Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 06:32:07 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Sự nghiệp của một tổng thống bị đổ vỡ - L.Johnson và Việt Nam  (Đọc 108516 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #110 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2009, 11:47:21 pm »

Nhưng những nghi ngờ của ông Clifford vào lúc ấy chỉ mới được biểu lộ ra một cách nhẹ nhàng. Ông nghĩ rằng báo cáo của ông trình lên Tổng thống không nên quá bi thảm, nhưng lời lẽ cần phải khéo léo để tỏ rõ được những hoài nghi ban đầu, khả dĩ có thể thay đổi sau này được (66).

Tướng Taylor mặc dù đã bênh vực cho sự chỉ đạo chiến lược mới nhưng đã nghi ngại không hiểu rằng một sự chỉ đạo như thế có thể được công bố vào lúc ấy mà lại không gây tai hại nghiêm trọng về mặt quân sự và tâm lý cho đất nước ấy không.

Ông Rostow đã cho rằng bất cứ một thay đổi nào trong đường lối chỉ đạo chiến lược đều đòi hỏi phải duyệt xét lại mọi khía cạnh của tình hình với Tướng Westmoreland và ông cũng nghi ngờ chẳng biết vấn đề an ninh của dân chúng có thật sự đòi hỏi phải có một sự thay đổi về chiến lược hay không (67).

Cuộc thảo luận vẫn tiếp diễn nhưng đã không đạt được một sự nhất trí nổi bật nào về hình thức chỉ đạo chiến lược tốt nhất mà hầu hết những người tham dự buổi họp đều cho thấy là cần thiết. Sau cùng, vào cuối buổi họp đã kéo quá dài, ông William Bundy đề nghị phải có một người nào đó để tóm lược những kết luận đã đạt được trong cuộc thảo luận và viết thành một báo cáo trình lên Tổng thống. Ông và ông Warnke đã đảm nhiệm công việc này (68).

Trong lúc ấy, lời bàn tán về nội dung những cuộc bàn cãi của Nhóm đặc nhiệm đã đến tai "Các bộ tư lệnh quân sự ở Thái Bình Dương" và các tư lệnh quân sự cao cấp đã cố gắng đưa ra những đề nghị vào giờ chót để bênh vực cho các lý lẽ của họ muốn đưa ra một chiến lược mạnh chủ động hơn.

Đô đốc Sharp, Tư lệnh Thái Bình Dương đã luôn luôn chủ trương một chiến dịch không kích mạnh hơn chống Bắc Việt Nam, việc này thuộc phần trách nhiệm đặc biệt của ông. Ngày 1 tháng 3 ông lại đưa ra một yêu cầu xin bỏ mọi kiềm chế đối với chiến dịch này, những kiềm chế này đã "cản trở không cho các lực lượng chúng ta đạt được đầy đủ hiệu quả".

Ông đã trình bày lời thỉnh cầu này căn cứ vào sự đánh giá lại toàn bộ chiến lược bỏ Việt Nam và đã phát biểu như sau:

"Cho phép địch tiến hành cuộc chiến tranh theo đường lối của họ tức là cho phép địch thực hiện thế tiến công chiến lược trong khi đó thì các lực lượng Hoa Kỳ và Thế giới tự do vẫn ở thế phòng thủ chiến lược…”.

Chiến dịch Sấm Rền là phương tiện duy nhất mà các lực lượng Hoa Kỳ có thể áp dụng đề tiến hành một cuộc tấn công chiến lược chống lại những kẻ mà chúng ta phải thừa nhận là một kẻ thù có quyết tâm cao. “Đô đốc đã mạnh mẽ đề nghị tất cả những sự kiềm chế đối với các hoạt động không quân trên lãnh thổ Bắc Việt Nam trừ những hoạt động chống các tàu hàng hải nước ngoài, các nhà thương, trường học và dân chúng cần phải được bãi bỏ" (69).

Ngày 2 tháng 3, Tướng Westmoreland một lần nữa lại đã cố gắng nài xin cho các lực lượng Hoa Kỳ được phép đánh vào đất Lào để cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh ngay khi có đầy đủ các lực lượng cần thiết. Ngày hôm sau ông đã báo cáo là hoạt động của cộng sản ở Lào đã đạt đến điểm rất đáng lo ngại và xin nghiên cứu đúng đắn kế hoạch cho phép lực lượng Hoa Kỳ can thiệp xuyên qua ngả Thái Lan và dựa vào danh nghĩa của Tổ chức hiệp ước Đông Nam Á (SEATO) (70).

Ngày 1 tháng 3, Đô đốc Sharp lại đưa ra một lần nữa những lựa chọn như ông đã quan niệm: "Tôi có cảm tưởng là chúng ta đang ở một ngã ba đường. Chúng ta có thể lựa chọn đường lối dùng sức mạnh quân sự của chúng ta đem lại hiệu quả lối đa với điều kiện là phải cung cấp đầy đủ các lực lượng cần thiết, hoặc là chúng ta có thể tiếp tục tiến hành một chiến dịch tăng dần dần từng nấc và chấp nhận một trận giao tranh kéo dài, hoặc là chúng ta có thể phải bại trận rút ra khỏi vùng Đông Nam Á và để mặc cho các Đồng minh của chúng ta phải đơn độc đương đầu với Cộng sản"
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #111 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2009, 11:47:59 pm »

Dường như đối với Đô đốc Sharp, sự lựa chọn này quả là điều hiển nhiên. Tôi đề nghị là chúng ta cần phải suy nghĩ và hành động một cách xông xáo, kiên quyết và trong thế tiến công. Bây giờ chúng ta cần phải tỏ ra cứng rắn trong lời nói cũng như trong việc làm, đó là chính sách duy nhất làm cho Cộng sản hiểu được.

“Đô đốc Sharp đã đề nghị được phép thực hiện một chiến dịch phối hợp đổ bộ và không quân đánh vào Bắc Việt Nam và chiến dịch này sẽ được tiến hành, khi nào thời tiết và tình hình hiện nay cho phép" (71).

Nhưng những đòi hỏi của phe quân sự cần phải có một chiến lược mạnh và mở rộng vào lúc đó đã đi ngược lại trào lưu dư luận ở Washington. Nhưng tất cả những kế hoạch này lại đòi hỏi phải có một quyết định chính trị cho mở rộng cuộc chiến tranh và gia tăng các lực lượng Mỹ và lúc đó lại là lúc mà hầu hết các viên chức đã tham dự những buổi họp kín tại Lầu Năm Góc, đã đều nhận thấy rằng sự cam kết của Mỹ đã vượt quá mức các lợi ích dân tộc của chúng ta.

Bản báo cáo chính thức của Nhóm đặc nhiệm Clifford đã được sửa đổi cho gọn gàng và tế nhị hơn tại Lầu Năm Góc. Dự thảo bị vong lục trình Tổng thống do ông Warnke và ông Bundy soạn thảo đã khác biệt rất nhiều về lời lẽ so với bị vong lục đầu tiên trình cho nhóm Clifford vào đầu tuần.

Bất cứ một cuộc thảo luận nào về chiến lược lớn cũng đều bị loại bỏ hết. Bị vong lục đã tóm tắt lại lời yêu cầu xin tăng thêm quân và nói rõ là Tướng Wheeler cho rằng nên thỏa mãn lời yêu cầu này và cũng cần đưa ra biện pháp để gia tăng và cải thiện lực lượng dự bị chiến lược tại Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, để có thể đạt được những mục tiêu này, sẽ cần phải tăng lực lượng vũ trang lên khoảng 511.000 người vào 30 tháng sáu 1969. Có thể thực hiện việc này được nếu gọi nhập ngũ 262.000 quân dự bị, gọi động viên thêm các thanh niên đến tuổi thi hành quân dịch và gia hạn thêm thời hạn phục vụ (72).

Trong một bị vong lục trình Tổng thống, Bộ trưởng quốc phòng đã khuyến nghị nên:

1. Quyết định ngay việc triển khai sang Việt Nam một tổng số ước chừng 22.000 nhân viên quân sự để tăng thêm lực lượng (khoảng 50% trong số này sẽ là quân tác chiến). Quyết định ngay việc triển khai ba phi đoàn máy bay chiến đấu chiến thuật đã bị trì hoãn thuộc chương trình 5 (khoảng một nghìn người). Như vậy sẽ phải vượt quá và trên bốn tiểu đoàn (khoảng 3.700 người) như đã dự trù triển khai vào tháng tư, với tất cả số này chúng ta sẽ vượt quá một chút mức số quân được phép thực hiện là 525.000.

2. Hoặc qua Đại sứ Bunker, hoặc qua một chuyến đi thăm vào ngày gần đây của Bộ trưởng Clifford sẽ tiếp xúc mật thiết với chính phủ Nam Việt Nam (Thiệu và Kỳ) để biết chắc được họ sẽ chủ yếu cam kết những gì nhằm cải thiện tình hình để kết hợp với cố gắng gia tăng của chính chúng ta và với việc Hoa Kỳ tăng thêm yểm trợ cho Quân đội Việt Nam Cộng hòa...

3. Sớm chấp thuận động viên quân dự bị và gia tăng số quân cuối cùng đủ để đáp ứng với số quân mà Tướng Westmoreland yêu cầu và khôi phục lại lực lượng dự bị chiến lược tại Hoa Kỳ, đủ để đối phó với những trường hợp bất ngờ có thể xảy ra trên toàn thế giới... (Khoảng 245.000 người).
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #112 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2009, 11:48:43 pm »

4. Hạn chế quyết định cho thỏa mãn đầy đủ lời yêu cầu của Tướng Westmoreland. Trong lúc chúng ta có thể phải nghiên cứu để thực hiện việc triển khai thêm quân thì quyết định được đưa ra trong tương lai nhằm hoàn thành việc ấy còn tùy thuộc vào:

a) Việc hàng tuần phải xem xét lại để quyết định có nên triển khai thêm quân nữa hay không, theo sự diễn biến của tình hình.

b) Các thành quả chính trị của chính phủ Nam Việt Nam góp phần gia tăng và tích cực các hoạt động quân sự của quân đội Việt Nam cộng hòa.

c) Kết quả của việc nghiên cứu theo chiều sâu và cần phải được tiến hành ngay, để có thể đưa ra đường lối chỉ đạo chính trị và chiến lược mới hầu hướng dẫn những hoạt động của Hoa Kỳ ở Nam Việt Nam và chính sách Việt Nam của chúng ta trong khuôn khổ của chiến lược chính trị và quân sự toàn cầu của chúng ta...

5. Không đưa ra sáng kiến hoà bình mới về Việt Nam. Lập lại lời tuyên bố của chúng ta về những điều kiện để đi đến hòa bình và tiến hành một số hành động ngoại giao hạn chế nào đó để nói lên tính chất nghiêm trọng của vấn đề Lào và để mọi người phải chú ý đến mối đe dọa toàn bộ đối với Đông Nam Á...

6. Một quyết định chung về chính sách ném bom không loại bỏ việc có thể thay đổi trong tương lai nhưng đủ để tạo thành cơ sở để thảo luận với Quốc hội về khía cạnh chủ yếu này. Ở điểm này các cố vấn của Tổng thống đã có những ý kiến bất đồng:

a) Tướng Wheeler và nhiều người khác có lẽ đã chủ trương mở rộng nhiều hơn nữa những mục tiêu và quyền hạn ở ngay bên trong và gần Hà Nội, Hải Phòng, thả mìn cảng Hải Phòng.

b) Còn những người khác có lẽ đã chủ trương đẩy mạnh các hoạt động theo từng mùa suốt mùa Xuân, nhưng lại không chủ trương áp dụng thêm các biện pháp nêu trên (73).

Đính kèm bản báo cáo ấy là 8 phụ lục ghi chép đầy đủ chi tiết về những lý lẽ đã dẫn đến những khuyến nghị này. Bảng A đã duyệt xét lại việc chứng minh tại sao phải gửi ngay thêm một số lực lượng sang Việt Nam. Nhu cầu quả là cấp bách, như đã được nêu rõ, vừa về mặt thực tế, và về mặt tâm lý cần phải gửi số lực lượng như có thể tìm kiếm được để cho sang Việt Nam đúng lúc hầu như tác động đến tình hình trong vòng bốn hoặc năm tháng sắp tới (74).

Bảng B đề cập đến việc gì sẽ cần phải làm để tăng thêm hiệu lực cho các cố gắng của phía Nam Việt Nam đi đôi với việc gia tăng quân của Hoa Kỳ. Có thể dự kiến được hai phản ứng của chính phủ Nam Việt Nam đối với việc triển khai thêm các lực lượng Hoa Kỳ. Sự khẳng định lại lời cam kết của Mỹ có thể sẽ được hoan nghênh sẽ làm tăng thêm niềm tin và có thể làm cho chính phủ Nam Việt Nam củng cố thêm được quyết tâm vào lúc mà "họ phải đương đầu với những nhiệm vụ quả là khá lớn lao".

Mặt khác, cũng luôn luôn có nguy cơ là người Việt Nam sẽ có thể có xu hướng buông lơi, ỷ vào sức mạnh của Hoa Kỳ và nỗi lo âu cũng như tình hình khẩn trương do cuộc tấn công tết gây ra có thể không còn giữ được trọn vẹn ý nghĩa nữa.

Tuy nhiên bị vong lục có nêu rõ là chính phủ Nam Việt Nam đã có đủ khả năng để tiến hành những hoạt động dân sự và quân sự khả dĩ cải thiện được một cách cụ thể bầu không khí chính trị và ý niệm về an ninh trong phạm vi Nam Việt Nam, cũng như làm cho hình ảnh của họ được hoan nghênh hơn tại Hoa Kỳ. Có lẽ Hoa Kỳ sẽ cần phải sẵn sàng đưa ra những đòi hỏi đặc biệt để yêu cầu chính phủ Nam Việt Nam ban hành những quyết định và những biện pháp gồm đủ các loại.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #113 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2009, 11:49:25 pm »

Một bản liệt kê những đòi hỏi đặc biệt và cứng rắn, từ vấn đề động viên cho đến việc cấp lãnh đạo phải thay đổi cơ bản về thái độ và tinh thần phục vụ đều đã được bao gồm trong đó. Bản phụ lục cũng khuyến nghị nên đưa một phái bộ cấp cao, trưởng phái đoàn có thể là ông Bộ trưởng quốc phòng sang Sài Gòn để nhấn mạnh với Việt Nam là vấn đề cải thiện các hoạt động của chính phủ là điều tối cần thiết, nói cho họ hiểu là bất cứ một sự tăng thêm yểm trợ nào của Hoa Kỳ cũng cần phải được đáp ứng bằng hành động tương xứng của phía Việt Nam và Hoa Kỳ sẽ làm bất cứ việc gì xét thấy cần thiết để cải thiện khả năng của quân lực Việt Nam cộng hòa (75)

Bảng C là bản chứng minh vắn tắt cho việc tăng thêm lực lượng dự bị chiến lược. Lý lẽ cơ bản là có như vậy chúng ta mới sẽ có thể sẵn sàng cung cấp được lực lượng trên bộ, trên biển và trên không do Tướng Westmoreland xin thêm trong trường hợp tình hình quân sự đòi hỏi. Thêm nữa, tình hình không ổn định tại nhiều vùng trên thế giới hiện nay lại càng làm cho việc tăng số quân này trở thành "một việc làm phải hết sức thận trọng, hoàn toàn không liên hệ gì đến những trường hợp bất trắc có thể xảy ra tại Việt Nam" (76).

Bảng D đã được dành riêng cho việc nêu lên những cố gắng lớn lao của Nhóm đặc nhiệm đã đưa ra những lý lẽ tại sao lại cần một cuộc nghiên cứu về sự cần thiết phải có sự thay đổi trong việc chỉ đạo chiến lược cho Tướng Westmoreland. Phụ lục này phản ánh quan điểm của ông Warnke và đã dứt khoát bác bỏ những khuyến nghị của phía quân sự chủ trương tăng quân ồ ạt và mở rộng cuộc chiến tranh.

Kế hoạch ấy, theo tài liệu của Nhóm đặc nhiệm, đã chẳng đưa ra được một giải đáp nào thỏa đáng cho vấn đề ở Việt Nam: “Không thể có một bảo đảm chắc chắn nào là việc triển khai thêm số quân lớn lao này lại có thể, trong vòng một năm đạt được, đặt chúng ta vào một tư thế quân sự thuận lợi hơn. Chỉ có thể nói được là với số quân tăng thêm như vậy sẽ cho phép chúng ta diệt thêm được nhiều địch hơn và sẽ củng cố được an ninh nếu địch không bổ sung nổi số thương vong với số quân tăng cường ít hơn của họ.

Không có dấu hiệu nào cho thấy là số quân tăng viện sẽ đem lại một giải pháp nhanh chóng cho Việt Nam, và trong trường hợp nếu chính phủ Nam Việt Nam và quân đội Việt Nam cộng hòa không hoàn toàn tốt hơn nữa nhiệm vụ của họ, thì việc tăng thêm sức hủy diệt và đẩy mạnh thêm việc Mỹ hóa cuộc chiến tranh, trên thực tế sẽ có thể trở nên bất lợi" (77).

Cũng còn có nhiều lý do khác khiến phải tiến hành một cuộc nghiên cứu về chính sách Việt Nam của chúng ta trong khuôn khổ chiến lược chính trị và quân sự toàn cầu của Hoa Kỳ. Không cần biết kết quả ở Việt Nam là như thế nào, nhưng chúng ta sẽ không đạt được mục đích của chúng ta, bị vong lục đã khẳng định như vậy, nếu:

a. Cuộc chiến tranh Việt Nam lan rộng tới mức mà một cuộc xung đột quan trọng có thể dẫn tới cuộc chạm trán quân sự trực tiếp với Liên Xô hoặc Trung Quốc.

b. Cuộc chiến tranh Việt Nam lan rộng tới mức mà chúng ta phải mất quá nhiều về tài nguyên khiến cho các cam kết khác của chúng ta trên khắp thế giới đặc biệt là NATO không còn được người ta tin tưởng nữa.

c. Thái độ của người Mỹ đối với vấn đề sẽ “còn thêm nhiều Việt Nam nữa" khiến người ta phải xét lại những cam kết khác của chúng ta được coi đó như là vấn đề ý chí của Hoa Kỳ

d. Các nước khác sẽ chẳng còn mong muốn có được sự cam kết của Hoa Kỳ vì sợ rằng họ sẽ phải chuốc lấy những hậu quả để trở thành một bãi chiến trường giữa Đông và Tây.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #114 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2009, 11:50:11 pm »

Mặc dù bị vong lục trình bày là hiện nay khó có thể nói trước được là bản chất chính xác của đường lối chủ dạo chiến lược sẽ được chấp nhận và thực hiện sẽ như thế nào, những văn kiện nào đã có chiều hướng lưu ý tới một chiến lược nhằm bảo đảm an ninh cho dân chúng, và nói rõ là không thể hy vọng có một giải pháp quân sự nhanh chóng đối với cuộc xâm lược ở Nam Việt Nam và nghiên cứu về vấn đề này có thể cho thấy là người ta chẳng nên mong Đại tướng Westmoreland có thể tiêu diệt được các lực lượng địch hoặc đánh đuổi địch hoàn toàn ra khỏi Nam Việt Nam. Thậm chí Mỹ phải cam kết không giới hạn như thế nào để đạt được những mục tiêu quân sự nêu trên, điều đó cũng khó có thể ước tính được (78).

Vì thế chiến lược hiện nay nhằm “tiêu diệt các lực lượng địch ở Nam Việt Nam" và chiến lược mới chủ trương sẽ mở rộng những giới hạn địa lý của cuộc chiến tranh rõ ràng là đã bị bác bỏ vì đã phải cần đến những tài nguyên vượt quá khả năng, hoặc đã vượt quá mức mà Hoa Kỳ có thể cam kết được. Lần đầu tiên người ta đã kiên quyết ấn định một mức cao nhất cho số quân Mỹ được đưa sang tham chiến ở Việt Nam.

Bảng B đã được ông William Bundy soạn thảo và đã bàn về những lực lượng chọn trong cuộc đàm phán và những hành động ngoại giao có thể được tiến hành đi đôi với sự tăng cường các lực lượng Hoa Kỳ. Đây là một lý luận dài dòng chủ trương sẽ không làm bất cứ việc gì nếu trước đó đã chưa làm. Tài liệu đã trình bày là công thức San Antonio đã là “mức thấp nhát" được coi như điều kiện để ngừng ném bom và bắt đầu tiến hành đàm phán.

Lập trường này đã tiêu biểu cho niềm tin tưởng của dư luận rộng rãi vào lúc mà các cuộc thương lượng mặc dù đang có những cuộc tiếp xúc liên tục thông qua các phía thứ ba, vẫn chưa thực hiện được. Ngay sau những trận tấn công tàn bạo ở Nam Việt Nam, mà đưa ra những sáng kiến nói sẽ chỉ có thể làm cho Hà Nội tin đó là bằng chứng tỏ rõ sự yếu kém của phía đồng minh và “đó sẽ là hết sức thiếu khôn ngoan vào lúc này". Dù đó đã không hề có một sáng kiến mới nào được đề nghị (79).

Bảng F gồm có hai quan điểm đối địch nhau liên quan đến chiến dịch ném bom chống Bắc Việt Nam. Như đã nhận thấy ở trên, Nhóm đặc nhiệm của ông Clifford đã chia rẽ về chính sách ném bom. Hội đồng tham mưu trưởng liên quân như họ thường hay làm trước đây đã khuyến nghị tiến hành "một chiến dịch không quân phối hợp và kéo dài" chống Bắc Việt Nam gồm cả việc phong tỏa cảng Hải Phòng. Nhưng Hội đồng tham mưu trưởng liên quân đã thận trọng tránh không trả lời thẳng là có thể hy vọng đạt được những kết quả như thế nào, và cũng nói rõ là trong nhiều tháng tới thời tiết xấu sẽ phần nào cản trở việc tiến hành những biện pháp mới.

Tài liệu thứ hai do ông Warnke thảo ra đã bác bỏ một cách ngắn gọn và dứt khoát tất cả các khuyến nghị của hội đồng tham mưu trưởng liên quân đòi mở rộng chiến tranh bằng không quân, ông Warnkc đã lý luận rằng một chiếu dịch mở rộng sẽ không có hiệu quả về mặt quân sự và sẽ còn có thể gây thêm những nguy cơ chính trị không thể chấp nhận được. Thay vì làm như vậy, ông đã dùng lý lẽ để nêu lên một cách lạc quan giá trị chính trị của các cuộc tấn công nếu triệt phá được những mục tiêu quân sự và kinh tế thực sự quan trọng mà không gây thiệt hại quá đáng cho dân chúng" (8()).

Căn cứ vào những diễn biến xảy ra sau này, điều đáng chú ý là không một phe nào đã xem xét đến vấn đề giảm ném bom một phần, tạm ngừng hoặc ngừng hẳn ném bom miền Bắc. Công thức San Antonio đã được xem như là rất hợp lý và người ta đã coi việc Bắc Việt Nam đã không đáp ứng chỉ là bằng chứng cho thấy nói chung họ chưa muốn thương thuyết vào lúc ấy.

Do vậy mà suy ra, vì lẽ việc hứa ngừng ném bom hoàn toàn đã được thực hiện rồi nếu những điều kiện được đề ra trong công thức San Antonio đã được thi hành, nên người ta đã có cảm tưởng là một việc làm nào đó kém quan trọng hơn là một cuộc ngưng ném bom hoàn toàn, tất sẽ cũng chẳng đem lại hiệu quả gì để đưa Hà Nội ngồi vào bàn đàm phán.

Hai bảng cuối cùng trong bị vong lục của ông Clifford, bảng C. và B. đã bao gồm phần phân tích của ông Goulding về điều mà phản ứng của công chúng đã biểu lộ đối với việc đưa thêm quân tham chiến và việc gọi động viên các lực lượng dự bị (81).
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #115 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2009, 11:50:47 pm »

Như vậy bị vong lục được Bộ trưởng quốc phòng chuyển đến Tổng thống, kết quả của một giai đoạn tham khảo rầm rộ, biên soạn và đánh giá lại, về nhiều mặt, vẫn lại chỉ giống như tất cả những công trình nghiên cứu khác do nhu cầu tăng viện cua Tư lệnh chiến trường ở Việt Nam gây nên. Giọng điệu có vẻ rất quen thuộc: “chúng tôi sẽ cung cấp những gì mà hiện nay chúng tôi có thể cung cấp được mà không làm gián đoạn đời sống chính trị và kinh tế của đất nước, trong khi đó chúng tôi vẫn nghiên cứu tình hình theo các diễn biến xảy ra".

Những lý do khác khiến không thể đáp ứng được tất cả những yêu cầu của Tướng Westmoreland cũng đã được viện dẫn và chứng minh rõ. Tình hình ở Nam Việt Nam quả là không rõ ràng. Liệu chính phủ và quân đội có thể thoát khỏi cơn nguy nan và cải thiện được hay không, điều nay đã được đặt thành vấn đề nghiêm trọng.

Người ta đã không thấy là Hoa Kỳ có thể đạt được những mục tiêu của họ ở Nam Việt Nam bằng sức mạnh quân sự dù bất cứ với số lượng nào. Vì thế bản báo cáo của Nhóm đặc nhiệm hình như đã khuyến nghị là chúng ta cứ nên tiếp tục chập choạng theo con đường cũ, đồng thời cũng cần tham khảo bản đồ thường xuyên và tỉ mỉ hơn nữa, để biết chắc chắn là chúng ta đang đi đúng đường.

Nhưng lần này đã có một sự khác biệt, mặc dù đã khuyến nghị một chiến lược mới, nhưng lần đầu tiên người ta đã thừa nhận và dứt khoát nêu rõ là cần phải đưa ra một đường lối chỉ đạo chiến lược, phải có một sự đánh giá lại chiến lược của chúng ta ở Việt Nam và phải ấn định một giới hạn cho sự dính líu của Hoa Kỳ ở Nam Việt Nam và phải khẳng định rằng dù bất cứ một số quân Mỹ nào chăng nữa cũng không thể đạt được các mục tiêu của chúng ta, nếu không có sự cải thiện quan trọng khả năng của chính phủ Nam Việt Nam nhằm tranh thủ sự ủng hộ của quần chúng và đấu tranh hăng hái cho nền an ninh của chính họ.

Được sự yêu cầu xác định xem có thể chọn mức số quân tăng cường nào đó gửi sang Việt Nam, các quan chức cao cấp, những người đã soạn thảo và tán thành bị vong lục ngày 4 tháng 5 đã lại đi đến một vấn đề cơ bản hơn nhiều. Thực vậy, vấn đề cơ bản đước nêu lên là số quân mà các cấp tư lệnh quân sự xin tăng thêm sẽ thực sự đem lại sự khác biệt gì trong cuộc chiến tranh, và sẽ đạt được tiến bộ như thế nào để đi đến chiến thắng?

Các nhà lãnh đạo dân sự đã sẵn sàng tìm đủ mọi cách nhằm đáp ứng lời yêu cầu của phía quân đội xin tăng thêm quân và xin gọi động viên một phần hầu có thể đối phó được với những trường hợp bất ngờ khác có thể xảy ra. Tuy nhiên có điều quan trọng hơn nữa là các quan chức này cuối cùng đã nhận được ra rằng không có một chiến lược quân sự nào lại có thể đạt được thắng lợi trừ phi có được sự kiện chính trị và quân sự là Nam Việt Nam đã có thể tranh thủ được sự ủng hộ của nhân dân họ.

Vì thế đây là lần đầu tiên, cần phải đặt các cố gắng của Hoa Kỳ tùy thuộc vào những cải cách mà người Nam Việt Nam có thể thực hiện được và Hoa Kỳ cần phải dùng thế đòn bẩy để thúc đẩy việc thực hiện những cải cách ấy. Cũng cần phải thông báo trước cho Nam Việt Nam biết là .... sự cam kết của Hoa Kỳ cũng đã gần tới mức rồi.

Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân đã nhận thấy có những sai lầm tai hại trong chiến lược này. Ông không thể chấp nhận lời chỉ trích ngụ ý trong đề nghị đối với chiến lược đã được áp dụng trước đây và cho rằng các quan chức dân sự trong Bộ quốc phòng không nên dính dáng đến việc ban hành đường lối chỉ đạo riêng biệt cho tư lệnh chiến trường là một giới quân nhân và ông đã ủng hộ lời yêu cầu của vị tư lệnh chiến trường xin thêm quân khả dĩ giúp cho vị này giành lại được thế chủ động.

Dĩ nhiên sự thỏa hiệp đã đạt được là mặc dù việc chỉ đạo chiến lược mới là cần thiết, nhưng quyết định về đường lối chỉ đạo này cần phải được hoãn lại trong khi chờ đợi một sự đánh giá lại về mặt chính trị và quân sự toàn bộ chiến lược và các mục tiêu của Hoa Kỳ tại Việt Nam, trong khuôn khổ những cam kết của chúng ta trên toàn thế giới.

Ông William Bundy đã nhận thấy mục đích của bản báo cáo như sau:

"Chúng tôi nghĩ là chúng tôi chỉ nên đưa ra những lởi khuyến nghị phải chăng với đầy đủ những lời lưu ý trước và những phụ lục như thế để cho quan niệm được thông suốt và không nên đưa ra một quyết định nào trước khi quan niệm này được hiểu một cách thấu đáo...

Những vấn đề lớn vẫn còn y nguyên. Đã có nhiều dấu chấm - dấu lưu ý cần thận trọng - trên toàn thể bản dự thảo hoàn toàn đều là có cố ý. Chúng tôi đã hoàn thành sứ mệnh đã ủy thác cho chúng tôi nhưng vẫn còn tồn tại đủ mọi loại vấn đề… Bất cứ ai cũng có thể thấy rất rõ việc này tức là không một Tổng thống nào lại có thể quyết định đưa vào những khuyến nghị này được" (82).

Những khuyến nghị thật sự chỉ đã chiếm được một phần nhỏ trong bản báo cáo ông Warnke có nhắc lại như thế và phần còn lại của bản báo cáo đã là cả một cố gắng để các Tổng thống phải chú ý, làm cho ông tập trung vào những vấn đề rộng lớn hơn (83).

Một điều nữa không kém phần quan trọng là mầm mống nghi ngờ liên quan đến chiến lược và sự chỉ đạo của Hoa Kỳ ở Việt Nam đã được gieo vào tâm trí ông Clifford. Mầm mống ấy sẽ phát triển nhanh chóng trong những tuần kế tiếp.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #116 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2009, 11:53:27 pm »

CHÚ THÍCH CỦA CHƯƠNG BẢY

(1) Joseph C.Goulden, Những luật sư thượng thặng, thế giới nhỏ và đáy quyền lực của văn phòng luật sư lớn tại Washington. Clifford “tái nhận định tình hình ở Việt Nam".

(2) Goulden, Những luật sư thượng thặng, tr.90-100, 102-104. Trực tiếp phỏng vấn ông Harry C.Mcpherson Jr. ngày 21-12-1972.

(3) Johnson “Vị trí ưu thế” tr.325-237.

(4) Trực tiếp phỏng vấn Clark ngày 16 tháng 11 năm 1972

(5) Trực tiếp phỏng vấn ông Harry C.Mcpherson Jr. ngày 21 thá ng 12 năm 1972.

(6) Trực tiếp phỏng vấn ông Clark Clifford ngày 28-11-72

(7) Goulding "Xác nhận hay đính chính". John "Clifford phủ nhận ông chỉ là xử lý thường vụ”.

(Cool Trực tiếp phỏng vấn ông Paul Nitze.

(9) Trực tiếp phỏng vấn ông Paul Nitze. Xem “Bị vong lục và sự hướng dẫn chiến lược" của Phụ tá Bộ trưởng quốc phòng.

(10) Trực tiếp phỏng vấn ông Paul Nitze ngày 6-10-72.

(11) Như trên.

(12) Như trên, và xem thêm Bị vong lục của Phụ tá Bộ trưởng quốc phòng tr.1-3.

(13) Trực tiếp phỏng vấn ông Paul Nitzé ngày 6-10-72.

(14) Trực tiếp phỏng vấn ông Paul Warnke ngày 17-11-72.

(15) Trực tiếp phỏng vấn ông Paul Wamke ngày 17-11-72.

(16) Trực tiếp phỏng vấn ông Paul Warnke ngày 17-11-72.

(17) Clifford: Một sự nhận định mới về Việt Nam, tr.603604. D.Eisenhower "Những năm ở Nhà Trắng: Tiến hành hòa bình 1956-1961". tr.607-612.

(18) Johnson “Vị trí ưu thế”: tr. 148-149. 256-257. Xem thêm Clifrord “Sự nhận định mới về Việt Nam".

(19) Johns "Vị trí ưu thế” tr.375.

(20) Trực tiếp phỏng vấn ông Clark Clirford ngày 16-11-72.

(21) Trực tiếp phỏng vấn ông Clark Clirford ngày 16-11-72; xem thêm Clark Clifford “Sự nhận định mới về Việt Nam" tr.606-607. Để có cái nhìn lạc quan hơn, xem Taylor “Thanh kiếm và lưỡi cày" tr.375-376.

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #117 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2009, 11:53:40 pm »

(22) Tài liệu công quyền của Lyndon Johnson. 1967 II. tr.879; xem thêm Johnson “Vị trí ưu thế” tr.267-268. "Những quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam" IVC (7)(b) tr.101-103.

(23) Trực tiếp phỏng vấn ông Dan Rusk ngày 22-1-1973.

(24) Clifford “Sự nhận định mới về Việt Nam" tr.608.

(25) Ủy ban quốc phòng, Thượng viện, Quốc hội Hoa Kỳ bổ nhiệm ông Clifford làm Bộ trưởng quốc phòng. tr.50-21; xem thêm Chalmer M.Robert “Công thức của ông Clifford định nghĩa về thời gian ngừng ném bom".

(26) Trực tiếp phỏng vấn ông Clark Clifford. Tuy nhiên, theo tướng hai sao, Tổng thống không hài lòng về lời giải thích của ông Clifford. Tổng thống biết là ông bị mắc kẹt. Ông không thể không công nhận vị Bộ trưởng quốc phòng do ông chỉ định nhưng sự thất vọng của Tổng thống đối với ông Clark Clifford bắt đầu từ đây. Trực tiếp phỏng vấn tướng Robert...

(27) "Xác nhận hoặc đính chính".

(28) Johnson "Vị trí ưu thế” tr.395.

(29) Hãng thông tấn và truyền hình CBB phỏng vấn L B.Johnson tr.17019. Về bản văn của dự thảo chỉ thị, xem Johnson "Vị trí ưu thế” tr.397.

(30) Trực tiếp phỏng vấn ông Clark Clifford ngày 16-11-72. Xem thêm Hoopes "Sự đánh giá của ông Johnson" tháng 3 năm 1968.

(31) Trực tiếp phỏng vấn ông Clark Clifford tháng 11.72.

(32) Johnson "Vị trí ưu thế”, tr.415-432.

(33) Nghiên cứu về Đại cương các đề tài và phân công nghiên cứu công tác tại Việt Nam: Bị vong lục của ông William Bundy gửi Nhóm đặc nhiệm Clifford ngày 29-8-68. Trích dẫn trong "Quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam" IVC (6)(c), tr.16-17.

(34) Trực tiếp phỏng vấn ông William Bundy.

(35) Trực tiếp phỏng vấn ông Morton H.Halperin, 27-12-72.

(36) Trực tiếp phỏng vấn Paul Warnke ngày 17-11-1972.

(37) Trực tiếp phỏng vấn ông Walt Rostow ngày 1-12-1972. "Sự chia sẻ quyền lực” tr.502. 702-704.

(38) Ghi chú viết tay của ông William Bundy ngày 10-1-68. Rostow : "Sự chia sẻ quyền lực".

(39) Clifford "Sự nhận định mới về Việt Nam" tr.609-610.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #118 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2009, 11:54:33 pm »

(40) Trực tiếp phỏng vấn ông Clark Clifford ngày 10-11-72.

(41) Ghi chú viết tay của ông nhân cuộc đàm thoại với ông Paul, năm 1968, trích dẫn trong “Quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam” IVC ( 6)(c) tr. 16. 17.

(42) Văn kiện của Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân số 02430, 292339Z tháng -1968 của Đại tướng Wheeler gửi Đại tướng Westmoreland.

(43) Bị vong lục của ông William gửi Nhóm đặc nhiệm.

(44) Văn phòng trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng/các vấn đề an ninh, bản thảo bị vong lục, đề tài: Sự lựa chọn về chiến lược ngày 29-2-68, trích dẫn "Quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam" IVC (6)(c). tr. 27-28.

(45) Như trên.

(46) Văn phòng trợ lý Bộ trưởng quốc phòng/về các vấn đề an ninh, bản thảo bị vong lục, đề tài: tình trạng quân lực Việt Nam cộng hòa, không đề ngày tháng, trích dẫn trong "Quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam" IVC (6)(c). tr.22-29.

(47) Văn phòng trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng/về các vấn đề an ninh, không đề ngày tháng, trích dẫn trong "Quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam" IVC (6)(c). tr.26.

(48) Phin. G.Goulding, bản thảo bị vong lục, đề tài: Có thể có những phản ứng của quần chúng về nhiều giải pháp khác nhau, không đề ngày tháng trích dẫn trong "Quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam" IVC (6)(c). tr.30-32.

(49) Như trên.

(50) Như trên.

(51) Phỏng vấn riêng ông Paul Warnke ngày 17-11-1972.

(52) Phỏng vấn riêng ông Morton Halperin. 27-12-1972.

(53) Bản dự thảo bị vong lục trình Tổng thống. Đề mục: Những chiến lược để lựa chọn ở Nam Việt Nam, dự thảo thứ ba 1-3-68. Phụ lục II những đường lối hành động quân sự được trích dẫn trong "Quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam". IVC (6)(c) tr36-37. ..

(54) Biên giới này chạy dọc theo chân núi phía đông của dãy núi Trường Sơn từ tỉnh Quảng Trị đến Phan Thiết ở Bình Thuận, cắt ngang Việt Nam dọc theo ranh giới phía Bắc của vùng đồng bằng từ Phước Tuy đến biên giới Campuchta ở Tây Ninh. Những vị trí đóng quân sẽ được thiết lập như ở Bằng Sơn và An Khê.

(55) Dự thảo bị vong lục trình Tổng thống ngày 1-3-1968, phụ bản III. Vấn đề an ninh của dân chúng, được trích dẫn trong "Quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam” IVC (6)(c), tr.38-39.

(56) Dự thảo bị vong lục trình Tổng thống ngày 1-3-1968, phụ lục chiến lược theo từng vùng chiến thuật được trích dẫn trong "Quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam" IVC (6)© tr.39-41.

(57) Tổ chức Hội đồng TETIS. Nha kế hoạch và chính sách, Sở kế hoạch ngắn hạn, phòng 5, đề mục: Phân tích của TL Bộ TL viện trợ Hoa Kỳ ở Việt Nam về nhu cầu số quân và các đường lối hành động để lựa chọn. 1-2-68 được trích dẫn trong "Quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam” IVC (6)(c) tr48, 49.

(58) Phỏng vấn riêng ông Clark Clirrord ngày 18- 11-72. Tham khảo cả Clifford "Sự nhận định mới về Việt Nam" tr.510-512.

(59) Taylor “Thanh kiếm và lưỡi cày" tr.88.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #119 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2009, 11:59:29 pm »

(60) Phỏng vấn riêng ông Paul Nitze ngày 6-10-1972.

(61) Phỏng vấn riêng ông Henry Fowler 28-10-72.

(62) Bị vong lục không đề ngày, đề mục “những đường lối hành động để lựa chọn" ký tên M.J.T. được trích dẫn trong "Quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam" ICV (6)(c) tr.22-24. Xem cả Taylor "Thanh kiếm và lưỡi cày" tr.377-389.

(63) Phỏng vấn riêng ông Walt W.Rostow ngày 1-12-72. Đọc cả Rostow "Sự chia sẻ quyền lực", tr.495-519-580-700-702 và Daniel Ellsberg. bị vong lục để ghi hồ sơ: Đề mục: "Hậu quả của cuộc tấn công Đông Xuân" 28-2-68. Bản dự thảo của Cơ quan an ninh quốc tế quả đã có sử dụng một vài lời lẽ trong bị vong lục của Ellsberg để diễn tả tình hình đang diễn ra ở Việt Nam và đã nghiên cứu kỹ cuộc tấn công Tết hơn là như các quan sát viên khác đã ghi nhận.

Đoạn sau đây trong tài liệu của Cơ quan an ninh quốc tế đã được trích nguyên văn từ trang 4 của bị vong lục do ông Ellsberg thảo:

“Không chắc chính phủ Nam Việt Nam sẽ có đủ khả năng đối phó với sự thách thức. Chính phủ này sẽ không hành động theo chiều hướng Chính phủ đoàn kết quốc gia. Những cuộc bắt bớ những người đối lập càng cô lập và làm mất uy tín chính phủ này và có lẽ báo trước việc Quốc hội sẽ suy yếu đi và sẽ làm cho những diễn biến chính trị đầy hứa hẹn của năm trước phải tiêu ma.

Hơn nữa, rất có thể là cuộc tấn công vừa xảy ra này đã được tiến hành dễ dàng chính là vì dân thành thị đã có một thái độ mới hoặc thân thiện hoặc thờ ơ và cũng vì cơ sở tổ chức rộng rãi ở cấp thấp đã sẵn sàng cộng tác mà trước đây chưa từng thấy ở một quy mô lớn như vậy.

Nếu trên thực tế, những trận tấn công cho thấy rõ những cơ hội và khả năng mới của Việt Cộng trong các thành phố thì như vậy hậu quả của chính những trận tấn công này, sức phản ứng quân sự tại khắp nơi và phản ứng yếu kém về mặt chính trị của chính phủ Nam Việt Nam có thể vẫn sẽ làm cho Việt Cộng nắm được chính nghĩa hơn tại các thành phố cũng như ở vùng nông thôn, mà dù cho nỗ lực chính trị của chính phủ Nam Việt Nam có thay đổi để cải thiện chăng nữa, nhưng rất có thể là sự xâm nhập của Việt Cộng tại các thành phố như họ đã thực hiện hay thậm chí còn có thể tiến xa hơn nữa sẽ không còn cho phép mở rộng được nữa cuộc vận động chính trị thật sự phi Cộng sản.

Đọc "Quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam" IVC (6)(c) tr.31.

Tuy nhiên ông Rostow đã sai khi ông xác nhận là phần kết luận của cả hai tài liệu giống nhau. Bị vong lục của ông Ellsberg đã dự đoán một kết luận tai hại cho các mục tiêu của Hoa Kỳ. Bị vong lục này đã nói ró là "sự việc sẽ còn trở nên tệ hại hơn nhiều và rồi sẽ chẳng bao giờ tốt được... Tôi nghĩ rằng cuộc chiến tranh được coi như đã kết thúc".

Mặt khác, tài liệu của cơ quan an ninh quốc tế (XSA) đã nhấn mạnh đến những mặt không phải là quân sự của chúng ta và đã đi đến kết luận là chúng ta đã lâm vào tình trạng bế tắc ở Việt Nam. nhưng chúng ta có thể "đạt được mục tiêu... nếu Chính phủ Nam Việt Nam bắt đầu tiến hành được những biện pháp cần thiết để tranh thủ sự tin cậy của nhân dân và tạo được khả năng lãnh đạo có hiệu quả đối với các phe nhóm trong nhân dân.

Đọc "Quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam" IVC (6)(c) tr.370.

Ngoài ra, "Phỏng vấn riêng ông Perlie Belb ngày 5-l-73". Về những ý kiến khác trong kết luận bi quan của ông Ellsberg, đọc John P.Roche "Những ký ức của Ellsberg".
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM