Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 09:21:28 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo  (Đọc 164818 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #220 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 10:14:09 pm »


Nay không biết hết được các điều khoản về địa diện địa chất trong nước, chỉ biết sơ sài đại lược, còn các điều cần phải biết gấp như tôi đã kê rõ trong “Tế cấp kinh giới điều” trước đây mà bỏ ngoài tai thì đối với quốc thể rất là thiếu sót. Bởi vì một khoản về nông quan chính là chính sách lớn trong công việc chính kinh giới đó. Xưa nay các nước đều tận lực thi hành khoản này. Xem Trung Quốc càng thấy rõ hơn. Thế giới ngày nay đều lưu tâm để ý còn gấp bội thời cổ, lẽ nào nước ta có một vũ trụ riêng khác với mọi người, không làm nông chính mà vẫn có thể làm giàu được sao? Nay một lần nữa tôi xin nêu ra một tệ đoan lớn. Tức như về khoản khai khẩn. Vì lập ra phép giác khẩn mà trong dân gian xảy ra vô số vụ kiện cáo khiến nhiều nơi bỏ đất hoang không ai dám báo khẩn, như ở xã Hải Thanh ở Hưng Nguyên có một khoảnh đất ước chừng hai trăm mẫu làm nhà cửa cho hàu hến ở. Năm trước có người hợp tác cùng bạn bè nâng đất bồi đắp, tổn phí hai ngàn quan tiền. Khi xuống gieo rất tốt chỉ vì báo khẩn thế nào chưa đầy đủ, bị dân phát giác tranh chiếm. Nguyên chủ rất giận bỏ đi để đất trở lại hoang phế như cũ.

Tôi đã qua đó trông thấy lấy làm tiếc lắm. Tất cả trong dân gian có chỗ địa lợi chưa khai khẩn hết, chính là vì lý do đó.

Xưa vùng Giang Nam có nhiều đồng lầy đất hoang mà dân không dám canh tác bởi vì nếu cày cấy sẽ bị kiện tụng liên miên không gỡ ra được, chỉ vì tranh nhau một miếng đất cắm dùi mà đến nỗi phải khuynh gia bại sản. Vua Thế tổ nhà Minh là người xuất thân từ con nhà nông, đã rõ thấu tệ này cho nên đã ra lệnh trừ đất nào đã chính thức thành ruộng rồi, nếu có đất hoang mà ai khai phá được thì giúp cho họ mở mang bất luận người ấy là dân địa phương hay dân ngoại tịch, bất luận có báo khẩn hay không báo khẩn, vật phải có chủ, ai chiếm trước người ấy được. Lệnh ban xuống chưa được mấy năm mà suốt từ vùng Giang Nam xuống phía Nam tất cả mặt đất đã trở thành ruộng lúa phì nhiêu. Sau đó mới sai quan sát nghiệm rõ ràng, chiếu trừ số tiền dân xuất vốn khai thác là bao nhiêu rồi lượng cấp số lượng cho dân. Dân chúng không ai nói không kham chịu, là nhờ sự tính toán thích hợp. Hiện tại đất đai của ta những chỗ để canh tác đã hết, còn đất hoang và những nơi khó bồi đắp hãy còn nhiều mà sức dân không thể làm một mình được; ắt phải có người có của cải hợp tác mới có thể khai khẩn được một khoảnh, sở phí về bồi đắp, báo khẩn, khám xét, đo đạc rất nhiều. Mặc dầu trong đó cũng còn sót lọt nhiều nhưng giả sử trong dân sót lọt bốn, năm mươi mẫu chỉ khởi canh được mười mẫu vẫn còn hơn chẳng được mẫu nào. Dân có ruộng để làm ăn chẳng hơn là bỏ hoang phế đất đai quý báu hay sao? Nay tốn công tốn của bốn, năm năm một mai bị người nhiều tiền đem kêu lên quan, được thưởng, còn mình thì bị tội, làm người ai mà chịu được như vậy?

Cho nên trong dân gian đã tương truyền với nhau rằng khai khẩn là một tội lớn. Mặc dầu trong lệ định thưởng mỗi mẫu ba quan tiền cho người phát giác, còn ruộng thì trả về cho nguyên chủ, thế mà trong dân gian cũng có một vài nơi người phát giác lại được ruộng còn người trước tiên khai khẩn lại bị mất ruộng. Cho nên người ta đã bảo nhau phải rất dè chừng chớ nên khai khẩn đất. Đã tốn công tốn của để khai khẩn thành ruộng rồi lại tốn của chịu khổ để xin ruộng, như thế chi bằng đem tiền tạo mãi ruộng có sẵn mà tọa hưởng có hơn là đa sự mà khổ thân không? Đến như hạng dân nghèo không ruộng không đất hoặc có khai khẩn được một sào nửa thước miếng đất rẻo thừa chẳng nên hình nên dáng gì mà còn bị người ta tố cáo là ruộng lậu rồi yêu sách điều nọ điều kia. Chỉ vì một chút đất cắm dùi mà phải cung phụng bọn hào lý đủ thứ thì chi bằng không nhà không của, đi làm mướn ăn có hơn không? Nếu làm như Thế Tổ nhà Minh, trừ những dân có ngạch thuế ra còn bao nhiêu những người khác đều cho họ được tự do khai khẩn, không ai được sinh sự. Đợi sau khi đất đai khai thác đã hết, bấy giờ mới sắp đặt châm chước lại cho được công bình. Như vậy thì trong mấy năm dân được hưởng quyền lợi lúc mới khai khẩn, dần dần được giàu có, điều đó có thiệt hại gì cho quốc gia đâu? Trái lại trước đây trong dân có ai khai khẩn chút đất hoang nào thì rắc rối nhiều chuyện mà đâu là phần công đâu là phần tư đều không rõ ràng, tệ lậu như tơ vò tóc rối không thể nêu hết được (Nếu ngày nào Triều đình muốn diệt trừ tệ đoan, tôi xin trình bày hết). Còn như những nét đại cương về việc điều chỉnh thì tôi đã đề cập sơ lược trong điều “Tế cấp kinh giới” trước đây rồi.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #221 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 10:14:41 pm »


Nay tôi xin nói một khoản về thiết lập quan nông chính. Tất cả các cử nhân tú tài tại gia hãy chọn lựa cho học Nông chính toàn thư, đồng thời soạn thảo những gì thích nghi với phong tục thổ sản biên thành một bộ cho họ thực tập bổ túc, vừa học vừa làm. Tuy chưa được hoàn toàn như thiên hạ một cách nhanh chóng, nhưng cũng có thể lựa những người ưu tú lần lượt cử ra làm việc trước, mỗi huyện cử một người. Tất cả mọi việc về nông chính và khai hoang đều phải nắm chắc trong tay. Tất cả vườn ao trang trại núi đồi gò nông dần dần vẽ thành bản đồ. Dần dần trừ bỏ các tệ đoan tồn tại trong dân từ trước, mỗi ngày đi tuần chỉ vẽ cho dân làm, y như mình là người chủ nông vậy. Nhưng chủ nông là người chỉ biết lo làm giàu cho gia đình mình, còn quan nông chính là người lo cho sự giàu có của toàn huyện. Do đó quan nông chính phải có tâm sốt sắng và tháo vát mới làm tròn công việc được. Về cách cư xử đối với dân thì vừa phải theo như đạo xưa, đồng thời lại phải theo phong cách làm việc như các quan ở phương Tây thời nay. Không thế không thể làm việc được. Hãy xem ở Gia Định quan án giải quyết những việc kiện tụng lặt vặt, họ không nỡ câu lưu người ta để xét hỏi, sợ tổn hại công việc làm ăn của dân mà thường hẹn giờ rồi thân hành đến nhà dân. Một ngày như thế họ có thể giải quyết mấy chục vụ. Chỉ một người cỡi một con ngựa cặp một cái cặp sách mà thôi. Thanh liêm mà giỏi việc hành chính, ai bảo người thời nay không làm được? Còn nếu theo cách quan liêu hiện nay thì chẳng khác gì trường hợp như Liễu Tử Hậu, không những không làm lợi dân mà trái lại còn bị dân hại. Xưa Điền Tuấn rất vui, Toàn Nghĩa thấy lúa mạch thì cười, cho đến nuôi tằm trồng dâu mà được trừ tội. Để tâm săn sóc lo cho dân đến thế mà dân không phấn khởi được sao? Nếu Triều đình muốn thực hành thì trước hết nên định ra điều lệ, áp dụng làm thử một tỉnh trong vòng bốn năm năm, thấy có hiệu nghiệm rồi sau sẽ thi hành phổ biến. Còn nếu không hiệu nghiệm thì bỏ cũng chằng muộn gì (Nếu như tôi được đi theo đại phu thực hành thử một nơi nào mà không hiệu nghiệm, tôi xin cam chịu tội nói láo). Ngày trước Ngụy đại nhân cũng đã cùng tôi bàn luận việc này và muốn áp dụng thử ở tỉnh Nghệ trước, chỉ tiếc hồi đó chưa đủ người thừa hành công việc.

Xưa thánh Khổng làm chức Tư không ở nước Lỗ trước tiên phân biệt năm loại chất đất khắp núi rừng sông hồ gò nông đồng lầy... Do đó mà các loại thực vật đều được thích nghi. Tưởng thời xưa cũng có chuyên môn và sách vở, đến khi gặp nạn Tần mới bị đốt bỏ. Tử Lộ cai trị đất Bồ thay đổi lại hết chế độ ruộng nương, phá bỏ bụi bờ gai góc, đào ao vét mương, trồng cây cối sum sê, được thánh Khổng khen là bậc cung kính trung tín. Thời bấy giờ lời nói và việc làm của các môn đệ của Khổng đều chú trọng điều căn bản. Người xưa coi trọng hiếu đễ và sự lao động sản xuất giống nhau. Lưu Án cho rằng làm vua thương yêu người không phải ban cho người vật này vật nọ mà phải dạy người cày ruộng dệt vải. Thoát Thoát nhà Nguyên mộ dân phương Nam cày ruộng phương Bắc, mỗi năm thu hoạch thóc lúa hơn trăm vạn thạch, lại mộ dân đắp đê ngăn đập, cứ ngàn người làm một nông sự, làm giáp một năm mà được mùa to. Trương Như cai trị đất Bá, cứ một xóm lập một sổ bộ thống kê hết sổ hộ khẩu nam nữ lớn nhỏ, dụng cụ trồng lúa, trồng dâu, dệt cửi, số lượng heo gà, mỗi mỗi đều kiểm tra xem xét, khi rảnh thì xuống làng kiểm điểm thưởng phạt, chưa đầy hai năm dân chúng đã có của cải dồi dào, cuộc sống ngày một sung túc. Chuyện đó xưa người ta đã làm cả rồi. Ai bảo là khó như vượt biển? Lý do vì sao?

Nếu nhất định thi hành nông chính trở lại mà có người thực tâm làm việc, theo đúng pháp luật mà làm thì từ đó sẽ sinh ra nhiều lợi ích không thể kể xiết. Thứ nhất là vấn đề kinh giới nhờ đó được chính xác, chấm dứt mối tranh giành, dân chúng được yên ổn lâu dài. Thứ hai là khai thác hết địa lợi, thì dân được giàu có. Thứ ba là trong nước nơi nào trồng trọt được nơi nào người ở được có thể thấy rõ ràng như trong bàn tay, như gia chủ quản lý công việc nhà vậy. Thứ tư là các phép ngăn nước tháo nước, mở đường sá càng thêm khang trang càng thêm kiên cố (Đây là địa lý về binh pháp). Thứ năm là trồng cây xanh rộng rãi khắp nơi từ đồng bằng đến gò nông, lá khô rụng xuống đất hư mục, thấm khí thấm vào ruộng đất mỗi ngày một tốt, hơn nữa đồng trống thành rừng nhờ đó gió mưa điều hòa, đem sức người phục hồi tạo hóa. Thứ sáu là thuế thu ngày một tăng nhiều, không ai nợ không ai thiếu, chẳng nhọc quan phiền dân. Thứ bảy là chỗ dồi dào chỗ yếu kém bồi bổ cho nhau, lập kho lúa của xã, kho lúa tương trợ công ích, tùy lượng nhập tùy lượng xuất, phòng bị trường hợp mất mùa, lúa thóc quân bình đủ ăn. Thứ tám là có tổ chức hội chợ đấu xảo nên dân chúng đua nhau học các nghề thực dụng và các phương pháp trồng trọt khiến ngày một khéo léo làm lợi về mặt kinh tế. Thứ chín là quan dân thường gặp gỡ nhau ngày một thêm thân cận, quan bình dị gần gũi dân thì dân sẽ quy phục. Thứ mười là hình thế đất đai đều hiểu rõ thì từ đó nắm vững được địa lý về binh pháp.

Có được mười lợi ích to lớn này thì quốc thể càng thêm hùng hậu. Vậy không nên gấp rút thi hành sao? Quan viên ngày đêm thân hành vào thôn xóm dạy dỗ tập rèn dân mình như thầy trò cha con. Nhờ đó thay đổi được hết tình hình dưới dân khiến tất cả những gì u ẩn bí hiểm của muôn dặm đất nước thấy được rõ ràng như trong một gia đình, trên hô hào dưới hưởng ứng chẳng dễ dàng trong việc cai trị hay sao? Đấy chính là sự lợi ích vô cùng lớn lao. Nước ta đối với vấn đề nông nghiệp từ lâu đã phế bỏ không giảng dạy. Nay bỗng nhiên muốn thi hành thì trên quan chẳng biết dạy cái gì, còn dưới dân thì cứ nghĩ rằng mặt trời mọc thì đi làm, mưa xuống thì vác cày ra cày, đợi gì phải dạy. Nếu muốn được những lợi ích như đã nói trên, khắp thiên hạ ngày nay thi hành thì không thể nào không có thầy chỉ dạy. Hơn nữa nhà Nguyên mộ một ngàn nông sư đó do đâu mà có? Ngày nay trong thiên hạ sách vở ấy, người chuyên môn ấy hãy còn, mà sách Nho viết về nông nghiệp cũng nhiều, tại sao không sưu tầm rộng rãi mà chỉ lo mài dũa văn chương, thử hỏi khi đói có thể đem ba cái chữ nghĩa văn chương ấy ra nấu ăn được không? Có chính sách nào hay ho trong việc cứu đói không? Tôi từng để ý hỏi những người lão luyện về nghề làm nông làm vườn thì thấy họ cũng có được một vài phương pháp hay độc đáo, tiếc là không thể truyền bá rộng rãi. Nếu hiểu thị cho dân chúng khiến dân sở tại ai có ngành nghề gì hay thì trình bày dâng lên sẽ được ban thưởng, chắc không bao lâu những phương pháp dạy nghề sẽ được tập trung gởi dâng lên Triều đình. Sau đó tham chiếu với địa thế, khí hậu, thời tiết rồi phối hợp với các phương pháp mới trong thiên hạ soạn lại thành sách. Như vậy là có phương pháp có tư liệu để dạy dỗ rồi. Trên biết quý trọng thì dưới chắc chắn càng chăm hơn. Chẳng qua chỉ độ vài năm có thể sẽ từ thô sơ tiến tới tinh xảo mà tạo lập được cái căn bản lớn cho thiên hạ.

Những trang này là một điều trong bài Tế cấp luận của tôi trên đã được nghe rồi. Nay nếu Triều đình cho là việc đáng làm thì tôi cũng có thể đóng góp kiến thức hẹp hòi vào việc vạch định thể thức tiến hành cùng khảo hiệu thư tịch cho được phần nào kết quả.

Nay kính bẩm.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #222 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2011, 08:50:31 pm »


DI THẢO SỐ 54

Phải gấp rút thực hiện các kế hoạch*

(Khoảng tháng 9, tháng 10 năm Tự Đức 24, tức tháng 10, tháng 11-1871)

Kính bẩm,

Tháng 10 năm ngoái tôi có một bài nói rằng: Nếu bệnh họ thuyên giảm rồi, họ sẽ gấp rút kiếm ăn để bổ dưỡng chỗ thiếu hụt, mà đất của ta có nhiều thứ có thể ăn được, lẽ nào họ chịu để bụng đói ngồi trông ư? Từ năm trăm năm trở về trước khi cái thói cướp đoạt của phương Tây chưa thành thạo thì cũng có thể do loạn mà dần dần được thịnh trị. Như các nước phương Đông thời xưa còn đóng kín cửa vậy. Nhưng từ khi chúng đã thành thuộc đường đi rồi thì lo thu vét của cải lợi lộc của thiên hạ. Cho nên tuy trong nước dẫu bị tàn phá nhưng hễ vừa được rảnh tay thì túa ra bốn phương như ong, không chỗ chằm vá nào chẳng xé ra, không chỗ sơ hở nào chẳng xen vào, coi tài lợi của thiên hạ như của mình. Ví như người đã quen thuộc phương xa, nếu ở mình cùng khốn thì chuyển đi nơi khác, chụp bên Đông giật bên Tây chứ chẳng để đến nỗi tay không. Nếu đem so sánh với kẻ ôm cây đợi thỏ, không ra khỏi nhà nửa bước xem ai thư thả ai quẫn bách? Hơn nữa không phải chúng chỉ giỏi thu lấy của cải nơi người mà còn giỏi khai thác kinh doanh nơi mình nữa. Đem cái vốn sẵn có của mình mà thuê mướn đất đai của người, lẽ nào không giàu có sung túc nhanh chóng được? Nay sáu tỉnh là nguồn vốn căn bản của họ. Đất đai sau núi là ruộng đất của họ. Nước ta là nguồn tài trợ của họ. Trung Quốc là nơi họ thuê mướn. Còn nguồn lợi bốn phía phương Đông thì Đông ngã ăn heo Tây ngã ăn dê mà họ thì ăn đủ thứ. Chưa nói chi những chỗ khác, chỉ nội một Gia Định cũng đủ quấy rối ta không yên. May mà trời cho ngày nay họ còn bối rối, tuy ta có hơi thong thả, nhưng dần dần cũng không khỏi sinh nhiều chuyện. Đó là điều tôi đã lo xa như vậy. Nên trong lúc họ còn đang phân vân đứng giữa mà ta thì có thể cực lực bôn tẩu tiến mạnh. Họ dừng lại chờ xem còn ta thì đi tới tiến lên. Do đó cũng có thể hy vọng làm được việc lớn. Nếu không thì đó là nguyên do các nước bị trùng ăn cá nuốt là như vậy.

Cơ hội hưng suy thiên hạ xưa nay không giống nhau. Nhân việc đã qua suy việc sắp tới cũng có thể đoán biết được bọn chúng sở dĩ chuyên chú vào các nước là vì đối với họ đó là việc quan hệ tính mạng, còn đối với người thì có đường lối có thể xen vào được. Sở dĩ các nước không thể cự lại được họ là vì câu chấp chỗ hiểu biết của mình mà không chịu gấp rút theo thời thế. Nay hãy lấy một vài bằng chứng gần ta xem. Xưa năm xứ Ấn Độ với Bồ Đào Nha là trường hợp chuyện nhỏ để xảy ra to. Bấy giờ Bồ Đào Nha đã biết người Anh đã thôn tính Tây Châu như thế nào rồi. Người Bồ đại ghét người Anh muốn chận tay người Anh ở Ấn Độ, đã đem mách cho Ấn Độ biết cái ý của người Anh, thế mà Ấn Độ chỉ cười bỏ qua. Đến khi sự việc ở Mạnh Gia Lạp xảy ra thì tiếp đến các thành phố lớn lần lượt bị sụp đổ. Năm xứ Ấn Độ là nước đứng vào hàng nhì trên thế giới đâu có thể bảo là không người. Chỉ vì tâm lực không đồng mà buông mình chịu làm kẻ dưới. Miến Điện ngồi xem Ấn Độ, không nghĩ đến cái thế môi hở răng lạnh, tự cho rằng mình trong có núi ngoài có sông có thể cố thủ được mà không chịu sửa sang nền chính trị và bang giao với các nước láng giềng, thỏa mãn với cái điểm ưu thắng nhỏ nhoi ấy mà tự cao tự đại không nghĩ đến việc Anh sẽ gây trở ngại. Đến khi họ cuốn lấy hết nửa nước bấy giờ mới chậc lưỡi, tự hận thì không kịp nữa. Tấm gương không xa đó, người Xiêm đã thấy rõ. Nhưng nỗi giận khó nuốt mà muốn gắng gượng ra tay thì biết phận mình như chân bọ ngựa khó duỗi. Cho nên đã gấp rút mở toang cửa ngõ mời thiên hạ đến giúp. Nhờ thế mà đến nay phận chủ khách còn rõ ràng, còn hơn là trông thấy người ta xử sự với mình.

Nước ta hiện nay đối với cái kế thâm độc của họ và sự được mất trong thiên hạ, việc đã sáng tỏ như gương. Tại sao cứ chăm vào một việc đàm phán thương thuyết với họ? Tôi thấy liệt vị đại thần không ai chẳng lo xa nghĩ sâu thế mà bảy tám năm nay chưa thấy thi thố được một cái thuật nào khả dĩ cự lại họ. Ngày xưa, binh gia thường dùng kế hoãn binh để chỉnh đốn việc phòng thủ. Nay tình thế giữa họ và ta, dùng một kế hoãn binh là cơ hội tốt. Nếu không gấp rút chấn chỉnh để thời kỳ bối rối của họ đi qua thì còn làm chi được nữa? Tôi đã từng nói cái xấu dở nhỏ trong nước ta chẳng qua chỉ là một thứ mụt ghẻ ngoài da, tuy có đau ngứa nhưng chẳng hại gì lớn lắm. Còn tình thế của nước họ mới là bệnh trong ruột trong tim, mới thật đáng lo. Họ trước đây khi mới đến Gia Định, ngôn ngữ chưa thông, tính tình chưa thục, bị thông ngôn phá hoại khiến dân thất nghiệp không nơi nương tựa, nhân quẫn bách mà sinh loạn cho nên họ chưa dám mưu đồ gấp rút, chỉ chuyên chú kinh doanh nơi đây, tạo thành một vũ trụ riêng để nắm cái quyền cư trọng ngự khinh. Do đó họ đã gấp rút phái người đi Tây học tiếng Tây để chuẩn bị sau này dùng vào việc đua đuổi. Trước đây nguyên soái Gia Định phái được hơn ba mươi người đi Tây học tiếng đã thành thạo trở về Gia Định, còn quan Tây thì chuyên học tập phong tục luật lệ nước ta. Dụng tâm của họ như thế còn dụng tâm của ta như thế nào sao chẳng lo sợ?

May thay nước họ đang suy loạn còn phải ngồi xổm mà chờ, chưa kịp quan tâm đến ta, có thể nói là lúc ta đắc ý. Ta làm gì đây, hay cũng như người mà thôi? Thiên hạ bốn trăm năm nay đã có nhiều thuật bổ cứu giằng co với bọn chúng, đã có đủ phương pháp công chiến đường lối báo phục. Ngã xuống lại tiến lên, ngọn thương đâm trước mặt, mũi tên bắn ngầm sau lưng cũng là gian lao. Hòa rồi chiến, chiến rồi hòa đâu phải một lần. Thù giết không thôi, người thì ngày một manh mún, chúng thì ngày một tụ họp. Người lui một bước, chúng tiến một thước, đời đời kế tiếp, triền miên không thôi cũng đã lâu rồi. Cùng khắp thiên hạ cự lại một phương Tây nhỏ bé. Có phải của cải sức lực mưu trí không nhiều đâu. Thế mà càng chống cự chúng càng tiến tới, càng chiến đấu càng thua bại. Việc đã trở thành lớn rồi. Đến như Trung Quốc, hai trăm năm nay chưa bao giờ quên bọn chúng mà nay việc cũng đã xong rồi. Họ là người ta là quỷ, con đường lợi hại được mất đã thấy hết rồi. Nhưng rốt cuộc cũng không khỏi hai con đường là canh tân tiến bộ và mở rộng giao thiệp mới có thể bảo đảm không bị chúng vồ lấy. Như thế đó không phải là cái kế độc nhất vô nhị, đến chỗ tuyệt vọng mà được sống sao?

Tôi đã từng nói: Sau cùng còn một mình ta lâm vào tay họ, đó là phúc của ta. Khi họ mới phát, thiên hạ đã đem cái sở kiến cũ kỹ của riêng mình ra nghị luận để đối đãi với bọn họ, cũng giống như ta trước đây một thứ thôi. Có điều là người ta thì chưa được thấy vết xe trước đã đổ cho nên cực lực đánh lâu với bọn chúng cho đến khi kiệt sức không dậy nổi mới thôi. Do đó tổn thất rất lớn. Còn ta thì vì sao thiên hạ trúng phải kế quỷ quyệt của chúng và vì sao thiên hạ có thể quân bình lợi hại với chúng được, điều đã thấy rõ ràng. Thế mà còn không chịu làm là vì cớ gì? Lẽ nào suy nghĩ mà không rõ được lý do hay sao? Đã suy nghĩ ra lý do mà chỉ vì lý do đó nên đến nỗi không thể cất mình bay bổng lên được thì tại sao không một lần nêu rõ lý do ấy ra để trừ khử nó đi?

Xưa nay trong những thời suy chưa có thời nào không có người thấy biết, nhưng có người thấy thời vận không thể làm được nên giữ mình trong sạch mà bỏ đi, cũng có người không thể vong tình nên đem cái chết mà tạ đất nước, cũng có người ẩn dật trông đợi thời thế sáng sủa, cũng có kẻ biết mà không thể nói được phải dằn lòng nuốt hận hoặc nói mà không thấy áp dụng đến nỗi phải than dài như điên, hoặc ôm hận mà chết, tự hại không bổ ích gì cho đời, hoặc phát chí mạnh mẽ gan góc chống chọi để mưu đồ năm tháng. Có những người có tài như thế mà rốt cuộc không ích gì cho quốc gia là do ở cái thế không thể làm được chứ không phải họ không biết. Nước ta hiện nay cái thế đã rõ mà thế rất có thể làm được. Đó là hiện tượng của thái bình. Tôi biết chắc chắn rằng nước ta tuy nay gặp nhiều biến cố như thế nhưng căn bản đã vững chắc, càng nhiều việc thì càng khó lay chuyển. Sau vài năm hết khổ đến sướng mới thấy lời tôi nói không sai. Đó là chỗ tôi thấy chắc chắn như vậy chứ không phải như hạng thầy bói nói láo. Tuy nhiên có làm mới thấy thái bình. Trên thế gian lẽ nào có chuyện không làm mà tự trên trời rơi xuống cho đâu?

Đức thánh Khổng nói: Còn mất, họa phúc đều ở mình mà thôi, thiên tai địa yêu nhưng chẳng làm gì được. Nếu thế thì chỉ có một chữ cương quyết làm mà thôi. Nay xin gấp rút đi giao thông các nơi để tìm kế chống lại họ, một mặt hãy sang gấp nước họ ở lâu bên ấy dùng tình dùng lý để vãn hồi sáu tỉnh (Nếu thấy cơ hội có thể tiến hành đánh úp được, tôi quyết không phụ những lời tôi đã nói), một mặt làm rõ vật gì cũng đều có chủ và giữ đúng lễ chủ khách để ngăn chặn lòng tham của họ, một mặt gấp rút tìm người mở rộng việc khai thác nguồn lợi để giúp giải quyết các cấp bách lúc mới đầu, một mặt đem những lợi dư bán cho bọn họ để giúp giải quyết những tình trạng khẩn cấp, một mặt chấn chỉnh học thuật khiến dân chúng xu hướng theo đường thực dụng, dứt bỏ thói phù hư vô dụng. Đó là căn bản lớn, muôn sự từ đó mà thành, một mặt chia nhau đi chấn chỉnh công việc trong nước, trừ bỏ các tệ đoan làm hại dân để làm lợi cho nước, một mặt mở rộng đường thương mãi để giàu có của cải, một mặt cầu người giúp đỡ để dẹp sạch những cái xấu nhỏ cho dân được yên vui để thi hành đường lối chính trị mới, một mặt tiến hành tu chỉnh các tình thế trong nước cho hợp với địa lý binh pháp mà trước đây chưa chuẩn bị được để tạo thế thành trì vững chắc, một mặt chiêu dụ các dân tộc man mọi phía sau núi, khai phá các vùng đất hoang để mở rộng lợi ích trong nước, để thu nguồn lợi phía Tây, một mặt gấp rút lưu tâm việc tơ tằm dệt vải cho dân đủ dùng, một mặt gấp rút mở hội chợ trưng bày đấu xảo cho dân hứng thú chuộng những việc làm cơ bản để có đời sống phong phú, một mặt gấp rút mở thêm một bộ Tân pháp quan chức và dùng một vị đại thần nào thâm hiểu tình hình thế giới đứng đầu để trách nhiệm việc thành lập bộ ấy, một mặt hãy mở những sự hạn chế để cho những người thừa hành nền chính trị mới triển khai thi thố ý kiến của mình thì mới hy vọng thành tựu được, một mặt gấp rút hãy làm tiêu tan hết những gì trước đây đã làm cho người ta nghi ngờ mình hẹp hòi không rộng rãi, để cho người ta thấy mình đã quyết định thay đổi đường lối, đua đuổi cùng thiên hạ, khó lòng dùng quỷ thuật gì quấy rối ta được, như vậy lòng khinh khi của họ mới dần dần tiêu tan, ta mới được vô sự.

Các khoản lớn trình bày trên đây hiện nay hết sức khẩn cấp, hãy đứng dậy nhảy xổ ra bắt tay thực hiện ngay. Thời đã đến rồi. Thời khó được mà dễ mất, chớ nên nói hãy để sang năm.

Nay kính bẩm.

_______________________________________
*. Bản văn chữ Hán: Hv 634 /4 tờ 174-185
    Không ghi rõ ngày tháng, nhưng có lẽ là một trong những bài viết cuối cùng của Nguyễn Trường Tộ, vào khoảng tháng 9 tháng 10 năm Tự Đức 24, Nguyễn Trường Tộ chỉ thôi thúc Triều đình thi hành các kế sách đã trình bày trước đây, chứ không có gì để nói thêm nữa.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #223 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2011, 08:52:30 pm »


DI THẢO SỐ 55

Nên mở cửa chứ không nên khép kín*

(Tháng 9, tháng 10 năm Tự Đức 24)

Kính bẩm,

Tôi xem khắp thiên hạ từ xưa đến nay, các nước sở dĩ bảo tồn được dài lâu, không nước nào không do hai điều kiện là giàu và mạnh. Mà sở dĩ được giàu mạnh thì không thể không bắt đầu bằng việc mở rộng đất đai làm đông dân chúng, thông thương qua lại và giao du với các nước. Sau đó lấy nhân nghĩa công bằng mà qua lại với các nước làm cho mình và người cả hai đều được lợi, thì mới đạt được sở nguyện. Đó là đường lối thông thường mà tất cả các nước trên thế giới hiện nay đều tiến hành như thế, tập tành ham chuộng đường lối ấy, tìm cách thực hành đường lối ấy, mấy trăm năm càng ra làm càng có lợi mà không ai nghỉ tay, cũng vì bỏ đường lối này không còn phương sách nào khác.

Tôi xin nêu ra một vài nước trên thế giới đã thực hành đường lối này để thử luận xem. Trung Quốc xưa kia khai thác chưa rộng, đến đời Đường mới bắt đầu mở mang các nguồn lợi về chợ búa và thuyền bè, đến triều nhà Thanh trước hết mở mang việc giao thông bằng đường bộ. Kế đó vơ vét vùng Tây vực đem bán cho các nước Hồ, rồi phía Bắc mở thị trường chung với người Nga để nắm lấy nguồn lợi về trà tàu và da thú. Kế đó lại mở các cửa biển cho các quốc gia hải đảo khu vực Đông Nam dương đến buôn bán, ném một viên gạch mà dẫn đường cho phương Tây đến, sau đó các nước phương Đông phương Tây đều quy tụ về, nhờ thế mà quyền lợi thiên hạ, một nửa đã nắm được trong tay. Tuy có lúc nước Anh vì bất bình mà tranh nhưng nhờ có Nga Mỹ ở giữa nên không bị hại lớn. Tuy có bị nội loạn (Như loạn Thái Bình vương) chia cắt nhưng cũng nhờ người phương Tây ứng viện, cuối cùng dẹp tan được. Đến nay họ lại thuê mướn nhiều người phương Tây lập xưởng chế tạo khí cụ, đóng tàu. Họ còn thuê người Tây phương làm quan để đại diện họ mua khí cụ và làm đại sứ. Họ còn sai nhiều sứ thần giao thông với các nước lớn để bủa kế liên hoành. Tất cả những việc họ làm, người phương Tây trông thấy đều đã nguội lòng. Thử xem từ triều Minh trở về trước nước ấy hãy còn bế quan tỏa cảng mà nay được khí thế như vậy là đều nhờ lợi ích của việc ngoại giao cả. Chẳng biết do đâu mà triều đình nhà Thanh lại hết lòng tin dùng người phương Tây như thế. Sự thật không thể hiểu được. Nước ta xưa nay, mọi việc đều bắt chước Trung Quốc, mà chỉ có một kế hoạch lớn là giao thông với cường quốc là ta không nghe theo, có phải toan lập được một mưu kế kỳ diệu riêng hơn hẳn Trung Quốc một bậc chăng?

Lại xem Nhật Bản xưa vốn là lũ người lùn, từ trung diệp nhà Minh mới bắt đầu giao hảo với Hà Lan, làm bạn với Bồ Đào Nha, kế đến mời Hợp Chủng Quốc vào việc nước, mở mắt nhìn rộng rãi thiên hạ mới có được chí hướng lớn như vậy. Từ đó họ đóng tàu bè, luyện tập võ bị, ưu tiên phát triển thương nghiệp, công nghiệp, đất nước mỗi ngày một mạnh, được khen với mỹ danh là Tiểu Tây và Trung Quốc khó bắt được Nhật Bản phải thần phục. Tuy gần đây Anh Pháp thường hay quấy nhiễu nhưng nhờ có nền nội trị ngoại giao vững vàng mà họ không chịu hạ mình. Như trước đây ba năm Anh Pháp đem binh thuyền đến toan đàn áp, nhưng nhờ có Hợp Chủng Quốc, Hà Lan phân giải mà việc đã không xảy ra. Đó không phải là công dụng của sự giúp đỡ của các nước hay sao? Còn như ngày nay nước ấy có những kế hoạch giao thiệp rộng rãi, những mưu cơ tân tiến thì đâu đâu người ta cũng nghe thấy rõ ràng, gương ấy không xa, không cần phải nêu ra nữa.

Còn như đối diện với nước ta là Xiêm La. Nước ấy trước đây vốn chẳng có thế lực to lớn hùng mạnh gì. Nhưng từ khi người phương Tây quấy động khiến họ chợt thức tỉnh, bèn lấy Anh Pháp làm bạn, lấy Y, Bồ làm khách, mời hết các nước trên thế giới đến buôn bán, du lịch, còn nước ấy thì nghiễm nhiên làm một ông chủ nhà lớn đàng hoàng, khiến nước lớn thì làm khách nước nhỏ thì làm bạn, thiên hạ quây quần gọi là ông Đông, nói cười, giải vây, ứng đáp không ngại, chẳng cần đua đuổi cao xa mà cũng chia quyền lợi được với thiên hạ. Mặc dầu Anh Pháp muốn phân chia quyền lợi ở đó nhưng cũng không thể làm sao ỷ mạnh mà đánh kẻ tươi cười với mình, nên cũng phải phó mặc chẳng biết làm sao. Hiện nay nước ấy nhờ ngoại giao mà được lợi ích, ngày một nhanh chóng trở nên giàu mạnh, nội loạn không sinh, kẻ địch bên ngoài không đến, thuyền buôn qua lại trên mặt biển như mắc cửi, quan chức phân bố khắp các nước, dần dần đã lập được cái thế con rết trăm chân. Họ giàu có thịnh vượng thì họ hưởng, hà tất phải bàn bạc làm gì.

Nhưng nước ta có một nước mạnh như vậy ở bên cạnh cũng rất đáng lo. Còn các nước ở xa ta như Nga La Tư, Anh Cát Lợi, Phú Lãng Sa, Áo Đại Lợi, Phổ Lỗ Sĩ, cho đến các nước bao vây phía Nam phía Bắc Địa Trung Hải, ven phía Đông Xích Hải, cho đến các nước hẹp nhỏ thuộc Ấn Độ Dương, cho đến hai mươi nước thuộc Nam Mỹ, các nước ấy thủy chung sở dĩ được giàu mạnh không nước nào không do mềm dẻo mượn tài người, mời gọi khách du lịch người bán buôn, khuyến khích công nghiệp, siêng năng nông nghiệp, khai hoang khai mỏ tiếp xúc giao thiệp các nước, cùng điều hay chung điều lợi, trao đổi công việc.

Trước tiên do Bồ Đào Nha mở đầu rồi đến các phương Tây bắt chước làm theo, rồi đến các nước trên thế giới làm theo và đều được hiệu quả, ngày nay đều đã rực rỡ như sao trên trời mà chưa từng thấy có bậc kỳ tài nào nổi lên chống lại việc làm như thế cả. Tuy như các nước hải đảo nho nhỏ ở biển Đông biển Tây cũng đều nhờ đường lối ấy mà mở mang được phong khí đã mấy ngàn năm ngu muội, thay đổi được phong tục đã mấy ngàn năm quê mùa và dần dần xây dựng được bản chất làm người là nhờ thấm nhuận cái ảnh hưởng ngoại giao vậy. Như thế thì qua con đường ngoại giao, thế giới có thể hòa hợp nhau không phân biệt văn minh hay dã man, tất cả đều được thịnh lợi. Thế chẳng phải vận trời đã mở ra như vậy sao? Thế giới rất rộng lớn, chỉ con người rất phức tạp nhưng không nước nào không theo đường lối này. Như vậy kế sách này đã bao trùm khắp thế giới, vua tôi đều yên ổn ở trong đó, nào ai có kế sách gì khác có thể hơn được ư? Tôi xem khắp Đông Châu Tây Châu tất cả các nước ven biển từ nước hạng nhất đến nước hạng ba, không nước nào không tuân hành theo đường lối này.

Chỉ riêng một mình nước ta thi hành đường lối khác. Cho nên thiên hạ cho ta là một nước ly kỳ đệ nhất. Triều đình ta trong khoảng từ thời Gia Long đến thời Minh Mạng hợp tác với người phương Tây, thường phái du hành các nước trở về dần dần được hưng thịnh. Nếu không có lệnh đóng cửa đuổi khách bạn ra, mà theo đường lối ấy cho đến ngày nay thì ta cũng có thể sánh vai dong ruổi cùng thiên hạ, và người Pháp cũng không thể tha hồ tác oai tác phúc đối với ta được. Trong tờ bẩm trước tôi có nói: Đã không thể tân tiến và do quảng giao mà ra, nhưng nếu việc ngoại giao đã thành công, người vui lòng giúp ta thì chẳng những ngày nay có thể vãn hồi lục tỉnh mà tương lai còn được mối lợi phía Tây (Tức như các tờ bẩm trước tôi đã nói đến vùng đất ven núi về phía Tây và vùng đất hai bên sông Cửu Long) ngồi đó mà dần dần vẫn thu được.
_______________________________________
*. Bản Hán văn 634/3 tờ 173
    Không ghi ngày tháng, nhưng có lẽ vào những ngày cuối đời của Nguyễn Trường Tộ vì Nguyễn Trường Tộ không nói gì thêm mà chỉ muốn Triều đình thi hành kế sách của mình, sở dĩ chưa thi hành là vì còn nghi ngờ, e ngại.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #224 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2011, 08:53:03 pm »


Hiện nay may mắn nước họ bị biến loạn lớn. Đó là ý trời khiến họ suy cho ta mạnh tiến để tạo nên cuộc diện cân bằng thế lực. Nếu không biết thừa lúc họ chưa kịp mưu đồ nước ta mà thi hành nhiều cải cách cho kịp thời cơ, đến khi họ ổn định được việc nước và toan muốn phóng tay, liệu ta có tránh khỏi không bị họ đánh tràn một trận hay không? Cơ hội ngày nay của ta là, đối nội thì xin đòi lại sáu tỉnh, đối ngoại thì phải gấp rút thi hành đường lối ngoại giao để tìm người giúp. Nếu tìm được người giúp rồi thì không những có thể bảo tồn cái chưa mất mà cái đã mất rồi cũng có thể hy vọng thu hồi về được. Còn như đường lối giao thiệp rộng để mở mang việc giao thông buôn bán thì tất cả những lợi ích lớn tôi bẩm rõ trong bài Khai hoang từ rồi. Nay không nói trở lại các lợi ích mà đặc biệt chỉ nêu các bằng chứng trên thế giới để giải tỏa sự nghi ngờ. Bởi vì lợi ích của sự quảng giao thông thương đã rõ như mặt trời giữa ban ngày cần chi phải nói. Sở dĩ Triều đình chậm chạp không tiến hành, có thể chỉ vì một chữ nghi mà thôi. Trong tập nói về ngôi vua chức quan tôi đã bẩm nói: “Đa nghi thì không tin ai cả. Không tin thì sinh ngờ vực không ưa. Không ưa thì sinh ra thiên lệch tổn hại trí xét đoán. Trí hại thì sinh ám muội, công việc dễ bị sai lầm. Việc sai lầm thì sinh tai hại. Tai hại thì sinh gây nhiều lo âu. Nhiều lo âu thì tâm loạn mà sinh nhiều sợ hãi. Nhiều sợ hãi thì không còn nhuệ khí mà sinh nhu nhược. Nhu nhược sinh thì mọi việc gặp việc gì cũng trông trước ngó sau do dự không quyết đoán”. Trong lòng không có ý kiến quyết định thì không phân biệt lợi hại, không biết nên lấy cái nào bỏ cái nào cho đúng. Như vậy thì khi bị hoạn nạn bên ngoài đến tấn công, ý kiến sẽ bất đồng, mình và người rời rạc, thế lực mỗi ngày một giảm sút, tất cả đều do căn bản từ sự nghi ngờ mà phát sinh ra cả.

Phải biết rằng hai khoản này nếu quả có chỗ khả nghi thì tại sao thiên hạ cũng đồng là người, tất cả đều thực hành mà không nghi ngờ gì cả, chỉ riêng một mình ta khám phá được chỗ khả nghi ấy hay sao? Lẽ nào trí tuệ khắp thiên hạ lại thua ta ư? Nay phải chăng thiên hạ sinh ra không có bẩm tính ấy mà chỉ riêng ta có thôi? Vả lại việc làm của đông đảo các nước đều rõ ràng như thanh thiên bạch nhật, kế sách lớn ấy chắc chắn dần dần sẽ đạt, tuần tự mà tiến tới, nhân việc này biết được việc kia, nhân việc đã qua suy ra việc sắp đến, dù trăm năm cũng có thể biết được, cần gì phải nghi ngờ. Nếu ta không biết cái thế của họ thì ta không thấy được âm mưu của họ, mà nếu cứ mỗi việc mỗi nghi ngờ, mỗi việc mỗi phòng bị thì như binh thư nói: Cái gì cũng phòng bị thì không cái gì phòng bị được chu đáo. Không chu đáo tức đem mình mà phòng bị cho người mà thôi. Nếu biết rõ họ chắc chắn do một con đường này mà tiến, và chỉ có một kế hoạch này có thể chống cự họ được thì phải quả quyết thi hành, cần gì phải nghi ngờ lúng túng cho tán loạn tâm trí? Phải biết rằng nghi là vì không định được sự thế, không tỏ tường sự lợi hại, cho nên trong lòng phải tính toán kế này kế khác, có thể do đó mà làm nhiều việc đề phòng.

Nay việc làm của bọn họ, cốt yếu đều quy về hai kế hoặc hoãn hoặc gấp (Trong các bài bẩm trước tôi đã nói rõ) mà đường lối chắc chắn có thể chống cự lại họ đều quy vào con đường cải cách canh tân và quảng giao các nước. Ngoài con đường này ra là ngoài sự hiểu biết của tôi. Nếu thực hành sớm sẽ phá tan được sự nghi ngờ. Nếu không thực hành thì họ càng nghi càng tiến. Cho đến khi mà họ tiến đến cũng như trường hợp năm xứ Ấn Độ, bấy giờ mới vẹt hết nghi ngờ như mây tạnh trời quang. Như vậy thì những gì nghi ngờ phòng bị xưa kia nay cũng tiêu, mà xét cho cùng cũng tại nghi ngờ cố chấp, để ngồi đợi cho đến lúc thấy tận mắt mới tin? Phải biết rằng ta một mực nghi ngờ người mà tìm cách chế ngự người thì người sợ bị ta chế ngự nên nghĩ cách chế ngự ta. Nếu đã xảy ra đề phòng chế ngự nhau thì phải xem thế lực ai mạnh ai yếu mà nghĩ đến thất bại một mất một còn, quyết không thể song song tồn tại thì chỉ có cách là chủ khách phân minh, khiến cho người biết rằng mỗi vật đều có chủ, khó vồ lấy được, họ mới dịu lời nguôi giận và không dám ỷ mạnh. Về việc thực hiện ra làm thì chỉ một bộ đại học thủy chung chuyên trách công việc như các nước trên thế giới thường làm, thực hành lâu mới biết rõ cái lợi cái hại của mình và người. Đã thấy rõ sự lợi hại thì thản nhiên không sợ sệt, không làm chúng giận thì mới không gì xảy ra cho mình.

Đối với người Tây bất luận quan dân tôi chẳng thấy ai đáng sợ cả. Không phải tôi có sức mạnh gì hơn họ, nhưng mà đã biết rõ tính tình mưu kế của họ, chỉ có bình tĩnh hiểu rõ lý lẽ, hai điều ấy có thể đối ứng với họ không cùng, chẳng có gì phải sợ cả. Hàn Dũ nói: Sợ dĩ người ta sợ ma quỷ là vì không ai thấy nó. Nếu người người đều thấy thì quỷ cũng chẳng có gì đáng sợ. Cũng như thiên hạ ngày nay đều ở chung lộn với người Tây. Nếu ai ai cũng thấy họ có cái gì đáng sợ và mỗi ngày một hoài nghi sợ sệt thì làm sao có thể giao tiếp lâu dài cùng nhau làm việc lợi được? Hơn nữa đối với vấn đề này có khi người kia áp dụng có lợi mà người này áp dụng lại sinh hại. Ví dụ thịt ngon thì rất tốt nhưng đối với người ăn không tiêu mà dùng vào sẽ có hại là vì sao? Bởi không tiêu hóa được. Có người ứng dụng thì bị bế tắc có người ứng dụng thì thông suốt cũng do khéo hay không khéo sử dụng mà thôi.

Sự lý trong thiên hạ có phải ai lúc nào cũng thắng mãi được đâu. Cho nên binh thư nói: Thắng có thể biết được nhưng không thể làm được. Khổng Minh nói: Khôn lanh hay đần độn không phải do thấy không đúng mà cũng còn do ở thời thế và ý trời như thế nào nữa. Khắp mọi nơi người làm điều có lợi lớn mà đến ta thử ra làm có thể không được như ý muốn, chính đó là điều mà nhà hiền triết Mạnh Tử bảo thế nào là làm, thế nào là nên làm, thế nào là thôi không làm, thế nào khuyên không nên làm. Hơn nữa việc đời thường thường chưa có việc gì hoàn toàn lợi mà không có hại, chỉ do con người biết tùy cơ ứng biến mà thôi. Trí lự không bao giờ cùng, trong lợi có hại, biết tùy theo đó mà cải chính nó mới là người khéo vận dụng tài trí. Nếu chỉ biết tính toán (...bài chưa hết)
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #225 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2011, 08:54:32 pm »


DI THẢO SỐ 56

Bài khải quyên tiền sửa cầu*

Từng nghe:

Có phép đè sóng đó là cái cầu. Xói đất thành sông, trời vốn lấy để lưu thông nước đọng. Lấp sông làm đường, người lấy đó để nối đoạn đường cùng. Hóa đôi bờ thành phố xá, thay đất trời chắp vá chỗ hư hao. Suốt một đường Nam Bắc lưu thông, cho người vật lại qua không trở ngại. Muốn dân không lặn lội nước nôi, ắt phải có thời cơ thuận lợi.

Làng ta đây: Giáp thông hai huyện, đất chiếm trung khu. Tây xuống mấy từng non, trăm việc ngược xuôi, dấu sương tiếng gà tiếp nối. Đông ôm ba mặt biển, tứ dân lên xuống, bụi xe chân ngựa liên miên. Cọc tre chụm lại, gầy dựng buổi đầu. Dây lạt buộc vào, sửa sang lúc tạm. Mấy độ gió mưa xiêu vẹo đội gánh đi qua, hằng lo nỗi sẩy chân xuống vực. Bao phen ngập tràn lụt lội, vén xăn không khỏi, luống hao hơi cánh bến gọi đò. Đã không ô thước bắc cầu, lại thiếu rùa linh đỡ bước.

Thiết nghĩ: Góp của thế gian giúp người thiên hạ, sáng chói thay hiếu nghĩa đồng bào. Có nhà hằng sản, có kẻ hằng tâm, chả lẽ vô tình không giúp đỡ. Muốn bắc cầu vồng qua bên ấy, một cây làm chẳng nên công. Nên phải nhờ chung sức góp tay, nhiều người mới xong được việc.

Cúi mong những người tài chủ lạc thiện hảo tâm: Vén tay núi ngọc, cùng nhau hợp sức giúp đời. Mở nắp hang vàng, nhiều ít đáp lời kêu gọi. Ngõ hầu tích thiểu thành đa, khỏe lâu mệt tạm. Rồi đây: Cột cầu san sát dựng qua, sông trong trẻo ngàn thu vững chãi. Treo lên vòng cầu bán nguyệt, đường ruổi dong muôn dặm yên hàn. Người người qua bến, kẻ kẻ nhớ ơn. Khách khách sang sông, lời lời khen ngợi. Có đâu chỉ đêm trăng thổi sáo chơi với khách tiên, hay bên cột đề thơ gửi lòng tài tử, để làm tăng thắng cảnh làng ta phong quang bản xứ mà thôi ư! Bộc bạch lời quê kính mong nghe tỏ.

Nay khải
_______________________________________
*. Bản chữ Hán: Hv 189/4 tờ 25
    Không có ghi ngày tháng năm. Nhưng đây có lẽ là bài kêu gọi góp tiền làm cầu bắc qua kênh Gai, nối liền xã Nghi Diêm, huyện Nghi Lộc với xã Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An ngày nay. Nguyễn Trường Tộ có lẽ đã khởi xướng tu sửa chiếc cầu này trong khoảng thời gian từ 1868 đến 1871.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #226 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2011, 08:56:21 pm »


DI THẢO SỐ 57

Phong vũ biểu*

Ngày xưa người ta thường dùng phong vũ biểu để tiên đoán sự hạn hán lụt lội, phân biệt khí hậu, là những công việc cần yếu của nhà nông. Ngày nay các nhà khoa học còn dùng để khảo sát thiên văn địa lý, đo đạc hình thế cao sâu, có công cụ lớn trong khoa học mà nhà binh cũng cần dùng để xem thời tiết khí hậu. Binh pháp nói: “Biết trời thì thắng tất cả”. Trông khí hậu tức biết trời, cho nên đó là điều khẩn thiết đối với việc hành binh. Nguyên lý của phong vũ biểu rất phức tạp mà cách sử dụng cũng rất khó, biến đổi tùy theo độ số của mặt đất.

Nay xin phân biệt trình bày về nguyên do phát minh, cách chế tác và sử dụng như sau:

Vào thời nhà Chu có nhà văn nước Hy Lạp suy rằng khí trời có sức nặng. Nhà văn này chỉ suy ra biết thế thôi chứ chưa có gì làm chứng cứ xác thực. Đến cuối nhà Minh năm Vạn Lịch 19 người La Mã là Già Li Lược1 mới bắt đầu nói rõ rằng trên mặt đất có một lớp không khí xanh mờ bao bọc. Khí ấy có hình, có thể trông thấy và có chất có thể cân được nặng nhẹ. Tất cả những gì sinh ra trên quả đất bất luận sinh chất2 hay định chất3 đều nhờ khí trời để sinh ra và nuôi lớn. Nguyên lý này rất phiền toái không cho phép nói chi tiết tỉ mỉ được. Vậy xin chỉ nói một điểm về không khí có sức nặng mà thôi.

Người ta đã dùng nước trong, thủy ngân, so sánh với không khí mà biết được sức nặng ép xuống, nơi đường tiếp giáp của mặt biển với khí trời. Giả thiết lấy một cột nước trong, hình vuông mỗi bề một tấc cao 34m thì sức nặng của cột nước ấy được chừng 12 cân, lấy một cột thủy ngân hình vuông mỗi bề một tấc, cao 30 tấc thì sức nặng của cột thủy ngân này cũng nặng 12 cân. Sức nặng của hai cột này cũng bằng sức nặng của một cột không khí vuông mỗi bề mặt một tấc, cao từ mặt đất đến chỗ tận cùng của lớp không khí bao bọc quả đất. Vì vậy người ta làm ra một khí cụ để đo lường sự nặng nhẹ của không khí. Khí cụ đó là phong vũ biểu.

Lúc mới đầu người ta làm một ống pha lê dài ba mươi hai tấc tây, một đầu kín một đầu trống, đựng đẩy thủy ngân tinh chất, lại dùng một cái chậu làm đáy, đựng thủy ngân đến lưng chừng chậu, rồi đem ống thủy ngân kia úp đầu trống xuống chậu. Thủy ngân trong ống tụt xuống, để lại phần trên của ống một khoảng chân không. Thủy ngân tụt xuống khi thấp nhất là hai mươi tám tấc và khi lên cao nhất là ba mươi mốt tấc. Ngoài ống người ta khắc chia độ để quan sát mức thủy ngân lên xuống. Khi trời u ám, khí trời ép xuống mặt chậu rất nặng, đẩy thủy ngân trong ống lên khoảng chân không nơi đầu ống. Khi trời có mưa, sức ép của khí trời xuống mặt chậu nhẹ, thủy ngân trong ống tụt xuống tràn ra ngoài chậu. Xem thủy ngân lên xuống thì biết trời sắp nắng hay mưa. Nếu nắng mưa thay đổi, không khí thác loạn không nhất định, thủy ngân cũng lên xuống không nhất định, nhưng mức lên xuống tương đối ngắn chứ không rất cao rất thấp như trường hợp nắng mưa. Nếu muốn biết không khí có sức ép nặng như thế nào, hãy thử xem phong vũ biểu đặt vào một cái ống, có thể hút không khí ra hay bơm không khí vào, xong dùng máy rút không khí ra thì thấy mực thủy ngân trong ống pha lê xuống thấp dần, sau đó bơm không khí vào thì thấy mực thủy ngân lên cao dần. Căn cứ vào đó thì biết không khí có sức ép đè nặng.

Ngày xưa người ta dùng phong vũ biểu như thế, nhưng thường lo ngại thủy ngân trong chậu bị nghiêng đổ, khó an toàn mỗi khi di chuyển mang xách đi đâu. Ngày nay người chế ra phong vũ biểu bằng kim loại. Cách làm là dùng một miếng đồng mỏng loại thật tốt làm một cái hộp hình tròn dẹp trong rỗng, mặt ngoài bằng phẳng, dùng máy rút hết không khí trong hộp ra rồi dùng thiếc hàn kín miệng hộp lại. Trên hộp đồng làm một kim chỉ độ dẫn ra ngoài mặt số có chia độ. Khi có sức ép nặng xuống mặt đồng thì hộp đồng xẹp vào liên động đến kim chỉ độ, kim sẽ theo đó xoay sang phía bên phải có những chữ nắng, hạn v.v... Nếu không khí nhẹ thì mặt hộp đồng phình ra lại, xoay kim sang phía bên trái có những chữ gió mạnh, mưa v.v... Xem kim chỉ bên trái bên phải cũng có thể đoán trước nắng mưa, hệt như sự lên xuống của phong vũ biểu thủy ngân như vậy, nhưng cách sử dụng thì dễ dàng tiện lợi hơn.

Tuy nhiên không khí trên khắp địa cầu không phải chỗ nào cũng giống nhau, cho nên sự lên xuống có khác nhau. Người quan sát giỏi phải nhân đó mà suy lường, mới có thể chuẩn xác được. Bởi vì trên mặt đất gần xích đạo thì khí nhẹ, do sức ly tâm của quả đất lớn mà thành ra nhẹ, gần hai cực thì khí nặng vì sức ly tâm ít nên nặng.

Nay các nước phương Tây ở từ vùng ôn đới trở về phía Bắc, không khí ở đó nặng cho nên người ta chế phong vũ biểu cũng dựa vào điều kiện không khí ở đó. Nay đem dùng ở ta, địa phương gần xích đạo, thì mức độ lên xuống không bằng ở các nước phương Tây. Cho nên hạn độ thay đổi lên xuống theo nắng mưa không được nhiều cần phải hết sức chú ý theo dõi ghi nhận mỗi ngày, để nghiệm sự thay đổi thời tiết, trong khoảng ba năm như vậy mới không sai. Còn như dùng để đoán định nắng hạn lâu, gió bão, mưa lụt thì đúng chắc chắn không sai. Nếu chỉ dùng có thế thì có thể đắc dụng lớn, nhưng sơ sót những công dụng nhỏ nhặt khác.

Ở những địa phương gần xích đạo, sự loạn động của không khí có nhiều nguyên do, khó kể hết được. Nay chỉ nói đến nguyên do lớn. Căn bản của nguyên do lớn là cái không khí nóng nung đốt bởi mặt trời trong mười hai tiếng đồng hồ đưa đến làm cảm động không khí ở mặt quả đất mỗi lúc một thay đổi, khiến từng lớp không khí bị dồn đuổi, trong khi đó khí lạnh khí nóng trôi nổi không nhất định làm cho sức dãn nở của không khí thoạt lớn thoạt nhỏ, mặt hộp đồng của phong vũ biểu bị sức ép tác động liên miên không kịp, cho nên kim chỉ một chỗ nhất định. Về nguyên nhân nhỏ thì vì mặt đất có cao thấp lồi lõm rừng đồng có sầm uất hoang trọc, bờ biển có vịnh đầm xiên lệch, núi non có chạy vòng hang hốc, cho nên không khí qua lại phần nhiều bị ngăn trở. Có khi cách nhau một dặm mà khí hậu hai nơi khác nhau rất xa. Cho nên xét nghiệm phong vũ biểu có khi cũng có chút ít sai khác. Người sử dụng giỏi phải thuộc hết những sự lưu hành của không khí, nhân sự khác nhau của không khí trên trời dưới đất, suy từ cái này ra cái kia, sáng suốt nhận định thì có thể tận dụng cái kỳ diệu của nó.

Gần đây người các nước sử dụng phong vũ biểu rất nhiều. Ở phương Tây gần như mỗi gia đình đều có vì rất cần đến nó. Còn phong vũ biểu mà các nhà trắc lượng học dùng để đo đạc cao sâu thì phức tạp hơn và nguyên lý của nó rất sâu, lại không quan hệ đến công dụng hàng ngày nên không nói đến.
 _______________________________________
*. Nguyên văn chữ Hán: Hv 189/4 trang 36-41.
1. Galileo, người Ý.
2. Chất hữu cơ.
3. Chất vô cơ.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #227 vào lúc: 16 Tháng Hai, 2011, 07:06:07 pm »


DI THẢO SỐ 58

Bài tựa sách ĐÀM THIÊN LUẬN*

(Đây cũng là bài tựa viết vào quyển đầu của Bộ sách Đàm Thiên dâng lên)

Phàm nhà khoa học thì phải bụng bao hết những việc xưa nay, mắt trông khắp trời đất, tinh thần chu du tận cõi xa xăm, tâm hồn thấu đến chỗ u huyền. Như vậy mới sáng suốt mà tâm đắc được những gì sách vở không thể truyền hết, ý hội được những gì người xưa không thể nói hết, mắt trông thấy hiện tượng mà tâm trí bao trùm sự hiểu biết ngoài hiện tượng đó nữa. Bởi vì trời tuy cao, đất tuy xa nhưng đều có sự thực chứ không chìm vào hư vô, không như khách văn chương chỉ dựa vào tưởng tượng. Tuy nói là sự thực nhưng nó cao dày thâm thúy vô cùng, thấy như gần nhưng thực là xa, thấy như nhỏ mà thực là lớn, thấy như tĩnh mà thực sự là động, thấy như nghịch mà thực sự là thuận, thấy như không có nguyên tắc mà thực sự là có nguyên tắc, thấy như là trừu tượng mà thực sự là cụ thể, không phải những chuyện tầm thường làm hằng ngày có thể đem so sách được.

Bởi vì nếu đem sự vật trước mắt ra mà cân đo, cứ cân từng lạng một thì đến thạch là sai rồi, cứ đo từng tấc một thì đến trượng là sai ngay. Huống chi to lớn như trời đất, bé nhỏ như muôn vật, nếu không phải là bậc thông minh khác thường trí tuệ sáng suốt chắc chắn không thể làm được.

Kẻ sĩ cao minh muốn nghiên cứu khoa học, trước hết phải hiểu rõ địa lý thiên văn để mở mối, thứ đến dùng quang học, cơ học, hóa học, thực vật học, đại số học, hình học cho được đầy đủ ứng dụng vào việc nghiên cứu. Rồi sau đem những sách của các nước xưa nghiên cứu về trời ra rỗng lòng khảo cứu, dẹp bỏ hết những thành kiến tập quán cũ, không phân biệt giới vực, chỉ tập trung vào đó, vận dụng hết thần trí, ôm vũ trụ vào lòng, nhắm mắt lại mà như thấy rõ ràng trước mắt. Được đến như vậy mới có thể nói về trời. Nếu cứ giữ theo nề nếp cũ, không thông phương pháp mới, hiểu biết nông cạn làm sao nói đến việc này được. Đây là bài tựa.

Mùa Xuân năm Tự Đức 16.


_______________________________________
*. Nguyên văn chữ Hán: Hv 189/4 trang 26-35.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #228 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2011, 01:13:21 pm »


Bài tiếp bài tựa sách ĐÀM THIÊN LUẬN

(Bài tựa này chép vào quyển đầu bộ sách Đàm Thiên dâng vua xem)

(Nguyễn Trường Tộ mới soạn)

Môn học thiên văn từ xưa Đông Tây đều đã có. Nhưng người xưa chuyên dùng số mà suy đoán ra đại thể, nên cái gần còn sai nhiều, nói gì đến những cái xa mắt chưa hề trông thấy? Gần đây người ta chuyên dùng các hiện tượng rồi lấy số tính toán cho nên có thể phù hợp chặt chẽ với những sự vận hành kỳ diệu của trời, có thể đưa con người lìa khỏi địa cầu mà ra tận ngoài không gian rất xa, có thể khiến thần trí con người bay bổng đến tận những chỗ không thể tưởng tượng được, có thể khiến con người phát minh được cái năng lực vô cùng cái kỳ diệu vô cùng của tạo vật.

Tất cả những gì trên thế gian thấy là thiếu sót, bất bình, khó hiểu người xưa đều đổ lỗi cho trời. Nhưng theo khoa học ngày nay mà quan sát thì đều có chỗ chí lý trong đó, có thể khiến người ta sực tỉnh những lầm lạc to lớn lưu truyền tự ngàn xưa, có thể khiến người ta biết rõ mọi vật trên quả đất, phương Bắc trời cho nhỏ bé chẳng khác một hạt bụi bay mà những thí dụ buồn cười trong thiên Thu thủy1 chẳng có gì kỳ lạ. Những việc này đều do học về trời mà biết được, mà căn bản là hoàn toàn dựa vào sự quan sát hiện tượng. Bởi vì trời đất đều là vật thực, ở trên trời là tượng, ở dưới đất là hình, nhưng tất cả đều là vật thực có thể trông thấy. Nếu nói số tức chẳng qua dùng để thí dụ. Đó là đại khái chỗ được thua hơn kém của môn học về trời xưa và nay vậy.

Phương Đông nói về trời đều lấy Trung Quốc, Ấn Độ, Ả Rập làm đầu, nhưng tất cả đều có chỗ sai lầm. Vì thế vua Khang Hy triều nhà Thanh đã đặc biệt dùng các giáo sĩ La Mã để sửa đổi phép làm lịch như Quang Lộc Đại Phu Thang Vọng2, Thái Thường Tự Khanh Nam Hoài Nhân3 v.v... khảo cứu sự sai lệch của năm tháng mà định lại thời tiết và nhất luật ban hành trong tất cả các xứ thuộc quyền thống trị của nhà Thanh. Những sách biên khảo trong thời kỳ này có Hồn thiên thuyết, Cổ kim giao thực viễn kính thuyết, Tinh đồ đại trắc, Giao thực lịch chỉ, Hằng tinh lịch chỉ, Bát tuyến biểu học lược tiểu biện, Trắc thiên ước thuyết, Tân lịch bổ chú giải hoặc, Vĩnh niên lịch pháp, Bất đắc dĩ biện binh giản nghi tổng tinh đồ v.v... đến mấy trăm bộ không thể hết. Tuy nhiên lúc bấy giờ những phương pháp mới hãy còn ít không cần nói chuyện. Nay lược thuật một vài phương pháp mới để thấy cái lớn trước còn những cái nhỏ nhặt xin miễn kể.

Ca Bạch Ni4 sinh ở nước Phổ, đọc sách đạo, làm linh mục. Ông có nhiều kiến thức độc đáo. Có thể nói khoa học phương Tây đạt đến chỗ tinh vi là do ông mở đầu mà ra. Ông viết sách nói về sự xoay quay quanh của các thiên thể, hoàn thành vào năm Gia Tĩnh thứ 9, ông lý luận lập ra phương pháp mới cho rằng quả đất là một hành tinh xoay quanh mặt trời, giáp một vòng thành một năm, và mỗi ngày nó tự xoay quanh, giáp một vòng chung quanh nó thành một ngày đêm, quỹ đạo của nó ở khoảng giữa sao Kim và sao Hỏa. Phàm những chòm sao mà ta thấy như đi chậm lại, đứng yên, đi ngược lại, biến mất, nhấp nháy đó là sự chuyển động của bản thân sao ấy và sự chuyển động của quả đất hai cái hợp lại mà sinh ra. Như trong một hình vẽ Thân là mặt trời, Giáp Ất Bính Đinh là quỹ đạo quả đất, Giáp Đinh Bính Ất là quỹ đạo các hành tinh ngoài, Dần Mẹo là bầu trời, quả đất tựa hồ như đi ngược lại theo chiều từ Mậu đến Kỷ. Những hành tinh khác cũng tương tự vậy. Quả đất và các hành tinh đều đi trong quỹ đạo của nó, cho nên thấy các ngôi sao như đứng yên rồi đi thuận, đi thuận rồi đi nghịch. Hiện tượng này cổ nhân đã nhiều đời suy nghĩ mà không giải thích được. Ca Bạch Ni bảo là do sự phối hội của hai chuyển động mà sinh ra. Chỉ nói một câu là đủ, không phải bàn luận phiền phức gì nữa. Nhưng lúc bấy giờ chưa chứng minh được. Sau độ Bạch Lạp Lý (?) đo được sự sai lệch về ánh sáng của các ngôi sao, Luật Đức (?) đo được sức hút ở xích đạo nhỏ hơn ở hai cực, Nại Đoan5 suy được nguyên lý vật rơi và chứng minh được sức hút, Khắc Bạch Nhĩ6 thì suy ra được ba nguyên tắc. Nhiên hậu cái thuyết quả đất xoay mới được rõ ràng như ban ngày không còn nghi ngờ gì nữa.

Nay đem một vài chứng minh nói sơ lược như sau:

Bạch Lạp Lý bảo rằng quả đất và ánh sáng đều đi thì sinh ra thị sai (Sự trông thấy sai lệch). Ý cho rằng quỹ đạo quả đất hết sức lớn khi ở hai điểm đối nhau mà nhìn một ngôi sao thì chắc chắn có góc sai. Nhân đó ông cùng với người bạn là Ma Lợi Ngưu (?) lấy ngôi sao thứ hai của sao Thiên Bổng cùng đo. Khởi sự đo vào năm Ung Chính thứ ba thì thường thấy sao Bắc có cái khuynh hướng nghiêng về phía Nam. Như trong hình vẽ quả đất ở tại Giáp thấy sao Ất như ở tại Bính. Giả như có góc sai thì quả đất tại Đinh phải thấy sao tại Mậu mà trái lại thì thấy tại Kỷ, tương phản với lý luận về góc sai. Do đó các ông mới nghi ngờ những dụng cụ dùng để đo đạc là không được chính xác, bèn kiểm tra chỉnh lại các dụng cụ rồi tiếp tục đo dạc, kết quả vẫn như trước. Từ tháng 11 đến tháng 3 sao sai về Tây Nam, từ tháng 3 đến tháng 11 sao lại sai về phía Bắc. Nếu đi vòng quanh một Tiểu Tùy Phụ, như hình vẽ Giáp là Bắc Cực, Ất là Thiên Tý tìm mãi không ra lý do. Một hôm tình cờ dạo thuyền đi chơi, cứ mỗi lần trở mái chèo gió nghiêng thì thấy lá cờ trên cột buồm lại hơi đổi phương hướng, đấy không phải là gió đổi phương hướng mà chính là thuyền đổi phương hướng, ông mới chợt hiểu rằng sự sai lệch Nam Bắc của ngôi sao là do sự biến đổi đường đi của quả đất hợp với sự chuyển động của ánh sáng mà sinh ra. Căn cứ lý lẽ này mà suy ra sự sai lệch của ngôi sao thì đều phù hợp với hình vẽ. Đường đi từ Giáp đến Ất trong khi đó ánh sáng đi từ Bính đến Ất. Hợp hai chuyển động lại cho nên ánh sáng từ Đinh đến Ất khi vào mắt ta thấy ngôi sao tại Bính như ở tại Đinh vậy. Cái phương hướng ánh sáng vào mắt ta tức là cái phương hướng mắt ta trông thấy ngôi sao. Cho nên trông thấy sao đều có góc sai vậy. Điều này chứng minh rõ ràng quả đất xoay quanh mặt trời. Đó là một vấn đề hết sức trọng yếu trong thiên văn học.

Vả lại sự truyền đi của ánh sáng do Lặc Mặc Nhĩ (?) đo sự chuyển đi của sao Mộc về phía mặt trăng lâu lắm mới biết được. Bởi vì sao Mộc khi nguyệt thực mới khuyết rồi sáng trở lại, với khi thực hiện đo đạc, thường hai kết quả không phù hợp nhau, có khi chậm vài phút, có khi sớm vài phút. Tìm nguyên nhân thì thấy rằng đó là do khoảng cách giữa quả đất và sao Mộc xa hay gần mà ra. Khi khoảng cách xa thấy chậm, khi khoảng cách gần thì sớm. Nhân đó hiểu ra lý truyền đi của ánh sáng. Như trong hình vẽ, Bính là quỹ đạo sao Mộc, Giáp Ất là quỹ đạo của quả đất. Khoảng cách hai bên ước chừng năm ức năm ngàn dặm. Khi quả đất đi đến điểm Giáp thì sẽ cách sao Mộc xa hơn khi nó ở điểm Ất. So sánh thì hơn ước chừng năm ức năm ngàn vạn dặm. Nếu giả thuyết ánh sáng không truyền đi thì quả đất dù ở Giáp hay ở Ất trông nguyệt thực đều như nhau không có thời sai (Sự sai lệch nhau về thời gian), thế mà thời sai đo được là 16 phút 1/4. Theo đó thì biết ánh sáng truyền đi rất nhanh, một truyền đi ước chừng ba ngàn ba trăm tám mươi lăm vạn dặm, một giây truyền đi được hơn năm mươi sáu vạn bốn ngàn dặm, 1/8 giây có thể đi giáp một vòng quả đất. Xem thế thì biết rằng ánh sáng cũng là một vật chất trong vũ trụ (Các sách có nói rõ).
____________________________________
1. Thiên Thu thủy trong Nam Hoa Kinh của Trang Tử dùng nhiều hình ảnh thí dụ rất ngộ nghĩnh để nói về cái lẽ tương đối của vũ trụ xem trời đất nhỏ bé như hạt tấm hạt gạo, hạt bụi mảy lông.
2. Tức Joannes Adam Schall von Bell, giáo sĩ người Đức, được Khang Hy phong tước Quang Lộc Đại Phu.
3. Tức Ferdinandus Verbiest, giáo sĩ người Bỉ, được phong tước Thái Thường Tự Khanh.
4. Ca Bạch Ni tức Copernic.
5. Nại Đoan tức Isaac Newton.
6. Khắc Bạch Nhĩ tức Johanrn Kepler.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #229 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2011, 01:14:43 pm »


Năm Khang Hy thứ 5, Nại Đoan ngẫu nhiên ở trong vườn thấy một trái cây rơi xuống. Nhân đó ông suy nghĩ rằng mặt trăng chắc cũng vì sức hút của quả đất nên mới xoay quanh quả đất mà không đi thẳng vào không gian. Nếu quả mặt trăng như vậy thì các hành tinh xoay quanh mặt trời cũng theo lý lẽ như vậy. Từ đó về sau ông hằng suy nghĩ suốt mười sáu năm, trước hết ông tìm sức hút trên mặt quả đất, thứ đến ông tìm tỷ lệ xem cách mặt đất bao nhiêu thì sức hút nhỏ đi bao nhiêu. Được tỷ lệ này rồi, ông đem ra ứng dụng đo lường sự chuyển động của mặt trăng. Nhân đó biết rằng sức hút của quả đất tại một điểm tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách từ điểm đó đến trung tâm quả đất. Vì vậy sức hút của quả đất đối với mặt trăng nhỏ hơn 1/3.600 sức hút đối với mặt đất. Giả thiết mặt trăng đi từ Giáp đến Ất, có một vật rơi từ Giáp đến Mậu, cả hai ắt sẽ đến cùng một lúc. Đo đoạn thẳng cung Giáp Ất, nếu Mậu Giáp nhỏ hơn mặt đất sức hút của đoạn thẳng cung phải được 1/3.600, như thế là chứng minh được sức hút. Theo đó thì biết rằng đoạn thẳng của một vật trên đường đi vòng cung của mặt trăng trong thời gian một phút, tương đương với khoảng cách của một vật rơi đến mặt đất trong thời gian một giây. Do đó ông đã tìm được định luật về sức hút xa gần. Đây là định luật chung đối với các thiên thể vận hành, đem áp dụng với các hành tinh Sao Chổi đều phù hợp cả. Nguyên lý nói rằng: Nếu một vật gì từ quả đất ném ra không gian, không bị sức cản sẽ mãi mãi đi thẳng và giữ nguyên tốc độ. Nếu có một sức khác tác động vào thì sẽ đi lệch. Như hình vẽ giả thiết quả đất chỉ có một sức đẩy duy nhất làm cho nó chuyển động thì nó phải đi thẳng Giáp Ất. Nếu không có sức đẩy này mà chỉ có sức hút của mặt trời thì quả đất sẽ đi thẳng vào mặt trời.

Nhưng sức đẩy và sức hút của mặt trời cả hai đều tác động vào mãi không thôi cho nên cứ luôn luôn đi theo hình vòng cung không thay đổi, do đó mà thành ra quỹ đạo của quả đất. Quỹ đạo của các hành tinh cũng đều như thế, thường vẫn có tỷ lệ với sức hút lớn hay nhỏ, thể tích lớn hay nhỏ và khoảng cách xa hay gần đối với mặt trời. Sức hút cũng giống như ánh sáng, hễ phân tán thì nhỏ, tụ họp lại thì lớn. Cường lực của nó lớn hay nhỏ tỷ lệ nghịch với bình phương của khoảng cách xa hay gần. Giả thiết có một hành tinh cách mặt trời gấp đôi khoảng cách của quả đất đối với mặt trời thì sức hút của nó bằng bình phương 1/4 sức hút của quả đất. Vậy sức hút có hai nguyên lý: Một là tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách xa hay gần, hai là tỷ lệ thuận với thể tích lớn hay nhỏ. Nếu dùng sợi dây dài cột vào chân rồi múa, mặt trời là tay cho nên những hành tinh rất xa cũng đều thống thuộc vào mặt trời, mà các tinh cầu cũng đều có nguyên lý hút lẫn nhau. Sức hút ấy mạnh hay yếu do sự khác nhau bởi khoảng cách xa gần và thể tích lớn nhỏ. Nhưng khoảng cách giữa chúng với nhau không đồng đều nên sinh ra sự sai lệch không bằng nhau. Mặc dầu sự sai lệch ấy rất bé, tích lũy lâu cũng có thể suy ra con số được. Nhưng mà cái sai lệch sau lại bổ vào cái sai lệch trước, cái trước cái sau bổ đắp cho nhau thành ra có biến đổi mà vẫn không thấy biến đổi. Đó là chứng minh xác thực về sức hút. Thế nhưng nếu quả có một ngày nào đó các hành tinh tiêu diệt, điều đó chắc không phải vì sự vận hành của chúng sai lệnh ra ngoài quỹ đạo mà gây nên sự tan vỡ mà chỉ có tạo vật là làm chủ cái vận mệnh ấy mà thôi.

Lại nữa phàm một vật gì rơi xuống thì lúc bấy giờ có hai chuyển động: Một là rơi sinh ra bởi chuyển động hướng về tâm quả đất, hai là rơi theo vòng quanh tâm quả đất mà chuyển động đó vốn đã có trước khi vật chưa rơi. Thí dụ như thuyền đang đi, từ đỉnh cột buồm thả xuống một hòn đá chắc đá sẽ rơi xuống chân cột buồm nhưng hòn đá không cùng đi với chiếc thuyền nên không rơi kịp đến chân cột buồm. Phàm khi một vật gì rơi xuống thì sự chuyển động theo vòng quanh tâm quả đất làm cho vật ấy khi đạt đến mặt đất thì tự lăn vào. Như trong hình vẽ Tuất Tỵ là vòng xích đạo của mặt đất, Dậu là tháp đo, Bính là đường thẳng đứng của tháp với tâm quả đất, Dần là chót tháp, Thân tự xoay quanh một vòng theo quả đất do Mậu làm quỹ đạo. Giả thiết chân tháp là Ất đi đến Bính thì chót tháp phải đến Đinh. Vòng ở chót tháp lớn hơn vòng ở mặt đất cho nên đá đo chuyển động vòng quanh quả đất thành nhanh hơn. Vì quả đất xoay, mặt đất và tháp đều đi về phía Đông, đá từ chót tháp rơi xuống có tốc suất ở chót tháp nhanh hơn ở chân tháp, cho nên đá đến đất phải rơi tại phía Đông của Bính. Nại Đoan khi mới rõ nguyên lý này bèn đem thí nghiệm tại một hầm mỏ than sâu hai mươi sáu trượng, qua nhiều lần đều thấy lệch về phía Đông năm phân. Đó là chứng minh rất xác đáng về sự chuyển động của quả đất.

Ban đầu người xưa cho rằng các ngôi sao đều đi theo đường vòng tròn, trong đó quỹ đạo của sao Hỏa có hai tâm sai nhau rất lớn. Khắc Bạch Nhĩ, trong lúc sao Hỏa tiến thẳng về phía mặt trời thấy độ số đi của sao khác lạ mới nghĩ rằng phải chăng sao Hỏa đi theo đường bầu dục mà mặt trời là một trong hai tâm của đường bầu dục đó. Bèn đo đạc kỹ lưỡng thì thấy rõ ràng là các hành tinh đều đi theo hình bầu dục. Như hình vẽ, Giáp Bính Canh là quỹ đạo bầu dục của hành tinh Thân là tâm của mặt trời, vẽ hai đường Giáp Thân Ất Thân thì Ất Thân là một phần của diện tích hình bầu dục. Hành tinh đi từ Giáp đến Ất, thời gian và diện tích có tỉ lệ với nhau. Giả thiết thời gian đi qua là một tháng, rồi từ các điểm Bính Đinh Mậu Kỷ Canh của quỹ đạo hành tinh làm tâm vạch các đường thì thấy các diện tích giữa hai đường đều bằng nhau và hành tinh đi qua đều mất một tháng như nhau. Đó là một cách khám phá mới thứ nhất của Khắc Bạch Nhĩ. Quan sát từ đó mà biết được giao điểm về ngày giờ của Xuân phân, Thu phân, Hạ chí, Đông chí không đồng đều nhau là do quả đất đi theo hình bầu dục vậy. Nếu diện tích bằng nhau mà tốc độ của hành tinh chậm nhanh không bằng nhau thì một đoạn từ Giáp đến Ất là nhanh, các đoạn sau chậm dần. Cho nên hành tinh không phải luôn luôn đi với tốc độ bình thường. Đó là khám phá mới thứ hai của Khắc Bạch Nhĩ.

Người xưa đo thiên văn cũng biết rằng hành tinh không đi theo tốc độ bình thường nhưng không giải thích được. Đến Khắc Bạch Nhĩ mới có thể khảo cứu xác định dùng cách nào để phù hợp với tốc suất này. Có thể nói ông là người đã sửa đổi cách làm không nguyên tắc thành ra có nguyên tắc. Ông còn suy ra được các hành tinh cách mặt trời xa gần vì biết các hành tinh đều thống thuộc vào mặt trời. Bởi vì khi có hai hành tinh cùng vận hành thì tỷ lệ bình phương vận tốc của chúng có tỷ lệ với lập phương khoảng cách giữa chúng với mặt trời. Đây thực là một nguyên lý trọng yếu mở ra cho ngành thiên văn học. Lấy bốn suất tỷ lệ mà suy, đã biết khoảng cách của hai ngôi sao với mặt trời và thời gian một ngôi sao đi giáp một vòng thì sẽ biết được thời gian ngôi sao kia đi giáp một vòng là bao nhiêu. Xem thế thì biết rằng một hành tinh không phải thốt nhiên hiện ra, đi một cách vu vơ mà tất cả đều theo một nguyên lý hết sức chính xác. Lấy thí dụ như sao Hỏa cách mặt trời gấp bốn lần khoảng cách sao Thủy với mặt trời. Lập phương của bốn thành ra sáu mươi bốn, lấy khai phương của số này thì được tám, như thế vận tốc của sao Thủy gấp tám lần vận tốc sao Hỏa. Đường đi của ánh sáng ở quả đất cũng theo một nguyên lý này. Đấy là nguyên lý thứ ba của Khắc Bạch Nhĩ.

Những điều dẫn ra trên đây là để chứng minh cái thuyết quả đất chuyển động. Bộ sách Đàm Thiên này đều chủ trương nói về thuyết quả đất chuyển động và chuyển động theo hình bầu dục. Những điều trong bài tựa và trong sách này nói đến đều là những trưng dẫn chứ không phải do sáng kiến phát ra. Vì vậy trước tiên đưa các chứng minh ra để làm sáng tỏ. Nhưng nếu chỉ đọc lướt qua một cách sơ sài những chứng minh này, chắc chắn khó thông hiểu được. Trước hết phải đọc hết các bộ sách thiên văn từ trước đến nay, phân biệt chỗ hay dở đúng sai, rỗng lòng lý hội, như có đủ một thế giới mới riêng ở trong lòng, mài miệt nghiên cứu rõ ràng khúc chiết những thứ tự thuận nghịch của kinh vỹ thì mới có thể thấu triệt một cách minh bạch được. Những chứng minh này tuy chưa có chỗ sáng tỏ nhưng cần gì phải đợi có người vạch ra chỉ cho mới trông thấy. Nếu không thì xem mấy lời này nhiều người sẽ cho là viển vông bịa đặt.

Những ai có chí với dân tộc hãy nên tìm tòi nghiên cứu trong môn học này, do đó cũng có thể hiểu được đại cương những bí mật của trời đất. Nay nối thêm mấy điều để cống hiến những ai hâm mộ.

Mùa xuân năm Tự Đức 16.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM