Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 07:09:27 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử phát triển và giới thiệu các dòng xe tăng chủ lực (MBT)  (Đọc 290656 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
selene0802
Trung tá
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #80 vào lúc: 26 Tháng Mười, 2011, 11:03:41 am »

Trọng lượng chiến đấu của Leopard 2 là 55 tấn, trọng lượng rỗng là 52 tấn và thân xe có giáp tấm cách quãng nhiều lớp (spaced multi-layer amor). Hệ thống chuyển động gồm 7 bánh chịu lực lắp đệm cao su và 4 bánh đỡ xích mỗi bên, bánh dẫn hướng ở mũi xe, bánh truyền động ở đuôi xe. Xe tích hợp bộ giảm sóc xoắn với các giảm chấn ở bánh chịu lực thứ 1, 2, 3, 6, 7. Xích Diehl 570F với các miếng đệm cao su có thể tháo rời có 82 mắt xich mỗi bên. Với địa hình băng tuyết, tối đa 18 miếng đẹp cao su sẽ được thay thế bằng các miếng xích có mấu, treo trên giáp trước khi không sử dụng. Bốn diềm chắn xích phía trước xe được bọc thép dầy nên phải được , 3 diềm sau được làm bằng các miếng cao su có khung kim loại nên cõ thể lật lên nếu cần thiết. Khoang lái đặt trước xe, nằm bên phải xe, cửa lái là loại nâng và xoay, mở xoay về phía bên phải. Lái xe có 2 kính tiềm vọng quan sát, thêm 1 kính khác ở bên trái dùng khi nắp sập đóng xuống. Kinh giữa có thể được thay thế bằng kính hồng ngoại bị động cho hành quân đêm. 27 đạn 120mm năm trong khoang chứa riêng, ở phái trước  xe, bên trái khoang lái. Có 1 cửa thoát hiểm đặt ngay bên dưới ghế lái xe.

Tháp pháo nằm chính giữa xe, trang bị giáp tấm nhiều lớp, trong tháp pháo có khoang chiến đấu với trưởng xe và pháo thủ số 1 ngồi bên phải, pháo thủ ngồi phái dưới và trước trưởng xe, pháo thủ số 2 (nạp đạn) ngồi phía bên trái. Cả trưởng xe và pháo thử số 2 đều có cửa sập trên nóc tháp pháo, trưởng xe còn có 6 kính tiềm vọng để có thể quan sát xung quanh. Cả 2 cửa đều có giá đỡ súng máy phòng không MG 3 7,62mm dù nó thường chỉ được gắn bên phía pháo thủ số 2. Thêm 15 đạn 120mm được treo phía trái tháp pháo sau một cửa điện ngăn khỏi khoang chiến đấu, nâng tổng số đạn lên 42 viên. Nếu khoang này trúng đạn, những tấm che trên nóc tháp pháo sẽ tự bung lên, hướng mọi luồng nổ từ đạn lên phía trên.



P.S: Do không phải dân kỹ thuật, em dịch mấy cái thiết bị có gì sai, các bác sửa dùm nhé  Smiley
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Mười, 2011, 08:33:40 pm gửi bởi selene0802 » Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Trung tá
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #81 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2011, 11:30:20 am »

Pháo chính 120mm được ổn định hoàn toàn ở cả góc phương vị và góc nâng với hệ thống điều khiển thủy lực WNA-H22. Pháo bắn 2 loại đạn được phát triển bởi Rheinmetall là đạn xuyên có cánh (APFSDS-T) với tên gọi DM-33 KE (Kinestiche Energy : kinetic energy: Động lực) và đạn HEAT-MP-T với tên DM-12 MZ ( Mehrzwek : multi-purpose: đa chức năng), cả 2 loại đạn đề dễ cháy nổ. Một súng máy đồng trục MG 3 được gắn bên trái pháo chính với cơ số đạn 4750 viên.

Hệ thống ảnh nhiệt cho kính ngắm chính EMES 15 của pháo thủ chưa có để trang bị cho đợt giao hàng đầu tiên này dù các xe đã sẵn sàng cho các trang bị này. Để giữ khả năng tác chiến đêm của những xe giao hàng đợt đầu, người ta trang bị  khoảng cho 200 xe hệ thống đo ánh sáng phân cực (low light level TV system) Panzer-Ziel-und-Beobachstungsgerat 200 (PzB 200). Hệ thống điều khiển hỏa lực EMES 15/FLT-2 bao gồm các bộ phận:

1)   Kính ngắm chính với gương ổn định góc phương vị và góc nâng.
2)   Máy phát và nhận tia laser.
3)   Hệ thống ảnh nhiệt (chưa trang bị cho lần giao hàng đầu tiên) và tổ hợp mắt thần.
4)   Bảng điều khiển của trưởng xe và pháo thủ
5)   Màn hình trưởng xe.
6)   Bảng điều khiển máy tính.
7)   Cần điều khiển tay của trưởng xe.
8 )   Máy tính tính đường đạn,(tính toán dữ liệu phản hồi và cung cấp giải pháp bắn)
9)   Cảm biến đo gió (Chỉ trên những xe giao hàng lần đầu mới có cảm biến trên nóc tháp pháo)
10)   Cảm biến đo góc nâng pháo.
11)   Hộp thiết bị laser.
12)   Cảm biến đo góc nghiêng.
13)   Cáp nối.



Hệ thống EMES-15
« Sửa lần cuối: 27 Tháng Mười, 2011, 08:08:42 pm gửi bởi daibangden » Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Trung tá
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #82 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2011, 11:42:28 am »


Đây là nguyên tắc hoạt động của EMES 15, bác nào rành tiếng Đức, dịch dùm em mấy cái trong ấy, em dịch được có một chút, không dám post



EMES 15
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Trung tá
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #83 vào lúc: 29 Tháng Mười Một, 2011, 07:55:29 pm »

Sếp chịu khó chút nhé, dời bài về sau bài em, em kết thúc dòng xe này ngay đây, mấy bữa nay bận chiến đầu với chấy sĩ ở nhà  Grin


Pháo thủ đồng thời được trang bị kính tiềm vọng phụ trợ FERO-Z18, phóng đại 8 lần, lắp đồng trục và ở phía bên phải pháo. Một kính ngắm toàn cảnh lắp độc lập và ổn định hoàn toàn PERI-R17 sản xuất bởi Carl Zeiss có độ phóng đại 2 lần và 8 lần lắp phía trước khoang trưởng xe. Kính ngắm này có khả năng quay 360 độ và có thể chiếm quyền pháo thủ nếu cần thiết. Một cửa sập tiếp đạn, mở ra phía ngoài , bên trái tháp pháo. Hai cụm pháo khói 76mm Wegmann đặt 2 bên tháp pháo, điều khiển bắn bằng điện, có thể bắn từng phát hay bắn loạt 4 phát. Hai máy liên lạc vô tuyến SEM 25/SEM 35 lắp phía sau trưởng xe, ở phía đuôi phải tháp pháo. Hai máy liên lạc này có tần số 26-70 MHz, tầm hoạt động tối đa khoảng 25km và 12 Km tương ứng từng tần số. Anten của 2 máy lắp 2 bên tháp pháo, ngay phía sau khoang chiến đấu.



Khoang động lực nằm phía sau xe, ngăn cách với khoang chiến đầu bằng vách ngăn chống lửa. Động cơ diesel MTU 873 Ka 501 làm mát bằng chất lỏng , 12 xy lanh (V-12), 4 kỳ, phun dầu, công suất 1104 KW (1500 mã lực), 2600 vòng quay/phút. Khởi động bằng 8 ắc quy 12 vôn/125Ah và có hệ thống điện 24 vôn, Tốc độ tối đa trên đường nhựa của Leopard 2 là 68 km/h nhưng trong thời bình, chỉ giới hạn 50 km/h, tốc độ lùi tối đa là 31 km/h. Tiêu thụ khoảng 300 lít nhiên liệu cho 100km đường nhựa và 500 lít cho 100 km địa hình xấu. 4 thùng xăng tổng cộng chứa xấp xỉ 1160 lít cho xe khả năng hoạt động khoảng 500 km trên đường nhựa. Hộp số thủy lực tích hợp phanh gắn liền với máy, nhỏ gọn, nên có thể thay thế trong 15 phút . 4 số tới và 2 số lùi hoạt đông qua bộ chuyển đổi mô men xoắn giúp Leopard 2, cho phép đổi số tại chỗ nếu cần. Xe tự động chuyển số theo chế độ định sẵn của lái xe, lưới tản nhiệt nhô lên cao hơn so với sàn đuôi, và được gia cố chắc chắn hơn kể từ xe thứ 28. Lưới xả với những thanh dọc nằm bên trái và phải ống xả. Hệ thống xác định hư hỏng Rehnergestuztes Panzer Prufsystem (RPP), sẽ xác định mọi hư hỏng trong máy.

4 bình cứu hỏa Halon 9kg lắp phiá bên phải, sau khoang lái. Các bình cứu hỏa được nối vào ống và các vòi phun, và tự động kích hoạt bằng hệ thống chống cháy khi nhiện đô tăng quá 180°F (khoảng 82°C) ở cả khoang động lực và khoang chiến đấu, hay kích hoạt bằng tay từ bản điều khiển của lái xe. Một bình cứu hỏa dự phòng halon 2,5kg được đặt dưới sàn phía dưới pháo chính. Leopard 2 được trang bị hệ thống chống phóng xạ, tạo áp suất cao, 4 mbar (khoảng 0.004 kp/cm3) trong xe. Hệ thống được đặt ở thân trái xe, có một cửa sập để thay thế lưới lọc phóng xạ. Thùng chứa hầu hết đồ nghề sửa chữa được gắn chìm trực tiếp vào thân xe, với 1 thùng bên trái và 2 thùng bên phải.

Leopard 2 có khả năng lội nước sâu 1,2m mà không cần chuẩn bị hay bị ảnh hưởng đến khả năng chiến đấu. Trước khi lội nước ở độ sâu 2,25m, xe phải được đóng kín bằng các cửa và khoá thủy lực, lắp ống thông hơi treo phiá sau tháp pháo lên tháp nhìn của trưởng xe. Với độ sau 4m, xe mất 15 phút chuẩn bị, bao gồm cả việc nối 3 phần của ống thông hơi lên phía trên tháp trưởng xe.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Trung tá
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #84 vào lúc: 29 Tháng Mười Một, 2011, 07:58:44 pm »



Hê thống FERO Z18 là mũi tên đỏ, mũi tên xanh là súng máy đồng trục





Hệ thống kính ngắm PERI 17
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Trung tá
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #85 vào lúc: 29 Tháng Mười Một, 2011, 08:00:03 pm »



Máy thông tin SEM 35



Động cơ MTU 873 Ka 501
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Trung tá
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #86 vào lúc: 29 Tháng Mười Một, 2011, 08:02:09 pm »

Đợt giao hàng thứ 2

Việc sản xuất đợt hàng thứ 2 bắt đầu vào tháng 3 năm 1982 và kết thúc vào tháng 11 năm 1983. 450 xe được sản xuất, trong đó, 248 xe được sản xuất bởi Krauss Maffei (Fargestell-Nr 10211 đến Nr 10458), 202 xe được sản xuất bởi MaK (Fargestell-Nr 20173 dến Nr 20347). Thay đổi đáng kể nhất là việc loại bỏ cảm biến đo gió trên nóc tháp pháo và thay đổi hình dạng hộp bảo vệ thiết bị của trưởng xe. Thiết bị ảnh nhiệt của xe, dựa trên những thiết bị được cung cấp bởI Texas Instrument và sản xuất bởi Carl Zeiss đã tích hợp sẵn trên hệ thống EMES 15, hệ thống điều khiển súng cũng đã được lắp đặt thiết bị xác định lỗi hệ thống. Nắp bình xăng được chuyển từ nóc khoang máy sang 2 hốc bên thành xe để tiết kiệm thời gian nạp nhiên liệu. Một ống nghe được điện đài trong xe được lắp ở đuôi trái tháp pháo hỗ trợ cho hệ thống liên lạc nội bộ trong xe. Giá đựng trong khoang chứa đạn giống hệt như trên M1A1 Abrams. Hai bàn đạp chân được gắn thêm phía khoang máy để tránh gây hư hỏng cho hệ thống lái, dây điện và các mấu nối khi nắm khoang máy được mở lên trong quá trình sửa chữa. Cáp kéo được cố định trên nắp khoang máy thay vì kẹp ở đuôi xe, cáp cũng được kéo dài lên 5m. Với hàng loạt thay đổi, phiên bản này được lấy tên Leopard 2 A1.



Xe của đợt giao hàng thứ 2

Đợt giao hàng thứ 3

Khoảng 300 xe được sản xuất trong giai đoạn tháng 11 năm 1983 đến thang 11 năm 1984, 165 xe được sản xuất bởI Krauss Maffei (Fargestell-Nr 10459 đến 10623) và 135 xe còn lại được sản xuất bởi MaK (Fargestell-Nr 20375 đến Nr  20509). Một kính phản xạ được gắn thêm, nâng hệ thống kính quan sát PERI R-17 của trưởng xe lên thêm 5cm và hệ thống chống phóng xạ được lắp 1 nắp bảo vệ lớn hơn. Những thay đổi này sau đó cũng được đưa vào các xe trong đợt 2, nên các xe trong đợt giao hàng thứ 3 này, vẫn có tên Leopard 2 A1.



Xe của đợt giao hàng thứ 3
« Sửa lần cuối: 29 Tháng Mười Một, 2011, 08:27:37 pm gửi bởi selene0802 » Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Trung tá
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #87 vào lúc: 29 Tháng Mười Một, 2011, 08:04:07 pm »

Hiện đại hóa xe của đợt giao hàng đầu tiên

Khi thiết bị ảnh nhiệt của hệ thống EMES 15 đã sắn sàng trang bị, người ta đã quyết định hiện đại hóa những xe trong đợt giao hàng đầu tiên lên đúng tiêu chuẩn của các xe trong đợt giao hàng thứ 2 và thư 3. Việc hiện đại hóa bắt đầu trên chiếc xe đầu tiên năm 1984, và chiếc xe cuối cùng được nâng cấp trở về đơn vị năm 1987, có nghĩa rằng việc hiện đại hóa  được tiến hành song song với việc sản xuất theo các đơn hàng thứ 3, thứ 4 và thứ 5. Ngoài việc lắp thêm hệ thống ảnh nhiệt thay thế cho hệ thống PzB 200 (lắp trên Leopard 1 A4), người ta còn thay đổi vị trí nắp bình xăng sang 2 hốc trên thân trước xe, nâng kính PERI R-17 của trưởng xe lên thêm 5cm  để lắp kính phản xạ, lắp nắm bảo vệ hệ thống chống phóng xạ mới, và thay đổi vị trí cáp kéo. Thêm nữa, cca3m biến đo gió cũng được bỏ đi, thay vào đó là một đĩa kim loại tròn. Vòng bảo vệ trên khối thiết bị quang học của trưởng xe vẫn được giữ nguyên. Những xe của đợt giao hàng đầu, sau khi được hei65n đại hóa, được lấy tên Leopard A2.



Xe của đợt giao hàng thứ 1 sau khi được hiện đại hóa

Đợt giao hàng thứ 4

Đợt giao hàng thứ 4 gồm những xe được sản xuất trong giai đoạn tháng 12 năm 1984 và tháng 12 năm 1985. Trong 300 xe, có 165 xe được sản xuất bỡi Krauss-Maffei (Fargestell-Nr 10624 đến Nr 10788), 135 xe được sản xuất bởi MaK (Fargestell-Nr 20510 đến Nr 20644). Thay đổi đáng kể nhất là việc lắp máy liên lạc kĩ thuật số SEM 80/90 VHF với anten ngắn hơn và đổi lưới xả thành dạng các thanh uốn tròn. Tấm bảo vệ ngực được lắp cho pháo thủ tỳ ngực khi quan sát hay nhắm bắn lúc xe đang di chuyển. Các xe trong đợt này còn được trang bị những màu sơn ngụy trang mới, bao gồm màu xanh lá cây pha vàng đồng (RAL 6031), màu nâu da thuộc (RAL 8027), và màu đen hắc ín (RAL 9021). Những cuộc thử nghiệm cho thấy, khi xe trúng đạn vào tháp pháo, cửa tiếp đạn rất dễ bị phá hủy, gay ảnh hưởng nghiêm trọng đến tổ lái và hệ thống chống phóng xạ, nó làm mất môi trường áp suất cao bên trong xe, được tạo ra bởi hệ thống chống phóng xạ. Vì vậy, cửa tiếp đạn được hàn kín lại. Đợt giao hàng này, các xe được lấy tên Leopard 2 A3.



Xe của đợt giao hàng thứ 4



Cửa tiếp đạn
« Sửa lần cuối: 29 Tháng Mười Một, 2011, 08:29:25 pm gửi bởi selene0802 » Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Trung tá
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #88 vào lúc: 29 Tháng Mười Một, 2011, 08:04:51 pm »

Đợt giao hàng thứ 5

370 xe được chuyển giao từ tháng 12 năm 1985 đến tháng 3 năm 1987, có 190 xe được sản xuất bỡi Krauss-Maffei (Fargestell-Nr 10789 đến Nr 10979), 180 xe được sản xuất bởi MaK (Fargestell-Nr 20645 đến Nr 20825). Hệ thống máy tính điều khiển hỏa lực trong đợt này được lắp thêm một nhân kỹ thuật số, tạo điều kiện cho việc sử dụng loại đạn mới; để tăng khả năng sống sót của tổ lái, một hê thống chặn lửa và luồng nổ chế tạo bởi Deugra được lắp thêm vào xe. Bắt đầu từ xe Nr 10968 và Nr 20788, 2 bánh quay lùi thứ 2 và thứ 3 được thay đổi vị trí. Bánh quay lùi số 2 được thay đổi vị trí từ khoảng giữa bánh chịu lực số 2 và 3 về khoảng giữa bánh chịu lực số 3 và 4, trong khi bánh quay lùi thứ 3 được dời từ khoảng giữa bánh chịu lực số 4 và số 5 về khoảng giữa bánh chịu lực số 5 và số 6. Có những dấu hiệu cho thấy, cửa tiếp đạn bên trái tháp pháo đã được Krauss-Maffei loại bỏ trên những xe sau cùng. Đợt giao hàng thứ 4 này, các xe được lấy tên Leopard 2 A4. Xe cuối cùng của đợt giao hàng do MaK sản xuất, Fargestell Nr 20825, được sử dụng làm xe thử nghiệm cơ sở (Komponentenversuchstrager - KVT) để phát triển các chương trình nâng cấp Leopard 2.



Xe của đợt giao hàng thứ 5



Xe IVT, được nâng cấp từ KVT năm 1991


  
Đợt giao hàng thứ 6

Dù ban đầu chỉ có năm đơn đặt hàng, nhưng đơn đăt hàng thứ sáu gồm 150 xe đươc kí tháng 6 năm 1987, 83 xe sản xuất bởi Kraus-Maffei (Fargestell-Nr 10980 đến Nr 11062) và 67 xe được sản xuất bỡi MaK (Fargestell-Nr 20826 đến Nr 20892) trong giai đoạn tháng 1 năm 1988 đến tháng 5 năm 1989. Những tính năng mớI trong lần giao hàng này là ắc quy không cần bảo dưỡng, xích Diehl 570FT và sơn mạ kẽm không có cromat. Đèn báo hiệu giữa được đặt trong một hộc, gắn chìm vào phần phía trước thân xe, ngay trước cửa lái để lái xe quan sát dễ dàng hơn khi cửa sập mở. Loại diềm chắn phía trước dạng hình hộp mới được sử dụng từ xe Nr 11033 và Nr 20869. Cửa tiếp đạn bên hông tháp pháo bị loại bỏ hoàn toàn, những xe trong đợt giao hàng này vẫn là Leopard 2A4.



Xe trong đợt giao hàng thứ 6



Những xe thuộc nửa sau đợt giao hàng thứ 6
« Sửa lần cuối: 29 Tháng Mười Một, 2011, 08:38:04 pm gửi bởi selene0802 » Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Trung tá
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #89 vào lúc: 29 Tháng Mười Một, 2011, 08:07:28 pm »

Đợt giao hàng thứ 7

Việc sản xuất 100 xe cho đợt giao hàng thứ 7 bắt đầu vào tháng 5/1989 và kết thúc tháng 4/1990. 55 xe được sản xuất bởi Krauss-Maffei (Fargestell-Nr 11063 đến Nr 11117) và 45 xe sản xuất bởi MaK (Fargestell-Nr 20893 đến Nr 20937). Đợt giao hàng này, các xe có cùng thiết kế với các xe cuối đợt giao hàng thứ 6, nên vẫn là Leopard 2A4.

Đợt giao hàng thứ 8

Vào khoảng giữa tháng 1/1991 và thang 3/1992, 75 xe được giao hàng. 41 xe được sản xuất bở Kruass-Maffei Fargestell-Nr 11118 đến Nr 11158) và 34 xe sản xuất bởi MaK (Fargestell-Nr 20938 đến Nr 20971). Có một số thay đổi trong đợt hàng này bao gồm cả một số thay đổi nhỏ trên bệ lắp pháo khói. Phần đuôi của diềm chắn hông được chia làm 6 phần với thiết kế và vật liệu khác nhau nhưng chưa được trang bị cho những xe đầu tiên của đợt giao hàng này. Sau đó, trên mốc ngắm đầu nòng pháo được lắp vào hệ thống kiểm tra nòng phía bên phải, cuối nòng súng, tạo sự khác biệt giữa dòng xe đời sau với những xe trong những lần giao hàng trước. Hệ thống này cho phép pháo thủ kiểm tra nhanh độ cong của nòng pháo bằng hệ thống kính ngắm. Kết hợp với chương trình hiện đạI hóa Leopard 2, 2 xe thử nghiệm (Truppenversuchsmuster, TVM) được Krauss chế tạo là TVm max. (Fargestell-Nr 11156) và TVm min. (Fargestell-Nr 11157 ). Xe Leopard 2A4 cuối cùng (Fargestell-Nr 11158) của đợt giao hàng thư 8 được huyển giao cho Tiểu đoàn xe tăng sơn cước số 8 (Gerbigs-Panzerbataillon Cool vào ngày 19/3/1992 trong một buổi lễ trọng thể tại Munich.



Xe của đợt giao hàng thứ 8

* Em dừng loạt bài về Leopard 2 ở đây, phần hiện đại hóa Leopard 2 chắc sẽ dành ở một topic khác thích hợp hơn trong thời gian ngắn nhất

« Sửa lần cuối: 29 Tháng Mười Một, 2011, 08:37:09 pm gửi bởi selene0802 » Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM