Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 09:29:16 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đứa con của đất  (Đọc 67405 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #80 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2011, 08:40:48 pm »

                           Tiếp theo :

Tôi nói:

- Tụi em không phải đó để nộp mạng cho nó đâu, mà là để xé cho rách cái C biệt động đó. Tụi em cố xé rách kha khá, để trời sụp tối đơn vị mình càn qua nó đi luôn!

Anh Đấu kêu anh Dũng lại nói cho anh Dũng nghe đề nghị của tôi. Không dè anh Dũng lại tán thành, bảo rằng nếu xé được cái C biệt động đó đừng cho nó quày về ấp thì coi như cái ấp không thành vấn đề nữa. Anh đặt giả thuyết trường hợp C biệt đóng địch không đi qua vườn chuối mà băng đồng tới đây thì cả đại đội sẽ đánh cho nó rã luôn. Nói tóm, ý kiến anh Dững rất phù hợp ý kiến tôi ở chỗ tranh thủ đánh bọn này ở ngoài ấp khi nó tự dẫn xác đi kiếm mình. Bấy giờ anh Đấu mới đồng ý, nhưng anh chỉ đồng ý khi anh Dũng trình bầy thêm rằng trong trường hợp cần thiết, cả đại đội sẽ chi viện cho khẩu đội tôi, vì từ đấy ra vườn chuối chỉ có ba bốn trăm mét.

Chúng tôi bẻ thêm lá cây, dắt thêm lên người, lên súng rồi rời mí vườn tiến ra vườn chuối. Cái vườn chuối nầy sau khi bị đánh bom, có một con đầm già lai vãng, dòm ngó rồi rà theo một quãng đường đồng. Hình như nó không chú ý mấy tới vườn chuối nữa, vì sự thiệt vườn chuối đã bị bọn phản lực đánh rạp hết rồi. Khi chúng tôi tới đó thì mặt trời vẫn còn lảng đảng. Bốn đứa tôi men ra mé vườn giáp đường ruộng, leo qua những thân chuối bị bom đạn phạt nằm la liệt. Bom miểng tàn phá vườn chuối thiệt ngót ngọt. Miểng bom chém đứt thân chuối không để vướng. Thôi thì những quày chuối, bắp chuối rải rụng khắp nơi. Trong buổi chiều sắp tắt, chim hút mật được dịp nhảy nhót hút lấy mật ngọt ở những bắp chuối vừa trổ. Thứ mật nầy có lẽ càng ngọt đậm vì nung nắng suốt buổi.

Chúng tôi ra tới mí vườn cặp sát đường thì ngó thấy địch xuất hiện trên cánh đồng trước mặt. Tôi áng chừng chúng không có tới một đại đội mà chỉ có chừng hai trung đội. Bọn chúng đi thành hình dấu ớ, xa trông như dãy đăng nó giăng trên đồng cạn và di động. Lắm thốt chửi:

- Tổ cha, kéo đi coi sướng chưa, làm như muốn kiếm hốt mình như hốt cá.

- Thằng chỉ huy tụi này chắc khùng ...

- Coi chừng nó có kế, tao nghi ...

Tôi hỏi Lắm nghi gì. Lắm nói:

- Sợ nó khều nhử mình rồi kêu "ép" lên trút bom!

Tôi g�

- Cái đó cũng dám lắm, nhưng tới lúc phát hiện kêu bom thì mình cũng phải tóm nó bộn rồi!

Tôi bảo anh em coi lại các mương vườn đã chọn chỗ núp. Bỗng nghe Cần kêu thấy hầm. Tôi chạy lại thấy có nhiều cái hố một nằm rải trên bờ chuối. Khởi nói:

- Chắc hầm của du kích!

- Coi chừng rắn ... Tôi nhắc: - Khoan nhảy xuống ẩu, rủi đụng con hổ đất nào nằm dưới đó thì tiêu mạng!

Khởi lại nói:

- Tôi còn cầu gặp rắn hổ đất. Hễ gặp tôi đập chết bỏ đó, đánh xong xách về nấu cháo ...

Chúng tôi lần lượt xuống hầm, đặt súng. Bây giờ khẩu đội tôi được địch trang bị cho quá mạnh. Ngoài tôi thủ đại liên, Cần và Khởi đều có trung liên. Tôi đứng thẳng người, quan sát địch, thấy chúng vẫn tiến tới mỗi lúc một gần. Tôi dặn anh em:

- Cú này cũng phải để nó tới thiệt gần, mới nổ. Cứ tỉnh đừng có hấp tấp quơ đũa gắp trước!

- Anh khỏi lo. Nhưng anh nói đợi nó tới gần là gần cỡ nào?

- Tao tính để thiệt sát nút, bảy thước thôi!

Bảy thước dành cho đại liên và trung liên, đó là cái cự ly khai hỏa sát nút nhứt từ trước tới nay. Lắm hồi hộp hỏi tôi:

- Để vậy sợ quá gần, nó ập đại vô e mình không kịp trở tay!

- Đã tính chắc rồi nên tôi vẫn nói:

- Không ập vô nổi!

Tôi đánh giá bằng mắt nhìn, cả bọn địch đang kéo tới cao lắm là sáu bảy chục tên. Nếu chúng đành lọt vô tầm súng thì chắc chắn trong loạt đạn đầu, chúng sẽ bị bắn rụng ít gì cũng vài chục. Tôi mở hẳn một thùng đạn đại liên Mỹ loại đôi, cài giây đạn vào súng, vàng chóe, rực rỡ. Mùi đạn từ thùng đạn mới lấy được ở Ph thạnh nghe thơm sực mùi nhãn chín, nghe thấy khỏe trong mình. Cái cảm giác khỏe người, thơ thới và tỉnh táo nầy là một dự báo tốt lành.

Bọn biệt động ngụy đã tới gần. Dưới ánh nắng vàng vọt tôi đã nhận ra hình thù tên lính, những cái kết vải có rèm, quần áo trận ốp sát bó chật lấy người chúng.

Tội dặn Lắm chớ mà thổi kèn. Lắm có vẻ bực.

- Tao đâu có ngu đến nỗi "lạy ông tôi ở bụi này".

Tôi cười:

- Thì tao dặn vậy, sợ mầy hứng bất tử ... Thôi im đi, mình ở trên gió!

Trên đồng, bọn địch bắt đầu thay đổi đội hình, khép lại thành một hàng dọc, đi theo con đường cặp sát vườn chuối. Tôi mừng rơn. Chúng nói chuyện lào xào. Một thằng chưởi thề:

- Đ.m. ba thằng Việt cộng trốn đâu mất hết, đi hoài mà chớ đụng thằng nào!

- Bộ mầy ham đụng tụi nó lắm hả, cái thằng miệng ăn mắm ăn muối ...

- Bữa nay, các "đồng chí" mình còn mệt, chắc chưa lên Long-tân đâu. Đ. má, mấy thằng "tiền sát viên" hoảng quá báo ẩu rồi!

Bọn địch đi sát, đến nỗi chúng tôi ngó thấy mặt mũi từng thằng. Chúng đã đi lố khỏi năm bảy tên, tôi vẫn chưa bắn. Lắm huých sườn tôi nhưng tôi gạt nhẹ tay Lắm ra. Đợi chúng đi lố khỏi chừng mươi tên tôi mới ấn cò chấm từ tên đi đầu quét xuống. Hai khẩu trung liên cửa Khởi và Cần cũng nổ ran. Bọn địch đi giăng ngang mặt, như thể bia chường ra. Qua loạt đạn đầu, chúng thưa hẳn đi. Tới loạt sau, chúng chạy toán loạn, bắn trả tùm lum vì không ngó thấy chúng tôi đâu. Tôi liền cắt từng loạt ngắn, có khi bắn lẻ, rốt cuộc trên đồng chỉ còn trên một chục tên. Không để chúng kịp hoàn hồn, tôi xách súng kêu anh em vọt ra. Tôi quơ họng đại liên thét:

- Thôi đầu hàng đi. Tụi bây muốn chết hay sống?

- Dạ, muốn sống! Bọn chúng liệng súng nói lớn.

Trừ mấy tên chạy tuốt, tất cả đều đầu hàng. Thằng nào thằng nấy mặt mày tái mét. Có lẽ chúng chưa bao giờ bị đại liên bắn dữ như mới rồi.

Lắm Kèn cầm khẩu AK đi rêu quanh bọn lính nói:

- Tụi bây rủi mà may, gặp ông Quyết giò nhà tao xổ đại liên mà còn sống là may lắm đó!

Nghe Lắm nói, chợt mấy tên lính đưa mắt ngó nhau, thì thà thì thào.

Rồi, một thằng cóm róm hỏi tôi:

- Dạ thưa ... vậy anh là Quyết giò?

Tôi ngó thằng lính, không hiểu sao nó lại nghe biết tên mình, rồi gật đầu tự trỏ vào ngực:

- Ừ, tao đây, nhìn thử coi có họ hàng bà con gì không?

- Dạ không ... nhưng lâu nay tụi em có nghe danh anh, giờ mới biết.

Tôi ngạc nhiên cười hỏi:

- Vậy sao, tụi bây nghe tao làm sao?

- Dạ ... dạ nghe anh bắn đại liên "căng thần kinh". May phước tụi em không bị anh giũ sổ ...

- Đâu có phải mình tao, ở đơn vị tao còn có nhiều người hơn tao xa. Ừ, mà cũng phước lớn cho tụi bây, hồi nãy tao thương tình nên không xổ thêm, chớ tao mà xổ rấn thêm một loạt nữa thì bây tiêu hết rồi. Vậy bây giờ còn sống thì phải nghe lời tụi tao, nghe!

- Dạ.

- Thôi bây giờ tụi bây ngồi xuống nghỉ cho tỉnh hồn lại đi!

Một tên đâm dạn dĩ, rút từ trong túi xệ ra một gói "Quân tiếp vụ":

- Dạ mấy anh hút thuốc!

Tôi xua tay:

- Tụi bây cứ hút, tao không hút đâu, thứ đó lạt nhách!
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #81 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2011, 08:43:23 pm »

                          Tiếp theo :


Đoạn tôi lấy túi thuốc rê của mình, vấn một điếu to đốt hút. Tôi phà khói, hỏi tên lính:

- Tụi bây xuống đóng ở Long-tân lâu chưa?

- Dạ mới năm bảy bữa nay, mà điều trước đó tụi em cũng về đóng ở đó hoài...

Tôi kéo Cần lại, hỏi nhỏ:

- Cái thằng mà bà già ở giữ con cho nó tên là thằng gì?

- Thằng Năm Hổ, hồi đó làm trưởng ấp ...

Hỏi Cần xong, tôi day hỏi tên lính:

- Tụi bây ở đó thường, vậy có biết Năm Hổ không?

- Năm Hổ nào? Có phải ông Năm Hổ Chủ tịch Hội đồng xã không?

- Trước y làm trưởng ấp, hồi mấy năm trước ...

Tên lính gật đầu:

- Chắc đúng là ổng rồi ... ổng mới lên chức Chủ tịch Hội đồng xã một năm nay!

- Chú mầy có khi nào ghé nhà y không?

- Có, có lần em theo "gạc-đờ-co" cho trung úy em tới nhà ổng nhậu ...

Thấy tên lính nầy có vẻ chất phác chớ không láu lỉnh, lưu manh, tôi đổi cách xưng hô:

- Theo anh, thằng cha Năm Hổ này có ác ôn không?

Tên lính im đi một chốc rồi đáp:

- Thiệt tình em cũng không rành ổng lắm ... Nhưng chưa nghe nói là ông giết ai, ví dụ như là mổ bụng hoặc mổ gan ai, mà điều ông giàu lắm ...

- Nhà Năm Hổ có nhiều kẻ ăn người ở

- Có năm bảy người.

- Anh có để ý thấy một bà già mù nào giữ con cho Năm Hổ không?

Tên lính nhíu trán, cố nhớ, nhưng lắc đầu:

- Em không để ý, không biết có hay là không, có khi có mà em không biết ... Nhưng ở Long-tân cũng có một bà già mù ...

- Vậy hả?

- Dà. Có lần em thả rêu ghé chòi bà già mù đó. Bả ở một mình, bả mù hết hai con mắt mà đương rổ rá giỏi lắm. Bả mù nhưng không đói, đằng sau nhà bả có một miếng rẫy dưa hấu ...

Cần không nén được, nhóng người tới hỏi:

- Anh ghé cái chòi đó lâu không?

- Em ngồi một chút rồi đi. Nói thiệt với mấy anh bữa đó em khát quá, thấy đám dưa tính vô kiếm một trái. Ban đầu bà già không biết em là lính, sau mới biết. Bả hỏi em đi lính ăn lương một tháng bao nhiêu, cha mẹ ở đâu. Em nói cha mẹ chết hết rồi. Bà già hỏi sao em không kiếm công chuyện khác mà làm, đi lính có bữa chết, hoặc chưa chết thì cũng bắn chết anh em cô bác mình không thôi ... Em nói tại tụi nó bắt đi. Bà già thở dài, rồi lụm cụm đi ra rẫy, hái vô cho em một trái dưa ...

- Anh ngó thấy cặp mắt bà già đó mù tự nhiên hay là có thương tích chi không?

Tên lính nói:

- Bị miểng pháo!

Cần buột kêu: "Trời ..." rồi nói ghé vào tai tôi: "Anh Quyết, chắc đúng má tôi rồi!".

Tôi rất mừng gật đầu:

- Ừ, tao cũng thấy là chắc tới chín phần mười ...

Tôi vỗ vai tên lính:

- Nè, nãy giờ tôi quên hỏi, anh tên gì

- Em tên Đó!

- Nè, anh Đó, bữa nay anh bị tui tôi đánh bắt được là may lắm. Anh đừng sợ, miễn là anh thiệt tình muốn lập công chuộc tội. Chút nữa, tụi tôi còn đánh lên Long-tân, đánh rã ấp chiến lược ở đó luôn. Tụi tôi nhờ anh dẫn tới chỗ bà già mù được chớ?

- Dạ được ... Lính Đó đáp, và hỏi: - Mà bà già ấy là chi với mấy anh?

Tôi trỏ Cần:

- Có thể là bà má của anh Cần đây!

- Ra vậy. Được rồi, để em dắt mấy anh tới đó!

- Ở Long-tân, đồn bót lính tráng tụi nó ra sao, anh Đó kể sơ cho tôi nghe coi!

Lính Đó cười, nhe hàm răng có một vài cái răng bịt bạc.

- Ăn thua là tụi biệt động em đây, chớ ba thằng bảo an dân vệ ở đó mà ăn nhằm gì. Cái C em là C biệt động cuối cùng bị mấy anh đánh bứt thì coi như mấy anh muốn kéo vô ấp lúc nào mà không được!

Mặt trời đã lặn. Đại đội chứng tôi kéo ra, anh em không ngờ chúng tôi đã đánh tan bọn biệt động. Chúng tôi giao số tù binh cho Ban chỉ huy, nhưng xin cho lính Đó theo khẩu đội tôi, sau khi đã kể lại cho anh Đấu anh Dũng nghe chuyện về một bà già mù mà tôi tin chắc là bà má của Cần. Hai anh đồng ý giao lính Đó cho tôi. Anh Đấu dặn:

- Nếu kiếm được bà già của Cần thì mấy em bố trí đưa về luôn, cứ đưa trước về Phước-thạnh. Từ đó sẽ giao cho thanh niên xung phong đưa về vùng giải phóng sau, mấy anh đã có bàn rồi!

Quả như lời lính Đó nói, đơn vị chúng tôi chưa tới Long-tân thì bọn bảo an dân vệ ở Long-tân đã bỏ chạy. Giữa lúc đơn vị tôi tràn vô cái ấp chiến lược còn nguyên để lục soát coi có tên ác ôn nào còn trốn lại không thì tôi dẫn khẩu đội theo lính Đó đi kiếm bà má Cần.

Lính Đó dắt chúng tôi đi miết về phía ấp, nơi cây cối thưa thớt lần, rồi tới một cánh đồng vắng vẻ nhưng cũng nằm trong vòng rào giây thép gai. Xa xa phía trước, ở giữa đồng, thấy có mấy ánh đèn leo lét. L nói:

- Cái chòi bà già ở khúm nhà đó!

Chúng tôi theo đường mòn đi như chạy về phía có ánh đèn. Một lát sau, tới xóm nhà có năm ba cái nhà nhỏ.

Từ trong nhà, có người đàn bà nào hỏi:

- Ai đi đó?

Tôi lên tiếng:

- Tụi tôi, bộ đội giải phóng đây!

Người đàn bà vừa hỏi vụt nín im. Chúng tôi theo lính Đó tới cái nhà ở cuối chòm nhà. Tới chừng đứng trước cái nhà đó, tôi nhận ra ấy là cái chòi chớ không phải là nhà.

Lính Đó trỏ vô chòi:

- Hôm nọ em ghé gặp bà già ở đây!

Tôi cất tiếng hỏi vào trong chòi tối om om:

- Có ai ở nhà không?

Tại cửa chòi chợt có bóng người, ở sát bên tôi. Bởi trời tối, nên tôi không để ý, lúc định thần ngó kỹ mới thấy dáng một bà già đứng nép bên cửa chòi, như cái bóng. Chừng như bà già đứng đó đã lâu, và ngóng đợi điều gì cũng đã lâu. Tôi liền nói, tin rằng điều mình nói đáp ứng đúng nỗi mong đợi của bóng người kia:

- Dạ ... tụi cháu là bộ đội giải phóng mới về!

Rõ ràng tôi thấy cái bóng bà già như run lên. Vậy rồi bà lập cập như té chạy tới trước mặt tôi. Cần ở sau đó lách tới. Nhưng tôi ngăn Cần lại, chụp cầm đôi bàn tay răn reo của bà già:

- Má có thằng con nào tên Cần không?

Bà già đứng sững, hình như có sự nghi ngại không biết có thiệt chúng tôi là bộ đội giải phóng hay không.

Lính Đó v

- Má ơi, con là thằng lính ghé chòi má hôm nọ ăn trái dưa. Mới hồi chiều nay con bị mấy anh giải phóng đây đánh bắt được, mấy ảnh biểu con dắt mấy ảnh tới đây kiếm má đó mà!

Bà già vẫn có vẻ chưa tin hẳn. Tôi cảm thấy tim tôi nhói lên về điều đó, vì chỉ riêng điều đó cũng đã đủ nói cho tôi biết tất cả những sự gạt gẫm rún ép của địch ở đây nhiều lần đến nỗi chúng tôi đứng sờ sờ trước mặt mà bà má cũng chưa dám tin. Tôi phải đành cười nói:

- Nếu má chưa tin thì bây giờ má rờ thử, coi má có nhận ra thằng nào là con ruột của má không?

Cũng may vừa lúc ấy mấy thím mấy chị lối xóm bưng đèn qua tới, lăng xăng mừng rỡ chào hỏi chúng tôi. Chừng đó bà má mới tin, mới ôm lấy chúng tôi. Những ngón tay gầy guộc của má giờ run rẩy lướt lên người chúng tôi như dò tìm cho xác thực đây có đúng là những đứa con của mình không? Hai hố mắt má trông thiệt đáng thương. Miểng đại bác đã khoét mù mắt má, nên vùng mắt đó không còn gì, tối kín như bưng. Vậy nhưng tôi có cảm tưởng như má ngó thấy hết. Má rờ rẫm, ôm chặt chúng tôi trong lúc tấm thân già nua của má cứ run lên vì nỗi sung sướng và xúc động bất ngờ. Tôi lại để ý thấy ngoài đôi tay rờ rẫm, nắn nót, bà má còn ngửi được, phân biệt được. Ngoài đôi mắt đã mất, và các giác quan thông thường khác chắc hoạt động mạnh hơn hẳn trước, ở bà má còn có cái gì đó rất lạ. Đứa sau cùng tôi đẩy nhẹ vào lòng má là Cần. Chỉ mới vừa ôm lấy Cần, chỉ mới đưa bàn tay sờ khắp mặt Cần, má đã rền rĩ kêu lên:

- Trời ... thằng Cần!

Thiệt lạ lùng quá. Sự xác nhận của má mới nhanh làm sao. Chỉ với đôi bàn tay sờ lướt qua đó, trong im lặng. Tôi nhìn cảnh ấy, lòng tự hỏi lẽ nào người mẹ lại thuộc mắt mũi đứa con mình tới cái mức đó. Tôi bàng hoàng xúc động tự hỏi như vậy. Song cảnh thực trước mắt tôi rõ ràng là vậy. Coi kìa, khi buột lên tiếng gọi Cần, thì tự nơi hai hố mắt kín bưng sâu thẳm của má bỗng từ từ ngập đầy nước mắt. Và khi bàn tay má nhẹ rời mặt Cần buông thõng xuống, thì khuôn mặt Cần ngay lúc đó cũng ràn rụa nước mắt.

Một thím lối xóm cầm đèn, nước mắt lưng tròng, lính quýnh dơ đèn lên nói:

- Thôi mời mấy chú vô nhà chớ Bà Tư, mời mấy chú vô nhà đi, bà Tư!

Bà má mù lòa đang sung sướng ấy giờ như sực tỉnh, quờ chụp tay chúng tôi, lụm cụm dắt vô chòi.( hết chương 31 )
--------------------------------
1   Máy bay trinh sát OV.10 của Mỹ gồm có hai thân rất giống cầu tiêu ở miệt vườn Nam bộ.
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #82 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2011, 08:45:42 pm »

                 
CHƯƠNG BA MƯƠI HAI

Má Tư kể cho chúng tôi nghe từ sau lúc Cần đi bộ đội, má đến ở giữ con cho nhà Năm Hổ. Nhưng được một năm, vợ chồng tên trưởng ấp này thấy má vừa mù vừa già yếu thì không mướn má nữa. Má Tư rời khỏi nhà Năm Hổ mà không được trả một đồng công xá nào. Vợ chồng y nói mướn má coi mấy đứa nhỏ, cho ăn cơm, sắm quần áo là đã quá đủ, mặc dù trước có hứa trả mỗi tháng bốn trăm đồng. Không đòi thêm được tiền công, má ra khỏi nhà Năm Hổ, chưa biết nương thân ở đâu thì may gặp bà con ở Chòm Cây Gáo thương tình kêu về cất cho má cái chòi nầy. Một mình đương đát và trồng một miếng rẫy dưa nhỏ, má sống được. Bà con ở Chòm Cây Gáo thương má lắm. Về sau đó, biết má có con đi bộ đội giải phóng, bà con lại càng giúp đỡ má nhiều hơn. Đặt lợp có con cá ngon, họ đem cho má. Nấu được miếng canh ngọt, họ cũng bưng sang. Thành ra má rời nhà Năm Hổ về đây ở mà hóa ra đỡ cực hơn.

Nghe má kể chuyện Năm Hổ giựt trọn một năm tiền công, tôi rất giận. Đang ngồi trên chõng, tôi đứng dậy đi tới đi lui trong chòi. Hồi sau tôi dơ tay dứ dứ nói:

- Cái vụ Năm Hổ giựt tiền, mình phải bắt nó trả chớ không bỏ qua được!

Bà má vội can:

- Thôi con, chuyện cũ đã mấy năm nay, thôi bỏ đi ... Bữa nay gặp mấy đứa bây tao mừng quá rồi, hơi đâu mà tính đòi món nợ đó!

Tôi vẫn không chịu:

- Phải đòi chớ má. Tụi nó giàu, má thì nghèo, lớp bị mù lòa, lớp còn cho con đi đánh giặc mà nó còn giựt công của má thì thử hỏi tụi nó là tụi gì, chắc nó không có trái tim. Để anh em con tới tận nhà nó hỏi coi!<

Lắm nói:

- Sợ y trốn rồi!

- Y trốn thì còn vợ con y. Bắt vợ con y phải trả cho má đầy đủ. Tao nói là tao làm. Chuyện này tuy cũ, nhưng bây giờ coi như còn mới tinh.

Má Tư cười móm mém:

- Thằng con này nóng dữ ... Thôi, mấy đứa bây tính sao đó thì tính, tao không biết, gặp mấy con, gặp thằng Cần là tao mừng rồi, mắt tao như sáng ra ...

Cần cũng cười nói:

- Anh Quyết đây là xếp của tụi con đó má. Ảnh nóng lắm má ơi!

Tôi bảo Lắm:

- Đi với tao!

- Lại nhà Năm Hổ bây giờ hả?

- Đi kiếm anh Đấu báo cáo đã tầm ra má thằng Cần, nhơn thể ghé lại chỗ nhà Năm Hổ luôn!

- Đi thì đi!

- Anh Đó chịu khó dẫn tụi tui nghe!

- Dạ!

- Anh có muốn đi theo tụi tôi luôn không?

- Muốn, em muốn theo luôn mấy anh đánh Mỹ để lập công chuộc tội.

- Được rồi, để lát nữa gặp Ban chỉ huy tôi đề nghị, chắc là được thôi.

Tôi và Lắm rời chòi má Tư, theo lính Đó lên xóm trên. Bấy giờ đơn vị tôi đang huy động bà con phá bót, san bằng các lô cốt và trụ sở hội đồng xã. Bà con xách đèn, đốt đuốc đi lại đầy đường. Chúng tôi đi ngược về phía có tiếng lửa réo và tiếng búa nện bốp chát. Lát sau, chúng tôi tìm gặp anh Đấu. Anh chụp

- Sao, kiếm được bà già thằng Cần chưa?

- Gặp rồi!

Anh Đấu mừng rỡ hỏi dồn:

- Bà má còn mạnh khỏe chớ?

- Dạ má còn mạnh. Tụi em sẽ đưa đi luôn ...

- Tốt, mấy em cố thu xếp sao cho kịp. Mười hai giờ khuya này là mình rời khỏi đây hành quân trở về Phước-thạnh, rồi từ Phước-thạnh về Long-phước...

- Anh khỏi lo. Tụi em sẽ lãnh đưa má về đó. Bây giờ em lại đằng này một chút!

- Lại đằng nào?

- Lại nhà thằng Năm Hổ.

- Thằng Chủ tịch hội đồng xã đó hả? Kiếm nó chi vậy, nó dông rồi!

- Nó dông thì em kiếm con vợ nó!

- Để làm chi?

Tôi hậm hực kể cho anh Đấu nghe vụ nhà Năm Hổ quỵt tiền công của bà má Cần. Anh Đấu suy nghĩ một chút rồi vụt cười bảo:

- Thì tùy em, có đòi thì đòi. Mà em đã biết nhà nó chưa?

- Chưa, nhưng đã có anh Đó biết?

- Đó nào, à Đó tù binh hả?

- Dà ...

Anh Đấu thít chặt lại cái khăn trên đầu quay đi thì tôi bước rấn theo:

- Anh Ba à?

- Gì

- Anh Đó muốn đi theo mình. ảnh nói muốn lập công chuộc tội.

- Được rồi, lát nữa cứ dắt cậu ta theo rồi tính!
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #83 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2011, 08:47:11 pm »

                                Tiếp theo :


Nhà Năm Hổ ở giữa ấp. Khi chúng tôi tới trước cổng nhà thì thấy nhà tối om, không có đèn đóm chi cả. Nhưng trong nhà có tiếng người rù rì nói chuyện. Tôi xô cổng bước vô, ngó thấy ngôi nhà rất lớn, có sân gạch đi mát rượi gan bàn chân. Tức thì tôi chợt nhớ tới ngôi nhà Biện Tư ở Phước-kiển, cũng có cái sân gạch rộng như vầy. Ngày ấy, bước đi qua sân nhà Biện Tư, tôi cũng nghe mát bàn chân như hôm nay. Nhưng hôm nay thì khác ngày ấy, hôm nay tôi đi vào một ngôi nhà giàu loại đó với tư thế khác hẳn. Đứng tại sân gạch tôi cất tiếng hỏi:

- Ai ở trong nhà đó, mở cửa coi!

Tiếng người đang rầm rì trong nhà chợt im đi. Tôi lại hỏi lớn hơn:

- Ai ở trong nhà, mở cửa, sao nghe kêu mà êm ru vậy?

- Dạ để tôi mở!

Tiếng của một cô gái đáp. Tiếp theo tiếng đáp đó, trong nhà đốt đèn. Rồi cánh cửa giữa nhà chợt mở hé. Tôi bước tới xô nhẹ cửa. Một cô gái mình mặc áo ni-lông mỏng màu hường, cầm cây đèn hoa kỳ đứng trong. Thoạt thấy tôi bước vô tay xách khẩu đại liên, cô gái hoảng hốt vội nép sang bên. Tôi hỏi:

- Chị là chủ nhà?

Không đáp lời tôi, cô gái gọi với vào trong:

- Má ơi!

Tôi hỏi lại:

- Đây là nhà Năm Hổ phải không?

- Ba tôi không có nhà ... Mới hồi nãy cũng có mấy ông tới hỏi, tôi đã trình với mấy ông đó là ba tôi sợ quá trốn đi rồi?

Lắm bảo:

- Mấy ông đó tới c chuyện của mẩy ổng, chúng tôi tới có chuyện của chúng tôi. Thôi, chị mời bà già ra đây cho chúng tôi nói chuyện!

- Má ơi, có người gặp nè!

Lát sau, một người đàn bà mang dép lệt sệt đi ra. Đó là vợ Năm Hổ. Mụ ta tuổi trạc bốn mươi lăm, thịt da phốp pháp. Mới bước ra, mụ đã bê cái khay đựng bình trà đem lại đặt lên bộ ván gỗ, đon đả:

- Mời mấy ông uống nước!

- Được, bà để đó - Tôi ngồi xuống bộ ván nói - Để tôi xin nói liền cho đỡ mất thì giờ, chúng tôi tới đây là để kiếm chồng bà, nhưng chồng bà trốn rồi, chúng tôi nói chuyện với bà cũng được ...

- Dạ, có chuyện chi xin mấy ông cứ nói!

Tôi chưa nói, móc thuốc ra vấn một điếu quẹt lửa đốt. Phà rít một hơi, tôi đề cập:

- Chuyện chồng bà gây ra tội lỗi với nhân dân rồi bỏ trốn, chúng tôi sẽ lùng bắt sau. Còn chúng tôi tới đây bữa nay là muốn nhắc cho bà nhớ cách đây mấy năm gia đình bà có mướn bà già ở giữ con. Bà già bị mù đó mà!

Vợ Năm Hổ nhớ ra ngay, giọng xởi lởi vui vẻ:

- Dạ có, bà Tư ...

- Phải, bà Tư ở giữ con cho bà được một năm rồi nhà bà đuổi ra!

- Dạ đâu có, đâu có đuổi! Vợ Năm Hổ hoảng hốt cải chánh.

- Thôi thì cứ nói là thấy bà mù lòa, già yếu nên gia đình bà thôi mướn!

- Dà.

- Nhưng gia đình bà lại không trả tiền công một năm cho bà Tư, nên bà Tư ra khỏi nhà bà với hai bàn tay trắng?

Mụ Năm Hổ lúng túng vo vo chiếc vòng cẩm thạch nơi cổ tay mập có ngấn, nín im. Đứa con gái mặc áo hrút lui vô nhà trong với những bước đi như nhón

góp. Tôi cườl lạt:

- Nỡ lòng nào mà bà đối xử với một bà già mù như vậy chớ? Nhà bà có của ăn của để, lấy của bà Tư một năm tiền công thì có làm giàu thêm bao nhiêu đâu!

Vợ Năm Hổ lại rót thêm nước:

- Mời mấy ông uống trà, rồi tôi nói cho mấy ông nghe. Số là, hồi bà Tư vô coi giữ mấy đứa con tôi, bả ưng chịu chỉ có cơm ăn áo mặc ...

- Bà nói sai rồi, vợ chồng bà có hứa rõ ràng với bà Tư là ngoài cơm ăn áo mặc mỗi tháng còn trả bốn trăm đồng bạc để bà Tư mua trầu cau, mua thuốc uống ...

- Vợ Năm Hổ lần này lại nín im, lại vo vo chiếc vòng cẩm thạch đeo nơi cổ tay mập trắng. Lần thứ hai nói gian, coi mòi mụ hết nước chạy chối, nên sau một lúc ngồi im, mụ nhỏ nhẹ:

- Thôi thì nếu bà Tư bây giờ nói vậy, kiện lên mấy ông thì để rồi tôi hoàn trả cho bà. Có bốn ngàn mấy đồng bạc chớ có phải bạc vạn ức gì đâu!

Tôi bắt đầu nổi nóng:

- Không phải bà Tư bây giờ nói vậy, mà vợ chồng bà đã hứa trả cho bà Tư như vậy. Bốn ngàn mấy đồng bạc hay là năm bảy đồng bạc, hễ thiếu là phải trả. Tôi báo cho bà biết, bà Tư có người con ở trong bộ đội giải phóng chúng tôi hôm nay vừa về tới gặp bả. Bà Tư tuy mù loà nghèo khổ vậy chớ không có giựt tiền của ai, lại có con đi giúp nước nên chúng tôi cũng không cho phép ai giựt tiền của bả. Bữa nay chúng tôi tới đòi dùm món nợ mà bà thiếu để đem về cho bà Tư. Chúng tôi yêu cầu bà đem trả tiền bốn ngàn tám trăm đồng, không cần dư một đồng, cũng không được thiếu một cắc!
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #84 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2011, 08:48:51 pm »

                        Tiếp theo :

- Tôi trả được mà, để tôi trả mà!

Vợ Năm Hổ đứng dậy đủng đỉnh đi vô buồng. Mụ ở trong đó một lúc sau đem ra xấp tiền đặt lên ván:

- Đây, tôi đưa chẵn năm ngàn cho dễ!

Tôi móc túi, góp nhóp còn đúng hai trăm trả lại cho mụ ta. Mụ khoát tay:

- Thôi khỏi, mấy ông cứ cất xài, có hai trăm chớ nhiều nhõi gì!

Tôi lặng lẽ đặt hai trăm bạc xuống bộ ván, rồi đứng dậy. Tôi không quên bảo Lắm viết cho mụ ta một tờ giấy nhận thay số tiền cho bà Tư. Lắm rút bút, viết xong tờ giấy trao cho mụ Năm Hổ rồi bước ra theo tôi và anh Đó. Vừa đi Lắm vừa nói:

- Con mụ này thiệt hết biết. Tới nước này rồi mà con mẻ còn nói ngược!

Tôi cười bảo :

- Thì tao đã nói, tụi đó là như vậy mà ... Tao hiểu thứ người đó quá xá. Chớ hồi tao ở nhà Biện Tư với Bảy Vàng ra đi thì sao? Chẳng những nó không trả tiền tao mà còn giựt đất cào nhà của cô Tám tao, làm cô Tám tao thất bất xang bang phải bỏ vô chùa ở ...

- Đáng lẽ hồi nãy mình phải xét nhà. Biết đâu chừng thằng chồng còn chém vè ở trỏng. Tao hỏi mầy, giả dụ nó nằm ém trên máng xối thì sao? Với lại biết đâu nhà nó còn dấu súng ống?

Tôi nói:

- Chuyện đó để cơ sở địa phương ở đây lo. Mà chắc chắn mấy ảnh xét nhà nó trước khi mình tới rồi. Còn như lão Năm Hổ có chém vè hay không, chắc mấy ảnh cũng đã có bố trí theo dõi, mình cũng khỏi lo luôn. Bây giờ mình lo trở lại nhà Cần, kiếm cơm ăn đặng rồi còn đưa bà má Cần đi về Phước-thạnh!

Đi một đỗi, chợt lính Đó nói:

- Em theo mấy anh hồi chiều tới giờ tính ra mới có vài tiếng đồng hồ ...

- Ừ, rồi sao?

- Mà em rất khoái ...

Tôi hỏi gặng:

- Anh nói khoái là khoái

- Là em thấy mấy anh điệu đời ơn đền oán trả, cái chi mấy anh cũng làm tới mút mùa Lệ-Thủy 1. Như vụ bà già của anh Cần, vụ đòi tiền vợ Năm Hổ ...

- Phải vậy chớ - Lắm hồ hỏi: - Anh đi theo tụi tôi lâu lâu rồi sẽ thấy còn nhiều điều hay lẽ tốt. Làm thân lính ngụy đánh mướn cho Mỹ anh biết rồi đó, toàn là đi gây chuyện bất lương, dẫu anh không muốn làm cũng đâu có được. Còn làm người chiến sĩ giải phóng quân, là làm toàn việc nghĩa, việc nghĩa gắt điệu nhất là đánh Mỹ, ngoài ra có chuyện chi thấy bất công là cũng

kết hợp tính luôn không thể bỏ qua!

- Hổi giờ đi lính cho tụi nó, em cũng biết là mình đi trật đường, ngặt hoàn cảnh bó buộc ...

Tôi vỗ vai lính Đó:

- Thì bây giờ anh đi với tụi tôi là đi trúng đường chắc mẩm rồi đó. Anh phải thấy như tụi tôi đi đây là tự mình đi đánh Mỹ cứu nước, cực khổ không kêu, rủi chết cũng cam. Chớ nếu muốn sướng cái thân, tụi tôi ở nhà cưới vợ lo mần ăn cũng sướng như ai, mà điều tụi tôi không muốn sống như vậy. Ai cũng muốn sướng như vậy thì nước mình mất mà mạng mình rồi cũng không

còn để sướng. Tụi tôi nói ít, chắc anh Đó hiểu nhiều ...

Vài tiếng đồng hồ sau, lính Đó lại vô cùng ngạc nhiên khi thấy tôi bước tới trước mặt bà má Cần, vòng tay thưa:

- Thưa má, bây giờ tụi con xin đưa má về ở tại một xã mình đã giải phóng, về đó yên ổn hơn má à!

Má Tư ngồi im trên chõng, không nói sao cả, nhưng nước mắt tự lòng hố mắt sâu thẳm của má vụt ứa chảy. Thấy má Tư có chiều ưng thuận, tôi vui vẻ phân công: Cần lo gói ghém đồ đạc của má, Khởi vác cây đại liên. Lắm quảy thêm cây trung liên. Tôi lãnh phần cõng má.

Lúc ấy, lính Đó hỏi tôi:

- Còn

- Anh sẽ vác mấy thùng đạn và phụ thêm chút ít đồ đạc cho má!

Lính Đó "dạ" một tiếng, xăng xái đi bê mấy thùng đạn, giành vác đồ cho má Tư.

Sáu người, trong đó có bà má trên lưng tôi, rời Chòm Cây-gáo vào lúc gần nửa đêm. Cô bác ở mấy nhà kế bên thắp đèn, đốt đuốc te tái đưa theo một quãng đường ruộng. Mấy thím mấy cô chạy theo nhét vô ba-lô anh em chúng tôi mấy gói thuốc "Ru-bi" thuốc rê và khô cá bổi. Rồi họ sụt sịt khóc kêu:

- Bà Tư ơi, đi mạnh nhen bà Tư!

- Bà Tư vô ở trỏng chắc khỏe hơn tụi tôi rồi đó!

Ánh đèn đuốc của mấy người ở Chòm Cây-gáo rọi in bóng anh em chúng tôi xuống mặt ruộng. Tôi cõng má Tư, cất những bước dài. Cái cảnh hành quân nầy hồi đó tới giờ chưa hề có. Có lẽ chính vì vậy mà mấy thím lối xóm cứ cầm đèn đứng ngó theo, khóc thút thít mãi cho đến lúc chúng tôi đi khuất mình vào đêm tối.   ( hết chương 32 )
--------------------------------
1   Tên một nữ danh ca vọng cổ Sài-gòn được ái mộ, hễ nghe Lệ-Thủy ca là nghe tới cùng.
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #85 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2011, 08:51:40 pm »

                                   
CHƯƠNG BA MƯƠI BA

Ông Chín, ông nội của Khởi nói:

- Bữa nay, như lời hứa, tao đãi mấy đứa bây một tiệc rượu. Từ rày sắp lên, hễ bất kỳ tụi bây đánh thắng ở đâu về ghé Long-phước đây là tao hứa đãi đều. Tụi bây đừng lo, gà vịt do mẹ thằng Khởi nuôi, lươn rùa tôm cá là của tao đặt lợp đặt trúm, còn rượu thì cũng là rượu tao nấu bằng nếp ruộng nhà...

Ngồi trên bộ ván ngựa, tay ông Chín với tới chộp lấy cổ cái chai lít đựng đầy rượu nếp. Thứ rượu trong veo sủi tăm đó tôi đã ngó thấy và nếm thử trong buổi chiều hành quân ngang đây hồi năm trước, sau trận đụng độ đầu tiên với Mỹ ở đồng Long-tiên. Cũng chính ông già nầy đã rót rượu cho chúng tôi uống giữa đàng, và bảo những giọt rượu đó là: "chút lòng già ông gởi cho chúng tôi ra trận tiền đánh Mỹ". Hôm nay sau những ngày chiến thắng ở Đất-đỏ trở về Long-phước, khẩu đội chúng tôi đến đóng tại nhà Khởi. Tôi thấy vui sướng, thấy lòng ấm áp tợ như về nhà của mình, mặc dù lâu rồi tô không có nhà. Má của Khởi, người đàn bà góa chồng từ thời kháng chiến lần thứ nhứt, hôm nay vui mừng gặp lại con, vui mừng chăm sóc nấu nướng cho chúng tôi tuồng như thím đã hằng mong đợi để làm cái công việc ấy từ lâu lắm. Còn ông nội của Khởi thì rõ là một ông già ham mê chiến trận, ngưỡng mộ bộ đội giải phóng. Suốt ngày ông bảo chúng tôi thuật lại tỉ mỉ cho ông nghe chuyện đánh chác, rồi thì, ông rờ rẫm coi súng. Khi tôi kéo cái bao trùm khẩu đại liên Brô-ninh ra chỉ cho ông thấy khẩu đại liên mang đầy thương tích do bom đạn cào cấu thì ông run run đưa tay sờ coi, mắt sáng rực, chòm râu bạc như dựng dậy. Ông vuốt râu, hạ thấp giọng:

- Dữ thiệt, mình mẩy cây súng bấy hết!

Ông hỏi tôi:

- Như vậy cây súng có hư hại chi không, nó còn bắn hay như trước không?

Tôi thưa với ông rằng cây súng bị trầy trụa như vậy chớ còn tốt lắm, nhưng vì phải đụng trận quá nhiều nên phải thay nòng luôn. Ông hỏi tôi có dự trữ nòng để dành thay không. Tôi nói Mỹ nó dự trữ cho mình dư xài. Nghe vậy, ông già cười khà khà. Giờ đây, sau khi rót rượu đều ra các ly, ông nhấc một ly đưa trước cho tôi:

- Cho phép thằng cháu này uống trước. Tao nghe đám chỉ huy nói trận rồi mầy đánh giỏi, nên tao ban khen cho thằng cháu mầy uống trước. Tao cũng có nghe nói thằng cháu mầy được vô Đảng tại trận. Đó thiệt là vinh dự, nên tao mừng luôn vụ đó. Vô Đảng nào tao không biết, chớ vô Đảng nầy là quý giá lắm, chẳng khác chi bước vô kiểng đền đài sáng rỡ linh thiêng. Trên thế gian chỉ có Đảng nầy là nhứt hạng thôi mà ... Rồi, mần hết ly đi thằng cháu mầy!

Tôi vội vòng tay:

- Con xin kính nội uống trước, rồi thể theo tuổi tác, tụi con sẽ tuần tự ...

Ông già xua tay:

- Không có cái vụ tuổi tác lớn nhỏ ở đây, ở đây tao tính theo công trận mà. Buổi nước có giặc, hễ ai giết được nhiều giặc là có đặng quyền ăn trước uống trước. Thôi, mần đi, thằng cháu mầy!

- Nội nói phải, thôi mần đi anh Quyết!

Khước từ không được, tôi đành nâng ly rượu lên uống. Thứ rượu nếp trong như mắt mèo nầy uống tới đâu thấy bừng bừng tới đó. Ông Chín thò tay quớ con rùa nướng trên dĩa, bẻ đầu, bẻ khúc chân và mình ra, hô hào:

- Thứ nầy phải cầm tay mà ăn. Có muối ớt đó ... Đứa nào muốn ăn lươn um, vịt luộc, cứ việc tự do. Ở miệt ruộng mình, có bây nhiêu dọn ra hết, ăn luôn thể. Mình không phải như Tây, ăn món trước đợi món sau. Khoan, để coi ... Má thằng Khởi ơi, còn thứ gì nữa không đây?

Tiếng má Khởi từ trong bếp vọng ra vui vẻ:

- Còn canh chua nữa ba, con đương nêm ...

- Ờ được, còn có canh chua ... Ủa, còn thằng Khởi, hồi giờ mầy có tật khoái trứng rùa, sao không ăn, thiếu gì đó!

Khởi làm thinh tủm tỉm cười. Quả là trên dĩa có nhiều trứng rùa, hàng chục trứng, vàng đục, lớn cỡ ngón chân cái. Nghe nội mình nhắc, Khởi lượm trứng rùa bỏ vô chén chúng tôi:

- Ăn đi mấy anh, ngon lắm. Nội tôi bắt rùa giỏi lắm, lớp đặt lợp, lớp đốt đồng ...

- Ôi, bây giờ có khi khỏi đốt Khởi à ...

Ông già tợp một hớp rượu, giọng bỗng lạnh lùng:

Mỹ nó liệng bom xăng cháy đồng hoài nên tao khỏi đốt. Bữa nào nó liệng bom, tao xuống chận dưới gió bắt vô số ... Tội nghiệp, bị lửa bom táp tới, rắn rùa chạy đổ xô, nhiều con chạy không kịp bị chết cháy. Ngặt nó cứ chơi cái kiểu đó thì tao trù trong vòng một năm nữa , rùa rắn gì cũng cạn ...

Tuồng như đối với ông Chín, ruộng đồng ngoài sự cho hạt gạo, nó còn là một cái kho vô tận chứa đựng rùa, rắn, trăn và những thức ăn khác mà ông để dành đó, chẳng hạn như trích và trứng của nó; chẳng hạn như chuột, le le, cúm núm và bao loại cá đèn. Tôi ngó nhìn ông Chín, mỗi lúc càng thêm mê thêm khoái vì ông già hợp tánh ý tôi quá. Kể từ dạo gặp ông hồi năm kia cho đến hôm nay về đóng tại nhà ông, tôi thấy cái câu Khởi thốt bảo: "Ông nội của tao ngon lành lắm!" là rất đúng. Ông già ngon lành ở sự tráng kiện cả về thân thể lẫn tinh thần. Tuổi ông đã ngoài bảy mươi nhưng ít khi thấy ông mặc áo. Ngồi nhậu, ông mặc cái quần tiều quá gối phơi tấm lưng trần săn cón cứ gợi tôi sực nghĩ tới một cội tre già đâu đó trên đường làng, thứ tre lâu năm cứng chắc vùng rám bởi lửa mặt trời nung rất nhiều lần trong đó. Nhưng điều đáng để ý nhứt ở ông là tinh thần. Tất cả sự hồ hởi phấn chấn của ông đều hoặc là dính dáng với đồng ruộng bưng đìa, hoặc là sự đánh giặc. Giả ngần ấy tuổi mà ông ham quẩn quanh rờ đạn coi súng và ái mộ chúng tôi hết mức, thậm chí có khi ông quên cả tuổi mình trội hơn tuổi chúng tôi tới bốn năm con giáp mà xóa bỏ tôn ty.
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #86 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2011, 08:53:40 pm »

                      Tiếp theo :


Trong cuộc nhậu, có rượu vào, ông già chợt trẻ lại, trẻ đến độ ông không còn nhớ mình già lão, cứ tính đâu mình cũng cùng trang lứa với chúng tối, hể hả nói chuyện đánh chác vang nhà, đôi lúc cao hứng quá ông ó ré rùm làm như mấy trận đánh trên Đất-đỏ vừa rồi cũng có mặt ông:

- Đ. hỏa, đụng tụi Da Beo hả? Rồi sao? Đại liên xé ra, ừ. Rồi đánh tụi nó té sộn sộn xuống mương ...

Nghe anh em kể cái lúc tôi ôm đại liên bò lỏn vô nhà chị Võ Thị Sáu, ông há miệng, mở tròn mắt, bàn tay đang chụp chai rượu tính rót ông cũng để nguyên theo dõi vì ông quá hồi hộp. Tới chừng nghe xong đoạn đó, tức là lúc tôi đưa đại liên lên bắn vô giữa mặt thằng bắn trung liên núp nơi cửa sổ, thì khoái quá không nén được, ông vụt đưa tay thụi tôi và ngó tôi như ngó một người bấy giờ ông vừa khám phá ra có nhiều sự bí ẩn ly kỳ:

- Đ. hỏa, thằng nầy ghê trời thiệt ta!

Rồi một tay cào sườn, một tay cầm chai rượu định rót nãy giờ, ông rót đầy ly cho tôi:

- Uống đi, thằng cháu mầy xứng đáng được thưởng hai ly một lượt!

Tôi cười nói:

- Cháu không dám uống hai ly đâu, cháu kiến nội một ly.

Ông già cười coi hiền lành, ôm thu chai rượu vào lòng vỗ về:

- Rượu này uống vô bổ mập lắm. Tụi bây cứ tính đi một giạ nếp cái nấu được có vài lít. Nhờ có nó mà tới tuổi nầy tao vẫn còn mạnh khỏe cứng cát như vầy nè, thấy chưa. Uống đi mấy đứa. Còn tao hả, khỏi lo hễ hết là tao rót ...

Ông chỉ Lắm:

- Còn thằng nầy. Nghe nói mầy thổi kèn trận hay lắm mà tao chưa được nghe. Lát nữa thổi tao nghe đặng nhóng thử coi sức già như tao còn nhảy lên xung phong vật cổ thằng Mỹ được không, hé?

Người sau cùng ông Chín đề cặp tới trong bữa rượu là Đó. Ông rót đưa Đó một ly rượu đầy rồi thong thả nói:

- Thằng cháu mầy cũng phải uống riêng một ly rượu để mừng. Mừng là mừng cho cháu. Ngày hôm kia, cháu còn cầm súng cho tụi nó, bữa nay đã theo anh em đi trúng con đường cháu phải đi. Vậy là rất mừng. Cổ nhơn có câu "Lá rụng về cội". Cháu cũng vậy, từ nay cháu đã trở về cội rễ, cháu phải cố gắng theo anh em đái công chuộc tội. Ở sau lưng, có tụi tao cùng bà con làng xóm bảo bọc coi như vững tâm. Thằng cháu mầy thử nghĩ, Mỹ ngụy nhắm có bao bọc lính tráng tụi bây không, có là có bỏ tiền ra phát lương, rồi lùa ra trận chết thằng nào kệ tía thằng đó, không cần. Còn bà con mình đây thì che chở nuôi dưỡng bộ đội hoài hoài. Tao hứa dứt trận chiến nầy rồi tụi bây cứ về đây, bà con tao sẽ lo bề gia thất, lo đất cấy cày ... Bà con mình lo thì chắc chắn hơn tụi Mỹ ngụy nhiều, cháu Đó à!

Lính Đó run tay đón nhận ly rượu. rưng rưng nước mắt. Anh ta không nói gì, không thể nói gì, rón bưng ly rượu ấy hớp từng hớp một.

Vào lúc tiệc tàn, đứa em gái của Khởi mười bốn tuổi đi đâu ngoài xóm về dắt theo Biếc. Mới tới ngõ nhà, nó oang oang:

- Má ơi, tối nay có văn công, mấy chị văn công về ở trên đầu xóm kìa má ơi!

Ông Chín ngó thấy Biếc tưởng là văn công, hỏi đứa cháu:

- Mày dắt một chị về đó hả?

- Dạ không, chị này tới kiếm mấy anh ở nhà mình.

Biếc ngó thấy tôi mặt đỏ lòm thì cười. Biếc mừng rỡ báo với tôi:

- Em mới gặp con Thắm!

- Thiệt hả?

- Nó ở trong đoàn văn công tỉnh về biểu diễn liên hoan mừng chiến thắng với đơn vị mình tối nay. Trời ơi, con nhỏ lớn lắm, anh Quyết gặp nhìn nó không ra đâu.

- Nó có hỏi anh không?

- Có. Hiện giờ nó đương lo sửa soạn biểu diễn, chớ không thì em đã dắt nó lại đây rồi!

Ông Chín vui vẻ hỏi Biếc:

- Con cháu nầy cũng ở cùng đơn vị?

Khởi đáp thay:

- Chị Biếc là thanh niên xung phong cùng đi sát với tụi con đó nội. Hễ tụi con tới đâu là mấy chị nầy tới đó, khiêng thương, tải đạn ... Mấy chị còn vá áo quần cho tụi con nữa ...
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #87 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2011, 08:55:23 pm »

                                 Tiếp theo :

- Vậy à? Má thằng Khởi ơi dọn cơm cho con cháu nó ăn luôn!

Biếc vội thưa:

- Dạ cháu ăn cơm rồi, bữa nay đằng nhà cháu ở cũng đãi tụi cháu dữ quá!

Má Khởi không nghe, níu kéo mời Biếc ăn cơm thêm, nhưng Biếc từ chối. Má Khởi bưng ra một ràng xôi vị kêu chúng tôi và Biếc ăn. Tôi hỏi Biếc:

- Con Thắm nó còn nhớ anh không ?

- Sao không.

- Hai chị em gặp nhau chắc là khóc dữ?

Biếc nhè nhẹ đong đưa bàn chân, cười kể:

- Nó nhào tới ôm em chặt cứng mà em cứ ngỡ là đứa nào. Con nhỏ lớn lên coi ngộ lắm anh à!

Tôi nói:

- Tội nghiệp, hồi đó nó nhỏ xíu, anh còn nhớ tối tối em với nó chui vô bao bố ngủ ...

Cái hồi đó mà tôi nhắc là hồi ở chòi trâu nhà Biện Tư, cách đây những bảy năm, hồi cách mạng còn trong cơn bĩ cực và lũ trẻ chúng tôi đang bị đày đọa. Bảy năm mà tôi thấy dường nó như còn lâu hơn thế. Sự đổi thay giờ đây như đẩy những ngày cơ cực lùi xan nữa.

Những sự biến đổi lại càng thêm rõ rệt vào một vài giờ sau, khi đêm đã xuống trên xóm làng Long-phước và cuộc biểu diễn của đoàn văn công bắt đầu. Tôi ngồi bên cạnh Biếc, dưới cái sân khấu dựng giữa trời, lòng bàng hoàng cứ ngỡ chiêm bao. Con bé Thắm đen đủi, con bé Thắm đèo đuột ngày nào nơi chòi ruộng đầy muỗi đầy khói kia bây giờ đang xuất hiện trên sân khấu, trong một màn múa mang tên "Tình sen đỏ". Trông Thắm xinh quá, uyển chuyển quá. Đó dường như là con Thắm khác, một cô gái đương lớn dậy, miệng cười, mắt cười, môi cười, đôi bàn tay thì chúm lại dịu nhỉu (?) trong lúc gót chân thoắt bước nhẹ nhàng như không chạm đất. Con bé Thắm trong đêm hôm nay là người diễn viên múa của một đoàn văn công cách mạng, nhưng đó đúng là con bé Thắm thiệt, con bé Thắm ngày xưa, ở chòi trâu, ngày xưa ngủ trong bao bố sáng sáng co ro không dám ló đầu ra bởi chòi ở giữa đồng có những sớm tháng một tháng chạp gió bấc về lạnh cắt ruột cắt da.

Tôi ngồi xem Thắm múa mà ngạc nhiên, ngẩn ngơ. Tôi sung sướng cầm lấy bàn tay Biếc bóp mạnh, như thể tới bây giờ mới tin là thiệt. "Tình sen đỏ" là câu chuyện kể lại một tiểu đội chiến sĩ quân giải phóng bị địch vây hãm giữa bưng sen. Cuộc chiến đấu diễn ra. Các bông sen do các cố gái thủ vai, che chở các anh suốt trận đánh, ấp ủ khi các anh bị thương, cho đến khi trận đánh kết thúc thắng lợi, những bông sen xòe cánh cùng các anh chiến sĩ múa hát dập dìu lướt đi lướt lại mỗi lúc một nhanh, qua những xác giặc mặc quần áo rằn ri nằm rải rác dưới chân họ. Điệu múa thu hút người xem đến mức khi tấm màn trên sân khấu từ từ khép lại, người xem nín lặng hồi lâu rồi tiếng vỗ tay nổi lên vang dậy. Các diễn viên đóng vai chiến sĩ giải phóng quân và các nữ diễn viên đóng vai những đóa sen lại hiện ra một lần nữa, cúi rạp mình chào khán giả. Ánh đèn trên sân khấu từ từ nhợt dần rồi vụt tắt, để lát sau lại phựt lên sáng rỡ.

Khi tiết mục đồng ca kế đó sắp sửa bắt đầu, bỗng tôi ngó thấy anh Đấu và các anh trong Ban chỉ huy tiểu đoàn lần lượt rời khỏi bãi xem. Tôi hơi ngạc nhiên, nghĩ bụng chắc các anh ấy có việc gì phải về họp. Màn đồng ca mới sắp sửa bắt đầu thì có tiếng còi báo động máy bay thổi. Đèn lại tắt. Một chiếc B.57 ầm ầm lao vút ngang. Từ đó cho đến khi buổi biểu diễn kết thúc, chiếc B.57 đó còn liên tiếp cắt qua vòm trời xã Long-phước mấy lượt nữa. Biếc bảo tôi:

- Tụi nó bay coi kỳ quá anh?

Tôi gật đầu:

- Ừ, coi mòi nó đương tính chuyện chi với mình đây!

Nhưng cả hai đứa tôi đều quên phứt hành động bay đêm mờ ám của chiếc B.57, vì sau đó chúng tôi gặp Thắm. Biểu diễn xong, Thắm chạy ra. Gặp tôi, Thắm ngó sững một chốc rồi kêu lớn: "Anh Quyết!" và nhào tới ôm chầm lấy tôi mà khóc như một đứa trẻ. ( hết chương 33 )
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #88 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2011, 08:01:28 pm »

                                 
CHƯƠNG BA MƯƠI BỐN

Hôm sau, máy bay trinh sát địch quần khu vực rất rộng rồi quần siết xã Long-phước. Từ sáng cho tới lúc chiều tối hầu như lúc nào cũng có tiếng tì ti của con đầm già. Lúc thì thấy như nó bay vẩn vơ ở đâu đâu, lúc lại thấy nó rề tới, tè tè trên ruộng lúa vừa gặt phơi đầy gốc rạ. Bà con ở Long-phước thù con đầm già chuyên đi dòm dỏ soi mói, nên phát ra nhiều câu nguyền rủa hăm he. Nào là "Bắt được thằng Mỹ ngồi trên đầm già, nhất định tôi đem nó vụt xuống bàu, cho đỉa cắn!", hoặc "Tao mà chộp được nó là tao bắt đem căng tay căng chân phơi nắng suốt ngày!". Nhiều người réo kêu du kích bộ đội: "Đem súng ra xạ nó như xạ mỏ nhác đi, để nó rà rê coi nhức con mắt quá!". Nhưng dù cho bà con có thôi thúc đốc lói bắn con đầm già, cũng chẳng có tiếng súng nào bắn lên. Du kích mọi bữa cũng có bắn mà bữa nay êm ru. Còn chúng tôi thì lại càng không động tĩnh gì.

Mặc cho ai bực bội chưởi bới con đầm già, ông Chín hôm nay tỉnh bơ. Ông già cứ việc vuốt râu cười tủm tỉm. Ông châm trà, ngồi trên bộ ván ngựa kêu anh em chúng tôi uống. Tới trưa ăn cơm, ông lại bày rượu ra. Thấy vậy tôi thay mặt anh em từ chối. Thì ông già nói:

- Tao biết rồi, tao biết tại sao bữa nay tụi bây không dám nhậu rồi. Nên tao đâu có ép uống nhiều, mỗi đứa một ly thôi. Uống bấy nhiêu thì không can hại gì.

Nể lời ông Chín, chúng tôi uống vài hớp rượu trước bữa cơm chớ không dám uống nhiều. Hồi đêm, sau khi đi coi văn công về, tôi được mời lên đại đội họp, nghe phổ biến địch sắp càn lớn vào đây, và lần nầy cả tiểu đoàn sẽ đánh càn, lấy chính càn nầy mà tiêu hao sinh lực địch. Lực lượng càn quét của địch lần nầy lại là bọn Mỹ "Anh Cả Đỏ". Lúc nghe tin, anh em trong khẩu đội tôi đều la lên: "Nữa rồi lại "Anh Cả Đỏ" nữa rồi! Lần trước mình hốt giò nó ở gần đây, bữa nay coi bộ nó tính quyết tử trả thù mình hay sao?". Mặc dù sau đó, anh em chúng tôi không ai hé ra câu gì, nhưng ông Chín vẫn biết. Chuyện nầy cũng là lẽ tự nhiên. Bởi những động tác chuẩn bị của chúng tôi như: hội ý, kiểm tra đạn, lau súng là khó dấu ông già. Hơn nữa đó lại là một ông già ham mê trận mạc, nên ông càng thính lắm. Nhưng có điều ông Chín biết mà giả bộ như không biết gì. Nghĩa là ông vẫn như thường, vẫn bình thường, trừ đôi thái độ nếu tinh ý thì mới có thể nhận ra được. Đó là lúc ông cười tủm một mình, khẽ vuốt chòm râu bạc. Hay như trong bữa ăn trưa nay, ông tỏ ra săn sóc miếng ăn cho chúng tôi một cách đặc biệt. Hết gắp cá nướng bỏ vô chén tôi, ông lại gắp đùm lòng cá nấu chua béo lự ép Cần, Lắm ăn. Kể cả Khởi, ông cũng nhắc:

- Ăn đi con, ăn mạnh vô đặng có sức mà đụng với tụi nó. Tao nghe nói thằng Mỹ bự con lắm, thằng nào thằng nấy cao thước tám đổ lên. Nên chi mấy đứa bây phải ăn uống có sức mới hạ nó được. Tao không nói chuyện súng đạn. Súng nổ đạn bay thì thằng Mỹ bự bằng con trâu cũng té, ngặt phải đánh xáp lá cà thì sao? Phải đâm lê phải vật lộn với nó thì tụi bây phải có sức mạnh. Lúc ở rừng ở núi tao không tính, chớ về đây, tao với bà con chịu trách nhiệm nuôi thúc ...

Ngồi ăn cơm, tôi nghe ông Chín nói mà giựt mình nhớ lại hồi khuya mấy anh Ban chỉ huy cũng có dặn:

"Lần này có thể Mỹ nó xuống đông, diện tích trận địa lại không rộng, chắc sẽ xảy ra đánh gần, cho nên tiểu đoàn thông báo cho tất cả các chiến sĩ nhất thiết phải chuẩn bị lê!".

Sau cơm trưa, đại đội lại triệu tập tôi lên phổ biến tình hình địch. Lúc về, anh em xúm lại hỏi có gì mới không. Tôi nói:

- Ban chỉ huy xác định là cuộc càn của Mỹ vào khu vực này coi như chắc chắn. Tin kỹ thuật báo chánh thức ý đồ địch muốn kiếm tiểu đoàn ta. Anh Ba Đấu nói cuộc càn này nằm trong chiến thuật tìm diệt, còn anh Sáu Dũng thì bảo là nó xài "chưởng" mới. Tao quên hỏi "chưởng" là gì?

Lắm cười giảng giải:

- Chưởng là miếng võ chớ gì. Ở Sài-gòn bây giờ người ta hay kêu vậy, kêu theo kiểu Đài-lo

- Ờ, té ra vậy đó. Thôi, để tao hỏi tiếp ...

- Khoan. Lắm hỏi: "Như vậy nghĩa là nó chơi chưởng tìm diệt mà mình chấp chưởng phải không?".

- Mầy nói chấp chưởng là sao?

- Là mình nhận chiến?

- Ừ. Nhưng không phải để nó tìm gặp rồi tiêu diệt mình, mà mình hứng nó, hốt nó hiểu chưa?

- Hiểu ...

Tôi tiếp tục:

- Giờ xin phổ biến mấy khẩu hiệu, anh em mình tự viết lấy để gài lên nón, coi đó như là quyết tâm thơ.

- Có ghi liền không?

- Ghi chớ, ghi rồi viết luôn!

Đợi anh em lấy giấy bút ra xong, tôi đọc:

- Khẩu hiệu thứ nhất "Quyết nhuộm lê bằng máu Mỹ, báo thù nhà đền hận nước!" Viết đi!

- Rồi!

- Khẩu hiệu thứ hai "Quyết lấy thây giặc Mỹ bón ruộng đồng Long-phước thêm tươi tốt" ... Rồi chưa?

- Rồi!

- Xin nhắc lại, anh em mình viết trên mảnh giấy nhỏ, cất sẵn, tới chừng đó sẽ gài hoặc dán lên nón. Nè, nhớ đừng làm rùm.

Cần cười:

- Làm rùm với không làm rùm gì ông nội ở nhà cũng hay hết trơn rồi!

- Nội có hỏi chi không?

- Không hỏi, nhưng nội

Tôi ngó khắp nhà thấy vắng ông Chín, liền hỏi Khơi:

- Nội đâu rồi mầy?

- Nội với má tôi đi nộp chông. Mới có lịnh xã đội tập trung chông từng nhà lại ...

Tôi vui vẻ bảo anh em:

- Thấy chưa, ở xã đã phối hợp với mình liền rồi đó. Trận nầy mình phải đánh sao cho ngon, cho khỏi phụ lòng bà con cô bác ...

Lắm hỏi tôi:

- Mấy ảnh có phổ biến rõ quân số địch càn chừng bao nhiêu không?

- Áng chừng cỡ hai trung đoàn, vì một phần lực lượng của sư đoàn Mỹ nầy hiện đương kẹt ở Xuân-lộc.

- Rõ!

Lắm đáp rồi đứng lên, với lấy túi kèn treo nơi cột nhà mở túi lôi cây kèn ra. Lắm hoa kèn lên mấy cái hệt như động tác của một lính kèn nghề. Cây kèn Mỹ làm bằng loại hợp kim trắng đó hắt lên mái lá ánh sáng loang loáng. Trên thân kèn, lá cờ Mặt trận kiểu đuôi nheo do Biếc thêu tặng giờ đã hơi bạc màu, phần phật xoay tít theo vòng tay vung của Lắm. Sau khi biểu diễn vài đường điệu nghệ, Lắm đem kèn đi lau. Chúng tôi cũng bảo nhau đổ đạn trong thùng ra, rà coi từng viên. Thói quen của tôi lâu nay đã làm cho Khởi, Cần cũng quen theo. Bất kỳ trước một trận đánh nào, tôi cũng coi lại đạn thiệt kỹ. Do kinh nghiệm, nên ngó viên đạn là tôi biết nó chắc hay lép. Tôi thường nói với anh em: "Ra trận, hễ mình bóp cò là đạn phải nổ không được lép!".

Thấy cái nòng đại liên bắn lâu đã rêm, tôi tháo ra coi, và quyết định thay nòng mới. Tôi nói với Đó đang ngồi bên:

- Anh có biết tôi thay cái nòng thứ mấy đây không?

Đó dòm tôi lắc đầu. Gắn cái nòng mới vô rồi, tôi nói:

- Cái thứ bảy rồi!

Đó le

- Bắn dữ quá!

Tôi gật đầu:

- Ờ, bắn dữ vậy mà còn chưa ăn nhằm gì đó anh. Tôi tính nếu bắn tới mút mùa, không biết còn phải thay mấy cái nòng nữa. Lính tụi nó đông quá. Tụi ngụy đã đông mà Mỹ còn kéo qua cả mấy chục vạn nữa, bắn hoài không hết. Phải chi anh em mình đừng theo Mỹ thì đánh Mỹ mau hơn ...

Câu nói sau của tôi vô tình khiến Đó ngồi im gãi đầu coi bộ bứt rứt. Lâu sau, anh bảo tôi:

- Thì bây giờ em theo mấy anh đặng đánh Mỹ cho lẹ. Không biết kỳ này em có được theo mấy anh không?

- Được, đáng lẽ anh phải đi học nhưng tôi có hỏi cấp trên rồi, mấy ảnh đồng ý trận này cho anh đi. Anh Đó mới trở về với cách mạng mà được cho ra trận liền là ưu tiên lắm. Chẳng qua cách mạng thấy anh cũng là do khổ cực bị ép phải đi lính, nên có sự chiếu cố, chớ mấy thằng tụi tôi nắm biết là ác ôn đều đã đi cải tạo. Từ nay anh cần cố gắng lập công chuộc tội, phần tụi tôi sẽ hết sức giúp đỡ. Súng ống thì anh đã có cầm rồi, còn như sự đánh Mỹ, tôi chỉ nói vắn tắt là ...

Nói tới đây cũng vừa lúc ráp xong súng tôi chụp cái giẻ lau chùi tay đi tới đi lui:

- Tôi hỏi anh một câu nghen, tại sao Mỹ nó ở tít mù đâu đâu mà cớ sao nó đem quân đem máy bay tàu chiến qua đánh mình?

- Thì tại mình đánh đổ ông Diệm, ông Khánh, đánh đổ Việt Nam Cộng Hòa.

- Cái anh nầy cứ kêu mấy thằng tay sai bán nước đó bằng ông nghe chướng lỗ tai quá. Kêu bằng thằng, không có ông iếc gì hết: thằng Diệm, thằng Nhu, thằng Khánh ...

- Dà dà. Tại tôi còn quen miệng, bậy quá!

Tôi tiếp:

- Việt Nam Cộng Hòa là cái gì? Là đống cứt, là cái mặt mẹt tay sai do Mỹ chế ra đặng xí gạt bà con mình, chớ không lẽ Mỹ chường mặt ra lập chánh phủ. Mỹ mà chường mặt làm vụ đó thì người ta ỉa vô mặt nó. Nhưng dẫu nó bày ra Việt Nam Cộng Hòa thì bà con mình cũng ỉa vô cái Việt Nam Cộng Hòa đó luôn, tại vì Việt Nam Cộng Hòa là tay sai bám đít Mỹ, tám chín năm nay rước Mỹ vô giết hại phá phách nước mình tàn mạt. Còn tại sao tụi tay sai đó quyết theo mỹ phá hại bà con, phá hại cách mạng. Dễ hiểu quá anh Đó à, là tại vì tụi đó giàu gắt củ kiệu, nó muốn bóc lột, muốn ăn trên ngồi trốc, muốn làm giàu hoài, mặc kệ bà con mình cực khổ chết chóc lãnh bom lãnh đạn Mỹ ra sao thì ra. Tụi đó không có nhiều, nhưng nó muốn chơi cha, bắt bà con mình làm mọi cho Mỹ, để nó ngồi hưởng sang giàu mập ú hoài hoài... Mấy anh đi lính, nó lấy tiền Mỹ phát cho một tháng vài ngàn, là để mấy anh đi đánh lại cách mạng cho nó ngồi yên hưởng lạc, hút xách chơi bời, vì cách mạng mình cương quyết không cho nó chơi cái kiểu đó! Cách mạng mình cũng cương quyết không cho thằng Mỹ ở xứ mình, nhất định phải tống cổ nó đi. Nói thiệt, còn thằng Mỹ thì nước mình ít năm nữa chỉ còn là bãi bom ... Tôi nói sơ qua vậy, anh Đó hiểu chưa. Sau trận này, anh phải học, chừng đó sẽ rõ thêm!
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #89 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2011, 08:09:31 pm »

                                Tiếp theo :

Sẵn trớn, tôi nói luôn một thôi. Là vì thấy anh Đó còn ngu ngơ quá nên cố nói sao cho anh vỡ lẽ, cộng thêm vào đấy là sự phẫn nộ. Tôi nói như nguyền rủa, như chửi tụi tay sai mà vẫn chưa hả. Rồi tôi tự trỏ vô ngực mình:

- Tụi nó xí gạt mấy anh chớ xí gạt tôi không nổi. Ba má tôi đều bị tụi nó mổ bụng ...

Anh Đó ngó sững tôi, có ý muốn hỏi mà không dám hỏi. Tôi kể cho anh nghe sơ qua cảnh chết của ba má tôi cảnh đi ở đợ và trốn theo bộ đội, rồi nhìn anh bảo:

- Đi đây, tôi tính hễ có đâm tụi nó là đâm lút dao, hễ có bắn là bắn thiệt trúng. Nói thiệt, bữa chiều tụi tôi chặn mấy anh ở vườn chuối, thiếu chút nữa là tôi xổ đại liên bắn chết hết mấy anh rồi, may mà tôi nghĩ kịp. Tôi nghĩ là nghĩ trong số mấy anh có nhiều người bị lừa gạt, với lại nhờ bữa đó trời chưa tối, tôi còn ngó thấy mặt mấy anh sao không giống tụi ăn trên ngồi trốc. Thiệt mà, cái bản mặt tụi ăn trên ngồi trốc không giống mặt mấy anh đâu ... Mặt tụi đó trắng, mập có nọng, chớ đâu có đen đúa táp nắng như mặt mấy anh. Mặt mấy anh cũng như mặt tụi tôi thôi ...

Tới lượt anh Đó bồn chồn, rọ rạy. Những lời tôi nói tuy không mắng mỏ nhiếc móc gì anh, nhưng coi mòi anh đau thấm. Mới biết, có những anh đã đầu hàng, đã theo về với cách mạng mà vẫn còn u u mê mê, như ngủ dậy chưa tỉnh. Thành ra tôi nói xé ra, nói như dội nước lạnh vô gáy anh Đó cho anh tỉnh hẳn.

Tôi hỏ

- Ban chỉ huy đã cho anh nhập vô khẩu đội tôi, vậy mai mốt đụng trận anh nhắm làm gì được?

- Tôi làm gì cũng được. Thôi cứ để tôi vác đạn, tiếp đạn cho mấy anh bắn!

- Ừ, thôi anh phụ vác đạn với anh em nghe. Rồi anh sẽ bắn, anh đã từng bắn cây đại liên này chưa?

- Tôi bắn được, mà không nghề. Tôi quen bắn cây Ga-răng.

Lối xế chiều, ông Chín về tới. Ngó thấy anh em chúng tôi vẫn còn ở nhà đủ thì ông mừng rỡ nói:

- Tưởng tụi bay dời đi rồi chớ. Tao với mẹ thằng Khởi đi xuống chông tới bây giờ mới dứt. Trận này, cho ba thằng Mỹ biết mùi chông cau nghe!

Ông già vẫn ở trần, mặc cái quần tiều quá gối, đầu buộc khăn xước. Tấm lưng trần của ông hãy còn nhễ nhại mồ hôi, và mồ hôi tuôn chảy cũng đã làm bộ râu bạc của ông loang loáng ướt.

Trời vừa sáng, quân Mỹ đã đổ xuống ngay.

Đứng ở ven đồng Long-phước, chúng tôi có thể trông thấy từng bầy trực thăng sà xuống cặp con lộ, thả lính và thả các khẩu pháo. Trực thăng đổ lính là loại HU.1B có biệt hiệu là cán gáo hoặc thập ác. Những chiếc "Xi- nốc" to lớn một mình kè dưới bụng hai khẩu pháo loại 105 và 155 mi-li-mét, xa trông như một con quái vật đang quặp tha mấy con mồi vừa bắt được mà bay gầm gừ giữa chốn thinh không. Trong khi các đợt xuống quân hãy còn tiếp tục, trong khi các cánh quạt máy trực thăng hãy còn lấp loáng xoáy tít dưới ánh mặt trời mới dậy, thì đã nghe nẩy bật lên những tiếng nổ "đề-pa" của pháo. Bọn pháo binh được thả xuống trước, chân vừa chạm đất thì chỉ một chốc sau chúng đã nạp đạn bắn tỏa xung quanh, chỉ chừa lại khu vực quân Mỹ đang tiến. Tiểu đoàn chúng tôi nằm đúng hướng tiến quân của chúng. Đại đội 2 được lệnh vận động ra hướng lộ chận đánh các mũi địch đang tiến vào, gặp đâu đánh đó. Tôi nháy mắt, nói với anh em C2:

- Mấy anh cứ ra, hễ quá căng thì kêu tụi tôi ra xé nó!

Không đầy mười lăm phút sau, tôi nghe súng nổ ran ở trường Bắc Long-phước. Tôi biết là đã đụng địch. Anh Dũng lo lắng nói với anh Đấu:

- Cha, văn công đang ở xóm đó, nguy quá!

Tôi nghe rất nóng ruột. Anh Đấu đứng im nghe súng:

- Anh chị em văn công tỉnh, cả đoàn chỉ có năm ba cây súng, không thể phó mặc anh chị em. Thôi, em Quyết đưa đại liên ra đó đi!

Khẩu đội chúng tôi cặp vườn chạy về phía tiếng súng nổ mỗi lúc một tăng. Pháo địch bắn dữ dội hơn, nhưng không có một trái nào rơi vào khu vực đã bắt đầu đụng độ. Khẩu đội tôi vừa lọt sang tới vườn mít, thì ngó ra cánh đồng giáp vườn thấy quân Mỹ đông nghịt, đang chạy ùa vô. Lắm vừa thở vừa nói:

- Coi chừng nó vô bắt sống anh em đoàn văn công nghe!

Câu nói của Lắm khiến tôi càng đâm lo. Nhớ lại đêm hôm kia, anh chị em trong đoàn đã biểu diễn hết mình cho chúng tôi xem, và tôi nghĩ tới Thắm, đứa em gái xinh tươi dễ thương kia. Chúng tôi quyết cho bọn Mỹ bắt được Thắm và các anh chị khác. Bây giờ sao tôi thấy hết sức là quý những lời ca điệu múa của các chị ấy hơn cả mọi lúc. Trong giờ phút này, mọi tiết mục của đêm trình diễn lại hiện ra, những bước chân những đôi bàn tay dịu dặt lại hiện ra. Nhưng sân khấu không còn nữa, chỉ có tiếng súng rộ lên. Phần của các anh chị trình diễn đã xong, bây giờ tới phần của chúng tôi.

Quân Mỹ năm nay không còn dò dẫm nữa. Chúng chạy trên đất đồng cũng quen thạo hơn. Chưa có bao giờ chúng đến nhanh và sát kề như hôm nay. Tôi ngó thấy rõ từng thằng Mỹ trắng, Mỹ đen. Đã ngó thấy sát trước mặt những nón sắt bọc vải, súng AR15 báng nhựa đen bóng, giầy trận cao cổ nện cồm cộp trên ruộng rạ khô nẻ. Bọn Mỹ chừng sáu bảy chục tên đang lom khom chạy qua một quãng trống chỉ còn trơ lại những bụi rạ giống những cây chổi dựng ngược. Trong khi đợi chúng tới gần hơn chút nữa, tôi tiếp tục quan sát các bộ mặt râu ria rậm rì, các bộ mặt đen bóng nhe răng trắng nhởn, các bộ mặt hồng hào giương những đôi mắt như trẻ nhỏ coi rất ngộ.

Bọn Mỹ vừa chạy xáp vô vừa bắn. Súng Mỹ bắn nổ nghe không lớn, AR15 nó tẹt tẹt, cả đại liên đuôi cá nổ nghe cũng không căng. Lúc chúng chỉ còn nhảy năm ba cái nhảy nữa là tới mé vườn, tôi liền bắn chúng. Thiệt không gì rùng rợn cho bằng kẻ bị bắn gần, nhất là những đứa chưa trúng đạn. Những tên Mỹ nào đã chết thì chết rất ngọt. Nguyên cái đơn vị tiền tiến Mỹ ấy chỉ chạy tháo trở ra đồng được trên chục tên, còn bao nhiêu đều nằm xuống, tay chúng như còn ráng với vô vườn mít.

Tôi vội xách súng nhổm dậy la:

- Anh em mình ra ruộng hết, nằm then vô thây tụi nó!

Tất cả chúng tôi đều vọt ra ruộng, nằm sát bên những tên Mỹ chết tay chân còn nóng hổi. Bấy giờ cánh trắc vệ Mỹ lập tức ghim ngang vô. Cùng một lúc bọn Mỹ bắn súng cối ngồi thụp xuống đồng bỏ trái lia lịa. Đạn cối địch vạch nhiều đường khói hình cầu vồng, bay vô vườn. Đại liên của chúng cũng bắn như mưa. Tôi đang nã súng vào bọn trắc vệ thì súng hết đạn. Khởi lẹ làng kéo giây đạn trong thùng đạn mở sẵn lắp vào ngay. Nhưng khi tôi vừa miết cò bắn tiếp, bỗng thấy Khởi bên cạnh nhổm giật người. Hai tay Khởi đưa lên ôm lấy ngực. Cần nhoài tới ôm xốc Khởi. Máu ướt đầm ngực và lưng Khởi. Một viên đạn đã xuyên trở qua tấm thân chắc nịch đó. Tôi vẫn bắn không dám ngừng tay. Mãi tới lúc bọn Mỹ dạt lại, Khởi vẫn chưa chết. Nó đưa mắt nhìn từng anh em trong khẩu đội. Cặp mắt nó cố hết sức để nhìn, như ráng nhớ, ráng đem theo mãi mãi hình ảnh anh em chúng tôi. Cặp mắt đó còn nhìn một lần nữa khắp ruộng khắp vườn nhìn về hướng nhà, rồi ngó lên bàu trời xanh có mây trắng mỏng bay qua rất mau. Cuối cùng, Khởi gắng đưa tay rờ chạm người tôi nói chậm nhưng tỉnh táo:

- Thôi ... mấy anh ... ở lại. Đem tôi ... về ... chỗ cây ổi nhà tôi!

Tôi buông súng, day qua đỡ lấy Khởi trên tay. Khởi nhìn tôi trìu mến và mắm môi, rồi giẫy nhẹ một cái, ngoẹo đầu vào vai tôi. Lúc đó lối chừng chín giờ. Tôi đặt Khởi nằm xuống ruộng, chỗ đất phẳng nhất và nói:

- Mình để Khởi nằm tạm đây, rồi sẽ đưa về. Tụi nó chắc còn tấn công vô nhiều đợt, anh em mình phải chịu chân ở đây, ráng diệt tụi nó cho nhiều như khẩu hiệu mình đã nêu!

- Đồng ý, phải lấy thây nó bón đồng, phải trả thù cho thằng Khởi!

Thấy tất cả anh em đều vững, tôi rất phấn chấn. Phải công nhận Đó rất khá. Mới qua hai đợt phản xung phong, anh lính vừa theo về với chánh nghĩa nầy đã tỏ rõ quyết tâm lập công chuộc tội. Mang trên mình bốn thùng đạn, anh vọt nhanh như sóc, bám sát chúng tôi.

Lát sau, trung đội ba của anh Bảy tới mé vườn. Cùng đi với trung đội anh có tiểu đội thanh niên xung phong của Biếc. Thấy chúng tôi ra ngoài đồng, bên cạnh đầy xác Mỹ các anh và các cô vỗ tay hoan hô. Tôi dơ tay vẫy Anh Bảy với tốp Biếc chạy ra. Đến nơi, ngó thấy xác Khởi ai cũng lặng người. Anh Bảy chắc lưỡi:

- Tiếc thằng nhỏ quá. Kiếm được lính như nó không phải dễ. Nó chết như vậy đẹp lắm, được chiến đấu được hy sinh tại chính quê nhà!

Biếc đến bên tôi, mắt đỏ hoe:

- Tụi em đưa anh Khởi về nghe anh?

Tôi gật đầu:

- Ừ, mấy em đưa Khởi về, nhưng để nó tụi anh về chôn. Trước khi chết, nó có dặn ... chôn nó ở cây ổi nhà nó!

Nói tới đó, tôi bỗng đau lòng nghĩ tới má Khởi, ông nội Khởi. Ông già ấy cưng cháu lắm. Ông sẽ ra sao khi thấy khiêng Khởi về, khi nhìn lại đứa cháu mà chỉ mới chiều qua hãy còn ngồi ăn cơm cùng ông, và ông đã gắp những miếng ngon cho nó. Còn má của Khởi, người mẹ mấy bữa nay rất vui vẻ vì con về đóng tại nhà, nay sẽ ra sao?

Biếc cùng với hai cô khác nâng Khởi đặt lên võng bằng những động tác nhanh nhẹn nhưng nhẹ nhàng thận trọng. Các cô đã quen với công việc ấy, đặc biệt sự trân trọng những thân xác ấy. Biếc đưa tay dịu dàng vuốt mắt, vuốt tóc, vuốt lại bộ quân phục vải thô nhuộm màu khói của Khởi không kể gì máu me ướt dính đôi tay.

Biếc và các cô cáng Khởi đi rồi, anh Bảy bảo tôi:

- Anh Đấu biểu tao truyền lịnh cho khẩu đội chú mầy bám diệt địch ở đây cho tới khi có lịnh mới. Tụi tao giờ phải lên trên kia, bữa nay ven đồng nào cũng có Mỹ tràn vô, chỗ nào cũng phải căng tụi nó ra!

Tôi nói:

- Lịnh đó tôi xin lãnh!

Anh Bảy hộc tốc trở vô vườn, dắt trung đội của anh chạy luồn qua khu vườn bấy giờ đạn cối 60, 81 đang nổ ầm ầm, Trung đội anh Bảy vừa đi khỏi thì có hai chiếc "ép" lên, đảo một vòng, rồi đánh bom. Nhưng mấy chiếc "ép" nầy chỉ đánh vào vườn, trong khi chúng tôi lại ở ngoài ruộng. Bốn anh em chúng tôi nằm giữa bọn Mỹ chết và bọn Mỹ tử thương sắp chết còn oằn oại chút ít. Để chuẩn bị đón đợt tấn công mới của địch, tôi kêu anh em lục lấy bia hộp trong các túi quần, trong ba-lô của bọn Mỹ chết đem ra khui uống. Riêng tôi vớ được rất nhiều thuốc lá thơm. Thứ thuốc năm điếu một tấp, có kèm cả diêm. Đủ các loại: Pan-mơn, Ca-men, Lúc ky v.v ... Uống hai lon bia đã khát rồi, tôi hút thuốc. Thuốc lá của chúng thơm thì có thơm, nhưng lạt, chỉ có loại Ca-men in hình con lạc đà là còn đậm đà. Lắm thì rất khoái chí:

- Tao hút mấy thứ này vừa cỡ lắm, thiệt là ngồi buồn lại gặp chiếu manh. Nè, mình hút bao nhiêu còn lại gom về cho tụi nó hút!
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM