Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 08:15:24 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm  (Đọc 170398 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #130 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2012, 03:03:28 pm »

Ngày 27 tháng hai âm lịch (tức 30-3-1288), đoàn thuyền chiến cũng vẫn khoảng 500 chiếc142 với 5 vạn quân, chất đầy của cải cồng kềnh cũng như những nỗi lo sợ khủng khiếp cho đoạn đường sắp tới, nặng nề rút khỏi Vạn Kiếp theo hướng sông Bạch Đằng ra biển. Quân Trần đang chờ sẵn chúng, không phải chỉ bằng một trận đánh, mà bằng cả một loạt trận phục kích đường thủy đại quy mô.

  Trong lịch sử chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, ông cha ta đã từng tổ chức và thực hiện thắng lợi loại hình hoạt động quân sự, trong đó bao gồm những trận đánh liên tục, giải quyết từng nhiệm vụ cụ thể khác nhau, nhưng lại gắn bó với nhau trong một mục tiêu quân sự chung, dưới một sự chỉ huy thống nhất. Có thể coi những hoạt động đó như là những chiến dịch, theo cách gọi của thuật ngữ quân sự hiện nay. Đó là chiến dịch tiến công Ung, Khâm, Liêm năm 1075; chiến dịch phản công trên trục sông Hồng năm 1285; chiến dịch Bạch Đằng năm 1288; Chiến dịch Chi Lăng – Xương Giang năm 1427; chiến dịch giải phóng Thăng Long năm 1789… Mỗi chiến dịch đều mang một nét độc đáo riêng, nhưng chiến thắng Bạch Đằng 1288 quả xứng đáng là một kiểu mẫu về tổ chức chiến dịch phục kích đường thủy.

Chiến thắng Bạch Đằng kết thúc bằng một trận phục kích trên một trận địa cố định, dựa vào địa hình hiểm trở để tiêu diệt địch. Việc quân Trần bố trí những bãi cọc để tăng thêm sự hiểm trở của địa hình, khẳng định chủ trương quyết giương một cái bẫy thật lớn – một cái bẫy cố định, để đón diệt quân thủy Nguyên.

Những trận địa được chuẩn bị sẵn chờ quân địch lọt vào bẫy là một cách đánh rất lợi hại, đã ra đời sớm. Lịch sử chiến tranh của mọi dân tộc trên thế giới cũng như binh thư các đời đều luôn luôn nhắc đến thủ đoạn tác chiến cổ điển và lợi hại đó. Trong lịch sử chiến tranh nước ta, quân dân thời Trần được coi như những người tiêu biểu cho cách đánh này. Trong cả ba lần rút chạy, quân Nguyên đều bị các trận phục kích tiêu diệt nặng, gấp nhiều lần thiệt hại khi chúng tiến vào cũng như khi chúng tung quân càn quét, truy kích quân Trần. Nhưng trong các cuộc kháng chiến trước, phục kích chủ yếu diễn ra trên bộ, nhất là trên địa bàn rừng núi hiểm trở. Trong cuộc kháng chiến lần này, phục kích xuất hiện trên cả đường thủy và độc đáo hơn, lại thành công ngay khi quân địch đang hùng hổ kéo vào nước ta (trận Vân Đồn). Tiếp tục truyền thống đó, các nhà chỉ huy quân sự thời Trần đã táo bạo thực hành quyết chiến chiến lược với quân Nguyên bằng một trận phục kích quy mô lớn trên đường thủy.
-------------------------
142 Theo Toàn thư, không kể số thuyền bị đắm, số còn lại bị bắt sống là 400 tiêu thuyền (thuyền hành quân).
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #131 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2012, 03:09:48 pm »

Tuy nhiên, đánh địch bằng một trận địa có sẵn phải tuân theo những đòi hỏi rất khắt khe. Lại càng vô cùng khắt khe khi trận đánh phụ thuộc vào cả không gian lẫn chuyển biến thời gian của tự nhiên (như thời gian thủy triều cho phép hàng cọc phát huy tác dụng). Như chúng ta đều biết, từ Vạn Kiếp ra biển không phải chỉ có một đường sông duy nhất.

  Con đường xa nhất là ngược sông Đuống ra sông Hồng, xuôi xuống đó mà ra biển. Cũng có những con đường khác gần hơn một chút, như đường xuôi theo sông Thái Bình mà ra hai cửa Trà Lý hoặc Văn Úc. Gần hơn nữa có con đường xuôi theo sông Kinh Môn ra cửa Cấm. Và, con đường gần nhất là theo sông Kinh Thầy, ra cửa Chanh hoặc vòng một chút, qua cửa Bạch Đằng. Tuy nhiên, từ ngã ba Đụn ra tới ngã ba Rừng là nơi có thể từ đây ra biển theo cửa Chanh hoặc Bạch Đằng thì cũng lại có hai con đường không xa hơn nhau là bao, đó là đường theo sông Giá và đường theo sông Đá Bạc.

Như vậy, để ra biển, quân Nguyên có thể có nhiều đường tránh bất kỳ ổ phục kích nào mà ta bày sẵn. Điều này đặt ra yêu cầu để trận phục kích có thể thực hiện được là: quân Trần phải dự đoán chính xác đường rút quân của quân thủy Nguyên, đảm bảo tuyệt đối bí mật địa điểm phục kích, đồng thời đủ sức điều khiển được hướng hành quân của quân Nguyên trong trường hợp chúng vô tình hoặc hữu ý đi chệch khỏi con đường mà ta đang đón chúng.

Quân Trần tiếp tục truyền thống Bạch Đằng của Ngô Quyền, bố trí những bãi cọc lớn và lợi dụng thủy triều để đánh địch. Đặc điểm này của trận địa lại đặt ra những đòi hỏi khắt khe về thời gian. Ta đã biết quân thủy Nguyên xuất phát từ Vạn Kiếp ngày 30-3, mà ngày 22-3, quân thủy Nguyên còn hoạt động ở vùng này (đánh trại Yên Hưng, Trúc Động). Từ Vạn Kiếp ra đến biển, đi thuận dòng không quá hai ngày. Như vậy, nếu bình thường thì quân Trần chỉ có chưa đầy chục ngày (tức là từ sau khi quân Nguyên đánh trại Yên Hưng, Trúc Động cho đến sau khi quân Nguyên xuất phát một ngày) để trực tiếp dàn thế trận và chuẩn bị bãi cọc. Thực tế cho thấy việc chuẩn bị đòi hỏi rất nhiều thời gian, công sức. Do đó, càng kéo dài thời gian hành quân của quân Nguyên bao nhiêu thì quân dân ta càng có điều kiện chuẩn bị cho chiến trường chu đáo bấy nhiêu. Tình hình đó đòi hỏi quân Trần phải có những hoạt động tích cực, đủ sức khống chế thời gian hành quân của quân thủy Nguyên. Đặc biệt khi quân Nguyên đã đứng trước ngưỡng cửa của trận địa, thì việc “bấm nút” cho quân Nguyên hành quân theo đúng giờ nước triều thuận lợi nhất, là hành động vô cùng quan trọng.

  Có thể tính toán khoảng thời gian thuận lợi nhất dựa trên mấy yếu tố sau:

  - Độ mớn nước của chiến thuyền Nguyên khoảng 2,5m.

  - Cọc đào được ở bãi cọc cho biết dài trung bình 2,5m, đóng sâu xuống đáy sông trung bình 1,5m (Xem: Lưu Trần Tiêu và Trịnh Căn: Cọc Bạch Đằng trong đợt khai quật 1976, trong Nghiên cứu Lịch sử, số 1-1977, tr. 67).

  - Đáy sông nơi bãi cọc so với đáy sông Chanh hiện nay không chênh lệch nhau là bao (ở khu vực sông Chanh gần bãi cọc) khoảng 2 – 2,5m.

  - Tốc độ nước triều rút trung bìmh 0,30m/giờ.

  - Biên độ nước triều ngày 9-4-1288 là 2,3m.

  - Thời gian nước rút có thể tính từ khoảng 2 giờ đến 10 giờ sáng ngày 9-4-1288. (Xem Nguyễn Ngọc Thụy, Về con nước triều trong trận Bạch Đằng 1288, trong Nghiên cứu lịch sử, số 63, 6-1964).

  Tính toán chi ly có thể thấy ngay khi đỉnh triều cao nhất là thì những cọc ở rìa sông, nơi có độ sâu lúc dó khoảng 3m đã có thể làm thuyền mắc cạn. Trái lại, ở giữa sông, với độ sâu từ mặt nước tới đáy sông khoảng 4,5 – 5m thì dù cọc nhô khỏi đáy sông tới 1m vẫn không có tác dụng cản thuyền giặc. Ít ra cũng phải sau khi nước triều rút đi được khoảng 1 – 1,5m nước (tương ứng với khoảng thời gian 3 – 5 tiếng) thì cọc ở đó mới có tác dụng.

  Như vậy, muốn để bãi cọc phát huy tác dụng ở mọi độ sâu, cần phải chờ từ khi nước rút là 3 – 5 tiếng. Nếu tính lúc nước rút là 2 giờ sáng, thì phải đến 5 – 7 giờ sáng (đúng khoảng giờ mão) bãi cọc mới có thể phát huy tác dụng ở mọi chỗ. Lúc này ở ngay rìa sông, đỉnh cọc loại cao nhất (khoảng 2m từ mặt đáy sông lên đến đỉnh) cũng chỉ đang mấp mé mặt nước, chứ chưa bị lộ hẳn ra. Nước triều tiếp tục rút thì chỉ vài tiếng sau bãi cọc sẽ lộ phần lớn ra khỏi mặt nước. Như vậy, thời điểm “lái” quân Nguyên vào bãi cọc tốt nhất là khoảng 5 – 7 giờ sáng. Nếu chúng vào sớm hơn, có thể một số sẽ lướt trên bãi cọc mà thoát; nếu vào muộn hơn, cọc ven bờ lộ ra rồi thì khó mà lùa được thuyền chúng vào đó.

Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #132 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2012, 03:13:41 pm »

Rõ ràng, kết cục của trận đánh trên bãi cọc chỉ là hành động cuối cùng của cả một chuỗi hoạt động hết sức thông minh, khéo léo và cũng đầy sức mạnh để điều chỉnh tốc độ, thời gian và hướng hành quân của quân thủy Nguyên, dắt chúng vào trận địa phục kích theo đúng ngày giờ quy định. Nhìn lướt qua diễn biến, hình như trận đánh có vẻ dựa vào quá nhiều yếu tố ngẫu nhiên, từ việc quân Nguyên đi “đúng hướng” đến việc chúng vào bãi cọc “đúng giờ”. Không thể tùy tiện nói rằng vua tôi nhà Trần đã đặt toàn bộ trận quyết chiến chiến lược và công sức của hàng vạn người tham gia chuẩn bị chiến trường vào những may rủi ngẫu nhiên. Kết quả trận đánh là kết quả của những tính toán thiên tài và nỗ lực rất cao của quân tướng nhà Trần. Nhu cầu bắt buộc của trận quyết chiến tự nhiên đòi hỏi mở rộng thành một chiến dịch gồm nhiều hoạt động, nhiều trận đánh, đảm bảo cho thành công cuối cùng ở bãi cọc.

Điều đó được chứng minh qua thực tế diễn biến chiến dịch, từ việc phán đoán đúng hướng hành quân đến việc bố trí lực lượng cản đường, kéo dài thời gian hành quân của địch, việc đặt kế hoạch “lái” chúng vào bãi cọc đúng đường, đúng thời gian và cuối cùng là việc bố trí lực lượng tại trận địa, chuẩn bị trận địa và thực hành tiêu diệt địch.

Hiện nay sau nhiều năm tập trung nghiên cứu, vấn đề xác định khoảng sông Bạch Đằng diễn ra trận phục kích cuối cùng tiêu diệt toàn bộ quân thủy Nguyên về cơ bản đã được làm sáng tỏ. Đó là khoảng khu vực từ ngã tư, nơi sông Giá đổ nước vào Bạch Đằng và từ đó sông Chanh nhận nước đi, tức khoảng từ bến phà Rừng trở về thượng lưu. Tại đây, các nhà khảo cổ học đã phát hiện và khai quật được nhiều bằng chứng cụ thể về bãi cọc quân sự phù hợp với những nguồn tư liệu khác xoay quanh trận đánh này. Điều đó chứng tỏ quân Trần đã phán đoán được chính xác đường hành quân của quân Nguyên. Đây là một phán đoán có nhiều cơ sở thực tiễn. Trước hết, chiến trường nằm trên đoạn đường ngắn nhất, tiện lợi nhất và quen thuộc nhất đối với quân Nguyên. Như đã biết, con đường biển từ Trung Quốc vào nước ta thời xưa thuận tiện và quen thuộc nhất là đường qua cửa Bạch Đằng.

  Cửa Bạch Đằng thời xưa cần được hiểu một cách rộng rãi và linh hoạt, nhưng dù vào cửa nào theo quan niệm Bạch Đằng thời xưa thì vẫn phải chung một hướng qua sông Kinh Môn hoặc Kinh Thầy mà vào Lục Đầu. Thuyền chiến của Đoàn Chí theo Mã Viện vào đánh Hai Bà Trưng, của Trần Bá Tiên vào đánh Lý Bôn, của Hoằng Thao vào cứu Kiều Công Tiễn, của Lưu Trừng đánh nhau với quân Lê Hoàn, của Dương Tùng Tiên định vào với Quách Quỳ và gần nhất của bọn Ô Mã Nhi, Phán Tiếp vào hội với Thoát Hoan, tất cả đều hướng theo đường Bạch Đằng.

Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #133 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2012, 03:17:40 pm »

Trong cuộc chiến tranh lần này, chỉ mới vài tháng, quân thủy Nguyên đã có dịp qua lại tuyến đường đó ít nhất là hai lần. Như vậy có thể nói đây là tuyến đường quân Nguyên thông thạo luồng lạch nhất. Quân Nguyên có thể đi theo đường khác, nhưng đều xa hơn nhiều, hơn nữa “khi quân địch ở trên đường vận động ngắn nhất của quân đội bại trận thì cuộc rút lui với thời gian là hành động nguy hại nhất”143. Mặt khác, đi theo đường ra cửa Bạch Đằng, quân Nguyên còn tranh thủ được sự hỗ trợ của kỵ binh Trình Bằng Phi men theo trục đường 18 hiện nay.

Bãi cọc được bố trí bên tả ngạn lòng sông Chanh, ngay cách cửa sông hiện nay chừng vài trăm mét, chứng tỏ nhà Trần dự đoán khả năng quân Nguyên sẽ theo đường sông Chanh ra biển. Đó là một thực tế, bởi vì đó là con đường ngắn nhất. Đoạn sông Bạch Đằng từ ngã ba sông Chanh ra biển tuy rộng, nhưng lại có những ghềnh ngăn cửa sông và xa gấp ba lần so với đường theo cửa Chanh, đường đi vòng vèo lại nhiều sóng gió.

  Theo ước tính của các nhà hàng hải thì từ ngã ba Rừng theo cửa Chanh ra tới đầu luồng gần nhất, tiện nhất để về Trung Quốc (tức đường men phía bắc đảo Cát Bà) mất khoảng 10 hải lý, đường theo cửa Bạch Đằng 29 hải lý (mỗi hải lý bằng 1.852m).

Trên đường từ Lục Đầu ra cửa Chanh có nhiều nhánh tách khiến quân Nguyên có thể đi chệch khỏi chỗ ta phục kích, ví dụ nhánh tách ra sông Đuống, nhánh tách chuyển sang sông Thái Bình, nhánh tách theo sông Kinh Môn, nhánh tách theo sông Giá. Phần lớn các nhánh trên đều rất dài và không tiện lợi, nhất là đều phải sớm chia tay với đám quân kỵ hộ tống. Duy có nhánh tách theo sông Giá có nhiều khả năng hơn cả, vì đường này không xa hơn đường sông Đá Bạc, lại tránh được đoạn sông hiểm trở có núi bao quanh. Thực tế, ngày 8-4, khi tới ngã ba Đụn, một bộ phận quân Nguyên đã tiến theo đường này. Chính vậy, quân Trần đã phải chẹn ở đây một lực lượng lớn, kết hợp với nghi binh, lái quân Nguyên đi theo đường Đá Bạc.

Sau khi đã tính toán khá chính xác đường hành quân của quân Nguyên, quân Trần nhanh chóng bước vào bố trí lực lượng chuẩn bị chiến trường. Vấn đề đặt ra là cần phải kéo dài thời gian hành quân của quân Nguyên sao cho đủ thời gian để bố trí bãi cọc và ứng với kỳ nước cường. Để làm việc đó, quân Trần đã tổ chức một loạt trận đánh trên đường quân Nguyên hành quân từ Lục Đầu đến khoảng ngã ba Đụn. Những trận đánh này có tác dụng như các nút khống chế tốc độ hành quân của quân Nguyên, đồng thời tiêu hao làm mệt mỏi chúng.

Song song với các hoạt động trên, để trận Bạch Đằng thực sự là một trận tiêu diệt lớn, quân Trần còn phải làm một nhiệm vụ có tính chất chiến thuật là tách quân kỵ Trình Bằng Phi khỏi quân thủy để hoàn toàn cô lập quân thủy khi chúng lọt vào ổ phục kích.

Cuối cùng là việc điều khiển làm sao để quân Nguyên lọt vào trận địa phục kích đúng thời gian nước triều thuận lợi nhất cho bãi cọc phát huy tác dụng.

Như vậy, chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 cần được nhìn nhận như một chiến dịch bao gồm một loạt trận đánh từ khi quân thủy Nguyên rời khỏi Lục Đầu cho đến khi chúng bị tiêu diệt toàn bộ ở ngã ba sông Chanh. Chúng ta sẽ theo dõi diễn biến chiến dịch này trong ba hoạt động quân sự chính: một là, chặn đánh quân thủy, bộ Nguyên trên đường hành quân từ Lục Đầu đến ngã ba Đụn; hai là, trận Trúc Động chặn không cho quân Nguyên theo đường sông Giá; ba là, điểm quyết chiến Bạch Đằng.
---------------------------
143 Ph. Ăng-ghen, Tuyển tập luận văn quân sự, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 1964, t. IV, tr. 107.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #134 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2012, 03:22:03 pm »

Chặn đánh quân thủy, bộ Nguyên từ Lục Đầu đến ngã ba Đụn

Ngã ba Đụn là nơi chia đường nước từ sông Hà ra hai nhánh: sông Giá và sông Đá Bạc. Từ Lục Đầu tới đây, hành trình thông thường mất khoảng gần một ngày. Con đường bộ số 18 hiện nay luôn chạy song song với đường sông này một khoảng cách 2 – 3 ki-lô-mét. Ngày 30-3-1288, quân Nguyên bắt đầu xuất phát từ Lục Đầu mà mãi đến ngày 8-4 quân thủy mới tới ngã ba Đụn, còn quân kỵ của Trình Bằng Phi ngày 4-4 mới tới Đông Triều. Hẳn là chúng đã bị quân Trần chặn đánh liên tục. Qua bài thơ của Phạm Sư Mạnh khắc trong hang Kính Chủ, thì có thể chính vua Trần Nhân Tôn là người đã đặt đại bản doanh tại khu vực Kính Chủ này để chỉ huy các trận đánh tiêu hao và khống chế tốc độ hành quân của quân Nguyên144. Đây là một vùng núi non hiểm trở, lại kề sát ngay bên sông Kinh Thầy. Từ đây vượt sông sang chợ Đông Triều, nơi quân Trần phá cầu buộc kỵ binh Trình Bằng Phi phải quay về Vạn Kiếp chỉ khoảng 5 ki-lô-mét.

Trên đoạn đường bộ chưa đầy 30 ki-lô-mét, quân kỵ Nguyên liên tục bị quân Trần phá cầu, chặn đường đón đánh. An Nam chí lược chép: “Ngày 3 tháng ba, Đinh Hợi, hữu thừa Trình Bằng (Phi), thiêm tỉnh Đạt Mộc, đem kỵ binh đưa chu sư (quân thủy), qua chợ Đông Hồ (Triều), vướng sông bèn trở về. Vì cầu cống đều bị quân kia (quân Trần) cắt đứt, đón đợi ta mà đánh”. Vậy là sau năm ngày hộ tống, mới được khoảng một phần ba đường đi, quân kỵ Nguyên đã bị đánh bật trở lại Vạn Kiếp, bỏ mặc quân thủy tiến vào vùng nguy hiểm nhất.

Trên đường thủy, thuyền chiến quân Nguyên mới là đối tượng chính của quân Trần. Trong phần truyện về Trương Ngọc – một viên tướng chỉ huy đạo quân thủy này, chép trong Nguyên sử, q. 166, có đoạn xác nhận quân thủy do y chỉ huy trên đường đi từ Lục Đầu ra Bạch Đằng đã phải “giao chiến ngày này sang ngày khác”145. Dựa vào những dòng ghi chép về Trình Bằng Phi, ta có thể hình dung, khoảng ngày 4-4, tức ngày quân bộ đến Đông Triều thì quân thủy Nguyên cũng hành quân đến khoảng sông gần đấy. Đó chính là khu vực đóng đại bản doanh của vua Trần (vùng Dương Nham). Từ đây đến ngã ba Đụn, tức là nơi mà ngày 8-4, quân thủy Nguyên tụ họp ở đây trước khi tiến qua Bạch Đằng ra biển, đường nước chỉ khoảng hơn 10 ki-lô-mét, vậy mà quân thủy Nguyên đã phải mất 10 ngày. Rõ ràng, sau khi tách quân thủy Nguyên khỏi quân bộ, quân Trần chốt ở căn cứ Dương Nham đã tập trung chặn đánh chúng rất quyết liệt. Và cũng từ đây quân thủy Nguyên bị đặt trong mọi tình huống không khác gì quân thủy Toa Đô năm 1285: phía trước là quân ta đón phục ở Bạch Đằng, phía sau là vua Trần chốt chặn, uy hiếp từ Dương Nham. Chúng đã bị đặt trong tình thế bị tiêu diệt.

Thư tịch chính thống chỉ thấy tập trung nói đến trận chiến đấu xung quanh bãi cọc ở Bạch Đằng, nhưng truyền thuyết dân gian cũng như ghi chép trong các thần phả, tộc phả lại cho biết nhiều chi tiết sinh động về các hoạt động chặn đánh quân Nguyên từ Lục Đầu đến Bạch Đằng. Đó là câu chuyện về những vị chỉ huy dân binh địa phương như Nguyễn Xuân, Hoa Duy Thành mà công lao gắn liền với các hoạt động chặn đánh quân thủy Nguyên trước khi chúng tới Bạch Đằng. Sau đó cùng với vua Trần, họ đều tham gia trực tiếp trong trận quyết chiến ở Bạch Đằng.

Hoạt động của vua Trần nói trên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Việc đích thân vua Trần đứng ra chỉ huy chứng tỏ điều đó. Quân Trần đã hoàn thành xuất sắc giai đoạn một của chiến dịch, nhờ vậy, quân ta có thêm gần chục ngày để chuẩn bị và khi quân thủy Nguyên đến Bạch Đằng thì chúng đã hoàn toàn đơn thương độc mã, mệt mỏi rã rời.
-------------------------------------
144 Xem thêm Lê Thước: Bài thơ của Phạm Sư Mạnh khắc trong hang Kính Chủ (Hải Hưng), trong Khảo cổ học, số 5 – 6, tr. 81. Đại Nam nhất thống chí, t. III, tr. 379, trong khi nói về núi Dương Nham (hang Kính Chủ ở núi này) có đoạn: “Vua Trần Nhân Tôn nhà Trần chống cự quân Nguyên, đóng quân ở trên núi”.

145 Theo Hà Văn Tấn…, Sách đã dẫn, tr. 287.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #135 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2012, 03:24:34 pm »

Trận Trúc Động

Trúc Động nay là tên một thôn thuộc xã Lưu Kiếm, huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng), thời Trần bao gồm toàn bộ khu vực nằm kẹp giữa sông Đá Bạc và sông Giá. Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, có lẽ vua Trần đã từ Tam Trĩ theo đường bộ rút về đây rồi ra cửa Nam Triệu mà vào Thanh Hóa. Vùng này được biến thành một căn cứ thủy bộ lớn ngay từ giai đoạn hai của cuộc chiến tranh, tức lúc quân Nguyên đang ra sức tìm diệt quân Trần. Khi chiến dịch Bạch Đằng mở ra, căn cứ này càng có vị trí đặc biệt quan trọng. Về phía đông và phía bắc căn cứ là núi đá, núi đất hiểm trở xen giữa những lạch nước chi chít thông với sông Đá Bạc, Bạch Đằng. Về phía nam và phía tây căn cứ có những núi đất nhỏ rải kè sát sông Giá uốn khúc với nhiều lạch nước phụ kín đáo. Trong chiến dịch Bạch Đằng, nếu như nửa phía đông và bắc tập trung lực lượng đón đánh quân Nguyên theo đường sông Đá Bạc thì nửa phía tây và nam, quân Trần vừa phải bố trí binh thuyền tham gia đánh địch ở Bạch Đằng, vừa phải đối phó với khả năng quân thủy Nguyên từ ngã ba Đụn tiến theo đường sông Giá.

Dường như ban ngày quân Nguyên chủ trương đi theo đường sông Giá để tránh đoạn sông nguy hiểm nhất trong toàn bộ trục đường này, đó là đoạn sông Đá Bạc nối với Bạch Đằng. Trong thực tế, quân Trần cũng đặt bẫy phục kích của mình theo con đường nguy hiểm đó. Vì vậy, nếu để quân Nguyên đi theo đường sông Giá thì kế hoạch sẽ bị đảo lộn. Quân Trần đã bố trí lực lượng thủy bộ khá mạnh ở phía sông Giá đồng thời giăng cờ xí nghi binh, như thể quân ta tả đón đánh địch ở hướng này.

  Truyền thuyết dân gian vùng Trúc Động kể lại rằng quân ta lợi dụng thủy triều lên thả những mo cau gói cơm xuống sông trôi về phía ngã ba Đụn, cố ý làm như tiết lộ việc phục quân ở đoạn sông này, khiến quân Nguyên không dám vào.

Tuy nhiên, quân Nguyên vẫn cử đội thuyền chiến tiên phong do Lưu Khuê (viên tướng thủy chết hụt ở Hàm Tử năm 1285) chỉ huy tiến thăm dò theo đường sông Giá. Chúng ta có thể dự đoán rằng trong những ngày nước cường, quân Nguyên có ý thức lợi dụng thủy triều rút để ra biển. Trận Trúc Động xảy ra trước trận Bạch Đằng một ngày, chứng tỏ đêm hôm trước (7 rạng 8-4) quân Nguyên đã đến tụ ở ngã ba Đụn, chờ trời sáng và nước triều rút để xuôi dòng ra biển. Quân Trần đã chặn đánh quân Lưu Khuê quyết liệt ở đường sông này.

An Nam chí lược chép: “Ngày mồng 7 (tức 8-4 dương lịch – T.G.), quân thủy ta (tức quân Nguyên – T.G.) đến Trúc Động, quân địch tiến đánh, Lưu Khuê đánh lui, bắt được 20 cái thuyền”.

Thực ra không có chuyện “Lưu Khuê đánh lui”, bởi tiếp liền sau những dòng trên, Lê Trắc viết: “Ô Mã Nhi không theo đường biển (?) mà đi, lại theo đường sông Bạch Đằng, gặp địch, Ô Mã Nhi tự đem quân tải lương đánh lại. Phàn tham chính chiếm núi cao làm ứng, khi nước triều rút, quân bị hãm”. Rõ ràng quân Nguyên đã bị chặn ở sông Giá, buộc phải rút theo đường sông Đá Bạc (được coi như dòng chính của Bạch Đằng) và đã bị tiêu diệt trong ngày hôm sau. Điều này phù hợp với truyền thuyết dân gian và diễn biến trận đánh ngày hôm sau, mà kết quả là trận Bạch Đằng xảy ra đúng với kế hoạch bố trí của ta, chứng tỏ quân Trần hoàn thành nhiệm vụ bịt kín đường sông Giá.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #136 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2012, 03:31:13 pm »

Trận Bạch Đằng

Trận địa bố trí sẵn để tiêu diệt toàn bộ quân thủy Nguyên được quân Trần đặt ở khúc sông Bạch Đằng, khoảng từ ngã ba sông Chanh trở về thượng lưu một vài ki-lô-mét.

Có mấy đặc điểm đáng lưu ý về chủ trương chọn điểm quyết chiến ở khúc sông này. Đây là đoạn sông rộng (khoảng gần 2 ki-lô-mét bề ngang, khi nước triều lên), lại rất gần cửa biển (trong thơ Phạm Sư Mạnh, được coi như một hải phố), vì vậy có nhiều luồng lạch và chịu ảnh hưởng rất lớn của thủy triều.

  Theo các nhà khí tượng học, biên độ triều trong ngày nước cường, tức ngày diễn ra trận Bạch Đằng 1288 ở khoảng sông này chênh nhau trong khoảng 2,3m, lưu tốc nước lúc nhanh nhất tới 8,86m/giây và nước rút trung bình 30cm/giờ146.

Như vậy quân Trần có ý định quyết chiến với quân Nguyên bằng thủy chiến. Nhưng không phải đối trận mà là phục kích thủy chiến. Do lòng sông rộng, việc giải quyết thắng bại cơ bản của trận đánh là do quân thủy quyết định. Nhưng thực tế thuyền quân Nguyên là thuyền biển, sản phẩm của những xưởng đóng thuyền nổi tiếng đương thời ở Quảng Đông, Phúc Kiến. Nên quân thủy Trần không chọn đối trận mà chọn phục kích là đúng.

  Có thể hình dung điều này qua một đoạn trong Vũ bị chế thắng chí: “Thuyền lớn thì thắng thuyền nhỏ, thuyền chắc chắn thì thắng thuyền mỏng manh, thuyền thuận gió thì thắng thuyền nghịch gió, thuyền thuận dòng thì thắng thuyền nghịch dòng… Lấy thuyền Phúc Kiến mà gặp thuyền Nhật Bản thì như lấy xe mà nghiến con bọ ngựa. Thuyền Phúc Kiến như thành mà thuyền Nhật Bản như một khoang, ở trong biển lớn gặp nhau, thì đấu sức thuyền mà không đấu sức người, thế mới biết lớn thắng nhỏ vậy. Lấy thuyền Phúc Kiến mà đối thuyền Quảng Đông thì như lấy đá ném vào núi. Thuyền Quảng Đông đều bằng gỗ lim, mà thuyền Phúc Kiến thì là gỗ thông, sóng gió dập nhau, gỗ thông chỉ đụng một cái là nát, thế mới biết chắc chắn thắng mỏng manh vậy” (quyển 13).

Trong trận phục kích đường thủy này, yếu tố quan trọng nhất là làm rối loạn đội hình hành quân của địch, từ đó dùng ưu thế áp đảo về binh lực tiêu diệt chúng. Trận địa cọc được coi như một đội quân ngầm, có nhiệm vụ chủ yếu là chặn không cho quân Nguyên chạy khỏi trận địa phục kích, đồng thời là đòn quyết định làm rối loạn hoàn toàn và nghiêm trọng đội hình chiến đấu của chúng. Bản thân bãi cọc không phải là phương tiện tiến công, cho dù có ý định như Ngô Quyền vát nhọn và bịt sắt ở đầu. Trong trường hợp thuyền đang vận động nhanh, chỉ cần va phải cọc thi dù nhọn hay không, mạn thuyền cũng dễ bị phá hủy. Tuy nhiên, bao giờ cũng vậy, thường chỉ một số thuyền đi đầu bị vướng cọc thôi, chứ không có khả năng toàn bộ chiến thuyền lao sâu vào bãi cọc.

  Kết quả khai quật bãi cọc ở cửa sông Chanh đem lại cho chúng ta hiểu biết khá chi tiết về kích thước và cách bố trí của cọc, nhưng cả mấy lần đào đều không đem lại mảy may chứng tích chiến trận, như thuyền, gươm, giáo… Điều đó chứng tỏ ở giữa bãi cọc không có khả năng diễn ra trận đánh. Chương trình tìm kiếm chiến trường ở khoảng đầu bãi cọc, nơi các thuyền Nguyên đi đầu vướng vào, cản toàn bộ các thuyền khác có thể đem lại hy vọng hơn.

Bãi cọc chỉ có tác dụng giúp quân thủy Trần, với thế bất ngờ áp đảo, tạo ra tình huống quyết định nhất của trận đánh là khiến đội hình chiến đấu của quân Nguyên bị rối loạn, phải tụ lại để đón những đòn tiến công của ta.

--------------------------
146 Xem thêm: Nguyễn Ngọc Thụy, Tài liệu đã dẫn.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #137 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2012, 03:35:28 pm »

Một phương thức được dùng trong trận Bạch Đằng để làm rối loạn đội hình chiến đấu của thuyền chiến Nguyên là hỏa công. Truyền thuyết dân gian cho ta nhiều tư liệu về cách đánh này. Khi thuyền Nguyên bị mắc kẹt trước bãi cọc, đội hình dồn lại, thì những bè lửa từ thượng lưu, được giấu kín trong các lạch nước chi chít ở sông Đá Bạc (khu vực Điền Công) bắt đầu trôi xuống. Những bè lửa làm tăng thêm mức độ rối loạn và hoảng sợ của quân thủy Nguyên, tạo điều kiện cho quân thủy Trần tiến công.

Tuy nhiên, yếu tố có ý nghĩa quyết định nhất đến toàn bộ cuộc chiến đấu là quân thủy Trần, với cung nỏ và những trận đánh giáp lá cà trên thuyền địch, tiêu diệt quân Nguyên hoặc buộc chúng rời thuyền. Thư tịch đương thời cho ta biết rất rõ điều đó. Trương Hán Siêu, là gia khách trong nhà Trần Quốc Tuấn, ít năm sau trở lại chiến trường đã mô tả lại trận đánh như sau:


  “… Bấy giờ:
  Muôn dặm thuyền bè, tinh kỳ phấp phới
  Sáu quân oai hùng, gươm đao sáng chói”.


Sử Nguyên, truyện về Phàn Tiếp chép: “Thuyền giặc (tức quân Trần – T.G.) tập trung đông, tên bắn như mưa”. Bia Lý Thiên Hựu cũng chép: “Tháng ba, đến cảng Bạch Đằng, người Giao chắn chiến hạm ngang sông để chống cự quân ta, đến lúc nước triều rút, thuyền không tiến được, quân tan vỡ…”.

Quân thủy Trần chẳng những là lực lượng chính trong các hoạt động chặn đánh quân thủy Nguyên dọc đường hành quân, mà còn tiếp tục đóng vai trò chính dắt quân Nguyên vào trận địa phục kích, kìm chân chúng cho đến khi bãi cọc phát huy tác dụng, và cuối cùng giáp chiến tiêu diệt quân Nguyên trên thuyền.

Khác với những trận đánh trên biển, ở đây dù sông rộng thì quân Nguyên khi thất trận vẫn có thể bỏ thuyền thoát lên bờ trốn chạy hoặc tiếp tục chống lại. Song, chúng đã bị tiêu diệt hoàn toàn.

Truyền thuyết dân gian vùng Yên Hưng kể lại nhiều chi tiết về những trận truy kích quân thủy Nguyên khi chúng bỏ chạy lên bờ về phía tả ngạn Bạch Đằng. Có thể quân Trần đã bố trí quân bộ đón sẵn, cũng rất có thể quân thủy Trần sau khi hoàn thành nhiệm vụ đánh địch trên sông, tiếp tục đổ bộ truy kích quân Nguyên trốn chạy. Như vậy, nếu thủy chiến trên sông giải quyết những vấn đề quyết định thành bại của trận đánh, thì cuộc chiến đấu tiếp tục trên ờ tả ngạn đã làm cho trận đánh thắng lợi một cách triệt để. Trong trường hợp này, càng thấy ý nghĩa to lớn của việc quân ta đã loại quân kỵ Trình Bằng Phi khỏi trận đánh này. Quân Trần chẳng những đánh thắng, mà còn hoàn thành xuất sắc mục tiêu đánh tiêu diệt.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #138 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2012, 03:43:05 pm »

Trong sử sách ghi chép về các trận đánh thời Lý – Trần, trận Bạch Đằng được mô tả tỉ mỉ nhất. Sử sách Nguyên, dù cố che đậy, cũng không thể bỏ qua thất bại to lớn và hiển nhiên này. Điều đó cho phép chúng ta hình dung được phần nào diễn biến trận đánh – một vấn đề hết sức quý báu khi nghiên cứu lịch sử chiến tranh thời cổ trung đại.

Toàn thư là cuốn sách ghi chép chi tiết hơn cả về trận Bạch Đằng. Cương mục sau này chủ yếu dựa vào Toàn thư và thêm ít nhiều phán đoán của người biên soạn dựa trên cơ sở tham khảo một số tài liệu trong Nguyên sử. Để hình dung trận đánh bám sát với tư liệu có thể dựa vào Toàn thư mặc dầu đoạn viết về Trương Văn Hổ có nhiều điều nghi vấn.

Toàn thư chép: “Ngày hôm ấy (tức ngày 8 tháng tư dương lịch) nhân lúc nước triều lên, Hưng Đạo cho quân khiêu chiến, rồi giả cách thua, quân giặc đuổi theo, quân ta cố sức đánh lại. Nước triều xuống, thuyền giặc bị vướng cọc, Nguyễn Khoái đem quân Thánh Dực nghĩa dũng đánh nhau với giặc, bắt được bình chương là Áo Lỗ Xích. Hai vua đem quân tiếp đến, tung quân đánh hăng, quân Nguyên chết đuối không kể xiết, nước sông đến nỗi đỏ ngầu”.

  Theo phần Tục biên trong sách này thì có lẽ Phan Phu Tiên là tác giả của những hiểu biết trên. Ông sống vào khoảng cuối Trần đầu Lê, tức sau Trần Bạch Đằng khoảng một thế kỷ rưỡi. Có lẽ ông không có điều kiện tham khảo Nguyên sử – tập sử hoàn thành vào đầu thời Minh – như các tác giả Cương mục, nhưng với trách nhiệm được vua giao viết phần tiếp theo Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu, từ thời Trần Thái Tôn cho đến khi Lê Thái Tổ đánh đuổi quân Minh về nước, có thể ông có lợi thế hơn các tác giả đời sau ở chỗ xây dựng được ít nhiều văn bản thời Trần và trí nhớ dân gian còn rất phong phú, gần với chân lý hơn, xung quanh những sự kiện về Bạch Đằng.

Dựa vào những nguồn sử liệu khác đương thời, kết hợp với các tài liệu phân tích hiện đại, chúng ta thử lần theo hiểu biết của nhà viết sử thế kỷ XV về trận Bạch Đằng. Theo Phan Phu Tiên, trận đánh bắt đầu lúc triều trướng (có thể hiểu nước triều đang lên cũng hiểu được là nước triều đã lên cao). Tính toán bằng phương pháp hiện đại, các nhà khí tượng học cho biết ngày 9-4-1288 là ngày nước cường, với đỉnh triều cao nhất trong đêm 8 rạng 9-4, từ đó nước rút và rút mạnh nhất khoảng sáng sớm147. Nguyên sử truyện về Phàn Tiếp cho biết: “Lực chiến từ giờ mão đến giờ dậu”, tức khoảng 5 – 7 giờ sáng đến 5 – 7 giờ tối. Như vậy chứng tỏ trận “khiêu chiến” xảy ra vào khoảng nước triều đang còn cao, chứ không phải đang lên cao. Theo kế hoạch hành quân bình thường, quân Nguyên cũng sẽ lợi dụng nước triều rút, để ra biển. Theo lưu tốc triều rút từ ngã ba Đụn – nơi quân thủy Nguyên đóng quân sau khi tắc đường sông Giá ra đến ngã ba sông Chanh chỉ trong vòng hai tiếng đồng hồ.

Trận “khiêu chiến” không có ý nghĩa nhử địch lắm, điều đó chỉ khiến chúng tăng cường cảnh giác, mà chủ yếu là để khống chế tốc độ hành quân của thuyền chiến Nguyên, không cho chúng tiến qua bãi cọc khi nước triều còn cao.

Các tài liệu của sử ta cũng như sử Nguyên đều công nhận quân thủy Nguyên “mắc cạn” (sử ta chép thẳng là “vướng cọc”) khi nước triều rút và bị quân ta tiêu diệt. Điều đó chứng tỏ đội thuyền chiến làm nhiệm vụ “khiêu chiến” đã hoàn thành nhiệm vụ. Có thể khoảng 5 – 7 giờ sáng hôm ấy, khi nước triều đã rút tới mức bãi cọc còn chìm dưới nước, nhưng đã phát huy tác dụng thì quân “khiên chiến” bắt đầu “thả” quân Nguyên và các đơn vị phục kích trong các lạch nước phía hữu ngạn đổ ra đánh dồn quân Nguyên về phía bãi cọc.

  Theo chúng tôi, việc “quân ta cố sức đánh lại” chép trong Toàn thư cũng như việc “người Giao chắn chiến hạm ở ngang sông”, việc “Phàn tham chính chiếm núi cao làm ứng”… trong Nguyên sử và An Nam chí lược đều nói về diễn biến chiến sự trước khi quân Nguyên lọt vào bãi cọc, khi quân Nguyên đụng đầu với quân “khiêu chiến” của ta.

  Có hai khả năng dẫn đến việc “nước triều xuống, thuyền giặc vướng cọc”. Thứ nhất, quân Nguyên thoát theo hướng sông Chanh khi quân phục kích của ta đổ ra, bị bất ngờ, nên lao phải hàng cọc ngầm dưới nước. Thứ hai, quân ta đánh kìm chân quân Nguyên ở trước bãi cọc cho đến khi bãi cọc phát huy tác dụng. Khả năng thứ hai ít hơn, vì nếu vậy đội quân đánh chặn phải hoạt động phía dưới bãi cọc và khi bãi cọc dần nhô lên làm thuyền quân Nguyên mắc cạn thì đội quân này không có cách nào tham gia trận đánh được nữa. Thực tế chúng ta không tìm thấy được bằng chứng trận đánh trong bãi cọc. Nhiều khả năng là quân Nguyên đã “thắng” đội quân “khiêu chiến” nhà Trần, lại bị phục binh đổ ra và vướng cọc. Dĩ nhiên, quân Trần phải có những hoạt động nào đó đề phòng khả năng quân Nguyên thoát ra biển bằng đường sông Bạch Đằng. Và trong trường hợp này, chúng ta có thể hiểu được lời trách cứ trong An Nam chí lược: “Ô Mã Nhi không theo đường biển mà đi, lại theo đường sông Bạch Đằng… khi nước triều rút, quân bị hãm”.


Khi quân Nguyên đã mắc cạn, tình huống mới xuất hiện, cuộc chiến đấu bước vào giai đoạn quyết định.
--------------------------
147 Nguyễn Ngọc Thụy, tài liệu đã dẫn.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #139 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2012, 03:50:47 pm »

Khi những thuyền chiến đầu tiên của quân Nguyên mắc cọc bất ngờ thì chẳng những đội hình hành quân của chúng bị rối loạn – đây là điều tối kỵ trong đối thủy – mà tâm trạng tác chiến, ý định tác chiến cũng hỗn loạn. Quân Trần đã tích cực khai thác tình huống đó bằng những bè hỏa công thả từ phía thượng lưu xuống và quan trọng hơn là những đội cảm tử thọc sâu vào đội hình đang rối bời của địch.

Toàn thư chép về tình huống này: “Nước triều xuống, thuyền giặc vướng cọc. Nguyễn Khoái đem quân Thánh Dực Dũng Nghĩa đánh nhau với giặc”.

  Nguyên bản chép là Thánh Dực Dũng Nghĩa, chứ không phải là Nghĩa Dũng. Quân Dũng Nghĩa là quân tình nguyện, không trong biên chế, thường coi như quân cảm tử. Binh chế Tống có nói đến quân Nghĩa Dũng là một loại dân binh, nhưng được tổ chức và huấn luyện như cấm quân. Năm 1073, nhà Tống chính thức áp dụng loại quân này cho vùng Quảng Đông, Quảng Tây. Cuối thời Hồ, năm 1406, để tăng cường quân đội chuẩn bị kháng Minh, “Hồ Hán Thương bổ thêm hương quân, lấy người có chức tước tạm coi. Chiêu mộ những người vong mệnh làm quân Dũng Hãn đặt các chức thiên hộ, bách hộ để cai quản” (Toàn thư, t. II, tr. 246). Trong các binh thư, thường không mấy khi quên loại quân cảm tử này, họ thường được dùng trong những tình huống đột phá quan trọng nhất. Thánh Dực Dũng Nghĩa chính là loại quân như vậy, khác với quân tả hữu Thánh Dực trong biên chế chính thức của nhà vua. Rất có thể đây là đội quân cảm tử do Nguyễn Khoái chiêu mộ ở vùng sông nước Hưng Yên, Hải Dương (tức hai lộ Hồng, Khoái đương thời).

Hoạt động của quân Thánh Dực Dũng Nghĩa đã mở đầu cho cuộc tổng công kích vào đội thuyền chiến của quân Nguyên đang bị vướng cọc dồn lại và hỗ loạn trong đám cháy của những bè hỏa công. Tiếp theo mũi đột kích của quân Dũng Nghĩa, toàn bộ quân thủy Trần lao vào tiến công quân Nguyên. Đó là lúc Toàn thư chép: “Hai vua đem quân tiếp đến, tung quân đánh hăng, quân Nguyên chết đuổi không kể xiết, nước sông đến nỗi đỏ ngầu”. Đó cũng là lúc truyện về Phàn Tiếp trong Nguyên sử ghi: “Thuyền giặc tập trung đông, tên bắn như mưa”. Đó cũng là lúc diễn ra hình ảnh tiêu biểu nhất của trận đánh mà Trương Hán Siêu từng mô tả:

  “Bấy giờ…
  Muôn dặm thuyền bè, tinh kỳ phấp phới
  Sáu quân oai hùng, gươm đao sáng chói
  Sống mái chưa phân, Bắc Nam lũy đối
  Trời đất rung rinh (chừ) sắp tan
  Nhật nguyệt u ám (chừ) mờ tối…”.


Có lẽ Phàn Tiếp đã rơi xuống sông và bị quân Trần dùng câu liêm móc lên ở đây, Trương Ngọc tử trận, và bọn Ô Mã Nhi, Tích Lệ Cơ… cũng bị bắt sống tại đây.
Logged

Ùi, úi, ui....
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM