Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 08:30:55 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chỉ có một Nguyễn Sơn - Vị lưỡng tướng quốc  (Đọc 56456 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #40 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2009, 06:30:03 pm »


44

Để tăng cường thêm đội ngũ văn nghệ Nguyễn Sơn đã liên lạc với ông Ưng Úy là cha của nhà bác học Bửu Hội để ông động viên con là Bửu Tiến vào giúp cách mạng. Khi vào khu kháng chiến, Bửu Tiến đã hoàn thành 1 vở kịch xuất sắc với tựa đề “Trên nớ” gây được tiếng vang khi lưu diễn tại các tỉnh trong quân khu.

Tư lệnh triệu tập số Văn nghệ sĩ tên tuổi như Đặng Thái Mai, Nguyễn Xuân Sanh, Nguyễn Tuân, Bửu Tiến v. v… để mở 1 lớp huấn luyện về Văn Nghệ với các môn tiểu thuyết, thi ca, phóng sự, phê bình văn học v.v… nhưng vẫn giữ tên lớp là Văn học cho rộng đường tư tưởng, mặc dù các môn lịch sử thế giới, lịch sử Việt Nam, tiếng Anh, tiếng Pháp chiếm không nhiều trong chương trình huấn luyện.

Khai giảng lớp Văn học Nguyễn Sơn nói qua về tác dụng văn học nghệ thuật có thể ăn sâu trong các tầng lớp nhân dân. Sáng tác văn học nghệ thuật giá trị cao có thể đem đến một kết quả hơn hẳn chiến công của quân đội. Nguyễn Sơn nói đến việc Lưu Bang bao vây Hạng Vũ. Trong khi hùng binh của Hàn Tín dồn tàn quân của Hạng Vũ đến sông Ô Giang. Binh lính Hạng Vũ chỉ còn một nghìn người. Họ đã mất tinh thần. Đêm hôm ấy vì tiếng địch của Trường Lương réo rắt, ảm đạm, thê lương đã làm hàng ngàn quân sĩ của Hạng Vũ nhớ nhà, nhớ vợ con. Họ đã bỏ trốn gần hết. Hạng Vũ một danh tướng bách chiến bách thắng của nước Sở, trước cảnh thảm thương đó, cuối cùng phải giết người đẹp Ngu Cơ và tự vẫn bên bờ sông Ô Giang.

Nguyễn Sơn đơn cử thêm một vở kịch của Hồng quân diễn đã làm rung động các nguỵ quân. Vở kịch tả một thanh niên Mãn Châu đi lính cho Nhật. Anh lập được chiến công, Nhật thưởng cho một cô gái. Anh lính cùng anh em ăn mừng nhận quà trong khi đang vồ vập người thiếu nữ. Bà già là mẹ cô gái bị Nhật bắt này, bà đã đuổi theo đến đây. Bà đẩy cửa bước vào, anh lính vội đứng dậy chào mẹ. Bà là mẹ anh và cũng là mẹ cô gái. Khi anh biết cô này là em mình vội quỳ xin lỗi mẹ. Bà cụ lạnh lùng trả lời:

- Bẩm quan lớn, tôi không phải là mẹ quan lớn. Quan lớn đánh giặc cho Nhật được nhận thưởng thì quan lớn cứ việc thưởng. Nó là em quan đấy! Thôi chào quan lớn. Bà cụ bỏ ra về.

Diễn đến đây, bọn lính ngụy yêu cầu đừng diễn nữa. Chúng hứa sẽ vác súng đi theo đoàn kịch.

Quan niệm đơn thuần chỉ nhìn một mặt quân sự là sai. Chiến tranh nhân dân phải bao gồm mọi mặt đúng với mức cần thiết của nó. Chúng ta không nên nói chiến tranh nhân dân ở ngoài miệng mà phải đào sâu mọi khía cạnh để áp dụng, vào thực tế của từng địa phương.

Nguyễn Sơn nói thêm về vở Bạch Mao Nữ. Khi diễn xuất trên sân khấu trước dân chúng tại huyện, có người đã chửi bới thậm chí ném gạch vào người diễn viên đóng vai địa chủ. Diễn như thế là xuất sắc đạt yêu cầu diễn xuất làm cho đồng bào tưởng lầm đây là tên địa chủ thật.

Nguyễn Sơn nhìn chị Minh Trâm, cười và nói:

- Chị Minh Trâm ạ! Kháng chiến rất cần đôi mắt và miệng xinh đẹp của chị. Trong diễn xuất làm cho quần chúng nhân dân xúc động và muốn đi chiến đấu thì vũ khí diễn xuất của chị còn hơn sức chiến đấu của một đạo quân hùng mạnh.

Chị Trâm cúi đầu mỉm cười e thẹn.




45

Thời điểm này, Thanh Nghệ Tĩnh là vùng tự do. Bọn Pháp chưa dám lấn chiếm vào nên các văn nghệ sĩ từ Hà Nội từ các tỉnh nghe tiếng Nguyễn Sơn một người trọng nhân tài. Khi biết ông dùng các người trong lòng địch và các sĩ quan phát xít Nhật họ thấy họ đã tìm ra một hướng đi hứa hẹn nhiều tương lai sáng sủa.

Năm 1947 trường Văn hoá kháng chiến ra đời và khai giảng khoá I ở Cổ Bồn.

Năm 1948 khoá II ở Quần Tín

Năm 1949 khoá III cũng ở địa điểm này

Học viên hầu hết là cán bộ, giáo viên ở Quảng Bình trở ra.

Cuối khoá II, Ban giám hiệu đã phát giải nhất về thi ca: Bài “Vỡ đất” của Hoàng Trung Thông trong đó có câu “Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”, ý thơ đẹp này đã lưu truyền vào quân đội và thấm nhuần trong dân chúng. Trần Hữu Thung có bài “Cò trắng phát thanh”, sau này Minh Huệ có bài “Đêm nay Bác không ngủ”.

Về lý luận văn học, Xuân Tửu ở hàng đầu. Nguyễn Sơn nhà chỉ đạo văn học nghệ thuật của quân khu lại rất khiêm tốn. Đến lớp học ông tự nhận là học viên không thường xuyên và ngồi cùng ghế chung với học viên để nghe giảng nhưng nếu đoạn nào giáo viên không giảng thông suốt thì ông đứng ra giảng đáp ứng yêu cầu ngay tức khắc. Nếu trường hợp học viên của khóa có thắc mắc ông sẵn sàng giảng giải vấn đề khúc mắc một cách rõ ràng rành mạch. Có lần ông nghe Trương Tửu lên lớp tại trường Thiếu Sinh quân. Ông Tửu đánh giá Thuý Kiều là con người bịnh hoạn. Ông nghe được lập tức cho Võ Trí Sơn hay nguyên ngày mai ông sẽ lên lớp cho các em họcvề Kiều. Đấy là tác phong Nguyễn Sơn, những cái sai phải sửa trong tức khắc.

Dưới thời Nguyễn Sơn, nhà văn Nguyễn Tuân đã từng nổi tiếng với tác phẩm “Vang bóng một thời” (1940), “Tuỳ bút” (1941), “Thiếu quê hương” (1943).

Ở Liên khu 4 nhà văn Tuân cũng có những tác phẩm như “Đường vui” (1949), “Tình chiến dịch” (1950) và nhiều tuỳ bút... Ông là Tổng thư ký Hội văn nghệ Việt Nam từ năm 1948 đến năm 1958. Sau đó là ủy viên Hội văn học nghệ thuật Việt Nam. Ông cũng là nhà phê bình xuất sắc nhất thời ấy1

Giảng viên toàn là những học giả, những nhà văn, nhà thơ, nhà soạn nhạc, kịch sĩ, hoạ sĩ có tiếng như Đặng Thái Mai, Tôn Quang Phiệt, Đào Duy Anh, Hải Triều, Nguyễn Tuân, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Đình Lạp, Nguyễn Xuân Sanh, Chế Lan Viên v.v... về giảng dạy. Ban giám hiệu còn mời thêm các đồng chí đến giảng như: Trường Chinh, Nguyễn Chí Thanh, Hồ Tùng Mậu, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Đình Thi, kể cả Nguyễn Sơn cũng trong hàng ngũ giảng viên khi cần thiết.

Quyết định của Khu bộ chỉ thị cho Ban Văn hoá tổ chức những chuyến đi thực tế để các văn nghệ sĩ thâm nhập vào chiến trường Bình Trị Thiên. Có vài lần ông Nguyễn Sơn tham gia cùng đoàn để gợi ý đề tài hoặc uốn nắn các sáng tác của họ. Ông chú trọng vấn đề tổng kết văn học nghệ thuật và phổ biến kinh nghiệm, các sáng tác phẩm phải được lưu hành trong toàn Quân khu 4 và một số tỉnh bạn.
______________________________________
1. Xem phụ trang về Văn hoá nghệ thuật
    Trích “Vang bóng một thời” - Nhà xuất bản Đồng Nai, năm 2001

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #41 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2009, 06:31:30 pm »


46

Việc in ấn ra báo hàng ngày, và tập san hàng tuần được thực hiện đúng thời gian. Trong vài ba ngày khoảng 2, 3 giờ đêm ông lại ghé thăm nhà in để động viên gần 20 công nhân viên in ấn đang làm việc hăng say dưới ngọn đèn dầu.

Anh Nguyễn Văn Thắng, Giám đốc nhà in cho biết:

Những đồ xa xỉ phẩm tịch thu của con buôn trong chiến dịch bao vây kinh tế địch đã được Nguyễn Sơn lịnh cho đồng chí Cần, sĩ quan cận vệ cứ mỗi ngày đem đến 3 gói thuốc thơm và cứ 3 đêm lại cho công nhân nhà in ăn cháo gà hoặc cháo cá khoảng 3 giờ sáng khi việc in ấn hoàn thành.

Giặc Pháp không tấn công được vùng Thanh, Nghệ Tĩnh, chúng quay sang phá hoại kho tàng, bến bãi, cơ xưởng, đập nước và phá hoại mùa màng. Nhà in luôn luôn cảnh giác.

Thường thường cứ đến 4, 5 tháng nhà in lại phải di chuyển qua điểm khác để bảo đảm bí mật. Những căn cứ nhà in thường đóng tại Bồn Trung, Cổ Định, Bàn Thạch, Núi Nưa. Lúc di chuyển nhà in được cấp 20 phạm nhân trực tiếp gồng gánh máy móc, giấy in. Khi di chuyển dọc theo bờ đập Đại thủy nông từ chợ Đu đi về Neo, một phạm nhân làm đổ xe cút kít. Thùng chữ bị rơi xuống dòng mương, nước sâu dưới 2 thước không thể nào mò lấy được, đồng chí Thắng chạy gấp về báo cáo cho Nguyễn Sơn biết ngay. Nguyễn Sơn vội chụp máy điện đàm ra lệnh cho trưởng trạm đóng cửa đập tức khắc... Qua 3 giờ nước rút sát lòng mương, công nhân đã mò lấy không sót một chữ. Nguyễn Sơn đã đến khen và không trừng phạt phạm nhân này.

Nhà in vẫn bảo đảm báo hàng ngày phải ra từ 400 đến 500 tờ để cung cấp cho bộ đội toàn quân khu kể cả tập san mỗi tháng đều ra đúng hạn.

Trong 6 năm in ấn nhà in liên khu tư đã đào tạo được một số chuyên viên kỹ thuật và một số lãnh đạo nhà in làm giám đốc các tỉnh như các đồng chí Nguyễn Trung Lân, Nguyễn Đình Quý, Nguyễn Thể v.v...



47

Các văn nghệ sĩ quân khu có kể lại một chuyện có vẻ ngộ nghĩnh nhưng cảm động. Mới tảng sáng, khoảng 6 giờ, Nguyễn Sơn vừa chạy bộ từ biển về. Ông đã gặp đồng chí Võ Trí Sơn, Giám đốc trường Thiếu Sinh quân đứng ngay cửa nhà - Thấy Nguyễn Sơn về, Trí Sơn đan những ngón tay vào nhau và nói:

- Điểm thứ nhất, nhân danh cá nhân tôi đến thăm sức khoẻ Tư lệnh vì lâu nay tôi không gặp. Tướng Sơn cũng đan ngón tay vào nhau trả lời:

- Rất cám ơn anh, tôi vẫn khỏe và làm việc đều đặn. Thế còn điểm thứ hai?

Hơi lúng túng, Võ Trí Sơn nói:

- Mấy hôm nay tôi mất cái bút, làm việc khó khăn lại không có tiền mua nên phải mạnh dạn đến xin Tư lệnh cho 1 cái bút.

- Thế cần bao nhiêu tiền, nhưng phải mua bút máy thật tốt có thế mới lâu hỏng. Võ Trí Sơn nói số tiền và Nguyễn Sơn vào lấy tiền đưa cho Sơn và hỏi luôn:

- Thế còn điều thứ ba?

- Thôi ạ! Đủ quá rồi!

Ông cười xoà và mời Trí Sơn ăn sáng với ông.


Chiều hôm đó, bộ đội cảnh vệ có tổ chức đấu bóng đá với một đơn vị bạn. Trọng tài điều khiển trận đấu. Nguyễn Sơn vào ngồi bệt dưới cỏ cùng với dân và binh sĩ, cán bộ. Sĩ quan cận vệ vào nhà dân lấy ghế cho ông ngồi - Ông khoát tay “không cần, đem cất đi”. Trong lúc đá bóng xảy ra một cầu thủ chơi xấu. Nguyễn Sơn thấy rõ và bắt trọng tài ngưng cuộc đấu lại. Ông ra sân nói liền:

- Các anh em phải nhớ: Đá bóng để đem lại sức khoẻ và tình đoàn kết, dìu dắt nhau cùng đá cho giỏi. Đá mà chơi xấu là không tốt, là mất đoàn kết, là thất chính trị. Tôi mong trọng tài phạt gắt gao những trường hợp vi phạm này. Khi Nguyễn Sơn trở về chỗ ngồi, ông nghe một khán giả nói:

- Đá bóng mà có chính trị thì mất cả hứng thú. Ông nhìn lại, hóa ra là một chính trị viên đại đội! Ông quát liền: “Chú là chính trị viên mà không quan niệm được chính trị trong thể thao là gì thì đừng nên làm chính trị viên nữa.

Cá tính của Nguyễn Sơn cứ như một hiệp sĩ thấy chuyện bất bình, không đẹp mắt giữa đường liền nhảy vào can thiệp.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #42 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2009, 06:32:36 pm »


48

Việc thành lập đội Văn nghệ lưu động lúc đầu rất khó khăn vì chiến sĩ, cán bộ phần đông ít học. Đồng chí Quang Thiện kể lại:

- Hồi đầu kháng chiến, lúc tôi mới tốt nghiệp trường Quân chính Nhượng Bạn được đưa về phòng chính trị quân khu. Một hôm, đồng chí chính ủy quân khu Trần Văn Quang gọi tôi và đồng chí Huỳnh Quốc Thạnh lên trao nhiệm vụ thành lập đội tuyên truyền Vệ quốc đoàn Liên khu 4, dùng kịch múa và ca hát để tuyên truyền trong quân đội và cổ động nhân dân ủng hộ kháng chiến, tham gia mọi mặt trong công cuộc trường kỳ kháng chiến. Chính ủy Quang chỉ định đồng chí Huỳnh Quốc Thạnh làm đội trưởng và tôi làm đội phó.

Nhiệm vụ thì to lớn, tôi mới 18 tuổi chưa hiểu về văn nghệ nhiều nên rất bỡ ngỡ khi nhận tổ chức này. Chính ủy bảo cứ cố gắng quyết tâm là làm được. May sao, Tư lệnh Nguyễn Sơn từ miền Bắc về nhận chức Khu trưởng, chúng tôi đã được nghe sự am hiểu về văn hoá, văn nghệ của tướng Nguyễn Sơn nên đã mạnh dạn gặp ông để xin ý kiến xây dựng đoàn kịch.

Mới chân ướt chân ráo về khu, Nguyễn Sơn nói còn bận bàn giao công việc giữa Khu trưởng cũ nên hẹn chúng tôi sáng mai gặp ông. Đây cũng là dịp ông đang mong ước quân khu phải có một đoàn Kịch lưu động đi các đơn vị các địa phương để giáo dục chiến sĩ đồng bào cùng hăng hái diệt thù. May mắn thay, hôm nay lại có người đem món ăn hợp với khẩu vị của vị tướng. Ấy là Liên khu 4 phải thành lập đội văn nghệ “ra hồn”. Ông hẹn sáng mai sẽ mở lớp huấn luyện hai ngày về kịch nghệ cho chúng tôi học tập.

Chúng tôi sung sướng được ông nhận lời giúp. Suốt 2 buổi sáng cứ 7 giờ chúng tôi đến để được nghe Nguyễn Sơn giảng. Chúng tôi đã hiểu kịch là gì? Bây giờ tôi vấn còn nhớ lời ông dạy: “Kịch là cuộc sống nhân dân hình tượng hoá, điển hình hóa đưa lên sân khấu để tuyên truyền đường lối cách mạng của đảng, chính phủ. Diễn viên là ai? Là cán bộ, là nhân dân, bộ đội tự biên tự diễn. Sân khấu ở đâu? Ở chợ, ở ngã ba đường, ở rạp hát, ở đình chùa, ở nơi có đông quần chúng. Đề tài là các chuyện trong đời sống nhân dân và quân đội nhằm phục vụ nhân dân và quân đội. Phương châm kịch phải rất bình dân gọn nhẹ không cao xa, lê thê, dài dòng, ít cảnh, ít màn. Tất cả đều thu gọn trong ba lô. Chú ý không phân biệt tôn giáo, dân tộc. Đi tới đâu phải làm công tác dân vận để dân chúng thương mến và giúp đỡ đoàn kịch. Họ tiếp dựng sân khấu cùng bảo vệ trật tự an ninh trong đêm diễn kịch...

Sáng này qua sáng khác Nguyễn Sơn đi sâu vào kỹ thuật đưa những vở kịch bên Trung Quốc, để đơn cử cách diễn tả, cảnh bố cục cốt chuyện, thuật đối đáp kể cả hoá trang. Lối trình bày của ông hấp dẫn, lời giải ngắn gọn. Chúng tôi đã được khai thông về một số cơ bản để thực hiện sân khấu kịch. Chúng tôi cảm ơn Tư lệnh đã tận tâm giúp chúng tôi đặt viên gạch đầu tiên trong việc xây dựng đoàn kịch. Chúng tôi lại được tham dự cuộc nói chuyện của tướng Nguyễn Sơn trong 7 ngày cùng với Văn nghệ sĩ tại Sim, Thanh Hóa.

Riêng Thạnh và tôi, Nguyễn Sơn đã giúp thêm sáng tỏ về Kịch nghệ, đã tác động vào hoạt động của chúng tôi càng ngày càng tăng tiến. Đây cũng là một kỷ niệm thân thương ưu ái giữa chúng tôi và Tư lệnh. Chúng tôi không bao giờ quên nghĩa cử ấy. Nó cũng là trọng trách của người lãnh đạo luôn muốn mọi sự đều tiến lên vẹn toàn.




49

Đoàn ca kịch của Liên khu 4 đã ra đời.

Ban đầu, đoàn trình diễn cho đơn vị cảnh vệ và các phòng ban Bộ Tư lệnh để rút kinh nghiệm và cũng để thầy Nguyễn Sơn uốn nắn thêm. Những vở kịch như: “Tòng Quân”, Hát trống quân về Tăng gia sản xuất, về Trần Quốc Toản, Lý Thường Kiệt... và một số vở chèo đều được khán giả tán thưởng.

Lần lần đoàn đã đi nhiều xã thuộc quân khu để nghiên cứu dân ca, ca dao địa phương, đồng thời nghe ngóng ý kiến của nhân dân để hoàn chỉnh kỹ thuật diễn xuất của các đào kép.

Trong suốt hơn 1 năm, đoàn đã đi biểu diễn tại các huyện trong các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Vinh, Quảng Bình, Quảng Trị, đặc biệt lưu diễn trước tiên tại các đơn vị phụ trách mặt trận Bình Trị Thiên.

Có một lần đoàn đến đình Bình Lâm biểu diễn. Sáng hôm sau lúc 10 giờ có khoảng 9 phi cơ được chia làm 3 mũi bay dọc, bay ngang trên không phận tỉnh Thanh Hóa để công phá cầu Hàm Rồng. Đây là một cứ điểm trọng yếu của quân đội. Nó là đường huyết mạch để các đơn vị chuyển quân, khí giới, khí tài đi vào Trường Sơn. Trước sự đề phòng cẩn mật của quân đội ta, các cao xạ pháo phối hợp với các loại súng máy liên thanh, kể cả súng trường của dân quan đều bắn lên trời tạo thành một lưới lửa dày đặc làm địch hoảng hốt không bắn trúng mục tiêu. Chúng lại bay lượn lên cao và sau cùng chúng trút bom xuống làng Bình Lâm, làm cả làng bị thiêu hủy, có trên 120 xác của dân chúng bị cháy.

Tư lệnh Nguyễn Sơn khi nghe tin đã ra lệnh cho trung đoàn 55 đốn cây, đốn tre để dựng nhà cho dân chúng còn sống sót. Sĩ quan cận vệ đem lệnh Nguyễn Sơn xuống đốc thúc các đội tăng gia sản xuất chuyên chở gạo, muối, khô để tiếp tế cho các nạn nhân.

Khi đời sống của dân làng được ổn định, họ làm kiến nghị xin liên khu cấp thêm súng để được bắn máy bay.

Sau này cứ đến ngày 17/2 dân chúng huyện Hà Trung đều làm một ngày giỗ công cộng cho những linh hồn đã hy sinh. Họ vẫn nhớ và hát bài: “17 tháng 2” tương tự như một bài điếu văn khóc người đã khuất và cũng để ghi ơn sự chăm lo của Tư lệnh Nguyễn Sơn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #43 vào lúc: 16 Tháng Mười Hai, 2009, 12:01:06 pm »


50

Nhà văn Chu Ngọc người sống sát bên tướng Nguyễn Sơn qua các tháng năm gian khổ nhưng đầy phấn khởi tại Liên khu 4 đã nói:

Tôi hiểu Nguyễn Sơn. Tôi thấy nhiều cái thú vị chung đúc ở ông. Ông có gì thật rộng rãi về suy nghĩ, tôi thấy như hơi hướng của chủ tịch Mao, có một lúc tôi lại thấy ông hiền hậu và tế nhị như khi ta nghĩ về Hồ Chủ tịch. Đôi khi tôi lại thấy Nguyễn Sơn là một nhân vật của Thủy Hử sống lại. Rồi trong lúc hành quân của Liên khu 4 có đoàn văn nghệ râu ria gươm giáo đi len vào những khẩu badôca, tôi lại thấy ông là Từ Hải của Nguyễn Du.

Tôi rất thích thú thấy trong cuộc cách mạng của nước nhà có một vị tướng phóng khoáng như Nguyễn Sơn. Cái tác phong quần chúng của ông giúp cho tôi suy nghĩ nhiều về con người cách mạng. Một người tướng oai nghiêm nhưng đối xử rất bình dị với cán bộ và dân chúng. Nên họ rất thương mến và tin tưởng vào ông... 1




51

Bên bờ biển Đô Lương, dưới mái lá của nhà khu ủy Hồ Tùng Mậu, Nguyễn Sơn nhấp chén trà và nói với ông Mậu:

- Bác ạ, đất Nghệ này cuộc sống dân chúng còn nghèo nàn. Chúng ta đóng quân ở đây cũng gây một gánh nặng cho dân. Lực lượng tại chiến trường đã gượng lên được, trước mắt tôi thấy vấn đề quân nhu là quan trọng, cấp bách. Hiện nay tôi đã tổ chức được 4 đại đội tăng gia sản xuất để trồng lúa, trồng mỳ giải quyết lương thực cho bộ đội. Tôi đã phái anh Kiệm ra Thanh Hoá bàn bạc với các cấp ủy địa phương có đất nhiều, họ dành cho ta một ít để canh tác. Bộ Tư lệnh sẽ dời ra Thanh Hoá, tuy có xa mặt trận nhưng lại dễ đối phó với các lực lượng phản động. Thanh Hoá lại là vựa lúa của miền Trung, dân chúng đều có trình độ văn hoá khá, đường giao thông thuận tiện. Đồi núi ít hơn ở đây nhưng cũng là vùng có địa hình thuận tiện cho việc huấn luyện chiến thuật quân sự. Ý bác thế nào!

- Nhất trí cả hai tay! Tôi có ý đó nhưng chưa kịp nói thì anh đã nói rồi.

Một tuần sau trung đoàn chủ lực cùng các bộ phận văn phòng và đơn vị thuộc bộ đều dời ra Nông Cống, Thanh Hóa.

Qua 3 tháng sản xuất hè thu Bộ tư lệnh, Khu ủy và các đơn vị đều thừa gạo ăn. Tư lệnh Nguyễn Sơn thân chinh xuống tập đoàn sản xuất của Bộ. Nguyễn Sơn theo dõi và đặt vấn đề xây dựng thêm hai đại đội sản xuất cùng lập những kho lương thực trong núi để tránh máy bay địch oanh tạc. Năm sau quân khu đã có dự trữ tương đối dồi dào. Liên khu đã tiếp tế gạo cho liên khu 5 và muối cho liên khu 3.


Công cuộc xây dựng văn hóa nghệ thuật đi đôi với xây dựng cấp tốc các đơn vị của liên khu. Nguyễn Sơn không bỏ phí một thời gian nào để lãnh đạo các đơn vị kém.

“Để trở thành một quân đội hùng mạnh tất nhiên phải luyện tập, phải học hành, trao dồi kỹ thuật chiến đấu, nghệ thuật chỉ huy”. Phong trào rèn cán chỉnh quân được Nguyễn Sơn nghiên cứu tỉ mỉ để áp dụng tại khu giải phóng và ngay cả các vùng tạm bị chiếm chú trọng đào luyện dân quân học tập đánh du kích cùng thi đua giết giặc, bắt tù binh, tiếp hàng binh, tiết kiệm đạn và bằng mọi cách lấy vũ khí địch trang bị cho ta. Tất cả chiến binh luôn luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu kể cả nhân viên cán bộ của ban, phòng thuộc khu bộ (Sau này văn phòng của Nguyễn Sơn cùng đi lưu động chỗ này vài ngày chỗ kia vài ngày theo sự di chuyển của ông).

Đi đối với việc rèn cán chỉnh quân, Tư lệnh đã khai mạc lớp ngắn ngày cho các tỉnh ủy viên quân khu về hội thảo để thông suốt đường lối lãnh đạo chiến tranh nhân dân áp dụng tại vùng tự do, vùng tạm bị chiếm và vùng biên giới Trung - Lào và phòng ngự mặt biển. Tư lệnh mời Khu ủy Hồ Tùng Mậu, đ/c Nguyễn Chí Thanh, đ/c Đặng Thái Mai, Trương Tửu trong ban giảng viên. Hội thảo này cũng đặt vấn đề diệt tề, diệt ác, diệt quan lang phản động, Công giáo phản động. Mở rộng mặt trận Liên Việt đoàn kết giữa Kinh và 60 dân tộc thiểu số miền biên giới và duyệt lại một số luật áp dụng với bọn phản động, và phát triển việc sản xuất vũ khí.
________________________________________
1. Xem phụ trang: lời bình của Chu Ngọc
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #44 vào lúc: 16 Tháng Mười Hai, 2009, 12:02:11 pm »


52

Ngày 21 tháng 10 năm 1948 bắt đầu bằng tiếng súng lệnh “Đại hội tập” nổ vang. Mười phát đại bác chĩa ra bắn về phía giặc ở xa khơi cùng với các loạt súng trên những tàu chiến Việt Nam đang tuần tra cửa biển tại Cửa Lò. Tiếng nổ đì đoành đánh dấu chủ trương của Tư lệnh Nguyễn Sơn đang đi vào giai đoạn mới để xây dựng bộ đội vững mạnh, chính quy hoá. Bộ tư lệnh đã phái các cán bộ tham mưu và chính trị cùng một số sinh viên trường Võ bị xuống các đơn vị các tỉnh để hướng dẫn phong trào “rèn cán, chỉnh quân”.


Từ sáng đến chiều, bãi biển Sầm Sơn luôn ồn ào náo nhiệt, các chiến sĩ thi đua tập luyện. Đám này nhẩy rào, đám kia leo dây, đám nọ thực hiện 4 động tác bò lăn, lê toài…

Nguyễn Sơn luôn nhắc đi nhắc lại các câu: Đổ mồ hôi ở thao trường nhiều, ít đổ máu tại chiến trường. Hôm tổng kết về “cấp hành quân” 1 trong cuộc thi chạy mười cây số giữa 3 đơn vị, Đại đội phó Nguyễn Văn Vang nguyên là sinh viên Võ bị Quảng Ngãi đã vượt tiêu chuẩn dẫn đơn vị mình chạy tới đích vượt 2 đơn vị khá xa. Đồng chí đã mệt nhoài và nằm lăn ra cỏ vì quá kiệt sức.

Thường thường “cấp hành quân”, đơn vị đi bộ 5 phút và chạy 10 phút cứ thế vừa đi vừa chạy. Nguyễn Sơn ra lệnh đơn vị tỉnh này chuyển qua tỉnh kia phải thực hiện “cấp hành quân”.

Suốt 3 tháng các cán bộ được lên lớp về chiến lược chiến thuật và chính trị. Các chiến sĩ học các động tác cơ bản bắn súng và sửa súng hóc đạn, tập bắn ba dô ca và bom bay.

Dọc theo bãi biển chỗ nào cũng có bộ đội đang thi đấu hoặc tập hát các bài ca cách mạng.

Cứ tối thứ bẩy có đoàn ca kịch, đoàn chèo góp vui. Dân chúng được dịp cùng bộ đội thưởng thức văn nghệ và tham gia múa tập thể. Thời điểm này tỉnh Thanh Hoá và các tỉnh tưng bừng những tiếng ca tiếng nhạc tiếng trống cổ vũ cho đại hội - các cờ phướn tung bay với chữ “Gian khổ tập luyện, chiến thắng về ta”. Các chiến sĩ hăng hái luyện tập. Họ thấy tương lai đất nước sẽ càng ngày càng rực rỡ. Dân chúng vui mừng trước sự tập luyện của bộ đội. Họ tin tưởng tướng Nguyễn Sơn vị tướng oai hùng, bách chiến bách thắng sẽ lãnh đạo quân khu đánh đuổi mau chóng thực dân Pháp đem lại chiến thắng cuối cùng.

Trong những ngày tập luyện, bộ đội được dân chúng xa gần, đoàn thể, các mẹ, các chị chiến sĩ đem hoa quả, bánh trái, xôi, chè, gạo nếp tiếp tế cho bộ đội, kể cả các đồng bào vùng cao (dân tộc thiểu số) 2 cũng xuống thăm hỏi và chung vui với bộ đội.


Với chiếc xe hòm đen, Nguyễn Sơn đã lái từ chỗ này qua chỗ khác, từ tỉnh này qua tỉnh nọ. Ông kiểm tra và uốn nắn sự luyện tập của các tỉnh đội, huyện đội phải chính xác. Khi đến chỗ bắn bia, Nguyễn Sơn nhắc nhở: “bắn phải đúng mục tiêu, một viên đạn là một quân thù”. Đến chỗ nào đóng quân Nguyễn Sơn cũng vào quan sát bếp ăn các đơn vị làm món ăn như thế nào. Ông ra lệnh trong thời gian Đại hội tập, cán bộ chiến sĩ được hưởng khẩu phần gấp rưỡi. Ông ra phần thưởng bằng tiền cho các đơn vị xuất sắc trong luyện tập và xử lý nghiêm những quản lý cấp dưỡng.

“Phải chi tiêu đúng đắn tiền bạc của dân. Ai tham ô ăn chặn tiền cơm trong 3 tháng tôi đem ra bắn tức khắc”, Nguyễn Sơn nói.

Khi về đến Bộ tư lệnh Nguyễn Sơn lại lấy ngựa đi vào các làng chung quanh để kiểm tra các đơn vị đã giúp đỡ dân quân, du kích được đến đâu. Ở mọi thôn xóm người ta đều nghe tiếng sang sảng của ông. Các cô gái Thanh bất chợt gặp ông đều cúi đầu, co rúm người lại với vẻ sợ sệt.

Luôn dịp này ông bảo đồng chí Võ Viết Sơn cho các cháu Thiếu Sinh quân được tham gia sự luyện tập của bộ đội trong 1 tuần để học hỏi và cũng để có dịp tắm biển cho các cháu thư giãn tinh thần. Ông cũng đi tắm biển chung với các Thiếu Sinh quân. Ông nhờ Võ Trí Sơn dạy ông học bơi. Một số cháu ngơ ngác vì ông đã ở bên Trung Hoa lâu và tham dự vạn lý trường chinh. Ông đã chiến thắng bao nhiêu trận mạc, giỏi như thế tại sao ông không biết bơi. Có lẽ, Nguyễn Sơn đã đi làm cách mạng quá sớm, ông chưa đến bể bơi bao giờ, mà bể bơi thời ấy chỉ dành cho những người Pháp và quốc tịch Pháp mà thôi.

Lớp Văn học đang mở khoá II. Ông ra lệnh các học viên phải dành nửa ngày để tập thể lực và quân sự. Các thôn xóm quanh Bộ tư lệnh cũng được ông phái cán bộ xuống huấn luyện dân quân. Kể cả Tư lệnh bộ cũng phải tham gia luyện tập.

Suốt ngày, chiếc xe hòm đen cùng ông không ngừng nổ máy. Chỗ nào không đi được ông dùng con ngựa màu hồng để di chuyển. Tôi còn nhớ khi học tại trường lục quân Quảng Ngãi, Nguyễn Sơn vừa lái xe ở Huế về Quảng Ngãi lúc 12 giờ, quần áo bám bụi, ông ra lệnh cho tập hợp và nói chuyện với sinh viên trong hơn một tiếng đồng hồ về tình hình miền Nam nóng bỏng giữa buổi trưa nắng chang chang. Gương mặt ông xạm đen. Những lọn tóc quăn như bùng lên. Cái tính nhiệt tình xông xáo trong tác phong khẩn trương của ông là như thế. Việc gì cũng muốn được thực hiện ngay tức khắc. Đấy cũng thể hiện tình thương của Nguyễn Sơn đối với sinh viên và muốn họ mau trở thành những sĩ quan giỏi để chỉ huy quân đội đánh giặc, cứu nước.

Trần Đình Mai Đại đội trưởng là sinh viên Đại đội 3 của trường LQTHQN lúc ấy công tác tại tiểu đoàn 187 thuộc Trung đoàn 57 (trước kia là chi đội Đội Cung) thuật lại: Do tình yêu thương chan hoà đối với cán bộ chiến sĩ mỗi khi ông xuống Hậu Hiền, Cầu Quan, để kiểm tra hoạt động của các tiểu đoàn. Sau đó ông mời cấp chỉ huy đi ăn phở. Thừa cơ hội này một số cán bộ đại đội cũng vào quán “ăn theo” và “chuồn trước” để Nguyễn Sơn trả tiền. Trần Đình Mai có vẻ khoái chí khi kể lại chuyện này.

Trong cuộc lễ của huyện, ông bí thư lên nói dài dòng quá. Ông lên đài cắt ngang và bảo trọng tâm của chúng ta phải nỗ lực làm việc phục vụ mặt trận. Vụ cắt ngang của ông nhiều khi cũng có một số chỉ huy cấp dưới không vừa lòng. Chẳng qua là tính tích cực của Nguyễn Sơn mạnh quá, ông muốn sửa liền những cái sai của người khác ngay tức khắc.
______________________________________
1. Cấp hành quân là hành quân mau
2. Tại vùng cao và biên giới Trung - Lào có 60 dân tộc thiểu số người Mường, Thái, Hmông...

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #45 vào lúc: 16 Tháng Mười Hai, 2009, 12:03:47 pm »


53

Buổi lễ bế mạc “Đại hội tập” được cử hành long trọng, tưng bừng náo nhiệt. Mới tờ mờ sáng, sương mù cuối năm chưa tan, tiếng kẻng, tiếng trống, tiếng chiếng đã vang lừng dội vào núi Nưa vang vang... Một số đoàn thể và dân chúng từ các tỉnh háo hức đi về dự lễ. Mục đích chính của họ là được thưởng thức “Văn nghệ Nguyễn Sơn”. Có số người ở xa cũng đốt đuốc đi nghe Nguyễn Sơn nói chuyện và xem văn nghệ. Đồng bào đồn nôm na như vậy, sự thật Quân khu 4 có nhiều đoàn văn nghệ, đoàn chèo, đoàn ca vũ kịch, đoàn trống quân. Kể cả những đoàn văn nghệ của Trung đoàn.

Đồng chí Hồ Tùng Mậu Bí thư khu ủy đến tham dự. Tiểu đoàn phòng vệ Bộ Tư lệnh được diễu binh trước khán đài.

Đồng chí Đào Chính Nam trình bầy kết quả của hội nghị tổng kết thi đua Đại hội Tập qua 3 tháng rèn cán chỉnh quân. Về thành tích các tỉnh, quân khu tuyên dương tỉnh Hà Tĩnh đứng đầu đến tỉnh Thanh Hoá thứ nhì. Một số sĩ quan đạt điểm cao về thi đua đã được Tư lệnh phong thêm một cấp. (Số sinh viên Lục quân trung học Quảng Ngãi có Lê Thiên Tào, Tống Sĩ Uyên, Nguyễn Văn Vang, Trần Đình Mai, Dương Viết Nuôi1 cùng một số sinh viên khác đều được khen thưởng). Đồng chí Nam đọc danh sách được Bộ tư lệnh chấp thuận cho dự lớp bổ túc cán bộ tiểu đoàn trung đoàn do Quân khu mở.

Từ núi Nưa và dọc theo bờ biển Hoằng Hóa, dân chúng tụ tập từng đám chung quanh bộ đội để ca hát nhảy múa.

Khi bắt đầu trời tối đã thấy ánh đèn măng xông lóe sáng tại các rạp của các tỉnh. Ánh sáng đèn được che đi phía mặt biển để tránh sự chú ý của địch. Những rạp này đều cách nhau khoảng 100 thước. Tiếng loa, tiếng đàn, tiếng sáo vang lừng. Các đoàn ca vũ kịch của quân khu cũng chia làm 4 điểm để biểu diễn cho đồng bào xem. Tiếng vỗ tay hoan hô vang dội át cả tiếng sóng biển ngoài khơi. Các tầu chiến của ta luôn tuần tiễu dọc theo bờ biển để phòng chống đổ bộ.

Đồng bào bảo: các chiến sĩ thao diễn mạnh mẽ thế này thì thằng Tây phải “cút” mau mà thôi...




54

Sau tổng kết “Đại hội tập” để trắc nghiệm trình độ luyện tập trong thời gian qua. Nối tiếp chiến thắng Hộ Thành, Đất Đỏ. Chính ủy Trần Văn Quang thân chinh dẫn 1 đại đội 87 tấn công đồn địch tại Đồng Dương bắt tù binh và thâu vũ khí đáp ứng đúng yêu cầu của Tư lệnh quân khu là luyện quân, luyện cơ quan như quân.

Sau khi phân bổ cán bộ về huấn luyện tại các đơn vị thúc đẩy việc hoàn thành các xã chiến đấu như Cảnh Dương, Cự Nẫm2, Ba Lồng, Nam Đông v.v… Củng cố các xã Ba Rền, U Bộ, Gio Linh, Cam Lộ, Triều Phong để giữ vững đường chiến lược Bắc - Nam luôn được thông suốt. Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh biến thành địa phương vững chắc để yểm trợ cho Phân khu Bình Trị Thiên.

Có thể nói Đại hội tập đã đem lại những kết quả thiết thực cho các chiến sĩ toàn quân khu về mặt quân sự cũng như chính trị, văn hoá. Cục quân huấn Bộ Quốc phòng đã phái đại diện vào quan sát và đúc kết kinh nghiệm huấn luyện bộ đội.

Đây là một thành công lớn của Quân khu 4, cũng từ đấy Bộ Quốc phòng đã triển khai rộng rãi trong toàn quân thực hiện phong trào “rèn cán, chỉnh quân” (Quân khu 9 đã thực hiện vào đầu năm 1950).

Trong dịp này tổng đội phó Lê Thiên Tào ra sức huấn luyện cho lực lượng phòng vệ của Bộ. Hôm ấy Tào được tuyên dương cùng chung với một số chỉ huy.

Trong một tháng học tập tại trường quân sự cao cấp chỉ còn 5 ngày thì bế mạc anh Tào đã được tướng Nguyễn Sơn gọi về để nhận công tác mới.

Khi gặp Tào ông vỗ vai và nhấn mạnh:

- Đây là công tác rất quan trọng, tôi nhận thấy đồng chí có thể cáng đáng nổi. Trong 3 hôm nay tại Bộ tư lệnh tôi đã tiếp phái đoàn cao cấp của Trung ương do đồng chí Lê Đức Thọ Trưởng ban tổ chức Trung ương Đảng dẫn đầu cùng với Thiếu tướng Dương Quốc Chính đưa đoàn cán bộ vào nam để chấn chỉnh và phát huy sức chiến đấu của Nam Bộ. Đêm qua tôi đã suy nghĩ: để đồng chí đi thì tôi tiếc nhưng theo yêu cầu của Thiếu tướng Chính xin tăng cường tôi thấy chỉ có Tào mới đáp ứng được nhu cầu chiến trường Nam Bộ.

Nguyễn Sơn nói sơ lược về tình hình phức tạp của Nam Bộ. Sau khi Đảng cộng sản giải tán để tạo thuận lợi, chánh phủ liên hiệp ra đời giữa lúc bên ta còn yếu kém. Các tôn giáo trong nam như Cao Đài, Hoà Hảo, Thiên chúa giáo cũng nổi lên đòi nhà nước phải đáp ứng yêu cầu của họ. Các đảng phái như đảng dân chủ, đảng xã hội, đảng cấp tiến đấu tranh đòi giữ ngành công an và quân đội3. Về phía quân đội cũng bị ảnh hưởng do đảng chưa nắm được quần chúng, chưa có sự đối phó hợp lý. Kỳ này đồng chí Lê Đức Thọ vào nam thay đồng chí Lê Duẩn cũng để chấn chỉnh nội bộ và đối phó với bên ngoài.

Đây cũng là cơ hội cho Tào nỗ lực hoạt động, tôi tin ở vùng đất mới này lại được Thiếu tướng Chính nâng đỡ anh sẽ có thể tiến lên nhiều hơn ở đây. Mai đoàn đã lên đường anh cố tranh thủ bàn với trưởng đoàn những phương án xử lý khi gặp địch dọc đường để bảo vệ sự an toàn của đoàn về đến Nam Bộ. Nguyễn Sơn bắt tay Tào, ông nói: “Cố gắng lên!”, mạnh bạo vượt gian nguy trở ngại, bước mạnh về phía trước...

Thế là sinh viên Tào được cử là đoàn phó phụ trách điều hành và dẫn dắt đoàn xuyên qua dãy núi Trường Sơn từ Liên khu 5 qua Liên khu 6 về đến Bình Thành, Vàm Cỏ Đông...(Nam Bộ) 4 Đoàn đã đi trên con đường mới mở dài 200 cây số nối liền Nghệ Tĩnh đến Quảng Trị (đường chiến lược tiếp tế phía Nam) dọc theo dãy núi Trường Sơn.

Sau “Đại hội tập” các sinh viên trường Võ bị Nguyễn Sơn đã học xong khóa chỉ huy cấp Tiểu đoàn trong khoá IX. Bộ Quốc phòng lại ra lệnh khóa này trở ra Việt Bắc cùng với khóa X ở Bắc Cạn để học thêm chiến thuật cấp trung đoàn. Cán bộ khung của Lục quân Quảng Ngãi và Võ bị Sơn Tây nhập chung là một chuẩn bị lên đường.
_________________________________________
1. Đ/c Dương Viết Nuôi, sinh viên trường Lục quân trung học Quảng Ngãi, Tiểu đoàn trưởng 274 cùng 436 vượt sông qua Quảng Trị đã chiến thắng nhiều trận vận động chiến. Sau này ông là Thiếu tướng.
2. Đầu tiên “xã chiến đấu Cự Nẫm” điển hình cho sự bố phòng các giao thông hào để bảo vệ người già, trẻ em. Xã đã tổ chức hầm chông lựu đạn gài, bắn tỉa đã làm đại đội địch không tiến vào xã được
3. Trong đoàn đi vào Nam có ủy viên thanh tra đảng Lê Toàn Thư, Hoàng Minh Đạo, Hoàng Hồng Sơn sau là Tiểu đoàn trưởng 307 Lâm Sơn, Tiểu đoàn trưởng Tùng Lâm (tiểu đoàn trưởng) sau là Tỉnh đội trưởng Thủ Biên…
4. Theo bảng báo cáo của đồng clú Lê Duẩn Bí thư xứ ủy Nam Bộ năm 58-59 (chiếu theo tư liệu do Ban Nghiên cứu lịch sử đảng Hậu Giang cung cấp): ... Trương Văn Giầu đảng dân chủ giữ chức Khu trưởng, khu phó, Trịnh Khánh Vàng: Cha đạo Thiên chúa khu 9. Hoàng Xuân Nhị đảng xã hội phụ trách trường trung học Nguyễn Văn Tố, Kha Vạng Cân là đảng dân chủ. Phạm Ngọc Thuần Thiên chúa giáo là Phó Chủ tịch UBKCHC Nam Bộ. Phía đạo Hoà hảo của Huỳnh Phú Sổ và đạo Cao đài phe Cao Triều Phát cũng đều có chân trong chính quyền.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #46 vào lúc: 16 Tháng Mười Hai, 2009, 12:05:32 pm »


55

Khi ông Sơn về đến khu bộ, cô Nội cũng từ Quảng Ngãi bồng con ra gặp ông. Cô đưa con cho ông bế và hôn ông “Em nhớ anh lắm! Tưởng anh ở luôn ngoài trung ương không thèm trở về”- Cô véo tay ông:

- Có cô gái Bắc nào mê anh chưa?

- Á!... Ông suýt xoa và nói:

- Anh luôn nghiêm chỉnh, làm gì có chuyện đó...

Hai người nằm gần nhau như lửa gần rơm. Cuộc tình nổi loạn bù vào những tháng xa cách.


Công việc chỉ đạo của ông như con thoi khi chỗ này khi qua địa phương khác - Cô Nội một phụ nữ đa cảm lại chỉ muốn ông luôn ở bên cô - Cô muốn chăm sóc giặt áo quần cho sạch, nấu ăn cho ngon để ông có sức khoẻ và mỗi ngày ông phải thay áo quần để cô giặt. Khốn nỗi có khi ông đi 4 đến 5 ngày khi về quần áo chua loét như giấm. Cô lại một phen cằn nhằn vì giặt mỏi tay mới sạch, hơn nữa cô luôn cảm thấy cô độc dầu ở gần con nhỏ. Sữa nuôi con ít quá phải cho con bú bằng sữa bò. Có khi Nguyễn Sơn đi quá một tuần, ông bị cô tra khảo, hạnh họe, ghen tuông. Ông phải bình tĩnh khuyên nhủ và giải thích. Cùng lắm ông phải át giọng để cô bỏ thói ghen bóng, ghen gió.

Một buổi chiều bồng con dạo chơi bên bờ biển Sầm Sơn nhìn cánh buồm xa xa, cô lại nhớ đến nhà cô bên bờ sông Cửu Long. Cô nhớ đến mẹ và em, sống chết ra sao. Cây vú sữa, cây lý, cây xoài đã già hơn mười năm đã rất sai quả nhưng không biết giờ đây có còn được như trước không, vì nghe nói tàu giặc thường hay bắn vào nhà bên bờ sông Tân Lược, Tân Quới. Chúng rình tiêu diệt những xuồng liên lạc chở cán bộ, bộ đội vượt qua sông. Thuở ấy sông Cửu Long có tên là sông “Bạc đầu”. Những cán bộ đã vượt qua con sông này thường thấp thỏm lo âu vì tàu giặc thường tắt đèn neo một chỗ đón xuồng liên lạc qua sông để chúng xả súng tiêu diệt ta. Đã có bao nhiêu lần xuồng chìm và cán bộ bị hy sinh dưới làn đạn của chúng cho nên mỗi lần cán bộ qua khỏi con sông này họ cảm thấy già đi hơn mười tuổi, cũng như Ngũ Tử Tư bên nước Sở trước khi qua cổng thành ra ngoài đã bạc đầu vì lo có thoát được tay giặc đang truy lùng ông.

Hồi trưa, cô gặp người bạn cùng quê ra Trung ương tối nay xuôi về Nam hỏi cô có muốn về thăm nhà không? Cô do dự nhưng sau đó cô gửi con cho chị Các và ra đi cùng chị bạn ngay tối hôm ấy. Chị Các tin cô vào Nghệ Tĩnh thăm chồng đang xuống kiểm tra đơn vị.

Khi ông Sơn về, ông cầm bức thư vẻn vẹn vài chữ “Em có việc phải đi gấp về nam thăm mẹ già và giải quyết việc gia đình..., mong anh thứ lỗi và trông con hộ”. Nguyễn Sơn biết cô cũng có phần hờn giận ông nhưng công việc bù đầu, không thể dành thì giờ đi “dung dăng dung dẻ” với cô được. Ông có cảm giác cô sẽ đi mãi mãi, cô đã đánh mất đi những ngày nồng ấm trong tình vợ chồng.

Trong kháng chiến khó tìm được người đẹp và có học thức khéo may vá, chăm lo việc nhà, nấu ăn giỏi dang như cô Nội. Ông linh cảm đây là lần cuối cô xa ông mãi.

Nguyễn Sơn phải mất hai ngày thẫn thờ nuối tiếc vì cuộc tình mà ông cảm thấy mất mát dang dở.





56

Sau những buổi tập ông thường ra biển hít khí trời trong lành hoặc xuống biển tắm. Bãi biển Sầm Sơn cũng là nơi lý tưởng sau này cho các du khách đến tham quan. Biển sạch, hàng thông rì rào mát mẻ, sóng vỗ lao xao suốt ngày tạo nên một bản nhạc trầm buồn man mác. Xa xa dãy núi Mê xanh lam chen lẫn trong những đám mây đang lờ đờ như không buồn trôi. Một cảnh nên thơ mà những người có tâm hồn lãng mạn như ông đều ưa thích.

Cứ mỗi buổi trưa, theo thói quen Nguyễn Sơn xem một quyển sách và phải chợp mắt chừng 15 phút mới đem lại tỉnh táo cho đầu óc. Buổi tối sau khi ăn cơm ông nghe đài, sau đó lại xếp bằng tròn trên giường, ông ngồi đọc sách y hệt như 6 năm ông đã từng sống với Kiếm Qua tại Ngũ Hành Sơn bên Trung Quốc. Thú đọc sách là thú duy nhất của ông, thứ nhì là chơi bóng rổ. Bởi vậy khi dời ra Thanh Hóa ông đã xây dựng một số sân bóng rổ đúng quy cách quốc tế và tự ông huấn luyện cho một số cán bộ chưa biết chơi bóng rổ. Cuối năm ông treo giải thưởng và làm trọng tài giữa các tỉnh tham dự đấu với khu bộ.


Trưa nay, trời nóng nực dưới ánh nắng gay gắt của tháng 4, người ông thấm đượm mồ hôi. Nguyễn Sơn vội ra xe, lái dọc theo bờ biển. Khi đến 1 gềnh đá, Nguyễn Sơn cho xe dừng lại dưới bóng cây, ông dựa lưng vào gộp đá suy nghĩ:

“Em Kiếm Qua, có thật em đã chết rồi không? Những tin từ Trung Quốc đưa về cho hay bọn Tưởng Giới Thạch đã trở mặt đem 2 vạn binh tấn công vào khu Tấn Sát Ký như vũ bão, chúng chiếm giữ và tàn sát đồng bào tại khu”.

Ông suy nghĩ, tất nhiên Kiếm Qua và 2 con phải di tản về căn cứ Diên An mà căn cứ thì đường xa vạn dặm. Trên đường đi địch thường tấn công bằng bộ binh, bằng máy bay. Đoàn di tản cồng kềnh làm sao có thể chu toàn sinh mạng cho tất cả. Nghĩ đến đây ông đưa mắt nhìn ra xa khơi và thở dài:

- Nếu thế thì em chết thật! Con cũng chết và giờ này anh chẳng còn gì nữa!

Ông lại nhớ sự ra đi của cô Nội, một phụ nữ lịch sự yêu ông tha thiết nhưng lại hay ghen. Kể cả cô Nội cũng bỏ ông vào nam. Nhớ đến cô Nội ông lại nhớ đến Huế - đến sự gặp gỡ bất ngờ mà nên duyên. Nhìn cánh buồm xa tắp trên biển mênh mông, hình ảnh cô nhoà theo cánh buồm bé nhỏ, Nguyễn Sơn thở dài và ngâm nhỏ:

“Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa” 1

Lúc ấy nhà thơ Hữu Loan đạp xe đạp từ từ đi đến chỗ Nguyễn Sơn. Nhà thơ dừng xe và nói:

- Biết mà! Thế nào Tư lệnh cũng ra đây vì tôi thấy vắng bóng chiếc xe hòm. Có một chuyện khẩn cấp tôi muốn bàn với ông, nhưng ông suy nghĩ gì mà thừ người ra thế! Nhớ vợ hiền bên Trung Quốc hả! Thôi bà ấy và con đã hy sinh rồi! Còn bà Nội cũng đã ra đi! Nhớ bà Nội phải không? Có thể bà Nội “Một ra đi là không trở về”. Nhớ vừa thôi! Đừng để nỗi buồn lũng đoạn tinh thần người tướng lĩnh!

Hữu Loan đem chuyện ông Hồ Tùng Mậu đã bàn với nhà thơ nên cưới vợ cho Nguyễn Sơn, trong khi ông ấy có những nỗi buồn dồn dập của gia đình. Đã vài lần ông Mậu gặp 2 vợ chồng Nguyễn Sơn đang hục hặc, giận dỗi. Hồ Tùng Mậu có cảm giác cuộc sống của hai người không được thuận hoà. Bây giờ cô Nội đi vào Nam lại chứng tỏ sự rạn nứt đã bắt đầu từ đây. Hồ Tùng Mậu thấy nhiều khi ông Sơn thờ thẫn, buồn rầu. Ông cố tìm giải pháp để an ủi Nguyễn Sơn, cuối cùng Hồ Tùng Mậu đã chọn được một người mà ông cho là đẹp đôi khi ông đến xưởng giấy Hòa Bình của nhà học giả Lê Dự. Ông Mậu đã nói chuyện với cô Huân con của ông Dự. Cô này có vẻ hiền hậu, nết na, phong cách đúng dân Hà Nội. Cô cũng ưng ý nhưng “Các bác phải hỏi bố cháu”.

Thấy Nguyễn Sơn cứ hút thuốc và không nói gì, Nhà thơ Hữu Loan nói tiếp:

- Con người cường tráng như anh phải có vợ! Nhưng vợ như thế nào? Tôi có hỏi vợ tôi về cô Huân, bà rất vừa ý và nói Hồ Tùng Mậu có con mắt quan sát tinh tường.


Chuyện đã đến, phải đến! Vài hôm sau chỉ có một lần ông mời cô ra biển ngắm trăng đang lên. Hai người trong tay nhau nhưng chẳng nói một lời nào có lẽ những điều ông muốn nói với cô, nhà thơ Hữu Loan đã nói hết từ sự nghiệp cho đến tình duyên của ông. Phần cô Huân đi bên ông. Cô cũng tự hào đã có một người chồng tài ba, một vị tướng oai hùng khắp quân khu ai cũng nể, sợ. Phần Nguyễn Sơn, ông cũng cảm thấy được một nguồn vui đang dào dạt trong khối tim cô đơn. Cô Huân đẹp, nhỏ tuổi, hiền hậu dễ thương quá! Ông không biết nói gì hơn là im lặng đón nhận một mối tình tinh khiết, trong sáng của người thiếu nữ.
________________________________________
1. Câu thơ của Nguyễn Du trong Kim Vân Kiều
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #47 vào lúc: 16 Tháng Mười Hai, 2009, 12:06:47 pm »


57

Năm 1948 Đại hội đảng bộ toàn quân khu với 230 đảng viên các trung đoàn tiểu đoàn về tham dự đã cử hành tại Nông Cống, không phô trương như Đại hội Tập. Hội trường được cất 1 dẫy nhà lá cách xa nhà dân. Đại biểu gồm các cán bộ chính trị từ cấp đại đoàn cho đến trung đội.

Tư lệnh nêu lên những ý lớn: Đảng ủy các đơn vị phải cố gắng thâm nhập và đi sát các đảng bộ địa phương để có kế hoạch phối hợp chặt chẽ, nâng cao tinh thần yêu nước của dân chúng và tìm những nhân tố tích cực để phát triển đảng. Phải chú trọng việc đối xử với các đạo giáo cho thật mềm dẻo đồng thời chú ý theo dõi bọn phá hoại nằm trong các tôn giáo và dân tộc thiểu số. Nếu gặp khó khăn không giải quyết được phải cấp tốc báo về khu bộ... Tôi mong rằng số lượng kết nạp đảng hôm nay vẫn chưa đạt được yêu cầu về phát triển đảng. Ông nhấn mạnh các đảng viên phải gương mẫu và là đầu tầu trong mọi chủ trương kế hoạch của quân khu. Tư lệnh Sơn còn nhận xét thêm về vấn đề phòng ngự dọc theo bờ biển chưa được chặt chẽ. Khi địch muốn tấn công bờ biển, chúng sẽ nã pháo hạng nặng dọn đường, ta phải tổ chức phòng ngự vững chãi và nắm chặt lực lượng dân quân địa phương trong việc trinh sát và thông tin. Về mặt trận biên giới phía tây, liên kết chặt chẽ với liên quân Lào - Việt chặn đứng sự lấn chiếm của quân Pháp.

Trong đại hội này có một sự bất ngờ là các cán bộ đảng viên rất tin tưởng sự lãnh đạo sáng suốt của tướng Nguyễn Sơn. Họ xem ông như ngọn hải đăng để quân đội tiến lên. Do đó toàn đại hội đã bầu tướng Nguyễn Sơn làm Chính ủy kiêm Tư lệnh. Chuyện này có lẽ chưa xẩy ra ở các quân khu khác.


Cuối tháng Giêng năm 1948, một sự kiện trọng đại đã xảy ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh phong đồng chí Võ Nguyên Giáp là Đại tướng. Ngày sau phong cấp Thiếu tướng cho các ông: Hoàng Văn Thái, Nguyễn Sơn, Hoàng Sâm, Trần Tử Bình, Văn Tiến Dũng, Lê Hiến Mai, Lê Thiết Hùng. Năm ngày sau Chủ tịch phong tiếp cấp Trung tướng cho Nguyễn Bình. Có lẽ vì sự phong chậm của Chủ tịch Hồ Chí Minh làm các tướng có thể nghĩ Chủ tịch Hồ Chí Minh đắn đo cân nhắc rất nhiều khi đặt bút phong cho ông Bình.

Riêng về Nguyễn Sơn, ông nghĩ rằng các công việc được trên giao ông đều làm đến nơi đến chốn đem lại hiệu quả cao trong hoàn cảnh đầy khó khăn trở ngại có thể nói đây là thời hạn kỷ lục. Trong các lĩnh vực quân sự, văn hoá, kinh tế Nguyễn Sơn đều thực hiện xuất sắc với một thời gian ngắn tại hai nơi: miền Nam và Quân khu 4, so với một số tướng khác sự phong tướng này có hẹp đối với ông không?





58

Bên bờ biển Sầm Sơn, Nguyễn Sơn ngồi hút thuốc không ngừng và suy nghĩ miên man. Có thể có những đụng chạm giữa Khu ủy hoặc cán bộ Bộ tư lệnh. Nguyễn Sơn không biết rằng những hành động độc tài, độc đoán của mình đã lọt đến tai Trung ương đảng và Hồ Chủ tịch. Có thể có ai đó dèm pha, mặc dầu ông cống hiến nhiều thành tích cho Trung Quốc, nhưng tại Việt Nam mới hoạt động có 4 năm. Hay là ông đã nổi tiếng về mọi mặt, trong thời gian ngắn đã đóng góp nhiều nên họ ghen ghét hoặc giả đây biểu hiện tính cách gây thành tích cá nhân của ông. Ở đời thường hay “con gà ghét nhau tiếng gáy”.

Phàm những người chỉ huy quân sự, ai cũng có tính nóng và có quyết định cứng rắn. Tôi nhớ khi xưa tôi là cán bộ đại đội có nhiệm vụ tấn công vào đồn địch phía bên trái. Đã phân bố rõ ràng trên sơ đồ nhưng tại thực địa chiến trường một trung đội đã lùi xuống, đội hình dàn quân không đúng vị trí. Tức giận tôi lại đá đít người chỉ huy và gằn giọng: cho anh em phục tại chỗ gò kia mau! Gần tới giờ khai hoả, anh Trung đội phó vội vã đứng lên huy động các chiến sĩ mai phục đúng chỗ. Sau trận đánh Đại đội về kiểm điểm không thấy đồng chí đó phê bình về hành động của tôi gì cả. Có lẽ anh ấy đã biết lỗi của mình chăng!

Người giỏi hay tự phụ, người chỉ huy giỏi cũng hay độc tài độc đoán. Nhiều khi phải châm chước cho ông Nguyễn Sơn, cái tài của ông đã lấn lướt những tiểu tiết va chạm trong đời thường...

Nguyễn Sơn trì hoãn không nhận chức Thiếu tướng. Ông cho một cán bộ hỏa tốc đi về Trung ương gặp Bác Hồ, trong thư đại ý: “Tôi xin nhường cho Khu phó Đào Chính Nam lên Thiếu tướng còn tôi tài sơ đức mỏng xin Bác cho tôi chức Đại tá đủ rồi”. Lúc ấy ông Hoàng Đạo Thuý1 đang ăn cơm chung với Bác, Bác nói:

- Nguyễn Sơn có tài tổ chức và điều khiển bộ đội nhưng tự cao, tự đại dễ đụng chạm và làm mất lòng người khác. Từ Liên khu 4 đã có dư luận Nguyễn Sơn không nhận sắc phong mà còn xuyên tạc: Nguyễn Sơn là thừa... tướng chứ không có thiếu... tướng.

Khi ông Thúy trở về doanh trại, Bác lấy tấm thiệp viết ít chữ, ngoài đề: Thân gửi Sơn đệ - dưới bài thơ ký tên: “Người anh họ Nguyễn” - Trong thơ vẻn vẹn có 4 câu:

Đảm dục đại
Tâm dục tế
Trí dục viễn
Hạnh dục phương2

Dịch: Cái mặt phải cho lớn gan rộng rãi. Cái tâm mình cho tế nhị, chín chắn. Cái trí cho tròn trịa mềm mỏng. Cái nết cho vuông vức ngay thẳng, cứng cáp. Ấy là phép làm người, khi tưởng phải tưởng như ngay trước mặt giặc, cái lòng phải e sợ như lúc đi qua cầu. Bác Hồ lấy đoạn trước 12 chữ bỏ đoạn sau nhưng người đọc đã biết thay chữ tiểu bằng chữ Tế, tiểu là nhỏ nhưng chữ tế còn nhỏ hơn nhiều (tế nhị) khi tế đi với đại còn có nghĩa là bao dung, rộng lượng. Thay chữ tế người đọc có thể hiểu: Cái tâm mình phải cho khéo léo, tế nhị chín chắn hơn nhiều lần so với người xưa đã dạy. Trong trường hợp này nếu ra 1 mệnh lệnh chỉ trích thì sẽ làm cho Nguyễn Sơn phản ứng. Nếu không sử dụng lối đối phó mềm dẻo cho Nguyễn Sơn vui lòng chấp nhận có tính cách gia đình trong ấm, ngoài êm đã. Bác Hồ chỉ lấy tình anh em chứ không nhân danh chủ tịch nước.


Đại ý của bài thơ: Khen Nguyễn Sơn đã làm được 12 chữ của Tôn Tử Mạo nhưng khuyên phải làm tốt hơn nữa. Việc chuyển thơ, Bác phái Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch nguyên Bộ trưởng đại diện chủ tịch nước chủ trì cuộc phong tướng cho Nguyễn Sơn, việc phong tướng cho các quân khu với tư cách thay mặt Nhà nước tưởng thưởng sự có công phong hàm cấp tướng. Bác Hồ không muốn Khu ủy tổ chức việc này. Bác biết bác sĩ Thạch và Nguyễn Sơn rất thích nhau và các tướng khác cũng biết đến bác sĩ Thạch nhiều.
______________________________________
1. Hoàng Đạo Thuý, Chủ tịch hội Hướng đạo toàn Đông Dương. Tôi là học trò của thầy khi thầy dạy moyen 2è anneé (lớp 5) tại trường Pierre Pasquier phố (Sinh Từ)
2. Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh có tấm thiệp đã ghi câu thơ Bác Hồ gửi Nguyễn Sơn.

[/color]
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #48 vào lúc: 16 Tháng Mười Hai, 2009, 12:08:05 pm »


59

Ngồi trên thuyền xuôi theo dòng sông Mã ra biển, lòng Bác sĩ Thạch ngổn ngang trăm mối. Khi thuyền ra khơi mênh mông, bác sĩ mới thấy lòng lắng xuống ít nhiều. Nhìn lên cánh buồm nâu, Bác sĩ nhớ tới cánh buồm nâu của Nguyễn Bính, ông buột miệng ngâm nhỏ:

Hôm nay trên biển xuôi đò
Thương nhau qua cửa tò vò nhìn nhau
Ai đi đấy, Ai về đâu!
Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu
Cánh buồm. 1

Có thể mình cũng nhớ Nguyễn Sơn đấy! Khi nằm chung với cậu ta ở Bắc Bộ phủ2 cậu cũng ngâm Kiều cho mình nghe:

Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồn xa xa... 3

Bác sĩ ngẫm nghĩ: Nguyễn Sơn mê Kiều có lẽ tâm trạng của ông cũng có dáng dấp giống như Kiều, câu thơ nào ông ngâm cũng phảng phất một nỗi buồn sâu lắng.





60

Thuyền vẫn lững lờ trôi. Mây lãng đãng trên bầu trời xanh lơ. Gió biển mơn man nhẹ thổi. Nắng vẫn sáng trắng cả vùng biển. Đoàn người trên thuyền im lặng cảnh giác tàu chiến của địch xuất hiện. Họ thấy bác sĩ hay ngồi im lặng suy tư nên anh em cũng không muốn gợi chuyện. Quả thật! Bác sĩ băn khoăn suy nghĩ, ông biết Nguyễn Sơn có trình độ, có tài nhưng tính khí ngang tàng nóng nẩy. Trước kia ông quen Nguyễn Sơn tại Bắc bộ phủ. Hai người mến nhau về trình độ kiến thức và khí phách. Ông hay nói những chuyện vui hồi ông còn đang học tại Balê (Pháp) ông đánh tụi sinh viên Pháp ghét người Việt Nam. Bây giờ, giữa trời nước bao la, con thuyền vẫn lững lờ trôi mang theo cánh buồm nâu giữa làn sóng bạc lăn tăn. Trọng trách Bác giao cho ông thay mặt Đảng và Nhà nước ông phải làm tròn, nhưng làm thế nào.

Qua một đêm suy nghĩ ông cũng tìm ra một vài giải pháp để đối phó với sự cứng đầu của ông Nguyễn Sơn.


Hôm sau, thuyền đã vào đậu tại bờ biển Sầm Sơn. Người trung đội trưởng đưa thơ cho Bác, về cùng một chuyến với Phạm Ngọc Thạch đã đưa đoàn ông về Tư lệnh bộ chỉ cách bờ biển hơn 1000 thước.

Gặp nhau tay bắt, mặt mừng, Nguyễn Sơn cho gọi cô Huân về nhờ đi mua vài ký tôm cho ông ăn cơm chiều.

Bác sĩ nói về chiến khu Việt Bắc, còn Nguyễn Sơn nói chuyện về Quân khu 4. Nguyễn Sơn khen một số trí thức đi kháng chiến đã quen chịu khổ cực như các ông Tiến Lãng, Đặng Thái Mai, Nguyễn Tuân v.v…

Cả hai đã ăn cơm xong. Nguyễn Sơn mời ông Thạch dùng nước chè và nhìn chăm chú vào ông Thạch ngập ngừng hỏi:

- Anh Thạch vào thăm tôi chắc cũng có chuyện?

Bác sĩ Thạch cười vã lã:

- Chuyện tấn phong cho cậu ấy mà! Nói xong ông lấy tấm thiệp của Bác Hồ đưa cho Nguyễn Sơn. Nguyễn Sơn coi xong và ngẫm nghĩ vài phút, ông chép miệng:

- Ông cụ kỹ quá!

Rồi Nguyễn Sơn cười to với Bác sĩ:

- Cà n’inquìèté pas, je vai organiser la cérémonie comme il faut. 4

Thế là bao nhiêu lo lắng, Bác sĩ đã chất cả lên mâm cơm đầy vỏ tôm đỏ au. Tối nay ông muốn uống cùng Nguyễn Sơn cho say tuý luý...

Chiều hôm sau lễ tấn phong đã diễn ra long trọng có mặt các đồng chí Khu ủy khu 4 và một số chỉ huy đơn vị tại Thanh Hóa, Nghệ An. Một đại đội, quần áo chỉnh tề được dàn ra làm hàng rào danh dự. Tư lệnh Nguyễn Sơn trịnh trọng cùng Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch diễu qua đoàn quân. Trống kèn vang lừng. Nguyễn Sơn đưa bác sĩ lên khán đài ngồi trước các cán bộ Khu ủy. Bác sĩ Thạch đã thay mặt Đảng và Chính phủ đọc tuyên dương công trạng của Nguyễn Sơn và trao cho ông quyết định phong Thiếu tướng. Nguyễn Sơn đã vui vẻ nhận và tỏ cảm tưởng biết ơn chính phủ.
________________________________________
1. Thơ của Nguyễn Bính.
2. Bắc bộ phủ: phủ Chủ tịch nước
3. Thơ Nguyễn Du
4. Đừng lo ngại! Mai tôi sẽ tổ chức buổi lễ tấn phong đàng hoàng.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #49 vào lúc: 16 Tháng Mười Hai, 2009, 07:48:15 pm »


61

Sau cuộc lễ một ngày Khu phó Đào Chính Nam đã chiêu đãi các quan khách và văn nghệ sĩ khoảng 200 người. Buổi liên hoan nay mừng sự thụ phong Thiếu tướng và cũng là ngày cưới của tướng Nguyễn Sơn và cô Hoằng Huân. Đội ca nhạc kịch quân khu cấp tốc dựng sân khấu để trình diễn phục vụ đêm liên hoan. Nhân dịp này, Tổng biên tập Hữu Loan phụ trách Trưởng ban tổ chức đã hướng dẫn chương trình và giới thiệu quan khách tham dự. Nhà thơ Hữu Loan tuyên bố lễ kết hôn cho Nguyễn Sơn và cô Huân. Không khí nhộn nhịp, tươi vui, tiếng vỗ tay vang dậy, tiếng đụng cốc lách cách chúc mừng.

Nhà thơ Giả Cử đã lên sân khấu ngâm một bài thơ ông làm không đầy 10 phút để góp vui cho đám cưới.

Chúc bà chúc ông
Trăm năm chữ đồng
Thuận vợ thuận chồng
Tát cạn bể đông
Kế hoạch Thu Đông.
Chuẩn bị đã xong
Ừ đánh thì đánh
Đánh ắt thành công
Đì đùng đì đùng
Đại bác thần công
Ông đánh bà đánh
Đánh cho tới cùng
Giành lại non sông
Cháu tiên, cháu rồng
Hạnh phúc thực sự
Chúc bà cùng ông

Chị gái của bà Huân là nhà thơ Hằng Phương đã tặng cho đôi uyên ương một bài lục bát để mừng ngày trọng đại này:

Mừng em lòng chị bâng khuâng
Tiếng cười ngỡ khúc hành quân rộn ràng
Giữa thời kháng chiến ngang tàng
Anh hùng, thục nữ sẵn sàng se duyên
Khu tư đang được bình yên
Anh hùng chớ để vì duyên “giặc vào”.
Viết ngày 4/10/1948

Nhà thơ Hữu Loan còn là hoạt náo viên, đã động viên các nghệ sĩ tích cực tham dự và hô hào các cán bộ nhân viên đăng ký các tiết mục thơ, nhạc để góp vui trong lễ cưới này. Nhất là đội chèo biểu diễn, nhì là sự trình bày các sáng tác của Phạm Duy, Phạm Đình Chương lại thêm bài hát Râu bác Sơn do Trần Đình Xuyên sáng tác.




62

Nguyễn Sơn tính giữ bác sĩ Thạch ở chơi trong một tuần để tắm biển và ăn uống bồi dưỡng cho bác sĩ vì ông biết sinh hoạt ở Việt Bắc kham khổ không như ở nơi Thanh Hóa này. Ông nghe bác sĩ khen biển Sầm Sơn giống như Cô te d’Azur một bờ biển của miền Nam nước Pháp mà những mùa hè ông Thạch hay đi nghỉ tại đó. Nguyễn Sơn cố thuyết phục ông Thạch ở lại nhưng bác sĩ từ chối vì phải vào nam với phái đoàn để chủ trì việc phong tướng cho ông Nguyễn Bình.

Sau đêm liên hoan, đoàn bác sĩ Thạch lên đường đi thuyền buồm vào Nam. Trong số người đi tôi biết hai người: anh Việt Quang, Trung đoàn trưởng và anh Hoài Quang, Chính trị viên trung đoàn.

Sau này cán bộ liên lạc đưa đoàn tới Phan Rang trở về báo cáo với Nguyễn Sơn: đoàn ông Thạch đã bỏ thuyền buồm đổ bộ lên làng Im vì tàu giặc phong tỏa rất nhiều trên đường biển. Để bảo vệ phái đoàn chính phủ, đồng chí Nguyễn Mô Bí thư quân khu 6, đã chỉ định Tiểu đoàn trưởng Lâm tổ chức bố phòng từ làng Im qua quốc lộ tiến về chiến khu 17 (hai tháng trước đây giặc Pháp đã tấn công chiến khu 17. Khu bộ trưởng Vũ Đức trên đường trở về trung ương, đoàn ông đụng độ với cuộc tấn công của Pháp vào chiến khu. Ông đã cùng một trung đội chống trả quyết liệt và đã hy sinh).

Cán bộ liên lạc còn nói bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đi dưới nắng gay gắt rất giỏi. Trong khi các anh em trong phái đoàn phải lấy lá cọ để chống lại ánh nắng chói chang gay gắt thì bác sĩ vẫn để đầu trần hành quân. Khi bước lên căn cứ của chiến khu. Bác sĩ được đ/c Mô giới thiệu bà Sáu là vợ Khu trưởng Vũ Đức. Ông đã lại gặp bà Sáu, Bác sĩ nhân danh Nhà nước an ủi bà và hứa sẽ về trình để đồng chí Vũ Đức được tuyên dương công trạng trong toàn quân đội.

Thấm thoát đã 2 năm trôi qua. Hai năm đối với tư lệnh Nguyễn Sơn là một núi công việc - Việc nào trước khi làm ông đều nghiên cứu tỉ mỉ. Thủ tướng Phạm Văn Đồng từ năm 1947 đã đại diện cho Nhà nước tại miền Trung. Thủ tướng Đồng và Chủ tịch Sơn trước đây đã mở lớp huấn luyện thành lập một số đội cảm tử mở đường đem vàng, hồ tiêu, quế, thuốc phiện sang đất Thái Lan bán để mua vũ khí đem về đánh Pháp. Trong số đội này tôi có quen một người tên là Nguyễn Trại1 đã đi qua lại bên Thái Lan hai lần trong công tác đặc biệt này - Tư lệnh thường luôn nhắc lời của Thủ tướng: “Chuẩn bị kỹ lưỡng là thành công phân nửa”. Trước đây 1 đại đội được tổ chức và trang bị vũ khí tối tân từ bên Thái Lan về đến quân khu 4 đã được Tư lệnh giao cho đồng chí Lê Thiên Tào phụ trách huấn luyện.
_____________________________________
1. Nguyễn Trại, Đại tá An ninh, trong 31 năm đã bảo vệ đồng chí Lê Duẩn, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam tại Hà Nội.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM