Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:43:05 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Giáp ranh  (Đọc 92609 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #60 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:24:24 am »

   Chiến tranh quả là khắc nghiệt. Chỉ cách đây chưa lâu, Cường và nhiều người lính K10 chưa quên trận bom B52 địch ném xuống chân đồi Đức Mẹ. Sự thể bắt đầu từ thói chủ quan, khinh địch. Những người lính của trung đoàn 2 khi kéo quân về giáp ranh vốn quen ăn to, đánh lớn. Họ triển khai đội hình để chuẩn bị đánh Củng Cáp, áp sát vào tuyến phòng thủ chốt giữ vùng giáp ranh Phong Quảng, trong lúc chặt cây, đào hầm, xây dựng căn cứ đã bị tụi thám báo phát hiện. Tiểu đoàn 10 nằm trong khu vực trung đoàn 2 đóng quân, đã lãnh trọn một trận B52 rải thảm. Những anh tân binh trẻ lần đầu vào chiên trường mới hiểu thế nào là ném bom hủy diệt. Cánh rừng chạy dài vài trăm mét dọc theo con suối đá phút chôc cây to cả người ôm bị chém phạt ngọn, gãy cành, đánh bật gốc lên trời.

   Hầm hào sụt lở, sập đè chết người. Tiểu đoàn đang họp quân chính. Mấy chục con người từ Tư Nhất đến Hai Ngạn, Phong và các cán bộ trung đội, đại đội chui lên từ căn hầm mái bằng đã bị bom phá sập một góc. Bảy cán bộ trung đội, đại đội, trợ lý tiểu đoàn hy sinh trong loạt bom đầu tiên. Sáu anh trong số đó, sau chuyến về phép vội vã ở Quảng Bình cưới vợ đã hy sinh. Cường thoát chết. Anh chui ra từ giữa đám người bị thương, hy sinh. Máu chảy đầm đìa trên mặt. Một mảnh đạn nhỏ găm vào trán anh... Sau trận bom B52 đánh vào tiểu đoàn, mấy anh bộ đội mê tín đồn thổi “anh nào về phép cưới vợ là toi!”. Và đâm sợ, thành cái dớp. Giống như cái luật bất thành văn của các anh lính bộ binh K10 luôn bảo nhau: Những kẻ tham lam hám vàng, ra trận biển thủ đồ chiến lợi phẩm, sớm hay muộn dứt khoát là chết.

   Đã có lúc trong suy nghĩ của Cường bi quan, nghĩ ngợi lung tung cho rằng Hạnh đã quên anh, phản bội tình yêu của anh. Rồi Cường tự chất vấn lại mình: anh chẳng là gì cả để có thể so sánh với một cô bí thư xã xinh đẹp, dũng cảm đang được đề nghị xét tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua của khu. Rằng Hạnh còn tiến xa trên con đường công danh của cách mạng. Cường vẫn chỉ là một anh lính của K10. Cái chết có thể đến với anh bất kỳ lúc nào...

   Tổ chốt của trung đội 1 báo cho Cường rặng tre ngoài cánh đồng có người đang tiến vào khu vực của đại đội 1. Cường lay Hiển, chính trị viên phó đại đội đang ngủ say ở một gốc bụi dứa dại.

   Hiển lồm cồm bò dậy.

   - Có chuyện chi vậy “cụ”? Địch vô hả?...

   Cường đã kịp rút ống nhòm ra quan sát. Trời đã xế trưa. Lớp sương mù tan loãng để lộ ra rặng tre nối từ phía làng Hiền Lương ra ngoài đầm Trấu, thấp thoáng một bóng người.

   - Liên lạc hoặc trinh sát tiểu đoàn thôi. Địch chi chỉ có một người.

   Hơn mười phút sau, cậu Thiệu công vụ của Hai Ngạn xuất hiện ở cánh rừng thông.

   - Có chuyện chi vậy Thiệu?

   Thiệu bỏ chiếc mũ vải mềm trên đầu lau mồ hôi.

   - Thủ trưởng tiểu đoàn mời anh Cường có mặt tại sở chỉ huy lúc 12 giờ trưa để họp.

   Hiển hỏi Thiệu:

   - Tao không phải đi hả bay?

   - Mỗi ban chỉ huy đại đội chỉ cử một người. Anh Ngạn biểu vậy.

*

   Lúc Cường tới được nơi chỉ huy sở tiểu đoàn đóng quân đã thấy có mặt đông đủ Ban chỉ huy tiểu đoàn gồm Tư Nhất, Hai Ngạn, Thủy. Bát đại đội trưởng đại đội 3, Chương đại đội trưởng C1 cũng đã có mặt đang ngồi dưới bụi tre uống nước. Ở một góc căn nhà sập mái, Tư Nhất, Hai Ngạn đang ngồi cùng ông Sáu Hường, phó chính ủy trung đoàn và anh Năm Mậu, huyện đội trưởng. Bốn người chụm đầu xoay quanh một tấm bản đồ tác chiến, ngoài ra còn một số cán bộ tham mưu, chính trị, hậu cần, trinh sát từ bên cánh nam đi cùng ông Sáu Hường sang tham gia chiến dịch ngồi rải rác quanh, các nền nhà, gốc cây. Không ai giới thiệu, nhưng mọi người đều hiểu đây chính là Bộ chỉ huy chiến dịch của cánh bắc Huế mà người chỉ huy cao nhất là ông Sáu Hường.

   Cường bắt tay chào anh Thủy, Bát, Chương và ngồi ghé xuống một miếng táp lô được dùng làm ghế ngồi. Anh Bát mở nắp bi đông và rót trà vào một chiếc bát B52.

   - Trà phần mi. Tụi tao uống cả rồi.

   Không chờ mời lần thứ hai, Cường cầm bát nước uống một ngụm. Vị trà Blao pha đậm đắng nghét nhưng lại làm cho đầu óc tỉnh táo. Uống xong bát trà, Cường mới móc túi dù lấy ra cây thuốc Rubi vàng và hào phóng tặng cho mỗi người một bao.

   - Thằng Cường sang quá bay ơi! - Anh Chương giọng Nghệ vui ra mặt. - Mi kiếm mô ra thứ ni?

   - Bữa hôm kia đánh vô làng Tháp, tôi vào mua ở quán. Có cả sữa Ông Thọ nhưng chuyển cho thương binh hết cả rồi. Chỉ còn thuốc mời các anh hút tạm.

   Khói thuốc lá Rubi thơm quyến rũ khiến cho Tư Nhất không chịu nổi. Ông rời chỗ họp ra chỗ mấy anh cán bộ đại đội đang ngồi đợi lệnh.

   - Cho tao một hơi bay ơi...! Tụi bay sang hè.

   Cường bóc tút thuốc và đưa cho ông tiểu đoàn trưởng hai gói. Tư Nhất đút luôn một gói vào túi áo, đi vào chỗ họp.

   Ít phút sau, Tư Nhất đã quay trở lại cùng với Hai Ngạn. Ba anh cán bộ đại đội và các thủ trưởng tiểu đoàn ngồi cụm lại dưới bụi tre để trao đổi nhiệm vụ. Công việc rút quân đêm nay tưởng phức tạp nhưng đã có phương án giải quyết. Suốt những ngày qua, Bộ chỉ huy khu luôn theo dõi từng hoạt động của hai tiểu đoàn được giao nhiệm vụ thọc sâu về đồng bằng khuấy đảo hậu phương địch, hỗ trợ cho cán bộ, du kích các xã “tấn công và nổi dậy”. Sau những cuộc giao tranh, mọi ngả đường lên rừng đã bị các đơn vị quân ngụy bao vây, phong tỏa. Tình thế khó khăn của bộ đội, thương binh đang bị kẹt lại ở đồng bằng, cấp trên đã cho một đơn vị trinh sát soi đường qua tuyến phòng thủ của địch để về đón bộ đội lên rừng... Chỉ có điều, tất cả súng cối 82, đạn cối, đạn B41 đều được chôn lại, chờ dịp xuống lấy.

   Tư Nhất phổ biến nhiệm vụ cho từng đơn vị rồi nhìn Chương và mọi người.

   - Đại đội 4 về cho bộ đội đóng gói vũ khí. C1, C2 đúng 6 giờ tối xuất phát. Đại đội 1 chủ công, trong trường họp gặp địch phải nổ súng để mở đường máu đưa thương binh và đại quân lên. Đại đội 3 và tiểu đoàn K5 làm nhiệm vụ đánh chặn hậu. Các đồng chí rõ cả chưa?
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #61 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:26:34 am »

3

   Những hạt mưa rây trắng trên đồng đã làm cho Phong tỉnh lại. Dù đầu óc chưa thật tỉnh táo, chưa định hình anh đang ở đâu và tại sao lại nằm trên một vạt đất ướt sũng nước giữa trời mưa như thế này. Đã mấy lần, Phong định ngồi dậy nhưng không cựa được mình. Thân xác anh như thể dính liền vào đất. Đầu anh đau nhức. Chỉ các ngón tay của anh nhận biết những chiếc lá kiệu mềm mại và mùi hăng hăng của nó ở ngay cạnh mình. Phong cố mở to đôi mắt nhưng dường như trời đất, cây cỏ đang bị phủ sau một lớp kính mờ. Anh giơ thử bàn chân trái, còn thấy quậy cựa được mấy đầu ngón chân. Đến chân phải thì chịu. Khẽ cựa động đau đến tận óc. Không còn hồ nghi gì nữa, anh đang nằm giữa một ruộng kiệu. Cách đấy chỉ vài ba luống đất hàng cây nưa mọc cao ngang thắt lưng. Gió thổi, những lá nưa kêu lật phật.

   Thời gian dần trôi, trí nhớ của Phong từng chút phục hồi. Phải rồi... Trận đánh... Tiếng mìn nổ... Ai đó còn đạp lên cả người anh, hất xuống ruộng... Đại đội 2 đi đâu cả rồi? Bây giờ đã là ban ngày, hẳn những người lính cuối cùng đã rút lên rừng. Phong đang nằm phơi mặt giữa cánh đồng trồng màu hoang lạnh, nếu cứ nằm liệt ở đây, sớm muộn gì anh cũng sẽ bị địch bắt.

   Phong hít một hơi thở sâu lấy sức và cố lật úp mặt xuống đất. Chiếc xanh-tuya-rông có bi đông nước và khẩu K54 vướng, cộm ở cạnh sườn. Phong luồn tay xuống cố đẩy chiếc bi đông và khẩu súng lên bụng. Tiện tay anh bứt luôn một nắm lá kiệu đưa lên miệng nhai. Mùi lá kiệu hăng, ngái nhưng có lẽ còn dễ nuốt hơn món cháo nấu bằng cọng môn ngứa ở Khe Điên. Hầm cọng môn cả đêm, tra thêm vài hạt muối, ngứa rát họng, đói vẫn cố nuốt. Nhai hết nắm lá kiệu Phong thấy người tỉnh táo. Anh lấy sức một lần nữa vật nửa người úp xuống mặt đất. Thành công rồi! Cái chân phải bị thương đã được anh chuyển sang bên trái. Động đến cái chân, đau đến tê dại. Từ đầu gối đến bàn chân da thịt nhầy nhụa lẫn với máu đã đen đặc, đông cứng. Chiếc áo vải màu xanh Tô Châu và chiếc quần đùi màu cứt ngựa của Phong dính bết bùn đất. Anh chỉ có một ý nghĩ, bàng mọi giá phải bò cho được tới vạt đất trồng nưa. Những cây nưa sẽ che chắn cho Phong, còn hơn là nằm phơi lưng trên vạt ruộng kiệu. Phong còn nhận ra cả dải đất cao, cách chỗ anh nằm chỉ hơn trăm thước. Đấy chính là con đường sắt nơi đại đội 2 bị vấp vào ổ phục kích đêm qua. Phía sau con đường chưa tới năm chục mét đã là đường số 1. Bên kia đường là hàng rào bùng nhùng bảo vệ chi khu Hương Trà. Một trận đánh thất bại. Phong chua chát nghĩ. Bộ đội chỉ bắn được có mấy trái đạn cối 82 vào căn cứ, còn các mũi bộ binh đã bị địch đánh chặn ngay từ vòng ngoài. Nổ súng chưa tới hai phút, Phong và tổ trinh sát đã bị dính những trái mìn claymo quân ngụy gài ngay trên con đường sắt hướng ra ngoài cánh đồng.

“Tích tắc! Tích tắc...”. Chiếc đồng hồ thủy quân lục chiến mặt to của Mỹ vẫn còn trong tay Phong. Nó chưa chết. Tiếng động phát ra từ chiếc kim giây nghe rõ âm thanh “tích tắc! tích tắc” đều đặn. Từ vạt mộng kiệu, một con nhái nhảy tới ngồi trên cánh tay Phong, như ngồi vào một mô đất. Con nhái có vệt lưng xanh, giương đôi mắt nhìn trời. Chỉ đến khi anh khẽ chớp mắt, con nhái mới co cẳng nhảy vào phía ruộng trồng nưa. Đã hơn 10 giờ trưa. Phía làng Phú Ổ, có ba tiếng súng bắn phát một vang lên dấu hiệu cho thấy trong làng có địch. Lát nữa nắng lên, thể nào chúng cũng ra kiểm tra ngoài cánh đồng gần nơi nổ súng. Nằm giữa rừng kiệu có khác nào Phong chờ địch đến bắt sống.

   Phong lết từng đoạn chậm chạp. Mỗi lần lấy sức dịch chuyển là một lần cơn đau thấu óc. Phải cố thôi, nếu không muốn bị địch bắn chết. Không thể đùa với những tay lính nghĩa quân, dân vệ ở địa phương khét tiếng ác ôn ở vùng này. Bùm! Một phát vậy là xong không cần biết tên Việt cộng trước mặt còn sống hay đã chết. Chúng chỉ cần đếm xác, báo công lĩnh thưởng. Phải mất hơn một giờ đồng hồ Phong mới đi qua được quãng đường chưa tới hai chục thước. Một vạt ruộng trồng kiệu bị giập nát, bẹp gí hằn theo vết bò của Phong. Máu tiếp tục chảy ra từ vết thương nhễu thành vũng trên đám lá kiệu. Vào tới được ruộng nưa, Phong lăn mình xuống rãnh đất. Đầu óc anh quay cuồng, mắt tối sầm, anh ngất đi không hay biết gì nữa.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #62 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:27:42 am »

*

   Có hàng chục cái vòi của con bạch tuộc quấn lấy cơ thể Phong. Những cái vòi dài, gai mọc lởm chởm siết chặt lấy đôi chân, cánh tay anh níu chặt vào cái mồm đen ngòm của nó. Lẩn quất trong rừng san hô dưới đáy nước sâu thăm thẳm còn có nhiều con con bạch tuộc khác đang bơi chờn vờn bên ngoài, thỉnh thoảng tia ra một cái vòi dài chọc vào mắt, vào mũi anh. Phong muốn hét to mà không được, một chiếc vòi dài đen trũi đang siết lấy cổ họng. Nhớt dãi đỏ ngòm, tanh ngầu từ mồm con bạch tuộc nhễu xuống mặt Phong. Bên ngoài xa, trong biển nước xanh hàng trăm, hàng ngàn ánh lân tinh, thấp thoáng bóng những con rắn biển chờn vờn bên ngoài chỉ chực xông vào Phong xâu xé. Chúng lượn lờ, lấn quẩn nấp sau những cánh rừng san hô đang bị nhuộm đen bời chất độc của con bạch tuộc khổng lồ xả ra.

   Có một tiếng động lớn khiến cho những chiếc vòi của con bạch tuộc hơi nới rộng ra. Từ trong cõi thẳm sâu, Phong nghe có tiếng người lao xao. “Thưa thượng sĩ! Có cả thảy sáu xác cộng quân. Một thằng mất cả đầu! Anh em ơi..“Đây nữa... Thêm một đứa con gái, con này chắc là Việt cộng cỡ bự đây. Nó có khẩu súng ngắn... Chu cha! Việt công cũng đẹp dữ ta. Bắt sống được nó thì hết ý... !”. “Tụi bay rà soát cho kỹ trong vạt ruộng kiệu. Có vết máu trên bờ cỏ nè”. “Roạt! Roạt! Roạt...”. Như là tiếng dao chém cây. Một tiếng kêu rú lên: “Còn một tên bay ơi! Nó trốn trong ruộng nưa”. “Coi chừng đó tụi bay, có lựu đạn gài.”.

   Phong nhìn rõ cái đầu to tướng của con bạch tuộc. Nó đang hướng thẳng về phía anh. Lẩn khuất sau hàng trăm cái vòi tua tủa quanh cái miệng đỏ lòm là hai con mắt tròn đen dữ tợn. Chỉ vài giây nữa thôi, anh sẽ bị con bạch tuộc nuốt gọn vào trong cái miệng rộng toác, nhơ bẩn đầy dãi nhớt.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #63 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:28:54 am »

*

   Ánh nắng chói chang hắt vào làm cho Phong lóa mắt. Anh cố nhấc tay để che bớt ánh nắng. Một cái đạp mạnh vào ngực, anh he hé mắt nhìn thấy một gương mặt rám nâu, đầu đội mũ sắt, họng súng AR15 chĩa thẳng vào mặt.

   - Thằng Việt cộng ni tỉnh lại rồi bay ơi! Hắn chưa chết! Nó mở mắt rồi nè.

   “Vậy là mình chưa chết. Bị địch bắt”. Ý nghĩ ấy vụt thoáng trong đầu Phong. Muốn yên thân lúc này, tốt nhất là nhắm mắt. Lát sau, một thằng lính ngụy tới túm vào sợi dây dù dùng để cột tay và người Phong lôi xềnh xệch trên nền đất chẳng khác nào một con heo đã bị buộc chặt bốn chân kéo tới dưới một gốc cây bàng.

   - Có cần cởi trói cho nó không, anh Hai? - Gã lính ngụy hỏi tên chỉ huy đi theo sau.

   - Nó gãy chân, máu ra như ri, sắp toi đến nơi rồi... Trói làm gì... Vô căng tin lấy ly bia bay. Tao khát cháy cả họng.

   Những tiếng đế giày giẫm lạo xạo trên cát. Một con nhặng xanh nghe mùi máu tanh à à bay qua bay lại đậu vào mặt Phong. Anh mở mắt. Trong khoảng đất rộng san sát các dãy nhà lô cốt, công sự, hàng rào bùng nhùng dây kẽm gai, ụ súng. Một tháp nước cao bên cạnh một đài quan sát. Chẳng còn ngờ gì nữa đây chính là khu căn cứ Tứ Hạ. Chiếc đồng hồ thủy quân lục chiến của anh bị tụi lính lột mất rồi. Chiếc xanh-tuya-rông có khẩu súng và bi đông nước cũng mất. Quấn quanh người Phong là sợi dây dù tụi ngụy dùng để kéo anh ra khỏi chỗ núp vừa đề phòng có lựu đạn gài. Ngoài khoảng sân trải nắng, xác những người lính giải phóng hy sinh nằm xếp một hàng ngang. Không một mảnh chiếu phủ mặt. Những anh lính của Công trường V khi chết cũng chỉ có một manh quần đùi và tấm áo vải Tô Châu, tay áo xán cao. Ở xa, Phong không nhận rõ mặt một ai trong số họ, nhưng chắc chắn đây là những người lính trinh sát của trung đoàn và của đại đội 2 cùng bị trúng mìn với anh lúc mật tập vào căn cứ.

   Bây giờ thì Phong nhớ ra rồi. Lúc tiếp cận tới sát đường ray xe lửa, tổ trinh sát bám đường dừng lại hơi lâu. Phong và Hải, đại đội trưởng đại đội 2 đã đi lên phía trước coi thử ra sao mà đội hình hành quân dồn cả lại. Chưa đến điểm tập kết để triển khai đội hình. Từ đầu làng Liễu Thượng trở ra sát đường lộ, cơ sở báo không có địch, các mũi tiến quân bám theo trục đường làng. Lâu lâu, địch từ chi khu Hương Trà bắn lên trời vài ba quả pháo sáng. Ánh sáng nhập nhòa, bộ đội lại dạt vào vệ cỏ bên đường ngồi chờ ánh pháo sáng tắt mới đi tiếp.

   Phong và Hải gặp tổ trinh sát bám đường cách đường săt trăm mét. Ngọc trinh sát ghé vào tai Phong nói nhỏ: “Không có địch, thủ trưởng ạ!”. Phong chỉ báo: “Nắm cho chắc để bộ đội tiếp cận đường xe lửa!”. Khi toàn bộ trung đội 1 của đại đội 2 triển khai đội hình, áp vào đường xe lửa cũng là lúc hàng chục trái mìn của địch phát hỏa. Chỉ kịp nhìn thấy một vệt chớp sáng xanh Phong đã bị hất văng đi.

   Ngay gần xác mấy người bộ đội hy sinh, chiến lợi phẩm quân ngụy thu được còn có những khẩu AK, B40, B41 cùng với đám gùi, ba lô xếp một đống. Cách đấy một đoạn là hai dãy nhà tôn, mái thấp chạy dài nằm bên trong một bờ hào công sự cao hơn một thước được đắp bằng bao cát. Chếch xa một đoạn hướng về phía đường lộ là cổng ra vào căn cứ, chiếc cổng cao ngạo nghễ cắm một lá cờ vàng ba sọc đỏ. Cánh cổng mở rộng, những chiếc xe Zip, xe tải ra vào liên tục rồi rẽ vào khu nhà xây gạch táp lô, bao cát chất vây quanh. Phong đoán đó là khu sở chỉ huy chính của căn cứ Tứ Hạ. Anh nhìn thấy cả những nòng pháo của những chiếc xe tăng chĩa lên vượt quá dãy hàng rào dây thép gai ngăn cách với khu trại lính phía bên này. Một chiếc máy bay trực thăng bay lạch phạch tới căn cứ. Bụi đất cuốn lên, chiếc trực thăng hạ xuống khu chỉ huy. Trong một hoàn cảnh éo le, Phong mới có dịp nhìn tận mặt khu căn cứ Tứ Hạ. Địch bố phòng nhiều tầng, nhiều lớp. Hèn gì chưa bao giờ bộ đội có thể tổ chức một trận đánh lớn vào đây!

   Mùa mưa năm 1969, tiểu đoàn 10 đã một lần thử sức đánh hỏa lực vào căn cứ Tứ Hạ. Phong và tiểu đoàn trưởng Triều cùng với cánh trinh sát của tiểu đoàn đã mấy lần đi trinh sát bám căn cứ Tứ Hạ. Anh và tổ trinh sát sau mấy đêm gỡ mìn mới vào tới được hàng rào thứ hai. Hơn nửa tháng trời, “cha con” chỉ đi hết giáp vòng ba mặt của căn cứ. Mặt thứ tư giáp đường lộ, bao bọc bên ngoài là khu dân cư, khu gia binh, nhà nào cũng có người đi lính đành chịu không tới được. Cơ sở mật cung cấp cho huyện một tấm sơ đồ nhưng không đủ chi tiết. Căn cứ Tứ Hạ là yết hầu cửa ngõ vào Huế từ hướng bắc trên quốc lộ 1A. Sau Tết Mậu Thân, địch đã xây dựng ở đây một trận địa pháo, có sân bay trực thăng dã chiến, có nơi tập kết của một đại đội tăng M113 và ba đại đội bộ binh phòng thủ căn cứ Tứ Hạ.

   So sánh tương quan lực lượng, bộ đội tiểu đoàn 10 không đủ xung lực bộ binh để đánh tập kích vào căn cứ. Lính đang kiệt quệ vì đói, vì lo chống càn, trong lúc Mỹ đang đổ quân càn mạnh ở miền Tây. Lệnh trên yêu cầu K10 phải nổ súng để hỗ trợ cho các trung đoàn chủ lực đánh Mỹ. Ban chỉ huy tiểu đoàn 10 hình dung đây là một căn cứ lớn. Cả tiểu đoàn tập trung được 3 khẩu cối 82, 14 khẩu B41, 22 khẩu B40 tấn công vào căn cứ Tứ Hạ. Tiểu đoàn ĐKB hỗ trợ cho trận đánh bằng cách bán năm phát ĐKB vào khu Mang Cá... Trận đánh tập kích bằng hỏa lực diễn ra chớp nhoáng không đầy ba mươi phút. Chỉ đủ tiêu hao của địch hai chiếc trực thăng, một xe tăng, phá sập kho hậu cần và vài chục tên lính bộ binh chốt ở vòng ngoài. Đêm ấy là ngày 3 rạng 4 tháng 9 năm 1969. Lúc về tới căn cứ, mọi người còn chưa kịp tắm giặt, thay áo quần, ông Đang - bí thư đảng ủy tiểu đoàn đã báo tin: Đài ta đưa tin “đêm qua Bác Hồ đã qua đời.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #64 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:30:09 am »

   Ai có ngờ, bây giờ Phong đang bị chúng nhốt tại căn cứ Tứ Hạ.

   Vết thương của Phong ở chân khá nặng. Không biết người lính ngụy nào đã dùng cây nẹp gỗ băng bó cái chân gãy của anh. Máu và thuốc đỏ thấm ra lần băng. Anh còn bị thương ở đầu, băng quấn quanh đầu. Hình như tụi y tá ngụy còn tiêm thuốc cho anh, một bên bắp tay cũng nhoe nhoét thuốc đỏ để tẩy trùng sau mũi tiêm kháng sinh, có lẽ nhờ vậy mà cái chân bị thương không thấy đau nhức nữa. Chiếc áo vải xanh Tô Châu của Phong đã bị địch lột ra từ bao giờ, trên người Phong giờ chỉ còn độc mỗi chiếc quần đùi và chiếc áo lót cổ vuông của lính.

   Từ trong dãy nhà tụi lính đồn trú, một người lính ngụy tay cầm khẩu súng tiến ra thẳng chỗ Phong đang ngồi. Anh ta cúi xuống hất cằm Phong:

   - Có khát nước không?

   Phong khẽ ngúc ngắc cái đầu ra ý muốn uống nước. Người lính ngụy rút chiếc bi đông Mỹ đeo cạnh sườn, mở nắp ghé chiếc bi đông vào miệng Phong. Nước vào tới đâu biết tới đấy. Anh mở to mắt nhìn người lính ngụy, như ý cỏ cảm ơn.

   - Mi người quê mô? Đi giải phóng lâu chưa? - Người lính ngụy hỏi.

   Phong nhìn anh ta giây lát và trả lời:

   - Quảng Bình. Vài năm rồi...

   - Chỉ huy hay lính?

   - Y tá đại đội!

   - Đ. mạ! Tù binh cộng quân bắt được đứa mô cũng đều khai không là y tá thì nấu ăn... Vậy đứa mô bắn súng hỏa tiễn...

   Phong giả như mệt mỏi, nhắm mắt. Anh nghe thấy tiếng bước chân lạo xạo của người lính đi trên nền cát quay trở lại dãy nhà tôn. Anh ta để lại cho Phong chiếc bi đông nhựa của Mỹ đựng nước ngay bên cạnh.

   Hơi nóng ngột ngạt về chiều càng trở nên oi nồng. Lính ngụy trốn nắng chui cả vào trong dãy nhà tôn, trong các lô cốt chui sâu xuống đất. Chỉ còn lại những tên lính trong phiên gác ngồi thu lu tại các ụ súng ở sát ngoài hàng rào phía xa. Người lính ngụy đã cho Phong uống nước còn trở lại chỗ anh một lần nữa mang theo tô cơm gạo sấy, có con cá nục kho và vài cọng dưa môn. Và bảo:

   - Chiều có xe đưa mi vô Huế! Thế là thoát chết con ạ... Có ra đảo đi tù cũng còn sướng hơn ôm súng đi đánh nhau.

   Phong giả bộ nhìn người lính ngây ngô, không hiểu.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #65 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:30:55 am »

*

   Ba chuyến xe GMC có lính áp tải chạy từ Quảng Trị vào đến Tứ Hạ đã hơn 5 giờ chiều. Trời lất phất đổ mưa. Phong được những người lính ngụy cáng ra ngoài ngã ba đường. Chiếc xe chỉ dừng lại hai phút, họ chuyển anh lên thùng xe. Đoàn xe nhằm hướng Nam đi tiếp, cỏ một xe chở đầy lính, súng ống gọn gàng chạy phía trước dẫn đường.

   Trên chiếc xe GMC chở Phong đã có sẵn gần hai chục người. Họ ngồi chen chúc trong thùng xe, bị trói hai tay. Người nọ và người kia được nối với nhau bằng một sợi dây dù bản rộng. Phong bị thương gãy chân, nên không bị trói. Thùng xe chật, anh không thể nằm phải ngồi dựa lưng vào thành xe. Hầu hết gương mặt những người bị bắt đều ủ rũ. Nhìn qua thấy ngay họ đều là bộ đội giải phóng. Một vài người bị thương ở tay, ở đầu. Băng quấn quanh vết thương, ở góc thùng xe phía trong còn có hai cô gái. Họ khác với những anh bộ đội là mặc quần đen, áo vải xanh... Một trong hai cô bị thương gãy tay. Dải băng trắng đeo lên cổ. Cả hai cô đều cúi mặt, hình như có người khóc. Thấy Phong lên, nhưng không một ai hỏi anh ở đơn vị nào. Họ ngại hai người lính ngụy đội mũ sắt quân cảnh ngồi ở hai cái ghế nhựa cao canh chừng chĩa súng ra ngoài đang phì phèo điếu thuốc.

   Từ căn cứ Tứ Hạ vào Huế chỉ mười bảy cây số. Phòng đã nhiều lần cùng với bộ đội vượt qua đường 1 để vừa đánh giặc vừa mua gạo ở các ấp Thanh Lương, Văn Xá Làng, Bầu Tháp, An Hòa. Về vùng sâu bao giờ cũng có cán bộ địa phương, du kích, biệt động huyện dẫn đường. Đoàn quân đi đồng bằng xuất phát từ cửa rừng khi trời mờ tối về đến làng đã khuya. Để tránh những nơi địch hay gài mìn, giăng quân phục kích, bộ đội phải cắt băng qua đường lộ ở những nơi địch sơ hở nhất. Tổ trinh sát bám đường lộ, nếu không có địch bao giờ cũng phải trải lớp ni lông để người vượt đường không để lại dấu chân. Bây giờ, Phong đi trên đoạn đường rất quen thuộc này giữa ban ngày, trong một hoàn cảnh trớ trêu - tù binh của quân ngụy trong một trận đánh không cân sức.

   Phong tựa đầu vào thành xe. Mắt anh dõi theo qua khe gỗ hẹp để nhìn những xóm ấp vùng Hương Thạnh, Hương Thái, Hương Sơ trong buổi chiều tàn... Những ngôi nhà dân im lìm, rất ít bóng người qua lại... Đây là xóm mới Văn Xá Trung nằm kẹp giữa một bên là đường lộ, một bên là đường sắt. Bờ mương dẫn nước xây bằng xi măng dẫn vào ruộng. Ba năm trước, đại đội 3 của Phong về Xóm Mới cùng với du kích Hương Thạnh đã đánh nhau với đám lính bảo an một trận ngay trên bờ mương dẫn nước. Anh Thẻo xã đội trưởng, người chuyên dùng khẩu cối cá nhân của ngụy đã hy sinh ở đấy... Kia là ấp Văn Xá Làng. Bộ đội khi tiếp cận vào làng thường bám men theo tràn ruộng để tránh con đường trục chính, tụi dân vệ ban đêm hay gài mìn. Còn đây là quán mụ Chiện, một cơ sở của Tâm lúc em còn sống. Đi vài trăm mét nữa đã nhìn thấy cây bông đồng ngay đầu ấp Bầu Tháp... Vạt thông non sau ấp nhìn ban ngày xơ xác, thưa thoáng. Nhưng đấy là nơi Ban chỉ huy đại đội đặt khẩu cối 60, trong một trận đánh tập kích tiêu diệt một trung đội nghĩa quân năm nào... Ngước mắt lên phía tây, Phong chạm ngay vào đỉnh Hòn Vượn, Đồi Tranh, Một Mái, Động Ngang. Nơi ấy là căn cứ vùng giáp ranh của các đại đội bộ binh tiểu đoàn 10, của huyện, của xã. Bây giờ Hòn Vượn đã trở thành căn cứ quân sự, phòng thủ mạnh của địch án ngữ vùng giáp ranh Hương Trà. Căn cứ có nhiều lớp hàng rào, bãi mìn, có xe tăng, có trận địa pháo... Vào giờ này, chiều qua Phong và đại đội 2 còn ngồi ngoài bãi đá cửa rừng để chuẩn bị xuất quân xuống đồng bằng. Ai ngờ, lúc này anh lại đang ngồi trên xe tù binh của ngụy để về Huế! Những người lính của đại đội 2 trở về sau trận đánh chấc nghĩ anh đã chết như những người lính khác, mất xác ở đồng bằng.

   Đoàn xe chở tù binh vào tới cầu An Hòa chạy chậm lại. Ở đây ngay trước đầu cầu cách chừng hơn trăm mét địch giăng một hàng rào dây kẽm gai bùng nhùng chặn ngang đường. Liền kề là bốt gác, có lính đứng điều khiển cây rào chắn mỗi khi có xe qua lại. Nhìn thấy xe chở lính theo sau là ba chiếc xe chở tù binh, cây sào sắt chắn ngang được nhấc cao.

   Ánh sáng hoàng hôn ngả dần sang màu tro. Thấp thoáng qua kẽ lá dừa, ánh đèn đỏ nhấp nháy trên đỉnh tháp cao của thành phố Huế. Những đêm đi về đồng bằng quanh các xã ven đô Huế, Phong và những người bộ đội K10 nhiều lần nhìn thấy ngọn đèn ấy. Ngọn đèn đỏ trong thành phố giúp cho những anh bộ đội chua thuộc đường định hướng đi về các làng. Càng vào gần thành phố, nhà dân đông hơn. Những ngôi nhà của người dân Huế vùng ngoại thành thường thấp, nhỏ, mái lợp tôn, lợp ngói ta, có hàng hiên hướng ra ngoài đường hoặc nằm lọt thỏm giữa những khu vườn rộng dưới bóng những cây vú sữa, cây dừa... Có một vài quán tạp hóa vẫn đỏ đèn. Ở một quán bán đồ ăn, có những người lính ngụy, hẳn là đám lính địa phương đang ngồi nhậu lai rai... Một chiếc xe nhà binh chạy ngược chiều, rú còi inh ỏi...

   Phong không hình dung ra chuyện gì sẽ đến với anh trong những ngày tới...
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #66 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:32:29 am »

4

   Có ba tiếng gõ nhẹ trên đầu, một lát sau ánh sáng lùa vào căn hầm. Giọng thím Tư Nhiên rành rẽ:

   - Lên đi con. Quân thằng Trương rút hết cả rồi...

   Hạnh sửa lại áo quần, đeo súng. Cô đu người vào miệng hầm nhảy lên. Trên giường kê ở góc nhà đã nhìn thấy thím Tư dọn sẵn mâm com, úp lồng bàn.

   - Nóng ghê gớm, thím Tư à! - Hạnh nói. Cô bước tới lu nước đặt ở góc nhà múc nước vã lên mặt.

   Thím Tư quay ra nhà ngoài đi xuống bếp một lát rồi bưng lên tô chè đậu xanh đưa cho Hạnh.

   - Ăn chè trước cho mát ruột, lát nữa hãy ăn cơm.

   Hạnh bưng tô chè, cô ăn rất tự nhiên.

   - Có chuyện chi thím nói thử coi.

   Thím Tư nói nhỏ đủ cho Hạnh nghe :

   - Nghe mấy thằng dân vệ kháo chuyện, đêm qua bộ đội về đánh chi khu, hai bên đánh nhau ở đường rày, súng nổ dữ lắm. Bộ đội có người hy sinh.

   Hanh bỏ ngang bát chè.

   - Hèn gì lúc con và đội anh Ngọc về tới Kim Long nghe súng nổ dữ dội. Chắc bộ đội C2 bị rồi. Thím Tư nè! Thím thu xếp công việc, lên ngay quán mụ Chiện giúp con được không thím?

   - Được. Tao khóa cửa, khóa cổng thả mấy con chó ra. Có chuyện chi, con chui xuống hầm là xong. Gặp mụ Chiện nói răng?

   - Cho người lên thăm dò tình hình trên quận. Coi thử bộ đội C2 về đánh chi khu ra sao. Nắm cho kỹ địch, nếu ở đấy êm, làm ám hiệu tối nay con về... Nhớ chưa thím?

   - Nhớ rồi.

   Nhà thím Tư có hai con chó thiệt dữ. Lấy cớ nhà chỉ toàn đàn bà con gái, lại là vợ góa con côi của ông ấp trưởng, có con trai là sĩ quan cảnh sát ngụy nên đám tề ngụy ở địa phương sợ thím Tư một phép. Xét về mặt họ hàng thân thích, thím Tư là bà con bên nội nhà Hạnh. Sau năm bảy mươi, phong trào của xã Y gặp nhiều khó khăn. Những căn hầm bí mật Hạnh và những người cán bộ xã đào ở An Đôn, Văn Xá Thượng, Văn Xá Trung không thể sử dụng được nữa, Hạnh mới bàn với thím Tư bí mật đào một căn hầm ngay tại nhà. Địa thế của căn hầm này thoạt đầu tưởng khó sử dụng được. Nhà thím Tư ở gần chợ, gần đình nơi tụi nghĩa quân, dân vệ hay tụ hội, ban ngày con đường làng chạy trước cửa nhà đông người qua lại. Căn hầm đào xong lại tỏ ra lợi hại. Vào những lúc nguy biến nhất, Hạnh lại về đây trú ngụ trong những chuyến phải bám vùng sâu dài ngày; hoặc chỉ đạo đường dây trong thành phố. Ở huyện có lẽ chỉ có chú Sáu Thọ và một vài người nữa mới biết gốc tích thật của vợ chồng thím Tư. Ông ấp trưởng xã Y là một mắt xích quan trọng của cơ quan đường dây thành ủy Huế. Ông sống lặng lẽ trong ấp và tỏ ra mẫn cán trong hệ thống hành chính cơ sở của chính quyền ngụy nhưng kỳ thực ông là đảng viên Đảng Nhân dân cách mạng từ những năm 1960. Thím Tư trở thành đồng chí của chồng từ năm 1965. Theo sự phân công của trên, ông phải tạo cho mình một vỏ bọc thật chắc chắn để nắm tình hình địch từ trong ổ ruột của chúng. Cái chết của chú Tư cũng là bí ẩn của dân trong ấp. Chỉ nghe nói chú Tư bị Việt cộng sát hại vì tội làm tề điệp, tay sai cho chính quyền ngụy. Dân trong vùng ai cũng biết chuyện, sau chiến dịch Mậu Thân, bộ đội và Việt cộng đã bị quân Đồng minh và quân lực Việt Nam cộng hòa đẩy lên thấu rừng xanh, gia đình thím Tư được Chính phủ cộng hòa của ông Thiệu “tri ân”. Có lần chú Sáu Thọ đã nói cho Hạnh biết rõ về sự thật cái chết của chú Tư. Chính chú là người đã dẫn đường cho bộ đội đánh vào khu Mang Cá, giải phóng Lao Thừa Phủ đêm xuân Mậu Thân 1968. Pháo địch đã sát hại chú. Cấp trên xét thấy thím Tư chưa bị lộ và tính chuyện dài lâu đã không cho rút mẹ con thím Tư lên rừng... Xác chú Tư đã được đội biệt động đường dây thành phố do Huy Ngọc đảm nhiệm đưa lên bãi tha ma của làng và phao tin rằng: Tư Nhiên là ác ôn, bị “Việt cộng” sát hại.

   Chồng chết. Thím Tư buồn đau. Nhưng vốn bản tính là một người đàn bà sắt đá, cứng cỏi, có phần chanh chua, mọi chuyện tang tóc trong nhà qua nhanh. Thím chính thức trở thành người chỉ huy trong đường dây của Hạnh, nắm toàn bộ các cơ sở ở vùng sâu xã Y. Thằng Đạt, con trai của thím Tư là thiếu úy cảnh sát ở Tây Lộc, có nhà riêng ở ấp Xuân Hòa, một vài tuần đưa vợ con về thăm mẹ, đồng thời cung cấp những thông tin nghe ngóng được cho mẹ. Đã có người đề nghị thím Tư cho Quyên, cô con gái út của chú thím ra Bắc ăn học. Thím Tư nửa thương con, nửa sợ lộ, không chịu. “Học mô mà chả được. Chỉ sợ dốt và lười biếng. Cuộc sống này là trường học. Tao và cha mi học nớ chớ học mô”. Thím Tư bảo Hạnh vậy.

   Ngày Hạnh báo cáo huyện ủy đào hầm ở nhà thím Tư, chú Sáu Thọ đồng ý ngay. Chú bảo: “Ở được đó còn gì bằng. Chỉ sợ không đào được thôi. Lộ ra mất đầu cả đám”.

   “Chú khỏi lo. Hầm có rồi, cháu chỉ chờ xin ý kiến chú!”. “Con này giỏi thiệt ha! - Chú Thọ vừa la lên nửa ngạc nhiên, nửa trách móc… - Tụi bay mần khi mô, không báo chú hay!”. Khi ấy, Hạnh mới thưa: “Bữa thím Tư đập căn nhà cũ ra xây lại, nhân đào đất đá lộn xộn, thím Tư đã đào xong hầm rồi”.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #67 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:33:25 am »

   Căn hầm nhà thím Tư nối thông từ trong nhà ra sát mép con hói rộng. Cửa hầm thoát giấu trong một bụi tre gai dày. Chó mèo cho đến đám lính dần vệ tò mò hay đi đào chuột, bắn chim cũng không thể mò vào được. Khi cần thoát chỉ cần mở nắp, người có thể thoát xuống con hói chạy xuyên qua mấy xã đổ ra sông Kim Long. Địa điểm này chỉ khi nào thật cần thiết, căng thẳng, Hạnh mới sử dụng. Thím Tư thương Hạnh còn hơn thương con gái. Thím biết, Hạnh bây giờ không còn ai là người thân thích ruột thịt. Mỗi dịp Hạnh về trụ bám trong ấp là một dịp thím có điều kiện chăm sóc sức khỏe cho cô. Thím Tư cũng biết đứa cháu của mình còn là “cấp côi” của thím. Nhiều lúc thím chạnh lòng nghĩ: Con gái có lứa có thì. Cứ giặc giã, đánh nhau hoài thế này bao giờ Hạnh mới yên bề chồng con. Một đôi lần, thím Tư thăm dò, Hạnh chỉ cười cười: “Vội vàng chi thím. Ít năm nữa thống nhất, cháu lấy chồng chưa muộn”.

   Ít năm nữa là bao giờ? Thím Tư không nghĩ ra. Cứ gẫm từ cuộc đời thím mà ra, dài lắm. Ngày chia hai miền nam Bắc, lúc ấy thím và chú Tư mới cưới nhau chưa tròn năm. Chú Tư an ủi vợ: “Hai năm thôi mà em. Nam Bắc thống nhất, bộ đội đằng mình lại về. Em lại được gặp ba!”. Thím Tư đã chờ dài cổ để cho mong hết hai cái Tết, cha thím tập kết về gặp lại mạ con thím. Mạ mất, rồi chồng mất đã mười mấy năm vẫn chưa thấy được cái ngày vui sum họp.

   Cứ mỗi năm thím Tư lại trồng ở mảnh vườn sau nhà một cây dừa đánh dấu ngày cha thím rời bỏ mạ con thím ra Bắc. Mười chín cây dừa đã phủ kín mảnh vườn. Nhiều cây đã ra trái. Từ ngày chú Tư mất, vào ngày giỗ chú, cũng là tiết xuân, thím Tư lại lặng lẽ bưng về trồng một cây cau. Năm cây cau dàn một hàng ngang như những người lính bồng súng trước hiên nhà. Cây thấp cây cao trông hay đáo để. Nhưng ẩn chứa sau cái vẻ bề ngoài có phần hơi hoang tàng của thím là một nỗi niềm trắc ẩn, có lúc như điên loạn. Có những buổi chiều đám lính dân vệ kéo tới tụ hội ở quán nhậu, kế bên nhà thím bài bạc, rượu chè... Lấy cớ gây ồn ào, thím Tư ra chửi đám lính như tát nước vào mặt. Mấy tay dân vệ chịu không nổi kéo nhau ra đình. Câu chuyện về cha thím cũng đầy éo le. Ông Năm Thự - một giáo chức của làng, ra Bắc tập kết chỉ vài năm, cũng đã được lệnh trên trở về Nam. Ông không được về lại Trị Thiên mà tăng cường cho mặt trận Tây Nguyên. Ông giáo Năm Thự thương vợ, nhớ con cũng chỉ có thể gởi cho con gái một tấm hình nhỏ mặc quân phục quân giải phóng, đeo xắc cốt đen, đầu đội mũ tai bèo. Một hôm chú Sáu bí mật về ấp đưa cho thím Tư tấm ảnh chỉ nói mỗi câu: “Thay mặt cho huyện ủy, chú xin chia buồn với cháu. Anh giáo đã hy sinh ở mặt trận Tây Nguyên. Bộ chỉ huy Miền gởi chút kỷ vật này về cho cô Tư”. Thím Tư nghe tin đột ngột đã túm lấy áo chú Sáu nói không thành lời: “Chú Sáu... Tây Nguyên là ở mô... Mà sao cha tui chết?”. Năm ấy, Tư Nhiên vẫn còn sống hết lòng an ủi vợ nhưng nhiều đêm thím Tư khóc tấm tức thương cha. Làm cỗ cúng cha xong, ít bữa sau thím bỏ chồng, bỏ con đem theo nửa cây vàng bán đi để mua một xe nón đánh đường lên Tây Nguyên đi khắp Buôn Ma Thuột, Gia Lai, Kom Tum bán buôn nón cho các chợ. Vừa bán nón thím vừa tìm cách thăm dò tông tích người cha. Thím lần mò vào tận Đắc Tô, Tân Cảnh, Sa Thầy. Nghe bảo trong ấy bộ đội đánh lớn. Chỉ có rừng núi điệp trùng và những con đường cao nguyên đầy bụi đỏ, hoa dã quỳ nở vàng sau những cơn mưa. Các thung lũng, triền đồi hoa lau nở trắng. Đâu đâu cũng tràn ngập sắc áo lính ngụy, lính Mỹ. Đấy là mùa khô 1966. Tấm ảnh ông giáo Thự được thím Tư lồng vào trong khung kính, dưới tấm ảnh chồng đặt trên bàn thờ, phía sau tượng Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát, hương khói hàng ngày. Tụi tề ngụy trong ấp, trong xã lâu lâu ghé thăm bà vợ góa ông ấp trưởng đã quá cố, chủ yếu là tán tỉnh bé Quyên, lại bắt gặp thím Tư ngồi tụng kinh trước bàn thờ Phật. Trong buồng của thím, chỉ cách đấy vài bước chân là nắp hầm của Hạnh. Cô nghe được cả những câu tán dóc nhăng cuội của đám lính ngụy ở gian nhà ngoài, tiếng máy khâu của Quyên đạp xè xè...
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #68 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:34:30 am »

   Anh Phong đã có lần nửa trêu, nửa đùa:

   - Làm lính du kích như tụi bay sướng thiệt, Hạnh à. Ăn cơm trắng, cá nục kho, canh măng chua nấu cá sông Bồ...

   Hạnh cũng đáo để không vừa:

   - Thích mà anh chạy dài... Chạy dài đến nỗi để cho mấy o đồng bằng khóc lên, khóc xuống.

   Phong cười chống chế:

   - Con ni xạo... Xạo thiệt nghe. Tao không hiểu thằng Cường ăn phải thuốc chi mà nó mê mày...

   Nhắc tời Cường, Hạnh thấy lòng xốn xang, như có lửa đốt. Giọng cô như lạc đi:

   - Em khổ cực như ri... Ai mà thèm mê!

   Nửa tháng trước, chú Hường từ tỉnh qua có mở một cuộc họp đặc biệt. Phong đại diện cho bộ đội K10 được mời dự. Ngoài chú Sáu bí thơ huyện ủy còn có lãnh đạo các xã vùng sâu, đôi trưởng đội biệt động huyện. Từ lâu, Hạnh và cán bộ các xã đã có sự chuẩn bị kỹ lưỡng cho chiến dịch “giành đất cắm cờ”. Chú Sáu và cán bộ đặc phái viên của tỉnh nói rõ địa bàn các xã vùng ven Huế phía bắc sông Hương không phải là trọng điểm cho cuộc tấn công và nổi dậy. Lực lượng sử dụng chủ yếu là bộ đội C2 - K10 và bộ đội du kích, biệt động tại chỗ. Mục tiêu giành đất là thứ yếu. Nhiệm vụ hàng đầu là tuyên truyền sâu rộng trong dân nội dung của hiệp định Ba Lê và chủ trương chính sách của Mặt trận giải phóng và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Vùng đồi núi giáp ranh Hương Trà, Hương Thủy nếu có giành được cũng khó mà giữ được khi căn cứ Hòn Vượn, căn cứ Am Cây Sen, căn cứ Văn Thánh, Chóp Nón... địch đang chiếm giữ. Bộ đội chủ lực rơi vào thế kẹt nếu cố tình giữ cho được giáp ranh. Trận chiến chính cho vùng bắc Huế nằm ở tuyến sông Bồ. Nơi có các sư đoàn chủ lực 324, 325 của quân giải phóng chốt giữ và tạo thế gọng kìm vây ép Huế. Và ai cũng hiểu, trận đánh này là để tống tiễn những người lính Mỹ cuối cùng về nước. Sẽ chưa có kẻ thắng, người thua mà chủ yếu tạo ra một cục diện mới của các bên trong bàn cờ chiến lược.

   Gặp Phong, lúc chỉ có hai người, Hạnh hỏi:

   - Hôm rồi sang Phong Điền, anh có gặp anh Cường không?

   - Bữa anh sang họp, thằng Cường đang đi với ông Tư Nhất xuống Quảng Điền. Họ đi với địa phương về điều nghiên vùng sâu...

   Chợt Phong hỏi:

   - Chuyện của hai đứa bay ra sao rồi?...

   Hạnh cười chối:

   - Nào đã có chi mô anh. Thời gian còn dài mà... Em có cây Rubi, lát nữa ghé qua hậu cứ tụi em, em cho.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #69 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:36:18 am »

*

   Thím Tư đi chừng hai giờ đã trở về. Quyên đèo mẹ trên chiếc honđa đen, phía sau xe còn có cả một bọc vải dùng để cô may cắt áo quần. Quyên ở gian nhà ngoài có cửa hàng, vừa dỡ hàng, vừa canh chừng. Thím Tư vào buồng gặp Hạnh.

   - Đêm qua bộ đội về đánh chi khu gặp địch. Hai bên bắn nhau, nghe biểu bộ đội hy sinh nhiều lắm. Sáng nay, lính kéo xác bộ đội về Tứ Hạ cả rồi.

   - Bộ đội anh Phong... - Hạnh bật nói. Thím Tư không hiểu hỏi lại:

   - Phong nào mi... bộ đội K10 hí?

   - Dạ phải! - Hạnh nói tiếp - Có lẽ tối nay con phải đi gặp anh Huy Ngọc, thím à. Thím có cách chi báo sang La Chữ giúp con.

   Thím Tư:

   - Lúc tao về thấy đại đội bảo an 23 đang ở đầy trong làng Liễu Thượng. Mi xuống hầm nghỉ cho an toàn. Để việc tìm thằng Ngọc tao lo!

   Trước khi xuống hầm, Hạnh không quên tới bức tượng Phật. Bệ tượng bằng gỗ, dưới đáy bệ là chiếc hộp nhỏ nơi cô thường giấu cuốn nhật ký và một vài loại giấy tờ không quan trọng. Chiếc bệ tượng Phật phơi ra trước mặt mọi người, nhưng lại là nơi an toàn nhất, ít ai ngờ tới.

   Hai đêm sau nữa, Hạnh mới bắt mối liên lạc được với anh Huy Ngọc, thành ủy viên. Họ gặp nhau trong khu cứ cũ của làng An Đôn. Hai Ngọc là chính trị viên của đội -biệt động thành phố, trụ bám trên địa bàn Hương Trà, quê ở làng Phú Ổ. Anh là lứa thanh niên tham gia cách mạng từ khi tuổi còn nhỏ lên rừng cùng đợt với chị Tâm. Sau Tết Mậu Thân 1968, cán bộ du kích Hương Trà bị thiếu hụt, Hai Ngọc được rút lên rừng tham gia vào đội biệt động, xây dựng phong trào cơ sở cách mạng trên địa bàn xã Hương Thái. Đám tề ngụy trong vùng nghe tiếng những “Việt cộng tay tổ” như Hai Ngọc, Đoàn sẹo, Sửu sứt, Tự, Châu, Thẻo, chị Tâm, chị Nguyệt, chị Chồn, chị Đắng, o Cúc... sợ một phép. Hầu hết số cán bộ xã, huyện đều sinh ra và lớn lên tại Hương Trà. Họ thông thuộc địa hình trong các xã, các ấp như trong lòng bàn tay và là cán bộ chủ chốt tham gia vào phong trào diệt ác, phá kèm từ những năm sáu bảy, sáu tám và từng bước trưởng thành, là lực lượng nòng cốt trên địa bàn huyện. Hạnh là lớp đàn em, nhưng nhờ công gây dựng được phong trào của xã nên tiến bộ nhanh. Song cô vẫn luôn coi những người như chị Tâm, Hai Ngọc là bậc đàn anh.    Hạnh đưa cho Hai Ngọc một gói xôi, chị Tư nấu cho từ hồi chiều, bọc kín trong lớp lá chuối hơ lửa. Hai Ngọc lôi ra từ trong kẹp đạn cối cá nhân một mảnh giấy và bảo:

   - Mi có cái thư của chú Sáu gởi. Anh Phong bộ đội K10 bị bắt, mi đã biết chưa?

   Hạnh nghe mà rụng rời chân tay.

   - Tin có chính xác không? Sao anh Hai biết?

   Hai Ngọc vừa bẻ cục xôi vừa ăn, vừa nói:

   - Điện từ tỉnh sang cho chú Sáu mà không đúng răng? Chú Sáu biểu mi tìm cách bắt liên lạc với V. trong thành phố, coi thử tình hình ra răng. Trước mắt phải giữ địa bàn, đâu ở yên đó. Bên Phong Điền, bộ đội và quân dù ngụy thi nhau cắm cờ búa xua... Còn địa bàn ta lại khác.

   Thư chú Sáu viết gọn. Giao nhiệm vụ cho cô móc nối vào thành phố, nắm tin tức của địch sau những ngày giao tranh, dư luận dân chúng sau khi hiệp định Pari được ký kết.

   Đã gần một tuần trôi qua, trên vùng đất Hương Trà tiếng súng đã tạm ngưng. Dọc theo con đường chiến lược từ Trường Bia đến căn cứ Am Cây Sen, trung đoàn bộ binh 54 của sư đoàn 1 ngụy đóng chốt dày đặc. Trên các ngọn đồi, đâu đâu cũng có nhà bạt của ngụy. Một vài nơi, chúng còn dựng cả những cây cờ ba que phất phới trên đỉnh đồi.

   Chợt Hạnh hỏi Hai Ngọc:

   - Lâu nay anh có nhận được tin tức gì của Hoa không?

   Hai Ngọc vui hẳn lên.

   - Ra thấu Bắc rồi. Bữa đến ban B Quảng Bình, Hoa có gởi thư về hỏi thăm sức khỏe của mi và anh em trong xã.

   - Hay quá ta... Anh có viết thư cho Hoa, biểu em gởi lời hỏi thăm nghe. Em có mang cho anh Hai ít sữa, đường, trà, anh lên gởi cho chú Sáu.

   Hai Ngọc đứng dậy, cầm khẩu súng cối cá nhân:

   - Mi về đi. Tao cũng phải ra chỗ tập kết chờ anh em đi đồng bằng lên. Tao dặn mi, bữa nay về cứ không đi đường cũ nữa đâu nghe. Ta đi theo đường dốc Mồng.

   Cán bộ du kích huyện nhiều người biết mối tình của Ngọc và Hoa. Mới mười sáu tuổi Hoa đã lên rừng theo các chú, các bác từ những năm sáu bảy, sáu tám. Nhỏ người, nhỏ tuổi, xinh xắn, Hoa được phân công làm công tác phụ vận của xã Hương Thạnh. Ngọc là lính biệt động sau chuyển sang chỉ huy an ninh thành phố. Hoạt động trên cùng một địa bàn, sống chết với nhau nhiều phen, hai người quen nhau rồi thương nhau. Trong một trận pháo địch tập kích vào hậu cứ, Hoa bị thương nặng vào chân, vào đầu. Hạnh và những người ở huyện ủy đã phải đạp đường lên sông Bồ, khiêng cáng Hoa giao cho trạm phẫu Nhô. Hoa được cứu sống, rồi cô được chuyển viện ra Bắc. Trong chuyến đi lên địa đạo, Hạnh nhận được tin Cường và bộ đội K10 đang trên đường về lại địa đạo 310. Hạnh đã xin với chú Sáu Thọ để đi gặp Cường được vài tiếng đồng hồ, trước lúc vượt đường 12 về tỉnh họp.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM