Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:58:12 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những kiến giải về sự hình thành và danh xưng quân hàm thế giới  (Đọc 150505 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
thainhi_vn
Thành viên
*
Bài viết: 705


« Trả lời #80 vào lúc: 12 Tháng Mười, 2011, 08:19:19 pm »

Sự rắc rối về danh xưng cấp bậc và cấp hiệu của Lục quân Mỹ vẫn chưa dừng ở đó. Dù đã nghỉ hưu năm 1924, tuy nhiên cấp bậc General of the Armies của Pershing vẫn được công nhận là cấp bậc cao nhất, đứng trên các cấp bậc tướng khác. Năm 1944, trong cuộc chiến chống Phát-xít, các tướng lĩnh Mỹ tuy nắm một số chức vụ Tổng chỉ huy, nhưng đối chiếu quân hàm có phần lép vế với các Thống chế Anh hoặc (Nguyên soái) Liên Xô. Để vớt vát, người Mỹ dự định đặt ra một cấp bậc tương đương với cấp bậc Field Marshal của Anh. Vấn đề nảy sinh ngay lập tức là người Mỹ có truyền thống sử dụng cụm từ U.S. Marshal để chỉ cảnh sát tư pháp và tướng lĩnh đầu sổ được phong cấp bậc này lại chính là George Marshall. Sẽ ra sao nếu gọi ông là Field Marshal Marshall? Một giải pháp được đưa ra là lấy lại danh xưng cấp bậc General of the Army để đặt cho cấp bậc tương đương Thống chế.

Vấn đề danh xưng cấp bậc xem như được giải quyết. Các nhà lập pháp Mỹ nhanh nhẩu thiết kế ngay một cấp hiệu 5 sao xếp theo hình ngũ giác để quy định cấp bậc này. Nhưng khổ nỗi là Pershing khi đấy vẫn còn sống và vẫn được giữ danh xưng General of the Armies và cấp hiệu 4 sao vàng. Các nhà lập pháp Mỹ chấp nhận "đôn" cấp bậc General of the Armies lên cao hơn cấp bậc General of the Army nên đã từng có một đề nghị đổi cho Pershing cấp hiệu 5 sao, thậm chí 6 sao để Pershing "đeo" cho phù hợp. Tuy nhiên,  Pershing đã không bao giờ sử dụng cấp hiệu này, cũng như những sự việc lùm xùm sau đó nên cấp hiệu 6 sao không bao giờ chính thức xuất hiện.

Thống tướng Marshall với quân hàm 5 sao "tương đương Field Marshal"
Logged
thainhi_vn
Thành viên
*
Bài viết: 705


« Trả lời #81 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2011, 10:23:25 pm »

Cũng như Lục quân, danh xưng quân hàm Hải quân Mỹ cũng chịu ảnh hưởng nhiều từ người Anh. Tuy nhiên, trong một thời gian dài, Hải quân Mỹ chỉ là những chiếc tàu thuê mướn hoặc trưng dụng từ các tàu buôn. Mãi sau khi thông qua Đạo luật hải quân 1794, Hải quân Mỹ mới được xây dựng với đội tàu chiến gồm 6 chiếc frigate: USS United States, President, Constellation, Chesapeake, Congress, và Constitution. Năm 1797, một hệ cấp bậc sĩ quan Hải quân cũng được quy định chỉ với 2 cấp bậc sĩ quan là Captain và Lieutenant. Cấp hiệu của Captain được quy định là 2 lon tua vàng (epaulet) đeo 2 bên vai và Lieutenant mang 1 lon tua vàng bên vai phải.

Lực lượng Hải quân Mỹ trong một thời gian dài chỉ dừng ở những đội tàu nhỏ, chủ yếu là nước Mỹ non trẻ chưa đủ sức để xây dựng một lực lượng hải quân hùng mạnh như người Anh hay người Pháp. Các cấp bậc sĩ quan Hải quân Mỹ cao nhất chỉ đến bậc Captain. Mãi đến năm 1802, hệ thống cấp bậc sĩ quan Hải quân Mỹ được quy định thành 4 bậc với cấp hiệu như sau:

1. Commodore: 2 epaulet vàng với sao bạc
2. Captain: 2 epaulet vàng
3. Lieutenant in command: 1 epaulet vàng bên vai phải
4. Lieutenant: 1 epaulet vàng bên vai trái.


Cấp hiệu sĩ quan Hải quân Mỹ năm 1802

Năm 1806, Hải quân Mỹ đặt ra cấp bậc Master Commandant được xem là đứng trên nhưng lại mang cấp hiệu giống như cấp bậc Lieutenant in command.

Sau cuộc chiến với Anh từ năm 1812 đến 1815, lực lượng Hải quân Mỹ được mở rộng hơn, số lượng sĩ quan cũng tăng lên. Năm 1820, một hệ cấp hiệu mở rộng để có thể phân biệt những sĩ quan đồng cấp nhưng có khác biệt về thâm niên. Người Anh về sau cũng bắt chước kiểu phân cấp hiệu này.

1. Commodore: 2 epaulet vàng với sao bạc và 2 mỏ neo bắt chéo
2. Captain trên 5 năm: 2 epaulet vàng với 2 mỏ neo bắt chéo
3. Captain dưới 5 năm: 2 epaulet vàng với 1 mỏ neo thẳng
4. Master Commandant: 2 epaulet vàng
5. Lieutenant trên 5 năm: 1 epaulet vàng bên vai phải
6. Lieutenant dưới 5 năm: 1 epaulet vàng bên vai trái.

Hình thức của epaulet cũng đẹp hơn. Kèm theo là những quy định về họa tiết trên quân phục.


Cấp hiệu Captain trên 5 năm từ năm 1820
« Sửa lần cuối: 15 Tháng Mười, 2011, 12:32:14 am gửi bởi thainhi_vn » Logged
thainhi_vn
Thành viên
*
Bài viết: 705


« Trả lời #82 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2011, 09:03:56 pm »

Trước các cường quốc Hải quân như Anh, Pháp, Hải quân Mỹ không thực sự chứng minh được ưu thế trên biển. Các đội tàu chiến Mỹ chủ yếu làm nhiệm vụ đánh phá các tàu tiếp vận và vận chuyển đổ bộ (một trong những lý do hình thành lực lượng Marine độc lập của Mỹ). Mãi đến cuộc chiến với một Mexico yếu hơn, Hải quân Mỹ mới tung hoành ngang dọc, thực sự chiếm một ưu thế rõ rệt. Cuộc chiến này không chỉ mang về cho nước Mỹ vùng Texas giàu có, mà còn thúc đẩy nước Mỹ phát triển một lực lượng Hải quân và TQLC hùng mạnh.

Từ 1832 đến 1852, hệ thống danh xưng cấp bậc và cấp hiệu của Hải quân Mỹ có những thay đổi như sau:

- Sailing Master: một cấp bậc tương tự như Sergeant của Lục quân, nhưng lại mang tính chuyên nghiệp hơn. Chính vì vậy, vai trò của các Sailing Master cao hơn so với Lục quân. Thậm chí, một số Sailing Master còn được giao các vai trò chỉ huy tàu chiến như những sĩ quan thực thụ, hình thành cấp bậc Master Commandant, thay thế vai trò của Lieutenant in Command. Từ năm 1837, cấp bậc Sailing Master được chính thức đưa vào cấp bậc sĩ quan và phân thành 2 cấp rõ rệt: Sailing Master cũ trở thành cấp bậc Master, đứng dưới bậc Lieutenant và Master Commandant được đơn giản hóa thành Commander, đứng trên bậc Lieutenant.

- Commodore: được trả về chỉ còn là một cấp danh dự của các thuyền trưởng nhiều kinh nghiệm (thậm chí từng có quy định là Commodore là danh hiệu dành cho các Captain của Bộ Hải quân). Danh xưng cấp bậc cao nhất chính thức vẫn là Captain.
Logged
thainhi_vn
Thành viên
*
Bài viết: 705


« Trả lời #83 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2011, 09:51:01 pm »

Con đại bàng nước Mỹ xuất hiện trên cấp hiệu Captain vào năm 1852. Không như phù hiệu đại bàng của Lục quân, đại bàng Hải quân có hình dáng đang đậu trên mỏ neo.


Đại bàng Lục quân


Đại bàng Hải quân

Cũng trong năm 1852, một số quy định khác về cấp hiệu, bao gồm cả epaulet, cầu vai, vạch cổ tay cũng được quy định cụ thể như:

1. Captain: Phù hiệu đại bàng trên cầu vai. Trên epaulet mang thêm ngôi sao bạc. Tay áo mang 3 vạch vàng
2. Commander: Phù hiệu 2 mỏ neo bắt chéo. Tay áo mang 2 vạch vàng
3. Lieutenant: Phù hiệu 1 mỏ neo đứng thẳng. Tay áo mang 1 vạch vàng
4. Master: Không mang phù hiệu trên cả epaulet lẫn cầu vai. Tay áo như các bậc sĩ quan khác nhưng không mang vạch vàng.


Cấp hiệu sĩ quan Hải quân Mỹ từ 1852 - 1862

Năm 1857, Quốc hội Mỹ đặt thêm một cấp hiệu tạm thời gọi là Flag Officer. Flag Officer không phải là một cấp bậc danh dự như Commodore nhưng nó cũng giữ vai trò dành để phân biệt cho các Captain được giao nhiệm vụ chỉ huy một đội tàu, tạm thời đứng trên các Captain khác. Flag Officer mang cấp hiệu Captain nhưng chỉ khác là mang 2 ngôi sao trên cả epaulet lẫn shoulder-strap.
« Sửa lần cuối: 16 Tháng Mười, 2011, 10:15:02 pm gửi bởi thainhi_vn » Logged
thainhi_vn
Thành viên
*
Bài viết: 705


« Trả lời #84 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2011, 10:36:37 pm »

Nội chiến Mỹ nổ ra, Liên minh miền Nam sớm tỏ rõ ý ly khai khi nhanh chóng thiết lập hệ thống cấp hiệu quân hàm của riêng mình. Dù sao cũng phải thừa nhận, hệ thống cấp hiệu của quân miền Nam khoa học hơn quân miền Bắc nhiều.

Hệ thống cấp hiệu Hải quân miền Nam phân biệt theo số sao trên cầu vai và vạch trên cổ tay áo, phân thành 4 cấp như sau:


1. Captain



2. Commander



3. Lieutenant



4. Master



Ngoài ra, cấp hiệu Flag Officer cũng được quy định đeo cầu vai giống như Captain, nhưng ở cổ tay mang 4 vạch vàng thay vì 3 như các Captain khác.

Tuy nhiên, năm 1862, cấp hiệu dành cho các đô đốc đã được đặt ra. Cũng giống như các tướng lĩnh Lục quân, các đô đốc Hải quân miền Nam cũng mang cùng một cấp hiệu dù cấp bậc có khác nhau. Cấp hiệu đô đốc được quy định là 4 ngôi sao trên cầu vai và 4 vạch vàng trên cổ tay áo.




Chuẩn đô đốc Raphael Semmes của Hải quân miền Nam
Logged
thainhi_vn
Thành viên
*
Bài viết: 705


« Trả lời #85 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2011, 11:14:52 pm »

Mặc dù không có đường bờ biển nhiều như miền Nam, nhưng do ưu thế kinh tế, Hải quân miền Bắc phát triển hơn nhiều. Vì vậy, cũng trong năm 1862, một hệ thống cấp bậc sĩ quan Hải quân được quy định với 8 cấp, cùng những thay đổi như sau:

- Cấp bậc Passed midshipman được nâng lên bậc sĩ quan hải quân sơ cấp với tên mới Ensign.
- Cấp bậc Lieutenant Commander được đặt ra và được quy định trên bậc Lieutenant như dưới bậc Commander.
- Cấp bậc Commodore được phục hồi.
- Và lần đầu tiên, cấp bậc đô đốc được đặt ra với cấp Rear Admiral.

Do sự gia tăng số lượng cấp bậc, cấp hiệu cổ tay cũng được điều chỉnh lại. Bên cạnh đó, hệ thống cấp hiệu cầu vai (gồm cả epaulet và shoulder-strap) được đồng hóa với cấp hiệu Lục quân, cho thấy lần đầu tiên hệ thống đối chứng cấp bậc Lục quân và Hải quân Mỹ. Đồng thời, hệ thống cấp bậc sĩ quan Hải quân dưới cấp đô đốc cũng ổn định cho đến ngày nay (chỉ trừ một thay đổi nhỏ ở cấp bậc Master).




Hệ thống cấp bậc và cấp hiệu Hải quân miền Bắc năm 1862

Có thể thấy rất rõ cấp hiệu cổ tay của Hải quân miền Bắc chịu ảnh hưởng của Hải quân Anh. Tuy nhiên, bấy giờ số lượng cấp bậc của người Mỹ nhiều hơn của người Anh (Anh 4 bậc trong khi Mỹ 6 bậc), nên người Mỹ đã khéo léo vận dụng vạch nhỏ ¼inch để bù cho đủ số lượng, từ cấp bậc thấp nhất mang 1 vạch ¼inch (Ensign) đến cấp bậc mang 3 vạch ½inch (Captain).

Điểm khác biệt lớn nhất là ở cấp hiệu trên bậc Captain. Người Mỹ không dùng dải lớn 1¾inch như người Anh và vẫn sử dụng các dải ½inch và ¼inch. Có lẽ xuất phát từ quan điểm các cấp bậc này chỉ là cấp bậc Captain cao cấp và chỉ dùng trong thời chiến chăng? Một trong những căn cứ cho kiến giải này chính là sự xuất hiện của đại bàng Hải quân Mỹ trên epaulet và 3 dải vàng Captain ở những cấp bậc trên. Có thể sai, nhưng cũng có thể đúng lắm chứ!  Grin
« Sửa lần cuối: 16 Tháng Mười, 2011, 11:46:24 pm gửi bởi thainhi_vn » Logged
thainhi_vn
Thành viên
*
Bài viết: 705


« Trả lời #86 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2011, 05:19:23 pm »

Cần nói thêm là cho đến tận năm 1862, Hải quân Mỹ không có ai được phong đến bậc đô đốc vì một lý do khá kỳ quặc là nhiều nghị sĩ Mỹ muốn tránh bất kỳ những gì có thể gợi đến nước Anh mà họ đã ly khai. Tuy nhiên không phải ai cũng nghĩ như thế. Những người ủng hộ thành lập một cấp bậc trên Captain, mà hăng hái nhất là John Jones, một sĩ quan hải quân cao cấp người gốc Scotland (về sau Jones từng giữ đến cấp Chuẩn đô đốc của Hải quân Nga), đã lập luận về việc Hải quân cần có những sĩ quan tương đương cấp tướng Lục quân, đứng trên và tránh được các tranh chấp giữa các Captain cấp cao. Ngoài ra, các đời Bí thư Hải quân cũng thuyết phục rằng các Captain của Mỹ không khỏi lép vế khi giao tiếp với các đô đốc của các quốc gia khác. Nhờ những nỗ lực đó, Quốc hội Mỹ cuối cùng cũng thăng cấp cho 9 vị Captain cao cấp lên bậc Rear Admiral vào năm 1862.

Hai năm sau đó, năm 1864, dù không có sự thay đổi về số lượng cấp bậc cũng như cấp hiệu cầu vai, nhưng cấp hiệu cổ tay được người Mỹ cho thay đổi lại, chỉ sử dụng các vạch ¼inch. Dù sao cũng công nhận là cấp hiệu này cũng dễ nhớ và bố trí cũng khá hợp lý. Một điều bất tiện nhỏ là hơi khó nhìn rõ cấp hiệu này khi đứng hơi xa.

1. Rear Admiral: 8 vạch
2. Commodore: 7 vạch
3. Captain: 6 vạch
4. Commander: 5 vạch
5. Lieutenant Commander: 4 vạch
6. Lieutenant: 3 vạch
7. Master: 2 vạch
8. Ensign: 1 vạch

Hệ thống cấp hiệu này cũng lần đầu tiên phân loại sĩ quan Hải quân thành Line officers (sĩ quan chủ lực) và Staff corps (sĩ quan chuyên môn). Đối với các Line officers, phía trên các vạch cấp hiệu là một ngôi sao vàng. Các Staff corps mang phù hiệu của binh chủng thay cho phù hiệu ngôi sao.


Cấp hiệu một line officer (Commander)

Cũng trong năm này, David Farragut, một trong 9 người đầu tiên được phong hàm Rear Admiral của nước Mỹ vào năm 1862, được thăng lên hàm Vice Admiral vừa đặt ra. Một vấn đề phát sinh là nếu như cấp hiệu 3 sao không ảnh hưởng mấy, thì cấp hiệu cổ tay sẽ dài thườn thượt. Khi Farragut còn mang cấp hiệu với 8 vạch vàng của Rear Admiral, cấp hiệu này đã chiếm mất 25,4 cm, và với 9 vạch của Vice Admiral sẽ trở thành một vấn đề lớn, kéo dài từ cổ tay đến khuỷu tay. Người Mỹ không còn cách nào khác, đành lựa chọn phương án của người Anh với các dải và vạch cấp hiệu ở cổ tay.


Farragut với cấp hiệu Rear Admiral thời kỳ 1862-1863


Farragut với cấp hiệu Rear Admiral thời kỳ 1863-1864


Farragut với cấp hiệu Vice Admiral thời kỳ 1864-1866

Sau nội chiến, để tôn vinh Farragut như đã làm với Grant ở Lục quân, Quốc hội Mỹ đã đặt ra cấp bậc Admiral 4 sao để phong cho Farragut. Tuy nhiên, ở cấp hiệu cổ tay của Admiral có khác đi đôi chút khi người Mỹ sử dụng kiểu "bánh mì kẹp" với 2 dải lớn kẹp một dải vàng nhỏ ở giữa. Một lần nữa cho thấy người Mỹ lắm lúc cũng "gàn" chả kém ai.


Cấp hiệu Admiral và Vice Admiral của Mỹ năm 1866.


Farragut với cấp hiệu Admiral năm 1866

Sau khi Farragut được phong Admiral 4 sao, em nuôi của ông là David Porter được phong hàm Vice Admiral, trở thành người Mỹ thứ 2 thụ phong hàm này.
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Mười, 2011, 07:02:04 pm gửi bởi thainhi_vn » Logged
thainhi_vn
Thành viên
*
Bài viết: 705


« Trả lời #87 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2011, 09:11:22 am »

Người Mỹ quả rất thực dụng. Nhận thấy hiệu quả của kiểu cấp hiệu cổ tay kiểu Anh, từ năm 1869, họ cũng thay đổi luôn cấp hiệu cổ tay sĩ quan Hải quân dưới bậc đô đốc. Do số lượng cấp bậc của Mỹ nhiều hơn, nên họ đã linh hoạt sử dụng cả vạch ½inch lẫn ¼inch.


Cấp hiệu sĩ quan Hải quân Mỹ (dưới đô đốc) sau khi thay đổi năm 1869

Sau khi David Farragut chết năm 1870, em nuôi ông là David Porter được phong hàm Admiral kế nhiệm. Tuy nhiên, bấy giờ không ai được phong hàm Phó đô đốc nữa, nên hàm Đô đốc của Porter được xem là hàm danh dự. Cấp bậc chính thức cao nhất của Hải quân Mỹ trở lại là Chuẩn đô đốc 2 sao, giống như hàm Thiếu tướng 2 sao của Lục quân.

Cũng trong năm ấy, dù không muốn liên hệ đến "thời kỳ thuộc địa Anh", người Mỹ vẫn thay đổi cấp hiệu cổ tay sĩ quan hải quân theo kiểu Anh gần như hoàn toàn. Các cấp bậc Captain (4 vạch), Commander (3 vạch), Lieutenant (2 vạch) và Ensign (1 vạch, tương ứng với Sub-Lieutenant của Anh), được xem là đối ứng với người Anh hoàn toàn. Điều an ủi với người Mỹ là về sau đến lượt người Anh bắt chước người Mỹ với kiểu cấp hiệu lớn nhỏ (từ 1877) và copy cấp bậc Lieutenant Commander (1914).


Cấp hiệu sĩ quan Hải quân Mỹ (dưới đô đốc) sau khi thay đổi năm 1870

Có thể thấy cấp hiệu và danh xưng cấp bậc Hải quân Mỹ dưới đô đốc từ năm 1870 xem như ổn định cho tới ngày nay.
« Sửa lần cuối: 19 Tháng Mười, 2011, 09:28:19 am gửi bởi thainhi_vn » Logged
thainhi_vn
Thành viên
*
Bài viết: 705


« Trả lời #88 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2011, 09:12:10 pm »

Năm 1883, một vài thay đổi nhỏ được thực hiện:
- Cấp hiệu cổ tay của cấp Đô đốc (Admiral) được thay đổi lại giống như ngày nay.
- Cấp bậc Phó đô đốc (Vice Admiral) được phục hồi dù chẳng có ai được phong hàm này.
- Đại bàng nước Mỹ của Đại tá Hải quân cũng được thay đổi lại giống như của Lục quân.
- Cấp bậc Master được đổi tên thành Lieutenant Junior Grade

Có thể xem là hệ thống quân hàm Hải quân Mỹ ngày nay gần giống hệt như hệ năm 1883.

Năm 1891, David Porter chết (trong lịch sử Hải quân Mỹ có 2 David Porter. Người còn lại từng lên đến Commodore, sau chuyển sang phục vụ cho Hải quân Mexico). Cấp bậc Đô đốc và Phó đô đốc bị bãi bỏ. Cấp bậc cao nhất của Hải quân Mỹ trở về Chuẩn đô đốc.

Tuy nhiên, chỉ 8 năm sau, năm 1899, một quy định bãi bỏ cấp bậc Commodore, nhưng lại kèm theo việc phục hồi cấp bậc Admiral để phong cho George Dewey, một Chuẩn đô đốc vừa phong năm trước. Bấy giờ, cấp đô đốc của Hải quân Mỹ chỉ có 2 cấp là Chuẩn đô đốc (mang 2 sao) và Đô đốc (mang 4 sao). Như để tăng thêm phần sức nặng tương ứng, năm 1903, cấp bậc Admiral được đổi danh xưng thành Admiral of the Navy (giống như cấp bậc General of the Army). Trừ thay đổi nhỏ về cấp hiệu cổ tay, còn lại thì cấp hiệu Admiral of the Navy vẫn là một cấp hiệu 4 sao như trước.


Cấp hiệu Admiral of the Navy


Dewey trong lễ phục Admiral of the Navy
« Sửa lần cuối: 21 Tháng Mười, 2011, 09:30:31 pm gửi bởi thainhi_vn » Logged
thainhi_vn
Thành viên
*
Bài viết: 705


« Trả lời #89 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2011, 12:30:03 pm »

Thế chiến thứ nhất nổ ra, các cấp bậc Đô đốc và Phó đô đốc được tái lập để phong cho các đô đốc cao cấp. Không có sự thay đổi nào với hệ thống cấp hiệu 1883, tuy nhiên cấp bậc Đô đốc Hải quân và Đô đốc tuy cùng mang 4 sao nhưng có một khác biệt nhỏ ở cấp hiệu cổ tay. Tình trạng này kéo dài đến năm 1917, khi Dewey chết và cấp bậc Đô đốc Hải quân cũng bị bãi bỏ vĩnh viễn.

Cấp bậc Commodore tuy được bãi bỏ từ năm 1899, nhưng trên thực tế nó vẫn còn được dùng như một cấp bậc tạm thời để phong các Captain lão làng. Có thể nói, bấy giờ, trong Hải quân Mỹ, những Captain lâu năm, giữ chức vụ cao hơn, sẽ được gọi là Commodore, dù được xem là cùng cấp bậc và mang cùng cấp hiệu với các Captain khác. Chuyện quái gì đây?

Vấn đề là ở chỗ sự keo kiệt của người Mỹ. Các nghị sĩ "kẹo kéo" lập luận không có nhiều nhu cầu để thăng các Captain lên bậc Rear Admiral, vì cấp bậc đô đốc chỉ thăng cho các sĩ quan hải quân cao cấp khi nắm giữ chức vụ quan trọng, mà số lượng chức vụ này không nhiều. Việc thăng nhiều Captain lên Rear Admiral khi họ không nắm giữ chức vụ tương xứng sẽ làm tăng chi phí cho lương và các đãi ngộ (nói cách khác là lên lon lên lương mà không làm gì). Vì vậy họ sử dụng cấp Commodore như một giải pháp trung dung để xoa dịu các Captain lão làng mà không phải tốn nhiều chi phí.

Giải pháp "củ chuối" này đương nhiên làm các Captain lão làng không hài lòng. Với kinh nghiệm và trình độ chỉ huy của họ, được xem như tương xứng với các đô đốc và họ "rất lấy làm mặc cảm" khi giao tiếp với các đô đốc của Anh, Pháp. Một điều đáng buồn hơn, hầu như khi được gọi là Commodore, cũng gần như là con đường lên đô đốc bị đóng kín. Rất ít Commodore được phong tiếp lên đô đốc, trong khi nhiều Captain lại được phong trực tiếp đô đốc mà chẳng cần qua bậc Commodore.

Các "trùm sò" ở Quốc hội Mỹ quả thật là nhiều sáng kiến. Để xoa dịu, năm 1916, họ đưa ra giải pháp phân danh sách các Rear Admiral làm đôi. Những Rear Admiral "xịn" sẽ được giữ chức vụ cao hơn các Rear Admiral khác, sẽ được tạm gọi là Rear Admiral upper half (nửa trên), sẽ hưởng lương cao hơn (và tất nhiên là không bằng Vice Admiral). Các Rear Admiral còn lại, mà thực chất là các Commodore trước đây, sẽ giữ chức vụ thấp hơn, gọi là Rear Admiral lower half (nửa dưới), và tất nhiên là sẽ hưởng lương ít hơn. Các "trùm" Mỹ còn cẩn thận quy định các Chuẩn đô đốc nửa trên tương đương với cấp Thiếu tướng, còn các Chuẩn đô đốc hải dưới, lộn..., nửa dưới, tương đương với cấp Chuẩn tướng. Thật là giải pháp sáng tạo và vô cùng tiết kiệm! (vỗ tay)  Cheesy
« Sửa lần cuối: 28 Tháng Mười, 2011, 12:38:19 pm gửi bởi thainhi_vn » Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM