Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 10:55:52 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm  (Đọc 170455 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #160 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2012, 06:53:07 pm »

Chương chín

QUÂN THỦY VIỆT NAM THẾ KỶ XVIII
(TRƯỚC KHỞI NGHĨA TÂY SƠN)

Trước năm 1771, năm bắt đầu phong trào nông dân Tây Sơn, quân thủy nước ta bao gồm hai lực lượng chung một nguồn gốc, truyền thống nhưng đang có những khác biệt đáng kể, phụ thuộc vào sự khác nhau về đặc điểm địa bàn hoạt động. Đó là quân thủy Trịnh ở Đàng Ngoài và quân thủy Nguyễn ở Đàng Trong. Nghiên cứu về quân thủy thời kỳ này có thể xem xét riêng từng miền. Nhưng để nghiên cứu quân thủy Tây Sơn, với tư cách là sự tổng hợp của quân thủy Trịnh và quân thủy Nguyễn, xây dựng thành một lực lượng quân thủy Việt Nam thống nhất, thì lại có thể kết hợp nghiên cứu cả hai quân thủy đó.

THUYỀN CHIẾN

Đây là thời kỳ có nhiều tư liệu về thuyền chiến nhất. Sử sách thời Lê ghi chép cũng tỉ mỉ hơn, lại thêm một nguồn tài liệu hết sức dồi dào, đó là những mô tả của người nước ngoài (chủ yếu là phương Tây) trong dịp qua lại truyền giáo, buôn bán, tình báo ở nước ta. Một nguồn tài liệu rất có ý nghĩa nữa là các hình vẽ, phù điêu và cả những mô hình thuyền chiến được sáng tác vào thời kỳ này hiện còn lưu lại được. Tình hình đó cho phép chúng ta hình dung tương đối chính xác và tỉ mỉ về thuyền chiến đương thời.

Thuyền chiến và các loại thuyền chuyên dùng cho mục tiêu quân sự. Do đặc điểm cơ động, quân đội thời này dùng nhiều loại thuyền khác nhau trong chiến đấu, kể cả quân thủy lẫn quân bộ. Sử sách nước ta cũng như các tài liệu phương Tây không hề thấy có sự phân biệt rạch ròi đâu là thuyền chiến dùng cho quân bộ và đâu là thuyền đặc chủng của quân thủy. Quan niệm về quân thủy trong các tài liệu đương thời gộp chung trong đó tất cả các thuyền bè dùng cho mục tiêu quân sự. Tuy nhiên, trong các tài liệu phương Tây, thường chỉ một loại thuyền trong số những thuyền đó, được mô tả như là đại diện cho toàn bộ quân thủy đương thời. Dựa vào các nguồn tài liệu đã có, có thể chia thuyền chiến dùng trong mục tiêu quân sự thành ba loại lớn: thuyền vận tải; thuyền chiến đấu; thuyền đi tuần hoặc do thám liên lạc.

Thuyền vận tải là thuyền chuyên chở quân lương, vũ khí và binh lính đánh bộ. Trong đó, lại có thể chia nhỏ hơn thành hai loại ít nhiều khác nhau. Một loại chuyên để chở quân lương, vũ khí, một loại để chở lính đánh bộ với chức năng như thuyền vận tải – đổ bộ. Loại trên không khác với thuyền vận tải thông thường và có lẽ chỉ là một bộ phận nhỏ trong quân thủy túc vệ mới có thường trực loại thuyền này, còn lại, khi có chiến tranh, nhà nước huy động thuyền vận tải trong dân gian đảm nhiệm chức năng vận tải đó183. Thuyền chuyên chở quân bộ có thể cấu tạo hơi riêng biệt để đảm bảo sức khỏe binh lính trong những cuộc hành quân dài ngày. Các đơn vị thường trực đều có riêng những thuyền này để sẵn sàng cơ động. Họ được cung cấp nguyên, vật liệu và phải tự động tự làm xưởng để bảo quản, sửa chữa. Các thuyền chở lương chạy chủ yếu bằng buồm, thuyền chở lính tùy trường hợp mà chạy buồm (khi hành trình) hoặc dùng chèo (khi tiếp cận mục tiêu).
----------------------
183 Lê Quý Đôn có nói đến hình thức trưng dụng này như một thứ thuế lao dịch ở Đàng Trong (Phủ biên tạp lục, tr. 264).
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #161 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2012, 07:02:13 pm »

Thuyền chiến đấu được coi như thuyền đặc chủng của quân thủy. Kết cấu, trang bị, biên chế khác những thuyền thông thường. Nhiệm vụ chính của loại thuyền này là dùng khả năng chiến đấu của thuyền đó tiêu diệt đối phương, kể cả trên mặt nước lẫn ven bờ. Phần lớn đây là những pháo thuyền. Chúng ta sẽ nói nhiều đến loại thuyền này ở phần sau.

Thuyền đi tuần hoặc do thám, liên lạc thường nhỏ, nhẹ, cơ động, biên chế tinh nhuệ nhưng gọn. Ngay từ đầu Lê sơ, trong biên chế của mỗi quân, bên cạnh 10 thuyền chiến, còn thêm 2 thuyền loại này (tiểu tiêu thuyền). Thuyền Tân súng ở cửa Eo có lẽ cũng thuộc loại thuyền này. Trong Binh thư yếu lược (sách thời Nguyễn) gọi nó là thuyền chài184. Đây là loại thuyền không thể thiếu được trong các hạm đội hiện đại của châu Âu đương thời, vì trước khi có những phương tiện vô tuyến thông tin liên lạc thì việc do thám tình hình địch, phát hiện địch từ xa và liên lạc giữa các thuyền lớn đều do những thuyền này đảm nhiệm.


Thuyền chài vẽ trong Binh thư yếu lược

  Năm 1427, một tàu buôn Bồ Đào Nha bị bão giạt vào cửa Bạng (Thanh Hóa). A-lếch-xan đờ Rốt (Alexandre de Rhodes) đi trên chiếc tàu này. Đúng dịp đó binh thuyền chúa Trịnh đang hành quân vào đánh Đàng Trong. Đờ Rốt được chúa tiếp và cho đi theo. Đoạn mô tả của ông về đoàn binh thuyền cho ta hình dung khá rõ các loại thuyền đương thời: “Đầu tiên chúng tôi thấy một đoàn thuyền đến 200 thuyền chiến chạm trổ tô son thếp vàng rực rỡ, trên thuyền quân đội súng ống đầy đủ. Đoàn thuyền tiến lên rất đều… Rồi đến 80 thuyền chở vệ binh, chạm trổ và tô điểm nhiều hơn, buồm cũng làm bằng vải thanh nhãn (?), còn dây chão thì cuộn bằng tơ màu son đỏ. Đi giữa là thuyền rồng to lớn, sơn son thếp vàng đẹp đẽ… Số binh thuyền theo sau đoàn thuyền hộ tống còn đông hơn cả đoàn thuyền đi tiên phong, đấy là không kể những thuyền lớn nhỏ đủ cỡ, nhiều vô số, dùng vào việc chở binh lương và các cung nữ… Ngoài ra, còn 50 thuyền lớn chở lương thực đủ cho bộ binh và thủy binh. Số quân cả thủy lẫn bộ có đến gần 12 vạn”185.

  Lê triều hội điển cũng cho chúng ta biết ba loại thuyền dùng trong các cơ đội thuộc quân Lê – Trịnh: thuyền Thiện Hải, thuyền hàng (đại, trung, tiểu) và thuyền cổ (đại, trung, tiểu). Thuyền cổ là loại kích thước nhỏ, ít mái chèo, không có mái che như các thuyền khác, được nói rõ là loại thuyền để “sai khiến”. Còn lại, thuyền Thiện Hải có lẽ là thuyền chiến đấu và thuyền hàng ứng với thuyền chở quân lương.

----------------------------
184 Binh thư yếu lược, tr. 221.

185 A. de Rhodes, Histoire du Royaume du Tonkin, Lyon, 1651.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #162 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2012, 07:16:15 pm »

Dưới đây chỉ đi sâu nghiên cứu loại thuyền chiến đấu, được coi như thuyền đặc chủng, đại diện cho bộ mặt quân thủy đương thời.

Hình dáng và kích thước.

Các tiêu bản thuyền chiến thời này (bản vẽ, phù điêu hoặc thuyền thờ) hầu hết đều là thuyền Đàng Ngoài thế kỷ XVII. Mặc dầu các nguồn khác nhau186, nhưng các tiêu bản đó đều thống nhất mô tả một loại thuyền. Đối chiếu với các mô tả bằng chữ viết, ta thấy đó chính là loại thuyền chiến đấu tiêu biểu cho quân thủy đương thời.

Đó là những thuyền dài, tỷ lệ chiều dài/chiều rộng (L/W) trong khoảng 5 – 6 thích ứng với đặc tính cơ động và truyền thống thuyền sông của nước ta. Vỏ thuyền đóng rất khéo, các ván được ghép bằng đinh sắt (Lê triều hội điển) và uốn để chỗ nối đầu và đuôi thuyền không tạo thành một đường gấp khúc mà hơi lượn tròn. Mũi thuyền vát hơn đuôi thuyền và đều uốn cao hẳn lên, nơi đó tập trung trang điểm những hình thù khắc rất cầu kỳ, hình chim, thú lạ. Đây là chỗ thường được gia cố thêm bằng những phiến đồng hoặc đinh đồng (Phủ biên tạp lục), tăng thêm sức mạnh đấu thuyền trong những trường hợp cần thiết. Phần lòng thuyền dường như để trống, phía trên lát ván kín, tạo ra một mặt bằng hoạt động rất cần thiết khi chiến đấu. Lầu chỉ huy đặt ở mũi thuyền, trang trí đẹp. Điểm độc đáo nhất của cấu tạo thuyền này là một mái che lớn, che kín hầu như toàn bộ thuyền, đảm bảo sức khỏe và an toàn cho người và vũ khí trên thuyền, trông rất giống mái che của thuyền Ai Cập cổ đại. Pháo lớn đặt xuyên qua thành tàu chĩa về phía mũi.


Thuyền thờ chùa Keo (Bảo tàng LSVN)

Hầu như không thấy hệ thống buồm trên những thuyền này. Thay vào đó là những mái chèo dày đặc gần hai bên mạnh (trung bình khoảng 50 – 60 mái chèo). Bánh lái trông rất độc đáo, như một dấu hỏi đặt nằm ngửa, nối với hệ thống cần lái ở đằng đuôi thuyền. Dọc hai bên thuyền là những cột nâng mái, tương ứng với hệ thống mái chèo.
-------------------------------
186 Ví dụ bản vẽ trong sách của Marini, của Baron, phù điêu dinh Hoành Sơn, dinh Phù Lưu, thuyền thờ Chùa Keo…
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #163 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2012, 07:29:06 pm »

Có thể nói, đây là những thuyền chiến đẹp và rất độc đáo, không giống với bất kỳ thuyền chiến của nước nào đương thời. Hầu như không người nước ngoài nào đến nước ta thời này lại không dành ít dòng mô tả về chúng.

  Mô tả về thuyền chiến Đàng Ngoài, chúng ta đều đã quen thuộc với lời nhận xét của Chu Xán (người Thanh) sang sứ nước ta năm 1688, khi được đón trên năm chiếc thuyền chiến: “Thuyền nước An Nam như cái cánh hoa sen, chế rất tinh xảo”187. Trước đó một chút, J.B. Ta-véc-ni-ê cũng viết: “Tại bến sông này (khúc sông Hồng gần Thăng Long) có nhiều thuyền đua trang hoàng vàng son và tô vẽ rất nhiều. Đằng mũi, đàng lái, cột buồm, mái chèo đều sơn vàng chóe. Ghế ngồi sơn sạch sẽ, những người chèo thuyền có mái che, vì tất cả đều là lính… Thuyền đua của Đông Kinh không rộng hơn của chúng ta, nhưng chúng dài hơn và rẽ nước hơn”188. A. đờ Rốt ngoài những dòng viết về đoàn thuyền chiến của chúa Trịnh năm 1627, còn dành lại ở một đoạn khác một mô tả chi tiết hơn: “Tàu thuyền của họ dài và thấp mạn. Thông thường mỗi thuyền có từ 25 đến 30 mái chèo, đôi khi có tới 35 – 40 chiếc ở mỗi bên. Những mái chèo đó làm bằng gỗ nhẹ đến mức chỉ cần một hoặc hai người là đủ chèo một mái”189.

  Theo A. đờ Rốt thì “tàu thuyền Đàng Ngoài cùng kiểu cách với Đàng Trong”190. Tất nhiên sự giống nhau đó chỉ là tương đối. Công trình nghiên cứu về thuyền bè dân gian ở Đông Dương hồi đầu thế kỷ cho thấy hệ thống thuyền ở Bắc Bộ có nhiều điểm hoàn toàn không giống với hệ thống thuyền ở Trung Bộ191. Rõ ràng thuyền chiến Đàng Ngoài mang đặc tính thuyền sông (giang thuyền) nhiều hơn và thuyền chiến Đàng Trong mang đặc tính thuyền biển (hải thuyền, hoặc chính xác hơn là duyên thuyền, thuyền ven bờ) nhiều hơn. Đáng tiếc là chúng ta hiện còn thiếu những hình ảnh cụ thể về thuyền chiến Đàng Trong. Vài thuyền chiến ở Cửa Hội An trong bản vẽ của người Nhật mà N. Peri đã giới thiệu192 và của người Âu mà J. Barow đã đưa ra193 không đủ để chúng ta kết luận về sự giống nhau hoặc khác nhau này. Tuy nhiên.mô tả viết của một số người ngước ngoài khác cho thấy có nhiều nét gần gũi trong trang bị, biên chế, kích thước, hình dáng chung và trang trí của thuyền chiến hai miền.

  Thích Đại Sán đã cho chúng ta biết khá chi tiết về thuyền chiến Đàng Trong: “Thuyền sơn son láng bóng soi mặt nước, tả hữu đều có 25 người chèo, thủy quân rất mạnh mẽ, cửa khoang thuyền chạm rồng mây, sơn đỏ, trên che đệm cỏ đăng vân, dưới trải chiếc lác mịn màu xanh lục”, “thuyền dài mà hẹp, như hình thuyền rộng, mũi rất cao, đuôi sơn đỏ…”194... Cố đạo B. Va-sê cũng viết: “Thuyền chiến (Đàng Trong) khá giống thuyền chiến của chúng ta về độ lớn và chiều cao, nhưng không rộng bằng. Tuy nhiên, cấu tạo của nó có khác. Đó là thuyền chiến bên ngoài thì sơn đỏ chói và bên trong sơn đen bóng. Mỗi thuyền có 30 mái chèo được sơn phết, mạ vàng, và được gắn vào mạn thuyền bằng những khuyên sắt để lính thủy có thể buông thả mái chèo mà sử dụng vũ khí đặt bên cạnh”195.

Về kích thước cụ thể, Lê triều hội điển cho biết: “Thuyền Thiện Hải lớn”, dài 65 thước, rộng 10 thước, 46 cột chèo; thuyền hàng lớn, dài 60 thước, rộng 10 thước, 44 cột chèo; thuyền hàng trung, dài 55 thước, rộng 9 thước; 34 cột chèo; thuyền hàng nhỏ, dài 50 thước, rộng 9 thước, 24 cột chèo; thuyền cổ lớn, dài 42 thước, rộng 7 thước, 12 cột chèo; thuyền cổ trung, dài 40 thước, rộng 6,6 thước, 10 cột chèo; thuyền cổ nhỏ, dài 30 thước, rộng 6 thước, 8 cột chèo”196.
---------------------------
187 Vân đài loại ngữ, t. II, tr. 151.

188 J. B. Tavernier, Sách đã dẫn.

189, 190 A. de Rhodes, Sách đã dẫn.

191 Petri, Voiliers d’Indochine, Sài Gòn, 1949; P. Paris, Esquisse d’ une ethnographic navale des pays annamites, BAVH, no.4, 1942.

192 N. Peri, Essai sur les relations du Japon et de l’ Indochine aux XVI et XVII siècles, trong BEFEO, 1923, p. 136.

193 J. Barow, A voyage to Cochinchina in the year 1792 and 1793, London, 1806.

194 Hải ngoại ký sự, tr. 31 và 132.

195 B. Vachet, Mémoire… hoạc Ảch, M.E. Coch, Vol 729.

196 Lê triều hội điển, Một thước thời Lê bằng khoảng 0,40m. Có thể đối chiếu với quy định về kích thước tuyển lính trong Lịch triều hiến chương loại chí, t. IV, tr. 19. Như vậy, kích thước thuyền Thiện Hải lớn ứng với kích thước chiếc thuyền thờ chùa Keo.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #164 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2012, 07:34:26 pm »

Kích thước thuyền chiến Đàng Trong có thể dựa vào mô tả khá tỉ mỉ của Poa-vrơ (P. Poivre), phái bộ của Công ty Đông Ấn Pháp đến Đàng Trong năm 1749, tận mắt quan sát những xưởng thuyền chúa Nguyễn trên sông Hương. Theo Poa-vrơ thuyền chiến lớn nhất của chúa Nguyễn dài khoảng 90 – 100 bộ197, cao 7 – 8 bộ, mặt boong cách mặt nước khoảng 2,5 bộ, phía mũi thuyền có một buồng nhỏ hình vuông, có 4 cửa lùa, mỗi chiều rộng 7 – 8 bộ, cao cũng khoảng như vậy. Mỗi thuyền có khoảng 40 – 60 cột chèo. Trọng tải ước chừng khoảng 100 – 150 tấn198. Một người Âu khác là Sáp-man (Ch. Chapman), cũng là đại diện của Công ty Đông Ấn Anh đến Đàng Trong vào khoảng đó lại cho một số liệu hơi khác: “Thuyền chiến Đàng Trong, loại lớn nhất dài khoảng 50 bộ, rộng 10 – 12 bộ, đầu và đuôi thuyền thót lại”199. Có thể đối chiếu với kích thước thuyền thờ Chùa Keo, mà theo nhận xét của các nhà đóng tàu hiện nay, được thu nhỏ với độ chính xác khá cao. Dựa vào đó cũng như đối chiếu với kích thước thuyền Đàng Ngoài ghi trong Lê triều hội điển có thể thấy tài liệu của Poa-vrơ chính xác hơn. Kích thước mà Sáp-man ghi có thể chỉ là của một loại thuyền chiến cỡ trung bình.

Như vậy, đặc điểm nổi bật nhất trong hình dáng và kích thước của thuyền chiến nước ta thời này là thuyền dài thấp mạn nhưng cơ động, phù hợp với tính chất hoạt động trong sông và ven biển. Chính vì vậy, phần lớn các văn bản ghi chép đương thời của phương Tây thường dùng từ galère để chỉ thuyền chiến nước ta nói chung200.
---------------------------
197 Bộ (pied): đơn vị đo lường cổ của Pháp, tương đương 0,3248m. Đơn vị này chia thành 12 pouces.

198 P. Poivre, Journal d’ un voyage à la Cochinchine de púi le 29-8-1749 au 11-2-1759. Trong Arch, Nationales de Paris, quyển 12; tập 72, 73.

199 Ch. Chapman, Relation d’un voyage en Cochinchine en 1778, trong BSEI, XXVIII, số 2-1948.

200 Galère là tên một loại thuyền chiến ra đời từ rất sớm ở Địa Trung Hải. Đặc điểm cơ bản là thuyền dài, thấp mạn, nhưng đặc biệt cơ động. Chữ Galère bắt nguồn từ cá kiếm, bao hàm các đặc tính đó. Loại thuyền này đặc biệt phát triển ở châu Âu trong những thế kỷ XV – XVI.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #165 vào lúc: 12 Tháng Hai, 2012, 10:02:56 am »

Trang bị.

Về mặt vũ khí gồm có pháo thuyền và các loại vũ khí cá nhân của lính thủy.

Như đã nói, điểm nổi bật nhất của vũ khí thuyền thời này là súng pháo. Mọi thuyền chiến đấu đều có ít nhất một khẩu pháo ở đằng mũi. Tùy hạng thuyền mà số lượng pháo nhiều ít có khác nhau: có thể thêm một khẩu ở đằng lái, hoặc thêm hai khẩu pháo ở hai bên mạn, thậm chí tăng thêm số pháo ở đằng mũi. Theo tài liệu hiện biết thì thuyền trong quân thủy Trịnh – Nguyễn có số lượng pháo nhiều nhất là năm khẩu. Do tính chất nặng về hoạt động trên biển, nên quân thủy Nguyễn có xu hướng tăng số lượng pháo trên thuyền nhiều hơn quân thủy Trịnh, đặc biệt là pháo mạn. Những người Bồ Đào Nha đã giúp chúa Nguyễn khả năng đó.

  Các bản vẽ của người phương Tây đương thời, khi vẽ thuyền chiến nước ta đều rất chú ý mô tả khẩu pháo lớn chĩa ra ở đằng mũi. Cùng với hướng đi và tốc độ của thuyền, người ta có cảm tưởng những khẩu pháo đó có hiệu lực trúng đích rất cao. Nói về trang bị trên thuyền Đàng Ngoài, A. đờ Rốt nhận xét: “Chiến thuyền của họ không thiếu vũ khí và pháo dùng cho chiến đấu”201. Cố đạo Đi-ê-gô đờ Giuy-min-la (Diego de Jumilla) từng sống ở Đàng Ngoài thời gian trước và trong những ngày đầu bùng nổ phong trào nông dân Tây Sơn cho biết: “Mỗi thuyền chiến chúa (Nguyễn) chở khoảng 50 lính và ba khẩu đại bác, nhiều vũ khí và súng tay”202. Một cha cố khác là B. Va-xê (B. Vachet) cho chúng ta biết loại thuyền chiến Đàng Trong có nhiều pháo hơn: “Ba khẩu ở đằng mũi và hai khẩu khác nhỏ hơn ở hai bên”203.

Như vậy, thuyền gắn pháo là đặc điểm tiêu biểu cho thuyền chiến thời này. Về hình thức, nó phù hợp với trình độ và xu hướng phát triển của quân thủy thế giới đương thời. Đây chính là thời kỳ phát triển cực thịnh của pháo thuyền trên thế giới. Sức mạnh của quân thủy lúc này được đo bằng số lượng và độ công phá của pháo trên thuyền. Nhưng có một đặc điểm khác căn bản giữa quân thủy nước ta với các pháo hạm châu Âu, ở chỗ do hoạt động trên biển là chính, pháo trên thuyền châu Âu dàn khắp hai bên mạnh và để chạy đua về số lượng, các nhà đóng tàu quân sự lúc đó tìm cách nâng số tầng boong đặt pháo lên tới hai, ba, thậm chí năm (ở đầu hoặc đuôi thuyền). Vì vậy, số lượng pháo trên một chiến hạm châu Âu thường rất nhiều. Trái lại, do hoạt động trong sông và ven biển là chính, thuyền chiến nước ta trang bị pháo chủ yếu ở đầu và đuôi thuyền, số lượng thường ít. Tuy nhiên, khi các nhu cầu chiến đấu trên biển được đặt ra thường xuyên, bức thiết thì những pháo hạm với 50 – 60 khẩu pháo cũng xuất hiện trong quân thủy nước ta, với sự nhảy vọt trong quân thủy Tây Sơn.
-------------------------
201 A. de Rhodes, Sách đã dẫn.

202 Trong Lorego Pérez, La rebolte et la guerredes Tây Sơn. Bản dịch tiếng Pháp của Marguerite Villa trong BSEI, Sài Gòn, 1940.

203 B. Vachet, Sách đã dẫn.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #166 vào lúc: 12 Tháng Hai, 2012, 10:09:55 am »

Theo tài liệu ghi chép và dựa vào số pháo hiện còn lại trong các nhà bảo tàng, thì đến cuối thế kỷ XVII, một bộ phận lớn pháo trên thuyền của nước ta là pháo mua trực tiếp từ phương Tây (chủ yếu do các tàu Hà Lan và Bồ Đào Nha cung cấp) hoặc được đúc trong nước theo kiểu phương Tây.

  Trong thời kỳ xung đột Trịnh – Nguyễn (1627 – 1672) nhiều lần sử sách chép việc quân Trịnh sử dụng pháo của phương Tây. A. đờ Rốt cho biết, trong cuộc hành quân năm 1627, “người Bồ Đào Nha dâng cho nhà vua những vật lễ thích hợp với hoàn cảnh lúc đó, tức là một số đạn dược, súng ống và nhà vua cho dùng ngay vào công việc binh đao sắp xảy ra” (Sách đã dẫn). Lê triều tạp kỷ, I. (tr. 21) chép: “Năm 1652, tháng 4… Chỉnh đốn súng ống, đạn dược mua của Hòa Lan ở Tây dương và cung tên các thứ, sắp sửa có việc với Nam Hà”.

  Ở Đàng Trong, từ năm 1658, chúa Nguyễn mở phường Đúc ở Huế do một thợ Bồ Đào Nha là Cruy-dơ (Joan da Cruz) phụ trách, số pháo đúc được có tới hàng ngàn khẩu. Trước đó, sau khi được Toàn quyền Bồ Đào Nha ở Ma Cao tặng một khẩu pháo, Chúa Nguyễn đã gửi sang Ma Cao 5.000 cân đồng nhờ Bồ Đào Nha đúc hộ súng (năm 1651). Trong P.Y. Manguin, Les Portugais sur les còtes du Việt Nam et du Campa, BEFEO, 1972, tr. 202 – 203.


  Phủ biên tạp lục (tr. 53) chép: Năm 1672, thu súng Tây dương của Hà Lan đi đánh Trịnh.

Phần lớn các pháo này thuộc loại nòng dài trung bình, bắn loại đạn khoảng 6 – 12 phun (funt) (tức 3 – 6 kg) đường kính nòng khoảng 9 – 11 cm, độ dài nòng khoảng180 – 210 cm, trọng lượng pháo trong khoảng 1.200 – 2.000 kg. Ngoài ra, có thể có một số ít pháo nòng ngắn mà trong sử sách nước thường gọi là “súng quá sơn”, có tác dụng bắn cầu vồng như những coronade của Hà Lan năm 1779.

Phần lớn pháo trên thuyền thời này bắn đạn đặc, bằng đá hoặc gang. Trong Bảo tàng Sài Gòn, hiện còn một loại đạn móc xích, gồm hai nửa đạn gang gắn vào nhau bằng một dây xích. Trên cửu đỉnh cũng khắc loại đạn này với tên Hồ điệp tử (đạn cánh bướm). Đây là một loại đạn chuyên dùng cho pháo thuyền. Nhờ có hai nửa dính liền nhau, khi đập vào thành tàu, có tác dụng như hai viên đạn gắn liền một lúc vào cùng một điểm, sức công phá rất mạnh. Từ thế kỷ XVI, loại đạn này bắt đầu xuất hiện ở châu Âu với cái tên cnipen. Không loại trừ khả năng pháo thuyền nước ta thời này có sử dụng loại đạn đó.

Đương thời, sử sách cũng chép đến nhiều kỹ thuật làm đạn nổ và việc quân Trịnh, Nguyễn sử dụng nó trong chiến tranh. Trong Hổ trướng khu cơ của Đào Duy Từ (1572-1634) có mục chế quả nổ (hỏa cầu). Theo mô tả của sách đó, có thể loại đạn “một mẹ mười con” mà Lê Quý Đô nói trong Phủ biên tạp lục là thuộc loại quả nổ này: “Năm 1672, sai Hào quận công Lê Thời Hiến ở lại đóng đồn tại xã Chính Thủy, ba lần đánh thành Trấn Ninh. Bắn hỏa pháo, một đạn mẹ mười đạn con, tiếng vang như sấm, bắn vào đâu đều gãy nát tan tành”204. Trong một số trận thủy chiến có nói đến việc pháo bắn cháy thuyền đối phương, chứng tỏ loại đạn nổ cũng đã được các pháo thuyền sử dụng.
---------------------------
204 Phủ biên tạp lục, tr. 54; Lê triều tạp kỷ, tr. 28, chép kỹ hơn và hơi khác một chút: “Lại dùng thứ súng “mật sự” lắp vào đó thứ đạn “một mẹ năm con” để bắn: tiếng nổ ầm ầm như sấm. Đạn súng này bắn đến đâu thì các đồ đồng, đồ sắt đều bị thủng vỡ”. Loại đạn của Đào Duy Từ chắc cũng thế, nhưng chỉ là một mẹ ba con.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #167 vào lúc: 12 Tháng Hai, 2012, 10:30:27 am »

Trong các loại pháo thuyền thời này, đáng chú ý đến loại pháo có trụ quay được Sáp-man nói đến trong bản tường trình của mình: “Thuyền chiến Đàng Trong… có một vài khẩu thần công nòng to và đặt trên giá quay được, thuốc đạn đặt trong vỏ ống tre”205. Thực ra, đây không phải là một loại pháo đặt trên bệ quay như các pháo hạm chạy hơi nước ở châu Âu thế kỷ XIX. Đó chỉ là một cái tiến nhỏ của các pháo thuyền nước ta nhờ việc lắp thêm vào ngõng súng một cái giá sắt hình chữ Y. Chân chứ Y cắm vào phần bệ gỗ tạo thành một cái trụ, nhờ đó mà có thể điều chỉnh hướng và tầm súng. Cải tiến này thường chỉ dùng với loại pháo cỡ nhỏ. Thỉnh thoảng cũng thấy sử dụng trên bộ và trong Lịch triều hiến chương loại chí có một mục riêng nói về phép thi bắn loại súng này.

  Hiện nay ở Bảo tàng Huế còn mấy khẩu súng trụ bằng sắt, nhưng có lẽ là súng trên các galères thời Nguyễn (trung hưng) mà J. Crawfund gọi là swivel. Gần đây, các nhà khảo cổ học tìm thấy một khẩu súng trụ bằng đồng trong khu vườn cam ở ấp Tây Sơn, tương truyền là vườn cam của Nguyễn Huệ. Khẩu súng này hiện để ở Nhà bảo tàng thuộc Ty Văn hóa Nghĩa Bình.


Pháo cổ (Lưu ý giá sắt chữ Y ở giữa hình - ùi)
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #168 vào lúc: 12 Tháng Hai, 2012, 10:45:32 am »

Tuy pháo đã trở thành vũ khí chính của thuyền chiến nước ta thế kỷ XVII, nhưng do tính chất hạn chế của kỹ thuật súng pháo đương thời (tốc độ bắn, tầm xa, độ chính xác…) cũng như do hạn chế của số lượng pháo trên mỗi thuyền, nên nhiều khi pháo không phải là vũ khí có thể giải quyết triệt để mục tiêu trận đánh. Trong trường hợp đó, lực lượng lính chiến đấu trên thuyền với vũ khí cá nhân và khả năng chiến đấu của họ mới là sức mạnh chính kết thúc trận đánh. Trang bị cho lính chiến đấu trên thuyền thời này khá phong phú. Trước hết phải nói đến súng tay (thủ súng, hoặc còn gọi là súng báng gỗ, tức mộc súng. Trong các văn bản của người phương Tây, thường dùng là arquebuse (A. de Rhodes) hay mousquet (B. Vachet) tức súng hỏa mai).

  Hiện nay, trong Viện Bảo tàng lịch sử Việt Nam còn khá nhiều loại súng này. Nó thường làm bằng đồng, sau này thay dần bằng sắt. Đó là một ống đồng (hoặc sắt) dày, dài toàn bộ khoảng 45 – 50 cm, chia thành ba phần: phần nòng dài khoảng 40 cm, đường kính nòng khoảng gần 2 cm; phần bầu nòng, tức phần cuối của nòng, nơi đó bên ngoài nở hẳn ra, là chỗ nhồi thuốc. Tại đây có một lỗ xuyên tử ngoài vào. Chỗ lỗ này được đúc vây thành hình một cái hộp vào có nắp đậy giữ cho thuốc khỏi ẩm; phần chuôi là một ống đồng đúc liền với bầu nòng. Có một báng gỗ tông vào chuôi đó. Loại súng này khi bắn phải nhồi thuốc, nạp đạn đá hoặc chì, sắt và dùng một mồi lửa để châm ngòi.

Theo tài liệu phương Tây đương thời, lính thủy trên thuyền mỗi người được trang bị một khẩu. Bo-ri (Ch. Borri) viết: “Đàng Trong có hơn 100 thuyền chiến… Lính trên thuyền đều có súng hỏa mai…”205, và theo A. đờ Rốt thì “họ sử dụng thành thạo tất cả các loại vũ khí đó (súng, pháo). Nhất là với súng trường (fusil) và hỏa mai (arquebuse) thì họ bắn giỏi đến mức đáng khâm phục”206.

Ngoài súng tay (sau này xuất hiện một số súng chim, tức điểu thương), lính chiến đấu trên thuyền còn được trang bị một số loại bạch khí khác. Theo B. Va-sê, họ còn có mỗi người một thanh đao, một con dao găm, một cung (hoặc nỏ) với ống đựng tên. Bo-ri bổ sung thêm: “Vũ khí phòng ngự thì có loại mộc hình trái xoan, bên trong rỗng, cao, có thể che được cả người, rất nhẹ”207.

Dùng chung cho thuyền, chúng ta còn thấy một loại vũ khí quen thuộc nữa là câu liêm, móc ném208 và lao móc, mà theo Sáp-man, thì đến 15 – 20 bộ (pieds) dùng để đánh đối phương khi hai thuyền chưa giáp mạn hoặc kéo thuyền đối phương vào đánh giáp lá cà.

Trong những trận thủy chiến sau này giữa quân thủy Đàng Trong với quân thủy Tây Sơn, chúng ta còn thấy sử dụng một loại quả nổ ném, như lựu đạn sơ khai. Loại vũ khí này khá phát triển trong thủy chiến thời Tống – Nguyên ở Trung Quốc, đương thời đang phổ biến trong giáp chiến của lính chiến đấu trên các hạm đội phương Tây. Rất có thể quân thủy Trịnh – Nguyễn đầu thế kỷ XVIII đã có trang bị.
-----------------------
205 Ch. Borri, Sách đã dẫn.

206 A. de Rhodes, Sách đã dẫn.

207 B. Vachet, Sách đã dẫn.

208 Lịch triều hiến chương loại chí, t. IV, tr. 24.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #169 vào lúc: 12 Tháng Hai, 2012, 10:52:44 am »

Để làm hiệu lệnh trong chiến đấu cũng như trong hành trình, thuyền chiến được trang bị trống da (theo Thích Đại Sán thì đối với một số thuyền chiến sang trọng có thể là trống đồng), mõ gỗ, thanh la. Ban đêm, để đảm bảo hành trình cho một đơn vị nhiều thuyền, người chỉ huy còn dùng lửa đốt bằng dây giấy quấn thuốc súng.

  Thích Đại Sán kể lại: “Mồng 1 tháng bảy, thuyền đi ra cửa biển… Cai bá khua ba hồi trống lệnh, các thuyền đều chèo. Trong thuyền đèn lửa tắt hết. Cai bá đứng ở mũi thuyền, tay cầm một dây hỏa mai ra hiệu, hoặc bát, hoặc cậy, khi chậm, khi mau, các thuyền đều ngó theo hiệu lửa mà lái, chèo, chẳng bao giờ sai lệch”209.

Hội điển của nhà Lê còn quy định rõ trang bị cờ quạt cho cả thuyền chiến, chẳng những để định rõ thứ tậc, đơn vị mà còn là cờ hiệu phục vụ hành trình. Các cờ này gồm có hai loại: cờ to và cờ tẩu cả (báo hiệu thuyền chạy). Cuối cùng, phải kể đế những chiếc phao hình quả bầu chuyên dùng trên thuyền chiến để đề phòng khi chiến đấu, thuyền đắm hoặc rơi xuống nước. Chúng ta có thể thấy cụ thể những phao này trên thuyền thờ Chùa Keo.

  Binh thư yếu lược (tr. 213) viết: “Nước Nam ta dùng quân thủy chiến, thường lấy mây đan cái phao, khúc giữa nhỏ mà đầu đuôi lớn, sơn đen, trong rỗng, để sẵn trong thuyền, phòng khi thuyền đắm, tục gọi là quả nổi…”.

Hằng ngày khi không có việc, thuyền chiến được cất cẩn thận trong xưởng để bảo quản. Theo P. Poa-vrơ, dọc sông Hương dày đặc những xưởng thuyền của chúa Nguyễn. Theo A. đờ Rốt, “Mỗi thuyền có một nhà thuyền bưng kín. Thường thì thuyền ở trong đó, khi có lệnh mới hạ thủy. Chỉ sau 15 phút đã có thể xuống nước, sẵn sàng chiến đấu”210. Trong Lê triều hội điển, các nhà thuyền mà A. đờ Rốt nói đến đó được gọi là liên. Các liên này làm bằng gỗ, lợp tranh (của vua quan thì lợp ngói) che mưa nắng cho một hoặc hai, ba cái đà, trên đó đặt thuyền. Theo quy định thì thuyền Thiện Hải lớn, thuyền hàng lớn, hàng trung và hàng nhỏ thì cứ năm xưởng (tức năm đà) có ba cái liên. Các thuyền cổ không được làm liên.

Mọi trang bị trên thuyền (cả vũ khí lẫn đồ dùng) đều có quy định bảo quản, cấp phát và kiểm tra ngặt nghèo.
------------------------
209 Hải ngoại ký sự, tr. 145.

210 A. de Rhodes, Sách đã dẫn.
Logged

Ùi, úi, ui....
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM