Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 10:26:40 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đứa con của đất  (Đọc 67354 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #60 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2011, 11:11:06 pm »

                                     
CHƯƠNG HAI MƯƠI LĂM

Tôi được lệnh gọi đi học lớp xạ thủ đại liên ngay khi tiểu đoàn tôi vẫn còn ở miệt dưới biển. Khi tôi theo đường giây giao liên về tới quân khu thì lớp huấn luyện xạ thủ đại liên đã khai giảng mất mấy hôm. Ngay khi tôi mới tới, anh Chín phụ trách lớp đồng thời là huấn luyện viên đã đến kiếm tôi:

- Đồng chí là đồng chí Quyết ở 445 phải không?

- Dạ phải.

Anh Chín nói:

- Nghe đồng chí mới tới, tôi lại thăm. Sao lại đi trễ vậy?

- Dạ tiểu đoàn em đương đánh hốt tụi địch dọc biển. Nhận được lịnh đi học, em lên đường ngay, đi ngày đi đêm mà không kịp. Từ dưới đó về tới đây xa quá!

Anh Chín vỡ lẽ, vui vẻ nói:

- Té ra vậy. Thôi được, cũng không sao, chỉ mới vô học phần đầu.

Tôi vừa mừng vừa lo:

- Em chỉ sợ học theo không kịp mấy anh lên trước.

- Em đã bắn đại liên?

- Em bắn rồi!

- Bắn đại liên gì?

- Đại liên lấy của Mỹ, kêu bằng cây Brô-ninh.

- Cây đó tốt. Mà em bắn đã lâu chưa?

Tôi ấp úng đáp:

- Em mới bắn thôi, chưa được một tháng.

- Nhưng đã được bao nhiêu trận?

Tôi nhẩm tính rồi đáp:

- Lớn nhỏ tất cả mười một trận.

- Tiểu đoàn em đánh dữ quá, chưa đầy một tháng mà đánh mười một trận. Vậy là khá lắm. Trận lớn nhất là trận nào?

- Trận đánh với tụi sư số Một Đỏ ở đồng Long-tiên.

Anh Chín kêu lên:

- Vậy à, vậy là có được đụng Mỹ rồi. Trong trận đó em bắn hạ được nhiều không?

- Chừng vài chục.

Anh Chín nghe nói thì đứng lên khỏi ghế, đi tới đi lui:

- Tôi về đây muốn ra trận mà không được, phải lãnh cái nghề huấn luyện. Nghe các cậu đánh chác tôi nôn trong bụng quá!

- Thì huấn luyện mãn một "cua", anh Chín xin ra trận?

- Khổ cái là bây giờ bộ đội mình đương nở nồi.

dứt "cua" này là liền "cua" khác rồi.

- Một "cua" mình học bao lâu anh?

- Chừng một tháng thôi.

- Được đơn vị cho đi học em mừng lắm, nhưng đi lâu em cũng nôn lắm. Thế nào ở nhà cũng đánh tới tấp, D em ít khi rảnh tay.

- Đã đành vậy rồi, nhưng học hành về em sẽ đánh tốt hơn!

Tôi gật đầu, làm thinh. Anh Chín cứ dòm tôi, có vẻ như khám phá ra nơi tôi cái gì đó lý thú, hấp dẫn anh lắm. Ngược lại, tôi cũng để ý thấy nơi người huấn luyện viên này có vẻ là lạ. Anh trạc băm tám, tóc đã có nhiều sợi bạc, có vẻ như một người từ xa mới trở lại quê hương. Đôi mắt anh nhìn tôi, nhìn cái bàn cái ghế cũng đều toát ra sự háo hức. Rõ ràng anh có thiện cảm với mọi thứ, với trận đánh mà tôi kể cho anh nghe, và với cả súc gỗ bằng lăng có lớp da giống bóng trắng in lỗ chỗ mà khi ngồi nói chuyện, tôi thấy anh cứ rờ rẫm vuốt ve mãi. Đi tới đi lui một lúc, anh hỏi tôi:

- Trước khi bắn cây đại liên Brô-ninh em bắn cây gì?

- Em bắn trung liên, bắn có một lần thôi, mà lại bắn ké với chú Chín Thắng là xạ thủ chánh ...

- Chú Chín Thắng, có phải là người chiến sĩ lớn tuổi nhất đó không?

- Dạ phải, anh cũng biết chú à?

- Không, nhưng tôi có nghe danh người lính già đó. Mà khoan, em nói tiếp cho tôi nghe, lần đó em diệt được mấy thằng?

- Tám, tám thằng bỏ chạy.

Anh Chín nhìn xuống cặp chân tôi phì cười:

- Chắc em chạy giỏi lắm nhỉ?

- Em chạy khá, em mà chịu rượt thì tụi nó chạy không xiết với em đâu!

Anh Chín ngó tôi, cười tủm tỉm. Lát sau, chợt anh đập tay lên vai tôi:

- Thôi tôi biết em rồi, em có phải là Quyết giò không?

Tôi ngớ ra:

- Ủa ...

- Có chi lạ, bây giờ các cậu đánh chác ở mặt trận ra sao thì bà con anh em đều biết hết. Anh mới về chớ anh cũng có nghe ... Giờ tôi muốn hỏi thêm, từ trước tới nay có ai dạy em bắn đại liên không?

- Dạ có, anh Bé dạy em một bữa.

- Dạy trong một bữa thôi à?

- Dạ, mấy ảnh nói phải học rút đặng làm liền, chớ Mỹ nó ùa vô đông quá rồi mà mình ở đó học lâu lắc thì đâu kịp chơi với nó!

Nghe tôi nói thế, anh Chín im lặng nhíu mày suy nghĩ. Dường như câu nói ấy của tôi làm cho anh hơi bận tâm. Anh hỏi:

- Thế anh Bé đã chỉ dạy cho em những gì?

- Cách tháo ráp, cách ngắm bắn, cách vận động xung phong, nói tóm là ảnh dạy tụi em có một ngày.

- Rồi ra trận?

- Dạ, rồi ra trận luôn!

Anh Chín bật lên cười khà khà:

- Vậy thì anh Bé đó dạy giỏi lắm!
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #61 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2011, 11:13:37 pm »

                                        Tiếp :

Tôi nghi ngại đưa mắt dò xét, không rõ anh nói thiệt hay chơi. Nhưng tôi vốn có lòng mến phục anh Bé lắm, nên tỏ bày thêm:

- Đó là em nói thiệt. Gấp quá mà anh, dạy bữa trước, qua hai ba bữa sau là đụng với tụi Mỹ liền!

- Không - Anh Chín ngắt lời tôi: - Anh cũng nói thiệt, dạy như anh Bé là giỏi. Trong hoàn cảnh gấp rút, dạy sao kịp bắn Mỹ là giỏi.

Anh Chín nói thế, rồi anh trầm ngâm gõ gõ ngón tay lên mặt bàn tre, lơ đãng nhìn ra khoảng rừng, mà da dẻ của một cây bằng lăng như bệt từng đốm nắng. Không biết nghĩ ngợi gì, lát sau anh hạ thấp giọng nói với tôi mà như nói với chính mình:

- Có lẽ anh cũng sẽ không dạy các em lâu đến một tháng đâu. Các em không thê ở đây lâu được!

Đặt cả hai bàn tay lên vai tôi, anh tiếp:

- Nhưng cũng phải học em à. Không có thời gian thì thôi, có được chút ít thời gian thì phải học. Đánh Mỹ cần phải đánh có bài bản. Bây giờ em hãy nói cho tôi nghe, qua các trận em bắn đại liên, em gặp những khó khăn gì?

Tôi thành thật đáp:

- Những trận tới thì em chưa biết, chớ như qua mấy trận vừa rồi thì báo cáo anh, em thấy không có gì trục trặc. Ví dụ vừa rồi em được đánh phản xung phong, và đánh tụi cố thủ ban đêm, em chỉ thấy đạn địch bắn châu vô tụi em rất dữ. Đánh tụi Mỹ xung phong, em chỉ ngại một điều ...

- Cái gì, tụi nó xung phong ồ ạt lắm hả?

- Không, ồ ạt em không ngán. Em chỉ ngại tụi nó dọn bãi lung tung quá!

- Phải, đó là một thực tế. Đánh với Mỹ, mình phải chấp nhận cái đó. Tôi nghĩ vấn đề công sự chiến đấu là rất quan trọng, phải có công sự tốt. Nhưng ý tôi muốn hỏi là trong việc sử dụng cây đại liên, em có gặp khó khăn gì không?

- Không, bắn cây đại liên em ưng ý lắm. Tụi nó xáp vô đông, mình bắn nước nạp, nó nhào vô không nổi đâu. Còn tụi nó thưa lính, mình tính theo ít, lấy từng phát!

Anh Chín chưng hửng:

- Em nói sao, em nói lẩy cò từng phát?

- Dà, bắn phát một!

Tôi đáp một cách tự nhiên, như một với một là hai.

Khiến anh Chín ngạc nhiên hỏi lại:

- Em nói thiệt hay chơi, em nói em bắn cây đại liên từng phát một được à

- Em bắn lẻ một phát được chớ anh!

- Không có ai bắn được như vậy đâu!

- Thì em bắn hoài thôi mà anh!

- Em nói giỡn, anh chưa tin!

Tôi tự vò đầu, cười khì:

- Em nói thiệt, để bữa nào em bắn cho anh coi!

- Ờ, bữa nào em bắn anh ngó thấy tận mắt anh mới tin.

Anh Chín chưa tin thật. Là vì sau đó anh có kể cho tôi nghe rằng trong cuộc kháng chiến làn trước, một xạ thủ đại liên giỏi nhất trong đơn vị anh cũng chưa hoàn toàn chủ động ngắt loạt đạn ra thành hai phát được. Và anh bảo bản thân anh chỉ có thể chủ động ngắt ba phát.

Thế rồi anh lại nhìn tôi với cái vẻ bán tín bán nghi.

Những ngày sau đó tại khóa học, tôi đã liên tiếp làm cho anh Chín lại phải nhìn tôi với cái nhìn ngạc nhiên như vậy. Buổi sáng đầu tiên tại bãi tập, để tìm hiểu trình độ thao tác chiến đấu của mỗi học viên, anh Chín đứng ra trỏ rặng cây rừng trước mặt mà nói:

- Bây giờ các đồng chí hãy tưởng tượng như giặc đang khom lưng tràn tới. Mỗi đồng chí sẽ lần lượt làm nhiệm vụ xạ thủ cho tất cả xem. Các đồng chí cứ việc làm y như lúc các đồng chí đã chiến đấu ở mặt trận. Hãy coi như đã có giặc trước mặt!

Thế là từng học viên lần lượt bước ra bãi tập. Tại đó đã đặt sẵn một khẩu đại liên, cũng là thứ cây Brô-ninh của tôi. Tôi thấy nhiều anh làm rất đúng bài học, rất đúng yếu lĩnh và thế bắn khiến tôi phát hoảng. Vì tôi luôn luôn cảm thấy nếu tôi làm đúng y như vậy, tôi sẽ trở nên ngượng nghịu và chậm chạp.

Đến lượt tôi là người cuối cùng. Khi anh Chín đưa mắt ra hiệu cho tôi bước ra, tôi rất lúng túng. Chân tôi nửa muốn bước ra, nửa lại ngập ngừng. Anh Chín nhắc:

- Đồng chí Quyết cứ mạnh dạn làm như lúc đồng chí chiến đấu tại mặt trận

Tôi bước ra, còn nói:

- Tôi làm rủi trật, mấy anh đừng cười tội nghiệp tôi nghe!

- Cứ việc làm đi, không có ai cười đâu!

Tôi liền đứng nghiêm, ngẩng lên hỏi anh Chín:

- Thưa đồng chí, tụi giặc nó đương khom lưng chạy tới phải không?

- Phải!

Tức thời tôi bước nhích tới một bước, cúi xuống một tay nhẹ nhàng xách bổng khẩu đại liên lên. Thế rồi tay trái nắm lấy nòng súng như nắm lấy cổ một con vật ấn xuống một chút, đồng thời tôi hạ súng nhoài người rất nhanh. Khi tôi đã ngã xuống, hai ngón tay tôi đã đặt chụm vào cò súng, mặt trái nhắm nghiền lại. Và tôi lia họng súng qua lại, rồi đứng dậy:

- Báo cáo tôi đã bắn xong!

- Đồng chí bắn vào chỗ nào trên người thằng địch?

Anh Chín hỏi.

Tôi đáp quả quyết:

- Tôi cắt ngang bụng nó!
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #62 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2011, 11:16:29 pm »

                                 Tiếp :

Nói ra câu ấy, tôi tin tưởng rằng tôi hoàn toàn có thể cắt ngang bụng địch thật. Tuy nhiên, tôi cũng biết rất rõ là tôi đã làm không giống chút nào với bài học.

Vì đã hứa với tôi, nên anh em không có ai cười cả, nhưng tôi cũng ngó thấy rất nhiều anh cố nén cười. Anh Chín thì nhìn tôi, không cười cũng không nói chi cả nhưng hơi có vẻ bối rối. Đợi anh em học viên giải tán ra về hết, anh giữ tôi lại, bảo tôi làm cái động tác đó một lần nữa cho anh coi. Lần này tôi cũng làm y như thế. Xong rồi tôi ngượng nghịu hỏi:

- Em làm trật hết rồi phải không anh?

- Anh Bé dậy em như vậy à?

- Không, em cũng không làm giống hẳn như anh Bé, nghĩ sao cho lẹ để kịp bắn tụi nó thôi!

- Tại sao em nắm họng súng làm gì?

- Vì anh cho biết tụi địch đương khom lưng chạy tới nên em lấy cỡ bắn ngang bụng.

- Sao không kéo thước ngắm?

Tôi lại lúng túng:

- Tại em không quen. Anh Bé có chỉ, ngặt em không quen, với lại lấy thước ngắm lâu lắc quá. Em cứ nắm họng súng rà đọ mục tiêu với chân là em bắn chắc ăn nhút!

- Làm kiểu đó lần nào em cũng bắn trúng địch chớ?

Tôi gật đầu:

- Dạ bắn trúng!

Anh Chín lại nhìn tôi từ đầu tới chân. Rồi bỗng nhiên anh nhoẻn cười, vỗ nhẹ vào vai tôi:

- Thôi đi ăn cơm! Khóa học càng ngày càng đi sâu vào kỹ thuật. Anh Chín gặp một số vấn đề khó xử. Có một hôm anh tâm sự với chúng tôi rằng nếu chiếu thẳng theo bài bản mà dạy thì dễ thôi. Nhưng anh không muốn thế. Anh bảo rằng sự giáo luyện hiện giờ phải kết họp được cả hai, tức là anh cố gắng làm thế nào cho chúng tôi nắm được những nguyên lý, những kỹ thuật đã được đúc kết một cách khoa học, đồng thời lại không phá vỡ những tập quán đặc biệt có hiệu quả trên chiến trường. Anh nói thời gian và cuộc chiến đấu này không cho phép anh thực hiện chương trình dạy học một cách máy móc. Tôi hiểu những lời anh Chín nói. Sự thiệt trong lớp học, tôi thấy có nhiều người đã sử dụng đại liên khác nhau, với những năng khiếu đặc biệt khác nhau. Chúng tôi có rút được những điều hay của nhau, nhưng cũng có những điều không thể truyền cho nhau được. Đối với tôi, anh Chín vẫn im lặng theo dõi sự học tập của tôi. Anh thận trọng cân nhắc và uốn nắn tôi ở những điểm không thể không uốn nắn. Nhưng có một số điểm anh lờ đi, ví dụ cách lấy mục tiêu theo thói quen, một số tình huống dùng đại liên khiển chế hỏa lực địch ... Về vấn đề đại liên bắn từng phát lẻ anh cũng còn để đó chưa đả động. Nhưng một hôm, tôi vô tình nhắc lại. Đó là vào một buổi chiều anh Chín cho cả lớp thực tập đại liên vận động nhanh. Anh dắt chúng tôi ra một cái trảng rộng ở gần địa điểm lớp học. Chúng tôi được lệnh lần lượt ôm đại liên vượt qua trảng, coi như ở trong tình huống xung phong rượt địch.

Cái trảng rộng tới hai cây số làm cho một số anh thở không ra hơi. Ngồi ở mé trảng bên này; anh Chín chăm chú theo dõi kim đồng hồ. Mỗi lần một chiến sĩ ở bên kia trảng vác đại liên về tới lằn mức là anh Chín xướng lên số phút. Mọi người đã lần lượt chạy qua trảng, chỉ còn tôi là người cuối cùng. Đến lượt, tôi ôm đại liên chạy vùn vụt. Về càng gần tới lằn mức, tôi càng tăng tốc độ, chạy nhanh hơn. Anh Chín tuyên bố tôi về nhứt, chỉ tốn có sáu phút bốn giây. Trong lúc tôi còn ôm đại liên đi rảo rảo, anh Chín cười nói:

- Thôi nhé, kỷ lục môn này thuộc về đồng chí Quyết rồi nhé, có đồng chí nào còn thắc mắc gì không?

Anh em không ai thắc mắc gì cả. Họ nói xin hàng tôi về môn này, nói tôi chạy như vậy nên hèn chi kêu tôi là Quyết giò thiệt phải quá. Giữa lúc anh Chín đã định cho anh em về bỗng tôi ngó thấy một bầy cao cát từ xa bay tới. Tôi liền nói với anh Chín:

- Có bầy cao cát, cho em bắn một phát!

Nhớ lại dự định hôm nào xem tôi bắn đại liên phát một, anh Chín gật ngay: - Ừ, bắn đi, nhưng bắn một phát thôi nhé!

Tôi lên đạn đánh rốp. Nhưng tôi vẫn ôm khẩu đại liên chớ chưa vội đưa lên ngắm bắn. Bầy cao cát chưa hay biết gì, vẫn vỗ cánh bay tới. Đợi chúng vừa trờ tới, tôi vụt xốc khẩu đại liên đưa lên bắn ngay một phát. Một con cao cát từ trên thinh không lìa bầy, xoạc cảnh rơi thẳng xuống. Anh em vỗ tay hoan hô tôi dữ dội. Con chim nặng gần ba ki-lô đó bị viên đạn tôi bắn xuyên giữa ức máu chảy ròng ròng trên đám cỏ khấu. Anh Chín đến bên tôi bảo:

- Anh tin em rồi, giờ thì anh tin em rồi!

Qua hôm sau tập bắn đạn thiệt. Mỗi học viên chúng tôi được bắn ba mươi viên. Nói chung, tất cả đều đạt yêu cầu. Riêng tôi, với ba chục viên đạn, tôi đã cố gắng bắn đổ được hai mươi bốn bia di động. Lúc kiểm lại bia, đạn đều chọc thủng từ khoảng bụng hoặc quá bụng chút ít. Tối đến, anh Chín tìm gặp tôi nói:

- Bây giờ anh mới tin là em có thể cắt ngang bụng địch!

Tôi nói với anh Chín rằng sở dĩ tôi muốn bắn thằng địch ở tầm bụng là vì hồi năm 1957 ba tôi bị tụi nó mổ phanh bụng. Cái cảnh đó tôi nhớ hoài, cả trong khi bắn tôi cũng nhớ và muốn xé phanh bụng chúng ra y như chúng đã mổ bụng ba tôi. Nghe tôi nói, anh Chín ôm chầm lấy tôi. Hôm sau vào lớp, anh đem chuyện đó kể lại cho cả lớp nghe và bảo rằng một viên đạn bắn trúng kẻ thù, ngoài những yếu tố thuộc về khách quan và bản lĩnh xạ kích, còn một yếu tố quyết định là lòng căm thù.

Lòng căm thù sẽ cho chúng ta có được sự bình tĩnh nhìn thẳng vào mặt kẻ thù để lấy được độ ngắm chính xác nhất như đồng chí Quyết đây ... Anh Chín nói rất nhiều về việc đó, nói gần hết một buổi sáng về việc đó.

Nhưng không phải không có lúc tôi đã làm cho anh Chín phải bực mình. Khi khóa học chỉ còn một tuần nữa là mãn, tôi nhận được thư của Biếc và của Khởi, Cần. Biếc thì không nói gì, chỉ động viên tôi cố gắng học. Nhưng thư Khởi và Cần thì nói láng máng bóng gió cho tôi hay là đơn vị lại sắp đi đánh, cả hai đều rất mong tôi về kịp dự trận. Tôi đọc thư, lòng nôn nóng lạ thưòng. Chịu không nổi, tôi gặp anh Chín ngỏ ý muốn xin về đơn vị trước mấy ngày. Anh Chín dứt khoát không cho. Tôi tiu nghỉu buồn bã. Anh Chín bực tôi lắm, bảo là học sắp xong, còn có vài bữa mà sao sốt ruột đến thế. Anh còn đâm nghi tôi đòi về là do lá thư của Biếc, vì anh ngó thấy lá thư của Biếc trên văn phòng:

- Chắc cậu nóng lòng về gặp lại cô gởi thơ cho cậu đó chớ gì?

Tôi lắc đầu, rồi đưa cả thư Biếc cho anh Chín coi. Chừng coi thư xong, anh mới hết nghi, lại còn khen Biếc có lời động viên tôi học tập cho tốt. "Thế thì tại sao, tại sao cậu đòi về!". Anh hỏi gặng. Bấy giờ tôi mới nói thiệt, vì đơn vị tới sắp hành quân đánh lớn, nên tôi muốn về gấp cùng đi cho kịp. Khi nghe tôi khai thiệt ra, anh Chín vui vẻ lại chớ không bực tôi nữa. Nhưng anh vẫn không nhượng bộ cho phép tôi ra về trước ngày khóa học bế mạc. Anh nghiêm trang nói:

- Rất có thể tiểu đoàn em sắp ra quân, và nếu đợi tan lớp về em sẽ không dự kịp trận đánh. Nhưng giữa sự vắng mặt trong một trận đánh với sự gìn giữ tôn trọng tổ chức kỷ luật, em cần chọn cái sau. Chẳng thà em mất một trận đánh, còn hơn là em làm bể bờ một ý thức. Em học rất tốt, nhưng em rất nóng nảy, đôi lúc ngang ngổ nữa. Tại sao vừa rồi con heo nhà bếp lên ủi phá lớp học, em không đuổi nó đi mà phện nó một cây làm cho con heo vừa lết vừa rống, tưởng đâu phải bắc nước làm thịt ...

Cái vụ con heo, tôi có nện nó thật, nên tôi nín thinh. Và tôi cũng từ bỏ luôn cái ý định bỏ về nửa chừng.

Bảy hôm sau, khóa học bế giảng. Buổi chiều chúng tôi lên đường trở về đơn vị, anh Chín tiễn chúng tôi ra tận bìa trảng. Anh ôm từng người và ôm chặt lấy tôi nói:

- Thế nào cũng có bữa anh em mình gặp nhau, cho anh gởi lời thăm cô Biếc nhé!            ( hết chương 25 )
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #63 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2011, 08:21:21 am »

                           
CHƯƠNG HAI MƯƠI SÁU

Tới xế chiều hôm sau, tôi về tới căn cứ tiểu đoàn ở Hắc-dịch. Từ ngoài luồn vào ngõ rừng dẫn tới cứ, tôi hồi hộp thấp thỏm sợ tiểu đoàn đã xuất quân. Cách đấy ba hôm tôi được biết tiểu đoàn hãy còn ở đây. Càng đi sâu vào rừng chiều tứ bề im phăng phắc không một tiếng động, tôi càng thất vọng. Khi tôi đã vào đến giữa khu vực doanh trại thì mọi lán mọi nhà đều vắng ngắt. Buồn tình quá, tôi để nguyên bồng trên vai ngồi vật xuống, vấn thuốc hút. Vừa hút thuốc tôi vừa vẩn vơ nghĩ tiếc công một ngày đêm ra sức đi riết về đây, dọc đường cơm cũng không dám ngồi ăn lâu. Nhưng giữa lúc đang rít thuốc, chợt tôi nghe thấy có tiếng soong khua từ hướng nhà bếp. Tôi vụt đứng dậy, đi về phía bếp. Mới bước vào tôi thấy có hai anh ở C.2 trang lúi húi nhóm lửa.

Một anh nhận ra tôi, la lên:

- A, học trò đi học về rồi đó hả?

Tôi cởi bồng liệng lên sạp, rồi đứng chống nạnh giữa nhà hỏi:

- Đơn vị đi lâu chưa?

- Mới đi hồi khuya.

- Vậy hả, vậy sao hai anh còn ở đây?

- Tụi tao sốt, đòi đi mấy ảnh không cho, bắt ở lại để vô nằm quân y. Sốt bảy bữa rồi, nhưng bữa nay coi mòi không lên cơn. Đơn vị vừa đi là nó lại cắt cơn, ức quá!

Tôi nói chọc:

- Ức gì, sốt rét vừa đi đặng vừa run à, thôi hai anh cứ yên tâm vô quân y đi!

- Mày thì cũng vậy thôi, cũng yên tâm nằm lại đây giữ cứ đi!

Tôi lắc đầu:

- Không, tôi đi!

- Đi đâu?

- Đi theo đơn vị chớ đi đâu?

- Đơn vị đi xa lắm rồi, mày có cánh cũng không bay theo kịp!

- Nhất định tôi theo kịp. Hai anh cứ tin tôi đi, tôi sẽ có mặt trước giờ đơn vị nổ súng cho mà coi?

Tôi dõng dạc tuyên bố một cách dứt khoát. Rồi tôi chạy đến bên bếp, ngó vào nồi cơm chưa sôi.

- Mới bắc cơm hả? Tốt, gạo đâu chỉ tôi vo đổ vô thêm hai lon nữa coi. Ăn cơm xong là tôi quất ngựa dông liền.

- Ê, bộ mày tính đi thiệt sao Quyết, anh em sốt rét mà đi sao Quyết?

Tôi vừa xúc gạo vừa cười khì khì:

- Sốt rét thì nằm ở đây làm chi, vô trong quân y có mấy chị mấy cô người ta săn sóc cho!

Vo gạo đổ thêm vô nồi rồi, tôi ngồi coi cơm. Ngó hai anh C.2 mặt mày xanh xao vàng, vọt, tôi liền đi lại mở bồng lấy cho hai anh một gói chuối khô, hai gói trà "Con cọp":

- Đây là quà tôi đem về cho mấy thằng trong khẩu đội, thấy hai anh ở đây cũng hẻo, tôi chiết cho một ít.

Riêng chỗ me tươi, tôi cũng vốc ra cho hai anh một túm:

- Thứ này mấy anh sốt ưa dữ hả?

Nói vậy chớ tôi không quên chừa lại trong bồng một mớ me kha khá dành cho Biếc. Hai anh C.2 cầm lấy mấy thứ tôi cho. Lát sau ăn cơm xong, một anh khều tôi lại, rỉ tai:

- Nếu mày quyết lòng rượt theo đơn vị thì tao chỉ cho. Chuyến này tiểu đoàn lên đánh Quán Chim. Bây giờ mầy ra suối Châu-pha mà đi tới Xà-bang, rồi từ Xà-bang tốc theo. Đơn vị mới đi hồi khuya, còn cơm nước dọc đường, mầy đi nước rút thế nào cũng theo kịp

- Được rồi!

- Mày có đèn pin không?

- Không, nhưng không sao, đêm nay có trăng.

Tôi hăm hở nói và lập tức khoác bồng lên vai. Hai anh C.2 tần ngần ngó tôi, bỗng một anh nói:

- Hay là tụi tao ráng bươn theo mày, Quyết!

Thôi, bịnh mà đi gì. Hai anh lội ẩu bị kỷ luật chết chớ bộ giỡn!

Tôi nghiêm giọng cản họ, rồi quẩy bồng đi luôn. Nghe tin đơn vị đi đánh Quán Chim, tự nãy giờ trống ngực tôi đập thình thịch. Bây giờ, trái tim tôi là thế. Là khi nghe nói đến một trận đánh mới, nó cứ nhảy lia lịa lên như thế. Mừng quá cũng dễ hóa nên hồi hộp. Tôi chưa từng biết Quán Chim, mà chỉ nghe nói tới cái nơi đó. Anh Bé dạy đại liên cho tôi vốn sanh đẻ ở Quán Chim. Nghe anh bảo đó là một cái xóm ở cặp đường đi Ô-cấp, gồm có rất nhiều quán bán chim. Theo lời anh Bé thì ở miệt đó có nhiều chim cu xanh đến nỗi vào tháng mười, tháng mười một ta đi đâu cũng nghe tiếng cu gù gáy. Còn các tay đánh bẫy chim thì suốt ngày ở ngoài đồng giăng lưới, chụp rào rào. Trong mùa dậy gió chướng báo hiệu năm sắp hết, anh nói các quán chim đêm ngày hết sức nhộn nhịp. Chỉ nghe anh kể, cũng đủ phát mê.

Chim cu xanh còn sống nhốt đầy lồng, treo đầy quán. Bất cứ lúc nào quán cũng có chim quay vàng. Mùa chim đi liền với mùa nấm giẽ hồng. Nhưng anh Bé bảo mấy năm nay ở Quán Chim có mấy đại đội ngụy trấn đóng thành ra Quán Chim mất vui. Chúng ở đó giữ cầu, giữ đường, giữ ấp chiến lược. Lần này tiểu đoàn tôi sẽ lên đánh đuổi bọn ấy. Tôi nghĩ chắc anh Bé phải là người vui hơn hết. Phần tôi, tôi cũng vui khấp khởi, vì không ngờ trên đường đi Quán Chim tôi sẽ được đi ngang Ngãi- giao, Xà-bang, rồi may ra sẽ được ngó thấy rặng cau quê nhà Phước-lai, Phước-kiển.

Tôi ra đi một chốc thì rừng nhòa tối. Nhưng vào những đêm có trăng, rừng không tối lắm. Trăng chưa lên, nhưng bầu trời ràng rạng. Tôi đi nhanh vùn vụt. Chỉ một lát sau, tôi gặp lại những đồi cỏ trúc. Con đường thân thiết quá. Chính là con đường tôi đã theo chị Tám Mây về ở trạm giao liên. Và sau đó là con đường tôi đi thư, dẫn khách cả năm ròng. Cũng trên quãng đường này, trong một đêm tối mịt, tôi đã cõng xác anh Ba Lúa về. Sóc Chùm-đuông và các sóc Châu-ro khác cũng ở cách đây không xa. Nhưng tôi không đi ngang qumà theo đường tắt dẫn ra suối Châu-pha nhanh hơn. Lúc vầng trăng từ từ nhô lên khỏi một triền đồi thấp, bỗng tôi chợt nghe từ xa vẳng tới tiếng đờn chình-kha-la. Cây đờn Châu-ro thô sơ bất thần bật lên trong cảnh yên tĩnh của đêm rừng những tiếng tre thánh thót nghe tợ tiếng tơ tiếng đồng. Mới đầu điệu đàn nghe buồn u uất, mơ hồ như có như không, chắc người đờn đang gõ vào những lỗ thấp nhứt trong mấy mươi lỗ khoét nơi ống tre. Nghe như đời người Châu-ro ngày xưa. Ông Cổ có lần nói cây đờn bằng tre ấy ngày xưa chỉ có mấy lỗ. Mãi về sau mới có thêm nhiều lỗ khác. Cho nên sau này đờn chình- kha-la mới hát được những điệu vui. Cái điệu đờn vui ấy dần dần trỗi dậy, theo vầng trăng từ từ lên cao ở giữa trời, đờn vui đùa như lá reo như suối chảy. Chẳng hiểu sao, tôi cứ mường tượng người đờn đâu như là ông Cổ, hoặc nếu không phải ông Cổ thì cũng phải là một ông già Châu-ro nào đó. Tôi cứ nghĩ người đờn là một ông già.

Vào lối nửa đêm thì tôi tới suối Châu-pha. Lần này, cũng giống như lần tôi bỏ trốn khỏi nhà Bảy Vàng, tôi tìm thấy trên bờ suối những bếp còn ấm lửa. Chỉ khác là lần này tôi biết rõ các bếp kê bằng đá tảng ấy là của chính đơn vị mình. Tôi sờ tro bếp thấy còn ấm, chứng tỏ đơn vị tôi đã nấu cơm ăn cơm dỡ ở đây. Có thể đơn vị tôi vừa rời khỏi nơi đây hồi chiều, vì đường đi Xà- bang rất trống, không hành quân lúc trời còn sáng được.

Trước khi lội ngang suối Châu-pha, tôi đứng lặng nhìn dòng suối loang loáng ánh trăng, lòng bồi hồi nhớ lại cái buổi chiều năm nào tôi đã đến đây, bơ vơ và trần trụi. Mặt suối trong buổi chiều nhá nhem đó rắc đầy những tàn lá cháy. Rồi mấy ngày đói lả, những cây ngải ré ăn tạm cầm hơi, những con cá đỏ mang ... Rồi trận sốt đầu tiên trong cái chòi lợp vỏ cây, kế đó cơn sốt nóng bỏng rãy đưa đến những ác mộng ...

Hai năm qua, không mấy khi tôi gặp ác mộng nữa. Từ ngày nhập vào đội ngũ, cực khổ có lúc còn hơn ngày đi ở nhưng đêm nào tôi cũng ngủ ngon. Có gặp gì trong chiêm bao, cũng là gặp sự vui vẻ tốt lành, phần nhiều là gặp Biếc.

Qua khỏi suối, tôi bắt gặp cánh rừng dạo trước bị cháy giờ đã đâm chồi cao. Trăng gieo ánh sáng trên lá biếc, trên đất rừng mát rượi sương đêm. Ấy vậy mà tôi vẫn còn cảm giác mới nguyên ở đôi chân nóng bỏng, cái hồi tôi chạy dẫm qua than lửa rồi té ùm xuống suối. Vẫn còn bùng lên trong đầu tôi cảnh rừng cháy kinh hoàng, bầy chim chạy trốn, và cơn lửa chiều đỏ rực khi ngày hết ...
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #64 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2011, 08:23:06 am »

                                   Tiếp theo :

Con đường mòn xuyên qua cánh rừng chồi vẫn như trước, vẫn có những mảng trống sáng tuồng như rừng sắp hết. Đêm nay tôi lại đi trên con đường đó có một mình, như nào tôi đã ra đi. Nhưng bây giờ tôi thấy vững tâm chớ không thấy bơ vơ lẻ chiếc. Bây giờ tôi đi một mình mà vẫn thấy đồng đội kề bên, lúc nào tôi cũng nghe tiếng cười nói lao xao, tiếng súng đạn va chạm lách cách, và những khuôn mặt thân yêu của anh Đấu, anh Dũng, chú Chín Thắng, của Khởi, Cần, cùng đôi mắt to đen ngời sáng của Biếc hiện lên.

Chừng ba giờ sáng thì tôi đuổi kịp đơn vi. Lúc tiểu đoàn vừa ra khỏi rừng chồi là lúc tôi vừa đến mé rừng. Cả tiểu đoàn tôi đã vắt mình ra đồng trảng như một con trăn dài. Cái đuôi của con trăn mới huốt khỏi rừng mà cái đầu đã sắp cất vào tới xóm Xà-bang dưới đó, mờ mờ trong ánh trăng lu và sương khuya. Tôi mừng rỡ chạy như bay ra đồng trảng. Chỉ một lát sau tôi đã bám vào được đội hình của đại đội tôi, trên một bãi cỏ ngày trước tôi đã thả bò. Tôi nhảy cỡn lên không khác nào một con bê gặp lại bày, ôm chầm lấy anh Đấu, anh Dũng, húc đầu vào bụng Cần và Khởi. Chỉ một loáng sau, cả đại đội đều hay tin tôi mãn lớp về tới và vừa bám kịp đơn vị. Khởi và Cần lào thào báo cho tôi biết một số tin tức sốt dẻo. Thứ nhất là lần này hành quân tới nơi sẽ đánh liền. Thứ hai là tiểu đội nữ thanh niên xung phong của Biếc vừa được điều về đại đội. Thứ ba là trong khấu đội đại liên của tôi được ghép thêm một người, đó là Lắm. Hai đứa không gọi Lắm suông như mọi lần mà lại gọi là Lắm Kèn. Khởi cho biết từ nay Lắm Kèn sẽ cùng ở trong khẩu đội tôi nhưng làm nhiệm vụ thổi kèn. Bấy giờ Lắm đang đi trước mặt tôi, đeo lủng lẳng trên lưng cây kèn Mỹ có bao. Tôi chưa gặp Biếc, vì Biếc đi ở đàng sau, nhưng chắc chắn Biếc đã biết tôi về tới.

Đơn vị đi qua ngang Xà-bang không dừng lại. Ấp chiến lược Xà-bang mới vừa bị phá cách đây mươi hôm. Trời gần sáng. Chó sủa rộ lên ngoài đầu ngõ. Gà trong xóm cũng đã te te gáy. Tôi vừa đi vừa mở to mắt cố nhận ra cảnh cũ. Nhưng bóng tối hãy còn mờ mịt chưa cho tôi nhìn thấy tận tường cái nơi mà từ đó bà con đã đùm bọc, đưa tôi ra đi. Chỉ nghe tiếng bà con trở dậy, nói chuyện lào xào trong nhà. Rồi những tiếng gọi nhau cuống lên:

- Bộ đội mình, bà con ơi, bộ đội mình!

Thế rồi có rất nhiều bóng người chạy nhào ra đường. Bà con đứng nhìn bộ đội. Có tiếng cười reo, mà lại có tiếng một thím nào đó sụt sịt khóc. Một bà già lom khom đưa hai bàn tay già nua rờ chạm vào lưng từng đứa chúng tôi. Trẻ con chạy nghe đụi đụi. Tức thì tôi thấy mắt mình cay sè, rân rấn. Cầm lòng không đậu, tôi nghẹn ngào kêu lên với bà con bên đường:

- Cô bác ơi, có tôi là Quyết đây. Tôi là thằng Quyết hồi đó ở Bảy Vàng, cô bác có còn nhớ tôi không?

Tôi kêu lên như vậy, rồi không ngăn được nước mắt trào ra. Ngay khi đó, có mấy thím đứng bên đường vụt la lên táng hoáng:

- Trời đất ôi, có chú Quyết ở trong hàng nữa kìa mấy người ơi!

- Quyết nào, Quyết nào?

- Thằng Quyết coi bò cho Bảy Vàng chớ Quyết nào nữa!

- Á, á, ông Cả Quyết, ông Cả Quyết!

Đang lúc nước mắt ứa ra, tôi không nhịn được cười khi nghe bà con nhắc lại cái tên đó. Bà con đã nhận ra tôi, liền xúm lại. Tôi không thể nói gì hơn, chỉ đành nói với lại:

- Cháu xin kính chào hết cô bác, khi nào rảnh cháu sẽ ghé thăm cô bác!

Đơn vị chúng tôi đã kéo qua khỏi xóm mà bà con còn bịn rịn đi theo không muốn rời. Thình lình giữa lúc ấy có một bóng người chạy vượt lên, kêu lớn:

- Quyết ơi, bớ Quyết!

Tôi ngoái nhìn lại trong buổi sớm còn mờ mịt, tôi ngó thấy một bóng người vạm vỡ khoác súng giống tợ anh Vững đang vừa chạy vừa nhảy qua những cây cọc rào giây thép gai bị cuộn rối tung mà rướn lên gọi:

- Quyết ơi, Quyết ơi?

Đến giữa trưa, tiểu đoàn chúng tôi dừng lại ở một địa điểm dự bị. Nơi này có những lùm gáo và trâm bàu um tùm mọc lên giữa đất đồng khô cỏ cháy. Chúng tôi được lệnh chuẩn bị cơm nước cho xong, đúng hai giờ tiếp tục hành quân. Anh Ba Đấu phổ biến cho tôi nghe kế hoạch, phương án tác chiến rồi anh gọi Biếc tới. Tôi lấy chuối khô và me đưa cho Biếc. Chúng tôi mừng mừng rỡ rỡ, nhung chẳng kịp nói gì với nhau, vì Biếc cũng phải trở về tiểu đội lo cơm nước.

Sau mấy ngày đêm đi như chạy theo đơn vị, tôi mệt nhoài. Lắm Kèn tuyên bố cho tôi giăng võng ngủ một giấc. Nhưng tôi làm sao mà ngủ được. Khởi ngồi nhóm bếp, bảo tôi:

- Vừa rồi anh Quyết đi dự lớp, anh ở nhà tập thổi được nhiều bản kèn ác lắm!

- Vậy hả, vậy lúc nào thổi tao nghe coi!

- Thì lúc nào nữa, chạng vạng bữa nay nhất định anh Lắm phải thổi rồi.

Lắm cũng khoe với tôi là cây kèn của Lắm đã có gắn cờ rồi mở túi lấy kèn ra cho tôi coi. Cây kèn Mỹ giờ đã có đính lá cờ Mặt trận hình đuôi nheo, kết tua phơ phất coi rất đẹp. Lắm cười nói:

- Của bồ mày may đó. Tưởng anh Đấu nhờ ai, nhè nhờ ngay con Biếc!

Tôi không dè Biếc may cờ khéo đến thế, lại càng vui thêm trong bụng. Một tiếng đồng hồ dành cho bước chuẩn bị cuối cùng đối với chúng tôi không đến nỗi eo hẹp. Ăn cơm, dỡ cơm xong; chúng tôi vẫn còn có thể uống trà với chuối khô do tôi đem về. Lắm Kèn tỏ ra là một tay giỏi giang tháo vát. Lắm pha trà bằng cái bi- đông Mỹ úp chụp vào cái ca. Đó là lối pha trà mới nhất mà trước khi đi học, tôi chưa thấy. Nước sôi từ bi-đông rỏ xuống vừa nửa ca là Lắm gọn lẹ nghiêng ca rót đều ra các chun nhựa làm bằng vỏ đạn M.79.
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #65 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2011, 08:25:48 am »

                               Tiếp theo :                         
Đúng hai giờ, chúng tôi tiếp tục hành quân giữa trời nắng chang chang. Khẩu đại liên ngày thường tôi coi không thấm tháp, nhưng bữa nay nó làm tôi thấm mệt. Khởi và Cần dành vác, nhưng tôi không chịu. Tôi vác đại liên đi suốt hai giờ nắng nhứt rồi mới giao cho Khởi. Đường đồng đã hơi dịu nắng. Anh Đấu từ phía sau đi rấn lên bên tôi, trỏ tay về phía ven cây mù mù trước mặt:

- Em biết đó là đâu không?

- Em không biết!

- Rặng cây Phước-lai, Phước-kiển đó!

- Ủa, thiệt sao anh?

Anh Đấu gật đầu. Tôi đưa mắt ngó miết về phía bóng cau dừa lơ thơ ló dạng, chưng hửng không ngờ.

Tôi đâu có dè bấy lâu mình đi chỗ này nơi nọ, nay lại tạt gần về chốn quê nhà. Anh Đấu rành vùng này lắm, anh không nói chơi đâu. Mà quả đích thị là Phước-lai, phước-kiển rồi, giờ tôi nhận ra rồi. Cho dù ở trong tỉnh Bà-rịa này có vô vàn những rặng cây như vậy, nhưng tôi không thể nhận lầm. Trong bóng chiều đã ngả, tôi điếng lòng ngó những cụm dong thả trôi qua trên làng có rặng lau thưa phơ phất nửa gần nửa xa. Mới đó mà đã hơn sáu năm, kể từ buổi chiều cô Tám Àng dắt tôi rời Phước-lai đi về Phước-kiển. Trong bóng chiềụ đổ xuống hôm nay, tôi vọng nhìn về phía quê nhà mà ngỡ như chị Hòa tôi hãy còn đứng dưới chân đồng kêu khóc không nỡ rời. Tiếng kêu khóc của chị Hòa đã đuổi theo tôi trên bảy năm nay, khi nổi lên văng vẳng, khi khuất chìm trong cơn gió bạt. Còn túp nhà nhỏ bé, nơi ghi dấu tuổi thơ và cũng là nơi chảy ướt máu mẹ cha, giữa chiều hành quân chiến đấu nầy hiện lên sao mà rõ rệt hơn tất cả mọi khi. Như in như khắc trong tâm trí tôi, dáng mẹ ngồi chết như ngồi nấu cơm chiều, dáng cha nằm chết giữa sân hai tay nhổ rời những bụi cỏ cú. Và mùi máu xen lẫn mùi rơm khô, tiếng đuốc cháy xì xèo, những thuổng đất đỏ rờ rỡ màu máu; vút lên từ huyệt mả cùng với tiếng tru thê thiết của con Phèn. Tất cả đều xảy ra từ đó, từ dưới ven cây xanh mù đó.

Trận đánh của chúng tôi bắt đầu đúng vào lúc trời vừa nhập nhoạng, lúc các quán chim vừa mới lên đèn mà bót địch thì chưa rọi qua một vệt đèn pha nào. Hành quân tới là chúng tôi uà lên nổ súng ngay, trong tiếng kèn xung phong của Lắm thổi vang. Bọn bảo an biệt lập và bọn dân vệ cả thảy có chừng hai đại đội bị đánh bất ngờ, chúng im nín chừng mấy phút rồi bắn trả kịch liệt.

Một số lính địch đầu hôm đã vào đóng lẫn lộn trong nhà dân. Sự thay đổi bất ngờ nầy, ngay từ phút đầu đã gây khó khăn cho ta, vì không thể nào bắn thẳng vào các nhà bán chim đó được. Từ trong các nhà, tiếng đàn bà và trẻ con khóc thét. Bót địch đóng ở đầu cầu và mấy cái tua ở cặp lộ bắn rà sát khiến cho anh em không sao lên được. Mỗi lần Lắm thổi dứt một hồi kèn, anh em lại nhổm dậy, nhưng đều bị đại liên và trung liên địch bắn rát, ghìm lại. Mấy anh ngã vật trên đường. Anh Dũng nhảy lên cũng bị một phát trúng chân, khuỵu xuống.

Tôi chồm tới hỏi:

- Có sao không anh?

- Không sao.

Thấy để tình thế nầy kéo dài rất bất lợi, tôi đề nghị anh Đấu cho tôi lên mặt đường bắn dập tắt hỏa lực địch.

Anh Đấu đang băng giúp anh Dũng, hỏi tôi:

- Nhắm đảm bảo không?

- Được

- Vậy em lên, cẩn thận nghe?

Tôi nói với Lắm:

- Để tao lên bịt miệng tụi nó lại rồi mầy hẵng thổi kèn!

Cõng khẩu đại liên lên lưng, tôi bò trườn dưới ruộng sình cặp theo mé lộ. Khởi và Cần bám sát theo tôi. Mặc đạn địch kêu chít chít như chuột cắn ở chung quanh, chúng tôi vẫn im lặng trườn tới từng chút từng chút. Tôi nhằm hướng cái tua đang khạc đạn dữ dội nhứt mà bò tới. Khi đã đến thiệt gần, tôi nhoài lên mặt lộ lôi vật khẩu đại liên trên lưng xuống chĩa vào lỗ châu mai bắn một loạt. Ổ đại liên địch im bặt. Biết chắc mình đã bắn chết tên địch, tui đợi tên thứ hai, bắn chết luôn nó rồi mới trở họng đại liên quét rọc bọn nằm núp cặp theo đường. Vừa bẳn dứt loạt nầy, tôi đã thấy anh em tràn lên trong tiếng kèn xung phong inh ỏi. Anh Đấu tay cầm "Côn" khoát mạnh. Cái khăn buộc trên đầu anh bay bay. Để thiệt yên tâm, tôi thọc đại liên vào lỗ chậu mai, quét ngoáy. Khởi nhảy vô lôi ra được khẩu đại liên của địch. Nhưng chúng tôi chỉ mới diệt bọn ở tầng dưới tua. Bọn địch ở tầng trên bắn xả xuống. Tôi chĩa họng đại liên lên. Bọn ở tầng trên chịu không nổi, nhảy ùm ùm xuống sông. Bây giờ chúng tôi mới leo lên tầng trên, bắn bọn còn nằm ở cặp mé lộ bên nầy. Bắn một lúc thấy đã hết sạch sẽ không còn một tên nào bắn đọt đẹt nữa, tôi day ra phía gậm cầu bắn từng phát một, nhận chìm luôn mấy tên giặc nhảy xuống sông giờ đặng cố bơi tắp vào. Xác mấy tên nầy đều bị dòng sông Lòng- tàu chảy xiết cuốn trôi đi.

Lắm Kèn đã leo lên nóc tua, đứng trên đó thổi kèn thúc tới. Anh em chạy ào lên như nước vỡ bờ. Bỗng anh Chánh tiểu đoàn trưởng từ mặt đường chạy xồng xộc tới lăm lăm trong tay khẩu súng ngắn, hỏi lớn:

- Vừa rồi ai bắn đại liên?

Nghe câu hỏi như thét đó của anh Chánh, tôi hốt hoảng nghĩ bụng: "Thôi chết rồi, không khéo mình bắn lầm anh em rồi!". Tự nhiên tôi bủn rủn cả tay chân. Chưa có khi nào tôi có cái cảm giác ghê sợ và đau đớn như khi đó. Tôi đi ra, đứng thẳng người trước anh Chánh đáp:

- Báo cáo, tôi bắn!

- Đồng chí Quyết C.1 hả?

Anh Chánh vừa nhận ra tôi, kêu lên như thế rồi nhảy tới ôm chầm tôi mà hôn chùn chụt, rồi nói:

- Đồng chí bắn hay lắm. Bắn tụi đề kháng bên mé đường nằm la hệt hết. Thay mặt Ban Chỉ huy tiểu đoàn, tôi biểu dương khẩu đội đại liên của đồng chí!

Anh Chánh còn ôm ghì tôi một lần nữa mới buông ra. Từ chỗ đang lo lắng đến phát run, tôi mừng rỡ nhẹ nhõm cả người. Anh Đấu cững chạy tới thụi vào sườn tôi:

- Thằng em mày vừa rồi bắn ngon. Đi học "cua" về bắn khác liền thấy chưa?

- Anh Dũng đâu rồi anh?

- Khiêng đi rồi, Biếc với ba đứa nữa đã khiêng Sáu Dũng đi rồi. Thấy Lắm vẫn còn ở trên nóc tua thổi kèn, anh Đấu nói vọng lên:

- Thôi mình chiếm ráo trọi rồi, đừng thổi "Tiến binh" nữa chú em. Tấu bản "Giải phóng miền Nam" lên!

Lắm kèn hạ xuống lấy hơi rồi, thổi ngay bản "Giải phóng miền Nam" Tiếng kèn dạo vô một cách hùng tráng. Kèn không mang theo lời hát mà tôi thấy hệt như trước mặt có một đội binh hùng đang xông lên và khắp nơi đang rùng rùng chuyển động. Đồng bào trong các nhà bán chim vụt đổ ra đầy đường. Ánh lửa đốt đồn bùng dậy sáng rực. Tôi thấy khuôn mặt của các ông lão bà lão một đời sống về nghề chim đó ràn rụa nước mắt. Chắc có một phần bởi tiếng kèn trỗi lên bài hát mà bấy lâu sống giữa vòng kềm kẹp của địch, bà con chỉ nghe láng máng đôi câu. Chắc bà con còn khóc vì nhìn thấy chúng tôi nữa. Người nào cũng chăm chú ngó nhìn chúng tôi, dường như bộ đội giải phóng đối với bà con phải như thế nào kia, đằng này chúng tôi bình dị quá từ bộ quần áo nhuộm màu khói cho tới vắt cơm đeo bên hông, từ cách ăn nói dạ thưa lễ phép của chúng tôi khác hẳn với bọn lính ngụy cách đây chừng non tiếng đồng hồ còn vô quán ăn quịt và đập phá.

Xóm quán dọc đường lộ bây giờ lao xao đỏ đèn đỏ bếp. Khói súng tan dần, các quán chim lại thắp đèn măng- sông sáng trưng. Một lát sau, bỗng có một ông già cùng đi với anh Bé đến gặp anh Đấu. Ông già run run nói:

- Tôi là ông của thằng Bé đây. Xóm Quán chúng tôi bao đời nay sống nhờ con chim trên ruộng. Từ ngày tụi bảo an tới đóng đồn tua, tụi nó cướp bà con cô bác chúng tôi thiệt không kể xiết. May mà đêm nay trời xui đất khiến anh em về đánh tụi nó tang hoang hết, nên cô bác đội ơn anh em trượng lắm mới cử tôi mời hết anh em đình đãi nán lại ăn miếng thịt chim, uống hớp rượu rồi sau đó hẵng lên đàng.

Anh Đấu cầm lấy tay ông già:

- Cha ... anh em tụi cháu đông lắm bác. Với lại bác thông cảm, tụi cháu đâu có ở lại lâu được ...

- Không có gì bày biện lâu lắc đâu chú. Chim, rượu đà có sẵn!

Anh Đấu kéo anh Bé lại, nói nhỏ:

- Để tôi hỏi Ban Chỉ huy tiểu đoàn cái đã!

Anh Bé nói ngay:

- Mấy ảnh cho phép rồi, anh Chánh biểu em đi kêu anh đây!

Anh Đấu theo anh Bé và ông già đi, chốc sau anh trở lại bố trí cảnh giới ở đầu cầu và mặt đường, rồi gọi một số anh em chúng tôi tới quán chim. Mới bước vô một cái quán, tôi đã nghe mùi chiên xào thơm ngát bắt đói bụng ngay.- Và tôi ngó thấy nhà treo đầy những cái lồng tre, trong đó chim cu xanh con nào cũng gù rúc, tạo nên một điệu nhạc êm ái lạ thường. Ánh đèn măng-sông trong quán rọi sáng mấy tấm đệm lớn trải đất đã bày sẵn những chai rượu đế và những ly thủy tinh.

Thể tình bà con, mỗi C cử một số anh em đến vui với bà con. Chúng tôi đến một chốc đã thấy mấy má mấy chị lẹ làng từ trong bếp bưng các dĩa chim quay chim xào ngút khói. Anh Bé đóng vai trò chủ nhà. Anh lăng xăng chạy tới chạy lui, khi thì bày thêm ly, khi thì trải thêm đệm. Chưa có khi nào chúng tôi thấy anh Bé vui vẻ hồ hởi như đêm nay. Anh trỏ vào các đĩa, tươi cười xoa xoa tay giới thiệu:

- Báo cáo các đồng chí mình đây là chim cu quay, còn đây là chim cu xào với nấm giẽ ...

Dường như anh còn định nói: "Cái món này là món đặc biệt ở xứ tôi đó!". Nhưng một bà má đã vỗ nhẹ vào lưng anh giục:

- Còn thằng Bé nầy cũng ngồi vô luôn đi!

Anh Bé

-Con mà lo gì má!

Coi bộ anh Bé không thiết lo ăn uống gì nữa thật. Hình như đêm chiến thắng tại quê nhà đã khiến anh no nê. Và được đứng tại cái xứ đầy chim béo của mình mà ngó nhìn đồng đội nếm miếng ngon là anh thấy sung sướng mãn nguyện lắm rồi. Riêng tôi, mỗi lần cầm đũa gắp một miếng thịt chim tôi lại hình dung ra quãng đường đồng tối om lồi lõm lỗ chân trâu và chạnh nghĩ: "Tội nghiệp, không biết giờ nầy Biếc với mấy đứa nữ khiêng anh Sáu Dũng về tới đâu rồi!".           ( Hết chương 26 )
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #66 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2011, 08:27:51 am »

                               
CHƯƠNG HAI MƯƠI BẢY

Ngay đêm hôm đó, từ Quán Chim chúng tôi hành quân một mạch về Xà-bang. Được biết sẽ đóng lại ở Xà- bang, tôi xin với anh Đấu cho phép khẩu đội tôi về đóng ở nhà má Năm. Bấy giờ vào lối bốn giờ sáng, trời hãy còn tối, tôi dẫn khẩu đội đi tới nhà má Năm. Gần đến nơi, tôi nói với anh em trong khẩu đội:

- Hồi tao bị Bảy Vàng đánh, cũng giác mờ mờ sáng như vầy tao bò tới nhà má Năm đây!

Lắm Kèn hỏi:

- Giờ thằng Bảy Vàng còn ở đây không?

- Đâu biết. Chỉ biết là sau khi tao bỏ đi, nghe nó nhảy ra làm Chủ tịch Hội đồng xã kiêm xếp bốt. Thằng đó ác ôn dữ lắm!

Lắm chặc lưỡi:

- Mẹ, thứ đó khó lòng tới tay mình được. Chắc bà con ở đây người ta cũng đã khử nó rồi!

- Ừ ...

Dù trời hãy còn tối, tôi vẫn tìm ra đúng ngõ rẽ vô nhà má Năm. Hai năm đã trôi qua, nhưng tôi không quên cái nơi đã cưu mang đùm bọc tôi khi tôi từ nhà Bảy Vàng bò lê tới. Đây rồi, chính tại bến sông dẫn lên nhà đây là chỗ tôi đã ngất xỉu. Tôi đưa tay đập khẽ lên tấm liếp cửa, hồi hộp cất tiếng gọi:

- Má ơi, ... má ơi!

Trong nhà có tiếng người cựa mình làm chuyển bộ vạt tre. Rồi có tiếng hỏi, giọng chậm rãi tỉnh khô nghe đúng giọng má Năm:

- Ai kêu đó?

- Con đây, con là thằng Quyết đây nè má!

- Quyết nào, Quyết nào?

- Con đây mà, con là thằng Quyết ở nhà Bảy Vàng hồi đó ...

Trong nhà tức thì có tiếng buột kêu: "Trời ơi!", rồi tiếng người tuông dậy rột rột. Kế đó tôi nghe cái bật lửa quẹt xạch xạch. Đèn trong nhà được thắp lên. Cửa mở. Dưới ánh đèn dọi mờ, tôi ngó thấy má Năm thì nhào tới ôm má. Má Năm đứng chưng hửng, ngó tôi như chưa nhận ra. Có lẽ tại nay tôi dềnh dàng cao lớn khác hẳn mấy năm trước, và tôi đang vác cây đại liên coi rất hùng dũng chăng. Má Năm sững sờ tuồng như chưa tin ở đôi mắt già nua của mình, mãi lát sau còn hỏi:

- Trời ... Thiệt là mày đó hả Quyết?

- Thì con là thằng Quyết đây chớ ai nữa má. Xin giới thiệu luôn với má đây là anh em trong khẩu đội của con!

Má Năm mừng rỡ đến quýnh quáng:

- Mèn đét ơi, mấy đứa về hồi nào tao chớ có hay. Phải bữa trước anh em tụi bây có kéo ngang đây không?

- Dạ phải, hôm trước tụi con kéo đi đánh Quán Chim. Tụi con đánh dứt điểm Quán Chim rồi mới vừa về tới đây. Anh Vững con đâu rồi má?

- Ối, không đêm nào nó có nhà đâu. Bây giờ nó làm xã đội, đi tối ngày sáng đêm!

- Đơn vị tụi con về đóng ở đây, riêng mấy đứa con được về ở nhà má.

- Ừ, cứ ở đây. Mấy thằng bây ở nhà tao mãn năm tao cũng nuôi nổi mà!

Má Năm chụp từng đứa chúng tôi, rờ coi mập hay ốm, rồi hỏi:>- Mấy đứa bây nói đi đánh Quán Chim, vậy chớ đánh lấy gọn hôn?

Lắm Kèn mau mắn:

- Diệt gọn rồi má. Tụi con diệt gọn rồi còn được bà con ở đó đãi một bữa chim đã đời nữa má ơi!

- Vậy là đánh tiêu Quán Chim rồi hả?

Câu nói thốt ra cùng lúc khuôn mặt răn reo của má rạng rỡ lên. Má lăng xăng đưa tay trỏ khắp nhà:

- Đó, tùy ý anh em tụi bây muốn ở đâu đó thì ở. Chắc mấy đứa buồn ngủ, cứ leo lên giường tao đó mà ngủ. Còn bây giờ để tao đi coi coi có cá mú chi không đặng lo cơm nước ...

Má Năm thắp thêm một cây đèn bánh ú nữa, rồi bưng đèn đi xuống bếp. Sau cái chuyện lo chỗ ngủ cho chúng tôi má nghĩ ngay tới miếng ăn. Tôi nhìn bóng má chập chờn theo ánh đèn mà nhớ lại ngày nào má cũng xuống bếp như vậy. Tôi giục anh em lên giường ngủ, còn tôi lãnh phần gác. Ba đứa Khởi, Cần, Lắm đặt mình lên giường, nơi hãy còn hơi ấm của bà mẹ mới biết nhưng thấy như đã quen lâu. Trước khi vào giấc, cả ba đứa đều nói rằng tụi nó nghe phảng phất cái mùi gì quen quá.

Tôi thì không lạ. Cái mùi đó hẳn là mùi mẹ già, mùi trầu, mùi nhang hòa quyện với hương bông trang bông lài lan lan trong tiết trời mát dịu của đêm về sáng. Sau trận đánh hãy còn nóng hổi, những mùi vị ấm áp dễ chịu ấy đã đưa ba đứa vào giấc ngủ thiệt mau, đầy vẻ bình yên. Chỉ một chốc sau, cả ba đứa đã cất tiếng ngáy ran. Tôi rón rén cầm đèn đi xuống bếp, nơi đã có ánh lửa nhảy nhót.

Má Năm đang bắc lên bếp một nồi gì đó. Tôi đến ngồi bên má, hỏi:

- Nấu gì đó, má?

- Má bắc nước làm gà!

Bây giờ tôi mới có dịp nhìn má tỏ rõ. Tóc má Năm bạc nhiều hơn, làn da mặt má có thêm nhiều chỗ răn reo hơn. Nhưng đôi mắt má thì vẫn thế, vẫn trìu mến như trước, tuy trong đó hãy còn vương lại vẻ lo âu, nhẫn nhục. Tôi nghĩ tới những đè nén, rún ép, bó buộc mà ấp chiến lược đã gây ra ở đây, qua khuôn mặt má Năm chập chờn ánh lửa. Má Năm run run đưa tay đẩy củi

- Từ hồi con đi, má đâu có yên bụng. Cứ sợ hoài, sợ con chết ...

Tôi lặng thinh, xúc động khi nghe má quá lo lắng cho bước đường của mình. Im đi một lúc, tôi làm ra vẻ cứng cỏi cười bảo má:

- Làm sao mà con chết được, má?

- Ừ, tụi bây đứa nào cũng giỏi. Để má nói cho nghe. Lúc con đi rồi, má cứ cằn nhằn thằng Vững. Má nói lẽ ra phải bắt liên lạc được với anh em bộ đội rồi hẵng cho con đi. Con đi rồi, má rầu thúi ruột đó đa Quyết. Không có tin tức chi ráo, coi như biệt vô âm tín mà. Tao ngỡ ...

- Má ngỡ sao?

- Ngỡ cọp nó nít 1 mầy rồi chớ sao.

Má Năm vụt cười, xỉa ngón tay vô trán tôi. Bà mẹ sung sướng vì sự không may đã không xảy đến và trong buổi hừng đông này tôi đã trở về, với súng ống, với đồng đội. Bên bếp lửa, tôi kể cho má Năm nghe cái buổi tối mò tới rừng, rồi mọi sự tôi gặp phải sau đó. Má Năm nghe tôi kể, khi cười khi khóc. Má hỏi tôi:

- Con biết khi con đi rồi thằng Bảy Vàng nó nói sao không?

- Nó nói sao má?

- Nó kiếm con giáp xứ không có rồi nó nói nếu như con trốn vô rừng thì coi như bị cọp ăn, hoặc giả không bị cọp ăn thì sớm muộn gì cũng thành xà-niên ...

Hai tiếng xà-niên mà má Năm bảo là Bảy Vàng nói đó đột nhiên như kim chích vào tim tôi. Tôi đứng bật dậy. Một nỗi căm giận bừng lên trong tôi như một đám cháy âm ỉ nay gặp gió thổi cháy thành ngọn. Tôi đứng sững, ngó trân trối ra đêm sắp tàn. Xà-niên, thiệt là nghe hai tiếng đó tôi chịu không nổi. Bởi từ khi biết được nguồn gốc của xà-niên, tôi đã ngậm hờn cho ông Cổ như ngậm hờn cho chính mình. Thế mà thằng Bảy Vàng muốn tôi trở thành con xà-niên lắm.

Tôi hỏi má Năm, giọng giận dữ:

- Bây giờ nó ở đâu má?

- Ai, Bảy Vàng hả, nó chết rồi!

- Chết rồi?

- Ừ, chết hôm phá ấp, cách đây chưa được nửa tháng. Tụi anh em thằng Vững bao vây bót bắt được nó. Nghe đâu nó quỳ sụp xuống lạy anh em. Con vợ nó khóc ròng. Nó còn bảo vợ chắc thế nào cách mạng cũng khoan hồng. Tụi thằng Vững bắn nó tại chỗ!

Tôi thở phào. Câu chuyện Bảy Vàng đền tội làm cơn giận của tôi dịu bớt. Má Năm lại hỏi tôi:

- Từ hồi con đi tới giờ có gặp lại chị Hòa với cô Tám con không?

- Con đâu có gặp. Không biết chị Hòa con giờ có còn ở Phước-lai với dì Sáu Xích không. Còn cô Tám con cũng chẳng biết ra sao, cô Tám con nghèo lắm ...

- Lúc trước má nghe con nói cô Tám con ở Phước kiển phải không?

- Dạ, hồi đó thì ở Phước-kiển, xóm bìa rừng ... Cách đây là gần bảy năm rồi!
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #67 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2011, 08:30:00 am »

                          Tiếp theo :

Má Năm ngó ngọn lửa bếp, có vẻ nghĩ ngợi. Hồi sau má day qua hỏi tôi:

- Con có muốn gặp cô Tám của con không?

- Con muốn lắm, nhưng làm sao mà gặp cho được?

Má Năm kéo rổ, têm trầu, cấu một miếng cau khô bỏ vô miệng. Má vừa thủng thỉnh nhai trầu, vừa nói:

- Để tao tính coi ... Chỉ sợ cô của con đã dời đi miệt khác, chớ còn ở nguyên nơi đó thì không khó ...

- Con chắc cô Tám con không đi đâu, ở đó còn có củi rừng, quơ về bán mua gạo, chớ đi chỗ khác lấy gì mà sống.

- Thôi được, để tao đi lên trển kiếm cô Tám dắt về đây cho hai cô cháu gặp nhau. Rủi không gặp thì chắc cũng biết được tin tức. Từ đây lên trên đó đâu có xa xôi gì, tốn có mấy chục đồng bạc

Tôi nghe má Năm nói mà muốn ứa nước mắt. Tôi không ngờ má toan tính giúp tôi cả chuyện đó. Lúc trời sáng rõ, má Năm đã nhổ lông xong hai con gà. Đang lúc tôi phụ đè ngửa con gà trên thớt để mổ thì nghe có tiếng chân thình thịch ngoài ngõ. Má Năm buông dao:

- Thằng Vững về đó!

Quả là anh Vững thiệt. Tôi nghe rõ tiếng anh cất lên từ ngoài ngõ:

- Má ơi, anh em có về đóng ở nhà mình không?

Tôi đứng phắt dậy, chạy ra:

- Có, có đứa này đóng ở đây đây!

Hai anh em tôi gặp nhau ở cổng. Anh Vững vùng la chói lói:

- Ủa, thằng Quyết hả mầy, trời đất ơi!

Anh vội dựng cây súng trường bá đỏ xuống gốc mít, rồi nhảy tới ôm tôi chặt cứng. Cái cạc-tút-se đạn anh đeo nơi lưng cộm vào bụng tôi. Buông tôi ra, anh ngó tôi từ trên xuống dưới: - Thằng lớn dữ ta ... Nè, có phải đêm trước tụi bây đi ngang đây không?

Tôi gật đầu. Anh Vững nói:

- Tao rượt theo em hết sức mà không kịp. Hồi lúc mờ sáng đó. Tao kêu chói trời bộ em không nghe sao?

- Em có nghe. Chắc là anh chạy theo tới chỗ cái hàng rào giây thép gai mà kêu em đó phải không?

- Thì tao đó chớ ai! Sao, đánh dứt điểm tụi Quán Chim rồi hả?

- Dà.

- Hồi đêm tụi tao đi tuần có gặp một tốp bốn cô khiêng thương binh, tao hỏi thăm, một đứa nói biết em.

- Anh Vững có biết cô đó tên gì không?

- Không, mà tao biết mặt. Con nhỏ đó còn nhỏ, coi dễ thương lắm. Tội nghiệp, nó đi khiêng anh em, mồ hôi mồ kê đổ ròng ròng.

Tôi nghĩ chắc chắn là Biếc, nhưng không nói ra. Tới trưa, khi má Năm đã lên đường đi Phước-kiển để đón cô Tám tôi thì Biếc đến. Biếc nói đã đưa anh Sáu Dũng vào Quân Y, nhưng chưa rõ cái chân bị đạn của anh có trúng xương không. Bây giờ Biếc đã tắm rửa ăn mặc sạch sẽ coi tươi tỉnh chớ không có vẻ gì nhọc mệt lắm. Tôi nắm tay dắt Biếc vô nhà:

- Sao biết tụi anh ở đây?

Biếc cười:

- Biết chớ sao không. Mấy đứa con nít ở đây nó nói rùm, đứa nào nó cũng biết anh. Bộ Bảy Vàng hồi đó dẫn anh về Xà-bang là Xà-bang này đây hả anh Quyết?

- Phải, đây là xứ của anh mà!

Tôi đưa Biếc vô nhà, giới thiệu với anh Vững. Nghe tôi nói đây là cô con gái đã từng ở đợ chung với tôi tại nhà Biện Tư thì anh Vững vui mừng hỏi:

- Vậy em là em Biếc?

- Dạ phải.

Biếc khẽ đáp và cười. Anh Vững lại hỏi:

- Có phải hồi hôm em khiêng thương binh đi ngang qua đây không?

- Dạ.

- Thôi đúng là em rồi, tôi nhớ ra rồi!

Chiều hôm đó, tôi rủ Biếc đi chơi quanh khắp Xà-bang. Tôi dẫn Biếc đi dưới vòm cây cao-su, chỉ cho Biếc con đường trước kia tôi vẫn thường lùa bò ra trảng cỏ. Biếc lặng lẽ đưa mắt nhìn suốt con đường đỏ sẫm ấy, như cố hình dung lại những ngày vất vả và trơ trọi của tôi. Rồi chúng tôi đi đến nhà trại cũ của Bảy Vàng. Cảnh vật đã đổi thay. Nhà Bảy Vàng xây lại thành cái bót, và vừa bị bà con Xà-bang san bằng, còn lổn nhổn vôi gạch, chỏng chơ những cây sắt còng queo. Khắp sân, giây thép gai bị vo cuộn lại từng đống lớn. Gian nhà kho thì còn y nguyên như lúc tôi ở cùng ông Cổ. Tôi dắt Biếc lại đó, chỉ cho Biếc thấy cái nơi tôi đã sống qua ba năm cho tới lúc trốn ra khỏi nhà Bảy Vàng. Đã mấy năm trôi đi, mà giờ đây tôi vẫn còn như ngửi thấy mùi bò trộn lẫn mùi khói. Dường như bên tai tôi hãy còn tiếng bò rống, tiếng chân bò chen chạy vào chuồng, nện móng đồm độp. Và tôi còn mơ hồ như nghe thấy từ miệt sóc Chùm-đuông vọng lại tiếng tù và, rồi tiếng chình-kha-la bùng dậy, cùng một lúc hiện lên dáng ngồi bất động của ông Cổ trong ánh lửa, bên cây đờn tre thô sơ mộc mạc ấy.

Trưa hôm sau, má Năm trở về, dắt theo cô Tám tôi. Trong khi cô Tám ôm tôi mà khóc, thì má Năm kể lể:

- Y theo lời con chỉ, má tầm tới bìa rừng Phước- kiển. Mèn đét ơi, má tới đó thấy xóm bìa rừng bị pháo bom cày nát hết. Hố bom đìa cái nào cái nấy ngó phát chóng mặt. Má trở ra xóm hỏi thăm bà con ở đó, mới biết cô Tám con đã vô ở trong chùa Phước-lai. Má tính bề nào cũng đã đi thì đi cho trót. Má lội vô Phước-lai, mới gặp cô Tám con ở đó!

Tôi nhìn thấy cô Tám tôi gầy gò tiều tụy hơn hồi trước nhiều. Coi cô Tám nay hệt một bà vãi. Cô đội khăn màu già, quần áo cũng đều nhuộm già. Sau khi ôm tôi khóc, cô chỉ ngồi dòm tôi chớ chưa nói được câu nào. Đã gần bảy năm trời, hai cô cháu tôi mới lại gặp nhau, kể từ cái buổi trưa tôi vác bó củi ở rừng về gặp Biện Tư tới đòi nợ mấy giạ lúa, rồi tôi đi về ở đợ cho y để mong trừ mấy giạ lúa đó. Tôi biết hồi nãy cô Tám tôi khóc là cô chạnh nghĩ tới cảnh thương tâm cũ, do mình mắc nợ mà cháu mình phải đem thân làm tôi tớ cho người. Đó là tiếng khóc nửa xót thương, nửa ân hận vì không cưu mang được tôi, giữa lúc ba má tôi mới chết, để rồi sau đó tôi lưu lạc, mãi tới hôm nay khi gặp lại, thì tôi đã lớn, đã thành người chiến sĩ giải phóng.

Tôi phải lựa lời an ủi cô mãi, cô mới bớt khóc. Cô Tám lấy trong giỏ xách ra ba ổ bánh mì, một gói đường thẻ và một chục vú sữa kêu tôi mời anh em trong khẩu đội ăn. Giờ tới lượt tôi rưng rưng nước mắt. Lần lần, cô mới kể cho tôi nghe mọi chuyện. Cô nói sau lúc tôi rời nhà Biện Tư thì Biện Tư sai con gái vô dỡ nhà cô, đuổi cô và thằng Cồ ra khỏi miếng đất bìa rừng. Cô phải dắt thằng Cồ lội về Phước-lai ở nhờ nhà dì Sáu Xích. Lúc đó chị Hòa tôi cũng còn ở đó. Mấy tháng sau cô xin với xã cho cô làm phận sự coi sóc nghĩa trang liệt sĩ. Cô nói:

- Mà khi đó chỉ có mình cô ở cái chùa kế nghĩa trang, chớ thằng Cồ cũng đã đi rồi!

Tôi ngạc nhiên hỏi:

- Ủa, em Cồ đi đâu?

- Nó đi bộ đội như cháu chớ đi đâu bộ đội huyện. Con Hòa chị của cháu cũng lên công tác phụ nữ trên huyện. Hai chị em vẫn thường ghé thăm cô.

Nói tới đây, vẻ mặt cô Tám tôi chợt rạng lên. Cô chúm chìm cười và tiếp:

- Cô thường gặp anh Tư Râu, nghe ảnh nói con Hòa bây giờ khá lắm, làm chấp hành phụ nữ huyện. Anh Tư Râu cũng khen thằng Cồ, ảnh nói nó đánh giặc gan lắm ...
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #68 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2011, 08:31:31 am »

                                     Tiếp theo :

- Chú Tư Râu Sắt giờ cũng còn ở Phước-lai hở cô?

- Còn, coi như anh Tư Râu ảnh cầm cốt mọi công chuyện trong xã. ở Phước-lai bây giờ khác trước lắm cháu. Chánh quyền, đoàn thể có đầy đủ. à, chắc cháu chưa hay, phần mả của ba má cháu đã dời vô nghĩa trang từ lâu chớ không còn ở ngoài gò nữa. Tất cả cô bác anh em nào hy sinh hồi năm đều được bốc cốt đem về chôn cất đàng hoàng trong nghĩa trang. Bà con đóng góp tiền bạc làm mộ bia tử tế lắm. Cô ở đó ngày ngày lo dẫy cỏ, quét dọn. Vô ra ngó thấy hai nấm mả ba má cháu nằm sóng đôi, cô lại ứa nước mắt, lại nhớ tới hai chị em bây. ở một mình buồn lắm, nhưng coi sóc các phần mộ cô thấy có sự an ủi. Cô già rồi, không đánh giặc giã gì được, thôi thì cô ráng làm chuyện đó. ở nghĩa trang sau này có thêm nhiều phần mả mới, phần lớn là mấy chú du kích hy sinh. Cũng là đánh giết tụi nó rồi chết chớ ít có ai bị tụi ác ôn làm hại như hồi mấy năm trước ...

Tôi hỏi:

- Lúc cháu đi khỏi nhà Biện Tư, cô có biết không?

- Biết, nhưng ban đầu cô cứ ngỡ con trốn. Là vì con Len con gái Biện Tư nó vô la ó: "Thằng cháu bà nó bỏ trốn rồi. Nó mần chưa trả dứt bốn giạ lúa, vậy bà phải đóng trả không thì tôi cào nhà!". Cô có lúa đâu mà đong, năn nỉ nó hoài không được, đành để nó cào nhà.

Tôi nghe nói giận quá, la lớn:

- Trời đất ơi, thằng cha Biện Tư biểu cháu đi lên Xà bang giúp cho em thằng chả là Bảy Vàng, vậy mà nó dám trở mặt, thiệt quân chó đẻ!

- Thôi đừng chửi nó nữa con, nó bị xử tử hình là coi như đã đền tội, trong đó có cái tội cào nhà mình rồi!

Tôi chạy đi rủ Biếc lại, giới thiệu với cô tô

- Cô Tám à, em Biếc đây hồi đó coi trâu với cháu ở nhà Biện Tư.

Cô tôi kéo Biếc lại ngồi bên nói:

- Hồi đó cô có nghe nói, mà không biết cháu. Nghe đâu cháu còn có một đứa em nữa phải không?

- Dạ.

- Bây giờ cháu mần việc chi?

Biếc chưa kịp đáp, thì Lắm Kèn đã xen vào thưa:

- Dạ chị Biếc đây là thanh niên xung phong, nghĩa là chị lo tải đạn cho tụi cháu đánh giặc. Tụi cháu đánh giặc rủi bị thương hoặc hy sinh là chị cũng tải luôn!

Mọi người trong nhà đều cười ồ. Lắm lại thưa tiếp với cô tôi:

- Thiệt tình là từ ngày có mấy chị thanh niên xung phong như chị Biếc đây về đơn vị, tụi cháu đỡ khổ hết sức vậy cô. Được tiếp đạn, tải thương đã đành, mà quần áo tụi cháu rách mấy chị cũng vá cho ...

Dứt lời, Lắm quay sang Biếc trong tư thế đứng nghiêm:

- Bởi vậy cho nên hôm nay tôi nhơn danh là trực nhựt, xin mời chị Biếc ở lại dùng cơm với khẩu đội chúng tôi!

Mọi người lại cười ồ lên nữa. Biếc mắc cỡ đỏ mặt chạy xuống bếp tiếp dọn cơm với má Năm.

Sau khi ăn cơm xong, Biếc ra về rồi, cô Tám hỏi:

- Con nhỏ đó tao coi được quá. Nó còn nhỏ mà ăn nói thiệt mềm mỏng dễ thương!

Đêm đến, tôi mắc võng bên cạnh giường má Năm dọn cho cô Tám nghỉ lại. Hai cô cháu tôi trò chuyện tới khuya. Tôi sực nhớ bữa thằng Hoành rút súng bắn con Phèn, liền nhổm dậy hỏi:

- Cô Tám à, Biện Tư đền tội rồi, nhưng còn thằng con rể của y là thằng Hoành, chỉ huy biệt kích. Theo như lời anh Ba Đấu hồi đó cũng ở trong nhà Biện Tư, thì ảnh nghi chắc tụi thằng Hoành giết ba má cháu. Thằng nầy bây giờ không biết ở đâu. Nó ác ôn lắm, chuyên môn ăn gan người xào. Có lần đánh con dữ lắm, rồi sau đó nó đi đêm về bị con Phèn cắn, nó rút súng bắn con Phèn. Chẳng biết nó bắn có trúng con Phèn hay không mà ngồi trong chòi cháu nghe con Phèn kêu lên một tiếng rồi chạy luôn, từ đó không trở lại chòi trâu với cháu lần nào nữa.

Nằm trên giường, cô Tám tôi ngồi bật dậy, đập tay xuống chiếu kêu lên:

- Trời ơi, vậy sao, vậy là con Phèn có tới chòi trâu rồi có bị bắn hả? Hèn chi bữa đó nó đi đâu nửa đêm về nằm rên nhỏ nhỏ. Cô với thằng Cồ thắp đèn thức dậy thì thấy nó bị lủng sườn, lết tới đâu máu chảy ròng ròng tới đó. Cô đâu có biết, cứ ngỡ nó bị ai đâm đặng tính ăn thịt ... Tội nghiệp con chó biết chừng nào, lúc cô kiếm vải băng bó, nước mắt nó tuông ra. Sau đó con Phèn chết Quyết à. Nó không chết tại nhà. Ngay đêm đó nó mang vết thương đi biệt. Cô lại ngỡ nó ra ngoài rừng chết cho mình khỏi đau lòng. Nào ngờ trong đêm đó nó đi về tới tận Phước-lai, lần ra ngoài gò mả. Hôm sau chị Hòa cháu ra thăm mả ba má cháu thì thấy con Phèn nằm chết trên mả ...

Nghe cô tôi kể tới đó, tôi bỗng rùng mình nổi gai ốc khắp người. Thiệt là tôi đâu có dè cái chết của con Phèn lại diễn ra như vậy. Nỗi vướng mắc của tôi về con Phèn kéo dài suốt bảy năm giờ mới được cởi ra, nhưng lại cởi thế đó. Chẳng khác gì cởi rồi lại buộc vàọ một cái gút khác làm ruột gan tôi đau thắt. Như vậy là con chó của tôi đã chết bởi phát súng của thằng Hoành, nhưng không chết ngay mà còn ráng lết về bên mả chủ. Thình lình tôi thấy hiện ra trước mắt tôi hình ảnh cái đêm tối mịt mùng trùm phủ cánh rừng và đồng ruộng, con Phèn bị trọng thương lê đi từng bước một, đau đớn mà ngậm miệng không rên rỉ tru la lên một tiếng. Con đường từ ven rừng Phước-kiển đổ về Phước-lai đâu có gần, lại còn phải sang sông, tiếp đó là những cánh đồng xa tít. Trời, làm sao con chó bị thương ấy lại đi nổi. Hẳn là trong cái đêm đó, con Phèn đã phải vật vã chiến đấu trên từng chặng đường ngắn, thở hồng hộc, đổ gần hết máu của mình để về cho được tới nơi mà nó đã chọn làm nơi nằm xuống. Tôi mường tưởng ra cảnh ấy và nhớ lại hồi tôi bị thằng Hoành đánh nằm liệt ở chòi trâu, đêm nào con Phèn cũng mò tới chòi, chạy quanh rồi đến nằm thè lưỡi liếm những vết thương trên người tôi. Cho tới bây giờ, đã bảy năm trôi qua, thế mà tôi vẫn có cảm giác y như cái lưỡi ram ráp của con vật thân yêu ấy mới vừa thè ra âu yếm liếm lên người mình.

Giữa lúc thao thức không ngủ được về chuyện con Phèn, bỗng Khởi vào gọi tô

- Anh Quyết, anh Quyết!

- Cái gì đó?

- Anh Ba Đấu vừa cho người gọi anh lên Ban Chỉ huy tiểu đoàn liền bây giờ.

Tôi nhảy xuống khỏi võng, nói với cô Tám:

- Cháu có việc lại đằng nầy một chút, cô Tám ngủ đi cho khỏe đặng mai còn đi về!

Tôi đi thẳng lên chỗ Ban Chỉ huy tiểu đoàn. Vừa bước vô nhà, tôi ngó thấy đông đủ các anh Ban Chỉ huy tiểu đoàn và đại đội ngồi trên tấm đệm trải giữa nhà. Anh Chánh kéo tôi ngồi xuống hỏi:

- Nghe nói em có người cô lên thăm phải không?

- Dà.

- Mấy anh bận quá, có cử anh Đấu sáng mai tới thăm cô em. Còn bây giờ mình bàn vô công việc một chút. Chắc em cũng biết, chỉ còn vài hôm nữa là tới ngày giỗ đầu của anh Trỗi. Để kỷ nỉệm anh hùng Nguyễn Văn Trỗi là người đầy khí tiết dũng mãnh trước quân thù, chúng ta sẽ đánh vô sào huyệt của những thằng đầu hàng phản bội. Đó là trung tâm chiêu hồi Long-điền.

Anh Chánh cầm cây que trỏ vào sa bàn:

- Theo báo cáo của trinh sát, trung tâm chiêu hồi này có hỏa lực đề kháng khá mạnh. Địch xây công sự nửa chìm nửa nổi. Do đó hỏa lực trung liên và đại liên của chúng đều đặt rất thấp để bắn rà sát. Ta đã có B.40 nhưng nếu ta xử dụng B.40 thì cũng phải tiếp cận đủ cự ly có thể phát hỏa. Trong khi tổ chức tiếp cận, phải khống chế hỏa lực địch. Mấy anh muốn hỏi em là em thấy có khả năng bắn đại liên yểm trợ xung phong được không?

Tôi suy nghĩ một chốc rồi đáp:

- Báo cáo, bắn được chớ sao lại không?

- Nhưng yêu cầu khá găng đó!

- Găng là sao anh, em chưa rõ?

Anh Chánh dơ lên:

- Nghĩa là em phải bắn sao cho đạn đi trên đầu anh em chừug một tấc thôi, găng là găng chỗ đó!

Tôi im lặng. Giờ thì tôi đã rõ. Vấn đề là ở chỗ gang tấc ấy. Yêu cầu nầy, khi vỡ lẽ ra rồi, tôi thấy khá gay gắt. Có lẽ đây cũng là lần đầu tiên, tôi im lặng khá lâu trước một yêu cầu do chính đồng chí tiểu đoàn trưởng đề ra trực tiếp với tôi. Sự thiệt bắn địch thì không khó, nhưng phải bắn địch sao cho anh em tiến lên dưới làn đạn mà không hề gì, việc ấy không đơn giản. Anh em sẽ bò lên, và tôi sẽ gài đạn cách đầu anh em chỉ một tấc. Trên một tấc ấy là địch, dưới một tấc ấy là ta.

Tính toán, cân nhắc mãi, sau cùng tôi đứng lên nói:

- Báo cáo, em xin lãnh nhiệm vụ đó!          (hết chương 27 )
--------------------------------
1   Ăn.
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #69 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2011, 08:39:06 am »

                                           
CHƯƠNG HAI MƯƠI TÁM

Trời sắp sáng.

Ở quá trong kia một chút, thị trấn Long-điền đã bắt đầu ồn ào. Tiếng ồn ào nghe lớn dậy dần. Bóng đêm nhòa nhợt. Qua những hàng rào giây thép gai và những lớp bùng nhùng, tôi đã nhận ra các hầm cố thủ mái bằng nửa chìm nửa nổi của giặc với những lỗ châu mai thấp sát mặt đất. Nhớ lại mô hình sa bàn tôi thấy rất giống, nhưng trận địa bày ra trước mắt vẫn thiệt hơn, một lần nữa cho phép tôi tính toán kỹ hơn. Rõ ràng là yêu cầu của Ban chỉ huy đề ra cho khẩu đội đại liên chúng tôi lần này thiệt gắt gao. Chưa có lần nào tôi lãnh một nhiệm vụ nặng nề như lần này. Nặng nề, nguy hiểm đồng thời lại là một thử thách có ý nghĩa phân biệt ta địch ở tầm mức cụ thể nhất. Cả khẩu đội chúng tôi đã bàn bạc hiệp đồng chặt chẽ, cả khẩu đội đều hạ quyết tâm, và người chịu trách nhiệm bắn chính là tôi. Anh em đều tin tưởng tôi hy vọng ở tôi.

Hôm qua, Lắm Kèn cổ võ: "Mầy đừng lo, cứ bắn tỉnh!". Tôi nghĩ Lắm động viên khuyến khích tôi, nhưng Lắm bảo tôi không lo sao được. Tôi lo là lo bắn trúng anh em mình. Thiệt tôi không thể tưởng tượng nổi nếu rủi ro một viên đạn của mình bắn trúng vào anh em thì mình sẽ ra sao. Câu nói sau cùng của anh Chánh tiểu đoàn trưởng còn vẳng bên tai tôi: "Đó, ta và địch chỉ cách nhau có mười phân, em liệu bắn sao đó thì bắn!".

Giây lát nữa đã đến giờ nổ súng. Thời gian như bị ghìm lại, trôi quá chậm chạp. Phát Đ.K.75 đầu tiên nổ dữ dội. Trận đánh vào thị trấn mở màn vào giữa lúc buổi sáng mới rạng. Đó là sự bất ngờ đối với giặc. Sau nhũng trái đạn Đ.K. bắn thẳng, cuốn tung giây thép gai và bùng nhùng, anh em chúng tôi từ khắp nơi trên ruộng lao lên. Trong khi tôi vẫn chưa cho đại liên nhả đạn, thì Lắm đã đứng xổng lên với cây kèn Mỹ sáng loáng. Thế rồi tiếng kèn của Lắm trỗi dậy. Lắm thổi bản "Tiến binh". Khác hẳn khi tập thổi ở nhà, hồi kèn Lắm thổi sáng nay gióng lên giục giã lạ thường. Theo tiếng kèn anh em tràn lên như gió. Tôi như bị hồi kèn dựng dậy, suýt xách dại liên vọt lên theo.

Đ.K. đã thôi bắn. Địch đã bắt đầu lên tiếng. Trung liên và đại liên của chúng nổ ran. Anh em chúng tôi đã nằm rạp, cắp súng bò trườn tới. Bấy giờ tôi nổ súng. Nhè vào các lỗ châu mai địch đang nhả đạn đó, tôi bắn chế áp từng loạt ngắn, rồi dần dần bắn siết hơn. Hỏa lực của địch liền bị cắt rời ra. Vừa bắn tôi vừa để ý ngó nhìn anh em đang trườn tới dưới làn đạn của tôi. Có giọng nói mừng rơn của anh Đấu ở sau lưng:

- Được đó, cứ vậy mà bắn!

Tôi có cảm tưởng như hồi nhỏ tôi gieo đồng xu cho rớt vô lỗ đáo mà không trúng đồng xu nào nằm bên cạnh.

Luồng đạn của tôi bắn ra bây giờ cũng vậy. Đạn bay trên các vành mũi tai bèo của quân ta chừng một tấc không hơn không kém. Tôi vẫn bắn tỉnh, và trấn áp được hỏa lực địch. Nhưng rồi sự căng thẳng dần dần tăng lên, vì tôi phải tập trung tinh thần cao độ để điều khiển đường đạn cho thiệt chính xác. Mồ hôi bắt đầu rỏ giọt xuống hai bên thái dương tôi. Nằm cạnh tôi, Khởi vẫn đều đều nâng giây đạn trên tay, như là đút cho khẩu đại liên ăn. Còn Cần thì đã mở sẵn nắp một thùng đạn mới. Thấy tôi tháo cả mồ hôi hột, anh Đấu nói:

- Sắp xong rồi, một chút nữa thôi!

Tôi hiểu ý anh Đấu nói. Dưới làn đạn yểm trợ của tôi, tự nẫy giờ anh em đã bò vào rất gần. Chỉ cần một chút nữa thôi là đã có đủ cự ly cho B.40 phát hỏa tiêu diệt các ổ đề kháng kia. Hỏa lực địch bị kềm chế đã tỏ ra không đủ sức ngăn cản quân ta đang trườn tới. Trung liên và đại liên của chúng nổ tằng tặc, rồi ngưng, như thể bị kẹt đạn, đầy vẻ tức tối. Bọn xạ thủ bị tôi xổ đạn vô mặt, nên cứ trồi thụt không thể bắn được như ý muốn.

Bỗng tôi ngó thấy phía trước, chỗ anh em đang tiến, có một lá cờ đỏ phất lên. Anh Đấu la:

- Thôi Quyết!

Tôi buông rời tay ra khỏi cò súng. Khẩu đại liên như con ngựa đang hăng nhảy khựng lên lần cuối rồi đứng yên. Tôi đưa tay áo quệt mồ hôi. Trời đã sáng rõ.

Loáng thoáng thấy anh em xạ thủ B.40 đang lẹ làng chỗi dậy, quỳ rùn một gối chân, đặt ống B.40 lên vai. Những phát B.40 nổ "bung bung" liền theo đó. Khói bụi bốc lên mù mịt không còn thấy gì hết. Lúc những bựng khói và bụi kia mới vừa lắng xuống, anh em đã rần rần chạy tràn vào. Lắm lại đưa kèn lên thổi. Tôi thấy Lắm đứng thẳng, phùng má, ra sức thổi đến nỗi mồ hôi chảy có giọt, lăn xuống vệt sẹo đỏ lưỡng nơi má. Anh Ba Đấu ra lệnh cho khẩu đội tôi lên. Rồi cầm lăm lăm khẩu súng ngắn, anh vọt lên trước. Giải khăn sọc đen trắng buộc trên đầu anh Đấu bay phần phật trong đà chạy.

Tôi nhấc bổng khẩu đại liên, cùng Khởi và Cần lao lên. Vừa tới chỗ các công sự vừa bị diệt, một số anh em ở đại đội tôi và đại đội khác vụt la lên:

- A, Quyết giò đây rồi anh em ơi!

Thế là anh em đổ xô lại bên tôi. Tôi hoảng hồn không biết anh em định làm gì mình, thì thoắt cái họ đã xúm lại khiêng tôi cùng cả khẩu đại liên:

- Hoan hô Quyết giò, Quyết giò muôn năm!

- Hoan hô đại liên C1!

- Bắn như vậy thì tụi tao phục lăn cù mày luôn đó Quyết!

- Ê, đạn mày đi thiếu điều cháy tóc tụi tao hết đây nè!

- Hoan hô Lắm Kèn .nữa. Thằng thổi kèn độc quá làm tụi tao mọc cánh hết thảy!

Tôi năn nỉ:

- Mấy anh làm ơn buông tôi ra, không thì bứt thân bứt tay tôi hết

Anh em thả tôi xuống trên đám vôi gạch lổn nhổn, rồi xách súng chạy tới. Từ một vài nơi trong thị trấn, súng vẫn còn đang nổ. Anh Đấu nói:

- Tụi nó còn chống cự. Phải diệt sạch tụi nầy rồi thộp cổ đám chiêu hồi luôn!

Khẩu đội tôi vào phố, tiến thẳng về hướng ta và địch còn đánh nhau. Chỉ một lát sau, tôi đã nhìn thấy ngay trước mặt, anh em đang tiến rất khó khăn. Bọn địch còn lại chừng vài chục tên đang ở trên một nóc nhà bằng, bắn xối xả xuống mặt đường. Hết bắn chúng lại buông lựu đạn xuống. Anh em ở dưới bắn lên, lâu lắm mới hạ được một tên. Còn chúng thì có lợi thế trên cao, cứ một lát lại bắn quỵ một vài anh em ta dưới đường. Tôi nóng ruột quá, chưa biết tính sao. Chợt một ý nghĩ lóe ra trong đầu tôi: "Phải tìm một nơi nào cao hơn chúng, hoặc ít ra cũng phải cao bằng chúng mới được!". Tôi chưa nói ra ý nghĩ ấy thì Khởi kéo tay tôi chỉ một ngôi nhà lầu hai tầng nằm đối diện với cái nóc bằng địch đang bám trụ.

- Anh Quyết, mình đem đại liên lên đó đi!

Tôi dòm kỹ thấy cái nhà lầu đó là một tiệm vàng, cửa bên dưới còn bỏ trống. Trước tiệm treo biển đề "Đức Tín". Tôi nghĩ có thể leo lên lầu tiệm vàng đó để bắn địch, dầu địch có bắn lại hư hao thì chủ tiệm này cũng không nghèo. Tôi liền xin với anh Đấu cho khẩu đại liên tôi lên đó. Anh Đấu quan sát kỹ rồi đồng ý. Lập tức chúng tôi men lên lề phố, tuôn vô tiệm vàng. Cả cái gia đình người chủ tiệm bây giờ đang nằm bẹp dưới gạch Thấy chúng tôi ùa vô, ông chủ tiệm đang nằm sấp, ngóc đầu dậy run cầm cập. Tôi nói:
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM