Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 10:53:53 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam  (Đọc 121775 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #160 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2013, 03:20:10 pm »

Không có điều gì trong hai năm công tác ở Triều Tiên làm anh hài lòng, và khi hết nhiệm kỳ anh nóng lòng được về nước. Nhưng rồi tháng 6 năm 1950, anh vừa lập gia đình, vợ anh mang thai, anh lại có lệnh trở lại Triều Tiên với vị trí công binh chiến đấu trong một cuộc chiến chẳng có cảm tình mấy. Anh buồn lòng khi trở lại Triều Tiên, và điều kiện của các đơn vị Mỹ, anh nói thêm, anh cảm thấy nó còn tệ hơn hồi trước lúc anh ở đây. Ngay khi họ xuống tàu, thượng cấp anh cho mở cửa trại giam với lời hứa chiến-đấu-ở-Triều-Tiên (để xóa án) – hoặc-ra-tòa-ở Mỹ, và rốt cuộc anh lấy được một số lính mang tội nặng. Và như thế, đại đội anh khi di chuyển đến Yongsan cũng có chừng 2/3 sức mạnh, chỉ 150 người trong đội hình (Có một thời điểm khi chiến đấu ác liệt ở Yongsan, một binh nhì trẻ, mệt mỏi, đầy cáu ghét đã chiến đấu xuất sắc với quân Triều tiên, đã cảm ơn Beahler vì đưa anh ta ra khỏi trại giam. Beahler nghĩ thật là một cuộc phiêu lưu hoàn hảo của chiến binh thời đại).

Trung đoàn Chín, đơn vị được giao giữ Yongsan, lúc ấy trong tình trạng tệ hại. Một số quân của trung đoàn, theo lịnh từ thượng cấp đã triển khai một cuộc tấn công thăm dò tệ hại về phía quân Bắc Triều Tiên ngay lúc lực lượng khổng lồ của Cộng sản bắt đầu vượt sông Naktong. Cái nhiệm vụ đó, hay chiến dịch Mãn Châu – trung đoàn Chín được biết dưới cái tên trung đoàn Mãn Châu – yêu cầu họ vượt sông và quấy rối quân Cộng sản, rõ ràng nhiệm vụ này được gửi xuống từ sở chỉ huy của Keiser. Sau này, đa số quan quân trong sư đoàn cho rằng chiến dịch đó là một mệnh lệnh điên khùng của một sỹ quan cố làm ra vẻ năng động dưới áp lực của cấp trên. Rốt cuộc, những báo cáo tình báo sớm khẳng định về độ lớn ghê gớm của lực lượng Bắc Triều Tiên. Các khuyết điểm của quân Mỹ bị phơi ra hết cỡ – vì không gì khó hơn việc vượt sông – và họ hoàn toàn ở bên ngoài các điểm bảo vệ khi quân Bắc Triều Tiên vượt sông trước. Thay vì được đánh nhau trong các cứ điểm phòng thủ mạnh mẽ, nhiều lính tiền phương của trung đoàn Chín lại phơi mình ra ngoài, và những đơn vị thuộc trung đoàn Chín dọc sông Naktong khá nhỏ bé và phân bố rải rác – y như kiểu trung đoàn 23.

Ngay từ đầu Lee Beahler đã thận trọng với chiến dịch Mãn Châu. Từ hồi Thế chiến II anh đã hiểu được sự khó khăn  khi vượt bất kỳ con sông nào. Việc làm lần này chỉ để khẳng định thêm vài điều mà anh đã hoài nghi hầu như từ lúc anh đến đất nước này: rằng anh đang công tác với những thượng cấp ở quá xa và không hiểu biết mấy về tình hình chiến trận. Khi chiến dịch được đưa ra thảo luận lần đầu, Lee đã hỏi trung đoàn trưởng, đại tá John G. Hill rằng lính của ông có được huấn luyện vượt sông chưa. Hill trả lời rằng không cần huấn luyện đặc biệt. Beahler cố nài cần phải làm việc này; bởi anh kinh nghiệm qua việc sư đoàn 36 cố vượt sông Rapido ở Ý, một trong những thảm họa lớn nhất trong thế chiến, sông Rapido chảy nhanh vào bờ dốc cao, còn quân Đức đã đào sẵn hầm hào ở bờ bên kia. Hill gạt ý kiến phản hồi của Beahler sang một bên. Ông ta chẳng có chút ý niệm nào về sự khó khăn khi vượt sông, về sự dễ bị tổn hại khi binh lính ở trên thuyền, đặc biệt nếu họ không triển khai một cuộc tấn công hợp lý. Beahler cho rằng dường như Hill nghĩ vượt sông cũng giống như việc gọi một cuốc taxi. Khi nghe thấy Hill bỏ qua cảnh báo của anh, một cảnh báo rất chính yếu của việc đảm bảo an toàn cho quân binh, sự tôn trọng của Beahler với ông ta cũng ra đi. Và đây không phải là lần đầu tiên khi anh tự hỏi tại sao có một số chỉ huy, mà vị trí này cần phải có sự hiểu biết rộng, lại hiểu biết rất ít và còn không bao giờ chịu lắng nghe những người có kiến thức khá hơn. Thế quân Bắc Triều Tiên chộp được trung đoàn Chín phơi ra, hoặc trên dòng nước hoặc bên bờ sông. Nhiều sỹ quan tham mưu trung đoàn Hill, trong đó có ban S-3 (hành quân), gần như hi sinh ngay tức khắc, và trợ tá của Keiser: Tom Lombardo, một vận động viên túc cầu nổi tiếng ở West Point cũng vậy. 54 năm sau, Lee Beahler có thể nói cái thời điểm anh nhìn thấy những ngọn đuốc trên tay quân Bắc ào xuống và chuẩn bị vượt sông rằng: “Khi ấy tôi bắt đầu cảm thấy cực kỳ run sợ về những gì sẽ sảy ra, và các đơn vị của chúng tôi sẽ tổn thương như thế nào – tôi vẫn còn nguyên cảm giác rung sợ đó, mãi cho đến hôm nay khi tôi hồi tưởng lại những ngày đó”. Khi ấy Beahler ngay lập tức đưa hầu hết lính của mình về lại sở chỉ huy tiểu đoàn nhằm tránh cho họ bị tràn ngập ở bờ sông. Tối hôm ấy và sáng hôm sau, sự kinh hoàng thường trực trong không khí.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #161 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2013, 03:25:57 pm »

Qua ngày thứ hai, Beahler làm nhân chứng bất đắc dĩ trước việc mất tinh thần của sỹ quan cao cấp nhất trong một đơn vị Mỹ lớn, giàu kinh nghiệm. Beahler không hay biết về sự giận dữ xảy ra giữa Walton Walker và Dutch Keiser, thay vào đó, sáng ngày 2 tháng Chín, anh chứng kiến sự việc với Hill, trung đoàn trưởng. Lúc ấy chuẩn tướng Sladen Bradley, phó sư đoàn trưởng, ông này đi tìm hiểu ngoài thực địa chiến trường xa hơn nhiều so với Keiser vốn chỉ hiện diện ở sở chỉ huy. Rõ ràng Bradley nổi khùng với sự mất kiểm soát ở Hill. “Ngài đại tá, tiểu đoàn 1 của ngài ở đâu?” ông hỏi. Hill trả lời là ông không biết, rằng không chẳng nghe tin tức gì của tiểu đoàn đó từ hồi giữa khuya.

“Rồi, thế tiểu đoàn 2 của ngài ở đâu hả đại tá Hill?”

Hill cũng chẳng có tin tức từ tiểu đoàn 2. Bradley lạnh lùng, nghiêm khắc nhìn ông ta,và nói “ Đại tá, vì tình huống hoàn toàn mất kiểm soát, nên tôi sẽ lấy lại quyền chỉ huy trung đoàn này”. Vài phút sau Bradley quay sang Beahler và lịnh cho anh rằng đại đội công binh của anh giờ phải chiến đấu như bộ binh và chỉ định họ di chuyển lên Yongsan ngay lập tức. Và nhiệm vụ của tiểu đoàn 2 công binh là giữ Yongsan trong 24 tiếng đồng hồ, ông nói, cho đến khi TQLC đến và bàn giao. Trong khi triển khai, Beahler cũng được biết anh có tiểu đoàn trưởng mới, thiếu tá Charley Fry, bởi tiểu đoàn trưởng cũ, trung tá Joe McEachern, cũng như đại tá Hill, không có hiểu được tình hình mong manh như thế nào. Trong Thế chiến II, McEachern công tác với tư cách kỹ sư trong đoàn Pan American Highway, và đó là một đơn vị không – tác – chiến. Ông vẫn nghĩ rằng ông ở đây để xây dường xá, chứ không phải để bắn vào những người cộng sản Bắc Triều Tiên. Ông đã sai lầm khi cãi nhau với Bradley với mục đích nhằm thay đổi mệnh lệnh, rằng quân của ông phải cầm cự và hi sinh nếu cần để chặn đường tiến của quân Bắc Triều Tiên. “Nhưng, thưa ngài, những quân nhân này là các chuyên viên” McEachern phản đối “họ không phải là bộ binh. Ngài phải hiểu rằng họ là các kỹ thuật viên”.

“Trung tá, anh không hiểu tôi nói gì à? Tôi không phải đã rất rõ sao? Tôi nói chiến đấu và hi sinh thì có nghĩa là chiến đấu và chết, và họ sẽ chiến đấu như bộ binh
”. Bradley trả lời, và nhằm để không có một sĩ quan nào khác không hiểu được tình hình nguy khốn cực kỳ, cùng với những do dự riêng của họ, ông đã huyền chức McEachern ngay tại chỗ, và dùng tiểu đoàn phó để thay ông ta. “Thiếu tá Fry, anh có hiểu mệnh lệnh không?” Bradley hỏi. “Có, thưa ngài” Fry ngay lập tức trả lời. Rồi chuẩn tướng Bradley cũng đưa đại tá Hill mới bị cách chức đến giúp Beahler thiết lập phòng ngự ở Yongsan. Ở đó, Beahler xác định rằng Hill vẫn không phải là người có ích nhiều. Viên trung đoàn trưởng Hill vừa bị tước ngai, nhưng ông vẫn là một đại tá và là một lính bộ binh, còn Beahler là một trung úy và là một công binh, điều này làm quan hệ rất bấp bênh. Nhưng Beahler là một sỹ quan có kinh nghiệm thực chiến hơn; đơn vị do anh lãnh đạo đã đổ bộ lên Salerno ở Ý, điều này đồng nghĩa với việc anh đã tham dự một trong những trận đánh đẫm máu nhất Thế chiến II. Chiến dịch Italia là một chiến dịch khó khăn và không phải trận nào quân Mỹ cũng chiến thắng vinh quang. Có những thất bại, và anh tin, thất bại sẽ thường làm tăng thêm sự từng trải; Beahler học được rằng một trong những chìa khóa cho việc lãnh đạo thắng lợi là hiểu rõ sức mạnh của kẻ thù cũng như điểm yếu của mình. Sự từng trải đã giúp anh, chỉ cần vài tuần chiến đấu ngắn ngủi cùng nhau ở Triều Tiên, đã có được sự nể trọng của quân binh. “Tại sao có những sỹ quan giỏi hơn những người khác?” một trong các tiểu đội trưởng của anh, trung sỹ Gino Piazza có lần đã thắc mắc. “À, họ có giác quan, họ liệu trước được và họ phản ứng tốt. Họ thấy được những nguy hiểm trước khi nó xảy ra, và họ tốt với anh em binh sỹ. Rằng họ không chỉ biết cho chính họ, cho việc thăng chức, thưởng huân chương của mình và còn phải biết cho binh sỹ dưới quyền. Và như vậy,  đó sẽ là một trong những sỹ quan tốt nhất. Một trong những sỹ quan siêu tốt.Chúng ta rất may mắn để có được người ấy”.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #162 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2013, 03:59:59 pm »

Ngay lập tức đại tá Hill muốn thiết lập một tuyến phòng thủ ở trên cánh đồng bằng phẳng trước Yongsan. Beahler hiểu rõ những hạn chế của mình – anh có thể là một sỹ quan công binh giỏi, nhưng khó là một chuyên gia trong lĩnh vực chiến đấu của bộ binh. Tuy vậy, anh cũng tức khắc hiểu rằng kế hoạch của Hill là con đường dẫn đến thảm họa, và cái giá phải trả có thể là cả đại đội của anh. Anh không biết ai đã dạy chiến thuật bộ binh cho John Hill, nhưng chiến đấu trên một cánh đồng lúa trống trải, không có các chướng ngại vật tự nhiên để hỗ trợ cho các vị trí phòng thủ cá nhân, thì thật là điên rồ. Còn tồi tệ hơn khi thực tế là cả bên cánh trái lẫn cánh phải của anh trống trơn không có ai, trong khi kẻ thù có chiến thuật ưa thích là bọc sang cánh và rồi hợp vây vị trí phòng thủ. ”Nếu anh muốn lấy một vị trí hoàn hảo để quân Bắc Triều Tiên tàn sát chúng tôi, thì đúng là ở đây” trung sỹ Piazza nói.

Beahler mạnh mẽ phản đối Hill. Anh muốn dẫn quân leo lên đồi đằng sau cái ngôi làng nhỏ về phía bên kia, hoặc ở mặt nam con đường dẫn về Pusan, một vị trí cực kỳ cho việc phòng thủ chống lại một khối lượng quân địch vượt trội. Giữ Yongsan chẳng có ý nghĩa gì, ở đó chỉ có 5 – 6 túp lều – nhưng con đường chạy ra từ đó mới là tụ bài, và ngọn đồi khóa được con đường chạy ra khỏi Yongsan. Khi đối đầu với Hill, anh chợt nghĩ về tướng Custer và trận Little Big Horn (*Một trận quân da đỏ tiêu diệt toàn quân tướng Custer trong chiến tranh da đỏ). Có ai đã phản đối Custer về những thứ điên khùng ông ta làm không? Có người lính nào biết chỉ huy của họ bị khùng và đưa họ vào vòng nguy hiểm không? Có cấp chỉ huy nào hiểu rằng tính tự đắc của họ làm suy yếu cơ hội sống sót của họ không? Lúc đó, Beahler chẳng biết gì về những gì đang diễn ra quanh anh cũng như là chiến lược lớn. Chỉ có một thứ anh biết; đó là anh sẽ không để quân mình ở một vị trí trống trải trên mặt ruộng, trần trụi trước pháo cối và xe tăng của quân Bắc Triều Tiên, cũng trước lượng quân số vượt trội của bộ đội miền Bắc. Nhưng chính Hill, một đại tá, bảo anh phải chiến đấu trên đất bằng. Và chỉ khi quân Bắc Triều Tiên đánh mạnh tới mức có thể chọc thủng phòng tuyến thì hãy rút về ngọn đồi, anh được bảo thế. Hoàn toàn điên khùng, Beahler nghĩ. Quân Bắc luôn tấn công vào ban đêm, và thoát khỏi một quân địch giỏi như vậy giữa trận đánh, ngay cả vào ban ngày, cũng là một vấn đề quân sự hết sức khó khăn. Làm vào ban đêm thì còn tệ dữ hơn. 

Sự sống của toàn bộ binh lính được đặt cược. Và việc gì sẽ xảy ra nếu Beahler sống soát và phải đối mặt với tòa án binh bởi anh đã chống lại một quyết định mà cái giá là cả đại đội của mình? Anh quyết định là không còn thời gian để tốn hao vào việc tranh luận. Anh sẽ tự quyết và tự chịu trách nhiệm. Bên cạnh đó, đại tá Hill chỉ cần tha thứ cho anh. “Thượng sỹ Nations!” anh hét với viên thượng sỹ của anh, Kenneth Nations. “Chúng ta vừa bị tấn công! Hãy đưa toàn đại đội lên đồi”. Đại tá Hill không nói gì cả.

Một lát sau chính tướng Bradley đến. Ông hỏi: “Đơn vị nào ở đây?”

“Đại đội Dog, tiểu đoàn công binh số 2” Nations trả lời.

“Tôi nghĩ các anh nên ra phía trước làng” Bradley nói

“Không thưa ngài, đại đội trưởng bảo đưa họ lên đồi – đó là vị trí tốt, tốt hơn nhiều, ngài có thể tự xem, thưa tướng quân”

“Được rồi thượng sỹ, cứ làm đi
” Bradley trả lời

Và thế là họ dùng các chướng ngại tự nhiên trên ngọn đồi và tạo thành một tuyến phòng thủ hình móng ngựa hữu hiệu đối diện với con đường. Khi binh lính đào xong hố cá nhân, thượng sỹ Nations đến, xem, và bảo họ đào sâu thêm. “Lúc đó chúng tôi càu nhàu kinh lắm, nhưng chỉ một lát sau tôi muốn hôn mông anh ta vì đã ép chúng tôi làm như vậy” Butch Hammel, một binh nhất trong đại đội Beahler nhớ lại. Bên kia con đường là đại đội Able của tiểu đoàn 2 công binh, và họ trong cả ngày qua đã có những binh sỹ lạc ngũ các đại đội khác gia nhập vào, tuy vậy, cũng như đại đội Dog, họ vẫn thiếu quân nghiêm trọng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #163 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2013, 04:05:47 pm »

Đó là một đêm sương mù dày đặc, và rất dài, trước khi họ thấy quân Bắc Triều Tiên, họ nghe thấy tiếng còi, nghe tiếng nói của quân địch, mọi khẩu lệnh như được tăng âm trong đêm đen, nghe khó chịu, và rồi họ nghe thấy tiếng xủng xoảng kinh hoàng của xe tăng địch. Ngay trước khi trận đánh bắt đầu, trung úy Beahler xuống và cảnh báo họ không bắn cho đến khi họ thực sự trông thấy quân Triều Tiên; nếu không thì có thể bắn nhầm vào đồng đội. Trung đội Một, đơn vị gần làng Yongsan nhất, bị đánh đầu tiên. Lính trong trung đội Hammel đã nghe âm thanh chiến trận khá lâu trước khi họ khai hỏa. Đến một lúc màn sương nhấc lên, và họ có thể khai hỏa, làm quân Bắc Triều Tiên bất ngờ. Thế rồi trận đánh trùm lên các vị trí của Hammel. Hammel tin rằng nếu có một sự thật lớn lao trong một trận đánh như thế này, đó là nỗi sợ dai dẳng – ai nói rằng họ không biết sợ khi chiến đấu thì đó là một kẻ nói dối. Ngay cả những người lính trong một tình trạng kiểu như  đối mặt với một lựa chọn kinh khủng. bạn không muốn gì hơn là được sống, không gì hơn là được thoát ra, nhưng bạn cũng không muốn chiến hữu xem mình là một thằng hèn. Chỉ có sự hổ thẹn nếu bỏ chạy, để cho đồng đội ngã xuống, mới giữ bạn ráng không bỏ chạy – anh nghĩ, vì điều đó, và chỉ vì điều đó, bạn mới ở lại và chiến đấu. Tất cả những thứ họ dạy bạn, về việc chiến đấu cho đất nước và chống lại Cộng sản, biến mất sạch trong những thời khắc đầu của trận đánh.

Hammel nhớ một trung sỹ của anh bị thương vào cổ trong đêm đấy. Đó không phải là một vết thương nghiêm trọng, nhưng viên trung sỹ kinh hoảng và bắt đầu tháo chạy khỏi vị trí. Vài người trong các hố cá nhân bên cạnh bắn vào anh ta, và họ phải hét to với đồng đội. “Phe ta, phe ta”. Viên trung sỹ may mắn, anh ta sống sót. Tất cả cũng đều khá may mắn, Hammel nghĩ, bởi họ đã xoay sở trụ được trước quân Bắc Triều Tiên. À, mà không phải tất cả đều may mắn – có 12 người chết và 18 bị thương. Anh nghĩ, có lẽ với ba giờ chiến đấu ác liệt thì cái giá như vậy là rất cao. Nhưng trung úy Beahler đã phân bố nhân lực rất hoàn hảo, và không bao giờ anh ẩn nấp trong suốt trận đánh. Trung  úy đã lặng lẽ di chuyển từ chốt này sang chốt khác, để chắc chắn rằng  mọi người đều ổn và đạn dược có đủ. “Tôi chưa bao giờ thấy một người nào dũng cảm hơn trong đời; tôi chưa bao giờ thấy một ai mạnh mẽ như vậy dưới làn đạn” hơn 50 năm sau Hammel nói.

Lúc đầu, khi họ chiếm vị trí trên đồi trong đêm đấy, có vài dân công Triều Tiên giúp họ thiết lập chốt, và Gino Piazza lo ngại về điều đó. Khi ấy anh đã 23 tuổi, dù rằng lúc đi học anh không có giỏi giang, nhưng anh cũng khôn ngoan với vài thứ – đặc biệt trong chuyện không thể có việc gì là không công trên chiến trường cả. Anh không tin những người Triều Tiên trong tình huống như thế này bởi không có ai thực sự xác minh họ cả. Theo anh thì lính Mỹ có thể tự mang những thứ quân trang quân bị chó chết của họ lên đồi. Đã có quá nhiều ví dụ được viết về việc bộ đội Bắc Triều đã cài người của họ vào sau tuyến quân Mỹ, cải trang thành thường dân. Và rất dễ dàng để biến họ thành dân công để rồi lén trốn qua lại giới tuyến cùng với tọa độ chính xác các vị trí của quân Mỹ. Piazza đã to tiếng với một sỹ quan cấp thấp, anh bảo với họ đưa đám Triều Tiên chó đẻ ấy đi chỗ khác, còn viên sỹ quan thì nói rằng đám đó ổn, là người tốt, là bạn bè. Bạn bè cái mông tôi á, Piazza nghĩ.  Anh chẳng hiểu gì về chúng cả, chẳng hiểu gì! Nếu một trong số chúng cười với anh và nói đôi từ tiếng Anh, và vác đồ giúp anh thế là anh nghĩ hắn là người tốt. Mẹ kiếp tay Mỹ ngây thơ đã ném đời mình đi chỉ vì muốn ai đó giúp mang đồ nặng cho họ. Piazza đuổi một số chúng đi, nhưng qua ngày hôm sau, dù trời có sương mù dày đặc nhất mà Piazza từng thấy ở Triều Tiên, quân địch vẫn rót cối chính xác một cách đáng ngạc nhiên vào vị trí của họ. Piazza điên tiết nhận định rằng chính cái đám dân công Triều Tiên vui vẻ giúp việc kia đã chỉ điểm cho quân địch, mẹ kiếp cái đám thông thái kia, 5 lính trong số 12 lính thuộc tiểu đội anh chết.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #164 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2013, 04:10:00 pm »

Cuộc chiến rất gay go với trung đội, và Piazza chiến đấu trong cơn thịnh nộ, như thể muốn báo thù cho những binh sỹ của anh đã chết vì đạn cối quân Bắc Triều Tiên. Có một thanh niên tên Ronnie Taylor, khoản 18 tuổi, đăng lính từ Oakland bang Missisippi, người mà Piazza có cảm giác rằng bảo vệ cho cậu ta là trách nhiệm của anh vì cậu ấy còn quá trẻ, giờ đây cậu trai đó có một vết thương hở toác trên sườn, cậu cầu xin Piazza “Đừng để em chết! Đừng để em chết! Anh đưa em ra khỏi đây”. Piazza thuyết phục cậu rằng anh sẽ cố nhưng anh hiểu là không ai đi xuống đồi lúc đang đánh nhau, và rồi Piazza bắn, bắn liên tục trong khi bế Taylor trên tay và nghe những giây phút cuối đời của cậu. Anh cầm khẩu M-1 bắn xuống những tên lính Bắc Triều tiến lên, và hét lên tên của từng người đã hi sinh trong tiểu đội theo từng phát súng. Cái cách quân binh – trong đó có anh – hành động trong chiến đấu như vậy, đồng thời cũng có vài người bị áp đảo và vài người có thể khống chế được cục diện, đã mê hoặc anh. Có một cậu lính của anh bị một vết thương mà theo con mắt của Piazza dường như chỉ là một vết thương nhẹ, một vết thương phần mềm, nhưng cậu ta đã tã ra và khăng khăng rằng: “tôi sẽ chết mất” – và cậu ấy chết thật. Piazza nghĩ đó là một kiểu sốc tâm lý trong chiến tranh. Người lính đó đã tự đưa mình vào cái chết.

Thật là may mắn khi họ ở vị trí cao, nơi Beahler đã chọn, bởi có ít nhất hai tiểu đoàn Cộng sản đã triển khai 3 lượt tấn công vào họ từ rất sớm và tiếp tục trong buổi sáng. “Chúng đến, chúng đến, rồi chúng lại đến nữa. Chúng tôi rải đạn xuống chúng. Mưa đạn” hạ sỹ Jesse Haskins nói “Chúng tôi giết chúng và tôi bắt đầu tự hỏi rằng chúng tôi đã giết chúng đủ nhanh chưa. Dường như địch có rất nhiều và chúng tiếp tục đến, không gì có thể ngăn chúng, và luôn có thêm địch, như thể chúng tôi không có mặt ở đây và những gì chúng tôi đã làm là chẳng ảnh hưởng gì”. Nếu lính công bình không có được vị trí chốt hoàn hảo, thì tất cả họ đã chết rồi, Haskins khẳng định như thế.

Có một thời điểm đạn dược gần cạn, lúc ấy họ nghĩ mình sẽ bị tràn ngập. Nhưng có một cậu trai từ trung đội láng giềng đã chạy tới được với một hộp lựu đạn, một thứ vũ khí hoàn hảo để ném xuống từ trên đồi.  Quân Mỹ, không có pháo hay cối, đã dùng những khẩu không giật bắn như kiểu rocket và dựa vào hỏa lực đại liên cũng như những khẩu phòng không 50mm bốn nòng, thứ vũ khí tỏ ra hữu hiệu nhất trong cuộc chiến. Về nguyên tắc đó là súng phòng không, nhưng có hỏa lực chết người, và nó được dùng trong cuộc chiến nhằm cân bằng với biển người quân địch; nó không chỉ giết địch mà còn dọa địch. Kẻ băm thịt, lính Mỹ gọi thứ vũ khí này với cái tên đó. Sau này, khi trận đánh đã kết thúc, ngọn đồi vươn đầy xác lính Bắc Triều Tiên, Beahler nghĩ chính những khẩu bốn nòng này đã làm trận đánh ngả về phía anh. Họ đã rất may mắn khi có thứ vũ khí này, bởi họ đã chẳng có pháo binh chi viện từ sở chỉ huy. Có một thời điểm Beahler gọi xin pháo yểm trợ, và chỉ có một phát đạn được bắn đến, rất xa mục tiêu. Beahler ráng gọi điện lần nữa để chỉnh tầm, nhưng được trả lời rằng lính pháo binh quá non và vẫn chưa thạo hệ thống chỉnh tầm.

Trong số những người thuộc đại đội làm Beahler hài lòng là một thư ký đại đội trẻ tên là Vaugh West, anh vừa được ấn xuống làm lính bộ chiến trong đêm đó. West đã đào chiếc hầm cá nhân đầu tiên của anh, và khá lấy làm hài lòng vì đã đào rất cực nhọc vào lòng đồi rắn chắc. Nhưng rồi một trung sỹ đến vào bảo anh vào đào sâu hơn nhiều nữa (Và sau đêm đó, anh không bao giờ bị yêu cầu đào hầm sâu hơn lần nào nữa). Anh nghĩ anh là người bắn giỏi nhất trong đại đội, anh đã từng thắng một phiếu đi nghỉ cuối tuần trong cuộc thi bắn súng trường. Cứ có dịp là Beahler cá độ trong câu lạc bộ sỹ quan rằng viên thư ký đại đội của anh sẽ bắn hơn bất kỳ tay súng giỏi của đại đội nào. Và West dường như luôn thắng trong các trận cá của Beahler. Những gì đọng lại trong West về cái đêm đó là những tiếng gào kinh hoàng. Có một cậu lính trẻ nhô cao lên một tý và bị bắn ngay vào mặt. Giữa trận đánh, West nghe cậu ta gào lên, và rồi trong ánh sáng hỏa châu, anh thấy cậu ta, gương mặt bị bắn nát, bò, và khóc gào gọi mẹ. West hiểu ngay tức thì rằng không có cách nào để cứu được cậu ấy nữa.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #165 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2013, 04:15:31 pm »

Thương vong của họ cao, rõ ràng là tệ hại. Sau này có người nói với Vaugh West rằng khi Beahler đọc danh sách tử sỹ, anh đã nhỏ nước mắt, và vài tay ở tiểu đoàn bộ với cái vẻ trượng phu ngu ngốc đã bình phẩm về nhân vật đại đội trưởng suy sụp khóc lóc, nhưng West cho rằng khi mất quân trong chiến đấu, thì có lẽ cũng nên khóc. Lính của đại đội Dog tiểu đoàn công binh số hai, đã lui khỏi ngọn đồi vào cuối buổi sáng, họ có được chút nghỉ ngơi ngắn ngủi, và rồi được lệnh trở lại làm đội dự bị trong đêm thứ hai. Beahler chẳng chút vui vẻ về việc này, nhưng mệnh lệnh là mệnh lệnh. Lính của anh mệt bã cả rồi. Không ai được ngủ trong những ngày qua – hoặc ít nhất có vẻ như vậy. Nhưng nếu ngọn đồi là quan trọng trong đêm thứ nhất, thì rõ ràng nó cũng quan trọng như vậy trong đêm thứ hai Beahler suy tính, và rồi có tin rằng TQLC trên đường đến.  Dù sao thì lúc quay lại ngọn đồi họ cũng đi lề mề chút đỉnh. Thế rồi một chiếc xe tăng của TQLC trờ đến, bốn tay lính trên xe trông rất tươi tỉnh. Trái ngược với dáng vẻ của cánh công binh, Piazza nhớ lại, đang trông như những tay lính già không còn đánh trận nổi, và chắc cánh TQLC cũng nghĩ như vậy. Một trung úy TQLC trẻ, rõ ràng không hài lòng với kiểu vận động luộm thuộm của lính công binh, đã hét lên “Mẹ kiếp, đàng hoàng một tý đi! Làm ra vẻ con nhà lính chút đi”. Và như thể để họ xấu hổ, viên trung úy nói tiếp: “Các anh có biết ai đã giữ ngọn đồi này và chặn được bọn Bắc Triều Tiên sáng nay hông? Lính công binh đó!”. Piazza nhìn anh chàng thật sâu và nói: “Thế cậu nghĩ bọn tớ là ai hử? Bọn tớ chính là cái đám đã làm được việc cậu vừa nói đấy”. Và rồi họ cũng chỉnh đốn một chút, lấy lại phong độ, leo lên đồi.

Thật may cho họ là quân Bắc Triều Tiên không tấn công trong đêm thứ hai, và rồi với việc TQLC và các đơn vị khác phản công, họ được đưa về phía sau. Tuy vậy, đại tá Hill vẫn còn tức tối với Beahler vì đã không nghe lệnh ông nên ráng tìm cách đưa anh ra tòa án binh. Nhưng thay vì thế, anh lại được thưởng Huân Chương Phục vụ Xuất Sắc (Distinguished Service Cross – huân chương danh giá thứ hai trong quân đội Mỹ). Khi nghe rằng Hill vẫn còn muốn tiến hành vụ Beahler, tướng Bradley đã bảo ông ta bỏ ý định đi, đưa ra tòa án binh một người vừa cứu được phần lớn đại đội của mình và được thưởng huân chương DSC là việc ngu ngốc. Beahler không bao giờ quá tự hào về tấm huân chương của anh, có phần bởi việc họ cũng thưởng cho Sladen Bradley một DSC vì đêm đó, và trong phần tuyên dương công trạng của ông ta đã nêu rằng ông đã lấy một đơn vị công binh hỗn độn cực kỳ, tổ chức lại nó và đưa đơn vị đó lên đóng trên đồi. Beahler xác quyết rằng những người tặng huân chương thường dối trá.

Chừng năm ngày sau trận đánh, Lee Beahler bị muỗi chích dẫn đến viêm não Nhật Bản type B. Anh được đưa đến một bệnh viện ở Nhật, ở đó cân nặng của anh giảm xuống còn 44 ký. Và ba tháng sau, khi anh vẫn còn đang trong giai đoạn điều dưỡng thì tiểu đoàn công binh số Hai bị đánh ở một địa phương nằm xa về phía bắc Triều Tiên tên là Kunuri. Tin tức về sự kiện ở Kunuri làm viên trung úy cực kỳ đau lòng; nhiều bạn bè đã bị giết hoặc mất tích. Anh tin rằng, chính con muỗi, đã cứu sống anh.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #166 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2013, 04:22:55 pm »

Vào ngày thứ hai cuộc tấn công của quân Bắc Triều Tiên dọc tuyến sông Naktong, Paul Freeman đã triệu tập các sỹ quan cao cấp của ông đến dự một buổi họp tại tiểu đoàn bộ tiểu đoàn Hai. Thiếu tá George Russell, sỹ quan hành quân của tiểu đoàn Một, nhớ lại rằng chỗ họ họp chính là một cống nước chạy dưới lòng đường, và nước lấp xấp ngang gối mọi người bởi hôm đó có một trận mưa nặng hạt nhất mà họ từng thấy. Đại tá Freeman vừa bị kích động vừa bị kiệt sức. Tất cả họ đều mệt mỏi. Không ai ngủ được trong những ngày đó. Freeman nói về những khó khăn đang gặp phải, về việc không có không quân yểm trợ và bọn mọi rợ châu Á bất ngờ tấn công họ. Bọn mọi rợ châu Á, Russell nghĩ đến cụm từ này và anh bật cười. Mọi người luôn nói về bọn mọi rợ châu Á. “Có gì mắc cười vậy?” Freeman cáu kỉnh hỏi. Russell nói: “Không thể tệ như thế”. Nhưng sau này anh nghĩ, nó tệ thật, đúng là tệ.

Sự kiệt sức là rõ ràng. Đến ngày 3 tháng Chín, Freeman và cái trung đoàn dưới sức của mình đã phải chiến đấu với một trận tấn công của nhiều sư đoàn trong ba ngày đêm – và họ vốn cũng đã đủ mệt mỏi trước khi trận tấn công xảy ra. Họ luôn ở tiền duyên ngay từ lúc họ đến cái đất nước này hồi  đầu tháng Tám. Với Freeman, ông không có cơ hội chiến đấu trên chiến trường Thế Chiến II và luôn mong có một cơ hội thứ hai, những ngày như thế này cho thấy còn hơn cả cơ hội mà ông từng mong có. Hồi năm 1949, Paul Freeman lo lắng cho sự nghiệp của mình và khả năng lớn có thể xảy ra là thượng cấp của ông đang trong lộ trình xác định ông là một sỹ quan tham mưu hơn là một sỹ quan chiến đấu. Thế rồi chiến tranh nổ ra. Thời điểm đó ông là một chuyên gia kế hoạch được cấp trên ở Washington khen ngợi, nhưng trong những năm ngay sau Thế chiến, sự nghiệp của ông dường như khá lúng túng. Bởi sự giảm trừ quân bị nhanh chóng nên có rất ít cơ hội có vị trí chỉ huy trung đoàn, vị trí chỉ huy mà ông muốn, và số ít cơ hội đó dường như đã trao cho các sỹ quan từng có kinh nghiệm chỉ huy trung đoàn.

Lúc chiến tranh Triều Tiên bắt đầu, Freeman đã 43 tuổi và có nguy cơ rất rõ bị gạt sang một bên bởi những sỹ quan khác có tên tuổi hơn trong chiến đấu từ hồi thế chiến II. Ông chín chắn, thông minh và cẩn thận, nhưng lại không có uy tín. Ông cũng không cao hoặc có sức mạnh thể chất hay có bề ngoài dữ dội như những người tư lệnh khác. Đúng ra là ông điểm trai, và còn đẹp hơn khi có tuổi và mái tóc bờm của ông chuyển sang bạc hoàn toàn. Việc ông dành được sự kính trọng và sự yêu mến từ quân của mình, đó là một chiến thắng khó khăn. Phong cách và những bi kịch tự tạo không làm ra điều đó ở ông. “Ông ấy rõ là một sỹ quan ngoại cỡ, ” người đồng nghiệp trẻ, đại úy Hal Moore nói (anh sau này cũng là một tư lệnh xuất sắc trong trận đánh ở thung lũng Ia Drang thời chiến tranh Việt Nam và kết thúc sự nghiệp với ba ngôi sao tướng) “và sức mạnh to lớn nhất của ông nằm ở trí thông minh, nằm ở sự quan tâm của ông tới người khác, đặc biệt là với những người dưới quyền, và ông cực kỳ cẩn thận. Lính dưới quyền ông hiểu rằng ông luôn cẩn trọng và sáng suốt trong những vấn đề mạo hiểm với sinh mạng của lính. Không có vấn đề nào là nhỏ cả. Ông là người rất biết lắng nghe, quan tâm tới mọi điều chung quanh, và không làm tốn thời gian hay sức lực của một ai. Nếu bạn là một sỹ quan trẻ giữ vị trí chỉ huy ở Việt Nam, bạn nên trở lại xem những trận đánh dưới sự chỉ đạo của ông ở Triều Tiên và bạn có thể thấy được ông đã làm đúng mọi thứ”.

Freeman là con nhà nòi, cha ông tốt nghiệp khóa đầu của trường Quân Y, hồi năm 1904, và là một bác sỹ trạm phẩu trung đoàn. Năm 1907, Paul Freeman chào đời, lúc đó Freeman-cha đóng quân ở Philippine, mỗi khi ông đi đâu với các đơn vị kỵ binh, ông đơn giản là lèn chặt những dụng cụ nghề nghiệp của mình vào túi. Cậu bé Paul Freeman lớn lên trong các điểm đóng quân từ châu Á đến Hoa Kỳ, trở nên yêu cuộc đời binh ngũ và chẳng thèm quan tâm tới nghề nghiệp nào khác nữa. Ông muốn vào học West Point, nhưng phải làm được điều đó bằng điểm ở trung học. Gia đình Freeman, sau chừng đó năm phục vụ ngoài nước, không có quan hệ nhiều với chính giới, và vì vậy một xuất học theo đường cử tuyển dường như không chắc chắn lắm. Vậy nên ông đã cố học nhồi nhét, học cật lực, nhưng rồi cũng đã không qua nổi xuất tuyển chính – lấy mười hai suất trong số 200 người, ông đứng thứ 13. Lúc này cha ông đang đóng quân ở đảo Governor cảng New York. Cha ông gọi khắp lượt các nghị viên New York xem có ai còn xuất không, và cuối cùng cũng tìm được một vị đại diện một quận toàn di dân mới, chủ yếu là người Do Thái Đông Âu – nói tiếng Do Thái đến từ các làng do thái Đông Âu. Hầu hết họ có nỗi sợ mang tính lịch sử với giới quân sự, từ những thế kỷ trước giới này dường như chỉ đại diện cho việc tàn sát người Do Thái trong những ngôi làng bé nhỏ của họ. Vì vậy nên không có động lực lớn để đưa con em họ vào West Point và gia nhập vào một thứ như kiểu quân Cossack-tân-thế-giới. Và thế là xuất cử tuyển từ nghị viên có được dễ dàng một cách bất ngờ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #167 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2013, 04:25:15 pm »

Freeman là một học sinh không xuất sắc ở West Point, ông đứng ở nửa sau của lớp và cũng không có năng khiếu thể thao. Ông tốt nghiệp năm 1929, giai đoạn khó khăn trong quân đội. Đất nước đang loạn, phố Wall gần như sụp đổ. Sự thăng chức, vốn đã chậm, giờ còn chậm hơn; Freeman mất tới 5 năm 4 tháng để leo từ thiếu úy lên trung úy. Nếu không có tài sản thừa kế, hoặc là con gái của gia đình giàu có vốn luôn khoái các anh sỹ quan trẻ đẹp trai – các gia đình lính sống trong tình cảnh eo hẹp tài chính và trở nên chi tiêu cắc rắc. Khi Franklin Roosevelt lên làm tổng thống vào năm 1933, một trong những mục tiêu đầu tiên và dễ dàng nhất của ông là giảm bớt chi tiêu quân sự, trước mắt là giảm 10% trên toàn bộ, điều này có nghĩa là cặp vợ chồng mới cưới Paul và Mary Anne Fishburn Freeman bị cắt giảm tiền lương hằng tháng từ 125$ còn 112,5$. Nhưng đây là khó khăn chung; mọi người khác cùng thời trong quân ngũ cũng đều sống tương tự; cứ phục vụ đã, cũng như mọi điều khác trong quân đội, gắn chặt với trái phiếu công.


Paul Freeman (thứ hai từ trái sang) , hình chụp ở Cam Ranh – Việt Nam, khi là đại tướng (bốn sao)

Bất kể điểm số trong West Point, Freeman ngay từ đầu tỏ ra sáng dạ và gây ấn tượng với cấp trên, trong đó có sư đoàn trưởng tương lai của ông ở Triều Tiên, sỹ quan trẻ Laurence Keiser, ông này vốn là sỹ quan chiến thuật của Freeman ở trường và là đại đội trưởng đầu tiên của Freeman khi thuộc trung đoàn 9, sư đoàn bộ binh số 2, tại căn cứ Fort Sam Houston, Texas hồi mới tốt nghiệp. Freeman ráng xin vào lực lượng Không quân mới (thật ra lực lượng này chỉ thực sự thành một quân chủng riêng sau Thế chiến II). Với các sỹ quan trẻ hiện đại, đây là lời kêu gọi của một binh chủng mới hay ho trong tương lai. Nhưng Freeman đã rớt sau cuộc kiểm tra thị lực – mắt phải không đủ 20/20. Việc này cũng đưa lại một câu hỏi cực kỳ quan trọng về nghề nghiệp với một sỹ quan trẻ sáng sủa, người đang muốn làm mình bật lên trong thời bình: kế tiếp mình phải nên thử làm gì? Thế là anh tình nguyện xin công tác ở Trung Hoa trong thành phần trung đoàn bộ binh 15, một đơn vị truyền thuyết trong thời kỳ nửa-thực-dân, lúc những cường quốc phương Tây vẫn còn ảnh hưởng, chia cắt đất nước Trung Hoa và đưa quân đóng ở đó. Đó là một đơn vị mà nhiều sỹ quan nổi tiếng Mỹ đã phục vụ, như George Marshall hay Joseph Stilwell. Freeman bị lôi cuốn bởi cảm giác thích phiêu lưu của thanh niên cùng với những ký ức tuổi thơ với cha mẹ ở Philippine  lúc bàn về chuyến đi thần tiên của họ đến xứ Trung Hoa kỳ ảo. Ông đến Trung Hoa vào tháng Chín năm 1933, lúc những rắc rối đầu tiên sẽ dẫn đến cuộc đại chiến thế giới bắt đầu xảy ra. Một Nhật Bản hung hăng đang trong tiến trình chiếm 5 tỉnh miền bắc Trung Hoa – miền Mãn Châu – và đổi đó thành tên Manchukuo dưới sự bảo hộ của người Nhật. Và đây cũng khởi đầu cho một mảng nghiên cứu mới, mê hoặc Freeman: quan sát một quốc gia đã từng vĩ đại, thực dân và phong kiến hơn phần lớn người Mỹ nghĩ, bị áp lực cả từ bên ngoài lẫn bên trong, và rốt cuộc là sẽ sụp đổ không xa. Dù ông trở thành một sinh viên tiếng Trung (và vẫn đủ nói thạo để thẩm vấn tù binh Trung quốc trong chiến tranh Triều Tiên), Freeman rất hiểu rằng ông không bao giờ hiểu được Trung Hoa. Sau này ông cho biết, ông đã ở đó trong những ngày cuối cùng của đế chế, và những người Trung Hoa mà ông biết chỉ là những người rất giàu có, họ đến cùng một câu lạc bộ và cùng thích những môn thể thao giống nhau – mã cầu và đua ngựa – như những người phương Tây. Vài câu lạc bộ còn không cho phép người Trung Hoa tham gia. Nên ông hiểu rằng ông không có chút cảm giác nào về cuộc sống khó khăn của phần lớn người dân.

Phần lớn thế chiến II, Freeman hoạt động trong mảng châu Á. Người vợ của ông mang bầu được đưa về nước hồi mùa thu năm 1940 lúc căng thẳng lên cao và lục quân Nhật dường như đang tự tin để đánh sâu vào châu Á (Ông đã không gặp con gái mình, Sewell, cho đến khi em được 3 tuổi rưỡi). Sau trận Trân Châu Cảnh, ông làm công tác phối hợp hành động giữa các bộ phận khác nhau trong con quái vật nhiều đầu trên chiến trường Trung – Miến – Ấn: một sở chỉ huy đầy sai sót, người Anh và người Mỹ không quan tâm lẫn nhau, và hai vị sỹ quan chính của Mỹ: Joe Stilwell và Claire Chennault cũng chẳng ưa nhau mấy, cùng với những đại diện của các khu vực địa lý khác nhau cố đưa tầm quan trọng địa phương của mình lên. Ông cũng kinh hoảng trước thành công của bộ máy tuyên truyền Trung Hoa Dân quốc, như sau này ông kể rằng: “mọi người Trung Hoa đều trần ngực ra và chiến đấu ác liệt chống quân Nhật. Điều này không đúng đâu…. Cứ mỗi khi chúng ta tham chiến là họ quyết định không đánh chác gì cả” Ông cũng có thể quan sát chiến thắng của Tưởng Giới Thạch trước Stilwell ở cự ly gần – “Ông ấy [Stilwell] biết quá nhiều về Trung Hoa nên thế”, Freeman sau này viết lại.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #168 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2013, 04:28:51 pm »

Rồi ông được đưa về lại Washington, và là một trong những trợ lý cao cấp cho Marshall trong việc lập kế hoạch cho chiến trường Thái Bình Dương, một vị trí cực kỳ thuận lợi – như sau này ông viết lại – cho việc quan sát Douglas MacArthur tranh cãi với các sỹ quan hàng đầu Hải quân  về những nguy hiểm của việc chia sẽ quyền chỉ huy trong chiến đấu. MacArthur đã phát biểu rất hay để chống lại điều đó – trớ trêu thay Freeman cũng không thoát khỏi việc này, ông cũng là một nạn nhân khi MacArthur đã làm điều không thể tưởng tượng đó khi chia quyền chỉ huy của tập đoàn quân Tám ở Triều Tiên. Ráng hết sức để thoát những công việc bàn giấy ở Washington, cuối cùng ông cũng có được vị trí chỉ huy thực chiến, tháng 11 năm 1944, khá muộn trong thế chiến, Freeman được đưa đến Philippine trong cương vị tham mưu trưởng sư đoàn 77, và cũng chỉ để bị gọi trở về lại Washington trong cuối năm đó để tham gia lên kế hoạch chiếm đóng Nhật Bản.


Paul Freeman trong quả ảnh thờ Smiley

Paul Freeman là một nhà lập kế hoạch thạo việc và có giá trị trong Thế chiến, nhưng ông cũng không có chút thời gian thực chiến nào, trong những năm ngay sau Thế chiến, sự nghiệp của ông dường như khá loạng choạng. Vào thời đó, lục quân sử dụng một hệ thống xét duyệt tên là Case Board để định lượng giá trị từng sỹ quan trong thế chiến II và cơ hội bổ nhiệm, thăng chức của người đó trong tương lai. Nhìn chung là chỉ huy thực chiến sẽ mang lại điểm cao nhất, trong khi công tác PX ở căn cứ nội địa là thấp nhất. Với hệ thống CaseBoard, Freeman có kết quả thật nghèo nàn. “Một sỹ quan không mấy xuất sắc” ông nghĩ, khi lạnh nhạt tính toán vị trí của mình như thể ông là một thành viên trong đội tính toán. Năm 1949, ông càng thêm lo lắng cho hướng đi binh nghiệp của mình khi Freeman đến gặp một đồng sự, một nhà quản trị binh nghiệp, ông ta giảng giải rằng tình trạng lưỡng nan của Freeman là một trường hợp Catch-22 hoàn hảo. Freeman là một đại tá với vài năm kinh nghiệm, muốn có vị trí là trung đoàn trưởng và tham gia học Viện Quân sự quốc gia. Tuy vậy, trong trường hợp Catch-22: bởi sự giảm trừ quân bị, nên không còn nhiều vị trí trung đoàn trưởng, và các sư đoàn trưởng muốn điền vào đó những sỹ quan có kinh nghiệm chỉ huy trong thời chiến cho các trung đoàn, và có khá đủ. Còn với Viện quân sự, con đường cũng đóng, bởi chỉ những sỹ quan ưu tú trong cương vị trung đoàn trưởng mới được tham dự. Xem ra Freeman có lẽ sẽ kết thúc cuộc đời binh nghiệp với cương vị tùy viên quân sự ở Chile.

Nhưng Freeman không phải là không có bạn bè quyền lực; trên hết, ông đã từng làm việc nhiều trong thời chiến với một nhân vật cấp cao là George Marshall. Một năm sau, khi đến gặp cố vấn nghề nghiệp, mọi thứ xoay chuyển một cách thần kỳ. “Ồ, anh may mắn lắm đó” , vị cố vấn, Pic Dillard, ghi nhận có phần nhạo báng ở lần gặp thứ hai. Freeman được nhận một lúc hai điều: chỉ huy một trung đoàn và vào Viện quân sự. Từ đó ông có một ngôi nhà ở Washington và Viện quân sự ở đó, ông thích đi học trước, nhưng Lục quân có quan điểm khác, và thế là Freeman được yêu cầu đóng gói đồ đạc và đến nhận trung đoàn. Nguồn lực tài chính của quân nhân chuyên nghiệp luôn mỏng manh, nên ông bán nhà đi – việc đó xong vào ngày 25 tháng 6, 1950 – trước khi ông đến Fort Lewis để nhận trung đoàn 23 thuộc sư đoàn 2 bộ binh. Freeman gần như đến đơn vị ngay lúc nó được đưa lên tàu chuyển đến Triều Tiên. Dưới sự chỉ huy của ông, trung đoàn 23 (cũng như cả sư đoàn) đã tham gia vào và rồi còn xuất sắc hơn trong những trận đánh đẫm máu nhất cuộc chiến tranh Triều tiên.

Ngay từ đầu, có phần không nhỏ bởi kiến thức của mình về Trung Hoa và những gì đã diễn ra từ năm 1945, Freeman có góc nhìn riêng về cuộc chiến với vẻ u sầu – từ chính xác mà ông đã dùng trong những lá thư gửi về cho vợ. Ông tuyệt đối lưu ý bà không nói cho ai khác biết suy nghĩ của ông (“Vì Chúa, đừng cho cho ai biết điều này – chỉ riêng cho em và bạn thân nhất”). Ông sợ rằng dù đó là suy nghĩ, lo ngại riêng tư thì vẫn là một kiểu thái độ không chấp nhận được với một tư lệnh. Ông kể cho vợ nghe những khó khăn trong chiến đấu và những phiền muộn của mình. Sự thận trọng của ông với những gì quân Mỹ đang giao chiến chẳng khác mấy với đa số những sỹ quan trong chỉ huy ở Triều Tiên. Những thực tế của cuộc chiến dường như làm mất chất nhiều sức mạnh quân sự của Mỹ. Trong những lá thư ông đã có một khái niệm mơ hồ của thứ mà sau này được đặt tên là Never Again Club, những quân nhân từng phục vụ ở Triều Tiên và rời đó với niềm tin vững chắc rằng các lực lượng bộ chiến của Mỹ không nên tham chiến lần nữa trên lục địa châu Á, có phần bởi những khó khăn kinh khủng của công tác hậu cần, nhưng phần lớn là bởi sự thiếu hụt rõ ràng về nhân lực. Cũng cần ghi nhận rằng cảm nhận của ông là trước khi người Trung Hoa tham chiến, và ông thường xuyên lo lắng trong những bức thư của mình rằng sớm hay muộn gì họ cũng sẽ nhảy vào. Ông bị ám ảnh bởi cảm giác sự cân xứng trong cuộc chiến này là không hợp lý, rằng phía bên kia có thể sẽ có đầu tư thêm để cân xứng với những gì Hoa Kỳ có thể làm – trong một cuộc chiến hiển nhiên là ngoại vi với lợi ích an ninh quốc gia Mỹ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #169 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2013, 04:33:43 pm »

Ngày 9 tháng tám, ông viết ngay khi vừa đến: “Triều Tiên là một trong những điểm khó khăn nhất mà quân ta từng đi đánh và chúng ta [đã đưa đến] khá ít và khá muộn. Không ai trong số chúng tôi hiểu nổi sự lạc quan và tự mãn của sở chỉ huy. Quân địch không có thấy bất kỳ dấu hiệu yếu ớt nào”. Địa hình và thời tiết thì kinh khủng. “Với tôi trong vị trí trung đoàn trưởng, tôi là một kiểu người lạc quan và hăng hái. Tôi sẽ làm tốt nhất với cương vị một quân nhân chuyên nhiệp”. Hai tuần rưỡi sau, chỉ ngay trước trận tấn công cuối cùng của quân Bắc Triều Tiên vào vòng phòng thủ Pusan, ông viết: “Chúng tôi đào hầm vào sườn đồi như một bầy chuột chũi. Ruồi và muỗi thật kinh hoàng và những xác chết không thể chôn bắt đầu bốc mùi. Chúng tôi không bao giờ biết tới việc cởi giầy. Nước thì khan hiếm và thức ăn thì đưa đến từ 10 dặm ở phía sau”.

Ông thư về nhà rằng mọi người luôn kiệt sức. Không có thời gian ngưng nghỉ, không có chỗ nào để ngủ để nghỉ, cũng không có chỗ để ăn. Quân Mỹ chọn đánh nhau ban ngày; còn quân Bắc Triều Tiên, vì không có không lực, chọn ban đêm. Điều này có nghĩa là người Mỹ sẽ không bao giờ có được đêm yên tĩnh. Ngay cả trong những thời khắc thái bình hiếm hoi họ cũng phải cảnh giác, tự hỏi rằng trận tấn công kế tiếp bao giờ sẽ đến. Ai mà ngủ một cách đàng hoàng thì sẽ không đánh thức nổi. Trong trận Naktong, cho dù quân Mỹ đã chặn được mũi đột phá chính của quân Bắc Triều Tiên trong 48 giờ đầu và dần dần gia cố các vị trí phòng thủ của họ, nhưng trận đánh không hề dịu bớt đi, mãi cho đến ngày 16 tháng Chín, ngày bắt đầu cuộc đại phản công của quân Mỹ trong vùng Naktong, phối hợp với trận đổ bộ Inchon của MacArthur trong ngày hôm trước.


Có lẽ ngày 8 tháng Chín bộ đội miền Bắc gần như đã xuyên thủng được tuyến trung đoàn 23, tấn công sở chỉ huy trung đoàn từ phía sau và gần như xuyên qua vị trí mỏng nhất của đại đội Fox, đơn vị bảo vệ trung đoàn bộ. Đó là một đêm kinh hoàng, trời mưa như trút, như giúp cho quân Bắc Triều Tiên. Trung úy Ralph Robinson – trên danh nghĩa là trợ lý tiểu đoàn nhưng vừa mới được thăng làm đại đội trưởng bởi trong tuần trước đại đội Fox đã mất toàn bộ sỹ quan của mình – đã phản ứng rất thông minh. Dù quân Bắc Triều Tiên đã khoét rất sâu vào đội hình đại đội, Robinson vẫn cố xoay sở để thoát qua đội hình của chúng dưới hỏa lực dày đặc trong cơn mưa ướt sũng, anh đến được đại đội Able, lấy trung đội dự bị của đại đội này và dẫn về. Anh đã dùng đại đội Able để vá víu hệ thống phòng thủ đã sụp đổ và đuổi được quân Bắc Triều Tiên đi. Đó là một việc rất đáng kinh ngạc, sau này thượng cấp anh nhận định.

Sau khi các trận đánh trên sông Naktong kết thúc, các trợ lý trung đoàn ước tính rằng từ giữa ngày 2 tháng Chín đến ngày 15 tháng Chín, có ít nhất 17 cuộc tấn công lớn từ phía cộng sản, tất cả đều nhằm vào vị trí trọng tâm của trung đoàn. Trong một bức thư Freeman viết cho vợ, mười ngày sau trận đánh Naktong, ông ghi: “Trời mưa suốt trong ba ngày cuối. Bọn anh không có không quân yểm trợ. (Dù trong thực tế nó cũng có chút xíu khi thời tiết tốt). Phóng pháo cơ không lên được, và thế là bọn anh mù. Bọn anh chỉ ngồi đây, đợi. Bọn anh cũng đã đẩy lùi được 13 trận tấn công – 10 trong số đó vào ban đêm. Những đêm đó thật là tệ hại. Bọn mọi châu Á tràn lên, và bọn anh tiếp tục tàn sát chúng. Phần thời gian còn lại bọn anh tiếp tục nằm dưới hỏa lực. Tất cả bọn anh ghét cái bọn không quân nhà mình. Thiệt hại của anh là kinh khủng. Anh chỉ còn ít hơn 40% quân số anh có hồi ngày 31 tháng Tám khi trận này bắt đầu. Gần như tất cả các sỹ quan cấp đại đội của anh đã hi sinh hết… Bọn anh rất đau lòng về những việc này. Bọn anh đã chiến đấu ác liệt với tất cả phẩm giá; không chỉ bởi bọn anh tin rằng đường lối của chúng ta là đúng mà còn vì sự sống còn của chính bọn anh. Nhưng tất cả dường như vô nghĩa và điên khùng. Để ‘giải phóng’ Nam Hàn bọn anh đang hủy diệt nó cùng với dân của nó. Tất cả người Triều Tiên đều ghét chúng ta. Mọi người ở đây đều là quân thù. Bọn anh không thể tin một ai cả”.

Ông thêm: “Và anh ngày càng tin rằng chúng ta bị kẹt vào một cái bẫy đẹp đẽ với những bầy mọi cuồng tín châu Á. Dường như toàn bộ quân chính quy của chúng ta tham chiến và bị nghiền dần. Anh không thấy lối ra cho việc này hoặc cách kết thúc nó. Bọn anh không thể áp đặt một thất bại quân sự lên những kẻ cuồng tín phương Đông này. Chúng chỉ đơn giản là xông đến. Cuộc đời rẻ mạt. Chúng không lệ thuộc vào hậu cần hay phương tiện liên lạc như chúng ta. Anh có cảm giác ngày càng lớn rằng chúng ta đã có một sai lầm to lớn khi đưa quân tham chiến trong cái hố không đáy này”. Đó là những lời của một sỹ quan Mỹ, người đã không có một đêm nghỉ ngơi đúng nghĩa trong nhiều tuần qua. Mọi tờ thư ông viết, ông ghi chú rằng, đều ướt đẫm nước mưa.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM