Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:58:56 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai  (Đọc 258009 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
huyphuc1981_nb
Thành viên
*
Bài viết: 788



« Trả lời #170 vào lúc: 08 Tháng Ba, 2009, 11:43:54 am »

Lang thang trên mạng sẽ thấy khá nhiều những đoạn dài kể lể về súng trường tấn công đầu tiên trên Thế Giới là Chauchat, khẩu thứ hai, dưới một người trên muôn người là BAR. Cũng buồn cười, khá nhiều đoạn kể lể Chauchat máy lùi dài là học từ súng ngắn của Browning, người thiết kế BAR. Dân ái quốc nói tiếng Anh vừa ngu si vừa đê tiện, quá tự ái trước BAR học concept "súng trường đi bộ bắn liên thanh", cố gắng kể lể điểm ngược lại. Trong khí đó, khóa nòng Chauchat hoàn toàn khác, súng lục Browning là chèn ngạnh nghiêng, còn Chauchat là khóa nòng xoay hai tai. Sao mà giống khóa nghiêng của súng ngắn MP-44 và khóa xoay hai tai AK đến thế.

Nhiều cái ngu si nhan nhản trên mạng đên mức người ta dị ứng, cứ ai khen súng ống Anh Mỹ cái gì là người ta cảnh giác xem đó có phải liệt não không.
Thật ra, nói đó là những nhà Ái Quốc là sai. Những cái nhan nhản trên nét đó chỉ là sản phẩm của bầy đoàn liệt não, kết quả của công nghiệp quảng cáo khổng lồ, của nền giáo dục tràn ngập cần sa và bạo lực. Những tên zum bai liệt não này được khoác lá cờ ái quốc để thêm nhiệt tình điên khùng kêu sủa, cũng như cải thiện tính hợp lý của chúng ( Grin). Chúng kêu sủa đến mức cứ ở đâu thấy bàn luận về súng ống Anh Mỹ là tràn ngập bởi những câu chữ vừa ngu si vừa đê tiện của liệt não.

Súng ống Anh Mỹ không phải là không có cái hay, nhưng người ta dị ứng, cứ thấy ai nói cái hay về súng ống Anh Mỹ thì 99% đó là liệt não nói về một cái súng dở người.

---------------

Nước Mỹ cũng vui tính, một quyết sách quốc gia được thực hiện từ một trò đùa của Chauchat. Lúc đó, Đan Mạch muốn trung lập và dễ dàng bị Đức xơi tái, sao mà bán súng Madsen được cho Pháp. Mà nước Pháp chỉ có mỗi Chauchat mà thôi, vậy nên Chauchat được sản xuất lớn và cũng chỉ sản xuất trong giai đoạn ngắn ngủi đó mà thôi. Chauchat có động năng đầu đạn rất yếu, nhà quảng cáo khéo léo đã biến điều đó thành ưu thế "súng trường tấn công" vì dù sao nó ít giật hơn Madsen. Nhưng dĩ nhiên là Chauchat không tham gia vào cuộc xung phong, chỉ bắn yểm trợ, vì Chauchat là trung liên nặng uỵch 9-10kg mà.

Thật ra, nước Mỹ không thiếu đầu óc, nhưng đầu óc Mỹ lại không yêu nước Mỹ, mà yêu tiền của Colt, đám Mỹ khùng ngu si thì được tiền của Colt khoác cho cái áo Ái Quốc, đứa nào dám bảo BAR dở người, thật khốn khổ cho những người yêu nước Mỹ thật sự. Phong trào ngu su lại bùng phát và trí khôn từ vua lái súng Colt tận dụng, một đại quân ngu si được dẫn đầu bởi bánh lái siêu giỏi về tham nhũng, cũng như Colt sau này sẽ mua AR-15 của Armalite. Nước Mỹ liền đem túi tiền to tướng, công nghiệp hùng hậu, hòa bình không bị tàn phá... ra tân trang Chauchat, làm ra khẩu súng mạnh, nhưng tẩu hỏa nhập ma từ trong trứng là BAR. Concept "súng trường bắn liên thanh đi bộ", cái rắm đùa nghịch của Chauchat, cổ vũ dân Pháp dũng cảm trong chiến tranh và cổ vũ dân Mỹ móc tiền dâng cho Colt.

BAR là gì, nói theo ngôn ngữ Lịch Sử Đảng là: "cuộc diến tập thắng lợi hoàn hảo, tiền đề cho việc dựng M16 lên ngai vàng sau này, bất chấp nó chỉ là bản đẻ non của AR-18". BAR có cái gì đó giống như máy bay F-12 hay F-22, nó thực hiện được hợp đồng bởi vì có concept không giống ai cả. Ban đầu, BAR còn không thèm có giá chân, chuyên bắn trên tay tìm chim. Mà buồn cười, Chauchat yếu, nên đâm ra lại đỡ tệ hơn BAR về sức giật, cùng là đi tìm chim, BAR càng làm đạn mạnh thì càng ngoắt nòng về hướng quân ta nhanh hơn.

Colt nắm ngay được những linh hồn của Chauchat. Chauchat thiết kế sơ khai nên rất khó làm, tệ hại cho quân đội và làm nó đắp chiếu khá lâu. Nhưng điều đó lại là công cụ rất hay để giành giật các hợp đồng, Chauchat tuy được thiết kế bởi CS, nhưng chỉ làm béo xưởng sản xuất dây chuyền Gladiator tại Paris. Những đặc điểm đó cũng sẽ được M16 thừa kế mãi sau này, tính khó làm với DP, AK là điều tệ hại không thể chấp nhận được, nhưng lại là yêu cầu số một của BAR và M16.

Madsen đã có từ rất lâu và phổ biến, thế nhưng trời cho Colt một cơ hội bán hàng. Đó là nguyên lý chiến đấu "súng trường đi bộ bắn liên thanh", được cổ động ở Pháp.  Grin Grin Grin Grin Bản chất của BAR chỉ là vậy. Madsen không có nguyên lý đi bộ bắn liên thanh, cổ rồi, xem đây.  Grin. Trên thế giới chỉ mình Chauchat làm được điều đó, nhưng Chauchat cổ lỗ yếu đuối. Hay quá, cơ hội đây rồi, tên lái súng quái vật bậc nhất nước Mỹ liền quăng tiền ra mời nhà thiết kế súng lừng danh nhất nước Mỹ Browning thỏa mãn yêu cầu này.

Không ai cạnh tranh với công cuộc ngược đời ấy cả. Trên đời này chỉ có hai cái súng có concept đó. Chauchat thì già yếu, vậy là còn mỗi BAR.
 Grin Grin Grin Grin

Buồn cười nối tiếp buồn cười. Chauchat mang được ít đạn vì đạn 8mm Lebel và băng một hàng đã kịch trần, các bạn xem trên, không còn chỗ đặt băng. BAR thì xông xênh chỗ, nhưng cũng chỉ mang 20 viên đạn, dù có chân giá thì BAR vẫn trung thành với nguyên lý "súng trường đi bộ bắn liên thanh".  Grin Grin Làm trung liên nhưng kém cỏi chỉ mang được 20 viên, lúc cao hứng dạy đàn em, Chauchat đã nói lớn "súng trường mang 20 viên là nhiều, mang nhiều nữa thì thành Madsen, DP à".  Grin Grin Grin Và thế là người kế nghiệp răm rắp tuân theo.

Chúng ta xem lại súng trường tấn công cần có những đặc điểm gì ?? chọn chế độ phát một và liên thanh, dùng bởi một người, có tầm súng trường... nhưng phải là bắn được khi đnag chạy, mới là "tấn công". MP có khả năng đó, nên là súng tấn công, MP không có đạn súng trường, nên là súng tấn công không phải trường. Chauchat và BAR có đạn súng trường, có bắn liên thanh, có chọn chế độ...chỉ thiếu chức năng tấn công thôi. Khẩu pháo cao xạ cũng thế, chỉ thiếu khả năng ai đó vác khẩu pháo bắn khi đang chạy.

À, BAR có cách giải quyết thông thái. Súng không bắn được khi đang chạy thì ta "quay chậm" cuộc tấn công thành tốc độ thời Nã Phá Luân. Súng ông không bắn được khi chạy thì chúng mày đi bộ mà tấn công.

-----------

Theo một số con số ước tính thì 250 ngàn Chauchat được xuất xưởng từ 1916-1918. Một vài con số kỹ tính hơn là 265 ngàn. Trong số đó có 18 ngàn Chauchat dùng đạn 03-06 cho quân Mỹ bạn nhậu. Vài chục ngàn Chauchat kiểu Ba Lan và Bỉ được sản xuất sau đó, một phần là hoán chuyển từ Chauchat Pháp bắn đạn 8mm Lebel.

Bỉ mua vì giá rẻ, lúc đó Bỉ ngay cạnh Pháp, cần mua hầu ông nhớn thắng trận đôi chút, càng rẻ càng tốt. Còn Ba Lan, nước này tách ra từ vòng ảnh hưởng của Sa Hoàng, đầu gấu định đánh cả ... đất mẹ, kết quả của giai đoạn này là năm 1939 kỵ binh Ba Lan xung phong anh dũng trước xe tăng Đức (ngày nay còn khối chú liệt não tự hào là lúc đó quân Ba Lan chết nhiều lắm). Kết quả của một nhà nước non trẻ nhưng chí lớn, chí chiến đấu lớn nhưng trí óc không lớn đủ dùng, lòng ngông cuồng dẫn đến ngu si và quá sớm bị tham nhũng đầu độc-trước khi đất nước đủ tuổi thanh niên, và tự đem mạng mình nuôi béo Chauchat. Grin Grin Ngày nay chuyện dại dột này còn dài dài nên không lạ.


----------------

Buồn cười. Lúc Chauchat được đưa vào biên chế cũng là lúc khẩu súng trường thật sự đầu tiên trên thế giới, khẩu Fedorov Avtomat được chấp nhận, và sau đó là khẩu MP-18 bên Đức, những khẩu súng tấn công thật sự. Trong khi Ba Lan mua "súng trường tấn công" Chauchat thì Đức cũng đang thực hiện khẩu súng trường tấn công đầu tiên của mình, cạc bin liên thanh M35, và hoàn thiện hàng loạt các MP khác. 

Trận địa chiến thời Chauchat bị xe tăng nghiền nát, chiến tranh cơ động đặt MP, PP lên ngôi vua đầu Thế Chiến II, và sau đó là súng trường tấn công . Vào thời điểm đó, kỵ binh Ba Lan anh dũng vung kiếm lao vào xe tăng Đức ở cổng thành Warsawa, dưới sự yểm trợ của Chauchat.

Đến nước Vịt. AK đã tràn ngập, MP, PP, SMG thì ê hề. Thế nhưng các chú Mỹ vẫn dậy anh ngụy còi cử tạ 10kg tỳ vai, hay xách súng bắn tìm chim. Súng trường tấn công BAR chiến đấu với AK như thế.  Grin Grin BAR có thể làm được trung liên, nhưng 20 viên đạn thì súng đói khổ quá. Mà so với ai, so với đối phương dùng Bren, RPD, RP-46 hay RPK đây. Chức năng trung liên thì ít đạn hơn AK, AK làm chức năng trung liên tốt hơn BAR, sự thật là như vậy mặc dù hài quá. Chức năng súng trường thì về mặt khối lượng là giống súng hỏa mai tiền sử . Đấy là chưa kể không ai khen súng trường bắn từ khóa nòng mở cả, nhất là loại khóa nghiêng rung mạnh như BAR.

Dĩ nhiên là BAR lạc hậu, thay thế một thế hệ súng trường tấn công mới là hợp lý, và BAR nhường ngôi cho AR-15 đẻ non.

Dưới đây là Video nhặt nhạnh lịch sử của BAR. Các bạn có thể thấy, súng trường bắn chậm này, súng máy nặng nề này, Chauchat dễ kẹt này... và các chiến binh sử dụng BAR như AK. Ngon lành a, khẩu súng trường tấn công đầu tiên trên thế giới là Chauchat, khẩu thứ hai siêu hoàn thiện là BAR.

Bạn cứ cầm quả tạ 10kg nâng một tay ngang vai cách trước ngực 40-50 cm đi xem "chiến đấu" được bao nhiêu.  Grin . Trong đoạn này có cả trình diễn, trích phim... he he he, quân ta dùng BAR nhẹ nhanh như một SMG vậy, bắn chỉ rung nhẹ đầu súng. He he he he he he, truyền thống phi thực tế, hoang tưởng bởi phim hành động và bị đầu độc bởi quảng cáo vẫn còn đến ngày nay. Mà có cần đâu xa, trên kia có anh ngụy anh ấy tí nữa gãy cột sống chỉ để nâng BAR lên bắn tỳ vai, có giống đoạn quảng cáo trên tí tẹo nào đâu. Việc nâng quả tạ 10kg thì học sinh nào chẳng hình rung ra, thế mà cả một đất nước lại có thể tin vào sự phi lý như vậy.

Ngày nay, 90 năm sau nhìn lại BAR, nghe lại đoạn nó tự vỗ ngực là "súng trường tấn công" thứ 2 thế giới, sau Chauchat... thấy kỳ khôi nguyên thủy quá, nhưng, sự thật lại là như thế, đúng là như thế, 90 năm trước có chyện như thế. Thế nhưng, những chuyện tương tự thì vẫn diễn ra dài dài. M16, máy bay F-12 và nay máy bay F-22 vẫn được chấp nhận đấy thôi. F-12 đến nay cũng đã được người ta cười vào mũi rồi, nhưng M16 vẫn chưa lớn và F-22 đang xuất hiện thế chân. Một thế giới ngược đời ảo tưởng trong ngu si liệt não bởi quảng cáo.

Những năm đó, Fedorov và Chauchat cùng được chấp nhận và sau đó là BAR, BAR cùng năm với MP-18 Đức. Thế mới hài hước, chẳng nhẽ khoa học quân sự ở một số nơi hài hước đến vậy.


<embed width="448" height="361" type="application/x-shockwave-flash" wmode="transparent" src="http://i180.photobucket.com/player.swf?file=http://vid180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/sung/BAR_M1918/video/2fea03b8.flv">
« Sửa lần cuối: 08 Tháng Ba, 2009, 04:50:09 pm gửi bởi huyphuc1981_nb » Logged

Ờ, ừ, thì ký.
saruman
Thành viên
*
Bài viết: 540



« Trả lời #171 vào lúc: 10 Tháng Ba, 2009, 08:15:17 pm »

Minh họa cho tư  thế bắn

Xạ thủ phải quỳ xuống, ép sát súng vào người để đề phòng ngã ngửa do giật. Bên cạnh còn 1 anh nữa, không rõ có phải để thay ca khi cần không Grin Mà kệp sát nách thế này thì không hiểu có cửa bắn trúng người ở cách 100m trở lên không
« Sửa lần cuối: 10 Tháng Ba, 2009, 08:17:15 pm gửi bởi saruman » Logged
huyphuc1981_nb
Thành viên
*
Bài viết: 788



« Trả lời #172 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2009, 09:20:56 am »

Các đồng chí ném bài của tôi đi đâu rồi ??

AK là súng trường tấn công. Nó khác súng máy cá nhân trung liên thế nào, nó khác súng trường tự động thế nào ?? các đồng chí dốt không hiểu được điều đó thì để người khác đọc.
Tại sao BAR và Chauchat xưng là súng trường tấn công mà lại không phải súng trường tấn công, các đồng chí có biết không ??
Tại sao máy DP dùng cho súng máy, máy SVT dùng cho súng trường, các đồng chí có biết không ?? tại sao máy AK lại phải thỏa mãn cả súng máy và súng trường ??
Tại sao AK lại là súng trường, vì nó có động năng đầu đạn thấp nhưng sức công phá của đầu đạn cao hơn NATO 7,62x51, vì AK bắn 3 viên chui qua một lỗ ở 200 mét... tại sao AK lại đạt được như thế ??

Các đồng chí xóa các đoạn đó đi thì trả lời các câu hỏi trên hộ tôi.

Nhắc thành viên huyphuc1981_nb dùng từ ngữ cho đúng mực!
« Sửa lần cuối: 11 Tháng Ba, 2009, 10:56:16 am gửi bởi DepTraiDeu » Logged

Ờ, ừ, thì ký.
Ngocvancu
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 580



« Trả lời #173 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2009, 03:00:13 pm »

@saruman:Theo hình thì tay kế bên là phó xạ thủ làm nhiệm vụ tiếp đạn,khi xạ thủ dính đạn sẽ thay thế.Nhìn khẩu súng ngắn đeo bên hông tay xạ thủ chính,thấy ló ra cái báng hình như là loại Colt 1911,nhưng thời kỳ chiến tranh thế giới thứ nhất(1914-1918)súng ngắn của quân đồng minh đa phần là loại ổ quay thôi.
Logged
winter
Thành viên
*
Bài viết: 19


« Trả lời #174 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2009, 06:17:17 pm »

Bài của bác Huy Phúc quá chuẩn có cơ sở trích dẫn cụ thể em hơi bị kính nể có điều bác xuống tay phím năng quá . Thỉnh thoảng bác làm cái cho nó văn nghệ thôi thôi chứ cứ đều thế này bác bị leo cây  Grin anh em hết cái đọc (Em đọc bài của bác từ bên TTVN cho tới tận đây )
Logged
huyphuc198101
Thành viên
*
Bài viết: 18


« Trả lời #175 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2009, 01:19:18 pm »

Không phải đâu, tay cầm Chauchat là sỹ quan, đem cái súng ngắn. Tay ngồi bên mới là người bắn Chauchat. Ở đây, có thể bức tranh mô tả cảnh nào đó, chỉ huy lấy súng của lính để làm điều gì đó.
Logged
huyphuc198101
Thành viên
*
Bài viết: 18


« Trả lời #176 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2009, 09:55:40 am »

Cuộc chiến WWII. Bản chất của cuộc chiến này cũng như WWI. Cuộc chiến ra đời trong khi các nước tư bản già cỗi, bị mục rỗng bởi tham những và suy đồi, mải ăn chơi không làm, lâm vào khủng hoảng. Các nước già này lắm thuộc địa nên trong lúc khủng hoảng đóng cửa kinh tế. Điều này gâp nguy ngập cho các nước trẻ như Đức, và chiến tranh nổ ra. Tuy nhiên, cả hai cuộc chiến này có một sự quay ngắt trong quan hệ Nga-Đức. Nước Đức hình thành và lớn lên nhờ sự nghiệp của Piotr Đại Đế, ông đánh đổ các cuộc xâm lăng và ách thống trị Thụy Điển, nhân lúc nước Ba Lan suy đồi, Đức đã trở lên hùng cường từ một tiểu quốc Phổ nhỏ xíu. Quan Hệ Nga-Đức đến đầu tk20 vẫn rất anh em.

Nhưng nước Nga Sa Hoàng suy đồi, nước Đức thì hóa dại. Thay cho Hội Đồng Pháo Binh và các phát triển mạnh mẽ sau thời Piotr Đại Đế đến gần cuối tk19, chỉ trong 30 năm, nước Nga giờ đây tràn ngập tham nhũng, ngay cả khẩu Mosin danh tiếng cũng bị bán các hợp đồng sản xuất ra nước ngoài. Súng pháo Nga đầu tk19 tiên tiến nhất châu Âu, nay tụt hậu xa vời, hầu hết các loại pháo đều bán các món hời về thiết kế và chế tạo ra nước ngoài. Đầu tk20 là thời kỳ được gọi là "hy sinh toàn diện" của các nhà thiết kế súng pháo Nga, họ không được trợ cấp gì của công nghiệp, quân đội và nhà nước.

Nhưng sự mất mát lớn nhất về ngoại giao mà chính quyền Nga Hoàng để lại, là mất đi quan hệ anh em tự nhiên với nước Đức. Sau 1870, Nga vẫn đứng về phía Đức, nhưng dần dần, tham nhũng Pháp đã kéo tham nhũng Nga ngả dần sang bên kia, sự ngả dần song song với sự suy đồi về khoa học kỹ thuật, các nhà khoa học bị đá ra đường và các hợp đồng béo bở bị bán ra nước ngoài, các công xưởng truyền thống ốm đói. Và thế là hai nước có quân sự mạnh nhất châu Âu lao vào chiến nhau chí tử.

WWII có nhiều cuộc chiến lẻ trước khi cuộc chiến chính bắt đầu. Trong đó, MP đã chứng minh vai trò của mình.
Nhìn về quá khứ, trong khi Mỹ Pháp ngu dốt format súng tấn công Chauchat và BAR nặng uỵch-hoàn toàn ngược chiều, thì Nga, Đức cho ra đời các súng rất hợp với tiến công. Nga đúng đắn nhất với Fedorov, nhưng thiết kế thiên tài này sớm chết đói trong cách mạng. Đức cho ra dòng MP-18, từ đâu, MP bắt đầu sự nghiệp danh tiếng cho đến khi được súng trường tấn công thay thế.

Bản chất của MP là súng ngắn bắn nhanh. Đạn nhỏ, mang được nhiều đạn.  Súng gọn, giáp lá cà trong chiến hào tốt. Nhưng đặc điểm quan trọng nhất là súng nhẹ, giật nhẹ, bắn được khi đang chạy, thỏa mãn động tác xuong phong, vừa chạy vừa bắn từng loạt ngắn vào các mục tiêu mới xuất hiện trong tầm rất gần, chỉ vài chục mét. Từ thập niên 193x, MP vên Đức dần được gọi là STG: súng xung phong. Đến Thế chiến II, Đức đã sản xuất MP với số lượng lớn, ngang súng trường, cho thấy MP dần dần chiếm vị trí súng chủ lực.

Bên Liên Xô,  Fedorov bị bỏ chết đói. Quan điểm Liên Xô vẫn lấy súng trường hạng nặng làm chủ lực, trong khi đó, Mosin nổi trội về đầu đạn mạnh mẽ, hợp với Nga, đồng thời việc phát triển hai loại đạn súng trường cùng lúc trong thời buổi khó khăn đó không được chấp nhận. Họ cũng có một chút MP nhưng sản xuất số lượng không phải là súng chủ lực. Cuộc chiến Phần Lan đã làm thay đổi mạnh quan điểm Liên Xô. Khác với WWI, nay xe thiết giáp các loại đã nhiều, công sự và cuộc chiến cố định đã lỗi thời, cuộc chiến cơ động phát triển và do đó, loại súng đặc trưng cho cuộc chiến cơ động, cuộc xung phong tốc độ cao ưu thế hơn. PPSh-41, rút kinh nghiệm trong thực tế chiến đấu, vượt lên và được sản xuất nhiều thay thế cho PPD-34 của Degtriarev.

Vì lý do này mà nhiều người cho là PPSh-41 học của Suomi-33 Phần Lan, hoàn toàn không có chút gì như vậy. Suomi giống nhiều đặc điểm của PPD, và cả hai súng đều có nhiều điểm giống MP-28 Đức. Một số người "cẩn thận hơn" cho rẳng PPSh-41 học Suomi băng cối 71 viên, hoàn toàn không phải như vậy, vì băng này PPSh kế thửa của PPD, được đưa vào sản xuất năm 1938 ở kiểu PPD 34/38, trước chiến tranh Phần Lan. Suomi có hình dáng khối lùi piston hai tầng rất đặc trung, giữ hai tầng là đệm không khí giúp giảm rung. Hình dáng khối lùi piston này hoàn toàn khác khối lùi rất Nga của PPSh và khối lùi Phần Lan tuy làm việc êm, nhưng lại rất dễ hỏng hóc do kết cấu trụ kín khít (chỉ cần méo chút là kẹt), đặc điểm mà người Nga đặc biệt ghét.

Cái hơn của PPSh-41 là những đặc tính Nga: rất dễ chế tạo và tin cậy, súng được quân Đức tín nhiệm, không những thu chiến lợi phẩm trang bị chính thức mà còn sản xuất nhái rất nhiều để dùng đạn Đức, cái này giống SVT. Tuy nhiên, mặt ưu thế nhất của PPSh-41 và các PP Nga là đạn. Người Liên Xô cố gắng khắc phục nhược điểm tầm bắn thấp, sử dụng đầu đạn có tốc độ cao nhất trong số các súng ngắn sản xuất nhiều ngày đó, dùng đạn đường kính nhỏ như súng trường để giảm sức cản, nâng tầm bắn hiệu quả lên. Phương Tây đánh giá PPSh-41 là 200 mét, nhưng theo các tiêu chuẩn đánh giá khắt khe của Liên Xô thì không đến. Tuy ở 200 mét, khả năng bắn trúng viên đầu tiên của PPSh-41 thấp, nhưng có thể giữ súng quạt hết băng cối 70 viên, đảm bảo cày nát chứ không chỉ trúng, nên có thể theo Phương Tây 200 mét cũng được.

Cái mà Liên Xô học ở đây không phải hẩu PP hay Suomi, không phải học Phần Lan. Đó là thực tế chứng minh cần nhiều PP hơn và từ đó Liên Xô sản xuất PP như một loại súng chủ lực, gạo hay bánh mỳ, chứ không phải gia vị ăn chơi nữa.

MP và PP có hỏa lực nổi trội ở tầm gần, súng mang được nhiều đạn, bắn nhanh, bắn ở tầm rất gần vài chục mét không cần ngắm vì súng giật nhẹ-hiệu chỉnh súng theo vết chạm đầu đạn. Súng đặc biệt nổi trội khi chạy xung phong, các mục tiêu xuất hiện đột ngột ở tầm rất gần thi MP, PP quét được ngay, trong khi đó súng trường phát một quá nặng, không hiệu chỉnh được loạt quét gần, súng trường liên thanh như AVS, AVT thì giật quá khiết, rất ít người giữ được súng ổn định khi bắn loạt và cũng đủ khỏe mang hàng chục kg đạn.

Nhược điểm của MP, PP là nó có tầm quá gần. Bên Mỹ, thứ súng tầm bắn hiệu quả SMG Thomson hay SMG M3 Grease có tốc độ đầu đạn dưới âm 280m/s, tầm bắn hiệu quả chỉ 50 mét đã được coi súng đánh nhau và được trang bị như là súng chủ lực (khoảng 6-10 triệu các súng này đã được sản xuất). Nga và Đức không thể chấp nhận chuyện như thế, nhưng MP và PP vẫn gần.


Ở đây, chúng ta thấy có một lỗ hổng với MP, PP. Khi vào gần, hỏa lực rất mạnh, nhưng trên đường vào gần thì hỏa lực rất yếu, súng bắn kém chính xác, sát thương kém. Súng trường phát một bắn rất hiệu quả với tỷ lệ trung cao (gần như toàn bộ đạn bắn ra trúng mục tiêu cố định) ở các khoảng cách 150 mét-300 mét (tầm bắn hiệu quả của AK là 300 mét), ở khoảng cách 300-600 mét, hỏa lực súng trường vẫn rất đáng sợ, tuy khả năng trúng giảm đi, nhưng vẫn có hiệu quả với khả năng bắn trúng phát đầu mục tiêu cố định là gần 1/2.
Như vậy, từ 600 mét tấn công vào 300 mét, PP đã bị súng trường gây sức ép mạnh và trong khoảng 300-150 mét, MP và PP có hiệu quả thấp không đáng kể, trong khi đó là tầm bắn đáng sợ của súng trường. Đặc biệt xuất hiện nhiều súng trường tự động lúc đó thì số phát đạn súng trường ngang số loạt bắn MP, PP.

Người ta bù bằng trung liên. Đại liên với pháp hỗ trợ lính vào 300 mét, từ 300 mét, trung liên dừng lại và bắn áp chế.

Nhưng, khoảng cách từ 150 mét đến 300 mét thì lính vẫn xung phong trong hỏa lực của trung liên và súng trường địch, pháo đã dừng, trung liên ta thì ở khá xa mỗi cá nhân đang xung phong, không thể phản ứng trước các mục tiêu mới được phát hiện.

Chính vì thế, WWII lính được trang bị MP, PP xung phong và số lượng lính chết rất lớn, chủ yếu thương vong trong giai đoạn này, không còn cách gì khác, bộ binh tay không xung phong đưới làm đạn súng máy địch đúng nghĩa đen.

Cũng chính vì thế, súng trường hạng nặng vẫn được sản xuất số lượng lớn, và đây là giai đoạn đặc biệt trong lịch sử phát triển vũ khí, hai loại vũ khí bộ binh ngồi chung ngai chủ lực, đó là súng ngắn bắn nhanh và súng trường hạng nặng. Đây là điểm vô lý, vì sẽ phải trang bị cho lính hai vũ khí cùng lúc. Thực tế, người ta trang bị súng máy cho nhưng đơn vị tấn công hoặc giai đoạn sắp tấn công, còn ngược lại là súng trường. Dĩ nhiên là, những đơn vị mang súng xung phong thì khi bị phản công rất yếu đuối, và ngược lại, những đơn vị mang súng trường hạng nặng thì không phản kích địch được.

--------------

Đứng trước mâu thuẫn này, người Đức đã chọn một giải pháp là nâng cao tầm bắn súng máy. Điều này nếu xét về mặt ký thuật thì đó chỉ là hình thức, nhưng nhìn sang góc chính trị, nó thể hiện sự dốt nát về quân sự của Hitler. MP Đức có thể có nhiều danh tiếng, như nó đã tham gia trong các chiến thắng trước Tiệp Khắc, Ba Lan, Pháp và sau đó, cũng như bên Liên Xô, được đẩy lên với vai trò vũ khí chủ lực. Hitler hiếu chiến liền tung hô MP như là một thành tựu xuất sắc, ưu thế trí não của nòi giống Aryan, và thật khó khi lại nói lại là: nên thay MP bằng một loại súng trường mới. Nhìn ở góc độ khác, khẩu súng trường tấn công thật sự đầu tiên của Đức, khẩu MKb-35, không hợp cạ với Hitler và bộ máy của ông ta đã lái vẹo đi chương trình này, đặc trung nhất là đạn được được thử nghiệm tại Mauser, đạn là cốt lõi của khẩu súng và chương chình dừng.

Kết quả của những việc trên là Đức chọn phương án nâng cao tầm bắn súng ngắn MP. Đạn M43 đã được cải tiến nhiều lần, rất bé so với đạn ban đầu của MKb-35, vì nó là đạn súng ngắn. Hài hước, đạn quá bé, MP-44 kéo dài hết cỡ nòng để tận dụng tốc độ đầu đạn và... nặng như trung liên, 5,2kg rỗng. Chương trình mới bắt đầu với hai khẩu MKb-42: MKb-42(H) do hãng C. G. Haenel, tác giả Haenel / Schmeiiser . MKb-42(W) do tác giả Carl Walther.

Hình dáng bên ngoài hai khẩu khá giống nhau. MKb-42(W) dùng khóa nòng xoay hai tai giống AK sau này. Tất nhiên có nhiều loại khóa nòng hai tai như vậy và AK rất khác, đặc trưng bởi tai to vật vã và chuôi bé xíu, còn các súng khác ngược lại. Piston của MKb-42(W) dạng hình cung rất ít gặp. Piston hình cung tròn bao quanh nòng, điều này làm súng co dãn do nóng và rung rất cân. MKb-42(W) có đặc trưng rất súng trường là bắn từ khóa nòng đóng. Phần cò búa chạy thẳng giống máy G-43, kiểu này làm súng không rung ngang hay đứng do cò búa. Súng nặng 4,4kg rỗng.
Cả hai khẩu đều dùng trích khí tiết lưu. Cả hai đều chọn bắn phát một và liên thanh. Cả hai súng đều chưa có ốp lót tay trước của súng trường, tai trái cầm trục tiếp vào băng hay ổ cắm băng, đặc trưng của súng tầm rất gần như MP, PP.
MKb-42(H) dùng loại máy phổ biến lúc đó cho súng tự động, là máy chèn ngạnh nghiêng, gây rung đứng khi bắn loạt liên thanh, điều này dở hơn các MP chỉ rung dọc. Mà cũng giống MP, MKb-42(H) bắn từ khóa nòng mở như MP, và do đó, khi bắn phát một độ chính xác thấp. Có thể nói, súng này bao gồm một tập hợp các giải pháp cũ rích cho một kiểu súng mới, do đó, nó nặng nề nhiều nhược điểm. Súng quá nặng 4,9kg rỗng.

Bọn liệt não bị ánh sáng của AK làm chói mắt thường nói AK học của MP-44, ở đây có điểm nữa để cho não chúng thêm liệt. MKb-42(H) sau trở thành MP-44 có máy chèn ngạnh nghiêng, hình dáng khóa nòng rất giống PTRS-41 (súng chống tăng Liên Xô) và CKC ( xê ca xê SKS nhà ta hay dùng), nguyên lý này chả liên quan gì đến AK cả. Khẩu có máy xoay hai tai nguyên lý giống AK lại là MKb-42(W) đã bị loại bỏ. Tuy nhiên, đặc trưng của khóa AK là chuôi nhỏ, do khoảng cách của chuôi khóa nòng và bệ khóa nòng lớn, cân đối, nên toàn bộ lực dồn vào tai, chuôi nhỏ làm khoảng chuyển động của bệ khóa nòng nhỏ và rất thoáng mát trơn tru, cùng là cấu tạo khóa xoay 2 tai, nhưng AK vượt trội ở điểm này.


Cả hai khẩu đều được sản xuất với số lượng cỡ chục ngàn để đem sang mặt trận Nga-Đức, mục tiêu đầu tiên rõ ràng là thử nghiệm đánh giá, mục tiêu kỹ thuật chắc chắn là đọ sức với PPSh-41. có thể thấy, MKb-42(H) sử dụng trích khí quá lạ, mình không có thực tế để đánh giá kiểu trích khí này. Nhưng có thể hiểu được là nó khá nặng, và còn nhiều nhược điểm chưa thử nghiệm hết. Thế nhưng, MKb-42(W) lại có lượng kỹ thuật mới, sang kiến mới quá tệ, nói đúng hơn là chỉ toàn các giải pháp cũ rích, không được chau chuốt trong một thiết kế mới và không hợp nhau cũng như hợp nguyên lý súng. cả hai MKb-42 thuần túy là MP và bắn từ khóa nòng đóng của MKb-42(H) tốt hơn.

Chắc chắn là có thể còn nhiều điểm nhỏ chưa ưu việt, nhưng cả hai súng đều có đường đạn tốt hơn PPSh-41. Đó là điểm đương nhiên. Từ súng ngắn MP, PP đến súng trường có một lỗ trống và chả cần thông minh gì cũng có thể làm đạn lấp lỗ trống đó, sao cho có một khẩu súng bắn loạt nhanh không cần tỳ đất như MP mà mạnh hơn các MP, PP đương thời.

MKb-42(H) có nhiều điểm tiến bộ, nhưng có lẽ, nó không thắng được MKb-42(W) do piston quá mới. Lúc đó, phương Tây chưa có piston nào đủ tin cậy. Piston DP sau này được SVT và CKC thừa kế, phát triển thành phiên bản lò xo đẩy về cần đẩy lùi riêng, rất hợp với súng nhỏ, sau này được áp dụng trong G-43, nhưng đây là năm 1942. Nhưng lúc đó ở phương tây trích khí và đẩy lùi rất đơn giản, đem đến nhiều nhược điểm, chúng ta cần nhơa lại là ở Đức, MG-42 dùng máy DP nhưng quyết định không dùng trích khí, bất chấp việc gánh theo cái nòng nhỏ rất nhanh nóng.

Mịe, cái thằng chí phèo nó move các đoạn post đi linh tinh bi h tìm cái tranh động về máy MG-42 cũng không thấy.

MKb-42(W) dùng trính khí và đẩy lùi truyền thống phương Tây, ảnh hưởng nhiều đến đường đạn, tốn khí, hay hỏng kẹt, hay dùng cho súng máy bắn loạt dài đạn hạng nặng, giá cao nhiều người chăm, bắn loạt dài chả cần xạ kích điểm và dùng đạn súng trường hạng nặng lắm khí (Nga My  Grin). MKb-42(H) cố gắng có một đẩy lùi mới, nhưng bị loại bỏ. Kể ra, bên Đức không như Liên Xô sau này, mọi người đoàn kết tập trung những ưu việt nhất về 3-4 mẫu, và bình bầu điểm chung của AK là nhất. Bên Đức, MKb-42(H) thua là ra đi hoàn toàn, MKb-42(W) không công nhận tí nào những điểm ưu việt của nó, ví dụ không dùng khóa nòng rung đứng chẳng hạn. Nếu như MKb-42(W) chuyển sang dùng trích khí SVT như G-43 cũng tác giả sau này, rồi dùng khóa xoay nhập từ MKb-42(H) thì Đức đã có phiên bản Kiểu 03 (2003) của Tầu rồi. Và nếu thế, thì bọn liệt não nói AK học từ MP-44 có chút lý lẽ.


Đánh giá chung về hai loại MKb-42 thế nào. Chúng ta hãy để người Đức-chủ nhân của chúng, làm điều đó. MKb là Maschinen Karabine: súng trường. Sau năm 1942, khẩu MKb-42(W) nghiền nát đối thủ và đồng thời với điều đó, người ta đổi tên chính thức nó thành MP-42 tức súng ngắn. Gọi là nghiền nát đúng nghĩa, vì AK khi tiến lên học nhiều thứ của đồng đội trên đường đua, nhưng MKb-42(W) vứt bỏ hoàn toàn các đặc tính dù tốt của đối thủ. Sau một số cải tiến nhỏ về súng và đạn, MKb-42(W) trở thành MP-44. Nòng kéo dài ra từ 364mm lên 419mm, súng tăng khối lượng rỗng lên 5,22mm, bằng trung liên RPK. Súng cũng lắp thêm cò búa để bắn từ khóa nòng đóng, cò búa quay.
Một thiết kế trung gian giữa MKb-42(W) và MP-44 là MP-43, sau đó ghép thêm đầu nòng của MKb-42(H) để phóng lựu. Phiên bản này là MP-43(1). Đây là đặc điểm duy nhất du nhập từ H sang W.

Súng trở thành trò cười trong giới chế súng Đức, bất chấp nó được Hitler ưu ái. Còn gì nữa, lấy máy súng phát một bắn liên thanh, các chi tiết cũ rích, nặng như trung liên và bắn đạn súng ngắn. Như mình đã nói, ngày 6-4-1944, sau quá trình phát triển khá dài, MP-44 được chấp nhận là súng xung phong STG của quân Đức, bên cạnh súng trường G-43 và súng máy MG-42.

Lúc này, súng dùng đầu đạn 125 grain (8,1 gram) và sơ tốc 680m/s.
« Sửa lần cuối: 14 Tháng Ba, 2009, 09:54:43 am gửi bởi huyphuc198101 » Logged
huyphuc198101
Thành viên
*
Bài viết: 18


« Trả lời #177 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2009, 03:29:39 pm »

Ngườ Đức đứng trên quan điểm "phóng to súng ngắn", Liên Xô ban đầu "Thu nhỏ súng trường", nhưng lại nhanh chóng chuyển sang quan điểm "Cải tiến đạn".

Quan điểm thu nhỏ súng trường còn tồn tại đến sau chiến tranh ở phương Tây. Trong khi Liên Xô hiện đại hóa kỹ thuật đạn để có được đạn nhỏ nhưng mạnh, thiết kế súng trường xung phong, thì Đức phóng to súng ngắn và phương Tây sau này thu nhỏ súng trường, như một dung hòa quan điểm của Liên Xô và Đức (rất đặc trưng của chế độ đại nghị châu Âu). Trong giai đoạn đến khi AS-44 được thử nghiệm bằng đạn M43 đời đầu, 7,62x41, Liên Xô đã đi qua bước đầu tiên là thu nhỏ súng trường, từ kết quả thử nghiêm trên chiến trường, AS-44 to cộng thêm rung khá mạnh, nếu thu nhỏ đạn thì không đủ yêu cầu mạnh, Liên Xô đã chuyển sang bước cải tiến đạn.
Đây là ba nỗ lực khác nhau, về hình dáng, thu nhỏ súng trường và phóng to súng ngắn không khác gì nhiều và đều khác một thế hệ súng mới mạnh mẽ.


Một sức ép với Đức là đạn Tokarev 7,62x25 khá mạnh. Cho đến giờ, đây vẫn là loại đạn súng ngắn mạnh, cái dở của nó là nòng súng cồng kềnh. Phương Tây ngày nay đánh giá PPSh-41 có tầm bắn hiệu quả 200-300 mét, quá cao so với chỉ số của Liên Xô (150 mét), do chênh lệch tiêu chuẩn đánh giá. Chúng ta cần biết là đạn M3 Grease sơ tốc 280 m/s dưới âm, tầm bắn hiệu quả 50 mét. Các đạn súng ngắn này có một nhược điểm là đều không được thiết kế để đánh nhau ở ngoài trận tiền, mà dùng cho các chức năng nhẹ như sỹ quan bắn hiệu lệnh hay cảnh sát. Chỉ vì Thế Chiến I sa lầy trong chiến hào mà đạn súng ngắn trở lên đắc dụng trong MP, và thật sự là, dùng MP-PP-SMG như vũ khí chủ lực ngoài trận tiền là bất đắc dĩ. Đạn Tokarev 7,62x25 có thể làm súng ngắn bắn phát một của các thầy quyền dài, nặng, nhiều nhược điểm..., nhưng là loại đạn súng ngắn tốt nhất lúc đó để chiến trên mũi nhọn xung phong, đạn súng ngắn tốt nhất để làm cái việc bất đắc dĩ sai vị trí trong thời buổi nước sôi lửa bỏng đó.

Việc sử dụng đạn súng ngắn tầm rất ngắn ra ngoài trận tiền đưa đến một vài nghịch lý. Đạn súng ngắn có thể có đường kính lớn và chiều dài ngắn, nhờ đó cùng một áp suất khí thuốc nhưng lực đẩy lớn, gia tốc lớn và làm ngắn nòng đi. Nhưng điều đó lại làm đạn nhanh tản mát trong không khí. Mặt khác, nòng ngắn bắn đạn nặng thích hơn, vì đạn nặng thì với sơ tốc thấp của nòng ngắn vẫn sát thương tốt. Nhưng tốc độ chậm đường đạn cong khó bắn chính xác. Súng ngắn bắn liên thanh MP (Maschinen Pistol) và súng ngắn (Pistole) có cái ngược giải pháp, đạn càng ngắn càng to thì làm súng càng nhẹ càng ngắn, hợp với P, nhưng MP không cần nhẹ ngắn thêm nữa, các bạn thấy, rất nhiều MP dùng báng như nối dài ra cho dễ cầm, mà đạn ngắn to lại phản tác dụng ở MP do tầm gần đi. Ở đây, ngược giải pháp do khác vị trí sử dụng, MP dùng tên mũi nhọn xung phong, cần đối phó với súng trường hạng nặng tầm xa, còn súng ngắn bắn phát một chỉ là súng hiệu lệnh, nếu có chức năng bắn sát thương cũng chỉ tầm rất gần.

May mắn, Liên Xô đã quyết định sản xuất khá nhiều đạn 7,62x25 Tokarev, bên Đức cũng có đạn rất giống 7,63x25 Mauser (C96, Liên Xô copy, súng ngắn C96 dùng khá nhiều ở Liên Xô và Nga Hoàng, trong "Thép đã tôi..." dịch là Maode), nhưng các súng MP Đức ại dùng đạn 9x19 Parabellum, đây là đạn dùng cho súng ngắn bắn phát một thế hệ sau của "Maode"-Mauser C96. Người Đức nối tiếp truyền thống MP-18, quá coi trọng đoạn xung phong tầm rất gần mà quyên đi việc, ngoài trận tiền, súng nào cũng cần tầm bắn vượt xa súng ngắn cảnh sát. Đạn nhỏ 7,62x25 Tokarev (bắn trên súng K54) nhanh chóng bị thay thế trong súng ngắn bắn phát một Liên Xô bằng loại đạn to (bắn trên súng K59). Có thể nói, đạn này ban đầu là đạn súng ngắn cảnh sát sỹ quan, nhưng sau này chủ yếu dành cho PP (MP, SMG).

Thế là PP Liên Xô như PPD, PPSh, PPS đều dùng đạn 7,62x25 Tokarev, và các MP Đức dùng đạn Parabellum. Hai loại đạn này cùng cỡ năng lượng đầu nòng 480-490MJ, nhưng sơ tốc của PPSh-41 là 480m/s, của MP-41 là 380m/s. Khả năng bị không khí cản đạn 9mm cũng cao hơn nhiều đạn 7,62mm, tốc độ mất nhanh hơn mặc dù đạn nặng hơn, đồng thời tản mát ngẫu nhiên do tác động không khí cao hơn. Ngoài ra, hiệu quả chung của việc sử dụng nòng-đạn MP tương đối kém trong súng mặt trận, dùng đan cỡ to hơn, nhưng nòng MP-40 không ngắn đi được bao nhiêu (PPD-40, PPSh-41, MP-40=273mm, 269mm, 251mm), độ dài súng thì như mình đã nói, người ta không cần lo chỉ theo khổ người mỗi nước và ý thích nhà chế tạo (788mm, 843mm, 833mm), khối lượng rỗng thì MP kém rõ rệt (3,23kg 3,63kg 4,03kg). MP-40 mang băng 32 viên nặng 4,7kg. PPSh-41 nặng 5,45 kg với băng trống 71 viên, 4,3 kg băng dài 35 viên. PPD 3,66kg băng 25 viên, 5,4 kg băng trống 71 đạn. Thật ra, với súng ngắn phát một cầm một tay thì đạn to có hiệu quả kích thước súng thể hiện rõ rệt, với súng cầm hai tay thì người ta quá thừa chỗ để kéo dài súng và nòng khi dùng đạn súng ngắn, nên đạn to nòng to nặng hơn trong khi vẫn phải bổ sung các bộ phận dài để tỳ vai cầm hai tay.

Cũng dễ dàng thấy một lợi thế nữa của PP trước MP, đó là người lính xung phong mang nhiều đạn hơn và lắp sẵn sàng trên súng nhiều hơn. Đạn vừa nhỏ hơn vừa nhẹ hơn. PPSh, PPD... dễ dàng mang băng 71 viên, bắn đè đầu các MP mang băng 3x viên. Các đoạn phim tài liệu và ảnh chụp chiến tranh cho thấy loại băng 71 viên được dùng rất nhiều, nếu không muốn nói là được dùng nhiều nhất trong thực tế. Việc mang được nhiều đạn là một thách thức với các súng tấn công cho đến ngày nay. Người lính phòng ngự dễ dàng có hàng tủ đạn, và thậm chí cũng dễ dàng có nhiều súng lắp sẵn đạn thay nhau, nhưng người lính xung phong có rất ít, họ không thể mang hàng tạ đạn, cầm hàng chục kg trên tay được. Số lương kg trung bình mỗi lính mang được chắc như nhau, và đạn nhỏ nhưng mạnh là ưu thế.

Ngoài ra, Liên Xô còn sản xuất khá nhiều các loại đạn xuyên hay tốc độ cao trên tiêu chuẩn 7,62x25 của họ và dùng khá nhiều giai đoạn sau của chiến tranh. Sơ tốc bắn nhiều loại đạn lên đến 550m/s (bắn trên nòng tiêu chuẩn thử 120mm đạt 520m/s). Sức xuyên của đạn sơ tốc cao cũng cao hơn đạn tốc độ thấp cùng mức năng lượng (ví như xe tăng dùng đạn giảm cỡ), nên các loại giáp chống đạn thông thường cả sau này cũng dễ dàng bị xuyên.

Như vậy, không nói về dễ chế tạo, tin cậy... chỉ nói về tầm bắn, PPSh và PPD trong năm 1942 là loại súng ngắn bắn nhanh tốt nhất thế giới. Và vì vậy, dễ hiểu là người Đức đã khát nước lao vào cuộc đua súng ngắn, mà quyên đi những yêu cầu mà MKb-35 đã đi đúng hướng, cần phải chế tạo súng trường.

Kết quả của điều này: MP-44 không có ốp lót tay trước, không được thiết kế để bắn tầm xa và không bao giờ là súng trường cả. Nó là súng ngắn mạnh nhất hồi đó, nhưng chưa là súng trường. MP-44 có sơ tốc rất gần sơ tốc các mẫu thử đạn M43 ban đầu, nhưng vẵn là một súng ngắn. Rất nhiều bạn hay lấy động năng đầu nòng để phân biệt súng ngắn súng trường... nhiều loại súng ngắn hiện đại có đạn nặng khủng khiếp, động năng đầu nòng khủng khiếp, nhưng hình dáng của nó là súng ngắn vì vậy nó là súng ngắn. Đặc trưng của súng trường là có chỗ cầm trước tiến về phía đầu nòng, cầm súng vững chắc để ngắm bắn tầm xa. MP-44 đặt tay cầm trước lên băng, hai tay quá gần nhau, là đặc trưng của MP, PP và không thể bắn xa tốt vì không thiết kế để bắn xa.

Dở nhất của MP-44 thể hiện trong cơ hội cuối cùng của nó. Sau năm 1942, được Hitler ưu ái, duy nhất súng này dùng đạn này. Thế nhưng, nó không nỗ lực thay đổi mạnh viên đạn mà dùng giải pháp vô vọng là kéo dài hết cỡ nòng súng. Thật khó hiểu ?? Lúc này, súng đạn đã là một, chỉ cần thay đổi một chút đạn thì súng đã nhẹ đi nhiều ?? Các súng khác chỉ cố kiết làm điều tương tự khi đạn đã fix vì loại đạn đó còn dùng cho nhiều súng khác. Ở đây, chỉ có một giải thích là bộ cạ của Hitler làm việc về súng đạn rất tồi. Một lần nữa, điều này lại gây một trò cười trong giới chế súng Đức.

--------------
Bên Mỹ, không phải vì M3 Grease hay Thomson SMG quá yếu mà người Mỹ bỏ đứng ngoài cuộc đua súng ống trong thời nước sôi lửa bỏng. Người Mỹ đưa ra M1 carbine, bắn đạn 7,1gram sơ tốc 570m/s. (Một số bạn nói với mình là M1 Carbine 600m/s, thật ra đây là "sơ tốc tối đa, bắn trên cái nòng tưởng tượng dài vô cùng và không xoắn"). Súng rất nhẹ, chưa đến 2 cân rưỡi rỗng. So sánh với đạn PPSh-41 trên 5 gram, 480m/s quá tốt.  Nếu chỉ tính sơ tốc và năng lượng đầu nòng thì đây là súng trường tấn công đầu tiên trên thế giới. M1 Carbine được thiết kế 193x và ra đời trước WWII. Với cỡ khối lượng đầu đạn và sơ tốc như vậy, đạn có vẻ gần gũi với AK nhiều lắm.

Thế nhưng, người Mỹ hoàn toàn không có ý định thiết kế một súng trường tấn công hay sún ngắn tấn công. M1 Cacbine ban đầu được thiết kế để làm súng ở tuyến 2, ví dụ như súng trường ngắn của công binh, pháo binh, kỵ binh... như Mút Cơ Tông. Họ cũng thiết kế một loại đạn riêng cho súng, gọi là đạn ".30 Carbine". Đạn này có cấu tạo đầu đạn giống như đạn súng ngắn, tức là rất ngắn, tỷ lệ dài rộng của đầu đạn gần giống như 7,62x25 Tokarev. Như vậy, đây là loại súng trường dùng đạn súng ngắn, dùng ở tuyến 2 chứ không xung phong áp chế địch như MP, PP.

Mục tiêu của M1 ban đầu là như thế nhưng khối kẻ liệt não tự ái với Nga Đức, thường nói đạn ".30 carbine" được thiết kế để xung phong. Vì các văn bản của Mỹ nói ngược lại nên các bài viết liệt não hay có chuyện đoạn đầu thì M1 carbine ở tuyến 2, đoạn nữa ở mũi nhọn xung phong. Hoặc súng M1 carbine ở tuyến hai, còn đạn của nó ở mũi nhọn xung phong... các bài viết liệt não như vậy thấy đầy trên nét.


Chính vì tiến rất gần thời đại mới, mà lại không hiểu thời đại mới là gì, nên Mỹ không làm liên thanh cho M1, nó chỉ bắn phát một tự động (do không lo nòng nóng nên nhẹ). Người Mỹ vừa không biết chiến thuật, vừa thiếu trình độ cơ bản chế súng, để hoàn thiện súng này.Năm 1944, Mỹ làm liên thanh cho súng này thành M2, nhưng đó là thời điểm thử nghiệm MP-44 và AS-44, đã quá muộn. M2 được dùng lần đầu khi quân Mỹ đánh chiếm Okinawa năm 4/1945.

Ngoài việc đã quá muộn, thiếu kiến thức cơn bản làm súng đạn này chỉ có chỉ số động năng và tốc độ đầu nòng kha khá, còn độ chính xác và sức sát thương, tầm bắn hiệu quả... rất thấp do cấu tạo đạn ngắn như đạn súng ngắn thông thường. Tuy cùng cỡ vỏ đạn như đạn M43 của MP-44 (M1 dài 32,76mm, MP-44 dài 33mm), nhưng đạn ".30 carbine" đặc sệt đạn súng ngắn với đầu tròn thân ngắn, còn đạn MP-44 Đức lại dài hơn, đạn MP-44 có hẳn chóp nhọn spitzer đàng hoàng, cũng hướng về phía súng trường.
Thực chất, M1 carbine là một súng ngắn được gọi bằng tên súng trường carbine.

Khi dùng M1 trong chiến tranh, người Mỹ không hề có ý định đưa nó lên mũi nhọn xung phong. Khi thấy thời trang thế giới có vẻ giống M1 carbine-chỉ khác liên thanh, người Mỹ vội vàng đưa nó lên bằng cách làm ra M2 liên thanh, nhưng điều đó không hề ảnh hưởng đến tầm bắn vì vẫn dùng đạn cũ, gọi nó là súng trường tấn công giống như gọi một người đàn ông râu ria mặc váy là cô gái hấp dẫn vậy, có thời trang, nhưng không có bản chất.

Cú đánh võng này chứng minh rằng người Mỹ đã bước qua cục vàng mà không biết đó là vàng. Một lần nữa nó thể hiện trình độ súng ống Mỹ rất thấp, cả về chiến thuật và kỹ thuật. Cũng hài, người Mỹ gọi là súng trường (cạc bin là súng trường ngắn), nhưng lại yếu hơn cái mà người Đức gọi là súng ngắn (MP-44). Chính vì thế mà các con liệt não về sau này thi nhau chứng minh MP-44 là súng trường, bất chấp những người chế tạo ra và sử dụng nó dập chữ MP lên vỏ.  Grin

Ở Mỹ thì gọi M1 Carbine là súng trường cũng được, vì, nếu súng ngắn M3 Grease hay Thomson SMG có sơ tốc dưới âm, tầm bắn hiệu quả 50 mét kém cung tên..., thì M1 Carbine hoàn toàn đáng là súng trường. Và như thế thì AK sẽ là súng trường hạng nặng, Mauser, Mosin sẽ là đại bác.

« Sửa lần cuối: 14 Tháng Ba, 2009, 05:37:58 am gửi bởi DepTraiDeu » Logged
huyphuc198101
Thành viên
*
Bài viết: 18


« Trả lời #178 vào lúc: 14 Tháng Ba, 2009, 01:28:39 am »

Ở đây, chúng ta cần nhắc lại một chút về đạn AK.

Một số người cho rằng Liên Xô quyết định format đạn M43 của AK sau này do nhặt được các súng thử nghiệm MKb-42 Đức. Tuy nhiên, đạn Đức là đạn súng ngắn, còn M43 là súng trường. Liên Xô có truyền thống sử dụng và đánh giá súng trường tấn công thông qua Fedorov, cho đến trước Chiến Tranh Giữ Nước Vĩ Đại, thì Liên Xô vẫn dùng khẩu súng này trong Chiến Tranh Phần Lan.
(mịe cái thằng chí phèo, bây giờ lộn xộn không biết cái ảnh này nằm đâu)
Đồng thời, người Liên Xô cũng như Đức, sử dụng rất nhiều đơn vị có đội hình toàn bộ hay tỷ lệ lớn súng ngắn bắn nhanh PP, và dễ dàng thấy được khoảng trống của MP, PP. Mặc dù Liên Xô có đạn 7,62x25 mm TT, đảm bảo PP của họ có tầm bắn tốt nhất trong số các SMG, MP, PP hồi đó, nhưng khoảng trống vẫn rất lớn.
Và nhìn chung, chiến tranh ập đến quá nhanh và mọi nước đều vội vàng đem súng ngắn cảnh sát ra trận tiền. Dĩ nhiên là điều này sẽ làm xuất hiện yêu cầu một thứ súng mới. Nhưng súng đó thế nào.

Như vậy, sau năm đầu tiên của chiến tranh, điều dễ hiểu là Liên Xô cũng như Đức, muốn bù khoảng trống đó. Cũng dễ hiểu là Liên Xô nhớ đến Fedorov Avtomat. Lúc này, Fedorov đang cùng Degtriarep làm việc ở nhà máy súng máy chủ yếu của Hồng Quân, sự nghiệp của Fedorov đang vào giai đoạn chín nhất, khi ông đào tạo ra hàng loạt những nhà chế súng hàng đầu Liên Xô. Có thể hiểu rằng, dù không trực tiếp, nhưng thông qua học trò và bạn bè, tư tưởng của ông được truyền bá rộng rãi và nhanh chóng trở thành thực tế.

Fedorov Avtomat ngừng sản xuất và sử dụng chỉ vì không có đạn. Quãng thời gian từ lúc Fedorov format đạn 6,5mm của mình và bị buộc phải chuyển sang đạn 6,5mm Nhật  (năm 1913), đến lúc này đã quá xa, và nhiều thay đổi trong kỹ thuật đạn dược. Lúc này, một kiểu đạn mới không phải là một khó khăn như thời ốm đói, mà là một cơ hội để tận dụng những phát triển kỹ thuật mới, trong khi chúng thể hiện khó khăn  trong form đã cố định của Mosin.

Và Hồng Quân quyết định format một đạn mới hoàn toàn không giống với đạn MKb-42 như bọn liệt não thường hay miêu tả. Trong khi đạn MKb-42 thay thế đạn MKb-35 theo quan điểm thay súng trường thành súng ngắn, và được đặt tên là đạn súng ngắn (Pistole Patron), thì đạn M43 Liên Xô là đạn súng trường. Cỡ đạn ban đầu được AS-44 dùng là 7,62x41mm, gần giống cỡ đạn mà người ta dự định dùng cho MKb-35 (7,75x40 GECO), trước khi MKb bị bóp méo. Có một số ý kiến cho rằng, Liên Xô quyết định format đạn M43 của AK sau này do nhặt được các súng thử nghiệm MKb-42 Đức, nhưng rõ ràng, không ai lấy đạn súng ngắn làm mẫu cho súng trường cả, và Liên Xô có sẵn Fedorov Avtomat để đánh giá sơ sơ trước khi hoàn thiện đạn, không cần phải ngâm kíu nước ngoài và Liên Xô không hề bắt được viên đạn MKb-35 nào. Nếu như Liên Xô có thông tin về MKb-35 thì thông tin đó cũng có từ lúc trước chiến tranh và đơn giản là Liên Xô biết chương trình đó đã bị thay thế bởi súng ngắn.

Có thể Liên Xô biết thông tin về đạn MKb-35 7,75x40 GECO, cũng có thể Liên Xô dễ dàng thử nghiệm cỡ đạn bắn liên thanh được khi cầm tay, tìm cỡ lớn nhất có thể đảm bảo điều đó trong điều kiện kỹ thuật lúc đó... Bên Đức cũng còn có một số cỡ đạn khác gần giống... Nhưng điều đó không quan trọng vì nếu Liên Xô copy Đức thì đã copy việc bỏ những đạn đó. Việc Đức bỏ những đạn đó và Liên Xô biết thông tin này qua viêc thu được MKb-42, MP-43, MP-44... chỉ chứng minh Liên Xô trội xa hơn Đức về trình độ thiết kế và đánh giá súng mà thôi.

Một điểm nực cười nữa, là trong một cuốn sách xuất bản ở thế giới liệt não bên kia Đại Tây Dương (Senich, Peter R., The German Assault Rifle 1935 - 1945, Paladin Press, Boulder, Colorado, 1987), tác  giả chứng minh hùng hồn là đạn M43 Liên Xô chính xác được copy từ đạn 7x39mm Đức. Tác giả ngu dốt của những điều này không biết rằng mẫu đầu tiên của M43 có kích cỡ vỏ đạn 7,62x41mm, chứ không phải x39.

Cũng buồn cười, đạn MKb-42 sau khi thử nghiệm lại bị đánh giá là yếu quá. Quyết tâm thu nhỏ từ MKb-35, nó trở lên quá thành công ( Grin Grin Grin). Thành công ngoài mong đợi này làm nó được yêu cầu cải tiến ngược, tức cải lui cả súng đạn chút. Đạn đã fix kích thước rồi và do thiếu những kiến thức cơ bản để đầu tư phát triển tiếp, chỉ còn việc chọn đầu đạn mà thôi. Đạn 125gr mới cũng có tên M-43 như Liên Xô: PistolenPatron M43, đạn súng ngắn kiểu 1943. Hãng được Hitler ưu ái thiếu những hiểu biết tiên tiến và vụng về trong việc thiết kế súng. Kết quả là MP-44 có nòng quá dài, súng nặng như trung liên, nhưng lại không có ốp lót tay hay càng để ngắm bắn tầm xa. Sự kém cỏi của Hitler về quân sự đã làm cho người Đức trung thành với ý tưởng thiết kế súng MP, súng ngắn bắn liên thanh. Thiếu ốp lót tức là súng không thiết kế để bắn tầm xa trung tư thế bắn súng trường, và đó là nét rõ ràng nhất chứng minh MP là súng ngắn, đúng như những người thiết kế ra nó và Hitler đã xác định.

Điểm khác nhau giữa Liên Xô và Đức ở đây ??
Ngày 6-4-1944, Hitler ra lệnh fix 3 súng chủ lực. Trong đó, hai súng cá nhân là súng trường G-43 và súng tấn công STG-44 (MP-43). Như vậy, Hitler đã xác định tồn tại song song hai súng chủ lực, súng tấn công không phải súng trường. Súng tấn công là STG-44. Súng trường là G-43.
Còn Liên Xô nỗ lực thiết kế một Súng trường Tấn công và có AK.

Rất nhiều con liệt não nói tiếng Anh: MP-44 là súng trường tấn công. Nhưng Hitler đã ra văn bản nói rõ, súng tấn công là súng tấn công, súng trường là súng trường. Vả lại, khẩu STG-44 dập chữ MP-44, nó là MP, súng ngắn. Điều này dai dẳng nhưng rất hài, dân nói tiếng Anh cãi người Đức, cãi nguyên thủ quốc gia của họ, cãi ngay khẩu súng: mày không phải mày. Thế mới liệt não dở người.
---------------------

Đạn M43 kiểu đầu, 7,62x41, có kích cỡ gần giống đạn MKb-35. Và các súng trường Liên Xô đầu tiên dùng loại đạn này cũng có tên là cạc bin, ví dụ CKC (SKS). AS-44 và các súng cùng cuộc đua AK cũng được gọi là cạc bin liên thanh, như MKb-35. Việc lựa chọn kiểu đầu đạn này khá đúng đắn. Nó ngắn hơn đạn súng trường thường, nên nòng ngắn đi và súng nhẹ. So với đạn đường kính nhỏ 6,5mm của súng trường nặng, đạn M43 hao tổn tốc độ khi bay trong không khí lớn hơn, do đạn ngắn hơn. Nhưng đạn ngắn vừa phải này dễ dàng làm lệch tâm khí động, tạo hiệu ứng con quay tốt hơn để có đường đạn ngoài hoàn hảo, chính xác. Trong khi đó đạn súng ngắn bắn phát một thường quá thừa mỡ, không đủ làm đầu nhọn spitz mà mắt cắt tiến đến hình dáng của bi tròn. Đạn nhỏ dài hơn lại cũng vậy, để đảm bảo khối lượng thì đạn dài và mặt cắt của nó sẽ thành hình trụ chứ không phải là hình tam giác spitz nữa, hình trụ là kiểu đạn cuối tk19 mà sau này M16A2 sẽ thừa kế. Đây chính là điểm mạnh của AK-47, mà sau này nó sẽ bắn rất chính xác và sát thương cao hơn cả đạn lớn hơn nó, tuy rằng, đạn còn phải hoàn thiện một thời gian nữa. Cỡ đạn này với tốc độ xoáy vừa phải sẽ tự uốn trục của nó trên đường bay theo phương bay trong không khí, trong khi đạn bi tròn dễ lộn tùng phèo và đạn trụ lại cố định trục, đều dẫn đến tản mát. Khi gặp mục tiêu mềm, đạn mới ngoáy mạnh, truyền động năng ra ngoài phá mục tiêu, chứ không im ỉm đi xuyên qua như đạn bi, đạn trụ.

Như vậy, đạn mới chính xác hơn trong tầm bắn dưới 300 mét, trong khi đó hy sinh khả năng sát thương tầm bắn ngoài 1000 mét. Tầm bắn 300 mét là tầm đặc trưng của AK, gọi là "tầm bắn hiệu quả". Gọi như thế vì súng trường các loại đều có thể bắn xa, như súng trường hạng nặng 2000 mét, nhưng ở khoảng cách lớn khả năng bắn trúng giảm xuống đến mức không đáng kể. Súng trường thế hệ mới nhường các tầm bắn xa cho súng máy, pháo. Về sát thương, cũng trong tầm 300 mét đó, đạn súng trường hạng nặng có thể xuyên sâu qua nhiều người, nhưng điều đó cực hiếm, còn ở một người thì đạn súng trường cũ dễ xuyên qua mục tiêu, để lại một lỗ nhỏ, trong khi đó đạn AK phá theo thể tích lớn hơn nhiều.

Như vậy, súng kiểu mới bù lại khoảng trống giữa súng trường hạng nặng và MP, PP. Đạn nhỏ, mang được nhiều, bắn loạt không tỳ đất như MP, PP. Tầm bắn phát một dưới 600 mét hiệu quả như súng trường hạng nặng. Điểm dưới 600 mét đã được xác định đúng đắn ở cả yêu cầu của Fedorov Avtomat và MKb-35. Có thể nói, dưới 600 mét, thì súng trường tấn công kết hợp ưu điểm của cả hai loại, súng ngắn bắn nhanh và súng trường hạng nặng.

Tuy nhiên, sau những thử nghiệm ngoài mặt trận, AS-44 được đánh giá hơi nặng, đồng thời xuất hiện nhiều yêu cầu mới, trong khi đó, tác giả của nó, Sudaev ốm nặng rồi mất khi súng chưa kịp hoàn thiện. Những điểm này buộc Liên Xô phải nỗ lực nữa. Quan điểm cố định của Liên Xô là hoàn thiện các yêu cầu mà Hội Đồng Súng Trường đã cùng Fedorov xây dựng, gồm 2 điểm chính: giành thắng trong cuộc đấu tầm xa tay đôi và sử dụng chức năng bắn loạt trong giáp là cà. Hiện đại hóa 2 điểm chính này là chức năng súng trường và chức năng xung phong=súng trường xung phong. MP xung phong được, nhưng không súng trường.

Các yêu cầu của MKb-35 do viện Mauser xây dựng hơi thiếu. Họ yêu cầu chung chung một súng trường (có thể hiểu đây là yêu cầu súng trường), nhẹ, đảm bảo tầm bắn dưới 600 mét giữ hiệu quả súng trường (như Mauser). Như vậy, các yêu cầu này thiếu hẳn chức năng xung phong và do đó, Hitler bóp méo chương trình thành súng ngắn không phải là không có lý. Nhảy từ súng trường thành súng ngắn quá đà, MP-44 muốn vớt vát, nhưng không được bao nhiêu vì đạn đã fix kích thước và quá yếu.
« Sửa lần cuối: 14 Tháng Ba, 2009, 05:34:30 am gửi bởi DepTraiDeu » Logged
DepTraiDeu
Thành viên
*
Bài viết: 658

Kẻ thù của Đế quốc và CHỊ EM!No prisoner pls!


WWW
« Trả lời #179 vào lúc: 14 Tháng Ba, 2009, 05:31:38 am »

Nhắc bác huyphuc lần chót: bác có bị gì thì bác đi khám đặng còn uống thuốc, còn bác vẫn cứ thích gọi người khác, quốc gia khác là liệt não thì xin mời bác đi mát mẻ! Ở đây chúng ta cần kiến thức lẫn văn hóa.
Trân trọng,

DTD
Logged

BAO CHIẾN SỸ ANH HÙNG! NÀO CÙNG VUNG GƯƠM RA SA TRƯỜNG!
pằng.. chéo! oái nó có súng còn mình có mỗi gươm! Cheesy
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM