Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 08:32:52 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Thế giới: Một góc nhìn  (Đọc 55370 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #70 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2011, 04:42:37 pm »

VỀ CHIẾN LƯỢC RÚT KHỎI ÁP-GA-NI-XTAN CỦA TỔNG THỐNG MỸ

   Ngày 1-12-2009, Tổng thống Mỹ Ba-rắc Ô-ba-ma chính thức tuyên bố về chiến lược mới của Mỹ ở Áp-ga-ni-xtan, theo đó, Mỹ sẽ tăng thêm 30.000 quân cho chiến trường này và bắt đầu rút quân khỏi đây từ năm 2011. Ngay lập tức, tuyên bố của Tổng thống B. Ô-ba-ma đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận Mỹ và thế giới.

   Triển vọng mờ mịt của chiến lược “ba con cá voi”

   Trong tuyên bố của mình, Tổng thống B. Ô-ba-ma khẳng định: “Chúng ta sẽ theo đuổi các mục tiêu, tận diệt hang ổ cuối cùng của tổ chức khủng bố An Kê-đa; giành thế chủ động trước Ta-li-ban và loại bỏ khả năng trở lại cầm quyền của chúng ở Áp-ga-ni-xtan; giúp đỡ các cơ quan an ninh và chính phủ Áp-ga-ni-xtan tự chịu trách nhiệm trước tương lai và vận mệnh của mình”.

   Để thực hiện các mục tiêu đó, Tổng thống B. Ô-ba-ma cho rằng, Mỹ sẽ dựa trên sức mạnh của “ba con cá voi”, đó là: hoạt động quân sự chống lại Ta-li-ban; hợp tác với Liên hợp quốc, các đối tác quốc tế và nhân dân Áp-ga-ni-xtan; hợp tác chặt chẽ với Pa-ki-xtan. Hồi tháng 8-2009, Tổng Tư lệnh quân đội Mỹ và NATO tại Áp-ga-ni-xtan, Tướng Xten-li Mác-cri-xtơn (Stanley McChrystal) đã từng cảnh báo, nếu Mỹ không gửi ít nhất 40.000 quân đến Áp-ga-ni-xtan thì Oa-sinh-tơn có thể sẽ gánh chịu thất bại trong cuộc chiến với Ta-li-ban ở quốc gia Trung Á này.

   Theo thông báo chính thức của Chính phủ Mỹ, việc gửi thêm quân tham chiến đến Áp-ga-ni-xtan sẽ tiêu tốn từ 25-30 tỉ USD trong ngân sách quốc gia Mỹ năm 2010. Nhưng giới phân tích cho rằng, chi phí cho chiến tranh là chuyện không ai nói trước được. Thí dụ, ở I-rắc, chi phí cho chiến tranh đã vượt quá mức dự kiến và lên tới 300 tỉ USD. Vậy nên, con số 30 tỉ USD cho chiến trường Áp-ga-ni-xtan chỉ mới là “những giọt dầu bôi trơn” ban đầu cho cỗ máy chiến tranh của Mỹ tiếp tục vận hành.

   Theo Tổng thống B. Ô-ba-ma, Mỹ dự kiến sẽ bắt đầu rút quân khỏi Áp-ga-ni-xtan sau 18 tháng, kể từ khi tăng viện lần này. Lần đầu tiên, trong lịch sử chiến tranh, Tổng thống B. Ô-ba-ma là người tuyên bố trước thời hạn rút quân khi đưa ra quyết định về một chiến lược chiến tranh mới. Nhiều chuyên gia phân tích quân sự cho rằng, tuyên bố của Tổng thống B. Ô-ba-ma giống với kịch bản phim Hô-li-út, hoặc trò chơi điện tử trên máy tính, hơn là một chiến lược quân sự.

   Phản ứng từ các đồng minh của Mỹ trong khối NATO

   Ngày 2-12-2009, Tổng thư ký NATO, ông An-đrê Phốc Ra-xmu-xen (Anders Fogh Rasmussen) tuyên bố rằng, đây không phải là cuộc chiến của riêng nước Mỹ. Do đó, trong năm 2010, NATO có kế hoạch sẽ tăng cường thêm 5.000 quân cho các lực lượng quốc tế tại Áp-ga-ni-xtan. Tổng thư ký NATO tuyên bố vậy thôi, chứ cam kết tăng viện cho các lực lượng của liên minh này ở Áp-ga-ni-xtan là một nhiệm vụ khó khăn, bởi chính phủ nhiều nước liên minh của Mỹ trong NATO đang phải đối mặt với nhiều khó khăn về kinh tế với thâm hụt ngân sách lớn. Các cuộc thăm dò cho thấy, hầu hết người dân châu Âu phản đối việc tăng quân cho chiến trường Áp-ga-ni-xtan, cũng không ít người coi cuộc chiến tranh ở Áp-ga-ni-xtan là “vô nghĩa” và không có triển vọng giành chiến thắng. Đó là chưa kể tới tình hình quân đội các nước NATO tranh giành nhau các khu vực ít xảy ra chiến sự, bởi không ai muốn rơi vào những vùng được mệnh danh là “chiếc cối xay thịt” như ở Áp-ga-ni-xtan. Tại thời điểm này, chỉ có Anh, Ba Lan, Xlô-va-li-a, Thổ Nhĩ Kỳ, Gru-di-a, Hàn Quốc và Mông-tê-nê-grô có tín hiệu sẵn sàng điều động thêm binh lính gia nhập lực lượng liên minh do Mỹ chỉ huy ở Áp-ga-ni-xtan. Nhật Bản tuyên bố sẽ không gửi quân tham gia, còn Đức và Pháp đang “cân nhắc”.

   Theo tin của hãng thông tấn “Novosti” (Nga), mặc dù đại diện của Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao của Áp-ga-ni-xtan ra tuyên bố cho rằng, chiến lược của Tổng thống B. Ô-ba-ma là “có lợi” cho quốc gia này, rằng mối quan hệ chiến lược giữa Mỹ và Áp-ga-ni-xtan mang tính lâu dài, cho phép tăng cường đáng kể tiềm lực quân đội quốc gia và lực lượng an ninh, nhưng nhiều nghị sĩ của Nghị viện Áp-ga-ni-xtan không mấy vồ vập với chiến lược mới này của Mỹ.

   Đáng chú ý nhất là ý kiến của bà Su-ri-a Ba-ra-dai (Shukria Barakzai), Nghị sĩ Áp-ga-ni-xtan. Bà nhận xét: “Đây là chiến lược tốt đối với Mỹ, chứ không phải với chúng tôi. Trong chiến lược này không có từ nào nói về bảo vệ quyền con người hay phát triển chế độ dân chủ tại Áp-ga-ni-xtan. Mỹ và châu Âu, những quốc gia nắm trong tay lực lượng quân đội, tài chính, quyền lực chính trị và nhiều thứ khác không thể bảo đảm hòa bình và an ninh trên lãnh thổ Áp-ga-ni-xtan trong suốt 8 năm qua, nay lại muốn đẩy trách nhiệm này cho lực lượng an ninh và quân đội Áp-ga-ni-xtan”.

   Trong bài phát biểu ngày 2-12-2009, tại cuộc “Tọa đàm bàn tròn” của kênh truyền hình tư nhân “Tô-lô” ở Áp-ga-ni-xtan, bà Su-ri-a Ba-ra-dai khẳng định, hiện nay lực lượng an ninh và quân đội Áp-ga-ni-xtan vẫn chưa sẵn sàng nhận sự chuyển giao trách nhiệm từ phía Mỹ. Chiến lược của Mỹ tại Áp-ga-ni-xtan không thể là tạm thời, chóng vánh, mà phải là một chiến lược lâu dài. Theo bà Su-ri-a Ba-ra-dai, các giải pháp của cả hai phía (Mỹ và chính phủ ở Ca-bun) đối với vấn đề Áp-ga-ni-xtan vẫn còn “non tay”. Năm 2001, Áp-ga-ni-xtan không có hệ thống vận hành quốc gia hiệu quả. Hiện nay vẫn vậy. Bà Su-ri-a Ba-ra-dai nhận xét, Mỹ đã không lựa chọn sự hợp tác chính trị với Áp-ga-ni-xtan theo hệ thống mà chỉ hợp tác với các cá nhân riêng biệt và đang tiếp tục làm như thế mặc dù những cá nhân đó không phải lúc nào cũng cần thiết cho Áp-ga-ni-xtan. Bà tuyên bố: “Đến năm 2011, chúng tôi hiểu rõ trách nhiệm của mình, nhưng chiến lược mới của Tổng thống B. Ô-ba-ma tạo ra nguy cơ chiến tranh rõ rệt cho nhân dân và Chính phủ Áp-ga-ni-xtan”.

   Một nghị sĩ khác của Áp-ga-ni-xtan, ông Đa-út Xun-tan-dâu (Daoud Sultanzoy), nhận xét: “Chiến lược mới của Tổng thống B. Ô-ba-ma là chiến lược nhanh chóng rút quân khỏi Áp-ga-ni-xtan, trong khi việc rút quân này vẫn còn quá sớm”. Theo ông, cùng với chiến lược mới, Tổng thống B. Ô-ba-ma phải ra lời kêu gọi tiến hành cuộc chiến chống nạn tham nhũng ở Áp-ga-ni-xtan, bởi nạn tham nhũng trong chính quyền ở Ca-bun là trở ngại chính của mọi vấn đề, từ phát triển kinh tế đến bảo đảm an ninh.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #71 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2011, 04:43:30 pm »

   Các chuyên gia quân sự phương Tây nói gì?

   Nhận xét về chiến lược mới ở Áp-ga-ni-xtan của Tổng thống B. Ô-ba-ma, các chuyên gia quân sự phương Tây cho rằng, để quân đội và cảnh sát Áp-ga-ni-xtan có thể kiểm soát được tình hình an ninh trong nước, quốc gia này phải có quân đội với quân số khoảng 400.000 quân. Tuy nhiên, hiện nay lực lượng vũ trang của Áp-ga-ni-xtan chưa thể gọi là một đội quân cần có các lực lượng thông thường và thiết yếu nhất như không quân, pháo binh, các thiết bị kỹ thiết giáp, tên lửa.

   Áp-ga-ni-xtan đã từng có quân đội chính quy được trang bị và huấn luyện khá tốt sau ngày 15-2-1989, khi Liên Xô rút quân về nước. Lực lượng vũ trang khá mạnh đó đã cho phép quân đội của ông Mô-ha-mát Na-gia-bu-lát (Mohammad Najibullah), Tổng thống Áp-ga-ni-xtan khi đó, đánh bại các cuộc tấn công của lực lượng phản cách mạng và các lực lượng xâm nhập từ phía Pa-ki-xtan trong thời gian 3 năm. Chỉ sau khi Liên Xô tan rã và không còn viện trợ quân sự cho Áp-ga-ni-xtan, chế độ cầm quyền ở Áp-ga-ni-xtan mới bị lật đổ.

   Còn hiện nay, với một lực lượng quân sự và an ninh có sức chiến đấu được trợ giúp bằng sức mạnh quân sự và kinh tế của Mỹ như ở Áp-ga-ni-xtan, thì liệu trong 18 tháng, Mỹ và liên quân có phép màu nào huấn luyện được một đội quân đủ sức bảo đảm an ninh cho sự tồn tại của một chính phủ sau khi quân Mỹ và liên quân rút đi. Rõ ràng, đây là bài toán chưa có lời giải. Nhiều chuyên gia quân sự đã từng bàn tới một thất bại của Mỹ ở Áp-ga-ni-xtan giống như Liên Xô trước đây.

   Người Mỹ nói gì?

   Theo kết quả điều tra dư luận gần đây của hãng thống tấn CNN và hãng thăm dò ý kiến Opinion research company, hiện chỉ có 45 % người Mỹ được hỏi ý kiến tỏ ra ủng hộ cuộc chiến tranh ở Áp-ga-ni-xtan, thấp hơn nhiều so với con số 90% năm 2001.

   Ngay sau khi Tổng thống B. Ô-ba-ma tuyên bố kế hoạch tăng quân để rút khỏi Áp-ga-ni-xtan, nhiều nghị sĩ trong Quốc hội Mỹ đã lên tiếng chỉ trích gay gắt kế hoạch bắt đầu rút lính Mỹ khỏi Áp-ga-ni-xtan vào tháng 7-2011. Hầu hết các thành viên Đảng Cộng hòa đều ủng hộ quyết định gửi thêm quân tới nhưng họ cho rằng, Tổng thống B. Ô-ba-ma đang chơi trò chính trị khi đưa ra hạn chót rút quân theo kiểu “tùy hứng” mà lẽ ra, kế hoạch này phải dựa trên thực tế tình hình lúc đó ở Áp-ga-ni-xtan. Một số thành viên của Đảng Dân chủ thì tỏ ý lo ngại, liệu quyết định của Tổng thống B. Ô-ba-ma tăng viện cho chiến trường Áp-ga-ni-xtan có thể mang lại chiến thắng hay không? Ông Cô-ni-e Mác (Connie Mack), người của Đảng Cộng hòa và là thành viên Ủy ban Phụ trách các vấn đề đối ngoại của Quốc hội Mỹ tuyên bố, ông không tán thành quyết định của Tổng thống B. Ô-ba-ma về cách ứng xử như thế với kẻ thù của nước Mỹ. Theo ông, khi Mỹ thực hiện kế hoạch tăng viện để rút quân, Ta-li-ban có thể tập hợp lại và tái kiểm soát lãnh thổ Áp-ga-ni-xtan. Thượng nghị sĩ Giôn Mác-kên, đối thủ của ông B. Ô-ba-ma trong cuộc đua vào Nhà Trắng, thì tuyên bố: “Quyết định tăng viện được đưa ra đồng thời với tuyên bố về thời điểm chính xác bắt đầu rút quân Mỹ là hai tuyên bố không phù hợp với nhau”.

   Ta-li-ban đang chuẩn bị “nghênh tiếp” quân Mỹ tăng viện

   Các lực lượng thuộc Phong trào Ta-li-ban đã từng gây sóng gió và chết chóc cho quân đội Mỹ và liên quân ở Áp-ga-ni-xtan trong 8 năm qua, sau khi nghe tin Tổng thống B. Ô-ba-ma tuyên bố chiến lược mới chống khủng bố, đang tỏ ra “háo hức” chuẩn bị để “nghênh tiếp” lực lượng Mỹ sắp tăng viện.
 
   Theo tuyên bố của một trong các thủ lĩnh Ta-li-ban ở tỉnh Va-đắc (Áp-ga-ni-xtan) với hãng thông tấn BBC, ở miền đông Áp-ga-ni-xtan, các lực lượng Ta-li-ban không hề hạ vũ khí và mất sức chiến đấu sau hai lần Mỹ tăng viện cho các lực lượng kiểm soát tại đây trong năm 2009. Họ cũng không chấp nhận đàm phán hòa bình với Mỹ. Theo viên chỉ huy này, Ta-li-ban chỉ hạ vũ khí một khi quân nước ngoài chiếm đóng rút khỏi Áp-ga-ni-xtan. Thậm chí, y tuyên bố, việc Tổng thống B. Ô-ba-ma quyết định tăng viện cho chiến trường Áp-ga-ni-xtan chỉ tạo điều kiện cho Ta-li-ban tiêu diệt được nhiều quân Mỹ hơn! Ngay cả với những lực lượng hạn chế, Ta-li-ban vẫn có thể gây thiệt hại nhiều hơn đối với Mỹ, bởi họ có ưu thế “chơi trên sân nhà” và thuộc lòng địa hình địa vật vô cùng hiểm trở ở quốc gia Trung Á đầy bí ẩn này.
 
   Áp-ga-ni-xtan không phải là I-rắc chỉ có phần lớn là sa mạc mênh mông. Áp-ga-ni-xtan là một “mê cung” mà người ngoại bang dường như không thể thấu hiểu. Năm 2009 là năm để lại tổn thất nhiều nhất cho quân Mỹ và NATO ở Áp-ga-ni-xtan kể từ năm 2001. Trong năm, có tới 486 lính thiệt mạng, trong đó quân Mỹ chiếm 299 người, Anh chiếm 99 người./.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #72 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2011, 04:45:36 pm »

PHẦN IV
NƯỚC NGA SAU CHIẾN TRANH LẠNH


NƯỚC NGA THỜI “HẬU PU-TIN” SẼ ĐI ĐẾN ĐÂU?

   Hai năm qua, thế giới chứng kiến nhiều sự kiện rất đáng chú ý liên quan tới nước Nga. Trước hết là, nước Nga mới đã thực sự phục hồi vị thế một cường quốc kinh tế, chính trị và quân sự sau 2 nhiệm kỳ cầm quyền của Tổng thống V.Pu-tin.
 
   Từ một di sản đổ nát

   Sau khi được trao quyền lực vào ngày cuối cùng của thế kỷ XX, ngày 31-12-2000, ông Pu-tin phải tiếp quản một di sản đổ nát từ thời B.En-xin. B.En-xin để lại cho người kế nhiệm của mình: sự sụp đổ hệ thống chính trị cũ; hệ thống chính trị mới chưa hình thành; Đảng Cộng sản mất quyền lãnh đạo đất nước; nhiều đảng phái chính trị mọc lên như nấm ở nước Nga.

   Quyền lực nhà nước hoàn toàn bị tê liệt, không thể đảm đương được các chức năng cơ bản và tối thiểu như điều hành đất nước, bảo vệ lợi ích của nước Nga trên thế giới, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, bảo đảm an toàn tối thiểu về kinh tế và xã hội cho các công dân Nga ở ngay trên Tổ quốc họ. Các nhóm tài phiệt kiểm soát toàn bộ nền kinh tế và bộ máy chính trị, họ có thể tuỳ ý sắp đặt vị trí của Tổng thống, Bộ trưởng và các quan chức cấp cao trong bộ máy nhà nước. Bộ máy cầm quyền của Tổng thống B.En-xin được các phương tiện thông tin đại chúng ở phương Tây gọi là “gia đình trị tham nhũng”.

   Một bộ máy lãnh đạo không có uy tín ở trong nước cũng như ở nước ngoài; nội chiến tái bùng phát dữ dội ở Che-xnhi-a, khiến cho nước Nga đứng trước nguy cơ tan rã về lãnh thổ, thủ lĩnh một số vùng ở Nga ban hành luật pháp riêng, không theo hiến pháp Nga; cơ chế kinh tế hành chính - bao cấp cũ tan rã, cơ chế kinh tế mới chưa hình thành, nước Nga rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội.

   Đến bộ máy quyền lực của nhà nước được củng cố

   Sau hai năm cầm quyền, Tổng thống V.Pu-tin từng bước khôi phục và củng cố bộ máy quyền lực của Nhà nước Nga. Ông đã thực thi nhiều biện pháp cải tổ quan trọng. Trước hết là chia nước Nga thành 7 vùng, với 7 người đại diện của Tổng thống. Tiếp đến, năm 2000-2002, ông cải tổ Hội đồng Liên bang (Thượng viện), sửa đổi quy trình bầu cử thống đốc vùng. Trước đây, bất kỳ ai cũng có thể ra tranh cử thì nay sẽ là cuộc bầu cử để chọn một trong hai ứng cử viên: một người do Tổng thống và người kia do Hội đồng nhân dân địa phương đề cử.

   Theo ông Pu-tin, nước Nga lựa chọn cách này bởi xã hội dân sự ở Nga chưa phát triển đầy đủ. Nếu bỏ phiếu bầu trực tiếp thì các ứng cử viên có thể sử dụng quyền lực và tiền bạc để gây ảnh hưởng đối với dân chúng, nhưng sau khi ngồi vào ghế quyền lực rồi họ sẽ không còn liên hệ với dân. Cách làm hiện nay của Nga là làm cho người lãnh đạo khu vực vừa gắn bó mật thiết với các lợi ích quốc gia, vừa nhạy cảm với các vấn đề khu vực.

   Phục hồi không gian pháp lý chung trên toàn quốc là một trong những nỗ lực quan trọng nhằm vượt qua cuộc khủng hoảng hệ thống ở Nga. Luật pháp của các vùng được soạn thảo phù hợp với Hiến pháp Liên bang; đồng thời, quyền lực của Liên bang, các vùng và các cơ quan tự trị địa phương được phân định rõ ràng. Nhiều chức năng kinh tế, xã hội đã được chuyển giao cho các cấp vùng và địa phương. Nhờ đổi mới toàn diện chính quyền trung ương, ngày 02-12-2007, cuộc bầu cử Đu-ma quốc gia với phần thắng đa số tuyệt đối thuộc về đảng “Nước Nga thống nhất” của đương kim Tổng thống V.Pu-tin.

   V.Pu-tin đã phục hồi uy tín thể chế của Tổng thống trong dân chúng, xây dựng tư tưởng quốc gia và chiến lược phát triển quốc gia trong nhiều thập niên. Đảng “Nước Nga thống nhất” ra đời trên cơ sở kết hợp hai tổ chức xã hội toàn Nga là “Liên minh thống nhất” và “Tổ quốc” thành một đảng chính trị. Đây là minh chứng rõ nhất cho những nỗ lực củng cố bộ máy chính trị của Tổng thống V.Putin. Chiếm đa số tại Đu-ma Quốc gia, “Nước Nga thống nhất” đã tập hợp các nhà chính trị xuất sắc nhất, có mặt tại mọi cấp trong bộ máy chính quyền từ địa phương đến liên bang, ủng hộ các chính sách của Tổng thống.

   Kinh tế, khoa học - công nghệ được phục hồi và phát triển

   Trong lĩnh vực kinh tế, V.Pu-tin đã phục hồi lại sự công bằng tối thiểu, giải quyết được hoàn toàn các khoản nợ lương và lương hưu, nâng cao thu nhập của dân chúng từ mức nghèo khổ và khốn cùng dưới thời cầm quyền của B.En-xin. Trong hai nhiệm kỳ cầm quyền, Tổng thống Pu-tin không những vực dậy cả nền kinh tế đồ sộ từng suy yếu trầm trọng sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 1998, mà những quyết sách do ông thông qua còn giúp nước Nga có thể trả hết những khoản nợ nước ngoài trước kia, trong đó bao gồm cả những khoản nợ từ thời Liên bang Xô-viết cũ. Đặc biệt là, V.Pu-tin bắt đầu xây dựng mới các công ty xuyên quốc gia của Nga, làm đòn bẩy tác động vào nền kinh tế và chính trị thế giới, dần dần biến đồng rúp trở thành một đồng tiền có giá trị chung trên thế giới.

   Tổng thống Pu-tin rất quan tâm phục hưng nền khoa học - công nghệ, với chính sách và các chương trình phát triển khoa học - công nghệ, ông đã đưa nước Nga, từ chỗ một quốc gia dựa trên cơ sở sản xuất nguyên liệu, thành quốc gia có nền kinh tế công nghệ cao. Trong điều kiện cạnh tranh quốc tế khốc liệt, đây sẽ là vấn đề sống còn của nước Nga như là một cường quốc lớn. V.Pu-tin chủ trương tăng cường sự hỗ trợ của nhà nước đối với các ngành công nghiệp chiến lược quan trọng của đất nước hiện đang chiếm vị trí hàng đầu trên thế giới, mà trước hết là: công nghiệp chế tạo máy bay; đóng tàu; năng lượng nguyên tử; tổ hợp công nghiệp quân sự. Chương trình phát triển công nghệ na-no sẽ là một ưu tiên của Nhà nước giống như các chương trình “Vũ trụ”, “Chế tạo tên lửa” trong những năm 1960-1970. Các đề án mang tên “Nhà máy tư duy”, “Quản lý có hiệu quả - tiềm năng cán bộ” sẽ hỗ trợ để phát triển và ứng dụng các công nghệ tiên tiến vào đào tạo cán bộ.

   Kết quả điều tra xã hội học của hai hãng “Gallup” và “TNS-EMNID” theo đơn đặt hàng của Quỹ Bet-xten-man (Berstelsman) của Cộng hòa Liên bang Đức với sự tham gia của 10.250 người ở 9 nước, gồm Bra-xin, Trung Quốc, Pháp, Đức, Nhật Bản, Ấn Độ, Nga, Anh và Mỹ (trong đó có 1.500 người Nga) cho thấy, xét theo các tiêu chí: tốc độ phát triển kinh tế, tình hình chính trị trong nước ổn định, các thành tựu trong lĩnh vực khoa học, thì Nga đứng thứ 6 trong danh sách 10 cường quốc hàng đầu thế giới, sau Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Anh, EU. Dự báo, đến năm 2020, Nga sẽ vươn lên đứng thứ 5.

   Nga còn là quốc gia đóng vai trò đáng kể nhất trong việc duy trì hòa bình và ổn định, cũng là quốc gia giữ vị trí thứ 4 trong danh sách các nước và vùng lãnh thổ có nguồn dự trữ ngoại tệ bằng vàng lớn nhất thế giới, sau Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản. Nga là nước đóng góp vào Quỹ từ thiện lớn nhất thế giới: xét theo giá trị tuyệt đối số lượng viện trợ cho các nước nghèo nhất thế giới, Nga đứng thứ 3, còn xét theo tỷ lệ khối lượng viện trợ trên tổng thu nhập quốc dân, Nga đứng đầu thế giới. Đầu năm 2006, Nga tuyên bố xóa nợ 10 tỉ USD cho Áp-ga-ni-xtan; tháng 05- 2007, Nga thỏa thuận xóa nợ cho Xi-ri 10 tỉ USD; xóa 90% trong tổng số nợ 10,5 tỉ USD cho I-rắc.

   Theo kết quả nghiên cứu của hãng tư vấn quốc tế “AT Kearney”, Nga nằm trong danh sách 6 nước hấp dẫn nhất đầu tư trực tiếp của nước ngoài, xếp sau Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ, Anh, Ba Lan. Theo số liệu của Tổng cục thống kê Liên bang Nga, tổng khối lượng đầu tư nước ngoài vào nền kinh tế Nga đến cuối tháng 6-2005 là 90,8 tỉ USD, tăng 37,4% so với năm 2004. Nhờ hàng loạt những chính sách kinh tế đúng hướng, nền kinh tế Nga liên tục tăng trưởng cao trong “thời kỳ Pu-tin” với tỷ lệ tăng trưởng năm 2000 đạt 10% và trong 3 năm gần đây luôn đạt từ 6,5- 7,3%. Kinh tế dần phục hồi sau khủng hoảng và tăng trưởng đều là yếu tố chính giúp cho đời sống người dân Nga ngày càng ổn định và được nâng cao hơn.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #73 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2011, 04:46:49 pm »

   Phục hưng tiềm lực quân sự, bảo đảm toàn vẹn lãnh thổ

   Trong hai nhiệm kỳ cầm quyền, Tổng thống Pu-tin đã thực hiện chính sách phục hưng tiềm lực quân sự nhằm răn đe các nguy cơ đối với nền an ninh Nga, bảo đảm ổn định chiến lược và toàn vẹn lãnh thổ của Nga; bảo đảm các lợi ích kinh tế và chính trị, sẵn sàng tiến hành các chiến dịch có sử dụng lực lượng vũ trang theo quyết định của Tổng thống Nga; sẵn sàng tiến hành các chiến dịch quân sự trong thời bình nhằm thực hiện các cam kết đồng minh hoặc tham gia các chiến dịch gìn giữ hoà bình theo quyết định của Liên hợp quốc; sẵn sàng sử dụng sức mạnh quân sự để vô hiệu hoá các nguy cơ chiến tranh, trong đó có nguy cơ sử dụng vũ khí sát thương hàng loạt. Các lực lượng vũ trang Nga phải trải qua một quá trình cải tổ tích cực liên quan đến những thay đổi tình hình địa - chính trị có tính toàn cầu và sự hình thành Nhà nước Nga mới.

   Trong điều kiện cơ cấu kinh tế - xã hội chưa được xây dựng xong, lãnh đạo chính trị quân sự của Nga vẫn phải thực hiện những cải cách về chất lượng và số lượng quy mô lớn. Trước hết, là xây dựng cơ sở pháp lý để phát triển các lực lượng vũ trang Nga, xây dựng cơ sở của hệ thống kiểm soát về mặt chính trị và xã hội đối với hoạt động của các lực lượng vũ trang, xây dựng hệ thống phối hợp giữa các lực lượng vũ trang Nga với các cơ cấu sức mạnh khác của nhà nước Nga. Về cơ bản, Nga đã cắt giảm quân số đáng kể, từ 2 triệu 750 ngàn quân năm 1993 nay giảm xuống còn khoảng trên 1 triệu người phù hợp với yêu cầu đủ để phòng thủ. Về cơ bản, những thay đổi lớn trong các lực lượng vũ trang Nga liên quan đến sự cải tổ đã được hoàn thành.

   V.Pu-tin - “Nhân vật của năm 2007”

   Rõ ràng, sự phục hưng mạnh mẽ và toàn diện của nước Nga gắn liền với vai trò của Tổng thống Pu-tin. Trên bình diện thế giới, năm 2007 và đầu năm 2008 đánh dấu bước chuyển biến trật tự thế giới từ đơn cực hình thành sau “chiến tranh lạnh” sang trật tự thế giới mới đa cực, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của Nga. Sự chuyển biến này được khẳng định trong bài phát biểu gây chấn động dư luận của Tổng thống Pu-tin tại Hội nghị An ninh Mu-ních nhóm họp vào tháng 2-2007, trong đó, ông Pu-tin tuyên bố: Trật tự thế giới đơn cực là không thể tồn tại và chúng ta đang chứng kiến sự hình thành trật tự thế giới đa cực. Các quốc gia cần tôn trọng lợi ích của nhau. An ninh của mối quốc gia là an ninh của toàn thế giới và an ninh của thế giới cũng là an ninh của từng quốc gia...”. Bài phát biểu này được đánh giá là “sự kiện chính trị nổi bật nhất năm 2007”.

   Có thể nói, đó là những lý do vì sao mà năm 2007 và đầu năm 2008, báo chí thế giới tập trung bàn nhiều về hai chủ đề là “hiện tượng Pu-tin” và “hiện tượng nước Nga phục hưng”. Dư luận đánh giá cao vai trò của Tổng thống Pu-tin đối với nước Nga và thế giới, riêng Tạp chí Mỹ “Time” bình chọn V.Pu-tin là “Nhân vật của năm 2007”. Trong bài viết đăng trên tạp chí này, ông Ri-sác Sten-gen (Richard Stengel) nhận xét rằng, việc “Time” chọn Pu-tin là “nhân vật năm 2007” là sự công nhận, là sự đánh giá tỉnh táo nhất về thế giới như nó đang tồn tại, trong đó có những con người mạnh mẽ nhất đang góp phần hình thành nên thế giới đó. Dĩ nhiên, tiêu chuẩn này còn có liên quan đến các phẩm chất lãnh đạo như sự sáng suốt có tác dụng thay đổi hành tinh chúng ta.

   Tân Tổng thống Đ.Mét-vê-đép và tương lai nước Nga “hậu Pu-tin”

   Sau 2 nhiệm kỳ liên tục cầm quyền của ông Pu-tin, nước Nga đã tiến hành bầu cử tổng thống mới vào đầu tháng 3-2008. Phó Thủ tướng thứ nhất, ông Đờ-mi-tơ-ri Mét-vê-đép, đắc cử Tổng thống với hơn 70% phiếu bầu và sẽ tuyên thệ nhậm chức Tổng thống Nga vào 12 giờ (giờ Mat-xcơ-va) hôm nay, ngày 07-05-2008.

   Sau khi tân Tổng thống Đ.Mét-vê-đép lên cầm quyền, dư luận bàn nhiều về triển vọng phát triển nước Nga trong “thời kỳ hậu Pu-tin”. Thực ra, triển vọng đó đã được xác định khá rõ trong “Chiến lược phát triển nước Nga đến năm 2020” của Tổng thống V.Pu-tin, trong đó xác định nước Nga sẽ phát triển trên 5 hướng chủ yếu, và ông Đ.Mét-vê-đép cam kết sẽ tiếp tục thực hiện đường lối do Tổng thống Pu-tin thực thi trong gần một thập kỷ qua.

   Một là, tiếp tục phát triển nước Nga như là một nền văn minh độc đáo, bảo vệ không gian văn hóa chung của nước Nga, tiếng Nga, các truyền thống lịch sử Nga.

   Hai là, nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế theo các hướng đổi mới, phát triển khoa học, phát triển kết cấu hạ tầng, tăng cường đầu tư trước hết cho các ngành công nghệ cao và các lĩnh vực là đầu tàu cho sự phát triển kinh tế.

   Ba là, bảo đảm tạo ra chất lượng cuộc sống mới cho công dân thông qua việc tiếp tục thực hiện các đề án quốc gia ưu tiên, tiếp tục nâng cao đáng kể thu nhập, lương, học bổng, hỗ trợ công dân giải quyết vấn đề nhà ở.

   Bốn là, xây dựng các thể chế xã hội dân sự, kích thích tính năng động và tích cực xã hội của công dân, để các công dân sẵn sàng đề xuất các sáng kiến nhằm xây dựng xã hội mới.
 
   Năm là, củng cố chủ quyền của Nga, tăng cường khả năng quốc phòng, bảo đảm tạo ra vị thế xứng đáng của nước Nga trong một thế giới đa cực.

   Mục tiêu chiến lược bao trùm là xây dựng nước Nga thành một cường quốc lớn trên cơ sở truyền thống lịch sử và các giá trị văn hóa của các dân tộc trong Liên bang Nga và những thành quả tốt đẹp của nền văn minh thế giới. Nước Nga sẽ là một quốc gia dân chủ, hướng tới một xã hội tự do, công bằng và đoàn kết, có nền kinh tế đổi mới, có khả năng cạnh tranh, có chất lượng cuộc sống cao. Chiến lược đổi mới đất nước được dựa trên các nguyên tắc dân chủ có chủ quyền, xuất phát từ quyền bất khả xâm phạm của dân tộc Nga được tự do và độc lập quyết định số phận lịch sử của mình; sử dụng tài sản quốc gia phục vụ lợi ích của toàn dân tộc và của mỗi công dân Nga.

   Dư luận ở Nga và thế giới cho rằng “Chiến lược phát triển nước Nga đến năm 2020” của Tổng thống Pu-tin có nhiều cơ hội thành công bởi Đảng “Nước Nga thống nhất” đã lấy Chiến lược này làm cương lĩnh hành động của Đảng. Với cương vị mới là Chủ tịch Đảng “Nước Nga thống nhất” được bầu trong lần Đại hội Đảng vừa được tổ chức đầu năm 2008, V.Pu-tin sẽ cùng tân Tổng thống Met-ve-đep thực thi chiến lược này, với quyết tâm đưa nước Nga trở thành cường quốc giàu mạnh vào cuối thập niên thứ hai của thế kỷ XXI./.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #74 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2011, 04:48:15 pm »

CHUYẾN THĂM NƯỚC NGOÀI ĐẦU TIÊN CÓ Ý NGHĨA CHIẾN LƯỢC CỦA TỔNG THỐNG NGA Đ.MÉT-VÊ-ĐÉP

   Chuyến thăm nước ngoài đầu tiên của tân Tổng thống Nga Đ.Mét-vê-đép một lần nữa chứng tỏ định hướng về phía Đông trong chiến lược đối ngoại của Liên bang Nga.
 
   “Mở hàng” bằng chuyến thăm quốc gia có vị trí then chốt trên “bàn cờ lớn”

   Quốc gia đầu tiên trong chuyến công du nước ngoài của tân Tổng thống Nga Đ.Mét-vê-đép là Ca-dắc-xtăng. Sự lựa chọn này nói lên nhiều điều. Chuyến thăm này phần nào thể hiện chiến lược “hướng Đông” của Nga đã từng được cựu Tổng thống Nga V.Pu-tin khởi xướng sau những năm theo đuổi ảo vọng “hướng Tây” của Điện Crem-li khi Liên Xô sụp đổ. Còn Ca-dắc-xtăng lại là quốc gia có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng trong “bàn cờ lớn” của các siêu cường ở khu vực Trung Á.

   Mặc dù được tuyên bố là “chuyến thăm hữu nghị” nhưng chuyến công du của Tổng thống Đ.Mét-vê-đép có ý nghĩa lớn đối với cả khách và chủ nhà. Đối với Nga, chuyến thăm nhằm khẳng định sự quan tâm đặc biệt của Điện Cờ-rem-li tới không gian hậu Xô-viết; nhấn mạnh ý nghĩa và tầm quan trọng chiến lược của mối quan hệ giữa Nga và Ca-dắc-xtăng trong bối cảnh quan hệ giữa Nga với nhiều nước trong Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG) trở nên lạnh nhạt hơn, thậm chí, có lúc, có nơi căng thẳng, đối địch như trong quan hệ với U-cờ-ren và Gơ-ru-di-a; mong muốn tăng cường hơn nữa quan hệ hợp tác chiến lược giữa hai nước phù hợp với lợi ích của cả hai bên. Đối với Ca-dắc-xtăng, đây là dịp để thể hiện sự thân thiện với Nga; thúc đẩy hợp tác với Nga trong các lĩnh vực có lợi đối với Ca-dắc-xtăng và phát huy thanh thế trong khu vực Trung Á.

   Xét về vị trí địa lý, Ca-dắc-xtăng có lãnh thổ trải dài ở phía bắc và trung tâm phần lục địa Á - Âu, với diện tích rộng tới 2.717.300 km², rộng hơn cả Tây Âu và đứng hàng thứ 9 thế giới xét về lãnh thổ. Ca-dắc-xtăng tiếp giáp Nga ở phía bắc, Trung Quốc ở phía đông - nam, hai nước Trung Á là U-dơ-bê-ki-xtăng và Kiếc-gi-xtăng về phía nam. Một điều quan trọng nữa: Ca-dắc-xtăng là một trong những quốc gia có chủ quyền lãnh hải chiếm phần đáng kể trên biển Ca-xpi, nơi có nguồn dầu mỏ lớn thứ 2 thế giới, sau vùng Vịnh Pếch-xích. Vì thế, Tổng thống Đ.Mét-vê-đép-từng là nhà quản lý số 1 của “Gazprom”, không thể không quan tâm đến Ca-dắc-xtăng.

   Phát biểu tại cuộc họp báo với người đồng nhiệm Nga, Tổng thống Ca-dắc-xtăng, ông Nu-xu-lan Na-da-ba-ép (Nursultan Nazarbayev), tuyên bố, hai quốc gia sẽ thoả thuận hợp tác lâu dài và thống nhất. Các thoả thuận đạt được trong chuyến thăm lần này của Tổng thống Đ.Mét-vê-đép liên quan đến chiến lược phát triển của Nga đến năm 2020 và chiến lược phát triển của Ca-dắc-xtăng đến năm 2030. Tổng thống Nu-xu-lan Na-da-ba-ép đánh giá cao tầm quan trọng có ý nghĩa chiến lược của quan hệ ngoại giao song phương Nga - Ca-dắc-xtăng. Tổng thống Đ.Mét-vê-đép và Tổng thống Nu-xu-lan Na-da-ba-ép đã ra Tuyên bố chung và ký kết nhiều văn kiện hợp tác song phương, trong đó có Hiệp ước Liên chính phủ về sự hợp tác trong lĩnh vực nghiên cứu khoảng không vũ trụ nhằm mục đích hoà bình, hợp tác sử dụng và phát triển hệ thống dẫn đường toàn cầu bằng vệ tinh GLONASS của Nga, thoả thuận về sự phối hợp hoạt động giữa Công ty quốc gia công nghệ na-nô của Nga và Quỹ cổ đông vì sự phát triển bền vững của Ca-dắc-xtăng, thoả thuận về cho vay dài hạn giữa Ngân hàng ngoại thương của Nga và Ngân hàng phát triển Ca-dắc-xtăng. Ngoài ra, Nga và Ca-dắc-xtăng sẽ tiếp tục tăng cường và củng cố sự hợp tác trong các lĩnh vực công nghiệp quốc phòng và kỹ thuật quân sự, coi hai lĩnh vực này là nội dung quan trọng của sự đối tác chiến lược song phương nhằm duy trì an ninh toàn cầu và khu vực. Tuyên bố chung nêu rõ Nga và Ca-dắc-xtăng sẽ phối hợp chặt chẽ nhằm bảo đảm khả năng quốc phòng phối hợp tin cậy trong khuôn khổ không gian chiến lược quân sự chung trên cơ sở Hiệp ước an ninh tập thể ký kết giữa hai nước năm 1992. Tuyên bố chung còn nhấn mạnh, Nga và Ca-dắc-xtăng không ngừng tiếp tục củng cố sự hợp tác trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa khủng bố quốc tế, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, chống buôn lậu ma tuý và vũ khí, chống phổ biến mọi biểu hiện của chủ nghĩa cực đoan. Ngoài ra, Bộ trưởng ngoại giao hai nước ký kết thoả thuận về việc làm thủ tục xác nhận quyền sở hữu của Ca-dắc-xtăng đối với một số ngôi nhà ở thủ đô Mát-xcơ-va của Nga. Nhìn chung, dư luận ở Nga và Ca-dắc-xtăng đánh giá chuyến thăm Ca-dắc-xtăng của Đ.Mét-vê-đép là “rất thành công”.

   Chuyến thăm đối tác chiến lược số 1 của Nga trong thế kỷ XXI

   Ngày 23-05-2008, Đ.Mét-vê-đép rời Ca-dắc-xtăng và bắt đầu chuyến thăm đầu tiên đến Trung Quốc trên cương vị là Tổng thống Nga. Tại Bắc Kinh, Tổng thống Nga Đ.Mét-vê-đép đã hội đàm với Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Ðào, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo, Chủ tịch Quốc hội Trung Quốc Ngô Bang Quốc và Chủ tịch Hội nghị Chính trị Hiệp thương nhân dân Trung Quốc Giả Khánh Lâm.

   Trong chuyến thăm này, Tổng thống Đ.Mét-vê-đép đặc biệt quan tâm đến sự phát triển hợp tác kinh tế Nga - Trung Quốc và hoạt động phối hợp của hai quốc gia trên trường quốc tế. Mở đầu cuộc hội đàm, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã cảm ơn Tổng thống Nga Đ.Mét-vê-đép và cựu Tổng thống Nga, nay là Thủ tướng Nga V.Pu-tin, vì sự hỗ trợ kịp thời cho Trung Quốc trong việc khắc phục hậu quả thảm họa động đất ngày 12-05-2008. Ngay sau khi được tin xẩy ra thảm hoạ, Nga đã kịp thời cử các đội cứu hộ và một bệnh viện di động tới khu vực thiên tai ở tỉnh Tứ Xuyên. Tổng thống Đ.Mét-vê-đép một lần nữa chia buồn sâu sắc với hơn 55.000 nạn nhân động đất và gia quyến của họ. Ông khẳng định: “Nga sẵn sàng cung cấp mọi sự hỗ trợ cần thiết và hàng viện trợ cho những người bạn Trung Quốc”. Chủ tịch Hồ Cẩm Đào cảm ơn sự giúp đỡ và cảm thông sâu sắc của phía Nga và khẳng định, chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Đ.Mét-vê-đép là “rất quan trọng” và “sẽ không chỉ duy trì mà còn tăng cường tất cả các mối quan hệ tốt đẹp đã có giữa hai nước, sẽ tạo động lực mạnh mẽ đối với việc phát triển hợp tác chiến lược giữa Trung Quốc và Nga”.

   Ngay trong ngày đầu tiên của chuyến thăm, hai bên đã ra Tuyên bố chung về các vấn đề quốc tế và ký kết gần 400 hợp đồng và thoả thuận lớn, trong đó có hợp đồng Nga sẽ giúp Trung Quốc xây dựng một nhà máy trị giá trên 1 tỉ USD để làm giàu u-ra-ni.

   Do vai trò và ảnh hưởng ngày càng lớn của Trung Quốc trong các hoạt động quốc tế, các bên đã giành nội dung đáng kể thảo luận về các vấn đề then chốt trong khu vực và thế giới. Trung Quốc ủng hộ quan điểm của Nga về nhiều vấn quan trọng trong quan hệ quốc tế, trong đó, Trung Quốc phản đối việc Mỹ xây dựng hệ thống phòng thủ tên lửa mà trong những năm 1980, Oa-sinh-tơn gọi là “Chiến tranh giữa các vì sao”. Hai bên khẳng định rằng, việc xây dựng hệ thống phòng thủ tên lửa toàn cầu, trước hết là xây dựng hệ thống đó ở những khu vực nhất định trên thế giới, sẽ không góp phần tạo ra sự cân bằng và ổn định chiến lược mà chỉ làm tổn hại các nỗ lực kiểm soát vũ khí quốc tế và ngăn chặn quá trình cấm phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, cản trở quá trình tăng cường sự tin cậy giữa các quốc gia. Hai bên còn thống nhất quan điểm soạn thảo một hiệp ước cấm bố trí vũ khí trên vũ trụ, cùng nhau nỗ lực đưa ra các sáng kiến để cải tổ Liên hợp quốc nhằm nâng cao hiệu lực của tổ chức quốc tế lớn nhất hành tinh này. Các bên cũng nhấn mạnh, Liên hợp quốc cần phải đóng vai trò trung tâm và có uy tín ngày càng cao trong cộng đồng quốc tế.

   Nga và Trung Quốc thống nhất cùng phối hợp nỗ lực trong các hoạt động quốc tế nhằm củng cố xu hướng đa cực và xây dựng trật tự thế giới dựa trên những nguyên tắc và chuẩn mực pháp lý quốc tế đã được thừa nhận. Trung Quốc là một trong những đối tác tích cực nhất của Nga trong việc bảo đảm sự ổn định chiến lược trên thế giới. Do đó, các bên đặc biệt chú ý mở rộng hợp tác song phương trong những vấn đề đa phương, trong đó, có quá trình đối thoại giữa Nhóm G-8 của các nước phát triển cao với Nhóm G-5 của các nước đang phát triển. Các bên còn thảo luận những vấn đề thuộc phạm vi hợp tác trong “tam giác chiến lược” Nga - Ấn Độ - Trung Quốc, trao đổi ý kiến về những vấn đề hợp tác trong khuôn khổ Tổ chức hợp tác Thượng Hải. Nga và Trung Quốc còn có trách nhiệm đặc biệt của thành viên thường trực trong Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, cùng thống nhất chủ trương sử dụng các biện pháp ngoại giao để hoá giải tình hình bất đồng và xung đột tại các “điểm nóng” trên thế giới mà không dùng biện pháp sử dụng sức mạnh như vấn đề hạt nhân của I-ran, tình hình trên Bán đảo Triều Tiên, Cô-xô-vô, Xu-đăng, quá trình giải quyết xung đột ở Trung Đông, tái thiết I-rắc và Áp-ga-ni-xtăng.
 
   Tổng thống Đ.Mét-vê-đép và Chủ tịch Hồ Cẩm Đào còn hội đàm về nhiều vấn đề như tiếp tục phát triển mối quan hệ hợp tác trong lĩnh vực kỹ thuật quân sự, xúc tiến đối thoại về các vấn đề bảo vệ môi trường, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và tăng cường các nỗ lực nhằm bảo vệ tài nguyên nước. Hai bên thoả thuận nội dung Kế hoạch hành động cho thời kỳ 4 năm tới (2008-2012). Kế hoạch hành động đã được các bên lần đầu tiên soạn thảo và ký kết vào năm 2005 nhằm thực hiện các nội dung đề ra trong Hiệp ước về láng giềng thân thiện, hữu nghị và hợp tác trong những năm 2005-2008. Nhờ quan hệ ngày càng tốt đẹp giữa Nga và Trung Quốc, các bên đã giải quyết được cơ bản vấn đề biên giới và hoàn thành việc cắm mốc biên giới Nga - Trung. Thời gian qua, Nga và Trung Quốc không ngừng mở rộng sự hợp tác liên khu vực và song phương nhằm thực hiện các kế hoạch tái thiết và phát triển cơ sở công nghiệp ở khu vực Viễn Đông, ngoại Bai-can và vùng đông - bắc Trung Quốc. Hai bên đã thực hiện có hiệu quả việc thực hiện kế hoạch “Năm quốc gia của Trung Quốc và Nga” trong những năm 2006-2007 nhằm thắt chặt quan hệ hữu nghị Nga - Trung. Trên cơ sở đó, các bên thoả thuận sẽ thường xuyên tiến hành “Năm tiếng Nga ở Trung Quốc” vào năm 2009 và “Năm tiếng Trung Quốc ở Nga” vào năm 2010.

   Riêng lĩnh vực hợp tác kỹ thuật quân sự, trong chuyến thăm lần này, các chuyên gia của Nga và Trung Quốc đàm phán về 3 dự án kỹ thuật quân sự, theo đó, Nga sẽ xuất sang Trung Quốc các loại máy bay hiện đại nhất như Su-33, Su-35 và Su-30MK2. Dự án thứ nhất xem xét khả năng Nga xuất khẩu máy bay Su-33 và công nghệ chế tạo cho Trung Quốc. Loại máy bay này được Trung Quốc quan tâm để thực hiện đề án chế tạotàu sân bay trong tương lai. Trung Quốc dự định sử dụng một số công nghệ chế tạo Su-33 để phát triển máy bay chiến đấu J-11B do Trung Quốc tự thiết kế. Dự án thứ hai xem xét khả năng Nga xuất khẩu máy bay tiêm kích Su-35 sang Trung Quốc. Dự án thứ ba đề cập đến khả năng Trung Quốc sẽ tiếp tục nhập khẩu từ Nga các máy bay tiêm kích Su-30MK2. Các chuyên gia kỹ thuật quân sự giải mã các ký hiệu MK2 của loại máy bay này là: chữ “M” trong ký hiệu có nghĩa “cải tiến” (Modernization); chữ “K” trong ký hiệu có nghĩa là “Ki-tai” (tiếng Nga là “Trung Quốc”) để xuất sang Trung Quốc; con số “2” có nghĩa là “cải tiến thế hệ 2”. Tuy nhiên, lần này, Trung Quốc quan tâm nhiều đến nhập công nghệ chế tạo Su-30MK2 hơn mua máy bay sẵn có.

   Vào ngày cuối chuyến thăm Trung Quốc, Tổng thống Đ.Mét-vê-đép tới đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm các anh hùng dân tộc Trung Quốc đã hy sinh trong các cuộc chiến tranh giải phóng đất nước trong thế kỷ XIX, thế kỷ XX và anh hùng cách mạng. Tổng thống Đ.Mét-vê-đép đã tới thăm Đại học tổng hợp Bắc Kinh và phát biểu trước các sinh viên về quá trình giải quyết vấn đề biên giới giữa hai nước, về sự chuẩn bị nhằm hướng tới những tiến bộ có tính đột phá trong khoa học và công nghệ ở Nga và ở Trung Quốc trong bối cảnh Nga đang nỗ lực chuyển từ một cường quốc tài nguyên sang cường quốc công nghệ cao, còn Đảng Cộng sản Trung Quốc vừa thông qua Chiến lược phát triển đất nước dựa trên khoa học.

   Với số lượng lớn các hợp đồng và thoả thuận quan trọng đã được ký kết trong chuyến thăm hai nước châu Á đầu tiên, cũng như tình cảm thân thiết của các nước chủ nhà đối với khách, các chuyên gia phân tích chính trị quốc tế ở Nga và Trung Quốc đánh giá, chuyến xuất ngoại đầu tiên của Tổng thống Đ.Mét-vê-đép tới Ca-dắc-xtăng và Trung Quốc không chỉ khẳng định chính sách đối ngoại hướng đông của Nga mà còn là “mùa đầu bội thu” trong hoạt động đối ngoại của tân Tổng thống Nga. Tất cả những gì mà Điện Crem-li dự kiến trong chuyến thăm này tới hai nước châu Á đều đã đạt được, góp phần đáng kể tăng cường và củng cố vị thế của Nga trên một hướng chiến lược có ý nghĩa rất quan trọng đối với Nga và các đối tác chiến lược của Nga./.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #75 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2011, 04:50:57 pm »

LIỆU “THIÊN NGA TRẮNG” CÓ HẠ CÁNH XUỐNG “HÒN ĐẢO TỰ DO”?

   Cựu Tổng thống Nga V.Pu-tin và Tổng thống đương nhiệm Đ.Mét-vê-đép đã từng đưa ra lời cảnh báo, Nga sẽ đáp trả kế hoạch của Mỹ triển khai trận địa tên lửa đánh chặn ở Đông Âu bằng các giải pháp “phi đối xứng”. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa ai biết đó là giải pháp gì. Vì thế, dư luận ở Nga và trên thế giới đã thực sự cảm thấy “sốc” khi đọc bài viết mang tựa đề “Liệu Thiên nga trắng có hạ cánh xuống Hòn đảo Tự do?” đăng trên tờ “Izvestia” của Nga, ngày 21-7-2008.

   Không cần giải thích thì dư luận ở Nga và trên thế giới đều biết rõ “Thiên Nga trắng” là tên gọi máy bay ném bom chiến lược TU-160 của Không quân Nga, còn “Hòn đảo Tự do” là Cu-ba. Dù cho cuối tiêu đề bài viết có đặt dấu chấm hỏi thể hiện sự nghi vấn, nhưng sau khi xem xong bài báo, trong đó trích lời của một quan chức quân sự cấp cao “tình cờ” tiết lộ với phóng viên tờ “Izvestia” rằng, trong khi người Mỹ đang triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa ở Ba Lan và Cộng hoà Séc thì các máy bay chiến lược tầm xa của Nga đã kịp hạ cánh xuống Cu-ba, người đọc đều nghĩ đến khả năng Nga sẽ bố trí máy bay ném bom tầm xa mang vũ khí hạt nhân tại một căn cứ không quân ở ngoại ô La Ha-ba-na, thủ đô Cu-ba, nhằm đáp trả hành động của Mỹ bố trí trận địa phòng thủ tên lửa thứ ba ở Ba Lan và Cộng hòa Séc, ngay sát biên giới Nga.

   Ngay lập tức, bài báo lọt vào “tầm ngắm” của các phương tiện thông tin đại chúng và giới quân sự Mỹ. Một “làn sóng” các bài bình luận, phân tích sự kiện này được đăng tải trên hầu hết các phương tiện thông tin đại chúng khắp thế giới, tuy nhiên, không ai có thể nhận định được một cách chính xác thực sự điều gì đang diễn ra đằng sau các bản tin và bài bình luận về khả năng nước Nga mở rộng ảnh hưởng quân sự ở Cu-ba.

   Tờ “The Washington Post” của Mỹ nhận xét rằng, Bộ Quốc phòng Nga chưa khẳng định và cũng không phủ nhận nội dung thông tin đăng tải trên báo “Izvestia”, nhưng tờ báo này cũng bày tỏ, báo “Izvestia” từ lâu là diễn đàn thường “tiết lộ” những thông tin chiến lược quan trọng lọt ra từ giới lãnh đạo cao cấp ở Nga. Các chuyên gia phân tích chính trị nhắc lại tuyên bố của cựu Tổng thống Nga V. Pu-tin đưa ra trong năm 2007 rằng, Nga dự kiến bố trí tên lửa hạt nhân ở Ka-lê-nin-grat (Kaleningrad) để đáp trả kế hoạch của Mỹ triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa ở Đông Âu, và tuyên bố ngày 9-7-2008 của Bộ Ngoại giao Nga sẽ đáp trả hành động của Mỹ bố trí hệ thống phòng thủ tên lửa ở Ba Lan và Cộng hoà Séc không chỉ bằng biện pháp ngoại giao mà cả biện pháp kỹ thuật quân sự.

   Bộ Ngoại giao Mỹ không đưa ra các giả thiết hoặc kết luận về nội dung bài báo nói trên, còn Văn phòng báo chí của Bộ Ngoại giao Mỹ chỉ đưa ra nhận xét rằng, Bộ Ngoại giao “lưu ý” đến bài báo này nhưng không đưa ra bất kỳ lời bình luận nào về nội dung thông tin chứa trong đó, bởi chính phủ Nga chưa chính thức khẳng định. Trong khi đó, ngày 22-7-2008, tướng Nốc-tơn Xvác-tơ (Norton Schawartz) - người sắp nhậm chức Tham mưu trưởng không quân Mỹ, khi phát biểu trước Ủy ban Quân lực Thượng viện Mỹ tuyên bố: “Nếu Nga có ý định triển khai máy bay ném bom ở Cu-ba, hoặc sử dụng các sân bay ở Cu-ba để tiếp dầu, thì họ sẽ vượt qua “giới hạn đỏ”.

   Trước tình hình đó, các nhà báo quay sang săn lùng tin tức từ Chính phủ Cu-ba. Nhưng ông Ra-un Ca-xtrô, người vừa giữ chức Chủ tịch Cu-ba vào tháng 2-2008, cũng lại làm họ thất vọng vì không đưa ra bất kỳ lời bình luận nào. Tuy nhiên, cựu Chủ tịch Phi-đen Ca-xtrô đã đích thân bày tỏ quan điểm. Trong một bài viết đăng tải trên trang thông tin điện tử Cubadebate.cu, ngày 23-7-2008, Phi-đen Ca-xtrô nhận xét rằng, việc Chủ tịch Ra-un Ca-xtrô không có ý kiến gì là hành động hoàn toàn đúng đắn, bởi Cu-ba không có trách nhiệm giải thích với Mỹ hoặc đề nghị Mỹ cho phép không quân Nga hạ cánh xuống lãnh thổ Cu-ba. Như vậy, tất cả những sự kiện liên quan đến chuyện máy bay ném bom chiến lược của Nga trở lại Cu-ba dường như chỉ là những sự kiện mang tính chất báo chí.

   Trên thực tế, từ lâu nay, các tướng lĩnh của Nga đã từng nghĩ đến khả năng bố trí máy bay ném bom chiến lược gần sát bờ biển nước Mỹ. Gần đây, câu chuyện này đã trở thành chủ đề chiếm khá nhiều thời lượng hoặc trang viết trên các phương tiện thông tin đại chúng của Nga. Trong hai tuần qua, gần như tất cả các đài phát thanh và truyền hình ở Nga đều đưa tin bình luận về khả năng này. Thậm chí, trên mạng Internet có đưa tin cựu Tổng tham mưu trưởng các lực lượng vũ trang Nga, Đại tướng Mi-khai-in Cô-let-nhi-cốp, đã từng đề nghị cựu Tổng thống Nga Bô-rít En-xin bố trí hai trung đoàn tên lửa phòng không ở Cu-ba nhằm đáp trả hành động của NATO không ngừng mở rộng sang phía Đông. Tư lệnh Không quân tầm xa của Nga trong những năm 1997-2002, trung tướng Mi-khai-in Ô-pa-rin, cũng thông báo, cách đây 10 năm, các tướng lĩnh ở Nga đã từng xem xét khả năng đưa máy bay ném bom chiến lược của Nga hạ cánh ở Cu-ba. Trong dư luận xã hội Nga, đặc biệt là trong giới quân sự, từ lâu đã có ý kiến phản đối việc Nga không có phản ứng gì trước kế hoạch ẩn chứa ý đồ của khối Bắc Đại Tây Dương. Các tướng lĩnh Nga không hài lòng với những cảnh báo và những tuyên bố ngoại giao phát đi từ Điện Cơ-rem-li. Họ cho rằng, cần phải có các hành động đáp trả “phi đối xứng” và thích hợp, ngay lập tức, không chậm trễ.

   Ngày 24-7-2008, cũng lại báo “Izvestia” đưa tin rằng, theo những tin tức tin cậy có được từ các nguồn tin thuộc Bộ Quốc phòng Nga, các kíp lái máy bay ném bom chiến lược của Nga đã bay trên các máy bay vận tải quân sự đến Cu-ba thị sát địa hình và tìm hiểu hạ tầng của những sân bay mới tại đây. Ngoài ra, cũng theo tin chính thức từ Bộ Quốc phòng Nga tiết lộ với báo “Izvestia”, thì máy bay ném bom chiến lược TU-160 và TU-95MC (NATO gọi là “Con Gấu”) có thể cất cánh và hạ cánh vào bất kỳ thời điểm nào xuống các sân bay căn cứ ở Mỹ La-tinh và châu Phi, không chỉ ở Cu-ba mà cả ở Vê-nê-xu-ê-la và An-giê-ri. Tổng thống Vê-nê-xu-ê-la, ông Hu-gô Cha-vet, trong chuyến thăm Nga gần đây cũng tuyên bố rằng, sẽ rất hân hạnh đón tiếp máy bay quân sự của Nga hạ cánh xuống đất nước ông.

   Trong tương lai, các sân bay ở Cu-ba sẽ được Nga sử dụng dụng làm “sân bay tiếp sức” cho các máy bay ném bom chiến lược sau chuyến bay dài ngày trên Đại Tây Dương. Các máy bay của Nga sẽ hạ cánh xuống Cu-ba để tiếp dầu hoặc bảo dưỡng kỹ thuật. Theo tuyên bố của tướng Đê-nây-kin, cựu Tổng tham mưu trưởng không quân Nga, hiện nay các máy bay ném bom tầm xa TU-160 và TU-95MC đã có thể bay tới Mỹ sau hai lần tiếp dầu trên không. Nhờ có các “sân bay tiếp sức” ở Mỹ La-tinh, thời gian bay tuần tra của máy bay ném bom chiến lược Nga ở phía Tây bán cầu sẽ gần như không có giới hạn. Một chi tiết được đặc biệt lưu ý là, máy bay ném bom chiến lược TU-160 và TU-95MC của Nga mang tên lửa hành trình tầm xa X-55, X-55CM và X-555 mang đầu đạn hạt nhân. Nếu những máy báy này hạ cánh xuống Cu-ba, ngay sát bờ biển Mỹ, rất có thể sẽ làm cho quan hệ Mỹ - Nga trở nên xung đột nghiêm trọng.
 
   Tuy nhiên, giới phân tích quân sự cho rằng việc thường xuyên triển khai máy bay ném bom TU-160 hoặc TU-195 ở Cu-ba, đối với Nga, không có ý nghĩa quan trọng lắm. Vì thế, các căn cứ không quân trên “Hòn đảo Tự do” chỉ được Nga sử dụng để tiếp dầu cho các máy báy của họ làm nhiệm vụ tuần tra trên Đại Tây Dương. Một trong các phương án đã được xem xét là Nga sẽ bố trí ở Cu-ba các máy bay IL-78 chuyên làm nhiệm vụ tiếp dầu cho máy bay ném bom TU-160 và TU-195. Như vậy, các máy bay ném bom tầm xa của Nga sau 10 giờ bay với hai lần tiếp dầu trên không có thể tuần tra không phận tại các vùng phía Tây tới bờ biển nước Mỹ và do đó, việc xây dựng các “sân bay tiếp sức” ở Mỹ La-tinh và châu Phi sẽ làm thay đổi căn bản vị thế chiến lược của không quân Nga.

   Một số chuyên gia phân tích cho rằng, những thông tin trên đây có thể là một “đòn tiến công thông tin” của Bộ Quốc phòng Nga nhằm vào Mỹ và các đồng minh của Mỹ trong khối NATO để răn đe kế hoạch triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa ở Đông Âu. Đòn “tiến công thông tin” tương tự cũng đã từng được cựu Tổng tham mưu trưởng Các lực lượng vũ trang Nga, tướng Y-u-ri Ba-lu-ép-xki, thực hiện tháng 12-2007. Hồi đó, ông tuyên bố rằng, nếu tên lửa đánh chặn của Mỹ được phóng lên từ lãnh thổ Ba Lan để đánh chặn tên lửa đường đạn của I-ran thì hệ thống tự động hoá chỉ huy thuộc hệ thống phòng thủ tên lửa của Nga sẽ báo động và phát lệnh điều khiển tên lửa đường đạn của Nga tiến công hạt nhân nhằm vào Ba Lan. Đòn “tiến công thông tin” có tính “cân não” này có hiệu lực đến đâu khó có thể đo đếm được, chỉ biết rằng, ngày 8-7-2008, Mỹ đã ký với Cộng hoà Séc Hiệp ước bố trí trạm ra-đa của Mỹ trên lãnh thổ nước này. Còn cuộc đàm phán giữa Mỹ và Ba Lan hiện vẫn đang gặp khó khăn vì Mỹ vẫn chưa đáp ứng các yêu cầu về an ninh mà Ba Lan đưa ra. Người ta phỏng đoán rằng, rất có thể, sự do dự này của Ba Lan chịu ảnh hưởng nhất định từ “đòn tiến công thông tin” của tướng Ba-lu-ép-xki.

   Trong suốt những năm qua, Nga đã không ít lần đưa ra cảnh báo và đe dọa đại loại như “sẽ tiến công phủ đầu vào các căn cứ của bọn khủng bố trên lãnh thổ các nước láng giềng Nga”, “điều chỉnh tên lửa chiến lược và chiến dịch - chiến thuật nhằm vào các căn cứ phòng thủ tên lửa của Mỹ ở Đông Âu”, thậm chí, “Nga sẵn sàng rút khỏi Hiệp ước tên lửa tầm trung và tầm ngắn”, nhưng đó mới chỉ là trên lời nói. Theo ý kiến của một số chuyên gia phân tích chính trị và quân sự Nga, để đáp trả một cách có hiệu quả, nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia, nước Nga cần soạn thảo Chiến lược an ninh quốc gia và Học thuyết quân sự mới, trong đó xác định rõ đối phương của nước Nga ngày nay là ai; nước Nga đang đứng trước những nguy cơ an ninh nào; và để đối phó, cần sử dụng phương tiện và phương thức gì. Chỉ khi nào nước Nga đưa ra được một chương trình hành động có luận chứng sâu sắc, trong đó có các biện pháp đáp trả sự mở rộng NATO về phía Đông và việc Mỹ bố trí tên lửa phòng thủ ở châu Âu, đủ sức thuyết phục không chỉ đối với dư luận Nga mà cả dư luận quốc tế thì khi đó người ta mới đoán biết được, “Thiên nga trắng” của Nga sẽ bay về đâu, hạ cánh ở những nơi nào, và, liệu trong đó có “Hòn đảo Tự do” hay không?./.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #76 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2011, 04:52:02 pm »

CUỘC CHIẾN Ở NAM Ô-XÊ-TI-A: NHÌN TỪ CÁC PHÍA

   Ngày 8-8-2008, đúng vào ngày khai mạc Đại hội thể thao lớn nhất thế giới ở Bắc Kinh với khẩu hiệu “Một thế giới, Một ước mơ”, tiến tới tương lai hoà bình, hữu nghị và đoàn kết giữa các dân tộc trên toàn thế giới, thì các đơn vị quân đội Gru-di-a, được hàng trăm xe tăng và đại bác hạng nặng yểm trợ, mở chiến dịch quân sự quy mô lớn tiến công lực lượng gìn giữ hoà bình của Nga ở Nam Ô-xê-ti-a, nhằm đánh chiếm và giành quyền kiểm soát vùng đất này. Đồng thời, Tổng thống Gru-di-a, ông Sa-a-ka-svi-li, tuyên bố tổng động viên và đưa đất nước Gru-di-a vào tình trạng chiến tranh. Cuộc xung đột Bắc Cáp-ca đứng trước nguy cơ phát triển thành cuộc chiến tranh lớn. Báo chí Nga và các nước trên thế giới dồn dập đưa tin về tình hình chiến sự ở Nam Ô-xê-ti-a. Trong mấy ngày qua, “cuộc chơi hoà bình” ở Bắc Kinh, và “cuộc chiến ở Nam - Ô-xê-ti-a” là hai chủ đề nổi bật nhất trong dư luận và tâm trí của hàng tỉ người trên hành tinh. Vậy, đâu là nguyên nhân sâu xa của cuộc chiến này và kết cục của nó sẽ ra sao?

   Nguyên nhân sâu xa của cuộc chiến

   Mầm mống xung đột ở Nam Ô-xê-ti-a bắt nguồn từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước khi Liên Xô tan rã. Vào thời điểm đó, Gru-di-a là một trong số 15 nước cộng hoà Xô-viết trước đây, tuyên bố độc lập và gia nhập Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG). Xét về mặt lịch sử, lãnh thổ Nam Ô-xê-ti-a thuộc về Đế chế Nga trước khi có Liên Xô. Khi Liên bang Xô-viết ra đời và Gru-di-a gia nhập Liên bang này, chính quyền Xô-viết tiến hành phân chia các lãnh thổ trực thuộc để quản lý, theo đó, tách phần Nam Ô-xê-ti-a ra khỏi phần Bắc và giao quyền quản lý hành chính cho Gru-di-a. Nếu trước đây, việc phân chia đó đối với Liên Xô chỉ là thủ tục hành chính, thì về sau lại trở thành nguồn gốc phát sinh một cuộc xung đột kéo dài gần hai thập niên vừa qua tại Bắc Cáp-ca sau khi Liên Xô sụp đổ.

   Ngay khi Gru-di-a tách khỏi Liên Xô, cư dân tại Nam Ô-xê-ti-a tự tuyên bố độc lập đối với Gru-di-a và muốn sáp nhập với Bắc Ô-xê-ti-a thuộc lãnh thổ Nga, thành một quốc gia. Từ thời điểm này, xung đột giữa Gru-di-a và Ô-xê-ti-a bùng phát và lan rộng trong suốt những năm 90 thế kỷ XX, thậm chí đã có lúc “mon men” đến tận ngoại ô thủ đô Tơ-bi-li-xi của Gru-di-a. Chỉ đến khi nước Nga đứng ra can thiệp làm trung gian hoà giải và chấm dứt xung đột, thoả thuận ngừng bắn được các bên ký kết và chiến sự mới tạm ngừng. Từ đó, Nam Ô-xê-ti-a vẫn tồn tại độc lập với chính quyền ở Tơ-bi-li-xi.

   Tuy nhiên, nhiều việc đã thay đổi sau hai nhiệm kỳ cầm quyền của Tổng thống V.Pu-tin. Ông đã khôi phục sức mạnh mọi mặt của nước Nga. Trong nhiều vấn đề chính trị quốc tế gây tranh luận, Mát-xcơ-va đã “nói không” với Mỹ và các nước phương Tây. Mỹ và đồng minh nhận thấy rằng, nước Nga không đi theo quỹ đạo của họ, nên tìm cách kiềm chế, trước hết dựa vào các “tiền đồn” sát nách Nga trong không gian hậu Xô-viết, trong đó có U-crai-na, Gru-di-a và một số quốc gia khác trong SNG.

   Cuộc “cách mạng nhung” năm 2004 đã đưa ông Sa-a-ka-sơ-vi-li, một sinh viên từng du học tại Mỹ, vào vị trí Tổng thống Gru-di-a. Tổng thống Sa-a-ka-sơ-vi-li hướng về phương Tây và tìm mọi cách cách gia nhập NATO. Dư luận ở Mỹ đã tán dương Tổng thống Sa-a-ka-svi-li và gọi ông là “Oa-sinh-tơn của Gru-di-a”, một “chiến sỹ bảo vệ dân chủ” và “các giá trị của Mỹ” ở Cáp-ca. Tuy nhiên, có một điều cần nói là, nguồn sống chủ yếu của người Gru-di-a không đến từ đâu khác xa xôi mà lại chính từ nước Nga. Hơn một triệu người Gru-di-a đang sinh sống tại Nga hằng năm gửi về cho thân nhân một lượng kiều hối quan trọng để nuôi sống gia đình ở quê nhà. Gru-di-a có số dân chỉ khoảng 4,5 triệu người, với GPD bình quân đầu người năm 2006 chỉ vỏn vẹn 200 USD, cơ bản là một nước nông nghiệp, không có nguồn tài nguyên đáng kể, các ngành kinh tế, công nghiệp hầu như không phát triển. Sản phẩm xuất khẩu chính của Gru-di-a là rượu vang nổi tiếng thế giới, và thị trường lớn nhất, trực tiếp nhất, quan trọng nhất của mặt hàng này là Nga.

   Trước năm 2006, Nga có chính sách khá ưu ái dành cho Gru-di-a: được mua khí đốt và năng lượng từ Nga với mức giá “hữu nghị” từ thời Liên Xô cũ, thấp hơn 12 lần so với mức Nga xuất sang các nước phương Tây. Trong nhiều năm, Ap-kha-di-ia và Nam Ô-xê-ti-a nhiều lần đề nghị Nga công nhận độc lập, nhưng Mat-cơ-va vẫn từ chối. Có một điều là, bất hạnh thay cho Sa-a-ka-svi-li khi ông ta không hiểu được một triết lý cơ bản của người phương Đông là “nước xa không cứu được lửa gần”. Nhưng rồi thái độ bài Nga và thân phương Tây của Tổng thống Sa-a-ka-svi-li, thậm chí muốn nhanh chóng gia nhập NATO, đã làm thay đổi tình hình. Đối với Mát-xcơ-va, việc Gru-di-a, một quốc gia nằm sát Nga gia nhập NATO, là mối đe dọa đối với an ninh của họ. Cựu Tổng thống Nga V.Pu-tin đã từng nhiều lần cảnh báo trừng phạt Gru-di-a bằng sắc lệnh cấm nhập rượu vang từ Gru-di-a và nâng giá khí đốt bán cho nước này bằng mức giá xuất sang phương Tây. Ông V.Pu-tin tuyên bố rõ ràng: “Không thể chấp nhận những kẻ sống nhờ trên lưng chúng ta nhưng lại chơi xấu chúng ta”.

   Tuy nhiên, không vì thế mà Tổng thống Sa-a-ka-svi-li tìm cách cải thiện quan hệ với Nga, ngược lại, ông đã đi một “nước cờ” rất mạo hiểm: cho phép Mỹ xây dựng hệ thống dẫn dầu từ Trung Á chạy qua một phần qua lãnh thổ Gru-di-a nhằm làm giảm vị thế của Nga đối với thị trường dầu khí phương Tây. Để đối phó với chủ trương bài Nga này, Mat-xcơ-va quyết định cấp quốc tịch cho phần lớn cư dân tại Nam Ô-xê-ti-a và Áp-kha-di-a, các vùng đất ly khai thuộc Gru-di-a trong khi vẫn chưa công nhận quyền độc lập cho các vùng lãnh thổ này.

   Phía bên kia, Mỹ hậu thuẫn cho chính phủ của ông Sa-a-ka-svi-li bằng lời hứa sẽ kết nạp Gru-di-a vào NATO, đồng thời viện trợ quân sự không hoàn lại trị giá hàng trăm triệu đô la và cử cố vấn huấn luyện giúp Gru-di-a.

   Tin tưởng vào cam kết của Mỹ, Gru-di-a đã nhiều lần có những hành động khiêu khích vũ trang chống lại lực lượng gìn giữa hoà bình của Nga ở Nam Ô-xê-ti-a, và cuối cùng, đã là hành động bị coi là “vác đá vá trời” vào ngày 8-8-2008 vừa qua, hy vọng đặt nước Nga vào “thế đã rồi”. Tổng thống Sa-a-ka-svi-li hy vọng, Mỹ và các nước phương Tây sẽ đứng về phía ông. Trong tuyên bố ngày 8-8-2008, hướng tới dư luận Mỹ qua hãng thông tấn CNN, Tổng thống Sa-a-ka-svi-li nói bằng tiếng Anh để thông báo về “cuộc xâm lược của Nga”. Ông nói: “Tôi đã từng học tập ở Mỹ và người Mỹ bao giờ cũng nói với tôi rằng, họ sẽ bảo vệ lợi ích của Gru-di-a. Lúc này đây chúng ta không chỉ bàn đến chuyện của Gru-di-a, mà còn là chuyện về những giá trị cơ bản của phương Tây, về những giá trị mà nước Mỹ đã từng dạy cho chúng tôi. Chúng tôi đang bị “xâm lược” bởi vì chúng tôi muốn xây dựng một nền dân chủ thực sự. Nếu Mỹ và châu Âu không đứng ra bảo vệ “các giá trị” của mình thì “các giá trị” đó sẽ bị đe doạ. Hôm nay là ở Gru-di-a, còn ngày mai thì có thể còn ở đâu đó nữa”.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #77 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2011, 04:53:21 pm »

   Gru-di-a tiến hành chiến tranh bằng vũ khí của ai?

   Quân đội Gru-di-a là một trong những đội quân được huấn luyện tốt nhất trong số các quốc gia trong không gian hậu Xô-viết, chủ yếu nhờ sự giúp đỡ của phương Tây. Đa số các sĩ quan và binh sĩ của Gru-di-a được các chuyên gia quân sự phương Tây đào tạo và huấn luyện. Mỹ đã có nhiều chương trình đào tạo sĩ quan và binh sĩ cho hơn 8.000 quân nhân Gru-di-a. Trong 4 năm gần đây, chi phí quân sự của Gru-di-a tăng lên hơn 30 lần, chiếm 9-10% tổng thu nhập quốc dân, còn tổng ngân sách quân sự năm 2008 của Gru-di-a đã lên tới 1 tỉ USD. Đây là khoản ngân sách không nhỏ đối với một quốc gia nhận được sự viện trợ kỹ thuật quân sự đáng kể của nước ngoài, trong đó, đa số là viện trợ không hoàn lại.

   Theo chương trình Viện trợ quân sự cho nước ngoài, Mỹ đã viện trợ không hoàn lại cho Gru-di-a 40,6 triệu USD. Thổ Nhĩ Kỳ viện trợ cho Bộ Quốc phòng và Bộ chỉ huy biên giới của Gơ-ru-di-a 45 triệu USD. Tổng cộng, các nước NATO viện trợ cho Gru-di-a 175 xe tăng, 126 xe chiến đấu, 67 cỗ pháo hạng nặng, 4 máy bay chiến đấu, 12 trực thăng, 8 tàu chiến và xuống chiến đấu. Hiện nay, NATO đang chuẩn bị chuẩn cho Gru-di-a 100 xe chiến đấu bọc thép, 14 máy bay trong đó có 4 máy bay chiến đấu “Mirage” của Pháp, 15 trực thăng chiến đấu và 10 tàu chiến các loại. Được sự viện trợ “hào hiệp” như vậy từ các nước NATO, nên Gru-di-a đã chọc tức “Con gấu Nga”.

   Tuy nhiên, nhiều ý kiến bình luận rằng, không kể đến lịch sử vấn đề là Nam Ô-xê-ti-a đã từng thuộc Nga, người dân Nam Ô-xê-ti-a đã từ lâu mong muốn được nhập vào vùng lãnh thổ Bắc Ô-xê-ti-a thuộc Nga, thì ông Sa-a-ka-sơ-vi-li đã có những sai lầm trong tính toán chiến lược. Thứ nhất, nước Mỹ ở quá xa, mà nước Nga lại rất gần, mà theo triết lý thông thường thì “nước xa không cứu được lửa gần”. Trong khi đó, nước Nga đã từng có những ưu đãi dành cho Gru-di-a và nhiều người dân Gru-di-a vẫn đang nhận được sự viện trợ từ thân nhân của họ đang sống ở Nga. Thứ hai, vị thế của nước Nga đang lên trên chính trường thế giới, và Nga đang đầy ý chí để khẳng định vị trí siêu cường, trở thành một cực trong thế giới đa cực. Nước Mỹ không dễ hy sinh nước Nga để đổi lấy Gru-di-a. Nước Mỹ đang cần đến nước Nga trong các công việc quốc tế, trước hết là trong vấn đề chống khủng bố, phi hạt nhân hoá trên bán đảo Triều Tiên và giải giáp chương trình hạt nhân của I-ran v.v... Thứ ba, các nước châu Âu không thể vì bảo vệ Gru-di-a mà để Nga ngắt vòi cung cấp khí đốt. Châu Âu sợ “vũ khí năng lượng” của Nga hơn cả nguy cơ tên lửa đường đạn hạt nhân.

   Phản ứng nhanh nhạy, mạnh mẽ và kiến quyết của “Con gấu Nga”

   Trước 80 nguyên thủ quốc gia cùng đến tham dự Lễ khai mạc Ô-lim-pích Bắc Kinh, Thủ tướng Nga V.Pu-tin ngay tức khắc biểu thị thái độ kiên quyết, không khoan nhượng là sẽ đáp trả đích đáng hành động mà ông gọi là diệt chủng của Tổng thống Sa-a-ka-sơ-vi-li. Sau khi về Mat-xcơ-va, Thủ tướng V.Pu-tin chỉ thị cho các chuyên gia pháp lý thu thập bằng chứng về tội diệt chủng của ông Sa-a-ka-sơ-vi-li để gửi lên Toà án quốc tế. Đồng thời, Tổng thống Nga Đ.Mét-vê-đép triệu tập cuộc họp khẩn cấp Hội đồng an ninh quốc gia và tuyên bố: “Những kẻ giết hại công dân Nga và xúc phạm danh dự người Nga sẽ phải bị trừng trị. Chưa có ai dám coi thường nước Nga ngay cả vào lúc nó suy yếu nhất, huống hồ lúc này Nga không còn là một quốc gia ở trong trạng thái rối ren dưới thời B.En-xin”.

   Nước Nga mới của V.Pu-tin và Mét-vê-đép nhanh chóng đáp trả. Ngay trong ngày 8-8-2008, sau khi Gru-di-a mở cuộc tổng tấn công thủ phủ Tơ-hin-van (Txkhinvali) của Nam Ô-xê-ti-a, 150 xe tăng hạng nặng của Nga với lớp giáp chống đạn có thể vô hiệu hoá các vũ khí chống tăng hiện đại nhất của Mỹ và phương Tây đã rầm rập tiến vào vùng chiến sự. Đến ngày 9-8-2008, các đơn vị lục quân của Nga, trong đó có các lực lượng đặc biệt tinh nhuệ và 2 sư đoàn trinh sát - tiến công, gần như đã tái chiếm các vùng lãnh thổ của Nam Ô-xê-ti-a bị quân Gru-di-a chiếm đóng trước đó. Đồng thời, máy bay của Nga mở các đợt tiến công sâu vào các căn cứ quân sự trên lãnh thổ Gru-di-a, trong đó có cảng biển quan trọng nhất của Gru-di-a ở thành phố Pô-tin. Theo tin chiến sự mới nhất, Nga đã điều đến Nam Ô-xê-ti-a hai sư đoàn bộ binh cơ giới liên hợp, trên 300 xe tăng hạng nặng với quân số lên tới 100.000 người, gấp 3 lần lực lượng của Gru-di-a.

   Giải pháp nào cho cuộc chiến này?

   Ngày 9-8-2008, Thứ trưởng Ngoại giao Đức Géc-nôt E-lơ (Gernot Erler) tuyên bố: “Gru-di-a đã vi phạm luật pháp quốc tế khi phát động chiến dịch quân sự nhằm giành lại quyền kiểm soát ở Nam Ô-xê-ti-a”. Theo ông, Gru-di-a đã vi phạm hiệp định ngừng bắn ký kết năm 1992, công nhận khu vực ly khai thuộc Cáp-ca này nằm dưới sự giám sát chủ yếu của các binh sĩ gìn giữ hòa bình của Nga. Đồng thời, Bộ Ngoại giao Đức khuyến cáo các công dân Đức đang có mặt tại vùng chiến sự nên về nước. Ngoại trưởng Anh Đa-vít Mi-li-ban (David Miliband) tuyên bố, Anh đặc biệt quan ngại về tình hình Nam Ô-xê-ti-a và kêu gọi các bên xung đột nhanh chóng trở lại bàn đàm phán. Phía Anh cho rằng, điều quan trọng nhất hiện nay là lãnh đạo các bên hữu quan cần phải quyết định chấm dứt các hành động quân sự. Ngày 10-8-2008, Bộ Ngoại giao Trung Quốc ra tuyên bố chính thức bày tỏ quan ngại sâu sắc về tình hình chiến sự leo thang ở Nam Ô-xê-ti-a và kêu gọi các bên nhanh chóng chấm dứt các hành động quân sự tại đây. Với tư cách là Chủ tịch luân phiên của Liên minh châu Âu (EU) nửa cuối năm 2008, Chính phủ Pháp không loại trừ khả năng tổ chức một cuộc họp cấp ngoại trưởng các nước EU tại Pa-ri vào đầu tuần tới, thậm chí có thể triệu tập một cuộc gặp thượng đỉnh đặc biệt của khối này để thảo luận về cuộc khủng hoảng tại Gru-di-a.

   Ngày 9-8-2008, Ngoại trưởng Pháp Béc-nơ Cao-sơ-nơ (Bernard Kouchner) đã đến Gru-di-a để thị sát tình hình và đề xuất một giải pháp cơ bản nhằm giải tỏa tình trạng khủng hoảng hiện nay. Đề xuất của Pháp gồm 3 điểm: ngay lập tức chấm dứt các hoạt động chiến đấu, công nhận toàn vẹn lãnh thổ của Gru-di-a và phục hồi nguyên trạng. Theo tuyên bố của Tổng thống Pháp N.Xác-cô-di, việc phục hồi nguyên trạng trong khu vực này chỉ có thể thực hiện được khi Nga và Gru-di-a quay trở về vị trí ban đầu của họ. Đề xuất đó không được phía Nga chấp nhận. Theo đánh giá các nguồn tin nhận được từ Bộ Ngoại giao Nga, thì Mát-xcơ-va hiểu “nguyên trạng” có nghĩa là các đơn vị quân đội của Gru-di-a phải rút khỏi những vị trí chiếm đóng ở Nam Ô-xê-ti-a mà không liên quan đến các đơn vị gìn giữ hoà bình của Nga tại đây.

   Bộ Ngoại giao Nga tuyên bố, các lực lượng tăng cường của Nga phải có mặt tại Nam Ô-xê-ti-a để ngăn chặn thảm hoạ nhân đạo mà phía Gru-di-a gây ra đối với các công dân Nga tại khu vực tự trị này. Tinh thần đó hoàn toàn phù hợp với tuyên bố của Tổng thống Nga. Đ. Mét-vê-đép đưa ra ngày 9-8-2008, trong cuộc điện đàm với Tổng thống Mỹ G. But-sơ. Theo tuyên bố của Tổng thống Đ. Mét-vê-đép, giải pháp duy nhất cho cuộc xung đột là các lực lượng quân sự của Gru-di-a phải rút khỏi Nam Ô-xê-ti-a, và, Gru-di-a cùng với Nam Ô-xê-ti-a phải ký kết một hiệp định không sử dụng vũ lực. Về phía mình, Tổng thống Mỹ G.Bu-sơ kêu gọi các bên ngừng các cuộc ném bom và cam kết sẽ nỗ lực hành động để đưa tình hình ở khu vực này trở lại nhịp sống hoà bình. Rõ ràng là, giữa Mỹ và Nga chưa thể đạt được thoả thuận về các biện pháp cần làm và thứ tự thực hiện, do đó trong những ngày tới chưa thể nói đến việc dàn xếp chính trị cho cuộc xung đột. Trong khi Tổng thống Gru-di-a tuyên bố vào ngày 9-8-2008 rằng sẵn sàng chấm dứt giao tranh ở khu vực và bắt đầu đàm phán với Nga, thì phía Mát-xcơ-va cho rằng, để bắt đầu đàm phán trước hết cần phải chấm dứt các hoạt động quân sự và phục hồi nguyên trạng, theo đó các lực lượng quân sự của Gơ-ru-di-a phải rời khỏi lãnh thổ Nam Ô-xê-ti-a./.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #78 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2011, 04:54:30 pm »

GIỚI QUÂN SỰ NGA RÚT RA BÀI HỌC ĐẦU TIÊN TỪ CUỘC CHIẾN TRANH Ở NAM Ô-XÊ-TI-A

   Theo tuyên bố của Tổng thống Nga Đ.Mét-vê-đép, cuộc chiến tranh do Nga tiến hành nhằm mục đích “cưỡng chế hoà bình” ở Nam Ô-xê-ti-a đã kết thúc. Kẻ xâm lược đã bị trừng trị và chịu tổn thất đáng kể. Nhiều chuyên gia quân sự có uy tín từng một thời giữ cương vị lãnh đạo cao và quan trọng trong Bộ Quốc phòng Nga đã phân tích và đưa ra những kết luận đánh giá bước đầu, không mấy lạc quan về kết quả mà Nga thu được trong cuộc xung đột này.

   Phó Tổng tham mưu trưởng các lực lượng vũ trang Nga, thượng tướng A-na-tô-ly No-gô-vi-sưn, vừa công bố số liệu về tổn thất của quân đội Nga trong khu vực xung đột giữa Gru-di-a và Nam Ô-xe-ti-a. Theo ông, có 74 người chết, 171 người bị thương, mất tích 19 người. Bộ Tổng tham mưu Nga không đưa ra số liệu về tổn thất của đối phương, nhưng theo số liệu của Bộ y tế Gru-di-a, thì họ bị tổn thất 175 người nhưng trong đó không biết chính xác có bao nhiêu quân nhân. Đó là kết quả sơ bộ của chiến dịch quân sự “cưỡng chế hoà bình”.

   Trong trả lời phỏng vấn báo “Độc Lập” của Nga, Chủ tịch Viện nghiên cứu địa - chính trị, thượng tướng Lê-ô-nhít I-va-xốp, người đã từng nhiều năm giữ cương vị Tổng cục trưởng Tổng cục hợp tác quốc tế trực thuộc Bộ Quốc phòng Nga nhận xét, Liên bang Nga đã chấm dứt quá sớm hành động quân sự đáp trả Gru-di-a và đi tới đám phán thông qua EU. Ông nói: “Chúng ta trao chiến thắng đối với Gru-di-a cho Tổng thống Pháp khi ông này thay đổi các điều khoản trong thoả thuận dàn xếp xung đột. Những thay đổi đó sẽ ảnh hưởng xấu đến lợi ích địa - chính trị của Nga trên toàn bộ vùng Nam Cáp-ca”.

   Trung tướng I-u-ri Nhép-ca-chép, Viện sĩ Viện hàn lâm an ninh Nga -người đã từng giữ cương vị Phó Tư lệnh cụm lực lượng quân sự của Nga ở ngoại Cáp-ca trong những năm 1993-2000, đưa ra nhận xét rằng, các lực lượng quân sự của Nga tỏ ra hiệu quả thấp trong hành động tiêu diệt các mục tiêu quân sự của Gru-di-a. Ông cho rằng, Nga hoàn toàn có quyền áp dụng biện pháp phong toả quân sự bằng đường biển không chỉ từ vùng biển Áp-kha-di-a mà trên toàn bộ lãnh thổ Gru-di-a. Ngoài ra, hoàn toàn có thể xem xét vấn đề phong toả đường không đối với Gru-di-a để không cho phép quốc gia này nhận được viện trợ quân sự từ bên ngoài. Ông nói: “Hành động của ban lãnh đạo Nga mang tính chất nửa vời. Chúng ta không đập tan bộ máy quân sự của Gru-di-a trong khi chấp nhận chấm dứt chiến sự là đã tự hạn chế mình trong các hành động trừng phạt kẻ xâm lược mà Bộ Quốc phòng Nga trước đó đã từng tuyên bố một cách kiên quyết”.

   Không chỉ các tướng lĩnh đã nghỉ hưu thường có nhận xét tiêu cực đối với Bộ Quốc phòng và Điện Crem-li, mà cả các chuyên gia hết mực trung thành với chính quyền hiện nay ở Nga cũng phê phán bộ máy quân sự - chính trị của Nga. Chủ tịch Viện hàn lâm khoa học quân sự, đại tướng Ma-hơ-mút Ga-rê-ép, người đã từng là Phó Tổng tham mưu trưởng các lực lượng vũ trang Liên Xô trước đây - một người rất gần gũi với Bộ Quốc phòng Nga, cũng tuyên bố: “Hành động xâm lược chớp nhoáng của Gru-di-a đã làm nổi rõ những điểm yếu trong huấn luyện quân đội và chỉ huy của Nga trên chiến trường và nói chung là công nghệ thông qua quyết định khi xảy ra chiến tranh”.

   Theo ông M.Ga-rê-ép, một trong những sai lầm chủ yếu của Nga trong chiến dịch đáp trả hành động xâm lược của Gru-di-a đối với Nam Ô-xê-ti-a và lực lượng gìn giữ hoà bình chính là sai lầm của các cơ quan tình báo Nga, trước hết là các cơ quan quân báo, không kịp thời phát hiện kế hoạch xâm lược của Gru-di-a. Các lực lượng vũ trang Gru-di-a sử dụng pháo phản lực bắn loạt và bom mìn gây sát thương trên quy mô lớn ở Nam Ô-xê-ti-a chứng tỏ cơ quan tình báo của Nga hoạt động chưa tốt. Họ chưa được huấn luyện để đối phó với cuộc tiến công bất ngờ nhằm vào Nam Ô-xê-ti-a. Rõ ràng là, để phát hiện ý đồ tiến công của đối phương tiềm tàng, cần sử dụng các phương tiện tình báo đường không vũ trụ, trên biển và trên đất liền. Trên một khu vực lãnh thổ không lớn ở Nam Ô-xê-ti-a tập trung một khối lượng lớn vũ khí trang bị và lực lượng của quân đội Gru-di-a nhưng phía Nga đã không phát hiện được. Dư luận vẫn thường được nghe về những vũ khí trang thiết bị hiện đại của Nga nhưng thực tế vừa qua ở Nam Ô-xê-ti-a chứng tỏ hiệu quả hoạt động của các loại vũ khí này thấp. Nếu tất cả các phương tiện tình báo hoạt động bình thường thì cuộc xung đột vừa qua đã có một kịch bản khác, và tổn thất sẽ thấp hơn.

   Cũng theo ông M.Ga-rê-ép, do sai lầm về tình báo nên phía Nga đã chậm trễ trong việc chỉ huy lực lượng và phương tiện trong thời gian đầu của cuộc chiến, gây tổn thất về máy bay, trong đó có máy bay ném bom tầm xa Tu-22, chịu nhiều tổn thất về dân thường và lực lượng gìn giữ hoà bình của Nga. Nhiều chuyên gia khác cũng cho rằng, Nga hoàn toàn có khả năng tiến công đường không vào các căn cứ không quân của Gru-di-a nhưng đã hành động quá chậm chễ. Ngoài ra, bộ máy chính trị của Nga cũng phản ứng chậm trong thời kỳ đầu chiến tranh, lẽ ra các tướng lĩnh của Nga phải giành quyền chủ động. Khi Gru-di-a đã mở màn cuộc chiến mà còn chờ chỉ thị của trên là quá chậm, cần phải ngay tức khắc giáng đòn tiến công đáp trả quyết liệt nhằm vào các căn cứ và các trận địa hoả lực của đối phương. Đó là những kiến thức sơ đẳng nhất trong nghệ thuật điều hành chiến tranh.

   Cựu Tổng tư lệnh không quân Nga, đại tướng A-na-tô-li Cốp-nu-cốp, cũng nói về những sai lầm và khả năng chưa sẵn sàng chiến đấu của quân đội Nga. Theo ông, việc ra lệnh cho kíp lái máy báy Tu-22 đi ném bom trong khi chưa phát hiện được các phương tiện phòng không của phía Gru-di-a là đưa họ vào chỗ chết. Vì thế 1 máy bay ném bom Tu-22 và 3 máy bay cường kích của không quân Nga đã bị lực lượng phòng không Gru-di-a bắn rơi. Vì sao Nga lại không sử dụng tên lửa chống ra-đa X-28 và X-58 có tầm xa 90 km và 120 km để tiêu diệt các trạm ra-đa phòng không của Gru-di-a? Các nhà quân sự Nga chưa giải thích được tình hình này. Không quân Nga có nhiều loại vũ khí chính xác cao để tiến hành chiến tranh và chúng được phép sử dụng trong cuộc chiến tranh này. Trong khi đó, tầm xa của các loại bom có điều khiển bằng lade X-25ML, X-29L có cự ly 9-12 km buộc các máy bay ném bom của Nga như Su-24M và Tu-22M3 phải hoạt động trong khu vực cực kỳ nguy hiểm khi mà chưa tiêu diệt được hệ thống phòng không của phía Gru-di-a. Hơn nữa, các loại vũ khí tầm xa chính xác cao của Nga hoàn toàn có thể tiêu diệt hoặc vô hiệu hoá các hệ thống truyền thông, chỉ huy chiến đấu và trinh sát cũng như các đơn vị tinh nhuệ nhất của Gru-di-a trong những giờ đầu tiên xảy ra chiến tranh.

   Hơn nữa, không cần điều động máy bay tiến vào vùng trời Gru-di-a vì Nga có đầy đủ các loại vũ khí tầm xa đế đáp trả hành động xâm lược. Cựu Tổng tư lệnh không quân Nga, tướng Đây-ne-kin (1991-1998), cũng tuyên bố, trước khi mở màn cuộc chiến, quân đội Nga đã không có khả năng tiêu diệt các phương tiện phòng không của Gru-di-a để “dọn đường” cho không quân hoạt động. Hoạt động tìm cứu cũng kém hiệu quả và kết cục là máy bay bị bắn rơi và phi công bị bắt làm tù binh.

   Xét về mặt quân sự, kết luận chung mà một số tướng lĩnh Nga rút ra từ chiến dịch quân sự ở Nam Ô-xê-ti-a là, vẫn như trước đây, quân đội Nga dựa chủ yếu vào việc sử dụng hỏa lực và các lực lượng trên bộ quy mô lớn, trong khi quân đội Mỹ và các nước phương Tây đã chuyển sang chiến lược “chiến tranh công nghệ cao”, hoặc “chiến tranh không tiếp xúc”, có thể từ xa giáng đòn “tiến công giải phẫu” với độ chính xác rất cao nhằm vào các mục tiêu then chốt của đối phương. Nói cách khác, hiện nay và trong tương lai trước mắt, quân đội Nga vẫn chưa sẵn sàng tiến hành các cuộc chiến tranh phổ biến trong thế kỷ XXI. Đây là điều dễ hiểu bởi quân đội Nga đang trải qua cuộc cải cách “đau đớn”, đầy khó khăn và vô cùng tốn kém sau khi bộ máy quân sự thời Liên Xô không còn nữa trong khi nền kinh tế mới được khởi sắc sau hai nhiệm kỳ cầm quyền của cựu Tổng thống V.Pu-tin./.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #79 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2011, 04:57:05 pm »

CHIẾN TRANH THÔNG TIN TRONG CUỘC CHIẾN Ở NAM Ô-XÊ-TI-A

      Về phía Gru-di-a

   Thông tin đánh lạc hướng về kế hoạch chuẩn bị chiến tranh

   Ngay sau khi lên cầm quyền ở Gru-di-a sau cuộc “cách mạng nhung” năm 2004, Tổng thống Sa-a-ca-svi-li đặt ra mục tiêu chiến lược: thôn tính hai vùng tự trị độc lập Nam Ô-xê-ti-a và Áp-kha-di-a và sáp nhập vào lãnh thổ Gru-di-a. Để thực hiện mục tiêu này, Tổng thống Sa-a-ca-svi-li xúc tiến xây dựng quân đội với sự giúp đỡ của Mỹ và một số “đồng minh”, chờ thời điểm thuận lợi để hành động.

   Trong những năm qua, Oa-sinh-tơn đã nỗ lực giúp đỡ và cổ vũ Gru-di-a, giúp nước này xây dựng quân đội. Mỹ đã có nhiều chương trình đào tạo sĩ quan và binh sĩ cho hơn 8.000 quân nhân Gru-di-a, tổ chức các cuộc tập trận chung mà điển hình là cuộc tập trện trong tháng 7-2008 mang tên “Đáp trả tức thời” với hơn 1.000 lính Mỹ tham gia; nỗ lực hành động để sớm kết nạp Gru-di-a vào NATO, luôn ủng hộ tính toàn vẹn lãnh thổ của Gru-di-a trong cuộc tranh chấp với hai vùng tự trị Nam Ô-xê-ti-a và Áp-kha-di-a.

   Trong thời gian đó, Gru-di-a với sự trợ giúp của các phương tiện thông tin đại chúng ở Mỹ và một số nước phương Tây khác, một mặt, mở chiến dịch tuyên truyền về việc Nga “vi phạm các cam kết ngừng bắn” ở Nam Ô-xê-ti-a, mặt khác ra sức “khuyên can” Tbi-li-xi không nên có các hành động quân sự “gây hấn” đối với Mat-xcơ-va. Một tháng trước khi Gru-di-a mở cuộc tiến công chớp nhoáng nhằm vào thủ phủ Tơ-hin-van của Nam Ô-xê-ti-a, các trợ lý của Ngoại trưởng Mỹ Côn-đô-li-da Rai-xơ thông báo rằng, trong lần đến thăm Gru-di-a, bà C.Rai-xơ “cảnh báo” Tổng thống Sa-ca-svi-li: “Không nên lao vào một cuộc xung đột quân sự với Nga”.

   Tổng thống Sa-a-ka-svi-li cũng đã tuyên bố vào tối ngày 7-8-2008 rằng: “Sẽ không có bất kỳ giải pháp quân sự nào cho cuộc xung đột”. Ông còn thông báo vào sáng ngày 8-8-2008, phía Gru-di-a sẽ gặp đại diện của phía Nga và Nam Ô-xê-ti-a để đàm phán về một giải pháp hoà bình cho cuộc xung đột. Trên thực tế, theo tiết lộ của tướng A-na-tô-li Dai-xep, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Cộng hoà Nam Ô-xê-ti-a, phía Gru-di-a đã chuẩn bị rất chu đáo cho chiến dịch đánh chiếm Nam Ô-xê-ti-a và Áp-kha-di-a trong vòng vài ngày đêm. Theo kế hoạch này, chỉ trong vòng vài giờ, quân đội Gru-di-a sẽ mở đòn tiến công chớp nhoáng đánh chiếm thủ phủ Tơ-vin-han, tuyên bố kiểm soát tình hình và mở các mũi tiến công về phía Áp-kha-di-a. Như vậy, thông tin mà các phương tiện truyền thông ở phương Tây và của Gru-di-a phát đi về tình hình cuộc xung đột trước ngày 8-8-2008 làm cho dư luận bị đánh lạc hướng về cuộc chiến tranh đã được chuẩn bị khá công phu để tái chiếm Nam Ô-xê-ti-a và Áp-kha-di-a.

   Đưa tin sai lệch có dụng ý về tình hình cuộc chiến ở Nam Ô-xê-ti-a

   Do tính toán sai lầm về chiến lược của Tổng thống Sa-a-ka-svi-li, quân đội Gru-di-a sau khi mở cuộc tiến công chớp nhoáng vào thủ phủ của Nam Ô-xê-ti-a vào rạng sáng ngày 8-8-2008, sát hại hàng ngàn dân thường mà đa số là người Nga và người Ô-xê-ti-a, đã bị các lực lượng vũ trang của Nga đáp trả và phải chịu thất bại về quân sự. Đây là diễn biến mà nhiều người ủng hộ Tổng thống Sa-a-ka-svi-li ở phương Tây không ngờ tới.

   Trước thất bại về quân sự của phía Gru-di-a, những người ủng hộ Tổng thống Sa-a-ka-svi-li vội vã mở chiến dịch tuyên truyền nhằm tạo ra một bức tranh hoàn toàn khác về thực tế đang diễn ra ở Nam Ô-xe-ti-a. Nhiều hãng thông tấn ở Mỹ và một số nước phương Tây khác liên tiếp đưa tin rằng “Nga xâm lược Gru-di-a”. Những thông tin chiến sự khách quan phát đi từ các nguồn tin ở Nga đều bị khống chế hoặc bị bóp méo trước khi truyền tải tới công chúng ở các nước phương Tây. Chẳng hạn, truyền hình đưa tin về cảnh tượng xe tăng Nga tiến vào Gru-di-a, nhưng lại hoàn toàn im lặng, không đưa tin gì về hành động quân sự gây hấn của phía Gru-di-a pháo kích dữ dội vào làng mạc và các khu phố của người Nga sinh sống ở Nam Ô-xê-ti-a vào rạng sáng ngày 8-8-2008.

   Trong các cuộc họp báo do phía Nga tổ chức có mặt tất cả các phóng viên báo ảnh truyền hình của phương Tây, nhưng những thông tin khi được phát đã không phản ánh đúng sự thật. Trong khi đó, những lời tuyên bố có tính chất tuyên truyền của Tổng thống Sa-a-ca-svi-li lại được các phương tiện thông tin đại chúng ở phương Tây tới tấp phát đi. Ông Ni-cô-lai Dơ-lô-bin, Giám đốc các chương trình Nga và châu Á thuộc Viện nghiên cứu an ninh quốc tế ở Mỹ bình luận tình hình này như sau: “Dư luận Mỹ vốn đã không có mấy thiện cảm với người Nga. Còn các nhà báo chỉ phát tin trực tiếp từ Tổng thống Gru-di-a đang hàng giờ đưa ra hết tuyên bố này đến tuyên bố khác cáo buộc Nga xâm lược Gru-di-a, thậm chí tổ chức phỏng vấn ngay tại văn phòng làm việc của ông ta”.

   Có “Các luật sư bào chữa miễn phí” cho Tổng thống Sa-a-ka-svi-li

   Sau khi chiến tranh ở Nam Ô-xê-ti-a bùng nổ, các phương tiện thông tin đại chúng ở Mỹ và nhiều nước phương Tây khác đã mở một chiến dịch tuyên truyền đã được chuẩn bị từ trước nhằm ủng hộ phía phát động cuộc chiến là Gru-di-a. Sự ủng hộ đó vẫn được tiếp tục ngay cả sau khi quân đội Gru-di-a bị thất bại và hành động phát động chiến tranh của Tổng thống Sa-a-ka-sơ-vi-li bị phía Nga tuyên bố công khai là hành động diệt chủng với các bằng chứng cụ thể. Vì thế, nhiều chuyên gia phân tích chính trị quốc tế gọi họ là “các luật sư bào chữa miễn phỉ” cho Tổng thống Sa-a-ka-svi-li.

   Sáng sớm ngày 8-8-2008, ngay sau khi bùng nổ cuộc chiến tranh ở Nam Ô-xê-ti-a, hãng truyền hình Mỹ CNN đưa tin về cuộc phỏng vấn nhanh đối với ông Sa-a-ka-svi-li, Tổng thống Gru-di-a, trong đó ông nói bằng tiếng Anh rất thạo để tuyên bố trước dư luận Mỹ và thế giới biết về “cuộc xâm lược của Nga nhằm vào Gru-di-a”. Ngoài ra, còn có bài trả lời phỏng vấn kéo dài 5 phút của đại sứ Gru-di-a ở Liên hợp quốc với hãng truyền hình CNN, tuyên bố của cựu đại sứ Mỹ ở Liên hợp quốc và Bộ trưởng Ngoại giao của Gru-di-a. Trong tất cả các bản tin đó đều có chung một lập luận “Nga xâm lược Gru-di-a”.

   Báo The New York Times (Mỹ) cũng đưa tin bình luận: “Nga đã dùng máy bay ném bom vào các mục tiêu ở Gru-di-a vào chiều ngày 8-8-2008, làm cho xung đột leo thang trong khu vực ly khai của Gru-di-a. Điều này trở thành một cuộc kiểm tra sức mạnh và khả năng quân sự của Điện Crem-li. Trước đó các lực lượng quân đội của Nga và xe tăng của họ đã tiến vào Nam Ô-xê-ti-a để ủng hộ khu vực ly khai này trong cuộc xung đột căng thẳng với Gru-di-a. Mỹ và các nước phương Tây khác cũng như NATO lên án hành động bạo lực của Nga và yêu cầu chấm dứt chiến sự”. Trong khi đó, báo này chỉ đưa tin một cách thoáng qua về thảm hoạ nhân đạo do cuộc tiến công phủ đầu của phía Gru-di-a gây ra ở Nam Ô-xê-ti-a. Trên một vị trí trang trọng của tờ báo này có bài bình luận của đại diện đặc biệt của Mỹ về khu vực Ban-căng, ông R.Hôn-brúc, trong đó có nhận xét: “Người Nga có hai mục đích. Một là, giành giật chủ quyền ở Nam Ô-xê-ti-a và Áp-kha-di-a. Hai là, lật đổ chính phủ của Tổng thống Sa-a-ca-svi-li hiện nay đang trở thành trở ngại lớn đối với họ”.

   Ông Mác Bre-din-xki, một nhà phân tích nổi tiếng và là cựu nhân viên của Hội đồng an ninh quốc gia trực thuộc tổng thống Mỹ, kể lại trong bài phỏng vấn của hãng thông tấn CNN rằng: “Sở dĩ Tổng thống Nga Đ.Mét-vê-đép và Thủ tướng Nga V.Pu-tin hành động như vậy là do Mỹ đang sa lầy ở I-rắc và Áp-ga-ni-xtan. Điện Crem-li đang có ý định phục hồi vị thế của Liên Xô trước đây và ảnh hưởng của họ. Họ muốn Gru-di-a phụ thuộc họ và ngăn cản Gru-di-a gia nhập các thể chế Đại Tây Dương. Mát-xcơ-va muốn chứng tỏ cho những người khác biết điều gì sẽ xảy ra nếu muốn dành vị thế độc lập”.

   Một số người trong giới chính trị ở Mỹ nghiêng về ủng hộ nhà cầm quyền Gru-di-a. Điều này được thể hiện rõ trong tuyên bố của Ngoại trưởng Mỹ kêu gọi Nga ngay lập tức rút lực lượng của họ ra khỏi lãnh thổ Gru-di-a. Ứng cử viên Tổng thống thuộc Đảng Cộng hoà Giôn Mác-kên cũng nhắc lại yêu cầu này. Còn ứng cử viên Tổng thống của Đảng dân chủ Ba-rắc Ô-ba-ma cũng tuyên bố: “Nga xâm phạm chủ quyền của Gru-di-a”. Theo Thứ trưởng Ngoại giao Nga Gri-gô-ri Ca-ra-chin (Grigory Karasin), sự thiên vị của phương Tây trong cách đưa tin về các sự kiện ở Nam Ô-xê-ti-a là do động cơ chính trị. Theo ông, phương Tây lẽ ra phải đưa tin khách quan, không chỉ đưa hình ảnh xe tăng Nga mà còn nói về cả nỗi khổ của người Ô-xê-ti-a, cảnh người già và trẻ em bị pháo và xe tăng của phía Gru-di-a sát hại. Tuy nhiên, cho dù các hãng thông tấn phương Tây có đưa tin một chiều, họ cũng không thể bưng bít được một sự thật rằng, Gru-di-a đã phớt lờ những cảnh báo của Nga để đi nước cờ tấn công Nam Ô-xê-ti-a, khiến tình hình căng thẳng tại khu vực này leo thang.

   Sau khi “chiến tranh nóng” kết thúc ở Nam Ô-xê-ti-a, cuộc chiến tranh thông tin vẫn tiếp diễn. Sau khi được phía Nga trao trả tù bình và thi thể các quân nhân Gru-di-a thiệt mạng trong cuộc chiến, Tbi-li-xi đã tổ chức một chiến dịch chiến tranh thông tin rầm rộ nhằm cáo buộc Nga đã có hành động “diệt chủng” đối với người dân Gru-di-a.

      Về phía Nga

   Theo nhận xét của nhiều chuyên gia phân tích chính trị quốc tế, nếu người Nga chiến thắng về mặt quân sự trong cuộc chiến tranh ở Nam Ô-xê-ti-a vừa qua, thì lại tỏ ra chậm chạp và yếu thế trong cuộc chiến tranh thông tin. Trong khi các phương tiện thông tin đại chúng ở phương Tây liên tục đưa tin sai lệch về tình hình ở Nam Ô-xê-ti-a, thì Mát-xcơ-va chưa chú ý kịp thời đưa ra các luận chứng thông tin có sức thuyết phục để thu hút sự chú ý của dư luận trên khắp thế giới. Ban lãnh đạo Nga dường như không lường hết tầm quan trọng của dư luận xã hội, không chú ý phát huy tác dụng của các kênh thông tin không chính thức ở phương Tây. Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, những kênh thông tin này đôi khi còn quan trọng hơn cả các kênh thông tin chính thức. Ngoài ra, trong khi các phương tiện thông tin đại chúng ở Gru-di-a tập trung hướng tới dư luận ở nước ngoài, thì các phương tiện thông tin chính thức ở Nga chỉ nhằm vào dư luận trong nước.

   Các quan chức chính thức của chính phủ Nga chỉ giải thích quan điểm của họ trên các kênh thông tin chính thức của nhà nước Nga. Trong khi đó, khả năng chuyển tải thông tin chính thức của Mat-cơ-va ngay ở nước Nga và trên các phương tiện thông tin đại chúng của phương Tây bị hạn chế rất nhiều, không thu hút sự chú ý của giới truyền thông. Trong khi đó, Tổng thống Gru-di-a, ngoài các bài phát biểu tại các cuộc họp báo, còn trả lời hàng chục cuộc phỏng vấn trong một ngày nếu thấy cần.

   Các nhà ngoại giao Nga mặc dù rất am hiểu vấn đề, giỏi tiếng Anh, nhưng lại không xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng để tham gia vào chiến dịch này. Trên thực tế, người ta chỉ thấy có Thủ tướng Nga V.Pu-tin và Tổng thống Nga Đ. Mét-vê-đép “chiến đấu” trực diện với giới truyền thông phương Tây. Vì thế, theo nhận xét của chính các chuyên gia phân tích chính trị ở Nga, Tổng thống Gru-di-a tuy thất bại trên chiến trường nhưng lại chiếm ưu thế trong cuộc chiến tranh thông tin với sự trợ giúp đắc lực của bộ máy truyền thông khổng lồ và rộng khắp của các nước phương Tây.

   Đây có thể được coi là bài học khá đắt không chỉ đối với Nga khi tin rằng chân lý thuộc về mình nên không phát huy tối đa sức mạnh của truyền thông. Hạn chế đó sẽ bị nhân lên gấp bội trong thời đại công nghệ thông tin bùng nổ, đặc biệt là với sự xuất hiện và lớn mạnh ngoài sức dự đoán của con người của mạng thông tin toàn cầu - internet./.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM