Cuộc chiến WWII. Bản chất của cuộc chiến này cũng như WWI. Cuộc chiến ra đời trong khi các nước tư bản già cỗi, bị mục rỗng bởi tham những và suy đồi, mải ăn chơi không làm, lâm vào khủng hoảng. Các nước già này lắm thuộc địa nên trong lúc khủng hoảng đóng cửa kinh tế. Điều này gâp nguy ngập cho các nước trẻ như Đức, và chiến tranh nổ ra. Tuy nhiên, cả hai cuộc chiến này có một sự quay ngắt trong quan hệ Nga-Đức. Nước Đức hình thành và lớn lên nhờ sự nghiệp của Piotr Đại Đế, ông đánh đổ các cuộc xâm lăng và ách thống trị Thụy Điển, nhân lúc nước Ba Lan suy đồi, Đức đã trở lên hùng cường từ một tiểu quốc Phổ nhỏ xíu. Quan Hệ Nga-Đức đến đầu tk20 vẫn rất anh em.
Nhưng nước Nga Sa Hoàng suy đồi, nước Đức thì hóa dại. Thay cho Hội Đồng Pháo Binh và các phát triển mạnh mẽ sau thời Piotr Đại Đế đến gần cuối tk19, chỉ trong 30 năm, nước Nga giờ đây tràn ngập tham nhũng, ngay cả khẩu Mosin danh tiếng cũng bị bán các hợp đồng sản xuất ra nước ngoài. Súng pháo Nga đầu tk19 tiên tiến nhất châu Âu, nay tụt hậu xa vời, hầu hết các loại pháo đều bán các món hời về thiết kế và chế tạo ra nước ngoài. Đầu tk20 là thời kỳ được gọi là "hy sinh toàn diện" của các nhà thiết kế súng pháo Nga, họ không được trợ cấp gì của công nghiệp, quân đội và nhà nước.
Nhưng sự mất mát lớn nhất về ngoại giao mà chính quyền Nga Hoàng để lại, là mất đi quan hệ anh em tự nhiên với nước Đức. Sau 1870, Nga vẫn đứng về phía Đức, nhưng dần dần, tham nhũng Pháp đã kéo tham nhũng Nga ngả dần sang bên kia, sự ngả dần song song với sự suy đồi về khoa học kỹ thuật, các nhà khoa học bị đá ra đường và các hợp đồng béo bở bị bán ra nước ngoài, các công xưởng truyền thống ốm đói. Và thế là hai nước có quân sự mạnh nhất châu Âu lao vào chiến nhau chí tử.
WWII có nhiều cuộc chiến lẻ trước khi cuộc chiến chính bắt đầu. Trong đó, MP đã chứng minh vai trò của mình.
Nhìn về quá khứ, trong khi Mỹ Pháp ngu dốt format súng tấn công Chauchat và BAR nặng uỵch-hoàn toàn ngược chiều, thì Nga, Đức cho ra đời các súng rất hợp với tiến công. Nga đúng đắn nhất với Fedorov, nhưng thiết kế thiên tài này sớm chết đói trong cách mạng. Đức cho ra dòng MP-18, từ đâu, MP bắt đầu sự nghiệp danh tiếng cho đến khi được súng trường tấn công thay thế.
Bản chất của MP là súng ngắn bắn nhanh. Đạn nhỏ, mang được nhiều đạn. Súng gọn, giáp lá cà trong chiến hào tốt. Nhưng đặc điểm quan trọng nhất là
súng nhẹ, giật nhẹ, bắn được khi đang chạy, thỏa mãn động tác xuong phong, vừa chạy vừa bắn từng loạt ngắn vào các mục tiêu mới xuất hiện trong tầm rất gần, chỉ vài chục mét. Từ thập niên 193x, MP vên Đức dần được gọi là STG: súng xung phong. Đến Thế chiến II, Đức đã sản xuất MP với số lượng lớn, ngang súng trường, cho thấy MP dần dần chiếm vị trí súng chủ lực.
Bên Liên Xô, Fedorov bị bỏ chết đói. Quan điểm Liên Xô vẫn lấy súng trường hạng nặng làm chủ lực, trong khi đó, Mosin nổi trội về đầu đạn mạnh mẽ, hợp với Nga, đồng thời việc phát triển hai loại đạn súng trường cùng lúc trong thời buổi khó khăn đó không được chấp nhận. Họ cũng có một chút MP nhưng sản xuất số lượng không phải là súng chủ lực. Cuộc chiến Phần Lan đã làm thay đổi mạnh quan điểm Liên Xô. Khác với WWI, nay xe thiết giáp các loại đã nhiều, công sự và cuộc chiến cố định đã lỗi thời, cuộc chiến cơ động phát triển và do đó, loại súng đặc trưng cho cuộc chiến cơ động, cuộc xung phong tốc độ cao ưu thế hơn. PPSh-41, rút kinh nghiệm trong thực tế chiến đấu, vượt lên và được sản xuất nhiều thay thế cho PPD-34 của Degtriarev.
Vì lý do này mà nhiều người cho là PPSh-41 học của Suomi-33 Phần Lan, hoàn toàn không có chút gì như vậy. Suomi giống nhiều đặc điểm của PPD, và cả hai súng đều có nhiều điểm giống MP-28 Đức. Một số người "cẩn thận hơn" cho rẳng PPSh-41 học Suomi băng cối 71 viên, hoàn toàn không phải như vậy, vì băng này PPSh kế thửa của PPD, được đưa vào sản xuất năm 1938 ở kiểu PPD 34/38, trước chiến tranh Phần Lan. Suomi có hình dáng khối lùi piston hai tầng rất đặc trung, giữ hai tầng là đệm không khí giúp giảm rung. Hình dáng khối lùi piston này hoàn toàn khác khối lùi rất Nga của PPSh và khối lùi Phần Lan tuy làm việc êm, nhưng lại rất dễ hỏng hóc do kết cấu trụ kín khít (chỉ cần méo chút là kẹt), đặc điểm mà người Nga đặc biệt ghét.
Cái hơn của PPSh-41 là những đặc tính Nga: rất dễ chế tạo và tin cậy, súng được quân Đức tín nhiệm, không những thu chiến lợi phẩm trang bị chính thức mà còn sản xuất nhái rất nhiều để dùng đạn Đức, cái này giống SVT. Tuy nhiên, mặt ưu thế nhất của PPSh-41 và các PP Nga là đạn. Người Liên Xô cố gắng khắc phục nhược điểm tầm bắn thấp, sử dụng đầu đạn có tốc độ cao nhất trong số các súng ngắn sản xuất nhiều ngày đó, dùng đạn đường kính nhỏ như súng trường để giảm sức cản, nâng tầm bắn hiệu quả lên. Phương Tây đánh giá PPSh-41 là 200 mét, nhưng theo các tiêu chuẩn đánh giá khắt khe của Liên Xô thì không đến. Tuy ở 200 mét, khả năng bắn trúng viên đầu tiên của PPSh-41 thấp, nhưng có thể giữ súng quạt hết băng cối 70 viên, đảm bảo cày nát chứ không chỉ trúng, nên có thể theo Phương Tây 200 mét cũng được.
Cái mà Liên Xô học ở đây không phải hẩu PP hay Suomi, không phải học Phần Lan. Đó là thực tế chứng minh cần nhiều PP hơn và từ đó Liên Xô sản xuất PP như một loại súng chủ lực, gạo hay bánh mỳ, chứ không phải gia vị ăn chơi nữa.
MP và PP có hỏa lực nổi trội ở tầm gần, súng mang được nhiều đạn, bắn nhanh, bắn ở tầm rất gần vài chục mét không cần ngắm vì súng giật nhẹ-hiệu chỉnh súng theo vết chạm đầu đạn. Súng đặc biệt nổi trội khi chạy xung phong, các mục tiêu xuất hiện đột ngột ở tầm rất gần thi MP, PP quét được ngay, trong khi đó súng trường phát một quá nặng, không hiệu chỉnh được loạt quét gần, súng trường liên thanh như AVS, AVT thì giật quá khiết, rất ít người giữ được súng ổn định khi bắn loạt và cũng đủ khỏe mang hàng chục kg đạn.
Nhược điểm của MP, PP là nó có tầm quá gần. Bên Mỹ, thứ súng tầm bắn hiệu quả SMG Thomson hay SMG M3 Grease có tốc độ đầu đạn dưới âm 280m/s, tầm bắn hiệu quả chỉ 50 mét đã được coi súng đánh nhau và được trang bị như là súng chủ lực (khoảng 6-10 triệu các súng này đã được sản xuất). Nga và Đức không thể chấp nhận chuyện như thế, nhưng MP và PP vẫn gần.
Ở đây, chúng ta thấy có một lỗ hổng với MP, PP. Khi vào gần, hỏa lực rất mạnh, nhưng trên đường vào gần thì hỏa lực rất yếu, súng bắn kém chính xác, sát thương kém. Súng trường phát một bắn rất hiệu quả với tỷ lệ trung cao (gần như toàn bộ đạn bắn ra trúng mục tiêu cố định) ở các khoảng cách 150 mét-300 mét (tầm bắn hiệu quả của AK là 300 mét), ở khoảng cách 300-600 mét, hỏa lực súng trường vẫn rất đáng sợ, tuy khả năng trúng giảm đi, nhưng vẫn có hiệu quả với khả năng bắn trúng phát đầu mục tiêu cố định là gần 1/2.
Như vậy, từ 600 mét tấn công vào 300 mét, PP đã bị súng trường gây sức ép mạnh và trong khoảng 300-150 mét, MP và PP có hiệu quả thấp không đáng kể, trong khi đó là tầm bắn đáng sợ của súng trường. Đặc biệt xuất hiện nhiều súng trường tự động lúc đó thì số phát đạn súng trường ngang số loạt bắn MP, PP.
Người ta bù bằng trung liên. Đại liên với pháp hỗ trợ lính vào 300 mét, từ 300 mét, trung liên dừng lại và bắn áp chế.
Nhưng, khoảng cách từ 150 mét đến 300 mét thì lính vẫn xung phong trong hỏa lực của trung liên và súng trường địch, pháo đã dừng, trung liên ta thì ở khá xa mỗi cá nhân đang xung phong, không thể phản ứng trước các mục tiêu mới được phát hiện.
Chính vì thế, WWII lính được trang bị MP, PP xung phong và số lượng lính chết rất lớn, chủ yếu thương vong trong giai đoạn này, không còn cách gì khác, bộ binh tay không xung phong đưới làm đạn súng máy địch đúng nghĩa đen.
Cũng chính vì thế, súng trường hạng nặng vẫn được sản xuất số lượng lớn, và đây là giai đoạn đặc biệt trong lịch sử phát triển vũ khí, hai loại vũ khí bộ binh ngồi chung ngai chủ lực, đó là súng ngắn bắn nhanh và súng trường hạng nặng. Đây là điểm vô lý, vì sẽ phải trang bị cho lính hai vũ khí cùng lúc. Thực tế, người ta trang bị súng máy cho nhưng đơn vị tấn công hoặc giai đoạn sắp tấn công, còn ngược lại là súng trường. Dĩ nhiên là, những đơn vị mang súng xung phong thì khi bị phản công rất yếu đuối, và ngược lại, những đơn vị mang súng trường hạng nặng thì không phản kích địch được.
--------------
Đứng trước mâu thuẫn này, người Đức đã chọn một giải pháp là nâng cao tầm bắn súng máy. Điều này nếu xét về mặt ký thuật thì đó chỉ là hình thức, nhưng nhìn sang góc chính trị, nó thể hiện sự dốt nát về quân sự của Hitler. MP Đức có thể có nhiều danh tiếng, như nó đã tham gia trong các chiến thắng trước Tiệp Khắc, Ba Lan, Pháp và sau đó, cũng như bên Liên Xô, được đẩy lên với vai trò vũ khí chủ lực. Hitler hiếu chiến liền tung hô MP như là một thành tựu xuất sắc, ưu thế trí não của nòi giống Aryan, và thật khó khi lại nói lại là: nên thay MP bằng một loại súng trường mới. Nhìn ở góc độ khác, khẩu súng trường tấn công thật sự đầu tiên của Đức, khẩu MKb-35, không hợp cạ với Hitler và bộ máy của ông ta đã lái vẹo đi chương trình này, đặc trung nhất là đạn được được thử nghiệm tại Mauser, đạn là cốt lõi của khẩu súng và chương chình dừng.
Kết quả của những việc trên là Đức chọn phương án nâng cao tầm bắn súng ngắn MP. Đạn M43 đã được cải tiến nhiều lần, rất bé so với đạn ban đầu của MKb-35, vì nó là đạn súng ngắn. Hài hước, đạn quá bé, MP-44 kéo dài hết cỡ nòng để tận dụng tốc độ đầu đạn và... nặng như trung liên, 5,2kg rỗng. Chương trình mới bắt đầu với hai khẩu MKb-42: MKb-42(H) do hãng C. G. Haenel, tác giả Haenel / Schmeiiser . MKb-42(W) do tác giả Carl Walther.
Hình dáng bên ngoài hai khẩu khá giống nhau. MKb-42(W) dùng khóa nòng xoay hai tai giống AK sau này. Tất nhiên có nhiều loại khóa nòng hai tai như vậy và AK rất khác, đặc trưng bởi tai to vật vã và chuôi bé xíu, còn các súng khác ngược lại. Piston của MKb-42(W) dạng hình cung rất ít gặp. Piston hình cung tròn bao quanh nòng, điều này làm súng co dãn do nóng và rung rất cân. MKb-42(W) có đặc trưng rất súng trường là bắn từ khóa nòng đóng. Phần cò búa chạy thẳng giống máy G-43, kiểu này làm súng không rung ngang hay đứng do cò búa. Súng nặng 4,4kg rỗng.
Cả hai khẩu đều dùng trích khí tiết lưu. Cả hai đều chọn bắn phát một và liên thanh. Cả hai súng đều chưa có ốp lót tay trước của súng trường, tai trái cầm trục tiếp vào băng hay ổ cắm băng, đặc trưng của súng tầm rất gần như MP, PP.
MKb-42(H) dùng loại máy phổ biến lúc đó cho súng tự động, là máy chèn ngạnh nghiêng, gây rung đứng khi bắn loạt liên thanh, điều này dở hơn các MP chỉ rung dọc. Mà cũng giống MP, MKb-42(H) bắn từ khóa nòng mở như MP, và do đó, khi bắn phát một độ chính xác thấp. Có thể nói, súng này bao gồm một tập hợp các giải pháp cũ rích cho một kiểu súng mới, do đó, nó nặng nề nhiều nhược điểm. Súng quá nặng 4,9kg rỗng.
Bọn liệt não bị ánh sáng của AK làm chói mắt thường nói AK học của MP-44, ở đây có điểm nữa để cho não chúng thêm liệt. MKb-42(H) sau trở thành MP-44 có máy chèn ngạnh nghiêng, hình dáng khóa nòng rất giống PTRS-41 (súng chống tăng Liên Xô) và CKC ( xê ca xê SKS nhà ta hay dùng), nguyên lý này chả liên quan gì đến AK cả. Khẩu có máy xoay hai tai nguyên lý giống AK lại là MKb-42(W) đã bị loại bỏ. Tuy nhiên, đặc trưng của khóa AK là chuôi nhỏ, do khoảng cách của chuôi khóa nòng và bệ khóa nòng lớn, cân đối, nên toàn bộ lực dồn vào tai, chuôi nhỏ làm khoảng chuyển động của bệ khóa nòng nhỏ và rất thoáng mát trơn tru, cùng là cấu tạo khóa xoay 2 tai, nhưng AK vượt trội ở điểm này.
Cả hai khẩu đều được sản xuất với số lượng cỡ chục ngàn để đem sang mặt trận Nga-Đức, mục tiêu đầu tiên rõ ràng là thử nghiệm đánh giá, mục tiêu kỹ thuật chắc chắn là đọ sức với PPSh-41. có thể thấy, MKb-42(H) sử dụng trích khí quá lạ, mình không có thực tế để đánh giá kiểu trích khí này. Nhưng có thể hiểu được là nó khá nặng, và còn nhiều nhược điểm chưa thử nghiệm hết. Thế nhưng, MKb-42(W) lại có lượng kỹ thuật mới, sang kiến mới quá tệ, nói đúng hơn là chỉ toàn các giải pháp cũ rích, không được chau chuốt trong một thiết kế mới và không hợp nhau cũng như hợp nguyên lý súng. cả hai MKb-42 thuần túy là MP và bắn từ khóa nòng đóng của MKb-42(H) tốt hơn.
Chắc chắn là có thể còn nhiều điểm nhỏ chưa ưu việt, nhưng cả hai súng đều có đường đạn tốt hơn PPSh-41. Đó là điểm đương nhiên. Từ súng ngắn MP, PP đến súng trường có một lỗ trống và chả cần thông minh gì cũng có thể làm đạn lấp lỗ trống đó, sao cho có một khẩu súng bắn loạt nhanh không cần tỳ đất như MP mà mạnh hơn các MP, PP đương thời.
MKb-42(H) có nhiều điểm tiến bộ, nhưng có lẽ, nó không thắng được MKb-42(W) do piston quá mới. Lúc đó, phương Tây chưa có piston nào đủ tin cậy. Piston DP sau này được SVT và CKC thừa kế, phát triển thành phiên bản lò xo đẩy về cần đẩy lùi riêng, rất hợp với súng nhỏ, sau này được áp dụng trong G-43, nhưng đây là năm 1942. Nhưng lúc đó ở phương tây trích khí và đẩy lùi rất đơn giản, đem đến nhiều nhược điểm, chúng ta cần nhơa lại là ở Đức, MG-42 dùng máy DP nhưng quyết định không dùng trích khí, bất chấp việc gánh theo cái nòng nhỏ rất nhanh nóng.
Mịe, cái thằng chí phèo nó move các đoạn post đi linh tinh bi h tìm cái tranh động về máy MG-42 cũng không thấy.
MKb-42(W) dùng trính khí và đẩy lùi truyền thống phương Tây, ảnh hưởng nhiều đến đường đạn, tốn khí, hay hỏng kẹt, hay dùng cho súng máy bắn loạt dài đạn hạng nặng, giá cao nhiều người chăm, bắn loạt dài chả cần xạ kích điểm và dùng đạn súng trường hạng nặng lắm khí (Nga My

). MKb-42(H) cố gắng có một đẩy lùi mới, nhưng bị loại bỏ. Kể ra, bên Đức không như Liên Xô sau này, mọi người đoàn kết tập trung những ưu việt nhất về 3-4 mẫu, và bình bầu điểm chung của AK là nhất. Bên Đức, MKb-42(H) thua là ra đi hoàn toàn, MKb-42(W) không công nhận tí nào những điểm ưu việt của nó, ví dụ không dùng khóa nòng rung đứng chẳng hạn. Nếu như MKb-42(W) chuyển sang dùng trích khí SVT như G-43 cũng tác giả sau này, rồi dùng khóa xoay nhập từ MKb-42(H) thì Đức đã có phiên bản Kiểu 03 (2003) của Tầu rồi. Và nếu thế, thì bọn
liệt não nói AK học từ MP-44 có chút lý lẽ.
Đánh giá chung về hai loại MKb-42 thế nào. Chúng ta hãy để người Đức-chủ nhân của chúng, làm điều đó. MKb là Maschinen Karabine: súng trường. Sau năm 1942, khẩu MKb-42(W) nghiền nát đối thủ và đồng thời với điều đó, người ta đổi tên chính thức nó thành MP-42 tức súng ngắn. Gọi là nghiền nát đúng nghĩa, vì AK khi tiến lên học nhiều thứ của đồng đội trên đường đua, nhưng MKb-42(W) vứt bỏ hoàn toàn các đặc tính dù tốt của đối thủ. Sau một số cải tiến nhỏ về súng và đạn, MKb-42(W) trở thành MP-44. Nòng kéo dài ra từ 364mm lên 419mm, súng tăng khối lượng rỗng lên 5,22mm, bằng trung liên RPK. Súng cũng lắp thêm cò búa để bắn từ khóa nòng đóng, cò búa quay.
Một thiết kế trung gian giữa MKb-42(W) và MP-44 là MP-43, sau đó ghép thêm đầu nòng của MKb-42(H) để phóng lựu. Phiên bản này là MP-43(1). Đây là đặc điểm duy nhất du nhập từ H sang W.
Súng trở thành trò cười trong giới chế súng Đức, bất chấp nó được Hitler ưu ái. Còn gì nữa, lấy máy súng phát một bắn liên thanh, các chi tiết cũ rích, nặng như trung liên và bắn đạn súng ngắn. Như mình đã nói, ngày 6-4-1944, sau quá trình phát triển khá dài, MP-44 được chấp nhận là súng xung phong STG của quân Đức, bên cạnh súng trường G-43 và súng máy MG-42.
Lúc này, súng dùng đầu đạn 125 grain (8,1 gram) và sơ tốc 680m/s.