Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 08:46:32 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Sự nghiệp của một tổng thống bị đổ vỡ - L.Johnson và Việt Nam  (Đọc 108409 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #50 vào lúc: 08 Tháng Mười, 2009, 06:27:43 pm »

Đến ngày 21 ông lại xác định tin chắc rằng "địch dự tính một cuộc tấn công hiệp đồng nhằm chiếm và giữ các mục tiêu then chốt tại hai tỉnh phía Bắc".

Đến ngày 23 ông báo có bằng chứng rằng địch sẽ dùng nhiều tiểu đoàn để tấn công vào thành phố Huế và có thể từ căn cứ trong vùng rừng núi xông ra đánh vào thị xã Quảng Trị... Tôi nghĩ rằng địch sẽ cố gắng một cuộc phô trương lực lượng trên toàn quốc ngay trước Tết. Sau đó ông cho thấy rằng "như đã dự kiến ngày 25-1 đang có triển vọng hình thành ngày các hoạt động tiên công rộng lớn trước Tết của các lực lượng VC.

Tuy người ta có linh tính rằng cuộc tấn công sắp xảy ra cấp kỳ nhưng ngay lúc đầu cố vấn chỉ huy Hoa Kỳ và Nam Việt Nam không cho rằng chiến cuộc sẽ xảy ra trong những ngày nghỉ Tết.

Tết là một lễ nghỉ của Việt Nam để mừng năm mới âm lịch. Nhưng hơn thế nữa ngày ấy được kể như một ngày tưởng nhớ tất cả những vong hồn quá cố, một ngày lễ gia đình, một hội mùa xuân, một ngày lễ dân tộc, một biểu hiện tổng quát của một lối sống. Tại Bắc Việt Nam cũng như tại Nam Việt Nam, đây là một ngày lễ quan trọng và thiêng liêng nhất của cả nước, được mọi giới tôn giáo và tầng lớp xã hội đồng loạt sùng bái (19).

Tính chất độc đáo và hòa bình của ngày lễ Tết luôn luôn được nhấn mạnh xuyên suốt quá trình chiến tranh Việt nam. Bắt đầu từ 1963, Cộng sản đã từng tuyên bố những vụ đình chiến hàng năm vào các dịp lễ Giáng sinh, ngày đầu năm dương lịch, Phật đản và Tết. Chính quyền Sài Gòn và Hoa Kỳ cũng bắt chước theo, bắt đầu với lễ Giáng sinh 1965 (2o)

Những vụ đình chiến định kỳ theo những ngày lễ này chẳng mấy chốc đã trở thành điều mong muốn tại Việt Nam mặc dù Bộ tư lệnh Hoa Kỳ thường phàn nàn về việc cộng sản thường lợi dụng các thời gian đình chiến để vi phạm ồ ạt và vận chuyển tiếp tế. Không mấy người Mỹ được biết rõ ra rằng chiến công nổi tiếng nhất trong lịch sử Việt Nam là trận đánh hào hùng của Nguyễn Huệ (Quang Trung) bất thần tấn công vào quân Thanh chiếm đóng Thăng Long Tết năm 1789 (21).

Khoảng đầu tháng 1, với sự tăng cường quá rõ rệt của địch, Đại tướng Westmoreland nghĩ rằng nên hủy bỏ đình chiến ngày Tết. Nhưng người Việt Nam ngần ngừ. Quân đội cũng như cả nước đều mong muốn có cuộc nghỉ ngơi là sẽ hạn chế thời gian đình chiến chỉ còn 36 giờ (18 giờ ngày 29-1 đến 06 giờ ngày 31-1) thay vì 48 giờ như đã dự định trước đó (22).

Khoảng ngày 24 cả Đại sứ Bunker lẫn Đại tướng Westmoreland trong một điện văn chung gửi Tổng thống đã nêu lên việc bất lợi khi đình chiến tại Quảng Trị, khu phi quân sự và tối thiểu ở một phần Bắc Việt Nam (23).

Tổng thống đồng ý không áp dụng đình chiến cho vùng 1 chiến thuật. khu phi quân sự và Bắc Việt Nam từ Vinh trở vào Nam (24). Tổng thống đồng ý nhưng cho biết không công bố các điểm ngoại trừ này trước khi cuộc đình chiến bắt đầu sáu giờ đồng hồ (25)

Nhưng Việt Nam không hề công bố Sài Gòn đang trong không khí tưng bừng của những ngày trước Tết, đối với dân chúng đô thị chiến tranh có vẻ xa vời, ít ra đã có phân nửa binh sĩ QĐVNCH bỏ về nhà ăn Tết (26). Tổng thống Thiệu cũng ăn Tết tại quê vợ ở thị xã Mỹ Tho thuộc đồng bằng sông Cửu Long (27).

Theo âm lịch thì năm con khỉ sẽ bắt đầu ngày thứ ba 30-1-1968. Tuy thế trong một hành động hầu như không ai để ý, chính quyền Bắc Việt Nam loan báo sẽ ăn Tết sớm hơn một ngày. Nhờ đó các gia đình Bắc Việt Nam đã có thể mừng ngay đầu năm trong hòa bình. Trước khi có các cuộc oanh kích trả đũa của Hoa Kỳ đã được dự kiến (28)
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #51 vào lúc: 08 Tháng Mười, 2009, 06:29:44 pm »

CHÚ THÍCH CỦA CHƯƠNG BA

(1) Johnson: The Vantage Point (Vị trí ưu thế) trang 372-378. 600-601, Air War Against North Vietnam (Chiến tranh bằng không quân chống Bắc Việt Nam) phần 4 trang 274. 343; xem cả Goulding: Continuation or Deny (Tiếp tục hay phủ nhận) trang 1068-213.

(2) Westmoreland: Report on the War in Vietnam (Phúc trình về chiến tranh tại Việt Nam) trang 138-139. Cho đến mãi sau này người ta mới ý thức được về toàn bộ chiến lược địch làm cơ sở cho những trận đánh tuy ác liệt nhưng có vẻ bất phân thắng bại này. Xem chú thích 30, chương 4.

(3) Thành phần của nhóm ấy trong phiên họp này gồm có: Dean Acheson; Georof Ball; Mc George Bundy, Clark Clifford, Douglas Dillon, Arthur Dean, Henry Cabot Lodge, Robert Murphy, Abe Fortas và các Đại tướng Omar Bradley và Maxwrell D. Taylor. Xem Taylor: Swords and Plowshares (Thanh kiếm và lưỡi cày) trang 377-378. Cả những bài trực tiếp phỏng vấn đại tướng Maxwell D.Taylor ngày 28-12-1972.

(4) Hãng truyền thanh truyền hình National Broadcasting Company: Meet the Press (Trả lời báo chí) ngày chủ nhật 19-11-1967.

Về các bình luận khác xem Public Papers of Lyndon Johnson 1967 (Tài liệu công quyền của Lyndon Johnson 1967) II trang 1045-1055. Roy Reed “Bunker yết kiến Tổng thống", tiên đoán sẽ có thắng lợi tại Sài Gòn trong năm 1968"; "Westmoreland đã có mặt tại đây và nói về các thắng lợi tại Việt Nam". Carroll Kilpatrick "Westmoreland dự kiến Hoa Kỳ thôi không cam kết vào năm 1969". Jerry Grênè "Bài thuyết trình của Westy làm cho Johnson có vẻ thỏa mãn". Peter Grese: "Westmoreland cho là chiến tranh tiêu hao là hiệu quả”; "Philip Dodd Lyndon yêu cầu thảo luận về chính sách Việt Nam"; Jamês Reston: "Washington: Tại sao Westmoreland và Bunker lại lạc quan". Jack Bell: "Đại tướng không làm cho những người bất đồng ý kiến lay chuyển được". Johnson: "Một Tổng thống tình cờ nhờ tiết lộ hay nhờ bịp tin tức". Lovis Harris: "Johnson lấy lại uy tín". Johnson: "The Vantage Point (Vị trí ưu thế) trang 282-376.

Muốn biết về thái độ của cấp chỉ huy Hoa Kỳ tại Sài Gòn, hãy xem David: "Trở lại Việt Nam".

(5) (Sự chia sẻ quyền lực). Xem cả của Bộ tư lệnh viện trợ quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam 1967 (Tổng kết năm 1965: một năm thắng lợi). War Relly “Chiến tranh đã đến hồi sắp kết thúc - Theo khía cạnh quân sự"; Boward Handleman: "Thời cơ đã ngả về ta".

Về các quan điểm tương phản hoặc ít lạc quan hơn. Xin xem Bernard B.Fall "Last reflection on a war" (Những cảm nghĩ cuối cùng về một cuộc chiến tranh) trang 163-171; Richard Critchifield: "The Long Charade: Political Subvertion in the Việt Nam" (Chuyện phải suy nghĩ lâu dài: Vấn đề khuynh đảo chính trị trong chiến tranh Việt Nam); Robert Shaplen: "Timeout of hand: Revolution and reaction in Southest Asia" (Không nắm vững được thời gian: Cách mạng và phản động lại Đông Nam Á) trang 394-391; William R.Corson "The Betrayal" (Sự phản bội) trang 71-82; William A.Nighswongger “Rural Pacirication in vietnam" (Bình định nông thôn Việt Nam); Dennis Bloodworth: “William trong quan điểm của các nhà báo không tương ứng với thái độ lạc quan của Hoa Kỳ"; Ward Just: “Sự khác biệt giữa tình và lý trong chiến tranh Việt Nam".

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #52 vào lúc: 08 Tháng Mười, 2009, 06:29:59 pm »

(6) Trung tá Phạm Văn Sơn: The Viet Cong Tet orfensive 1968 (Trận tấn công Tết Mậu Thân của Việt Cộng) trang 44-46. Cả của Robert J.O’neill: The Strategy of General Giáp since 1964 (Chiến lược của Đại tướng Giáp từ năm 1964) trang 15-16; Oberdorfer: Tết, trang 52-54; Streplen: Timeout of hand (Không nắm vững được thời gian) trang 391-392; Rostow: Diffusion of Power (Sự chia sẻ quyền lực) trang 460; Trung tá Dave R.Palmer “the Summons of the Trumpet: A Soldier's View of Viet Nam" (Tiếng kèn thúc quân: quan niệm của một quân nhân về Viet Nam) bản thảo chưa xuất bản. Warser “Hơn và thực tại Sài Gòn" trang 22; Joseph Aldap "Các tài liệu tịch thu được cho thấy có sự chuyển hướng quan trọng chiến lược của Cộng sản"; Charles Nohk “Chiến thắng chấm dứt chiến tranh được xem như là mục đích cố gắng của địch"; Robert Thompson "Cuộc tấn công quyết liệt của Việt cộng là một thế cờ bất hủ của Giáp"; Donglas Pi ke “Trận tấn công Tết Mậu Thân: một sự thất bại của Giáp nhưng đến mức độ nào?" trang 51-67; Donglas Pike: War. Peace and the Viet Cong (Chiến tranh, Hòa bình và Việt Cộng) trang 124-126; Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Big Victory, Great Task (Chiến thắng to, nhiệm vụ lớn).

(6) Hanson W.Balwin "Dư luận quần chúng tại Hoa Kỳ và tại Nam Việt Nam được kể như là mục tiêu chính yếu của cuộc tấn công mới đây của Việt Cộng"; Nancy Kcraev (Việt Cộng hình như có mục đích làm tăng giá trị vai trò của họ trong vụ thương thuyết"; Richard Wilson: "Hà Nội năm phần là họ có thể áp đặt một giải pháp chính trị", Pi ke: War, Peace and Việt Cong" (Chiến tranh, hòa bình và Việt Cộng) trang 127.

(7) Westmoreland: Report on the War in Việt Nam (Phuc trình về chiến tranh tại Việt Nam) trang 138, 139. 155-156. Xem cả của Oberdorfer: "Tet" trang 107-108. Palmer “the soldier's View of Vietnam" (Quan niệm của quân nhân về Việt Nam) trang 232-233. Phần lớn các điều nói về Westmoreland đều tính trong quyển Command History. 1968 (Lịch sử Bộ Tư lệnh) của Bộ tư lệnh Viện trợ quân sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam.

(Cool Đại úy Mogers S.Shorn: The Battle for Khe Sanh (Trận đánh giành Khe Sanh) trang 29; Westmoreland: Report on the war in Vietnam (Phúc trình về chiến tranh tại Việt Nam) trang 182.

(9) Westmoreland: Report on the war in Vietnam: trang 163. Shorn: The Battle for Khe Sanh (Trận đánh giành Khe Sanh) trang 6; Westmoreland: A soldier's Reports (Tường trình của một quân nhân) trang 335-337.

(10) Bàn vào MACV 11956 ngày 10 tháng 12-1967: Westmoreland: A soldier's Reports (Tường trình của một quân nhân) trang 146.

(11) Westmorland "Report on the War in Vietnam (Phúc trình về chiến tranh tại Việt nam) trang 163. Muốn biết rõ về các điểm khác biệt nhau giữa Khe Sanh và Điện Biên Phủ và về các bình luận của báo chí, xem chú thích 37 và 38 chương 4.

(12) Trực tiếp phỏng vấn Đại tướng William C Westmoreland ngày 16-9-1973. Westmoreland hướng chỉ đạo mọi cuộc ném bom của B-52 tại Việt Nam, trong trận Khe Sanh là lần đầu tiên có sự kết hợp mật thiết với các hoạt động của không quân chiến thuật. Trực tiếp phỏng vấn Trung tướng Robert N.Ginsburgh ngày 25-8-1975.

(13) Phái bộ Hoa Kỳ tại Việt Nam: Captured Document Indicates Final Phase of Revolution at Hand (Tài liệu tịch thu được cho thấy sắp đến giai đoạn cuối cùng của cách mạng).

(14) Rostow: Diffusion of Power (Sự chia sẻ quyền lực) trang 463.

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #53 vào lúc: 08 Tháng Mười, 2009, 06:30:07 pm »

(15) Văn kiện MAC 12997 của Đại tướng Westmoreland gửi Đại tướng Wheeler ngày 20-6-09Z tháng 12-1967.

(16) Đô đốc Sharp gửi Đại tướng Wheeler ngày 261858Z tháng 12 -1967.

(17) Văn kiện AC 00682 của Đại tướng Westmoreland gửi Đô đốc Sharp ngày 21-1-1968.

(18) Văn kiện MAC 01049 của Đại tướng Westmoreland gửi Đô đốc Sharp ngày 21-1-1968: Văn kiện MAC 01108 của Đại tướng Wetsmoreland gửi Đô đốc Sharp và Đại tướng Wheeler ngày 23-10-28Z tháng 1-1968; Văn kiện MAC C4218 của Đại tướng Westmoreland gửi Đô đốc Sharp ngày 251421Z của Đại tướng Westmoreland gửi Đô đốc Sharp ngày 251421Z tháng 1-1968.

(19) Bộ tư lệnh viện trợ quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam. Ann Caddell Crangord: Customs and Culture of Vietnam (Phong tục và văn hóa của Việt Nam) trang 189-190.

(20) Westmoreland: Report on the War in Vietnam (Phúc trình về Chiến tranh tại Viet Nam) trang 111.

(21) Command History (Lịch sử Bộ lệnh. 1968) trang 175-376.

(21) Duncanson: Government and Revolution in Vietnam (Chính quyền và cách mạng tại Việt Nam) trang 53. Nguyễn Văn Thái và Nguyễn Văn Sung: A Short History of Vietnam (Lịch sử Viet Nam vắn tắt) trang 210-211: Joseph Buttinger: The Small Dragon. A Political History of Vietnam (Con Rồng nhỏ bé. Lịch sử chính trị Việt Nam) trang 265; Helen B.Lam: Vietnamese will to Live: Resistance to Foreign Aggression From Early Times Through The Ninetenth Century (Ý chí sinh tồn của Việt nam: Cuộc kháng chiến chống ngoại xâm từ thời xa xưa cho đến hết thế kỷ XIX) trang 56.

(22) Văn kiện MAC 00338 của Đại tướng Westmoreland gửi Đô đốc Sharp ngày 090331Z tháng 1-1968: Văn kiện MAC 00764 của Đại tướng Westmoreland gửi Đô đốc Sharp ngày 0208240 tháng 1-1968; Văn kiện CINCDAC 100523 tháng 1-1968.

(23) Sài Gòn 16851 Điện văn chung của sứ quán và Bộ tư lệnh viện trợ quân sự Hoa Kỳ lại Việt Nam. tháng 1-1968. Đề tài: Tet ceasefire (Hưu chiến Tết).

(24) Văn kiện Bộ Ngoại giao 104215 của Bộ trưởng Ngoại giao gửi sứ quán Hoa Kỳ Sài Gòn ngày 250109 Z tháng 1-1968; Văn kiện JCS828Z của Hội đồng Tham mưu trưởng gửi Tổng Tư lệnh Thái Bình Dương và Tổng tư lệnh Bộ tư lệnh tối cao đồng minh (CINCSAC) 261714 Z tháng 1-1968. Đề tài Tet Ceasefire (Hưu chiến Tết).

(25) Văn kiện JCS8282 tháng 1-1968.

(26) Phạm Văn Sơn: The Vietcong Tet offensive (Trận tiến công Tết Mậu Thân của Việt Cộng) trang 25-26; Westmoreland: Report on the War in Vietnam (Phúc trình về chiến tranh tại Việt Nam) trang 159; Command History 1968 (Lịch sử Bộ tư lệnh) trang 891.

(27) Oberdorfer: Tet. trang 153.

(28) Như trên. trang 73. 74.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #54 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2009, 05:37:46 pm »

CHƯƠNG BỐN
CUỘC TẤN CÔNG TẾT MẬU THÂN VÀ PHẢN ỨNG CỦA HOA KỲ

Khuya ngày 31-1-1968 địch tung ra một loạt các cuộc tấn công cùng một lúc và có kết hợp đánh vào các trung tâm dân cư chính yếu các vùng III và IV chiến thuật. Các thành phố lớn các vùng I và II chiến thuật đã bị tấn công đêm trước đó (1). Trong thời gian 30 và 31-1-1968, 39 trong số 41 tỉnh lị, 5 trong 6 thị xã biệt lập và tối thiểu 71 trong số 245 quận lị đã bị pháo kích và bị đột kích (2). Cuộc tấn công chủ yếu nhằm vào các trung tâm chính quyền hành chính và các cơ sở chỉ huy quân sự. Đến 9 giờ 45 sáng thứ ba, 30-1-1968 các chính phủ Hoa Kỳ và Sài Gòn đã hủy bỏ cuộc đình chiến Tết mà lúc đó đã hết ý nghĩa (3).

Tại Sài Gòn, địch đã khởi đầu trận đánh bằng một cuộc tấn công của đặc công vào Tòa đại sứ Hoa Kỳ liền sau đó là bằng những trận tấn công vào căn cứ không quân, Dinh tổng thống, Bộ tổng tham mưu quân lực Việt Nam cộng hòa và các cơ sở khác của chính quyền. Nhiều lực lượng địch đã đột nhập vào Huế, chiếm được thành nội và phần lớn thành phố Huế đã lọt vào quyền kiểm soát của địch cho đến 25-2-1968 (4).

Mặc dù các lực lượng Hoa Kỳ và Việt Nam đã được tăng cường hùng hậu, trận giao tranh vẫn tiếp diễn trên toàn quốc và giảm dần dần cho đến ngày 13-2.

Một tài liệu huấn luyện nói về chiến tranh Việt Nam được soạn thảo và sử dụng tại trường võ bị Hoa Kỳ có nói rằng: "Điều cần biết đầu tiên về cuộc tấn công Tết Mậu Thân của tướng Giáp là tình báo đồng minh đã bị bất ngờ không khác gì trong trận Trân Châu Cảng (Pearl Harbor) năm 1941 hoặc trận tấn công Ardennes năm 1944. Bắc Việt Nam đã lợi dụng được bất ngờ hoàn toàn" (5).

Tuy điều này có thể hơi quá đáng nhưng rõ ràng là các cấp chỉ huy Hoa Kỳ đã không tiên liệu được các cuộc tấn công của Việt Cộng thật sự xảy ra như thế nào. Đại tướng Westmoreland đã phải nhìn nhận: "chúng ta không biết trước được quy mô của cuộc tấn công này mặc dù chúng tôi đã linh tính rằng sẽ phải là rộng lớn. Chúng tôi cũng thực tình cho rằng họ sẽ không dám liều đi ngược lại tâm lý quần chúng tấn công ngay trong những ngày Tết, cho nên tôi nghĩ rằng họ sẽ đánh hoặc trước hoặc sau Tết. Tôi cũng không dự kiến là họ sẽ đánh lại các đô thị và lấy đấy tàm mục tiêu tấn công" (6).

Đến khoảng giữa vụ Tết, Tổng thống Johnson đã chỉ thị cho ủy ban tư vấn tình báo nước ngoài điều tra về điểm chỉ trích cho rằng cuộc tấn công của Bắc Việt Nam đã làm cho giới chỉ huy quân sự Hoa Kỳ hoàn toàn bị bất ngờ.

Một nhóm công tác của các nhà nghiên cứu tình báo (với đại diện của cơ quan tình báo trung ương, cơ quan tình báo quốc phòng, bộ ngoại giao. cơ quan an ninh quốc gia, và bộ tham mưu liên quân) đã được thành lập để yểm trợ cho ủy ban tư vấn tình báo nước ngoài trong công tác điều tra. Nhóm này đã có mặt tại Sài Gòn từ 16 đến 23-3-1968. Họ đã phỏng vấn các nhà nghiên cứu tình báo và đã xem xét tất cả các báo cáo tình báo đã được trình cho cấp chỉ huy Hoa Kỳ. Nhóm công tác này đã đưa ra các kết luận như sau:

… Người ta không hoàn toàn đoán trước được cường độ, sự phối hợp và thời điểm của cuộc tấn công của địch. Đại sứ Bunker và Đại tướng Westmoreland đều xác nhận việc này. Yếu tố quan trọng nhất là vấn đề thời điềm. Rất ít người trong các quan chức Hoa Kỳ và chính phủ VNCH có thể tin rằng địch sẽ tấn công trong dịp Tết và quần chúng Việt Nam cũng thế.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #55 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2009, 05:38:20 pm »

Điều bất ngờ chính yếu thứ hai là số lượng các cuộc tấn công đã được tiến hành cùng một lúc. Tình báo Hoa Kỳ cho rằng địch có khả năng tấn công hầu hết tất cả các vị trí mà họ đã thực sự tấn công và cũng có khả năng mở những cuộc tấn công hiệp đồng tại một số khu vực. Tuy nhiên người ta không nghĩ rằng đích thực sự có khả năng hiệp đồng tấn công cùng một lúc ở khắp mọi nơi. Điều quan trọng hơn nữa là người ta không biết trước được về tính chất của các mục tiêu

Càng làm nổi bật thêm các vấn đề đặc biệt này, còn có một vấn đề cơ bản hơn nữa: phần đồng các cấp chỉ huy và sĩ quan tình báo ở các cấp không hình dung được rằng địch lại có khả năng thực hiện các mục tiêu như họ đã đề ra trong lời lẽ tuyên truyền hoặc trong các tài liệu tịch thu được. Thường các bản ước tính về sự tiêu hao xâm nhập và tuyển mộ tại chỗ, các báo cáo về việc địch mất tinh thần cũng như một loạt những vụ họ bị đánh bại đã làm cho ta coi thường địch" (7).

Về sau đã có những lời chỉ trích rằng các viên chức tình báo Hoa Kỳ đã cố tình giảm giá trị một cách rất hệ thống các ước tính về quân số của các lực lượng Việt cộng vì ngại khi công bố việc địch tăng cường quân số sẽ gây nhiều phản ứng trong quần chúng. Người ta còn nói thêm rằng sự kiện này đã đưa đến việc xem thường các khả năng của địch. Người ta đã phủ nhận những điều chỉ trích này nhưng dù sao, y như lời James R.Schlesinger đã tuyên bố: "Tình báo lúc ấy có sơ sót” (Cool.

Các nhà lãnh đạo cộng sản quả đã từ bỏ hẳn chiến lược chiến tranh trường kỳ của họ. Họ nhắm vào các mục tiêu quyết định được coi như khá quan trọng đáng để phải trả một giá rất đắt. Họ có hai mục đích trong việc thay đổi chiến lược như thế. Mục tiêu thứ nhất của họ là xóa bỏ quyền kiểm soát quân sự của chính phủ VNCH, mở đường cho một cuộc tự động nổi dậy hoặc cảm tưởng là có một cuộc tự động nổi dậy chống chính phủ VNCH và gây ra sự chống đối của QĐVNCH (9).

Để đạt được các mục đích này, các cuộc tấn công sơ khởi đều do các lực lượng Việt cộng tiến hành trong khi các lực lượng quân đội Bắc Việt Nam được giữ lại để dành cho việc tiếp sức và khai thác thắng lợi. Tuy nhiên đối với các mục tiêu này, địch đã gặp thất bại... Quả thật, quân đội VNCH đã chiến đấu dũng cảm trong hầu hết mọi trường hợp mặc dù đã bị bất ngờ khi đang mải lo ăn Tết với gần phân nửa quân số về phép và rất lỏng lẻo trong vấn đề an ninh (10).

Mục đích thứ nhì của cuộc tấn công của Cộng sản có tính cách tâm lý. Các cuộc tấn công hình như có mục đích làm cho Hoa Kỳ nản chí, lung lạc lòng tin của dân chúng Nam Việt Nam vào khả năng của Hoa Kỳ và của chính phủ họ trong việc bảo vệ cho họ và làm cho những ai quan tâm sẽ phải thán phục sức mạnh của Việt cộng được nhân dân ủng hộ, nhờ vậy Hà Nội sẽ ở được vào thế mạnh, giúp họ có thể thương lượng ngừng bắn và có thể đưa đến việc Hoa Kỳ sẽ phải rút quân.

Đại sứ Bunker có nêu lên rằng, căn cứ trên sự phân tích lên đây, ông nghĩ rằng là mục đích chính yếu của hành động này có phần nặng về tâm lý hơn là quân sự (11). Nhằm vào mục đích ấy. Cộng sản có phần đã thắng lợi nhiều hơn.

Đại tướng Westmoreland đã báo cáo về các hậu quả tâm lý bất lợi đối với dân chúng Việt Nam kể cả việc làm tăng thêm lo ngại và sự kính nể đối với các khả năng của Cộng sản. Nhưng người bàng quan càng thêm thờ ơ và người ta càng chán ngán chiến tranh thêm.

Trên khía cạnh thực tế chúng ta phải nhìn nhận là địch đã giáng cho chính phủ VNCH một đòn choáng váng. Địch đã đem chiến tranh vào các thành phố và đã gây nhiều thiệt hại và thương vong cho dân chúng. Mặt khác Westmoreland cũng cho biết về vài yếu tố thuận lợi trên khía cạnh tâm lý (12). Do đó, mặc dù chẳng mấy chốc Bộ tư lệnh Hoa Kỳ tại Saigon đã thấy rõ ràng địch đã thất bại nặng nề về quân sự và đã phải trả một giá rất đắt về việc họ thay đổi chiến lược và mất đi rất nhiều quân ưu tú nhưng vẫn phải thắc mắc là mặc dù tổn thất nhưng liệu địch có đã đạt được một thắng lợi tâm lý quyết định cả tại Saigon lẫn ở Hoa Kỳ hay không ?
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #56 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2009, 05:38:53 pm »

Quần chúng, giới thông tin và chính quyền đã bị chấn động vì các cuộc tấn công bất ngờ. Tổng thống Johnson đã nhận được nhiều báo cáo tình báo của các tư lệnh chiến trường và bộ tham mưu Nhà trắng dự kiến là sẽ có một cuộc tấn công mùa đông của Việt cộng và ông rất quan tâm đến các báo cáo này.

Theo như lời tướng hai sao Robert L.Ginsburgh, phụ tá quân sự của Walt Rostow đã nói lại: “Vào cuối tháng 11, Rostow càng thêm bực bội với số lượng rất nhiều tài liệu thu được của địch mà ông cho rằng đã không được khai thác đúng đắn. Ông đã sắp xếp cho các bản dịch được gửi thẳng về Nhà trắng cũng như về Cục tình báo quốc phòng. Ngay từ hồi đầu tháng 12 trước cả giới tình báo một tuần lễ, Rostow đã tin tưởng rằng sắp có một cuộc tấn công và đã đề cập với Tổng thống về cuộc tấn công Đông Xuân sắp đến. Trong khi các giới ở Washington sửng sốt về vụ Tết thì Tổng thống và Rostow lại không lấy gì làm lạ. Trong quá khứ họ đã coi thường phản ứng của chúng. Nhưng thực sự họ biết rằng cái gì địch đã nói là tất xảy ra" (13).

Tại Canberra, Australia khi dự lễ tang Thủ tướng Harold Holt, ngày 21-12, Tổng thống Johnson đã tuyên bố với Hội đồng bộ trưởng Australia và sau đó ngày 23-12 đã nhắc lại với Đức Giáo Hoàng rằng ông dự kiến Bắc Việt Nam sẽ áp dụng các chiến thuật thần phong (Người dịch: thần phong: Kamikase chỉ những phi công Nhật, thế chiến thứ hai đã lái máy bay tự đâm vào mục tiêu). Tuy vậy chẳng mấy ai đã làm được gì nhiều để cảnh giác quần chúng Hoa Kỳ về triển vọng những cuộc tấn công kiểu ấy và do đó quần chúng chưa được chuẩn bị tinh thần trước những chấn động vì vụ Tết.

Trong cái mà sau này ông nhìn nhận là sai lầm, Tổng thống đã xén bớt một đoạn dài nói về Việt Nam trong thông điệp gửi Quốc hội. Trong diễn văn này tổng thống chỉ lại nhấn mạnh đến các tiến triển đã đạt được tại Việt Nam trong năm qua và cũng cho thấy những cố gắng hiện đang được tiến hành để đi đến đàm phán hòa bình với Bắc Việt Nam (14).

Vì vậy cho nên qui mô, cường độ cùng sức vũ bão của các cuộc tấn công của Việt cộng đã gây kinh ngạc và chấn động tột độ tại khắp nước. Quá nhiều chương trình truyền hình trình bày về cuộc tấn công đã làm cho trong các gia đình người Mỹ thấy ngay quang cảnh máu lửa chết chóc và tàn phá của chiến trường và đã là nhân tố chính yếu làm cho dân chúng hình dụng được những gì đã thực sự xảy ra tại chiến trường trong cuộc tấn công của Việt cộng.

Cảnh tấn công vào tòa đại sứ Hoa Kỳ và cảnh tướng Loan, Tổng giám đốc cảnh sát quốc gia Việt Nam công khai xử tử một phần tử khủng bố Việt cộng, đặc biệt đã làm cho người ta phải hoang mang (15). Các bài báo hằng ngày từ khắp nước Việt Nam gửi về đều đã làm tăng thêm ý thức về sự thảm họa. Các bài này chỉ nhằm tường thuật sự tàn phá do các cuộc tấn công sơ khởi của cộng sản trên toàn Việt Nam gây ra.

Nội một câu trích dẫn trong một bài báo cũng đã có một tác động dữ dội: "Càng thấy cần phải tàn phá một thị trấn để cứu nơi này!" Đó là lời mà người ta kể lại là một thiếu tá Mỹ đã nói với các nhà báo như vậy để giải thích lý do cần phải đánh bật Việt cộng đang chiếm thị xã Bến Tre thuộc đồng bằng sông Cửu Long (16).

Câu nói được nhắc đi nhắc lại rất phổ biến này hình như đã nói lên được cái oái oăm và các mâu thuẫn trong việc sử dụng sức mạng của Hoa Kỳ tại Việt Nam và đã làm cho nhiều người phải thắc mắc về lý do sự có mặt của chúng ta tại đây. Nếu chúng ta phải tiêu diệt các bạn ta để cứu họ thì chẳng biết công việc ấy có nên làm hay không, dù cho ta hay cho các bạn ta cũng vậy?
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #57 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2009, 05:39:38 pm »

Các tin điện chính thức từ Sài Gòn gửi về đã sớm cho thấy tính chất thật sự của cuộc phản công quân sự trước các cuộc tấn công của địch. Việt cộng đang bị tổn thất nặng nề. Quân đội Việt Nam đang phản ứng đúng đắn và quần chúng thường dân đã không nổi dậy để tiếp đón và làm hậu thuẫn cho Việt cộng tại các thành phố.

Tình trạng này lại không được phản ảnh trên các bài báo và các chương trình truyền hình. Những bản tin này vẫn cứ tiếp tục nhấn mạnh về sự chấn động về cái bất ngờ, qui mô và sức mạnh của cuộc tấn công xuất kỳ bất kỳ của địch. Ngay cả một số quan chức thuộc chính quyền mặc dù đã được biết rõ nhờ các bản báo cáo này của Sài Gòn nhưng họ cũng lại vẫn phản ảnh tâm trạng của cả nước.

Harry Mc Pherson một cố vấn đặc biệt chuyên viết diễn văn cho Tổng thống đã kể lại phản ứng của ông ta như sau: "Tôi có cảm tưởng là chúng ta đã gặp phải một cách gay go chưa từng thấy và tôi rất bối rối. Mỗi tuần ba buổi, tôi bắt tay vào việc nghiên cứu các điện văn, tiếp xúc với Rostow và hỏi ông ta về nhưng việc đã xảy ra ngày hôm trước, và những điều ông nói, tôi thấy như có vẻ rất hoang mang so với quan điểm tôi đã thấy được trên truyền hình đêm trước... Phải, phải nhìn nhận là tôi không tin những lời ông nói mặc dù tôi không dám nói chắc rằng tôi có lý khi tin ông ta, vì cũng như hàng triệu người khác cũng đã xem truyền hình đêm trước. Tôi có cảm giác rằng cả nước đều đã chán ngán rồi, chỉ còn muốn đừng phải lãnh thêm nữa mà thôi... Tôi ngại rằng về mặt khoa học xã hội, có điều đặc biệt đáng chú ý là những người như tôi - những người có trách nhiệm phần nào trong việc diễn đạt những quan điểm của Tổng thống - lại có thể bị ảnh hưởng của giới thông tin y như mọi người thường, trong khi mà ở dưới nhà chỉ cách bàn giấy tôi chưa đầy 50 thước có đầy đủ vô số các thứ máy móc thu thập tin tức tình báo - máy điện báo, đài vô tuyến, các tin điện từ chiến trường gửi về. Tôi thiết nghĩ lý do của việc ấy, là vì tôi đã không dùng đến khả năng hiểu biết của tôi về các tin tức mật mã lại dễ tin vào những gì đã thấy trên truyền hình và trên báo chí cũng chẳng khác gì mọi người khác đã từng tìm cách giải thích các đường lối của chiến tranh và đang cố tìm hiểu các đường lối ấy để đưa ra vài điều nhận xét, tôi đã chán ngấy với các lối giải thích “ánh sáng đã lóe lên ở cuối đường hầm". Tôi đã chán ngấy với cái lạc quan không ngớt tuôn từ Sài Gòn về (17)

William Bundy cũng không kém bi quan: "Tôi đã sớm có quan niệm rằng các cuộc tấn công đã có tác hại đối với miền Bắc nhưng cũng đã gây đổ vỡ cho miền Nam nhất là trong lĩnh vực bình định, cho nên muốn cân nhắc cho đúng phải tùy thuộc vào điểm liệu cả nước có đoàn kết được hay không. Quan niệm của tôi về tình hình đã hình thành theo các báo cáo của những người có mặt tại chỗ ở Việt Nam. Tôi còn nhớ đặc biệt về một quan điểm đã làm cho tôi lưu ý. Leroy Kearle đã có thời phục vụ tại văn phòng của cơ quan phát triển quốc tế (AID) tại Washington là một người đáng tin cậy có nhiều kinh nghiệm về Việt Nam. Ông đã viết một tài liệu ngày 5-2 cho rằng Nam Việt Nam đã hết thời rồi, rằng trong xã hội của họ có quá nhiều tệ trạng nên khó mà vượt qua khỏi được trận đòn này. Đây là một tài liệu thấm thía đã nói hẳn ra rằng “họ đã tới số rồi". Bản tài liệu ấy đã phản ảnh được quan điềm của tôi trong một thời gian” .

Phản ứng đầu tiên của Tổng thống là phủ nhận lời tường thuật bất lực này của báo chí và truyền hình và trấn an quần chúng Hoa Kỳ. Đến ngày 31-1-1968 lúc chiến sự trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân đã lên đến cao độ, Đại tướng Westmoreland đã nhận được những chỉ thị như sau của Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân: "Tổng thống muốn rằng ông sẽ đích thân đưa ra cho báo chí một bản bình luận vắn tắt ít ra mỗi ngày một lần trong thời kỳ đang có hoạt động gia tăng của quân đội Việt cộng Bắc Việt, mục đích của những lời tuyên bố ấy là để truyền đạt cho quần chúng Hoa Kỳ thấy rằng ông tin tưởng là chúng ta có đủ khả năng bẻ gãy các hành động địch và để trấn an quần chúng ở đây cho họ thấy rằng ông đang nắm vững được tình hình" (18).
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #58 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2009, 05:40:16 pm »

Để cho mọi người khỏi phải thắc mắc, các chỉ thị này đã được George Christian tùy viên báo chí của Tổng thống lập lại sau đó cũng trong ngày này cho cả Đại tướng Westmoreland lẫn Đại sứ Bunker: "Trong vài ngày nữa đây chúng ta sẽ phải đối phó với một giai đoạn gay go liên quan đến việc quần chúng Hoa Kỳ sẽ hiểu biết và tin tưởng nỗ lực của chúng ta tại Việt Nam... Xin nói trắng ra rằng muốn đối phó lại cho thực hữu hiệu với các cảnh tàn phá của Việt cộng, không gì sánh kịp với niềm tự tin võ nghiệp của vị tướng tư lệnh. Cũng tương tự như vậy, kinh nghiệm và sự khôn ngoan của vị đại sứ của chúng ta cũng đã làm cho tiên đoán kinh khủng của những nhà bình luận chắc chắn tan mờ... Ngay mỗi khi có chuyện gì xảy ra, nếu quý vị xuất hiện lên tiếng thì chắc chắn sẽ có ảnh hưởng rất nhiều tại trong nước hơn là những gì mà chúng tôi có thể nói lên được" (19).

Sau đó Rostow đã nhắc lại cho Đại sứ Bunker và Đại tướng Westmoreland biết ý Tổng thống muốn "Westmoreland phải mỗi ngày ít nhất một lần đưa ra một bản đánh giá nghiêm chỉnh tình hình quân sự và Bunker phải đưa ra đúng vào lúc thích ứng một bản bình luận có thẩm quyền về các khía cạnh của các biến cố và không thuộc lĩnh vực quân sự”.

Rostow cho biết “Nếu không có sự hướng dẫn có thẩm quyền này thì các thông tín viên sẽ bừa bãi làm công việc ấy thiếu hẳn sự bình tĩnh, thiếu hẳn lối nhìn và uy tín mà chỉ hai quý vị mới có được mà thôi"(20).

Vì không đủ dữ kiện vững vàng, Đại sứ Bunker chỉ trình bày về bối cảnh tình hình, cốt để người ta khỏi trích dẫn lời trình bày của ông. Buổi thuyết trình của ông không được mấy ai quan tâm. Đúng theo phận sự. Đại tướng Westmoreland đã tiếp xúc với báo chí ngày 1-2. Tuy nhiên lời trình bày của ông cũng chẳng có gì làm trấn tĩnh tinh thần được khi ông nhấn mạnh vào giai đoạn sắp đến trong chiến dịch của địch nhưng chưa đến và chắc nó sẽ là giai đoạn sôi nổi nhất có thể sẽ gồm cả những vụ đánh vào các khu vực Quảng Trị, Thừa Thiên" (21). 

Westmoreland và Bunker đều nhất trí rằng nếu cả hai người cứ phải họp báo hằng ngày thì quả là một chuyện vừa không cần thiết vừa thiếu khôn ngoan vì như thế sẽ tạo cho báo chí có cảm tưởng là họ đang bị dao động hoang mang. Cho nên đã có quyết định là sẽ có một giới chức cao cấp mỗi ngày sẽ trình bày về một khía cạnh đặc biệt nào đó của tình hình.

Tiếp theo cuộc tấn công Tết Mậu Thân, Tổng thống đã tiến hành cuộc họp báo đầu tiên, ngày 2-2. Ông cho biết là "cuộc tổng nồi dậy đã thất bại không đạt được các mục tiêu đã được đề ra" (22). Ông đã tranh thủ Hội đồng bộ trưởng của ông đề cao quan điểm của chính quyền và đã phủ dụ cùng trấn an dân chúng Hoa Kỳ.

Trong những tuần lễ tiếp theo sau đó Bộ trưởng ngoại giao Rusk và Bộ trưởng quốc phòng đã xuất hiện trên chương trình đặc biệt kéo dài cả giờ đồng hồ của đài truyền hình NBC: Meet the Press (Tiếp xúc báo chí); thứ trưởng ngoại giao Nicholas Katzenbach đã xuất hiện trên chương trình Pace the Nation (Trả lời quốc dân) của đài CBS và Phụ tá Tổng thống Wait M. Rostow đã có mặt trong chương trình Issues and Answers (các vấn đề và lời giải đáp) của đài ABC.

Mặc dù chính quyền đã có những cố gắng đề cao các khía cạnh quân sự thuận lợi trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân nhưng đối với dân chúng Hoa Kỳ và đối với báo chí thì đó là một thảm họa. Một tâm trạng thất vọng và buồn nản đã đè nặng lên giới chính quyền Washington. Chính quyền bị chấn động không những vì cuộc tấn công Tết Mậu Thân mà còn vì các việc làm chủ động khác của Cộng sản.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #59 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2009, 05:40:49 pm »

Tại các nơi khác trên thế giới: tại Nam Triều Tiên, một âm mưu của Bấc Triều Tiên nhằm ám sát Tổng thống Park của Nam Triều Tiên đã bị bẻ gãy vào giờ phút chót; rồi chiếc tàu do thám của Hoa Kỳ cùng với đoàn thủy thủ đã bị Bắc Triều Tiên bắt giữ. Các báo cáo tình báo cho biết tình hình khủng hoảng có thể xảy ra chung quanh Berlin. Chính quyền không dám nói chắc rằng các biến cố này không phải là một biểu hiện Cộng sản mưu toan hiệp đồng tấn công nhiều nơi hòng gây khó khăn và đánh bại Hoa Kỳ không nhưng ở Việt Nam mà còn tại các nơi khác trên thế giới nữa (23).

Ngay như Rusk là con người bình thường rất điềm tĩnh cũng bắt đầu tỏ ra bị căng thẳng và mệt mỏi. Trong một cuộc họp báo “trình bày bối cảnh" tại Bộ ngoại giao ngày 9-2 Rusk đã nổi nóng khi cứ bị chất vấn liên miên về vụ thất bại của tình báo Hoa Kỳ tại Việt Nam. Ông Bộ trưởng đã trách mắng anh chàng phóng viên và anh này đã phát hoảng lên: “Đã đến lúc cần biết rõ anh đứng theo phe nào ?"... "Tôi không hiểu tại sao... người ta lại cứ muốn đi tìm hiểu về những chuyện mà ta có thể bỏ qua" (26).

Dựa trên tình hình này, Đại tướng Westmoland dự kiến cộng quân sẽ hoạt động một đợt thứ ba nữa đánh vào các lực lượng đang bị vây hãm tại Khe Sanh. Ngay từ 31-1 trong khi phần đông các thành phố lớn đang bị tấn công, Westmoreland đã báo cáo rằng những vụ tấn công này chỉ là những nỗ lực đánh lạc hướng trong khi địch chuẩn bị tấn công chính yếu vào phía Bắc vùng I chiến thuật (24). Trong khi họp báo ngày 1-2 ông đã nhấn mạnh rằng trong trận tấn công sắp đến sẽ có việc địch sẽ dùng đến một số lượng binh lính đông nhất từ trước đến nay và còn cho Washington thấy có triển vọng các lực lượng không được sử dụng ở các nơi khác sẽ tiến hành các hoạt động tiến công bổ túc hỗ trợ (25).

Westmoreland có linh tính mục đích cuối cùng của địch là chiếm cứ hai tỉnh phía Bắc của Nam Việt Nam. Theo ông thì riêng Khe Sanh cũng chẳng có gì là đặc biệt quan trọng, song đấy là cửa ngõ dẫn vào, địch sẽ tìm cách đi vòng tránh né. Vị trí kiên cố này, nhằm đạt được các mục tiêu chủ yếu của họ xa hơn về phía đông.

“Tôi bố trí tại Khe Sanh một số quân tối thiểu để giữ lấy khu vực còn số quân tối đa thì tôi giữ lại để tiếp viện bằng đường không nếu cần. Lý luận này là có cơ sở có thể lấy thắng lợi mà địch đã đạt được năm 1972 để chứng minh điều đó. Hồi ấy họ tiến vào Khe Sanh, không gặp sức kháng cự, nên đã chiếm trọn toàn bộ tỉnh Quảng Trị nhưng trong lúc này, tôi nghĩ rằng địch không dại gì sẽ phí sức tại Khe Sanh. Tôi nghĩ rằng có lẽ họ sẽ đi vòng tránh chỗ ấy” (26).

Liệu địch có dự định tấn công và chiếm lấy hai tỉnh phía Bắc của Nam Việt Nam như Westmoreland dự kiến hay liệu địch có tập trung các lực lượng Hoa Kỳ ra xa các thành phố hay không, điều ấy chưa ai dám quả quyết. Theo “Lịch sử Bộ tư lệnh 1968” (Command History 1968) của Bộ tư lệnh viện trợ quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam thì địch tiến đánh Khe Sanh nhằm dụ một phần lớn các lực lượng của ta ra các vùng hẻo lánh xa xôi để trong khi họ tấn công vào các thành phố lớn của VNCH (27).

Khe Sanh chẳng bao giờ phải chống trả một cuộc tấn công đại quy mô của địch, nhưng chưa ai dám quả quyết rằng sự kiện này là do kế hoạch của địch hay là vì không quân Hoa Kỳ đã ồ ạt yểm trợ cho Khe Sanh và đã phá vỡ các cuộc chuẩn bị cho một cuộc tấn công như thế (28). 

Westmoreland có thể đã nghĩ rằng ông không cần quá chú trọng đến Khe Sanh, xét về mặt riêng của căn cứ này nhưng Washington lại có một quan niệm khác ngược lại. Đối với Nhà Trắng hình như đã thấy được các điểm tương đồng giữa Khe Sanh và Điện Biên Phủ khi Khe Sanh đã bị bao vây từ đầu tháng 1.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM