo, đá, bãi cạn lúc nổi lúc chìm, bãi ngầm ở quần đảo Trường Sa "không thể cùng nhau tạo ra các vùng biển như một thực thể thống nhất", không có thực thể nào ở quần đảo Trường Sa có đủ tiêu chuẩn là "đảo" theo UNCLOS 1982. Các thực thể ở quần đảo Trường Sa tối đa chỉ được hưởng quy chế pháp lý của "đảo đá theo UNCLOS 1982, nghĩa là tối đa chỉ có lãnh hải 12 hải lý, không có vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa1 (Tham khảo https://vnexpress.net/toan-van-thong-cao-phan-quyet-của-toa-trong-tai-ve-duong-luoi-bo-3435347-p2.html).


Tranh chấp là "giành giật, giằng co cái không rõ thuộc về bên nào"2 (Nguyễn Như Ý: Đại Từ điển tiếng Việt, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 1998, tr.1685), hay là "đấu tranh giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lợi giữa hai bên"3 (Nguyễn Hữu Chiến: Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2008, tr. 1268).


Theo bản tiếng Anh phán quyết của Tòa án thương trực Công lý quốc tế (PCIJ), tiền thân của Tòa án Công lý quốc tế (ICJ), ngày 30/8/1924 trong vụ Mavrommatis Palestine Concessions giữa Hy Lạp và Anh: "Một tranh chấp là một sự bất đồng về một vấn đề pháp lý hay thực tế, một sự xung đột về quan điểm pháp lý hay lợi ích giữa hai bên". Trong bản tiếng Pháp, phán quyết này nêu rõ, "một tranh chấp là một sự bất đồng, mâu thuẫn về một vấn đề pháp lý hay thực tế, một sự xung đột về quan điểm pháp lý hay lợi ích giữa hai bên"4 (Tham khảo https://iuscogens-vie.org/2017/12/24/54/).


Chủ quyền lãnh thổ quốc gia là quyền tối cao của một quốc gia đối với lãnh thổ của mình. Lãnh thổ quốc gia bao gồm: vùng đất, vùng nước, vùng lòng đất và vùng trời. Chủ quyền quốc gia được thể hiện rõ trên bốn quyền cơ bản là: quyền sở hữu đặc quyền một lãnh thổ cụ thể; thẩm quyền với dân cư xác định; thẩm quyền chính trị để cai trị trên lãnh thổ mà không có sự can thiệp của nước ngoài; khả năng điều tiết mọi hoạt động trên lãnh thổ1 (Xem Trung tâm Luật biển và hàng hải quốc tế, PGS.TS. Nguyễn Bá Diên: Kinh nghiệm quốc tế về giải quyết tranh chấp chủ quyền biển đảo, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2013, tr.31-32).


Như vậy, tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa là tranh chấp chủ quyền nảy sinh do xung đột về quan điểm, pháp lý giữa 5 nước, 6 bên gồm Trung Quốc, Việt Nam, Philippin, Malaixia, Brunây và Đài Loan, trong việc đưa ra yêu sách chủ quyền đối với các đảo đá, bãi cạn lúc chìm lúc nổi ở khu vực quần đảo Trường Sa.

 95 
 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2026, 08:32:54 pm 
Tác giả hqnd - Bài mới nhất gửi bởi hqnd
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT



 96 
 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2026, 08:29:02 pm 
Tác giả hqnd - Bài mới nhất gửi bởi hqnd
LỜI MỞ ĐẦU


Quần đảo Trường Sa nằm ở trung tâm của Biển Đông, có vị trí địa - chính trị đặc biệt quan trọng, án ngữ phần lớn các tuyến giao thông hàng hải quốc tế quan trọng hàng đầu thế giới đi qua khu vực này. Bên nào kiểm soát, khống chế được quần đảo Trường Sa sẽ giành quyền kiểm soát tất cả các tuyến giao thông hàng hải quốc tế đi qua Biển Đông, tác động trực tiếp đến trật tự khu vực châu Á - Thái Bình Dương, thậm chí đến trật tự thế giới. Chính vì vậy, tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa ngày càng phức tạp, khiến nơi đây trở thành một trong những điểm nóng nhất về an ninh ở khu vực Đông Nam Á. Sau nhiều nỗ lực của các nước liên quan, ASEAN và cộng đồng quốc tế, tranh chấp chủ quyền ở quần đảo này không những không giải quyết được một cách triệt để mà còn ngày càng trầm trọng, phức tạp hơn, đe dọa phá vỡ môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực, cản trở giao thương quốc tế qua Biển Đông.


Những biến động mới của tình hình thế giới và khu vực, cũng như sự gia tăng yêu sách và hoạt động khẳng định chủ quyền của các bên ở quần đảo Trường Sa ngày càng đe dọa trực tiếp đến chủ quyền và lợi ích của Việt Nam ở Biển Đông. Trên thực tế, trước năm 1988, mặc dù nhiều nước đã tuyên bố chủ quyền, thậm chí đưa lực lượng đến xâm chiếm một số đảo đá, bãi cạn lúc nổi lúc chìm ở quần đảo Trường Sa, nhưng quy mô, tính chất của các tuyên bố và hoạt động xâm chiếm này chưa thực sự gay gắt, phức tạp. Tuy nhiên, từ năm 1988 đến 2020, tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa ngày càng diễn biến phức tạp, tác động nhiều mặt đến chủ quyền và lợi ích của Việt Nam cũng như môi trường an ninh trong khu vực. Đặc biệt, năm 1988, Trung Quốc đã sử dụng vũ lực, xâm chiếm một số đảo đá, bãi cạn ở quần đảo Trường Sa (Chữ Thập, Châu Viên, Huy Gơ, Xu Bi, Ga Ven, Gạc Ma) thuộc chủ quyền của Việt Nam, khiến 64 cán bộ, chiến sĩ của Quân đội nhân dân Việt Nam hy sinh anh dũng trong khi bảo vệ chủ quyền lãnh thổ đất nước ở khu vực này. Từ đó, tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa đã thực sự trở thành "điểm nóng" của khu vực, khiến cộng đồng quốc tế hết sức quan ngại. Tuy nhiên, bất chấp phản ứng của cộng đồng quốc tế, Trung Quốc vẫn tiếp tục triển khai nhiều hoạt động để khẳng định và thực thi cái gọi là chủ quyền của nước này ở quần đảo Trường Sa, như: xâm chiếm bãi Vành Khăn (1995); đưa ra yêu sách "đường lưỡi bò" (2009), yêu sách "Tứ Sa" (2017); mở rộng diện tích và xây dựng quy mô lớn ở quần đảo Trường Sa (2014-2016); thành lập hai đơn vị hành chính cấp quận/huyện trực thuộc cái gọi là thành phố Tam Sa" (2020),... Bên cạnh đó, các bên có tranh chấp khác cũng triển khai nhiều hoạt động để đòi "chủ quyền" ở quần đảo Trường Sa, trong đó Đài Loan (Trung Quốc)* (Trong phạm vi cuốn sách này, khi nói đến "Đài Loan" là chỉ "Đài Loan (Trung Quốc)" (BT)) thường xuyên điều lực lượng đến cắm cờ khẳng định chủ quyền ở đá Bàn Than; Philippin kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng tài thường trực (PCA) (2013), tiến hành một số hoạt động xây dựng ở đảo Thị Tứ (2020); Malaixia đệ trình báo cáo lên Ủy ban ranh giới thềm lục địa của Liên hợp quốc (CLCS) về thềm lục địa mở rộng ngoài 200 hải lý bao trùm phần lớn các đảo đá, bãi cạn lúc nổi lúc chìm ở quần đảo Trường Sa (2019),...


Đặc biệt, trong những năm gần đây, tình hình thế giới, khu vực có nhiều diễn biến nhanh và phức tạp, các nước lớn ngoài khu vực, như Mỹ, Nhật Bản, Ôxtrâylia, Nga, Ấn Độ ngày càng quan tâm, thậm chí can dự sâu rộng vào vấn đề Biển Đông nhằm bảo vệ lợi ích của họ và thực hiện các toan tính chiến lược lớn đối với khu vực. Điều này mở ra nhiều triển vọng mới, song cũng mang đến không ít thách thức trong giải quyết tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa và tác động trực tiếp đến môi trường hòa bình, ổn định của khu vực.


Đối với Việt Nam, quần đảo Trường Sa là khu vực có vị trí địa - chính trị vô cùng quan trọng, là "cửa ngõ" kết nối Việt Nam với khu vực và thế giới, là "một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam"1 (Nguyễn Thái Anh - Quốc Dũng: Quan điểm của Đảng, Nhà nước Chính phủ, Quốc hội về đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo, Nxb. Văn học Hà Nội 2014, tr.21,31) và "Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa"2 (Tham khảo https://dangcongsan.vn/bien-dao-viet-nam/hoang-sa-va-truong-sa-la-của-viet-nam-553850.html). Tuy nhiên, trong những năm gần đây, các bên có tranh chấp ngày càng đẩy mạnh hoạt động khẳng định "chủ quyền" ở quần đảo Trường Sa và vùng biển liên quan, đe dọa trực tiếp, lâu dài đến chủ quyền, lợi ích của Việt Nam ở khu vực này.


Cuốn sách chuyên khảo Quá trình tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa từ năm 1988 đến 2020 của PGS.TS. Nguyễn Thị Quế và TS. Bùi Đức An sẽ đi sâu luận giải, làm rõ nguồn gốc, bản chất, thực trạng quá trình tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa từ năm 1988 đến 2020, đồng thời đánh giá tác động, dự báo các kịch bản có thể xảy ra đối với tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa đến năm 2028, từ đó đưa ra các khuyến nghị về giải pháp để thúc đẩy giải quyết tranh chấp, bảo vệ chủ quyền, lợi ích của Việt Nam ở quần đảo Trường Sa, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định ở khu vực.


Cuốn sách gồm 3 chương. Chương 1 trình bày một số vấn đề liên quan đến tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa và lý thuyết quan hệ quốc tế liên quan đến tranh chấp chủ quyền; phân tích khái quát tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa trước năm 1988 và nguồn gốc, những nhân tố tác động đến tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở đây. Chương 2 làm rõ quan điểm, yêu sách chủ quyền của các bên và thực trạng tranh chấp chủ quyền giữa các bên đối với một số đảo đá, bãi cạn lúc nổi lúc chìm ở quần đảo Trường Sa từ năm 1988 đến 2020; tác động của tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa đối với thế giới, khu vực và Việt Nam. Chương 3 tập trung nghiên cứu, dự báo các nhân tố tác động, từ đó dự báo kịch bản có thể xảy ra trong tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa thời gian tới; đưa ra các giải pháp góp phần giải quyết tranh chấp, quản lý xung đột ở quần đảo Trường Sa và một số khuyến nghị đối với Việt Nam trong thúc đẩy giải quyết tranh chấp, bảo vệ tối đa chủ quyền và lợi ích của Việt Nam trên quần đảo này, giữ vững môi trường hòa bình,ổn định trong khu vực.

 97 
 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2026, 08:26:59 pm 
Tác giả hqnd - Bài mới nhất gửi bởi hqnd
- Tên sách: Quá trình tranh chấp giữa các bên ở quần đảo Trường Sa từ năm 1988 đến 2020
-Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Thị Quế, TS. Bùi Đức An
-Nhà xuất bản: Chính trị Quốc gia Sự thật
-Năm xuất bản: 2021
-Người số hóa: macbupda, hqnd



LỜI NHÀ XUẤT BẢN


Nằm ở vị trí địa - chính trị quan trọng trên Biển Đông, quần đảo Trường Sa là một phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam. Nhiều năm gần đây, một số quốc gia và vùng lãnh thổ đã liên tục thể hiện yêu sách chủ quyền đối với quần đảo này, khiến vấn đề tranh chấp chủ quyền giữa các bên trên Biển Đông nói chung và ở quần đảo Trường Sa nói riêng ngày càng diễn biến phức tạp, khó đoán định, tiềm ẩn nhiều nguy cơ đe dọa môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới.


Trước thực trạng đó, Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ đã kiên quyết, kiên trì khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa bằng các chứng cứ lịch sử và căn cứ pháp lý vững chắc, đồng thời chủ trương giải quyết tranh chấp với các bên liên quan bằng đàm phán hòa bình, trên nguyên tắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS 1982) và các hiệp định mà Việt Nam đã tham gia ký kết, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trên Biển Đông.


Để góp phần vào nỗ lực chung của Đảng và Nhà nước ta cùng tuyên truyền nâng cao ý thức của nhân dân về bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn sách Quá trình tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa từ năm 1988 đến 2020 do PGS.TS. Nguyễn Thị Quế và TS. Bùi Đức An đồng chủ biên.


Sở dĩ các tác giả chọn mốc thời gian phân tích từ năm 1988 là bởi thực tế rằng, từ thời điểm này, tình hình thế giới và khu vực biến chuyển khó lường, các bên yêu sách chủ quyền bắt đầu triển khai những hành động ngày càng quyết liệt nhằm hiện thực hóa tham vọng và tối đa hóa lợi ích của mình trên Biển Đông nói chung và quần đảo Trường Sa nói riêng, xâm phạm nghiêm trọng đến chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, ảnh hưởng trực tiếp đến các lực lượng chấp pháp và ngư dân Việt Nam hoạt động ở vùng biển này.


Trong cuốn sách này, các tác giả đã từng bước giải nghĩa những thuật ngữ, khái niệm liên quan đến tranh chấp chủ quyền; lý giải nguyên nhân, nguồn gốc sâu xa, thực trạng tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Trường Sa, nhất là từ năm 1988 đến 2020; dự báo các kịch bản tranh chấp có thể xảy ra đến năm 2028; đồng thời đề xuất giải pháp giải quyết các tranh chấp đó, với nỗ lực tối cao là giảm thiểu nguy cơ xảy ra va chạm, xung đột, bảo vệ tối đa chủ quyền, lợi ích của Việt Nam ở quần đảo Trường Sa, góp phần quan trọng giữ vững môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới.


Trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.

Tháng 5 năm 2021
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT

 98 
 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2026, 08:59:03 pm 
Tác giả vnmilitaryhistory - Bài mới nhất gửi bởi vnmilitaryhistory
Để hoàn thành những nhiệm vụ do Đảng bộ quận đề ra, cùng với công tác chấn chỉnh các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể, Quận ủy và Ủy ban kháng chiến quận chú trọng tới công tác xây dựng, củng cố các lực lượng vũ trang của quận. Ban Chỉ huy quân sự quận được thành lập do đồng chí Lê Thanh làm Quận đội trưởng, đồng chí Hồ Trúc làm Chính trị viên trưởng, đồng chí Chu Văn Biên (Nguyễn Hoa) làm Quận đội phó, đồng chí Lương Hoài Tín làm Chính trị viên phó. Các đơn vị vũ trang tập trung của quận được xây dựng gồm hai đại đội du kích (Đại đội 2 và Đại đội 3), một trung đội nữ du kích và Trường huấn luyện. Cán bộ, chiến sĩ là những anh chị em trẻ khoẻ đã qua chiến đấu, được rút ra từ số dân quân du kích, tự vệ thành đang có mặt ở Thanh Oai.


Đại đội 2 do đồng chí Ngọc "già" làm Đại đội trưởng, đồng chí Phương làm Chính trị viên kiêm Đại đội phó. Đại đội đóng quân ở các thôn Kim Lân, Tri Lễ, Ước Lễ đến Từ Châu. Nhiệm vụ của đại đội là vừa huấn luyện, củng cố, vừa sẵn sàng chiến đấu bảo vệ khu vực dừng chân của ca quan quận, chặn địch đánh vào theo hướng Đường số 22 (Hà Đông - Vân Đình).


Đại đội 3 do đồng chí Bùi Văn Phi (Vũ Tiến) làm Đại đội trưởng và hai đại đội phó là đồng chí Châu và đồng chí Lê Đình Cầu. Nơi đóng quân lúc đầu của Đại đội là các thôn Hữu Lê, Hữu Từ, Cự Đà, Khúc Thủy, sau chuyển về Bối Khê, Úc Lý, Cự Thần, Đống Giã. Đại đội có nhiệm vụ vừa huấn luyện, xây dựng đơn vị, vừa cơ động, phối hợp với Đại đội 2 chiến đấu bảo vệ các cơ quan của quận và nhân dân trên địa bàn Thanh Oai.


Trung đội nữ du kích do đồng chí Nguyễn Kim Thoa làm Trung đội trưởng kiêm Chính trị viên. Nhiệm vụ chủ yếu của trung đội là làm công tác địch vận, vũ trang tuyên truyền, đánh tập kích địch và phối hợp chiến đấu với các đại đội khi cần thiết.

Trường huấn luyện quân sự được thành lập ở Cự Đà, sau chuyển về đóng ở Hưng Giáo do đồng chí Lam Sơn làm Giám đốc, các đồng chí Lê Thanh, Chu Văn Biên làm Phó Giám đốc. Trường còn có hai người Nhật lấy tên Việt Nam là Được và Quý tình nguyện ở lại tham gia kháng chiến với ta giúp việc huấn luyện chuyên môn kỹ thuật. Nhiệm vụ của trường là đào tạo cán bộ tổ và tiểu đội trưởng, đồng thời tham gia đánh địch nếu địch tiến công ta từ hướng Đường số 71 vào.


Trong thời gian này, quận chủ trương gấp rút huấn luyện quân sự cho các lực lượng. Trừ các bộ phận canh gác chốt chặn phía trên, đại bộ phận lực lượng vũ trang đều được tổ chức huấn luyện, học kỹ, chiến thuật, sử dụng các loại trang bị, vũ khí hiện có. Một bộ phận tập luyện ngay tại thao trường nơi đóng quân; bộ phận lớn hằng ngày tập trung huấn luyện tại Trường huấn luyện của quận. Tuy điều kiện ăn ở còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, song các lực lượng của ta không ngại gian khổ, ngày đêm hăng say luyện tập mong một ngày đánh tan quân xâm lược, trờ lại Thủ đô yêu dấu.


Mặc dù trọng tâm nhiệm vụ là xây dựng, huấn luyện và củng cố đơn vị, song ngay trong quá trình đó, du kích tập trung quận V cũng bố trí một bộ phận đột nhập vào nội thành Hà Nội đánh địch. Ban ngày học tập, huấn luyện, chiều tối cán bộ, chiến sĩ ta chia nhỏ lực lượng vượt phòng tuyến địch tập kích vào các vị trí của địch ở Quang Bằng, Định Công, Kim Lũ, sân bay Bạch Mai, Ngã Tư Sở...


Nội dung tuyên truyền là các tin tức kháng chiến, đường lối, chủ trương của Đảng, Chính phủ, thủ đoạn, âm mưu của địch. Bộ phận in báo Thép của Liên khu III - Đống Đa, sau khi di chuyển từ Mỗ về Cự Đà, trước khi chuyển nhập về Báo Thủ đô của Khu XI cũng kịp in xong cuốn Du kích Nga, Người chính trị viên quân đội do đồng chí Hồ Trúc sưu tầm, biên soạn được cung cấp và sử dụng làm tài liệu huấn luyện chính.


Việc chỉnh đốn đội ngũ, sắp xếp lại lực lượng cũng như tăng cường huấn luyện, chú trọng công tác chính trị tư tưởng, công tác vận động quần chúng tuy mới là bước đầu, nhưng có ý nghĩa lớn đối với quận V, là bước trưởng thành quan trọng của các lực lượng quận V Đống Đa trên con đường kháng chiến. Đội ngũ cán bộ của Quận ủy và các ngành quân sự, công an, các đoàn thể của quận V được tăng cường, chặt chẽ hơn về tổ chức, tự giác hơn về kỷ luật, có kỹ thuật tác chiến và sử dụng các vũ khí, khí tài hiện có; quan hệ giữa lực lượng kháng chiến quận V với nhân dân địa phương và đồng bào tản cư ngày càng thắt chặt vì sự nghiệp chung là kháng chiến thắng lợi. Những kết quả đó là điều kiện hết sức quan trọng để quận V - Đống Đa vượt qua được những khó khăn, thử thách to lớn trong những ngày tạm rút khỏi thành phố. Đó cũng là những nhân tố bảo đảm cho quân dân Đống Đa cùng với nhân dân Thanh Oai đánh thắng các cuộc phản kích của địch trong thời gian này.


Ngày 2 tháng 3 năm 1947, thực dân Pháp cho quân đánh ra theo Đường số 6 chiếm đóng thị xã Hà Đông. Từ thị xã Hà Đông, chúng thiết lập vành đai bảo vệ, uy hiếp trực tiếp vùng Cự Đà, Khúc Thủy phía Nam thị xã, nơi các cơ quan và lực lượng quận V đang đóng quân. Để bảo toàn cơ sở, các cơ quan, đơn vị của quận được lệnh lùi về Bối Khê, Bồ Nâu, Úc Lý. Nhân dân Hà Nội đang tản cư ở ven thị xã Hà Đông lại tản cư tiếp về Bối Khê, Đại Địch.


Ở vùng đứng chân của quận V - Đống Đa trên đất Thanh Oai, trong tháng 3 năm 1947, các đơn vị vũ trang của quận phối hợp với dân quân, du kích địa phương và bộ đội chủ lực đánh chặn quân địch, bảo vệ căn cứ. Nhiều trận đánh diễn ra ở Nhân Hòa, Cự Đà, Đa Sĩ và trên Đường số 70 trong suốt ngày 2 tháng 3 năm 1947. Địch phải quay về đồn trú ở Thanh Liệt và Đường số 70, không gây được thương vong đáng kể cho ta. Ngay trong đêm đó, trung đội của đồng chí Vũ Văn Sự (thuộc Đại đội 2) tập kích địch trên Đường số 70 diệt một số tên, phá hủy một xe bọc thép. Cụm quân địch ở Thanh Liệt cũng bị ta tập kích.


Nhân lúc địch rải quân chốt chặn nhiều nơi, một bộ phận lực lượng của quận V đánh quấy rối nhiều vị trí địch ở Hà Nội như Ngã Tư Sở, sân bay Bạch Mai, Nhà dầu Shell và các điểm đóng quân khác của chúng ở thị xã Hà Đông, ở Ba La, dọc Đường số 22 Hà Đông - Vân Đình, tiêu diệt một số tên. Riêng trận đánh vào Nhà dầu Shell, ta đốt cháy hàng nghìn lít xăng dầu của địch, có chỗ bốn ngày sau chúng mới dập tắt được.

 99 
 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2026, 08:55:47 pm 
Tác giả vnmilitaryhistory - Bài mới nhất gửi bởi vnmilitaryhistory
3. Phát triển và đẩy mạnh chiến tranh du kích trên địa bàn quận Đống Đa (1947- 1950)

Để mở rộng phạm vi chiếm đóng và tiêu diệt, đẩy lùi lực lượng ta, quân Pháp tập trung lực lượng đánh mạnh ra ngoại thành Hà Nội nhất là về phía Tây Nam, theo trục Đường số 1 và Đường số 6.

Nhằm ngăn chặn bước tiến của quân thù, tạo thêm thời gian cho việc củng cố hậu phương, Thành ủy và Khu ủy XI chỉ đạo các lực lượng tự vệ Liên khu III - Đống Đa và các khu vực ven nội thành tiếp tục chiến đấu kìm giữ chân địch. Ở Liên khu III - Đống Đa, các đại đội tự vệ của Ga Hàng Cỏ, tự vệ Khu phố Văn Miếu, Khâm Thiên, tự vệ Khu Đống Đa bố trí bám đánh địch trên đường Ô Chợ Dừa - Ngã Tư Sở, chặn đánh địch ở Mọc Quan Nhân, Cự Lộc, Chính Kinh, Kim Lũ. Ở phía Tây Bắc, tự vệ ta cũng chặn đánh địch ở dọc sông Nhuệ. Ở phía Nam, ta đánh địch trên Đường số 1 từ Giáp Bát xuống Văn Điển, quân ta ra sức chiến đấu, song do tương quan lực lượng quá chênh lệch, bất lợi cho ta nên vẫn không cản được giặc, phải rút lui dần ra ngoại thành, sang đất Hà Đông, Sơn Tây.


Do vị trí chiến lược quan trọng của Hà Nội, thực dân Pháp quyết tâm xây dựng Hà Nội thành một căn cứ quân sự mạnh, trung tâm đầu não xâm lược ở chiến trường Bắc Bộ, chiến trường được chúng coi là cái "nút" quyết định số phận của cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương. Đồng thời, Hà Nội cũng trở thành thủ phủ của "Liên bang Đông Dương", trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của chế độ thực dân mà Pháp dựng lại bằng sức mạnh quân sự trong vùng chiếm đóng. Trên địa bàn Đống Đa, chúng ra sức củng cố, tăng cường lực lượng tại các đồn bốt, trấn giữ các cửa ngõ ra ngoại ô như Vọng, Ngã Tư Sở, Mọc, Cầu Giấy...


Từ cuối tháng 2 năm 1947, với tinh thần "Tản cư là kháng chiến", "Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ", không chỉ có nhân dân trong các đường phố khu vực nội thành mà cả nhân dân các làng ven nội thành, nhất là những nơi gần Đường số 6, sân bay Bạch Mai, Ngã Tư Sở, nơi địch chiếm đóng, đều tản cư ra các vùng ngoại thành, bất hợp tác với giặc. Lúc này, cư dân trong thành phố còn lại rất ít, các hoạt động kinh doanh, sản xuất bị ngưng trệ, phố xá đổ nát ngổn ngang, đầy bóng dáng quân xâm lược hung hãn đeo trang bị vũ khí quanh người. Các làng xóm ven nội cũng tiêu điều vắng lặng, ruộng vườn, nhà cửa bị cướp phá tan hoang.


Sau các trận đánh chặn, cầm chân bước. tiến của quân Pháp, các lực lượng Liên khu III - Đống Đa được lệnh rút khỏi địa bàn nhằm bảo toàn lực lượng để kháng chiến lâu dài. Song vì hoàn cảnh khẩn trương, do địch đánh mạnh vào khu vực Đống Đa, nơi có Đường số 6 nối Hà Nội với Hà Đông, có sân bay Bạch Mai là những chỗ địch rắp tâm chiếm giữ bằng mọi giá, và một phần cũng do ta chưa dự liệu được đầy đủ mọi tình huống cho việc rút lui, nên khi ra khỏi thành phố, lực lượng bị phân tán ra nhiều nơi. Khu vực các cơ quan, đơn vị của Liên khu III - Đống Đa đến tản cư là các huyện Thanh Trì, Thanh Oai, Hoài Đức, Đan Phượng (thuộc Hà Đông). Đây là bốn huyện có nguồn lực khá dồi dào, lại sát với ngoại thành Hà Nội nên trở thành hậu phương hết sức thuận lợi cho Mặt trận Hà Nội trước mắt cũng như lâu dài.


Nhằm khắc phục tình trạng phân tán và để thực hiện cuộc kháng chiến trường kỳ, tháng 3 năm 1947, theo chủ trương của Khu ủy và Ủy ban kháng chiến Khu XI, các cơ quan, đơn vị của Liên khu III - Đống Đa được lệnh quy tụ về tập kết ở Thanh Oai, lấy vùng Cự Đà - Khúc Thủy làm trung tâm. Cũng thời gian này, năm khu ngoại thành Hà Nội được tổ chức lại cho phù hợp với tình hình mới. Khu Lãng Bạc và Đại La sáp nhập thành quận IV, khu Mê Linh và Đề Thám sáp nhập thành quận VI. Khi tập kết về Thanh Oai, các lực lượng Liên khu III - Đống Đa được sáp nhập lại, đổi thành quận V của Hà Nội.


Địa bàn hoạt động của quận V là một khu vực rộng lớn, có vị trí chiến lược quan trọng của mặt trận phía Tây và Tây Nam Hà Nội. Phía Nam Hà Nội, bắt đầu từ Ngã Tư Vọng, dọc theo đường quốc lộ 1 đến Văn Điển, ven sông Nhuệ qua Đa Sĩ, Mậu Lương, Hống về Rùa rồi qua Trừ, Chẩy, Từ Châu; phía Tây Nam Hà Nội, từ Hà Đông xuống Ba La, Thạch Bích, dọc theo bờ sông Đáy đến Chuông, Miêng, ngã tư Vác, vòng sang Đồng Quan, Tía.


Ở vùng ngoại thành bị quân Pháp tạm chiếm, quận IX hoạt động trong phạm vi từ Ngã Tư Vọng vòng sang Ngã Tư Sở theo đường Láng qua Cầu Giấy, xuống Dịch Vọng, Mễ Trì đến phía Bắc Đường số 70.

Trong các phố nội thành Hà Nội, do hoàn cảnh đặc biệt nên hoạt động của các lực lượng quận V đan xen với các quận IV và quận VI nên lúc này không xác định ranh giới cụ thể.

Theo chủ trương chung của Thành ủy và Ủy ban kháng chiến thành phố (Khu XI), nhiệm vụ chủ yếu của quận V lúc này là nhanh chóng tập hợp, chấn chỉnh đội ngũ, kiện toàn các cơ quan Đảng, chính quyền, các đoàn thể và xây dựng phát triển lực lượng trên đất Thanh Oai. Đồng thời vừa sẵn sàng chiến đấu bảo vệ địa bàn đứng chân, vừa tích cực hoạt động quấy rối, tiêu hao sinh lực địch ở các vùng tạm bị chiếm, nắm tình hình nhân dân, tình hình địch để từng bước gây dựng lại cơ sở kháng chiến trong lòng Hà Nội.


Với tinh thần khẩn trương, chỉ trong một thời gian ngắn, các cơ quan dân, chính, đảng của quận V được thành lập và củng cố. Lúc này, đồng chí Minh Quang được Khu ủy phân công làm Bí thư Quận ủy thay đồng chí Đỗ Trình đi nhận công tác khác. Sau một thời gian ngắn, đồng chí Minh Quang được điều lên công tác ở Khu XI, đồng chí Nguyễn Kỷ được phân công làm Bí thư Quận ủy. Quận Ủy viên là các đồng chí Hồ Trúc, Hà Đăng Ấn, Lê Quân... Ủy ban kháng chiến quận do đồng chí Hà Đăng Ấn làm Chủ tịch. Đảng đoàn của Mặt trận Liên Việt do đồng chí Ước làm Chủ nhiệm. Phụ nữ quận do đồng chí Nguyễn Kim Phượng (Vân) làm Bí thư. Bên cạnh đó, quận còn thành lập các bộ phận chuyên trách về từng mặt công tác như: Ban Quân báo do đồng chí Lê Trần Lợi (Sáng) phụ trách, Ban Tiếp tế do đồng chí Ước phụ trách, Ban Tuyên truyền xung phong do đồng chí Nguyễn Ngọc Cảnh phụ trách, Ban Ca kịch do đồng chí Nguyễn Kim Quế phụ trách. Đội Úy lạo thương binh có các đồng chí Thái Tiên, Hồng Ngọc tham gia.


Đây là đợt chấn chỉnh tổ chức, sắp xếp lực lượng có ý nghĩa then chốt, đặt cơ sở cho guồng máy kháng chiến quận V hoạt động phù hợp với yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới, tiếp nối bước đi thắng lợi của Liên khu III - Đống Đa trong những ngày đầu oanh liệt bước vào cuộc kháng chiến. Quá trình sắp xếp, chấn chỉnh đó diễn ra nhanh gọn, để lại những kỷ niệm tốt đẹp trong ký ức mọi người. Đặc biệt là sự lưu luyến chia tay nhau khi đi nhận nhiệm vụ mới.


Trong đợt chấn chỉnh này, nhiều cán bộ, chiến sĩ được bổ sung vào Vệ quốc đoàn, một số đồng chí sang quân báo... Đồng thời, quận cũng tiếp nhận lực lượng mới cấp trên cử về, trong đó có đồng chí Lê Thanh (Quận đội trưởng), đồng chí Lê Tuấn (Quận trưởng Công an). Nhiều thanh thiếu niên tình nguyện đi theo kháng chiến như Phạm Vũ Kiếm, Đoàn Đình Hải, Diệu Tân, em Toán; nhiều chị em phụ nữ do hoàn cảnh trước Cách mạng Tháng Tám, vốn là những "con sen", "cô đầu" từng hăng hái, dũng cảm tham gia chiến đấu trong những ngày khởi chiến ở nội thành, nay cũng thoát ly khỏi thành phố gia nhập hàng ngũ kháng chiến trong sự đón nhận trìu mến, tin tưởng của mọi người.

 100 
 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2026, 08:48:14 pm 
Tác giả vnmilitaryhistory - Bài mới nhất gửi bởi vnmilitaryhistory
Đầu tháng 1 năm 1947, trụ sở Khu ủy, Ủy ban kháng chiến Liên khu và sở chỉ huy Tiểu đoàn 523 chuyển về khu nhà của Hoàng Trọng Phu ở ấp Thái Hà. Các trạm cứu thương, tiếp tế, tổ tuyên truyền cũng đóng quanh khu vực đó. Ban Chỉ huy khu Thăng Long chuyển về đóng ở Giảng Võ. Bộ phận Nhà in báo Thép chuyển từ làng Cót về Tây Mỗ... Việc chuyển trụ sở và vị trí đóng quân của một số lực lượng là căn cứ vào tình hình cụ thể của cuộc chiến đấu lúc bấy giờ, đồng thời cũng đón trước khả năng địch đánh rộng ra vòng cung Bạch Mai - Ngã Tư Sở - Cầu Giấy. Lực lượng tự vệ Khâm Thiên, Thổ Quan rút về đóng rải rác ở đình làng Khương Trung, Khương Hạ, Thượng Đình và khu vực Ngã Tư Sở để tiếp tục chặn địch đánh nống ra ngoại thành.


Để tăng cường sức mạnh cho Liên khu III và tạo một địa bàn thích hợp trong trường hợp địch liều mạng mở rộng phạm vi chiếm đóng, đầu tháng 1 năm 1947, Ủy ban kháng chiến Hà Nội quyết định sáp nhập Liên khu III với Khu Đống Đa ngoại thành thành Liên khu III - Đống Đa. Đồng chí Đỗ Trình tiếp tục làm Bí thư Liên khu ủy và Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Liên khu. Địa bàn mới, lực lượng mới là cơ sở tăng cường khả năng chiến đấu, quấy rối tập kích địch của lực lượng vũ trang. Các tổ tuyên truyền, địch vận tuy phải hoạt động trên một địa bàn rộng hơn, khó khăn hơn, song anh em đoàn kết, gắn bó, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, tất cả vì mục tiêu đánh Pháp, bảo vệ Thủ đô. Để tăng cường sức mạnh chiến đấu, vấn đề đặt ra là phải tiếp tục bổ sung lực lượng và vũ khí, nhất là quân chủ lực, lập những đội tự vệ chiến đấu độc lập, đồng thời thống nhất chỉ đạo, phối hợp tác chiến giữa các lực lượng vũ trang trên địa bàn. Vì vậy, từ giữa tháng 2 đến tháng 3 năm 1947, toàn bộ Tiểu đoàn 56 đóng ở Hà Đông (do đồng chí Anh Đệ làm Tiểu đoàn trưởng) được điều lên thay thế Tiểu đoàn 523 của đồng chí An Giao rút về phía sau củng cố lực lượng.


Ngày 13 tháng 1 năm 1947, tại Ô Chợ Dừa, đồng chí Hoàng Minh Giám - Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, đồng chí Nguyễn Văn Trân - Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Khu XI, đại diện chính quyền ta gặp đại diện quân Pháp với sự có mặt của lãnh sự quán Mỹ, Anh, Trung Hoa dân quốc. Hai bên thỏa thuận ngừng bắn vào ngày 15 tháng 1 năm 1947 để nhân dân và ngoại kiều tản cư ra ngoài.


Với thái độ ngoan cố, mong muốn sớm làm chủ nội thành bằng cách đánh mạnh ra ngoại thành, ngay trong ngày 15 tháng 1, lợi dụng lúc ta ngừng bắn, thực dân Pháp huy động một lực lượng lớn, gồm hơn 1.000 bộ binh, 150 xe cơ giới và xe tăng, tiếp tục mở những trận tiến công mới trên đường vành đai Vĩnh Tuy, ngã tư Trung Hiền, Ngã Tư Vọng, Bạch Mai, Ngã Tư Sở, Cầu Giấy. Sau nhiều giờ chiến đấu quyết liệt, trước sự hung hãn của bộ binh và hỏa lực địch, quân ta ở các chốt điểm trên rút lui để bảo toàn lực lượng. Thực dân Pháp làm chủ tuyến đường vòng cung bao quanh thành phố. Cùng ngày, chúng đánh Nhà thương Vọng (nay là Bệnh viện Bạch Mai), Nhà Vô tuyến điện và các trận chiến đấu ở đây cùng sân bay Bạch Mai diễn ra quyết liệt, ta tiêu diệt gần 200 tên địch, phá hủy 5 xe cơ giới và rút khỏi vòng vây của địch.


Ngày 15 tháng 1 năm 1947, địch từ Kim Liên tiến đánh Nhà thương Vọng. Lực lượng ta trong Nhà thương lúc này có Đại đội 68 thuộc Tiểu đoàn 64 cùng 3 trung đội tự vệ và khoảng 100 cứu thương, cấp dưỡng dồn từ các nơi về, tổng cộng khoảng 500 người. Khi phát hiện địch từ Kim Liên đánh vào, ta triển khai lực lượng phòng ngự. Ba trung đội tự vệ bố trí ở bãi trống phía Bắc Nhà thương, Đại đội 68 triển khai đội hình bên trong gồm: 1 trung đội bố trí dọc theo tường rào phía Bắc, 1 trung đội ở phía Đông, 1 khẩu đội đại liên bố trí ở chòi cao phía cổng chính, 1 khẩu đại liên bố trí ở sát bờ tường bên đường quốc lộ số 1.


Lúc 5 giờ sáng 15 tháng I năm 1947, quân Pháp dùng máy bay, pháo 75mm, cối 81 mm bắn phá dữ dội vào Nhà thương. Sau đợt bán phá, địch cho 8 xe tăng, thiết giáp, cùng 10 xe vận tài chở khoàng 300 lính Âu - Phi tiến đến. Khi cách 300m chúng triển khai lực lượng rồi dồn hàng trăm dân thường lên phía trước để đỡ đạn cho chúng.


Bộ đội và tự vệ của ta trong bệnh viện dùng súng trường bắn chỉ thiên và dùng loa kêu gọi bà con chạy tản ra xung quanh. Địch dùng súng máy bắn vào dân rồi mở cuộc tiến công. Quân ta chờ địch đến gần, bất ngờ dùng đại liên bố trí trên chòi cao phía cổng bệnh viện bắn vào đội hình địch, diệt hàng chục tên, số sống sót phải tháo chạy. Sau 6 lần liên tục tiến công không thành, địch tiếp tục dùng pháo binh và máy bay bắn phá ác liệt.


Đến 11 giờ, một cách quân địch gồm 500 tên có 8 xe tăng đi cùng sau khi đánh chiếm Vĩnh Tuy và ngã tư Trung Hòa, theo đường Đại La đánh vào Nhà thương Vọng. Khi xe tăng địch húc đổ tường đột phá vào hướng Đông Nam, tổ bom ba càng của ta lao ra phá hỏng 1 xe tăng địch. Quân địch tiếp tục xông lên. Quân ta kiên cường chiến đấu, trụ bám trong từng căn nhà để ngăn chặn địch. Đến 18 giờ, các lực lượng của ta rút về hướng Khương Thượng, sân bay Bạch Mai. Trong trận này ta diệt khoảng 200 tên địch. Phía ta có 50 bộ đội và tự vệ anh dũng hy sinh.


Đêm 15 tháng 1 năm 1947, Bộ Chỉ huy mặt trận điều các tiểu đoàn 13, 16 và 212 bất ngờ tiếp cận tập kích và quấy rối các vị trí địch ở Khâm Thiên, Ô Chợ Dừa, Ga Hàng Cỏ... gây cho chúng nhiều tổn thất. Công tác địch vận của ta phối hợp chặt chẽ, kịp thời với việc tập kích tiêu hao sinh lực địch, khiến chúng mệt mỏi, hoang mang.


Dịp Tết Đinh Hợi, mặc dù trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, quân dân Liên khu III - Đống Đa vẫn tổ chức đón tết cổ truyền với đầy đủ hoa, bánh chưng, chè lam, rượu, thịt. Có gia đình ở Ngã Tư Sở ủng hộ cả tạ gạo và 1 con lợn làm sẵn cho chiến sĩ ăn tết. Đội kịch Thăng Long dàn dựng vở "Tiễn chồng đi trận" do đồng chí Giao sáng tác, tổ chức biểu diễn phục vụ bà con và các đơn vị đang chiến đấu trên địa bàn, góp phần quan trọng tiếp thêm sức mạnh và cổ vũ tinh thần chiến đấu, phục vụ chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân.


Nhìn chung, từ khi quân Pháp mở chiến dịch đánh ra cửa ô, quân dân Liên khu III - Đống Đa chiến đấu hết sức mưu trí, dũng cảm, ngoan cường. Trong cuộc chiến đấu không ngang sức, các đơn vị chiến đấu của ta được nhân dân ủng hộ, che chở, chặn địch từng bước, quyết bám trụ từng ngôi nhà, góc phố. Chính vì vậy, tuy địch chiếm được đường vành đai thành phố, trong đó có các điểm chốt giữ của Liên khu III - Đống Đa, nhưng ta cũng loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 650 tên, phá hủy nhiều xe thiết giáp, xe cơ giới, thu hồi nhiều súng đạn của địch. Đặc biệt, lực lượng của ta ở vòng ngoài vẫn được bảo toàn. Ngay cả pháo đài Láng, một vị trí chiến đấu liên tục kể từ đêm 19 tháng 12 năm 1946, thường xuyên bị địch bắn phá, tuy đạn hết, lương cạn, nhưng vẫn kiên cường bám trụ và chiến đấu. Đến ngày 11 tháng 1 năm 1947, bộ đội pháo đài Láng mới được lệnh rút lui về phía sau, mang theo khẩu pháo có 1 bánh xe mới được tăng cường.


Đêm 17 tháng 2 năm 1947, một đêm mưa phùn gió rét, khắp các cửa ô, nông thôn ngoại thành rền vang tiếng súng. Các lực lượng Liên khu III - Đống Đa mở các mũi tiến công nghi binh, quấy rối, thu hút lực lượng địch ở khu vực Láng, Cầu Giấy tạo điều kiện cho Trung đoàn Thủ đô rút ra khỏi địa bàn Liên khu I. Sau đó, từ đêm 18 đến rạng sáng 19 tháng 2 năm 1947, với sự giúp đỡ của nhân dân, du kích Tứ Tổng (nay là phường Tứ Liên, quận Tây Hồ), Tàm Xá, Xuân Canh, Trung đoàn vượt qua sông Hồng an toàn. Cuộc rút quân thần kỳ của quân dân Liên khu I thắng lợi vẻ vang trong sự yểm trợ, phối hợp tác chiến phân tán, thu hút lực lượng địch của quân dân Liên khu III - Đống Đa và Liên khu II.


Kể từ 20 giờ 3 phút ngày 19 tháng 12 năm 1946, Pháo đài Láng nổ phát súng đầu tiên mở đầu Toàn quốc kháng chiến đến ngày 19 tháng 2 năm 1947, với tinh thần "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh", quân dân Liên khu III - Đống Đa luôn sát cánh với Liên khu II và các quận ngoại thành, phối hợp chặt chẽ với Liên khu I, làm tròn nhiệm vụ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng và Khu ủy XI giao cho, góp phần phát huy sức mạnh tổng hợp của quân dân Thủ đô, kiên cường đánh địch, kìm chân địch trong 60 ngày đêm; góp phần quan trọng bảo đảm cho cả nước chuyển vào kháng chiến lâu dài; làm thất bại âm mưu hòng nhanh chóng tiêu diệt lực lượng ta và các cơ quan Trung ương ở Hà Nội, khiến cho địch bị tổn thất đáng kể về người và trang bị, vũ khí.


Qua chiến đấu ác liệt dài ngày, quân và dân Liên khu III - Đống Đa được thử thách, ngày càng vững vàng, sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu mới với khí thế mới. Tổ chức lực lượng vũ trang phát triển mạnh, đảng viên, cán bộ, đoàn viên các đoàn thể cứu quốc đều được rèn luyện, sẵn sàng đảm nhiệm những công việc nặng nề hơn.

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM