PHẦN KẾT
“SÔNG CÓ KHÚC”
Như lời của W.E.B. Du Bois, “Người nô lệ được tự do, đứng dưới ánh nắng mặt trời trong giây lát, rồi lại ẩn vào bóng tối của nô lệ”. Cuộc phản cách mạng của những người “cứu rỗi” cho thấy mục tiêu biến đổi chương trình tái thiết và hậu quả của sự thất bại. Thật ra mà nói thời kỳ giải phóng nô lệ và đảng Cộng hòa cai trị cũng có những thành tựu. Nhưng rồi làn sóng đổi thay nổi lên để rồi lắng xuống, để lại một cảnh quan khác trước. Sự bình đẳng về chính trị và dân sự chỉ là tạm bợ, còn lại cơ cấu gia đình người da đen tự chủ và cả hệ thống định chế tôn giáo và xã hội vẫn tồn tại khi thời kỳ tái thiết kết thúc. Hạt giống gieo mầm cho sự tiến bộ về giáo dục cũng chẳng hoàn toàn mất đi.
Nếu từ sau cuộc nội chiến người da đen thất bại trong việc giành độc lập kinh tế thì tái thiết đã ngăn chặn được những biện pháp áp chế mạnh hơn thời miền Nam dưới sự kiểm soát của phe “cứu chuộc”. Hệ thống lao động hậu tái thiết không thể hiện lao động theo nhóm và cũng không tước được quyền lao động hoặc cố định lực lượng lao động da đen, hoặc bắt ép tập việc như người da trắng phương Nam từng mong muốn vào những năm 1865 và 1866. Không giống như ở Nam Phi của thế kỷ 20, ở đây người da đen không bị từ chối quyền công dân, không bị đẩy vào các trại lao động và cũng không bị cấm đoán đi lại trong nước. Không có tái thiết, ta khó hình dung được khung pháp lý bị vi phạm sau năm 1877, dẫn tới sự can thiệp của chính phủ Liên bang vào nội bộ miền Nam.
Thất bại của chương trình tái thiết là hiện thực. Đối với quốc gia, thất bại này là một thảm họa ảnh hưởng tới phát triển. Cho tới thế kỷ XX, miền Nam là vùng cai trị bởi một đảng duy nhất gồm những phần tử phản động quen dùng bạo lực để đàn áp những người khác chính kiến.
Nhiều người da đen đấu tranh cho tái thiết sống sót qua thời kỳ “các bang tự trị” nhờ sự bảo trợ của chính phủ liên bang. P.B.S. Pinchback (nguyên phó thống đốc bang Louisiana) và Blanche Bruce (nguyên ủy viên giáo dục bang Mississippi) về Washington làm ăn. Những lãnh tụ da đen khác thì từ bỏ chính trị, lo việc tôn giáo hoặc đi dạy học. Robert Fitzgerald tiếp tục nghề dạy dọc ở Nam Carolina cho đến khi chết năm 1919. Có người kém may mắn hơn, như trường hợp Alonzo Ransier, một thời là dân biểu Quốc hội và phó thống đốc bang Nam Carolina sau này phải làm bảo vệ ở Cục Hải quan Charleston và quét đường; ông chết trong cảnh nghèo khó.
Ít có lời diễn tả nào mãnh liệt bằng những lời trên đây về hình ảnh cuộc tái thiết. Francis Simkins, một sử gia sinh ra ở Nam Carolina, viết: “Nỗi kinh hoàng do tái thiết gây ra như làm tê liệt đầu óc người da trắng phương Nam khiến họ chống đối không khoan nhượng bất kể sự thay đổi xã hội nào hoặc những ý tưởng cản trở sự nắm quyền của đảng Dân chủ, loại bỏ phân biệt chủng tộc và trao quyền bầu cử cho người da đen. Nó biện minh cho sự lãnh đạm của người phương Bắc đối với các Tu chính án 14 và 15”.
Hai mươi năm trôi đi khi thế hệ mới những người da đen thách thức lần cuối hệ thống phân biệt chủng tộc ở miền Nam mới. Lúc này, thế hệ của thời tái thiết đã qua đi, và ngay cả những cộng đồng người da đen cũng ít ai còn nhớ lại thời kỳ đen tối này. Chỉ còn lại các định chế đặt ra và được củng cố sau nội chiến - gia đình, trường học, nhà thờ - làm cơ sở cho bộ luật dân quyền mới.
Năm 1893 khi miền Nam còn chìm ngập trong sự bất công, Mục sư Peter Randolp, một nô lệ cũ, đã viết: “Con sông có khúc quanh của nó, và đường dài đi mãi cũng sẽ hết”. Gần một thế kỷ đã qua đi trước khi đất nước một lần nữa tìm cách giải quyết những khúc mắc của việc giải phóng nô lệ và công cuộc tái thiết. Đó là những việc chưa làm.
Hết!