vmt
Cựu chiến binh

Bài viết: 959
|
 |
« Trả lời #40 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2011, 09:31:41 pm » |
|
Chuyến đi cuối năm Tác giả : Đỗ Chu
Truyện ngắn “Chuyến đi cuối năm” của tôi đã được in lần đầu cách đây khoảng mươi năm về trước trên tờ Văn nghệ, sau đó nó đã được đưa vào tập “Một loài chim trên sóng” và rồi có mặt trong “Đỗ Chu Tuyển tập truyện ngắn”.
Ban biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội có nhã ý dành cho tôi quyền tự chọn một cái ngăn ngắn để gửi tới bạn đọc hôm nay, tôi cân nhắc và thấy nên lấy tác phẩm này.
Tôi muốn rủ người đọc hãy cùng tôi làm một chuyến đi về phía cửa sông rộng lớn, đi tìm lại cho mình sự thanh thản cần thiết giữa những ngày sống thật lắm rối rắm vướng bộn và bức xúc...
- - - - - - - - - - - - - - - - - - - - -
Bác Kiên một tay chống điếu cày, tay kia cầm chiếc đóm đang cháy dở. Đã là chiếc đóm thứ ba rồi mà bác vẫn chưa hút xong điếu thuốc. Bác còn đang há miệng lắng nghe Lăng kể chuyện.
- Lạy chúa tôi, khéo loạn to mất. Bác dụi đóm, kêu tướng lên. Thoạt đầu nghe nói sinh thái đang bị tàn phá tôi chẳng hiểu ý tứ là thế nào, con người nghĩ ra lắm sự quái gở, nó dám làm đủ mọi chuyện khủng khiếp. Tôi từng đã nghe có cá heo được huấn luyện đánh thuỷ lôi như đặc công, nay lại thấy bồ câu mang bạch phiến, đại bàng mang máy ghi âm... Thế chú định ở lại đây bao lâu nào, mười ngày thôi, mười ngày e vội quá. Thôi thì cứ nghỉ lại nhà chúng tôi, năm hết tết đến mấy tay cán bộ địa phương thằng nào cũng hớt hải bận bịu, hay nhất là chú cứ ở lại đây.
Lăng đang chuẩn bị bảo vệ luận án tiến sĩ, anh đi chuyến này là mong tìm kiếm thêm chút ít hiểu biết nhằm bổ sung cho bản luận án đó. Anh là giảng viên khoa sinh thái học trường Đại học quốc gia. Bạn bè thân quen thì thích gọi anh là thằng Lăng “chim học”. Là vì anh khá am tường về các loài chim, đã có sách viết về chim và đặc biệt là rất yêu chim. Giờ anh lại đang muốn phân họ các loài chim ở đồng bằng Bắc bộ. Đây là một đề tài thuộc chuyên môn hẹp, do vậy cần tỉ mỉ và sâu. Phàm ở đời đã định phân loại cái gì là y như rằng sẽ phải tập hợp và so sánh chúng, mà một khi đã tập hợp và so sánh thì rất dễ lầm lỗi, có khi lầm lỗi suốt đời. Nhưng cũng chớ có quá lo sợ, bởi vì đối tượng nghiên cứu ở đây không phải là con người mà là những chú chim, do vậy nếu có sao thì bất quá cũng chỉ là một sự lầm lẫn viển vông mà thôi. Chẳng thế mà xung quanh không ai thấy Lăng là một phần tử đáng xem là nguy hại, họ hoàn toàn yên tâm về anh.
Duy chỉ có Kim Thúy, vợ anh là hay phàn nàn về chồng mà thôi. Hình như không có bà vợ nào lại không thích phàn nàn về chồng mình, vì cũng rất ít ông chồng có thể khiến các bà vừa lòng. Các bà xem đó là đối tượng để tấn công, tấn công liên tục và không khoan nhượng. Hạnh phúc chính là tấn công, họ rỉ tai nhau như vậy. Và nói chung là họ luôn thắng lợi. Khi biết Lăng sắp đùng đùng bỏ nhà đi giữa lúc thiên hạ đang cắm mặt lo kiếm tết, Kim Thuý dậm chân, hai tay chống nạnh, miệng gầm gừ như một con báo đói.
- Lại nổi cơn gàn rồi. Trốn vợ mà chui vào rừng vào núi, bò bò nấp nấp, rình rập suốt ngày để mong thấy một con chim! Còn có cái nghề nào oái oăm hơn cái nghề anh chọn không? Chả hiểu sao Nhà nước lại ngớ ngẩn bỏ tiền trả lương cho anh, trong mọi sự dại dột ở đời thì dại dột nhất là đã nuôi báo cô mấy ông khoa học. Nếu tôi mà có quyền sinh quyền sát trong tay thì tôi bỏ tiền của ra đầu tư cho các nhà văn cơ, chính họ mới là những người đang tích cực xúm vào cải tạo môi trường sinh thái chứ không phải mấy ngài đâu. Sinh thái xã hội thời mở cửa là thứ sinh thái có hơi bị hấp dẫn, văn chương thời mở cửa là thứ văn chương có hơi bị cực kỳ, đọc đến trang nào cũng chỉ muốn ôm mặt khóc rú lên. Năm nào cũng thấy có những tin sốt dẻo, năm nào cũng có những thành tựu tuyệt cú mèo.
Nói vậy thôi chứ ở đời có vợ nào là vợ chẳng thương chồng. Cho nên Kim Thuý dù uất nghẹn họng vẫn còn dư tỉnh táo để kịp dúi vào tay chồng một cuốn sách nặng như một hòn gạch chỉ đúng vào lúc anh hoang mang xách túi chạy ra khỏi cửa. Một cuốn sách nặng như một hòn gạch thì tất nhiên phải là một tác phẩm lớn. Chỉ những gã bất tài bất tướng mới chịu viết những câu chuyện ngăn ngắn mà thôi. Vừa tiễn chân chồng ra ga cô vừa tranh thủ xả hơi.
- Đây là cuốn tiểu thuyết “Nỗi buồn của em”, giải thưởng “Bọ xít vàng” năm nay đấy anh nhé. Nó sắp được dịch ra toàn thế giới. Mang tiếng là người cầm bút lúc này mà không biết chửi bởi phanh phui, không biết dùng cán bút làm đòn xoay xở thì có họa là ngớ ngẩn. Anh nên cẩn thận khi mở ra đọc vì nó đúng là một quả bom dư luận đấy chứ không phải chuyện đùa đâu. Anh hay lang thang ở những chỗ quê mùa, lại ít đọc là dễ thành lú lẫn lắm. Nói thật nhé, em thấy chả có cái nghề nào lại dễ kiếm tiền hơn nghề văn lúc này đâu anh ạ. Làm cái nghề ấy giả dụ có đi xin đi chọc người khác cũng có thể được tiền. Con bạn em, tác giả cuốn sách này ấy mà, nó vốn chỉ là một con bé ngồi đan len trên phố Hàng Mắm, rồi lớn lên thì tếch đi lấy chồng. Mấy năm gần đây chẳng hiểu vì sao, có lẽ là vì đã chửi mẹ chồng, nên nó bị thằng chồng dắt ra toà ly dị. Thân gái mà không chồng thì trước mắt chỉ còn hai con đường, một là treo cổ hai là tìm mọi cách len lỏi tới làng văn nghệ. Nó quyết định chẳng tội gì mà chết, phải đứng lên cầm bút đòi quyền sống. Rồi nó rủ em cùng làm đơn xin vào học một trường viết văn, Hà Nội có tới mấy trường dạy viết văn anh hiểu không. Nhưng dạo đó em còn đang ngu lâu nên em đã không nghe nó. Mấy ông thầy trường đó thật quá là nhiệt tình, có một ông tấp ta tấp tểnh ngày nào cũng tới động viên em nên chịu khó vào học, ông ấy lắp bắp bảo em là một đứa có thiên bẩm, viết văn cần nhất là phải có thiên bẩm. Người ta thì chân thành mà mình lại nỡ ngờ vực cho họ là một lũ mẹ mìn, thế là toi mất một dịp may. Nhưng cũng chưa muộn, thiên bẩm chưa dùng thì vẫn còn đấy, cho nên sang năm em sẽ viết cho anh coi. Tranh thủ lúc giáp tết em làm nốt mấy phi vụ này đã, xong xuôi em nhất định phải bắt tay vào chơi một cú tiểu thuyết. Viết như con bạn em thì anh bảo em đã kém cạnh gì. Có một ông lớn đã hứa sẽ cung cấp tư liệu cho em. Họ là những người chọc trời khuấy nước, cho nên chỉ cần hắt xì hơi một cái là nhà văn viết cả năm chẳng hết. Mà lại sang lây, cũng bõ một đời cầm bút. Anh hãy đợi đấy, con vợ anh không phải tay vừa đâu. Công ty “Nguduha” của em lần này làm luôn cả việc buôn bán văn hoá.
Phải lắm. Điều ấy thì Lăng có thể tin. Gì chứ để góp phần làm mất cân bằng sinh thái thì em là một tay có cỡ.
Ngay từ hôm đầu về sống với nhau đã thấy ngay Kim Thuý nào phải tay vừa. Chẳng qua anh vốn vẫn là một thằng hấp lìm khờ khạo, suốt đời chỉ biết đến những gì trên mây trên gió, còn vướng vào việc đời là quáng quàng như gà mắc tóc. Sang năm có lẽ cả Lăng nữa cũng sẽ viết văn. Cả nhà mình, cả thành phố mình sẽ cùng nhau viết văn, và như Thuý nói thì lúc đó chả còn ai đói nữa, ai cũng sẽ có cái để bốc bải vào mồm. Chao ôi, chỉ nghĩ vậy cũng đã đủ thấy là danh giá.
*
* *
Hoá ra vấn đề môi trường sinh thái lại là vấn đề quá rộng lớn và cũng quá nan giải. Càng nghĩ Lăng càng thấy con đường mà mình đang đâm đầu vào là hết sức rối rắm và có thể dẫn đến những tệ hại khôn lường.
Nó không phải chỉ là chuyện phân họ các loài chim, cũng không phải chỉ là chuyện hiệu ứng lồng kính, sự sụt lở của tầng ôzôn trong khí quyển hay các đại dương bị ô nhiễm hoặc các lục địa bị xói mòn cạn kiệt. Nó vẫn là chuyện con người, là sự rồ dại khó bảo của giống người đang sống ở khắp nơi.
Ra tới ga Hàng Cỏ, lúc sắp lên tàu mà Thúy nào đã chịu buông tha cho anh, cô ấy đòi phải ôm hôn nhau trước lúc tạm biệt. Chỉ còn thiếu nước không tìm nổi cái lỗ để chui xuống cho rảnh. Anh chợt nhớ tới câu chuyện của một nhà hiền triết La Mã nọ, trước lúc chết đã gửi cho bạo chúa Nê-rông một bức thư, trong thư ông đã châm biếm kẻ độc tài, nếu được phép cầu xin bệ hạ một ân huệ cuối cùng thì thần chỉ dám tâu bày thế này, bệ hạ là người quyền khuynh thiên hạ, muốn làm gì cũng được, bệ hạ cứ làm các cuộc chiến tranh, cứ giết, cứ đốt, nhưng cúi xin bệ hạ đừng làm thơ nữa, thần lấy làm hổ thẹn mỗi khi phải nghe thơ của bệ hạ.
Nếu có thể được dặn dò người vợ trẻ của mình một lời chân thành thì có lẽ Lăng cũng sẽ nói một câu gì đó tương tự như vậy. Anh cầu xin em chớ có viết văn làm gì, công việc đó thực sự sẽ là một tai họa cho cái tổ ấm vừa mới xây dựng của hai ta, em cứ làm kinh tế, cứ đi buôn, cứ tham gia mọi hoạt động xã hội, nhưng cầm bút viết văn thì chớ! Bởi vì tuy lười đọc nhưng anh cũng đã có dịp nhòm vào một vài cuốn sách in mấy năm nay rồi, anh có thể nói toạc ra rằng, một là anh ngu dại hai là chính họ.
Bây giờ Lăng ngồi đây, một mình một bóng trong căn nhà tranh ở một làng ven biển. Vợ chồng bác Kiên dành cho anh một khoảng tự do hoàn toàn, các nhà khoa học phải có chỗ yên tĩnh để làm việc, thời gian đối với họ là vàng ngọc. Bác đã nói với vợ con như vậy.
Hai vợ chồng bác suốt ngày cặm cụi ngoài đồng, đang là vụ cấy chiêm, phải cấy gấp để khi ngẩng lên là đã thấy tết. Sau lưng họ là một đội ngũ kế thừa sự nghiệp khá đông, hai trai ba gái, phải cái bọn trẻ đang còn nhỏ quá. Thằng anh cả tóc tai bám đầy bùn đất, mới chỉ biết nhảy lên chiếc xe đạp kể từ cái hôm thi đậu vào trường cấp ba của huyện. Đứa út thì đúng là còn đang nấp sau lưng con chị, bọn chúng lỉnh đi đâu suốt ngày, suốt ngày tấp tểnh đợi tết, đứa nào đứa nấy lấm lem mũi dãi.
Thành thử Lăng là người về đây để trông nom nhà cửa giúp họ. Nhà sinh thái học bày la liệt trên chiếc bàn gỗ ọp ẹp kê sát cửa sổ nào tài liệu tham khảo, tiếng tây tiếng tàu, nào bút chì bút mực, tất nhiên có cả cuốn tiểu thuyết “Nỗi buồn của em” ngoài bìa có in hình một cô gái quên không mặc quần áo, tay nâng một bông hồng. Nó là đầu câu chuyện của các nhà đổi mới đang toan tính kiếm chác một cái gì đó thì phải.
Những chú ruồi chốc chốc lại lao thẳng vào mặt anh như những chiếc máy bay thần phong hồi thế chiến thứ hai, chúng nó muốn nhắc nhở với anh rằng hiện trạng sinh thái nơi đây là rất đáng lo ngại.
- Chỉ có tiếng chim là thiếu. Im ắng quá. Làng xóm giờ vắng vẻ tiếng chim hót. Thuở chị em chúng tôi đang còn con gái, đi một bước chim chóc nhảy theo một bước, chỉ lo vô ý dẫm vào chúng thì phải tội. Mùa gặt tháng mười là chim ngói, bồ nông. Mùa nước nổi là kền kền, mồng két, kịp đến lúc cày vỡ là khắp đồng ríu rít sáo đen, sáo sậu, những chú sáo mỏ vàng dưới làn cánh có chấm trắng, chúng đậu trên lưng những con trâu lững thững gặm cỏ.
Bác Kiên gái vạch vú cho con bú, nhẩn nha trò chuyện với Lăng. Mùi sữa hoi hoi thơm. Đứa bé vừa hít sữa vừa nhai vú mẹ chùn chụt. Giọng người đàn bà nghe khê nặng mà ấm. Dân biển gần muối mặn, tiếng nói không mấy mềm mỏng, nhưng được cái dễ gần, dễ tin.
Y như buổi đầu mới gặp Lăng, người chồng lại vẫn ngồi khoanh đùi trước thềm, tay chống điếu cày, tay cầm chiếc đóm tre ngâm đang bén lửa. Sức vóc anh vạm vỡ, nước da đen bóng như đồng hun, những mảng khối vừa thô nháp vừa rất đỗi hài hòa trên khuôn mặt vốn lầm lì. Nhưng một khi anh cất tiếng cười thì vẻ lầm lì lập tức vụt biến và cả gương mặt rạng rỡ ngay lên, rất hiếm gặp được ai có tiếng cười hồn hậu đến vậy.
Họ cùng lắng nghe tiếng sóng vỗ ầm ì phía bể. Có tiếng gì như tiếng vỏ đỗ nổ lép bép râm ran, một tiếng thở thật sâu, thật rộng, mơ hồ trong gió. Đấy chính là nước ròng. Con nước thuỷ triều đang ròng. Nó còn lên dần, lên cao dần, cho tới quá nửa đêm.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Cựu chiến binh

Bài viết: 959
|
 |
« Trả lời #41 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2011, 09:34:38 pm » |
|
Tiếp : Vào mùa xuân năm con khỉ, năm Mậu Thân đó, chú Lăng có biết anh em chúng tôi đã ăn một cái tết như thế nào không? Rạt cả lên rừng, ngày húp một vậc cháo. Một tiểu đội chỉ được phép đổ ra đúng một bát gạo thôi, nước thì tha hồ, muốn ăn đặc cho vừa vừa, muốn mát ruột cứ việc gia thêm.
Tôi cõng thằng bạn trên lưng ròng rã nửa tháng trời, không sợ mình mệt mà chỉ lo nó chết. Nó bị mảnh pháo tiện mất một bàn chân. Lâu lâu tôi lại phải đứng khựng lại nghe ngóng xem nó có còn thở nữa hay không.
Một hôm tới phiên tôi nấu cháo, tôi nghĩ vân vi đằng nào anh em mình cũng có thể chết, không chết vì bom đạn mà chết vì đói, vì ốm đau quá. Tôi đánh liều cầm cái xẻng men theo bờ suối, chỉ cần lật mấy gốc tranh lên là đã có giun, những chú giun rừng dài vừa bằng cái que cời bếp, lóng lánh như xà cừ. Tôi kiếm một lúc được đầy mũ sắt, mang ra suối mổ rửa sạch ruột rồi cứ lưỡi lê tôi thúc cho chúng nát nhão cả ra, vứt vào đó nhúm muối, mắt trước mắt sau tôi trút tuốt cả vào nồi cháo đang sôi sùng sục. Cả bọn xúm vào sì soạt húp, loáng cái hết veo, có cậu thấy ngon quá, chả kịp hỏi xem thứ cháo hôm nay là thứ cháo gì, dùng ngón tay vét sạch cả đáy nồi.
Nhưng khi tôi vừa đưa thìa cháo lên miệng thằng bạn thì nó nhăn ngay mặt, nó nhìn tôi chằng chằng. Mày quấy cháo giun hả? Tôi gật đầu. Thì đã khác gì rươi ở nhà. Làm sao sống được mà cùng về với nhau là tốt rồi. Ở nhà rươi nấu với măng chua, ném thêm nắm lá thì là vào, ngon bằng tiến vua nhá. Còn nếu sang thì đúc rươi lẫn trứng và thịt nạc, bỏ ít vỏ quýt nữa... Tôi nói lảm nhảm một hồi nhưng nó chỉ húp nổi đến thìa cháo thứ ba là oẹ ra. Nó gạt tay tôi rồi thều thào: “Giun không là rươi được, không thể nào cứt cũng như rươi!”
Đúng là tôi bó tay ngồi nhìn nó chết. Nó mất nhiều máu quá, nếu ở hoàn cảnh khác, bị thương vậy đã thấm vào đâu. Vậy mà nó chết mới tức chứ. Mẹ kiếp, tôi vẫn cứ phải nghĩ mãi, chưa hiểu sao đói là thế mà nó không chịu húp cho mình một bát cháo giun. Nó là dân biển, nuốt rươi từ thuở lọt lòng. Lũ trẻ chúng tôi ăn sống nuốt tươi là chuyện hàng ngày, có gì là lạ, rồi chăn chiếu quần áo, trong nhà ngoài thuyền có chỗ nào là không có mùi tanh tưởi nhỉ.
Vào độ cuối thu trời đất giao chuyển, khi trong người thấy ngây ngấy mỏi mệt ấy là lúc rươi cũng từ dưới bùn sâu ngoi nổi lên mặt nước, chỉ việc gọi nhau mang rổ rá ra mà vớt về. Con xanh là đực, hồng hồng là cái. Chúng làm tổ trong đất nhưng vào mùa sinh nở lại phải ngoi lên tìm nắng gió mà quấn quýt với nhau. Rươi béo nhất là vào tháng chín tháng mười. “Tháng chín đôi mươi, tháng mười mùng năm, anh ra ngoài bãi vớt trầm cho em”.
Con rươi nhỏ nhoi mà được gọi là trầm. Nó tầm thường thế nhưng nếu biết làm thì cũng thơm nức chả kém gì trầm hương đâu. Chưa quen mà nhìn vào thì quả là có sợ, nhưng quý lắm đấy. Nhà nào neo thì đổ rươi vào hai thùng sơn quẩy lên tỉnh, chưa tới chợ đã thấy thiên hạ nhao nhao đòi mua. Nhà nào có sức thì xếp những thúng rươi vào lòng thuyền, chèo mãi lên mạn Bắc Giang, Vĩnh Phú. Ở vùng này bán rươi xây nhà ngói là chuyện phổ biến. Những tưởng sống trên vùng đất mặn mòi thì chỉ những vất vả là vất vả, vậy mà nếu chịu thương chịu khó, rồi có lúc đất đai lại cũng sẽ trả nghĩa cho mình đến là hào phóng.
Rươi là rươi, rươi không thể là giun. Không thể cứt cũng như rươi được. Thằng bạn tôi hôm ấy sắp chết còn cố nghển cổ lên mà cãi, nghĩ kỹ thì thấy nó có lý. Đấy là nó muốn trăng trối với tôi, đừng bao giờ để mình sa xuống sự xoàng xĩnh thấp hèn, phải sống sao cho không một đứa nào dám nhổ vào mặt mình, sống là rất khó, chết thì dễ. Nó là đứa tài trai nhất vùng, thử hỏi con gái làng này có mấy cô là không thầm mong ước có ngày được theo nó về nhà. Cô ấy nhà tôi là một ví dụ cụ thể. Cô ấy mê nó lắm, họ đã từng có dạo quấn với nhau như rươi đực, rươi cái vào tiết động trời. Mà thế là phải quá, sống như thế mới thật là sống, đám trẻ các anh, các chị bây giờ nom nhốn nháo vậy mà chưa chắc đã bằng một góc cái chúng tôi đã qua. Tôi từ mặt trận về, nó chẳng còn thì bà ấy mới chịu làm vợ tôi đấy thôi. Tôi tự biết mình là một đứa may mắn trên cõi đời này, kiếp người thật luẩn quẩn, cái may của người này lại là cái rủi, cái thiệt của kẻ khác.
Chú là nhà chim học giả, nghe chú bàn luận thì ra chừng cũng là người hiểu nhiều, đi nhiều, vậy chứ chú đã bao giờ được tham dự một cuộc săn sít chưa đã. Sang xuân mời chú quay lại đây, chúng tôi sẽ dắt chú ra vùng cói ngoài cửa sông xem những đàn sít mào đỏ bay về, chú sẽ hiểu những con đà điểu châu Phi của chú cũng chả là đếch gì. Chú mà đuổi bắt nổi một con sít là vợ chồng tôi lập tức đứng ra làm mối gả ngay cho chú một cô vợ đẹp tuỳ chú chọn. Đã có vợ buôn bán trên thành phố rồi chứ gì, thì vớ thêm một cô vợ bé để lại đây lấy chỗ đi lại. Cá nục, tôm he chả bằng cái tè he vợ nhỏ.
Chú hãy hình dung những con sít từ ngoài biển sải đôi cánh rộng sà vào vùng cửa sông. Thoạt đầu chúng chỉ mới là những chấm đen, lấm tấm đen, rồi sau hàng lối hiện ra dần. Con đầu đàn bỗng cất bổng lên cao, nó quan sát nhận định địa hình, trong khi cả bầy bám đuổi nhau lượn vòng tròn bên dưới. Rồi bất thần cả đàn theo hút con chỉ huy sà thấp, chớp mắt chúng đã biến trong lau sậy. Thế là sít đen mào đỏ đã về. Cả vùng rộn lên một niềm vui, không ai vội nói ra nhưng cứ nhìn vào ánh mắt long lanh của đám con trai con gái là đủ biết. Họ là những kẻ sắp được hưởng sự sung sướng tột bậc. Họ hướng mắt trông cả ra đồng, rỏng tai lên mà nghe ngóng. Bầy sít ngoài đó đang kêu, đang gào gọi nhau và chúng múa. Nhìn bầy sít từng đôi vờn múa với nhau thì không gì đẹp bằng. Giống công trong rừng múa bằng đuôi, hồi ở lính mắt tôi đã nhìn thấy. Nhưng thấm gì so với sít, sít múa bằng cánh, đôi cánh rập rờn vẫy đạp mềm mại khéo léo còn bằng mười các cô văn công. Một khi đã trông thấy đàn sít xoè cánh múa lượn thì phải hiểu văn công nhà ta chưa biết múa, đấy là họ đang ưỡn, đang ngoáy, đang nẩy mông, đánh vú, đang làm những động tác vừa gây cấn vừa thô lậu trước mắt chúng ta. Cũng như họ đã hát vậy, nói có chú, mỗi bận tôi được vinh dự ngồi nghe các đồng chí ấy hát tôi lại chợt nghĩ đến đàn sít mào đỏ quê mình, giọng của chúng mới thanh tao làm sao, trong khi ấy giọng người thì thế đấy, nghe cứ như sắp định hành hình ai không bằng. Thì tôi cũng nhất trí tiếng hát là tiếng súng, nhưng thà là tiếng súng hẳn lại đi một nhẽ, như thế chúng tôi vẫn còn chịu được.
Chú thì chưa phải chạy đứt hơi bao giờ, nom chân tay chú mảnh dẻ học trò thế kia là tôi biết chú nhàn nhã từ bé. Trai gái ở đây thì khác, họ sống trong sóng gió, sống giữa bão táp, do vậy mà phải biết bơi, biết chạy sớm lắm. Đứa nào không biết bơi biết chạy thì khó làm người ở nơi này, mà cũng không nhập đàn nổi. Gọi là nơi đầu sóng ngọn gió mà.
Năm mới ở vùng chúng tôi mở đầu bằng cuộc đua đuổi sít. Đám con trai mười bảy, mười tám được các cụ già xua từ các làng ra đồng. Trai thì ở trần gân cốt nổi lên như thuồng luồng sắp qua lạch, gái thì cởi áo, trên ngực chỉ còn thấy có một dải yếm. Làng nào ở xứ này mà không có tháp chuông nhà thờ họ, các tháp chuông đứng trang nghiêm in hình trên nền trời xanh cũng là một ấn tượng đẹp của vùng chúng tôi. Nhớ lúc sắp mất, thằng bạn tôi nó nắm chặt lấy tay tôi, miệng mấp máy nhắc tới những cái tháp chuông, những tiếng chuông, những mùa đi vớt rươi và những cuộc săn bắt sít ngoài bãi. Nó thèm được thấy lại quê nhà.
Khi những tiếng chuông cùng nhau đổ dồn ấy là hiệu lệnh gọi đám trẻ rầm rập lao vào cánh bãi. Mất hút ở trong đó từ ngang trưa cho tới tận khuya. Tôi đã từng có lần bám theo bạn đuổi lũ sít như thế mà đành bỏ cuộc. Chúng nhanh lắm, vừa bay vừa lủi, có vồ được thì cũng chưa hẳn đã giữ nổi, là bởi chúng cựa rất mạnh, có thằng ôm được con sít vào lòng thì mặt mũi chân tay đã rách nát như bị chém. Mỏ sít, móng sít sắc như dao.
Chiều xuống, mặt trời nấp đằng sau các tháp chuông. Làng mạc chìm dần dưới ráng chiều rực rỡ. Rồi mặt sông tối sẫm, từng đôi trẻ nằm vật trong lau sậy, trong những bị cói ngập lút đầu. Họ thở mới khiếp làm sao. Trời đất quay cuồng, đảo thiên đảo địa tất cả. Mắt nổ hoa cà hoa cải, tháp chuông ngả nghiêng, mặt trời nhảy nhót chấp chới, tai ù váng chả còn biết ai đang nói gì, gọi gì nữa.
Nhưng mà vui vì chiến thắng, đã lập được công trạng, đã đuổi bắt được sít, đã bảo nhau lùa được chúng. Có một bí mật này mà dạo đó tôi đã không biết, ta không thể nào bắt nổi một con sít đâu nếu ta chỉ cậy mình có sức khoẻ. Muốn bắt nổi nó còn cần phải có một con bé thương anh, phải có một con bé chấm anh từ lâu rồi mà anh không biết, chính nó sẽ bám theo hút anh trong bờ bãi mênh mang kia và giúp anh xua lùa một con sít nào đó.
Đấy, bí mật là ở chỗ ấy, vậy mà tôi suốt tuổi trẻ đã không hiểu ra. Chỉ đến khi thằng bạn sắp qua đời nó mới cho biết, nó dặn tôi nếu có ngày trở về thì hãy tới tìm cô ấy nhà tôi bây giờ và hỏi cô ấy hộ nó, liệu có còn nhớ cái buổi hai đứa cùng lùa một con sít mào đỏ ngoài bãi vắng chăng.
À thì là thế, họ đã từng có lần cùng nằm vật ra bên cạnh một con sít bị bắt chéo cánh. Con sít nằm đó mở mắt thao láo nhìn họ, kinh hoàng không rõ vì sao mình bị tóm cổ. Còn họ thì nhìn nhau mà cười, mà thở. Quấn chặt lấy nhau mà thở. Thở cho tới khuya, cho tới lúc trăng đã cao, khi con nước ròng dâng lên xô đẩy ồ ạt.
Lần ấy tôi đã một mình lang thang trong đêm bãi. Tôi bị lạc đường buồn bã vì chạy suốt ngày mà vẫn công cốc. Đã không bắt nổi một con sít thì nên mò về nhà mà bú mẹ. Cưa lừa kéo xẻ, thằng nào khoẻ ăn cơm vua, thằng nào thua thì về bú mẹ. Anh chưa phải là một thằng đàn ông, anh là một đứa bại trận và chả có ma nào muốn quấn lấy anh có vậy thôi
Suốt mấy ngày liền Lăng lang thang ngoài cửa sông. Vùng cửa sông tưởng vậy mà hóa ra có rất nhiều ô trũng đầm lầy. Nhiều khi anh phải xắn quần vòng vo lội tung bùn để tìm lối ra. Quả thật không dễ gì bắt nổi một con sít ở nơi này. Muốn sống được ở một nơi như thế này mà yếu đuối và dối trá là điều không thể có. Một nhánh lá ở đây cũng cứng và sắc như cưa, mỗi cọng rễ đều đâm bám vào đất một cách vững bền. Đến từng bước chân người cũng phải thế, nếu không thì ngã.
Hãy còn quá sớm khi nghĩ tới cái ngày đàn sít mào đỏ bay về. Mà tết thì sắp đến rồi. Đã tới lúc sắp phải chia tay với vợ chồng bác Kiên và các cháu.
Cái tết bao giờ cũng là một điểm hẹn thời gian, đây là dịp để gia đình xum họp, cùng nhau nhân rộng những vui mừng đã tìm thấy trong một năm và để chia vợi những gì gọi là buồn phiền. Đời con người ta đâu dễ trút bỏ nổi một cái gì đã từng là gắn bó, là thân thiết. Cũng chẳng khác nào loài chim. Chúng đi tứ xứ kiếm ăn nhưng rồi đến một lúc vẫn biết gọi nhau tìm về chốn cũ. Mỗi loài đều có một quê hương của nó cho dù nơi ấy rất nghèo khó, cái tình của muôn loài sâu xa là vậy.
Người có hồn người, đất đai cỏ cây đều có hồn của nó cả, để mất cái hồn ấy, để cái hồn ấy phiêu diêu hoảng hốt thì sinh thái hỗn loạn và khổ vô chừng. Gọi được nó về, hòa nhập được cùng nó thì sinh linh thuần thục lúng liếng. Cái hồn lúc tụ lúc tán, còn cái cốt thì bao giờ cũng cứng cáp kiên nhẫn, nó là xác của hồn. Tâm linh rối loạn là nguồn cơn của mọi sự mất cân bằng trong sinh thái tự nhiên và sinh thái xã hội. Mà con người hãy cứ liệu hồn, sự độ lượng chở che của trời đất dù to lớn cũng là có hạn, nó chỉ khẽ rùng mình là sự sống khó bền.
Vậy thì Lăng sẽ lại ra tàu, nay mai anh sẽ trở lại cái tổ không mấy ấm áp trên căn gác của ngôi nhà năm tầng kia. Anh sẽ về với Thúy. Về để lại tiếp tục nghe người vợ hiền thảo bàn về văn chương và cái công ty vô trách nhiệm vô hạn của cô. Về để chịu đau tai nhức óc mà nghe cô bé nhà bên vừa đạp chân vào tường vừa gào thét như một con dở: “Vắng anh là mất anh rồi, vẫn biết đứng lên là thấp hơn ngồi, giời ơi”. Dạo này không phải chỉ lắm nhà văn, nhà thơ mà còn lắm hoạ sĩ nhạc sĩ nữa. Hát thế mà cũng gọi là hát được ư? Nó là đĩ đực, là chim gái, là rẻ tiền chứ sao lại có thể gọi là âm nhạc được.
Sự nổi tiếng thời này hóa ra cũng dễ dàng. Một cô gái đan len thất nghiệp cũng có thể giật giải văn chương nữa là. Thật giả đều loạn xị ngậu là vì cái cân giá trị với những tiêu chuẩn của nó cũng chả đủ độ tin cậy nữa rồi. Dẫu sao thì anh vẫn cứ phải quay về nơi ấy. Chính chuyến đi này đã mang lại cho anh nghị lực.
Anh tự biết mảnh bằng tiến sĩ lấy lúc nào nên lúc ấy, tuy vậy, để trở thành một nhà sinh thái đúng nghĩa thì còn lâu, còn tốn nhiều cơm gạo. Nhưng một hệ sinh thái thực sự, một hệ sinh thái hiếm thấy thì anh đã gặp ở nơi này. Không hiểu từ đâu, không hiểu bắt đầu từ sự run rủi nào mà linh tính mách bảo anh phải rời ngay cái thành phố đang rất đáng phàn nàn về môi trường sinh thái để đến đây, đến không chần chừ, dù chưa dám chắc chuyến đi đã mang lại cho mình một ý tưởng mới mẻ hoặc một phát hiện bất ngờ.
Những đợt gió bấc ào tới khiến Lăng rùng mình. Anh phóng tầm mắt nhìn ra cửa sông, nơi mấy cánh buồm vá chằng vá đụp đang căng phồng lên, chúng từ từ tiến vào những luồng lạch giữa lau cỏ.
Ngoài ấy là biển. Biển đang thở. Bãi bờ đang thở. Những nhịp thở trầm quyện nồng nàn. Mặt trời đang nhô lên sưởi ấm tất cả. Tiếng chuông nhà thờ từ trong các làng ngân nga nhè nhẹ. Lặng đứng ngẩn ngơ giữa một vùng trời nước vắng vẻ. Mùi bùn mặn làm anh thấy ngất ngây say. Lòng anh thầm thì gọi đàn sít mào đỏ sớm quay về với anh, với mùa màng, với những năm tháng sao mà lắm nhiêu khê thế này
Đỗ Chu .
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 19 Tháng Tư, 2011, 09:29:14 am gửi bởi vmt »
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Cựu chiến binh

Bài viết: 959
|
 |
« Trả lời #42 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2011, 09:42:53 pm » |
|
Một chuyện tình thời chiến tranh Tác giả : Trung Trung Đỉnh
Tôi được ông Ba Sang gọi lên lán chỉ huy để nhận nhiệm vụ. Thực lòng tôi chẳng ưa gì ông, một ông già khó tính, mặt lúc nào cũng lầm lầm, lì lì, khô như củi. Ngoài bốn mươi tuổi mà ông vẫn chưa có “thời cơ” lập gia đình, phần vì hoàn cảnh chiến tranh, quanh năm suốt tháng ở phía trước. Phần vì bản tính ông khô khan thế nên rất khó gần phụ nữ.
Nghe đâu trước khi được về Nam chiến đấu, ông cũng có mối tình khá sâu nặng với một cô giáo rất xinh ở Hà Nội, nhưng khổ nỗi, chỉ vì ông biết yêu mà lại không biết thổ lộ tình yêu, nên cuối cùng người ông yêu sa vào tay một người bạn, hôm ông dẫn anh ta tới thăm cô nàng. Kể từ sau cái ngày đáng buồn ấy, ông không còn có cảm tình với bất kỳ người con gái nào nữa.
Ấy thế mà khi cậu công vụ của ông tới gọi tôi thì trung đội trưởng Chín Thung của tôi lại bảo: “Tao biết tỏng nhiệm vụ chi rồi. Mi phải nhận đó nghe. Cứ nhận đại đi, rồi về tao nói cho mà hay sau!”. Quái lạ cái nhà anh Chín Thung này! Tôi thấy cái sự ấm ớ của anh mới rõ là nhảm nhí, vì tôi là lính, làm sao dám từ chối lệnh của cấp trên mà xui nhận với lại không nhận! Vậy nên tôi mới hỏi anh: “Anh nói gì lạ? Anh biết nhiệm vụ gì không mà cứ nói càn?”- “Thì mày cứ tới đó khắc biết”. Thế đấy! Nói thế thì còn nói làm gì? Tôi là y tá của đơn vị. Vâng, một y tá bất đắc dĩ. Chả là sau trận đánh đồn Chè, tôi ngồi buồn, tí táy mở túi thuốc chiến lợi phẩm của đơn vị ra xem, tình cờ thấy có quyển sách “Cẩm nang y tá”, liền mò mẫm đọc. Té ra cái sự tiêm chích theo như trong sách này dạy cũng chẳng phải khó khăn gì cho lắm. Mà ngay cả cái việc chẩn đoán các căn bệnh thông thường, thực ra cũng đơn giản. Ví như muốn tiêm chích một loại thuốc có dầu thì nhất thiết phải luộc thuốc lên, rồi tiêm vào mông. Sau khi phóng mũi kim xuống, phải rút ngược lên một tí, coi xem có máu không. Nếu có máu hút theo có nghĩa là ta đã chích trúng động mạch, cần phải kéo nhanh mũi kim lên hoặc nhấn sâu xuống, rồi lại thử coi xem máu có còn hút theo thuốc lên xa- ranh nữa không. Nếu máu hết theo lên tức là không nguy hiểm nữa, tiêm được rồi đấy. Còn nếu dùng kháng sinh thì nhất thiết phải thử phản ứng trước khi tiêm. Bệnh nào cũng có nguyên nhân và cách chữa trị. Tìm được nguyên nhân thì chữa trị đơn giản, cứ theo ba-rem liều lượng có sẵn, thế là ổn. Thằng Đào kêu đau bụng, rờ vô hố chậu phải cu cậu giật thót lên. Tôi bảo đau ruột thừa, phải đưa nó đi cấp cứu ở trạm xá gấp. Thế mà trúng choóc. Cũng vì có vụ đau ruột thừa của thằng Đào mà tôi có dịp làm quen với trạm xá. Nói tới trạm xá tức là nói tới cái sự tươi đời vì ở đây lúc nào cũng vừa có nếp lại cũng vừa có tẻ!
Người tôi được làm quen đầu tiên là y sĩ Thư. Chị Thư tiếp nhận thương bệnh binh ở phòng cấp cứu, sau khi hội ý chớp nhoáng với bác sĩ Long, họ đi đến kết luận là phải mổ ngay. Tôi được họ mời phụ mổ. Đến nước này tôi phải thú nhận trình độ chuyên môn giê rô của mình. Cả bác sĩ Long lẫn chị Thư đều không tin, họ bảo lúc này không cần khiêm tốn. Té ra cái sự phụ mổ cũng chẳng có gì ghê gớm lắm. Tôi đứng cạnh chị Thư, tiếp tay cho chị những thứ dao kéo bông gạc khi anh Long cần. Sau ca mổ, tôi được chị rủ xuống bếp chị nuôi... tư tỏi. Ấy là món chè đỗ xanh nấu với mật ong. Lần đầu tiên được chén món này, tôi thấy ngon và thơm vô cùng. Còn anh Long thì thậm chí không thèm ăn. Anh bảo chỉ cần nhắc đến đỗ xanh là anh đã ớn dựng tóc gáy! Chẳng là năm ngoái trạm xá được trên cấp đậu xanh thay gạo, cả tháng trời ăn tuyền đậu xanh nên anh ngán đến tận bây giờ. Hôm rời bệnh xá về, chị Thư gởi tôi một lít mật ong và một túm đỗ xanh, bảo “biếu anh Ba Sang”, tôi mới biết ông Ba đâu phải chú người gỗ. Chị Thư bảo chị với “anh Ba” là đồng hương. Biết vậy, tôi chẳng bình phẩm gì. Tôi thấy chị nói tiếng Huế hay Trị Thiên gì đó, còn ông Ba nói rặt giọng Quảng, đồng hương Miền cũng còn khó nữa là. Tôi nghĩ, nếu ông Ba mà “vớ” được bà Thư này, thì đời ông coi như được đền bù xứng đáng. Chị Thư người mảnh dẻ, nhưng không phải cái mảnh dẻ yểu điệu, yếu đuối. Chính sự mảnh dẻ của chị lại toát lên vẻ cứng cỏi, kể cũng có hơi khô, nhưng bù lại, nghe chị nói ta có cảm giác chị đang thì thầm từ đâu đó, một thứ giọng ngân nga như chuông lại vừa trầm ấm, gần gũi.
- Em nói anh Ba đừng gởi chi cho chị nữa, nghen. Đấy, giọng chị đấy, chỉ cần nghe là ta không có cách nào khác mà không “dạ”.
- Dạ, tôi ngoan ngoãn nói.
Tôi hồi ấy mới mười chín, hai mươi, lại mới vào chiến trường, mới tham gia đánh đấm được dăm trận lẻ tẻ, mới đủ mọi thứ nên thấy cái gì cũng lạ, cũng hong hóng nghe, hong hóng theo dõi, và cả hong hóng suy nghĩ nữa. Về tới đơn vị, tôi kể lại chuyện đó với anh Chín Thung. Anh Chín là người Quảng, cùng quê với ông Ba Sang. Đã nhiều lần anh muốn cho chị Thư tìm hiểu ông Ba nhưng cả anh cũng là người vụng, chỉ biết nói với chị rằng, anh Ba Sang là người tốt! Nói thế thì ai chả nói được? Chả lẽ anh em chúng tôi là người xấu hết à? Thật khó lọt lỗ tai tôi chứ chưa nói gì tới tai chị Thư. Vả lại, nghe đồn chị Thư cũng lắm chuyện lắm. Chị chỉ thích yêu mấy anh bộ đội miền Bắc, có học thức cao, lại trẻ tuổi. Chính anh Chín có lần bảo với tôi rằng, chị Thư mê tay Long bác sĩ, nhưng tay Long đã có vợ, có con “ở ngoải” nên cứ tránh chị, mặc dù hai người làm việc cùng nhau. Tôi nghiệm thấy có lẽ đúng. Anh Long tỏ ra khá lạnh lùng với chị Thư, một điều “cô”, hai điều “cô”, ngay cả khi chê món chè anh cũng có cái vẻ của người né tránh. Còn chị Thư thì cứ nhẹ nhàng như không. Mọi cử chỉ của chị đều giản dị và hơi đượm buồn, hơi... cam chịu.
Hôm tôi đem mật ong và đỗ xanh của chị Thư về trao cho ông Ba Sang, ông tra hỏi tôi rất nhiều, rằng Thư có nói gì với em không? Thư có bảo bao giờ thì đi với đội phẫu ra phía trước không? Thư không viết cho anh chữ nào à? Tôi bắt thóp được tình cảm của thủ trưởng nên cứ ấm ớ kể rằng, chị ấy chỉ hỏi thủ trưởng có khỏe không, có hay buồn, hay cáu với anh em không thôi. Ông Sang ngồi thừ ra một lúc rồi bỗng đưa cho tôi chỗ đỗ xanh và mật ong ấy, bảo đem về nấu chè cho anh Chín và anh em trung đội trinh sát cùng ăn. Tôi chả dại gì không nhận. Về đến nơi, đem “chiến lợi phẩm” ra khoe, anh Chín mắng tôi một trận lên bờ xuống ruộng, rồi mới nói: “Mày đừng bép xép, ông ấy hâm hâm nhưng tốt bụng cực kỳ, đừng để nhiều người hay chuyện, ông ấy nhụt chí”. Tôi tất nhiên là “vâng”.
Bẵng đi một thời gian vì bao nhiêu công chuyện, hôm nay ông Ba Sang lại nhớ tới tôi mà gọi, hẳn có chuyện gì đây? Tôi mong sao mọi điều đến với ông và chị Thư được suôn sẻ. Và tôi tự dưng cảm thấy ngùi ngùi thương ông, lại cũng phát hiện ra ông đâu phải người khô như củi mà thỉnh thoảng anh em lính tráng chúng tôi cứ hay đem ra bình luận.
***
ttTôi vừa lội qua suối thì đã thấy anh chàng công vụ của ông Ba Sang đón ngay trên bờ. Đó là một thanh niên dân tộc Bahnar có giọng nói cứng, rất khó nghe: “Thủ trưởng biểu tui chờ anh.”, anh ta nói từng tiếng một. “Có chuyện gì quan trọng không?”, tôi hỏi. Anh ta bảo rằng, thủ trưởng bố trí cho tôi tới trạm xá học một thời gian để về làm y tá chính thức cho đơn vị. Tôi nghe mà ngán ngẩm. Thực lòng, tôi đâu có mê cái nghề ấy. Chẳng qua vì lúc rỗi tôi tò mò tìm hiểu, rồi khi bí thì ra tay, bây giờ đến nước này rõ là thân làm tội đời rồi! Anh bạn công vụ khoác súng đi trước, bảo tôi theo sau. Tôi buồn bã ra mặt, trong lòng chỉ nghĩ tới chuyện phải từ chối thế nào để ông ta hiểu, đừng bắt tôi đi học. Nhưng tôi đâu có nghĩ được điều gì cho mạch lạc?
- Anh Bình. Thủ trưởng biểu tui dẫn anh vô đây.
Tôi sững lại trước cửa một căn nhà hầm nhỏ, có biển đề “Quân y đơn vị”. Chẳng lẽ chuyện đã gọn ghẽ thế này rồi sao? Chẳng lẽ ông ta không cần hỏi xem nguyện vọng của tôi? Nghĩ thế, người tôi giận run lên, nhưng chân vẫn cứ bước vào. Tôi không ngờ chị Thư đang ngồi đó, trước cái bàn ghép bằng phên nứa, cùng cái túi quân y. Thấy tôi vào, chị ngẩng lên nhìn tôi, mặt đầy nước mắt. Rồi bỗng chị lao tới, ôm chầm lấy tôi, vừa nức nở khóc, vừa nói:
- Em ơi! Chị em mình bị người ta đánh tráo cho nhau rồi!
Tôi không hiểu. Không tài nào hiểu được đánh tráo cái gì và ai là người ta?
Té ra ông Ba Sang không phải là chú người gỗ. Chính âm mưu này do anh Chín lập ra, sau này tôi mới biết. Anh Chín đã tới trạm xá gặp bác sĩ Long, kể về tình yêu của ông Ba Sang với chị Thư, rồi anh đề nghị anh Long, nếu thương chị thì nên cho chị chuyển về đơn vị chúng tôi, để hai người có dịp gần nhau, vì vả hai cùng đều lớn tuổi cả rồi, mà chiến tranh thì chả biết tới bao giờ chấm dứt. Anh Long nghe cũng xuôi tai, có điều, anh đề nghị cho cậu y tá Bình - tức là tôi, về trạm xá thế chân chị Thư, phải có thêm một y tá nam trẻ khỏe như tôi thì anh Long mới chấp nhận.
Cho mãi tới bây giờ tôi vẫn nhớ gương mặt đen sạm của ông Ba Sang khi ông tới chỗ chúng tôi, bắt gặp cảnh khóc lóc của chị Thư. Ông nói run run:
- Thôi, thôi mà. Không có gì đâu mà. Nếu các đồng chí không ưng thì thôi cũng được kia mà. Ở đây với trạm xá cũng vẫn là một đơn vị, tôi đâu có ép...
Đúng thế. Trạm xá chỉ là một đầu mối của đơn vị. Nhưng tôi đã nhận ra nét mặt quá đau khổ của thủ trưởng Ba, khi ông khẽ đặt tay lên vai tôi, nói nhỏ: “Tuỳ em thôi mà!”.
Không phải tuỳ tôi, điều ấy tôi hiểu. Nhưng lúc đó nếu tôi từ chối, hẳn từ chối được. Ấy vậy mà tôi đã lại “vâng” một cách nước đôi, để rồi sau đó phải khoác ba lô về trạm xá thật. Còn chị Thư với ông Ba đã thành vợ chồng sau đó nửa năm, đúng vào dịp tôi được nhận bằng y tá, trước Tết ta vài ngày, trước khi toàn đơn vị được lệnh vào chiến dịch lớn. Đám cưới của họ, nói như anh Chín Thung là lấy vui làm gốc, món ăn chỉ có độc một nồi quân dụng lớn chè mật ong nấu với đỗ xanh, do chính anh Chín vừa là anh nuôi vừa là trưởng ban tổ chức nấu, ai ăn được bao nhiêu thì tuỳ khả năng mà múc.
TRUNG TRUNG ĐỈNH
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Cựu chiến binh

Bài viết: 959
|
 |
« Trả lời #43 vào lúc: 19 Tháng Tư, 2011, 09:24:19 am » |
|
Con thú bị ruồng bỏ . Tác giả : Nguyễn Dậu
Mỗi năm, vào dịp sang thu, tôi lại được mời lên Ba Vì một lần. Đây là một vùng gò đồi rất đẹp. Hàng ngàn quả đồi nõn nuột cỏ xanh, tròn trịa như một mâm xôi. Rồi kế đến là vùng đồi dứa, đồi sim, đồi sơn, đồi chẩu. Càng vào sâu chân núi, rừng càng rậm rạp dần, thâm u dần, để trở thành rừng già trùm lấp những tảng đá nguyên sinh nổi tiếng trên non Tản.
Bạn tôi, thiếu tướng Nguyễn Hồng Quyền đã nghỉ hưu và định cư tại nơi đây. Trang trại của ông - có thể gọi như vậy - Gồm gần hai chục nóc nhà làm bằng gạch và gỗ, nằm trên một trái đồi hình yên ngựa, xung quanh có hai ba dòng suối nhỏ uốn lượn vây bọc. Xa hơn nữa, một dòng sông mênh mang đỏ rực phù sa, đang cuồn cuộn chảy xuôi, mất hút vào giữa những eo núi hẻo lánh.
Thật ra mảnh đất này không phải là đất tổ của Quyền. Năm 1948 chúng tôi có dịp chiến đấu chống Pháp ở đây. Rồi tới năm 1953 lại một phen nữa, đơn vị chúng tôi nhận nhiệm vụ phá bung hành lang trung du của địch mở lối thông thoát từ miền đồng bằng lên Việt Bắc, qua nẻo Hòa Bình, Sơn Tây, Phú Thọ. Trong một tối lửa trại liên hoan quân dân, trung đoàn trưởng Nguyễn Hồng Quyền được cô gái xinh đẹp nhất vùng Bất Bạt say đắm. ở anh có nét điển xảo của trai Hà Nội có tư thế hiên ngang, có ngựa hồng, côn bát là hình ảnh “trai thời loạn” rất dễ làm xao xuyến những trái tim thiếu nữ thời bấy giờ. Họ thành vợ thành chồng. Con cái của họ giờ đã khôn lớn, hầu hết đi công tác ở nơi xa. Cố nhiên họ đã nên ông nên bà vì có một đàn cháu nội cháu ngoại khá đông đúc.
Thiếu tướng là một con người sởi lởi, hào phóng, chí tình chí cốt với họ hàng và bầu bạn. Nhưng ông mắc bệnh gia trưởng quân phiệt một cách nặng nề. Ông yêu thương mọi chiến sĩ nhưng cậu nào bướng bỉnh, ông cho đi an dưỡng hoặc cho thuyên chuyển tới đơn vị khác không thương tiếc. Ông đùm bọc họ hàng đến hết mình, nhưng chớ nên để ông phật ý. Chỉ một giận dữ nhỏ, ông thù ghét rất lâu, thậm chí rất đáng buồn là ông ghét họ suốt đời.
Như nhiều người khác ông cũng mắc bệnh nghề nghiệp. Nghĩa là ông ưa mọi ý muốn của ông phải được chấp hành, mọi rắp tâm phải được thực hiện. Bởi vậy con dâu về ở cạnh ông đã đành. Con rể cũng phải về ở cạnh ông nữa. Rồi dần dần, một số con cháu trong họ cũng thiên cử đến đây quây quần cùng ông cho “tre ấm bụi”. Không cần phải khéo léo cho lắm, ở cương vị ấy, người ta dễ dàng “ngói hóa’ cho cả xóm. Thế là cái xóm nhỏ gồm toàn con cháu của ông, trở thành trang trại. Sau khi về hưu thì vị thiếu tướng nghiễm nhiên trở thành chòm chóp của trang trại này.
Mới sau mươi hai, thiếu tướng còn trẻ khỏe hơn tuổi tác. Ông cao lớn, đẫy đà, hồng hào, dáng đi mạnh mẽ, giọng nói oang oang, tiếng cười rồ rộ, tràn trề sức sống. Tuy đầu óc ông không còn thích nghi với một đơn vị chính quy hiện đại nữa, song ông quá thừa năng lực điều khiển việc sản xuất kinh dinh của trang trại, để cho nó ngày một phồn vinh sung túc.
Ngoài công việc điều hành trang trại, thiếu tướng đặc biệt ham thích săn bắn, câu cá, cờ tướng. Đôi khi, cao hứng lên, ông cũng làm thơ. Những bài thơ Đường luật lổn nhổn những từ ngữ, xửa xưa: sơn hà, tráng sĩ, vung gươm, thôn nữ cửi canh, chinh phụ, bồi hồi v.v...
Bởi tôi cũng thành thạo vài ngón như bắn súng, câu cá và ham cờ nên vừa là niềm vui vừa là tai họa, mỗi năm ông bạn già ấy lại “buộc” tôi phải lên chơi với ông một lần, thậm chí ông có lúc còn chèo kéo tôi lên định cư hẳn cùng ông, làm quân sự quạt mo cho ông trên một số lĩnh vực.
Lần này, Nguyễn Hồng Quyền xuống tận Bất Bạt để đón tôi. Trung tướng không dùng xe máy “ban căng” như mọi lần. Thay vào đó, ông cưỡi một con ngựa trắng, đực tơ, bốn vó khá dài. Trên tay ông dong theo dây cương một con ngựa hồng cái, có bộ lông rất mượt, có cặp mắt mầu vàng chanh và bộ lông bờm màu hồng nhạt không gọt xén. Trao cương ngựa cho tôi, ông vừa vỗ về con hồng, vừa nhìn tôi cười ha hả:
- Sao? Ngạc nhiên lắm à? Có gì đâu, tớ muốn chúng mình lại cùng nhau phóng ngựa, như ngày xưa trẻ trung đã phi ngựa trên thảo nguyên Hoa Bắc ấy mà. Xương xống lưng của tớ thì tuyệt rồi. Mà xương sống của ông thì chắc cũng chẳng kém gì đâu. Đồng ý chứ?
Tôi tỏ vẻ hân hoan. Bởi vì cái gì dính tới thời son trẻ tôi cũng ham thích.
- Đồng ý thôi. Chỉ phiền cái sắc du lịch của mình hơi nặng.
- Cứ ghì vào sau yên ấy. Con hồng không chịu nhường bước con bạch đâu. Rồi ông sẽ thấy nó phi nước đại hay đến mức nào. Phải tháo kính trắng ra, bỏ vào túi áo, kẻo văng mất đấy.
- Cặp ngựa này ông sắm từ bao giờ vậy? Năm ngoái tôi không thấy chúng chúng.
- À, mời lên Lạng Sơn tậu đấy. Lúc thường thì dùng chúng kéo máy ép mía, máy ép dầu. Lúc cần thì đi săn. Săn thứ mà không có ngựa tốt để cưỡi thì nguy hiểm lắm. Ông quá rõ điều ấy còn gì? Thôi, lên ngựa đi!
Chúng tôi cùng lên ngựa. Quyền huýt gió một tiếng chói tai. Từ bụi cỏ gần đấy, một con chó to lớn mầu trắng đen loang lổ, băng lại cạnh chân ngựa. Nó vẻ vẩy đuôi, giương mặt mắt xanh thau, chờ lệnh chủ. Thiếu tướng hể hả, hất hàm hỏi tôi:
- Ông vẫn nhớ nó chứ?
- Làm sao tôi quên được con Tuýt của ông. Không phải chó nữa, mà thực sự là một con beo rừng. Năm nay nó đến ba chục ki lô đấy nhỉ?
Vị chòm chóp của trang trại cười rung cả yên ngựa:
- Ba mươi bảy ki lô đấy!
- Thế còn con Múc?
- A, con Múc, cái con trời đánh, ông nhắc đến nó làm gì? Rồi thì tôi sẽ cho ông rõ mọi chuyện. Ê, này Tuýt! Mày không kính chào bạn của chủ mày à?
Con Tuýt ngoáy tít cái đuôi dài, “oẳng” một tiếng hùng dũng. Đoạn nó đứng thẳng lên bằng hai chân sau, hai chân trước chụm lại, hướng về tôi mà vái ba vái.
- Thôi, đủ rồi - Chủ nó ra lệnh - Hãy dẫn đường cho chúng tao.
Con Tuýt vọt lên trước. Con ngựa bạch lao theo nó. Không chờ giật cương, con Hồng cũng băng lên, phi song song cùng bạn nó. Chúng tôi vùn vụt phi lên đèo, lượn quanh suối rồi lại vượt dốc băng đèo. Sau lưng chúng tôi, bụi đỏ của vùng đồi đá ong bốc lên cuồn cuộn.
Con Tuýt xứng đáng được chủ nó cưng chiều. Nó bỏ xa đầu ngựa hàng trăm mét. Có lúc nó tạt sang sườn trái, có lúc nó lại vòng bên sườn phải, chúng tôi. Bốn chân nó thoăn thoắt, mờ mờ không còn rõ hình hài. Bộ lông khoang của nó như kẻ một đường thẳng trên ngọn cỏ. Đôi lúc, nó đánh hơi thấy một mùi hoang thú nào đó. Nó lập tức rống lên, rẽ ngang vào rừng sơn. Song, dù máu săn của nó nóng tới dâu, nó vẫn nghe lệnh chủ mà quay ngoắt trở lại, rồi vun vút băng vọt lên dẫn đầu. Đôi ngựa chúng tôi đang cưỡi đây, cũng rất hăng máu non tơ, dường như muốn đuổi vượt con Tuýt. Chúng thở ra hơi trắng, bốn vó dồn dập sải dài nước đại. Sỏi đá, cây cỏ dưới mặt đường như kéo thành vệt, loang loáng trôi về sau lưng. Nhưng không ồn. Chẳng nói gì ngựa thồ, ngựa ép mía, ngay đến ngựa chiến cũng không thể theo kịp tốc độ của chó săn. Con Tuýt láu lỉnh hiểu ý đôi ngựa. Ngựa phi nhanh, nó tăng tốc nhanh hơn. Ngựa chậm dần, nó hãm đà phóng, cứ lừng lững ở mé trước như trêu như chọc.
Quả thật đây là những giây phút sung sướng lành mạnh trong đời tôi. Thuở trai trẻ, chúng tôi được dịp ngồi trên yên những con ngựa cao lớn mà bay vút trên thảo nguyên bao la. Những con ngựa ấy, tôi chỉ đứng ngang tới bả vai chúng, rất xứng đáng với những cái tên rất kêu: Thiên - lý - Hoa - lưu, tích - tuyết - ô - tuy, xiển - điện - hoàng - phiêu, v.v... so với chúng thì hai con ngựa nhiệt đới mà chúng tôi đang cưỡi đây, chỉ đáng gọi là con ngẽo xoàng sĩnh. Song tôi vẫn thấy chứa chan hào hứng. Tôi thầm cám ơn bạn già, cảm ơn đôi ngựa, cảm ơn con Tuýt tinh khôn, cảm ơn trời đất mênh mang và cảnh sắc của thiên nhiên hào hùng xung quanh... Tất cả đã khuấy lại trong tim tôi những kỷ niệm đẹp đẽ đã trôi qua, những sôi nổi chỉ còn âm ỉ của một thời xuân sắc đã lướt vào dĩ vãng.
Vị chòm trại đột ngột chụm môi rúc còi lanh lảnh ra hiệu cho chó và ngựa dừng lại bên bìa rừng chẩu.
- Được nửa đường rồi, chúng ta tạm nghỉ một lát. Thế nào, ông bạn, cảm giác về xống lưng ra sao?
Cả hai chúng tôi cùng nhảy xuống. Cương ngựa được cột chặt vào gốc chẩu. Chúng lúc lắc đầu, quạt mạnh đuôi, gõ móng thậm thịch xuống nệm cỏ, tỏ ý còn muốn được rong ruổi nữa, tuy rằng hơi thở của chúng đã khá nặng nề.
Chúng tôi ngồi xuống nệm cỏ mật. Giữa hai hàng chẩu non. Thiếu tướng rót rượu mật ong ra. Chúng tôi cùng nhau tợp vài ngụm, rồi hút thuốc lá, loại thuốc sợi vàng óng, đặc sản của Ba Vì. Riêng Quyền, ông nhồi vào tẩu. Ông đã quen dùng tẩu từ mấy chục năm rồi.
Tôi lim dim mắt, hỏi bạn già:
- Tình hình các cháu nội ngoại của ông ra sao? Nhất là cái con Quỳnh ấy?
- Chúng nó đều ăn khỏe, ngủ khỏe. Riêng cháu Quỳnh thì ngoài phần học văn hóa ra, cháu vẫn thích đi chơi trên đồi rừng, vẫn thích làm thơ về rừng. Từ ngày không còn con Múc, nó ít đi rừng hơn. Vả, tôi cũng cấm cháu nữa.
- Nghĩa là, anh không hề thấy con Múc quay trở về?
- Con Múc trở về ấy à? - Thiếu tướng mỉm cười, lắc đầu nhè nhẹ - Về con Múc, anh sẽ được thấy mọi điều. Hiện giờ tôi không muốn nói cùng anh vội. Nhớ rằng tôi mời anh lên đây lần này khác hẳn những lần trước. Dù rằng anh không ưa săn bắn, tôi vẫn ép anh phải dự cùng tôi một cuộc săn bắt bằng được.
- Một con thú đặc biệt mới xuất hiện chăng?
- Ồ, bí mật quân sự!
Tôi không hỏi han gì nữa. Tính nết đến khỉ của cái ông già này là vậy! Khi không, tự dưng ông nói tộc toạc đủ mọi điều. Lúc thích hỏi, thì ông ta lì lì ngậm tăm.
Con Tuýt nằm duỗi chân cách chủ nó chừng nửa mét. Lưỡi nó thè dài, màu đỏ hồng có điểm những chấm đen lấm tấm. Thân nhiệt của nó, được sả ra từ đầu lưỡi, bốc thành hơi trắng nóng hầm hập. Hàm răng của nó trắng bóng. Bốn chiếc nanh cửa dài và cong, nhoáng sáng đến dễ sợ. Chẳng rõ từ ngày nào ra đời rồi trưởng thành đến nay, bộ nanh ghê gớm kia đã cắn xé biết bao gà lôi với chim đa đa, thỏ và chồn, hươu và hoẵng, gấu và cáo. Kinh dị hơn, chủ nó đã đôi lần tường thuật cho toi nghe những trận ác đấu của nó với gấu ngựa và báo đen. Trong những cuộc cắn xé sinh tử đó, phần lớn nó đã chiến thắng, dù đẫm máu nhưng huy hoàng. Có nhiều phen nó đã sắp bị kẻ thù xé xác. Nhờ nòng súng thiện xạ của ông chủ, nó được cứu thoát. Chủ và chó đều có ân huệ sâu sa với nhau. Nếu như chủ đã cứu chó thoát khỏi cửa tử nhiều phen, thì chó cũng đã răm bảy bận đưa chủ trở về cõi sống.
Trong các cuộc săn đuổi gay cấn và hấp dẫn lạ lùng kia, thiếu tướng đã hai phen bị báo gấm vồ lén, đã một lần bị gấu ngựa quật ngã. Mỗi lần ngặt nghèo vậy, con Tuýt mới được dịp bộc lộ hết tài năng của nó. Nó nhanh chóng chọn chỗ yếu của hoang thú, để tìm hướng lao vào. Không do dự trù trừ, không hấp tấp, sai chệch, nó chồm tới, ngoạm rất chính xác vào cổ họng ác thú mà xé rách bằng hai ba cái quẫy đầu mạnh mẽ. ác thú bị đòn chí tử, không còn kịp gây thương tích cho chủ nó nữa.
Nguyễn Hồng Quyền thường đắc ý nói với tôi.
- Anh rõ chăng, lúc nó mới chào đời, tôi đã thấy “tướng lạ” của nó. Dưới hàm của nó có ba sợi lông dài màu xanh biếc. Chỉ người sành chọn chó mí hiểu thế nào là “tam tu vi long, nhị tu vi hổ”. Đấy, thế đấy. Chó của tôi thì kém đếch gì một con beo? Này, anh còn nhớ thượng tướng Th. không? Cái ông già đã gạ tôi đổi con Tuýt lấy một cặp bẹc giê Sibêri đấy. ồ, xin lỗi! Ngài hãy đổi cho tôi một cặp rồng thực sự, tôi cũng xin kiếu ngài thôi.
Vốn thâm giao, thường niên gặp gỡ, lẽ cố nhiên tôi hiểu rõ lai lịch con Tuýt vô giá kia. Tổ của nó vốn nòi chó săn Na uy băng giá. Trong trận tiêu diệt đồn Đại Bục năm xưa. Giữa hàng trăm chiến lợi phẩm quan trọng, trung đoàn trưởng Nguyễn Hồng Quyền chỉ mừng rỡ khi đoạt được con chó săn này, vốn là kẻ “cận vệ” của tên Pháp đồn trưởng. Ông gởi về nhà, giao cho vợ ông trông nuôi. Trong đàn con cháu của nó, không pha tạp một sợi lông màu nào. Và ông đặt cho nó một cái tên rất âu yếm: Bạch Ngọc!
Bạch Ngọc có đôi tai nhỏ, dựng đứng. ức nó nở, bụng nó thon, toàn thân nó chác nịch như thỏi giò bó. Đôi mắt của nó mang màu da cam, le lói tia sáng. Nó không sủa inh ỏi như chó nhiệt đới, mà lặng lẽ tiếp cận đối thủ, và chỉ tấn công khi nó biết chắc sẽ có một cú đợp chí mạng.
Năm trước một lần về phép thăm nhà, thiếu tướng lấy làm lạ lùng khi thấy con Bạch Ngọc thường hay lặng lẽ băng mình vào rừng sâu những lúc xế chiều. Ông sỏ ủng vào chân, xách khẩu AR15, loại tiểu liên cực nhanh, rồi cũng lặng lẽ đi vào rừng, theo hướng đi của Bạch Ngọc.
Từ xa, dưới một gốc chám già nua, ông đã thấy Bạch Ngọc đang đùa rỡn với con chó vạm vỡ, có bộ lông đen bóng như lụa lĩnh. Ông rón rén vòng theo hướng ngược chiều gió, dần dần tới gần đôi chó bằng động tác đi cực kỳ êm nhẹ của thợ săn lành nghề. Và ông nằm phục xuống quan sát.
Đôi chó quá vui vẻ, nên không hề phát hiện con người đã quá gần chúng. Nòng súng AR15 đã được lên. Song, chỉ một tích tắc ngắn ngủi, vị thiếu tướng tinh ranh đã quyết định không bóp cò. Ông chỉ rê đầu súng theo họat động của con chó rừng đen tuyền kia, mà chờ đợi.
Con chó rừng và con Bạch Ngọc ngửi hít nhau, đùa rỡn vật lộn nhau. Sắp đến lúc phấn khích, con chó rừng rụt cả đầu, cả thân mà chạy thành vòng tròn rộng xung quanh con Bạch Ngọc. Đôi lúc nó ngẩng cao đầu, tru lên từng hồi dài, rồi tung vọt người lên không, nhảy vút từ tảng đá này sang tảng đá khác với điềm cuồng say ghê gớm. Con Bạch Ngọc cũng nhảy nhót, nhưng dường như nó chỉ xoay mình trên tâm điểm. Cuối cùng nó hứng khởi cắn nhẹ vào má con chó rừng, rồi đứng im với tư thế mời mọc.
Quả nhiên ông thiếu tướng dự đoán. Một hiện tượng thiêng liêng của tự nhiên đã diễn ra. Con chó rừng hăm hở làm cái việc gắn đuôi con Bạch Ngọc. Biết chắc rằng đôi chó không thể mau chóng tách rời nhau, thiếu tướng đứng lên, nhẹ nhàng lùi dần ra cửa rừng. Ông ngồi trên một khúc gỗ ẩm ướt, mồi lửa vào tẩu thuốc và ngâm nga một câu thơ gì đó. Ông vui! Một cuộc phối giống vô cùng hiếm hoi mà có dụng ý đến đâu người ta cũng không dám mong ước. Thiên nhiên yêu chiều ông đến thế là cùng.
Chừng nửa tiếng sau, Bạch Ngọc êm như ru chạy ra. Nhác thấy chủ, nó ngạc nhiên nhưng mừng quýnh. Đôi mắt sung sướng của nó lấp lánh như bốc lửa. Ông Quyền đập nhẹ bàn tay lên đầu nó, nói với nó vài lời trìu mến, khi nhìn thấy từ cụ thịt dưới đuôi nó rỉ rả vài giọt máu tươi. Đoạn, cả chủ cùng chó, với nỗi niềm hoan hỷ, chậm bước quay về trại. Đó là lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất, con người say sưa sát phạt kia đã không nổ súng vào một con thú rừng.
Trước khi lên xe, trở lại đơn vị, ông dặn dò cặn kẽ vợ con cách chăm sóc và bồi dưỡng Bạch Ngọc, đồng thời phải biên thư báo cho ông biết diễn biến của nó từng tuần một. Bà Quyền ngoan ngoãn vâng mệnh lệnh chồng: bà chỉ âm thầm buồn bực vì xưa nay chưa bao giờ chồng bà quan tâm như thế tới bà, tới con gái và con dâu mỗi kỳ thai nghén sinh nở.
Con Bạch Ngọc đã không phụ lòng ông chủ. Nó đẻ lứa đó được bốn chó con. Con đầu khoang đen trắng, tức con Tuýt. Con thứ hai hoàn toàn đen kịt, có cặp mắt tóe lửa giống mẹ, được đặt tên là con Múc, còn hai con kia mang mầu lông xám đậm. Tuy tiếc đứt ruột, vị thiếu tướng vẫn phải tặng một con cho một ông Bộ trưởng có ân sâu dìu dắt ông tự thuở thiếu thời.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 19 Tháng Tư, 2011, 10:06:45 am gửi bởi vmt »
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Cựu chiến binh

Bài viết: 959
|
 |
« Trả lời #44 vào lúc: 19 Tháng Tư, 2011, 09:26:49 am » |
|
Tiếp theo : Khi Tuýt và Múc được tám tháng tuổi, cũng là lúc ông tướng già được về hưu. Ông dốc hết sức mình vào việc dẫn dắt trang trại của mình ngày một phồn vinh trên đường kinh dinh. Cũng với sự tận tình như vậy, ông chăm sóc, huấn luyện con Tuýt, con Múc cùng một bầy năm sáu con chó săn khác. Tuýt và Múc càng lớn càng khác biệt nhau. Cùng vạm vỡ, cao lớn, cùng nồng cuồng với thiên chức săn đuổi tìm diệt, song con Tuýt được chủ nó yêu quý hơn con Múc nhiều. Tuýt biết phán đoán, ứng xử hầu hết ý chủ. Nó gần như hiểu tiếng người. Ngoài chức trách dữ dằn, quyết liệt và man rợ trong săn bắt, nó rất dịu dàng, quất quýt con người. Chỉ cần dậy bảo đôi lần, nó biết mừng đón, biết vái chào, biết canh phòng và làm vui lòng chủ. Nếu cần sai nó lấy đôi dép, lấy con dao, lấy chiếc điếu cày, nó làm rất khéo. Nếu cần thúc nó trừng phạt gia cầm và gia súc, nó tuyệt đối làm vừa ý chủ.
Còn Múc thì hoàn toàn ngược lại.
Nó không hề thua kém Tuýt về khoản săn đuổi, vật lộn và cắn xé. Nhưng chỉ thế thôi. Nó dửng dưng với những việc mà con Tuýt say mê. Nó không quẩn quanh bên chân chủ, không biết chào đón, lại càng đần đội với những việc chủ muốn sai khiến. Trong cái trại đông đảo người này, nó chỉ thân thiết và gắn bó với riêng cháu Quỳnh. Mỗi lần cháu Quỳnh lên đồi sim, hoặc vào rừng, nó thường đi theo, nửa bước không rời. Những lúc tiễn cháu Quỳnh đi học rồi, nó thường quay về nằm duỗi dài chân ở đầu thềm, dỏng tai nghe, chăm chú nhìn. Nó nghe gió ngàn, nghe suối reo, nghe mọi động tĩnh trong rừng sâu. Đầu mũi ướt bóng của nó luôn nhún động, để như nắm bắt, như phân biệt, như tận hưởng mọi thứ hơi lạ theo gió lùa tới.
Nó thờ ơ như vậy, dần dà, nó bị ông chủ thất sủng. Ông quên đi những công lao của nó, chỉ biết cáu gắt quát tháo mỗi khi nó lì lợm không chịu xua đuổi đàn gà quấy phá vườn rau hoặc không chịu xua đuổi lũ gia súc đang tứ tán trên đồi. Tình hình xấu đến nỗi, ông đã quất cho nó vài ngọn roi da, khi nghi ngờ nó xơi tái mất hai con gà giống Đông Cảo, mà ông lận đận về mãi miền Từ Hồ mới mua được.
Trong nghề săn bắn và nuôi dưỡng chõ săn, ai cũng biết rằng người ta tuyệt đối tránh ngược đãi chó của mình. Sự trung thành sẽ mất đi, nếu con chó bị trừng phạt oan uổng. Một con người tinh ranh và sáng suốt như thiếu tướng Hồng Quyền mà cũng phạm phải sai sót đó, thật đáng buồn biết chừng nào.
Sở dĩ ông thù ghét nhưng chưa nỡ ruồng bỏ con Múc vì hai lý do. Thứ nhất, ông sợ cháu Quỳnh buồn, ông yêu thương và quý báu cháu Quỳnh, còn cháu Quỳnh thì lại trìu mến con Múc như một bạn nhỏ thân thiết. Thứ hai, hồi đầu năm, con Múc lập được một chiến tích có thể xem là phi thường được.
Những ngày xuân, mưa phùn và nắng ấm, làm cho rừng già trở nên tươi rói vì những búp nõn và chồi non. Tại các nẻo đồi mươn mướt từng đợt cỏ xanh mềm như nhung lụa. Muông và thú trong rừng sau đợt nghỉ đông hoặc ngủ đông dài dặc, bây giờ bừng tỉnh, nhộn nhịp đi kiếm ăn, tìm đôi, phối giống và sinh sản.
Một đàn lợn rừng từ bên kia sông Đà đã ùa sang bên này. Các đồi lạc, đồi dứa của trang trại bị lợn rừng tàn phá nặng nề. Ông Quyền cùng Quý, con trai thứ ba, quyết định rủ nhau đi săn bắt đàn lợn rừng tệ hại kia. Lợn rừng chậm chạp, chỉ cực kỳ hung dữ khi bị dồn vào tử địa. Có khỏng sáu con họp thành đàn, đang trũi húc vào các luống lạc. Khi phát hiện ra có người và chó vây bủa, chúng mở đường máu lao về phía sông Đà. Chúng đi tựa sườn vào nhau, hai nanh dưới to bằng ngóng tay trỏ, nhe ra, lông bờm dựng đứng. Đàn chó phân vân, không biết nên tấn công đàn lợn bằng cách nào. Những mảnh đạn ghém tuy trúng đích cũng không khiến chúng ngã được, bởi lớp mỡ quá dày.
Bản thân vị tướng cũng có phần lúng túng, chưa có cách nào để đạt kết của tối ưu. Trong khi đó, đàn lợn vẫn rất trật tự, tựa sườn vào nhau mà lần lượt xuống sông bơi đi hết. Riêng có con đầu đàn, khổng lồ, không hiểu sao nó lại không lao xuống nước. Nó dừng chân bên bụi lau, và quay đầu trở lại. Đôi mắt nhiều lòng trắng của nó ong lên sòng sọc. Nó tru hộc lên, những chiếc lông cứng và dài như lông nhím dựng đứng suốt từ gáy tới lưng. Hai chiếc nanh trước trắng bóng, con cong của nó chĩa ngược lên trời với vẻ đe dọa không thể không làm ta rùng mình.
Con Tuýt bị chủ thúc xông lên. Chính nó cũng trần trừ. Bởi vì giống cho săn thường chỉ đánh vào điểm yếu nhất của đối thủ là hầu họng. Các loại thú hoang thường để lộ cổ họng, dù có lớp lông mao bao bọc. Với lợn rừng lại là chuyện khác. Nó hầu như không có cổ. Lớp mỡ dày đặc ứ bự quanh vùng mặt, nối liền bả vai và xương ức.
Bị thôi thúc vì lệnh chủ, con Tuýt nhảy vào. Nó ngoạm đúng phần má con mồi. Nhưng nó đã bị trừng trị trở lại. Con lợn rừng chỉ hất mạnh cái mũi lên, hai chiếc nanh nhọn đã đóng ngập vào xương sườn con Tuýt. Con Tuýt rống lên đau đớn, nhưng nhanh nhẹn, nó vùng thoát rồi chạy về bên chủ, máu chảy đầm đìa. Ông thiếu tướng kinh hoàng vì đấu sĩ số một của ông chiến bại. Ông lập tức nâng khẩu AR15 lên. Cùng lúc ấy con Múc đã xông tới. Ông liền ngừng lại để xem bản lĩnh con Múc. Con Múc hiểu rằng, qua cú đòn đau của con Tuýt, nó không thể ngoạm cổ con lợn rừng được. Nó liền chạy vòng tròn quanh con mồi. Con lợn rừng hung tợn và cũng lì lợm xoay tròn người, đôi mắt trắng sáng không rời con Múc. Bất thình lình, đang đà chạy bình thường, con Múc nhảy vào con lợn. Nhưng khi gần tới cổ lợn, nó ngoặt người đổi hướng và đợp rất chính xác vào cẳng chân sau của con mồi. Tiếng xương gãy nghe giòn lắc rắc. Con mồi rống lên, nhưng con Múc đã vọt ra xa. Lợn rừng hung tợn lên gấp trăm lần. Nó khập khiễng nhưng nhanh nhẹn xông vào tấn công bất kỳ ai. Cũng may hôm ấy tất cả đều ở trên mình ngựa, nên bầy ngựa nhảy rạt ra xa khá nhanh nhẹn. Cơ hội tốt đẹp đó tạo thuận lợi cho Múc. Trong khi con lợn xông theo con ngựa của ông Quyền từ mé sau, con Múc băng tới, ngoạm vỡ xương chiếc chân bên kia của con lợn. Lúc này, con lợn mới rống lên thảm thiết. Gãy hai cẳng giò má sau, nó không còn sức bật sức dướn nữa. Nó nằm bẹp xuống, điên cuồng rũi răng nanh vào đất đá, làm cho đất đá bị lõm thành một hố sâu. Phần còn lại, Múc dành cho người và bầy chó kia kết thúc. Nó đứng im, vừa thở vừa ngắm nghía con mồi bị nó đánh gục.
Sau cái chuyện đó, ông Quyền với con mắt người đi săn thấy rằng ở con Múc còn nhiều tiềm năng ghê gớm, mà chỉ khi lâm sự nó mới bộc lộ ra. Còn với cặp mắt của người chủ, ông vẫn không xóa bỏ được mối ác cảm đối với “tên đày tớ” ương bướng này.
Trở về trại, ông chăm sóc chu đáo vết thương con Tuýt, nhưng việc cần phải làm là ban thưởng cho con Múc thì ông không làm.
Năm trước, lên thăm và ở chơi cùng ông Chòm Trại, tôi đã thân ái nhắc nhẹ ông về tính công bằng và sự cần thiết phải gạt bỏ thành kiến. Song, ông bạn già của tôi vốn không thể cao cả hơn thượng đế được, mà chính thượng đế thường hay bảo thủ. Ông cười, chế nhạo lại tôi:
- Trừng phạt và ưu ái là hai mặt của sự chăm sóc và gây dựng. Nếu con Múc muốn tôi ưu ái thì nó hãy ngoan ngoãn như con Tuýt. Tôi có hẹp hòi gì đâu? Mà có nực cười không nhỉ, khi anh thấy cần giảng dạy cho tôi về mặt nuôi dạy chó săn?
- Về việc đào tạo chó săn thì anh hơn tôi không chỉ một, mà là hàng vạn lần. Tôi chỉ lưu ý anh về tính di truyền sinh vật. Theo anh kể, bố nó là giống chó rừng thuần chủng. Còn mẹ nó là nòi giống của loại chó tinh quái có nguồn gốc hàn đới xa xôi, đã được thuần hóa. Con Tuýt được thừa hưởng cái gien máu của mẹ nó quá nhiều. Còn con Múc thì ngược lại nó giống bố nó từ thể hình, màu lông và tính cách. ở nó tính “rừng” đậm hơn tính “nhà”.
Thiếu tướng cười vang vọng, đắc thắng:
- Theo ý anh thì con hổ và con voi rừng có mang tí tính “nhà” nào không? Vậy mà người ta dạy nó làm xiếc được đấy. Vấn đề là nó có ngoan ngoãn không? Có phục tùng không?
- Nhưng anh đã có tình thương yêu và tính kiên nhẫn của những nhà dạy thú chưa?
Ông tướng già quen với việc ra mệnh lệnh lúc này mới im bặt. Ông trầm ngâm giây lâu, đoạn vỗ vai tôi:
- Này, mình tặng con Múc cho ông ấy!
- Tặng tôi?
- Mình rất thực tâm đấy. Có lẽ ở cùng ông, thích hợp cho nó hơn.
- Ôi, cảm ơn tình bạn của anh. Nhưng, tôi biết dùng nó vào việc gì? Chả lẽ để nó canh chừng những con sâu mọt đục phá cái bàn viết của tôi à? Vả chăng, tôi biết kiếm đâu ra thịt sống để nuôi nó, trong khi chính tôi cũng chả có thịt mà ăn?
Chúng tôi lại cười, và cùng cười rồ rộ. Nguyễn Hồng Quyền không phải con người lúc nào cũng cố chấp. Ông ta chỉ bướng bình lúc nào sự ngu dốt bị xúc phạm. Trộn lẫn trong tim ông có tính hồn nhiên, phóng khoáng, tự phụ và hiếu thắng, nên nói chung, ông ta không giận bực gì lâu. Sự hào phóng và khoáng đạt vẫn là phong thái chủ chốt của ông.
Tuy chưa hoàn toàn gạt bỏ sự căm ghét con Múc, song ông xem chừng cũng muốn mối quan hệ xấu ấy được đổi khác đi. Một hôm, để con Tuýt ở nhà, ông gọi riêng con Múc ra sông tắm cùng ông. Chủ và chú cùng bơi lội đùa nghịch. Ông ôm con Múc vào vòng tay, ngắm nghía những sợi lông dưới cằm nó. Ông sờ nắn những cái móng đã thoái hóa ở cổ chân nó (phương đông gọi là huyền đề).
Lúc đầu con Múc le lói ánh mắt đề phòng người chủ. Chưa khi nào nó được ông gần gụi, xoa vuốt như lần này, nên với bản chất rừng, nó hoang mang nghi ngờ ông. Cử chỉ của nó rất e dè, thận trọng. Có lúc tưởng chừng như nó sắp sửa muốn liếm tay, liếm mặt ông già, nhưng khi gần sát ông, nó liền đứng khựng và trở lùi. Lưỡi nó thè dài, mắt nó rừng rực ngắm thẳng vào mắt ông, người và thú cùng dò xét nhau và cùng chưa xóa bỏ được định kiến. Con Múc không biết nói, cái đó đã hẳn. Những cử chỉ để giãi tỏ lòng trung, nó cũng không thạo nữa. Nó biết làm sao đây để cho ông chủ cũng hiểu rằng mặc dù bị ông ghẻ lạnh, ruồng rẫy, nó vẫn yêu mến ông, vẫn muốn gắn bó với cái trang trại này, cái cơ ngơi này.
Một đêm mưa rét, khi con Tuýt và bầy chó săn kia đi tìm nơi ấm áp ngủ ngon, con Múc đã phát hiện thấy một con báo gấm đang quẩn quanh ngoài hàng rào mắt cáo, tìm lối vào trại. Nếu là con Tuýt hoặc chó khác, đã sủa ngậu lên, báo hiệu với chủ. Với Múc, nó không ồn ào thế. Nó sù lông, nhảy vút tới bên bờ rào, đôi mắt tóe lửa. Con báo gấm, một ác thú nham hiểm bậc nhất của rừng sâu, vừa gầm gừ nhè nhẹ, vừa chạy đi chạy lại tìm một lỗ hổng to rộng. Con Múc cũng gầm gừ nhẹ nhẹ, bám sát con báo gấm từng bước chân để ngăn chặn. Nếu không có hàng rào tre khỏe khoắn, chắc chắn đã diễn ra một cuộc cấu xé đẫm máu mà phần bi thảm hẳn thuộc về con Múc. Bởi vì chó rừng, dù hung hãn, đồ sộ tới mức nào cũng thường lảng tránh báo gấm. Khi đói khát, b ị cơn đói cồn cào kích thích, báo gấm dám liều lĩnh tấn công và cắn xé cả cọp rừng.
Cứ như thế, hai con thú trong cái thế đối chọi qua lớp rào tre, suốt đêm mưa gió. Đã mấy lần báo gấm định leo trèo hàng rào cao. Nhưng nó biết rằng khi leo rào, nó sẽ bị phơi bụng ra. Một ác thú nham hiểm đâu có dại dột vậy.
Lúc trời tang tảng sáng, con báo gấm đành rống lên một tiếng căm hờn, vút thẳng vào rừng. Con Múc ướt sũng, mệt mỏi bơ phờ trở về nằm dài ở cửa buồng cháu Quỳnh.
Chính cái lần ấy, khi thấy con Múc rũ rượi, thảm hại vì suốt đêm căng thẳng, ông chòm trại đã chỉ vào mặt nó mà mắng:
- Mày giấu đôi gà Đông Cảo của tao ở góc nào, hang hốc nào. Đêm qua mưa gió lẻn đi làm một bữa hả hê phải không?
Chiến công quật ngã lợn rừng đầu đàn, làm cho mối quan hệ chủ và chó có phần dẹp hơn. Nếu cứ cái đà ấy, cái đà mà chiến tích của Múc ngày càng vượt trội Tuýt, thì số phận của nó sẽ đẹp đẽ nhường nào. Nhưng hỡi ơi, định mệnh của nó nghiệt ngã, số kiếp của nó có chứa sẵn một kết cục ảm đạm, nên đã xảy ra một việc cực kỳ phi lý như sau:
Vào độ rằm tháng bảy, khắp nơi người ta náo nức sửa soạn cúng lễ vong hồn tiên tổ. Về phần mình, ông thiếu tướng với cương vị chòm chóp của trại, ông làm hẳn cỗ thái lao, để trước là tỏ lòng tri ân tổ tiên, sau là ban ân cho con cháu. Thái lao, theo tục cổ là lễ tam sanh, gồm có một trâu trắng, một ngựa trắng và một dê trắng. Ông Quyền không thể quá ư nệ cổ, nên biến báo đi chút ít: một lợn trắng, một dê trắng và một gà trắng. Thế, e rằng cũng quá linh đình rồi. Dê và lợn đã được quay hồng. Gà thì được rán chín cả con. Tất cả bày đặt lên ban thờ tổ.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Cựu chiến binh

Bài viết: 959
|
 |
« Trả lời #45 vào lúc: 19 Tháng Tư, 2011, 09:31:17 am » |
|
Tiếp theo Con Tuýt quanh quẩn dưới gầm bàn thờ. Mùi vị thịt rán kích thích tì vị nó dữ dội, xưa nay nó chỉ biết mùi thịt sống và cũng chỉ ăn toàn thịt sống. Người muốn chó thường dùng máu nồng và thịt gây để kích thích tính hăng say sâu xé. Chưa bao giờ Tuýt được ngửi hít hương vị thơm tho lạ lùng đến thế.
Trên gian thờ tổ vắng ngắt.
Cánh mũi của Tuýt phồng nở rộng. Nước rớt nước rãi của nó lều rều theo đầu lưỡi nhỏ xuống đất. Bằng một động tác còn nhanh hơn ma quỷ, con Tuýt nhảy lên ban thờ, ngoạm chắc lấy con gà quay, rồi vọt ra cửa. Nó toan tính phóng thẳng ra nơi vắng vẻ bên bờ suối.
Tại hiên hè, nó gặp con Múc đang nằm ở cửa buồng cháu Quỳnh. Cũng lúc đó, tiếng đế ủng của ông chủ thậm thịch nơi xa. Nó vội nhả con gà quay ra, nhảy tót vào cửa ngách, rồi êm như động tác của mèo cái, nó vọt qua cửa sổ, mất hút.
Ông thiếu tướng tròn xoe mắt nhìn con gà thái lao có vết răng chó bập vào, rồi ông trừng mắt nhìn con Múc nằm gần đó. Giận sôi sùng sục, ông vào nhà ngang lên tiếng gọi vợ con. Đoạn, ông rút chiếc roi gân bò, chạy đến bên con Múc.
Múc không hiểu người ta định làm gì, song nó linh cảm thấy sự chẳng lành. Nó đứng phắt dậy toan mừng chủ chút ít, thì một loạt roi da xiết bỏng trên lưng nó. Con vật rú lên thêm thảm, nhảy vọt ra sân, nhưng vẫn còn bàng hoàng ngơ ngác, chưa dám chạy xa hẳn. Chỉ đến lúc nhác thấy ông chủ giằng lấy khẩu súng hai nòng trên tay cậu Quý, thì nó hiểu rằng không thể chậm trễ chút nào nữa. Từ cái “gậy” sắt ấy nó đã thấy tóe lửa nhiều lần. Sau lúc lửa tóe, có bao muông và thú giãy giụa tan xác.
Nên, nó dồn hết sức lực vào bốn cẳng, luồn lỏi qua dãy chuồng gà, chuồng lợn, rồi vượt qua cửa rào, nó lao thẳng về phía rừng. Sau lưng nó, vang lên những tiếng nổ đoàng đoàng, tiếng chiu chíu xé gió bên tai nó. Bản năng sinh tồn giục nó chạy miết. Cũng chưa khi nào nó chạy tinh khôn như lần này. Không kẻ chỉ, không thẳng băng, mà ngoằn ngoèo đổi hướng. Có lúc tiếng đạn sát rạt trên lưng, nó nằm lăn ra, giả tảng chết. Rồi thình lình vọt lên, băng đi như một vệt đen mờ ảo.
Vào tới rừng, nó đứng lại quay nhìn xóm trại, nó thoáng thấy ông Quyền và cậu Quý trên yên ngựa. Dẫn đầu đàn chó săn tầm thường là con Tuýt - anh ruột nó, kẻ xảo quyệt đáng ghê đối với nó. Thế là nó chạy thẳng, chạy mãi vào rừng sâu, sang tận bên kia núi Ba Vì.
Từ đó nó trở về với cuộc sống hoang dại mà tổ tiên nó xưa kia hằng sống.
*
Ngồi một lúc, chúng tôi cùng nghiêng người, nằm chống tay trên nệm cỏ. Xa xa, ba đỉnh núi màu lam sẫm như lách qua những dải mây trắng mà chĩa chọc nền trời xanh. Núi non Ba Vì thuần một màu đen xẫm của rừng già. Về gần miền có làng bản, mầu rừng nhạt đi dần. Đó đây từng vệt lá cây màu vàng, màu đỏ xỉn, và màu xanh nõn nuột của rừng cọ, rừng sơn.
Thiếu tướng Quyền gõ gõ tẩu thuốc, gảy hết lượt tàn tro, đoạn nạp thêm mồi sợi mới. Ông nheo mắt nói với tôi:
- Lúc nãy anh cứ gặng hỏi xem tôi mời anh lên để săn bắn con thú gì. Tôi nói thật ra, e rằng anh ngạc nhiên.
- Con Múc?
- Chính thế. Anh nhanh ý đấy.
- Quả thật không còn gì khiến tôi kinh ngạc hơn. Con Múc vẫn còn sống, anh cứ để cho nó sống. Nó đã giúp ích anh không ít. Anh hãy rộng lượng cho nó được tự do.
- Tôi cũng có ý quên nó đi. Nhưng nó làm hại tôi quá chừng. Tôi không thể không diệt nó.
- Làm hại?
- Chừng một năm nay, nó thường xuất hiện ở bìa rừng. Có lúc nó còn mò vào trại. Thậm chí nó còn dám xông vào buồng cháu Quỳnh.
- Thế thì có gì là tại hại? Nếu như là nó muốn quay về với chủ cũ thì sao? Chuyện ấy xưa nay thường xảy ra.
- Ông bạn ơi, ông quá đồng cảm với nó đấy. Một năm nay tôi đã mất hai chục con gà, bốn đầu lợn và hai con dê sữa đấy. Để khi nào tôi găm vào mình nó trọn băng đạn AR15, rồi tha hồ ông thương xót nó.
- Thế là do cầy cáo và báo beo vồ bắt thì sao? Chẳng có con chó rừng nào kênh nổi dê lợn đâu, nhất là lại kênh qua hàng tre nhà anh.
Thấy mình đuối lý, ông chòm trại đỏ mặt, châm thuốc hút:
- Cứ cho là béo báo tha dê và lợn đi, còn những con gà? Anh không thấy con Múc nó rất háu thịt gà à? Đôi gà Đông Cảo và con gà Thái Lao... anh đã rõ rồi đấy!
Đến lượt tôi đuối lý. Tôi im lặng hồi lâu. Lòng tôi bồn chồn và buồn bã. Tôi chợt thấy tiếc công tiếc việc ở dưới Hà Nội. Té ra tôi lên đây để chứng kiến cái kết cục mạng sống của con Múc.
Thiếu tướng hỏi tôi:
- Sao, ông nghĩ ngợi gì vậy?
- Không, à mà con Múc giờ đây nó thế nào? Ông đã đích mắt nhìn thấy nó chưa?
- Rồi. Tôi lại bắn trượt nó hai lần nữa. Thật là một con chó quái quỷ lạ lùng. Nó to lớn gấp rưỡi, hung dữ gấp mười, còn nhanh nhẹn thì gấp trăm.
- Để sinh sống và tồn tại giữa bầy ác thú trong rừng sâu, nó cần phải trưởng thành như vậy. Nó không thể không độc dữ hơn.
- Anh vẫn cứ bênh nó chằm chặp.
- Tôi tiếc rằng anh đã bất công với nó. Trong trường hợp bị hắt hủi, bị hằn thù như vậy, đến con người cũng không thể không biến đổi tính cách, huống chi một con thú.
Chúng tôi lại lên ngựa. Con Tuýt dẫn đường. Có thể do cách nói năng bộc trực của tôi, khiến bạn già không vui. Dọc đường ông chẳng nói một câu nào. Bởi vậy, tôi biết mình sai lầm. Định kiến của con người quen bệnh quyền uy kia là không thể thay đổi. Tôi tỏ lòng thương tiếc con Múc nhiều quá, điều đó chỉ khiến ông Quyền càng tăng thêm quyết tâm hạ sát nó mà thôi.
Thấy chúng tôi phi ngựa về đến cổng trại, bà Quyền và đàn con cháu ra tận sân chào đón. Bà, năm nay đã ngót sáu mươi. Vóc người mảnh mai, nhỏ nhắn, nên trông bà không đến nỗi già nua như tuổi tác. Trên vẻ mặt thanh tao của bà vẫn còn những đường nét vốn xưa xinh đẹp. Song, ở bà điều hấp dẫn người ta chính là phong thái đôn hậu, hiền từ của bà. Cạnh bà là cháu Quỳnh, cũng mảnh mai hiền từ, cũng gương mặt trái xoan, trông cháu giống bà ngoại như đúc.
Cháu nhảy bổ vào lòng tôi:
- Cháu chào ông trẻ. Ông có khỏe không ạ?
Tôi nâng bổng cháu lên, rồi hạ cháu xuống:
- Cám ơn cháu! Ông trẻ vẫn khỏe. Còn cháu cứ mỗi năm lên đây, ông lại thấy cháu như ăn nhầm phải bột nở ấy. Cao bằng bà rồi đây này.
Cả nhà cùng cười giòn giã. Bà Quyền hào hứng nói:
- ấy, ông cứ quở cháu thế. Cháu bé lại mất!
Nghe nói cháu bị con Múc làm cho sợ hãi, phải không?
Cháu Quỳnh cười như nắc nẻ:
- Cháu chả việc gì phải sợ con Múc cả - Cháu ghé sát tai tôi, thì thào - Rồi cháu sẽ kể mọi điều về con Múc cho ông trẻ nghe. Chứ mỗi lần nhắc đến con Múc, ông ngoại cháu ghét lắm.
Thiếu tướng Quyền quát to:
- Quỳnh, mày nói gì ông phỏng?
Cháu Quỳnh vội vàng “không ạ” rồi lẩn ra nấp sau lưng bà. Bà Quyền xót cháu, cằn nhằn chồng:
- Khiếp cho ông này. Làm cháu mật xanh mật vàng chạy cả lên mắt thế này này - Bà quay sang phía tôi, cười - Lên đây, ông giúp tôi một tay, cạo cho ông ấy bớt cái nóng nảy đi.
Ông Quyền hỏi vợ:
- Cạo tôi? Cạo đầu tóc, hay cạo râu ria?
- Cạo cái cặp mắt gườm gườm của ông ấy?
Ông già cười khà khà.
Một chút xung đột ý kiến không làm sứt mẻ tình bầu bạn giữa chúng tôi. Chỉ vài câu chuyện vui vui, hoặc vài ván cờ là tất cả sẽ qua đi như mưa rào ngày hạ. Nói chung thì, theo ý tôi, Nguyễn Hồng Quyền là một người bạn biết chơi đẹp, biết ăn ở, biết cư xử. Trên đời còn nhiều những mẫu người đáng chán hơn: hãnh hợm một cách ngu si, thông thái trong tưởng tượng, hào phóng có điều kiện, và ngủ say li bì trên hào quang giả trá.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Cựu chiến binh

Bài viết: 959
|
 |
« Trả lời #46 vào lúc: 19 Tháng Tư, 2011, 09:33:49 am » |
|
Tiếp theo : Chúng tôi đi bơi, đi câu cùng nhau. Ông dắt tôi đi xem tận mắt những máy ép mía do ngựa kéo, rồi máy ép dầu lạc, dầu sả. Ông còn dự định chế tạo một loại xà phòng dùng nguyên vật liệu địa phương. Tôi vui mừng và chúc mừng ông về tất cả mọi điều ấy. ở ông hiện rõ những ham muốn vật dụng chủ nghĩa. Nhưng, dẫu sao cũng là còn muốn làm việc, còn muốn sáng tạo, muốn sinh lợi. Thế chẳng có ích gì cho đời hơn là chỉ ngồi ôn lại quá khứ hào khoáng đã xa xôi sao?
Duy có điều tôi mong muốn được biết là kế hoạch vây bủa con Múc. Ông già chỉ tinh quái, lim dim mắt, cười ruồi, rồi lảng sang chuyện khác. Tôi làm sao yên tâm được. Tôi biết rằng chỉ khi nào găm đủ cả băng đạn vào mình con Múc, ông Quyền mới có thể ăn ngon ngủ yên. Lay chuyển ý định phi lý trong đầu ông thiếu tướng, có lẽ còn khó hơn vần tảng đã ngược với Ba Vì.
Người được gặp con gỡ con Múc nhiều nhất lại chính là cháu Quỳnh.
Chuyện đáng buồn xảy ra với con Múc khiến cháu giận dỗi ông ngoại. Cháu khóc liền mấy ngày, bỏ ăn mất ba bữa, và ngẩn ngơ thương tiếc không lúc nào nguôi.
Hơn nửa năm sau. Một hôm cháu lên đồi kiếm sim chín và hoa rừng thì bất ngờ cháu gặp con Múc đứng ngay trước mặt cháu và ve vẩy đuôi chào mừng. Quỳnh không tin vào mắt mình nữa. Cháu nhìn chó, sợ hãi. Con Múc lông lá sồm soàm hơn, bẩn thỉu quá và dữ tợn quá. Thấy con thú cứ ngoáy tít đuôi mãi, cháu bạo dạn hỏi nó:
- Mày có phải là Múc không. Nếu là Múc thì lại đây với mình! Nào!
Nói xong cháu ngồi xuống, dang hai tay ra. Con Múc sô vào người Quỳnh hơi mạnh, làm cháu suýt ngã ngửa ra. Người và chó, đôi bạn thân thiết ấy, làm mọi cử chỉ có thể làm để tỏ tình nhớ thương nhau. Con Múc hôi tanh nồng nặc, nhưng Quỳnh cứ để mặc nó liếm lên má, lên tóc cháu. Cháu ứa nước mắt, hỏi nó:
- Bạn ở rừng sâu à?
- !
Bạn có khổ với lũ hổ báo không?
- !
- Bạn có bị đói luôn không?
Con chó chỉ biết rít ứ trong họng, cà sát bộ lông vào người cô chủ của nó. Phải nửa tiếng sau, Quỳnh mới buồn rầu rời chó.
- Bạn không về được đâu. Ông mình sẽ giết chế!
Con chó hiểu ý ấy. Nó oẳng nhẹ một tiếng. Đôi mắt của nó nhoáng ánh lửa, ve vẩy đuôi một lần nữa, liếm bàn tay Quỳnh một lần nữa, rồi băng vút về rừng.
Từ đó, cứ cách vài buổi, cháu Quỳnh lại lên đồi sim một lần. Lần nào con Múc cũng đợi sẵn. Mỗi lần vậy, đôi bạn lại trìu mến ve vuốt nhau, rồi lại bịn rịn chia tay.
Nếu tôi là một cây bút giàu sức tưởng tượng và liều lĩnh hơn, tôi sẽ lợi dụng đặc thù của văn chương mà viết vài đoạn thật hay. Tôi sẽ thêu dệt rằng: một lần cháu Quỳnh gặp gấu ngựa ở trong rừng, con Múc đã tung hết sức lực ra để vật lọn với gấu cứu cô chủ. Hoặc giả là: có lần cháu Quỳnh bị trăn quấn. Con Múc đã bật vọt lên cao. Khi buông mình rơi xuống nó ngoạm đúng “thất thốn” là tử huyệt của giống trăn quấn. Nó cắn xé đến nỗi con trăn phải từ từ mới bỏ vòng quấn, cô chủ nó thoát nạn. Cũng có thể lãng mạn hơn, tôi viết rằng: có lúc người và chó ngồi ngắm ánh trắng bờ suối, ròi con Múc rúc lên lanh lảnh từng hồi, gọi bạn tri âm của nó cùng một đàn chó xinh xắn ra chào mừng cô chủ.
Nhưng bởi vốn có tính thận trọng một cách hủ lậu, tôi không thể bịa đặt như vậy. Về mối quan hệ lạ lùng kia, tôi chỉ có thể nói thêm điều này. Một lần, cháu Quỳnh bị cảm cúm nặng. Hơn chục ngày liền, cháu không thể ra đồi sim gặp con Múc. Nửa đêm cháu nghe có tiếng cào cửa quen thuộc. Cháu vui mừng chạy ra tháo chốt cài. Con Múc tọt vào, âm thầm quấn quýt cháu Quỳnh. Không may cho nó, con Tuýt và lũ chó săn kia phát giác thấy đã sủa nhặng lên, rồi chặn kín cửa ra vào. Con Múc nhe nanh xông thẳng vào con con Tuýt như một cánh chớp. Con Tuýt không ngờ rằng con Múc đã biến đổi mạnh mẽ dữ dội nhường ấy. Bị cắn xoạc bả vai, nó lăn ra sủa rống lên. Bầy chó kia kinh hãi không dám nhúc nhích. Con Múc nhảy vọt qua đầu lũ chó săn, biến mất vào đêm tối.
Ông Quyền đã gạn hỏi cháu gái đủ điều. Cháu Quỳnh chỉ khóc thút thít, không hé lấy nửa lời. Ông liền tuyên bố với cả nhà:
- Con Múc lọt vào trại để trả thù. May có con Tuýt không thì cái Quỳnh bị xé xác ra rồi. Từ nay cả nhà phải cẩn thận lưu ý. Cái giống chó đã thù là thù dai lắm đấy!
Ông bắng bó vết thương cho con Tuýt, ban thưởng cho nó khá hậu hĩnh: nửa ký thịt nai rất tươi.
Dù soa trẻ thơ vẫn là trẻ thơ, ông cháu vẫn là ông cháu. Cháu Quỳnh sợ tính ông nghiêm nghị, giận ông xử nặng con Múc, nhưng nó vẫn rất yêu ông ngoại. Ông cháu làm lành với nhau, thắm thiết với nhau vì sợi dây huyết thống bí ẩn ràng buộc.
Vào dịp rằm tháng tám, ông Quyền dùng xe máy đưa cháu Quỳnh đi Hà Nội sắm đồ chơi trung thu cho nó và các em nhỏ. Ông còn đưa cháu vào lăng viết di hài Bác Hồ. Cháu sung sướng. Cháu hớn hở. Trong một phút bồng bột hồn nhiên, cháu nũng nịu vòi vĩnh ông ngoại:
- Ông ơi, ông cho cháu đón con Múc về nhé?
- ừ, ông đồng ý, nếu cháu tìm thấy nó.
- Cháu tìm được thì sao nào?
Ông thiếu tướng phì cười:
- Đến mười cái thằng bố mày, đếm mười cái thằng ông mày cũng chả tìm nổi, nữa là...
Qua vẻ mặt và ánh mắt của cháu gái, ông chòm trại dường như phát hiện ra điều gì. Ông bèn gặng hỏi cháu gái:
- Cháu thấy nó rồi phải không?
-Vây ạ.
- Ở đâu?
- Nhưng ông phải hứa với cháu là không giết nó cơ.
- Ừ, ông hứa!
Cháu gái hào hứng kể cho ông ngoại nghe hết mọi điều, đoạn kết luận:
- Cháu thấy là nó, con Múc ấy, nó chẳng có lỗi gì đâu ông ạ.
- Nó ăn gà, ăn dê, ăn lợn.
- Cháu chả thấy tận mắt khi nào. Nhà mình có nhiều chó hư. Sao ông chỉ nghi ngờ mình nó thôi?
- Nó không vâng lệnh. Nó không chịu sai khiến như con Tuýt, thế cũng là tội to rồi. Những quân bướng, cần phải nghiêm trị.
Ngày hôm sau cháu Quỳnh lên đồi sim với con Múc. Ông già chòm trại lặng lẽ xách súng đi theo cháu gái, cách chừng ba trăm mét. Cháu Quỳnh không thấy con Múc đâu. Còn ông già thì thoáng thấy. Tuy không nhìn rõ hình thù nó song ông thấy các bụi sim lay động ràn rạt, ông biết rằng con Múc đã nhìn rõ ông. Nó chuồn biến như tăm cá mất hút dưới đáy sông. Cháu Quỳnh hoàn toàn không rõ gì về việc ông nó đi theo mé sau cả.
Những lần sau, mỗi khi cháu Quỳnh lên đồi sim, ông già thường gói cho cháu một ít thịt rán tẩm bột, bảo đem cho con Múc. Cháu gái cảm động ứa nước mắt, tưởng rằng ông ngoại đã thực sự hồi tâm chuyển ý, sẽ cho đón con Múc về. Còn ông già cũng rất vui sướng khi cháu gái khoe với ông rằng con Múc đã ngốn sạch sành sanh gói thịt rán, đến nỗi không còn tí mỡ dính lá chuối.
Một buổi chiều, tôi sang làng Ngọc Nhị, thăm mấy người bạn cũ trở về. Vào đến sân tôi ngạc nhiên khi trước mắt tôi là quang cảnh sửa soạn đi săn: người ngựa, súng ống, dây chão và đòn khiêng. Bầy chó săn ngồi thành vòng tròn chờ đợi chủ. Con Tuýt lăng xăng chạy đi chạy lại. Nó ve vẩy đuôi, hoặc đứng nghếch mắt nhìn chủ, chờ đợi sai khiến, hoặc đi giám sát từng con ngựa, cứ y như nó là một viên phán quan của cuộc săn vậy.
Thiếu tướng với vẻ mặt đỏ gay, cặp mắt lóng lánh có nhiều sợi lông mày bạc trắng cong rủ xuống quanh mí. Mỗi lần mở cuộc săn bắn, ông thường có vẻ say sưa, kích động như vậy.
Tôi hỏi lại ông:
- Săn gì vào cái giờ chiều này?
- Chó rừng!
- Con Múc phải không? Anh miễn cho tôi can dự vào cuộc sát phạt này nhé.
- Không được! Anh phải tận mắt trông thấy tôi sẽ chiến thắng sau hai ba lần thất bại.
- Bạn ơi, anh cầm chắc thắng lợi đến thế sao?
- Như cầm tỏi gà trong tay vậy.
Lòng tôi buồn rầu, nhưng tính tò mò thúc giục. Vả chăng tôi muốn xem sẽ kết thúc ra sao, cái trò quái gở giữa một bên quyết ý tìm diệt và một bên tinh quái né tránh. Chúng ta, con người, loại động vật cao cấp nhất, nhờ có hai bàn tay lao động đã phát triển được trí thông minh. Nhưng sau khi rời bỏ rừng sâu tiến về đồng bằng xây nên những trung tâm văn hóa, chúng ta đã quay lưng lại, đã phũ phàng và độc ác với rừng sâu. Chúng ta đã tàn hủy cái nôi sinh ra mình. Chúng ta đã săn bắn, tiêu diệt các sinh vật còn nương tựa vào rừng, mà ngu ngốc không hiểu rằng chúng ta đã tàn hủy tự nhiên và phá hoại thế cân bằng sinh thái. Các sinh vật, dữ và lành, tồn tại được nhờ rừng rậm. Rừng rậm tồn tại và phát triển được cũng đã nhờ sự sinh sôi của muông thú. Và cuối cùng, nếu muông thú và rừng rậm không tồn tại nữa, thì làm sao chúng ta có thể tồn tại được.
Thuở xa xưa, con người sống đơn giản hơn. Người ta chỉ biết rằng điều quý ở trên trời là mưa nắng trăng sao, điều quý ở dưới đất là ngũ cốc dồi dào, điều quý ở sông hồ là cá tôm sò hến, điều quý ở trong nhà là cháu thảo con hiền. Nhưng ngày nay điều quý lại là châu báu vàng bạc, là uy thế lộng quyền, là sát phạt muông thú và sát phạt lẫn nhau. Hôm qua tôi đau đớn vì anh đánh đấm tôi. Ngày hôm nay, tôi sung sướng được hành hạ nó. Ngày mai nó hả hê vì trừng trị kẻ khác... Một cơn lốc luẩn quẩn xoáy sâu vào ngõ cụt. Biết bao giờ mới tỉnh ngộ, mới tháo gỡ, mới đồng cảm và yêu thương?
Đoàn săn bắt rầm rập phóng lên đồi sim. Tôi và ông thiếu tướng sóng vai nhau. Cậu Quý và người anh rể vòng ra mé sau đồi. Con Tuýt nồng cuồng hăng say dẫn đầu đàn chó - những con chó có thể hình tuyệt đẹp, băng băng nhảy nhót giữa các lùm cây bụi cỏ.
Chỉ chớp nhoáng sau, gọng kìm vây bủa đã xiết chặt quả đồi. Tôi kinh hoàng khi thấy cháu Quỳnh đang ngồi khóc. Con Múc nằm suỗi thẳng cẳng dưới chân cháu.
Cháu Quỳnh chạy lại bên ông ngoại khóc nức nở:
- Ông ơi, ông. Con Múc ăn xong gói thịt là nó lăn ra. Nó sắp chết mất rồi. Làm sao lại thế, hả ông?
Ông già cúi xuống an ủi cháu gái:
- Không sao đâu. Nó không thể chết được. Thuốc ngủ chỉ vừa liều lượng thôi mà.
- Ông trộn thuốc ngủ vào thịt...? Trời ơi...
Con chó rừng mềm rũ rượi. Song, đôi mắt rực lửa của nó vẫn trừng trừng ngắm nhìn tất cả. Nó hiểu rằng nó đã bị bít hết mọi ngách sống. Thuốc ngủ liều cao làm tê liệt thần kinh và gân cốt nó. Nhưng từ nơi xa xăm nào không rõ, có thể là từ rừng sâu, có thể là trong từng tế bào máu, nảy sinh một ý chí mãnh liệt giục nó phải vượt lên, phải sống còn. Nó rống to một tiếng, vọt mình lên, phóng cẳng lao đi.
Lập tức con Tuýt đuổi sát mé sau. Con Múc vừa chạy vừa ngã. Nó lồm cồm bò dậy, được vài bước lại ngã rúi rụi. Cuối cùng không chạy nữa, nó quay phắt lại, nhe bộ răng nanh ghê gớm, chờ đợi. Con Tuýt và cả bầy chó đã hiểu sức mạnh khủng khiếp của con Múc, chỉ chờn vờn nhảy nhót ở khoảng xa, không dám tiếp cận.
Để khỏi mất thì giờ, ông chòm trại nâng nòng súng AR15. Một loạt đạn ngắn gọn rít lên, hòa cùng một tiếng thét xé trời xé đất của cháu Quỳnh. Con Múc lăn ra đất, không chút giãy giụa. Nó nhận đủ cả băng đạn từ cổ trở xuống. Máu nó xối tuôn, đỏ sẫm cả bộ lông đen. Đôi mắt nó mở to, vẫn màu lửa nhưng dịu hơn trong đó nhoáng lồng ánh mây trắng, trời xanh, rừng sẫm và ngọn Ba Vì uy nghi màu tím đậm.
Có lẽ đã được huấn luyện đầy đủ, nên, khi con mồi gục xuống, bầy chó săn đua nhau lăn sả vào, mỗi con đợp cho con Múc một miếng để làm vui lòng chủ, với dáng dấp bẩn thỉu hèn mạt quá chừng.
Cháu Quỳnh chạy đến cạnh tôi. Thấy quang cảnh thương tâm ấy, lòng dạ trẻ thơ không chịu đựng nổi. Cháu lả đi trong vòng tay tôi. Không rõ có phải tôi hoa mắt hay bị hoang tưởng, tôi thấy vầng trán mịn màng của cháu bỗng như gợn một nếp hằn sâu còn mái tóc xanh đen của cháu bỗng như bạc trắng đi.
Thiếu tướng tiến lại, kéo vai áo tôi:
- Về thôi, anh. Cháu Quỳnh làm sao thế?
Tôi nói như mình trong mộng:
- Anh bắn giỏi thật đấy. Một cú “đúp” tuyệt vời. Anh hạ sát cả con Múc lẫn cháu Quỳnh.
Ông chòm trại bàng hoàng, kêu lên:
- Bậy nào! Không thể thế được. Cháu Quỳnh có làm sao không?
Tôi nâng cháu Quỳnh lên, đi về phía con ngựa, đoạn nhảy lên yên:
- Tôi đưa cháu Quỳnh về trước đây. Ông cứ yên tâm. Thân thể cháu Quỳnh vẫn nguyên vẹn. Nhưng băng đạn mà ông bắn vào lòng nhân ái, vào tình yêu thiên nhiên của cháu thì không thể nào cứu chữa nổi.
Tháng 8.1998
N.D
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 19 Tháng Tư, 2011, 01:26:17 pm gửi bởi vmt »
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Cựu chiến binh

Bài viết: 959
|
 |
« Trả lời #47 vào lúc: 19 Tháng Tư, 2011, 01:16:53 pm » |
|
Cát trắng Tác giả : Nguyễn Trí Huân
Đạo không thể nhớ được một cách rõ ràng anh đã hấp tấp đi khỏi cái bệnh xá nhỏ và hẹp ấy như thế nào. Dường như lúc chia tay với anh, mọi người đều nhìn anh bằng một đôi mắt trách móc. Điều đó phải cho đến lúc này, khi đã ra đến cửa rừng Đạo mới mường tượng nhận thấy, và tự nhiên những cái nhìn trách móc ấy cứ xoáy mãi vào tâm can Đạo.
Đạo cảm thấy khó chịu với chính mình. "Mày đã cư xử chả ra làm sao!". Đạo thở dài, lòng bỗng day dứt và cũng phải đến tận lúc đó, anh mới hiểu hết mình đã gắn bó với cái bệnh xá nhỏ ấy như thế nào. Hơn hai tháng trước đây, Đạo buộc phải vào viện với một khuôn mặt khổ sở và suốt trong khoảng thời gian dài dặc đó, Đạo cứ giữ nguyên một khuôn mặt khổ sở như thế. Vốn là một người hiếu động, Đạo có thể chịu đựng được mọi sự giày vò của vết thương nhưng không sao chịu nổi sự giày vò của nỗi nhớ. Vì thế, khi được ra viện, Đạo đã hấp tấp chạy như đi trốn, đến nỗi anh quên chào cả mấy đồng chí hộ lý trong bệnh viện. Mấy tháng trời qua, Đạo luôn luôn nhớ biển, nhớ cái tiếng sóng nôn nao thúc vào mạn thuyền, nhiều lúc tưởng không thể nào chịu đựng thêm được nữa. Bây giờ thì nỗi vui háo hức được về với biển lắng đi, Đạo lại bồi hồi nhớ bệnh xá, nhớ những cơn đau vật vã của cậu Lâm và giọng nói van nài, tha thiết của cậu Hải: "Lâm ơi, tao thương mày lắm! Mày đừng van nữa. Chị y tá đến rồi kia. Đừng làm cho chị ấy khổ!".
Bất giác, Đạo khẽ rờ tay lên vết sẹo trên cổ. Vết sẹo như có lửa nóng bỏng. Anh vội rụt tay lại gượng nhẹ cài nút áo rồi đi như chạy lên đỉnh một ngọn đồi chi chít hố đạn đại bác và đạn cối 106 ly 7.
Một luồng gió bất ngờ ào đến thổi rạp những bụi lau thưa thớt còn lại trên đỉnh đồi, biển đột ngột hiện ra trước mắt Đạo xanh thẳm, vô tận. Đạo đứng ngây người. Tự dưng nước mắt muốn trào ra. Ở rất xa mà Đạo tưởng như nghe rõ tiếng sóng đang ào ạt tiến vào bờ vừa hùng dũng, vừa uy nghi và kih đã trào lên bờ cát rồi, sóng nằm xoài ra đắm đuối trên những dấu chân người...
Quê hương Đạo không có biển. Anh sinh ra ở một làng cát ven dòng sông Đáy. Quanh năm nước sông đục ngầu, chở đầy phù sa cuồn cuộn đổ ra biển. Dọc hai bên bờ sông, từng dãy lò nung thủy tinh đắp bằng đất sét lúc nào cũng hừng hực những lửa...
Đạo gặp biển từ lâu. Sóng và gió đã thổi chất mặn của muối biển tràn ngập khắp cơ thể Đạo, nhưng mãi cho tới trận đánh ở Sa Thạch vừa rồi, biển mới thực sự trở thành nỗi nhớ của anh. Lần ấy, Đạo bị thương nặng và một ông già cùng với một cô gái - con của ông - đã giấu anh dưới ván thuyền, đưa anh tránh càn trên khắp những vùng biển dày đặc tàu giặc. Những ngày ấy nếu không có tiếng sóng thì buồn biết bao. Sóng đã kể cho anh nghe về những mùa cá hố, những mùa cá chuồn, về đời sống phóng đãng, dũng cảm của những người dân biển trước những con sóng dữ...
Đạo sửa lại chiếc dây lưng, lúng túng như bị một người trông thấy sự xúc động vụng về của mình, Đạo chạy lao xuống dốc, luống cuống và rạo rực. Biển thấp dần rồi khuất hẳn sau những hàng cây lớn rất nhanh dưới chân đồi. Đạo về đến đầu làng Sa Thạch lúc mặt trời gần lặn. Làng như vừa qua một cuộc càn nên không khí rất im ắng. Trên con đường trục chạy vòng vèo giữa làng, những dấu giày đinh còn in chồng chéo lên nhau hỗn độn. Một vài người lánh càn về muộn, đòn gánh nghiến trên vai trèo trẹo. Có tiếng trẻ khóc, tiếng gắt và tiếng gàu múc nước ở một chiếc giếng cạn. Sóng biển ầm ào sau những hàng dừa đã hết trái, xơ xác.
Đạo tạt vào một ngôi nhà gần đấy.
- Chào thím! Giặc hắn vừa mới càn sao vầy thím? - Đạo hỏi khi thấy một người đàn bà ngồi xây lưng ra ngoài đang nhặt những hạt lúa vãi tung toé trên cát một cách kiên nhẫn.
Người đàn bà không quay lại, trả lời giọng bực dọc:
- Còn chi nữa. Quân bất nhơn vậy đó. Đến cái quần đàn bà cũng không từ!
Trong bếp lửa cháy bập bùng, một người con gái ngồi day mặt ra nhìn Đạo.
- Ủa, anh Đạo! - Cô gái chợt kêu lên thảng thốt làm người đàn bà cũng vội vã quay lại.
- "Hương!" - Đạo khe khẽ gọi như biết bao nhiêu lần an thầm gọi tên cô. Người Đạo rùng lên còn cô gái thì đứng khựng nơi ngưỡng cửa, ngó Đạo trân trân. Lửa bếp cháy lan ra ngoài nổ lép bép, khô khát.
- Sao Hương lại ở đây? Bác đâu?
- Cha em đi biển. Nhà hắn đốt trọi rồi. Anh bỏ ba lô xuống đi chớ. Thím Tư, anh Đạo mà con đã kể cho thím nghe hồi hôm đó.
- Con nhỏ nó cứ nhắc hoài, tao cứ ngỡ thằng Cảm. Chú mạnh thiệt chưa?
- Dạ, mạnh - Đạo đã trở lại trạng thái thoải mái, tự chủ. Anh cởi ba lô trong lúc Hương luýnh quýnh chạy vào ấn lại củi vào bếp. Bà thím thôi không nhặt những hạt lúa trên cát nữa. Bà dong dả chạy ra ngoài. Chắc là đi kiếm thức ăn. Đạo biết nhưng không giữ.
- Giặc hắn càn có đông không Hương? Đưa rau đây anh nhặt cho.
- Một đại đội. Hắn ngủ ngoài cồn cát. Sáng vô, chiều về. Ba em ổng nhắc anh miết.
- Ba nhắc hay Hương nhắc?
Cô gái đỏ mặt. Cái nhìn làm Đạo cúi xuống. Một cảm giác lạ, đột ngột chạy như một đợt sóng rân rân trong cơ thể.
Lát sau Đạo đi ra biển. Gió và sóng như ùa vào ngực anh. Đạo rạo rực, ngây ngất và thật lạ, có lúc anh lại cảm thấy biển như ở phía sau mình, ở xung quanh mình, còn anh đang đứng trên một con thuyền, sóng cứ mềm mại luồn qua, luồn lại dưới đáy con thuyền đó.
Một loạt súng chợt rộ lên ngoài cồn cát làm những cảm giác ấy của Đạo mất đi. Người Đạo bỗng chuyển sang một trạng thái khác. Anh trở lại nhà giữa lúc Hương đã dọn xong bữa ăn. Bà thím lại ngồi nhặt từng hạt lúa trên cát một cách kiên nhẫn.
- Du kích xã đóng ở đâu Hương? Này, bọn bảo an chúng nó có mấy chục đứa tất cả?
- Anh hỏi làm chi vậy? Lát em sẽ dẫn qua bên thôn đội. Giờ phải ăn cơm đã. Coi bộ anh đói hung rồi đó!
Nói xong cô gái cười. Đôi mắt sâu thẳm như màu nước biển lúc chiều tối. Không hiểu sao, mỗi lần bắt gặp cái nhìn của Hương, Đạo lại liên tưởng đến cái màu xanh sâu thẳm, chói chang của biển.
Chợt nhìn thấy vết sẹo đo đỏ ló ra trên cổ áo Đạo, lòng cô gái se lại. Những kỷ niệm lại phập phồng trong ngực cô. Ngày ấy anh cứ bảo em là Biển, còn em thì lại sợ. Nếu không vì vết thương của anh, em đâu dám đi trên những con sóng đó. Ăn cá đi anh, sao cứ dựng đũa hoài. Đừng làm em mắc cỡ như hồi hôm nữa...
Ngoài xa, ở cuối hàng dừa, sóng biển vẫn ầm ầm bào lên bờ cát nồng nhiệt và dữ dội.
Cô gái bới lại mái tóc, khuôn mặt trái xoan hơi nghiêng nghiêng về phía Đạo.
- Anh và anh Cảm ra thuyền trước đi. Ba em ổng đang đợi đó!
Đạo kiểm tra cây tiểu liên một lần cuối, lên đạn, khóa chốt an toàn rồi cùng với Cảm, một du kích có nụ cười bẽn lẽn, đi về phía biển.
Họ đi thành một hàng, cô gái vừa đi vừa nghịch ngợm nhặt những vỏ sò đủ màu lấp lánh trên cát tung về phía trước. Sương biển bốc lên mờ mịt. Những đợt sóng dồn dập như phả những giọt sương ấy vào mặt họ.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 19 Tháng Tư, 2011, 01:24:07 pm gửi bởi vmt »
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Cựu chiến binh

Bài viết: 959
|
 |
« Trả lời #48 vào lúc: 19 Tháng Tư, 2011, 01:27:45 pm » |
|
Tiếp: Đêm qua, Hương đã dẫn Đạo đi gặp đồng chí chính trị viên thôn đội. Cô gái đưa anh đi lòng vòng khắp làng rồi dẫn anh ra trước biển.
- Thôn đội trưởng đó. Ở đây không có chính trị viên.
Cô gái mỉm cười tinh nghịch, khuôn mặt trái xoan hơi nghiêng nghiêng, tiếng cười của cô thoảng tan trong không khí mát lành của đêm biển.
- Ủa, hồi hôm chính anh đặt tên cho đồng chí đó thôi. Có việc chi mà gấp dữ vậy anh?
Đạo sững người. Anh không ngờ thôn đội trưởng lại chính là cô gái. Ngày Đạo bị thương, Hương còn là một cô nữ sinh trung học nhút nhát. Cô sợ biển và sau mỗi lần thay băng cho Đạo, cô lại lén bỏ ra mũi thuyền thút thít khóc. Hương nói cô chính thức thôi học và xin vô nhập đội du kích thôn sau ngày đưa Đạo về bệnh xá non một tuần lễ.
Hai người đứng nói chuyện được một lát thì Cảm đến. Họ kéo nhau đi về phía cửa biển. Trước mặt, cồn cát nổi lên lập loè với những đống lửa đốt vung vãi. "Chắc bọn chúng nó đang nấu ăn" - Đạo lẩm bẩm. Anh chợt quay lại. Một ý nghĩ bất ngờ loé lên sáng rực như một tia chớp. Đạo nắm lấy cánh tay của Cảm, giọng anh run lên sôi nổi: "Thế vầy, được không? Bọn mình sẽ lót trong cát một ngày, đêm tung cát dậy mà đánh, chắc gọn"...
Từ ngoài xa, những cồn sóng lân tinh trong suốt cứ lừng lững ập vào bờ, rồi lại hối hả rút lui, rồi lại sầm sập xô tới. Ba người ngồi ở sát mé nước, mắt dòm ra phía cửa biển lặng lẽ quan sát và sáng nay, họ cùng xuống một chiếc thuyền do bác Tám, cha cô gái chở ra cồn cát.
- Xuống khéo không té. Tôi tưởng chú quên biển rồi chớ!
- Quên sao được bác, con trông về hoài thôi!
Chiếc xuồng nổ máy, biển như phẳng lặng hơn. Sương tan dần và cái màu xanh vô cùng, vô tận ấy chả mấy chốc đã lại vây bọc xung quanh Đạo. Cô gái ngồi rất thấp trong khoang thuyền. Đạo và Cảm nằm lẫn vào đống lưới bao giờ cũng chiếm một khoảng lớn. Lòng Đạo háo hức, anh tưởng tượng đến lúc ba người tung cát bật dậy đánh vỗ mặt vào bọn giặc. Chuyện cứ y như trong tiểu thuyết trinh thám vậy. Đạo mỉm cười khi nhớ đến gương mặt ngơ ngác, bẽn lẽn của Cảm: "Nếu chúng nó nhóm lửa nấu ăn ngay trên bụng mình thì biết tính cách sao!".
Đạo là một chiến sĩ trẻ. Anh ham mê đánh giặc hơn bất kể một công việc nào khác. Thấy giặc, Đạo không thể ngồi yên được. Những chuyện hành hung, cướp giật của chúng lại càng làm cho lòng ham mê đó của anh hừng hực lên như lửa cháy. Đạo mồ côi cha mẹ từ nhỏ. Bố anh chết giữa một cơn say điên đảo. Những kỷ niệm mà Đạo còn giữ được về bố vẫn là những cơn say tàn nhẫn ấy. Hồi đó, Đạo chỉ thấy sợ, thấy ghét mà không hiểu trong cuộc đời quá ngắn ngủi của bố mình chứa chất một nỗi khổ u uất không sao giải thoát nổi. Bố anh đã từng đi lính cho Pháp rồi bỏ trốn về trong một cơn say điên dại. Từ đó ông cụ luôn luôn tự giày vò, hành hạ mình cho đến chết. Mãi sau này khi Đạo nhận ra được những tâm sự day dứt của bố thì ông không còn nữa. Lúc bấy giờ Đạo mới thấy thương bố xót xa. Sau khi bố Đạo mất được ít lâu thì Đạo mất mẹ. Anh còn nhớ đêm hôm ấy, có một người đàn ông cao lớn, vai khoác một chiếc tay nải vải nâu đã cũ tìm đến nhà Đạo lúc sao tua rua gần lặn. Mẹ Đạo vội vã trở dậy. Hai người đi được nửa giờ thì chó rộ lên ở bãi cát bên kia sông. Con đò cũng bị bắn nát, ván thuyền trôi giạt trên những ngọn sóng đục ngầu, sôi réo lên ở hai bên bờ cát...
Từ đó, Đạo bắt đầu một thời kỳ lang thang trên khắp các bãi sông của bọn chủ thầu trong vùng. Ngày này nối ngày khác, anh gò lưng kéo những xe bò cát nặng nề đổ vào những lò nung thủy tinh đỏ ngòm những lửa. Nhiều khi Đạo đứng mê mẩn hàng giờ nhìn những người thợ lấy ra từ cửa lò từng khối thủy tinh lỏng trong suốt. Đạo bị cuốn hút vào công việc đó.
Đạo mơ ước trở thành một người thợ đúc thủy tinh. Sau này khi đã là một sinh viên khoa thổ nhưỡng học, ước mơ ấy vẫn lấp lánh trong những dự định lớn lao của anh. Nhưng cũng giống nhiều người bạn khác cùng lứa tuổi, Đạo luôn cảm thấy lòng mình như có một điều gì đó chưa yên. Bấy giờ, chiến tranh đã lan ra cả nước. Những chiếc máy bay Mỹ hôm nào cũng ầm ầm lao qua bầu trời thành phố. Tiếng bom đã chấn động đến mọi ngõ ngách của cuộc sống. Vào một buổi chiều mùa hạ, Đạo về làng. Anh đi lang thang trên những khu ruộng cát, dưới vầng mặt trời lúc nào cũng đỏ cháy lên gay gắt. Đạo chui vào hầu hết các lò thủy tinh, để rồi sáng hôm sau, anh lặng lẽ từ biệt dòng sông, từ biệt những triền cát, nơi mẹ anh đã chết như cái chết của một chiến sĩ. Ngày ra đi, Đạo đã tâm niệm rằng, sẽ không còn kỷ niệm nào sâu nặng hơn, tha thiết hơn những kỷ niệm về mẹ, về dòng sông quê hương nữa. Nhưng Đạo đã lầm. Ba năm ở chiến trường của anh là ba năm dày đặc kỷ niệm. Đạo lại gặp những dòng sông, những triền cát. Từ những dòng sông, những triền cát ấy, anh đã lao vào những cơn xoáy lốc của những trận đánh dữ dội. Đạo hoạt động nhiều năm ở vùng ven biển này và có lẽ chính cái sóng gió hung hãn, không hề biết khoan dung đó của biển đã tạo cho anh một lối đánh hiểm hóc, táo bạo. Với lối đánh ấy Đạo đã gieo những nỗi kinh hoàng cho bọn giặc trong khắp khu vực đơn vị anh hoạt động.
Có lần ở trụ sở xã Mỹ Hoài, giữa lúc bọn hội đồng xã cùng với bọn bình định đang chuẩn bị bước vào bữa tiệc khởi đầu cho chiến dịch "bình định trắng" của chúng thì Đạo cùng với một du kích khác bất ngờ bật ra từ một chiếc tủ đứng kê ở góc nhà. Khẩu tiểu liên rung lên trong đôi bàn tay của anh. Lần khác, Đạo đóng vai một đại uý an ninh ngụy, cùng với ba chiến sĩ khác, bận đồ lính thản nhiên vượt qua mấy tầng lính gác vào thẳng phòng làm việc của tên thiếu tá quận trưởng quận Bồng Đức. Không may, một đồng chí đi cùng để lộ nòng khẩu tiểu liên sau chiếc áo khoác. Biết bị lộ Đạo vụt đứng dậy, đưa tay chộp lấy chiếc đài "sô-ni" để trên bàn, ném vỡ mặt tên quận trưởng, xách cặp tài liệu mật của nó rồi lại ung dung thoát ra bằng lối cửa chính...
Sau lần bị đơn vị Đạo giả làm đoàn lái buôn đánh cho tơi tả ở xóm ba Sa Thạch, bọn bảo an không dám nghỉ trong làng nữa. Chúng ngủ đêm ở cồn cát ngoài cửa biển. Sáng ra chia thành nhiều mũi thọc vào đất liền, bắt đầu một ngày cướp đoạt, chém giết. Buổi chiều chúng lại hợp điểm ở bãi cát, xách ôm theo những của đã vơ vét được lên thuyền kéo về đồn.
- Hôm qua bọn cướp lại đốt thêm hai ngôi nhà nữa. Gà vịt trong làng chúng cũng bắt đi hết trọi. Làng không còn tiếng gà như nằm ngủ miết anh Đạo hè?
Cảm nói khẽ khẽ, Đạo nghe tiếng được, tiếng mất. Hai người vội nằm rạp xuống kéo lưới phủ kín mình khi có tiếng xuồng máy vang lên ở phía trước. Ba chiếc thuyền chở hai trung đội địch đang chậm chạp vào bờ. Lúc đi ngang qua thuyền bác Tám, một thằng hỏi như quát:
- Đi biển sớm dữ vậy, ông già?
- Có đi sớm mới có cá cho mấy thầy nhậu chớ!
Bác Tám trả lời trong tiếng máy nổ phành phạch. Mùi xăng tỏa ra nồng nặc. Khi bọn giặc đi khỏi, bác Tám bẻ lái hướng mũi thuyền về phía cồn cát. Nắng sớm đổ đầy trong khoang thuyền.
Đêm ấy những người dân Sa Thạch không ngủ. Trời vừa mới ập xuống, người ta đã kéo nhau ra bãi biển lặng lẽ ngồi đợi. Trước mắt họ, những con thuyền, mũi hướng về phía cồn cát cũng dềnh lên, dềnh xuống trầm tĩnh và trang trọng. Biển im lìm, giấu kín những con sóng dữ. Vài du kích không nén được đi đi lại lại. Bóng người, bóng súng in đậm nét lên vạch sáng của đường chân trời. Cứ thế cho đến ba giờ sáng.
Đột nhiên, một ánh chớp lựu đạn loé lên ngoài cồn cát. Tiếng nổ vừa dội lại đã bị chìm lấp bởi hàng loạt những tiếng súng nổ khác, bởi tiếng sóng. Chớp loè loè từng đám như phụt lên từ mặt biển. Rồi tiếng AK nổ. Đường đạn bắn găm, đỏ rực. Lâu lắm mới nghe tiếng đại liên địch phản ứng từng loạt ngắn rời rạc, khắc khoải. "Vầy là ngon rồi". Một người nào đó bất chợt kêu lên, giọng run run và lạnh. Những người khác thở trút ra và đều cảm thấy luống cuống. Trong một khoảnh khắc, không ai nhớ mình đang ở đâu nữa.
Nhưng cũng chỉ mươi phút sau đó, từ rất xa ngoài cửa biển, từ những căn cứ nằm sâu trong đất liền, pháo địch bắt đầu hộc lên. Đường đạn réo xoèn xoẹt qua đầu mọi người trùm xuống cồn cát những quầng lửa sáng rựng. Đèn pháo treo dọc cửa biển. Ánh đèn túa ra cháy xèo xèo, kéo theo một cái đuôi khói rớt chầm chậm xuống mặt nước.
Không ai bảo ai, tất cả mọi người cùng chạy ào xuống thuyền một lúc. Súng lựu đạn, mác va chạm lích kích. Những chiếc thuyền nổ máy chồm lên. Mũi thuyền đè sóng vùn vụt lao về phía cửa biển.
Trời cũng vừa rạng.
Mới đó mà đã nửa năm trời trôi qua. Cuộc sống thanh bình như một người đi vắng lâu ngày đột ngột trở về làng với vẻ mặt vừa bỡ ngỡ vừa quen thuộc. Người ta đổ xô ra bãi biển vào những buổi chiều, mắt dõi tìm trên sóng những thuyền cá và khi bắt gặp cồn cát đang sừng sững như một con tàu, lòng mọi người lại dịu xuống yên tĩnh và mặt biển như cũng bớt mênh mông hơn.
Đạo đã nằm lại trên đỉnh cồn cát ấy. Những người đi biển đêm kể rằng, đêm đêm họ vẫn thấy anh bồng súng đứng gác trên đỉnh cồn, người sáng lên lấp lánh như màu cát biển. Có người bảo anh đã biến thành một loài chim làm tổ trong cát, suốt ngày chao lượn trên sóng gọi báo cho những thuyền lưới biết vùng biển nào nhiều cá hố, cá chuồn... Đôi khi họ còn cam kết rằng, nhiều buổi sớm ra cồn, họ đều bắt gặp những dấu dép cao su mới nguyên, cát trên cồn còn in rõ vết nước của một người vừa mới bước lên từ dưới biển...
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Cựu chiến binh

Bài viết: 959
|
 |
« Trả lời #49 vào lúc: 19 Tháng Tư, 2011, 01:29:30 pm » |
|
Tiếp theo : Đạo lặng lẽ ra đi và một cuộc đời mới của anh lại được bắt đầu bằng những truyền thuyết dân dã. Trong một cuốn sổ còn lại của anh, trang cuối cùng có ghi mấy dòng chữ vắn tắt: "Cát biển Sa Thạch - hàm lượng si-líc - Nhà máy kính - công suất...".
Đó là những điều duy nhất mà anh còn để lại. Ngoài Hương ra, không một ai hiểu được những dòng chữ sơ lược ghi trong cuốn sổ tay ấy. Nhưng có một điều mà mọi người thấy rất rõ là anh yêu vùng biển này, và để ghi công đức của anh, Đảng bộ và nhân dân Sa Thạch đã xây một bia mộ trên đỉnh cồn với những dòng chữ cũng rất vắn tắt, sơ lược: "Liệt sĩ... sinh ngày... mất ngày... tại cửa biển Sa Thạch".
Không một ai biết thêm gì về cuôc đời của anh cả.
Vào những đêm trăng, cát trên cồn sáng lên như một bầu trời với vô số những vì sao nhỏ, lóng lánh. Những đêm như thế, Hương và trung đội du kích của cô thường đi dạo trên bãi biển. Cô gái thôi không nhặt vỏ sò như ngày nào nữa. Vỏ sò không làm cho nỗi nhớ của cô nguôi được. Cô còn nhớ rất rõ đêm hôm ấy, khi anh tung cát đứng dậy, cát dưới chân anh bay lên mù mịt. Lửa lân tinh dưới biển toé sáng. Sóng ầm ầm xô vào bờ cát sôi sục. Đầu đằng kia, Cảm cũng đang nhảy qua những xác chết, đường lê sáng loáng như một làn chớp phóng thẳng vào lưng những thằng giặc bỏ chạy xuống sát mé nước. Vào những giây phút chót của trận đánh, Đạo bị thương ở ngực. Khi Hương dìu được anh lên đỉnh cồn thì pháo đất, pháo hạm đã chụp đạn xuống dày đặc. Trong những tiếng nổ hỗn loạn của kim loại, Hương thấy Đạo khe khẽ gọi và lúc cô cúi xuống, khuôn mặt của anh chỉ còn lại một nụ cười...
Sau này, mỗi lần nhớ tới cái đêm kỳ lạ ấy, Hương lại không sao quên được nụ cười của Đạo. Nụ cười đã làm cho lòng cô than thản. Theo ý muốn cuối cùng của anh, mọi người đành để anh nằm lại trên đỉnh cồn. Nhiều đêm biển động, Hương lo lắng bồn chồn. Hai cha con cô lục đục trở dậy đi vội ra bãi biển. Những đêm như thế cô không sao ngủ được.
Rồi kẻ thù trở lại làng cô với những khuôn mặt quỷ quyệt hơn. Những mùa cá lại bị bỏ qua. Pháo bắn suốt ngày trên cửa biển, trên đỉnh cồn. Khắp làng không còn một ngôi nhà nào nguyên vẹn. Đội du kích của cô rút vào hoạt động bí mật. Những trận đánh lại diễn ra hàng ngày, hàng giờ. Làng biển Sa Thạch lúc nào cũng như có lửa.
Cuộc sống cứ thế căng thẳng và kéo dài cho tới một ngày kia, khí trời trở nên oi bức. Mây đùn lên ở ngoài xa tầng tầng. Những con sóng trăn trở vỗ vào bờ. Nhìn bọt biển phơn phớt một màu tím, người dân biển biết sắp có bão lớn và người ta thấp thỏm chờ đợi cũng căng thẳng và ngột ngạt như trước một trận đánh lớn. Cuối cùng cơn bão ấy đã đến. Suốt đêm, sóng biển gầm thét quật vào bờ bức thiết, giận dữ. Gió gào rú trên những khung cửa ngỏ. Vườn dừa quật ngã. Sấm nổ rung đất và chớp chạy từng luồng sáng rực trên biển.
Hương và trung đội du kích của cô bất ngờ tập kích diệt gọn một đại đội lính chủ lực ngụy chính trong cái đêm bão táp đó. Khắp nơi, tiếng súng vũ trang khởi nghĩa cùng nổ dậy đồng loạt. Hàng ngàn, hàng vạn người kéo về bức rút quận lỵ Tam Sa. Cờ, dáo mác dựng rợp trời. Những trung đoàn chủ lực từ căn cứ địa cũng bắt đầu tràn xuống đồng bằng, đạp hết cứ điểm này đến cứ điểm khác.
Đó là những ngày vui nhất của quê hương cô. Cô cảm thấy tự hào mỗi khi nghĩ về Đạo. Chưa bao giờ làng biển của cô có một cơn bão lớn như thế, một trận đánh lớn như thế.
Vài ngày sau bão tan. Biển lặng dần. Một màu xanh mềm mại tha thiết lại hiện lên. Làng biển nát tươm, xơ xác. Không ai buồn vì mọi người đều biết rằng, một mùa cá chật chội khoang thuyền sẽ trở về với họ. Người ta lại cuồn cuộn đổ ra bãi biển với một tâm trạng mới mẻ, khác thường. Đột nhiên, có tiếng kêu thất thanh của một cô bé:
- Cồn cát trôi mất rồi! Má ơi, mộ anh Đạo...
Kinh hoàng, người ta chạy ào ào về phía cửa biển. Lòng người nào cũng nhói lên, ngơ ngác. Chỗ cồn cát chỉ còn là một khoảng biển xanh thẳm, vô tận. Hương cúi xuống bốc lên tay mình một nắm cát. Vậy mà cô vẫn nghĩ, không còn ai có thể gắn bó với làng, với biển hơn cô nữa. Cô nhớ tới một dòng sông quanh năm đỏ ngầu phù sa. Anh đã sinh ra bên một dòng sông như thế. Cô hình dung ra những dãy lò thủy tinh với hình dáng của những người thợ đang rút ra từ lửa những khối thủy tinh trong suốt như nước biển...
Buổi chiều hôm đó, những thuyền lướt từ ngoài khơi trở về, thuyền nào cũng đầy ắp cá. Biển lại hiền hòa, sóng từng đợt trào lên bờ cát rồi nằm xoài ra đắm đuối trên những dấu chân người...
Người dân Sa Thạch còn kể thêm rằng, chưa có năm nào biển được mùa cá như sau cơn động biển, động trời năm ấy.
Bình Định xuân 1973
N.T.H
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|