Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 05:24:41 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)  (Đọc 31391 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #100 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2024, 10:04:34 pm »


*

*       *

Từ cuối tháng 2 năm 1954 trở đi, ta hoạt động mạnh ở Hạ Lào, đông-bắc Cam-pu-chia, bắc Tây Nguyên, đồng bằng Bắc Bộ và Điện Biên Phủ, càng làm cho địch lúng túng. Na-va vội rút ở Bình — Trị — Thiên ba tiểu đoàn ứng chiến, ba tiểu đoàn địa phương, 800 nghĩa dũng đoàn và nhân viên ngụy quyền vào nam Trung Bộ để chuẩn bị mở cuộc hành quân Át-lăng và tăng viện cho Hạ Lào. Lực lượng địch ở Bình — Trị — Thiên còn 18 tiểu đoàn chiếm đóng và bốn tiểu đoàn cơ động ứng chiến. Chúng bố trí quân chiếm đóng ở Quảng Bình bốn tiểu đoàn, Quảng Trị năm tiểu đoàn, Thừa Thiên chín tiểu đoàn.

Lực lượng tuy có giảm, nhưng địch vẫn tiếp tục càn quét để đối phó với hoạt động của ta và tăng cường bắt lính, giữ thế bình định và chiếm đóng, song mức độ thấp hơn.

Sau thời gian hoạt động phối hợp với chiến dịch Trung Lào, bộ đội địa phương và dân quân du kích Bình — Trị — Thiên trưởng thành thêm một bước, trình độ kỹ thuật, chiến thuật tiến bộ hơn, vận dụng các hình thức tác chiến ngày càng phong phú và có hiệu quả. Với tinh thần «Tất cả cho tiền tuyến», Thanh — Nghệ — Tĩnh đã vận chuyển 30 tấn lựu đạn, mìn, bộc phá tiếp viện cho Bình — Trị — Thiên, làm tăng thêm sức chiến đấu cho lực lượng vũ trang ở tiền tuyến tiêu diệt địch. Do đó, từ cuối tháng 2 năm 1954, khi trung đoàn 18 sang đánh địch ở Trung Lào mà lực lượng vũ trang Bình — Trị — Thiên vẫn đảm nhiệm được chiến trường, hoạt động tác chiến vẫn tiến bộ và có hiệu quả tốt.

Ngày 22 tháng 2 năm 1954, địch cho năm tiểu đoàn càn quét đồng bằng hai huyện Triệu — Hải (Quảng Trị). Bộ đội địa phương và dân quân du kích lập tức chặn đánh quyết liệt, làm cho chúng bị thiệt hại nặng, phải rút chạy. Ta loại khỏi vòng chiến đấu 150 tên, thu nhiều vũ khí, giải thoát cho 50 cán bộ và 200 thanh niên bị địch bắt.

Tại Quảng Bình, lực lượng vũ trang địa phương chống càn thắng lợi ở Hoàn Phúc (ngày 9 tháng 3) và ở Thế Lộc, Nguyệt Áng, Võ Xá (ngày 11 tháng 3).

Chiến thắng liên tiếp của quân và dân Bình — Trị — Thiên cùng với chiến thắng ở các chiến trường phối hợp khác tạo điều kiện thuận lợi cho ta chuẩn bị tiến công địch ở Điện Biên Phủ.

Ngày 13 Tháng 3 năm 1954, quân ta bắt đầu nổ súng tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Ngày 15 tháng 3, Bộ tư lệnh Liên khu 4 chỉ thị cho Bình — Trị — Thiên tích cực phối hợp với chiến dịch Điện Biên Phủ, đánh mạnh trên đường giao thông, tích cực chống càn quét, chống bắt lính.

Quân và dân Bình — Trị — Thiên lúc này càng tích cực đẩy mạnh chiến tranh du kích liên tiếp tiêu hao sinh lực và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch1. Các hình thức tập kích phục kích có bước chuyển biến mới, tập kích kết hợp nhân mối đều hơn. Ở Thừa Thiên xuất hiện chiến thuật tập kích «sờ»2 của đặc công, thu kết quả, tiêu diệt sáu vị trí và 12 lô cốt địch.

Cuối tháng 3 dầu tháng 4, hưởng úng «Tuần lễ đánh mạnh», phối hợp đợt hai của chiến dịch Điện Biên Phủ, bộ đội địa phương các tỉnh Quảng Bình, Thừa Thiên liên tiếp tập kích các vị trí An Xá, Võ Xá, An Hòa (30-3), Kim Long (31-3), biến hậu phương của địch thành tiền phương của ta. Đặc biệt là trận Võ Xá (Quảng Bình) tiêu diệt hai trung đội địch; trận An Hòa (Thừa Thiên) tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn bộ tiểu đoàn 610 quân ngụy, diệt 200 tên, làm chấn động dư luận ở Huế.

Hòa nhịp với hoạt động quân sự trên chiến trường, các hoạt động phục vụ tiền tuyến và đấu tranh với địch của nhân dân cũng phát triển ngày càng cao. Mặc dù khó khăn gian khổ, mất mùa đói kém, lại bị địch o ép, bóc lột tàn khốc, nhưng nhân dân vẫn đoàn kết, khắc phục mọi khó khăn, hăng hái tham gia kháng chiến. Hàng chục vạn dân công đêm đêm cùng với du kích phá hoại hàng ngàn mét đường, ngăn bước tiến quân giặc. Nhân dân khắp nơi đoàn kết giúp đỡ nhau tăng gia sản xuất, tiết kiệm, nên đã vượt qua được nạn đói do lũ lụt tháng 10 năm 1953 gây ra. Trong vụ Đông — Xuân 1953 — 1954, tỉnh Quảng Trị đã gieo trồng được 23.000 mẫu lúa, 9.596 mẫu ngô, khoai, sắn, đã thu hoạch được: 2.393 tấn lúa, trên 3.000 tấn màu.

Vụ chiêm năm 1954, tỉnh Quảng Bình đã tạm cấp 3.500 mẫu ruộng đất của Pháp và Việt gian, 1.000 mẫu vắng chủ cho nông dân cày cấy. Cũng trong vụ chiêm xuân này, nông dân tỉnh Quảng Bình đấu tranh với địa chủ đòi giảm tô, giảm tức, thu lại được 380 tấn lúa, 4.120 thùng khoai, sắn, 2.014.850 đồng tiền ngân hàng. Đến vụ chiêm năm 1954, ở Bình — Trị — Thiên đã có đủ lúa giống để sản xuất, có thóc ăn để đánh giặc.

Trong vùng địch tạm chiếm, nhân dân đấu tranh chống bắt lính, chống dồn làng tập trung dân, thu được nhiều thắng lợi. Ngày 23 tháng 12 năm 1953, nhân dân xã Thế Lộc (Quảng Điền) đấu tranh đòi địch thả những người bị chúng bắt đi lính, buộc địch thả 713 người trong số 819 người bị chúng bắt. Trong tháng 12 năm 1953, nhân dân huyện Vĩnh Linh đấu tranh buộc địch thả 458 trong số 599 người bị chúng bắt đi lính.

Đội trinh sát công an Vĩnh Linh phối hợp với du kích diệt 13 tên tề điệp gian ác ở các xã.

Nét nổi bật của phong trào đấu tranh chính trị là công tác ngụy vận, lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia. Ở thành phố Huế, ta phát ba vạn tờ truyền đơn, viết 4.000 khẩu hiệu, thành lập được 80 tổ gọi loa tuyên truyền, gửi 616 thư tay cho sĩ quan và binh lính ngụy, kêu gọi họ trở về với kháng chiến. Trong tháng 1 năm 1954 đã có 421 gia đình ở Huế gọi được chồng con bỏ hàng ngũ địch về với gia đình.

Ngày 15 tháng 2 năm 1954, 150 binh lính đồn Đại Lộc (Phú Lộc) làm binh biến diệt đồn, mang 180 súng về với kháng chiến.

Chỉ tính từ tháng 10 năm 1953 đến tháng 2 năm 1954, ở Bình — Trị —Thiên đã có 1.509 người bỏ hàng ngũ địch về với nhân dân (có 23 sĩ quan); 25 binh sĩ ngụy phản chiến, sáu vụ binh lính ngụy làm nội ứng cho du kích diệt dồn, 21 vụ lính ngụy tự nổi dậy diệt đồn, 11 vụ binh biến có lãnh đạo chỉ huy, các vụ binh biến đều thành công, mang về cho du kích 300 khẩu súng, 18 gánh đạn.
_______________________________________________
1. Đến tháng 3 năm 1954, Bình — Trị — Thiên đánh nhào 16 đoàn tàu, 100 toa, phá hỏng trên 50 xe ô tô của địch.
2. «Tập kích sờ» tức là sờ tận giường ngủ của địch để tiêu diệt (chiến thuật mới của bộ đội đặc công lúc đó).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #101 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2024, 10:05:29 pm »


Đầu tháng 4 năm 1954, khi đợt hai của chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu và ở đồng bằng Bắc Bộ, lực lượng vũ trang ba thứ quân liên tiếp thu thắng lợi, thì ở chiến trường Bình — Trị — Thiên địch cũng bị thiệt hại nặng làm cho chúng càng lúng túng, bị động, mâu thuẫn giữa phân tán và tập trung diễn ra gay gắt. Một mặt địch phải tập trung lực lượng đối phó với quân và dân Bình — Trị — Thiên trên mặt trận giao thông; mặt khác, chúng phải rải quân để giữ thế chiếm đóng bình định chiến trường này và rút lực lượng đi bổ sung cho các chiến trường khác.

Đề giải quyết khó khăn lúng túng về quân số, địch lại phải rút sáu tiểu đoàn (cả quân ứng chiến và chiếm đóng) ở Bình - Trị - Thiên tiếp viện cho chiến trường khác. Đồng thời chúng tích cực bắt lính xây dựng thêm hai tiểu đoàn quân ngụy và ba đại đội pháo, điều một tiểu đoàn Ta-bo đến Bình - Trị - Thiên. Do đó, trên chiến trường Bình - Trị - Thiên, địch vẫn giữ được lực lượng 20 tiểu đoàn để giữ thế bình định đồng bằng và đối phó với ta trên mặt trận giao thông, phá cơ sở, cướp phá mùa và giành lại các vị trí đã mất.

Liên khu ủy họp với các tỉnh ủy Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên bàn kế hoạch phá âm mưu địch và phối hợp đợt hai chiến dịch Điện Biên Phủ, tích cực củng cố và phát triển cơ sở, khôi phục căn cứ ở bốn huyện Phong Điền, Quảng Điền (Thừa Thiên), Triệu Phong, Hải Lăng (Quảng Trị), mở rộng khu du kích, tiến tới thu hẹp vùng địch tạm chiếm.

Đầu tháng 4, đại đội 9 bộ đội đặc công Liên khu vào tác chiến ở Quảng Bình. Với chiến thuật «đánh điểm nhỏ» và phương châm «đánh chắc thắng», bộ đội đặc công đã liên tiếp diệt bốn lô cốt và một vị trí địch. Thắng lợi này đã xây dựng được truyền thống đánh thắng ngay trận đầu của bộ đội đặc công Liên khu, góp phần đẩy mạnh đà tác chiến của bộ đội và du kích, giữ vững và phát triển hình thức tập kích ở Bình — Trị — Thiên.

Bằng chiến thuật tập kích, bộ đội Quảng Bình đã tiêu diệt nhiều đồn quan trọng của địch, như Bình Phúc, Mỹ Phước (6-4), rồi đến An Lạc, Thạch Xá Thượng, mở rộng khu du kích nam Quảng Bình.

Bộ đội Quảng Trị bí mật luồn sâu vào các tuyến chiếm đóng của địch, liên tiếp tập kích tiêu diệt bảy vị trí và một số lô cốt, bức địch rút khỏi vị trí Kim Giao (16-4), mở rộng được khu căn cứ ở Triệu Phong và Hải Lăng.

Ngày 28 tháng 4, bộ đội Thừa Thiên mưu trí, dũng cảm liên tiếp mở các trận tập kích sâu vào lòng địch, đánh vào một loạt vị trí, lô cốt dọc tuyến sông Bồ từ Ưu Điềm đến Văn Trình thuộc hệ thống chiếm đóng của địch ở ba xã Quảng Ninh, Quảng Hòa, Quảng Đại (huyện Quảng Điền) thu thắng lợi lớn. Chiến thẳng của ta trên tuyến sông Bồ, tạo điều kiện xây dựng và phát triển lực lượng du kích, khôi phục căn cứ kháng chiến ở Phong Điền và Quảng Điền.

Trên mặt trận giao thông, lực lượng vũ trang ba thứ quân Bình — Trị — Thiên thường xuyên tổ chức phục kích đánh tàu xe trên đường xe lửa và đường số 1 từ đèo Hải Vân ra Quảng Trị, lật nhào ba đoàn tàu quân sự, tiêu diệt ba đại đội địch, 76 xe vận tải, phá 10 cầu, trong đó có cầu Đông Hà (Quảng Trị) và cầu Nước Ngọt (Thừa Thiên).

Cùng với bước tiến của bộ đội tập trung, dân quân du kích cũng tiến bộ vượt bậc, độc lập chống càn thu thắng lợi và phát triển các hình thức tác chiến tiêu diệt địch. Ngoài các cách đánh thông thường như địa lôi, bom, mìn, cạm bẫy, đã xuất hiện hình thức tập kích tiêu diệt lô cốt địch của du kích Hương Thủy, Hải Thái (Thừa Thiên), Vĩnh Hoàng (Quảng Trị). Du kích Nhã Phương (Quảng Bình); Diên Khánh (Quảng Trị) và Lương Mai (Thừa Thiên) liên tục bao vây vị trí, buộc địch phải rút bằng máy bay.

Cùng với hoạt động quân sự, công tác vận động chống bắt lính có bước phát triển mới. Không cuộc bắt lính nào của địch lại không vấp phải sức đấu tranh quyết liệt của nhân dân. Nhiều cuộc đấu tranh của nhân dân đã lôi kéo đông đảo gia đình ngụy binh tham gia, trong đó điển hình là cuộc đấu tranh chống địch bắt 80 thanh niên ở Vân Đô — Đông Hà (8-5), buộc địch phải thả hết. Nhân dân xã Tây Trạch (Bố Trạch) kiên trì và anh dũng đấu tranh, buộc địch phải thả 280 thanh niên bị chúng bắt.

Ngày 7 tháng 5 năm 1954, ta giành toàn thắng ở Điện Biên Phủ. Chiến thắng vĩ đại này đã làm cho hình thái chiến trường thay đổi hoàn toàn có lợi cho ta, đẩy địch vào thế bất lợi và đứng trước nguy cơ thất bại hoàn toàn. Sự biến đổi to lớn đó tác động sâu sắc đến hình thái chiến trường Bình — Trị — Thiên.

Trên chiến trường Bình — Trị — Thiên, so với trước Đông — Xuân, lúc này phong trào chiến tranh du kích đã phát triển mạnh, phối hợp chặt chẽ với chiến trường chính. Bộ đội địa phương và dân quân du kích tiêu diệt gần 10.000 tên địch, thu và phá hủy nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh, phá tan âm mưu của địch phong tỏa giao thông và bình định có trọng điểm bốn huyện Phong Điền, Quảng Điền, Triệu Phong, Hải Lăng, tinh thần binh lính địch sa sút, tư tưởng sợ ra trận, sợ chết lan tràn. Ta khôi phục và mở rộng được một số vùng du kích, phát triển được cơ sở, động viên được đông đảo nhân dân tham gia kháng chiến.

Về ta: Các tiểu đoàn địa phương tỉnh trưởng thành rõ rệt, đã cùng với bộ đội địa phương huyện và dân quân du kích bẻ gãy từng cánh quân càn quét của địch, tiêu diệt nhiều sinh lực địch trong công sự, đã tiêu diệt từ đại đội đến tiểu đoàn địch, bắt tù binh, thu vũ khí, giữ vững và mở rộng nhiều vùng du kích ở đồng bằng, đưa lực lượng áp sát thành phố, thị xã đánh địch, hỗ trợ đắc lực cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng nhân dân trong vùng địch tạm chiếm.

Thất bại nặng nề ở Điện Biên Phủ, chính phủ Pháp phải tiếp tục đưa quân bổ sung sang Việt Nam, bắt lính, xây dựng quân ngụy, tập trung quân cơ động, tranh thủ thêm viện trợ Mỹ để mong cứu vãn tình thế nguy ngập mới và tiếp tục kéo dài chiến tranh.

Đối với Bình — Trị — Thiên, chúng thực hiện ý đồ chiếm lại đường số 9, ngăn cản giao thông Bắc — Nam của ta, tích cực càn quét khốc liệt hơn, nhất là ở nam Quảng Trị và bắc Thừa Thiên, ra sức bắt lính xây dựng quân ngụy. Chúng liên tiếp đưa quân tinh nhuệ đến Bình — Trị — Thiên, đặc biệt là đến Đông Hà và Huế. Ngày 25 tháng 5, chúng đưa đến Bình — Trị — Thiên hai binh đoàn cơ động số 10 và số 21. Trong hai ngày 28 và 30 tháng 5, chúng lại đưa 400 xe, 2.000 lính Âu —Phi, hai đại đội cơ giới và 10 khẩu pháo 105 mi-li-mét từ Đà Nẵng ra Huế, sau đó phần lớn hành quân ra Đông Hà. Như vậy, lực lượng địch chuẩn bị cho càn quét lớn lên tới 17 tiểu đoàn cơ động.

Với lực lượng cơ động mạnh, địch liên tiếp mở những trận càn lớn nhằm bình định bốn huyện Phong — Quảng — Triệu — Hải, chiếm lại đường số 9 và biệt kích ra vùng tự do của ta ở Bình — Trị — Thiên. Nhưng tất cả các trận càn quét của chúng đều bị lực lượng vũ trang địa phương ba tỉnh phối hợp chặt chẽ trong thế trận chiến tranh nhân dân rộng lớn, kết hợp tác chiến với ngụy vận, liên tiếp chặn đánh, gây cho địch nhiều thiệt hại nặng nề.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #102 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2024, 10:07:52 pm »


Ngày 31 tháng 5 và ngày 6 tháng 6, địch tập trung lực lượng mở hai trận càn lớn vào ba huyện Cam Lộ, Gio Linh và Vĩnh Linh. Chúng bị bộ đội và du kích đánh trả quyết liệt, hơn 350 tên bị tiêu diệt, cuộc càn quét của địch thất bại.

Trong hai ngày 16 và 19 tháng 6, địch lại cho sáu tiểu đoàn và 200 xe cơ giới tiếp tục hành quân càn lớn vào hai huyện Triệu Phong và Hải Lăng. Chúng đã bị bộ đội địa phương và dân quân du kích chiến đấu kiên cường, kết hợp tác chiến với tuyên truyền địch vận, liên tiếp bẻ gẫy tất cả các đợt tiến công của địch, loại khỏi vòng chiến đấu trên 500 tên, buộc địch phải tháo chạy.

Ngày 9 tháng 7, du kích hai xã Phong Chương và Phong Dinh cũng bám đánh quyết liệt, bẻ gãy trận càn của ba tiểu đoàn địch, loại khỏi vòng chiến đấu gần 100 tên, buộc địch phải rút.

Thắng lợi liên tiếp trong tác chiến chống càn đã phá tan âm mưu của địch chiếm lại đường số 9 và bình định bốn huyện Phong — Quảng — Triệu — Hải. Chiến thắng đó đánh dấu bước trưởng thành vững chắc của lực lượng vũ trang Bình — Trị — Thiên, nhất là Quảng Trị và Thừa Thiên1.

Thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng về «Đẩy mạnh công tác vùng tạm chiếm» và «phát động phong trào đấu tranh chính trị rộng rãi» làm hậu thuẫn cho đấu tranh quân sự và ngoại giao, phong trào đấu tranh chính trị ở Bình — Trị — Thiên diễn ra sôi nổi trên cả ba vùng — vùng căn cứ du kích, vùng du kích và vùng tạm bị chiếm.

Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Thừa Thiên, phong trào đấu tranh chính trị diễn ra sôi nổi. Ngày 17 tháng 6, tại Huế diễn ra cuộc mít tinh của 4.000 người với khẩu hiệu «Hoan nghênh Hội nghị Giơ-ne-vơ giải quyết vấn đề hòa bình ở Đông Dương», lập kiến nghị tố cáo âm mưu tàn bạo của địch, đòi chính phủ Pháp phải thương lượng với Chính phủ Hồ Chí Minh. Cuộc mít tinh đã chuyển thành cuộc biểu tình tuần hành của trên 10.000 người tham gia kể cả một số cảnh sát và lính Âu —Phi. Địch đưa lực lượng đến nhưng không dám đàn áp.

Thắng lợi của cuộc biểu tình ở Huế mở ra cao trào đấu tranh chính trị rộng lớn ở Bình — Trị — Thiên. Khắp nơi nhân dân đứng lên đấu tranh đòi hòa bình, đòi chồng con, đòi trả lúa tập trung, vạch trần âm mưu kéo dài chiến tranh xâm lược của bọn hiếu chiến Pháp, Mỹ và tay sai.

Ngày 20 tháng 6 năm 1954, địch chủ trương dùng lực lượng giáo viên và học sinh trường Khải Định, kết hợp với nha giáo dục thành phố Huế làm nòng cốt để tổ chức cuộc biểu tình lớn ủng hộ Ngô Đình Diệm, một tên phản động đầu sỏ, một con bài mới của đế quốc Mỹ ở Việt Nam. Nhận rõ âm mưu của địch, Thành ủy Huế đã lãnh đạo giáo viên, học sinh trường Khải Định kiên quyết tẩy chay trò hề mới của địch. Cuộc biểu tình trở thành cuộc tuần hành «ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh», đòi chính phủ Pháp phải chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa hình ở Việt Nam.

Ngày 6 tháng 6, gần 1.000 nhân dân xã Phong Chương (Phong Điền) kéo lên huyện đường đòi quyền lợi về ruộng đất và giảm sưu thuế. Cuộc biểu tình chuyển sang đòi đình chiến và chấm dứt chiến tranh.

Thắng lợi về quân sự và đấu tranh chính trị của ta tác động sâu sắc đến tinh thần binh lính địch, gây thành phong trào đấu tranh rộng rãi trong sĩ quan, binh lính và nhân viên ngụy quyền, đòi trả lương, giải ngũ, bỏ súng về nhà hoặc làm binh biến, bắt liên lạc với ta. Ngày 9 tháng 7, 600 cảnh sát và an ninh biểu tình lên phủ thủ hiến đòi trả lương. Tiếp đến là một đại đội binh lính, sĩ quan địch ở Quán Hầu ra hàng lực lượng kháng chiến, cao hơn nữa là cả tiểu đoàn 27 ngụy đào ngũ. Hàng ngũ ngụy quân, ngụy quyền hoang mang sụp đổ, nhất là từ khi có lệnh ngừng bắn, mọi hoạt động của địch hầu như tê liệt.

Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, hòa bình được lập lại ở Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia. Ngày 27 tháng 7, Hội nghị Trung Giã bàn và kết thúc chiến tranh ở Đông Dương được khai mạc. Trên cơ sở các văn kiện hiệp nghị, ngày 1 tháng 8 năm 1954, ngừng bắn trên toàn cõi Đông Dương. Thắng lợi to lớn này là nguồn cổ vũ lớn lao đối với quân và dân ta, càng làm cho hàng ngũ địch hoang mang tan rã.

Tuy vậy, từ ngày 20 đến 31 tháng 7, trong lúc chưa thi hành lệnh ngừng bắn thì chiến sự vẫn tiếp diễn. Địch cố gắng càn ba trận nhỏ vào Bích La, Triệu Phong, Vĩnh Lộc mong giành thắng lợi để giữ vững tinh thần cho bọn ngụy quân, ngụy quyền. Nhưng cả ba trận càn này đều bị bộ đội và du kích ta chặn đánh, làm cho địch thiệt hại nặng, buộc phải rút lui.

Tiếp tục phát huy thắng lợi, ngày 27 tháng 7, tiểu đoàn 229 tỉnh Quảng Bình tập kích diệt gọn vị trí Thượng Phong, tiêu diệt một đại đội địch. Cùng thời gian này, bộ đội địa phương và du kích Quảng Trị, Thừa Thiên tiếp tục đánh đổ sáu đoàn tàu quân sự của địch.

Cuối tháng 7 năm 1954, cũng như trên các chiến trường cả nước, chiến tranh giải phóng ở Bình — Trị — Thiên đã kết thúc thắng lợi, quân địch buộc phải ngừng bắn vào ngày 1 tháng 8 năm 1954.

*

*        *

Trải qua tám tháng cuối cùng của cuộc kháng chiến, quân và dân Bình — Trị — Thiên đã dũng cảm vượt qua mọi gian khổ, khó khăn, liên tục chiến đấu kìm chân địch và đánh bại mọi cuộc hành quân càn quét, cướp phá của địch, loại khỏi vòng chiến đấu gần 10.000 tên, phá hủy 22 vị trí, hàng chục tháp canh, thu 1.566 súng các loại, đánh đổ 21 đoàn tàu, 83 xe quân sự, giải phóng một phần đất đai rộng lớn, phối hợp có hiệu quả với các chiến trường Trung—Hạ Lào, đồng bằng Bắc Bộ, Điện Biên Phủ và bắc Tây Nguyên, hoàn thành tốt nhiệm vụ của một chiến trường phối hợp.

Thắng lợi đó đánh dấu sự trưởng thành nhanh chóng của các lực lượng vũ trang và nhân dân ba tỉnh Bình - Trị - Thiên, đặc biệt là sự chỉ đạo chiến tranh và chỉ huy tác chiến của các cấp ủy Đảng và chỉ huy quân sự của các địa phương và đơn vị.

Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu với tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm cao đã khẩn trương chuẩn bị sớm cho bộ đội và cán bộ Bình — Trị — Thiên như quán triệt tình hình nhiệm vụ, bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật, nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh về chỉ huy tác chiến.

Các đơn vị được bổ sung quân số, trang bị và được huấn luyện cơ bản.

Các địa phương cũng chuẩn bị chu đáo, toàn diện, nhất là công tác vận động quần chúng nhân dân, kết hợp với lực lượng vũ trang đẩy mạnh hoạt động đấu tranh chính trị và binh vận.

Qua tám tháng chiến đấu liên tục trong hoàn cảnh về so sánh lực lượng chênh lệch (địch 5 ta 1), nhưng quân và dân Bình —Trị —Thiên đã chủ động phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng vũ trang ba thứ quân, giữa quân và dân, giữa đấu tranh chính trị, quân sự, kinh tế và địch vận trong một kế hoạch tác chiến chung, có trọng tâm, trọng điểm ở từng chiến trường và từng thời gian thích hợp.

Bước đầu vận dụng thành công kỹ thuật, chiến thuật đặc công, kết hợp nhân mối địch vận, kết hợp vũ khí công đồn, vận dụng linh hoạt các hình thức tác chiến du kích, đánh địch trên đường giao thông, trong căn cứ, tháp canh và đánh địch đi càn quét, cướp phá. Đánh thắng địch cả trên địa bàn rừng núi, trung du, đồng bằng, ven đô thị, trên bộ, trên sông, đánh thắng địch cả trong tác chiến, trong đấu tranh chính trị, kinh tế và binh địch vận, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn liên tục tiến công, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, phá sập lô cốt, tháp canh, đánh sập và đánh hư hỏng các phương tiện vận tải của địch, đánh bại các cuộc càn quét, giữ vững và mở rộng vùng giải phóng, phối hợp đắc lực với các hướng chiến dịch, góp phần cùng cả nước đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi cuối cùng.
_____________________________________________
1. Trong lúc cuộc đấu tranh giữa ta và địch đang diễn ra quyết liệt ở Bình—Trị—Thiên. Đại tướng Bộ trưởng Quốc phòng Võ Nguyên Giáp chỉ thị cho Tư lệnh Liên khu 4 dốc mọi lực lượng mở chiến dịch với nhiệm vụ trước mắt là tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng Quảng Bình, Vĩnh Linh. Nếu chiến dịch phát triển thuận lợi. Bộ sẽ tăng cường lực lượng giải phóng toàn bộ Bình — Trị — Thiên. Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu gấp rút tổ chức lực lượng, huy động lương thực, thực phẩm, nhân công ở Nghệ — Tĩnh để chuẩn bị đảm bảo cho chiến dịch. Khu sử dụng trung đoàn 270, trung đoàn 95 (điều từ Phủ Lý về), hai tiểu đoàn 195 (Nghệ An) và 392 (Hà Tĩnh) hành quân vào Quảng Bình để mở chiến dịch. Trong lúc lực lượng vũ trang Liên khu đang chuẩn bị cài thế đánh địch, trung đoàn 95 vừa đến bắc sông Gianh thì Hiệp nghị Giơ-ne- vơ được ký kết (20-7-1954). Chiến dịch giải phóng Quảng Bình, Vĩnh Linh chưa được thực hiện.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #103 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2024, 10:11:00 pm »


III. QUÂN VÀ DÂN TOÀN LIÊN KHU THỰC HIỆN NHIỆM VỤ MỚI

Thắng lợi to lớn của cuộc tiến công chiến lược Đông— Xuân 1953 — 1954 mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ ngày 20 tháng 7 năm 1954. Hòa bình được lập lại trên toàn cõi Đông Dương, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng. Vĩ tuyến 17 trở thành giới tuyến tạm thời ngăn cách hai miền đất nước.

Việc thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ làm cho tình hình Liên khu 4 có sự thay đổi lớn. Phía bắc Liên khu được hoàn toàn giải phóng, phía nam còn nằm trong vùng địch tạm đóng quân1. Quân Pháp phải rút khỏi Quảng Bình và huyện Vĩnh Linh (Quảng Trị). Lực lượng ta ở Quảng Trị, Thừa Thiên ra Bắc tập kết. Tình hình đó tác động mạnh mẽ sâu sắc đến mọi hoạt động của Liên khu.

Tuy nhiên, đối với Liên khu 4, thực dân Pháp và can thiệp Mỹ ráo riết thực hiện âm mưu biến vùng tạm đóng quân Quảng Trị, Thừa Thiên (và cả miền Nam) thành căn cứ quân sự. Chúng ráo riết cưỡng bức đồng bào theo đạo Thiên chúa từ Bắc di cư vào Nam, kết hợp tung gián điệp ra vùng tự do, xây dựng cơ sở, nhằm thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta.

Thực dân Pháp chuyển lính Âu — Phi ra Trị — Thiên, đóng dọc giới tuyến và các cứ điểm quan trọng như Huế, sân bay Phú Bài, Quảng Trị, Đông Hà, Dốc Miếu2. Đồng thời chúng đưa quân ngụy vào các tỉnh phía nam chỉ để lại 12 tiểu đoàn chiếm đóng các vị trí dọc bờ biển, chủ yếu là nam Thừa Thiên.

Cùng với hoạt động chuyển quân, địch ráo riết bắt thanh niên để lập Bảo chính quân, là lực lượng trợ lực cho cơ quan ngụy quyền3.

Song song với hoạt động quân sự, địch tăng cường hoạt động chính trị, ráo riết thực hiện âm mưu cưỡng ép đồng bào theo đạo Thiên chúa di cư vào Nam, chuẩn bị cơ sở chính trị cho Ngô Đình Diệm — trực tiếp là Ngô Đình Cẩn lập ngụy quyền tay sai, xúc tiến khủng bố phong trào đấu tranh của quần chúng để nhanh chóng ổn định tình hình của chúng ở Trị — Thiên.

Tất cả hoạt động chính trị, quân sự của địch đều nhằm mục đích phá cơ sở chính trị của ta, phá Hiệp định Giơ-ne-vơ, tiến tới phá tổng tuyển cử tự do thống nhất nước nhà và thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta.

Để lãnh đạo quân và dân trong Liên khu chấp hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơ-ne-vơ, ngày 2 tháng 8 năm 1954, Liên khu ủy họp hội nghị mở rộng quyết định những vấn đề cấp bách trước mắt cho toàn Liên khu:

— Quy định phạm vi và kế hoạch tiếp thu vùng mới giải phóng Quảng Bình, Vĩnh Linh cho các đơn vị.

— Chuẩn bị kế hoạch tập kết cán bộ, bộ đội và một bộ phận nhân dân Trị — Thiên, bố trí cơ sở Đảng và chính quyền ở lại hoạt động để lãnh đạo nhân dân Trị Thiên đấu tranh lâu dài với địch.

— Chuẩn bị trao trả tù binh.

— Chống âm mưu địch cưỡng ép đồng bào theo đạo Thiên chúa di cư vào Nam.

— Xây dựng lực lượng vũ trang trong tình hình mới.

Liên khu ủy đã điều chỉnh bố trí cán bộ, tổ chức cơ quan và bộ đội, đồng thời tổ chức học tập chính sách của Đảng đối với vùng mới giải phóng để chuẩn bị vào tiếp quản Quảng Bình và Vĩnh Linh.

Do sự chuẩn bị chu đáo nên từ ngày 1 tháng 8 năm 1954 trở đi khi địch lần lượt rút khỏi Bố Trạch, Quảng Ninh, Lệ Thủy, Vĩnh Linh và trưa ngày 18 tháng 8, đơn vị cuối cùng của quân Pháp rút khỏi thị xã Đồng Hới, lập tức bộ đội và cán bộ ta lần lượt vào tiếp quản nhanh gọn, an toàn. Quảng Bình, Vĩnh Linh được hoàn toàn giải phóng. Ta đã nhanh chóng thành lập chính quyền cách mạng và ổn định mọi sinh hoạt bình thường cho nhân dân. Quê hương được giải phóng, nhân dân vui mừng phấn khởi, hăng hái tham gia mọi hoạt động xã hội, tích cực chuẩn bị đón tiếp cán bộ, bộ đội và một bộ phận nhân dân Trị — Thiên ruột thịt ra tập kết.

Ở Trị — Thiên mặc dù thời gian chuẩn bị đi tập kết quá ngắn, nhưng cán bộ, bộ đội vẫn tranh thủ làm tròn trách nhiệm của chính quyền cách mạng đối với nhân dân. Một mặt tuyên truyền rộng rãi chủ trương chính sách của Đảng và thắg lợi của Hiệp định Giơ-ne-vơ, đồng thời vận động nhân dân giúp đỡ nhau nhanh chóng khôi phục lại sinh hoạt bình thường, bảo đảm đời sống và sản xuất. Mặt khác, để duy trì lãnh đạo, tổ chức quần chúng đấu tranh lâu dài với địch, các tỉnh ủy Quảng Trị — Thừa Thiên đã sắp xếp tổ chức Đảng, chính quyền và bố trí cán bộ, đảng viên ở lại hoạt động, gây cơ sở lâu dài để lãnh đạo nhân dân đấu tranh buộc địch thi hành đúng hiệp định. Do đó, sau khi cán bộ, bộ đội đi tập kết, phong trào đấu tranh ở Trị — Thiên vẫn được duy trì và phát triển.

Ngày 23 tháng 8 năm 1954, sau khi hoàn thành mọi việc chuẩn bị, hơn 5.000 cán bộ, bộ đội và nhân dân Trị — Thiên đã rời nam vĩ tuyến 17 và ngày 15 tháng 9 đã ra tập kết tại Nghi Xuân (Hà Tĩnh). Được đón tiếp ân cần, chăm sóc chu đáo trong tình thương yêu ruột thịt của nhân dân bắc Liên khu, cán bộ, bộ đội và nhân dân Trị — Thiên tập kết đã nhanh chóng ổn định đời sống.
______________________________________________
1. Bắc Liên khu gồm các tỉnh Thanh Hóa. Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và huyện Vĩnh Linh. Nam Liên khu còn hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên.
2. Đến tháng 11 năm 1954, lính Âu—Phi ở QuảngTrị có binh đoàn cơ động số 18 và tiểu đoàn 5 trung đoàn Bắc Phi (5/RTM). Thừa Thiên cũng có nhiều đơn vị lính Âu — Phi.
3. Đến tháng 11 năm 1954, Bảo chính quân ở Quảng Trị có 10 đại đội, mỗi đại đội 100 tên. Ở Huế có một tiểu đoàn dù ba đại đội, các nơi khác địch đang tích cực tổ chức.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #104 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2024, 10:14:01 pm »


Ngày 28 lháng 7 năm 1954, thực hiện mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh, Liên khu tích cực chuẩn bị trao trả tù binh giữa địch và ta, huy động cán bộ, bộ đội và cơ quan ở Thanh Hóa, Nghệ An chuẩn bị trao trả tù binh. Đồng thời đấu tranh buộc địch phải trả hết sổ người của ta bị địch bắt từ trước tới nay. Nhờ sự chuẩn bị chu đáo và đấu tranh kiên quyết, nên tại Sầm Sơn và Cửa Hội địch đã phải trả cho ta 27.790 anh em do trước đây địch bắt. Đồng thời ta cũng trả cho địch 3.084 tù binh và ân xá 790 tù chính trị.

Việc trao trả tù binh giữa ta và địch diễn ra nhanh gọn, thể hiện lòng nhân đạo và thiện chí của ta. Nhưng địch lợi dụng việc trao trả tù binh trà trộn một số gián điệp vào phá hoại ta lâu đài.

Liên khu còn tập trung chỉ đạo, tổ chức đón tiếp bộ đội giải phóng Lào, quân tình nguyện Việt Nam ở Lào và Cam-pu-chia về tập kết và đón đồng bào miền Nam (các tỉnh phía nam) ra tập kết. Các địa phương bố trí đầy đủ các trạm đón tiếp, huy động nhân dân Thanh — Nghệ — Tĩnh cung cấp lương thực, thực phẩm và chuẩn bị nhà cửa chu đáo. Do đó, công việc đón tiếp các đoàn về tập kết đã hoàn thành tốt đẹp.

Tính đến tháng 11 năm 1954, Liên khu đã đón hơn 3.000 bộ đội giải phóng Lào, gần 4.000 quân tình nguyện Việt Nam ở Cam-pu-chia về tập kết, đồng thời đón 24 chuyến tàu chở 26.432 cán bộ, bộ đội và nhân dân miền Nam ra tập kết. Tất cả các đoàn đều được Liên khu đón tiếp ân cần, bố trí nơi ăn ở, sắp xếp công việc chu đáo, nên đời sống nhanh chóng được ổn định.

Cùng thời gian này, các địa phương trong liên khu ra sức phục hồi sản xuất, ổn định đời sống sau chiến tranh và tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ phát động quần chúng giảm tô, giảm tức cho các xã còn lại, đồng thời tiến hành thí điểm cải cách ruộng đất ở sáu xã của huyện Nông Cống (Thanh Hóa)1, đánh đổ hoàn toàn giai cấp địa chủ, đem lại quyền làm chủ thực sự cho nông dân.

Tháng 10 năm 1954, Hội nghị Liên khu ủy họp phân tích tình hình mọi mặt và chỉ rõ đặc điểm lớn nhất của Liên khu: Do giới tuyến phi quân sự ngăn cách lực lượng vũ trang ta và đối phương chạy ngang giữa liên khu (Trị — Thiên trở thành vùng tạm đóng quân của đối phương). Khu 4 là nơi duy nhất của miền Bắc Việt Nam tiếp giáp với địch, cho nên bảo vệ miền Bắc là nhiệm vụ nặng nề của Liên khu 4.

Liên khu ủy đề ra nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang toàn liên khu: Phải xây dựng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích lớn mạnh không ngừng, đủ sức làm chỗ dựa cho nhân dân Thanh - Nghệ - Tĩnh hoàn thành cải cách ruộng đất và cho Trị — Thiên đấu tranh hoàn thành thống nhất nước nhà, đồng thời đủ sức trấn áp bọn phản cách mạng, giữ vững và bảo vệ biên phòng, bờ biển và tham gia mọi công tác khác.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Liên khu ủy, Bộ tư lệnh Liên khu trực tiếp chỉ đạo chấn chỉnh, xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, làm cơ sở xây dựng quân đội nhân dân  tiến lên chính quy hiện đại.

Sau khi hoàn thành tập kết chuyển quân, các đơn vị trong toàn Liên khu lần lượt học «Tình hình nhiệm vụ mới» và tài liệu quân đội nhân dân. Qua học tập, cán bộ, chiến sĩ nhận rõ trách nhiệm nặng nề của lực lượng vũ trang trong tình hình mới, yên tâm phấn khởi bước vào xây dựng, tổ chức, huấn luyện và công tác. Liên khu nhanh chóng ổn định tổ chức từ cơ quan đến các đơn vị, cả bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, bổ sung đủ quân số, trang bị, đủ khả năng công tác và sẵn sàng chiến đấu. Ngày 19 tháng 10 năm 1954, Bộ tư lệnh Liên khu quyết định chuyển bộ đội tập kết Trị — Thiên thành hai trung đoàn 269 và 271. Giải thể trung đoàn 161, lấy quân sổ bổ sung cho hai trung đoàn trên. Thành lập bốn tiểu đoàn biên phòng 923, 925, 927 và 929 để làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới phía tây Thanh — Nghệ — Tĩnh. Củng cố trung đoàn 280 và chuyển trung đoàn 44 huấn luyện sang làm nhiệm vụ khác. Kiện toàn trung đoàn 53 thứ hai (11-1954) đã đưa ra Bộ làm nhiệm vụ bảo vệ Hà Nội. Cơ quan liên khu và các tỉnh đội cũng được kiện toàn theo tổ chức biên chế mới.

Tháng 11 năm 1954, việc củng cố kiện toàn các cơ quan và đơn vị trong toàn Liên khu đã hoàn thành và bước vào huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật, thực hiện thống nhất trang bị cho từng đơn vị để nâng cao sức mạnh chiến đấu2.

Cùng với xây dựng bộ đội, dân quân du kích cũng được chấn chỉnh đúng mức về tổ chức chỉ huy, xây dựng lực lượng dân quân du kích trong sạch, vững mạnh làm nòng cốt trong công tác bảo vệ an ninh địa phương.

Ngay từ khi ngừng bắn, Bộ tư lệnh Liên khu đã điều trung đoàn 270 vào Vĩnh Linh, thành lập ở đây đại đội công an thứ nhất (8-1954) và đại đội công an thứ hai (11-1954) làm nhiệm vụ bảo vệ giới tuyến. Các đơn vị bộ đội, công an cùng với nhân dân và du kích Vĩnh Linh luôn đề cao cảnh giác, ngăn chặn kịp thời mọi âm mưu, hành động phá hoại của địch, bảo vệ an toàn khu phi quân sự.

Tháng 12 năm 1954, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyễn Giáp thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ vào thăm quân và dân Liên khu 4.

Đại tướng dành nhiều thời gian đến thăm cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 280 quân tình nguyện, trung đoàn 289, 291, bệnh viện K-43; các đơn vị bộ đội Khu 5, Nam Bộ, bộ đội giải phóng Lào, Cam-pu-chia tập kết trên địa bàn liên khu.

Đại tướng ân cần thăm hỏi bộ đội, thương binh, bệnh binh, biểu dương thành tích chiến đấu và công tác của các đơn vị và nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, ra sức xây dựng đơn vị vững mạnh, sẵn sàng chiến đấu tốt, kỷ luật nghiêm, hoàn thành mọi nhiệm vụ trong thời kỳ mới.

Về tình hình và nhiệm vụ mới của Liên khu, Đại tướng chỉ rõ:

Có hai khả năng: Một là ta đấu tranh kiên quyết, buộc địch phải thi hành Hiệp nghị Giơ-ne-vơ. Hai là Mỹ sẽ can thiệp sâu vào Đông Dương để phá hoại Hiệp nghị.

... «Trong Nghị quyết mới nhất về tình hình và nhiệm vụ mới, Bộ chính trị đã khẳng định: Đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của cách mạng Việt Nam. Cuộc đấu tranh để thống nhất đất nước là một cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, quyết liệt và cuối cùng sẽ giành được thắng lợi»3.

Chấp hành chỉ thị của Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp và trên tinh thần nghị quyết này, quân và dân Liên khu 4 đã khẩn trương ổn định tình hình mọi mặt, nhanh chóng bước vào thực hiện nhiệm vụ mới của thời kỳ mới: xây dựng miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, làm hậu thuẫn vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.


*

*       *

Thực hiện quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch, quân và dân cả nước đã giành thắng lợi quyết định trong Đông — Xuân 1953 — 1954, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Quân và dân Liên khu 4 dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo đúng đắn của Trung ương Đảng, Bộ Tổng tư lệnh và trực tiếp là Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu, đoàn kết một lòng vượt qua mọi gian nan, thử thách ác liệt, hy sinh, dũng cảm chiến đấu, bền bỉ đấu tranh phá tan âm mưu địch trên cả ba chiến trường phía nam, phía tây, phía bắc của Liên khu, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ, cùng với quân và dân cả nước giành thắng lợi oanh liệt.

Đông — Xuân 1953 — 1954, là một trong những thời kỳ thử thách lớn nhất, nỗ lực cao nhất của quân và dân Liên khu 4 trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Chỉ trong khoảng trên dưới 300 ngày, cán bộ, chiến sĩ, nhân dân trên cả ba chiến trường (ở ba hướng nam, bắc và tây) của Liên khu đều hoạt động tích cực, có hiệu quả cao mà chưa một thời kỳ nào đạt tới trong suốt 3.000 ngày kháng chiến.

Ở hướng tây, quân và dân Liên khu 4 không tiếc sức người, sức của, cùng với quân và dân nước bạn mở cuộc tiến công lớn ở Trung Lào; ở hướng nam, chiến tranh du kích phát triển cao trên chiến trường phối hợp Bình — Trị — Thiên. Trên cả hai hướng này đã tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận lớn sinh lực địch và thu hút, giam chân một bộ phận quan trọng lực lượng cơ động chiến lược của chúng, góp phần tạo điều kiện cho chiến trường chính ở Điện Biên Phủ thắng lợi. Ở hướng bắc, đã dồn sức người, sức của cho kháng chiến, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của hậu phương đối với tiền tuyến, động viên và tổ chức một lực lượng lớn về bộ đội, dân công, một khối lượng lớn về lương thực, thục phẩm cho chiến trường trọng điểm của Liên khu là Trung Lào và đặc biệt cho chiến trường trọng điểm cả nước là Điện Biên Phủ với tinh thần, khí thế, số lượng và chất lượng phục vụ rất cao.

Thắng lợi chưa từng có của Liên khu 4 trong Đông — Xuân 1953 — 1954 không chỉ nói lên lòng yêu nước nồng nàn và khả năng to lớn của nhân dân các tỉnh bắc Trung Bộ, mà còn thể hiện sự tiến bộ, trưởng thành trong lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp trong Liên khu.

Trong giai đoạn cách mạng mới, phút huy truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết sắt son và những kinh nghiệm đấu tranh cách mạng kiên cường, sáng tạo trong cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp, quân và dân Liên khu 4 tiếp tục cùng cả nước tiến hành cuộc đấu tranh bền bỉ và anh dũng với kẻ thù mới lớn mạnh hơn, hung tàn và độc ác hơn — đó là đế quốc Mỹ, tiến lên giải phóng miền Nam mà trực tiếp là giải phóng Trị — Thiên, bảo vệ miền Bắc, trước hết là bảo vệ địa bàn Liên khu 4 hoàn thành thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
_____________________________________________
1. Sáu xã: Dân Lý, Dân Lực, Dân Sơn, Dân Quyền, Minh Châu, Minh Sơn.
2. Đến tháng 11 năm 1954, lực lượng vũ trang toàn liên khu có hơn 25.000, trong đó bộ đội chủ lực có hơn 8.000 gồm ba trung đoàn 269, 270, 271 và tiểu đoàn 541, bộ đội địa phương có hơn 6.500 gồm bốn tiểu đoàn tỉnh, 34 đại đội và năm trung đội huyện. Ngoài ra, còn hơn 10.000 quân thuộc các trung đoàn 280, Trung đoàn 44, Đoàn an dưỡng 33, 34, K-42, K-43 và công an vũ trang. Cũng đến tháng 11 năm 1954, Đảng bộ quân đội trong Liên khu có 260 chi bộ với 5.600 đảng viên.
3. Theo lời kể của Thiếu tướng Lê Nam Thắng và đã được Đại tướng thông qua tư liệu thành văn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #105 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2024, 10:16:23 pm »


KẾT LUẬN

Theo tiếng gọi cứu nước thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, dưới sự lãnh đạo tài tình và sáng suốt của Đảng, quân và dân Liên khu 4 cùng cả nước tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp cực kỳ gian khổ, hy sinh anh dũng và giành thắng lợi hết sức vẻ vang.

*

*       *

Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, các đảng bộ địa phương ở Liên khu 4 còn rất non trẻ, thực hiện chức năng lãnh đạo công cuộc xây dựng một chế độ mới trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nhưng tình hình trong nước và địa bàn liên khu lúc bấy giờ đặt ra cho đảng bộ cùng quân và dân Liên khu một tình thế hết sức hiểm nghèo như «ngàn cân treo sợi tóc”. Ngoài giặc đói, giặc dốt là những hậu quả tai hại của chế độ cũ để lại, bọn thực dân, đế quốc các loại và từ nhiều phía lăm le xâm lược nước ta. Âm mưu cơ bản của chúng là câu kết với các thế lực phản động trong nước nhằm lật đổ chính quyền cách mạng đang còn trong trứng nước, đặt lại ách đô hộ trên đầu nhân dân ta một lần nữa.

Trên địa bàn Liên khu 4, quân Nhật còn hơn một vạn tên bại trận, chờ ngày giải giáp; gần hai vạn quân Tưởng có bọn tay sai phản động bám gót kéo vào; gần 1.000 quân Pháp đóng ở Huế và Vinh, tàn quân Pháp ở Lào áp sát biên giới Lào —Việt. Các loại kẻ thù trên câu kết với nhau âm mưu trong đánh ra, ngoài đánh vào, hòng tiến công đánh chiếm các tỉnh Liên khu 4.

Đứng trước tình hình cực kỳ khó khăn, phức tạp ấy, Đảng và Chính phủ ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, đã lãnh đạo nhân dân ta vượt qua biết bao khó khăn hiểm nghèo, hy sinh, gian khổ, từng bước đưa cách mạng tiến lên.

Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, các đảng bộ địa phương Liên khu 4 nắm vững đường lối chủ trương sách lược của Đảng, vận dụng sách lược đấu tranh thích hợp, khôn khéo nhằm phân hóa kẻ thù, tạm thời «hòa để tiến” với thực dân Pháp, gạt nhanh quân Tưởng ra khỏi địa phương, loại trừ bớt một kẻ thù nguy hiểm để tập trung đối phó với kẻ thù chủ yếu là thực dân Pháp.

Với tinh thần rất kiên quyết về nguyên tắc và mềm dẻo về sách lược, với lòng yêu nước nồng nàn, tin tưởng vững chắc vào Đảng và Bác Hồ, với lập trường vững vàng và kiên định, với ý thức tổ chức kỷ luật cao và ý chí cách mạng triệt để, đảng bộ quyết tâm lãnh đạo quân và dân Liên khu 4 kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu khiêu khích của kẻ thù, cùng quân và dân cả nước duy trì khả năng hòa hoãn, tận dụng mọi thời cơ có lợi, biến thời gian thành lực lượng, chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến lâu dài của dân tộc.

Thực dân Pháp ngày càng lấn tới, thời gian hòa hoãn không còn nữa, chiến tranh bùng nổ. Hưởng ứng lời kêu gọi «Toàn quốc kháng chiến» của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng chỉ huy, đêm 19 tháng 12 năm 1946, quân và dân Liên khu 4 đã chủ động bao vây tiến công quyết liệt, giam chân quân Pháp tại Huế, bắt gọn quân Pháp tại Vinh, đánh bại các cuộc tiến công của quân Pháp ở biên giới Việt-Lào, giữ vững vùng tự do rộng lớn ở Thanh — Nghệ — Tĩnh, làm thất bại âm mưu “đánh nhanh, thắng nhanh» của thực dân Pháp ở Bình - Trị - Thiên.

Suốt chín năm kháng chiến trường kỳ, trong những hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, gian khổ của một chiến trường đã bị chia cắt, một chiến trường phối hợp mà bốn mặt đều có quân thù bao vây, quân và dân Liên khu 4 với tinh thần tự tin, quyết chiến, quyết thắng, tự lực, tự cường vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, vừa chiến đấu, vừa sản xuất, phát động chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện, lâu dài, từng bước đánh bại âm mưu «bình định» và thủ đoạn «lấy chiến tranh nuôi chiến tranh», «dùng người Việt đánh người Việt» của địch, xây dựng vùng tự do Thanh — Nghệ — Tĩnh thành một trong những hậu phương chiến lược của cuộc kháng chiến.

Giải đất hẹp Bình — Trị — Thiên sớm bị thực dân Pháp đánh chiếm ngay từ đầu cuộc chiến tranh, khi lực lượng ta còn non yếu về mọi mặt, đây cũng là nơi địch tập trung nhiều lực lượng, áp dụng nhiều thủ đoạn đánh phá, bình định rất thâm độc.

Quân dân ba tỉnh Bình — Trị — Thiên bền gan vững chí, kiên quyết khắc phục mọi khó khăn, ra sức khôi phục lại thế và lực, càng đánh càng mạnh, càng trưởng thành. Từ những đội du kích nhỏ bé trong Cách mạng tháng Tám đã tiến lên xây dựng được ba thứ quân, xây dựng được thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp cả rừng núi, đồng bằng và đô thị, đưa quy mô tác chiến từ những trận đánh du kích nhỏ lẻ tiến lên những trận đánh tập trung quy mô cấp tiểu đoàn, trung đoàn, kết hợp được tác chiến du kích với tác chiến tập trung với hiệu suất chiến đấu ngày càng cao, vừa chủ động đánh địch theo kế hoạch chiến trường, vừa phối hợp có hiệu quả trong kế hoạch tiến công chung của cả nước.

Quân và dân Thanh - Nghệ - Tĩnh phát huy vai trò chiến lược của nhân tố hậu phương, một hậu phương đảm nhiệm chi viện cho ba chiến trường, tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ “phản đế, phản phong», vừa kháng chiến, kiến quốc, vừa thắng giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, đánh bại mọi cuộc biệt kích, tập kích của địch, trừng trị đích đáng các loại phản động, bảo vệ vững chắc hậu phương, vừa tích cực tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, tiến hành giảm tô, cải cách ruộng đất, từng bước xây dựng hậu phương mạnh về chính trị, an ninh quốc phòng, kinh tế, làm cơ sở vững chắc nhất để quân và dân Thanh - Nghệ -Tĩnh dốc hết sức người sức của chi viện tiền tuyến. Hàng chục vạn thanh niên nhập ngũ, bổ sung xây dựng các đơn vị bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, cung cấp hàng ngàn cán bộ từ Liên khu ủy đến chi ủy viên và đảng viên cho quân đội, hàng triệu lượt người đi dân công, thanh niên xung phong, hàng chục vạn tấn lương thực, thực phẩm phục vụ tiền tuyến, trong đó có năm chiến dịch lớn: Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào, Trung Lào và Điện Biên Phủ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chi viện cho các chiến trường, đồng thời góp phần giữ vững hành lang chiến lược Liên khu 3, Liên khu 10, và căn cứ Việt Bắc.

Thấm nhuần tinh thần quốc tế vô sản cao cả, quân và dân Liên khu 4 đã giúp đỡ và phối hợp chặt chẽ với quân và dân Thượng Lào, Trung Lào tổ chức và xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, phát triển chiến tranh du kích trên cơ sở liên minh chiến đấu, liên hoàn thế trận, liên kết hậu phương, góp phần xây đắp lên tình đoàn kết gắn bó keo sơn giữa hai dân tộc Việt-Lào.

Được sự lãnh đạo sáng suốt của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, của Bác Hồ muôn vàn kính yêu, sự chỉ đạo kịp thời của Bộ Quốc phòng —Tổng tư lệnh, đảng bộ đã lãnh đạo quân và dân Liên khu 4 phát huy cao độ tinh thần quyết chiến, quyết thắng, ý thức tự lực, tự cường, vừa xây dựng, vừa chiến đấu, tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, gian khổ, đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, đánh bại mọi thủ đoạn chiến lược, chiến dịch của địch trên chiến trường, chống sự chia cắt chiến trường của địch và phối hợp có hiệu quả với các chiến trường chính, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ hậu phương, góp phần xứng đáng cùng quân và dân cả nước đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #106 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2024, 10:17:19 pm »


*

*        *

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mang ý nghĩa lịch sử chiến lược to lớn. Quân và dân Liên khu 4 đã đánh bại mọi thủ đoạn chiến tranh và phá sập âm mưu chia cắt chiến trường Việt Nam, chia cắt chiến trường Đông Dương của kẻ thù. Đặc biệt là hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của một trong những hậu phương chiến lược của cả nước, mở ra một tiền đề tất yếu, một bài học sâu sắc góp phần khẳng định có tính lịch sử trên địa bàn Liên khu 4 cả trong cuộc đấu tranh quyết liệt chống kẻ thù mới là đế quốc Mỹ.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã đưa đến sự biến đổi sâu sắc và toàn diện về chính trị và kinh tế, quốc phòng và an ninh trên địa bàn bốn tỉnh bắc Liên khu, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến lên xã hội chủ nghĩa, làm thay đổi bộ mặt và toàn bộ hoạt động của xã hội làm hậu thuẫn vững chắc cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, giải phóng Trị — Thiên — Huế trong giai đoạn mới của cách mạng.

Chặng đường chiến đấu gian khổ và thắng lợi vẻ vang của quân và dân Liên khu 4 trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt và tài tình của Đảng, của Bác Hồ, sự chỉ đạo, chỉ huy của Bộ Quốc phòng —Tổng tư lệnh, sự động viên cổ vũ và phối hợp với chiến thẳng trên các chiến trường, sự giúp đỡ của quân và dân Liên khu 3, Liên khu 5, là thắng lợi của tình đoàn kết chiến đấu với quân và dân Lào anh em chống kẻ thù chung của hai dân tộc.

Quán triệt đường lối kháng chiến của Đảng, vận dụng đúng đắn phương châm công tác trong từng giai đoạn, từng thời kỳ, trên từng địa phương, Liên khu ủy cùng các đảng bộ thuộc Liên khu 4 nắm vững quan điểm chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện của Đảng, không ngừng xây dựng, củng cố và mở rộng mặt trận đoàn kết thống nhất toàn dân, kiên trì giáo dục và tổ chức quần chúng lấy việc giác ngộ tập hợp quần chúng, xây dựng thực lực cách mạng làm trung tâm... trên cơ sở đó mà tổ chức xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, giữa hai nhiệm vụ «phản đế và phản phong kiến», giữa «kháng chiến và kiến quốc» bằng nhiều hình thức và quy mô thích hợp. Do đó, đã xây dựng được cơ sở vững chắc trong nông dân, công nhân, lao động thành thị trong vùng tạm bị chiếm cũng như trong vùng tự do, tập hợp rộng rãi mọi lực lượng yêu nước, tiến bộ trong thanh niên, phụ nữ, phụ lão, học sinh, trí thức tham gia kháng chiến, kiến quốc.

Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của đảng bộ, quân và dân Liên khu 4 với truyền thống yêu nước và cách mạng kiên cường, được rèn luyện, thử thách trong cao trào Xô-Viết— Nghệ-Tĩnh và Cách mạng tháng Tám, với ý thức giác ngộ sâu sắc của nhân dân trong chế độ mới, đã chấp nhận mọi gian khổ hy sinh, kiên quyết đứng lên kháng chiến. Nó khẳng định một chân lý «Không có sức mạnh tàn bạo nào có thể phá nổi», «Ý chí độc lập của một dân tộc kiên cường». Tin vào dân và dựa chắc vào sức mạnh của lòng dân, kiên trì xây dựng, bồi dưỡng và phát triển lực lượng quần chúng cách mạng, xây dựng khối đoàn kết toàn dân vững chắc trên cơ sở liên minh công-nông là một trong những nguồn gốc cơ bản của mọi chiến thắng, là động lực để thực hiện cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, tự lực cánh sinh, là nguyên nhân của mọi thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta trong suốt chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp.

Từ nhân dân mà ra, được nhân dân nuôi dưỡng, đùm bọc, che chở, lực lượng vũ trang nhân dân Liên khu 4 đã không ngừng được xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, xứng đáng là nòng cốt trong cuộc chiến tranh nhân dân địa phương.

Suốt chín năm kháng chiến phải trải qua nhiều gian lao, thử thách, có lúc rất gay go quyết liệt, song cán bộ, đảng viên, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang vẫn giữ vững bản lĩnh chính trị, bản lĩnh chiến đấu, gương mẫu chịu đựng mọi khó khăn, gian khổ, kiên trì bám đất, bám dân, ngày đêm lăn lộn để xây dựng và chiến đấu, củng cố cơ sở chính trị và lực lượng vũ trang, tổ chức chính quyền, quần chúng tiến hành chiến tranh du kích, giết giặc, phá tề, trừ gian, đánh phá âm mưu bình định của địch, bảo vệ nhân dân, bảo vệ sản xuất, tham gia xây dựng kinh tế, củng cố hậu phương, sẵn sàng đi chiến đấu trên các chiến trường.

Trong cuộc chiến đấu gian khổ đó, biết bao nhiêu cán bộ, đảng viên, chiến sĩ đã ngã xuống, biết bao nhiêu tấm gương chiến đấu ngoan cường, dũng cảm và anh dũng hy sinh. Gương hy sinh oanh liệt của các liệt sĩ, thương binh, tinh thần chiến đấu bền bỉ, ngoan cường của đảng viên, cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang là một yếu tố của thắng lợi trên chiến trường, đưa đến thắng lợi vẻ vang của sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng bộ cùng quân và dân Liên khu 4.

*

*       *

Suốt chín năm chiến đấu, máu của đồng chí, đồng bào đã thấm đượm mảnh đất quê hương, tô thắm thêm truyền thống vẻ vang và trang sử vàng chói lọi của tổ tiên ta. Cuộc chiến đấu của Đảng bộ, quân và dân Liên khu 4 cả ở tiền tuyến và hậu phương, cả nhiệm vụ quốc tế đã góp một phần xứng đáng cùng với toàn dân tộc để chiến thắng kẻ thù. Từ trong cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ đó, chúng ta đã làm phong phú thêm tính lý luận và thực tiễn góp phần làm sáng tỏ thêm những quy luật của cuộc chiến tranh cách mạng nói chung và chiến tranh nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng quang vinh và Bác Hồ vĩ đại. Từ thực tiễn về xây dựng và chiến đấu, đã nổi lên những vấn đề có tính quy luật và kinh nghiệm của cuộc kháng chiến trên địa bàn liên khu.

1. Nắm vững và vận dụng sáng tạo đường lối kháng chiến của Đảng, thấm nhuần tư tưởng «Nước lấy dân làm gốc» của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phát động chiến tranh toàn dân, toàn diện trên địa bàn liên khu, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn nhất để đánh tháng quân địch.

Do vị trí địa lý và đặc điểm địa hình, địa bàn Liên khu 4 có ý nghĩa chiến lược rất quan trọng, cho nên suốt thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Liên khu 4 luôn luôn là nơi diễn ra cuộc đụng độ gay gắt giữa các âm mưu thủ đoạn nham hiểm, tàn bạo của thực dân Pháp với ý chí quyết tâm kháng chiến sắt đá và nghệ thuật đánh giặc của đảng bộ và quân dân Liên khu 4. Đây không những là vùng đất hẹp, là chiến trường dễ chia cắt chiến lược, cắt đôi Việt Nam và Đông Dương, đây còn là vùng đất đã sản sinh ra những con người không dễ gì chịu khuất phục, chịu cúi đầu làm nô lệ, là nơi gây dựng và bùng nổ các cuộc đấu tranh, các cuộc khởi nghĩa chống xâm lược. Đánh chiếm và bình định được mảnh đất và con người Liên khu 4, sẽ là điều kiện cơ bản tạo thuận lợi cho thực dân, đế quốc nhanh chóng thôn tính nước ta, khuất phục nhân dân ta. Vì vậy, ngay từ đầu chiến tranh, thực dân Pháp đã dồn một lực lượng lớn và từ nhiều phía tiến công chớp nhoáng, đánh chiếm ngay hành lang chiến lược Đà Nẵng — Huế — Đông Hà — Xà-vẳn-nạ-khệt. Sau đó, chúng bố trí một hệ thống đồn bốt dày đặc để khủng bổ, tàn sát nhân dân, kết hợp thực hiện các thủ đoạn quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, hòng đè bẹp lực lượng kháng chiến, tiêu diệt ý chí chiến đấu của nhân dân ta, bình định cho được vùng chúng tạm thời kiểm soát. Biểu tượng của cuộc đụng đầu đó là «Bình — Trị — Thiên khói lửa».

Ở vùng tự do Thanh — Nghệ — Tĩnh, chúng không đánh chiếm được bằng lực lượng bộ binh thì chúng dùng máy bay, tàu chiến, tung gián điệp, biệt kích phá hoại, ném bom, bắn phá ác liệt, hòng đánh vào ý chí chiến đấu của nhân dân, phá nát hậu phương, ngăn chặn sự chi viện của hậu phương cho tiền tuyến.

Do những thủ đoạn tàn bạo và xảo quyệt của thực dân Pháp, phong trào kháng chiến có lúc, có nơi gặp những khó khăn vô cùng to lớn, những tổn thất nặng nề nhất là ở Bình — Trị — Thiên, nhưng cũng chính từ trong gian khổ, ác liệt đó, đảng bộ, nhân dân và các lực lượng vũ trang nhân dân Liên khu 4 đã thể hiện đầy đủ bản chất cách mạng kiên cường, trí tuệ và mưu lược dày dạn hơn. Đội ngũ cán bộ, đảng viên và các chiến sĩ trong các lực lượng vũ trang trưởng thành trong gian lao, thử thách đã nhanh chóng tiếp thu trung thành đường lối, các chủ trương và vận dụng sáng tạo mọi chính sách của Đảng vào thực tiễn liên khu, kiên định lập trường, vượt gian khổ, khắc phục khó khăn, luôn lạc quan tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Bác Hồ kính yêu, luôn giữ vững và nêu cao khí tiết của người cộng sản, phẩm chất của Anh bộ đội Cụ Hồ.

Ở Bình — Trị — Thiên trải qua những năm tháng bị địch tàn sát, hủy diệt, phong trào kháng chiến tạm thời bị tan vỡ, đại bộ phận cán bộ, đảng viên bị bật khỏi cơ sở, bộ đội bị đẩy lên rừng. Nhưng với quan điểm quần chúng đúng đắn của đảng bộ địa phương «mất đất chưa phải là mất nước, phải tranh thủ từng người, từng thôn, quyết không để mất dân, chết cũng không rời cơ sở». Tỉnh ủy Thừa Thiên do đồng chí Nguyễn Chí Thanh làm Bí thư đã có chủ trương kiên quyết kịp thời động viên và tổ chức cho cán bộ, đảng viên và lực lượng vũ trang quay về đồng bằng bám dân, bám đất, xây dựng cơ sở chính trị vũ trang, phát động chiến tranh du kích.

Trong cuộc chiến đấu vô cùng quyết liệt đó, nhiều đồng chí đã anh dũng hy sinh, tinh thần bất khuất của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ đã gây niềm tin tưởng cho nhân dân vào sự nghiệp lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ, tin tưởng mãnh liệt vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến. Nhân dân sẵn có truyền thống yêu nước và cách mạng, và khi truyền thống ấy được phát động, được Đảng chỉ lối, đưa đường, truyền thống càng tăng lên gấp bội, trở thành sức mạnh vô địch, bảo đảm cho cuộc kháng chiến đi tới thành công, phong trào kháng chiến nhanh chóng khôi phục và phát triển nhảy vọt.

Nhân dân vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh hướng về Đảng, về Bác Hồ kính yêu, với ý chí «tất cả cho tiền tuyến”, «tất cả để chiến thắng» bằng tấm lòng của mình, nhân dân tham gia nhiệt liệt «Tuần lễ Vàng», thực hiện triệt để lệnh tản cư, tiêu thổ kháng chiến, không hợp tác với địch... Hàng chục vạn thanh niên hăng hái đi bộ đội, đi dân công, thanh niên xung phong... hàng chục vạn già trẻ, gái trai vào dân quân, nhân dân dốc lòng, dốc sức chi viện cho tiền tuyến, và nếu cần «dốc bồ, thổ thúng» tất cả cho chiến sĩ ngoài mặt trận. Nhân dân còn hăng hái tăng gia sản xuất; phát triển kinh tế, hưởng ứng nhiệt liệt các phong trào «thi đua yêu nước, hậu phương thi đua với tiền phương». Với tính hơn hẳn của chế độ dân chủ nhân dân, nhân dân Thanh — Nghệ — Tĩnh đã có điều kiện dốc lòng, dốc sức «tất cả cho tiền tuyến chiến thắng». «Cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc», sức mạnh tổng hợp to lớn của «trận địa lòng dân» đã biến thành sức mạnh phi thường, biến đường lối kháng chiến của Đảng thành hiện thực, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành thắng lợi vẻ vang.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #107 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2024, 10:18:27 pm »


2. Nắm vững đường lối xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân của Đảng, ra sức xây dựng lực lượng vũ trang lớn mạnh, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, đáp ứng từng bước sự phát triển của cuộc kháng chiến.

Từ nhân dân mà ra, do nhân dân đùm bọc, nuôi dưỡng và làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, các lực lượng vũ trang nhân dân Liên khu 4 luôn luôn được xây dựng trên tất cả các mặt: chính trị, quân sự, biên chế, trang bị, cách đánh... Ngay từ những ngày đầu toàn quốc kháng chiến đã được tổ chức gồm hai thành phần cơ bản, kết hợp chặt chẽ với nhau bao gồm lực lượng vũ trang tập trung và lực lượng vũ trang quần chúng rộng rãi, nhưng chưa được củng cố, trang bị lại kém cỏi, trình độ chỉ huy tác chiến của cán bộ còn non yếu, lại phải đối phó với một đội quân nhà nghề đông quân, vũ khí hiện đại ... lực lượng vũ trang nhân dân ở ba tỉnh Bình — Trị — Thiên bị tổn thất và lâm vào tình thế khó khăn...

Trước tình hình đó, Liên khu ủy và các tỉnh ủy chủ trương đưa cán bộ, bộ đội trở về đồng bằng, bám dân, bám đất, tiến sâu vào lòng địch để xây dựng cơ sở chính trị vũ trang, phát động chiến tranh du kích... Các đơn vị chủ lực chuyển sang phương thức hoạt động «đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung» trực tiếp làm chỗ dựa cho phong trào chiến tranh du kích ở cơ sở, dìu dắt dân quân du kích lên bộ đội địa phương. Với phương châm «du kích chiến là chính» là phương thức tác chiến thích hợp với trình độ tác chiến của các lực lượng vũ trang trong giai đoạn 1948 — 1950, tiến lên «vận động chiến» quy mô cấp tiểu đoàn, trung đoàn trong một chiến dịch dài ngày, tiêu diệt từng đơn vị, từng bộ phận quân địch. Đi đôi với việc xây dựng các tiểu đoàn, đại đội bộ đội địa phương tỉnh, huyện, lực lượng chủ lực qua rèn luyện đã trưởng thành, có thể tập trung thành «mặt trận của chủ lực», hình thành lực lượng ba thứ quân hoàn chỉnh làm cơ sở tiến lên thành lập đại đoàn chủ lực cơ động.

Chỉ sau hơn ba năm kháng chiến, lực lượng vũ trang Liên khu 4 đã trưởng thành một bước: Ở tiền tuyến có «Mặt trận Bình — Trị — Thiên” là khối chủ lực tác chiến mạnh với ba trung đoàn bộ binh và một số đơn vị trợ chiến để phát triển thành sư đoàn 325, Liên khu có một số trung đoàn bộ binh được xây dựng toàn diện để phát triển thành đại đoàn (đại đoàn 304), tỉnh, huyện có các tiểu đoàn, đại đội bộ đội địa phương, xã, phường, thôn, xóm có lực lượng dân quân du kích đông đảo, hoạt động rộng khắp cả tiền tuyến, hậu phương, cả trong lòng địch và vùng sát địch mà nòng cốt là các đơn vị du kích chiến đấu. Ở hậu phương còn hình thành trung tâm huấn luyện tân binh, để sẵn sàng bổ sung quân cho chủ lực.

Sự hình thành và phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân ở Liên khu 4 đã phản ánh rõ nét tính chất vũ trang nhân dân với phương thức xây dựng là kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng vũ trang tập trung với lực lượng vũ trang quần chúng rộng rãi, phát triển từ nhỏ đến lớn, từng bước hoàn thiện để phát huy sức mạnh của toàn dân, tiến hành chiến tranh nhân dân thắng lợi.

Với sức mạnh tổng hợp của lực lượng vũ trang ba thứ quân trong thế trận toàn dân đánh giặc đã phát triển, Liên khu 4 đã thực hiện thắng lợi nhiệm vụ từ một chiến trường chiến tranh du kích, chuyển lên thành một chiến trường kết hợp chiến tranh du kích với vận động chiến, một chiến trường vừa có phong trào toàn dân đánh giặc, với những hoạt động tập trung của bộ đội chủ lực tác chiến phối hợp với chiến trường chính Bắc Bộ trong từng chiến dịch và chiến cuộc. Khi thời cơ đến, các đơn vị chủ lực phát triển thành đại đoàn chủ lực cơ động. Việc tác chiến tiêu diệt địch, bảo vệ địa bàn do lực lượng bộ đội địa phương và dân quân dư kích đảm nhiệm. Đó chính là kết quả cụ thể của sự nắm vững và biết vận dụng quan điểm và phương thức xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân của Đảng vào điều kiện cụ thể của Liên khu 4, với điều kiện và khả năng thực tế của cuộc kháng chiến trong từng giai đoạn, đáp ứng yêu cầu quy mô sử dụng lực lượng ngày càng lớn của cuộc chiến tranh.

3. Thấm nhuần sâu sắc ý nghĩa hậu phương là nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của cuộc chiến tranh, ra sức xây dựng căn cứ và hậu phương chiến lược vững mạnh về mọi mặt.

Đi đôi với xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, Đảng bộ và quân dân Liên khu 4 còn hết sức chăm lo xây dựng căn cứ hậu phương chiến lược vững mạnh về mọi mặt.

Do đặc điểm và vị trí của địa bàn mà ở đây địch cố chia cắt và ta quyết chống chia cắt chiến lược và do vậy ở đây sớm hình thành ra hai vùng với hai nhiệm vụ cụ thể khác nhau. Bình - Trị - Thiên trực tiếp chiến đấu chống sự chiếm đóng, bình định và chia cắt chiến trường. Thanh - Nghệ - Tĩnh là hậu phương trực tiếp của chiến trường Liên khu và là một trong những hậu phương chiến lược của chiến trường chính Bắc Bộ và Trung Thượng Lào.

Do nhận thức được hậu phương là nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi trên chiến trường. Hậu phương lớn mạnh là nguồn cổ vũ, động viên chính trị, tinh thần, là nguồn cung cấp nhân tài, vật lực cho tiền tuyến, là cơ sở cho các quyết định phương hướng tiến công chiến lược và hoạch định đường lối chủ trương kế hoạch kháng chiến trong suốt quá trình tiến hành cuộc chiến tranh.

Nhận rõ tầm quan trọng và cấp bách của nhân tố hậu phương nên Liên khu ủy đã có nhiều chủ trương, kế hoạch lãnh đạo quân và dân trong liên khu chăm lo xây dựng và củng cố hai vùng hậu phương vững mạnh về mọi mặt, nắm vững khâu then chốt là xây dựng chính trị, tinh thần, bảo đảm khối đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh công — nông, tạo nên sự nhất trí cao, triệu người như một cùng hướng ra tiền tuyến, tất cả để chiến thắng. Ngay từ đầu kháng chiến, chấp hành chủ trương của Chính phủ, Liên khu ủy đã chủ trương tiến hành hai nhiệm vụ phản đế và phản phong, động viên nhân dân «kháng chiến kiến quốc», không ngừng «bồi dưỡng sức dân», xây dựng hậu phương ngày càng mạnh về kinh tế, đời sống nhân dân ngày được cải thiện vững chắc.

Để giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, thực hiện khẩu hiệu «người cày có ruộng”, Đảng lãnh đạo nhân dân Liên khu 4 tiến hành cải cách ruộng đất, đánh đổ bọn địa chủ cường hào, đưa ruộng đất về cho nông dân — một cuộc đổi đời hết sức to lớn, nguồn cổ vũ động viên đối với người chiến sĩ ngoài mặt trận. Do thắng lợi của cải cách ruộng đất, nhân dân Liên khu 4 từng bước tiến hành lập các tổ đổi công, vần công, hợp tác xã nông nghiệp để tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, trong sản xuất và tổ chức đời sống. Với một quan hệ sản xuất tập thể mang tính chất xã hội chủ nghĩa như vậy đã làm nền tảng cho việc huy động hàng chục vạn người ra tiền tuyến chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Những người ở lại hậu phương vừa đảm nhiệm công tác sản xuất, vừa bảo vệ hậu phương thay thế người ra trận, nhờ đó hậu phương Thanh — Nghệ — Tĩnh mới huy động được gần 900.000 tấn lương thực, thực phẩm cung cấp cho chiến trường. Một số lượng lớn so với sức sản xuất ở vùng đất Thanh — Nghệ — Tĩnh.

Đi đôi với việc xây dựng hậu phương chiến lược Thanh — Nghệ — Tĩnh, Liên khu ủy và các tỉnh cũng đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng hậu phương căn cứ tại chiến trường Bình — Trị — Thiên.

Trong hoàn cảnh nhân dân bị địch kìm kẹp gắt gao và căn cứ kháng chiến thường xuyên bị uy hiếp. Nhưng nhờ quyết tâm của các cấp ủy Đảng từ tỉnh đến cơ sở, đã có những chủ trương, biện pháp có hiệu quả để xây dựng căn cứ du kích ở đồng bằng. Biện pháp cơ bản trước hết phải bắt đầu bằng các hoạt động bám đất, nắm dân để móc nối, tổ chức lực lượng quần chúng, vừa mở rộng các cơ sở chính trị bí mật, gắn liền với xây dựng cơ sở vũ trang bí mật; tổ chức nhân dân đấu tranh chống địch khủng bố, cướp bóc là chủ yếu, tiến lên tổ chức cho nhân dân hoạt động vũ trang, phối hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị, dần dần biến những địa bàn vốn là vùng tạm bị chiếm thành các căn cứ du kích và vùng tranh chấp quyết liệt giữa ta và địch, biến bậu phương an toàn của địch thành «tiền phương của ta».

Khi tình hình thuận lợi hơn, cơ sở chính trị trong nhân dân đã củng cố vững chắc hơn, ta tiến hành phát động quần chúng nhân dân nổi dậy phá tề, trừ gian, biến các vùng tranh chấp thành căn cứ du kích, khu tự do của ta trong lòng địch, mở rộng vùng tự do xuống đồng bằng — nơi đông dân, nhiều của, là nơi cung cấp chủ yếu lương thực, thực phẩm cho nhân dân và bộ đội trên chiến trường.

Để có điểm tựa vững chắc nhất cho các căn cứ du kích và vùng tranh chấp trong vùng tạm chiếm, ta xây dựng các “làng chiến đấu». Đó là hình thái tổ chức hạ tầng cơ sở của một phong trào toàn dân đánh giặc, có ý nghĩa thực tiễn trong chiến tranh giải phóng trước đây và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc sau này.

Làng chiến đấu và các căn cứ du kích, khu du kích tạo thành thế trận xen kẽ, cài răng lược, bao vây chia cắt trở lại hệ thống chiếm đóng của địch, vừa thu hút và giam chân địch, vừa bảo đảm cho các lực lượng vũ trang nhân dân trên chiến trường xây dựng và tác chiến thắng lợi.

Theo đà phát triển của chiến tranh và sự lớn mạnh của lực lượng vũ trang, từ những căn cứ du kích rải rác, bị địch chia cắt đã tiến lên xây dựng các căn cứ du kích liên hoàn, nối liền các căn cứ du kích ven biển, đồng bằng với các căn cứ miền núi phía đông Trường Sơn, tạo thành các căn cứ hậu phương, nối liền với vùng tự do Thanh — Nghệ — Tĩnh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #108 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2024, 10:19:02 pm »


4. Luôn luôn chú trọng xây dựng, củng cố và phát triển khối đoàn kết liên minh chiến đấu Việt-Lào.

Thấm nhuần tinh thần quốc tế vô sản cao cả và quan điểm Đông Dương là một chiến trường, quân và dân Liên khu 4 đã giúp đỡ và phối hợp chặt chẽ với quân và dân Lào và đông— bắc Cam-pu-chia tác chiến và xây dựng, góp phần xây đắp nên tình đoàn kết gắn bó, keo sơn giữa ba dân tộc Việt - Lào - Cam-pu-chia anh em.

Xuất phát từ vị trí địa lý — từng tựa lưng vào dãy Trường Sơn hùng vĩ — cùng chung một kẻ thù là thực dân Pháp xâm lược, cùng một mục đích chiến đấu là giải phóng dân tộc, giành độc lập cho Tổ quốc, tự do cho nhân dân, nên sau khi Hiệp nghị được ký kết giữa hai nước, tháng 1 năm 1945, cán bộ đông Lào đã cùng Xứ ủy Trung Kỳ và cán bộ các tỉnh Liên khu 4 đã bàn bạc với nhau liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung của hai dân tộc.

Thực dân Pháp xâm lược ba nước Đông Dương, Đông Dương trở thành một chiến trường thống nhất, quân Pháp đánh chiếm Lào để đánh chiếm Tây Nguyên, Nam Bộ, lấy bắc Lào làm bàn đạp để tiến công bắc Việt Nam, sử dụng đường chiến lược số 7, số 8, số 9, số 12 tiến công các tỉnh Trung Bộ. Trung Lào với Liên khu 4 trở thành mặt trận miền trung Đông Dương. Lẽ đương nhiên hai nước Việt — Lào phải đoàn kết liên minh với nhau kháng chiến chống kẻ thù chung của hai dân tộc. Các đơn vị Liên quân Việt-Lào được tổ chức từ cuối năm 1945 đã phối hợp tác chiến dọc biên giới, cùng với bạn Lào xây dựng cơ sở trong các làng bản từ Sầm Nưa xuống Xa-ra-van, động viên nhân dân Lào đấu tranh từ thấp lên cao, từ đấu tranh chính trị, kinh tế kết hợp với đấu tranh vũ trang chống thực dân Pháp.

Quán triệt đường lối kháng chiến mà Đảng Nhân dân cách mạng Lào đã vạch ra, tiêu biểu cho sự trưởng thành lớn mạnh của kết quả liên minh chiến đấu Việt-Lào là thắng lợi của Đại hội đại biểu Trung Lào năm 1950. Đại hội đã đề ra phương châm và biện pháp cụ thể để vận động cách mạng. Mặt trận Ít-xa-la được mở rộng, cơ sở kháng chiến và căn cứ địa phát triển, nhiều địa phương ở Lào có chính quyền, đoàn thể và lực lượng bán vũ trang, chiến tranh du kích ở Trung Lào đã thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch.

Trong suốt cuộc kháng chiến, Đảng bộ Liên khu 4 luôn chú trọng bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ ta về tinh thần quốc tế vô sản cao cả, về ý nghĩa của sự liên minh chiến đấu Việt — Lào, làm cách mạng ở Lào chính là làm cách mạng Việt Nam, giúp bạn là tự giúp mình. Quá trình hoạt động cách mạng ở Lào, cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam luôn luôn bình đẳng và tôn trọng bạn, cùng làm cùng chịu trách nhiệm. Các chiến sĩ tình nguyện thấm nhuần phương châm đó, nên hết sức tận tụy, chịu mọi gian khổ, hy sinh, đồng cam cộng khổ với nhân dân Lào, góp phần xây dựng lực lượng cách mạng giúp bạn, Liên quân Lào — Việt mau chóng trưởng thành. Các tiểu đoàn Trấn Ninh (Nghệ An), tiểu đoàn Thanh Hóa xây dựng lực lượng giúp bạn ở Xiêng Khoảng, Sầm Nưa, tiểu đoàn 364 ở đường số 9, tiểu đoàn hai ở Nhom Ma Rát, Ma-ha-xây đã trở thành những hạt nhân đáng tin cậy của lực lượng vũ trang và nhân dân các bộ tộc ở phía đông nước Lào.

Đầu năm 1953, với chiến dịch Thượng Lào, Liên quân Việt — Lào đã quét sạch quân địch ở miền tây Thanh — Nghệ —Tĩnh, giải phóng tỉnh Sầm Nưa, một phần tỉnh Xiêng Khoảng, tạo ra vùng căn cứ rộng lớn, nối liền Việt Bắc—Tây Bắc, Thượng Lào với Thanh - Nghệ - Tĩnh.

Đông-Xuân 1953- 1954, với chiến dịch Trung Lào, Liên quân Việt-Lào đã giải phóng hầu hết Trung Lào, tiểu đoàn 436 mũi thọc sâu của sư đoàn 325 cùng với bạn giải phóng Hạ Lào và đông—bắc Cam-pu-chia, góp phần cùng nhân dân Đông Dương hoàn thành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Tình đoàn kết quốc tế, liên minh chiến đấu Việt-Lào phát triển theo quy luật khách quan của cách mạng mỗi nước, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và có ý nghĩa thực tiễn quan trọng trong việc củng cố liên minh đặc biệt và hợp tác toàn diện chiến đấu chống kẻ thù mới là đế quốc Mỹ xâm lược trong những năm sau.

Liên minh đặc biệt của tình đoàn kết chiến đấu Việt Lào là ý nghĩa sống còn của hai dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của mỗi nước hiện nay.

*

*      *

Với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh của Đảng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Bác Hồ kính yêu, được sự chỉ đạo, chỉ huy của Bộ Ouốc phòng — Tổng tư lệnh, nắm vững quy luật chiến tranh cách mạng Việt Nam, Đảng bộ Liên khu 4 đã lãnh đạo nhân dân và các lực lượng vũ trang liên khu tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Quá trình lãnh đạo, chỉ đạo có những khuyết điểm và những lệch lạc trong chủ trương, chính sách và hoạt động thực tiễn, dẫn đến những tổn thất, những thất bại cục bộ tạm thời, gây khó khăn và ảnh hưởng đến sự trưởng thành của cuộc kháng chiến. Song, các cấp ủy đảng từ Liên khu xuống cơ sở, với bản lĩnh chính trị vững vàng, với ý chí kiên cường, dũng cảm, dám nhìn thẳng vào thiếu sót, khuyết điểm để tiếp tục khắc phục, dựa vào nhân dân, bám sát phong trào, đưa sự nghiệp kháng chiến đến thắng lợi. Những kinh nghiệm thực tiễn về lãnh đạo, chỉ huy và những bài học quý báu trong xây dựng lực lượng và chiến đấu đã được các cấp ủy Đảng từng bước nghiên cứu và vận dụng, tạo nên sức mạnh tổng hợp để chiến thắng quân thù.

Kháng chiến thắng lợi nhưng chưa trọn vẹn, nhiệm vụ giải phóng dân tộc và thống nhất Tổ quốc chưa hoàn thành, một nửa nước thân yêu — trong đó có đồng bào hai tỉnh Trị—Thiên ruột thịt còn phải sống dưới nanh vuốt của kẻ thù Mỹ — ngụy.

Giương cao cờ «Quyết chiến, quyết thắng» của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, quân và dân Liên khu 4 cùng cả nước đứng lên tiếp tục cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #109 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2024, 10:20:55 pm »


PHỤ LỤC
THÀNH TÍCH CỦA QUÂN VÀ DÂN LIÊN KHU 4 TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP


Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ở Liên khu 4 bắt đầu từ 0 giờ 00 ngày 20 tháng 12 năm 1946 (nổ súng tấn công quân Pháp ở Huế và Vinh) đến ngày 01 tháng 8 năm 1954 (ngày có lệnh ngừng bắn tại chiến trường Bình — Trị — Thiên), quân và dân Liên khu 4 đã lập thành tích vẻ vang:

I. VỀ CHIẾN ĐẤU

— Đánh 7.400 trận, tiêu diệt 69.850 tên địch, bắt 3.400 tên, ra hàng 4.500 tên.

— Thu: 8.130 súng các loại.

— Phá hủy: 366 xe cơ giới, 200 khẩu pháo và súng cối, 15 đầu máy, 117 toa xe lửa. Bắn rơi 13 máy bay.


II. VỀ XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG

— Góp phần xây dựng: hai đại đoàn chủ lực, 11 trung đoàn bộ binh chủ lực, một trung đoàn pháo binh, một trung tâm huấn luyện, 16 tiểu đoàn, 60 đại đội, 12 trung đội bộ đội địa phương, 12 vạn dân quân du kích.


III. HUY ĐỘNG SỨC NGƯỜI, SỨC CỦA CHO TIỀN TUYẾN

— 134.600 thanh niên nhập ngũ.

— Bổ sung đi các chiến trường gần 100.000 người, biên chế thành tám trung đoàn và đơn vị tương đương, sáu tiểu đoàn và 40 đại đội (không tính hai đại đoàn 304, 325).

— Hơn hai triệu lượt người đi dân công hỏa tuyến.

— 120.000 lượt người đi mở đường chiến lược.

— Cung cấp cho chiến trường 870.000 tấn lương thực, thực phẩm.

— 900 tấn vũ khí do địa phương liên khu sản xuất.

— Làm 530 ki-lô-mét đường chiến lược, 145 cầu lớn, nhỏ, 30 ki-lô-mét đường xe goòng.



Hết!
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM