chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #80 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2010, 07:16:51 pm » |
|
Tại tỉnh Bà Rịa (cũng như các tỉnh vành đai bảo vệ Sài Gòn), địch tập trung lực lượng và các phương tiện hiện đại liên tiếp mở các cuộc hành quân quy mô vừa và lớn. Thủ đoạn hoạt động của chúng là dùng chiến đoàn hỗn hợp bộ binh, pháo binh, thiết giáp, khoanh từng vùng năm, sáu xã đánh phá liên tục ngày đêm, gom dân, lập ấp, bình định xong vùng này mới chuyển sang vùng khác. Nhưng tại đây cuộc đấu tranh chống địch của nhân dân đã diễn ra khá sôi động ngay từ khi Trung ương Cục phát động phong trào “Thi đua Ấp Bắc”, giết giặc lập công và phá ấp chiến lược”. Lực lượng vũ trang tại chỗ dựa vào nhân dân tổ chức đánh lui nhiều trận càn cỡ trung, đại đội bảo an, dân vệ vào các xóm ấp, hỗ trợ cho nhân dân phá lỏng những ấp chiến lược ngoại ô. Dần dần, tác chiến của bộ đội dân quân, du kích và đấu tranh chính trị của nhân dân phối hợp được với nhau, liên kết được nhiều địa phương cùng đấu tranh chống địch, thắng lợi giành được mỗi ngày một lớn hơn. Điển hình là phong trào ở huyện Châu Đức, tháng 9-1963, trung đội bộ đội huyện cùng một số du kích bí mật phục kích, chặn đánh một tiểu đoàn biệt động quân tại khu vực Cây Cám, diệt 38 tên, thu năm súng. Sau đó, trung đội bộ đội huyện Châu Đức được đại đội 45 chủ lực tỉnh Bà Rịa hỗ trợ tổ chức bám trụ tại khu vực địa đạo Long Phước, liên tiếp đánh bại nhiều trận càn của quân chủ lực và quân địa phương ngụy. Vừa chiến đấu vừa xây dựng, đến cuối năm 1963, bộ đội huyện Châu Đức từ một trung đội đã phát triển lên thành đại đội, nhiều xã xây dựng được tiểu đội du kích, một số xã trọng điểm có trung đội du kích, trang bị khá.
Cũng như Châu Đức, năm 1963, trung đội bộ đội huyện Long Đất được bổ sung quân số, vũ khí, phát triển lên quy mô đại đội - đại đội 25. Trung tuần tháng 9, đại đội 25 ra quân đánh bại trận càn của tiểu đoàn bảo an 356, loại khỏi vòng chiến đấu 75 tên. Sang tháng 10, được du kích dẫn đường và có lực lượng nội ứng ém sẵn, đại đội 25 tiến công địch ở ấp chiến lược Phước Lợi, hỗ trợ cho nhân dân trong ấp nổi dậy bắt 12 tên ác ôn, thu 13 súng và làm chủ toàn bộ ấp.
Nằm ngay sát nách Sài Gòn - Chợ Lớn, cuộc đấu tranh của quân, dân Biên Hoà chống Mỹ - ngụy diễn ra sôi nổi và rộng khắp. Điểm nổi bật ở Biên Hoà là Tỉnh uỷ và Ban quân sự tỉnh đã lãnh đạo kết hợp nhiều hình thức đấu tranh giữa các lực lượng quân sự, chính trị, binh vận khắp các địa phương, tạo nên sức mạnh tổng hợp chiến thắng kẻ thù trong điều kiện so sánh lực lượng trên địa bàn địch có nhiều ưu thế. Lá cờ tiên phong của phong trào ở Biên Hoà trong thời gian này là lực lượng vũ trang huyện Long Thành. Cuối tháng 11, bộ đội huyện cùng du kích xã, ấp bí mật phục kích trên trục đường số 15, chặn đánh một đơn vị chủ lực địch càn quét mở rộng căn cứ, dồn dân lập ấp, diệt nhiều địch, trong đó có tên trưởng tiểu khu. Lợi dụng lúc quân địch đang hoang mang, một bộ phận bộ đội ta cải trang mặc sắc phục lính ngụy, dùng xe của chỉ huy địch bất ngờ đột nhập “hợp pháp” diệt đồn Đờ La, bắt tên đồn trưởng và tên ấp trưởng. Được bộ đội và du kích hỗ trợ, lực lượng binh vận tại chỗ kêu gọi binh sĩ ở đồn Long Tân buông súng ra hàng, các cán bộ cơ sở bí mật nhanh chóng xuống các xóm ấp kêu gọi và tổ chức cho nhân dân nổi dậy giành quyền làm chủ. Vừa chiến đấu chống địch, các cán bộ cơ sở và quần chúng vừa tuyên truyền, vận động được hơn 1.000 thanh niên tòng quân tham gia xây dựng lực lượng vũ trang.
Cùng trong năm 1963, phong trào phá ấp chiến lược ở Long Khánh được kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng ở bên ngoài đánh vào với cơ sở ở trong ấp vận động tổ chức cho quần chúng nổi dập. Ấp chiến lược Nghĩa Hưng được ngụy quyền xây dựng từ những năm trước phong trào đồng khởi. Ta xây dựng ông Tám Hường thành cơ sở mật. Ông hoạt động rất tích cực, thường xuyên liên lạc với đội vũ trang tuyên truyền, cung cấp đầy đủ những tin tức quan trọng về địch cho các cán bộ lãnh đạo phong trào. Đêm 15 - 4, chính ông tổ chức quần chúng trong ấp làm nội ứng, đón dẫn đội vũ trang tuyên truyền của tỉnh đột nhập ấp, bắt 13 tên cán bộ bình định, hai dân vệ, thu 15 súng, cùng nhân dân phá sập các tháp canh, hàng rào, phá dứt điểm toàn bộ ấp. Tại ấp Bảo Vinh, quần chúng sáng tạo cách thức phá ấp chiến lược mới là, ban đêm nhân dân bí mật dùng kéo, kìm cắt đứt từng mảng dây thép gai rào chắn mở lối đi, sáng ra, báo với ban quản lý ấp là Việt cộng đột nhập cắt phá. Địch bắt dân rào lại, chôn thêm chông, mìn..., khi làm nhân dân đánh dấu để du kích và bộ đội vào gỡ mang đi. Mặt khác nhân dân còn bí mật chôn mìn, bộc phá xuống các “lối mở” địch thường tuần tra, diệt một số lính và nhân viên ngụy quyền, khiến chúng lo sợ bỏ bê trễ công việc xây dựng, quản lý ấp chiến lược và khu tập trung. Từ đây, người ra vào ấp, địch không còn kiểm soát được chính quyền ấp chỉ còn là hình thức, không hoạt động. Nhân dân gọi đây là “ấp chiến lược giải phóng”.
Học tập kinh nghiệm Nghĩa Hưng, Bảo Vĩnh, nhân dân ở nhiều ấp chiến lược trong tỉnh, nổi dậy phá ấp và giành quyền làm chủ.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #81 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2010, 07:17:15 pm » |
|
Ở Thủ Dầu Một, Tỉnh uỷ và Ban quân sự tỉnh, các ban cán sự huyện đội chú trọng đẩy mạnh công tác sản xuất, cải tiến các loại chông, mìn chống tăng, bộc phá và sửa chữa súng bộ binh, nâng cao hiệu quả chiến đấu. Tháng 5-1963, sư đoàn 5 ngụy tổ chức cuộc hành quân gom dân ở ba xã phía tây nam huyện Bến Cát, bị du kích xã Tây An và Phú Thứ phục kích chặn đứng mũi tiến công trên đường 14, đoạn Rạch Bắp và ở ngã tư Phú Thứ, kìm hãm, phân tán địch, tạo điều kiện cho đại đội 304 của tỉnh và đại đội 81 huyện Bến Cát diệt gọn bọn địch đóng trong nhà thờ Hương Thuốc (nằm trong ấp chiến lược Long Cần). Được lực lượng vũ trang hỗ trợ đắc lực, nhân dân nổi dậy phá ấp chiến lược, giành quyền làm chủ. Tính đến tháng 9-1963, toàn huyện Bến Cát diệt được 11 xe bọc thép M113, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch. Trong đợt phá ấp chiến lược này, Bến Tượng là ấp trọng điểm của địch xây dựng từ những năm đầu chiến tranh, nhưng nhân dân vẫn thể hiện một lòng theo cách mạng.
Tại đây, địch ra sức cào nhà, đốt làng, dồn dân. Chúng quyết biến Bến Tượng thành vùng trắng, nhân dân kiên quyết chống lại, kiên trì bám trụ, dùng dao phay, gậy gộc, cuốc thuổng... đánh trả. Song, lực lượng địch mạnh, Bến Tượng lại là vùng “ưu tiên” đánh phá, dồn dân, cuối cùng chúng vẫn dồn được dân vào ấp để kìm kẹp. Không nhụt ý chí, nhân dân vẫn liên tục đấu tranh đòi tự do đi lại làm ăn, chống bắt lính, lao động khổ sai. Cuộc đấu tranh diễn ra dai dẳng, quyết liệt, một chi bộ mật trong ấp được xây dựng, củng cố. Cuối năm 1963, chi bộ lãnh đạo tổ chức quần chúng bất ngờ nổi dậy diệt những tên ác ôn có nhiều nợ máu, tuyên truyền và khống chế, vô hiệu hoá dân vệ trong ấp để dân chúng phá rào, lấp hào, gỡ bỏ vật cản, rồi đưa từng bộ phận bà con trở về quê cũ. Với cách làm như vậy ấp chiến lược Bến Tượng bị ta phá dứt điểm. Riêng ấp Thới Hoà nằm cạnh đường số 13, bộ đội, du kích tổ chức nhân dân vùng chung quanh xây dựng hệ thống làng, xã chiến đấu bao quanh ấp, khống chế chặt các đồn bốt bảo vệ, rồi phát động quần chúng nổi dậy phá rào, phá nhà, gồng gánh đồ đạc rời khỏi ấp, mà ta không mất một viên đạn, quả mìn nào.
Thi đua với phong trào diệt địch phá ấp chiến lược của các tỉnh bạn, nhân dân và lực lượng vũ trang Tây Ninh cũng liên tục tiến công giải phóng từng mảng ấp chiến lược khiến bọn địch hoang mang, chúng phải yêu cầu Sài Gòn chi viện. Mặc dù vậy, đầu tháng 7-1963, một trung đội của đại đội 33 huyện Gò Dầu, phối hợp với du kích xã Cẩm Giang tập kích diệt gọn trung đội bảo an chốt giữ tại ấp chiến lược Bàu Nâu, thu toàn bộ máy thông tin và vũ khí trang bị, giải phóng hoàn toàn số dân bị địch giam giữ trong ấp. Bàu Nâu bị diệt, binh linh đóng trong các đồn Tân Hưng, Bàu Cỏ hoảng sợ bỏ đồn tháo chạy. Cùng thơi gian trên, quân, dân Tây Ninh diệt thêm được bốt Hàng Đường (xã Thanh Điền, huyện Gò Dầu), đồn Cầu Khởi (huyện Dương Minh Châu), đồn Lâm Vồ (thị xã Tây Ninh). Phong trào diệt địch, phá đồn của lực lượng vũ trang lên mạnh, hỗ trợ tích cực cho phong trào đấu tranh chính trị, binh vận và phá ấp chiến lược của quần chúng phát triển, trong số 94 ấp chiến lược địch đã xây dựng (tính đến cuối 1963) có 54 ấp bị ta phá banh, phá rã.
Với cách thức tổ chức lực lượng, sử dụng vũ khí, trang bị hiện có và áp dụng phương pháp đấu tranh thích hợp, các phong trào “Thi đua Ấp Bắc giết giặc, lập công, phá ấp chiến lược” ở miền Đông Nam Bộ phát triển cả bề rộng lẫn chiều sâu, giữ vững và phát huy có hiệu quả thế chủ động tiến công. Trong năm 1963, quân, dân miền Đông Nam Bộ loại khỏi vòng chiến đấu hàng ngàn tên địch, hàng trăm xe tăng, thiết giáp, xe quân sự, thu nhiều vũ khí, trang bị. Thắng lợi quân sự thực sự hỗ trợ và tạo đà cho phong trào nổi dậy đấu tranh chính trị của quần chúng đạt kết quả, phá banh và phá rã hàng trăm ấp chiến lược, khu dồn dân. Trong phong trào phá ấp chiến lược năm 1963, miền Đông Nam Bộ đã góp nhiều kinh nghiệm quý về sự kết hợp giữa đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, binh vận, phối hợp ba mũi giáp công, xây dựng làng, xã chiến đấu và tổ chức tập hợp quần chúng.
Qua phong trào “Thi đua Ấp Bắc giết giặc, lập công, phá ấp chiến lược”, không những lực lượng vũ trang địa phương, các tổ chức chính trị của quần chúng trưởng thành, có kinh nghiệm, mà bộ đội chủ lực miền cũng được bổ sung số lượng, nâng cao chất lượng, có thêm kinh nghiệm tác chiến hiệp đồng giữa ba thứ quân để hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy giành, giữ quyền làm chủ. Một mặt, bộ đội ta tiếp tục đánh địch, thu vũ khí địch bổ sung cho đơn vị, mặt khác, tổ chức luyện tập, nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật. Trong lúc chưa có đủ súng chống tăng đánh xe bọc thép và xe cơ giới địch, các đơn vị chọn lọc, huấn luyện những xạ thủ giỏi để khi chống càn, phục kích, bắn tỉa diệt tên lái xe và xạ thủ bắn súng đại liên trên tháp xe, buộc xe địch phải dừng lại, tạo điều kiện cho các tổ dùng lựu đạn áp sát phá đứt xích xe tăng, diệt địch. Các đơn vị chủ lực của miền phát triển lực lượng về mọi mặt, chủ động mở những trận tiến công địch để hỗ trợ cho nhân dân nổi dậy phá ấp chiến lược.
Ngày 18-10, tiểu đoàn bộ binh 5, trung đoàn 2 được tăng cường một đại đội đặc công tiến công đồn Cây Trường trong ấp chiến lược xã Long Nguyên, huyện Bến Cát, tỉnh Thủ Dầu Một. Cây Trường là đồn lớn, có hệ thống lô cốt, công sự hoả điểm, hầm ngầm bằng xi măng cốt thép kiên cố, chung quanh là hệ thống hàng rào dây thép gai nhiều lớp. Chốt giữ đồn là một đại đội bảo an, một trung đội dân vệ. Đây là lực lượng hỗ trợ chủ yếu, trực tiếp cho bọn ác ôn kìm kẹp nhân dân trong các ấp chiến lược.
Do chuẩn bị chu đáo, chủ động đánh địch, cho nên tiểu đoàn 5 đột phá mở cửa, đưa lực lượng tiến vào đánh chiếm các cứ điểm vòng ngoài, diệt các lô cốt, công sự phòng ngự nhanh. Nhưng sau đó, phần lớn lực lượng địch chui xuống hầm ngầm cố thủ, chống trả.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #82 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2010, 07:17:52 pm » |
|
Để đánh dứt điểm mục tiêu, bộ phận đánh lô cốt chủ yếu tập trung lựu đạn, bộc phá tiêu diệt các hoả điểm. Nhiều cán bộ chiến sĩ hy sinh và bị thương. Trước tình thế hết sức khó khăn, chiến sĩ Trừ Văn Thố1, sau khi dùng bộc phá, lựu đạn tiêu diệt hoả điểm không thành, đã dũng cảm lấy thân mình chèn kín lỗ châu mai, dập tắt hoả điểm địch, tạo điều kiện cho tiểu đoàn 5 nhanh chóng đánh chiếm toàn bộ mục tiêu. Đồn Cây Trường bị tiêu diệt, nhân dân trong ấp chiến lược Long Nguyên nổi dậy, đánh đuổi bọn ác ôn dân vệ, phá ấp trở về thôn cũ.
Kết thúc một năm xây dựng, chiến đấu, cuối tháng 12-1963, trung đoàn 2 mở hội nghị quân chính tại ấp Đường Long xã Thanh Tuyền, huyện Bến Cát tổng kết, rút kinh nghiệm về phương pháp tác chiến và bàn kế hoạch hoạt động năm 1964. Hội nghị đang họp thì trinh sát báo tin: địch tập trung 13 tiểu đoàn chủ lực mở cuộc hành quân Đại Phong 35 càn quét khu vực bắc Bến Cát (Thủ Dầu Một) và vùng căn cứ Bời Lời (Tây Ninh). Ngày 31-12, tiểu đoàn 32 Cọp đen thuộc sư đoàn 5 ngụy do cố vấn Mỹ trực tiếp chỉ huy đang tiến vào khu vực đóng quân của trung đoàn. Ban chỉ huy trung đoàn dừng hội nghị, chuyển sang xác định quyết tâm, triển khai lực lượng chống càn. Do chủ động bố trí lực lượng, lợi dụng địa hình, phát huy tốt hoả lực trên hướng chính diện, tiểu đoàn 5 đánh lui ba đợt xung phong của địch, làm thiệt hại nặng một đại đội. Do địa hình trống trải, hoả lực địch ngăn chặn rất ác liệt, bộ đội ta không xuất kích tiến công được. Đến 15 giờ, địch tập trung lực lượng tiến công lần thứ tư. Chờ cho quân địch vào đúng tầm, chiến sĩ tiểu đoàn 5 đồng loạt nổ súng, diệt hàng chục tên địch trong đó có tên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn Cọp đen. Toàn bộ quân địch như rắn mất đầu co cụm lại và gọi đồng bọn đến cứu viện.
Trước tình huống nguy cấp, chỉ huy cuộc hành quân của địch không dám tung lực lượng dự bị ra cứu viện, chúng chỉ cho máy bay trực thăng bắn phá dữ dội tạo “hành lang” cho bọn sống sót của tiểu đoàn 32 rút về Bến Súc. Phán đoán được ý định của địch, trung đoàn 2 tập trung lực lượng nhanh chóng cơ động, hình thành thế bao vây, dồn toàn bộ quân địch xuống lòng suối Xuy Nô. Bằng phương pháp tiến công kết hợp gọi hàng đến 18 giờ ngày 31-12-1963, trung đoàn 2 xoá sổ hoàn toàn tiểu đoàn Cọp đen, loại khỏi vòng chiến đấu 250 tên, bắt 58 tên, bắn rơi ba trực thăng, thu 110 súng các loại và đồ dùng quân sự. Đây là trận đầu tiên bộ đội chủ lực Miền tiêu diệt gọn một tiểu đoàn địch, mở đầu cho thời kỳ đánh tiêu diệt cấp tiểu đoàn địch của lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ. Lúc này yêu cầu khách quan và chủ quan là phải có sự lãnh đạo, chỉ huy thống nhất lực lượng vũ trang để đáp ứng được tình hình địch mở rộng chiến tranh xâm lược, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định thành lập Bộ chỉ huy Quân giải phóng miền Nam thay Ban cán sự miền Nam. Sự kiện này đánh dấu bước tiến mới của lực lượng vũ trang miền Nam về thống nhất biên chế, tổ chức chỉ huy, nghệ thuật tác chiến. Trải qua những thử thách vô cùng gian khổ và ác liệt, lực lượng vũ trang và nhân dân miền Nam vừa chiến đấu, vừa xây dựng và rút kinh nghiệm, đã sáng tạo ra nhiều cách đánh đạt hiệu suất cao. Với những khẩu súng tương đối hiện đại do miền Bắc chi viện và thu được của địch, các quả mìn, đạp lôi, thủ pháo, lựu đạn..., do các xưởng quân giới tự chế tạo trang bị cho bộ đội chủ lực và địa phương, kết hợp chặt chẽ với những hầm chông, bẫy đá, giàn thò của du kích các bản làng miền núi, những tổ ong vò vẽ, súng ngựa trời... của tự vệ, du kích các ấp xã vùng đồng bằng cùng phát huy tác dụng trong các trận chống càn, diệt bốt, phá các khu dồn dân, ấp chiến lược trên hầu khắp địa bàn toàn miền. Mặc dù phong trào ở các địa phương chưa thật đồng đều, nhưng nó đã thực sự phát triển thành một cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện rộng lớn, trong đó, đấu tranh vũ trang gắn bó chặt chẽ với đấu tranh chính trị, nhiệm vụ đánh địch hành quân càn quét đi đôi với nhiệm vụ phá ấp chiến lược, tạo nên sức mạnh tổng hợp nâng cao hiệu quả chiến đấu.
Nhờ phương thức đấu tranh phù hợp, đúng đắn, sáng tạo năm 1963, quân, dân miền Nam đã loại khỏi vòng chiến đấu 7,8 vạn tên địch; bắn rơi và phá huỷ hơn 160 máy bay các loại; phá huỷ, phá hỏng hàng trăm xe quân sự; đánh đổ 34 đoàn tàu quân sự; bắn chìm, bắn cháy 236 tàu thuyền chiến đấu; thu 1,1 vạn vũ khí các loại; phá banh, phá rã 2.895 trong tổng số 6.164 ấp chiến lược, giải phóng hàng nghìn thôn ấp với gần chín triệu dân. Chương trình bình định của địch, xương sống của cuộc chiến tranh đặc biệt, về cơ bản đã bị ta đánh bại. Từ thực tế xây dựng lực lượng, tổ chức chiến đấu, lực lượng vũ trang cách mạng đã trưởng thành vượt bực về số lượng, chất lượng, trang bị và tác chiến hiệp đồng giữa ba thứ quân, hai lực lượng chính trị, quân sự. ____________________________________ 1. Trừ Văn Thố sinh năm 1938, tại Thanh Hoà, Cai Lậy, Mỹ Tho, nhập ngũ năm 1961, là chiến sĩ trinh sát đặc công Trung đoàn 2. Trừ Văn Thố được truy tặng Huân chương Quân công giải phóng hạng Ba và danh hiệu cao quý: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #83 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2010, 07:18:58 pm » |
|
II. CHÍNH QUYỀN NGÔ ĐÌNH DIỆM LÂM VÀO CUỘC KHỦNG HOẢNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI TRẦM TRỌNG VÀ CUỘC ĐẢO CHÍNH THÁNG 11-1963 Cuộc đấu tranh của quân, dân ta ở miền Nam trong năm 1963 đã đẩy chính quyền và quân đội Sài Gòn vào thế suy yếu toàn diện, chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ đang từng bước bị phá sản mà mở đầu bằng trận thua của quân ngụy ở Ấp Bắc. Thắng lợi của cách mạng tác động sâu sắc đến nhận thức của nhân dân ta và các tôn giáo chính quyền tay sai về cuộc chiến tranh của Mỹ, khiến cho các tôn giáo và tầng lớp nhân dân nhận rõ bộ mặt bán nước của tập đoàn Ngô Đình Diệm và chính sách xâm lược của Mỹ. Chính sách đối xử không bình đẳng giữa các tôn giáo của chính quyền Diệm - Nhu làm nảy sinh mâu thuẫn ngày càng gay gắt giữa các tôn giáo với tập đoàn cầm quyền Diệm dẫn đến cuộc đấu tranh của Phật giáo chống Diệm bùng nổ. Cuộc đấu tranh của Cao Đài, Hoà Hảo, Phật giáo như đổ thêm dầu vào lửa, góp phần đẩy chính quyền Sài Gòn vào cơn khủng hoảng nghiêm trọng. Tháng 5-1963, trung tâm Phật giáo miền Nam tại Huế, các tăng ni, phật tử đang chuẩn bị tổ chức hành lễ đón ngày Phật đản, thì vào 13 giờ ngày 6-5-1963, tỉnh trưởng Thừa Thiên kiêm thị trưởng thành phố Huế đến chùa Từ Đàm truyền đạt lời “thỉnh cầu” của Ngô Đình Cẩn: “Ông cố vấn (Ngô Đình Cẩn) thiết tha yêu cầu Ban tổ chức đại lễ 2507 Phật đản thông báo cho toàn thể tín đồ Phật giáo đừng treo cờ Phật trong ngày đại lễ ấy” 1. Điều “thỉnh cầu” này diễn ra sau khi lễ ngân khánh của tổng giám mục Ngô Đình Thục vừa được tổ chức rất trọng thể tại Huế với cờ Thiên chúa giáo được treo ở khắp nơi. Bằng cách làm như vậy Diệm - Nhu cho là tạo được yếu tố bất ngờ không cho Phật giáo kịp trở tay phản ứng. Nếu Phật giáo chịu tuân theo yêu cầu của Diệm thì thời gian “tàn lụi” của nó cũng như chính sách “Thiên chúa giáo hoá” sẽ được hoàn thành sau một thời gian không lâu nữa. Nhưng mọi toan tính của chính quyền Ngô Đình Diệm không diễn ra theo ý muốn, toàn bộ tăng ni, tín đồ Phật giáo miền Nam đã phản ứng mạnh mẽ đối với chính quyền Diệm, mở đầu là ở Huế. Đêm mồng 6-5-1963, giới lãnh đạo Phật giáo miền Nam tổ chức cuộc họp tại chùa Từ Đàm thống nhất kế hoạch đối phó với chính quyền Diệm. Giới lãnh đạo Phật giáo đưa ra ý định phản ứng lệnh cấm treo cờ Phật bằng cách chỉ thị cho các cấp Phật giáo không tổ chức lễ Phật đản, xem đây như một cách thức phản đối lại chính quyền. Nhưng liền sau đó ý định này phải bỏ, vì nếu làm như vậy sẽ gây sự phản ứng của các tín đồ đối với giới lãnh đạo Phật giáo. Mặt khác, chính sự phản ứng trên vô hình trung Phật giáo sẽ mắc lừa âm mưu “dĩ đạo, trị đạo” của Diệm. Cuối cùng, giới lãnh đạo Phật giáo thống nhất phản đối lệnh cấm treo cờ Phật bằng cách gửi liên tục nhiều điện văn cho tổ chức Phật giáo thế giới, cho chính quyền Diệm, cho các cơ sở Phật giáo miền Nam... để gây sức ép buộc chính quyền bãi bỏ lệnh cấm đoán sai trái này. Trước thái độ rất kiên quyết của giới lãnh đạo Phật giáo chính quyền Diệm buộc phải tìm cách tạm thời chấp nhận thương lượng để tìm cách đối phó. Cuộc hội kiến giữa giới lãnh đạo Phật giáo và Ngô Đình Cẩn đi đến thống nhất cho tăng ni, phật tử treo cờ ở nhà riêng, nhưng còn phải chờ quyết định chính thức của tổng thống. Nhưng ngay sau khi kết thúc cuộc hội kiến, Cẩn ra lệnh cho trưởng ty cảnh sát thành phố Huế tập trung cảnh sát, mật vụ hạ cờ phật giáo. Ngày 7-5-1963, cảnh sát và mật vụ ở thành phố Huế bắt đầu ra tay hạ cờ, giành giật, xé nát và vứt xuống đường, công khai đánh chửi, hăm doạ bắt và bỏ tù tất cả tín đồ, tăng ni có hành động chống đối. Không chỉ có cờ Phật mà tất cả những chiếc đèn lồng nếu có dấu hiệu của Phật giáo (mà hầu hết đều có, nhất là hình tượng Phật, màu cờ Phật giáo và hoa sen năm cánh) cũng bị cảnh sát phá rách, vứt bỏ. Hành động phá cờ Phật của chính quyền Huế nhanh chóng lan rộng ra khắp thành phố. Quần chúng Phật tử xuống đường kéo đến tỉnh toà yêu cầu giải quyết. Khí thế của quần chúng Phật tử làm cho “phố phường như bừng dậy trong một cuộc động quân. Khắp các đường phố, từ trong thành, Đông Ba, Gia Hội, từng đoàn người lũ lượt kéo qua cầu Trường Tiền. Từ Vĩ Dạ lên, ở trên ga xuống, phía Kho Rèn, An Cựu về, dân thị xã và vùng phụ cận đổ xô về phía tỉnh đường đông nghịt cả người, đông một cách đáng sợ, như cuồng phong tới, như bão tố lên” 2. Thấy phong trào Phật giáo bùng lên quá mạnh mẽ, tỉnh trưởng Thừa Thiên phải hứa trước đông đảo quần chúng chấp nhận cho Phật giáo treo cờ lại như cũ. Như thông lệ ngày lễ Phật đản hàng năm, tăng ni, phật tử ở Huế đều tổ chức cuộc rước Phật từ chùa Diệu Đế lên chùa Từ Đàm để làm lễ. Ngày 8-5-1963, từ sáng sớm số đông phật tử đã đến tụ tập tại chùa Diệu Đế chuẩn bị làm lễ rước Phật. Buổi lễ Phật đản sẽ được tường thuật trên đài phát thanh Huế lúc 20 giờ 5 phút cùng ngày nhưng bị Chính quyền Diệm huỷ bỏ. Nhận được tin này, tăng ni, phật tử khắp nơi từ ngoại thành đổ dồn về đài phát thành Huế đấu tranh. Đến 21 giờ ngày 8-5, đài phát thanh đã bị hàng nghìn tăng ni, phật tử quần chúng kéo đến bao vây và phản đối kịch liệt hành động sai trái của chính quyền. Vì vậy, ngày Phật đản năm 1963, ngoài ý nghĩa tôn giáo còn là một cuộc biểu dương lực lượng, tinh thần của Phật giáo miền Nam chống Diệm. ____________________________________ 1. Thích Trí Quang: Cuộc vận động của Phật giáo Việt Nam, tuần báo Hải triều âm - số 2 ngày 30-4-1964. - Phật giáo được truyền bá vào Việt Nam hàng nghìn năm. Cùng với quá trình phát triển của lịch sử, Phật giáo đã trở thành tín ngưỡng chiếm ưu thế rộng lớn trong xã hội. Đến năm 1963, trong tổng số 17 triệu dân toàn miền Nam có tới 11 triệu người theo đạo Phật (chiếm 3/4 dân số) nhưng số tăng sư, phật tử thực sự chỉ có khoảng bốn triệu. 2. Quý Linh: Mở đầu cuộc đấu tranh Phật giáo. Trước cơn sóng gió, Ban hướng dẫn gia đình Phật tử Trung phần xuất bản, Huế, 1964, tr. 13.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #84 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2010, 07:19:43 pm » |
|
Trong lúc cuộc đàm phán giữa giới lãnh đạo Phật giáo và tỉnh trưởng Thừa Thiên đang được tiến hành tại đài phát thanh, thì ở bên ngoại, phó tỉnh trưởng phụ trách quân sự, thiếu tá Đặng Sỹ (một tín đồ Thiên chúa giáo) chỉ huy binh lính, cảnh sát, xe tăng tiến công tăng ni, phật tử đang tụ tập. Xe cứu hoả xịt nước, cảnh sát ném lựu đạn cay, trái phá, tiếp đến là xe tăng từ nhiều hướng tiến công vào đám đông quần chúng phật tử tay không vũ khí. Cuộc đàn áp của chính quyền Diệm làm nhiều người bị thương, tám phật tử bị chết (có một số nạn nhân bị xe tăng cán vỡ đầu hoặc dập nát mình).
Không chịu lùi bước, ngày 9 tháng 5, các phật tử Huế lại đổ ra đường phố tiếp tục biểu tình, tố cáo tội ác của chính quyền và yêu cầu giới lãnh đạo Phật giáo tiếp tục lãnh đạo tăng ni, phật tử tiếp tục đấu tranh đến cùng để bảo vệ đạo pháp. Sáng ngày 1 tháng 5, trước đông đảo Phật tử tại chùa Từ Đàm, Hội trưởng Hội Phật giáo Trung phần một lần nữa khẳng định chủ trương đấu tranh hoà bình, bất bạo động, không đặt một tôn giáo nào làm đối tượng mà chỉ nhằm mục đích công bằng xã hội. Hòa thượngThích Tịnh Khiết thay mặt Tổng hội Phật giáo Việt Narn công bố bản tuyên ngôn của tăng ni, tín đồ Phật giáo Việt Nam, trong đó đưa ra năm yêu cầu khẩn thiết đòi chính quyền Diệm phải thực hiện ngay:
“1 - Yêu cầu Chính phủ Việt Nam cộng hoà thu hồi vĩnh viễn công điện triệt giáo kỳ của Phật giáo.
2 - Yêu cầu Phật giáo phải được hưởng một quy chế đặc biệt như các hội truyền giáo Thiên chúa đã được ghi trong Dụ số 10.
3 - Yêu cầu Chính phủ chấn chỉnh tình trạng bắt bớ, khủng bố tín đồ Phật giáo.
4 - Yêu cầu cho tăng ni, tin đồ Phật giáo được tự do truyền đạo và hành đạo.
5 - Yêu cầu Chính phủ đền bồi một cách xứng đáng cho những người bị giết oan vô tội và kẻ chủ mưu giết hại phải đền tội đúng mức”1.
Thấy nguy cơ phong trào Phật giáo ở Huế có thể lan rộng, gây nguy hiểm cho chế độ, Diệm cử phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ ra Huế dàn xếp với Phật giáo. Tại Huế, Thơ hứa với các phật tử là sẽ đáp ứng các yêu cầu nói trên. Phong trào Phật giáo tạm thời lắng xuống. Song, ngay sau đó, cố vấn Ngô Đình Nhu cho rằng: nếu đáp ứng những yêu cầu ấy sẽ làm cho Phật giáo tiếp tục yêu sách, lấn tới, Chính quyền Diệm quyết định không thực hiện những điều hứa hẹn với tăng ni, phật tử.
Trước sự lật lọng ấy, cuộc đấu tranh của Phật giáo lại bùng lên sôi nổi tại Huế, nhanh chóng lan rộng đến Đà Nẵng, Sài Gòn và khắp các thành phố, thị xã toàn miền Nam. Tại Sài Gòn, ngày 11 tháng 6, hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu tại ngã tư trung tâm thành phố (đường Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt - nay là đường Nguyễn Đình Chiểu và Cách mạng Tháng Tám) phản đối chính quyền Diệm - Nhu trước hàng trăm tăng ni, phật tử, gây nên sự xúc động mạnh trong nhân dân. Gương hy sinh của hoà thượng Thích Quảng Đức tố cáo, lên án chế độ độc tài phát xít Ngô Đình Diệm trước dư luận trong và ngoài nước. Chế độ ấy phải bị đánh đổ.
Để ủng hộ cuộc đấu tranh của Phật tử Huế, ngày 14-5-1963, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra tuyên bố vạch rõ: Cuộc đàn áp đẫm máu của chính quyền phát xít Mỹ - Diệm đối với đồng bào biểu tình tay không ngày 8 tháng 5 ở Huế là một hành động độc ác tày trời không thể tha thứ được đối với nhân dân ta nói chung và đối với đồng bào theo đạo Phật nói riêng... Cuộc đàn áp đẫm máu lần này đã bóc trần lời của Mỹ - Diệm vẫn thường vỗ ngực xưng là hữu thần, là tôn trọng tự do tín ngưỡng, và nhất là nó sẽ càng nung nấu thêm lòng căm thù và chí kiên quyết tiêu diệt chúng của tín đồ các tôn giáo ở miền Nam Việt Nam.
Xã luận báo Nhân dân số ra ngày 15-5-1963 khẳng định “Cuộc đấu tranh của đồng bào theo đạo Phật và các tầng lớp đồng bào khác ở Huế là một cuộc đấu tranh chính nghĩa, được nhân dân cả nước ủng hộ. Nhân dân miền Bắc vô cùng khâm phục tinh thần đấu tranh bất khuất của đồng bào Huế được sự ủng hộ rộng rãi ở miền Nam. Chúng ta tin chắc cuộc đấu tranh bền bỉ và anh dũng của đồng bào Huế và ở toàn miền Nam mặc dù phải trải qua nhiều khó khăn, gian khổ, nhưng nhất định sẽ giành được thắng lợi cuối cùng”. ____________________________________ 1. Bản tuyên ngôn của tăng, tín đồ Phật giáo do Hoà thượng Thích Tịnh Khiết đọc tại cuộc mít tinh của Phật tử tại chùa Từ Đàm - Huế, ngày 10-5-1963, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, ký hiệu SC 04, HS. 8352.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #85 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2010, 07:20:53 pm » |
|
Để ủng hộ phong trào đấu tranh của Phật giáo, học sinh, sinh viên, công chức và nhân dân các thành phố, các địa phương miền Nam liên tục xuống đường biểu tình, bãi công, đưa yêu sách đòi chính quyền Diệm phải thực hiện những cam kết đối với Phật giáo. Ngày 3 tháng 6, 500 sinh viên Huế kéo đến trụ sở đại diện chính quyền ngụy đấu tranh. Ngụy quyền Huế đã đưa lực lượng cảnh sát đến giải tán. Sáng ngày 16 tháng 6, tại Sài Gòn, khoảng 70 vạn quần chúng và phật tử cùng lúc đổ ra các đường phố kéo nhau về chùa Xá Lợi, nơi đặt thi hài Hoà thượng Thích Quảng Đức đấu tranh. Cuộc xuống đường bị cảnh sát đặc biệt dùng hơi cay, chó bécgiê đàn áp dã man; nhiều người bị thương và bị bắt.
Ngày 16 tháng 8, tại thành phố Huế, tất cả chợ búa, trường học, công sở, xí nghiệp đều nhất loạt tổng đình công phản đối lệnh giới nghiêm, thiết quân luật phong tỏa các chùa. Toàn thể sinh viên, giáo sư bãi khoá, từ chức. Phong trào bất hợp tác với chính quyền Diệm diễn ra mạnh mẽ làm cho guồng máy xã hội bị tê liệt. Thấy phong trào đấu tranh ngày càng lên mạnh, Diệm tiến hành kế hoạch “nước lũ” “cương quyết thanh trừng các phần tử phản bội và quá khích trong các giới tăng ni, công chức, giáo sư, sinh viên cũng như trong các đoàn thể nhân dân”1. Viện lý do các chùa chiền có chứa quân phiến loạn, vũ khí và các phần tử chống đối chính quyền, đêm 20 rạng ngày 21-8-1963, chính quyền Diệm dùng lực lượng cảnh sát dã chiến và lực lượng đặc biệt của Nhu tiến công đồng loạt hầu khắp các chùa. Chúng bắt trên 1.400 nhà sư, phật tử (trong đó có 720 người ở các chùa thuộc Sài gòn, 595 người ở các chùa Huế) mang về trại tập trung tra tấn xét hỏi. Chính quyền Diệm còn lùng bắt thêm 2.000 người khác gồm giáo sư, luật sư, sinh viên ở Huế và Sài Gòn.
Sau cuộc vây ráp, tiến công chùa chiền, bắt bớ nhiều tăng ni, phật tử, sinh viên, học sinh... không những chính quyền Diệm - Nhu không đè bẹp được phong trào Phật giáo mà càng làm cho phong trào ấy phát triển mạnh mẽ, rộng khắp. Ngày 21 tháng 8, nhiều khoa trưởng, giáo sư các trường đại học từ chức. Ngày 22 tháng 8, “Ủy ban chỉ đạo sinh viên, học sinh” được thành lập tại Sài Gòn. Ngày 24 tháng 8, 1200 sinh viên đại học Bách khoa, 700 sinh viên đại học Dược, trên 1200 sinh viên đại học Luật... bỏ thi, nghỉ học xuống đường mít tinh lên án chính quyền Diệm. Tiêu biểu nhất là 25 tháng 8, nhiều ngàn sinh viên, học sinh Sài Gòn đã tổ chức một cuộc mít tinh lớn tại chợ Bến Thành lên án hành động đàn áp của chính quyền Diệm đối với phong trào Phật giáo. Cuộc mít tinh được đông đảo nhân dân và thương nhân khu vực chợ hưởng ứng. Chính quyền Diệm đưa lực lượng cảnh sát đến đàn áp, nữ sinh viên Quách Thị Trang hy sinh, gần 200 nam, nữ sinh viên bị bắt mang về giam giữ tại trung tâm huấn luyện Quang Trung. Cũng trong tháng 8-1963, đã có thêm sáu nhà sư nữa ở miền Nam tự thiêu để tỏ rõ quyết tâm đấu tranh không khoan nhượng của Phật giáo đối với chính quyền Diệm.
Như vậy, cùng với phong trào đấu tranh chống địch bình định, phá ấp chiến lược, phong trào Phật giáo, phong trào học sinh, sinh viên... làm cho tình hình miền Nam ngày càng mất ổn định một cách nghiêm trọng. Mỹ thấy tình hình căng thẳng có nguy cơ làm sụp đổ chính quyền Sài Gòn mà Mỹ dày công xây dựng, buộc phải đặt vấn đề xem xét vai trò của Diệm - Nhu. Lầu Năm Góc cho rằng: “Phải có sự sửa đổi căn bản trong bộ máy Chính quyền Diệm, loại bỏ những cái gì cản trở việc thực hiện chỉ thị của Mỹ”2.
Diệm là người rất trung thành với Mỹ và chống cộng một cách điên cuồng. Nhưng chính Diệm lại khước từ ý định cải tổ chính quyền Sài Gòn của Mỹ. Trong khi đó, kế hoạch Stalây-Taylơ đã bị phá sản, cho nên bằng mọi cách Mỹ phải tìm cho được người lãnh đạo chính quyền Sài Gòn biết “nghe lời” để che dấu bộ mặt xâm lược của Mỹ, tránh được sự phản đối của nhân dân thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ.
Cuối tháng 8-1963, Chính phủ Mỹ cử Henry Cabốtlốt - một chuyên gia về đảo chính sang Sài Gòn làm đại sứ thay Nâutinh. Cabốtlốt chuyển cho Diệm ý kiến Chính phủ Mỹ yêu cầu Diệm cải tổ nội các, mở rộng dân chủ, chia bớt quyền cho thủ tướng; đưa vợ chồng Nhu ra nước ngoài đề xoa dịu sự công phẫn; giải quyết nhanh, êm thấm vụ Phật giáo, xem xét lại việc sử dụng tiền viện trợ của Mỹ... Diệm chẳng những không nghe, mà còn dùng mật vụ thủ tiêu bí mật một số sỹ quan, nhân viên người Mỹ với lý do đây là những phần tử có âm mưu đảo chính lật đổ chính quyền hợp hiến. Hành động này làm cho mâu thuẫn giữa Diệm - Nhu với các quan chức trong quân đội, chính quyền thêm gay gắt. Ngày 2 tháng 9, tại Nhà Trắng, Tổng thống Kennơđi nói: “Phải thay đối chính sách, có lẽ phải thay đổi cả người nữa”3 ở Nam Việt Nam. Trong lần gặp gỡ các tướng lĩnh Sài Gòn, tướng Côlin đã nói: “Mỹ đồng ý thải Nhu, còn việc giữ Diệm hay không là tuỳ các tướng, thả mấy người phật tử bị giam ra. Yêu cầu các tướng suy nghĩ kỹ về các mặt của kế hoạch. Lúc này, Mỹ chưa thể làm gì nhiều”4. ____________________________________ 1. Kế hoạch thanh toán vụ tranh chấp, bạo động của Tổng hội Phật giáo Thừa Thiên, Trung tâm lưu trữ Quốc gia II ký hiệu SC. 04. HS.8466. 2. Thiết Vũ - Hải Âu: Bộ mặt thật CIA, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976, tr.392. 3, 4. Thiết Vũ - Hải Âu: Bộ mặt thật CIA, Sđd, tr.392, 398.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #86 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2010, 07:22:46 pm » |
|
Để nhanh chóng phế truất vai trò của Diệm - Nhu, Mỹ tạm thời đình chỉ viện trợ kinh tế và quân sự cho Sài Gòn, mặt khác, lại cung cấp cho quân đảo chính số liệu, sơ đồ về các kho trại, hầm chứa vũ khí, đạn dược, trang dụng quân sự bí mật (do Nhu nắm) để khai thác và sử dụng, cũng như hạn chế sức mạnh của đối thủ. (Bởi vì, những vũ khí trang bị này phần lớn là của lực lượng đặc biệt bảo vệ cơ quan Trung ương Sài Gòn do đại tá Lê Quang Tung chỉ huy, Ngô Đình Nhu trực tiếp giám sát). Cùng thời điểm này, tướng Trần Văn Đôn, Tổng trưởng quốc phòng cùng các tướng Dương Văn Minh, Trần Thiện Khiêm, Tôn Thất Đính... là những nhân vật đang nắm quyền cao chức trọng quân đội ngụy, có tham vọng lớn và chán ghét chế độ độc tài gia đình trị Diệm - Nhu, tập hợp nhau lập ra Hội đồng quân nhân, lãnh đạo, tổ chức lực lượng và vạch kế hoạch cuộc đảo chính1 lật đổ Diệm. Kế hoạch này được toà Đại sứ Mỹ đứng đầu là Cabốtlốt ủng hộ.
Ngày 1 tháng 11 là “ngày lễ Các Thánh”, các công chức, binh sĩ được nghỉ buổi sáng, các đơn vị thường mất cảnh giác lơ là trong việc trực ban, canh gác, Bộ chỉ huy đảo chính quyết định hành động vào lúc 13 giờ chiều (từ trước tới nay ít có cuộc đảo chính nào lại diễn ra ban ngày). Một giờ trước đó, tướng Trần Văn Đôn, Tổng trưởng quốc phòng triệu tập một cuộc họp “rất quan trọng”, thành phần gồm các tướng tá, tư lệnh các quân binh chủng, tổng giám đốc và giám đốc các sở, nha... (gồm những tướng tá không tham gia đảo chính) tại Bộ tổng tham mưu để cầm chân họ tại đó.
Đúng kế hoạch, 13 giờ ngày 1 tháng 11, đại uý Hùng Minh chỉ huy tiểu đoàn 4 thuỷ quân lục chiến chia lực lượng làm hai mũi đánh chiếm Bộ tư lệnh cảnh sát quốc gia, Tổng nha cảnh sát đô thành. Cùng lúc, tiểu đoàn 1 cũng đánh chiếm được đài phát thanh, nhưng ngay sau đó bị một bộ phận lực lượng phòng vệ trung thành với Diệm Nhu, có chiến xa yểm trợ, phản kích chiếm lại. Đến 15 giờ, quân đảo chính mới đẩy lùi được lực lượng phòng vệ, chiếm lại đài phát thanh, phát lời kêu gọi của tướng Minh.
Tại khu vực thành Cộng Hoà, cuộc giao chiến giữa quân đảo chính và quân chính phủ diễn ra ác liệt. Trung tá Vĩnh Lộc chỉ huy chiến đoàn Vạn Kiếp cố tình chậm trễ, chờ đợi nghe ngóng, nếu tình hình thuận lợi mới hành động; mãi tới 15 giờ 45 phút, đại tá Nguyễn Văn Thiệu phải đưa sư đoàn 5 đến tăng cường triển khai tiến công. Trên các hướng khác, đại đội truyền tin do đại uý Đỗ Như Luận án ngữ trước Bộ tư lệnh lực lượng đặc biệt; học viên trường Thiết giáp Quang Trung, do tướng Dương Hiếu Nghĩa chỉ huy, làm chủ Bộ Tổng tham mưu, triển khai lực lượng phòng thủ. Đại tá Nguyễn Hữu Có cho sư đoàn 7 chặn các ngả đường đề phòng lực lượng của tướng Huỳnh Văn Cao ở đồng bằng sông Cửu Long có thể cơ động về ứng cứu Diệm.
16 giờ, từ dinh Gia Long, Diệm điện thoại cho tướng Trần Thiện Khiêm xin nói chuyện trực tiếp. Khiêm “giải thích” cho Diệm là: do tình thế đòi hỏi các tướng lĩnh phải đứng lên làm đảo chính và khuyên Diệm mau chóng chấp nhận từ chức, sau đó, sẽ được đưa ra nước ngoài một cách an toàn. Tiếp đó, tướng Đôn và tướng Minh nhắc lại lời đề nghị nói trên, Diệm không chấp nhận.
Trước sự ngoan cố của Diệm, Nhu, quân đảo chính quyết định tiến công vào dinh Gia Long. 19 giờ 30 phút, phương án tiến công được thông qua cũng là lúc đài phát thanh Sài Gòn loan tin thành Cộng Hoà thất thủ. Nhận được tin này, các đơn vị quân ngụy và nguỵ quyền các cấp... cùng lên tiếng ủng hộ quân đảo chính. 23 giờ ngày 2 tháng 11, tướng Nguyễn Văn Minh ra lệnh thả tất cả các sư sãi, tăng ni, phật tử cùng những sinh viên, học sinh mà Diệm bắt giam trong thời gian khủng hoảng tôn giáo.
5 giờ sáng ngày 2 tháng 11, thiết đoàn 2, chiến đoàn thiết giáp 24 và tiểu đoàn 4 thuỷ quân lục chiến do Lý Tòng Bá chỉ huy hình thành hai gọng kìm đánh vào dinh Gia Long. Bộ chỉ huy đảo chính cho đại tá Lâm Văn Phát làm nhiệm vụ kiểm tra, đốc chiến cuộc tiến công. Cuộc đọ sức ở khu vực dinh Gia Long diễn ra ác liệt, nhiều binh sĩ của cả hai bên bị thiệt mạng, vài chục xe thiết giáp bị phá huỷ, nhưng ưu thế sức mạnh dần dần nghiêng về quân đảo chính. Đến 6 giờ, biết có cố gắng chống cự cũng không đạt kết quả, lực lượng bảo vệ dinh buông súng đầu hàng. Lý Tòng Bá dẫn quân vào nội cung, thì Diệm, Nhu đã bỏ trốn từ trước.
Cũng thời điểm này, tại miền Trung Việt Nam, tướng Đỗ Cao Trí, Tư lệnh vùng I chiến thuật bắt giam “lãnh chúa miền Trung” Ngô Đình Cẩn. ____________________________________ 1. Lực lượng tham gia đảo chính: - Tiểu đoàn 1 và 4 thuỷ quân lục chiến, - Tiểu đoàn 6 nhảy dù. - Chiến đoàn thiết giáp 24 (thuộc thiết đoàn Vạn Kiếp), - Sư đoàn bộ binh 5, - Trung đoàn 10 và thiết đoàn 2 của sư đoàn 7 bộ binh, - 1 đại đội truyền tin Trước khi xảy ra cuộc đảo chính này, chính quyền Diệm - Nhu đã từng bị hai cuộc binh biến của quân đội. a) Cuộc binh biến ngày 11-11-1960. Đêm 10, rạng ngày 11-11-1960, nhiều tiểu đoàn nhảy dù do đại tá Nguyễn Chánh Thi, Tư lệnh lữ dù Sài Gòn chỉ huy, đánh chiếm một số cơ quan đầu não, bao vây dinh Độc lập. Trước sức áp đảo của quân binh biến, một mặt, Diệm tuyên bố giao quyền cho quân đội và cử đại tá Nguyễn Khánh liên lạc với nhóm chỉ huy binh biến; mặt khác, bí mật báo cho Trần Thiện Khiêm, Tư lệnh quân đoàn 4 về ứng cứu. Sáng ngày 12 tháng 11, Khiêm đưa quân về dẹp xong lực lượng binh biến. Nguyễn Chánh Thi phải chạy sang ty nạn tại Campuchia. b) Ném bom dinh Độc lập ngày 27-2-1962.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #87 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2010, 07:24:16 pm » |
|
Lúc 6 giờ 30 phút ngày 2 tháng 11, Dương Văn Minh đã đọc lời tuyên bố thắng lợi hoàn toàn của quân đảo chính trên đài phát thanh Sài Gòn, chính thức công bố sự cáo chung của chính quyền Diệm - Nhu. Chế độ độc tài gia đình trị và nền đệ nhất cộng hoà với học thuyết “Cần lao nhân vị” bị sụp đổ hoàn toàn.
Riêng đối với Diệm, Nhu, sau khi được Cao Xuân Vỹ, thủ linh thanh niên cộng hoà lái xe đưa đến tạm trú tại nhà thờ cha Tam ở Chợ Lớn, vẫn hy vọng sẽ được lực lượng của Huỳnh Văn Cao đến ứng cứu. Nhưng Cao đã ủng hộ phe đảo chính. Diệm, Nhu biết không còn cách nào khác là phải khai báo địa điểm ẩn nấp cho quân đảo chính biết. Ngay sau đó, các tướng Dương Văn Minh, Mai Hữu Xuân cho người “đi đón” Diệm, Nhu đưa về Bộ tổng Tham mưu. Lợi dụng thời cơ này, để trừ hậu họa và rửa mối thù cá nhân, Minh đưa đại uý Nhung, người bảo vệ tin cẩn của mình vào nhóm những quân nhân đi đón Diệm, Nhu. Trên đường trở về, Nhung bắn chết Diệm Nhu ngay trong xe. Sau đó, Nhung cũng bị bắn chết để bịt đầu mối. Vài tháng sau đó, Ngô Đình Cẩn cũng bị toà án quân sự Sài Gòn kết án tử hình. Đây là cái mốc đánh dấu sự thay đổi từ chính quyền dân sự sang quân sự để tiếp tục chiến tranh, đồng thời, cũng là thời kỳ ngụy quyền Sài Gòn khủng hoảng nghiêm trọng, các tướng lĩnh quân đội Việt Nam cộng hòa cắn xé lẫn nhau, tranh giành quyền lực gay gắt, những cuộc đảo chính và phản đảo chính diễn ra liên miên1.
Ngay sau cuộc đảo chính, Uỷ ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã ra tuyên bố: Việc thay đổi tập đoàn thống trị độc tài Ngô Đình Diệm, tay sai Mỹ này bằng một tập đoàn khác cũng độc tài và tiếp tục theo đuổi các chính sách xâm lược phản động của Mỹ ở đây. Nói một cách khác, nếu như tập đoàn Ngô Đình Diệm bị xoá bỏ, mà nguồn gốc đẻ ra chế độ ấy cùng các chính sách phản dân, hại nước do chế độ ấy chấp hành còn nguyên vẹn, thì sự xoá bỏ nói trên rốt cục chỉ là sự thay đổi đào kép trong tấn tuồng vẫn tiếp diễn. Nhân dân miền Nam không đồng tình với một kiểu thay đổi như vậy, mà phải “kiên quyết xoá bỏ nguồn gốc đẻ ra chế độ ấy cùng các chính sách phản dân hại nước của nó...”2.
Hai mươi ngày sau khi chính quyền Diệm bị lật đổ, ngày 22-11-1963, Tổng thống Mỹ Kennơđi, người quyết định tiến hành chiến lược chiến tranh đặc biệt ở Việt Nam và Đông Dương cũng bị ám sát. Sự kiện này gây chấn động nước Mỹ trong cố gắng chiến tranh của chính quyền và làm cho giới cầm quyền ở Việt Nam hoang mang, tình hình chính trị của chúng rối ren. Đây là thời cơ thuận lợi cho cách mạng. Lúc này thế và lực của cách mạng đã lớn mạnh hơn so với những năm trước, nhưng vẫn chưa đủ sức tiến lên giành thắng lợi quyết định. Mặt khác, ta chưa dự kiến thời cơ có thể đến sớm như vậy, khi thời cơ đến không đủ sức kịp thời tận dụng để tạo ra được bước ngoặt quyết định. Hơn nữa, phong trào Phật giáo, nguyên nhân trực tiếp dẫn tới cuộc đảo chính ở Sài Gòn, không phải là phong trào do Đảng trực tiếp lãnh đạo, ta nhân cơ hội này vận động, thúc đẩy thêm phong trào chống Mỹ-Diệm trong nhân dân. Về phía địch, tuy bị khủng hoảng nghiêm trọng về chính trị, nhưng chưa tan rã về tổ chức. Ngụy quân, nhất là quân chủ lực còn khá mạnh. Mỹ lại tiếp tục đưa ồ ạt vũ khí cố vấn lực lượng đặc biệt Mỹ vào miền Nam làm cho tương quan lực lượng chưa có lợi đối với ta, cuộc chiến đấu còn phải tiếp tục. ____________________________________ 1. Sau cuộc dào chính ngày 1-11-1963, một loạt các cuộc đảo chính hay “cải tổ” chính phủ nữa lại liên tiếp diễn ra. - Ngày 30-4-1964, Nguyễn Khánh đảo chính lật đổ Chính phủ Dương Văn Minh. - Ngày 16-5-1964 cải tổ chính phủ Nguyễn Khánh. - Ngày 25-8-1964, Dương Văn Minh lật đổ chính phủ Nguyễn Khánh. - Ngày 25-9-1964, Huỳnh Văn Tôn, Lâm Văn Phát, Nguyễn Văn Đức làm đảo chính nhưng thất bại. - Ngày 20-12-1964, Nguyễn Khánh, Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Văn Thiệu làm đảo chính bộ phận. - Ngày 27-1-1965, Nguyễn Khánh làm đảo chính lập Hội đồng nhân dân. - Ngày 12-2-1965, Taylo “dàn xếp” lập chính quyền do Phan Khắc Sửu làm quốc trưởng, Phan Huy Quát làm thủ tướng. - Ngày 19-2-1965, Phạm Ngọc Thảo, Lâm Văn Phát, Huỳnh Văn Tôn làm đảo chính nhưng thất bại. - Ngày 6-3, ngày 20-4, ngày 20-5-1965, ba lần Chính phủ Phan Huy Quát bị đảo chính hụt. - Ngày 11-6-1965, Chính phủ Phan Huy Quát bị lật đổ, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ lập chính phủ mới. 2. Dẫn theo Trần Văn Giàu: Miền Nam giữ vững thành đồng, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996, t.I, tr.413.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #88 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2010, 07:24:58 pm » |
|
Ngay sau khi Kennơđi bị giết, Phó tổng thống Giônxơn lên thay thể hiện “quyết tâm không đổi” đối với cuộc chiến Việt Nam. Trong bài diễn văn nhậm chức, Giônxơn nói: “Mỹ sẽ ủng hộ và tiếp tục viện trợ cho Nam Việt Nam đánh thắng lực lượng cộng sản”. Không bao lâu sau lời tuyên bố này, các tàu vận tải biển cỡ lớn, các máy bay chuyên chở hạng nặng của Mỹ ngày đêm đổ một khối lượng rất lớn vũ khí, kỹ thuật, phương tiện chiến tranh vào Sài Gòn; nhanh chóng nâng số lượng pháo binh lên 1,2 lần; trực thăng vũ trang lên 1,5 lần; tàu xuồng chiến đấu lên 1,1 lần... so với năm 1962. Tháng 12-1963, Mỹ - ngụy đã thành lập thêm Vùng IV chiến thuật thuộc lãnh thổ đồng bằng sông Cửu Long. Được Mỹ viện trợ ồ ạt, tuy nội bộ chính quyền Sài Gòn vẫn còn lục đục, nhưng quân ngụy vẫn khẩn trương vạch kế hoạch, tập trung lực lượng mở nhiều cuộc hành quân càn quét, dồn dân, lập ấp chiến lược, cố giành lại thế chủ động trên chiến trường. Trọng điểm hoạt động của quân ngụy trong thời gian này là Nam Bộ, mục đích đặt ra là tiêu diệt lực lượng vũ trang giải phóng, phá căn cứ, kho tàng dự trữ, hệ thống giao thông, vận tải, cơ sở hạ tầng của cách mạng. Địch tập trung hoả lực, chất độc hoá học tạo nên những vành đai trắng “cách ly” giữa ấp chiến lược với căn cứ cách mạng và vùng giải phóng. Mặt khác, chúng đẩy mạnh hoạt động chiến tranh tâm lý, mua chuộc, chiêu hồi, lôi kéo những phần tử dao động, biến chất tham gia hoạt động chống phá cách mạng từ bên trong. Mọi cố gắng của địch đều bị quân và dân miền Nam kết hợp ba mũi đấu tranh quân sự, chính trị, binh vận trên khắp ba vùng chiến lược chặn đánh, gây cho chúng những thiệt hại nghiêm trọng. Tuy vậy, do lực lượng còn có hạn, ta chưa tổ chức được những trận đánh quyết định. Tháng 12-1963, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ chín. Sau khi phân tích mọi mặt mạnh, yếu của cả ta và địch, những thành quả mà ta đã giành được trong thời gian trước đó, hội nghị chỉ rõ: Quy mô cuộc chiến tranh ở miền Nam có thể tiếp tục duy trì như mức độ hiện nay (1963) hoặc là tăng cường hơn nữa. Nếu Mỹ có thể tăng thêm nhiều lần số lượng cố vấn và yểm trợ, cùng với lôi kéo một bộ phận quân chư hầu vào tham chiến, thì quân ngụy Sài Gòn vẫn giữ vai trò chủ yếu. Do vậy, quân và dân miền Nam phải tranh thủ tập trung mọi nỗ lực để làm thất bại mọi âm mưu, hành động của địch ở mức độ hiện tại, mặt khác, sẵn sàng đánh thắng khi chúng mở rộng quy mô chiến tranh. Mỹ lợi dụng sự chia rẽ, bất đồng trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, tìm cách lôi kéo, chia rẽ Liên Xô, Trung Quốc hòng ngăn chặn bước tiến của cách mạng Việt Nam để đẩy mạnh chiến tranh xâm lược. Cuộc kháng chiến của nhân dân ta, vì vậy, còn lâu dài, gian khổ, vô cùng phức tạp. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương dự kiến con đường phát triển tất yếu của cách mạng miền Nam là khởi nghĩa từng phần, đẩy lùi địch từng bước, tiến tới tổng công kích, tổng khởi nghĩa giành thắng lợi hoàn toàn, nhưng cũng có thể thông qua một bước quá độ trước khi giành thắng lợi trọn vẹn. Tiến hành chiến lược chiến tranh đặc biệt, Mỹ vấp phải mâu thuẫn cơ bản trong đường lối chiến tranh là: mặt chính trị rất yếu, phải dùng quân sự làm chính; trong khi đó ta kém địch về vũ khí, phương tiện và ưu thế lực lượng, nhưng mạnh hơn địch về thế trận, sự chủ động và đặc biệt là về chính trị. Từ những phân tích, đánh giá nói trên, Hội nghị Trung ương một lần nữa khẳng định phương châm cuộc chiến tranh cách mạng giải phóng miền Nam là: Kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang. Hai hình thức đấu tranh này đều cơ bản, có vai trò quyết định, trong đó đấu tranh vũ trang có vai trò quyết định trực tiếp tiêu diệt lực lượng quân địch. Cuộc chiến tranh sẽ kéo dài, nhưng phương hướng phấn đấu là tranh thủ thời cơ giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn. Trong chỉ đạo, cần tìm mọi cách kiềm chế và thắng địch trong cuộc chiến tranh đặc biệt; đồng thời, chuẩn bị sẵn sàng đối phó với cuộc chiến tranh cục bộ quy mô lớn của đế quốc Mỹ. Để tăng cường thêm sự ủng hộ quốc tế, đặc biệt là các nước trong phe xã hội chủ nghĩa, Đảng ta và Bác Hồ Chủ trương củng cố, thắt chặt quan hệ keo sơn giữa Đảng và nhân dân các nước Đông Dương cùng chống kẻ thù chung là Mỹ. Mặt khác, ta chủ trương vận động các đảng anh em giải quyết các bất đồng có lý, có tình trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin, kêu gọi sự đồng tình, ủng hộ về vật chất và tinh thần của Đảng cộng sản và nhân dân Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác. Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước ta đã vận động những tổ chức hoà bình của nhân dân thế giới, các tổ chức nhân dân Á, Phi, Mỹ Latinh có hành động phối hợp mạnh mẽ đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam. Với chủ trương đúng đắn đó của Đảng và Chính phủ ta, nhiều uỷ ban đoàn kết với Việt Nam của các nước đã ra đời. Uy tín của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được đề cao. Mặt trận dân tộc giải phóng vừa thành lập đã được nhiều nước trên thế giới công nhận. Đây là những nhân tố khách quan thuận lợi góp phần quan trọng cho thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trước mắt là đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ. * * * Với những thắng lợi quan trọng giành được trong năm 1963 qua trận Ấp Bắc và phong trào thi đua giết giặc, lập công, phá ấp chiến lược, quân và dân miền Nam đã đánh bại chiến thuật trực thăng vận, thiết xa vận, làm cho chiến lược chiến tranh đặc biệt của địch đang bị phá sản. Thắng lợi của cách mạng cộng với cuộc đấu tranh của đồng bào Phật giáo kéo dài và sôi động càng đẩy chính quyền, quân đội Sài Gòn vào cuộc khủng hoảng trầm trọng, toàn diện. Mâu thuẫn giữa chính quyền với giới quân sự, giữa Diệm, Nhu với Mỹ gay gắt dẫn đến Mỹ buộc phải thay ngựa giữa dòng ủng hộ nhóm tướng trẻ lật đổ Diệm, Nhu, dựng lên chính quyền quân sự để Mỹ thuận bề đẩy mạnh leo thang chiến tranh xâm lược. Song, lực lượng cách mạng miền Nam đang ở thế thắng, thế chủ động đã tìm ra phương pháp đấu tranh thích hợp, đặc biệt là sự kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, binh vận, phát huy có hiệu quả sức mạnh của phong trào quần chúng trên cả ba vùng chiến lược. Để phát triển những thắng lợi đã giành được, Bộ Chính trị Quân uỷ Trung ương tập trung lãnh đạo nhân dân miền Bắc phát huy vai trò hậu phương chiến lược, tăng cường chi viện sức người, sức của cho miền Nam và chỉ đạo cho Đảng bộ miền Nam, lực lượng vũ trang, lực lượng chính trị khắc phục mọi khó khăn, tiếp tục tiến công đánh quỵ quân chủ lực, bảo an ngụy, mở rộng vùng giải phóng, phát triển lực lượng ta và thế trận chiến tranh nhân dân.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #89 vào lúc: 05 Tháng Ba, 2010, 10:42:50 pm » |
|
Chương XIII ĐÁNH THẮNG CHIẾN LƯỢC CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT CỦA MỸ (1964 - giữa 1965) I- ĐƯA CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT LÊN ĐỈNH CAO, DÙNG KHÔNG QUÂN ĐÁNH PHÁ MIÊN BẮC, MỸ KHÔNG NGĂN CẢN ĐƯỢC CUỘC TIẾN CÔNG CỦA TA. CHIẾN THẮNG BÌNH GIÃ - AN LÃO Trái với tính toán của phía Mỹ, cuộc chính biến lật đổ anh em Diệm, Nhu (1-11-1963) không làm cho tình hình thành trì của chính quyền Sài Gòn ổn định, ngược lại nó càng bị đẩy vào cuộc khủng hoảng mới, triển miên, trầm trọng hơn. Chính phủ mới do Dương Văn Minh cầm đầu tồn tại chưa đầy ba tháng thì tướng Nguyễn Khánh, một người trong nhóm làm chính biến lật đổ Diệm - Nhu, lại lật đổ Minh (30-1-1964). Cuộc đảo chính lần này - như Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ bình luận: là sự kiện “mở đầu cái vòng tranh giành quyền bính làm hại Oasinhtơn tới hai năm sau, đẩy Mỹ tham gia ngày càng sâu hơn vào cuộc chiến tranh Việt Nam với cố gắng chống đỡ cho các chính thể nối tiếp nhau ở Nam Việt Nam khỏi bị sụp đổ” 1. Trên thực tế, chỉ trong năm 1964, đã có năm lần đảo chính, chín lần âm mưu đảo chính và bốn lần thay đổi bọn cầm đầu chính quyền Sài Gòn! Phó tổng thống Mỹ L.Giônxơn lên thay J.Kennơđi trong lúc cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam đang trở nên ngày càng nóng bỏng. Mắc Namara nhận xét đây thực sự là một mớ bòng bong cực kỳ khủng khiếp, rõ ràng còn nguy hiểm hơn tình thế mà Kennơđi kế thừa từ Aixenhao” 2. Hai ngày sau khi J.Kennơđi bị ám sát, trên cương vị mới, Giônxơn triệu tập cuộc họp với các cố vấn cấp cao về Việt Nam. Trong cuộc họp này, ông khẳng định tiếp tục theo đuổi các chính sách và những hành động mà Mỹ đã cam kết với Nam Việt Nam để giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh. Muốn vậy, theo Giônxơn, hành động trước mắt của Mỹ là gia tăng các hoạt động quân sự; hoạt động quân sự phải được ưu tiên so với “những cải cách xã hội” mà Mỹ đang triển khai ở miền Nam Việt Nam. Lập trường trên đây của Giônxơn và Chính phủ Mỹ được chính thức thể hiện trong giác thư về hành động an ninh quốc gia (NSAM số 273) ra ngày 26-11-1963. Theo đó, chính sách của Giônxơn, cũng giống như của Kennơđi là “nhằm giúp đỡ nhân dân và chính phủ Nam Việt Nam giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh của họ chống lại mưu đồ của cộng sản được sự chỉ đạo và hậu thuẫn từ bên ngoài” 3 bằng cách tiếp tục tăng cường viện trợ, huấn luyện và cố vấn cho chính quyền, quân đội Sài Gòn đẩy mạnh chiến tranh đặc biệt. Bản giác thư cũng khẳng định lại quyết tâm của Mỹ là kết thúc chiến tranh, giành thắng lợi vào cuối 1965. Cùng thời gian này, Giônxơn chính thức phê chuẩn kế hoạch về các hoạt động bí mật chống Bắc Việt Nam, một kế hoạch được đưa ra tại Hội nghị Hônôlulu ngày 20-11-1963, và sau đó, được gọi là Kế hoạch hành quân 34A. Chuẩn bị cho nỗ lực chiến tranh mới của Mỹ, tháng 12-1963, Giônxơn chỉ thị cho phái đoàn Mắc Namara tới Sài Gòn xem xét tình hình tại chỗ, đề xuất những biện pháp mới nhằm giành thắng lợi. Sau chuyến đi, ngày 21-12-1968, Mắc Namara trình lên Giônxơn báo cáo mang tên Tình hình Việt Nam. Báo cáo chỉ ra rằng, hiện tại, chính phủ mới ở Nam Việt Nam là nhân tố đáng lo ngại nhất đối với Mỹ, bởi vì: “Đó là một chính phủ không ổn định và dễ thay đổi” 4. “Phái đoàn Mỹ là nhược điểm thứ hai. Phái đoàn này thiếu sự lãnh đạo, không được thông báo tin tức đầy đủ, không hoạt động theo kế hoạch chung” 5. Và nhân tố thứ ba - nhân tố cuối cùng, là “Việt cộng đã đạt được rất nhiều tiến bộ trong thời gian kể từ khi có đảo chính.... Hiện nay, Việt cộng kiểm soát được những tỉ lệ dân số rất cao ở một số tỉnh then chốt, đặc biệt là các tỉnh ở ngay phía nam và phía tây Sài Gòn” 6. Tựu trung, theo Mắc Namara, đến cuối năm 1963, “tình hình rất rắc rối. Chiều hướng hiện nay, trừ phi có sự thay đổi trong hai, ba tháng tới, nếu không may mắn lắm, sẽ dẫn tới việc trung lập hoá, có khả năng nhiều hơn là Nam Việt Nam trở thành một quốc gia dưới quyền kiềm soát của cộng sản” 7. ____________________________________ 1. Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ, Sđd, t.1, tr.173. 2. R.S.Mc Namara: Nhìn lại quá khứ - Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.112. Theo Mc. Namara “mớ bòng bong” đó bao gồm các vấn đề về hoặc liên quan tới chiến tranh Việt Nam như: Liệu việc mất Nam Việt Nam có là mối đe doạ đối với an ninh Hoa Kỳ nghiêm trọng tới mức cần thiết phải có hành động cực đoan để ngăn chặn nó hay không? Nếu có, thì Mỹ phải hành động như thế nào? Liệu Mỹ có cần đưa lực lượng không quân và bộ binh vào hay không? Có nên phiêu lưu tiến hành một cuộc chiến tranh với Trung Quốc hay không? Cái giá cao nhất về mặt kinh tế, quân sự, chính trị, con người của một hành động như vậy là gì? Liệu nó có thành công hay không? Nếu như cơ hội thắng lợi thấp, cái giá phải trả cao, thì có cách gì đáng được nghiên cứu, thỏa thuận?... 3. Dẫn theo Mc Namara: Nhìn lại quá khứ - tấm thảm kịch và những bài học về Việt Nam, Sđd, tr. 113. 4 - 7. Bị vong lục về Tình hình Việt Nam của Bộ trưởng Quốc phòng R.S. Mắc Namara gửi Tổng thống Giônxơn ngày 21-12-1963. Dẫn theo Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ, Sđd, t.1, tr.246-247.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|